Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần 11

Ba ngày Tết trôi qua rất nhanh. Cái không khí “hòa giải dân tộc” lại bị ngột ngạt bởi màn tự kiểm tập thể, tự kiểm công khai giữa sân tập họp lao động trước khi tiến công hai mặt trận Lao động tích cực, Tư tưởng tiến bộ. Hùng nhí và Tạ Dung bị làm tự kiểm cá nhân, bị hạch hỏi cả tuần lễ. Tù nhân Sa Ác B thì chỉ bị phê bình. . . quá đà nhạc vàng. Nhân vật Phạm Thái Ất nổi bật.
– Anh Ất đâu?
– Anh hò hét to lắm hả?
– Thưa cán bộ, tôi chỉ…vỗ tay!
– Anh thành khẩn chứ?
– Dạ.
– Tốt. Nhưng đừng quên chúng tôi đã không bám sát sinh hoạt của các anh đêm giao thừa.
Tôi vốn không ưa những kẻ anh dũng trong bóng tối và hèn mọn ngoài ánh sáng. Phạm Thái Ất là biểu tượng của hạng người kể trên, nhan nhản trong nhà tù ngoài cuộc đời. Ngạo nghễ phải ra mặt ngạo nghễ. Muốn chứng tỏ mình phủ nhận chính sách cải tạo và pháp lý nhà tù thì hiên ngang khước từ lao động, hiên ngang chối bỏ nội quy, hiên ngang chống đối cai tù. Bằng không dám, nên nhẫn nhục. Biết nhẫn nhục những việc bình thường, biết nhịn nhục những kẻ tầm thường mới gọi là biết sống. Và còn gọi là can đảm. Khi vẫn cam đành ra bãi cầm cuốc, vẫn cam đành tôn trọng Nội quy, vẫn đứng nghiêm trước mặt cai tù thì không nên chửi bới sau lưng chế độ và cai ngục. Sự chửi bới sau lưng không giải quyết được gì. Nó chỉ chứng tỏ sự hèn nhát khi bị cật vấn và bắt buộc gian dối chạy tội. Lúc ấy lôi anh em ra khỏa lấp nỗi bẽ bàng của mình cái tội “ăng ten”. Chống chính sách cải tạo cần khước từ thăm gặp vợ con, gánh nặng quà cáp về trại. Nghe tên mình đọc thăm nuôi, nhẩy cỡn mắt sáng rực, miệng cười toe mà cứ thích chửi cộng sản thầm thì tôi thấy nó kỳ lắm. Nó gian dối lộ liễu. Và xứng đáng bị cộng sản khinh bỉ. Cũng như một ông nhà văn tôi đã gặp ở Paris. Ông này chửi bới Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Hoàng Cơ Minh hết cả ngôn ngữ chửi bới. Tội ác của Hoàng Cơ Minh, ông ta nêu ra cả một đống. Nhưng ông ta không dám lên tiếng trên sách báo ông ta viện dẫn lý do rất hợp lý. Ông nhà văn này thuộc thành phần anh dũng trong bóng tối và hèn mọn ngoài ánh sáng. Cái dũng biểu lộ với cai tù chăn trâu cắt cỏ là cái dũng của kẻ thất phu, bất trí. Đám này chỉ bịhành hạ và chết sảng. Cái dũng biểu lộ sau lưng cai tù chăn câu cắt cỏ và co rúm trực mặt chúng là cái dũng của kẻ vô lại, đê tiện. Người ta đã có một định nghĩa cho sự im lặng, cho tất cả những con người chịu đựng nghịch cảnh một cách nhẫn nhục và can đảm.
Thủ đoạn cộng sản là bung ra rồi thu lại, là nới lỏng rồi xiết chặt, là cho phép rồi kết tội. Sau Tết 1980, sự kiên trì của Sa Ác B biến thành trấn áp. Không còn cảnh Đậu Phi Lục vung cuốc cao rồi buông lưỡi cuốc từ từ nhẹ nhàng rơi xuống, chẳng cần ngập đất. Không còn cảnh Bùi Hoàng Thư chém cả ngày không đứt một cái rễ cây. Không còn cảnh vừa ra hiện trường lao động là báo cáo đi ỉa. Quản giáo đã kiểm tra chỗ tù nhân ngồi ỉa. Chấm dứt màn giải lao… tụt quần trốn lao động. Lệnh củaBan giám thị: Giới hạn sự đi ỉa ngoài bãi đến mức tối đa. Cái thú thứ hai của người Việt Nam không còn, cái thú được ví với tước vị quận công, ngang cơ Ủy viên bộ chính trị trung ương Đảng: “Thứ nhất Quận công, thứ nhì ỉa đồng”. Số tù nhân khai bệnh nằm nhà giảm gần hết. Bi cảnh lao động diễn ra: Người khỏe cõng người ốm đi lao động; người trẻ dìu người già đi lao động, người què chống gậy đi lao động… Vì lao động là vinh quang, lao động là thước đo giá trị con người. Chủ nghĩa cộng sản tôn trọng con người, đánh giá cao con người, với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Con người biến sỏi đá thành cơm nhưng con người khiêm tốn, chỉ ăn bo-bo, cạp bắp đá, nuốt khoai sùng!
Đội 28 nông nghiệp của tôi đã phát quang xong diện tích canh tác. Vì ông già Hoán bị trật khớp xương không thể gánh nước và nấu nước cho đội ngoài bãi, tôi được chỉ định thay thế nhờ “tuổi tù” cao hơn mọi tù nhân trong đội. Công tác nấu nước quá nhàn. Tôi gánh nước ở cái giếng đào cách bếp lộ thiên 200 thước. Máng khúc cây lên móc hai cái xô, chất củi nấu nước. Nước sôi, đi lượm ca cóng của anh em múc đổ đầy để giải lao anh em có nước uống. Đó là phần anh em. Còn phần của thầy quản giáo và hai thầy vệ binh thì nấu ấm riêng, có rễ tranh. Rút kinh nghiệm Đội rau xanh Long Thành, tôi bỏ hai tán đường vào ấm nước rễ tranh, khi đội vô lao, tôi xách ấm nước cầm theo ba cái ly “chế” bằng vỏ chai xá xị và ba điếu thuốc thơm Capstan rỏm cho các thầy thưởng thức. Các thầy ngồi uống nước, đấu láo. Đội muốn làm, muốn nghỉ tại chỗ tùy ý. Đội trưởng Trần Ngọc Lân rỉ tai quyên đường, quyên thuốc lá anh em. Anh em chỉ thích lao động đơn sơ chứ không thích đóng góp. Khi đường và thuốc của cá nhân tôi vừa hết, buổi sáng tập họp xuất trại đầu tháng 3-1980, cán bộ hồ sơ xuất hiện tại điếm canh. Trực trại nói lớn:
– Anh Hồ Hữu Tường, anh Vũ Mộng Long ở nhà.
Tất cả tù nhân đều tưởng ông Hồ Hữu Tường và tôi được tha. Bởi vì hễ anh cán bộ hồ sơ bảo ai ở nhà, người ấy sẽ về sum họp gia đình. Tôi giao xô và đòn gánh cho bạn tù khác, trở lại Nhà. Đào Minh Lượng đang quét sân (ông thẩm phán gầy ốm, lao phổi của tôi được làm vệ sinh Nhà từ lâu) chạy tới chia mừng với tôi. Ngô Đình Hoa chúc tôi về Sài gòn vui vẻ. Đợi các đội xuất trại hết, trực trại Nguyễn Tấn Độ tìm tôi:
– Anh Long đâu.
-Có
– Anh được tha rồi đấy.
Thầy Độ nói nhỏ:
– Những gì quý, anh đểlại cho tôi.
Tôi cười:
– Yên chí, cán bộ.
Tôi vất lại tất cả đồ đạc cho Đằng Giao, Dương Đức Dũng, chỉ dồn mấy món “quý” như hộp thuốc, bình thủy, chăn, màn, quần áo,…vào cái túi phân bón tặng thầy Nguyễn Tấn Độ. Tôi mặc bộ quần áo bà ba đen đi đôi guốc do du đãng già Mậu, hỗn danh Già Móng đẽo tặng, theo thầy Độ, cùng ông Hồ Hữu Tường ra văn phòng trực trại. Ở đây, ông Tường và tôi, mỗi người được yêu cầu viết một trang nhận xét về Sa Ác B. Dĩ nhiên, nhận xét của tôi là tốt từ A tới Z. Trực trại Hưng nói:
– Được về sớm, sướng nhé!
Nhưng trực trại đã tưởng lầm. Cán bộ hồ sơ đến. Hắn đeo súng ngắn, ôm hồ sơ của ông Tường và tôi:
– Các anh chuyển trại. Cơ hội thuận lợi của các anh ở trại mới. Các anh sẽ được tha ở đó.
Người buồn nhất là trực trại Nguyễn Tấn Độ. Tôi đành xách túi đồ định cho hắn lên chiếc Van nhãn hiệu Ford. Ông Tường và tôi ngồi băng dưới cùng. Người ta khóa tay phải của tôi vào tay trái ông Tường, chân cũng thế, bằng hai chiếc còng số 8 made in USA. Xe rời trại. Nó chạy qua chiếc cầu do đội của Dương Đức Dũng bắc ngang sông Ray. Nó chạy trên con đường tù nhân Sa Ác đã mở những ngày lao động xã hội chủ nghĩa.
Giã từ Sa Ác. Giã từ một nơi chốn đã làm vàng ửng nỗi ngậm ngùi của tôi. Giã từ con dốc dài thoai thoải gánh nước leo lên thót bụng, oằn vai. Giã từ hầm phân nhung nhúc hàng tỉ con ròi. Giã từ gốc cây. Giã từ gò mối. Giã từ tất cả những tị hiềm nhỏ mọn, những gian dối đê tiện, những phán xét ngu xuẩn của xã hội vây quanh hàng rào kẽm gai. Giã từ, giã từ. Giã từ và cám ơn con gọng vó suốt đời phấn đấu ngược dòng nghịch lũ, suốt đời khước từ thân phận bèo rác, cây mục cuốn xuôi dòng. Giã từ và cám ơn đóa hoa đã nở trên cây cổ thụ. Tôi lại ra đi. Và chưa biết đi về đâu?
Duyên Anh
25-7-1987

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

1/7/2023

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Phần 31                 

Lời kết

Gần đây, đứa cháu nội của tôi, Catherine Vũ tuy mới 11 tuổi nhưng trong đầu nó đã tràn đầy những thắc mắc về người ông đã từng làm phóng viên thời còn trẻ ở Việt Nam như tôi. Vì ông cháu ở cách xa nhau mấy ngàn dặm từ Đông sang Tây nên tôi cũng ít có dịp nói chuyện với nó. Mỗi lần có dịp đi công việc ở Virginia phải ở lại nhà bố mẹ cháu nên ông cháu mới lại có dịp nói chuyện và nó hỏi tôi khá nhiều về nghề nghiệp của tôi trước đây cũng như hiện tại. Tuy nhiên, nó không dám hỏi tôi về những năm tháng dài tôi bị tù dưới chế độ Cộng Sản. Trong đầu nóc non nớt của một đứa trẻ sinh ra và đang lớn lên ở nước Mỹ chắc Catherine  Vũ có thể nghĩ trong đầu nó chắc là tôi phạm một tội hình sự nào đó nên mới bị tù lâu như vậy. Nó không dám hỏi thẳng tôi có thể là sợ chạm vào vết thương của ông nội chăng. Nhưng nó hỏi bố nó. Những câu trả lời của thằng con trai tôi với con gái của nó không thể đầy đủ và nó phải tham khảo nhà tôi.

Người bạn đời của tôi cũng là một người tốt nghiệp báo chí ở bậc đại học, có thời gian dài làm phóng viên cho Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia và biện tập viên tin tức Đài Phát Thanh Quân Đội và cũng từng là đặc phái viên của hệ thống có nhiệm vụ tường thuật những hoạt động của đệ nhất phu nhân VNCH, bà Nguyễn Văn Thiệu, cho nên rất quan tâm đến việc làm sao để cho con cháu biết rõ ngày xưa vợ chồng tôi xuất thân từ đâu và làm việc ra sao. Cho nên, nhà tôi và mấy đứa con nhiều lần thúc giục tôi viết lại hồi ký về những năm hoạt động trong  ngành truyền thông  VNCH trước 30 tháng 4, 1975 và ở hải ngoại từ năm 1993 tới nay, đồng thời ghi lại quãng đời tù đày dưới chế độ Cộng sản sau khi mất miền Nam Việt Nam. Do lười biếng và lại thiếu thì giờ nên tôi cứ khất lần. Nhưng kể từ khi biết những thắc mắc của cháu nội tôi liên quan đến giai đoạn tù đày của tôi ở Việt Nam tôi không thế khất hay hứa mãi được. Vì thế trong phần hồi ức Thung Lũng Tử thần tôi chỉ ghi lại một số những điểm căn bản về một thế giới riêng của những người tù biệt giam trong cái thế giới chung của nhà tù kiên giam như trại A-20 (có người gọi là trại trừng giới). Ở Việt Nam, những trại kiên giam biểu thị bằng mã số A không có bao nhiêu và đếm chưa hết một bàn tay A-10, A-20 và A-30.

Nhưng ngày nay những trại này đã trở thành quá khứ . Riêng tại vùng đất mà A-20 Xuân Phước tọa lạc nay đã là nơi đặt một nhà máy nhỏ cấp vùng. Cách đây khoảng 7 năm, lúc còn sống nhà báo Nguyễn Tú của báo Chính Luận có gởi cho tôi một bức hình và một video clip thu hình cơ sở điện lực này mà theo lời người giới thiệu trong video là nơi trước đây đặt các nhà giam của phân trại E thuộc trại A-20 Xuân Phước. Nói tóm lại những hình ảnh và video clip là do một người bạn tù ở trong đội có án chính trị phân trại E trại A-20 gởi cho ông và ông gởi từ thành phố Alexandria, tiểu bang Virginia gởi sang cho tôi xem với điều kiện phải gởi trả lại ông một tuần lễ sau. Vết tích quá khứ của trại A-20 nay chỉ còn là một trại giam cấp tỉnh được sử dụng chỉ để nhốt tù hình sự. Vị trí của trại này chính là phân trại B của trại A-20 trước đây.

Ghi lại hồi ức Thung Lũng Tử Thần tôi chỉ có mục đích duy nhất là để con, cháu tôi, con cháu những bạn đồng tù với tôi cũng như để cho những người nào chưa từng biết, chưa từng trãi qua ngày tù nào trong các nhà tù Cộng Sản sau biến cố 30 tháng 4, 1975 dùng nó làm tài liệu tham khảo, đối chiếu và suy nghiệm khi cần thiết sau này. Tôi không có tham vọng được mọi người coi đây như là một sử liệu mà chỉ là một tài liệu mà khi sử dụng nó cần phải đối chiếu với những tài liệu khác trước khi đi đến kết luận về chế độ lao tù Cộng Sản trong giai đoạn từ sau 30 tháng 4, 1975 cho tới giai đoạn mà Việt Nam mở cửa 1994.

Điều bình an nhất trong lòng là tôi còn nhớ và ghi lại được nơi đây nhiều điều chính tôi đã trải qua ở Thung Lũng Tử Thần.

Nhà báo VŨ ÁNH

Sinh ngày 5 tháng 5 1941 tại Hải Phòng, Việt Nam

Mất ngày 14/3/2014 tại California USA

Đi học Chu Văn An và Luật Khoa

1964-1973: Phóng viên Mặt Trận Đài Phát Thanh Sài Gòn

1973-1975: Trưởng Phoàng Bình Luận, Chánh Sự Vụ Sở Thời Sự Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia

1975-1988: Tù Cải tạo Chí Hòa, Z30-C Hàm Tân, A-20 Xuân Phước…

1992-2014: Định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO

Cộng tác với nhiều cơ quan truyền thông tại Hoa Kỳ qua các vai trò Ký Giả, Bình Luận Gia, Tổng Thư Ký và Chủ Bút:

Báo viết: Nhật báo Người Việt, Viễn Đông;

Tuần báo Việt Mercury, Sống Magazine

Báo nói: Văn Nghệ Truyền Thanh, VNCR

Little Saigon Radio, Saigon Radio Houston

Truyền hình: Little Saigon Radio, SBTN

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

1/7/2023

A20 Vũ Ánh

Phần 30                       

Làm Lại Từ Đầu Ở Tuổi 51

Khoản giữa năm 1985 tôi và một vài người nữa được đọc lệnh tha ra khỏi biệt giam. Có thể quyết định này liên hệ tới một cuộc tổng thanh tra các nhà tù của Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Sản diễn ra chỉ nữa tháng sau đó. Tôi không có bằng chứng nào để gắn vụ thanh tra này với kế hoạch “đổi mới tư duy” của chế độ, nhưng trước khi bị biên chế từ đội làm lò gạch sang đội “đặc biệt” phải di chuyển vào ở chung với khu tu sĩ, tôi đã bị gọi ra làm việc với an ninh trại và qua những chi tiết trong câu hỏi của viên sĩ quan công an phụ trách an ninh này tôi hiểu rằng đang có một biến chuyển chính trị nào đó khá quan trọng ở bên ngoài.

Trên thực tế một biến chuyển quan trọng đã xảy ra: cuộc trở mình đổi mới tư duy được thực hiện với một cái nhìn xa hơn của Hà Nội đối với đàn anh Liên Xô. Nói cho đúng ra những nhà lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải chọc thủng nồi nước sôi ở Việt Nam nên tránh được sự sụp đổ như Moscow. Tuy người Việt ở hải ngoại rất không muốn nghe điều này, nhưng đó là thực tế. Phải công bằng mà nói như vậy. Tôi không biết có phải do ảnh hưởng của việc Hà Nội thỏa thuận chương trình Tìm Kiếm Người Mỹ Mất Tích hay chương trình đưa cựu tù  nhân cải tạo đi tái dịnh cư ở Hoa Kỳ hay không mà một số anh em chúng tôi được chuyển về một trại gần Sài Gòn hơn, đó là trại Z30-A Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, một trại mà cuộc sống của tù nhân cải tạo tương đối thoải mái hơn so với A-20.

Cá  nhân tôi, không bao lâu sau khi được gặp mặt mẹ già lần đầu tiên tại trại Z-30A kể từ năm 1977, nhóm chúng tôi gồm T.D.S., N.C.T. và Ng. “đen” lại bị di lý về nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu trước cửa chợ Bà Chiểu năm 1986 để ra tòa vì Công An Sài Gòn nắm được bằng chứng chúng tôi bí mật cho ra tờ Hợp Đoàn ở A-20. Nhưng khi hỏi cung xong và có bản cáo trạng đòi án chung thân đối với 4 người chúng tôi và theo kế hoạch nhà cầm quyền dự tính đưa ra xử trước tòa ngay sau vụ xử nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Dương Hùng Cường, vào giờ chót Viện Kiểm Sát lại quyết định không truy tố nữa mà đưa chúng tôi trở lại trại Xuân Lộc tiếp tục cải tạo trong biệt giam vài tháng trước khi được thả cùm và riêng tôi được thả ra khỏi trại cuối năm 1988 khi trại chỉ còn một nhóm nhỏ tù cải tạo án tập trung.

Tuy nhiên những nhà giam mà tôi đi qua trước hoặc sau trại A-20 Xuân Phước chưa biểu lộ tính chất tột cùng địa ngục trần gian của chúng. Cho nên ở đây tôi chỉ ghi lại những chi tiết về những năm tháng phải sống ở tại thung lũng chết Xuân Phước ấy, nơi tôi trải qua đầy đủ những thử thách và những mưu mô hủy diệt con người như một điểm nhấn trong đời tù của mình. Ngày tôi được gọi tên để chuyển trại về Z-30A Xuân Lộc, người tù thứ 125 qua đời tại bệnh xá phân trại B. Anh là một trong những tù nhân của đội hình sự được đưa vào bệnh xá để chữa trị lao phổi thời kỳ cuối và vài ngày sau khi chúng tôi đã trở thành nhân số tù nhân cải tạo của Z-30A thì tù nhân thứ 126 ở A-20 cũng qua đời vì bị bệnh suyễn mà không được cấp thuốc để làm giảm nguy cơ tử vong. Người tù đó là Linh Mục Nguyễn Luân, một tu sĩ trẻ trầm tĩnh và cương quyết.

Tuy nhiên chưa bao giờ tôi ngồi tính sổ cái giá của cuộc lưu đầy mà tôi phải trả. Chỉ biết rằng với cá nhân và gia đình tôi cái giá đó khá đắt. Nhưng không phải vì thế mà tôi ân hận những việc mình đã làm và mặt khác tôi cũng không giữ mãi lòng thù hận những người chiến thắng. Khi đặt chân xuống phi trường San Francisco để bắt đầu một cuộc đời mới muộn màng là lúc tôi quyết tạm xếp lại những ngày tháng đau thương cũ. Tôi cần bắt tay làm việc ngay trong một đất nước thật sự tự do và dân chủ. Trong rất nhiều lá thư gửi về từ Mỹ, bạn bè tôi sang trước vẫn cứ hay khuyên nhủ: “Nếu mày có sang đây việc đầu tiên là mày phải tập tạm quên đi những ngày nhục nhã và đau đớn mà chúng ta từng phải chịu đựng để bắt đầu ngay công việc của mày. Chúng ta chẳng còn tuổi để thực hiện giấc mơ Mỹ, nhưng nếu mày không nghe chúng tao thì không thể tồn tại được ở đất nước này đâu.”

Tôi phải thú thực rằng được định cư ở Hoa Kỳ để làm lại từ đầu vào lúc tuổi đã 51 là một cơ may. Từ ngày đi tù trở về, tôi chưa bao giờ mơ đến việc đến được nước Mỹ. Thứ nhất, sống gần bốn năm với nghề lao động chân tay ở Sài Gòn, phải khó khăn lắm tôi mới tự nuôi sống mình và giúp đỡ gia đình được., làm gì có vàng để nộp cho chủ tàu vượt biển. Thứ hai, sau hơn 13 năm tù trong đó 7 năm nằm biệt giam và phải đối phó với những đòn nhục hình vô nhân đạo nhất, thực tình tôi đã cảm thấy “lạnh cẳng” rồi và luôn luôn tự nhủ lòng  mình rằng nếu chúng kè xe honda vào sát chiếc xe đạp hay chiếc xích lô tôi dùng làm phương tiện sinh sống hằng ngày, tôi nhất định phải đương cự bằng mọi giá hoặc là trốn thoát hoặc chết còn hơn lại tiếp tục chết dần mòn trong biệt giam ở một nhà tù nào đó nữa.

Thật may trong những năm tháng sống ở Sài Gòn trong sự kỳ thị ra mặt của chính quyền địa phương, không có chuyện gì xảy ra cho tôi. Nhà cầm quyền phường từ chối mọi đơn tôi xin di chuyển ra khỏi Sài Gòn để thăm một vài bạn tù sinh sống tại những thành phố khác lấy lý do lệnh quản chế vẫn còn hiệu lực, nhưng họ không tìm cách dồn tôi vào chân tường. Vả lại khi họ thấy một người tù cải tạo mà lúc nào lưng chiếc áo tôi mặc để lao động cũng ướt mồ hôi, có thể anh chàng Vinh đen công an phường tôi ở đã chép miệng: “Ồ như thế là cuộc đời thằng này đã chấm dứt vì nó lo miếng ăn hằng ngày cũng đã khốn nạn rồi làm gì mà còn dám manh động nữa.” Một trong những người cậu của tôi và cũng là một nhà văn khá nổi tiếng trong hội nhà văn ngoài Bắc cũng bị tù 6 năm chỉ vì nhà cầm quyền nghi ông là người theo chủ nghĩa xét lại. Có lần gặp tôi tại Mỹ nhân chuyến thăm Hoa Kỳ theo lời mời của hiệp Hội American Joiner ông nói như thế này: “ So với cháu, ngày tù của cậu chẳng thấm vào đâu. Nhưng cái khốn nạn nhất không phải là thời gian cậu ở trong tù mà là lúc được thả ra ngoài đời. Việc câu thúc con người của họ (Cộng Sản) vào thời đó thật kinh hãi. Cái nghề mọn nhất là ngồi lên yên chiếc xích lô để kiếm sống cũng không được phép, chỉ có cách sống duy nhất là ngồi gấp và dán những bìa carton để làm bao bì ngày chỉ đủ tiền ăn cháo.” Nhưng cậu tôi không chỉ nói ra những câu chuyện như vậy với những người thân. Cậu đã viết nó thành chuyện và dĩ nhiên phải xuất bản nó ở Hoa Kỳ sau khi các sợi dây trói giới văn nghệ miền Bắc đã được nới lỏng do tình hình đã đổi thay.

Đôi lần cậu hỏi tôi xem nghĩ như thế nào sau khi đọc các tác phẩm của cậu, tôi chỉ nói cần phải viết ra, không nên giữ trong lòng làm gì khi có cơ hội. Tôi nhấn mạnh với cậu là đến như tôi cũng không thể ngờ được là Đảng của cậu là đì những đảng viên như cậu đến mức phi nhân như thế, nhất là bà tôi và là mẹ của cậu là người từng đem tất cả tài sản vàng bạc cúng vào tuần lễ vàng dành cho cuộc kháng chiến chống thực dân của Việt Minh.

Đất tiền đất bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Ngọc Thứ Lang dịch

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Chương 2

Cả dãy nhà gác bốn tầng cho mướn ở đại lộ số 10 chỉ có căn của gia đình Angeluzzi Corbo là ngon hơn cả. Đúng hơn mỗi tầng chỉ có một căn cửa sổ mở ra hướng Tây nhìn xuống đại lộ và hướng Đông cũng có cửa sổ nhìn xuống sân ga nhờ đó gió thổi thoáng mát. Gia đình này chiếm một mình trọn tầng trên cùng nên có quyền sử dụng luôn dãy hàng ba để tha hồ chất lỉnh kỉnh những đồ vật, từ tủ nước đá bàn buyarô đến từng đống đồ hộp. 
Sở dĩ phải lợi dụng cả hàng ba để chứa đồ là vì trọn dãy tầng sáu phòng thật, nhưng nhỏ vừa bằng lỗ mũi xếp theo hình chữ C vuông góc. Một đầu làm nhà bếp rồi đến phòng ăn, hai phòng ngủ, phòng khách và một đầu là căn phòng riêng xinh xắn của Octavia. Ba đứa con trai nhỏ ngủ ngay ngoài phòng khách có chiếc giường sáng ra dựng lên giáp vách che tấm riđô. Hai phòng ngủ thì hai vợ chồng chiếm một còn một dành cho Larry. Phòng ăn vẻn vẹn có một cái bàn rộng, ăn thông sang nhà bếp sắp đặt gọn gàng nào bếp ga, nào lò, nào bồn rửa … So với hàng xóm thì đồ đạc vậy là tiện nghi có thừa, chứng tỏ đức “dám ăn dám xài” của bà chủ nhà. 
Trước khi vào phòng riêng thay đồ ngủ, Octavia lo bồng con nhỏ Aileen vào giường mẹ. Chừng quay trở ra phòng khách thì chiếc giường lớn đã được hạ xuống chình ình, ba đứa nhỏ đã ngủ lăn quay. Muốn rửa cái mặt cũng phải len lỏi xuống bếp mà lại phải đi ngang phòng ăn, chạm mặt bà mẹ đang ngồi nhấm nhí ly rượu chát nhỏ. Mụ Lucia Santa chỉ ngồi chờ Octavia mò xuống là gây. Có điều lần nào cũng vậy, gây gổ xong là hai mẹ con lại mau mắn làm lành để cùng bàn tính công chuyện nhà: đào đâu ra tiền tậu căn nhà bên Long Island, ráng cho đứa nào học lên đại học … 
Lần này bà mẹ làm lành trước. Mụ Lucia dùng tiếng mẹ đẻ kiếm câu chuyện giỡn chơi “Tao xem thằng con lão chủ tiệm bánh mê mày đấy. Bộ nó “hối lộ” mày ly càrem để lấp liếm mày chắc?”.
Chọc được một câu, mụ thú vị lắm, nhưng chợt thấy lục đục trong phòng ngủ đã nôn nã hỏi ngay: “Mày đặt em Lena vào giữa giường đấy chứ? Coi chừng nó lăn xuống sàn nghe”. 
Octavia lấy làm bực mình. Cái vụ “càrem” chọc quê còn chịu nổi, dù mấy thằng con trai xóm này nàng chê tuốt luốt. Nhưng sao lại Lena? Con nhỏ này đã chọn mãi mới được cái tên Aileen thì cứ Aileen mà kêu. Ở Mỹ thì phải tên Mỹ, dù có phải uốn lưỡi cũng ráng … chứ đâu có lối vắn tắt lười biếng Lena là xong? 
Dù có muốn lấy lòng cô gái cưng Lucia Santa cũng chịu, chẳng thể uốn giọng theo Mỹ được! Bực quá mụ hét lên: “Chẳng Mỹ thì đừng Mỹ! Tao cứ Lena tao kêu đã sao?”. Thế là cả nhà lại đồng ý Lena, trừ mấy đứa nhỏ. Đứa nào dám kêu tên tắt lập tức bị chị Octavia cho ăn tát tai liền. 
Để trả đũa bà mẹ, Octavia thủng thỉnh ngồi cuộn tóc lại lấy đồ nghề ra tà tà gọt giũa mấy cái móng tay và trề môi ra xài tiếng Mỹ rất điệu: “Thứ đàn ông con trai xóm này thì xin lỗi bà … tôi thèm vào! Chúng chỉ muốn lấy vợ về để có người hành hạ như hành hạ con chó vậy. Chồng con mà như bà thì hết ham! “. 
Nó đã nói móc họng lại cố tình đủng đỉnh o bế, sơn phết mãi mấy cái móng tay nên mụ Lucia Santa sa sầm mặt xuống, làm bộ tỉnh táo nhìn nó trừng trừng nhưng cơn giận nổi lên, dằn không nổi. “Mẹ nào con nấy” có khác, cả hai cùng mặt mày xưng xỉa, mắt long lên sòng sọc. Nhưng chừng lên tiếng thì mụ chỉ chua chát rằng: 
– À, ra ở cái đất này con gái ăn nói với mẹ như thế đấy? Hay lắm! Mày ăn học làm cô giáo thì nhất đấy. Đồ bất hiếu. Thứ con như mày tao khỏi cần. 
Hình như Octavia cũng dư biết găng chút nữa là bà mẹ dám lồng lên, có chầu ăn tát tai bằng thích. Nàng thực ra khỏi ngán. Có điều con nói với mẹ như thế thì có phần quá đáng nhất là xưa nay bà ấy vẫn vị nể, vẫn bênh vực chằm chặp mà. Cho nên Octavia nhếch mép cười, nói chữa lại: 
– Tôi đâu nói gì mẹ nào? Tôi chỉ muốn nói là có lấy chồng lấy con cũng phải lấy sao cho đàng hoàng … chứ chẳng tội gì uổng cả một đời chỉ để đánh đổi lấy cái vụ đó … 
Ba chữ cái vụ đó nàng gằn giọng cho gay gắt, đanh đá. Nhưng ngượng ngùng thấy rõ vì còn con gái … có biết cái vụ đó ra thế nào đâu? 
Lucia Santa ức quá, không thốt nên lời. Giận đỏ mặt, giận run người, mụ nhìn đứa con gái Mỹ hóa từ đầu đến chân. Tưởng sao, mụ ngồi thừ người ra một lúc rồi quay ngoắt vào phòng ngủ và lúc trở ra mang theo cuốn sổ tiết kiệm gửi tiền Bưu điện, bên trong kẹp hai tấm giấy năm đôla: 
– Mày cầm mười đô la này sáng mai đi làm nhớ ghé qua gửi vào chương mục. Rồi đi vào khoác giùm tao cái áo xem … chứ ba mày và thằng Larry sắp về tới rồi. 
“Ba mày”! Ngôi thứ xưng hô này Octavia đâu chịu? Nàng cải chính ngay: “Còn lâu mới ba tôi nghe! “. 
Chỉ có bấy nhiêu mà mụ Lucia Santa đau khổ. Tự nhiên nước mắt giàn giụa. Ra con này chiều chuộng thế nào nó vẫn cứ nhớ, nó vẫn chưa quên được người cha quá cố. Trong ba đứa con đời chồng trước chỉ mình nó là lớn, nó vẫn nhớ, vẫn thương cha nó. Hồi hắn qua dời nó đã biết rồi, nó xót xa lắm, nó thương cha đến độ mẹ nó bắt buộc phải tái giá mà nó còn thù còn hận kia mà? 
Mụ Lucia Santa giải thích: 
– Bộ người ta không đáng cha mày sao? Hồi đó mày còn nhỏ, mày đâu có biết không có người ta thì cả bốn mẹ con cùng chết đói! Hồi đó ngoài dì Louche ra có ai thương xót đến mẹ con mình … hay họ ngoảnh mặt làm lơ? Mày tưởng đâu ông già mày tốt lắm, đẹp lắm phải không? Không lẽ bây giờ tao lại đi kể xấu … 
Có phải đây là lần đầu mụ Lucia Santa kể lể vậy đâu? Nhiều quá rồi, mà mỗi lần kể là một lần khóc lóc, chừng cạn nước mắt là mặt mụ sa sầm đau khổ quá Octavia chịu đâu nổi. Biết vậy nên mụ cứ bản cũ soạn lại hoài. Dù có giận lẫy mẹ đến mấy Octavia cũng chỉ có thể trách móc: 
– Tôi hỏi mẹ chứ người ta có làm được cái gì đâu nào? Thằng Vincenzo mới tí tuổi đầu mà có mấy ngày nghỉ hè phải bắt nó đi làm công cho thằng cha chủ tiệm bánh bần tiện đó. Trong khi đó người ta cứ phây phây ở không ăn chơi, có việc không chịu đi làm mà cứ lì lợm nhận một chân gác gian chỉ để ở nhà miễn phí! Cứ làm như mình bảnh lắm trong khi chính ông già tôi thì hùng hục làm chết bỏ. Làm đến chết mới thôi. 
Nghe ngóng thấy bà mẹ không nói gì, Octavia được đà thủng thỉnh tiếp: 
– … Tôi hỏi mẹ chứ nếu không làm bảnh thì ngày giờ này người ta vẫn làm hỏa xa chứ bộ? Ra điều ta đây bất mãn sếp là dám bỏ việc cái một đấy! Vậy mà mẹ có dám nói đụng đến một tiếng nào đâu? Một tiếng cũng không! Phải tôi … thì tôi cấm cửa. Sức mấy tôi chứa chấp mãi trong cái nhà này … chứ đừng hòng lại … lại thêm một mụn con nữa! 
Vừa nói Octavia vừa phác một cử chỉ chối bỏ, kinh tởm. Muốn nhịn nhục Lucia Santa cũng không thể chịu được nữa. Tay run run nâng ly rượu, mụ lắc đầu than: 
– Mày là con tao … lớn đầu mà mày vẫn cứ ngu, mày ăn nói bừa bãi, mày không biết gì hết! Nói với mày phát chán. Thôi tao đi ngủ đây. Nhưng này, mày nhớ để ngỏ cửa cho thằng Larry và dượng mày về. 
Lucia dứt lời và đứng lên toan đi vào nhưng thấy Octavia tưng tiu mấy cái ngón tay kỹ quá bèn đứng sững nhìn. Móng tay sơn đỏ choét, nó lại còn chọc quê một câu: 
– Ai … chứ thằng Larry thì mẹ khỏi lo! 
– Cái gì? Sao mày bảo tao khỏi lo? Công việc nó làm đến nửa đêm là phải xong … vậy mà có có thèm về nhà ngủ đâu? Nó còn phải đi săn gái! Mà đàn bà con gái hồi này sẵn quá, lển nghển đầy đường, trừ mấy con điếm Ái Nhĩ Lan bên đại lộ số 9. Cái thằng khốn chỉ nhè phá hại gái nhà lành, người cùng xứ sở không! 
Octavia thản nhiên chêm vào một câu: 
– Kiếm nó khó gì? Tới quán Cinglata là gặp ngay. Thằng chủ quán vừa nằm khám … bộ mẹ không hay sao? 
Dĩ nhiên Lucia Santa phải biết chứ? Biết hết và biết ngay là đằng khác. Vợ chồng nhà này mở quán nhưng rượu vẫn cất lấy, bán từng ly cho dân nhậu. Rượu lậu là cái chắc! Tuần rồi mụ Cinglata chẳng cho người xách tới biếu ba vò rượu chát lớn, đại khái để đền ơn “cậu Lorenzo” (Larry là tên gọi tắt của Lorenzo) đã có công dỡ hàng và chuyên chở về nhà giùm cả toa xe trái nho đó sao. 
Với Lucia Santa thực ra mụ Cinglata đâu phải người xa lạ. Năm đó ba đứa chẳng rời bỏ quê hương trên cùng một chuyến tàu, cùng được cha mẹ gả chồng xa, chẳng đứa nào biết mặt đức ông chồng đang mắc bận làm ăn bên đất Mỹ này sao? 
Lâu quá lắm rồi … nhưng làm sao quên được mụ Cinglata hồi đó nhút nhát nhất, nhà quê nhất trong đám ba đứa cô dâu sao? Quen quá lắm nên tạm thời cứ nhịn nốt tối nay xem. Đi ngủ đã, mai hãy hay. 
Đi ngang phòng khách thấy ba đứa nhỏ nằm co quắp giữa giường, Lucia Santa lấy chăn đắp cho con. Đứng cửa sổ nhìn xuống đường tối thui thấy ông chồng đang lò mò đi lên đi xuống đại lộ số 10, mụ cất tiếng gọi khe khẽ: “Frank, khuya quá rồi!”. Hắn cứ lờ đi, không buồn ngước nhìn lên. 
Lên giường ngủ, Lucia Santa chỉ muốn thiếp đi được một giấc là may. Còn nằm thao thức là còn phải nghĩ ngợi đến chồng, đến con. Chồng con gì mà chán quá. Nửa đêm không lo về ngủ cho rồi. Bực bội lo lắng … 
Quơ tay phía trong thấy con nhỏ nằm sát vách, không ngã được là yên trí rồi. Mụ đánh tiếng hối thúc: “Octavia, khuya rồi đấy nghe! Đi ngủ đi, mai còn phải đi làm”. Biết mẹ có tật phải biết chắc cả nhà đi ngủ hết mới chợp mắt được, Octavia dù hậm hực cũng cố bước vào phòng.
Càng về khuya vắng lặng nghe đám con ngủ ngáy đều đều mụ Lucia Santa suy tính vẩn vơ chuyện đời . Mấy đứa lớn buồn vụ mẹ tái giá làm gì mụ không biết? Con Octavia còn ngầm trách mụ vội vã “đi bước nữa” nhưng có điều nó còn con gái, làm sao giải thích cho nó hiểu được rằng cha nó cũng chẳng ra gì, chẳng thể thương yêu nổi dù bao nhiêu năm dài bắt buộc vẫn phải chung chăn, chung gối. Khó nói quá! 
Cha chúng hồi đó tiếng chủ gia đình, có bổn phận kiếm tiền về nuôi con thật … nhưng hắn an phận một cách quá ngu ngốc đi. Ngày là phu bến tàu hùng hục, đêm về có chỗ chui vào miễn sao gần gần một chút là xong rồi. 
Hồi đó Lucia Santa đã khóc hết nước mắt. Chồng con gì mà tháng tháng chỉ canh đưa vợ vừa đủ tiền ăn … Còn bao nhiêu khỏi đưa dành dụm mà rượu chè, bài bạc bằng hết mới thôi. Có bao giờ hắn đưa cho vợ được một đồng xu xài riêng làm Lucia không thể không có mặc cảm con gái nhà nghèo một bộ đồ cô dâu cha mẹ không may nổi, được hắn “chiếu cố” mời sang làm bạn sống no đủ thế này là may rồi, còn đòi hỏi gì ? Đang chết đói được vậy là quá nhiều chắc? 
Bảo hắn là người xấu, ác độc cũng không đúng. Sự thực đâu phải vậy. Người hắn xem được, tính nết dễ thương, bằng không con nhỏ Octavia đâu có thương cha cỡ đó … Phải nhìn cảnh cha con nó cắn hạt dưa âu yếm mớm cho nhau mới biết là hắn thương con thật tình. Mẹ cũng thử muốn vậy nhưng Octavia đâu có chịu. 
Thực tế quá giản dị đi. Chẳng qua hắn thuộc típ người nhà quê dốt nát, chịu khó làm ăn không ai bằng nhưng ham chơi cũng ra gì! Hắn bản chất đâu phải người xấu, nhưng cô nào vô phúc mới có một ông chồng như vậy … và thế gian này thì cả triệu đàn bà con gái kẹt cảnh Lucia Santa! Đó là típ chồng nhất định nắm giữ quyền quản trị gia dình, dù chẳng đủ tư cách. Mà hắn có định làm thật và làm được đâu? Những vụ đó phải để cho đàn bà, mụ Lucia biết vậy và đã toan âm thầm “đảo chính” thì đùng một cái hắn lăn ra chết. 

Chồng chết thì vợ phải xót thương, phải khóc lóc. Mụ Lucia Santa khóc ngất đi được nhưng tiếc thương người bạn đầu gối tay ấp thì ít mà thực sự kinh hoàng vì thình lình mất người kiếm cơm nuôi con, người “đứng mũi chịu sào” cho cả gia đình. Hai đứa con thơ ai nuôi đây … và lại một đứa nằm trong bụng nữa? 
Gặp cảnh ngộ Lucia, bà góa nào chẳng vò đầu bứt tai, chẳng gào khóc ầm ĩ, còn dám liều mình là khác. Hay ít ra cũng đau khổ khóc thương và để tang chồng cho thiên hạ nhìn vào. Họ xót thương chồng và đau khổ thật tình, còn kinh hoàng run sợ trước viễn cảnh cuộc sống nay mai. Họ là góa phụ khổ sở lắm song “bước đi bước nữa” thì vẫn sẵn sàng! 
Thử hỏi có ai chết lãng như cha chúng nó? Rùng rợn thì rùng rợn chắc: Làm phu bến tàu lo bốc dỡ hàng mà nhè xui xẻo gặp cần trục đứt ngang … đúng lúc nâng lên cao nhất và rớt một cái thì dĩ nhiên năm ông công nhân bến tàu phải chìm xuống lớp bùn đáy sông cùng nguyên một kiện chuối. Bao nhiêu tấn chuối có ai biết nhưng năm cái xác chắc không còn nguyên vẹn nó đã vùi sâu luôn vào lòng đất, khỏi tìm thấy một mảnh.
Mỗi lần nghĩ tới tai nạn thảm thương đó là Lucia rùng mình. Nhưng thà hắn chết vậy đó mà vợ con còn có đường nhờ. Còn hơn là sống. Đau khổ như vậy đó nhưng cũng là một sự thực không thể phủ nhận. 
Vì hắn còn sống thì còn lận đận, vợ con còn khổ. Chết vì “tai nạn nghề nghiệp” lại hóa hay vì ít nhất ở đất nước này cũng vẫn còn bồi thường tai nạn lao động thỏa đáng. Ít nhất Tòa cũng xử cấp cho mỗi đứa nhỏ được một ngàn đô la, kể cả đứa bé còn nằm trong bụng mẹ nhưng chắc chắn sắp ra đời. Có điều số tiền bồi thường phải gửi vào chương mục ăn lời, đợi mấy đứa nhỏ lớn lên lĩnh. Chẳng ai có quyền lĩnh một xu tiền mặt, luật là luật! Tuy nhiên là vợ chính thức, Lucia Santa phải có phần riêng của mụ, dĩ nhiên tiền mặt. Ba ngàn đô la đâu phải ít … có điều mụ Lucia lo giấu kỹ, ngoài Octavia chỉ một mình Louche là biết được có tiền tử tuất của chồng để lại. 
Nỗi khổ tâm của Lucia là chồng chết giữa lúc bụng mang dạ chửa. Con chưa ra đời mà chồng đã chết thì chẳng phải đứa con độc loại, thứ con sát cha sao? Mê tín dị đoan chắc? … nhưng Lucia Santa vẫn không khỏi run sợ, sinh nó ra rồi mà mười ba năm sau mỗi khi nghĩ đến mụ vẫn còn khóc đỏ mắt. Phải nhìn nhận mụ cũng xót xa cho đứa con chưa ra đời đã mồ côi bố … chứ riêng nỗi đau khổ góa chồng thì chỉ phần nào. Điều đó làm sao Octavia biết được và hiểu nổi kìa. 
Than ôi, nhục nhã nhất cho mụ là chồng mới chết vừa vặn một năm, thằng Vincenzo máu thịt của hắn chưa đầy sáu tháng vậy mà Lucia Santa đã nhấp nhỏm muốn chồng và lần đầu tiên trong đời đàn bà biết ham mê một gã đàn ông để cùng chắp nối tơ duyên! 
Dĩ nhiên với mẹ chỉ là “bước thêm bước nữa” song đời Lucia Santa lần này mới biết đến chữ tình là một . Không phải thứ tình thanh cao của mấy cô mới lớn lên hay một vụ “lấy nhau vì tình” như trong tiểu thuyết . Chữ tình này xét ra chẳng thể cắt nghĩa cho đứa con gái chưa chồng. Vì nó là thịt da tự nhiên phát nóng bỏng, nó làm ướt mắt và đỏ hồng đôi má. Nó làm cho con người rạo rực xốn xang, nó là cảm nhận của lớp lớp tế bào vùng dậy. 
Trời đất, một góa phụ với cả một bầy con thơ dại lại có thể đương đầu mơ tưởng ái tình thế sao? Khốn nạn, cũng còn may cho mụ là chữ tình nôn nóng hồi đó giờ này đã hiển nhiên tắt lịm. 
Con người cùng Lucia Santa chắp nối là ai? Một gã độc thân tên Frank Corbo, người cùng xứ sở gầy gò khôn ngoan, có cặp mắt xanh lơ. Ba mươi lăm tuổi mà còn chưa vợ thì ở đất nước này quả là ẹ quá, lại thêm tính tình hắn quá trầm lặng có phần cao ngạo mà chẳng qua chỉ là một nỗi chán chường, bất lực trước xã hội và định mạng mà thôi. 
Theo hàng xóm láng giềng hồi đó là những người chỉ muốn kiếm cho Lucia một gã đàn ông làm chồng, kiếm một cần câu nuôi cơm bốn miệng ăn thì một gã đứng tuổi như Frank Corbo quả “đẹp đôi” với mụ quá . Típ người lì lợm như hắn thì việc gì cũng dám làm phải không? Có điều bao nhiêu năm nay trọn buổi sáng hắn chăm lo làm ở sở Hỏa xa, buổi chiều rỗi rảnh quá tha hồ đi mèo mỡ lăng nhăng với mấy bà, mấy cô mà hắn có tai tiếng gì đâu. 
Đó là lý do bà con nhất định “cặp” hai người với nhau. Xét cho cùng về mặt tiện ích thì có gì trở ngại đâu mà có thể một cuộc nhân duyên hoàn toàn tốt đẹp. 
Cứ tưởng đâu ba mươi lăm tuổi mà còn độc thân thì Frank Corbo phải sành sỏi lắm. Nào ngờ trên phương diện ái tình hắn ngu ngơ như một cậu trai mới lớn và nói chuyện vợ con thì vẫn còn ham quá xá. Xưa nay hắn có biết đến đàn bà bao giờ, trừ những dịp ào ào gần gũi mấy ả giang hồ. Chắp nối với một góa phụ ba con mà hắn làm như con trai mới lớn chuẩn bị đi hỏi cô nào làm vợ không bằng. Hắn càng đắn đo rụt rè thì bà con hàng xóm càng được dịp cười ngất. 
Thoạt đầu thì chiều nào hắn chẳng đến chơi … nghĩa là ngồi ì ra nơi bậc cửa nhìn “nàng” canh chừng đứa con lớn mê chơi và ru ngủ hai đứa nhỏ. Lâu lâu mới ở lại ăn cơm tối một lần và chưa đến giờ cho con nít đi ngủ đã lễ phép cáo từ rồi. Vậy mà một hôm hắn chính thức hỏi cưới “nàng” đấy! 
Nghe đề nghị, mụ Lucia trợn mắt nhìn “chàng” như nhìn một đứa con nít. Lucia ngược ngạo hỏi “Anh biết là tôi chồng vừa chết, con mới có vài tháng … mà anh hỏi làm vợ, anh không ngượng miệng sao”. Lập tức mụ bắt gặp tia nhìn hằn học của chàng đầu tiên. 
Nhưng cùng lúc đó Frank Corbo lại ấp úng rằng: “Tôi thương em … nhưng cũng thương đàn con của em nữa chứ bộ”. Hắn còn nói nữa, hắn nói dù không làm vợ chồng với nhau, tôi cứ thương mấy đứa nhỏ, tôi cứ gửi tiền cho nó được không? 
À, cái vụ sau cùng này mới khó tính! Lâu này hắn làm hỏa xa dư ăn, dư để lần nào lại chơi không mua càrem quà bánh đồ chơi cho bọn nhỏ. Có vài lần Lucia Santa còn ngửa tay nhận tiền của hắn để may sắm quần áo cho chúng mà. Phải nói là thoạt đầu dù nghèo hèn mụ cũng cương quyết từ chối, nhận tiền vậy đâu được? Nhưng hắn ép quá, hắn lại cáu giận nói lớn: “Cái gì? Tôi không đáng mặt giúp đỡ chúng sao? Tôi đâu phải những thằng đàn ông khác. Vả lại đối với tôi tiền bạc đâu có nghĩa lý gì”. 
Để chứng minh lòng thành, Frank Corbo đã nắm mớ bạc xanh xanh tính xé phăng … thì mụ Lucia lật đật cản lại và tự nhiên mụ thấy cảm động muốn sa nước mắt. Mụ giật ngay lại không cho xé. Thế rồi những mục quà bánh, tiền quần áo cứ tiếp diễn. Hắn cũng không nhắc lại vụ hôn nhân thế rồi người nóng lòng lại chính là mụ. 
Rồi mùa xuân năm đó vào một buổi trưa chủ nhật ông khách Frank Corbo tới ăn cơm trưa với gia đình góa phụ Angeluzzi. Tục lệ người Ý thì cả tuần lễ chỉ có ăn bữa này là hách nhất nên hắn vác tới nguyên một vò rượu chát lớn thứ đặc biệt nhà làm, kèm theo một hộp bánh kem thứ chiến, bánh gnole và bánh soffiati . Dĩ nhiên bữa ăn đó ông “Frank” phải lên đồ lớn, thắt càvạt đàng hoàng nên ngồi ăn cơm cùng mấy mẹ con bà chủ nhà mà chính hắn còn mắc cỡ, lúng túng hơn mấy đứa con nít. 
Nhà có khách quí nên tự tay bà chủ Lucia o bế đĩa spaghetti nước sốt cà chua béo ngậy mà những viên thịt băm bò viên còn nêm thật nhiều tiêu, nhiều tỏi và lá ngò thơm. Đĩa sà lách trộn giấm thật hấp dẫn và lại có hạt dẻ rang để nhậu lai rai với rượu chát. Đại khái là bữa cơm hôm đó món nào cũng nồng nàn gia vị và cả nhà ăn lấy ăn để và ăn xong thì bọn con nít lo chạy xuống đường chơi. Ở nhà chỉ vắng vẻ có một mình và “ông Frank” thì kỳ cục thật nhưng Lucia Santa không kêu gọi mấy đứa trẻ ở lại. Cho chúng đi chơi. 
Thế rồi việc gì đến đã phải đến. Đúng là lúc nắng vàng ngả dài chiếu hắt hiu trên tòa cư xá hỏa xa. Có một mình bé Vincenzo nằm chèo queo góc giường và dĩ nhiên nó đã đâu biết gì … nhưng vẫn phải có chiếc gối dài che khuất. Dĩ nhiên là cửa nẻo ra vào đều đóng cứng. Hai người khởi sự làm vợ chồng ngay ngoài đi văng phòng khách và Lucia lâu lâu chỉ bận tâm chút đỉnh về những tiếng cười đùa của hai đứa nhỏ từ dưới đường vọng lên. 
Đối với cả hai người thì buổi chiều hôm đó chẳng gì bằng. Chỉ nội hơi ấm của thịt của da gần gũi cũng đã là một mời gọi tuyệt vời, một hứa hẹn rung động mỹ mãn đến bao nhiêu năm sau hồi tưởng lại vẫn còn y nguyên cảm giác gần gũi lần đầu. 
Ba mươi lăm tuổi, mới biết đến mùi vị của tình yêu vợ chồng thì đối với một thằng đàn ông quả là quá chậm, quá yếu. Chính Frank cảm thấy đau khổ vì vậy. Nhưng Lucia Santa thì sẵn sàng bỏ qua, lờ đi … chấp nhất làm gì? Chiều hôm đó quả thực mụ đã chiều chuộng, yêu thương hắn. Hơn ông chồng thứ nhất nhiều … chỉ có hắn. Nhưng đêm hôm tối tăm hắn đi vào rồi lại đi ra như vậy để làm gì không biết? Chịu luôn. 
Lucia Santa trằn trọc mãi. Mụ muốn có chồng nằm một bên cũng như muốn thằng Larry có nhà thì phải về ngủ chứ lông bông cả đêm sao được. Chồng với con chán chết! Nhà cửa an toàn, ở tầng bốn đàng hoàng, chắc chắn mà lại không chịu về cho người có trách nhiệm là mụ yên trí, đỡ phải lo ngại không đâu mới là vào lý. 
Mụ thở dài nhưng biết làm sao hơn? Còn bao nhiêu việc phải lo nghĩ. Sáng mai nhất định phải gây với hắn, làm sao thì làm vẫn phải giữ chắc lấy cái chân gác dan. Còn vụ lộn xộn với mụ Cinglata phải giải quyết gấp. Còn phải lo may sắm quần áo cho đám con nít, còn phải mua cái máy giặt chứ bộ. 
Nằm thao thức, Lucia Santa lắng nghe hơi thở của từng đứa con một. Bé Lena nằm kế bên, ba đứa nhỏ ở nhà ngoài nhưng gần gũi quá, ngay hơi thở Octavia mẹ cũng nghe rõ mồn một từ căn phòng để ngỏ cửa vọng vào. Bằng ấy hơi thở, bằng ấy tiếng ngáy làm mụ tự nhiên “bắt” theo và thiếp đi lúc nào không biết.


Đất Tiền Đất Bạc

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Lời nói đầu

Từ “Bố già” đến “Đất tiền đất bạc” 
Trước năm 1960, không ai biết đến Mario Puzo. Từ 1970 trở đi được coi như “nhà văn có sách bán nhiều” vào bậc nhất. Có tài hay không hậu xét. Nhưng quần chúng độc giả chịu chắc, bằng không có quay phim thành “siêu tác phẩm” chăng nữa thì THE GODFATHER cũng chỉ là một thứ ốc mượn hồn! Một truyện phim khá được “đánh bóng” bởi muôn vàn xảo thuật điện ảnh và tên tuổi diễn viên. 
Nhưng truyện THE GODFATHER đã bán số triệu, nhiều triệu. Nhiều bản dịch được thực hiện. Cùng mạt như ở Việt Nam – nơi duy nhất trên thế giới có một nghề gọi là nghề cho mướn truyện và được phép đóng môn bài – mà BỐ GIÀ còn dẫn đầu về số bán, ở tiệm sách lớn cũng như ngoài lề đường. 
Nếu người đọc BỐ GIÀ thấy hào hứng ở những cảnh bắn giết máu óc tùm lum ở mỗi trang sách, mới đi sâu vào hai xã hội bí mật nhất và bẩn nhất Mỹ quốc là MAFIA và HOLLYWOOD thì đọc ĐẤT TIỀN ĐẤT BẠC sẽ ngạc nhiên vì cùng một tác giả MARIO PUZO mà không thấy súng nổ loạn, chỉ thấy cám cảnh vì con người tranh ăn để sống! Cho tới bây giờ ông mới viết có hai truyện THE GODFATHER và THE FORTUNATE PILGRIM mà? Như tên gọi, con người đói quá bèn rủ nhau đổ xô sang Mỹ “hành hương”. Họ đâu cần tìm đạo, tìm triết lý mà chỉ đi… tìm tiền! Đúng hơn là đi kiếm miếng sống, cho khỏi đói. Nhưng không chết đói là may… họ lại đòi no nữa. Họ lại muốn làm giàu, thật nhiều thật lẹ… dù đồng tiền có bẩn và nếu cần còn phải triệt hạ đồng loại, nhiều khi còn đồng bào! 
Vì vậy phải hiểu là ĐẤT TIỀN ĐẤT BẠC đã được viết trước để làm bối cảnh xã hội cho BỐ GIÀ. Phải đọc kỹ ĐẤT TIỀN ĐẤT BẠC thì may ra mới hiểu ở BỐ GIÀ những động cơ nào đã đưa đến sự lũng đoạn của phe nhóm BÀN TAY ĐEN, dễ dàng và bất nhân như vậy. 
BỐ GIÀ đã đánh trúng thị hiếu găng-tơ nơi người đọc. Người ta bèn quên khuấy tính cách tả chân cực kỳ chính xác và nhân bản của MARIO PUZO ở ĐẤT TIỀN ĐẤT BẠC mà chỉ ca ngợi tính cách sôi động, dữ dội của BỐ GIÀ. Cái mới bất công! 
Đó là lý do chính mà người làm cuốn BỐ GIÀ (The Godfather) là NGỌC THỨ LANG nhất quyết giới thiệu “phần chìm” của MARIO PUZO. Dĩ nhiên một bản dịch trung thành chẳng thể là phóng tác nhưng nếu đọc ĐẤT TIỀN ĐẤT BẠC thấy hơi hướng HỒ BIỂU CHÁNH với đôi chút “màu sắc thời đại” thì đó là một an ủi lớn cho người dịch khi cố gắng giới thiệu một tác phẩm giá trị. 
Ngọc Thứ Lang

Chương 1 Con đường nhỏ hẹp, dãy phố nhà tầng cho mướn 2 bên lại quá cao nên coi hệt như khe núi. Lế đường lát đá xanh, trẻ con bên nào lề bên nấy phân minh. Đang nô đùa ồn ào, bọn chúng bảo nhau dừng để ngây người đứng ngó.
Đó là lúc Larry Angeluzzi thúc con ngựa ô đen láng đi trước, mở đường cho chuyến xe lửa tà tà bám theo. Trời chạng vạng tối, tay hắn vung vẩy cây đèn đỏ. Vó ngựa gõ lộp cộp nghe ròn rã, mấy cái móng sắt đập chan chát vào đường ray tóe lửa. Làm sao dân xóm đại lộ số 10 không chú ý được? Quả nhiện, sau người ngựa và đèn là cả một chuyến xe chở hàng dài thậm thượt rùng rùng từ nhà ga Saint John đường Hudson bò tới.
Năm đó là năm 1928, Sở Hỏa xa Nữu Ước còn phải mượn đường thành phố để xuôi Nam ngược Bắc, cho các chuyến hàng lên xuống băng ngang giữa các xóm đông dân, nên mới phải dùng một số trai tráng cưỡi ngựa đi trước lo mở đường. Chỉ vài năm sau, xây thêm một cây cầu nối băng ngang là hết sợ đụng chạm.
Có lẽ không biết cái nghề cưỡi ngựa mở đường cho xe lửa chạy này nhiều lắm là vài năm nữa sẽ cáo chung và người cưỡi ngựa cũng sắp thành một món đồ phế thải chẳng ai thèm nhắc tới nên cậu Larry mới hiên ngang thế kia chứ? Ngồi thẳng đứng trên yên ngựa hung hăng cứ như cao bồi miền Viễn Tây vậy!
Bộ quần áo hãng phát nhìn cũng ngon nữa: áo vét dạ trắng, mũ nỉ đen rộng vành gắn đầy huy hiệu Hỏa xa, chiếc quần dài dạ xanh ống rộng nhưng được kẹp cứng nơi mắt cá bằng chiếc kẹp của người chạy xe máy coi láng coóng.
Tối nay là tối mùa hè ấm áp, cậu Larry thúc ngựa cho chạy lộp cộp trên đường đá. Khỏi bận tâm mở đường… vì giờ này dân xóm này quen lệ tụ họp từ lâu. Đàn bà thì xách ghế ngồi từng đám kể chuyện tào lao. Đàn ông thì chỉ đứng đầu đường tán gẫu và kéo khói xì gàn rẻ tiền Di Nobili. Thây kệ đám con nít chạy chơi với mấy toa xe lửa. Chẳng là thấy những toa xe chở hàng trống rổng, tối nào chẳng rề rề chạy ngang, chúng đua nhau nhảy lên nhảy xuốnggiỡn chơi cho vui. Đoàn xe cứ thề chảy dưới ánh đèn hiu hắt, thỉnh thoảng mới gặp một khúc đường được mấy bóng đèn cửa tiệm chiếu ra sáng trưng. Cứ tới ngã tư là đỡ khổ cho cả người lẫn ngựa và xe; ngọn gió sông Hudson từ đại lộ số 12 thổi bật lên, làm mát mặt người, mát cả máy xe trong khi chiếc đầu máy đen xì nhả từng hồi còi tút.. tút..
Tới ngà tư số 27 thì nguyên một bên đường phía tay phải Larry bổng trống lổng. Đó là một khu công viện Chelsea rộng thênh thang với những lùm cây thấp lè tè, giờ này con nít ngồi đầy bãi coi hát bóng thì Larry liế nhìn. Tối nay chiếu phim cao bồi nên trên màn ảnh khổng lồ bỗng hiện sừng sững một anh hùng Viễn Tây giữa ánh nắng chói lòa phi ngựa rầm rập nghe như sấm. Hình ảnh lại lớn khủng khiếp nên ngựa của Larry đâm sợ hoảng, suýt lồng lên nếu không kịp thời tới ngã tư đường số 28bắt đầu có dãy nhà tầng che khuất.
Gần đến nhà rồi. Đại lộ số 10 vốn có cây cầu nổi dành cho khách bộ hành băng ngang ở chổ tiếp giáp đường số 30. Tới đây là tới nhà, chung quanh đây toàn bà con quen biết nên cưỡi ngựa hàng ngày cũng phải cưỡi sao cho ra vẻ. Ngồi phải rõ thật thẳng, mũ phải kéo lệch sang bên mới hách!
Ngựa Larry lộp cộp chạy dưới dạ cầu. Nó ngước nhìn lên đám con nít đang bám thành cầu nhìn xuống và điệu nghệt cất tay chào. Kìm cứng cương ngựa, coi tay phải không có ai… Larry mới giật cương cho ngựa rẽ vào khu đất trống nhà ga. Gọi là đất trống vì không có nhà cửa nhưng mặt đất đầy những đường ray chạy ngang dọc, chạy tuốt tới bờ sông Hudson.
Sau lưng Larry dĩ nhiên là đoàn xe. Chiếc đầu máy khổng lồ tuôn phì phì những khói và hơi nước… làm khuất lấp tất cả những gì ở phía sau. Cầu nổi hay con nít cũng biến đâu mất tiêu, chỉ còn lại những tiếng reo hò vút cao trên nền trời đêm. Chừng đầu máy kéo những toa xe lượn vòng hẳn vào trong sân ga mới lại nhìn thấy cây cầu với đám con nít ướt đẫn hơi nước đua nhau chạy nhảy tíu tít dọc theo đại lộ.
Đến túp chòi của lão bẻ ghi, Larru dừng ngựa lại, xuống buộc cẩn thận vào cây cọc trước khi ngồi bật ngửa ra băng ghế kế sát vách. Ngồi đây nhìn thấy hiện ra như trên màn bạc cả một thế giới quen thuộc từ ngày xửa ngày xưa. Ngay bên kia đại lộ chứ đâu?
Kia là cửa hàng bánh ở góc đường số 30, con nít bu đen nghẹt quầy bán càrem. Lão chủ tự tay xúc từng ly giấy lớn càrem ba màu: vàng, trắng, đỏ… Xúc mạnh tay lắn vì bây giờ người già lớn rồi, người dám đi trường đua quăng đi không hết kia mà?
Cạnh tiệm bánh nghó ra đường số 31 là tiệm chạp phô, tủ hàng treo la liệt những thỏi xúc xích to như cây củi, phía dưới bày ê hề những mảng phó mát tổ bố, những tảng d8m bông khổng lồ, bọc giấy xanh đỏ. Bên cạnh là tiệm cắt tóc giờ này nghĩ làm nhưng đánh bài mới khởi sự. Tuy nhiên, ông chủ vẫn đứng tỉnh táo nhìn, thấy cái đầu mới nào đi ngang mà không phải thân chủ cây kéo của ông là ông buồn rồi. 
(…thiếu 3 trang…)
Ô hay, còn con Octavia đi đâu thế kia? Thoáng thấy bóng nó xẹt ngang góc đường 30, đi ngang tiệm bánh chỗ quầy ngoài bày la liệt những “xăng uých” và càrem. Nhưng tự nhiên mắt Lucia Santa hoa lên . Mỗi lần thấy cửa tiệm bánh này là mụ không thể không tức ói máu. 
Xem, vợ chồng thằng cha đó là thứ gì mà bạc đồng chất đầy bao nhiêu thùng, bao nhiêu hòm bóp ? Đồng đỏ au, bạc trắng xóa, xem khoái con mắt quá đi! Mình mơ ước không nổi sao mà thằng cha già dễ ghét đó lại có khơi khơi … và sao chúng làm giàu dễ vậy? Con mụ vợ lão nào có ra gì, người thì già khằn, mép mọc ria và không có nổi lấy một mụn con, cớ sao lại được quyền làm chủ cả một cái kho tàng hách tới cỡ đó ? Càng nghĩ ngợi Lucia càng tức, tức nổ đom đóm mắt được! 
Octavia tới bên hồi nào mụ đâu có hay? Chừng thấy nó xề xuống ngồi ghé chiếc ghế đẩu, kề vai cọ đùi Lucia Santa mới biết. Mụ đâu thích cái vụ ngồi chung chạ này nhưng nói ra sợ nó giận đành bực dọc xích ra chút . Con nhỏ xinh thì có xinh nhưng ăn mặc theo Mỹ thấy ghét quá. Mụ háy một cái ra hiệu cho bồ Louche, bên trong không khỏi khoái ngầm . Làm gì ngồi sát bên mà Octavia không hiểu ý nghĩa cái nhìn của mẹ? Kỳ cục quá … nhưng phận làm con ráng nín thinh ngồi nghe. 
Nàng không chịu nổi đám đàn bà hủ lậu, lạc hậu xóm này nên ngay bề ngoài Octavia cũng cố tình ăn mặc cho khác . Nàng phải khác, không thể giống họ! Họ phô trương mọi vẻ đàn bà thì nàng khoác đại tấm áo vét xanh che cả ngực lẫn eo. Mà phải mang găng tay trắng, bắt chước bà giáo kia! Cặp chân mày đen rậm thật nhưng cứ để tự nhiên, nhổ làm gì? 
Đôi môi hồng dày dặn làm bộ mím chặt, đôi mắt lập nghiêm nhìn thật thẳng, có sexy cũng che đi chứ phô trương như bọn họ sao được? Tiếng bà con lối xóm nhưng Octavia cả quyết sẽ sống khác, không thể chấp nhận được quan niệm nhục nhã rằng thân phận đàn bà không gì ngoài vụ lấy chồng đẻ con để tối ngày hầu hạ, chẳng dám mơ tưởng đến một cái gì khác. 
Con gái mới lớn lên thật nhưng Octavia nguyện chối bỏ kiếp sống nô lệ đọa đầy của bọn họ . Cúi đầu lắng nghe thật ngoan song bên trong là cả một sự chống đối, toan tính thoát ly. 
Thấy chung quanh toàn đàn bà con gái, nàng cởi bỏ chiếc áo vét xanh. Cứ sơ mi trắng bong, thắt thêm sợi ruy băng đỏ tươi, nàng đủ hấp dẫn chán, giản dị song nổi bật bộ ngực con gái căng phồng . Mấy ngọn tóc xanh đen thả lơ là, cặp mắt mở lớn ướt rượi xem chẳng hợp với bộ đồ “khắc khổ” chút nào . Vậy mới là khêu gợi thật sự … chứ đâu cần xe xua làm dáng như hồi còn chưa biết gì?
Mụ Lucia Santa vớ ngay tấm áo vét con vừa mới cởi ra để khoác trên tay, thật âu yếm nhưng rõ ràng có ý sử dụng quyền làm mẹ. Nó là con, của nó là của mụ mà? Bề trong mụ còn muốn Octavia ngầm hiểu mụ muốn làm lành, muốn quên phắt vụ mẹ con gây gổ hồi chập tối. 
Lúc nãy Octavia ngỏ ý muốn theo học lớp tối để xin một chân cô giáo. Mụ không chịu . Ngày đi làm, tối còn lo học thì lơ là công việc làm ăn chắc! Mà tại sao cứ phải “cô giáo” mới được? “Một con thợ may nhan sắc ngon lành như mày không làm ra tiền hả?”. Đang có chỗ làm ăn xuôi rót … thay đổi làm gì để … biết đâu chừng chỉ rước họa vào thân? Đời là vậy đó, thử thách chỉ có thiệt. Nó đâu đã hiểu chuyện đời? 
Khi không nó buột miệng nói: “Tôi không muốn sống khổ, sống sở thế này” làm mụ nổi khùng. Lâu nay mụ vẫn bênh cô gái cưng tập tành đọc sách tối ngày, phục sức cố tình không giống “bọn đàn bà lối xóm”. Nhưng vừa vừa thôi, nói phải hiểu chứ? Mụ xài tiếng Mỹ “trí thức” nhái lại “Tôi không muốn sống khổ sở …” để trề môi nhiếc một phát, dĩ nhiên bằng tiếng mẹ đẻ: “Cho mày hay, không chết đói đã là may lắm rồi đó con!” . 
Vì vậy, thấy mẹ chịu làm lành trước, Octavia ngồi rất hiền hòa tay đặt trên đùi . “Lạ quá không hiểu sao bà này chỉ xài trúng giọng Mỹ những lúc cần nhiếc móc con cái?” .Đưa mắt thật nhanh nàng thoáng thấy bóng Guido, thằng con cột nhà cháy của lão chủ tiệm bánh. Nó đang đi tới, tay vung vẩy cái gì thế kia? 
Ra nó bưng một ly giấy tổ bố đầy càrem ba màu, hấp tấp chạy tới kính cẩn dúi tận tay Octavia, miệng lắp bắp vô duyên “xem chừng dơ hết áo”. Rồi quay lại quày quả trở về, lo trông hàng phụ với bố. 
Nàng mỉm cười đỡ lấy ly càrem, nhấp nháp vài miếng cho khỏi mất lòng rồi chuyển qua bà mẹ. Mụ Lucia Santa xưa nay vẫn khoái càrem, cắm cúi ăn như con nít vậy. Bà con cứ chuyện ào ào … 
Lúc bấy giờ Octavia mới thấy ông bố dượng từ đường 31 ló mặt ra đại lộ . Lại còn lui cui đẩy chiếc xe con nít ! Đẩy lên rồi lại đẩy xuống làm bộ chăm chú lắm, khác hẳn bà mẹ chỉ lo nói móc họng nên nàng đâm thương hại, dường như có ý hối hận, có hồi trót xem hắn như một ác nhân, vô loại . Mà không thù ghét sao được, mắt Octavia đã thấy hắn dượt mẹ nhiều trận, đối xử với đám con riêng của vợ như kiểu hung thần . Vả lại nàng nhớ mang máng hồi đó in hình hắn theo đuổi bà mẹ có hơi sớm, cha ruột nàng từ trần đâu đã lâu la gì? 
Octavia muốn chạy lại xem em bé ngủ trên xe như thế nào. Nàng thương bé Aileen thật tình, dù là em cùng mẹ khác cha … nhưng cứ nghĩ đến vụ phải chuyện trò, phải nhìn cặp mắt xanh và bộ mặt lưỡi cày khoằm khoặm của hắn là không chịu nổi . Hai người kỵ nhau rõ, ghét nhau mà vẫn ngán nhau . Mấy lần hắn đã thẳng tay đập thằng Vincenzo nhưng đâu dám đụng tới nàng? 
Phải chi hắn cư xử cho ra người cha dượng thì đập cũng được đi. Đằng này hắn thiên lệch, bần tiện rõ! Hồi đó thằng Vincenzo còn chút xíu mà mua quà bánh về hắn chỉ dồn cho ba đứa con riêng, để thằng nhỏ ngồi trơ. Đến đi hớt tóc hắn cũng chẳng bao giờ chịu dắt thằng nhỏ đi cùng! 
Octavia không bao giờ thân thiện nổi mà lúc nào cũng ngán con người xa lạ đó. Đúng tay ác nhân trong truyện, con người chỉ có cái vỏ bề ngoài. Xem dáng dấp thì “trí thức” lắm nhưng một chữ cũng hoàn toàn mù tịt. Thực sự hắn có biết đọc biết viết hồi nào, nông dân thuần túy mà. Vậy mà có lần tình cờ đi xe điện ngầm, chính mắt Octavia đã thấy dượng Frank cầm tờ báo trong tay và đọc chăm chú lắm . Chạy vội về nhà khoe mẹ chuyện lạ, nàng cười ầm lên . Nhưng Lucia Santa chỉ nhìn con, mỉm miệng cười thật khó hiểu và không nói một lời. 
Bỗng có một mụ nào đó lên tiếng kể chuyện . Bà con chăm chú lắng nghe, kể cả Octavia. Được thể mụ càng thêm hào hứng. 
Số là có một con nhỏ cũng người Ý mình (nhưng dĩ nhiên phải hiểu là sinh đẻ bên Mỹ . Nó lấy chồng đâu được một tháng, tuần trăng mật vừa tàn và hai đứa thương nhau kể gì? Biết sao không, con nhỏ nhè ngay nhà bà mẹ chồng tỉnh bơ ngồi vào lòng chồng để xoắn xít. 
Một hôm hai vợ chồng đi khiêu vũ chơi. Khiêu vũ ngay trong khuôn viên nhà thờ mới là tệ cho những … cha linh mục trẻ ranh ngay tiếng mẹ đẻ cũng không thèm nói một tiếng! Thằng chồng nhảy rất bảnh, nhảy giật giải cơ mà. Có điều vừa lên lĩnh giải là cu cậu trở xuống và lăn quay ra chết! Bệnh tim nặng mà! Điều đó chỉ bà mẹ biết và một mình bà ấy tận tình săn sóc lâu nay. 

… Trong khi đó biết sao không? Con vợ đang ôm thằng khác nhảy loạn. Được bà con hối thúc chạy lại xem thằng chồng vừa “nằm xuống” nó đâu dám? Nó ôm chặt như con nít sợ ma chứ chẳng phải một thiếu phụ mà chồng vừa bất hạnh. Đến nỗi chồng chết nằm sờ sờ ra đó, mà nó thì ngoảnh mặt đi “Tôi sợ lắm! Tôi không dám nhìn nó đâu”. 
Đúng lúc đó Louche mới “phụ đề” một câu ác ôn: “Nó lăn cổ ra chết, nó “nằm” rồi thì nhìn làm gì ? Nó sống mới cần chứ”. 
Bà con cười ầm ầm, vang cả xóm làm mấy phe xóm bên cũng ngẩng lên nhìn. Thấy bà mẹ cũng nhe răng cười, Octavia vừa bực bội, vừa chán ngấy. 
Tuy nhiên nàng vẫn phải công nhận rằng xưa nay hai người là bồ ruột. Dì Louche nói câu gì mà Lucia Santa chẳng hưởng ứng gấp? Giữa hai người là cả một tình quan thiết hai mươi năm, họ sẵn sàng bênh nhau quá mà. Huống hồ Louche còn là đại ân nhân của mẹ nàng giữa lúc cô đơn, đau khổ nhất. Giữa hai người với nhau thì có thể thân mật suồng sã … nhưng có người ngoài là họ đắn đo để “tâng” nhau lên, một điều bà hai điều bà không. 
Nghe mãi chán quá, Octavia bỏ đi. Tới chiếc xe đẩy nhìn con nhỏ nhưng không buồn nhìn ông bố dượng . Nàng nhìn con nhỏ rất âu yếm, âu yếm còn hơn đối với Vincenzo nữa. Rồi nàng tạt qua đường 31 nhìn thằng Gino chơi đùa, thấy bé Salvatore ngồi xề bên lề đường bèn bồng nó về đưa cho mẹ. Không thấy thằng Vincenzo đâu. Ngước nhìn lên cửa sổ mới thấy nó vẫn lì lợm ngồi một chỗ nhìn xuống. 
Trong lúc Octavia cúi xuống chiếc xe đẩy ngắm con nhỏ thì Frank Corbo vẫn đứng ngây người, giương cặp mắt xanh lơ quan sát đứa con gái riêng của vợ. Hắn kể cũng khác người, đàn ông nước Ý có thằng nào chịu đẩy xe đưa con đi chơi bao giờ? Cũng như chính cái đầu óc không ai ngờ đào không ra một chữ, hắn lơ là đưa mắt nhìn phố phường. Cũng cảm thấy nó đẹp, cũng như thừa biết con Octavia căm thù chứ . Vấn đề là chính hắn không giận ghét, căm thù ai, có lo lắng đến mấy cũng dồn nén xuống . Ngay cuộc đời hắn cũng chỉ là một giấc mơ đẹp, rõ ràng cảm nhận thấy dù chẳng hiểu gì … Một cuộc đời muốn yêu thương mà phải thành ác độc. 
Bao nhiêu dịp làm giàu đã trôi qua mà với hắn cuộc đời vẫn cứ khép cửa. Frank Corbo muốn tìm giải thoát, hắn phải rời bỏ cái thành phố này, bỏ cả gia đình nữa … ngay đêm nay! 
Sáng tinh mơ ngày mai, hắn sẽ thức dậy thật sớm và sẽ êm ả lên đường. Khỏi cãi cọ, đập lộn . Đón một chuyến xe xin quá giang về một miền quê nào đó để thực sự lao động, làm quần quật, một mảnh đất nào đó để lấy lại sức, tìm lại sự yên tĩnh cho tâm hồn. 
Đời hắn đau khổ đã nhiều chứ? Đau khổ như một thằng mù phải ca tụng thiên nhiên, một thằng câm đau mà không kêu lên được. Được biết thế nào là yêu thương nhưng chính mình không thể ve vuốt, nựng nịu. Ở trong nhà thì nhiều hơi người mà ra đường thì lại bị thiên hạ vây hãm chặt hơn . Đến nỗi nhiều đêm hắn nằm mơ thật dữ: nào vợ, nào con cứ xúm lấy hắn mà kẻ nào cũng có gươm có dao ở trong đầu để rút ra . Hắn phải kêu thét lên vì vậy. 
Giờ này khuya quá rồi, con cái lẽ ra phải đi ngủ từ lâu song nhà cửa gì đâu hầm quá. Frank Corbo thẫn thờ đứng nhìn thằng Gino chạy chơi ào ào. Nó chơi trò gì không hiểu nổi cũng như nhiều lúc nó tung ra cả tràng tiếng Mỹ quá lạ! Cả một thế giới bít bùng khó hiểu mà hắn cảm thấy mình bị tách rời ra: Nào sách, nào báo cũng mù tịt như bóng đêm đen. Dường như hắn bị cả một thế giới bao vây, dọa nạt vậy. 
Nhưng đêm nay đã đẩy xe cho con đi chơi thì hãy cứ biết đẩy, đẩy tới đẩy lui … khỏi cần biết sâu trong tâm tư hắn đang có thay đổi lớn … để nhường cho một thế giới khác hình thành. Frank cũng chẳng buồn biết là bản thân hắn chịu đựng dai dẳng quá rồi, này là lúc những thành trì của cái thế giới dễ sợ đdang đổ sụp để mọc lên cả một thế giới mới kỳ lạ mà hắn là chủ, bao nhiêu thù địch đều phải run sợ chạy hết mà ngay những người thân thiết của hắn cũng biến luôn mà không hề tạo nơi hắn một cảm giác gì hết. Ở cái thế giới tương lai, hắn sẽ tha hồ vẫy vùng, hắn sẽ chìm đắm đến nghẹt thở trong khoái cảm cũng nên. 
Một thế giới huyền diệu như vậy chừng đến là đến chứ tìm sao ra một điều báo hiệu? Xin chịu. Đêm nay hắn cứ biết tạm tin nơi những ngày cải tạo sắp tới, họ trở về với đất với cây … như một ngày xa xưa hắn từng là thằng bé nhà nông, sống vì mảnh đất cằn khô ở quê nhà bên Ý. 

oOo 

Thế giới của Gino, của tuổi thơ lại khác hẳn. Nó chan hòa ánh sáng và âm thanh nào cũng quyến rũ hết . Gino mải mê chơi đùa trong thế giới của nó đến phát đau đầu. Nó nhảy lên xe lửa chạy tà tà chơi, nào rượt nhau quanh mấy trụ đèn, nào đùa giỡn với mấy con nhóc vui cười khanh khách. Có một con đường 31 mà Gino chạy lên chạy xuống đã đời, không chơi trò chạy trốn thì rượt mấy thằng bạn cũng phát mệt . Chạy hết nổi vì vách tường chắn lối thì tốp lại giơ tay lên … hay giang rộng tay ra để đón bắt. Nếu tình cờ có chiếc taxi chắn lối mấy “địch thủ” thì cứ việc chạy vù về lề đường của mình là xong là hòa.
Đụng đầu bố đang đứng nhìn, Gino bèn dừng lại! “Bố cho con một xu mua càrem”. Được bố liệng cho, nó hí hửng chạy dọc đại lộ số 10, ngang qua chỗ mẹ đang ngồi, tính vọt đi nữa thì bị dì Louche nắm cứng, hai tay như hai chiếc kìm sắt nhấc bổng nó lên. 
Gino trợn mắt, láo liên nhìn thấy bà già. Có bà mọc ria mép, trời đất! Cố vùng vẫy chạy sợ hết trò chơi, nó càng bị nắm cứng hơn và Louche la lối: 
“Chơi gì chơi dữ vậy? Mai đau thì sao? Không nghe tim mi nhảy sao? Ngồi nghỉ chơi với mẹ mi đi!”. Vùng vẫy hết nổi vì bị ôm tức cả ngực lại còn bị chê “con trai gì mà xấu quá” thằng Gino uất ức không thèm cựa quậy nữa. Mấy mụ già còn nhìn nó cười hô hố chế nhạo làm nó mắc cỡ quá.
Thế là nó không ngần ngại Gino nhằm ngay mặt dì Louche nhổ một bãi nước bọt. Bất ngờ quá tránh không kịp mụ đành phải buông nó ra, mẹ nó tát với theo một tát tai trừng trị cũng hụt luôn. Nó chạy biết mất, nó tính chạy bọc nguyên một khu rộng để nương bóng tối tấn công phe địch thình lình. Chừng ra tới đại lộ số 9 gặp một đám con nít lạ dàn hàng ngang chận đường, Gino đành chạy đâm sầm vào, đẩy giạt chúng ra thoát vòng vây nhưng chiếc sơ mi rách teng beng mấy chỗ, mà phải chạy cho thật lẹ nữa, mặc cho gió thổi rát cả mặt. 
Mấy thằng nhóc rượt theo nó tới đại lộ số 9 nhưng lúc Gino rẽ ngoặt vào bóng tối khúc đường 31 thì chẳng thằng nào dám bám theo. Nó chạy chậm lại rồi đi men từng bậc đá. Đến đây là mút cùng công viên, đứng trên nhìn xuống phía xóm nhà nó thấy rõ ràng cột đèn chụp ánh sáng vàng vọt xuống đám bạn bè nó đang giỡn chơi chạy tới chạy lui như một đàn chuột. Còn chán thì giờ chơi. 
Nó núp trong bóng tối và len lén dò từng bậc mò xuống phố. Ngang một cư xá, ở một hành lang trống rỗng Gino bắt gặp một con nhỏ khoanh tay úp mặt vào tường. Suốt dãy nhà dưới đèn xanh đèn vàng mờ mờ có thấy đứa nào đâu? Đúng nó đang chơi trò đi trốn đi tìm, bạn bè trốn biệt cả . Gino mà dừng lại than dữ là tụi nó sẽ ào ào đổ ra chật nhà. Nhưng nó bỏ đi một nước, thây kệ con nhỏ muốn úp mặt vào vách đợi bao lâu thì đợi. 
Ngang qua một khung cửa sổ ánh đèn lờ mờ, một khuôn mặt chợt hiện ra làm Gino hoảng hồn – một mụ già Ái Nhĩ Lan ngồi ngay người nhìn ra bất động như muốn phơi bộ mặt nhăn nheo, khô cằn trơ xương, cặp môi mỏng đỏ ửng vì ánh nến hắt ra nhìn kinh khủng quá. Cái đầu dễ sợ đó đã ngả trên chiếc gối nhồi lông thú, nhìn nó sững sờ. Ánh đèn trong nhà tù mù ẩn hiện mấy món đồ cổ, đường phố tối thui vắng ngắt tự nhiên khuôn mặt gớm ghiếc bỗng nhe răng ra cười với nó làm thằng Gino co giò chạy. 
Nó chạy một mạch cho đến lúc gần về tới nhà, văng vẳng đã nghe thấy tiếng tụi bạn nô đùa mới dám nghỉ . Đến đây đã có ánh đèn thấp thoáng nhưng Gino làm gan kiếm chỗ tối nhất là lối xuống hầm nhà để núp vào đợi thằng nào đi ngang là nhảy ra chụp. Ham nghịch tinh, nó quên khuấy vụ bị mẹ tát tai hụt vừa xong. Chỉ khoái ra hù một phát. 
Thằng anh cùng mẹ khác cha của nó, thằng Vincenzo Angeluzzi mới mười ba tuổi, nãy giờ vẫn ngồi cửa sổ trên tầng tư nhìn xuống . Những âm thanh dưới phố cũng rỉ rả lọt vào tai nó chứ … nhưng nó vẫn thầm ngồi một mình. Suốt dãy gác tối thui chẳng còn ai mà Vincenzo còn khóa cứng cửa vào để yên trí ngồi một mình, khỏi sợ ai phá đám. 
Với nó thì kỳ nghỉ hè này chẳng còn gì. Hết nghỉ, hết chơi. Mẹ nó chẳng hiểu bắt đầu từ sáng mai nghỉ học ở nhà làm gì, phải đến tiệm bánh làm phụ kiếm thêm tí tiền cho đến mùa nhập trường đó ư? Thôi giã biệt chúng bạn chơi bời, từ ngày mai là trần mình vác bao bột tối ngày. Hết lội sông, hết đánh bóng, hết chạy nhảy vui đùa mà nhảy toa xe lửa rong chơi cũng hết luôn. Khỏi còn được tụ họp chúng bạn ăn càrem, đọc truyện chơi hay đánh đáo ăn tiền hoặc chơi trò thám tử trừ gian. 
Ngồi trên tầng cao nhìn xuống nó nghe lòng nặng trịch. Cái gì nhìn cũng buồn hết. Này là khoảng trống nhà ga xe lửa rộng mênh mông, chi chít đường ray, bao nhiêu toa hàng phế thải, mấy đầu máy xe lửa phun toàn khói than hồng đỏ, kéo còi tút tút … Xa nữa là sông Hudson như giải lụa đen sì, rồi bờ biển Jersey lượn lờ. 
Vincenzo ngồi lặng người, tai nghe ù ù . Từ phía đại lộ nó chợt thấy bóng người cưỡi ngựa vung cây đèn đỏ mở đường cho đoàn xe lửa chở hàng từ nhà ga Saint John. Nó lắng nghe tiếng tụi nó vui đùa mà tủi thân, vẫn còn ham vui lắm song chơi đùa như chúng thì không được nữa rồi! Đoàn xe sắp tới chui dưới cầu sắt là tụi nó reo hò chạy ùa lên bậc cầu, tranh nhau hứng làn hơi nước do đầu máy phun ra mù mịt. 
Năm nay mới mười ba tuổi, Vincenzo đâu hiểu nổi là trời sinh ra nó tính nết rầu rĩ đã qua rồi. Con chị Octavia thấy thương cho quà bánh luôn, hồi còn nhỏ xíu mỗi lần đi ngủ nó còn được chị bồng vào giường kể chuyện, hát ru cho đỡ buồn nhưng làm sao cải được tính trời? 
Vincenzo lắng tai nghe và chợt nhận ra tiếng mụ kia và Louche cãi cọ quang quác. Có cả tiếng mẹ nó về hùa một phe nữa. Nó thấy tởm, thương không được “con mẹ đỡ đầu” khó chịu này. Vậy mà mỗi năm cứ đến ngày sinh nhật muốn lĩnh năm đồng đô la mừng tuổi là phải hôn “mẹ” một phát. Nó kỵ lắm nhưng vẫn phải hôn cho mẹ nó hài lòng. Theo Vincenzo mẹ nó quả có đẹp, dù người có mập và quanh năm chỉ bận đồ đen. Chẳng bao giờ nó cãi lời mẹ. 
Nhưng “mẹ đỡ đầu Louche” thì nó không chịu nổi. Nó thù ghét mẹ từ bao giờ cũng không nhớ nữa. Đại khái hồi nó mới chập chững chạy chơi quanh xó bếp hay bám gấu váy mẹ đã ghét mặt con mụ ưa nhìn nó trừng trừng. Hình như hai người hợp chuyện nhau lắm, toàn bô bô kể chuyện đời xưa nghèo đói thế nào … rồi cùng ngồi nhấm nháp cà phê nhìn nó châm bẩm . Đến ghét cái hàm răng gớm khiếp của mụ nhe ra, lắc đầu chặc lưỡi than: “Tội nghiệp … Tội nghiệp thật, cái thằng mồ côi cha từ ngày nằm trong bụng mẹ!”. 
Mẹ Louche có lối khích động vậy đó rồi lảng ngay sang chuyện khác được khiến hồi đó Vincenzo chưng hửng không hiểu vì sao mẹ nó tái mặt, rơm rớm nước mắt. Thế nào mẹ nó cũng cúi xuống ôm nó ngồi chết trân một lát … 
Lúc nhìn xuống thấy Octavia đi tới xe em bé tự nhiên Vincenzo đâm hận cả chị. Chị em gì mà mấy ngày nghỉ hè bắt đi làm mà không nỡ ngỏ lời bênh giùm một tiếng? 
Nhưng anh Larry kìa … Đến cầu sắt mới nhìn ra chính anh nó cưỡi con ngựa ô chứ ai? Nhìn hùng như cao bồi thật. Nó ngồi đây mà nghe rõ ràng tiếng vó ngựa khua cồm cộp mà. 
Chừng đầu máy tuôn hơi nước mù mịt, khuất lấp hết cả rồi tàn than đỏ bay ngộp là Vincenzo biết đoàn xe đã rẽ vào sân ga. 
Giờ này khuya rồi và nhà đã thấy đỡ hầm. Mẹ nó và mấy mụ hàng xóm đang thu dọn ghế, gọi chồng gọi con ơi ới. Cha dượng nó đang đẩy xe em bé vào . Sửa soạn đi ngủ là vừa. 
Lúc bấy giờ Vincenzo mới từ khung cửa sổ tụt xuống, chạy vào mở cửa cho mọi người về . Rồi nó xắt ba khoanh bánh mì bự, đổ chút dấm và thật nhiều dầu ô liu, rắc thật nhiều tiêu và cầm lâu nhìn khoái trá . Miếng bánh ngon thật, màu nâu hồng lấm tấm những điểm xanh. 
Nó sẽ mang tới cho Salvatore và Gino mỗi đứa một miếng ăn cho đỡ đói, cả ba anh em cùng ăn cho vui . Làm gì nó không nghe tiếng thằng Gino nãy giờ la hét ầm ầm dưới đường. 
Nghe tiếng thằng Gino, mẹ nó đang bồng em bé đi lên ngủ cũng giật mình kia mà? Trong khi đó Larry giật cương cho ngựa rẽ mất hút. 
Lúc bấy giờ ông cha dượng hoảng hốt bỏ chạy đi đâu không biết … nhưng rõ ràng giọng cười đùa của Gino hả hê, hứng thú lắm. Chắc nó vừa thình lình xông ra hù được một thằng bạn nào nên chúng hò reo ầm ầm. Nhưng bọn quỷ quái nhè la bậy bạ “Đốt hết, đốt nhà hết” trò chơi xong rồi mà chúng cứ thế la ầm lên! 
Đến giờ phải về nhà ngủ, thằng Gino mới sực nhớ ra, lúc nãy vừa làm hỗn với dì Louche và về nhà gặp mặt mẹ nó là thế nào cũng ăn bạt tai. Nó chạy lên gác như bay như biến. Chạy ngang mẹ mà Lucia Santa có muốn níu nó lại cũng không kịp. Vả lại thấy nó mê chơi, hứng thú quá mụ cũng chẳng nỡ làm thằng con cưng cụt hứng. 
Cho mãi đến lúc đó đám dân Ý ở đại lộ số 10 mới lên lầu hết, ai về nhà nấy . Đường phố lại trống trơn để vó ngựa Larry vang vọng cồm cộp lúc đưa ngựa về chuồng.



Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Chương 14

Ý tưởng vụn, nhớ đâu viết đó

Đã là ý tưởng vụn, nhớ đâu viết đó, xin độc giả đứng hỏi tôi vì sao quá hổ lốn, không khác cơm nếp mắc mưa. Xin thưa: “Đã là tạp pín lù, thì trách chi món ăn hỗn tạp”, “thập cẩm” là nói văn hoa theo Bắc, trong Nam dùng chữ “xào bần”, nghe dường như bình dân và tập thể hơn”. Tôi nhớ ông bạn đàn anh năm xưa là Đoàn Quan Tấn, học ở Sorbonne về, dạy tôi, khi viết văn, đứa nào không biết đẽo gọt thí bớt là chưa biết viết, nguyên văn câu Pháp là “qui ne sait pas sacrifler, ne sait pas écrire” nhưng đối với tôi là nhà sưu tập và mê chơi đồ cổ, tôi thuở nay không bỏ một chéo giấy vụn nào, và lâu ngày lấy ra xem, đều có chỗ hữu dụng. Hiện tôi có dưới tay hai trang đánh máy sẵn, trang 8 và 9 của tập này, tôi đã thay bằng hai trang mới, nhưng bỏ không đành, và vẫn ghim vào nơi đây, nối thêm lời bạt.

2) 13 février 1918- 1er carnet- Page 15- Au 57.

Le 57, c’est le numéro de ma maison d’affaires, rue La Boétie.

Seize heures cinq- Boni de Castellane, époux divorcé de la riche Américaine Anna Gould. Sa Poitrine est trop bombée, ses épaules trop carrées, sa taille trop pincée. Il est très dandy, très blond, encore vert, trop vert, très charmeur, trop poupée, et très grand seigneur.

Seize heures huit.- Anna Gould, épouse divorcée du comte Boni de Castellane. Elle a quarante ans. Petite, difforme. Son corps a la ligne d’une gourde, tandes que sur sa figure a poussé, en place de nez, une pomme de terre vineuse. Elle est accompagnée de son nouveau mari, le duc de Talleyrand-Périgord, cousin de Boni. Après son divorce, qui le rejetait dans la gêne mais qui laissait à sa femme des millions de dettes, sa seule plainte fut: “je me suis trompé, Anna Gould n’était pas assez riche pour moi”. Avec Talleyrand, elle est heureuse. Grand, effacé, le dos voûté, près de soixante ans, il traine ce grand air respectable et plein d’ aménité de l’ homme qui afait les cent coups 1 .

Ils ne se rencontrent pas avec Boni.

Dịch cho mau hiểu, số 57 là môn bài của nhà buôn đồ cổ của chúng tôi, toạ lạc nơi đường La Boétie.

Vào 16 giờ 5 phút, tiếp hầu tước Boni de Castellane, tục là chồng cũ của nữ tỷ phú Mỹ Anna Gould. Hầu tước ngực quá no tròn, vai rộng đến hoá vuông, và lưng eo thắt đáy, bảnh bao không ai bì, nước da trắng trẻo, tóc hoe hoe, còn bô trai lắm bô đẹp tươi xanh, còn khuyến rủ đắc mèo bỏ bùa được lắm, nhưng quá ẻo lả tựa hồ con búp bế của mấy bà thiếu chồng, và vẻ sang trọng hơn ông hoàng quí tộc. Qua 16 giờ hơn 8 phút, chúng tôi tiếp bà Anna Gould, bốn chục xuân thì, tức Boni de Castellane phu nhơn, nhưng đã cũ thôi, đã ly hôn với nhau rồi. Nhỏ người thêm xấu. Vóc hình như trái bầu hồ lô, điểm trên mặt một củ khoai, tẩm nực mùi rượu vang, đóng ngay chỗ thừa đáng lẽ cho mũi dọc dừa. Cùng đi theo bà là đức phu quân “tân lang” – anh em thúc bá với tiền phu, và đó là quận công de Talleyrand-Périgord lưng khòm, tuổi độ lục tuần, cao lớn, dáng người ẩn dật, đã từng hư đốn trăm phần nay đúng một ông hoàng ông công, với chàng sau, bà được hạnh phúc. Sau cuộc ly hôn ông trước tuột dốc, lâm cảnh túng hụt, nợ như Chúa Chổm, ông để lại cho bà trả không biết bao nhiêu triệu nợ, ông chỉ than: “Tôi đã lầm, nàng Anna Gould không đủ sức giàu cho tôi xài cho phỉ chí”.

Giải thích. – Dịch như vậy là ôm cua theo sát máy câu văn Pháp, độc giả nghi trên xe do tôi lái, bị nhồi như hột gạo trên sàng cung may, tôi còn giữ được tập báo Illustration số 29 octobre 1932, tờ “Đại hoạ báo” này ghi lại như sau (tóm tắt): Boni de Castellane vừa tạ thế ngày 20 tháng 10 nầy, xuân thu 65, măng đèn, mơn mởn 65 cái xuân già. Dòng Tallcyrand – Périgord. Năm Boni được 27 xuân xanh, bỗng gặp nàng Anna Gould là ông vua xe hoả bên Mỹquốc (roi des chemins de fer). liền clụp lấy cơ hội, từ giã Paris theo nàng sang Mỹ, làm lễ thành hôn, đổi tước hầu ra bạc tỷ đưa nhau về Paris, xây một biệt thụ nơi hoa lâm Bois de Boulogne, lấy kiểu theo cung điện Petit Trianon, và xây toàn bằng thứ đá vân thạch màu hường quý giá. Xây xong để chưng diện toà lâu đài nầy, ông quy tụ hết tất cá những gì cao sanh quý trọng của bao nhiêu nhà buôn từ kinh đô Paris qua đô thành Londres, nào bàn giường ghế xưa, cổ đồng, ngoạn vật, nhưng phải nhìn nhận ông dọn dẹp dinh thự ông với một ngọc nhãn thiên tài không ai bì kịp.

Thử tập dịch văn Pháp.

“Chez Berenson, critique d’art.

“Si les tigres qui sont petits et vifs parlaient, ils auraient ta voix et ton intaiïig’ence, Polonais félin. Sous ta douceur calculée, tu étouffes tes rugissement. Pattes de velours et griffes exécutrices d’acier. Si tu laisses pousser barbe, c’est pour nous cacher que tu es un homoncule. Tes yeux sont bleus… comme pour tromper. Eduqué en Amérique, peut-être y es-tu né. Qui le sait? Tu vis en Italie et certains veulent que tu sois Anglais; Ton ambition (qu’elle t’a consumé!) fut qu’on te reconnaisse comme le plus grand expert au monde en primitifs italiens et tu as atteint ton but depuis trois ans. Tu es mourant mais pour longtemps. Tu ne fais pas d’affaires et n’acceptes pas de commissions, mais tu partages les bénéfices.

– Voici vingt-cing mille francs, monsieur Berenson.

– Merci, Gimpel.

Tu es venu depuis peu de temps t’installer à Paris. Tu accours, dis tu pour travailler pour la Croix Rouge américaine. La vérité:

tu as peur que, rompant le front italien, les Boches ne viennent jusqu’à Florence te déranger en ta ville et l’on murmure que l’Angleterre te refuse l’accès de son territoire. Tu connais tous les mondes, toutes les sociétés, et dans l’univers tu n’as que des ennemis. Si tu hais, on te le rend bien, mais si on te mettait dans une cage avec un critique, c’est lui qui serait mangé. Ton plus mortel ennemi est Bode, le directeur du musée de Berlin qui a osé étudier et comprendre la sculpture italienne!”

(René Gimpel, – journal d’un collectionneur, marchand de, tableaux).

Vừa tập dịch vừa giảng những chỗ gút mắt. (viết luôn trên máy không giấy giáp)

Berenson, nhà phê bình và giảo nghiệm đồ mỹ thuật Ý. Nếu hổ, thường nhỏ con nhưng lanh lẹn, nếu hổ biết nói tiếng người thì ắt hổ có một giọng như mi, và cùng một thông minh như mi, ớ nầy lão Ba lan giả hổ. Mi có dáng bộ nho nhã cân xứng, giỏi che giấu tiếng gầm, móng vuốt bén nhọn như thép, luyện bọc trong nhung lụa. Mi để râu mọc là cố không cho thấy mi là con vật có phép biết tàng hình biến hoá của bọn pháp sư phù thuỷ. Mắt mi trong xanh màu biếc, tinh xảo, quỷ quyệt vô song. Được giáo hoá bên Mỹ quốc, có lẽ mi vẫn sanh đẻ bên ấy, nhưng đố ai biết được rõ ràng. Mi sanh sống bên nước Ý, nhưng có người định mi là người Anh. Lòng tham vọng vô biên, hiện nó đang đốt cháy mi bên trong, lòng tham vọng ấy đã khiến mi được suy tôn là một nhà phê bình giảo nghiệm độc nhứt về cổ vật nước Ý, và đã ba năm nay, mi được đoạt tới đích ấy rồi. Duy mi đang đau ốm rề rề, nhưng còn lâu, mi chưa chết bây giờ đâu. Mi chẳng làm gì cho động móng tay, cũng không lãnh bắt mối ăn tiền còm, nhưng ai chia lời mi biết táp.

– Ông Berenson, nầy là lai mươi lăm ngàn quan, đây ông.

– Cám ơn Gimpel.

Mới đây, mi đến trú ở Paris. Mi rằng đến để góp công làm việc cho hội Hồng thập tự Mỹ quốc. Kỳ trung, đó là vì mi e một ngày kia bọn Đức tặc đạp vỡ ranh giới nước Ý, tràn xuống Glorence khuấy rầy mi và biệt thự của mi, và người ta thì thầm nước Anh không khứng cho mi qua xứ họ. Giới nào, hội nào trên hoàn cầu, mi đều quen biết, nhưng trên hoàn cầu mi chỉ có thù địch, mi ghét chúng bao nhiêu, thì chúng cũng ghét mi không vừa, và nói cho cùng, thoáng thử nhốt mi vào chuồng hổ cùng với một phê bình gia khác, thì dám chắc lão gia bị hổ xơi ngay, chớ hổ vẫn chừa mi mà? Kẻ thù không đội trời chung của mi, lại là ông Bode, tức ông quản thủ viện bảo tàng kinh đô Đức Berlin, ông này tại sao dám nghiên cứu và hiểu sâu về cổ hoạ và điêu khắc Ý? (hơn mi và biết dư những mánh khóe của mi trong môn sở trường nầy) (12-9-1983).

Hai trang 8 và 9 cũ ấy, vốn chẳng hay ho gì, và nay đọc lại thật là “đầu Ngô, mình Sở”, nhưng như đã nói, tôi vẫn tiếc và cố chép lại nơi đây, để cho thấy tật “ưa để dành” và quả số kiếp của tôi là chó chôn xương, để moi móc lên gặm lại những buổi đói lòng mà không sẵn thức ăn dưới tay.

Ngày nay gẫm lại mà giựt mình, đời của tôi, đời một tên thơ ký quèn trào Tây còn sót lại, chỉ được cái sống dai, nay lên lão, và nếu sự nghiệp còn, sách vả còn, và đồ xưa, ngoạn hảo không mất ai át, ấy chẳng qua là nhờ vận may, và cũng nhờ và vẫn không quên ơn nhà nước biết xét cho một người lương thiện và vô thưởng vô phạt. Hôm nay tôi đã được 88 tuổi và trong vài mươi ngày nữa, đến 27-9 ta, tức 26 octobre tới đây, sẽ lên tuổi 89, thử nhìn lại những khúc đời đã qua, vui có, buồn có, và nếu phải trở lại cuộc đời, tưởng sẽ y đường cũ mà bước, và không thay đổi chút nào. Tại sao phí phạm quá nhiều sức sống? Nhớ lại, và ngày nay mỗi lần có dịp đi qua chỗ cũ, bỗng giựt mình, năm 1920, học xong năm thứ nhứt (première année) trường Chasseloup, nhơn dịp bãi trường, mãi ham về nhà ở Sốc Trăng, tái hiệp cùng cha già mà quên lấy về đôi giày tige drap bỏ quên dưới ngăn tủ trên lầu ngủ nhà trường, đêm ấy, vào khoảng tám giờ tối, sửa soạn mặc đồ vía đi xem chớp bóng rạp Casino, mới nhớ đôi giày giá đặt mười hai đồng (12$00) nơi tiệm Nguyễn Chí Hoà đường Catinat, tiệm giày này là của bà quả phụ Lê Thị Gẫm, mẹ của hai nhà giàu lớn, Nguyễn Chí Mai và dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều, chẳng lành thì chớ, quên giày thì lên bỏ qua, nếu kỳ nhập trường tới, còn gặp giày lại thì may, bằng không thì thôi, đàng nầy tôi lúc ấy tiếc của không chịu bỏ qua, lại mời rủ anh em, cùng nhau trở lại trường và tôi noi theo góc đường Lê Quí Đôn và Trần Quí Cáp leo qua hàng rào sắt nhọn, vả đeo theo ống nước máng xối, lên được mái ngói và noi theo một cửa sổ không đóng kín, đột nhập lầu ngủ mà lấy cho được đôi giày, ngày nay trở lại chỗ cũ; nhìn cảnh xưa không thay đổi mà tự giựt mình, quả tôi phí phạm sức sống, vì ống máng xối nào có chắc, rủi thời lúc ấy tôi sa chân xẩy bước, té từ trên cao rớt xuống mà mạng mất thì chẳng là uổng công sanh dưỡng của mẹ cha?

Năm 1924, cưới vợ để chín tháng sau, vợ bỏ nhà, cuộc vợ chồng dở dang, chưa nóng một chiếc chiếu, ắt cũng tại mình phần nào… để rồi trở lại cảnh sống độc thân, buông lung sa đà, hai lần vô nằm nhà thương Chợ Rẫy, rồi kết hôn với một vợ nữa, tốn hao tiền bạc của cha mẹ, làm mất luôn dấu tích mười lạng vàng nữ trang của mẹ để lại và của ấy nơi ba tôi ra công tự làm lấy, dấu tích của mẹ và cha mà, tôi không gìn giữ được, tôi như vậy nên hay là hư, khỏi nói,… để rồi 19 năm sau, người vợ nầy cũng ôm cầm sang thuyền khác, cuộc ly dị đã có toà án làm chứng, nhưng nay phải nhìn nhận đôi bên đều có lỗi và lỗi của tôi, tôi tự trách, tôi mê đồ cổ hơn người chán gối và phải chăng mê đèn sách hơn mê đàn bà tôi đành chừa cho công luận xét soi, và tôi nhìn nhận, có hư nên chúng bỏ…

Mấy phen quen biết cảnh Sài gòn, từ năm 1919, chưn ướt chưn ráo, lên đây học hành, năm 1928, đổi về tỉrh Sa Đéc, vợ thơ, tiền túi, nhẹ bồng…, năm 1932 đổi về Sốc Trăng, ở gần được với cha già mấy niên, chữ hiếu chưa tròn, năm 1935 đổi lên Cần thơ, hạnh phúc trong tay mà không biết tận hưởng, năm 1938 đổi trở lại Sài gòn tùng quyền nơi dinh thống đốc, để rồi thấy thời cuộc bất an, xin đổi về quê hương là tỉnh Sốc Trăng vui sống mấy năm dưới chơn cha già mà vẫn chữ hiếu còn thiếu nhiều bề, kế lại xảy ra cuộc biến thiên, tôi không sống yên thân được nơi nhau rún, cũng tưởng một gói một xách lên Sài gòn nương náu tạm chờ ngày lui về quê nhà là Sốc Trăng, ngờ đâu nay dính gốc dính rễ, từ năm 1947, tôi thiệt thọ làm con dân tỉnh Gia Định như vầy, việc nghe việc thấy cũng chán chê, và nào đâu cánh “tái hồi cầu thị bách nên xuân”.

Google photos edit by Sơn râu

A! Ha! Tuổi chúng chờ ta, nay chỉ chờ ngày xuống lỗ! Tóm tắt lại, không như Thăng Long là chốn “ngàn năm văn vật”, cũng không như Huế đô là đất thiêng liêng nhà Nguyễn, Sài Gòn chưa được hơn tuổi ba trăm năm, kể từ ngày Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài, năm 1679-1680 kéo binh Minh qua đây xin đùm đậu, theo mắt tôi dự kiến: Sài gòn năm 1919, vẫn lèo hèo dân cư thưa thớt, mười sáu giờ chiều tan chợ là chợ Bến Thành trơ trẽn đìu hiu như nhà ma mạt chủ, vì phong tục thời Pháp thuộc, đêm hôm từ 16 giờ cho đến 6 giờ sáng, nhà chợ phải để trống, không cho người vào ở, vả lại lúc ấy đèn đuốc lèo hèo, nhà tư nhân còn dùng đèn dầu hoả, nhà sang và nhà thợ thầy mới biết dùng khí đá (carbure) và sau hơn nữa dùng đèn có manchon hiệu Tito-Landy, và chỉ cơ quan nhà nước và các đường phố lớn mới có đèn điện vân vân, xuống đến những năm 1930 đến 1945, qua cơn khủng hoảng kinh tế sau trận đệ nhứt thế chiến 1914-1918, từ những năm 1921 về sau, Sài Gòn mới bắt đầu lại nghỉn, kinh tế phát triển, ruộng trúng mùa, có cuộc cho con sang du học bên Pháp địa, tiền rừng bạc biển, sắm mua xe ô tô, từ xe mủi sập Citroen, đến xe mui hòm Delagé, Renault, Peugeot, vân vân, và mọc như nấm đầu mùa mưa, nào nhà hàng cơm Tây, nào rạp chớp bóng, từ bóng câm rạp Casino ngày nay vẫn còn tồn tại qua rạp Eden và rạp Majestic, sau rốt là rạp Rex, vân vân, nhà phố khuếch trương thêm đồ sộ, người Việt ta biết tranh thương cùng khách kiều cư chà Bom bay, chệc Quảng, chệc Tiều, rồi vượng lên một lúc thật thịnh vượng, buổi binh Mỹ qua đày vãi tiền quến rủ gái nhà quê quẳng gánh, không gánh nước mướn nữa, tập dồi phấn thoa son, học khiêu vũ, lây người ngoại bang, rần rần một lúc, để đến năm 1975, tháng tư ngày 30 đạo binh giải phóng vô đây, thành phố để mặt thật, phấn son bỏ dẹp như đã thấy và nay bặt bén trở lại nhưng như tôi chưa rành và hiện không dám viết…

Phong tục rạp quán, xin hãy giở báo hàng ngày ra đọc, tôi nói bằng thừa: nhớ lại buổi không xa gì lắm, là buổi chúng tôi vừa ra trường, đóng vai làm mọi cho Tây, thơ ký có anh Phát, lanh lợi đi trước thời cuộc, Phát cặp với một nữ lai, con của một cảnh sát trưởng ở Chợ Lớn, Phát tình nguyện ưng ra Côn Đảo làm việc giấy nơi văn phòng viên chủ ngục, để có dịp dẫn dắt nàng vị thành niên đầm lai con ông cò ra đó hưởng tuần trăng mật, nực cười ông Cò mất con, làm tờ có tìm con, đơn thưa quan chướng lý toà Pháp đình gởi qua dinh Thống đốc lại gặp Thống đốc tên là Ba Ghẹ, có máu 35, thống đốc phê câu Pháp ngữ, tôi nhớ mãi là phàm có con gái thì bổn thân phải biết gìn giữ và gà mái sút chuồng thì chủ chuồng tự tìm lấy, chớ thơ ký Phát, không có lỗi đối với phận sự, vả lại đã đến chốn Côn Đảo là cùng tột, thì còn chỗ nào sai đi được nữa, chuyện là chuyện gia đình, chuyện tư gia (affaire privée), không thuộc quyền Thống đốc xét xử v.v… Tuy đơn phê làm vậy, nhưng ông Ba Ghẹ vẫn ra một huấn thị và ra chỉ thị dặn tự hậu đàn bà có chồng công chức tùng sự tại Côn côn, muốn ra đó thăm chồng phải đợi tuỳ tờ hôn thú chánh thức mới đáp tàu ra đó được và thàa dịp ấy một thơ ký khác tên Ba, bị người chăn gối làm bực bội quấy rầy, để cho rảnh sự thoát vòng nữ quái, Ba làm đơn tình nguyện thế cho Phát, Ba ra hứng gió Côn Đảo một ít lâu, nàng tình nhân y hẹn xách va ly định đi tìm chồng nhưng đến bến tàu, vì thiếu tờ hôn thú hợp lệ, nên cô Mười ở lại Sài Gòn, dặm chăn nghêu ngao lỡ khóc lỡ cười và Ba khoái trá, việc như vậy, tôi cho rằng thú.

Một việc khác, nói về lương tâm ông bác sĩ chuyên nghề cứu nhân độ thế, tôi biết một bác sĩ người bòn bon da màu cà phê sữa, có bằng nội trú dưỡng đường Paris (interne des hôpiteaux de Paris) trước tùng sự tại dưỡng đường tỉnh Sa Đéc, sau thuyên chuyển qua nhà thương đô thành Cần Thơ, về chuyên môn thì phải nhìn nhận ông vững nghề trị bịnh, nhưng tại sao ông hám tiền quá độ, lúc ở Cần Thơ, tôi nằm nhà thương nên biết rõ chuyện ông nhóng tiền, có một cô gái Việt đau chứng lên sốt nóng vùi, cha của cô được chủ Tây cho lấy xe nhà chở cô gái vào nhà thương, bác sĩ thấy cô nầy đi xe nhà lộng lẫy, nên nhóng tiền, cô chỉ có đường kinh, máu ra nhiều, tấm trinh chận máu ứ lại, giá thử chích cho rách tấm da mỏng kia thì máu hết ứ, nhưng ông bác sĩ vẫn đế cô nhỏ rên la đau đớn, lỗi vì đi xe nhà mà chậm lòi tiền…

Và cũng thì ông bác sĩ da cà phê sữa nầy (Bourbonais), Dr. L….., tôi vẫn gặp lại ở tỉnh nhà, Sốc Trăng, năm ấy, (nay quên năm nào), có một vị cai tổng chủ ruộng, ban đêm đi mò vợ tá điền bị đâm đổ ruột, chở kịp ổng ra nhà thương tỉnh lỵ băng bó, bác sĩ người Ba Lan Dr. Mickianowsky, trị cho ông đã gần lành, ông cai tổng ỷ giàu, sai lấy xe nhà đem lên Cần Thơ rước cho được ông bòn bon xuống khám bệnh cho ông, bác sĩ cà phê sữa, sẵn xe lên ngồi, vừa hóng mát ngoã nghê, xe tới Sốc Trăng, ông vào nhà thương, sai tháo cuộn băng, ông bác sĩ ban đầu lấy xà bông rửa sạch hai bàn tay, rồi lấy rượu cồn rửa tay lại thoa đi thoa lại rượu 90 chữ không biết mấy lần, đoạn ông bước lại gần giường thầy cai đang nằm, ông nhìn vô chỗ bị thương, ông gật đâu và sai nghịch chỗ bị thương lại y như cũ, đoạn ông lên xe trở về Cần Thơ, tiền khám bịnh lúc nãy, đúng là sáu trăm bạc (600$00), năm ấy Nhựt Bổn có mặt tại Sốc Trăng, và sáu trăm bạc, xin độc giả ngày nay tự định lấy giá trị.

Còn một chuyện nầy nữa, cũng xảy ra ở Sốc Trăng. Lúc ấy có một quan toà là người Việt, quê quán ở Cao Lãnh, ông có vợ là con của một nhà giàu lởn ở Trà Ôn (Cần Thơ), bà nầy đeo vàng xoàn đi xem hát, khi trở về nhà, bà giao cho chị vú xẩm tháo vòng xoàn cất giữ trong một tủ trang sức gỗ, sáng ngày, cả hai, chủ nhà và chị xẩm Quảng Đông, không tìm ra nữ trang, hô hoảng bị trộm, cách ít lâu, quan toà đi ngang một tiệm thợ bạc, thấy bà cai tổng có chồng bị tá điền đâm đổ ruột mà không chết trên đây, bà đang ngồi chờ gắn xoàn vào chiếc vòng, quan toà bước vào, hô lên là xoàn ấy là xoàn của vợ ông bị mất trộm, bà cai phải nhờ luật sư bào chữa và tốn hao không ít mới khỏi vụ nghi oan ấy, việc đã nguôi ngoai và cách không lâu, quan toà có lịnh thuyên chuyển qua tỉnh khác, quan bán cái bàn gỗ trang sức cho một người chủ tiệm làm đồ mộc, người nầy khi đến nhà quan chở tủ, kéo ngăn hộc ra, thì té ra vàng xoàn nữ trang nghi là bị mất trộm vẫn nằm yên dưới đáy tủ, vì kéo ra kéo vào, vàng lọt tuốt xuống kẹt đáy mà vừa chủ nhà vừa chị ở Tàu, sớn sác, không xem xét kỹ, báo hại bà cai hao tài tốn của và ông quan, vì thiếu lương tâm, đã nghi oan cho kẻ bị oan tình là bà cai nọ.

Mấy chuyện nầy đều là chuyện tào lao, chuyện chó bị xe hơi cán, chuyện không đáng kể, nhưng tôi vẫn kể lại đây, vì trong tập Sài Gòn tạp pín lù nầy cũng nên ghi lại những vặt vãnh đánh dấu buổi suy vong thời Pháp thuộc. Một chuyện nhỏ nữa là chuyện quan phó tham biện Pháp ở Sốc Trăng, tên là Mabé ông bị lính Nhựt bắt giải làm tù binh lên Cần Thơ, trước khi bị bắt, ông giấu nữ trang của vợ trên kẹt hóc nhà lầu ông ở, thanh niên tiên phong chiếm nhà nầy một thời gian khá lâu, thế mà sau đó quan Tây nầy trở lại nhà cũ và tìm gần y nguyên số vàng giấu kín, những việc dường ấy, nên hỏi thanh niên tiền phong làm việc tắc trách, xem xét kiểm tra không kỹ, hay là nên hiểu như tôi là mỗi người, mỗi vật, đều có số, có vận may, không ai giống một ai, và cũng không nên tìm hiểu cho nhiều thêm mệt trí óc… cho vào Sài Gòn tạp pín lù là vừa.

(Ngày 16-9-1989).

——————————–

1fait les cent coups: mener une vie désordonnée. Tôi dịch “hư đốn một trăm lần”

Sài Gòn Tạp Pín Lù

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Chương 13.

Luận chơi về Hàn Tín

Đến đây tôi chợt nghĩ viễn vông chuyện bên Tàu chuyện xưa đời Hớn, vả xin viết lại để quên buồn. Vua Cao tổ Lưu Bang, có nàng phi là Thích phu nhơn, có con trai là Như Ý, tước là triệu Vương, hai mẹ con vẫn không toàn tánh mạng, và đều chết trong tay Lữ hậu, (cho nên tôi tin là có số mạng: số mạng Hàn Tín, thắng được người danh nhứt đời ấy là Hạng Võ, nhưng chết vì tay một đàn bà yếu đuối là Lữ Hậu (cũng như việc triều nhà Nguyễn, biết phòng xa, không phong Hoàng hậu (sợ đàn bà chuyên quyền), không lấy Trạng nguyên, không phong Tể tướng (sợ bầy tôi làm lớn chuyên quyền, nhưng buổi loạn, mọc ra Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết gần trọn dòng Nguyễn Phúc, nào biết mà ngờ trước được)? Nhắc lại Thích phu nhơn, nhơn hầu Cao đế, đem con là Như Ý ký thác cho vua. Cao đế nghĩ ngợi hàng nửa ngày không nói lời nào, chỉ thở dài rồi bảo phu nhơn gõ sênh để vua hát giải sầu. Đến khi Trương Lương mời được bốn ông già có cao danh về giúp Thái tử (con bà Lữ hậu), Cao đế mới trả lời Thích phu nhơn rằng: “Trẫm muốn thay đổi, nhưng nó (phe Lữ hậu) có vây cánh quá mạnh, không làm gì được nữa”. (Gẫm lại đã làm vua mà vẫn còn sợ vợ, vì vua lúc ấy đã quá già, và binh quyền vẫn ở trong tay “không phải của vua nữa”, không khéo, vua cũng bị hại, chớ đừng mong giúp đứa con người vợ bé). Thích phu nhơn mũi lòng, khóc… Cao đế rằng: “Khanh múa lối Sở, trẫm hát giọng Sở, bài hát như sau:

“Hồng hộc cao phi hề, nhất cử thiên lý,

Vũ dực dĩ thành hề, hoành tuyệt tứ hải.

Hoành tuyệt tứ hải hề đương khải nại hà?

Tuy hữu tăng trước hề, thượng an sở thi”.

Dịch:

“Con hồng hộc ba cao vậy, cất một cái cao ngàn dặm,

Nó đã mọc vây cánh vậy, ngang dọc bốn bể.

“Ngang dọc bốn vậy làm sao bây giờ

“Dẫu có tên có dây vậy, cũng phải chịu thôi!

(theo bản dịch “Nguyễn Quang Oánh, Tình sử, in năm 1931, trang 173)

Tôi thuở nay ngu dốt, nhưng vẫn thích thơ có ý nghĩa và nhớ trong sách nào để khi có việc lấy ra xét đời. Chuyện kể tiếp, khi Cao đế mất rồi, Lữ hậu sai bắt Thích cơ gọt đầu và giam vào ngục, cho mặc áo tù và bắt giã gạo. Thích phu nhơn vừa giã gạo vừa hát bài như sau:

Tử vi vương,

Mẫu vi tù.

Chung nhật thung bạc mộ,

Thường dữ tử vi ngũ.

Tương ly tam bách lý,

Đương sử thuỳ cáo chữa

Dịch:

Con làm vua, mẹ ở tù.

Suốt ngày phải giã gạo,

Cùng với lũ phải tội chết.

Mẹ con xa cách nhau ba trăm dặm,

Khiến ai báo tin cho con hay”

(Trang 174 bản đã dẫn).

Đã thân trong tù mà không biết nhịn, lại sính làm thơ. Mình tự giết lấy mình. Lữ hậu đã ghét ghen sẵn, hay được, giận lắm, bèn sai đòi Triệu vương Như Ý về, đánh thuốc độc cho chết, rồi chặt cụt hai chơn Thích phu nhơn, lúc sắp chết, Thích phu nhơn thề rằng: “Cầu xin cho Lữ hậu kiếp sau làm chuột, thiếp làm con mèo, đời đời kiếp kiếp, ăn thịt mi mới đã”.

Lời bàn: Đời ấy, mỗi mỗi đều có người học lại. Lữ hậu nghe nhưng giả điếc, khi Cao đế khóc than với nàng Thích thị, đến phiên Thích thị làm thơ than khóc, thì như lửa chế thêm dầu. Ngày xưa không có luật nhơn đạo, để cho xuất ngoại, và mỗi việc đều chém rơi đầu gọi trừ căn rễ, xét ra quá độc, quá ác.

Hàn Tín liệu việc đều hơn người, mà thua trí đàn bà. Cao đế hèn nhát, giả việc đi săn lánh mặt để cho Lữ hậu gạt Hàn Tín vào cung sát hại, Tín chết rồi, Cao đế tiếc và nhỏ mấy giọt nước mắt cá sấu, thật là giả dối đáng ghét. Hàn Tín khi Cao đế hỏi, đã không xuống nước, lại còn giữ tật cũ, khoe tài: (đoạn nầy, truyện dịch rất khéo, tôi xin viết lại đây giải buồn: “Tướng với tướng hại lẫn nhau: “Tuỳ Hà chạy sớ, kẻ vạch với Cao đế việc Hàn Tín, từ đặng phong đất Sở, đoạt ruộng của dân, nuôi binh mã và giấu tướng giặc là Chung ly Mụi, là ý không lành. (Tôi với tôi kẻ nhau).

Cao đế hỏi kế, quần thần đều hăm hở xin đi đánh, Trần Bình rằng Tín trí mưu không ai lường được, binh không đánh nổi, và bày kế vua giả đi chơi nơi đầm Vân mộng, chờ Tín tay không đến yết kiến, sẽ bắt dễ hơn. (Tôi với tôi ganh tài, hại nhau, bạn với bạn, hạ nhau để lập công). Tín được chiếu chỉ, vào nói với Chung ly Mụi, Mụi đáp: “Xin chớ lầm, hôm nay giết tôi, chẳng mấy ngày sau Cao đế sẽ luôn tay giết tướng quân”, Tín không nghe, rằng như vậy Hớn đế phụ ta, chớ nay ta quyết tỏ lòng ta không bội phản Hớn đế! Mụi rút dao tự vận, Tín nạp đầu bạn cho vua nơi Vân mộng, Cao đế sai bắt trói, buộc tội oa trữ tôi giặc, nay lỡ cơ chớ thiệt không lòng giết Mụi, và tội mang lòng phản khó chối. Tín kêu oan, Cao đế bắt tội: tội đoạt ruộng của dân, tội dàn dá binh đao lúc thái bình, tội giấu đảng nghịch làm nha trảo. Tín thưa: Xưa hàn vi rất vi khuẩn, nay đặng phong vương, phải làm hiển tôn cha mẹ, ấy là hiếu, không phải tôn trọng; nay trần binh là vì phe đảng của Sở hãy còn, phải thị oai cho thiên hạ biết mà tránh, là củng cố oai vua, không phải tội, còn như Chung ly Mụi, vốn là cựu giao, xưa Mụi cứu khỏi chết, nay muốn ơn đáp nghĩa đền, Mụi là tướng có tài, định đem ra tâu lên để vua dùng, ân xá tội kia, tỏ ra biết thâu dụng hiền tài, không ngờ vì lời gièm siểm nên phải ra tay cho bệ hạ khỏi nghi, chớ không lòng nào phản nghịch.

Cao đế hỏi: “Xưa đi đánh Tề, sao chẳng đoái công Lịch sanh dụ hàng, lại kiểu chiếu giết đi, đặt mình làm Tề vương giả, phái chăng ý đã muốn soán? Tội thứ hai là khi trẫm bị binh Sở vây nơi Thành Cao, ghe phen cầu ngươi đến cứu, nhưng ngươi đành lòng ngồi chờ xem thắng bại, không có lòng cứu viện; tội thứ ba là khi trẫm phong ngươi qua Sở, ngươi trọn ngày buồn bực, có phải đã manh tâm phản phúc, nay trẫm ra tuần Vân mộng, biết ngươi sao sao cũng đến, nên bắt ngươi, để lâu sanh loạn, ngươi còn lời nào biện bạch?”

Đọc đến đây, tôi xếp sách lại, nghĩ tội nghiệp cho Hàn Tín. Khi Hạng Võ còn, Võ xin cầu hoà, “chia ba thiên hạ”, Tín không nghe, quyết giết cho được Võ, gom giang san về tay Cao đế, buổi nào còn là Tam Tề Vương, cả Hạng lẫn Lưu đều sợ và muốn làm thân, nay Hạng Võ chết rồi, Lưu Bang không nghĩ ơn, lại bắt trói và lên án đòi giết. Nơi đây Hàn Tín than một câu bất hủ: “Lời xưa nói không lầm: “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh; cao điểu tân, lương cung tàng; đếch quắc phá, mưa thần vong” (chồn thỏ hết, thì chó săn chết; chim rừng hết thì cung nõ dẹp; nước giặc phá, thì mưu thần mất). Nay thiên hạ đã định, thì tôi phải chết!”. Cao đế dụ dự, chưa nỡ giết, bèn thâu ấn Sở vương, trói Hàn Tín bỏ vào xe sau, giải về triều. Truyện nói khi xe giá đi ngang rừng, có kẻ tráng sĩ núp quyết giết Cao đế để trả ơn Tín, thư vậy Tín còn có người mến, sau nhờ Điền Khản tâu nài, Cao đế xét lại, tha tội chết cho Tín, phong Hoài âm hầu, để xem chừng động tịnh, một hôm nọ cho đế đòi Tín vào chầu, vua tôi tâm sự:

– Đã lâu không thảy mặt khanh, nay nì lớ nên triệu vào thăm một bữa.

– Thần, lúc phá Sở, nhiều khi hơn mười ngày chưa đặng ăn một bữa gọi no; nhơn tích trữ lâu, nay sanh bịnh, bay giờ vì ở không bịnh cũ lại phát, chớ thần cũng hằng nhớ tưởng thiên nhan, vì hiềm chẳng đặng thường thường triều kiến.

– Nếu khanh có bịnh, thì phải rước thầy điều trị, chẳng nên để lâu?

– Thần vì vô sự ở nhà không nhưng nên sanh bịnh, khi nào có việc làm thì ắt khỏi.

– Khanh là người có tài, đáng để dùng, khanh hay làm xong việc, không nên bỏ luông.

Nhơn lúc thung dung, Cao đế hỏi ý kiến Tín về các tướng tá, người nào ngăn được giặc, người nào trị được binh, nhiều ít và hay giỏi thế nào, Tín nhứt nhứt tâu bày, lời trần thiết đều hợp ý vua, vua lại hỏi:

– Như trẫm đây, trị binh được bao nhiêu?

Câu nầy là câu Cao đế hỏi dò ý Tín, nhưng rủi cho Tín quá trực ngôn, đáp:

– Bệ hạ trị binh, bất quá, tới mười muôn mà thôi!

– Còn như trẫm với khanh, thế nào?

– Muôn tâu, thần, đa đa ích biện nhỉ (Tôi thì nhiều nhiều lại càng thêm hay).

Cao đế cười lớn:

– Nhiều nhiều thêm hay, sao còn bị ta bắt?

Tín nhè nhẹ tâu nhưng đã lỡ:

– Bệ hạ không hay dùng binh nhưng có thực tài trị tướng. Vì vậy tôi mới bị bệ hạ bắt. Vả lại, bệ hạ là mạng của trời cho, chẳng có sức người nào bì kịp.

Một lời nói luỵ mát dạ vua nhưng không gỡ được mối hoài nghi của một Cao đế vừa ganh tài, vừa sợ Tín, và không muốn để một kẻ lợi hại như vậy sống chung một thời. Trực ngôn quá không nên, năm xưa tòi viết về Đỗ thập nương, tiếc cho nàng gặp chồng không xứng đáng, nay luận về Hàn Tín, quả ông không nỡ phụ vua, mà vua đã phụ người bề tôi tài quá cao, và Hàn Tín có tài thấy xa hiểu rộng mà xét lòng Cao để không thấu, và cái gì Cao đế không nỡ làm thì giả đi vắng để cho Lữ hậu ra tay, tay đàn bà dữ thật, và làm vua như Cao đế, nay đọc thấy chán cho vua chúa quá. Tuy vậy có sách để đọc cũng tiêu khiển được phần nào, và đọc qua sách Pháp tân thời lại thấy một gương na ná: (viết đến đây ngày 15-11-83).

Trong một quyển sách mua ở Chợ Trời, giá không hơn một tô phở, mà dạy khôn không ít.

Trong một quyển sách mua ở Chợ Trời, giá không hơn một tô phở, mà dạy khôn không ít L’Affaire Toukhatchevsky, của Victor Alexandrov (Robert Laffont, Paris) kể một chuyện không khác chuyện Hàn Tín cho lắm. Trận đệ nhị thế chiến 1939, ông trùm đỏ Staline sai hành quyết Thống chế Marcchal Toukhatchevsky và bao nhiêu tướng tài khác là do Hiler thi hành độc kế trừ bớt các tướng ấy trước khi ra tay quyết thâu đoạt Nga quốc. Câu chuyện tóm tắt như sau: Hai bạn chiến tranh từng cam khổ, gặp nhau, người bạn kết luận với Thống chế Toukhatchevsky: “Mầy (hai người quá thân lên xưng hô thư lúc ở chiến trường), Mầy, người ta đồn rất giống đế Napoléon 1erè, nhưng tao xem không giống chút nào – Sao vậy – Vì mầy không biết “làm đảo chánh!” – Ý, đừng nói bậy mà chết cả đám! “Nó” giỏi hơn tao – Ừ! Mầy lẫn kiêng mãi mà quên rằng “Nó” không dung tha mấy: một là mầy có thực tài hay giỏi hơn “Nó” nhiều; hai là mấy danh vọng hơn nó nhiều, mầy “công cao, đức dày” hơn Nó, và mấy chớ quên: một khi mình lấn lướt vừa về tài, vừa về quyền lực, thì “nó” khó dung tha mấy được. Và sở dĩ tao nói cho mầy để mầy tiên liệu là vì, nếu mầy bị hạ, thì tao đây “nó” cũng hạ luôn, và hỏi tao nói cho mầy lo cho mầy là tao nói cho tao và lo cho đời tao đây vậy”.

Google photos edit by Sơn râu

Và mặc dầu có người cho hay trước nhưng Toukhatchevsky do dự và rốt lại bị “nó” giết trước cho tiệt hậu hoạ, và chẳng những Toukhatchevsky bị giết mà mấy muôn tướng giỏi của Nga cũng bị hạ sát, chẳng qua là lầm kế Hitler bày phản gián kế ấy để trị bớt tướng có tài lực trước khi dấy binh đánh Nga khiến cho trận đệ nhị thế chiến ấy đã làm cho bốn chục triệu sanh linh của hoàn cầu, trong ấy có mười bảy triệu sanh linh Nga chôn vùi nơi bãi chiến trường – riêng tướng Toukhatchevsky, công trùm thiên hạ, 27 tuổi đã cực phẩm nguyên suý đến năm 1936, nước Nga đặt ra chức Thống chế (Maréchal) là để thưởng công các đại công thần phe võ thì Toukhatchevsky là Thống chế trẻ trung nhứt để rồi chết non chết yểu y hệt Hàn Tín mấy ngàn năm trước, và phải đợi kỳ đại hội 22è congrès, Khrouchtchev phanh phui việc kín ấy ra, mới phục hồi danh dự lại thì đã quá trễ tràng, nơi đây tôi không muốn lê thê dài dòng và xin mời độc giả tìm xem nguyên văn vẫn khoái trá hơn. Duy tôi xin nhắc chuyện nầy sao mà rất giống chuyện Khoái Triệt khuyên khéo Hàn Tín mà tiếc thay Tín không nghe, thật uổng, và câu chuyện tôi kể lại như vầy: Khoái Triệt, một mưu sĩ, nhơn thấy thiên hạ quyền cả đều vào tay Hàn Tín, một hôm thừa dịp vào dinh, bàn riêng với Tín rằng:

– Ngày trước, tôi có gặp một dị nhơn dạy tôi coi nghề tướng, vậy nay tôi xin xem tướng cho đại vương. Và như tướng của đại vương đây: Xem trước mặt của ngài, bất quá thì đặng phong hầu, còn xem cái lưng của ngài, thì sang chẳng biết đâu mà nói 1.

Hàn Tín giả chước không hiểu, hỏi:

– Tiên sanh nói như vậy, nghĩa là sao?

Triệt thưa:

– Xưa lúc thiên hạ mới dấy, khó mà ra sức duy lo miễn sao dứt được nhà Tần là đủ. Nay Sở, Hớn tranh hùng, làm cho thiên hạ mật gan đều thoa dưới đất, thây phơi ngoài đồng vô số kể, người nước Sở thừa dịp quét sạch năm nước, oai rúng đâu đâu, song nay Sở bị bức nơi Tây San, không bước tới đặng nữa, còn Hớn vương chiếm chỗ bền, cách trở núi sông, một ngày đánh mấy trận mà chẳng có công chi, ấy là lúc nhị vương đều khốn, mạng vận đều treo trong tay túc hạ, chi bằng lấy hai chỗ lợi cho mình, chia ba thiên hạ, đứng riêng một cõi, cái thế chẳng ai dám động đến, túc hạ chiếm chỗ cường là nước Tề, gồm dân nước Yên, nước Triệu, choán phía Tây thì thiên hạ ắt theo nhiều, vả lại “trời cho mà chẳng lấy thì bị tội, thời tới mà không nắm, thì ắt có ngày bị hại”, xin túc hạ hãy nghĩ xét cho chính”.

Hàn Tin dùn thẳng không quyết, lại nói:

– Hớn vương đối đãi ta rất hậu, há vì ham lợi, mà bội nghĩa hay sao?

Triệt thưa:

– Xưa Trương Nhĩ và Trần Dư kết bạn rất hậu, sau cũng vì tranh nhau việc Trương Am và Trần Trạch, mà Trương Nhĩ giết Trần Dư nơi phía Nam sông Đế Thuỷ, đầu mình phân ra hai xứ, nay túc hạ cùng Hớn vương có hậu cho bằng hai người ấy sao? Còn việc thì vẫn lớn hơn việc của Trương Am và Trần Trạch nhiều, nên tôi lo thầm cho túc hạ. Túc hạ tin chắc rằng Hớn vương chẳng hại, thì là lầm to. Phàm thú rừng tiệt thì ắt làm thịt chó săn, túc hạ phải lo xa mới đặng. Vả lại dũng lược mà rúng chúa thì ắt có ngày mình phải khốn. Công trùm thiên hạ, ấy là việc chặng thường. Túc hạ nay mang cái oai rúng chúa, cầm cái công chẳng biết sao mà thưởng, như thế mà muốn cho đặng an thân mãi hay sao?

Thật là lời lời châu ngọc, tiếc thay Hàn Tín có lẽ lúc ấy cũng đã mệt mỏi, muốn toạ hưởng và không lo xa, mãi tin nơi lòng tốt của Hớn vương nên hẹn cho mình suy nghĩ. Ít ngày sau, Triệt lại đến ra mắt, rằng: “Vả chăng “thời” là đầu mối việc, “kế”, là máy mọi việc. Hay nghe theo kế thì mình đặng an bền, việc ấy ít có lắm. Kẻ có trí thì phải quyết đoán mau lẹ, suy xét nhiều vẫn có hại. Phải biết xét cái kế nào mà máy mún, mà cái nào do số lớn trong thiên hạ thì chẳng nên bỏ qua, kẻ trí biết rồi mà chẳng dám làm, còn cái thời thì khó đặng, mà lại dễ mất. Thời ôi! Thời ôi! chẳng đến nữa? (Câu nầy bên chữ ắt là thâm thuý lắm, tiếc cho tôi chưa gặp). Hàn Tín không khác con cù lần, do dự mãi, không nỡ bội Hớn, lại nghĩ mình ghe phen lập nhiều công lớn, ắt Hớn vương không lẽ phụ mình, và cái đất Tề nầy cũng đủ mãn nguyện, miễn được lâu dài…

Khoái Triệt vừa muốn nói thêm, bỗng dưới trướng có mưu sĩ Đại phu Lục Cổ, nạt và bàn:

– Hễ muốn nói việc chi, trước phải xem cái thế, sau xem cái hình. Dầu cái thế mạnh mà cái hình yếu, thì đó chẳng phải là yếu; trái lại, cái thế thì mạnh mà cái hình thì suy, thì chưa phải là suy. Lấy theo lúc nầy mà luận, thì Sở mà thắng thì đó là cái hình thắng, còn Hớn mà yếu, thì do là cái hình yếu. Nay Nguyên soái (Hàn Tín) đứng giữa mạnh yếu thắng suy, thì còn chưa định. Nay Hớn vương tuy bất lợi, chẳng qua nhứt thời mà thôi, chớ cái thế trong thiên hạ thì đã rõ rệt đặng tám chín phần rồi, lòng người đã theo, mạng trời đã giúp dưới trướng Hớn vương vừa giúp đã có thêm Tiêu Hà đủ tài làm tể tướng mà lòng trung phong đổi, kẻ mưu kế có Trương Lương, Trần Bình, cơ biến khó lường, dõng có Anh Bố, Bành Việt, Phàn Khoái, cường có Châu Bột, Vương Lăng, Quán Anh, thảy đều là phúc đức chi tướng, ấy là cơ nghiệp muôn đời, Khoái Triệt là người gì, sao chẳng xem hình thế, lại dám lấy miệng lưỡi mà xúi điều bất chánh? Quả là vẽ hùm không nên lại hoá chó đây?

Khoái Triệt liệu nói không nghe, nên rút lui và giả điên cho khỏi hoạ.

Tôi ngu dốt, hiểu chẳng qua: đều có căn số, mấy ông mưu sĩ nói nhiều để lậu sự, và cái gương Hàn Tín là cái gương ngàn đời soi chmg, nói hoài khỏng dứt. Đàn bà có Đỗ Thập Nương lấy chồng không xứng, đàn ông xưa nay có Hàn Tín, oan ức trùm trời, bấy lâu mãi ham chức trọng quyền cao, chớ làm tôi phò vua không sướng chút nào, vì mấy ông vua, lúc hoạn nạn thì ôm vế, ngủ trên bắp đùi quan, khi sung sướng chỉ ham có vợ nhiều để sanh con bất tài và ít có vua nào được thọ, vì mãi ham tửu sắc.

Sau đây, tôi xin chép bài “Hàn Vương tôn phú” như sau, quyển sách nhỏ nầy, tôi mua năm xưa ở Hà nội gởi vô, giá 0$06 và do Xuân Lan (tức biệt hiệu của Nguyễn Văn Vĩnh), nay ít người còn giữ: nơi bìa in là “Hàn Vương tôn phú”(transcrit en quốc ngữ ét publié par XUÂN – LAN, 1ère édition, – prix 0$06, – Hà Nội, Hải Phòng, Imprimerie Văn Minh, Nguyễn Ngọc Xuân, 1913, – gồm sáu trương giấy khố 14 x 11):

Hàn vương tôn, Hàn vương tôn

Vũ phúc giáng thần, kim kê giáng thuỵ

Kinh sử năm xe chua chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;

Tôn Ngô bảy quyền làu thông, đè sóng xông mây là chí khí;

Hội chiến tranh ếch đã vang tai,

Bề thao lược ngọc còn giấu vẻ;

Một cần trúc vắt ngang dòng Lệ thuỷ, Hồng xích Lưu trong

phảng phất lẫn bên thành,

Ba thước gươm cầm lại chợ Hoài Minh, Hươu Hàm Cốc tưởng

đinh ninh nằm chốc đáy.

Đồ phong vân trước mắt ngắm nhơn nhơn,

Túi thao lược bên mình đeo nhẹ nhẹ!

Mùi tư vị thiếu gỏi Tần nem Hạng, nặng vì đường tri kỷ

Bữa sâng siu (tâng tiu) nên lỡ mấy mụ già

Bước trần ai còn áo Lã cơm Hề, xem hẳn cũng kiêm (sic) nhân,

Lời nheo nhuốc sá chấp chi con trẻ.

Thông sao nơi huỷ hạ hẹp hòi,

Xá chi chít lang trung thỏ tí.

Hăm hở quyết lòng theo giúp Hán,

Hang sâu chưa kịp nức mùi lan;

Ngậm ngùi đấu trí nhớ về Đông,

Đất cũ lại thẳng dong vô ký

Ngòi Hàn Khê từ giở (sic) bạn phượng loan,

Đất Ba Thục lại dứt đường phú quí:

Đủng đỉnh lên đàn Đại tướng,

Ba quân trông mặt khiếp uy thanh,

Khoan thai lĩnh ấn Nguyên nhung

Thiên tử nghiêng mình trao tiết chế.

Chín lần bàn bạc thâm mưu,

Muôn dặm danh đường trọng ký.

Đắp thành mở đường cố đạo, tịch quyến Tam Tần,

Hậu quân dương mặt đông quan, sấm vang bốn bề.

Dưới màn hằng tư tưởng Di Ngô,

Trên ngựa những băn khoăn Bạch Khỉ

Thuyền san sát khắp bầy sông Lâm tấn,

Nguỵ quanh thành quân kéo đen sì.

Trống long tong qua ải Tỉnh hình,

Triệu bốn mặt cờ bay đỏ choé.

Áng giáp dùng bài nhu viễn,

Lấy gang tấc dấy nẹt cường bang,

Quyết nang bày trận công nhân,

Đem bảy mươi thành dâng Xích đế;

Đứa Long Thư cương rắn hết hung hăng,

Thằng Vũ Thiệp lưỡi mềm khôn thỏ thẻ.

Tước lộc trót nhờ cơm áo Hán,

Đuổi tỳ hưu mong bắt lại đền ơn;

Giàu sang bao quản nước non Tề,

Xua muông cẩu kẻo ra lòng bội nghĩa;

Gẫm kim cổ so ba tướng cỏn xa.

Sức chiến đấu đọ bách phu nào ví.

Người biết hưng vong là thiên số,

Hán tyy chưa mở mang nền bách nhị,

Song mạng trời về có đức,

Vốn ngõ then từ chém rắn hay rồng;

Ai hay thành bại cũng nhơn mưu,

Hán khi còn lững thững đất Ba Xuyên,

Mà deo mình về mái tả;

Đã vén cánh quyết đè hươu bắt khỉ,

Ỏi ác biết lòng du tử,

Vậy khi đồng Định Đào, khi quân Tu Vũ,

Ra vào then khoá chẳng ngờ,

Trung trinh giữ tiết nhơn thần,

Mà dù chơi Vân Mộng, dù được Trần Hi,

Bối rối tóc tơ dám ngại.

Há có lòng nhlt Hi, Bố chút nào,

Tiếc thẹn mặt với Phàn, Đằng một mất.

Cơn tỉnh chấn nghĩ Tề điều biến trá,

Lời tự vương so đổ tiếng trượng phu;

Lúc trần binh e Sở mới thanh bình,

Thư mưu phản khéo oan lòng quốc sĩ;

Ơn nho nhỏ cũng lấy vàng mà báo đáp,

Đỉnh chung nầy đâu có lẽ thờ ơ,

Oán rành rành còn cho tước để sinh dùng,

Giang san ấy há lại lòng ngấp nghé;

Google photos edit by Sơn râu

Đường phú quí có sức nào chuyển được,

Nọ kẻ trướng màn khuya sớm,

Chốn Cốc thành còn phải lánh mình đi;

Áng công danh hầu ai để giúp đâu,

Kìa người then khoá bấy lâu,

Vườn Thượng lâm cũng còn lây tiếng luỵ;

Nhà thạch thất dẫu nhạt son mòn sắt,

Danh tướng quân đành muôn kiếp còn thơm;

Nền kim đao dù nguội lửa phai vàng,

Công tướng quân dẫu ngàn năm như vẽ.

Lời kết luận:

Tôi nay:

Xem pho cựu sử,

đọc truyện nhơn thần,

Thấy câu:

“Hán đắc thiên hạ, đại để giai Tín chi công”

Chưa từng chăng:

Thâm tích Hàn vương tôn chi anh tài,

Mà thầm trách Hán Cao Hoàng chi sai ky.

(Chung) (khuyết danh tác giả).

Theo khẩu khí và lời lẽ trong bài, tác giả có lẽ cùng tình trạng với Hoài âm hầu Hàn Tín, nên lời lời như oán như than, nói nửa tiếng mà không nói hết. Hàn Tín lúc đắc thời, ít người ưa, đến khi thất thế, thật là khổ tâm: khi còn sống, các tướng đồng liêu đều tránh mặt. Hai ông bạn Tiêu Hà, lúc nào chạy ngựa tìm mời ở lại, ông Trương Lương thì bán gươm dụ hàng; lúc lâm nạn dữ, hai ông không nghe có lời can gián, tệ nhứt là Tiêu Hà, chế ra luật pháp để trói buộc bá quan, và không có câu hờ giảm bớt. Ông Nguyễn Trãi cũng chiếu luật tru di, luật đời xưa là thế (16-11-83)

Tái bút.

Trở lại cái chết của Hoài âm hầu Hàn Tín. Ngày nay có luật nhơn đạo, con ngươi thở đặng nhiều hơn người xưa. Làm việc tày trời, bán dân hại nước, động động lên máy bay chở vàng xuất ngoại, thân yên như bàn thạch. Một tên đồ tể, giết không mấy trăm ngàn, cả triệu sanh linh vô tội, phút chót, thất cơ, trốn qua thế giới khác, cũng sống ung dung trót mấy chục năm rồi mới bị bắt; lại còn phải tốn tiền chở nó về xứ, tốn cơm nuôi nó chờ ngày đưa ra toà, tức nó còn thớ lâu lâu. Không như ngày xưa, có tài kinh thiên động địa như ông nầy, đem giang san làm nên cơ nghiệp cho họ Lưu, được ban chức vụn nơi làng sinh trưởng, Hoài âm hầu, nhưng vẩn bắt ớ lỏng nơi triều, rồi thừa lúc chồng đi vắng, lập mưu với nhau trước, dối gạt Hàn Tín, lức ấy không người nha tráo, theo các quan vào chầu bà Lữ hậu, độc hại nhứt là Tiêu Hà cho các quan ra về, bãi triều, thân đưa Hàn vào cung sâu rằng để cùng bàn việc cơ mật, bỗng hai bên cửa có sẵn mấy chục võ sĩ, bắt Tín trói lại, để phục quì nơi Trường lạc điện.

– Tôi có tội chi mà nương nương trói?

– Vua phong ngươi làm đại tướng, sau phong làm Tề vương, rồi cải phong là Sở vương, ngươi định mưu phán, song nghĩ ngươi có công, không nỡ giết, rốt phong ngươi làm Hoài âm hầu, như vậy vua chưa hề phụ ngươi, sao ngươi nỡ sanh tâm mưu với Trần Hi, xúi giặc kéo về đây, ngươi ở trong làm nội ứng, tội đã đành rành còn nói chi nữa?

– Tâu nương nương, lấy chi làm thiệt?

– Đã có đứa tớ của ngươi là Tạ công Trữ cáo.

– Ấy là lời đứa tớ bất trung quyết hại chủ, xin nương lượng xét lại!

– Vì phá dinh Trần Hi, bắt được thơ, quả chữ ngươi viết, chớ hàm hồ.

Hàn Tín không trả lời, Lư hậu sai đem chém, lúc gần thác, Tín than: “Giận vì lúc nọ chẳng nghe theo kế Khoái Triệt, hôm nay chết vì tay một đàn bà”.

Ác nhứt là đã bêu đầu, lại còn sai Tiêu Hà làm văn biểu, sai Lục Cố đem thủ cấp ra Hàm Đan dâng Cao đế, vua thêm giả dối, tiếc thì đã rơi đầu: “Kỳ tài trong thiên hạ, lập được nhiều công lớn, các tướng đây không ai bằng, danh tướng đời xưa cũng không hơn, từ đây chẳng còn ai giỏi hơn nữa…”

Duy một Khoái Triệt dám khóc trước thây thi chủ cũ, vua ban tước không nhận, chỉ xin lãnh đầu Hàn Tín về chôn nơi quê Hoài âm, lập Sở vương như trước, và được giữ phần mộ, tiêu dao ngày tháng, chẳng làm quan…

Tiêu Hà rồi cũng bị tù, may được tha. Bành Việt đã bị bắt tội, bị đày còn chưa biết thân lại kêu van với Lữ hậu để mụ nầy trở về mật tâu với vua, chiếu theo Hàn Tín, chém đầu thị chúng, lại lấy thịt làm mắm gởi nhắn chư hầu, ác không chỗ nói, rồi đến lượt Anh Bố và nhiều tướng khác bị hại, duy một Phàn Khoái, là em rể cột chèo, một Trần Bình, nhờ khéo nói và xét ân tình cũ mà khỏi tội, Lữ hậu lem nhem dâm ác, khen thay Hạng Võ anh hùng lúc Hồng môn không giết Lưu Bình, vì chê như vậy là hèn, lúc bắt được cha và vợ họ Lưu, không giết cũng không dâm loạn, kỳ dư đời ấy chê Tần là bạo, nhưng khi cờ về tay, thảy đều bạo hơn hoặc cũng như Tín: Hạng Võ sát sanh linh, làm tướng đánh giặc như Hàn Tín mấy phen giết người ân: tiều phu chỉ đường, Lịch Sanh tranh công, Chung ly Mụi, bạn cũ, tránh sao khỏi tiếng ác, trách một mình Lữ hậu cũng chưa là đúng. Làm tướng đời nào cũng vậy: Annibal, Tamarlen, Attila Cengs Khen, Napoléon, Staline, Hitler, Bạch Khởi, Ngô Khởi, các danh tướng đều dùng xương máu quân nhơn xây danh vọng cho mình, giết một vài người là sát nhơn, giết vô số người là anh hùng lưu danh thiên cổ, trong quyển binh thơ người Đức (De la Guerre) của Carl Von Clausewits, há chẳng nói “Chiến tranh là phải tàn sát địch thủ; không nói có giới hạn của bạo lực” (le but de la guerre est l’anéantissement de l’adversaire. Il ne peut y avoir de limites à Femploi de la violence). Muốn được nhơn, đừng làm nhà buôn, tránh làm nhà binh, ngồi một chỗ cũng khó tránh đạp nhầm con kiến? Lên cũng Hà, thác cũng Tiêu Hà, oan thay cho Hàn Tín. Nay xét về tài, trong một sách Pháp có nói máy đồng hồ Hàn Tín đã biết và phép điểm binh (Hàn Tín điểm binh) sau chỉ có một Napoleon là tài tương đương. Nhưng “quốc sĩ vô song là ông Hàn Tín” không phải một mình chịu điều oan uổng, duy trách sao từ ấy đến nay, thiếu chi kẻ sĩ, mà vẫn thấy rất ít thơ về Hoài âm hầu, chỉ vì còn sợ oai vua và kẻ cầm quyền (viết ngày 17-11-1983).

Nhắc ông Salan, sau qua đất Bắc Phi, xuýt chết dữ cũng vì chỏi với De Gaulle trì vì. Nghìn xưa gọi làm phản, ngày nay gọi làm cách mạng, danh từ đổi khác nhưng hành động vẫn như nhau. Salan lúc ở Đông Dương, qua đây từ 1924, rút về từ 5-1953, quả là một con cáo già, kinh nghiệm có thừa, biết ăn và rất sành cơm Việt, chơi với chúa xứ Mèo là Đèo Văn Long thì phải quen nhiều với Phù dung tiên nâu, từng nếm cơm canh và làm bạn với khắp nơi, ngồi máy bay viếng mặt trận không đếm xiết mấy ngàn giờ, lúc ban sơ được mời làm võ sư dạy chiến lược nhưng sau đánh không lại người tay ngang chưa học trường võ bị nào nhưng quân sĩ thảy thảy dũng cảm gan lì da sắt, quyết chí đuổi diệt quân ngoại bang về xứ, công bất thành, danh lỡ dở, thời cơm ngự với vua Bảo Đại bữa tiệc nhắp rượu đế có măng non mây giả măng tây (jeunes pousses de ro tin facon asperges), của Phan Thiết nấu với nấm, gà xáo măng, xà lách củ hủ cau 2, la sét có ổi, trái vải (lệ chi), măng cụt mà ông khen là ngon tuyệt cõi Á Đông (mangotstans si renommés, à la pulpe blanche et savoureuse, le meilleur fruit de 1 Extrême Orient pour les connaisseurs), công chiến mã gồm bao nhiêu ấy à, hoặc giả nên kể luôn bữa cơm từ giã vua xứ Lào, ông ghi lại bằng câu Pháp văn (IL.S.M. Roi de Louang Prabang me fait la surprise d’un plat typiquement laotien, le Khao Boun, riz de fête qui faisait mon régal…, un riz légèrement fermenté que les femmes pilent puis transforment en un vermicelle un peu épais que l’on fait bouillir dans de l’eau… Dans une grande marmite en cuivre elles font mijoter, avec beaucoup de sauce, du poulet coupé menu, du poissoii, des oeufs de Pa Beuk, sorte de caviar, race, et des morceaux de cochon. Letout se cuit longuement avec des herbes connues des grand mères seules et le fumet en est très odorant. Dans les bols placés devant nous, on sert le vermicelle qu’on recouvre du mélange fumant issu de la marmite en cuivre. Sur un plateau sont disposés de nonbreux bols contenant de la mang-ue en gelée, des cacahuètes, du soja, des piments rouges grillés et une sauce à base de gingembre, chacun arrose son bol suivant ses goûts, soit qu’il préfère le doux ou la piquant.) (trang 389). Ông tướng xuất thân trường võ bị Santt Cyr nầy, thật là lão luyện món ăn địa phương từng các cõi Đông Dương và cả món “quốc tuý” Lào, tui xin dịch là để kết thúc bài nầy, khiến bắt nhớ các món “bún bò Huế”, “bún nêrn pra-hok Cao Miên, và đây là dịch thoát mấy câu của tướng: “Hoàng thượng, đức vua Louang- Prabang tình cờ cho tôi cùng nếm món Khao-boun, đặc biệt đất Lào, và quả tôi được nếm một món ăn cô cùng hứng thú. Đó là món bún sợi dẻo nhẹo làm bằng gạo ngâm nước lâu, giã vào cối, bún ấy trụng trong nước thật nóng, và chan trong chén với nước sốt ngọt, có đủ thịt gà xắt miếng nhỏ, thịt nạc heo, cá tươi (rút xương) và trứng cá Pa Beuk đỏ dạ, thêm rau thơm mùi ngào ngạt ngon lành. Khi chan nước sốt múc trong nồi đồng nóng hổi xong rồi thì nêm thêm gia vị, nào xoài chua, nào đậu phộng đâm nhỏ, nào đậu nành, một chút gừng chua và tuỳ sở thích nêm thêm ớt đỏ phơi khô và rang lại cho thêm thơm, thêm khoái khẩu. (Tôi dịch không theo sát nguyên văn, vì muốn độc giả thấy đây là một bữa bún nước lèo muốn gọi đó là quốc tuý Miên- Lào-Việt-Thái, đâu được cả) (ngày 17-11-83).

Việc chiến tranh đại sự mà một bên là ta, cơm lưng buộc bụng, ba ngày đường ròng rã vẫn cơm khô muối hột, muối vừng đã là sang, trái lại Tây trước Mẽo sau, vẫn sáng lên xe hay máy bay, lót dạ bằng tô cà phê nóng, đánh giặc đếm giờ, trưa về gà quay thịt nướng bánh mì trắng phau, thay phiên nhau tắm biển, nghỉ về quê thăm vợ con, và bắt tôi nhớ lại thời kỳ có mặt ông tại đây là thời kỳ vàng son “phở mát” năm đồng chêm nửa ổ bánh mì giòn, và tô phở Turc, của anh Ba, thịt lớn miếng xắt thật to thật giá hời, vì đều là thịt nhà binh, thịt nhảy dù bán lén, thảo nào của tiền tuôn như túi không đáy, Paris rên là phải, và rốt cuộc xin hoà rút lui, đã đành!

Trên tám mươi năm tiếng là “bảo hộ” mà khi giặc Nhựt đến bên đít, muốn có một chiếc xe cứu thương, phải quyên tiền dân, nhưng khi Nhựt bại trận, bọn mũi lõ trở về đây, vẫn là lão tào cáo Tây đoan đi tìm bắt đứa nghèo lấy mùng màn áo rách của lão lúc bỏ chạy, hoặc tên cò tên lính thù vơ oán chạ, trả thù bắn giết kẻ vô cố muốn an thân xin giấy hồi cư, thảo nào chẳng có việc như hôm nay mắt thấy.

(Nghĩ thám thương cho Hàn Tín, lúc cuối cùng, liệu việc không thông. Lúc Hán đế hỏi là để dò bụng dạ, nếu biết cáo bịnh mà từ chối, rằng mình không có chi dùng đặng nữa, thì hoạ may vua còn không nghi, đàng nầy lại lấy câu “đa đa ích biện” mà đáp, lại nói nếu mình có việc làm thì lành bịnh ngay, và khi luận tài chư tướng, lại phô trương muốn vua dùng trở lại, chớ chẳng biết vua đang nghi kỵ, nói chi chẳng một ai đánh lại, quả vì một lời nói mà mình hại lấy mình. Lúc vua nghi tin Tín phản, thì không tra hỏi nữa, giao cho Lữ hậu định đoạt. Sao không nhớ đường đi xưa của Phạm Lãi? Trương Lương mượn cớ giả đau, tìm đường tu thân, càng thấy vua Cao đế lúc phùng thời, ai nói nào nghe, và nói nữa chỉ nhàm tai người đọc) (17-11)

Thay lời bạt: (chuyện cặp ghế Hồng lâu mộng, Thái sư ỷ).

Từ 27-3-1984, tôi đã nghỉ xả hơi, không viết; vì viết mãi, ba lăng nhăng, mình thẹn lấy mình, chữ nghĩa bao nhiêu mà viết hoài không thôi, khi hết chuyện nói, lại lôi việc không đáng nói ra, chỉ làm tội cho tai và mắt độc giả… Hôm nay, 12-4-84, tôi lại phá lệ, và tiếp tục viết mấy hàng nầy, có lẽ vì nghiệp chướng còn nhiều, không viết lại ngứa ngáy, vả lại viết mà không nghĩ việc xuất bản, viết để cho quên, thì tội gì mà không viết. Và rõ lại đâu có độc giả mà hòng sợ. Một điều nhận xét riêng, là tôi không thể viết trên giấy nháp trước được Mỗi khi tôi muốn gò gẫm, viết trước trên giấy nào, thì tôi bôi bôi xé xé, viết không thành câu, và tôi chỉ quen viết luôn trên máy chữ, cứ để cho mạch buồn sầu tuôn, “nghĩ sao viết vậy”, và như vậy mà có thể vơi vơi mạch sầu, và câu viết được tự nhiên như giọng nói của tôi ngày thường, tuy vẫn nhìn nhận, còn nhiều lợn cợn, hột sượng nhủn nhẳn, khi rút trang giấy từ trong máy ra, tự không bằng lòng, bụng vẫn muốn viết lại, sửa chữa lại, nhưng rốt cuộc thì vẫn đâu vào đó, trang giấy được thu xếp vào tập, đến khi dày cộm thì đóng lại thành tập, hoá ra tập nầy tập kia, bao nhiêu tập đều dồn vào tủ, chờ con mối con mọt xơi, hoặc giả chờ ngày nhắm mắt sẽ làm kén bó liệm đem theo, vả lại việc nầy càng thêm thấy tôi nay ngớ ngẩn, chớ độ nầy, “chết không đất chôn”, vẫn hoả táng là may, dễ gì có hòm có mồ hay mả? Lại lẩn thẩn nữa, lại nói đi nói lại nữa, chán quá, nhưng biết làm sao bây giờ? Sở dĩ tôi viết là để ghi lại đây mối tình muộn màng chứng tỏ mặc dầu số tuổi 83, tôi vẫn còn thèm còn muốn. Viết đến đây bỗng có khách đến nhà, đành bỏ dở, khi khách ra về thì cơn hứng đã đi qua, ngồi viết lại vẫn lợn cợn sượng chai, đời tôi, văn của tôi, ô hay, nó đứt nối bời rời, cơm nếp nết và hạt đâu sượng làm gương, cũng không phiền không trách.

Google photos edit by Sơn râu

Lần hồi tôi rõ lại, viết gọn và hay là văn của Nhất Linh, là người tôi hằng mến phục và tôn làm thày, thế mà cũng vẫn sửa đi sửa lại luôn khi, và hỏi anh ấy, ảnh vẫn tự thú nhận cùng đồng một bệnh, và xét cho cùng, chỉ tỷ dụ là xong, ai đâu tôi không rõ, chớ chính tôi, tôi chẳng bao giờ dám sính tài viết văn mà bòng tranh giải về tứ chương bóng bảy.

Tôi nói nãy giờ mà vẫn chra vào đề, đủ thấy sự lượt bướt của tôi sự lòng thòng lễn mễn khó tránh của nghề viết, và gẫm lại, tôi tự cười lấy mình, vì biết bao người hay giỏi hơn mình nhiều mà vẫn lầm vấp và phạm vào lỗi quá ham nói cho đầy đủ chi tiết, một sợi lông không bỏ, gương văn hào Pháp Guy de Maupassant là một và nơi đây, nhơn đọc lại táp “Chân dung Nhất Linh: (Văn xuất bản số 6-66) lại thấy con khóc cha, văn luộm thuộm cà kê thi lại mấy! Cha uống thuốc độc nằm nhà, không lo chạy về lo phương cứu chữa, để đứng đụt mưa dưới mái hiên họ và ghi chép tỉ mỉ cử chỉ vô tích sự một cô gái cùng cùng đứng dưới mái để tránh mưa như mình, cho hay quả thật: “Ai như nấy, chuyện người thì đáng, chuyện mình thì quáng là thường lề và thường lề hơn nữa là “ham chỉ trích người mà quên xét lỗi mình”, và “bắt lỗi người thì được, và ai thử bắt lỗi mình” lại giận là giận làm sao? (là giận cái nỗi gì?).

Tháng giêng năm nay, nhơn đến chơi nhà một bạn nhỏ chuyện nghề mua đi bán lại đồ ngoạn hảo, tôi bỗng thấy một cặp ghế trường kỷ chạm trổ rất khéo, toàn bằng gỗ trắc màu cánh kiễng đỏ au, đúng với đanh từ “hồng mộc” (hung mu) của người Trung Hoa và đặc biệt hơn nữa là nơi chỗ dựa, có cẩn đá hoa rất đẹp. Người ấy khoe mua giá 37.000 đồng, tôi lấy tình thiệt khen hai vật nầy hiếm có và giá như vậy rất đáng.

Nag không hiểu làm sao, khi về đến nhà tôi vẫn vờ vờ vẫn vẫn nhớ mãi cặp ghế, khó quên. Ngồi ăn cũng nhớ, nằm ngủ cũng không quên, nhớ và bâng khuâng bứt rứt, tưởng còn nặng hơn nhớ tình nhân bằng xương bằng thịt. Mà đã 83 rồi tuổi gần đất xa trời, còn bao nhiêu lâu nữa mà đèo bòng, hưởng thụ được bao lăm nữa, vả lại nhà văn không tiền… Thế rồi tối lại tìm cách xuống chơi nhà bạn, để có dịp nhìn lại hai món vật, thử xem “còn thương hay đã dứt”. Nhưng càng thấy càng thêm mê, sau rốt tôi liệu cách, thú thật với bạn “mua thì không tiền mua nổi”, nhưng còn cách “đổi với nhau đồ vật” và “chung cuộc”, y lựa và lấy của tôi chín món sứ nhỏ, đựng không đầy một hộp giấy con con, vả ngày 19-2-1984 y chở lại nhà cặp ghế, nhưng than ôi, cả hai đều gãy lọi một chơn, và mãi đến ngày 2-4-84, tôi mới nhờ thợ giỏi rước từ quê nhà ở Sốc Trăng lên sửa chữa từ 7-3 đến 2-4 mới thành khoảnh hết què hết lọi. Nhưng giá không phải 37.000 mà là “một cây nguyên” tức 70.000 đồng, mẹ ôi, sao mắc quá vậy, ban đầu nói 37.000 mà, và dạ thưa, 37.000 là giá khi mua, cũng khá lâu, duy chưa có thợ chữa nên chưa bày, và nay giá vàng là vậy vậy đó”.

Trước khi mua sắm, tôi đã cẩn thận hỏi kỹ người trong gia tộc chủ cũ cặp ghế, thì quả thật, hai vật ấy vốn trong gia đình tỷ phú nầy, nhưng nay người chủ đã từ trần, và hai vật nầy, trong gia đình đã bán từ lâu, nên giá cả không biết rõ.

Khi còn sanh tiền, người chủ nầy không bao giờ khứng bán hay vật ấy – cho hay mắt xanh chẳng phải “duy một kẻ này” và giá kia, nhứt là theo thông lệ vật bán, phải sửa chữa cho xong mới bán, tôi cũng không trông mong thu hồi chút ít gì được, vì bạn tôi đã có câu hờ dứt khoát, “nếu bác có chỗ nào không ưng ý, thì cháu có thể lấy cặp ghế lại, không hề gì đâu, và “quả bác có duyên nợ với cặp ghế ấy, chớ chủ cũ của nó chẳng bao giờ chịu rời nó lúc nào”.

Thôi, phải sao chịu vậy và quả mình có phần nên vật ưng ý nay đã về tay.

Viết đến đây, tưởng nên chấn dứt là vừa, nhưng như đã nói nơi đoạn trrớc, tôi phải “tự vạch lưng cho người đếm thẹo”, và không khai ra, làm sao người khác rõ những chỗ đáng chỉ trích của tôi.

Bình sanh, tôi dốt đặc cán mai, mà có tật ham nói chữ, tuy không mê tín dị đoan, nhưng rất tin những gì trong sách cổ đã ghi lại. Trong một quyển tôi đã đọc, tôi còn nhớ câu “thiên hạ chi bửu, đương dữ ái tích chi nhơn” (của báu trong thiên hạ, thường trời hay cho người có lòng yêu tiếc được, tức là người hay ham của báu, tức người biết gìn giữ nó, thì của báu hay về tay người ấy), nói cách khác và rẻ rề hơn, là “vật quí biết tìm người” (quí vật tầm quí nhân).

Và cặp ghế nầy quí tại chỗ nào? Tôi xin phân tách:

a) Về vật chất, ghế làm bằng gỗ trắc là một thứ cây mịn thịt, màu đỏ thâm, người Trung hoa gọi “hồng mộc (hung mu) và rất quý trọng, vì mối mọt không ăn, nếu để trong bóng mát thì chẳng bao giờ hư mòn, càng lâu năm càng lên nước, thâm đen bóng như huyền hay như sừng, ngày xưa rừng ta có khế nhiều nhưng nay rất hiếm có: cây chỉ bền chắc khi đúng tuổi, và người chúng ta không biết giá trị, nên đã phá hoại, đốn chặt quá sớm và không biết dung dưỡng nên cây không lớn kịp cho người dùng.

b) Riêng cặp ghế có hai miếng đá hoa, lớn cỡ 0,45x 0,65 (mét), là hy hữu, vì khảo ra thứ đá hoa nầy chỉ Miến Điện mới có, Miến Điện trong sử, xưa gọi “Đại Lý quốc” và vào đời nhà Thanh (1644-1911) đá nầy thuộc cống phẩm quí và rất được triều đình Mãn Thanh trọng dụng, để làm vật trang trí riêng cho trong Nội phủ và hàng quan lại, phải bậc tam công (thái sư, thái bảo, v.v…) mới được dùng, vì hai mảnh đá nầy, vân màu kỳ lạ, đúng là “kỳ thạch” cỡ như Lý Hồng Chương, Cung Thân Vương, mới có trong nhà. Kể về đá hoa, bên Âu châu, đá quí nhứt là đá hoa xứ Ý đại lợi, hoặc bên xứ Nga cũng có, nhưng họ chỉ chuyên thích đá toàn màu trắng, hoặc có vân, khi thêm đen khi đỏ hồng, và không như người Trung hoa, người Nhựt hay chúng ta đây, lậm mùi Lão Thích, nhiễm nặng huyền bí của thiên nhiên, và phải biết bao nhiêu triệu năm, đá mới trổ màu ngũ sắc và vằn vện kỳ lạ như đã thấy, và tuỳ sức tưởng tượng của mọi người, muốn gọi giống nhánh mai cổ thụ quằn quèo, giống chóp núi có ẩn cây cối, nhơn vật, dã thú hay giống chi chi cũng đều có thể được. Khi lập thể phái (cubisme) trong hội hoạ, kiểu Picasso, một ngày nào sẽ nhàm chán, có khi người Âu Tây sẽ đua thua tìm chơi kỳ thạch như vầy chăng?

c) Về nghệ thuật, thì hai ghế nầy quả là điêu khắc tuyệt diệu, người thợ mộc đã khéo tay chạm hình hai lượn sóng bủa sòi, trông như hệt, sóng cuộn và vòi nước cuốn lên như thật, trông thật là hùng vĩ, và triết lý thay, cạnh đầu sóng lại có hai con chim đứng trên mặt sóng, hình như chờ cá vọt lên thì táp, và giữa ngọn thuỷ triều phong ba nổi dậy, vẫn có con thú kỳ quặc không rõ đó lả thú gì đuôi như đuôi bò, chơn có móng như móng gấu, mình đầy những vảy tách kỹ như vảy rồng, thú có lông gáy như sư tử, và đầu con thú vẫn có hai sông nhánh gạc như sừng hươu nai, và giữa hai sừng hay gạc ấy, vẫn có một sửng khác rất cao, giống như sừng tê (tê giác), và trước mặt con thú lạ lùng không biết tên gọi đấy, lại chạm một vòi nước, từ mồm con thú phun ra, nhả hai cuốn thơ nổi trên mặt sóng, chung quanh có mây bủa sòi, thôi quả đúng rồi, đây là tích “long mã đồ thơ”, ngựa dưới biển hiện lên dâng sách quí, ẩn ý chúc người nảo làm chủ vật này, phải là bậc tam công mới xứng.

Tôi không lạm dụng “công” nào, tôi chỉ là một tên già ham chơi đồ kỳ lạ, và tuy nay mai gì chưa biết, nhưng cờ đến tay thì phất, và phải tận hưởng mới nghe cho.

Nhớ thêm câu chữ nữa, còn có câu “Thiên dương chi bì, bất như nhứt hồ chi dịch”, (một ngàn cái da dê, chẳng bằng một da nách con chồn), và nhớ thêm một câu nầy, thầy dạy từ lớp nhứt trường tỉnh Sốc trăng, “Ban môn lộng phủ”, xưa thày cắt nghĩa rằng: Tích đời trước có một người thợ mộc khéo, ở gần nhà ông Lỗ Ban (là tổ nghề mộc), nhưng lão thợ ta chưa biết tài ông khéo đến bực nào, cho nên một ngày kia, lão ta đẽo một lát rìu ngọt xớt, cái dăm dài đến mấy thước, và lão thợ biểu thằng con trai nhỏ kéo cái dăm ấy qua cửa ông Lỗ Ban chơi, cốt ý khoe tài hay khéo của mình. Bất ngờ ông Lỗ Ban thấy và biết tên thợ muốn khoe tài với mình, nên chi ông kêu thằng nhỏ vô nhà, rồi ông lấy cái rìu, nắm chóp thằng nhỏ, đẽo cái đầu nó sạch tóc, trơn tru như sọ dừa chỉ chừa cái chóp lại, (còn sạch và khéo hơn lúc nhỏ tôi bị chú Hỉ dùng dao cạo đầu) đoạn ông nói với thằng nhỏ ấy rằng: “Mầy đem cái đầu về nói với cha mầy rằng tao đây đã đẽo cái đầu giùm kẻo cha mầy tốn tiền mướn thợ cạo!”.

Và cũng từ ấy tên thợ mộc mới kiêng tài ông già lối xóm và chịu ông là tổ nghề. Tuy vậy chớ làm gì cho hết bọn láu cá biết nhom nhem và khoe tài ỏm tỏi, mà tôi đây là một. Và cũng vì tôi chẳng bao giờ giấu nghề, nên hôm nay vọc vạch viết lại bài nầy cảnh cáo nhưng ai ưa “ban môn lộng phủ” và không biết lựa chỗ mà múa rìu, hễ cái gì của mình là quí là hay, là đắc tiền, và “văn có mùi, mà khoe văn thơm phân phức, mít lùi vẫn không bì” (viết ngày 12 và 13-4-1984). (Người Tàu biết chơi đá từ hèn lâu, truyện Tàu đều nhắc đến ngọc, Tây Du, Tôn Ngộ Không từ viên đá thành hình, Thuỷ Hử, Thái Kinh chơi ngọc, Dương Chí giải đáp Tống Địch Thanh có ngọc oan ương, Bảo Ngọc khi sanh cũng cầm ngọc và Mễ Phi bái thạch, v.v…, thật là làm sao kể xiết)

d) Còn một đoạn chót, vì có tật viết không giấy nháp nên xuýt bỏ sót, là ghế chạm kiểu “mắt tre” nơi đai dựa mới rõ rệt mắt trúc mắt tre rõ ràng, vì ngày xưa bên Trung hoa, đổ từ từ khí và vạn vật trong nhà, đều bằng tre và trúc, vừa dễ kiếm, rẻ tiền, thêm bền chác vô song, vừa chạm “trước” (tra), thêm chạm “mai và điểu” cho đủ bộ vận “mai trúc điểu” và chạm vách thành xây gạch kiên cố một bên là cửa vòng nguyệt có cẩn đá hoa, một bên là cửa “bán nguyệt” vẫn có đá hoa lộng khéo, trên có nóc đình tạ lộng lẫy, đúng là gợi kiểu “hồng lâu mộng” và một lần nữa, với lối chạm nầy, tôi mạnh dạn quả quyết cặp ghế nầy là của một đại thần cuối Thanh (lối 1880-1900) khi bộ tiêu thuyết và lối lãng mạn của Tào Tuyết Cần đang thạnh hành bên Trung hoa, tức thuở Mạt Thanh và đã hơn nay ngót trăm năm không sai.

Cặp ghế nầy là hai vật ngoạn hảo tốt, thay cho lời bạt của tập ngô nghê nầy.

Tái bút. Bài viết nầy dứt nơi trên với câu: “Cặp ghế… thay lời bạt”.

Đó là lộng ngôn, lộng bút. Hôm nay, 14-4-1984, tôi lấy các trang đánh máy, góp lại định đóng thành tập, tôi mới thấy cái lớn gan của tôi, dám “lộng giả thành chơi”, viết hổ lốn, nay sắp xếp lại cũng không có trật tự chút nào, bài viết trước, để lại sau, và bài viết vừa xong lại đời ra trước, vì vậy trong lời bạt nầy, xin cho tôi lựa nhan và đặt lại là “Tạp pín lù”, một món ăn đặc biệt của Miền Nam, khảo ra, gốc của người Tàu, họ dồn chung lòng gà lòng vịt, sứa giòn và gan heo tươi, nấu đỏ, gọi đó là ăn cù lao, tạp pín lù. Lù là cái lò lửa, nói nghe dài dòng không bằng thấy tận mắt, thử đến các cao lâu khách thì biết ngay!

Những bài tôi viết đây là tuỳ hứng, gặp đâu viết đó, và mỗi bài, thường có ghi ngày cao hứng viết để mà quên sự đời. Tỷ như tôi thuở nay tôi vốn rất ké về thi phú, nhưng vừa rồi, nhơn sắm được cặp ghế tôi thích thú quá, nên đã nghĩ ra tám câu như sau, đóng dấu “khúc quanh năm tuổi 83” và cũng xin chép lại đây để cùng cười cái ngông của một tên già không sợ chết. Thơ rằng:

Đường còn khuỷu chót, bỗng long đinh!

Qua khỏi “83” tiếng nổi phình!

Vách sến treo thơ “cây gậy quéo”

Cửa sài, thượng bảng “lão thư sinh”.

Hỏi ai hay thích câu kỳ cú,

Còn nhớ hay quên chuyện chúng mình.

Việc lớn việc con trăm việc phế.

Chậu đồng nuôi thúc, nấu hay ninh?

Nhơn lục soạn giấy má cũ, tôi bỗng gặp một bức vẽ đề ngày 16-2-1921 tôi mừng quá lấy treo lên vách trên cặp ghế nọ, vì bức vẽ ấy vốn là của tôi phác hoạ từ năm còn học nơi trường Chasseloup và đã được giáo sư dạy vẽ là Mn Gioan chấm điểm 8/10, tôi không ngờ đó là tiền định, năm 1921 tôi đã tưởng tượng và nghĩ ra canh năm nay 1984, tôi đây 83 tuổi, và trên bức vẽ, mặc dù nét còn non nớt nhưng đã nói đủ những gì tôi ao ước và đã thành tựu, này ao cỏ lác có mấy lá súng lơ thơ, cạnh bên ao là một túp lều “lý tưởng”, lợp lá xệch xạc nhưng chứa biết bao hy vọng của một tên thư sinh chưa đầy 19, xa xa có mấy cây cau mơ mộng, và đặc biệt hơn hết là khúc quanh vô định, xen giữa hai lùm cây đen ngòm, rõ là cái “virage à 83” mà tôi đang vui hưởng. Hai đời vợ cưới đều đi đến kết quả ly thân, một cuộc “chắp nối” bất ngờ lại thành công mỹ mãn, (xin lỗi em Năm Sa Đéc), bao nhiêu của tiền dành dụm đều theo Tư trở về cát bụi, công danh cũng chẳng ra gì, có còn lại chăng là mớ sách cũ, mớ đồ cổ “trái mùa”, mớ sách đã in, mớ tóc bạc và mớ giấy lộn này, rứt bỏ chưa đành mà xé đi thì uổng, uổng. Rõ là lẩn thẩn, rõ là lời bạt vô duyên (viết ngày 14-4-1984).

——————————–

1Tôi tiếc không đọc được bản chữ Hán, duy nhờ may thời mua gặp sách dịch sẵn, câu nầy nguyên văn là “Tướng quân chi dịch, bất quá phong hầu, tướng quân chi bối, quí bất khả ngôn”. Câu nầy nói theo chữ nghe kêu và sướng hơn dịch ra nôm. Chữ “bối” là lưng ẩn ý hiểu day lại tức là bội phản, rõ ràng Khoái Triệt thấy xa, xui Tín trở mặt, làm phản, chia ba thiên hạ với Hạng vương và Hán vương, sướng hơn giết Võ, để bị hại về sau, uổng công dày dọn chỗ cho người khác nghị… (Về sau khi Hàn Tín bị phơi thây ngoài chợ, chỉ có Khoái Triệt dám đến ôm thây khóc tiếc, ai dám nói bên học trò (mưu sĩ) nhát gan? Duy Tiêu Hà, đứng trong Tam Kiệt, làm ra luật, không một lời, rõ là thỏ đế.
2Củ hú dứa, theo tôi ngon ngọt hơn. Củ hù cau, dùng nhiều, làm chóng váng, gọi say máu ngà

Hoàng Hải Thủy – Những Người Đọc Duyên Anh

baotreonline.com

Trần Vũ

May 18th, 2024

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Chuyên Đề Duyên Anh 

Phần 3

Trước 75 không học sinh miền Nam nào không mê Duyên Anh, cả nam sinh và nữ sinh. Tôi trong số các thiếu nhi đó, mê mẩn Dzũng Đakao, Gấu Rừng, Bồn Lừa, Cỏ Non, Cầu Mơ, Hoa Thiên Lý, Đêm Thánh Vô Cùng… Lớn thêm chút, tập mơ mộng với Phượng Vỹ, Cám Ơn Em Đã Yêu Anh, Hôn Em Kỷ Niệm, Về Yêu Hoa Cúc… nhưng sang đến loạt truyện du đãng thì quá khủng khiếp! Đám học trò ở Lứa Tuổi Thích Ô-Mai đang trên Mây Mùa Thu đột ngột bị xô xuống vực thẳm của Điệu Ru Nước Mắt, Trần Thị Diễm Châu, Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang, Kẻ Bị Xóa Tên Trong Sổ Bụi Đời…

Thập niên 70 tôi còn là độc giả trung thành của Hoàng Hải Thủy. Ông phóng tác tiểu thuyết nào là tôi thuê quyển ấy. Kiều Giang, Đỉnh Gió Hú, Như Chuyện Thần Tiên, Thầy Nô (James Bond 007), Mang Xuống Tuyền Đài… Tôi ưa nhất Ngoài Cửa Thiên Đường do Hoàng Hải Thủy phóng tác từ tiểu thuyết Maldonné của Boileau-Narcejac; câu chuyện một nhạc sĩ tên Vũ Ngọc Khôi được thuê giả làm chồng sắp bị ám sát của một thiếu phụ xinh đẹp sống trong ngôi biệt thự sang trọng ở Đà Lạt… Văn mềm mại lôi cuốn, du dương tiếng vĩ cầm bên khóe mắt gợi tình trong soi mói canh chừng của tay quản gia cục mịch và chiếc bóng ẩn núp rình rập của người chồng đích thực…

Hoàng Hải Thủy cùng làm báo với Duyên Anh. Tháng 6-1972 trên tạp chí Văn Học số 149, Hoàng Hải Thủy viết về Duyên Anh. Là tài liệu giúp khám phá cách các nhà văn ở Sàigòn quan sát đồng nghiệp. Chuyện của một thời.

Hoàng Hải Thủy sinh 1933 tại Hà Đông và mất ngày 6 tháng 12 năm 2020 tại Hoa Thịnh Đốn.

Bút hiệu: Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn.

Đã xuất bản: Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Đực Tây Cái, Chiếc Hôn Tử Biệt (tái bản với tên Đêm Vĩnh Biệt), Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Lắm Cắn Đau, Bạn và Vợ, Môi Thắm Nửa Đời, Người Vợ Mất Trí, Định Mệnh Đã An Bài, Kiều Giang (phóng tác từ tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte), Gái Trọ, Đỉnh Gió Hú (phóng tác từ Wuthering Heights), Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef), Điệp Viên 007 Thầy Nô (phóng tác từ Dr. No), Máu Đen Vàng Đỏ (phóng tác) v.v.

[Trần Vũ]

Một ngày rất gần đây, đúng ra là cách đây một tháng, tôi có dịp nói chuyện với một thiếu phụ duyên dáng ái mộ tiểu thuyết và thích gặp những người viết văn. Những ai quá mê tiểu thuyết thường mê luôn cả người viết những tiểu thuyết làm mình say mê. Họ tưởng tượng ra người viết như những siêu nhân hoặc phải hào hoa phong nhã, tình tứ lắm, căn cứ trên những tác phẩm mà nhà văn đó viết. Theo như kinh nghiệm của tôi, thường thì những cuộc tìm gặp này giữa người viết và người đọc chẳng đưa các đương sự đi tới đâu, ngoài việc làm cho người đọc thất vọng vì người viết không giống với mẫu người hào hoa mà họ tưởng tượng và người viết bị mất một số thì giờ vô bổ.

Người thiếu phụ độc giả tôi nói tới đây là người Huế. Và đàn bà Huế có lẽ là những người đàn bà đa tình nhất 3 miền Việt Nam. Nàng nói với tôi là nàng lãng mạn và nàng mê tiểu thuyết lắm. Nàng là nữ sinh Đồng Khánh và nàng nói đến Duyên Anh:

– Thời còn đi học, em mê tiểu thuyết Duyên Anh lắm. Lạ kỳ là cả lớp em có 45 đứa thì cả 45 đứa đều mê tiểu thuyết Duyên Anh. Em mê đọc Duyên Anh suốt thời gian em còn đi học, đến khi em lấy chồng, có con thì em hết mê đọc Duyên Anh. Bây giờ đôi khi em cũng đọc những truyện mới của Duyên Anh nhưng em không còn thấy hấp dẫn em như trước nữa…

Tôi cũng nghe nhiều người trưởng thành khác nói với tôi về tiểu thuyết Duyên Anh: “Truyện của hắn có gì lạ đâu mà nghe nói bán chạy quá vậy??” Những lời phê bình này về Duyên Anh làm cho tôi thấy rõ ràng tiểu thuyết của Duyên Anh đúng là tiểu thuyết của tuổi thơ. Tuổi thơ và của tuổi học trò. Khi hết còn thơ ấu, khi hết còn là học trò, người ta không còn là độc giả của Duyên Anh nữa.

Như người thiếu phụ Huế nói trên đây về Duyên Anh. Thời nàng còn là nữ sinh cách đây đã 10 năm. Cả lớp học của nàng có 45 nữ sinh thì cả 45 nữ sinh đều mê tiểu thuyết Duyên Anh. Làm gì có nhà văn Việt Nam nào kể từ ngày Việt Nam có tiểu thuyết đến giờ, chiếm được số độc giả học trò đông đảo đến thế??

Người thiếu phụ đa tình mê tiểu thuyết ấy bây giờ đã có chồng, có con, nàng vẫn còn đọc tiểu thuyết nhưng nàng không còn đọc những tiểu thuyết viết về tuổi học trò của Duyên Anh nữa. Nhưng lớp thiếu nữ sau nàng, lớp em nàng, tiến lên thay thế nàng trong những học đường và lớp nữ sinh đó lại tiếp tục say mê đọc tiểu thuyết Duyên Anh. Khi nào nước ta còn những học đường và trong học đường còn những nữ sinh mơ mộng – mà nữ sinh nào mơ mộng chẳng nhiều thì ít, mơ mộng là nghề của nữ sinh mà – ngày đó tiểu thuyết của Duyên Anh vẫn còn độc giả và do đó vẫn bán chạy.

Google photos edit by Sơn râu

Riêng trong gia đình tôi cũng có hai độc giả trung thành của Duyên Anh: một là con gái tôi, Kiều Giang, năm nay 16 tuổi, nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng, hai là đứa con trai út của tôi, Hải Triều 10 tuổi, học trường Mai Khôi. Mỗi lần thấy tờ Tuổi Ngọc giới thiệu một tiểu thuyết mới của Duyên Anh là Kiều Giang thúc tôi đến tòa soạn lấy về. Trong tủ sách riêng của Kiều Giang, tất cả những tiểu thuyết của Duyên Anh nằm ở chỗ trang trọng nhất. Mới đây chú Hải Triều cũng bắt đầu bày tỏ sự mê đọc tiểu thuyết của Duyên Anh. Hải Triều cũng đòi tôi đi xin chú Duyên Anh những bản tiểu thuyết cho riêng chú. Chú không khoái đọc chung với chị Kiều Giang.

Ở Việt Nam, kể từ ngày có tiểu thuyết tới giờ, cũng có nhiều nhà văn viết về tuổi học trò lắm chứ? Nhưng vô tư mà nói, chưa ai được học trò mến và đọc nhiều bằng Duyên Anh. Tôi nghĩ rằng học trò, từ 10 tuổi tới 16, 17 tuổi, đều là độc giả của Duyên Anh. Và học trò con gái thường bỏ tiền ra mua tiểu thuyết hơn học trò con trai. Nam sinh có nhiều thứ giải trí cần dùng đến tiền hơn là nữ sinh. Và đó là điều giải thích tại sao tiểu thuyết của Duyên Anh lại bán chạy. Trong khi những tiểu thuyết khác của những người viết cũng nổi tiếng nhất nhì cõi đời này chỉ in được nhiều lắm là 5,000 quyển, bán được chừng 3,000 quyển trong mấy tháng phát hành đầu đã được coi là chạy lắm. Những tiểu thuyết của Duyên Anh được in ở nhà in Nguyễn Đình Vượng lên tới 10,000 cuốn. Và những nhà phát hành Đồng Nai, Sống Mới sẵn sàng trả hết tiền trước để mua hết số 10,000 cuốn truyện đó của Duyên Anh, một việc mà họ rất ít chịu làm với những nhà văn khác. Nhiều nhà văn in sách ra đến năn nỉ họ mua giùm và vì cảm tình lắm, họ chỉ mua mỗi lần chừng 100 cuốn với lời hẹn nếu bán hết sẽ lại mua thêm.

Nhà phát hành không dại gì bỏ tiền ra mua tiểu thuyết để cất vào kho, mua với mục đích là làm cho ông bà tác giả đó hài lòng. Họ chỉ chịu mua khi tiểu thuyết bán được và họ có lời. Theo sự hiểu biết của tôi, cũng chưa nhà văn nào kiếm được nhiều tiền nhờ tác phẩm bằng Duyên Anh. Nhờ có tiền và có óc tính toán, không chịu để cho các nhà xuất bản đứng giữa bóc lột văn tài của mình, làm giàu trên tác phẩm của mình một cách phi lý, Duyên Anh, trong những năm gần đây, tự xuất bản lấy tác phẩm của anh và nhờ vậy, số tiền anh thu về tăng lên gấp bội. Riêng cuốn Nhà Tôi, Duyên Anh in lấy, bán lấy và thâu tiền lời chừng 1 triệu đồng. Đó là chưa kể số tiền 400,000 đồng bán bản quyền Nhà Tôi để quay phim. Cũng cuốn truyện Nhà Tôi ấy nếu anh đem bán cho nhà xuất bản, và nhất là nếu anh túng tiền, bản quyền tác giả nhà xuất bản trả chỉ nhiều lắm là 50,000 đồng. Và cũng quyển Nhà Tôi đó đem bán cho nhà làm phim, nếu Duyên Anh túng tiền và cần tiền “bao nhiêu cũng được miễn là chi ngay” như đa số chúng tôi, tiền bán cũng chỉ nhiều lắm là 100,000 đồng.

Tôi quen biết với Duyên Anh từ lâu lắm rồi, từ ngày anh mới bắt đầu viết tiểu thuyết ở nhật báo Xây Dựng và chưa nổi tiếng lắm. Sự giao du thân mật ấy giữa Duyên Anh và tôi kéo dài đã 10 năm. Thời đó chúng tôi cùng bắt đầu viết loại phiếm chửi bới trên nhật báo, anh ký tên là Thương Sinh và tôi ký Gã Thâm, và giữa Thương Sinh và Gã Thâm từng có lần chửi nhau trên báo tưng bừng.

Google photos edit by Sơn râu

Hoàng Hải Thủy thập niên 60 ở Sàigòn

Kể về tính xấu – nếu muốn – thì Duyên Anh có hơi nhiều, nhưng ta nên gọi đó là những khuyết điểm hơn là những tính xấu. Khuyết điểm nặng nhất của Duyên Anh, theo tôi, là anh thành công trong nghề văn quá sớm, quá dễ. Anh lại có tài viết hơn người nên anh cóc cần ai cả. Sự kiện này rất khó chịu cho những ai phải cộng tác với anh trong những tờ do anh chủ biên. Chúng tôi có cảm giác bị anh coi thường, có bài cũng được không viết cũng chẳng sao, anh ôm lấy viết hết. Do đó, anh không đối xử với anh em chúng tôi tốt bằng anh Chu Tử, anh Nguyễn Mạnh Côn. Sở trường của con người ta nhiều khi cũng chính là sở đoản. Bởi vì viết được hơn người. Duyên Anh chỉ là người viết tốt nhưng chưa phải là người chủ biên tốt. Tuy nhiên, hiểu rõ Duyên Anh hơn nhiều người, tôi tin rằng nếu Duyên Anh gặp nhiều thất bại tan tành như anh Chu Tử chẳng hạn, hoặc khi anh 50 tuổi như anh Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh sẽ quý anh em hơn vì thấy cần anh em hơn. Chỉ khi đó anh mới trở thành cái cột trụ vững chắc cho một tờ báo. Duyên Anh hãy còn trẻ lắm. Năm nay anh chưa tới 40. Tôi nghĩ rằng anh sẽ còn có dịp học hỏi nhiều ở đời.

Duyên Anh tự kiêu. Điều đó chẳng phải là bạn thân của anh ta cũng có thể biết. Phần nào sự tự kiêu của anh có lý. Với một số vốn học ít ỏi, một thân một mình di cư vào Nam, thời gian đầu vào Sàigòn anh phải sống trong Nhà Hát Lớn cùng với cả ngàn gia đình đồng bào di cư nghèo khác, mỗi gia đình chỉ chiếm được một cái chiếu. Duyên Anh, khi ấy chỉ là Vũ Mộng Long, đã phải làm nhiều thứ nghề lặt vặt để kiếm sống. Có lần tâm sự, và dường như chính Duyên Anh đã viết trên một hồi ký nào đó của anh, Duyên Anh nói với tôi rằng cho đến năm anh ngoài hai mươi tuổi, chưa bao giờ anh ôm mộng trở thành văn sĩ. Anh viết truyện ngắn vì một trường hợp ngẫu nhiên: Năm 1961, 1962 gì đó anh xin được một chân thư ký trong Nha Tổng Giám Đốc Thanh Niên thời đó do ông Cao Xuân Vỹ nắm. Nha này xuất bản 1 tờ nguyệt san với tiền của chính phủ, báo in ra phát không cho những Ty Thanh Niên tỉnh và chàng thư ký trẻ tuổi được dùng vào việc ấn hành tờ báo. Chàng đọc bản thảo và thấy rằng thiên hạ viết dở quá, mình cũng có thể viết được như thế và chàng bèn viết. Rồi truyện ngắn đầu tay của Duyên Anh được nhà văn Nguyễn Mạnh Côn trang trọng đăng ở tờ Chỉ Đạo. Truyện ngắn này nếu tôi nhớ không lầm, là truyện “Con sáo của em tôi”, một truyện viết về tuổi thơ và loài vật, cũng giống như truyện “Chim hót trong lồng” của nhà văn Nhật Tiến.

Rồi cách mạng 63 cho hai anh em ông Ngô ra nghĩa địa và cho “Lãnh tụ Thanh Niên Cộng Hòa” họ Cao đi tù, và chàng thư ký Vũ Mộng Long được giới thiệu tới làm việc với linh mục Nguyễn Quang Lãm, chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng. Thoạt đầu Duyên Anh viết tiểu thuyết trang trong. Những Luật Hè Phố, Dấu Chân Sỏi Đá, Điệu Ru Nước Mắt được sáng tác trong thời gian này. Rồi các nhật báo sau cách mạng đi vào thời kỳ chửi bới và vì nhu cầu, Duyên Anh viết thêm mục phim ở trang nhất ký tên là Thương Sinh. Tuy nhiên, mãi tới khi về cộng tác với tờ Sống của Chu Tử, cái tên Thương Sinh viết phóng sự nham nhở mới nổi bật lên và được cả nước biết.

Trong chàng trẻ tuổi Vũ Mộng Long có hai người viết: Duyên Anh và Thương Sinh. Hai người viết ấy khác hẳn nhau. Người viết Duyên Anh chuyên viết về tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, người viết Thương Sinh chuyên moi móc những chuyện bẩn thỉu của người đời, tàn nhẫn và sống sượng đến phát sợ. Nhưng người viết Thương Sinh chỉ là giai đoạn. Loại phóng sự nham nhở chỉ sống được trên những nhật báo và dù có viết hay mấy cũng không thể trở thành tác phẩm. Vũ Mộng Long biết rõ hơn ai hết điều đó và anh đã khai tử không tiếc thương con người Thương Sinh trong anh để chỉ còn sống với con người Duyên Anh./.

HHT

Văn Học – Số 149 tháng 6 năm 1972

Nói chuyện với Duyên Anh (1972)

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on May 11th, 2024

Chuyên Đề Duyên Anh

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Phần 2

Tôi gặp Huỳnh Phan Anh một lần ở Paris, qua nhà phê bình Đặng Tiến. Khác Duyên Anh bỡn cợt, Huỳnh Phan Anh đạo mạo suy tư. Chúng tôi đến quán La Closerie des Lilas (Vườn Tử Đinh Hương) nơi có những bàn gỗ xưa với tấm bảng đồng ghi “Bàn này Lénine từng ngồi”, trên mặt bàn khác “Chỗ này Karl Marx từng ngồi.” Closerie des Lilas là quán trang trí thập niên 20 mà hầu hết các nhà văn đều muốn tôi dẫn đến. Tôi chọn bàn Lénine. Huỳnh Phan Anh phát tay: “Chỗ khác đi.”

Chúng tôi ra quán Le Procope ở số 13 Rue de l’Ancienne Comédie trong quận 6, sát cạnh Place Odéon. Huỳnh Phan Anh gật gù: “Tên đường thú vị nhưng sao chọn đây?”

Rue de l’Ancienne Comédie dịch sang tiếng Việt là đường Hài Kịch Cũ. Còn tên quán Le Procope gốc Hy-Lạp Prokope mang nghĩa thạnh đạt, thịnh vượng, thăng tiến… Tôi trả lời: “Vì anh không ưa Lénine. Le Procope là quán xưa nhứt Paris, có từ 1686. Ba trăm năm rồi đó anh.” Chúng tôi gọi Coq au Vin gà hầm rượu chát và Pot au Feu là tổ tiên của món phở, những món truyền thống. Uống với Hautes Côtes de Beaune.

Google photos edit by Sơn râu

Tôi nói: “Em có đọc bản dịch Heinrich Boll của anh.” Huỳnh Phan Anh hỏi: “Cậu có đọc truyện tôi viết?” Tôi lắc đầu: “Không nhiều. Ba tập Phía Ngoài, Cánh Cửa Sau Cùng, Người Đồng Hành.” Huỳnh Phan Anh không hỏi cậu thích ai hay cậu thấy ai hay. Vì tập Phía Ngoài viết chung với Nguyễn Đình Toàn và tuyển tập Cánh Cửa Sau Cùng nhiều tác giả. Huỳnh Phan Anh cũng không hỏi cậu biết tiếng Pháp vậy cậu đánh giá bản dịch của tôi như thế nào. Tế nhị ấy khiến tôi cảm mến nhà văn có gương mặt nghiêm khắc.

Đến tráng miệng, Huỳnh Phan Anh hỏi: “Cậu biết vì sao văn chương Việt Nam tuềnh toàng?”

Tôi gật: “Không có quán Le Procope.”

Chúng tôi cùng cười vì đồng cảm. Không có gì hiện diện trên đất Việt lâu hơn nửa thế kỷ. Hai ba thập niên đã cực hiếm. Chính vì chiến tranh, cách mạng liên tục và triều đại này trảm triều đại kia, thiêu hủy hết thảy mọi thứ cho không còn tàn dư. Cùng với các chính thể là thước đo văn hóa, nền tảng đạo đức bị thay đổi xoành xoạch. Chưa kịp an vị Trang Tử là chuyển sang thẩm mỹ Tư sản rồi vụt cái là thẩm mỹ Mao Trạch Đông trước khi cọp Sô-Viết. Văn nghệ toán loạn!

Chúng tôi chia tay, hẹn gặp lại nhưng không bao giờ gặp lại. Hai giờ ngắn ngủi trong quán Le Procope không kịp giữ chân vì đường đời thênh thang.

Tôi gặp Duyên Anh hai bận ở quán Đào Viên trong quận 13 đối diện Phở Hòa trên đường Rue Baudricourt ngang hông Avenue d’Ivry. Là giữa thập niên 80. “Con nhà Vũ Mộng Long”, tên cúng cơm và nói theo ngôn ngữ “con nhà” của Duyên Anh, cực vui tính và khá duyên. Duyên Anh thao thao bất tuyệt, nghe ông kể chuyện cười chết thôi. Quá khứ văn nghệ của Duyên Anh là một kho tàng mà Duyên Anh chắt lọc làm phát sáng lộng lẫy. Tôi muốn nói tôi mê nhiều nhân vật nữ trong tiểu thuyết, mê nhất Patricia Hollmann của Eric Maria Remarque trong Chiến Hữu nhưng nhân vật nữ đầu tiên làm tôi si, là Con Thúy của Thằng Vũ của Duyên Anh. Nhân vật nữ thứ nhì tôi si, là Phượng trong Phượng Vỹ cũng của Duyên Anh, năm tôi lên 11. Nhưng tôi im lặng vì Duyên Anh cướp micro, cũng vì ông làm tôi hơi sợ do tôi biết Duyên Anh có khía cạnh dark side những khi ông ký bút hiệu Thương Sinh. Khác Huỳnh Phan Anh chậm rãi, các động tác ở Duyên Anh rất nhanh. Ánh mắt chụp bắt người đối diện thật nhanh.

Có ba nhà văn tôi muốn gặp là Erich Maria Remarque, Julio Cortázar và Duyên Anh. Remarque mất năm 1974. Cortázar mất năm 1984. Remarque là nhà văn của tình bạn thăng hoa thành tình yêu, Cortázar của siêu thực huyễn ảo, còn Duyên Anh của tuổi thơ đã xa.

[Trần Vũ]

Nhiều kỳ – KỲ 2

HUỲNH PHAN ANH: Ông có nghĩ một lúc nào đó sẽ ngồi viết lại tác phẩm mình?

DUYÊN ANH: Không dám nghĩ. Trừ khi có nhà xuất bản nào mua với giá thật cao, đòi viết lại thì sẽ xét sau.

HUỲNH PHAN ANH: Ông có thể cho biết về một tác phẩm ông ao ước viết cho tới bây giờ?

DUYÊN ANH: Một truyện tình lãng mạn thật thơ mộng, thật dân tộc, dày độ 300 trang chữ 12 và chừng 5 truyện thần tiên.

HUỲNH PHAN ANH: Ông viết từ bao giờ? Đến nay ông đã viết tất cả bao nhiêu tác phẩm?

DUYÊN ANH: Tôi viết từ năm 1960. Độ 40 cuốn. Nếu tôi đủ can đảm in những phóng sự như Đi Tàu Suốt, Đầm Giao Chỉ, v.v. và những bài phiếm luận, đoản văn viết ròng rã mười năm chắc số lượng “tác phẩm” của tôi lên tới 200 cuốn! Ông sợ chưa?

Google photos edit by Sơn râu

HUỲNH PHAN ANH: Dường như ông viết hơi nhiều. Có phải ông là một nhà văn viết nhanh, viết dễ dàng? Đó là một thói quen? Một nhu cầu? Nói chung ông đã viết như thế nào? (điều kiện, hoàn cảnh …)

DUYÊN ANH: Vâng, tôi viết rất nhanh. Tôi viết báo có thể chiếm vô địch giải “Nghĩ nhanh viết vội”. Nhưng viết văn thì nhanh hơn người viết chậm thôi. Tôi viết dễ dàng, chỉ là thói quen, nghĩa là, trước tiên nghĩ một cốt truyện, kiếm cho nó cái tên. Hỏi mình xem truyện muốn nói lên vấn đề gì, phác họa đường đi của nhân vật, đặt tên cho nhân vật, mở như thế nào, kết ở đâu, bao nhiêu chương, mỗi chương mấy trang. Chừng bằng lòng với sự “đạo diễn” của mình rồi thì viết. Viết mà bắt gặp những hình ảnh mới hay chợt nhớ hình ảnh trong dĩ vãng là sử dụng liền. Tôi không làm “dàn bài” trên giấy tờ. Nhưng tôi rất thận trọng ở những chuyện viết về dĩ vãng. Thằng Vũ mà nói chuyện với anh lơ xe là chết rồi. Xe hàng mà viết là xe đò cũng hỏng luôn. Hoặc Vũ nói sức mấy mà buồn càng thê thảm. Viết như thế nào, thật khó trình bày. Tôi đã phỏng vấn 7 nhà văn trên tuần báo Tuổi Ngọc: “Ông viết truyện ngắn như thế nào?” Không ai chịu trả lời, cách xây dựng, lối bố cục một truyện ngắn. Ông hỏi tôi viết thế nào? Tôi đành bí.

Duyên Anh

Mỗi nhà văn, hình như, có một “bí-kíp” viết. Và bí kíp ấy chỉ riêng mình hiểu.

Riêng tôi, tôi muốn nói mà không thể nói được vì đã không có ai dạy tôi viết như thế nào.

HUỲNH PHAN ANH: Những nhân vật nào đã đến với ông và gây cho ông nhiều ấn tượng sâu xa nhất? Tại sao?

DUYÊN ANH: Những người thân yêu của tôi. Tại vì tôi đã chia sẻ với họ mọi ngọt bùi, cay đắng. Tại vì nhờ họ tôi nên người.

HUỲNH PHAN ANH: Dường như với Ngựa Chứng Trong Sân Trường, ông đã chuyển hướng? Cuốn sách đó đề cập đến một đề tài giáo dục. Ông có tin ở giáo dục và ở vai trò giáo dục của chính văn chương?

DUYÊN ANH: Thay đổi đề tài thì đúng hơn là chuyển hướng. Phải tin tôi mới viết chứ. Tôi kể cho ông nghe, khi Ngựa Chứng Trong Sân Trường đang in trên tuần báo Tuổi Ngọc, nhiều sinh viên đại học Sư Phạm đã viết thư cho tôi hoặc đến tìm tôi, tâm sự rằng, nhờ đọc NCTST họ lên tinh thần và muốn sớm ra trường. Nhiều học trò viết thư cho tôi bày tỏ sự hối hận đã khinh nhờn thầy… Ngựa Chứng Trong Sân Trường bán rất chạy. Tôi tự hào đã viết cuốn này. Không phải tự hào về giá trị nghệ thuật, tư tưởng đâu, mà tự hào vì nó, tình nghĩa con người trong một xã hội biến động sẽ bớt phần nào phôi pha chăng?

HUỲNH PHAN ANH: Qua tác phẩm ông, nhất là qua một số tác phẩm tự thuật, người đọc mường tượng ông là một tâm hồn mơ mộng, lý tưởng. Đúng không? Ông có thể cho biết ông sống thế nào? Ông tin vào những gì? Ông có tham vọng nào ngoài văn chương?

DUYÊN ANH: Tôi mơ mộng. Lúc nào tôi cũng mơ mộng. Mơ mộng quên cả đón vợ con. Mơ mộng lái xe quên đường lối. Nhưng tôi sống bình thường hơn cả người bình thường. Tôi ghét tác điệu và mơ mộng hình thức. Nghĩa là để tóc rối bù, đi lang thang vẩn vơ để mọi người biết ta mơ mộng.

Đời sống của tôi ngăn nắp. Cơm nhà quà vợ. Mỗi ngày đưa đón con đi, về học bốn lần. Xi nê với vợ con, sở thú với vợ con và đi xem đá bóng cũng dẫn con đi. Tôi mê ngủ. Ngủ cả ngày lẫn đêm. Nghỉ việc là tôi ngủ. Tôi còn thích làm ông chánh án xử kiện các vụ khiếu nại của ba đứa con tôi. Lên án bị cáo cho nguyên cáo vui lòng thì phải nháy mắt dỗ bị cáo. Vui vô cùng.

Tôi tin vào lòng tin của con người. Tôi thương các con tôi và con tôi cho tôi niềm tin đó. Trẻ con không dạy người lớn hận thù hay tuyệt vọng. Trẻ con chỉ dạy người lớn yêu thương và nhắc nhở “Mai bố nhé, mai bố đưa con đi chơi” như thế. Trẻ con làm người lớn tin vào tương lai đẹp.

Tôi không có tham vọng gì khác ngoài văn chương. Tham vọng văn chương cũng chẳng có nếu ông tin tôi nói thật. Rằng, tôi không ôm ấp tham vọng văn chương trước và sau khi trở thành nhà văn.

HUỲNH PHAN ANH: Ông có đúng là hình ảnh người chồng, người cha trong một số tác phẩm mang màu sắc tự thuật? Ông biết tại sao tôi hỏi câu này chứ?

DUYÊN ANH: Nhiều người vẫn tìm thấy bóng dáng tôi trong tác phẩm tôi. Nhưng không đúng hẳn, dù những hình ảnh đó đã xuất hiện trong một số tác phẩm mang màu sắc tự thuật của tôi. Họ (người chồng, người cha) có khi là những người thân yêu của tôi, có khi là bạn bè tôi, có khi một chút chút thôi.

HUỲNH PHAN ANH: Ông sống thế nào trong gia đình?

DUYÊN ANH: Tôi sống thế nào trong gia đình à, ông Huỳnh Phan Anh. Rất bình thường như bất cứ một người chủ gia đình nào. Tôi thương con tôi và nhường nhịn vợ tôi. Một đôi lần, tôi đã bỏ nhà ra đi, tưởng đi mãi nhưng tôi lại trở về với gia đình ngay. Lần tôi đã bỏ nhà đi lâu nhất là nửa tháng. Bây giờ, khi vợ chồng gây gổ, tôi bỏ đi một tiếng là bò về như một… hồi chánh viên. Tôi yêu đời sống gia đình. Tôi thèm ngửi mùi nước đái dầm của con tôi. Con tôi đã lớn và vợ tôi không còn son trẻ như thuở chúng tôi mới yêu nhau, tôi càng không thể bỏ nhà đi, dẫu chỉ một đêm. Tôi rất sợ nước mắt của vợ con tôi. Tôi biết làm bếp, ngon là đằng khác. Nếu người giúp việc nghỉ, tôi thường lau nhà, giặt quần áo, rửa bát phụ với vợ tôi. Tôi cũng dành chút thì giờ giảng thêm bài học ở trường cho các con tôi. Đại khái tôi sống như mọi người bình thường.

HUỲNH PHAN ANH: Bình thường và hạnh phúc, như những nhân vật ông tạo nên…

DUYÊN ANH: Vâng, tôi là một người hạnh phúc. Hạnh phúc tương đối. Càng nhiều tuổi tôi càng thấy hạnh phúc vây quanh tôi. Có lẽ tôi đã qua thời ngựa non háu đá và đủ bình thản coi thường mọi sự ngộ nhận, hiềm khích hay bùn nhơ người vấy lên tôi.

HUỲNH PHAN ANH: Trong tác phẩm của ông, tình yêu thường dừng lại ở mơ mộng. Có phải ông là người chống lại tính cách nhục dục của văn chương?

DUYÊN ANH: Tôi không chống lại tính cách nhục dục trong văn chương của người khác mà chỉ không cho nhục dục tác quái trong văn chương của tôi

HUỲNH PHAN ANH: Trong một số tác phẩm, ông có đề cập tới chính trị. Xin ông cho biết vai trò chính trị trong đời sống ông? Ông có nghĩ tác phẩm ông sẽ gây một ảnh hưởng chính trị trực tiếp hay gián tiếp nào không?

DUYÊN ANH: Có, cuốn Ảo Vọng Tuổi Trẻ và Sa Mạc Tuổi Trẻ. Viết thôi chứ chưa làm chính trị nên chưa có vai trò nào. Giữa năm 1955, theo một cái đảng lên Ban Mê Thuột chống ông Diệm. Thấy mình làm guốc cho đàn anh đi, bèn về Saigon gấp. Từ đó, cay cú chính trị và chính khách. Nghĩ chi cho mệt, ông Huỳnh Phan Anh? Ở nước ta, quý vị chính khách cũng như quý vị lãnh đạo lười đọc tác phẩm văn chương lắm. Vả lại, sách bán chạy nhất in 6,000 cuốn, bán hai ba tháng mới hết thì gây ảnh hưởng sao nổi.

HUỲNH PHAN ANH: Nếu phải lựa chọn giữa dấn thân và viễn mơ, như một số người ở đây vẫn nói, ông sẽ chọn lựa cách nào?

DUYÊN ANH: Tôi không viễn mơ, không dấn thân. Tôi viết cho độc giả của tôi giải trí trong cuộc đời nhiều phiền muộn. Và tôi viết cho tôi. Tôi không viết cung ứng cho nhu cầu giai đoạn. Văn chương sẽ tồn tại như đã tồn tại không phải vì anh dấn thân hay anh viễn mơ. Mà chỉ là văn chương ca ngợi tình yêu muôn thuở của con người. Việc gì tôi phải chọn dấn thân hay viễn mơ. Nếu có văn chương trung lập xin cho tôi chọn để được trung lập giữa viễn mơ và dấn thân.

HUỲNH PHAN ANH: Ông quan niệm thế nào về vai trò nhà văn trong xã hội, vai trò văn chương trong đời sống.

DUYÊN ANH: Văn chương phải làm đẹp cho quê hương và cuộc đời. Tôi là nhà văn lạc quan yêu đời. Và tôi tin rằng cuộc đời sẽ đẹp như cuộc đời trong tiểu thuyết lý tưởng của tôi.

HUỲNH PHAN ANH: Ông có đọc những bài phê bình viết về ông?

DUYÊN ANH: Có chứ. Nhưng người ta ít viết phê bình về tôi cũng như các nhà văn khác.

HUỲNH PHAN ANH: Ông nghĩ gì về phê bình ở đây?

DUYÊN ANH: Phê bình coi mòi uể oải. Cái gọi là phê bình hôm nay thu gọn vào hai động từ kép “ca ngợi” và “đánh đập”. Là bạn (cùng khuynh hướng hay tri kỷ chi đó) thì khen hết lời. Là thù (không cùng khuynh hướng hay không thân thiết lại có chút hiềm khích) thì đánh nát tác phẩm. Tôi nhớ một tạp chí chuyên về phê bình, tờ Tin Sách, xuất bản cách đây 9 năm mà buồn cười. Họ ca ngợi tác phẩm Cái Bong Bóng Lợn của Phan Văn Tạo là Tổng giám đốc Thông tin (quyền ngang hàng Tổng trưởng Thông tin bây giờ). Họ dạy người khác viết văn đại ý, viết phải giản dị, nhẹ nhàng như ông Phan Văn Tạo, đừng có vừa khuân tảng đá vừa viết văn. Nhưng mà họ đã chê lối viết giản dị của tôi là … đường xưa lối cũ, là Tự Lực Văn Đoàn. Tôi nhớ không sai mảy may, người phê bình tập truyện Hoa Thiên Lý của tôi là ông Đặng Tiến. Và người ghi chú những điều để “đánh” tôi bằng bút chì trên cuốn Hoa Thiên Lý là ông Trần Phong Giao. Ông Đặng Tiến phê bình theo lời “gửi gắm” của ông Trần Phong Giao. Rốt cuộc, Hoa Thiên Lý đã tái bản lần thứ năm. Cũng như, ngày xưa Nguyễn Tuân xuất bản cuốn nào, Thượng Sĩ đả kích tơi bời cuốn ấy trên nhật báo Tin Sớm. Bây giờ, người ta chỉ còn nghe danh Nguyễn Tuân. Ở Việt Nam, từ khi tôi xuất bản sách, hầu như, không có người phê bình sách theo đúng nghĩa của phê bình cho nên vấn đề phê bình không nên đặt ra. Mà dẫu có phê bình, tôi nghĩ, nó cũng chẳng thể giúp gì cho tôi. Tôi đủ bình tĩnh đọc những lời phê và nghe những lời bình. Nhà văn có thể xúc động vì sự khen quá đáng hoặc chê quá đáng. Nhưng không vội tưởng bở hay tỏ ra cay cú, nghiệt ngã với phê bình gia, tôi nghĩ thế. Con đường đã vạch ra, cứ thế mà đi. Rất tiếc, sách bây giờ xuất bản thật nhiều mà người phê bình sách chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

Google photos edit by Sơn râu

Huỳnh Phan Anh

HUỲNH PHAN ANH: Ông học viết văn ở đâu?

DUYÊN ANH: Ở mấy bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư của Trần Trọng Kim. Văn trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư gọn, giản dị, trong sáng.

HUỲNH PHAN ANH: Ông đọc những nhà văn khác cùng thời hay trước ông không? Ông thích nhất những ai?

DUYÊN ANH: Tôi đọc hết các tác phẩm của Tô Hoài và tôi thích ông ta nhất. Tôi còn đọc Nguyên Hồng, Lê Văn Trương, Thạch Lam, Khái Hưng, Nguyễn Tuân … Những nhà văn cùng thời với tôi, tôi đọc rất nhiều và chưa thể nói tôi yêu nhất ai. Vì tôi đang yêu nhiều người một lúc.

HUỲNH PHAN ANH: Trong những tác phẩm sau này ông thường ký tên thật (Vũ Mộng Long) kèm theo bút hiệu (Duyên Anh). Ông có ý gì?

DUYÊN ANH: Chẳng có ý gì cả. Nếu ông đọc Nhà Tôi, ông sẽ hiểu lý do. Vợ tôi ghét bút hiệu Duyên Anh, chỉ thích tên trong giá thú là Vũ Mộng Long. Tôi lại thích bút hiệu Duyên Anh. Vợ chồng tôi đã hội thảo … trên giường và thỏa thuận ký cả bút hiệu lẫn tên cúng cơm của tôi trên mỗi cuốn sách ở trang thứ năm.

HUỲNH PHAN ANH: Dường như những nhân vật của ông đều thuộc khá nhiều thơ. Ông có làm thơ không, ông Duyên Anh?

DUYÊN ANH: Có. Tôi đã làm ra năm trăm bài thơ tình thuở tôi chưa lấy vợ. Lấy vợ rồi, tôi thấy thơ của tôi không bằng ai nên tôi đốt hết. Đã có Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn … làm thơ cho ta học thuộc lòng, ta cần gì làm thơ nữa. Thơ không thể thiếu trong tác phẩm cũng như trong đời sống của tôi. Tôi là người mơ mộng. Thơ giúp tôi đẩy sự mơ mộng thoát lên …

HUỲNH PHAN ANH: Nếu một người trẻ tìm đến ông, hỏi ông kinh nghiệm của mười năm sáng tác, ông sẽ trả lời thế nào?

DUYÊN ANH: Tôi sẽ hỏi họ những câu sau đây:

– Anh có phục tôi không?

– Anh có muốn viết hay bằng tôi không?

– Anh có muốn viết giống tôi không?

Nếu anh ta mắt sáng ngời, mặt tươi tỉnh, gật đầu và lễ phép trả lời “Thưa có”. Tôi sẽ khuyên anh ta: “đừng nên viết văn. Một người muốn trở thành nhà văn, trước hết, phải dám kiêu hãnh. Tôi thích ông là đủ. Phục ông thì không bao giờ. Tôi sẽ viết khác hơn ông, sẽ làm ông bị quên lãng. Và muốn thế tôi không thèm viết giống ông hay giống ai. Giống ông, dẫu hay gấp mười lần ông, đọc tôi, người ta vẫn chỉ nhớ ông”. Nhưng nếu anh ta lắc đầu tỏ vẻ khó chịu, tôi sẽ khuyên anh ta những câu sau đây:

– Trí thức sẽ đến cùng với tuổi tác và sự học hỏi của anh. Chừng nó chín muồi tự nhiên nó trải kín văn chương của anh. Anh phải gồng mình làm dáng trí thức. Văn chương không chấp nhận sự phô trương những kiến thức chưa kịp tiêu hóa và càng không chấp nhận sự bịp bợm.

– Anh muốn viết về cái gì, tùy ý anh, nhưng anh nhớ giùm hãy viết cho gọn gàng, sáng sủa, dù để trình bày một vấn đề tối mò. Tư tưởng vĩ đại cách mấy vẫn có thể thấm vào tâm hồn độc giả bằng cách diễn đạt gãy gọn, giản dị, trong sáng.

– Anh hãy viết đi, đừng mất công ngồi nguyền rủa đàn anh cản đường vít lối. Đừng lạy lục người ta phê bình tâng bốc mình, đừng sợ hãi “sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền” đánh đập tác phẩm mình.

– Bây giờ người ta viết văn đông lắm, hàng hàng, lớp lớp. Anh muốn được chú ý ngay phải biết tách khỏi đám đông. Nghĩa là phải chọn cho mình con đường đi riêng.

– Những tác phẩm vượt thời gian, không gian đều là những tác phẩm ca ngợi tình yêu và viết giản dị, trong sáng.

– Hãy tập khó tính với chính mình. Viết ít thôi, càng ít càng tốt. Đọc nhiều, đi nhiều và đừng chịu ảnh hưởng của bất cứ một nhà văn nào.

Đại khái tôi sẽ khuyên họ như vậy. Nếu họ đồng ý, tôi sẽ nói hết với họ những kinh nghiệm sáng tác của tôi.

HUỲNH PHAN ANH: Ông có ý nghĩ đến một lúc nào đó ông sẽ viết khác hơn tất cả những gì đã viết?

DUYÊN ANH: Chắc sẽ có một lần tôi đi xa như tôi đã trả lời với ông. Tôi không biết chuyến đi tương lai có thành công không, nhưng phải đi xa để viết khác hẳn những gì tôi đã viết. Trả lời cuộc phỏng vấn của tạp chí Văn, tôi nói tôi viết văn như tôi đùa rỡn. Tôi còn đang đùa rỡn. Năm nay tôi 37 tuổi, đùa rỡn vẫn thấy thú vị. Năm 40 tuổi, tôi sẽ hết đùa rỡn và sẽ nghiêm túc làm văn chương. Nghiêm túc không xong tôi lại đùa rỡn miễn là độc giả còn thích đùa rỡn với văn chương của tôi. Xin ông cho tôi bổ túc một câu hỏi ông. Giữa viễn mơ và dấn thân, nếu không được chọn trung lập tôi sẽ chọn văn chương đùa rỡn. Có những người tự khoác cho mình những chiếc áo sứ mạng văn nghệ phục vụ cái này, phục vụ cái kia, họ bỗng quan trọng ghê và họ sẽ khổ sở phải dứt bỏ khuynh hướng cũ bước sang khuynh hướng mới hoặc là thay đổi hết. Tôi không khoác áo sứ mạng nào cả. Tôi tự do như con chuồn chuồn. Nếu cần, tôi sẽ dấn thân một tí, viễn mơ một tí để được đùa rỡn đều đều.

HUỲNH PHAN ANH: Ông có ý nghĩ một ngày nào đó sẽ ngừng viết hẳn? Tại sao? Nếu không viết nữa, ông làm gì?

DUYÊN ANH: Ngày ngừng viết là ngày tôi viết hết nổi hoặc viết không có ai đọc nữa. Ngày ấy phải tới, nhưng tôi sẽ về vào buổi trưa. Tôi sợ về vào buổi chiều. Vậy tôi sẽ nghỉ viết, sẽ bẻ bút vào ngày tôi hoàn tất một tác phẩm mà tôi cho rằng sau nó tôi không thể viết nổi tác phẩm nào hơn nó và trước nó chưa có tác phẩm nào của tôi bằng nó. Không viết văn, chắc chắn tôi được sống đến chết mà không phải lo cơm áo cho vợ con. Tôi sẽ chết bình yên nếu cuộc đời mãi mãi thế này. Tiền bán sách của tôi đã đủ để các con tôi ăn học nên người. Tôi có thể nghỉ viết ngay hôm nay. Nhưng nghỉ từ hôm nay thì buồn lắm, mới có 9 giờ. Vả lại dù sao tôi cũng đã mang tiếng viết văn. Vậy cần viết thêm, cố gắng viết thêm đến buổi trưa, để khỏi ngượng, nhờ ai thương mình cứ gọi mình là NHÀ VĂN. Nghỉ viết thì có nhiều việc nên làm lắm. Chẳng hạn, theo văn hữu Nguyễn Đình Toàn vào Phú Lâm câu cá rô. Nghe nói mồi kiến câu cá rô miền Nam ly kỳ vô cùng. Văn hữu Nguyễn Đình Toàn ca ngợi mồi kiến và lưỡi câu ghê quá. Hoặc sang Nhà Bè câu tôm. Cuối cùng phải gia nhập làng mạt chược, nhận người bạn đời Nguyễn Tuấn Anh là sư phụ. Rất có thể tôi sẽ đi học lớp luyện thi tú tài và phúc tốt, đậu xong thì ghi tên học Luật làm sinh viên bô lão. Tôi còn biết chọc cười thiên hạ nữa, đi làm hề cũng hay hay. Đó, sơ sơ những việc sẽ làm khi tôi không còn viết văn./.

Google photos edit by Sơn râu

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương VIII.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 1 Jul 2024

Phần 10

Vụ ngô thu hoạch bết bát nên chúng tôi bị thổi “ác-mô-ni-ca” có hai mươi ngày. Hai mươi ngày sáng ngô, trưa ngô, chiều ngô. Răng đã hư vì mày của bo-bo, bao tử đã loét vì mày của bo-bo, bây giờ đến mày ngô vàng, tức là bắp đá. Ngô già luộc cả đêm, cạp muốn rụng răng, nhai muốn lệch quai hàm. Hùng nhí cầm “kèn”, không dám “thổi”. Nó đi xin mì vụn sống cầm hơi đợi thu hoạch vụ khoai. Và vụ khoai trúng lớn. Chúng tôi ăn khoai ròng rã ba tháng. Khoai ăn nóng ruột. Nhưng nhuận tràng. Tù nhân đăng ký… đi cầu tối và sáng sớm. Suốt đêm, đạn tiểu liên chơi ra-phan. Nhuận tràng quen thói hoá tiêu chẩy. Tiêu chẩy biến chứng rất nhanh sang kiết lỵ. Y tế của Sa Ác B chỉ có …Xuyên tâm liên 1. Xuyên tâm liên vô hiệu quả thì bác sĩ Thạch phát thứ thuốc tiêu chẩn uống cầm ngay nhưng táo bón và kiết lỵ thì thuốc chích Emitine lạc hậu đã đầu hàng. Khoai ăn liên miên, tù nhân kiết lỵ hơi nhiều, anh em cứ nhè các đội nông nghiệp mà chửi.
Bác sĩ Thạch kê cái bàn giữa sân trước giờ kẻng báo tập họp lao động. Tù nhân hình sự khai bệnh nằm nhà rất đông. Thời gian này. Sa Ác B có thêm một cán bộ trực trại. Ông thầy này tên Nguyễn Tấn Độ. Thầy Độ da ngăm ngăm đen, mắt trắng dã, rất ưa đinh tù hình sự. Nét độc đáo của thầy Độ là thầy “phản động” nói ngọng. Toàn thể các đồng chí của thầy L hóa N. Riêng thầy N hóa L. Đám tù hình sự khai bệnh nằm nhà phải ngồi dưới gốc cây gần “phòng mạch” của bác sĩ Thạch, đợi thầy tới khám bệnh lại. Thầy xăn tay áo, gỡ đồng hồ. Thầy bắt từng tù nhân hình sự đứng dậy. Chỉ cần bác sĩ Thạch lắc đầu là thầy đinh tù tại chỗ về tội khai bệnh láo. Nhưng bác sĩ Thạch gật đầu lia. Bác sĩ đã cho nghỉ rồi mà. Tù chính trị thoát cảnh tái khám. Ròng rã 15 tháng ở Sa Ác B, tôi chưa hề thấy cai tù đánh đập tù nhân sĩ quan cải tạo, công chức cải tạo và phản động, trong trại và ngoài bãi. Một vài tù nhân phản động bị đánh thì đều thuộc thành phần phản động cà chớn, phản động vượt biên. Vượt biên là tù chính trị. Trung gian vượt biên lại là tù hình sự. Tôi có cảm tưởng cộng sản đã lố bịch hóa cái nghĩa tù chính trị. Cho nên, thế giới đã lắc đầu vì con số 1 triệu tù nhân chính trị sau 1975.
Phải thành thật nói điều này: Cai tù ở trại lao cải không hề chửi bới tù nhân một cách tục tĩu. không hề dùng roi vọt quất tù nhân, bắt tù nhân lao động. Vệ binh ghét tù nhân nào thì gọi tới giáo dục Nội quy.
– Anh cải tạo mấy năm rồi?
– Ba, cán bộ.
– Thuộc Nội quy chưa?
– Thuộc.
– Đọc điều bốn.
-“Trại viên phải triệt để tuân hành mệnh lệnh và chỉ thị của cán bộ”…
-Tốt.
Nó có thuộc nội quy đâu. Mọi điều nó bắt mình đọc, cứ đọc điều một là nó sướng phổng mũi. Đứng đực hay nói không thuộc, sẽ bị nó giáo dục lung tung, giáo dục mỏi chân. Đi lao cải phải thông minh, mồm mép đỡ… học tập. Đi lao cải mà ngu thì vất vả. Thật thà thì lại càng vất vả.
– Anh bảo tuân hành mệnh lệnh cán bộ sao anh không tuân hành mệnh lệnh tôi?
– Cán bộ ra lệnh gì?
– Tôi gọi anh.
-Tôi điếc, cán bộ ơi!
– Thế hả? Thôi thông cảm. Có điếu thuốc lá nào không?
Còn quản giáo có quyền tập họp cả đội mà “lên lớp”:
– Các anh vô lương tâm, thiếu tình cảm gia đình, không chịu cải tạo tiến bộ, ngồi chờ vợ con thăm nuôi.
Đó là về lao động lề mề. Đánh nhau, chửi nhau thì nó “lên lớp”:
– Các anh không thương nhau, ai thương các anh?
Một tù nhân ăn cắp củ khoai, bắp ngô, trái mướp, nó lên lớp:
– Tưởng các anh sĩ quan, trí thức miền Nam là ghê lắm. Các anh cũng ăn cắp. Ăn cắp là xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.
Sa Ác B không có ai “ăn vụng thịt dưới nhà bếp, ăn tranh phần khoai và cháy của heo” nên tôi không hiểu cai tù sẽ “lên lớp” nhục nhã chừng nào.
Tuyệt nhiên, cai tù cộng sản không “đù cha, đéo mẹ” tù nhân lao cải, không “mày tao” và không xử dụng ngôn ngữ mất dậy để mắng mỏ tù nhân.
Thầy trực trại Nguyễn Tấn Độ mềm dẻo với tù chính trị bao nhiêu thì cứng rắn với tù hình sự bấy nhiêu. Nhưng thầy không thể cứng rắn với đồng chí Amibe vĩ đại “sống mãi trong sự nghiệp” kiết lỵ. Chính thầy đã bị đánh dội ra khi thầy vào nhà kiểm soát nếp sống văn hóa mới. Mùi phân kiết lỵ tanh tưởi. Nhiều tù nhân “con bà phước” kiệt sức không thể lết vào cầu, leo lên bục. Nên hoặc chơi tại chỗ, hoặc chơi dưới sàn nhà. Ruồi nhặng vo ve. Thêm nạn chuột ngày ngao du máng cầu, đêm phiêu lưu chỗ tù nhân ngủ kiếm chác quà thăm nuôi. Chuột đem phân kiết lỵ lên quần áo người! Chúng tôi đã ăn, uống, hít, thở, ngủ bằng dưỡng khí nặng mùi phân kiết lỵ. Không ai chết cả. Thế mới là phép lạ. Con người bị tiêu hao, xoáy mòn thì trông rõ. Sức đề kháng của con người Việt Nam thật kỳ ảo. Bọn Mỹ nằm nhà tù lao cải thì chỉ có chết.
Tuy nhiên, khoai cũng làm khởi sắc nhiều tù nhân hợp khoai. Đám hình sự xì ke, trộm cắp mập mạp trông rõ. Vào thời kỳ “lao động là vinh quang” khoai, tôi nhận được thuốc men, quà cáp của nhóm Amnesty International ở Lannion miền Bretagne, Pháp gửi về địa chỉ gia đình tôi. Con tôi thăm tôi cho biết AI đang ráo riết can thiệp cho tôi được trả tự do. Tôi bình tĩnh chờ đợi ngày cộng sản phải thả tôi ra. Cũng vào thời kỳ này, Sa Ác B xuất hiện một “nhân vật” cai tù quan trọng: thầy giáo dục Mai Sơn. Công tác đầu tiên của Mai Sơn là thử tài vẽ của Đằng Giao và Nguyễn văn Thương, giáo sư trường Mỹ thuật. Đằng Giao bị chê vẽ thiếu phẩm chất. Anh ta cố tình bôi bác để khỏi bị vẽ. Nguyễn văn Thương được chấm. Tác phẩm của Nguyễn văn Thương cảm hứng từ khẩu hiệu thi đua: vượt cờ xanh. giành cờ đỏ, bỏ cờ trắng. thắng cờ vàng được thể hiện trên cái paneau to tướng dựng trước mặt tù nhân khi ngồi tập họp lao động. Nó như vầy: Xe cải tiến biểu tượng của cờ xanh, xe vận tải biểu tượng của cờ đỏ, máy bay phản lực biểu tượng của cờ trắng, hỏa tiễn biểu tượng của cờ vàng. Tôi hiểu sự xỏ lá kềnh của Nguyễn văn Thương. Cờ đỏ cộng sản mới chỉ là xe vận tải. Cờ vàng quốc gia mới là hỏa tiễn. Anh Thương đưa ý kiến, Mai Sơn “nhất trí”. Và tù nhân khoái chí.
Công tác thứ hai của Mai Sơn là thực hiện một ngày lao động xã hội chủ nghĩa liên khu ABC mở con đường từ cầu sông Ray ra Long Khánh. Ngày lao động xã hội chủ nghĩa là ngày chủ nhật. Mai Sơn phát động thi đua giữa ba khu ngày đó. Vậy cần tin tức nóng hổi để phát thanh tại chỗ gây khí thế lao động. Nó lập ban văn nghệ khẩn trương, rồi nó gọi Phạm Long và tôi “làm việc” với nó:
– Anh nào là Phạm Long?
– Tôi.
– Anh đã cộng tác với đài phát thanh nào?
– VOF.
– Đài địch hả?
– Đài Tiếng Nói Tự Do.
-Tự do mẹ gì, phản động nặng! Anh làm cái gì?
– Tôi viết tin và đọc.
– Anh nói cách đọc tin của anh cho tôi nghe?
Phạm Long mỉm cười:
– Thì nói như tôi đang nói.
Mai Sơn bĩu môi:
– Thế mà địch nó cũng thuê anh?
Nó quay sang tôi:
– Anh chắc là Duyên Anh rồi?
Tôi đáp:
– Phải.
– Bao nhiêu năm tay nghề báo?
– 15 năm.
– Báo lá cải hả?
– Lá cải.
-Bao nhiêu năm tay nghề tiều thuyết.
– 15 năm.
– Tiểu thuyết ba xu chớ mẹ gì! Anh biết làm thơ không?
– Biết.
– Anh có biết mắt của thơ không?
– Không.
– Mỗi bài thơ đều có mắt đấy.
Tôi không đủ can đảm để hỏi ông thầy giáo dục Mai Sơn, đại diện của Tố Hữu, ngoài mắt, thơ có mũi, miệng, tai, rốn và hậu môn?
– Anh biết viết tin không?
– Biết.
– Tin ngắn và tin dài khác nhau thế nào?
Tôi chợt nhớ Thanh Tâm Tuyền nói về truyện ngắn, truyện dài. Bèn trả lời:
– Thưa cán bộ, tin ngắn là tin không phải tin dài và tin dài không phải là tin ngắn.
Nó quắc mắt:
– Anh dở trò phản động cộng lưu manh hả?
Rồi nó đuổi Phạm Long và tôi về. Nó nhún vai rất ngạo mạn:
– Sài gòn không có tài năng!
Thầy tu Phạm Long khoác tay lên vai tôi:
– Đ.m. cộng sản con hỗn hơn cộng sản ông nội. Nó dạy sư tổ nó cách viết tin cắc ké và đọc tin bằng Ô-pạc-lơ xách tay! Anh buồn không?
Tôi cầm tay Phạm Long:
– Cậu sẽ kể kỷ niệm này cho Phạm Hậu, Phạm Huấn nghe. Chúng nó sẽ cười vỡ nước Mỹ.
Mai Sơn khoái trò bầy hương án sáng chủ nhật. Nó nói về kinh tế, xã hội, chính trị miền Nam. Thằng này mang quân hàm thượng sĩ. Hễ mở miệng nói về văn hóa. Nó không quên tôi: “Văn hóa miền Nam toàn bọn nhà văn lá cải, thí dụ tiểu thuyết ba xu của Duyên Anh”. Một hôm nó nói về phòng Hạnh Phúc 2 nằm trong nhà thăm gặp. Nó bảo tù nhân nào xuất sắc đoạt giải thi đua lao động sẽ được ngủ với vợ suốt một đêm và miễn lao động hai ngày. Nó đem vợ tù nhân ra treo giải thưởng và ban ân bố đức. Nó thi hành chính sách đốn mạt của Đảng nó.
Phòng Hạnh Phúc, cái phòng khốn kiếp này, chỉ dành cho tù nhân phụ trách thăm nuôi, y tế trật tự, văn hóa. Mà Sa Ác B có một tù nhân chính trị duy nhất được làm y tế: bác sĩ Thạch. Mai Sơn nham nhở như Amibe. Nó thao túng Sa Ác B nhờ có thầy đỡ đầu ở Bộ nội vụ. Nó qua mặt giám thị Hiểu. Mai Sơn còn khoái trò tổng vệ sinh chủ nhật. Nó huy động vệ binh, quản giáo bắt tù nhân đem hết chổi cùn dế rách ra sân, lục tung hành lý kiểm tra tỉ mỉ. Lúc ấy, sân trại là chợ trời.
Nhưng mà “tác phẩm” đáng kể của nó là xây một cái hồ chứa nước mưa bằng đá. Bốn đội bị động viên xuống sông Ray vác đá tảng lên bờ. Có đội của tôi. Tháng 11 đã lạnh lắm. Buổi sáng đầy sương mù. Ra bãi lao động, chúng tôi thường sưởi ấm ở những gốc cây đốt còn hồng rực than. Thế mà chúng tôi phải trần truồng lặn xuống sông Ray móc đá trôi tới tự kiếp nào bê lên xếp đống trên bờ. Cho cai tù có nước mưa trong mùa nước lũ. Tôi sẵn bệnh bao tử, thêm bệnh dị ứng da. Hễ dầm mưa một lát, y rằng mu bàn tay đỏ ửng, ngón tay ngứa ran rồi mông, đùi ngứa ran. Tôi đã lặn dưới nước những sáng mùa đông. Bệnh dị ứng da của tôi sợ… tự kiểm, hết dở chứng! Tưởng đã sưng phổi. Tôi chả hiểu tại sao chúng tôi không có ai bị sưng phổi. Lạnh nó bắt đói. Đói nó làm lạnh gia tăng. Vài cục đường chẳng đủ chống lạnh. Tôi mới thấy hình phạt của thù hận gớm ghiếc quá. Một tháng lặn sông mò đá thì cũng như tổ tiên mình đã “xuống biển mò ngọc trai”. Có lẽ, đau xót hơn tổ tiên, vì chúng tôi bị mò đá giữa kỷ nguyên “độc lập, tự do, hạnh phúc”, kỷ nguyên “không còn người bóc lột người”, kỷ nguyên “tôn trọng con người”, kỷ nguyên của “chủ nghĩa ưu việt, , của “hòa giải dân tộc”, kỷ nguyên của người Việt Nam đối xử với người Việt Nam tàn tệ và tồi tệ hơn cả thực dân, phát xít, đế quốc. Nghĩ đến thù hận, tôi cảm hứng viết bài thơ tù:

Thư tù

Gửi cho anh đôi mắt
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết nhìn sự trơ trẽn ngục tù
và nó thấy nó bọ hung lầm lũi


Gửi cho anh cái mũi
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ngửi mùi tanh tưởi cachot
và nó thấy nó côn trùng câm nín


Gửi cho anh cái miệng
để anh ráp trên khuôn mặt hận thù
Nó sẽ biết ăn thực phẩm trâu bò
và nó thấy nó nghìn năm rác rưởi


Gửi cho anh cái lưỡi
để anh ráp vô họng hận thù
Nó sẽ biết tập tành nói chuyện thương yêu, lãng mạn, mộng mơ
và nó thấy nó xụt xùi muốn khóc


Gửi cho anh bộ óc
Gửi cho anh trái tim
Gửi cho anh ái tình
Gửi cho anh cuộc đời dạt dào cảm xúc
Gửi cho anh con người hào hoa đích thực
Gửi cho anh
gửi tặng hận thù


Tôi cũng nghĩ cả đến lòng trắc ẩn của những kẻ làm chúng tôi đau khổ, nhìn chúng tôi đau khổ, tưởng tượng chúng tôi đau khổ và đã quên chúng tôi vẫn đau khổ. Than ôi, “mặt trời soi trên kẻ ác cùng người thiện, mưa cho người công nghĩa cùng kẻ bất nghĩa” thì lòng trắc ẩn ở chỗ nào nhỉ? Tôi làm tiếp bài thơ tù:
Lòng trắc ẩn
Con chuột đã chui vào
ăn hết phần cơm anh để dành khuya đói
chẳng cho anh ngủ yên khi anh đã rã rượi
nó cắn chân anh bắt anh thức với niềm đau


Con dán đã chui vào
bơi đùa trong ca nước
Làm sao anh uống được
cổ anh khô mà cánh nó ướt nhầu


Con thạch thùng đã chui vào
thở than sám hối
nó muốn linh hồn anh chới với
sáng hôm sau tự khai vỡ máu trong đầu


Con muỗi đã chui vào
đốt anh sưng vù mặt
nó thích anh mở to đôi mắt
nhìn đêm đen chua chát nỗi đời


Nhưng một hôm
anh tha thiết yêu người
Con dán thương anh ngậm đầy oan khổ
con thạch thùng nhìn anh tư lự
con muỗi cong lưng chích còng xích ngục tù
con chuột gặm cửa sắt cachot

Em yêu dấu
thấy chưa
lòng trắc ẩn


Ở thời đại tôi và với đồng bào của tôi, lòng trắc ẩn, hình như , đã tê liệt. Và tôi đành nhận lòng trắc ẩn của con dán, con thạch thùng, con muỗi, con chuột, nhân danh tất cả những gì tôi biết về thống khổ, về thù hận, về hình phạt của thù hận.
Cực hình lặn sống mò đá kéo dài đến cuối tháng 12-1979. Tôi lại về với gốc cây, xe cây và gò mối.

Chuẩn bị đón Tết, TH6 tuyển lựa các nhân tài cho văn nghệ, thể thao. Mỗi khu sẽ có một hội tuyển bóng đá, một hội tuyển bóng chuyền. Trước đó, mỗi Nhà có một hội bóng chuyền giao đấu đề chọn cầu thủ vào hội tuyển. Văn nghệ duy nhất một đội cho liên khu gồm nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ tân cổ. Ông cựu giám đốc Viện âm nhạc và kịch nghệ Huế làm chánh chủ khảo chấm điểm nghệ thuật… tù. Một bạn tù Long Thành kể rằng kiến trúc sư Ngô Viết Thụ 3, giải nguyên khôi La Mã, người vẽ họa đồ tái thiết dinh Độc Lập, đã từng được giao nhiệm vụ vẽ họa đồ xây cất cái điểm canh ở trại Long Thành. Thì ông giám đốc Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia có sắm vai chánh chủ khảo thi đánh đàn, thi hát ở trại tù là chuyện thường. Chấp kinh phải tùng quyền. Một số tù nhân sĩ quan từ Phước Long về đã lao động làm lược, làm mâm bằng nhôm cho quản giáo đề tránh mưa nắng, cũng là chuyện thường. Nhưng với nhiều anh khó tính – thường là chẳng có chút tài mọn nào – hay bầy tỏ “chí khí” và lòng bất khuất” lãng nhách. Các anh này công kích nhạc sĩ, ca sĩ, cầu thủ và thợ kim hoàn nhà tù. Thanh Tâm Tuyền, hồi mới ở Vĩnh Phú về cuối năm 1981, thuật chuyện “ca sĩ” Phan Lạc Phúc khiến tôi ngậm ngùi, thương Ký giả Lô Răng vô cùng. Có ai mời nổi Phan Lạc Phúc hát những buổi thân hữu gặp gỡ ăn nhậu, văn nghệ? Anh ta hát hay lắm. Hôm khai trương Đêm Mầu hồng, Sài gòn, Thanh Tâm Tuyền lên hát, Phan Lạc Phúc nhất định “em chả, em chả”. Thế mà vì đổi đời, anh ta đã đứng giữa sân trại lao cải Vĩnh Phú hát vài bài ca cách mạng lấy khí thế cho tù nhân lên đường khổ sai lao động. Mỗi sáng ca vài bài, cả ngày nằm nhà. Đề tồn tại. Đổi 5000 tù nhân vớ vẩn chết lấy một Thanh Tâm Tuyền sống, một Doãn Quốc Sĩ sống, một Lê văn Tiền sống, một Phan Nhật Nam sống, một Nguyễn Hải Chí sống…tôi cũng chịu. Cái sống của những tài năng là cái để lại khi họ chết. Họ cần thiết sống để làm thăng hoa sự để lại. Mà có bao nhiêu tài năng văn nghệ đúng nghĩa, ở miền Nam? Tôi đã bị nguyền rủa thê thảm vì cái ý nghĩ này. Bọn tướng lãnh, nghị sĩ, bộ trưởng nằm tù nên chết hết, nhưng đừng bao giờ chết Phan Nhật Nam. Tôi không phê bình những người nhờ tài mọn mà tránh lao động vất vả, kể cả vẽ chân dung Hồ Chí Minh. Song, những người này đừng giả vờ sắm vai “uy vũ bất năng khuất” khi thoát nạn và đừng gang họng, lột lưỡi công kích thiên hạ để “sáng danh” cái đức bẩn và hèn của mình. Nếu tôi biết hát, tôi sẽ “thi” vào đội văn nghệ; nếu tôi biết đá bóng, tôi sẽ xin vào đội thể thao. Tù đánh đàn, tù hát cho tù nghe. Tù đá bóng, tù đánh bóng cho tù coi. Văn nghệ, thể thao béo bở gì, miễn lao động thì tập dượt tối ngày. Trình diễn xong được bồi dưỡng cơm cháy! Đá bóng chân đất trên sân rừng, vấp gốc cây là đi chơi cái móng. Giao hữu với cai tù, nó đi giầy vải, nó “cộp” sưng vù giò. Mỗi cái vinh đều có cái nhục. Máu văn nghệ tài tử và máu thể thao tài tử nó kỳ lắm, cứ tìm cái nhục mà lao vào. Để được đàn ca, chạy nhẩy. Dân chuyên nghiệp thì lại chán phèo. Bởi thế, những tay đàn cự phách của Sa Ác B không thi vào đội văn nghệ.
Những ca sĩ, nhạc sĩ tù trúng tuyển được chuyển sang khu A. Khu A dễ chịu hơn khu B nhưng lại có cái hầm đá nhốt tù nhân bị kỷ luật. Nghe nói khu A đã một nửa chức sắc tù là hình sự, nửa là chính trị. Khu B và khu C hình sự là cánh tay, là con mắt của cai tù.

Ngày 30 tháng Chạp, tù nhân nghỉ lao động. Ban giám thị sợ cuối năm, tù nhân nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con sẽ có thể gây ra những bất lợi cho trại nên bầy trò tổng vệ sinh ăn Tết. Nghĩa là tù nhân phải mang toàn bộ hành lý của mình ra triển lãm từng món trên manh chiếu, trên tấm ni lông lớn để vệ binh và quản giáo kiểm tra. Tháo tung hành lý rồi thu dọn hành lý mất nửa buổi. Trực trại loan báo Ban giám thị cho phép hát nhạc vàng ba ngày Tết. Những bài ca chỉnh huấn vẫn bị nghiêm cấm. Trại bãi bỏ giới nghiêm đêm giao thừa. Tù nhân tự do liên hoan văn nghệ trong phòng khóa cửa!

Người bạn tù Phước Long về Sa Ác B kể tôi nghe một kỷ niệm Tết tù của anh ở một trại lao cải Tây Ninh những năm bộ đội còn quản lý. 29 tháng Chạp, cuốc trúng mìn. Vài người chết. Nhiều người bị thương nặng. 30 tháng Chạp khám xét hành lý. Mồng 1 Tết, Ban Giám thị bắt tù nhân tập họp ở sân trại để nghe họ chúc Tết, họ gửi lời chúc Tết gia đình tù nhân và tổng kết thành quả lao động năm cũ, đề ra kế hoạch lao động năm mới. Họ yêu cầu tù nhân hồ hởi phấn khởi chào mừng năm mới, không nhớ gia đình, phải cười vui bầy tỏ thiện chí lao động. Tù nhân cả trại không thể cười nổi. Vì các bạn tù, người chết, người chờ chết, người rên rỉ vết thương ở bệnh xá. Vệ binh dí súng vào ót các tù nhân cưỡng bức họ cười, vỗ tay và hát bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tù nhân bèn cười đủ kiểu, đủ lối. Nhiều người phát khùng vì cười có người vừa cười vừa chửi Hồ Chí Minh. Bị bắn chết. Tôi vội vàng viết bài thơ:
Chào mừng năm mới
Tù nhân tập trung giữa sân trại
nghe giám thị chúc tết mừng thêm một tuổi tù
Hôm qua một đội cuốc đụng mìn
người chết chưa kịp chôn
người mang thương tích còn đang rên xiết
Tù nhân thương bạn
nỗi đớn đau khó nói ra
Giám thị ban lệnh không được nhớ nhà
nhớ vợ nhớ con nhớ cha nhớ mẹ
Chào mừng năm mới
lao động thi đua là đáng kể
Những khẩu AK dí sát gáy mọi người
Cười
Cười
Cười
Cười
không cười chưa tiến bộ
Tù nhân òa lên cười khốn khổ
cười rơi nước mắt cười lệch cả đời
cười lạc giọng cười hụt hơi

Nhưng thế giới chẳng ai biết
ít ngày sau có tù nhân cười hóa điên bị bắn chết
Thế giới chẳng ai biết đã đành, đồng bào của tôi định cư khắp nơi trên trái đất cũng chẳng ai biết. Và cai thầu nỗi khổ đại diện tù nhân càng chẳng biết. Như năm ngoái, ở đây, ngay chiều 30, tù nhân đã được ăn cơm trắng với thịt kho và canh bắp cải nấu xương heo. Tiêu chuẩn thịt khiêm tốn: Mỗi bữa một cục nhỏ hơn nửa nắm tay. Tù nhân hưởng 6 bữa cơm trắng với thịt. Ba ngày Tết thả sức nấu nướng. Từ chập tối, không khí giao thừa đã sôi nổi. Đây là dịp may của mấy ông ái quốc biểu diễn miệng. Nổi đình đám nhất ở Nhà tôi vẫn là ông Phạm Thái Ất. Ông Thái Ất nhất định không cho ai ngủ. Ông ta đơn ca bài “Dậy mà đi”! ông vỗ tay rất nổ. Một tù nhân khó chịu.
– Tôi chưa ngủ. Tôi thức trắng đêm nay. Nhưng cửa khóa chặt. Dậy đi đâu, anh Ất?
Tù nhân khác lên tiếng:
– Vào cầu tiêu đi đái, đi ỉa! Đi cái mồm. Những thằng to mồm không được tích sự gì cả.
Ông Phạm Thái Ất im lặng. Vì người lên tiếng là sĩ quan Võ Bị quốc gia Đà-lạt. Khi ông Ất hết nổ, văn nghệ thuần túy bắt đầu. Càng về khuya càng buồn. Một tù nhân tay đàn guitare miệng hát “Xuân này con không về chắc mẹ buồn lắm…” khiến cả Nhà sụt sùi. Vệ binh gác Nhà ngồi nghe. Chú nhỏ gọi tôi:
– Anh Nong, anh Nong…
Qua chấn song gỗ của tường vách khoang dưới, chú vệ binh và tôi trò chuyện đón giao thừa.
– Bài anh gì vừa hát nà bài gì đấy?
– Tôi không biết tên.
– Anh thuộc không?
– Không.
– Anh nhớ chép hộ tôi bài ấy nhé?
– Cán bộ thích nhạc vàng à?
-Vàng, xanh, đen, đỏ mẹ gì đâu, bài ấy nàm tôi nhớ mẹ tôi, tôi chẩy nước mắt.
– Cán bộ cũng nhớ nhà, nhớ mẹ?
– Ai không nhớ mẹ.
– Tôi tưởng chỉ tù mới nhớ nhà thôi.
– Các anh tù trong, chúng tôi tù ngoài.
– Cán bộ nói sao?
– Các anh tù trong, chúng tôi tù ngoài. Bảo chúng tôi vào Sài gòn, chúng tôi ham quá. Ai ngờ ném vào rừng già canh gác tù. Anh tính xem, tiền cơm, áo, xà phòng, ninh tinh trừ hết, mỗi tháng còn mấy đồng. Để dành bao nhiêu năm mới mua nổi vé tầu về Bắc. Thế nên hai năm một nần phép, vẫn hủy phép. Chắc nâu nắm mới về thăm mẹ được
– Tôi bốn năm tù rồi.
– Tôi hơn anh hai năm. Anh tù trong còn được gặp mặt vợ con, còn được tiếp tế đủ thứ. Tôi tù ngoài ai thăm, ai cho cái gì?
Chú vệ binh móc gói thuốc thơm mời tôi:
– Hút một điếu Sông Cầu, anh Nong. Tôi mời anh. Tiêu chuẩn thuốc Tết đấy.
Tôi rút điếu Sông Cầu. Chú vệ binh quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.
– Anh đáng tuổi cha chú tôi. Ở trong này, anh thông cảm nhé!
Tôi nói:
– Nhằm nhò gì.
-Các anh thù chúng tôi nắm hả?
– Thù hận chi, cán bộ.
-Này, nói thật, cũng có thằng náo nếu, hống hách nhưng nệnh cả. Nệnh bắt chúng nó náo nếu rồi chúng nó quen thói. Tôi mong các anh về sum họp gia đình hết. Cứ hết trại cải tạo nà tôi có cơ hội về Bắc.
Chú vệ binh hỏi:
– Thuốc thơm ra phết hả?
Tôi đáp:
– Thơm lắm.
Chú vệ binh dặn tôi:
– Nhớ nhờ chép hộ tôi bài ấy nhé!
Rồi bỏ đi. Tôi có nhiều kỷ niệm với vệ binh, toàn kỷ niệm buồn cười. Có chú cứ đến phiên gác đội tôi là ngày vài lần mời thuốc lá.
– Anh Nong.
– Gì, cán bộ?
– Nại bảo.
-Chi?
– Có thuốc ná cho xin một điếu.
Rút điếu thuốc cống thầy, thầy sai:
– Nại bếp nấy giùm tí nửa.
Có chú xin thuốc nhưng sợ bị “đồng chí” biết, bảo tôi vất một chỗ rồi ra lượm. Có chú bắt tôi cầm con rắn giơ cao, đứng giữa nắng thật lâu vì tôi “đang nao động mà đánh rắn nại còn cãi cán bộ”. Hôm đó, tôi đập chết con rắn bò gần chỗ tôi, chủ ý tặng anh em nướng chia nhau mỗi người một miếng. Vì hết thuốc cống thầy, bị thầy xử ức. Tôi chưa bao giờ gây thù hận mấy chú nhãi chăn trâu cắt cỏ cả. Nói tôi thương hại mấy chú ẩy thì có vẻ giả đạo đức. Nhưng đêm giao thừa 1980, nghe tâm sự chú vệ binh, tôi thương hại thật sự. Chú vệ binh không hiểu câu trả lời thuốc lá “thơm lắm” của tôi. Ở bất cứ không gian và thời gian nào, ở bất cứ hoàn cảnh nào, tình người vẫn thơm lắm. Anh sẽ tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản, lãnh tụ cộng sản hay tiêu diệt luôn những con người sống trong chế độ cộng sản như chú vệ binh “ai không nhớ mẹ”?
Chú vệ binh cỏn nguyên vẹn cảm xúc “tôi nhớ mẹ tôi, tôi chẩy nước mắt” đi tuần một lúc thì trở lại.
– Anh nào vừa hát bài “Xuân này con không về chắc mẹ buồn nắm” đấy?
– Tôi.
– Nàm ơn hát nại nần nữa cho tôi nghe. Hay nắm, buồn nắm…
Người tù trong cảm động hát lại. Người tù ngoài cảm động nghe. Giao thừa 1980, với tôi, đầy ý nghĩa. Ý nghĩa ấy soi sáng đường hướng sáng tác và chiến đấu của tôi, dẫu tôi có vì cái ý nghĩa ấy mà bị chụp bủa bằng những ngộ nhận, những hệ lụy chập chùng. Không cần. Điều cần thiết là nhà văn phải sống thật với lòng mình.
…Ô dẫu sao tối vẫn thấy họ rất người
Vẫn thấy họ níu tay đời tha thiết
Một nỗi gì xa xôi cách biệt
Có phải con người hay tại chủ nghĩa phi nhân
Con người sinh ra đã muôn thuở cô đơn
nhưng khao khát gần nhau và thèm gần nhận thêm nữa
Ở chín tầng oan khiên nhục nhã
bỗng tự nhiên tôi yêu quý con người
thiếu con người sẽ thiếu hẳn đất trời
Tôi sống với ai
thơ tôi còn chi để viết

Mồng một Tết, như năm ngoái, Ban giám thị bày bàn hương án và bắt tù nhân tập họp đề nghe chúc Tết và động viên tinh thần lao động tích cực. Trước khi Ban giám thị xuất hiện, thầy giáo dục Mạo yêu cầu tù nhân văn nghệ lấy khí thế mừng xuân. Tù nhân nhao nhao “Hùng nhí, Hùng nhí”! Tên tù nhóc anh dũng đứng dậy, tiến lên bàn hương án. Nó nhe “hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay” cười khì. Tù nhân vỗ tay hoan hô. Hùng nhí cầm mi-cô của cái máy phát thanh chạy pin, hắng giọng hát không đàn đệm:
… Ta thắp lửa bên con cua đồng
Ta thắp lửa bên lũy tre xanh
Quê hương ta từ ngày làm tương lai
bằng AK bằng lựu đạn 
4
Thầy giáo dục Mạo vội vàng chụp mi-cô và đuổi Hùng nhí về chỗ. Văn nghệ lấy khí thế chấm dứt ngay. Tù nhân bầu Hùng nhí là: “người của năm 1980″. Ban Giám thị chúc Tết xong đến lượt các thầy quản giáo xông nhà thăm các đội của mình. Các thầy mang theo mứt Hà nội và thuốc lá Hoa Mai. Lại văn nghệ trong Nhà. Cái đinh văn nghệ của Nhà tôi là Tạ Dung thuộc đội của Đằng Giao. Tự nhiên, anh tù nhân Vovinam đầy mình “đờ mi tốc đờ mi phu” này xuất chúng một màn tự biên tự diễn. Tạ Dung, cháu chín đời Kim Mao sư vương Tạ Tốn, mào đầu:
– Thưa quý cán bộ, thưa các bác, các chú, các anh. Nhân dịp xuân về, Tạ Dung xin cống hiến quý cán bộ và cả Nhà ta màn văn nghệ đặc biệt. Tạ Dung đóng vai người đi từ Bắc vô Nam. Trước hết, anh ta ở Hà nội.
Tạ Dung hát cò lả, trống quân. Đến Huế, anh ta chơi hò mái đẩy. Vô Sài gòn, anh ta hò lơ.
– Bây giờ, người này trở về Bắc.
Tạ Dung đã đi đến cửa cầu tiêu, anh ta trở lại, hát nhạc Phạm Duy. Tạ Dung nhắm mắt giả vờ mù và bước khập khiễng giả vờ què.
– Ngày trở về, anh bước lê, trên quãng đường quê đến bên lũy tre….
Quý cán bộ chán quá, vất mứt Hà-nội và thuốc lá Hoa Mai cáo từ vội vã. Tù nhân vỗ tay sôi nổi. Tạ Dung số một. Tạ Dung đâu có khùng. Anh ta tiên tri ngày tháo lui của cộng sản. Trong ba ngày Tết, đội múa lân khu A vào biểu diễn. Rồi bóng chuyền khu A và C vô đấu vòng loại với khu B. Vân vân. Những tiết mục giải trí nghèo nàn này không hấp dẫn tôi. Nó chỉ làm tăng cái vẻ thê lương của đời tù lao cải. Đằng Giao và tôi có dịp bách bộ quanh trại, gần hàng rào kẽm gai, tâm sự vẩn vơ. Tôi chú ý hàng rào. Hồi tôi mới đến Sa Ác B, hàng rào thấp và thưa, cột bằng cây rừng. Bây giờ, hàng rào cao, dầy, cột sắt và bốn góc là bốn chòi canh bố trí súng trung liên.
– Ông thầy, ở bên Mỹ người ta đang làm gì?
– Chuẩn bị ra báo số Tân Niên.
-Tôi muốn, sau này, ông thầy viết một tiểu thuyết mộng và thực lồng vào nhau như Tiêu Sơn tráng sĩ. Nhân vật của ông thầy là một thôi, không phải hai Phạm Thái và Quang Ngọc, Quỳnh Như và Nhị Nương. Nhân vật ấy đang ở nhà tù, ở trại lao cải thì thoát ra nhập vào đời sống Mỹ. Nghĩa là, vừa mới vục phân dưới hầm, anh ta đã đi nhẩy đầm tíu tít. Rồi một chút suy nghĩ dưới hầm phân và trong phòng trà.
– Ý kiến hay.
– Một định nghĩa về đau khổ và hạnh phúc.
– Ông đã nghĩ chuyện sang Mỹ chưa?
– Không bao giờ..
– Tại sao?
– Tử vi vẽ sẵn con đường xuất ngoại của tôi: Mã lộ cùng đồ, ông thầy đi chứ?
– Phải đi thôi.
– Rồi ông thầy cũng sẽ cô đơn.
– Con người sinh ra đã cô đơn, lầm lỗi trên sinh đạo. Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền đã thét nỗi thét cô đơn đó.
Đằng Giao chỉ lên cây cổ thụ ngoài cổng trại:
– Ông thầy, lạ quá.
Tôi hỏi:
– Gì?
– Cây cổ thụ cũng trổ hoa. Ngắm đi, ông thầy. Đóa hoa tuyệt đẹp. Chỉ tiếc mình không hít được hương vị của nó.
Tôi ngước mắc nhìn đóa hoa duy nhất trên cây cổ thụ của nhà tù Sa Ác. Tôi chưa hề thấy cổ thụ trổ hoa. Mà cổ thụ đã trổ hoa. Lại trổ hoa ở nơi chốn buồn thảm của đời sống.
-Tôi sẽ viết một bài thơ ngắn.
– Nhan đề?
– Đóa hoa.
Và bài thơ ấy như sau:

Cây cổ thụ bỗng trổ một đóa hoa
Anh nghe giây kẽm gai thổn thức
Tự nhiên kẻng tù hết gầm gừ
âm thanh thoảng gió đàn rạo rực


Và đó là mùa xuân
anh vừa thấy sau nhục nhằn phát vãng
Gã cai tù xem chừng lãng mạn
Cây cổ thụ đã trổ hoa
Lòng suối độc xôn xao tình đá
Những thứ còng 
ở biệt giam
râm ran cảm giác lạ
thèm đôi tay ôm gọn cuộc đời


Họng súng sát nhân mệt mỏi rồi
Thù hận cúi đầu xấu hổ
Bản tình ca
dấy lên tự đất khổ
Cây cổ thụ cũng trổ hoa
tình yêu và hạnh phúc không già


Anh bẻ gai viết nhanh trên lá
những vần thơ ái ân
bồng bế
Rồi con người sẽ yêu nhau
ở khắp nơi trên mặt địa cầu

Tôi đã manh nha một cuộc chiến đấu của con người chế ngự thù hận và hình phạt của thù hận. Trước hết, con người cần phải là nạn nhân khốn khổ của thù hận và hình phạt của thù hận.

——————————–

1Thứ thuốc trị bách bệnh của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2Khi tôi rời Sa Ác B, phòng Hạnh Phúc mới mở cửa. Và một số tù nhân được ngủ với vợ.
3Đã cộng tác với cộng sản. Được cho ra Bắc du ngoại. Được cho sang Liên Xô tham quan, về gáy cộng sản điếc tai cả nước.
4Tôi không biết tên bài hát này và nhớ mấy câu trên có thể sai vài chữ.