vietmessenger.com
A20 Vũ Ánh
Post by Sơn râu 30 Jun 2024


Phần 25
Nếu Nhân Quyền Quốc Tế Can Thiệp
“Đánh Trống Bỏ Dùi”
Trung tuần tháng Tư 1982, tôi bị gọi ra thẩm cung. Trực trại Luật cho biết trước lần thẩm cung này do trung ương từ Hà Nội vào nên tôi “phải thành thật khai báo để được tha cùm sớm hơn, được trở về đội tiếp tục lao động và được nhà nước xét tha cho trở về với gia đình”. Luật nói: “Gia đình anh trông mong anh về để giúp họ vì tình hình kinh tế bên ngoài khó khăn lắm đấy. Trại vừa mới được thả một đợt. Tôi khuyên anh là không nên bướng nửa, các anh không làm gì được chúng tôi đâu.” Tôi không buồn trả lời trả vốn gì với những tin tức của Luật vì một em ở đội hình sự bị kỷ luật mới bị nhốt vào biệt giam đã cho biết tyin này. Tôi nói với Sơn Tây-Anh Dũng-Non Nước (T.D.S.) khi người bạn tù ở đội hình sự cho biết tin đợt thả tù gây nhiều ngạc nhiên: “Như thế là bên ngoài phải có biến chuyển gì quan trọng, chứ tới A-20 bọn mình trở thành hồ sơ chết rồi”.
(Ghi chú: Khi được thả ra khỏi nhà tù cuối 1988, người anh cả của tôi đối chiếu và cho biết: “Chúng nó chuẩn bị để đánh đổi bọn mày với việc tìm kiếm người Mỹ mất tích. Thời gian đó trùng với việc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là ông Funseth khởi sự các cuộc thương lượng với Hà Nội về số phận của những tù cải tạo”.Ông anh cả tôi đang dạy học ở trường trung học Trưng Vương thì bị gọi động viên vào học khóa 16 trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường, phục vụ ở Tiểu khu Long Khánh rồi bị thương phải giải ngũ. Sau Tết Mậu Thân bị tái ngũ do lệnh tổng động viên và đến phục vụ ở tiểu khu Phước Long đến năm 1971 mới được giải ngũ trở về dạy học lại. Sau 30 tháng 4, 1975 do yêu cầu của ban giám hiệu của chế độ mới anh tiếp tục dạy vài năm rồi xin nghỉ về nhà sinh sống bằng cách dạy kèm Toán-Lý-Hóa cho con em của những gia đình nào vẫn còn quan tâm đến giáo dục của con cái. Kể từ năm 1984 anh là người mạo hiểm và bí mật liên lạc thư từ với Sứ quán Hoa Kỳ ở Thái Lan để xin một loại thư giới thiệu rất quan trọng mà anh em H.O. gọi là L.O.I.(Letter Of Introduction). Anh đã làm thiện nguyện cho hằng trăm người gồm bằng hữu của anh và những người cần sự thông thạo Anh ngữ của anh cả tôi)
Tôi mới được thả một chân cùm cách đó vài ngày nên hai chân vẫn còn “sượng” mỗi lần bước đi hai đầu gối chân như muốn cứng lại và đau đớn. Lần này thì không cần phải xin nước, tôi được trật tự Của lấy cho một ca nước nóng từ nhà bếp. Một bạn tù làm đội nhà bếp tốt bụng với anh em đã lén bỏ vào ca nước một chút đường. Cho đến nay tôi vẫn nhớ đến cái vị ngọt của ca nước nóng có pha đường buổi chuẩn bị “làm việc” cách đây 32 năm. Chất ngọt của đường như đánh thức tất cả những sợi gân và những mạch máu trong cơ thể tôi và đầu óc tôi trở nên sáng suốt hơn. Trực trại ra lệnh cho Của gọi một tù nhân phụ trách hớt tóc. Anh “thợ” hớt tóc này chỉ có một chiếc tông đơ đã lụt nên nghiến vào tóc khá đau và vài miếng miểng chai để cạo râu. Tuy vậy, tôi cũng vẫn phải chịu trận vì không phải lúc nào một tù nhân cải tạo muốn hớt tóc cạo râu cũng được.
Tôi không hiểu những vị trong số những quí vị vốn gốc H.O. ở đây có ông nào đã được thưởng thức lối hớt tóc lối hớt tóc bằng tông đơ đã lụt không, chứ tôi thì đã bị mấy lần rồi. Nhưng lần này vì đã hơn một năm chưa được tắm nên râu tóc mọc ra dài như người rừng, lại bám đất bết vào nhau khiến cho mỗi lần anh thợ đẩy chiếc tông đơ đi từ đường mang tai lên tới đỉnh đầu, tôi có cảm tưởng như lớp da đầu bị tuột ra từng miếng. Tội nghiệp người bạn tù phụ trách hớt tóc thấy tôi đau nên miệng cứ phân bua: “Anh đừng giận em, thật tình em đã xin đổi chiếc tông đơ này lấy cái mới, nhưng trại chưa cho, thôi anh chịu khó vậy, lần sau em hy vọng có được cái tông đơ mới”. Hớt tóc (thường là hớt trọc) xong, đến màn cạo râu. Hồi còn ở trại B-5 hay Hàm Tân chúng tôi thường cạo râu cho nhau bằng miểng chai, nhưng phải cạo thật chậm như thể cắt từng sợi râu. Nhưng a nh bạn tù này cạo râu bằng miểng chai khá nhanh], nhờ vào chổ trước khi cạo anh ta lấy ra miếng xà bông nhỏ, xịt vào đó chút nước cho nổi bọt rồi thoa vào hai mép tôi. Việc cạo râu diễn ra trơn tru, không một miếng da nào bị “ăn”. Người “thợ” giải thích: Phải đập cả chục vỏ chai không, em mới kiếm được mấy miếng miểng chai tốt này”. Sau đó anh giải thích một thôi một hồi về kỹ thuật đập chai sao cho miểng chai bén như dao cạo. Tôi hỏi: “Thế cậu cạo cho cán bộ bằng miểng chai không?” Anh trả lời giọng cải lương: “Họ là quan, mình là tù mà đâu có dám đèo bồng. Em có con dao cạo nhưng họ bảo giữ chỉ để cạo cho họ thôi, mỗi lần cạo em phải hơ vào cồn để diệt trùng. Đ.M. phú quý sinh nghĩa lễ (lẽ ra là lễ nghĩa) có khác”. Xong câu này anh xuống giọng “xề” nói thật nhỏ: “Đ.M. bọn nó ác lắm, ông thầy. Nói thật với ông thầy, tù ra em mua súng. Tụi nó mà lạng quạng mò về thành phố, em bắt gặp là cho ăn kẹo đồng hết cả đám Đ.M. …”
Bất cứ một ông thợ hớt tóc nào dù là hớt tóc dạo cũng đều có cả một kho những câu chuyện khác nhau để nói với khách hàng. Trong tù cũng vậy những anh chàng được cử nhiệm vào đội lao động tự giác với nhiệm vụ hớt tóc cho tù nhân cải tạo lẫn cán bộ trại giam đều phải là người được tin tưởng là “an tâm cải tạo, không có âm mưu trốn trại” và họ đều phải có những bài bản được soạn sẳn để nói chuyện nếu phải hớt tóc cho những bạn đồng tù với mình và một câu chuyện làm quà khác để nói với bọn cán bộ, phần lớn là những câu chuyện trai gái đĩ điếm ở xã hội bên ngoài. Dĩ nhiên những mong ước của người tù hình sự này chỉ là những mong ước tưởng tượng cho đỡ buồn vì cái án chung thân do cướp có súng của anh biết ngày nào ra. Nhưng tôi vẫn an ủi người bạn tù tội nghiệp: “Rồi sẽ có ngày thôi, nhưng em cẩn thận khi nói chuyện. Vói anh thì không sao, nhưng với người khác sẵn sàng tâu lên bọn an ninh để lấy điểm chắc chắn chúng sẽ đánh chết em đấy”.
Tôi ngồi chờ ở cổng trại cho tới trước giờ các anh em tù cải tạo lao động từ hiện trường lao động trở về. Cán bộ an ninh kiêm chính ủy trại Lý “lé” đến nhận tôi từ trực trại Luật. Lại một màn gây cấn giữa hai người công an này khi Lý thiếu một chữ ký của một người nào đó có trách nhiệm cao hơn. Tôi chỉ nghe được những trao đổi “mày tao chi tớ” và một câu đe dọa của trực trại: “Lãnh rồi thì lo mà giữ, đừng có kiểu không lo được lại cho gọi tao. Mày làm việc đi, ông đi chơi đây”. Nơi tôi bị thẩm cung không phải là cái văn phòng thường lệ cách cổng trại không xa lắm mà một căn phòng bên cạnh phòng làm việc của trại trưởng Vũ. Có lẽ đây là một phòng họp của ban quản trại. Ở chính giữa phòng có kê một cái bàn bằng gỗ mộc. Tôi thấy có 3 người ngồi sau chiếc bàn, hai nam một nữ đều trang phục cán bộ sơ mi trắng cụt tay bỏ ngoài nhuj74ng chiếc quần màu ô liu, chân dép râu. Người ngồi giữa là một thanh niên chừng khoảng 30 tuổi, tóc hớt ngắn đeo kiếng cận thị tự giới thiệu là cán bộ từ Hà Nội ra, hai người kia là phụ tá của anh ta. Tôi ngồi cách bàn làm việc của anh ta khoảng 3 thước nên anh yêu cầu tôi nói lớn hơn. Thẩm vấn viên chính hỏi tôi lý lịch và lý do tôi bị đưa vào xà lim cá nhân.
Không bỏ lỡ cơ hội tôi giở “bựa” ngay:
_Cán bộ trại trưởng chắc phải cho cán bộ biết lý do, còn tôi tôi chẳng hiểu tại sao tôi lại bị cùm trong xà lim cá nhân đã hai năm rồi.
Người công an trẻ tuổi nhỏ nhẹ:
_Không, ông ấy (Vũ) chỉ cho biết anh bị phạt vì vi phạm kỷ luật trại giam.
Ngay lúc đó tôi đã nghĩ thầm trong bụng: “Me kiếp…bọn bây cứ đứa nọ đổ cho đứa kia. Như thế thì nói hay không cũng vẫn bị cùm như thường, đã thế ông nói cho hả dạ. Và tôi đặt câu hỏi thay vì để cho hắn ta hỏi:
_Cán bộ xác nhận xem có phải chiến tranh đã chấm dứt cách đây 7 năm rồi phải không . Nếu như vậy hóa ra phía chiến thắng thù dai đến như thế sao, mà cần gì phải thù dai như vậy? Những người tù cải tạo như chúng tôi bây giờ như có được thả ra xã hội bên ngoài thì bất quá chỉ tìm cách vượt biển hay đầu hàng hoàn cảnh thôi, ai mà dám chống và nếu có chống thì có bao nhiêu người? Cán bộ cho tôi biết có trường hợp nào mà các cựu sĩ quan đã từng đi tù cải tạo được thả về đã tham gia vào một mặt trận chống chế độ bị bắt lại không…?
Nghe tôi hỏi như vậy nàng cán bộ nữ yêu cầu tôi không được hỏi nữa mà phải trả lời có hay không thì bị anh chàng trẻ tuổi có thể là trưởng toán chặn lại:
_Cứ để cho anh ấy hỏi. Anh hỏi thì tôi trả lời. Nhà nước chưa thể thả anh ra ngoài xã hội bây giờ được. Dân chúng ở ngoài còn thù các anh. Họ sẽ không để các anh yên nếu đưa các anh ra sống xã hội bên ngoài chứ không p;hải nhà nước thù hận gì các anh đâu. Bây giờ tôi hỏi anh. Anh cho tôi biết Frederil Feuchs là ai? Anh vẫn thường xuyên liên lạc với bà ta và một cựu chiến binh người Pháp tên là Careaus chứ gì?
Từ lâu, tôi đã trãi qua quá nhiều cuộc thẩm vấn mà thẩm vấn viên chỉ là những người biết tra vấn, đe dọa và thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Tôi nói thật là tôi coi thường những thành phần này. Nhưng phải nói rằng trước một thẩm vấn viên trẻ tuổi, ăn nói nhỏ nhẹ và kiểu hỏi bài bản, rõ ràng có được huấn luyện khiến tôi hơi ngại và tự nhủ phải cẩn thận. Cuối cùng tôi quyết định xin cho tôi uống nước vì tôi đang khát không nói lớn được. Họ thỏa thuận cho tôi uống một ca nước vối rót từ cái ấm đất nung lớn để trên bàn. Xong tôi nói chậm nhưng rõ ràng không cần phải chuẩn bị:
_Ở trại A-20 một con kiến cũng không lọt ra ngoài được và ngược lại. Bảy sĩ quan cướp súng cán bộ trốn trại bị bắn chết 6 người, một người bị bắt lại. Thơ chui, thơ lòn gì gì đi nữa cũng đều bị khám phá và người gởi bị cùm trong khu biệt giam cả đống. Bảy năm nay tôi không liên lạc với gia đình, gia đình tôi cũng cũng hề biết tôi ở trại nào. Bộ tôi có phép thần thông hay sao mà từ cái xó rừng này tôi lại có thể liên lạc với những người ngoại quốc như thế. Liệu cán bộ có thể cho tôi xem bằng chứng là tôi biết họ và liên lạc với họ không? Liên lạc vào ngày nào bằng phương tiện gì? Nếu cán bộ trưng ra đủ bằng chứng tôi cam đoan sẽ ký giấy nhận tội và xin đem ra bắn bỏ ngay.
Người thẩm vấn trẻ tuổi này mà mãi sau tôi mới được biết tên là Thận, rút trong sắc-cốt ra một tập hồ sơ để ra trước mặt anh ta nhưng không cho tôi xem. Hắn nói, vẫn giọng nhỏ nhẹ, nhưng lạnh hơn:
_Tôi nói thẳng ra cho anh biết là gia đình anh đã liên hệ với những người ngoại quốc này tại Saigon. Họ làm việc cho tổ chức Ân Xá Quốc Tế, một tổ chức cực kỳ phản động!
_Nếu đây là sự thật thì gia đình tôi chứ không phải tôi. Chính cán bộ đã nói ra điều này đấy nhé. Như vậy tại sao cán bộ không vào thẳng Saigon để hỏi mẹ hay anh tôi mà lại hỏi tôi?
Thận, tên viên trưởng toán thẩm cung im lặng không nói gì. Anh ta mở bao thuốc lá thơm Saigon Giải Phóng rút ra một điếu đưa cho tôi và dồng thời anh ta cũ ng châm một điếu phà khói rồi cầm ấm nước trà rót vào bốn cái tách rồi đẩy đến trước mặt mỗi người trong phòng rồi nói:
_Anh uống nước đi, anh phải suy nghĩ xem anh đang ở vị trí nào. Tôi được lệnh vào đây để tìm hiểu chứ không phải vào đây để nghe anh cải vã với tôi. Tôi hỏi tới đâu anh trả lời tới đó để cho buổi làm việc sớm kết thúc thành công!
Vào thời điểm của thập niên 80, việc chiếm được miền Nam Việt Nam dường như vẫn còn là một thành công chói lòa đối với người cộng sản, dù ở ngoài đời dân chúng vẫn khoai sắn và rau cháo cho qua ngày. Chế độ khẩu phần suốt sáu bảy năm qua chỉ khuyến khích thêm nạn buôn lậu trên cả nước. Ngay ở trước sân của ban quản trại là một tấm bảng lớn chạy suốt chiều ngang có viết chữ đỏ trên nền vàng: “Thành công, thành công, đại thành công”. Cho nên ngay khi nghe Thận nói “để cho buổi làm việc sớm kết thúc thành công” tôi đã phải cố gắng kềm chế để không phải cười hộc lên, nhưng vẫn thầm nghĩ: “Mẹ kiếp, có đếch gì mà kết thúc thành công hay thất bại trong một buổi thẩm cung. Chỉ khi chúng mày có gan đem bắn hết bọn tao thì mới là kết thúc thành công được mà thôi”. Thận giở lại tập hồ sơ xem lại một hồi rồi hỏi tiếp:
_Mẹ anh có gặp một người Bỉ tên là Fuchs, anh nghĩ thế nào về chuyện này?
Tôi đáp lại ngay không cần đắn đo:
_Tôi không biết nên không suy nghĩ gì cả!
_Nhưng nay tôi đã cho anh biết như thế thì anh phải có một vài suy nghĩ nào đó chứ. Thận vặn lại.
Tôi cảm thấy nếu cứ ngồi mà trả lời những câu hỏi của toán thẩm vấn này thì không có lợi cho chính tôi, bởi chiến thuật của họ là cứ hỏi và hỏi thật nhiều câu vớ vẫn, không đâu vào đâu cả rồi chờ tới lúc đối tượng thẩm cung bắt đầu mệt và căng thẳng liền gài vào đó những câu “chết người” thì có thể tôi sẽ lọt ổ “phục kích”. Do đó tôi đánh bài tố:
_Tôi không hề biết và cán bộ cũng chẳng đưa ra một chứng cớ nào cho thấy mẹ tôi gặp cái bà người Bỉ nào đó cho nên suy nghĩ làm gì cho mất công. Tôi nói thẳng với cán bộ điều này: cán bộ muốn cáo buộc hay nâng quan điểm về tôi và gia đình tôi thì cứ việc làm, tôi không có một khiếu nại nào cả. Cho nên, nếu nhân đạo, cán bộ đưa tôi trở lại xà lim. Còn nếu cán bộ cứ muốn tiếp tục hỏi tôi về những chuyện ở ngoài xã hội mà tôi không biết hay không có liên quan gì tới tôi cả thì buổi làm việc hôm nay không thể kết thúc thành công như cán bộ muốn đâu. Do ỏ trong nghành truyền thông của chính phủ VNCH khá lâu, tôi không xa lạ gì với tổ chức Ân Xá Quốc Tế. Thời VNCH họ cũng đã hoạt động ở miền Nam Việt Nam và họ được tự do đến gặp những người cộng sản như cán bộ lúc đó nằm trong những trại tù binh phiến cộng ở Phú Quốc và Côn Sơn chứ có gì lạ đâu.
Có lẽ đây là lần đầu tiên những tay thẩm vấn này phải đối phó với những tù nhân cải tạo chấp nhận phần rủi ro nhất cho mình để đổi lấy sự tự do tranh luận, nên hai người phụ tá của Thận có vẽ “nóng ruột”. Anh chàng phụ tá có khuôn mặt lưỡi cày đấm xuống bàn, mặt đỏ gay:
_Đừng có bố láo, anh gọi chúng tôi là phiến cộng hả, như thế mà gọi là an tâm cải tạo.
_Tôi an tâm cải tạo chứ, nhưng sự an tâm của tôi có nghĩa là nhà nước muốn nhốt tôi bao lâu thì nhốt, nhốt chán không muốn nhốt nửa thì thả, tôi có khiếu nại đâu. Tôi cũng không mong một ngày về và nếu phải nằm ở nghĩa trang tù nhân cải tạo thì cũng là bình thường thôi!
Có lẽ thấy không thể tiếp tục cuộc tra vấn nữa, viên trưởng toán thẩm vấn bước ra cửa gọi Lý “lé” đưa tôi trở lại xà lim. Dĩ nhiên tôi không được trởi lại xà lim 5 với T.D.S. nữa mà sang nằm một mình ở số 6 với mức cùm hai chân trở lại và “hưởng” chế độ 2 muỗng cơm, hai muỗng nuốc và hai muỗng nước muối mặn chát. Lý “lé” không nói gì cả. Anh ta lặng lẽ khóa cửa phòng biệt giam và ra khỏi khu biệt giam ngay sau đó. Nhưng đến giờ phát cơm chiều và điểm số cho khu biệt giam, trại trưởng Lê Đồng Vũ xuất hiện. Đứng trước cửa xà lim, ông ta nhìn tôi với vẽ mặt lạnh tanh và giọng lè nhè thâm hiểm:
_Anh còn khỏe lắm và gan còn to nên cứ nằm nghỉ ở đây cho đến khi nài hai cái vòng cùm ở chân anh mọt ra thì về nhé. Nằm suy nghĩ đi. Đừng có vọng tưởng bẻ gậy chống trời không được đâu!
Không nói ra nhưng ai cũng hiểu rằng cái giá mà tôi phải trả cho buổi thẩm cung hôm đó lớn hơn bao giờ hết. Lần nhục hình này kéo dài đến 8 tuần lễ, có tuần lễ tôi bị lột áo và bị tra thêm một cùm số 8 ở hai cổ tay ngược ra đằng sau, chỉ giờ cơm mới được mở ra khoản 10 phút để tôi ăn uống. Trời nhá nhem tối là đàn muỗi đã ùa vào tấn công trong điều kiện “tối ưu” vì tôi không được mặc áo và hai tay bị còng không có cách nào đuổi chúng được. Đây chính là con dốc cao nhất trong suốt đời tù mà tôi phải leo. Mười phút để ăn và uống phần nước quá ít nên không thể nào uống theo kiểu dùng muỗng đổ vào chân răng từ từ được vì sau 10 phút tay tôi bị còng lại đàng sau không còn nân hay cầm bất cứ vật gì được. Vừa khát, vừa không thể nằm xuống ngủ được, mỗi bữa tôi chỉ dám ăn một lát khoai mặn chát nên sức khỏe sa sút trông thấy. Cứ cách một tuần thì tôi được mở còng tay một tuần. Trong tuần lễ được mở còng tay, phần nước phát cho tôi gia tăng gấp đôi, nước muối chan vào khoai mì lát nhạt hơn. Điều này chứng tỏ rằng bọn an ninh ở trại giam này không thể để tôi quá kiệt sức. Nhưng kiểu cứ tuần “đóng”, tuần lại “mở” như vậy thường tạo cho người tù một tâm lý bất an rất dễ dẫn đến sự buông xuôi. Để đối phó tôi vẫn áp dụng phương pháp ngồi yên, thở sâu và để cho đầu trống rỗng không suy nghĩ gì. Phương phái thư giãn này giúp tôi thanh thản hơn, bớt đói và khát hơn. Niềm vui vì tôi đã có thể làm cho một buổi thẩm cung của những thẩm vấn viên từ trung ương không những không thành công mà còn tạo cho tôi cơ hội “xả xú báp” và sự thanh thản đã giúp tôi củng cố thêm niềm tin để tiếp tục bước qua gian nan những năm sau này.
Khi được thả về năm 1988, biến chuyển đầu tiên mà mẹ tôi thông báo chính là ngày bà Fuchs một thành viên của Amnesty International (theo lời kể của mẹ tôi) đến Việt Nam để gặp bà và khoãng hơn chục bà m5 hay vợ của những nhà báo hay truyền thông đang bị nhà cầm quyền lúc đó ở việt Nam giam giữ. Mẹ tôi đua cho tôi xem một tấm hình chụp phụ nũ tây phương có chữ ký và lời đề tặng bà. Cuộc gặp gỡ diễn ra ở Sở Ngoại Vụ. Nội dung cuộc gặp vẫn chỉ là những lời an ủi của bà Fuchs chứ bà không hứa hẹn gì. Năm 1992 khi tái định cứ tại Mỹ theo diện HO một số bạn bè của tôi ở Pháp và người đàn anh trong nghề là anh T.V.N. một cựu lãnh đạo Việt Tấn Xã định cư ở Paris cho biết Carreaux là một cựu chiến Pháp rất quan tâm đến trường hợp của tôi. Anh tiếp xúc với Carreaux một thời gian để giúp tìm đầy đủ hồ sơ liên quan đến tôi và Carreaux yêu cầu Hà Nội cho tôi gặp ông ta tại trại tù, nhưng bị từ chối. Dường như ông chỉ đến được Bangkok và nhà cầm quyền Việt Nam lúc đó không cấp hộ chiếu nhập cảnh cho ông. Năm 1999, có dịp qua Paris tôi cũng đã nhờ người tìm ra tung tích Carreaux để ngõ lời cám ơn, nhưng những cố gắng này không thành công vì có thể vào năm đó ông đã qua đời không chừng.
Câu chuyện cảm động này dĩ nhiên rồi chẳng đi đến đâu cả, nhưng ít ra hoàn cảnh của chúng tôi cũng bắt đầu được quốc tế để ý đến. Và tôi viết lại chi tiết này không ngoài mục đích để cho những nhà tranh đấu nhân quyền ở trong nước cũng như ở hải ngoại hiện nay đối chiếu và so sánh với chế độ lao tù hiện tại ở Việt Nam. Phải chăng nó đã có nhiều thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử cũng như chính sách đối nội và đối ngoại ở trong nước. Cho đến tập niên 1990 chỉ cần một tổ chức nhân quyền quốc tế nào lên tiếng về một cá nhân đang bị đày ải trong chốn lao tù, lập tức cá nhân ấy bị trừng phạt ngay. Bởi vì vào thập niên đó chuyện có liên hệ đến các tổ chức nhân quyền có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam ghép vào tội danh gián điệp phà hoại đất nước. Như thế so với tình hình của 23 năm trước đây những nhà tranh đấu cho nhân và dân quyền tại Việt Nam hiện nay được hoạt động rộng rãi hơn rất nhiều. Giới thanh niên, sinh viên tranh đấu tại Việt Nam còn có thể gặp đại diện các tổ chức nhân quyền quốc tế, các đại diện ngoại giao, các sứ quán ngoại quốc ở Hà Nội để trao kiến nghị mà không hề bị bắt. Cùng lắm thì bị Công An mời đến hỏi cung rồi cho về. Gần đây thân nhân của những nhà tranh đấu hiện đang ngồi tù tại Việt Nam đã được du lịch tại Mỹ.
Tôi chưa dám có một nhận định nào về chuyện này mà chỉ thầm nghĩ: “Thôi thế cũng xong, ít ra thì các cuộc tranh đấu về nhân quyền cũng có được một kết quả nào đó. Chỉ có điều nếu mà chuyện này diễn ra vào 23 năm trước, thì giá chót dành cho những nhà tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam hiện nay cũng phải là án chung thân.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.