Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 4 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần 14

Tôi đã thêm qua nhiều nhà tù, nhiều trại tập trung. Thế mà, đến Z30D thì tôi không muốn bị chuyển trại nữa. Ở đâu cũng vậy, ngục tù rập một khuôn y hệt cuộc đời, rập một khuôn xã hội chủ nghĩa. Còn lâu mới tiến lên xã hội cộng sản. Ông Phạm Văn Đồng đã khẳng định vậy, trong một cuốn sách văn nô viết ký tên ông ta. Con người phải nhục nhằn, mòn mỏi thêm nữa, thêm mãi; phải trường kỳ thống khổ để khi đạt được lý tưởng cộng sản, nó trở thành kẻ mất hết cảm xúc, cảm giác; nó không thèm muốn đến cả hạnh phúc nó mơ ước. Bởi vì, lúc ấy, nó hết là con người. Năm 1848, Engels phóng ra Tuyên ngôn Đảng cộng sản, tính đến nay, 1987, đã là 139 năm. 139 năm loài người “có” chủ nghĩa và Đảng cộng sản mà chủ nghĩa và Đảng ấy mới chỉ hồ hởi phấn khởi thông báo rằng, đã có những hai công dân hưởng quy chế xã hội cộng sản ở Đông Đức! Nếu thành tích khiêm tốn này chưa đủ nói lên sự “ưu việt” của chủ nghĩa cộng sản “bách chiến bách thắng”, của “đỉnh cao trí tuệ” loài người, nên ghi chú thêm rằng: Hai công dân Đông Đức hưởng quy chế xã hội cộng sản là hai nhà bác học! Mà quy chế xã hội cộng sản là gì? Đó là mua sắm ăn uống ở bất cứ nơi nào cũng không phải trả tiền. Đặc biệt không phải… xếp hàng, chen lấn! Như thế, còn lâu ngục tù mới rập khuôn cộng sản. Và nó chẳng thể giúp tù nhân hiểu thêm sự thống khổ mới của quy chế ngục tù cộng sản. Nên trại lao cải nào cũng giống trại lao cải nào, nhà tù nào cũng giống nhà tù nào. Đã sống tĩnh ở Chí Hỏa, đã sống động ở Sa ác là đã sống trong bóng tối, ngoài ánh sáng, sống trọn vẹn cuộc đời tù tội không xét xử, không án tích.
Hai mươi năm trước, đọc bài phỏng vấn danh ca Charles Aznavour đăng trên tuần báo Jour de France, sau chuyến đi trình diễn của Aznavour ở Liên Xô về, tôi thấy người danh ca này có nhận xét độc đáo vô cùng.
– Ông vừa trình di diễn ở Liên Xô về?
– Vâng.
– Khán giả Liên Xô thế nào?
– Ở Liên Xô, đã thành công tại Moscou, sẽ hoàn toàn thành công khắp nơi. Tôi đã thành công tại Moscou. Ở Mỹ chẳng hạn, thì khác. Thành công tại Washington chưa chắc đã thành công tại Houston, có khi, còn thất bại tại Los Angeles…
Trong chế độ cộng sản, mọi thứ đều rập khuôn, kể cả khuôn thưởng ngoạn nghệ thuật, khuôn hoan hô, khuôn đả đảo, khuôn nói dối, khuôn hứa láo, khuôn bịp, khuôn đạo đức giả, khuôn chà đạp phẩm cách con người, khuôn tước đoạt nhân quyền, khuôn bắt bỏ tù, khuôn lao cải…. Thì qua một nhà tủ đã là qua tất cả nhà tù, qua một trại tập trung đã là qua tất cả trại tập trung. Ở Z30 D không có những con gọng vó để tôi được soi sáng thêm cái triết lý sống lội ngược dòng. Nên tôi nhớ Sa Ác, nhớ sông Ray, nhớ đề lao Gia Định, nhớ khu C1, nhớ Chí Hoà, nhớ khu FG. Tôi có ý nghĩ này: Càng ở những nơi đau khổ nhất, con người càng gần gũi nhau và lòng người rộng mở, tình người thắm thiết. Ở nhà tù, khi anh từ cachot ra, anh được đón tiếp như anh em ruột thịt lưu lạc phương xa trở về mái nhà gia đình… Ở trại tập trung, khi anh từ cachot ra, anh cảm thấy lẻ loi, cô độc dù, đôi bận, anh đã vì mọi người mà “dấn thân’ vào cachot. Thành ra tôi tương tư nhà tù, tôi thèm được trở lại nhà tù, thèm được ghẻ mủ, thèm được cấp mỗi ngày bốn ca nước, thèm nghe tiếng kẻng gầm gừ đe dọa thân phận làm người… Con người chỉ có thể ngủ vùi trong hoan lạc mà khó có thể ngủ vùi trong thống khổ. Nỗi thống khổ giúp con người thức tỉnh, suy tư truy nã thân phận nó, thân phận dân tộc nó và thôi thúc nó chiến đấu. Thiếu thống khổ bản thân là thiểu cảm thông nỗi thống khổ của tha nhân, đôi khi, còn thô bạo dầy đạp lên cả nỗi thống khô của tha nhân, của dân tộc, của nhân loại. Những kẻ chưa một lần thống khổ là những kẻ chưa biết chiến đấu. Những kẻ chưa kể khổ, than khổ, tố khổ lại là những kẻ không biết chiến đấu Nhưng, tệ mạt nhất, vẫn là những kẻ tưởng tượng thống khổ, bêu nhục thống khổ và nhân danh khổ để đấu thầu lòng yêu nước, sự vinh hoa và một chút tiếng tăm gầy còm. Những kẻ này cần thiết phải bị vào nhà tù cộng sản. Để họ vỡ nghĩa thống khổ. Để họ hiểu cái hun hút của một ngày tù. Một ngày thôi. Nói chi một tháng, một năm, sáu năm, mười năm, trọn đời. Sự phán xét phẩm cách, nhân cách của người khác chỉ có giá trị khi chính ta bị bỏ khát ở conex những trưa nắng bỏng, ta há hốc miệng, lưỡi thè ra như chó và ta sẵn sàng liếm từng giọt nước do cai ngục hắt qua kẽ hở của cửa Conex. Những kẻ hăng say luận về nhân cách, về lòng can đảm thường quên bản năng sinh tồn. Tôi tin rằng, bị bỏ khát trong conex, những kẻ ưa phán xét con người nhất sẽ là những kẻ không thích liếm giọt nước hình phạt mà tình nguyện quỳ lạy để nốc ừng ực một ca ân huệ có điều kiện sám hối. Chỉ cần một lần xuống hầm phân vục cứt đầy ròi bằng tay trần, chỉ cần một lần lặn xuống sông kiếm đá, ở Sa Ác, tôi tự cho phép tôi ngồi lên mặt những kẻ hèn mạt chuyên nghề phì nọc độc vào nỗi bất hạnh của đồng loại.
Bỗng tôi nhớ Chí Hòa và Đoàn Kế Tường vô cùng.

Người bạn tuổi nhỏ của tôi có biệt tài “sáng tạo” lời ca cho những bản nhạc “cách mạng” và nhạc “Mỹ Ngụy”. Anh ta “chế” lời bản Love Story, tiếc rằng tôi quên hết, chỉ nhớ câu đầu. Tôi nghĩ, chỉ cần một câu là diễn tả trọn vẹn tâm sự của tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng trong các chế độ cộng sản.
Biết vào tù rất khó
mà mình vào tù rất dễ
Mình vào tù rất dễ
mà mình về thì rất khó
Ba năm rồi đó…

Khi Đoàn Kế Tường nghêu ngao, cả phòng cười. Cười xong thì thấm thía. Sống với cộng sản, vào tù thật dễ, thật đông, vào cả làng một lúc mà về thật khó, thật ít, về từng người. Đoàn Kế Tường là vua chế lời ca mới và vua sưu tầm lời ca “phản động” của dân gian. Anh ta đã hát cho chúng tôi nghe bài Đường tầu thống nhất
Năm xưa anh phá núi, em mở đường
xuyên Trường Sơn đồi núi chập chùng
Năm nay cũng bao bàn tay
phá núi trên mở núi dưới
Tự hào là ta anh dũng
Tự hào là những chàng trai
Tuổi thanh niên sức dai Phù Đổng
Cháu ngoan của bác Hồ
đi mở đường thống nhất quê hương….


thành bài Bài ca của dân móc túi
Năm xưa anh móc túi em giật đồ
xa-cảng Miền Tây thành phố Sàigòn
Năm nay cũng bao bàn tay
móc túi trên luồn túi dưới
Tự hào là dân móc túi
Tự hào là những chàng trai
Tuổi thanh niên trót theo cộng sản
Cháu ngoan của bác Hồ
chuyên giật đồ móc túi nhân dân…

Google photos edit by Sơn râu

Bài Vàm Cỏ Đông
Ở tận sông Hồng em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông
Anh vẫn gọi với lòng tha thiết
Vàm Cỏ Đông… ơi…Vàm Cỏ Đông


Thành bài Vùng Bù Đăng.


Ở tận Huê kỳ anh có biết
Quê hương em đếch có gì ăn
Em mới dọn đến vùng kinh tế mới
Vùng Bù Đăng hay Bù Nho
Vùng Bù Đăng hỡi vùng Bù Đăng
Sắn ngô nhai mãi khốn khổ vô cùng
Mỹ cút đi rồi, chồng học tập muôn năm


Bài Lá đỏ:
Gặp em trên cao lộng gió
Đường Trường Sơn ào ào lá đỏ…


Thành bài Chợ trời:
Gặp em khơi khơi đầu gió
Đường Hàm Nghi ồn ào lính đuổi
Em đứng cạnh cột đèn như con buôn
vai áo nhuộm phong trần
Quần đen, bao nhiêu một cái
Đài xài pin chừng nào mới đổi
Em bán bằng tiền Hồ hay đô-la
hay giá vàng Kim Thành


Chào em, em gái chợ đen, ôi em gái chợ đen
Hẹn gặp em giữa nhà tù


Đoàn Kế Tường thuộc, ít nhất, hai chục bài ca cách mạng lời… hai. Anh ta chế lời bài Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn mới thú vị:

Một nghìn năm ta đuổi thằng Tầu
Một trăm năm ta đuổi thằng Tây
Hai mươi năm đuổi Mẽo từng ngày
Gia tài của mẹ: gạo độn ngô khoai
Gia tài của mẹ: gạo mốc dài dài.
Dạy con đeo răng sắt mà nhai
Dạy con mua thuốc đau dạ dầy
Ăn sắn con thành chai
Ăn sắn tiêu hình hài

Chưa đủ, anh ta chế thêm:
Một nghìn năm sinh được cụ Hồ
Một trăm năm răng rụng cạp ngô
Hai mươi năm sản xuất từng giờ
Gia tài của mẹ trả nợ Liên Xô
Gia tài của mẹ còn cái chuồng bò.
Dạy cho con lấy đá mà ăn
Dạy cho con lấy rơm mà gặm
Con sẽ no lầm than
Con sẽ no nhục nhằn…


Tôi đã mơ mộng, nếu thoát đời tù, trốn ra ngoai quốc, xách đàn đi hát dạo những “ca khúc cách mạng” lời “phản động”, đọc ca dao và kể chuyện tiếu lâm cộng cho đồng bào hải ngoại nghe. Giấc mộng của tôi đã cháy. Bây giờ, nó thành tro tàn. Người ta không hiểu nổi giá trị chống cộng sâu sắc của dân gian. Và người ta đã, đang, tiếp tục chống cộng sản theo cung cách “mới”, cái thứ “mới” làm héo hon niềm tin của người ở lại, của cả kẻ ra đi, cái thứ gọi là mới mà đã cũ mèm, lạc hậu, trong khi, cộng sản không ngừng “sáng tạo” những thủ thuật lưu manh. Mỗi thủ thuật cộng sản phóng ra, chúng ta chới với, chúng ta chụp mũ lẫn nhau lung tung, chúng ta chổng chúng ta, chúng ta chia rẽ nhau và chúng ta giết nhau. Riêng cái thủ thuật chấp nhận cho người Việt Nam rời khỏi Việt Nam sau 1975, bất kể chính thức, bán chính thức hay vượt biên, vượt biển, được về thăm Việt Nam, du lịch Việt Nam dễ dàng, cộng sản đã được cả chì lẫn chài. Chì là ngoại tệ và tuyên truyền. Chài là chúng ta gấu ó nhau, ngờ vực nhau và vô hiệu hóa tị nạn chính trị. Lúc nào và ở đâu, cộng sản cũng thâm độc. Sau ngày 30 tháng 4-1975, chúng ta nhận diện rõ những tên nằm vùng gộc, những tên ăn cơm quốc gia ngon nhất, những tên chống cộng nỏ mồm nhất và chụp mũ cộng sản lên đầu người quốc gia kỹ nhất. Những tên nằm vùng này nằm trong mọi lãnh vực, mọi cơ cấu quốc gia. Người ta sẽ nhìn rõ “đồng nghiệp” nằm vùng của chúng ở Hoa kỳ, ngày nào đó, khi Hoa kỳ bang giao với cộng sản Việt Nam. Người ta sẽ ngỡ ngàng. Người ta sẽ có kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm đó không còn cơ hội… rút tỉa nữa. Cũng chẳng ai thiết rút tỉa nữa. Nói tóm lại, cộng sản Việt Nam đánh chúng ta mọi mặt, đánh rộng rãi, đánh kiểu mới; chúng ta thu hẹp sự đánh cộng sản vào từng Mặt trận, từng Lực lượng, từng Hội đoàn… Chúng ta đánh chúng ta kỹ hơn chúng ta đánh cộng sản. Cộng sản chuyên chế, cấm đối lập. Chúng ta cũng cấm… đối lập, dù chúng ta hô hoán chiến đấu cho tự do, dân chủ. Năm 1985, ở Mỹ, ở Úc, ở Âu, chúng ta vẫn chống cộng kiểu cũ, mốt 1954 ở Việt Nam. Vẫn vậy, những cuộc tuần hành đả đảo cộng sản ngày quốc hận 30-4-75 như ngày quốc hận 20-7-54, càng năm càng thưa dần. Vẫn vậy, những trang báo, những hình ảnh mô tả Hà nội, Sài gòn hôm nay nghèo đói, cúp điện. Vẫn vậy, những buổi diễn thuyết hiếm hoi bàn về cái thế tất thua của cộng sản một cách khơi khơi. Cái mới mà chúng ta mong mỏi là tư tưởng chiến đấu thật mới, thật thích ứng với người Việt lưu vong để tận diệt cộng sản giải phóng quê hương thì chưa hề có. Nhưng đã có những Hội Nghị và Nghị Hội với những khuôn mặt cũ mèm không bao giờ biết xấu hổ. Xin làm ơn ghi nhận: Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều khuôn mật thật mới. Hình như ít ai trong chúng ta “bi quan” nghĩ rằng, chúng ta không được phép thất bại, không còn thì giờ làm lại nữa vì chúng ta “lão thành” rồi. Hình như, tất cả đều “lạc quan” mình còn trẻ lắm, sau mình là đại hồng thủy nên đã thất bại liên miên, đã làm lại liên miên và chưa chịu tỉnh ngộ những kẻ đã hết thời thì không thể tạo thế.
Hôm nay là thế của tuổi trẻ dĩ vãng vằng vặc trăng sao, hiện tại hừng hực mặt trời, thời của sư tử trẻ không còn là thời của mèo già. Tuổi trẻ sẽ tạo ra thế. Nhiệt tình, tự phụ, thông minh, kiến thức và lương thiện của tuổi trẻ tạo ra cái thế chiến đấu mới để chiến thắng cộng sản. Nhưng, tuổi trẻ, anh ở đâu, thần tượng của tôi, hy vọng của dân tộc? Anh cũng còn chưa có mặt tại Nghị Hội, nói chi anh là lãnh tụ. Mà tôi, tôi chưa ngu đi lạy bọn mèo già hen suyễn để chúng nó “thương tình” cho tôi ân huệ trình bầy sự chống cộng sâu sắc của đồng bào quốc nội và đồng bào quốc ngoại. Bởi, tôi biết mèo già sẽ từ chối. Chúng nó không thích ai chổng cộng sản hay hơn chúng nó. Chúng nó độc quyền hen suyễn khò khè chống cộng sản.
Một triệu bài báo viết về sự nghèo đói của thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không hơn một bức hí họa không lời của dân gian vẽ trên tường rêu của Hà Nội. Bức tranh rất đơn sơ: Cái xe đạp không chuông, không “phanh”, không đèn, không “gác đờ bu” , “gác đờ sen”, chỉ có có mỗi cái “poọc ba ga” chở ba bó rau muống. Mỗi bó rau muống được ghi chú bằng lời một bài hát ca ngợi Đảng: Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau.  Vậy thì ba bó rau muống trên cái “poọc ba ga” của cái xe đạp tam tứ ngũ lục thất bát. . .vô, bó thứ nhất cho ngày nay, bó thứ hai cho ngày mai, bó thứ ba cho muôn đời sau , tưởng đã đủ “chửi cha” Đảng và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị chống cộng của bức hí họa là nó đánh cộng sản ngay trên đất cộng sản, nó đánh Đảng, đánh bọn thống trị bóc lột quần chúng và làm ngu dốt quần chúng. Nó không đánh nạn nhân của cộng sản, những người sống trong quỹ đạo cộng sản và bị trở thành công cụ tội nghiệp của cộng sản. Nó không đánh con người khờ khạo nói ngọng.
Đến câu chuyện tiếu lâm sau đây thì tôi quả quyết quốc ngoại chống cộng thua hẳn quốc nội chống cộng về mặt tư tưởng: Unesco tổ chức thi tranh, giải thưởng lớn, đề tài “Nạn đói và người đói”. Các nước trên thế giới đều được gửi tranh dự thi, bất kể theo chế độ chính trị nào. Vòng thứ nhất, tranh của họa sĩ Hoa kỳ bị bại. Vòng nhì: các nước Tây Âu. Vòng ba: các nước Nam Mỹ, Phí Châu. Vòng tư: Liên Xô và các nước Đông Âu. Cuối cùng, Unesco tuyên bố tranh của họa sĩ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đoạt giải thượng ngoại hạng. Phòng triển lãm khai mạc chỉ treo bức tranh thuộc loại “siêu phẩm” trúng giải. Loài người háo hức đi xem và đều trầm trồ ca ngợi là thể hiện đúng “Nạn đói và người đói” ở các nước cộng sản. Bức tranh diễn tả một công dân Việt Nam trần truồng, gầy đét, ngồi khom lưng rặn ra. Rặn hoài mà phân không ra. Rặn đến màng nhện mọc kín đít, trùm mông mà phân vẫn không ra. Vì có gì ăn đâu mà tiêu hóa! Đói thế là đói ở cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tiếu lâm trên được ca dao phụ họa:
Từ khi ta có cụ Hồ
Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào


Và

Ai sinh ra cái củ mì
Hỏi để làm gì, đáp để mà ăn
Nước nhà mãi mãi khó khăn
Dân mình mãi mãi phải ăn khoai mì


Tôi không mấy tin tưởng vào “sự nghiệp chống cộng” của những kẻ thiếu nhiệt tình và chưa hề thể nghiệm nỗi thống khổ kinh qua đoạn trường cộng sản. Những lãnh tụ mèo già hen suyễn khò khè chống cộng chỉ khiến tôi buồn nôn. Từ trong ngục tù tôi đã nghĩ rắng những cái sẹo cộng sản trên thể xác đàn anh, những dấu ấn cộng sản khó phai nhòa trong tâm khảm đàn anh, sự lương thiện chiến đấu của đàn anh cộng với nhiệt tình và lòng tự phụ của đàn em, chắc chắn, sẽ làm nên đại sự. Đàn em đủ sức công kênh nhau hái trái chín vàng mơ ước nấp sau chùm lá nào đó trên cây cao mỏi mắt chờ đợi đàn anh hướng dẫn. Nhưng đàn anh biết trái chín vàng mơ ước ở chỗ nào mà không chịu chỉ hay đã chỉ láo, chỉ bậy để đàn em múa tay vu vơ rồi tuyệt vọng và sa đọa. Tôi nhớ Đoàn Kế Tường, nhớ Chí Hòa và nhớ vô cùng những con sư tử lãng mạn tôi đã gặp ở đề lao Gia Định… Dù bị quốc gia giả đạo đức, dù bị cộng sản đánh dập đánh vùi và gắn cho tước hiệu “nhà văn du đãng”, đọc lại Điệu ru nước mắt, Sa mạc tuổi trẻ, tôi vẫn thấy tự hào là đã nói lên được nỗi niềm u ẩn của tuổi trẻ. Tôi lại tiếp tục nói giùm tâm sự của họ, của tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-1975, khi tôi gặp họ trong tù, ngoài đời; trong nước, ngoài nước. Tuổi trẻ trong nước đã kinh qua thống khổ cộng sản. Tôi tin rằng tuổi trẻ ngoài nước cũng đã kinh qua thống khổ cộng sản hoặc đã cảm thông nỗi thống khổ cộng sản mà dân tộc đang ngậm ngùi chịu đựng.
Thế thì, giấc mơ của tôi không tàn. Vì chúng ta còn tuổi trẻ, còn nhiều tuổi trẻ.

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 4 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu 4 Jul 2024

Phần 13

Duyên Anh

Ở Đội văn nghệ và thể thao, mọi người đều quý tôi. Đội này không có tù hình sự. Đa số là sĩ quan và hạ sĩ quan cảnh sát. Phần còn lại là sĩ quan quân đội. Những người này đã trải qua nhiều trại lao cải. Tôi nằm phía trên, giữa Biên và Hưởng. Một hôm, Biên tâm sự:
– Chúng nó bảo thằng Có, thằng Hưỏng và thằng Ánh là “ăng-ten” gây ra vụ một số anh em đi Phú Khánh.
– Tôi không cần biết.
– Ông nên biết.
– Biết để làm chi. Toàn chuyện tầm phào.
– Biết để hiểu trắng và đen, đen và trắng trong tù.
– Vậy ông kể đi.
– Thằng Ánh đã sang làm Đội trưởng Đội trừng giới, chúng nó càng tin nó làm “ăng-ten”. Tết vừa rồi, thằng Ánh sáng tác khẩu hiệu, thơ vè; thằng Có vẽ và viết tay trái; thằng Hưởng dán. Thằng Có vẽ ở phòng hội hoạ, ai dám nghi nó. Thằng Hưởng ảo thuật dán nhanh như làm trò. Cả trại khoan khoái đọc thơ, vè, khẩu hiệu, khen nhặng những thằng dám chơi là ái quốc là can đảm.
– Rồi sao lại thành”ăng-ten”.
– Vì chúng nó chửi những thằng viết, vẽ dán khẩu hiệu, chửi loạn cả lên.
– Tại sao có vụ đi Phú Khánh?
– Chuyện cũ tích lại. Ông Huỳnh Thành Vị nhà tôi cứ ngứa miệng cãi chuyện Paris với thằng chưa đến Paris rồi chửi nó ngu ngọng. Cán bộ nghe thấy nó bèn chụp mũ ông Vị chửi nó ngọng. Ông Duy Trác thì chủ nhật nào cũng vác đàn đi hát nhạc vàng… ôi, đủ thứ. Xẩy ra vụ dán khẩu hiệu chửi cộng sản, nó không bắt được ai bèn giận cá chém thớt đưa những anh bị nó ghim ra Phú Khánh dằn mặt anh em.
– Hưởng, Ánh và Có im lặng?
– Chứ cái gì nữa! Chúng nó không buồn vì còn một vài người biết chuyện. Đấy, trắng hóa đen là vậy. Tôi bị chúng nó chửi cò mồi, nay đến ông bị cất một chỗ cũng cứ rằng đã gặp phái đoàn Liên-tôn làm cò mồi. Cái trại này táp nham, ông sống lâu sẽ rõ. Ông sẽ khổ tâm lắm đấy. Cộng sản nó theo dõi ông, tù nhân theo dõi ông từng hành động. Ai bảo ông nổi tiếng? Vào tù vô danh tiểu tốt là yên thân.
– Ông nhận xét đúng.
– Ở tù cộng sản có những nỗi oan không dám thanh minh. Như tôi. Tôi cò mồi mẹ gì đâu. Anh Trương Đình Huân phục vụ ở UNESCO nhờ Amnesty International can thiệp cho tôi vì gốc tôi là giáo sư biệt phái về Trung tâm học liệu. AI ghi tên tôi và trại tôi đang cải tạo. Thằng Dụ cũng thế. AI đòi gặp hai đứa tôi. Chúng tôi thông dịch theo đúng lời nói của tù nhân được phỏng vấn. Có thông dịch viên của họ giám sát vớ vẩn ốm đòn à? Nó đâu tin mình. AI hứa can thiệp cho tôi về sớm. Tôi phải làm kiểm điểm mờ người, phải hứa không tiết lộ chuyện AI can thiệp cho tôi. Rồi chúng tôi bị biên chế qua Đội văn nghệ. Tôi văn nghệ mẹ gì. Nó đề phòng tôi ngứa miệng bên khu B. Ngu sao. Tôi ngậm họng mặc chúng nó chửi lèm bèm.
Lê Ngọc Biên triết lý:
– Người Việt Nam đếch có kinh nghiệm gì cả, kể luôn kinh nghiệm ở tù cộng sản. Chỉ a dua, phán xét bậy.
Biên nói đúng. Đã không có kinh nghiệm cộng sản đến nỗi bị nó bắt bỏ tù rồi vẫn không chịu học tập kinh nghiệm cộng sản trong tù. Hình như, cái…truyền thống bạn đáng diệt hơn kẻ thù có từ 20 năm miền Nam chống cộng. Kẻ thù xa, đối lập gần. Đối lập có thể đảo chính mình, kẻ thù thôn tính cả nước. “Đất nước mất, mất tất cả”. Cả nước rơi vào tay kẻ thù, ô kê. Quyền bính của mình rơi vào tay đối lập, nô ô kê. Truyền thống này đưa sang Mỹ, sang Tây. Mày đối lập ông, mày nguy hiểm hơn cộng sản. Nghĩ cũng bẽ bàng khi phải đứng chung chiến tuyến với bọn vô lại. Bọn vô lại kháng chiến, phục quốc chỉ muốn những người chống chúng nó gian manh, bịp bợm bỏ rơi chuyện chống cộng hoặc đầu hàng cộng sản. Để chúng nó tự do kháng chiến bịp, phục quốc lừa. Có một thằng vô lại vén môi lên tồ tồ rẳng: Giải phóng Việt Nam không phải  là ước mơ mà còn là nhiệm vụ, bổn phận. Tôi tìm cách giành lại quê hương bằng cách làm cho cộng sản kiệt quệ về quân sự, kinh tế, chính trị! Rõ khẩu khí một thằng vô lại. Nó đã viết sách nhận nó ngu dốt chính trị, thầy nó không chịu dạy nó. Nay nó đòi “giành lại quê hương đòi làm cho cộng sản kiệt quệ chính trị”. Lại còn kinh tế nữa, trời ạ! Độc Ngữ viết hai câu thơ khá độc:
Đó cái gọi là tướng
Lũ sán kim ngọ nguậy ngứa hậu môn

Thằng này câm đi thì dần dần hết vô lại. Nó càng đao to búa lớn, càng vô lại hết thuốc chữa. Quê hương Việt Nam không cần vô lại nữa. Thời của vô lại cai trị dân tộc đã cáo chung. Thầy Gerald Ford dạy: “Lịch sử đã sang trang”. Hiểu chưa? Đã sang trang mới cho tuổi trẻ Việt Nam làm chính quyền. Sẽ không còn phỉ quyền gian ác và ngụy quyền vô lại trên quê hương Việt Nam tương lai.
– Ông ạ, tôi linh cảm tôi sắp về. Biên nói.
– Ông tin AI cứu nổi ông?
– Tin lắm.
– Tốt thôi.
– Tôi hiểu chỉ ông mới viết được truyện về những đứa trẻ con ở trại Phú Văn.
– Truyện thế nào?
Biên kể ngọn đồi mà tù nhân cải tạo đặt tên là Đồi Fanta (La Colline de Fanta, Les Éditions Belfond). Ngọn đồi này đã làm tôi quên mọi ưu phiền Z30 D. Ít ra, cái trại lao cải hắc ám cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, đã cho tôi một toan tính ngày mai. Tôi ghim vào đầu óc ngọn đồi ô nhục và hy vọng sớm được tha để viết cuốn sách về nó.
Những ngày ở Đội văn nghệ và thể thao, tôi có dịp đi lao động ngoài quốc lộ. Quản giáo đội này tên Hào, ham chơi hơn giáo dục tù nhân. Chúng tôi thường cuốc bộ theo hướng ra Phan Thiết. Chừng hai cây số cách trại, có một cái chợ nhỏ của một xã nằm sát quốc lộ. Tên chợ tôi quên rồi. Chợ có vài quán cà phê, hủ tíu, bún bò xào. Mỗi sáng, đội của chúng tôi dừng chân nơi đây ăn điểm tâm uống cà phê rồi mới vào rừng. Quản giáo và vệ binh ở lại đá banh bàn, thụt bi da và ngủ. Đội muốn đi đâu muốn làm gì tùy ý, miễn là trở lại tập họp tại chợ đúng 14 giờ. Đội lao động rất lè phè và “tự do” mua bán, ăn uống. Đó là lý do phải chấp nhận sự ghét bỏ của các đội khác.
Tôi lấy làm lạ điều này: Không hề thấy tù nhân hình sự hay chính trị ở các đội lâm sản trốn trại. Những người này muốn trốn, sẽ trốn dễ dàng. Họ vào rừng từ 7 giờ sáng, 16 giờ mới về. Các đội lâm sản không cần vệ binh. Làm sao đủ vệ binh canh giữ? Vậy tù nhân tự giác. Và hiếm họa lắm mới có một tù nhân ở đội lâm sản ra đi không về… trại. Dẫu có tù nhân ra đi, các tù nhân còn lại vẫn tự do vào rừng và, nếu thích, cứ việc sắp xếp chương trình về sum họp gia đình không cần Giấy ra trại. Điều lạ ấy chính là nghệ thuật quản lý tù nhân của cộng sản. Đâu cần Phạm Hùng hay Cao Đăng Chiếm chọn tù nhân biên chế vào đội lâm sản. Chỉ là Ban Giám Thị và đám công an chăn trâu cắt cỏ, ngọng níu lưỡi tuyển chọn. Tù nhân tiến bộ đến mức không thèm trốn trại. Các đội lâm sản không chấp nhận sĩ quan tác chiến, quân báo, nhẩy dù, thủy quân lục chiến. Phản động cũng bị chê. Đa số là cảnh sát và sĩ quan văn phòng. Nếu tôi còn ở Đội văn nghệ và thể thao, thể nào cũng có ngày tôi trốn trại. Tôi đã phác họa kế hoạch ngon lành. Rất tiếc, chưa kịp trốn thì tôi bi biên chế sang Đội 27 nông nghiệp. Có lẽ, người ta đã đoán được âm mưu của tôi.
Đội 27 nông nghiệp của K Z30 D, khi tôi sang, vừa thay đổi quản giáo mới. Quản giáo tên Hà, dân Hà Tĩnh. Kinh nghiệm ở tù cho tôi biết điều này: Hễ tên cai tù ở miền nào bị Mỹ dội bom nhiều nhất, tên ấy khe khắt nhất. Quản giáo Hà là tên cai tù ấy. Hắn mang quân hàm trung sĩ. Đội của tôi nhan nhản đại úy, trung úy phi công, hải quân. Và cũng nhan nhản hình sự vô lại. Tôi được sống lại không khí xô bồ như ở các phòng giam đề lao Gia Định, khám lớn Chí Hòa. Bấy giờ, Đội trưởng lành Vũ Tiến Đạt, một người đầy đủ tư cách. Hiện trường lao động của chúng tôi nằm sát con đường ra vào cổng chính của trại, đối diện nhà thăm gặp. Chúng tôi có nhà lô. Sa Ác B không có nhà lô. Đội 27 đã canh tác nhiều vụ khoai, ngô và đậu xanh. Đội chia nhiều Tổ và các tổ lao động giống nhau, không chuyên biệt như đội rau xanh. Công việc của tôi là cuốc đất, lên luống, rắc phân hoá học, đặt phân xanh, bỏ hạt bắp, giây khoai, làm cỏ bắp, vén giây khoai… Chờ đợi thu hoạch chúng tôi chặt cây điên điển đào hầm chôn để làm phân xanh cho vụ mới.
Mùa thu hoạch thì lao động cả chủ nhật. Hết bắp lại ngô. So với Sa Ác lao động ở Rừng Lá không đáng kể. Tôi bằng lòng thái độ lao động của tù nhân Sa Ác hơn. Ở đội của tôi tại Z30D, người ta chấp nhận nghe quản giáo “giáo dục”. Người ta thản nhiên” Nghe chúng nó chửi quen rồi”! Và người ta không xấu hổ ăn cắp mướp, ăn cắp bắp non, ăn cắp khoai… Một số tù nhân tự dẫm lên phẩm cách của mình đã bắt cả đội phải xếp hàng, đứng nghiêm, nghe quản giáo phê bình bằng giọng điệu xấc xược, trịch thượng.
Quản giáo không bao giờ giáo dục một tù nhân. Chỉ cần một tù nhân ăn cắp trái mướp trên giàn mướp của hắn, hắn sẽ tập họp đội, miệt thị “các anh toàn bọn ăn cắp, thế mà cứ tưởng mình sĩ quan, trí thức” và đem vợ con tù nhân vào cuộc học tập “các anh là bọn mất tính người, không còn tình người, cố kéo dài thời gian cải tạo để bắt vợ con nhịn ăn mặc thăm nuôi các anh!” Tôi thấy số người tự xóa bỏ nhân cách của mình vẫn bình thản, vẫn nhe răng cười. Tôi thì tôi lấy làm đau đớn lắm. Thà nhịn ăn mướp, thà cuốc đúng chỉ tiêu chứ không chịu nghe cai tù giáo huấn. Nhưng vô ích, tất cả tù nhân tự trọng, những tù nhân bằng lòng để cộng sản thù ghét, không bằng lòng để cộng sản khinh bỉ, đều bị đồng hóa bởi số tù nhân vô lại. Anh Vũ Tiến Đạt hiểu tâm sự tôi . Anh chuyện riêng với tôi:
– Sự khốn nạn của chúng ta là chúng ta đã không được phép chọn người sống chung một đội.
– Cộng sản nó muốn vậy.
– Đồng ý, song anh đã rõ, trong đám vô lại có cả vài ông sĩ quan của chúng tôi. Bọn này to mồm nhất, yêu nước nhất, căm hờn cộng sản nhất và sẵn sàng chụp cứt lên đầu kẻ đồng cảnh ngộ tàn bạo nhất. Anh mới về đội, chưa hiểu hết sự tình não nề. Chia rẽ, kèn cựa, chụp mũ, chửi bới, đánh lộn chẳng còn ra tù…chính trị gì cả. Riết rồi tù hình sự trộm cắp nó khinh thường. Cờ bạc sát phạt nhau tới…tán đường cuối cùng! Tôi cứ giả mù, giả điếc, giả câm. Đánh đấm nhau, chửi bới nhau rồi đưa nhau vào biên bản cuối tuần. Năm năm cải tạo rồi, ấu trĩ gì! Làm Đội trưởng khổ hơn chó.
Đội 27 nông nghiệp, chỉ có vài tên vô lại quậy phá. Chúng nó trêu chọc cả đàn bà, con gái đi thăm nuôi chồng, cha, anh. Chúng nó nói năng nham nhở, mất dậy. Chúng nó đã làm phiền cả đội. Những người đứng tuổi im lặng, cầu an. Đa số phẫn nộ nhưng không tỏ thái độ. Có một tù nhân tên Thành, Trưởng ty cảnh sát thời Ngô Đình Diệm, con bà phước từ khi trình diện học tập cải tạo bị đám vô lại đặt hỗn danh Thành chạp và bị chúng nó ghét ra mặt. Chỉ vì ông Thành đói, ai cho gì cũng nhận và vớ được cái gì cũng ăn. Chúng nó, dĩ nhiên, không cho ông Thành một miếng sắn lát song, ai cho ông Thành nắm mì, dúm tôm khô, chúng nó ngăn cản. Tôi đã thường xuyên tặng hủ tíu, tặng mì vụn, tặng phần bo bo nguyên ngày chủ nhật cho ông Thành. Tôi bị chúng nó ghét. Nhờ tôi có thuốc lào xiện, lại chủ trương “đông phen no lo hao lao”, tôi đã chế ngự chúng nó. Gô thuốc lào mở nắp, tha hồ các “phen” hít và phê. Thuốc lào xiện là thước đo giá trị con người!
– Anh ơi anh đừng ăn cơm chung với thằng Thịnh.
– Tại sao?
-Nó là thằng đi rêu rao anh làm cò mồi. Anh cứ thử hỏi các bố sĩ quan của Sư đoàn 18 là biết nó. Quân báo đấy. Nó bô bô khoe thành tích đã ăn cắp cái máy bơm nước của một nông dân rồi cho lính bán lại cho nông dân này.
– Chuyện nhảm.
– Nhảm gì, cháu của nông dân này lại là sĩ quan cùng Sư đoàn 18 và cùng ở đội mình.
– Cậu thích thì ăn chung với tôi luôn.
-Em mến anh nhưng em ghét thằng Thịnh.
– Cậu muốn sao?
– Anh đuổi ngay thằng Thịnh đi, em xin về ăn chung, phục dịch anh.
Thuốc lào ngon và túi thăm nuôi nặng và thường xuyên của tôi đã “đổi thù thành bạn”. Hợp với thành ngữ Bạn tù tình nhà thổ. Tôi sống yên thân ở Đội 27 nông nghiệp. Rồi tôi trở thành một máy ghi âm chuyên ghi tin miệng của đám vô lại tố cáo nhau.
– Anh này.
– Mấy tháng trước anh đã gặp phái đoàn Liên tôn hả?
– Ai nói vậy?
– Cán bộ giáo dục.
– Nói với cậu à?
– Với bạn em bên khu B, bạn em nói lại với tụi em.
– Cậu tin chứ?
– Hồi đó chúng em tin, chúng em rao rêu hại anh.
– Bây giờ cậu tin cán bộ hay tin tôi?
– Em tin anh.
– Thế thì tôi không gặp phái đoàn nào cả.
-Tại sao cán bộ bịa đặt nhỉ?
– Tôi không hiểu.
Nếu bạn đọc Lê nin toàn tập, bạn sẽ gặp câu này: “Dùng bọn côn đồ mạt hạng để chúng diệt những phần tử lương thiện đối nghịch cách mạng. Khi những phần tử lương thiện bị triệt hạ, sẽ diệt bọn côn đồ mạt hạng”. Cộng sản áp dụng đúng sách vở của sư tổ vào nhà tù. Cho nên bọn tù nhân vô lại, bọn ăn cắp khoai mì, ăn vụng thịt dưới bếp, ăn tranh phần khoai và cơm cháy của heo, vân vân… đã được xử dụng để triệt hạ những tù nhân cố gắng giữ phẩm cách làm người trong bất cứ nghịch cảnh nào.° ° ° Tổ chức của Z30 D hơi khác TH6 một chút. Ở đây không quân sự hóa nếp sống nên thiếu hoạt cảnh báo cáo xuất trại. Các đội cứ ngồi tại sân tập họp, Đội trưởng tới gần điếm canh báo cáo quân số với cán bộ trực trại. Cán bộ ghi vào sổ trực. Thế là đội đứng dậy xuất trại. Qua cổng, tất cả phải dở nón, mũ. Điều này đã ghi rõ trong Nội quy. Ở đây an ninh gọi là chấp pháp. Công an đặc trách an ninh gọi là cán bộ chấp pháp. Chấp pháp của trại chỉ điều tra những việc xẩy ra ở trại. Tù nhân bị chấp pháp gọi lên “làm việc” có nghĩa là chuẩn bị vào cachot. Chấp pháp bao trùm quyền uy. Chỉ dưới Ban Giám Thị. Ở đâycó một đội chuyên gài mìn phá núi và một tổ thiết kế. Ở đây có hồ rộng nuôi cá. Nói tóm lại, nội dung của Z30 D hiểm độc gấp bội TH6, hình thức của nó là… kiểu mẫu. Các phái đoàn ngoại quốc thân cộng sản và không chống cộng sản đều chỉ được dẫn tới Z30 D, K1, khu A và cơ quan. Dĩ nhiên, họ chỉ thấy hình thức. Cộng sản nặng phần trình diễn hơn quốc gia. Nghệ thuật trình diễn của họ cộng thêm nghệ thuật chơi chữ của họ đã khiến thế giới tự do mê sảng. Ở đây, trật tự đa số là tù nhân chính trị. Công an cộng sản hiểu rõ cảnh sát quốc gia. Do đó, trật tự được tuyển lựa từ thành phần cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội.
Trật tự khu A gồm 4 người tạo thành một giai cấp đặc quyền, đặc lợi và trở thành đối tượng thù hận của tù nhân. Người thứ nhất là ông già Tới, can tội hình sự, mẫn cán với cai tù nhưng vô tội vạ với tù nhân, nóng tính mà tâm địa tốt. Người thứ hai là ông già Phú, giảng sư Đại học Vạn Hạnh, can tội vượt biên, thông thạo Anh, Pháp ngữ, kiến thức rộng, giỏi toán học, được chỉ định làm trật tự để dạy một ông chấp pháp học toán và Anh văn. Người thứ ba, tôi quên tên, một ông già cảnh sát hiền lành, cả khu yêu mến. (Ông này được tha hồi tháng 4 1980, người thay thế là một viên chức của VTX, tôi không nhớ tên). Người thứ tư là Trần Trọng Thanh trung uý cảnh sát đặc biệt, chuyên thẩm vấn Việt cộng ở Biên Hoà. Trần Trọng Thanh dân Quảng Ngải, một loại ngụy quân tử trong tù. Hắn xúi ông già Tới gây khó dễ cho tù nhân. Còn hắn, hắn đóng vai thiện. Khuôn mặt Trần Trọng Thanh xám xịt, vui buồn khó đoán. Hắn là cáo già của phòng trật tự.

Google photos edit by Sơn râu

Ở Z30 D, mỗi nhà có một phòng ăn, cửa sổ thoáng mát bàn ghế sạch sẽ. Có bếp lợp mái tôn cho tù nhân ca cóng những ngày được phép ca cóng. Trật tự nấu nướng bằng bếp riêng ở ngay phòng. Họ lấy than hồng của bếp trại mà cải thiện bữa ăn. Họ ăn sang hơn cả cai tù. Cai tù mua thịt cá giùm họ. Rau, mướp, bầu, bí thì họ xin các đội rau xanh. Những ngày lễ lớn hay những hôm đột xuất có thịt heo, trật tự được chia phần thịt tươi gấp 10 tiêu chuẩn tù nhân. Cơm của trật tự luôn luôn thừa thãi. Phòng của trật tự có chiếc máy vô tuyến truyền hình. Máy này, thỉnh thoảng, đem ra sân cho tù nhân giải trí kịch nhạc cách mạng. Trật tự chỉ thị công tác lao động cho vệ sinh và sai phái vệ sinh. Mỗi lần vợ thăm nuôi, trật tự được ngủ với vợ một đêm ở nhà thăm gặp. Cái đặc quyền, đặc lợi do hưởng đầy đặc ân đã khiến một vài anh trật tự quên mất bản thân mình là tù nhân. Ở khu A, Trần Trọng Thanh thâu tóm hết đặc quyền, đặc lợi. Ông già Phú “con bà phước”, ông già Tới vợ đã chết. Trần Trọng Thanh vợ buôn bán khá, mấy đứa con trai lại vượt biên thoát, thăm nuôi ê hề tiền bạc thừa thãi cung phụng chấp pháp và trực trại.
Z30 D, K1 là trại kiểu mẫu, kỷ luật gay gắt nhưng ca cóng tự do ngoài bãi. Ở đây, người ta chỉ đòi hỏi tuyệt đối “an tâm cải tạo” nghĩa là đừng có tư tưởng trốn trại và chống đối Nội quy. Nội quy trại tù là pháp lệnh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thu hẹp. Chống Nội quy tội nặng hơn các tội cũ và mới. Người ta lý luận rằng, ở tù mà chống Nội quy ra đời sẽ chống Chế độ. Bởi vậy trên tấm Giấy ra trại, phần “Nhận xét quá trình cải tạo”, đa số tuyệt đối tù nhân được tha đều ghi câu tương tự danh ngôn bất hủ “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” của nhân vật Số đỏ: “Trong thời gian học tập đã có nhiều tiến bộ, lao động và học tập tốt, chấp hành nội quy của trại nghiêm”. Một số nhỏ bị “nhận xét” thế này: “Trong thời gian tập có tiến bộ nhưng vẫn thiếu thiện chí cải tạo, chưa chấp hành nội quy tốt”. Bèn thêm câu: “Đương sự cần được chính quyền địa phương giáo dục thêm” thì kể như số vất vả. Sẽ bị công an phường bắt “đi học” dài dài. Sẽ có cuốn vở chép nhật ký để công an phường theo dõi mọi sinh hoạt.
Giấy ra trại là một lối chơi chữ của cộng sản. Anh ra trại thôi, có thể, anh lại bị vào trại. Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy đã vào trại sau khi ra trại. Giấy ra trại, với tù nhân mang án phạt “tập trung cải tạo, TTCT” là thứ giấy thủ thân đến khi nhắm mắt. Tiêu đề của nó là Giấy ra trại nhưng văn từ thì lại “Thi hành án văn, quyết đinh tha số… ngày… tháng… năm… của Bộ Nội Vụ. Nay có giấy tha cho anh, chị có tên sau đây…” Trên Giấy ra trại của tôi, ghi rõ “Can tội Nhà Văn Phản Động. Bị bắt ngày 8-04-1976, án phạt TTCT. Theo quyết định, án văn số không có, ngày tháng không có. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cứ… tự do bắt tưới hạt sen, chẳng thèm quyết định, án văn . Thế giới có thể nhìn rõ sự bắt người.,sự giam nhốt người – sự hành hạ người và sự tha người của chủ nghĩa cộng sản trên một Giấy ra trại của bất cứ một tù nhân nào. Nếu mắt thế giới không thông manh và óc thế giới không đặc khịt, họ sẽ tìm ra một định nghĩa về nhân quyền ở Việt Nam hôm nay. Trong phần “Nhận xét quá trình cải tạo” còn hai câu ác độc:
1- Nơi cư trú do chính quyền địa phương quy định.
2- Đương sự không được cư trú tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú trước khi bị bắt.
Nếu tù nhân đã cư ngụ ở nhà của mình do mình đứng tên trên bằng khoán, mình sống chung với vợ con mình trước ngày mình bị bắt, Sài gòn chẳng hạn, nay được tha, chính quyền địa phương nó “quy định” cá nhân mình về Long Xuyên hay lên Ban Mê Thuột mình phải…l ưu vong ngay trên quê hương của mình. Vợ mình nó không làm giấy bảo đảm cho mình tạm trú tại nhà mình thì dẫu chính quyền địa phương quy định” nơi cư trú cho mình là nhà mình”, mình vẫn đành lưu vong. Bị ghi câu số 1 đã lận đận. Bị ghi câu số 2 thì khốn nạn, thì kể như biệt xứ bất thành án văn, khỏi cần vượt biên tha phương cầu thực. Giấy ra trại của tôi ghi câu số 1. May mắn, tôi không bị “quản chế” nên “được hưởng quyền công dân”. Tù nhân bị quản chế một thời gian nào đó, phải trình diện công an địa phương hàng ngày, hàng tuần và chờ đợi sự khoan hồng của nhân dân khu phố mình cư ngụ trong cuộc họp quyết định “trả lại quyền công dân”. Tù nhân dưới chế độ cộng sản, vào tù đã khổ, đã nhục; ra tù còn khổ, còn nhục hơn 1.
Nội quy nhà tù và trại lao cải quan trọng thế đấy. Anh bị tống vào cachot để “thành khẩn suy nghĩ” mà viết tự khai trong thời gian anh bị thẩm vấn thì không sao cả. Anh bị tống vào cachot vì tội trốn trại, tội chống đối Nội quy, Giấy ra trại của anh nhất định bị ghi nhữngcâu nhận xét độc ác. Và đó là bản chất nhân đạo của chủ nghĩa, của chế độ. Ở trại kiểu mau Z30 D, K1, lao động có thể lề mề nhưng tư tưởng bị kiểm soát gắt gao. Bởi nó là son phấn của chính sách học tập cải tạo, là nơi Tú Bà cộng sản dễ lửa bịp khách làng chơi thế giới tự do bằng “nước vỏ lựu, hoa mào gà” Mác-xít-lê-ni-nít!
Đầu tháng 5-1980, Z30 D thả một số đông tù nhân sĩ quan quân đội, cảnh sát và hạ sĩ quan an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt. Lê Ngọc Biên trúng số kỳ này. Những người trúng số K2 và K3 ra hết K1. Họ tập trung ở hội trường, ăn ngủ ở đó thêm 10 ngày để chờ làm thủ tục. Thủ tục là gì? Lãnh đồng hồ, bút máy nhẫn vàng, giây chuyềnvàng đã đăng ký. Lãnh giấy ra trại, tiền đi đường…. Chỉ cần làm việc một ngày là xong mọi thủ tục. Nhưng Ban Giám Thị muốn “thầu” nhân lực 10 ngày của tù nhân. Họ sắp về nên lao động hăng lắm. Tù nhân vào rừng chặt đọt buông và bắt cắc kè để Ban Giám Thị bán cho Hợp tác xã ở thành phố Hồ Chí Minh. Tiền vào túi Ban Giám Thị. Không có bảo đảm về tính mạng cho tù nhân đã được tha nếu họ chết trong lao động “làm giày cho Ban giám thị”. Những người được tha mòn mỏi thêm 10 ngày. Họ rất sợ Bộ Nội Vụ ra quyết định mới giữ họ lạivài năm nữa. 10 ngày lâu bằng suốt quá trình lao cải. Chỉ khi xách túi hành lý nhỏ, cầm giấy ra trại, lĩnh vài đồng bạc tiền đường và bước nhanh ra quốc lộ, người được tha mới thở phào. Ân huệ của cộng sản thật đòi đoạn. Ban Giám Thị Z30D đã bóc lột tù nhân đến giọt giọt mồ hôi lao cải cuối cùng.
Giám thị Z30 D tên Nguyễn văn Mạnh, mang quân hàm Đại tá công an, già nua, có cô vợ trẻ. Vợ hắn bắt tù canh tác riêng một vườn ngô, vườn khoai. Tù nhân phải ăn thêm ngô, khoai của vợ Giám thị Mạnh. Mụ này bán ngô, khoai cho trại. Mụ cũng nuôi đàn vịt, bán trứng cho tù nhân qua trung gian tù nhân Đội chăn nuôi, giá cắt cổ. Ở Z30 D, chúng tôi phải ăn sắn lát. Bạn biết sắn lát chứ? Nông dân hai bên quốc lộ số 1 thuộc phạm vi huyện Hàm Tân trồng khoai mì, thái từng lát mỏng, phơi nắng đầy đường cho khô cứng rồi đóng bao bố nộp thuế nông nghiệp cho nhà nước. Nhà nước bán rẻ cho nhà tù. Nhà tù hầm sắn lát cho tù nhân ăn. Sắn lát ăn với nước muối. Tiêu chuẩn như vầy:
– Sáng, điểm tâm một chén sắn lát đầy có ngọn. Lao động 4 giờ.
– Trưa, một chén sắn lát, một chén cơm. Lao động 4 giờ.
-Chiều, một chén sắn lát, một chén cơm. Ngủ 8 giờ.
Ăn sắn lát thảm hơn ăn bo bo, ăn bắp đá. Với khoai, bắp, sắn, bo bo là thực phẩm lý tưởng. Răng rụng và bao tử loét vì bắp đá, bo bo, sắn lát.
Thỉnh thoảng, tù nhân bị ăn cá biển ươn cả tuần. Chả là công an kinh tế ngoài quốc lộ bắt trúng cá Phan Thiết chở vào Sài gòn bán lậu. Bèn phạt. Dân buôn chạy tiền phạt thời gian hạn định không nổi. Đành để công an kinh tế tịch thu. Công an kinh tế bán rẻ rề cho Ban Giám Thị Z30 D. Tù ăn cá thối 7 ngày thì 7 ngày sau ăn toàn sắn lát. Gạo trừ cá. Ban Giám Thị bán gạo cho dân ngoài quốc lộ. Thỉnh thoảng, tù nhân được phát muồng xanh chua lòm. Ăn muồng xanh cũng bị trừ phần cơm. Ban Giám Thị rất giỏi kế hoạch kinh tế…nhà tù. Mỗi tháng, một tù nhân bị ăn cắp một ký gạo nhai sắn lát thay cơm, 3000 tù nhân đã đóng góp vào túi Ban Giám Thị số tiền lớn, năm này qua năm khác. Chưa kể đọt buông, cắc kè của hàng ngàn tù nhân được tha “lao động tự giác 10 ngày”. Z30D, bí số của đốn mạt! Nó là thứ kiểu mẫu của gian lận, bịp bợm.
Z30 D có hai nhân vật tù nhân. Ông Paul Nur, Tổng trưởng Bộ sắc tộc triều đại Nguyễn văn Thiệu và cụ Trân (hay Trản), thân phụ của cố thiếu tướng Nguyễn văn Hiếu. Ông Paul Nur, “con bà phước”, nấu bếp ở Đội cấp dưỡng. Tổng trưởng Paul Nur thường được cán bộ ưu ái cho giết bò những ngày lễ lớn. Đền công ông, cán bộ tặng ông da bò! Ông đem về treo sàn bếp. Một ngày xấu trời của năm 1982, Tổng trưởng Paul Nur ăn khá nhiều da bò hầm. Ông bị sình bụng. Bác sĩ Nhơn đã về. Bác sĩ Hoàng Cầm mãi đi chơi xa. Y tá không biết trị bệnh. Thế là Tổng trưởng Paul Nur về…sum họp với tổ tiên. Cụ Trản thuộc loại lão thành phản động. Cụ bất chấp kỷ luật của Z30 D. Hình tưởng một cụ già ngoài 70 tuổi mà còn bị đày đoạ ở Đội trừng giới, sẽ hiểu tinh thần bất khuất của cụ.
Thời gian tôi ở Z30 D, hầu như tháng nào cũng được kết quả xổ số. Tháng 7-1980, khá đông sĩ quan cải tạo ở Thanh Nghệ Tĩnht về Z30 D. Có ông thiếu tá nhẩy dù Phạm Đình Cung, hỗn danh Cung củ đậu. Tù nhân cải tạo ở miền Nam vẫn tưởng tù nhân cải tạo ở miền Bắc ngoan cường lắm. Z30 D đã thất vọng nhóm tù nhân về từ Thanh Nghệ Tỉnh. Họ ở khu B. Nhiều lúc tôi muốn văng tục với loài người. Con người không dám phản kháng chỉ mong con người khác phản kháng. Và khi con người mình kỳ vọng bất động, mình thất vọng, mình coi thường! Tôi đã bị nghe những lời bình phẩm nặng nề tù nhân Thanh Nghệ Tỉnh của những ông tù nhân Z30 D thuộc loại “bầy tỏ chí khí trong bóng tối “. Tù nhân Thanh Nghệ Tỉnh về không bị biên chế sang các đội cũ của Z30 D. Họ được ở chung với nhau. Và đó là những đội của sĩ quan quân đội trình diện học tập cải tạo. Tháng 9-1980, Đội 27 của tôi gặp sự rắc rối. Bấy giờ Vũ Tiến Đạt đã bị “cất chức” Đội trưởng. Đội trưởng mới Nguyễn văn Thành, sĩ quan cảnh sát tốt nghiệp Viện cảnh sát quốc gia, tác giả vụ bắt sòng bài tổ chức tại nhà ca sĩ Thanh Thúy, đường Cao thắng và vụ đột nhập sòng thuốc phiện Tư Cao. Nguyên nhân sự rắc rối như vầy: Tôi nằm giữa Nguyễn văn Hải, trung úy quân đội và Bùi Đình Mừng, phản động hiện hành. Ngô của đội tôi đã ra bắp. Quản giáo chọn người đi canh ruộng bắp. Thư ký đội (tôi quên tên), trung úy không-ảnh, được giao phó công tác canh ngô. Chủ nhật, anh ta về muộn, lúc trại đã điểm danh chiều và tù nhân đã vào “chuồng”, cửa đã khóa. Anh ta đứng ngoài đợi trực trại mở cửa. Nguyễn văn Hải ngứa miệng:
– Sao không trốn luôn đi? Chăm lắm. Trước đây mà chăm một góc thôi, đâu đến nỗi mất nước.
Bùi Đình Mừng vồ được câu “đại phản động” này. Nó vốn thù ghét Nguyễn văn Hải “con bà phước”, vì Hải ưa nói móc nó. Mừng to họng nhất đội, thích đấm đá và thích chụp mũ “ăng ten” lên đầu người khác. Nó hỏi tôi:
– Anh có nghe gì không?
– Nghe gì?
– Anh Hải vừa nói.
– Không.
– Tại sao anh không nghe?
– Tôi bận hút thuốc lào và rồi tôi phê…
Họp đội, Bùi Đình Mừng đưa Nguyễn văn Hải vào mục phê bình. Nó nhắc nguyên văn câu của Hải. Nó bắt tôi làm chứng. Tôi nói:
– Tôi không nghe thấy gì cả. Vì tôi phê thuốc lào. Dẫu tôi nghe thấy, làm chứng hay không là do tôi thích hay không, anh Mừng không có quyền bắt tôi làm chứng. Chứng nhân là ân nhân của pháp luật, không là nạn nhân của pháp luật, anh Mừng hiểu chưa?
Đội trưởng Thành không ghi chuyện này vào biên bản. Bùi Đình Mừng báo cáo quản giáo. Họp đội tại nhà lô. Mừng quyết liệt tố cáo Hải. Tôi vẫn “không nghe gì cả,vì phê thuốc lào”. Phiên họp giải tán. Quản giáo gọi tôi, hỏi riêng:
– Anh Hải có khả năng nói thế không?
– Tôi không nghe gì cả.
– Có khả năng nói thôi?
– Tôi biết anh Mừng ghét anh Hải. Khi người ta ghét nhau thì nhẹ là nặng, ít là nhiều.
Quản giáo bỏ qua vụ này. Tôi thêm hỗn danh Long phê sau khi đã là Long ếch mù. Bùi Đình Mừng không dám sinh sự với tôi. Từ đó, nó hết bảo người này “ăng ten” người kia “ăng ten”. Và “cơ” của tôi bắt đầu lên!

——————————–

1Xin đón đọc Chiến Bại, tiểu thuyết của Duyên Anh viết về những tù nhân trở về đời sống cũ.


Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày 29-XI-1992)

Post by Sơn râu 4 Jul 2024

Phần 4.

Tôi Biết Gì Về Báo Nam Phong Và Về Phạm Quỳnh, Đối Với Đồng Bào Trong Nam

Dẫn.

Tôi thuở nay là đứa nhát đèn, nhưng có tánh ưa nói chuyện động trời, khi nói lỡ và viết lỡ, thì như con thỏ có tai dài, ở chung trong rừng với các chúa sơn lâm, thì vẫn cứ sợ bị nghi tai dài như sừng, và chỉ các chúa trong sơn lâm mới được phép có sừng, và khi ở chợ ở kinh thành, thì tôi rất sợ làm con bướm ham se sua khoe cánh vào đèn mà lửa táp cháy cánh không hay, và vẫn thích làm con dế mèn, trốn trong hang kín, khi trăng thanh gió mát thì xòe cánh gáy chơi… Bấy lâu có người tặng và gọi tôi là “học giả”, tôi xin nhìn nhận có lẽ là học giả giả thì được mà học giả thứ thiệt thì còn xa.

Sách báo cho tôi đồng hàng với cụ Trần Văn Giáp, ông nầy là phụ tá chánh thức của trường Viễn Đông Bác Cổ, Pháp gọi assistant de l’Ecole Française d’Extrême Orient, còn tôi vẫn chưa ra và chưa biết Hà Nội lần nào, chỉ khi Tây chạy vô đây, thiếu người dùng, và sẵn thấy tôi làm viên thơ ký ăn lương công nhật nơi viện bảo tàng ở đây lúc đó, rồi dùng tôi luôn, còn như sánh tôi với Đào Duy Anh, thì xa nhau mười lăm bã trầu liệng chưa tới, Đào Quân chữ Nho chữ Hán đầy bụng còn tôi chữ nghĩa lem nhem không đầy lá mít, hoặc giả sánh tôi với Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê có lẽ được, và tôi nhìn nhận tôi là bạn và thường năng lui tới nhà anh và kính anh Lê như người thầy vong niên, nhưng nhờ tôi từng lặn ngòi loi nước, biết chút ít học lóm trường đời, nhưng một đôi khi anh Lộc Đình cũng chịu tôi khá khá về việc trong nầy: Đồng Tháp cũng từng, Sài Gòn tiệm hút á phiện, xóm chị em cũ đều từng đặt lưng hoặc từng chà lết chung chạ… Có bao nhiêu nay xin khai hết và xin bỏ qua cho. Hôm nay, 29 tháng XI năm 1992, có một bạn nhỏ đến nhà mời viết về đề tài “Nam Phong và ông Phạm Quỳnh, đối với đồng bào trong Nam”, tôi đã dẫy nhẫy từ chối, và tôi khuyên ông bạn nhỏ hãy cậy bà Mộng Tuyết, quả phụ của thi sĩ Đông Hồ, là người biết rành hơn tôi và xứng đáng hơn tôi. Vì vậy mà có bài “xả láng” nói huỵch tẹt nầy, mặc cho sấm sét búa rìu, thương nhờ ghét chịu, trâu già hết sợ dao phay!

Với cái tuổi 92, và chỗ sẽ đi tới vẫn khỏi thông hành chứng chỉ. Sợ gì??

Miệng tuy nói vậy và bụng cũng không mấy hứng, vì bây giờ có tật sửa, xén cắt và bỏ của mình gần hết, nhưng lần nầy kể như lần chót, hãy viết để coi ra thế nào.

Nói về tạp chí NAM PHONG trước

Báo Nam Phong ngày nay giá mắc hơn vàng. Một tờ báo lẻ, giá hơn hoặc bằng lương một tháng, nói đây là nói với người ham sưu tập chớ đối với trong đất Nam nầy, ngày xưa, khi phát hành, nhớ như lối năm 1917 gì đó, theo như tôi biết và chỉ nói riêng về tỉnh nhỏ nhau rún của tôi là tỉnh Sốc Trăng, vừa bị nạn sóng thần thăm viếng tan nhà nát cửa hai quận Long Phú và Vĩnh Châu, sóng leo lên bãi thì mặc kệ lượng sóng nó điên cuồng, người Thổ trong vùng, gọi “rồng hay cù dậy”, dân bổn xứ đã có chữ “sóng Thần”, nhưng có người không chịu chữ Thần, đổi lại gọi “Triều cường”, triều vả chăng là nước biển nước sông khi lên khi xuống thì gọi làm vậy, còn cường là mạnh, ai lại không biết, nhưng triều cường thế cho sóng thần, vẫn chưa mấy ổn, và vẫn còn đạp cứt Ba Tàu, cũng là tại cái tật của Nam Phong còn sót lại, báo Nam Phong năm nào đó đăng lại bài văn tế chúa Nguyễn Ánh tế thầy cả Bá Đa Lộc, có câu: “… trời Phú Quốc”, trong báo N.P. sửa lại là “… trời cố quốc”, và ngày nay về đây thấy hòn đảo, mới nhận “Phú Quốc” là đúng, và nhớ lại tỉnh Sốc Trăng khi báo N.P. ra đời, tỉnh có gần một trăm xã thôn, thì quan chánh bố ép làng mua hộ giúp N.P. rắc rắc gần đủ 100 niên báo, mà một năm báo như vậy giá chỉ có ba đồng sáu cắc bạc (3$60) tức ba cắc bạc mỗi tháng, nhưng trên biên lai thu tiền vẫn ghi 3$60 và viết thêm “ba đồng sáu hào chỉ”, dân trong nầy hồi đó đều cười và nói thầm với nhau, cắc bạc là cắc bạc nói phứt cho rồi, hào chỉ (hầu chỉ tiếng Quảng Đông), lại cũng nói theo Tàu chưa bỏ, còn báo thì, khi tôi khởi sự ham sưu tầm và tiền mua, thì mọi làng đều trả lời: “Không ai hiểu báo nói gì và đã lấy giấy đậy hũ mắm hoặc cho trẻ phất diều, cho mẹ bù trẻ lót tã và tệ hơn nữa, cho chùi… khi đứa trẻ làm xấu! Của quí, đã nói quí hơn vàng, mà đành đem làm giấy vệ sinh, than ôi, đâu phải chỉ có người thường lâm nạn, mà khi vào tay dân quê dân dốt, chữ ông Thánh cũng khó tránh tai ương!

Và phần đông các tỉnh trong Nam, Bạc Liêu, Sốc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc, dân cư là dân Thổ, thì đều na ná như vậy, không biết giá trị N.P. và tôi hỏi kỹ lại, chỉ có mấy tỉnh dân Kinh ở nhiều, Mỹ Tho kể đầu, Vĩnh Long, Sa Đéc, đều biết giữ lại tờ N.P. vì dân cư phần lớn là người Kinh, công chức về hưu, hoặc cai tổng, hội đồng địa hạt có vốn chữ nho hoặc đã đọc một ít tờ báo từ ngoài kia lọt vào, duy lạ nhứt là báo N.P. được một tỉnh nhỏ xa xôi, khỉ ho cò gáy Hà Tiên sùng bái lại đề cao nhất, vì Hà Tiên là quê hương của một người, không học Pháp văn nhiều nhưng già giặn chữ Hán, là bạn tâm giao, Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết; Đông Hồ mở trường luyện quốc văn, và M.T. trước là học sinh, vốn người trong thân rồi trở thành người bạn trăm năm, vừa trung thành, vừa đồng chí, đồng gối chăn.

Trong khi các tỉnh có nhiều người Cơ-me ngụ, chê dè tạp chí N.P. như đã nói nơi đoạn trên, thì trái lại, ở đất Cần Cao (do tiếng Cảng-khẩu nói giọng Tàu), Hà Tiên (Cần Vọt) lại có phong trào sớm vun bồi tiếng mẹ, chích khăn đóng, mặc áo dài thâm và nói nhiều giọng Bắc, viết nhiều văn Hán Nôm và mỗi mỗi cử chỉ, phong tục, văn chương, văn hóa, lấy làm gốc: điệu bộ, thói lề, nghề viết muốn cho được y như trên cao kia mới nghe; âu cũng là một biến cố mới, nói theo giọng tân thời, hoặc đó chuyển biến của một thế hệ thấy cử chỉ, phong tục văn hóa gốc Tàu của họ Mạc, họ Lâm, v.v… cần thay đổi cho hạp thời hạp mới.

Trong lúc miền Nam đang xáo trộn thay đổi như vậy, tôi bắt đầu biết giá trị tạp chí N.P. nhờ một sự bất ngờ. Tôi đang học lớp nhì (cours moyen trường tỉnh Sốc Trăng) năm 1918, vừa 16, 17 tuổi đầu, thì có một đàn anh lối xóm, đến làm quen, anh ấy tên Nguyễn Tích Thiện, có dắt theo và giới thiệu một bạn, hình dáng vạm vỡ to xương, chắc da chắc thịt, da đen ngăm ngăm, bắt tay siết mạnh và xưng tên Phan Văn Hùm. Lạ nhỉ, sao lại tên Hùm? Hóa ra cùng một tuổi dần, nhưng mình vừa lớp nhì, còn vài năm nữa mới thi “xẹt”, còn Thiện đã có bằng thành chung, đít lôm và sắp ra trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, còn Hùm, thì chưa nói học lực tới đâu, duy rõ là bạn tốt của Thiện; vì thấy Thiện sẽ bị cho thi rớt, không được thi đỗ làm giáo sư Trung học, và tấm lòng nghĩa hiệp của Hùm càng làm cho tôi kính nể thêm nhiều, và nể nhất là trong giao thiệp, trong nói năng, thảy thảy đều lướt và hơn tôi thập bội. Tỷ như: Thiện muốn lập trường tư có nuôi học trò vừa dạy vừa cho chỗ ngủ, cho cơm ăn, tôi nói: “Trường ăn cơm tr…”, Hùm cười và nhỏ nhẹ sửa lại: “Thưa anh, Ký túc xá, Tây gọi Pensionnat, Internat”. Tôi mắc cỡ thầm, qua tiếng khác, tôi hỏi, cũng nói học buộc (tưởng mình lòe biết chút tiếng Tây), nhưng Hùm sửa lưng: “Đừng nói vậy! Đó là “có học bổng!” Tôi biết mình kém và sớm chịu thua, rón rén hỏi: “Học ở đâu mà có những từ hay quá đó?”. Hùm lễ phép trả lời: “Anh về tìm mua tạp chí NAM PHONG”… Tôi day qua hỏi người anh cả, mua ở đâu? Thiện cười cười đáp: “Mua không có nữa đâu. Chính tôi lục soát mấy năm ở Hà Nội mà tụi nó không có mà bán!”

Rồi từ ngày ấy, năm 1918, chia tay nhau. Năm 1919, tôi thi đậu xẹt, lên học trường Sài Gòn, collège Chasseloup Laubat, còn Hùm ở lại Sốc Trăng giúp Thiện lập trường Pensionnat Nguyễn Tích Thiện, nhưng khi phát tài, Thiện trở nên hoang phí, Hùm can ngăn không nghe, Hùm thôi làm tổng giám thị (surveillant général), trở ra Hà Nội, học trường Công chánh, đậu chức cán sự chuyên môn (agent technique des travaux publics), rồi sang Pháp trở về cử nhơn văn Pháp, nhưng gãy cánh giữa đường, đệ tam đệ tứ không dung tha nhau, còn tôi vẫn lé đé đỗ brờ-vê (bre-vet élémentaire), đỗ thành chung (diplôme de fin d’études complémentaires franc-indigènes) mang chữ “anh-đi-rềnh”, đậu thêm chức thơ ký Soái phủ Nam kỳ (sau gọi Thống đốc), nhưng mỗi người riêng mỗi kiếp và mỗi số phận, nhưng Hùm và tôi biệt và không thấy mặt nhau từ 1918, tuy thỉnh thoảng tôi vẫn năng tìm đọc bài viết của Hùm, sở dĩ về sau Hùm được khen viết chánh tả ít sai (lời khen nầy là của Phan Khôi) và tôi rõ lại viết cứng là nhờ có thọ giáo với Diệp Văn Cương, ông nầy tôi biết mặt vì ông dạy lớp Việt văn Đệ tứ (4ème année), tôi ngồi lớp Đệ một (1ère année) hai phòng sát cạnh, tiếng giáo sư ngang hàng giáo sư Tây của ông Cương, lồng lộng nghe vang, nhưng tôi chỉ được nghe lóm, cho đến nay còn tiếc hối, và tự trách viết còn phải kè kè khít bên cuốn Chính tả của anh Lê Ngọc Trụ. Nhớ câu của Tư Chơi khóc kép Tư Úc: “Những thằng đáng chết sao chưa chết, lại chết chi thằng đáng sống lâu?”. Nay thảy đều không còn và còn một mình đây, chưa chắc là hay! Tuy dở thì xin chịu, nhưng nhờ mảy may, học được với Hùm và mua được một bộ tạp chí Nam Phong chẵn chòi 210 số, mới toanh, nhưng nay đã lọt về tay người khác, và xin để cho tôi thuật đầu đuôi tự sự như sau:

Cái tật của tôi là khi viết vẫn ưa cu cu chằn chằn, làm vậy đã quen, muốn nghe thì đừng cắt, cắt cụt thì tốt hơn là đừng nghe, và tôi vẫn thấy đài B.B.C. cũng như đài Mỹ, phát thanh ăn tiếng (manger les mots), tôi dám chê, nhưng vẫn chê thầm chớ làm sao gởi phản đối tới tai họ. Trở lại chuyện Nam Phong và Phạm Quỳnh, viết đến đây đã bốn chương khiến đâm chán, viết dài bị thiến, muốn cắt cho mất giống, thôi thì tôi viết tóm tắt đại lược rồi lấy chi mà thiến, và chuyện thâu vắn như dưới đây là ngoài ý muốn.

Đến hôm nay tại sao chữ in trên sách báo vẫn nhỏ tí xíu nhỏ hơn chưn muỗi, rồi làm sao mắt già đọc được. Giấy in thì xấu mực in lại quá lu, mua sắm mua báo uổng tiền, chung qui nhà xuất bản quá thâu chặt miệng túi, vả lại vẫn tùy vì vẫn ở trong tay kẻ bao thầu, rốt cuộc nín hơi rặn hai năm, đẻ ra tỷ như tôi, năm 1982, bản thảo “Chuyện một cô lưu lạc, chuyện bà giấu tên, V.A.” năm 1983, bản thảo “Sài Gòn tạp-pín-lù”, tôi viết “tạp-pín-lù”, trối kệ thây tôi khi in lại đòi đổi làm “Sài Gòn muôn vẻ” rồi nhập hai bản thảo làm một, cho xuất bản và trả tiền nhuận bút, rằng in 1.000 cuốn, vân vân và vân vân, tôi viết hai niên, tiền lãnh ăn đủ tròn một tháng, con tôi đẻ mà người khác đi đứng tên làm khai sanh, vì vậy mới đây có người mua sách đem đến nhà xin tôi chữ ký, tôi từ chối, xin miễn ký, vì mang đau đẻ nặng mà chỉ thằng bán sách thủ lợi, và xin lỗi cha tôi đã chết từ lâu, tôi biết khóc với… với ông Trời, mà ổng ở quá cao, tôi đành câm họng.

Về giá trị của báo Nam Phong, tôi biết có một người tốt số là Nguyễn Khắc Kham (đã mất), một bữa nọ, ông đi đâu đó gặp một chú Ba Tàu, gánh một gánh sách cũ, ông hỏi mua và túi không đủ tiền, ông ba chưn bốn cẳng chạy về lấy trả cho chú Ba Tàu, ông mua được bảy hay tám chục số lẻ rời rạc Nam Phong, mà chỉ tốn mỗi số độ 1.000 như giá thách của Ba Tàu, vị chi tốn có bảy hay tám chục ngàn đồng trong khi nghe đâu Đại Đức Thích Tâm Châu định sai người qua Paris xin thâu ảnh (photocopie) N.P. nơi Thư viện quốc gia (Bibliothèque Nationale) của Pháp, thì ắt phải xuất biết bao nhiêu triệu mà kể?

Một người tốt số thứ hai là Đông Hồ. Anh nầy ở Hà Tiên chạy lên Sài Gòn, lập quán bán sách lớn, anh đăng báo và mua đủ mọi giá, lần hồi anh có được một số sách báo to, anh tuyển chọn, vá víu, lựa được một bộ Nam Phong vừa ý, tôi không rõ anh đã xuất ra bao nhiêu, nhưng có ai lanh trí, nhạy hơi, và có duyên với sách quí, bằng anh Đông Hồ?

Và bộ Nam Phong nầy nay cũng đã qua đất Pháp, duy không rõ còn trong tay người đó hay đã sang tay chủ khác (Toàn quyền đặc sứ cũ là Đề đốc Decoux, có một bộ kỷ yếu của hội Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Huế), một đầu lãnh Đông Dương muốn sưu tập có thể tỷ như ra một ý nhỏ đủ cho các nơi tới tấp gởi sách về để nịnh, ông Decoux nghe như lúc sau đã nhượng bộ sách hiếm có (mỗi năm chỉ in 600 tập cho hội viên) cho một người, và người ấy tôi xin tạm không nói tên và chỉ viết tắt H.X.H. (học giả đại danh vẫn ở Pháp, lão thành và lão luyện về sử Việt và môn sưu tầm sách cũ, quí).

Google photos edit by Sơn râu

Nhưng phải nói luôn có lẽ người ngu hạng nhất là kẻ hèn đang viết bài nầy, vì có sách quí mà không biết giữ làm của, nhưng nay nghĩ lại, lúc đó, tôi đang xính vính hụt tiền mà người kia sẵn lòng giúp tôi ba trăm ngàn (đời ông Diệm), tôi nhận số bạc ra tiệm đổi lại làm ba chục lạng vàng (10 ngàn mỗi lượng), xin hỏi ai cầm lòng cho đậu? Vả lại theo tôi lúc đó Nam Phong như cây mía ngọt đã bị ép lấy gần ráo chất ngọt, tuyển ra nào Thượng Chi văn tập, nào “Nam Phong truyện ngắn, Tuyển”, nào “Chủ đích Nam Phong”, v.v… ngoài ra, như bộ “Hạn Mạn du ký” của Nguyễn Bá Trác, thì bằng chữ Hán, tôi tịt mù, cho nên cái ngu của tôi hóa ra hạp thời, đổi ra vàng y, hữu ích hơn… và đã cà kê xin cho tôi cà kê luôn, mặc dù đã hứa muốn vắn tắt, và dưới đây là sự tích, để dụ người đọc ham học nghề chơi sách.

Như đã nói, nhờ được nghe Phan Văn Hùm giải thích, tôi quyết tìm và sắm cho được Nam Phong đủ bộ. Tôi ra trường năm 1923, mà Nam Phong ra đời từ 1917.

Dịp may, vừa ra khỏi trường, thì thầy cũ, ông Đốc Nguyễn Văn Mai, mời tôi làm phụ tá cho ông để mỗi chiều ngày thứ năm, trở vào trường, giúp ông chỉ dẫn cho mấy ông Tây vô đây học tiếng Việt. Tôi kiếm được ba quan Tây cậy tôi dạy riêng mỗi tuần một giờ tại nhà họ, đã có rượu khai vị khi giảng, lại thêm mỗi ông bê tôi hai chục bạc, vị chi tôi làm ra gần gần bằng lương một tri huyện trong Nam hoặc một kỹ sư cầu cống cháy da nám phổi học Cao đẳng Hà Nội ba hay bốn niên, thi đỗ mới có số tiền khá cao ấy, năm 1927, tôi lại thi đậu nửa miểng chức còm-mi, cái may của tôi là năm 1924, tôi gặp lão Lê Mai, tác giả sách dạy o mèo, Lê Mai bán sách lẻ ở chợ Bến Thành, đã làm mai bán cho tôi ba chục số báo Nam Phong, từ số 7 đến số 37, mỗi số báo, chủ là một ông Đồ già, bán sách đứt ruột và xin lại phần chữ Nho, ra giá “ba hào chỉ” (0$30) mỗi số, lão Lê Mai bắt mối, xin thêm một cắc mỗi số, và ba chục báo Nam Phong (số 7 đến số 37, thiếu phần Hán văn, tôi cắn răng xỉa đủ mười hai đồng bạc Đầm Xòe (12$00), rồi cắp ca cắp củm bỗng tôi mua được sáu số khó kiếm nhất là số 1 của tháng 7 năm 1917, đến số 6 décembre 1917, thật là có thể nói “buồn ngủ may gặp chiếu manh” và nói chữ chút chơi, “tụ thiểu thành đa”, tôi vừa có đủ 37 số, rồi bắt đầu từ đó, tôi liên tiếp gởi tiền ngay ra Hà Nội mua Nam Phong, những số còn thiếu hoặc cho mượn làm mất, hay không trả hoặc bị rách bị hư bìa, tôi vẫn gởi thơ mua bổ túc, và bộ Nam Phong của tôi, tôi tự cho là có một không hai, vì tôi giữ kỹ còn làu làu, đặc biệt là tôi không đóng thành tập mà lại đóng rời mỗi số theo điệu sách Tàu, vừa chắc, vừa nhẹ, muốn nằm ngồi trên võng hay ôm vào mùng khêu đèn điện đọc cũng xong, và khi qua tay người mua bộ Nam Phong nầy, tôi lại chế ra cho hai thợ mộc lấy ván cẩm lai làm bìa gỗ, lấy ván gõ đỏ làm thành mỗi sáu số làm một hộp, và thợ Đào Văn Hòe, người làng Đình Bảng, trổ nơi gáy cẩm lai hai chữ Hán Nam Phong, thêm có con rồng nổi ba lên, nhưng vào năm 1975, sau ngày binh Giải Phóng vào đây, người chủ bộ Nam Phong giao sách cho hãng Tây Transitaire Réuni chở sang Pháp, và hãng nầy có lẽ bỏ những hộp gỗ bọc Nam Phong ấy lại đây cho nhẹ tiền chở chuyên, và sự thật là cách nay vài năm, chính ông bạn Bắc, bố vợ ông bạn Huỳnh Văn Tiểng, quen thân với tôi đã cho hay ông từng thấy những hộp ấy bỏ rơi trống phộc nơi kho hay hè hội Pháp văn Đồng minh (Alliance Française, đường Lý Tự Trọng) và chứng minh việc nầy là ông Thụ đã đưa cho tôi nhìn tập Hiếu cổ đặc san nhan là Phong lưu cũ mới, tập nầy tôi đã tặng ông C.T.N. là chủ bộ Nam Phong, cho hay, theo tôi, sách như người, đều có duyên phần số mạng.

Tôi đã kể lể dài dòng, lợi dụng lòng nhẫn nại của chư độc giả, nhưng xin nhà in đừng cắt xén, vì cái tật của tôi không bỏ, là mặc dù lời hứa viết tắt, nhưng muốn biết chơi cổ ngoạn cũng như biết chơi sách cũ, phải vòng vo tam quốc mới thấy nỗi cam go của nhà sưu tập, và một lời chót để bắt qua nói về ông hay cụ Phạm Thượng Chi (xin tha thứ cho tôi kể lại chi việc tục), là tạp chí Nam Phong nay quí hơn vàng, nhưng trong Nam nầy, lúc Nam Phong ra đời (1917 đến 1920), báo bị dân quê dốt miền Nam coi rẻ, và giá rẻ hơn bèo cho heo ăn, tỷ như trên bìa Nam Phong để trên một bàn hội tề làng nọ ở Sốc Trăng tôi đã thấy nhan báo hai chữ Nam Phong, đã có người đặt tay bỏ dấu, đọc “Nằm Phòng” và hỏi kỹ lại, đó là chữ của vị đại hương cả trong làng, ông là người Miên (Khơ-me) vì giàu xụ được tôn hương cả, ông bập bẹ tiếng Việt y như Tây nói tiếng Nam, khi làm hương quản, ngồi tra hỏi một tên trộm vặt, ông hỏi: “mày ăn tôm và để cua ở đâu?”, (và tên trộm đã dõng dạc thưa: “Bẩm, tôi không có ăn tôm ăn cua nào cả?” (trộm của, ông nói mà không bỏ dấu), và hai chữ Nam Phong, đại hương cả Mên, khi lên Cần Thơ dự làm cố vấn dân sự tòa Đại Hình (conseiller assistant de la Cour d’Appel), khi ông đến khách sạn, bồi phòng (boy d’hôtel) kính cẩn hỏi ông muốn chọn lựa “nằm nơi phòng hạng nào?” và ông lại tưởng tờ tạp chí nọ có người nói mà quên bỏ dấu!

Tôi biết gì về ông hay cụ Thượng-Phạm Quỳnh

Tôi đã quên hỏi người đến đặt cho tôi viết bài về Nam Phong và Phạm Quỳnh, là với mục đích gì, tôi đã 92 tuổi đầu chỉ chờ ngày xuống lỗ và đã hết ham vừa danh vừa lợi, tôi không quên chỉ là một thơ ký quèn từng làm mọi cho Tây nay dấu dây xích nơi cổ chưa lành, như vậy tôi nay còn dấn thân viết bài nầy để làm gì? Hình như dặn tôi viết vài trương, mà tôi lại quyết viết mươi trang cà kê cho được hả hơi, vả lại tôi đã hết thời giờ tra cứu tài liệu cũ, vậy tôi xin người đọc hiểu cho tôi, đây là tôi thố lộ tất cả chơn tình, tôi tỏ bày riêng cái nghe thấy cạn hẹp của một tên may thời còn sót lại và đã được mớ người trẻ và người cao kiến muốn biết chút lòng kẻ sống dai nầy thôi.

Tôi tóm tắt, tôi biết trước đây, trong Nam có tờ báo chữ Pháp L’Echo Annamite của Nguyễn Phan Long và tờ La Tribune Indochinoise của Nguyễn Phú Khai, Bùi Quang Chiêu, vân vân, là hai tờ báo của Dân miền Nam muốn tỏ bày sự muốn hiệp tác với Pháp… trong khi ấy ở miền Bắc, vẫn có Đông Dương tạp chí (xuất bản từ năm 1913 do F.H. Scheider đứng tên), rồi tờ chữ Pháp L’Indochine Nouvelle, có ông viết cừ văn Pháp Nguyễn Văn Vĩnh cầm bút… trong lúc ấy, đã khởi sự có báo Tàu, viết Hán văn và báo tiếng A-lơ-măng do nước Đức cốt cán, lăm le dòm ngó Đông Dương màu mỡ, khiến nên nước Pháp giựt mình và sai qua đây một quan toàn quyền giỏi tài mị dân thuộc địa, là Albert Sarraut và một quan coi về sở mật thám, là Louis Marty, nói và hiểu rành tiếng Bắc; hai người nầy nghĩ ra cách để ra “chánh sách giữ sách thực dân cho được tồn tại bằng sách báo” và vì vậy, nảy sanh tờ báo Nam Phong và sanh ra ông Phạm Quỳnh. Theo tôi, ông Phạm Quỳnh nầy, chỉ là một hi sinh của Pháp thực dân, ông lắm tài nhưng mà về sau ông đi không đúng đường, khiến thân bại danh liệt… và “khi trâu đứng ít kẻ cho ăn cỏ, khi trâu ngả xuống nhiều kẻ cầm dao”, thậm chí có lúc một nhóm sinh viên trường sư phạm ở Sài Gòn lập ra và “làm án Phạm Quỳnh”, “lên án Nam Phong”, nhưng nay Nam Phong vẫn có người tìm mua, và Phạm Quỳnh, riêng tôi thì tôi vô cùng tội nghiệp và vô cùng mến tiếc tài; tôi chỉ nói về tôi và xin miễn nói về ý kiến phần đông người trong nầy, trong nầy ngày nay có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén; vả lại tôi là người gì mà được cho phép nói, “quán rằng xin chớ nói nhăng, dầu cho có giỏi, cũng thằng bán cơm” (Lục Vân Tiên)… nhưng đã hỏi thì phải nói, và khi nói đố ai bụm miệng tôi kịp. Nhớ lại như đời Nam Phong là một đời đã qua, nhưng tiếng thơm còn tồn tại, còn như Phạm Quỳnh, tại sao khi được giữ cán cờ lại phất quá mạnh, lúc ông từ chủ bút vào làm ngự tiền văn phòng cho vua, làm thượng thư bộ Lại, có nghĩa tế đặt cạnh làm bí thư cho bà hoàng hậu, vinh vang tôi ở đây nào thấy, chỉ thấy lúc ngai vàng sụp đổ ngôi sang của ông cũng mất, Nam Đình, tay viết báo trong Nam ra Huế khi gặp ông thì ông nhỏ nhẹ than van: “Đừng gọi tôi là cụ Thượng…”, và ông chỉ vì ham đội mũ cánh chuồn, và khi cánh chuồn như cánh bướm gần đèn, bị lửa táp, tôi chỉ nhớ ông là một tay độc thủ, ít muốn cho ai cùng hưởng mối tiền do Tây cấp phát, vua ta còn lĩnh lương của Tây huống hồ gì? Các tay phụ giúp ông viết cho tờ Nam Phong, ông lần hồi loại ra; ông cầm lại như Đông Châu (Nguyễn Hữu Tiến), như Mân Châu (Nguyễn Mạnh Bổng), để giữ mục phục cổ, còn như Nguyễn Bá Trác, bỏ đảng về viết Hạn mạn du ký, rồi lên làm tổng đốc, được khoái khẩu hơn,… như Nguyễn Bá Học viết “câu chuyện gia tình”, ông nầy vẫn như cây đèn dầu lạc được khêu lên cho văn học Hán cũ, phát sáng lên để rồi tắt luôn, kỳ dư như Phạm Duy Tốn, sớm vào trong Nam, mượn xấp Tiếu lâm cũ của học giả Trương Vĩnh Ký, đem về sửa lại giọng Bắc, in ra bộ “Tiếu lâm An Nam” ký Thọ An, (hai người con của ông đều tài lạ, một Phạm Duy Khiêm qua học trường khó vào nhứt của Pháp, trường Đại học Sư phạm Ecole Normale Supéneure, đỗ thạc sĩ (agrégé) và trở nên một thầy đỗ gàn, bỏ họ bỏ chữ lót, còn giữ một tên “Khiêm”, hai nữa là Phạm Duy Cẩn, giỏi về âm nhạc, lại bỏ mất tên cúng cơm (Cẩn) chỉ giữ vỏn vẹn hai chữ Phạm Duy… Ngoài ra trợ bút đào tạo bởi trường Pháp là Hoàng Ngọc Phách, để lại “Giọt lệ hồng lâu” và “Tố Tâm” rồi không nhắc đến nữa… và như Vũ Ngọc Phan, tôi xin chừa vì còn nhiều người biết hơn tôi, và cho phép tôi bỏ qua. Nói về ông Phạm Quỳnh, ông vào trong Nam đăng đàn diễn thuyết nơi Nhà hát Tây (nay là Nhà hát Lớn đường Đồng Khởi), văn ông lưu loát, giọng nói hữu duyên, ông tìm người phụ giúp cho tờ Nam Phong, ông xuống Mỹ Tho, thì cháu con của cụ Đồ Chiểu sụt sè không dám nhận lời, vì biết còn kém nhiều tay ngoài kia đều khoa bảng còn lại, như cụ Nghè Ngô Đức Kế, bút chiến với ông về Truyện Kiều, và vẫn tức vì ngòi bút lông, kết bằng lông thỏ lông mèo, không sắc bén bằng ngòi Flamant, Major đúc bằng thép điêu luyện lò Tây nhưng khi ông cho nghĩa tế vào thay ông, lên diễn đàn chỗ cũ, tôi đây chen được vào nghe, tôi ba chớp bốn sáng nghe ông nghĩa tế dõng dạc la lớn: “Tự Ro là Dzì? Tự Ro là Tự Rụng” (Tự do là gì? Tự do là tự dụng)… tôi nghe được bao nhiêu đổ thì mồ hôi ra ướt áo, tôi suýt nghẹt thở và lật đật chui ra ngoài kẻo nín thở luôn; tôi quên nữa, cộng tác với ông, như thi sĩ Tản Đà, bị ông cười, “đời tân học, chuộng trơn bén bóng loát, Khắc Hiếu, giỏi nghề chạm rồng trổ phụng, đẹp mắt thật nhưng nhiều bụi bặm”, Tản Đà tức, ôm mớ văn chương lên bán ở Chợ Trời, tuy vậy “trận gió thu phong rụng cánh hồng” vẫn còn nhiều thanh niên ngâm đi hát lại, và tỷ như ông Lô Gíc Phan Khôi, cũng vẫn bị ông cho nghỉ việc, khiến Phan Khôi vào Nam, giúp tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ, rồi ra Huế dựng tờ Sông Hương,… Đến nay bài của tôi đã quá dài, tôi xin chấm dứt.

(viết 12 trang làm bốn ngay, tuổi 92 vẫn còn minh mẫn hĩ.) 2-12-92 V.H.S. (Ất Mùi là 1955)

(Bộ Nam Phong của tôi gồm 211 số, có dư một số về Xuân, không rõ năm nào, ngoài bìa vẽ hình một táo đen giao tay qua một táo đỏ, tôi cứ dư số Xuân ấy, dâng cho cụ Cử Võ Hoành ở Sa Đéc, cụ nhận và bĩu môi: “Văn thằng Quỳnh, thằng Chác, ghét quá!”)

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết 16-XI-1992) (22-10- Nhâm Thân)

Post by Sơn râu 4 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

3. Nghĩ Hoang Mang Về Thuật Chơi Đồ Cổ Và Nghề Viết Lách – Nhớ Lại Tâm Sự Tôn Thọ Tường Và Phan Văn Trị

Đời ông Tôn Thọ Tường, ngày nay có nhiều người nói nầy nói kia, nhưng tâm sự của ông gói ghém trong một bài thi “Lão ky qui y” cũng đủ: đủ thành danh thi bá.

Và sánh lại, xét về ông Phan Văn Trị, nay còn giữ tên cho một con đường dài ở Bà Chiểu, ông Phủ Ba Tường thì chỉ được nhắc nhiều về một món vịt quay thơm béo trong Chợ Lớn, nhưng riêng tôi, tôi thích và chịu cùng một cảnh ngộ như họ Tôn hơn là họ Phan. Hôm nay, nhơn thấy trong nhà ngổn ngang đồ cổ và sách giấy mất vẻ đẹp, nên sắp xếp lại theo ý thức riêng buổi nầy, lại bắt gặp trong lọ sành cổ bài thi chép tay và nay xin chép lại đây và đọc:

“Ngươi hỡi Nghiêm-Lăng có biết chăng?

Lòng ta ý gã, đố ai bằng!

Nửa cân thứ-vị trời trời nước,

Một sợi phong-lưu gió gió trăng,

Thao lược đã đành ngàn dặm bữa,

Giang san tóm róc một tay phăng.

Xưa nay cũng một lòng sông Vị,

Mơ tưởng xe Châu biếng nói rằng”.

Trong thơ, có chữ “một” viết hai lần, nhưng không đủ sức thay, cũng như điệp chữ “trời” chữ “gió” lại thấy hay và hay đến bực thần xuất, nếu làm tài khôn đổi thử “trời mây nước”, “gió sóng trăng” thì lại lẹt đẹt mất vẻ tài tử và hóa ra thợ thơ làm tàng, lé đé giỏi tài sửa mũ mấn. Phép làm thơ khó hay chăng, xin khoan nói, và để nói lại sự tích duyên phần trong thú chơi sách trước đã. Bài thơ nầy trích trong tập sách cũ và nhớ lại tập sách cũ nầy đã xảy ra một duyên cớ về duyên phần chơi sách. Năm ấy, năm 1920, xưa lắm rồi, một hôm đang ngồi trong lớp salle d’tudes (phòng ngồi học) dọn lại bài cũ, chờ giờ đi ăn cơm buổi tối, bỗng ông chánh giám thị Pháp a thần phù đột nhập vào và tịch thu tập sách, viện cớ học tiếng Pháp trường Tây mà ham đọc sách chữ Việt!

Bữa cơm hôm ấy mất ngon, và tật tiếc sách khiến tôi bạo gan, tôi lên văn phòng giám thị khiếu nại, cũng may, mấy ông giáo khuyên trả vì là sách về văn thi, và lão tịch thu sách đành trả và sách được biên thêm hàng chữ: “Autorisé le 18-9-20” Le Sur. Gal (le Surveillant général) và ký tên “Thomas”. Nhờ vậy được thêm phần duyên dáng. Đó là cuốn “Quốc âm thi hiệp tuyển” của Lê Quang Chiểu, xuất bản năm 1903 do nhà Claude et Cie Sài-gòn in. (Mục lục số 1114-D), đến nay ngót trăm năm và thuộc loại sách hiếm và quí. Sách còn nhiều lỗi chính tả, tên tác giả vẫn không ghi rõ và thường ghi “Vị tường danh thị”, nhưng tôi quí trọng sách hơn vàng, và thử luận chơi về bài thơ “Câu cá” trên đây, rõ là tuyệt tác.

Nghiêm Tử Lăng thuộc đời Đông Hán, người khí khái, ra làm tôi cho vua Quang-võ Lưu Tú, đã từng cùng nằm một sàng với Đế, gác lỡ chân lên long thể mà Đế không đánh thức, tuy vậy Nghiêm sớm lui về cày ruộng câu cá, không ham công danh phiền lụy; và đây Phan Văn Trị, cùng một họ với kinh lược Phan Thanh Giản và cùng đồng thời với Trương Định, trào Tây qua đánh chiếm, nhưng Trị vẫn không được cả đôi bên trưng cầu trọng dụng, khiến buồn lòng ngẫu hứng bài thi nầy. Nay lạm bàn và xét từng chữ, quả là bài thơ hay. Hơi xấc, gọi bằng “ngươi”, và tự phụ, xem không ai khác ví bằng. Hai câu trạng, tả cảnh “trời nước”, “gió trăng” thật là thanh thoát, xuống cặp luận “dặm bữa biệt ngàn, tay phăng một róc”, thật là phóng khoáng tiêu dao, xuống câu 7 chuyển, ví mình sánh với “người câu sông Vị” và kết câu 8: xe vua đến rước chả thấy đâu nào, cho nên biếng nói biếng rằng, quả bài thơ lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.

Chầu đôi, thùng ba là phải!

Việc cũ nhắc lại và thử thêm ít lời bàn: Cùng sanh một thời nhiễu nhương, chơi thân với nhau qua lại, cạn tiền thì mượn tiền để nhấp rượu, rượu say lại móc moi trách cứ lẫn nhau, nhưng luôn luôn giữ được hòa khí nhẫn nhục thanh bai, móc xéo: “Anh hỡi Anh Tôn, anh có biết: Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng” thật là cay đắng và đau, ám chỉ đầu Tây làm việc cho Tây, làm chi…, nhưng họa vận lại, thì hai câu: “Ai về nhắn với Châu Công Cẩn, Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng” (chồng đây ám chỉ “lấy Tây” vừa khéo vừa êm, bỏ ngọt mích lòng người thân là Anh, mà được lòng người mình nâng khăn sửa tráp, tôi cho là tuyệt!

Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

(viết ngày rằm tháng 10/9 novembre 92)

Post by Sơn râu 3 Jul 2024

photo edit by Sơn râu

2. Viết Cho Số Xuân Báo Lao Động

Hụt về quê thăm cha, hụt đi coi vợ năm đó đó, cũng vì tật mê nghe thơ Bùi Kiệm.

Không nhớ rõ đó là năm nào, việc có trên sáu chục năm, gần gần bảy chục, duy nhớ mại mại, hoặc đó là năm 1924, tôi tập sự thơ ký quét bia-rô nơi trường máy đường Đỗ Hữu Vị cũ, nay là trường Trung học cơ khí Huỳnh Thúc Kháng, hoặc đó là năm 1926, bị vợ vừa bỏ đi lấy chồng khác, (và xin anh em cô bác đừng gọi tôi với chức tặng “học giả”, tôi thẹn lắm), duy quả nhớ năm nói đây, tôi như ngựa sút chuồng, hư không chỗ nói, xa nhà xa cha. Ba tôi ở thị trấn Sốc Trăng, tôi buông lung tập hút thuốc điếu, tập chửi thề, tập uống bia, và sẵn được cho nghỉ bốn ngày ăn tết, tôi thừa dịp sáng 28 Tết, tôi mua vé xe định về nơi nhau rún trước thăm mấy em cũ, sau viếng Ba tôi cho tròn chữ Hiếu, nhưng đêm lại, chưa 10 giờ, tôi ra bến xe, lúc ấy xe đặt bến nơi hông chợ Bến Thành, quãng đường Viénol (nay là dường Phan Bội Châu), nhưng anh lơ xe bảo tôi: “Còn sớm, đi chơi Tết đi, còn lâu lắm xe mới chạy.” Nghe vậy, tôi bèn thả bộ qua đường gần đó là đường Amiral Courbet (nay là đường Nguyễn An Ninh), đường nầy có đến ba khách sạn chứa em út, nào Nam Hồng Phát, nào Nam Đồng Hương, nào Đỗ Văn Bính, tôi đang huýt gió đi lang thang, bỗng thấy một đám phu xe kéo kéo tay, rần rần xách gọng xe kéo theo một anh phu xe khác, anh nầy không mảy may gì là tay thiện nghệ làm ngựa người, anh ăn mặc khá sang, áo thun mới trắng xóa, tay áo dài mới toanh, đầu chít khăn bàn tàn ong xốp lưỡi đầu rìu, anh đang ngồi tréo ngoảy giữa hai gọng xe và đang nói thơ Vân Tiên, lớp Bùi Kiệm ghẹo Nguyệt Nga, mà trời đất ôi, nay nhớ lại việc năm xửa năm xưa, tôi mừng cho tôi tuy nay tuổi đã 92 trên đầu mà trí nhớ vẫn còn tinh anh, nhớ kỹ từ cử chỉ, từ giọng nói, từ điệu bộ, và tôi bỗng mê gặp anh ấy đến nỗi khi nhớ lại, khi chạy ra bến xe thì xe đã chạy mất đất từ hồi nào, bên phía chợ thì thiên hạ bán buôn mua sắm rần rần, duy một mình ên tôi, lỡ khóc lỡ cười, lỡ chuyến xe chót về nhà, lỡ bề hiếu đạo với Ba tôi, đứng tần ngần một lúc như thằng ngáo mất quần, và đành trở bước lại chỗ ban nãy, tìm và may gặp lại anh phu xe có cái giọng báo đời nầy, tôi không tiếc công tiếc áo quần, tôi ngồi xề lại trên lề đường, bắt tay gạ chuyện cùng anh, và anh nầy rất tốt bụng, sau rốt anh ríu ríu nghe lời tôi, xách gọng xe nối gót theo tôi, xít qua đường Hàng Dừa, gọi đường Lacotte, cách đó không xa, phố ông Huyện cần, là nơi tôi ở đậu, ăn cơm tháng, chủ nhà là anh Hai (Bùi Văn Khá), thông ngôn tòa án, sớm nầy anh đã chia tay đi Ô Cắp Vũng Tàu tắm biển, nhà khóa cửa mà tôi không giữ chìa, đành mời anh ấy ra áo, phủi cẳng và cùng tôi đổ xe khít sát mái hiên và cùng nhau ngả lưng vào sập ván xập xệ nơi hàng ba, không chiếu lót cũng không mùng mền, mặc cho đêm nay muỗi đốt… tôi xin thọ giáo… và nói tắt lại, dưới đây là mấy lời anh tài tử kéo xe đã thuật và tôi đã ghi kỹ càng, anh xe truyền nghề và tôi, thầy ký, đinh ninh hai đứa kết làm bạn tâm giao và quyết nối khố với nhau trong nghề ca xướng:

“Tôi tên Nguyễn Văn Thêu, quê sanh tại cầu Rạch Bần, nay là đường Cô Bắc, tôi học tối lớp Nhì (cours moyen) trường Cầu Kho, vì nghèo nên bỏ học, rất may là tôi sắm được một tập nhỏ nhà Jh-Viết “Vè Bùi Kiệm” giá sáu xu (0$06), tôi coi theo đó mà tập nói thơ giặm Vân Tiên, vả lại tôi đã từng nghe người mù miền Trung rồi, và khi tôi thấy chỗ nào có vẻ trặc họng thì tôi châm chế lại, tôi có khiếu,… và em Sển à, nay tôi thấy em cũng biết thương nghề, nên tôi không giấu nghề và quyết truyền nghề nầy lại cho em tận tình, tỷ như mở đầu thơ Vân Tiên, tỷ dụ như câu: “HỠI AI LẲNG LẶNG MÀ NGHE, GIỮ RĂN VIỆC TRƯỚC LÁNH DỀ THÂN SAU”, rõ ràng ông Đồ Chiểu, vốn đui mù và sẵn tánh xuề xòa dễ dãi, bản thảo ông đâu có và đâu còn để lại cho mà biết, cãi nhau vô ích, và theo ý riêng của tôi là Thêu nầy, tuy “Dữ” đối với “Lành” là cân xứng, nhưng xét lại, em Sển à, vậy chớ “Giữ răn” đối với “Lánh dề” thì cũng cân xứng lắm chớ, và nầy, nếu Sển có vọc hoặc có học đờn cò, em thủ cây cung, em thọc mạnh được chữ “Lánh” thật êm, rồi em kéo cây cung trở về, được ba chữ “Dề thăn sau”, thì nó êm ru bà rù, thật khoái lỗ nhĩ vừa thật êm tai, trái lại nếu em kéo cây cung về và kéo một về 4 tiếng “BÌNH BÌNH BÌNH BÌNH” (“Lành dề thân sau”) thì cây cung mất đà, không thẳng trớn, em sẽ trặc có lẽ sẽ bể cuống họng mà chớ, 4 cái “bình bình”… ấy quả lình bình, lĩnh bĩnh, làm sao cho êm tai và khoái lỗ nhĩ được? Em Sển hiểu chưa, bí quyết nhà nghề chỉ nội bao nhiêu đó, và đây, như câu “THỐT THÔI BÙI KIỆM VÀO NHÀ”, làm sao hát cho êm được và Thêu nầy, phải giặm thêm cho thật dòn, và hát thêm dài dài giựt gân như vầy: THỐT MÀ Ứ THÔI, ANH BÙI KIỆM ẢNH BƯỚC VÀO Ứ NHÀ, ẢNH THẤY MÀ NÀNG NGUYỆT MÀ Ứ NGA, đến đây phải giặm cho lẹ: LỖ TAI CHỈ ĐEO ĐÔI BÔNG NHẬN HỘT, CÓ ĐEO CÂY KIỀNG VÀNG CHẠM, BẬN CÁI ÁO LUỠNG ĐOẠN, ĐỘI CÁI KHĂN LỤC SOẠN, (hoặc) CHE CÂY DÙ LỤC SOẠN, BẬN QUẦN LÃNH LƯNG RÚT, dứt câu nầy là hết giặm, và Thêu trở lại giọng nói thơ bình thường cổ điển và hát Á KHIẾN TÂM BÀO ANH KIỆM CHẾT TÊ! và như vậy người nghe thật khoái trá quăng tiền và Thêu lượm sướng tay cho chớ… Và vả lại bài Bùi Kiệm giặm, theo anh (Thêu) là bài sau nầy dọn đường cho bài Vọng Cổ mặc sức biến chuyển để ăn khách, nhưng thôi đừng nói thêm, hát giặm, nói giặm là nghề riêng ăn đứt của người đất Bình Định, có câu: “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận”, khuyên Sển đừng xía vào kẻo mắc kẹt, và câu chuyện hôm nay còn dài, hai đứa mình vừa gặp nhau đây là duyên kỳ ngộ bất thường, để ra giêng rồi anh sẽ dạy rành, còn nay sắp hết Tết, và mai nầy anh phải tranh thủ chạy tiền nuôi vợ nuôi con, ngủ hè, em hãy ngủ cho ngon, chúc em mọi việc được như ý, riêng Nguyễn Văn Thêu nầy, sở dĩ kéo gọng xe là để có nghề cho thằng Biện Tây hay thằng Biện Chà khỏi nắm đầu cho vào bót, chớ nào anh có kéo xe chạy một cuốc nào, nội cái việc anh rao leo: “Ai đi xe kéo chạy một chút bẻo thí tới không?” ấy là anh ghẹo chị bán chè khoai, chỉ rao lảnh lót: “Bột khoai, bún tàu, đậu xanh, nước dừa, đường cát khôông ơ ơ ơ!” làm cho ai đã ngủ cũng phải sai trẻ xách tô chén ra mua, và bây giờ anh nhớ lại trước đây tuy có một ông Lương Văn Giáo, biết nhơn đạo, không hề đi xe cho người kéo người…” Nhưng anh Thêu nói mặc anh, tôi đã đánh một giấc ngon lành từ lâu hoắc, và sở dĩ hôm nay tôi viết bài nầy là tại tôi nhớ con trai duy nhất của tôi nó quá bạc tình không về nhà và bỏ ba đứa thơ dại cho tôi nuôi, chớ nói thật tôi nào muốn thi đua tranh lèo giựt giải cùng ai. Con ôi, Ba nhớ, hãy mau về để tao trao gánh, chớ ăn rau muống hoài sao cho thấu!

Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 3 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 vietmessenger.com Vương Hồng Sển                                                 Cảm Đề – Chưa Chi Tết Đã Đến, Thành Phố Rộn Rực Đón Xuân
Viết Cho Số Xuân Báo Lao Động
Nghĩ Hoang Mang Về Thuật Chơi Đồ Cổ Và Nghề Viết Lách
Tôi Biết Gì Về Báo Nam Phong Và Về Phạm Quỳnh, Đối Với Đồng Bào Trong Nam
Trối Trăng, Tự Tình
Từ Thú Chơi Sách Qua Nghệ Thuật Chơi Sách
Cuốn Sách Và Tôi
May Rủi Hên Xui, Vận Đỏ, Vận Đen Của Nguời Chơi Đồ Cổ
Ngày 30-4-1975 Và Tôi
Nhắc Lại Cảm Tưởng Riêng Khi Tôi Viết Bài Nguyễn Du Soạn Kiều Năm 1813
Nên Chơi Sách Hay Nên Chơi Cổ Ngoạn – Lấy Người Nầy Làm Gương
Suy Luận Về Thú Chơi Sách Và Thú Chơi Đổ Cổ
Bàn Góp Với Người Hiểu Việc Về Chuyện Dự Định Xây Cầu Mỹ Thuận
Tôi Biết Gì Về Hát Bội, Cải Lương Và Tuồng Phụng Nghi Đình
Ăn Năn Và Sám Hối
Bài Tựa Thâu Gọn Cho Cuốn “Tự Vị Tiếng Miền Nam”
Tiếp Bài “Quanh Chiếc Xích-Lô” Của Số 142 Sggp
Học Sư Bất Như Học Hữu
Nghe Lén Buổi Nói Chuyện Bàn Giao Giữa Hai Ông Cũ, Mới Trên Tran Tại Nhà
Ngày Giỗ Tổ Đã Qua, Nhớ, Tiếc Và Thương Muộn Hai Nữ Nghệ Nhân Xấu Số
Cảm Tưởng Sau Ngày 3-10-1993
Muôn Mặt Hay Muôn Vẻ?
Đọc Sách Và Suy Luận
Luận Về Đồ Xưa, Sách Cũ Và Nói Thêm Về Lăng Phạm Đăng Hưng Ở Gò Công
Thuật Lại Gốc Tích Việc Học Chữ Tây Và Sự Tích Trường Chasseloup-Laubat
Parc Maurice Long Là Vườn Ông Thượng Thì Chưa Đúng
Nhắc Lại Những Trường Dạy Nghề Đời Tây Tôi Đã Biết
Tôi Viết Ba-Lăng-Nhăng Trối Mặc Tôi, Các Bạn Trẻ Xài Được Thì Cứ Xài…
Vài Chuyện Cũ Còn Nhớ Về Đường Phố Sài Gòn Ngày Xưa
Dị Đoan, Đồng Diêu, Ca Dao
Về Hai Tiếng Tiều Ở Sốc Trăng Đến Nay Còn Ít Ai Cắt Nghĩa: Bồ-Kề
Suy Nghĩ Lung Tung Về Nhà Yêu Nước Nguyễn An Ninh
Cảm Tưởng Hoang Mang Khi Được Tin Châu Hải Kỳ Vắn Số
Suy Cổ Nghiệm Kim
Thơ Gởi Cho Hoàng Và Thắng Về Chữ Viết Tắt Địa Danh, Nhân Danh Cũ Đất Nam Kỳ
Thử So Sánh Lại Nhân Vật Đông-Tây Đời Vua Tự Đức Và Đời Vua Pháp Napoléon Iii
Trái Sầu Riêng
Nhớ Thầy Thuốc Ngỡi Ở Sa Đéc
Đọc Sách, Suy Nghiệm Và Viết…
Một Chuyện Tình Xảy Ra Ở Vũng Tàu Sáu Chục Năm Về Trước
Thơ Tự Thuật Cũ, Nhơn Ngày Mừng Thọ Tuổi 93, Nhắc Lại Nghe Chơi
Viết Tiếp Bài Luận Về Đồ Xưa, Sách Cũ…
Cuốn Sách Và Tôi
Luận Tiếp Về Thú Chơi Sách Và Chơi Cổ Ngoạn
Tội Nghiệp Cho Phạm Đăng Hưng, Nhân Vật Lớn Đất Gò Công
Ô Cắp, Ô Ma, Ba Son
Nhớ Mẹ Và Nhớ Chùa Cơ-Me Watt Xà Lôn Ở Gần Làng Đại Tâm, Tỉnh Sốc Trăng
Những Dấu Tích Cũ Ở Sài Gòn, Ngày Nay Đã Phá Mất Và Tiếc Đã Muộn
Nhớ Tết – Tết Tây Và Tết Ta, Tết Ôi Là Tết!
Nhớ Hai Bạn Đồng Niên 1902 Và Nhắc Lại Vài Chuyện Cũ Về Tết Ta, Tết Tây

Lời Dẫn

Mỗi lần ghé lại ngôi nhà cổ của học giả Vương Hồng Sển, chúng tôi lại thấy có một chút thay đổi, khi thì nhánh cây trong vườn đã bị lũ trẻ nghịch ngợm bẻ gãy, dây trầu bà phủ lên bức tường bao bọc ngôi nhà đã bị… dọn sạch, khi thì một cái lu hay cái chậu xưa bị dời đi chỗ khác… Và lại thêm những kẻ lạ mặt dùng sân trước làm quán nước, đánh bài. Phủ Vân Đường xưa kia nay biến thành một nơi sinh hoạt hỗn tạp… Cũng may, ngôi nhà cổ đã được khóa chặt và thỉnh thoảng được thăm nom bởi đứa cháu gái (gọi ông bằng bác ruột) hết lòng với một gia sản “tinh thần”, vì cô biết rằng bên trong còn những đồ vật quý và cả những tác phẩm chưa được người đời biết đến.

Cái di nguyện biến ngôi nhà thành một “bảo tàng tư gia” để trưng bày những cổ vật, vẫn còn đó, kể từ khi cụ Vương Hồng Sển mất. Hơn 10 năm, và thời gian vẫn cứ âm thầm xói mòn từng ngày một. Nếu như điều ước nhỏ nhoi ấy không được thực hiện thì những bản di cảo lần lượt được công bố sẽ là niềm an ủi đối với ông phía bên kia chân trời.

Hàng ngàn trang bản thảo (đánh máy và viết tay) được viết vào những năm cuối đời, là nỗ lực còn lại, như ông từng ví mình là một con chim sắp sũ cánh trở đầu về núi, tiếng kêu bật ra tha thiết như lời từ giã cuối cùng…

Những gì ông viết ra như trăng trối, có khi chỉ là những chuyện lụn vụn, “tào lao”, “loạn xà ngầu”, nhưng với người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, chất chứa nhưng niềm say mê, và quyến rũ… bởi đó là những âm thanh của cuộc biến động ngoài xã hội được vọng lại, dồn nén, rồi bật ra thành lời…

Là một người rất “khoa học” trong tổ chức công việc, cụ Vương Hồng Sển ghi chép vào sổ tay những số liệu của đời sống riêng và chung, từ chi tiết lặt vặt như giá mua một bộ đồ trà, cho đến những chuyện lớn như Nguyễn Du đi sứ năm nào và Truyện Kiều ra đời vào năm nào… Những chi tiết được xâu chuỗi tài tình khiến người đọc như bị thôi miên và thỉnh thoảng giựt mình vì những khám phá mới lạ. Ông cũng là một nghệ sĩ tài hoa và dày dạn kinh nghiệm (với cả một chút cực đoan) trong việc thể hiện cảm xúc lên trang giấy. Điều nầy đã làm nên một phong cách rất đặc biệt, có thể nói là “độc nhất”. Cái lối viết vừa ngang tàng, vừa say sưa, vừa mềm mại uyển chuyển, luôn hút mắt người đọc!

Chính những đặc điểm thuộc về tính cách ấy khiến ông nhiều phen bực mình khi phát hiện sách của mình được in ra mà chữ nghĩa đã bị thay đổi…

Với “Tạp bút năm Quí Dậu” nầy, hy vọng rằng những tâm tính của ông sẽ được gởi đến quí độc giả thật là trọn vẹn, vì chúng tôi giữ lại hầu hết các bài đã được viết trong năm 1993, và chỉ thỉnh thoảng “cất” lại một vài câu chữ trong khi biên tập nếu thấy thật sự cần thiết, và chắc chắn điều đó không làm ảnh hưởng đến tính nguyên bản di cảo của nhà văn, học giả Vương Hồng Sển.

Lại hy vọng, ở nơi “quê cũ”, cụ Vương chắc sẽ mỉm cười khi biết rằng vẫn còn có nhiều người đón đọc tác phẩm của cụ trong niềm hân hoan…

Nhà xuất bản Trẻ – 10/2004

Ông Vương (Hồng Sển) sống từ đầu thế kỷ 20 là người rất hiếu học, là người sinh trưởng ở Sốc Trăng mà dân số ở miền quê hầu như cô lập, tự túc tự cấp lại may mắn là gia đình tương đối khá giả, thêm học giỏi nên lần hồi học ở Sài Gòn – bấy giờ là chuyện lớn, một tỉnh có mấy người được như vậy, nhất là trường Bổn quốc Chasseloup-Laubat (nay là Lê Quí Đôn) dành cho người Pháp, Pháp tịch hoặc người Việt có thân thế. Buổi ấy, phải là giáo sư giỏi như Diệp Văn Cương, Nguyễn Văn Mai…; và học sinh có y phục riêng. Ra trường, ông S. kiếm sở làm thật nhanh, thường là làm thơ ký “có máu mặt”, làm trực tiếp với một trưởng phòng người Pháp. Ông nói tiếng Pháp dòn dã, sau nầy ở Sài Gòn ông đã hưu, ông vẫn nói thao thao bất tuyệt cho cử tọa người Pháp nghe về phong tục Á Đông và Việt Nam…

Những bài ngắn trong quyển nầy quá đa dạng, khó đúc kết nhưng ta có thể tạm kết luận rằng ông là người có cá tính rất mạnh khỏe: giữ ý kiến mình tận cùng. Vì thích sưu tầm đồ cổ mà ông gọi là “cổ ngoạn”, ông theo dõi sâu sắc nhiều vấn đề chuyên môn mà giới nghiên cứu người Âu lắm khi cho là tủn mủn nhưng khá quan trọng đối với người. Việt Nam.

Sông Cửu Long (phía Hậu Giang) có cửa Tranh Đề hoặc Trần Đề (?) không ai rõ nhưng là cửa lớn trong 9 cửa, rộng đến 4 ki-lô-mét. Ông S. bảo là Trấn Di, đúng, thật đúng tên gọi theo bản đồ xưa của nhà Nguyễn (Di, nghĩa là người không phải Việt, dạng đồng bào Thượng). Pháp lập bản đồ cho người Pháp và hải quân Pháp nhận ra là Tran Di (chữ D Pháp đọc là Đ). Pháp không chú ý đến các dấu sắc, dấu huyền hoặc chữ H câm, chữ H phải đọc. Do đó cửa Cồn Ngao được Pháp ghi chú là Công-nhau, đọc trại theo quốc ngữ là Cung/Hau, lại nói trại là Cung Hầu hoặc Cung Hậu. Cũng như Mỹ Tho, Pháp đọc là My-tô, Biên Hòa đọc gọn lại chữ là Bi-E-Noa!

Vì hiểu cổ, cái giường nọ ở Chợ Lớn được ông S. trân trọng vì là “của quí” của người Hoa ở hải ngoại, hơn nữa dòng họ của ông cũng là người Hoa… hải ngoại. Nhưng ông đứng trên “lập trường” một người Việt để sưu tầm, lần hồi hiểu nó là loại “quí phi sàng”, làm bằng cây táo Tàu, bề ngang nhỏ, kế bên có cái ghế để cho một mỹ nữ đánh đàn tì bà cho chủ nhân nằm dài trên “sàng” ung dung hút thuốc phiện. Quí giá nhất là mấy miếng đá cẩm thạch ở ba bên vách, có tranh “vân cẩu vẽ người tang thương”, loại đá ở Miến Điện với những lằn nét tự nhiên nào phiến đá giống như mây bay, như lượn sóng biển, như ánh trăng và mặt trăng khuyết, thêm ấn tượng về gió thổi mây bay. Một thời, ông S. đã thử hưởng thú tiêu dao nên rất tâm đắc với cải giường quí giá nầy. Ai đến ngắm cũng được. Thấy ông nằm trên gường ấy, tôi thử “xin phép” nằm cho biết cái mát rượi của “cây táo Tàu” và hương vị của đá cẩm thạch Miến Điện như thế nào. Ông vui vẻ trả lời với nụ cười:

– Được! Chỗ bạn bè. Chơi đồ xưa thì phải thưởng thức, mình và bạn lâu đời với nhau cái nằm. Thí dụ như mình ra giữa hai đảo nọ ở Thái Bình Dương mà tìm được viên ngọc quí, cái tô quí thì… nó chẳng có giá trị gì ráo! Chơi đồ cổ là để khoe khoang, ít nhất là với năm mười người. Chơi một mình thì… chơi với ai.

Tánh của ông là không chịu ở không, cứ xem, cứ đi. Phen nọ bảo rằng tôi mới tìm được phần mộ của cậu Hai Miêng, con của Lãnh binh Tấn, vị lãnh binh nầy đã đầu hàng Pháp, giết Trương Công Định. Ông hăng hái đi, phần mộ nầy ở Cần Thơ, nay gócTrần Đình Xu và Trần Hưng Đạo. Cùng đi xích-lô đạp. Đến nơi, chủ nhà như hốt hoảng, bấy giờ đất Sài Gòn đã quá chật nhà cửa bao vây ngõ hẻm, quần áo phơi đầy chung quanh mộ.

Tôi đọc tên người quá cố: Huỳnh Công Miêng!

Trên bia đá, không có chữ quốc ngữ. Bấy lâu, tôi ngỡ Miêng là Minh, nói trại ra, dè đâu chữ Miêng nầy viết giống như Miên là bông vải. Người lập mộ là đàn bà phụ nữ, chủ nhà cho biết cậu Hai Miêng chỉ có con gái, các cô tu theo đạo Thiên Chúa! Cuối thế kỷ 19, cậu Hai Miêng nổi danh vì cậy quyền thế của cha, quan lại Pháp nể nang cậu ưa nổi máu anh hùng rơm, đánh võ khá giỏi trừng trị giới cường hào ác bá địa phương.

Thời bình Sinh, ông S. chỉ xài sổ tay để ghi chép, nào sổ lớn, sổ nhỏ đầy hộc tủ, chưa có máy vi tính, ghi ảnh như bây giờ. Chuyện ông ghi chép nhiều lắm, nếu còn sống, ông sẽ rảnh rang ghi lại nhiều tập hồi ức kỳ lạ. Theo tôi, ông giỏi tài… nói chuyện, nói khôi hài, nói lén vài nhân vật của chánh quyền, gần như vô thưởng vô phạt. Cứ chơi đồ xưa. Cứ sưu tầm…

Ngày 30-4-1975, ông chỉ lo chuyện cá nhân – con người tạm gọi là “phi chánh trị” không khoe khoang, tìm kiếm những ai có quyền thế thời cách mạng. Và không cần nhớ những người bà con ở chiến khu về để nhờ cậy họ bảo vệ mớ “cổ ngoạn”, sách báo xưa. Chơi để cho sướng vì ông quan niệm rằng… văn hóa dân tộc không dính dấp tới chánh trị! Ô hô!

Sơn Nam

Photo edit by Sơn râu

VƯƠNG HỒNG SỂN
(1902- 1996)

THAY LỜI TỰA

Gần Tết năm nay Quí Dậu 1993, một bạn (S.N.) đến dặn tôi viết gấp 2 trang cho kịp in trước trong báo Xuân, và hứa báo sẽ biếu độ 100.000 đồng, ông bạn ra về, tôi cải lời viết gọn trong một trang và gởi và thay vì được 100.000, tôi lại được đến 200.000 đồng với bức thơ nguyên văn như vầy.

Bộ Nội Vụ, Báo Công An, v.v.

TP.HCM ngày 19-12-1992

Kính gởi cụ Vương kính mến,

Tôi vừa nhận được bài báo Tết của Cụ, tôi rất mừng. Kính gởi Cụ 200.000 đg nhuận bút.

Kính chúc Cụ một mùa Giáng Sinh và Tết Dương lịch 93 dồi dào sức khỏe, vui.

Trân trọng cảm ơn Cụ đã nhiệt tình với Báo CATP.

Kính,

ký tên và ghi: Huỳnh Bá Thành

Tôi có ngờ đâu ông bạn trẻ H.B.T. tôi chưa kịp cám ơn, đã ra người thiên cổ, và đây là mấy hàng tôi khóc muộn một bạn trè tốt, xấu số.

Tôi đã cất kỹ trong bốp phơi bức thơ kỷ niệm và xin chép y nguyên văn bài một trang được 200.000đg nhuận bút như sau:

TẾT VÀ TÔI

Tôi xin nói Tết và tôi. Thằng tôi là đáng ghét, nhưng phải nói, vì xin kể một chuyện không tốt, gọi xả xú bắp để bước qua năm Dậu – Con Gà:

Hôm ấy là hai mươi chín tháng chạp thiếu, lối mười giờ khuya, thiên hạ rần rần đang vui buổi chợ đêm nơi chợ Bến Thành, và tôi đang thơ thẩn đưa một bạn gái về nhà đường Parinole, nay đổi gọi Đặng Trần Côn.

Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa-khôi chưa có. Tóc đỏ hoe hoe, ăn nói có duyên, nhà ở hẻm chẹt nầy, chuyên nấu cơm tháng cho mấy thầy, và tôi chịu miệng, đầu tháng tới sẽ cho người xách gào-mên (ngoài kia gọi cầu-mền), lãnh phần đem về, nhưng bữa nay phải cho tôi trước xem nhà, sau cho thử bất thình lình một dĩa lập-là cho rõ tài ngự-thiện. Hai đứa cặp kè đang đi cà-rịch cà-tang trên đường Lý Tự Trọng, pháo nổ điếc tai, và trận mưa buổi chiều còn đọng nước… Bỗng Mười nói:

– Anh S., nước dơ quá, ướt giày tôi hết.

Tôi đang tay xách một gói thịt nguội, vừa mua đùm đề, nào ba-tê nào gà ướp lạnh, thêm một chai sâm banh hiệu Veuve Amiot giá chín cắc bạc, mình đang hai tay không rảnh mà “con nầy” làm khó, chê dơ chê bẩn… Tôi vụt đáp: “Lưng đây nè! Lại đây, cõng cho! Mà phải chịu khó xách dùm mấy món nầy!”. Tôi nói nãy giờ còn dài chớ sự việc xảy ra ngắn xủn! Qua khỏi vũng nước cũ vừa thấy cửa phố của Mười. Tôi đứng thẳng lưng, chờ Tóc Đỏ bước xuống. Nhưng vẫn đánh đeo và ngâm giọng Bạch Vân, Hồng Vân gì gì đó. Ngâm rằng: “Chuối cau năm nải một quày! Mặt mầy không đáng xách giày tao đi!”

– Con nầy hỗn! Chưa chi nó đã trèo đèo!

Tôi ểnh ngực cho rớt xuống, và miệng hát giáo đầu giọng mở màn: “”Nghe đây!”

“Lưng vừa vắt L… mầy hăm hở! Tay cầm xúc xích thung thăng!

Chốn chiến trường tớ vẫn nhát gan! Nơi lộ vắng, tha hồ tay bốc!”

Rồi tôi bốc thiệt và bỏ ăn Tết, bỏ chai rượu, bỏ gói thịt, về nhà rửa tay và mang tiếng ngày nay “học giả”, xin đính chánh “giả chớ không thiệt”.

V.H.S. (18-12-1992)

(viết ngày 15-XI-1992)

CẢM ĐỀ – CHƯA CHI TẾT ĐÃ ĐẾN, THÀNH PHỐ RỘN RỰC ĐÓN XUÂN

Ở đây, mùa mưa đã thấy trổ mòi dứt sớm. Nhưng tại sao miền Trung thì lũ lụt bão tố, sập nhà sập cửa, còn trong Nam, diên hải 1 Long Phú (Sốc Trăng), Vĩnh Châu (Bạc Liêu) lại bị Sóng Thần làm cho ao nuôi cá thì cá thoát sạch khỏi ao, ruộng lúa, lúa vừa trổ, thì nước hốt không còn một cọng, rẫy dưa tiêu điều, rẫy mía mất xác, nhà lá bay mất nóc, ghe câu trôi mất dạng, đàn bà khóc chồng, trẻ con khóc cha; trên nầy, thành phố lập sổ quyên cứu giúp người mắc nạn miền Trung, nhưng tỉnh nhỏ Sốc Trăng là nơi nhau rún, lại nghe tin làm lễ tưng bừng đua ghe ngo, ăn cốm giẹp đầu mùa, và chỉ thấy báo trên nầy viết sai địa danh chỗ bị Sóng Thần là vùng cửa Trần Đề (và theo tôi, tin nơi sách cú Trương Vĩnh Ký, sông Hậu có cửa Định An và cửa Trần Đề, và chính cửa Trấn Di nầy, nay viết sai là Trần Đề, vô nghĩa).

Xỉn hỏi, biết đua ghe đưa nước về nguồn, nhưng nhà chức trách địa phương, có nhớ chăng Sóng Thần khủng khiếp?

Giữa lúc ấy, nhộn nhịp in lịch năm Quí Dậu, lo tranh bán cho kịp lúc, và đã có nhà hấp tấp in sai, lệch không dùng được, hoang phí nghe đâu hơn trăm triệu, hao giấy hao tiền, ai chịu cho đây?

Và Tết cứ đến. Khi trẻ, ham Tết bao nhiêu, đêm không ngủ chờ mau được chơi pháo, và khi già, sợ Tết bấy nhiêu, không phải sợ cái chết đâu, nhưng vẫn sợ: sợ trách nhiệm thi phải được đỗ, sợ bổn phận làm Người, làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, đến khi già cúp hàm thiếc, lại sợ không tiền lì xì cho cháu, và nhớ đứa con bất hiếu, trót mấy năm lánh mặt, già nầy ấm lạnh, B., mầy nào hay, tệ chi vậy?

Nhớ năm Dậu 1713 đời Gia Long, Tiên Điền đi sứ sang Trung quốc đem về bộ chén trà Mai Hạc, và vừa rồi, năm Nhâm Thân (1992) xui xẻo, đứa trẻ nuôi trong nhà biến tâm, đã ăn cắp trọn những dĩa, chén, tô kiểu chữ “Cũ” viết đơn (Nhựt gạch thêm 1 nét, ngày đã qua), chữ “Cũ” viết kép (viết chữ Nhựt, thêm chữ Cựu), và nào kiểu Mai- Hạc có câu: “Hàn mai xuân tín tảo, Tiên hạc tháo vi đầu” (chịu lạnh, Mai sớm báo tin Xuân; đứng đầu, Hạc đem tin sớm), hóa ra người Tàu vẽ Mai-Hạc, bắt chước người Nam, nhưng Mai và Hạc vẫn bay mất dạng nơi nhà họ Vương, cũng như mấy dĩa trà khác cũng bay mất luôn với câu Hán xấc: “Thả liễm xung thiên vỏ,… Lĩnh Nam chi”, (tạm dịch lẹ, cao ngất vùng Lĩnh Nam, phóng cao bay thấu trời), nhưng than ôi, nhắc lại thêm đau lòng. Và vừa rồi, trong tháng sáu mùa thu Nhâm Thân, một bạn trẻ chơi đồ cổ, bị mắc còng li tiếc và cũng may, nay có tin đã được về nhà, chung qui cũng vì đồ cổ, có món hên đem vui đến cho mình, và có món hệ, mình vì món ấy có khi bị nạn, và tôi tự giải nghĩa, hoặc món ấy quá quí, người người đều thèm, ông tướng cầm quyền muốn thì lấy món ấy nạp-dưng chuộc đứa con khỏi đi quân dịch, hoặc nhắc lại đây một chuyện vặt Cố Trầu 2 khi muốn một bộ ghế tràng kỷ đẹp, thì chủ bộ ghế ở Huế, vừa bị mất ghế mà vừa hư hao sản nghiệp cũng vì Cố Trầu đã muốn mà người chủ tiếc của chậm nạp-dưng, một lẽ khác dễ hiểu là nếu người chơi nhưng đức bạc, thì cố nhiên khó giữ món quá quí kia, và tôi mảng tam hoàng cuốc chí, hóa ba lăng nhăng, suýt lạc đề, tóm lại, một khi đã mất của, thà để của ra đi đừng tiếc, và người Tàu, cao kiến nhứt, đã từng khuyên “thà hao tài hơn là uổng mạng” và “thà mất sạch mà làm lại, hơn là cố trì để hại thân”.

(Chủ nhựt, 15 novembre 1992)

(21 tháng 10 Nhâm Thân) V.H.S.

——————————–

1Tác giả dùng chữ diên hải mà không dùng duyên hải. Điều nầy đã được giải thích ở cuốn “Tạp bút năm Nhâm Thân” – NXB Trẻ in năm 2003.
2Người dân Huế gọi Ngô Đình Cẩn em ruột Ngô Đình Diệm) là Cố trầu, do thói quen nhai trầu của ông ta. (bt)

Thung lũng tử thần

vietmessenger.com

15/03/2014

A20 Vũ Ánh

Post by Sơn râu 3 Jul 2024

Đôi lời của người post bài:

Tập Hồi ký Thung lũng tử thần của Vũ Ánh đã chấm dứt ngày hôm qua 2 Jul 2024, nhưng vì trục trặc kỹ thuật tôi có thiếu phần 27 trong tập Hồi Ký này. Xin được post bổ túc cho bạn đọc trên trang Blog của Sơn râu cũng như bạn đọc chia sẽ trên Facebook.

Phần 27

Cuối cùng, hai người bạn tù trong nhóm bí mật xây dựng tờ Họp Đoàn là N. “đen” và H. “bầu” cũng đã liên lạc được với đàn em của họ trong đội tù hình sự để tiếp tế cho chúng tôi mấy tán đường thẻ và một nắm thuốc rê. N. “đen” nhắn cho tôi biết: “Ở nhà thợ đã cố sửa chiếc xe Honda của anh, nhưng nó vẫn không chạy được nên đành để vào kho.” Lời nhắn cho tôi hiểu rằng bên ngoài, các anh em của tôi cố gắng cho tái bản tờ báo nhưng không có điều kiện. Honda nếu viết tắt theo vần Việt ngữ thì có thể viết là HĐ mà HĐ lại là ký hiệu chỉ tờ Hợp Đoàn chúng tôi thỏả thuận với nhau trước khi tờ báo ra đời. Sau khi chia sẻ thuốc hút và những tán đường với những anh em khác trong biệt giam cũng vừa tắm xong và được ngồi dựa lưng vào bức tường hông nhà bếp đón chút nắng xuân, tôi báo cho T.D.S biết như vậy, có nghĩa tờ báo đã
“ngỏm củ tỏi” rồi. S. “lùn” nói: “Như thế cũng xong, chúng ta phải chờ cơ hội khác. Tôi chỉ sợ họ cho tục bản mà làm không khéo bể ra lại thêm nhiều chuyện lôi thôi cho chính họ và chúng ta có thể bị ngộ nhận.”
Viên cán bộ trực trại có lẽ cũng lo vun vén cá nhân cho những ngày Xuân nên để chúng tôi ngồi ở hông nhà bếp đến gần một giờ trưa mới bị lùa vô lại khu biệt giam, nhưng không bị đẩy vào xà lim ngay, lại còn được phát cơm nước và ngồi ăn ngoài sân. Lần đầu tiên trong gần 4 re cag ca en nep te khi nay nen
mọi người đều cảm thấy người ấm hắn lên. Những câu chuyện nổ ra như pháo rang. Lại thêm cả “hot news” nữa!
T.C.L, một sĩ quan tâm lý chiến binh chủng Biệt Động
Quân bắt đầu “bốc.” Anh vẫn cái giọng “moa, toa” cố hữu:
“ỀÊ, mấy toa biết chưa, sắp có biến chuyển lớn bên ngoài,
Mỹ đang điều đình để bốc chúng ta. Reagan đã phải lên tiếng xin lỗi nhân dân miền Nam Việt Nam vì Mỹ đã quay lưng lại với chúng ta tàn nhẫn quá. Trước đây moa không tin chuyện này xảy ra, nhưng bây giờ thì moa tin.” Mọi người vốn biết tính T.C.L hay “nổ bậy” nên chỉ cười, còn 2. “đầu bạc” sĩ quan cảnh sát đã bực dọc kê ngay chiếc tủ tứng tổ bố vào miệng tác giả cái hot news này: “Thôi, nhờ anh tí. Bọn em trăm lạy, ngàn lạy anh, chờ Mỹ nó bốc chắc chúng em rục xương ở đây quá. Anh đã nói với em lần thứ hai rồi, lần này là lần thứ ba. Bất quá tam đấy nhé. Anh ở lại chờ Mỹ nó bốc, chúng em về đấy.” Thấy không khí chiều 30 Tết mà như thế là mất vui, tôi quay sang Q. “đầu bạc” can gián: “Thôi, đừng đem hot news vào đây nữa.
Chừng nào chúng đưa mình ra bãi đáp mới thảo luận đến tin đó cũng không muộn, hút hết thuốc đi nếu không trước khi vào cùm, chúng nó sẽ tịch thu sạch sành sanh lại còn bị tra khảo mất công lắm còn làm phiền những anh em nào đã tiếp tế cho mình nữa.”

Nghe tới hút thuốc là tự nhiên chuyện hot news cũng chẳng còn “hot” nữa và chúng tôi lại chúi đầu vào mớ thuốc rê còn lại, chia nhau sao cho mỗi người còn có thể hút được một điếu nữa.

Nói tới thuốc lá, thuốc rê hay thuốc lào trong những trại cải tạo thì cũng chẳng khác gì nói đến chuyện dài nhân dẫn tự vệ khi xưa. Nhiều người ở ngoài đời thắc mắc đã đi tù, hàng ngày “vã” cơm, nước, chất béo, chất ngọt mà sao vẫn còn chỗ để đa mang như vậy. Thắc mắc này không có gì sai, nhưng người chưa vào tù cải tạo thì chưa thể hiểu tại sao chúng tôi lại cần thuốc hút cũng ngang bằng cần khoai, gạo. Bởi vì thuốc hút trong trại giam có khả năng tại sao chúng tôi lại cần thuốc hút cũng ngang bằng cần khoai, gạo. Bởi vì thuốc hút trong trại giam có khả năng giúp tù nhân chôn giấu nỗi buồn nhớ vợ, con, gia đình, tạm quên thân phận mà minh phải mang vác. Tôi không liên lạc với gia đình cho nên cái khoản thuốc lào trong trại giam đều là quà biếu của các anh em có liên lạc với gia đình và có thăm gặp, cho nên nếu được anh em tặng một chút nào thì cũng phải dè sẻn. Đối với một người hút thuốc nặng như tôi thì phải dè sẻn hay nhịn thuốc hút cũng là một cuộc trường chinh với chính mình. Trước 30 tháng Tư, 1975, trung bình một ngày tôi hút đến 3 gói thuốc lá Bastos, một loại thuốc lá đen, rất nặng. Tôi chỉ không hút thuốc khi đi ngủ. Vào tù không có thuốc thì phải nhịn. Cũng như bao anh em khác, tôi giữ nguyên tắc là không bao giờ đi xin thuốc ai cả bởi vì trong nhà giam mọi người đều khốn khó, xin thuốc tức là xin tiền. Tôi cũng đã trông thấy một vài bạn đồng tù không đi xin nhưng đi lượm tàn thuốc các anh em khác bỏ ngoài sân về gỡ ra và quấn bằng giấy báo hay cho vào điếu cày để hút.

Thực ra đây là hành động lương thiện và không có gì gọi là hạ thấp tư cách của mình, nhưng nó làm cho những bạn đồng tù khác đau lòng. Cứ thử tưởng tượng một sĩ quan từng giữ những chức vụ chỉ huy trong các đơn vị quân đội đã từng đổ máu để vượt qua bao nhiêu khó khăn mà đến khi bị đẩy vào hoàn cảnh khốn lại không thể vượt thoát ra được những thói quen của mình thì người ta sẽ nghĩ sao về họ?
Nhưng cũng may mắn là số người đi lượm tàn thuốc trong trại giam đếm được trên đầu ngón tay vì thú thực tù cải tạo mà hút thuốc thì tàn thuốc cũng chẳng còn gì nữa mà bòn mót. Thời gian đầu ở trại A- 20 Xuân Phước, thuốc lào là món “phụ tùng” hiếm hoi vô cùng. Tất cả các tù cải tạo khi bước chân vào trại này, quà thăm nuôi mang từ các trại khác đến đều bị tịch thu kể cả thuốc âu dược, thuốc lào, thuốc lá, thuốc rê. Bối cảnh ấy giống y hệt thời kỳ đổi tiền hay đánh tư sản mại bản ở ngoài đời sau khi người Cộng Sản chiến thắng ở Miền Nam Việt Nam.
Chuyện hút thuốc lá hay thuốc lào trong trại cải tạo không phải là một vấn đề lớn. Nhưng dù cho là như thế đi nữa, nó cũng đã bày ra trước mắt chúng tôi khá nhiều hình ảnh tàn nhẫn mà tôi cho rằng người Cộng Sản khá thành công trong kế hoạch lũng đoạn đời sống của chúng tôi ngay khi chúng tôi bị đẩy vào trong hoàn cảnh cùng quẫn nhất. Tôi muốn nói tới một thiểu số, rất thiểu số bạn đồng tù với tôi khi họ đã “can đảm” đánh đổi một điếu thuốc lào (trong trại chúng tôi thường dùng từ ngữ “bi thuốc lào” thav vì điếu. một cách thảm kich hóa viêc hút thuốc lào) mà mình có để lấy phần cơm hay nửa phần cơm tùy theo thỏa thuận của người bạn đồng tù khác không thể vượt qua được những đòi hỏi thật phi lý của khói thuốc.
Một phần cơm, nói cho đúng là một phần cơm độn trong đó tỷ lệ khoai sắn là tỷ lệ áp đảo phát ra cho một tù nhân đã quá ít rồi. Vậy mà họ đã phải cắt đứt sự sống của mình để lấy một điếu thuốc mà ảnh hưởng của nó chỉ kéo dài trong 30 giây đồng hồ thì phải nhìn thấy không có sự mù quáng nào bằng. Đành rằng sự đổi chác này là công bằng và thuận ý với nhau, không hiểu sao trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi vẫn nghe thấy văng vằng một lời trách cứ: “Các anh tồi quá, một điếu thuốc lào, một hạt cơm, một điếu thuốc lào, một hột cơm,  cũng không chia sẻ cho nhau được mà phải đổi chác một cách tàn nhẫn như vậy, nói chi đến việc gánh vác việc lớn. Các anh nên nhớ chuyện này chỉ diễn ra giữa một số người với nhau, nhưng nếu đối phương của các anh mà nhìn thấy cảnh này, chúng sẽ tổng quát hóa nó và thiệt hại ẩn về phía các anh. Tình huynh đệ chi binh ở đâu? Phần ông các anh em biểu lộ được tinh thần này, người bỏ uên nó chỉ là thiểu số, nhưng phải nhớ rằng trong hoàn ảnh phải đối đầu trực diện giữa tốt và xấu với kẻ thù, hững chuyện lẻ tẻ này rất dễ có tác dụng lớn, lớp đàn em ang sống với các anh ngay trong những nhà tù sẽ không òn giữ được những hình ảnh đẹp đẽ về một quân nhân uy đã phải đầu hàng nhưng vẫn giữ được những lề thói táng trân trọng.”
Đời tù có biết bao chuyện để nói và môi trường sống trong nhà tù cũng khá phức tạp trong khi chế độ của những người chiến thắng đang tìm mọi cách để khai thác sự phức tạp này. Cho nên, có thể vì tinh thần bảo vệ màu cờ sắc áo trước kẻ thù, đôi khi trong suy nghĩ của tôi xuất hiện sự khắt khe quá đáng. Vào giai đoạn đó tôi cũng biết như thế, nhưng tôi hiểu rằng mình sẽ không thể chịu đựng được nếu một tên cán bộ Việt Cộng nào chỉ vào mặt tôi và xỉ vả: “Các anh bảo chúng tôi tàn nhẫn, nhưng chính cách đối xử với nhau giữa các anh cũng tàn nhẫn không kém.” Ngày nay, những điều tôi trình bày trên những trang giấy này chỉ còn là một ký ức, nhưng đôi lúc điều buồn bã ấy vẫn quay lại. Riêng tôi, ký ức vẫn còn sống động về một thời mà mà đa số anh em đồng đội chúng tôi đã có thể đâu lưng lại với nhau để chống lại kế sách nhằm hạ thấp nhân cách của những người quốc gia chống Cộng khi sa cơ, về một thời mà chúng tôi biết vượt lên trên sự sợ hãi và số phận để sống như những người biết giá trị của tự do và nhân phẩm đến từ đâu.
Từ cái Tết Nguyên Đán 1984 cho đến tết những ngày trước Tết Nguyên Đán năm 1985, nhân số trong khu biệt giam giảm dần. Những người bạn tù khá thân với tôi Đ.B.P, N.Đ.Q, T.C.L, H.C cũng đã được tháo cùm cho trở về đội và số tu sĩ Công Giáo được chuyển vào bệnh xá phân trại B không trở lại biệt giam phân trại E nữa. Trong khu giam cầm đặc biệt này chỉ còn lại tôi, T.D.S, cựu dân biểu T.Q.P, hai linh mục Nguyễn Văn Vàng và Nguyễn Luân và một vài tù cải tạo hình sự ra vào biệt giam như cơm hữa tuv rằng thời han nằm tối đa của ho chỉ trong vòng 2 hay 3 tuần lễ là cùng. Chúng tôi vẫn liên hệ với nhau, nhưng không khí trong biệt giam buồn hơn vì mất một người kể chuyện sách vở là N.Đ.Q tự Q. “đầu bạc” và anh chàng chuyên tung hot news vô căn cứ T.C.L. Tiêu chuẩn thực phẩm không thay đổi, nhưng nước uống được phát mỗi bữa rộng rãi hơn chút đỉnh và điều quan trọng là nước muối chan vào khoai mì bớt mặn hơn và tôi được tháo một chân cùm.
Mấy tháng trước tết năm 1984, được chuyển sang ở chung với Linh Mục Vàng tại biệt giam số 6 nên tôi có thời gian nghe vị linh mục này nói chuyện về cuộc đời tu hành của ngài và chứng kiến được sự hùng biện của ngài khi cùng tôi thảo luận về cuốn Tân Ước, cho dù ngài biết tôi là một Phật tử. Tôi được cái may mắn là nghe danh linh mục Vàng trong vụ. Vinh Sơn, nhưng cho tới khi được nhốt chung một thời gian với ngài trong biệt giam, tôi hiều thế là bậc chân tu giữ được phẩm hạnh trước những khốn khó và lập tức tôi có ngay một sự so sánh giữa ngài và những tu sĩ tôi thường gặp trước 30 tháng Tư, 1975 cũng như gặp trong nhà tù Cộng Sản. Với chúng tôi, trại trưởng Lê Đồng Vũ vẫn giữ cái lối “hỏi thăm sức khỏe” đầy xách mé mỗi khi ông ta vào để kiểm soát các thành phần ở biệt giam gần như lâu nhất trong lịch sử của trại tính đến cuối năm
1985. Đầu năm 1985, tôi lại được gọi ra “làm việc,” nhưng lần này nội dung không có gì quan trọng và do Lý “lé” ngồi ghế thẩm vấn. Nội dung cuộc thẩm vấn chỉ mang tính khuyến cáo tôi là phải an tâm và tin tưởng vào chế độ lao tù của nhà nroc. Cuộc thẩm vấn kéo dài tới khoảng 40 phút, nhưng anh ta chỉ hỏi đến quá trình thời gian tôi phục vụ trong hệ thống truyền thanh Quốc Gia VNCH và rồi anh ta nói nhiều hơn hỏi. Sau đó, Lý “lé” báo cho biết là tôi và một số người khác sẽ bị chuyển trại vào phân trại B để
“cải tạo trong điều kiện thoải mái hơn.” Sau cùng, anh công an này nói với tôi: “Biệt giam ở trại B rộng hơn và sách hơn.”
Nhưng trong thâm tâm do trải qua những kinh nghiệm thử lửa, tôi nghĩ trong chốn lao tù dưới chế độ Cộng sản tốt nhất nên coi châm ngôn “cầu cho bạo chúa sống lâu” có một giá trị thực tế nhất định nào đó.

Chuyên Đề Duyên Anh 

Cánh cửa thứ nhất

Huỳnh Phan Anh

Trần Vũ

June 1st, 2024
Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Kỳ 5

Riêng đối với bản thân tác giả, dường như cuốn Hoa Thiên Lý cũng đã đánh dấu một kỷ niệm, một chặng đường đáng ghi nhớ của ông. Căn cứ theo lời ông kể lại trong hồi ký nhan đề Nhà Báo đăng trên tuần báo Tuổi Ngọc bắt đầu từ số 21, cuốn sách ra đời vào giai đoạn đầy khốn đốn và nghịch cảnh của tác giả vào khoảng trước 1 tháng 11-1963.

“Vào giai đoạn buồn thảm này, tôi cho xuất bản tập truyện Hoa Thiên Lý bằng tiền của nàng bạn Đặng Xuân Côn. Hoa Thiên Lý mang tên nhà xuất bản Giao Điểm của ông Trần Phong Giao. Có lẽ nó tồi quá, nên sau này, trong mục lục sách đã xuất bản của Giao Điềm, ông Trần Phong Giao không thèm nhắc nhở, ông loại nó ra. Tôi nhớ chuyện này thật kỹ.”(Duyên Anh, Tuổi Ngọc số 21)

Ông nhớ chuyện này thật kỹ. Cũng như ông đã nhớ thật kỹ từng chi tiết liên quan tới cuốn sách đầu tay, tới từng cái truyện ngắn được gom lại trong đó. Hình ảnh của Hoa Thiên Lý không những còn in sâu trong kỷ niệm của ông, mà còn in sâu trong các tác phẩm sau này của ông. Tôi không ngần ngại phát biểu rằng hầu hết tác phẩm Duyên Anh đã viết cho tới bây giờ đã được mở ra từ Hoa Thiên Lý, đã được báo hiệu và chuẩn bị từ đó. Đúng như Duyên Anh đã nói, cuốn sách đó có thể yếu kém.“Rồi” đối với con mắt thưởng ngoạn khách quan, nhưng nó chính là cái chìa khóa của chính sự nghiệp ông.

Hoa Thiên Lý là tập truyện gồm 10 truyện ngắn, dàn trải trên 213 trang sách, theo bản in (tái bản năm 1970). Đó là những truyện ngắn đầu tiên của tác giả, có tên sau đây: Con Sáo của Em Tôi, Trên Sông Tình Thương, Em, Trẻ Thơ và Bụt, Nỗi Buồn của Tuổi Trẻ, Biên Giới Người Có Tội, Chiếc Vòng Tay của Một Người, Hoa Thiên Lý, Khúc Rẽ Cuộc Đời. Trong số những truyện này phải kể Hoa Thiên Lý là truyện ngắn đầu tiên theo lời của ông, đã được sáng tác trong những ngày đen tối nhất:

“Sống buồn thảm như thế, tôi đâm ra nhớ nhà kinh khủng. Nhớ nhà và thương tiếc tuổi thơ của mình. Trước hết, tôi nhớ mẹ tôi. Vào một đêm mưa mù mịt chân cầu Tân Thuận, không ngủ được vì mái nhà dột tứ tung, tôi đã thức suốt đêm hí hoáy viết truyện ngắn đầu tay Hoa Thiên Lý” (Duyên Anh, Tuổi Ngọc số 22)

Có lẽ không phải tình cờ mà tập truyện ngắn đầu tay lại mang tên Hoa Thiên Lý. Nếu tập Hoa Thiên Lý là điển hình của toàn thể tác phẩm Duyên Anh thì truyện Hoa Thiên Lý đã “nhớ nhà và thương tiếc tuổi thơ mình” ra sao qua lời tự thuật dài non hai mươi trang sách.

“Mẹ tôi yêu hoa thiên lý như yêu chồng con. Chả biết màu xanh dìu dịu của lá và hương thơm nhẹ nhàng của hoa thiết tha là bao mà mẹ tôi âu yếm nó thế.”

Lời tự thuật mở đầu bằng một hình ảnh, hay đúng hơn là niềm bí ẩn của một hình ảnh. Niềm bí ẩn của giàn hoa thiên lý trong tuổi thơ tác giả, đó cũng là niềm bí ẩn của người mẹ thân yêu mà tác giả muốn gợi lại trên những dòng hồi tưởng của mình. Niềm bí ẩn đó đơn sơ, nên thơ nhưng cũng không kém phần kỳ diệu, như bất luận một niềm bí ẩn nào của tuổi nhỏ. Gọi là bí ẩn nhưng thật ra đó chỉ là bóng dáng mờ ảo của quá khứ, của kỷ niệm trong mỗi lần sống lại, tìm về với tất cả những rung động bàng hoàng.

Google photos edit by Sơn râu

Truyện kể lại những kỷ niệm về người mẹ với tâm hồn bao dung hiền dịu đã nuôi dưỡng tâm hồn của tác giả trong suốt một thời thơ ấu. Truyện viết về người mẹ hay đúng ra là viết gửi về một tâm hồn mẹ đã vắng bóng, khuất xa. Ngôn ngữ, lời kể, giọng kể cơ hồi buông thả theo dòng hồi tưởng miên man không còn trí tuệ để kiểm soát, trí tuệ đã nhường chỗ cho quá khứ được mặc tình lên tiếng. Viết điều này cũng có nghĩa là nhớ lại, làm sống lại một thời đã mất, tức là tạo cơ hội cho một thời đã mất giờ đây sống lại trở về:

“Mẹ dạy anh em tôi học. Tôi lớn dần trong sự chìu chuộng, trong sự bình thản mơ màng của mẹ tôi. Tâm hồn tôi đã ướp chung với hoa bưởi, hoa nhài, hoa lý.”

Tác giả đã lớn lên dưới cái nhìn hiền hòa âu yếm “như tiếng ru muôn đời” của người mẹ, lớn lên và tiêm nhiễm bởi chính màu sắc tâm hồn của người mẹ:

“…Mỗi trưa, mẹ hay dắt tôi ra hóng gió ở dưới giàn hoa. Mẹ mang chiếu ra trải. Mẹ ngồi nghĩ ngợi xa xôi. Tôi ngồi gối đầu vào lòng mẹ mơ màng nghe tiếng sáo diều vi vút, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru buồn thấm thía hay tiếng chim cu gáy xa xa vọng lại. Đôi khi mẹ kể chuyện gì mà tôi không hiểu được, nhưng chắc lòng mẹ rộn ràng lắm vì thấy mẹ mỉm cười bâng quơ. Tôi thường ngủ thiếp đi trong hơi thở êm đềm ấy.”

Tâm hồn người mẹ như cái bóng thân yêu ngày một in sâu vào tâm hồn tác giả với những nét đậm đà, in sâu vào biến đổi tâm hồn tác giả mà chính tác giả cũng không nhìn thấy rõ:

“Đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu tại sao ngày bé nhỏ tôi ham thích những cái gì mềm mại, dễ thương, im lặng như giọt mồ hôi chảy đều trên lưng người thợ hay hơi thở đều đều của mẹ tôi”

Phải chăng cũng từ mỗi ảnh hưởng lặng lẽ âm thầm đó, tác giả đã đi tới việc chia sẻ với người mẹ về một sở thích gần như khó hiểu, vô nghĩa đối với chính mình. Tác giả không còn cho “cây ổi trĩu nặng quả chín (…) thú vị hơn ngàn hoa thiên lý của mẹ”. Trái lại ông đã bắt đầu, không biết từ bao giờ, thấy “thích ngàn hoa thiên lý ở quê ngoại”. Tác giả yêu hoa thiên lý như người mẹ suốt đời vẫn yêu và quý trọng nó như một kỷ vật quý báu nhất đời. Tình yêu hoa thiên lý gắn liền với tình yêu mẹ. Hoa thiên lý là hình ảnh của người mẹ. Tác giả có thể chưa đủ trí khôn để thấu hiểu những nỗi niềm, những tâm sự thầm kín của người mẹ vẫn hằng ấp ủ trong màu hoa thiên lý đơn sơ. Nhưng chính bên giàn hoa thiên lý trong hơi thở nồng ấm của mẹ, tác giả đã được nghe những mẫu chuyện quê hương êm đềm nhất.

“Đắm chìm trong niềm im lặng muôn đời của thôn ổ, tiếng mẹ tôi tha thiết rót vào tai tôi thay vì tiếng ru êm ái ngày xưa làm cho lòng tôi càng ngày càng mở rộng, mắt tôi càng ngày càng thắm sắc mộng mơ. Tâm hồn tôi dào dạt tình cảm, cái gì cũng gợi tôi say đắm, từ chiếc áo nâu thôn ổ đến manh áo nâu ố màu bùn, từ cái cầu cao chênh vênh đến túp lều tranh xơ xác.”

Và cũng chính bên giàn hoa thiên lý, tâm hồn thơ ngây của tác giả đã đón nhận những bài học đầu tiên về tình tự dân tộc cũng như về tình người. Những mẫu chuyện đó phải đẹp, càng đẹp hơn khi chúng được thốt lên từ giọng kể chan hòa thương yêu của mẹ. Nhưng đẹp nhất có lẽ là câu chuyện của trọn vẹn một đời người mà tác giả phải đợi tới tuổi lớn khôn mới được nghe kể lại. Câu chuyện thật của giàn hoa thiên lý. Câu chuyện thương tâm của một thời con gái, đang lứa tuổi yêu đương nhưng vướng phải cái bệnh lao gia truyền, đành phải khép chặt lòng mình trong cô độc, giữa lúc:

“Pháo cưới thi nhau nổ nát tan lòng mẹ. Màu áo đỏ, áo xanh bỗng nhiên ngả màu tang tóc như muốn liệm chung cuộc đời người con gái chưa đầy hai mươi mùa xuân.”

để rồi:

“Chiều chiều mẹ đứng ngắm mây trời đổi sắc dưới giàn thiên lý ngoài ngõ đợi ngày yên nghỉ dưới mồ.”

Nhưng đó cũng là câu chuyện của một linh hồn biệt xứ một hôm bỗng dừng lại bên giàn hoa thiên lý để rồi không bao giờ muốn cất bước ra đi, quyết sống bên người con gái đang chôn vùi tuổi xuân dưới bóng mát của giàn hoa:

“Mẹ tôi cảm động chết ngất trong đôi tay người yêu. Rồi cha tôi lo chữa chạy, rồi lòng mẹ nhóm lên ánh lửa tin yêu. Mẹ tôi lành mạnh nhờ thuốc thang nhưng phần lớn là nhờ lòng thương yêu của cha tôi.”

Câu chuyện Hoa Thiên Lý trở thành câu chuyện của lòng thương yêu, trong mọi giới hạn của nó, mai đây trở thành một di sản tinh thần bất diệt trong tâm hồn tác giả, kẻ tự nguyện, trên những bước đường dun ruổi của đời mình:

“…Đi tìm thương yêu trong màu hoa thiên lý, đi tìm những bà mẹ biết kể chuyện tâm tình, đi tìm cô bé thả mắt trong mơ dưới giàn cây.”

Thương yêu, tâm tình, mơ mộng, hồi tưởng… đó là những ý niệm nền móng của tác phẩm Duyên Anh thể hiện đầy đủ ngay trong sáng tác đầu tay này. Nói khác đi, con đường của Duyên Anh, của tác phẩm Duyên Anh đã được vạch ra ngay từ truyện ngắn Hoa Thiên Lý.

Người mẹ đóng một vai trò nổi bật trong truyện, là nhân vật của truyện, là đối tượng tác giả muốn nói. Điều này hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh nội tâm của tác giả trong lúc viết nên câu chuyện: “trước hết tôi nhớ mẹ tôi”. Câu chuyện lại được kể theo ngôi thứ nhất.

Vậy thì một chút suy diễn thông thường cho phép người đọc tin một phần nào rằng câu chuyện tác giả viết nên chính là câu chuyện của tác giả và nhân vật có thật. Riêng tôi, tôi vẫn muốn nghĩ rằng đó là nhân vật có thật dù cho thực tại của nhân vật đó hẳn phải được biến đổi “tiểu thuyết hóa” đi nhiều. Tại sao có ý nghĩ đó? Bởi đọc Hoa Thiên Lý, tôi tìm thấy ở đó, một mấu chốt, một tầm quan trọng vượt khỏi chính Hoa Thiên Lý. Nó không chỉ là một truyện ngắn như bao nhiêu truyện ngắn khác của tác giả, nó chính là cội nguồn của những tác phẩm ký tên Duyên Anh sau này. Nó là lời giải thích vững chắc nhất, có thẩm quyền nhất của Duyên Anh về Duyên Anh. Tôi vẫn không rời bỏ được quan niệm cho rằng trong mỗi tác phẩm đã bao gồm sẵn một cái nhìn hay một sự chú giải về chính tác phẩm đó. Và đọc (cũng như phê bình) điều này cũng có nghĩa tìm đến cái nhìn hay cái ngôn ngữ ẩn giấu đó của tác phẩm hơn là tìm đến chính tác phẩm trong những dáng vẻ bề ngoài của nó, trong ý nghĩa này nhân vật “mẹ tôi” trong Hoa Thiên Lý còn là một cái gì khác hơn là một nhân vật (như người ta vẫn gọi).

Cho nên, tôi không muốn xem người mẹ trong Hoa Thiên Lý là một nhân vật truyện hay nhân vật tiểu thuyết. Bởi vì trong trường hợp này, chính nhân vật tiểu thuyết đã sáng tạo nên nhà văn, quyết định con đường nhà văn đi, quyết định linh hồn của tác phẩm.

Google photos edit by Sơn râu

Có thể nói rằng với truyện ngắn đầu tay Hoa Thiên Lý, Duyên Anh đã tìm kiếm cho mình một đường lối sáng tác với những chủ đề nền tảng, ông không ngớt trở về và đào sâu thêm trong những cuốn sách tiếp theo. Ngoài ra, Hoa Thiên Lý còn báo hiệu một lối viết, một hình thức phô diễn mà Duyên Anh vẫn không ngớt trung thành.

Nếu gọi Duyên Anh là người viết văn của những rung động tình cảm (mơ mộng, nhớ nhung), ông đã biết thể hiện tình ý của mình bằng một ngôn ngữ thích hợp nhất. Đó là thứ ngôn ngữ nghiêng nặng về hình ảnh và hiện tượng không ngoài mục đích khêu gợi và kích thích cảm xúc ở người đọc. Ta chỉ cần đọc một đoạn văn rất điển hình của Duyên Anh sau đây để thấy rõ Duyên Anh đã thích nghi hình thức diễn đạt vào nội dung cần diễn đạt như thế nào:

“Khi mắt mẹ phảng phất khói hương mơ mộng thì lại là lúc phải khóc nhiều vì cô độc đau thương. Pháo cưới thi nhau nổ nát tan lòng mẹ. Màu áo đỏ, áo xanh bỗng nhiên ngả màu tang tóc như muốn liệm chung cuộc đời người con gái chưa đầy hai mươi mùa xuân. Những con bươm bướm đa tình chẳng chịu ghé hoa vườn Thuốc độc nên mẹ già cỗi và gần như xa hẳn nhân gian.”

Ta sẽ còn nhiều dịp trở lại vấn đề này khi đi sâu vào tác phẩm Duyên Anh. Ở đây tôi chỉ muốn nhận diện vóc dáng cũng như vị trí và tầm quan trọng của một truyện ngắn đầu tay trong toàn bộ tác phẩm. Đó cũng là lý do khiến ta dừng lại có hơi lâu ở truyện ngắn Hoa Thiên Lý. Những điều nói ở trên có lẽ cũng tạm đủ để ta còn tiếp tục thăm hỏi phần còn lại của tập truyện đầu tay.

Câu chuyện Hoa Thiên Lý đã được kể bằng hồi tưởng. Đối với Duyên Anh, hồi tưởng về một thời tuổi nhỏ đã mất. Tuổi nhỏ đã đến trong truyện ngắn đầu tay của Duyên Anh. Đến để ở lại và không bao giờ rời bỏ ngòi bút Duyên Anh trong những sáng tác kế tiếp, trong suốt tập truyện còn lại. Chính ở đây, người ta được phép nói rằng bước đầu tiên của Duyên Anh cũng là bước định đoạt.

Mỗi một truyện ngắn trong tập Hoa Thiên Lý là một chân trời nho nhỏ của lứa tuổi thơ ngây đang lớn lên, đang bay nhảy, đang chuyện trò. Và người đọc có cảm tưởng tác giả chỉ thật sự rời bỏ những nhân vật của mình, những linh hồn bé nhỏ đó ở những bước chân đầu tiên của họ băng qua ngưỡng cửa đời sống, với những ước vọng đầu tiên và với những tan vỡ đầu tiên của họ: tình yêu, sự nghiệp.

Dù viết về tuổi thơ như một đối tượng bên ngoài (Trẻ Thơ và Bụt, Khúc Rẽ Cuộc Đời) hay một đối tượng bên trong và đồng hóa với chính mình (Con Sáo của Em Tôi, Em…) ngòi bút của Duyên Anh vẫn không thay đổi. Vẫn một cái nhìn chung thủy, đơn nhất về tuổi thơ. Nói cách khác, vẫn là một hình ảnh tuổi thơ với những màu sắc tâm hồn cùng những thảm kịch đã trở nên quen thuộc dưới ngòi bút tác giả.

Khúc Rẽ Cuộc Đời kể lại câu chuyện những con người đánh mất tuổi thơ trong khói lửa của chiến tranh và cách mạng. Tuổi thơ gợi lên, vẽ ra trong truyện chỉ là một số hình ảnh và kỷ niệm tươi thắm còn lại, sáng rực trong tâm hồn của những kẻ đang, hay đã đi qua “Khúc Rẽ Cuộc Đời”. Đó là câu chuyện xung đột giữa Mộng và Thực, giữa những ước mơ sáng láng của tuổi nhỏ và những trò chơi khốc liệt của định mệnh, của chính cuộc đời. Hai người bạn – Khoa và Vĩnh – kẻ mong thành văn sĩ, kẻ ước được là người viết sử, nhưng:“Chao ơi! Trang đầu lịch sử của đời Vĩnh đã ghi chép những dòng máu lệ tủi nhục.”

Google photos edit by Sơn râu

Huỳnh Phan Anh

và Khoa, với “trời cao trên đầu”, với “vực thẳm dưới chân” liệu Khoa có thấy được một chân trời nào trên những bước đường ruổi dun mù mịt. Hay ước mơ kia chỉ còn là một hình ảnh đẹp ngày một vùi lấp trong những cơn phong ba của cuộc sống. Cũng như tất cả, mai đây chỉ còn là kỷ niệm ngày một đè nặng lên tâm thức của kẻ bị đuổi ra khỏi thiên đường thơ ấu:

“Khoa có bao nhiêu kỷ niệm gửi trong mắt chị Hiền, trong nụ cười Vĩnh, Bảo. Kỷ niệm tha thiết in hình vào miếng nắng, vào hàng cây, vào viên gạch huyện đường. Trọn đời, Khoa sẽ nhớ những buổi câu cá dưới gốc cây si nghe chị Hiền kể chuyện ma. Khoa sẽ nhớ bánh tráng Minh Giảng mỗi bận chị Hiền qua đấy mua về. Khoa cũng không thể nào quên được manh áo len tím chị Hiền đan tặng nhân mùa lạnh, và nhất là tình thương mến chị Hiền trao Khoa. Người mẹ mớm cơm cho con mau lớn như chị Hiền mớm tình cảm cho Khoa biết mơ mộng. Khoa mong ước sau này Khoa bước xuống cuộc đời gặp nhiều chị Hiền… Khoa cầu nguyện đất trời cứ thế này mãi mãi.”

Chị Hiền, cũng như bao tâm hồn bao dung, không mãi mãi như thế.

Và đất trời của tuổi nhỏ cũng không mãi mãi như thế.

Không còn gì ngoài những cơn ác mộng của cuộc sống.

“Phải chứng kiến lưỡi kiếm đâm từ ngực xuyên qua lưng ba Vĩnh. Phải chứng kiến ba Vĩnh giẫy giụa trên vũng máu. Phải thấy xác chị Hiền trần truồng. Phải thấy mắt chị trợn trừng uất hận mới hiểu cách mạng và chiến tranh.”

Người ta gặp lại nhau sau bao nhiêu năm ngăn cách, đổi dời. Người ta bàng hoàng biết bao nhiêu. Tuổi thơ đã bị đốt cháy tan hoang. Và hiện tại thì giăng mắc mây mù. Nói gì? Liệu người ta còn biết nói với nhau những gì ngoài những “chuyện ngày xưa” để được sống lại một lần nữa trong khung cảnh thần thoại của tuổi nhỏ mơ mộng, để được nhìn lại một lần nữa những hình ảnh tuyệt vời rơi rớt từ quá khứ.

Cũng như nhân vật xưng “tôi” trong Hoa Thiên Lý, người con trai tên Khoa trong Khúc Rẽ Cuộc Đời chính là hình ảnh của một kẻ đi tìm lại quá khứ, một kẻ mang căn bệnh quá khứ, vận hành của câu chuyện là vận hành của một tâm hồn lội ngược giòng thời gian, tìm đến chỗ hẹn hò cùng quá khứ và kỷ niệm, trước khi dấn thân vào dòng đời rộng lớn.

HPA (Sàigòn, 1972)

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương III.

Duyên Anh là ai?

Huỳnh Phan Anh

Trần Vũ

May 25th, 2024

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần 4

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long như chính ông đã không ngần ngại ký kèm theo bút hiệu của mình. Ông sanh năm 1935 tại thị xã Thái Bình, nhưng theo lời ông, lại được khai là đẻ ở làng Trường An là quê cha của ông, thuộc huyện Vũ Tiên, Thái Bình. Chính vùng quê hương Thái Bình này đã xuất hiện và trở lại nhiều lần trong tác phẩm ông, nhất là trong các tác phẩm tự thuật. Vùng quê hương đó đã được dựng lại, đẹp hơn bao giờ hết, trong bộ trường thiên tiểu thuyết mang tên VẺ BUỒN TỈNH LỴ.

Ông đã theo học nhiều trường. Những năm tiểu học, ông không học hết niên học ở một trường nào vì cứ phải đổi trường theo sự xê dịch của cha. Chỉ có năm lớp Ba (École Élémentaire), năm 1942, ông mới được học trọn niên khóa ở trường Phụ Dực. Những ngày ở đây đã để lại nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm bàng bạc trong các truyện ngắn đầu tay của ông (Khúc Rẽ Cuộc Đời, Hoa Thiên  Lý), trong các tác phẩm tự thuật (Trường Cũ), cũng như trong nhiều tác phẩm viết ở ngôi thứ ba (Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ, Tuổi Mười Ba…) Nếu mỗi người viết văn đều đã trải qua một đoạn đời hay một kinh nghiệm nền tảng mai đây không ngừng ám ảnh, có thể nói rằng thơ ấu sống trong khung cảnh buồn thiu của tỉnh lỵ chính là hình ảnh đậm đà nhất, thân mật nhất của tác phẩm cũng như của tâm hồn Duyên Anh.

“Năm sau tôi bỏ trường Bà Sơ. Nhưng vừa học trường thị xã được hai tháng thì nhà tôi dọn về huyện lỵ Phụ Dực. Huyện lỵ thật nghèo nàn. Quanh thành quan huyện, dây bìm leo kín. Những mái nhà tranh, những ngọn đèn dầu và tiếng trống trên chòi canh buồn làm sao ấy. Ngôi trường huyện của tôi buồn hơn.”

Đời sống huyện lỵ thật nghèo nàn và nhất là thật buồn tẻ đã tạo cho ông một bối cảnh, một màu sắc tâm hồn. Đời sống đó, vẻ buồn đó đã dạy cho ông những bài học mơ mộng đầu tiên, những bài học mai đây còn tiếp tục in sâu vào tâm hồn ông, còn tiếp tục bàng bạc trong tác phẩm ông: một cách nào đó, nó mở ra cho ông những cánh cửa, những chân trời. Vẻ buồn tỉnh lỵ đã cống hiến cho người đọc những trang sách đẹp nhất của Duyên Anh, những trang sách làm sống lại một vùng trời quê hương quen thuộc, một đoạn đời với những giấc mơ và những rung động tuyệt vời của tâm hồn tuổi nhỏ:

“Mùa hạ năm nay thật buồn tẻ. Hoa phượng vẫn …nhưng màu hoa không rực rỡ. Tại học trò đã nghỉ học trước hè, nghỉ từ tháng ba chết đói. Loài ve sầu rên rỉ mỏi miệng cũng chẳng ai thèm cảm xúc. Có lẽ mùa hạ sang năm sẽ buồn tẻ hơn. Côn hồi tưởng những mùa hè năm xưa mà thương tiếc.”

“Hai đứa trẻ mong đợi thầy chúng nó trở về Thái. Thầy chúng, chắc chắn sẽ chở về những mộng ước ắp đầy những con mắt chúng. Hai đứa trẻ thị xã không muốn âm thầm sống trong cái vòng đai bình thản. Nó muốn thoát ra. Nỗi thèm khát của chúng bộc lộ rõ rệt. Bây giờ mới đúng lúc khung cảnh bình thản của tỉnh lỵ không thích hợp với chúng nó.”

Phải chăng đoạn đời đó, vẻ buồn đó đã tạo cho Duyên Anh một ngòi bút thơ mộng?

Năm 1944, Duyên Anh rời huyện lỵ Phụ Dực về thị xã Thái Bình. Năm 1945, chứng kiến cảnh chết đói tháng ba Ất Dậu, cảnh Nhật đảo chính Pháp, rồi cuộc tổng khởi nghĩa. Như bao nhiêu đứa trẻ lớn lên trong cao trào cách mạng, Duyên Anh đã là một nhi đồng chống Pháp, biết thù hận Pháp gây chiến ở Nam Bộ và đã tham gia cách mạng một cách hồn nhiên. Những cuốn truyện Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy đã làm sống lại giai đoạn lịch sử này với những nhân vật thuộc lứa tuổi của chính Duyên Anh thời bấy giờ (lên 9, lên 10…) đã sống, đã cảm nhận bằng tất cả tâm hồn ngây thơ trong suốt của chúng, như nhà văn Mai Thảo đã nói:

“…Những sự việc của thế giới và xã hội người lớn như đổi đời, cách mạng đói kém, mất mùa, chân phù lính Tàu và lưỡi lê Nhật, hết thảy đều được nhìn, sống, nhận thức, phán đoán, thu vào bằng những trái tim lên mười. Qua cái lăng kính luân lý, đạo đức phơi phới hồn nhiên, trong vắt và đôn hậu nhất của tuổi thơ.”

1946, khi Pháp gây chiến ở Hà Nội, Duyên Anh tản cư về Tiền Hải và theo học trường huyện.

1947, đậu Sơ học bổ túc và học Thành chung ở Trình Phố thuộc Kiến Xương (quê hương của Trương Quỳnh Như).

1948, về quê nhà ở Trường An. Trốn nhà đi làm liên lạc viên cho bộ đội một năm. Sau đó lại trở về Trường An.

1950, Pháp chiếm Thái Bình. Hồi cư về thị xã. Chứng kiến cảnh càn quét của lính viễn chinh Pháp. Học trung học tỉnh.

1952, lên Hà Nội, học Trung học đệ nhị cấp. Duyên Anh học đến 1954 thì vào Nam sau khi đã trở về Thái Bình sống ba tháng trong bầu không khí “giải phóng-tiếp thu”. Ông di cư vào Sàigòn một mình. Sống vô tích sự tại Nhà hát Tây. Ông đã ghi lại những ngày này trong Áo Tiểu Thư, những ngày đầy thơ mộng và hồn nhiên của thời mới lớn mặc dù những khó khăn về vật chất. Chính trong giai đoạn này, Duyên Anh bỏ học vì không được ai chu cấp.

Đến giữa năm 1955, ông lên Ban-Mê-Thuột suốt ngày hạ cây, cưa ngắn, bổ nhỏ, gánh ra thị xã bán để mưu sinh. Nhưng thực ra ông theo đảng Duy Dân lên đó mưu chống chính phủ Ngô Đình Diệm (Ảo Vọng Tuổi Trẻ) chính ông đã từng thú thật về chuyện đi làm “cách mạng” là “đói quá theo bừa và một phần cũng vì mơ mộng tuổi vừa lớn mà!”. Quá nửa năm làm chiến sĩ cách mạng bất đắc dĩ, ông tự thấy không đẹp bằng nhân vật Dũng trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, nên bỏ về Sàigòn, sống nhờ trên kho chứa đồ cũ của hãng dệt ở đại lộ Trần Hưng Đạo, sau đó sống nhờ với một người bạn làm cán bộ chấm công. Ông đã kể lại những ngày này trong hồi ký Làm Báo:

“Chúng tôi sống ở ngoại ô Hòa Hưng, trong một xóm điếm tồi tệ. Xóm điếm thấp hơn mặt đường cả thước. Lên xuống y hệt leo thang. Căn nhà mướn của một me Tây lụp xụp. Mái lá. Tối ngày chuột khiêu vũ. Cạnh nhà có con lạch chảy ra cống thành phố. Thuở ấy, lính viễn chinh Pháp chưa chịu về nước, xóm điếm tấp nập. Đêm nào cũng xảy ra vụ kiểm tục, bố ráp và lính viễn chinh “chơi lường”. Điếm chạy lính huỳnh huỵch. Điếm chửi lính viễn chinh ồn ào. Đầy rẫy thảm cảnh và nghịch cảnh của một xã hội về chiều… Tôi thương nhất những đứa con lai da trắng, da đen. Những đứa trẻ không có quê hương, tổ quốc ấy cũng là những đứa trẻ không có tuổi thơ. Mười tuổi chúng đã biết ghếch cớm (gác cảnh sát, hễ thấy cảnh sát vào xóm là báo động) cho bọn Tú Bà. Sống ở xóm điếm, ở cái vũng bùn tối cùng cực, tôi đã nghĩ phải viết một thiên phóng sự nhan đề Xóm Quốc Tế!”

Cũng trong khoảng thời gian này, đời sống vật chất đã đưa đẩy Duyên Anh tới nhiều hoàn cảnh nổi trôi, rày đây, mai đó, hết nghề này lại chuyển sang nghề khác để sinh nhai. Hết lang thang với người sơn đông mãi võ, ông nhập đoàn cải lương lưu diễn miền Tây (Mây Mùa Thu). Ông lại trở về Sàigòn, làm nghề giữ xe đạp hội chợ. Quảng cáo cho đoàn xiếc Woong Bang Phu ở sân banh Tao Đàn. Dạy học tư gia. Ông đã từng sống dưới chân cầu Tân Thuận với người đồng hương đạp xích lô, sống lẫn lộn trong một xã hội bần cùng nhất với những cảnh bất công ngang trái hàng ngày diễn ra oan nghiệt gấp ngàn lần những cảnh đời trong tiểu thuyết Nguyên Hồng. Chung đụng với đủ hạng người: phu bến tàu, phu xích lô, buôn gánh bán rong, đánh giày, bán báo, ăn cắp, du thủ du thực… ông đã “sống với họ, sống như họ”.

Nếu Duyên Anh chưa viết thiên phóng sự mang tên Xóm Quốc Tế như ông đã từng nghĩ tới, thì chính ông đã viết hơn một cuốn truyện dài mang nặng màu sắc phóng sự xã hội, nói về những cuộc đời, những cảnh sống đầy tối tăm, nghịch cảnh (Luật Hè Phố, Điệu Ru Nước Mắt…) và trên phương diện này nhiều người đã không ngần ngại gọi ông là một nhà văn xã hội. Điều đáng nói ở đây chính là Duyên Anh đã sống, trực tiếp hay gián tiếp, những cảnh đời mà ông đã viết.

Google photos edit by Sơn râu

Để tiếp tục theo dõi những bước chân của Duyên Anh, năm 1957, ông rời Sàigòn, rời bỏ “miền bất hạnh không có nổi ánh điện câu để thấy nó hắt hiu, vàng vọt”, ông cùng người bạn xuống Mỹ Tho mở lớp dạy đàn sáo lấy tên là Hương Duyên (Cầu Mơ). Thất bại, ba tháng sau, trở về Sàigòn. Rồi lên Tây Ninh sống nhờ người quen, ngày ngày gánh nước tưới rau giúp bạn để có cơm ăn ở một trại tiếp cư thuộc Trảng Lớn. Hãy nghe ông nhắc lại những ngày sống vô vị đó:

“Ở đây buồn lắm. Xong công tác tưới rau tôi thường xuyên ngồi trên cái nắp quan tài của trại hòm đánh cờ tướng giết thì giờ. Mỗi sáng sớm, xe đò về Sàigòn đều ghé qua, bóp còi inh ỏi. Tiếng còi như xé nát lòng tôi. Tuổi trẻ của tôi đành chôn chân ở một chỗ, nghe nỗi buồn đốt cháy hoa mộng. Đọc Một Chuyến Đi của Nguyễn Tuân tôi phát khóc.”

1958, Duyên Anh trở lên Buôn-Mê-Thuột. Rồi lại trở về Sàigòn sau bốn tháng nằm ở cây số 4. Được đàn anh Duy Dân giới thiệu xuống Hòa Hảo dạy học tại một ngôi trường bán công, mỗi giờ được bốn chục bạc. Dạy được ba tháng bị đàn anh đuổi về vì dám dẫn học trò sang Tân Huề ăn thịt chó và đá banh với học trò. Tội nặng nhất là dám mặc xà-rông sang văn phòng lãnh lương. Duyên Anh ra Long Xuyên xin dạy ở Quang Trung. Nhưng rồi việc dạy học cũng không bền bỉ ở đây. Hết niên khóa ông bỏ về Sàigòn, rồi lại đi lang thang khắp miền Tây và đói dài ở Sàigòn. Lại trở về Hòa Hưng sống nhờ gia đình người bạn. Chính trong những ngày này, Duyên Anh đã tập tễnh những bước chân đầu tiên vào cuộc đời làm văn làm báo.

Đó là khoảng 1960, Duyên Anh được nhà văn Trúc Sĩ tiến dẫn với tạp chí Chỉ Đạo của Bộ Quốc Phòng. Sáng tác đầu tiên của Duyên Anh được đăng trên mặt báo này là một bài thơ nhan đề Bà Mẹ Tây Ninh. Tháng sau, Chỉ Đạo đăng truyện ngắn Hoa Thiên Lý, sáng tác đầu tiên của ông được viết trong “một đêm mưa mù mịt ở chân cầu Tân Thuận” trong nỗi “nhớ nhà và thương tiếc tuổi thơ của mình”. Bút hiệu Duyên Anh cũng đã bắt đầu xuất hiện từ truyện ngắn mang nặng hình bóng quá khứ và kỷ niệm đó. Ông có truyện ngắn đăng thường xuyên trên tạp chí Chỉ Đạo từ đó, những truyện sau này được gom lại thành tập truyện đầu tay của Duyên Anh với nhan đề Hoa Thiên Lý do nhà Giao Điểm ấn hành. Chi tiết nổi bật nhất trong giai đoạn khởi nghiệp của Duyên Anh có lẽ là sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn lúc bấy giờ làm chủ bút Chỉ Đạo. Truyện ngắn Con Sáo Của Em Tôi được Nguyễn Mạnh Côn xếp vào “loại truyện đặc biệt” được trả ngót năm ngàn bạc, số tiền nhuận bút được xem là cao nhất vào thời đó, năm 1960, và được nhà văn này viết cho một cái “chapeau” nồng hậu. Duyên Anh cho đó là một sự hân hạnh mà ông chưa hề mơ tưởng tới. Một sự may mắn. Và:

“Nhờ truyện ngắn Con Sáo Của Em Tôi mà một số độc giả biết đến tôi và dành cho tôi nhiều cảm tình. Lần đầu tiên tôi nhận được thư của độc giả. Bức thư không một lời “ái mộ” chỉ vỏn vẹn một giòng: Ông Duyên Anh, tôi bắt đền ông đấy, vì Con Sáo Của Em Tôi của ông mà Tết này tôi buồn muốn khóc”. Giòng chữ trách móc đó, tôi giữ thật kỹ. Thuở ban đầu mà. Bây giờ nhận được thư độc giả, tôi vẫn còn xao xuyến nhưng không thể xao xuyến như thuở ban đầu.”

Nguyễn Mạnh Côn rời tòa soạn Chỉ Đạo, Duyên Anh bắt đầu viết cho các tờ báo khác: Sinh Lực của ông Lê Văn Thăng, Gió Nam của ông Lại Tư. Ông tiếp tục viết truyện. Sau đó, nhờ sự cất nhắc của ông Nguyễn Bích Liên, giám đốc nha Tâm lý chiến của Tổng Nha Thanh Niên thời bấy giờ, Duyên Anh bắt đầu “làm công chức một cách dễ dàng, thua Phó đốc sự có vài trăm”. Một lần nữa, Duyên Anh thú thật là mình may mắn. Luôn luôn may mắn. Cũng như sau này, thành công với nghề văn, được liệt vào hàng tác giả có sách bán chạy nhất, ông vẫn thường cho rằng mình may mắn. Thánh cho ăn lộc mà.

1962, Duyên Anh lấy vợ và tiếp tục làm công chức. Được biệt phái trông coi tuần báo Chiến Đấu cùng với nhà văn lão thành Tam Lang.

1963, bị trả về nhiệm sở cũ. Cũng năm này tập truyện Hoa Thiên Lý ra đời. Những ngày Phật giáo phát động cuộc đấu tranh, Duyên Anh ngồi ở sở hoàn thành Thằng Vũ, cuốn truyện dài đầu tay cũng là tác phẩm mở đầu cho bộ trường thiên tiểu thuyết Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ. Thằng Vũ được nhà văn Nguyễn Mạnh Côn khen hay và viết cho một bài giới thiệu nồng nhiệt.

1964, Duyên Anh rời bỏ nghề công chức đi làm nhật báo. Ông viết cho Xây Dựng, rồi Sống, Công Luận. Ông viết đủ các mục: tiểu thuyết, phiếm luận, tường thuật… như ông đã từng kể lại khá tường tận trong hồi ký Làm Báo đăng tải trên Tuổi Ngọc. Ông làm chủ bút tuần báo Con Ong, viết “Article de Fond” (Chuyên mục) cho báo này và đặc biệt ông đã viết gần hết các trang cho báo này trong những số đầu. Ông làm chủ nhiệm các tờ Người, Búp Bê, Tuổi Ngọc (bộ cũ). Chính trong khoảng thời gian thật sự sống với nghề báo (bên cạnh nghề văn), Duyên Anh đã tạo cho mình một tên tuổi qua những truyện dài đăng báo được độc giả, nhất là giới trẻ, tiếp đón nồng hậu: Ảo Vọng Tuổi Trẻ, Điệu Ru Nước Mắt, Nước Mắt Lưng Tròng (chưa xuất bản), Cầu Mơ, Trường Cũ, Nhà Tôi … Và cũng chính trong khoảng thời gian này, với những thiên phóng sự đầy sống sượng, với những bài phiếm luận độc địa ký dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Sinh, Mỏ Báo, Thập Nguyên, Thập Thành, Nả Cẩu … Duyên Anh đã gây nhiều sóng gió, đã tạo nhiều tiếng tăm nhưng đồng thời tai tiếng cũng không kém. Độc giả cũng như những người quen biết ít nhiều với ông vẫn thắc mắc không hiểu tại sao ở ông có thể dung hòa được hai hình ảnh con người hoàn toàn đối nghịch nhau: con người nhà văn luôn ca ngợi tuổi thơ trong sáng, mơ mộng và tình người, và con người nhà báo ngổ ngáo, độc địa, bất chấp mọi sự. Về điểm này người đọc có thể tìm đến câu trả lời của chính Duyên Anh trong phần “Nói chuyện với Duyên Anh”.

Có lẽ vì muốn chấm dứt những sóng gió cùng những ân oán giang hồ hoặc như ông đã thú thật để khỏi phải tiếp tục những “đổ vỡ” của mình trong sự nghiệp làm báo, Duyên Anh từ giã nghề báo sau 7 năm vùng vẫy thật lực.

Năm 1971, ông làm chủ nhiệm Tuổi Ngọc, “tuần báo của tuổi vừa lớn”, trông coi nhà xuất bản cùng mang tên Tuổi Ngọc và tiếp tục sự nghiệp nhà văn của mình, sự nghiệp đã mang đến cho ông một sự thành công không chối cãi, đã tạo cho ông một chỗ đứng biệt lập trong văn nghệ miền Nam của những năm 60.

Trên đây là những nét phác họa về cuộc đời Duyên Anh, căn cứ trên chính những gì do Duyên Anh kể lại trực tiếp hay gián tiếp, qua những bài viết của ông hay qua những câu chuyện của ông. Dĩ nhiên người ta không thể thu gọn một đoạn đời trên một số trang ngắn ngủi. Nhưng thiết tưởng bao nhiêu đó đủ để giới thiệu hình ảnh một đời người. Với nụ cười và nước mắt. Tất cả làm thành chất liệu quý báu cho Tác Phẩm. Đời sống hãy còn dang dở đối với Duyên Anh cũng như Tác phẩm của nhà văn 37 tuổi này vẫn còn tiếp tục. Vậy thì, đã không thể kết luận về Tác phẩm, người ta lại càng khó lòng đi tới một câu kết về chính cuộc đời nhà văn. Điều tôi muốn nói ở đây là Duyên Anh đã sống như một cách chuẩn bị cho tác phẩm của mình. Mặc dù như ông vẫn thường tuyên bố, ông coi chuyện viết văn như một sự đùa chơi mà thành công và ông không ấp ủ mộng văn chương từ thiếu thời. Điều Duyên Anh không chối cãi là ông vẫn sống bằng kỷ niệm riêng. Sống như một cách chuẩn bị cho tác phẩm của mình. Tôi muốn nói: viết đối với Duyên Anh dường như là một cơ hội để được tiếp tục sống, hoàn tất cuộc đời mình hãy còn dang dở ở ngoài những trang sách, ở ngoài những dòng chữ. Trước khi thể hiện những tính cách mơ mộng và lý tưởng trong tác phẩm của ông, Duyên Anh đã từng thể hiện chúng vào cuộc đời của chính ông, một tâm hồn mang nặng căn bệnh của thời thơ ấu, của quá khứ, của kỷ niệm. Đọc Duyên Anh, tôi luôn có cảm tưởng bắt gặp một hình ảnh, một thứ tiếng nói quen thuộc không ngớt trở về dưới ngòi bút của ông. Phải chăng đó là hình ảnh, là tiếng nói của tâm hồn ông mà chính ông đã không ngừng đánh mất và tìm lại được. Nhà văn không ngớt đồng hóa mình vào chính những nhân vật mình tạo nên. Nhà văn không ngớt viết lại đời mình đồng thời tra hỏi mãi mãi không thôi về chính tâm hồn mình. Tôi không có ý khẳng định rằng cuộc đời Duyên Anh đã là một tác phẩm hoặc tác phẩm Duyên Anh là phản ảnh trung thực và trọn vẹn của con người ông. Cuộc đời và tác phẩm của Duyên Anh là hai thực thể không ngớt đến gần với nhau và có thể không bao giờ trùng hợp hay tan biến vào với nhau (vả chăng điều này có thể chỉ là một ảo tưởng). Trong ý nghĩa đó, cuộc đời không bao giờ là tác phẩm cũng như ngược lại. Nhưng nếu không thay thế cho nhau, chúng vẫn có thể là cơ hội của nhau. Tác phẩm Duyên Anh không ngớt tìm cách thu ngắn khoảng cách với tâm hồn của tác giả, với thế giới kỳ diệu của mộng mơ và kỷ niệm, với nguồn suối không cùng không tận đó.

HPA, Sàigòn 1972

Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương I. Vì số trang giới hạn, bản in trên tuần san Trẻ là bản cắt ngắn.

Google photos

Huỳnh Phan Anh tên thật Huỳnh Thành Tâm, sinh ngày 3-3-1940 tại Thủ-Dầu-Một, Bình Dương. Tốt nghiệp ban Triết Đại học Sư phạm Đà-Lạt năm 1964. Trước đó, ông đã có truyện ngắn đầu tay Đứa Bé Đánh Giầy đăng báo năm 1956 và bài phê bình đầu tiên đăng tạp chí Mai khoảng năm 1960, nơi đồng môn Nguyễn Xuân Hoàng cùng gia nhập làng văn. Ông chủ trương nhà Đêm Trắng xuất-bản sách của ông và bằng hữu với khuynh hướng sáng tác/triết lý như Nguyễn Xuân Hoàng, Đặng Phùng Quân. Năm 2002, ông định cư tại Hoa-Kỳ và mất ngày 30-8-2020 tại San Jose, CA.

Tác phẩm đã xuất bản

Về phê bình văn chương: Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô (Hoàng Đông-Phương, 1968. 199 tr.), Đi Tìm Tác Phẩm Văn Chương (Đ?ng Th?p, 1972. 352 tr.) v? kh?o lu?n?ồng Tháp, 1972. 352 tr.) và khảo luận Duyên Anh Tuổi Trẻ Mộng và Thực (Vàng Son, 1972. 349 tr.).

Về sáng tác, các tập truyện Người Đồng Hành (Đêm Trắng, 1969), Phía Ngoài (chung với Nguyễn Đình Toàn; Hồng Đức, 1969), Những Ngày Mưa (‘tân truyện’, Đêm Trắng, 1971) và Ngọn Lửa Đìu Hiu (Tân Văn 52, 1973).

Ông còn là dịch giả cuốn Ca Ngợi Triết Học (Eloge de la philosophie của M. Merleau-Ponty, Nguyễn Nhật Duật chú giải, Đặng Phùng Quân giới thiệu; NXB Mai Nguyễn, 1970) và các tác phẩm văn chương: Tình Yêu và Lý Tưởng (Tonio Kroger của Thomas Mann; Ngày Mới, 1974), Chuyến Viễn Hành Trong Đêm (Der Zug kommt punktlich của Heinrich Boll; Vàng Son, 1973), Lạc lối về (Und sagte kein einziges Wort của Heinrich Boll; Khai Hóa, 1972), Tình Cuồng (Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật; Ngày Mới, 1973),..

Sau 1975, ông xuất bản Không Gian Và Khoảnh Khắc Văn Chương (“tiểu luận-phê bình”; Hội Nhà Văn, 1999. 474 tr.) tuyển trích lại những bài từ hai tập phê bình trước 1975 và bài mới viết về các tác giả ngoại quốc và các tác phẩm dịch thuật về thơ: Một Mùa Địa Ngục (Arthur Rimbaud, NXB Văn học), Tuyển thơ Tình yêu (Paul Eluard, NXB Hội Nhà văn), Thơ Yves Bonnefoy (Hội Nhà Văn) cùng truyện, tiểu thuyết Chuông Gọi Hồn Ai (Ernest Hemingway, Văn Học), Tình Yêu Bên Vực Thẳm (Erich Maria Remarque, NXB Trẻ), Sa Mạc (J.M.G Le Clézio, Hội Nhà Văn), Lạc Lối Về (Heinrich Boll, Văn Hóa Văn nghệ), Tình yêu và Tuổi trẻ (Valery Larbaud, NXB Trẻ), Ảo Ảnh (Thomas Mann, Văn học), Cỏ (Claude Simon, Hội Nhà văn), Thời Gian Của Một Tiếng Thở Dài (Anne Philipe, Văn nghệ TpHCM) và tập Những Cuộc Đời Tỏa Sáng của André Maurois (NXB Trẻ).

[Nguyễn Vy Khanh biên soạn]

Trại Tập Trung

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 2 Jul 2024

Google photos edit by Sơn râu

Phần Thứ Hai

Thơm Nồng Trái Đắng (Rừng Lá Z30 D)

Đi về đâu? Tôi không biết. Và tôi cũng chẳng cần biết làm gì. Tôi đã đi từ nhà tôi đến Sở Công An thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đã đi từ Sở công an đến đề lao Gia Định. Tôi đã đi từ đề lao Gia Định đến khám lớn Chí Hòa. Tôi đã đi từ cái tĩnh này vào cái tĩnh khác. Rồi tôi đi từ khám lớn Chí Hòa đến Sa Ác, tôi đi từ cái tĩnh ra cái động. Tôi có kinh nghiệm này: Cái tĩnh là sự đầy đọa linh hồn, cái động là sự đầy đọa thể xác. Cả hai cộng lại thành một hình phạt của thù hận mà người cộng sản đã tự hào tuyết hận tôi, tuyết hận một nhà văn chống đối họ bằng tư tưởng và chữ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản bất lương Mỹ đã phó thác cái sứ mạng trả thù nhà văn nhân bản cho chủ nghĩa cộng sản bất nhân Nga. Không có nhà văn nào tự nhận mình còn lương tri mà không phẫn nộ thái độ xấc xược, vênh váo, chơi cha của bọn Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở khắp nơi trên thế giới. Bọn Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đại diện cho những chính sách, những chủ thuyết hèn mọn của những chính phủ những lãnh tụ tối cao của Nhà Trắng, của Ngũ Giác Đài, của Quốc Hội. Dân tộc Hoa Kỳ đã trở nên kiêu căng, ngạo mạn do cái chính sách ngu muội của “lập pháp” và “hành pháp” của họ với các nước nhỏ, nhất là các nước lệ thuộc vào đồng đô la viện trợ. Nước Mỹ không biết cứu giúp ai. Nước Mỹ không có lòng trắc ẩn. Nước Mỹ chích vào mạch máu tiểu nhược quốc một chai sérum thì sẽ rút ra một lít máu. Nước Mỹ rồi sẽ là Babylone. Hồi chuông báo động một đại hồng thủy mới đã điểm. Con tầu của ông Noé sẽ khước từ cứu vớt dân tộc Mỹ. Hoặc là, dân tộc ấy sẽ chịu lời nguyền như dân tộc Do Thái đã chịu. Dân tộc ấy cần biết đau khổ. Và cộng sản sẽ dạy họ thế nào là đau khổ. Lúc đó, họ sẽ hiểu còng made in USA không phải để cộng sản còng tay những người công chính chống cộng sản, mà còn để cộng sản còng tay người Mỹ tống vào các trại tập trung khổ sai lao động. Lúc đó, người Mỹ sẽ đói, sẽ ăn bọ cạp, thằn lằn, chuột cống cào cào, châu chấu, rắn rết rau rừng, cỏ dại.. . Lúc đó, người Mỹ sẽ khiêng bom chưa nổ, sẽ lấp hố bom, sẽ xuống hầm phân. Và, lúc đó họ sẽ thấy họ là con người đích thực, con người nguyên vẹn không giả vờ chẻ đôi, một nửa cứ sát hại nhân loại bằng bom đạn dã man, một nửa cứ nghêu ngao phản chiến rẻ tiền.
Tôi nói thẳng: Tôi chống đối chính sách của Mỹ đối xử với các nước nhỏ nhiệt tình như tôi chống đối chủ nghĩa cộng sản. Tư bản là cộng sản giầu. Mỹ và Liên Xô cùng bản chất gian manh khốn nạn. Hai đứa đang ghét nhau chuyện giầu nghèo. Thề thôi. Chẳng còn ý thức hệ gì cả. Muốn thoát đại hồng thủy, dân tộc Mỹ phải làm cách mạng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để cùng các dân tộc khác, thành tâm và lương thiện xóa bỏ nốt chủ nghĩa cộng sản. Khi hai chủ nghĩa khốn kiếp này bị hủy diệt, tham vọng đê tiện của chúng bị hủy diệt luôn. Loài người sẽ sống hòa bình, hữu nghị, hạnh phúc mà không cần bất cứ một chủ nghĩa nào. Khách quan mà nhận xét mà phê phán hai chủ nghĩa này đã bất lực trong mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Chúng còn tồn tại ngày nào nhân loại còn phải chới với trong chiến tranh ngục tù và thù hận Vậy nên hủy diệt chúng. Dân tộc Mỹ sẽ lãnh đạo cuộc chiến của Thiên Thần chổng ác quỷ, của con người chống quái vật 1.Những nhà văn trước khi trở thành nạn nhân của cộng sản đều đã là nạn nhân của tư bản Mỹ. Diễn nghĩa rộng hơn, nhiều dân tộc bị tư bản Mỹ làm mồi dâng cộng sản. Cuba, Việt Nam, Angola, Nicaragua. Sẽ thêm nữa. Bởi vì, ở đâu chính sách Mỹ can thiệp trực tiếp ở đó chính nghĩa cộng sản rực rỡ và sức mạnh cộng sản đuổi Mỹ cuốn cờ chạy dài. Nước Mỹ thay vì xây Đài Chiến Thắng… giả vờ, nên tạc tượng Đại sứ John Dean ôm cờ sao sọc, mặt mày tái mét “nhanh bước chân nhi đồng”. Đừng quên khắc câu nói bất hủ của hoàng thân Sim Matak giữa trái tim John Dean: “Cái chết đối với tôi không quan trọng. Điều quan trọng là tôi đã trót tin người Mỹ”. Tượng John Dean nên dựng ở thủ phủ mỗi tiểu bang Hiệp Chủng Quốc. Để nhắc nhở cái dân tộc ngạo mạn, xấc xược ấy sự thua trận nhục nhã và sự phản bội có chứng cớ. Tất cả những danh từ, động từ, tĩnh từ liên quan tới chung thủy, thành thật, đồng minh, gắn bó, hữu nghị trong tự điền Hoa kỳ cần xóa bỏ. Muốn để lại, cần ghi chú: Chỉ áp dụng cho kẻ thù, không áp dụng cho bạn và đầy tớ.
Tôi là nhà văn, từ biết cầm bút bầy tỏ chính kiến, đã không tha thứ cho cái chính sách ngược ngạo của Hoa kỳ ở nước tôi. Chính sách ấy tạo ra bè lũ tay sai nắm quyền thống trị. Bọn thống trị cầy cáo này ngu dốt, tham nhũng. Chúng nó chỉ có tài ngoan ngoãn vâng lời chủ đàn áp, bóc lột dân tộc tôi. Người Mỹ tuyên bố khai phóng dân chủ, tự do và bảo vệ tự do cho dân tộc tôi. Nhưng người Mỹ đã chỉ thị đầy tớ đâm lưỡi lê chảy máu dân chủ và thắt cổ tự do. Người Mỹ ở Việt Nam khích lệ đầy tớ tham nhũng và ăn chia tiền tham nhũng. Rốt cuộc, dân Việt Nam phải chống cộng sản, chống đầy tớ Mỹ, chống cả Mỹ. Sự mỉa mai nhất của chiến tranh Việt Nam là lính Mỹ, con em của dân tộc Mỹ đã chết nhục như những tên đánh mướn hèn hạ. Họ bị chính sách Mỹ lừa bịp. Họ đâu có được vinh dự hy sinh vì tổ quốc, vì lý tưởng bảo vệ tự do – dân chủ. Họ đã chết thảm trong “cuộc chiến mà họ không được phép chiến thắng” cho bọn tay sai của chính sách Mỹ ăn cắp, phè phỡn. Những cựu chiến binh thất thểu trên quê hương của họ có ai biết Cao văn Viên gửi ngân hàng ngoại quốc bao nhiêu triệu đô la? Có biết Nguyễn văn Thiệu đang giữ bao nhiêu triệu đô la? Như bất cứ một người Việt Nam liêm sỉ nào, tôi đã chống cộng sản, chống chính sách Mỹ và đầy tớ Mỹ. Và tôi bị đầy tớ Mỹ cấm viết, cấm luôn cả bút hiệu viết báo theo lệnh của chủ Mỹ của chúng. Tôi nghĩ, đến hôm nay, chỉ còn những thằng nhà văn vô liêm sỉ mới tiếp tục ngửa tay nhận tiền Mỹ làm công tác “văn hóa”. Những thằng nhà văn vô liêm sỉ ấy vẫn viết lách ăn lương khoán của Mỹ và vẫn được cộng sản ca ngợi công khai trên báo chí của chúng. Chỉ những nhà văn liêm sỉ là thất thế và bị vây hãm giữa ba thế lực cộng sản, phản chiến Mỹ và chính phủ Mỹ. Và đôi khi còn bị vây hãm bởi chính đồng nghiệp chống cộng của họ. Chưa kể họ còn bị vây hãm bởi các công ty kháng chiến, các hợp tác xã giải phóng, các tổ hợp phục quốc, các hãng thầu ái quốc và đám văn nghệ sa đích đố kỵ dơ dáy. Nhưng tín hiệu mới của chữ nghĩa dấn thân lúc nào cũng sẵn sàng phóng ra. Hôm qua. Hôm nay. Trong nước. Ngoài nước. Là người, không ai biết cúi mặt. Sự ngẩng mặt có thể dẫn vào tù, dẫn ra trại tập trung, dẫn xuống hầm phân, dẫn đếnn nơi chốn nào khác mình chưa biết, dẫn bằng ngõ hẹp, đường hẹp, dẫn qua cửa hẹp, dẫn đến sự sống. Khi đã đến đích của sự sống, cái chết vô nghĩa, cái tồn tại mới đáng kể. Bởi vì, cái tồn tại là cái gì để lại sau lần chui qua cửa hẹp.
Tôi đang đi trên con đường hẹp. Con đường hẹp dẫn tôi vào Rừng Lá. Là đây, trại lao cải Z30 D. Bên kia dẫy núi Mây Tào là TH6 Đồng Nai, bên này là Z30 D Thuận Hải, một tỉnh gồm Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân. Bí số của các trại tập trung khổ sai lao động tỉnh Thuận Hải là Z. Z30 D là một trong những Z30 từ A, B, C. D đến H, I, K, L, M. . . Từ quốc lộ số 1, cây số nào tôi không nhớ, rẽ bên phải, đi khoảng hơn nghìn thước là tới Z30 D, K1. Khu vực này, trước 1975 là Rừng Lá hãi hùng. Du kích Việt cộng ẩn núp nơi đây, thường chặn xe đò tuyên truyền và xin “ủng hộ” tiền bạc. Đáng lẽ phải gọi là rừng Buông vì đa số cây rừng là cây Buông, thứ cây chỉ dùng được đọt lá. Cây Buông thích hợp đất cát. Rễ của nó giống hệt chùm râu ăn không sâu nhưng tóe ra khoảng đất rộng. Thân nó như thân cây dừa nước. Hai mươi năm Buông mới trổ hoa, kết trái. Và chết. Tuổi thọ của nó vỏn vẹn hai mươi năm. Trái cây Buông có chất độc. Người ta sử dụng để thuốc cá suối cạn. Rang khô, tán nhỏ ném xuống suối, cá sẽ nổi lên ngáp ngáp. Đọt lá của nó để đan quạt, đan giỏ… Lá già để lợp nhà, làm tiếp. Thân nó vô tích sự. Nó nằm mục đợi nấm mọc mùa mưa. Có hai thứ nấm ngon nhất và quý nhất. Là nấm mối và nấm Buông. Nấm mối nở trên gò mối. Nấm Buông nở trên thân Buông. Sau 1975, cộng sản dùng sức người của tù nhân phát quang khu rừng lá Buông, xây dựng một trại tập trung mang bí số Z30 D. Trại này di chuyền từ Thủ Đức thuộc thành phố Hồ Chí Minh ra nên vẫn giữ tên cũ Thủ Đức Z30 D. Con đường đất lớn ngoài quốc lộ dẫn vào trại là do tù nhân phạt rừng, hạ cây đào đất mà đắp.
Z30 D có ba K, cũng như ba khu. K là K2 và K3. K tôi đến là K1. Thủ tục nhận tù mới nhập trại ở Z30 D rất đơn giản. Có lẽ tù mới chỉ có hai tên. Người ta mở còng cho chúng tôi trên xe. Chúng tôi xách hành lý bước xuống. Tôi ngơ ngác nhìn một…dinh thự! Phải tôi đang đứng giữa sân trải đá răm xen lẫn sỏi của một dinh thự, chắc chắn, lớn hơn bất cứ một Bộ nào của nước Việt Nam cộng hòa ở Sài gòn. Sân có nhiều mảng vườn trồng hoa. Cỏ bên lối đi trải đá răm xanh um, tỉa xén và chăm sóc công phu. Những dẫy nhà nền cao, mái ngói đỏ au. Tôi không thấy cái vẻ “lao cải” ở đây. Ai dám bảo đây là nơi của chúa ngục, là nơi nhận chỉ thị đầy đọa tù nhân?
Người ta làm thủ tục nhập trại cho chúng tôi rất nhanh trong một căn phòng sàn lót gạch hoa cửa sổ thoáng mát. Anh cán bộ hồ sơ của TH6 từ giã chúng tôi. Anh ta nói:
– Ở đây, trại sẽ tạo mọi cơ hội thuận lợi cho các anh về sum họp gia đình. Tôi bảo đảm với các anh, trại nầy là trại cuối cùng của các anh. Các anh sẽ được tha ngày rất gần.
Chúng tôi được dẫn sang trại đối diện cái dinh thự gọi là cơ quan. Cơ quan vắn tắt. Trật tự của trại khám xét hành lý của chúng tôi, khám xét thân thể chúng tôi dưới sự giám sát của cai tù. Cộng sản đã lên án chính sách chiến tranh hóa Việt Nam của Mỹ. Nghĩa là họ chửi Mỹ dùng Việt Nam tàn sát Việt Nam. Cũng thế cộng sản dùng tù nhân khám xét tù nhân hạch hỏi tù nhân, làm khó dễ tù nhân. Sau màn kiểm tra người và vật, chúng tôi được dẫn vô một căn nhà. Tôi lại ngạc nhiên căn nhà tù tường gạch cửa sổ gỗ chấn song sắt, mái lợp fibro ciment. Căn nhà có kho, có kệ chứa thực phẩm của tư nhân và nồi niêu, ca cóng; có cầu tiêu bàn xối nước, có hồ nước lớn. Hồ nước xây bên trong nhà cầu tiêu có ba phòng, có sàn tắm. Căn nhà hai tầng kiều TH6 nhưng gỗ bào nhẵn làm sàn gác có kệ để hành lý. Tầng dưới lót gạch hoa, có hầm để hành lý cá nhân đậy nấp gỗ ngay đầu mình. Có hàng chục căn nhà và mỗi căn thuộc quyền xử dụng của một đội dưới 50 tù nhân.
Z30 D, K1 có hai khu. A và B. Khu A là khu kiểu mẫu của cả ba K và của một trại cải tạo kiểu mẫu của toàn bộ nhà tù nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thư viện khang trang rất nhiều sách báo cộng sản. Có thể đọc Lê nín toàn tập, Xít ta lin toàn tập, Thời niên thiếu của Mác…. tại đây. Cũng có thể đọc Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo và Chùm nho phẫn nộ của John Steinbeck hay Cuộc đời Leonard de Vinci… Còn có thể đọc Temps moderne của Liên Xô, ấn bản Pháp ngữ. Thư viện đủ các thứ tự điển. Quản thủ thư viện là tù nhân trong Tổ thông tin văn hóa. Bệnh xá có hai bác sĩ, một tù, một cách mạng. Bác sĩ cách mạng tên Hoàng Cầm, dân Nam bộ tập kết. Bác sĩ tù nhân tên Nguyễn Vân Hạc, nghị sĩ, người đã cống Ban giám thị Z30 D chiếc Peugeot 404 để được làm bác sĩ của tù nhân. Như vậy, tránh lao động vất vả. Khi tôi đến bác sĩ Vân Hạc đã về, bác sĩ Nguyễn Hữu Nhơn của binh chủng Thủy quân lục chiến được gọi thay thế, thêm nha sĩ Phạm Huy Hoàn giã từ cuốc xẻng. Bệnh xá Z30 D có hai y tá, nhiều thuốc và nhiều giường. Còn có bếp riêng cấp dưỡng bệnh nhân theo tiêu chuẩn bồi dưỡng. Sân trại có vườn hoa và ba hồ nước lớn. Nước dẫn từ suối bằng ống lớn, máy bơm. Z30 D có máy điện chạy 24 trên 24, có cả château d’eau…hiện đại. Nói tóm lại khu A của K1 là khu kiểu mẫu và lý tưởng mọi mặt. Rõ ràng, nó là trại học tập cải tạo.
Cách một hàng rào tre và cái cổng qua nhà bếp của trại tù, khu B y hệt Sa Ác A TH6. Tệ hơn nữa, mái lợp lá Buông và tường phên lá Buông bọc ngoài tường cây cắm dầy khít. Chế độ đại tiện là…đổ thùng! Thiên đường khu A và địa ngục khu B. Vì là trại kiểu mẫu nên kỷ luật cũng kiểu mẫu. Dẫy cachot gồm 5 phòng sát khít hội trường. Giây kẽm gai không được xử dụng ở Z30 D. Vây quanh trại là hàng rào cây cao chôn sâu và sát khít. Lại thêm cây nhỏ làm nẹp ngang siết kỹ bằng giây thép. Cứ một thước rào có một cột trụ cây thật lớn. Hàng rào cây…đúp. Ở giữa là lối đi. Ngoài hàng rào, người ta trồng tre. Khi tre lên cao xanh um, trại sẽ là cái làng. . . êm ấm. Z30 D có đài phát thanh, phát thanh mỗi tối từ 8 giờ đến 9 giờ. Phụ trách chương trình là tù nhân Bùi Hoàng Cầm cảnh sát đặc biệt kiêm cựu ký giả của nhật báo Đồng Nai của chủ nhiệm Huỳnh Thành Vị. Ông Vị và danh ca Duy Trác đã nằm tại khu B Z30 D, K1. Họ bị chuyển ra trại trừng gjới Phủ Khánh trước ngày tôi tới Z30 D. Đài phát thanh là “kẻ thù” của tù nhân. Bởi rằng, chương trình của họ là đọc tên những tù nhân khai bệnh nằm nhà. Nhiều tù nhân bị phê bình ốm giả vờ. Nhiệm vụ của Bùi Hoàng Cầm là, sáng sáng, qua bệnh xá ghi chép tên tù nhân khai bệnh, kiểm điểm xem trong tháng tù nhân khai bệnh nằm nhà mấy lần, bao nhiêu ngày. Anh ta làm việc theo chỉ thị thôi.

Google photos edit by Sơn râu

Nhưng anh ta bị tù nhân lên án nặng nề và chụp mũ “ăng ten” tổ bố. Z30 D tổ chức khác hẳn TH6. Tù nhân hình sự, chính trị lẫn lộn một đội. Tù nhân chính trị được làm trật tự, thăm nuôi và lâm sản.
Ông Hồ Hữu Tường và tôi được tạm đẩy vào căn nhà của Đội văn nghệ, thể thao. Đội này đàn sáo, ca múa, ảo thuật, vẽ panneau, viết khẩu hiệu và đá bóng. Vậy nó phân làm hai tổ. Tổ văn nghệ lại chia đôi: Ban tân nhạc và ban cổ nhạc. Dụng cụ âm nhạc do tù chế tạo. Tù nhân chế tạo đàn guitare, đàn violon, đàn nguyệt, đàn tranh, đàn gáo, đàn cò. .. Tân nhạc thì khá hơn, dụng cụ do trại mua làm cảnh. Có cả giàn trống, guitare điện. Đội văn nghệ, thể thao nhàn hạ, nhiều đặc ân đặc lợi nên bị ghét. Ở đâu có lợi, ở đấy có ganh ghét. Hễ hôm nay Tổ văn nghệ ở nhà tưới cây thì Tổ thể thao đi phát quang thật xa ngoài quốc lộ, ngày mai Tổ thể thao ở nhà, Tổ văn nghệ ra đi. Ra khỏi trại. có tiền tha hồ ăn hủ tíu, miến gà, mua chuối, mua trứng đem về. Bạn thân ở đội khác có thể gởi tiền nhờ mua chuối, mua rau…. Bạn không thân bị từ chối. Đó là nguyên nhân của chụp mũ. Lúc tôi vào căn nhà, người đón tiếp tôi là Lê Ngọc Biên.
– Tôi là anh em cột chèo với anh Trương Đình Huân, em của chị Thanh Khánh, anh nhớ chưa?
– Nhớ rồi.
Anh Biên làm mì gói chiêu đãi ông Tường và tôi. Chúng tôi chưa kịp tắm thì vệ binh tới dẫn chúng tôi ra suối tắm. Và sau đó, chúng tôi được dẫn lên văn phòng của Phó giám thị, ủy viên chính trị của Z30 D, thiếu tá Phan Hữu Phúc. Ông Tường vào trước, tôi ngồi ngoài hành lang. Phó giám thị Phúc làm việc riêng từng người. Đến lượt tôi, ông Tường về trại thay vì ngồi đợi tôi cùng về. Tôi không biết nội dung cuộc mạn đàm ngắn ngủi giữa Phó giám thị Phúc và ông Tường. Riêng tôi Phó giám thị Phúc rất ân cần. Ông ta pha ấm trà mới, rót nước mời tôi. Tự tay ông ta bóc gói thuốc Phù Đổng đưa tôi rút và quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.
– Anh đi đường có mệt không? – Ông ta hỏi tôi.
– Bình thường, thưa ông Phó giám thị. -Tôi đáp.
– Cứ gọi tôi là cán bộ.
-Vâng.
– Anh sẽ về nhưng anh nhớ rằng anh được tha là do ở sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Tuyệt đối không một thế lực ngoại quốc nào có thể can thiệp cho anh ra khỏi trại cả.
– Tôi nghĩ thế.
– Những ngày còn ở trại, nhất là ở đây, anh không nói cho bất cứ ai anh đã ở các trại nào và từ trại nào vừa đến.
-Vâng.
-Tôi sẽ gặp anh sau.
-Vâng.
~ Anh cần gì, cứ báo cáo cán bộ quản giáo hay cán bộ trực trại xin gặp tôi, tôi sẽ giải quyết ngay.
– Cám ơn cán bộ.
Sau đó, ông ta hỏi thăm chuyện gia đình tôi và dự định cho tương lai khi tôi trở lại đời sống. Tôi về trại một lát thì các đội tan lao.

Qua sự thông tin của trật tự, một số anh em đến tìm tôi. Tôi giữ lời hứa với Phó giám thị Phúc, không nói về các nhà tù tôi đã bị nhốt và trại lao cải tôi vừa rời Số anh em này thất vọng tôi ngay. Họ thấy tôi không phải là nhân vật hào hùng của tiểu thuyết của tôi. Và họ cho rằng họ đã hiểu tại sao tôi được ân huệ biên chế ngay vào Đội văn nghệ, thể thao. Rồi Bùi Hoàng Cầm, nhà báo, nhân vật bị tù nhân nguyền rủa từ khu B sang thăm tôi. Rồi những tù nhân bị đánh dấu “ăng ten” như hoạ sĩ Có, sĩ quan cảnh sát, nhà ảo thuật Hưởng, hạ sĩ quan an ninh quân đội, săn sóc tôi rất chu đáo buổi đầu khiến số anh em có kết luận dễ dàng: Tất cả những thằng nhà văn, nhà báo ở các trại đều làm công việc như thằng nhà báo Bùi Hoàng Cầm! Một tuần lễ sau người ta bảo tôi là Bùi Hoàng Cầm của TH6 B, Xuyên Mộc, Đồng Nai. Tôi tin chắc ông Hồ Hữu Tường đã được Phó giám thị Phúc yêu cầu như đã yêu cầu tôi “không nói cho bất cứ một ai anh đã ở các trại nào và từ trại nào vừa đến”. Không hề có phát thanh… học tập, phát thanh mỗi tối ở Sa Ác B. Cách nhau dẫy Mây Tào, sự thật bên kia và bên đây đã chẳng giống nhau rồi. Bấy giờ, tôi không cần tìm hiểu. Sau này tôi mới tìm hiểu và tôi ghê tởm cái thủ đoạn cộng sản. Họ triệt hạ tôi, họ làm tôi mất hết tư cách rồi mới thả tôi về. Để tôi hoàn toàn tê liệt. Họ bảo tôi đừng nói rồi họ rỉ tai trật tự, họ tung tin Hồ Hữu Tường và tôi từ đâu tới, đã làm những gì thật dơ dáy ở các trại cũ. Điều bấy giờ tôi suy nghĩ chỉ là câu nói hé lộ một xác nhận Amnesty International sắp cứu tôi ra. “Anh sẽ về nhưng anh nhớ rằng anh được tha là do ở sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Tuyệt đối không một thế lực ngoại quốc nào có thể can thiệp cho anh ra khỏi trại cả”.
Tôi nằm ở Đội văn nghệ và thể thao hai ngày nghỉ mệt. Anh Lê Ngọc Biên kể cho tôi nghe nhiều chuyện thú vị. Anh đã ở Suối Máu, đã đáp chuyến tầu HQ 503 đi Phú Quốc, đã ở Phước Long. Mấy tháng trước có phái đoàn Amnesty lnternational thăm Z30 D, K 1. Tù nhân cò mồi của Đội văn nghệ và thể thao sắm vai trại viên trại học tập cải tạo. Mỗi diễn viên được phát một bộ quần áo mới không đóng dấu tù. Đầu tóc cắt gọn. Râu ria cạo nhẵn. Các Nhà quét dọn sạch sẽ, sắp xếp ngăn nắp. Các hồ nước bơm đầy. Bệnh xá tươm tất. Thư viện gọn gàng. Giàn nhạc đầy đủ dụng cụ. Phái đoàn tới, được Ban giám thị hướng dẫn thăm khu A và chỉ khu A thôi. Hai thông dịch viên Pháp-Việt, Việt-Pháp và Anh-Việt, Việt-Anh là Lê Ngọc Biên, Nguyễn văn Dụ, tù nhân. Amnesty International thăm Nhà, thấy Nhà khang trang thoáng mát, đầy đủ…tiện nghi; thăm thư viện, thấy thư viện đầy sách. Cò mồi chăm chú học tập tư tưởng Mác Lê, cò mồi đang đàn sáo, lại chơi Le Beau Danube bleu, Only you, Smoke gets in your eyes…; thăm bệnh xá thấy bệnh nhân tù nhân “hồ hởi phấn khởi”; thăm sân, thấy hoa phô sắc, cỏ thắm tươi. Thì bằng lòng lắm. Lại phỏng vấn tù nhân được lệnh phiên dịch: “Cám ơn chính sách học tập cải tạo khoan hồng và nhân đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng tôi không phải là tù nhân mà là trại viên trại học tập cải tạo. Chúng tôi học tư tưởng làm người cao quý và tập lao động cho bớt lười biếng. Chúng tôi ăn ba bữa, đầy đủ dinh dưỡng, tinh thần và thể xác thoải mái, không hề bị đánh đập tra tấn thể xác hay tinh thần.”
Phái đoàn thấy tù nhân đâu có nhiều. Bởi vì, hàng ngàn tù nhân đã bị lùa vào tận chân núi từ sáng sớm. Đề phòng, bất thình lình, phái đoàn trở lại, tối mịt tù nhân mới được lùa về. Chẳng hiểu phái đoàn AI đánh giá Z30 D ra sao. Có điều, chắc chắn, phái đoàn không bao giờ nhìn rõ sự thật ở nón mũ, giầy giép, quân áo, ca cóng của tù nhân xuất trại lao động.
Lê Ngọc Biên nói, chuyến thăm của AI, tù nhân cò mồi và thông dịch viên đều bị tù nhân nguyền rủa, lên án nặng nề. Càng bị nguyền rủa hơn, sau chuyến viếng thăm của Al, Biên và Dụ được biên chế sang Đội văn nghệ và thể thao. Sự thiếu may mắn của tôi là về Z30 D, tôi bị vào Đội văn nghệ và thể thao. Giá tôi vào cachot, có thể tôi lừng danh anh hùng tù ngục!
Ngày thứ tư, đột xuất có một phái đoàn ngoại quốc thăm trại Z30 D kiểu mẫu. Tôi đã theo đội đi lao động từ hôm qua. Hôm nay cả đội của tôi ở nhà làm… cò mồi. Tù nhân toàn trại đi lao động từ sớm tinh mơ. Riêng ông Hồ Hữu Tường và tôi được đưa sang “dấu” ở phòng trật tự khu B. Người ta phát giấy cho chúng tôi khai lý lịch. Cảnh tượng tiếp phái đoàn này y hệt cảnh tượng tiếp phái đoàn AI. Lê Ngọc Biên và Nguyễn văn Dụ không được chỉ định thông dịch. Đã có thông dịch viên của Bộ nội vụ. Vì phái đoàn là phái đoàn Liên-tôn thế giới, thân cộng sản Việt Nam. Thế giới cũng có một số thằng vô danh tiểu tốt buôn công danh bằng cách họp thành một phái đoàn sang thăm nhà tù kiều mẫu Z30 D dàn cảnh công phu, đầy xảo thuật của đạo diễn Đảng để về tuyên bố ngược lại tất cả những gì các phái đoàn khác đã công kích chế độ nhà tù cộng sản. Thế là chúng nổi tiếng. Báo chí cộng sản thế giới, báo chí thân cộng sản Tây phương và Mỹ đã đánh bóng chúng nó, đã coi chúng nó như người của sự thật. Thế giới tự do, thế giới của lương tri, của lẽ phải, của tôn trọng sự thật đã có một bọn khốn kiếp gọi là Liên-tôn lò dò đến trại Z30 D phả thêm mùi tanh ươn vào thứ nhân quyền bị thắt cổ lè lưỡi bởi cộng sản. Tôi không biết cộng sản Việt Nam đã trả bọn này bao nhiêu tiền? Với cộng sản Việt Nam còn phải lột lưỡi để ca ngợi chế độ lao tù của họ.
Từ kinh nghiệm Liên-tôn viếng nhà tù kiểu mẫu Z30 D, tôi thấy không thể tin tưởng vào bất cứ một hội đoàn nhân đạo nào của thế giới tự do, trừ Amnesty International. Rất tiếc, AI không lên tiếng về sự vi phạm nhân quyền. AI trung lập với tất cả các chế độ chính trị. AI can thiệp cho tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng ở bất cứ quốc gia nào có tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng.
AI đã can thiệp cho Vũ Hạnh dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu. AI lại can thiệp cho Cao Dao dưới chế độ Lê Duẩn. Cho nên sự thật về ngục tù và tù nhân trong chế độ cộng sản đã chỉ được thế giới mường tượng hay căn cứ vào những báo cáo bán rẻ lương tâm cho cộng sản của những hạng người tương tự Liên-tôn, của lũ phản chiến thân cộng sản, của đám báo chi Mỹ đã ngồi xổm lên nghĩa vụ luận. Lương tri của nhân loại cần phải được đánh thức, cần phải được lay động bằng tiếng nói đích thực và trung thực của những người thoát lên từ vực thẳm. Nhưng, buồn thay, những người thoát lên từ vực thẳm đã im lặng, hoàn toàn im lặng. Thỉnh thoảng, có một vài lên tiếng với đồng bào của mình. Thì đã bị khoả lấp bởi tiếng rao bán xổ số kháng chiến, tiếng mõ quảng cáo lạc quyên phục quốc. Chưa thấy ai đặt vấn đề với bọn nhà báo Mỹ – đã mô tả chuồng cọp Côn Sơn, đã đòi cải thiện chế độ lao tù miền Nam trước 1975- mô tả các trại tập trung khổ sai lao động của đàn bà con nít, thương phế binh ở Long Thành – ởquần đảo Phước Long sau 1975. Chưa thấy ai lạc quyên tiền đăng nguyên hai trang trên các nhật báo lừng danh xuất bản tại Nữu ước, Hoa Thịnh Đốn, Ba Lê, Đông kinh, Luân đôn…để nói về tù nhân và ngục tù cộng sản. Chưa thấy ai lạc quyên tiền để dịch thuật và xuất bản một cuốn sách viết về ngục tù cộng sản Việt Nam trích từ những cuốn hồi ký của những người thoát lên và thoát ra từ vực thẳm. Chưa thấy gì cả. Chỉ thấy rõ ràng người ta đã hoan hỉ bỏ đô la vào túi áo ông Mặt trận, vào thùng sương, vào những cuộc liên hoan ăn uống có nhẩy đầm. Rất nhiều tinh hoa của dân tộc đang quằn quại trong nhà tù cộng sản mà đồng bào của họ ở hải ngoại đã lãng quên không nghĩ chuyện cứu họ, thản nhiên để họ chết mòn. Rất nhiều những thằng chó đẻ sống phè phỡn bằng tiền lạc quyên cho mục đích bịp bợm. Rốt cuộc, nỗi thống khổ của tù nhân được cai thầu chiêm bao và báo cáo chiêm bao ấy với người ngoại quốc. Cai thầu hưởng danh lợi. Tù nhân được…hứa hẹn sẽ can thiệp. Bao giờ? Mai. Mai rồi mốt. Mốt rồi mút. Mút rồi mít. Mít rồi mịt. Rồi mù mịt.. . Thế giới tự do yêu sự hợp lý đến ngây thơ và ngu xuẩn. Tiếng nói của người đã nhìn sự thật là hợp lý. Phái đoàn Liên-tôn kia, chẳng hạn. Tiếng nói của người chưa nhìn sự thật chỉ nói theo báo cáo là tiếng nói vu vơ, không hợp lý. Tiếng nói của những người thoát lên từ vực thẳm là hợp lý, chính xác là tiếng nói của sự thật.
Song, buồn bao nhiêu, tiếng nói của sự thật là tiếng nói Việt Nam viết bằng chữ Việt Nam. Thế giới không biết nghe tiếng Việt Nam, không biết đọc chữ Việt Nam. Mà chúng ta thì không ai thích đóng góp tiền để chuyển dịch tiếng nói của sự thật vàng mười sang Anh ngữ, Pháp ngữ, Y pha nho ngữ, Đức ngữ, Ý ngữ. Người Pháp và người Mỹ sẽ chỉ thấy ngục tù Việt Nam qua cuốn Goulang vietnamien, Vietnamese Gulag của gã tù nhân de luxe 11 tháng ở đề lao Gia Định. Nhà tù được viết kiến nghị, được tự do đi xin chữ ký, cả trăm tù nhân ký vào kiến nghị thì nhà tù cộng sản là. . . thiên đường, cần gì phải đòi nhân quyền và tự do cho tù nhân!
Cái phái đoàn Liên tôn…thiếc kia viếng trại lao cải kiểu mẫu Z30 D đúng 15 phút. Giàn nhạc chỉ chơi có một bài Love is blue! Không sợ, đột xuất, họ trở lại nhìn sự thật trần truồng – bồ tèo mà – Ban giám thị cho tù nhân núp dưới chân núi về sớm. Tù nhân được cơ hội suy diễn: Ông Hồ Hữu Tường và tôi được đem về đây làm cò mồi. Cò mồi gì nhỉ? Tôi bỗng thấy chua xót cái câu mà cai tù nào cũng thích nói với tù nhân: “Các anh không thương các anh thì ai thương các anh”. Quả thật, một số tù nhân đã tỏ ra tàn nhẫn với tù nhân. Bạn tù, mấy kỳ liền không có thăm nuôi, thay vì an ủi bạn, chia sẻ cho bạn dúm tôm khô, vài vắt mì, người ta nỡ phát ngôn: “Vợ bỏ rồi hả? Chắc vợ đi theo bộ đội bỏ rơi anh rồi”?
Người ta sẽ buồn cười điều “Cấm mua bán, đổi chác” trong Nội quy. Tôi không buồn cười. Vì tôi biết chuyện một tù nhân không nghiện thuốc lào, thuốc rê mà có cả mấy bánh thuốc lá, mấy bịch thuốc rê. Thuốc lào của anh ta thuộc loại xiện, sáng sớm kéo một điếu là phê. Có tù nhân đã đổi cái quần treillis lấy 2 hộp quẹt thuốc lào xiện. Tù nhân này không thăm nuôi, dĩ nhiên. Ở Sa Ác B, có thuốc lào xiện là có tất cả. Thuốc lào có thể đổi rau muống non, củ cải, rau mồng tơi, mướp, củ mài… Nhiều tù nhân đã lấy râu ngô phơi khô tẩm nước điếu rồi lại phơi khô để hút. Giá trị của thuốc lào vô kề. Hễ có thuốc lào xiện, điếu cầy xiện sẽ thêm bạn bớt thù và sẽ chỉ còn bạn.ỞSa Ác B cho tù nhận thuốc mà cấm tù nhận diêm, đá lửa, bật lửa. Nhưng tù nhân xoay đâu ra bật lửa, đá lửa, xăng thì tự do dùng. Bèn có ba câu Anh ngữ lao cải:
– Đông vui hao lao
Đông vui thì tốn thuốc lào.
–Đông phen hao rê
Đông bạn thì tốn thuốc rê
–Tham nuoi no dzimThăm nuôi không có diêm
Với tù nhân nghiện thuốc lào, đa số tuyệt đối, thì thiếu thuốc lào còn hại cho cơ thể hơn là thiếu chất protéine, chất mỡ, chất đường… Đầy rẫy những kẻ hám lợi trong tù. Và đầy rẫy những kẻ thích làm khổ người khác. Vô cớ và vô lý. Tôi mang thêm tội cò mồi. Đã có kinh nghiệm ra cái động ở Sa Ác, tôi tiết kiệm tối đa ngôn ngữ ở Z30D. Với những kẻ không đáng nói, nửa lời không nói.

——————————–

1Tác giả có tham vọng viết cuốn sách nhan đề Sấm Ký cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tiên tri cuộc cách mạng tiểu tư sản hào hoa cứu vớt dân tộc Mỹ thoát nạn đại hồng thủy.