Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Phần 9

Đằng Giao kể:
– Hoàng Anh Tuấn thèm thực hiện một cuốn phim về nhà tù cộng sản. Phần générique Tuấn sẽ quay những khuôn mặt hốc hác dán vào cửa gió cachot. Giới thiệu tên phim, tài tử, đạo diễn, nhà sản xuất xong xuôi, mở đầu, một tù nhân đẩy cửa cachot bước ra, chân xích, tay còng. Cai ngục dẫn tù nhân tới phòng chấp pháp….
Đằng Giao nói tiếp:
– Giá mà Hoàng Anh Tuấn ở Sa Ác. Phần générique sẽ quay cảnh tù nhân trần truồng tắm bến sông Ray…
Bến sông Ray, bến tắm tập thể của cả trại lao cải Sa Ác B, trưa và chiều. Gọi là sông vì nó là sông. Nó là con suối mới đúng. Khúc chảy qua Sa Ác, chiều ngang của nó khoảng 40 thước. Bến tắm được quy định một chiều dài khoảng 100 thước. Tù nhân không được phép lội sang bờ bên kia. Khi kẻng tan lao khuya, vệ binh canh phòng tù tắm giặt đã bố trí trung liên nạp đạn trên bờ. Ít nhất năm ổ trung liên. AK không kể. Vệ binh sẵn sàng khạc đạn nếu tù nhân leo lên bờ bên kia. Mùa nước lũ, có một hàng rào kẽm gai, giăng từ lúc sông cạn, đề phòng tù trốn trại bằng cách theo dòng nước chảy xiết mà ra đi. Ở chỗ hàng rào, cái đăng đón cá tù, vệ binh ngồi gác. Vệ binh được phép bắn chết tù nhân trốn trại. Tôi chưa thấy tù nhân nào trốn trại dưới sông, mùa nước lũ. Người ta sợ chết sặc khi vướng rào kẽm gai. Nước chảy xiết, tù nhân dính rào kẽm gai như cá dính mắt lưới. Bởi thế, mùa nước lũ, tù nhân chỉ tắm sát bờ sông. Nhiều người xách nước lên bờ tắm gội. Mùa nước lũ, tù nhân được uống “cà phê sữa”, tức là nước sông ngầu phù sa không đánh phèn, cứ “nguyên chất” mà đun sôi. Chúng tôi đã uống đất rừng, lá mục, xác thú chết trong những ca “cà phê sữa” suốt mùa mưa lớn. Uống nước phù sa đun sôi không thú vị bằng uống Coca Cola, Sprite, Pepsi, Fanta, sữa tươi nhưng, quả thật, phù sa đã bồi dưỡng cho cảm hứng sáng tác của tôi.
Năm 1979, tôi 44 tuổi. 44 tuổi tôi được soi sáng ý nghĩa của đời sống qua hình ảnh con gọng vó bơi ngược dòng nước lũ. Con gọng vó bé nhỏ, yếu đuối, hèn mọn sống trong dòng mà không chịu xuôi dòng. Luôn luôn nó ngược dòng. Sự phấn đấu chạy ngược dòng của nó thật cô đơn, thật lãng mạn và thật dũng cảm. Chắc chắn, đã không ai theo dõi cuộc chiến đấu với bản thân của con gọng vó. Chắc chắn, đã không ai hiểu nổi tâm sự của con gọng vó. Nó chính là người nghệ sĩ sáng tạo phản kháng, kẻ không chấp nhận theo dòng, xuôi dòng. Nó không thích bị cuốn xoáy xuôi dòng. Giữa con gọng vó và củi mục, thú chết. lục bình, tôm cá là một khác biệt. Tôi phải cám ơn cộng sản đã bắt tôi, đã đầy đoạ tôi. Nhờ thống khổ, tôi được con gọng vó soi sáng niềm bí ẩn của đời sống. Ít ra, nó đã giúp tôi cảm hứng viết bài thơ:

Như con gọng vó
Nỗi thống khổ dạy anh những điều khôn ngoan
Dạy anh giải tỏa niềm ẩn ức
Dạy anh gieo trồng hạnh phúc
Dạy anh nhìn rõ anh hơn
Nỗi thống khổ không dạy anh căm hờn
Không dạy anh phản phúc
Không dạy anh làm điều ô nhục
Không dạy anh tuyệt vọng chán chường
Nỗi thống khổ dạy anh bơi lội ngược dòng
Như con gọng vó


Đừng bao giờ than thở
Vì hệ lụy điếc câm
Nỗi thống khổ soi sáng anh mọi sai lầm
Dẫn anh vào trái tim nhân loại
Hãy là con đại bàng vươn cánh soải
Và thương loài chim sẻ léo nhéo bờ tường
Bởi sức nó chỉ để bay mái nhà này sang mái nhà khác
Nỗi thống khổ không dạy anh những điều gian ác
Chỉ dạy anh chịu đựng nhín nhường
Dạy anh khoan dung và cao thượng luôn luôn
Dạy anh tha thứ kẻ đã đầy anh xuống địa ngục
Nỗi thống khổ dễ gì ai cũng một lần gặp
Nên giữa anh có khoảng cách với cuộc đời
Anh cô đơn
như con gọng vó
ngược dòng bơi

Duyên Anh
(Thơ Tù, Nam Á Paris, 1984)
Tôi trở về cái bến tắm sông Ray. Tù nhân khắp các hiện trường lao động lũ lượt đổ về bến tắm duy nhất của Sa Ác B. Xuất trại, tù nhân phải ăn mặc chỉnh tề. Nhập trại, có thể cởi trần, mặc quần xà lỏn ướt. Từ bãi lao động về bến tắm, tù nhân cởi trần. Đến bến tắm, tù nhân trần truồng nhào xuống sông. Đội nào tới trước tắm trước. Tắm trước, nước còn trong, đến sau, tắm vào lúc cả chục đội chen chúc nhau một vũng nước sâu, bùn bị khuấy đen ngòm, cá cũng ngộp thở! Hình tưởng đám ròi lúc nhúc dưới hầm phân. Tù nhân dưới khúc sông quy định cũng thế. Đội trưởng và Đội phó thay phiên nhau tắm nhanh lên vội. Khi vệ binh ra lệnh bảo đội lên, Đội trưởng hú lớn cho đội lên tập họp, điểm số. Đội 21 nông nghiệp của Đằng Giao có một tù nhân xuân thu nhị kỳ tắm gội. Đó là Hùng nhí, figurant mà Đằng Giao chọn lựa cho đạo diễn Hoàng Anh Tuấn. Hùng nhí, 22 tuổi, lùn tì, nhỏ xíu, thứ gà đẹt. Nó có khuôn mặt hao hao Dracula. Răng rụng gần hết. Hùng nhí can tội…gián điệp ! Theo “truyền ký lao cải”, Hùng nhí được ông tướng Dư Quốc Đống nhận làm con nuôi, cho mặc quân phục nhẩy dù và thường cho nó ngồi cạnh trên xe jeep của ông. Hùng nhí trở thành lính dù danh dự sau khi nó giúp lính nhẩy dù khám phá hầm vũ khí của Việt cộng, hồi Mậu Thân, ở ngã tư Bẩy Hiền. Nó bị bắt ngay đêm 30-4-1975. Hùng nhí lưu lạc các trại Suối Máu, thành ông Năm, Đồng Ban, Trảng Lớn. Rồi về Sa Ác A. Rồi vào Sa Ác B. Người ta thầm thì Hùng nhí là “ăng ten” ở đâu đó. Còn ở Sa Ác B, cả ngày nó nằm võng ni lông ngủ thì co róm. thức thì khóc. Nằm nhà buồn, nó tình nguyện ra bãi chơi cho vui. Không ai bắt nó lao động cả. Nó không có răng nhai bo bo nên nói rất ít. Nó lại nằm lỳ một xó, lười đi lại. Thế mà người ta nỡ chụp mũ “ăng-ten” lên đầu nó, một thằng sinh ra đã hẩm hiu bất hạnh!
Vì Hùng nhí không tắm nên Đẳng Giao giao cho nó trách nhiệm hú đội lên tập họp. Hùng nhí làm tròn trách nhiệm. Nó chụm hai bàn tay vào miệng thay loa, mặt nhăn nhúm, há rộng mồm nghiến răng mà hét “Đội 21 lên!”. Khuôn mặt nó, lúc ấy, vừa bi thảm vừa hãi hùng. Đằng Giao muốn ống kính của đạo diễn Hoàng Anh Tuấn thu riêng khuôn mặt Hùng nhí thật lớn. Tiếng hét của nó vừa dứt thì ống kính quay xuống sông. Tù nhân trần truồng lên bờ. Các đội khác vẫn ngụp lặn dưới nước bùn.
– Được chứ, ông thầy?
– Độc đáo ra phết.
– Khán giả sẽ thấy cả sự gầy ốm lẫn ghẻ lở, hắc lào và những khẩu cà nông nhiều năm không khạc đạn! Tôi chưa nghĩ ra tên cuốn phim.
– Sông Ray phẫn nộ.
– Hay đấy.
– Tôi lại nghĩ cả đến màn tập họp lao động. Màn này làm générique cho phim cũng tuyệt cú mèo.
Đúng thế. Không có cảnh nào bi đát hơn cảnh tù nhân tập họp buổi trưa chờ gọi đi lao động. Trước hết, nói về nón mũ. Nón lá mới, nón mê là thường. Nón cối cộng sản là thường. Nón cao bồi Tểch- xa, nón lính Tân-tây-lan là thường. Nón sắt quân đội Mỹ là thường. Mũ nồi của các binh chủng tầu bò, nhẩy dù, thủy quân lục chiến là thường. Mũ cói là thường. Một thứ mũ cắt bị cói ra khâu thành mũ lao cải mới lạ mắt. Riêng loại mũ này cũng cả vài chục kiểu. Chưa có trại tập trung nào phong phú mũ như trại tập trung khổ sai lao động của cộng sản. Có tù nhân lười, chụp luôn cái bị lên đầu. Rất tiện. Vì buổi chiều về có thề đựng củi hay đựng vài thứ rau rừng… Các ông lái mũ ở xóm lầy Orange County, ở công ty kháng chiến hải ngoại, ở hợp tác xã giải phóng lưu vong, ở liên minh dân chủ cà chớn và, đặc biệt, ở tiệm của ông Trần Tam Tiện quận 7 Paris, ở tiệm của ông Nguyễn Ăn Kaka thành phố Bruxelles, chắc chắn, chưa hề nhìn thấy nón mũ lao cải. Cho nên, quý ông ấy hơi ngu. Là cứ nhè những thằng đã đội mũ lao cải mà chụp mũ cộng sản, mũ “ăng-ten”. Mũ của quý ông ấy ghi rõ made in USA, made in France, made in Belgium nhưng quên không ghi thêm made by Đào Ngũ, made by Đào Nhiệm, made by Đào Tẩu, made by Đánh Mướn, ma e by Lãnh Lương Lạc Quyên. Vân vân… Tôi thấy cần khuyên các ông lái mũ thuộc thành phần đào ngũ và thuộc thành phần nhớp nhúa ở xã hội Việt Nam Cộng Hoà không nên làm nghề chế tạo nón mũ. Cái thứ mũ các ông đang đội lên đầu mình là thứ mũ nặng tội nhất, hèn hạ nhất, không dễ gì lột ra vất đi nổi: Mũ đào ngũ. Mũ này nó hằn sâu vào sự nghiệp bẩn của các ông, dẫu có ông đã là tiến sĩ. Vậy muốn giương danh tiến sĩ lỏi, nên bỏ nghề chụp mũ và tự truy nã bản thân mình mà tu tỉnh cho nên người.
Bây giờ nói về giầy giép lao cải. Giầy bố, giày da quân đội, giầy vải, giép Nhật made in Chợ Lớn, giép râu đã tập họp đầy đủ ở trại lao cải. Tại Sa Ác B, sĩ quan quân đội biên chế riêng thành các đội chỉ có sĩ quan, sĩ quan cảnh sát biên chế riêng, công chức trình diện học tập biên chế riêng và phản động biên chế riêng. Quân đội của ta thà mang giầy mòn vẹt, há mõm chứ nhất định không thèm xỏ chân vào giép râu. Giép râu có nhiều ở các đội công chức, phản động và hình sự. Các đội hình sự đoạt kỷ lục chân đất. Khi các đội đứng hết dậy, ống kính máy quay phim thu từ đầu gối xuống là thấy đủ nghìn vẻ phong sương của nghìn đôi giầy giép. Đảng và nhà nước cộng sản bóc lột tàn bạo. Mỗi năm tù nhân chỉ được phát một bộ quần áo. Mũ nón, giầy giép phải…khắc phục! Do đó, tù nhân đã vá giầy, khâu giép mà vào rừng gai phát quang.
Đến quần áo lao cải thì bất hủ. Vá chằng vá đụp, vá đủ thứ mụn, đủ thứ mầu. Vá đè lên dấu tù. Quần áo lao cải, có khi, chẳng thèm giặt. Cứ nhất bộ nhất bái dầm mưa, giãi nắng. Nếu gia đình không gửi quần áo vào, tù nhân sẽ trần truồng thực hiện khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”. Và, lúc ẩy, tự mỗi tù nhân sẽ tìm ra ý nghĩa tuyệt vời của khẩu hiệu: “Lao động là thước đo giá trị của con người”.
– Lấy đầu tù, lòng tù và chân tù làm générique.
-Hay lắm.
– Vào phim là cảnh tù nhân trốn trại bị trói, mặt mày sưng vù, máu khô dính mép, đứng nghiêm nghe đọc quyết định kỷ luật “Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập, tự do, hạnh phúc”…
-Đểu quá, đểu quá!
– Thoát ra, sang Mỹ, ông thầy nên thực hiện phim Sông Ray phẫn nộ.
– Cứ ước mơ đi.
Tôi đã ước mơ, ước mơ thật nhiều năm tháng cơ cực trong tù. Ước mơ cho tôi hy vọng. Hy vọng cho tôi can đảm sống đời tù. Tôi đã thoát ra, sang Pháp, chưa sang Mỹ. Tôi không có ý định sang Mỹ nữa. Bây giờ, tôi ước mơ chóng chết. Vì ước mơ tôi mang ở 3 nhà tù, 2 trại tập trung khổ sai lao động ra, tôi mang theo nó lênh đênh biền cả, gian khổ chập chùng, tôi đưa nó lên đảo Poulalu Bidong lầm than và nó đã bị cháy đen từ tôi nhìn rõ thế giới tự do và đồng bào tôi và đồng nghiệp tôi và bằng hữu tôi lưu vong. Quả thật, ước mơ hay ước vọng của tôi đã là ảo vọng bùi ngùi. Tôi đành ước mơ chóng chết. Nhưng ước mơ chóng chết cũng khó như ước mơ thực hiện một cuốn phim nói lên trọn vẹn và trung thực nỗi thống khổ của tù nhân Việt Nam ở trại tập trung khổ sai lao động của cộng sản sau cái gọi là hòa bình của chiến tranh ý thức hệ. Những ngày nằm tù, tôi đã ngây thơ nghĩ:
…Cái tiểu ngã nhập vào đại ngã
Nỗi thống khổ chẳng riêng ai chịu nữa
Nó đè lên vai cả dân tộc, cả thế giới chứng minh
Nó trong giọt nước mắt già và trên ngọn tóc xanh
Nó ở cuộc đời thênh thang và ngục tù tăm tối
Nó ở ban mai kinh nguyện cầu, nửa đêm kinh sám hối
Ở hồi chuông cáo phó
ở tiếng khóc chào đời
Nó gầm gừ đe doạ dài dài
Sau mỗi hoà bình của chiến tranh ý thức hệ
Nó là tham lam, ích kỷ
là kiêu căng ngu xuẩn, là độc ác dối gian
Nó xui Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam
Và bắt nhân loại phải rời xa nhân loại

Không, nỗi thống khổ vẫn chỉ riêng tù nhân và thân nhân của họ phải chịu. Cái tiểu ngã không bao giờ nhập vào cái đại ngã. Cái tiểu ngã của đồng bào tôi ngoài nước Việt Nam càng không bao giờ nhập vào cái đại ngã. Nếu tôi đã không ngây thơ câu này đúng nhất “Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam”. Đừng trách cộng sản Việt Nam tàn nhẫn với người Việt Nam. Hãy hỏi xem người Việt Nam tị nạn ở Mỹ có tử tế với người Việt Nam tị nạn? Hỏi đi! Hỏi đi! Người ta mở rộng túi đóng thuế cho thảo khấu kháng chiến 10 triệu đô la. Người ta đã quyên tặng Hội y sĩ thế giới được bao nhiêu đã làm phương tiện cứu vớt đồng bào của người ta đói khát, sợ hãi giữa đại dương mà hải tặc rình chờ hãm hiếp, cướp bóc, chém giết? Không còn gì mỉa mai hơn Hồng Kông thực hiện phim Boat People và sự giúp đỡ của Trung cộng. Hồng Kông trình bầy giùm dân tộc Việt Nam nỗi thống khổ đòi đoạn nhất của thời đại với loài người hôm nay và mai sau.
Người Việt Nam không nói được tâm sự của dân tộc mình? Có đấy chứ, những vidéo cóc nhái bôi nhọ nghệ thuật, những cuộc thi hoa hậu quốc sỉ, những phim ảnh dơ dáy luộc lại… Một phim lớn về Thuyền Nhân dũng cảm Việt Nam? Không có. Không bao giờ có cả. Bởi vì 5 đô la quá nhỏ để 1 triệu người góp thành 5 triệu đô la và quá lớn để uống coca, hút thuốc lá. Tôi lấy làm xấu hổ khi thấy Siêu thị Tang Frères ở quận 13 Paris mở chiến dịch Sampan lấy tiền giúp Hội y sĩ thế giới, trong vòng ba tháng, số tiền cứu vớt thuyền nhân gấp mấy lần người Việt Nam đóng góp trong vòng ba năm. Tôi đâm ra cụt hứng, không dám động chạm tới sự hờ hững của nhân loại đối với dân tộc tôi nữa. Ấy là tôi đã quên cái thân phận tầm thường của tôi, còn nằm trong ngục tù đã bị vài người Việt Nam… nhà văn, nhà báo đánh dập, đánh vùi và vừa đặt chân lên “đất hứa” bị đánh tới tấp, đánh tối tăm mặt mũi. Tôi có ra ngoại quốc để tranh giành quyền bính, quyền lợi gì đâu? Quyền lợi chính đáng của tôi bị xâm phạm, bị tước đoạt, có nhà văn, nhà báo nào bênh vực? Thì thôi. Còn chữ nghĩa, ai có nhiều người ấy viết, bầy đặt vít rào, cản lối nhau làm chi nhỉ? Chỉ riêng nghĩ đồng nghiệp bằng hữu của tôi, tôi đã lợm giọng. Và sự lợm giọng khiến ước mơ trong tù của tôi cháy khét.
Nhưng rồi tôi vẫn viết cho đồng nghiệp cũ và lại bị ăn quỵt nữa. Người ta bêu nhục tôi chán, người ta ăn quỵt công lao và tiền cước phí của tôi. Và đó là Lẽ Phải của nhân sinh quan mới, thứ nhân sinh quan liêu mong triệu năm vẫn khó lòng phục quốc.
Tôi đã tiếc mình không chết mòn trong nhà tù cộng sản. Như thế hạnh phúc bao nhiêu. Ước mơ của tôi không bị thắt cổ. Cho đến lúc nhắm mắt, tôi vẫn nghĩ bằng hữu mình ở Mỹ chung thủy lắm, không có thằng nào phản phúc cả, không có thằng nào bỉ ổi cả.

Còn đồng bào của tôi trưởng thành cả, tốt đẹp cả, không ai thèm vào quốc tịch Mỹ vì sắp về giải phóng quê hương đến nơi rồi. Báo chí Việt Nam hải ngoại rực rỡ. Các nhà văn, nhà thơ lưu vong đều năm bẩy tác phẩm dịch Anh ngữ do các nhà xuất bản lớn ở Nữu Ước ấn hành, Tây, Tầu, Pháp, Nhật, Ý, Đức xin dịch ầm ầm. Có nhà văn chuẩn bị lĩnh giải Nobel văn chương. Nhất định không có thảo khấu kháng chiến. Các tướng lãnh, đại tá quan trọng đều viết tự khai tham nhũng, nhận tội đào ngũ và xin hồi hương để ra hầu tòa án Quân Sự. Các nghị sĩ, dân biểu viết thư về nước xin lỗi cử tri và cam kết không ra ứng cử nữa. Các tổng trưởng, thủ tướng theo chân tổng thống lên chùa quy y, phát nguyện kiếp sau xin làm bọ hung, làm chó. Các linh mục hối hận chuyện bỏ con chiên di tản và vượt biên. Các thượng tọa đại đức không bầy trò thùng sương và rút hết tiền ngân hàng ra phát chẩn. Linh mục và thượng tọa nào lỡ cho vay tiền xanh xít đít đui, gọi hết con nợ tới., thiêu hủy văn tự. Vân vân và vân vân…
Ước mơ của tôi tuyệt vời thế mà bị thắt cổ. Chỉ tại tôi đã không chết rũ trong tù và lò dò sang… thế giới tự do, thế giới “tham lam, ích kỷ, kiêu căng, ngu xuẫn, độc ác, dối gian” từ ở trại tị nạn cộng sản. Nhưng mà…

Ta đến đây đành ở lại đây
Cuối đời thấm thía kiếp lưu đầy
Nghẹn ngào sách vở từng trang mục
Chữ nghĩa vèo bay như lá bay
Những tưởng tài năng vần thế cuộc
Nào ngờ tai họa giáng tê vai
Ðường người chó sói nhe răng nhọn
Nghe buốt đau thương cả đế giày
Vàng thau lẫn lộn phiền than lửa
Ngọc đá ganh đua rộn giũa mài
Bùn khuấy thờn vơn khoe gặp vận
Tép tôm hí hửng nhẩy tranh tài
Cá sấu chưa cười rung tiệc máu
Kên kên vẫn khóc rỉa moi thây
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây


Giả câm giả điếc xem tuồng cũ
Ðào kép hiêu hiêu lũ cáo cầy
Vôi trắng vôi vàng vôi lốm đốm
Mặt mày nham nhở dối lừa ai
Bọ gậy ngo ngoe trò cách mạng
Ruồi xanh bu rối rít khen hay
Học đòi Câu Tiễn nuôi thù hận
Chí lớn xem chừng cái móng tay
Răng rụng trống tung còn hám lợi
Thân lươn lãnh tụ đắm mưa lầy
Hư danh gạt gẫm phường khoa bảng
Nguyệt mộ khơi rồi chửa tỉnh say
Ðeo mo mấy đứa buôn dân tộc
Cứu nước khom lưng truống chủ thầy
Nỗi buồn quốc sỉ Lê Chiêu Thống
Gươm giáo Quang Trung có thở dài


Ðã ngỡ nghìn xưa Trần Ích Tắc
Nghìn sau nhan nhản bọn tay sai
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Thiếu kiếm bạt non Tôn Thất Thuyết
Lấy thơ ta lấp kín sầu mây
Mong gì Giới Tử Thôi dâng thịt
Ai kẻ cầu sương điếm cỏ đây
Ðất khách cùng đồ buông hiện tại
Quê người mạt vận bỏ tương lai
Vo ve nhặng ốm quanh sơ mít
Inh ỏi gà què quẩn cối xay
Ðỉnh chung cõi tạm cao hơn núi
Sĩ khí lưu vong thấp gót giầy
Ôi cái phương danh mà định nghĩa
Cơ hồ giảm giá vị chua cay


Ðầu lưỡi văn nhân phì nọc rắn
Ðáy tim thi sĩ vút dao bay
Thế nên đĩ điếm thầu văn nghệ
Trọc phú đầu tư núp áo dài
Yêu nước ngứa nghề anh bếp Mỹ
Thương nòi đú đởn chú bồi Tây
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Thẹn vì cơm áo mòn khinh bạc
Rượu đốt thời gian lũng dạ dầy
Vó ngựa giao vành đêm mộng hão
Hồn hoang nhức nhối gió heo may
Máu đã úa khô đường phát vãng
Cung tên đố kỵ ngắm nhau hoài
Ngỡ đau giãi mũ Hàn Phi Tử
Ai đưa Lý Tư mảnh đất này


Học đòi lối gã Công Tôn Át
Rồi sẽ mình dao đâm thối thây
Xá chi đỉa đói đeo chân hạc
Mà luận công danh gã rạc rài
Ðâu phải bây giờ sông mới lấp
Ðã từng cát bụi khóc thiên tai
Thì thôi chả trách bìm leo dậu
Cây cỏ luân hồi vẫn cỏ cây
Cố quận cha già căng mắt đợi
Viễn phương hạnh ngộ cứ hao gầy
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Dao cùn múa mãi bài vong quốc
Ngơ ngẩn như chiên bị lạc bầy
Thời đã thu không hồi trống điểm
Giật mình tóc gẫy xuống ngày mai


Khương Tử Nha đâu bờ Vị Thủy
Phong thần bảng ấy có hôm nay
Bồi hồi tiếng thét xô hung Trụ
Lửa thắp chiêm bao một giấc đầy
Mộng ảo chẳng no cơn biệt xứ
Ðìu hiu nghịch cảnh khép vòng vây
Con chim trốn tuyết về chưa nhỉ
Ta mãi cô đơn giữa chốn này
Gươm gỗ làm sao mài dưới nguyệt
Mà đòi sông núi nặng hai vai
Mưu sinh chữ nghĩa gầy tư tưởng
Tỳ vết kiêu sa vẹt tháng ngày
Ngùi trông cố quốc tình hong muối
Héo hắt tài hoa tâm sự phai
Thiếu kiếm bạt non Tôn Thất Thuyết
Lấy thơ ta lấp kín sầu mây


Ai trước Hồ Trường chưa rót cạn
Còn nghiêng bầu hẹn một người say
Hỡi ơi dâu biển và dâu biển
Ta đến đây đành ở lại đây
Duyên Anh

(Bài lưu đầy, 1987 trong tập thơ Em, Tôi, Sàigòn và Paris)

Đành ở lại đây đợi chết mòn chứ biết tính sao bây giờ. Tâm sự buồn bã của hoàng hôn đời tôi được tôi diễn tả:
Ta đến một mình không có Moise
Chân hoang chìm lún giữa truông đời
Ðào sâu đất hứa chôn tâm sự
Rượu cháy phồn hoa yêu nữ ơi


Ta đến một mình không có em
Mùa tàn, đất nẻ, bặt lời tim
Hồn oan sa vũng bùn luân lạc
Thoi thóp hoàng hôn, mỏi cánh chim


Ta đến một mình không có ai
Gập ghềnh địa nạn, dốc thiên tai
Thế gian vùi ngủ quên hồng thủy
Thuyền vắng Noé, nước ngập đầy


Ta đến một mình ta với ta
Bỗng dưng thương ngục đá đêm già
Cuối đường hiu hắt chiều giăng mắc
Thấp thoáng hồ ly đốm lửa xa


Duyên Anh
(Ta và Ta, 20-12-86trong tập thơ Em, Tôi, Sàigòn và Paris)
Và sau hết:

Chẳng hẹn mà thành khách viễn phương
Cũng rằng non nước dục lên đường
Dấu giầy lữ thứ hằn lưng cát
Áo bạc hòa hoa nát gió sương


Chấp kích lang cười khinh Hạng Võ
Ðêm mòn đợi kiếm báu Trương Lương
Ðời không có kẻ nhường xe ngựa
Chậm bước tiên phong muộn chiến trường


Nghĩ giận thế thời con mắt đóm
Ngọc nằm bất động giữa văn chương
Hỡi Cao Bá Quát trùm thiên địa
Một nhát gươm vung rớt mộng cuồng


Vương đạo trái mùa thương Vệ Ưởng
Nghẹn ngào tư tưởng lãnh tai ương
Xác xơ chữ nghĩa gầy nghiên bút
Rượu ngút trời thiêu giấc bá vương


Trả lại phong trần cho bụi đỏ
Lênh đênh sông hẹp bỏ trùng dương
Chiều nay ta thấy ta rời rã
Nhan sắc hồng lâu nguội phấn hương

Duyên Anh
(Bài Ta, 1987trong tập thơ Em, Tôi, Sàigòn và Paris)
Với tâm sự ủ ê như thế, thật sự tôi chẳng thiết gì cuộc sống lưu vong vô vọng. Tôi đã 53 tuổi, chết là vừa. 53 tuổi, tôi đã trải đời tôi theo vận mệnh của đất nước tôi.
10 tuổi tôi đi đếm xác người quê hương tôi chết đói trên vỉa hè, dưới gầm cầu. Tôi đã mở to đôi một nhìn con người chết đói từng giây. Chết thật nhanh. Tôi đã thấy người mẹ chết, đứa con nhay vú mẹ rồi chết theo. 10 tuổi, tôi chứng kiến Nhật đảo chính Tây, chứng kiến kiếm thép to bản của giặc lùn chặt đứt bàn tay của những đứa bé bằng tuổi tôi nghèo đói, ăn cắp thóc nuôi ngựa Nhật; tôi chứng kiến cách mạng 19-8-1945 và tôi chạy theo cách mạng mà hò hét mà sung sướng.
11 tuổi tôi nhìn Tầu phù sang nước tôi tước khí giới Nhật. Tôi đã hình tưởng quân của Mã Viện, của Ô Mã Nhi, của Trương Phụ, của Tôn Sĩ Nghị.
12 tuổi tôi chứng kiến tiêu thổ kháng chiến.
15 tuổi, tôi chứng kiến giặc Pháp đốt nhà, bắn giết, hãm hiếp đồng bào tôi.
19 tuổi, tôi chứng kiến giặc Pháp thua, quân ta chiến thắng. Và cũng 19 tuổi, tôi làm chuyến phiêu lưu quá xa với tuổi tôi và thời của tôi. Tôi lại chứng kiến cách mạng nhân vị phản phúc, chứng kiến loạn sứ quân tân thời, chứng kiến đảo chính, chứng kiến thoán nghịch, chứng kiến chiến tranh tàn phá đất nước tôi. Cuối cùng, tôi chứng kiến cộng sản vào Sài gòn. Và tôi bị cộng sản giam nhốt 6 năm qua 3 nhà tù, 2 trại lao cải.
49 tuổi, tôi làm thuyền nhân, nằm ăn mày ân huệ định cư 6 tháng ở nhà tù thế giới tự do. Tôi tiếp tục chứng kiến… Kể ra kiếm một nhà văn lớn dần theo những biến cố chó đẻ của lịch sử và có trí nhớ tốt, biết ghi nhận biết suy nghĩ như tôi cũng hơi hiếm. Rốt cuộc, sang đến Paris, nhìn sang bên bờ Đại Tây dương bên kia, tôi buồn nôn. Vẫn nối tiếp những “biến cố” bắt chửi thề. Tôi hoàn toàn tuyệt vọng dẫu tôi đã sống trọn vẹn với những đau thương của quê hương tôi, của thời đại tôi.
Rất may, tôi còn tìm được một niềm an ủi cuối đời ở một số người tuổi trẻ, những người bạn tuổi nhỏ của tôi. Thế là tôi bèn thèm sống thêm vài năm nữa. Để trao đổi kinh nghiệm sống, kinh nghiệm viết và kinh nghiệm chiến đấu với các bạn tuổi nhỏ của tôi. Tôi thắp sáng một ước mơ mới thay thế ước mơ trong tù đã tắt ngóm.


Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

29/6/2023

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Phần 29                       

Đổi Sự Sống Để Cứu Một Tù Kiên Giam

Tôi đã nhìn thấy người bạn đồng tù L.Q.M. chết như thế nào do phù thủng và tôi cũng đã bắt đầu cảm nhận dần dần trạng thái của một người bị phù thủng nặng. Mỗi ngày, những cơn buồn ngũ bất thường đẩy tôi thiếp đi trong sự mệt mỏi đến lã người và khi thức dậy cảm thấy lười biếng không muốn ngồi lên, người lúc nào cũng gây gây lạnh, thấy tưng tức ở bàng quang nhưng không thể nào tiểu nhiều được. Tôi không muốn khai bệnh vì tôi sợ hai điều: một là khai bệnh sẽ làm lộ rõ yếu điểm vì sẽ làm đám quản trại sẽ không chậm chạp trong việc dùng nhu cầu thuốc của tôi để làm áp lực, hai là nếu được cấp thuốc thì cùng lắm cũng chỉ nhận được vài viên xuyên tâm liên uống vào chẳng có tác dụng gì mà có khi còn dẫn mình vào chổ chết. Chi bằng cứ phó thác mạng sống cho đấng linh thiêng và chấp nhận định mệnh mà chúng tôi vẫn thường đùa cợt nhau bằng một từ ngữ “trời kêu ai nấy dạ.” Để cho lòng thanh thản và giảm đi cảm giác khó chịu của phù thủng, tôi ngồi thiền rồi đứng dậy đánh Dịch Cân Kinh rồi sau đó ngồi đọc Chú Lăng Nghiêm cho tới tờ mờ sáng mới nằm xuống. Sự tập luyện này kéo dài khoảng một tháng thì tôi nhận thấy cơ thể mình có vẽ khá hơn. Trạng thái ngũ như thiếp đi bớt dần và khi lựa thế cùm để có thể đứng lên đánh Dịch Cân Kinh “cải tiến” (vì một chân bị cùm, nhưng nhờ cùm rộng nên có thể lựa thế đứng dậy được) tôi đã thấy mồ hôi rịn ra ở lưng áo và ngày cũng đi tiểu được vài lần. Điều đáng mừng nhất là khi cúi xuống, tôi không thấy nặng ở mặt nửa. Đúng vào lúc ấy thì “phi vụ” tiếp tế thuốc diễn ra. Vì sự kiện diễn ra đã lâu quá, hơn ba thập niên rồi trí óc đã mòn mỏi nên tôi không còn nhớ ngày nhưng nhớ được là chuyện xảy ra vào trưa Chủ Nhật, tuần lễ đầu của tháng Tư,1985. Buổi trưa hôm đó tiêu chuẩn cơm tù của biệt giam hơi đặc biệt. Phần “cơm” không phải là khoai mì lát luộc như thường lệ mà là một cái “bánh bẹp” và nước muối được thay vào bằng một cái chén nhỏ cà tím nấu với một thứ nước mắm cá mà chúng tôi gọi là “nước mắm mút giòi”

Xin độc giả cho tôi một ít phút để giải thích rõ hơn về “bánh bẹp” và “nước mắm mút giòi”. Sở dĩ chúng tôi gọi loại bánh làm bằng bột mì rồi đem luộc giống như người Tây phương luộc Spaghetti vậy là vì bề dày của miếng bánh chưa tới một centimetre nên trông rất mỏng, gọi là “bẹp.” Có anh em bạn tù thì nói rằng bột mì là do Canada viện trợ. Cũng lại có anh em nói rằng đây là bộ mì Sơn Đông của Trung quốc. Thời gian còn ở trại Hàm Tân Z30-C, anh tổ trưởng tổ cơm trong đội nhà bếp trước 30 tháng 4, 1975 vốn là chuẩn úy biệt phái và là thuộc cấp cũ của tôi tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia cho biết khi đội nhà bếp đi lãnh bột mì ở thị xã Bình Tuy bột vẫn còn trong bao bên ngoài có ghi rõ là quà tặng của chính phủ Canada. Do không có bột nổi và cũng không có ai biết xây dựng lò làm bánh mì nên cuối cùng nhà bếp trại đành phải nhồi bột với nước, đóng bánh rồi cho vào luộc chín thành những miếng bánh diện tích khoảng bàn tay hay có khi nhỉn hơn một chút. Chúng tôi gọi đó là “bánh bẹp.” Tiêu chuẩn bên ngoài trại lao cải thì mỗi bữa ăn, một tù nhân cải tạo được cấp phát một miếng như thế, nặng khoảng 150 grams. Còn tiêu chuẩn trong xà lim biệt giam thì miếng bánh bẹp ấy bị cắt đi một góc.

“Mắm mút giòi” là một nhóm từ ngữ do anh em làm ở đội nhà bếp trại A-20 Xuân Phước đặt ra để chỉ một loại nước mắm mà tôi nghĩ có lẽ chỉ dùng để phát cho tù nhân cải tạo thời bấy giờ thôi, chứ nếu ngày nay mà đem loại nước mắm này phát cho tù cải tạo hiện nay ở Việt Nam thì chắc chắn các tổ chức nhân quyền như Human Rights Watch hay Phóng Viên Không Biên Giới sẽ có nhiều việc làm tốn giấy mực hơn. Vì ở nhà tù tại Việt Nam đến ngay tù nhân thọ án là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ không được gặp vợ thường xuyên hay luật sư Lê Quốc Quân không được gặp linh mục và không được mang tài liệu sách báo vào phòng giam nghiên cứu mà cũng đã trở thành vấn đề lớn hiện nay rồi huống chi nếu họ lại còn bị cho ăn mắm mút giòi.

“Mắm mút giòi” thực ra là loại mắm cá của người Tuy Hòa, nhưng khi nước mắm đã được chắt hết thì các trại tù cải tạo thuộc phạm vi tỉnh này mua lại những bã cá mắm đó mang về chứa trong các chum vại ở nhà kho trại, nhưng do bảo quản không kỹ, bã mắm hư hại dần trong kho chứa và trong rất nhiều trường hợp ruồi nhặng đã đẻ ấu trùng vào mắm. Anh em nhà bếp cho biết họ phải pha nước vào thùng nước mắm còn nguyên những ấu trùng đó, đun cho thật sôi, vớt xác chúng ra rồi mới đem phát cho tù cải tạo. Người tù nào sợ thì vứt bỏ, người nào không sợ thì vẫn dùng. Đang trong tình tạng bị phù thủng nên tôi không hề đụng tới cái món cà tím này, dù rất thèm, đành ngồi nhai hết chiếc bánh bẹp rồi nằm ngã lưng một chút.

Đang mơ màng thì tôi bỗng giật mình nghe tiếng chân chạy rầm rập trên hành lang phía ngoài xà lim, rồi nghe một tiếng “soạt”. Một gói nhỏ bọc ngoài bằng bao nylon nằm giữa lối đi giữa hai bệ cùm. Nhặt lên mở ra thấy có hai tán đường, 12 viên Vitamin B1(trị phù thủng) và 6 viên dầu cá loại nhỏ (thời đó dầu cá viên chỉ có kích cỡ chỉ bằng đầu đũa) và một miếng bao nylon. Tôi hiểu ngay bao nylon này là một lời nhắn: phải tiêu thụ hết đường ngay kể từ buổi trưa cho tới giờ điểm số xà lim vào buổi chiều vì khi điểm số cai tù hay khám xà lim, gói thuốc B1 dầu cá vào bao nylon và nhét vào hậu môn như chúng tôi vẫn thường làm thế để giấu những mẫu tài liệu dùng thực hiện tờ Hợp Đoàn.

Từ buổi trưa cho tới giờ đếm số buổi chiều, tôi uống 2 viên Vitamin B1 và điều ngạc nhiên là ngay lúc bóng tối phủ kín xà lim cho tới gà gáy sáng hôm sau, tôi đi tiểu khoảng hơn chục lần và có cảm giác dường như bao nhiêu nước tích tụ trong người được xả ra ngoài hết. Nhưng hiệu quả của thuốc chỉ trở nên hoàn hảo sau khi tôi sử dụng hết các viên dầu cá và B1. Chỉ có điều sau khi không còn triệu chứng phù thủng nữa thì lại cảm thấy đói kinh khủng, nhưng do vừa trãi qua kinh nghiệm, tôi luôn dùng tự kỷ ám thị và luyện tập thiền để vượt qua đói khát. Tôi cần nhấn mạnh ở đây rằng điều này thật sự hữu hiệu trong những hoàn cảnh khốn khó nhất. Đầu thập niên 1990 gặp lại những bạn tù cùng trại tại Sài Gòn ngồi uống cùng nhau ly cà phê bên vệ đường giữa một thành phố bắt đầu hồi sinh, chúng tôi vẫn còn có nhiều tranh cãi về giai đoạn tù đày và tình trạng bị quản chế vì hoàn cảnh đôi khi khác nhau, nhưng có một điểm chung giống nhau. Đó là, trong tù thực phẩm chính của người tù vẫn là tinh thần bởi chính nó mới giúp chúng tôi kiên nhẫn, chịu đựng bền bỉ vượt qua khó khăn và giữ trọn được nhân cách.

Thời gian sau đó gặp lại Ng. “đen” khi được biên chế vào đội làm lò gạch thì hóa ra những viên thuốc B1 và dầu cá được đưa vào biệt giam cho tôi cũng như các bạn khác có thể phải đánh đổi bằng chính mạng sống của anh em đồng đội với tôi trong nhóm Hợp Đoàn: họ phải nghiên cứu phương thức leo qua hàng rào kẽm gai trên bức tường hông của khu biệt giam. Bức tường này nằm sát một khu gọi là khu tu sĩ. Sở dĩ chúng tôi gọi là khu tu sĩ vì khu này có một nhà giam duy nhất được ngăn đôi cầm giữ các tu sĩ Công Giáo, Phật Giáo và các chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo của người Chàm ở Ninh Thuận và Châu Đốc. Chung quanh khu giam giữ các tu sĩ là một bức tường cao khoảng bốn thước và cửa ra vào khu có khóa. Như thế nếu cửa này bị đóng lại thì những người tù khác tại những đội lao cải không nhìn thấy gì bên trong tiểu khu tu sĩ và đám quản trại ra một lệnh đặc biệt phạt rất nặng khi bắt gặp một tù nhân cải tạo nào liên hệ với những tu sĩ trong khu chuyên giam này.

Mục tiêu của việc thành lập khu tu sĩ chỉ là để cô lập tất cả những tu sĩ của các tôn giáo với chúng tôi và ngược lại. Ng. “đen” và P.Đ.N. phải mất một tuần lễ để “điều nghiên” cách leo tường vào khu biệt giam. Họ chú ý đến các phiên đổi gác của vệ binh trên chòi gác và nhận ra phiên đổi gác vào khoảng trưa Chủ Nhật sau giờ các đội lao cải lãnh thực phẩm là kéo dài lâu hơn cả. Hơn nửa, giao ca ở các vọng gác trong các trại tù cộng sản có khi không diễn ra ở dưới chân chòi gác mà ngược lại giao ca được tiến hành ở cổng trại, nơi có một cái bàn làm việc của trực trại. Từ cổng ngoài của trại vào đến khu biệt giam một vệ binh súng dài phải mất khoảng từ 7 đến 10 phút di chuyển. Một khuyết điểm thứ hai của an ninh trại là vòng kẽm gai trên tường trong khu biệt giam là vòng đơn  và chỉ được móc vào một cái móc bằng đinh đóng cong xuống rồi kéo ra. Cả hai bạn tù chí cốt nhất của tôi chọn một lối tương đối khuất nằm ngay giữa búc tường của khu tu sĩ chạy từ cổng khu biệt giam vào và bức tường của khu biệt giam. Chỉ cần tháo móc giữa vòng thép gai đầu tiên là có thể tạo thành một khoảng trống hẹp leo qua tường để nhảy vào khu biệt giam. Dĩ nhiên người nhảy vào phải tương đối còn mạnh, cởi trần và mặc quần đùi thật hẹp để tránh vướng víu.  Nhưng điểm hóc búa nhất trong kế hoạch cần phải giải quyết là liệu các tù nhân tôn giáo có đồng thuận để ủng hộ việc làm này của anh em chúng tôi không? Họ có sợ bị vạ lây mà đi báo cáo với an ninh không? Do đó, cả hai bạn tù của tôi lại phải tham khảo và may mắn là hầu hết các tu sĩ trong khu này đều là những vị từng giữ chức Trưởng phòng Tuyên Úy của các Quân Đoàn hay Sư Đoàn hoặc từng làm công việc tuyên úy tại những phòng sở phụ trách về Đức tin cho Quân đội VNCH cho nên họ đồng ý cầu nguyện và coi như không biết, không nhìn thấy “phi vụ” nguy hiểm như tôi vừa trình bày. Nó nguy hiểm vì chỉ cần anh vệ binh súng dài nhận ca gác leo lên chòi gác sớm hơn thời gian dự tính từ lúc leo vào và leo ra khỏi khu biệt giam là có thể Ng. “đen” hay P.Đ.N. có thể mất mạng do  vệ bịnh từ chòi canh bắn xuống.

Câu chuyện này không phải là một kịch bản trong phim mà là chuyện thật biểu lộ tinh thần đoàn kết và cưu mang nhau ở một trong vài trại tù được liệt vào danh sách những trại tù khắc nghiệt nhất tại Việt Nam thời chưa mở cửa.

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Phần 28                  

Phi Vụ Biệt Kích Tiếp Tế B1 Cho Tù Biệt Giam

Trước Tết Nguyên Đán 1985, chúng tôi bị chuyển trại thật, nhưng lần này chỉ bị chuyển đến phân trại B cách phân trại E khoảng từ 5 đến 7 cây số đường mòn, có nghĩa là chúng tôi bị đẩy sát vào chân núi. Trại này không được khang trang như trại ngoài, nhưng theo lời những anh em đã từng ở trại B, “kỷ luật trại ở trong đó tương đối lỏng lẻo” vì viên trại trưởng phân trại chỉ chú ý đến vun vén cá nhân và tư lợi cho gia đình nhiều hơn là công tác. Tuy nhiên, không phải tất cả những anh em tù nhân cải tạo ở bên ngoài khu biệt giam phân trại E đều bị chuyển trại. Trước ngày di chuyển, trại cũng đã có một vụ “lên lớp” chính trị và một ngày được “ăn tươi”. Sau đó một số bị kêu ra làm việc giống như chúng tôi trong biệt giam. (Ghi chú: “Lên lớp” là từ ngữ được ban quản trại dùng để thay cho học tập chính trị và “ăn tươi” được các cai tù dùng để chỉ trong ngày lên lớp, các đội lao cải được nghỉ lao động, tắm giặt và mỗi bữa ăn được cấp phát một miếng thịt hay một miếng cá bằng hai đầu ngón tay).

Sáng hôm sau an ninh phân trại E là Lý “lé” cầm một danh sách lần lượt gọi những người bị chuyển trại ra xếp hàng. Trong biệt giam chúng tôi cũng vậy. Trực trại Luật mở cửa các xà lim đọc tên từng người ngoại trừ linh mục Nguyễn Luân. Tôi, luật sư T.D.S. và một số anh em ngoài đội lao cải bị lao phổi yếu sức không thể đi bộ thì được cho ngồi xe molotova, còn những người khác phải đi bộ. Đường từ phân trại E vào phân trại B không xa lắm, nhưng đoàn tù nhân chuyển trại lưng ba lô, vai mang túi đựng những thứ lỉnh kỉnh như lon gô để thay cho nồi nấu, bếp “hỏa tốc” (Ghi chú: Bếp hỏa tốc đúng ra phải diễn dịch là bếp nấu nhanh vì nấu bằng bếp này nhanh thật. Nhưng thực tế từ ngữ bếp hỏa tốc dùng ở đây để chỉ loại bếp chế tạo từ một lon sắt, nhiên liệu đốt là những bao nhựa đựng thực phẩm. Tù nh6an lượm những bao nhựa hay chai nhựa mang về trại rửa sạch, phơi cho khô rồi xếp lại. Khi đốt lưa, những bao nhựa này với tim bằng vải cháy thành ngọn lửa xanh, xông lên mùi khói rất hắc và chắc chắn đó là khói độc rồi. Chất nhựa nylon khi cháy tạo ra một năng lượng có nhiệt độ cao, gô nước nóng hay gô canh tập tàng mau sôi hơn và thời gian tính ra chỉ bằng nửa thời gian nấu bằng củi nên gọi là bếp hỏa tốc) bát đựng thực phẩm, ca đựng nước, muỗng nhựa, chăn mùng, quần áo vá chằng đụp bốc mùi hôi vì phơi không kịp khô đã phải lếch thếch gần 2 giờ đồng hồ đường mòn mới tới được địa điểm phải tới. Gần 10 năm trời trong chốn lao tù, anh nào người cũng như xác ve, miệng thở dốc. Mấy vệ binh súng dài đi gác tù có lẽ cũng sốt ruột vì tốc độ của rùa này nên miệng luôn thúc giục đoàn tù đi nahnh hơn nhưng không hiệu quả. Trong đoàn, nhiều anh em bực quá cũng trả lời lại: “Sức người cũng có hạn chứ không phải với sức người sỏi đá cũng thành cơm đâu cán bộ ơi” Bọn tôi được ngồi trên chiếc xe molotova ọp ẹp nhưng cũng phải chạy bằng tốc độ của đoàn tù nhân đi bộ chứ không phải muốn chạy sao thì chạy. Chuyện gì chứ chuyện giải giao tù cải tạo, bọn cán bộ trại giam nào cũng phải “lên kế hoạch” và thi hành theo đúng kế hoạch. Đã bàn giao tù nhân thì con số ấy không thể sửa được. Cho nên, khi tới nơi tập họp trước trại mới, các tù nhân phải điểm số ít nhất bốn, năm lần cũng chưa được yên thân. Di chuyển bằng đường bộ khi chuyển trại mới có thể nhận ra được cách bố trí của lực lượng công an trật tự. Theo ước đoán của một số anh em tù hình sự lao động ở diện rộng (diện rộng tức là diện đi lao động tự do không có vệ binh đi theo canh gác, chẳng hạn như lấy củi trong rừng, chăn trâu, chăn bò, chèo đò…) thì lực lượng bảo vệ trại A-20 có thể lên đến gần 2 tiểu đoàn công an. Hội, một cựu binh thiết giáp của quân đội cộng sản Bắc Việt vào tiếp quản Đà Nẳng và cũng chính tại thành phố này anh ta bị kết án 10 năm tù về tội tham ô được ra làm việc ở diện rộng, giữ chân lái đò để chuyên chở cán bộ cũng như dân chúng quanh vùng và những thân nhân tù nhân đi thăm nuôi con em qua một con suối rộng nước chảy xiết đã cho tôi biết khi anh bị đẩy vào biệt giam số 5 và bị cùm gần 2 tuần lễ: “Em báo cho các anh biết chúng nó đông lắm, đóng chốt vòng trong, vòng ngoài. Anh nói với các anh em là nếu có trốn trại chớ dùng những con đường ra ga La Hai.”

“Cách tốt nhất và an toàn nhất là phải vượt qua mấy ngọn núi ở sau lưng trại E và trại B. Dĩ nhiên leo núi thì khó khăn hơn, nhưng nếu cứ chọn con đường mò ra Quốc lộ 1 là bị bắt ngay thôi. Các anh cần nhớ là cách kiến thiết trại giam lao cải thường dùng cùng một mô hình: trại phải nằm bên cạnh những con suối lớn, chung quanh trại là nhà cửa của gia đình vợ con cán bộ, sau đó là đến xóm dân và vòng ngoài nhất là những khu kinh tế mới và những bản Thượng đa phần là sắc dân H’mong rất trung thành với nhà cầm quyền. Hơn nữa, phải nên nhớ rằng trước khi đưa các anh lên A-20 bọn chúng đã mở chiến dịch học tập cho dân chúng Xuân Phước, những xã kinh tế mới ở Hốc Bò và treo giá 40kg gạo cho những ai bắt được một tù nhân trốn trại. Đ.M. ..dân ở đây nghèo lõ đ… ra, quanh năm khoai sắn nay được 40kg gạo mừng chết đi rồi còn gì nữa. Năm 1978, một anh ở phân trại B trốn ra Hốc Bò, dân nó bắt trói lại dẫn về trại để lấy 40kg gạo. Anh này bị đánh chết ở ngay sân biệt giam. Hai tiểu đoàn công an hiện tại đều là lớp công an mới vào ngành nên mới đỡ hơn chứ bọn cũ khát máu lắm vì toàn dân Nghệ An, phần lớn là Quỳnh Lôi. Một vụ khác là một thằng cũng ở diện rộng như em mê một em gái ở huyện Đồng Xuân, chàng trốn ra ở với nàng được hai ngày thì bị chính ông bố em dẫn vào trại giao nộp để lấy 40kg gạo. Bọn chúng mang thằng bạn của em ra đồng mía bắt chạy về phía trước và chúng dùng súng trường CKC bắn vào sau lưng như bắn bia. Mà cũng kinh thật, nó bị tới 6 phát đạn mới chịu gục xuống.”

Màn đón nhận tù nhân chuyển vào phân trại B cũng giống như bao nhiêu vụ đón nhận ở những trại khác: xếp hàng, điểm số, khám tư trang, đọc nội qui trại và tám (8) điều lệnh nếp sống văn hóa mới (văn hóa mới: đang ở nếp sống văn hóa cũ ảnh hưởng mạnh của văn minh tây phương nay phải bước vào nếp sống văn hóa mới bị ảnh hưởng nặng của thời kỳ ăn lông ở lổ) và cuối cùng là trại trưởng phân trại B nói chuyện. Nhưng đặc biệt lần này, hầu như trại trưởng và đội ngũ cán bộ phân trại B đều mặc lễ phục lon lá, mủ mãng chỉnh tề. Hơn nữa viên trại trưởng lại còn “thắng” vào người bộ trang phục đại lễ, huy chương đầy ngực. Trẻ hơn và nghe nói từng tốt nghiệp trường đại học công an ở Hà Nội và mới tu nghiệp ở Ba Lan về. Trại trưởng phân trại B là người không ưa trại trưởng Lê Đồng Vũ của phân trại E. Theo lời một vài anh em ở phân trại B thuộc nhóm lao cải gồm những người đi chuyến tàu Việt Nam Thương Tín về nước thì viên trại trưởng này gọi Lê Đồng Vũ là người có trình độ tiểu học và nhờ thần thế cho nên từ hạ sĩ công an mà leo lên đến cấp bậc trung tá chỉ trong vòng hơn mười năm. Chẳng hiểu, các anh em này lấy nguồn tin ở đâu mà biết “lý lịch trích ngang” của viên trại trưởng phân trại B thuộc trại A-20 Xuân Phước kỹ như vậy (Rất tiếc vì câu chuyện này xảy ra cách đây hơn ba thập niên rồi nên không còn nhớ tên viên trại trưởng phân trại B). Nhưng thực tế trước mắt tôi vào lúc ấy là phân trại B không khang trang bằng phân trại E. Các nhà giam ở đây phần đông đều là nhà tranh, vách đất bên ngoài có tráng xi măng, chỉ có hội trường được xây bằng gạch lợp ngói nằm ở chí nh giữa và các nhà giam được thiết kế hai bên cánh hội trường, không vườn rau cải hay ao cá và không có những hàng dừa. Trải qua  nhiều trại tù trước khi bị đày lên Xuân Phước, chúng tôi đã chiêm nghiệm được một điều: trại không khang trang có nghĩa là “tính địa ngục” ở đó nhẹ hơn.

Sau màn khám tư trang trong đó có một vài vật được mô tả là bén nhọn bị tịch thu, các bạn đồng tù với tôi đều được biên chế thành ba đội, nhưng tất cả những người thuộc dân số biệt giam phân trại E đều bị ngồi lại hội trường chờ lệnh mới. Tôi hiểu số phận của mình và quay sang nói với T.D.S. đang ngồi dựa lưng vào tường gà gật: “ Chuẩn bị vào biệt giam lại đấy”. Chỉ một lát sau, một trung sĩ công an vào hội trường kêu tôi đi làm việc. Lần này nơi làm việc lại chính là phòng treo tấm bảng lớn “Nhà Văn Hóa” dựng ngay một vườn hoa gần hội trường. Gọi là nhà văn hóa cho sang, nhưng bên trong chỉ để một bức tượng bán thân của ông Hồ, hai cái bàn trên vất lỏng chỏng mấy tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, tạp chí cộng sản, trên tường là những hình ảnh “Đại Thắng Mùa Xuân”. Một chiếc bàn nhỏ để ngay giữa phòng với hai cái ghế. Buổi làm việc không có gì căng thẳng và cũng vắn tắt trong hỏi và đáp. Viên hạ sĩ công an này tự giới thiệu tên mình là Dương, cán bộ an ninh trại. Anh ta còn rất trẻ chừng khoảng 24, 25 tuổi là cùng.

Dương nói với tôi: “Các anh bị ông Vũ gởi nên trại phải thi hành đề xuất này đưa các anh vào lại biệt giam ít lâu.” Nhưng cũng phải tới 5 giờ chiều, chúng tôi gồm T.D.S. tôi và hai người khác bên có án chính trị mới được đưa vào khu biệt giam của phân trại B, nằm ở góc bên phải của phân trại. Khu này cũng có tất cả 10 phòng nhưng xây cất dựa lưng vào nhau, nghĩa là 5 phòng quay mặt vào trong trại và 5 phòng quay mặt ra ngoài một vòng đai cách bìa rừng bằng những mãnh vườn trồng rau cải và khoai lang. Bức tường xung quanh khu biệt giam cao chỉ khoảng 3 thước phía trên có kéo những hàng dây kẽm gai. Các xà lim trong khu biệt giam chỉ xây bằng gạch thẻ dày, mái lợp ngói thay vì bê tông cốt sắt như ở phân trại E, trước sau đều có một khoảng sân rộng nhưng không trồng cây. Thiết trí bên trong mỗi xà lim khác hẳn ngoài phân trại E. Xà lim rộng hơn, có hai bệ nằm cũng rộng hơn, mỗi xà lim có một cửa thông hơi ngay dưới chân cùm. Hệ thống cùm cũng không khác ngoài phân trại E, nhưng trong các vòng cùm có vòng số nhỏ hơn vòng cùm nhỏ nhất là số 14. Nghĩa là nếu chân ai mang vừa vòng cùm 14 thì khi bọn an ninh lấy vòng cùm 12 để thay vào thì chúng phải dùng búa để đóng xuống. Trung tá N.K. T. cũng là một  nhà văn thuộc thế hệ sau cùng của Tự Lực Văn Đoàn và là cựu chánh văn phòng cho tướng Hòang Xuân Lãm cựu tư lệnh Quân Đoàn I đã bị đóng vòng cùm 12 vào chân khiến cho da của hai cổ chân ông bị trầy, bị nhiễm trùng và làm mủ nhưng may mắn không bị hoại thư. Ông N.K.T. bị đẩy vào biệt giam vị bị báo cáo hay “nói tiếng nước ngoài” và “chống cuốc” (nói tiếng nước ngoài: Nói hay viết tiếng Anh. Trung tá T. hay làm thơ và ngâm thơ tiếng Anh, khi ra bãi lao động ông không chịu làm, chỉ đứng chống cuốc nói về thơ và lịch sử của Tự lực Văn Đoàn).

Cái khác biệt nởi bật nhất nhất trong trại giam phân trại B là chiếc thùng cầu. Nó to gần gấp hai thùng cầu tại các xà lim phân trại E. Nhưng chỉ khi nước tiểu và phân gần đầy thùng, trật tự mới xin cán bộ cho chúng tôi mang ra đổ ngoài cái hố đào ngay trong khu đất này. Khi nước tiểu và phân đầy thùng thì chiếc thùng trở nên rất nặng so với cơ thể mà bắp thịt đã teo đi từ lâu như tôi hay T.D.S. Thự phẩm ở biệt giam B vẫn chỉ là những lát khoai mì khô luộc, nhưng không bị chan nước muối mặn chát, tiêu chuẩn nước là một ca đấy cho mỗi bữa ăn. Tôi chỉ bị cùm chân phải với vòng cùm 16 nên lỏng le. Với cá nhân tôi vốn là người tù quen thuộc đời sống chuồng cọp hơn là đời sống của các đội lao cải trong các nhà tù cộng sản,  tình trạng biệt giam ở phân trại B không đến nỗi quá “căng” như ngoài phân trại E.

Tuy nhiên khi còn ở biệt giam phân trại E điều kiện vệ sinh tệ hại như vậy, tôi chưa bao giờ bị tiêu chảy hay kiết lỵ. Nhưng mới chuyển về biệt giam B chưa được một tháng, người tôi tự nhiên “mập” hơn, nước da bóng hơn, nhìn vào cổ chân đã không còn thấy mắt cá xương, bấm vào thì da lún xuống cả nửa phút sau mới trở lại bình thường. Như thế là tôi đã bị phù thủng và bệnh có vẽ đã nặng. Tôi nhớ lại hồi đầu thập niên 1980 khi chưa bị biệt giam đã có lần bác sĩ Lộc, một bạn đồng tù bị án tới 20 năm vì tội tổ chức một vụ nổi dậy ở Ban Mê Thuộc năm 1978 nói với tôi về bệnh phù thủng trong tù. Theo anh phù thủng là một chứng mà hầu như người tù nào ít nhiều cũng vướng phải. Nhưng khi da ống chân đã bóng lên như thoa dầu, bấm vào lún xuống cả phút sau mới trở lại bình thường nghĩa là bệnh nặng rồi, thận đã bắt đầu không làm việc. Cốt lõi chữa trị là phải để tống nước bị giữ trong người ra bằng Vitamin B-1. Lấy đâu ra B-1 trong hoàn cảnh cùng quẩn này? Cuối cùng tôi chấp nhận và lờ đi cái chết đang tới gần. Chân tôi, nhất là đầu gối và mắt cá chân ngày một sưng to lên như chân voi.

Nhưng may mắn đã đến với tôi như một phép lạ. Một hôm, người mang cơm cho biệt giam là một trong số ít những bạn đồng tù trong nhóm Việt Nam Thương Tín vẫn còn trong trại giam nhân lúc trực trại bỏ ra ngoài hỏi tôi: “Anh cần gì không. Ng. đen nhắn” Tôi nói ngay: “Thuốc B-1” Tôi vẫn còn nhớ hôm nhắn tin là vào giữa tuần lễ thì buổi trưa Chủ Nhật tôi nhận được hơn chục viên B-1 và cả thuốc kiết lỵ. Không phải do người đưa cơm mang vô mà là do chính Ng. đen cùng P.Đ.N. trong nhóm Họp Đoàn tổ chức leo qua tường kẽm gai nhảy vào để tiếp tế thuốc B-1 cho tôi. “Phi vụ” diễn ra nhanh, gọn như xi nê và chỉ kéo dài trong vòng 5 phút, nhân lúc tên vệ binh súng dài bỏ chòi gác đi vào trại để giao ca.

Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Google photos

Phần 14 – Kết

Nicole ném phịch ống nghe xuống và quát người thư ký của nàng 
– Tôi phất ốm vì nghe tin đồng Euro quá yếu. Nếu được, hãy tìm ngay ngài Pryor. Có lẽ ông ấy đang ở một sân golf nào đó thôi. 
Hai năm trôi qua, và Nicole đã đứng ra điều hành các nhà băng của Aprile. Khi chuẩn bị về hưu, ông Pryor đã khẳng định nàng là người thích hợp nhất cho công việc đó. Là một đấu thủ giàu kinh nghiệm, nàng chẳng chị khoanh tay trước áp lực từ phía các giám sát viên và khách hàng khó tính. 
Hôm nay Nicole cuống cuồng dọn dẹp phòng làm việc của nàng. Đến đêm nàng và hai anh sẽ bay sang Sicily họp mặt gia đình với Astorre. Nhưng trước khi đi, nàng phải liên lạc vơi Aspinella Washington lúc này đang chờ đợi liệu Nicole có đại diện cho mụ trong đơn kháng cáo nhằm tránh án tử hình hay không. Chỉ nghĩ về việc đó thôi nàng đã thấy ngại, và không chỉ vì nàng đã có việc làm trọn ngày. 
Lúc đầu, khi Nicole đề nghị được điều hành các nhà băng, Astorre đã lưỡng lự vì nhớ tới những ước muốn cuối cùng của ông trùm Aprile. Nhưng Pryor đã thuyết phục chàng rằng Nicole là con gái ông Trùm: Bất kỳ khoản cho vay lớn nào đến kỳ phải trả, nhà băng đều có thể tin tưởng nàng sẽ sử dụng hiệu quả sự kết hợp đầy thuyết phục giữa lời nói ngọt ngào và đe doạ ngầm. Nàng biết cách giành được kết quả. 
Điện thoại nội bộ của Nicole đổ chuông, và ông Pryor chào nàng theo phong cách lịch sự quen thuộc 
– Tôi có thể giúp gì đây hả cưng? 
– Chúng ta đang chết dở vì tỷ giá hối đoái này, nàng nói. Bác nghĩ sao nếu ta đổi ồ ạt sang đồng Mác Đức? 
– Tôi nghĩ đó là một ý kiến tuyệt vời, ông Pryor nói. 
– Bác biết đấy, Nicole tiếp tục. Toàn bộ việc mua bán tiền tệ này cũng giống như đi Vegas chơi bài bac- carat thôi. 
Pryor phá lên cười 
– Điều đó có thể đúng, nhưng thua bài Baccarat đâu có được Cục dự trữ Liên bang bảo lãnh. 
Sau khi cúp mày, Nicole ngồi lại một lát và hồi tưởng quá trình đi lên của nhà băng. Từ khi tiếp nhận vai tò điều hành nàng đã giành được thêm sáu nhà băng nữa ở các nước phát triển và tăng lợi nhuận lên gấp đôi. Nhưng việc nhà băng đang cung cấp những khoản cho vay rộng rãi cho các cơ sở kinh doanh mới mở mang tại các nước đang phát triển còn làm nàng vui hơn. 
Nàng mỉm cười với chính mình khi nhớ lại ngày đầu của nàng. 
Ngay sau khi đảm đương cương vị mới, Nicole thảo một bức thư gửi cho bộ trưởng tài chính Peru yêu cầu thanh toán toàn bộ những khoản nợ quá hạn của chính phủ. Đúng như nàng trông đợi, việc này đã gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước này, dẫn đến sự rối ren về chính trị và một cuộc thay đổi nội các. Chính đảng mới lên cầm quyền yêu cầu cách chức tổng lãnh sự Peru tại Liên hợp quốc Mariano Rubio. 
Ít lâu sau, Nicole rất vui vì biết tin Rubio đã tuyên bố phá sản. Y còn phải đương đầu với một loạt vụ kiện phức tạp liên quan đến các nhà đầu tư Peru, những người đã tài trợ cho một trong số rất nhiều dự án của y – công viên giải trí. Rubio đã hứa hẹn nó sẽ trở thành một “Latino Disneyland”, nhưng tất cả những gì y có thể làm được chỉ là một vòng đu quay lớn và một ngọn tháp Taco. 
Vụ việc mà các tờ báo khổ nhỏ đặt tên là “Cuộc tàn sát hàng loạt tại kho hàng Macaroni” đã trở thành một sự kiện quốc tế. Ngay khi Aspinella Washington bình phục vết thương do phát đạn của Cilke gây ra – một vết thương lủng phổ – mụ đã đưa ra một loạt tuyên bố với giới truyền thông. Trong lúc chờ đợi phiên toà, mụ khắc hoạ bản thân mình như một đấng tử vì đạo cỡ thánh Joan. Mụ kiện FBI vì đã âm mưu giết người, vu khống và xâm phạm quyền công dân của mụ. Mụ còn kiện cả Sở cảnh sát New York vì đã không trả lương cho mụ trong thời gian bị đình chỉ công tác. 
Bất chấp những phản kháng của mụ, bồi thẩm đoàn chỉ mất ba giờ đồng hồ thảo luận để kết tội mụ. Khi toàn tuyên bố mụ có tội, Aspinella chửi như tát nước vào mặt các luật sư của mụ rồi thỉnh cầu Phong Trào Chống Án Tử Hình làm đại diện. Mụ đòi Nicole phải đảm đương vụ này. Từ xà lim án tử hình mụ tuyên bố với giới báo chí 
– Em họ cô ta đã đẩy tôi vào đây thì bây giờ cô ta phải đưa tôi ra khỏi đây. 
Lúc đầu Nicole từ chối gặp Aspinella với lý do bất kỳ luật sư giỏi nào cũng loại được nàng vì xung đột về quyền lợi rõ ràng như vậy. Nhưng sau đó Aspinella tố cáo Nicole phân biệt chủng tộc, và nàng cuối cùng đã đồng ý. 
Ngày họ gặp nhau, Nicole phải chờ hai mươi phút trong khi đó Aspinella lại đến dự một hội nghị của các quan chức cấp cao ngoại quốc. Những vị này nghênh tiếp mụ như một chiến binh dũng cảm dám chống lại bộ luật hình sự man rợ của Hoa Kỳ. Cuối cùng Aspinella ra hiệu cho Nicole lại gần cửa sổ. Mụ đã quen đeo một miếng băng mắt màu vàng có thêu chữ TỰ DO. 
Nicole tuôn ra một tràng tất cả những lý do nàng muốn từ chối vụ kiện và kết thúc bằng việc nêu rõ rằng nàng đã đại diện cho Astorre chống lại mụ trước đó rồi. 
Aspinella chăm chú lắng nghe, tay vân vê những lọn tóc mới tết. 
– Tôi nghe cô, mụ nói. Nhưng có nhiều điều cô không biết. Astorre đã đúng: Tôi phạm nhiều tội ác. Tôi đã bị kết án, và tôi sẽ dành phần còn lại của đời tôi chuộc lại chúng. Nhưng làm ơn hãy giúp tôi sống đủ lâu để đền bù những gì tôi có thể. 
Lúc đầu Nicole cho rằng đây chỉ là một trong những mánh khoé nữa của Aspinella nhằm kiếm chút thiện cảm, nhưng có cái gì đó trong giọng nói của mụ làm nàng xúc động. Nàng vẫn tin rằng không ai có quyền kết án tử hình người khác. Nàng vẫn tin vào sự hoàn lương. Nàng thấy Aspinella cũng như tất cả những ai bị giam tỏng khám tử hình, đều đáng được bảo vệ. Nàng chỉ ước nàng không phải nhúng tay vào vụ này. 
Trước khi đưa ra kết luận cuối cùng, nàng biết nàng còn phải đương đầu với một người. 
Sau lễ tang theo nghi thức dành cho những anh hùng của Cilke, Georgette yêu cầu được gặp giám đốc. Một nhân viên FBI đón chị tại sân bay và đưa chị về tổng hành dinh của Cục. 
Khi Georgette bước vào phòng giám đốc, lão ôm choàng lấy chị và hứa rằng Cục sẽ làm mọi thứ cần thiết để giúp mẹ con chị đương đầu với mất mát quá lớn của họ. 
– Cảm ơn ngài, Georgette nói. Nhưng đấy không phải là lý do tôi tới đây. Tôi cần biết tại sao chồng tôi bị giết. 
Trước khi trả lời, giám đốc dừng lại hồi lâu. Lão biết chị đã nghe những lời đồn đại. Và những lời đồn đó có thể gây ra hiểm hoạ cho hình ảnh của FBI. Lão cần phải trấn an chị. Cuối cùng lão nói 
– Tôi lấy làm xấu hổ phải thừa nhận rằng ngay cả chúng tôi cũng cần phải mở một cuộc điều tra. Chồng cô là một người mẫu mực mà mỗi nhân viên FBI phải noi theo. Cilke tận tâm với công việc và tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Tôi biết cậu âấ không làm bất kỳ điều gì ảnh hưởng đến FBI và gia đình mình. 
– Thế tại sao anh ấy lại đến cái kho hàng đó có một mình? Georgette hỏi. Và anh ấy có quan hệ thế nào với Portella? 
Giám đốc chú ý từng ly từng tý đến đề tài thảo luận mà lão đã thực tập với ban tham mưu của mình trước cuộc gặp này. 
– Chồng cô là một điều tra viên rất cừ. Cậu ấy được tự do lần theo các đầu mối của mình. Chúng tôi không tin cậu ấy nhận hối lộ và đi đêm với Portella hay bất cứ kẻ nào. Thành công của cậu ấy nói lên tất cả. Cậu ấy là người đã đập tan Mafia đấy. 
Khi rời khỏi phòng giám đốc, Georgette nhận ra rằng chị không hề tin lão. Chị biết, muốn được thanh thản, chị phải tin vào sự thật mà chị cảm nhận đựoc trong tim mình: Chồng chị, bất chấp lòng hăng hái của ông, là một người tử tế như chị từng biết. 
Sau khi chồng bị sát hại, Georgette Cilke vẫn tiếp tục tình nguyện có mặt tại các trụ sở chính của Phong Trào Chống Án Tử Hình ở New York, tuy nhiên Nicole chưa gặp lại chị kể từ cuộc nói chuyện định mệnh giữa hai người. Vì những trách nhiệm của mình tại nhà băng, Nicole nói nàng quá bận nên không thể tham gia các hoạt động của tổ chức này. Sự thật là, nàng không thể chịu đựng nổi việc giáp mặt với Georgette. 
Tuy nhiên, khi Nicole bước qua cửa, Georgette đã chào nàng bằng một cái ô thắm thiết. 
– Mình nhớ cậu, chị nói. 
– Mình xin lỗi đã không liên lạc với cậu. Nicole đáp lại. Mình đã cố viết một bức thư chia buồn nhưng lại không tìm được từ ngữ thích hợp. 
Georgette gật đầu nói, 
– Mình hiểu mà. 
– Không, Nicole nói, họng nàng nghẹn lại, cậu không hiểu đâu. Mình đáng chê trách vì những gì đã xảy ra với chồng cậu. Giá như mình không nói với cậu chiều hôm đó. 
– Thì chuyện đó cũng vẫn xảy ra, Georgette ngắt lời. Nếu đấy không phải là em họ cậu, thì lại là một người khác. Một cái gì đó tương tự không sớm thì muộn chắc chắn sẽ xảy ra. Kurt biết thế, và mình cũng vậy. Georgette lưỡng lự một lát trước khi nói thêm, bây giờ điều quan trọng là chúng mình ghi nhớ lòng tốt của anh ấy. Vậy đừng nói về quá khứ nữa. Mình tin chắc tất cả chúng ta đều hối tiếc. 
Nicole dã ao ước mọi chuyện dễ dàng như thế. Nàng hít một hơi thật sâu. 
– Còn việc này nữa. Aspinella Washington muốn mình đại diện cho mụ ta. 
Dù Georgette đã cố giấu, nhưng Nicole vẫn nhận ra sự e ngại của chị khi nghe thấy tên Aspinella. Georgette không phải là một phụ nữ mộ đạo, nhưng vào khoảnh khắc này chị đoán chắc Chúa đang kiểm tra sức mạnh lòng tin của chị.
– OK, chị nói môi mím chặt. 
– Được hả? Nicole hỏi có phần ngạc nhiên. Nàng đã hy vọng Georgette sẽ phản đối, ngăn cản việc này và thế là nàng có thể từ chối Aspinella vì lòng trung thành với bạn mình. Nàng có thể nghe thấy cha nàng đang nói với nàng. Danh dự thể hiện ở lòng trung thành như vậy đấy. 
– Ừ, Georgette nói, mắt nhắm nghiền. Cậu phải bảo vệ cho mụ ta. 
Nicole sửng sốt, 
– Mình không cần phải làm việc này. Mọi người sẽ hiểu thôi. 
– Đó là thói đạo đức giả, Georgette nói. Chúng ta không thể thay đổi cái mà chúng ta tin chỉ vì nó làm chúng ta đau đớn. 
Georgette im lặng rồi đưa tay cho Nicole suốt cả ngày. Cuối cùng nàng gọi điện cho Aspinella và, với vẻ miễn cưỡng, nhận vụ kiện. Một tiếng sau nàng bay sang Sicily. 
Một tuần sau Georgette gửi một bức thư ngắn cho điều phối viên của Phong Trào Chống Án Tử Hình. Chị viết rằng hai mẹ con chị sẽ chuyển đến một thành phố khác để bắt đầu một cuộc sống mới và chị chúc mọi người mạnh khoẻ. Chị không để lại địa chỉ sẽ đến. 
Astorre đã vẹn lời thề với ông Trùm, giữ gìn các nhà băng và bảo đảm mang lại thịnh vượng cho gia đình lão. Trong tâm trí chàng hiện giờ, chàng không còn bị ràng buộc vào bất kỳ trách nhiệm nào. 
Một tuần sau khi được tuyên bố là vô tội trong vụ án mạng tại kho hàng, Astorre tiếp Trùm Craxxi và Octavióu Bianco tại phòng làm việc của mình. Chàng nói với họ về nguyện vọng trở lại Sicily. Chàng giải thích rằng chàng cảm thấy khát khao chính miền đất ấy, rằng từ lâu nó đã len vào tận những giấc mơ của chàng. Chàng có nhiều kỷ niệm thời thơ ấu tại Villa Grazia, cái miền quê biệt lập của ông Trùm Aprile, và chàng luôn hy vọng sẽ có ngày trở lại. Đó là con đường sống mới, đơn giản hơn nhưng có giá trị hơn về nhiều mặt. 
Thế rồi Bianco bảo chàng. 
– Cậu không cần quay lại Villa Grazia. Có một gia sản rất lớn ở Sicily thuộc về cậu. Toàn bộ làng Castellammare del Golfo. 
Astorre kinh ngạc 
– Sao lại có chuyện đó? 
Benito Craxxi kể cho chàng nghe cái ngày ông trùm Mafia, Don Zeno, cho gọi ba người bạn của lão đến bên giường bệnh khi lão đang hấp hối. 
– Cậu là quý tử của ngài, lão nói. Bây giờ cậu là người thừa kế duy nhất của ngài. Ngôi làng được cha đẻ của cậu để lại. Cậu có quyền thừa kế. 
– Khi Don Aprile đưa cậu sang Mỹ, Don Zeno đã dự liệu mọi thứ cho đến ngày cậu quay về nhận lại. Theo ước nguyện của cha cậu, bọn ta được giao nhiệm vụ bảo vệ ngôi làng sau khi ngài mất. Khi nông dân gặp thời vụ khó khăn, bọn ta bỏ tiền ra mua trái cây và ngũ cốc giúp họ. 
– Sao trước đây các ngài không nói với tôi? Astorre hỏi. 
– Don Aprile bắt bọn ta giữ bí mật, Bianco nói. Cha cậu muốn cậu an toàn và Don Aprile muốn cậu là một phần của gia đình ông ấy. Ông ấy còn cần cậu bảo vệ các con mình. Thực ra, cậu có hai người cha, cậu thật may mắn. 
Astorre đáp xuống Sicily vào một ngày nắng đẹp. Hai trong số các vệ sĩ của Michael Grazziella đón chàng tại sân bay và hộ tống chàng tới một chiếc Mercedes màu xanh đen. 
Khi xe chạy qua Palermo, Astorre ngạc nhiên trước vẻ đẹp của thành phố: Những cột đá cẩm thạch, những bức phù điêu về những nhân vật trong thần thoại tạo dáng cho một số ngôi đền Hy Lạp, những nhà thờ Tây Ban Nha với những vị thánh và thiên thần được chạm sâu vào đá xám. Mất hơn hai tiếng đồng hồ trên một con đường độc đạo mới tơi được Castellammare del Golfo. Với Astorre, lúc nào cũng vậy, nét quyến rũ nhất của Sicily là vẻ đẹp của miền quê với phong cảnh nên thơ của Địa Trung Hải. 
Nằm sâu trong thung lũng được những dãy núi vây quanh, ngôi làng là một hệ thống đường sá rải sỏi chằng chịt với những ngôi nhà nhỏ hai tầng chay dọc hai bên. Astorre nhận thấy có vài người đang nhìn trộm qua kẽ những cánh cửa chớp sơn trắng được đóng lại để chống ánh nắng như thiêu như đốt lúc ban trưa. 
Chàng được chào đón bởi trưởng làng, một người đàn ông lùn tịt trong bộ đồ nông dân. Ông ta giới thiệu mình là Leo Di Marco rồi kính cẩn cúi chào. 
– Il Pardone, ông ta nói. Xin chào. 
Astorre trong lòng khó chịu, mỉm cười và hỏi bằng thổ ngữ Sicily 
– Liệu ngài có thể dẫn tôi qua làng được không? 
Họ đi ngang qua mấy ông già đang đánh bài trên những chiếc ghế gỗ dài. Ở góc xa của quảng trường là một nhà thờ Thiên Chúa giáo uy nghi. Trưởng làng dẫn Astorre vào nhà thờ đó, nhà thờ thánh Sebastian. Từ ngày ông Trùm Aprile bị sát hại chàng chưa một lần cầu nguyện. Astorre quỳ gối, đầu cúi xuống để Cha Del Vecchio, vị linh mục của làng ban phước. 
Sau đó Di Marco dẫn Astorre đến một ngôi nhà nhỏ nơi chàng sẽ ở. Dọc đường Astorre phát hiện ra vài Canabinieri, hay cảnh sát quốc gia của Italy, đang tựa vào những ngôi nhà, súng ống trong tư thế sẵn sàng. 
– Khi đêm xuống ở đây an toàn hơn, trưởng làng giải thích. Nhưng ban ngày ở ngoài đồng cũng vui lắm. 
Liên tiếp mấy ngày sau Astorre làm những chuyến đi dài ngày qua miền thôn dã thơm ngát mùi hương của những vườn cam và chanh. Mục đích chính của chàng là gặp gỡ dân làng và tham quan những ngôi nhà cổ bằng đá được xây như những biệt thự thời La Mã. Chàng muốn tìm một ngôi làm nhà ở cho mình. 
Đến ngày thứ ba thì chàng biết chàng sẽ tìm được hạnh phúc tại nơi đây. Dân làng chào đón chàng ngoài đường phố, và khi chàng ngồi trong quán cà phê trên quảng trường, những người già và lũ trẻ trêu trọc chàng một cách vui vẻ. 
Chàng chỉ phải làm hai việc nữa. 

Google photos

Sáng hôm sau Astorre nhờ trưởng làng chỉ cho chàng đường ra nghĩa trang. 
– Để làm gì chứ? Di Marco hỏi. 
– Để viếng cha tôi và mẹ tôi, Astorre đáp. 
Di Marco gật đầu rồi nhanh nhẹn giật lấy chiếc chìa khóa bằng thép rèn rộng bản treo trên tường phòng làm việc. 
– Ngài có biết nhiều về cha tôi không? Astorre hỏi ông ta. 
Di Marco làm dấu thánh giá trên ngực 
– Ai mà không biết Don Zeno cơ chứ? Chúng tôi nợ ông cuộc sống của mình. Ông đã cứu con cái chúng tôi bằng thuốc men đắt tiền mua từ Palermo. Ông đã bảo vệ chúng tôi khỏi lũ hôi của và kẻ cướp. 
– Nhưng với tư cách một con người thì ông ấy ra sao? Astorre hỏi. 
Di Marco nhún vai. 
– Có quá ít người còn sống biết ông về phương diện đó, thậm chí số người sẽ kể cho cậu nghe về ông còn ít hơn. Ông đã trở thành một huyền thoại. Vì vậy ai còn muốn biết về con người thực của ông? 
– Tôi muốn, Astorre thầm nghĩ. 
Họ đi qua miền quê và sau đó leo lên một ngọn đồi dốc đứng. Chốc chốc Di Marcon lại dừng lại để lấy hơi. Cuối cùng Astorre cũng nhìn thấy nghĩa trang. Nhưng thay cho mộ chí, ở đây có những dãy nhà nhỏ bằng đá. Những lăng mộ, tất cả được vây quanh bởi một hàng rào gang. Bảng hiệu phía trên có dòng chữ: BÊN TRONG NHỮNG CÁNH CỔNG NÀY TẤT CẢ ĐỀU VÔ TỘI. 
Trưởng làng mở khoá cổng rồi dẫn Astorre tới lăng mộ bằng đá cẩm thạch xám của cha chàng được đánh dấu bằng tấm bia VICENZO ZENO: MỘT NGƯỜI TỐT BỤNG VÀ HÀO PHÓNG. Chàng bước vào trong lăng và xem kỹ hình cha trên bàn thờ. Đây là lần đầu tiên chàng nhìn thấy hình ông và chàng ngạc nhiên sao chàng giống cha đến thế. 
Sau đó Di Marco đưa Astorre tới một công trình kiến trúc khác nhỏ hơn cách đó vài dãy. Lăng mộ này được xây bằng đá cẩm thạch trắng, duy chỉ có bộ đồ của Đức Mẹ Đồng Trinh được chạm sâu vào vòm cuốn của cửa vào là có màu xanh nhạt. Astorre bước vào và xem kỹ tấm hình. Người con gái không quá hai hai tuổi, nhưng đôi mắt xanh mở to và nụ cười rạng rỡ của nàng làm sưởi ấm lòng chàng. 
Trở ra ngoài chàng nói với Di Marco 
– Khi còn nhỏ, tôi đã từng mơ thấy một phụ nữ giống bà, nhưng tôi lại nghĩ đó là một thiên thần. 
Di Marco gật đầu 
– Bà là một cô gái xinh đạp. Và cậu nói đúng. Bà hát y như một thiên thần. 
Astorre cưỡi ngựa không yên qua miền quê, chỉ dừng lại để ăn phó mát làm từ sữa dê tươi và bánh mỳ vỏ cứng, thứ phụ nữ trong làng thường tích trữ. 
Cuối cùng chàng đến Corleone. Chàng không thể trì hoãn việc viếng thăm Michael Grazziella lâu hơn được nữa. Ít ra chàng cũng nợ lão lần giúp đỡ đó. 
Lúc nào cũng ở ngoài trời nên da chàng rám năng. Grazziella đón chàng với vòng tay rộng mở và một cái ôm rõ chặt. 
– Mặt trời Sicily quả là tốt cho cậu, lão nói. 
Astorre tạo ra ấn tượng phù hợp với lòng biết ơn 
– Cảm ơn ngài vì tất cả. Đặc biệt là sự giúp đỡ của ngài. 
Grazziella cùng chàng thả bộ về phía ngôi biệt thự của lão. 
– Và cái gì đưa cậu đến Corleone vậy? 
– Tôi nghĩ ngài biết vì sao tôi có mặt ở đây, Astorre đáp. 
Grazziella nở nụ cười. 
– Vì một người còn trẻ và mạnh mẽ như cậu phải không? Tất nhiên rồi! Tôi sẽ đưa cậu đến chỗ cô ấy ngay lập tức. Cô ấy mang lại niềm vui cho tất cả những người cô ấy gặp. 
Hiểu rõ ham muốn tình dục của Rosie, Astorre tự hỏi liệu có phải Grazziella đang định nói cho chàng điều gì đó chăng. Nhưng chàng nhanh chóng dừng lại. Grazziella quá đàng hoàng nên không thể nói một chuyện như vậy được và quá Sicily nên không thể cho phép hành vi sai trái như vậy xảy ra dưới con mắt xoi mói của lão. 
Biệt thự của nàng nằm cách đó không xa. Khi họ tới nơi, Grazziella gọi, 
– Rosie thân mến, cô có khách đấy. 
Nàng mặc chiếc váy hở vai giản dị màu thanh thiên với lọn tóc vàng được cột ra phía sau. Không trang điểm trông nàng trẻ hơn và ngây thơ hơn chàng tưởng. 
Nàng dừng lại khi nhìn thấy chàng. Nhưng rồi nàng hét lên 
– Astorre! Nàng nhào vào chàng, hôn chàng, và bắt đầu nói giọng đầy kích động. Em đã học nói lưu loát thổ ngữ Sicily. Và em cũng học được công thức nấu một vài món ăn nổi tiếng. Anh có muốn thưởng thức không? 
Chàng đưa nàng về Castellammare del Golfo và dành cả tuần sau đó dẫn nàng đi khắp làng và miền thôn dã. Ngày nào họ cũng đi bơi, chuyện phiếm hàng tiếng đồng hồ và làm tình với nhau. 
Astorre chăm chú quan sát Rosie để xem nàng có chán chàng, có khó chịu với cuộc sống giản dị hay không. Nhưng dường như nàng thực sự thanh thản. Cả chàng và Rosie đều có những bí mật phải bảo vệ – những cái chàng không muốn nhớ hoặc chia sẻ. Nhưng Rosie biết chàng và vẫn còn yêu chàng. Nàng sẽ giữ kín những bí mật của chàng, và chàng sẽ giữ kín những bí mật của nàng. 
– Em không thể tin em lại ở đây lâu đến thế, Rosie nói khi hai người nghỉ ngơi bên nhau trên bãi cỏ. 
Đôi mắt xanh của Astorre ngời sáng 
– Em có nghĩ rằng em có thể ở lại đây lâu hơn chút nữa không. 
Rosie có vẻ ngạc nhiên. 
– Anh nghĩ gì vậy? 
Astorre quỳ một chân xuống và chìa tay ra. 
– Có thể là năm mươi hoặc sáu mươi năm cơ đấy, chàng nói với một nụ cười chân thành. Trong bàn tay chàng là một chiếc nhẫn đồng giản dị. Em có lấy anh không? Chàng hỏi. 
Astorre tìm một dấu hiệu ưỡng lự nào đó trong mắt Rosie, một chút thất vọng nào đó vì giá trị của chiếc nhẫn, nhưng nàng đáp lại ngay lập tức. Nàng vòng tay ôm lấy cổ chàng rồi hôn chàng tới tấp. Sau đó họ lăn ra đất và cuốn lấy nhau trong những dãy đồi. 
Một tháng sau Astorre và Rosie làm đám cưới tại một trong số những vườn chanh của chàng. Cha Del Vecchio cử hành hôn lễ. Tất cả mọi người ở cả hai làng đều đến dự. Quả đồi phủ dầy hoa tử đằng tía, và hương chanh thơm nức không gian. Astorre mặc bộ đồ trắng kiểu nông dân, còn Rosie mặc một chiếc váy dài bằng lụa hồng. 
Một con lợn trên xiên đang quay trên đống than hồng và những trái cà chua chín đỏ từ ngoài đồng đưa về. Lại còn cả những ổ bánh mì nóng hổi và phó mát tươi. Rượu nhà làm chảy tràn như suối. 
Khi buổi lễ kết thúc và hai người đang trao cho nhau lời thề thốt, Astorre hát cho vị hôn thê của mình nghe những bản Ballard ưa thích của chàng. Mọi người uống và hát nhiều đến nỗi cuộc vui kéo dài đến tận bình minh. 
Sáng hôm sau, khi thức dậy Rosie thấy Astorre đang chuẩn bị ngựa. 
– Đi cùng anh chứ? Chàng hỏi 
Họ rong ruổi suốt ngày cho đến khi Astorre tìm được cái chàng đang kiếm tìm – Villa Grazzia. – Thiên đường bí mật của bác anh đấy. anh đã có những ngày đẹp nhất ở đây thời thơ ấu. 
Chàng vòng ra sau nhà đi vào khu vườn, Rosie theo sau. Cuối cùng họ đến bên cây ô liu của chàng, cây ô liu chàng trồng hồi nhỏ. Nó đã cao bằng chàng và thân nó to có cỡ. Chàng lấy từ trong túi ra một lưỡi dao cạo sắc lẹm và cắt lấy một cành. 
– Chúng mình sẽ trồng nó trong vườn nhà. Để rồi khi chúng mình có con, nó cũng sẽ có những kỷ niệm đẹp đẽ. 
Một năm sau, Astorre và Rosie ăn mừng sinh con trai, Raymonde Zeno. Ngày đặt tên thánh cho con, họ mời gia đình Aprile cùng tham dự tại nhà thờ thánh Sebastian. 
Khi cha Del Vecchio kết thúc thánh lễ, Valerious với tư cách là con trưởng của nhà Aprile nâng ly rượu vang và đề nghị mọi người cùng nâng cốc. 
– Cầu cho cô chú làm ăn phát đạt và sống hạnh phúc. Cầu cho con trai của cô chú lớn lên với tình cảm nồng nhiệt của Sicily và tính lãng mạn của nước Mỹ ngấm sâu vào trong máu. 
Marcantonio nâng ly rượu của mình và nói thêm 
– Và bất cứ lúc nào cu cậu muốn góp mặt trong các vở kịch hài thì cô chú biết phải phôn cho ai rồi đấy. 
Bây giờ, khi các nhà băng của Aprile làm ăn có lãi, Marcantonio đã thiết lập được một mức tín dụng tối đa hai mươi triệu đô la để khuyếch trương cơ sở kịch nghệ của riêng mình. Anh và Valerious đang cùng nhau viết một kịch bản dựa vào những hồ sơ của FBI về cha mình. Nicole nghĩ đó là một ý tưởng khủng khiếp, nhưng tất cả bọn họ đều đồng ý rằng ông Trùm hẳn sẽ đánh giá cao cái ý tưởng mang lại nhiều tiền bạc vì đã dàn dựng huyền thoại về những tội lỗi của lão. 
– Những tội lỗi bị gán ghép, Nicole bổ sung. 
Astorre lấy làm lạ tại sao mọi người vẫn còn lo lắng. Thế hệ Mafia già đã chết. Các ông trùm đã đạt được mục đích của họ và uyển chuyển hoà nhập vào xã hội như những tên tội phạm cự phách nhất vẫn làm. Một ít kẻ đòi kế vị còn sót lại chỉ là một đám ô hợp đầy thất vọng bao gồm những tên tội phạm loại hai ngu ngốc và lũ côn đồ vô tích sự. Tại sao ai cũng muốn mất thì giờ vào những thủ đoạn kiếm tiền bất lương trong khi ăn cắp hàng triệu đôla bằng việc thành lập công ty và bán cổ phần cho công chúng còn dễ hơn nhiều? 
– Này Astorre, chú có thể làm cố vấn đặc biệt trong lĩnh vực điện ảnh của chúng tôi không? Marcantonio hỏi. Chúng tôi muốn bộ phim này càng gần sự thực càng tốt. 
– Được thôi, Astorre cười nói. Tôi sẽ cử đại diệ của tôi lại chỗ các anh. 
Khuya đêm hôm đó, đang nằm trên giường, Rosie quay sang Astorre. 
– Anh có muốn quay trở về không? 
– Về đâu cơ? Astorre hỏi. Về New York hay về Mỹ? 
– Anh biết rõ mà, Rosie ngập ngừng nói. Về với cuộc sống cũ của anh. 
– Anh thuộc về nơi này, bên em, tại đây. 
– Thế là ổn rồi, Rosie nói. Nhưng còn thằng bé thì sao/ Nó có phải liều nếm trải tất cả những gì nước Mỹ tạo ra không?
Astorre tưởng tượng ra Raymonde đang chạy qua những dãy đồi của miền thôn dã, đang ăn quả ô liu lấy từ thùng ngâm, nghe truyền thuyết về những ông trùm vĩ đại và mảnh đất Sicily của thời xa xưa. Chàng rất mong được kể cho con nghe những câu chuyện đó. Tuy nhiên chàng cũng biết rằng những truyền thuyết kia sẽ là chưa đủ. 
Một ngày nào dó con trai chàng sẽ tới nước Mỹ, xứ sở của sự trả thù, của lòng nhân từ và của những khả năng kỳ diệu. 


HẾT


Luật im lặng

vietmessenger.com

Mario Puzo

Lương Lê Giang dịch

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Google photos

Chương 13

Khi đặt món cho người hầu bàn, Nicole chăm chú tập trung vào Mariano Rubio. Trong ngày nàng đã phải bàn giao hai bức thông điệp, và nàng muốn chắc chắn mình đã làm đúng. 
Rubio chọn nhà hàng, một tiệm ăn Pháp sang trọng, nơi những người phục vụ bê những chiếc cối xay tiêu đánh vécni và những chiếc giỏ rơm đựng bánh mì vỏ cứng kểu Pháp đi lại không ngừng. Rubio không thích đồ ăn ở đây, nhưng vì quen biết người quản lý tiệm ăn nên y được bảo đảm dnàh cho một chỗ tốt tại một góc yên tĩnh. Y thường đưa những ả nhân tình tới đây. 
– Đêm nay em trầm lặng hơn bình thường, y nói trong khi vươn tay qua bàn cầm lấy tay nàng. 
Nicole rùng mình. Nàng nhận ra rằng nàng căm ghét y vì y đã áp đặt được quyền lực lên nàng. Nàng rụt tay lại. 
– Em ổn chứ? Y hỏi. 
– Hôm nay là một ngày vất vả, nàng nói. 
– À, y nói với một tiếng thở dài. Đó là cái giá phải trả cho việc làm ăn với bọn gian tà đấy thôi. Rubio chẳng hề quan tâm tới hãng luật của Nicole. Tại sao em phải chịu đựng họ? Sao em không để anh lo liệu cho em? 
Nicole tự hỏi đã có bao nhiêu phụ nữ nghe lời y và sau đó vứt bỏ cả sự nghiệp của mình để đến với y. 
– Đừng cám dỗ em, nàng đưa đẩy. 
Rubio ngạc nhiên. Y biết rõ Nicole hết lòng với công việc của nàng. Nhưng đây là đuều y hằng hy vọng. 
– Hãy để anh lo liệu cho em, y nhắc lại. 
Một người hầu bàn mở chai vang trắng ướp lạnh và rót một ít rượu vào chiếc ly bằng pha lê xinh xắn. Rubio nếm và gật đầu. Sau đó y lại hướng sự chú ý của mình vào Nicole. 
– Em có thể bỏ việc ngay lúc này, nàng nói, nhưng còn vài vụ em muốn làm cho xong đã. Nàng nhấp một ngụm rượu. Gần đây em suy nghĩ rất nhiều về việc quản lý nhà băng. 
Mắt Rubio nheo lại 
– Ừ, y nói. May cho em là các nhà băng được gia đình điều hành. 
– Vâng, Nicole đồng ý. Nhưng không may ba em lại không tin phụ nữ có khả năng điều hành công việc kinh doanh. Vì thế em phải đứng ngoài mà nhìn ông em họ điên khùng làm rối tung mọi thứ. Nàng ngẩng đầu lên nhìn y và nói thêm, à này, Astorre nghĩ rằng bọ anh đang quyết tâm tóm lấy nó đấy. 
Rubio cố làm bộ vui vẻ. 
– Vậy sao? Và bọn anh làm việc này bằng cách nào hả? 
– Ôi, em không biết, Nicole đáp, nàng có vẻ khó chịu. Hãy nhớ rằng, đây là gã bán macaroni để kiếm sống. Đầu nó đầy bã đậu. Nó nói anh muốn dùng nhà băng để rửa tiền và ai mà biết được còn những gì gì nữa. Nó còn cố thuyêt sphục em rằng anh đang định bắt cóc em. Nó biết em và các anh trai em muốn kiểm soát nhà băng, vì thế nó đang cố làm bọn em mắc bệnh hoang tưởng. Nhưng bọn em đã quá mệt mỏi vì những gì nó nói. 
Rubio quan sát kỹ khuôn mặt Nicole. Y tự hào về khả năng tách sự thật ra khỏi điều giả dối của mình. Trong những năm làm việc trong ngành ngoại giao y đã bị những chính khác đáng kính nhất thế giới này lừa dối. Và bây giờ, khi nhìn sâu vào mắt Nicole, y tin rằng nàng đang nói với y sự thật. 
– Mấy anh em mệt mỏi đến cỡ nào? Y hỏi. 
– Tất cả chúng em đều kiệt sức, Nicole đáp. 
Vài người hầu bàn xuất hiện nhằm tiếp món ăn chính cho họ. Cuối cùng, khi họ đã quay lui, Nicole ngả người về phía Rubio và thì thầm 
– Hầu như đêm nào ông em họ của em cũng làm việc tại kho hàng tới khuya. 
– Em đang ám chỉ điều gì vậy? Rubio hỏi. 
Nicole cầm lấy dao ăn và bắt đầu cắt nhỏ đồ ăn, những miếng thịt vịt sẫm màu lõng bõng trong một thứ nước xốt nhờ nhờ màu cam. 
– Em chẳng ám chỉ điều gì cả, nàng nói. Nhưng người có cổ phần nhiều nhất trong một nhà băng quốc tế lại ném toàn bộ thời gian của mình vào một nhà kho macaroni thì còn ra thể thống gì? Nếu em nắm quyền kiểm soát, em sẽ luôn có mặt tại nhà băng, và em phải bảo đảm rằng khách hàng của em đang thu lời từ những khoản đầu tư của họ. Nói đến đây Nicole thưởng thức món thịt vịt của nàng. Nàng mỉm cười với Rubio. Ngon tuyệt, nàng nói. 
Cùng với những khả năng khác của mình, Georgette Cilke còn là một phụ nữ có tài tổ chức. Thứ ba hàng tuần chị tình nguyện dành hai tiếng đồng hồ đẻ đến tổng hành dinh của tổ chức Phong Trào Chống Án Tử Hình. Ở đó chị giúp trả lời điện thoại và xem lại lời biện hộ của các luật sư cho những tù nhân bị kết Án Tử Hình. Vì vậy Nicole biết rõ phải chuyển cho chị bức thông điệp quan trọng thứ hai trong ngày đến nơi nào. 
Nhìn thấy Nicole bước vào, khuôn mặt của Georgette ngời sáng. Chị đứng lên ôm lấy bạn. 
– Ơn Chúa, chị nói. Hôm nay là mọt ngày tệ hại. Mình mừng vì cậu đã đến đây. Mình có chỗ để nhờ cậy một sự giúp đỡ tinh thần rồi. 
– Mình không biết sẽ giúp cậu được bao nhieu, Nicole nói. Mình đang có chuyện rắc rối phải bàn với cậu đây. 
Khi còn làm việc với nhau, Nicole chưa bao giờ tin tưởng Georgette, tuy nhiên hai người vẫn duy trì được mối quan hệ đồng sự tốt đẹp. Georgette chẳng bao giờ nói về công việc của chồng mình với bất kỳ ai. Và Nicole cũng không hề có ý định nói về những người tình của mình với những phụ nữ đã có gia đình, những người luôn luôn nghĩ rằng họ có trách nhiệm phải truyền đạt cách thức lôi một người đàn ông tới nhà thờ. Đó không phải là cái nàng mong muốn. Nicole thích bàn luận về quan hệ xác thịt trần trụi hơn, nhưng nàng nhận thấy việc này làm phần lớn những phụ nữ đã có gia đình cảm thấy khó chịu. Có lẽ, Nicole nghĩ, họ chẳng thích nghe những gì họ thiếu. 
Georgette hỏi Nicole liệu nàng có muốn gặp riêng hay không. Nicole gật đầu và lát sau họ tìm được một phòng nhỏ không người bên dưới đại sảnh. 
– Mình chưa bao giờ nói chuyện này với bất kỳ ai, Nicole lên tiếng. Nhưng cậu pahỉ biết ba mình là Raymonde Aprile – người được biết đến với cái tên Trùm Aprile. Cậu đã nghe nói về ông chưa? 
Georgette đứng lên và nói 
– Mình không nghĩ rằng mình phải nói chuyện với cậu. 
– Làm ơn ngồi xuống đi, Nicole ngắt lời. Cậu cần nghe đấy. 
Georgette có vẻ khó chịu nhưng vẫn làm theo yêu cầu của Nicole. Thực ra, chị luôn luôn muốn biết về gia đình Nicole nhưng không thể tự nói ra điều đó. Như nhiều người khác, Georgette có cảm tình với Nicole – người thông qua công việc pro bôn của mình đang cố gắng đền bù cho những tội lỗi của cha. Lớn lên dưới bóng tội ác, hẳn thời thơ ấu phải vô cùng khủng khiếp với Nicole. Chị tự hỏi bằng cách nào Nicole đã sống sót được qua những năm tháng ấy. 
Nicole biết Georgette dù có thế nào đi nữa cũng không bao giờ phản bội chồng mình, nhưng nàng cũng biết Georgette là một phụ nữ đầy lòng trắc ẩn và có đầu óc cởi mở. Một người đã hơn một lần dùng thời gian rảnh rỗi của mình vào việc biện hộ cho những kẻ giết người đã bị tuyên án. Lúc này Nicole nhìn Georgette chằm chằm rồi nói 
– Ba mình bị những kẻ có quan hệ gần gũi với chồng cậu giết chết. Mình và các anh mình có bằng chứng về việc chồng cậu nhận hối lộ của những người này. 
Từ sửng sốt chuyển sang hoài nghi, Georgette không nói lên lời. Nhưng điều dó chỉ diễn ra trong vài giây trước khi nổi cơn thịnh nộ. 
– Làm sao cậu dám, chị thì thầm. Chị nhìn thẳng vào mắt Nicole. Chồng mình thà chết chứ không đời nào vi phạm pháp luật. 
Nicole ngạc nhiên bởi phản ứng dữ dội của Georgette. Nàng có thể thấy rằng Georgêtt hoàn toàn tin tưởng ở chồng. Nicole tiếp tục 
– Chồng cậu không phải là người như cậu tưởng. Mình biết cậu đang nghĩ gì. Mình mới đọc hồ sơ của FBI về ba mình, mặc dù mình rất yêu ông, mình biết ông đã giấu mình nhiều chuyện. Cũng như Kurt đang làm với cậu vậy. 
Sau đó Nicole kể cho Georgette nghe về số tiền một triệu đô la Portella đã gửi vào tài khoản của Cilke với những trùm buôn lậu ma tuý và bọn giết mướn. Chỉ có sự chấp thuận ngầm của Cilke lũ người này mới có thể thực hiện được công việc của chúng. 
– Mình không đợi cậu tin mình, Nicole nói. Tất cả những gì mình hy vọng là cậu sẽ hỏi chồng cậu xem có phải mình đang nói với cậu sự thật hay không. Nếu Kurt là một người như cậu nói thì anh ấy sẽ không lừa dối cậu. 
Georgette không để lộ cảm xúc rối ren trong lòng chị. 
– Tại sao cậu lại nói với mình chuyện này? 
– Bởi vì, Nicole nói, chồng cậu có một mối thù với gia đình mình. Anh ấy sẽ cho phép các cộng sự giết Astorre và nắm lấy công việc điều hành nhà băng của gia đình mình. Việc này sẽ xảy ra vào đêm mai tại kho macaroni của đứa em họ mình. 
Nghe nói đến macaroni, Georgette phì cười và nói 
– Mình không tin cậu. Rồi chị đứng lên để ra về. Mình xin lỗi, Nicole ạ, chị nói. Mình biết cậu buồn, nhưng chúng mình không còn gì để nói với nhau nữa. 
Đêm hôm đó, trong căn phòng ngủ được trang trí sơ sài của ngôi nhà ở nông trại nơi gia đình tạm dọn đến, Cilke đã đối mặt với cơn ác mộng của mình. Ông và vợ đã dùng xong bữa tối và đang ngồi đối diện với nhau. Cả hai cùng đang đọc. Bất thình lình, Georgette đặt cuốn sách xuống và nói 
– Em muốn nói chuyện với anh về Nicole Aprile. 
Trong suốt thời gian chung sôngs, Georgette chưa bao giờ đòi hỏi chồng luận bàn về công việc của ông. Chị không muốn động đến những bí mật của Liên bang. Chị hiểu đó là một phần cuộc sống của Cilke cần pahỉ giữ cho riêng mình. Đôi khi vào ban đêm, nằm bên ông, chị vẫn tự hỏi, ông thực thi công việc của mình ra sao – những biện pháp ông sử dụng để moi thông tin, những áp lực hẳn ông phải dùng để thúc ép đối tượng nghi vấn. Tuy nhiên trong đầu chị, chị vẫn luôn mường tượng ông là một dại diện có cỡ của Liên bang trong bộ comple chỉnh tề, với bản hiên spháp nhàu nát nhét trong túi sau. Trong thâm tâm, chỉ đủ không ngoan để hiểu rằng đây là một điều bịa đặt. Chồng chị là một người kiên định. Ông sẽ còn đi xa hơn nữa để đánh bại kẻ thù. Tuy vậy, đây vẫn cứ có thể là một thực tế, cái thực tế mà chị không bao giờ muốn kiểm tra. 
Cilke đang đọc một cuốn tiểu thuyết kinh dị – cuốn thứ ba trong bộ sách nói về một kẻ giết người hàng loạt. Y đã nuôi day con trai mình trở thành một linh mục. Khi Georgette hỏi, ông lập tức gập cuốn sách lại. 
– Anh đang nghe em đây, ông nói. 
– Hôm nay Nicole nói vài chuyện về anh và về cuộc điều tra anh đang chỉ đạo, Georgette nói. Em biết anh không thích nói về công việc của anh, nhưng cô ấy buộc tội anh hết sức quyết liệt. 
Cilke cảm thấy cơn thịnh nộ đang bùng lên trong ông, nó lớn dần đến lúc ông tưởng như không kiềm chế nổi. Đầu tiên chúng giết hai con chó của ông. Sau đó chúng phá nhà ông. Và bây giờ chúng lại làm hoen ố mối quan hệ trong sạch nhất của ông. Cuối cùng, khi trái tim tạm ngừng nhảy múa, ông đề nghị Georgette bằng một giọng ôn tồn nhất mà ông có thể, để chị kể cho ông tường tận chuyện gì đã xảy ra. 
Georgeet thuật lại toàn bộ cuộc nói chuyện với Nicole rồi qan sát vẻ mặt chồng mình một cách chăm chú trong khi ông bị hút vào thông tin. Khuôn mặt ông không hề biểu lộ nét ngạc nhiên hay giận dữ.

Google photos

Khi chị nói xong, Cilke mới lên tiếng 
– Cảm ơn em yêu. Anh chắc rằng nói ra điều này là rất khó đối vơi em. Anh rất tiếc. Sau đó ông đứng lên và đi ra cửa. 
– Anh đi đâu? Georgette hỏi. 
– Anh cần chút khí trời, Cilke đáp. Anh cần phải suy nghĩ. 
– Kurt, anh yêu, giọng Georgette vang lên dò hỏi, chị cần được tái cam đoan. 
Cilke đã thề sẽ không bao giờ nói dối vợ. Nếu chị khẩn nài sự thật, ông sẽ phải nói cho chị biết và chịu đựng hậu quả. Ông vẫn hy vọng chị sẽ hiểu và quyết định, tót hơn cả cứ giả bộ những bí mật này không hề tồn tại. 
– Anh có thể nói gì với em không? chị hỏi 
Ông lắc đầu. 
– Không. Anh làm mọi thứ vì em. Em biết thế, phải không? 
– Vâng. Nhưng em cần phải biết. Vì chúng ta và vì con gái của chúng ta. 
Cilke thấy không còn lối thoát. Ông hiểu chị sẽ chẳng bao giờ nhìn ông như thế nữa nếu ông nói cho chị nghe sự thật. Lúc này ông chỉ muốn đập vỡ sọ Astorre Viola. Ông cân nhắc những gì có thể nói với vợ mình, chẳng hạn như: anh chỉ nhận hối lộ vì FBI muốn anh làm thế. Bọn anh đã vi phạm vài điều luật để củng cố những điều luật quan trọng hơn. Ông biết những câu trả lời như thế sẽ làm chị thêm tức giận, mà ông thì yêu và kính trọng chị vô cùng. 
Cilke rời khỏi nhà không nói một lời. Khi quay về, vợ ông giả vờ đã ngủ. Ông đi đến quyết đinh, đêm hôm sau ông sẽ đối mặt với Astorre Viola và lấy lại chân giá trị của chính mình. 
Aspinella Washington không căm ghét tất cả đàn ông, nhưng mụ kinh ngạc vì nhiều người trong số họ làm mụ chán ngấy. Tất cả bọn họ đều … vô tích sự. 
Sau khi đã giải quyết xong Heskow, mụ bị thẩm ván qua quýt bởi hai sĩ quan an ninh, những kẻ hoặc quá đần hoặc quá sợ hãi nên không thể phản kháng lại tường trình của mụ. Khi cảnh sát tìm thấy 100.000 đô lận trong người Heskow, họ cho rằng động cơ của y là rõ ràng. Họ quả quyết họ đáng được thưởng tiền công vì đã dọn sạch đống lộn xộn mà mụ đã tạo ra trước khi xe cứu thương đến. 
Aspinella chỉ có hai cách xài tiền. Mụ giữ lại 3000 đô còn nhét cả vào két an toàn của mụ. Mụ đã chỉ dâẫnho bà mẹ mụ rằng nếu có bất kỳ chuyện gì xảy ra với mụ thì tất cả số tiền trong két – hơn 300.000 đô tiền hối lộ – phải được uỷ thác giữ lại cho con gái mụ. Với số tiền 3000 đô còn lại, mụ đón một chiếc taxi đến Đại lộ Năm rồi tới phố Năm ba. Ở đó mụ vào một cửa hàng đồ da chất lượng cao nhất thành phố và đi thang máy lên một phòng riêng trên tầng ba. 
Một phụ nữ đeo cặp kính rất mốt và mặc bộ đồ kẻ sọc nhỏ nhận tiền thanh toán rồi đi kèm mụ xuống đại sảnh. Tại đây mụ tắm trong một bồn tắm đầy dầu thơm Trung Hoa. Mụ ngâm mình khoảng hai mươi phút và nghe một đĩa CD những bản Thánh ca thời Trung cổ trong lúc chờ Rudolfo, một bác sĩ mát sa – tình dục có bằng cấp thực hành. 
Rudolfo nhận 3000 đô cho một suất hai tiếng, nhiều hơn số tiền những luật sư nổi tiếng nhất được trả mỗi giờ. Y nói bằng giọng Bavarian kèm một nụ cười ranh mãnh 
– Khác biệt là ở chỗ người ta chỉ lợi dụng bạn. Còn tôi thì làm cho bạn mê ly. 
Aspinella đã nghe danh Rudolfo trong mọt cuộc điều tra tệ nạn xã hội trá hình do mụ chỉ huy tại các khách sạn sang trọng trong thành phố. Một người giữ cửa lo rằng y có thể được yêu cầu làm chứng, vì thế, để đổi lấy việc không bị triệu tập, y đã cho mụ thông tin về Rudolfo. Aspinella đã nghĩ đến việc tiến hành bố ráp, nhưng khi gặp Rdolfo và được thưởng thức một trong những bài xoa bóp của y, mụ cảm thấy không cho chị em phụ nữ được thưởng thức tài nghệ phi thường này sẽ là một tội ác lớn hơn. 
Vài phút sau Rudolfo gõ cửa và hỏi 
– Tôi vào được chứ? 
– Vào đi cưng, mụ nói. 
Y bước vào và nhìn mụ. 
– Miếng băng mắt đẹp quá, y nói. 
Lần đầu tới đây Aspinella hết sức ngạc nhiên khi Rudolfo bước vào phòng mình trần như nhộng, nhưng y nói, 
– Tại sao cứ vẽ vời mặc đồ vào rồi chỉ để cởi ra? y là một loại người đặc biệt, cao ráo và săn chắc, ngực y phủ một lớp lông vàng óng như tơ và xoăn tít phía bên phải có xăm hình con hổ. Mụ đặc biệt thích đám lông ngực, cái làm Rudolfo khác biệt với đám người mẫu trên tạp chí – những kẻ đã nhổ, cạo sạch lông và bôi dẫu kỹ lưỡng đến mức người ta không thể nhận ra chúng là đàn ông hay đàn bà. 
– Sức khoẻ bồ ra sao? Y hỏi. 
– Cưng không cần nghe chuyện đó, Aspinella nói. Tất cả những gì cưng cần phải biết là tôi muốn được điều trị về sinh lý. 
Rudolfo bắt đầu từ lưng mụ, nhấn vào tất cả các khớp xương của mụ. Sau đó y dịu dàng xoa bóp cổ trước khi lật ngửa mụ ra và nhẹ nhàng mát xa ngực và bụng mụ. Đến khi y bắt đầu vuốt ve giữa hai chân mụ thì mụ đã ướt mèm và thở gấp. 
– Tại sao những người đàn ông khác kông thể làm điều này cho tôi? Aspinella nói với một tiếng thở dài mê ly. 
Rudolfo đang chuẩn bị bắt đầu thực hiện giai đoạn quan trọng nhất – mát xa bằng lưỡi. Y làm nó rất thuần thục, cùng một khả năng phi thường. Tuy nhiên câu hỏi của mụ, câu hỏi y đã nghe nhiều lần, làm y ngạc nhiên. Một câu hỏi như vậy luôn làm y ngạc nhiên. Dường như thành phố đang nổ tung bởi đám đàn bà khát tình. 
– Tại sao những người đàn ông khác không làm được việc này là cả một điều bí ẩn đối với tôi, y nói. Bồ nghĩ sao? 
Mụ ghét làm gián đoạn giấc mơ tình dục của mình, tuy nhiên mụ vẫn bảo Rudolfo mụ cần tỷ tê ở trên giường trước khi diễn cảnh cuối cùng. 
– Đàn ông yếu quá, mụ nói. Chúng tôi là những người đưa ra những quyết định quan trọng. Khi nào lập gia đình. Khi nào sinh con. Chúng tôi gò cương đám đàn ông và nghĩ rằng họ phải chịu trách nhiệm về những gì họ làm. 
Rudolfo mỉm cười lịch sự. 
– Nhưng cái đó thì liên quan gì đến tình dục? 
Aspinella muốn y quay lại với công việc. 
– Tôi không biết, mụ nói. Đấy chỉ là quan niệm thôi. 
Rudolfo lại tiếp tục xoa bóp cho mụ – chậm rãi, đều đều, nhịp nhàng. Y dường như không bao giờ mệt mỏi. Và mỗi lần y đưa mụ đến điểm cực khoái mụ lại tưởng tượng ra những cực hình khủng khiếp mà mụ sẽ giáng xuống đầu Astorre Viola cùng cái băng côn đồ của chàng vào đêm mai. 
Công ty Macaroni của Viola toạ lạc trong một nhà kho xây bằng gạch ở khu đông Manhattan. Hơn một trăm người làm viẹc tại đây. Công việc của họ là bốc dỡ những bao macaroni khổng lồ nhập từ Italy cho vào băng chuyền, sau đó chúng được tự động phân loại và đóng gói. 
Một năm trước, được một bài báo viết về việc các doanh nghiệp nhỏ phát triển các hoạt động của mình làm cho phấn chấn, Astorre đã thuê một cố vấn của Đại học Harvard về làm tham mưu cho những chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Tay này bảo Astorre tăng giá lên gấp đôi, đổi tên nhãn hiệu macaroni của chàng thành MÌ ỐNG NHÀ LÀM CỦA BÁC VITO, sa thải một nửa số nhân công và thay vào đó những hợp đồng lao động tạm thời với tiền công chỉ bằng một nửa. Đáp lại đề nghị đó, Astorre sa thải tay cố vấn. 
Văn phòng của Astorre nằm ở khu chính, rộng cỡ một sân bóng đá, hai bên là những máy móc sáng loáng bằng thép không rỉ xếp thành hàng. Phí sau nó tông ra một bến tàu. Những máy ghi hình được bố trí bên ngoài những lối vào và cả trong nhà máy nên chàng có thể theo dõi các vị khách và điều hành sản xuất từ văn phòng của mình. Bình thường, nhà kho đóng cửa lúc 6 giờ tối, nhưng đêm nay Astorre giữ lại năm người cừ nhất và Aldo Monza. Chàng chờ đợi. 
Đêm hôm trước, khi bàn bạc với Nicole về kế hoạch này tại văn phòng nàng, Nicole đã cương quyết phản đối. Nàng lắc đầu quầy quậy. 
– Thứ nhất, nó chẳng giải quyết được vấn đề. Và thứ hai, tôi không muốn làm một kẻ đồng loã với tội sát nhân. 
– Chúng giết vệ sĩ của chị và chúng còn cố bắt cóc chị, Astorre nhỏ nhẹ nói. Tất cả chúng ta đều gặp nguy hiểm, trừ phi tôi hành động. Nicole nghĩ về Helene, rồi nàng nhớ đến những cuộc tranh luận bên bàn ăn với cha nàng – người chắc chắn đã tìm đến biện pháp trả thù. Cha nàng hẳn sẽ nhắc nhở nàng rằng thi hành những biện pháp phòng ngừa để bảo vệ gia đình là hợp lý và cần thiết. 
– Tại sao chúng ta không đến gặp nhà chức trách? Nàng hỏi. 
Astorre trả lời khô khốc 
– Đã quá muộn để làm việc đó. 
Lúc này Astorre đang ngồi trong phòng làm việc của mình làm mồi câu sống. Nhờ Grazziella, chàng biết Portella và Tulippa đã đến thành phố để dự cuộc họp của nghiệp đoàn. Chàng không chắc thông tin mà Nicole đã tiết lộ với Rubio có thúc chúng dẫn xác tới hay không, nhưng chàng hy vọng chúng sẽ cố một lần nữa thuyết phuc chàng chuyển giao các nhà băng trứơc khi sử dụng vũ lực. Chàng cho rằng chúng sẽ kiểm tra vũ khí, vì vậy chàng không vũ trang cho mình, ngoại trừ một con dao găm đút trong một chiếc bao đặc biệt khâu trong tay áo. 
Khi đang chăm chú quan sát màn hình, Astorre phát hiện ra nửa tá người từ phía bến tàu thâm nhập vào phía sau toà nhà. Chàng ra lệnh cho người của mình ẩn náu và không được tấn công chừng nào chàng chưa phát tín hiệu cho họ. 
Xem kỹ màn hình chàng nhận ra Portella và Tulippa trong số sáu người. Sau đó, khi chúng biến mất khỏi màn hình, chàng nghe thấy tiếng bước chân đang tiến về phía phòng làm việc của chàng. Nếu chúng định giết chàng thì Monza và nhóm của hắn đã sẵn sàng và có thẻ ứng cứu. 
Sau đó Portella gọi chàng. 
Chàng không lên tiếng. 
Portella và Tulippa dừng ngoài cửa trong chốc lát. 
– Mời vào, Astorre nói với một nụ cười ấm áp. Chàng đứng lên bắt tay khách. Thật là ngạc nhiên, tôi rất ít khi có khách vào giờ này. Tôi có thể làm được gì cho các ngài đây? 
– Có đấy, Portella lầu bầu. Bọn này đang ăn tối thì lại hết macaroni. 
Astorre vung tay một cách hào hiệp và nói 
– Macaroni của tôi cũng là macaroni của các ngài. 
– Thế còn các nhà băng của cậu? Tulippa hỏi đầy đe doạ. 
Astorre đã sẵn sàng đương đầu với việc này. 
– Đã đến lúc chúng ta phải nói chuyện nghiêm chỉnh rồi. Nhưng trước hết tôi muốn đưa các ngài đi tham quan nhà máy. Tôi rất tự hào về nó. 
Tulippa và Portella trao đổi với nhau một cái nhìn bối rối. Cả hai đều lo lắng. 
– OK, nhưng đi ít và nhanh thôi nhé, Tulippa nói và tự hỏi làm sao thằng hề này lại có thể tồn tại lâu đến thế. 
Astorre dẫn chúng đi. Bốn gã đàn ông tháp tùng chúng đang đứng gần đấy. Astorre chào hỏi thân tình và bắt tay từng đứa. 
Người của Astorre đang quan sát chàng rất chăm chú, chờ đợi lệnh tấn công của chàng. Monza đã điều ba tay súng lên căn gác lửng. Những người còn lại dàn ra phía bên kia kho hàng. 
Astorre cho khách xem hết kho hàng. Cuối cùng Portella nói 
– Tâm trí cậu đặt ở đâu thì đã rõ. Sao cậu không để chúng tôi điều hành nhà băng? Chúng tôi sẽ trả giá cao nhất và chia lãi cho cậu theo tỷ lệ phần trăm. 
Astorre sắp phát tín hiệu nổ súng cho người của mình. Nhưng bất thình lình chàng nghe thấy tiếng súng rồi nhìn thấy ba người của chàng rơi hai mươi bộ từ căn gác lửng và nằm úp thìa trên sàn nhà trước mặt chàng. Chàng nhìn kỹ căn nhà kho để tìm Monza trong khi hắn nhanh nhẹn lẩn vào phía sau một chiếc máy đóng gói cỡ lớn. 
Rồi chàng nhìn thấy một phụ nữ da đen đeo một miếng băng mắt màu xanh chạy nhanh về phía họ và chộp lấy cổ Portella. Mụ thúc mạnh nòng súng trường vào bụng y, rồi mụ lôi ra một khẩu súng lục ổ quay và ném khẩu súng trường xuống sàn. 
– Ok, Astpinella Washington nói. Tất cả buông vũ khí ngay lập tức. Không ai nhúc nhích, mụ liền chộp lấy cổ Portella, xoay hắn lạ và nã hai phát đạn vào bụng hắn, Khi Portella gập người lại, mụ đánh mạnh báng súng xuống đầu hắn và đá vào miệng hắn. 
Sau đó mụ chộp lấy Tulippa và nói 
– Mày sẽ là đứa tiếp theo trừ phi tất cả làm theo những gì tao nói. Mạng đền mạng đấy, đồ con hoang. 
Portella biết rằng nếu không được giúp đỡ hắn sẽ chỉ sống thêm được ít phút nữa. Mắt hắn đang mờ dần. Hắn nằm sóng xoài trên sàn nhà, thở một cách khó nhọc, chiếc sơ mi của hắn đẫm máu. Miệng hắn cứng đờ 
– Hãy làm theo lời bà ấy, Portella rên rỉ một cách yếu ớt. 
Người của Portella tuân lệnh hắn. 
Portella thường nghe nói rằng bị bắn vào bụng sẽ dẫn đến một cái chết đau đớn nhất. Lúc này hắn đã biết tại sao. Mỗi lần thở sâu, hắn cảm thấy giống như bị thọc vào tim. Hắn đã mất khả năng kiểm soát bàng quang, và nước tiểu của hắn tạo thành một vết ố sẫm màu trên chiếc quần màu xanh da trời còn mới. Hắn cố gắng nhìn kẻ đã bắn mình, một mụ đàn bà da đen gân guốc mà hắn không nhận ra. Hắn cố thốt lên mấy tiếng 
– Bà là ai? nhưng không được. Ý nghĩ cuối cùng của hắn uỷ mị đến kỳ lạ: Hắn tự hỏi ai có thể báo cho em trai hắn, Bruno, rằng hắn đã chết. 
Chỉ mất vài giây để Astorre hiểu chuyện gì đã xảy ra. Trước đây chàng chưa từng thấy thám tử Aspinella Washington, trừ những bức ảnh trên báo và trên vô tuyến truyền hình. Nhưng chàng biết, nếu mụ đã phát hiện ra chàng thì trước tiên mụ phải đến chỗ Heskow. Và Heskow chắc chắn đã chết. Astorre không cảm thấy thương tiếc con người tứ cố vô thân lươn lẹo ấy. Heskow có một nhược điểm lớn là y có thể nói hoặc làm bất cứ điều gì để tồn tại. Thật hay nếu lúc này y nằm trong huyệt mộ cùng những bông hoa y trồng. 
Tulippa không biết tại sao con đàn bà dữ tợn này lại chĩa súng vào cổ y. Vì tin Portella đảm bảo được an ninh nên y đã cho đám vệ sĩ trung thành của mình được nghỉ. Một sai lầm ngu xuẩn. Hoa Kỳ là một đất nước kỳ lạ, y thầm nghĩ. Người ta không thể biết bạo lực sẽ từ đâu đến. 
Khi Aspinella ấn sâu mũi súng vào da thịt y, Tulippa thầm hứa với chính mình rằng, nếu y thoát được vụ này và chuồn được về Nam Mỹ, y sẽ đẩy mạnh việc chế tạo vũ khí hạt nhân, y sẽ làm tất cả những gì có thể để làm nổ tung đất nước này càng nhiều càng tốt, đặc biệt là Washington DC, cái thủ đô ngạo mạn của những kẻ trịch thượng lười biếng quen ăn trên ngồi trốc, và thành phố New York, nơi dường như đã sinh ra những kẻ điên khùng như con đàn bà một mắt này. 
– Được đấy, Aspinella bảo Tulippa. Chúng mày đã gạ tụi tao nửa triệu đô để chăm sóc cho thằng ranh này. Mụ chỉ vào Astorre. Tao hẳn sẽ rất mừng được làm việc đó. Nhưng kể từ khi gặp nạn, tao đã tăng giá lên gấp đôi. Với chỉ một con mắt, tao phải ngó nghiêng vất vả gấp hai lần. 
Kurt đã bí mật theo dõi kho hàng suốt cả ngày. Ngồi trên chiếc Chevy màu xanh của mình với một gói kẹo và một tờ Newsweek, ông chờ Astorre ra về. 
Ông đến có một mình vì không muốn lôi kéo các nhân viên khác của FBI vào cái mà ông tin có thể là đoạn kết trong sự nghiệp của ông. Khi nhìn thấy Portella và Tulippa bước vào toà nhà, ông thấy miệng ông đắng ngắt. Và ông nhận ra Astorre là một kẻ thù khôn ngoan đến nhường nào. Nếu, Cilke nghi ngại, Portella và Tulippa tấn công Astorre, ông có bổn phận phải bảo vệ gã. Astorre sẽ được tự do và giữ sạch thanh danh mà không phải phá vỡ sự im lặng của gã. Và những tháng năm làm việc vất vả của Cilke thế là đi tong. 

Google photos

Nhưng khi thấy Aspinella Washington vác khẩu súng trường tấn công lao vào toà nhà thì ông có một cảm giác khác hẳn – một nỗi sợ hãi đến rợn người. Ông đã nghe nói về mụ trong vụ bắn nhau tại sân bay. Với ông, vụ này có vẻ khả nghi quá. 
Ông kiểm tra đạn trong khẩu súng ngắn ổ quay và cảm thấy thật hão huyền nếu hy vọng vào sự giúp đỡ của mụ. Trước khi rời khỏi xe, Cilke quyết định đã đến lúc phải thông báo cho FBI. Sử dụng điện thoại trên xe, ông gọi cho Boxton. 
– Tôi đang ở bên ngoài kho hàng của Astorre Viola, Cilke nói với Boxton. Sau đó ông nghe tiếng súng bắn dồn dập. Tôi vào trong đây, và nếu có chuyện gì xảy ra, tôi muốn cậu báo cho ngài giám đốc. Tôi đang hành động một mình. Cậu có ghi âm cuộc gọi này không đấy? 
Boxton dừng lại. Ông ta không rõ liệu Cilke có hiểu và thông cảm cho việc bị ghi âm hay không. Kể từ khi Cilke trở thành một mục tiêu, tất cả các cuộc gọi của ông đều bị kiểm soát. 
– Có, Boxton nói. 
– Tốt, Cilke đáp lại. Nhờ có ghi âm mà cả cậu và tất cả mọi người trong lực lượng FBI không phải chịu trách nhiệm về những gì tôi sắp làm. Tôi đang ở vào một tình thế bất lợi dính líu đến ba tên tội phạm khét tiếng và một kẻ phản bội trong lực lượng cảnh sát New York, tên này được trang bị vũ khí hạng nặng. 
Boxton ngắt lời Kurt. 
– Kurt, chờ tiếp viện đã. 
– Không còn thời gian đâu, Cilke nói. Hơn nữa đây là mớ bòng bong của tôi. Tôi sẽ dọn dẹp. Ông nghĩ tới việc để lại một lời nhắn cho Georgette, nhưng như thế thì bi quan quá. Tốt hơn cứ để những hành động của ông nói lên tất cả. Ông cúp máy. Khi rời khỏi xa ông mới nhận ra đã đỗ xe sai luật. 
Cái đầu tiên đập vào mắt Cilke khi ông bước vào kho hàng là khẩu súng của Washington đang ấn sâu vào cổ Tulippa. Tất cả những người có mặt trong nhà kho đều im lặng. Không kẻ nào dám nhúc nhích. 
– Tôi là sĩ quan Cục điều tra Liên bang, Cilke giới thiệu, hướng nòng súng của ông lên trời. Hãy bỏ vũ khí của các người xuống. 
Aspinella quay lại phía Cilke và giễu cợt nói. 
– Tôi biết ngài là thằng đéo nào rồi. Vụ này là của tôi. Xéo đi mà tóm cổ mấy đứa kế toán viên hay đám buôn bán cổ phiếu. Đây là việc của NYPD. 
– Thám tử, Cilke bình tĩnh nói, bỏ vũ khí xuống ngay. Nếu cần, tôi sẽ sử dụng vũ lực. Tôi có lý do để tin rằng bà can dự vào một âm mưu đen tối. 
Aspinella không thèm đếm xỉa đến lời cảnh báo. Từ ánh mắt cương quyết của Cilke, mụ biết ông sẽ không chịu lùi bước. Song mụ cũng đâu có ý định nhượng bộ, làm gì có chuyện đó khi mụ có súng trong tay. Mụ nghĩ, chắc lâu rồi Cilke không bắn người. 
– Ngài cho rằng tôi can dự vào một âm mưu ư? Mụ hét lên. Tôi cho rằng ngài cũng can dự vào một âm mưu. Tôi cho rằng lâu nay ngài vẫn nhận tiền đút lót của thằng chó chết này. Mụ lại thúc mạnh nòng súng vào Tulippa. Có đúng vậy không, thưa senor 1? 
Lúc đầu Tulippa im lặng, nhưng khi mụ thúc đầu gối vào háng y, y gập người lại và gật đầu. 
– Bao nhiêu? Aspinella hỏi. 
– Hơn một triệu đô la, Tulippa thều thào. 
Cilke nén giận nói 
– Mỗi đô la chúng gửi vào tài khoản của tôi đều được FBI giám sát. Đây là một cuộc điều tra của Liên bang, thám tử Washington ạ. Ông hít sâu vào rồi đếm ngược trước khi bảo mụ. Đây là lời cảnh cáo cuối cùng của tôi. Bỏ vũ khí xuống nếu không tôi sẽ bắn. 
Astorre lặng lẽ quan sát. Aldo Monza đang đứng ở một nơi nào đó phía sau một trong những cỗ máy. Astorre nhìn thấy cơn co giật trên mặt Aspinella. Rồi, như thể điều đó diễn ra hết sức chậm chạp, chàng thấy mụ lẻn ra phía sau Tulippa và bắn vào Cilke. Nhưng ngay khi mụ nổ súng, Tulippa vùng thoát ra và nhào xuống sàn nhà làm mụ mất thăng bằng. 
Cilke bị bắn vào ngực. Nhưng ngay lập tức ông bắn vào Aspinella và thấy mụ lảo đảo về phía sau, máu phun ra từ bên dưới vai phải của mụ. Không ai bị bắn chết. Họ làm theo những gì được huấn luyện đến cùng – nhằm vào phần rộng nhất của cơ thể. Nhưng Aspinella cảm thấy một cơn đau tê dại và thấy được sự tàn phá của viên đạn, mụ biết đã đến lúc quên đi điều luật. Mụ nhằm vào giữa hai mắt Cilke. Mụ bóp cò bốn lần cho đến khi mũi của Cilke biến thành một đám sụn nhão nhoét và mụ có thể thấy một lượng lớn óc của ông bắn lên phần còn sót lại của khuôn mặt. 
Tulippa thấy Aspinella đã bị thương và đang đi lảo đảo. Y cản mụ lại rồi đánh cùi trỏ vào mặt mụ, lạnh lùng hạ mụ đo ván. Nhưng trước khi y kịp chộp lấy khẩu súng của mụ, Astorre đã từ phía sau cỗ máy bước ra và đá nó văng qua gian phòng. Sau đó chàng đến bên Tulippa và rất ga lăng chìa tay cho y. 
Tulippa chấp nhận cử chỉ ấy và Astorre kéo y đứng lên. Cùng lúc đó, Monza và những người sống sót trong đội của hắn vây chặt đám bộ hạ của Portella rồi trói chúng vào những thanh dầm bằng thép của kho hàng. Không ai động đến Cilke và Portella. 
– Đúng thế, Astorre nói, Tôi tin chúng ta có chút việc phải hoàn thành. 
Tulippa bối rối. Astorre quá nhiều mâu thuẫn – một đối thủ thân thiện, một kẻ sát nhân mê nghiệp cầm ca. Liệu một con bài tẩy như thế có thể tin được hay không? 
Asotrre đi vào giữa kho hàng và ra hiệu cho Tulippa theo sau. Khi tới một khoảng trống chàng dừng lại và quay về phái Tulippa. 
– Ngài giết bác tôi rồi ngài định cướp nhà băng của chúng tôi. Tôi không cần phải hoài hơi với ngài. Sau đó Astorre rút dao găm ra, lưỡi dao loé sáng. Chàng cho Tulippa xem 
– Tôi chỉ việc cắt cổ ngài bằng con dao này. Nhưng ngài là kẻ yếu, và giết một người không có khả năng tự vệ đâu xứng với kẻ quân tử. Vì vậy tôi sẽ cho ngài một cơ hội. 
Khi nói những lời nói đó Astorre kín đáo ra hiệu cho Moza rồi chàng giơ cả hai tay lên trời như thể đầu hàng, thả rơi con dao và lui lại vài bước. Tulippa nhiểu tuổi hơn và to lớn hơn Astorre, sử dụng dao đặc biệt thành thạo. Tuy nhiên y vẫn chưa phải là đối thủ của Astorre. 
Tulippa nhặt con dao lên và bắt đầu tiến về phía Astorre. 
– Mày là một thằng ngu, dám coi trời bằng vung, y nói. Tao đã sẵn sàng nhận mày làm đối tác cơ đấy. Y đâm bổ vào Astorre vài lần nhưng chàng nhanh nhẹn tránh được. Khi Tulippa dừng lại để lấy hơi, Astorre tháo chiếc huy hiệu vàng ra khỏi cổ và ném xuống sàn nhà, để lộ ra vết sẹo màu tía trên cổ họng 
– Tôi muốn đây là cái cuối cùng ngài nhìn thấy trước khi chết. 
Tulippa sững sờ bởi vết thương, một sắc màu tía y chưa từng thấy bao giờ. Và trước khi y kịp định thần Astorre đã đá văng con dao khỏi tay y. Bằng một cú lên gối nhanh và chính xác vào lưng Tulippa, chàng khoá đầu y lại rồi bẻ cổ y. Tất cả đều nghe thấy tiếng xương gãy răng rắc. 
Không thèm nhìn nạn nhân, Astorre nhặt chiếc huy hiệu lên đeo vào cổ rồi rời khỏi toà nhà. 
Năm phút sau, một đoàn xe của lực lượng FBI mới đến được Hãng Macaroni của Viola. Aspinella vẫn còn sống. Mụ được đưa vào phòng hồi sức cấp cứu của bệnh viện. 
Khi đã nghiên cứu kỹ cuốn băng video không lời mà Monza quay được, các quan chức FBI xác nhận rằng Astorre, người đã giơ tay đầu hàng và buông dao, phải hành động để tự vệ.

——————————–

1Senor: ông, ngài (tiếng Ý trong nguyên bản).


Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Chương 12.

Trở lại đọc sách cũ, và về cuốn “l’agome de l’indochine” của tướng H. Navarre

Tôi có tật lớn, hay nói lê thê dông dài, không biết bao giờ dứt, vì đây là tôi nói tôi viết cho tôi đỡ buồn, không khác mấy chị đi gánh nước mướn, vừa gánh gánh trên vai, nhơn thì chạy, miệng vẫn lầm bầm, người bàn cây đề đã xổ, người than nhà đã hết gạo, chồng thì bỏ nhà đi biệt, con lại ốm đau, lại mấy sao đâu? Phải nói cho đỡ…

“Ngồi buồn khuấy nước giỡn trăng, nước xao trăng lặn buồn chăng hỡi buồn!”. (khuấy hay quấy, vọc hay chọc, xao hay dao, cũng không quan hệ, miễn nhớ cho buồn vẫn là buồn), ông Navarre nầy cũng vậy. Ông được cử qua đây cầm đầu đạo binh viễn chinh, đánh cầm cự đã hơn bảy tám năm, đánh cù nhầy không thấy thắng nổi, nay về tay ông chấp chướng, thì chẳng bao lâu xảy ra trận bại chiến lớn nơi Điện Biên Phủ, thôi rồi công lao hạng mã bấy lâu, chỉ còn lại danh “tướng bại trận”…, viết đến đây khiến tôi nhớ “bắt quàng, qua bài thơ tương truyền là của phò mã Trị, đời Tây Sơn làm khi thua trận, bài thơ ấy tôi đã có kể rồi nay xin lặp lại nơi đây:

Miệng sành thơ

Sa cơ một chút hoá tan tành,

Thiên hạ đều kêu cái miếng sành.

Sắc lém như gươm người gớm mặt,

Rán sao ra mỡ chúng hay danh.

Ghe phen sắp cật nằm trên cát,

Có thuở làm chông đứng vách thành.

Chuông khánh dầu ai không dám sánh,

Gõ chơi cũng có tiếng canh canh!

Độc giả nên xem lại lời chú thích trong quyển 3 bộ Hiếu cổ đặc san, trang 41, ở đây tôi chỉ cần nêu thêm tâm sự ông Navarre nầy không khác, cũng như việc gần đây, tôi xin nói luôn, để so sánh: Vừa rồi, ngày 2-12-1983 mới đây, sáng sớm, tôi còn ngồi nơi sân sau nhấp chén trà buổi thanh tâm, bỗng có một người đến nơi cổng sân, tần ngần ngó ngay mặt tôi, nửa cười nửa như quen thân lắm, xưng “Đại tá Tư”, tôi nhìn không ra, lật đật mời vào, rót trà mời (nhưng khách đi rồi, chén trà vẫn còn nguyên), khách hỏi tôi “đồ xưa ắt làm gì xài cho hết?”, tôi cẩn thận đính chính “xưa nay, đó là vật sưu tập cùng và nưng niu như vợ bé”, chưa từng bán chao hay gá đợ một cục yêu nào”, tôi tình thật hỏi, khách nói cho một hơi không ngừng: “Đi cải tạo ngót bảy tám năm, năm tháng chỗ nầy, mấy tháng chỗ nọ, vân vân và vân vân hại thay tôi vẫn bơ phờ không nhớ rõ đã từng gặp hay quen ông nầy nơi nào, khách hói thêm một câu: “Đã ghé nhà bà Phước Mỹ, nhưng bà đã từ trần”, nói xong khách từ giã cho biết sẽ ghé quê là Cà Mau, nhưng cũng chưa biết nhà cửa còn chăng, và khi ra khỏi cổng, khách nói với: “Nếu mà không còn, thì còn nhà bà con thân quyến”… khách đã ra về mất dạng, tôi vờ vẫn mấy ngày rừng đào óc tìm không ra danh tánh ông nầy, mãi đến chúa nhựt 4-12, có người cho tôi rõ, thì đó là cựu tỉnh trưởng Gia Định trước đây, một nhơn vật chầu gần đây đồng cánh ngộ phò mã Tây Sơn và ông tướng Pháp thua trận Điện Biên Phủ, có lẽ anh hùng lỡ vận lại rủi gặp thằng chơi đồ xưa vận lỡ! (viết 9-12-1983).

Theo chỗ tôi nhận xét, tướng võ H. Navarre có một giọng văn rất sạch, đanh thép rất “kẻ cả”, tỷ như khi luận về ông tướng Hinh ở Việt Nam (trang 139), rõ là giọng đàn anh, và trọn cuốn sách – ông bị chê là tướng bại trận, nay phải biện minh việc làm của mình, ông dùng toàn lời thanh và giải bày tường tận, không phải dành cho độc giá tầm thường, mà ý ông là nhắn gởi vào chính trị gia, nghị viên và nguyên lão nghị viên, tuy giỏi về “chinh chị chính em”, nhưng việc binh pháp đánh giặc, chẳng hiểu mô tê gì cả đã làm cho nước nhà hao binh và thua trận Điện Biên, lại trút tội cho ông, giọng của ông, theo tôi là giọng phò mã Trị, rủi tay một phút hoá ra miệng sành, nhưng gõ chơi cũng có tiếng canh canh. Trong sách có nhiều danh từ chuyên môn, tôi không hiếu hết thì làm sao dám đặt bút phê bình, – tóm tắt phải đọc trang 48 so sánh binh Tây và lính Cộng, trang 72 nội các ở Paris muốn thâu gọn chi giữ Cochinchine, trang 100 nói về sự dụ dỗ lính Tây qua đây đánh giặc, cho gởi tiền về xứ, 1$ gởi đi qua Pháp lãnh 1$ ăn 17 quan, đến nơi trả theo thị trường 1$ ăn 10 quan, bọn lái bạc thừa nước đục thả câu làm giàu trong nhấp nháy, trang 18, ông tự hỏr “biết khó thắng, sao không từ chức” – và ông tự trả lời mình là con nhà tướng, lịnh trận sai đi đâu thì dầu chết cũng không giờ từ nan, trang 220 tả cuộc chiến Điện Biên Phủ, trang 229 về nhà báo nói xấu quân đội mà chánh phủ làm ngơ, trang 272, lịnh Paris dạy ông nên đánh cho địch thủ biết lợi hại dường bao mà không cần “đánh thắng”, tôi nói ông thanh nhã, vì tỷ dụ trong quyển sách, ông không giờ quy tội “đánh thua” cho ông Pinay, vì nể ông nầy lúc “làm thủ tướng”, nhưng vì sau đó ông nầy viết sách toan trút tội cho “tướng cầm binh” (tức chính ông H. Navarre), nên ông thẳng tay trả lời đính chính từng ly từng chi tiết nhó (xem bài “Pépolsa à Mie Présiden A. Pinay”, nơi mấy trang chót từ trang 307 và nhứt là nơi trang 320: ông nói thật ra hết: nước Pháp thua, vì chánh phủ không giữ vững lập trường, nói đúng ra là “thiếu lập trường”, suốt tám năm “sai qua đây chống đánh với quân phiến loạn”, 1) Từ đầu chí cuối, không có tôn chí hoặc có mà không chịu nói rõ ra cho người cầm binh rõ biết, 2) chánh phủ không dám nói cho dân chúng Pháp biết là có chiến tranh ở Đông Dương, 3) chánh phủ không biết cắt nghĩa và khuyên dân hết lòng giúp chánh phủ tẩy trừ giặc loạn, và sau đó, chánh phủ không biết giải quyết vấn đề “cầu hoà”, 4) Chánh phủ không đủ nghị lực để đưa một đường lối cho các “quốc gia liên hiệp” hay cộng lực với mình, phải ráng chịu đựng trong chiến tranh và 5) chỉ biết ngày theo ngày, giải quyết lần hồi “việc quốc gia đại sự” bằng phương pháp tạm bợ và vẫn không theo kịp sự biến chuyển của thời cuộc, 6) chánh phủ không can đảm, miệng nói bôi bỏ vấn đề “thuộc địa” mà bề trong muốn thuộc địa còn tồn tại như xưa, 7) Chánh phủ không trung tín và giữ lời với liên bang Đông Dương, tính thế nước Pháp là nhà đã sạch tiền, dân chúng thua Đức vẫn chưa lại nghỉn (đau mới mình), vết tích chưa lành, mà toan cướp nước của dân bị trị xưa để làm thuộc địa như cũ hứa với Lào – Miên – Việt bằng cách “cho ăn bánh vẽ”, đưa tay cầu cứu xin tiền xin máy bay đạn dược của Mỹ mà vẫn sợ Mỹ đoạt cái núm vú béo bổ ở Đông Dương, thiên thời (không có máy bay), địa lợi (không phục thuỷ thổ và không biết rành địa thế), nhơn hoà (không có, vì dân Đông Dương đã chán cảnh làm mọi ngày xưa), trong quyển sách, tướng Navarre than câu đau đớn: “Quyển dạy về binh thơ chiến lược “de la Guerre” của Carl von Clausewitz người Việt Minh từng đọc và thuộc làu hơn các ông trong Nội các ở Paris, giỏi tài đổ thừa, ông đã xin đủ binh đủ khí cụ, đã làm ngơ hay cho đã quá trễ, nay nhà sụp đổ là tại nhà thầu cung cấp thiếu xi măng, không nên trách kiến trúc sư kém tài xây dựng! Thuở nay đang giao chiến mà Nội các mở hội nghị nào ở Berlin, nào ở Genève, làm ngả lòng quân binh, không bại trận sao được?

Tôi đây “hơn nửa đời” làm mọi cho Tây mà vẫn bị đè đầu không cho trồi lên, tôi không biết nịnh hót, và nếu trong bài nầy, tôi có ý cũng chê mà cũng có đề cao người chủ cũ, là ý tôi hiểu mình “thắng được họ ở Điện Biên Phủ là đúng với câu của Tú Xương: Xưa nay em vẫn chịu ngài, và càng khen mấy ông thầy dạy nghề võ mà bị mớ học trò cũ và tay ngang cho đo ván, mới phải điệu người ăn ngay nói thật (viết ngày 11-12-1983).

Bên Pháp, nội các thay liền liền như thay áo, chánh phủ là bè phái phe đảng thay nhau lên cầm quyền, việc bọn họ thì rối như tơ, tiền không có mà muốn giữ mãi thuộc địa! D’Argenlieu thì muốn cho còn đạo Gia-tô, các tướng khác qua đây, đánh giặc mà binh không đủ dùng, binh khí, máy bay, xe tăng, tàu chiến phải chờ xin Mỹ, mượn Anh, vân vân, mãi chần chờ mà con hổ trong rừng thêm nanh thêm vuốt, làm sao thắng nổi? Valluy và Morlière, thì bất hoà nhau, quen hầm hừ mà con mồi chạy vuột. Salan, từng dẫn đạo Bác Hồ qua Pháp, từng đóng vai phó tướng cho Leclerc, de Lattre, Fly, v.v…, già kinh nghiệm, biết nhiều về Đông Dương, vì lấy tin tức, cơ mật bên địch là vẫn chung quanh bàn đèn, như ở nhà lão thầy rùa Marius Chevanieux, hoặc do mấy ông cố đạo nhờ con chiên mách lối: Gomez, Drapier ngoài Bắc, còn trong Nam thì lợi dụng tôn giáo, nào Hoà Hảo, nào Cao Đài, một chạy máy tàu mà đưa lên làm soái là Năm Lửa, không ngần ngại dùng luôn dao búa, du côn Bảy Viễn, Bình Xuyên, trông mong gì thắng người bên kia, lúc đầu một mảy của dân không phạm, làm như “hành chánh đạo”, “cứu quốc”, “đem độc lập về non sông tổ quốc”, trước đuổi Tây sau rượt Mẽo, dân theo rầm rầm. Trong khi ấy bên Pháp, hết Lon Blum, đến Ramadier, rồi nào Robert Schuman, kể không xiết một nội các, ngày 5 juin tuyên bố nhìn nhận Bảo Đại, rồi qua ngày 8 juin, cũng nội các ấy đem ván bài Bảo Đại ra bàn cãi lại, thảo nào? Trương 151, hồi ký Salan hạ câu: “c’est à n’y rien comprendre” tôi xin dịch “Có ông Trời mà biết”? Trương 136, báo tin Nguyễn Bình, có lịnh đòi gấp về Bắc, trong khi lội đường rừng, tới rú Srepok, bị một viên đạn lạc của một tên lính quèn Đàn Thổ mà chấm dứt cuộc đời phong ba oanh liệt. Số vua Bảo Đại chinh chông đã đành, số tướng Salan cũng không hơn. Ông tướng nầy mãi xin viện trợ hoài hoài mà làm phật lòng Paris, nên Paris bèn sai Blaizot qua thay, – việc quốc gia đại sự mà giải quyết “như bọt xà bong”. Bên võ như vậy mà bên văn cũng thế ấy: cặp Bollaert/Salan rút về, cặp Pignon/Blaizot qua thay, và vẫn “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Năm 1946 lúc còn trên đất Ấn, thì Blaizot là chủ, Pignon thuộc dưới quyền, qua năm 1949, ở Đông Dương thì Blaizot lại đặt dưới quyền Pignon, cho nên không thể nào thuận thảo nhau được. Paris sai tướng Revars sang một vòng xem xét tình hình, chuyến về Paris, vẫn đòi gấp rút cấp thêm lính và thêm binh khí cho Đông dương, y một kẻ của Sa lan, nhưng lấy đâu mà cấp vì bên ấy vẫn thiếu người thiếu của, tình hình sau trận chiến 1939-1945, Pháp vẫn như người đau mới mạnh. Thiên “chuyện cũ kể lại” nầy không dám dài dòng, nhại lại các sách khác đầy đủ và hấp dẫn hơn nhiều, tóm tắt lại: Pháp muốn duy trì thuộc địa để có chỗ cho con cháu “làm ăn”, còn ta thì một một hai hai, quyệt trừ dứt nạn “làm tôi cho nước khác”, chung cuộc: các con cờ hay, Pháp đều đem ra dùng: một nhà tu “hạ san” khoát áo nhà binh chỉ làm chết một bác sĩ bỏ nghề ra làm chánh trị, d’Argenlieu làm sao tu cho thành? Kết quả cho thấy, hai tướng có thành tích lớn: Leclerc và de Lattre đều bỏ mình, và hai con dòng dõi “gạo cội” vẫn bỏ thây chiến trường: Bernard de Lattre chết ngày 30-5-1951, Henri Leclerc de Hauteclocque, ngày 3-1-1952, và theo một sách tôi đã đọc, nhớ chính tướng de Lattre, lúc sắp tắt hơi, câu trên môi “Bernard, attends moi” (Bernard, chờ cha đi với) cây nầy khiến tôi tự hỏi “phải đúng con người có linh hồn rõ ràng và đây là hồn cha nhớ con quyết theo con”.

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Chương 11.

Monnaies de remplacement (Tiền tệ để thay thế)

– Bài nầy lẽ đáng, không nên viết làm chi, vì nói làm sao cho đầy đú nổi, – nhưng xét lại, mặc dầu không cạn tàu ráo máng, cũng nên ghi lại phòng hờ sách của tôi một ngày kia sẽ có chưn biết chạy:

“Trong khi đồng rouble mất giá, người Nga đã nghiên cứu vấn đề tìm một thứ gì để thay thế là: valeurs-relùges, đối với tiết kiệm, và monnaies de secours, đối với tiền trả cho nhau (pour les règlements). Ban đầu, họ nghĩ ra và lấy hàng hoá thông thường làm bản vị, để đối với nạn hút kém càng tăng. Như ở Moscou, vào năm 1920, muối ăn (sel) thay thế cho tiền. Đứng hàng nhì, hàng ba, sau muối, là bột mì, bánh mì, thịt cả, khoai Tây. Miệt đồng quê nhứt là ở Ukraine, năm 1922, lấy seigle (lúa mạch) làm căn bản thế tiền gọi “Rouble-seigle”, chính các công ty của chánh phủ, như ký nghệ gỗ, cũng dùng roubles-seigle trong bút toán.

Nơi các chỗ khác, thì lựa dầu hoá, dầu bông quỷ (huile de tournesol), vải bông thay cho tiền. Vấn đề đổi chác (troc) của người Nga muốn áp dụng không được thành công, và trớ lại hình thức kinh tế thời kỳ sơ khai (économie primitive). Trong lúc ấy và chạy theo song song là mấy đồng tiền vàng xưa (veilles pièces d’or) lại ló mặt và phục hồi giá trị cũ. Theo nguyên tắc thì đã bị huỷ bỏ hoặc bị trưng thu, nhưng sự thật, người dân Nga nhà quê vẫn trọng và quý và gìn giữ cấn thân đồng tiền cũ của Nga hoàng, vì họ xem nó có giá trị hơn tờ bạc giấy của Xô viết. Đồng tiền vàng vẫn đem ra dùng nơi các bến tàu, nơi xứ Transcaucasie, nơi hóc bà tó Tây Nga (confins occidentaux de la Russie), và vùng Đông Á (Extrême-asie). Nơi một hãng kỹ nghệ lớn ở Moscou, thấy thợ nài trả bằng vàng. Nhiều cơ sở của chánh phủ bắt đầu dùng tiền trở lại. Nếu chánh phủ không ngăn và cứ để cho làm, thì ắt đồng tiền bằng kim khí sẽ hồi sanh lấy nó. Rồi, những ngoại tệ, theo nguyên tắc là cấm, cũng nhảy ào vào thị trường. Ai lại chẳng ưa và có ai lại từ chối không nhận đồng đô la Mỹ, đồng sterling của Ăng Lê, nơi các tỉnh ngoại biên Nga, như Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, A Phú Hãn, Trung Quốc, Nhựt Bản, thảy đều thích xài tiền của họ hơn là tiền rouble của Nga.

Moscou bèn phản ứng, nhưng ỉngầm nhìn nhận chưa bỏ tiền tệ được (Il est impossible dabolir la monnaie). Năm 1921, Uỷ ban nhơn dân bày “étalon travail”, để theo đúng phương pháp Karl Max. Chọn troud là “một ngày nhơn công” làm bản vị, tiêu chuẩn, nhưng mặc dầu quyền lực của lao động vô sản giai cấp, tiền nầy không được dân chúng thích, nên lại dẹp. Thành thử, phải nghĩ ra cách thức, và thay cho đồng rouble, đã xuất hiện ra, nào là:

– Rouble-marchandise, của nhà băng chính phủ (Gosbank) năm 1921;

– Tchervonetz, (có nghĩa là “sáng” – brillant), năm 1922, trị giá 10 rouble-or, tức 7,74 gram vàng y, hoặc tương đương 5,15 dollards. Từ lối năm 1923, nước Nga có hai thứ tiền tranh nhau: đồng rouble do ngân khố chính phủ phát hành và tchervonetz do nhà băng Gosban của chính phủ phát hành, cho đến tháng fevrier 1924, ngân khố cho ra rouble “dixième de tchervonetz”.

Năm 1923, tháng mars, đồng rouble mới (dixième de tchervonetz) trở nên monnaie légale (tiền chính thức công nhận), giá trị ăn 1 đồng mới nầy ăn 50.000 rouble cũ của năm 1923, tức 5 millions rúp 1922, và bằng 50 milliards rúp xưa (1921) vân vân. Luật lệ phát hành trở lại gần y của một nước tư bản, đến đây tôi xin tạm ngừng vì nói thêm nữa chỉ rộn trí người đọc mà chẳng tới đâu vì việc biến đổi hiện thời bên Nga, tôi nào biết chút gì, duy rõ lại, lúc ban sơ chê vàng, không dùng, nay thi đua tìm và khai thác mỏ vàng ở Sibérie, thêm nhiều việc biến chuyển trong nước, nào binh Đức quốc xã của Hiler xâm lăng, xáo trộn một lúc, kết cuộc vẫn trong vòng lẩn quẩn, theo tôi là chưa có lối thoát, chung quy, phải đọc nguyên văn sách ngoại quốc, hoạ may hiểu chút ít về vấn đẻ tiền tệ ngày nay của các nước, và đừng đọc những gì tôi viết chẳng qua “ếch nằm đáy giếng, toan nói chuyện trên trời”. Vàng, bạc, tiền đồng, nữ trang, quý kim các loại, không khác “người quân tử” hất hủi, đày đoạ, rồi độc quyền tàng trữ trong tay kẻ mạnh, chắt mót, dành dụm, an ủi, ghét cũng mi, mà thương nhớ cũng mi, vàng bạc kim cương platine, đúng là “inutile” (vô ích) nhưng cũng “irremplacable” (không gì thay thế), làm tội người ta không ít. Bài nầy quá dài và gần lạc đề, nên dành thì giờ đọc và hiểu trở lại về Agonie de l’indochine cua H. Navarre, có lẽ thú hơn (viết 8-12-1983).

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Chương 10.

Lạm phát điệu tẩu mã (linnation galopante)

Nhà nước Xô viết tuy tóm thu quý kim và chỉ tệ (bạc giấy) và thủ tiêu giấy khoán (giấy nợ) và động sản giá khoán, nhưng vẫn giữ lại (của nhóm tư bản) bản khắc đế in giấy bạc (planche à billet). Lạm phát đó càng lên cao hơn cũ: octobre 1917, có 19 milliards giấy rouble lưu hành. Một năm sau, leo lên 51 tỷ, rồi lên 147 tỷ vào octobre 1920, qua tháng octobre 1921 là 4 trillions rưỡi, rồi 17 trillions đầu năm 1922 qua hơn 2 quadrillions đầu 1923, lên 225 đầu 1924, và 810 vào tháng mars 1924. (Trillion là một triệu triệu; quadrillions là nghìn lần trillion, những số nầy quá sức tưởng tượng của tôi, và nước Việt “Phú hữu tứ hải” của đời xưa, ngày nay dân tân thời Việt, nghe mà chưa tưởng tượng hình dáng số tiền nầy nổi). Đây là chưa kế đến số giấy bạc phát hành của những địa phương riêng, in ra. Nay thống kê những giấy ấy có đến 2.000 nơi xuất phát: nào 42 ở Ukraine, 325 ở Bắc Caucase, 217 ở Transcaucasie, 235 ở Asie centrale, và 547 ở Sibérie orientale… Trên vài thứ giấy bạc nầy, có in câu “Ce billet est garanti par la tête de celui qui le refusera” (giấy nầy có sự đảm bảo bằng thủ cấp kẻ nào từ chối không nhận dùng). Chánh phủ, nhà nước trung ương, vẫn nhắm mắt để làm, một phải chăng vì vô hiệu lực, hai nữa là sự lạm phát phụ trội nầy vẫn ở trong lằn mức của mình muốn có (soit par impuissance, soit parce qu’après tout cette inflation supplémentaire sert ses desseins de subversion).

Sự kiện thấy rõ ràng là Moscou muốn cho cuộc tan rã vấn đề tiền tệ lối cũ, sẽ là vừa một phương pháp làm tàn mạt bọn koulaks chuyên làm giàu phi pháp và giỏi chôn dấu bạc giấy cũ trong ve chai, (lời của Lénine), và cũng vừa làm tiêu tan nhóm trưởng giả chuyên ky cóp dành dụm. Thật là vẫn không bứt rứt lương tâm cũng không chút tiếc hối khi chánh phủ nhà nước phát hành giấy bạc, và còn thêm rằng; “Mỗi năm sẽ thêm một con số zéro vào số giấy bạc đã in năm rồi, và làm sao cho một đồng rouble năm nay sẽ hoá ra 10, năm kế, rồi 100, rồi 1.000 và tiếp tục như vậy mãi mãi, tức là nhà nước có quyền muốn thêm mấy con zéro theo ý muốn cũng xong, và không có gì cấm cán nhà nước in trên tờ giấy bạc, hoặc 10 roubles, 10 triệu roubles, để rồi dùng 10 triệu roubles ấy mua tỷ như một cân củ hành Tây hoặc mua một đôi giây cột giày nơi thị trường tự do. Đối với chánh phủ xã hội chủ nghĩa, việc như vậy chẳng có chi là tai hại, thảm hoạ gì cả”

(Il est clair, en effet, que Moscou voit dans la décomposition du système monétaire le moyen, non seulement de ruiner “les koulaks qui se sont enrichis et qui ont enterré des boutailles remplies de billets” (Lénine), mais aussi d’anéantir toute la bourgeoisie épargnante. C’est sans remords et sans regrets, à des fins d’épuration sociale, que l’Etat envisage d’émettre du papier et d’ajouter “chaque année un zéro et plus à la valeur nominale des billets émis, afin que ce qui coûts aujourd’hui un rouble, en vaille dix l’an prochain, puis cent, puis mille et ainsi de suite… Le gouvernement pourra ajouter sans inconvénients autant de zéros qu’il voudra. Bien ne, s’oppose à ce qu’on inscrive sur les billets de six roubles, dix millions, et qu’on donne ces dix millions pour avoir une livre d’oignons ou une paire de lacets sur le marché libre. Il n’y a rien là-debans de catastrophique pour l’Etat socialiste.” (La révolution sociale et les finances). (Trích trương 208 sách Onze monnaies plus deux của R. Sédillot).

Tuy vậy, nào ngờ với cái lối đùa nhỏ nhặt ấy, chánh phú Xô viết đã bị nước ăn lơ bờ. Tưởng rằng có sẵn khuôn giấy bạc, cứ in lún xác xài cho phí sức và tự mình làm chủ cuộc khiêu vũ ăn mừng (mener la danse), ngờ đâu in không kịp với vật giá leo thang (viết ngày 7-12-1983). Mạnh và bạo như Nga Xô viết, lật đổ Nga hoàng cái một, mà không làm sao được với vấn đề tiền tệ trong nước. Tôi không dám nói rằng giải quyết chưa xong, vì nào có qua bên xứ họ mà biết, duy cứ theo sách ghi lại, vả lại sách cũng đã xưa, không theo dõi vấn đề hiện tại, sách của Ren Sédillot đã dẫn, thuật tiếp như sau: (trang 209)

Dân chạy mặt bạc giấy in ra nhưng cái sợ của dân lại mạnh hơn cái máy in giấy rouble. Máy móc đã thua tâm lý, chánh phủ đã không cầm cương nổi và đã ngậm hàm thiếc vào mồm, như con ngựa chứng phải phục thiện? Năm 1918, vật giá leo thang 2 hoặc 3 lần cao hơn sự phát hành; Năm 1919, hơn 3,5; năm 1920, hơn 4 lần. Nếu định chừng số giấy in ra và sức mua sắm của những giấy nầy, tỷ dụ bằng con số 100, thì năm 1916, con số ấy là 170, để rồi tuột xuống năm 1917, là số 131, kế sụt xuống năm 1918, số 55, qua năm 1919, còn 16, rồi năm 1920, dưới 4, qua năm 1921, dưới số 3 và năm 1924, chỉ còn 0,6.

Tính theo roubles davant-guerre (tiền chiến), thì 1 triệu (ùn million de roubles) giá trị đầu mỗi năm, là: 40.000 (năm 1917); 48.000 (năm 1918); 6.000 (năm 1919); 413 (năm 1920; 60 (năm 1921); 3,5 (năm 1922); 0,05 (năm 1923) và ngày 10 mars 1924, chỉ còn đáng 2 millièmes de kopeck.

Sự lạm phát tấu mã ấy kéo dài suốt bảy năm trường. Câu nầy tôi đề y nguyên văn:

L’innation galopante a duré sept années. Elle a multiplié les moyens de paiement par 50 million. Elle a effectivement dépossédé féodaux et bourgeois – tous ceux qui ont pas’ émigré vers Paris et Londres, en emportant ce qui leur resie de joyaux. Elle a réalisé le plus grand bouleversement de fortunes de l’histoire du monde” (trang 209). Nhưng tôi mâu thuẫn lấy tôi và nay tôi dịch cho các bạn không đọc được chữ Tây: “Sự lạm phát chạy đua ấy đã nhơn lên 50 triệu lần, lối, phương pháp tra tiền. Lạm phát nầy làm cho bọn phong kiến và bọn trưởng giả, đứa nào không khéo sớm biết tiên liệu ẵm nhành thầu, ngọc ngà châu báu, chạy trốn qua Paris hay Londres, thảy đều sạch sành sanh (trụi lủi, không còn một sợi lông, câu nầy tuy tục nhưng mạnh hơn) đó quả là một xáo trộn vĩ đại về tài sản chưa từng thấy trong lịch sử thế giới!

Nói chuyện với Duyên Anh (1972)

baotreonline.com

Trần Vũ May 4th, 2024

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Phần 1

Chính Duyên Anh biến tôi thành con mọt sách! Năm 69 thi đỗ vào tiểu học Lasan Taberd tôi đọc mỗi trang Mai-Bê-Bi trên báo Chính Luận. Năm 69 chưa có tuần báo Thằng Bờm của Nguyễn Vỹ (ra năm 70), cũng chưa có nguyệt san Thiếu Nhi của Nhật Tiến ra năm 71. Tôi sớm chán Mai-Bê-Bi, toàn chuyện của những cô bé bụ bẫm đụng chút là khóc… Khi ấy tôi đã nhiễm nặng phim kiếm hiệp võ thuật và phim Combat trên đài truyền hình Mỹ. Cuối năm anh Cả tặng quà sinh nhật. Không xe tăng đồ ráp. Không súng AR-15 nhựa. Một quyển sách! Cuốn tiểu thuyết đầu đời!

Tôi bỡ ngỡ đọc nhan Thằng Vũ, truyện dài của Duyên Anh. Tôi tên Vũ. Thắc mắc tại sao tên mình trên bìa sách?? Tôi mở ra xem … Từ bấy, nghiện Duyên Anh.

Hẳn nhiên, lên trung học đệ nhất cấp tôi đọc đủ loại sách. Vì Duyên Anh là tác giả của tuổi hoa niên, không thể mở rộng chân trời cho các nam sinh khát khao vũ trụ. Nhưng chính Duyên Anh cho học sinh niềm say mê đọc sách. Thời khắc ban đầu tuyệt quan trọng. Đứa bé phải ưa cầm trên tay quyển sách, cho dù ngây ngô trẻ thơ hay thần thoại, tạo kích thích để từ đó nhập thói quen đọc tiểu thuyết. Duyên Anh là niềm say sưa đó – chiếc cầu nối giữa sách người lớn với sách nhi đồng. Một trong những lý do khiến Văn học Hải ngoại tàn lụi, chính là vì không có độc giả trẻ. Vì không có loại sách dành cho lứa tuổi ô-mai khiến những thiếu niên sang Hoa Kỳ sau tiểu học, đã biết tiếng Việt, không đọc chữ Việt nữa.

Sang năm 70, tan trường về là tôi chạy bay ra sạp báo tìm mua sách Duyên Anh hoặc chui vô các chỗ cho thuê truyện. Những khi Duyên Anh chưa kịp xuất bản, tôi thuê “đỡ” truyện của Đinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường, Nghiêm Lệ Quân, sau này thêm Nguyễn Thanh Trịnh… Từ từ tôi biết liếc mắt, thấy bên cạnh Duyên Anh những nhan sách khác. Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển, Hòn Đảo Bí Mật của Jules Vernes, Robinson “Lỗ Bình Sơn”, Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Đông Châu Liệt Quốc, 108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc là sách gối đầu giường. Sang năm 72 tôi khám phá Phan Nhật Nam, Nguyễn Thị Hoàng rồi Erich Maria Remarque, và… Z-28 Đoàn Vũ Khỏa Thân, Hận Vàng Ấn-Độ, Bí Mật Hồng-Kông, Mèo Xiêm Cọp Thái, Người Đẹp Qui-Tô, Nữ Thần Ám Sát của Người Thứ Tám. Hơn một khám phá. Lờ mờ nhận thức những cô bé trên trang Mai-Bê-Bi một khi lớn sẽ cực hấp dẫn!!

Nửa thế kỷ trôi qua, đọc lại Duyên Anh là tìm vết tích tuổi thơ của mình. Những Dzũng ĐaKao, Gấu Rừng, Bồn Lừa của tuổi choai-choai đến Mây Mùa Thu, Phượng Vỹ đẫm lãng mạn của tuổi vừa lớn. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Duyên Anh tôi đọc tháng 3-1975 là quyển Cám Ơn Em Đã Yêu Anh. Không. Cám ơn Duyên Anh đã cho tuổi thơ miền Nam nhiều mộng mơ.     

Đánh máy bài phỏng vấn Duyên Anh của Huỳnh Phan Anh năm 1972 để tri ân nhà văn đã biến mình thành con mọt sách.

[Trần Vũ]

Nhiều kỳ – KỲ 1

HUỲNH PHAN ANH: Ông là một nhà văn, một nhà báo, nhưng mới đây ông đã thực sự từ giã làng báo. Tại sao?

DUYÊN ANH: Nói theo nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, tôi là nhà báo có lớp da của nhà văn. Nghĩa là, trước khi viết báo tôi đã viết văn. Báo có sức lôi cuốn mãnh liệt những người cầm bút. Đó là thế giới ồn ào và luôn mới mẻ. Nếu tôi đã nổi tiếng, chắc chắn, tôi sẽ thoát khỏi sự lôi cuốn của báo. Rất tiếc, tôi vào làng báo quá sớm, vào với cái tên Duyên Anh xa lạ. Ông cũng thừa biết, ở Việt Nam mình, một nhà văn xuất sắc đến đâu mà không được báo chí (nhật báo) đếm xỉa, khó mà quen thuộc với quần chúng. Báo chí, tôi chỉ nói nhật báo. Việt Nam thừa giấy đăng tin 6 cột, 8 cột về những chuyện ô uế chính trị, nhảm nhí, xã hội nhưng lại bủn xỉn loan tin tức, sinh hoạt văn chương. Một cái chết của một nhà văn, nhà thơ chỉ được làm lớn nếu nhà văn, nhà thơ ấy là biên tập viên của nhật báo nào đó. Và cũng chỉ nhật báo ấy làm lớn. Còn thì một cái “phi-lê” trang nhất đã là quý hóa!

Vậy muốn quen thuộc với quần chúng độc giả nhà văn phải làm báo ngày và phải giữ một mục thường xuyên, quan trọng. Ở mục đó, mình có thể nói về mình dưới một bút hiệu khác. Không ai thèm nói về mình (đố kỵ, ghen ghét hay chi chi ấy…) thì mình nói về mình. Tôi làm báo với mục đích “lăng xê” một bút hiệu làm văn. Rồi tôi bị quay cuồng trong thế giới ồn ào của báo chí. Và, có lúc, thật sự tôi muốn trở thành một ký giả lý tưởng. Nhưng hoàn cảnh làng báo Việt Nam không cho phép tôi bước xa hơn. Thí dụ, không ai cấp học bổng để mình đi Tây, đi Mỹ trau dồi nghề nghiệp. Quanh đi quẩn lại vẫn thế. Không bước xa hơn tất sẽ lùi. Vậy tốt hết là từ giã làng báo.

HUỲNH PHAN ANH: Với hành động này phải chăng ông mặc nhiên phủ nhận sự nghiệp làm báo của mình?

DUYÊN ANH: Ông hiểu chứ? Tôi làm gì có sự nghiệp làm báo mà phủ nhận?

HUỲNH PHAN ANH: Nhưng ông đã viết hồi ký làm báo. Động lực nào đã thúc đẩy ông viết nó? Cho ai? Để gửi gắm gì trong đó? Ông có nghĩ một ngày nào trở lại với nghề làm báo, ngày nào và trong điều kiện nào?

DUYÊN ANH: Bây giờ, nhiều bạn trẻ trí thức ham mê làm báo và họ đã tốt nghiệp hay sẽ tốt nghiệp ở các Phân Khoa Báo Chí của một vài Viện Đại Học. Điều này rất phấn khởi và đáng tin tưởng. Bởi vì, một xã hội muốn sạch sẽ, trước hết, quần chúng phải được hướng dẫn bởi những người CÓ HỌC và đầy NHIỆT TÌNH. Tôi không gởi gắm gì trong Hồi Ký Làm Báo của tôi cả mà chỉ muốn giúp những người đi sau tôi nhìn rõ những đổ vỡ của tôi trong 10 năm làm báo. Tuổi trẻ đi sau chúng ta cần được biết những dấu hiệu nguy hiểm, gai góc trên đoạn đường chúng ta đã bước qua, đã vấp ngã và rơi xuống hầm hố. Lẽ nào tôi đã thất bại mà lại làm ngơ để người đi sau mình trên cùng con đường thất bại theo. Đây đừng tưởng tôi muốn dạy họ làm báo. Và tôi cũng không bao giờ tin rằng người ta có thể dạy được cách viết báo xuất chúng hoặc ít ra là viết thật hay. Văn hào John Steinbeck, giải thưởng Nobel văn chương, hào quang tỏa khắp năm châu mà còn có lần làm thông tín viên cho báo Newsday và đã sang Việt Nam “nhặt tin” thì tôi nghĩ rằng ngày nào đó, khi quyền thứ tư được tôn trọng triệt để, khi quần chúng tin nể báo chí, khi có chút ít tiếng tăm văn chương mới được thu dụng làm phóng viên tôi sẽ trở lại làng báo và khởi sự bằng chân phóng viên nhặt tin.

HUỲNH PHAN ANH: Ông là tác giả của những trang sách thơ mộng và đầy lý tưởng, ông cũng là tác giả, dưới nhiều bút hiệu khác nhau, của những bài viết đầy trào phúng và thâm độc trong cái mục “phim” của báo Sống, Con Ong, Công Luận, Xây Dựng, Người, làm sao ông có thể dung hòa được hai lối viết, hai tâm hồn trái ngược đó. Và đâu là tâm hồn thật của ông?

DUYÊN ANH: Nhiều người đã thắc mắc như ông và họ bảo tâm hồn tôi có nhiều ngăn kéo hoặc tôi là người hai mặt. Giải thích cái mâu thuẫn này thật khó, với cả chính tôi. Nhà phê bình Cao Thế Dung, trên tạp chí Quần Chúng cho rằng nếu tôi không cho thoát những ẩn ức chất đầy trong đầu óc tôi bằng những bài báo ngổ ngáo, cay độc, tôi sẽ không thể thanh thản mà viết những trang sách hiền lành, lý tưởng. Ký giả Lô-Răng trên nhật báo Tiền Tuyến giải thích giùm các mâu thuẫn trên: “Đó là sự tất nhiên. Một con người còn có một tin tưởng vào một số tín điều nào đó (như người giáo sư trong Ngựa Chứng Trong Sân Trường) tất nhiên phải nhìn những biến thiên của xã hội ngày nay bằng một con mắt nghiêm khắc, nếu không muốn nói là thù hận. Sự tin tưởng sâu xa và sự cuồng tín chỉ là hai mặt của một vấn đề”. Riêng tôi, tôi đã vạch sẵn con đường của mình. Tôi đập phá và tôi xây dựng. Đập phá một xã hội mình ghét bỏ là để xây dựng một xã hội tốt đẹp. Cho nên, song song với những bài báo trào lộng là những cuốn sách viết về tuổi thơ hay về tình người. Đập phá bằng búa, xây dựng bằng bay, rõ ràng thế. Và cứ thế mà làm, hai công việc hai mục đích. Không phải là dung hòa đâu, mà là không thể nào lẫn lộn.

Cho nên ông thấy đó, ngôn ngữ phóng sự nhảm nhí pô tanh đểu cáng hiếm có trong những cuốn sách lý tưởng của tôi. Hình như chưa hề lần nào tôi hãnh diện về những bài báo trào phúng, thâm độc. Ông cho tôi hỏi lại một câu nhé, người ta có thể bịp được nhiều lần không? Một số người nào đó có thể bị huyễn hoặc bởi một vài bài báo chửi bới tôi. Tôi không vì thế mà nguội niềm tin của mình. Rằng văn chương (tôi muốn nói về những tác phẩm) nó phô bày rõ rệt người viết văn chỉ bịp nổi một lần. Tất cả các nhà văn đều được tôi nhìn bằng đôi mắt ngập tình yêu mến. Và tôi hiểu tâm hồn thật của họ qua những cuốn sách chứ không qua những bài báo của họ viết hay những bài của người khác viết chửi họ. Tôi muốn ông nhìn thấy tâm hồn thật của tôi ở Cầu Mơ, ở Thằng Vũ …

HUỲNH PHAN ANH: Ông được xem là nhà văn có sách bán chạy nhất ở đây. Theo ông, độc giả của ông gồm những ai và họ tìm kiếm gì trong tác phẩm của ông? Khi cầm bút ông có nghĩ đến họ?

DUYÊN ANH: Câu hỏi của ông tương tự câu hỏi của tạp chí Văn. Tôi xin phép ông được đọc lại nguyên văn câu trả lời của tôi. Sở dĩ sách của tôi bán chạy vì:

“Tôi viết về tuổi thơ, cho tuổi thơ. Ít người viết nên tôi độc quyền “thị trường” này. Các cô cậu đã đọc tôi rồi sẽ lớn. Lại có những cô cậu vừa lớn tìm đọc tôi. Bây giờ, nhiều trường trung học cho làm trần thuyết truyện của tôi nên số độc giả trẻ tuổi của tôi mỗi ngày một tăng”.

Tuổi trẻ hôm nay trống vắng kỷ niệm. Họ thiếu mộng mơ. Họ muốn nương vào ký ức mộng tưởng của người lớn hơn họ và được hưởng những đêm trăng đi trên con đường làng cạnh người yêu. Họ thích, họ thèm sống nhờ kỷ niệm đẹp của người khác. Truyện của tôi, hầu như là truyện của hồi tưởng mộng mơ. Vì thế, tôi có độc giả.

Tôi không đeo đuổi hẳn một khuynh hướng nào. Độc giả cũng không thích đọc mãi một tác giả chỉ viết một loại. Nhàm lắm. Tôi viết đủ loại vui buồn.

Thời đại của chúng ta nặng nề khó thở. Cuộc sống khó thở. Cuộc đời khó thở, ngột ngạt. Độc giả không thể ngột ngạt thêm bằng cách đọc những cuốn truyện đeo đá vào văn chương. Độc giả không thể ngoi ngóp vào những thứ triết lý này nọ mà người viết cố chụp vào tác phẩm của mình, cố làm dáng để chứng tỏ nhà văn mới, nhà văn tiến bộ. Với những tác giả sành điệu thì cái mà một số nhà văn gọi là mới là tiến bộ chỉ là thứ đã bị đào thải ở Tây phương, chỉ là thứ rời xa tình tự dân tộc. Độc giả thèm những cơn gió đồng nội, thèm những văn chương giản dị, tươi mát cơ. (Giản dị, viết cho giản dị cũng là một vấn đề). Tôi đã đáp ứng được phần nào. Truyện của tôi, ông thấy đó, không cầu kỳ, không tối tăm, không ngộp thở. Tôi không chơi văn chương và triết lý. Nó bình thường như một người Việt Nam bình thường, mộc mạc. Tôi không kêu thét hãi hùng trong tác phẩm, không băn khoăn về thân phận con người, không tìm hiểu tại sao mình đang sống, tại sao mình sẽ chết, không có tâm linh siêu hìnhn … Nghĩa là, tôi không thích đánh vật với những cái gì tưởng như kỳ bí, khó hiểu, suy tư nát óc. Tôi viết bằng cảm xúc. Tiểu thuyết khác triết lý. Không ai bắt người viết văn phải đưa ra một triết thuyết hay vấn đề triết lý trong tiểu thuyết của y. Người đọc tiểu thuyết chỉ đòi hỏi nhà văn có làm họ rung động không. Nếu làm độc giả đọc mình rung động thì y đã đạt nổi nghệ thuật viết tiểu thuyết của y.

Văn chương Việt Nam vốn nhẹ nhàng, bay bổng, tươi sáng, mộng mơ và hiền hòa. Như ca dao, như tiếng sáo diều. Tôi sinh ra ở Việt Nam, lớn lên bằng điệu ru lục bát và tắm mát trong dòng suối mộng mơ của quê hương tôi. Tôi muốn nhẹ nhàng, bay bổng. Tôi không thể rời xa tình tự dân tộc để buộc đá vào văn chương hay đẩy văn chương của tôi vào bóng tối kỳ bí, hiểm hóc. Tôi không thích được ai khoác cho cái nhãn hiệu nhà văn có tinh thần triết lý. Người ta có thể coi thường những người viết văn giản dị, tươi sáng và cho rằng “loại” người này không làm văn chỉ dùng văn, nhưng người ta không thể viết giản dị tươi sáng như người ta nhún vai coi thường đâu. Tóm lại, tôi không gồng mình khi viết văn. Tôi viết như tôi nghĩ, tôi nói, tôi thở, tôi sống. Rất dễ dàng. Người đọc, đọc tôi cũng dễ dàng như tôi viết. Trừ khi độc giả phải gồng mình thưởng ngoạn thì lúc đó tôi sẽ xét lại. Vì thế truyện của tôi bán chạy.

HUỲNH PHAN ANH: Số sách bán chạy đã mang đến cho ông một đời sống vật chất tương đối khả quan. Theo ông, một đời sống đầy đủ tiện nghi có ảnh hưởng hay liên quan gì đến việc sáng tác của ông không?

DUYÊN ANH: Không ảnh hưởng gì cả. Tôi thấy từ ngày tôi sống đầy đủ tiện nghi tôi viết được nhiều. Nhưng tôi lại không cần viết nhiều làm chi. Tôi bác bỏ quan niệm nhà văn phải sống trong cùng quẫn đói khổ mới viết hay được. Chúng ta hiện có bao nhiêu nhà văn thiếu thốn vật chất, ông biết chứ? Và ông làm ơn cho tôi coi một tuyệt phẩm của họ. Có không? Người ta có viết bằng máy lạnh, tủ lạnh hay xe hơi đâu, mà viết bằng tâm hồn. Tâm hồn cằn cỗi, chui rúc trong ổ chuột hay ngất ngưởng trong lâu đài, cũng thế thôi, ông ạ! Viết mà khỏi đập muỗi chắc văn dễ ra hơn, vì đỡ bực mình với lũ muỗi đói.

HUỲNH PHAN ANH: Ông là nhà văn của tuổi thơ, của những tình cảm thơ mộng, của những giá trị thấm nhuần tính chất lý tưởng. Ông có bằng lòng những cách gọi đó?

DUYÊN ANH: Đó là những vòng hoa người ta khoác lên tôi nếu người ta đã coi tôi như thế. Có điều tôi không phải là nhà văn của tuổi thơ hoàn toàn. Tôi viết đủ mọi chuyện nam phụ lão ấu. Kể cũng tiếc ông nhỉ?

HUỲNH PHAN ANH: Đọc ông, người ta thường bắt gặp những nhân danh, địa danh hay hình ảnh quen thuộc xuất hiện hơn một lần trong tác phẩm ông. Có phải khi viết ông luôn luôn bị một ám ảnh nào đó, những ám ảnh của chính quá khứ và những kỷ niệm của ông, của những cảnh đời hay kinh nghiệm ông đã sống qua, biết tới?

DUYÊN ANH: Đúng thế, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi dĩ vãng kỷ niệm và vùng trời quê hương nhỏ bé của tôi. Đó là nhược điểm. Nhắc đi nhắc lại mãi một không gian, một thời gian, dễ gây nhàm chán. Nhưng tôi chưa đủ tuổi để đi xa, để thoát ly khỏi kỷ niệm dĩ vãng và vùng trời thân thuộc của mình. Tuổi tôi sẽ tăng cùng với kiến thức và kinh nghiệm. Và chắc chắn, sẽ có lần tôi tạm biệt con đường xưa ngập ánh trăng mộng của tôi, đi thật xa. Chừng đi xa mỏi gối mà chẳng được tích sự gì, tôi lại trở về. Ai cũng có một lần đi xa. Khi chưa đủ sức, đừng đi vội, có lẽ, tốt hơn.

HUỲNH PHAN ANH: Vùng trời quê hương nhỏ bé. Ông muốn nói tỉnh lỵ Thái Bình?

DUYÊN ANH: Đúng thế.

HUỲNH PHAN ANH: Có phải đó là nơi chốn ông sẽ trở về?

DUYÊN ANH: Vâng, nơi đó tôi mong trở về. Tôi không thích coi cải lương, nhưng đôi khi, tôi rất cải lương. Chẳng hạn, tôi mong bố tôi hay mẹ tôi còn sống và tôi sẽ trở về quê hương Thái Bình của tôi, bắt chước con Dế mèn của Tô Hoài, sau chuyến phiêu lưu, về gục trên đùi bố mẹ, nước mắt vắn dài kể lể bao nhiêu năm xa cách rồi hãnh diện nói “Con đã nên người!” Có vẻ cải lương chứ? Tôi nghĩ, chuyện thương yêu rất nhiều cảnh cảm động như cải lương.

HUỲNH PHAN ANH: Ngoài vùng trời quê hương đó, đâu là vùng đất đã để lại cho ông nhiều kỷ niệm?

DUYÊN ANH: Long Xuyên, quê vợ tôi, miền tôi “Xin nhận nơi này làm quê hương” đã không có ai phản đối.

HUỲNH PHAN ANH: Nhân đây, ông có thể cho biết về tình trạng gia đình của ông?

DUYÊN ANH: Tôi một vợ 3 con (2 trai, 1 gái). Vợ tôi người miền Nam, tôi là dân Bắc Kỳ. Con trai lớn của tôi năm nay 9 tuổi, học lớp 4 trường Lasan Taberd. Con trai út, 5 tuổi, học mẫu giáo. Con gái, 6 tuổi, học lớp 1 trường Régina Mundi. Gia đình tôi hiện ngụ tại Sàigòn.

HUỲNH PHAN ANH: Dù viết ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba, dường như tác phẩm của ông luôn mang nhiều màu sắc tự thuật. Có đúng không? Ông có thể cho biết vai trò của kinh nghiệm cũng như của chính cuộc sống (của ông) trong tác phẩm ông ra thế nào?

DUYÊN ANH: Không đúng hẳn đâu. Ông cho phép tôi ví von một chút để dễ trả lời. Nhân vật trong tác phẩm của tôi ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba luôn luôn là nhân vật tưởng tượng và đó là Người đi dưới ánh trăng và tôi chỉ là Bóng. Trả lời một câu hỏi của tạp chí Văn, tôi nói rằng tiểu thuyết của tôi giống ly sữa đổ thêm một muỗng cà phê là sự thật. Nhưng tôi không hiểu tại sao độc giả của tôi cứ bảo tôi tự thuật đời tôi qua các tác phẩm. Đời tôi giản dị lắm, viết một cái truyện 5 trang là hết rồi. Hình như chỉ mới có cuốn Trường Cũ là mang nhiều màu sắc tự thuật. Tất nhiên, kinh nghiệm và cuộc sống đóng góp nhiều cho sự hoàn thành một tác phẩm. Phải cộng thêm với tưởng tượng. Sống tưởng tượng và viết. Tiểu thuyết mà thiếu tưởng tượng không phải là tiểu thuyết. Và bắt buộc, nó khó lòng thoát lên cao. Nó chỉ là đất trên mặt cỏ.

HUỲNH PHAN ANH: Tôi có cảm tưởng ông muốn nối liền đời sống và tác phẩm, kinh nghiệm và văn chương. Có phải thế không, ông Duyên Anh?

DUYÊN ANH: Vâng. Ông đã thấy, tác phẩm của tôi có vẻ lý tưởng thật đấy nhưng nó không rời xa cuộc sống mà tôi đang sống. Tôi thường băn khoăn tự hỏi tại sao người ta cứ bắt đời sống trong tiểu thuyết phải giống đời sống mọi người đang sống? Nếu bằng lòng đời sống mình đang sống thì sáng tác làm gì. Thì có lẽ chả nên mơ mộng nữa. Viết một tiểu thuyết lý tưởng cũng là một cách phản kháng xã hội hiện tại. Và đó còn là cách…dấn thân. Nhưng tôi không dấn thân hay đã dấn thân mà tôi không biết. Có điều chắc chắn dù lý tưởng, dù thơ mộng thì không khí tiểu thuyết của tôi vẫn bàng bạc không khí của quê hương tôi. Đời sống ấy có thể xa vời chứ không xa lạ như đời sống trong tác phẩm của các nhà văn mới ảnh hưởng Alain Robbe Grillet, đời sống tối mò, nhức đầu, lạ hoắc.

HUỲNH PHAN ANH: Đó là một niềm tin?

DUYÊN ANH: Tôi luôn thể hiện niềm tin đó trong các tác phẩm của tôi.

HUỲNH PHAN ANH: Một số lớn tác phẩm của ông là tiểu thuyết đăng báo trước khi in thành sách. Theo kinh nghiệm của ông, đâu là lợi và hại của một tác phẩm thai nghén và hoàn tất trong hoàn cảnh đó?

DUYÊN ANH: Viết tiểu thuyết cho báo ngày và viết ít thôi (một truyện cho một báo là gay rồi) còn dành thì giờ mỗi ngày để viết tôi thấy không có gì hại cả. Người viết có thì giờ suy nghĩ. Hình ảnh bắt gặp buổi sáng viết được vào buổi chiều không bị quên mất. Nếu mỗi ngày ta viết 3 trang cho báo ngày thì cũng như ta viết 3 trang để đó, chờ viết xong in thành sách. Cái hại là khi viết 3, 4 tiểu thuyết, rồi lười hay ốm, viết lấy đầy kỳ báo hoặc nhờ người khác viết.

HUỲNH PHAN ANH: Trong cuộc phỏng vấn của Tuần Báo Nghệ Thuật năm 1966, ông có nói đại khái là ông viết ít, và “mỗi năm một, hai cuốn là quá nhiều” đối với ông. Nhận xét đó có còn đúng với ông?

DUYÊN ANH: Nhận xét đó sai rồi. Bây giờ mỗi năm tôi viết ít nhất là 5 cuốn, và tôi không còn viết đăng báo ngày nữa.

HUỲNH PHAN ANH: Cũng trong cuộc phỏng vấn đó, ông đã tỏ ra bằng lòng với bộ trường giang tiểu thuyết “Vẻ buồn tỉnh lỵ”. 6 năm trôi qua, ông đã viết thêm nhiều, và liệu ông còn trung thành với cảm tưởng đó? Ngoài ra ông còn thích tác phẩm nào của ông nhất? Tại sao?

DUYÊN ANH: Tôi vẫn trung thành với “Vẻ buồn tỉnh lỵ” của tôi. Cuối năm nay nếu không có gì trở ngại ông sẽ thấy tôi dành cho Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ 1000 trang của tôi, một sự ra mắt thân hữu hết sức lỉnh kỉnh nghi thức. Chắc tôi sung sướng lắm khi cầm tác phẩm 1000 trang đóng bìa da mạ vàng tặng ông một bản. Tôi thích cuốn Cầu Mơ. Tại sao à? Khó giải thích quá. Ông cho phép tôi từ chối trả lời đi.

HUỲNH PHAN ANH: Tôi xin mạn phép nhắc tới bài phỏng vấn đó một lần nữa, nếu tôi không lầm thì ông đã tuyên bố thích nhất nhân vật Trần Đại trong Điệu Ru Nước Mắt. Mới đây ông lại không muốn nhắc tới tác phẩm đó nữa. Phải chăng có một sự thay đổi quan niệm?

DUYÊN ANH: Không có thay đổi quan điểm gì cả. Nhân vật Trần Đại đã chết hẳn trong tôi từ ngày hắn sống ngớ ngẩn bằng lối diễn xuất của “tài tử” Hùng Cường và tài đạo diễn của ông Lê Hoàng Hoa.

HUỲNH PHAN ANH: Ông có hối hận đã viết và cho xuất bản một tác phẩm nào của ông không? Tại sao?

DUYÊN ANH: Mấy năm trước có hối hận. Bây giờ thì không hối hận. Tôi như người cha của chúng nó. Đứa nào tật nguyền phải thương nhiều hơn. Vả lại, hối hận làm chi. Nếu cần ta viết cuốn khác. Đời còn dài mà…

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương VIII.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 30 Jun 2024

Phần 8

Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa tháo gỡ loạt bom
Có trái nổ
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người banh xác, kẻ cụt chân


Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa phát hoang khu rừng
Khi gom đốt
Đạn chìm sâu lên tiếng thét
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người vỡ ngực kẻ bay lưng


Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa đục núi gài mìn
Lửa bén ngòi nhanh
Đá bay như đạn rít
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người hộc máu, kẻ mù luôn


Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa bắc lại cây cầu
Đang mùa lũ
Nước nguồn chẩy xiết
Cầu sập trôi
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người no nước, kẻ mù khơi.


Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa chui xuống hầm phân
Hàng tỷ con ròi bò khắp mình anh gớm ghiếc
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn-bè người ngất xỉu, kẻ mửa mật vàng xanh.


Báo tin mừng cho em biết
Anh vừa ăn chuột cống, bọ cạp, thỏ sình
Cóc nhái, rắn rết, châu-chấu, cào-cào
Ăn rau tầu bay, cỏ trời, cỏ dại tào-lao
Cám ơn trời anh không chết
Nhưng bạn bè người tiêu ma, kẻ kiết-lỵ quặn đau.


Báo tin mừng cuối cùng cho em biết
Ngày anh chết
Xác anh nhét trong chiếc hòm
Trên xe cải-tiến
Bạn anh kéo, đẩy đem chôn
Mồ anh sẽ cạnh mồ tên ăn cắp
Chẳng một ai được quyền vẫy tay, lau nước mắt
Người ta đọc lệnh tha anh thay thế điếu-văn
Anh hoàn-toàn tự-do về sum-họp gia-đình


Duyên Anh
Thơ Tù, Nam Á Paris 1984
Bài thơ Tin Mừng, theo người tù không có án là cảm-xúc, có thể, gọi là nguyên-khối mà tôi đã sáng-tác ở Sa Ác. Tôi nói có thể vì một vài sự-kiện xẩy ra ở Sa Ác mà ở các trại Đồng Ban, Trảng Lớn, Kàtum, Suối Máu mà các bạn tù ở Phước Long kể cho tôi nghe. Như gỡ bom bị nổ, nhiều tù-nhân chết, nhiều tù-nhân cụt chân, cụt tay. Như phát-quang gom cây đốt, đạn nổ, tù-nhân mang thương-tích. Như gài mìn đục núi lấy đá, tù-nhân bị tức ngực, bị mảnh đá văng trúng mắt. Như bắc cầu bị sập, tù-nhân mất-tích. Đội 21 nông-nghiệp của Đằng Giao đã gỡ bom. Các Đội phát-quang của Sa Ác B đã đốt cây nhằm chỗ đạn vùi sâu dưới đất. Đội 38 của Dương Đức Dũng đã bắc cây cầu qua sông Ray mùa nước lũ… Tôi muốn cảm-xúc của tôi được ghi tại chỗ. Tôi muốn thơ của tôi không bị xếp loại với thơ “chiêm-bao sự thật”. Những người chưa hề đọc Thơ Tù của tôi sẽ thắc-mắc rằng tôi đã làm thơ tù như thế nào? Trang đầu của Thơ Tù, tôi giải-thích:
“Anh phải có trí nhớ thật tốt. Điều này những kẻ nhốt anh đã tuyên-dương anh: Bọn nhà văn là bọn biết dấu-diếm những điều cần dấu-diếm kỹ trong đầu óc của chúng (Huỳnh Bá Thành, “Vụ án hồ con rùa”, nhà xuất-bản Tuổi Trẻ, tp. Hồ Chí Minh 1982). Họ tuyên-dương anh để quản-lý cả thể-xác lẫn linh-hồn anh đấy. Nếu anh bị nhốt ở các đề-lao Sàigòn, Chí Hoà chẳng hạn, anh sẽ hiểu rằng mọi thứ giấy bút đều bị nghiêm-cấm. Bất chợt, cai ngục khám-xét túi bị của anh. Điều này thường xuyên xảy ra tại đề-lao thành-phố. Một mẩu bút chì thôi, anh vẫn bị còng chân, bị tống vào cachot. Nếu thêm mẩu giấy ghi chép vài câu vô-nghĩa, họ sẽ nâng quan-điểm anh, bắt anh làm tự khai ròng-rã để định-nghĩa sự vô-nghĩa của chữ-nghĩa vô-tình. Vậy anh làm thơ bằng cách nào?” Tôi làm thơ trong tù bằng óc của tôi. Tôi dựa lưng vào tường bê-tông. Tôi bám chấn song sắt to hơn cánh tay tôi – chấn song sắt của khám Chí Hòa – nghĩ thơ. Tôi nhắm mắt làm thơ. Tôi mở mắt sửa thơ. Tôi nằm gối đầu trên tay học thuộc thơ. Quên cũng lắm. Sai cũng nhiều. Bằng óc. Óc tôi là giấy, là bút, là mực. Trí nhớ tôi là máy ghi âm. Thiếu chính xác vì thiếu sinh tố bồi dưỡng. Người ta cấm tôi dùng tay đề viết. Tôi dùng tay đề gãi ghẻ. Vừa gãi ghẻ vừa làm thơ. Cần gì phải giấy bút. Cần gì phải cảm hứng. Nỗi ngứa đã là cảm hứng tuyệt vời. Tôi làm thơ và tôi gãi ghẻ. Bởi vì trong thống khổ và cô đơn, tôi thèm thơ. Tôi thèm thơ hơn tôi thèm nhìn giọt nước mắt của vợ, thèm ngắm nụ cười của con, thèm thấy một miếng đời sống bên ngoài cánh cửa phòng giam nặng hàng tấn, thèm ăn cơm trắng, thèm uống nước trà, thèm tắm gội tập thể quá mười phút… Tôi làm thơ như Hồ Chí Minh làm thơ, như Tố Hữu làm thơ. Trong tù. Nhưng tôi không hậm hực kiều Hồ Chí Minh, rên xiết kiểu Tố Hữu. Tôi phơi phới. Tôi phiêu bồng. Tôi lãng du. Dẫu nhà tù Tố Hữu nhốt tôi ngày nay khốn nạn gấp ngàn lần nhà tù thực dân nhốt Tố Hữu ngày xưa. Luôn luôn chúng ta hơn cộng sản, thi sĩ của chúng ta hơn cộng sản. Chúng ta đem đời sống vào ngục tù. Chúng ta không đem ngục tù vào đời sống, dù ngục tù hằng đe dọa hủy diệt đời sống của chúng ta. Chúng ta lên tiếng chứ không lên án. Tiếng nói của chúng ta thơm nồng trái thị cổ tích, rạng rỡ tấm lòng Thạch Sanh. Chúng ta ký thác tình yêu cho muôn thuở. Chúng ta không kêu gào thù hận nhất thời. Chúng ta có phần thưởng của chúng ta với dân tộc, với nhân loại như những người công chính có phần thưởng của họ trên nước Thiên Đàng.
Anh làm thơ trong tù bằng óc. Tôi hiểu rồi. Lao động khổ sai đầy đọa thể xác anh. Mỗi ngày anh ăn ba chén sắn lát, hai lưng cơm hẩm. Với nước muối. Với rau muống giây kẽm gai. Với củ cải sơ mướp. Anh phải phá gò mối nghìn năm giữa rừng. Anh phải hạ cây cổ thụ già chín kiếp đời anh. Anh phải khiêng bom chưa kịp nổ. Anh phải lấp hố bom. Anh phải xuồng hầm phân nhung nhúc cả tỷ con ròi, vục đầy xô phân bằng tay anh – tay anh thường chỉ quen cầm bút – và ròi chui vào lỗ tai anh. v.v… Người ta kiểm soát anh tất cả, anh mỏi mệt với những hồi kẻng não nùng, anh đặt lưng là anh ngủ. Vậy anh làm thơ bằng cách nào, ngoài trại tập trung?
Tôi làm thơ vì tôi thèm định nghĩa con người. Tôi thèm định nghĩa con người trong nỗi thống khổ đòi đoạn mà con người biết chịu đựng một cách can đảm, im lặng và khiêm tốn. Thi sĩ là người nhìn rõ sự bất hạnh trong hạnh phúc và, đồng thời, không ngừng khám phá hạnh phúc trong bất hạnh. Từ dưới hầm phân, tôi ngửi được hương thơm hiếm có trên đất trời. Tôi biết ngưỡng mộ con gọng vó suốt đời bơi ngược dòng nước lũ. Tôi cảm được tâm hồn nó và, nhờ nó, tôi đã được soi sáng. Trước đây, tôi chỉ tưởng tượng nỗi khổ, bây giờ, tôi trực diện nỗi khổ, dẫy dụa trong nỗi khổ. Trong tù, ngứa ghẻ là cảm hứng sáng tác của tôi. Ngoài trại tập trung, đau khổ là mật ngọt của đời sống tôi, đời sống một nghệ sĩ. Tôi làm thơ. vì thế. Đừng sợ người ta kiểm soát tất cả. Khí trời, bầu trời, thiên nhiên và tâm hồn đích thực của con người, không ai kiểm soát nổi”…
Những bài thơ nồng nàn nhất của tôi, tôi đã viết ở trại tập trung khổ sai lao động. Thí dụ bài:

Một năm thèm đường ở Suối Máu.
Người tù ngồi lựa gạo
Nhặt được vài hạt ngô
Bắt đầu một giấc mơ
Một giấc mơ ảo não


Ngay miếng đất anh nằm
Những hạt ngô reo rắc
Những hạt ngô nẩy mầm
Những cây ngô ao ước


Thân ngô nhú cao dần
Từng phân rồi từng tấc
Từng sáng anh tưới nước
Từng chiều anh ngó thăm


Ngô lên bằng đầu người
Gió đùa lá ngô vui
Nỗi niềm tan trong máu
Tù nhân dấu nụ cười


Anh múa lưỡi dao rừng
Những thân ngô ngã rạp
Mỗi khúc mỗi người cạp
Ôi, ngọt đến vô cùng


Đám bạn tù nhìn nhau
Mắt long lanh giọt ngọc
Bây giờ là hạnh phúc
Tìm thấy khi qua cầu

Duyên Anh
Thơ Tù, Nam Á Paris 1984
Bài thơ này cảm hứng từ câu chuyện một năm thèm đường của anh bạn tù ở trại Suối Máu kể cho tôi nghe. Người khác kể chuyện ở trại Đồng Ban, tù nhân cuốc trúng mìn bị cưa chân bằng cưa dùng để cưa củi. Tôi đã ghi nhanh bài :

Về nỗi khổ thật mới
Báo tin cho em biết
Bạn anh vừa cuốc đất trúng mìn
Mìn nào đó, ôi trái mìn xảo quyệt
Ai cũng được quyền gài và quyền lớn tiếng thanh minh


Bạn anh quỵ xuống rất êm
Ôm chân máu vì không muốn chết
Sau những giây phút sững sờ oan nghiệt
Bạn anh được cõng vội về
Chẳng thuốc mê và chẳng cả thuốc tê
Người ta đè bạn anh ra cưa sống


Lưỡi cưa cùn cưa gỗ cưa cây thật ớn
Đã cưa xương cưa thịt con người
Bạn anh thét kinh âm hưởng vút lên trời
Bạn anh dẫy dụa đất nứt tung cục cựa
Anh ghì tay bạn anh
Mắt cài then kín cửa
Hồn đi xa khỏi thế giới lầm than
Nỗi đau đóng đinh thập giá có đâu bằng
Bạn anh bị cưa chân bởi thứ cưa cưa gỗ
Nhân loại có nhiều nỗi khổ
Nhưng chưa có nỗi khổ nào giống nỗi khổ bạn anh
Chưa có nỗi khổ nào giống nỗi khổ Việt Nam
Nỗi khổ vàng son xứng đáng tôn vinh
Nỗi khổ làm cho anh em mình biết sống
Nỗi khổ làm cho loài người rung động
Anh mở mắt nhìn
Chân bạn anh rụng mất rồi
Hôm nay bạn anh chống nạng mĩm cười
Báo tin cho em biết

Duyên Anh
Thơ Tù, Nam Á Paris 1984

Những bài thơ tù của tôi không làm cho đồng bào của tôi di tản sang Mỹ trước 30-4-1975 xúc động. Họ dửng dưng. Có lẽ, “nỗi khổ vàng son xứng đáng tôn vinh” đã làm họ phiền phức. Nhưng người ngoại quốc thì xúc động khóc sướt mướt. Ở Grenoble. Ở quận 6 thành phố Paris. Mời bạn nghe ông Pierre Bas, Viện sĩ Hàn lâm viện khoa học hải ngoại Pháp Dân biểu danh dự, Thị trưởng quận 6 Paris phát biểu:

“… Pierre Chaunu đã giới thiệu Duyên Anh với chúng ta. Độc giả của chúng ta thừa biết Chaunu là một nhà văn, một sử gia một xã hội học gia, một tư tưởng gia đã làm vinh dự cho xứ sở chúng ta. Chaunu giới thiệu Duyên Anh như một nhà thơ lớn, một niềm hãnh diện và vinh quang cho quốc gia đã bị cộng sản nhốt vào tù ngục. Những bài thơ được chuyền dịch Pháp ngữ do kịch sĩ Michel Etcheverry của Viện kịch nghệ quốc gia Pháp diễn tả thật xuất sắc. Quần chúng rất xúc động.
Được thả ra khỏi trại cải tạo nhờ những phản kháng của thế giới tự do, Duyên Anh cho chúng ta hiểu trại ấy là gì: Một thế giới của kinh hoàng, của đau thương ghê gớm, một hệ thống tù đầy, có lẽ còn tồi tệ hơn cả hệ thống tù đầy mà Soljenitsyne đã cực tả. Đó là thế giới của sự tàn ác, của sự cuồng bạo, của những nhục nhã, của những trừng phạt tàn khốc, một thế giới mà không một người nào trong phòng này biết đến sự hiện hữu của nó, một thế giới mà chúng ta biết nhờ sự tiết lộ, một thế giới mà người ta lấy làm hổ thẹn vì nó đã có vào năm 1987 trước mắt nhân loại, một thế giới của tuyệt vọng, nhắc nhở người ta đến sự ghê tởm của các trại tập trung của quốc xã. Tối hôm đó, một buổi tối vui vẻ và dễ chịu như mọi buổi tối vui vẻ và dễ chịu của Paris, chúng ta mới được biết rằng, trên trái đất, tại Việt Nam, đã có chủ nghĩa quốc xã với những sự ghê tởm của nó.
Tôi đã nói đủ, những bài thơ của Duyên Anh sẽ kể hết cho quý vị biết. Tôi mong mỏi quý vị sẽ tìm đọc những bài thơ ấy. Như thế, quý vị sẽ được thông báo đầy đủ, quý vị sẽ hiểu những gì đang xẩy ra trên trái đất. Quý vị sẽ hỏi các tổ chức từ thiện, các hội đoàn tranh đấu cho nhân quyền rằng, mỗi khi một nhà báo không xem được hồ sơ tại một xứ nào đó của tây phương, các tổ chức ấy vẫn la lối thì nay, hỏi xem họ đã làm gì khi con người bị hạ nhục, con người bị hành hạ. Duyên Anh gọi đó là “sự đóng đinh trên thập giá”. Đúng vậy, đó là những sự hành hạ cũng tàn khốc như sự đóng đinh trên thập tự giá lên con người của thời đại chúng ta mà chúng ta lại giả vờ không biết, chúng ta bịt tai, chúng ta không muốn dính líu.
Chúng ta trông đợi Bộ ngoại giao Pháp tìm cách chấm dứt những sự ghê tởm đó đi. Không thể nào chấp nhận nước Pháp sẽ không nói gì với các tổ chức quốc tế, có lẽ viện cớ cần giải quyết vài hồ sơ hợp tác, trong khi có những mạng người cần phải cứu vớt. Chúng ta có bổn phận báo động dư luận nhân dân Pháp. Tôi cam kết dẫn đầu cuộc chiến này và tôi cầu mong nhiều người khác nhập cuộc cùng tôi. Những gì đang xẩy ra tại Việt Nam phải được chấm dứt, nếu không khuôn mặt nhân loại bị đánh tạt và bị ô nhục bởi những sự ghê tởm của chế độ Hà nội”.
(trích bài xã luận của tờ Le Courrier tháng 2-1987)
Hơn cả sự hờ hững, đồng bào trong và ngoài nước của tôi đã quên lãng những tù nhân, những nhà tù, những trại tập trung khổ sai lao động. Còn nhớ chăng là những người mẹ có con đi lao cải, những người vợ chung thủy có chồng đi lao cải, những người con có cha đi lao cải, những người em có anh đi lao cải. Thỉnh thoảng vài anh cai thầu nỗi khổ lại ném vào sự lãng quên những phản đối làm cảnh, những phản đối được đài thọ một chuyến đi, những phản đối đánh bóng cá nhân 30 năm sống bên Tây, những phản đối có mặt của một chủ tịch đào nhiệm từ 1973 cho cái gọi là Trung tâm Văn Bút đỡ trơ trẽn. Tôi cảm thấy bộ hồi ký tù ngục của mình vô duyên, lãng nhách. Nó vô duyên, lãng nhách vì những tên tướng khốn kiếp đào ngũ, sau 13 năm sống vô liêm sỉ trên đất nước Hoa kỳ, vẫn còn thừa thãi sự vô liêm sỉ đề mặc quân phục Việt Nam cộng hòa, nhâng nhâng nháo nháo phơi bầy những khuôn mặt đã ngâm “nước vỏ lựu, hoa mào gà” cứ đen thui như mõm chó, đi duyệt binh Ngày Quân Lực không còn…quân lực. Khi ấy, sĩ quan kiêu hùng của chúng ta, của dân tộc ta của tổ quốc ta, nạn nhân của bầy tướng lãnh bất tài, tham nhũng đầy tớ Mỹ, đang quằn quại ở các trại lao cải cộng sản. Giọt nước mắt nào cho những anh hùng bị tước đoạt quyền chiến thắng ấy ở đêm liên hoan có nhẩy đầm tíu tít Ngày Quân Lực…lưu vong? Không có giọt nước mắt nào cả. Chỉ có những tiếng cười man rợ, tiếng rượu trôi ừng ực xuống dạ dầy. Chúng nó đã khiêu vũ trên nỗi thống khổ của chiến hữu chúng nó, của dân tộc chúng nó. Chúng nó khỏa lấp sự phẫn nộ của người công chính. Chúng nó bảo cần thiết một “huynh đệ chi binh” trong Ngày Quân Lực. Chúng nó bảo cần thiết những thằng tướng bẩn, tướng hèn, tướng đào ngũ triển lãm toàn diện sự bất cố liêm sỉ. Chúng nó bảo cần thiết những thằng tướng khốn kiếp phóng uế trên đất nước Lincoln. Và chúng nó khoán quyền đại diện tù nhân chiến hữu của chúng nó cho cai thầu nỗi khổ 30 năm phè phỡn bên Tây, chưa hề nhìn thấy lính Sài gòn cũng chưa hề nhìn thấy bộ đội Hà nội.
Người Mỹ đã không dạy chúng nó cách cai tri đồng bào chúng nó ở Việt Nam. Người Mỹ cũng không thèm dạy chúng nó những bài học dân chủ và trò chơi dân chủ ở nước Mỹ. Mở miệng, chúng nó nói dân chủ và chiến đấu cho dân chủ, tự do. Nhưng chúng nó chỉ muốn độc quyền tự do, dân chủ. Chúng nó đòi tự do, dân chủ…độc tài. Chúng nó đòi tự do phóng uế chính trị, phóng uế kháng chiến, phóng uế giải phóng dân tộc. Nhưng chúng nó cấm người khác tự do phản kháng phóng uế chính trị, phóng uế kháng chiến, phóng uế giải phóng dân tộc. Chúng nó không thích trò chơi dân chủ. Chúng nó không thích đối lập ở nơi chốn mà dân chủ, tự do là biểu tượng cao quý nhất của con người, bất kề con người nào, mầu da nào, chủng tộc nào. Bọn ngu xuẩn này chỉ thích duy ngã độc tôn, sau chúng nó là đại hồng thủy. Quyền uy ảo tưởng và thế lực báo chí giẻ rách của chúng, có thể đe dọa những người cầu an, những người yếu bóng vía, có thể bịt miệng sự lên tiếng của bọn nhà văn Hamburger sinh ra đã sợ bạo lực và chỉ dám bạo miệng chống đối Cộng sản cách xa một đại dương, chỉ dư can đảm lè nhè chửi bới người vắng mặt song, không thể không bao giờ có thể đe dọa, bịt miệng nổi những nhà văn, những nhà báo khí phách và thừa thãi tài năng. Một bài thơ lửa đủ đốt thiêu chúng nó. Một bài báo thép đủ chặt ngang thây chúng nó. Chưa cần một cuốn sách. Và chẳng cần đến một tác phẩm. Thực chất, chúng nó chẳng có quyền uy gì. Nếu các nhà văn bầy tỏ thái độ nhất loạt, nếu báo chí tư cách bầy tỏ thái độ nhất loạt, chúng nó sẽ co rúm, sẽ cúi gầm mặt, sẽ câm họng. Chúng nó chẳng là cái gì cả. Chúng nó là đồ bỏ.
Người tuổi trẻ lưu vong phải quán triệt điều này:
Những ông chính khách kinh niên, những ông lãnh tụ đảng phái già nua, những tên đã nắm quyền bính ở miền Nam, những thằng tướng hèn đào ngũ không có tương lai, không còn tương lai nữa. Họ không chiến đấu cho tương lai của dân tộc đâu. Hiển nhiên. Vì họ thiếu tài năng và tư cách. Cái mà họ đang gọi là chiến đấu chỉ là cuộc chiến đấu hư ảo nhằm mục đích phục hồi quyền bính dĩ vãng. Phục hồi quyền bính dĩ vãng đã là hư ảo, với bọn kể trên, là hư ảo bình phương. Bọn họ được chia làm hai loại. Một loại chưa nắm quyền bính, chưa ngồi ở những địa vị có thể ăn cắp nhiều. Một loại đã nắm quyền bính, đã ngồi ở những địa vị tha hồ ăn cắp. Loại thứ nhất, vì ăn cắp ít, nên lưu vong không được xếp vào loại tổ sư ăn cắp đâm ra “đố kỵ” tài năng …. ăn cắp. Chúng tìm nhau, hùn hạp lập công ty kháng chiến, hợp tác xã giải phóng dân tộc. Chúng bắt chước cộng sản, bôi son vẽ phấn cho chủ tịch, râu ria vài sợi, khăn rằn quấn cổ, gò khuôn mặt chủ tịch méo mó, khắc khổ. Chúng soạn cương lĩnh và hò hét. . . lạc quyên, xổ số, tem phiếu, hũ gạo. Và chúng vơ vét ngót nghét 10 triệu đô la, vẫn tiếp tục rao truyền cương lĩnh lạc quyên đốn mạt cho sự nghiệp ăn cắp công khai của chúng. Biểu tượng khốn kiếp của thời đại mê sảng là chủ tịch HCM. Rốt cuộc, công ty rã đám. Chủ tịch lạc quyên đòi chủ tịch lãnh tụ làm sáng tỏ tiền ăn cắp? Lý do đơn giản: Chúng nó chia chác không đồng đều. Loại thứ hai, ăn cắp nhiều no nê rồi, ngồi cạp tiền ăn cắp mãi đâm ra tương tư dĩ vãng. Thêm nữa, bị vợ khinh con chê, nhân tình lỉnh. Đường đường tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, đại tướng, trung tướng, thiếu tướng hét ra khói, ói ra lửa, nay cà lơ thất thểu, đứa ngồi thở dài, đứa bán rượu, đứa gác-dan, vợ nó khinh là đúng. Bèn phẫn chí may quân phục, mua sao lên sân khấu thủ những vai hề cù không ai cười mà chủ đề nghe phỉ báng. Lâu lâu, chúng nó phát ngôn “Phục quốc là trách nhiệm”, “Giải phóng dân tộc là bổn phận”. Đúng rồi, phục quốc và giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị cộng sản là trách nhiệm, là bổn phận của mọi người Việt Nam, trừ những thằng tướng hèn đào ngũ, những thằng tổng thống, tổng trưởng đầy tớ Mỹ, tham nhũng, thối nát. Một thằng tướng đã tuyên bố. “Tôi không đi đâu cả, tôi ở lại để ăn cơm với tương cà, canh mắm. Ăn bơ, uống sữa chỉ đi té re. Đứa nào sang Mỹ thì, đàn ông làm cu ly, đàn bà làm đĩ”! Lịch sử nào cũng có những trang chó đẻ Những trang chó đẻ của lịch sử hiện đại của dân tộc ta, ngoài sự phản phúc của Mỹ còn ghi cả xú ngôn của những thằng vô lại. Thằng tướng vô lại ấy đã sang Mỹ. Vợ nó cũng sang Mỹ. Nó có làm cu ly? Vợ nó có làm đĩ? Điều này bình thường. Hơn cả bình thường, nó tầm thường. Đôi khi còn hợp lý. Cái không bình thường là nó còn dám diện quần áo tướng, quấn phu-la đi duyệt binh Ngày Quân Lực…tan hàng, ở một nơi ai muốn làm gì tùy ý, miễn là đừng phóng uế lên danh dự Việt Nam. Vợ nó cũng… duyệt binh. Khi có ai lên tiếng rằng cu ly và đĩ không được phép nhục mạ quân đội, sẵn sàng khuyển mã của khuyển mã lý luận: Ngày Quân Lực là ngày đoàn kết quân đội! Đồng ý. Nhưng quân đội là những ai? Quân đội có phải là của tướng lãnh, nhất là của tướng lãnh đào ngũ hèn mọn? Không đâu, quân đội của chúng ta là những người lính kiêu hùng, là những hạ sĩ quan gan dạ, là những sĩ quan trong sạch quả cảm chiến đấu chống kẻ thù cộng sản đến giây phút cuối cùng. Ở Khánh Dương, ở trước dinh Độc Lập, ở cầu Thị Nghè, lính và sĩ quan dũng cảm của chúng ta còn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có những thằng tướng đang hung hăng sủa bậy “phục quốc, giải phóng, kháng chiến” là đào ngũ, là cút chạy quá sớm trước lệnh đầu hàng. Những kẻ đã đào ngũ có còn là quân đội, có còn là chiến hữu của những người lính đang chiến đấu ở quê nhà, những sĩ quan đang quằn quại ở trại tập trung khổ sai lao động của cộng sản? Quân đội của những người lính đã thắp sáng Bình Long, Kontum, Pleime, Quảng Tri…, đã tưới máu đào từ Bến Hải vào tận Cà Mau có thể “đoàn kết” với những thằng tướng đào ngũ, có thể bị nhân danh bởi những thằng vô lại?
Người tuổi trẻ đã là lính hay chưa là lính cần nhìn rõ vấn đề, cần điểm mặt lãnh tụ. Để nhận đường chiến đấu. Cuộc chiến đấu hôm nay là cuộc chiến đấu của Thiên Thần với Ác Quỷ. Nó đòi hỏi nhiệt tình, lòng tự phụ, tài năng và sáng tạo chỉ có ở tuổi trẻ. Vậy nó là cuộc chiến đấu của tuổi trẻ. Cuộc chiến đấu này phải loại bỏ lãnh tụ già, lãnh tụ vô lại, lãnh tụ vô học; loại bỏ bọn tay sai Mỹ, tay sai Liên Xô, tay sai Tây, tay sai Tầu cũ và, đồng thời khu trừ bọn tay sai Mỹ, tay sai Liên Xô, tay sai Tây, tay sai Tầu mới, dẫu tay sai có là người trẻ trung, mới mẻ. Cũng khu trú luôn đám cai thầu nỗi khổ của dân tộc, dây máu ăn phần sau 30 năm ngủ vùi trên đất thiên hạ.
Viết đến đây, tôi bỗng cảm thấy bộ hồi ký ngục tù của tôi không vô duyên, lãng nhách nữa. Còn tuổi trẻ Việt Nam an ủi tôi, còn tuổi trẻ Việt Nam là những người tôi sẵn sàng cống hiến chút tài năng còm cõi của tôi, chút kinh nghiệm kinh qua thống khổ của tôi, trọn phần đời còn lại của tôi, cho họ. Cho hết. Cho không đòi hỏi. Để họ không còn bị làm guốc cho bọn lãnh tụ ghẻ lở. Để họ không còn bị ném lên sân khấu bởi bọn đạo diễn mù. Tôi không có tham vọng chính trị. Tôi không có máu mê lãnh tụ. Tôi không lợi dụng tuổi trẻ. Tôi là nhà văn. Nhà văn thì không cần thế lực và hậu thuẫn. Thế lực và hậu thuẫn của nhà văn là Sự Thật và Lẽ Phải. Và đó chính là khuôn vàng thước ngọc của người cầm bút ở bất cứ thời đại nào. Bằng Sự Thật và Lẽ Phải, nhà văn khinh thường Bạo Lực. Luôn luôn bị Ngộ Nhận, bị Chụp Mũ, bị Đe Dọa, bị Vây Hãm nhưng chằng bao giờ bị hủy diệt vì không một bạo lực nào đủ khả năng hủy diệt Cái Thật, Cái Tốt, Cái Đẹp. Lý tưởng chiến đấu của tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-75 và những thế hệ kế tiếp là phải leo lên đỉnh ngọn Chân, Thiện, Mỹ; phải tạo dựng chính quyền cho quê hương Việt Nam, phải là Vạn Thắng Vương, dẹp tan 11 thứ phỉ, thứ ngụy để mơ kỷ nguyên Đại Cồ Việt mới.
Trong ý nghĩ ấy, tôi tình nguyện làm con ngựa già kéo xe cho Tuổi Trẻ ruổi rong làm lịch sử. Với tôi, giai đoạn tiểu thuyết lẩm cẩm, tùy bút tửu điếm, phòng trà lăng nhăng chấm dứt. Với tôi. hôm nay: “Cho lửa vào thơ văn hay cho thơ văn vào lửa”. Hoặc tôi tiếp tục văn chương chiến đấu, tư tưởng dấy động và chấp nhận mọi nghịch cảnh, mọi hệ lụy vây hãm, hoặc tôi bẻ bút. Tôi chọn lựa văn chương chiến đấu, văn chương có chính kiến rõ rệt. Người cầm bút phải có thái độ sống và thái độ viết thích ứng với thời đại của y. Nói theo nhà tư tưởng lý Đông A: “Văn nghệ phải để cho yêu thương của lý tưởng có tranh đấu trụ trì “ 1. Những kẻ cầm bút không có chính kiến, cầu an, sợ hãi bạo lực, thù hận của bạo lực và hình phạt của bạo lực chỉ là bọn thư lại chữ nghĩa. Những kẻ cầm bút chối bỏ Sự Thật và Lẽ Phải, nói theo Lý Đông A là bọn văn nghệ “mõ chợ”, bọn văn nghệ “chó sủa” 2. Lý Đông A mượn ý của Shelley nhắc nhở rằng: “Nhà văn phải thổi kèn đánh thức” con người và lương tri của con người. Tôi muốn làm người thổi kèn, chỉ đề đánh thức cho tuổi trẻ Việt Nam lên đường và báo động hoàng hôn chết của lãnh tụ già nua mọi mặt. Thế thôi.
Trong mọi lãnh vực, người tuổi trẻ cần hiện diện. Lão thành cách mạng, lão thành ký giả, lão thành chính khách, lão thành văn sĩ là những người sắp chết, gần kề nỗi chết. Tương lai thì lại sẽ tới, sắp tới, đang tới và còn tới mãi mãi, vô tận. Tương lai không của người già càng không phải của những người hết thời. Tương lai là của tuổi trẻ. Tương lai là mầm vừa nhú, lộc đang đâm chồi, hoa chờ hé nhụy. Tương lai không là cây đã cổ thụ, hoa đã héo tàn, cà đã thâm, dưa đã khú. Đất nước chỉ toàn cây cổ thụ là đất nước buồn bã. Vì trên ngọn thì quạ đậu đầy, dưới gốc thì bình vôi đặc khịt chồng chất. Đất nước ta đã 50 năm rặt quạ và bình vôi. Và đất nước ấy đã thê thảm cùng cực. Phải làm cho đất nước cơ man cây trổ hoa, đơm trái. Phải làm cho đất nước rộn ràng ong bướm, véo von chim hót. Và đó, nghĩa vụ của tuổi trẻ Việt Nam. Tôi hy vọng, bộ hồi ký tù ngục này sẽ giúp tuổi trẻ đôi chút kiến thức về cộng sản. Đề họ nhìn kẻ thù chính xác mà chiến đấu. Nó cũng còn là một báo động một xúc động phôi phai cho họ, những người rời quê hương trước 30-4-1975 quá trẻ, dễ chìm nghỉm dưới bùn lầy vật chất nước Mỹ và đã quên thân phận dân tộc, số phận tù nhân lao cải mà thống khổ chịu đựng, văn chương của tôi không đủ khả năng diễn tả.

——————————–

1Đạo Trường Ngâm, Thay lời tựa, Nhân Chủ Học Xã xuất bản, USA 1985.