Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 30 Jun 024

Phần 7

Tháng 8-1979, tôi bị biên-chế sang Đội 28 nông-nghiệp. Thời-gian này, Bộ Quốc-phòng đã giải-tán hết các trại lao-cải ở miền Tây và giao tù-nhân cho Bộ Nội-vụ quản-lý. Tù-nhân trại lao-cải Vườn Đào thuộc huyện Cai Lậy được đưa lên miền Đông. Sa Ác A và B tiếp-nhận. Thực ra, công-an đã quản-lý tù-nhân từ năm 1978. Cũng thời-gian này, Sa Ác đã xây-dựng xong khu C. Sa Ác A, B và C gồm khoảng 5000 tù-nhân chính-trị và hình-sự. Vườn Đào đa-số là sĩ-quan Hoà Hảo đồng-hoá. Họ không tốt-nghiệp ở trường võ-bị nào cả. Kiến-thức của họ rất thấp và tác-phong của họ xô-bồ. Vừa mới đến, họ đã đánh nhau trong lúc chia cơm canh. Vài hôm sau, có tin do Đội lâm-sản truyền: Vườn Đào bị Suối Máu trùm chăn đục thê-thảm ngoài khu A, có người bị cắt tai cảnh-cáo vì tội “ăng-ten” trại cũ. Á chà, câu chuyện được thêu dệt đầy đủ chi-tiết. Anh-hùng nhẩy dù Suối Máu đã ghi những trang ngục-sử tuyệt-vời! Bác-sĩ Thạch ra khu A lấy thuốc, trở về “cải-chính tin đồn”. Không có gì cả. Khu A hoàn-toàn yên lặng. Cách một quãng đường dài 2 cây-số, tù tung tin chẳng hay ho gì cho tù. Tuần-lễ sau, Phước Long đổ về Sa Ác. Long Thành, Vườn Đào, Phước Long được chuyên-chở bằng xe đò. Xe chạy trên con đường do Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao kiến-tạo. Phước Long về làm sinh-động Sa Ác B. Từ đây, một hàng rào kẽm gai ngăn đôi biên-giới Hình-Sự và Chính-Trị. Hình-sự bị cấm-chỉ vượt biên-giới. Hai ông bác-sĩ Long Thành, một được tha, một bon chen ra khu A trụ-trì phòng Y-tế. Trước đó, 10 tù-nhân Long Thành đã về “sum họp gia đình”. Từ tháng 11-1978 đến tháng 7-1979, Sa Ác B mới có 11 người cầm giấy ra trại. Những người này đều trình diện học tập cải-tạo 10 ngày hồi tháng 6-1975. Vị bác-sĩ Long Thành còn kẹt ở trại đã lừng danh Long Thành. Ông ta củng-cố địa vị bác-sĩ tù bằng cách khuân cả tivi, tủ lạnh nộp cho Giám-thị Ba Tơ. Ông ta gạ-gẫm đưa Ba Tơ về Sài gòn, dẫn Ba Tơ đi ăn chơi và đưa Ba Tơ về nhà mình, dúi cho Ba Tơ mớ bạc để ông ta được làm tình với vợ! Như thế cũng bình thường thôi. Ai khéo xoay sở, người ấy sung sướng. Nhưng xoay sở cái trò bịa đặt khám bệnh hoa -liễu cho nữ tù, bắt nữ tù cởi truồng để Ba Tơ và bọn cai tù coi “chiếu bóng” thì ông bác-sĩ bỉ-ổi hơn Cộng-sản. Ông ta là quốc-gia đấy, đảng viên Đảng dân-chủ đàng-hoàng, Tỉnh-ủy chứ bộ! Hãy nghe một nữ tù Long Thành phát-biểu ý-kiến về đám quốc-gia bẩn.
“Con Lan-xì-ke thở dài:
– Chị đã từng nghe về giòng họ Đặng Vũ chưa.
Chị tự trả lời:
– Giòng họ khoa-bảng đấy, thủ-khoa bảng đần-độn, ích-kỷ. Tôi đã khước-từ nó từ lâu. Bây giờ tôi là “con bà phước”. Có người đi tìm hiểu mặt tốt của đời sống, tôi đi tìm mặt xấu. Rồi tôi vào tù vì tôi xấu. Ở tù, tôi bỗng thấy tôi tốt. Và cái tốt mà người ta rêu-rao chỉ là cái đốn-mạt, hèn-hạ. Nếu chị đến sớm vài tháng, chị đã gặp đủ mặt viên-chức thư-lại của chế-độ cũ. Bọn đàn ông ấy nhát như cáy, ngoan như cừu. Họ có vẻ hãnh-diện vì mình tình-nguyện vào tù chứ không bị bắt bỏ tù như chúng ta. Luôn luôn họ nói họ “trình-diện học tập”. Những ông chánh-án, ngày xưa, ngồi xử chúng tôi đủ các thứ tội, nay tranh giành nhau đổ cứt rửa cầu tiêu để đỡ lao-động vất-vả. Tranh giành đổ cứt và chửi bới nhau vì đổ cứt hụt! Những ông nghị-sĩ, dân-biểu, dân kêu ngàn lần không lên tiếng nhưng Cộng-sản nó gọi nhỏ đã dạ lớn rồi, dạ ngay lập tức. Bác-sĩ thì hục-hặc nhau chui vào phòng Y- tế cho đỡ chân lấm tay bùn, dâng mưu hiến kế cai ngục hãm hại tù-nhân . .
Con Lan-xì-ke buồn-bã hỏi tôi:
– Ở thời đại của chúng ta, có thằng thư-lại nào dám làm cách-mạng không, chị?
Tôi đáp:
– Bản-chất của thư-lại là cầu an, ù-lỳ, làm cách-mạng sao nổi!
Con Lan-xì-ke phá ra cười:
– Vậy mà vào tù, bọn thư-lại cứ dọa giải-phóng đất nước. Tôi chửi chúng nó, chúng nó vu tôi đủ tội. Tôi nghĩ, bây giờ, tôi có quyền xử những đứa đã xử tôi”. (Sỏi Đá Ngậm-ngùi – Nam Á Paris, 1985)
Cũng bằng cung-cách hối-lộ, nịnh bợ Giám-thị Hiểu, ông bác-sĩ giã-từ Đội 21 nông-nghiệp ra khu A. Thẩm-phán Đào Minh Lương đã mất nửa lá phổi vì ông bác-sĩ này cúp tiêu-chuẩn cơm trắng và… tiết-kiệm Strepto cho Cộng-sản. Ông ta ra đi, tôi đỡ bị nghe ông thổi harmonica, đỡ bị ông ta than-phiền bỏ hạt ngô xuống lỗ mỏi lưng. “Trí thức của chúng ta cứ nằm trong tháp ngà, cứ trùm mền hưởng-thụ đâm ra lười biếng, sợ khó sợ khổ. Nên, khi đụng vào nghịch-cảnh của đời sống thì không dám đương đầu, thì ngớ-ngẩn và hèn-mọn”
Về Đội 28 nông-nghiệp, tôi thoát hầm phân. Cái động vang dội của trại tập-trung mà sau này, nhân-vật tiểu-thuyết của tôi từ cái tĩnh của nhà tù ra đã có ý nghĩ: “Trong bóng tối, ta chỉ nhìn thấy ta. Ngoài ánh sáng, ta sẽ nhìn thấy mọi người. Tôi vừa mở mắt: Không có nỗi khổ nào hạng nhất, nỗi khổ nào hạng bét. Nỗi khổ là nỗi khổ. Nỗi khổ trong bóng tối và nỗi khổ ngoài ánh sáng. Thế thôi. Tôi đã thấm nỗi khổ trong bóng tối. Tôi sẽ thấm nỗi khổ ngoài ánh sáng. Tôi bước xuống. Rờn rợn. Bốn năm ròng-rã gắn liền đời mình bên xô cứt, tôi đã quen. Nhưng cái hầm phân này thì thật là ghê rợn. Gọi nó là đầm phân mới đúng. Chân tôi chới với, lún sâu dần, sâu dần. Khi bàn chân đụng đáy hầm, phân đã ngập sát háng tôi. Trên miệng hầm, bạn tù ròng cái xô xuống. Tôi vục đầy xô. Bạn tù kéo lên. Nửa thân thể ngập phân, tay dính đầy phân. Tôi đứng trong phân, trong sự ưu-việt của chủ-nghĩa Cộng-sản hàng tiếng đồng hồ không thèm đếm xỉa tới hàng tỉ con ròi lúc nhúc”.
Sang Đội 28 nông-nghiệp với tôi, có ông già Hoán. Đội 17 rau xanh cũ của tôi là “thí-điểm” của đoàn-kết anh em, của thương yêu bố con. Nhưng mà ngụp lặn giữa vũng lầy thống-khổ, tình phụ-tử nghĩa huynh-đệ đã chẳng chịu ngoi lên, còn lún sâu xuống. Ba anh em ruột thịt nhà thằng Lợi đấm đá nhau, chửi bới nhau, ăn riêng. Hai bố con ông Quản ăn riêng. Ông Quản đục cậu Học. Cậu Học đưa bố ra đội. Đội không giải-quyết. Thầy quản-giáo giải-quyết giùm. Thế là bố một bị thăm nuôi, con một bị. Bố ca, con cóng. Mỗi người một mâm. Con rể Thanh hục-hặc bố vợ Hoán. Cũng ăn riêng, thăm nuôi riêng. Chỉ còn anh em thằng Huỳnh thuộc “con bà phước” nên vẫn thắm-thiết. Lý-do ăn riêng chính-đáng nhất là bố chửi con “Mày chống Cộng, chọc cứt không thành lỗ làm liên lụy tao”, con cằn-nhằn bố “ông chẳng biết lãnh-tụ là thằng nào mà cũng tham-gia để tôi bị bắt oan”.
Lãnh-tụ chống Cộng thứ thật sau 30-4-1975 không có, không hề có. Nếu có thì chỉ là sinh-viên, học-sinh Sài gòn và các thành phố. Và tôi gọi chung là Tuổi Trẻ . Và tôi đã vinh-tôn Tuổi Trẻ Việt Nam ở Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư-tử lãng-mạn, Hồn say phấn lạ. Những người tuổi trẻ của tôi đã lên đường từ sau 1-5-1975. Họ dấy động cuộc chiến-đấu mới. Cộng-sản sợ hãi. Lập tức, Mai Chí Thọ nặn ngay 52 “lãnh-tụ”. Trùm công-an miền Nam dùng Trần Xuân Ẩn, Đỗ Hữu Cảnh đi tìm người chống Cộng và phong làm lãnh-tụ. Thế là Sài Gòn có hàng chục nội-các, hàng trăm Sư-trưởng phục-quốc vốn là Trung-sĩ, Thượng-sĩ của Quân-lực Việt Nam Cộng Hòa, hàng ngàn lãnh-tụ chống Cộng. Có cả triều-đình nữa. Quốc-vương là anh bán thịt chó. Quốc-vụ-khanh là anh thợ hớt tóc. Đầy đủ “phản-động” của 52 tổ chức chống Cộng ở Sa Ác B. Mai Chí Thọ giăng bẫy, bắt gọn. Niềm tin chống Cộng bị Mai Chí Thọ đâm chảy máu. Dân chúng đang hăng say bỗng chùn lại vì nghi-ngờ. Lãnh-tụ chống Cộng lớn nhất Đỗ Hữu Cảnh lại là trung-úy công-an Ba Sơn. Mai Chí Thọ diệt niềm tin chống Cộng là chuyện hợp-lý. Bởi ông ta là lãnh-tụ Cộng-sản. Những tên nhập-nhằng chống Cộng ở hải-ngoại, mượn chiêu-bài kháng-chiến, móc đô-la của lưu-dân như ông Mặt-trận và công-ty của nó mới không hợp-lý. Nếu hợp-lý thì chả là sự tiếp tay Mai Chí Thọ hủy-diệt nốt niềm tin chống Cộng ở những nơi chốn không có trại tập-trung khổ-sai lao-động. Khi niềm tin bị lừa gạt, tinh-thần “phản-động” sa-sút và nó biến-chứng đủ thứ tật. Thí dụ ông già Hoán tuyên-bố từ con rề Thanh. Thí dụ con rể Thanh lên án bố vợ Hoán “phản-bội tổ-chức”, vân vân…
Công việc của tôi ở Đội 28 nông-nghiệp là hạ những cây lớn và bứng gốc cây mà thân còi chồi cao lên mặt đất.
Chúng tôi chuẩn-bị đất canh-tác. Quản-giáo Đội 28 là ông nhóc 18 tuổi, tên Thưởng. Đội-trưởng là phi-công già Trần Ngọc Lân. Đội-phó là Huỳnh văn Vàng, an-ninh quân-đội. Dụng-cụ hạ cây của tôi là dao cùn và cuốc, xẻng. Hai tù-nhân đặc-trách một thân cây hay một gốccây Chúng tôi đã hạ cây rừng như thế nào? Trước hết, tùy theo cây lớn, nhỏ, chúng tôi dùng cuốc dẫy cái vòng tròn lớn, nhỏ chung quanh gốc cây. Cây càng lớn, vòng tròn càng lớn. Chúng tôi cuốc đất, bới đất cho lòi lớp rễ thứ nhất. Thế rồi thằng chặt rễ sát gốc cây, thẳng chặt rễ mọc dài sát vòng tròn. Gỡ từng khúc rễ. Giai đoạn hai: Khi chặt đứt lớp rễ thứ nhất, cuốc đất, móc đất cho lòi lớp rễ thứ hai. Lại chặt. Lại cuốc đất, móc đất cho lòi lớp rễ thứ ba. Đất xúc đổ chung quanh vòng tròn. Cây nhiều tầng rễ ngang là cây sao, cây dầu. Chín tầng. Chặt rễ ngang tầng thứ chín, cái huyệt đã sâu, quá đầu chúng tôi. Chúng tôi moi đất chặt nốt cái rễ đuôi chuột. Lúc này phải báo động, vì cây sắp đổ. Nó đổ rầm rầm, nghe dễ sợ. Chúng tôi thản-nhiên ngồi dưới huyệt. Bởi đã biết chiều đổ của cây. Hạ cây bằng-lăng dễ nhất. Nó chỉ có ba, bốn tầng rễ ngang và không có rễ chuột. Bứng gốc cây cũng theo phương-pháp này. Gốc nhỏ thì khiêng đi. Gốc lớn thì liệng gốc nhỏ xuống huyệt, chất củi và mồi nổi lửa cho cháy ra tro. Mỗi lần san-bằng một gò mối vạn-niên hay hạ đổ một cây cổ-thụ, tôi khoái lắm. Tôi hiểu được sự chế-ngự thiên-nhiên của con người. Và tôi thấy rõ điều này: Chẳng có gì gọi là vĩnh-cửu, kể luôn cái vĩ-đại nhất, trừ con người và ý-nghĩa sống đẹp-đẽ của nó. Vương-quốc mối kiên-cố giữa rừng già trăm ngàn năm, đâu ngờ, có ngày bị tù-nhân lao-cải san-bằng, thò ngón tay chộp Mối Chúa, bỏ vô miệng, nuốt trửng. Cái ảo-vọng “vĩ-đại” và “sống mãi” xem chừng đã lố-bịch.
Hạ cây, bứng gốc cây, san gò mối là công việc của tôi. Nhờ vậy, tôi đã đào được dao cạo râu, nước ngọt Coca Cola, Sprite, lương khô mà lưỡi đã sét, hộp đã rỉ, bao da mủn. Quân-đội Úc đã “kích” vùng này. Họ đã nằm ở đây để vồ Việt cộng. Ghê thật, Kangourou dám vào tận sào-huyệt đối-phương. Gần hiện trường lao-động của Đội 21 có một hố bom thật lớn, thật sâu. Chúng tôi đã tắm ở đây mùa mưa. Cách hố bom khoảng 30 thước là cửa một cái hầm bí-mật còn đầy áo mưa ni-lông khô cứng. Trái bom của người lính tầu bay nào suýt nổ sập hầm bí-mật. Chắc chắn, nó đã làm vỡ mật Việt cộng núp dưới hầm.
Tôi sống thoải-mái ở Đội 21, hết bị ròi của hầm phân ám-ảnh.

Đằng Giao làm đơn xin Ban giám-thị cho xuống làm tù-nhân bình thường. Bị ở nhà “làm việc” một tuần-lễ, bị quay đứ-đừ. Rốt cuộc, vẫn phải làm Đội-trưởng. Đội của Đằng Giao thêm hai “nhân-vật”: Hồ Hữu Tường và Lý Quốc Sinh.
Hồ Hữu Tường, cả nước đều biết tên tuổi. Với người miền Nam, ông là nhà “bác vật”. Chúng ta hiểu ông như một chính-trị-gia, một lý-thuyết-gia, một văn-gia. Sau hết, vào những năm trước 1954, nhà văn Tam Ích, muốn coi ông như một học-giả, yêu-cầu ông Hồ Hữu Tường về chỗ ngồi của ông “vì chiếu học-giả mới lơ thơ vài người”. Người đệ tứ quốc-tế, người vượt Mác, người trung-lập- chế, tác-giả Phi Lạc sang Tầu, Thu Hương, Chị Tập, Thuốc tràng-sinh, Người Mỹ ưu-tư… không thích làm học-giả. Năm 1946, nằm trong tay bọn Bon-sê-vích, ông đã tuyên bố “phong kiếm quy ẩn”, giả-vờ bàn chuyện Tương-lai văn-hoá Việt Nam. Rồi ông trốn. Bị lừa, Phạm văn Đồng điên lên, thề bắt được Hồ Hữu Tường sẽ” thiến dái”! Phi Lạc sang Tầu, sang Nga, sang Tây, về Sàigòn, xuất-bản nhật-báo Phương Đông cổ-xúy thuyết trung-lập-chế. Phi Lạc vào Rừng Sát làm quân-sư cho tướng cướp hèn mọn Bẩy Viễn. Phi Lạc bị Ngô Đình Nhu bắt, đầy ra Côn Đảo. Phi Lạc được “cách-mạng thoán-nghịch” giải phóng. Phi Lạc ứng-cử dân-biểu Hạ-viện. Phi Lạc mượn tiền ngân-hàng phát-triển nông-nghiệp nuôi gà. Phi Lạc quỵt nợ. Phi Lạc qua Tây nằm ì, bắt Hạ-viện gửi tiền lương sang mua vé máy bay hồi hương. Phi Lạc mặc áo vàng, đeo xâu chuỗi vô Hạ-viện, bắt đầu cổ-xúy một thứ giáo-hội mới. Sự-nghiệp chính-trị của Phi Lạc chấm dứt từ dạo theo phò Bẩy Viễn và bêu-riếu từ khi làm dân-biểu. Tháng 4-1975, Cộng-sản thôn-tính miền Nam, cả Phi Lạc lẫn Phạm văn Đồng đều già rồi, Đồng quên lời thề “thiến dái” Phi Lạc. Hồ Hữu Tường yên thân. Đầu năm 1977, ông ta lập Đảng nhuốm đầy tính-chất hoang-đường, dị-đoan mê-tín. Ông ta và chúng đệ-tử bị bắt.
Chẳng hiểu vì lý-do gì, đệ tử của ông công-khai tố-cáo ông với các tù-nhân khác. Đệ-tử ông ta oang-oang tố-cáo thì tôi nghe. Cả nhà nghe. Cái bi-hài-kịch đảng-viên tố-cáo Đảng-trưởng đã xẩy ra như cơm bữa ở nhà tù, ở trại lao-cải. Tố-cáo toàn chuyện…ghê-gớm. Như anh thợ hớt tóc mặt rỗ nhằng rỗ nhịt được quốc-vương Thịt Chó phong chức quốc-vụ-khanh, thấy quốc-vương có thăm nuôi khẩm, quốc-vương thắt chặt túi, bị thăm nuôi, mình hút thuốc lá KENT (Không Em Nào Thăm.. .nuôi) mà quốc-vương chơi trò…ăn riêng. Bèn tủi thân. Rồi phẫn-nộ, lớn tiếng đòi quốc-vương trả lại hai lạng vàng đã đóng cho quốc-vương vì lý-tưởng chống Cộng! Như anh Tiểu-đoàn-trưởng phục-quốc-quân Binh-đoàn Lê văn Duyệt đòi tuyết-hận ngoài đời khi được tha vì Sư-trưởng đã hú-hí với vợ của anh. Như các ông phản-động thì chửi lãnh-tụ đã đưa các ông ấy vào tù, vợ ở nhà no, thăm nuôi lãnh-tụ mập-mạp v.v…. Nền chống Cộng có vẻ thiếu…phẩm-chất. Tất cả không đáng xách dép cho những người tuổi trẻ chống Cộng tôi đã gặp, đã sống với họ ở đề-lao Gia Định và tôi đã gọi họ là Bầy sư-tử lãng-mạn.
Ông Hồ Hữu Tường không nghiện thuốc phiện, không vì thiếu thuốc phiện mà mê sảng, vậy mà ông ta rất mê sảng. Ông ta nằng-nặc xin cống-hiến những môn thuốc dân-tộc. Ông ta ở nhà viết sách thuốc. Ban giám-thị yêu-cầu thuốc kiết lỵ, thuốc ghẻ, ông ta không “sáng tạo” nổi. Thế thì không đạt yêu-cầu. Ông Tường lóc-cóc đi lao-động. Ông đi bộ. Vấp chân té đụng thầy Quản-giáo, thầy Quản-giáo “miễn chấp”, ông Tường vẫn bắt Đội-trưởng Đằng Giao ghi vào biên-bản phiên họp cuối tuần: “Hôm ấy, tôi, Hồ Hữu Tường, trại-viên Đội 21 nông-nghiệp, đi lao-động sơ ý vấp té đụng cán-bộ. Tôi thất lễ, xin nhận khuyết-điểm”. Đằng Giao không cho thư-ký ghi. Ông Hồ Hữu Tường “hạ quyết-tâm” ghi! Con người vượt Mác ấy đã trở thành biểu-tượng của “nhà văn”. Để bọn thư-lại và bọn sĩ- quan văn-phòng chửi rủa tất cả nhà văn phản-kháng chế-độ cũ của chúng nó. Tôi không muốn nhắc thêm ông thẩm-phán già Lý Quốc Sinh, ứng-cử-viên phó tổng-thống. Ông Hồ Hữu Tường, ông Lý Quốc Sinh đã giúp tôi một kết-luận không sợ sai lầm: Những “nhân-vật”, già nua không xài được nữa, dù trong tù hay ngoài đời, trong nước hay ngoài nước. Bọn bình vôi sứt mẻ và đặc khịt này cần liệng ra ngoài lề lịch-sử. Bây giờ đích thực là thời của tuổi trẻ ở mọi lãnh-vực, ở mọi lãnh-thổ. Sa Ác B, những ngày tôi sống, chỉ có một vụ vượt ngục thành-công. Đó là vụ ba người tù phản-động gỡ mái tôn ra đi một đêm mưa tầm-tã. Ba người này ở đội của Dương Đức Dũng. Vệ-binh truy-nã một tuần không tìm ra dấu vết. Những vụ trốn trại của tù-nhân hình-sự ngoài bãi, bị bắt hết. Dĩ nhiên, trốn trại bị bắt thì chính-trị hay hình-sự cũng đều bị giáng những báng súng tàn bạo. Có một vụ trốn làm tôi cảm-phục vô cùng. Hồi ấy, tôi còn làm Đội-trưởng rau xanh. Buổi sáng hôm đó, trời đầy sương mù. Lợi dụng lúc tan hàng tập thể-dục, người tù hình-sự tên Chuyên, sinh-viên đại-học Vạn Hạnh, leo hàng rào kẽm gai thật nhanh và phóng xuống sông Ray. Vệ-binh trên chòi canh nổ súng. Chúng tôi phải vào nhà hết. Cuộc truy-lùng diễn ra. Súng nổ ầm-ỹ khủng-bố tinh-thần kẻ bôn-đào. Đến lúc kẻng tập họp lao-động, vẫn chưa phát-hiện chỗ ẩn nấp của Chuyên. Khoảng 9 giờ, trời đã hoe nắng và sương mù đã tan, khu rừng bên kia sông Ray gần vườn rau của đội tôi có tiếng súng nổ và tiếng vệ-binh xôn-xao. Người ta đã bắt được Chuyên. Tên cán-bộ Cần, đặc-trách an-ninh, hung-thần của Sa Ác B, chạy nhanh ra bờ sông. Hắn máng giây súng AK trên vai, đứng chờ tù-nhân trốn trại. Tiếng hét của vệ-binh bên kia sông:
– Bò! Cấm đứng dậy! Bò!
Vệ-binh sợ-hãi anh Chuyên, vì anh ta to con. Tôi không nhìn thấy anh Chuyên bò. Đứng trên gò cao, tôi thấy rõ hung-thần Cần sát-khí đằng-đằng chờ đợi. Rồi anh Chuyên bị vệ-binh đạp mạnh rơi xuống sông. Anh ta đứng dậy ngay đưa tay vuốt mặt. Chuyên lội sang bên này. Hung-thần Cần đã gỡ súng AK khỏi vai. Hắn cầm chắc giữa nòng súng. Anh Chuyên vừa lên bờ, hung-thần đã phang anh một báng súng ngang lưng. Anh gục ngã. Đứng rất nhanh, ngẩng mặt:
– Cán-bộ không được phép đánh tôi.
Hung-thần không thèm nghe. Nó đợi anh bước vài bước. Lại đánh. Anh Chuyên vẫn cố đứng thẳng ngẩng mặt:
– Cán-bộ không được phép đánh tôi.


Mỗi báng súng giáng xuống thân-thể anh, Chuyên đều ngã chúi, đều đứng dậy rất nhanh, đều ngẩng mặt nói một câu đã nói. Qua vườn rau của tôi, bạo-lực chùn tay. Hung-thần Cần không đánh anh Chuyên nữa. Anh bị còng chân tại căn nhà mới xây xong. Chính hung-thần Cần săn-sóc anh Chuyên, cho anh ăn tiêu-chuẩn đãi-ngộ, tặng thuốc lá anh hút. Thái-độ can-đảm của anh đã khiến hung-thần cảm-phục. Một tù-nhân duy nhất không bị thi-hành kỷ-luật tội trốn trại. Anh Chuyên được dưỡng sức cả tháng. Hung-thần Cần mở còng cho anh về đội, hai hôm sau. Người tù hình-sự tuyệt-diệu đó đã gây cảm-hứng cho tiểu-thuyết Sông Ray phẫn-nộ của tôi.
Tôi đã viết: Có hai cách trốn trại. Trốn trại ban đêm và trốn trại buổi chiều, ngoài bãi lao-động. Khi tù-nhân rỡ mái tôn hay khoét tường trốn trại ban đêm, Nhà-trưởng, Đội-trưởng và những người ăn cơm chung với tù-nhân trốn trại rắc-rối to. Phải làm tự kiểm và bị chấp-pháp tơi-bời. Khi tù-nhân trốn trại ngoài bãi, súng vệ-binh nổ ba phát báo động. Trực trại đánh kẻng tan lao. Các đội thu dụng- cụ tập họp một chỗ. Ngồi đợi một lúc mới được dẫn về trại. Không tắm, không ca cóng. Vào nhà ngay. Những người khai bệnh nằm nhà, không được lai-vãng ngoài sân. Đang tụ-tập trong sân mà bày trò trốn trại, lại bị một thằng tù khác ôm chặt cứng cho cán-bộ đánh thì chỉ có ông nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp” vẽ ra theo sự bịa-đặt vừa ngu vừa dốt. Thế gọi là văn-học nghệ-thuật…cao-cấp đấy. Và cũng hì-hục chép hồi-ký ngục tù. Chắc chắn, các trại lao-cải của nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp” không có ai dám trốn trại. Cho nên, đáy địa-ngục chỉ là “ăn vụng, ăn tranh phần khoai và cháy của heo”. Người ta còn mang cả mối thù nặng những nghìn cân tức là 10 tạ vì bị dồn vào thế “ăn cắp, ăn vụng”. Từ ăn cắp, ăn vụng đến ăn gian nói dối cách nhau một sợi râu Bác Hồ!
Tỷ lệ những người “trình-diện học tập cải-tạo” trốn trại rất là khiêm-tốn. Tỷ lệ những tù-nhân can tội phản-động cũng khiêm-tốn lắm. Nói chung, tỷ-lệ trốn trại của tù-nhân ỏ các nhà tù, trại lao-cải không đáng kể. Với chế-độ hộ-khẩu, chế-độ công-an nhân-dân, chế-độ công-an khu-vực, tù hình-sự có trốn trại rồi cũng bị bắt lại. Trừ phi, trốn trại rồi vượt biên ngay. Trốn đi đâu? Không có một chiến-khu nào cho người trốn trại tìm vào chiến-đấu. Bồn bề hoang-vu, lặng thinh. Giữa rừng già hiu-hắt, chỉ cần một tiểu-đội biệt-kích đã thừa tiêu-diệt đám vệ-binh lau-nhau và giải thoát tù-nhân. Không hề thấy. Tôi đã hàng đêm mơ mộng chuyện quân ta đánh phá trại. Vì tôi đau lòng thấy mấy thằng Việt cộng mặc quần xà-lỏn may bằng cờ vàng ba sọc đỏ. Tù-nhân không dám trốn trại bởi không tìm ra địa-điểm đi tới. Nỗi quạnh-hiu đến não-nề phủ kín quê-hương, có lẽ, chỉ ồn-ào bằng kháng-chiến chiêm-bao, bằng chiến-khu tưởng-tượng của bọn cai thầu lòng yêu nước và đám côn-quan thu thuế lạc-quyên.
Cộng-sản dùng danh từ man- rợ là quản-lý con người. Họ có nghệ-thuật quản-lý con người. Người quốc-gia hải-ngoại chắc chưa bao giờ nghe nói tới một thứ nghệ-thuật gợi tưởng bắt bớ, giam nhốt, tra tấn, thủ-tiêu là nghệ-thuật công-an. Nhà-nước Cộng-sản đã hãnh diện xuất bản tạp-chí Nghệ-thuật công-an đấy. Nghệ-thuật quản-lý con người là không cho con người có cơ-hội nổi loạn. Đừng đánh giá Cộng-sản qua những người công-an coi tù ngọng-nghịu, qua những người bộ-đội ngớ-ngẩn. qua những người cán-bộ khù-khờ. Phải đánh giá Cộng-sản qua chủ-nghĩa của nó, qua lãnh-tụ của nó. Chúng ta cần nhìn rõ đối-tượng đề tiêu-diệt. Đó là bọn ủy-viên Bộ chính-trị và bọn ủy-viên trung-ương Đảng. Và, đằng sau những con bài lãnh-tụ đã lật là những ai còn trong bóng tối. Khi Cộng-sản Việt Nam tung những khuôn mặt mới, chúng ta mới bắt đầu đi tìm hiểu và chúng ta cũng chưa hiểu chính-xác.
Ngược lại, Cộng-sản biết hết chúng ta. Tri-kỷ mà không tri-bỉ thì chỉ có. . . di-tản, vượt biên. Tri-bỉ mà không tri-kỷ thì chỉ có thuê đất thiên-hạ lập chiến-khu và duyệt binh thiếu xe tăng, tàu bò, đại- bác, máy bay những ngày quân lực… tan hàng. Chúng ta đã viết báo, đã diễn kịch chống Cộng-sản. Chúng ta cho Cộng-sản đội nón cối, răng vẩu, mắt toét, nói ngọng, ngu dốt. Và chúng ta chạy quá dài, quá nhanh, quá xa. Chúng ta lại tiếp tục viết báo- diễn kịch chống Cộng-sản nón cối, giép râu, răng vẩu, nói ngọng, mắt toét, ngu dốt… Võ Nguyên Giáp không ngọng không dốt. Nguyễn văn Linh không dốt, không ngọng.
Lãnh-tụ Cộng-sản Việt Nam không nói “đồng hồ 2 cửa sổ, 12 cột đèn”. Lãnh-tụ Cộng-sản Việt Nam không nói kiểu cai tù chăn trâu cắt cỏ mắng tù-nhân: Nao động thì nề mề, tư-tưởng thì nấn cấn. Chỉ mong ngày nễ nớn. Nễ nớn ăn thịt nợn. Đã cho ăn thịt nợn nại còn đòi ăn nòng. Bố nếu bố náo”… Lãnh-tụ Cộng-sản Việt Nam biết lừa gạt cả thế-giới, biết bỏ đám phản-chiến Mỹ và báo-chí Mỹ vào túi quần… Và biết quản-lý con người. Quản-lý con người đáng ngại nhất. Giải-phóng con người thoát khỏi sự quản-lý của Cộng-sản mới là cách chiến-đấu tuyệt-diệu. Để chiến-thắng. Để tuyệt diệt Cộng-sản trên trái đất. Đề tạo dựng hạnh-phúc vĩnh-cửu cho dân-tộc, cho nhân-loại. Như thế, cần-thiết một chủ-thuyết chế-ngự chủ-nghĩa Cộng-sản và chủ-nghĩa tư-bản là hai chủ-nghĩa đã chỉ tạo ra chiến-tranh, nô-lệ, đói khổ, tù đầy, thù-hận. Cộng-sản và tư-bản đều đã lạc-hậu, bất-lực. Từ hơn một thế-kỷ nay, chúng ta chỉ nhai lại chủ-thuyết của thiên-hạ mà mưu cầu hạnh-phúc cho dân-tộc. Và chúng ta sát hại lẫn nhau cũng vì chủ-thuyết của thiên hạ. Chưa có người Việt Nam lập thuyết. Mỗi chủ-thuyết dấy động phong-ba đều ra đời trong những bối-cảnh lịch- sử nghiệt-ngã. Bối-cảnh lịch-sử hôm nay rất thích-ứng cho một chủ-thuyết nhân-bản ra đời. Các ngài tiến-sĩ tốt-nghiệp đại-học Huê Kỳ sau 1975 đã nghĩ đến chuyện lập thuyết chưa? Hay chỉ biết ngồi ở quán rượu diễn tuồng đố kỵ tài-năng và chửi bới người vắng mặt? Nhớ rằng Marx và Engels lập thuyết ở Đức và Lénine truyền-bá ở Nga. Vậy tiến-sĩ Việt Nam lập thuyết ở Mỹ sẽ có người truyền-bá ở một nơi nào đó thuận-lợi. Tôi sợ đầu óc tiến-sĩ bé tí tẻo, chưa dám nghĩ thuyết nào ngoài thuyết Job. Mà chống Cộng bằng “đả đảo”, bằng “tài liệu”, bằng chưa hề nhìn rõ giép râu 30-4-1975 sẽ nghìn đời không ép- phê. Nhưng lập thuyết và làm tư-tưởng không nằm trong khả-năng và kiến-thức hạng bét của thằng viết tiểu thuyết mưu sinh là tôi. Vậy trở về nghệ-thuật quản-lý tù-nhân của Cộng-sản.
Cộng-sản nắm vững tâm-lý tù-nhân. Cái thứ án gọi là án phạt tập-trung cải-tạo nó bắt tù-nhân không được phép tuyệt-vọng và chỉ được phép hy-vọng kiểu hy-vọng trúng xổ số. Tù không có án, có thể, ngày mai được tha, có thể ba năm được tha, có thể ba mươi năm được tha. “Về hay không là ở các anh có tiến-bộ hay không. Tiến-bộ sớm về sớm. Tiến-bộ muộn về muộn”. Không bao giờ có dọa-nạt: Không tiến-bộ, không về. Nghĩa là, đã học tập cải-tạo tất sẽ phải tiến-bộ. Tiến bộ sớm hay tiến-bộ muộn do ở thiện-chí cải-tạo. Thiếu thiện-chí cải-tạo thì lâu tiến-bộ. Sự tiến-bộ nhìn rõ ở lao-động. “Lao-động là cái thước đo giá-trị con người”. Lao-động thể-hiện tư-tưởng vì lao-động là hành-động. Hành-động trọng-tâm xác-định tư-tưởng tốt chỉ là lao-động tích-cực đạt chỉ-tiêu. Ngoài ra, những hành-động chào kính, tuân-hành mệnh-lệnh thể-hiện sự hết thù-nghịch cách mạng. “Tư-tưởng thể-hiện hành-động”. Hành-động tốt, tư-tưởng tốt. Hành-động tốt giả-vờ, tư-tưởng vẫn tốt. Cộng-sản thừa hiểu hành động tốt giả-vờ là nín thở qua cầu nhưng họ chấp-nhận nín thở qua cầu hơn là chống đối ra mặt. Bởi thế, cái mà tù-nhân hấp-thụ được từ nền giáo-dục cải-tạo của Cộng-sản là sự gian dối. Tất cả tù-nhân, ra khỏi trại lao-cải, đều trả lại sự gian dối cho cộng sản. Hiếm-họa mới còn người coi sự gian dối như chân-lý.
Tù-nhân bối-rối trong câu nói khoan-dung khốn-kiếp: “Đảng và Nhà-nước không muốn giam giữ các anh, nhưng về hay ở là tùy thái-độ cải-tạo của các anh”. Như tôi đã viết tù-nhân mang án phạt tập-trung cải tạo, có thể, ngày mai về, tuần sau về, tháng sau về hay ba mươi năm sau về, nên không dám vượt ngục. Nhỡ mai được tha thì sao? Cái hy-vọng mơ-hồ làm tù-nhân quên tuyệt-vọng. Và cam đành chờ đợi…xổ số. Tù-nhân gọi những buổi tập họp giữa sân trại hay tại hội trường nghe đọc danh-sách những người được tha là nghe kết-quả xổ số. Tại sao nghe đọc kết-quả xổ số? Vì không biết ai sẽ được về. Tù nhân lao-cải là những người không mua vé số mà vẫn bị nghe kết-quả xổ số. Cùng bị bắt một vụ, cùng đi trình-diện một ngày, người cấp bậc cao, người chủ mưu có tên trong danh-sách. Thiếu- tá Phủ đặc-ủy trung-ương tình-báo có tên đọc, hạ-sĩ gác cổng không có tên đọc. Vậy không gọi xổ số thì gọi là cái gì? Sự tha bổng của Cộng-sản ăn thua ở hên xui. Như tù-nhân Nguyễn Tân Mão, thiếu-úy đã có lệnh tha ở Phước Long năm 1978. Thay vì về sum-họp gia đình ngay buổi chiều đọc xong lệnh tha, lại nấn-ná ngủ một đêm chót “enjoy” với anh em, mai mới giã-từ lao-cải. Nửa đêm có lệnh thu hồi Giấy ra trại. Những người đã về, coi như… tự-do luôn. Những người chưa về, ở lại lao-cải tiếp. Nguyễn Tân Mão bị chuyển về Z30 D Hàm Tân, nghe kết-quả xổ số hàng chục lần. Mãi đến giữa năm 1981 mới… trúng số ! Bộ quốc-phòng rồi Bộ nội-vụ của Việt cộng có những quyết-định tha tù-nhân rất ly-kỳ. Tôi có cảm-tưởng họ bỏ tên tù-nhân vào lọ, xóc loạn lên như xóc sâm ở Lăng Ông. Tên nào rớt ra, tên ấy trúng số. Bộ nội-vụ quyết-định tha tù-nhân, không phải Giám-thị lại lao-cải. Ban giám-thị ưa hù tù-nhân rằng Ban giám-thị đề-nghị, chấm điểm cho tù-nhân. Tù-nhân được tha sớm, tha muộn là do đề nghị của Ban giám-thị. Mà đề-nghị điểm tốt lên Ban giám-thị là do cán-bộ Quản-giáo. Hù thế để tù-nhân tôn-trọng Nội-quy, nể sợ cai tù. Ngay cả Giám-thị cũng không có quyền bắt, quyền tha tù-nhân. Có một quyền duy nhất thả tù-nhân: Là ăn vàng hối-lộ của thân-nhân tù-nhân để tù-nhân trốn trại an-toàn. Trường-hợp này đã xẩy ra ở trại lao-cải Long Giao những năm bộ-đội quản-lý tù-nhân. Một tù-nhân trốn trại, bị bắt, bị nhốt vào conex, vẫn mở conex trốn ra như James Bond rồi vượt biên. Những thằng tưởng làm “ăng-ten” ở nhà tù, ở trại tập-trung sẽ được tha sớm là những thằng ngu. Những thằng viết rằng vì bị “ăng-ten” tố-cáo mà nằm tù mút chỉ là những thằng đại ngu. Từ năm 1980 , sĩ-quan, công-chức học tập cải-tạo, muốn về, chỉ cần gia đình có nhiều vàng chuộc. Trung-tá cảnh-sát đặc-biệt không những được về mà còn được đoàn-tụ gia đình ở Tây Đức. Trung-sĩ cảnh-sát đặc-biệt và hạ-sĩ gác cổng, hạ-sĩ bưng nước Phủ đặc-ủy Trung-ương tình-báo thì vẫn…lao-cải.
Biết rằng thân-phận mình nằm trên 6 lồng cầu, tù-nhân cứ khấp-khởi nghe kết-quả xổ số. Trước mắt đó, anh em đã ra về thơ-thới hân- hoan. Sắp đến lượt mình về. Hy-vọng dâng tràn. Tích-cực lao-động và chấp-hành Nội-quy tốt. Khi tù-nhân chán-nản, tuyệt-vọng, lập tức, trại đột-xuất cho nghỉ lao-động vài ngày, cho ăn cơm trắng với thịt kho. Thế là bàn-tán, suy-luận, suy-diễn. Toàn suy-diễn tốt về phía mình. Bồi-dưỡng để tha đây. Đảng và Nhà-nước thay đổi nhiều rồi. Hy-vọng lại dâng tràn. Nghỉ lao-động vài ngày rồi lao-động lề-mề. Quản-giáo không thúc-dục, không kiểm-tra. Giờ giải lao kéo dài cả tiếng. Văn-nghệ ngoài bãi. Nhạc vàng, vọng-cổ hát líp-ba- ga. Tắm thỏa-thuê. Về trại sớm. Trực trại dễ-dãi ca-cóng. Thăm gặp không giới hạn. Có sức tha-hồ gánh quà. Tự-do hàn-huyên với thân-nhân. Sợi giây siết cổ tù-nhân nới lỏng, nới lỏng tưởng chừng tháo tung. Mầm mống nổi loạn vừa nhú lên, vội-vàng tàn lụi. Không có gì đề chống đối cả. Trại đối xử tốt quá rồi. Cứ lè- phè đợi cầm giấy ra trại. Trốn trại là ngu. Bị bắn khổ vợ con. Nổi loạn là dại. Trứng khó địch lại đá. Tư-tưởng thua AK. Cộng-sản biết cách xì bong-bóng. Không bao giờ họ bơm căng, không bao giờ họ dồn tù-nhân vào chân tường. Dồn gần sát chân tường dò dẫm phản-ứng rồi họ lại đẩy ra. Nới lỏng giây siết cổ rồi lại siết dần. Cứ thể, họ quản-lý tù-nhân tháng này qua năm nọ. Và không hề có nổi loạn đánh phá trại giam, cướp súng giết cai tù.
Nghệ-thuật rỉ tai gây ngờ vực rồi thù-hận lẫn nhau giữa tù-nhân của Cộng-sản đã tinh vi, nghệ-thuật tung tin công-khai của Cộng-sản càng tinh-vi. Bàn hương-án bầy ra, Giám-thị, khuôn mặt đằng-đằng sát-khí, lời lẽ sắt thép:
– Các anh chỉ có một con đường chọn lựa. Đó là con đường tích-cực lao-động cải-tạo tư-tưởng để được hưởng sự khoan-hồng của Đảng và Nhà-nước sớm về sum-họp gia-đình. Ngoài con đường đó là vô vọng. Mới đây, đế-quốc Mỹ đòi chuộc các anh. Chúng định giá các anh như súc-vật mỗi đầu người 2500 đô la. Đảng và Nhà-nước ta quý-trọng con người, triệt-để bảo-vệ phẩm-cách con người, không vì cần đô-la mà bán các anh như bán nô-lệ. Các anh đừng hòng đế-quốc Mỹ cứu các anh. Đừng hòng.
Cộng-sản thả cái phao mục cho tù-nhân sắp chết đuối. Chưa đủ, tự nhiên họ ân-cần yêu-cầu tù-nhân nào có thân-nhân di-tản trước 30-4-1975 sang Mỹ, sang Úc, sang Pháp…thì thành-khẩn khai báo. Ai không khai sẽ mất quyền-lợi và không được khiếu-nại. Tù-nhân đang muốn nổi loạn, bèn xìu xuống. Người ta công-khai thảo-luận đề-tài hấp-dẫn “Mỹ cứu tù-nhân cải-tạo”. Người ta suy-diễn. Người ta suy-luận. Người ta chìm vào chiêm-bao. Và người ta chứng-tỏ sự tiến-bộ vượt bực. Chấp-hành Nội-quy thật tốt. Lao-động thật tích-cực. Để được Mỹ cứu.
Tư-tưởng trốn trại và nổi loạn không còn nữa . Nhưng tư-tưởng… đố-kỵ manh-nha. Tù-nhân đặt câu hỏi: Những thành-phần nào được Mỹ chuộc 2500 đô-la một đầu người? Câu trả lời có ngay: Ngụy- quân và ngụy-quyền, tức là sĩ-quan quân-đội, cảnh-sát và công-chức cao-cấp, dân-biểu, nghị-sĩ… Mỹ chỉ cứu người của họ, “đồng-minh” của họ. Khi cần mỉa-mai thì Mỹ chỉ cứu đầy-tớ của họ, tay sai của họ! Thành-phần tù-nhân phản-động kết-luận thế. Bèn có ba giai-cấp tù trong nhà tù. Giai-cấp tù-nhân trình-diện học tập cải-tạo, giai-cấp tù-nhân bị bắt và giai-cấp tù-nhân chống Cộng sau 30-4-1975 bị bắt. Tù-nhân hình-sự không được đề-cập, dù hình-sự có nhiều người kiến-thức và tư-cách ăn đứt tù-nhân chính-trị. Giai-cấp tù-nhân chống Cộng sau 30-4-1975 mà Cộng-sản gọi là “phản-động hiện-hành” có vẻ tự-hào nhất. Rằng, có thể họ bị lừa gạt, bị sa bẫy Mai Chí Thọ nhưng họ dám chống Cộng trong hoàng-hôn chống Cộng. Rằng, tướng tá đào-ngũ trước 30-4-1975, bộ- trưởng đào-nhiệm, nghị-sĩ, dân-biểu, nghị-viên bỏ dân chuồn nhanh, những kẻ chậm chân bị ở lại thì cam đành đóng tiền, xếp hàng, chen lấn trình-diện học tập cải-tạo. Chỉ có họ, những người can-đảm và nhiệt tình, mới dám chống Cộng-sản, trực-diện chống Cộng-sản khi Cộng-sản đã thôn tính miền Nam. Vậy thì họ bèn khinh-bỉ những kẻ hí-hửng đợi chờ Mỹ cứu. Họ nổi cơn phẫn-nộ, nguyền-rủa Mỹ là bọn phản-phúc chó đẻ. Những cuộc đấu võ mồm suýt thành võ chân tay xẩy ra chung quanh đề tài “Mỹ cứu tù-nhân cải-tạo”. Cộng-sản ném một hòn đá chết hai con chim. Nó hư hư thực thực “Mỹ đòi chuộc các anh”, nó lấp-lửng không quy-định “các anh” là ai. Và các anh chống đối nhau, chia rẽ nhau. Thực lòng thì anh nào cũng muốn được Mỹ chuộc với giá 2500 đô la, nhưng thấy mình quá “xa lạ” với Mỹ đâm ra cay cú Mỹ và cay cú thành-phần sẽ được Mỹ cứu. Võ-khí tư-tưởng của hai giai cấp: Chỉ có đầy-tớ Mỹ mới được Mỹ chuộc sang Mỹ tiếp-tục làm đầy-tớ cho nó. Bọn vô danh tiểu tốt, Mỹ đâu thừa tiền chuộc. Như vậy đó, thủ-đoạn Cộng-sản. Khi con người thấy nó không có quyền-lợi thì nó điên lên vì những con người có quyền-lợi. Cộng-sản quán-triệt nghệ-thuật làm con người điên lên. Thí dụ cái tin Mỹ đòi chuộc tù-nhân cải-tạo rất lô-gích mà họ tung ra ở các trại cải-tạo. Sự thành-công của Cộng-sản phải coi là tốt đẹp. Nhiều tù-nhân cải-tạo sợ “bị” được tha sớm. Được tha ở giai-đoạn này là niềm bất-hạnh, là bị xóa tên trong danh-sách tù-nhân được chuộc tiền của Mỹ. Tất cả muốn chờ Mỹ cứu, muốn đợi phái-đoàn Mỹ đến tận trại lao-cải gọi tên mình, ném mình lên trực-thăng, bốc mình luôn ra Hạm đội số 7. Ở đó, vợ con mình đã có mặt! Đó không bao giờ là ảo-vọng mà là sự thật. Sự thật nhanh một tí hay muộn một tí thôi. Và tù-nhân cải-tạo đã hồ-hởi phấn-khởi nằm tù.
Một vài thí-dụ cụ-thể để chứng-minh nghệ-thuật quản-lý tù-nhân của Cộng-sản. Nghệ-thuật này không bao giờ do Ban giám-thị trại hay bọn cai tù chăn trâu cắt cỏ ngọng líu lưỡi sáng-tạo cả. Chúng nó dốt-nát, sáng-tạo sao nổi. Nghệ-thuật quản-lý nhân-dân, quản-lý tù-nhân, quản-lý con người do đám lãnh-tụ chiếu nhất của cái gọi là Bộ Chính-trị trung-ương Đảng sáng-tạo thành chính-sách, thành mệnh-lệnh và bọn cai tù có bổn-phận thi-hành nghiêm-chỉnh.
Bạn đã hiểu tại sao tù-nhân lao-cải ít vượt ngục và tại sao không hề có cuộc nổi loạn ngoạn-mục nào ở các trại tập-trung khổ-sai lao-động.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Phần 26                         

Tết 1984 Đánh Dấu Sự Thay Đổi Chế Độ Tù Việt Nam

Tết Nguyên Đán năm 1984 chúng tôi lại trãi qua một cuộc “xóa bài làm lại” trong khu biệt giam của Phân trại E thuộc A-20 Xuân Phước, nghĩa là phải thay đổi chổ ở sau một màn tất cả lần lượt “bị” lùa ra giếng nước ngay bên cạnh ao thả cá rô phi sau khu biệt giam. Trời tháng Giêng ở Thung Lũng Tử thần lạnh như có ai cầm dao cắt vào da, nhất là khi trời vào tiết Xuân, gió hiu hiu làm lay động hàng dừa trong sân trại. Cái lạnh thiên nhiên cộng với việc thiếu đường và chất béo từ 9 năm qua khiến cho buổi sáng ngày 30 Tết Nguyên Đán năm 1984 trở thành buổi sáng không thể nào quên được trong đời.  Chân tay anh em chúng tôi gần như tê liệt. Linh mục Nguyễn Văn Vàng đứng như trời trồng trước cửa biệt giam số 5 khi ngài được trật tự mở còng cho đi tắm và làm tổng vệ sinh buồng giam. Một tu sĩ Công giáo nhỏ con và lanh lẹ như một con sóc, nổi tiếng hùng biện và can trường như ngài mà chỉ mới hơn 3 năm bị cùm trong xà lim thân xác không khác gì người tù Do Thái trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã hồi Thế Chiến Thứ Hai.

Linh mục Vàng đứng lên được nhưng không thể nào bước đi được. Những anh em tù nhân thuộc đội hình sự được cán bộ trực trại đưa vào giúp chúng tôi cọ rửa các xà lim biệt giam, đổ thùng cầu tưởng Linh mục Vàng giả vờ để trốn tắm, một vài anh em trong số họ đã có lời lẽ thiếu nhã nhặn đối với ngài. Nhưng ngay lập tức một trong số những tù hình sự đứng tuổi có lẽ là đội trưởng nạt lại ngay: “Đ.M. đứa nào vừa ăn nói du côn đấy, liệu hồn tối nay về đội không còn răng để ăn cháo nghe con. Đ.M. người ta bị cùm lâu ngày gân cứng lại thì cũng phải từ từ chứ. Bộ chúng mày tưởng mình là cán bộ chắc, cho hai đứa nào vào dìu ông già ra”. Tôi được tháo cùm sau Linh mục Vàng, hai đầu gối tê cứng, thân mình xiêu đổ khi đứng lên và cũng được hai tù hình sự dìu ra giếng nước. Một trong hai tù hình sự đứng kéo nước từ giếng lên để xối cho chúng tôi, biết ông Vàng là linh mục nên nói: “ Cha ngồi xuống dựa vào bức tường chắn cho đỡ lạnh. Anh cũng vậy. Em kéo nước lên sẽ dội ra ngoài để che mắt  bọn nó. Cả hai người yếu quá rồi chỉ nên thay quần áo chứ không thôi thì ở dơ không chết mà chết vì cảm lạnh đấy”. Chúng tôi thấy người hình sự này nói có lý nên làm theo.

Cả hai chúng tôi ngồi cho đến hết giờ tắm để lại được dìu ra khỏi giếng nước đến ngồi ở bờ hè bên bức tường hông của nhà bếp nơi có thùng nước nóng mà tù cải tạo của đội nhà bếp xin mang ra để phát cho những tù nhân biệt giam ra tắm. Tôi cho ca nước của mình múc một ca, uống hết một nửa, một nửa đưa cho Linh mục Vàng. Ngài uống hết rồi múc thêm nửa ca nửa. Tôi hỏi ngài: “Bố vẫn còn khát hả?” Ngài trả lời: “Uống phòng xa”. Động từ “phòng xa” anh em chúng tôi dùng để chỉ thời kỳ bị nhục hình bằng chính sách 2 muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối khi chúng tôi bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc nên mỗi khi bị gọi ra “làm việc” phải xin uống cho thật nhiều nước trước lúc bị dẫn trở lại buồng giam rồi đái ra để uống cho đỡ khát.

Từ lần mà tôi bị gọi ra để làm việc với các thẩm vấn viên từ trung ương vào, chúng tôi không còn bị “đì” phần nước như trước nửa, nhưng mỗi bữa ăn cũng chỉ được phát một phần tư ca. Với số lượng nước này người tù nào vẫn giữ cách nhịn bớt khoai mì để tránh muối thì không đến nỗi khát quá, nhưng nếu người nào không nhịn được và ăn trọn bộ hai phần khoai mì đẫm nước muối cho một ngày thì cũng vẫn khát và sẽ thấy thân thể mỗi ngày trở nên “đẫy đà” hơn, nước da ngày càng xanh bóng hơn (nghĩa là phù thũng nặng hơn)

Tuy nhiên dù gì đi nửa bị cầm giữ trong không gian của một cái chuồng tối tăm, thiếu vệ sinh, không khí và ăn uống lại thua xa khẩu phần của một con chó như thế dần dà chúng tôi xuống sức và nếu không may chỉ cần vướng một cơn cúm nhẹ cũng có thể tiêu mạng như thường. Cựu dân biểu K.T.V. và tham sự hành chánh L.Q.M. bị đua vào biệt giam muộn hơn tôi nhiều nhưng chưa đầy 9 tháng sau, một người phải cáng vào bệnh xá trong phân trại B và qua đời tại đó, còn một người chết ngay trong biệt giam. Ở phân trại E nhiều anh em ít chú ý đến một hiện tượng: phần lớn những anh em tù nhân cải tạo bị bệnh mà phải đưa vào bệnh xa phân trại B cách phân trại E khoảng từ 5 đến 7 cây số đều chết tại đây chẳng hạn như ông L.K. chủ tịch Tổng Công Đoàn Tự Do một tổ chức Nghiệp Đoàn đối lập với Liên Đoàn Lao Công của ông T.Q.B. và khoảng độ ba hay bốn tu sĩ Công Giáo, hai tu sĩ Phật Giáo khác, cựu Tổng Đốc N.D.G. và chánh văn phòng của TT Ngô Đình Diệm V.V.H.

Nhiều người thắc mắc ở Thung lũng tử thần có bao nhiêu trại giam và phân trại nào là trại chính. Một trong những tù nhân thuộc nhóm người đi chuyến tàu Việt Nam Thương Tín trở về nước sau khi đã di tản đến Guam rồi cho biết khi họ đến đây là đã có phân trại B rồi. Phân trại B là một bệnh xá có 10 giường bệnh, 4 bác sĩ Quân Y của QLVNCH cũng là tù cải tạo làm việc với một y sĩ Việt Cộng mang cấp Thiếu Úy (Ghi chú y sĩ là từ ngữ mà ngành y của cộng sản dùng để chỉ y tá hay y tá trưởng). Ngoài ra còn hai phân trại khác nhỏ hơn đó là C và D ở sâu trong một khu rừng nguyên sinh cách B khoảng 10 cây số được thiết lập bên cạnh một con suối. Cho đến thập niên 1980 thì các phân trại C và D mà phần lớn tù nhân cải tạo là hình sự đều lần lượt bị đóng cửa vì nước độc. Lý do khiến Cục Trại Giam Miền Nam dẹp trại giam C và D đã trở thành các cuộc tranh cãi trong số những anh em tù nhân cải tạo. Người thì cho rằng tình hình an ninh không còn bảo đảm do tàn quân “ngụy” phối họp với người dân tộc H’mong đang có âm mưu dấy loạn từ trong buôn làng của họ cách trại khoảng 20 cây số đường chim bay. Có người lại còn nhân rộng một hình ảnh trên thực tế không hề có: quân của tướng Ngô Quang Trưởng mở một đường xâm nhập từ Lào vào Việt Nam nằm về phía Đông Bắc của phân trại D. Đại loại những “hot news” này lúc đó được tù cải tạo loan truyền chỉ với mục đích giữ vững và an ủi tinh thần anh em. Tuy nhiên, nó chỉ có tác dụng đối với những sĩ quan nào không hề chú ý đến khía cạnh thuần lý của tin tức. Còn phần đông những anh em khác đều cho rằng đây là chuyện tầm phào. Điều khôi hài là vào lúc ấy chỉ có một số ít người tù chịu khó nêu ra suy nghĩ độc lập của mình: chỉ có người giữ vai trò Tổng bí thư đảng cộng sản mới có thể biết tin trên được, tù nhân cải tạo ở trong cái rọ của Xuân Phước kín như bưng làm sao biết được mật tin này và liệu mật tin này có thể là do chính Việt Cộng tung ra trong một chiến dịch trăm hoa đua nở khác trong trại tù hay không? Rõ ràng nguồn tin thuộc loại “hot news” thường tỏ ra có nhiều kinh nghiệm trong việc loan truyền. Tâm lý người tù cải tạo lúc nào cũng cần có một cái phao để bám vào trong khi những người nào còn tỉnh táo thì không nói ngược lại được vì sợ những người bạn đồng tù hỏi: “Bộ mày không muốn tướng Trưởng mang quân về à?” hay “Bộ mày không muốn có thay đổi hả?” Những câu hỏi xách mé về những tin tức tưởng tượng này trở thành một cái khiên để những phần tử chống cộng hoang tưởng trong trại giam vùi đầu trong cát một cách hèn nhát để “chờ thời cơ sắp đến” và làm cho sự đoàn kết giữa anh em tù cải tạo với nhau sứt mẻ dần.

Những tác hại nguy hiểm của loại tin tức đại loại như ông tướng này về lập chiến khu tại dãy  núi Mây Tàu, Rừng Lá hoặc vùng U Minh Thượng Cà Mau tướng kia về mật khu Dương Minh Châu hay tướng Hải Quân Hoàng Cơ Minh cùng ông Hoàng Văn Hoan thuộc Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam đào tị ra nước ngoài trở về Hoàng Sa lập hạm đội giải phóng Việt Nam đã trở thành những đề tài nóng hổi trong những trại giam. Những cái phao này có những lúc được bơm rất căng, dẫn tới những cuộc cải lãy và ấu đả tuy chỉ là vài cú đấm thôi cũng đã tạo ra bối cảnh thảm hại trong hàng ngũ anh em tù cải tạo chúng tôi. Dù những người bị bịt mắt trong trong thành phần tù nhân cải tạo chỉ là thiểu số, nhưng đa số thầm lặng thì lại không muốn phiền hà đến mình nên vẫn chỉ là đa số thầm lặng. Cho nên những người tù nào còn tỉnh táo để phán đoàn, những người vẫn có thể nói với những thiểu số mù quáng này rằng Hoàng Sa đã mất về tay Trung Cộng từ năm 1974 hoặc “Mấy anh mà còn biết những tin tức loại A 1 này, thì bọn cộng sản chúng nó lại mù hay điếc hết hay sao mà không biết” đã mặc nhiên trở thành “những người tỉnh táo trong cô đơn” và đôi khi còn bị cô lập.

Những thập niên sau này khi sang định cư ở Mỹ sống giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt Nam chỉ một năm sau, tôi đã nhận ngay ra một số chính trị gia hay nhà báo mang cái bệnh hoang tưởng từ các trại lao cải ở Việt Nam từ các thập niên trước sang đất Mỹ. Điều đáng quan ngại sự hoang tưởng của họ chiếm một vị trí rất trang trọng trong các bài diễn văn dài trước cử tọa mà đa số đều trãi qua những kinh nghiệm ở các nhà tù cộng sản hay ở xã hội bên ngoài tại Việt Nam. Trong khi nhiều người muốn xây dựng một nền văn hóa cộng đồng mang sang từ quê hương gốc thì một số chính trị gia nói trên lại xây dựng một nền chính trị cũng hoang tưởng như các “hot news” trong trại tù và rập khuôn kiểu cai trị của đảng cộng sản: “Những gì chúng tôi nói ra là chân lý phù hợp với cộng đồng, mấy anh bất đồng chính kiến với chúng tôi có nghĩa là đi ngược lại cộng đồng, là tay sai cộng sản”. Có một giai đoạn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, phần đông chính trị gia này hay dùng nhóm từ ngữ “bị tẩy não” để chỉ nhóm người không có ý kiến giống họ mà không hề để ý rằng chính họ mới là những thành phần bị cộng sản tẩy não. Không bị tẩy não thì không ai lại ngu dại gì mà giữa một đất Mỹ tự do mà lại tự nguyện đưa chân vào cái cùm Đỏ như vậy.

Sáng 30 Tết Nguyên Đán năm 1984, các phân trại thuộc A-20 đều nghỉ lao động. Theo lời những anh em không bị biệt giam lâu dài kể lại sau này thì năm ấy viên trại trưởng Lê Đồng Vũ cho nới lỏng thăm nuôi, bỏ những giới hạn khắt khe, chẳng hạn như “những tù cải tạo bị biệt giam khi được thả ra lại đội lao cải không được nhận quà thăm nuôi hay ra gặp mặt gia đình ít nhất là sáu tháng” Linh mục Nguyễn Văn Vàng và tôi ngồi dựa lưng vào bức tường nhà bếp cho đỡ lạnh sau khi được một tù hình sự tốt bụng tránh cho việc phải dội nước lên người. Nhìn vườn rau cải chạy từ sau lưng khu biệt giam đến dãy nhà giam 1 và 2 đã ra hoa vàng, nhìn những bạn tù được gọi ra thăm gặp hay thăm gặp rồi xách những giỏ quà từ cổng trại đi vào dưới hàng dừa cũng đã đơm hoa, nghe tiếng lao xao của bạn bè bên những giếng nước đào trước sân mỗi nhà giam tôi bỗng chạnh lòng nghĩ tới những người thân ruột thịt nhất là mẹ tôi. Từ giữa năm 1976, tôi không còn gặp hay thư từ gì cho bà cụ. Những năm tháng còn bươn chải trên các mặt trận vào những năm trước 1975 để làm sao có thể gởi được về hậu phương một phóng sự truyền thanh “Xuân Tiền Đồn” cho kịp phát thanh sau thông điệp đầu năm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tính ra chỉ có vài năm ít ỏi tôi được vui tết với gia đình bắt đầu từ sau Mùa Hè Đỏ Lữa năm 1972. Trong những script gởi kèm với cuộn băng ghi âm phóng sự này, tôi thường dùng một đoạn của ca khúc mà cho tới nay tôi đã quên tên của nó, trong đó có hai câu mà tôi thích nhất thường dùng làm nhạc mở đầu và nhạc nền cho phóng sự:

“Đồn anh đóng ven rừng mai

Nếu mai không nở anh đâu biết Xuân về hay chưa”

Lúc bấy giờ 1984, tuy hoàn cảnh đã đổi thay nhưng tôi cũng không quên được hình ảnh của những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân hay những người lính đồn trú tại những căn cứ hỏa lực những ngày trước tết Nguyên Đán. Họ quả cảm, nhẫn nại và chịu đựng gánh nặng của cuộc chiến trong những năm dài nay lại phải chịu đựng gánh nặng của đời tù đày gần cả một thập niên (tính cho đến 1984). Những người lính ấy trở thành những tù cải tạo sau khi thua trận đứng lố nhố lấp ló trong lối đi của vườn rau cải đơm bông. Họ muốn tiếp tế cho chúng tôi nhưng còn ngại đám vệ binh đứng canh chùng để kiểm soát việc bắt cá rô phi từ cái ao đào ngay sau khu biệt giam.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Phần 25                   

Nếu Nhân Quyền Quốc Tế Can Thiệp

“Đánh Trống Bỏ Dùi”

Trung tuần tháng Tư 1982, tôi bị gọi ra thẩm cung. Trực trại Luật cho biết trước lần thẩm cung này do trung ương từ Hà Nội vào nên tôi “phải thành thật khai báo để được tha cùm sớm hơn, được trở về đội tiếp tục lao động và được nhà nước xét tha cho trở về với gia đình”. Luật nói: “Gia đình anh trông mong anh về để giúp họ vì tình hình kinh tế bên ngoài khó khăn lắm đấy. Trại vừa mới được thả một đợt. Tôi khuyên anh là không nên bướng nửa, các anh không làm gì được chúng tôi đâu.” Tôi không buồn trả lời trả vốn gì với những tin tức của Luật vì một em ở đội hình sự bị kỷ luật mới bị nhốt vào biệt giam đã cho biết tyin này. Tôi nói với Sơn Tây-Anh Dũng-Non Nước (T.D.S.) khi người bạn tù ở đội hình sự cho biết tin đợt thả tù gây nhiều ngạc nhiên: “Như thế là bên ngoài phải có biến chuyển gì quan trọng, chứ tới A-20 bọn mình trở thành hồ sơ chết rồi”.

(Ghi chú: Khi được thả ra khỏi nhà tù cuối 1988, người anh cả của tôi đối chiếu và cho biết: “Chúng nó chuẩn bị để đánh đổi bọn mày với việc tìm kiếm người Mỹ mất tích. Thời gian đó trùng với việc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là ông Funseth khởi sự các cuộc thương lượng với Hà Nội về số phận của những tù cải tạo”.Ông anh cả tôi đang dạy học ở trường trung học Trưng Vương thì bị gọi động viên vào học khóa 16 trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường, phục vụ ở Tiểu khu Long Khánh rồi bị thương phải giải ngũ. Sau Tết Mậu Thân bị tái ngũ do lệnh tổng động viên và đến phục vụ ở tiểu khu Phước Long đến năm 1971 mới được giải ngũ trở về dạy học lại. Sau 30 tháng 4, 1975 do yêu cầu của ban giám hiệu của chế độ mới anh tiếp tục dạy vài năm rồi xin nghỉ về nhà sinh sống bằng cách dạy kèm Toán-Lý-Hóa cho con em của những gia đình nào vẫn còn quan tâm đến giáo dục của con cái. Kể từ năm 1984 anh là người mạo hiểm và bí mật liên lạc thư từ với Sứ quán Hoa Kỳ ở Thái Lan để xin một loại thư giới thiệu rất quan trọng mà anh em H.O. gọi là L.O.I.(Letter Of Introduction). Anh đã làm thiện nguyện cho hằng trăm người gồm bằng hữu của anh và những người cần sự thông thạo Anh ngữ của anh cả tôi)

Tôi mới được thả một chân cùm cách đó vài ngày nên hai chân vẫn còn “sượng” mỗi lần bước đi hai đầu gối chân như muốn cứng lại và đau đớn. Lần này thì không cần phải xin nước, tôi được trật tự Của lấy cho một ca nước nóng từ nhà bếp. Một bạn tù làm đội nhà bếp tốt bụng với anh em đã lén bỏ vào ca nước một chút đường. Cho đến nay tôi vẫn nhớ đến cái vị ngọt của ca nước nóng có pha đường buổi chuẩn bị “làm việc” cách đây 32 năm. Chất ngọt của đường như đánh thức tất cả những sợi gân và những mạch máu trong cơ thể tôi và đầu óc tôi trở nên sáng suốt hơn. Trực trại ra lệnh cho Của gọi một tù nhân phụ trách hớt tóc. Anh “thợ” hớt tóc này chỉ có một chiếc tông đơ đã lụt nên nghiến vào tóc khá đau và vài miếng miểng chai để cạo râu. Tuy vậy, tôi cũng vẫn phải chịu trận vì không phải lúc nào một tù nhân cải tạo muốn hớt tóc cạo râu cũng được.

Tôi không hiểu những vị trong số những quí vị vốn gốc H.O. ở đây có ông nào đã được thưởng thức lối hớt tóc lối hớt tóc bằng tông đơ đã lụt không, chứ tôi thì đã bị mấy lần rồi.  Nhưng lần này vì đã hơn một năm chưa được tắm nên râu tóc mọc ra dài như người rừng, lại bám đất bết vào nhau khiến cho mỗi lần anh thợ đẩy chiếc tông đơ đi từ đường mang tai lên tới đỉnh đầu, tôi có cảm tưởng như lớp da đầu bị tuột ra từng miếng. Tội nghiệp người bạn tù phụ trách hớt tóc thấy tôi đau nên miệng cứ phân bua: “Anh đừng giận em, thật tình em đã xin đổi chiếc tông đơ này lấy cái mới, nhưng trại chưa cho, thôi anh chịu khó vậy, lần sau em hy vọng có được cái tông đơ mới”. Hớt tóc (thường là hớt trọc) xong, đến màn cạo râu. Hồi còn ở trại B-5 hay Hàm Tân chúng tôi thường cạo râu cho nhau bằng miểng chai, nhưng phải cạo thật chậm như thể cắt từng sợi râu. Nhưng a nh bạn tù này cạo râu bằng miểng chai khá nhanh], nhờ vào chổ trước khi cạo anh ta lấy ra miếng xà bông nhỏ, xịt vào đó chút nước cho nổi bọt rồi thoa vào hai mép tôi. Việc cạo râu diễn ra trơn tru, không một miếng da nào bị “ăn”. Người “thợ” giải thích: Phải đập cả chục vỏ chai không, em mới kiếm được mấy miếng miểng chai tốt này”. Sau đó anh giải thích một thôi một hồi về kỹ thuật đập chai sao cho miểng chai bén như dao cạo. Tôi hỏi: “Thế cậu cạo cho cán bộ bằng miểng chai không?” Anh trả lời giọng cải lương: “Họ là quan, mình là tù mà đâu có dám đèo bồng. Em có con dao cạo nhưng họ bảo giữ chỉ để cạo cho họ thôi, mỗi lần cạo em phải hơ vào cồn để diệt trùng. Đ.M. phú quý sinh nghĩa lễ (lẽ ra là lễ nghĩa) có khác”. Xong câu này anh xuống giọng “xề” nói thật nhỏ: “Đ.M. bọn nó ác lắm, ông thầy. Nói thật với ông thầy, tù ra em mua súng. Tụi nó mà lạng quạng mò về thành phố, em bắt gặp là cho ăn kẹo đồng hết cả đám Đ.M. …”

Bất cứ một ông thợ hớt tóc nào dù là hớt tóc dạo cũng đều có cả một kho những câu chuyện khác nhau để nói với khách hàng. Trong tù cũng vậy những anh chàng được cử nhiệm vào đội lao động tự giác với nhiệm vụ hớt tóc cho tù nhân cải tạo lẫn cán bộ trại giam đều phải là người được tin tưởng là “an tâm cải tạo, không có âm mưu trốn trại” và họ đều phải có những bài bản được soạn sẳn để nói chuyện nếu phải hớt tóc cho những bạn đồng tù với mình và một câu chuyện làm quà khác để nói với bọn cán bộ, phần lớn là những câu chuyện trai gái đĩ điếm ở xã hội bên ngoài. Dĩ nhiên những mong ước của người tù hình sự này chỉ là những mong ước tưởng tượng cho đỡ buồn vì cái án chung thân do cướp có súng của anh biết ngày nào ra. Nhưng tôi vẫn an ủi người bạn tù tội nghiệp: “Rồi sẽ có ngày thôi, nhưng em cẩn thận khi nói chuyện. Vói anh thì không sao, nhưng với người khác sẵn sàng tâu lên bọn an ninh để lấy điểm chắc chắn chúng sẽ đánh chết em đấy”.

Tôi ngồi chờ ở cổng trại cho tới trước giờ các anh em tù cải tạo lao động từ hiện trường lao động trở về. Cán bộ an ninh kiêm chính ủy trại Lý “lé” đến nhận tôi từ trực trại Luật. Lại một màn gây cấn giữa hai người công an này khi Lý thiếu một chữ ký của một người nào đó có trách nhiệm cao hơn. Tôi chỉ nghe được những trao đổi “mày tao chi tớ” và một câu đe dọa của trực trại: “Lãnh rồi thì lo mà giữ, đừng có kiểu không lo được lại cho gọi tao. Mày làm việc đi, ông đi chơi đây”. Nơi tôi bị thẩm cung không phải là cái văn phòng thường lệ cách cổng trại không xa lắm mà một căn phòng bên cạnh phòng làm việc của trại trưởng Vũ. Có lẽ đây là một phòng họp của ban quản trại. Ở chính giữa phòng có kê một cái bàn bằng gỗ mộc. Tôi thấy có 3 người ngồi sau chiếc bàn, hai nam một nữ đều trang phục cán bộ sơ mi trắng cụt tay bỏ ngoài nhuj74ng chiếc quần màu ô liu, chân dép râu. Người ngồi giữa là một thanh niên chừng khoảng 30 tuổi, tóc hớt ngắn đeo kiếng cận thị tự giới thiệu là cán bộ từ Hà Nội ra, hai người kia là phụ tá của anh ta. Tôi ngồi cách bàn làm việc của anh ta khoảng 3 thước nên anh yêu cầu tôi nói lớn hơn. Thẩm vấn viên chính hỏi tôi lý lịch và lý do tôi bị đưa vào xà lim cá nhân.

Không bỏ lỡ cơ hội tôi giở “bựa” ngay:

_Cán bộ trại trưởng chắc phải cho cán bộ biết lý do, còn tôi tôi chẳng hiểu tại sao tôi lại bị cùm trong xà lim cá nhân đã hai năm rồi.

Người công an trẻ tuổi nhỏ nhẹ:

_Không, ông ấy (Vũ) chỉ cho biết anh bị phạt vì vi phạm kỷ luật trại giam.

Ngay lúc đó tôi đã nghĩ thầm trong bụng: “Me kiếp…bọn bây cứ đứa nọ đổ cho đứa kia. Như thế thì nói hay không cũng vẫn bị cùm như thường, đã thế ông nói cho hả dạ. Và tôi đặt câu hỏi thay vì để cho hắn ta hỏi:

_Cán bộ xác nhận xem có phải chiến tranh đã chấm dứt cách đây 7 năm rồi phải không . Nếu như vậy hóa ra phía chiến thắng thù dai đến như thế sao, mà cần gì phải thù dai như vậy? Những người tù cải tạo như chúng tôi bây giờ như có được thả ra xã hội bên ngoài thì bất quá chỉ tìm cách vượt biển hay đầu hàng hoàn cảnh thôi, ai mà dám chống và nếu có chống thì có bao nhiêu người? Cán bộ cho tôi biết có trường hợp nào mà các cựu sĩ quan đã từng đi tù cải tạo được thả về đã tham gia vào một mặt trận chống chế độ bị bắt lại không…?

Nghe tôi hỏi như vậy nàng cán bộ nữ yêu cầu tôi không được hỏi nữa mà phải trả lời có hay không thì bị anh chàng trẻ tuổi có thể là trưởng toán chặn lại:

_Cứ để cho anh ấy hỏi. Anh hỏi thì tôi trả lời. Nhà nước chưa thể thả anh ra ngoài xã hội bây giờ được. Dân chúng ở ngoài còn thù các anh. Họ sẽ không để các anh yên nếu đưa các anh ra sống xã hội bên ngoài chứ không p;hải nhà nước thù hận gì các anh đâu. Bây giờ tôi hỏi anh. Anh cho tôi biết Frederil Feuchs là ai? Anh vẫn thường xuyên liên lạc với bà ta và một cựu chiến binh người Pháp tên là Careaus chứ gì?

Từ lâu, tôi đã trãi qua quá nhiều cuộc thẩm vấn mà thẩm vấn viên chỉ là những người biết tra vấn, đe dọa và thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Tôi nói thật là tôi coi thường những thành phần này. Nhưng phải nói rằng trước một thẩm vấn viên trẻ tuổi, ăn nói nhỏ  nhẹ và kiểu hỏi bài bản, rõ ràng có được huấn luyện khiến tôi hơi ngại và tự nhủ phải cẩn thận. Cuối cùng tôi quyết định xin cho tôi uống nước vì tôi đang khát không nói lớn được. Họ thỏa thuận cho tôi uống một ca nước vối rót từ cái ấm đất nung lớn để trên bàn. Xong tôi nói chậm nhưng rõ ràng không cần phải chuẩn bị:

_Ở trại A-20 một con kiến cũng không lọt ra ngoài được và ngược lại. Bảy sĩ quan cướp súng cán bộ trốn trại bị bắn chết 6 người, một người bị bắt lại. Thơ chui, thơ lòn gì gì đi nữa cũng đều bị khám phá và người gởi bị cùm trong khu biệt giam cả đống. Bảy năm nay tôi không liên lạc với gia đình, gia đình tôi cũng cũng hề biết tôi ở trại nào. Bộ tôi có phép thần thông hay sao mà từ cái xó rừng này tôi lại có thể liên lạc với những người ngoại quốc như thế. Liệu cán bộ có thể cho tôi xem bằng chứng là tôi biết họ và liên lạc với họ không? Liên lạc vào ngày nào bằng phương tiện gì? Nếu cán bộ trưng ra đủ bằng chứng tôi cam đoan sẽ ký giấy nhận tội và xin đem ra bắn bỏ ngay.

Người thẩm vấn trẻ tuổi này mà mãi sau tôi mới được biết tên là Thận, rút trong sắc-cốt ra một tập hồ sơ để ra trước mặt anh ta nhưng không cho tôi xem. Hắn nói, vẫn giọng nhỏ nhẹ, nhưng lạnh hơn:

_Tôi nói thẳng ra cho anh biết là gia đình anh đã liên hệ với những người ngoại quốc này tại Saigon. Họ làm việc cho tổ chức Ân Xá Quốc Tế, một tổ chức cực kỳ phản động!

_Nếu đây là sự thật thì gia đình tôi chứ không phải tôi. Chính cán bộ đã nói ra điều này đấy nhé. Như vậy tại sao cán bộ không vào thẳng Saigon để hỏi mẹ hay anh tôi mà lại hỏi tôi?

Thận, tên viên trưởng toán thẩm cung im lặng không nói gì. Anh ta mở bao thuốc lá thơm Saigon Giải Phóng rút ra một điếu đưa cho tôi và dồng thời anh ta cũ ng châm một điếu phà khói rồi cầm ấm nước trà rót vào bốn cái tách rồi đẩy đến trước mặt mỗi người trong phòng rồi nói:

_Anh uống nước đi, anh phải suy nghĩ xem anh đang ở vị trí nào. Tôi được lệnh vào đây để tìm hiểu chứ không phải vào đây để nghe anh cải vã với tôi. Tôi hỏi tới đâu anh trả lời tới đó để cho buổi làm việc sớm kết thúc thành công!

Vào thời điểm của thập niên 80, việc chiếm được miền Nam Việt Nam dường như vẫn còn là một thành công chói lòa đối với người cộng sản, dù ở ngoài đời dân chúng vẫn khoai sắn và rau cháo cho qua ngày. Chế độ khẩu phần suốt sáu bảy năm qua chỉ khuyến khích thêm nạn buôn lậu trên cả nước. Ngay ở trước sân của ban quản trại là một tấm bảng lớn chạy suốt chiều ngang có viết chữ đỏ trên nền vàng: “Thành công, thành công, đại thành công”. Cho nên ngay khi nghe Thận nói “để cho buổi làm việc sớm kết thúc thành công” tôi đã phải cố gắng kềm chế để không phải cười hộc lên, nhưng vẫn thầm nghĩ: “Mẹ kiếp, có đếch gì mà kết thúc thành công hay thất bại trong một buổi thẩm cung. Chỉ khi chúng mày có gan đem bắn hết bọn tao thì mới là kết thúc thành công được mà thôi”. Thận giở lại tập hồ sơ xem lại một hồi rồi hỏi tiếp:

_Mẹ anh có gặp một người Bỉ tên là Fuchs, anh nghĩ thế nào về chuyện này?

Tôi đáp lại ngay không cần đắn đo:

_Tôi không biết nên không suy nghĩ gì cả!

_Nhưng nay tôi đã cho anh biết như thế thì anh phải có một vài suy nghĩ nào đó chứ. Thận vặn lại.

Tôi cảm thấy nếu cứ ngồi mà trả lời những câu hỏi của toán thẩm vấn này thì không có lợi cho chính tôi, bởi chiến thuật của họ là cứ hỏi và hỏi thật nhiều câu vớ vẫn, không đâu vào đâu cả rồi chờ tới lúc đối tượng thẩm cung bắt đầu mệt và căng thẳng liền gài vào đó những câu “chết người” thì có thể tôi sẽ lọt ổ “phục kích”. Do đó tôi đánh bài tố:

_Tôi không hề biết và cán bộ cũng chẳng đưa ra một chứng cớ nào cho thấy mẹ tôi gặp cái bà người Bỉ nào đó cho nên suy nghĩ làm gì cho mất công. Tôi nói thẳng với cán bộ điều này: cán bộ muốn cáo buộc hay nâng quan điểm về tôi và gia đình tôi thì cứ việc làm, tôi không có một khiếu nại nào cả. Cho nên, nếu nhân đạo, cán bộ đưa tôi trở lại xà lim. Còn nếu cán bộ cứ muốn tiếp tục hỏi tôi về những chuyện ở ngoài xã hội mà tôi không biết hay không có liên quan gì tới tôi cả thì buổi làm việc hôm nay không thể kết thúc thành công như cán bộ muốn đâu. Do ỏ trong nghành truyền thông của chính phủ VNCH khá lâu, tôi không xa lạ gì với tổ chức Ân Xá Quốc Tế. Thời VNCH họ cũng đã hoạt động ở miền Nam Việt Nam và họ được tự do đến gặp những người cộng sản như cán bộ lúc đó nằm trong những trại tù binh phiến cộng ở Phú Quốc và Côn Sơn chứ có gì lạ đâu.

Có lẽ đây là lần đầu tiên những tay thẩm vấn này phải đối phó với những tù nhân cải tạo chấp nhận phần rủi ro nhất cho mình để đổi lấy sự tự do tranh luận, nên hai người phụ tá của Thận có vẽ “nóng ruột”. Anh chàng phụ tá có khuôn mặt lưỡi cày đấm xuống bàn, mặt đỏ gay:

_Đừng có bố láo, anh gọi chúng tôi là phiến cộng hả, như thế mà gọi là an tâm cải tạo.

_Tôi an tâm cải tạo chứ, nhưng sự an tâm của tôi có nghĩa là nhà nước muốn nhốt tôi bao lâu thì nhốt, nhốt chán không muốn nhốt nửa thì thả, tôi có khiếu nại đâu. Tôi cũng không mong một ngày về và nếu phải nằm ở nghĩa trang tù nhân cải tạo thì cũng là bình thường thôi!

Có lẽ thấy không thể tiếp tục cuộc tra vấn nữa, viên trưởng toán thẩm vấn bước ra cửa gọi Lý “lé” đưa tôi trở lại xà lim. Dĩ nhiên tôi không được trởi lại xà lim 5 với T.D.S. nữa mà sang nằm một mình ở số 6 với mức cùm hai chân trở lại và “hưởng” chế độ 2 muỗng cơm, hai muỗng nuốc và hai muỗng nước muối mặn chát. Lý “lé” không nói gì cả. Anh ta lặng lẽ khóa cửa phòng biệt giam và ra khỏi khu biệt giam ngay sau đó. Nhưng đến giờ phát cơm chiều và điểm số cho khu biệt giam, trại trưởng Lê Đồng Vũ xuất hiện. Đứng trước cửa xà lim, ông ta nhìn tôi với vẽ mặt lạnh tanh và giọng lè nhè thâm hiểm:

_Anh còn khỏe lắm và gan còn to nên cứ nằm nghỉ ở đây cho đến khi nài hai cái vòng cùm ở chân anh mọt ra thì về nhé. Nằm suy nghĩ đi. Đừng có vọng tưởng bẻ gậy chống trời không được đâu!

Không nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng cái giá mà tôi phải trả cho buổi thẩm cung hôm đó lớn hơn bao giờ hết. Lần nhục hình này kéo dài đến 8 tuần lễ, có tuần lễ tôi bị lột áo và bị tra thêm một cùm số 8 ở hai cổ tay ngược ra đằng sau, chỉ giờ cơm mới được mở ra khoản 10 phút để tôi ăn uống. Trời nhá nhem tối là đàn muỗi đã ùa vào tấn công trong điều kiện “tối ưu” vì tôi không được mặc áo và hai tay bị còng không có cách nào đuổi chúng được. Đây chính là con dốc cao nhất trong suốt đời tù mà tôi phải leo. Mười phút để ăn và uống phần nước quá ít nên không thể nào uống theo kiểu dùng muỗng đổ vào chân răng từ từ được vì sau 10 phút tay tôi bị còng lại đàng sau không còn nân hay cầm bất cứ vật gì được. Vừa khát, vừa không thể nằm xuống ngủ được, mỗi bữa tôi chỉ dám ăn một lát khoai mặn chát nên sức khỏe sa sút trông thấy. Cứ cách một tuần thì tôi được mở còng tay một tuần. Trong tuần lễ được mở còng tay, phần nước phát cho tôi gia tăng gấp đôi, nước muối chan vào khoai mì lát nhạt hơn. Điều này chứng tỏ rằng bọn an ninh ở trại giam này không thể để tôi quá kiệt sức. Nhưng kiểu cứ tuần “đóng”, tuần lại “mở” như vậy thường tạo cho người tù một tâm lý bất an rất dễ dẫn đến sự buông xuôi. Để đối phó tôi vẫn áp dụng phương pháp ngồi yên, thở sâu và để cho đầu trống rỗng không suy nghĩ gì. Phương phái thư giãn này giúp tôi thanh thản hơn, bớt đói và khát hơn. Niềm vui vì tôi đã có thể làm cho một buổi thẩm cung của những thẩm vấn viên từ trung ương không những không thành công mà còn tạo cho tôi cơ hội “xả xú báp” và sự thanh thản đã giúp tôi củng cố thêm niềm tin để tiếp tục bước qua gian nan những năm sau này.

Khi được thả về năm 1988, biến chuyển đầu tiên mà mẹ tôi thông báo chính là ngày bà Fuchs một thành viên của Amnesty International (theo lời kể của mẹ tôi) đến Việt Nam để gặp bà và khoãng hơn chục bà m5 hay vợ của những nhà báo hay truyền thông đang bị nhà cầm quyền lúc đó ở việt Nam giam giữ. Mẹ tôi đua cho tôi xem một tấm hình chụp phụ nũ tây phương có chữ ký và lời đề tặng bà. Cuộc gặp gỡ diễn ra ở Sở Ngoại Vụ. Nội dung cuộc gặp vẫn chỉ là những lời an ủi của bà Fuchs chứ bà không hứa hẹn gì. Năm 1992 khi tái định cứ tại Mỹ theo diện HO một số bạn bè của tôi ở Pháp và người đàn anh trong nghề là anh T.V.N. một cựu lãnh đạo Việt Tấn Xã định cư ở Paris cho biết Carreaux là một cựu chiến Pháp rất quan tâm đến trường hợp của tôi. Anh tiếp xúc với Carreaux một thời gian để giúp tìm đầy đủ hồ sơ liên quan đến tôi và Carreaux yêu cầu Hà Nội cho tôi gặp ông ta tại trại tù, nhưng bị từ chối. Dường như ông chỉ đến được Bangkok và nhà cầm quyền Việt Nam lúc đó không cấp hộ chiếu nhập cảnh cho ông. Năm 1999, có dịp qua Paris tôi cũng đã nhờ người tìm ra tung tích Carreaux để ngõ lời cám ơn, nhưng những cố gắng này không thành công vì có thể vào năm đó ông đã qua đời không chừng.

Câu chuyện cảm động này dĩ nhiên rồi chẳng đi đến đâu cả, nhưng ít ra hoàn cảnh của chúng tôi cũng bắt đầu được quốc tế để ý đến. Và tôi viết lại chi tiết này không ngoài mục đích để cho những nhà tranh đấu nhân quyền ở trong nước cũng như ở hải ngoại hiện nay đối chiếu và so sánh với chế độ lao tù hiện tại ở Việt Nam. Phải chăng nó đã có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử cũng như chính sách đối nội và đối ngoại ở trong nước. Cho đến tập niên 1990 chỉ cần một tổ chức nhân quyền quốc tế nào lên tiếng về một cá nhân đang bị đày ải trong chốn lao tù, lập tức cá nhân ấy bị trừng phạt ngay. Bởi vì vào thập niên đó chuyện có liên hệ đến các tổ chức nhân quyền có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam ghép vào tội danh gián điệp phà hoại đất nước. Như thế so với tình hình của 23 năm trước đây những nhà tranh đấu cho nhân và dân quyền tại Việt Nam hiện nay được hoạt động rộng rãi hơn rất nhiều. Giới thanh niên, sinh viên tranh đấu tại Việt Nam còn có thể gặp đại diện các tổ chức nhân quyền quốc tế, các đại diện ngoại giao, các sứ quán ngoại quốc ở Hà Nội để trao kiến nghị mà không hề bị bắt. Cùng lắm thì bị Công An mời đến hỏi cung rồi cho về. Gần đây thân nhân của những nhà tranh đấu hiện đang ngồi tù tại Việt Nam đã được du lịch tại Mỹ.

Tôi chưa dám có một nhận định nào về chuyện này mà chỉ thầm nghĩ: “Thôi thế cũng xong, ít ra thì các cuộc tranh đấu về nhân quyền cũng có được một kết quả nào đó. Chỉ có điều nếu mà chuyện này diễn ra vào 23 năm trước, thì giá chót dành cho những nhà tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam hiện nay cũng phải là án chung thân.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 19 May, 2023

Poist by Sơn râu 30 Jun 2024

Kỳ 4

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Ông thiếu tướng ra lệnh thật là đại khái, ông trung tá cũng ra lệnh đại khái không kém, có điều chủ ý rõ ràng của các vị này là bắt tôi phải chặn đứng mọi mưu toan tiến về hướng Ðông của các đơn vị địch hiện có mặt trong vùng Ia Drang. Ðịa thế Cao Nguyên Vùng 2 thì tôi rất rành, còn trận liệt địch vùng này tôi cũng thuộc nằm lòng. Do đó tôi cũng không bận tâm thắc mắc.Tôi đã biết, trong một năm vừa qua, sau hưu chiến, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh từ Cam Bốt đã chuyển sang Ðông Trường Sơn vào địa phận Ðức-Cơ. Những ống dẫn dầu của Việt-Cộng từ chân núi Phượng-Hoàng, Ðức-Cơ đã kéo dài tới Tiêu Atar, và đang trên đường xuôi Nam. Tin tức kỹ thuật cho biết Trung Ðoàn 470 Vận Tải của Mặt Trận B3 Cộng-Sản đang được bổ sung quân số và cơ giới để nâng cấp thành Sư Ðoàn 470 Vận Tải. Ðơn vị này đã hoàn tất công tác phát quang một con đường rẽ từ làng Gà (Plei Bon Ga) trong thung lũng Ia Drang, đi thẳng về hướng chính Ðông để tiếp tế cho mặt trận duyên hải. Ðể xác nhận tin tức trên, vài tuần lễ trước đây, tôi đã tung toán viễn thám của Trung sĩ Thìn vào vùng để tận mắt kiểm chứng con đường này.

Quả thật con đường chiến thuật này rất là lợi hại, nó có thể cho phép địch quân dùng cơ giới để chuyển binh cắt đứt Quốc Lộ 14, băng qua Liên Tỉnh Lộ 7B rồi đánh thốc lên hướng Bắc chiếm giữ đèo Mang-Yang khiến cho Pleiku trở thành một ốc đảo. Trên đường chuyển quân này chỉ có một cái đồn Plei Do Lim bé tí teo do một trung đội Ðịa Phương Quân trấn giữ. Ðại quân của địch không cần đánh đồn, mà chỉ cần bao vây ba ngày là đơn vị đồn trú sẽ không còn nước uống, phải bỏ đồn mà chạy.

Ðúng ra thì, sau khi trình diện Tướng Tư Lệnh Vùng thì tôi phải vào Pleime ngay, nhưng hiện thời chưa có người thay tôi đảm đương chức vụ Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 nên tôi phải để ông Tiểu đoàn phó là Thiếu tá Nguyễn Tự Bé chỉ huy căn cứ, đợi khi có người thay thế thì tôi mới chính thức nhận việc. Lý do tôi phải nấn ná ở Phòng 2 cũng vì tôi đang bận công tác thả toán viễn thám cung cấp tin tức địch vùng Plei Djereng cho Sư Ðoàn 22 Bộ Binh để đơn vị này tổ chức một cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ Minh theo lệnh của Tổng Thống. Những ngày cuối năm 1973 tôi phải vào Lệ-Chí để chỉ huy một cuộc hành quân xâm nhập vùng 20 cây số Ðông Bắc Pleiku, quân số tham dự gồm có Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân, Trung Ðội Viễn Thám của Phòng 2 Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 cùng với lực lượng trừ bị là một nửa Tiểu Ðoàn 81 do ông Ðại úy Phát, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy. Kết quả cuộc hành quân thám sát ngắn ngày này đã xác nhận rằng tin tức địch đang thiết lập một con đường chiến thuật nối liền Ngã Ba Dak Doa tới Bắc Ðèo Mang-Yang là có thật. Trong tương lai, nếu chiến sự xảy ra thì con đường này và con đường mới phát quang vùng Bắc Pleime sẽ trở thành cái thòng lọng chiến thuật siết cổ Pleiku.

o O o

Giáng Sinh 1973 

và Tết Giáp Dần…

Thời kỳ 1966-1970 còn sự hiện diện của quân đội Ðồng Minh thì Ngã Ba Diệp Kính Pleiku đã trở thành một khu buôn bán lộ thiên rất sầm uất. Người ta quen gọi nơi đó với cái tên “Chợ Trời”. Chợ Trời ngày xưa chỉ bày bán hàng tuồn ra từ PX của các doanh trại Mỹ. Từ 1972 thì Chợ Trời bắt đầu xuất hiện đủ loại mặt hàng “hằm bà làng” như quần áo cũ, giầy Saut, áo trận, chăn chiếu, mùng mền, ba lô, nón sắt, lương khô, xẻng cuốc…vân vân. Ðã có hôm tôi giật mình khi thấy trên mặt tấm poncho của chị đàn bà vợ lính có bày bán mấy bộ quần áo tác chiến và một dây đeo gồm một quả mìn Claymore với đủ bộ ngòi nổ, dây điện cùng con cóc điện để bóp cò!

Tôi ngồi xuống bỏ ra 500 đồng mua ngay bộ mìn Claymore này, rồi hỏi chị bán hàng,

– Từ đâu mà chị có thứ này?

Chị ta đã trả lời rằng chị có chồng là Nghĩa Quân trong Lệ Chí. Chồng chị vừa chết trận nên chị mới đem bán những đồ vật mà anh còn để lại.

Tôi chỉ biết lắc đầu mà nói với chị rằng từ nay đừng sờ tới những vật dụng nguy hiểm đó nữa. Nếu thấy nó còn trong nhà thì phải gọi Cảnh Sát hay Quân Ðội tới lấy nó đi. Sau đó tôi tới Quân Trấn Pleiku giao quả mìn cho ông đồn trưởng, rồi lưu ý ông ta nhớ cho nhân viên tuần tra kiểm soát khu Chợ Trời một cách kỹ lưỡng hơn. Vợ tôi và hai đứa con gái tôi rất thích bánh Pound Cake trong các hộp lương khô C Rations của Mỹ. Cuối năm 1973 thì Mỹ rút đi đã lâu rồi, nhưng bánh Pound Cake trong hộp thiếc vẫn còn thấy bày bán trong Chợ Trời. Thời gian này vợ tôi đang mang bầu em bé thứ ba, không tiện len lách trong chợ, đành phải ngồi trong xe cùng với hai đứa con để chờ tôi đi tìm mua Pound Cake. Trong lúc đó thì chú tài xế Phạm Công Cường cứ loanh quanh bên chiếc xe Jeep, không dám dời xa nửa bước.

Một ngày trước Noel 1973 tôi đang lui cui nhặt mấy hộp bánh bỏ vào bao thì nghe bước chân ai đó tiến sát sau lưng, rồi có tiếng người hỏi nhau,

– Bộ mày quen thằng chuẩn úy Biệt Ðộng Quân này ư?

Lập tức có người trả lời,

– Ðây là chồng một đứa em gái của tao! Thiếu tá đó! Không phải chuẩn úy đâu!

Tiếng nói của người này tôi nghe rất quen. Ngay sau đó, là tiếng cười vang của người kia,

– Mày cứ đùa! Chuẩn úy lon đen chứ thiếu tá gì đâu!

Có lẽ cái lon thiếu tá của tôi thêu bằng chỉ đen, lại bị bàn ủi đè xẹp lép, nên nhìn cứ như cái lon chuẩn úy, thêm vào đó, mặt tôi cũng trắng trẻo, có chút thư sinh, khiến cho người khác nhìn mà lầm.

Tới lúc này thì tôi đã quay lại. Tôi nhận ra ngay, trước mặt mình là ông anh trai thứ ba của vợ tôi.

Anh ấy mặc quân phục bộ binh, bên cạnh anh ấy cũng là một sĩ quan bộ binh.

Hai ông chuẩn úy trẻ mới ra trường với hai cặp lon vàng còn sáng chói trên cổ áo đã tự động đứng nghiêm trước mặt một thiếu tá.

Tôi la lên,

– Anh Thọ! Anh ra trường rồi hả? Sao không tình nguyện về Biệt Ðộng Quân mà lại đi Bộ Binh?

Anh Thọ lí nhí,

– Hồi đó chú có gửi gắm tôi cho ông Trung Tá Liên Ðoàn Trưởng Sinh Viên Sĩ Quan để ưu tiên có tên đi Biệt Ðộng Quân, nhưng ngày mãn khóa nghe mấy thằng bạn rủ rê, tôi đã chọn Sư Ðoàn 22.

Nghe ông anh vợ nói, tôi mới nhớ cái thư của Trung tá Ðoàn Thi đã gửi cho tôi cách nay khá lâu.

Trung tá Ðoàn Thi là cựu Liên Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân, sau đó về Trường Bộ Binh đảm nhận chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị. Anh Ðinh Văn Thọ lúc đó là một khóa sinh dưới quyền Trung tá Ðoàn Thi. Tôi đã nhờ Trung tá Ðoàn Thi để ý giúp đỡ anh Thọ nếu cần.

Trước khi rời chức vụ Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Ðức để đi chỉ huy một Liên Ðoàn Ðịa Phương Quân, Trung tá Ðoàn Thi đã báo cho tôi hay rằng, vì nể lời gửi gắm của tôi, ông đã ghi tên anh Ðinh Văn Thọ ưu tiên đi Biệt Ðộng Quân sau khi tốt nghiệp.

Nhưng khóa Sĩ Quan Trừ Bị đó chấm dứt khá lâu mà tôi chờ hoài không thấy anh Thọ trình diện.

Thì ra anh Thọ không thích làm lính Biệt Ðộng Quân.

Ông chuẩn úy bạn của anh Thọ lúc này mới nhìn tôi với ánh mắt đầy thiện cảm,

– Mới nhìn thấy ông trẻ quá, tui không tin ông là thiếu tá. Thiếu tá tốt nghiệp Ðà-Lạt hay Thủ-Ðức vậy?

Tôi bắt tay anh bạn bộ binh,

– Khóa 20 Võ Bị.

Mắt ông chuẩn úy sáng lên,

– Vậy là sĩ quan đàn anh ông sếp của tụi tôi.

– Sếp của anh tên là gì?

– Dạ! Ðại úy Thành, Phan Ðình Thành.

– Thành sau tôi hai khóa.

– Vậy mà trông ông Thành già dặn hơn Thiếu tá nhiều lắm.

Sau đó, tôi đưa ông anh vợ tới gặp vợ tôi và hai cháu của anh ấy.

Rồi vợ chồng tôi đưa anh về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thăm nhà tôi.

Nhân dịp này anh Thọ đã cùng vợ chồng tôi và hai cháu bé chụp chung vài cái ảnh để kỷ niệm.

Anh Thọ cho tôi hay anh đang giữ chức vụ trung đội phó một trung đội tác chiến của Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Bộ Binh. Trung đội này có 8 ông lính, 1 ông trung sĩ và 2 ông chuẩn úy. Trung đội trưởng của anh là một chuẩn úy ra trường trước anh một khóa. Từ ấy, anh Thọ vẫn đóng quân ở Hàm Rồng, nhưng không ghé thăm nhà tôi lần nào nữa.

Tôi không hề có ý định gửi gắm anh Thọ cho những người tôi quen ở Sư Ðoàn 22 Bộ Binh vì sợ nợ nần nhau thì rất khó làm việc. Nhưng có đôi khi nghĩ lại, tôi cũng thấy tiếc rằng anh Thọ đã chọn Sư Ðoàn 22 thay vì Biệt Ðộng Quân. Nếu anh ấy chọn Biệt Ðộng Quân thì chắc chắn tôi sẽ xin cho anh ấy về làm việc với tôi. Người anh cả của vợ tôi và Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là Thiếu úy Ðinh Quang Biện đã từng là bạn cùng đơn vị với tôi từ đầu năm 1968, khi mới mãn khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị.

Tôi với anh Biện thương nhau như anh em ruột. Chúng tôi đã cùng nhau đồng cam, cộng khổ trong suốt những năm tháng còn ở Tiểu Ðoàn 11 và Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Nhờ tình bạn thân thiết giữa tôi và Thiếu úy Ðinh Quang Biện mà cuối năm 1970 tôi đã trở thành em rể của anh Biện. Năm 1971 Thiếu úy Ðinh Quang Biện bị tử nạn. Trước Tết Giáp Dần tôi vào Hàm Rồng để họp hành quân thì được biết anh Thọ đã được thăng chức trung đội trưởng. Từ đó tôi bận việc liên miên nên không có dịp gặp anh ấy nữa.

Cho tới tháng 8 năm sau thì Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ có dịp dẫn trung đội dưới quyền mình vào Pleime để tiếp cứu thằng em rể là tôi, đang bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản bao vây. Trong trận này, khi nghe tin Tiểu Ðoàn 3/41 chạm địch, tôi đã liên lạc được người chỉ huy đơn vị này để hỏi thăm tin tức của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ. Lúc này chú Phan Ðình Thành, người Sĩ Quan Võ Bị Khóa 22 A, đàn em của tôi đã mang cấp bậc thiếu tá. Thiếu tá Phan Ðình Thành, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 cho tôi hay trung đội của Chuẩn úy Thọ giữ vai trò tiên phong, đi đầu, chạm nặng, và đã bị thất lạc.

Tới lúc đó tôi mới thấy hối lỗi vì đã không gửi gắm anh Thọ cho hai người mà tôi quen là Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 và Ðại tá Vũ Ðình Chung, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 22. Hai ông anh lớn của vợ tôi đã chết rồi, nay ông anh thứ ba lại bị mất tích. Nếu biết tin này chắc gia đình vợ tôi sẽ đau buồn lắm.

May thay, ba ngày sau, từ Căn Cứ Hỏa Lực 711, Trung úy Hạp, Sĩ Quan Ban 3 của Liên Ðoàn 24 gọi máy báo cho Tiểu Ðoàn 82 hay rằng Biệt Ðộng Quân vừa tiếp nhận một trung đội bộ binh bị thất lạc về trình diện. Tôi vội nhờ Trung úy Hạp hỏi xem anh chuẩn úy trung đội trưởng bộ binh tên là gì thì ông Hạp nói người chuẩn úy trung đội trưởng đó có tên là Ðinh Văn Thọ.

Thì ra Trung Ðội 1 Ðại Ðội 4 Tiểu Ðoàn 3 Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh của Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ đã đụng độ với một tiểu đoàn Việt-Cộng, nhưng vì yếu thế, nên đơn vị này phải rút lui trong đêm tối. Cũng nhân dịp này, mà chú Phan Ðình Thành mới biết Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là anh vợ của tôi. Tiếc thay, hai người vừa quen biết nhau thì Thiếu tá Phan Ðình Thành đã sớm tử trận ngay sau khi Trung Ðoàn 41 rút quân về Bình Ðịnh.

Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 11 May, 2023

Kỳ 3

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Trung tâm hành quân báo cho tôi hay Không Quân cũng không liên lạc được Lệ Minh nên họ cứ nhắm vào những vị trí có khói depart của pháo địch ở bên ngoài rào trại mà thả bom. Lúc này đồi Lệ Minh chìm trong màn khói của pháo địch, sân bay Plei Djereng và làng Plei Doch cũng chìm trong bụi đỏ và khói bom của ta. Khoảng gần 3 giờ chiều ngày 22 tháng 9 có một đoàn trực thăng chuyển viện binh nhắm hướng Lệ Minh. Người chỉ huy hợp đoàn này Trung tá Lương Văn Hơi. Ông Hơi thông báo cho tôi hay ông sẽ thả một đại đội xuống làm đầu cầu để tiếp nhận quân tiếp viện cho Lệ Minh.

Ông Hơi nói, nếu tôi liên lạc được với Ðại úy Quang hay Ðại úy Hội thì thông báo cho hai vị này biết để tránh ngộ nhận. Ðể tránh những lằn đạn phòng không của địch, tôi phải bay trong vùng cách xa phi trường Plei Djereng khoảng hai cây số. Quân tiếp viện được thả xuống một cánh đồng cỏ tranh cách đuôi phi đạo chừng hơn một cây số về hướng Ðông Nam. Chiếc trực thăng đổ quân cuối cùng vừa rời vùng thì khói bụi đã ngùn ngụt bốc lên từ bãi thả. Hàng trăm trái pháo của Việt-Cộng theo đuôi nhau dồn dập trải đều trên bề mặt ngọn đồi cỏ tranh.Tôi nghĩ bụng, chắc chắn địch đã dự trù các yếu tố tác xạ nhắm vào bãi đáp này từ trước, nên quân ta vừa có mặt đã bị địch tưới đạn lên đầu ngay.

Tôi chưa biết phải làm gì thì nghe ai đó hớt hải la làng trong máy,

– Ð.M! Bộ các cha muốn giết tụi tui hay sao mà thả tụi tui ngay trên trận địa pháo? Bây giờ tui phải làm gì đây hả các cha?

Chờ một phút, không thấy tiếng Trung tá Hơi, tôi vội cầm máy,

-Ai đó? Ðây là Thái Sơn! Nghe được thì trả lời!

Ðầu máy bên kia là một giọng nói Quảng-Nam ồm ồm,

– Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà! Thái Sơn ơi! Ðây là Cẩm Hà!

Cẩm Hà là danh hiệu truyền tin của Ðại úy Trương Ðình Hà.

Trương Ðình Hà là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi, tôi đã đem anh Hà từ Liên Ðoàn 2 về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 đảm nhận chức vụ Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 Trinh Sát để trám chỗ cho Trung úy Thuận vừa tử trận.

Trung Úy Vương Mộng Long 1969 

Trương Ðình Hà là dân Quảng-Nam nên anh đã lấy địa danh một xã ngoại ô Hội An là Cẩm-Hà để làm danh hiệu truyền tin.

– Cẩm Hà! Thái Sơn nghe!

– Ð.M! Ông già Hơi thả tau xong thì bay đi mất. Chẳng có lệnh lạc con mẹ gì cả. Tau vừa đạp đất đã bị pháo phủ đầu, không ngóc cổ lên được. Mày mau mau tìm cách cứu tau với! Long ơi!

Cùng lúc này tôi thấy năm hay sáu chiếc xe tank địch xuất hiện, dàn hàng ngang trên sân bay, rồi liên tục đua nhau nã pháo vào sân trại.

Tôi lại nhìn thấy từ hướng Nam phi trường Plei Djereng đột nhiên xuất hiện sáu, bảy chiếc tank T54 vừa bắn, vừa lao về hướng bãi thả quân tiếp viện. Tôi liền ra lệnh cho Ðại úy Hà,

– Hướng 1600 ly giác! Chạy! Chạy tới khi nào qua hết một con suối sâu thì ngừng lại gọi tao!

Có thể nói, Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân là một đơn vị rất tinh nhuệ và thiện chiến của Biệt Ðộng Quân Vùng 2. Ðơn vị này có nguồn gốc từ Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân, nhưng nằm ngoài bảng cấp số.

Cuối năm 1969, thi hành lệnh của Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng, tôi đã đứng ra thành lập Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.  Quân số của Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 đều được tăng phái từ các Tiểu Ðoàn 11, 22 và 23 trực thuộc liên đoàn.

Ít năm sau, đơn vị này được cải danh thành Ðại Ðội Trinh Sát Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 do Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 trực tiếp điều động. Dù là một đơn vị thiện chiến và tinh nhuệ, nhưng chắc chắn đại đội này không thể đánh nhau tay đôi với một đoàn chiến xa T54 trên đồng cỏ mênh mông, nên nghe được lệnh “Chém vè” của tôi, ông đại đội trưởng đã mừng rỡ la lên,

– Cám ơn mày! Hướng 1600 ly giác! Tau thi hành lệnh ngay!

Năm phút sau, tôi đánh một vòng tròn về hướng Nam, thì thấy những chiếc tank T54 đang trườn qua con thông thủy phía Ðông của phi trường, nhưng trên bãi thả quân không còn ai cả. Tôi thở ra, may quá! Lệnh rút quân của tôi đã kịp thời tránh cho cánh quân của Ðại úy Hà một tổn hại nặng nề trước mắt. Tình hình lúc này coi như tuyệt vọng. Ngọn đồi Lệ Minh chỉ là một cột khói đen ngùn ngụt.

Khoảng mười phút sau tôi phải rời vùng, về Pleiku đổ xăng. Lúc tôi quay trở lại cách Lệ Minh chừng hai cây số thì nghe trong tần số có tiếng Hoàng Nghĩa Hội,

– Thái Sơn đây Hoàng Hoa gọi!

– Thái Sơn nghe!

– Thái Sơn ơi! Chúng nó vào tới sân cờ rồi! Thằng Quang đã bị chúng nó trói dẫn đi. Hội bị thương nặng lắm! Hội đang nằm trong cái lô cốt gần cổng chính.

– Có cách nào chui ra đầu sân bay? Anh sẽ nhào xuống cứu chú!

– Ðừng! Ðừng liều mạng! Xe tank của tụi nó đang nằm sát hàng rào! Ðừng tới gần! Ðừng xuống!

Sau đó trong máy chỉ còn tiếng “È! È!” tôi không còn nghe Hội nói nữa. Tới 4 giờ 30 chiều ngày 22 tháng 9 năm 1973 thì tiền đồn Lệ Minh hoàn toàn thất thủ. Phi cơ của ta tiếp tục đánh bom trên vùng bán kính 5 cây số quanh Lệ Minh cho tới gần tối mới ngưng. Ðêm 22 tháng 9 tôi và Trung úy Lập thay phiên nhau bay trên Hỏa Long để liên lạc với Ðại úy Quang và Ðại úy Hội, nhưng không nghe tiếng ai trả lời. Cánh quân của Ðại úy Hà cũng im hơi, không biết đã phiêu bạt nơi nao?

Sáu giờ sáng ngày 23 tháng 9 đài tiếp vận của tôi đặt trên đỉnh Hàm Rồng nhận được tin của Ðại úy Trương Ðình Hà báo cáo rằng Ðại Ðội 2 Trinh Sát Biệt Ðộng Quân đã về tới tiền đồn Plei Blang 3. Ðơn vị này có hai quân nhân mất tích, không có ai bị thương, vũ khí bảo toàn. Một tuần sau ngày đó có một anh binh nhì của Tiểu Ðoàn 80 trốn khỏi khu giam giữ tù binh của Việt-Cộng rồi về trình diện. Anh lính này khai rằng sau hai giờ pháo kích, Việt-Cộng đã xung phong vào chiếm cứ bộ chỉ huy và cắm cờ trên đỉnh cái lô cốt giữa sân.

Những quân nhân bị kẹt trong vòng rào trại đều bị địch bắt sống, kể cả hai ông Ðại úy Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó của Tiểu Ðoàn 80 cùng với ông sĩ quan trưởng toán Lôi Hổ của Chiến Ðoàn 2 Xung Kích. Trong số gần ba chục người bị thương thì tình trạng của Ðại úy Hội là nguy kịch nhất. Ðại úy Hoàng Nghĩa Hội đã chết khi đoàn tù bị áp giải qua sông Sa-Thầy. Anh lính này không biết Chuẩn úy Dao là ai.

Nghe tin Lệ Minh thất thủ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho các cơ quan và công sở trên toàn quốc phải treo cờ lửng để tang cho Lệ Minh. Tổng thống cũng lên đài truyền hình khắt khe lên án quân Cộng Sản trắng trợn vi phạm Hiệp Ðịnh Paris bằng hành động đánh chiếm Lệ Minh là một tiền đồn của Việt-Nam Cộng Hòa. Phái đoàn của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến đã can thiệp, nhưng phía Việt-Cộng nại cớ rằng không có địa danh nào tên là Lệ Minh trên bản đồ Pleiku.

Khi phe ta đưa hình ảnh và tọa độ trại Lệ Minh ra khiếu nại, thì phái đoàn Cộng-Sản nói đó là Chư Nghé của họ. Vùng này nằm sâu trong lãnh thổ Cộng-Sản kiểm soát vì nó ở xa Pleiku tới hơn 40 cây số. Tiền đồn xa nhất của ta thời bấy giờ là làng Plei Blang 3 cũng chỉ nằm cách Pleiku 7 cây số là cùng.

Cãi nhau nhùng nhằng qua lại chỉ phí lời, vì phe ta tuy tình ngay mà lý thì không vững, nên không thuyết phục được Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến. Có lẽ vì sự cãi chày, cãi cối của Việt-Cộng mà ít lâu sau những tên trại bằng danh từ Việt do Tướng Ngô Du đặt cho từ năm 1970 liền bị bỏ đi. Từ tháng 10 năm 1973, các trại biên phòng của Vùng 2 quay trở về với những địa danh cũ: Trại Ðức Phong lại là Dak Pek, trại Lệ Mỹ lại là Pleime, trại An Tân lại là Tiêu Atar, trại Trang Phục lại là Ban Don và trại Bạch Phong lại là Bu Prang.

Lực lượng Bạn và Địch trận Bu Prang (New) tháng 11 năm 1973

o O o

Trận Bu Prang 1973…

Năm 1967 Trại Bu Prang cũ được Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ xây dựng và trấn giữ. Trại này nằm trên ngọn đồi thấp và bằng phẳng cách làng Bu Prang một con suối. Nơi đây thuộc lãnh thổ tỉnh Quảng-Ðức và chỉ cách biên giới Việt Miên vài cây số. Cuối năm 1969 Bu Prang cũ bị một sư đoàn Cộng Quân từ biên giới Cao-Miên tràn qua bao vây và tấn công. Tôi đã có mặt trong đoàn quân của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân nhảy vào tiếp viện cho căn cứ này.

Ngày Giáng-Sinh năm 1969 sau khi hoàn tất nhiệm vụ giải vây cho Bu Prang, tôi đã có dịp đứng trước Camp Bu Prang để chụp một tấm ảnh kỷ niệm. Ảnh này còn được lưu giữ tới hôm nay. Cuối năm 1970, căn cứ Bu Prang được di chuyển về làng Bù Bông nằm trên Quốc lộ 14 giữa Tuy Ðức và Kiến Ðức. Căn cứ mới có tên là Trại Bạch Phong. Sau đó lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu của trại Bạch Phong được cải tuyển thành Tiểu Ðoàn 89 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Mùa Hè năm 1972 Tiểu Ðoàn 89 trở thành đơn vị lưu động nên căn cứ Bạch Phong được giao cho Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức đồn trú. Tới đầu tháng 10 năm 1973 trại Bạch Phong đổi lại tên cũ là Bu Prang.

Ngày 4 tháng 11 năm 1973 Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Quân Khu 6 Cộng-Sản đã huy động Trung Ðoàn 205 Bộ Binh cùng Trung Ðoàn E 429 Ðặc Công và một đại đội xe tank T54 bất ngờ tấn công căn cứ này. Lực lượng trú phòng ở Bu Prang thời gian đó gồm có Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Tiểu Khu Khánh-Hòa do Trung tá Võ Khâm chỉ huy cùng với một liên đoàn Ðịa Phương Quân. Sáng 5 tháng 11 năm 1973 Bu Prang thất thủ, Trung tá Võ Khâm mất tích. Trận Bu Prang 1973 diễn ra chưa đầy một ngày, kết quả là một tiền đồn của ta bị địch chiếm giữ, một chiến đoàn của ta bị đánh tan.

Tôi không thấy Tổng Thống lên đài kết tội Cộng-Sản, không có lệnh để tang Bu Prang. Tôi cũng không biết chuyện Việt-Cộng vi phạm đình chiến kỳ này có còn là đề tài để ta và địch tranh cãi phải nhờ Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến giải quyết hay không. Mất Bu Prang, giao thông giữa Ðức-Lập và Kiến-Ðức phải đi vòng theo Liên Tỉnh Lộ 8B vì đoạn Quốc Lộ 14 từ ngã ba Tuy-Ðức tới đồi Bù Row hướng Bắc đồn Kiến-Ðức đã nằm trong tay Cộng Quân. Tháng 12 năm 1973 địch mở thêm một trận đánh nữa nhắm vào Chi Khu Kiến-Ðức, tỉnh Quảng-Ðức nhưng không gây được tiếng vang.

o O o

Con đường từ Ia Drang tới Mang Yang…

Hai ngày sau Lễ Giáng-Sinh năm 1973 Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 gọi tôi vào văn phòng rồi nói:

“Ông Toàn ra lệnh cho tui, bắt cậu vào Pleime thay cho thằng Lân gấp! Tui có nói với ổng rằng, chờ tui xin Trung Ương cho người thay cậu, rồi sẽ cho cậu đi.”

(Ông Toàn: là Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Thằng Lân: là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Trung Ương: là Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa)

Nghe Ðại tá Tất nói, tôi thấy ngạc nhiên quá. Ở Vùng 2 này, ông Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 bổ nhậm ai làm liên đoàn trưởng còn chưa cần xin ý kiến của tư lệnh quân đoàn, huống hồ gì chuyện bổ nhậm tiểu đoàn trưởng? Thay thế một tiểu đoàn trưởng mà phải có chỉ thị của tư lệnh quân khu thì quả là chuyện khó tin.

Tôi nghĩ, chuyện này chắc có nguyên ủy cắc cớ gì đây, nên ông tư lệnh quân đoàn mới ra mặt, nhúng tay. Sau đó tôi bị gọi lên trình diện Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn II và Quân Khu 2. Bước qua cửa văn phòng, tôi vừa vào thế đứng nghiêm, chưa kịp giơ tay chào, thì ông Toàn đã lớn tiếng,

– Tau cho mi một tuần lễ chuẩn bị rồi vào giữ Pleime! Nghe rõ chưa?

Tôi gật đầu,

– Tôi nghe rõ!

– Vậy thì mi xuống gặp ông Tiếu để biết nhiệm vụ!

Tiếp đó ông Toàn giơ tay phẩy một cái về hướng cửa,

– Thôi! Khỏi chào! Ði đi! Cố gắng lên!

Từ lâu, đã quen cái cung cách ban lệnh và cư xử với cấp dưới của ông Tướng Vùng này rồi, nên tôi lẳng lặng xuống lầu mà không có ý kiến gì. Trước tấm bản đồ chi chít dấu ghi bằng bút chì màu, Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 vừa nhìn tôi vừa đưa ngón tay trỏ di động trên một đoạn đường vẽ bằng bút đỏ, vùng Tây Nam Pleiku,

– Chắc chú rành vùng này hơn anh. Chú đã biết con lộ vừa được khai thông của Việt-Cộng? Ông Toàn muốn chú vào trong đó rồi tùy nghi hành động. Làm cách nào vô hiệu hóa được con đường này thì làm.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Chương 9.

Vấn đề tiền tệ bên Nga, từ Nga hoàng bị hạ bệ

Vào thuở có cách mạng lâm thời Kérensli, muốn mua một đôi giày hay một đôi dép cao su, người xi vinh phái trình giấy thông hành, còn người nhà binh phải trình giấy đặc biệt cho phép. Việc mua giày dép năm sau 1917, chánh phủ chưa nói tới. Khoai, cà rốt, củ cải đỏ, mỗi thị xã phải làm giấy kê khai từ khóm nhà. Mua đường phải có cát, và cát nầy không dễ gì xin cấp phát. Bánh mì đã phát từng góc tư cân (par quart de livre). Trong khi ấy, bọn đầu cơ, bọn tích trữ, bọn giàu mới, phát tài và no nứt trứng…

Về đồng rouble trong thời kỳ cách mạng. Xô viết lên nắm chánh quyền ( trang 206)… Những gì hạn chế từ trước, đều tiêu tùng, hoác trở nên như bỡn cợt trong buổi phong ba nầy. Như đã nói nơi đoạn trước, nay nhắc lại, giá một đôi giày cao bằng ba tháng lương thầy thợ, cuộc xe từ 2 lên 100 rouble, dàng trời. Chủ nghĩa mới lên án, không dùng vàng và tiền bạc. Nước U.R.S.S trở lại thời kỳ người Incan (dân tộc da đỏ Nam Mỹ), không biết tiền bạc; dùng sự đổi chác và phân phát theo nhu cầu (troc ét système de répartiion). Năm 1918, bỏ dùng tiền tệ (monnaie). Năm 1920, dùng phép đổi chác ép buộc (troc obligatoire) (xem trở lại đoạn đổi phãng, thuốc hút nơi đoạn trước). Nhưng, trong lúc ấy, dân vẫn lén làm theo ý dân. Lạm phát vẫn tung hoành, bất chấp chủ nghĩa vĩ đại của nhà nước. Vàng là bạc, tuy đã trốn giấu, một mặt chánh phủ tuyên bố là món hàng “khinh bỉ” (marchandises méprisables), một mặt chính phủ vẫn tuyên bố đó là độc quyền, chỉ có nhà nước (Etat) mới có quyền làm chủ. Tháng 12 năm 1917, chánh phủ ra chỉ thị khai mở hết các tủ sắt tư chứa quý kim dưới bất cứ hình thức nào và thảy đều bị tịch thu (un décret de décembre 1917 ordonne l’ouverture des coffres privés et la confiscation des métaux précieux, sous toutes formes). Một sắc lệnh khác tháng juillet 1918 lên án tù khổ sai cho bất cứ kẻ nào còn chứa, mua và giấu bạch kim (platine), bạc và vàng nguyên khối chất, hoặc làm ra nén, đính, hay ra tiền tệ. Tháng juillet 1920, sắc lệnh ban ra và xuống đến nữ trang nào nặng hơn 77 grams (về vàng và 1 ký 200 (về bạc). Về ngoại tệ, thì chỉ thị cấm đã ban ra từ octobre 1918. Các nhà băng đều xã hội hoá (socilisé); các động sản giá khoán (valeur nobilières) đều gom lại và đốt ra tro.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Chương 8.

Những năm đầu của Sài gòn thời Pháp thuộc

(Les premières années de Saigon theo Jean Bouchot)

a) Tác giả, năm 1983, tự nhận lỗi và tự phê bình:

Hôm nay là 22 tháng chín dương lịch 1983, là ngày 16 tháng tám âm lịch Quý Hợi, sau một đêm mất ngủ, tưởng đã đi đời vì ăn bánh Trung thu rồi trúng thực, may sao qua khỏi, lật đật viết mấy trang nầy, tự nhũ và phê bình, viết ngay trên máy, không cần giấy nháp tự sự như sau:

Chiều ngày 14 (trung thu tiền nhất nhựt), bỗng có người đem lại nhà cho mượn tập Pháp văn “La naissance et les Premières Années de Saigon, ville francaise”. Ban đâu tôi từ chối không muốn đọc, vì xét đã quá già, cận địa, còn đọc làm gl văn ngoại quốc. Nhưng nghĩ sao, rồi lại xin giữ cuốn kỷ yếu nầy, giữ và đọc kỹ, và có mấy cảm tưởng ngổn ngang, nay viết ra đây, độc giả mặc tình lượng xét:

Gẫm lại mình thật là sơ sót và thiển cận. Tính coi, bộ tam cá nguyệt san “Trung Quốc cổ học hội” (Bulletin de la Société deb Etudes Indochinoises), mình đã mãi từ ngày giải phóng 30-4-1975, cho rảnh nợ, duyên chi vương vấn nay có người mang tới nhà cho mượn đọc tập nhỏ nầy, là tập số 11, số 2 của tam cá nguyệt tháng 4 đến tháng 6 năm 1927, cũ xì.

Cái tánh khinh thương, già mà chưa bỏ, thật là đáng toi. La Naissance et les Premières Années de Saigon, ville francaise, dịch là “Sự xuất sinh và những năm đầu của thành phố Sài Gòn…”, mi đã đọc chưa? Hỡi ngươi là tác giả của “Sài gòn năm xưa?

Tự hỏi mà trả lời ngay “chưa”, lòng thấy xấu, thẹn vô cùng. Suốt đêm 14, trời mưa nặng hột và đêm nằm, ông cao xanh buồn tình nỗi gì mà giấu mất trăng dưới những giọt tuôn là chã sao hại trẻ con mất dịp hát bài “Trăng tháng tám”, riêng tác giả Sài gòn năm xưa ăn cái bánh, nay hình vuông chớ không tròn vin như mặt trăng nữa nghĩ cũng buồn cười, tại thằng thợ muốn dễ lấy ra khuôn, hay tại đã đổi đời, thôi thì mặc kệ, cũng không hơi đâu lo và hãy để trí đọc muộn cuốn nầy, rút tỉa một bài học đích đáng: Sài gòn năm xưa là cuốn sách chạy gạo. Không đè sách in hai lần, kể sách khảo cứu mà được như vậy là khá đến, không ngờ nay tụi bỏ chạy lại lấy chụp và phóng ảnh in y nguyên, bán lấy tiền mà quên tác giả, thiệt là đờ tệ. Việc đâu còn đó, chỉ biết bởi có chút nhan sắc nên bị “hãm”, còn than nỗi gì!

Như đã nói, Sài gòn năm xưa là sách viết để chạy gạo, để kiếm cơm, vì năm xưa ấy, vô làm công nhựt trong viện bảo tàng sở thú, lương ít quá, không đủ nuôi vợ con, nên buộc phải viết, chớ dám thề độc, không lòng lên mặt khảo cứu chút nào. Bây giờ, biết lại, hối quá, nhưng đã trễ rồi. Từ ngày có bậc đàn anh vô đây giải phóng, bảo Sài gòn năm xưa viết không khoa học, không trật tự, và thường hay lập đi lập lại nhiều lần, nhiều đến không biết bao nhiêu mà đếm”. (Biểu viết lại nhưng biết sống bao lâu mà làm?)

Nay xin thưa ra đây, bổn tánh thuở nay là vậy, nhứt định không gò gẫm, không “hành văn” và chỉ chuyên viết theo lối “nói miệng tày”: Nói thì phải nói đi nói lại, có vậy hoạ may lời nói sẽ in sâu vào tai người nghe và lập lại là sự thường, khó tránh và cũng “cố tình không muốn tránh”. Nay giờ đã gần hết, xin trối lại mấy ý nghĩ nầy để cho mai sau có người nào muốn viết lại, thi nên tìm những tài liệu sau đây, ghi trong sách dẫn thượng, mà tác giả là Jean Bouchot trước kia đã từng quyền quản thủ viện bảo tàng nơi vườn bách thảo, lúc có chiến tranh và có binh đội Phù Tang chiếm đóng ở đây, – riêng tôi, không còn thì giờ viết lại, và quả khi xưa viết là nằm dưới đáy giếng mà dám tả cảnh mông lung trên trời!

Những ai tốt phước được ngụ bên Paris, nên tìm đọc những sách nầy, nơi “văn khố quốc gia” (Bibliothèque Nationale), cất ở bên nầy, thì không chắc gì còn gặp, và dẫu biết nơi tàng trữ, cũng không chắc gì được xem, và đều là sách nên đọc:

Báo Illustration, xuất bản từ 4-3-1843, có hình Tự Đức (nhưng râu rìa, tôi e không đúng chân dung vị vua nầy), hình phái đoàn bộ ba đi sứ dưới trào vua Napoléon III (Phan Thanh Giản, Nguỵ Khắc Đản, Phạm Phú Thứ, hình vua Norodom và hình một phái đoàn xứ Xiêm La quốc, lạy móp sát đất đến vua Pháp nhức mắt ra lịnh đứng dậy cũng không dám tuân lịnh, vì luật lệ Xiêm đứng dậy trước mặt vua là có ý không tốt, tội đáng chém đầu;

Báo Revue des Deux Mondes, xuất bản từ 1861, có nhiều tài liệu quý và xưa;

Sách Les premières années de la Cochinchine của Paulin Vial (Chauamel in) 1874, 2 quyển.

– Histoire de l’Expédition de Cochinchine en 1861 của Léopold Pallu de la Barrière, theo Bouchot có đến hai bản khác nhau: (Bản in năm 1864, chỉ toà bố Chợ Lớn có tàng trữ 1 quyển, nhưng nay ắt không còn, bản nầy mặc dầu “không khoa học”, nhưng đó là “bản tiên khởi”, tài liệu đầy đủ và chân thật; bản in lại năm 1888, tuy sắp đặt lại có trật tự, nhưng vì chêm thêm xen lộn quá nhiều chi tiết thêm thắt, nên có thể nói “màu hồ đã mất đi rồi” không khác một gái quê sửa dọn quá hớp, cạo lông mày, bịt thêm răng vàng, mất “tân”; (bản 1888 do Bergerlavrault et Cie xuất bản);

– Cochinchine francaise et rơyaume du Cambodge, của Charles Lemire viết, nhà Challamel xuất bản, lần đầu năm 1869 và cũng như sách của Pallu, sách năm 1869 nầy lấy sửa và in lại nhiều lần, đến lần thứ sáu, năm 1887, thì xen lộn chi tiết không đúng thời gian tính, theo tôi là “gái đã mất tân”, có bịnh là khác. Charles Lemire không đúng là nhà chuyên khảo, qua đây chạy gạo và xin vô đóng một vai tuồng trong sở Bưu cuộc, nhưng nhờ duyên dáng nên sách in sáu lần. Trong mấy bản sau, có nhiều đoạn không in lại vì Pháp che đậy những gì xấu.

– Onze moi de souspréfecture en Basse-Cochinchine, của L. de Grammont, xuất bản năm 1862, tôi không có cuốn nầy và tiếc hủi hụi, vì theo J. Bouchot, de Grammont có tài kể chuyện, sau đó tác giả de Grummont thâu gọn lại làm một bài phúc trình đọc tại Hội khảo cứu sử địa ở Paris là hội Société de géographie, bài nói năm 1864 (có in thành sách do nhà Challamel in năm 1864), bài nầy khảo xét nhiều về người bản xứ, tục ăn trầu, vân vân, và sẵn tánh tọc mạch, tôi muốn đọc để cho biết người Pháp thời đó, nói về chúng ta những gì;

– Apercu sur la Basse-cochinchine của H. Abel Rieunier (in năm 1861);

– La question de Cochinchine au point de vua des intérêts francais, của Abel Rieunier, Paris, Challamel 1864; (sách binh vực chủ nghĩa không trả đất cho ta);

– Souvenirs de campngne et de voyage en Indochine của Colonel Henri de Ponchalon (theo Bouchot, ở đây chỉ có nơi trường nhà dòng Mỹ Tho có tàng trữ một quyển, nhưng sao dời vật đổi, nay biết còn chăng);

– Les commencements de l’Indochine francaise par Albert Septanh, Challamel 1867.

– Les expéditions de Chine et d’Cochinchine, d’après les documents olcrlciels của de Bazancourt, phần thứ 1 (1857-1858), Amyot, Paris 1861; phần thứ 2 (in năm 1862). Sách làm sưu tập phẩm để chơi, hơn là sách để đầu nằm

Đó là đại khái những sách theo tôi là đáng đọc. Ngoài ra độc giả muốn tường tận vấn đề, phải theo những sách kể trong cuốn của Bouchot là tôi lượt bớt không ghi lại đây, Bouchot nầy vẫn chê cuốn Abrégé de l’Histoire d’Annam của Alfred Chreiner, mà Bouchot chê là thiên vị; (năm xưa tôi được ông Nguyễn Văn Mai, thầy dạy Việt văn ở trường Chasseloup, biếu tôi một cuốn với câu đề tặng “Souvenir à 1 élève Vương Hồng Sển, en récompense de son application au cour que Je professe au collège Chasseloup- Laubat, Sài gòn le 22-2-1921. ký N.V.M.) tôi quý hơn vàng, sau đó ra xóm bán sách lạc son ngang nhà ga xe lửa Mỹ Tho, tôi chưng hửng vì sách bán có năm hào mỗi cuốn sách mới toanh, mà không ai thèm ngó.

Nhưng sơ sót hay cố ý, Bouchot không kể cuốn La Cochinchine Contemporaine của A. Bouinais et A. Paulus (Challamel, Paris, 1884), và rõ là kỳ thị, và mặc dầu gọi tặng là “l’histoirien annamite” Bouchot đã quên mất quyển chải chuốt rặt giọng Việt Nam của văn hào, học giả miền Nam là Trương Vĩnh Ký, “Cours d’Histoire Annamite, er volume”, in tại Sài gòn năm 1875, nhà in chánh phủ, gọi Imprimerie du Gouvernement, và quyển 2, in lần đầu năm 1879, cũng tại nhà in du Gouvernement nầy, nghiên cứu cho tôi biết, trước kia toạ lạc nơi nay là Sở Đại chánh khám đạt (Cadastre), tồn tại được ba chục năm từ Pháp qua đây, và khi chánh phủ Pháp thôi dùng nữa, đã sang lại cho phụ thân tướng Nguyễn Văn Xuân là ông Nguyễn Văn Của, lối năm 18… hoặc đầu năm 19…, với giá tượng trưng là 1$ (một đồng bạc thuở đó). Trên đây, với tánh già lẩm cẩm, tôi đã dài dòng văn tự, đón ngõ ngăn rào, để nhìn nhận cái tội năm xưa quá lêu lỏng, không biết chữ “nhứt” mà dám bàn và phê bình chữ “thập” chữ “mười mươi”, tuy vậy trót đã lỡ cho ra đời quyển Sài gòn năm xưa và sách đã được công nhận đến nỗi các cha bỏ chạy đã in và bán trên đầu trên cổ, từ Mỹ qua Tây, thôi thì, nay còn chút giờ sống sót và được đọc quyển của J. Bouchot đã nói nãy giờ, thôi thì, tôi lặp lại, độc giả hãy cho tôi viết thêm một đoạn dài nầy, gọi bổ túc, ai kia đọc được Pháp văn, thì xin hãy tìm quyển Pháp văn dẫn thượng, đầy đủ hơn. Đoạn viết thêm ấy như vầy:

– Kể từ đây là tôi theo cuốn La Naissance ét les Premières années de Saigon của Jean Bouchot, để lựa nhón và phê bình theo ý tôi, riêng cho đồng bào không đọc được nguyên văn bản chữ Pháp:

Trang17 – Vào năm 1859, theo sách của Philastre, ông Bouchot chép lại rằng: “Vào thời ấy, Sài Gòn vẫn có hai đường cái, chạy dài theo sông Sài Gòn và kinh arroyo chinois, hai đường nầy vẫn có nhà lợp ngói hai bên, tức phố xá buôn bán, và đó là nơi gọi Bến Nghé và Chợ Sỏi. Phố và nhà nầy day đít ra bờ sông, vả có cất thêm nhà cao cẳng chờm ra mé nước (bài ký Philastre, đăng trong báo Courrier de Saigon (Sài Gòn tân văn) đề ngày 201-1868). Để nhấn mạnh tài liệu viết trên đây là đúng, Bouchot trích dẫn đoạn văn dưới đây, của ông Trương Vĩnh Ký viết, ông học giả họ Trương nầy, bất đắc dĩ, tác giả Bouchot phải mượn lời nói để bảo đảm lời nói của Philastre và của chính mình, chớ bề trong, vẫn kỳ thị không phải người Lang Sa, tuy viết được văn Lang sa không thua gì họ; “Theo Pétrus Ký, thì Bến Nghé là cái vùng gồm một phần của vùng gọi “thành thị nơi buôn bán cũ” của người An Nam, rải rác có nhà ở và phố buôn, bọc theo những con đường nhỏ, ít năng được tu bổ của bốn thôn: Hoà Mỹ. Tân Khai, Long Điền và Trung Hoà, ranh giới đụng sát đường Mac-mahon, còn phần trên của thành thị nói đây vẫn thuộc làng Mỹ Hội, tức vùng có xây thành Sài Gòn gọi “Citadelle de Saigon” (theo sách của Trương Vĩnh Ký).

Đến đây, Bouchot viết thêm rằng: “Chợ Sỏi chạy dài từ cột cờ Thủ Ngữ đến dường Mac-mahon) (tức nhại lời Trương Vĩnh Ký), còn “Chợ hàng đinh” (village des clous), vẫn gồm khu từ đường Catinat qua Tây bắc đường La Grandière”.

Xóm Vườn Mít, thì ở chỗ Toà Pháp đình ngày nay.

Chợ Da Còm, ở ngay vị trí Khám Lớn cũ, sau phá đi, xây Thư viện Quốc gia.

Xóm Đệm Buồm thuộc về khu đường Tong Keou, sau đổi gọi đường Lê Văn Duyệt.

Đường Tập trận (plaine des Tombeaux), thuộc khu Tây nam đường Tong Keou nầy.

Cái thôn gọi Phú Hoà ở ngay chỗ Nghĩa trang Đô thành, trước gọi Đất Thánh Tây. Hai thôn Hiệp Hoà và An Hoà, ở khoảng giữa hai cầu 2 và 3 trên rạch Bà Nghè và thuộc mé hữu của con rạch này.

Thành trì gọi của Olivier de Puymanel, phóng kiểu, tức thành xây năm 1837 luôn và bở và hào thành, vào năm 1859, vẫn cỏ và bèo mọc loạn xị, thường là đất trống bỏ hoang. Những đường năm 1859 do chánh phủ An Nam để lại và được trào Tây mở ra rộng lớn sau nầy là những đường có tên gọi theo Pháp lả Catinat, Paul Blanchy, d Espagne, đường Chasseloup-Laubat và đường Luro, lối 1859, gọi đại lộ thành trì (boulevard de la Citadelle), chạy bọc theo hào thành xây năm 1837.

Trang 35. Lính I-pha-nho, theo đóm ăn tàn, kéo theo lính Tây đánh ké, gọi làm vậy, chớ gồm phần đông là lính nay gọi Phi Luật Tân xưa kia gọi quân Ma Nì (Mallille), thủ đô Phi Luật Tân, bọn linh nầy, đến ngày 31-3-1863 thì rút về xứ họ.

Trang 38. Cái sườn nhả gỗ trong Sài gòn năm xưa của tôi có in hình, tức nlà đầu tiên bằng gỗ do thuỷ sư đề đốc Bonard ở, là do ông Bollard nầy mua tại Singapore chở về Sài Gòn và dựng lên nơi khu đất nay là trường Nhà dòng Taberd, cho đến năm 1873 mới xây dựng thiệt thọ dinh sau gọi Dinh Toàn Quyền, sau phá đi và xây dinh gọi Dinh Độc Lập trước đây, và để cho mau hiểu, thường gọi palais Norodom. Năm 1867, dinh bằng gỗ nầy (nhắc lại vị trí là chỗ trường Taberd), vẫn có dựng thêm một toà nhà bằng gỗ, sức chứa được sáu trăm tân khách, và năm 1867, đề đốc La Grandière, có tổ chức một cuộc tiếp tân có khiêu vũ gọi bal La Grandière, mời hết nhơn vật tai mắt đương thời Tây – Nam – Chà – Chệc (Phan Thanh Giản, Tôn Thọ Tường v.v…) và sau này vào năm 1927, thống đốc Nam Kỳ Blanchad de la Brosse có tổ chức tái diễn buổi tiếp tân long trọng sáu chục năm xưa, và người được mời, toàn là tai to mặt lớn thời ấy, phải chạy mượn hoặc may sắm, cho ra lễ phục, đại phục, tỷ như: kinh lược Phan Thanh Giản (Tổng đốc hàm Phạm Văn Tươi ở Vĩnh Long thủ vai nầy), tổng đốc Phạm Phú Thứ (đốc phủ Tụ, Cái Bè); Án sát Nguỵ Khắc Đản (đốc phú Nhựt, Cai Lậy); Trương Vĩnh Ký (do con là Trương Vĩnh Tống đóng vai); rồi nào lãnh binh Tấn, Tôn Thọ Tường, vân vân, đều do những người có tên như sau: Nguyễn Văn Mai, Nguyễn Hiền Năng, đốc phú Hải, Gò Công, Nguyễn Văn Lân (cò mi Lân), Trần Văn Kính (thông ngôn toà đại hình), Nguyễn Bá Hội (Thủ Thiêm), Lê Quang Ngôn (toà án), Thái Minh Phát (phủ dinh thống đốc), Thái Minh Kim (sinh viên), Phan Chấn Thế (toà đại hình), Trần Tư Ca (con là Trần Tứ Khuê, đóng vai), Trần Tứ Hoàng, Trần Văn Khá… Tôi đọc lượt bớt không kế ra đây người Pháp, và xin kể giới Cao Miên có quận chúa Pok Hell đóng vai Pra-keo Pha, giới Hoa kiều, vai Bang Tai (Hoàng Thái) do Tây Méchin đóng, Li-tak, do Alinot, hoạ đồ, đóng; vai Seng-tek do Lévy đóng;… Tan-kang-sinh, do Bille đóng… (thuật nhón theo B.S.E.I năm 1927, janv/mars, trang 53).

Gẫm lại các ông các bà năm xưa, chưng diện cho xuê, ăn chơi cho sướng, phè phỡn nhảy đầm và nịnh hót cho đã đời, không làm gì nên thân, ngày nay con cháu ông bà trả nợ đã đành, mà chúng tôi vô cớ cũng phải gánh chịu, tức thì kẻ hèn nầy phải xì hơi cho bớt tức, chớ các cha “ỉa cho chúng tôi hốt”, khổ quá mà. Nhắc lại cái nhà hay dinh gỗ nầy, sau bị mối mọt xơi nát, và cái phòng tiếp tân đãi khách, cũng bằng cây ấy, (salle des fetes), trước kia vị trí day mặt ra đường Catinat, hồi đó gọi “công trường đồng hồ” (place de l’Horloge), kế bên có chuồng ngựa (lúc nầy chưa có ô tô) vẫn ở chỗ phòng ăn của các thầy dòng Frères nơi trường Taberd đó). Trên đây tôi quên nói: năm 1927, thống đốc Blanchard de la Brosse cho mượn dinh sau gọi dinh Gia Long nơi đường La Grandière thiết dạ yến (bal) nên long trọng lắm.

Trang 39. Gọi là place de l’Horloge, nhưng cái đồng hồ đặt nơi đó không dùng chỉ định giờ chính thức, và từ 30-7-1862, giờ đúng và chính thức vẫn do Sở thuỷ binh nơi mé sông Sài Gòn chánh thức báo tin bằng một tiếng súng đồng bắn nơi bờ sông, khi đúng ngọ.

Trang 41. Sở Bưu Cuộc (Postes) thời đó đặt thuộc Bộ Tài chánh, còn Sở Dây thép (Télégraphes) vẫn thuộc Bộ Nội vụ, vì vậy, buổi ấy Sở Ngân khố và Sở Bưu cuộc luôn Bưu điện, vẫn dựng nơi Công trường Đồng hồ nay vị trí là nơi gọi Sở Hiến binh (Gendarmene), khít và sau lưng Thư viện 34 La Grandière. Như đã nói rồi, nhà in của chánh phủ Tây thời đó, vị trí nơi Sở Địa chánh (Cadastre), mang tên tuỳ lúc, khi là Imprimerie Impériale (thời Napoléon 3), kế ba chục năm sau bán cho ông Huyện Của, (ông nầy già đời ưng làm huyện hàm, tuy hàm tri huyện, nhưng đào tạo nhiều thế hệ đốc phủ hàm và huyện, phủ thiệt thọ, và ông là thân phụ của tướng Pháp tịch Nguyễn Văn Xuân).

Trang 43. Đọc trương 43 nầy và nói chuyện “ăn trầu gẫm bã” nghe chơi, thật vận mạng nước nhà của ta sao thời trước, quả là “bạc mạng”. Nếu sử viết được bằng “chớ chi…” và “nếu mà…”, thì đâu có như vầy. Bàn rộng ra, quả hoàng đế Pháp, Napoléon 3, lúc đó phân vân lắm, nếu ta có người theo dõi và khéo vận động, thì có lẽ việc chuộc đất của phái đoàn ông Phan Thanh Giản có phần hy vọng thành công tràn trề, và nếu không có lão Chasseloup-Laubat, lúc đó làm bộ trưởng coi Bộ Thuỷ binh, làm kỳ đà, cùng với nhiều người từng qua đây, khăng khăng không ưng cho chuộc đất bồi thường, thì có lẽ đế Napoléon 3 đã hạ bút châu trả đất Nam Kỳ lại rồi, bằng không nữa, nếu triều vua Tự Đức có người tín cẩn khôn khéo, biết thừa dịp Pháp bại trận năm 1870-1871, biết chống cự dữ dội trì chí thì có lẽ giành lãnh thổ miền Nam khi Tây bại trận ấy được rồi, nhưng như đã nói, “Sử có khi nào viết bằng chữ “nếu…”. Việc đã qua rồi, bàn nữa chỉ tốn bọt cáp.

Một bằng cớ Pháp lúc đó phân vân bất nhứt, không muốn ở lại đất Nam là:

1) Trang 43. Đất thổ trạch châu thành Sài Gòn, Pháp cắt ra từng lô (lot) phân hạng, và định giá thuế đóng mỗi năm và mỗi thước vuông thật thấp, thật rẻ, cốt ý lấy lại đất của người bản thổ, đổi với những người nầy cho đất chỗ khác, và đất tốt dành ưu tiên cho người da trắng tức Pháp kiều, nhưng họ chỉ ham ở vùng đất cao ráo gọi zône des plateaux, họ không dám ở gần người bản xứ, vì sình bùn ướt át, thêm không được an ninh, và phải nói họ sợ bệnh truyền nhiễm (dịch lệ, kiết lỵ) hơn là sợ sức kháng cự dân bản xứ (dao mát, tầm vông vạt nhọn).

2) Trang 45. Vấn đề “nên giữ làm thuộc địa hay nên trả đất lấy tiền bồi thường chiến tranh”, ở triều đình Pháp rất là phân vân bất nhứt, bọn qua đây thấy bề thế Nam Kỳ dễ làm ăn thì muốn giữ còn chính hoàng đế Napoléon 3 thì muốn trả, và việc nhất định giữ vĩnh viễn và việc ra sắc lệnh làm thuộc địa, chỉ quyết định từ ngày 19-1-1865 mà thôi.

Google photos

3) Trang 45 và trang 48. – Ngày 15-6-1865, thuỷ sư đề đốc Roze, thay thế đề đốc La Grandière, và ký sắc lịnh bán đất thành phố Sài Gòn, theo lối bán có đấu giá, Roze không cho nhà bằng lá còn tồn tại trong châu thành, mở rộng đường, ra chỉ thị nhà cất theo lề lối Tây phương, chỉnh trang ngay ngắn, dự định nới rộng châu thành cho đủ chỗ chứa 500.000 dân, sai đại tá Coffyn vẽ hoạ đồ (ngầm khi trả đất, sẽ tính phí tổn đòi bồi thường cho thêm nặng), (xin xem trong J.Bouchot, đầy đủ chi tiết, đây không kể ra), chỉ ghi lại đây, theo sắc lịnh trên, giá tiền thuế đất mỗi năm thì: mỗi thước vuông đất ở Sài Gòn, đại khái là 0$01 (một xu) đất trong thành phố; 0$02 (hai xu), đất đường Isabelle II, tức đường d’Espagne; và lên đến vùng đất cao ráo “plateau”; 0$03 (ba xu) bờ kinh Charner, sau lấp bằng, biến ra đại lộ Charner, nay còn gọi “đường kinh lấp”; 0$04 (bốn xu) đất ngoại thành gọi chạy vòng thành phố (Tour d’Inspection); 0$06 (sáu xu), đất dọc mé sông Sài Gòn, (sur les quai). Đất mé thấp, chỗ dân ta ở thì cắt từng lô thì 100 đến 200 mét vuông; đất vùng cao ráo (cho Tây ở), từ 400 đến 600 mét vuông; đất đường Charner, cũng từ 400 đến 600 mét vuông; đất vòng quanh châu thành, cắt lô rộng đến một mẫu (1 ha); còn đất bờ sông Sài gòn, cắt từng lô từ 600 đến 1.000 mét vuông diện tích. Nhưng vì sơ khởi, làm gì cũng thiếu sót, chỉ thị quên, không định giá mức thấp là bao, cho nên giá bán không đồng đều, chỗ quá cao bất ngờ, chỗ rẻ mạt, cũng không ai hiểu được lại nữa vì thiếu quảng cáo (hay là cố ý?), nên cuộc đấu giá thiếu người hưởng ứng, thêm lô cắt có khi hơi quá lớn quá rộng, sở phí lặt vặt tính quá cao, dân bản xứ cũng không mấy người đủ sức ra đấu, trừ phi bọn lanh lợi, giỏi thấy xa, họ đầu cơ từ ấy (trong Sài gòn năm xưa, tôi có viết đất dân bỏ trống rất nhiều, vì lòng còn mến tiếc cựu trào triều đình Huế, ước mong có ngày trở lại, nên về đất không chủ, bọn biết tiếng Pháp và có chưn trong hội đồng khám xét, chỉ học hai tiếng Tây: “uỳ” (oui, dạ, “của tôi”) và “no”, (non, dạ, không phải của tôi), nội hai tiếng ấy hễ đất tốt thì họ giành “của họ”, đất không tốt, thì họ hô “no”, ông muốn lấy và bán mặc tình, té ra Tây thắng trận mà thằng gian tham lại giàu!

Nơi trương nầy mở ra một vấn đề thật là rắc rối và phiền phức, cho đến ngày nay vẫn giải quyết chưa xong, là vấn đề tiền nong ở nước ta, tóm tắt vẫn ở trong tay bọn Ba Tàu lớn nhỏ, từ tên mại bản, cũng gọi mái chính (comprador) mãi biện, chúng làm môi giới trong cuộc buôn bán, đổi chác từ lúc Tây qua đây cho đến khi Tây bỏ chạy, cho đến tên bán quán xóm nhỏ, chúng làm lũng đoạn vấn đề tiền tệ trong xứ không ít, vì chúng lanh lợi, gian tham, mánh lới, đến Tây có học cũng phải chịu thua, nói ra không hết, tỷ dụ: khi Tây qua đây, trong nước Nam còn xài tiền kẽm, tiền điếu, bạc nén, bạc vụn, cắt ra từng lượng, chỉ, phân, và xài đồng bạc gọi “bạc con cò”, vóc tròn, (đến sau nhà băng Đông Dương chế ra đồng bạc “con đầm”, cân nặng 27 gram thay thế, và bạc lẻ: 0$50 gọi “cà-ro-bi” (roupie), hoặc 0$20 (góc tư), 0$10 (bạc cắc, đúng ra bạc cắt, tức giác, hào, một phần mười của đồng bạc), và những danh từ ấy nguyên do là lúc xưa, thiếu hụt bạc lẻ, người Pháp không nhận cho dân trả thuế bằng tiền kẽm, tiền điếu quá nặng quá nhiều, không chỗ chứa cho phỉ (nhà giàu bá hộ vẫn chứa tiền kẽm sau bàn thờ nhà giữa, chồng đống lớn và cao như bộ ván nằm), và dân phải chặt, cắt bằng mũi đục, không thể chặt đồng bạc tròn ra 1/5, 1/10, biến ra 1/4, 1/8 dễ chặt hơn, và thửa dịp, bọn gian thủ lợi rất lớn, mà Pháp cũng phải bó tay cam chịu, và cũng không phương từ chối tiền điếu kẽm, vì dân mua hộp diêm quẹt, muối ăn, dầu thắp, đều mua bằng tiền kẽm, tiền điếu ấy, không nhận cũng không xong, thêm một mối hoạ ẩn hình là bọn Ba Tàu đúc tiền điếu bên Trung Quốc, đem qua bên xứ ta, lòn cho dân xài và rút rỉa bạc tròn bạc trắng chở về xứ họ, Pháp phải bó tay mà chịu: nay nhắc lại cho trẻ em biết, tỷ như xưa từ Gia Long đến Tự Đức, một nén bạc là 10 lượng cân nặng 374 gram, còn tiền thì phân biệt ra, tính theo Bouchot:

1 tiền, tương đương 60 đồng kẽm, và tương đương với tiền Tây là 0,10 fr.;

1 quan tiền ta là 600 đồng tiền kẽm, tương đương tiền Tây: 1 fr.

1 piastre (đồng bạc tròn ăn 3.000 đồng tiền kẽm, 3.000 đồng nặng gần 1 ký, v.v…)

Lối năm 1920 đến 1940, nói cho gọn, các chú đi mua lúa nơi nhà người Miên, người Thổ ở miền Nam, đem theo bạc trắng độ 1.000$ là phải có sức mạnh vác trên vai 27 ký nặng, đi bộ một ngày chỉ mười hay hai chục ngàn cây số, (vì Miên, Thổ dùng bạc trắng, không nhận bạc giấy) thì đủ thấy phiền phức cam go bực nào, nói sao cho xiết. Vì vậy bọn đi mua lúa, lần hồi phần đông đều mắc chứng lao).

Trang 48. – Theo chỉ dụ ngày 23-6-1863, đề đốc La Grandière ra lịnh “bạc có làm dấu” (piastre marquée) giá trị thấp hơn bạc không làm dấu (piastre non marquée) và ngày 10-11-1863, bạc có đóng dấu không được thông dụng nữa. Và đồng bạc ăn 6fr25 (ngày 3-5-1864), hạ xuống 6fr20 (ngày 7-11-1864); hạ thêm nữa, còn 6fr15 (ngày 25-6-1865); hạ thêm lần nữa, còn 6fr05 (ngày 29-7-1865), xuống 5fr85 (ngày 30-8-1865); cho đến ngày 19-9-1865, ăn 5fr55 như buổi đầu 27-8-1863.

Tuy vậy, giá sanh hoạt thời ấy thật là dễ chịu, nay đọc lại rất là bất ngờ: Cũng không có bản ghi chép kỹ càng để lại mức sống từ 1861 đến 1865, chỉ nhớ: một chục, 12 trứng gà, chỉ có 30 đồng sapèques (kẽm hay đồng, không rõ); chuối, 20 sapèques, một buồng (régime); một gà giò, giá 1 tiền (= 60 đồng kẽm); thịt heo từ 20 sapèques đến 1 tièn, tuỳ thịt nạc hay có mỡ, mỗi một cân ta (livre); xoài ngon, hai đồng kẽm, một trái, vân vân, nhưng lần hồi, giá bán cho người Âu Tây cao, mắc, tăng lên, tỷ như vào năm 1865 một chục hột gà tươi là 40 sapèques, còn chuối thì không bán nguyên buồng và bán lẻ từng trái hoặc từng nải, tuy vậy giá gà giò, dẫu có lên, nhưng cũng độ ba tiền một con, còn như giá gạo ăn, năm 1861, giá 1$50 (một đồng bạc lẻ năm cắc) một tạ (picul), và năm 1865, lên 2$50 (hai đông rưỡi bạc) là cùng. (Thậm chí năm 1864, mười tấm báng đen, mua cho trường học, người bán chỉ tính giá có 2 piastre (hai đồng bạc) mà đủ có lời. Đến như giá đất thổ trạch vùng Sài gòn, thì định giá không hơn 10fr. mỗi thước vuông, chỉ tiếc sở văn khố (archives) không giữ được tài liệu về giá đất những năm đầu khi Tày qua đây, chỉ còn hai tý dụ: Năm 1862, có giấy bằng khoán: một sở đất toạ lạc góc Taberd và Mac-mahon (ngay Pháp đình ngày nay), diện tích 15.620 mét vuông, bán 824$ (tám trăm hai mươi bốn đồng); một sở thứ hai không nói ở chỗ nào, bán cho Pháp kiều Pevtel: 14.230 thước vuông, giá 570$ (năm trăm bảy chục đồng). Một tỷ dụ thứ ba khác là ngày 2810-1869, tên đội hiến binh (maréchal des logis de gendarmene), tên Gerrbault mua được, do chánh phủ cắt bán: 937 thước vuông đất toạ lạc góc đường Chasseloup-Laubat và Mac-mahon, ngang cổng sau dinh toàn quyền cũ, với giá không tưởng tượng được là 0fr75 mỗi thước vuông. (Vấn đề so sánh giá trị xin gác ra ngoài, không nói nơi đây được)

Trang 54. Dinh xưa, gọi dinh thượng thơ, tức Direction des bureaux trào Pháp, ở góc Catillatha Gralldièle, xây dựng từ tháng 4-1865.

Trang 57. Cẩn đá bờ sông Sài Gòn và lập vườn Bách thảo (Thảo cầm viên) hay Sở thú năm 1804.

Trang 59. Thơ của Paullin Vial, đầu dinh thượng thơ (Direction des bureaux du Gouvernement gởi cho kỹ sư chánh Maucher đề ngày 22-12-1864, xin nghiên cứu vân đề xây:

– Un hôtel pour la direction de l’intérie tức Dinh gọi “Thượng thơ” xây xong 1865.

– Une maison pour le Chefde la Justice, tức là chưởng lý, trước đường La Gralldière Pellerin, nay đã thay thế bằng một cao ốc.

– Une maison pour la Direction du Port de Commerce, nhà quán đốc “bót com-mét” nay vẫn còn;

– Un logement pour les Postes, chắc đó là Sớ Trung ương bưu cuộc, ngày nay còn thấy.

– Un projet pour le gouvernement, sau có lẽ là dinh Thống đốc Nam Kỳ (dinh Gia Long).

– Une cure (nhà của mục sư đạo Thiên Chúa), vì nếu không có bắt đạo và không nhờ Gia-tô trợ lực thì đâu có thuộc địa Đông Dương!

– Un pont sur l’arroyo de l’Avalanche en remplacement du pont numéro 3 (cầu trên rạch Thị Nghè, thế cho câu bộ số 3).

Những tạo tác trên đây, phải dùng đến hai ngàn người nhơn công (thợ hồ, thợ mộc đều là người Tàu, do cai Tây coi sóc, phu phen gánh đất, trộn bã là người Việt ta) và thảy đều thành tựu vén khéo với kiểu kiến trúc Second Impire đời Napoléon 3 (dinh Thống đốc có hình hai phụ nữ Pháp đầu đội câu lơn, sau Hoeffel phá bó và xây lại trơn tru hơn).

Trang 61. Ngày 27-9-1865, Paulin Vial đề nghị lên Thống đốc, lúc đó gọi phó soái (lieutenant gouverneur), vì còn dưới toàn quyền là (Gouverneur Général), xin đặt đèn thắp dầu dừa các đường ở Sài Gòn, và số đường dài được 15.350 mét là:

– Đường mé sông (quai du neuve) dài 850 mét

– Mé kinh vô Chợ Lớn (arroyo Chinoi) 600 mét

– Đường Paul Blanchy 1.000 mét

– Đường 20, d’Adran (Đường Chùa Chà) 500 mét

– Đường Hamételin (Hồ Văn Ngà) 300 mét

– Đường Hamelin, mới nữa 500 mét

– Đường Kigault de Genouilly (một hình) 300 mét

– Đường Charner (Đường kinh lấp) 750 mét

– Palanca et Isabelle II( d’Espagne) 1200 mét

– Rue du Gouverneur? 1200 mét

– Rue Impériale(?) 1200 mét

– Rue Taberd 500 mét

– Place du Ront-point (công viên) 300 mét

– Place centrale (công viên trung ương) 600 mét

– Place dumarcé (chỗ chợ cũ) 500 mét

– Đường Catinat 1.000 mét

– Đường Prisons 50 mét

– Đường số 3 600 mét

– Đường Lefèbvre (Nguyễn Công Trứ) 400m

– Đường Chaigneau (Tôn Thất Đạm) 450m

– Đường Olivier (sau là Pellerin) 600 mét

– Rue numéro II(?) 200m

– Rue Bonard 600m

– Rue Ste Enfance (gần Sớ thú) 600m

Cộng 15.350 mét

Lúc tôi học trường Chasseloup (1919-1923), thì đường Richaud (Phan Đình Phùng, sau gọi đường Đồ Chiểu hay Nguyễn Đình Chiểu để đối với đường Nguyễn Du, đường Richaud buổi đó còn gọi tên rue des Mọi (đường của người Mọi), bắt chạy từ Kho Đạn đụng tới đường Lê Văn Duyệt, là dứt, và bên kia đường Lê Văn Duyệt vẫn chưa có đường, còn là bãi tha ma rộng lớn, gồm vườn tược, mồ mả và nhà lá lúp xúp, đúng đó là ranh giới Đồng Tập trận, Pháp dịch là Plaille des Tolbeaux.

Trang 64. Nhà thờ đạo Thiên Chúa do đức cha Lefebvre xây dựng ở xóm Chiếu có bốn đạo khá đông, sau cha dời qua khu chợ Cũ Sài Gòn, vị trí thánh đường nầy ở chỗ Toà tạp tụng (Justice de Paix) Chợ Cũ, đến năm 1868 dời qua phòng khánh tiết (salle des Fêtes) của thời thuỷ sư đề đốc bó hoang, và ớ tạm đó cho đến năm 1877 mới dựng Cathédrae de Saiboll, tức vương cung thánh đường ngày nay.

Dân số người Pháp và Tây Âu, năm 1864, chỉ đếm được: trọn Nam Kỳ 591 người, và trọn Sài Gòn Tây trắng 577 người, trong đó có 80 phụ nữ, thế mà cai trị mấy chục muôn da vàng, mềm èo như sáp, tuân lịnh răng rắc, không biết bạu động, và lẻ tẻ có vài vụ lẻ loi chống cự đều bị dẹp trừ, than ôi!

Trang 66. Bày cuộc đua ngựa, độ đầu ngày 15-8-1864, ngựa bản xứ người cỡi khăn áo y phục An Nam, khi thấy có lợi nhiều, mới sắp đặt mở trường đua nay còn thấy.

Trang 68. Xây cất nlà hát Tây năm 1865, hát Tàu hát ớ Chợ Lớn rồi ra diễn ớ Sài Gòn.

Trang 73. Ngày 23-2-1868, đặt viên đá đầu tiên xây dinh toàn quyền (Hermitte, kỹ sư).

Trang 77. Hội đấu xảo (exposition) năm 1866, Trần Bá Lộc Chưng cặp ngà nặng 140 ký trị giá 3.000 fr., voi nầy bị bắn tại Cái Bè, như vậy lúc đó Nam lỳ còn vui ở. (Đọc thoáng qua và dọn ngay liền máy đánh chữ bài nầy ngày 3, 24 và 25-9-1983)

Tổng luận. – Để kết thúc, đến đây xin hỏi: “Có nên bỏ và viết lại Sài gòn năm xưa lại hoàn toàn mới, cho vừa ý người đọc tân thời hay chăng?

– Xin thưa: đối với tôi thì đã lá muộn vì đã quá già, 82 tuổi, không đủ hứng và cũng không muốn viết nữa làm chi. Nhớ lại trong tiếu lâm cổ – lại bầy nói tiếu lâm thời buổi nầy nữa, nhưng già thì lẩm cẩm, cứ nói cho đã miệng, lại có làm sao – có tích “đặt tên con là mèo”, xin lấy làm gương:

Thằng cha nọ, sanh đặng con trai, thấy nó ươn ịch, nên đặt tên là “mèo”, có anh bạn thân, chữ nghĩa đầy bụng, xách dù lại chơi, trách:

– Bộ hết chữ rồi hay sao, mà lựa tên đặt cho con, nôm na tầm thường quá vậy?

– Chữ nghĩa không thiếu, nhưng nó nghịch ngợm lắm, lên đặt làm vậy, xem có bớt hay không?

– Vậy anh cho tôi đặt lại, hoạ may nó bớt phá phách.

Kêu nó ra chào, bạn xem tướng, đặt lại là Phong. phong tức gió, hỏi nó có bằng lòng, thằng nhó bắt giòbạn của cha:

– Thưa bác, “tường năng tấn phong, (bức vách cản được gió).

– Vậy thì đặt mày tên Tường.

Google photos

– “Thử năng xuyên tường” thưa bác. (Chuột hay khoét tường).

– Vậy cho mày tên thử.

– Không êm đâu, “miêu năng tróc thử” (mèo bắt được chuột).

Té ra khách bí lối, xách dù đứng dậy, quên luôn trà thuốc, ra cửa lầm bầm: “Trẻ ranh nhà anh, coi vậy mà có tài, cứ để y tên của nó muốn mà gọi.

Và “Mèo vẫn hoàn Mèo”, Miêu là chữ Hán, đời nầy nhắc làm chi thrrm rắc rối.

Tôi xin mượn chuyện nầy làm kết luận. Phàm một cái nhà cất theo sức mình, cột kèo cũ, đã có từ đời ông Trương Vĩnh Ký, vôi hồ xi măng thì nhín mót mua mới được, nay dựng lên ở đã ba bốn đời người, từ không con, hoá có thằng Bảo, rồi nuôi con Mai, nó sanh con Phượng, kế luôn mình, là đã bốn thế hệ, riêng quyển Sài gòn năm xưa lần đầu do “Cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do của Phạm Việt Tuyền, in năm 1960, đã bán rốc, tiền nhuận bút 10.000 cũng không còn; lần kế, ông bạn Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách lớn Khai Trí, in lại năm 1969, tiền nhuận bút cũng tiêu hoá từ lâu; lượt thứ ba, nghe đâu có người chạy qua Mỹ, in lại và bán khắp nơi mà mình vẫn chưa thấy mặt mấy đứa con hoang, chớ đừng nói chi lễ mễ cho mình ươn già buổi nầy, nay có người trách “sách viết thiếu khoa học, sắp xếp không ngăn nắp và nên viết lại”.

Tôi lạy cha, có giỏi thì làm lấy, chớ nhà dầu cũ, che mưa che nắng được là xong, tôi còn sống bao lăm nữa mà hòng dỡ đi cất lại? Thôi thì, có nói lắm, tôi thêm một căn nhỏ, chứa những gl đọc muộn trong sách ông J. Bouchot, goki bổ túc, tưởng như vậy là đủ rồi. Tôi thanh minh không phải nhà khảo cứu và tôi viết tôi chơi, không có ý làm văn để đời. Ai kia lấy của tôi in lại, tôi cũng không phiền, cứ hiếu bởi con mình còn duyên nên mới có người bồng ẵm. Nếu biết điều gởi cho thì hoà cả đôi, không đòi mà cũng chẳng cám ơn. (Ngày 25-9-1983).

Và tôi xin thêm, xin biết cho, “văn của tôi là văn kể chuyện”, phải nhại đi nhại lại cho dễ nhớ, báo tôi xếp thứ tự, là tôi mất tự nhiên; sớ dĩ tôi lập lại, một phần nào là có lý đó. Sển.

Nhơn đọc Histoire de Vichy của Robert Abon viết, lại biết vào năm 1941 (mars), trong vùng bị chiếm đóng, các thanh niên (adultes) Pháp vẫn nhận được:

240 giam bánh mì mỗi ngày;

250 giam thịt và 75 gr. pho mát mỗi tuần:

550 gr. chất béo, mỗi tháng;

500 gr. đường

200 gr. gạo

250 gr. bột ăn (pâtes alimentaires), mỗi tháng;

2 gói thuốc vấn mỗi 10 ngày và 1 lít rượu vang. (trang 35).

Như vậy mà sở y tế còn khuyên nên bỏ tập thể dục, vì ăn không đủ bổ (thiếu ăn).

Trang 285 viết thêm: vào mùa đông 1943-1944, dân thành Paris, chỉ nhận trung bình là 200 gr. chất béo, 300 gr. thịt mỗi tháng, rốt còn lại dân Paris được lãnh những gì sở cung cấp phát ra, tính lại những gì lãnh một tháng, chỉ ăn 5 hay 6 ngày là hết.

Trang 286 cho biết: Từ thu năm 1940 đến tháng février 1944, giá sinh hoạt tăng 166 và phần thực mỗi người dân mỗi ngày chỉ còn 850 calories.

Trang 287 nói “tháng 3-1944, bày hòm giả tạo không đựng thây ma mà đựng thịt tươi hoặc thịt muối và qua 8-1944, xe nhà băng không chở vàng bạc, lại chở đường”.

1 ký đường giá 150 fr.

1 ký thịt giá từ 300 đến 400 fr.

1 ký bơ giá từ 600 đến 800 fr.

Rượu vang, 300 fr. mỗi chai, rượu sâm banh giá 600 fr. mỗi chai.

Và sách nói muốn biết giá trị đồng franc (quan Pháp), thì nên nhơn cho 15, tiền năm 1954.

Những tài liệu trên đây là kết quả những ngày dài tôi đọc “hầm bà lằng”, gặp sách nào cũng đọc và nay chép lại đây xà ngầu như trong giỏ đựng vật phế thải, vụn vằn, không nên trách việc làm vô trật tự, vì cốt ý là tôi chép tôi chơi, không dám gọi thuộc tài liệu nghiên cứu. Tuy vậy, đối với người nào biết dùng, thì đó cũng chưa là vô bổ ích.

Xét cho cùng, tưởng không nên kỳ thị chủng tộc Những gì làm cho nhiều người hiệp nhau lại để trở nên một dân tộc, thì đó chẳng qua là những kỷ niệm đại khái đại thể, để chung nhau làm từ trước với ý chí còn chung nhau làm ra sau nầy. Gẫm như gương Pol Pot, hành động bạo tàn đã qua trên đất Nam Vang, hiểu theo nhà Phật đất Chùa Tháp, phải chăng đó là kết quả quá hấp tấp của một đứa con xứ ông Tà Á Rặc, nay bỏ chùa chiền, được sang học bên Pháp, nuốt không trôi triết lý của mấy ông giáo sư Tây dạy môn “xã hội học” ở Sorbonne dành cho con cháu dòng dõi Descartes, Rousseau, Molière, rồi ôm những món khó tiêu về áp dụng sai lầm bên xứ Thổ, ngày nay đều phải khóc, thì tiếng khóc than cũng không đủ chứng minh cho ai, bằng phải bật cười thì tiếng cười vô nghĩa lý ấy lại e gây thêm nợ, chi cho bằng đừng khóc đừng cười và hãy lấy trò đùa u-mặc (humour) để lây lất sự đời, và môn “mua sách về đọc ở nhà”, đóng cửa kết bạn nối khố với tư tưởng người xưa, hoạ chăng đó là thang thuốc mà tôi cho là thần diệu đế bớt buồn có chút vui chờ ngày theo ông theo bà cho mãn kiếp (viết 6-12-1983).

Pol Pot là người, hay là thú? Tưởng voi dữ sút xiềng, sư tử, cọp beo thoát rừng cũng chưa ác độc hơn. Theo một sách từng đọc, chàng ta sanh tại Kompong- Thom, năm 1928. Vốn con nhà săn dã, đã biết cuốc đất trồng khoai, theo học chữ học đạo suốt sáu năm trường dưới mái nhà chùa, rồi được cho học trường trung học kỹ nghệ tại Phnom penh, và được cấp học bổng cho qua Pari năm 1949 học ngành radio điện tử (radio électronique). Như vậy là anh tốt phước lắm rồi. Nhưng nào biết thân. Chàng ta thi rớt trọn ba keo về chuyên nghiệp, hỏi duyên cớ, chàng lạnh lùng đáp: “Mảng chăm chỉ lo học làm cách mạng hơn học nghề”. Khi trở về xứ được dạy môn “sử địa” nơi một trường tư ở Nam Vang, gia nhập đảng Pracheachon và trở nên một tay viết báo có tiếng tăm thiên về tả. Năm 1962, được đảng đưa lên chức “tổng bí thư phó” (secrétaire général adjoint), và năm 1963, rút về rừng núi, vì biết rừng lời dụ của ông Sìhanouk mời ba mươi bốn người tá đảng nhập chánh phủ, chẳng qua là bẫy cặp để bắt cho trọn gói. Pol Pot tích oán từ bao giờ? Giận ai mà đè mấy triệu dân Miên, phe nào bất luận, đều làm cỏ sạch, tiếng oan hồn còn theo gió riu rít kêu gào? Tôi không nói về hành động tàn ác của chàng, sẽ có người khác viết rành hơn, tôi chỉ muôn hói chàng: học giống gì bên Pháp mà khi cầm quyền, chàng vụt thủ tiêu, bỏ sạch “giấy bạc lưu hành tiêu biểu cho văn minh, và thụt lùi trở lại đời dã man u tối “đổi chác”?

Ngày xưa lấy đá lửa đổi với muối hột, nhưng nay đã có quạt máy và đồ gia vị đủ thứ kia mà? Phải có chợ bán buôn, có xã hội, trờ lại người rừng mà hạnh phúc thấy đâu? Tỷ dụ: Nhà ông có thừa bò, ông dắt một bò cái, tìm người đổi bốn con dê, hoặc mớ ngói lợp nhà, v.v…; ông dắt bò đi mãn một đời ông, cũng chưa gặp nơi xứng ý vừa lòng, bằng dẫn bò ra chợ? Và người có thừa dê, vẫn cần món khác và chê bò của ông, duy có vàng bạc là đổi mua được tất cả vật cần dùng cho mỗi một ai, Pol Pot hiểu chưa, hỡi chàng “có học” “không hành”, ma vương, quý sứ? Nhưng Pol Pot có biết chăng? Tiếng Việt có câu “thời suy quy lộng”? Ngày trước không xa, bên Nga đã áp dụng luật đổi chác rồi. Trước khi sụp đổ nạn lạm phát bên Nga: không kể việc cũ, năm 1914, có 1,7 tỷ (milliard) tiền giấy phát hành tháng janvier; qua janvier 1915, lên 3 milliards, rồi 10 milliards tháng mars 1917, sụp đổ dòng vua, leo 19 milliards lúc cách mạng khởi dậy. Tiền nặng giấu mất, không đủ tiền giấy cho dân dụng, phải dùng con tem nhà thơ (timbre postal) thay thế, cố vấn quân sư của Nga hậu là Raspoutine xuất hiện, ngai vua càng mau sụp đổ, đời Trosky lên, một đôi giày giá đáng ba tháng lương thợ, và một cuốc xe trượt (traineau) giá 2 roubles nay phải trả 100. Nạn lạm phát đổi diện: không phải giá định tuỳ theo món hàng, nhưng kỳ thật là giá kéo món hàng theo luật cung cầu định đoạt (trang 207 “Orze monnaies plus deux” Ren Sédillot). Qua tháng 8 năm 1918, tiền tệ bị bỏ. Năm 1920 áp dụng luật đổi chác bắt buộc (le troc obligatoìre): tỷ dụ như xứ Don, định một cây phàng, lưỡi liềm (fux) đổi 3 pouds lúa mì (49 kilos), một điếu thuốc lá đổi 110 gram lúa mì: 40 unités-poids thịt heo đổi 200 unité-poids bắp (mais), hoặc đổi 15 unités-poids khoai tây. Nhưng khi thực hành, mới thấy có nhiều trở ngại, vì các việc định như trên đều là chuyên chế (arbitraire), không có gì làm căn bản, và rốt cuộc bên Nga cũng phải chịu bỏ luật đổi chác ép buộc, tanh pis pour la doctrine, thành ngữ trong sách Pháp nơi trương 207 nầy, phải dịch “thây kệ, mặc kệ chú nghĩa” hoặc muốn cho mạnh hơn nữa, phái dịch “thây kệ cha…”, Pol Pot hiểu và thấy chưa?

Nghĩ cho tiền của dân Miên, góp làm thuế má, chính phú Miên hoàng cho ông đi học phương xa, trở về ông ăn không tiêu và thực hành không nhằm lối, hại dân hơn là lợi cho nước, ông là người đắc tội với đồng bào Miên, mà chừng nào mới đền tội đây? Nhưng việc bên Nga chưa hết, tói xin kể tiếp: và chuyện nầy còn kéo dài mãi, không biết chừng nào mới chấm dứt và biết nói làm sao cho đầy đú, nhứt là trong bài nầy, nói về quyển sách “Hấp hối của Đông Dương” do ông Navarra viết đế biện minh cuộc bại trận của đội binh viễn chinh Pháp nơi Điện Biên Phủ?

Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Google photos

Chương 12

Sau một tháng Aspinella Washington được xuất viện nhưng vẫn phải điều trị cho lành hẳn để lắp một bên mắt giả. Là một người khoẻ mạnh, cơ thể mụ dường như tự hàn gắn các vết thương. Chân trái mụ chỉ còn hơi cà nhắc và một hốc mắt nom vô cùng gớm ghiếc. Mụ đeo một miếng băng che mắt màu xanh thay cho màu đen; và mảng màu xanh đen lại làm nổi vật vẻ đẹp của nước da màu cà phê Moka của mụ. Quay lại làm việc mụ mặc quần đen, sơ mi xanh và áo khoác da cũng màu xanh. Khi ngắm nhìn mình trong gương mụ thầm nghĩ mình vẫn còn hấp dẫn chán. 
Dù còn được nghỉ dưỡng thương nhưng thỉnh thoảng mụ vẫn đến nhiệm sở giúp điều tra xét hỏi. 
Đối tượng trong lần xét hỏi đầu tiên của mụ là hai kẻ tình nghi, một cặp không bình thường trong đó một da trắng và một là da đen. Kẻ tình nghi da trắng, tuổi cỡ ba mươi, sợ mụ ngay lập tức. Nhưng thằng nhọ lại bị người phụ nữ cao lớn và xinh đẹp mang băng mắt màu xanh và có cái nhìn lạnh lùng làm cho khoái chí. Bà chị này quả là ngon mắt. 
– Chó chết, nó la toáng lên, mặt mày tươi tỉnh. Đây là lần bị bắt đầu tiên, nó chưa hề có tiền án nên hiển nhiên không biết mình đang gặp rắc rối lớn. Nó và thằng đồng bọn đột nhập vào một ngôi nhà, trói gô vợ chồng chủ nhà lại rồi vơ vét. Chúng bị sa lưới bởi có người báo. Thằng nhọ vẫn còn đeo chiếc đồng hồ Rolex của chủ nhà. Nó vui vẻ nói với Aspinella, không hề có ác tâm, 
– Này đại uý, bà sẽ đưa chúng tôi vào chỗ chết đấy chứ? 
Những người có mặt trong phòng cười mỉa sự ngu xuẩn của nó. Riêng Aspinella không nói không rằng. Thằng nhọ đang bị còng tay và không thể tránh được cú đánh của mụ. Như một con rắn, chiếc dùi cui của mụ vụt vào mặt nó làm vỡ mũi và gẫy xương gò má. Nó không ngã, đầu gối nó khuỵu xuống, nó ném cho mụ một cái nhìn trách móc. Mặt nó đầm đìa máu. Rồi chân nó gập lại và nó ngã nhào ra sàn nhà. Aspinella tiếp tục đánh đập tàn nhẫn thêm mười phút nữa. Máu từ tai thằng nhọ bắt đầu tuôn ra như suối. 
– Lạy Chúa tôi, một trong số các thám tử thốt lên, làm thế quái nào chúng ta xét hỏi nó bây giờ được? 
– Tôi không muốn xét hỏi nó, Aspinella nói. Tôi muốn nói chuyện với thằng này. Mụ chỉ cây dùi cui vào kẻ tình nghi da trắng. Mày là Zeke phải không? Tao muốn nói chuyện với mày. Mụ chộp lấy vai và ấn gã ngồi xuống chiếc ghế tựa bên bàn làm việc của mụ. Gã nhìn mụ kinh hoàng. Mụ nhận ra chiếc băng che mắt của mụ trượt sang một bên và Zeke đang nhìn chằm chằm vào cái hốc mắt trông trơn ấy. Mụ với tay sửa lại miếng băng. 
– Zeke, mụ nói. Tao muốn mày nghe cho rõ. Tao muốn tiết kiệm thì giờ. Tao muốn biết mày đã lôi kéo thằng nhóc kia vào vụ này ra làm sao. Hiểu chứ? Mày có hợp tác hay không? 
Zeke tái xanh tái xám. Gã không thể im lặng. 
– Vâng, thưa bà. Tôi xin khai hết. 
– OK, Aspinella nói với thám tử. Đưa thằng nhóc này xuống phòng bệnh và cử người mang video tới đây để quay cảnh thằng Zeke tự nguyện thú tội. 
Khi máy quay đã bố trí xong, Aspinella thẩm vấn Zeke 
– Ai tiêu thụ hàng cho mày? Ai đã hỉ mục tiêu cho mày? Khai cho rõ chi tiết của vụ cướp. Đồng bọn của mày rõ ràng chưa đến nỗi tồi tệ. Nó không có tiền án tiến sự, và nó không phải là đứa khôn ngoan cho lắm. Chính vì vậy mà tao đã nhẹ tay với nó. Còn mày đã có tên trong hồ sơ, vì vậy tao cho rằng mày đã lôi kéo nó vào vụ này. Vậy hãy khai báo cho ngon. 
Rời nhiệm sở, Aspinella lái xe qua đại lộ Southera State đi Brightwaters, Long Island. 
Khi qua nhà Heskow mụ nhìn thấy chiếc xe của y và một người đang bê một cây đỗ quyên vào nhà. Sau đó một người nữa bước ra khỏi nhà trồng hoa với một thùng đầy hoa vàng trên tay. Hay thật, mụ nghĩ. Chúng đang dọn sạch khu nhà trồng hoa. 
Lúc nằm trong bệnh viện mụ đã nghiên cứu về John Heskow. Qua hồ sơ đăng ký xe của tiểu bang New York mụ đã lần ra địa chỉ của y. Rồi mụ kiểm tra toàn bộ dữ liệu tội phạm và phát hiện ra rằng John Heskow chính là Louis Ricci, dù có ngoại hình giống một người Đức nhưng chắc chắn là dân Italy. Hồ sơ của y khá rõ ràng. Y bị bắt vài lần nhưng chưa lần nào bị kết án. Khu nhà trồng hoa không thể mang lại đủ tiền để đáp ứng lối sống xa hoa của y. 
Mụ làm tất cả những việc đó xuất phát từ ý nghĩ y là kẻ duy nhất có thể chỉ điểm mụ và Di Benedetto. Cái duy nhất làm mụ điên đầu là việc y tráo tiền. Vì số tiền này mà phòng điều tra nội bộ đã sờ đến mông mụ, nhưng mụ cũng thoát được cuộc điều tra chẳng mấy nhiệt tình của họ bởi họ rất mừng khi chiếm được số tiền đó. Bây giờ mụ đang chuẩn bị loại trừ Heskow. 
Hai bốn tiếng đồng hồ trước cuộc tập kích Cilke, Heskow lái xe đến sân bay Kêndy để bay đi thành phố Mexico, và tại đó y sẽ biến khỏi thế giới văn minh với những hộ chiếu giả y đã chuẩn bị nhiều năm trước. 
Các chi tiết đã được trù tính. Khu nhà trồng hoa đã trống trơn. Mụ vợ cũ của y sẽ lo việc bán nhà và gửi số tiền thu được vào nhà băng để chi phí học hành cho đứa con trai chung. Heskow bảo mụ rằng y sẽ đi xa hai năm. Y cũng nói với con trai như vậy trong bữa tối tại nhà hàng Shun Lee. 
Chập tối y ra sân bay. Y kiểm tra hai chiếc valy, tất cả những gì y cần, trừ một trăm ngàn toàn tờ một trăm đô đựng trong những chiếc túi nhỏ y lận quanh người. Y mang nhiều tiền cốt đề phòng những chi tiêu đột xuất, chưa kể y có một tài khoản bí mật ở ngân hàng Caymans với gần năm triệu đô la. Ơn Chúa, y hoàn toàn không phải sống nhờ trợ cấp xã hội. Y tự hào đã sống một cuộc sống khôn ngoan và không hề lãng phí tiền bạc vào cờ bạc, đàn bà hay những trò ngu xuẩn khác. 
Heskow kiểm tra lại chuyến bay và vé. Bây giờ y chỉ còn mang một cặp táp với thẻ căn cước và hộ chiếu giả. Y bỏ xe ở bãi đỗ xe, mụ vợ cũ sẽ đến lấy và giữ giùm cho y. 
Y còn chờ ít nhất một tiếng mới đến giờ bay. Y cảm thấy khó chịu vì không mang súng, nhưng y còn phải qua máy dò vũ khí mới lên được máy bay, và y sẽ có thể kiếm được hàng đống súng ống qua các đầu mối của y ở thành phố Mexico. 
Để giết thì giờ, y mua vài tờ tạp chí ở quầy sách rồi vào tiệm cà phê trong phòng đợi. Y lấy một khay đồ ăn tráng miệng và cà phê rồi ngồi xuống bên một chiếc bàn nhỏ. Y đọc lướt tờ tạp chí và ăn món tráng miệng của mình, một chiếc bánh dâu phết kem. Bất thình lình y nhận thấy có ai đó đang ngồi bên chiếc bàn của y. Y nhìn lên và nhận ra thám tử Aspinella Washington. Như tất cả mọi người, y bị miếng băng che mắt màu xanh đen mê hoặc. Nó làm y khiếp sợ. Trông mụ đẹp hơn y tưởng. 
– Chào John. Anh chẳng hề đến bệnh viện thăm tôi gì cả. 
Heskow bối rối. 
– Chị biết tôi không thể làm điều đó mà. Nhưng tôi rất tiếc khi nghe tin chị gặp nạn. 
Aspinella ngoác miệng cười. 
– John, tôi đùa đấy. Nhưng tôi muốn nói chuyện với anh chút xíu trước chuyến bay. 
– Được thôi, Heskow đáp. Y nghĩ là y sẽ phải hối lộ và y đã để sẵn mười ngàn đô trong cặp cho những bất ngờ thế này. Tôi lo cho chị quá, và rất mừng vì thấy chị đã bình phục. 
– Thật khó tin, Aspinella nói, con mắt độc nhất của mụ long lên như mắt diều hâu. Paul xui xéo quá. Anh biết đấy, chúng tôi là chỗ bạn bè thân thiết, ngoài ra anh ấy còn là sếp của tôi. 
– Thật đáng tiếc, Heskow nói. Y thậm chí còn chắt lưỡi làm Aspinella mỉm cười. 
– Tôi không phải cho anh xem phù hiệu chứ? Mụ dừng lại một lát. Tôi muốn anh đi cùng tôi tới phòng xét hỏi ngay tại sân bay. Hãy trả lời tôi một vài câu hỏi rồi anh có thể lên máy bay. 
– OK, Heskow đáp. Y chộp lấy chiếc cặp và đứng lên. 
– Và đừng có làm điều gì ngu ngốc nếu không tôi sẽ bắn anh đấy. Dù chỉ một con mắt tôi vẫn là một tay súng cừ. Mụ đứng lên nắm lấy cánh tay y và dẫn y tới cầu thang lên một gian gác lửng dẫn ra một hành lang dài. Mụ mở cửa một căn phòng. Heskow bị sốc. Không chỉ bởi sự rộng lớn của nó mà còn bởi một dãy phương tiện quan sát gắn trên tường. Có ít nhất hai mươi màn hình được hai người đàn ông ngồi trên ghế mềm điều khiển. Họ vừa xem xét chúng vừa ăn bánh sandwich và uống cà phê. Một trong hai người đứng dậy và nói 
– Này Aspinella, có chuyện gì vậy? 
– Tôi sẽ nói chuyện riêng với người này ở phòng thẩm vấn. Hãy để chúng tôi vào. 
– Được thôi. Chị có muốn một trong hai chúng tôi ở lại với chị không? 
– Không. Chỉ là nói chuyện thân mật thôi mà. 
– À, một trong những chuyện thân mật nổi tiếng của chị đây, người này nói rồi cười toe toét. Y nhìn kỹ Heskow. Tôi đã thấy anh trên màn hình ở dưới ga hàng không. Ăn bánh dâu, đúng không? Y dẫn họ tới một cánh cửa phía sau căn phòng và mở khoá. Sau khi Heskow và Aspinella bước vào y khoá trái cửa lại. 
Trong phòng kê một chiếc trường kỷ, một bàn làm việc và ba chiếc ghế tựa nom êm ái. Trong một góc phòng có một thùng ướp lạnh và ba chiếc ly giấy. Những bức tường màu hồng được trang trí bằng những bức tranh và ảnh máy bay.
Aspinella bắt Heskow ngồi xuống một chiếc ghế tựa đối diện với bàn làm việc còn mụ thì ngồi lên bàn và nhìn xuống y.
– Chúng ta có thể nói chuyện như thế này được sao? Heskow hỏi. Tôi không thể nhỡ chuyến bay được. 
Aspinella không trả lời. Mụ chồm lên cầm lấy chiếc cặp trên đùi Heskow. Y nhăn nhó. Mụ mở cặp và nhìn lướt những gì bên trong, kể cả những bó tiền toàn tờ một trăm đôla. Mụ xem xét một trong những tấm hộ chiếu giả, sau đó bỏ tất cả vào cặp và đưa lại cho y. 
– Anh là một thằng rát ma lanh, mụ nói. Anh biết đã đến lúc chuồn. Ai đã báo với anh là tôi theo dõi anh? 
– Tại sao chị lại phải theo dõi tôi? Heskow bẻ lại. Lúc này y tự tin hơn vì mụ đã trả lại cho y chiếc cặp. 
Aspinella kéo miếng băng che mắt ra để y có thể trông thấy cái hốc mắt gớm ghiếc. Nhưng Heskow không hề nao núng. Y đã thấy nhiều cái còn tồi tệ hơn trong đời. 
– Anh đã làm mất của tôi con mắt đó, mụ nói. Duy chỉ anh mới có thể chỉ điểm rồi lừa tôi và Paul. 
Heskow nói bằng một giọng chân thành nhất, đó đã là một trong những vũ khí hữu hiệu nhát trong cái nghề của y. 
– Chị nhầm rồi, hoàn toàn nhầm lẫn. Nếu tôi làm việc đó thì tôi đã giữ tiền lại – chị biết quá còn gì. Này, tôi thực sự phải đi kịp chuyến bay. Y cởi khuy áo sơ mi và xé một gói giấy. Hai bó tiền xuất hiện trên bàn. Của chị đấy, cả chỗ ở trong cặp. Ba mươi ngàn cả thảy. 
– Úi chà, Aspinella nói. Ba mươi ngàn đô. Quả là món tiền lớn cho một con mắt. OK. Nhưng anh phải nói cho tôi biết tên của kẻ đã trả tiền cho anh để lừa chúng tôi. 
Heskow quyết định. Y biết mụ không hề hù doạ. Nghe đây, hãy tin tôi, y nói. Tôi không ngờ thằng đó lại dám hạ hai cớm cấp cao. Tôi chỉ làm một hợp đồng với Astorre Viola để nó có thể lẩn trốn. Tôi không ngờ nó lại làm chuyện đó. 
– Tốt, Aspinella nói, thế ai đã trả tiền cho anh để giết nó? 
– Paul biết hết. Ông ấy không nói với chị hay sao? Timmona Portella chứ còn ai. 
Đến đây Aspinella cảm thấy một cơn giận dữ tuôn trào. Ông bạn mập của mụ không chỉ là đồ chấy rận bẩn thỉu mà còn là kẻ lừa đảo. 

Google photos

– Đứng lên, mụ ra lệnh cho Heskow. Một khẩu súng bất ngờ xuất hiện trên tay mụ. 
Heskow kinh hoàng. Y đã từng thấy cảnh này trước đây, chỉ có điều y không phải là nạn nhân. Trong giây lát y nghĩ đến năm triệu đôla được cất giấu sẽ đi tong cùng y vì không ai nhận. Quả là một thảm kịch. 
– Không, y gào lên, và thu mình sâu hơn vào chiếc ghế. Aspinella dùng một tay còn lại nắm lấy tóc y kéo y đứng dậy. Mụ đưa khẩu súng ra xa cổ y và bóp cò. Heskow dường như văng ra khỏi tay mụ rồi đổ sầm xuống sàn. Mụ quỳ bên xác y. Một nửa cổ họng y bị thổi bay mất. Sau đó mụ rút khẩu súng bỏ đi của mụ ra khỏi bao, đặt nó vào tay Heskow rồi đứng lên. Mụ có thể nghe thấy cánh cửa đang được mở và hai nhân viên theo dõi màn hình súng lăm lăm trong tay ập vào phòng. 
– Tôi phải bắn nó, mụ nói. Nó đã cố tình hối lộ tôi và rồi nó rút súng. Hãy gọi cho bộ phận y tế của sân bay. Chính tôi sẽ gọi cho pháp y. Không được đụng đến bất kỳ thứ gì, và đừng rời mắt khỏi tôi. 
Đêm hôm sau Portella mở cuộc tấn công. Vợ con của Cilke đã được đưa gấp đến văn phòng được canh gác nghiêm ngặt của FBI ở California. Còn Cilke, theo lệnh của giám đốc, có mặt tại tổng hành dinh của FBI ở New York cùng toàn bộ đán nhân viên của mình tham gia trực ban. Bill Boxton được giao quyền tổng chỉ huy lực lượng đặc nhiệm và giăng bẫy cạnh nhà Cilke. Chỉ thị giao chiến rất nghiêm. Cục không muốn một cuộc tắm máu có thể gây ra phản ứng từ phía các nhóm có tư tưởng tự do. Đội đặc nhiệm không được bắn trừ phi bị bắn trước. Phải cố gắng tạo cho những kẻ tấn công một cơ hội đầu hàng. 
Trên cương vị là một sĩ quan tham mưu, Kurt Cilke gặp Boxton và viên chỉ huy lực lượng đặc nhiệm, một anh chàng ba mươi nhăm tuổi có khuôn mặt hằn lên những đường nét nghiêm khắc đầy quyền uy. Anh ta có màu da xám ngoét và một lúm đồng tiền trên má. Tên anh ta là Sestak và giọng nói chính hiệu Harvard. Họ gặp nhau tại văn phòng của Cilke. 
– Tôi hy vọng các cậu thường xuyên liên lạc với tôi trong suốt chiến dịch, Cilke nói. Chỉ thị giao chiến sẽ được tuân thủ nghiêm ngặt. 
– Đừng lo, Boxton nói. Chúng ta có một trăm người trang bị hoả lực mạnh hơn bọn chúng. Chúng sẽ đầu hàng thôi. 
Sestak nhẹ nhàng lên tiếng 
– Tôi có một trăm người nữa tạo thành một vòng vây. Chúng tôi để chúng vào nhưng không để chúng thoát ra được. 
– Tốt lắm, Cilke nói. Khi tóm được chúng hãy đưa chúng đến trung tâm thẩm vấn New York của chúng tôi. Tôi không được phép tham gia xét hỏi, nhưng tôi cần thông tin càng sớm càng tố. 
– Nếu có gì không ổn và chúng chết cả thì sao? Sestak hỏi. 
– Thế thì sẽ có một cuộc điều tra nội bộ và ngài giám đốc sẽ không hài lòng. Thực tế là thế này: Chúng sẽ bị bắt vì âm mưu giết người, và chúng sẽ được tự do sau khi đóng tiền bảo lãnh. Chúng sẽ lặn mất dạng ở Nam Mỹ, vì vậy chúng ta chỉ có vài ngày thẩm vấn chúng mà thôi. 
Boxton nhìn Cilke và nhếch mép cười. Sestak nói với Cilke bằng một giọng thanh nhã. 
– Tôi nghĩ điều đó sẽ làm anh rất bực mình. 
– Đúng vậy, nó làm tôi rất bực, Cilke nói. Nhưng ngài giám đốc lại phải lo về những rắc rối chính trị. Các âm mưu công kích lúc nào chả quỷ quyệt. 
– Tôi hiểu, Sestak tán thành. Vì thế mà ngài bị trói tay. 
– Phải, Cilke nói. 
Boxton nói khẽ 
– Việc này khốn nạn quá, chúng cố giết một sĩ quan Liên bang mà rồi vẫn thoát. 
Sestak nhìn hai người với nụ cười khoái chí. Nước da xám ngoét của anh ta chuyển thành màu đỏ. 
– Các ngài đang thuyết giáo cho ca đoàn trong nhà thờ đấy à, anh ta nói. Dù thế nào đi nữa, những chiến dịch như thế này luôn luôn có sai lầm. Những kẻ có súng rất hay nghĩ rằng họ không thể bị bắn. Bản chất của con người quả là buồn cười. 
Đêm đến, Boxton và Sestak đi thị sát khu vực tác chiến quanh nhà Cilke ở New Jersey. Trong nhà vẫn để đèn làm như đang có người. Đồng thời có ba chiếc xe đỗ trên con đường dẫn vào nhà để tạo ấn tượng nhà còn có khách. Những chiếc xe đã được gài mìn. Chúng sẽ phát nổ nếu được khởi động. Ngoài ra Boxton không còn thấy gì nữa. 
– Một trăm người của ngài ở chỗ quái nào hả? Boxton hỏi Sestak. 
Sestak cười toe toét. 
– Tốt quả hả? Họ ở quanh đây mà ngay đến ngài cũng còn không thấy. Họ đã chọn xong hướng bắn. Khi bọn khủng bố tới đây, con đường sau lưng chúng sẽ bị bịt kín. Chúng ta sẽ cất được một mẻ lưới đầy chuột. 
Boxton vẫn đảm nhiệm cương vị chỉ huy ở bên sường đội của Sestak, cách ngôi nhà năm mươi bộ. Cùng với họ là một tiểu đội thông tin gồm bốn người nguỵ trang phù hợp với vạt rừng họ đang ẩn nấp. Sestak và đội của anh ta trang bị súng trường, nhưng Boxton chỉ mang theo súng ngắn. 
– Tôi không muốn ngài tham gia chiến đấu, Sestak bảo Boxton. Hơn nữa, vũ khí của ngài chẳng có tác dụng gì ở đây cả. 
– Sao lại không? Boxton phản đối. Tôi vẫn hy vọng trong thời gian tại chức của mình được bắn bỏ những thằng đểu cáng. 
Sestak cười. 
– Không phải hôm nay. Đội của tôi được các quy định hành pháp bảo vệ khỏi bất kỳ một cuộc điều tra hay truy tố nào theo luật định. Ngài thì không. 
– Nhưng tôi là chỉ huy, Boxton nói. 
– Khi chúng ta bắt đầu tác chiến thì không, Sestak lạnh lùng nói. Lúc đó tôi sẽ là chỉ huy duy nhất. Tôi sẽ đưa ra toàn bộ các quyết định. Ngay cả ngài giám đốc cũng không thể thay thế tôi được. 
Họ cùng chờ đợi trong bóng tối. Boxton nhìn đồng hồ. Còn hơn mười phút nữa là nửa đêm. Một người trong tiểu đội trinh sát thì thầm với Sestak, 
– Năm chiếc xe chở đầy người đang tiến về phía ngôi nhà. Con đường phía sau chúng đã được bịt kín. Thời gian chúng tới ước chừng năm phút nữa. 
Sestak mang cặp kính tia hồng ngoại cho phép anh ta nhìn được trong đêm tối. 
– OK, Sestak nói. Hãy truyền lệnh. Không được bắn trừ phi bị bắn hoặc có lệnh của tôi. 
Họ chờ đợi. Bất thình lình năm chiếc xe lao vào con đường dẫn và những người trên xe nhảy xuống. Một trong số chúng ngay lập tức ném một trái bom xăng vào nhà Cilke, nó phá vỡ một tấm kính và làm bùng lên một đám cháy ở trong nhà. 
Rồi bỗng nhiên toàn bộ khu vực chìm trong ánh đèn pha làm tê liệt cả hai mươi tên khủng bố. Cùng lúc một chiếc trực thăng vần vũ trên đầu rọi đèn sáng trưng. Những chiếc loa phóng thanh rống lên gửi thông điệp vào đêm tối. 
– FBI đây. Hãy hạ vũ khí và nằm xuống đất. 
Bị ánh đèn và những chiếc trực thăng gây ấn tượng mạnh, những kẻ sa bẫy chết điếng. Boxton thở phào nhẹ nhõm khi thấy chúng mất hết ý chí kháng cự. 
Vì vậy ông ta kinh ngạc khi Sestak nâng súng lên và bắn vào nhóm khủng bố. Ngay lập tức chúng bắn trả. Và rồi tai Boxton ù lên bởi tiếng súng. Nó quét sạch con đường và tàn sát đám khủng bố. Một trong số những chiếc xe có gài mìn phát nổ. Mọi việc diễn ra cứ như thể có một cơn bão chì khủng khiếp vừa lướt qua, phá huỷ mọi thứ trên đường đi của nó. Thuỷ tinh vỡ vụn và rơi xuống như một cơn mưa bạc. Những chiếc xe đổ kềnh trên mặt đất bị đạn xuyên thủng đến nỗi mặt ngoài của chúng không còn giữ nổi màu sơn. Con đường dẫn xe đi vào nhà dường như biến thành một dòng suối máu. Hai mươi tên khủng bố chỉ còn là những mớ giẻ rách nát giống như những bao đồ trong tiệm giặt chờ được mang đi. 
Boxton bị sốc. 
– Anh đã bắn trước, khi chúng có thể đã đầu hàng, anh kết tội Sestak. Tôi sẽ báo cáo lại. 
– Tôi cóc cần, Sestak ngoác miệng cười. 
– Một khi chúng đánh bom ngôi nhà thì đó là mưu toan giết người. Tôi không thể mạo hiểm tính mạng của tôi. Đó sẽ là báo cáo của tôi. Hơn nữa, chúng bắn trước đấy chứ. 
– Chi tiết đó sẽ không có trong báo cáo của tôi. Boxton nói. 
– Đừng có đùa. Anh nghĩ rằng giám đốc sẽ cần đến báo cáo của anh ư? Anh sẽ có tên trong bản danh sách cứt đái của lão. Mãi mãi. 
– Ông ta sẽ sờ đến mông anh vì anh đã không tuân lệnh, Boxton nói. Chúng ta sẽ cùng chết cháy với nhau mất. 
– Tốt thôi, Sestak nói. Nhưng tôi là chỉ huy tác chiến. Tôi không muốn lũ tội phạm nghĩ rằng chúng có thể tấn công một sĩ quan của Liên bang. Thực tế là như thế, cả anh và lão giám đốc của anh làm đéo gì tôi được nào. 
– Hai mươi đứa chết, Boxton nói. 
– Và đó là một sự giải thoát tốt đẹp cho chúng. Sestak nói. Anh và Cilke muốn tôi chơi lão một vố, nhưng các anh đếch có cơ may làm chuyện đó đâu. 
Boxton hiểu ngay đó là sự thật. 
Kurt Cilke chuẩn bị cho một cuộc gặp nữa với giám đốc FBI tại Washington. Ông có những bản ghi chép với dàn ý những gì sẽ nói và một bản báo cáo về toàn bộ diễn biến cuộc tập kích nhà mình. 
Như mọi khi, Bill Boxton sẽ tháp tùng ông, nhưng lần này việc đó thể theo ý định rõ ràng của ngài giám đốc. 
Cilke và Boxton có mặt tại văn phòng giám đốc giữa tiếng huyên náo của những máy ghi hình đang chiếu những hoạt động của văn phòng FBI địa phương. Giám đốc, lúc nào cũng lịch sự, bắt tay cả hai và mời họ ngồi, mặc dầu lão nhìn Boxton bằng ánh mắt lạnh lùng, ngờ vực. Hai trợ lý của lão cùng có mặt. 
– Thưa các ngài, lão nói với cả nhóm. Chúng ta phải dọn sạch cái đống rác rưởi này. Chúng ta không thể cho phép một hành động vô đạo đức như vậy xảy ra mà không được đáp lại bằng tất cả nguồn lực của chúng ta. Cilke này, cậu muốn ở lại làm việc hay về hưu hả? 
– Tôi ở lại, Cilke đáp. 
Giám đốc quay sang Boxton, khuôn mặt quý phái của lão trở nên nghiêm khắc. 
– Anh là người phụ trách. Tại sao tất cả nhóm khủng bố lại bị giết và chúng ta không tóm được một mống nào để thẩm vấn? Ai đã ra lệnh nổ súng? Là anh à? Và dựa trên cơ sở nào vậy? 
Boxton ngồi thẳng dậy một cách khó chịu trên chiếc ghế bành của mình. 
– Thưa ngài, anh nói. Quân khủng bố ném một quả bom vào nhà và khai hoả. Lúc đó không còn sự lựa chọn nào khác.
Giám đốc thở dài. Một trong các trợ lý của lão càu nhàu khinh bỉ. 
– Đại uý Sestak là một trong số những người xuất sắc của chúng ta, giám đốc nói. Ít ra anh ta cũng phải cố mà tóm cho được một tù binh chứ? 
– Thưa ngài, việc đó diễn ra chỉ trong vòng hai phút, Boxton nói. Sestak là một nhà chiến thuật tài ba trên chiến trường.
– May mà giới truyền thông và công chúng không làm ầm lên, giám đốc nói. Tuy nhiên tôi phải nói rằng tôi xem đây là một vụ tắm máu. 
– Đúng thế, một trợ lý lên tiếng. 
– Thôi được, cũng không thể tránh khỏi điều đó, giám đốc nói tiếp. Cilke, câu đã tìm ra phương án hành động rồi phải không? 
Cilke vô cùng bực tức trước sự chỉ trích của họ, nhưng ông vẫn bình tĩnh trả lời. 
– Tôi muốn một trăm người được bố trí tại văn phòng của tôi. Tôi muốn ngài yêu cầu kiểm toán các nhà băng của Aprile. Tôi sẽ điều tra kỹ động cơ của những kẻ liên quan đến vụ này. 
Giám đốc nói 
– Cậu không cảm thấy mắc nợ Astorre Viola vì đã cứu cậu và gia đình hay sao? 
– Không, Cilke đáp. Tôi quá biết lũ người này. Đầu tiên chúng đẩy anh vào rắc rối, sau đó chúng lại ra tay cứu giúp. 
– Hãy nhớ rằng, một trong những mối quan tâm cơ bản của chúng ta là chiếm dụng các nhà băng của Aprile. Không chỉ vì chúng ta được lợi mà còn bởi những nhà băng đó có xu hướng trở thành một trung tâm rửa tiền buôn bán ma tuý. Qua đó chúng ta sẽ tóm được Portella và Tulipa. Chúng ta phải xem xét vấn đề này một cách tổng quát. Astorre Viola từ chối bán các nhà băng, và nghiệp đoàn đang có loại trừ cậu ta. Cho đến giờ chúng vẫn thất bại. Chúng tôi nhận được nguồn tin cho biết hai kẻ giết mướn hạ sát lão Trùm đã biến mất. Lại còn hai thám tử bên sở cảnh sát New York bị đánh bom. 
– Astorre là đứa xảo quyệt và khó bắt giữ, nó không hề dính líu vào bất kỳ một vụ tai tiếng nào, Cilke nói, vì vậy thực tế chúng ta không thể làm gì được nó. Hiện tại nghiệp đoàn có khả năng loại bỏ được Astorre, và đám con của Aprile sẽ bán các nhà băng cho chúng. Tôi chắc rằng chỉ vài năm nữa thôi chúng sẽ đi quá giới hạn. 
Việc đồng loã dài dài với những kẻ buôn bán ma tuý không phải là ngoại lệ đối với vấn đề thi hành luật của chính phủ. Song làm như vậy nghĩa là người ta cho phép tội ác tiếp diễn. 
– Trước đây chúng ta đã hỗ trợ việc này, giám đốc nói. Nhưng như thế không có nghĩa là cậu để cho Portella được toàn quyền hành động. 
– Đương nhiên rồi, Cilke nói. Ông biết rằng tất cả đều đang bị ghi âm. 
– Tôi sẽ điều động năm mươi người, giám đốc nói. Và tôi sẽ yêu cầu một cuộc kiểm toán toàn bộ các nhà băng để rũ tung mọi thứ lên. 
Một trong các trợ lý góp giọng. 
– Trước đây chúng ta cũng đã tiến hành kiểm toán mà chẳng tìm được gì cả. 
– Lúc nào cũng vẫn còn cơ hội, Cilke nói. Astorre không phải là một chủ nhà băng và nó hẳn phải mắc sai lầm. 
– Đúng, giám đốc tán thành. Một sơ suất nhỏ là tất cả những gì ngài chưởng lý đang cần.
Trở lại New York Cilke gặp Boxton và Sestak để chuẩn bị cho chiến dịch của mình. 
– Chúng ta sẽ có thêm năm mươi người để điều tra vụ tấn công nhà tôi. Chúng ta phải hết sức thận trọng. Tôi cần bất cứ thứ gì các cậu phát hiện được ở Astorre Viola. Tôi muốn điều tra kỹ vụ đánh bom hai thám tử. Tôi cần tất cả thông tin về việc anh em Sturzo biến mất và cả những tin tức mà chúng ta có thể thu thập được về nghiệp đoàn. Tập trung vào Astorre và cả nữ thám tử Aspinella Washington. Cô ta có tiếng về nhận hối lộ và tàn bạo. Câu chuyện cô ta bị đánh bom và cả số tiền lớn tại hiện trường là rất đáng ngờ. 
– Thế còn cha nội Tulippa thì sao? Boxton hỏi. Hắn có thể rời khỏi đất nước này bất cứ lúc nào. 
– Tulippa đang lê la khắp nơi để rao giảng cho việc hợp pháp hoá nạn buôn ma tuý và tống tiền những công ty lớn. 
– Chúng ta không thể bắt hắn vì việc đó hay sao? Sestak hỏi. 
– Không, Cilke đáp. Hắn có một công ty bảo hiểm và bán hợp đồng bảo hiểm cho họ. Chúng ta lẽ ra có thể mở một phiên toà, nhưng giới thương gia lại phản đối. Họ phải lựa chọn giải pháp an toàn cho nhân viên của mình ở Nam Mỹ. Còn Portella chẳng có nơi nào để chuồn cả. 
Sestak cười khẩy 
– Thế chỉ thị giao chiến ở đây là gì vậy? 
Cilke trả lời ngọt sớt 
– Ngài giám đốc ra lệnh chấm dứt tàn sát, nhưng hãy bảo vệ lấy mình, nhất là trước hiểm hoạ Astorre. 
– Nghĩa là chúng ta có thể để nó chết, Sestak nói. 
Cilke có vẻ nghĩ ngợi trong chốc lát. 
– Nếu cần, ông đáp. 
Chỉ một tuần sau khi các nhân viên kiểm toán Liên bang bu vào kiểm tra ngân hàng Aprile, Cilke với tư cách cá nhân đến gặp Pryor tại văn phòng của ông. 
Cilke bắt tay Pryor vui vẻ nói 
– Tôi luôn luôn muốn đích thân gặp gỡ những người tôi có thể phải tống vào nhà đá. Ngài có cách gì giúp chúng tôi xuống tàu trước khi mọi việc trở nên quá trễ hay không? 

Google photos

Ông Pryor nhìn Cilke với một thái độ thân mật. 
– Thật vậy sao? Ông hỏi. Ngài đang hành động sai, hoàn toàn sai lầm. Tôi cam đoan với ngài. Tôi điều hành những nhà băng này không chê vào đâu được theo luật quốc gia và quốc tế. 
– Thôi được, tôi chỉ muốn ngài biết rằng tôi đang truy tìm những thông tin quan trọng về ngài và một số kẻ khác nữa, Cilke nói. Và tôi hy vọng tất cả các ngài đều hoàn toàn trong sạch. Nhất là anh em Sturzo. 
Ông Pryor mỉm cười. 
– Chúng tôi không hề có sai sót. 
Sau khi Cilke về, ông Pryor ngả mình ra chiếc ghế bành. Tình hình đang trở nên đáng lo ngại. Điều gì sẽ xảy ra nếu Cilke phát hiện ra Rosie? Ông thở dài. Thật chẳng ra sao. Lẽ ra ông phải làm một điều gì đó cho nàng. 
Cho đến khi Cilke thông báo cho Nicole biết ông muốn nàng và Astorre đến văn phòng của ông ngày hôm sau, ông vẫn chưa hiểu đúng tính cách của Astorre. Ông chỉ cảm thấy coi thường, một cảm giác ông vẫn có đối với những kẻ phạm pháp. Ông không hiểu được quyết tâm của một Mafioso thực thụ. 
Astorre tin vào truyền thống cũ. Đám tay chân yêu quý chàng không chỉ vì uy tín của chàng mà còn vì chàng coi trọng danh dự hơn hết thảy. Một Mafioso thực thụ đủ mạnh về ý chí để trả thù bất kỳ sự lăng mạ nào nhằm vào người hay cosca của nó. Nó không bao giờ phục tùng ý chí của kẻ khác cũng như của nhà chức trách. Và sức mạnh của nó là ở đó. Ý chí của nó là tối quan trọng. Nó ban lệnh cái gì phải là công lý thì đấy chính là công lý. Việc Astorre bảo vệ Cilke và gia đình ông là một điểm yếu trong tính cách của chàng. Tuy nhiên chàng vẫn cũng Nicole tới văn phòng Cilke có vẻ như để chờ đợi những lời cảm ơn, một sự nới lỏng trong thái độ thù địch của ông. 
Hiển nhiên là họ được đón tiếp chu đáo. Hai nhân viên an ninh khám xét Astorre và Nicole trước khi họ vào phòng làm việc của Cilke. Cilke đứng sau chiếc bàn và nhìn họ chằm chằm. Không một dấu hiệu thân thiện. Ông ra dấu mời họ ngồi. Một nhân viên bảo vệ khoá cửa và đứng chờ ở bên ngoài. 
– Mọi thứ đang được ghi âm đấy chứ? Nicole hỏi. 
– Đúng vậy, Cilke đáp. Cả nghe và nhìn. Tôi không muốn có bất kỳ sự hiểu lầm nào về cuộc gặp gỡ này, ông dừng lại một lát. Tôi muốn cậu hiểu rằng chẳng có gì thay đổi cả. Tôi cho rằng cậu là một thằng đê tiện mà tôi sẽ không thể cho phép được sống ở đất nước này. Tôi không tin câu chuyện về người báo tin của cậu. Tôi nghĩ cậu đã sắp đặt việc này với nó và rồi cậu phản lại đồng bọn của mình hòng giành thêm sự nương nhẹ của tôi. Tôi xem thường thủ đoạn này. 
Astorre ngạc nhiên vì Cilke đã hiểu gần đúng sự thật. Chàng nhìn ông ta với một niềm kính trọng mới, tuy tình cảm của chàng bị thương tổn. Con người này chẳng hề biết ơn, chẳng hề quý trọng kẻ đã cứu y và gia đình y. Chàng mỉm cười với những mâu thuẫn của chính chàng. 
– Cậu thấy buồn cười lắm sao, mọt trong những trò đùa Mafia của cậy đấy, Cilke nói. Tôi sẽ làm cho cậu tắt tiếng cười trong vòng hai giây thôi. 
Ông quay sang Nicole 
– Trước hết, Cục yêu cầu cô phải cho chúng tôi biết sự thực cô có được nguồn tin này ra sao. Không phải câu chuyện mà người anh em họ của cô đã phịa ra. Tôi ngạc nhiên về cô đấy, luật sư ạ. Tôi đang nghĩ tới việc buộc tội cô như một kẻ đồng loã. 
Nicole lạnh lùng nói 
– Ngài cứ thử xem, nhưng tôi đề nghị trước hết ngài hãy bàn với giám đốc của ngài đã. 
– Ai đã nói cho cô biết cuộc tấn công vào nhà tôi? Cilke hỏi. Chúng tôi muốn biết đúng người báo tin. 
Astorre nhún vai. 
– Tin hay không thì tuỳ, chàng nói. 
– Không được, Cilke lạnh lùng phản đối. Nào chúng ta cùng làm rõ việc này. Cậu không chỉ là một thằng đểu mà còn là kẻ sát nhân nữa. Tôi biết cậu đã đánh bom Di Benedetto và Washington. Chúng tôi đang điều tra sự biến mất của anh em Sturzo ở Los Angeles. Cậu đã giết ba thằng lưu manh của Portella, và cậu tham dự vào một vụ bắt cóc. Cuối cùng thì chúng tôi cũng sẽ tóm được cậu. Và lúc đó cậu sẽ chỉ là một đống cứt thôi. 
Lần đầu tiên Astorre có vẻ mất bình tĩnh, và tấm mặt nạ nhã nhặn của chàng tuột mất. Chàng đã để Nicole chứng kiến cảnh chàng lâm vào một tình huống chẳng ra gì. Vì vậy chàng nổi cáu. 
– Tôi không mong đợi ân huệ của ngài, chàng nói với Cilke. Ngài thậm chí cũng đếch biết thế nào là vinh dự. Tôi đã cứu vợ và con gái ngài. Nếu không có tôi họ đã nằm dưới mồ rồi. Bây giờ ngại lại mời tôi tới đây để kết tội tôi. Nhờ tôi mà vợ con ngài còn sống. Ít ra ngài cũng phải thể hiện lòng trân trọng đối với tôi vì điều đó chứ. 
Cilke lườm chàng. 
– Tôi chẳng thể hiện với cậu điều gì sất, ông nói, và điên tiết vì thấy mắc nợ địch thủ. 
Astorre đứng lên để bước ra khỏi phòng nhưng một nhân viên an ninh đã đẩy chàng ngồi xuống. 
– Tôi sẽ làm cho đời cậu trở nên khốn nạn, Cilke nói. 
Astorre nhún vai. 
– Cứ làm những gì ngài muốn. Nhưng hãy để tôi nói với ngài điều này. Tôi biết ngài đã giúp đưa ông Trùm Aprile vào thế bí chỉ vì ngài và FBI muốn chiếm các nhà băng. 
Đến đây, hai nhân viên an ninh bỗng tiến về phía Astorre, nhưng Cilke xua họ ra. 
– Tôi biết cậu có thể chặn được các cuộc tấn công vào gia đình tôi. Bây giờ, nói cho cậu biết, tôi xem đó là trách nhiệm của cậu. 
Từ phía bên kia bàn làm việc Bill Boxton nhìn Astorre và lè nhè nói, 
– Cậu đang đe doạ một sĩ quan Cục Điều tra Liên bang đấy phải không? 
Nicole lên tiếng 
– Đương nhiên không phải thế. Anh ấy chỉ hỏi về sự giúp đỡ của mình thôi. 
Lúc này Cilke có vẻ lạnh lùng hơn. 
– Tất cả việc này là vì ông bác yêu dấu của cậu. Rõ ràng cậu chưa đọc bộ hồ sơ tôi đưa cho Nicole. Ông bác yêu dấu của cậu là người giết cha cậu khi cậu mới lên ba. 
Astorre nao núng và trừng mắt nhìn Nicole. 
– Có phải đó là phần chị có tình xoá đi không? 
Nicole gật đầu. 
– Tôi không nghĩ rằng đó là sự thật, mà nếu đó là sự thật tôi cũng không nghĩ rằng anh cần phải biết. Việc đó có thể làm anh bị tổn thương. 
Astorre có cảm giác căn phòng bắt đầu chao đảo, nhưng chàng cố trấn tĩnh. 
– Điều đó cũng chẳng thay đổi được gì. 
Nicole nói với Cilke 
– Bây giờ mọi cái đã rõ ràng, chúng tôi có thể đi được chứ? 
Cilke có một vóc dáng lực lưỡng, và khi rời khỏi bàn làm việc, ông vỗ đùa lên đầu Astorre. Điều đó làm Astorre và cả chính ông cùng ngạc nhiên vì trước đây ông chưa từng làm như thế. Đó là một cú đánh thể hiện sự coi thường của ông, nó che giấu nỗi căm hờn thực sự. Ông nhận ra rằng ông không thể quên việc Astorre đã cứu gia đình ông. Về phía Astorre, chàng điềm tĩnh nhìn thẳng vào mặt Cilke, bởi chàng hiểu rõ tâm trạng đó. 
Nicole và Astorre quay về căn hộ của Nicole. Nàng cố gắng bày tỏ sự cảm thông của mình với việc Astorre bị làm nhục, nhưng thái độ đó càng làm chàng bực bội hơn. Nicole chuẩn bị một bữa ăn nhẹ rồi bảo chàng nằm xuống giường của nàng mà chợp mắt. Giữa chừng giấc ngủ chàng nhận thấy Nicole đang ở trên giường, bên cạnh chàng, và đang ôm chặt lấy chàng. Chàng đẩy nàng ra. 
– Chị đã nghe Cilke nói gì về tôi rồi đấy, chàng nói. Chị còn muốn dính dáng đến cuộc đời tôi hay sao? 
– Tôi không tin ông ta cũng như những báo cáo của ông ta, Nicole nói. Astorre này, tôi thực sự nghĩ rằng tôi vẫn còn yêu anh. 
– Chúng ta không thể quay trở lại thời nhỏ dại, Astorre nhẹ nhàng nói. Tôi đã là một người khác, cả chị cũng vậy. Chị thì chỉ muốn chúng ta trở lại là những đứa trẻ. 
Họ nằm nghiêng bên nhau. Sau đó Astorre hỏi bằng giọng ngái ngủ 
– Chị có cho rằng điều đó đúng hay không, những gì người ta nói về việc ông già chị giết cha tôi ấy? 
Ngày hôm sau Astorre bay tới Chicago cùng Pryor để tham khảo ý kiến Benito Craxxi. Chàng cho họ biết những thông tin mới nhất và sau đó chàng hỏi 
– Có phải ông Trùm Aprile đã giết cha tôi không? 
Craxxi tảng lờ và hỏi lại Astorre 
– Cậu có liên quan gì tới cuộc tấn công gia đình Cilke không hả? 
– Không, Astorre nói dối. Chàng nói dối họ bởi lẽ chàng không muốn bất kỳ ai biết được sự tính toán của mình. Và chàng biết rằng họ đâu có tán thành. 
– Tuy nhiên cậu đã cứu họ, Trùm Craxxi nói. Tại sao nào? 
Một lần nữa Astorre phải nói dối. Chàng không thể để cho những người liên minh của chàng biết chàng uỷ mị đến thế, rằng chàng đã không thể chịu được cảnh nhìn vợ con Cilke bị giết. 
– Cậu làm khá lắm, Craxxi nói. 
– Ngài vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi. 
– Bởi vì việc đó phức tạp lắm, Craxxi nói. Cậu là con của một ông Trùm Mafia tám mươi tuổi ở Sicily thủ lĩnh của một cosca hùng mạnh. Mẹ cậu chết vì sinh nở khi còn rất trẻ. Ông Trùm già là một người cực đoan, ngài đã triệu tập ta, Don Aprile và Bianco đến bên giường bệnh. Toàn bộ cosca của ngài hẳn sẽ sụp đổ khi ngài qua đời, và ngài rất lo cho tương lai của cậu. Ngài bắt bọn ta hứa trông nom cậu và chọn Don Aprile đưa cậu sang Mỹ. Ở đó, vì bà vợ Aprile đang chết dần chết mòn và ông ấy muốn tránh cho cậu không phải chịu thêm đau khổ nên đã gửi cậu cho gia đình Viola. Đó là một sai lầm vì cha nuôi của cậu hoá ra lại là kẻ phản bội và phải bị trừng phạt. Ngay sau khi rắc rối đã được giải quyết, Don Aprile mang cậu về nhà ông ấy thu xếp để cho cái chết giống như một vụ tự sát trên thùng xe. Sau đó, khi lớn hơn, cậu đã bộc lộ tất cả những phẩm chất của người cha đẻ, ông Trùm Zeno vĩ đại. Và vì thế mà Don Aprile mới quyết định rằng cậu sẽ là người bảo vệ cho gia đình ông ấy. Bởi vậy ông ấy đã gửi cậu đến Sicily để được huấn luyện. 
Astorre không thực ngạc nhiên. Ở một nơi nào đó trong ký ức của chàng còn lưu lại hình ảnh của một người rất già và chuyến xe tang. 
– Vâng, Astorre chậm rãi nói. Và tôi đã được huấn luyện. Tôi biết phải bắt đầu tấn công như thế nào. Tuy nhiên, Portella và Tulippa được bảo vệ rất chu đáo. Và tôi còn lo ngại cả Grazziella. Kẻ duy nhất tôi có thể lấy mạng là thằng cha tổng lãnh sự Marriano Rubio. Trong khi đó tôi lại bị Cilke săn đuổi. Tôi thậm chí chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. 
– Cậu không được động đến Cilke, không bao giờ. Craxxi nói. 
– Đúng thế, Pryor tán thành. Việc đó sẽ rất tai hại. 
Astorre mỉm cười trấn an họ. 
– Đồng ý, chàng nói. 
– Có tin lành đây, Craxxi bảo chàng. Grazzielala trong đám Corleone đã đề nghị Bianco thu xếp một cuộc gặp với cậu. Bianco sẽ báo trước trong vòng một tháng. Lão ta có thể là chiếc chìa khoá của cậu. 
Tulippa, Portella và Rubio gặp nhau tại phòng họp của lãnh sự quán Peru. Từ Sicily, Michael Grazziella bày tỏ lòng tiếc nuối sâu xa nhất của mình vì không thể có mặt. 
Inzio khia mạc cuộc họp thiếu hẳn vẻ quyến rũ kiểu Nam Mỹ như thường lệ của y. Y mất hết kiên nhẫn. 
– Chúng ta phải giải quyết vấn đề. Chúng ta có giành lấy các nhà băng hay không? Chúng ta đã đầu tư hàng triệu đôla, và tôi rất thất vọng với kết quả của nói. 
– Thằng nhãi Astorre giống như một con ma, Portella nói. Chúng ta không thể hối lộ nó. Tiền bạc có là gì với nó đâu. Phải giết nó thôi. Rồi những đứa kia sẽ bán các nhà băng. 
Inzzio quay sang Rubio, 
– Ngài chắc cô người yêu bé bỏng của ngài sẽ đồng ý chứ? 
– Tôi sẽ thuyết phục cô ấy, Rubio đáp. 
– Còn hai thằng anh cô ta? Inzio hỏi. 
– Họ chẳng quan tâm đến mối hận thù, Rubio nói. Nicole đã bảo đảm với tôi như vậy. 
– Chỉ còn một cách thôi, Portella nói. Bắt cóc Nicole, sau đó nhử Astorre đi cứu cô ta. 
Rubio phản đối rầm rầm 
– Tại sao lại không phải là một trong hai thằng anh chứ? 
– Bởi bây giờ thằng Marcantonio được bảo vệ chặt chẽ quá, Portella nói. Và chúng ta cũng không thể xử tệ với thằng Valerious được, vì cánh tình báo quân đội sẽ trừng phạt chúng ta ngay. Bọn này hung đấy. 
Tulippa quay sang Rubio. 
– Tôi không còn muốn nghe những gì nhảm nhí hơn thế nữa từ miệng ngài. Tại sao chúng ta phải mạo hiểm hàng tỷ đôla để nhẹ tay với bạn gái của ngài? 
– Chỉ tại chúng ta đã chơi xấu trước, Rubio đáp. Và hãy nhớ rằng cô ấy có vệ sĩ. Y cần hết sức thận trọng. Sẽ là tai hoạ nếu Tulippa nổi đoá với y. 
– Vệ sĩ thì nhằm nhò gì, Portella nói. 
– Thôi được, tôi đồng ý với các ngài, nếu Nicole không bị hại, Rubio nói. 
Mariano Rubio mời Nicole tới dự vũ hội hàng năm của người Peru tại lãnh sự quán. Vào buổi chiều trước vũ hội, Astorre đến gặp Nicole để báo cho nàng biết chàng sẽ đi Sicily ít này. Trong khi Nicole tắm và mặc đồ, Astorre cầm lên cây đàn guitar mà Nicole giữ hộ chàng và ngân nga những bản tình ca Italy bằng một chất giọng khàn nhưng khá hay. 
Khi ra khỏi nhà tắm Nicole hoàn toàn khoả thân, trừ chiếc khăn tắm trắng tinh vắt hờ qua bờ vai nàng. Astorre gần như bị đánh bại bởi vẻ đẹp của nàng, vẻ đẹp vẫn được giấu kín trong mớ quần áo nàng mặc. Khi Nicole xáp vào, chàng cầm lấy chiếc khăn và quấn quanh người nàng. 
Nàng ngã vào vòng tay chàng rồi thở dài. 
– Anh không còn yêu tôi nữa. 
– Chị đâu có biết tôi là ai, Astorre cười nói. Chúng mình không còn là trẻ con nữa. 
– Nhưng tôi biết anh là người tốt, Nicole nói. Anh đã cứu Cilke và gia đình hắn. Ai đã báo tin cho anh? 
Astorre lại mỉm cười. 
– Đấy không phải là việc của chị. Rồi chàng lại đi sang phòng khác để khỏi bị truy hỏi thêm. 
Đêm hôm đó, Nicole được Helene tháp tùng, đến dự vũ hội. Nàng hiểu rằng, với cương vị chủ nhà, Rubio không thể dành cho nàng sự quan tâm đặc biệt. Tuy nhiên y đã chuẩn bị sẵn một chiếc Limousine. 
Sau vũ hội, chiếc Limousine đưa nàng về nhà. Helene xuống xe trước. Nhưng trước khi họ kịp bước vào toà nhà, bốn người đàn ông đã bao vây họ. Helene chụp vội bao súng nhưng đã quá muộn. Một viên đạn súng ngắn đã găm thẳng vào đầu cô. 
Đúng lúc đó, một nhóm người khác từ bóng tối lao ra. Ba tên trong số những kẻ tấn công bỏ chạy và Astorre, người đã kín đáo theo Nicole đến vũ hội, đẩy nàng ra sau lưng mình. Tên bắn Helene liền bị tước vũ khí. 
– Đưa cô ấy ra khỏi đây, Astorre bảo một người. Chàng chĩa súng vào kẻ giết người và hỏi 
– Ok, ai đã cử mày đến đây? 
Tên giết người ngó bộ không hề sợ hãi 
– Mẹ mày, gã chửi. 

Google photos

Nicole nhận thấy khuôn mặt của Astorre trở nên lạnh lùng ngay trước khi chàng bắn một phát đạn vào ngực kẻ bị bắt. Chàng bước tới và tóm lấy tóc gã khi gã ngã xuống rồi bắn một phát nữa vào đầu gã. Lúc đó nàng chợt hiểu cha nàng phải là một người như thế nào. Nàng nôn thốc nôn tháo bên trên thi thể Helene. Astorre quay lại với nàng cùng nụ cười tiếc nuối trên môi. Nicole không thể nhìn chàng. 
Astorre đưa Nicole lên căn hộ của nàng. Chàng hướng dẫn nàng phải nói những gì với cảnh sát, rằng nàng bị xỉu ngay sau khi Helene bị bắn và không thấy gì hết. Khi chàng đi, nàng gọi cho cảnh sát. 
Ngày hôm sau, sau khi đã bố trí một vệ sĩ bảo vệ Nicole suốt hai bốn giờ, Astorre đáp chuyến bay tới Sicily để gặp Grazziella và Bianco. Chàng đi theo lộ trình thường lệ của mình. Trước tiên bay xuống Mexico rồi từ đó đáp máy bay riêng đi Palermo, như thế sẽ xoá sạch đấu vết chuyến đi của chàng. 
Octavius Bianco đón chàng tại Palermo. Lão ăn mặc chỉnh tề và lịch sự đến nỗi khó mà nhớ được lão đã từng là một tên cướp mang râu và tàn ác. Bianco rất vui khi gặp Astorre và tình cảm của lão làm chàng bối rối. Họ lên xe về biệt thự của lão bên bờ biển. 
– Vậy là cậu đã gặp rắc rối ở bên Mỹ, Bianco nói tại mảnh sân của ngôi biệt thự được trang điểm bằng những pho tượng thới Đế chế La Mã. Nhưng ta có tin mừng cho cậu đây. Rồi lão hỏi sang đề tài khác 
– Vết thương cũ có gây rắc rối cho cậu không? 
Astorre sờ chiếc vòng vàng. 
– Không, chàng nói. Nó chỉ huỷ hoại giọng hát của tôi thôi. Bây giờ tôi hát giọng khàn thay cho giọng cao rồi. 
– Giọng trầm còn tốt hơn giọng cao, Bianco cười. Dù sao, Italy vẫn còn nhiều người hát giọng cao. Cậu là một Mafioso thực sự, và đó là cái chúng ta cần. 
Astorre mỉm cười và nghĩ về một ngày xa xưa hôm chàng đi bơi. Bây giờ, thay cho nỗi nhức nhối vì bị phản bội, chàng chỉ nhớ cảm giác khi chàng tỉnh dậy. Chàng sờ lá bùa hộ mệnh trên cổ và hỏi 
– Tin mừng gì vậy? 
– Ta đã giảng hoà với cánh Corleone và Grazziella, Bianco nói. Lão ta không liên quan đến việc giết Don Aprile. Sau này lão mới tham gia nghiệp đoàn. Nhưng nay lão không hài lòng với Portella và Tulippa. Lão cho rằng chúng quá liều lĩnh và là một lũ vô tích sự. Lão không tán thành âm mưu hãm hại nhân viên Cục Điều tra Liên bang. Và lão còn rất kính nể cậu. Lão biết cậu từ khi cậu làm việc với ta. Lão thấy cậu là một người khó mà loại bỏ. Bây giờ lão muốn rũ bỏ những mối hận thù với cậu và còn muốn giúp cậu nữa. 
Astorre cảm thấy nhẹ nhõm. Nhiệm vụ của chàng sẽ dễ dàng hơn nếu chàng không phải lo lắng về Grazziella. 
– Ngày mai hãy gặp bọn ta tại đây, tại biệt thự này, Bianco bảo chàng. 
– Lão có tin ngài nhiều như vậy không? Astorre hỏi. 
– Lão phải tin, Bianco đáp. Bởi vì nếu không có ta ở đây, ở Palermo này, lão không thể cai trị Sicily được. Và ngày nay bọn ta văn minh hơn khi cậu đến đây lần cuối rồi. 
Chiều hôm sau Grazziella đến biệt thự. Astorre nhận thấy lão ăn mặc như một chính khách Roma cực kỳ đáng kính – Comple đen, sơ mi trắng và cà vạt màu sẫm. Lão được hai vệ sĩ ăn mặc giống nhau tháp tùng. Grazziella là một người nhỏ thó, lịch sự có giọng nói êm ái – người ta không thể nào đoán được lão phải chịu trách nhiệm về việc giết hại hai thẩm phán cao cấp chống Mafia. Lão nắm chặt tay Astorre và nói 
– Tôi tới đây giúp cậu để thể hiện lòng kính trọng sâu sắc của tôi đối với ông bạn Bianco của chúng ta. Làm ơn hãy quên đi quá khứ. Chúng ta phải bắt đầu lại thôi. 
– Cám ơn ngài, Astorre đáp lời. Đấy là một vinh dự cho tôi. 
– Grazziella ra hiệu cho các vệ sĩ và chúng lập tức ra ngoài đi về phía bãi biển. 
– Nào Michael, Bianco lên tiếng. Ngài có thể giúp thế nào đây? 
Grazziella nói 
– Portella và Tulippa là những kẻ quá khinh suất theo cách nhìn nhận của tôi. còn Marianco Rubio thì quá bất lương. Trong khi đó tôi thấy cậu là một người thông minh và có năng lực. Còn nữa, Nello là cháu tôi, tôi nghe nói cậu đã tha mạng cho nó. Đó không phải là chuyện nhỏ. Động cơ của tôi là như vậy. 
Astorre gật đầu. Vượt qua Grazziella, chàng nhìn thấy những con sóng xanh thẫm của biển Sicily và những tia nắng mặt trời Sicily nhạt nhoà buồn tẻ đang lấp lánh. Chàng chợt có cảm giác nhớ nhà, và một nỗi niềm day dứt vì chàng biết chàng phải ra đi. Không như nước Mỹ, mọi cái ở đây đều thân thuộc với chàng. Chàng yêu những đường phố Palermo, âm điệu của tiếng Italy. Đối với chàng, tiếng mẹ đẻ thân thương hơn tiếng Anh nhiều. Chàng hướng sự chú ý của mình sang Grazziella. 
– Thế ngài có điều gì chỉ giáo? 
– Nghiệp đoàn muốn tôi sang Mỹ gặp họ, Grazziella nói. Tôi có thể báo cho cậu địa điểm và vấn đề an ninh. Nếu cậu mạnh tay thì tôi sẽ giúp cậu lánh nạn tại Sicily. Và nếu người ta đòi dẫn độ cậu thì tôi đã có bạn bè ở Roma. Họ có thể chặn đứng tiến trình này. 
– Ngài có khả năng đó sao? Astorre hỏi. 
– Phải, Grazziella nói kèm theo là một cái nhún vai. Nếu không thì làm sao chúng ta có thể tồn tại hả? Nhưng cậu không được hấp tấp. 
Astorre biết lão đang ám chỉ tới vụ Cilke. Chàng tươi cười với lão. 
– Tôi không làm điều gì hấp tấp. 
Grazziella mỉm cười nhã nhặn và nói 
– Kẻ thù của cậu cũng là kẻ thù của tôi. Tôi cam kết ủng hộ cậu. 
– Tôi đoán ngài sẽ không tới dự cuộc họp, Astorre nói. 
Grazziella mỉm cười. 
– Tôi sẽ không tới. 
– Khi nào họp? Astorre hỏi. 
– Trong vòng một tháng nữa. Grazziella trả lời. 
Sau khi Grazziella đã ra về, Astorre nói với Bianco 
– Thật sự đi, hãy nói cho tôi biết tại sao lão ta lại làm việc này? 
Bianco tủm tỉm cười, vẻ hiểu biết 
– Làm sao cậu hiểu Sicily dễ dàng được. Tất cả những lý do lão đưa ra đều có căn cứ cả. Nhưng còn một động cơ căn bản lão không hề đề cấp đến. Bianco ngập ngừng. Tulippa và Portella đã lừa tước đoạt của lão khoản tiền buôn bán ma tuý, và trong bất kỳ hoàn cảnh nào lão rồi cũng phải bắt đầu cuộc chiến vì việc đó. Lão không thể cho qua. Lão đánh giá cậu rất cao, và thật là hoàn hảo nếu cậu quét sạch được kẻ thù của lão rồi trở thành đồng minh của lão. Cha nội Grazziella này quả là một tay láu cá. 
Tối hôm đó Astorre tản bộ dọc theo bờ biển và nghĩ về những việc chàng phải làm. Cuối cùng thì phần kết của cuộc chiến cũng đang đến. 
Pryor không hề lo lắng về việc kiểm soát các nhà băng của Aprile và bảo vệ chúng chống lại nhà chức trách. Tuy nhiên khi FBI tràn vào New York sau mưu toan ám sát Cilke, ông thấy hơi e ngại về những gì họ có thể phát hiện ra, nhất là sau chuyến viếng thăm của Cilke. 
Bước vào tuổi thanh niên, Pryor là một trong những kẻ ám sát được đánh giá cao của Mafia Palermo. Nhưng rồi ông đã chấp nhận chuyển sang quản ly nhà băng, nơi mà vẻ quyến rũ, trí thông minh và các mối liên hệ với giới tội phạm bảo đảm cho sự thành công của ông. Thực chất, ông đã trở thành một chủ nhà băng Mafia, và rồi nhanh chóng nổi tiếng là một chuyên gia trong những cơn bão tố tiền tệ và che giấu những khoản tiền nhơ bẩn. Ông còn thể hiện tài năng qua việc mua lại các doanh nghiệp hợp pháp với giá hời. Cuối cùng ông đã di cư sang Anh quốc vì tại đây ông có thể bảo vệ tài sản của mình tốt hơn. 
Tuy nhiên, cánh tay dài của ông còn vươn tới Palermo và Hoa Kỳ. Đối với cosca của Bianco, ông là một chủ nhà băng quan trọng trong việc kiểm soát công cuộc xây dựng ở Sicily. Ông cũng là cây cầu nối giữa các nhà băng của Aprile và châu âu. 
Bây giờ các hoạt động của cảnh sát làm ông nhớ tới một mối nguy hiểm tiềm tàng: Rosie. Nàng có thể là mối liên kết giữa Astorre với vụ anh em Sturzo. Đồng thời Pryor cũng biết Astorre có điểm yếu và vẫn còn quyến luyến Rosie. Điều đó khôgn làm giảm lòng quý mến của ông đối với chàng, yếu dđểm đó ở loài người đã tồn tại từ thuở khai thiên lập địa. Và Rosie là một cô gái Mafioso như vậy. Ai có thể cưỡng được nàng? Nhưng dù có ngưỡng mộ nàng nhiều đến mấy ông cũng không nghĩ rằng để cho nàng sống là sáng suốt. 
Vì thế ông quyết định ra tay, như đã có lần ông làm ở London. Ông biết ông không thể giành được sự chấp thuận của Astorre đối với một hành động như vậy – ông hiểu tính cách chàng và không hề đánh giá thấp cơn thịnh nộ của chàng. Nhưng Astorre luôn luôn là một người biết điều. Xong việc ông sẽ thuyết phục chàng và Astorre sẽ nhận ra sự sáng suốt phía sau việc làm ấy. 
Thế là vào một buổi sáng ông gọi điện cho Rosie. Nàng rất mừng được nghe giọng nói của ông, nhất là khi ông bảo đảm với nàng rằng ông có những tin tức tốt lành. Khi cúp máy, ông buông một tiếng thở dài đầy nuối tiếc. 
Ông mang theo hai đứa cháu làm lái xe và vệ sĩ. Ông để một đứa ở lại xe đỗ bên ngoài toà nhà và đi cùng đứa kia lên căn hộ của Rosie. 
Nàng chào đón họ bằng cách nhào vào vòng tay Pryor và làm cho đứa cháu giật mình. Tay gã liền chuyển động bên trong chiếc áo khoác. 
Rosie pha cà phê và đem ra một đĩa bánh ngọt, theo lời nàng, được nhập khẩu từ Naples. Với Pryor, người tự nhận là chuyên gia về lĩnh vực ăn uống, chúng chẳng hề có mùi vị như của bánh ngọt Naples thực thụ. 
– A, cháu quả là một cô gái dễ thương, Pryor nói. Rồi ông quay sang đứa cháu. Này nếm thử đi. Nhưng gã đã lui vào góc phòng và ngồi vào chiếc ghế tựa để theo dõi vở hài kịch mà ông bác gã đang diễn. 
Rosie đạp vào chiếc mũ phớt nằm lăn lóc bên cạnh Pryor và nói một cách láu lỉnh. 
– Cháu thích cái mũ quả dưa của bác hơn. Hồi ấy trông bác không ngông nghênh như thế này. 
– À, Pryor nói một cách hài hước, khi một người làm thay đổi được đất nước mình thì người đó phải luôn luôn đổi mũ. Và, Rosie quý mến của ta, ta đến đây để nhờ cháu một việc. 
Ông bắt gặp một thoáng bối rối ở nàng trước khi nàng vỗ tay thích thú 
– Ồ, bác biết là cháu sẵn sàng mà, nàng nói. Cháu nợ bác quá nhiều. Vẻ dịu dàng và biết điều của nàng làm ông mềm lòng, nhưng những gì cần làm thì vẫn phải làm. 
– Rosie này, ông nói. Ta muốn cháu thu xếp công việc để ngày mai có thể lên đường tới Sicily, cũng chỉ đi một thời gian ngắn thôi. Astorre đang chờ cháu ở bên đó, và cháu phải chuyển một số giấy tờ của ta cho cậu ấy, loại tối mật đấy. Cậu ấy nhớ cháu và muốn cho cháu thấy Sicily. 
Rosie đỏ mặt. 
– Anh ấy thực sự muốn gặp cháu sao? 
– Tất nhiên rồi, Pryor nói. 
Sự thật là Astorre đang trên đường từ Sicily sang Mỹ và sẽ có mặt tại New York vào đêm hôm sau. Rosie và Astorre sẽ vượt Đại Tây Dương trên những chuyến bay ngược chiều nhau. 
Lúc này Rosie trở nên nghiêm trang. 
– Cháu không thể ra đi gấp gáp như vậy được, nàng nói. Cháu cần phải đặt chỗ, đến nhà băng, và nhiều việc vặt vãnh khác. 
– Đừng nghĩ ta tự quyền nhé. Pryor nói. Nhưng ta đã thu xếp cả rồi. 
Ông lấy từ trong áo khoác ra một chiếc phong bì dài màu trắng. 
– Đây là vé máy bay của cháu, ông nói. Hạng nhất đấy. Cả mười ngàn đôla Mỹ để mua sắm chút đỉnh vào phút cuối và để chi tiêu trong chuyến đi. Cháu ta, nó đang ngồi đây, sáng mai sẽ đưa cháu ra sân bay bằng chiếc Limousine của nó. Astorre hoặc một người bạn của cậu ấy sẽ đón cháu tại Palermo. 
– Sau một tuần cháu phải quay lại, Rosie nói. Cháu phải thực hiện một vài khảo sát cho luận án của cháu. 
– Đừng bận tâm, Pryor nói. Cháu sẽ không phải lo lắng về việc bỏ lỡ những khảo sát của mình. Ta hứa. Có khi nào ta sai lời với cháu không? Giọng ông ngọt ngào như giọng người cha. Tuy nhiên trong đầu ôgn đang nghĩ, thật tiếc vì Rosie sẽ không bao giờ gặp lại Astorre nữa. 
Họ uống cà phê và ăn bánh ngọt. Người cháu một lần nữa lại từ chối ăn uống mặc dù Rosie đã khẩn khoản mời. Câu chuyện của họ bị cắt ngang vì chuông điện thoại reo. Rosie cầm ống nghe. 
– Ôi, Astorre, nàng reo lên. Anh đang gọi từ Sicily đấy à? Bác Pryor đã nói với em. Bác ấy đang ngồi uống cà phê ở đây. 
Pryor tiếp tục nhấm nháp cà phê một cách bình thản, nhưng đứa cháu ông vụt nhổm dậy song lại ngồi xuống khi ông ném cho gã một cái nhìn ra lệnh. 
Rosie im lặng và nhìn Pryor dò hỏi. Ôgn gật đầu trấn an nàng. 
– Vâng, bác ấy đang thu xếp để em gặp anh ở Sicily một tuần lễ, Rosie nói. 
Nàng dừng lại lắng nghe. 
– Vâng, tất nhiên. Em rất thất vọng. Em lấy làm tiếc vì anh phải quay về ngoài dự định. Vậy anh có muốn nói chuyện với bác ấy không? Không à? Ok, em sẽ bảo bác ấy. Nàng cúp máy. 
– Tiếc quá, nàng nói với ông Pryor. Anh ấy phải quay về sớm. Nhưng anh ấy muốn bác đợi ở đây. Anh ấy nói khoảng nửa giờ. 
Pryor lấy thêm một chiếc bánh ngọt. 
– Được thôi, ông nói. 
– Anh ấy sẽ giải thích mọi chuyện khi tới đây. Bác uống thêm cà phê nhé? 
Pryor gật đầu và buông tiếng thở dài. 
– Lẽ ra cháu sẽ có một kỳ nghỉ tuyệt vời ở Sicily. Tệ quá. Ông tưởng tượgn ra cảnh mai táng nàng tại một nghĩa trang ở Sicily, thật buồn nếu điều đó xảy ra. 
– Xuống xe chờ ta, ông bảo đứa cháu. 
Gã thanh niên miễn cưỡng đứng lên. Rosie để gã đi ra. Sau đó Pryor nở một nụ cười đầy vẻ quan tâm và hỏi. 
– Những năm vừa qua cháu có hạnh phúc không? 
Astorre về sớm hơn một ngày và được Aldo Monza đón tại một sân bay nhỏ ở New Jersey. Đương nhiên chàng đi bằng máy bay tư, với hộ chiếu giả. Việc chàng gọi điện cho Rosie chỉ là một cơn bốc dồng chỉ vì chàng muốn gặp nàng và muón có một đêm thư giãn bên nàng. Khi Rosie báo cho biết ông Pryor đang có mặt tại đó, các giác quan của chàng gióng lên những tín hiệu báo nguy. Về chuyến đi của nàng tới Sicily, chàng hiểu ngay kế hoạch của Pryor. Chàng cố kiềm chế cơn giận của mình. Ông Pryor dựa vào kinh nghiệm muốn có một hành động đúng đắn. Nhưng đó là một giá quá đắt để trả cho sự an toàn. 
Rosie mở cửa và lao vào vòng tay chàng. Pryor đứng lên. Astorre bước tới và ôm lấy ông. Pryor cố giấu sự ngạc nhiên của mình – Astorre chẳng mấy khi biểu lộ cảm tình như vậy. 
Sau đó, trước vẻ kinh ngạc của Pryor, Astorre bảo Rosie 
– Ngày mai em cứ đi Sicily theo kế hoạch. Anh sẽ gặp lại em bên đó sau vài ngày nữa. Chúng mình sẽ có một kỳ nghỉ vui vẻ. 
– Tuyệt vời, Rosie nói. Em chưa từng đến Sicily. 
Astorre nói với ông Pryor, 
– Cảm ơn vì đã thu xếp mọi thứ. 
Rồi chàng lại quay sang Rosie. 
– Anh không thể ở lại. Anh sẽ gặp lại em ở Sicily. Đêm nay anh có một số việc quan trọng phải làm với ngài Pryor. Vậy em cứ sẵn sàng lên đường nhé. Đừng mang quá nhiều quần áo. Chúng ta có thể mua sắm tại Palermo. 
– OK, Rosie nói. Nàng hôn lên má ông Pryor rồi vòng tay ôm lấy Astorre và tặng chàng một nụ hôn dài. Sau đó nàng mở cửa để họ ra về. 
Khi hai người xuống dưới đường Astorre bảo Pryor 
– Đi cùng xe với tôi. Bảo cháu ngài về nhà đi – đêm nay ngài không cần tới họ. 
Chỉ sau đó Pryor mới cảm thấy hồi hộp đôi chút. 
– Tôi làm việc này vì lợi ích của chính cậu đấy, ông nói với Astorre. 
Ở băng ghế sau của chiếc xe do Monza đang cầm lái, Astorre quay sang ông Pryor. 
– Không ai đánh giá ngài cao hơn tôi, chàng nói. Nhưng tôi có còn là thủ lĩnh hay không hả? 
– Đương nhiên cậu là thủ lĩnh, Pryor nói. 
– Đấy là vấn đề tôi đang muốn giải quyết, Astorre tiếp tục. Tôi nhận thức rõ mối nguy hiểm và rất mừng vì ngài đã bắt tôi phải hành động. Nhưng tôi cần cô ấy. Chúng ta có thể chấp nhận đôi chút mạo hiểm. Vì vậy đây là chỉ thị của tôi: Hãy cấp cho cô ấy một ngôi nhà sang trọng có người hầu ở Sicily. Cô ấy có thể theo học tại Đại học Tổng hợp Palermo. Cô ấy sẽ được trợ cấp đầy đủ, và Bianco sẽ giới thiệu cô ấy với giới thượng lưu Sicily. Chúng ta sẽ làm cho cô ấy hạnh phúc ở bên đó. Bianco có thể kiểm soát được những vấn đề phát sinh. Tôi biết ngài không tán thành tình cảm tôi dành cho cô ấy, nhưng đó là điều tôi không thể cưỡng lại được. Tôi tha thứ cho những lỗi lầm của cô ấy và sẽ giúp cho cô ấy được hạnh phúc tại Palermo. Điểm yếu của cô ấy là ham tiền và ham vui, nhưng ai mà không thế chứ? Vì vậy bây giờ tôi cho rằng ngài phải có trách nhiệm đối với sự an toàn của cô ấy. Không được để xảy ra bất kỳ chuyện gì. 
– Chính tôi cũng rất thích cô ấy, cậu cũng biết rồi đấy, Pryor nói. Một Mafioso thực sự. Cậu sẽ quay lại Sicily chứ? 
– Không, Astorre đáp. Chúng ta có vấn đề quan trọng hơn.




Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Google photos

Chương 11

Khi nhận được mật báo Heskow muốn hội kiến Astorre lập tức đề phòng. Luôn luôn có nguy cơ y sẽ chống lại chàng. Vì vậy thay cho việc trả lời chàng đến nhà Heskow ở Brightwaters ngay lúc nửa đêm. Chàng mang theo Aldo Monza và điều thêm một xe cùng bốn người nữa. Chàng còn mặc cả áo chống đạn. Khi cho xe vào con đường dẫn chàng gọi Heskow để y ra mở cửa. 
Heskow không hề tỏ vẻ ngạc nhiên. Y pha cà phê cho mình và Astorre. Sau đó y mỉm cười và nói 
– Tôi có cả tin lành và tin dữ. Cậu muốn nghe cái nào trước? 
– Anh cứ nói, Astorre đáp. 
– Tin dữ là tôi phải rời khỏi đất nước này vĩnh viễn. Tôi muôn đề nghị cậu giữ lời hứa. Sẽ không có chuyện gì xảy ra cho con tôi ngay cả khi tôi không còn làm cho cậu nữa. 
– Anh có lời hứa ấy, Astorre nói. Mà tại sao anh phải rời khỏi đây chứ? 
Heskow lắc đầu trong một cử chỉ buồn rầu hài hước. Y nói. 
– Vì cái thằng ngu Portella càng ngày càng quá đáng. Hắn sẽ hạ Cilke, một thằng bên FBI. Và hắn muốn tôi phụ trách vụ này. 
– Thế thì chỉ việc từ chối, Astorre nói. 
– Tôi không thể. Việc này được cả nghiệp đoàn của hắn thông qua. Nếu từ chối tôi sẽ mất mạng và có lẽ cả thằng con tôi cũng vậy. Vì vậy tôi vẫn sẽ tổ chức vụ giết người, nhưng tôi sẽ không tham gia vào nhóm hành quyết. Tôi sẽ cao chạy xa bay. Và khi Cilke bị hạ, bọn FBI sẽ đổ cả trăm thằng vào thành phố để tìm thủ phạm. Tôi đã cảnh báo với chúng điều đó nhưng chúng không thèm nghe. Cilke đã lừa chúng hay có chuyện gì đó. Chúng nghĩ rằng chúng có thể giải quyết ổn thoả vụ này. 
Astorre cố không để lộ vẻ thoả mãn của mình. Cilke sẽ chết mà không hề gây nguy hiểm cho chàng. Và chỉ cần một chút may mắn FBI sẽ loại bỏ được Portella. 
Chàng bảo Heskow, 
– Anh muón để lại địa chỉ cho tôi? 
– Tôi không nghĩ vậy, y nói. Không phải là tôi không tin cậu. Nhưng lúc nào tôi cũng có thể liên lạc với cậu. 
– Cũng được, cảm ơn vì đã báo tin cho tôi, Astorre nói. Nhưng thực sự ai đã đưa ra quyết định này? 
– Timmona Portella. Nhưng Inzio Tulippa và thằng cha tổng lãnh sự cũng đồng tình. Grazziella của băng Corleone từ chối tam gia. Tôi nghĩ lão sẽ chuồn về Sicily. Thật tức cười, ở bên đó lão có tha ai đâu. 
– Và anh sẽ chỉ huy đội hành quyết chứ? Astorre hỏi. Việc đó cũng không khôn ngoan đâu. 
– Không, Tôi đã nói với cậu khi chúng tập kích ngôi nhà thì tôi đã cao chạy xa bay rồi mà. 
– Đánh vào nhà ư? Astorre hỏi và ngay lúc đó chàng cảm thấy sợ hãi về những gì chàng sắp được nghe. 
– Ừ, Heskow nói. Đội biệt kích sẽ bay về Nam Mỹ rồi biến mất. 
– Rất chuyên nghiệp, Astorre nhận xét. Khi nào toàn bộ chuyện này xảy ra? 
– Đêm ngày kia. Tất cả những gì cậu phải làm là đứng sang một bên, và chúng sẽ giải quyết toàn bộ những vấn đề của cậu. Đó là tin lành. 
– Đúng thế, Astorre nói, cố giữ vẻ lạnh lùng nhưng trong đầu chàng hiện lên hình ảnh Georgette Cilke, vẻ đẹp và tấm lòng nhân hậu của chị. 
– Tôi cho rằng cậu nên biết chuyện này để có chứng cứ ngoại phạm, Heskow nói tiếp. Như vậy cậu nợ tôi một thứ, hãy chăm nom dùm con tôi. 
– Đúng là tôi nợ anh, Astorre nói. Đừng lo lắng về thằng nhỏ. 
Chàng bắt tay Heskow trước khi ra về. Tôi nghĩ anh rời khỏi đất nước này là khôn ngoan. Rồi sẽ ầm ỹ lên cho mà xem.
– Phải, Heskow đồng tình. 
Trong chốc lát Astorre tự hỏi chàng sẽ làm gì với Heskow. Suy cho cùng, y là kẻ lái xe trong vụ giết ông Trùm. Bất chấp tất cả những nỗ lực giúp đỡ này, y vẫn phải trả giá cho hành động đó. Nhưng chàng hoàn toàn mất hết nghị lực khi nghe tin vợ con Cilke cũng sẽ bị giết. Cứ để cho y đi, chàng nghĩ. Y có thể còn có ích sau này. Rồi sẽ có dịp để giết y. Chàng nhìn vào khuôn mặt đang tươi cười của Heskow và mỉm cười đáp lại. 
– Anh quả là một người thông minh, chàng bảo Heskow. 
Heskow đỏ mặt vì sung sướng. 
– Tôi biết, y nói. Chính vì thế mà tôi sống sót. 
11 giờ trưa hôm sau Astorre đến tổng hành dinh của FBI cùng Nicole Aprile, người đã đứng ra thu xếp cuộc hẹn. 
Chàng đã mất một đêm dài cân nhắc phương hướng hành động của mình. Chàng đã hoạch định toàn bộ việc này để mượn tay Portella khử Cilke. Nhưng chàng biết rằng chàng không thể để mặc Georgette và con gái bị giết. Tuy nhiên sau đó chàng nhớ tời một câu chuyện về ông Trùm. Câu chuyện này làm chàng phân vân. 
Một đêm, khi Astorre mới mười hai tuổi và cùng ông Trum đến Sicily trong chuyến thăm hàng năm của lão, hai bác cháu được bà Cateria đãi bữa tối tại nhà thuỷ tạ ở trong vườn. Astorre với vẻ ngây thơ kỳ lạ của trẻ con, đột ngột hỏi họ, 
– Hai bác làm thế nào mà quen nhau? Hai bác có lớn lên cùng nhau không? 
Ông Trùm và Cateria liếc nhìn nhau rồi phá lên cười sự hiếu kỳ của cậu. Ông Trùm đặt những ngón tay của lão lên môi rồi thì thầm chế nhạo, “Omertà. Bí mật”. 
Bà Caterina gõ chiếc thìa gỗ vào tay Astorre. 
– Đấy không phải là việc của cậu, tiểu yêu ạ, bà nói. Vả lại, cũng chẳng có gì. Bác tự hào về điều đó. 
Trùm Aprle nhìn Astorre âu yếm. 
– Tại sao nó lại không được biết? Nó là một người Sicily chính cống mà. Cứ nói cho nó nghe. 
– Không, bà Caterine từ chối. Nhưng ông có thể kể cho cậu ấy nếu ông muốn. 
Sau bữa tối ông Trùm đốt một điếu xì gà, rót đầy ly rượu của mình và kể cho Astorre nghe toàn bộ câu chuyện. 
– Mười năm trước người đàn ông quan trọng nhất trong thành phố là một Đức cha Singusmudo nào đó, một người rất nguy hiểm nhưng vui tính. Khi bác đến Sicily ông ấy thường tới nhà bác và đánh bài cùng bạn bè của bác. Lúc đó bác có một người trông nhà khác. 
Cha Sigusmundo rất mộ đạo và là một cha xứ cần mẫn. Ông khiển trách mọi người luôn và thậm chí có lần còn tham gia choảng nhau vói một kẻ vô thần. Ông nổi tiếng vì đứng ra làm những nghi lễ cuối cùng cho những nạ nhân của Mafia khi họ đang hấp hối, ông rửa tội cho linh hồn họ và làm họ trở nên tinh khiét cho cuộc hành trình lên Thiên Đàng. Ông được tôn kính vì điều đó. Nhưng việc này xảy ra quá thường xuyên và một số người bắt đầu rỉ tai nhau rằng lý do làm ông cần mẫn như thế là bởi vì ông là một trong số những đao phủ – ông tiết lộ bí mật của phòng xưng tội vì những mục đích riêng của mình. 
– Lúc đó chồng bác Caterina là một cảnh sát chống Mafia mạnh mẽ. Ông thậm chí vẫn theo đuổi một vụ giết người sau khi đã được trùm Mafia trong tỉnh cảnh cáo, một hành động thách thức chưa từng có lúc bấy giờ. Một tuần sau lời hăm doạ đó, chồng bác Caterina bị mai phục và nằm chết trong một con hẻm ở Palermo. Và cũng vẫn Cha Sigusmundo có mặt làm lễ rửa tội. Tội phạm không tìm ra được. 
– Bác Caterina, một quả phụ đau khổ, để tang chồng một năm và hiến mình cho nhà thờ. Rồi một ngày chủ nhật bác đến phòng xưng tội cùng Cha Sigusmundo. Khi cha xứ bước ra khỏi phòng xưng tội, ngay trước mắt mọi người, bác đâm vào tim ông ta bằng con dao găm của chồng mình. 
– Cảnh sát ném bác vào nhà giam. Trùm Mafia kết án bác tội chết. 
Astorre tròn xoe mắt nhìn Caterina. 
– Bác làm thế thật sao hả bác Caterina? 
Caterina nhìn cậu thích thú. Cậu tò mò và không hề tỏ ra sợ hãi. 
– Nhưng cậu phải hiểu tại sao. Không phải vì ông ta giết chồng bác. Người ta vẫn chém giết lẫn nhau ở xứ Sicily này. Tuy nhiên Đức cha Sigusmundo là một cha xứ giả dối, một kẻ giết người không được giải tội. Ông ta không đủ tư cách làm lễ rửa tội. Chúa nào thèm nghe hả? Vì vậy chồng bác không chỉ bị giết mà còn không được lên Thiên Đường, phải chịu cảnh đoạ dày dưới Địa Ngục. Con người phải dừng lại ở chỗ nào. Có những việc ta không được phép làm. Đó là lý do tại sao bác giết ông cha xứ. 
– Thế rồi làm cách nào bác đến đây được? 
– Vì Don Aprile quan tâm đến toàn bộ sự việc, Caterina nói. Do đó, một cách tự nhiên, mọi thứ được an bài. 
Ông Trùm nghiêm nghị nói với Astorre 
– Bác có địa vị chắc chắn trong thành phố, được nể trọng. Nhà chức trách được thuyết phục một cách dễ dàng, và giáo hội không muốn công chúng chú ý đên smột cha xứ hủ bại. Trùm Mafia không được nhạy cảm như vậy và đã từ chối huỷ bỏ án tử hình. Lão ta được tìm thấy ở bãi tha ma nơi chôn cất chồng bác Caterina. Cổ lão bị cắt đứt và cosca của lão bị huỷ diệt mất hết quyền lực. Lúc đó bác thấy mến Caterina và mời bác ấy về trông nom nhà cửa. Rồi suốt chín năm qua những tháng hè của bác ở Sicily đã trở thành ngọt ngào nhất trong đời bác. 
Với Astorre tất cả thật tuyệt vời. Cậu ăn một nhúm quả ô liu rồi phun hột ra. 
– Bác Caterina là bạn gái của bác phải không? 
– Tất nhiên, bà Caterina đáp. Cậu đã mười hai tuổi cậu có thể hiểu được rồi. Bác sống dưới sự che chở của ông ấy như thể bác là vợ ông ấy, và bác thực hiện nghĩa vụ làm vợ của bác. 
Trùm Aprile hơi bối rối, lần duy nhất Astorre thấy lão như vậy. Cậu hỏi 
– Tại sao hai bác không làm đám cưới? 
Caterian nói 
– Bác không thể rời Sicily. Ở đây bác sống như một bà hoàng, và bác cháu là một người rộng rãi. Ở đây bác có bạn bè, có gia đình của bác, các anh chị em và bà con họ hàng. Còn bác của cháu lại không thể sống ở Sicily. Vì thế các bác làm những gì tốt nhất có thể làm được. 
Astorre nói với bác Aprile 
– Bác ơi, bác có thể cưới bác Caterina rồi sống ở đây mà. Cháu sẽ sống với bác. Cháu không muốn rời Sicily. 
Đến đây cả hai người cùng phá lên cười. 
– Nghe bác đây, ông Trùm nói. Đã phải tốn rất nhiều công sức để chấm dứt mối thù chống lại bác ấy. Nếu hai bác làm đám cưới, sẽ phát sinh những âm mưu và những điều phiền toái. Người ta có thể chấp nhận nhân tình của bác chứ không chấp nhận bác ấy là vợ bác. Vì vậy, với việc xếp đặt này hai bác đều hạnh phúc, đều tự do. Hơn nữa, bác không muốn có một người vợ từ chối chấp nhận những quyết định của bác, và khi bác ấy từ chối rời bỏ Sicily thì bác đâu còn là một đức ông chồng. 
– Và đó sẽ là một điều ô nhục, Caterina nói. Đầu bà hơi gục xuống, rồi bà ngước mắt lên bầu trời Sicily đen ngòm và bắt đầu thổn thức. 
Astorre hoang mang. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì đối với một đứa bé như cậu. 
– Đúng thế, nhưng tại sao? Tại sao? cậu hỏi. 
Ông Trùm thở dài. Lão rít một hơi xì gà và tợp một ngụm rượu. 
– Cháu phải hiểu, lão nói. Cha Sigusmundo là em trai bác. 

Google photos

Bây giờ Astorre còn nhớ, lời giải thích của họ đã không thuyết phục được cậu. Với tính ương ngạnh của một đứa trẻ mơ mộng cậu tin rằng hai người yêu nhau phải được sống cùng nhau trên thế gian này. Chỉ đến bây giờ chàng mới hiểu hai người đã có một quyết định khủng khiếp. Nếu ông Trùm lấy Caterina, tất cả họ hàng sẽ trở thành kẻ thù của lão. Không phải họ không hiểu Cha Sigusmundo là một kẻ đểu cáng. Nhưng ông ta là em trai lão và một người như ông Trùm Aprile không thể nào cưới người đã giết em trai mình. Bà Caterina không thể đòi hỏi một sự hy sinh như vậy. Và rồi sẽ ra sao nếu bà Caterina tin rằng vì một lý do nào đó ông Trùm cũng liên quan đến cái chết của chồng mình? 
Nhưng đây là nước Mỹ chứ không phải sicily. Suốt đêm Astorre suy nghĩ. Đến sáng chàng gọi cho Nicole. 
– Tôi sẽ đếm đón chị đi ăn sáng. Sau đó chúng mình sẽ tới thăm Cilke tại tổng hành dinh của FBI. 
Nicole hỏi 
– Việc này quan trọng lắm phải không? 
– Vâng. Tôi sẽ nói với chị trong bữa sáng. 
– Anh đã hẹn với ông ta chưa? 
– Chưa, đấy là việc của chị. 
Một tiếng sau họ đã ăn sáng với nhau tại một nàh hàng sang trọng có những chiếc bàn rộng được kê riêng rẽ vì đây là nơi gặp gỡ những tay mối lái đầy quyền lực trong thành phố. 
Nicole tin rằng một bữa sáng thịnh soạn sẽ cung cấp đủ năng lượng cho một ngày làm việc mười hai tiếng của nàng. Astorre gọi nước cam và cà phê với một giỏ bánh mỳ ăn sáng tốn mất hai mươi đô la của chàng. 
Nicole không còn kiên nhẫn được nữa 
– Có cái quái gì không ổn hả. 
– Tôi sẽ thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, Astorre nói. Tôi nhận được thông tin từ một nguồn tin đáng tin cậy. Kurt Cilke và gia đình của ông ta sẽ bị giết vào đêm mai. Tôi muốn cảnh báo ông ta. Tôi muốn được khen ngợi vì đã báo trước cho ông ta. Ông ta sẽ muốn biết nguồn thông tin của tôi, và tôi không thể nói cho ông ta biết được. 
Nicole đẩy đĩa ăn của mình sang bên và ngả người ra lưng ghế. 
– Thằng chó chết nào lại ngu vậy chứ? Chúa ơi, tôi hy vọng anh không liên quan đến vụ này. 
– Sao chị lại nghĩ thế? Astorre hỏi. 
– Tôi không biết nữa. Ý nghĩ chợt đến. Tại sao không bắn tin nặc danh cho ông ta? 
– Tôi muốn được khen thưởng vì đã làm một việc tốt. Tôi có cảm giác những ngày này chẳng có ai yêu thương tôi. Chàng mỉm cười. 
– Tôi yêu anh, Nicole nói. Thôi được, đây là chuyện xẩy ra. Khi bước vào khách sạn, một người lạ mặt chặn chúng mình lại và thì thầm thông báo cho anh. Y mặc bộ vét kẻ sọc màu xám, sơ mi trắng và đeo cà vạt đen. Y cao trung bình, da ngăm đen, có thẻ là người Italy hay Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Sau đó chúng mình có thể thêm bớt. Tôi sẽ là người làm chứng cho anh, và Cilke hiểu ông ta không thể bắt bẻ tôi được. 
Astorre phì cười. Tiếng cười của chàng luôn luôn có tác dụng xoa dịu, nó chứa đựng niềm hân hoan hồn nhiên của một đứa trẻ. 
– Thế thì ông ta sẽ sợ chị hơn là sợ tôi, chàng nói. 
Nicole mỉm cười 
– Tôi cũng biết giám đốc FBI. Một chính khách đầy thú tính. Tối sẽ gọi cho Cilke và yêu cầu ông ta đợi chúng mình. 
Nàng lấy điện thoại ra khỏi bóp và thực hiện cuộc gọi. 
– Thưa ngài Cilke, nàng nói vào điện thoại, Nicole đây. Tôi đang ngồi cùng Astorre Viola, anh ấy có một tin quan trọng muốn báo cho ngài. 
Sau một lát tạm ngừng nàng nói tiếp, 
– Thế thì quá trễ. Chúng tôi sẽ đến đó trong vòng một tiếng đồng hồ. Nàng cúp máy trước khi Cilke có thể nói thêm bất kỳ điều gì. 
Một tiếng sau Astorre và Nicole được dẫn tới phòng làm việc của Cilke. Đó là một căn phòng hình vuông với những cửa sổ lắp kính chống đạn. 
Cike đang đứng sau một chiếc bàn làm việc của ông. Sau bàn, khá kỳ quặc, là một tấm bảng đen loại vẫn dùng trong lớp học. Bill Boxton ngồi trên một chiếc ghế không hề có ý bắt tay. 
– Các ngài sẽ ghi âm chứ? Nicole hỏi. 
– Tất nhiên rồi, Cilke đáp. 
Boxton trấn an 
– Chúng tôi ghi âm mọi thứ, kể cả việc gọi cà phê và bánh cam vòng. Chúng tôi cũng ghi âm bất kỳ ai chúng tôi cho rằng có thể tống vào nhà đá. 
– Ngài đúng là một thằng chó chết, Nicole nói tỉnh queo. Vào cái ngày đẹp nhất của đời ngài ngài cũng không thể tống tôi vào nhà đá được. Hãy nghĩ lại đi. Khách hàng của tôi Astorre Viola tình nguyện đến gặp các ngài để báo cho các ngài một tin quan trọng. Tôi đến đây để bảo vệ khách hàng của tôi khỏi bất kỳ sự lạm dụng nào sau khi anh ấy đã hoàn thành công việc. 
Kurt Cilke không còn vẻ quyến rũ như lần gặp trước. Ông ra hiệu cho họ ngồi, 
– OK, ông nói. Nào chúng ta bắt đầu. 
Astorre nhìn thẳng vào mắt Cilke và nói 
– Tôi nhận được nguồn tin sẽ có một toán biệt kích vũ trang đầy đủ tấn công nhà ngài vào đêm mai. Mục đích là giết ngài vì nguyên nhân nào đó. 
Cilke không phản ứng lại. Ông ngồi chết lặng, nhưng Boxton bật dậy và đứng sau Astorre. Quay lại phía Cilke anh nói 
– Kurt, cứ bình tỉnh. 
Cilke đứng dậy. Cả thân hình ông dường như sắp nổ tung cùng cơn thịnh nộ. 
– Đây là thủ đoạn cũ của Mafia, ông nói. Cậu dựng lên chiến dịch này rồi lại ngầm phá hoại nó. Và cậu nghĩ tôi sẽ phải mang ơn cơ đấy. Này, làm thế quái nào mà cậu có được thông tin ấy hả? 
Astorre kể cho ông nghe câu chuyện mà chàng và Cicole đã chuẩn bị. Cilke quay sang Nicole và hỏi, 
– Cô đã chứng kiến sự kiện này? 
– Vâng, Nicole trả lời. Nhưng tôi không nghe được ông ta nói gì? 
Cilke nói với Astorre, 
– Kể từ lúc này cậu đã bị bắt. 
– Vì lý do gì? 
– Vì đe doạ một sỹ quan Cục điều tra Liên Bang, Cilke đáp. 
Tôi cho rằng tốt hơn ngài nên gọi điện cho ngài giám đốc của ngài. Nicole nói. 
– Đây là quyết định của tôi, Cilke đáp lại Nicole. 
Nicole nhìn đông fhồ. 
Cilke dịu giọng, 
– Thừa hành lệnh của tổng thống, tôi có quyền giữ cô và khách hàng của cô trong vòng bốn tám tiếng đồng hồ không cần tham khảo ý kiến, như một sự đe doạ an nình quốc gia. 
Astorre giật mình. Chàng nói 
– Đúng thế ư? Ngài có thể làm việc đó được sao? Chàng thực sự bị gây ấn tượng. Chàng quay sang Nicole và vui vẻ nói – Này, ở đây giống hệt Sicily vậy. 
– Nếu ngài làm như vậy thì FBI sẽ phải ra toà và ngài sẽ trở thành đồ bỏ. Nicole nói. Ngài có thể đủ thời gian để đưa gia đình tạm lánh và phục kích những kẻ đột kích. Chúng không biết chúng đã bị lộ. Nếu ngài bắt được tù binh, ngài có thể tra hỏi chúng. Chúng tôi sẽ không nói hoặc cảnh báo chúng. 
Cilke dường như đang cân nhắc. Ông nói với Astorre vẻ khinh thường. 
– Ít nhất tôi cũng đã kính trọng bác cậu. Ông ấy chẳng bao giờ bép xép cả. 
Astorre nở nụ cười bối rối. 
– Đó là ngày xưa. Chàng tự hỏi Cilke sẽ nói gì nếu chàng nói cho ông biết nguyên nhân đích thực, rằng chàng đã bảo vệ ông đơn giản vì chàng đã gặp vợ ông và đã thầm yêu chị trong vô vọng. 
– Tôi không tin câu chuyện nhảm nhí của cậu nhưng chúng tôi sẽ điều tra kỹ lưỡng vụ này xem thực sự có trận đột kích nào vào đêm mai hay không. Nếu có gì xảy ra thì tôi sẽ nhốt cậu lại, và có lẽ cả cô nữa, bà luật sư ạ. Nhưng tại sao cậu lại báo cho tôi biết? 
– Vì tôi thích ngài, Astorre trả lời. 
– Xéo khỏi đây ngay, Cilke quát lớn. Ông quay sang Boxton. Gọi ngay chỉ huy lực lượng tác chiến đặc biệt vào đây, và bảo thư ký của tôi chuẩn bị một cuộc gọi cho ngài giám đốc. 
Họ bị giữ lại hai tiếng nữa để bộ tham mưu của Cilke thẩm vấn. Trong khi đó, Cilke có cuộc điện đàm tới Washington cho giám đốc qua máy điện thoại chống nghe trộm. 
– Không được bắt họ trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Giám đốc dặn ông. Mọi chuyện sẽ lọt ra ngoài đến với giới truyền thông và chúng ta sẽ làm trò cười cho thiên hạ. Giữ tuyệt đối bí mật, rồi chúng ta sẽ biết chuyện gì xảy ra đêm mai. Những người bảo vệ ở nhà cậu phải cảnh giác, và gia đình cậu phải được di tản. Bây giờ hãy đưa ông nghe cho Bill. Cậu ấy sẽ chỉ huy chiến dịch phục kích. 
– Thưa ngài, đấy phải là việc của tôi. Cilke phản đối. 
– Cậu sẽ giúp vạch kế hoạch, giám đốc nói. Nhưng cậu không được tham gia tác chiến. Cục hành binh theo những chỉ thị giao chiến nghiêm ngặt để tránh sử dụng bạo lực không cần thiết. Cậu có thể sẽ bị nghi ngờ nếu mọi chuyện diễn ra tồi tệ. Cậu hiểu tôi chứ? 
– Vâng, thưa ngài. Cilke hoàn toàn hiểu rõ.


Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 29 Jun 2024

Phần 6

Thường lệ, Đội trưởng bị kỷ-luật thì được biên-chế sang đội khác. Tôi vẫn ở Đội 17 rau xanh làm tù-nhân bình thường. Đội trưởng của tôi là anh Trạng, từ đội của Đằng Giao qua. Anh Trạng, dân Bình Chánh. Quản-giáo Vinh xếp tôi vào Tổ tưới rau. Lúc này, Ngô Đình Hoa, Nguyễn văn Bình đã về với đội Long Thành. Quản- giáo Vinh bị Ban giám-thị phê-bình gay gắt vì đội của ông thầy cầm cờ trắng. Cờ đỏ do đội rau Long Thành đoạt. Cờ xanh nằm trong tay Đội 3 hình-sự. Ông thầy bực tức, Ông thầy phấn-đấu vượt chỉ-tiêu. Ông thầy…tăng phân tươi và tăng nước tưới. Mỗi tù-nhân phụ-trách gánh nước phải gánh đủ 100 đôi 1 ngày. Năm 1979 hạn hán. Tháng 6 mà vẫn chưa có trận mưa nào ngoạn-mục kéo dài vài hôm. Ở trại cải-tạo, mưa là hạnh-phúc. Tù-nhân bình-bầu mức ăn cho ông Trời như sau:
– Đêm tạnh, bắt đầu kẻng báo thức mới mưa. Mưa trút nước qua giờ tập họp lao-động. Cả trại nằm nhà nghỉ-ngơi: Trời hưởng mức ăn 18 ký.
– Ngủ trưa dậy, kẻng tập họp lao-động mưa tầm-tã, cả trại nằm nhà nghỉ-ngơi, Trời hưởng mức ăn 15 ký.
– Đang lao-động, trời mưa, thu-hồi dụng-cụ về trại, Trời hưởng mức ăn 13 ký 50.
– Mưa sớm, mưa đã đời, lúc tập họp lao-động lại tạnh, Trời bị kỷ-luật còng chân 15 ngày, cúp thăm nuôi 1 kỳ.
Mưa không những tù sướng, quản-giáo, vệ-binh cũng sướng. Ban giám-thị không sướng tí nào. Nhưng bắt tù đi lao-động, mưa to sẽ xẩy ra nhiều vụ trốn trại thành-công. Trại mà đề nhiều tù trốn trại, Ban giám-thị sẽ bị kiềm điểm, sẽ khó leo lên địa-vị cao trong ngành quản-lý các nhà tù. Do đó, trốn trại là quan-trọng, tiến-bộ tư- tưởng của tù-nhân là thứ yếu. Mục-đích chính-yếu của chính-sách lao-động cải-tạo tư-tưởng của cộng-sản là gì? Thế-giới, cho đến hôm nay, vẫn bị huyễn-hoặc bởi cách chơi chữ của cộng-sản. Người cộng-sản lúc nào cũng có thể to miệng nói với thế-giới rằng họ không hề bắt nhốt sĩ-quan quân-đội, sĩ-quan cảnh-sát, công- chức cao cấp, dân-biểu, nghị-sĩ, nghị-viên, đảng-phái đối nghịch đảng cộng-sản của và trong chế-độ Việt Nam cộng-hòa. Những thành-phần này, họ gọi chung là “ngụy quân, ngụy quyền”. Rõ-rệt và chính-xác, những thành-phần này đã đi trình-diện học tập cải-tạo. Thế-giới không cần biết cái thông-cáo cưỡng-bức và đe-dọa “ngụy quân, ngụy quyền”. Và cộng-sản phủ-nhận con số tù-nhân chính-trị mà họ giam giữ. Với cộng-sản, không có tù-nhân chính-trị. Các tổ-chức chống cộng-sản sau 30-4-75, những thanh-niên, sinh-viên, học-sinh chiến-đấu cho tự-do, dân-chủ của dân-tộc; những nhà trí-thức đòi hỏi nhân-quyền, bị cộng-sản xếp vào thành-phần “phản-động” can tội phá-hoại an-ninh của “tổ-quốc” và bị bắt bỏ tù không cần xét xử, không có án-tích. Tất cả những nơi giam nhốt, đầy đọa tù-nhân, cộng- sản đều gọi là Trại học tập cải-tạo và thế-giới đều gọi là Camp de ré-éducation. Cộng-sản không gọi là Nhà tù hay Trại tập-trung khổ-sai lao-động. Thế-giới không gọi thế và báo-chí Việt Nam hải-ngoại cũng không gọi thế. Cho nên ý-nghĩa của tù-nhân chính-trị Việt Nam nó phôi-pha dần theo tháng năm. Như tị-nạn chính-trị bước sang giai đoạn tị-nạn kinh-tế! Sự can-thiệp của các hội-đoàn nhân-đạo quôc-tế chỉ nhằm cá-nhân, không nhằm tập-thể. Mọi lên tiếng về tù-nhân chính-trị ở Việt Nam mang tính chất làm cảnh theo cảm-hứng mùa màng. Cộng-sản cấm-chỉ báo-chí thế-giới thăm viếng nhà tù và trại tập-trung của họ. Cả miền Nam, có một trại kiểu mẫu để tiếp phái-đoàn Amnesty International (vì AI trung lập với tất cả các chế-độ chính-trị) và các hội-đoàn quốc-tế thân cộng-sản*. Thế-giới chỉ hiểu lơ-mơ về nhà tù và trại tập-trung khổ-sai lao-động của cộng-sản qua sự tường-trình của những ông Việt Nam cư-ngụ tại Pháp từ 30 năm. Và những ông này đều gọi những địa-ngục từ Việt Nam là Trại học tập cải-tạo! Thủ-đoạn bắt nhốt hàng mấy trăm ngàn tù-nhân của cộng-sản nó siêu-việt thế đấy. Đi học- tập, không đi khổ-sai lao-động. Tình nguyện trình diện học tập cải-tạo, không hề bị bắt giam nhốt. Phải công-nhận cộng-sản chơi chữ rất giỏi.
Ở nhà tù ra sao, bạn đã đọc Nhà tù rồi. Còn ở trại tập-trung ra sao, tôi sẽ cố-gắng viết trung-thực với nhận-xét và kinh-nghiệm của tôi. Cộng-sản không thích cải-tạo tư tưởng tù-nhân. Hiển nhiên, họ không thể chơi trò “brain washing” theo phương-pháp Pavlov cho hàng trăm ngàn tù-nhân. Họ thừa hiểu, tù-nhân lao-cải biết cách nín thở qua cầu. Vậy chỉ cần bắt tù-nhân tê-liệt tâm-hồn, rã-rời thể-xác. Cách thực hiện hữu-hiệu nhất là làm cho tù-nhân đói khổ, làm cho tù-nhân mất phẩm-cách, làm cho tù-nhân sợ hãi. Làm cho tù-nhân đói khổ nằm trong chính-sách làm cho toàn dân đói khổ. Sự tiến-bộ của chế-độ cộng-sản ở Việt Nam là không còn ai chết đói nữa nhưng thường xuyên đói và triền-miên ăn độn. Chủ-tịch Hồ Chí Minh, ở bức chân dung vẽ ông ta đứng dơ bàn tay xòe đủ năm ngón, được dân-gian “học tập” như vầy:
5 ngón tay Bác, 5 đồng bạc “ngụy” ăn 1 đồng bạc cách-mạng.
5 ngón tay Bác, 5 năm tù tối-thiểu cho ngụy-quân, ngụy-quyền, phản-động.
5 ngón tay Bác, 5 lạng thực-phẩm cho một người dân một ngày.
Tù và dân đồng đều tiêu-chuẩn 15 ký lô thực-phẩm mỗi tháng. Thực-phẩm không phải là gạo. Thực-phẩm, có thể, là gạo hẩm cộng với khoai, sắn, ngô hay chỉ riêng rẽ khoai, sắn, ngô, bo bo… Gạo là xa-xỉ-phẩm như nước mắm trên đất khách miền Bắc có lăng Bác. Cách-mạng vô-sản đã đổi đời cho nước mắm. Nước mắm cũng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững-chắc lên xã-hội chủ-nghĩa thành nước chấm. Muối + nước + kẹo đắng : Nước chấm! Ấm no, hai tiếng này vẫn nằm trong hứa hẹn. Bài ca Tự Túc phổ-biến sâu rộng khắp nước từ năm 1946. Hai câu cuối rực-rỡ tương-lai:
Anh em ơi góp công muôn bàn tay
Đất nước ta ấm no đi đây có ngày

Năm 1976, đài phát-thanh Giải-phóng, chương-trình Nông-nghiệp vẫn hát bài Tự Túc. Tự Túc là nhạc mở đầu và kết-thúc chương-trình. Ba mươi năm sau cách-mạng đất nước ta vẫn đói rét, “đất nước ta ấm no rồi đây có ngày”. Chưa biết ngày nào? Năm nay, 1986, đất nước ta chắc vẫn còn đói rét. Dân chúng đói vì Đảng muốn dân chúng đói. Đói có nghĩa là bao-tử lưng-lửng. Bao-tử lưng-lửng có nghĩa là không thể chết đói. Không thể chết đói nhưng mà rất thèm ăn no. Thèm ăn no thì chỉ nghĩ đến miếng ăn, không thiết nghĩ đến tự-do dân-chủ. Càng không muốn nghĩ đến tranh-đấu cho ấm no, tự-do, dân-chủ. Con người khó lòng vùng dậy khi nó đói mà nó biết nó không bị chết đói. Cái roi gạo của cộng-sản nó nhiệm-mầu thế đấy. Nó phũ-phàng hơn roi điện của thực-dân phát-xít đế-quốc tra-tấn con người. Nó làm hao mòn thịt xương và tiêu diệt ý-chí chống đối.
Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Cái cung-cách cai-trị nhân-dân bằng roi gạo ngoài đời giống hệt cái cung-cách quản-lý tù-nhân trong trại tập-trung khổ-sai lao-động. Ăn ít, làm nhiều. Làm không đem lại kết-quả, vẫn làm. Làm cho đói. Đói bị ăn ít. Ăn ít thèm ăn. Tù-nhân vẫn lại chỉ loay-hoay miếng ăn. Chung quanh miếng ăn là thảm cảnh dẫn tới sa-đọa và mất phẩm-cách. Bất cứ một tù-nhân lao-cải nào cũng có thể nói câu này với bất cứ ai, ở bất cứ đâu mà không sợ mang tiếng bịa đặt: Mọi sinh vật bị tiêu-diệt gọn quanh khu-vực tù-nhân cải-tạo. Thằn lằn, rắn, kỳ-nhông, kỳ-đà, mối chúa, cào-cào, dế, chuột, cua, cá, tôm tép, cóc nhái… Cái gì có thể ăn và có chút chất đạm là tù cải-tạo ăn. Trừ giun ra. Tôi chưa thấy ai ăn giun. Có lẽ, ông nhà báo nào thương tù cải-tạo quá đã cho tù ăn giun thay bo-bo! Mà ăn cả bát giun mới là giầu óc tưởng-tượng. Rất tiếc, ông nhà báo này không được làm đại-diện tù chính-trị Việt Nam để “bốc xê la bút” tại quốc-hội Hoa-kỳ hay là đi kiện Việt cộng. Tù-nhân lao-cải còn ăn rau độn bo-bo cho căng bao-tử. Rau tầu bay, rau cải trời, rau dền dại, rau sam… Có người dám ăn cỏ non. Lý-luận: Dê ăn cỏ, trâu bò ăn cỏ có chết đâu. Trâu ăn cỏ lao-động vô-địch. Bò ăn cỏ sinh bê còn ra sữa. Sữa bò chế thành bơ, thành phó-mát… Cỏ nhất định dồi dào sinh tố. Nhưng cỏ chỉ bổ khi được… nhai lại. Mà người không thuộc loài nhai lại, trừ cộng-sản là loài nhai lại những giáo-điều lạc-hậu, những nghị-quyết mốc thếch, những chiến-thắng chẳng ăn cái giải gì, những khẩu-hiệu gian-dối, những danh-từ rỗng tuếch. Cũng còn có một loài nhai lại. Đó là bọn nhà văn Hamburger, xuân hạ thu đông nhai lại những câu chửi rủa người vắng mặt. Thêm loài nhai lại hiệp định Paris 1973, nhai lại tiền lạc-quyên kháng-chiến, nhai lại tiền ăn cắp di-tản đem theo, nhai lại dĩ-vãng bệ-rạc. Vân vân… Đất nước khốn-khổ của chúng ta hơi nhiều cách-mạng nên khá đông thú vật hai chân nhai lại. Thú vật nhai lại cỏ kháng-chiến bền-bỉ và quang-vinh nhất chỉ có hai tên cùng viết tắt HCM. Một tên đã nằm trong hòm kính. Một tên đang nằm trong thùng nước lèo phở Hòa. Tù-nhân cải-tạo là nạn-nhân của thú vật hai chân nhai lại. Tù-nhân cải-tạo là CON NGUỜI bị thú vật hai chân bắt đồng-hóa với chúng nó. Và đã thử ăn cỏ non. Khi người ta đói, người ta ăn cả thịt người. Đã có trường-hợp thuyền-nhân ăn thịt kẻ đồng-hành chết đói. Tháng 3 năm Ất Dậu, người sắp chết đói ăn thịt người vừa chết đói là thường. Ăn bất cứ cái gì có thể nuốt. Để chết. Người đói vô tội. Kẻ làm cho con người đói đến mất nhân-tính, mất phẩm-cách mới có tội.
Tù-nhân lao-cải không có ai chết đói nhưng “quanh năm tích-cực đói, bốn mùa khẩn-trương đói”. Đói thì “mưu sinh” riêng cho no. Rau cải trời dễ kiếm dễ hái, ăn nhiều mất máu. Cóc nấu cháo ngon lắm, bổ lắm, ăn trúng nọc “cậu trời” là đau quặn bụng, ói mửa ra mật xanh mật vàng. Bạ cái gì cũng ăn thì dễ sinh bệnh. Bệnh thiếu thuốc thì “về sum họp với cha ta”. Đa-số tù-nhân lao-cải chết bệnh là do ngoài đời ăn khỏe quá. Ông tướng Nguyễn Đức Thắng đi lao-cải sẽ kềnh trước tiên. Đói đâm ra lẩn-thẩn, kèn-cựa nhau từ miếng thịt đến muỗng cơm trắng “những ngày lễ lớn”. Chia sắn lát, chia khoai luộc, chia nước muối, chẳng ai thèm nhòm ngó. Chia thịt, chia canh, bắp cải nấu xương heo, chia cơm trắng, một đội 50 tù-nhân 100 con mắt theo dõi người chia cơm, chia thịt, chia canh. Sự thèm ăn làm đầu óc bé lại, tâm-hồn kẹo đi. Thêm cái tiêu-chuẩn thực-phẩm hàng tháng gây đủ mọi chia rẽ, gấu-ó, đấm đá. Đó là Sa Ác B của tôi, một trại đủ thành-phần xã-hội. Những trại khác tôi không biết tù-nhân lao-cải có còn thủ nổi tác-phong “giấy rách phải giữ lấy lề”?
Chế độ thăm gặp ở trại lao-cải chẳng nhân-đạo gì. Nó nhắm ba mục-đích:
1/ Ăn ngon, ăn no thì phải “triệt-để tuân-hành nội-quy và mệnh-lệnh của cán-bộ”. Kinh-tế… cái bị quà luôn luôn bị đe-dọa bởi cái quyết-định thi-hành kỷ-luật. Tù-nhân bướng-bỉnh, “tư-tưởng nấn cấn, nao động nề mề” khó cải-tạo, đa số là tù-nhân “con bà phước”. Kỷ-luật cúp thăm gặp kinh-hoàng nhất, “con bà phước” không ai nuôi, không ai gặp, không sợ hãi cái thứ kỷ-luật răn đe bao-tử.
2/ Ăn ngon, ăn no thì lao-động tích-cực, hết lấy cớ trây lười.
3/ Thăm gặp tạo mâu-thuẫn giai-cấp giữa các tù-nhân. Thằng không có thăm gặp ghét thằng có thăm gặp. Thằng thăm gặp ít ghét thằng thăm gặp nhiều. Giá-trị và cả lòng thù-hận đánh giá bằng cái bị căng phồng quà cáp hay cái bị xẹp lép. Nếu không có chế-độ thăm gặp, tù-nhân bình-đẳng kinh-tế. Như thế tù-nhân yêu thương nhau đoàn-kết thắm-thiết và sẽ gây ra nhũng tai-hại khó lường cho sự quản-lý tù-nhân ở các trại lao-cải.
Đó, ba mục-đích chính của chế-độ thăm gặp nằm trong chính-sách cải-tạo tư-tưởng khoan-hồng và nhân-đạo của Đảng và Nhà nước cộng-sản. Con người chưa bao giờ khổ vì miếng ăn và hèn vì miếng ăn như con người tù-nhân ở trại tập-trung khổ-sai lao-động của cộng-sản. Tuy khổ và hèn nhưng là khổ và hèn bị cưỡng-bức. Tỷ-lệ những người vì khổ mà tình-nguyện xếp mình dưới mức hèn, xếp mình ngang hàng súc-vật hơi khan hiếm. Có lẽ duy nhất một “nhà văn” Tạ Tỵ. Ông này không lao-động vất-vả gì cả. Như ông ta muộn-màng thú nhận, ông ta được “anh em” của ông ta giới-thiệu vẽ chân dung Hồ Chi Minh giữa trại cải-tạo . Và ông ta bảo “Sống trong trại tù thì vẽ HCM hay đi hót cứt, bổ củi, vác gạo, trồng mì cũng như nhaư” . Bị cưỡng-bức vẽ tranh Hồ Chí Minh và được giới thiệu vẽ khác nhau. Ở tù trăm sự đều cay đắng. Hồ Chí Minh đã thở than vậy. “Bác” còn ngậm-ngùi: “Mỗi lời mỗi việc không tự-chủ. Đề chúng dắt đi tựa trâu bò”. Chúng không dắt đi tựa trâu bò mà mình tình-nguyện làm trâu bò thì kẻ vẽ “Bác” không giống tâm-sự “Bác”. Thì bị giới-thiệu cũng là một cưỡng-bức đi, ngồi vẽ “Bác” vẫn nhàn, bao-tử đỡ đói hơn bao-tử bổ củi, vác gạo. Đỡ đói hơn “anh em” mà “ăn cắp khoai mì, ăn vụng thịt dưới nhà bếp, ăn tranh phần khoai và cơm cháy của heo vân vân…” , tôi nghĩ đây là thành-tích rực-rỡ nhất xứng-đáng ghi đậm nét trong L’Arbre de vie của gia-đình ông nhà văn-học nghệ-thuật “ăn cắp”. Thời-đại của chúng ta rất ly kỳ. Rõ đúng…đổi đời. Những thằng mạt rệp tự nhận mình ăn cắp, ăn vụng, ăn tranh phần súc-vật, vẫn trơ-trẽn phỉ-báng người khác những tội mơ-hồ, bịa đặt. Cái trường-hợp no mà vẫn ăn cắp, ăn vụng chính là biểu-tượng của đám quốc-gia bẩn vậy.

Google photos

Đã biết cái thủ thuật cộng-sản đánh vào bao tử tù-nhân làm cho tù-nhân khốn-khổ và hèn-hạ vì miếng ăn, nên biết thêm cái thủ-thuật cộng-sản đánh vào đầu óc khiến tù-nhân tê-liệt tư-tưởng rồi biến thành âm-binh cho phù-thủy sai phái. Bí-kíp nằm giữa thủ-thuật này là phê-bình và tự phê-bình. Một học-giả Trung Hoa nói: “Kẻ sĩ một ngày không đọc sách thánh-hiền, soi gương thấy mình xấu-hổ”. Hồ chủ-tịch vĩ-đại nói: “Một ngày không tự phê-bình, soi gương thấy mình chưa rửa mặt”. Hồ Chí Minh có tài đạo văn. Bác Hồ rất nhiều tài, tài nào cũng có thể suy tôn, vì khó kiểm-chứng. Riêng tài đạo văn, Bác bị lòi tẩy . Bác cứ thuổng tư-tưởng của thiên hạ, “sáng-tạo” ra cái của Bác. Trong Lời khuyên học trò, Nguyễn Bá Học viết: “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông”. Bác vi-vút lời Bác “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền thôi. Đào núi và lấp biển là khó mà quyết-chí thì cũng làm nên”. Bác thuổng lu-bù…Câu thuổng xây-dựng nên tư-tưởng Hồ Chí Minh về cái “dịch-vụ” phê-bình và tự phê-bình đã phá vỡ sự gần-gũi, sự thân-thiết dân-tộc. Nó là thủ-đoạn chia tình người đề quản-lý con người, xẻ tâm-hồn con người để kiểm-soát linh-hồn con người. Nó phát-triển mạnh-mẽ từ sau 1956, khi cộng-sản Hà nội đã đưa nông-dân vào Nông-hội, Hợp-tác-xã.
Từ đây, nông-dân được giao quyền làm chủ tập-thể dưới quyền điều-hành của bọn đảng-viên Chủ-nhiệm, Bí-thư Nông-hội, Hợp-tác-xã. Nông-dân bận-bịu họp-hành, bình-bầu xã-viên xuất-sắc, phê-bình xã-viên thiếu tích-cực và tự phê-bình mình. Vân vân. Nông-dân vốn hiền lành, ghét họp-hành và tối-kỵ phê-bình họ-hàng, láng-giềng, chòm-xóm công-khai. Những buổi họp đầu tiên không được khuyến-khích phê-bình và tự phê-bình. Dần dần, phê-bình và tự phê-bình được khuyến-khích. Rồi lời Hồ chủ-tịch đem ra học tập. Rồi Chủ-nhiệm Hợp-tác-xã chủ-trì các buổi họp phê-bình các buổi họp thiểu phẩm-chất. Vì thiếu phê-bình và tự phê-bình. Người ta cố kéo dài phiên họp đến nửa đêm. Nông-dân ngáp vặt. Nông-dân thèm về ngủ mai sớm còn thay trâu kéo cầy “xây-dựng tổ-quốc”. Bắt đầu tự phê-bình những khuyết-điểm lặt-vặt vô-tội-vạ. Cộng-sản rất kiên-trì trong công-tác “giáo-dục” nhân-dân. Cái lặt-vặt sơ-hở sẽ là cái rắc-rối cuối đường. Nông-dân “làm quen” với phê-bình. Từ làm quen thành thói quen. Thói quen dễ-dãi: Phê-bình cho xong chuyện, cho chóng giải-tán buổi họp về ngủ. Vậy thì nông-dân phê-bình lẫn nhau những chuyện đến muộn vài phút, nghỉ sớm vài phút, bệnh nhẹ không khắc phục, không chấm công công-bình, không tích-cực bảo-vệ tài-sản tập-tục… Nông-dân lại “com bin” với nhau. Tôi phê-bình bác như thế này, bác phê-bình tôi như thế này. Cho xong chuyện. Cộng-sản nó nghiên-cứu kỹ-lưỡng, nó phá chiến-thuật phê-bình của nông-dân. Thủ đoạn cầy-cáo của cộng-sản là rỉ tai, xuyên-tạc, gây thù-hận.
Cộng-sản:
– Bác thân với bác A lắm nhỉ?
Nông-dân B:
– Thân lắm.
Cộng-sản:
– Tôi không tin.
Nông-dân B:
– Đồng-chí không tin cái gì?
Cộng-sản:
– Bác A nói với tôi rằng bác cứ hậm-hực cái ao cá của bác bị vào Hợp-tác-xã.
Nông-dân B:
– Tôi nói với ai bao giờ?
Cộng-sản:
– Tôi không nghĩ bác nói đâu. Bác tiến-bộ, xã-viên lý-tưởng. Nhưng ở đời nó có hai chữ ai ngờ, bác ạ!
Cộng-sản đến thăm nông-dân B, bỏ nhỏ tí ti rồi về. Thay vì đi tìm sự thật ở nông-dân A, nông-dân B nghiến răng thề sẽ “chơi” nông-dân A một vố. Cộng-sản tạo cơ-hội để nông-dân B thấy rõ nông-dân A hay gặp riêng đồng-chí Chủ-nhiệm. Vậy là buổi họp, nông-dân B phê-bình nông-dân A theo cung cách…tố cáo. Bao nhiêu lời tâm sự uất ức Đảng của nông-dân A được khai vanh vách. Phê-bình thành tố cáo. Tố-cáo thành phong-trào. Cộng-sản biết hết thâm ý của nông-dân mà cai-trị. Nông-dân thù ghét nhau, sợ hãi nhau, không dám gần-gũi nhau tâm-sự thân-mật. Nhà nào nhà nấy đóng cửa. Gặp nhau ở Hợp-tác-xã thôi. Mọi người đề-phòng lẫn nhau. Thủ-đoạn cộng-sản trả lời câu hỏi tại sao không có cuộc nổi dậy nào của nông-dân miền Bắc.
Phê bình và tự phê-bình vào quân-đội, vào công-an, vào khắp các cơ-quan, các ngành. Vào nhà máy, bắt buộc. Vào cả đoàn-thể nhi-đồng. Vào nhà tù và trại lao-cải thì tinh-vi hơn. “Ăng-ten” nằm ở biên-bản các buổi họp của đội cuối tuần, ở tự kiểm. . . “Ăng-ten” ở sự tố-cáo lẫn nhau bởi thủ-thuật chia rẽ, gây thù-hận của cai tù. Một thí dụ điển-hình nhất cho tất cả các trại lao-cải:
Tù-nhân X là người có địa-vị xã-hội, có uy-tín ở xã-hội cũ, có uy-tín trong đội, trong trại được các tù-nhân yêu mến và coi như lãnh-đạo tinh-thần của tù-nhân. Phải hạ gục tù-nhân X. Dễ-dàng lắm. Cả đội đang cuốc đất dưới nắng chang-chang, mồ-hôi tầm-tã, thầy quản-giáo ra bãi gọi tù-nhân X vào nhà lô 1). Nội-dung cuộc “làm việc” giữa quản-giáo và tù-nhân X sẽ như thế này:
Quản-giáo:
– Anh cải-tạo mấy năm rồi,anh X?
Tù-nhân X:
– Thưa cán-bộ, 5 năm.
Quản-giáo:

– Năm năm thì cũng sắp về rồi đấy.
Tù-nhân X:
– Tôi hy-vọng thế.
Quản-giáo:
– Vợ con anh thăm gặp anh đều chứ?
Tù-nhân X:
– Thưa cán-bộ, đều.
Quản-giáo:
-Anh cần gửi thêm thư cho gia-đình không?
Tù-nhân X:
– Cám ơn cán-bộ, một tháng một lần đủ rồi.
Quản-giáo:
– Anh nhận-xét về đội ra sao?
Tù-nhân X:
– Tất cả tích cực lao-động, cải-tạo tư-tưởng tốt.
Quản-giáo:
– Không hơn thế đâu.
Chuyện sang vụ thu-hoạch sắp tới. Rồi làm gì, nghĩ gì khi về sum-họp gia-đình. Rồi uống nước rễ tranh, hút thuốc lào. Quản-giáo kéo dài giờ giải-lao của tù-nhân X. Khi tù-nhân X trở lại bãi, anh em xúm lại hỏi. Tù-nhân X tường-thuật trung-thực cuộc mạn-đàm. Anh em tin. Hôm sau xẩy ra như vậy. Anh em tin. Hôm sau nữa cũng vậy. Anh em vẫn tin. Rồi mạn-đàm hoài, anh em “lạ quá”. Từ lạ quá đến ngờ vực. Cho đến một hôm, buổi sáng tù-nhân X mạn-đàm với quản-giáo thì buổi chiều tù-nhân Y được gọi sỉ-vả và bị kỷ-luật. Quản-giáo tập họp đội, tuyên-bố quyết-định kỷ-luật tù-nhân Y thòng thêm câu:
– Cán-bộ có bị che mắt, còn mắt khác nhìn giúp.
Tù-nhân X trở thành nạn-nhân của quản-giáo, của trò chơi triệt-hạ uy-tín cá-nhân. Ông bị gán ghép tội “Ăng-ten”. Đội khinh-bỉ ông. Trại khinh-bỉ ông. Tiếng xấu lan đi khi có tù-nhân chuyển trại. Đây chỉ một thí-dụ điển-hình. Còn hàng trăm thủ-đoạn tạo ngờ-vực, thù-hận giữa các tù-nhân, chủ-đích làm các tù-nhân không thể hội họp, bàn-tán âm-mưu chống đối và trốn trại. Ngu-xuẩn nhất vẫn là kẻ tin vào lời cai tù rỉ tai tù về chuyện tù-nhân khác. Mà kẻ tin lời cai tù lại thêu dệt thêm giúp cai tù. Và không còn là một kẻ. Mà đa-số mê sảng trong thủ-thuật cộng-sản. Trong tù mê sảng chưa đủ, ngoài tù cũng mê sảng. Mê sảng cả ở hải-ngoại. Rốt cuộc, con người tù-nhân cộng-sản ngoài nỗi khổ, nỗi hèn vì roi gạo quất vào bao-tử, còn thêm nỗi khổ, nỗi hèn vì roi phê-bình, tự phê-bình và tin đồn phun ra thì lưỡi rắn quất vào đầu óc, vào trái tim, vào thân-phận. Đau-đớn cả thể-xác lẫn linh-hồn mà, ngay cả tù-nhân, đa-số vẫn chẳng khôn lớn tí nào.
Roi gạo và roi phê-bình cộng với lao-động quần-quật, với vô-vọng ngày tha của án phạt đê-tiện Tập-Trung Cải-Tạo, tù-nhân tê-liệt tư-tưởng, rã-rượi thể-xác. Cộng-sản chỉ muốn giáo-dục con người trở thành con người khiếp-nhược, cam đành và gian-dối. Bởi thế,tù-nhân lao-cải khi được thả ra thì sợ-hãi tất cả. Trại lao-cải là cơn ác-mộng ám-ảnh thường xuyên. Có người đã trốn thoát ra ngoại-quốc vẫn ngẩn-ngơ như bị hớp hồn. Có người hấp-thụ nền giáo-dục gian-dối, mở miệng là phì nọc điêu-ngoa. Nhiều người học tập thụ-hưởng vật-chất đề quên học tập cải-tạo. Cộng-sản đã thành-công rực-rỡ với chính-sách học tập cải-tạo của họ. Hình như, chúng ta và tế-giới còn rất mù-mờ về sự thành-công chó đẻ này.
Tháng 6, trời nắng bạo, rau xanh cần tưới nước. Tôi phải gánh nước oằn vai. Đức-méo kéo xe cải-tiến lấy cát ở đoạn sông khu vườn rau của tôi, thấy tôi cởi trần gánh nước, đã chớp mắt thương-hại. Tôi đã cười nhìn Đức-méo, ông Phó-quận hành-chính Xuyên Mộc cũ. Tôi rất tự-hào tôi gánh nước giỏi, gánh đủ 100 đôi một ngày mà mỗi đôi, quản-giáo Vinh đều gạch dấu trong cuốn sổ kiểm-soát của hắn. Tôi tự-hào vì cáì gì cộng-sản làm được, tôi làm được; cái gì tôi làm được, Cộng-sản không làrn được. Và bất cứ cái gì đã gọi là công việc, tôi đều làm đến nơi đến chốn, làm hay và làm giỏi hơn người khác. Tôi sẽ hãnh-diện nếu ai bảo tôi gánh nước biểu-diễn ở Paris hay ở California.

Gánh nước được hơn một tháng, tôi bị chuyển sang Tổ phân tiểu như một Tổ trừng-giới và có biệt-danh Long-ếch-mù. Quản-giáo Vinh yêu cầu tôi “ủng hộ” cái gà-mèn Mỹ đã bị tịch-thu quai đề hắn sai anh Nại làm plaque gửi về Bắc tặng đào, tôi từ chối. Ông thầy ghét tôi sẵn càng ghét thêm. Anh Mẫm ở đội tôi là người vừa ngọng vừa khù-khờ. Buổi chiều gánh nước ở cái vũng chứa nước nhà bếp cán-bộ chảy ra, Mẫm vồ được con ếch. Mẫm khoe ầm-ỹ. Tôi cao hứng hỏi:
– Con ếch có mù không?
– Không.
– Tưởng nó mù chú mày mới vồ được chứ.
Quản-giáo Vinh gọi tôi tới “làm việc”:
– Anh Nong, anh vi phạm kỷ nuật.
Tôi cãi:
– Tôi làm gì đâu?
– Anh ám chỉ ai mù, cách-mạng mù à?
– Cán-bộ đừng nâng cao quan-điểm.
– Cách-mạng không mù, cán-bộ mù à?
– Tôi chỉ hỏi xem con ếch có mù.
– Con ếch không mù. Anh mù. Anh nà hình-nhân được gắn hai con mắt giả.
– Vâng, con ếch không mù.
– Anh phải nhận anh mù.
– Tôi mù, cũng được. Tôi mù, tôi không nhìn thấy gì cả.
– Náo. Anh nhìn thấy một thứ.
– Cán-bộ muốn tôi nhìn thấy cái gì?
– Anh nói đi, tự-giác nói đi!
– Tôi nhìn thấy sự sáng-suốt của cách-mạng.
– Nại xỏ-xiên. Anh phải nhìn rõ bản-chất phản-động cộng nưu- manh của anh và đồng bọn. Mai anh phục-vụ Tổ phân tiểu. Rõ chưa?
– Rõ.
Đội gọi tôi tên mới: Long-ếch-mù. Vui thật. Tổ phân tiểu của tôi gồm 6 người. Đặng Hoàng Hà (không vồ đủ chỉ-tiêu cào-cào nuôi chích-chòe), Phạm Kim Sơn (dám nói không trốn trại mà ra về đường-đường chính-chính), Nguyễn Sắc (dám nói ông thầy không có kinh-nghiệm trồng mướp), Nguyễn văn Lợi (dám từ-chối leo cây cao bắt tổ chim cho ông thầy), Trần văn Tư (dám hát “đi trồng rau nhớ thăm nuôi xà bông”) và tôi (dám bảo con ếch mù). Tổ phân tiểu của tôi có nhiệm-vụ cung-cấp phân và nước tiểu cho hai Tổ bón rau và Tưới rau. Cầu-tiêu cơ-quan, nơi dành riêng cho Ban giám-thị và cán-bộ đi cầu, nằm trong khu-vực vườn rau của tôi. Thầy quản-giáo Vinh giáo-dục tù-nhân rằng: “Hễ Ban giám-thị ngang qua. Đội trưởng phải hô nghiêm, báo-cáo quân-số. Mọi người đang và nàm gì thì vất bỏ, đứng nghiêm”. Đội trưởng cứ nhìn anh Việt cộng nào già là. . . cho làm Ban giám-thị. Xẩy ra một hôm, có anh Việt cộng già ngoài khu A vô chơi. Anh này Ban giám-thị thật. Anh đi ngang qua vườn rau. Đội trưởng Trạng hét bự:
– Nghiêm!
Ban giám-thị giật mình.
– Báo-cáo Ban giám-thị. Đội 17 rau xanh…
Ban giám-thị vẫy tay:
– Thôi, đi ỉa miễn báo-cáo!
Lại một hôm, có anh Việt cộng trung niên qua vườn rau, Đội trưởng không hô nghiêm và báo-cáo. Không sao cả. Hôm khác, tưởng bở, Đội trưởng lờ tít một anh Ban giám-thị. Bị dũa. Từ đó, Việt cộng cỡ 30 tuổi đi ỉa, Đội trưởng Trạng đều phong chức Ban giám-thị, hô nghiêm và báo cáo. Như vậy chắc ăn, phản-ánh đúng tinh-thần “giết oan hơn tha lầm” của Đảng. Chuyện này gợi nhớ anh hề Văn Chung. Trong các hề Việt Nam, tôi khoái nhất hề Văn Chung. Anh ta đóng vai hàn-sĩ nhà quê lên kinh-đô chờ lọt mắt xanh của vương-tôn công-tử. Bạn anh ta dặn cứ ngồi góc phố, gặp ai đi qua có quân lính hộ-vệ thì “vạn-tuế thiên-tử”. Có vị nguyên-soái ngang qua, anh hàn-sĩ tung hô:
– Vạn-tuế thiên-tử!

Bị đá đít và nhắc nhở:
– Tao là nguyên-soái, mày muốn tao đảo-chính vua à?
Vị thái-tử đi qua, anh hàn-sĩ tung hô:
– Vạn-tuế nguyên-soái.!
Bị bợp tai và nhắc nhở:
– Tao là vua con, sắp là vua cha, mày muốn cách chức tao à?
Từ đó, bất cứ anh nào ngang qua, hàn-sĩ đều nhẩy lòng-vòng, miệng tung hô…trung-lập:
– Vạn-tuế anh nào đi qua đếch biết! Vạn-tuế anh nào đi qua đếch biết!
Ngày mới vào Sa Ác A, Đằng Giao đã vẽ một giấc mơ đổ thùng. Bây giờ, hơn cả đổ thùng mỗi hôm một tiếng nhàn-hạ, thảnh-thơi, tôi phải xuống hầm phân múc phân đầy xô xách lên. Tôi không được hân-hạnh đổ thùng quét rửa cầu-tiêu. Công việc “cao quý” này của Tổ vệ-sinh trại. Sa Ác B không tin tù chính-trị. Trật-tự là tù hình-sự; Thông-tin văn-hóa là tù hình-sự. Thăm gặp là tù hình-sự. Vệ-sinh, cấp-dưỡng là tù hình-sự. Lâm-sản là tù hình-sự. . .
Cảm giác đầu tiên của tôi khi xuống hầm phân nhung-nhúc hàng tỉ con ròi, tôi đã ghi lại trong tiểu thuyết Đồi Fanta, nhân-vật chính là thằng nhãi bị đầy-đọa như tôi.
“Tôi đang xuống hầm phân thối um và hàng tỉ con ròi bò lúc-nhúc ghê gớm. Tôi muốn ói. Nhưng cố nín. Rồi cũng phải ói. Tôi không kịp bước lên, ói tại chỗ, ói trên những con ròi, ói trên lớp phân có mùi thối không tên gọi, không so-sánh. Tôi ói hết phần sắn điểm-tâm, ói đền phần sắn chiều qua chưa kịp tiêu hóa, ói ra mật xanh, ói ra mật vàng, ói toàn nước bọt, ói khan quặn bụng. Thằng nhãi khiêng chung xô phân với tôi dục nhắng. Nó sợ chậm-chạp cán-bộ đinh nó. Nó vục xô thứ nhất, tôi và nó khiêng. Nó cho tôi đi trước cầm đầu khúc cây dài. Chuyến thứ hai, thấy tôi vẫn ói khan, nó bảo để nó vục. Tôi cám ơn nó, tự tay cầm xô vục. Bắt chước nó, tôi đưa hai tay xuống phân dưới hầm lùa vào cho đầy xô. Những con ròi bò bên cánh tay tôi . Tôi ngẩng mặt nhìn lên. Mặt trời nhìn tôi … Thằng Tổ trưởng nói đúng. “Xuống hầm vài lần là quen, hết sợ hãi”. Tôi muốn nói: Đã đến cái nước xuống hầm phân nhung nhúc ròi vục cả phân lẫn ròi bằng tay thì trên đời không có gì đáng sợ nữa, thì sẽ dám làm bất cứ việc gì. Tổ phân khen tôi xứng đáng dân xiện. Chúng nó bầy tôi rửa tay sạch rồi lấy lá cải chà nát thay xà-phòng. Quả nhiên mùi hôi bay biến. Tuy thế, buổi trưa tôi không ăn nổi, nghĩ tới hầm phân.
Tôi nổi da gà”…
Có lẽ, tôi hạnh phúc hơn thẳng nhãi nhân-vật Đồi Fanta. Là, tôi có xà-phòng rửa sạch tay trước khi chà lá cải, lá húng chó.
Sự chấp nhận xuống hầm phân của tôi được giải-thích trong Sỏi đá ngậm ngùi.
“Bây giờ, hầm đã cạn, không thể đứng trên bờ ròng cái xô xuống múc mà kéo lên. Do đó, đội trưởng Jacqueline đã cho làm cái đường thang thoai-thoải xuống hầm. Nhưng lom-khom trên bực thang đất dễ té nhào nên tù-nhân đành phải lội hẳn xuống phân bầy-nhầy, hôi thối, hàng tỉ con ròi, vục xô múc đầy để bên trên kéo lên. Tôi đứng sát miệng hầm, nhìn xuống. Sự ưu-việt của chủ-nghĩa cộng-sản ở dưới ấy. Đầy-đọa con người tới mức đó là hết. Chị Jacqueline hỏi tôi:
– Liệu chị kham nổi không?
– Tôi cố gắng. Tôi đáp.
– Nếu không kham nổi, cứ ỳ ra. Nó kỷ-luật mình tống vô cachot còn sướng, khỏi lao-động.
– Tôi kham nổi.
Chị Thanh cũng chạy lại, khuyên tôi:
– Chị không xuống hầm phân nó cũng không dám giết chị đâu. Chúng tôi đều chê hầm phân. Để bọn ngu sợ-hãi. Chúng tưởng lao-động tích-cực thì sớm được tha. Còn lâu.
Tôi nói:
– Nó hỏi tôi trí-thức làm được những việc gì. Tôi trả lời trí-thức làm được tất cả. Tôi cần chứng-tỏ với chúng nó rằng, việc của chúng nó, người trí-thức làm được còn việc của trí-thức, chúng nó không làm được. Tôi còn muốn chứng-tỏ với chị và với chính bản thân tôi.
Chị Thanh lắc đầu:
– Chị khó hiểu nhưng tôi yêu chị.
Tôi cầm tay chị Thanh:
– Đừng ví tôi với bọn ngu chỉ biết sợ hãi và ham được tha, chị nhé! Tôi tích-cực làm việc vì đó là công việc. Công việc đó đem lại kết quả gì, không cần đếm xỉa. Tôi tập làm việc nào đến nơi đến chốn việc đó…”
Công việc xuống hầm vục phân đem lên ngào chung với tro và mạt cưa bón rau như vậy. Còn vào các cầu-tiêu của trại gánh nước tiểu thì nhẹ-nhàng, tuy mùi khai xông lên làm cay xè mắt. Tôi đã xuống hầm phân, gánh nước tiểu “nguyên chất” liên tiếp hai tháng.

——————————–

1Căn nhà tù dựng ở bãi lao-động của Đội để nấu nước, chứa dụng-cụ lao-động, trú mưa và họp đội đột-xuất.