“Cái thìa bạc trong mồm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

Thiên hạ thường nói rằng: “Mọi người sanh ra đều bình đẳng!”

Nếu nhìn đứa bé sơ sinh, không có quần áo mặc, tất cả đều ở truồng như nhau quả là đúng vậy. Nhưng nhìn lên cái mồm thì có đứa có cái thìa bằng bạc; đứa khác có cái thìa bằng ‘plastic’ thì đúng ra là mới sanh ra đã bất bình đẳng rồi!

Người Việt mình có một thành ngữ, nghĩa tương đương nhưng thâm thúy hơn nhiều, đó là: “Giàu trong trứng giàu ra!”

Tui phục ông bà mình sát đất nhe. Không cần biết về sản khoa gì ráo trọi mà ông bà mình đều biết con người từ trong trứng mà ra! Mà biết từ hồi Lạc Long Quân và bà Âu Cơ lận. Bằng chứng là bà Âu Cơ sanh ra một trăm cái trứng trong một cái bọc (sau nầy người ta gọi là đẻ bọc điều). (Ðẻ bọc điều là hên hết biết; nên từ thuở lập quốc tới giờ giặc Tàu từ phương Bắc muốn xơi tái nước ta đều mắc… nghẹn)

Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi! Tất cả đều đẹp trai, khoẻ mạnh và thông minh tuyệt vời. (Lục gia phả cả mấy ngàn đời, tui mới biết là ông tằng tằng tiên tổ của tui là một trong trăm chàng trai ấy. Nhờ vậy ‘xí’ được một chút di truyền, đẹp trai và nói dai, nên ngày còn trẻ, em nào gặp tui cũng đều ‘trúng nắng’.

Nhưng thời gian đã nhẫn tâm hủy hoại nhan sắc ‘thiên kiều bá mị’ của tui; nên bây giờ em nào gặp tui cũng thảy đều ‘trúng gió” vì em tưởng gặp quỷ dạ xoa.) Nói thiệt không ai chọn được chỗ để chui ra. Nhưng nếu được, tui thích đầu thai vào cái nhà bá hộ, giàu cỡ tỉ phú đô Mỹ, là tui mừng rồi. Vì mới sinh ra là được quấn trong chăn êm lụa ấm, một thìa bạc đựng đầy ‘vàng lỏng’ để rơ miệng. (Dà ‘vàng lỏng’ là mật ong đấy ạ!). Còn chế độ CS trong nước bây giờ đứa nào sanh ra mà: “Nhà mặt phố bố làm to” là hổng lo gì hết, cứ mặc sức hoang đàng, tàng tàng chơi mát trời ông Ðịa.

Ngon nhứt là ngoài Trung, nhà mặt phố bố làm to, con làm bí thư thành phố Ðà Nẵng chẳng hạn.

Còn trong Nam thì Tía xí phần một chỗ bèo bèo là chủ tịch một quận nghèo nghèo như quận 12. Nghèo về ngân sách vì là quận vùng ven nhưng đất ruộng còn nhiều vô thiên lủng; cứ việc quy hoạch, giải tỏa, đền bù là vàng và đô la cất đầy tới hàng chục cái ‘mái vú’.

Còn mạt rệp hơn là Sở Kế hoạch và Ðầu tư tỉnh Quảng Nam (cái gì có ‘đầu tư’ là có ‘đầu vô’ hè); giám đốc không phải làm gì ráo chỉ ở nhà chơi ‘chim’.

“Ðút rút” là tình phụ tử trong chế độ CS coi bộ bao la hơn tình phụ tử trong chế độ tư bản. CS thì hy sinh đời bố củng cố đời con. Ăn cắp miết hè. Ăn cắp cha truyền con nối. Tranh giành phe phái quyền lực, lỡ có thua thì nhả ra một chút, cùng lắm là đi tù 31 năm như Ðinh La Thăng. Ðối đế quá thì thắt cổ bằng dây giày trong phòng làm việc như một Ðại tá CA mới đây ở Hà Nội mà thôi. Tù là huề! Chết là hết. Hết đứa nào săm soi túi tiền của ông hồi đang ngồi trên chiếc ghế.

Chỉ có cái khác là thời CS, của thừa kế không phải của Bố mà là của dân ngu khu đen. Còn trong chế độ tư bản của đế quốc Mỹ có nhiều ông giàu ôi hết biết, tiền là của mấy ổng, mà hổng thương con gì ráo.

Như Bill Gates (tài sản 90.2 tỉ đô) chỉ để lại cho con mỗi đứa 10 triệu đô. Còn bao nhiêu đi làm từ thiện.

“Ðể con cái tự thành nhân bằng sức của chính mình hơn là cứ dựa dẫm vào số tiền khổng lồ của Tía!”

“Mua cho thằng ‘cu’ chiếc xe cực sang hẳn nhiên dễ gấp nhiều lần so với việc dạy cho nó biết làm thế nào để có thể tự mua được chiếc xe như vậy!”

Nghe thì cũng có lý. Vì mấy công tử nầy giàu có ở không chỉ ăn chơi tất là làm bậy hè. Xì ke, ma túy gái gú tùm lum tà la như con mấy tay trùm CS thì bỏ bố mình luôn.

***

Nói cho cùng, nếu tui kiếp trước ăn ở đàng hoàng, và theo luật nhân quả, kiếp nầy được đầu thai vô nhà giàu nứt đố đổ vách thì tui cũng đâu có ngu để phá gia chi tử gì đâu.

Có tiền, tui sẽ kiếm một em người mẫu chân dài, xuất sắc trong vai tì nữ, cưới làm vợ, rồi dắt em đi vòng quanh thế giới chơi cho hết cuộc đời… rồi chết. Cuộc đời ngắn ngủi mà. Chơi đi kẻo trễ!

Người ta làm việc để có tiền; có tiền rồi thì ngu sao mà mình làm việc chớ?

Nếu được tiền của Tía mình để lại cũng đã; mà tiền trên trời rớt xuống dưới đất chui lên, tiền của thiên hạ cho còn đã hơn nhiều.

Charles Vance Millar trong di chúc, để lại cho em nào đầu năm sanh con trai, cuối năm sanh con gái. Ðẻ càng nhiều càng có cơ may mà lủm bạc.

Kết quả là: 4 em có 9 đứa con lóc nhóc mỗi em nhận được 125 ngàn đô Mỹ.

Làm đàn ông là phải cảm thông với thân phận đàn bà chín tháng mang nặng đẻ đau, ba năm bú mớm như vậy mới làm người ta cảm động được chớ.

Nhưng đã hơn nữa là Alvin Rosenthal được bà chị mình là Leona Helmsley, “Nữ hoàng keo kiệt” năm 2007 qua đời, trong di chúc cho 10 triệu đô, chỉ có nhiệm vụ duy nhứt là chăm sóc con chó cưng của bả (chú cẩu nầy được hưởng tới 12 triệu đô)

Con chó nầy đâu có biết đếm, biết xài tiền nên lo cho nó chút đi đâu có hao tốn gì nhiều… Ðợi nó hui nhị tì là mình lủm trọn.

Quả nhiên, chỉ 4 năm sau, con ‘Trouble’ nầy theo ông bà ông vải dù được bác sĩ thú y tận tình cứu chữa.

Cụ chó qua đời hưởng thọ 12 tuổi chó (so với tuổi người là 84 tuổi vì một năm chó bằng tới 7 năm người). Chính vì vậy tui mới kêu bằng ‘cụ chó’ đó chớ.

Ông Nguyễn Vỹ từng than rằng nhà văn Việt Nam khổ như chó, (Dog’s life)! Than như vậy là trật lất đó thấy hôn?

Nhưng câu chuyện nầy, kể cho con vợ, tức em yêu nghe mà tui rơi nước mắt vì cảm động… đậy.

Hồi năm 2000, trên đường phố Santa Cruz de la Sierra ở Bolivia, thấy Cảnh sát kiếm mình, Tomas Martinez, 67 tuổi, đã bỏ chạy mất dép vì nghĩ mình sẽ bị bắt vì tội nhậu nhẹt say sưa và ‘từa lưa’ chơi ma túy.

“Chạy đâu vậy cha nội? Em yêu của ông để lại cho ông 6 triệu đô la nè!”

Anh đã bỏ em yêu, băng mình vào nơi gió cát để chơi cho mát Trời ông Ðịa hằng bao nhiêu năm trước mà em không oán trách gì.

Em yêu của tui bĩu môi xì một tiếng dài thườn thượt: “Làm vợ như vậy là ngu! Anh mà hư như vậy là không có một xu!”

***

Dà bà con cho tui xin hỏi: “Bà con mình chịu sanh ra trong một gia đình nghèo tiền nhưng giàu tình yêu; hay hơn là sanh trong một gia đình giàu tiền mà chỉ toàn là bọn điên điên, ruột thịt với nhau mà cứ lăm lăm mần thịt nhau để mà chia gia sản?”

“Rồi quý em mình còn trẻ mà lỡ sanh ra trong một gia đình nghèo mạt rệp thì quý em sẽ làm gì?”

Câu trả lời của tui là: Nếu vậy thì tui sẽ ráng kiếm cho được một em nào nhà thiệt là giàu. Ai nói: “Thực lộc chi thê như cá trê…” Thì thây kệ họ chớ.

Ðời mà: Cứ phẻ re như con bò (hổng phải) kéo xe là tui chịu hè! Có một em Úc nầy cư xử cũng giống hịt như tui đó thôi.

Chuyện rằng: Johnny trẻ, nghèo, mắc cái eo nên chưa vợ. Thình lình được ông Nội mình, già cúp bình thiếc, mới biết nghĩ tới bà con nên hứa để lại cho Johnny 50 triệu đô khi chết.

Ôi vui mừng vui hết biết nên Johnny đi nhậu để tìm ý trung nhân. Sau một tuần nhậu nhẹt tơi bời, chú chấm được một em có đôi môi mọng và gò bồng đảo hỏa diệm sơn như nữ tài tử Brigitte Bardot năm 17 tuổi.

“Ðừng thấy anh phèn, lèn èn mà tưởng anh hèn. Chỉ cần ông Nội chết là anh được thừa kế 50 triệu đô trong ngân hàng và cái lâu đài số 13 đường Toorak, khu giàu nhứt Melbourne nầy!”

Tuần lễ sau nữa, Johnny ghé tạt ngang coi ông Nội mình có bán muối chưa thì được ông Nội dắt vào phòng khách rót cho một ly rượu chát, giá tới 3,000 đô một chai, rồi bấm chuông kêu tì nữ dọn một dĩa tôm hùm lên để đưa cay.

Thì lạ thay người con gái yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu nầy giống hệt em mình đã từng gặp trong quán rượu tuần rồi.

“Nè! Johnny! Chào bà Nội đi con!” 

Tranh Bảo Huân

Bóng hồng trên sân cỏ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 17/06/2019 

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

Không bận tâm ngày Phụ Nữ Quốc Tế đã qua hay chưa tới? Đang tháng 6, lịch in ngày 16 là Father’s Day. Làm cha, ai cũng ít nhiều gặt hái hạnh phúc. Tôi không ngoại lệ, cậu con út âm thầm “đi đêm”, ký hợp đồng với đài TSN để bảo chúng trực tiếp truyền hình toàn bộ các trận đấu Fifa Women’s World Cup 2019 cho bố ngồi mát mà rửa mắt cảnh đờn bà so giày hì hục nguyên tháng. Ngày lễ cha mà được ngắm các loài kỳ hoa dị thảo trên thế giới về khoe sắc, toàn thân ướt đẫm mồ hôi việc vờn bóng kéo áo giật quần tại mọi đấu trường ở Pháp, há chẳng đã con mắt sao? Cho bố cảm ơn con một tiếng gọi là… trọn đạo làm cha (con lo cho tròn chữ hiếu chí ít cũng bằng trái banh da Adidas). Và cha hoài nghi có phải là con đưa ra đấu pháp muốn cột chân cha tại gia, chẳng cho ổng vui chân mò đi xem “đánh ba” ở những tụ điểm bia không ôm rậm rật gái xinh ở khu tiểu Ý Đại Lợi mãi rù quến?

Vì tranh tài có tầm mức quốc tế, bốn năm mới tổ chức một lần nên có mang chuông đi đánh xứ người buộc mỗi quốc gia phải dành nhiều thời gian sàng lọc hòng lựa ra 11 cái chuông có tiếng ngân trong trẻo lắm nội lực để vang vọng ra xa. (Tiếng chuông Thiên Mụ thì muôn đời vẫn rè, tiếng đục muộn phiền, yếu hơi trong khu vực và cái băng vải đỏ chữ vàng “Việt Nam Vô Địch” vô cớ chít trên đầu tựa vòng kim cô, mê muội đi bão rần rần cùng nồi niêu soong chảo móp méo, tất thảy chỉ nhằm đệm vào tiếng ru trẻ con bởi chúng vẫn thích nghe kể chuyện hoang đường Nghìn Lẻ Một Đêm. Đêm xứ mình vốn chôn nhiều bóng tối).

Nếu khẩu hiệu mà FIFA luôn đề ra (giăng đầy các sân vận động có sức chứa tối thiểu 10.000 người) là “Nói không với tệ nạn kỳ thị” thì đội tuyển Anh, đáng yêu ở chỗ, các cô nàng mỗi người cầm tay một tấm bìa đỏ có ghi hàng chữ trắng “Hãy trao cho những kẻ phân biệt chủng tộc cái thẻ đỏ”. Luật đá banh hay soccer (Bắc Mỹ gọi thế) hay football ghi rõ: Trọng tài đưa thẻ vàng lên nhằm cảnh cáo lần đầu khi cầu thủ vi phạm lỗi khó dung thứ. Bị dính hai lần thẻ vàng, trọng tài bèn rút ngay ra cái thẻ đỏ. Người nào không có tinh thần thể thao, chơi xấu kiểu một còn một mất thì kẻ ấy kinh qua thẻ vàng, nhận trực tiếp cái thẻ đỏ, bị đuổi ra khỏi sân gầm mặt xấu xa đi khuất mắt. Như vậy, kỳ thị chủng tộc là một tội trạng nặng nề khó chấp nhận, khó dung thứ, nhất là ở cuộc đọ sức trong các bộ môn thể thao. Đội tuyển bóng tròn nữ vương quốc Anh khi đưa hình ảnh đó ra, động lực ban đầu có thể xuất phát ở ngay thành phố London, nơi vừa xẩy ra một tấn tuồng bạo lực mà lắm kẻ đã ví “thảm kịch này chỉ có vào thế kỷ 17”. Chuyện là cô Melania Gaymonat 28 tuổi hẹn hò cùng bạn Chris. Hai phụ nữ đồng tính (lesbian) đêm 30 tháng 5 đi xe buýt trong nội thành Luân Đôn để tới Camden Town, lên tầng hai kiếm chỗ ngồi và họ biểu tỏ cảm tình bằng những nụ hôn cho nhau, cuống quít, say đắm. Một đám thanh niên 5 tên khoảng tuổi 16 đã vây lấy họ, dùng những lời lẽ tồi tệ đậm chất đường phố, đòi hai cô kia phải tái diễn cảnh tình tứ cho chúng xem. Một trong hai cô đã bị chúng thượng cẳng chân hạ cẳng tay một hồi, náo loạn xẩy tới và chúng rút đi. Nạn nhân, Melania đưa hình khuôn mặt đầy máu của mình lên Facebook: “Chúng tôi luôn bị đón nhận những ánh mắt kỳ thị, nhưng đây là lần đầu “người ta” đã bày tỏ trực tiếp cái thái độ thiếu văn hoá. Thật đớn đau…”. Thị trưởng Luân Đôn đã rất phẫn nộ, ông gọi đó là cuộc tấn công đầy bệnh hoạn và khó dung thứ. (Tin từ BBC).

Tôi ghét những kẻ kỳ thị chủng tộc, giới tính, màu da (không phải do tôi có da vàng). Tôi yêu đoá hồng Estelle Johnson 30 tuổi, hậu vệ khoác áo số 6 của tuyển Cameroon đa phần da màu cà phê nâu bóng. Nhìn qua đoàn cầu thủ Jamaica (cũng cột nhà cháy di động) xui khiến xiêu lòng trong phút giây với nhan sắc của thủ môn Sydney Schneider tuổi chỉ 19. Chân dài đúng nghĩa, thể hình thon gọn, mặt thanh tú làm tối sầm cả cầu môn. Khi đối phương dâng lên, Italy vừa thắng 5-0 chiều ngày 14 tháng 6 chẳng hạn, Schneider rõ là “cánh hoa trong thời loạn”, quay như vụ, một mình nàng dương đông kích tây khi gặp bão tố trong khung thành. Nhà dìu dắt, ông huấn luyện viên (coach) ngồi bên mép rìa sân cỏ mặt sầu khổ chảy dài. Ông mang tên thật “dễ thương”: Hue Menzies. Ông hoá thân là Huế từng chịu qua lắm phen bầm dập, sụp đổ thành quách rêu phong.

Tôi cũng không say máu thù hằn kiểu nhược tiểu thì đâm oán hận đại gia phương Bắc. Hãy khách quan mà nhìn nhận nhà nước Trung Quốc đã bất ngờ góp mặt ở giải tranh tài thế giới hôm nay bằng một đội tuyển có bản lãnh chia đều cả ba tuyến: Phòng thủ, tiếp ứng và tấn công. Tuy mặt mày chả “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, có một hai cầu thủ nom như đàn ông cải trang, nhưng các nàng ngoạ hổ tàng long Trung Quốc đá rất có nét, có bài bản, mỗi cầu thủ phải làm tốt vai trò của mình; tuy vậy mộng bá vương muốn thu giang san về một mối là điều bất khả. Họ có thể đá thắng tuyển Nam Hàn nhưng e không qua lọt cửa ải có mấy nàng phù tang Nhật Bản chận đầu (không đứng chung một bảng). Kung-fu của đám con cháu Tập Cận Bình, khả năng đặt được chân vào vòng 16 rất mong manh, sớm cuốn cờ về lại Vạn Lý trường thành không kèn không trống.

Điều khó mường tượng nổi là lực lượng cổ động viên Tung-cọt từ đâu ra mà lắm thế, ngàn dặm hẹn hò tới ngồi lố nhố đông chật khán trường (giai cấp giàu có đâu mà đông vãi, vật giá bên Pháp đắc đỏ lắm mờ, rõ là chúng tiền nhiều như quân Nguyên). Cũng ngập tràn sắc đỏ, cũng la hét vang rân nhưng họ “tử tế” hơn người Việt ở chỗ họ không bê vác theo hình ảnh lãnh tụ đã chết vào trong khán trường hòng nhát ma đối thủ.

Tôi cũng thương cảm cho đội tuyển Thái Lan non yếu về mọi mặt, thể lực cũng như kỹ thuật, đã để cho USA “dội bom trải thảm” những 13 bàn thắng chẳng vị tình kẻ chân ướt chân ráo vừa tới làm quen môn túc cầu. Bóng hồng Thái Lan đúng là hiền lành công dung ngôn hạnh vượt mức quy định, họ chạy đuổi theo trái banh với tất cả nữ tính lộ ra. Ngại va chạm, không mang quyết tâm xương máu như Tàu và như vậy, họ chẳng phạm một lỗi lầm nào cả. Rất con nhà Phật, khi thay người, họ chắp tay trước ngực cúi đầu chào nhau. Tỷ số 13-0 chẳng làm họ bực tức giận dỗi, nóng mặt tủi hổ bởi họ hiểu ra điều cơ bản “biết người biết ta”. (Theo bảng sắp hạng của FIFA, Thái Lan đứng thứ 34). Trước trận đấu, hãy nhìn họ hướng mắt tới lá quốc kỳ và khi bài quốc ca trổi lên, một vài tuyển thủ đã không ngăn được dòng lệ thoát, thổn thức trong vinh dự, những giọt nước mắt hân hoan chảy đẫm khuôn mặt ngời sáng đang cố cất cao đầu. Đừng mơ những điều xa vời, khi Em ưỡn ngực ra đứng sát cánh cùng đồng đội, cả thế giới sẽ không quên gương mặt em, chừng đó không đủ để cảm thấy hạnh phúc sao? Hãy khoan đại ngôn rằng tôi nguyện chết dưới màu cờ sắc áo. Đôi chân em đang dẫm lên sân cỏ ở mọi vận động trường trên đất Pháp, chừng đó cũng đủ để thắp sáng trong lòng một niềm tin. Rồi em sẽ “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, em được mở mắt, em nhẫm thầm “ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần”. Trong khu vực, những nước láng giếng đã ganh ghét cái dại em mang, đám con cháu của Phù Đổng thiên vương chẳng hạn. Bọn người này không quen xỏ giày đi xa, lại nữa chúng đào đâu ra tới 5 đô-la US để đóng “phí chia tay” cho nhà nước! Nếu được “số phận mỉm cười”, bầu đoàn sang tới kinh thành ánh sáng với hộ chiếu ma-dzê in Việt Nam, họ có cơ hội pạt-lê phờ-răng-xe nhằm mô tả đội thực dân chủ nhà: Bớp mè pa bớp, luỹ gầm luỹ gừ, luỹ măng-rê moa luỹ măng-rê toa luỹ măng-rê tút. Nôm na là La Vache qui rit? Có phải đằng ấy thích xơi phô-mai nhãn con bò cười? Bọn tớ đang cười bể bụng đây.

Kết thúc trận đấu giữa Mỹ- Thái Lan, người ta không ngớt ca ngợi tiền đạo xinh gái Alex Morgan áo số 13. 29 tuổi, một mình ghi tới 5 bàn. Thực sự, công lớn giúp đội tuyển Mỹ gặt hái thành công hôm đó đều nhờ vào sự năng động của cô hậu vệ trái mang áo số 19, Crystal Dunn, 26 tuổi người da màu. Vai trò hậu vệ, Dunn có tầm mắt chiến thuật bao quát do vậy có khi cô bao luôn vai trung phong, cô dẫn banh lên lấn đất, đã tạo ra những đường chuyền thông minh hiểm hóc khiến đối phương không kịp trở chân trở tay, giúp hàng tiền đạo thoải mái đá tung lưới. Dunn chính là một ngôi sao ẩn mặt trong đội tuyển. Người Mỹ đã từng nói cho nhau nghe: Nếu không có bóng tối làm sao bạn trông rõ những vì sao. Điều đó chẳng sai, nhưng khi đã thốt ra, nó khiến ta băn khoăn về những trường hợp cá biệt, rằng lắm khi sao vẫn hiện mọc giữa trời quang mây tạnh. Tuyển Mỹ đa số đều lớn tuổi, như tiền đạo số 10 Carli Lloyd đã 36, lứa đàn em chỉ có duy Mallory Pugh áo số 2 là sáng giá, cô đang vào tuổi 21 vàng son.

Kinh nghiệm và tuổi tác luôn là nỗi băn khoăn của nhà dìu dắt. Giàu kinh nghiệm thì đôi chân xem chừng đã yếu, ngược lại khi bạn là ngựa non háu đá bạn thường vấp phải lắm sai lầm. Ở mùa giải này, người già tuổi nhất là trung phong Formiga áo số 8 của đội tuyển Brazil, 41 tuổi. Trẻ nhất là trung phong Lena Oberdorf áo số 6 của đội tuyển Đức, 17 tuổi. Hai đội tuyển trẻ trung nhất là Chile và Spain, bình quân, san qua sớt lại tuổi họ chừng 24. Xét về nhan sắc thì Norway, Scotland, Spain, Netherlands, Sweden, Italy, New Zealand là những đội banh sở hữu nhiều bóng hồng nhất. 11 người ra sân thì có đến 4 khuôn mặt đẹp, dễ gây thiện cảm (không bàn tới thể hình có ba vòng khó kiểm chứng).

Tôi định cư ở Canada, lối suy nghĩ của tôi khác mấy người bạn sống tại Úc, tại Anh, tại Mỹ, tại Pháp, tại Đức. Đó là những ông bạn luôn đề cao tới vùng đất đang cưu mang mình, dĩ nhiên họ nhiệt tình tán dương đội bóng nữ của quốc gia đang thi đấu, thay vì “Việt Nam vô địch” thì đèn nhà ai nhà ấy sáng, Úc vô địch, Anh vô địch, Pháp vô địch, Mỹ vô địch, Đức vô địch. Họ nuôi một lòng tin và cứng đầu bảo vệ cho thứ dự đoán đầy cảm tính ấy.

Tôi rất mực yêu thương Canada, nhưng ở bộ môn bóng tròn, tuyển nhà vẫn chưa đào tạo ra những chân sút ấn tượng, các “vua làm bàn” cỡ như thủ quân tiền đạo áo số 12 Christine Sinclair đang sa sút vì cô đã 36 tuổi. Hàng công chỉ vin nhờ vào đôi chân tài năng của cô Janine Beckie đẹp gái áo số 16 chạy cánh trái dũng mãnh xông xáo tuổi vừa 24. So với thế giới, tôi e là Canada khó qua được các đối thủ mạnh (có truyền thống) cỡ như Sweden, France, Germany, England, Netherlands, USA. Hiện tại họ mang quyết tâm tệ lắm phải vào vòng loại 16, những gì xảy tới sau đó còn trông chờ vào sự rủi may.

Nhìn chung, có sự khác biệt dễ nhận thấy về cách chơi giữa nam và nữ. Tuy cũng được đào tạo từ các câu lạc bộ nổi tiếng, đa số ở Anh, Ý, Tây Ban Nha giống bên nam, nhưng những bóng hồng có thói quen là hễ thấy trái banh lăn tới đâu là đâm đầu chạy lại gần, co cụm chen lấn xô đẩy hòng chiếm đoạt lấy. Có thay đổi đấu pháp, khi thì 5-4-1 thủ nhiều hơn công, lúc thì 4-5-1, lại có lần 4-3-3 hoặc 4-2-4, nhưng khi ra sân lâm trận, các đội banh nữ thường bỏ quên vai trò không chịu dàn trải đội hình ra, lớn tiếng kêu gọi nhắc nhở nhau, ơi ới náo nhiệt gây nên cuộc hý trường. Rất đàn bà con gái, hở tí là sửa tóc sửa tai, lau chùi má hoen mặt phấn, móng tay vẫn bôi sơn đỏ, thỉnh thoảng nhìn lên màn hình rộng để phát hiện ảnh hình mình xem có đặng không, môi hồng nở nụ cười vu vơ.

Cho đến giờ phút hiện tại, tạm đứng đầu 6 bảng là những đội banh:

Groups A: Pháp.
Groups B: Đức.
Groups C: Ý.
Groups D: Anh.
Groups E: Hoà Lan (Canada cũng 6 điểm nhưng vì ghi ít bàn thắng, chịu đứng sau).
Groups F: Mỹ.

Mùa giải 2019 sôi động hơn những mùa xưa cũ vì đa số các đội đều tuyển được một vài cầu thủ trẻ đầy tài năng. Tôi thử so sánh là mỗi khi họ sử dụng đội hình 4-3-3, đấu pháp đó mang lại kết quả rõ rệt. Những đội đứng đầu 6 bảng vẫn áp dụng sơ đồ ấy. Đường còn dài, có thể họ sẽ bị vuột mất, đánh rơi vị trí nhưng dẫu sao họ đã chứng minh ngay từ khi nhập cuộc về tài nghệ họ thủ đắc, từng hun đúc và tựu thành trong gian khó.

Em mang bóng lấn đường vôi
trắng da dài tóc banh nhồi một hai
cỏ vùng cấm địa chưa phai
những là xơ xác chân ai dẫm bừa
thu tay kẻo bạn đổ thừa
chạm vào oan nghiệt còi vừa ré lên
mồ hôi đổ chấm phạt đền
lạnh lùng chân sút vang rền lưới tung.

Tôi ghét nạn kỳ thị nhưng thú thật tôi chẳng có mấy tinh thần thể thao khi xem các bóng hồng chạy trên sân cỏ. Cầm lòng không đậu U-60 cũng để trí óc đi hoang, mong được làm cầu thủ Bồn Lừa (nhân vật trong truyện của nhà văn Duyên Anh), thiết tha gì quả banh da ấy, sở dĩ ta đổ mồ hôi cũng chỉ vì ham đuổi bướm vờn hoa thôi, có phơi áo cũng hả dạ, có chấn thương hai bàn tay cũng là… chuyện nhỏ.

Nghe đâu đây vừa có tiếng la ó vọng về.

Hồ Đình Nghiêm

Đường chinh chiến

Trung Hậu

Phạm Tín An Ninh    

March 9, 2022    

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

(Đây là bút ký của một chiến binh thực thụ thuộc đơn vị thiện chiến nhất của QLVNCH, với ngòi bút sắc sảo, trí nhớ phong phú, diễn tả trung trực và sống động. Xin phép được giới thiệu đến bạn đọc)

Lời mở: Ba năm trong một đời người có thể không lâu nhưng theo bước chân của người đi chinh chiến thì dài và sâu vô hạn. Có dài hơn chăng là đêm dài đợi chờ của những người mẹ già những người vợ trẻ. Có sâu hơn chăng là ánh mắt xuyên đêm của người lính khinh binh trong giờ chờ giặc tới.
Hắn cố gắng viết để ghi lại chặng đường đã qua với cái nhìn của người lính thấp nhất để không bao giờ quên bao nhiêu máu xương của đồng đội, nhất là những người sống chưa qua tới tuổi hai mươi. Hắn cầu mong không làm buồn lòng người đã chết.

Khối Bổ Sung

Mãn khóa Dù 276, hắn được đưa về Khối Bổ Sung Sư Đoàn Nhảy Dù, chờ ngày đi tăng cường hành quân Quảng Trị. Có dịp hắn mua thêm một bộ đồ Dù và gửi thư và kèm theo tấm bằng Dù về nhà ở Huế. Hắn nhớ niềm vui lúc được Huấn Luyện Viên Nhảy Dù trao bằng và gắn cánh hoa Dù trên ngực áo.
Một buổi sáng trong tuần lễ cuối tháng chín, bốn chiếc GMC đưa bọn hắn ra phi trường Tân Sơn Nhất. Buổi sáng có mưa bay lất phất, đoàn xe vừa ra đến vòng đai phi trường thì một người lính nào đó cất cao giọng hát: “Cờ bay cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu…” rồi từ những chiếc xe đưa người ra trận tất cả đồng hát lên… “Quảng Trị ơi chào quê hương giải phóng…”
Mặt hắn nóng bừng với niềm hãnh diện vô biên.

(Nhảy Dù chuẩn bị Không vận ra chiến tuyến)

Đoàn xe về tiền trạm tiểu đoàn (ở Phong Điền gần Cây Số 17) chạy ngang An Cựu, ra đường Lê Lợi, qua cầu Nguyễn Hoàng. Nhìn thấy cửa Thượng Tứ hắn nhớ nhà vô hạn. Chắc lúc này gia đình ba mạ anh em hắn đã về lại cư xá Xã Tắc trong Thành Nội. Đứa em vắn số nằm lại ở Gò Cà bên ngoài vòng đai thành phố Đà Nẵng.
Xe ngang Văn Xá, thằng Oanh thằng Kiểu trườn ra thanh xe nói “xóm nhà tụi tao sau hàng tre cao đó.”

La Vang

Đường ra vị trí đơn vị bắt đầu từ cầu Mỹ Chánh. Đây cũng là điểm cuối của Đại Lộ Kinh Hoàng. Hai bên quốc lộ qua hết cả mùa hè còn đầy dấu vết tang thương. Đất cát còn nhuộm màu máu của ngươi dân Quảng Trị. Những gồng gánh, bao bì, bếp núc tang hoang bên xác người chưa được mang về chôn cất.Đám linh mới cúi đầu cầu nguyện và chửi thề…”mẹ, tụi nó tàn nhẫn thiệt.”
Về đến nhà thờ La Vang, trong lúc chờ xe M113 đến đưa ra tuyến của đại đội, đám tân binh được cho phép vào bên trong thánh đường cầu nguyện. Thánh đường đổ nát hết chỉ còn bức tường mặt trước còn đứng vững. Các tượng Thánh hai bên lối vào cửa Vương Cung cũng sập đổ, có vài tượng bị cắt ngang đầu.
Có ai đó nhắc cho hắn biết “chổ này có nhiều bom bi lắm… đừng đi lạng quạng”,

(Trận chiến Quảng Trị 1972)

Thường Vụ đại đội 92 Trung Sĩ Nhất Hoàng Văn Châu đón đoàn tiếp tế và tân binh ở bãi đậu M113. Anh Châu ra dấu cho tất cả giữ yên lặng và giải toán lẹ làng trước khi trời tối. Hắn và Kiểu về trung đội 1; Minh đi trung đội 2; Oanh ra trung đội 3; Phan Đoài ở lại trung đội 4.
Sáng hôm sau hắn đi làm ba chỉ gác đấu đời binh nghiệp. Ngồi cong lưng giữa bụi sim già nhìn ra đồi núi hoang vu hắn thật sự không biết làm gì và sử sự ra sao khi có chuyện. Trái tim trong lồng ngực đập thình thịch khi gió Lào lung lay những cành lá nhỏ. Vừa gác vừa cầu nguyện, phiên gác ba tiếng đồng dài tưởng như không bao giờ dứt.
Hầu như ngày nào đơn vị cũng ăn pháo ngày hai ba bữa nên dần dà hắn cũng kinh nghiệm và đỡ sợ hơn. Thường thường pháo 130 ly hoặc 122 ly tuy âm thanh dữ dội cọng thêm tiếng hú kinh hoàng nhưng ít chính xác. Pháo cối 82 ly mới là đáng sợ, và làm gì sau cơn pháo 82 ly tụi Sao Vàng cũng nhào vô.
Buổi chiều mấy ngày sau đó, khi hắn đang sắp sửa xong ca gác thì hàng loạt 122 ly từ bên kia Thạch Hãn ào xuống vị trí các đại đội thuộc Tiểu Đoàn 9. Hắn co giò chạy về hầm trú ẩn khi một quả 122 xé không gian hú xuống trên đầu hắn. Tiếng nổ làm hắn ù tai đất đỏ tung bay tứ phía nhưng hắn không sao cả.
Hắn cà nhắc theo toán tản thương ra bộ chỉ huy tiểu đoàn. Thường lệ thì bác sĩ Tín săn sóc cho thương binh và tùy theo vết thương nặng nhẹ cho di tản (và chắc chắn là hắn sẽ ở lại tiểu đoàn để điều trị,) nhưng hôm đó không biết sao chỉ có Minh Y tá. Minh Y Tá lau vết thương, băng lại rồi viết giấy tờ cho hắn di tản về bệnh viện dã chiến ở Phú Bài.
Sáng sớm hôm sau ba hắn ra tận Phong Điền thăm hắn. Nhìn vết thương ba hắn mới yên tâm, “mạ con lo quá…”
Một buổi chiều hắn đi chơi với Việt, thằng em trai, trên đường Trần Hưng Đạo thì bị xe Thiếu Úy Hồi chận lại. Nhìn huy hiệu sư tử đỏ trên vai là biết lính đại đội 92 liền. Năn nỉ cho về nhà lấy hành trang không xong, hắn bị thẩy lên xe ra tiền trạm và thẩy ra lại vùng hành quân.
Gần chiều tối, hắn về trình diện đại đội gặp đại đội trưởng, đích thân Tường Vi, lần đầu tiên. Tưởng bị ăn đòn thêm một lần nữa nhưng Tường Vi chỉ nhìn nó từ đầu đến chân nói “thôi nghe mày” rồi tha cho về trung đội 2, đi theo Trần Huấn.
Sau này nhiều lúc nhớ về đích thân Tường Vi hắn thấy Tường Vi không khác gì Captain John Miller trong phim Saving Private Ryan, một sĩ quan được hạ cấp kính nể và thương mến.

Đêm Nhìn Đồi Đỏ Cháy

Về trung đội 2, hắn thuộc vào tổ khinh binh, trong đó có Ninh có Liệu. Thằng Minh bạn hắn lúc đó mang máy truyền tin cho Trần Huấn.
Đây cũng là thời gian hắn trưởng thành và già dặn trong trận mạc. Mỗi ngày hắn có thêm kinh nghiệm đào hầm hố cá nhân, canh gác, nấu ăn, định hướng đường đi nước bước. Hắn học hỏi kỹ thuật phòng tuyến, gài lựu đạn, và gắn mìn claymore. So với lúc vừa chân ướt chân ráo về đơn vị, hắn đổi khác quá nhiều. Chuyện học hành cho xong bậc trung học trở thành chuyện của giấc mơ. Hai cuốn sách toán và lý hóa nằm trong ba lô biết bao lâu rồi chưa mở lại
Quần thảo mấy lần như vậy cho đến sau bốn giờ sáng, đặc công Sao Vàng, không dứt điểm được chốt Nhảy Dù, bèn kéo nhau đi. Trung đội 2 có 2 rách áo, trong đó có Minh. Trần Huấn nhìn hắn và chỉ tay nói “chừ mi mang máy cho tao.”
Tháng mười một mười hai là thời gian mút mùa lệ thủy đánh đấm lia chia trước ngày ngưng bắn (Hiệp Định Ba Lê). Ngày nào cũng đi tấp chốt, đào hầm hố, tiếp tế, tản thương vòng đi vòng lại. Quần áo và poncho lúc nào cũng ướt lạnh. Đôi giày thì năm khi mười họa mới được cởi ra; hạnh phúc nhất là được thay đôi vớ khô, mới giặt.
Người dân thành phố chắc không bao giờ tưởng tượng ra người lính Nhảy Dù hàng binh sĩ làm việc ra sao. Quần quật hùng hục cả ngày. Chen vào trong sáu giờ gác là thời gian tranh thủ lo đào hầm đào hố, lo nấu ăn, lo đi tiếp tế, và cơ khổ nhất là tản thương đồng đội. Nhiều khi chưa nhắm được mắt cho tròn giấc ngủ thì lại có lệnh zulu, đi tấp tiếp. Có ai biết ba lô lính, một cây súng M16 và 500 viên đạn, nón sắt, giây ba chạc, 8 trái lựu đạn, cuốc xẻng, bốn ngày lương thực, một thùng đạn M60 và một cây M72 nặng đến chừng nào?
Trên đường chinh chiến nhiều khi gặp bạn đôi khi gặp thù. Với hắn một ngày khó quên là khi trung đội 2 bắt làm tù binh hai non choẹt trên một ngọn đồi không tên, cách đồi đỏ chừng hai cay số. Hắn nhớ một thằng bộ đội Sao Vàng Trần Sĩ Hùng giơ tay đầu hàng khi Nguyễn Liệu dí khẩu M16 vào trán nó.
Thằng tù binh run lẫy bẩy nhưng khi biết mình không chết thì nó trở nên láu lắm. Trần Huấn giao cho hắn giữ tù binh Trần Sĩ Hùng khi trung đội bung ra thanh toan chiến trường. Lần đầu tiên đối mặt kẻ thù hắn thấy trong lòng có nhiều khúc mắc. Chẳng trói chẳng cột chi, thằng tù binh ngồi trước mặt chắc tuổi bằng em gái nó, trông hiền lành và chẳng có gì căm căm thù hận. Vậy thì ai gây ra cảnh tan nát điêu linh trên đại lộ kinh hoàng? Ai gây tang thương trên thành phố Huế trong những ngày Tết Mậu Thân?
Tù binh bắt đầu kể lể đủ thứ, xong rồi tù binh xin được thả cho nó bơi qua sông Ba Lòng về bắc. Cuối cùng tù binh chỉa thuốc lá, “thuốc lá thơm qua anh, mình hút điếu nữa nghe anh nhé.”
Sau đó không bao lâu là ngày N, trung đội 2 nhận lệnh đi tấp một vị trí quan trọng có tên giản dị là Đồi Đỏ. Đồi Đỏ, cách bờ sông Thạch Hãn vài ba trăm thước, từ đó có thể nhìn thẳng ra sông Thạch Hãn, và có thể từ đó quan sát được những vị trí depart và di chuyển của Sao Vàng phía bên kia sông.
Ba giờ chiều Trần Huấn dẫn con cái về gặp Tường Vi ở dưới chân đồi vị trí đại đội. Tường Vi gầy hẳn, hai gò má hóp xuống, hút thuốc liên miên (không biết từ khi nào, cấp chỉ huy tiểu đoàn hay gọi Tường Vi là Tường Ruby Quân Tiếp Vụ, lấy bản đồ ra chấm cho Trần Huấn những vị trí quan trọng chung quanh Đồi Đỏ. Hình như Tường Vi có nhận ra hắn vì cái đầu trọc còn nguyên vẹn lắm “thay cục pin mới trước khi đi.”
Từ vị trí đại đội, trung đội 2 zulu theo hướng 9 giờ, bọc quanh những khe đồi nhỏ rồi nhắm hướng Tango. Chưa được nửa cây số thì toán khinh binh nổ súng và lựu đạn bung ra. Thêm vào đó là mấy tràng AKs và xì ầm của B40. Bương theo dấu chân Trần Huấn, hắn thấy trong khóe mắt Nguyễn Liệu ria một tràng M16 vào một bóng áo xanh cứt ngựa đang cố len lỏi vào bụi sim già ven khe đồi vách núi. Thì ra chỉ là một chốt nhỏ Sao Vàng bung ra để làm khó dễ Nhảy Dù.
Thanh toán chốt nhí xong, trung đội hai, thay vì tiếp tục đi nhắm về Tango, phải quay lại với “mẹ cha” để trang bị lại. Tường Vi nhìn hắn đi cà nhắc bỗng nhiên đổi ý, ra lệnh Thường Vụ Châu cho người thay thế hắn. Hạ Sĩ Hồng (người tổ trưởng trong trung đội một cũ) chạy ra mang máy PRC-25 đi theo trung đội hai, chìm vào bóng chiều đêm Quảng Trị.
Hắn ngồi xuống giữa chân đồi nghiến răng cởi đôi giày. Hai bàn chân của hắn sưng vù như hai trái dưa gan; những ngón cái tím đen và gần như sứt móng. Y tá Minh rắc thuốc bột vào kẽ chân và bó băng cho hắn. Thường Vụ Châu nói hắn ra nằm chung hố với một thằng khác cũng đang bị sưng chân.Màn đêm buông xuống không lâu thi Đồi Đỏ cháy rực lên trong ầm ỳ tiếng pháo binh từ Hải Lăng bắn tới, và cối 82ly bên kia Thạch Hãn câu qua. Sau đó là tiếng súng nhỏ và tiếng lựu đạn cùng ánh lửa xanh lập lòe của B40. Từ chổ ngồi trong hố chiến đấu hắn nghe tiếng Tường Vi đang điều chỉnh pháo binh. Lâu lâu tiếng súng và tiếng đạn pháo bùng lên rồi yên lặng xuống. Cứ như vậy Nhảy Dù và Sao Vàng quần thảo nhau cho gần đến sáng. Từ hố chiến đấu cá nhân hắn thao thức nhìn về Đồi Đỏ nóng lòng cho trung đội hai. Hắn nghĩ đến từng đồng đội, Trần Huấn, Hồng, Ninh, Liệu, Luân, Hồ,… đang chọi mặt tử thần trong bóng tối ngoài kia.
Khi trời sáng Thương Vụ Châu dẫn hầu hết thành phần trung đội 4 mang poncho và băng ca đi về Đồi Đỏ tản thương. Sau cả đêm giành giật Đồi Đỏ cũng chưa thuộc về tay ai. Một nửa đồi Sao Vàng thủ; một nửa đồi Nhảy Dù nắm. Cả trung đội 2 chỉ còn bốn năm người lành lặn. Trần Huấn, Hồng và hai đồng đội nửa 703 (trong Nhảy Dù, lúc nào mà các con số cọng lại thành mười, tức là bù, tức là never never good).
Thường Vụ Châu kể lại là toán tản thương phải bò sát đất lên đồi trọc, kéo trung đội hai về bằng từng thước một. Ló đầu là bị bắn sẽ liền. Ba tiếng đồng hồ sau toán tản thương mới về lại dưới chân đồi đóng quân của bộ chỉ huy đại đội.
Hắn đi xuống nhìn đồng đội mà bàng hoàng. Trần Huân và Hồng ra đi không có chi sứt mẻ. Trần Huấn nằm quay mặt ngang, đất đỏ và máu dính đầy áo trận; vẫn còn khăn len quàng cổ. Nhìn Hồng nhắm mắt ngủ yên, hắn rùng mình tin vào số phận.
Chẳng khi nào hắn quên được Trần Huấn và kỷ niệm của những ngày đêm nằm chung trong hầm chiến đấu, chia nhau hớp cà phê và rít vài hơi thuốc lá. Trần Huấn kể cho hắn nghe những kỷ niệm của những tháng ngày sinh ra và lớn lên rong chơi bên Vĩ Dạ, trong thành phố Huế. Và những ước mơ đơn giản của một tương lai sau chiến tranh.
Có lần nó đọc trong đâu đó một lời nói đại ý như thế này: “cuộc đời phần lớn đầy rẫy chuyện bất công; những thằng giỏi là những thằng hay chết trước.”
Những ngày sau, Sao Vàng bỏ Đôi Đỏ vì đường tiếp tế của bắc quân bên kia Thạch Hãn bị B-52 cày nát. Đêm nào có B-52 dội là đêm đó hai bên nằm yên không đánh đấm.
Đầu tháng một năm 1973, tiểu đoàn 9 được rút ra khỏi mặt trận, kéo về đóng quân gần căn cứ Lữ Đoàn I ở thôn Văn Xá, chỉ vài cây số phía bắc bên ngoài thành phố Huế.
Chiến dịch tái chiếm Thành Phố Quảng Trị đến giai đoạn này được coi như kết thúc. Sư đoàn Nhảy Dù dậm chân tại chỗ chờ lãnh trách nhiệm mới.
Thời gian ở Văn Xá thật là thoải mái, mỗi ngày hắn được đi tắm giếng có xà bông thơm và ngồi phơi chân giữa nắng. Đôi bàn chân của hắn đã hoàn toàn lành lặn.
Đường từ Văn Xá về nhà hắn trong Thành Nội Huế không có bao xa. Có thoáng chốc nó muốn xin phép Tường Vi về thăm nhà một hai ngày mà không dám.
Một hôm Lê Bê (Hạ Sĩ Nhất âm thoại viên đại đội), người xứ Huế, được đi phép bốn ngày. Lúc đó Hạ Sĩ Nhất Phạm Tăng Thọ, cũng là người xứ Huế, là âm thoại viên chính, mang máy tiểu đoàn. Tường Vi nói hắn về mang máy tạm thời cho đại đội.
Khi về mang máy cho đại đội hắn khám phá ra bản thân có một năng khiếu trời cho: một trí nhớ khác thường. Hắn nhớ hết bản số mật mã truyền tin của đại đội và tiểu đoàn, nhớ từng số quân, số súng, quê quán, tên cha mẹ của mỗi người trong đơn vị. Nhờ trí nhớ này, hắn làm việc rất nhanh chóng, mật hóa và khai hóa những lệnh lạc trong tích tắc không cần phải tra bản mật mã trong đêm tối. Dần dà hắn nổi tiếng là một âm thoại viên nhớ dai nhất của tiểu đoàn. Tường Vi cũng tỏ ra tin tưởng hắn vì hắn có một sổ khả năng anh ngữ, có thể hiểu những mật lệnh bằng Anh ngữ từ các Cố Vấn Mỹ của tiểu đoàn.
Mang máy truyền tin cho đại đội tuy phải trực máy 24/24 nhưng không phải đi khinh binh hoăc tải thương ngoài mỗi ngày sáu giờ canh gác. Và thực ra mang máy, dầu không ai nói thẳng nhưng cũng biết, là “thọ” hơn những người lính khác đi đầu mũi tên đường đạn.
Khi Lê Bê đi phép về, Tường Vi vẫn giữ hắn trong công việc âm thoại viên. Lê Bê ở lại bộ chỉ huy đại đội phụ tá thường vụ và trung đội 4.
Cũng trong thời gian đó (khoảng cuối tháng giêng 1973) Hiệp Định Ba Lê ra đời. Hình như đối với Nhảy Dù tin này là tin không buồn không vui. Có người ra tin đồn mai mốt đơn vị được về Hậu Cứ. Có người bàn bạc tình hình này là tình hình chiến tranh da beo, hai bên chiến tuyến đi giành nhau chiếm đất.
Một hai tuần lễ sau, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù về đóng quân dọc theo Sông Bồ, bên phía trái Quốc Lộ một và hướng tây tây bắc của căn cứ Bình Minh.

Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Trần Hữu Phú được bổ nhiệm về nắm giữ một tiểu khu nào đó trong miền nam; Trung Tá Trần Văn Sơn (biệt danh Sơn Đui, hay là Moshe Dayan) về thay thế chức vụ. Một tháng sau đó, Trung Tá Sơn về làm Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn II Nhảy Dù, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhỏ được đưa lên làm Tiểu Đoàn Trưởng.
Sông Bồ, giòng sông rất hoang dã chảy từ những khe núi A Sầu trên Trường Sơn về phía bắc thành phố Huế. Sau ngày ngưng bắn, Nhảy Dù và bắc quân giữ địa thế lẫn lộn da beo dọc theo hai bờ sông, có nơi cách nhau chưa đầy 25 thước. Đây là lần đầu tiên, hai bên chiến tuyến nhìn rõ mặt nhau mà chẳng làm gì nhau hết. Hầu như hai bên ngày nào cũng ra bờ sông tắm rửa và đấu khẩu tùm lum.
Để cho lính tráng có công việc làm hằng ngày, cấp chỉ huy Lữ Đoàn sai lính đi cắt tranh đốn tre để làm nhà cho dân. Mỗi ngày các đại đội tổ chức các toán đi rừng để kiếm tranh chặt nứa giống như đời lính thú ngày xưa…”cắt tranh đốn củi trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” (ca dao).
Thực ra thời gian này các đơn vị Nhảy Dù cũng có những sinh hoạt và văn nghệ hằng ngày rất vui. Có những ca sĩ cây nhà lá vườn bắt đầu nổi danh từ đó. Hằng tuần hắn có thêm nhiệm vụ làm danh sách mua đồ câu lạc bộ ký sổ cho các trung đội, thành ra lúc nào các chốt của đại đội cũng có đủ cà phê, sữa đặc, mì gói, kẹo đậu phộng. Mỗi đêm chốt nào cũng có những văn nghệ bỏ túi, và đặc biệt là thư từ cho các “em gái hậu phương”.
Những ngày tháng đó hắn có cơ hội gần gũi hơn với những kỳ cựu trong đại đội. Bố Già Nguyễn Văn Cảnh, Nguyễn Đoàn, Phạm Thụ, Dương Ngọc Tư, Hoàng Quang Thọ, Bùi Quốc Vinh, Vinh con, Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Đăng Thùy, Phạm Hữu Thi, Trần Thuận, Minh và Chúc (Y Tá), Nguyễn Thanh Dũng. Vương, Vượng, Nhợ, Lẹ. Các sĩ quan trẻ thì có Thiếu Úy Trần Xuân Mỹ, Thiếu Úy Đổ Thanh Sơn, Thiếu Úy Nguyễn Văn Bình.
Nhân dịp gần Tết hắn được Tường Vi cho 48 giờ phép về thăm nhà. Lần đầu tiên hắn được phép về thăm nhà, cảm giác lâng lâng khó tưởng. Hắn nhớ một buổi chiều hắn thình lình hiện ra trước cửa nhà, mạ hắn mừng líu lưỡi la lên “tổ cha cái thằng ni…” rồi khóc.
Hắn nhớ ngày ra lại đơn vị ba mạ hắn có gửi theo hắn vài chục gói nem Huế và cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” để tặng Tường Vi. Đi từ vị trí tiểu đoàn ra vị trí đơn vị qua năm bảy chốt cua cac trung đội. Qua mỗi chốt là mất ba bốn gói nem. Đến khi về trình diện lại Tường Vi thì chỉ còn Phan Nhật Nam và Mùa Hè Đỏ Lửa…

Văn Thánh

Sau những tháng ngày làm địa phương quân Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được kéo ra khỏi vùng hành quân về dưỡng quân ở Văn Thánh, ven bờ sông Hương, cạnh thành phố Huế.
Đây là lúc nhàn hạ nhất của đơn vị, sinh hoạt hằng ngày không khác gì một đoàn hướng đạo đi cắm trại. Riêng với hắn, thời gian này là dịp nhìn thấy nét đẹp, nét nên thơ của Huế, qua con mắt của người xứ Huế. Kim Long, Thiên Mụ, Núi Ngự Bình, Đền Nam Dao bây giờ gần trong tầm mắt. Có những buổi sáng yên bình hắn ngồi nhìn dòng sông trôi trầm lặng mà mơ ước một tương lai thanh bình hắn được trở về lại mái trường xưa.
Có mấy lần hắn và đám bạn qua bên kia sông đi tìm quán nhậu và ghẹo các cô chủ quán. Những buổi nhậu đơn giản thôi, nước mắt quê hương và dái mít non chấm muối ớt, thỉnh thoảng có thêm chút thịt từ đồ hộp quân tiếp vụ, vậy mà lúc nào hắn cũng say ngoắc cần câu bị thả lên ghe lắc lư đưa về bộ chỉ huy đại đội.
Trong thời gian này ba hắn cũng hay ra Văn Thánh thăm con, và thỉnh thoảng có những lon Guizgo đồ ăn mạ hắn gửi ra.
Cũng trong thời gian nay, Thiếu Úy Vương, một Sĩ Quan mới từ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, được bổ sung về đại đội 92. Người sĩ quan trẻ đầy nhiệt tình tổ chức những buổi sinh hoạt đại đội có đầy đủ các bài chiến đấu ca nâng tinh thần đơn vị.
Những kỷ niệm khác trong giai đoạn ở Văn Thánh: Trung Sĩ Tâm, một lực sĩ bơi lội hạng quốc gia, mỗi ngày lội qua lội lại sông Hương không biết mệt. Thường Vụ Châu dẫn tổ chỉ huy đại đội đi vào nương rẫy đặt bẫy bắt kỳ đà. Có người nói làm như vậy sẽ bị kỳ đà cản mũi nhưng thịt kỳ đà làm đồ nhậu là khỏi chê chỗ nào.

Bạch Mã

Sau Văn Thánh, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù nhảy trực thăng lên rặng núi Bạch Mã, phía tây Quốc Lộ 1 và phía bắc đèo Hải Vân. Nhiệm vụ của đơn vị là giữ an ninh cho cuộc bầu cử quốc gia sắp xảy ra.
Nếu không có chiến tranh thì Bạch Mã là chốn thiên nhiên đẹp vô cùng. Nhìn ở đâu cũng thấy núi đồi hùng vĩ, cây cối bao la. Hắn nhớ có những buổi sáng thức dậy thấy mây trời trùng xuống sát poncho, và nhiều đêm khuya ngồi nhìn ánh trăng huyền hoặc. Có lần hắn và thằng bạn sau canh gác nữa khuya bóp gạo sấy và hái rau cải tàu làm bữa ăn đêm. Đêm trăng sáng bình yên trên đỉnh núi có hai thằng lính trẻ ngồi mơ ước chuyện mai sau.
Ở Bạch Mã chừng được một tuần thì Tiểu Đoàn 9 lội bộ ra Quốc Lộ 1, và di chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa để tập dượt quân sự và bổ sung quân số. Ở đó hắn được thăng cấp lên Binh Nhất, trở thành một binh sĩ gạo cội của đại đội 92. Đồng thời hắn nhận được huy chương Chiến Thương Bội Tinh và Chiến Dịch Bội Tinh dành cho những quân nhân đã tham gia cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị.
Hoàng Mộng, người bạn thân của hắn, được tăng cường về đại đội 92 trong thời gian ở Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa.
Mỗi ngày binh sĩ trong đơn vị tập dượt giống như thời gian ở quân trường Vương Mộng Hồng. Thỉnh thoảng anh em có dịp đi nhảy dù bồi dưỡng bằng trực thăng. Hắn nhớ cảm tưởng lâng lâng khi thấy cánh dù mình bung tròn trên trời đất quê hương.

Cảnh Dương

Sau hai tuần tái huấn luyện, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được trực thăng bốc lên dãy núi Cảnh Dương.
Từ đèo Hải Vân đổ xuống đi hướng bắc, qua vịnh Lăng Cô là đến Cảnh Dương. Cảnh Dương nổi tiếng là thắng cảnh mà ngày xưa vua chúa triều Nguyễn hay đến để nghỉ mát. Núi cao biển đẹp, Cảnh Dương yên bình không có dấu vết chiến tranh. Có lẽ các cấp chỉ huy chỉ muốn Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù ứng chiến gần Hải Vân để ngăn chặn quấy rối của địch trên đường đèo Huế Đà Nẵng, và cũng là thành phần trừ bị cho Quân Đoàn I ở miền trung.
Thời gian ở Cảnh Dương chẳng có gì nặng nhọc, mỗi ngày các trung đội cho con cái bung ra đi lục soát các đỉnh đồi lân cận, và ban đêm thì đóng chốt nghe ngóng những dấu hiệu lạ trong vùng. Một điều khó quên là lúc đó đại đội 92 thường hay bị đói bỡii trực thăng tiếp tế không đáp được vì sương mù dày đặc. Hắn nhớ có ngày các trung đội phải lội núi bương qua đầm Cầu Hai qua chợ Túy Vân mua đồ ăn, hoặc xuống biển Cảnh Dương thẩy lựu đạn kiếm cá về ăn cho đỡ đói.

Trở Về Quảng Trị

Tháng 8 tháng 9 năm 1973, tình hình ngưng bắn trong mặt trận da beo ở Quảng Trị đã có dấu hiệu sứt mẻ, lính Sao Vàng đã có nhiều lần lấn đất tấn công các đơn vị địa phương quân và bộ binh ở cực bắc Huế và Quảng Trị. Một lần nữa Tiểu Đoàn 9 được thẩy về tuyến đầu cạnh bờ sông Thạch Hãn.
Trở lại Quảng Trị các tiểu đoàn nhảy dù không được trang bị đầy đủ như những ngày trước khi ngưng bắn. Đạn dược thiếu. Lương thực thiếu. Pháo binh yểm trợ hạn chế 5 quả 105 ly. Lệnh ban ra là các đơn vị phải tiết kiệm toàn bộ vũ khí, đôi khi còn phải đi tìm kiếm và lượm lặt những gì bỏ lại trong chiến trường xưa.
Khi vừa vào vùng trở lại, Nhảy Dù và Sao Vàng đóng chốt sát nhau. Hai trạm gác không cách nhau hơn chiều ngang của một con đường tráng nhựa. Lúc ban đầu vui lắm, ngày nào cũng đấu khẩu nhẹ nhàng, không chửi tục không tuyên truyền chính trị. Nhảy Dù hát nhạc vàng đủ bộ Bolero cho bộ đội nghe; còn bộ đội thì chỉ còn một Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây nhai đi nhai lại cả ngày
Lâu lâu Sao Vàng có tổ chức cắt tóc cho cả hai bên. Chắc trong lịch sử chiến tranh thế giới chưa có bao giờ hai đối phương mặt chạm mặt lạ kỳ như vậy. Lúc đó hắn thường lội ra các chốt trung đội ở tuyến đầu để vào sổ lý lịch cá nhân của đại đội nên có lần được cắt tóc miễn phí. Nhìn thằng thợ hớt tóc có giọng nói Quảng Bình Đồng Hới hắn nghĩ thầm biết đâu trong những giao thông hào bên kia chiến tuyến này có bà con chú bác cô dì của hắn.
Rồi ngưng bắn và hòa bình da beo trở nên căng thẳng khi các Chính Trị Viên Sao Vàng xuất hiện, và bên kia mở loa tuyên truyền láo khoét. Nhảy Dù phản ứng bằng cắt đứt chương trình nhạc vàng Bolero, và trở lại những bài chiến đấu ca.
Hai điều đáng nhớ trong thời gian này nhớ là Tường Vi sau khi sinh con gái đầu lòng, được gửi đi học khóa Đại Đội Trưởng. Trung Úy Phạm Văn Nhơn về làm tân đại đội trưởng của Đại Đội 92.
Tiếp đó Nhảy Dù và Sao Vàng tiếp tục choảng nhau trở lại, cường độ đánh nhau càng ngày càng dữ dội hơn. Thiếu Úy Vương, người sĩ quan TVBQGVN (khóa 26) hy sinh trong một trận mưa pháo của Sao Vàng.
Thình lình Sao Vàng hoàn toàn rút quân ra khỏi chiến trường Quảng Trị, kéo về bên kia biên giới Lào. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù cũng chuẩn bị bàn giao vùng trách nhiệm cho TQLC và zulu về hậu cứ.

Trở Về Hậu Cứ

Có lẽ lúc đó là tháng 5, năm 1974 khi Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được trở về hậu cứ. Hậu cứ đây là trại Trần Thanh Phương, nằm trong bản doanh trại Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn Nhảy Dù (khu Ngã Tư Bảy Hiền trong thành phố Sài Gòn.)
Nỗi vui khó tả khi tàu bay đưa đơn vị trở về vòng trên thành phố trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Hầu như từ trên xuống dưới ai nấy cũng lộ chút hãnh diện trên khuôn mặt, và lâng lâng trong men say chiến thắng.
Với thành phần kỳ cựu nòng cốt, cuộc hành quân Quảng Trị là thời gian dài nhất tiểu đoàn xa lìa hậu cứ. Năm tháng trôi qua, có những đứa bé chưa bao giờ thấy mặt cha, chưa bao giờ được cha bồng ẵm. Khi đoàn xe vào khuôn viên Hoàng Hoa Thám, hình như cả trại gia binh tiểu đoàn nhộn nhịp hẳn lên. Xen trong tiếng đám trẻ con reo mừng là những lời chọc ghẹo đám lính mới dành cho các đàn anh đã có gia đình “cha về mẹ có đồ chơi.”
Với hắn và lũ bạn cảm giác khi về lại Hoàng Hoa Thám là như về lại phố xưa xóm củ, và bước chân vào trại Trần Thanh Phương là trở lại nhà; hắn trố mắt nhìn những góc đường, những hàng cây, những công sở doanh trại như lần đầu tiên bước vào căn nhà mới.
Hầu hết thành phần trong đơn vị có gia đình ở Saigon được phép về nhà. Đám con bà phước quê quán miền trung như hắn thì vào chun vào phòng ngủ của lính, mỗi thằng một giường vải bố. Lâu lắm rồi hắn mới có giấc ngủ bình yên trọn vẹn. Không gác, không trực máy, không phải thức dậy sớm báo cáo tình hình chung của đại đội qua đêm cho bộ chỉ huy tiểu đoàn…Ngoài những nhiệm vụ tạp dịch làm vệ sinh doanh trại và canh gác, đám lính hạng binh sĩ như hắn hay la cà ở các quán cafe và quán nhậu ở trong trại gia binh. Những ai khá giả hơn thì được ăn chơi ở Sài Gòn hoặc khu phố gần Ngã Tư Bảy Hiền. Nhiều lúc hắn cũng hơi buồn vì ở hậu cứ đời sống giai cấp giàu nghèo hiện ra rành rành trước mắt. Hắn và đám bạn miền trung hay quay quẩn trong doanh trại, ăn cơm nhà bàn, ngủ phòng trại lính
Một chuyện khá vui trong lúc Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù về hậu cứ là có một trường trung học ở Quận 3 Sài Gòn, trường Lê Bảo Tịnh, mở rộng vòng tay kết nghĩa. Thầy trò của trường trung học này tổ chức buổi tiệc khao quân cho đơn vị hắn ở ngay tại sân cờ tiểu đoàn. Hắn nhớ có ca sĩ tầm vóc như Duy Khánh, Chế Linh, Phương Hồng Quế đến giúp vui văn nghệ. Bữa tiệc có đủ bò bảy món và bia Con Cọp chảy dài dài.
Lính Đại đội 92 hôm tiệc liên hoan mang giày Sault nón Đỏ (lính nghèo không có nón Đỏ thì mượn ở kho Tiếp Liệu) ngồi cạnh một bầy áo trắng vui quá, mang nón đỏ tặng cho “em gái hậu phương”. Ngày hôm sau, trưởng kho tiếp liệu càm ràm với Thường Vụ là nón đỏ bị chôm mất hơi nhiều.
Thời gian ở hậu cứ, mỗi chiều lính trong các đại đội đều ra sân cờ tiểu đoàn để đá banh. Sĩ quan ban 5 đồng thời cũng có tổ chức giải đá banh cho các đại đội thi đua. Đại đội 92 ngon lành lắm, có những cầu thủ miền trung như Hiếu (Phan Rang), Lẹ (Bao Vinh, Huế), nên được vào trận chung kết với đại đội 91. Trận chung kết vui nhộn và hào hứng không khác gì một giải tranh đua lớn trong thành phố. Đại đội trưởng 92, Chinh Nhơn, nổi hứng treo giải thưởng năm két bia 33. Hai đội bóng ngang cơ nên phải kết thúc bằng màn đá phạt đền. Thằng Hiếu là cầu thủ số 1 của đại đội nên được chọn đá trái banh cuối cùng cho 92. Không hiểu vì run hay vì muốn chơi đẹp, Hiếu đá nhẹ nhàng như để làm trái chân thủ môn 91, không ngờ thủ môn 91, như cá chẳng chịu cắn câu, chụp trái banh dễ dàng.
Ban ngày ngoài chuyện đá banh là có màn học võ Taekwondo và đi nhảy dù bồi dưỡng. Ban đêm thì có sinh hoạt chiến tranh chính trị và văn nghệ lính hát lính nghe. Toán thích đi nhảy bồi dưỡng thì thức dậy sớm lên xe qua phi trường Tân Sơn Nhất bay ra tận Ấp Đồn để bung dù trên khung trời củ. Toán thích học võ thì tụ họp ở trước sân cờ học đánh đấm cùng anh em võ sĩ nhà họ Mạc. Sau phần sinh hoạt chung, lính tráng chia thành từng nhóm lang bang ở trại gia binh hoặc ngã tư Bảy Hiền. Khi đầu tháng có lương thì thôi vui biết mấy, áo hoa nón đỏ tung túa ra thành phố Sài Gòn. Lần đầu tiên hắn được đi ra đường Lê Văn Duyệt, vô chợ Bến Thành, qua cầu Phú Nhuận. Kỷ niệm mang theo của hắn là một lần theo thằng bạn về nhà nó nhậu và ăn cơm tối. Lai rai tới khuya, hai thằng linh say mèn ngủ lại; đứa em gái thằng bạn nhường chỗ ngủ, treo mùng, cho hai thằng lính. Tình của người miền Nam đậm đà giản dị
Có một lần cũng vì ham vui, hắn theo một thằng bạn trong trung đội 2 đi xe đò về thăm quê, dưới miệt vườn xa lơ xa lắc. Hai thằng mặc áo dù đi vòng quanh thăm gia đình bà con thằng bạn, quên mất là thời buổi đó chiều tối miệt vườn không có an ninh cho lắm. Sáu bảy giờ chiều ông xã trưởng kêu người chạy xuống nói các anh nên về sớm kẻo tụi nó kéo về đắp mô thì kẹt đó.
Nhảy dù sault đỏ là nhảy dù vào vùng hành quân với hoàn toàn một trăm phần trăm vũ khí và trang bị để nhập trận liền khi chạm chân xuống đất. Hắn nhớ toàn bộ tiểu đoàn có mặt ở phi trường Vũng Tàu lúc 2-3 giờ sáng với đầy đủ trang bị hành quân, và lãnh thêm dù lưng dù bụng. Hắn trong nhiệm vụ mang máy truyền tin đại đội là người nhảy ra khỏi chiếc C147 đầu tiên của đại đội 92 (kế đó là đại đội trưởng Chinh Nhơn) với ba lô, máy PRC-25, giây ba chạc đầy đủ cọng thêm một khẩu M16. Khi dù của hắn bung trên khung trời Quốc Lộ 15, hắn nhìn lên và vui biết mấy khi thấy cả ngàn cánh dù khác của tiểu đoàn trổ tròn ra, che kín cả bầu trời đất nước.
Khi xuống đất hắn phải kéo toàn bộ ba lô máy móc súng đạn và hai bọc dù về chổ tập trung bộ chỉ huy đại đội. Về đến nơi chưa kịp nghỉ ngơi gặm gúc bánh mì thì đã có lệnh xua quân càn quét dọc theo hai bờ quốc lộ, và chiếm các mục tiêu quân sự trên bản đồ thao dợt.
Cuộc hành quân sault đỏ thao dợt kết thúc ba ngày sau đó. Khi gần về đến ngã tư Long Thành thì tiểu đoàn được bốc đi thẳng về hậu cứ.

Ứng Chiến Miền Trung

Trở lại hậu cứ lần này tiểu đoàn được lệnh ứng chiến chuẩn bị cho một nhiệm vụ mới. Chưa biết chính thức đi đâu nhưng tin đồn thì chắc chắn là Nhảy Dù sẽ trở lại miền trung. Đại đội 92 ngày nào cũng tập họp hai lần. Đơn vị được bổ sung thêm các sĩ quan mới ra trường. Các trung đội tổ chức lại các tiểu đội, và bộ chỉ huy đại đội có thường vụ và thư ký mới. Mỗi lính tráng cũng chuẩn bị riêng những thứ cần dùng và quân trang cá nhân. Không khí trong tiểu đoàn trở nên nghiêm trọng. Không ai được rời khỏi bản doanh trại Hoàng Hoa Thám. Ngoài trại Trần Thanh Phương, tất cả chỉ có thể la cà trong các tiệm cafe và quán nhậu trong trại gia binh.

Trời mưa Thượng Đức

Năm giờ sáng của một ngày đầu tháng 8, 1974, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù có mặt ở phi trường Tân Sơn Nhất. Khi ban Ba tiểu đoàn phát bản đồ hành quân cho các đại đội trưởng, hắn mới biết lần này Lữ Đoàn I Nhảy Dù đi Đà Nẵng Quảng Nam, tăng cường cho mặt trận của Quân Đoàn I ở vùng Đại Lộc Thượng Đức.
Chuyến bay đưa Tiểu Đoàn 9 đáp xuống phi trường Đà Nẵng lúc gần trưa. Hắn nhìn thấy lại bầu trời quen thuộc, những rặng núi xa xa về hướng bắc. Hơn hai năm trước hắn còn non choẹt ra đi từ khi nơi chốn này, bây giờ về lại, già dặn hơn qua hai năm trận mạc, hắn thấy trong lòng gợi lên một chút xao xuyến và một chút buồn buồn. Đám bạn cùng trường cùng lớp chắc đã vào đại học tung bay tứ xứ. Và hắn nhớ lại V, cô bạn hàng xóm láng giềng của ngày tháng cũ.
Đoàn xe GMC đưa Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù rời phi trường Đà Nẵng, qua ngã ba Cây Lang ra Hòa Khánh. Khi đến ngã ba đi Huế, đoàn xe rẽ về hướng trái theo Quốc Lộ 14, đi về Hiếu Đức.
Một chuyện khó quên là khi đoàn xe nhảy dù đến gần Đại Nghĩa thì dân chúng trong làng ùa ra đường vẩy tay mừng rỡ “Nhảy Dù về, Nhảy Dù về. Có Nhảy Dù về rồi bà con ơi!” Điều này làm hắn nhớ cảnh tượng xúc động Phan Nhật Nam ghi lại trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” khi Nhảy Dù bắt đầu đáp xuống Hải Lăng, Quảng Trị đầu mùa hè đỏ lửa 1972.
Sau mấy ngày đóng quân chờ lệnh, Tiểu Đoàn 9 xung quân vào vùng, đi theo hai bên đường 14. Đại đội 92 là mũi dùi đi trước. Càng đi sâu hắn thấy tình hình càng căng thẳng. Làng xóm thì vắng vẻ mà trên đường xe tản thương thì đầy nhóc. Từ xa đã có tiếng pháo lớn vọng về, và trên trời có một hai L19 lạng qua lạng lại.
Khi đến làng Hà Nha 2, Chinh Nhơn gọi các trung đội trưởng và trung đội phó về nhận lệnh: cho con cái ăn uống xong rồi sẵn sàng tấp vào các cao điểm phía bắc.
Từ mặt bìa làng Hà Nha 2 đến chân đồi bắt đầu triền núi vùng Đại Lộc Hiếu Đức khoảng cách chừng một phần ba cây số, nhưng chỉ là cánh đồng ruộng lúa. Băng qua cánh đồng này giữa ban ngày thật là không dễ.
Lúc ba bốn giờ chiều, pháo binh Dù bắn trên cánh đồng ruộng lúa một màn đạn khói trắng. Đại đội 92 nhảy xuống bờ ruộng bì bõm chạy nước rút chạy qua cánh đồng. Hắn tháo cần ăng-ten máy PRC-25 cất vào ba lô giữ khoảng cách chạy theo Chinh Nhơn. Đồng lúc từ các cao điểm bên trên dãy núi, lính Sao Vàng nhả hàng loạt 12 ly 7 và hàng trăm trái cối 82 nhắm vào toán quân Dù sau màn khói trắng.
Trời đổ mưa khi đơn vị hắn qua được cánh đồng. Hắn lên máy nhận báo cáo từ các trung đội. Ngoại trừ một ít bị thương ở lại, cả đại đội 92 nhích lên chân núi làm đầu cầu cho cả tiểu đoàn. Khi trời tối thì mưa càng nặng hạt và pháo địch rơi xuống càng nhiều. Đại đội 92 đào hố cá nhân làm phòng tuyến trong đêm tối.
Tiểu Đoàn 9 di quân hình cánh quạt, với đại đội 92 là mũi dùi đi sâu nhất hướng vào đồi 383. Bên trái của đại đội 92 là đại đội 94. Đại đội 91 bảo vệ sườn cực tả. Đại đội 93 lo hông phải. Đại đội 90 và bộ chỉ huy tiểu đoàn, làm nhài cánh quạt, ở phía sau.

(Đồi 52 giữa Đại Lộc – Thường Đức)

Vùng núi đồi Hiếu Đức Thượng Đức địa thế rất là hiểm trở với từng dãy đồi cao trùng điệp. Muốn đi từ đồi cao này qua đồi qua kia phải đi xuống trũng sâu. Bước chân đi thường ngày đã trắc trở nên trong những ngày mưa trở thành khốn khó vô cùng. Ba trung đội tác chiến của 92 chia làm ba nhánh đi ngang hàng; trung đội bốn chia làm hai phần: một nửa ở lại với bộ chỉ huy đại đội; nửa kia lui về phia sau lo công việc nấu ăn và cho cả đại đội.
Thời tiết vùng Quảng Nam cũng chẳng chạnh lòng thương cho người đi chinh chiến. Trời mưa hoài và mưa hầu như liên tục. Vừa đánh vừa đi đến mục tiêu chính nên cả đại đội 92, từ trên xuống dưới, lúc nào cũng ướt nhẹp.
Đồi 383 là mục tiêu quan trọng bảo vệ cạnh sườn của cao đỉnh 1062. Sao Vàng bỏ hết sức lực và sinh mạng cố thủ ngọn đồi trong khi Nhảy Dù cũng dồn hết nỗ lực chiếm cho bằng được.
Sao Vàng nằm trong hầm chữ A kiên cố chờ Nhảy Dù đến gần là ném lựu đạn hoặc dùng 12ly7 trực xạ để phòng thủ. Các tiểu đội khinh binh của 92 báo cáo “tụi nó đặt cọc cây trước miệng hầm làm ná bắn lựu đạn bay ra xa lắm.”
Lệnh của Cửu Long là Chinh Nhơn phải đích thân dẫn một trung đội tấp 383 bằng mọi giá nên lúc nào hắn cũng mang máy đi sát nách những đợt xung phong. Một lần Chinh Nhơn và hắn đang báo cáo tình hình cho 702 thì một trái lựu đạn từ trên cao phóng rẹt xuống ngay trước mặt, hai thầy trò dzọt lẹ trước khi tiếng nổ inh tai.
Trận thanh toán đồi 383 diễn biến như sau: một tiểu đội của trung đội 2 làm trục tấn công chính để rút hỏa lực của Sao Vàng trong khi hai tiểu đội khác chia làm hai cánh bò lên hai cạnh sườn đánh bằng lựu đạn. Cùng lúc, hai cây M60 đặt bên vị trí đại đội 92 nhả đạn đều đều trên các di động trên đỉnh đồi. 12Ly7 và cối 82 của Sao Vàng cũng xối xuống vòng ngoài hầm tuyến. Từ phía xa nhìn, ngọn đồi nhỏ 383 như chìm vào lửa khói.
Phạm Hữu Thi, hạ sĩ tổ trưởng khinh binh, cởi nón sắt ra cầm tay (trên đầu chỉ còn nón nhựa), bỏ vào đó đầy lựu đạn M26, chạy nghênh ngang giữa lưng đồi, một mình một ngựa xung phong bên tay phải. Từ vị trí chỉ huy, hắn và Chinh Nhơn thầm cầu nguyện cho cái thằng “điếc không sợ súng”.
Trước khi trời tối, lính 92 hoàn toàn kiểm soát đồi 383. Một số lính Sao Vàng sống sót dzọt ra khỏi hầm bung chạy về hướng Thượng Đức.
Tổn thất của đại đội 92 tại 383 không phải là không đáng kể; phần lớn vì 12ly7 hoặc CKC bắn sẽ. Trong trí nhớ của hắn lúc nào cũng mang theo những giây phút cuối của người đồng đội trẻ Tăng Văn Năm.
Sau đó Bắc quân trút đủ loại pháo như mưa xuống đồi 383. Và đêm đó các phòng tuyến đại đội 92 đều bị đặc công bò vào thử thách. Ngoại trừ Chinh Nhơn và sĩ quan đề-lô lên máy PRC25 gọi pháo binh Dù trả đũa, tất cả lực lượng của đại đội 92 đều có mặt trong hố cá nhân, sẵn sàng chiến đấu.
Tờ mờ sáng khi pháo Bắc quân vừa dứt là văng vẳng tiếng kèn thúc quân. Chinh Nhơn nói hắn bỏ máy ra ngoài trám tuyến. Vừa ra đến hố cá nhân, hắn đã thấy ngoài phòng tuyến lay động những đầu nón cối. Trần Thuận, xạ thủ đại liên bò tới thì thào “tụi nó đông như kiến.” Tim hắn gần như nhảy ra ngoài lồng ngực.
Bỗng nhưng đất trời đen nghịt và hằng trăm tiếng nổ long trời sát ngay phòng tuyến. Pháo binh Dù từ quận Hiếu Đức Đại Nghĩa bắn tập trung (TOT) vào phía ngoài vị trí đại đội 92. Cây rừng ngã xuống ào ào trên mặt đất. Tiếng người la hét lúc đầu rõ rệt rồi lại xa dần. Mười lăm phút sau chiến trận hoàn toàn yên lặng.
Trung đội 4 và bộ chỉ huy đại đội 92 tiêu hao khá nhiều vì pháo. Bố già Nguyễn Văn Cảnh và Hạ Sĩ Phan Đoài (bạn cùng khóa Dù với hắn) mất ngay tại miệng hầm. Hắn không cần nhìn hai tấm thẻ bài cũng đọc được tên và số quân của hai người lính mang số mệnh da ngựa bọc thây.
Cùng thời điểm này, trong những trận mưa pháo tơi bời của Bắc quân, Thế Tữu, đại đội trưởng 93 bị thương nặng phải di tản; Cửu Long đưa Tường Vi, cựu đại đội trưởng 92 vào thay thế.
Đặc công len lỏi vào sau lưng phòng tuyến nhảy dù phục kích những toán tiếp tế và ẩm thực. Có lần bất ngờ một toán tiếp tế của 92 bị lọt vào tay giặc. Ngày hôm sau hai xác treo trên cành cây với hàng chữ “cảnh cáo Nhảy Dù”…
Những ngày sau đó chiến trận tuy vẫn còn xảy ra hằng ngày nhưng trong vùng hành quân của Đại đội 92 thì ít phần dữ dội hơn. Đụng độ lớn hình như dồn dập trên các đỉnh đồi cao bên cánh phải. Tiểu Đoàn 9 bàn giao vị trí lại cho Tiểu Đoàn 3 (?) và lui lại phía sau chuẩn bị cùng Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 8 xa luân chiến dành cho được cao điểm 1062.
Lúc đại đội 92 vừa ở đồi 383 rút ra ngoài và đang chuẩn bị lại quân số thì hắn bị sốt rét nặng. Trong người thì lạnh run mà bên ngoài da thì nóng hầm; giòng nước tiểu đậm như máu… Minh y tá đại đội phải thuyết phục lắm ChinhNhơn mới chịu cho hắn di tản ra tiểu đoàn điều trị.
Luc đang năm ở bộ chỉ huy tiểu đoàn thì bất ngờ gặp anh Lũy của hắn đang trên đường chuyển quân vào 1062 (anh Lũy, sĩ quan Thủ Đức, vừa mới ra trường bổ sung về đại đội 83, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.) Tâm tư của hai anh em trong lúc đó thật là khó tả, vừa lo âu, vừa an ủi và vừa bối rối.

Địa Ngục Trên Đỉnh Núi

1062 là cao độ của một cao điểm trong rặng núi giữa hai quận Đại Lộc và Hiếu Đức. Không phải là chốn cao nhất trong những điểm cao, nhưng ở đó người ta có thể quan sát được hầu hết vùng Quảng Nam Đà Nẵng. Bắc quân muốn giữ vị trí này để quan sát kỷ đường đi nước bước cho một tấn công mới cắt đứt miền trung. Nhảy Dù, nhận sứ mạng của Quân Đoàn I, nhảy vào nơi chốn để chận đứng âm mưu đó. Thêm một lần nữa, ở đây, “người lại gặp người.”

Bắc quân đưa vào trận địa các sư đoàn và trung đoàn cọng thêm pháo binh và phòng không. Quân Đoàn I đưa Lữ Đoàn I và II Nhảy Dù vào vùng nhập trận.
Trong trí nhớ của hắn. Lữ Đoàn I đưa Tiểu Đoàn 1 tiên phuông vào 1062 trước nhất, sau đó đến Tiểu Đoàn 8, và sau cùng là Tiểu Đoàn 9.
Mặt trận Thượng Đức, hay nói đúng hơn, mặt trận 1062 là một trong những mặt trận đẫm máu nhất của Sao Vàng và Mũ Đỏ. Biết bao nhiêu máu của hai bên đã đổ xuống trộn vào lòng đất; biết bao nhiêu người năm xuống, xác thịt rữa ra không còn phân biệt được ai thù ai bạn.
Trong một thời gian hai tuần, ngọn đồi 1062 thay đổi chủ biết bao lần. Sao vàng giữ; Nhảy Dù lên chiếm. Nhảy Dù thủ; Sao Vang bò vô dựt lại. Lúc nào đại pháo hai bên cũng cày nát đỉnh đồi, diện tích hai mươi thước nhân hai mươi thước. Bắc quân sử dụng phòng không 12ly7 và 37ly cọng thêm súng trường CKC bắn sẽ vào những gì nhúc nhích trên mặt đất. Nhiều đêm Bắc quân bắt loa phóng thanh đe dọa và thách thức Nhảy Dù.
Giữa tháng mười 1974, tiểu đoàn 9 được tung vào mặt trận thay thế tiểu đoàn 8. Đại đội 92 nhận trách nhiệm trấn thủ ngay đỉnh 1062, bên trái có đại đội 94, bên phải có đại đội 93. Đại đội 91 làm thành phần trừ bị ở cạnh bộ chỉ huy tiểu đoàn phía sau đó không xa.
Từ chân đồi 1062 lên đến đỉnh, lính 92 phải bò lên qua biết bao nhiêu xác chết, và cuối cùng phải chạy cắm đầu cắm cổ chừng 25 thước giữa khoảng trống và nhiều lằn đạn để nhảy xuống giao thông hào. Hắn, vì mang máy PRC 25 nên, bị những cây súng bắn sẽ chú ý kỷ, phải lăn vào trong cái hố nằm chờ cho đến khi trời tối.
Đồi 1062 ngày nào cũng lãnh đủ ba bốn lần pháo lớn bắn từ quận lỵ Thượng Đức, và Sao Vàng đêm nào đưa đặc công bò vào vòng tuyến Nhảy Dù. Lính 92 hầu hết sống dưới mặt đất trên đỉnh đồi tàn bạo. Xác người chết nhiều quá trong khuôn vi hạn hẹp nên sình thối mùi hôi không thể tưởng; và những con dòi trong xác chết bò ra leo lên đầu lên cổ người còn sống. Những chuyện tiếp tế, tản thương, vệ sinh, ăn uống đều xảy ra khi mặt trời lặn hẳn.
Đêm nào từ giao thông hào chiến đấu, hắn cũng nghe những tiếng kèn thúc quân của Sao Vàng, và trong tầm nhìn của hắn đoàn xe Molotova để đèn sáng trưng chạy từ Thượng Đức chạy về Đại Lộc.
Những ngày dài trên 1062 tưởng chừng không bao giờ dứt. Khi sức chịu đựng của Sao Vàng và Nhảy Dù cũng đã đến tận cùng, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù thình lình nhận lệnh rời vùng lập tức. Trong một đêm mưa bụi bay lất phất, các toán kỹ thuật của Sư Đoàn Dù nhảy vào làm hàng rào điện tử (để phát hiện những di động của Bắc quân), trong khi các đơn vị tác chiến thầm lặng rút đi.
Đường đi gập ghềnh trong đêm tối đen như mực, lối đi lại ướt át nên trật chân là té lăn xuống hai bờ cây cỏ. Đại đội 92 ra đến đồi 52 gần hai ba giờ sáng, đói lạnh và mệt rã hắn ngồi xuống ven triền yên ngựa dựa ba lô và gục thiếp. Chập lâu, có tiếng y tá Minh dừng lại chích cho hăn mũi thuốc hồi sinh, và dìu hắn đi theo đơn vị.

Non Nước Ngũ Hành Sơn

Tiểu Đoàn 9 đóng quân ở Đại Nghĩa Hiếu Đức vài ngày rồi rút về dưỡng quân gần Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Nhảy Dù bên vùng Non Nước (Ngũ Hành Sơn.)
Non Nước là một trong những thắng cảnh của Quảng Nam Đà Nẵng. Trong thập niên 60, nơi đây là một địa điểm du lịch và hành hương của dân miền Trung, nổi tiếng về đá quý. Thuở nhỏ, có vài lần anh em hắn đến đây cùng gia đình, đi vào những hang động trên cao dưới thấp.
Ngày xưa, Non Nước là nơi chốn thanh bình, có mái chùa yên tĩnh; bây giờ Non Nước là một chỗ bất an, có du kích địa phương về quấy phá cho nên mỗi đêm các đại đội trong tiểu đoàn thường hay làm tổ phục kích bắt du kích và thành phần kinh tài cho Việt Cọng.
Từ chỗ đóng quân của hắn về thành phố Đà Nẵng khoảng chừng nửa tiếng mà trong đầu óc hắn lúc đó chẳng có ý tưởng về thăm lại ngôi trường củ. Đời sống của hắn lúc đó và đời sống học sinh hơn hai năm trước đây hoàn toàn khác hẳn. Ở Non Nước hắn chỉ muốn ăn, ngủ, và uống rượu say.

Bên Bờ Sông Vu Gia

Dưỡng quân ở Non Nước khoảng ba bốn tuần lễ thì Tiểu Đoàn Nhảy Dù lại phải vào vùng, lúc này nhiệm vụ đơn vị là chận áp lực của Bắc quân hướng hữu ngạn sông Vu Gia. Địa thế hành quân lúc này không là những núi non cao ngất mà là những dãy đồi nhỏ nối kết nhau bằng những trườn đồi dài như lưng ngựa.
Thêm một lần nữa đại đội 92 lại là mũi dùi tiến vào sâu xa nhất. Bên hữu ngạn Vu Gia, không có đồi núi cao và cây rừng rậm rạp như vùng 1062, chỉ có những đồi sim thưa thớt bất lợi cho phía tấn công. Đánh nhau ở đây đại đội 92 bị thiệt hại khá nhiều. Bắc quân từ những cao điểm phụ cận sử dụng 75ly không dật và cối 82ly nhắm xuống những toán quân nhảy dù đi tấp chốt.
Trong lần nhập trận này, đại đội 92 mất nhiều người hạ sĩ quan kỳ cựu như Phạm Tăng Thọ, Nguyễn Dương Ninh, Nguyễn Văn Thân, và thiếu úy Cường, người sĩ quan mới vừa bỗ sung về đại đội.
Cuối cùng Bắc quân và Nhảy Dù thu lại vị trí làm thế thủ; hai bên chỉ vờn qua vờn lại bằng đại pháo kích.
Trong một ngày gần Tết, bộ chỉ đại đội 92 thay đổi vị trí để tránh tầm pháo Bắc quân. Ngày hôm đó cũng là ngày tiếp tế, và hắn nhận được quà Tết từ nhà hắn gửi ra. Mừng vui vô hạn, mở ra hắn thấy đó là quà Tết và một lá thư của anh Lũy hắn gửi từ bệnh viện Duy Tân.
Người anh ruột của hắn, Chuẩn Úy Hoàng Văn Lũy, đại đội 83, Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù bị thương trong lúc tấp lên 1062. Một viên CKC cắt ngang ống quyển chân. Từ lúc anh em chia tay nhau lúc hắn đau sốt rét, hắn không được tin anh Lũy. Chỉ nghe tin từ các toán tiếp tế tản thương là hàng sĩ quan của Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù hầu như bị thương hay là mất hết.
Lúc chạng vạng tối ngày hôm đó, hắn đem bánh chưng bánh tét ra mời bộ chỉ huy đại đội. Đại đội trưởng Chinh Nhơn đáng lẽ ngồi chung bữa ăn lại nói thôi để đi coi phòng tuyến đã. Một phút sau, có tiếng nổ lớn cách hắn không xa. Chinh Nhơn đạp phải mìn con cóc của Bắc quân gài trong lúc đi kiểm soát vị trí. Hắn chạy ra nhìn thì thấy người đại đội trưởng và người thường vụ đại đội đều bị thương nặng. Hắn thấy rỏ ràng Chinh Nhơn mất hẳn một chân.
Cửu Long lên máy ra lệnh cho toán tản thương đi tức khắc mặc dầu trời đã tối. Hoàng Mộng, người mang máy thứ hai, đi theo toán tản thương trong khi hắn ở lại liên lạc với các đơn vị nhảy dù trong vùng để tránh đụng lầm quân bạn.
Gần nửa đêm, toán tàn thương trở về bình an. Chinh Nhơn được trực thăng vào bốc đi an toàn. Theo toán tản thương về là người đại đội trưởng mới – Đại Úy Lê Đình Ruân.
Mấy ngày sau đó, Tiểu Đoàn 9 giao vùng cho một đơn vị Dù trong Lữ Đoàn 2 rồi rút ra sau, về vùng Túy Loan Đại Lộc.

Túy Loan

Khi rút quân ra khỏi Đại Lộc lần cuối cùng thì Đại Đội 92 chỉ còn lại khoảng ¼ quân số so với lúc bắt đầu cuộc hành quân từ hậu cứ tiểu đoàn. Biết bao nhiêu khuôn mặt quen thuộc của những ngày Quảng Trị đã không còn nữa. Có lẽ thời gian đó là thời gian thấp nhất của đại đội, một gia đình thứ hai của hắn.
Một buổi chiều ngồi nhìn mây bay về từ Nam Ổ, đơn vị có tiếp tế và tăng cường. Hắn bỗng thấy trong đám lính mới bổ sung về đại đội một khuôn mặt khá quen. Chỉ cần một phút là hắn nhớ ra đây là khuôn mặt trên sân bóng rổ của trường trung học củ. Vui quá chạy ra bắt tay hỏi chuyện, hắn cũng thấy an ủi thầm nghĩ “Ít ra cũng có một người cùng cảnh ngộ.”

Giã Biệt Miền Trung

Lúc đó là đầu tháng Ba năm 1975, mặc dầu không có tin tức báo chí nhưng hắn cũng biết biết tình hình quân sự ở miền Trung đang tới thời kỳ sôi động nhất. Có điều không thay đổi là Nhảy Dù đi đến đâu dân chúng cũng rất là mừng rỡ.
Ngày 23 tháng 3 năm 1975, Lữ Đoàn I Nhảy Dù bàn giao vùng trách nhiệm cho đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, ra thẳng đến phi trường Đà Nẵng bay trở lại Sài Gòn.
Hắn đâu có biết đó là lần từ biệt cuối cùng.

Trở Về Hậu Cứ

Trở về trại Trần Thanh Phương lần này không vui như những lần trước. Cả tiểu đoàn cắm trại 100%, sẵn sàng ra đi khi có lệnh. Đặc biệt là thời gian này Sư Đoàn Dù đang tổ chức thêm hai Lữ Đoàn mới nên trong tiểu đoàn lại thêm có nhiều khuôn mặt về mới thay thế cho nhiều khuôn mặt củ chuyển sang đơn vị mới.
Ngày 30 tháng 3 năm 1975, tin tức tư miền Trung cho biết Huế và Đà Nẵng rơi vào tay giặc. Tin tức miền Trung gây chấn động hoang mang cho đơn vị, vì rất nhiều người trong tiểu đoàn quê quán ở Quảng Trị Huế Đà Nẵng. Hắn bàng hoàng nghĩ đến số mệnh gia đình ba mạ anh em hắn; tất cả bây giờ không biết lưu lạc nơi đâu.
Một buổi tối hắn và nhóm bạn miền Trung ra trại gia binh “uống cà phê”, không biết uống cái gì mà cả đám say quên cả trời trăng; nửa đêm bò về sân tiểu đoàn bị Hạ Sĩ Nhất Hoàng Quang Thọ la om sòm và xách đại liên ra đòi bắn vào cả đám.


Đi Long Khánh.

Giữa tháng Tư 1975 Lữ Đoàn I Nhảy Dù được lệnh đi Xuân Lộc tăng cường cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù di chuyển bằng GMC từ hậu cứ đến Trảng Bom, và từ đó trực thăng vận vào chiến trường Long Khánh.
Bộ chỉ huy Đại đội 92 bay bằng trực thăng UH1B, các trung đội đi theo những cánh chim Chinook.
Từ Trảng Bom đến Long Khánh, chiếc UH1B bay nhanh và sát đầu ngọn cây để tránh phòng không của địch. Từ trên cao nhìn xuống quê hương đang bốc khói, hắn cứ tưởng mình đang ở trong một giấc mơ. Những ý tưởng không lành cứ nhem nhém vào đầu óc, hắn âm thầm đọc mấy lời kinh cầu nguyện.

(Tiểu Đoàn 9 Dù nhảy vào Xuân Lộc tháng 4/1975)

Đại đội 92 đáp xuống Ngã Ba thị trấn, trước mặt là lửa khói của thị xã Xuân Lộc, bên trái là trùng trùng điệp điệp những đồi chuối xiêm đang chín tới, bên phải là rừng cao su xanh ngắt triền miên. Và chung quanh là vô số dân địa phương đang tìm đường tị nạn chiến tranh.
Không có thì giờ để xúc động, hắn mang ba lô và máy PRC-25 theo đơn vị nhắm hướng nhà thờ Bảo Định mà đi. Chưa được một phần hai cây số đơn vị đã “ăn” pháo tùm lum. Phía trước chính Cửu Long cũng bị “rách áo.”
Khi băng ngang vị trí của tiểu đoàn, hắn thấy 702 đang đứng dựa cây cao su ra lệnh cho con cái zulu cho lẹ lẹ. Y Tá Chúc đang băng bó vết thương ở cổ cho 702, và 701 đang chửi thề loạn xạ. Đâu có ai ngờ vết thương của 702 là từ màn đạn cối 60ly bắn từ làng Giáo Xứ Bảo Định.
Trong cuộc hành quân Xuân Lộc Long Khánh, đại đội 92 không là mũi dùi đi trước như thường lệ. Lần này, vinh dự đó dành cho Đại Đội 93 và Tường Vi đảm nhận. Đêm đầu tiên ở Xuân Lộc, hắn đào hố cá nhân trong vườn cây ăn trái của cựu thống tướng Lê Văn Tỵ, nằm dưới hàng cây đu đủ.
Những ngày hôm sau Đại Đội 93, được yểm trợ bằng thiết giáp, đung nặng với Bắc quân. Địa thế lúc này là những hàng cây cao su cao lớn trong các khu vườn rộng bằng phẳng nên Nhảy Dù không tiện đánh bằng lựu đạn. Các toán khinh binh báo cáo Bắc quân treo lên cây dùng CKC bắn sẽ nên rất là khó tấp. Ngày và đêm, chiến trận gay go không ngừng tiếng súng và pháo đốn ngã những tàng cây xanh lá.
Khi cuộc tấn công để nuốt chửng Xuân Lộc Long Khánh coi như không thành công, Bắc quân đổi chiến lược thành bao vây lực lượng Nhảy Dù.
Đột ngột, buổi chiều ngày 20 tháng 4, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù nhận lệnh cho con cái sẵn sàng băng rừng rút quân trong đêm tối. Tất cả mọi người đều cột trên ba lô một bao gạo sấy để dễ nhìn ra trong đêm tối.
Chín mười giờ đêm, đại đội 92, theo chân tiểu đoàn, yên lặng rời vị trí. Đường đi tối đen nư mực, loáng thoáng là vệt sáng của bao gạo sấy, hắn nghe tiếng nhịp tim và tiếng giày của người đi phía trước.
Quá nửa đêm Đại đội 92 mới đến Ngã Ba Tân Phong. Đến đây hắn thấy người dân Xuân Lộc Long Khánh đã gồng gánh tụ tập đầy đường, sẵn sàng di tản, đi theo con đường Liên Tỉnh Lộ 2 xuôi Nam về hướng Bình Ba Bình Giã.
Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù lãnh nhiệm vụ bọc hậu, đi bộ trong rừng song song với con đường bỏ hoang đã từ lâu. Đại đội 93 đi đầu; đại đội 92 là đơn vị đi sau chót. Khoảng 10 giờ sáng, Bắc quân chận phục kích phía đuôi của đoàn quân ở gần thung lũng Gia-Rai. Tuy hai Đại đội 93 và 92 phản ứng mau lẹ đẩy lui đám Bắc quân, nhưng đơn vị cũng có một vài mất mát. Báo cáo từ Đại đội 93, đại đội trưởng Tường Vi bị thương nhẹ ở chân.
Đại đội 92 thầm lặng làm cái đuôi cho đoàn quân di tản chiến thuật. Từ những con lối đi nhỏ trong rừng đến những con đường đất, ở đâu hắn cũng có cảm tưởng là có rất nhiều đôi mắt nhìn theo từng bước chân của Nhảy Dù. Có lần, hắn phải nhanh nhẹn chạy băng qua con đường đất lớn dẫn lên một ngọn đồi, ở đó có lô cốt quan sát của Việt Cộng, cắm cờ ba màu có sao vàng chính giữa…
Đoạn đường có lẽ dài gần hai mươi cây số. Khi về gần đến Bình Ba thì Nhảy Dù hết nước uống. Trời nóng và khát nước làm từ trên xuống dưới ai cũng hoa mắt và tưởng như không còn đi nỗi. Măy mắn thay, sau, khi mặt trời vừa ngã bóng thì Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù từ Bình Giã đem nước uống và lương thực kéo ra đón Tiểu Đoàn 9.
Hắn ngồi xuống bên đường, một mình uống nguyên một nón sắt nước đá lạnh.
Đêm đó tiểu đoàn tạm đóng quân trong rừng cao su ở Bình Ba; ngày hôm sau được xe đưa về Phú Mỹ, một xã ấp trên Quốc lộ 15, phía Tây Bắc của thị xã Phước Tuy.
Khi về đến Phú Mỹ hắn mới biết là tình hình chung của miền Nam đang đến thời kỳ thê thảm. Trên quốc lộ 15 có nhiều xe chở người tị nạn chiến tranh từ miền Trung vào. Hắn và thằng bạn học cùng trường đi hỏi thăm từng chiếc xe “có ai từ Huế, có ai từ Đà Nẵng, có ai biết…” rồi thở dài thất vọng.
Hai ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù tập họp trong sân trường Trung Học Phước Tuy tham dự buổi tiệc do Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam khoán đãi. Buồn nhiều hơn vui, hắn không nhớ bữa ăn đó ra sao.
Gần nửa khuya đêm 27 tháng 4, cả tiểu đoàn có lệnh moc vô đi vào thành phố Phước Tuy tử thủ. Từ bên ngoài thị xã, đại đội 92 chia thành những nhánh quân đi dọc theo dãy phố. Với hắn đây là lần đầu tiên chiến đấu trong thành phố. Có bao nhiêu hiểm nguy đang chờ ở từng ngỏ hẻm, từng góc phố.
Tin từ các trung đội cho biết T-54 của tụi nó đầy trong đường phố, không đủ M72 để bắn. Lệnh từ sĩ quan ban Ba tiểu đoàn “các đại đội tự quyết định… Tan Hàng Cố Gắng”.
Đại Úy Ruân không lưỡng lự “mày nói con cái dzọt về hướng Vũng Tàu”.
Khi hắn và bộ chỉ huy đại đội 92 ra khỏi lòng thị xã Phước Tuy thì Bắc quân pháo dữ dội trên trục lộ chính đi về phía Vũng Tàu. Hắn thấy trên đường đầy xác người dân chết và bị thương. Không do dự hắn tấp vào khu lao sậy bên đường đi băng về hướng cầu Cỏ May.
Sông Cỏ May bọc bên ngoài bìa thị xã Bà Rịa không rộng lắm nhưng cũng sâu lút đầu và nước cuốn khá mạnh. Khi hắn và đám lính trong trung đội 2 tìm được chỗ qua sông thì cũng nhào qua đại. Hắn mang PRC-25, dây ba chạc và ba lô đến nữa dòng sông thì chìm lĩm. Một thằng nào đó la lên biểu hắn thả ba lô. Hắn thả ba lô mà cũng không trồi lên được, nên cũng đành thả luôn máy PRC-25 trôi theo giòng nước. Trồi lên chìm xuống uống nước cho đã mà cũng chưa tới bên kia bờ. Lại thêm một lần may mắn, ở bên kia bờ sông, thằng bạn học cùng trường cao lớn hơn nhanh trí tháo dây nịt thẩy ra cho hắn chụp.
Qua được sông Cỏ May thì hắn hoàn toàn tay không, gia tài của hắn, máy PRC-25 và ba lô mang tên tuổi của đơn vị và nhật ký hành quân trôi đã theo giòng nước cuốn.
Buồn bã hắn theo Trung đội 2 tiếp tục đi. Khoảng chừng trăm thước thì gặp Tường Vi và Đại Úy Trần Ngọc Chỉ, sĩ quan ban Ba, đang ngồi trên một chiếc M113. Đại Úy Chỉ đưa cho hắn một máy PRC-25 mới bảo hắn bắt thẳng vào tần số liên lạc với Lữ Đoàn; đồng thời Tường Vi đưa cho hắn một cây M16.
Trở ra đến đường Quốc lộ, hắn ngồi phơi nắng cho khô bộ quần áo ướt. Có một người phụ nữ đang quang gánh tản cư dừng lại đem cho hắn hai bao thuốc lá rồi thầm lặng bước đi.
Lữ Đoàn I Nhảy Dù và một chi đoàn thiết giáp tổ chức tuyến phòng thủ bên này cầu sông Cỏ May. Đại đội 92 tập họp lại ở khuôn viên nhà nghỉ mát của cựu tướng Nguyễn Khánh, và chia các trung đội đi theo bảo vệ thiết giáp.
Ngày 28 tháng 4, Bắc quân gửi các toán dọ thám bò qua sông Cỏ May nhưng bị trung đội Nhảy Dù đánh bật lại. Ở chân cầu Cỏ May, các toán Công Binh Dù gài TNT để sẵn sàng giật sập cầu khi có lệnh.
Đêm 28 tháng 4, tiếng xe tăng T54 của Bắc quân đã gần đến bên kia cầu. Bên này cầu chi đoàn thiết giáp cũng sẵn sàng khạc lửa. Trong căng thẳng đó, hai chiếc M113 bất ngờ nhã đạn không ngừng vào bóng đêm trước mặt, suýt nữa bắn lầm vào bộ chỉ huy đại đội 92 đang phòng thủ bên cạnh đó.
Ngày 29 tháng 4, hệ thống liên lạc của Lữ Đoàn I Nhảy Dù bỗng nhiên bận rộn hơn. Trên không có tiếng máy bay rõ rệt. Tin đồn là bây giờ Bắc quân có cả Không Quân.
Khoảng 2 giờ chiều, toàn bộ Nhảy Dù và Thiết Giáp rút về Vũng Tàu. Trên đường từ cầu Cỏ May về, đám nằm vùng Việt Cọng ngang nhiên đem B40 ra đường nhắm bắn vào thiết giáp. Một chiếc M113 chạy trước mặt hắn bị B40 xước ngang hông, hai người lính nhảy dù rơi xuống đất nhưng không bị thương, được chiếc xe theo sau kéo lên đi tiếp.
Khi Đại đội 92 về đến Vũng Tàu, hắn thấy thành phổ vô cùng náo loạn. Đạn pháo 130ly và hỏa tiển 122ly của Bắc quân đang được đề lô điều chỉnh bắn vào khu chợ Lồng và Bến Đá. Có vài đám cháy bùng lên trong dãy phố.
Nhảy xuống xe M113, hắn chạy theo Trung đội 4 và bộ chỉ huy đại đội cắt ngang khu lồng chợ thẳng ra Bến Đá. Đang chần chờ phương hướng thì một quả 130ly đâm xuống mặt đất trước mặt hắn không đây 15 thước. Sau tiếng nổ inh tai và tiếng la hét, hắn tiếp tục chạy về phía trước, có hai thân xác áo hoa dù bị đứt ngang. Ai đó nói thằng Thuận ca sĩ và Trung Sĩ Nhận bị dính rồi.
Ngoài Bến Đá đông đúc các loại tàu đánh cá của dân địa phương. Lần lượt các tàu này quay đầu vào bến để bốc Nhảy Dù. Hắn thả cây M16 xuống nước, cột chặt máy PRC-25 lấy đà nhảy qua một chiếc tàu vừa lướt qua cách bến hơn một thước. Một chân đáp xuống sàn tàu một chân rớt ra ngoài, hắn măy mắn chụp được cái phao cột ngang sườn tàu leo lên vào giây phút chót.
Năm mười phút sau, khi tàu lềnh bềnh trôi xa, hắn nhìn lại thấy Vũng Tàu như trong biển lửa, có những chiếc xe M113 còn chạy dọc theo bờ Bến Đá.
Trên chiếc tàu đánh cá đưa hắn đi có khoảng hơn mười người. Chưa đi được bao lâu, về hướng Sài Gòn, thì tàu vô nước nên tất cả phải lấy nón sắt ra mà tát. Gần nửa đêm có chiếc tàu đi biển lớn hơn chạy ngang vớt nguyên cả đám.
Sáng ngày 30 tháng 4 khi đoàn tàu về ngang ngõ vào sông Sài Gòn, tình hình của miền Nam đã tới lúc không còn cứu vãn. Khi nghe tin đầu hàng trên máy PRC-25, Lữ Đoàn I quyết định kéo về Vùng 4, đoàn tàu đi thẳng luôn về hướng Gò Công.

Gò Công

Về ngang Gò Công, Lữ đoàn Trưởng Lữ Đoàn I Trung Tá Nguyễn Văn Đĩnh, trao lữ đoàn cho Lữ Đoàn Phó Trung Tá Lê Hồng, đi đường bộ về Sài Gòn để mang gia đình đi theo. Trung tá Lê Hồng giữ đoàn tàu lại, hứa sẽ chờ người chỉ huy cho đến sáng hôm sau.
Đại đội 92 nhân cơ hội xếp đặt một toán tiếp tế theo Thiếu Úy Trần Xuân Mỹ vào bờ đi kiếm thức ăn và nước uống. Hắn mang máy truyền tin tình nguyện đi theo. Trong chợ Gò Công chẳng còn ai buôn bán nên toán tiếp tế ghé vào nhà dân, xin ra giếng múc đầy mấy can xăng đựng nước.
Từ bảy giờ chiều ngày hôm đó hắn ngồi áp máy vào tai nghe tin tức. Đến nửa khuya, Trung Tá Lê Hồng cho biết mất liên lạc với Quân Đoàn 4, và có thể đoàn tàu sẽ đi ra đảo Phú Quốc.
Hai giờ sáng ngày 1 tháng 5, khi biết không thể chờ đợi thêm tin tức gia đình Trung Tá Đỉnh,Trung Tá Lê Hồng lên máy ra lệnh cho “tất cả ZuLu.”
Đoàn tàu lênh đênh gần suốt cả ngày thì ra đến hải phận quốc tế. Khi từ buồng lái tàu bước ra, hắn ngạc nhiên nhìn chân trời đen nghịt tàu chiến trong Hạm Đội Số 7 của Hải Quân Mỹ, và tàu chở hàng thương mại. Tự bao giờ, dân Sài Gòn đã lên chật đầy trên những sàn tàu đồ sộ
Lúc đó hắn chợt biết rằng con đường chinh chiến hắn đi từ gần ba năm qua đã tới chỗ tận cùng.

Mới ngày nào năm người lính tân binh nao nức về đơn vị; bây giờ chỉ còn một mình hắn, bồng bềnh trên biển cả, tiếp tục ra đi.

Trung Hậu

Ngày Chiến Sĩ Vô Danh, 2020

Chú Thích
702 – Hay còn gọi là Cửu Long Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 9.
701 – Tiểu Đoàn Phó
703 – Tử thương
Rách áo – Bị thương
Tấp – Xã láng, tapi, tấn công vào vị trí giặc
Zulu – Di chuyển

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Jul 2026

Trong một đất nước khốn khổ đầy tai ương, chiến tranh với bao điều chết chóc, tù tội, chia lìa, đói khát, nhục nhằn … đã làm người Việt Nam, ai không có một lần khóc, nhưng ít người được khóc sung sướng vì đoàn tụ, hạnh phúc trong suốt một cuộc đời bất hạnh của mình. Hôm nay, người viết bài này, bỗng thấy đôi mắt mình cay cay và những giọt nước mắt bắt đầu chạy quanh trong khoé mắt khi nhìn một tấm ảnh nhỏ, một cột, khiêm nhường trên trang nhất của tờ Việt Báo tại Quận Cam, đó là bức ảnh chụp bà Võ Phương, một phụ nữ thuyền nhân tại Phi Luật Tân, nước mắt ràn rụa đang ôm người ân nhân của mình, Luật Sư Trịnh Hội, trước giờ lên phi cơ đi định cư.

Trước đây không lâu tôi đã có dịp xem và xúc động về tập ảnh “The Forgotten Ones” (Những Người Bị Bỏ Quên) của nhiếp ảnh gia trẻ tuổi Brian Đoàn, chụp những hình ảnh trong ngôi làng “không một nụ cười” của những người Việt Nam tuyệt vọng bị giam lỏng tại Phi Luật Tân trong suốt 16 năm trời. Tôi điểm qua tập ảnh này dưới nhan đề của bài báo là “Ngôi Làng Buồn Thảm” và thật xúc động, qua nửa vòng trái đất nghĩ tới những con người cách đây mười sáu năm mang niềm hy vọng ra đi, giờ chôn chặt cuộc đời nơi cái làng hẻo lánh, phiền muộn này. Ở đây, mở đầu cuốn sách là con tàu bể nát trên bờ biển và kết thúc bằng những ngôi mộ ngổn ngang trong nghĩa địa, nơi chấm dứt cuộc đời và chôn sâu dưới lòng đất bao nhiêu hy vọng của một đời người. Ở đây là hình ảnh những đứa trẻ không tương lai, những người già biết chắc mình sẽ phải chôn vùi thân xác trong nghĩa trang càng ngày càng nhiều ở đầu làng, những người buôn thúng bán bưng trên vỉa hè của một xứ sở không khá gì hơn đất nước họ đã bỏ ra đi. Thế mà hôm nay, chuyến bay đầu tiên đã tới Miền Đất Hứa mang theo 229 đồng bào của chúng ta. Tiếc là không còn nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng nơi đây để hát lên cùng nhau rằng: “có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”. 1,600 người trong số 2,000 người tại Phi Luật Tân đã được chấp thuận định cư tại Mỹ và sẽ lần lượt đến đây sống cuộc đời tự do, được đối đãi tử tế trong vòng tay của thân thuộc và đồng hương. Từ 16 năm qua, nhiều thuyền nhân đã mong mỏi ngày hôm nay mà họ nghĩ khó lòng đạt tới, cũng như đã hơn 10 năm qua, những người có lòng đã hy vọng có ngày vui này. Như tự do không bao giờ cho không, để được có ngày hôm nay với 1,600 người Việt Nam bị bỏ quên trong cái gọi là … “Làng Việt Nam” được định cư tại Hoa kỳ, những người thiện nguyện đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc công sức, chưa nói đến chuyện đôi khi họ muốn nản lòng vì những con đường đi của họ cũng lắm chông gai bởi những thế lực cản đường.

Tôi chưa bao giờ quen biết hay tiếp xúc với người luật sư trẻ tuổi mang tên Trịnh Hội nhưng đã nhiều lần nghe bạn bè và giới truyền thông nhắc tới tên anh. Nếu như tôi là song thân của người con này, tôi cũng muốn con tôi lớn lên có bằng cấp, hành nghề kiếm tiền và làm giàu càng tốt, lấy vợ và sinh một đàn cháu kháu khỉnh cho tôi. Khi tôi được biết thêm, Trịnh Hội là con trai duy nhất trong gia đình, lòng tôi lại càng thấy khâm phục hơn về những gì mà gia đình Trịnh Hội đã hy sinh. Có cái gì thôi thúc mãnh liệt con người trẻ tuổi này, bỏ gia đình, bỏ đất nước mà anh đã tới định cư và cưu mang giúp đỡ cho anh trở thành một người khoa bảng, để tới những vùng đất khổ đau xa xôi như Hồng Kông, Thái Lan phục vụ cho tha nhân. Đó là một con người có lý tưởng. Sự phục vụ này không phải là một cuộc giải trí cuối tuần, một việc làm ngắn hạn, hay là một hành động bốc đồng khởi đi từ một ý niệm bất chợt nào đó. Trong xã hội hiện nay của chúng ta, hai chữ “phục vụ” đã bị lạm dụng một cách trắng trợn, như khi chúng ta nhờ tới một dịch vụ mà chúng ta phải trả tiền nào đó trong đời sống, kiểu “tiền trao cháo múc”, chúng ta cũng bị gọi là “được phục vụ”.

Có những người Việt tốt nghiệp từ các trường đại học danh tiếng, lấy danh nghĩa “phục vụ cộng đồng”, nhưng thực tế họ muốn về “nấp bóng”, sống nhờ với bà con trong “ao nhà” lâu nay vẫn có tiếng hiền lành, dễ tính, “trăm sự nhịn chín sự lành”, không thích đôi co, khiếu nại, kiện tụng như những sắc dân khác, mà thực tế chưa bao giờ những người này hy sinh chút tiền bạc hay công sức xây đắp cho cái “ao nhà” được mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn. Cái tên Trịnh Hội không thấy liên hệ gì với những vụ đụng xe, thương tích hay kiện tụng, nó là nguồn hy vọng của những người tưởng chừng như đã tuyệt vọng. Nó biểu hiện cho những gì tốt đẹp nhất của đời sống mà chúng ta gọi là “bác ái” hay “từ bi”.

Không như nhiều người trẻ tuổi khác đã quên hẳn quá khứ, quên họ là ai, vì sao họ đến đây, chúng ta còn có hằng trăm thiện nguyện viên trẻ tuổi có học, đã từ các vùng đất xa xuôi như châu Úc, châu Âu, châu Mỹ không chỉ có mục đích học xong để kiếm tiền sớm, làm giàu và sống an nhàn trong các thành phố lớn. Theo lời kêu gọi của lương tâm và quá khứ, họ đã tìm đến những người khó khăn, bất hạnh, để ít ra trên đời này con người còn có thể tin tưởng vào những gì gọi là sự tốt đẹp của đời sống. Tất cả các cộng đồng người Việt trên thế giới hôm nay đang nhìn về Los Angeles, nơi chuyến bay đầu tiên, biểu tượng cho sự tự do và bác ái vừa hạ cánh. Nếu không có mười năm tranh đấu bền bỉ của cộng đồng Việt Nam, nhất là cộng đồng Việt Nam tại Úc, không có tấm lòng của những con người như Trịnh Hội, tất cả các thiện nguyện viên, các nghệ sĩ, giới truyền thông báo chí và tấm lòng bao dung của những người đi trước không quên quá khứ, số người việt Nam này sẽ phải chết mòn trong sự vô vọng. Trong muôn vàn ngổn ngang của thiên tai, chiến tranh … nước Mỹ một lần nữa lại giang bàn tay đón nhận những người Việt Nam mất quê hương. Những giọt nước mắt tri ân của những con người bất hạnh đối với những người đã lặn lội từ các nơi tìm về “ngôi làng bị bỏ quên”, đã khiến chúng ta nghĩ rằng cuộc đời này vẫn còn quá đẹp, và thế giới còn được tỏa sáng với lòng nhân ái. Chúng ta cũng hy vọng rằng, những người đến Mỹ hôm nay, tuy là chậm, nhưng cũng là những người đi trước đối với những đồng bào của chúng ta còn thiếu may mắn hơn mình. Đừng như “con sáo sang sông … “.

Giọt buồn mưa sa

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 29 Jul 2026

Rời khỏi trại đón xe về quê mẹ

Con đường xưa còn nguyên gió bụi mù

Chiếc xe than trườn đi chậm chạp

Như thời gian đằng đẵng chốn lao tù

Ra khỏi trại ta như là trăm tuổi

Chẳng còn gì của người lính năm xưa

Hơi thở đau nhịp rền giữa ngực

Trên hình hài không phải là ta

Bồi hồi nhớ rừng khuya mù sương khói

Rét căm căm nằm co quắp thở dài

Thương mẹ sinh thằng con thời loạn

Cầm súng đi lâu chẳng thấy về

Nhớ thằng bạn không bao giờ về nữa

Gò đất hoang khép một cuộc đời

Rồi ngày sau người thân còn ai nhớ

Đem bạn về yên nghỉ ở miền Nam

Bồi hồi nhớ rừng khuya mù sương khói

Rét căm căm nằm co quắp thở dài

Thương mẹ sinh thằng con thời loạn

Cầm súng đi lâu chẳng thấy về

Ta trở về bạn ngàn năm ở lại

Lá rừng thu theo năm tháng lên đầy

Nghe dế giun hát bài ca thiên cổ

Buồn hay vui rồi cũng sẽ tàn phai

Trời thị trấn chiều nay mưa buồn quá

Ta cô đơn ngồi dưới mái hiên nhà

Thấy nỗi buồn bay giữa trời tơi tả

Tương lai nào trong những hạt mưa sa

Tương lai buồn như những giọt mưa sa.

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Jul 2026

Mỗi người Việt Nam mình là một nhà thơ! Nhưng không phải chỉ mấy anh mới biết làm thơ thôi đâu nhe. Mấy em cũng biết làm thơ và làm thơ rất tới!

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No. Anh có thương em thì mua một chiếc đò. Ðể em đi lại mua cò gởi thơ” là của mấy em đó thôi!

Tranh Bảo Huân

Ðêm cuối năm sầu lưu lạc! Nhớ quê nhà quá đỗi, tui bèn tẩn mẩn đem câu hát ru nầy ra chẻ nhỏ gặm chơi. Tui săm soi từng chữ coi có bớt được chút nào nỗi buồn xa xứ hay không?

Trường Ðại học Văn Khoa, môn ‘Ca dao Giảng luận’ Thầy tui, ngày cũ, cho rằng: Thơ truyền khẩu của ông bà mình là Ca dao, (từ Hán Việt). Ca có chương khúc, có vần, có điệu để hát và tấu (đàn hòa theo). Dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

Nhưng tui hổng có chịu cách cắt nghĩa tréo ngoe như vậy! Vì tui cho đây là lời hát ru của ông bà mình vốn làm ruộng mà đâu có học chữ Hán, chữ Tàu; nên không cần viết theo thể phú, thể tỉ, thể hứng gì ráo của mấy ông Tàu.

Lời hát ru đa phần là buồn quá mạng, tất phải có vần có điệu cho nó mùi, cho nó dễ nhớ, dễ thuộc. Câu lúc dài, lúc ngắn. Gieo vần có lúc ở giữa (yêu vận) có lúc ở cuối câu (cước vận); rồi vần với chữ tiếp theo sau là liên vận lên trầm, xuống bổng.

Nhưng tui hổng dám cãi; vì sợ thầy ‘quạu’ đeo cho bài thi của tui hai cái hột vịt!

***

  1. Cái Răng

‘Chợ Cái Răng xứ hào hoa. Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh. Có trường hát cất rộng thinh. Ðể khi hứng cảnh thích tình xướng ca!”

Cái Răng là cái Cà ràng. Người Thổ (Khmer) ở miệt Xà Tón (Tri Tôn, Châu Ðốc) nơi có đất sét tốt, làm cà ràng, nồi, ơ, trách, chất đầy một ghe, chở xuống vùng đất nầy bỏ sỉ cho vựa nó bán. Năm dài chày tháng, cái vùng đất chuyên bán mấy cái ‘cà ràng’ nầy được gọi là Chợ Cái Răng.

Cà ràng hình số 8. Một đầu vách lú lên cao, chắn gió, để lửa không tạt ra ngoài để cơm mau chín, canh mau sôi. Tới cái eo thắt lại đủ chỗ đút vô vài ba cây củi. Xong lại phình ra chang bang, đối xứng với cái đầu trên. Trước khi lấy lá dừa khô nhúm lửa, mình cào tro còn sót lại ở trên đầu cà ràng xuống; không cho tro rớt ra ngoài.

Nhớ hồi Má tui đi coi vợ cho tui, vô nhà người ta mà Má cứ xăm xăm xuống bếp làm như ở nhà mình vậy. Tui hỏi: “Chi vậy Má?”  “Thì tao coi cái bếp có sạch hông mới cưới nó cho mầy. Chớ cái bếp mà bung thùa cắt cái, mầy cưới về thì con vợ mầy chỉ biết nấu nước sôi”.

Má tui thiệt là bà già Trầu mà. Nếu em yêu hổng biết nấu cơm canh gì ráo thì tui đi ăn tiệm còn ngon hơn nữa, có sao đâu nè?

  1. Ba Láng

Láng là vùng đất thấp. Mùa khô láng đầy bùn nhão nhẹt khó đi. Mùa nước nổi, láng nước tràn linh láng; xuồng ghe phải vẹt bèo mà đi. Dân cư thưa thớt; chỉ muỗi, đỉa, vắt thì nhiều. Một Láng đã khổ như vậy thì Ba Láng ắt phải khổ gấp ba.

3.Vàm Xáng

Còn cái Vàm Xáng là ngã ba sông, nơi thằng Tây nó đem xáng vào để đào kinh: Một là dẫn nước ngọt từ sông Hậu vô để rửa phèn cho dân làm ruộng, lập vườn. Hai là đem phù sa sông Hậu bồi đắp cho những vùng đất trũng. Ba là tiện bề đi lại bằng đường thủy. Bốn là chợ búa sẽ mọc lên, buôn bán ì xèo, kinh tế phát triển.

Kinh Xáng mới đào, Tàu Tây mới chạy. Thương thì thương đại, Bớ điệu chung tình! Con nhạn bay cao khó bắn, Con cá lội dưới ao quỳnh khó câu!’

Xáng chạy bằng hơi nước thoát ra từ nồi ‘súp de’, chụm bằng củi tràm, củi đước sắp sẵn dọc trên bờ nơi xáng đào sắp tới.

Xáng là con quái vật khổng lồ, máy nổ ầm ầm vang xa năm ba cây số. Xáng mạnh tới 350 mã lực với gàu bằng sắt, múc sâu tới 9 thước, được 375 lít, thổi bùn ra xa đến 60 mét.

Mấy thằng Tây làm cai, đứng cao trên xáng, hò hét chỉ huy đám ‘cu li’ người Việt. Trong số ‘cu li’ đó cũng có nhà thơ đã đặt ra câu hát ru truyền khẩu buồn nẫu ruột gan là: “Ðèn treo dưới Xáng tỏ rạng bờ kinh. Em có thương anh thì nói cho thiệt tình. Ðừng để anh lên xuống một mình bơ vơ”

  1. Xà No

Vùng đất tên Xà No (Srok Snor) vì có nhiều cây điên điển. Ðất rộng người thưa, hoang vu chưa có chủ, nên hai thằng Tây Duval và Guéry xin chánh quyền thực dân Pháp cho đào con kinh Xà No. Toàn quyền Lanessan (1891 ­ 1894) cho đấu thầu ở Paris năm 1893.

Năm 1901 bắt đầu đào kinh Xà No tới tháng 7, năm 1903 là xong. Quân nhạc từ Sài Gòn xuống thổi kèn đồng tò le, tí le. Cả bọn gồm Toàn quyền Paul Beau (1902 ­ 1918), đám quan chức địa phương, thân hào nhân sĩ có máu mặt xúm nhau ăn nhậu, khui sâm banh lốp bốp; lại có cả nhảy đầm.

***

Con kinh mới cắm “bông tiêu”, xáng chưa nổ máy… chưa đào mà Toàn quyền Paul Doumer (1897 ­ 1902) đã ký nghị định số 338 ngày 14, tháng Hai, năm 1901 cho không hai thằng Tây Duval và Guéry 2,500 mẫu đất tốt hạng nhất (tọa lạc tại làng Nhơn Nghĩa, tổng Ðịnh Bảo, tỉnh Cần Thơ)

Ðiền Tây mướn bọn cựu lính Pháp có súng ống hẳn hòi làm cai điền. Tá điền nào bê trễ việc đong lúa ruộng, hoặc lén lút bắt trộm cá, tôm; ít thì bị bạt tai, đá đít. Nhiều thì giải lên Nhà việc đóng trăn rồi ra hầu Tòa.

Những người nông dân đó đã đổ mồ hôi sôi nước mắt mà vẫn bị mạt hạng cùng đinh có câu hát ru buồn rười rượi:

“Phải chi tôi ở nhà gạch nhà lầu? Mỗi năm xâu thuế hai đầu cũng cam! Phải chi tôi làm chú lái, ông bang? Mỗi đêm ra dỏ canh làng cũng ưng! Tôi nghèo cháy nóp chai lưng…Úy trời đất ơi! Sao không để tôi đi làm thuê làm mướn? Ðặng sống cầm chừng với vợ con!”

Rồi những người Việt theo bợ đít Tây như Tổng đốc Phương được 2,223 mẫu, thuộc các làng Hỏa Lựu, Hòa Hưng, Vĩnh Hòa Hưng.

Còn bọn hương chức hội tề chạy chọt, đút lót cho Tây thì giành đất mặt tiền, “đất mứt”, (sát bờ kinh) lấn bà con dân ngu khu đen vào tuốt bưng biền.

Xưa giờ nơi nào có hơi tiền là có Chú Ba tới hè. Nhiều nhà máy xay lúa, chành lúa mọc lên. Ghe chài từ Chợ Lớn kéo xuống ăn lúa, đậu đầy nghẹt cả một khúc sông. Chợ được chánh quyền sở tại cất lên để thâu huê chi, buôn bán ì xèo.

Lỡ một cục đất chọi chim cũng không có… thì đành: “Ngồi trên mui ghe chài lớn. Cầm lái về kinh xáng Thới Lai. Nhìn thấy khói đốt đồng mù mịt lên khơi. Bây giờ anh mới biết chán đời đi ghe”.

Mà sao ông anh chán đời đi ghe đến vậy? Chẳng qua là trên ghe rày đây mai đó. Nếu có vợ rồi cũng đâu được đem theo, trừ con vợ của thằng Chủ ghe chài cho theo để nấu ăn cho cả bọn.

Nếu còn cu ki, chưa có em nào, là thôi rồi Lượm ơi! Ðành: “U Minh, Rạch Giá thị (thiệt) quá sơn trường! Gió rung bông sậy dạ buồn nhớ em”. Hu hu!

Làm ruộng thì không có đất. Ði ghe thì buồn thiệt! Nhưng thôi đừng có dại dột mà nghe lời soạn giả Ðiêu Huyền xúi bậy đi theo VC như nhân vật Thừa trong tuồng ‘Tiếng Hò Sông Hậu’ nhe mấy cha!

Đoàn Xuân Thu

Bọc nhẹ túi không

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 04/05/2018  

Post by Sơn râu 29 Jul 2026

tặng độc giả thầm lặng N. Nguyen

Tôi đeo sac à dos sau lưng. Ra đi phải mang ba-lô, quần áo cứ thế chêm vô. Tôi mua một vé đi métro lắc lư chạy tới bến xe đò, tự hỏi mình về nguồn gốc chữ ba-lô. Vì sao lại Tây ba-lô nhỉ? Có Việt ba-lô chăng? Lắc lư con tàu đi. Tàu ấy là tàu hoả, tàu điện hay tàu thuỷ? Trên đất hay dưới nước? Chắc chẳng phải là tàu bay lượn trên không trồi sụt những mây chập chờn.

Đi về những địa phận khác thì có lắm người sắp hàng, riêng quầy bán vé Québec thì tôi là người đứng thứ ba, sau một bà già và sát cái va-li to tướng của một trung niên râu ria xồm xoàm. Khứ hồi hay sao? Người ngồi sau tấm kính hỏi tôi. Không, vé lẻ. Tôi trả lời và đút ba tờ 20 vào cái vòm cung khoét dưới tấm kính ngăn chia. Số bạc lẻ mà người mặc đồng phục màu xanh vừa thối cho tôi không chắc sẽ mua được một ly cà phê. Dầu gì thì chất nước không dùng để giải khát ấy là thứ mà tôi cần dung nạp. Bạn thấy đó, ở sân ga, ở bến tàu, ở sân xe đò, ở phi trường, kẻ lữ thứ thường dùng cà phê để đè nén bao bồi hồi, lắm xúc cảm.
Lại phải đối mặt với cô hàng cà phê: Lớn? Trung bình? Nhỏ? Tôi nhìn mặt hoa da phấn đang được tẩm hương thơm không phải cứt chồn. Trung bình, xin vui lòng. Và phụ chú thêm: Loại dark, strong. Plus fort possible. Đắt đỏ quá. Cà phê ở bến xe thường không mấy ngon, nhưng họ có lý do chính đáng để bán giá khác thiên hạ. Sắp lên đường mà, chín bỏ làm mười đi mà, phân bì kiện tụng đưa ý kiến làm gì cho ngày mất vui, sir!

Mông-xừ lạ mặt ôm ly cà phê đi ra ngoài trời. Trời nắng, thứ nõn nà của dương quang vừa thức giấc. Lá cây xanh biếc cũng bừng tỉnh, đêm qua hình như sương có về. Không gian dựng đặt một hình khối hư ảo, nó khiến tôi nhớ Hàn Mặc Tử: Sao anh không về chơi thôn Vỹ? Xa xứ lạc bước đến nơi này, tôi vẫn xem Québec là một thôn Vỹ tưởng tượng dù có thắp đuốc hai hàng cũng chẳng tài nào ngó ra một ngọn cây cau, một hoa bắp lay bên sông có dáng con đò sẵn lòng chở ánh trăng về đúng với hẹn thề.

Đây về thôn Vỹ mất hơn ba tiếng, chưa kể dọc đường phải dừng ba nơi để đổ người xuống đón khách lên. Liên tỉnh lộ thênh thang, hút mắt những cánh đồng không biên giới ẩn hiện những căn nhà tạo ra từng vệt màu nóng trên bức tranh thẫm xanh làm trôi bớt sự buồn tẻ điệp trùng. Một đàn bò ơ hờ gặm cỏ, đôi ba con ngựa chạy loanh quanh. Những chiếc máy cày được phủ bạt và đàn chim đậu trên dây chùng trông như những nốt nhạc chưa hoàn thiện, khó trỗi nên cung bậc du dương. Tất cả câm lặng vì xe đò dường như có trang bị hệ thống cách âm. Ngay cả khi lao thân dềnh dàng đi, tiếng động cơ cũng không việc gì phải gầm rú. Êm ái, rù rì, dễ làm mắt ríu lại.

Tôi đứng lên với tay moi bọc hành lý để nhặt ra cuốn sách nhàu cũ mang tựa “L’ile d’espérance”. Một kỷ niệm vàng úa Diane trao tay trước hôm từ giã Québec. Diane là cô giáo dạy Pháp văn ở ngôi trường COFI, cánh cổng học đường đầu tiên dành cho bọn di dân đa chủng tộc trọ trẹ ú ớ tấp vào. Cô tận tuỵ, chí tình chỉ bày và hơn bốn năm chia lìa tôi chưa ngốn xong cuốn tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Tôi đọc nhát gừng, chắp vá với cuốn từ điển Pháp-Việt tuy vậy vẫn cảm được cái không khí tan vỡ, đố kỵ, lạc lõng, mất niềm tin mà tác giả bày ra qua nhân vật Ernst Grâber, người lính trẻ được về phép từ mặt trận bên Nga. Diane đã rào đầu tuy cùng một tác giả nhưng cuốn “A l’Ouest rien de nouveau” hay hơn. Tôi thưa, hình như hồi còn ở quê hương, bậc trung học tôi đã từng xem qua, dưới tựa “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”. Và tôi đã chết mê chết mệt. Ở xứ tôi chiến tranh liên miên, ác liệt, gà cùng một mẹ đá nhau chết bỏ nhưng chưa có ai đủ nội công để vẽ nên một cảnh sắc bạc tình vô lý đớn đau kèm chút thơ mộng tựa Remarque. Xe đò mỗi lúc một thu ngắn dặm trường, Québec miền Tây Bắc biết có yên tĩnh như ngày xưa?

Tôi không là một quân nhân Đức được hai tuần phép về lại thành phố tan hoang bom đạn, tôi chỉ là một di dân mà Québec ngày đó đã mở ra cánh cửa đầu tiên, rộng lòng đón nhận, dạy dỗ nuôi nấng. Cho cơm ăn, cho áo mặc và cho tấm lòng vàng son của Diane thiết thân chia sẻ. Khác biệt không gian thời gian hoàn cảnh, khác tất. Nhưng lạ lùng là tôi đang mang tâm trạng gần giống như Grâber, hoài nghi chen lẫn bồi hồi. Nhân vật ấy về căn nhà cũ bị đánh sập, tìm bố mẹ thất lạc ở trung tâm tiếp cư, ở nhà thương, ở trường học, thậm chí chạy ra ngoài nghĩa trang để nhìn mặt từng tử thi. Còn tôi tự lục soạn trong đầu ra từng địa chỉ, bốn năm hẳn đủ dài để Diane thay đổi số phận trên chính quê hương mình? Tóc nâu luôn bối lên, cái ót nhiều lông măng, sợi dây chuyền đánh rất nhuyễn để đeo một mặt ngọc xanh hình thể như một giọt nước. Nước rơi lưng chừng giữa đường khe chia lìa đôi vú không mấy lớn, áo nịt ngực mang số A-34. Tiếng Pháp mang nặng thổ âm, luôn nói chậm rãi cho các “trò” bắt kịp, thông hiểu. Tôi mê đắm lời thơ Jacques Prévert khi Diane cất tiếng giảng về một bài học nằm ngoài giờ. Alicante:

Une orange sur la table
Ta robe sur le tapis
Et toi dans mon lit
Doux présent de la présent
Fraicheur de la nuit
Chaleur de ma vie.

Bến xe đò ở Québec có nới rộng, sửa sang, nâng cấp. Một khách sạn 3 sao nằm kề còn mới màu vôi, cờ tỉnh bang màu xanh nước biển in hình 4 bông huệ trắng phập phồng ở đỉnh cột vắng gió. Việt ba-lô đứng với thân chao khi cảnh cũ ập tới mang nhiều đổi thay. Từ đây về trung tâm thành phố nếu không dùng taxi thì băng qua bên kia đường, vào lồng kiếng đợi chuyến buýt mang số 11 ghé ngang, và tội gì phải gọi taxi. Xe buýt sẽ chạy vòng vo lắc léo ở các con đường, mất thời gian một cách vô lối, phí phạm để đánh đổi một lộ trình bình thường chẳng quá bốn lăm phút. Nhưng đã có hành khách là tôi đang mềm lòng hoài niệm, tôi muốn nhìn lại đủ mọi góc cạnh về nơi chốn tôi dầm mình trong hơn hai năm. Dịu dàng tươi mát trong đêm và cuộc sống tôi từng đón nhận sự ấm áp không diễn tả được bằng lời.

Ngôi trường đã đổi thay bảng hiệu, Mái ngói bạc màu như ngân sách tỉnh bang hết hào phóng nuôi dạy bọn người tứ xứ. Tốn kém cả trăm điều, bạn nên hiểu cho. Hỏi về một cô giáo tên Diane, tầm 40 tuổi, cao 1m 70 nặng 52 ký là chuyện bất khả. Chúng tôi không phải cảnh sát và nếu là police thì họ đề nghị bạn nên mang theo một tấm ảnh, mất chừng non tháng, hy vọng thế, chúng tôi sẽ tìm ra một bóng chim tăm cá. Cây xăng nằm ở góc đường vẫn chưa di dời. Tiệm tạp hoá gần bên cũng mang diện mạo loè loẹt như cũ. Một nhà giữ trẻ đối mặt với “kẻ thù” muôn đời có sức thu hút những đứa đầu xanh vô tội: McDonald’s. Tôi từng được nhận vào đó làm người phục vụ đồ ăn nhanh có mặc đồng phục tươm tất. Chỉ đúng một tuần vì trình độ giao tiếp với khách hàng của tôi quá thấp. Đang học tiếng Pháp và tiếng Anh thì đi đong kể từ hôm người bạn đồng minh nhẫn tâm tháo chạy. Nghe tôi bị đuổi, Diane an ủi theo cách của cô: Toi bị từ khước tới 10 lần thì đến lúc đó mới có cảm nhận đúng đắn về một cuộc sống xa lạ. Đừng nản, niềm tin là thứ chúng ta không thể để vuột trôi. Yêu một người cũng thế. Đam mê hoặc niềm tin đôi khi là hai chân phải trái mỗi ngày bạn cất bước xuống đường. Dọ dẫm rồi sẽ có lúc vững chải.

Tôi chẳng thích quan điểm của Diane, tôi không trang bị niềm tin nào cả. Cái tôi cần là một công việc và được trả lương mỗi thứ năm hàng tuần. Ba ngày sau tôi vào xin việc ở quán ăn có tên gọi lạ thường: “Con Mèo Bị Cảm”. Chủ quán người Ý, đã ba đời cắm dùi mưu sinh ở đây. Ông nheo mắt ngắm tôi: Ông nội tao khởi nghiệp bằng nghề rửa chén lúc 19 tuổi, 25 thì phụ bếp. 32 thành bếp trưởng và 45 tuổi ổng mở ra cái nhà hàng này. Mày tin không? Rửa chén thời buổi này sướng thấy mồ, có máy phụ đỡ một tay…Tuần lương đầu tiên tôi nhận được trong đôi tay bắt đầu biến dạng. Hai bàn tay đã tự nó đoạn tuyệt với giấy bút. Nước nóng, dầu mỡ, xà phòng, thuốc khử trùng, bùi nhùi, lọ nồi mãi bày binh bố trận để tôi ngập đầu vật lộn trong ma mị. Tôi bắt đầu quen miệng chửi thề, những từ ngữ mà chính Diane cũng không thông hiểu về nghĩa đen, nghĩa bóng. Tabarnak, chữ ấy làm gì có trong tự điển Larousse. Và dường như nó dễ phát âm hơn chữ Je t’aime.

Chân mỏi dừng đứng ở một ngả tư, lòng đang phân vân tôi chợt ngó ra một tấm bảng hiệu. Tấm bảng thật xấu, từ màu sắc cho đến cách đặt để những con chữ lộn xộn. Nhưng vì xấu, nó phô bày một sự gợi mời. “Quán Đồng Hương. Đặt Biệc PHỠ”. Một thương hiệu lạc loài, nó chẳng màng lỗi chính tả. Miễn bà con cô bác hiểu điều chúng tôi muốn nhắn nhe là vui rồi. Tôi vui chân băng qua đường. Dạo tôi còn ở đây, thành phố chỉ có duy một cái chợ thực phẩm Á Châu nhỏ xíu, điều này gây khó khăn không ít cho ai kia nuôi mộng mở quán ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Phỡ này chẳng biết có giống món Phở đặc thù của người Việt? Không cứ là ban đêm, đôi lúc ban ngày nhà ngói cũng giống như nhà tranh vậy! Và bạn tin không, vàng thiệt gặp lửa cũng phải sợ. Thứ gì mà chẳng ngán bà hoả. Ba má tôi mất sau 75, ông bà nói: Thà mà bị cháy nhà cho cam! Chiến tranh ròng rã mấy chục năm không sứt mẻ, đợi hoà bình tới mấy ổng ngang nhiên vào soán đoạt căn nhà dấu yêu kia. Khi không mà mình trở thành kẻ đầu đường xó chợ, và quy luật khách quan đã diễn ra, song thân tôi chết không nhắm mắt dưới tấm khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Tôi hằng tin những kẻ “Việt ba-lô” như tôi sống tản mác ở bốn phương trời cũng do 6 chữ vàng ấy xua đuổi đi (một đêm không trăng sao).

Quán không có thực khách, có hai cô gái ngồi cuốn chả giò, vừa làm việc họ vừa trao đổi về một cơn lụt lịch sử đang tác hại ở quê nhà. Giọng họ thật thản nhiên khi nói tới sự tổn thất quá lớn, nhân mạng, trâu bò gà vịt, mùa màng cũng như nhà cửa bị nhấn chìm trong mưa lũ. Tôi hiểu điều gì đã khiến lòng họ nguội lạnh khi nhắc về chốn xưa. Họ sẽ giỏi tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ, họ sẽ “merde” nếu tôi bảo chữ phở nên là dấu hỏi hơn dấu ngã. Lớp người họ thuộc loại thịt ba rọi. Đành vậy, nửa nạc nửa mỡ.

Ai đã đan tâm lấy đi một nửa thịt nạc của họ vậy? Và tôi, xương thịt này cũng là một thứ tái nạm gầu đó thôi.

Mấy người ạ? Một cô đứng lên khi thấy tôi bước vào. Chao ơi, phải mà tìm ra cô Diane nhỉ? Hai người. Chưa khi nào tôi nói được chữ đó. Tôi đã đánh rơi lời thề, rằng có ngày sẽ tự mình nấu cho cô ăn món bún bò. Tôi không trông mong đâu. Diane nói, rửa chén ở đó thì bất quá bạn chỉ nấu được món spaghetti là cùng. Dạ, chú thích ngồi ở đâu cũng được ạ. Tôi nhìn quanh và tôi đến ngồi dưới một bức tranh vẽ cảnh đò trôi trên sông với bóng chiều tà. Một bức tranh thuộc dạng “bờ hồ”, có nghĩa là chẳng mang chút nghệ thuật nào ở đấy cả. Vẽ là vẽ vậy thôi, bất biết những điều cơ bản cần có khi gia công. Mặt bàn có vuông kính dày, tấm thực đơn được ép mình bên dưới. Chú ăn gì ạ? Tấm màn sáo ngăn chia được vén mở, một người đàn bà từ sau bếp hiện ra ở đó, có lẽ vì nghe tiếng chào hỏi khách. Tôi nhìn bà ấy, mường tượng chính bà là người chèo đò trên giòng sông trôi xuôi về hoàng hôn. Đò chưa tấp bờ đã vội xắn quần leo vào triền cỏ. Cỏ lưa thưa, mọc cao thấp chút nhớ chút quên. Chút hoài nghi chút xác tín. Tôi đang tự giận mình khi nghĩ mãi vẫn chưa nhớ được một danh xưng. Soan, đúng là Soan, S chứ không phải X. Hoa Soan chớ không là hoa Xoan. Học chung lớp với tôi và theo như cách đánh giá của Diane: Một học trò kém!

Soan trông có già đi, bằng chứng là gương mặt ấy đã nương nhờ vào lắm mỹ phẩm, hoặc thời mới sang chưa có tiền để “nâng cấp” mặt mày? Soan đang vận dụng bộ nhớ, một học trò kém không hẳn là kẻ luôn nhớ trước quên sau. Cách Soan biểu lộ sự ngạc nhiên khiến hai cô gái phải sớn sác chú mục tới vị khách không mời. Săm soi, dọ hỏi, hoài nghi. Tôi ngồi ở cái bàn có hai ghế, một ghế tôi đặt đít và ghế đối diện chễm chệ cái ba-lô. “Ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế cắp nách”, đó là ngày tháng cũ của một thằng người vượt biên, thậm chí nó chẳng có gì để cắp nách ngoài một nỗi sợ hãi về canh bạc cầm chắc sự thua lỗ, từ chết tới bị thương đếm không xuể, canh cánh bên lòng. Đến được bờ bãi tự do, chí ít hắn phải nên sắm một cái ba-lô để đi đây đi đó (ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn!). Muốn ngồi chung bàn với tôi Soan phải kéo lê một chiếc ghế lại gần. Ôi, lâu ngày quá! Bấy chầy phiêu bạt nơi đâu? Đã lập nên công trạng gì chưa?

Tôi nhìn Soan, thầm nghĩ là mình yêu cái tên ấy quá. Tôi cũng yêu khuôn mặt trái soan của Diane. Chẳng biết hoa soan có đẹp không? Và hương mùi nó mang có đằm thắm?

Tôi vui lòng trả lời tất cả những vấn an của Soan, để đáp lại tấm thịnh tình tôi chỉ hỏi duy một câu: Có phải bà là chủ nhân quán này không? Giọng cười của Soan vỡ ra, phải nhiều nội lực mới tạo được một chất lượng tựa thế. Giọng cười quyền uy của một bà chủ. Gọi thức ăn chưa? Uống bia nhé? Mình đón mừng cuộc hội ngộ. Tôi ngắm người thiếu phụ học chung khoá Pháp văn kéo dài trong bốn tháng. Chỉ cần quen biết trong ngần ấy tháng ngày, tình cờ khi gặp lại, người đó sẵn lòng khao đãi bạn và gọi “đón mừng cuộc hội ngộ”. Tôi cảm động: Hồi nào quán cần người rửa chén đổ rác nhặt rau thì nhớ gọi tôi nhé. Tôi giàu kinh nghiệm việc ấy, nhớ không?

Soan đánh vào vai tôi: Mình không biết đùa, ghi số điện thoại trước rồi sẽ ưu tiên giải quyết cho. Quán đang cần sự góp tay của đàn ông.

Tôi đùa, được làm việc ở đây thì xem như lập được công trạng rồi, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhạc trong quán vừa trỗi bài hát ấy và tôi bè theo. Soan sửa thế ngồi: Tin được mấy phần? Lặn lội về đây có mục đích chi không? Tôi nắm lấy chai bia ướp lạnh mà cô tiếp viên vừa mang ra: Uống nước nhớ nguồn, tôi về thăm trường cũ, thăm cô Diane. Họ tốt với mình quá. Soan vẫy tay làm hiệu, người con gái đang cuốn chả giò ngưng công việc để tiến lại gần. Ngồi tiếp chuyện với chú này đi, tao lui sau lo ninh nồi phở cái đã. Con Trúc này là học sinh sau cùng của ngôi trường vắn số ấy.

Soan đứng lên Trúc ngồi xuống. Tóc che nửa mặt khi Trúc chùi những ngón vào cái tạp dề ca-rô xanh trắng. Tôi hỏi: Trúc có học với cô Diane không? Không, khi cháu vào học thì cô ấy vừa thôi dạy. Trường có tổ chức một buổi tiệc nhỏ với sự đóng góp của các học viên, tự mang lại, giới thiệu những món ăn đặc sản của quốc gia mình chung vui làm bữa tiễn đưa cô Diane. Trúc có biết lý do cô ấy nghỉ dạy? Nghe nói cô bị bệnh nặng, cô muốn về sống gần gia đình. Là rời khỏi Québec? Dạ, ba má cô ở phía cực bắc. Họ mang hai giòng máu, một nửa của thổ dân giống như người Esquimau vậy. Bộ chú không biết sao?

Tôi uống hết chai bia, hèn gì gương mặt Diane luôn thu giữ một nỗi buồn trầm lắng, lôi cuốn. Chút hoang dại cọng với niềm u ẩn ta thường nhìn thấy đọng chiếu trong những cặp mắt của những người không thích hoà mình vào văn minh thành phố. Họ khép kín, họ sẽ hân hoan chừng nào họ bắt gặp một khoảng trời rộng cho dầu trắng toát bạt ngàn giá băng. Tôi hiểu do đâu Diane luôn rộng lòng với những người di dân, những kẻ tị nạn như tôi. Cô hạnh phúc khi còn có chốn quay về, cô thương tôi vì tôi từng là đứa vô tổ quốc. Hắn đang ngồi trong quán Phỡ sai lạc dấu và hắn biết đã thực sự vuột mất cô. Hắn chưa đọc xong cuốn “Một thời để yêu một thời để chết” mà cô trao tặng nhưng hắn ngầm hiểu cái kết thúc bi thảm buộc phải tới của tác phẩm đó.

Không ăn phở vì nghĩ là món ấy dở, tôi gọi dĩa cơm sườn bì chả do đích thân Soan động dao động thớt. Tôi thương những giọt mồ hôi rịn ướt ở chân tóc Soan khi cô mang ra cái đĩa lớn một cách cực đoan. Tôi đùa: Món Sà Bì Chưởng của Soan thâm hậu quá, ăn tới mai vẫn không vơi bớt sáu phần hoả hầu. Cho mình gửi tiền. Tầm bậy. Soan nạt. Biết có còn nhìn thấy nhau bận sau mà vẽ vời. Chúng tôi ôm nhau một lát như ngày cuối kết trúc khoá học để mỗi người một hướng lìa xa. Ngày ấy Soan có hôn bên má tôi nhưng hôm nay thì không. Cô hỏi: Bây giờ vác ba-lô đi đâu? Phía Bắc mênh mông chi xứ biết đâu mà tìm. Thôi cứ thu cất một kỷ niệm đẹp, gặp lại người xưa thêm buồn vì người xưa đang thập tử nhất sinh. Tôi đánh liều hôn vào môi Soan, chỉ để ngăn Soan đừng nói. Soan xô tôi ra: Bậy bạ quá! Hồi nào hết đường đi thì trở lại đây, chắc chắn là không cần người rửa chén đâu.

Tôi cúi đầu. Thấy cái ba-lô không dưng nặng quá. Tôi sẽ trở lại một ngày xấu trời nào đó, việc đầu tiên tôi sẽ bắt thang lên nhúng cọ vào lon sơn để viết lại chữ Đặc Biệt Phở kẻo chúng bạn cười, khi dễ Việt ba-lô. Tôi sẽ lùng sục vào internet, đăng tải một lời cầu mong: Muốn gặp lại cô Diane bất kể cô ở ngàn trùng cách biệt. Quý vị nào hay tin xin chỉ bày, thành thật cảm ơn.

Tôi ra bến xa đò. Đi Montréal. Một vé lẻ. Xin vui lòng. Tôi mua một cốc cà phê. Hoàng hôn đổ xuống trên Québec nhiều bóng tối. Tôi sẽ về tới chốn tôi nương náu lúc nửa khuya. Mùa hè vẫn có từng cơn gió lạnh chạy vụt qua. Qua nhanh hơn cả mộng mị. Nhức buốt. Québec, Je me souviens.

Hồ Đình Nghiêm

Đằng sau cuộc chiến

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 29 Jul 2026

Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua thời lửa đạn, cũng từng phải khốn cùng trong ngục tù cộng sản sau ngày bại trận oan khiên. Ra tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như đất trời thương xót, hồn thiêng sông núi chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác.

Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và bên những vườn hoa, sản nghiệp của bố mẹ, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, phải bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù” về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi đưa Kỳ ra một chiến thuyền của Hải Quân để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất.

Theo đơn vị rày đây mai đó, tôi không có dịp gặp lại Kỳ. Đến khi nhận được lá thư gởi từ quân trường Thủ Đức, tôi mới biết là khi sau được chữa trị tại QYV Nguyễn Huệ Nha Trang, Kỳ được nhận theo học Khóa 23 SQ Thủ Đức. Tôi có nhận thêm vài lá thư của Kỳ, từ hậu cứ chuyển ra. Những bức thư đã viết từ 4, 5 tháng trước. Tôi hồi âm, nhưng không thấy trả lời. Tôi đoán là Kỳ đã ra trường và thuyên chuyển đến một đơn vị tác chiến nào đó. Mất liên lạc nhau kể từ dạo ấy.

Mùa hè 2010, trong tiệc cưới cậu con trai lớn của một người bạn cùng lớp thời trung học, tổ chức tại thành phố Cologne của Đức, tôi bất ngờ gặp lại Kỳ. Nếu hôm ấy người MC không giới thiệu những người khách đến từ phương xa, và với cái tên khá đặc biệt của tôi, thì có lẽ Kỳ và tôi đã không nhận ra nhau. Sau khi chào hỏi, Kỳ dắt tay tôi đến bàn bên cạnh, giới thiệu vợ Kỳ và vợ chồng cậu con trai. Thì ra Kỳ là sui gia với anh chị bạn của tôi. Cô con dâu của Kỳ là chị của chú rể trong tiệc cưới hôm nay. Vui mừng như gặp lại người thân trong nhà bao năm bặt tin nhau, nhưng chương trình tiệc cưới đang tiếp tục giới thiệu gia đình hai họ, nên Kỳ hẹn ngày mai sẽ đón vợ chồng tôi đến nhà dùng bữa cơm mừng cho cuộc trùng phùng và sẽ có rất nhiều chuyện để tâm tình.

****

Cuối năm 1966. Vừa chấm dứt một cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Đa Nhim bảo vệ an ninh cho công trường xây dựng nhà máy thủy điện. Sau gần hai ngày hành quân tảo thanh quanh khu vực Sông Pha, chưa kịp nghỉ ngơi, đại đội tôi lại có lệnh biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận, tham dự một cuộc hành quân hỗn hợp. Ông trung úy đại đội trưởng vừa mới bị thương, còn nằm trong Quân Y Viện. Không có đại đội phó, tôi là trung đội trưởng thâm niên nhất, được ông tiểu đoàn trưởng chỉ định xử lý thường vụ.

Cho đoàn xe chở đại đội dừng lại bên ngoài, tôi vào Tiểu Khu nhận lệnh. Người đón tôi là Trung úy Đinh Viết Hạp, Trưởng Phòng 3 (Hành Quân) Tiểu khu. Gặp anh bất ngờ, thật là vui, vì anh là huynh trưởng thời còn đi học ở trường Võ Tánh Nha Trang, phu nhân của anh lại là người bạn cùng lớp với tôi.  Anh cũng là bào đệ của ông tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng: Trung tá Đinh Viết Lãng. Sau khi nói qua cuộc hành quân, anh Hạp đưa tôi đến trình diện Trung tá Lãng để trực tiếp nhận lệnh và nghe những dặn dò đặc biệt. Tôi biết đây là một cuộc hành quân khá quan trọng.

Đại Đội tôi có nhiệm vụ tùng thiết một Chi Đoàn TQV, phối hợp với Hải Quân, đổ bộ đột kích bất ngờ vào Sơn Hải,  ngôi làng hẻo lánh nằm ven biển, bị địch chiếm đóng từ ba tháng trước và đang tổ chức thành một sào huyệt kiên cố. Lực lượng địch gồm một đại đội địa phương và các toán du kích. Có thể có cả ban chỉ huy tỉnh đội.

Đại đôi tiếp tục di chuyển đến Ninh Chữ, quê hương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Khu vực vừa tương đối an ninh vừa có bờ biển đẹp. Sau khi bố trí quân xong, cho anh em binh sĩ luân phiên ra biển tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi vào Duyên Đoàn 27 họp hành quân. Điều bất ngờ lý thú là anh Duyên đoàn trưởng, trung úy Hoàng Đình Thanh, lại là bạn cùng Khóa 16 VBĐL với anh đại đội trưởng của tôi, nên đám sĩ quan bọn tôi được Duyên Đoàn thết đãi và chăm sóc chu đáo. “Commandant” Thanh xem bọn tôi như em út của chính anh. Sau khi họp hành, nhận bản đồ và đặc lệnh truyền tin xong, anh xách xe jeep chở bọn tôi lên thành phố Phan Rang chơi xả láng một đêm và cả một buổi sáng hôm sau. Ông duyên đoàn trưởng gốc Võ Bị Đà Lạt này chịu chơi còn hơn cả đám bộ binh đánh đấm nhà nghề bọn tôi. Tửu lượng của anh cũng thuộc hàng “sư phụ”. Và đây là lần đầu tiên tôi tham dự một cuộc hành quân do Hải quân chỉ huy.

Một chiến hạm ủi bãi ngay phía trước Duyên Đoàn. Anh Duyên Đoàn Trưởng đưa tôi và anh Chi Đoàn Trưởng TQV lên chiến hạm trình diện Thiếu Tá Hạm Trưởng, người chỉ huy tổng quát cuộc hành quân đổ bộ, để họp bàn chi tiết. Chi Đoàn TQV và đại đội của tôi lên tàu lúc 4 giờ sáng. Chạy theo hai bên chiến hạm là các chiến thuyền Yabuta  của Duyên Đoàn. Chưa đầy một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã đến trước mục tiêu. Tàu dừng ngoài khơi để lính tráng ăn uống trước khi lâm trận.  Đúng giờ G, tàu tiến vào gần bờ. Lính bộ binh ngồi trên những chiếc M-113, rời chiến hạm, chia làm ba cánh, lội nước “bơi” vào bờ. Trong tranh tối tranh sáng, tôi mơ hồ tới trận đổ bộ Normandie của quân đội đồng minh trong Đệ Nhị Thế Chiến mà tôi đã được xem qua phim. Vì mục tiêu nằm ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, nên hải pháo từ chiến hạm tác xạ vào mục tiêu và hai ngọn núi trước khi chúng tôi tiến vào bờ. Tôi bàn với anh Chi Đoàn Trưởng TQV, khi cách bờ khoảng 50 mét, các đại liên 30 trên M-113 đồng loạt nổ súng vào mục tiêu, uy hiếp tinh thần địch, để đại đội tôi nhanh chóng đổ lên bờ và bung ra trước. Tất cả lính tráng đều đã cột trên cánh tay phải một băng vải trắng làm dấu hiệu nhận nhau, tránh việc bắn nhầm từ các xạ thủ trên thiết giáp. Lực lượng Duyên Đoàn nhanh chóng án ngữ mặt biển.

Đúng như kế hoạch tiên liệu. Chúng tôi làm chủ tình hình khi trời vừa sáng. Địch quân hoàn toàn bất ngờ, một số còn đang ngái ngủ chưa kịp hoàn hồn, một số vừa nhảy xuống giao thông hào cũng chỉ kịp đưa tay đầu hàng trước họng súng của binh sĩ đơn vị tôi, một số chạy tán loạn vào rừng, bị các chiến xa M-113 vây bắt, nhiều tên chạy ra biển, lọt vào tay của các chiến sĩ Duyên Đoàn. Hầm hố và công sự của chúng bị các thiết vận xa M-113 cày nát.

Sơn Hải, ngôi làng nghèo hẻo lánh, cách xa những vùng dân cư khác, nằm sát biển, dưới thung lũng, giữa một bên là những động cát mênh mông, một bên là hai ngọn núi thấp với khu rừng khá rộng. Không xa về phía Nam là Mũi Dinh với ngọn hải đăng hoang phế, được xây dựng từ năm 1904 dưới thời Pháp thuộc. Chính phủ muốn xây dựng lại và thành lập một đài kiểm báo, nhưng đơn vị Bảo An được đưa tới giữ an ninh, thường bị lực lượng địch tấn công liên tục, gây thiệt hại không nhỏ, phải rút bỏ. Người dân ở đây sống nhờ vào con suối nước ngọt chảy róc rách trong rừng. Ngôi làng  chỉ có chừng trên 60 nóc gia, đa số dân chúng sống bằng nghề đánh cá và trồng khoai lang, dưa hấu, nhưng hầu hết đã bỏ đi từ khi Cộng quân đến chiếm. Chỉ một số còn ở lại đều là thân nhân của địch. Dường như đã có các cuộc oanh kích hoặc hải pháo trước đây, nên một số nhà bị cháy sập, đổ nát, chỉ còn trơ vài mảng vách bám khói đen xám xịt, loang lỗ những vết đạn. Địch quân chọn vị trí này làm sào huyệt vì các đơn vị của ta khó tiếp cận, muốn đến đây phải băng qua một sa mạc cát, vừa mất sức lại vừa dễ bị phát hiện, và nếu có biến động, chúng sẽ thoát ra biển bằng ghe xuồng, hoặc chạy biến vào khu rừng bên cạnh. Chúng không ngờ cuộc hành quân phối hợp qui mô lần này, chúng không còn con đường nào khác để thoát thân.

Cuộc hành quân kết thúc. Kiểm điểm đơn vị, chỉ có một anh trung sĩ bị thương vào giờ chót trong lúc lục soát các hốc đá trong rừng, do trái lựu đạn nội hóa đám địch quân hốt hoảng tung ra trước khi tháo chạy. Địch chết gần ba mươi tên và khoảng mười tên bị bắt sống. Điều đặc biệt bất ngờ là trong số ấy có một em bé khoảng chừng 2- 3 tuổi, được tìm thấy bên trong một hốc đá nằm ở bìa rừng sát biển. Bên ngoài có một số tử thi của địch, cả nam lẫn nữ. Thằng bé bị thương nhẹ do một số mảnh đạn M-79. Rất may là không nguy hiểm đến tính mạng. Nhiều vũ khí bị tịch thu, trong đó có khẩu súng cối 60 ly và hai khẩu thượng liên Trung Cộng. Giao hết chiến lợi phẩm, tù binh và cả thương binh lại cho lực lượng của Duyên Đoàn. Theo kế hoạch hành quân, Chi Đoàn Thiết Giáp và đơn vị tôi tiếp tục băng rừng truy kích địch, tiến đến Mũi Dinh bảo vệ an ninh cho Duyên Đoàn đưa một đơn vị Địa Phương Quân đến canh giữ để xây dựng lại đài kiểm báo. Hai ngày sau, chúng tôi tiếp tục tảo thanh khu rừng dọc theo hai bên con suối,  trên đường tiến ra Quốc lộ 1.

****

Cả đêm thao thức không ngủ được, tôi nằm hồi tưởng tới bao chuyện vui buồn của một thời làm lính. Hình dung từng khuôn mặt của những đồng đội cũ. Một số đã chết, những người còn sống thì giờ này tứ tán muôn phương. Lòng thấy ngậm ngùi. Sáng hôm sau, khi ngồi ăn điểm tâm, tôi kể cho vợ chồng anh bạn nghe chuyện của tôi và Kỳ, rất vui khi biết hai gia đình đã là sui gia. Quả đất tưởng chừng bao la, nhưng cũng có nhiều giao điểm để có những cuộc trùng phùng thật bất ngờ kỳ diệu.

Buổi chiều, Kỳ đến đón chúng tôi. Vợ chồng người bạn xin từ chối vì bận phải giúp đôi tân hôn giải quyết một số việc sau đám cưới. Nhà Kỳ ở không xa. Chỉ hơn 20 phút lái xe. Căn nhà nhỏ nằm bên bờ sông Rhine thơ mộng. Sân sau khá rộng trồng nhiều hoa và vài cây táo. Chỉ có vợ chồng Kỳ ở đây, nhà vợ chồng đứa con trai duy nhất ở gần bệnh viện, nơi làm việc. Chồng là bác sĩ, vợ là y tá. Kỳ cho biết như thế và bảo vợ chồng cháu cũng đang trên đường đến đây để chào hai bác.

Trong khi vợ Kỳ rủ bà xã tôi ra vườn khoe mấy cụm hoa hồng nhung, Kỳ đi pha trà, tôi ngồi nhìn tấm ảnh của một đôi uyên ương trẻ, treo trên vách, nhớ tới khuôn mặt khá khôi ngô, xinh xắn của đứa con trai và cô dâu mà Kỳ đã giới thiệu tôi tối hôm qua trong tiệc cưới. Bỗng giật mình khi nghe tiếng Kỳ hỏi:

– Năm ấy, khi em bị thương trong trận đổ bộ xuống một ngôi làng ven biển Phan Rang, có một thằng bé mới 3 tuổi cũng bị thương và được Duyên Đoàn tản thương về Dân Y Viện Phan Rang với em, anh còn nhớ không?

Tôi suy nghĩ giây lát rồi trả lời:

– À, mình nhớ ra rồi. Chắc là con của người dân nào đó, sợ quá bỏ chạy mà không kịp mang theo.

– Không, là con của một tay Việt cộng, sau 75 về làm một chức gì đó khá lớn trong tỉnh Ninh Thuận.

–  Sao em biết?

Thay vì trả lời tôi, Kỳ chỉ tay vào tấm ảnh treo trên vách. Tấm ảnh tôi vừa mới xem qua.

-Anh có nhớ vợ chồng đứa con trai của em ngồi chung bàn với vợ chồng em trong đám cưới tối hôm qua?

Tôi còn đang ngơ ngác, Kỳ nói thêm:

-Chắc anh không ngờ, thằng bé bị thương ngày ấy lại là con của vợ chồng em. Con nuôi!

Đúng là tôi quá bất ngờ. Hơn nữa, chuyện xảy ra đã quá lâu, nếu Kỳ không nhắc, có lẽ tôi không còn nhớ. Sau khi rót nước trà vào tách mời tôi, Kỳ kể tôi nghe về câu chuyện ấy.

Khi được tản thương về Dân Y Viện Phan Rang, không phải chỉ có Kỳ mà có cả thằng bé bị thương ấy nữa. Nhận được tin báo, từ Đà Lạt bố mẹ và cả vợ Kỳ tức tốc chạy xuống Phan Rang thăm và săn sóc cho Kỳ. Khi nghe kể lại chuyện thằng bé bị thương cùng trận với Kỳ mà không biết cha mẹ của nó là ai, ông bà đến thăm thằng  bé. Thấy nó tội nghiệp dễ thương, ông bà xin bệnh viện cho vợ chồng Kỳ nhận làm con nuôi. Ông bác sĩ giám đốc bệnh viện mừng quá, vì đang lo lắng chưa biết phải giải quyết tình trạng thằng bé này ra sao. Sau khi chữa lành vết thương, bệnh viện làm giấy tờ giao thằng bé cho ông bà và vợ Kỳ. Khi làm giấy khai sanh, theo đề nghị của vợ Kỳ, thằng bé được đặt tên là Hà Văn Ngộ. Riêng Kỳ được chuyển tiếp ra QYV Nguyễn Huệ Nha Trang để được giải phẫu lấy vài mảnh đạn trong vùng dưới bụng. Không ngờ định mệnh đã an bài cho đứa bé ấy sau này trở thành đứa con duy nhất của vợ chồng Kỳ. Vì do ảnh hưởng vết thương lần ấy, bác sĩ giải phẫu cho biết là Kỳ không bao giờ có con mặc dù chuyện chăn gối, tình dục vẫn bình thường.

Bé Ngộ lớn lên trong vòng tay yêu thương của vợ chồng Kỳ cùng tấm lòng nhân hậu của bố mẹ Kỳ, mà nó cứ ngỡ đó chính là bố mẹ và ông bà nội của nó. Nó là một đứa bé có nhiều diễm phúc.

Năm 1975, khi bé Ngộ vừa tròn 9 tuổi, thì cùng với số phận của miền Nam, gia đình Kỳ trở nên khốn đốn. Kỳ bị vào tù. Cậu em trai của Kỳ đang học Khóa Võ Bị đã phải theo trường di tản vào Nam trước khi thành phố xinh đẹp này lọt vào tay giặc. Ông anh của Kỳ là sĩ quan TQLC được bạn bè cho biết đã chết ở bờ biển Thuận An ngoài Vùng 1. Bà chị của Kỳ theo chồng là lính Pháo Binh lên Pleiku không biết sống chết thế nào. Bố mẹ Kỳ bao năm sống khá giả bằng nghề trồng hoa bỗng dưng thất nghiệp. Bao nhiêu thứ hoa đẹp đẽ ngát hương bây giờ chỉ còn là cỏ rác. Cả mấy khu vườn đều bị chính quyền trưng thu sáp nhập vào Hợp Tác Xã “Rau Xanh”. Đà Lạt quí phái thơ mộng bây giờ trở thành một thành phố chết. Dân tình đói rách, cây cỏ úa tàn. Chỉ còn có lớp sương mù phủ kín một vùng núi đồi ảm đạm. Cùng với nhiều người khác, bố mẹ Kỳ cũng muốn cắt ruột bỏ đi để mong tìm ra một con đường sống, như đã từng phải bỏ quê hương Hà Nội hơn 21 năm về trước. Nhưng rồi phải ở lại để chờ đám con cháu trở về.

Sau hơn năm năm tù, Kỳ được thả về. Bố mẹ đã mất. Trong ngôi nhà xưa chỉ còn có vợ Kỳ, bé Ngộ và hai mẹ con bà chị, sống sót trong cuộc di tản trên Tỉnh Lộ 7 kinh hoàng. Riêng ông anh rể gốc Pháo Binh thì mất tích, không có chút hy vọng nào còn gặp lại. Người em trai của Kỳ, sau khi di tản theo trường Võ Bị, đã ra trường “non” ở Long Thành. Ở tù gần 2 năm, trốn trại, thoát và cùng vượt biển với một người bạn, được tàu Cap Anamur vớt nên được định cư từ năm 1978 ở Tây Đức. Nhờ có sẵn trình độ và ý chí được rèn luyện từ trường Võ Bị, anh vừa học đại học vừa đi làm kiếm tiền giúp gia đình còn ở Việt nam. Cũng nhờ người em này tận tình giúp đỡ, nên gia đình Kỳ tạm vượt qua bao khó khăn, và sau đó có tiền vượt biển, đến đảo Palawan, và được bảo lãnh sang định cư tại Tây Đức.

Những năm cực khổ, vợ Kỳ rất vất vả, có khi phải đi cuốc đất thuê, gánh rau mướn. Bé Ngộ lúc ấy mới 14 – 15 tuổi đã phải bỏ học để đi làm phụ mẹ. Trong hoàn cảnh khốn cùng, tình mẹ con càng thêm thắm thiết. Nhiều lúc vợ Kỳ không còn nghĩ bé Ngộ là con nuôi của mình.

Sang Đức, vợ Kỳ được em trai Kỳ xin vào làm trong hãng Siemens mà anh là kỹ sư sản xuất. Kỳ cố gắng theo học ngành kế toán và được nhận vào làm ở Sở Thuế Vụ thành phố,  cùng sở với người bạn của tôi, và nhờ đó mà sau này hai người trở thành sui gia.

Khi bà xã tôi phụ giúp vợ Kỳ làm món ăn trong bếp thì vợ chồng Ngộ dắt theo đứa con gái nhỏ cũng vừa đến. Nghe bao điều bất ngờ Kỳ kể lại, nên tôi tò mò chăm chú nhìn Ngộ kỹ hơn, muốn tìm ở cậu con trai này một điều gì không mấy thiện cảm, hoặc không giống vợ chồng Kỳ. Nhưng rồi tôi ngạc nhiên, khi nhận ra ở Ngộ là một thanh niên có giáo dục, lễ phép, nhân hậu và thông minh. Cả trong cái cười, cũng rất giống Kỳ ngày xưa, lúc còn là lính với tôi. Một chút gì đó gần như là ác cảm vô cớ trong tôi biến mất. Tôi thoáng một chút ngượng ngùng.

Một bữa cơm đoàn tụ thật vui. Bà xã tôi cũng dễ thân thiện gần gũi và rất quý mến vợ chồng Kỳ cùng vợ chồng cháu Ngộ và đứa cháu nội của Kỳ, ba tuổi, bập bẹ nói tiếng Việt nam.  Chia tay, tôi chúc mừng Kỳ có một gia đình hạnh phúc. Khi đưa chúng tôi ra xe, cháu Ngộ lễ phép mời vợ chồng tôi và ba má cháu đến nhà dùng một bữa tiệc cá, do vợ chồng cháu đi câu được, trước khi chúng tôi trở về lại Na-uy. Cháu còn bảo là hôm ấy sẽ mời cả ông bà bố mẹ vợ, là bạn thân của tôi, để được đầy đủ một nhà, Tôi nắm tay cháu, nhận lời và nói cám ơn.

Hai hôm sau, Kỳ gọi phôn bảo sẽ đến đón vợ chồng tôi đi thăm trại chăn nuôi do vợ chồng người em trai làm chủ. Cách thành phố hơn một giờ lái xe. Ở đó cũng có một vườn hoa và nhiều cảnh đẹp. Trại có hơn 500 con heo, 20.000 gà vịt, và có cả lò ấp hột vịt lộn nữa. Nghe nói tới trại chăn nuôi bà xã tôi rất thích, nhất là món hột vịt lộn, lúc ấy ở Na-uy chưa có. Vợ chồng người em của Kỳ đón tiếp chúng tôi thật nồng hậu. Người sĩ quan tốt nghiệp “non” của trường Võ Bị này trông rất còn phong độ. Tóc cắt ngắn, đôi mắt sáng, giọng nói cứng cỏi như vẫn còn là chàng SVSQ đứng trên đỉnh Lâm Viên thuở trước. Cùng gốc lính với nhau nên rất dễ thân tình. Vợ chồng tôi rất phục anh. Vừa là kỷ sư trưởng trong hãng Siemens nổi tiếng lại vừa là ông chủ của một trại chăn nuôi rộng lớn, với gần 20 người làm. Chúng tôi được đãi món cơm gà thật tuyệt vời do chính tay anh nấu, và anh cũng không quên gói một thùng hột vịt lộn làm quà cho bà xã tôi  (riêng tôi không hảo món này lắm).

Cơm nước xong, chúng tôi cáo từ và theo vợ chồng Kỳ đi thăm một vài thắng cảnh quanh đây. Kỳ đưa chúng tôi đến một vườn hoa. Đang đúng mùa hoa nở. Mênh mông các sắc màu. Ngát hương trong gió. Nhưng khi vừa đến nơi, Kỳ bảo vợ đưa bà xã tôi đi ngắm hoa, còn “hai anh em tôi thì đã có sẵn hoa trong nhà rồi, nên không cần ngắm hoa ngoài vườn nữa”. Kỳ nói đùa rồi dắt tay tôi đến ngồi trên chiếc ghế đá đặt dưới một tàn cây khá lớn. Phía trước là một con suối nhỏ chảy qua chiếc cầu làm bằng gỗ. Vừa ngồi xuống, Kỳ mở lời tâm sự:

-Có một điều làm em cứ băn khoăn, không biết phải giải quyết như thế nào. May mà gặp được anh ngày hôm nay. Có thể Chúa đã sắp xếp để em được gặp lại anh, được tâm tình về một câu chuyện anh đã từng chứng kiến, và mong anh chỉ dẫn cho như cái hồi em còn ở với anh trong lính.

Tôi ngạc nhiên, không biết có điều gì quan trọng mà trông Kỳ có vẻ bối rối. Chưa kịp hỏi, thì Kỳ lại lên tiếng:

– Mẹ ruột thằng Ngộ đã chết trong trận ấy, nhưng bố của nó thì thoát được, vẫn còn sống, hiện đang ở Phan Rang và giữ một chức hàm gì đó khá lớn trong chính quyền Cộng Sản.

– Cháu Ngộ có biết không? Tôi hỏi.

– Cháu Ngộ chưa biết anh ạ. Nó luôn nghĩ vợ chồng em là bố mẹ ruột của nó.

-Như vậy thì tốt, Kỳ cần gì phải bận tâm.

Đắn đo giây lát, Kỳ lại buồn bã:

-Ông ta đã nhắn tin tìm con và nhờ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”, một chương trình giúp tìm người thất lạc trong chiến tranh, thông báo trên đài truyền hình bên Việt Nam. Em nghe bà chị ở Đà Lạt bảo như thế. Bà chắc chắn ông ta chính là bố ruột của thằng Ngộ, vì ông kể lại những chi tiết rất chính xác như những gì mà em đã từng kể cho bố mẹ và chị ấy nghe về thằng Ngộ trước kia.

Tôi khá bất ngờ, không tìm được ý kiến nào để nói với Kỳ. Lại thấy áy náy khi Kỳ vẫn còn kỳ vọng vào mình. Nhưng chuyện này không phải đơn giản như chuyện đánh đấm, hay chỉ huy một tiểu đội lính ngày xưa. Bỗng tôi nghĩ đến bản thân tôi, cũng mất mẹ năm mới lên ba tuổi và ba tôi một đời đã dành trọn tình thương bao la cho tôi như thế nào. Có điều Ngộ không hề biết là ngoài vợ chồng Kỳ ra, nó lại còn có một ông cha ruột trên thế gian này. Oái ăm thay, ông cha ấy lại chính là kẻ thù của bố Kỳ, của ông chú, bà cô và cả ông bà nội nữa. Chẳng phải tất cả những người này đã gánh chịu bao nhiêu mất mát đau buồn khốn khổ vì những người Cộng Sản như ông bố ruột của Ngộ?  Tôi nói ra ý nghĩ này với Kỳ, như muốn gợi ý là Kỳ hãy quên chuyện ấy đi. Ít nhất sẽ không gây những khó khăn, xáo trộn tâm lý cho vợ chồng cháu Ngộ.

Kỳ lắng nghe. Suy nghĩ một lúc rồi nói nhỏ như chỉ tự nói với chính mình:

-Mẹ ruột của nó lại bị chính trung đội em giết chết, trước khi em tìm thấy nó trong hốc đá.

Có một điều gì đó chặn ngang dòng suy nghĩ của tôi. Một lúc sau, tôi nắm tay kéo Kỳ đứng lên đến bên cây cầu gỗ trên dòng suối nhỏ. Nhìn dòng suối chảy mang theo một cánh hoa tulip, có lẽ người nào đó vừa ném xuống trên đầu dòng. Tôi cúi xuống, với tay nhặt lấy cánh hoa. Một ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu, tôi buộc miệng thốt ra với Kỳ:

– Tất cả rồi cũng như dòng nước kia. “Có ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông?” Tốt nhất hãy để cho nó cứ tự nhiên chảy qua cầu, cho dù có kéo theo bao nhiêu bông hoa hay là rác rưởi. Cuộc chiến mà chúng ta đã tham dự, chẳng phải đã có nhiều bông hoa đẹp nhưng cũng có bao rác rưởi đó sao. Nếu được, hãy giúp cho cháu Ngộ giữ lại những bông hoa, như cái hoa này. Còn tất cả rác rưởi nên để cho nó trôi vào quên lãng.

Lời nói mơ hồ, không đâu vào đâu ấy như chỉ để bào chữa cho cái bế tắc của tôi và tất nhiên Kỳ không thể nào hiểu được. Sự thất vọng hiện rõ trên mặt. Kỳ chau mày:

-Em cũng đã từng dặn lòng là quên phứt cái chuyện này đi, nhưng cứ mỗi lần trông thầy thằng Ngộ là em lại nhớ ra, rồi băn khoăn suy nghĩ. Có nhiều đêm em mất ngủ.

Cuối cùng, như muốn để không làm phiền tôi và cũng tự nhủ mình, Kỳ đập vai tôi, quyết liệt:

– Rồi! Kể từ hôm nay em nhất định sẽ dẹp hẳn chuyện này. Không nhớ và cũng không nhắc tới nữa. Anh cũng vậy, xem như chưa hề nghe em nói chuyện này nghe. OK?

Tôi vòng tay ôm vai Kỳ, nói hai tiếng “OK” mà trong lòng dường như còn có điều gì chưa ổn lắm.

Ngày họp mặt ở nhà vợ chồng cháu Ngộ thật vui và cảm động, vì mọi người ai cũng có ràng buộc ân tình. Riêng tôi đã gặp lại hai người bạn cũ. Nhất là Kỳ, một đứa em nhà binh kết nghĩa, đã gợi lại trong tôi bao kỷ niệm của một thời chinh chiến. Chúng tôi rời Cologne trở về lại Na-uy ngày hôm sau. Vợ chồng Kỳ và vợ chồng người bạn đưa tôi ra phi trường.  Suốt hai giờ ngồi trên máy bay, đầu óc tôi nặng nề với hình ảnh của Ngộ và câu chuyện về người cha ruột mà Kỳ đã kể cho tôi nghe. Tôi biết, cũng như tôi, Kỳ bảo là sẽ quên “phứt” đi, nhưng chắc chắn là sẽ không thể nào quên được.

Mấy tháng sau, như thường lệ, cứ đến mùa đông là vợ chồng tôi bay sang Cali (Mỹ) để trốn cái lạnh Bắc Âu và thăm mấy cô con gái. Ở Cali nắng ấm, chúng tôi lại có bao nhiêu bạn bè, thời gian gặp gỡ, chuyện trò không còn trống cho đầu óc suy nghĩ vẩn vơ. Bỗng một hôm tôi nhận được điện thư của Kỳ. Thư viết khá dài:

“…Cuối cùng thì vợ chồng em đã quyết định cho thằng Ngộ và vợ nó về gặp bố nó. Bà chị em còn ở bên Việt nam cho biết, ông ta bị tai biến mạch máu não và trong tình trạng nguy ngập. Chờ chết. Nội bộ của mấy tay Cộng sản bây giờ lục đục lắm. Ông bố của thằng Ngộ này nắm một chức gì đó dễ hái ra tiền. Chuyện tham nhũng hối lộ ở Việt nam bây giờ gần như “không người lái”. Nước họ còn bán được huống hồ là đất. Có lẽ ăn chia không đều ra sao đó, cánh ông bố của thằng Ngộ bị phe đàn anh mạnh hơn, có lọng to che, đánh cho gục luôn. Bao tội lỗi trút hết trên đầu ông ta. Cả đám em út vào tù, ông ta mất chức, chờ ra tòa lãnh án thì bị tai biến mạch máu não. Nghe nói khi ra Hà Nội, ông ta có lấy một nữ đồng chí, sinh được một thằng con trai, nhưng nó nghiện ma túy rồi theo băng đảng, bị giết chết trong một cuộc ẩu đả khi vừa lên 16 tuổi. Sau này khi có chức quyền tiền bạc ông bỏ bà vợ già để lấy một cô á hậu hay người mẫu “miệt vườn” gì đó, tuổi bằng con ông. Bà vợ già giận bỏ ông về Bắc. Sau này, khi ông thất sủng, bà vợ trẻ của ông cũng đã bỏ ông để chạy theo một tay công an, vốn là đàn em của ông, vào tận Vũng Tàu, mang theo tất cả vàng bạc tiền của cùng cô con gái nhỏ, mà nhiều người đồn đãi chẳng phải máu mủ của ông. Tài sản còn lại bị các đồng chí đàn anh tịch thu chia chác. Cuối cùng ông ta sống trong cô đơn và trở thành “vô sản” như chính ông một thời bị lừa gạt để hô hào mị đám nông dân nghèo lúc trước. Bà chị của Kỳ nghe được trên đài truyền hình, lời ông nhắn tin mong muốn được gặp mặt đứa con trai thất lạc một lần trước khi ông nhắm mắt. Bà gọi sang khuyên vợ chồng em cố sắp xếp cho vợ chồng thằng Ngộ nó về gặp ông ta một lần. Gia đình mình có đạo đức nhân nghĩa. Thôi dù sao nghĩa tử cũng là nghĩa tận. Bà bảo thế.

Như anh biết đó, chuyện này thì chính em cũng đã từng nghĩ đến, nhưng lại không muốn cho thằng Ngộ biết lai lịch của nó. Nó sẽ buồn lắm nếu biết vợ chồng em không phải là bố mẹ ruột, và bố ruột nó lại là một người Cộng sản. Em và bà chị bàn nhau. Em bảo với vợ chồng thằng Ngộ, ông ta là anh nuôi của em, tức con nuôi của ông bà nội, thất lạc bao nhiêu năm trong chiến tranh bây giờ mới biết. Vì em không thể về Việt Nam, nên vợ chồng nó thay mặt em, về thăm ông bác ốm nặng, nhân dịp về Đà Lạt thăm bà cô và mồ mả ông bà nội. Cũng để vong linh ông bà nội được vui. Bà chị thì tìm gặp riêng ông ta, báo cho ông biết là đứa con thất lạc ấy vẫn còn sống, thành đạt và đang sống rất hạnh phúc với cha mẹ nuôi ở nước ngoài mà nó vẫn nghĩ là cha mẹ ruột của nó. Bà chính là chị của ông bố nuôi ấy. Sẽ đưa hình ảnh nó cho ông xem. Hứa sẽ năn nỉ cha mẹ nuôi cho nó về gặp ông, với điều kiện là ông phải giữ kín, không nói ông là cha của nó cũng như mẹ của nó đã qua đời khi nó lên ba. Làm vậy là cốt để tránh cho nó bị “sốc” vì quá bất ngờ, hụt hẫng có thể gây xáo trộn tâm lý, nguy hiểm cho nó.

Mọi sắp xếp đều thuận lợi. Vợ chồng thằng Ngộ đã bay về Việt Nam sáng hôm nay. Em hy vọng là mình đã làm hết bổn phận để sau này không có điều gì hối hận. Có tin gì thêm em sẽ báo anh sau..”

Bận bịu với bao bạn bè từ vài tiểu bang xa tới thăm, chưa kịp hồi âm, thì vài hôm sau tôi lại nhận thêm một email mới của Kỳ, có kèm theo vài tấm ảnh.

“…Khi bà chị đưa vợ chồng Ngộ đến gặp ông ta trong bệnh viện, tuy mệt nhưng ông còn tỉnh táo lắm. Nhờ anh y tá đỡ ngồi dậy. Ông sững sờ nhìn Ngộ thật lâu, đôi mắt sáng lên. Có lẽ ông không ngờ đứa con thất lạc, ông bỏ lại chiến trường từ lúc mới 3 tuồi, không hề được ông nuôi nấng, bây giờ lại là một thanh niên tuấn tú, thành đạt và hiền lành đức hạnh, khác hẳn đứa con trai của ông với bà vợ Bắc kỳ, mà ông đã từng cưng chiều, lo lắng. Ông chắp hai tay cúi gập mình trước bà chị của em như muốn tỏ lòng biết ơn người đã dưỡng dục Ngộ. Bỗng ông bật khóc và cố lấy hết sức tàn ôm chầm lấy Ngộ. Ngộ ngạc nhiên nhưng cứ để yên, giữ lấy hai cánh tay để ông gục đầu lên vai mình. Khá lâu, không nói một lời gì, cũng không còn nghe tiếng khóc. Khi cảm thấy có điều bất thường, Ngộ bảo bà cô và vợ nó phụ đỡ ông ta nằm xuống. Mọi người hoảng hốt khi thấy ông đã tắt thở từ lúc nào.

Cháu Ngộ phụ ông bác sĩ làm hô hấp nhân tạo. Sau một lúc, cả hai đều lắc đầu, bảo ông ta đã chết.

Cả anh ý tá rồi ông bác sĩ vuốt mắt ông để phủ lên di thể tấm ra trắng, nhưng mắt ông vẫn mở trừng. Nghe lời bà chị em, cháu Ngộ đưa tay vuốt, mắt ông nhắm lại. Rồi đột nhiên mặt ông trở nên hồng hào và trên miệng như vừa mới mỉm một nụ cười.

Không có ai đến thăm ông ta. Các đồng chí một thời của ông có lẽ vì sợ liên lụy nên cũng đã tránh xa ông. Cháu Ngộ đứng ra nhận lo chi phí cho việc chôn cất và xây phần mộ cho ông. Đám tang thật buồn. Cũng chỉ  có vợ chồng Ngộ và bà chị em tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Em nghĩ chắc ông yên lòng ra đi khi đã được nhìn thấy mặt đứa con trai lạc nhau khi mới vừa 3 tuổi, giờ là một thanh niên thành đạt. Và vợ chồng em cũng yên tâm, xem như cháu Ngộ đã thực sự đoạn tuyệt một gốc gác đau lòng.”

Nhìn tấm ảnh của ông, Kỳ gởi kèm theo điện thư (tấm ảnh đặt trước quan tài, có lẽ chụp đã lâu, lúc ông ta còn đang quyền lực), tôi thấy thấp thoáng khuôn mặt của Ngộ. Không biết vợ chồng Ngộ có nhận ra điều này không, hay có thể đó chỉ là ảo ảnh được ráp nối từ những mảng liên tưởng mơ hồ của tôi. Nhưng điều này bây giờ đâu còn có ý nghĩa gì khi Ngộ đã thực sự bước ra khỏi đám mây mù quá khứ. Tất cả như đã cuốn theo dòng nước chảy qua cầu.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 Jul 2026

“Đời ty nạn tìm đâu ra hạnh phúc,

Quốc gia nào ghi nhận dấu chân tôi?”

(Hai câu thơ của ai đó đã khắc lên một bức tường của Ngôi Làng Buồn Thảm!)

“Dưới ống kính của Brian Đoàn, trong toàn thể tập sách, tôi chỉ tìm thấy duy nhất một nụ cười trong ngôi làng buồn thảm này, đó là nụ cười của một người mất trí, anh Huỳnh Phong.”

Where can a refugee find happiness? Which country will record my foodprint?”

The poem was written on a wall at the camp by an anonymous Vietnamese refugee. It describes the stateless condition of “The Forgotten Ones”.

– Palawan, The Philippines, 2004

Cái cảm giác của tôi sau khi xếp lại cuốn sách “The Forgotten Ones” của người nhiếp ảnh gia trẻ tuổi Brian Đoàn là một cảm giác phiền muộn. Những gì đã được Đoàn ghi lại qua ống kính trong tập sách này là quang cảnh của một ngôi làng buồn thảm và những con người thiếu sinh khí, không có lấy một nụ cười. Đi từ một vùng biển hoang vu Palawan, với xác một con tàu vỡ nát còn lại trên bờ cạn và chấm dứt với những ngôi mộ ngày càng nhiều ra ở trang cuối, toàn thể tập ảnh là một bài thơ buồn, tuyệt vọng, không thấy hé lên ở cuối chân trời tăm tối một tia ánh sáng nào. Tôi chưa hề có dịp ghé lại làng Việt Nam trên đảo Palawan của quốc gia Phi Luật Tân, nhưng những gì tôi được nghe thấy qua sự diễn tả của người ở xa về mô tả, thì đó là một sự tuyệt vọng vô bờ của những người Việt Nam, cách đây 15 năm đã hăm hở trong một đêm tăm tối nào đó, ra đi mong có được một cuộc đời tươi sáng, đẹp đẽ hơn. Người tới thì đã tới bận rộn với đời sống bon chen, người chết thì đã chìm xuống biển sâu tăm tối u uất, người trở về thì đã để phần còn lại của cuộc đời mình theo số phận đưa đẩy. Chỉ còn lại những con người ở đây. Tôi hình dung ra họ là những con cá mắc cạn trên bờ khô, đang ngáp thở những hồi mệt nhọc, những con người đã bị thế giới này quên lãng từ lâu, hiện sống những ngày mỏi mòn vô vị, không có tương lai.

Những đứa trẻ như hai chị em Nguyễn Kim Tuyến, Nguyễn Ngân Tuyến đã sinh ra dưới những ngôi nhà tăm tối và trong vòng thép gai của ngôi làng này, học hành ra sao, tương lai sẽ như thế nào? Những người đàn bà như chị Võ Thu Vân bị kéo lên máy bay về Việt Nam nhưng vẫn quyết lòng ở lại, rồi cuộc đời sẽ đi về đâu? Bà Nguyễn Thị Thương theo chương trình con lai đến Palawan nhưng không đủ điều kiện đành phải chấp nhận làm người lưu dân ở đây vĩnh viễn cùng chung hoàn cảnh với 200 người khác. Anh Hoàng Đức Minh đến đây năm 1989, kết hôn với một thiếu phụ Phi Luật Tân, nhưng chính hoàn cảnh này đã đưa gia đình anh đến chỗ tuyệt vọng, không thể đi định cư ở bất cứ nơi nào.

Một số người từ đây đã ra những khu phố tồi tàn của Manila để kiếm sống bên vệ đường như anh Phan Ngọc Diệp mà vẫn còn bị xua đuổi. Một cựu quân nhân VNCH như anh Lê Văn Trung với tấm thân đau yếu, đang chờ đợi những gì ở ngày mai. Anh Huỳnh Phong cùng vượt biên với gia đình, vợ con đã chết trên biển, sự mất mát và nỗi tuyệt vọng khốn cùng đã khiến cho anh trở thành một người mất trí. Chúng ta thấy những đứa con lai Mỹ lạc loài, không được quê cha chấp nhận, như Trương Tấn Thành đã ở đây mười ba năm dài đằng đẳng.

Ngày xưa, cái tên Palawan, trong hồi tưởng của Brian Đoàn, là tiếng gọi reo vui của người đã với tay được tới bờ tự do, là tên một hòn đảo của hy vọng của những ngày mất phương hướng trên biển cả mênh mông, nhưng giờ đây khi Brian Đoàn có dịp đến thăm, nó lại là mảnh đất của vô vọng, nơi giam hãm những mảnh đời phiêu bạt, không có bến neo. Brian Đoàn cũng đã chuyển lại cho người đọc, cho tôi, ánh mắt buồn rầu của những đứa trẻ không có tuổi thơ, những ngấn lệ của người già đang chờ những ngày tàn, tháng tận.

Đây là những người có thể nói là đã hết đường hy vọng, họ đã qua nhiều lần thanh lọc, đã bị những phái đoàn ngoại quốc thẳng thừng từ chối. Họ vẫn còn là người Việt Nam nhưng không bao giờ muốn trở lại quê hương, họ không được xem là người Phi dù đã sống trên đất Phi mười lăm năm nay. Họ không có quyền sở hữu tài sản, không có việc làm ổn định. Trong quá khứ họ đã chứng kiến bao nhiêu cái chết, bao nhiêu nỗi chia lìa, bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu tiếng kêu gào đau đớn. Đây là nơi tập họp những bệnh tật, nghèo khổ, bị khinh rẻ, kỳ thị của những người tuy được coi là con người, nhưng đã hoàn toàn bị người đời quên lãng.

Từ cái làng buồn thảm này, những người Việt Nam đã ra đi, trong một khoảng cách gần hay xa, để kiếm miếng sống trên mảnh đất xa lạ này với những nỗi nhọc nhằn bất tận. Đó là từng ngày, từng buổi chiều, từng đêm, rồi buổi sớm mai thức dậy lập lại những nỗi chán chường miên viễn.

Trong cái làng mang tên là làng Việt Nam buồn thảm này, họ vẫn còn nuôi hy vọng, hy vọng như những đốm lửa nhỏ nhoi trong đống tro tàn đã hầu như nguội lạnh. Họ hy vọng cho tới một ngày nào đó khi xuôi tay nhắm mắt nơi cõi xót xa này mà chưa hề mỉm được một nụ cười mãn nguyện và sẽ xếp hàng theo những bia mộ ngoài nghĩa trang.

Không có hy vọng, thì những con người trong ngôi làng buồn thảm này đã chết vì khô héo từ lâu. Dưới ống kính của Brian Đoàn, trong toàn thể tập sách, tôi chỉ tìm thấy duy nhất một nụ cười trong ngôi làng buồn thảm này, đó là nụ cười của một người mất trí, anh Huỳnh Phong. Dưới ống kính của Brian Đoàn, những đôi mắt của những người lớn chứa đựng những nỗi niềm tuyệt vọng đã đành, cả đến những đứa trẻ, cũng đã mất hết cả sự hồn nhiên trong trắng của tuổi thơ. Sự thành công của Đoàn, dù chỉ vỏn vẹn trong ba mươi bức ảnh, đã làm cho người ta cảm nhận được những gì Đoàn muốn chuyển đạt đến người xem, khi niềm tuyệt vọng, u uẩn thể hiện lên từng bức ảnh. Riêng đối với câu chuyện của những người hiện đang sống tại Phi Luật Tân đang tuyệt vọng tìm một nơi để đến định cư, và những quan tâm gần đây của những người có lòng đã đến với họ, tôi chỉ lo sợ một điều, chúng ta có nên vứt thêm một cành củi mục xuống nước để cứu cho những người sắp chết đuối chăng?

Bức tượng

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 28 Jul 2026

Còn gì trong giáo đường đổ nát

Giữa tan hoang chồng chất tan hoang

Có người lính sau đêm đụng trận

Lặng lẽ quỳ ngay giữa thánh đường

Chúa ở đâu trên tường vôi trắng

Vết đạn găm những mắt vô hồn

Hay Chúa phải chết thêm lần nữa

Để hai lần cứu rỗi trần gian

Người lính trận sau giờ ngưng bắn

Quỳ lặng yên như bức tượng đồng

Bên giáo đường khói lửa chưa tan

Chúa có thấy buồn đau tuyệt vọng

Bên giáo đường khói lửa chưa tan

Người có thấy buồn đau tuyệt vọng

Ngôi giáo đường hay chiến trường đổ nát

Chúa còn không hay Chúa bỏ đi rồi

Đêm Quảng Trị ngang trời phi pháo

Mắt đỏ ngầu cháy giữa tang thương

Người lính trận sau giờ ngưng bắn

Quỳ lặng yên như bức tượng đồng

Bên giáo đường lửa khói chưa tan

Chúa có thấy buồn đau tuyệt vọng

Bên giáo đường lửa khói chưa tan

Người có thấy buồn đau tuyệt vọng

Mấy mươi năm xa rồi thời binh lữa

Ai dưới mộ ai đất khách lưu vong

Người lính trẻ trong giáo đường năm cũ

Anh còn không đâu đó trên đời

Hay từ lâu Chúa đã đón anh về

Trong giáo đường đổ nát

Người lính buồn tự hỏi

Lạy Chúa tôi Chúa còn đó không?

Hay Chúa đã đi rồi