vietmessenger.com
A20 Vũ Ánh
Post by Sơn râu 30 Jun 2024


Phần 26
Tết 1984 Đánh Dấu Sự Thay Đổi Chế Độ Tù Việt Nam
Tết Nguyên Đán năm 1984 chúng tôi lại trãi qua một cuộc “xóa bài làm lại” trong khu biệt giam của Phân trại E thuộc A-20 Xuân Phước, nghĩa là phải thay đổi chổ ở sau một màn tất cả lần lượt “bị” lùa ra giếng nước ngay bên cạnh ao thả cá rô phi sau khu biệt giam. Trời tháng Giêng ở Thung Lũng Tử thần lạnh như có ai cầm dao cắt vào da, nhất là khi trời vào tiết Xuân, gió hiu hiu làm lay động hàng dừa trong sân trại. Cái lạnh thiên nhiên cộng với việc thiếu đường và chất béo từ 9 năm qua khiến cho buổi sáng ngày 30 Tết Nguyên Đán năm 1984 trở thành buổi sáng không thể nào quên được trong đời. Chân tay anh em chúng tôi gần như tê liệt. Linh mục Nguyễn Văn Vàng đứng như trời trồng trước cửa biệt giam số 5 khi ngài được trật tự mở còng cho đi tắm và làm tổng vệ sinh buồng giam. Một tu sĩ Công giáo nhỏ con và lanh lẹ như một con sóc, nổi tiếng hùng biện và can trường như ngài mà chỉ mới hơn 3 năm bị cùm trong xà lim thân xác không khác gì người tù Do Thái trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã hồi Thế Chiến Thứ Hai.
Linh mục Vàng đứng lên được nhưng không thể nào bước đi được. Những anh em tù nhân thuộc đội hình sự được cán bộ trực trại đưa vào giúp chúng tôi cọ rửa các xà lim biệt giam, đổ thùng cầu tưởng Linh mục Vàng giả vờ để trốn tắm, một vài anh em trong số họ đã có lời lẽ thiếu nhã nhặn đối với ngài. Nhưng ngay lập tức một trong số những tù hình sự đứng tuổi có lẽ là đội trưởng nạt lại ngay: “Đ.M. đứa nào vừa ăn nói du côn đấy, liệu hồn tối nay về đội không còn răng để ăn cháo nghe con. Đ.M. người ta bị cùm lâu ngày gân cứng lại thì cũng phải từ từ chứ. Bộ chúng mày tưởng mình là cán bộ chắc, cho hai đứa nào vào dìu ông già ra”. Tôi được tháo cùm sau Linh mục Vàng, hai đầu gối tê cứng, thân mình xiêu đổ khi đứng lên và cũng được hai tù hình sự dìu ra giếng nước. Một trong hai tù hình sự đứng kéo nước từ giếng lên để xối cho chúng tôi, biết ông Vàng là linh mục nên nói: “ Cha ngồi xuống dựa vào bức tường chắn cho đỡ lạnh. Anh cũng vậy. Em kéo nước lên sẽ dội ra ngoài để che mắt bọn nó. Cả hai người yếu quá rồi chỉ nên thay quần áo chứ không thôi thì ở dơ không chết mà chết vì cảm lạnh đấy”. Chúng tôi thấy người hình sự này nói có lý nên làm theo.
Cả hai chúng tôi ngồi cho đến hết giờ tắm để lại được dìu ra khỏi giếng nước đến ngồi ở bờ hè bên bức tường hông của nhà bếp nơi có thùng nước nóng mà tù cải tạo của đội nhà bếp xin mang ra để phát cho những tù nhân biệt giam ra tắm. Tôi cho ca nước của mình múc một ca, uống hết một nửa, một nửa đưa cho Linh mục Vàng. Ngài uống hết rồi múc thêm nửa ca nửa. Tôi hỏi ngài: “Bố vẫn còn khát hả?” Ngài trả lời: “Uống phòng xa”. Động từ “phòng xa” anh em chúng tôi dùng để chỉ thời kỳ bị nhục hình bằng chính sách 2 muỗng cơm, hai muỗng nước, hai muỗng muối khi chúng tôi bị nhận chìm vào cơn khát của những người đi trong sa mạc nên mỗi khi bị gọi ra “làm việc” phải xin uống cho thật nhiều nước trước lúc bị dẫn trở lại buồng giam rồi đái ra để uống cho đỡ khát.
Từ lần mà tôi bị gọi ra để làm việc với các thẩm vấn viên từ trung ương vào, chúng tôi không còn bị “đì” phần nước như trước nửa, nhưng mỗi bữa ăn cũng chỉ được phát một phần tư ca. Với số lượng nước này người tù nào vẫn giữ cách nhịn bớt khoai mì để tránh muối thì không đến nỗi khát quá, nhưng nếu người nào không nhịn được và ăn trọn bộ hai phần khoai mì đẫm nước muối cho một ngày thì cũng vẫn khát và sẽ thấy thân thể mỗi ngày trở nên “đẫy đà” hơn, nước da ngày càng xanh bóng hơn (nghĩa là phù thũng nặng hơn)
Tuy nhiên dù gì đi nửa bị cầm giữ trong không gian của một cái chuồng tối tăm, thiếu vệ sinh, không khí và ăn uống lại thua xa khẩu phần của một con chó như thế dần dà chúng tôi xuống sức và nếu không may chỉ cần vướng một cơn cúm nhẹ cũng có thể tiêu mạng như thường. Cựu dân biểu K.T.V. và tham sự hành chánh L.Q.M. bị đua vào biệt giam muộn hơn tôi nhiều nhưng chưa đầy 9 tháng sau, một người phải cáng vào bệnh xá trong phân trại B và qua đời tại đó, còn một người chết ngay trong biệt giam. Ở phân trại E nhiều anh em ít chú ý đến một hiện tượng: phần lớn những anh em tù nhân cải tạo bị bệnh mà phải đưa vào bệnh xa phân trại B cách phân trại E khoảng từ 5 đến 7 cây số đều chết tại đây chẳng hạn như ông L.K. chủ tịch Tổng Công Đoàn Tự Do một tổ chức Nghiệp Đoàn đối lập với Liên Đoàn Lao Công của ông T.Q.B. và khoảng độ ba hay bốn tu sĩ Công Giáo, hai tu sĩ Phật Giáo khác, cựu Tổng Đốc N.D.G. và chánh văn phòng của TT Ngô Đình Diệm V.V.H.
Nhiều người thắc mắc ở Thung lũng tử thần có bao nhiêu trại giam và phân trại nào là trại chính. Một trong những tù nhân thuộc nhóm người đi chuyến tàu Việt Nam Thương Tín trở về nước sau khi đã di tản đến Guam rồi cho biết khi họ đến đây là đã có phân trại B rồi. Phân trại B là một bệnh xá có 10 giường bệnh, 4 bác sĩ Quân Y của QLVNCH cũng là tù cải tạo làm việc với một y sĩ Việt Cộng mang cấp Thiếu Úy (Ghi chú y sĩ là từ ngữ mà ngành y của cộng sản dùng để chỉ y tá hay y tá trưởng). Ngoài ra còn hai phân trại khác nhỏ hơn đó là C và D ở sâu trong một khu rừng nguyên sinh cách B khoảng 10 cây số được thiết lập bên cạnh một con suối. Cho đến thập niên 1980 thì các phân trại C và D mà phần lớn tù nhân cải tạo là hình sự đều lần lượt bị đóng cửa vì nước độc. Lý do khiến Cục Trại Giam Miền Nam dẹp trại giam C và D đã trở thành các cuộc tranh cãi trong số những anh em tù nhân cải tạo. Người thì cho rằng tình hình an ninh không còn bảo đảm do tàn quân “ngụy” phối họp với người dân tộc H’mong đang có âm mưu dấy loạn từ trong buôn làng của họ cách trại khoảng 20 cây số đường chim bay. Có người lại còn nhân rộng một hình ảnh trên thực tế không hề có: quân của tướng Ngô Quang Trưởng mở một đường xâm nhập từ Lào vào Việt Nam nằm về phía Đông Bắc của phân trại D. Đại loại những “hot news” này lúc đó được tù cải tạo loan truyền chỉ với mục đích giữ vững và an ủi tinh thần anh em. Tuy nhiên, nó chỉ có tác dụng đối với những sĩ quan nào không hề chú ý đến khía cạnh thuần lý của tin tức. Còn phần đông những anh em khác đều cho rằng đây là chuyện tầm phào. Điều khôi hài là vào lúc ấy chỉ có một số ít người tù chịu khó nêu ra suy nghĩ độc lập của mình: chỉ có người giữ vai trò Tổng bí thư đảng cộng sản mới có thể biết tin trên được, tù nhân cải tạo ở trong cái rọ của Xuân Phước kín như bưng làm sao biết được mật tin này và liệu mật tin này có thể là do chính Việt Cộng tung ra trong một chiến dịch trăm hoa đua nở khác trong trại tù hay không? Rõ ràng nguồn tin thuộc loại “hot news” thường tỏ ra có nhiều kinh nghiệm trong việc loan truyền. Tâm lý người tù cải tạo lúc nào cũng cần có một cái phao để bám vào trong khi những người nào còn tỉnh táo thì không nói ngược lại được vì sợ những người bạn đồng tù hỏi: “Bộ mày không muốn tướng Trưởng mang quân về à?” hay “Bộ mày không muốn có thay đổi hả?” Những câu hỏi xách mé về những tin tức tưởng tượng này trở thành một cái khiên để những phần tử chống cộng hoang tưởng trong trại giam vùi đầu trong cát một cách hèn nhát để “chờ thời cơ sắp đến” và làm cho sự đoàn kết giữa anh em tù cải tạo với nhau sứt mẻ dần.
Những tác hại nguy hiểm của loại tin tức đại loại như ông tướng này về lập chiến khu tại dãy núi Mây Tàu, Rừng Lá hoặc vùng U Minh Thượng Cà Mau tướng kia về mật khu Dương Minh Châu hay tướng Hải Quân Hoàng Cơ Minh cùng ông Hoàng Văn Hoan thuộc Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam đào tị ra nước ngoài trở về Hoàng Sa lập hạm đội giải phóng Việt Nam đã trở thành những đề tài nóng hổi trong những trại giam. Những cái phao này có những lúc được bơm rất căng, dẫn tới những cuộc cải lãy và ấu đả tuy chỉ là vài cú đấm thôi cũng đã tạo ra bối cảnh thảm hại trong hàng ngũ anh em tù cải tạo chúng tôi. Dù những người bị bịt mắt trong trong thành phần tù nhân cải tạo chỉ là thiểu số, nhưng đa số thầm lặng thì lại không muốn phiền hà đến mình nên vẫn chỉ là đa số thầm lặng. Cho nên những người tù nào còn tỉnh táo để phán đoàn, những người vẫn có thể nói với những thiểu số mù quáng này rằng Hoàng Sa đã mất về tay Trung Cộng từ năm 1974 hoặc “Mấy anh mà còn biết những tin tức loại A 1 này, thì bọn cộng sản chúng nó lại mù hay điếc hết hay sao mà không biết” đã mặc nhiên trở thành “những người tỉnh táo trong cô đơn” và đôi khi còn bị cô lập.
Những thập niên sau này khi sang định cư ở Mỹ sống giữa cộng đồng người Mỹ gốc Việt Nam chỉ một năm sau, tôi đã nhận ngay ra một số chính trị gia hay nhà báo mang cái bệnh hoang tưởng từ các trại lao cải ở Việt Nam từ các thập niên trước sang đất Mỹ. Điều đáng quan ngại sự hoang tưởng của họ chiếm một vị trí rất trang trọng trong các bài diễn văn dài trước cử tọa mà đa số đều trãi qua những kinh nghiệm ở các nhà tù cộng sản hay ở xã hội bên ngoài tại Việt Nam. Trong khi nhiều người muốn xây dựng một nền văn hóa cộng đồng mang sang từ quê hương gốc thì một số chính trị gia nói trên lại xây dựng một nền chính trị cũng hoang tưởng như các “hot news” trong trại tù và rập khuôn kiểu cai trị của đảng cộng sản: “Những gì chúng tôi nói ra là chân lý phù hợp với cộng đồng, mấy anh bất đồng chính kiến với chúng tôi có nghĩa là đi ngược lại cộng đồng, là tay sai cộng sản”. Có một giai đoạn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, phần đông chính trị gia này hay dùng nhóm từ ngữ “bị tẩy não” để chỉ nhóm người không có ý kiến giống họ mà không hề để ý rằng chính họ mới là những thành phần bị cộng sản tẩy não. Không bị tẩy não thì không ai lại ngu dại gì mà giữa một đất Mỹ tự do mà lại tự nguyện đưa chân vào cái cùm Đỏ như vậy.
Sáng 30 Tết Nguyên Đán năm 1984, các phân trại thuộc A-20 đều nghỉ lao động. Theo lời những anh em không bị biệt giam lâu dài kể lại sau này thì năm ấy viên trại trưởng Lê Đồng Vũ cho nới lỏng thăm nuôi, bỏ những giới hạn khắt khe, chẳng hạn như “những tù cải tạo bị biệt giam khi được thả ra lại đội lao cải không được nhận quà thăm nuôi hay ra gặp mặt gia đình ít nhất là sáu tháng” Linh mục Nguyễn Văn Vàng và tôi ngồi dựa lưng vào bức tường nhà bếp cho đỡ lạnh sau khi được một tù hình sự tốt bụng tránh cho việc phải dội nước lên người. Nhìn vườn rau cải chạy từ sau lưng khu biệt giam đến dãy nhà giam 1 và 2 đã ra hoa vàng, nhìn những bạn tù được gọi ra thăm gặp hay thăm gặp rồi xách những giỏ quà từ cổng trại đi vào dưới hàng dừa cũng đã đơm hoa, nghe tiếng lao xao của bạn bè bên những giếng nước đào trước sân mỗi nhà giam tôi bỗng chạnh lòng nghĩ tới những người thân ruột thịt nhất là mẹ tôi. Từ giữa năm 1976, tôi không còn gặp hay thư từ gì cho bà cụ. Những năm tháng còn bươn chải trên các mặt trận vào những năm trước 1975 để làm sao có thể gởi được về hậu phương một phóng sự truyền thanh “Xuân Tiền Đồn” cho kịp phát thanh sau thông điệp đầu năm của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tính ra chỉ có vài năm ít ỏi tôi được vui tết với gia đình bắt đầu từ sau Mùa Hè Đỏ Lữa năm 1972. Trong những script gởi kèm với cuộn băng ghi âm phóng sự này, tôi thường dùng một đoạn của ca khúc mà cho tới nay tôi đã quên tên của nó, trong đó có hai câu mà tôi thích nhất thường dùng làm nhạc mở đầu và nhạc nền cho phóng sự:
“Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở anh đâu biết Xuân về hay chưa”
Lúc bấy giờ 1984, tuy hoàn cảnh đã đổi thay nhưng tôi cũng không quên được hình ảnh của những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân hay những người lính đồn trú tại những căn cứ hỏa lực những ngày trước tết Nguyên Đán. Họ quả cảm, nhẫn nại và chịu đựng gánh nặng của cuộc chiến trong những năm dài nay lại phải chịu đựng gánh nặng của đời tù đày gần cả một thập niên (tính cho đến 1984). Những người lính ấy trở thành những tù cải tạo sau khi thua trận đứng lố nhố lấp ló trong lối đi của vườn rau cải đơm bông. Họ muốn tiếp tế cho chúng tôi nhưng còn ngại đám vệ binh đứng canh chùng để kiểm soát việc bắt cá rô phi từ cái ao đào ngay sau khu biệt giam.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.