vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
(viết ngày 15-XI-1993)
Post by Sơn râu 17 Jul 2024

Post by Sơn râu 17 Jul 2024
Phần 36
Thử So Sánh Lại Nhân Vật Đông-Tây Đời Vua Tự Đức Và Đời Vua Pháp Napoléon III
Tôi đã hứa ngày 11 vừa rồi rằng không viết nữa, nhưng nay lại sai lời hứa, và viết sơ lược so sánh vì sao năm xưa đời Tự Đức, nước ta đánh thua nước Pháp.
Và nay tôi viết đây, chỉ làm việc nói lại những gì xét thấy riêng sau khi đọc lại các sách báo cũ đã có.
Một nhận xét cần nói liền, là ngày nay người sanh sau thường xúc phạm và nói hỗn, chê bai người đã chết, chẳng qua là đã mất niềm tin. Một việc còn nóng hổi trong nước là tượng hình Trương Vĩnh Ký bị hạ bệ khi binh Giải phóng vào đây, nay tượng đồng ấy vẫn còn hay đã không còn, tôi chưa biết, và chỉ biết vừa rồi một nhà cách mạng đã mạnh dạn viết sách phục hồi danh dự T.V.K. và tiếp theo đó, một nhà làm chánh trị khác lại tỏ ý kiến đòi trả tên T.V.K. cho trường trung học cũ… và tôi nay vốn là một tên già được người ta tha cho được sống yên ở đây, mắc mớ gì tôi, lại ọ-ẹ viết mấy hàng nầy.
Thuở nay trong trường dạy học và ở ngoài đời, thì những Victor Hugo (V.H.), những văn hào Pháp như Balzac, Flaubert, Maupassant v.v… đều được tôn như thần như thánh, V.H – được nằm trong điện Panthéon, nhưng từ ngày Pháp quốc bị Đức quốc đánh bại và chiếm rồi Pháp được phục hồi, thì nhà văn André Gide (A.G.) lại lớn tiếng chê dè V.H. (xin xem “Hương sắc trong vườn văn” của Nguyễn Hiến Lê, q.1, nơi tr.29); André Gide giận và chê thơ văn V.H. là nhạt nhẽo, là giả tạo, là quá dễ dàng… là không đáng kể, và A.G. sở dĩ nói như vậy là vì mấy trận chiến tranh tiếp nối và nay vẫn còn tiếp nối đó đây, chiến tranh đã thay đổi hết cả, nhưng André Gide là gì mà dám chê Victor Hugo? Và tôi đã đọc một sách khác nay không nhớ rõ tên sách để nói lại nơi đây, và nhớ mại một nhà văn khác lại chê A.G. rằng “Nó sẽ được bia danh về hậu thế vì nó đã từng chuyên đi cửa “hậu môn”, tôi không ghi lại được nguyên văn câu nói tiếng Tây, nhưng đi cửa hậu môn là gì, xin độc giả hiểu ngầm lấy. Riêng trở lại V.H. thì quả V.H. vẫn lem nhem, có vợ và bà ấy lại có gì gì đó với Sainte Beuve và với Benjamin Constant hay nhà văn gì đó, và như vậy có xứng đáng chút nào? Nhưng nên hiểu đời Cách mạng 1789 bên Pháp, dân tâm biến đổi, đàn bà, mạng phụ giao thiệp với đàn ông, bạn thân của chồng là chuyện thường và tục người Pháp vẫn luôn luôn rộng lượng với phụ nữ, lấy câu tha thứ “sức bực tu-mi nam-tử mà còn sa sút, thì trách làm chi sự “phụ nữ quá lạt lòng”. Trong khi ấy bên nước ta, nhiễm tục người Tàu trong sách Khổng-Mạnh, vẫn lấy chữ “Trinh” cho phái nữ và chữ “Trung” cho phái nam, làm căn bản.
Bỏ qua việc tranh luận và xin tóm tắt: đời Tự Đức dĩ chí đời Napoléon III, vua ta trong sạch hơn, nhưng làm sao lấy dao cùn-nhụt, gậy tre bỡ rệt mà chống với súng mạnh, đạn bay xa mà mong thắng được? Mừời ông khác, chính tỷ như mấy ông mạnh miệng chê bai ngày nay, cũng không chuộc đất “ba tỉnh miền Nam” lại được, trong khi bên ta thì vua bo bo dạy Phan Thanh Giản phải than nghèo không tiền trả nợ chiến tranh, còn bên họ, bên Pháp vẫn lấy khoa học và quyết tâm giành đất. Sở dĩ Phan Thanh Giản dám nhận lãnh đi sứ chuộc đất là trông cậy vào lời hứa của Bonard nhưng Bonard đã chết, còn tướng De Genouilly đánh thắng vì nhờ tàu đồng, nhờ súng mạnh, thêm nhờ tay trong hết lòng ám trợ, chỉ chọc chỗ yếu cho biết.
Tôi đọc khá nhiều sách sử, nhưng vỡ lẽ ngày nay là nhờ thấy trong một cuốn sách Pháp nọ, sở dĩ ta mất ba tỉnh miền Tây, là tại vận xui khiến cho ông vua đời đó, nay tôi không nói tên ông vua nầy ra là để tránh dính líu vào vấn đề chánh trị…, vua nầy ban đầu không nghe lời khuyên của tướng Pháp và nhứt định xin đầu hàng vua nước Xiêm, rồi ông cất bước sang Xiêm nhưng khi ông đi được nửa khúc đường, rồi bỗng đổi ý và trở bước lại và chịu đầu hàng Pháp quốc… và nếu vua nầy chịu theo về bên Xiêm vương, Xiêm quốc, thì phe Tây đâu có dịp để nuốt trọn sáu tỉnh Nam kỳ lúc ấy.
Rốt lại tôi cho là vận rủi của nước ta, chớ vua Pháp Napoléon III vẫn bê bối và thua xa về đạo đức vua mình, nhưng vẫn mạnh nhờ có tướng giỏi và người làm ngoại giao khéo. Vua Tây dâm dật, bê bối, nhưng có người tài phụ lực nên thắng.
Nghe Phan Thanh Giản tâu “bên nước Pháp, có thiết-kiều, thạch-lộ”, thì các quan trong trào chê “đi xa về nói khoác”, nước ta “phú hữu tứ hải” mà họ làm gì có cầu xây bằng sắt thép (ta không đủ thép làm gươm!), và họ làm gì có đá để lát đường, trong khi nước ta không đủ để mài gươm cho thêm sắc bén!
Phan Thanh Giản than: “Bá ban xảo kế tề thiên địa” “Duy sự tử-sanh, tạo hóa quyền”. (Câu nầy tôi nhớ thuộc lòng, không ắt đúng nguyên văn).
Còn Nguyễn Trường Tộ thì vì theo đạo Mới, nên vua không tin dùng, bao nhiêu người Pháp qua đây để dạy về kỹ thuật, mỹ nghệ, vua ta đều nghe lời các quan trong triều đề nghị xin đuổi về xứ và không dùng, và chỉ bo bo trông cậy vào viện trợ của nhà Thanh mà ta tôn là thiên triều và đã không biết rằng nhà Thanh lúc ấy chỉ còn hư danh sức đuối và yếu như bún thiu, chính họ vẫn không tự giữ mình được mà trông mong gì trợ giúp.
Tôi mải nói bắt quàng, chính tôi không dám đọc lại những hàng đã viết và sau đây tôi xin gom vào đây những trang đã viết ngày 31-7-93 và 12-8-93 cùng một vấn đề “luận về nhơn vật đời hai vua Tự Đức và Napoléon III”, mặc dù những gì tôi viết đây phải cần tra cứu kỹ càng lại.
Vua Tự Đức, mặc dầu có vụ Hoàng Bảo bị bức tử, nhưng còn khá hơn và hơn nhiều Napoléon đệ tam, lúc bị giam trong ngục cấm cố thì mò ti con đòi, lúc lưu vong qua Ăng-lê, nhờ một ả giang hồ bao thầu đủ mọi mặt, nhưng khi lên ngôi làm ông vua ở Pháp thì vong ân và cưới cho được dòng quý tộc Eugénie de Montigo để được dựa hơi cành vàng lá ngọc, và gương “muốn sang bắt quàng…” nầy vẫn là bắt chước bác là Napoléon I, bỏ bà De Beauharnais để cưới bà Marie I.ouise de Lorraine – Autriche, việc lộn xộn các đế Tây nầy tôi còn nhớ là vì năm 1917, tôi thi rớt Xẹt (certificat nói tắt) (vì tôi viết Les Maries-Louise, lính mộ năm 1814, Marie Louise là tên tộc nên không viết có chữ “s”).
Napoléon đệ tam nầy dâm hết chỗ nói, lúc làm hoàng đế được rồi lại sanh sửa đặt làm phòng riêng để ngủ gái, ông ăn nói lệt bệt nhưng nhờ tướng tài như Rigault de Genouilly, sai qua đánh nhà Thanh bên Tàu, đánh không xuể lại kéo binh xuống chinh phạt đánh và chiếm thành Sài Gòn, rốt cuộc nước chúng tôi bị mất lục tỉnh Nam kỳ, nhưng chung qui đế Napoléon đệ tam vẫn thu nặng và mất ngôi, kéo luôn nước Pháp bồi thường nặng cho Phổ và mất hai tỉnh Alsace và Loraine; và Phổ Bismark, muốn cho Pháp đừng nhớ trả thù, Bisnark lại xúi Pháp chiếm đất chúng tôi làm thuộc địa.
Bà hậu cùa Napoléon đệ I vẫn không chung tình với vua khi vua đã mất ngôi, sánh lại sao bì với bà phi vua Chiêu Thống, vua thua bỏ chạy, bà cam thủ tiết, và khi vua mất bà chết theo vua để lại câu “Gió đưa bụi cải về trời, rau răm (là bà) ở lại chịu lời đắng cay”. Chuyện xưa kể làm sao cho hết, nay tôi chỉ nhớ ông Nguyễn Tri Phương, dáo và mác thông làm sao chống nổi Mousqueton, tàu đồng…; nay nói qua phe văn, bà Huyện Thanh Quan,… và chính như Hồ Xuân Hương cũng không như bà George Sand của Pháp. Vừa rồi, ông Lê Ngộ Châu có gởi biếu tôi một tập của Lộc Đình “Các cuộc đời ngoại hạng”, tôi đọc và thích thú, biết được George Sand, trước học trường Nhà Kín, khi lấy chồng đêm hiệp cẩn, bà không biết làm tình, còn chồng thì cũng vẫn không biết cách ngủ đêm tân hôn phải làm thể nào, phận sự làm chồng, chung qui cũng vì tục người Pháp, khi đứa trẻ hỏi cha mẹ “em tôi (gái hay trai) từ đâu có?” thì cha và mẹ vẫn không nói thật và có tục lệ gói kỹ đứa hài-nhi trong khăn bó kín và dối rằng “em mầy từ bụi cải bắp sanh ra” khiến nên khi George Sand hiểu được sự “ái ân” thì sanh tánh lăng loàn không thể nói ra đây được, và xin cho phép tôi văng tục, trước bà cặp với thi sĩ Alfred de Musset, sau nằm với đại nhạc sư Chopin, nhưng cả hai tỏ ra không đủ sức cung cấp, nên George Sand, về viết văn thì thật tài, nhưng về đường tình thì rõ là có tánh ham trai tơ và bà là người đàn bà gần như mở đầu cho tục “gái mặc y phục của trai” (Mạnh Lệ Quân, Sở Vân trong bộ “Anh hùng náo…” thua bà rất xa), và nhảy qua Victor Hugo, thì đêm tân hôn với vợ là bà Adèle, cả hai xuất trận đến cửu phen, hơn xa vua Minh Mạng “nhứt dạ ngũ giao…” và khiến tôi bắt quàng nói qua André Gide, vẫn có tật “kê gian” nên có câu Pháp văn nầy của Duhamel nói với Maurice:

Photo edit by Sơn râu
“Cet André Gide a su par sa dextérité passer du postérieur à la postérité”, câu nầy xin dộc giả cho tôi dịch phóng: “Lão André Gide, tay ngón lanh, nhờ “cửa sau” mà để danh về sau, và nói cách khác, nói chữ chút chơi: “nhờ hậu-môn mà lưu danh hậu-thế”.
Xuống đến Victor Hugo hoang dâm vô độ, nhân tình từ đào hát qua tôi đòi, bất dung tha mặt nào, và vẫn để cho vợ cắm sừng với bạn là Sainte Beuve rồi chuyền qua Théophile Gautier, trong khi Hugo thì dang díu với Juliette Drouet qua Léonie d’Aunet, đúng là “khi ông ăn chả thì bà ăn nem” và khi vợ chết, trên mộ bia vẫn khắc vỏn vẹn hai hàng: “Adèle” (hàng trên) và hàng dưới: “Vợ của Victor Hugo” (trang 100 của Lộc Đình) và Lộc Đình vẫn ghi “Tolstoi và Hugo, sao mà giống nhau thế?”. Và tôi xin độc giả hãy tìm mua mà đọc lấy, duy tôi xin thêm có sách Pháp đã viết “Napoléon I và Hitler, về môn tình dục, thì bộ kín họ Hích vẫn tong teo, còn đối với anh hùng bạt-tụy Nả, thì một hôm có nữ danh ca tên Mlle Mars đến, vua sai truyền lịnh “hãy chực sẵn trên long sàng” và khi đêm gần sáng, vua mắc lo việc quân sự lại ra lịnh “hãy xếp xiêm y, vì bãi chiến, trẫm không đủ thì giờ…”. Xét ra nếu nói thêm chi cho khỏi phạm tội bày chuyện tồi phong bại tục, nên ngưng viết là vừa.
Viết ngày thứ tư, 17 novembre 1993
Tôi đang bực tức vì mấy bữa rầy viết lục đục không ra lời, và đang lúng túng kẹt đề tài, bỗng tôi vớ được chút tư liệu tình cờ nầy, nào dè đây là mấu chốt của trang sử về đoạn gay cấn duyên do ta mất ba tỉnh miền Tây, và nỗi oan ức quan Phan Thanh Giản làm mất ba tỉnh ấy, nay đã có lối giải nghĩa và hiểu được.
Sự việc xảy ra và ít có sách sử nào cắt nghĩa cho rành, nhưng nay đã có lối giãi bày như dưới đây, tôi cho là vận mạng nước Nam thuở 1867 ấy, chỉ tùy cử chỉ một ông vua đã có tên đặt cho đường Tôn Đức ‘Thắng rồi đổi lại là đường Lê Duẩn như ngày nay, và tôi nói lòng vòng như vậy, một là vì tránh nói tên ngay e đụng chạm về vấn đề chánh trị, và hai là ý muốn để độc giả tự tìm và hiểu lấy.
Theo tôi, nước Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang) là nhờ kỳ công của người nầy. Tôi xin thuật sơ lược và viết lòng vòng như đã nói, mặc cho người nào đọc mấy trang nầy, muốn tin và hiểu thế nào cũng được.
Theo tôi, trứớc là Bonard, kế tiếp lả Rigault de Genouilly, khi đã chiếm ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) thì họ đã thỏa nguyện lắm rồi, và chính Bonard chơi thân với Phan Thanh Giản, đã tỏ cho biết ý kiến là khi về Pháp, sẽ tâu với vua Tây, nên cho chuộc đất để mua lòng vua Nam và cũng để cho những ai đã theo đạo Mới (Da-tô) sẽ được yên ổn làm ăn. Chính vì tin nơi lời hứa đó mà quan Phan nhận lãnh sứ mạng đi điều đình. Ngờ đâu có hai trở ngại xảy ra:
1) Bonard về tới xứ thì mất,
2) Bên triều đình Pháp, sanh ra hai phe, phe chiến – giữ đất đã chiếm được, và phe hòa – muốn cho chuộc đất, vì chính trong nước Pháp vẫn thiếu hụt tài chánh, đang có giặc nơi Crimée kéo dài lôi thôi…
Khổ một nỗi khác là ở bên ni (nước Nam), tình hình bất yên, vẫn có khuấy rối chọc phá từ miền Tây, lội qua Tiền Giang, đánh phá…; và trong lúc ấy, bỗng ở trên kia, ông vua của xứ có đền Đế-Thiên, ông vua nầy đang bị vua nước Xiêm-la áp bức và vua Chùa Tháp có lòng nửa theo Xiêm, nửa lại muốn đầu hàng Người Mới, và Người Mới đây là tôi nói trớ, đó là giặc Tây, người Pháp đang đánh chiếm miền Dưới nước An Nam. Như đã kể nơi trên, Bonard và Genouilly đang lưỡng ước…
Đang khi chưa quyết định, Genouilly bèn sai một quan võ thủy binh đi do thám tình hình. Người ấy tôn là Doudard de Lagrée, sau nầy được lấy tên đặt làm tên đường, và bia tượng vẫn bị dời đi nhiều chỗ tôi sẽ nói nơi sau.
De Lagrée lên đất Chùa Tháp bằng một chiếc tàu trận tên gọi l’avise Gia Định. Nhiệm vụ của De Lagrée thật là khó, nhưng ông tướng Tây nầy quả có chơn tài. Ông vua Chùa Tháp, xin cho tôi gọi đây theo tên Việt đã tặng cho ông là Hoàng Lân. Ngày 3 mars 1863, Hoàng Lân kéo binh và gia tướng lên đường trực chỉ Vọng Các (Bangkok), ông đi được nửa lộ trình, thoạt hay tin De Lagrée đã kéo cờ ba sọc lên đỉnh đền vua và đã bắn 21 tiếng súng hiệu lịnh. Khi hay được tin như vậy, vua Hoàng Lân sai dừng binh hạ trại giữa lộ trình, và sau vài ngày suy nghĩ cạn kẽ, ông bèn thối bộ, kéo róc bộ hạ trở về đất Tháp và ngày 11 août 1863, đã ký chịu thần phục nước Pháp… và một năm sau, nước Xiêm-la sai sứ đem mão-ấn trả và ngày 3 juin 1864, chính De La Grandière tự tay trao mão-ấn cho vua.
Những việc kế tiếp tôi xin độc giả xem lại trong quyển “Việt Nam” Trần Trọng Kim và tôi chỉ tóm tắt lại đây ít hàng về De Lagrée.
Nhà nước Pháp nhớ công lớn nên thăng De Lagrée lên chức capitaine de vaisseau (4 lon) và sai cùng với Francis Garnier, đi thám hiểm Biển Hồ (Tonlé-Sap) (Tonlé là hồ bể, Sáp là nước ngọt, còn Mékong, tiếng Miên là Mì-côn: sông mẹ của các sông nhỏ khác).
Rồi De Lagrée cùng với Francis Garnier lên Thượng Hải (Trung quốc) năm 1868 nhưng cả hai đều chết. Prancis Garnier được dựng tượng đồng nơi đầu đường Bornard, trước Nhà Hát Tây, còn De Lagrée, vẫn truân chuyên nhiều nỗi:
– Sơ khởi, đô thành Tây dựng bia kỷ niệm nơi đại lộ Charner, nhưng năm 1890, bia được dời qua đường Bonard (chỗ Nhà Hát), và bị lấy chỗ lập nhà hát, khiến nên bia De Lagrée lại dời đi nữa và dựng lên trong khu sau lưng hình đồng De Genouilly, và chính mắt tôi năm 1919, đã đến nơi nầy và đã thấy bia đá hoa De Lagrée, nhưng cái số bia nầy không ở đâu được bền, vì khi chúng ta phá hình đồng De Genouilly để lấy chỗ dựng hình Đức Thánh Trần (như ngày nay đã thấy), thì cả khu bia De Degrée và hình đồng De Genouilly cũng đã dẹp mất.
Tôi xin nói luôn, chính cái tượng đồng De Genouilly cũng có lắm tin đồn. Vốn là trước đây, vào đời Tây còn ở đây, dân ở xóm Thủ Thiêm ngang cái tượng tướng Tây gọi “Một Hình” nầy, dân Thủ Thiêm thường bị hỏa hoạn, và có người mê tín bịa chuyện rằng vì tại hình đồng De Genouilly lấy tay chỉ ngay qua xóm Thủ Thiêm nên bà Hỏa đốt nhà, và tin đồn khi Tây nghe như vậy thì có sai người thổi đồng và kéo cái tay ác quái ấy chỉ xuống! Hình đồng nầy nay đã bị thủ tiêu, nhưng tôi đây xin đứng làm chứng, từ sơ khởi hình De Genouilly vẫn nặn ra với tay mặt chỉ ngay xuống đất ý nói nơi đây là nơi đỗ bến của Tây chớ hình bằng đồng dễ gì nấu chảy và nếu nấu thì hình hư chớ nào kéo lên kéo xuống như lời đồn.
Khi tôi viết, thì tôi chẳng biết ngừng, và bài nầy cũng như bao nhiêu bài tôi đã viết, đều “đầu Ngô, mình Sở”, luộm thuộm và bời rời tựa như cơm nếp nát, chung qui là tại khi đang viết và tờ giấy đã không còn chỗ trống, duy có một đôi tứ mới vừa nghĩ ra, thì lúc ấy, chẳng đặng đừng, tôi vẫn lấy trang mới để ghi lại những tư tưởng vừa nghĩa ra ấy, và xin độc giả thông cảm và bỏ qua cho.
Sở dĩ tôi muốn nói thêm là để nhắc lại nơi chỗ dựng hình Đức Trần Quốc Tuấn, Hưng Đạo đại vương ấy, khi chúng dân hạ bộ hình De Genouìlly thì vẫn dựng hình Hai Bà Trưng, nhưng không hiểu lúc đó ai kia đã nịnh mụ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu và đã nịnh bợ thêm một lần nữa là đưa thêm con gái mụ Nhu lên đứng gần mẹ để thay Hai Bà, và việc tày trời, trời bất khả dung, khiến khi lật đổ họ Ngô, dân chúng phẫn nộ và đã chém đứt hai đầu Lệ Xuân và Lệ Thủy và lôi xuống đất và kéo bù lăn bù lóc một quãng đường thật xa thì dân mới đã nư.
Và chuyện dân bên Thủ Thiêm cho đến nay chưa phát triển gì được là tại khó xây một chiếc cầu nối liền Thủ Thiêm qua vùng thị thành, ấy chẳng qua vì nếu xây cầu thì làm sao cho tàu bị hư sẽ kéo lên sở Ba Son cho được. Xét ra khu Ba Son đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh và đó là khu gọi Tàu Ô. Cũng như trong câu hát thường và vẫn còn người truyền tụng là câu “Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm…” thì con đò xưa ấy có phải chăng ở ngay bến phà ngày nay?
Lại nữa một địa danh khác cũng trong vùng nầy là “Cột cờ Thủ Ngữ” Tây trước đây gọi “Pointe des Blagueurs” – tôi dịch “Mũi Tán Dóc”, thì đó là Bến Tắm Sông của vua Miên ngự tại Sài Gòn, tên Bến Ngự là do ta đặt và phiên dịch tiếng Miên Kompong-Luông (Kompong là Vũng nước, Luông là Vua). Tôi lại nói sa đà nữa rồi và nhắc lại năm trước lúc tôi còn làm việc nơi viện bảo tàng, một buổi sáng sớm khi đạp xe tới mé sông Sài Gòn khu gần Ba Son nầy, tôi vẫn thấy một chiếc xe nhà binh đangdùng máng lớn xúc từ dưới đất lên một mớ bình vôi loại có quai thời Tự Đức hoặc xưa hơn nữa và tôi đã không kịp xin máy ngừng và những bình vôi đó đã rớt rơi bể nát tan tành, cũng như gần đây, nhơn đào đất vùng nầy để đặt ống dẫn nước cống, thì phu đào đất vẫn còn gộp vô số bình vôi loại có quai như vậy và các việc ấy chứng tỏ vùng mé sông Sài Gòn từ Cầu Mống đến sở Ba Son, vốn là di tích của Sài Gòn đời Đàng Cựu vậy.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.