vietmessenger.com
A20 Vũ Ánh
Post by Sơn râu 1 Jul 2024


Phần 29
Đổi Sự Sống Để Cứu Một Tù Kiên Giam
Tôi đã nhìn thấy người bạn đồng tù L.Q.M. chết như thế nào do phù thủng và tôi cũng đã bắt đầu cảm nhận dần dần trạng thái của một người bị phù thủng nặng. Mỗi ngày, những cơn buồn ngũ bất thường đẩy tôi thiếp đi trong sự mệt mỏi đến lã người và khi thức dậy cảm thấy lười biếng không muốn ngồi lên, người lúc nào cũng gây gây lạnh, thấy tưng tức ở bàng quang nhưng không thể nào tiểu nhiều được. Tôi không muốn khai bệnh vì tôi sợ hai điều: một là khai bệnh sẽ làm lộ rõ yếu điểm vì sẽ làm đám quản trại sẽ không chậm chạp trong việc dùng nhu cầu thuốc của tôi để làm áp lực, hai là nếu được cấp thuốc thì cùng lắm cũng chỉ nhận được vài viên xuyên tâm liên uống vào chẳng có tác dụng gì mà có khi còn dẫn mình vào chổ chết. Chi bằng cứ phó thác mạng sống cho đấng linh thiêng và chấp nhận định mệnh mà chúng tôi vẫn thường đùa cợt nhau bằng một từ ngữ “trời kêu ai nấy dạ.” Để cho lòng thanh thản và giảm đi cảm giác khó chịu của phù thủng, tôi ngồi thiền rồi đứng dậy đánh Dịch Cân Kinh rồi sau đó ngồi đọc Chú Lăng Nghiêm cho tới tờ mờ sáng mới nằm xuống. Sự tập luyện này kéo dài khoảng một tháng thì tôi nhận thấy cơ thể mình có vẽ khá hơn. Trạng thái ngũ như thiếp đi bớt dần và khi lựa thế cùm để có thể đứng lên đánh Dịch Cân Kinh “cải tiến” (vì một chân bị cùm, nhưng nhờ cùm rộng nên có thể lựa thế đứng dậy được) tôi đã thấy mồ hôi rịn ra ở lưng áo và ngày cũng đi tiểu được vài lần. Điều đáng mừng nhất là khi cúi xuống, tôi không thấy nặng ở mặt nửa. Đúng vào lúc ấy thì “phi vụ” tiếp tế thuốc diễn ra. Vì sự kiện diễn ra đã lâu quá, hơn ba thập niên rồi trí óc đã mòn mỏi nên tôi không còn nhớ ngày nhưng nhớ được là chuyện xảy ra vào trưa Chủ Nhật, tuần lễ đầu của tháng Tư,1985. Buổi trưa hôm đó tiêu chuẩn cơm tù của biệt giam hơi đặc biệt. Phần “cơm” không phải là khoai mì lát luộc như thường lệ mà là một cái “bánh bẹp” và nước muối được thay vào bằng một cái chén nhỏ cà tím nấu với một thứ nước mắm cá mà chúng tôi gọi là “nước mắm mút giòi”
Xin độc giả cho tôi một ít phút để giải thích rõ hơn về “bánh bẹp” và “nước mắm mút giòi”. Sở dĩ chúng tôi gọi loại bánh làm bằng bột mì rồi đem luộc giống như người Tây phương luộc Spaghetti vậy là vì bề dày của miếng bánh chưa tới một centimetre nên trông rất mỏng, gọi là “bẹp.” Có anh em bạn tù thì nói rằng bột mì là do Canada viện trợ. Cũng lại có anh em nói rằng đây là bộ mì Sơn Đông của Trung quốc. Thời gian còn ở trại Hàm Tân Z30-C, anh tổ trưởng tổ cơm trong đội nhà bếp trước 30 tháng 4, 1975 vốn là chuẩn úy biệt phái và là thuộc cấp cũ của tôi tại Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia cho biết khi đội nhà bếp đi lãnh bột mì ở thị xã Bình Tuy bột vẫn còn trong bao bên ngoài có ghi rõ là quà tặng của chính phủ Canada. Do không có bột nổi và cũng không có ai biết xây dựng lò làm bánh mì nên cuối cùng nhà bếp trại đành phải nhồi bột với nước, đóng bánh rồi cho vào luộc chín thành những miếng bánh diện tích khoảng bàn tay hay có khi nhỉn hơn một chút. Chúng tôi gọi đó là “bánh bẹp.” Tiêu chuẩn bên ngoài trại lao cải thì mỗi bữa ăn, một tù nhân cải tạo được cấp phát một miếng như thế, nặng khoảng 150 grams. Còn tiêu chuẩn trong xà lim biệt giam thì miếng bánh bẹp ấy bị cắt đi một góc.
“Mắm mút giòi” là một nhóm từ ngữ do anh em làm ở đội nhà bếp trại A-20 Xuân Phước đặt ra để chỉ một loại nước mắm mà tôi nghĩ có lẽ chỉ dùng để phát cho tù nhân cải tạo thời bấy giờ thôi, chứ nếu ngày nay mà đem loại nước mắm này phát cho tù cải tạo hiện nay ở Việt Nam thì chắc chắn các tổ chức nhân quyền như Human Rights Watch hay Phóng Viên Không Biên Giới sẽ có nhiều việc làm tốn giấy mực hơn. Vì ở nhà tù tại Việt Nam đến ngay tù nhân thọ án là Luật Sư Cù Huy Hà Vũ không được gặp vợ thường xuyên hay luật sư Lê Quốc Quân không được gặp linh mục và không được mang tài liệu sách báo vào phòng giam nghiên cứu mà cũng đã trở thành vấn đề lớn hiện nay rồi huống chi nếu họ lại còn bị cho ăn mắm mút giòi.
“Mắm mút giòi” thực ra là loại mắm cá của người Tuy Hòa, nhưng khi nước mắm đã được chắt hết thì các trại tù cải tạo thuộc phạm vi tỉnh này mua lại những bã cá mắm đó mang về chứa trong các chum vại ở nhà kho trại, nhưng do bảo quản không kỹ, bã mắm hư hại dần trong kho chứa và trong rất nhiều trường hợp ruồi nhặng đã đẻ ấu trùng vào mắm. Anh em nhà bếp cho biết họ phải pha nước vào thùng nước mắm còn nguyên những ấu trùng đó, đun cho thật sôi, vớt xác chúng ra rồi mới đem phát cho tù cải tạo. Người tù nào sợ thì vứt bỏ, người nào không sợ thì vẫn dùng. Đang trong tình tạng bị phù thủng nên tôi không hề đụng tới cái món cà tím này, dù rất thèm, đành ngồi nhai hết chiếc bánh bẹp rồi nằm ngã lưng một chút.
Đang mơ màng thì tôi bỗng giật mình nghe tiếng chân chạy rầm rập trên hành lang phía ngoài xà lim, rồi nghe một tiếng “soạt”. Một gói nhỏ bọc ngoài bằng bao nylon nằm giữa lối đi giữa hai bệ cùm. Nhặt lên mở ra thấy có hai tán đường, 12 viên Vitamin B1(trị phù thủng) và 6 viên dầu cá loại nhỏ (thời đó dầu cá viên chỉ có kích cỡ chỉ bằng đầu đũa) và một miếng bao nylon. Tôi hiểu ngay bao nylon này là một lời nhắn: phải tiêu thụ hết đường ngay kể từ buổi trưa cho tới giờ điểm số xà lim vào buổi chiều vì khi điểm số cai tù hay khám xà lim, gói thuốc B1 dầu cá vào bao nylon và nhét vào hậu môn như chúng tôi vẫn thường làm thế để giấu những mẫu tài liệu dùng thực hiện tờ Hợp Đoàn.
Từ buổi trưa cho tới giờ đếm số buổi chiều, tôi uống 2 viên Vitamin B1 và điều ngạc nhiên là ngay lúc bóng tối phủ kín xà lim cho tới gà gáy sáng hôm sau, tôi đi tiểu khoảng hơn chục lần và có cảm giác dường như bao nhiêu nước tích tụ trong người được xả ra ngoài hết. Nhưng hiệu quả của thuốc chỉ trở nên hoàn hảo sau khi tôi sử dụng hết các viên dầu cá và B1. Chỉ có điều sau khi không còn triệu chứng phù thủng nữa thì lại cảm thấy đói kinh khủng, nhưng do vừa trãi qua kinh nghiệm, tôi luôn dùng tự kỷ ám thị và luyện tập thiền để vượt qua đói khát. Tôi cần nhấn mạnh ở đây rằng điều này thật sự hữu hiệu trong những hoàn cảnh khốn khó nhất. Đầu thập niên 1990 gặp lại những bạn tù cùng trại tại Sài Gòn ngồi uống cùng nhau ly cà phê bên vệ đường giữa một thành phố bắt đầu hồi sinh, chúng tôi vẫn còn có nhiều tranh cãi về giai đoạn tù đày và tình trạng bị quản chế vì hoàn cảnh đôi khi khác nhau, nhưng có một điểm chung giống nhau. Đó là, trong tù thực phẩm chính của người tù vẫn là tinh thần bởi chính nó mới giúp chúng tôi kiên nhẫn, chịu đựng bền bỉ vượt qua khó khăn và giữ trọn được nhân cách.
Thời gian sau đó gặp lại Ng. “đen” khi được biên chế vào đội làm lò gạch thì hóa ra những viên thuốc B1 và dầu cá được đưa vào biệt giam cho tôi cũng như các bạn khác có thể phải đánh đổi bằng chính mạng sống của anh em đồng đội với tôi trong nhóm Hợp Đoàn: họ phải nghiên cứu phương thức leo qua hàng rào kẽm gai trên bức tường hông của khu biệt giam. Bức tường này nằm sát một khu gọi là khu tu sĩ. Sở dĩ chúng tôi gọi là khu tu sĩ vì khu này có một nhà giam duy nhất được ngăn đôi cầm giữ các tu sĩ Công Giáo, Phật Giáo và các chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo của người Chàm ở Ninh Thuận và Châu Đốc. Chung quanh khu giam giữ các tu sĩ là một bức tường cao khoảng bốn thước và cửa ra vào khu có khóa. Như thế nếu cửa này bị đóng lại thì những người tù khác tại những đội lao cải không nhìn thấy gì bên trong tiểu khu tu sĩ và đám quản trại ra một lệnh đặc biệt phạt rất nặng khi bắt gặp một tù nhân cải tạo nào liên hệ với những tu sĩ trong khu chuyên giam này.
Mục tiêu của việc thành lập khu tu sĩ chỉ là để cô lập tất cả những tu sĩ của các tôn giáo với chúng tôi và ngược lại. Ng. “đen” và P.Đ.N. phải mất một tuần lễ để “điều nghiên” cách leo tường vào khu biệt giam. Họ chú ý đến các phiên đổi gác của vệ binh trên chòi gác và nhận ra phiên đổi gác vào khoảng trưa Chủ Nhật sau giờ các đội lao cải lãnh thực phẩm là kéo dài lâu hơn cả. Hơn nửa, giao ca ở các vọng gác trong các trại tù cộng sản có khi không diễn ra ở dưới chân chòi gác mà ngược lại giao ca được tiến hành ở cổng trại, nơi có một cái bàn làm việc của trực trại. Từ cổng ngoài của trại vào đến khu biệt giam một vệ binh súng dài phải mất khoảng từ 7 đến 10 phút di chuyển. Một khuyết điểm thứ hai của an ninh trại là vòng kẽm gai trên tường trong khu biệt giam là vòng đơn và chỉ được móc vào một cái móc bằng đinh đóng cong xuống rồi kéo ra. Cả hai bạn tù chí cốt nhất của tôi chọn một lối tương đối khuất nằm ngay giữa búc tường của khu tu sĩ chạy từ cổng khu biệt giam vào và bức tường của khu biệt giam. Chỉ cần tháo móc giữa vòng thép gai đầu tiên là có thể tạo thành một khoảng trống hẹp leo qua tường để nhảy vào khu biệt giam. Dĩ nhiên người nhảy vào phải tương đối còn mạnh, cởi trần và mặc quần đùi thật hẹp để tránh vướng víu. Nhưng điểm hóc búa nhất trong kế hoạch cần phải giải quyết là liệu các tù nhân tôn giáo có đồng thuận để ủng hộ việc làm này của anh em chúng tôi không? Họ có sợ bị vạ lây mà đi báo cáo với an ninh không? Do đó, cả hai bạn tù của tôi lại phải tham khảo và may mắn là hầu hết các tu sĩ trong khu này đều là những vị từng giữ chức Trưởng phòng Tuyên Úy của các Quân Đoàn hay Sư Đoàn hoặc từng làm công việc tuyên úy tại những phòng sở phụ trách về Đức tin cho Quân đội VNCH cho nên họ đồng ý cầu nguyện và coi như không biết, không nhìn thấy “phi vụ” nguy hiểm như tôi vừa trình bày. Nó nguy hiểm vì chỉ cần anh vệ binh súng dài nhận ca gác leo lên chòi gác sớm hơn thời gian dự tính từ lúc leo vào và leo ra khỏi khu biệt giam là có thể Ng. “đen” hay P.Đ.N. có thể mất mạng do vệ bịnh từ chòi canh bắn xuống.
Câu chuyện này không phải là một kịch bản trong phim mà là chuyện thật biểu lộ tinh thần đoàn kết và cưu mang nhau ở một trong vài trại tù được liệt vào danh sách những trại tù khắc nghiệt nhất tại Việt Nam thời chưa mở cửa.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.