vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày 12-4-1993)
Post by Sơn râu 8 Jul 2024

Phần11.
Nên Chơi Sách Hay Nên Chơi Cổ Ngoạn – Lấy Người Nầy Làm Gương
Tôi đã quá già, nhưng tánh hay lo việc bao đồng. Riêng tôi, tôi đã chán ngán, nhưng tưởng cũng cần nói vài lời về thú trên đây, nghe cùng không tôi không cần biết, và người nói trong nhan đề, oan hay ưng, tôi cũng không vụ tất làm chi. Xét lại cho kỹ, chơi cổ ngoạn thú vị nhiều, nhưng vẫn có nhiều người ganh tị. Khi ganh, không ngại đặt điều nói xấu, phao vu buôn lậu vật báu của nước, như vừa rồi, việc còn nóng hổi, có một chàng nọ, tuổi còn trẻ, chơi thân với tôi và thường nghe lời tôi, thường ra Bắc hay về Huế đô, mua sắm được nhiều món lạ, chính tôi thấy cũng thèm, tôi đã khuyên phải cẩn thận, chơi thì nên nhưng đừng làm con buôn, và phải coi chừng kéo đứt tay có ngày, người ấy bỗng bị bắt, bị giam, cổ vật sưu tập bị hốt, một vài tháng sau được tha rồi bị bắt trở lại, cổ vật có được thu hồi, và người ấy có phạm tội cùng không, việc không mắc mớ gì tôi, chính nếu có người cào tôi thì tôi cũng phải chịu vào ngồi trong đó như ai kia chớ tôi nào có hơn ai, tuy vậy thỏ chết cáo buồn, và bài nầy tôi viết là cốt lấy kinh nghiệm mớ tuổi già và xin lấy trực tâm già nghề, nghề chơi sách và nghề chơi đồ cổ, tôi là kẻ dưới, còn sự công bình và xét đoán phân minh là ở bề trên, tôi không dám nói nhiều chỉ mong có hải hà lượng cao.
Gần đây, tôi có đọc kỹ lại hai bộ sách để trên đầu nằm, đó là:
• Le Viet Nam,h istoire et civillisation của Lê Thành Khôi (nhà Minuit 1955, Paris)
• Việt Nam sử lược
của Trần Trọng Kim, bản Tân Việt lần 5, năm 1954.
Sách Pháp của ông Khôi ghi gãy gọn: Nguyễn Du, Kim Vân Kiều 1802 (tr.509); V.N.S.L. Trần Trọng Kim, tr.418, cũng vắn tắt: “Truyện Kim Vân Kiều của Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du, cũng phát hiện thời bấy giờ (xin hiểu đó là năm 1802).
Cả hai học giả đều sở học uyên thâm, tôi lé đé dưới mắt cá, dám đâu đèo bòng nói lăng xăng trong lúc không có mặt, duy trong nghề chơi đồ cổ và làm mọt sách, tôi đọc lại và riêng thấy: “năm 1802, phương Bắc đang bị xáo trộn, cố binh trong Nam của chúa Nguyễn Ánh kéo lên, Du nào có lòng yên để ngồi viết sách và có lẽ năm 1813, nhơn được đi sứ sang Tàu và mua được sách hay (bộ Thanh tâm tài nhân) và nhơn đọc chuyện nàng Kiều trầm luân, mới nhớ và tỷ hứng xa vời chuyện nước nhà hay chăng?
Theo tôi ngẫm lại văn hóa nước ta có được bộ Truyện Kiều, chính là nhờ có được cuộc đi sứ năm 1813 nầy. Vả lại, bộ sách Hán cũng chỉ văn viết tầm thường thôi, nhưng sự tích khá li kì; cũng năm 1813 nầy sứ bộ của ta mang về bộ chén trà “Mai-Hạc” tôi sẽ nói nơi đoạn sau, và nơi đây, tôi xin cho tôi được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi long một dân Nam thấp hèn buổi 30-4-1975 lại vẫn không khác nào cảnh đã phải gánh chịu của một đại văn hào phương Bắc buổi Lê tàn, Trịnh mạt, Tây Sơn lên mau như chớp rồi tắt lịm như bóng đèn khí khi điện lực bị cúp, sự việc một gái nhà lành vì hiếu phải bán mình, rồi bị đày đọa, than bị vằn vọc, trăm cay ngàn đắng suốt mười lăm năm trời, nnung binh sĩ chúa Ánh kéo lên phương Bắc năm 1802, chỉ làm nhục và cầm tù một nhà khoa bảng là Phan Huy Ích, và chỉ đánh đòn, nhưng lỡ tay hay vì căm thù, đánh quá nặng đến chết một nhân tài là Ngô Thời Nhiệm, và theo như tôi tự xét và hiểu, có lẽ thức cảnh sanh tình, Du năm 1802 cũng na ná cảnh ngộ tựa tựa như vầy, nên bỗng mượn lấy nòng cốt Truyện Kiều mà đẻ ra một bản kiệt tác gợi lại chuyện xa xăm quăng phong ba bão táp cuối thế kỷ XVIII bước qua đầu thế kỷ XIX v.v… Nhưng phải đợi năm 1813 yên chí đi sứ Tàu về, và phải đợi năm 1813 hoặc sau năm 1813 tâm thần bình tĩnh, thấy xa hiểu rộng một năm dài khi ngồi thuyền khi ngồi võng hay chạy ngựa suốt một năm dài bận đi như bận về, mắt ngắm tai nghe đủ mọi cảnh đẹp việc hay của nước lớn Trung Hoa, đến đây tôi không quyết đoán phải đúng năm 1813, nhưng cũng lối năm ấy, và một bằng chứng khác, xét theo lối chơi cổ ngoạn, tôi đã gặp và làm chủ một bộ chén trà niên hiệu đề năm Giáp Tý (1804) là năm đi sứ sang Tàu của một văn nhân trong Nam là Trịnh Hoài Đức có miếu thờ trong Chợ Lớn.
Và xin cho tôi được dài dòng kể lại đây, tuy đã có nhiều sách dẫn giải trước, ngày xưa nước Tàu rộng lớn bao la, đối với các nước nhỏ lân bang, chỉ muốn “làm người Anh Chị” đối với “hàng Em Út dưới tay” và chỉ cần “đầu hàng” là đủ, nước nhỏ cần dâng “cống vật”: ngà voi, tê giác, sáp trắng, mật ong, quế Thanh, quế Quảng, sa nhân, đậu khấu v.v…, rồi nước lớn hiến lại nào đồ gốm có ngự bút nhà vua, bánh đúc đi, bánh sáp đáp lại và như vậy là đồng đều… và xin cho tôi kể them đại lược những năm đi sứ sang Tàu, theo bộ sách Bang Giao (không kể rành chi tiết) và duy nhờ mò lần theo các cổ sứ mua được mà tôi rõ như sau:
• Năm 1802, chúa Nguyễn Ánh, tuy tức vị nhưng chưa có sắc của Thanh-triều ban cấp thì chưa đủ uy tín cho dân thờ, tuy đã sai quan Thượng-thơ Binh-bộ là Lê Quang Định làm chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong, xin đổi quốc hiệu là Nam Việt lấy lẽ Nam là An Nam, Việt là Việt Thường. Nhưng sứ bộ nầy bị nhà Thanh hỏi khó, sứ bộ không đáp được cho nên có sứ bộ khác do Trịnh Hoài Đức cầm đầu sang tiếp, Hoài Đức gốc người Phước Kiến và mẹ là người Việt, ứng đáp suôn sẻ rằng: Nước nhỏ dám đâu xúc phạm thượng quấc, duy “hiện Bắc hữu Thăng Long, Nam hữu Gia Định”, nay đã qui nhứt thống, nên chọn đế hiệu “Gia Long”. Chữ “Long” không tiếm chữ của tiên đế Kiền Long, chữ “Gia” lại không cố ý chọn chữ của đức kiêm thượng tại ngự, và được chấp nhận. Duy đến hai chữ Nam Việt, lại bị bắt lỗi sái văn phạm và lấy nhẹ tỷ dụ “dư chi phu, dư chi thê”, đành dung hai chữ Việt Nam cho xong việc. Tôi vốn dốt nát duy nghe người rành nói lại có lẽ người Tàu chiết tự và tránh nhắc lại danh hiệu cổ Nam Việt của cổ thời Triệu Đà hay chăng?
Nhơn tiện tôi xin nhắc lại đây sứ bộ Trịnh Hoài Đức chuyển về có mang về bộ chén trà ba quân một tống đề niên hiệu “Giáp Tý niên chế” dương lịch 1804, có câu thi: “Thúy sắc du xuân noãn, kiên tâm nại tuế hàn” (tôi dịch lẹ cho mau: Ngày nay đạp xuân hưởng sắc thúy, đầm ấm; xin đừng quên cảnh lòng bền năm lạnh). Cũng trong năm 1804 nầy có một sứ bộ khác do Lê Bá Phẩm cầm đầu (V.N.S.L. trang 419 có kể), nhưng tôi chưa gặp và bắt được món sứ nào.
Năm Mậu Thìn (1808) tôi may mắn có mua được một chén quân uống trà duy nhứt, vẽ san thủy khéo nhưng không một câu thi nào, theo tôi, đây là chén sứ của võ quan dùng, niên hiệu đủ bốn chữ “Mậu Thìn niên chế” (mục lục 276).
Hai năm, Kỷ Tỵ (1809) và Canh Ngọ (1810) thì tôi có gặp và mua hai cái tô lành lẻ tuyệt khéo, hai tô nầy tôi đã tả tỷ mỷ trong bản thảo “Những đồ sứ đi sứ mang về” (les bleus d’ambasssade) sách đang in và xin miễn viết lại đây.
Theo một quyển đã in dày 239 trang khổ 13 x 23, tác giả là Nguyễn Lộc xuất bản tại Đà Nẵng năm 1986, có kể và tôi tóm tắt đại lược, thì: năm Quí Dậu 1813 đến năm Quí Dậu 1993 nầy là đúng 180 năm, thì sứ đoàn chính là do Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều làm chánh sứ đem về bộ chén trà Mai-Hạc, và theo tôi 1813 là mốc chứng nhận năm sáng tác của Truyện Kiều.
Trong quyển của Phủ đặc trách văn hóa thời Diệm in tại Sài Gòn năm 1968, sách nầy dịch lại theo bộ Bang-Giao của bộ Khâm-định Đại-Nam hội-diến sử-lệ, sách chữ Hán nầy lớn rộng mà không để lại chi tiết nào, tôi đành theo Nguyễn Lộc thì: năm Quí Dậu (1813) sứ đoàn đi nạp cống cho Thanh triều, gồm:
– chánh sứ: Nguyễn Du, Cần-chánh-điện đại-học-sĩ;
– phó sứ: Trần Văn Đại, Lại-bộ thiêm-sự;
– bồi sứ: Nguyễn Văn Phong, Lễ-bộ thiêm-sự.
Cuộc hành trình khởi đi từ Phú Xuân, giữa tháng 2 âm lịch, trung tuần tháng 4 mới tới Thăng Long. Nay xin cho tôi mạn phép gọi Chánh sứ tắt là Du cho gọn viết; mấy năm về trước Du đã gặp và thăm Nguyễn Để, nay gặp lại vẫn nhìn không ra và không nhìn được các dấu cũ. Nào xưa là đài các thì nay là lộ là đường. Cố cung nay đã bị một bức tường chia làm đôi, cắt đứt cung và điện cũ. Bạn bè lớp xưa nay có người đã thay hai thứ tóc, kẻ nữa lụm cụm già nua quá tuổi, bơ phờ hoặc ngu ngơ. Phái cầm ca con hát, nào ngờ giới phấn son, quần thoa lại đổi sắc quá mau. Không trách triều đại nhà Tây Sơn như đã nói, phát như điện mà cũng tàn lẹ như ánh sét thình lình.
Ngày 6 tháng 5, đến cửa Nam Quan (Quỉ-môn-quan, tên nghe ghê sợ thế nào), rồi đến Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây. Sứ đoàn bỏ đường bộ sang qua đường thủy, bình bồng trên thuyền chèo chống qua nhiều nơi chưa từng mắt thấy và thường đọc tên trong sách: Thương Ngô, Quế Lâm, Tuyền Châu (Phước Kiến), Nhạc Dương, vân vân. Khi thuyền đến Hán Khẩu, lại phải trở lên đường bộ trực chỉ Bắc Kinh. Quả là một con đường nghiêu-khê man mát, Du bắt nhớ lại các di tích đã từng đọc trải qua sử sách đã từng nghiên cứu, nay Du sống lại bằng mắt thấy tai nghe, khiến ôn cố tri tân, nặng lòng hoài cựu, chạnh lòng thương cho cuộc đời từ phong kiến dến hiện đại, quá mau, của Trung quốc cổ thời và của nước nhà hiện nay, than ôi, “… trải qua một cuộc bể dâu…”, Lê tàn, Trịnh mạt, nay Du nầy lại phải gượng gạo phù tá triều đại mới, và nhờ có cuộc đi sứ nầy mới rõ được ý nghĩa câu “bất quá cao sơn, bất tri thiên cao”, Du vả chăng là người nhớ dai hiểu rộng, nay được đặt bước vào Vị, Hoài, Tầm Dương, Động Đình, Nhạc Dương lâu, Hoàng Hạc lâu,… Mịch La là đâu, rồi nào Hàn Tín, Dương quí phi, Kinh Kha, Lạng Tương Như, núm mộ Đỗ Phủ, núm mộ Tỳ Can, mộ lăng Tây Sở Bá Vương, mộ Liễu Hạ Huệ, Đồng tước đài, hồ Tam Giang, Ngũ Hồ, miếu Nhạc Võ mục (Nhạc Phi), tượng Tần Cối và vợ là Vương thị, bị hình phạt và dân ném đá tượng đã bị chôn vùi… Ngày lên tới Bắc Kinh là ngày 29 tháng 10 kể theo dương lịch là 1813, lễ nạp cống đã xong, được chầu vua Thanh đủ lễ, tạ từ Thanh quốc trở về đất mẹ, chuyến nầy lại không noi theo con đường đã trải và để đổi qua đường mới, noi theo Đức Châu, Từ Châu, Tiền Sơn, Hoàng Mai, Quảng Tế… và khi đến Hán Khẩu lại xuống thuyền trở về nước, duyên may đã khéo gặp và đã tìm được hai việc đáng kể như sau:
1) Việc tuân lịnh đức vua, đặt chế cho lò sứ tỉnh Giang Tây mộ bộ chén trà, có đủ dĩa dầm (dĩa nhỏ chứa chén pha trà), dĩa bàn (dĩa lớn chứa chén uống trà), một chén tống (do tướng nói trại, để pha), và bốn chén quân cũng gọi chén tốt (sĩ tốt), duy giữ theo phong tục Huế thì chỉ dùng ba chén quân (tam quân), và vẽ tích Mai-Hạc, với câu lục bát nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, Hạc là người xưa“. Tiện đây xin nói nhà có giữ một bộ Mai-Hạc gồm ba chén quân có thơ nôm kể đây và một chén lại đề câu Hán “Hàn mai xuân tín tảo, tiên hạc tháo vi đầu“, và xin nhìn nhận bộ chén nầy có thể dùng làm mẫu cho chén Mai-Hạc, tôi biết thêm hai câu: “Thả liễm xung thiên vô, Vi khán Lĩnh Nam chi” và nhiều bộ Mai-Hạc thơ nôm, nhưng chữ “Cũ” (bạn cũ) khi viết đơn, chữ “Nhựt” gạch một nét, đã qua, và chữ “Nhựt” viết kép kềm chữ “Cựu”, v.v… theo tôi, thảy đều làm sau 1813 hoặc là tân tạo, khách ham chơi đồ cổ phải đề phòng. Lại nữa hai câu 6-8 nôm, thợ lò sứ Tàu khi viết làm bốn hàng, khi viết hai hàng 5 chữ và hai hàng 2 chữ, hóa như thơ thất ngôn, tôi đã tốn rất nhiều tiền mua sắm gần trọn bộ môn, kế bị người trong nhà trộm cắp mà tôi không khai báo, lấy theo lời nghiêm thân đã dạy: “nhân phi ngãi bất giao, vật phi nghĩa bất thù“.
2) Một việc khác, quan trọng hơn nhiều và thuộc về văn hóa nước nhà và thú riêng chơi sách, là chánh sứ Du đã bắt gặp và may mắn cho nước Việt ta quá, là người đã mua được bộ sách Hán “Thanh tâm tài nhân“, việc nầy tôi đã nói rồi nhưng xin cho tôi nhại lại, và thưa với Lê Thành Khôi và tác giả quá cố bộ V.N.S.L. rằng: theo tôi, Truyện Kiều có từ năm 1802, đời Gia Long nguyên niên, nói làm vậy là nói vắn tắt cho gọn và cho được việc, Nguyễn Du năm 1802, tâm thần đang loạn rối, có một ca chức Tham tụng triều Lê cũ, một anh là sủng thần chúa Sâm, trong hàng anh và em khác, kẻ theo Tây Sơn cũng chết, kẻ chống lại cũng bị giết, bản thân Du chạy theo vua Chiêu Thống thì vua đã bỏ chạy xa vời không theo kịp, ở lại thì tiêu tan sự nghiệp dòng họ, bản thân chứng kiến cảnh rùng rợn khoa bảng kẻ vào tù kẻ bị đánh đòn, Du đi sứ trở về, như con cá thia thia được ngọn nước, lên sắc, phình xòe, phùng mang đá bóng, chừng ấy mới trực nhớ cảnh binh Tây Sơn khi ra Bắc cũng ngồi nghe hát cô đầu, Hồ Tôn Hiến, Từ Hải mới hiện và hiển hiện dưới ngọn bút xuất kỳ, để lại: “Giờ ra thay bực…” “Tức gan muốn đạp”, “Thân lươn bao quản”; “Phòng khi nước đã”, “Sớm khuya khăn mặc”, “Thân sao thân đến”, vân vân và vân vân, tôi sao nhớ cho đủ?

Photo edit by Sơn râu
Theo tôi hiểu riêng, bao nhiêu ý thâm, bao nhiêu câu nắn nặn tình tứ, phải có rơi nước mắt thật nhiều mới xét nghĩ ra, và tiện đây xin nói liền, đừng viết và nói vua Tự Đức ghét Du vì câu “Thì con người ấy, ai cầu làm chi?”, câu nầy khi Du viết thì vua chưa sanh, làm sao ghét được?
Viết đến đây, bỗng giựt mình, tôi đã làm chướng mắt độc giả không ít, với những lời bàn thừa thãi, nay xin trở lại tình cảnh người bạn nhỏ đang bị giam cầm cũng vì tội ham mê đổi chác đồ cổ và tưởng lượng trên xin khoan hồng, tôi rất tin, tuy không là dị đoan, nhưng tôi tin đồ cổ rất linh và vẫn có cô hồn, tôi bị trộm, đi thưa chưa chắc gì kiếm lại được, thà phí phà cho nhẹ bớt lòng lo, còn chú bạn nhỏ nầy, cũng nên tha cho về và trả lại các vật đã thâu. Cổ vật, cổ ngoạn, trừ những vật thuộc loại quốc dụng, loại thuộc sử liệu quí hiếm, thì xin cứ việc cho dân chơi líp (libre) miễn đừng thầm kín bán ra ngoại bang, hoặc như muốn bán, thì nên bán cho viện bảo tang trả đúng giá giữ làm mẫu, hay là trình viện bảo tàng cho người lão luyện xem xét và cho giấy chứng nhận bán ra y như ở Paris, lúc tôi qua đó và đã chứng kiến tận mắt. Tôi đã thấy áp dụng quyền thâu lại cho viện bảo tàng chờ đấu giá và đến giá cao chót, viện sẽ mua lên, không thiệt hại cho người bán, đó là luật Pháp gọi là “droit de préhension” và một luật nữa là “droit de priorité” là quyền mua trước tiên sau khi viện thương lượng và thuận tình với người chủ bán.
Tạm kết luận
. Nhơn năm ni là năm Quí Dậu (1993) cũng gần hết, với tuổi 92, như con cáo già sắp trở đầu về núi, chưa biết đó là ngày nào, xin nhắc lại vài Quí Dậu, cớ sao việc biến chuyển như con chong chóng, các bạn trẻ người nào chưa ra nước ngoài, nghe tôi kể đây cũng “lời quê chắp nhặt” đọc ngày xuân cho đỡ buồn:
• Năm Quí Dậu 1813, Nguyễn Du gặp sách hay, nghĩ ra và viết Truyện Kiều, tôi xin chừa cho người cao kiến xét lại.
• Năm Quí Dậu 1873, cái hoa niên 60 năm ấy sao mà quá sôi nổi? Năm 1862, ba tỉnh miền Đông trong Nam bị Tây lấy; năm 1867, Phan Thanh Giản tự uống á phiện lấy sự liều mình để cho nhà vua giữ tròn chữ Hiếu, con nhà học trò giữ đạo Khổng-Mạnh làm vậy, còn hàng quan võ thì Nguyễn Tri Phương, Trương Định, kẻ moi ruột kẻ tự bắn hay cắt cổ cho tròn chữ Trung, Hoàng Diệu tự treo cổ; năm 1874, hiệp ước triều Huế ký với Pháp nhưng cớ sao nhà cầm quyền Pháp lụi-đụi nấu chảy ấn bạc của nhà Thanh và không biết gởi trả ấn ấy cho Trung-quốc tự liệu, chẳng là cao kế hơn chăng?
• Và đến năm Quí Dậu 1993 còn mấy tháng cũng hết, sao xảy ra đó đây lắm chuyện động trời, sụp đất, lũ lụt, chết người, tôi xin để độc giả chiêm nghiệm lấy. Ngồi buồn, lấy quyển sách Pháp nhan là “Trois siècles de ventes publiques” (Ba thế kỷ bán công khai cổ vật quí), tác giả là Beurdeley có qua đây và có ghé nhà, thuật lại rằng: “Có một chén nhỏ có chưn (coupe), bề cao chỉ độ bảy phân bảy ly thước Tây (7,7 cm), hiệu đề “Thành Hóa”(1465 1487), vẽ vời hoa cây xanh đỏ, trước kia năm 1937 một người tên là Pairfax xuất tiền mua giá 28 guinées (hai mươi tám bạc vụn nước Ăng-lê), và vào ngày 25-11-1980, đưa ra bán đấu giá thâu được 4.200.000 HK$, tức bốn triệu hai trăm ngàn đô là Hồng Kông, tương đương 4.800.000 francs lourds Pháp (bốn triệu tám trăm ngàn quan nặng của Pháp, trang 205 sách đã dẫn), món ấy số 198 có in ảnh, tôi chép lại câu sách Pháp:
Petile coupe à vin, dite stemcoupe en émaux doucat et bleu sous couverte, avec marque CHENHUA (1465 1487), au revers. Achetée 28 guinées lors d’une vente en Angleterre en 1937, par un denommé Pairfax, elle atteindra le pix de 4,200.000 HK$ (soit environ 4.800.000 N.F. avec les frais de vente, le 25 novembre 1980, payé par un amateur indonésien.
Porcelaine, H. 7,7 cm. Possesseur actuel non identifié (theo sách đã dẫn).
Một cái tin quá giựt gân như vậy, hỏi có làm loạn trí người chơi cổ vật xứ nầy hay chăng. Và như vậy cổ vật cổ ngoạn đã có người đeo đuổi ham chơi, đấu giá qua lại giành giựt và chuyền tay nhau bên Âu châu đã có trên ba thế kỷ, tức đã hơn ba trăm năm nay. Bàn rộng qua nước ta, tỷ như có một cán bộ đi kháng chiến, cực khổ đã nhiều, hy sinh không ít, ăn sương nằm đất, may thời xí được, lượm được hoặc một chúa Mường tặng biếu cho một vật xưa, cái chén trà khờn mẻ, một hũ đựng vôi hì hợm, một dĩa, một lọ vô chủ, không phải là của lấy cắp, rồi cắp ca cắp củm cất trong nóp, tưởng một ngày nào bán có tiền dưỡng bịnh, mua thuốc vấn hút chơi, nay có lịnh không cho chơi, không được chứa, ma bán đổi chác đồ cổ, rồi người cán bộ ấy buồn tình để cho mụ xã lấy đâm tỏi, đâm ớt, làm nứt bể tan tành, hũ chóe ám long đời Thiệu Trị một người Miên cha ông làm quan để lại, người con không biết giá trị lấy hũ ấy đựng cám và để dưới đất, heo đòi ăn ủi bể, bán được một đồng bạc lại mừng có giá.
Theo tôi, nên cứ để cho dân chơi mà quên bài bạc, quên làm chánh trị và cứu được vật xưa làm vật thí, đâm ớt đâm xả đâm hành.
Tiện đây tôi nói luôn, tôi nghe nhiều người khoe có thân nhơn đi sứ Tàu sứ Tây, và đã biết chơi cổ ngoạn từ nhiều thế hệ suốt mấy trăm năm.
Tôi không dám cãi, tôi chưa hề ra Bắc nhưng thiết nghĩ người mình đi sứ, đặt làm và mang về bất quá cái điếu hút thuốc lào, cái tô trồng mặc-lan, tỉa hoa thủy tiên hoặc bộ chén kỷ niệm năm đi sứ là cùng, và chính ở miền Nam nầy, chưa hơn sáu bảy chục năm, dân còn sợ ma, cha mẹ mất, y phục giày dép có giá, đều để ở nhà mồ thí cho trẻ chăn trâu phá phách, thậm chí đồ từ khí cổ đều sa thải bán ra vì sợ có hồn ma ám ảnh, để trong nhà là xúi quảy, và thú sưu tập, tập chơi và mua sắm đồ cổ theo tôi chỉ có từ những năm bác sĩ Cognacq làm giám đốc sở học chánh biết chơi đồ xưa và đòi sinh viên muốn học trường thuốc, trường hành chánh, phải lo lót vật cổ, qua trào Bernard thay Cognacq thì đòi gái đẹp, và một phần khác, khi vua Khải Định ăn tứ tuần lại có việc quan tổng đốc, quan tuần vũ tìm mua gốm xưa sứ quí để đội mâm dâng lễ khánh hạ.
Tôi tưởng nên khuyến khích cho dân biết quí và giữ lại đồ cổ; nước Mỹ, nước Nhựt, các nước bên Âu, bên Úc đều trọng vật cổ, một gương nên tránh là nước Pháp vì lấy thuế quá cao nên nhà tỷ phú Gabalkian không để lại bộ môn cổ vật quí giá tại nhà ở Paris và đã chở hết qua xứ Portugal và như vậy Pháp quốc đã để xẩy mất một cơ hội tốt, thiệt thòi cho ngành du lịch và ngành bảo tàng.
Lời quê lượm lặt… (đánh máy lại 3-10-1993)
Một bản tặng riêng cháu Hồ Thị Hoàng Anh cho thấy tuổi 92 còn đánh máy một ngày tám trang nầy, tráng niên không chắc gì hơn. V.H.S.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.