This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chữ rằng: “Cần Thơ đi dễ khó về! Trai đi có vợ; gái về có con!” Đó đó! Đúng y hịt đời tui vậy đó bà con ơi!
Như ai nấy nếu để ý đều biết bất cứ thị trấn, thị xã nào của Lục tỉnh Nam Kỳ, quê mình, đều kề cận một dòng sông.
Vì cũng có câu rằng: “Sông Cửu Long chín cửa hai dòng! Người thương anh vô số, nhưng anh chỉ một lòng với em!”
Rồi thòng thêm câu hỏi nữa: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ. Ta với mình chồng vợ nên chăng?”
Thì em yêu, dân Cần Thơ, tóc em dài em cài hoa thiên lý, nghe anh hỏi mi mí… là em biết tỏng cái tim đen, bèn trả lời móc họng anh, như vầy: “Biết rồi mà bày đặt hỏi lôi thôi!”
Có nghĩa là: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương vội mẫu từ ‘quánh’ em!”
Ha ha! Mẫu từ, mẹ hiền, mà roi vọt bất tử quá vậy ta? Nhưng có nhằm nhè gì! Quánh em; chớ có dám quánh thằng ‘rể đu đủ’ tương lai trời đánh nầy sao mà mình sợ chớ?! Nên tới luôn bác tài…Vì em đã chịu đèn rồi!
Chẳng qua là tới tuổi quân dịch, tui vào lính; nhưng bị bịnh mộng du! Bác sĩ quân y thuộc Hội đồng giám định y khoa khám, cho tui về hoãn dịch vì lý do sức khỏe!
Vì tối nào tui cũng ngủ mớ, tuột cái rột, ra khỏi giường, đi vòng vòng doanh trại, dạo mát trăng thanh; nhưng không có ý thức gì ráo!
Mật khẩu không biết, đêm cà lơ phất phơ… lính canh nó phơ ẩu là bỏ mạng sa tràng…
Thôi lính chê thì mình về đi học nữa vậy!
***
Năm 1970, tui theo thằng bạn thân, sau Tết, mùng Bốn, đi Cần Thơ cho biết đó biết đây; ở nhà với Má biết ngày nào khôn?
Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, trên Quốc lộ 4, qua Bắc, leo lên xe Lam, chạy một hơi thôi, khoảng 1300 mét, là tới Ngã ba Lộ tẻ.
Rẽ trái vào trung tâm thành phố Cần Thơ! Rẽ phải vào liên tỉnh lộ dẫn đến Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá và Hà Tiên.
Tại Ngã ba Lộ tẻ, có Bến xe mới xe lên Sàigòn; hoặc xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chạy thẳng tắp từ đây tới tận quận Cái Răng; mà không phải đi qua trung tâm thành phố. Vào trung tâm Cần Thơ phải qua cây Cầu đôi bằng sắt, kiểu Eiffel, bắc ngang qua rạch Cái Khế.
Bên kia cầu là một ngôi biệt thự kiểu Pháp, xưa dành cho mấy ông Tây; sau nầy là Dinh của Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa . Đi tới là dinh Tỉnh Trưởng! Trước mặt là một bùng binh khá rộng, nơi hội tụ của nhiều con đường chạy vòng vòng để khỏi đụng nhau.
Đường Phan Đình Phùng xuất phát từ đây, coi như là cái xương sống của thành phố, chạy ngang qua Ty Bưu điện, Tòa án, Tòa Thị Chánh, Ty Cảnh Sát, Trường Tư thục Nam Hưng, v.v… xuống tận khu Cầu Xéo.
Một đường khác cũng từ dinh Tỉnh Trưởng hướng về Cầu Tham Tướng, là Đại lộ Hòa Bình. Nhưng dân quen gọi là đường Hàng Xoài, vì dọc theo đường có trồng xoài.
Đại lộ Hòa Bình, lớn nhưng ngắn ngủn, chấm dứt khi tới Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa (Nơi em yêu của tui làm đó nhe!). Đường Lý Thái Tổ, bắt đầu từ đây, chạy dài tới cầu đúc Tham Tướng.
Qua cầu, là đường Mạc Tử Sanh, phía bên trái là chợ chồm hổm, chỉ nhóm vào buổi sáng, nhưng tấp nập quanh năm vào buổi chiều tối vì có xề bánh cống, quầy hủ tiếu, gánh cháo gà cho dân nhậu bình dân.
(Tham Tướng là Mạc Tử Sanh, con của Mạc Thiên Tích (Hà Tiên), làm cận vệ cho chúa Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần.
Năm 1777, quân Tây Sơn ồ ạt tấn công xuống miệt Trấn Giang (Cần Thơ)! Mạc Tử Sanh bị vây, chết trận nơi khoảng rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ! Sau nầy dân chúng đặt tên là rạch Tham Tướng!)
Rạch Tham Tướng chạy vòng vòng phía trong, cắt ngang đường Tạ Thu Thâu, chui qua cái cầu sắt nhỏ, cầu Rạch Bần, vốn là đường thoát nước mưa tự nhiên cho Cần Thơ! Sau nầy nghe nói đã bị lấp! Nên bây giờ mưa lớn một chút là Cần Thơ ngập thấy thảm… thương luôn?! Tội nghiệp mấy em mắc mưa, ướt luôn cái quần lãnh Mỹ A hết ráo!
Cầu Tham Tướng đã biến mất, đường Mạc Tử Sanh đi về hướng Cái Răng cũng bị mất tên luôn, thành đường 30 tháng 4.
Ngã ba Tham Tướng xưa có doanh trại của đại đội Quân vận 411, dưới hàng cây bã đậu. Sau nầy là quán cà phê và quán nhậu bình dân. Ôi những ngày đói rách, lang thang sau khi mất nước, tui không biết làm gì; chỉ biết long nhong như ở không lắm vậy! Và từng đóng đô thường trực ở đó. Ngồi tréo ngoảy, trước mặt ly rượu thuốc ngâm ô môi, có màu cho dễ ực; vì màu trắng mắt mèo, e nó có nhúng một đầu tăm thuốc trừ sâu cho rượu trong veo… Thấy ớn quá hà!
Xa em, người đã cả gan bán chịu cho tui ngày cũ (mà không sợ bị giựt)! Biết giờ em giờ phiêu bạt tận phương nào, để tui gởi về em một, hai trăm đô Úc, bồi đáp cái ‘bát cơm phiếu mẫu’ ngày xưa?!
Phần để cho em có tiền mua trầu nhai bỏm bẻm, chống tay lên cằm mà nghĩ tui vẫn còn thương tưởng tới em?!
Nhưng nếu bà con mình ở tỉnh khác tới chơi; người ta khoái cái bến Ninh Kiều hơn là chợ Tham Tướng!
Bến Ninh Kiều, nơi nghĩa quân Lam Sơn đã đánh quân Minh xâm lược một trận tơi bời; nên nằm trên đường Lê Lợi.
Thế mới biết ông cha mình đặt tên đường, tên bến nước là đầy trí tuệ, có hậu ý; chớ không phải như sau nầy muốn đổi tên đường sao cũng được; tùy bữa say nhiều hay xỉn ít đâu nha mấy cha?!
Nhạc sĩ Lam Phương, năm 75, theo tàu Trường Xuân, ông chạy sớm hơn ai hết thảy. Xa quê, tuốt bên trời hải ngoại, ông vẫn còn nhớ tới bến Ninh Kiều để: “Một đêm anh mơ mình ríu rít đưa nhau về / Thăm quê xưa với vườn cau thề /Bàn tay anh đan dìu em bước trên cỏ khô/ Đi trong hoang vắng chiều Tây Đô!”
Đó là ông ước, ông mơ, ông nhớ về ngày tháng cũ: “Bờ sông yêu xưa tà áo thướt tha mỹ miều/ Sao anh không thấy về Ninh Kiều? Dường như anh nghe đời nặng trĩu trong màu đen/ Đen như manh áo buồn chưa quen!”
Rồi ông nhớ cái thuở học trò! “Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường/ Nay nghe sao khác từ tên đường/ Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương/ Tây Đô sẽ sống lại yêu thương!”
Cái trường, ông Lam Phương, (xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường), là trường Phan Thanh Giản, trường công lập lớn nhất miền Tây, được thành lập vào đầu thế kỷ 20.
Học sinh ở các tỉnh lân cận, như nhà văn Sơn Nam, miệt Rạch Giá, vẫn phải khăn gói đến trường Phan Thanh Giản để học tiếp bậc “Đút rơm trâu ăn mê” (Diplôme) tức Trung học Đệ nhất cấp!
Tới năm 1964, trường Phan Thanh Giản lại được tách ra để thành lập Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm. (Em yêu của tui đã từng đi học ở đó!)
Sau 75, Trung học Phan Thanh Giản bị thay bằng Châu Văn Liêm.
Mà không phải chỉ cái trường học bị đổi tên đâu mà những con đường chu vi trường cũng chịu cùng chung số phận.
Cổng trường nằm trên đường Phan Thanh Giản bị đổi thành đường Xô Viết Nghệ Tỉnh. Đường Pasteur, giữa trường Phan Thanh Giản và trường Đoàn Thị Điểm, bị đổi tên là Võ Thị Sáu.
Ông Pasteur, dù là Tây; nhưng có công lớn là đã chế ra thuốc chủng ngừa, cứu mạng hàng triệu người, không phân biệt màu da sắc tộc, khỏi bệnh tật!
Công lớn với nhân loại khó có ai sánh bằng vậy mà cũng bị đuổi đi… để thay bằng chị Sáu… ‘mùa lê kim ma’ nở?
Nhưng tui buồn nhứt có lẽ là đường Võ Tánh, dọc bên hông trường, từ đường Phan Thanh Giản tới đường Ngô Quyền; đã đổi thành đường Trương Định.
Không phải tui (dám) ghét bỏ ông Trương Định, một anh hùng kháng Pháp, gì đâu. Mà chẳng qua con đường Võ Tánh, dẫu ngắn, có một khúc tẻo tèo teo thôi; nhưng nó lại mang quá nhiều kỷ niệm…
Phía sau lưng đường Võ Tánh nầy là xóm Cả Đài (theo tên Hương cả Phạm Thành Đài), bắt đầu từ cái chợ nhỏ cũng gọi là chợ Cả Đài kéo dài dài đến chùa Cây Bàng; nơi tui từng ở trọ gần trường để tiện đường… đi gõ đầu trẻ hồi năm nẳm.
Tui nhớ quán Ngọc Lan, chuyên bán cơm tháng cho quân nhân và công chức. Năm 1973, nếu mua vé cả tháng, sáng ăn đưa một vé, chiều ăn đưa một vé!
Bữa nào hỏng ăn, lại đi ăn cháo, gỏi đầu cá lóc (bự ế kinh), ngon hết biết, với em yêu ở đường Nguyễn Trường Tộ thì khỏi đưa vé…
Ăn hết xấp vé đó mua xấp vé khác, tốn 4 ngàn đồng bạc, dằn túi; không sợ đói bất tử vì đôi khi hứng xài ẩu… (Hồi thanh niên, đứa nào hỏng vậy cà?)
Từ quán cơm Ngọc Lan, có ông chủ lúc nào cũng mang mặc áo bỏ vô thùng bảnh tỏn, đi vài căn nữa thì tới tiệm chụp hình Phúc Vinh, nơi em yêu làm duyên, chụp tấm hình cho anh lộng bóp; để lúc nào cũng phải nhớ tới em!
Và nếu vắng em, có con ‘quỷ hó’ nào dám lục bóp anh, thì nó thấy tấm hình bà La Sát nầy là nó sẽ bỏ chạy sút dép luôn!
Sau 75, người ta đói xanh râu, đói đến lòi hai cái lỗ tai; nên tiệm Phúc Vinh không còn chụp hình nghệ thuật nữa mà quay sang bán cháo, gỏi gà… để kiếm cơm!
Tui đã từng theo Giáo M. nhà ở hẻm 5, đường Phan Thanh Giản tới đây nhậu.
(Giáo M. có người em gái trắng như bông bưởi! Tắm xong, em hay ra hàng hiên ngồi hong tóc; mà tui tình cờ trông thấy… phải há hốc cái mồm!)
Thưa bà con! Dù Cần Thơ không phải là nơi chôn nhau cắt rún của tui nhưng là quê hương yêu dấu ngậm ngùi của em yêu.
Cần Thơ là quê vợ, là người tui rất sợ; nên tui còn yêu Cần Thơ hơn cả quê tui nữa đó!
Vì nơi đó có em… và còn có mấy em khác (tui thầm thương trộm nhớ) nhưng vì đã có vợ rồi nên tui đành phải giữ mối tình câm…Nên riết rồi… tui bị ‘hâm hâm!”
Tui xa Cần Thơ… Đi và đi luôn tới mấy chục năm!
Người xưa bên ấy, mới đây, gởi cho tui câu ca dao nầy, tui lén vợ, tui học thuộc lòng, kẻo quên:
“Con chim buồn, chim bay về cội/ Con cá buồn, cá lội trong sông/ Em buồn em đứng em trông/ Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!”
Thôi xin tạ lỗi cùng em hẻm 5, đường Phan Thanh Giản!
Thân anh giờ như: “Chim vào lồng; như cá cắn câu! Cá cắn câu biết đâu mà gở; chim vào lồng biết thuở nào ra!”
Hẹn 9 AM ở lầu 1 khu vực K. Đừng quên thẻ bệnh viện và căn cước của sở y tế cấp. Bọn tôi hướng dẫn cách tắm xà phòng đặc biệt, sau đó không được mặc thứ gì vào người ngoại trừ chiếc áo đặc thù của bệnh viện, trùm nón lưới và mang đôi vớ bằng giấy mỏng. Leo lên giường nằm thư giãn, đeo vào cổ tay một cái vòng plastic tóm gọn bệnh lý cùng những con số riêng tư khắc ghi ở trên đấy. Đo áp huyết lần sau cùng, nhiệt kế ngậm dưới lưỡi, gắn 6 nụ có dây nhợ lòng thòng vào ngực để đo điện tâm đồ. Lấy 3 ống máu rồi dán chặt mũi kim nằm nguyên vị trí ở cánh tay. Chúng tôi sẽ tuyền xê-rum vào đó hoặc morphine hoặc những dược liệu cần kíp khác. Mười phút nữa bạn sẽ được chuyển qua khu phẫu thuật.
Kim đồng hồ di chuyển chậm hơn vận tốc trái tim đang gõ. 1 PM, giường con bệnh được đẩy vào thang máy riêng, xuống tầng trệt. Ở đây nhiều ánh sáng, đèn đuốc một phần, phần khác người ta lợp kính trong suốt, thấy mây bay thấy nắng chiếu thấy cành lá những loài cây già tuổi đứng rung động bên ngoài sân bệnh viện. Đây là khu vực cách ly với ngoại giới, bạn muốn đi qua những cánh cửa đóng mở tự động bạn phải có một tấm thẻ nhựa đặc biệt. Người y tá lực lưỡng đặt xấp hồ sơ dày cỡ 200 trang trên bụng “thân chủ”. Không lâu đâu, chừng nửa giờ, thông thường là vậy. Anh ta ém được chiếc giường tân kỳ giá khoảng 5.000 đô-la vào chỗ thích hợp. Sát hành lang có dán tấm poster: “Thông thường, cái bàn phím có nơi máy điện toán bạn đang dùng chứa lắm vi trùng hơn một cái bồn cầu. Xin bạn vui lòng rửa tay thật sạch trước khi tiếp xúc với bệnh nhân”.
Bệnh nhân nằm lim dim, dát thân mỏng dính xuống mặt nệm bắt đầu nghe lạnh. Trong đầu óc trống hoác tự dưng lộ ra câu của Bukowski: “Tôi mang cái chết trong túi áo trái. Đôi khi tôi lấy nó ra và hỏi han: Chào cưng, dạo này cưng sao rồi? Hồi nào thì cưng đến với ta? Ta sẽ sẵn sàng”. Một bóng người toàn thân màu xanh lục lướt êm tới đứng cạnh giường. Xin chào. Bạn muốn tôi dùng tiếng Anh hay Pháp ngữ? Tôi là bác sĩ Hulk, phụ bác sĩ Zukor chịu trách nhiệm ca phẫu thuật này. Bạn thấy sao rồi? Nón trùm đầu, khẩu trang đã móc sợi dây vào một bên tai, đôi mắt linh hoạt sau cặp kính cận nhìn xuống. Mức độ gây hiểm nguy chỉ lên tới 9% thôi. Chúng tôi sẽ chích một liều thuốc tê vào sau lưng bạn và dự trù thời gian sẽ kéo dài trong 2 giờ. Với năm ngón to khoẻ của một người quen sử dụng dao kéo, bác sĩ Hulk bắt tay “thân chủ”. Chiếc găng cao su mỏng chẳng ngăn được nhiệt lượng từ bàn tay ấy lan toả ra. Trấn an, vỗ về và tự hứa sẽ làm tốt với khả năng mình có. Họ có tủi thân không, khi được đi thực tế ở Việt Nam để nhìn thấy thứ văn hoá phong bì. Tiền trao cháo múc. Đừng rên la làm gì cho chóng đuối sức. Hai trăm đô la thôi mờ, bộ kiếm không ra hở. Đừng có vu oan rằng thì nà bọn tớ thấy chết không kíu nhé!
Một, hai, ba. Họ cùng đếm số để động tác có được sự ăn ý. Bốn người ở bốn góc đã nhấc hỏng tấm chăn lên và đặt nhẹ nhàng con bệnh qua một chiếc giường khác. Trước đó họ đã tháo những dây nhợ cột cứng cái thây bất động để tiện cho việc mổ xẻ. Họ liền tay đắp lên ba tấm chăn vừa hấp nóng vào cơ thể lạnh như một tảng băng, khói bốc mờ cùng lần với ý thức vụt hiện tới: Mình vừa trôi qua dòng nước đen, được tấp vào bờ sinh tồn. Một ống nhựa đun vào mũi: Bạn cần thở oxygen. Chuyền xê-rum cùng với một liều morphine làm chận cơn đau. Bọn tôi sẽ chuyển bạn ra nằm phòng hồi sức, chừng nào bạn ngo ngoe được những ngón chân, bạn cảm được tay tôi đang sờ nắn da thịt bạn, khi ấy chúng tôi hẳn mang bạn lên phòng cho y tá chăm nom. Khoảng nửa giờ sau chúng tôi sẽ đặt một tấm bảng dưới lưng bạn để chụp x-ray. Hiện tại bạn cần phải uống thật nhiều nước lạnh vào, đi kèm với viên Xarelto, viên oxycodone và 2 viên novo-gesic. Mọi chuyện tiến triển tốt đẹp, gắng tỉnh dưỡng nhé, chóng hồi phục thôi. Bác sĩ Zukor nói. Tay dong cao rồi quay lưng đi. Ông ấy là một người Do Thái tài ba, trưởng khoa điều trị chữa lành mọi cấp độ chấn thương về gãy xương.
Đợi sắp xếp đâu ra đó, chiếc giường được đằng vân giá vũ lên tận lầu 8. Phòng 820 giường C. Phòng trọ trong ba ngày, hoàn toàn miễn phí; chừng nào bạn muốn một không gian yên tĩnh, riêng lẻ, có điện thoại bàn có truyền hình đã gắn cable thì bạn phải chi trả một khoảng tiền nhất định. Đi máy bay bạn ngồi ghế ở hạng tiết kiệm thì hẳn chớ so đo với hạng nhất, hạng thương gia các thứ. Giường C đặt nằm trong cùng, kéo tấm màn cửa sang bên sẽ bắt gặp một vầng trăng nhạt hiện lẻ loi trên khu phố lắm đốm đèn màu nhấp nháy. Thoảng có mùi thơm đẩy đưa: Gắng ăn đôi ba múi cho ngọt cần cổ. Quýt này của Tây Ban Nha chứ không phải của Maroc đâu. Người đàn bà ngồi bên giường B đang lột vỏ và từ tốn đút cho gã đàn ông sắc mặt tiều tuỵ nhác chơi thấy rõ. Thấy sao? Thích thì ngày mai em sẽ mua thêm.
Đứa nằm giường C trông sang, lẩm bẩm bốn câu thơ của Thiền sư Viên Thành:
“Ngọt ngào không rõ đặng trong lòng
Rõ đặng trong lòng biết đục trong
Biết đục trong hãy xin nếm thử
Hãy xin nếm thử ngọt ngào không?”
Đôi khi chẳng cần được ăn quýt, chỉ ngó ra cử chỉ đầy quan hoài của tha nhân cũng đủ khiến mình nếm được chất ngọt ngào sóng sánh trong tình người chia sẻ. Ở chỗ trồng nhiều khế ngọt con bệnh dễ thác vì mãi nghe bác sĩ lẫn y tá thay phiên đay nghiến, tủi thân lắm, đớn đau lắm; chưa kể có nhiều trường hợp gãy chân phải chữa chân trái hoặc buồn tay đem cưa cụt cho khoẻ trí. Suốt đời không cách gì gạn đục khơi trong được. Cái nước mình nó vốn thế! Một người đứng tuổi có học vị cao đã “phát ngôn linh tinh” như vậy.
Chào buổi tối. Thấy đỡ chưa? Tôi mang tới cho bạn bốn viên thuốc. Một thứ chống nhiễm trùng, một viên chống táo bón, một liều morphine nhẹ và một viên giúp bạn chóng ngủ. Ở đầu giường có cái nút đỏ, bạn bấm nút hồi nào bạn muốn được sự giúp đỡ, y tá trực sẽ chạy vào giúp bạn. Những cái nút màu xanh còn lại là điều khiển chiếc giường thay đổi vị trí sao cho bạn thấy thoải mái khi đặt lưng. Cái bình nhựa kia là để bạn tiểu tiện vào mà không cần phải ngồi dậy. Điểm tâm ngày mai bắt đầu vào 7.30, ngày ba bữa và thực đơn luôn thay đổi, bạn có quyền lựa chọn nếu bạn chẳng ăn được một vài thứ. Cái nút nhựa này để thay đổi độ sáng tối của ngọn đèn, bấm ba lần thì đèn nhắm mắt. Chúc ngủ ngon. Bà y tá đi ra rồi kéo tấm màn vải che bít giang sơn 820 C.
Bềnh bồng, có thể do phản ứng của lắm loại thuốc gây ra. Chẳng thấy đau, cũng không mang cảm giác chóng mặt hoặc kiệt sức. Thứ trạng thái nửa mê nửa tỉnh, không thèm khát một thứ gì, xuôi tay, buông trôi. Ba ngọn đèn sáng xanh trên trần vẫn ngó xuống và rồi mí mắt đóng màn, chòng chành:
“Con đò dịch đít sang ngang
Bên kia có một cái làng thò ra”.
Hình như thơ của Bút Tre, vẽ ra một cảnh sắc quen thuộc, và dễ thương mà chẳng ai nhìn thấy. Muốn tới cái sự thò ra kia tiên khởi ta phải dịch đít. Sang sông phải luỵ đò là vì vậy. Trước đây, muốn về thăm làng ta phải bỏ công theo dõi tin chiến sự, dò la để biết chốn quê xa có chút an toàn nào không? Một thuật ngữ dùng ám chỉ: Vùng xôi đậu. Người làm chủ ban ngày, ma quỷ hiện hình lộng hành ban đêm. Vì vậy ngủ lại đêm thì chẳng đặng nên muốn đi phải khởi hành giấc sớm để chừng hai ba giờ chiều phải chóng khăn gói trở lại phố phường. Về làng để nhận tiền chia lúa, để thăm lại mồ mả ông bà và được bà con trao quà: Cái lồng tre nhốt một hai con sáo, hoặc chào mào, hoặc con chim cu có giọng hót lạ thường. Nhưng đáng nhớ hơn cả là hình ảnh một người đàn bà bao giờ cũng tự nguyện làm kẻ tiễn đưa. Một khuôn mặt buồn, ẩn dấu nhiều thua thiệt và chịu đựng dài lâu, tuồng như suốt kiếp. Áo màu nâu, phai nhạt ở trên vai, ở tấm lưng chẳng mấy khi khô. Tóc rối, mắt ướt, làn da ăn nắng gần tiệp với màu vải áo và luôn nói với chất giọng gần như hụt hơi: Dạo đó chị lớn chừng 12 tuổi, mạ em bắn tiếng về làng mong có người lên giúp đỡ. Chị là người được chọn, công việc là phụ nấu ăn giặt giũ và chăm sóc em. Không hiểu sao, giữa chị em mình đã có với nhau một sự gắn bó, đã thương yêu nhau. Chị bảo vệ em bằng tất cả sức mạnh mà chị có, em tượng trưng cho mọi niềm vui mà chị được thu giữ trong suốt những ngày xa quê. Mấy hôm mưa to gió lớn, chị đã ôm em, ru em ngủ bằng các câu chuyện cổ tích đầy chắp vá. Và chị đã nhìn ra lòng quý mến mà em muốn dành riêng cho chị. Muốn ăn cơm, em chỉ đồng ý cho riêng chị đút. Em sẽ ở dơ cho tới chừng nào chỉ rảnh tay mang em ra giếng tắm rửa. Có nghĩa là em rất chướng, chỉ có chị mới “đụng” được người em. Mọi người trong nhà đều thống nhất một cách gọi: O Hường. Chỉ mình em, cá biệt kêu: Chị Hường ơi! Có thể chi tên Hồng, nhưng người ngoài làng đa phần đều sợ thần linh quở phạt nên phải đọc trại ra. Hoa đổi thành Huê. Màu đổi thành Mùi. Hôn đổi thành Hun… Và khuôn mặt dại khờ của em đã được chị hun tới cả vạn lần. Không chắc đến lúc thành hôn, người nữ phải hôn chồng kiểu đó. Ốt dột hoặc mắc cỡ hoặc ngó không thực lòng. Chẳng phải chị mượn em để làm nháp đâu, chị thương em hơn cả thương người chồng mai sau của chị. Và một ngày xấu trời, như một trang sau cùng cuốn tiểu thuyết siêu hình thật khó đọc thông, chị Hường phải chịu về làng làm vợ một anh chàng nào đó chưa hề biết tới, nghe qua. Trên đường đứt ruột phải băng qua, có người từng đánh rơi lông ngỗng để làm dấu. Chị Hường chẳng có gì ngoài suối lệ mãi trút xuống không kịp lau khô.
“Đừng buông giọt mắt xuống sông
Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”.
Phải sau này, thực trạng đó mới có người như Đồng Đức Bốn chứng thực được. Chị Hường dịch đít sang ngang và cái làng kia đã thôi còn thò ra nữa. Chiến tranh đã nuốt trọn lấy nó, thu cất riêng một nơi huý kỵ có tên gọi “đã giải phóng”. Con đò đã thực sự chìm, mực sông cao hơn vì nó hứng lấy bao nước mắt của bá tánh trút xuống. Nó thôi “nắng đục mưa trong” bởi bốn mùa triều cường duy mỗi màu đỏ lờ. Uể oải xê dịch và từng có thời điểm là cửa ngõ giúp người ta trốn chạy ra bốn phương ta bà, chết bỏ bể bỏ. Sông chẳng phải mang tên Bến Hải, cầu không dann xưng Hiền Lương nhưng mọi chốn trên địa hình chữ S mãi còn đó một sự phân lìa, đố kỵ và thù hằn có giữa hai phía con rồng, cháu tiên. Bắc Nam hai nhà.
Em đừng sợ. Mỗi đêm chị cố gắng về ngồi bên em. Ác quỷ sẽ không thì thầm bên tai được, cùng lắm chúng nó chỉ trốn dưới giường. Chị biết em chỉ nằm đây có ba đêm, chừng đó cũng đủ để chị kể em nghe mọi thứ từ hôm chúng ta bị phân lìa. Hãy xem như đây là chuyện cổ tích như ngày xưa chị thường mang ra kể, ru em ngủ. Chị về làng lấy chồng, anh ấy là lính địa phương đóng quân ở quận lỵ bên kia sông. Một hôm súng nổ vang trời, nghe nói cả trung đội anh không còn một người sống sót. Quận lỵ bị xoá sổ chừng một tuần sau đó, “bọn ác ôn” bị giết sạch và chị làm bà quả phụ từ dạo oan khiên nọ. Chị rất muốn vào thăm em nhưng không tài nào cất chân ra khỏi địa bàn khắc nghiệt kia. Loay hoay, đói khổ, tù túng. Cái bi kịch mà chúng ta phải nhận lấy, đó là một bọn người ngu dốt đã thắng được, đè đầu cỡi cổ bọn có học thức. Hoặc vô luân đã đánh thắng sự tử tế. Người chị đã tàn tạ, hiểu ở mọi nghĩa vậy mà vô phúc cũng lọt được vào mắt kẻ quyền lực. Một tên xã trưởng đã công khai mang chị về dinh. Nơi treo đầy bằng ban khen và là chốn từng làm hại bảy người đàn bà khác nhau. Người trầm mình dưới sông, người tự nhiên vắng mặt chẳng rõ đi đâu, và chị thì bị xe ô tô con húc từ đàng sau, rớt xuống ruộng để hai hôm sau mới có kẻ phát hiện một tử thi đang bị trương phình, biến dạng và sắp phân huỷ.
Chào buổi sáng. Một khay đựng thức ăn đặt xuống bàn. Người phục vụ nâng chiếc bàn lên cao cho tới hồi mâm thức ăn nằm ngay ngắn trước bụng con bệnh. Cô ta bấm nút cho chiếc giường bẻ gấp lại, từ nằm biến đổi tư thế sang ngồi với gối chống lưng. OK, chúc ngon miệng. Bữa điểm tâm như một canh bạc lắc bầu cua. Tất cả được dấu mặt trong ba cái tô lớn nhỏ khác biệt. Cất tay nè. Một lát bánh mì nướng dùng với mức dâu hoặc margarine, một hộp thức ăn sấy khô d’avoine au miel dùng với 200ml sữa tươi 2% chất béo. Một quả trứng gà luộc. Một hộp nước trái táo. Một cốc cà phê, một gói đường cát. Dao, muỗng, nĩa được bọc trong tờ giấy thấm dùng để lau miệng. Một thực đơn “hơi bị lạ”, chẳng mấy khi được ăn, dù sao thì ở khu nhà bếp người ta đã có sẵn một công thức, và thứ nọ đi với thứ kia sẽ cấu tạo thành 850 calories nếu bạn xơi hết. Chấm mút, ăn thỏ thẻ như con mèo ốm, như thuở còn thơ vòi vĩnh bắt chị đút, dỗ dành tới khô hơi rát cổ em mới ăn. Thức gì cũng thử qua, riêng quả trứng luộc thì dấu cất bên gối nằm, nguyên vẹn. Đêm nay em sẽ thầm lặng bóc vỏ nó, một hai giờ sáng mang ra làm quà dâng chị. Cả một đời lớn khôn trong cách trở, em sợ về làng em ngán ông kẹ em hãi vi-xi vì thế chưa hề tạo cớ bày tỏ tới chị một chút tâm thành. Ngày đó Mạ nói: O Hường hắn thương mi nhứt hạng! Và em đã cám ơn trời Phật đã tạo ra được một nữ nhân “trời làm xa cách mấy con sông”, tuy ít ăn học, tuy quê mùa, tuy mang phận ở đợ, nhưng con người chị là tổng hợp những gì tốt đẹp nhất mà sau này em mới chứng nghiệm ra.
Bác sĩ Zukor trở lại: Tôi theo dõi và vui với sự tiến triển khả quan về sức khoẻ của bạn. Xem hình chụp, những gì được thay thế đều nằm đúng vị trí và mất chừng sáu tuần bạn có thể đi lại bình thường. Trước khi xuất viện bạn sẽ qua một cuộc thăm dò với các vị phụ trách vật lý trị liệu cũng như nhận lấy một cái toa liệt kê những thứ thuốc phải mua. Nhà thương sẽ gửi y tá đến nhà bạn để thay bông băng, chùi rửa vết mổ cũng như sẽ lấy sạch những cái mấu sắt ra nếu vết thương đã khép miệng. Bạn sẽ có cái hẹn với tôi vào tháng sau. Bạn có câu hỏi nào không? Tốt. Bắt tay nào: Chúc may mắn.
Một thằng đàn ông quyền lực chỉ ngang tầm xã trưởng cũng đủ làm mưa làm gió một khung trời nhỏ. Hắn hãm hiếp người đàn bà từng lấy chồng nguỵ quân. Chán chê, muốn chùi sạch miệng sau khi ăn vụng, hắn lái xe ô tô con ủi thẳng vào bóng người bất hạnh lẻ loi đi trên đường đê vắng. “Nếu được xét nghiệm, chắc chị cũng bị gãy xương chậu giống em vậy. Chị đứng dậy không được và ruộng nước, và bùn lầy, và giá rét, và cuộc đời ghẻ lạnh đang vây chặt lấy chị. Đầu óc chị sáng suốt: Được chết như thế này có khi lại hơn, thôi đoạ đày giữa bể trầm luân. Nhưng em, em đang sống ở cái thế giới đối nghịch hoàn toàn với chị, ý nghĩa về sự sống luôn cao đẹp khi chung đụng cùng bao người tử tế. Khi yếu lòng em hãy nghĩ về chị. Hãy gọi thầm: Chị Hường ơi! Và rồi bóng ma của quá khứ sẽ hiện sát bên em, che chắn và bảo vệ em, vực em qua được bao khốn khó.
Trời sang mùa, Thu ló dạng ở xa nhưng sớm đưa tay xua đuổi những hạn nực của nắng hè. Bệnh viện có lắm kẻ đi thơ thẩn ngoài hành lang gió nhẹ, khí trời như góp phần lấy đi từ cơ thể họ chút nặng nề khi di chuyển. Mặt họ bớt cau có, mà nghĩ có ích gì nếu cứ mãi hậm hực về cảnh sống bất ưng? Vui hay buồn, chán ghét phẫn hận hay vị tha mở lòng thụ hưởng thì đời sống vẫn một mực dửng dưng trôi qua. Không gì khiến nó đổi thay được. Những cái chết lần lượt điểm danh đằng sau những căn phòng với màn che trướng rũ. Và khu hộ sinh mỗi ngày có biết bao đứa bé dong tay khóc ngấc khi chào đời. Nước ối và máu chảy lênh láng. Xin chúc mừng, là con gái, bạn đã có sẵn tên cho cháu chưa? Coi kìa, cái mặt dễ ghét quá!
Tên Hường. Nguyễn Thị Hường. Nghe đặng không? Hường là Hồng. Hồng là Rose. La Vie en Rose.
Kiếp này đang mở Hường ơi
Đầu nhang cháy tỏ em khơi đốm tàn
Chống gậy đi ngược ngày vàng
Về nơi cố xứ lộn hàng mộ bia
Đò băng sông rộng làng kia
Gươm đao quẳng xuống đành chia ngậm ngùi.
Sao, khoẻ không? Xuất viện hồi nào? Khoẻ, đã hai hôm. Tôi trở lại vì đãng trí để quên chiếc áo ấm trong tủ. Bạn nằm phòng nào nhỉ? 820C. Ô, chỗ ấy đã có người điền thế. Hy vọng giờ này mọi người đều thức. Cô giúp tôi được không, bởi đi lại hơi khó khăn. Dễ thôi mà, ngồi xuống ghế nghỉ đi, chiếc áo màu gì? Màu xanh nước biển, xanh đậm. Người y tá quay lưng, khoảng cách chừng 10 thước nhưng cô mất hơn 15 phút mới trở lại. Mang bộ mặt không mấy vui: Tủ trống, chẳng có chiếc áo nào cả và lạ kỳ một điều, có ai đã dấu thu một quả trứng gà luộc ở trong. Bệnh nhân nằm giường 820C là một bà trung niên, bả than phiền là bệnh viện này sao có lắm ma. Ở những nơi khác người ta treo đầy thánh giá trên vách, như ở nhà thương trung ương chẳng hạn, như nhà thương “Con của Chúa” chẳng hạn… Mất một chiếc áo. Bạn có cần khai báo không? Thôi khỏi, cám ơn sự sốt sắng của Nathalie. Kỳ thật! Tôi nằm ở đó đúng ba đêm sao tôi chẳng được thấy ma nhỉ? Suỵt! Đừng nói chuyện tầm phào. Lạy Chúa! Ca làm việc của tôi hôm nay kéo dài tới nửa đêm. Thôi bye, chúc lành nhé.
Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ. Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch. Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não. Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại. Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.
Hơn ba mươi năm trước. Lúc ấy tôi còn là cô bé học trò trường trung học An Túc, nằm giữa thị trấn An Khê, bên QL 19 nối liền Qui Nhơn với Pleiku. Chiến tranh đang thời kỳ ác liệt. Tuổi còn nhỏ, nhưng ngày nào tôi cũng nghe cha mẹ và các thầy cô bàn chuyện chiến trường: đánh lớn ở Pleime, Dakto, Tân Cảnh. Mấy năm nay, An Khê tương đồi bình yên, nhờ Sư Đòan 101 Không Kỵ Hoa Kỳ có căn cứ ở đây, và dọc theo đèo An Khê có đồn bót của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Giữa lúc chiến tranh ngày khốc liệt, bất ngờ lực lượng đồng minh rút quân về nước, làm dân chúng ở đây hoang mang, lo lắng. Xứ họ đạo của tôi cũng được cha chánh xứ tổ chức những toán tự vệ, phối hợp với quận, lo canh gác khu vực của mình. Chiều ba mươi Tết, được thông báo của tỉnh, các cơ quan trên quận phối hợp với các thầy cô giáo và cả Hội Đồng giáo xứ đi mọi nhà kêu gọi đóng góp những gói quà tượng trưng dành tặng cho anh em chiến sĩ của một đơn vị từ xa tới, thay thế lực lượng đồng minh, đồn trú ở đây. – Tôi nghiệp, nghe nói anh em đã phải rời căn cứ từ sáng sớm 30 để chiều mồng một Tết có mặt ở đây. Họ có biết tết nhất gì đâu! Ông cha xứ nói với chúng tôi như thế. Cả quận vui mừng, nô nức trước tin vui. Riêng tôi còn vui hơn khi tưởng tượng sẽ có nhiều anh lính đến cái thị trấn nhỏ xíu buồn tênh này, nên rất sốt sắng trong việc gói quà. Tôi tự tay thực hiện được hai gói quà, gồm một số bánh mức, chiếc khăn tay do tôi thêu lấy, kèm theo lá thơ chúc mừng năm mới tới hai anh chiến sĩ vô danh nào đó. Tôi nắn nót viết thật đẹp rồi đề tên, lớp và trường học phía dưới. Vì “sao y bản chánh” từ một bài luận văn tháng trước, nên hai lá thư giống nhau như đúc. Nhìn hai gói quà tôi mỉm cười, khi nghĩ sẽ có hai “người tình không chân dung” nào đó nhận được lá thư nồng nàn của một cô “em gái hậu phương”. Ban đầu, các thầy cô cho biết, đám học trò chúng tôi được hướng dẫn vào căn cứ để tận tay tặng quà cho các anh chiến sĩ. Bọn tôi đứa nào cũng hớn hở, lăng xăng giặt ủi lại chiếc áo dài trắng ưng ý nhất. Nhưng sau đó dưới tỉnh cho biết là trước khi vào An Khê, các đơn vị này còn phải hành quân mở đường, giải tỏa một số đồn bót của lực lượng Đại Hàn nằm dọc theo đèo An Khê, bị địch quân bao vây đã ba hôm nay. Cuối cùng tất cả quà đều được nộp cho trường, và thầy hiệu trưởng cùng các thầy cô giáo sẽ mang vào cho đơn vị để trao lại cho anh em chiến sĩ khi tình hình an ninh cho phép. Bọn học trò chúng tôi tiếc hùi hụi vì mất một dịp được vào xem căn cứ và ủy lạo các anh chiến sĩ.
Nam Mô A Di Đà Phật. Xin chào bà. Xin lỗi, chắc là bà đã chờ tôi lâu lắm phải không? – Câu hỏi của thầy trụ trì cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi. Tôi đứng lên, vụng về chấp hai tay trước ngực chào lại thầy. Tôi muốn nhìn thật kỹ khuôn mặt của thầy, nhưng thấy ái ngại, nên chỉ cúi đầu im lặng.
– Cái cổng tam quan, ngôi nhà khách này, và những bậc đá trên con đường mà bà vừa đi lên là do tiền cúng dường của ông bà. Chúng tôi xin tán thán công đức và cầu xin chư Phật gia hộ cho ông bà cùng gia đình. Bà có muốn đi một vòng xem cảnh chùa không ? Xin mời bà. Thầy vừa nói vừa chỉ tay về phía cổng tam quan. – Dạ, công ơn của thầy đối với gia đình tôi lớn lao quá. Biết làm sao đền đáp. Xin thầy đừng nhắc tới công đức, làm tôi thêm xấu hổ. Tôi vừa bước theo phía sau thầy, vừa nói. – Mô Phật! Giúp người, đó là nhiệm vụ của kẻ tu hành, dù là tôn giáo nào. Sao bà lại gọi là công ơn. Thầy nở một nụ cười độ lượng. Đi phía sau, nhìn dáng đi khoan thai của thầy, tôi băn khoăn suy nghĩ: Khuôn mặt thì có nhiều nét giống, nhưng với cái dáng đi thì lại khác hẳn. Có thể ngày xưa là lính nên cần phải nhanh nhẹn. Tôi nghĩ thầm như thế. Khi đến cửa tam quan, thầy dừng lại và chỉ tay về hướng bờ biển, nơi có mấy tảng đá ở triền núi, phía dưới là một khu rừng rậm:
– Chính ở nơi đó, tôi đã tìm gặp chồng của bà.
Năm ấy, khi chồng tôi vừa mới trốn về từ trại tù cải tạo Gia Trung (anh chỉ là thầy giáo, dạy một trường trong khu người Thượng, bị bắt năm 1979 vì bị kết tội hợp tác với lực lượng Fulro chống lại chính quyền Cộng sản), được một người bạn thân cho đi theo một chuyến vượt biển do gia đình anh ta tổ chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ra đi là không bao giờ gặp lại vợ con, mà có ở lại cũng sống không yên, chỉ làm khổ cho gia đình. Hơn nữa lúc ấy tôi vừa mới sanh đứa con đầu lòng, nên không thể đi cùng. Chúng tôi đành gạt lệ chia tay mà không dám nghĩ sẽ có ngày tái ngộ. Tàu vừa ra khơi hơn một ngày thì bị hỏng máy, trong lúc gió mưa tầm tã. Tất cả mọi người phải đem sinh mạng chống chọi với phong ba. Cuối cùng, sau gần ba ngày bềnh bồng trên biển, nhờ những cơn gió nhiệm màu đã đẩy chiếc tàu với hơn một nửa số người sống sót, giạt vào một ghềnh đá lúc trời nhá nhem tối. Tưởng đã thoát chết, nào ngờ khi vừa leo lên bờ thì bị một toán công an biên phòng vây bắt. Một số người yếu sức thì đành đưa tay cho họ trói. Chồng tôi cùng một vài thanh niên khác dùng hết tàn lực chạy trốn trong các hốc đá bên triền núi. Mấy lần thoát chết dưới những tràng đạn. Nhờ trời tối anh chạy thoát vào khu rừng trước khi kiệt sức. Khi tỉnh lại, anh thấy mình nằm trong ngôi chùa nhỏ nằm bên triền núi. Anh được vị trụ trì săn sóc và che dấu chu đáo, mặc dù biết anh là người công giáo, bởi trên cổ có đeo thánh giá. Sau hơn một tuần, nhờ thầy giúp cạo đầu, cho áo quần để cải dạng một thầy tu, và gởi theo một chiếc xe đò của một phật tử thân quen, chồng tôi mới trốn được vào nhà bà cô ruột ở Cam Ranh. Sau đó nhờ chính bà cô này tìm đường để vượt biển tiếp.Và lần này anh đã đươc tàu Pháp vớt, nên được sang định cư bên Pháp. Ba năm sau, tôi và đứa con được anh bảo lãnh với diện đoàn tụ gia đình.
– Mô Phật! Tôi nghiệp, ông ấy đã về tìm thăm tôi hai lần, và giúp cho tôi khá nhiều tiền để lập lại ngôi chùa này và một nhà từ thiện nuôi các em bé tật nguyền dưới xóm. Công đức của ông bà thật lớn lắm. Tôi nhớ lại tấm ảnh mà chồng tôi chụp chung với thầy trong lần thứ nhì về thăm thầy. Bao nhiêu lần tôi đã nhìn kỷ tấm ảnh, lại nghe chồng tôi bảo, ngày xưa thầy cũng là lính, nên tôi đã ngồi hằng giờ hình dung, nhớ lại một người quen lúc trước. – Thực ra anh ấy ngại không muốn về, nhưng vì nhớ ơn thầy mà anh ấy mới về gặp thầy. Lần này chính tôi đề nghị được thay anh về thăm thầy, nhân dịp thăm mẹ của tôi đang ốm nặng. – Mô Phật! Tôi hiểu nỗi khổ tâm của ông ấy. Tôi nghe tiếng thở dài của vị trụ trì, và thấy thầy đưa mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Từ lúc mới gặp nhau trong ngôi nhà khách, tôi nghĩ là thầy đã nhận ra tôi. Tôi chờ thầy hỏi, nhưng có thể thầy đã quên hay bây giờ là kẻ tu hành, nên thầy không muốn nhắc lại chuyện thế tục ngày xưa. Không để lỡ mất cơ hội, tôi lên tiếng: – Tôi về đây, gặp thầy cũng để muốn xin được hỏi thầy một điều, mà bấy lâu nay cứ băn khoăn mãi trong lòng, nhưng ngại thầy là bậc tu hành, nên tôi không dám. Thầy nhìn tôi, im lặng giây lát rồi lên tiếng: – Mô Phật! Kẻ tu hành lúc nào cũng muốn đem ánh sáng cho chúng sinh hầu giải tỏa những lo âu phiền não. Xin bà cứ tự nhiên. – Xin thầy tha lỗi, nếu có điều gì không phải. Có phải thế danh của thầy là Quế, Lê Phương Quế ? Thầy ngạc nhiên nhìn tôi, rồi nhìn lên khoảng không, nhíu mày. – Mô Phật! Làm sao mà bà biết được tên của tôi ? – Thầy còn nhớ anh Lân, trung sĩ Đỗ Lân, ở Sư Đoàn 23 BB, có đóng quân ở An Khê vào những ngày tết năm 1972? – Bà còn biết cả bạn tôi? Anh Lân đã tử trận ở Kontum từ mùa hè 72 . Bà có biết không? Tôi có một thoáng giận thầy, vì nghĩ là đến bây giờ ông vẫn chưa nhận ra mình. Chẳng lẽ thầy vô tình đến thế. Nhưng ngay sau đó tôi hối hận về ý nghĩ của mình. Sao lại đem chuyện đời để mà trách một vị chân tu, một người đã xa lánh chuyện hồng trần, thế sự. Thầy đã cho mình hỏi và sẳn sàng tâm sự đã là một điều hỉ xả rồi. – Dạ, tôi có biết, và tôi cũng có đến Kontum thăm mộ anh mấy lần. Sau này tôi về tìm để xây lại ngôi mộ cho anh, thì nghĩa trang không còn nữa, và không ai biết mộ anh đã chuyển đi đâu. Đôi mắt của vị trụ trì sáng hẳn lên. Thầy mở đôi mắt thật to nhìn tôi, đưa tay lên định nắm vai tôi, nhưng rồi kịp khựng lại. – Vậy là Xuân? Bà là cô Xuân ngày xưa? Mô Phật! Sao lại có chuyện kỳ ngộ lạ lùng này.
Vâng, tôi chính là Xuân, cô bé học trò trường trung học An Túc ngày xưa. Người đã gói hai gói quà Xuân ủy lạo cho những chiến sĩ đến giữ an ninh cho quê tôi vào đúng chiều ngày mồng một tết. Hai gói quà được nộp cho trường để chuyển tới cho các anh, vì lúc ấy đơn vị đang hành quân mở đường để đến nơi trú đóng. Sau một cái tết an bình, cả thị trấn nhỏ của tôi nhộn nhịp hẳn lên bởi sự có mặt của một trung đoàn lính chiến, ngày mồng tám tết, đám học trò chúng tôi trở lại trường, nhưng các thầy cô biết là trong lòng đám học trò ai cũng còn dư âm ngày tết, nên cho chúng tôi tập họp lại hát hò và kể chuyện vui. Trong lúc thầy hướng dẫn đệm đàn cho cả đám học trò ca hát, thầy giám thị đến tìm tôi, bảo tôi lên văn phòng có người nhà muốn gặp. Bước theo thầy giám thị mà lòng tôi lo lắng không biết ở nhà có chuyện gì, thì ông đưa tay chỉ hai anh lính đang ngồi chờ trên chiếc ghế đá trong sân trường. Hai anh lính thật trẻ đứng lên chào tôi, nhoẻn miệng cười: – Hai đứa tôi đến để cám ơn Xuân và chúc mừng Xuân năm mới. Tôi thoáng một chút ngạc nhiên và bẽn lẽn: – Em có làm gì đâu mà hai anh cám ơn? Mà sao hai anh biết được tên em? Hai anh cùng mở túi áo lấy ra bức thư. Vừa kịp nhận ra đó là hai bức thư mà tôi đã “sao y bản chánh” bỏ trong hai gói quà ủy lạo, thì một anh lên tiếng: – Tôi là Đỗ Lân, và người bạn thân của tôi đây là Lê Phương Quế. Trông anh hiền như con gái, nhưng Xuân đừng nhầm với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế nghe, mặc dù anh Quế bạn tôi cũng có giọng hát rất hay, không thua gì Phương Hồng Quế . Hai đứa tôi nhận hai gói quà của Xuân. Quà cáp như nhau và lời lẽ trong cả hai bức thơ cũng giống nhau như đúc. Cô Xuân thật công bình. Cám ơn nghe! Tôi hơi quê, nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên: – Hai anh tới trường tìm Xuân, không sợ thầy giám thị la Xuân hà? Anh lính thứ nhì, tên Quế, lên tiếng: – Bọn tôi bảo là anh em bà con với Xuân, đi lính xa nhà bây giờ mới gặp. Thầy giám thị coi bộ cũng thương lính lắm, nên chắc không nở la rầy người yêu, à xin lỗi, người em của lính đâu! Mặc dù thấy hai anh chàng có vẻ thư sinh, vui tính, nhưng nhớ lời bà chị thường bảo mấy ông lính bạo dạn và tán gái hay lắm. Phải coi chừng. Tôi nhủ thầm như thế. Và để xem hai anh chàng này có thực sự bạo dạn hay không tôi khoanh tay: – Nghe nói anh Quế hát hay không thua gì Phương Hồng Quế, em xin mời hai anh vào lớp em chơi. Bọn em cũng đang ca hát trong đó, chứ không có học hành gì đâu. Đám bạn em sẽ mừng lắm đó. Hai anh nhìn nhau cười, rồi gật đầu, theo tôi vào lớp. Cả đám bạn học trò im bặt, tò mò nhìn ra khi thấy tôi dắt theo hai anh lính trẻ. Tôi nói với vị giáo sư hướng dẫn: – Thưa thầy, có hai anh lính nhận được quà tết của lớp mình, đến cám ơn và xin hát cho cả lớp mình nghe. Thầy hướng dẫn lớp gật đầu, đến bắt tay hai anh, tươi cười: – Hồi nãy tới giờ mấy cô chỉ hát những bài tình yêu lính chiến, bây giờ đích thân lính chiến hát tặng mấy cô thì còn gì hay bằng, phải không? Cả lớp vỗ tay. Anh lính tên Lân bước lên bục giảng, hai tay mân mê chiếc nón bê- rê: – Kính thưa thầy, thưa các bạn. Tôi không biết hát, nên xin dành phần nói trước. Chúng tôi xin cám ơn những gói quà Tết của nhà trường, của các bạn. Trong không khí Tết, vì nhiệm vụ phải xa nhà, được những món quà của các bạn chúng tôi thấy ấm áp nhiều lắm. Đặc biệt hai đứa tôi đây đã nhận được quà của cô Xuân. Chỉ cần cái tên của cô là hai đứa chúng tôi cũng đã có cả một mùa xuân rồi . Xin cám ơn và kính chúc thầy, chúc các bạn một năm mới vạn điều như ý. Cả lớp lại rộn lên tiếng cười và những tràng vỗ tay không dứt. Một con bạn có tiếng nghịch nhất lớp quay về hướng tôi ngồi: – Xuân ơi, mày chỉ được chọn một trong hai thôi. Còn để dành cho đứa khác nữa chứ! Đúng là nhất quỉ nhì ba, còn thứ ba là bọn này. Tôi đoán hai anh chàng lính sữa đang nghĩ như thế. Anh lính tên Lân bẽn lẽn, ngừng lại đôi phút rồi đưa tay về hướng người bạn, tiếp tục: – Bây giờ, xin giới thiệu anh bạn thân nhất của tôi, Lê Phương Quế, mà chúng tôi thường gọi là Phương Hồng Quế, tiếng hát hàng đầu của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, sẽ lên hát một vài bài tặng thầy và các bạn . Tôi cũng phục tài ăn nói khá “tâm lý chiến” của anh chàng Lân này. Cái giọng Huế nghe cũng êm ái, cứ như rót mật vào tai người ta. Bây giờ nhìn kỹ thấy anh ta cũng đẹp trai, nụ cười cũng có duyên ghê lắm. Lính cỡ này chắc sẽ làm khổ vài cô em gái hậu phương đây. Tôi mỉm cười với ý nghĩ vừa thoáng trong đầu. Anh Quế bước lại chỗ thầy hướng dẫn để xin nhờ thầy đệm đàn. Anh hát bài Xuân Này Con Không Về của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Trông anh có dáng dấp thư sinh và khuôn mặt hiền lành như một thầy tu. Tiếng hát cất lên làm cả lớp im bặt. Đúng là giọng hát của anh rất hay, điêu luyện, lúc réo rắt lúc trầm buồn không thua một ca sĩ chuyên nghiệp. Dường như có cùng tâm trạng với nội dung bài hát, nên anh đã hát với tất cả cảm xúc, làm dao động trái tim mọi người. Bài hát chấm dứt, mà cả lớp dường như còn thẫn thờ, yên lặng. Sau đó bùng vỡ bởi những tràng vỗ tay và nhiều tiếng la: bis, bis… Anh cúi xuống một lúc, hình như để dấu sự cảm xúc, rồi ngước lên nói nhỏ hai tiếng cám ơn và xin hát tiếp bài Chiều Trên Phá Tam Giang, thơ của Tô Thùy Yên phổ nhạc. Lần này, chính tôi không cầm được nước mắt. Không chỉ vì anh hát hay, nhưng tôi thấy xúc động, thấm thía hơn cuộc đời của những người lính chiến.
– Thưa thầy. Bây giờ đã đi tu rồi, thầy có còn hát những bản nhạc tình lính ngày xưa? Tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc khi thầy hát cho cả lớp tôi nghe, sau cái tết năm nào ở trường An Túc. Thầy hát thật hay và truyền cảm. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi được gặp thầy và anh Lân. – Mô Phật! Bây giờ tôi chỉ còn biết tụng kinh gõ mõ, cầu cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Nhưng những gì bà vừa nhắc lại, cũng là con người, làm sao tôi có thể quên. – Xin thầy thứ lỗi, nếu tôi đã nhắc thầy nhớ lại chuyện đời để làm bận lòng một bậc chân tu. – Mô Phật! Đạo ở trong Đời, cũng như hai kẻ đồng hành. Hành đạo là để giúp đời. Kẻ tu hành như chúng tôi cũng chỉ là “cư trần lạc đạo” mà thôi, thưa bà. – Cư trần lạc đạo là sao, thưa thầy? – Có nghĩa là hiện diện nơi trần thế mà hành đạo, vui đạo. Chứ không phải xa lánh trần thế đầy khổ nhục để tìm sự thanh thản riêng cho bản thân mình. – Cám ơn thầy. Thầy giảng hay quá. Ngày đầu tiên gặp thầy, và nhất là lúc nhìn thầy đứng hát trên bục lớp, tôi đã thấy thầy giống một nhà tu. Có lẽ thầy đã có căn duyên từ trước, phải không thầy? – Mô Phật! Ai cũng có thể tu hành, và bất cứ ai cũng có thể thành Phật được, thưa bà .
Không ngờ lần gặp gỡ đầu tiên năm ấy lại mang đến cho tôi mối tình đầu. Sau vài lần gặp nhau, tôi biết Lân và Quế là hai người bạn thân thiết từ lúc còn học trong trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Ra trường về cùng đơn vị, nên sống với nhau như anh em, mặc dù tôn giáo khác nhau. Quế đạo Phật còn Lân là tín đồ Công giáo. Những ngày chủ nhật không bận hành quân, Lân đều đi lễ nhà thờ, nên chúng tôi thường gặp nhau hơn. Và lần nào tôi cũng mời Lân về nhà. Cha mẹ tôi cũng rất thương quí Lân, nhất là sau khi biết cha mẹ Lân đã chết trong biến cố tết Mậu Thân. Tính tình Lân lại hiền lành chân chất và hiếu học. Dù bận hành quân liên miên, nhưng anh vẫn cố gắng tự học để thi tú tài vào mùa hè này. Cũng có đôi lần Quế theo Lân đến nhà tôi chơi. Càng lúc chúng tôi càng thân nhau hơn. Tôi biết là Lân cũng thích tôi. Trong túi áo của anh lúc nào cũng có chiếc khăn tay tôi đã tặng anh trong gói quà Xuân. Mỗi lần chia tay, anh bịn rịn lưu luyến không muốn rời tôi. Còn tôi, cũng thấy nhớ anh da diết và mong chờ anh từng ngày trong các lần anh đi hành quân. Tối nào tôi cũng đọc kinh cầu nguyên cho anh được bình yên trở về. Bây giờ tôi mới biết tình yêu là gì. Tôi bắt đầu biết tương tư, mơ mộng, nhớ nhung và man mác buồn khi thiếu vắng anh. Những bản nhạc tình lính, người yêu của lính, dường như càng lúc tôi càng thấy hay hơn, và tôi hát nhiều hơn. Sau mỗi lần hành quân, Lân đều mang về tặng tôi những cánh hoa lan rừng. Tôi nghe nói vùng núi rừng An Khê này có nhiều hoa lan. Có những loại hoa lạ, thật đẹp mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy hoặc biết tên. Chỉ sau hai tháng, trong phòng tôi treo đầy hoa lan rừng. Tôi thích nhất là những cánh hoa màu tím. Có lẽ tôi nhớ tới màu tím hoa sim trong một bản nhạc mà tôi thường hay hát.. Chiến tranh lại ngày càng ác liệt. Ngồi trong lớp học, bọn tôi vẫn thường nghe tiếng súng, tiếng máy bay vần vũ trên bầu trời. Ban đêm, nhìn qua cửa sổ, những trái hỏa châu lơ lững giữa trời, soi sáng cả một vùng núi non nào đó. Rồi tôi nghe tin Dakto mất, Tân Cãnh thất thủ, thành phố Kontum bị pháo kích..Một số người đã phải bỏ nhà chạy xuống Pleiku, sống trong các trường học, được chính quyền dùng làm trại tiếp cư. Hơn một tuần, tôi chưa gặp Lân bởi đơn vị anh có lệnh cắm trại, ứng chiến. Bất ngờ gặp lại anh trong lễ sáng chủ nhật ở nhà thờ. Khi tôi đang quỳ gối cầu kinh, Lân đến sau, quỳ xuống bên cạnh. Tan lễ, vừa bước ra khỏi nhà thờ thì chúng tôi gặp anh Quế đứng đợi từ lúc nào. Tôi mời hai anh về nhà. Trên đường đi, cả hai anh im lặng, không nói một lời gì. Nhìn nét mặt thật buồn, tôi nghĩ là họ đang ưu tư điều gì. Tôi hỏi, nhưng hai anh chỉ nhìn nhau rồi lắc đầu, không nói. Suốt ngày hôm ấy hai anh ở lại nhà tôi. Mẹ tôi đãi hai anh một con gà tơ. Trong lúc Lân và Quế rượt bắt gà trong vườn, tôi tìm hái mấy trái cà, trái mướp và rau thơm. Cả ba chúng tôi cùng làm bếp, đùa giỡn, ca hát líu lo, không còn chút ưu tư nào trên khuôn mặt của mọi người. Ăn cơm xong, chúng tôi rủ nhau ra ngồi dưới những cây dừa rợp bóng, nghe Quế hát, rồi chúng tôi cùng hát theo những bài tình ca quen thuộc. Buổi chiều, Quế cáo từ tôi, chào ba mẹ tôi xin về trước. Trong phòng tôi chỉ còn có tôi và Lân. Lần đầu tiên tôi nghe Lân rụt rè tỏ tình. Anh bảo, đời chiến binh rày đây mai đó, rồi có một ngày, anh sẽ phải đi xa, nhưng lúc nào cũng mang theo bóng hình của tôi vào những nơi gió cát. Những lời anh nói làm tôi nhớ tới những câu thơ Chinh Phụ Ngâm thật hay của bà Đoàn thị Điểm dịch mà tôi đã học. Những câu thơ thật buồn bây giờ lại càng buồn hơn. Tôi khóc. Lần đầu tiên tôi khóc, không biết là vì hạnh phúc đến bất chợt của mối tình đầu hay là vì nghĩ tới nỗi cô đơn của người Chinh Phụ. Tôi giật mình, khi Lân ôm tôi vào lòng. Tôi đứng im, bất động, đón nhận nụ hôn tình yêu đầu đời trong hai hàng nước mắt. Tôi tiễn Lân ra đầu làng, hai đứa ôm lấy nhau khi bóng chiều vừa tắt. Sáng hôm sau, ngồi trong lớp học, khi thấy từng đoàn xe nhà binh chở đầy lính chạy về hướng Pleiku, lòng tôi thẫn thờ khi nghĩ là Lân đã đi xa..
Tôi vội lên xin phép cô giáo ra ngoài. Nhưng khi tôi vừa chạy đến hàng thông phía trước, thì đoàn xe cuối cùng đã chạy qua bên kia cầu.
Không ngờ lá thư này là lá thư cuối cùng tôi nhận được của Lân. Chỉ ba tuần sau, Lân hy sinh. Người báo tin buồn này chính là Lê Phương Quế, người bạn chí thân của Lân và sau này cũng là bạn của tôi. Lá thư có kèm theo vài di vật, Quế đã nhờ một anh phi công gởi cho tôi từ Pleiku , sau một chuyến đổ quân cho đơn vị của Quế ở Kontum. Lân đã bị thương rất nặng khi cùng với vị tiểu đoàn trưởng chui qua hàng rào phòng thủ, mở đường vào giải cứu Bệnh Viện 2 Dã Chiến, đang bị địch quân xua xe tăng đánh chiếm, với ý đồ lợi dụng những thương binh nằm trong bệnh viện, làm bàn đạp tấn công vào khu phi trường nằm sát thị xã Kontum. Lân chết lúc chờ máy bay tản thương. Chính Quế là người đã vuốt mắt cho Lân và nghe những lời trăn trối cuối cùng. Anh nhờ Quế giữ để trao lại cho tôi cái dây chuyền có mang thánh giá cùng mấy tấm ảnh có hình của cha mẹ anh và của anh mặc lễ phục trắng đội bê rê đỏ khi còn là thiếu sinh quân. Những tấm ảnh ấy bây giờ vẫn còn trong nhà thờ An Túc, và sợi dây chuyền tôi vẫn còn cất giữ đến hôm nay. Anh Quế còn cho biết thêm, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lân còn thì thào gọi tên tôi, và khi lục trong túi áo, anh Quế còn thấy cái khăn tay và lá thư của tôi tặng Lân trong gói quà tết hôm nào.
– Thưa thầy, cuối năm 1973 tôi có nhận được thư của thầy. Lúc ấy thầy bị thương nặng, nằm ở quân y viện Pleiku. Tôi có tìm đến thăm, nhưng người ta bảo là thầy đã được chuyển về quân y viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang, để được gần nhà. Lúc ấy đoạn đèo An Khê lại bị địch chiếm, nên xe đò không chạy được. Mấy tháng sau, khi đi được xuống NhaTrang tìm thăm thầy, thì thầy đã xuất viện. Tôi có hỏi nhưng bệnh viện không biết thầy ở đâu. – Mô Phật! Đúng như bà nói. Tôi được Hội Đồng Giám Định Y Khoa cho xuất ngũ, vì thương tích. Tôi về sống với mẹ già. Lúc ấy bà cũng đang tu tại gia, ăn chay trường. Suốt một đời bà đã lo lắng cầu nguyện cho cha tôi, rồi đến tôi. Cha tôi cũng đã tử trận năm 1965, trong trận Đồng Xoài, khi ấy tôi chỉ vừa 11 tuồi. – Nhờ vậy mà thầy đã đi tu. – Lý do đó chỉ một phần. Cái chính là do tôi đã sống trong chiến tranh, chứng kiến bao nhiêu cái chết quá đau lòng, như cái chết của những người còn quá trẻ như Lân. Họ đâu có tội tình gì. Tôi nghĩ tới cuộc chiến phi nghĩa, khi mà anh em cùng một nhà lại chém giết thù hận lẫn nhau. Nhất là những người lính miền bắc, chỉ vì một số người cầm quyền nhân danh các thứ chủ nghĩa này nọ, để xua họ vào miền nam chém giết chính đồng bào mình. Trước khi nhắm mắt, có lẽ họ chẳng biết họ chết trong núi rừng, trong đói khổ, để cho ai và được điều gì ? Gia đình, cha mẹ hay vợ con họ ra sao ? Tôi nghĩ tới cái Vô Thường, Vô Minh mà Đức Phật đã dạy, nên tôi đã tìm tới cửa Thiền để mong trút bỏ mọi ám ảnh, oan khiên.
Như vừa nhớ ra một điều gì, thầy chỉ tay về hướng sau chùa: – Mời bà đi theo tôi. Mong bà sẽ tìm thấy một điều kỳ diệu. Tôi theo thầy đi dọc theo triền đồi, đến một nơi tương đối bằng phẳng. Lại một khu vườn nhỏ toàn hoa sim. Tuyêt diệu hơn, bên trên các khung cây được treo đầy những cánh lan rừng. Tôi nhớ tới những cành lan mà Lân thường mang về tặng tôi sau các cuộc hành quân. Ngày xuân, tất cả đang nở rộ một mùa hoa. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là giữa khu vườn là một ngôi mộ, trên tấm bia lại có cây thánh giá. Tôi thắc mắc hỏi thầy. Thầy im lặng, không trả lời, ra dấu bảo tôi cùng thầy đến gần ngôi mộ. Tôi bàng hoàng khi đọc mấy dòng chữ trên mô bia: Tôi quỳ trước ngôi mộ, đưa tay lên ngực làm dấu thánh giá rồi khóc sụt sùi. Một cơn gió xào xạc làm chao động cả rừng cây. Dường như tôi đã ngồi ở đây lâu lắm. Khi lau nước mắt đứng lên tôi không còn thấy thầy trụ trì. Có lẽ thầy muốn để tôi ngồi khóc một mình mà thổn thức với người xưa, hay là muốn tránh xa chuyện vui buồn của thế tục. Khi trở lại chùa, tôi có cảm giác như chân mình đang bước vào khoảng không, hụt hẫng. Chú tiểu chờ tôi trong căn nhà khách, chuyển lại lời xin lỗi của thầy trụ trì và trao lại cho tôi một tờ giấy học trò được xếp làm đôi. Thầy trụ trì đang cúng ngọ. Tôi mở tờ giấy ra đọc, trong lúc tiếng chuông chùa ngân nga như muốn làm dịu đi phần nào những cơn sóng đang bềnh bồng trong lòng tôi. Trên tờ giấy chỉ có mấy dòng chữ : Xin chào bà và cám ơn bà. Chính tôi đã mang hài cốt của anh Lân về cải táng trong vườn chùa, khi được tin nghĩa trang trong thành phố Kontum bị giải tỏa. Anh Lân mồ côi, không còn ai thân thích.Từ nay, xin bà hãy cầu nguyện cho anh Lân, theo nghi thức tôn giáo của bà. Nam Mô A Di Đà Phật.
(Tác giả viết lại phỏng theo lời kể của một nữ độc giả. Độc giả này sau khi đọc bài Trên Chiến Trường Xưa (Kontum) của tác giả, được phổ biến trên nhiều số báo nhân ngày 30.4.2008, đã tìm cách liên lạc với tác giả để tìm hiểu vế cái chết của người tình cũ. Anh đã tử thương trong trận tái chiếm Bệnh Viện 2 Dã Chiến, Kontum ngày 11.5.1972)
Trong thời gian đi tù “học tập cải tạo” ngoài Bắc, một ngày nọ ở trại Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, trong lúc tôi bị bệnh phải nằm nhà, có một thiếu tá bộ đội Bắc Việt ghé thăm trại. Đến “lán” tôi ở, ông xưng là thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ và hỏi tôi thuộc quân binh chủng nào, cấp bậc gì. Sau khi nói cấp bậc và cho ông ta biết là tôi thuộc ngành chiến tranh tâm lý đóng quân ở Saigon, viên thiếu tá la lên ra tuồng mừng rỡ như gặp bạn cố tri, ông ta hấp tấp hỏi tôi:
-“Ở trong ngành tâm lý chiến, các anh biết anh Phạm Huấn và Phan Nhật Nam không?” Tôi thực thà đáp rằng Thiếu Tá Phạm Huấn thì làm chung phòng với tôi, còn nhà văn Phan Nhật Nam cũng là người quen biết.
Thế là hình như muốn tâm sự chuyện gì đấy với tôi, viên thiếu tá ngồi xuống trên cái chõng tre cạnh chỗ tôi nằm. Ông ta kể lại là hồi mấy năm trước khi miền Nam bị mất, có một phái đoàn quân sự bốn bên ra thăm Hà Nội, trong đó có mấy ông sĩ quan nhà báo Phạm Huấn, Phan Nhật Nam và Dương Phục đã được “bên ta” đón tiếp rất nồng hậu, còn đãi một bữa cơm trưa thịnh soạn, thế mà khi về các anh ấy lại viết báo nói xấu miền Bắc (!) Viên thiếu tá nhấn mạnh đến sự đãi đằng của một bữa cơm trưa hai lần và có ý trách móc mấy ông phóng viên miền Nam đã không biết điều, người ta đã cho ăn một bữa cơm như thế mà không mang ơn, lại còn viết báo nói xấu chế độ. Có lẽ qua sự tuyên truyền quá đáng, họ cho rằng dân chúng miền Nam bị bóc lột đói rách tả tơi, đói khát, thèm ăn, thèm uống, do đó mới có chuyện sau tháng 4-1975, bà con ở ngoài Bắc vào thăm, đem cho chục chén ngang để ăn cơm. Nhưng tại sao trong khi đó họ lại cho rằng sĩ quan miền Nam hiếp đáp dân chúng, nên nhà cao cửa rộng (một đứa cháu tự miền Bắc vào đã hỏi tôi, cậu đại úy mà nhà có thế này thôi sao?), lại cho một bữa ăn đãi đằng là quan trọng như thế?
Sau này tôi mới biết miếng ăn ở miền Bắc XHCN nó quí giá đến ngần nào, khiến viên thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ kia phải nghĩ rằng cả mấy ông sĩ quan miền Nam, phải “xôi chùa ngọng miệng”. Mới đây, ở Mỹ gặp Phan Nhật Nam, nhắc lại câu chuyện cũ, tôi muốn biết thực sự cái bữa ăn đó nó ghê gớm như thế nào, đến nỗi viên thiếu tá Bộ Nội Vụ cứ nhắc đi nhắc lại và cho rằng đáng lý ra các ông sĩ quan kia phải hàm ơn họ mới phải. Phan Nhật Nam đã ở tù “cải tạo “14 năm mà trí nhớ còn rất tốt, anh còn nhớ rất rõ, đó là ngày thứ sáu 4 tháng 3 năm 1973, phái đoàn 4 phe từ Saigon ra Hà Nội bằng máy bay C.130, đã được đưa về khách sạn Metropole. Cái gì chứ chuyện “trình diễn” thì Hà Nội là chuyên viên số 1. Khách sạn mới quét còn hăng hắc mùi vôi, và bữa cơm “chiêu đãi” được coi là thịnh soạn vì có bia Trúc Bạch, cơm gạo tám thơm, giò chả …
Những người miền Nam đi công tác vào vùng địch khi nào cũng cẩn thận mang theo sandwich, nước uống, do đó mà bữa cơm trưa hôm ấy, vì lịch sự bia phải nhấp môi, chứ không ai đụng đến thức ăn. Thế là phe chủ nhà, lâu lắm mới dược chút cơm trắng, tí bia, tha hồ mà đóng vai tiếp khách, “tiếp thu” tận tình. Ông Phan Nhật Nam lại đùa dai bằng cách lấy một nắm cơm gạo tám nói là đem về Saigon cho biết gạo tám thơm như thế nào, thế là ông văn nô Tô Hoài sau này hô hoán lên là quả miền Nam đang đói thật.
Sau khi ra tù, nhân dịp về Huế và gặp lại một đứa cháu hiện làm cho một công ty gia công nhôm đồng hay lâm sản gì đó đã mô tả miếng ăn như sau: Mỗi khi có “chiêu đãi” phái đoàn này nọ, anh chàng giám đốc luôn luôn nói nhỏ với nhà hàng gói thêm cho anh ta ba phần ăn đem về cho vợ con và tính luôn vào hóa đơn thanh toán cho cơ quan.
Điều này, thực ta cũng lấy làm lạ là vì “giải phóng” đã được hơn mười năm, đâu đến nỗi còn đói khát như những ngày đầu, hay là vì bản chất tham ô, bần tiện thì lúc nào cũng vậy. Ai mời đi ăn điểm tâm buổi sáng, thì phải sữa, soda, hột gà là thứ đắt tiền nhất, ăn thì phải tô đặc biệt có hai hột gà, có khi ăn bún bò cũng thêm hai hột gà cho ra dân chơi sành điệu. Ba mươi năm sau, mặc dù sau khi đã có chức, có quyền, đối với quan quân trong chế độ ấy, miếng ăn vẫn còn là một thứ gì quí giá, được đánh giá quá lớn, bây giờ, đi theo chữ “ăn” lại thêm chữ “nhậu”. Chuyện kể, ở Biên Hòa có một Việt kiều về mở quán cà phê kinh doanh, nhưng công an phường không thích uống cà phê mất ngủ mà chỉ thích nhậu thịt rừng với bia ngoại. Họ mời ông đi nhậu bữa đầu tiên, ông nghĩ đó là xã giao và làm quen, ông nhận lời và lần đó dù công an mời ông, ông phải trả hơn một triệu đồng tiền ăn uống.
Lần thứ hai, công an phường mời nhậu, ông Việt kiều không né tránh được đành dẫn xác đi, lần này con số người tham gia đông hơn, không phải chỉ toàn thể công an phường treo bảng “đi họp” mà cả bạn bè, bà con của các bạn dân nữa. Ông chủ quán cà phê bấm gan vay nợ trả hơn hai triệu đồng cho một bữa nhậu, két bia chất cao thành tháp. Đến lần thứ ba, thì ông Việt kiều “tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng sách”, ông trốn trong cầu tiêu và nhờ vợ ra báo ông đi Saigon mua hàng vắng. Công An vẫn có kế hoạch, chúng dẫn nhau ra quán cũ, ăn nhậu ngất trời và bảo chủ quán ghi “hóa đơn” cho ông Việt kiều nọ, đặc biệt là còn hào hoa, rộng rãi “boa” cho ba em chiêu đãi, chuốc rượu trong quán nhậu và số tiền này cũng cộng luôn vào phiếu thanh toán. Tôi nghĩ là sau vụ này, chắc vợ chồng ông Việt kiều đã đóng quán kinh doanh, “di tản chiến thuật” về Mỹ rồi.
Cũng như nhiều người có cơ sở làm ăn trong quận, một ông chủ lò nhôm phải thay phiên tổ chức các bữa nhậu linh đình “đóng hụi chết” cho công an quận, không phải ngoài quán xá, mà ngay trong cơ quan mỗi chiều thứ bảy để tránh né “tai mắt của nhân dân”. Nhân viên công an, phường xã là những con ma đói, luôn luôn có mặt trong các buổi tang lễ, cưới hỏi, hội hè, đâu có miếng ăn thì ở đó có chính quyền địa phương.
Chúng ta hãy nghe một đoạn văn của Lâm Chương viết về một hoạt cảnh ở nông thôn, trong những tiệc rượu luôn luôn có bọn “quỷ thần chứng giám”: “Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo ve.
Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà, mồm mép tía lia. Cánhđàn ông ngồi ngoài sân, cười nói ồn ào. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Chỗ quy tụ đông người phải có quỉ thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không phải bằng tim. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá, luồn lách … “
(trích trong “Những Đoản Văn Rời” của Lâm Chương)
Lại thêm một chuyện nữa về miếng ăn trong cuốn “Viết Về Huế” của nhà văn Tuệ Chương:
“Ngay sau 30 tháng 4, ông anh cả của anh rể tôi từ ngoài Bắc về. Anh rể tôi dọn cơm mời ông anh, có tôi dự. Tôi hỏi anh ta:
– Về đây, anh tính “công tác” gì?
– Tôi muốn làm Chủ Tịch Phường.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Anh là kỹ sư đóng tàu, sao lại muốn làm chủ tịch Phường?
Anh ta cười:
– Ngoài Bắc, mấy người Chủ tịch Phường là sướng nhất, hết nhà này mời ăn giỗ, tới nhà kia”
(trích trong Viết Về Huế của Tuệ Chương)
Đó là chuyện ăn nhậu trên bàn tiệc, có hải sản, thịt rừng, bia ngoại, có chiêu đãi viên ngồi một bên chuốc rượu, đút thức ăn vào miệng, kể cả lau mồm lau mép cho thực khách. Đây là nói theo nghĩa đen, còn về nghĩa bóng trong xã hội này, tôi nghĩ không cần phải chùi mép cho người khác khỏi thấy, vì nhân dân thì đã quá biết, còn cơ quan liên hệ hay cấp trên, cấp dưới, cấp ngang, cấp dọc, thằng, con nào cũng ăn, thì cần chi phải giấu giếm, che đậy. Do vậy truyền thống của XHCN là những hợp đồng, những khế ước không bao giờ được thảo luận hay hoàn tất trong phòng sở, mà phải là nơi quán rượu, nhà hàng, bia ôm hay karaokê.
Đó là lối ăn có rượu để đưa cay thực hiện tại các nhà hàng, còn như ăn xi măng, sắt, gạch đá, hắc ín, xăng nhớt kể cả máy móc, dây nhợ thì không cần có rượu mà cơ quan nào cũng thi đua làm tốt. Chính báo chí trong chế độ đã xác nhận mỗi công trình đều bị cắt xới từ 30% đến 50% là chuyện thường tình, vì nhà thầu hay người cho thầu phải chi qua nhiều chặng, nhiều cấp, hàng ngang, hàng dọc, y như chiếc xe khách phải đứng lại quá nhiều trạm kiểm soát của công an vậy. Do đó, chung cư thì thiếu xi măng, cầu cống thì thiếu sắt, nhà trường thì thiếu gạch … đương nhiên là sẽ sụp đổ, có khi trước ngày khánh thành, mà nạn nhân thường là quần chúng vô tội. Đó là những miếng ăn độc hại và ăn đã trở thành một thói quen, một lề thói, trở thành một nếp sống văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, sinh ngày 11, tháng Chạp, năm 1926, tại làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá.
Nhưng tay chánh lục bộ ở làng thuở đó, chắc chữ Quốc ngữ chỉ học lem nhem, nên viết chánh tả trật bấy, trật bá hè. Tài hay vì ‘’’ ngắn, Tía chơi vô chữ ‘y’ dài mới chết!
Em tên là Nguyễn thị Lan; (xác thân còn đó hồn tan lâu rồi) thì Tía, chánh lục bộ, tiện tay phang luôn chữ ‘g’ vào. Lan một loài hoa rất đẹp dưới nét chữ như cua bò của ‘Tía’ bỗng ngang xương trở thành Lang, là con chó sói! Thiệt là hết nói.
Đang học trung học tại Collège de Cantho năm 1945 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, trò Tài chưa kịp thi bằng Diplôme đành dở dang việc học.
(Trường Collège de Cantho, chánh thức lấy tên là Trung học Phan Thanh Giản từ tháng Tám, năm 1945. Học trò thi bằng Diplôme, thi viết tại Cần Thơ nhưng thi vấn đáp vẫn phải khăn gói lên tận Sài Gòn.)
Học cùng thời, cùng lớp với Sơn Nam, là nhà văn Lê Xuyên, người Ô Môn, Cần Thơ nhỏ hơn Sơn Nam một tuổi, sanh năm 1927.
Những nhà văn miền Nam như Sơn Nam, Lê Xuyên, Xuân Vũ nhà vốn ở ruộng, có một điểm chung là thôi học năm 1945, vì thời cuộc đều tham gia 9 năm ‘kháng chiến’.
Nhà văn Xuân Vũ, người Mỏ Cày, Bến Tre từng học Collège de Mytho, năm 54 tập kết ra Bắc rồi theo đường mòn Trường Sơn trở lại miền Nam. Mãi tới năm 1968 mới ra ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Nhưng có người theo ‘kháng chiến’ nhưng nhạy bén ‘khiến chán’ trước… như Lê Xuyên, Sơn Nam bỏ về thành, lên Sài Gòn viết văn, viết báo Nhân loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống…như là một cái nghề để kiếm sống sau hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17.
(Bút hiệu Sơn Nam là để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu. Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam).
Sơn Nam mất ngày 13, tháng Tám, năm 2008 tại Sài Gòn. Nhà văn Bình Nguyên Lộc nhận xét về bạn văn của mình như vầy: “Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc twist. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp biết bao nhiêu. Cái đẹp của Sơn Nam bất hủ…”
Bạn văn ca tụng nhau như vậy quả cũng là bất hủ! Thực vậy, suốt cả đời người chỉ viết văn, viết báo, biên khảo để kiếm sống một cách vất vả của kiếp nhà văn. Nhưng những trang viết của Sơn Nam không phải để giải trí, đọc qua rồi bỏ, mà là những khám phá cực kỳ thú vị về vùng đất phương Nam.
Là người Nam Bộ rặt ri, nhà văn Sơn Nam, qua lời văn giản dị, mộc mạc nhưng rất thâm trầm, am hiểu quá trình hình thành vùng đất Lục tỉnh Nam Kỳ nên đọc Sơn Nam, mình càng yêu đất nước mình hơn.
***
Năm 56, một truyện ngắn gởi báo Tiếng Dội được ông Trần Tấn Quốc, chủ báo, nồng nhiệt đón nhận. “Xin giới thiệu cùng quý độc giả thân mến: tân truyện Đường về Đồng Tháp của Đoàn Hùng Việt”.
Đoàn Hùng Việt là bút hiệu của ba tôi. Từ đó, ba tôi viết cho nhiều báo khác… kể cả các tuần báo như: Nhân Loại, Bông Lúa.
Lúc ấy, Sơn Nam mỗi tuần một truyện ngắn trên Nhân Loại như: Hương rừng Cà Mau, Tình nghĩa giáo khoa thư, Hát bội giữa rừng, Mùa “len” trâu… mà sau này gom lại thành tuyển tập “Hương rừng Cà Mau’ do nhà Phù Sa của Ngọc Linh cũng là bạn văn, phát hành năm 62.
Sau nầy trong tạp chí Hương quê của Phòng thông tin Hoa Kỳ, chuyên về nông nghiệp, mỗi tháng, còn có đăng truyện ngắn của Sơn Nam hoặc Bình Nguyên Lộc, đọc rất là khoái chí!
Hình ảnh cái tình văn nghệ của phụ thân tôi và Sơn Nam từ độ ấy. Bác Sơn Nam hơn ba tôi hai tuổi nhưng hai người gọi nhau là anh. Ba tôi gọi anh Sơn Nam; còn bác Sơn Nam gọi ba tôi là anh Việt.
Ngoài Sơn Nam ra, ba còn có các bạn văn khác như: Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Ngọc Linh, Kiên Giang Hà Huy Hà, An Khê, Dương Hà…
Nhà văn Ngọc Linh chuyên viết truyện dài với tựa rất thơ như: “Buổi chiều lá rụng… Mưa trong bình minh” gởi tặng ba hình một người đẹp với dòng chữ: “Thân tặng anh Đoàn Hùng Việt” và ký tên. Hình người đẹp đó là Kiều Chinh đang là diễn viên điện ảnh.
Nhà văn Ngọc Linh ăn mặc bảnh bao, chải chuốt, quần áo láng cón, đầu bi-ăng- tin bóng lưỡng, chạy Vespa. Còn Sơn Nam tóc chải xước, (kiểu Út Trà Ôn), không có rẽ đường ngôi bảy ba như sau nầy; mặt như lưỡi cày, môi dầy, răng hơi hô, mắt kèm nhèm dưới đôi kính cận. Áo trắng xắn tay, bỏ vô thùng đàng hoàng nhưng mang dép lè phè… đi bộ. Tay trái đeo đồng hồ ‘ô-ma -lắc’…(lắc mới chạy)… Nhưng cả hai đều tài hoa và đào hoa… như nhau. Cho nên Sơn Nam đặt tên con gái là: Đào Thúy Hằng và Đào Thúy Nga thì cũng chẳng làm ai ngạc nhiên…
(Hằng là tên trong giấy tờ, còn tên ở nhà là Mỹ Linh. Nga là Ngọc Ánh. Thúy Hằng là tên Thẩm Thuý Hằng; còn Thúy Nga là tên ca sĩ, vợ Hoàng Thi Thơ. Sau này Sơn Nam có thêm một người con gái nữa là Đào Thúy Liễu, tên ngoài là Trinh.)
“Lúc đó, Sơn Nam có người bạn viết báo tên Đoàn Hùng Việt, làm việc ở Bưu điện Mỹ Tho. Sát vách nhà chú Việt có căn nhà bỏ trống nên chú đề nghị Sơn Nam đưa vợ con về thuê ở.” Lời của Mỹ Linh.
Tôi là láng giềng, sát vách với con nhà văn nổi tiếng nầy được hai năm, thường ra ruộng mò cua, bắt ốc hay chạy qua nhà nghe say mê bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ.
Năm 59, ba tôi đổi đi Bưu Điện Cái Bè, tôi xa Mỹ Tho, không còn đi bắt ốc, hái rau với Mỹ Linh và Ngọc Ánh ngoài ruộng nữa. Không còn qua nhà nghe bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ hay ngồi trước cửa nhà nhìn xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho, súp lê, chạy xịt khói nữa…
Bưu Điện Cái Bè, làng Đông Hòa Hiệp, là biệt thự kiểu Tây, 13 phòng, rộng minh mông, chánh phủ mướn của ông Hội đồng Đôn. Không điện, không nước. Không điện thì đèn măng sông. Nước thì nước sông, gạo chợ.
Sơn Nam một, hai tháng mới về thăm vợ con một lần ở Mỹ Tho, rồi nhơn tiện ghé Cái Bè ở chơi với ba tôi năm, bảy bữa… Nói là ghé chơi chứ thực là ông về để viết.
Sáng hai ông ăn sáng với hột gà ‘ốp-la’, muối tiêu… bánh mì bán dạo, nóng dòn. Uống cà phê phin kiểu Pháp. Bột cà phê bỏ vô phin, rót chút nước lạnh cho cà phê nở ra rồi rót nước thiệt sôi vào. Cà phê đen rất đậm, ít đường. Buổi sáng hương cà phê thơm ngát… Tôi hưởng nước nhì…
Cả hai đều ghiền thuốc lá và ghiền nặng. Ba hút ngày một gói Melia vàng, hai chục điếu, Sơn Nam cũng không chịu thua, một gói Bastos xanh.
Tới giờ ba tôi đi làm việc, chỉ cần mở cửa là tới văn phòng, thì Sơn Nam rút vô phòng, lấy sổ đầy chi chít những chữ ra xem… rồi viết… Trưa ăn cơm chung, chiều uống chút đỉnh rượu, rồi ngủ.
Má tôi một người phụ nữ đảm đang, một người vợ yêu chồng hết mực (má ai hổng vậy?) lo nấu ăn, đãi bạn văn của chồng mà không một tiếng than van.
Tụi nhỏ được ăn ngon hơn một chút… thường là canh chua cá lóc với cá sặc rằn kho tộ.
Sau đó là Rạch Giá và Sài Gòn, những nơi ba tôi đổi đi, ông Sơn Nam đều có đến thăm.
***
Năm bảy lăm, mất nước, ba tôi bị bắt đi cải tạo hết sáu tháng, dù suốt đời chỉ làm Bưu Đìện, liếm tem, cò, phát thơ chứ “làm cái chó gì đâu” mà có nợ máu với nhân dân… vậy mà cũng bị ở tù.
Ba tôi ra tù về lại Sài Gòn, đường Lý Thái Tổ kiếm sống bằng nghề đánh máy mướn. Người ta làm đơn xin thăm nuôi chồng, con ở tù vì đủ mọi lý do… (mà lúc đó ai mà hỏng ở tù… mới là lạ).
Bây giờ, quê người, viết bài nầy bằng computer, khỏ nhẹ nhàng lên “keyboard” là chữ hiện lên, tôi lại nhớ và thương ba tôi nhiều hơn nữa.
Thương vô cùng những ngón tay cong vòng của Ba; vì phải gõ lọc cọc suốt ngày trên cái máy đánh chữ “Olympia” cổ lỗ sỉ để kiếm gạo nuôi một bầy con, thân gà trống… vì má tôi đã mất lâu rồi!
***
Có lần, khoảng năm 80, cả nước đang đói tợn, từ Cần Thơ đi gạo lậu về Sài Gòn, ghé thăm ba, tôi lại được dịp gặp nhà văn Sơn Nam.
Sáu giờ chiều, dẹp bàn máy, hai ông già, bạn văn, dắt nhau ra Ngã bảy Lý Thái Tổ và Petrus Ký, ăn cơm bụi.
Bây giờ không còn canh chua cá lóc, cá sặc rằn kho khô hay cá lóc nướng trui, uống rượu “con cọp” nữa rồi! Mà là một khúc hũ qua hầm trong canh toàn quốc, uống rượu bọt đường…
Tôi cứ tưởng nhà văn Sơn Nam ở tù hơn một năm rưỡi hồi Việt Nam Cộng Hoà giờ còn được tiếp tục cầm bút thì chắc ổng phải làm quan… ngon rồi chớ… dè đâu cũng vậy… thì sao nhờ vả được hỡi trời!
Tôi hỏi ba tôi hay là bác Sơn Nam giấu, vì sợ cha con mình mượn tiền, chứ con đọc báo thấy bài của ổng nghe “mùi cách mạng” lắm mà ba?
“Hỏng có đâu con, bác Sơn Nam nói mấy thằng biên tập nó chen vô, hỏng cho, nó hỏng đăng, đói.”
“Người viết phải giao thiệp với chủ báo để biết họ cần gì, đặng mình viết mà không sợ phải “lạc đề”, nếu bài “lạc đề” thì dù có hay mấy họ cũng ném sọt rác. Khi đưa bài báo đến tòa soạn báo, họ muốn biên tập, xử lý ra sao cũng mặc kệ, miễn là họ… trả tiền sòng phẳng. Những gì họ biên tập, cắt xén thì khi in thành sách, ta cứ việc “phục hồi” lại nếu thích”. (Lời Sơn Nam).
(Sau nầy, trong Hồi ký của Sơn Nam, nếu tinh ý, độc giả cũng thấy, cái mạch văn, cái từ ngữ rặt ri của vùng U Minh, Trèm Trẹm, lại chen vào những phương ngữ gốc Bắc. Như ‘nghĩa quân’ của ông Nguyễn Trung Trực đánh chiếm Tòa Bố Rạch Giá lại thành ‘du kích’ (?!)
Cái tình văn nghệ giữa ba tôi và Sơn Nam dễ chừng hơn mấy chục năm nhưng thời gian có hề gì. Cái tình nghĩa giáo khoa thư giữa thầy phái viên báo ‘Chim Trời’ và độc giả Tư Có của cái xứ Cà Bây Ngọp, chỉ một đêm… Hai ông ăn cá lóc nướng trui, uống rượu “ông cọp”… rồi sau đó cùng chui vô mùng… nói chuyện: “Quốc văn giáo khoa thư”.
Cái tình văn nghệ giữa các ông với nhau là một chút “Hương Rừng Cà Mau” thoang thoảng nhưng lại thơm tới ngàn sau.
Người con gái cao hơn hắn một cái đầu. Mắt hắn nhìn thẳng, đọng ngay giữa ngực. Ngực cô ta sâu một đường khe. Hắn nuốt nước miếng, tô phở đi vào bụng nửa tiếng trước bắt đầu tạo phản ứng? Bột ngọt vị tinh mì chính, thủ thuật gia giảm liều lượng đinh hương đinh hồi. Khô khát cổ họng.
– Một trăm.
Đứa con gái đá lông nheo. Hết tiếng Pháp lại đổi sang tiếng Anh. Giọng khan, môi son đỏ co giãn và hai hàm răng không ngừng nhai kẹo cao su. Hắn ngửi được một mùi thơm, rất đàn bà. Quyến rũ gấp vạn lần xí quách húng quế ngò gai ớt chua tương ăn phở.
– Cần nói thêm là đã tính luôn tiền phòng cộng với bao cao su. Mua một món hàng thì ai cũng săm soi nhìn trước ngó sau. Hắn thọc tay vào túi quần và đầu thì đang bị mấy chữ trường túc bất chi lao hiện ra dằn vặt. Đi đâu mà vội, hút một điếu thuốc cái đã. Vã lại ông bà mình có dặn, mới ăn no chớ nên xã láng năng lượng vô ba cái vụ này. Thân thể con người chia làm ba phần, đầu mình và tứ chi. Đợi ba bộ phận ấy ngứa ngáy khó chịu rồi hẳn tính.
– Cho tao một điếu. OK?
Khói thuốc bay cùng lần nơi hai mái đầu chụm lại. Tóc vàng tóc đen quấn quít sợi ngắn sợi dài. Hắn thổi đám mây xám bay lên những bậc cấp ám tối. Có lẽ trên đó, sau cánh cửa im ỉm đóng là nơi hành lạc? (Không hành trần chẳng giá chín).
Buổi trưa, nắng không có, nhưng nóng. Bầu trời trám chì nặng nề đã mấy hôm rồi, tức giông. Chiều nay trời không mưa thì tôi sẽ làm mưa. Hắn nhai đám khói thuốc trước khi thở ra lỗ mũi. Phiá bên kia đường có tiệm bán băng dĩa cũ và DVD phim ba X. Tuy ban ngày mà đèn chớp nháy ngó thật rậm rật. Cửa mở rộng treo bảng đại hạ giá, nhạc hard rock như thác chảy từ trong đó tuôn ra. Bản ấy đang đứng top. “The Unforgiven” của bọn Metallica. Đứa con gái nhún nhảy. Bộ ngực nhún nhảy. Hai cái thánh giá đeo lủng lẳng dưới trái tai cũng nhún nhảy, sáng chói màu kim loại. Lạ. Thời buổi này thánh giá bán rất chạy, cho những cô gái đeo làm vật trang sức; trong khi lời nhạc thì xem thường sự có mặt của thần linh, gào thét thứ ẩn ngôn của ma qủy. Mạt pháp!
Từ trên mười tám bậc cấp có tên đàn ông râu rậm loạng quạng đi xuống. Mặt thằng chả đỏ ké, da thịt bóng nhờn mồ hôi xuất hạn dầm dề, ngang qua đứa con gái thò tay lông lá véo ngắt vào mông.
– Bận sau anh sẽ đi với em. Con Rosé ăn thứ gì mà trở chứng?
– Nó ăn thịt ba của anh chứ ăn thứ gì. Đừng cà chớn.
– Đù má em.
Thằng đàn ông cười khan trong cổ. Nhổ một đám nước dãi rồi bỏ đi. What the Hell…
– Tao chán những đứa lắm chuyện như thế không thể tả. Nghe đồn dân Á châu rất ngon lành trong ba cái vụ im hơi lặng tiếng và ít bày đặt kiểu cọ?
– Có lẽ.
– Thế còn keo kiệt? Thấy một trăm mắc thì dang ra chỗ khác chơi cha nội.
Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn lại con đĩ có giọng nói khan. Và chua như giấm. Chiếc áo thun đen in hàng chữ tiếng Pháp chạy méo mó trên vũng thịt lồi lõm, rung động không áo nịt ngực. Dốt ngoại ngữ lắm trí óc hắn cũng tự động phiên dịch ra tiếng Việt: “Hãy cứu vớt linh hồn tôi!”. Hắn từng là thuyền nhân. SOS. Và hắn từng được người giàu lòng từ bi cứu vớt lên thuyền lớn.
– Trên đó phải không? Hắn hất hàm.
– Chịu rồi phải không? Con nhỏ tóc vàng chu mỏ thổi bay cục cao su ra ngoài đường. Đi theo tao.
Mười tám bậc cấp. Có ai dè địa ngục mà phải bước lên. Trần gian đang ở đâu thế? Bên kia đại dương chăng? Ở đó có cô vợ hờ mà người ta nói tương lai sẽ thuộc về hắn. Người ta sẽ chịu chi một cái vé máy bay về bển với điều kiện hắn ra Quy-nhơn tổ chức đám cưới rồi lo mọi thủ tục để có ngày vớt cô vợ bé bỏng ấy sang đây. Người ta cho hắn xem hình đen trắng, ai đó còn xổ Kiều phụ họa thêm: Thấy không? Cũng khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang! Tiếc là tấm ảnh nhỏ chỉ thu lấy khuôn mặt, mình và tứ chi thì chẳng rõ có nở nang? Hắn xem xét, lòng những muốn phiêu lưu vào cuộc hôn nhân quái đản nhưng miệng vẫn ngậm câm chưa có ngay câu xác định: Yes or No. Thiên hạ kháo nhau chuyện tầm phào, gái Quy-nhơn không có lông. Xời, biết đâu đó là lối quảng cáo thiệt khéo nhằm đánh động tính tò mò.
– Lẹ lên cưng.
Đem tuổi tác ra mà so thì chưa rõ hơn thua, nhưng lấy thể xác mà đọ thì đúng là chị trước em sau. Cánh cửa đóng kêu cái két, tù mù một hành lang ẩm mốc với dãy phòng có cửa sơn màu tím. Tiếng giày cao gót gõ xuống nền gỗ hư hao chuyển mình rên rĩ. Một hai lóc cóc ba bốn. Thình thịch thùm thụp lóc cóc. Hắn hơi ngộp thở, có thứ gì đó chẳng tượng hình làm trái tim ép sát lồng ngực. Phòng số 10. Nâm-bờ Ten. Chẳng rộng rãi thoáng khí như hắn lỡ mường tượng. Vách dán giấy hoa có nơi keo không ăn vật mình tờ giấy xuống, oằn oại lưng chừng. Đinh đóng vào vách lỗ chỗ chẳng rõ để làm gì, trống trơn không một tấm tranh móc treo lên. Một bàn vuông nằm trong góc. Hai cuốn sổ niên giám điện thoại dày như chuyện kể nghìn lẻ một đêm hoặc Hồng lâu mộng. Bốn năm vỏ chai bia lăn lóc. Cái gạt tàn thuốc. Cùi một trái táo ai gặm không hết vất dưới chân giường khô quắt tựa một khúc xương người tiền cổ vừa được khai quật. Và cái giường là vật thể cuối cùng nằm chình ình ra đó. Giường nhỏ, trải tấm ra màu xanh bẩn như giường có trong bệnh viện, khu hộ sinh.
– Nóng bức quá hả?
Đứa con gái phát biểu cảm tưởng trong lúc cởi quần jean rách đầu gối treo lên một cây đinh. Hắn phát hiện chẳng có cửa sổ nào cả, như một cái hộp vuông vức. Không quạt trần, không luôn cả máy lạnh điều hoà không khí. Mồ hôi tuôn như đang đứng ở Gò Vấp. Montréal xứ tuyết vẫn có khi qủy quái như thế đó. Lạnh Liên-xô mà nóng Việt-nam.
– Đưa tiền đây.
Năm ngón tay chìa ra. Cánh tay còn lại đang chống nạnh, quần lót màu đỏ nhỏ chút xíu có ưa dùng để hỉ mũi lau cũng không sạch nước giải. Mấy ngón nhịp nhịp trên sợi giây thun chờ đợi. Một trăm là năm tờ giấy hai chục. Hắn thè lưỡi thấm nước miếng mà đếm. Tiền trao nhưng cháo chưa múc.
– Đợi tao dội qua miếng nước cho sạch sẽ. OK?
Nước? Nước non ngàn dặm ra đi. OK. Nụ cười con nhỏ ngó dễ ghét. Chữ ghét này phải hiểu ngược lại. Như mẹ ẳm con thơ lên, lòng vui vô hạn để thì thầm: Cái mặt thấy ghét quá hà! Chiếc áo “cứu vớt linh hồn” được cởi ra, ném vào mặt hắn rồi cô quay lưng bước tới vách, nơi có miếng giấy hoa gần rơi rụng. Chà, hiện đại nhỉ! Có cánh cửa gắn ở đó mà hắn nào thấy. Đằng sau là phòng vệ sinh dồn đẩy mùi long não ra khi cửa mở. Đứa con gái tụt miếng vải cuối cùng vặn vẹo người cho đến hồi nó thoát hẳn đôi chân dài. Hắn ngồi ở mép giường giương mắt ốc ra ngó từng cử động. Tiếng nước chảy, tiếng vòi nước bị khóa lại nơi cái robinet đã han rỉ. Cô bước ra. Đám lông xoắn xít và nó vê lại như một cụm râu cắm dưới cằm con dê tuổi mới lớn.
– Chưa cởi đồ ra sao?
Hắn nhìn cái tam giác co giãn đang chuyển dịch lại gần. Những giọt nước rơi xuống, từ đó rơi xuống. Người ta cho hay, nhỏ đó tên Thủy, mới mười chín tuổi và bảo đảm là chưa thất thân. “Nói láo xe cán, ai lại thất đức làm mai cho cậu một người vợ mất trinh”.
– Xong hết rồi đó. Làm lẹ đi.
Đứa con gái vật mình xuống giường nằm ngữa dang rộng tay chân. Hắn lóng cóng hồi lâu trong việc thoát y. Chậm chạp nhưng sau rốt cũng xong. Hắn phát hiện chiều dài không đồng nhất của hai thân thể đã làm so le những bộ phận cần được bổ sung điền khuyết cho nhau. Hèn gì người ta dùng chữ cân cặp xứng đôi khi tả đến hình ảnh một cặp vợ chồng.
– Mày dễ thương hiền lành hơn tao tưởng.
Đứa con gái nói trong khi hắn thở mệt. Chẳng cân cặp gì cả. Một bên nhịp tim điều hòa như đang từ tốn đi bước nhẹ kiểu tập taichi. Bên kia thì hào hển bấn loạn tựa chạy việt dã ở vòng đua cuối cùng. Phù du! Bận sau nhất định không ghé tiệm phở ấy nữa. Gia vị, nước lèo nấu không đúng bài bản đã đành, lại thêm chẳng có chút gì bổ khỏe cả! Ăn vào khát nước, làm tình thì chóng mỏi gối chồn chân. Lếu láo thật! Năm phút, khoảng đó, là năm tờ giấy hai chục bị đốt cháy. Một trăm đồng, đi cày ở hãng xưởng đổ mồ hôi sôi nước mắt cả ngày mới gặt hái được. Sau năm phút, những động tác ban đầu lại được tái lập, đi ngược trình tự. Xì-líp kéo lên, đi nhón gót tới xỏ chân vào quần jean. Cầm chiếc áo thun lên, rũ rũ.
– Lộn rồi, áo đó của tao. Hắn nói.
– Xin lỗi. Đứa con gái cười và vuốt lấy những sợi tóc rối trước mặt.
– Không sao, thích thì cứ giữ lấy mà mặc.
Đưá con gái hôn một bên má hắn, nhe răng cắn nhẹ vào trái tai:
– Tao tên Nancy. Lần sau có đến tìm thì tự nhiên giá cả sẽ thay đổi.
Hắn mặc chiếc áo “cưú vớt linh hồn” vào người. Áo sực nức mùi đĩ thõa làm da thịt phải nổi gai, châm chích thứ cảm giác lạ.
Khi bước xuống mười tám bậc cấp, trời hung hãn đổ mưa. Cuồng nhiệt, thịnh nộ, rầm rộ và có vẻ dai dẳng dài hơi.
– Đi bộ hả? Thôi bai nghe.
Nancy không bước xuống bậc cuối. Hắn sãi chân ra vuông sân đất nồng, bong bóng vỡ ra khi nước đâm vào đất, mưa xối xả quất vào lưng hắn trăm ngàn roi vọt như cách thức trừng phạt của cao xanh. Hắn nhắm hướng có trạm tàu điện ngầm để tìm tới. Chẳng vội vã, hắn muốn tắm gội, hắn muốn tẩy xóa. Phố phường không bóng bộ hành, tất cả đều đụt mưa dưới mái hiên nhà những mong người được khô ráo. Bốn giờ chiều, con chuột lột về đúng chỗ trọ ướt nghe ngói đứng mở cửa. Mưa móc ràn rụa chẳng làm phai nhạt mùi hương có trên chiếc T-shirt. Cửa mở, anh hắn hiện ra ở lối đi nhỏ dẫn sâu vào bếp, tay vày vò cái khăn ca-rô dùng để lau chén bát. Sau lưng là bóng điện vàng, sau nữa là có thứ mùi gì đó. Chả giò vừa chiên xong? Mùi chanh tỏi ớt nước mắm? Rất nhiều mùi, đòi thoát khỏi căn phòng ngột ngạt.
– Về rồi à? Có sướng không?
Ngọn đèn vàng trên trần nhà chẳng sáng bằng đôi mắt anh hắn. Đôi mắt của kẻ đang làm công việc tra tấn, lấy khẩu cung. Dữ dằn pha lẫn miệt thị nhốt chật trong đó.
– Ngó xuống con người mày đi. Tàn tệ và dơ bẩn đến thế là cùng. Coi, bày đặt chơi chữ nữa chứ. Cứu với lại vớt…
Hắn đứng sững. Nước từ người tụ một vũng dưới chân như sợ hãi tới độ són đái.
– Hồi trưa, khoảng hai giờ mày làm gì ngoài phố? Nói tao nghe.
– Tui hai mươi mốt tuổi rồi đó anh à. Tui không còn là đứa con nít ngày nào chạy theo anh đi vượt biển.
– Tao biết. Ừ, mày lớn bộn rồi. Lúc nào cũng vỗ ngực. Thật khốn nạn! Tao hối hận đã dắt mày đi qua đây.
– Có chuyện gì thế? Anh sắp lấy vợ, sắp ở riêng rồi sao còn nhăn nhó làm chi cho mất vui.
– Thật mất mặt. Tao chở bà Thuyên đi chợ trời thì trông thấy mày đứng trò chuyện mặc cả với một con đĩ. Tại sao vậy? Ăn nói sao cho ổn với người ta?
– Cùng lắm thì hủy cái hợp đồng vợ chồng kia đi. Nghe như giễu vậy mà anh lại tin. Chứ không phải anh là kẻ luôn hò hét chửi rủa những tên đi về Việt-nam à?
– Đây là nói tới chuyện của tao. Mày hại thanh danh và hạnh phúc của tao cũng vừa phải thôi. Rồi mai đây trong cộng đồng họ đồn tùm lum ra.
– Tui chơi đĩ chứ phải anh đâu mà sợ. Bộ tính nghiên cứu lý lịch kỹ như Việt-cộng hay sao đây?
– Mày câm mỏ đi.
Anh hắn bỏ lui sau bếp, ném mạnh một vật gì đó vào bồn rửa chén.
– Tao hẹn bà Thuyên chiều nay lại nhà ăn cơm. Mày đi đâu khuất mắt cho tao nhờ.
– Tui lại nhà anh Đại thì có chi phiền cho anh không?
Hắn thấy anh hắn đang nắm lấy con dao. Chắc chỉ để xắc thịt hoặc thái hành ngò gì đó. Tính khí anh hắn rất nóng nảy, nhưng chỉ thấy lộ ra trên những dòng chữ viết. Bình thường anh tỏ ra là người đàn ông rất dịu dàng nhỏ nhẹ khi lăng xăng bên cạnh chị Thuyên. Bà ấy đã có chồng con, quyết li dị để sống gần anh. Anh Đại nghĩ tình bạn cũ một mực cản ngăn và hậu quả tên chí tình kia trở nên một kẻ… thân Cộng. Lý do ư? Trong người còn giữ mãi một hòn đạn AK47, bắn gần trúng tim mà không chịu chết đi. Hắn nhắc tới ông Trung-uý Biệt động quân ấy để mỉa mai cho vui vậy thôi, chớ ai dại gì vác mặt mốc tới nhìn kẻ từng xám mặt kêu trời không thấu.
– Tao không hơi sức đâu dài lời với đứa mất dạy như mày. Địt má, em với út!
Hắn cũng cảm thấy rát cổ, mở tủ lạnh tìm chai bia. Phòng ăn ngó tươm tất xôm tụ hơn một bữa tiệc đoàn viên theo chương trình “Ra đi có trật tự”. Anh hắn nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, không ngờ chuyện bếp núc còn khéo léo tới độ khó tin. Trộn gỏi nhanh hơn múa bút, cắt nem dồi chả heo quay xá xíu sắp ngay ngắn trong dĩa còn đẹp mắt hơn bày đồ cúng ông bà cha mẹ. Loay hoay, tẳn mẳn vụn vặt. Gỉa dụ nếu có kiếp sau, thì kiếp ấy anh sẽ là một mụ đàn bà. Và hắn cầu xin, mọi người sống trong cõi ấy phải chịu trả tiền riêng cho cái khoảng nói năng. Lời nói phải mất tiền mua, phát biểu linh tinh phải chịu đóng thuế. Chắc rằng những kẻ từng bị chụp mũ sẽ đồng thanh hoan hô nhất trí. Phải thế không anh Đại?
– Mày làm gì đó? Nem của bà Thuyên mua không phải để cho mày nhậu khan.
– Cần tui phụ cái gì không?
– Mày xéo đi. Đừng có táy máy hai bàn tay nhơ nhớp vào thức ăn.
– Thế nào là nhơ nhớp? Anh đã nghe anh Đại giảng nghĩa chữ đó chưa? Rằng khi xưa chị Thuyên có lần…
Hắn ngậm miệng. Ánh thép vừa loáng lên và cây dao cắm ngập lưỡi vào cái thớt gỗ. Những trái dưa leo dưa chuột giật bắn mình mẫy lăn đổ xuống đất. Bàn tay anh hắn nổi vồng gân xanh.
– Mày có tin là tao sẽ giết mày không?
– Vì miếng ăn hay vì đàn bà?
Mắt anh hắn đã tắt đi ngọn đèn pha, đọng bên trong đỏ ngầu một tia lửa tỏa nhiệt. Mí mắt căng ra, nhìn hắn không nháy.
– Kể từ giờ này mày nên đi khỏi nhà ngay. Nuôi mày đã mười năm tao chẳng còn gì để hối hận cả. Tròn trịa quá rồi, vun đầy quá rồi. Và nếu có sức mẻ thì vết rạn nứt ấy do mày tạo nên.
– Tui biết anh không nỡ giết tui. Đăng một ô vuông từ em in trên tờ báo chợ thì có lẽ hợp với chuyên môn của anh hơn. Còn chuyện nuôi nấng? Thiệt cám ơn anh, sao anh chẳng nói là vừa thí cho tui một trăm đồng để đi xả xui.
– Khốn nạn thật! Miệng lưỡi y hệt như thằng Đại. Tao thật không ngờ mày chóng học nên những điều thâm độc từ bọn bất lương kia, mày có biết là chúng nó cố tình chia rẽ tình anh em không?
– Nhiều lần, tui cũng cố tin như vậy rồi anh ơi!
– Mày đã nghe nói qua chiến dịch Hoa hồng xám của bọn Việt cộng?
– Tiếng Việt tui dốt lắm. Và anh là người đã gây cho tui nỗi sợ hãi không muốn dây dưa với người đồng hương quanh đây. Chơi với tụi Tây đầm thiệt khỏe trí, không lươn lẹo. Tui yêu sự sòng phẳng quá chừng, như muốn ngủ với gái thì quẳng cho nó một mớ tiền.
Hắn ngửa cổ, đổ xuống một hơi bia đầy. Bia đắng, nhưng hậu vị là cả một sự ngọt ngào. Tình anh em trôi nổi sang xứ người, ban đầu thì mặn mà, thét còn lại cái cốt lõi chát chua. Cũng chẳng trách cứ gì ai được. Con người anh hắn khó tìm ra một kẻ tâm đầu ý hợp, vớ được bà Thuyên buộc lòng anh hắn phải trân qúy và xem mọi thứ khác đều là cỏ rác.
– Anh còn tiền không? Cho tui vay một trăm.
– Không có.
– Bao nhiêu đồ đạc tui sắm trong nhà này không đáng với cái giá đó sao? Cái T.V. Cái DVD. Cái đầu máy Video tui mua hơn cả ngàn chứ có phải đi ăn trộm của bá tánh đâu.
– Mày tính bán à? Bán thì tao mua. Một trăm, có phải không?
– Ừ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Xem như đám cưới anh tui là người tặng quà cáp hiến lễ sớm sủa nhất. Còn lời chúc anh chị trăm năm đầu bạc thì tui xin khất.
– Mày lại giở giọng điệu gì nữa đây? Mày tuồng như luôn có ác ý với bà Thuyên!
– Cái đó là do anh suy luận. Anh tài giỏi thì đừng để có ngày chị ấy phải ra thông cáo đòi li dị.
– Tiền đây. Cầm lấy mà đi chơi bời cho mắc bệnh chết cha mày luôn.
– Anh đã dẫn chị Thuyên đi thử máu chưa? Không khéo lại dính vô chữ hoa hồng xám quái quỷ gì đó!
Anh hắn sững mặt ra, trong một giây. Một giây sau thì bàn tay cầm lên chén nước mắm đặt gần đấy tạt hắt vào người hắn. Xác ớt tỏi giã vụn bám không rời hàng chữ “Hãy cứu vớt linh hồn tôi”, thấm vào da bỏng rát, tanh nồng. Hắn cười. Tiếng cười run rẫy giữ trong cần cổ, nghẹn vướng. Hắn cởi chiếc áo ném vào thùng rác:
– Anh nói giùm với chị Thuyên là linh hồn tui đã lỡ bán cho qủy rồi. Chuyện lấy Thủy, cô vợ Quy-nhơn xa ngãi mà chị ấy giới thiệu thì… no fucking way!
Hắn vào phòng vơ đại một chiếc áo rồi bỏ đi. Trời tạnh ráo. Gió thì thào trên cao làm những chùm lá cây như biết đái, rắc nước nhỏ giọt xuống người hắn. Cơn mưa hồi chiều thấm vào mặt lộ đen, thơm mùi ngai ngái. Những hàng đèn cháy đỏ bên kia đường, từ tiệm bán phim sex và diã nhạc không đủ sức thâm nhập vào vũng tối có đám yêu nữ trú thân. Một hai tiếng huýt sáo mồm trỗi lên. Ở xa, tiếng còi xe cảnh sát sắc nhọn đâm về từng chuỗi dài. Ba bốn mái đầu quay đảo ngó quanh quất.
– Uả, lại là mày nữa sao?
Con Nancy từ hẻm tối bước ra. Cách nhau mấy tiếng đồng hồ, bộ tịch và mặt mày nó vẫn không hề suy suyển, nhai kẹo cao su chanh chách và hai cái thánh giá vẫn luôn nhún nhảy.
– Phải mày không? Chiếc áo kia đâu?
– Tao đã lộng kiếng mà treo lên vách rồi.
– Cái gì? Mày nói sao?
– Ở xứ tao, vật gì quý giá hoặc thứ mà mình tỏ lòng yêu mến đều lộng kiếng cả. Xem nặng hơn cả ảnh ông bà cha mẹ. Bộ lạ lắm sao?
– Fuck you! Đừng làm tao cảm động chứ. Dù sao thì lần này mày chỉ trả có tám chục thôi.
– Tao chỉ còn năm chục. Mày có thể cho tao ngủ với mày một đêm không? Ngủ chay. Tuyệt đối chỉ ôm thôi, hoặc không thì nằm nói chuyện đời trước khi ngủ.
– Trên cuộc đời này có mẹ gì để nói, hở baby? Ăn ngủ ỉa đái và Fuck. Ngần ấy thôi. Hiểu không? Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ hư hao rồi. Mẹ kiếp cuộc đời!
– Tao chẳng thể hiểu được. Không có tình yêu chân thật hoặc thánh thiện sao?
Con đĩ ngựa cười ré lên:
– Đồ khùng. Đằng kia có cái nhà thờ, mày vào đó thì họ sẽ welcome.
Theo tay dong của con Nancy, ở hướng đó có thằng nhóc con quýnh quáng đạp xe trờ tới. Thằng nhỏ phun một tràng ngôn ngữ trong hơi thở đứt đoạn rồi cắm đầu đạp xe đi như một đứa say rượu. Mấy ả ăn sương biến mất thật nhanh, như nước thấm vào lòng đất. Chắc bị động ổ. Con đường chỉ còn lại mình hắn, đứng lẻ loi. Đứng như một cột điện đã có ai tháo gỡ bóng đèn. Đứng câm nín. Không mấy lâu, trên bức tường vôi đổ nát loang loáng ánh đèn xanh đỏ vẽ hoa ngũ sắc. Xe cảnh sát chạy thật chậm như đang đưa đám một đồng nghiệp đã xả thân diệt sạch tệ nạn xã hội. Trong xe vẳng ra tiếng máy truyền tin kêu ù ù cạc cạc và cặp mắt ai đó mãi nhìn hắn săm soi.
Hắn rảo buớc về hướng phố Tàu, ghé tiệm ăn quen thuộc và kéo lê chiếc ghế sắt đánh động bầu không khí đang uể oải trong quán.
– Hây. Lông thai nâu xi. Khoẻ không tài lũ? Lị xực cái gì đây?
– Hoành thánh mì.
– Thêm gì khác? Nước trà nhé?
– Hầy. Dậm xà.
Hắn ngó cái thằng người Tàu sinh quán ở Chợ-lớn. Tất cả chúng sinh dường như đều chạy trốn cộng sản. Chạy chết bỏ, chạy bất kể cha già mẹ yếu và cuối cùng có được trong tay tấm căn cước ghi chú hàng chữ: Vô tổ quốc. Ở trên một vùng đất đầy cỏ dại và ta phải cuốc xới tự khai quang để mong gieo được lúa. Một cánh đồng rộng, cày bở hơi tai trong câm lặng, nhiều ngộ nhận, dễ mất mùa. Nó đó. Nó tên A Hính, nói tiếng Việt xỉu xỉu, không nhiều. Cà lăm, sốt ruột khi nghe đương sự phát biểu ý kiến. Nhưng đa phần, những ý kiến ấy đều thành thực, rất an tâm khi tiếp cận.
– Lị còn ở chỗ cũ không?
Hắn hỏi. A Hính đáp:
– Còn chớ. Sao không ghé tới chơi?
– Ghé chơi làm gì, ngộ tính dọn tới ở chung với lị, có được không?
– Lị cỏn mách dệ? Nói sao? Đùa chơi hả?
– Thật chớ. Tiền nhà chia đôi. Chỉ mong có một chỗ để ngã lưng vào ban đêm thôi.
– OK. Thời buổi lày đi đâu cũng nghe nói tới kinh tế khó khăn. Tiết kiệm kiểu đó cũng nên lắm. Để mai ngộ đi làm thêm chiếc chià khoá.
– Li quả là hảo bằng hữu!
– Đừng rườm lời. Mụ cỏn mại li ti a! Chuyện nhỏ.
Hắn chià tay ra nắm bắt bàn tay của A Hính. Trước đây hắn từng xua tay và nói câu đó với Hính khi hai đứa làm chung trong một nhà máy. Giúp đỡ và dạy tiếng xứ người cho Hính. Điền một lá đơn xin bảo lãnh thân nhân, giới thiệu tới anh Đại để mua lại chiếc xe cũ với giá tượng trưng. Hắn nhấp môi vào tách trà nóng:
– Lị làm ở đây có khá không?
– Sao bằng chỗ cũ được. Được cái là rất sướng miệng khi nói tiếng Quảng-đông. Dính mảnh? Hầy ngộ sợ phải nói tiếng Anh với bọn mắt xanh lắm. Chẳng phải lộng ngôn chứ hạnh phúc đôi khi nằm ngay trong những cái thật tầm thường. Con em ngộ viết thư qua trách, đàn ông lấy công danh làm trọng sao anh lại chui đầu vào trong tửu lầu cao lâu mà phục vụ, hoang phí tuổi xanh. Than ôi, luôn luôn kẻ ở quê nhà đều ngó tới mình bằng tất cả những ngộ nhận!
– Ngộ hiểu. Sống chốn này có nhiều cái bực mình, bức rức như… mẵn cuối khíu chọ.
– Lị nói tiếng Tiều tiếng Quan-thoại hay tiếng Miên thế?
– Tiếng Việt đấy. Nghĩa của nó là muỗi cắn khó chịu.
– Cảo xồ a lị! Lộn xộn quá!
Tô mì hoành thánh nhạt nhẽo, hèn gì mà quán vắng khách. Tô phở hắn ăn hồi trưa cũng không khá hơn nhưng thực khách lai rai trên dưới mười người. Có vậy mới nghiệm ra dân tộc Việt-nam bác ái và độ lượng vô cùng. Dễ ăn, dễ nuôi, dễ tin, dễ bị lừa. Gốc gác Phật tổ chắc là người Việt mình thôi, con rồng cháu tiên mà lị, nghe sướng như nghe chuyện thần thoại hoang đường khoa học giả tưởng. Mô Phật! Hôm nay con ngã mặn dữ quá. Đã thế còn bị hứng nguyên một chén nước mắm từ tay ông anh, mặn hơn cả biển Thái-bình. Thôi, ta không vào địa ngục thì ai vào?
Hắn gọi chai Bud. A Hính mang ra chai bia nhãn hiệu cầu chứng tận cố quốc. Huda.
– Uống thử xem, hàng độc đó nghe, năm khi mười họa mới có.
Hắn cũng hiếu kỳ ngửa cổ rót bia xuống họng.
– Cũng dậy thôi. Xoàng. Huda là con mẹ gì?
– Là bia Huế do Đan-mạch làm sư phụ chỉ đạo. Họ ghép tên hai địa danh ấy lại và họ nhổ bớt lông lá cho được sạch sẽ gọn nhẹ.
– Hú hồn! Chẳng sáng tạo được chữ nào nghe quyến rũ hơn sao?
Hắn chẳng thể chuyện trò dông dài với thằng bồi bàn. Một đám nai vàng bầu đoàn thê tử vừa kéo nhau vào, loạn xạ tiếng cười đùa tự nhiên như người Hà-lội. Và dĩ nhiên A Hính bị quay mòng giữa biển người đó. Chỉ một tiếng chào cũng phân tâm không thể đáp lễ. Cước bộ thoăn thoắt. Khăn trải bàn, bình trà nóng và chồng ly tách chén dĩa cao ngất ngưỡng trong tay ôm.
Hắn bước xuống những bậc thềm, đứng dưới tấm bảng vẽ hình Long Phượng quấn quít vặn vẹo cái lưng. Chẳng còn một địa chỉ nào khác. Cơ thể mỏi mệt réo gọi thầm một mặt nệm, một giấc ngủ. Hắn từng có khi tiêu phí thời gian bằng cách chui xuống métro, đi từ khởi điểm này đến một kết thúc khác. Đổi tuyến đường màu này sang một tuyến đường màu nọ. Loanh quanh dưới lòng đất, sật sừ với độ rung chuyển của con tàu xé gió, đi cùng khắp những địa đạo mà Montréal có được. Nhưng bây giờ thì không thể. Não nề lắm. Côi cút lắm. Trông như một kẻ bị ruồng bỏ, vô công rỗi nghề, vô tổ quốc vô gia đình vô gia cư… Vô tận cùng của chữ vô buốt giá. Hãy về ngủ thôi. Giờ này họ đã ăn xong. Có thể đã từ biệt hôn nhau bịn rịn trước sân cỏ lung linh ngàn lá đùa nghịch dưới ánh đèn đường. Cánh tay buông thỏng khi người kia rời ra, nói lời hứa sẽ trở lại. Tiếng máy xe nổ và bàn tay có đeo chiếc vòng ngọc thò ra vẫy, cánh tay trần, da trắng đục một màu sữa khuấy rối từng vệt trong bóng tối. Nghe tả, hồ ly tinh đẹp hãi hùng. Nhan sắc của bà Thuyên chẳng có ma lực gì để khiến người đối diện phải mê mẫn tâm thần. Hắn không hiểu được tình yêu. Người đàn ông bốn mươi tuổi như anh hắn bỗng dại khờ như một nam đồng tử còn trinh trắng, mù quáng đi theo tiếng gọi của ma nữ, sẵn sàng làm con thiêu thân lao vào vũng sáng quáng gà, thui chột.
Khi hắn mở cửa vào nhà, tai hắn đón nhận một chuỗi tiếng động lạ. Phòng anh hắn còn thắp đèn, thứ đèn mờ dùng để đọc sách trên giường liếm ra ngoài hành lang một vệt vàng xỉn. Nó đi qua cánh cửa khép không kín nên nó bị ép nhỏ thành hình một lưỡi kiếm nhọn mũi. Có tiếng cười sắc như dao của bà Thuyên len lỏi ra:
– Anh nhìn cái vật của con mẹ đó đi. Ghê quá hở? Xời, tài tử gì trông phát khiếp!
– Ủa, vậy thì bình thường nó đẹp hơn sao?
– Dĩ nhiên… Hà, còn giả bộ ngây thơ. Cái mặt sững sờ ngó phát ghét!
Những tiếng thở gấp rút có nhạc đệm gợi tình từ cái TV stereo bức rức xướng họa. Tài tình thật. Mua rẻ một trăm, muốn ăn chắc liền bê từ ngoài phòng khách vào thu dấu trong buồng mình. Và phút giây đầu tiên, chủ nhân ông bắt nó lao động liền tù tì, phục vụ chiếu hình đồi trụy bá thở, chim bướm bay đầy trời, hơi bị thoải mái.
– Anh mua nhằm phim dở rồi. Chẳng có cốt truyện gì cả. Cứ làm lui làm tới chừng đó động tác.
– Đâu có lựa được. Hồi chiều cứ sợ nó nhìn thấy bọn mình đứng đó thì quê mặt cả đám.
– Thuyên hỏi thật cái này nghe. Em thì hoang đàng như thế, còn ông anh thì sao? Ngủ với đĩ lần nào chưa?
– Nói tầm bậy. Coi phim đi, đặng chốc nữa còn làm tài tử.
– Nó có dẫn xác về bất tử không đó?
– Yên tâm. Nó có tiền và bọn trẻ thì thiếu gì mục ăn chơi về khuya.
– Nó có tương lai lắm chứ không đùa à nghe.
– Là sao?
– Đẹp trai hơn anh. Nhỏ tuổi thua anh. Hai con mắt cu cậu rất thu hồn. Mổi lần nó nhìn Thuyên, có cảm tưởng như mình đang trần truồng. Thuyên sợ…
– Sợ gì? Anh đuổi cổ nó đi mất đất rồi. Mà tại sao em ưa nhắc tới nó vậy?
– Ừ. Chẳng hiểu tại sao. Thuyên yêu anh và sợ một ngày nào đó nó sẽ làm chuyện tầm bậy.
– Nghĩ quẩn. Em chỉ nên tập trung đầu óc vào chuyện giấy tờ li dị thôi. Ô kê? Có được trong tay một ít tài sản thì hoàn cảnh sẽ biến đổi ngay.
– Cũng cầu mong thế. Nhưng có tiền đâu phải làm cha thiên hạ, đạp đổ lời đàm tiếu ong ve dư luận.
– Khờ quá. Tụi mình sẽ bỏ cái thành phố lắm chuyện này mà đi xa.
– Anh tính toán nghe cũng tạm được. Nhưng có người chồng thông minh chưa đủ, để thử chuyện kia xem anh làm có tới không?
Họ yên lặng, thôi thì thầm, ngưng nói năng. Cái giường già nua, từ hồi chính phủ cho khi mới sang, trường thọ tới giờ này bắt đầu lẩy bẩy kêu ca cót két. Hắn nín thở. Tiếng rên của bà Thuyên mỗi lúc một khuếch đại hơn lên. Chịu không nổi, hắn tới mở hé cánh cửa, rộng hơn một tẹo. Cuốn phim đã hết nhưng màn ảnh truyền hình chẳng ai rảnh tay để tắt đi. Căn phòng như có tráng lân tinh, xanh xao một cách quái đản. Bà Thuyên đang ngồi trên người anh hắn, sừng sững khối thịt da trắng muốt. Anh hắn như chiếc ghe mà mặt nệm là đại dương sóng lớn. Thân hình người đàn bà lắc lư uốn lượn. Mái tóc rối loạn dập dềnh. Đôi mắt khép hờ, đê mê. Đôi mắt nhắm lại, thụ hưởng. Nhắm kín rồi mở to. Mở trước tụ điểm mà mình hoài nghi, không tin. Ngây dại, hoảng hốt. Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Khi đã xác tín ra sự thật thì bắt đầu cất lên tiếng thét, thất thanh, sảng viá như đang gặp ma, đưa tay cuống cuồng giật vội một mảnh xiêm y. Anh hắn trồi đầu lên khỏi chăn khỏi gối, khỏi niềm hạnh phúc đang đi ngon trớn giữa đàng.
– Lại là mày, thằng khốn kiếp!
Hắn đứng lù lù ra đó như một hình nhân bị thôi miên.
– Mả cha mày. Trời sinh mày ra làm chi để luôn báo hại người khác!
– Tui kiểm lại rồi. Hồi nãy anh chỉ đưa cho tui có bảy mươi lăm đồng…
– Thì mai tao đưa thêm cho. Bộ có con đĩ đứng ngoài dọa đào mả hay sao mà khẩn trương dữ vậy?
Anh hắn không biết thẹn thùng, chẳng thu cất của qúy, trần truồng nhảy khỏi giường chạy lại đóng mạnh cánh cửa.
– Thật mất sướng. Thôi, để Thuyên về.
– Em đừng chơi ngặt, rồi cả hai sẽ ngủ không xuống đâu.
– Thấy chưa? Thuyên vừa kể cho anh nghe… Sao nó linh như một cái miễu. Vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo xuất hiện.
– Thằng chó chết.
– Chẳng biết cu cậu đã bỏ đi hay còn đứng rình ở ngoài?
– Địt me, càng nghĩ càng tức, thằng này chắc không phải em ruột của anh, phải tống cổ ra ngoài đường mới khỏi lôi thôi.
Cánh cửa mở ra. Anh hắn đã tròng vào thân chiếc quần cụt, mình trần trơn ướt, tay nắm cây vợt tennis như vừa chơi xong mấy trận hào hứng. Người đàn bà đứng ló đầu ra khỏi cửa phòng hồi hộp theo dõi màn chung kết. Trước kẻ ngoại tộc ai lại vạch áo cho người xem lưng. Hắn nói, có chút thành thật:
– Tui xin lỗi. Thôi, chúc ngủ ngon.
– Ngủ con mẹ gì. Mày nói có khi mà đúng, mai tao sẽ đăng báo cái mẫu tin từ em. Giòng họ Hồ sẽ bớt đi được một thằng khốn nạn.
Thêm một cánh cửa nữa vừa đóng sập, sau lưng hắn. Đóng giận dữ. Phát ra tiếng động khô, tựa một hòn đạn thoát khỏi nòng súng. Đêm đã khuya, không một chiếc xe chạy ngang con đường tối. Hắn ngửa mặt lên trời, chẳng một vì sao. Đen dày, mông lung. Đêm hấp hối, đêm rạn nứt. Phiá sân nhà hàng xóm có tiếng chó sủa, tru tréo, ngầm xua đuổi. Đã lâu, giờ này hắn mới nghe lại tiếng chó gâu, gâu. Đi đi? Ừ, thì đã đành. Nhưng nào ta biết đi đâu!
(viết tặng những giai nhân trường Nữ, và để tưởng nhớ một người…)
“O sinh ra tận mô ngoài Huế
Hà cớ gì trôi dạt tới Nha Trang
Để một “thằng Võ Tánh” phải lang thang
Đem cây si trồng trước sân trường Nữ”
(O Huế Ngày Xưa – PTAN)
Nhờ bài thơ với bốn câu mở đầu không đâu vào đâu này, tôi bất ngờ nhận được điện thư của một người có tên Van Loubet từ một nơi nào đó gởi ngợi khen và hỏi tôi có phải là cậu bé nhà quê ngày xưa vào Nha Trang, có thời trọ học ở một con hẻm lớn trên đường Phương Sài. Tôi khá ngạc nhiên, vì bài thơ tôi viết vội chỉ để gởi đăng trên Đặc San Võ Tánh Nữ Trung Học Nha Trang, nhân dịp đại hội cựu học sinh hai ngôi trường này tổ chức tại Houston hơn hai năm trước đó, mùa hè năm 2005; và cái tên người gởi, Van Loubet rất xa lạ, có thể chỉ là một nick- name, không phải tên thật. Thấy một số chi tiết trên mẫu điện thư ghi bằng tiếng Pháp, tôi tò mò, tìm hiểu cái họ Loubet, được biết đó là họ của ông Émile Loubet, thủ tướng thứ 45 của nước Pháp và sau đó trở thành tổng thống (năm 1906)! Tôi giật mình, làm sao tôi có thể quen biết với một người thuộc “danh gia vọng tộc” tận bên trời Tây?
Hồi âm và hồi họp đợi chờ. Mãi đến hai hôm sau, nhận được thư trả lời, tôi mới vỡ lẽ, nhưng rồi lại có thêm nhiều điều ngạc nhiên khác. Người viết thư cho tôi là chị Bích Vân, bà chị cả của “O Huế” trong bài thơ tôi viết. Chị sang Pháp vào những ngày Sài Gòn trong cơn hấp hối, và bảy năm sau, lập gia đình với một người Pháp có dòng họ với ông tổng thống từ năm 1906 này. Chị cho tôi biết đã vô tình đọc được bài thơ “O Huế Ngày Xưa” của tôi trên diễn đàn của trường Đồng Khánh, mà chị là một thành viên. Trước khi chuyển vào trường Võ Tánh-Nha Trang, chị vốn là một nữ sinh Đồng Khánh. Sau đó chị thử vào Google gõ tên tôi thì tìm ra cả trang Web, có cả địa chỉ email của tôi trong đó. Chị còn bảo, sở dĩ chị đoán ra tôi một phần là do nội dung bài thơ, phần khác chính là nhờ cái tên của tôi đã làm chị dễ nhớ. Điện thư chị viết khá dài, lại không có dấu nên khó đọc, nhiều chữ phải đoán mò. Tôi cố đọc đi đọc lại vài lần mong tìm xem có tín hiệu nào về “O Huế” của tôi, nhưng hoàn toàn không thấy. Phía dưới email, chị cho số điện thoại và dặn tôi gọi cho chị vào cuối tuần, khoảng sau bốn giờ chiều thứ bảy, để chị em tâm sự nhiều hơn.
Còn ba ngày nữa mới đến thứ bảy, nhưng ba ngày với tôi bây giờ có cảm giác còn dài hơn ba tháng!
Ký ức đưa tôi quay trở về một thời xa lắm, khi thành phố Nha Trang đang mở ra cho tôi cả một bầu trời xanh bao la trước mặt. Năm lớp đệ tứ, tôi đang trọ học ở nhà ông chú, nằm góc đường Lê Lợi – Hoàng Tử Cảnh. Ngôi nhà nằm ở một vị trí không thích hợp và cũng không đủ rộng cho việc kinh doanh, nên phải bán đi để xây một ngôi nhà lớn hơn tại khu đất mới. Chú tôi phải thuê tạm một căn phố gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái ở đầu đường Độc Lập để làm văn phòng, rất bất tiện cho tôi trong việc ăn ở học hành. Tôi phải dọn lên ở tạm nhà một người bạn thân của ba tôi, chú Thân Trọng Lý, trên một con hẻm lớn ở đường Phương Sài, Phường Củi. Hẻm khá rộng, hầu hết nhà cửa đều rất khang trang, yên tĩnh.
Khoảng hai tuần sau, một gia đình dọn đến thuê ngôi nhà lớn nhất ở cuối con hẻm. Nhà có bảy người, ông bà chủ, bốn người con và một chị giúp việc. Bà chị đầu, hai cậu con trai trạc tuổi tôi rồi đến cô gái út. Ông bố là trung úy ngành Quân Cụ, từ xa thuyên chuyển đến làm Chỉ huy phó trại Quân Cụ, nằm góc đường Phương Sài – Trần Quý Cáp. Trông tướng mạo oai phong nhưng ông rất hiền từ. Cả hai ông bà rất mộ đạo Phật, ngày rằm nào cũng đi lễ chùa. Gia đình gốc Huế, nhờ vậy, chỉ sau một thời gian, ông bố trở thành bạn đồng hương, đồng đạo với chú Thân Trọng Lý, chủ nhà của tôi, một sĩ quan cơ khí Không quân, và cũng là một Phật tử thuần thành. Vợ chú đã qua đời từ mấy năm trước, để lại cho chú một đứa con trai khoảng 6, 7 tuổi. Chú Lý có họ Thân Trọng, một tộc họ nổi tiếng ở Huế, nhưng lại được chôn nhau cắt rốn tại Vạn Giã, quê tôi. Bởi thân phụ của chú từ Huế đến Vạn Giã làm ngành Hỏa Xa cho Pháp khi còn trai trẻ, lấy vợ rồi lập nghiệp ở đây luôn. Gia đình này nổi tiếng giàu có nhất ở quê tôi lúc ấy. Cùng ở quê vào trọ học với tôi có hai chị em, chị Thân Thị Hảo và anh Thân Trọng Sỹ, cháu ruột, con ông anh cả của chú Lý, học ở Võ Tánh, trước tôi mấy lớp.
Tình bạn gốc Huế của hai ông chủ nhà đã bắc một nhịp cầu khá thênh thang cho anh Thân Trọng Sỹ và tôi dễ dàng làm thân với bốn đứa con của ông trung úy. Hai cậu con trai khá hiền lành và hai cô con gái cô nào cũng thùy mị, xinh đẹp. Sau đó chị cả Bích Vân vào học đệ nhị trường Võ Tánh, cùng lớp với anh Sỹ, còn cô út Bích Hà học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học vừa mới mở. Hải và Sơn, hai anh con trai lại học bên trường bán công Lê Quí Đôn. Anh Sỹ may mắn được học cùng lớp, nên ngày càng thân thiết với cô chị, còn tôi thì “phải lòng” cô em, bởi giọng nói “rất Huế” nhỏ nhẹ dễ thương, đôi mắt nai tơ hiền lành và nhất là mái tóc thề bay bay trong gió mỗi lần chúng tôi đạp xe song song trên một đoạn đường dài trước khi rẽ về hai hướng để đến trường mỗi đứa.
“Tôi phải lòng O, khi O còn đệ lục
Nón trắng, áo dài – trắng cả mùa thu
O đạp xe đi hồn nhiên quá đỗi
Cuốn hồn tôi theo vào cõi sa mù”
(O Huế Ngày Xưa – PTAN)
Đều là Phật tử, nhưng anh Sỹ và tôi hiếm khi đi chùa. Vậy mà từ ngày có gia đình Bích Hà, bọn tôi không bỏ sót ngày rằm nào. Ông bố thường chở chú Lý cùng vợ và hai cô gái đến chùa bằng xe Jeep, còn anh Sỹ, tôi và hai anh con trai thì đèo nhau trên hai chiếc xe đạp, chạy theo con đường tắt qua hướng Mả Vòng. Chú Lý quen biết từ lâu với Thầy Trụ trì Chùa Hải Đức, nên tất cả chúng tôi thường đi lễ ở chùa này, hơn nữa ở đây không đông đảo như bên chùa Tỉnh Hội, chỉ cách đó vài trăm thước. Khi lạy Phật, bọn nhỏ thường quỳ sau mấy người lớn. Tôi thường quỳ bên cạnh Bích Hà. Không biết nàng lâm râm khấn nguyện điều gì, còn tôi thì chỉ xin đức Phật cho hai đứa được gần mãi bên nhau. Và dường như từ nhỏ đến giờ, tôi chưa từng cầu xin đấng linh thiêng nào một cách thành tâm như thế.
Khoảng sáu tháng sau, chú tôi đã xây xong ngôi nhà mới ở đầu đường QL 1, nằm bên ngã tư Trần Quý Cáp, cạnh Ty Thông Tin. Ông đến nói chuyện với chú Lý để đón tôi về, nhưng tôi năn nỉ quá nên được cho ở lại đến cuối niên học. Sau này, mặc dù về ở nhà chú, nhưng sáng nào, tôi cũng đạp xe theo đường Trần Quý Cáp và đợi ở góc đường Phương Sài, trước sân phòng mạch của Bác sĩ Nguyễn Văn Tý để chờ Bích Hà, rồi chúng tôi cùng đạp xe song song trên những con đường Gia Long, qua Ngã Sáu Nhà Thờ, đến Lê Thánh Tôn. “Hộ tống” nàng đến trường Nữ, tôi mới rẽ sang đường khác để đến trường tôi. Đặc biệt, những ngày trời mưa lớn, Bích Hà không đạp xe mà nhờ anh Hải chở đi. Lúc ấy tôi phải năn nỉ “lấy lòng” thằng bạn, ông anh rất hiền lành của Bích Hà, cho tôi thay nó chở nàng ở phía sau. Đạp xe dưới trời mưa gió lạnh mà tôi thấy cả người ấm lên và mong sao con đường cứ dài thêm ra mãi.
“Cũng tại vì O mà tôi biết yêu
Tập viết thư tình từ năm đệ tứ
Đọc thư tôi làm sao O hiểu
Cái nghĩa yêu đương mù mịt quá chừng”
(O Huế Ngày Xưa – PTAN)
Anh Sỹ và chị Bích Vân sau khi đậu Tú Tài 2, đều chuyển vào Sài Gòn học tiếp. Và cuộc tình của hai người cũng kết thúc sớm, sau khi chị Bích Vân được sang Pháp du học. Tôi có cảm giác họ chỉ là hai người bạn thân chứ không hẳn là đôi tình nhân. Mặc dù tôi biết anh Sỹ rất mê chị Bích Vân, nhưng tính tình hoàn toàn khác nhau. Anh Sỹ lúc nào cũng đùa cợt, vui vẻ hồn nhiên, còn chị Bích Vân thì trầm lặng và sâu sắc.
Khi tôi vừa thi đỗ Tú Tài 1, Ba tôi từ quê nhân có việc gia tộc, cần gặp chú tôi bàn bạc, nên đã vào Nha Trang khao mừng và đón tôi về quê nghỉ hè với ông luôn. Khi ấy Bích Hà cũng vừa thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp. Có thể lúc này cả hai đứa tự xem mình đã là người lớn… hơn một chút. Trước khi về quê nghỉ hè, tôi rủ Bích Hà đi ăn kem ở một tiệm bên cạnh rạp ciné Tân Tiến. Tôi tặng một cây bút màu xanh khá đẹp, có khắc đậm bốn chữ “Hoàng Thị Bích Hà”. Lần đầu tiên trong đời nắm tay một người con gái mà lòng thấy lâng lâng, man mác buồn. Bởi “chỉ mới nắm tay em hôm nay mà đã nghĩ đến chia xa ngày mai.” Lúc nói lời chia tay, cô bé không nhìn tôi, cúi xuống, giọt nước mắt tình yêu đầu đời của tôi rơi xuống hai bàn tay nàng. Đọc trong sách, thấy người ta thường nói đến giọt nước mắt hạnh phúc, nhưng với tôi thì dường như đó lại là dấu hiệu của chia ly. Về quê chưa được hai tuần, tôi nhận thư của Bích Hà, bảo gia đình sẽ phải chuyển vào Cần Thơ, vì ông bố được thăng cấp lên đại úy và không hợp cung cách làm việc của vị chỉ huy trưởng, vả lại ông rất thích miền Tây sông nước, nên xin thuyên chuyển về đây, giữ một chức vụ cao hơn. Cả nhà sẽ di chuyển trong mùa hè này, bằng phi cơ quân sự, nhưng chưa biết ngày nào, có thể còn khá lâu vì ba cô phải chờ người đến thay thế. Tôi viết thư, hứa nhất định sẽ trở lại Nha Trang để tiễn Hà và gia đình. Nhưng rồi tôi đã không có cơ hội để thực hiện được lời hứa này. Một hôm nhận được lá thư khác của Bích Hà, bảo là gia đình đã đi Cần Thơ, vì bất ngờ, nên cô bé không hề biết trước. Khi tôi đọc được những dòng chữ xinh xắn quen thuộc này, thì Bích Hà đã rời khỏi Nha Trang hơn một tuần rồi! Bỗng dưng tôi thấy cả đất trời và mọi thứ chung quanh mình trở nên trống rỗng. Chỉ còn có nỗi buồn đầy ắp trong lòng. Không ngờ chuyện tập tễnh yêu đương cứ tưởng chỉ là ngây ngô vụng dại, vậy mà đã làm trái tim tôi nhói đau như thế. Mất mẹ từ nhỏ, nên tôi rất gần gũi thân thiết với Ba tôi. Bất cứ điều gì tôi cũng tâm sự, kể lể với ông, có khó khăn gì tôi đều tìm đến ông để được nghe ông giải thích, chỉ dạy tận tình, nhưng lần này khi thấy tôi buồn, không còn đàn địch ca hát líu lo như mọi ngày, ông dò hỏi, tôi chỉ vờ nhoẻn miệng cười, lảng sang chuyện khác. Chẳng lẽ tôi lại ngu ngơ khai với ông rằng, thằng con yêu quí của ông còn đang học hành, chưa kịp lớn mà đã biết si tình? Vả lại, chính cả tôi cũng đang bâng khuâng không biết đó có phải thực sự là tình yêu hay không nữa!
Sau mùa hè, khi niên khóa mới sắp khai giảng, tôi khăn gói trở lại Nha Trang, nhưng không còn cái háo hức của những năm tựu trường trước đó. Thành phố biển xinh đẹp này với tôi bỗng dưng chẳng còn chút thơ mộng nào nữa. Tôi đạp xe lên nhà chú Thân Trọng Lý và vội vã chạy sang nhìn ngôi nhà của Bích Hà. Bây giờ đã có chủ mới, nhưng tôi vẫn cố ý kiếm tìm bởi cảm giác bóng dáng Bích Hà vẫn còn thấp thoáng quanh đây, và tai tôi phảng phất dư âm giọng nói rất Huế của nàng.
Tôi bắt đầu năm học mới với tâm trạng buồn và đầu óc mang mang như thế!
Lớp Đệ Nhất C của tôi khai giảng đúng vào những ngày biến động của chính trường miền Nam với liên tiếp những cuộc bãi khóa, biểu tình chống chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng bù lại có thêm nhiều khuôn mặt mới, đa số là những giai nhân đến từ các trường Pháp và một số trường tư thục sau khi đã đậu Bac 1 hay Tú Tài 1. Lúc ấy Trường Nữ Trung Học Nha Trang vừa mới thành lập, chưa có các lớp đệ nhất, nên các nữ sinh “được” tiếp tục ở lại học chung với đám “ma quỷ” bọn tôi.
Thời ấy, nếu bên các lớp Đệ Nhất A, Nhất B có những tên tuổi đình đám, nổi bật như Trần Xuân Hoa, Nguyễn Thị Danh, Tôn Nữ Ngọc Hà, Thu “Mỹ Kim”, Phạm Phong Nhã…, thì bên Nhất C của bọn tôi vang lừng với nhiều cái tên khác: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Tỷ Muội, Túy Ngọc, Bạch Lan, Như Bá…Bọn tôi cũng hãnh diện khi cùng lớp với mình có quá nhiều người đẹp, nhưng như ông bà ta thường nói “ Bụt nhà không thiêng”, hơn nữa khi bằng tuổi nhau, đám con gái có khuynh hướng nhìn lên, chứ chẳng mấy cô chịu nhìn ngang, nhìn dọc, nên đa phần là hoa đã có chủ, vì vậy hầu hết đám con trai bọn tôi đều đem cây si trồng bên trường Nữ, tìm đối tượng ở một vài lớp nhỏ hơn mình.
Thời ấy, nữ sinh bên Trường Nữ Trung Học, có lẽ nhờ qui tụ từ khắp bốn phương nên hầu hết đều là những đóa hoa ngát hương, muôn màu muôn vẻ, làm khốn khổ trái tim của biết bao anh hùng hào kiệt, đặc biệt những chàng Sinh viên sĩ quan Hải Quân, Không Quân hào hoa từ khắp nơi tập họp về đây để sẵn sàng quỳ gối trước một giai nhân trường Nữ, xin rước những “cánh hoa biển” hay “cánh sao trời” về dinh để tự giam hãm cuộc đời mình.
Có rất nhiều cái tên vẫn luôn đi mãi cùng năm tháng. Riêng tôi chỉ biết (trong hạn hẹp) một vài người: Mỵ Cơ, Hồng Nữ, Xuân Thùy, Quỳnh Như Ý, Trung Thu, Bích Khuê, Như Ý (Thanh Cần), Lệ Son, Mỵ Hảo…Trong số những giai nhân này có mấy nàng từng làm cho vài thằng bạn của tôi đã phải điêu đứng, khốn khổ đến tự hủy hoại cả một đời. Riêng tôi, chỉ có duy nhất mỗi hình bóng cô nữ sinh gốc Huế vừa mới giã biệt ngôi trường Nữ này, dù rất kín đáo, thầm lặng, không có tên trong số những giai nhân ấy, nhưng đã đủ choáng ngợp tâm hồn tôi, đã cho tôi cái cảm giác thế nào là “chết ở trong lòng một ít” của ông nhà thơ Xuân Diệu, mà khi ấy tôi rất mê thơ của ông..
Bây giờ Sài Gòn – Cần Thơ trở nên xa cách muôn trùng, Bích Hà và tôi chỉ liên lạc nhau qua thư từ, và cũng chỉ dám nói đôi điều đùa cợt vu vơ, vì sợ ba, măng (mẹ) nàng kiểm soát. Ông bà không phải là người quá nghiêm khắc, nhưng tất nhiên lúc nào cũng mong cô con gái út chăm chỉ học hành theo chân bà chị cả Bích Vân.
Khi vào Sài gòn học thêm, tôi có rủ anh Sỹ đi Cần Thơ một chuyến nhân dịp Tết Nguyên Đán. Ông bà cụ và cả nhà Bích Hà vui mừng đón tiếp chúng tôi. Khi ấy chị Bích Vân còn ở bên Pháp. Ở đây chỉ có hai hôm, nên bọn tôi không có nhiều thì giờ riêng tư. Buổi tối cuối cùng, ông bà cụ bảo các con đưa bọn tôi đi bộ ra bến Ninh Kiều hóng gió và nhìn dòng sông Cần Thơ buổi tối lung linh dưới ánh đèn. Trên đường về, tôi kéo tay Bích Hà đi lùi lại phía sau, và bất ngờ hôn nhẹ lên má nàng. Đó cũng là nụ hôn đầu đời của tôi.
Tôi nhập ngũ khi Bích Hà vừa vào Đại Học Văn Khoa. Ra trường, tôi được chuyển ra một đơn vị tác chiến lưu động, hành quân liên tục khắp Vùng 2 Chiến Thuật. Có khi buổi sáng còn ở Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều đã có mặt ở Tuy Hòa, Phan Thiết. Có điều, đi đâu và lúc nào tôi cũng luôn mang theo bóng dáng của Bích Hà. Sau mỗi cuộc hành quân tôi đều viết thư, nhưng hộp thư KBC lại nằm ở hậu cứ tận Ban Mê Thuột, nên ba, bốn tháng ông thượng sĩ già bưu tín viên mới có phương tiện mang thư ra đơn vị một lần. Sự liên lạc ngày một nhạt dần. Sau đó không còn nhận được lá thư nào nữa của Bích Hà. Tôi hình dung Bích Hà bây giờ không còn là cô học trò bé bỏng của trường Nữ ngày xưa nữa, đã qua rồi cái thời mộng mơ, yêu đương khờ khạo. Một năm sau, tôi bị trọng thương ở chân trái, trong một trận đánh phản phục kích ở ngã ba Dak-Song, Quảng Đức, phải nằm nhà thương gần ba tháng. Rất may là không bị cưa chân. Những ngày nằm treo cái chân băng bột cứng đơ lên thành giường, nghe những đồng đội thương binh bên cạnh rên xiết, tôi càng nhận ra mình chỉ là một thằng lính mạt hạng, năm tháng chỉ còn biết có đồng đội, súng đạn, chiến trường và ranh giới giữa sống-chết còn mong manh hơn sợi tóc, thì đâu có dám mơ gì đến chuyện tương lai hay công hầu khanh tướng. Tôi cố quên dần rồi mất hẳn liên lạc với Bích Hà.
Sau tháng 4/75, trong những tháng năm bị tù tội từ Nam ra Bắc, tôi chỉ còn biết chút cảm giác của hạnh phúc khi mơ màng tìm về quá khứ, hình dung lại thành phố Nha Trang xưa, thời tôi mới lớn, những ngày cắp sách đến trường với từng khuôn mặt bạn bè vô tư trong sáng, nhìn đất trời và mọi người ai nấy cũng hiền hậu dễ thương. Và từ trong ký ức ấy, hình ảnh của Bích Hà lúc nào cũng hiện lên đậm nét. Tôi nghĩ Bích Hà đã lấy chồng và thầm cầu mong cho “O Huế” của tôi sẽ luôn có tròn hạnh phúc. Một cô con gái xinh đẹp, hiền lành phúc hậu như Bích Hà phải xứng đáng để được ông Trời dành cho vòng tay nâng niu, che chở, yêu thương.
Hết chiến tranh ta lạc mất nhau
O cùng ai đó bước qua cầu?
Tôi bất ngờ thành người bại trận
Bước vô tù theo cuộc biển dâu
(O Huế Ngày Xưa – PTAN)
Từ khi đọc được email của chị Bích Vân, tôi nao nức đợi chờ, mong sớm đến chiều thứ bảy để gọi cho chị. Giọng nói của chị vẫn không hề thay đổi, cho dù đã hơn 45 năm tôi mới có dịp nghe lại giọng nói nầy của chị. Ấm áp, thân tình, làm tôi nhớ tới giọng nói của Bích Hà. Tôi thường trêu “cái giọng Huế của bồ làm khổ tôi rồi, bồ nói mà sao cứ như ru hồn người ta!”
Bỗng tôi bàng hoàng khi chị im lặng một vài giây, rồi xuống giọng như muốn nói nhỏ với riêng tôi “Bích Hà đã không còn trên cõi đời này nữa! Bài thơ em viết chị đã đọc trước bàn thờ cho nó nghe trong ngày giỗ thứ 37 của Bích Hà, đêm Giáng sinh tuần trước”
“O Huế” của tôi đã lẳng lặng bỏ đi, chỉ sau một cơn nhồi máu cơ tim. Bích Hà bất ngờ rời khỏi trần gian nhiều đớn đau phiền muộn này đúng vào đêm Giáng Sinh năm 1970, chỉ sáu tháng sau khi tu nghiệp một năm từ Tân Tây Lan trở về và dạy Anh văn cho một Trung Tâm Việt Mỹ. Hải, anh trai lớn của Bích Hà, người bạn hiền lành tốt bụng của tôi ngày ấy, sau này trở thành sĩ quan Pháo Binh và đã tử trận (mất xác) vào khoảng tháng 4 năm 1972 trong một trận chiến đẫm máu tại khu vực Cần Lê, gần An Lộc. Liên tiếp hai năm phải chịu hai cái tang con, mẹ của Bích Hà gần như kiệt sức, Bà cũng đã ra đi vào đầu năm 1975, sau một thời gian dài nằm trên giường bệnh, đúng vào lúc tình hình chiến sự ở miền Nam trở nên tồi tệ nhất. Điều ước mong một lần trở về Huế, thăm lại quê hương, mồ mả mẹ cha, gia tộc, cuối cùng ông bà cũng không thực hiện được.
Nhờ giữ một chức vụ khá lớn trong Banque Nationale De Paris (BNP), ngân hàng lớn nhất của Pháp tại Sài Gòn lúc ấy, nên trước ngày 30 tháng 4/75 chị Bích Vân đưa được ông cụ và Sơn, anh trai kế của Bích Hà sang Pháp. Ông cụ đã về hưu từ đầu năm 1970. Cũng kể từ đó ông bà dọn nhà về sống ở Sài Gòn. Khi đến Pháp ông đã khá lớn tuổi, cộng thêm nỗi buồn mất vợ, hai con và mất cả quê hương, ông trở nên trầm cảm, mất dần trí nhớ, rồi qua đời không lâu sau đó. Sơn thì kết hôn với cô bạn cũ, vượt biên cùng gia đình sang Úc, nên chàng ta cũng đã chọn Úc là quê hương cuối của đời mình. Riêng chị Bích Vân, lúc còn ở Sài Gòn, cũng vì hai cái tang em và gánh nặng phải lo toan cho bệnh tình của mẹ, tuổi già của cha, chị đã không lập gia đình. Mãi sau này, khi sang Pháp được bảy năm, chị mới kết hôn với một người Pháp, là bạn cũ của chị khi hai người cùng theo học ở Hautes Etudes Commerciales (HEC) Paris, từ những năm đầu thập niên 1960. Anh ta đã ly dị với người vợ trước và có một cô con gái.
Tối hôm ấy, khi được nói chuyện khá lâu với chị Bích Vân qua điện thoại, nghe tâm tình của chị, tôi có cảm giác những mất mát lớn lao của chị cũng là nỗi mất mát, đau đớn của chính tôi. Tôi trách ông Trời sao nỡ bất công với những con người phúc hậu dễ thương như ông bà cụ, như bạn Hải, và nhất là “O Huế” của tôi xưa.
Tôi đốt ba nén nhang, mở cửa bước ra balcon. NaUy đang mùa đông, tuyết rơi trắng xóa, trời đất và cả trong lòng tôi cũng ngập đầy băng giá. Hướng về phương Đông, tôi cầu nguyện và cám ơn Bích Hà đã để lại trong tôi hình bóng đẹp đẽ cùng giọng Huế dễ thương nhất của nàng.
***
Mùa Hè năm 2009, vợ chồng đứa con trai lớn mua vé rủ chúng tôi cùng đi tour năm ngày sang Nice, một thành phố biển nổi tiếng ở miền Nam nước Pháp. Tôi hăm hở nhận lời, mặc dù tôi đã từng đến đây vài lần rồi, nhưng vì biết chị Bích Vân đang sống ở đây, và tôi mong muốn có cơ hội được gặp lại chị. Chị rất vui mừng khi nghe tôi gọi, báo cho chị biết là chúng tôi đang có mặt tại Nice, và chỉ còn ở đây ba hôm nữa. Chị hỏi tên khách sạn chúng tôi ở và bảo là mười giờ sáng ngày mai anh chị sẽ lái xe đến đón. Nhà chị ở không xa lắm, khoảng một tiếng đồng hồ lái xe. Bà xã và đám con cháu tiếc nếu phải bỏ một tour du thuyền đến Monaco, nên chỉ có mình tôi nhận lời.
Anh chị ở trong ngôi nhà cổ, khá rộng. Đặc biệt anh chồng nói được tiếng Việt, dù không thạo lắm. Tóc của chị đã hoa râm, nhưng vẫn còn nguyên mái tóc thề ngày trước, khuôn mặt vẫn đầy đặn hồng hào và cả dáng dấp của chị vẫn phảng phất nét xinh đẹp, thanh lịch một thời. Sau khi ăn trưa bằng món bún bò Huế do chính chị nấu sẵn, tôi theo chị lên tầng trên. Nguyên một căn phòng lớn dùng để thờ Phật, nơi chị tụng kinh niệm Phật mỗi ngày, và một bàn thờ phía sau dành cho những người thân quá cố. Thoáng nhìn bốn tấm ảnh phóng lớn có cùng một kiểu khung trên bàn thờ, tôi nhận ra Bích Hà. Vẫn khuôn mặt khả ái, đôi mắt hiền từ ngày nào, đặc biệt với cái miệng rất duyên. Tôi xin phép thắp mấy nén hương. Đứng trước bàn thờ, lâm râm vài lời trong niềm xúc động. Nhìn thật lâu vào đôi mắt của Bích Hà, tôi có cảm giác như nàng đang nhìn tôi mỉm cười, tai tôi văng vẳng một giọng Huế rất dễ thương, quen thuộc một thời.
Trước khi đưa tôi về lại khách sạn, chị Bích Vân nhắc tới anh Thân Trọng Sỹ. Tôi cho biết là sau khi tốt nghiệp ở trường Luật, anh Sỹ được thực tập tại văn phòng một vị luật sư lớn tuổi, cũng là cậu họ của anh, nhưng chỉ một thời gian sau thì anh bị động viên vào Thủ Đức. Anh được chọn về phục vụ trong Ngành Quân Pháp. Lương ba cọc ba đồng và đời sống quân ngũ dường như không thích hợp, nên sau đó anh thi vào Khóa 1 Tham Vụ Ngân Hàng và ra làm Phó Giám Đốc, rồi sau đó là Giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Châu Đốc cho đến ngày mất nước. Anh vượt biển khi tôi còn đang ở trong tù, Được tàu Nhật vớt nên phải sang Nhật định cư một thời gian, rồi chán nản quá nên anh xin sang Mỹ. Trải qua nhiều khó khăn mới được Cơ quan Di Trú Mỹ chấp nhận. Hiện anh sống ở San Jose. Có điều, không biết có phải thất tình ai đó mà anh không chịu lấy vợ. Mãi một lần về Việt Nam thăm gia đình, bị bà già la quá, hối phải lập gia đình để bà có cháu nội mà an lòng nhắm mắt. Sau đó, khi xuống Châu Đốc tìm thăm lại những nhân viên ngân hàng cũ của mình, anh làm đám cưới luôn với cô thư ký ngày xưa, vẫn ở vậy chưa chồng. Nghe nói lúc trước dường như hai người từng đã có tình ý với nhau. Lúc đám cưới anh đã trên năm mươi, nhưng may mắn hai vợ chồng có được một cháu trai. Cha già con mọn. Mỗi lần nói chuyện với tôi anh cứ than “lỡ nay mai tao đi sớm thì không biết ai lo cho thằng bé.” Nhưng chị vợ là người hiền hậu đảm đang, và bây giờ cháu cũng vừa lên High School rồi!
Để làm vơi đi không khí buồn bã, tôi trêu chị:
–Ngày xưa chị đẹp quá chừng. Em nghĩ là anh Sỹ si tình, chắc đã hứa cả một đời tôn thờ hình bóng chị. Sau ngày chị đi du học, anh ấy bắt đầu sống bất cần đời. Chị có nghĩ vì vậy mà anh ấy không chịu lấy vợ không?
Chị nở một nụ cười thật tươi. Lắc đầu.
***
Khi tôi ngồi viết lại những dòng này thì chị Bích Vân đã không còn trên cõi đời này nữa. Chị không có con, anh chồng tốt bụng thì cũng đã khá già, nhưng còn có đứa con gái riêng lo lắng cho anh. Tôi hình dung đến cái bàn thờ, có di ảnh Bích Hà trên đó. Không biết bây giờ ra sao, có ai thắp cho nàng một nén hương mỗi ngày và gõ cho nàng một hồi chuông vào tối những ngày rằm. Riêng tôi, nén hương đặc biệt ấy vẫn được đốt cháy mãi trong lòng mình.
Anh Thân Trọng Sỹ thì cũng vừa ra đi năm ngoái, sau một thời gian dài bị tai biến mạch máu não, và sống cả một cuộc đời vô ưu, thanh bạch. Anh mất âm thầm trong mùa dịch Covid-19, nên tang lễ chỉ tổ chức rất hạn hẹp trong gia đình. Tôi lại thêm một lần nữa nợ anh. Không có mặt để xin lỗi anh nhiều điều, và tiễn anh rời xa nhân thế. Anh ra đi bỏ lại người vợ hiền và đứa con mới chập chững vào đời. Anh cũng bỏ lại biết bao kỷ niệm buồn vui của hai anh em tôi, một thời đẹp đẽ nhất của Nha Trang. Cầu nguyện hồn anh được thanh thản, và ở một nơi xa xăm nào đó, nếu có dịp ngó lại trần gian này, xin anh vẫn nở nụ cười bao dung vui vẻ như ngày nào, cho dù thế gian này đã không mấy sòng phẳng với chính anh.
Cuối cùng, cũng sẽ đến lượt tôi. Rồi tất cả sẽ gặp lại nhau ở một thế giới khác, bình yên, không còn chiến tranh, hận thù, khổ đau, chia lìa mà chỉ còn có tình yêu thương miên viễn.
Nói tới món ăn Việt Nam là phải nói tới tô phở. Theo sự phân tích của giới y thì tô phở dù là nước trong đi nữa cũng mang rất nhiều chất béo có cơ hội làm tăng cholesterol trong máu, rất mau dẫn con người tới những vụ tai biến mạch máu não, nhưng quả thật dân ta cũng khó làm ngơ trước một món ăn hấp dẫn đầy hương vị như món phở. Vì giàu nghèo, già trẻ, lớn bé, nam phụ lão ấu ai cũng dùng phở được và ai cũng thích phở. Người Mỹ dùng nước xúp gà để giải cảm, người Việt cảm cúm dùng một tô phở nóng có hành ngò, vắt chút chanh, rắc ít tiêu, cho mấy lát ớt đỏ, ăn cho vã mồ hôi ra, vừa hết bệnh, vừa khoái khẩu, ai mà không thích.
Trong nội tình thì từ năm1954, phở đã theo một triệu người di cư từ Bắc vào Nam đánh bạt tô hủ tiếu (hay hủ tíu) vì dầu sao món ăn này cũng thiếu chất ròng, tinh túy của Việt Nam mà có pha chút “ngoại” Nam Vang hay Triều Châu. Những ngày đi đâu xa về, qua một chặng đường dài trên máy bay, xuống tới đất, làm một tô phở là thấy tỉnh cả người. Mùi vị của phở làm cho người ta đói và làm cho những người xa quê thấy nhớ nhà. Ở đất khách, nhiều vùng dân mình không tập trung đông đúc, người ta phải lái xe đi năm bảy chục “mai” để kiếm một tô phở, ăn cho đỡ … thèm, mặc dầu người ta nói phở ở Mỹ không ngon vì miếng thịt phải nằm trong tủ đá lâu ngày, ngọn rau quá tươi tốt làm loãng hương vị nồng cay của quê nhà.
Tháng 4-1975 cho tới cả hai mươi năm sau, tô phở “xe tăng”, mặc dầu “không người lái” vẫn từ Hà Nội viễn chinh vào Saigon, đuổi những tô phở “tàu bay” Hiền Vương của con đường lá me Saigon, cao bay xa chạy tới nghìn dặm của cả thế giới để làm nở mặt nở mày con người Việt Nam. Nhưng nhờ ôm trọn được miền Nam, tô phở Hà Nội ngày nay mới được gọi là tô phở cho đúng nghĩa, cho ra hồn. Việt Nam gởi các cô có nhan sắc “đem chuông đi đánh xứ người” cả trăm lần coi như cả trăm thất bại, nếu tô phở được cử đi chắc chắn sẽ đem vinh quang về là cái chắc. Nếu phở được làm Đại Sứ thì uy tín của hai chữ Việt Nam còn vang xa.
Chẳng thế mà cách đây vài năm tô phở Việt Nam đã vượt xa món burito của Mễ Tây Cơ đến trở thành món ăn ngoại quốc được ưa chuộng nhất ở Mỹ. Trong lần viếng thăm Việt Nam năm 2000, Tổng Thống Clinton đã dùng luôn một lèo hai tô tại một quán ăn ở Saigon và tại những tiệm phở trong các cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ, rất nhiều người địa phương cũng đã nghe tới món ăn trứ danh này và đã ghé qua để thưởng thức món ngon. Những tiệm phở gần khu Capitol Sacramento của thủ phủ Cali thì đầy nhân viên chính phủ, tiệm phở gần campus của Đại học Cambridge ở Boston thì khách toàn là sinh viên Mỹ. Theo lời kể của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ là người đã được đi nhiều nơi, sinh hoạt trực tiếp với nhiều cộng đồng Việt Nam trên thế giới, đặt chân đến khoảng vài trăm tiệm phở, thì ở Bankstown-Sydney nước Úc có một tiệm phở lớn nhất thế giới và đắt khách cũng như mắc giá nhất thế giới mang tên Phở An. Tiệm phở này lớn như một nhà hàng Tàu nấu tiệc cưới, có 250 chỗ ngồi và giá mỗi tô phở là 9 Úc Kim. Vì khách ăn hằng ngày quá đông, lúc nào cũng xếp hàng dài dài, xếp hàng cả ngày, nên đến chủ nhật, thứ bảy giá mỗi tô phở được nâng giá thêm 1 đồng ($1.00 Úc = $0.90 Mỹ) để đuổi bớt khách, tuy vậy coi bộ không có kết quả. Phở ở Úc ngon thì cũng không có gì là lạ vì thịt bò Úc có tiếng nhờ những đồng cỏ xanh và với rổ rau xanh tươi từ các nông trại gần đó đem tới.
Phở ở quê nhà ngày xưa là tô phở nghèo vì chất ngọt từ xương hầm không đủ, thịt trong tô vừa mỏng vừa lơ thơ có thể đếm trên đầu ngón tay, sự nghèo đói dần dà đưa đến những tô phở chỉ còn nước sôi pha “mì chính” và bánh phở “only” có cái tên kênh kiệu rất “khoa học-không gian-thời đại” là “phở không người lái”. Khi tô phở sang tới Mỹ, nơi mà “cái gì cũng to, cũng bự, trừ con gián là nhỏ xíu” thì tô phở cũng đã biến dạng và gây sự kinh ngạc sững sờ cho một người Hà Nội từ trong nước mới sang đây lần đầu, trong câu chuyện như sau:
“Lò dò tìm đến địa chỉ đã được căn dặn, tôi ồ lên một tiếng thất kinh khi một tô phở xe lửa giá năm đô la rưỡi được bưng lên nghi ngút khói. Không phải là một tô phở mà một thau phở thì đúng hơn, cỡ bằng cái nón bộ đội. Lần đầu tiên trong đời, tôi nghĩ sự giải lao là tối cần thiết trong ẩm thực. Nghĩa là sau khi chiến đấu – khá vất vả – được có nửa tô, người ăn phở cần bước ra ngoài, đi loanh quanh chừng nửa tiếng, hút vặt dăm hơi thuốc, rồi mới đủ can đảm quay lại đối diện với nửa tô còn lại” (trích lại trong Phố Văn số 50).
Thực ra tô phở ở hải ngoại tuy có to thực, nhưng không đến nỗi được mô tả ví von một cách văn hoa với cái nón cối của ông ấy hay là một cái thau. Thế thì dân Việt hải ngoại, nói theo lối nhà nước ta là “núm ruột ngàn dặm” thô tục thật, không văn vẻ như người của ta. Người đi công tác này phải “chiến đấu khá vất vả” mà chỉ mới hết nửa tô. Tới đây chúng ta lại được hiểu thêm một lối ăn phở rất “văn hóa” của người cán bộ trong nước đi công tác tới Mỹ (Boston), ở khách sạn 5 sao (Jury’s), là vì tô phở lớn quá, người ăn chỉ ăn nổi nửa tô, xong chạy ra sân “hút vặt dăm hơi thuốc”, đi loanh quanh chừng nửa tiếng rồi mới trở lại ăn nửa tô còn lại (!) Tôi không biết cái nhà hàng nào mang tên Pasteur ở Boston lại chịu để dành nửa tô phở ăn dở để chờ ông khách quái đản trở lại nửa giờ sau, không biết nửa “nón cối” phở ấy bây giờ đã biến dạng thành một thứ “nón cối” tạp pí lù bầy nhầy những thứ gì trong ấy, mà khách còn can đảm trở lại xơi nốt cho đáng cái của đời giá tới năm đô la rưỡi? Nếu tô phở được ví von một cách “thanh lịch” bằng cái nón cối, thì chưa nói ra, cái gỏi cuốn ở Mỹ phải bắt anh chàng này liên tưởng tới chiếc dép râu. Bài báo này lại chê một người Mỹ ăn phở: “Một cô Mỹ tóc vàng, dáng nhỏ nhắn, sau khi khoan khoái xơi hết một tô phở xe lửa to đùng, ung dung gọi thêm một đĩa gỏi cuốn king size, và tà tà thưởng thức với một vẻ khoái hoạt đáng kính phục và kết thúc bằng một trái dừa tổ bố. Hóa ra cái sự ăn uống lấy no làm sung sướng, lấy nhiều làm ngon, cũng có “giá trị nhất định” của nó. Khác hẳn với sự “ăn chơi ăn bời” của các bậc thầy ẩm thực bên nhà” (PV). Nghĩa là ở Mỹ người ta chỉ chuộng cái no, cái nhiều, khác hẳn với sự thanh cảnh của các “bậc thầy ẩm thực” bên nhà.
Đó là chưa nói đến cái sự tò mò thô lỗ, đáng ghét của người khách lạ mới tới, “nhòm mồm” một thực khách địa phương, đếm món ăn của người ta để có thể mô tả bằng những chữ nghĩa mỉa mai như “ung dung gọi một dĩa gỏi cuốn -, tà tà thưởng thức -, một vẻ khoái hoạt đáng kính -, kết thúc bằng một trái dừa to tổ bố”. Điều đáng nói là bài viết này lại so sánh “khác hẳn với sự ăn chơi ăn bời của các bậc thày ẩm thực bên nhà”. Như vậy nếu bà con hải ngoại muốn học cách ăn uống cho thanh lịch, cho có “văn hóa” xin hãy về bên Việt Nam để thụ huấn các “bậc thầy ẩm thực” hiện đang ngồi lổn nhổn từ trong nhà hàng máy lạnh cho tới đầu đường bên cột đèn, miệng cống. Vì theo như lời ông cán đi công tác, thì ở Mỹ người ta chỉ “lấy no làm sung sướng, lấy nhiều làm ngon” chẳng ra làm sao cả. Cái gì chứ nói đến cái vụ ăn uống, thanh lịch hay thô tục, thì kẻ viết bài này mới rời khỏi đất nước mười lăm năm sau ngày Cộng Sản thiết lập XHCN tại Saigon đã biết tỏng và sẽ xin trở lại với một bài phiếm về miếng ăn kỳ tới.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.