Ăn Mà Không Chơi Sau Cơn Đại Dịch.

hsdoduyngoc.blogspot.com

 Đỗ Duy Ngọc  tháng 10 06, 2021

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Cách đây gần 18 tháng, khi đó Sài Gòn lần đầu tiên giãn cách xã hội mấy chục ngày, trên mạng có câu hỏi như là một trò chơi Khi Nào Hết Dịch, Bạn Sẽ Làm Gì? Lúc đó tui có một bài viết về mấy quán ăn và món ăn ở thành phố này mà tui dự trù sẽ ghé đến khi hết dịch. Con mắt lớn hơn cái bụng, thèm mà ăn chẳng được bao nhiêu. Có nhiều bạn lại bảo mấy quán đó giá hơi cao. Ừ thì cao một tý mà ngon là được, ráng chút đi cưng! Nhiều bạn xin địa chỉ khi nào có dịp sẽ ghé thử.

Rồi đến cơn đại dịch cuốn qua thành phố, 4 tháng cách ly, 120 ngày giãn cách rồi phong toả. Lại thêm lắm thứ để thèm. Nằm nhà, đi ra đi vào, đi lên đi xuống. Người bệnh nhiều quá, người chết cũng nhiều quá. Sài gòn bi thương, Sài Gòn xác xơ. 120 ngày tù hãm với những thứ thèm. Thèm được tụ hội với bạn bè, thèm được rú xe chạy trong gió, thèm được ngồi góc phố nào đó nhìn ngắm nhan sắc Sài Gòn, thèm được đi trên phố, đốt một điếu thuốc và nhớ lắm chuyện, thèm được hoà trong dòng xe hối hả buổi chiều trở về sau một ngày bận rộn, thèm được cùng chiếc xe đạp nhởn nhơ chạy quanh bờ kinh mỗi chiều, thèm được nhìn thấy nhịp sống Sài Gòn rộn rã ngày cũng như đêm. Và nhớ nhất là những món ăn, nhớ những hàng quán tới lui đã nửa thế kỷ nay từ ngày đặt chân vào mảnh đất này. Đã đến tuổi cổ lai hy mà còn thèm ăn, nhiều người sẽ bảo miếng ăn là miếng nhục. Sẽ có người bảo thèm chi không thèm, già rồi lại thèm ăn. Ấy dà! Người ta nói ăn là đầu tiên của tứ khoái mà, chính vì già mới thèm ăn dù ăn chẳng được bao nhiêu. Chứ ngoài ra còn làm được gì, cái nhị khoái với tứ khoái thì ai còn sống cũng phải làm. Còn anh tam khoái thì tuổi tác không cho phép nữa, cho nên quanh đi quẩn lại cũng chỉ thèm ăn thôi. 120 ngày ăn cơm nhà mà không phải cơm mẹ hay vợ nấu, nhớ những món ăn của những hôm cơm hàng cháo chợ, nhớ không khí của tiệm ăn, nhớ cái mùi của quán. Lần này cũng như mọi lần tui chỉ nói đến ăn mà không chơi. Tiếng Việt hay nói ăn chơi. Tui không biết nhậu bia rượu, không khoái bia ôm, gái gú, không ưa karaoke được giải bàn tay vàng, không thích cắt tóc ngoáy tai với mấy cô thanh nữ, cũng không uống cà phê. Nên không đụng đến cái khoản chơi, mấy cái thứ đó tui mù tịt.

Bốn tháng chẳng làm được việc, bốn tháng thất nghiệp, không thu nhập nên nhiều người trong đó có tui ngân quỹ không còn được như xưa nữa. Hơn nữa qua cơn đại dịch dạy cho tui bài học tích trữ, tiết kiệm, không nên tiêu hoang phòng khi hữu sự. Bởi thế cho nên tui định trong đầu qua mùa dịch sẽ chỉ ăn những món bình thường, vào những quán bình dân, kha khá một chút cũng duyệt. Khi nghèo thì chọn món ít tốn kém mà ăn thôi.

Ăn Sáng

Trước hết là ăn sáng. Phở là món chọn đầu bảng. Ừ thì Phở Dậu, làm sao mà không đến đó kêu một tô nạm gân gầu vè. Kèm chén tiết hột gà và chén tuỷ. Ái chà chà! Húp một muỗng đầu tiên sau chuỗi ngày thương

nhớ. Nước phở trong, beo béo, là cốt tuỷ của những xương đùi lóc hết thịt hầm mấy chục tiếng đồng hồ. miếng gầu sần sật, miếng nạm bùi bùi, miếng vè dai dai, miếng gân ngầy ngậy, sợi phở như mảnh lụa trôi vào cuống họng. Thêm chút tương Bắc hoà với mấy lát hành tây trắng nuột. Sướng! Cái sướng của đời là được ăn thứ mình đang thèm, cái sướng của cuộc sống là ăn được thứ mình cho là ngon và nhìn chung quanh ai cũng đang thưởng thức cái ngon giống mình. Thế là sướng. Đôi khi đời giản thế thôi. Lại vui, được cười chào nhau vì hình như ở đây ai cũng quen mặt biết tên nhau.

Ừ thì Phở Minh, cái bát phở be bé hợp với người khảnh ăn như tui, nước phở hương vị là lạ chỉ có nơi quán này. Có cảm giác hơi chua, một tý thôi, ngẫm mới thấy, nước hơi đục một tý, cũng một tý thôi, nhưng ngon. Thịt cũng vừa ăn, nạm không xảm, gầu dòn bữa nào gặp hên sẽ có mấy miếng gầu có màu vàng gần như màu áo lụa vàng, ăn beo béo, ngầy ngậy mà không ớn, dai dai một chút trong miệng khiến cho bát phở thêm đậm chất phở. 

Phở Minh cũng giống phở Dậu ở chỗ hầm xương bằng củi chứ không dùng lò gaz. Xương hầm qua ba lửa, tức là hầm lần đầu tắt lửa, rồi lại đốt lửa hầm lần hai. Đến lần ba là nồi nước phở đã lấy hết cốt của xương. Mà không chỉ có phở, món ăn nấu bằng bếp củi lúc nào cũng ngon hơn, vị thơm hơn. Thịt, xương bò khi đúng lửa mới dậy mùi thơm của thịt. Hơn nhau chỗ biết canh lửa. Thịt ở Minh thơm do vậy. Đôi khi không phải cứ trang bị văn minh mà đã tốt. Bánh mì nướng bếp lửa cũng ngon hơn lò điện, lò gaz nhiều lắm.

Đặc biệt, Phở Minh không cho bất cứ một gia vị như quế, hồi, thảo quả, đinh hương, mà chỉ dùng  gừng và hành khô nên nước phở Minh có mùi vị khác những quán phở khác. Vừa ăn vừa nghe tiếng chuông của chiếc đồng hồ Odo xưa chậm rãi điểm mấy tiếng. Nhớ mấy câu thơ viết về phở ở trên tường của quán mà bụi thời gian đã xoá đi rồi.

“Nổi tiếng gần xa khắp thị thành

Trần Minh phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…”

Buổi sáng thế là đẹp chứ đòi chi hơn.

Nếu ngại xa thì chạy qua Phú Gia làm bát tái lăn. Quán này chỉ nên ăn tái lăn. Bát phở ở đây hơi lớn, lại cho nhiều hành, chỉ hợp anh trẻ nào cần sung. Nước phở cũng được chỉ có điều hơi nhiều bột ngọt. Thịt cũng vừa chín, được lăn qua trên chảo nên mềm, còn chất ngọt của thịt bò.

Phở Dậu khoảng 11:30 là hết, Phở Phú Gia dẹp sớm hơn một chút, Phở Minh đến sau 9:30 thì rú xe chạy luôn vì mấy cái tay chủ quán lắc lắc. Ngủ dậy trễ đành chạy ra Phở Lý Quốc Sư ở Đinh Tiên Hoàng. Đây cũng là phở Bắc, nhưng là Bắc sau 75. 

Phở bắt nguồn từ miền Bắc, nhưng theo tui, hiện nay ở xứ ta lại chia ra phở Hà Nội và Phở Sài Gòn. Phở Hà Nội đại diện cho phở Bắc là phở ô ri rin nấu theo khẩu vị của phở Bắc truyền thống. Có xương đùi bò, có thảo quả, đinh hương, quế hồi, gừng nướng và ngày trước có cả sá sùng. Phở Sài Gòn là phở lai, hầm đủ thứ xương, bớt gia vị và nhiều chỗ là nước luộc thịt và đôi chỗ có thêm đường phèn, củ cải cho ngọt nước. Phở

Bắc ngọt xương, phở Sài Gòn hơi ngọt đường. Phở Bắc ngào ngạt mùi phở, phở Nam thơm mùi nước luộc thịt. Phở Bắc không rau không giá, không tương đen, không bò viên chỉ có nạm, gân, gầu, vè và có chỗ có thêm sách. Phở Sài Gòn đủ thứ hầm bà lằng. 

Mà phở Bắc lại chia thành hai nhóm nhỏ, nhóm vào Nam từ trước và đặc biệt là sau khi đi bằng tàu há mồm di cư vào Nam 1954 hương vị có khác với mấy quán phở vào sau 75 cũng như phở ở Hà Nội bây giờ. Nếu ai tinh ý sẽ nhận biết ngay. Phở Bắc của những quán sau 75 nặng bột ngọt, nước phở thiếu cái đằm, cái vị, cái mùi của xương hầm, thiếu cái béo của tuỷ. À mà xơi phở thì cũng nên có chút béo. Nhìn bát phở mà trong veo không chút váng mỡ giống ao thu lạnh lẽo nước trong veo thì cũng hơi thiếu thiếu.

Nếu kẹt quá, chạy ra khu Hà Đô vào quán Phố hàng Phở làm một bát cũng đỡ ghiền. Quán tinh tươm, bàn ghế, muỗng đũa sạch không chê. Phở ăn cũng được, kiểu phở Bắc sau 75. Đặc biệt bát phở nào cũng có miếng thịt hầm nhừ vuông vuông, nhai thật kỹ có mùi như thịt hộp, nhai thêm tý nữa lại dậy mùi patê. Quán trang trí phía mặt tiền như một ngõ ở Hà Nội, lại đặt tên Phố Hàng Phở. Nghe rặt Bắc Kỳ. Nhưng phở thì cũng đã thấy lai lai cái gout Nam, dù chưa nặng lắm.

Nếu ngán phở thì ta ăn hủ tiếu hay mì. Thế là phải chạy ra Tôn Thất Đạm ghé Nam Lợi. Ở đây có hủ tiếu, mì gà cá. Nhưng tui chỉ gọi mì hay hủ tiếu cá, không ăn gà vì gà ở đây nát quá không ngon. Ngon bậc nhất ở đây là nước lèo. Ngọt của đạm, ít bột ngọt. Lát cá cắt mỏng như giấy, nhiều khi lẫn với màu trắng của sợi hủ tiếu khiến người ăn khó thấy. Nước đục nhưng bỏ vào miệng cảm giác nó chạy xuống cổ họng, ngon, thật ngon dù giá hơi cao và tô hơi ít. Sức trẻ ăn hai tô còn thòm thèm. Tui chỉ ăn một tô, thiếu thiếu mới cảm thấy thèm, thấy nhớ để ghé ăn tiếp chứ. Đừng quên gọi dĩa bánh pate chaud. Bánh này ở đây ngon bá chấy con bọ chét. Nhìn cách ăn bánh, người ta có thể đoán khách là người từng ăn ở đây rất lâu rồi. Kiểu ăn đấy là cho bánh vào tô, bánh mềm lấy ra ăn chứ không cầm bánh ăn khô như thường tình. Cũng ngộ hỉ!

Chạy tới một đoạn nữa gặp quán bánh canh cua. Ngày xưa nó bán ở ngay Nam Lợi, mấy năm rồi dời về đấy. Cua tươi, nước ngọt, béo đúng chất bánh canh cua Nam bộ. Gọi thêm chai xá xị để nhớ lại một thời.

Còn có Hủ tiếu tôm cua Thanh Xuân. Đây là tiệm hủ tiếu một thời nổi tiếng khắp Sài Gòn. Cái bảng hiệu vẫn còn đó đã tróc sơn và ám bụi. Ông Tiến sĩ Alan Phan khoái ăn sáng ở quán này. Quán bày ghế ở vỉa hè, đồ nghề đặt đầu con hẻm nhỏ. Hủ tiếu ở đây rất đặc biệt nhờ món nước sốt chan lên tô hủ tiếu khô đầy cua và tôm. Quán nổi danh với món nước sốt đặc biệt này. Thế hệ giờ tuổi trên 70 ở Sài Gòn này không ai là không biết món hủ tiếu khô vang bóng của Thanh Xuân. Giờ nó không còn nổi và đông khách như xưa nhưng cũng vẫn là một lựa chọn cho buổi điểm tâm sáng.

Ở Trương Định có quán mì cật. Ăn cũng được nhưng quán xập xệ quá lại hơi dơ. Mì đây ngon, cật làm sạch không hôi. Nước lèo cũng nhiều bột ngọt, ăn xong khát nước khô cả cổ.

Xa nữa lại có Thiệu Ký mì gia còn gọi là Mì nhà xác vì nó cùng trên đường nhà xác của bệnh viện Chợ Rẫy. Quán mì này đã có mặt ở đất này hơn 70 năm. Mì ở đây là mì tươi kéo sợi do quán tự làm. Bạn hãy gọi một tô thập cẩm hay tô hủ tiếu sườn non. Ngon hết biết. Có con tôm tươi chiên với bánh dòn dòn, có tóp mỡ béo cũng dòn dòn đúng xe mì truyền thống của người Hoa. Thịt xá xíu ở đây đúng vị, thịt gà xé cũng ngon. Lại có thêm chén nước súp có gan, phèo. Nước lèo được nấu từ xương gà hầm nên ngọt thanh, có vị kiểu người Hoa. Quán cũng có há cảo, xíu mại ăn thêm.

Thích ăn phở, miến gà thì đảo xe về Nguyễn Du, bên hông bưu điện. Quán bình dân nhưng giá cũng đắt xắt ra miếng. Kêu bát phở hay miến với cánh, phao câu. Hay cánh vơi ức gà, hay thuần tuý là đùi với lòng cũng đặng. Nhớ kêu thêm miếng huyết. Trong các loại huyết luộc, có lẽ huyết gà là ngon nhất. Huyết heo nhão, huyết vịt khô xảm, huyết gà ăn xốp, mằn mặn, bùi bùi sướng miệng gì đâu. Nhìn cái nồi nước lèo cao cả thước đầy xương, cổ, đầu cánh gà mà ngợp. Nhờ vậy mà nước phở thanh, đằm vị, húp một muỗng thấy từ từ thấm vào lưỡi, chạy vào họng đúng vị phở gà. Thịt gà chắc, ngọt, da mỏng dòn, đúng là gà ta. Cũng nên nhớ bỏ thêm mấy lá chanh xắt nhuyễn với một ít tương Bắc cho đúng điệu.

Ở Kỳ Đồng cũng có tiệm phở, miến gà đông khách lắm. Người ra vô nườm nượp, quán lúc nào cũng ngập người. Gà cũng lấy chung với quán phở gà Nguyễn Du, nhưng nấu kiểu Nam nên nước khác mùi mà thịt cũng khác vị. Bởi thế cách nấu quyết định hương vị của món ăn là vậy. Kêu thêm dĩa gỏi là đủ cho một buổi sáng đầy đặn.

Nếu chán ăn phở, mì hay hủ tiếu sáng thì chạy qua Tú Xương đến Út Hưng ăn bún bò Huế. Cũng như phở, bún bò Huế ở Sài Gòn cũng có bún bò Huế lai hương vị đã đổi để hợp với người Nam và bún bò Huế đúng chất Huế dành cho người Huế tha hương hay người Trung quen vị mặn của ruốc. Từ xưa người Huế nói tô bún bò  mà không có ruốc, không có sả thì không phải là bún bò. Bún bò xuôi vào Nam giảm ruốc, bớt sả lại nấu với khóm, đường tạo độ ngọt. Bún bò Huế chính gốc phải ngào ngạt mùi sả, thoang thoảng mùi mắm ruốc. Ta tìm thấy chất Huế ở tô bún của Út Hưng dù mùi ruốc cũng đã giảm nhiều. Nồi nấu vẫn còn mang đúng tính chất của nồi bún Huế. Đó là cái nồi tròn bằng nhôm, thắt ở cổ nồi nhưng miệng loe ra với bụng tròn, không quai. Người xưa bảo nồi đất nấu cơm, nồi đồng nấu cháo, nồi nhôm nấu bún. Mấy mệ Huế bảo rằng cái nồi như rứa để giữ nhiệt, lúc mô nước cũng nóng. Ăn bún bò phải ăn nóng mới ngon. Ở đây có đủ cho một tô bún bò lưu lạc phương Nam: chả cua, chả lọn Huế, chả bò, giò nạc, giò gân, giò búp, giò móng, bắp bò, lại có cả huyết với bò tái lẫn bò viên. Tào lao rứa? Tui kỵ ăn bún bò với bò tái, nó trật đường rầy và cũng không đúng là bún bò Huế. Nhưng giờ ra Huế cũng thấy người ta ăn vậy. Bún bò Huế ngày xưa chỉ có thịt bò với giò heo. Mà giò sau mới nhiều thịt nha. Người Huế lạ lắm, tặng biếu nhau thì trao giò trước, nhưng thật ra giò sau mới thật là ngon. Giờ bày ra đủ thứ món trong tô bún bò. Thịt bò ở quán này mềm, giò cũng hầm vừa không cứng quá cũng không nhão, gặm có nạc có da mới thú. Lại không có mùi hôi của thịt heo tăng trọng bây giờ. Chả cua cũng vừa ăn. Giá cũng bình dân, vừa túi tiền chỉ có cái là hết sớm quá, hơn 9:00 đã thấy cái nồi không.

Nếu ở đấy đã cạn nồi, ta chịu khó chạy tới Bành Văn Trân ăn bún bò Hạnh. Quán tươm tất hơn quán Út Hưng. Nhưng bún bò ở đây lai Nam nhiều rồi dù chủ cũng là dân Huế. Nước ở đây ngọt, ít mùi ruốc. Thịt cũng vừa ăn, giò cũng được. Cũng có thể gọi là khá, giá cũng hợp cho người muốn tìm một quán vừa miệng và sạch sẽ.

Gần đây có quán Abunbo của Cô Ba Thuỷ, người chủ của mấy quán ăn khá tiếng tăm ở Sài Gòn. Quán này nằm trên con phố rất sang chảnh của Sài Gòn, đường Nguyễn Huệ. Đây là quán bún bò rất đặc biệt, được cô chủ chăm chút từng cái chén, cái đũa, cái lót ly cho đến sợi bún, miếng thịt, miếng chả. Theo chủ nhân, cô ấy muốn kế thừa truyền thống của món bún bò nhưng cũng có cách tân mang dấu ấn của Cô. Nước bún bò ở đây ngoài sườn, đùi heo, bò bắp, ruốc, sả còn nấu với sá sùng. Cho nên nó có nước ngọt thanh, phơn phớt một chút ruốc Huế, đậm đà mùi sả nhưng không hắc. Miếng giò mềm, đậm thịt, gặp miếng gân vẫn sần sật. Nằm ở địa điểm này với những nguyên liệu được kén chọn rất kỹ của cô chủ kỹ tính lại thêm không khí trang trí rất nghệ thuật. Khách trả tiền cao hơn một chút cũng không hề hối tiếc.

Người Sài Gòn khoái nhất hai món: bánh mì và cơm tấm. Cũng như người Hà Nội, ăn phở bất cứ lúc nào, người Sài Gòn cũng thế, sáng, trưa, chiều tối khi nào cũng có thể chơi dĩa cơm tấm hay ổ bánh mì. Bánh mì Sài Gòn thì muôn hình vạn trạng, bất kỳ ở đâu cũng có thể mua được. Đầu đường, góc phố, trong hẻm, ở chung cư. Nhưng người kén ăn chỉ chọn một vài chỗ quen rồi ăn ở đấy tháng này qua năm khác. Hồi trước người ta thường thích bánh mì Như Lan với Hà Nội, nhưng giờ thì khác. Muốn có ổ bánh mì thịt ngon, trước hết phải có cái bánh ngon. Bánh mì Sài Gòn vang danh một thuở giờ không còn ngon như thuở xưa. Cái thì rỗng ruột, bóp vào nát vụn. Cái thì khô khốc, ruột lại không thơm, không có độ nở của bột. Giờ đành chọn được mấy tiệm để ăn. 

Ở xứ này giá nào cũng có thể có ổ bánh mì. Bánh mì chan nước thịt giá 8 đến 10.000, bánh mì thịt tầm tầm cũng 15 đến 20.000. Bình thường nhất là 25 đến 30.000. Bánh mì ô môi ở Lê Thị Riêng đã lên giá 80.000 một ổ mà phải xếp hàng dài. Lại có bánh mì hải sản thấy chào giá từ 200.000 đến 440.000 một ổ. Nhưng có lẽ đắt nhất là bánh mì của anh chàng bếp Hàn Quốc có cái quán nhỏ ở chợ Cũ, giá ổ bánh mì thịt nướng của anh có giá 100 đô la Mỹ tức hơn 2.300.000 đồng, nhưng phải báo trước để chuẩn bị. He…he không biết có khách không? Nhưng vẫn thấy còn sống đấy!

Bánh mì Ngọc Xuyến ở Trần Quốc Toản là một chọn lựa. Bánh ở đây lấy ở lò bánh mì ở mũi tàu đường Trần Quang Khải. Bánh dòn lâu, ruột vừa, nở và thơm. Ăn với thịt nguội cũng ngon, bì với nước mắm cay cũng đặng. Không thì chỉ kẹp chả lụa, chả quế, chả bò đều thú vị cả. Tiệm này cũng có mặt ở Paris do chính chủ định cư mở hình như ở quận 13 thì phải, quán nhỏ xíu mà bán đủ thứ đồ ăn Việt Nam. Cũng khá đông khách.

Nếu đi sớm thì ghé bánh mì Cụ Lý. Xe bánh mì nổi tiếng trước 75 dù chỉ bán trên vỉa hè. Xe chỉ có một thúng bánh, chả,đứng tựa hàng rào mà đắt như tôm tươi, Cụ Lý lúc đó tuổi trung niên, tóc chải dầu óng mượt. Vừa cắt chả vừa bông đùa. Chả ngon, đậm đà, miếng nào miếng nấy to đùng chứ không cắt lát mỏng như các tiệm bánh mì khác. Không rau, không dưa leo, chỉ có vài lát hành tây. Giờ hình như là con hay cháu Cụ Lý tiếp tục nghề. Cũng bán trên vỉa hè chỗ gần lãnh sự Tàu góc Nguyễn Văn Thủ. Hai vợ chồng bán không kịp, cắt chả không ngơi tay. Cũng hương vị cũ nhưng thiếu chút nước mắm nhỉ của Cụ Lý ngày xưa và những câu bốc phét. Bán từ sáng sớm, đến khoảng 9:00 là hết sạch. Khách đến trễ đành hẹn hôm sau.

Thế là chạy qua Hoà Mã đường Cao Thắng. Tiệm này lâu đời, có mặt đâu từ năm 1958 ở đường Phan Đình Phùng, nay là Nguyễn Đình Chiểu. Sau đó mới dời qua đây. Hơn 60 năm, biết bao dâu bể, quán vẫn chẳng có gì thay đổi, chỉ người bán đã qua đến đời thứ ba. Ở đây có thịt nguội ngon, có thêm món chảo trứng, chả chiên. Khách đông kéo dài đầu con hẻm. Ngày nay người ta ăn bánh mì kẹp thịt mang về nhưng chắc hẳn chẳng ai biết bà chủ Hoà Mã là người có sáng kiến đó. Trước đấy, bánh mì thịt nguội là món ăn khá đắt, công chức sáng đi làm ghé mua một ổ mang đi, phải mang theo một gói jambon, xúc xích, chả lụa kèm theo. Rườm rà quá. Bà chủ tiệm mới nghĩ ra chuyện xẻ bánh, nhét thịt nguội, hành ngò, sauce vào, tiện cả đôi bề. Từ đó món bánh mì kẹp thịt gọn gàng và tiện dụng hơn trở thành cách ăn bánh mì của người Sài Gòn.

Cũng có một tiệm ở đầu đường Trần Đình Xu, tiệm tên Nguyên Sinh, trang trí như mấy quán ăn nhỏ ở bên Pháp. Bàn vuông trải khăn ca rô. Thịt nguội, chả ở đây cũng ngon không kém nhưng nổi bật nhất là món paté. Món này ở đây có hương vị rất đặc biệt, mùi khác hẳn paté ở các nơi khác. Bởi nó làm bằng gan gà. Chỉ cần ổ bánh mì nóng dòn, phết paté vào là đủ có một ổ bánh mì ngon mà không đâu có. Giá ở đây đắt hơn Hoà Mã một chút nhưng tiệm tươm tất và gọn gàng hơn nhiều.

Bốn tiệm bánh mì thế cũng là đủ, giờ đến cơm tấm sáng. Sài Gòn cơm tấm bán nhiều vào giấc trưa. Nhưng ở đường Nguyễn Phi Khanh có quán cơm tấm khá ngon bán từ sáng đến trưa. Quán nhỏ xíu, chỉ kê được mấy cái bàn nhưng khách khá đông. Cơm đúng nấu từ hạt tấm, có món chả cua độc đáo, sườn ướp, nướng vừa lửa thơm, đậm đà. Có thêm hành phi và nước mắm kẹo. Là một trong nhiều quán cơm tấm ngon mà giá lại bình dân ở Sài Gòn.

Sang thì ghé quán cơm tấm Nguyễn Văn Cừ. Ở đây sườn nướng ngon có tiếng, chả cũng khá, mấy món lặt vặt cũng khó để chê nhưng giá cao quá. Một dĩa cơm tấm cho đủ bộ sườn, bì, chả, lạp xưởng, chén canh khách phải trả từ 150.000 đồng. Đắt nhưng cũng đáng đồng tiền. Nhìn dàn nướng thịt với khói bốc thơm điếc mũi là muốn vào ăn rồi.

Khoái ăn sáng kiểu người Hoa, đến Tân Sanh Hoạt. Quán mở đã lâu đời cũng là quán Dimsum bình dân ở quận 3. Đủ món ăn chơi từ há cảo đến xíu mại khô, xíu mại nước, từ bánh nếp cho tới hủ tiếu, mì. Quán mang hương vị và phong cách Tàu. Anh chàng tính tiền bằng miệng còn nhanh hơn máy tính. Hồi xưa tui làm việc ở rạp Kim Chung đối diện nay là là Nhà Nghệ thuật quần chúng, ăn nhiều từ chủ quán đến chị em phục vụ quen mặt, chỉ cần vào là tự động dọn món, khỏi kêu. Món ăn ở đây chỉ thuộc dạng tầm tầm, chỉ được giá tương đối rẻ. Có một lần tui đến ăn, thấy đống dây điện đường xà xuống tận cửa, có chút máu phong thuỷ trong người bèn bảo với ông bà chủ sao không nhờ dẹp cho gọn đi, để thế không tốt cho chuyện làm ăn đâu? Bà chủ than thở đã kêu, đã nhờ mấy tháng rồi mà chẳng thấy tăm hơi. Chợt nhớ có cậu học trò cũ đang có chức bên Sở Điện lực thành phố, lại có thằng đệ làm giám đốc điện lực vùng này. Bèn gọi, cậu học trò thì ok Thầy, em sẽ cho người xuống. Thằng đệ liền ok Đại ca, đệ cho người đến dẹp. Mấy tuần sau, tui lại ghé ăn, ông bà chủ hân hoan lắm. Đang ăn, bà chủ rụt rè đến, tay cầm phong bì bảo gởi biếu Thầy Hai. 

Tui gạt ngang bảo có công lao gì đâu, chỉ mất hai cuộc điện thoại thôi mà, bà làm thế tui buồn bà lắm đó. Thấy tui từ chối cương quyết quá, bà đành thôi. Đến khi tính tiền bà lại bảo không tính, tui giận nói với bà nếu không tính sẽ không ghé ăn nữa. Bà lại thôi. Vừa rồi trước dịch ghé vào ăn thấy quán đã đổi chủ, nghe bảo ông bà chủ trước đã qua Úc định cư, thế là tiệm này đã đến đời thứ tư rồi. Hôm nhà tôi chuyển dạ sắp sinh thằng Út cách đây ba mươi mấy năm, hai vợ chồng đi đến bệnh viện Từ Dũ ghé tiệm này lúc 4:00 sáng đã thấy mở cửa rồi. Nhà tôi ăn một bụng ở đó rồi mới đi sinh. Bởi thế tiệm này dù giờ không còn ngon như cũ, nhưng tui vẫn hay ghé lại đây vừa để ăn vừa để nhớ những kỷ niệm.

Muốn ăn Dimsum sang mà ngon hơn thì vào Tiến Phát ở quận 5. Ở đây món nào cũng ngon, ăn không khác gì mấy tiệm ăn sáng ở Hongkong. Khách cũng đông, cách phục vụ, hương vị món ăn rặt Tàu. Há cảo tôm tươi, mềm, bánh không bị khô, bỏ vào miệng nhai nhận được cái ngon ngay từ lần cắn đầu tiên. Hoành thánh, bánh cuốn tôm cũng là món khách ưa chuộng ở quán này.

Món ăn sáng thế cũng đủ, giờ lại tính chuyện ăn trưa

ĂN TRƯA

Ăn sáng có thể đi mình ên, nhưng ăn trưa là phải có bạn, đi đôi ba người ăn mới vui, không thì cảm thấy cô độc lắm.

6.10.2021

DODUYNGOC

ĐỊA CHỈ CÁC QUÁN:

– Phở Dậu, Hẻm cư xá 288 Nam Kỳ Khởi nghĩa. Q.3

– Phở Minh, 63/16 Pasteur, Q.1

– Phở Lý Quốc Sư. 63 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1,

– Phố Hàng Phở. 20 Đường số 7, Khu biệt thự Hà Đô Centrosa Garden. P.12.Q.10. 

– Phở Phú Gia, 146E Lý Chính Thắng, P. 7, Quận 3, 

– Hủ tiếu mì cá Nam Lợi, 43 Tôn Thất Đạm. Q.1

– Hủ tiếu Mỹ Tho Thanh Xuân. 62 Tôn Thất Thiệp. Q.1

– Phở miến gà Nguyễn Du, 57 Nguyễn Du. Q.1

– Bánh canh cua Tôn Thất Đạm. 8 Tôn Thất Đạm. Q.1

– Abunbo 78 Nguyễn Huệ. Q.1

– Bún Bò Út Hưng. 6C Tú Xương,

– Bún Bò Huế Hạnh, 135 Bành Văn Trân, P. 7, Quận Tân Bình

– Mì Thiệu Ký. 66/5 Lê Đại Hành, Phường 7, Quận 11

– Mì cật. 62 Trương Định, Quận 1,

– Dimsum Tân sanh hoạt. 322 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3

– Tiến Phát – Dimsum. 18 Kỳ Hoà. Q.5

– Cơm tấm chả cua 113 Nguyễn Phi Khanh. Q.1

– Cơm tấm. 167 Nguyễn Văn Cừ, Q.5

– Bánh mì Ngọc Xuyến, 41B Trần Quốc Toản. Q.3

– Bánh mì Hoà Mã, 53 Cao Thắng. Q.3

– Bánh mì Nguyên Sinh. 141 Trần Đình Xu. Q.1

– Bánh mì Cụ Lý. Vỉa hè đường Hai Bà Trưng, gần ngã ba Nguyễn Văn Thủ.

Ăn Trưa

Ăn sáng có thể đi mình ên, nhưng ăn trưa là phải có bạn, đi đôi ba người ăn mới vui, không thì cảm thấy cô độc lắm. Thế là rủ nhau đi. Toàn đàn ông, con trai thì tốt, mà có đàn bà, con gái cũng vui. Chỉ khổ một nỗi, lúc này phụ nữ kiêng ăn nhiều quá, vào quán chỉ khoái gọi rau, mà tui không thích ăn rau nên có chênh vênh một chút.

Lúc này tiền bạc hiếm hoi mà đi cũng đông nên lựa quán bình dân cho nó an lòng. Đến quán Bà Mập, xéo toà soạn báo Người Lao động. Vô quán này thì tha hồ chọn món. Cá thu, cá rô chiên, mực nhồi thịt, heo quay kho dưa cải, canh rau đay, thế là đủ bữa cơm. Ừ thì rau, kêu rau củ xào hay dĩa rau sống. Nếu ngon kêu thêm dĩa tôm đầy gạch đỏ au. Bà chủ ngày xưa gọi là bà Mập nhưng nay gọi là Bà Béo đúng hơn. Tuy nặng kí nhưng bà ngồi điều hành, lính lác chạy theo lệnh, lâu lâu bà cũng ngồi trước một bàn lớn đầy thức ăn chỉ huy vào dĩa cho khách. Thêm mấy ly trà đá hay mấy chai nước La Vie là xong một buổi trưa no kềnh.

Thích ăn món Huế thì chạy về Quán Huế Hương Giang. Quán này nấu theo kiểu Huế do chủ cũng dân Huế chính hiệu con nai vàng chế biến. Ông chủ ngày xưa là thầy giáo ở Huế. Lưu lạc vào Nam mở tiệm cơm. Quán hẹp, khách đông lại kêu gì nấu đấy nên thức ăn nóng sốt nhưng chịu khó chờ chút xíu. Khách ngồi vào bàn, chủ nhân đưa giấy bút với menu, thích gì ghi nấy. Anh bạn Hiếu Piano của tui cũng khoái quán ni. 

Quán có món trái vả chấm ruốc, ăn nhớ Huế của ta ơi Huế của ta. Có cá chim, cá thu chiên, canh hến cà chua, rau lang luộc chấm nước ruốc, thịt heo luộc tôm chua, cá kho tộ, cá bống thệ kho tiêu, canh rau dền..với dĩa rau thơm, khế đúng điệu. Quán cũng có món cơm hến nhưng đã phai nhạt chất Huế, ăn để nhớ thôi chứ không ngon lắm. Món nào nấu cũng vừa miệng, nhớ cơm Mạ nấu ngày xưa ở quê nhà. Ăn ngon, giá cũng vừa túi tiền, còn đòi hỏi chi hơn. Chỉ cần ngồi quán ni thì: “Ai ra xứ Huế thì ra. Tui ngồi một chỗ cũng ra như thường” he…he.

Muốn sang thì ghé vào một trong hai nhà hàng của Cô Ba Thuỷ. Có thể vào Bếp nhà xứ Quảng, ngày xưa ở Hai Bà Trưng, giờ về Trần Cao Vân. Đi đường Trần Cao Vân xuôi chiều, thấy bên tay phải có ngôi nhà giống kiểu nhà Hội An thì chính là nó. Mặt tiền là căn nhà gỗ nâu, có balcon nhìn xuống con đường vắng với mấy chậu cảnh gợi nhớ những ngôi nhà gỗ nhìn xuống dòng sông Hoài. Trong nhà hàng có lồng đèn đỏ treo cao, tường gạch, khung cửa cũng màu trầm quen thuộc. Quán có nhiều món ăn xứ Quảng nhưng cũng không thiếu lắm món của nhiều miền. Trước hết là Mì Quảng sườn heo mỹ tôm trứng, quán Quảng mà không có món này sao được.  Rồi thịt luộc chấm dưa mắm Đà nẵng hay thịt luộc chấm mắm nhum Quảng ngãi. Mắm nhum là mắm chi? Thì đến ăn thử thì biết liền. Còn có cá nục Cẩm nam hấp cuốn bánh tráng rồi Lẩu cá thác lác khổ qua rừng hay Lẩu cá chình nấu bầu chua. Chưa hết mô, còn có dưa môn xào tôm thịt, đậu hủ kho tương cay. Dân Quảng Nam nhớ canh mít non thì vào đây gọi một tô, có điều hình như thiếu ruốc nên chua đúng vị của quê nhà lắm. Chưa hết,quán còn Xôi lá dứa cánh gà, bún mắm nêm mít non, sườn cá sấu nướng tương me, cao lầu xứ Quảng, gà trộn rau răm, lẩu cá đuối nấu mẻ, lẩu gà nòi nấu tiêu lốt, chả ram hạt sen, gỏi ngò gai vịt nướng, gà lên mâm sẽ có 6 món ngon chế biến từ gà: Đùi gà nướng mật ong, xôi nếp Lào nấu cốt gà, xôi lá dứa cuộn chà bông gà, cánh gà chiên nước mắm, gà bóp rau răm và miến lòng gà nấu măng. Nên kể thêm món cánh gà chiên nước mắm không ta? Có món ăn nhớ nhà ác liệt là Lẩu cá chình nấu bầu chua, bầu đem phơi hơi héo  muối chua đem ra nấu canh. Món ăn quê mùa có vị chua nhẹ, bầu giòn, thêm chút ớt bột, ngon lắm nghe, đừng chê món ăn dân dã. Canh cá nục mà nấu với bầu thì ngon nhức xương. Nhớ Mẹ, nhớ Ngoại liền kêu món cá kho. Cá kho có rưới chút mỡ, nước kho sánh lại như màu mật đường, thêm mấy trái ớt cay cay, trong mâm thêm tô canh bầu, canh bí là y chang bữa cơm ở nhà. Chút xíu nữa quên, quán này có món Cao lầu, dân Nam ít biết, món này ăn với mấy loại rau xứ quảng như rau thơm Trà Quế, một làng rau truyền thống này nằm sát bên dòng sông Cổ Cò, một phân lưu của dòng sông Thu Bồn. Có thêm rau cải non, rau đắng nhẫn nhẫn với húng lũi. Chưa biết hãy gọi thử ăn cho biết. Biết rồi cũng kêu một tô ngắm để vơi bớt nỗi nhớ về một vùng đất. Chén dĩa ở đây là chén đá, nồi chảo nhôm, cũng là nét đặc biệt của quán.

Không thích ăn món Quảng hãy đến Bếp nhà Lục tỉnh ăn món miền Tây. Ưu điểm lớn nhất của quán chính là khung cảnh. Giữa phố phường tấp nập, náo nhiệt của trung tâm Sài Gòn, chỉ cần bẻ tay lái đi vào, ta bắt gặp cảnh miền quê thu nhỏ của miền Tây. Có một cái ao, có lùm cây, có cánh lục bình trôi và con đò cắm sào đứng đợi. Và có nhiều món ăn quen thuộc. Khách đến đây nhiều khi chỉ muốn có một khung cảnh thơ mộng, mộc mạc,chân quê nhưng cũng không kém phần sang trọng với lối trang trí như một ngôi nhà địa chủ ngày xưa ở Nam Bộ. Thực đơn chủ yếu là các món đặc trưng miền Tây như kho quẹt chấm đọt choại, canh tép đồng nấu lá me non hay bánh xèo, bánh khọt. Nhiều món lẩu như Cù lao, lẩu Thuý Liễu với hải sản, lẩu mắm, lẩu vịt nấu chao, lẩu cháo cua đồng. Bánh xèo ở đây có món bánh xèo thịt vịt củ hủ dừa lạ miệng. Nếu ăn cơm đúng ngày có món cá He thì nhớ gọi. Món cá này được kho mấy chục tiếng đồng hồ, xương rục mềm, cá béo phù sa con nước lớn Cửu Long. Hay kêu thêm món thịt kho tàu, cá rô kho tộ. Có mấy thức uống cũng ngồ ngộ trong một nhà hàng khá sang thế này như nước mía, nước mía sầu riêng, nước sâm hạt é, rau má đậu xanh, sương sáo sữa dừa. Thứ bảy ở quán có tiệc buffet những món ăn Nam Bộ được bày bán như một con chợ nhỏ với thúng, với gánh vui ghê lắm. Cứ nhởn nhơ vừa đi vừa ăn vừa ngắm mấy cô thôn nữ quấn khăn rằn với chiếc áo bà ba. Nhưng cũng nên nhớ một điều, để có được một cái quán thế này, trưng bày thế này, trang trí thế này với những món ăn cũng như thế này, khách hàng nên chuẩn bị túi tiền kha khá vì giá cả ở đây hơi cao.

Sao? Thích ăn chay à? Dễ ợt. Sài Gòn thời nay lắm quán chay, sang chảnh có, bình dân có, vỉa hè có. Người người ăn chay, nhà nhà ăn chay mà. Nó như là cái mốt vậy. Người bảo mình tu lúc này cũng hơi nhiều, người ăn chay trường cũng lắm. Nhưng mấy chục năm nay, mỗi khi thích ăn chay tui lại đến Tín Nghĩa đầu đường Trần Hưng Đạo. Tui không tu hành chi, cũng rất ít đến chùa, kinh chắc là không tụng nhưng lâu lâu muốn đổi món nên tìm đến quán chay này. Đây chỉ là quán bình dân, bàn inox trải khăn nhựa màu mè. Bán hàng là bà cụ cũng đã già. Bà là đời thứ ba của quán. Căn nhà từ thời bà ngoại của bà, qua đến cha mẹ giờ đến bà ngót nghét cũng hơn bảy chục năm. Thời buổi tấc đất tấc vàng, căn nhà này bán đi cũng giá vài chục tỷ nhưng gia đình bà vẫn tiếp tục bán cơm chay như bao nhiêu đời nay vẫn thế. Nhiều khi ngồi trong căn nhà cũ kỹ ấy, trên chiếc bàn quen thuộc với lon đựng muỗng đũa muôn năm vẫn thế, gian bếp thiếu sáng với bóng người nhìn ra thế giới đổi thay từng giờ ngoài kia, có cảm giác như thời gian dừng lại từ năm ba chục năm trước. Cũng như mọi lấn, khách được bà chủ trao cho mảnh giấy với cây bút, muốn ăn gì nhìn menu mà ghi vào rồi ngồi đợi bởi món ăn ở đây khách gọi mới làm. Bởi thế, thức ăn dọn ra lúc nào cũng nóng, ăn như đang ăn ở nhà. Đặc biệt ở tiệm này là món ăn gọi đúng tên chứ không đặt tên kiểu cọ như mấy quán chay thời thượng hiện nay, ăn chay mà toàn đặt tên món mặn. Ở đây là Tàu hủ kho tiêu, kho tương, chả lụa chay kho nước tương tàu hủ ky kho sả, mắm chưng rau ghém, cải xào, nấm rơm kho tiêu , canh ngót thì là, miến xào tương hột. …Món tui thích nhất lần nào cũng kêu là món mắm chưng rau ghém. Dĩa rau tươi xanh với dưa leo xắt nhỏ, mắm chưng gồm chao trộn trứng và nấm nhuyễn, hình như có đậu phụng giã nhỏ. Nhúm rau bỏ vào chén, chan mấy muỗng mắm chưng, lùa tròn vào miệng, có vị béo của trứng, vị đậm của chao, bùi của đậu trộn với thơm của rau, mát của dưa leo thành một hỗn hợp ngon và lạ miệng. Người nào mê cải lương muốn gặp các diễn viên, cứ rằm, mồng một đến đây là sẽ gặp. Nào là Lệ Thuỷ, Bạch Tuyết, Bạch Long, Kim Tử Long, Thoại Mỹ…tha hồ cùng ăn chung quán với họ. Tuy bình dân là vậy nhưng giá cũng không rẻ như những quán bình dân khác vì món ăn ở đây ngon và chất lượng. Ăn chay cố ăn nhiều vì mau tiêu, mau đói.

Người ta bảo ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật. Ừa! Thì ăn cơm Tàu. Chịu chạy xa một tý. Vô Lý Thường Kiệt, chạy vào con hẻm nhỏ gặp quán cơm Truyền Ký, quán cơm người Hẹ. Người Hoa ở Chợ Lớn phần lớn thuộc về năm nhóm người chính: Quảng Đông (Việt) tính tình rộng rãi, giỏi kinh doanh buôn bán, Phúc Kiến (Mân) gia trưởng và coi trọng việc học hành, bằng cấp, thi cử đỗ đạt, Triều Châu (Tiều) sống tiết kiệm, kham khổ và siêng năng cũng chịu buôn bán hàng ăn, có món cháo Tiều độc đáo và Khách Gia (Hẹ) ham học và đặc biệt nấu ăn rất ngon, nhất là những món Tây và cuối cùng là người Hải Nam, món ngon của người Hải Nam là cơm gà Hải Nam, thịt dê tiềm. Người Hải Nam thường mở tiệm nước, cà phê, người Tiều bán bánh kẹo, người Hẹ nấu ăn, dạy học, bán thuốc Bắc và người Quảng Đông bán tạp hóa. Trong đó Quảng Đông là nhóm đông nhất.

Quán Truyền Ký là quán nhỏ, trong hẻm nhưng dân sành ăn ở Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi không ai là không biết. Cũng bảy chục năm rồi mà quán không thay đổi, thoạt nhìn như căn nhà ở bình thường với bàn thờ có mấy ngọn đèn đỏ theo tập quán của người Hoa. Bạn cứ men theo một cầu thang nhỏ đi lên gác, nhớ cúi đâu xuống nếu có chút chiều cao không thì sưng trán ráng chịu. Căn gác giống tửu lầu bình dân trong mấy phim kiếm hiệp hay truyện Thuỷ Hử của Tàu. Nếu đến giờ trưa khá đông khách. Chờ một chút. Ngày xưa quán bắt đầu từ chiếc xe đẩy bán rong của ông Nguyễn Hữu Truyền, sau dừng chân ở ngôi nhà này. Đến nay người kế tục là cháu của ông là Huỳnh Nhật Tài. Tiệm có trên trăm món nhưng cũng như các tiệm ăn khác có khoảng chục món là món độc đáo của quán này. Đó là gà hấp muối, gà xối mỡ, đậu hủ Đông Giang, thú linh chiên giòn, giò heo phá lấu, khoai môn hấp heo quay, bao tử heo xào cải chua, dồi trường xào hành gừng hay bông hẹ, bò xào Tàu xì, trứng ba màu, hột vịt muối chưng thịt, canh tàu hũ cá viên bông hành, canh tần ô cá viên…trong đó món gà hấp muối là món ai ghé quán cũng gọi.

Được chế biến từ gà ta vừa phải, khoảng trên 1kí một con. Gà tơ nên thịt mềm, da mỏng vừa phải, béo thơm thịt. Gà sau khi làm sạch được thoa muối rồi hấp cho đến khi thịt vừa chín, da căng vàng. Gà được xé trộn thêm chút muối, chút tiêu và gia vị. Món này được kèm dĩa muối trộn mỡ gà và dầu cải. Đã xơi món này ở đây thì không kiếm đâu được cái mùi vị của món này ở đâu khác. Nó khác hẳn gà xé phay của người Bắc, cũng chẳng giống gà luộc Tam Kỳ hay món gà ở Tây nguyên. Một món nữa nên gọi ra nhâm nhi trong khi chờ gà hấp muối là món thú linh chiên dòn. Thú linh là ruột cuối gần đuôi heo, làm sạch và chiên dòn rụm, beo béo chấm với nước chấm ngọt ăn rất thú vị. Cũng đừng quên món khâu nhục với khoai môn. Món này gần giống khâu nhục ở miền Tây Bắc Việt Nam. Là thịt heo cắt từng miếng kha khá hầm ướp với mấy món gia vị, ăn lạ mà hấp dẫn. Nhớ gọi thêm đậu hủ Đông Giang là tàu hủ, khổ qua, ớt trái dồn chả cá với nước sền sệt ăn với cơm rất đã. Nếu muốn gọi thêm món nữa hãy chọn món trứng ba màu gồm trứng vịt tươi đúc trứng bắc thảo. Màu vàng của trứng tươi, kết hợp màu của lòng trắng trứng bắc thảo và màu đen của lòng đỏ tạo thành một món ngon quyến rũ đậm chất Hoa Chợ Lớn. Cũng đừng quên món canh củ sen nấu đuôi heo hay tô canh rong biển. Bữa ăn thế là quá đủ, bụng no quá chỉ muốn lăn xuống cầu thang. Ăn nhiều món ngon nhưng giá cũng vừa phải, đừng lo bị chặt chém ở đây.

Ở chợ Cũ cũng có một quán cơm Tàu nổi tiếng một thời là quán cơm thố Chuyên Ký. Nó nằm khuất sau dãy hàng chợ Tôn Thất Đạm nên khó tìm thấy. Tuy vậy khách quen của ngày cũ vẫn tìm đến với những món ăn quen thuộc. Quán mở từ năm 1948, toàn món ăn của người Hoa. Cơm được đựng trong những chiếc thố đất nung nhỏ. Mấy chiếc thố này ngày xưa chắc từ các lò gốm Biên Hoà, Bình Dương sản xuất. Lúc trước người ta thường hấp cơm trực tiếp trong những chiếc thố này. Giờ hiện đại hơn, có lẽ người ta nấu cơm rồi mới cho vào thố hấp lại bên hạt cơm không được dẻo thơm như xưa. Chuyên Ký có rất nhiều món ngon. Những món khách hay dùng là gà hấp cải xanh, gà tiềm thuốc bắc, gà tiềm rong biển, hầm vĩ chưng hột vịt, hầm vĩ chưng giấm tương, bò tiềm, mì xào thập cẩm, sườn heo xào tàu vị yểu, cẳng vịt xào nấm đông cô, sườn xào chua ngọt. Món nào cũng được nấu theo công thức riêng của quán nên cũng món ấy mà ăn ở quán khác ta sẽ thấy có mùi, có vị khác. Cũng giống những quán xưa ở đất Sài Gòn, mỗi lần vào ăn ở Chuyên Ký, lại nhớ nhiều kỷ niệm, thời khu này là nơi sầm uất nhất Sài Gòn với những tiệm, những quán và những món ăn khó mà quên.

Muốn ăn cơm Bắc lại cho xe đến cơm Đồng Nhân. Vốn ngày xưa là quán cơm Bà Cả Đọi ở hẻm đường Nguyễn Huệ. Từ một quán trong hẻm nhỏ không quảng cáo, không rùm beng nhưng đã tạo được một thương hiệu mấy chục năm nay. Quán nhỏ hẹp, khách tới phải vào hẻm, lên cầu thang rồi lách vào nhà tìm chỗ ngồi trên chiếc phản hay mấy bộ bàn ghế con con. Nhiều khi khách đông quá, quán không đủ chỗ phục vụ, mọi người phải xếp hàng nhưng không ai than phiền mà kiên nhẫn chờ để được ăn cơm Bà Cả. Cơm Bà Cả Đọi nổi tiếng trước 1975. Là nơi tập trung nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ văn chương của Sài Gòn. Những người thế hệ đó chắc hẳn chẳng ai quên cái quán rặt Bắc Kỳ này. Theo tháng năm, Bà Cả đã già rồi nên giờ có đến hai quán, một quán ở góc Lê Thánh Tôn, Trương Định và một ở đường Tôn Thất Thiệp do những người con tiếp nối. Quán chỉ nấu những món ăn bình thường của người Bắc như canh cua rau đay, thịt luộc, cà pháo mắm tôm, giò heo giả cầy, đậu hủ dồn thịt, ốc nấu chuối đậu, trứng đúc thịt, thịt đông dưa muối, cá chiên, cà ri gà…Nổi bật là món giả cầy, đúng hương vị Bắc. Khách giờ không còn chỉ là người Bắc tìm ăn món của quê nhà mà có rất nhiều khách miền Nam và người dân tứ xứ. Nấu ngon, giá bình dân, phục vụ cũng được nên khách đông là chuyện đương nhiên.

Có một quán cơm nấu đúng vị miền Tây do một anh bếp từ một resort nổi tiếng ra mở phục vụ dân kén ăn tên là Quán cơm chú Tám Thường. Quán không đông khách, chỉ có vài bàn. Quán nằm trong hẻm nhỏ, lịch sự và gọn gàng, sạch sẽ. Ngồi ăn trong quán giống như ăn ở nhà hay đang đến ăn trưa nhà bạn. Tiêu chí ở đây là nấu nướng theo phong vị miệt sông nước lục tỉnh, với thành phần nguyên liệu chọn lựa kỹ càng từ nguồn cung cấp tươi ngon và bổ dưỡng. Thực đơn ở đây không cố định. Sáng anh bếp xách giỏ ra chợ, thấy gì ngon thì mua về chế biến thành menu của ngày hôm đó. Có nhiều món ngon tui hay thường được ăn là canh mướp nấu với chả cá thác lác. Tép xào. Mấy món bò nấu rất ngon không thua gì nhà hàng cao cấp. Tui khoái quán này vì khách kêu bếp mới nấu nên món nào cũng nóng, cũng dòn. Giá cũng vừa phải dành cho một mâm bốn người ăn. Đừng đi một mình, món ăn cũng từng đấy nên trả tiền như ăn bốn người.

Chán cơm Tàu, cơm Bắc, cơm Nam. Xin mời đi ăn cơm Đại Hàn. Nhiều quán lắm, nhất là khu Cộng Hoà. Nhưng xin mời đến Seoul House đường Bùi Thị Xuân. Ông chủ người Hàn này nằm trong danh sách những người mở quán ăn Hàn đầu tiên ở Sài Gòn. Quán đã dời địa chỉ đến lần thứ tư và giờ nằm ở đây. Không biết trong cơn đại dịch vừa rồi, quán có thoi thóp để tồn tại được không? Quán đủ các món nổi tiếng của Hàn Quốc nhưng cũng đã được chế biến cho hợp khẩu vị người Việt. Bò, heo nướng, cá saba, canh kim chi hải sản, cơm trộn, mì lạnh là những món được ưa chuộng ở đây. Nhớ gọi ly nước quế, ngon lắm mà lại dễ tiêu. Quán rộng, thoáng, món ăn vừa miệng giá lại bình dân. Ăn buổi trưa ở đây là một chọn lựa không tồi.

Cuối cùng, nếu chán cơm xin mời đến quán cháo lòng Võ Thị Sáu. Quán sạch sẽ, lòng ngon, nhầt là món dồi. Nhà văn Sơn Nam lúc sinh thời có bảo rằng: “Tại Sài Gòn, duy nhứt quán cháo lòng này có thể sánh ngang với cháo lòng Chợ Ðệm.” Tui chưa ăn cháo lòng chợ Đệm nên không làm chuyện so sánh, nhưng phải công nhận cháo ở đây ngon. Tô cháo ở đây không sánh như cháo ở miền Trung, không đặc như bát bột ở cháo Bắc mà cháo còn nguyên hạt, nước cháo lỏng vừa. Cháo ở miền Nam phân biệt rõ cháo lòng và cháo huyết. Cháo huyết chỉ nấu với huyết heo, là cháo nhà nghèo, ăn với giá. Cháo lòng đương nhiên là ăn với lòng. Lòng ở quán này đủ thứ để trên lớp cháo, nào là gan, tim, phèo, ruột, dồi. Nhưng như đã nói, dồi là món ngon nhất ở đây. Dồi miền Bắc là ruột heo được nhồi đầy huyết, rồi luộc. Dồi trong tô cháo miền Nam được nhồi với nhiều thứ, chủ yếu là thịt đầu heo bằm, sụn, ướp thêm sả bằm rồi mang chiên vàng. Cho nên nó thơm, nó quyến rũ vô cùng. Gắp miếng dồi đưa lẻn miệng, cắn một miếng, bao nhiêu hỗn hợp trong miếng dồi tan theo từng lần nhai, ngọt, béo, bùi, sần sật của sụn, thêm miếng rau. Ngon thật! Ở đây cũng có mắm tôm, giá, hành củ cùng tỏi ngâm, ai thích gì dùng thứ ấy. Có thêm giò cháo quẩy. Thế là trọn vẹn. Nếu thích cứ gọi một dĩa lòng với tô cháo không. Cứ thế mà làm tới là xong bữa trưa.

Thế là tui đã dẫn mấy người đi vòng quanh bữa cơm trưa. Ta có Bắc, Trung, Nam. Ngoại có Tàu, Hàn. Cơm, cháo đủ cả. Thôi no rồi, mắt lim dim rồi. Về ngủ một giấc chiều tui chở đi ăn vặt.

ĂN VẶT GIỮA CHIỀU.

Sài Gòn cũng giống Bangkok, Quảng Châu hay Hongkong. Là thiên đường dành cho những người khoái ăn vặt. Hà Nội cũng nhiều khu như thế nhưng người ta gọi là ăn quà. Chiều nay tui cùng bạn đi một vòng sơ sơ chơi nghen!

(Dài rồi, cho tui nghỉ, mai viết tiếp)

9.10.2021

DODUYNGOC

Địa chỉ quán ăn trưa:

– Cơm Bà Mập. 138 Võ Văn Tần. Q.3

– Quán Ăn Hương Giang -129 Lý Chính Thắng 

– Bếp nhà xứ Quảng, 16 Trần Cao Vân. Q.1

– Bếp nhà Lục tỉnh, 37 Nam Kỳ Khởi nghĩa. Q.1

– Cơm Truyền Ký người Hẹ, hẻm 39 Lý Thường Kiệt. Q.11

– Cơm thố Chuyên Ký 67 Tôn Thất Đạm, 

– Cơm Đồng Nhân (Bà Cả Đọi) 11 Tôn Thất Thiệp – 42 Trương Định.  Q1

– Cơm Chay Tín Nghĩa. 9 Trần Hưng Đạo, P. Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP. HCM

– Quán Hàn quốc Seoul House. 46.48 Bùi Thị Xuân. Q.1

– Cháo lòng. 170B Võ Thị Sáu 

– Tiệm cơm Chú Tám Thường. 27/1 Nguyễn Văn Nguyễn. P. Tân Định. Q.1

Chú Tư Mạnh

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Google photo

Truyện kể của ĐỖ DUY NGỌC

Những năm đầu của thập niên 80, sau năm năm lưu đày ở Củ Chi, tôi được về thành phố dạy một trường cấp ba ở gần nhà. Mỗi tuần chỉ có 12 tiết dạy của ba lớp cuối cấp, chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông. Rảnh rỗi dù thời gian này, cả nước đang đói. Nhưng tôi vốn vô lo, đến đâu hay đến đó, quanh quẩn với đồng lương chết đói, sống tạm qua ngày. Chẳng biết làm chi cho hết giờ, lại bày đặt chơi chim. Chơi ở vườn Tao Đàn, sáng sáng xách lồng chim, đạp xe ra, tụ nhau lại đấu láo và nghe chim hót. Và cũng từ đó thành lập một nhóm cùng ngồi với nhau. Người cao tuổi nhất nhóm là chú Tư Mạnh, hồi đó cũng khoảng năm mươi. Chú cao to như Tây, ăn mặc chải chuốt và thanh lịch như công chức cao cấp thời trước. Giọng rặt Nam bộ và hành xử cũng khá hào phóng với mọi người. Gia đình chú thuộc loại giàu có, hồi đó đa số đều đi xe đạp hoặc xe gắn máy cũ mèm, chú chơi xe Honda đời mới do đám viễn dương đem về bán, chiếc nào cũng giá mấy lượng vàng. Đôi khi cuối tuần, chú lại đến bằng xe hơi Peugeot có tài xế lái. Lúc đầu, ai cũng tưởng chú là cán bộ có chức vụ về hưu, nhưng dần dần hỏi chuyện hoá ra không phải. Chú là dân buôn bán từ xưa đến giờ. Chuyên bán vàng. Lúc đó nhà nước cấm dữ lắm, nhưng nhu cẩu xã hội vẫn có, nên chú vẫn tiếp tục nghề xưa, dù là mua chui bán lậu. Chú có đến ba căn nhà, toàn mặt tiền đường lớn, mà cái nào cũng to. Tụi tui cứ thắc mắc không hiểu với tài sản như thế mà sao gia đình chú lại thoát được mấy lần đánh tư sản khốc liệt vậy? Hoá ra là chú có người em ở rừng về, làm chức gì lớn lắm trong uỷ ban thành phố, nên tài sản chú được an toàn mà nghe đâu lại càng nhiều hơn khi có sự trợ thủ đắc lực của chú em. Sáng nào cũng vậy, chú đều chơi dĩa bò kho bánh mì có bốn miếng thịt lớn, chú bảo chú rất thích món này, ăn hoài không thấy ngán. Thường thường, chú ăn hai miếng, còn hai miếng bà chủ đã biết ý, luôn gói lại đưa chú mang về cho hai con chó Fox bé tí tì ti. Thời đó đói ăn, cả tháng làm giáo viên như tôi mới mua tiêu chuẩn được nửa kí thịt heo bạc nhạc với mỡ, nên thấy chú ăn sáng như vậy, tụi tôi thấy chú quá sang trọng, nên dù ngồi với nhau, tiếng nói của chú vẫn có giá trị hơn hẳn. Người giàu sang lúc nào cũng thế, giữa mọi người họ vẫn có vị thế cao hơn một bậc, bởi họ nhiều tiền hơn đương nhiên tiếng nói của họ được vị nể hơn. Chúng tôi càng nể chú hơn nữa khi gặp hai đứa con của chú. Chú có hai đứa con, trai lớn gần ba chục, cô con gái nhỏ khoảng hai lăm, hai sáu tuổi. Cả hai đều rất lễ phép và cũng vừa lập gia đình. Mỗi lần đi đâu xa hoặc cuối tuần về quê chồng quê vợ, con chú đều ra tận nơi sân chim để chào và xin phép chú về thăm cha thăm mẹ. Lần nào cũng cúi đầu, khoanh tay chào hết mọi người khi đền cũng như lúc đi. Chú hãnh diện về điều này, mà tụi tôi cũng đồng ý về sự hãnh diện đó của chú. Cái thời buổi nhiễu nhương, ông thằng thay đổi tá lả thế này, nề nếp gia phong lộn tùng phèo mà còn được những đứa con như thế thì hãnh diện là quá đúng rồi!

Nhưng hoá ra là đóng kịch cả, là mưu mô cả. Lần hồi, các màn kịch cứ he hé và lần lượt diễn ra, tụi tôi nhiều khi không tin được, không ngờ cuộc đời lại có nhiều chuyện khốn nạn đến thế. Khi xã hội Việt Nam bắt đầu mở cửa là lúc màn kịch bắt đầu.

Đầu tiên là căn nhà ba tầng ở Bùi Thị Xuân, căn nhà lâu nay giao cho anh con trai lớn ở và bán buôn. Một ngày đẹp trời vợ chồng anh về thưa với vợ chồng chú là anh ta muốn sửa sang lại để biến thành khách sạn, bởi bắt đầu sẽ có khách du lịch về, doanh nghiệp qua, đón đầu như vậy mới thắng lớn được. Nghe bùi tai quá, vợ chồng chúng nó từ xưa đến nay ngoan ngoãn, biết lo làm ăn, chưa hề làm mất lòng hai vợ chồng chú. Thế là sang tên cho chúng để chúng chúng mở doanh nghiệp, xin giấy phép xây cất. Lại còn cho chúng mượn 300 lượng vàng làm vốn. Hai vợ chồng an tâm phần thằng Hai. Chúng nó làm ăn thành công thì mình lo chi tuổi già, xem như chia gia tài trước cho chúng. Giải quyết nhẹ bâng.

Lại đến cô con gái, cũng một đêm mát trời, con gái nằm gãi lưng cho mẹ vừa thủ thỉ: Vợ chồng con cũng đã lớn rồi, ba má cho chúng con ra riêng đặng lo cho tương lai. Ba má giao cho tụi con cái nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu đang cho thuê, tụi con dọn về đó mở tiệm vàng, bây giờ nhà nước cho tư nhân mua bán vàng, làm ăn tốt lắm. Ba má vẫn ở nhà này, tuổi già cần yên tĩnh mà ở chung thế này nhiều khi các con của con quấy quá làm phiền ba má. Nói nghe lọt tai quá, nghĩ cũng hợp lí quá, sang tên nhà, đưa thêm 300 lượng làm hàng bán. Lúc đưa vàng, vợ chồng chú bắt phải có mặt con rể, hai vợ chồng cùng ký giấy mượn của vợ chồng chú 200 lượng, còn 100 lượng kia cho hai đứa bây làm vốn. Thế là xem như xong chuyện của hai đứa con, hai vợ chồng chú vui vẻ để lại tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc.

Đùng một cái, anh con trai lớn không biết làm ăn hùn hạp với ai, phải cầm cố nhà cửa, khách sạn. Rồi một ngày cả nhà trốn mất. Vượt biên. Khách sạn bị tịch thu, cửa khoá to đùng với tờ giấy dán chéo ghi: Vượt biên, phản quốc với mấy dấu đóng đỏ lòm. Chú Tư Mạnh ốm mấy tháng, vợ chú lên cơn đau tim phải vào cấp cứu. Thôi! Của đi thay người, chỉ mong gia đình nó đến nơi bình an. Nhưng rồi, tin đến chẳng bình an, anh con trai chỉ đi ra được đến bãi là bị gài bắn chết ngay tại chỗ để bọn dân quân, công an cướp vàng. Cô vợ và đứa cháu bay ra được tàu lớn, nhưng rồi bão đánh chìm đâu đó ngoài biển sâu. Vợ chồng chú suy sụp hẳn, chú vật vờ như mộng du, thương con, thương cháu đến đứt cả ruột. Một năm sau, không chịu thấu nỗi đau, không dằn nổi những cơn đau tim, vợ chú qua đời. Đến thắp nhang cho thím, nhìn thấy mái tóc mới qua mấy đêm đã bạc trắng của chú, chúng tôi xót xa cho bi kịch dồn dập đổ xuống gia đình của chú. Cô con gái và chàng rể quấn khăn tang lo hậu sự, nước mắt vẫn lả chã nhưng trong đầu cũng đang tính chuyện mốt mai. Thế rồi khi tro cốt của vợ chú an vị ở chùa, ngày cúng thất đầu tiên, hai vợ chồng cô con gái vẫn còn mang áo tang đề nghị với chú: má mất rồi, ba tuổi đã lớn, ở đây một mình chẳng có ai chăm sóc gần gũi, gia đình mình giờ chỉ còn con với ba, ba bán căn nhà này đi, cho chúng con mượn thêm, làm ăn bây giờ hơn nhau ở chỗ vốn nhiều mới mong thắng lớn, về ở với vợ chồng con, để con được săn sóc ba tuổi về già, lúc đau ốm, đỡ buổn lo, quạnh quẽ. Nghe đúng quá mà. Bây giờ chỉ còn mình nó, không ở với nó thì ở với ai? Một mình giữ tiền chi cho nhiều, đưa cho chúng làm ăn, có phải là sinh lợi hơn sao. Nỗi buồn chưa lắng xuống, nên chú Tư giao việc bán mua cho vợ chồng cô con gái, dọn về ở cùng con. Thế là cuối cùng, chú chỉ còn độc ngôi nhà này.

Lúc đầu, ông con rể bố trí cho chú ở lầu một, lên xuống cho dễ. Phòng này trước đây cháu ngoại của chú ở, bây giờ nó dọn lên phòng trên. Phòng tiện nghi, có cửa sổ, có máy lạnh, giường nệm êm, chú tự nghĩ thế cũng tốt, cũng là nhà của mình mà. Chú lại ra chơi chim với nhóm, dù không thường xuyên lắm. Tóc chú trắng xóa, khuôn mặt buồn không còn vui vẻ như trước, nhưng hàng ngày vẫn dĩa bò kho bốn miếng thịt, ăn hai miếng đem về hai miếng cho hai con chó Fox bé tí tì ti.

Nhưng cuộc sống vẫn chưa yên. Hai vợ chồng cô con gái bắt đầu kiếm chuyện. Đầu tiên là mấy con chim. Trước đây ông con rể khi ra chỗ chơi chim thường xách lồng ra xe cho chú, lặt cào cào cho chim ăn, hàng ngày phụ trách vệ sinh mấy lồng chim cho chú. Bây giờ ông con rể ngạo ngược bảo chim cò bẩn cả nhà, trưa nghỉ một tí cũng không yên bởi tiếng hót lanh lảnh của nó. Chú Tư tắm chim, phơi nắng cho chim, hắn đi ngang đá lồng lăn lông lốc và bảo: chật chội, vướng víu quá! Bực cả mình! Đôi mắt chú ngày càng buồn, miệng chú càng ngày càng ít nói. Rồi từ lầu một, chúng dời chú lên phòng sân thượng, ông con rể bảo cho chú lên đấy để chú tiện gần gũi với chim, để chim phía dưới mất vệ sinh, thức ăn rơi ruồi bu, kiến đậu, lông chim bay ảnh hưởng sức khoẻ của mọi người. Chú bằng lòng với sự sắp xếp của nó, dù mỗi lần lên xuống cầu thang, chú phải nghỉ thở mấy lần. Hồi còn ở dưới, đến bữa cô người làm hoặc cháu ngoại còn lên mời chú xuống nhà ăn cơm. Từ hồi lên trên này, chúng chẳng kêu, chẳng báo. Khi nào đói, chú lặng lẽ lần mò xuống ăn. Thức ăn lỏng chỏng như đồ thừa, nhiều lần ngồi ăn, chú rớt nước mắt. Chú thèm được một bữa cơm gia đình sum họp, đầy tiếng nói cười với những ánh mắt thương yêu. Mất hết rồi! Chẳng tìm đâu thấy nữa. Hàng ngày, chú xách lồng chim ra ngồi với chúng tôi chốc lát, đó là niềm vui còn sót lại trong ngày của chú, chú xem chúng tôi như người nhà, nên những chuyện buồn, bất hạnh của chú, chú đều kể cho chúng tôi nghe. Chú vẫn còn ăn món bò kho, nhưng không gói thịt về cho chó nữa vì chúng cũng đã bị cậu con rể đá chết rồi.

Nghe tin chú bệnh, nhóm chúng tôi đến thăm chú. Bước qua cửa, chúng tôi được đón bằng cái nguýt dài của cô con gái, cái ánh mắt bực bội của chàng con rể. Chúng chẳng chào một tiếng, chẳng hỏi một câu làm chúng tôi ngỡ ngàng, sao con người biến đổi một cách lạ kỳ như vậy? Chú Tư đón chúng tôi nơi phòng khách, kế bên cửa sổ nhìn ra sân, chú không dám nhìn thẳng mắt ai, ánh mắt như muốn xin lỗi, ngượng ngùng. Ngồi chưa nóng đít, anh con rể vừa nhả khói thuốc vừa nói vọng vào từ ngoài sân: Ba đưa mấy chú lên lầu, lát nữa tui có khách. Chú Tư nhìn ra, ánh mắt một thoáng như toé lửa, rồi hạ nhiệt ngay, cụp xuống đầy uất hận. Thấy không tiện, tụi tôi rút, ra về cũng không có một lời chào. Ai cũng chép miệng: Tội nghiệp chú Tư..

Cuối năm 92, nhóm chúng tôi tản hàng, anh Ba cộng hoà đi HO chuyến áp chót, anh Nam mắt kiếng đi diện đoàn tụ gia đình, tôi bỏ dạy sau một màn ác chiến với tay hiệu trưởng vừa nhậm chức, tôi rời bục giảng, mở công ty, chen chân làm doanh nghiệp. Công việc bận rộn, chẳng còn thời gian đâu mà chim với cò, nên cũng chẳng có dịp để gặp chú Tư Mạnh. Đôi khi gặp đám chơi chim ở Tao Đàn, hỏi thăm tin tức về chú, có người bảo gặp, có kẻ bảo không, định bụng bữa nào ghé thăm chú một bữa. Tình cờ một hôm đi qua nhà chú, thấy người ta đập xây cao ốc mới, hỏi thăm mới biết nhà đã thay chủ, không biết gia đình chú dọn đi đâu, có người bảo đã đi hết ra nước ngoài. Tôi bặt tin chú Tư từ đó, lòng vẫn mong chú khoẻ, hi vọng ở nước ngoài, có viện dưỡng lão, chú được vào đó cũng đỡ khổ thân.
*******

Tết Nguyên Đán năm 2005, thay vì tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trẻ bị bệnh ở khoa Nhi bệnh viện Ung bướu như mọi lần, công ty chúng tôi đổi hướng đi đến thăm những người già ở nhà dưỡng lão Thị Nghè. Thấy các bé còn nhỏ đã mắc bệnh nan y, thương cho chúng chưa hưởng gì ở cuộc đời đã mang bệnh chờ chết, đau xót lắm. Nhưng dù sao các cháu khi bệnh, đứa nào cũng có mẹ, hoặc cha, hay ông hay bà thay phiên chăm sóc. Còn ở đây, trong thế giới người già, là nỗi cô đơn cùng cực. Hầu hết các cụ ở đây đều không có gia đình, người thân, hoặc bị con cháu bỏ rơi. Họ cô độc trong những ngày tháng cuối của cuộc đời, họ chờ đợi trong vô vọng những ánh mắt thương yêu của người thân, họ khát khao được nhìn mặt, cầm tay cháu con, nhưng không bao giờ toại nguyện. Họ chậm chạp trong sinh hoạt và chậm chạp đến lần với cõi chết. Những căn phòng ẩm ướt, những áo quần chẳng lành lặn, những gói, những bao không biết đựng gì để đầy trên giường, dưới chân họ. Họ mừng khi thấy chúng tôi đến, họ vui khi nhận được quà, nhưng ánh mắt vẫn nặng trĩu nỗi muộn phiền. Ở cuối phòng, có một cụ già cứ lấy tay che mặt khi chúng tôi trao quà, tránh ánh mắt của tôi.
Tôi xong việc của mình, định ra, bỗng ông cụ buông tay, vươn cánh tay vẫy vẫy. Ông cụ gầy gò, da bọc xương, hai xương vai nhô lên như hai mảnh nhọn, bụng trương lên như trống. Tóc lơ thơ rụng gần hết, mắt đục lờ với khuôn mặt nhăn nhúm, vàng khè. Trên khuôn mặt đó, tôi tìm thấy một nét quen thuộc của ai đó mình đã từng gặp trong đời. Tôi chưa nhớ ra.
Ông cụ vẫn vẫy, tôi đi ngược trở lại và ông nắm lấy bàn tay tôi, nói nhỏ: Anh Ngọc phải không? Có còn nhớ tôi không? Tôi Tư Mạnh đây. Tôi giật mình, gai ốc bỗng rờn rợn, trời ơi! Chú Tư Mạnh đây sao. Cuộc đời sao vậy trời. Sao chú lại ở đây, sao chú ra nông nỗi này?

Tôi ngồi xuống ôm chặt lấy chú, chú cũng ôm tôi và chú khóc, nước mắt ướt đẫm vai tôi và tôi cũng khóc theo chú. Hai người ôm nhau khóc một hồi, có ông cụ giường bên nhìn tôi với ánh mắt chẳng có chút thân thiện: Con cháu, anh em gì mà bỏ rơi ông cụ mấy năm liền, giờ còn khóc lóc gì? Chú Tư xua tay: Không phải, không phải đâu, người quen thôi mà.
Chúng tôi ra ngoài sân, ngồi trên ghế đá nói chuyện. Tôi hỏi chú hay là mình qua bên đường uống cà phê. Chú gật, ánh mắt thoáng chút vui. Tôi xin phép cán bộ dẫn chú ra ngoài. Hai chúng tôi băng qua đường, chú đi khập khiễng, tôi phải dìu chú đi. Tôi hỏi chú muốn ăn gì không, chú nhìn tôi, ngập ngừng: Tôi…thèm ăn dĩa bò kho… dĩa bò kho bốn miếng thịt và ổ bánh mì thật dòn. Tôi chảy nước mắt ngồi nhìn chú ăn, chú ăn ngon lành, miếng thịt trệu trạo trong cái miệng móm mém gần hết răng của chú.
Và rồi chú kể cho tôi nghe tại sao chú có mặt ở đây mấy năm nay.


****
Anh biết không, con Hiếu, con gái khốn nạn của tôi, anh còn nhớ nó chứ? Tôi đặt nó tên Hiếu mà nó bất hiếu ác nhơn. Nó lấy hết tiền của tôi rồi lừa cho tôi vào đây. Hồi đấy, sau cái lần tôi bệnh mấy anh em vào thăm, thấy chúng nó tồi tệ quá mức rồi, tôi chịu hết nổi nên nói với vợ chồng nó trả vàng cho tôi để tôi đi kiếm chỗ khác ở, dứt tình cha con. Nhưng chúng lật lọng, bảo chẳng nợ gì tôi. Tức quá tôi thưa, tôi còn đủ giấy tờ mà. Toà xử chúng phải trả nợ cho tôi. Chúng lần lửa mãi, và có trả tôi một lần mười cây vàng, hẹn cuối năm thanh toán hết. Rồi bỗng dưng hai vợ chồng nó thân thiện, săn sóc tôi dữ lắm. Mua đồ này thức nọ cho tôi ăn, sắm áo quần mới cho tôi mặc, đối xử với tôi rất nhẹ nhàng. Tôi nghĩ, thôi thì con mình đã biết suy nghĩ lại, gia đình, thân thuộc tôi chẳng còn ai, có đứa em trai thì bệnh ung thư chết mấy năm rồi. Làm cha mẹ phải biết tha thứ cho con. Được mấy tháng thì một hôm nó nói mời cả nhà đi du lịch Nhật Bản, tôi vui lắm, hăm hở sửa soạn đồ đạc để đi đến mười ngày. Nhưng đến phút chót, lấy cớ có việc đột xuất, cả nhà nó ở lại, đành bỏ vé, nên tôi đi một mình. Đi du lịch cùng đoàn nên có bạn có bè cũng vui. Hôm đầu điện thoại về, còn nghe nó trả lời, hôm sau cũng còn, nhưng đến hôm thứ ba thì gọi mãi không được. Tôi sốt ruột nhưng cũng đành chờ cho đến ngày cuối, do vậy chuyến du lịch bỗng mất vui. Nào ngờ khi về đến nhà thì cửa đóng im ỉm, bấm chuông mãi thì có người thò đầu ra mắng, cái mặt lạ hoắc. Hỏi anh ta là ai? Anh ta hỏi vặn lại tôi là ai? Tôi bảo tôi là chủ nhà, anh ta cười hô hố bảo tôi điên, rồi bảo anh ta đã mua căn nhà này rồi, đừng có kiếm chuyện. Tôi như từ cung trăng rớt xuống, mồ hôi ra lạnh cả người và nằm thẳng cẳng giữa lề đường. Hàng xóm thấy vậy chở tôi đi nhà thương, đến khi tỉnh, được mọi người kể mới biết gia đình nó đi Mỹ định cư cả tuần lễ nay rồi, ai cũng tưởng tôi đã cùng đi với chúng nó. Thế ra nó lừa tôi, nó giả vờ thương yêu tôi để tôi mất cảnh giác, nó lừa tôi đi du lịch để nó giao nhà và ra đi. Nó cướp hết số vàng mà vợ chồng tôi cho nó vay. Nó khốn nạn thế đấy, nó mưu mô hiểm ác vậy đấy. Thế là tôi trở thành kẻ vô gia cư. Còn ít vàng tôi để ở nhà, chắc nó cũng lấy đi rồi, tôi chẳng có cách nào để sống nên khi hết bệnh ở nhà thương, chính quyền đưa tôi vào đây ở mấy năm nay.

Tôi nghe mà bàng hoàng, không tin nổi nếu như không gặp chú Tư ở đây. Tôi không ngờ trên đời lại có những đứa con như vậy. Rồi cuộc đời nó có an lành để sống không? Con cái chúng sẽ nghĩ gì khi biết được cha mẹ chúng đã đối xử với ông chúng như thế? Tôi thật sự khiếp hãi khi nhìn thấy con người ta vì đồng tiền mà bán cả lương tri.
Tôi khuyên chú đi bệnh viện vì thấy chú yếu quá, nhưng chú bảo chú không muốn chữa bệnh, chú chỉ mong được đi mau để khỏi phải đau khổ và dằn vặt. Chú xin tôi một điều là gắng đến thăm chú và khi nào chú mất, làm ơn đem tro cốt của chú để vào chùa cùng nơi với vợ chú.

Đó lại là lần cuối cùng tôi gặp chú, chủ nhật sau tôi ghé chú thì chú đã đi rồi, trên tay tôi vẫn còn mang cặp lồng món bò kho bốn miếng thịt mà chú ưa thích. Tôi lặng lẽ mang hủ tro cốt của chú vào chùa, làm thủ tục để cạnh hủ tro của vợ chú, từ nay hai vợ chồng sẽ mãi gần nhau và chú đi được vậy cũng là điều giải thoát cho một kiếp người. Mong chú đến nơi không còn khổ đau, gian dối và lừa lọc. Mong chú yên nghỉ nghe chú Tư Mạnh.
Saigon. Tháng bảy. 2015
DODUYNGOC

Chiếc vé lên tàu

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 17, 2018

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Cầm chiếc vé của tuyến đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh, người Việt Nam nào còn ưu tư với vận nước đều cảm thấy căm phẫn và bị sỉ nhục. Một tuyến đường vừa giá quá cao phi thực tế, vừa thiếu thẫm mỹ, công nghệ lạc hậu, kéo dài thời gian xây dựng và lại đã có lúc phô ra cái lối trịch thượng, coi thường Việt Nam thông qua các bảng hiệu chỉ dẫn toàn chữ Tàu với chữ Việt nhỏ hơn ở dưới. Sự việc lùm xùm này rồi cũng rơi vào im lặng.

Bây giờ, tàu bắt dầu vận hành chạy thử lại lòi ra cái vé lên tàu. Tuyến đường xây trên đất Việt, để phục vụ người Việt, dù anh có cho vay tiền, thực hiện theo công nghệ của anh thì anh cũng chỉ là kẻ làm thuê cho đất Việt. Người Việt là chủ của công trình này, dù phải chấp nhận những thua thiệt bởi thói gian manh ngàn đời trở thành bản chất của Trung Hoa. Người Việt vẫn là chủ nhân của công trình, đó là sự thật không thể chối cãi.
Cái vé lên tàu bé tí toàn chữ Tàu trên và chữ Việt dưới, chữ nhỏ hơn. Cầm cái vé lên tàu, ta có cảm tưởng đang di chuyển trên đất Trung Hoa và ta là du khách.

Người Trung quốc đã thể hiện tư tưởng đại Hán ngay trong chiếc vé cỏn con này. Họ xem thường chúng ta và những người Việt có lương tri cảm thấy bị sỉ nhục khi cầm trên tay chiếc vé này. Họ làm chủ đất nước này bao giờ thế? Kiếm được khối tiền từ dự án này rồi lại trở thành chủ nhân của công trình này sao? Việt Nam là chủ công trình, có lãnh đạo là người Việt. Nhưng họ đang ở đâu? Họ lãnh lương, chia chác bổng lộc từ dự án, nhưng nhắm mắt làm ngơ, ngậm miệng ăn tiền, trở thành tay sai của những nhà thầu Trung Quốc. Khi xảy ra sự việc đều trả lời rất tiếc, sẽ khắc phục… Đều là lời nguỵ biện. Kẻ làm chủ trở thành tay sai đắc lực cho kẻ làm thuê, chuyện tréo ngoe chỉ có trong hàng ngũ quan chức Việt. Bất cứ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài nào hoạt động, làm ăn trên đất Việt cũng phải chấp hành luật pháp Việt Nam.

Cái vé tàu bé xíu ấy nhưng nó thể hiện chủ quyền của một quốc gia. Chúng chiếm biến đảo, chúng ung dung ra vào đất nước này với thái độ nghênh ngang và ngạo ngược, chúng xem đất nước này như một tỉnh tự trị của chúng, chúng đổ bao thứ độc hại vào mâm cơm của người Việt, chúng lèo lái, nhúng tay vào đường lối chính trị của quốc gia, chúng lũng đoạn kinh tế …Đó là những việc lớn, ai cũng thấy, nhưng chúng cũng không từ những việc nhỏ để chứng tỏ âm mưu của chúng. Chiếc vé này là một minh chứng. Là người Việt, chúng ta phải có thái độ rõ ràng với việc này. Phải biết lòng tự trọng bị xúc phạm, phải thấy chủ quyền của đất nước đang bị xâm phạm để có cách hành xử với lũ bá quyền này. Không thể chấp nhận những cách thức ngạo ngược, coi thường dân Việt như thế này.

Hỡi những tên đang nhắm mắt nhận tiền để trở thành công cụ trong tay chúng, các người phải học để biết nhục, phải biết xấu hổ khi đứng trước cháu con, phải biết ngẩng đầu vì mình đang là chủ kia mà. Sao lại để chúng lộng quyền đến thế?

Từ chiếc vé lên tàu, ta thấy rõ một đám người có quyền lực nhưng hèn hạ và cam tâm làm con rối như thế nào. Ai đang là chủ của mảnh đất này? Âm mưu của lũ bá quyền thì thâm hiểm và chẳng lúc nào ngừng. Nhưng những người Việt liên quan thì thờ ơ, vô cảm, tắc trách trong công việc được giao phó.

Từ đó trong suy nghĩ lại có lo âu. Đất nước này sẽ đi về đâu? Không lẽ trong tương lai, mỗi người dân Việt phải trang bị cho mình thêm một ngôn ngữ là tiếng Tàu?
Buồn và căm phẫn.
13.8.2018
DODUYNGOC

Chén cơm chiên ngày Tết năm 1976

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  

Post tháng 1 26, 2019

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Tết năm 1976, vợ tui chưa về, tui ở Sài Gòn trên căn gác nhỏ ở hẻm 220 Trương Minh Giảng với mấy người bạn cùng quê. Trong đó có nhân vật tui viết trong truyện Bước không qua số phận. Nhân vật trong truyện tên Nhân. Đã qua gần mười tháng sau ngày bộ đội miền Bắc vào tới Sài Gòn. Đồng hồ, mắt kính, quần áo, giày dép lần lượt ra đi ở chợ trời. Rồi đến sách vở cũng ra vỉa hè đổi lấy bữa cơm. Đã đến thời gian đói. Bữa có bữa không, có nhiều ngày nhịn, có bữa chỉ có củ khoai. Bạn bè bắt đầu tản mát, mỗi đứa đi một phương kiếm ăn. Tui chẳng biết đi đâu, bám trụ căn gác gỗ có cầu thang gãy. Trước 75 tui đi làm cũng có lương cao, thuê căn phòng lớn trong ngôi nhà nhiều phòng ở số 220/100. Bộ đội vào, phường ra lệnh tiếp quản ngôi nhà vì chủ đã di tản, chuyển tui qua căn gác này. Bạn bè thấy thế đi theo nên diện tích căn gác nhỏ xíu mà có lúc chứa cả chục thằng, kể cả hai cặp vợ chồng thằng bạn mới cưới vợ. Chen chúc nhau sống trong lặng lẽ.

Bình thường khi có chút tiền, tui mua gạo nấu ăn chung với Nhân. Món ăn thường xuyên là trứng vịt. Luộc chín, cắt làm tư, ngâm vô chén nước mắm dằm ớt thật cay. Mỗi bữa mỗi thằng ăn một phần tư hột vịt, như vậy, cái hột vịt luộc hai thằng ăn được hai bữa cơm sáng chiều. Được như vậy là ngon rồi, khỏi phải nhịn đói. Thế mà có giai đoạn gạo cũng chẳng có mà nấu, hột vịt cũng chẳng có mà ăn. Đói vàng cả mắt, người xanh như tàu lá, đi liêu xiêu thấy gì cũng thèm. Lúc đó tui đang sinh hoạt trong đoàn kịch của Hội Văn nghệ Thành phố, hôm nào cũng tập kịch ở ngôi nhà của mẹ ông Tổng thống Thiệu chỗ 81 Trương Minh Giảng. Trưởng đoàn văn nghệ lúc đó là chị Kim Hạnh, vốn là trưởng đoàn Văn nghệ Vạn Hạnh trước 1975, sau này chị chuyền qua làm báo. Lúc đó gần Tết, không biết ai biết chuyện tui đang đói, mấy người trong đoàn họp lại quyên góp mua gạo cứu đói cho tui. Sau này nghe kể chị Kim Hạnh bảo tui sĩ diện lắm nên nếu đưa trực tiếp tui sẽ không nhận đâu, do vậy bọn họ phải lên kế hoạch. Những người thực hiện kế hoạch này giờ đa số ở nước ngoài cả. Đó là Châu Bảo, Bích Nguyen đang ở Mỹ, Tô Công Tròn đang ở Pháp, Dục đã mất ở Úc. Họ canh tui vừa ra khỏi nhà là chạy lên để bao gạo, chai nước mắm và mấy món linh tinh nữa ngay góc cầu thang. Họ trốn ở mấy góc hẻm chờ tui đi về mang gói quà ấy vào nhà rồi mới tản hàng. Tui không quên gói quà ấy dù đã hơn bốn mấy năm rồi. Tình cảm của các bạn quý báu biết bao vì lúc đó ai cũng nghèo và khó khăn. Nhờ mấy kí gạo đấy, Tết năm 1976 tui có gạo ăn. Có gạo nhưng chẳng có tiền để sắm đồ ăn, Tết nên cũng chẳng kiếm được công việc gì để làm, cũng chẳng còn ai buôn bán để bán mua. Ngày mùng một Tết, vét trong lon guigoz còn muỗng mỡ, tui xé sách làm củi, tui chiên cơm. Năm đó còn pháo nổ ì xèo, trưa mùng một tui ngồi ăn chén cơm chiên mà nước mắt ướt cả mặt. Tui ngóng về Đà Nẵng, nơi đó Ba Mạ các em tui đang hân hoan đón Tết, dù đất nước đã bắt đầu nghèo, nhưng gia đình tui chắc chắn vẫn có những món ăn không thiếu của ngày Tết. Còn ở phương xa này, tui đón Tết bằng món cơm chiên độc nhất, chỉ có chén cơm chiên với mỡ và nước mắm. Tui tủi thân, thương thân mình nhưng vì hoàn cảnh cũng không dám về nhà vui Tết với gia đình.

Mấy mươi năm qua rồi, bao nhiêu dâu bể, bao nhiêu đổi thay. Ba Mạ mất, anh trai mất rồi vợ mất, anh em xao xác bốn phương trời. Bữa nay, lại một cái Tết nữa đang đến, bỗng dưng nhớ chén cơm chiên của cái Tết đã xa lăng lắc. Nhớ đến tình cảm của những người bạn một thời.
26.1.2019
DODUYNGOC

Vợ thầy Hương

vietmessenger
Lê Xuyên
Miền Nam xuất bản 1965

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 3

Từ ngày con Lụa mất tích, ông Sáu Giò rầu rĩ không nguôi. Ông la rầy con Hạnh một trận nên thân vì con này đã а tòng với con Lụa dấu nhẹm chuyện bị kẻ lạ mặt chận đường, cho nên mới xảy ra nông nổi ấy!

Ông đi cớ cò cớ bót rồi đi hỏi thăm hỏi lung tung trong vùng nhưng rốt cuộc rồi chẳng đưa đến một kết quả nào hết,

Phần mắc kẹt sanh kế hằng ngày, phần sợ bỏ con Hạnh ở nhà rủi ro có chuyện bất trắc xảy ra nữa chăng, nên ông không dám rời đi kiếm con Lụa ở những nơi xa khác.

Thấy ông Sáu âu sầu con Hạnh cũng buồn xo. Hơn nữa, nó cũng thương nhớ và lo sợ cho con Lụa vì tuy mới sống gần nhau có một thời gian ngắn, hai đứa trẻ mồ côi ấy quấn quít nhau vô cùng. Con Hạnh càng lo sốt ruột hơn nữa vì mấy hôm nay ông Sáu đau nằm liệt giường liệt chiếu sau khi đi làm về bị trúng mưa. Ban đầu, ông Sáu tưởng cũng chỉ ấm đầu sổ mũi qua loa thôi nên sai con Hạnh cạo gió cùng chạy mua mấy chai “Thối nhiệt tán” về cho ông uống.

Nhưng qua mấy ngày sau ông bỏ cơm bỏ cháo luôn rồi ngồi dậy hết nổi nữa…

Một bữa nọ, nhìn thấy vẻ mặt quá hốc hác và đôi  mắt sâu trủng, trỏm lơ của ông Sáu, con Hạnh tự nhiên ngồi khóc thút thít.

Ông Sán vói tay níu nó lại gần và phều phào hỏi:

–  Cái gì mà mày khóc hả Hạnh?

Con Hạnh sịt mũi đáp:

– Con sợ ba Sáu.. chết!

Ông Sáu nhích mép cười:

– Bậy nà…

Con Hạnh mếu máo nói tiếp:

– Ba Sáu chết… chị Lụa hổng có ở đây rồi con ở với ai… Để con đi rước ông thầy đến coi mạch hốt thuốc nghen Ba Sáu?

Ông Sáu gắng gượng làm tỉnh:

– Tao nói tao… hổng, chết nổi mà! Tao nằm nghỉ ngơi đôi ba bữa nữa…

Vừa nói tới đó, ông ta vội ôm ngực nổi cơn ho sặc sụa rồi nằm sãi tay thở dốc. Con Hạnh quýnh Ịèn kêu réo om sòm.

Khi ông Sáu đã tỉnh táo trơ lại, nó nằng nặc đòi đi rước thầy về chẩn mạch, ông Sáu khẹ lắc đầu:

– Thôi đi mầy… Mấy bữa nay tao bịnh ở nhà nên có kiếm ra được đồng nào đâu… Còn chút đỉnh tiền để đành thì phải phòng xa…

Con Hạnh lo lắng hỏi:

– Nhưng ba Sáu… cứ để như vậy hoài sao?

Ông Sáu lặng thinh một hồi rồi đáp:

– Thôi tao nghĩ ra cách rồi: bây giờ chỉ có nước mầy chạy đi kêu một chiếc xe lôi chở tao vô nằm nhà thương thí,

– Nhà thương thí bộ… hổng tốn tiền sao Ba Sáu?

– Ừ! Ở trỏng người ta cho ăn uống đủ hết và ngày nào ngày nấy cũng có mấy thầy ‘‘phạm nhe’’(infirmière= y tá)  đi chích thuốc hết, mà nếu đau nặng thì có quan thầy thuốc đốc tưa (docteur =bác sĩ) đặt ống nghe bịnh đàng hoàng.

 Nói đến đây, ông ta nhìn con Hạnh gượng cười:

-…Mà rủi ro tao có… theo ông bà bất tử thì nhà nước họ cũng cho một cái hòm và đem đi chôn cất tươm tất…

Con Hạnh thở dài:

– Cha, phải chỉ con có tiền để dành, con chở ba Sáu đi hốt thuốc ở mấy tiệm thuốc bắc ngoài chợ hay đem lại ông đốc tưa cho ổng chích thuốc, chớ bây giờ đem ba Sáu gửi vô nhà thương thì con lo quá…

– Coi, lo cái khỉ mốc gì?

– Sao con nghe người ta hói hễ chở vô nhà thương thí rồi người ta sẽ đem quăng mình xuống nhà xác, rồi… lột quần áo ra hết để cho… chuột cạp lòi thịt lòi xương, hết…

Ông Sáu ráng vói tay cú nhẹ vào đầu con Hạnh:

– Bậy nà! Mầy nghe thiên hạ họ nói bá vơ chớ biết khỉ gì! (Nhưng rồi ông ta lại chép miệng tiếp lời).. Người ta nói như vậy chớ hổng có đâu… Với lại trong lúc mình… kẹt đồng tiền, tao nghĩ mầy chở tao vô nằm nhà thương thí thì cũng đỡ ngặt lắm, chớ chẳng lẽ mầy để tao.. nằm chờ chết ở đây sao!

Con Hạnh ngồi lên mép chỏng, cúi đầu làm thinh.

Ông Sáu níu lấy bàn tay bé nhỏ của nó:

– Thiệt cái số của tao đã lận đận mà cái số của mầy cũng long đong! Ai biểu khi không mầy bỏ trường trốn đi làm gì… Mầy ở đó đi học luôn có phải.. khỏe hơn không? Sướng hổng muốn sướng…

Chợt liếc thấy con Hạnh cau mày xụ mặt ông ta vội nói lảng ra chuyện đi nhà thương:

– Nè Hạnh, bây giờ cũng còn trong giờ làm việc, mầy chạy ra kêu một chiếc xe lôi lợi đây đi chở tao vô trỏng, mình đi sớm được buổi nào đỡ buổi nấy…

Con Hạnh đành phải nghe theo.

Thầy Năm  ‘‘phạm nhe’’, khám bịnh và lấy  ‘‘ống thủy’’ cho ông Sáu xong rồi biên chép lia lịa trên một  ‘‘phích’’ cầm trên tay.

ông Sáu ấp úng lên tiếng hỏi:

– Dạ thưa thầy… tui có sao hông?

Thầy Năm hơi cau mày!

– Sao bác không vô nhà thương nằm cho sớm một chút, bác để trễ quá tôi sợ bịnh lậm thêm, phần bác cũng trọng tuổi…

– Dạ… tui tưởng đau sơ sơ nằm nghĩ vài bữa rồi bò dậy đi làm chớ có dè đâu nó… tui có sao hông để tui… còn tính việc nhà…

Thầy Năm vỗ nhẹ vào vai ông ta và bắt nằm yên xuống giường sắt, rồi nhỏ nhẹ đáp:

– Tôi nói là nói vậy chớ bịnh của bác mà ăn thua gì nếu so với mấy người khác… Ối thôi họ ở nhà chạy thầy chạy bà đã đời rồi mới chở vô đây… Người mình hay có cái tật lớn đó.

Chợt để ý đến con Hạnh đứng xớ rớ bên cạnh giường, thầy Năm vói tay xoa đầu nó và quay qua vui vẻ hỏi ông Sáu:

– Cháu của bác đó hả? Cháu nội hay ngoại đó?

– Dạ hổng phải cháu… Nó là… con nuôi của tui đó thầy.

Thầy Năm trố mắt:

– Vậy hả? Hèn chi tôi để ý thấy con nhỏ ngộ quá mặt mày sáng rỡ…

Vô tình khen ‘‘hèn chi con nhỏ ngộ quá’’… sau khi được ông Sáu cho biết con Hạnh là con nuôi, thầy Nam phạm nhe biết mình lỡ lời. Thầy bèn vội hỏi trớ đi:

– À bác đau nằm đây rồi con nhỏ nầy ở với ai? Bác gái đâu sao tôi không thấy vô hả?

– Dạ, từ trước tới giờ tui ở một mình chớ không có vợ con gì ráo…

Thầy Năm vui vẻ nói vô:

– Tôi cũng giống bác ở chỗ đó đa! (nhưng rồi thầy nhíu mày nhìn sang con Hạnh)… Nếu vậy con nhỏ này ở nhà một mình à?

Ông Sáu ấp úng đáp:

– Dà phải. Bởi vậy tui tính nói với thầy nhờ thầy cho phép nó ở luôn trong này với tui…

Thầy Năm lắc đầu liền

– Đâu được.  Hổng phải tôi muốn làm khó dể gì đối với bà con cô bác, nhưng luật ở đây cấm nhặt người nhà của bịnh nhơn nằm phòng thí ở lại trong nhà thương. Hằng đêm, quan thầy Tây ổng đi rỏn hoài, hễ ổng bắt gặp ai mà như vậy ổng dám đuổi không cho nằm nữa, còn phần tụi tôi thì bị ổng… xạc cà rây hết chỗ chê !

Ông Sáu thở dài day qua phía con Hạnh:

– Bây giờ mầy tính sao đây Hạnh? Thôi sẵn dịp nầy tao gởi mầy đi qua Vĩnh Long kiếm thằng anh của mầy…

Chưa chi con Hạnh đã cự nự lại liền:

– Ba Sáu đau như vầy, con hổng đi đâu hết á!… Mà biết chắc có anh Long ở bển hông, rủi con lạc mất như chị Lụa nữa thì sao!

Thầy Năm nghe lỏm chỏm câu chuyện, tò mò hỏi ông Sáu:

– Ủa còn con chị nào của nó nữa mà đi lạc mất đó?

Ông Sáu không rời nhìn con Hạnh, giọng rầu rầu:

– Hổng nói dấu gì thầy, tui có hai đứa con nuôi, con Hạnh nầy là một còn một con nữa tuổi cũng xấp xỉ nhau, con nhỏ này… hổng biết nó đã lạc hay ai bắt dẫn đâu mất cả tuần nay rồi..

Thầy Năm có vẻ chú ý đến câu chuyện:

– Sao bác không đi cớ bót?

– Dạ có chớ sao không. Sau đó tui cũng đi kiếm lung tung nhưng thầy nghĩ coi phần tui kẹt phải đi mần kiếm ăn hằng ngày chớ có rảnh rang gì…Lịch xịch lại đau ốm như vầy nữa…

Thầy Năm chép miệng rồi sốt sắng nói:

–  Thôi được rồi, trưa nay tôi dẫn con nhỏ nầy về nhà tôi ăn cơm và nghỉ trưa, đến buổi làm chiều tôi sẽ đưa nó vô lại cho bác. Nhà tôi ở cũng gần xịch đây nè!

Ông Sáu có vẻ cảm động:

– Thiệt tui phiền thầy như vầy cũng quá lắm rồi…

Thầy Năm gạt ngang:

– Ậy, tánh tôi thiệt tình. Tôi thấy tình cảhh của bác và con nhỏ nầy đây tôi thương lắm. Tôi…

Và không đợi cho ông Sáu nói thêm lời nào nữa, thầy Năm vừa rảo bước đi vừa quay lại căn dặn:

– Thôi tôi lên phòng thuốc nghen bác!

Còn em nhỏ kia ở đó chơi lát nữa tan sở qua dẫn đi nghen!

Con Hạnh vui vẻ gật đầu và ‘‘dà’’ một tiếng giọng vừa lễ độ vừa êm dịu khiến cho ông Sáu cũng cảm thấy hài lòng.

Đợi cho thầy phạm nhe đi khuất, con Hạnh tiến sát cạnh giường ông Sáu:

– Như vậy êm rồi đó nghen ba Sáu! Vậy mà còn biểu con đi đâu nữa hổng biết!

Ông Sáu quơ nắm lấy bàn tay nhỏ bé mát rượi của nó:

– Vậy chớ mầy hổng muốn gặp mặt anh của mầy sao?

Con Hạnh xụ mặt xuống:

– Dạ muốn chớ sao không, nhưng nếu ba Sáu còn mạnh kia kìa… và chị Lụa còn ở nhà hay về rồi cà…

Ông Sáu chụp nói chận ngang:

– Nếu tao còn sởn sơ, nếu con Lụa còn ở nhà thì khỏi phải nói. Hôm trước tao gặp thầy giáo cũ của thằng Long thẩy cho biết nó có gởi thơ qua thăm thẩy, tao tính để đưa mầy đi Vĩnh Long gặp thằng anh của mầy, vì thế nào nó cũng biết ít nhiều về chỗ ở của thím Hương và… thầy Giáo Tư.

Nói đến đây, ông Sáu thở dài :

-… Lụi đụi kế xảy ra vụ con Lụa đi mất biệt, rồi tao đau ốm như vầy.

Con Hạnh lại than thở:

– Hổng biết chị Lụa chỉ đi đâu mất tiêu… hay là chị bị thằng cha đó bắt bán cho chà và để đem cho xáng ăn hả ba Sáu?

Ông Sáu nhăn mặt:

– Bậy nà. Vì nó chưa dìa nên tao mới lo cho mầy, rủi ro tao có bề gì… còn một mình bơ vơ thì sao? Mầy có qua bên thằng Long tao mới yên tâm được. Tao ở đây thì yên phận rồi vì đã có… nhà nước bao cho hết và thầy phạm nhe hồi nãy coi bộ cũng tốt lắm.

Thấy con Hạnh có vẻ ủ ê, ông Sáu cũng xốn xang trong lòng. Tuy thế, ông ta ráng làm tỉnh nói thêm:

– Để chiều nay tao đưa tiền, mơi mầy đón xe đi qua bển sớm đi. Sau này, nếu trời còn để tao sống, mầy có dịp nào trở lại đây tới thăm tao cũng được.

Vừa lúc đó thầy Năm quay trở lại, chích cho ông Sáu một mũi thuốc, căn dặn ông ta một vài điều rồi nắm tay con Hạnh:

– Thôi tới giờ đóng cửa rồi. Cháu theo qua về nhà ăn cơm.

Con Hạnh nhìn ông Sáu thắc mắc:

– Còn ba Sáu… làm sao khuấy sữa hay nấu cháo cho ổng ăn?

Thầy Năm sốt sắn đáp :

– Cha con nhỏ này nó lo quá! Ở nhà thương nầy có đủ hết, với lại qua có dặn riêng mấy anh lao công phải chăm nom kỹ lưỡng mọi việc cho bác…bác Sáu.

Nhận thấy con Hạnh còn bịn rịn, thầy lôi nó đi:

– Chiều qua dẫn cháu vô nữa mà! (và quay sang bác Sáu) Thôi bác ở lợi nghĩ cho mau mạnh nghen !

Ông Sáu nhỏm đầu lên :

– Dạ cám ơn thầy, thiệt tui làm phiền thầy nhiều quá…

Thầy Năm gạt ngang:

– Ối chút đỉnh mà bác!

Con Hạnh vừa ngó ngoái lại ông Sáu, nước mắt rưng rưng…

Buổi chiều con Hạnh theo thầy Năm trở vô thăm ông Sáu. Ông ta muốn con Hạnh đi qua Vĩnh Long vào chuyến xe chiều nhưng thầy Năm nghe lỏm được liền ngõ ý cản lại.

Theo thầy, con Hạnh đi chuyến xe chiều ấy có nhiều điều bất tiện: qua tới Vĩnh Long trời tối khó kiếm chỗ thằng Long ở trọ, hay chỗ trường nó học, và rủi kiếm chưa ra, con nhỏ phải chịu cảnh bơ vơ một thân một mình không nơi nương tựa trong suốt một đêm ấy thì tội nghiệp cho con nhỏ lắm!

Thầy Năm nói thêm : phải chi gặp ngày chúa nhựt thầy sẵn lòng đưa con Hạnh qua tới bển hỏi thăm đến chốn cho vững bụng hơn. Nhưng ông Sáu có ý không muốn nhờ nhỏi thầy quá nhiều, đồng thời ông ta cũng mong sao con Hạnh gặp được anh nó sớm ngày nào tốt ngày nấy,..

Nếu ông ta bức rức về sự biệt tích của con Lụa bao nhiêu thì ông ta cũng lo âu cho số phận của con Hạnh bấy nhiêu.

Sợ không qua nổi cơn bịnh vì sức già yếu, ông Sáu mới hối thúc con Hạnh qua Vĩnh Long kiếm anh nó, tuy biết trước rằng một khi con nhỏ đi rồi ông ta sẽ trơ trọi biết bao nhiêu.!

… Thấy mãn giờ cho thăm bịnh, ông Sáu móc túi mở gói giấy dầu nhỏ ra đếm bốn tờ giấy năm đồng trao cho con Hạnh:

– Đây nè, mày cầm lấy số tiền nầy mơi đi xe và mua bánh trái gì đó ăn lót dạ. Nhớ giữ cho kỹ đó nghen… mầy bỏ vô túi rồi lấy kim ghim miệng lại, chớ hông thôi nó rớt bất tử hay bị móc túi dọc đường dọc xá thì nguy đa!

Con Hạnh nhón chân ghé đầu nhìn kỹ vào phía trong gói giấy dầu trên tay ông Sáu. Nó lấy tay vạch moi ra để xem trong ấy còn lại bao nhiêu tiền.

Ông Sáu cất vội gói giấy xuống dưới gối, rồi làm bộ cự nự:

– Mầy làm cái gì vậy? Nè, cầm tiền cất đi chớ mầy bắt tao… bưng dưng như vầy hoài sao hả?

Con Hạnh ấp úng đáp:

– Ba Sáu còn năm đồng làm sao đủ xài…

Ông Sáu chắc lưỡi:

– Thây kệ tao mà! Mày lo phần mầy cho đủ đi đến nơi đến chốn là tao mừng rồi… Còn tao ở đây có thầy phạm nhe, tao coi bộ thẩy biết thương người lắm, nếu sau nầy tao có thiếu hụt năm ba đồng tao sẽ cạy gỡ thẩy cũng chẳng sao. Cầm tiền cất vô túi đi mầy, hông thôi tao nổi nóng… chết bất tử đa!

Con Hạnh run run đỡ lấy bốn tờ giấy rồi cầm yên trên tay, một ít lâu sau nó mới cẩn thận gấp lại làm tư nhét vào túi.

Ông Sáu ngùi ngùi căn dặn nó thêm

– Mầy đi thì cũng ráng coi chừng xe cộ, nếu hổng biết cái gì thì lựa người nào tử tế… à, mầy lựa mấy người nào trọng tuổi hay ông già bà cả gì đó hỏi thăm họ. Cần nhứt là đi cho đến nơi đến chốn chớ đừng nghe aị xúi biểu mời mọc gì hết… Thôi, mầy ráng chịu khó chuyến nầy để gặp mặt anh mầy, dù sao có anh có em vẫn vững bụng hơn…

Ngừng lại giây để thở, ông Sáu chép miệng nói tiếp:

-… Và biết đâu chừng mầy sẽ dìa sum hiệp với thím Hương.

Nghe nhắc đến thím Hương con Hạnh xụ mặt xuống, nó không quên má nó đã bỏ bê hai anh em, bán sạch hết đất vườn để theo thầy Giáo Tư. Cái điệu đó, làm sao nó về ở chung với hai người lớn ấy cho êm ấm vui vẻ được!

Nó muốn nói hết những điều đó cho ông Sáu nghe nhưng rồi lại nín thinh.

Liếc thấy vẻ mặt của con Hạnh không có nét gì xao xuyến khì nghe nhắc đến chuyện về ở chung với thím Hương, ông Sáu cũng thấu hiểu phần nào tâm trạng của nó. Ông ta thở dài rồi nói bâng quơ:

– Thiệt kỳ… tao nuôi nhằm hai đứa bây, tánh nết đứa nào không giống đứa nào ráo, mà đứa nào đứa nấy tao coi bộ cũng… hổng vừa hết!

Thôi thầy Năm đã tới kia kìa, để tao nhờ thầy ‘‘chứa’’ mầy trong đêm nay để mai mầy đi sớm.

… Vừa tới nơi, thầy Năm đã bô bô lên tiếng:

– Cha, hai cha con dặn dò cái gì dữ vậy? Bác Sáu, bác thấy trong mình thế nào, có khoe khỏe hơn chút xíu nào hông?

Ông Sáu ráng ngồi nhổm dậy

– Dạ cám ơn thầy Năm, nhờ thầy chích cho một mũi thuốc hồi sáng nên bây giờ thấy đỡ lắm. Và bởi vậy nên tui mói đủ sức nói ba điều bốn chuyện với con Hạnh tự nãy giờ đây…

Thầy Năm day qua phía con Hạnh:

– Còn con nhỏ nầy, mai đi sớm chớ?

Ông Sáu vội đỡ lời:

– Dạ tui cũng vừa bàn với con Hạnh đây… Dạ tui tính… cậy thầy một chuyện này nữa nhưng hổng biết thầy có rảnh rang…

Thầy Năm chắc lưỡi:

– Có cái gì thì bác nói đại đi hổng được sao! Bác đừng e ngại gì hết; đối với ai cũng vậy, hễ tôi giúp được điều chi là tôi làm liền chớ không so đo gì hết bác à… Bác quen tôi lâu rồi bác sẽ rõ bụng tôi.

Nghe thầy Năm nói chí tình như vậy, ông Sáu mới hết ngại ngùng:

– Hổng dám nào nhờ thầy, sáng mơi nầy thầy… làm ơn đưa con nhỏ nầy qua bến bắc Cái-Vồn dùm…

Thầy Năm sốt sắng chận lời

– Vậy mà tôi tưởng cái gì ! Được rồi, dầu cho bác chẳng nhờ nhỏi tới tôi cũng tính mai này dắt nó qua bển mua giấy xe cho nó đàng hoàng, và gởi gấm nó luôn cho mấy anh lơ xe… như vậy mình mới vững bụng được phải hông bác Sáu?

– Dạ phải. Thiệt thầy tính toán kỹ lưỡng quá, trên đời tui chưa gặp ai vui vẻ bặt thiệp như thầy (ngừng lại một giây, ông Sáu rụt rè nói tiếp). Vậy mà sao thầy… vẫn ở trơ trọi một thân một mình, chưa chịu lập gia đình…

Thầy Năm có dáng trầm ngâm rồi nhún vai đáp

– Chẳng nói dấu gì bác, tôi cũng đã lập gia đình một lần rồi nhưng rốt cuộc rồi… không ăn thua gì hết, đường ai người nấy đi. Tôi bị một lần đó tới bây giờ còn thấy… ngán tới cần cổ. Rất may là hồi đó tôi chưa có con cái gì, chớ nếu lùm đùm lề đề ba bốn đứa thì khổ cho bầy trẻ lắm… Bởi vậy cho nên tôi thấy con nhỏ nầy tôi thương lắm (thầy chỉ con Hạnh)…

Ông Sáu ráng lựa lời để đẩy đưa câu chuyện:

– Thầy nói vậy chớ ở đời cũng có năm bảy hạng đàn bà, có kẻ xấu người tốt chớ bộ ai cũng xô bồ xô bộn như nhau hết sao! Người tử tế như thầy thì thiếu gì nhà đàng hoàng người ta muốn đem con gái đến dưng, chắc thầy… còn nhắm nhía thiệt hơn chớ gì…

Thầy Năm mỉm cười

– Bác nói làm như tôi còn trai tơ nheo nhẻo mới ra lò! Và cái thứ đàn ông… u trệ như tôi, đàn bà họ thấy dạng dạng cách năm sáu cột dây thép là họ chạy tét rồi!

Nói đến đây, thầy cúi mặt xuống xem giờ ở đồng hồ đeo tay rồi nhắc ông Sáu luôn:

– Thôi cũng gần mãn giờ làm chiều rồi. Bác có dặn em nhỏ cái gì nữa thì nói luôn đi, để lát nữa tôi trở lại dẫn nó về bên nhà cho nó nghỉ rồi sáng mai sớm tôi lãnh phần đưa nó qua bến bắc kiếm xe đi đàng hoàng, việc này có tôi thì bác kể như vững bụng đi!

Ông Sáu xuýt xoa

– Dạ cám ơn thầy Năm nhiều quá. Như vậy dầu cho tui có nhắm mắt tui cũng được yên tâm về phần con nhỏ này.

Thầy Năm trợn mắt làm bộ cự nự:

– Nói bậy hoài! Làm cái gì mà chưa chi bác trối trăn nghe ghê quá vậy! Bộ bác không tin tôi… săn sóc chạy cho bác được mạnh như thường sao!

Rồi không đợi cho ông Sáu lên tiếng phân trần, thầy Năm tất tả bỏ đi đến thăm mấy con bịnh ở phía cuối phòng.

… Ông Sáu quay qua nắm lấy tay con Hạnh:

– Nè Hạnh, như vậy mầy khỏi phải lo gì hết về chuyện đi đường đó nghen. Thầy Năm phạm nhe thẩy lãnh phần đưa mầy đi tới bến xe… Mầy qua bển, gặp thằng Long rồi thì nhớ viết thơ qua cho tao hay…

Con Hạnh rưng rưng nước mắt:

– Con ở bên này, rủi Ba Sáu có chuyện gì thì làm sao con biết được.

Ông Sáu cau mày:

– Tao mà có… chuyện gì nữa ! Mầy cứ lo phận mầy đi, có cái gì thì tao sẽ liệu sau chớ bây giờ tao cũng chẳng làm sao nói trước được.

Thầy Năm đã trở lại và đứng yên nhìn ông Sáu và con Hạnh. Thấy vậy ông Sáu bảo con nhỏ:

– Chắc tới giờ rồi, thôi mày ráng đi cho mạnh giỏi. Sau nầy nếu Trời Phật cho tao còn sống năm ba năm nữa thì thế nào mình cũng có dịp gặp nhau…

Thầy Năm bước tới níu tay con Hạnh:

– Cháu có cần nói gì với bác Sáu đây thì nói luôn đi, chớ hông thôi sáng ngày mai mình đi luôn chớ hổng kịp trở vô đây nữa đâu.

Con Hạnh nhìn trân ông Sáu mắt chớp lia, môi mấp máy nhưng không sao thốt được nên lời.

Thầy Năm thấy vậy cảm động lây và thầy vội hối con Hạnh:

– Ủa sao nín thinh vậy cháu? Bộ hai cha con hết chuyện ‘‘tâm sự’’ với nhau rồi hả?… Vậy cháu… từ biệt bác Sáu đi rồi qua với cháu đi về chớ đã tới giờ nhà thương đóng cửa đó cháu.

Con Hạnh mắt không rời ông Sáu, giọng nghẹn ngào

– Ba Sáu còn căn dặn con gì nữa hông..

Ông Sáu chớp mắt mấy cái, gượng nói đùa:

– Dặn gì nữa, nội bấy nhiêu đó cũng đủ rồi.

– Thôi con đi với thầy Năm, Ba Sáu ở lại dưỡng bịnh cho mau mạnh…

– Ờ, thôi mầy đi… mạnh giỏi nghen!

Thầy Năm thấy cần sớm chấm dứt cảnh lưu luyến ấy, thầy lôi con Hạnh đi và day qua nói với ông Sáu:

– Bác Sáu nằm nghỉ nghen. Sáng mai tôi đứa con Hạnh đi rồi về sẽ vô thăm bác liền. Bác cứ yên tâm lo dưỡng bịnh chớ đừng nghĩ ngợi bao đồng gì hết cho thêm lao tâm tốn trí. Việc con Hạnh thì đã có tôi đây rồi. Ông Sáu chỉ lí nhí mấy tiếng cám ơn thầy Năm rồi ngồi dựa lưng vào thành giường sắt nhìn sững theo con Hạnh.

Con nầy cũng vừa bước vừa ngoái đầu trông lại phía ông Sáu.

Nó muốn khóc òa lên nhưng cố kèm giữ lại vì có thầy Năm đi bên cạnh.

… Rồi hình dáng nhỏ bé thân yêu của con Hạnh cũng khuất mất sau khuông cửa ở cuối phòng bịnh. Như không cần phải giữ gìn gì nữa, ông Sáu đưa tay quẹt đôi dòng nước mắt bắt đầu tuôn lăn trên đôi gò má nhô xương… 

Thầy Năm tất tả chạy đến phòng bịnh của ông Sáu và hớn hở đưa ra một phong thơ đã xé ra rồi:

– Bác Sáu ơi có tin mừng! Con nhỏ nó đã qua tới bển gặp thằng anh của nó rồi và nó viết thơ qua cho tôi với bác hay đây nè!

Ông Sáu bò rột dậy run run đưa tay đỡ lấy bao thơ, móc tờ giấy ở trong ra… nhưng rồi ông ta lại trao trả cho thầy Năm:

– Đâu thầy làm ơn đọc cho tui nghe coi nó nói, cái gì… Mắt mũi tui lem nhem như vầy nên ngó vô thấy như đám rừng…

Thầy Năm cầm lấy lá thơ, vui vẻ đọc một hơi cho ông Sáu nghe.

Đại khái, con Hạnh cho biết nó đã tìm ra anh nó và hỏi thăm coi ‘‘ba Sáu đã được mạnh chưa’’ cùng ‘‘gởi lời cám ơn thầy Năm ăn ở thiệt tốt’’.

Nghe xong, ông Sáu cảm động hỏi lại thầy Năm một câu quá thừa:

– Vậy ra con nhỏ nó qua tới bển bình yên rồi hả thầy? Cha làm mấy bữa nay tui lo quá cỡ…

Thầy Năm cười đáp, giọng pha đôi chút khoe khoan

– Đó tôi nói không sai bác giao nó cho tôi là êm hết. Con nhỏ coi vậy mà khôn ngoan và biết điều quá, nó qua tới bển là lo gởi thơ qua liền!

– Dạ bề gì nó cũng là con nhà khá giả được dạy dỗ và cho đi ăn học đàng hoàng… Bởi vậy, trước đây tuy tui chứa nó, mến nó nhưng tui nghĩ hoài là mình không thể nào đủ sức nuôi cho nó nên vóc nên người được!

Sợ ông Sáu kê lể lôi thôi nữa, thầy Năm vội trao trả lại bức thơ cho ông ta:

– Thôi bác cất đi rồi trả lời cho nó liền chớ hông thôi nó mong tin tức của bác tội nghiệp ! Để tôi đi lấy giấy viết sẵn cho bác…

Ông Sáu lắc đầu cản lại:

– Khoan đã thầy Năm… Tui tính không nên trả lời cho nó làm chi…

Thầy Năm trợn mắt:

– Coi sao lạ vậy? Nó đợi tin bác mòn hơi mút con mắt ở bễn á!

Ông Sáu cúi đầu thở dài

– Tui cũng biết như vậy chớ chẳng phải không, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tui thấy mình nín thinh luôn hổng chừng còn có ích lợi cho nó hơn. Như vậy con Hạnh nó tưởng đâu tui chết rồi và nó hết ham muốn qua bên nầy nữa để rồi bắt buộc phải dìa ở chung với má nó. Dầu sao, thím Hương cũng đủ sức nuôi cho nó đi ăn học hơn là tui đó thầy Năm à!

Thầy Năm có vẻ nghĩ ngợi:

– Bác nghĩ như vậy cũng có chỗ phải… nhưng cái điệu này, tôi cũng… nín thinh luôn như bác, chớ chẳng lẽ tôi viết thơ qua trả lời cho con Hạnh mà không đá động gì đến bác một hàng một chữ nào hết thì… kỳ lắm. Cha, chắc con nhỏ ở bển nó trách tôi hung lắm đa!

Ông Sáu chắc lưỡi:

– Thiệt cái gì tui cũng làm phiền thầy Năm hết…

Thầy Năm nói lấn át đi:

– Ối thôi dẹp cái chuyện đó qua một bên, phải chi con Hạnh nó không đi đâu hết, sau khi bác mạnh rồi tôi dám xin bác cho nó ở luôn với tôi lắm. Tôi thấy con nhỏ dể thương quá…

Đến đây, thầy có vẻ trầm ngâm rồi rầu rầu nói tiếp

– Chắc bác Sáu biết rồi là tôi cũng đã có một đời vợ rồi, nhưng sau đó con vợ tôi… không biết nó chê bai tôi điều gì hay là say mê một người đàn ông nào khác mà nó cuốn gói dông mất không nói một lời một tiếng…

Ông Sáu tò mò hỏi vô:

– Sao thầy hổng cự nự bên đàng gái coi sao họ để kỳ vậy?

Thầy Năm nhún vai:

– Thôi bác ơi, tôi nghĩ đến cái nước đó dầu mình có làm tầy quầy ra thì thêm buồn, thêm xấu chớ ích lợi gì… Với lại bên nhà cha mẹ vợ tôi họ cũng…chưng hửng như tôi chớ bộ họ а tòng xúi biểu con gái làm bậy hay sao mà mình trách người ta được!

– Thiệt thầy dễ đãi quá!

Thầy Năm hăng hái nói tiếp:

– Bởi vậy bây giờ tôi như… chán ngán sự đời! Thôi con đàn bà nó dang mình ra thì mình sống cu ky cho… khỏe vậy! có điều bây giờ tôi thấy đứa nào mồ côi không cha không mẹ, hay là bị gia đinh hất hủi tôi thương lắm. Bác Sáu nghĩ coi: nếu trước đây tôi ăn ở với con vợ tôi có một vài đứa con… rủi tôi chết đi bất tử rồi lại gặp thứ đàn bà trời ơi đất hỡi đó, thì thử hỏi mấy đứa nhỏ ra sao?

– Thầy nói quá lố như vậy chớ đâu có đến nỗi tệ như vậy, dầu hèn cũng thể…

Thầy Năm không để ý đến lời ông Sáu nên cứ nói lướt tới

– Nếu ông trời ổng khiến cho tôi lâm vào cảnh đó thì mấy đứa nhỏ kia có phải sống cù bơ cù bất hay không. Và tụi nó cũng sẽ như con Hạnh và con gì… cũng con nuôi của bác mà đi mất đó?

Ông Sáu thở ra, đáp nho nhỏ

– Con Lụa.

– Ờ con Lụa. Có phải tụi nó sẽ bị nguy nan khốn đốn hay không?

Rồi sau này tụi nó lớn lên thì chỉ có nước đi móc túi, đi ăn cắp ăn trộm, đi làm điếm… cả ngàn đứa mới có một vài đứa được… ông trời ngó ngoái lại nên gặp được người tốt bụng cứu vớt nuôi nấng như bác đã đùm bọc con Hạnh và con Lụa, chớ bộ đứa nào đứa nấy cũng may mắn như vậy hết sao? Đọ, tôi thường nghĩ điều ấy nên tôi thấy con Hạnh là tôi… để ý liền.

Ông Sáu não lòng thở dài

– Thầy nhắc tới làm cho tui thêm lo thêm… rầu. Con Hạnh đi rồi mơi chiều tui ra khỏi nhà thương nay dìa… quanh đi quẩn lại có một mình! Thiệt có hai đứa nó thì lo, mà hổng có hai đứa nó thì… xốn xang trong bụng quá, nhứt là một khi con Hạnh đã yên phận còn con Lụa hổng biết nó ra sao…

Thầy Năm sốt sắng nói:

– Chuyện nầy tôi tính để hôm nào bác mạnh khỏe hẳn hòi, khi sắp ra nhà thương tôi mới bàn với bác, nhưng thôi sẵn dịp nầy tôi nói luôn!..

– Cha, chuyện gì sao tui coi bộ thầy đắn đo quá vậy? Tui đội ơn thầy quá nhiều, vậy có điều gì thầy cứ nói đại hổng sao đâu mà!

– Chắc bác dư rõ tánh của tôi hay… thiệt tình lắm. Tự hổm nay được biết hoàn cảnh của bác như tôi vậy lấy làm… ái ngại, bởi vậy một khi bác đi về rồi bác có cần… chút đỉnh tiền nong bác cứ hỏi tôi. Đây là chỗ anh em mình giúp đỡ nhau…

Ông Sáu lắc đầu lia lịa:

– Ý thôi thầy Năm…

– Bác để tôi nói hết cái đã: mặt khác, nếu sau nầy bác có tính buôn bán làm ăn cái gì mà cần chút đỉnh vốn thì bác cứ hỏi tôi. Nhiều thì hổng có chớ đôi ba ngàn trở lại thì lúc nào tôi cũng sẵn sàng.

Ông Sáu lại lắc đầu:

– Thầy giúp tui quá đổi rồi tui đâu dám thọ lãnh thêm nữa…

Thầy Năm gạt ngang

– Chưa hết đâu, tôi còn tính cách dò la tìm kiếm con Lụa cho bác nữa.

Ông Sáu ngồi thẳng người lên, hấp tấp nói

– Dạ cái đó thì khỏi nói tui cũng chịu liền. Mà thầy mắc đi làm việc nhà nước như vầy thì làm sao có rảnh…

Thầy Năm vui vẻ đáp

– Tôi có cách nầy đem bàn với bác coi được hông: tôi tính gởi thơ lên nhà báo ‘‘Điền-Tín’’ nhờ họ đăng dùm tin kiếm con nhỏ để coi bà con cô bác ở khắp nơi có ai thấy nó không…

– Dạ đăng nhưt trình như vậy… hổng biết có tốn tiền hông thầy?

– Tốn chút đỉnh mà ăn thua gì! Tôi còn tính treo một số tiền thưởng, tiền sở phí xe cộ thì đúng hơn cho người nào đưa con nhỏ về hoặc chỉ điểm mình tìm ra con nhỏ…

-Thầy nhắm đặt tiền thưởng đó bao nhiêu vậy?

– Đáng lẽ thì phải kha khá người ta mới chú ý nhưng mình chỉ đứa ra một số ‘‘phải quấy ’’ độ tám chín trăm một ngàn đồng…

Ông Sáu le lưỡi lắc đầu

– Sao nhiều dữ vậy thầy? Tui tưởng mình phải quấy người ta chừng đôi ba trăm tiền xe pháo là được. Thầy đặt tiền thưởng in ít thì sau này tui mới đủ sức huờn lại…

Đến lượt thầy Năm cự nự ông ta:

– Bác sao kỳ quá! Việc này xin bác để tôi lo hết ráo trọi, chớ bộ tôi bắt bác phải trả tiền lại cho tôi hay sao mà bác phải thắc mắc nhiều hay ít…

Ông Sáu có vẻ thiểu não:

– Thầy Năm, thầy đừng cằn nhằn tui tội nghiệp. Tui biết cái bụng thầy muốn lo lắng cho tui, nhưng nếu sau nầy tui hổng có huờn cho thầy đồng xu cắt bạc nào hết đi nữa thì lại càng… xốn xang vì số tiền kia. Khi không thầy phải chịu tốn hao như vậy…

– Sao bác lại nghĩ lạ lùng vậy? Bộ số tiền ấy quá mắc hơn con nhỏ hay sao?

Ông Sáu thở dài chịu thua:

– Thầy hỏi như vậy thiệt tui hết đường trả lời! Nhưng thầy liệu coi mình đăng nhựt trình như vậy rồi có kiếm ra con Lụa hông thầy?

Thầy Năm cườ đáp:  

– Thì… bây giờ chẳng lẽ mình khoanh tay ngồi chịu trận, bởi vậy tôi mới nghĩ ra cách… cầu âu đó. Nói là nói vậy chớ khi có báo đăng rồi thì có cả trăm cả ngàn người ở khắp lục tỉnh đọc biết và chú ý tới, như thế đó có phải hơn là chỉ có vỏn vẹn tôi với bác… ngồi một chỗ dò kiếm con nhỏ hay sao?

– Mà thầy Năm à, mình đăng nhựt trình cách nào cho thiên hạ họ biết mặt mày vóc vạc con Lụa được hả thầy?

Thầy Năm chắc lưỡi vỗ trán:

– Thiếu chút nữa tôi quên hỏi bác điều đó ! Bác còn giữ tấm hình nào của con Lụa không bác?

Ông Sáu thở dài

– Dạ cái vụ đó thì không ngơ rồi! Thầy nghĩ coi nó còn con nít mà lại ở nhà quê nhà vườn, quần áo còn hổng có mà bận cho lành lặn thì làm sao ông già nó dám tính tới chuyện dẫn nó ra chợ chụp hình chụp hiếc để đem dìa lộng kiến treo chơi! Ở trong tui, chỉ có nhà nào dư ăn dư để thì mấy ông già bà cả người ta mới tính tới chuyện chụp hình để sau này có hình cho con cháu nó thờ vậy thôi…

Thầy Năm mỉm cười hỏi thêm:

– Vậy chớ bác có nhớ mặt mày hình dáng của con Lụa có cái gì đặc biệt mà người ngoài họ dễ nhận được, chẳng hạn như nó có mục ruồi, có thẹo, có tật… hay có điểm gì mà mình cho là… không giống ai hết?

Ông Sáu ấp úng đáp:

– Cha thầy hỏi bất tử quá nên tui cũng hổng biết đường đâu trả lời… Thầy để thủng thẳng tui nghĩ lại coi… chớ từ hồi trước, tuy là nuôi nấng nó trong nhà nhưng mình dè đâu có ngày phải ‘‘tả’’ hình dáng nó để đăng nhựt trình như vầy mà để ý để tứ!

Thầy Năm cười xòa:

– Thôi bác ráng nhớ kỹ lại đi rồi cho tôi biết gấp đó nghen. Mình gởi đăng báo sớm được ngày nào tốt ngày nấy và tôi tính cho đăng luôn ba bốn ngày liền để cho bà con cô bác xa gần họ có dịp đọc thấy lời rao của mình.

Ông Sáu ngồi thừ mặt ra như không chú ý đến lời của thầy Năm, bổng ông ta vỗ tay xuống đùi rồi hấp tấp kêu lên:

– Thầy Năm ơi, tui nhớ ra rồi!

– Nhớ sao đó bác?

– Tui nhớ con Lụa có một mục ruồi nhỏ ở gần… ở gần chót môi, chỗ gần dưới càm đây nè (vừa nói ông ta vừa đưa ngón tay chỉ nơi mặt mình).

Thầy Năm gật gù:

– Ờ như vậy cũng là một điềm đặc biệt rồi. Bác ráng nhớ kỹ nữa coi còn cái gì là lạ khác không?

Ông Sáu lắc đầu cười:

– Dạ… chắc hết rồi thầy Năm! Hay là ngoài ra con Lụa còn có đồng tiền nơi gò má, mà khi nào nó cười mình mới thấy, với lại hồi còn ở đây khi thì nó buông tóc xỏa, khi thì nó bới đầu tóc ‘‘trứng cu’’. Tui lại nghe nó nói sẽ mua kẹp, kẹp tóc bắt chước theo con Hạnh…

– Ý cha, cái điệu đó ai biết đường đâu mà nhận !Thôi để tôi đăng lên báo đại khái như vầy: bà con cô bác ai thấy một đứa gái trạc độ mười tuổi tên Lụa, có nốt ruồi gần nơi khóe miệng, má lúm đồng tiền, xin vui lòng cho tin hoặc dẫn đến… v.v… sẽ xin hậu tạ một ngàn đồng. Tôi để chỗ ở của tôi cho họ dễ gởi thơ hoặc tìm tới… bác nghĩ như vậy có được hông?

Ông Sáu gật dầu lia lịa:

– Dạ như vậy được quá cỡ rồi! Thôi trăm sự tôi nhờ thầy hết. May ra nhờ phước đức của thầy, con Lụa dìa đây được tui… đội ơn thầy hổng biết đâu mà kể…

Thầy Năm gạt ngang:

– Bác mà nói cái mửng đó nữa tôi giận lắm nghen ! (rồi thầy nói lảng ra). Theo tôi vài ba bữa nữa bác có thể ra về được rồi, chừng ấy tôi sẽ kiếm sẵn ba mớ thuốc bổ, để bác phục sức lại cho mau.

Ông Sáu cảm động, giọng run run:

– Thiệt chuyến này tui tưởng xui xẻo cùng mình té ra lại hóa ra hên, nếu tui không gặp được thầy thì giờ nầy có lẽ tui ra nằm ngoài kia rồi! Ông ta vừa nói vừa hất hàm chỉ về phía nghĩa địa công ở gần bên cạnh nhà thương…

Chính lời đăng tìm con Lụa trên mặt báo ‘‘Điển Tín’’đã được anh kép Hai trong gánh hát bội đọc thấy và anh ta đã nhận diện được ngay con nhỏ.

Kép Hai liền bàn tính cùng vợ để đưa con Lụa sang Cần Thơ lãnh thưởng, luôn tiện hai vợ chồng anh ta cũng dông luôn để trốn số nợ của bà bầu và kiếm gánh khác nhập vô rồi… tới đâu thì tới!

Bởi vậy khi đoàn hát đi gần tới Vĩnh Long, nơi con Lụa định xuống ghe, hai vợ chồng kép Hai liền theo о bế sát con nhỏ, nhứt là khi họ đã nghe bà Bầu quyết làm khó dễ con nầy chớ chưa chịu thả cho nó đi như lời nó yêu cầu.

Liền ngay hôm sau ngày con Lụa và Ba Còm bị bà Bầu cự nự một trận nên thân, kép Hai bảo vợ đi gọi con Lụa ra chổ vắng nói nhân dịp chiếc ghe ghé lại một xóm nọ để đông gạo và mua thức ăn.

Tự hổm nay thấy vợ chồng kép Hai để ý săn sóc tới mình, khi thì hỏi thăm hỏi nom, khi thì đãi cho ăn một vài chén bánh lọt hay tàu hủ nên con Lụa vui vẻ đi theo liền.

Vợ kép Hai dắt con Lụa đến một chỗ khuất sau đám chuối rồi bức lá chuối lót dưới đất lôi nó ngồi xuống.

Con Lụa lấy làm lạ hỏi liền:

– Cái gì mà thím dẫn tôi vô kẹt như là chơi trốn kiếm vậy?

Vợ kép Hai ngó dáo dác về phía ghe chài lớn đậu nơi mé sông:

– Qua có việc nầy cần nói với em nên phải dắt em ra đây…

– Bộ nói dưới ghe hổng được hay sao?

Vợ kép hai trợn mắt:

– Ý sao được! Qua muốn bàn với em về chuyện… em muốn xuống ghe để đi đó! Nói dưới ghe để cho bà bầu bả ăn thịt hả? Qua lo đây là lo cho em vì qua thấy em còn nhỏ lại một mình nên qua thương, chớ phần qua thì ăn thua gì! Chắc em thấy qua đâu có ngán con mẹ già đó!

Con Lụa gật đầu, nhìn vợ kép Hai với cặp mắt khâm phục:

– Ừa, cái đó tui thấy hoài, thím bảnh lắm đa! Còn cái việc của tui làm sao đó thím? Bộ cái gì khó nữa hả?

Vợ kép Hai làm mặt nghiêm

– Mà qua bàn với em chuyện nầy, rồi em hổng được học lại cho người thứ hai nào biết nữa nghen!

Con Lụa hăng hái nhận liền:

– Tui học với ai cho Bà bắn tui lọt tròng té nổ đi!… Mà giả tỷ như tui… nói lại cho chú Ba Còm biết có được hông thím? Chú cũng thương tui lắm…

– Trời ơi, nếu vậy thì qua còn căn dặn em làm chi! Thằng Ba Còm có thương em là thương em qua cái lỗ miệng của nó, em cho nó hay rủi nó thèo lẻo đi học lại với con mẹ bầu thì làm sao? Mà em nói cho nó biết thì có ích lợi gì chớ?

Con Lụa đáp xụi lơ:

– Ờ nếu thím căn dặn gắt như vậy thì thôi.

Vợ kép Hai nắm lấy tay nó:

– Đây nè, qua tính nói với em về cái việc em tính xuống Vĩnh Long. Đáng lẽ ra con mẹ bầu hổng được làm ngang giữ riết em như vậy, nhưng hoàn cảnh của em lỡ kẹt, em không có bà con thân thích gì để ra nói chuyện với con mẻ, bây giờ con mẻ có thể làm trận làm thượng mà ai cũng hổng làm gì con mẻ được… Mà nếu mình đi thưa lính thì… em sẽ bị họ hạch hỏi lôi thôi, qua chắc em cũng hổng muốn như vậy phải hông?

Con Lụa ngồi nhích lại thêm một chút nữa:

– Ừa, thím nói đúng đa.

Vợ kép Hai tươi cười:

– Qua bề gì cũng… lớn, cũng rành việc đời hơn em, bởi thấy bà bầu bả làm khó dễ em cái chuyện hổng đáng, hai vợ chồng qua nóng mũi quá, bây giờ chẳng lẽ mình đi cự lộn lại bả hả em?

– Ý thím thương tui để bụng chớ đừng có xía vô, bà bầu bả mần thịt luôn. Thím hổng thấy bả hăm siết lương, chú Ba Còm đó sao?

Vợ kép Hai cười mũi

– Xí, qua đã nói qua đâu có ngán thứ con mẽ, nhưng qua nghĩ đến em nhiều hơn. Thời may có lẽ số phần của em còn hên, mới đây anh Hai ảnh đọc nhựt trình thấy có người nào bên Cần Thơ họ đăng lời rao tìm em đó…

Con Lụa nhíu mày:

–  Ủa, ai vậy cà?… À, thôi phải rồi chắc ba Sáu của tui chớ gì!

Vợ kép Hai cũng đáp bừa:

– Ờ chắc ông đó chớ ai. Có điều đáng… chú ý hơn hết là trong lời rao đó, người ta có hứa thưởng một ngàn đồng nếu ai đem em dìa tới bển… À nghe nói em đi lạc cũng đã lâu ớn rồi phải hông?

– Phải. Mà sao ba Sáu thưởng chi nhiều quá vậy? Thôi để tui lén bà bầu trốn dông dìa bển cho ổng đỡ tốn tiền, chắc ổng nóng lòng nên đi mượn nợ đâu đó…

Vợ kép Hai chắc lưỡi chận ngang:

– Ý hổng được đâu! Em bỏ trốn đi như vậy là gây họa cho em và nhiều người nữa đa! Trước hết, thế nào bà bầu bả cũng la hoảng lên và đi thưa là em ăn cắp đồ đạc, tiền nong của bả dông đi, kế đó vợ chồng qua với thằng Ba Còm nè, đều sẽ bị kết tội là đồng lõa hay xúi dục em nầy nọ… qua nói vậy em nghe có phải hông?

Con Lụa mặt mày buồn hiu

–  Ờ phải há! Vậy bây giờ… theo thím thì thím tính sao?

Vợ kép Hai niềm nở đáp

– Qua có cách nên qua mới kêu em ra đây. Với em qua biết là người thiệt thà nên qua cũng hổng giấu diếm làm gì: số là qua với anh Hai có tính bỏ gánh hát mạt rệp nầy để đi chỗ khác khá hơn…

– Bộ hai vợ chồng bỏ đi, bà bầu bả chịu sao?

– Vậy chớ hổng chịu rồi bả làm gì tụi nầy? Tới chừng bả hay thì qua với anh Hai cũng đi mất đất rồi…

Con Lụa tò mò hỏi liền:

– Vậy chớ hai vợ chồng chú thím tính đi đâu?

Vợ kép Hai ngó canh chừng một vòng chung quanh chỗ hai người ngồi, thấp giọng đáp:

– Qua nói thiệt với em hai vợ chồng qua sang bên Cần Thơ trước rồi mới tính chuyện nhập vô gánh khác sau. Bởi vậy sẵn dịp đó, qua liền nghĩ tới em và tính rủ em đi qua bển luôn. Tiền xe cộ gì qua bao hết và sẽ đưa em tới nhà, ông gì đăng trên nhựt trình đó.

Con Lụa ngồi xê ra một chút:

– Nói vậy thím định dẫn tui qua bển để lãnh thưởng hả?

Vợ kép Hai chắc lưỡi:

– Thì một công hai việc, chớ em nghĩ coi hai vợ chồng qua đây rời khỏi ghe của bà bầu không còn đồng xu dính túi, qua phải ráng chạy ngược chạy xuôi kiếm mớ nhấm để bọn mình đủ đi xe. Việc này, qua có lợi chút đỉnh mà em cũng được sum hiệp với gia đình, nhứt là em thoát khỏi bàn tay con mẹ bầu.

Con Lụa nhướng mắt hỏi lại:

– Sao hồi nãy thím nói nếu tui đi, bà bầu sẽ thưa tui ăn cắp này nọ?

Vợ kép Hai trả lời trơn trụi:

– Đọ, cũng vì chỗ đó mà qua mới rủ em đi với qua, vì rủi ro con mẹ bầu có thưa gởi điều gì thì có qua đây làm chứng cho em. Cái gì qua cũng suy tính thiệt hơn hết chớ bộ khi không dắt em đi càng mạng sao!

– Ờ phải há… Mà qua bển thím lãnh chi tới một ngàn đồug lận?

– Coi, em sao em thiệt thà quá! Người ta đặt thưởng số tiền đó thì công mình, mình lãnh chớ bộ ăn cắp ăn trộm gì của ai sao!

Con Lụa ngồi lặng thinh đưa tay bức mấy ngọn cỏ đuôi gà như suy nghĩ điều gì lung lắm. Một lát sau nó ngước mặt lên ngần ngừ hỏi vợ kép Hai:

– Tui nói với thím điều này, thím có chịu tui mới khứng đi.

Vợ kép Hai tươi cười ôm lấy vai nó:

– Em nói đại đi. Qua chịu liền mà!

– Qua bển thím lãnh được một ngàn đồng rồi thím phải… chia cho tui hai trăm…

Vợ kép Hai chận ngang:

– Coi, em dìa tới nhà rồi còn cần tiền nong làm chi nữa! Em cũng phải để cho vợ chồng qua hưởng trọn số tiền ấy đấp đổi qua ngày trong khi chưa kiếm được gánh khác nhập vô chớ.

Con Lụa trả lời châm bẩm:

– Tui cần số tiền đó tui mới hỏi. Tui cần… xài ở bên này nè!

– Sao? Qua có thấy em thiếu nợ thiếu nần gì ai đâu cà?

– Hổng phải tui thiếu nợ ai… thím có thấy hồi nào tới giờ tui có ăn xài đồng xu cắc bạc nào đâu mà phải thiếu nợ? Bộ thím hổng nghẹ bà bầu bả bắt tui phải… thối lại cho bả tiền cơm nước rồi bả mới cho đi sao !

Vợ kép Hai thở ra một hơi dài:

– Mèn ơi, sao em đi… tin lời con mẽ làm gì cho mệt. Mình đi rồi thì thối cho con mẽ cái mốc xì họ! Con mẽ giỏi thì qua bển mà đòi!

Con Lụa nhăn nhó:

– Hổng phải vậy đâu! Tui đi rồi thì xong phận tui nhưng tui lo đây là lo chú Ba Còm còn ở lại. Bộ thím hổng nghe bà bầu bả hâm xiết lương chú Ba đó sao? Bả lại còn giao chú Ba lãnh phần giữ riết tui nữa!

Vợ kép Hai gạt ngang:

– Ôi thôi em ơi, bà bầu bả có xiết lương ai thì thây kệ mồ họ. Mình lo công việc mình cho xong, cho êm đi em!

Con Lụa thản nhiên đáp:

– Nếu thím hổng chịu như vậy thì chú Hai với thím đi một mình chớ tui nán ở đây coi có cách gì khác hông.

Vợ kép Hai cau mày

– Qua thương em mà bây giờ em nói như vậy sao phải! Phải qua dè như vầy…

Con Lụa đứng dậy:

– Thím thương tui thì tui cám ơn, chớ tui… như vậy đó.

Vợ kép Hai chắc lưỡi, đứng theo:

– Nhưng nếu em không đi thì qua cũng ngán lắm!

– Sao vậy hả thím?

– Rủi em ở đây… em học lại cho bà bầu biết hết chuyện này thì… lôi thôi lắm.

Con Lụa rán gân cổ lên

– Sao thím nói tui vậy!

Vợ kép Hai cười giả lả:

– Thì qua nói phòng hờ như vậy… Mà nè, thôi qua sẽ nhường lại cho em một trăm nghen!

Con Lụa lắc đầu.

– Hổng phải qua tiếc gì đôi ba trăm đồng nhưng qua thấy khi không em đút cho con mẹ bầu ăn hai trăm khỏe ru như vậy qua tiếc lắm, mà bằng chứng con mẽ còn chê mình dại nữa.

Con Lụa mỉm cười:

– Thì thím cứ đưa cho tui hai trăm đi tui làm gì thây kệ tui.

– Rồi một khi qua bển làm sao em giáp mặt được bà bầu nữa mà em trả?

– Ậy, tui nói thây kệ tui. Tui qua bển tui nhờ ba Sáu tui gởi qua trả cho bả hổng được sao ? Tui nghe bà bầu nói gánh mình còn ghé ở Vĩnh Long lâu lắm mà.

Vợ kép Hai níu tay nó lôi đi:

– Thôi được. Qua cũng bằng lòng đưa cho em đúng hai trăm. Điều cần nhứt là em phải giữ kín chuyện này rồi khi nào đến bên Vĩnh Long có dịp thuận tiện là tụi mình ngoéo tay nhau dông liền nghen!

Con Lụa nắm chặt lấy tay vợ kép Hai

– Ừa mà thím!

– Thôi tụi mình đi xuống dưới ghe hông thôi thiên hạ sanh nghi khó lòng lắm! …

Từ ngày qua tới Vĩnh Long và tìm được thằng Long, con Hạnh vẫn lóng ngóng ở trọ nhà của thầy giáo nuôi cơm tháng anh của nó. Thầy nầy cũng dám tạm chứa nó thôi chớ không hứa hẹn gì thêm nữa.

Một buổi sáng chủ nhựt, hai anh em nó lúc thúc ở nhà chớ không buồn đi chơi đâu hết.

Con Hạnh sốt ruột hỏi anh:

– Sao kỳ quá anh Hai, em viết thơ cho ba Sáu và thầy Năm hơn một tuần lễ nay sao không thấy trả lời gì hết, hay là ba Sáu… chết rồi cũng nên!

Thằng Long lắc đầu

– Chết thì cũng phải có tin, chắc là cái thơ của em đi không tới rồi.

Con Hạnh lại hỏi thêm:

– Còn anh viết thơ về cho má hay về cái vụ của em sao cũng đi ăn trớt vậy? Anh nhắm bữa nay có thơ lên chưa?

Thằng Long ấp úng một hồi rồi đáp

– Ờ sao cũng lạ quá! Nếu má không hay quen viết thơ thì thầy Giáo Tư thẩy cũng trả lời cho mình chớ !… Mà bữa nay nhằm chúa nhựt nhà dây thép họ đâu có làm việc.

Con Hạnh chép miệng:

– Hổng biết má tính làm sao, chớ để em lóng ngóng bên nầy như vậy hoài sao được! Bây giờ em có muốn đi về thẳng ở dưới… em cũng hông dám… Với lại, thiệt tình thì trong bụng của em, em không muốn gặp mặt cha thầy Giáo Tư nữa!

Thằng Long nói lãng ra

– Thì em để thủng thỉnh một vài ngày nữa coi, chớ em không muốn về dưới rồi em tính đi đâu nữa bây giờ? Nếu thầy Giáo Tư chịu gởi tiền lên thêm cho em ăn học ở đây luôn thì… khỏe quá…

Con Hạnh cau mày.

– Tiền của má mình chớ bộ tiền của thẩy hay sao mà anh nói như vậy hả?

Thằng Long có vẻ lúng túng:

– Nhưng… từ hồi nào tới giờ, việc ăn học của hai đứa mình đều do một tay của thẩy lo liệu hết, chớ má có biết chút xíu nào đâu! Bởi vậy… anh ngán ở chỗ đó… kẹt nỗi là khi không em lại bỏ trường bên Cần Thơ, phải chi em ráng chịu khó một chút…

Con Hạnh ‘‘xí’’ một tiếng rồi xụ mặt xuống

Thằng Long biết mình lỡ lời nên vội tìm cách an ủi em:

– Mà thôi, như vầy kể ra cũng… có phước Ịắm rồi. Có hai anh em mình ở chung một chỗ bề gì cũng có lợi phải không em?

Con Hạnh ‘‘ừa’’ rồi nín thính luôn.

Thằng Long đưa tay lôi em nó đứng dậy:

-Bữa nay Chúa nhựt, anh không có bài vở gì làm nhiều, thôi hai đứa mình vô xin phép thím Giáo, thả đi chơi một vòng rồi về ăn cơm cũng kịp. Tự hổm nay, em qua bên nầy cứ ở ru rú trong nhà hoài buồn chết!

Con Hạnh tuy không muốn ló mặt đi đâu hết nhưng cũng ráng chìu ý anh nó:

– Đi thì đi, nhưng anh vô xin phép một mình chớ em mới lợi ở chưa có đóng tiền cơm tiền nước gì, em ngán gặp thím Giáo lắm!

Thằng Long ái ngại nhìn em:

– Em nghĩ vậy chớ thím tử tế lắm, thím  không phải cắc rắc từ đồng xu cắc bạc như người ta đâu! Thôi được, em đợi anh một chút nghen!

Một lát sau, thằng Long chạy ra tay xách chiếc nón tây đánh phấn trắng, và vui vẻ kêu lên:

–  Được rồi. Đây giờ anh em mình đi em!

Ra tới ngoài đường con Hạnh thẫn thờ hỏi anh nó

– Bây giờ mình đi đâu đây?

Thằng Long chỉ về phía chợ:

– Thì đi… ba đồng bảy đỗi ngoài chơ chơi chớ còn đi đâu nữa!

Con Hạnh nhăn mặt, đứng lại:

– Thôi em hổng thèm đi chợ đâu.

Thằng Long chắc lưỡi:

– Cha, sao con nhỏ này rắc rối thấy tổ mẹ! Vậy chớ bây giờ muốn đi đâu thì nói phứt coi!

Con Hạnh cự nự lại nó:

– Anh ổ bên này anh rành chớ em mới chưn ướt chưn ráo…

Thằng Long thở dài

– Thì anh tính đi ra chợ chơi em lại không muốn! Thôi được rồi, bây giờ em có giỏi lội bộ hông, anh dẫn đi coi chỗ này vui lắm!

– Chỗ nào đối với em cũng hổng vui hết á! Mà đi có xa hông?

– Độ một cây số thôi. Anh tính hai anh em mình thả rề lên miệt đình Tân Giai xem họ cúng kiến, rước sắc thần chơi, nghe tụi bạn học trong lớp nói có gánh hát bội mới tới nữa.

Con Hạnh có vẻ lạnh nhạt:

– Ối cúng đình mà có gì lạ mà phải dang nắng lên tới tận ở trển!

– Bậy nè, em lấy nón của anh đội đỡ đi. Đám cúng đình này bự lắm, cũng như đám cúng Kỳ yên ở đình Bình Thủy bên mình mà hồi đó ba có dắt hai đứa mình đi coi đó!

Con Hạnh cầm lấy chiếc nón tây ngắm nghía rồi trao trả cho anh nó:

-Thối em lấy khăn mui xoa đôi đỡ cũng được, chớ dệnh cái nón con trai này lên đầu mắc cở chết!

–  Trời ơí, bà nội này khó quá! (rồi sợ con Hạnh cự nự lôi thôi nữa, nó vội lôi con nhỏ nầy đi)… Xăng xăng lên, một chút em!  Mình cứ cà rịch cà tang hoài, trưa trờ trưa trật tới nơi rồi còn gì!

… Đến nơi, nhìn thấy ngôi đình đồ sộ cùng không khí tưng bừng nhộn nhịp của lễ cúng Ký Yên, mặt con Hạnh tươi rói. Nó nắm chặt tay thằng Long và kêu lên:

– Cha, chắc đám cúng đình này lớn lắm anh hén! Mà ẹm coi bộ ngôi đình này cũng bự hơn đình Bình Thủy nữa!

Thằng Long hả hê nhìn em:

– Sao hồi nãy anh rủ đi, mặt mày em chừ bự bằng cái nia vậy?

Con Hạnh xẽn lẽn đáp:

– Thì ai biết nó… vui như vậy nà! Thôi mình vô coi phía trong đình đi anh.

Thằng Long, vốn được bạn bè trong lớp học đưa nó đi xem qua các nơi một lần rồi nên hang hái dẫn em nó bước vô đình. Đi đến đâu, nó giảng giải rành mạch đến đó, nào là Thần Lầu, Long Trụ, các bộ Bao Lam thần vọng, giàn lễ bộ, mấy đôi liễng chữ phết bằng vàng thiệt, sắc thần từ đời vua Minh Mạng, mấy thứ lục bình xưa, mấy bộ lư cao khỏi đầu…

… Nghe thằng Long giảng giải liên tu bất tận như trả bài thuộc lòng, con Hạnh nhìn anh nó với cặp mắt thán phục:

– Sao em coi bộ cái gì anh cũng rành hết vậy?

Thằng Long nở mũi đáp:

– Thì cái gì mình hổng biết, mình hỏi người rành hơn. Cái chuyện đó dễ ợt mà! Em thấy hông, nếu em cứ co rút như con rùa thụt đầu vô mai hoài thì… thấy trời đất khỉ gì được!

Con Hạnh bĩu môi

– Cha, người ta mới khen một chút mà làm bộ thầy đời rồi đa!

Thằng Long mắc cở nên kiếm cách cự lại:

– Còn em, em giỏi bắt bẻ tổ mẹ!… Thôi bây giờ mình thả rề lại phía buồng hát coi họ rước gánh hát của bầu nào đó…. Mà em có nhớ hồi mình qua Bình Thủy coi cúng đình, thấy họ rước gánh hát Tiều về hát chớ hổng phải gánh hát bội như mấy đình khác hông?

Con Hạnh gật đầu:

– Ờ kỳ quá há ! Tại sao lại có chuyện… tréo ngoe vậy anh? Em tưởng mấy anh ‘‘cắc chú’’ họ cúng ông Bổn, họ mới rước mấy gánh hát Tiều hát Quảng chớ?

Thằng Long có vẻ lúng túng:

– Ối tục lệ xưa năm bảy đời vương của đình Bình Thủy mình đâu biết được!… Chắc ông Thần làng đó… khoái xem hát Tiều hay là ổng thuộc dân… các chú lai cũng hổng chừng!

… Khi vô đến buồng hát thấy con Hạnh trầm trồ chỉ chỏ mấy ông ‘‘tướng’’ trên trang thờ Tổ của gánh hát mà nó cứ nói là ngộ, là giống mấy con ‘‘cúp bế’’, thằng Long lôi tuột nó đi và rầy em:

– Em làm cái điệu đó người dưới gánh hát họ thấy họ quở chết, kỵ nhứt là mình đi vô đây coi mà đem theo những thứ trái có mùi thơm phứt như trái đào, trái thị, trái lê…

Con Hạnh thật thà hỏi lại:

– Bộ mấy ông… ‘‘tướng’’ trên trang thờ hổng ưa mấy thứ trái đó hả?

Thằng Long chắc lưỡi:

– Em thiệt hổng biết gì ráo!

Con Hạnh cười mủm mỉm:

– Coi, hồi nãy anh biểu hễ hổng biết cái gì phải hỏi đàng hoàng…

Thằng Long nhăn nhó:

– Con này sao hư quá ! Chuyện nầy là! chuyện… thờ phượng cúng quải của người ta, em có hỏi thì hỏi nho nhỏ chớ em… la um sùm như vậy họ nghe lọt họ quánh cho lọi cẳng!

Con Hạnh thấy bộ điệu của anh nó như vậy không khỏi cười thầm, nhưng ráng xuống nước bọc xuôi theo:

– Thì người ta hổng biết mà! Sao mấy ông ‘‘tướng’’ hổng ưa mấy thứ trái có mùi thơm hả anh?

– Ưa gắt chớ sao không! Và cũng vì chỗ ấy mà mấy người trong gánh hát họ cấm ngặt không cho ai vô buồng trò chơi mà đem theo mấy thứ trái thơm phứt đó. Họ sợ mấy ông Tổ trên trang thờ đánh hơi thấy mùi thơm rồi khoái chí tử hay rà rà theo…

– Mấy ổng bay theo rồi sao mà họ cấm hả anh?

– Em hổng biết thì để cho người ta nói hết cho mà nghe, chứ hỏi xịa vô hoài!… Thì mấy ông Tổ mà bay đi như vậy, rủi mấy ổng chưa về kịp ở nhà đào kép lên làm tuồng sẽ quên hết vở hát chớ sao!

– Ủa, bộ họ hổng có học thuộc lòng tuồng hát trước hay sao mà phải để quên lú ruột lú gan như vậy cà?

Thằng Long nhìn em nó, lắc đầu:

– Em hổng biết khỉ khô gì hết! Thuộc thì thuộc; chớ mấy ông Tổ ổng dông mất thì… cũng như không. Bộ em nói họ học lẹt xẹt một vài bài như mình học trong lớp hay sao mà nhớ cho xuể hết! Họ phải học cả chục tuồng, lớp nói lớp hát, lớp điệu lớp bộ, lớp làm cho ăn rập với kèn, đờn, trống, lớp chữ nho, chữ tàu lung tung, ở trong, chớ bộ em nói họ chỉ… ự ự, ải ải mấy câu trơn hay sao?

– Vậy hả! Nhưng anh có thử đem trái cây có mùi thơm bay nồng nực để nhử mấy ông Tổ gì đó lần nào chưa, mà anh lại biết rành như vậy?

Thằng Long lúng túng không biết Irả lời làm sao cho xuôi, nên đâm ra bực mình, nhăn nhăn nét mặt rồi phát nạt ngang:

– Em hỏi sao… trật chìa quá! Mình thử để họ đập mình bể đầu rồi còn thưa làng bắt đóng trăn nữa hả!

Con Hạnh vẫn chưa chịu buông tha:

– Chớ sao anh biết hay quá vậy?

– Coi, thì mấy thằng bạn của anh nó nói như vậy…

Tiếng con Hạnh cười rộ lên làm cho thằng Long chợt nhận thấy câu trả lời… lố bịch của mình. Nó vội vàng lôi tuột con Hạnh đi và nói cho khỏa lấp:

– Em còn muốn coi cái gì nữa hông để rồi mình về cho sớm, hông thôi ở nhà thầỵ Giáo thím Giáo đợi cơm thì… kỳ lắm nghen!

Nghe nhắc đến chuyện về nhà trọ, con Hạnh sa sầm nét mặt. Nó trả lời một cách xuôi xị:

– Ờ về thì về…

Hai đứa nó dắt tay nhau theo cửa buồng bên hông để ra ngoài.

Bỗng con Hạnh đứng khựng lại, nhìn trân trân về phía đằng trước và lấp bấp kêu lên:

– Ủa… ủa ai vậỵ cà!

Thằng Long ngó về phía ấy rồi nhìn em

– Bộ em gặp ai quen hả?

Con Hạnh không trả lời mà rút vội tay ra rồi chạy а đi. Nó vừa chạy vừa réo:

– Chị Lụa ơi, chị Lụa!

Ở đầu đằng kia, một đứa nhỏ gái- chính là con Lụa – đang khệ nệ ôm một mớ gươm, dáo, đao, roi bằng cây nghe tiếng kêu quen quen cũng đứng sững lại…

Nó dáo dác nhìn quanh và khi nhận thấy con Hạnh nó buông tuốt mớ binh khí phường hát ấy rơi xuống đất lổn ngổn, rồi cũng chạy riết lại phía con Hạnh.

Đến nơi, nó nắm chặt Іấy hai bàn tay con Hạnh như sợ con này biến mất rồi vừa thở vừa kêu lên :

– Mèn đét ơi, mầy đây hả Hạnh?

Còn Hạnh nghẹn ngào gật đầu

Con Lụa lại hỏi luôn:

– Mà mầy làm gì ở đây?

Con Hạnh, như đã lấy lại sự bình tỉnh, hấp tấp hỏi lại một hơi:

– Còn chị, đi đâu mất biệt vậy? Chị làm ba Sáu và em mong hết chỗ nói! Chắc thằng cha có thẹo mặt gì đó nó bắt chị hả? Mà sao chị lại đi tới đây?

Con Lụa hết biết trả lời câu nào trước, câu nào sau, mà chỉ nhớ đến hai tiếng ba Sáu!

– Cha, chắc hồi tao đi rồi ông già ổng chưởi tao thục sình phải hông mậy! Lóng rày ổng còn đi mần ở ngoài chợ hông? Nhà của mình còn ở chỗ cũ hông mậy?…

Con Hạnh chưa kịp trả lời га sao cả, thì nó lại hỏi bồi luôn một câu nữa:

– Mà ba Sáu ở đâu lại để mầy đi lang bang qua bên nầy như vậy nè!

Con Hạnh chợt thở dài, nhưng rồi nó gượng cười đáp:

– Em hổng đi lang bang qua bên nầy thì làm sao được gặp chị như vầy!

– Hứ, mầy hổng gặp tao thì vài ba bữa nữa tao cũng lội dìa bển.. (nói đến đây nó hất hàm chỉ về phía đằng trước và thấp giọng hỏi)… Thằng nhỏ nào đứng rề rề phía sau lưng mầy đó? Bộ cũng quen hả?

Con Hạnh mới nhớ trực lại thằng Long. Nó quay lại níu tay anh nó lôi lên và day qua hỏi con Lụa:

– Bộ chị hổng nhớ ai đây sao? Em đố chị biết ai đó, em khen chị giỏi?

Con Lụa nheo nheo mắt nhìn thằng Long làm thằng nầy mắc cở day mặt nhìn đi chổ khác.

– Mày hỏi cắc cớ như vậy tao biết đường đâu trả lời! Tao coi bộ… thằng cha nầy cũng hơi quen quen, tao nhớ mài mại là có gặp một hai lần…

Con Hạnh tươi cười ngắt ngang:

– Anh Long em đó !

Con Lụa nhìn sững thằng Long rồi gật gật đầu:

– Hèn chi tao thấy quen quá! Té ra anh của mầy đây hả? À, chắc mầy qua bên này kiếm thăm… anh của mầy phải hông?

– Phải đó!

Đoạn con Hạnh day qua hỏi anh nó:

– Chắc anh biết ai đây rồi chớ?

Thằng Long liếc nhìn con Lụa rồi rụt rè đáp nho nhỏ:

– Biết chớ sao không… Chắc… cái chị gì em nói đi lạc mất đó…

Con Lụa trả lời xớt ngang:

– Tui đi chơi luôn chớ lạc khỉ gì!

Chợt nhớ tới mớ gươm dáo nằm ngổn ngang dưới đất,nó bèn chạy nhặt ôm lên, ngó dáo dác một vòng rồi khẽ báo con Hạnh:

– Thôi mầy với… anh mầy chịu khó lại đằng chỗ… tấm vách đó (nó chỉ về phía tấm hình phong gạch có đấp nổi hình ông Hổ) đợi tao một chút. Tao đem dọn cất ba thứ mắc toi này vô trỏng rồi tao quay trở ra liền nghen!

Thấy điệu bộ bổng nhiên có vẻ sợ sệt ấy của con Lụa, con Hạnh cũng đâm ra lo ngại. Nó đưa tay dắt thằng Long đi và căn dặn con Lụa nho nhỏ

– Chị nhớ ra cho mau nghen.

Con Lụa khẽ gật đầu rồi tất tả ôm mớ đồ đi thẳng vô buồng trò…

Một lát sau, nó chạy đến tìm con Hạnh và thằng Long. Liếc thấy vẻ mặt ái ngại của hai đứa nầy, nó vội xuống giọng phân trần:

– Bà bầu ở đây bả khó giàn trời mây. Hổng phải mình sợ gì bả nhưng bị…  ‘‘tui’’ có tính chuyện riêng… (Sở dĩ con Lụa tự xưng ‘‘tui’’, chớ không dùng tiếng ‘‘tao’’ nữa vì nó có ý phân trần luôn với thằng Long )

Con Hạnh ấp úng hỏi:

– Chị theo… gánh hát này lâu mau rồi?…

Con Lụa cau mày, mím môi đứng lặng thinh.

Con Hạnh lại hỏi:

– Thằng cha đó nó đưa chị về tới đâu mà ba Sáu chạy hỏi thăm hết hơi hết sức cũng không ra hả?

Con Lụa thở ra

– ỐI chuyện của tao… dài lắm (nói đến đây nó lại đưa mắt nhìn hai anh em con Hạnh rồi chậm rải tiếp lời)… Thằng cha thẹo mặt đó nó đưa tao đi lung tung nhưng rồi tao trốn theo gánh hát này được, kế dìa tới trên này. Tao tính để vài bữa nữa tao sẽ dông dìa bển chớ hông thôi ba Sáu đợi hoài hủy tội nghiệp ổng ! À, sao ổng dám để mầy đi qua bên nầy hả?

Con Hạnh cúi đầu thở dài :

– Ba Sáu… hổng được mạnh chị à!

Con Lụa hớt hải hỏi lại :

– Mầy nói sao? Bộ ổng đau hả? Sao mầy hổng ở săn sóc ổng lại bỏ đi qua bên nầy?

– Thì cũng tại… Ba Sáu đau nên ba Sáu mới hối em qua bên nầy kiếm anh Long…

Con Lụa nhíu mày nhìn con Hạnh, rồi nó ấp úng hỏi thêm:

– Bộ ổng… hổng êm phải không mậy? Sao hồi nãy mầy hổng cho tao biết liền?

– Bị chị hỏi lăng xăng nên em chưa kịp nói. Ba Sáu tuy đau… ‘‘kha khá’’ nhưng em đã chở ổng vô nhà thương nằm rồi. Vô đó có thầy Năm phạm nhe tử tế lắm, thẩy chích thuốc lu bù nên hồi em đi đây, ba Sáu có mòi khoẻ khoắn lại nhiều rồi. Chị hổng biết, ổng nằng  nặc bắt em phải qua kiếm anh Long chớ em có muốn đi đâu?

Con Lụa mím môi suy nghĩ một lát rồi nói :

– Cái điệu nầy tao chắc thầy Năm gì mà mầy nói đó đặt tiền thưởng trên nhựt trình để kiếm tao chớ hổng phải ba Sáu đâu !

Con Hạnh chưng hửng hỏi lại

– Tiền thưởng gì đó chị?

Con Lụa bèn thuật sơ lại cho nó nghe câu chuyện của vợ kép Hai đã đem ra bàn tính hôm nọ.

Nghe xong, con Hạnh hớn hở kêu lên:

– Đó, em nói có sai đâu, thầy Năm thẩy muốn giúp ba Sáu chớ ai vô đó nữa! Nè chị Lụa, nếu mình biết rõ như vầy, chị dông êm về bển đi để cho thầy Năm thẩy đỡ cả ngàn đồng bạc!

Con Lụạ khẽ lắc đầu :

– Tao cũng đã nghĩ nát nước hết rồi, hổng được mầy à, Bà bầu này bả ác nhơn sát đức lắm, tánh tao lại không muốn để liên lụy cho ai hết. Thôi để tao dìa bển trước với vợ chồng kép Hai, rồi chừng nào tao gởi tiền qua trả cho bà bầu tao sẽ nhắn tin cho mầy hay…

Con Hạnh day qua hỏi thằng Long:

– Hay là anh chịu khó hỏi thím Giáo mượn đỡ hai trăm đồng bạc để chị Lụa, chỉ thối lại cho bà bầu được hông anh?

Thằng Long chưa kịp trả lời ra sao thì nó lại nói tiếp:

-… Rồi sau đó mình đem chị Lụa về nhà ở tạm… hay là thôi, để em với chị đi qua bển luôn. Em có đi một lần rồi nên em rành chuyện lên xe xuống cộ lắm!

Thằng Long liếc nhìn con Lụa rồi chắc lưỡi đáp:

– Cha, cái chuyện nầy khó dữ đa! Tiền cơm của mình chưa trả, bây giờ đi mượn thêm hai ba trăm đồng nữa thì cũng… ngặt cho thím Giáo quá, nhứt là lúc gần cuối tháng nầy!… Bộ em không đợi thơ dưới nhà gởi lên sao?

Con Hạnh xụ mặt xuống:

– Đợi hoài đợi hủy rồi em long chong bên nầy như vầy hả? Thôi để em đi qua bển với chị Lụa, ở bển bề gì cũng có thầy Năm thẩy sẵn lòng lo cho em… Ờ, hay là anh cũng dông theo luôn đi! Qua tới bển em sẽ nói với thầy lo cho anh luôn!

Thằng Long thở dài:

– Hổng được đâu em à. Em nói sao nghe dễ quá vậy!Bề gì mình cũng ngóng coi ở dưới nhà, má và thầy Giáo Tư trả lời ra sao rồi mình mới tính được. Chớ bây giờ em rũ anh bỏ đi ngang thì thế nào thằng cha thầy Tư cũng òm ĩ nói với má… bứt đỏi luôn hết hai đứa mình đa. Thiệt anh nóng ruột chờ cho bãi trường để về dưới gặp má coi ra sao!

Thấy con Hạnh mặt chầm dầm, con Lụa bèn lên tiếng chen vô:

– Nè Hạnh, anh của mầy nói như vậy tao nghe cũng phải lắm…

Con Hạnh bực mình nói lẩy:

– Ảnh… nhát hít, mình bàn cái gì ảnh cũng bát ra hết, vậy mà chị còn binh ảnh nữa hả?

Con Lụa nhìn thằng Long xẻn lẻn nói để phân trần:

– Tui ẩu mà gặp con nhỏ này nó còn ẩu bạt mạng cô hồn nữa!

Thằng Long muốn nói đẩy đưa theo:

– Ối cái chuyện đó tôi.. biết lâu rồi! (chợt liếc thấy con Hạnh trợn mắt có vẻ định sân si nữa, nó vội xuống giọng bảo em). Nè em, hay là em để… chị Lụa về bển trước đi, sau đó nếu ở bển mọi việc đều… êm chị nhắn tin sang rồi em qua sau cũng được mà.

Con Lụa nắm lấy tay con Hạnh nói vô:

– Chỉ có cách đó thôi mầy à. Dầu mầy có muốn đi chung với tao cũng hổng được, bộ mầy quên rằng tao… lén trốn bà bầu đi với vợ chồng kép Hai sao! Mày đòi đi lôi thôi, vợ chồng kép Hai nó đâu chịu, mà rủi ro có rắc rối để cho bà Bầu bả hay được thì… chết tao một cửa tứ đa! Ba Sáu hay thầy Năm gì đó có qua đây lãnh tao ra đựợc thì tao cũng bị… bầm vập vì con mẹ bầu đó mày ơi!

Con Hạnh thấm ý thở dài.

Thằng Long quay đầu ngỏ ra bóng nắng ngoài sân đình rồi rụt rè nhắc em:

– Coi bộ trời hơi… trưa trưa rồi, mình liệu đi về hông thôi trể đa em.

Con Hạnh hốt hoảng níu chặt tay con Lụa:

– Như vậy… chị về bển trước một mình sao?

Con Lụa mỉm cười gật đầu.

-… Chị về tới bển nhớ nhắn tin hay là chị nói với ba Sáu, với thầy Năm làm cách nào cho em về bển sớm nghen ! Anh Long ở bên này yên rồi, còn…em.

Con Lụa sốt sắng chận ngang:

– Tao biết rồi. Mày khỏi lo gì nữa ráo. Tao dìa bển trễ lắm là hai bữa sau mầy có tin.

Con Hạnh nghẹn ngào hỏi:

– Nói vậy, bây giờ tới ngày chị đi, tụi mình không còn gặp mặt nhau nữa sao?

Con Lụa thở dài:

– Thì phải ráng chịu chớ sao!… Hay là tối nay mầy với anh mầy lội ra đây coi hát chơi, để tao dọ hỏi coi vợ kép Hai tính chừng nào đi…

Thằng Long trả lời hộ em:

– Cha, chắc hổng được chị à. Chủ nhà chỗ tôi ở gắt lắm, tối không cho đi đâu khỏi nhà hết.

Con Hạnh cũng nói theo anh:

– Em cũng muốn đi lại đây chơi lắm nhưng bị mình mới tới ăn nhờ ở đậu nhà người ta nên mình không thể làm ngang.

Con Lụa mỉm cười

– Ờ uổng quá há! Chớ nếu mầy đi được mầy sẽ thấy tao đóng tuồng ngon lành lắm!

– Chị đóng vai gì vậy?

– Thì… mấy vai lạm xạm, chạy hiệu, thế nữ…

Con Hạnh cười xòa:

– Ý trời ơi, vậy mà em tưởng chị đóng vai đào dồi phấn thoa son, áo xiêm có thêu kim tuyến lấp lánh và trên đầu đội mão có dắt hai cái lông trỉ dài thượt chớ!

Thằng Long liền đỡ lời cho con Lụa:

– Em nói vậy không đúng. Chị Lụa đây… còn nhỏ xíu mà đóng vai đào sao được.

Con Lụa nhìn thằng Long với cặp mắt đầy vẻ biết ơn và ngập ngừng nói:

– Anh kêu tui bằng tên cũng được. Tui mà chị khỉ gì ai! (đoạn nó day qua cặp kè con Hạnh bước ra sân đình)… Thôi mầy chịu khó đợi đôi ba bữa nữa nghen! Chết chóc gì mà sợ. Bây giờ tao phải dông đi lo bưng dọn đồ đạc lên, hông thôi bà Bầu bả thấy vắng mặt tao lâu bả nự chết!… Anh Long đi dìa mạnh giỏi nghen!

Nói xong nó buông tay ra, cắm đầu chạy một mạch xuống bến sông…

Sáng hôm nay trời cứ ui ui hoài. Ánh mặt trời như không đủ sức lóe lên giữa những đám mây đen ùn ùn kéo về mỗi lúc một thêm dày đặc,

Gió từ ngoài sông cái thổi vô nghe lành lạnh.

Thím Hương xách giỏ định đi chợ nhưng rồi lại quay trở vô đứng dựa cột nơi hàng ba ngóng nhìn ra phía mặt sông. Một dề lục bình trôi mau trên dòng nước và trồi lên hụp xuống theo những lượn sóng dồi liên miên làm thím bất giác thở dài…

Anh Giáo Tư từ trong nhà đi ra, rón rén đứng phía sau lưng thím lúc nào thím cũng chẳng hay. Thấy vậy, anh Tư kề miệng gần sát vào tai thím hù một tiếng làm thím giựt mình quay phắt lại.

Anh Tư cười xòa:

– Em làm cái gì mà đứng… chết trân ở đó vậy? Người ta ra cả tiếng đồng hồ mà cũng không hay!

Thím Hương cau mày cự nự:

– Anh quỷ nầy làm người ta hết hồn hết vía! (Nhưng rồi thím lại dịu giọng nói tiếp)… Em tính đi chợ cho sớm nhưng thấy trời chuyển mưa đen nghịt nên ngán quá hết muốn đi.

Anh Tư cúi xuống lấy cái giỏ xách, liệng vô nhà:

– Mưa gió sắp tới ầm ầm mà đi chợ nổi gì! Thôi bữa nay trong nhà có mắm ăn mắm có muối ăn muối chớ anh hổng cho em đi đâu hết.

Thím Hương nhìn anh ta cười mỉm:

– Rồi tới trưa ngồi trước mâm cơm anh hổng được phép rên gì hết đó nghen! (chợt thấy anh Tư vận độc có cái xà rong lụa, với chiếc khăn bàn lông vắt nơi cổ, thím chắc lưỡi kêu lên)… Trời, sao anh dám ở trần trùi trụi vậy! Rủi trúng gió cảm rồi sao! Vô lấy áo bận thêm đi anh,

Anh Tư cười dòn

– Ối hề hấn gì mà em lo hổng biết! Sức anh… thiên lôi đả bảy búa cũng trấm trơ trấm trất chớ đừng nói gì thứ trời giông gió như vầy…

Vừa lúc ấy cơn mưa đã ào tới.

Ngoài đường, bốn năm đứa học trò nhỏ đội cặp sách lên đầu vừa chạy vừa kêu réo nhau ríu rít.

Thím Hương nhìn miết theo bày trẻ, nét mặt bỗng trở nên ủ ê. Anh Tư liếc thấy như vậy cũng đâm ra ngượng ngập đứng im chớ không dám cười nói bô bô như lúc nãy nữa.

Lũ trẻ đi khuất rồi mà thím Hương vẫn còn thẫn thờ ngó mong ra khoảng trời mưa gió.

Anh Tư rụt rè lên tiếng:

–  Thôi em bước xê vô chớ hông thôi gió lớn mưa tạt vào ướt mình mẩy hết.

Thím Hương lặng lẽ bước lùi vào phía trong vách.

Bỗng thím ngước mặt lên hỏi anh Tư:

– Sao anh, tự hổm nay… anh có được tin. gì của mấy đứa nhỏ hông? Chắc anh chưa dò ra manh mối gì về chuyện con Hạnh bỏ trường đi hết hả?

Anh Tư có vẻ lúng túng:

– Thì anh cũng… lo hỏi thăm hỏi nom gắt lắm và mười phần thì kể như đã nắm được… sáu bảy phần kết quả rồi lận. Anh tính để khi nào biết chắc chắn chỗ ở của con nhỏ anh sẽ nói cho em rõ, chớ bây giờ… xì trước cho em hay, em chộn rộn chẳng ích gì.

Thím Hương hỏi liền:

– Nói vậy anh đã phăng ra rồi hả? Sao anh nầy ác quá, anh hổng cho em hay để em yên lòng.

Anh Tư, vốn đã nhận được bức thơ của thằng Long báo tin con Hạnh đã tìm qua ở chung với nó nên trả lời một cách… tỉnh khô:

– Ác khỉ gì! Anh thương em nên anh mới lặng thinh như vậy đó. Em nên tin anh đi: hễ khi nào anh nói có là có chớ không sai chạy chút xíu nào hết!

Thím Hương tươi mặt lại, đưa tay véo nhẹ vào vai anh ta:

– Đến nước nầy, dầu thế nào đi nữa thì em cũng phải… ráng mà tin anh chớ sao!

Anh Tư nhích người ra, cự nự:

— Em nói cái giọng đó… mích lòng lắm nghen! Sao anh… hổng ưa em nói câu đó chút xíu nào hết. Em làm như anh là tay… điếm đàng, còn em là con gái mười sáu mười bảy tuổi bị anh rù quến dụ dỗ bỏ nhà ra đi vậy!

Thím Hương sấn tới cú nhẹ lên đầu anh ta!

– Cái anh mắc toi nầy hễ em nhắc tới là anh kiếm chuyện đặt điều nọ kia thấy ghét quá!

Anh Tư chép miệng thở dài:

– Thiệt anh đeo đuổi theo em hoài như vầy nhiều lúc anh thấy… xấu hổ với lương tâm quá. Người ngoài họ hổng biết họ nói chắc anh sung sướng lắm! Anh nói có đất trời làm chứng,..

Thím Hương vội đưa tay bịt miệng anh ta lại, nói một hơi:

– Tại em, tại em hết! Tại em mê anh, theo anh… em chịu hết mà!

Anh Tư thở ra, nửa như trút bỏ một gánh nặng, nửa như tỏ vẻ chán ngán.

Thím Hương vô tình lại nhắc hỏi về mấy đứa con:

– Còn thằng Long nó vẫn đi học như thường chớ anh?

Anh Tư bực mình đáp xẳng:

– Chớ bộ em vái nó bỏ đi như con kia nữa sao!

Thím Hương vội nói đỡ :

– Thì… lâu quá không biết tin tức gì về nó nên tiện việc em hỏi thăm luôn vậy mà. Anh sao hay nổi nóng quá hà. Vuốt giận đi cưng…

– Anh đã nói cả ngàn cả muôn lần là em khỏi phải lo gì hết. Thằng Long nó vẫn ăn học như thường. Trong hai đứa nhỏ, anh coi bộ thằng đó được và vì vậy anh càng phải ráng săn sóc nó cho nên thân nên người với thiên hạ.

Thím Hương nói đẩy đưa theo

– Ờ thằng đó tự hồi nào tới giờ nó siêng năng dễ dạy lắm…

Vừa lúc ấy, một cơn gió lớn thổi hắt cả loạt mưa vào. Anh Tư vội ôm lấy thím Hương đẩy vào trong nhà, tiện tay đóng luôn cửa lại.

Thím Hương nhìn tóc tai mình mẩy anh Tư ướt đẫm nước mưa nên kêu lên:

– Mèn ơi, anh ướt mẹp hết trơn hết trụi đây nè. Anh mau mau vô đây để em lau cho hông thôi lỡ cảm chết.

Vừa nói thím rút chiếc khăn lông nơi cổ anh Tư xuống và vừa chậm vừa lau lia lịa trên mặt trên tóc anh ta, miệng thì chắc lưỡi hít hà liền liền.

Anh Tư mỉm cười vuốt nhẹ lưng người yêu:

– Còn em, em cũng ướt áo… dính da đây nè! Thôi em vô thay áo đi (rồi anh ta nheo mắt cười rất tình) và nếu em có thấm lạnh thì để anh… ủ cho!

Thím Hương háy xéo anh ta:

– Bộ anh tính bữa nay… hổng ăn cơm hả?

Anh Tư làm mặt nghiêm:

– Cơm nước gì giờ này hả?

Đoạn hai người cặp kẻ đi vô phía trong nhà, mắt không rời nhìn nhau.

Đến cửa buồng chợt thấy con nhỏ ở lui cui quét dọn trong ấy, anh Tư liền hối bảo nó:

– Mầy làm gì đó Năm? Ối trong này rác rến gì đâu mà mầy quét hổng biết! Thôi xuống dưới bếp lo nhúm lửa vo gạo nấu cơm ăn sớm một bữa đi…

Con Năm xách chổi đứng dậy, day qua hỏi thím Hương:

– Dạ, thím hông đi chợ sao thím?

Tự nhiên thím Hương đâm ra xẻn lẻn và để đỡ ngượng thím trả lời đặt một :

– Mưa gió ầm ầm vậy mà đi đâu?

Thấy con Năm tính hỏi nữa, anh Tư lên tiếng chận trước:

– Thì mày cứ lo phần việc cùa mày đi. Bộ thím mày hổng đi chợ một bữa rồi cả nhà nhịn đói hay sao mà sợ. Lát nữa nếu mưa hơi dứt hột, thím mầy đi chợ cũng hổng trễ, mà cùng lắm dỡ ba cái mắm cá lóc ra chưng ăn cũng được.

Con Năm ‘‘dà’’ một tiếng rồi len lét xách chổi đi ra.

Anh Tư còn ráng dặn vói theo :

– Nè Năm, mầy khỏi quét nhà trước nữa nghen! Bữa nay trời mưa, nghỉ quét nhà nghen!

Con Năm lại ‘‘dà’’ một tiếng nữa, rồi đi quẹo tuốt xuống dưới bếp.

Thím Hương nhìn anh Tư, cười lỏn lẻn:

– Coi bộ anh… căn dặn, sai biểu con Năm rành quá!

Anh Tư nhún vai:

– Chớ để nó… lằng nhằng ở đây hoài sao!.. Thôi em thay áo đi chớ hông thôi thấm lạnh chết.

– Còn anh, anh ở trần như vậy hoài hè!

– Ối, trong này kín mít mà lo gì.

Chợt thấy một cánh cửa sổ còn để mở anh Tư vội chạy đến khép lại. Đằng này, thím Hương cũng rón rén xô nhẹ cánh cửa buồng đóng lại và đẩy luôn cái chốt gài. Xong xuôi thím bước lại chiếc tủ đứng mở ra lấy áo thay.

Khi anh Tư quay lại thì thím đang cầm chiếc áo túi mới lấy trong tủ ra che nơi trước ngực chớ chưa kịp mặc luôn vô.

Auh Tư mỉm cười đưa tay ngoắc thím:

– Lại đây em! Mau mau nghe!

Thím Hương vùng vằng cự nự:

– Thì để em xỏ áo vô một chút hổng được sao!

Anh Tư chắc lưỡi:

– Em sao… rắc rối quá. Để chút nữa bận luôn vô hổng được sao? Em không biết tính toán gì ráo…

Thím Hương vừa bận áo vô vừa bước mau lại, nói át đi:

– Anh thiệt là quỷ dịch! Anh làm như chết thèm chết khát từ bảy mươi đời vương vậy!

Anh Tư ngồi xuống mép giường, làm bộ cự nự lại

– Ờ hổng biết ai vậy đó! Em muốn anh.. khai hết không? Em muốn anh la lớn lên… (đến đây, anh ta ướn giọng to lên).. Hồi tối có người…

Thím Hương đã chạy а tới xô mạnh anh ta té ngữa xuống giường, đoạn thím chồm lên vừa giơ tay tát vô mặt anh Tư vừa đả đớt nhiếc móc :

– Để tui vả tét cái miệng… hay nói bậy nầy nè! Đồ quỷ, đồ ôn… phá người ta, hổng cho người ta ngủ nè !

Anh Tư vừa la ái ái vừa cười phá lên. Bỗng anh ta nín bặt. Lấy làm lạ, thím Hương ngừng tay chống xuống giường rồi nhíu mày hất hàm hỏi:

– Sau khi không anh á khẩu vậy hả?

Anh Tư lắc đầu lia lịa và trả lời một cách tỉnh khô:

– Hông, hông… hổng có sao hết mà.

Thím Hương ngoái đầu ngó ra phía sau lưng xem có cái gì lạ không: cửa nẻo vẫn đóng chặt, không có một tiếng động gì khác ngoài tiếng mưa đổ ào ào trên mái ngói…

Thím quay đầu lại và mãi đến lúc này thím mới bắt gặp hướng nhìn của anh Tư… Thím đứng rột dậy, hấp tấp gài lại hàng nút áo mà ban nãy vì quá vội thím quên khuấy không chú ý đến…

Xong, thím lườm anh Tư và lên giọng trách móc:

– Anh, thiệt… oái oăm hết chỗ chê!

Anh Tư cười mơn đưa tay rị mạnh thím nằm xuống bên cạnh làm cho mớ tóc đen nhánh của thím xỏa tung trên mặt gối tai bèo trắng tinh…

Cơn mưa mỗi lúc một to thêm.

Cánh cửa sổ bị gió giật mở ra đóng vô sầm sập…

Thiếm Hương ráng nghểnh đầu lên kêu anh Tư:

– Nè anh, gió tung cửa sổ mưa tạt ướt nhẹp hết trơn kía kìa!

Anh Tư vói tay lấy chiếc gối nằm nghiêng nơi mép giường và trả lời gạt ngang

– Ối gió mưa gì thây kệ nó mà!… 

Bị thím Hương hối thúc ngày một ngày hai vì chuyện của hai đứa nhỏ nên anh Tư phải đi Vĩnh Long rồi sang luôn bên Cần Thơ. Đành phải đi bên ấy vì thật ra anh ta đã rõ hết mọi chuyện về thằng Long con Hạnh.

Khi đi về, anh ta hớn hở thuật lại mọi việc:

– Thôi êm hết rồi em ơi! Cả hai đứa nó đều đi ăn học như thường…

 Thím Hương hấp tấp hỏi lại:

– Bộ anh được tin con Hạnh rồi hả?

Anh Tư thản nhiên đáp:

– Thì anh đã nói với em làm sao hả? Lẽ dĩ nhiên là anh phải kiếm nó cho ra và đã gởi cho nó đi ăn học lại bên Cần Thơ và lần này thì… êm lắm. Con nhỏ có mòi mến chỗ ở mới lắm.

– Chỗ nào vậy anh? Liệu có chắc hông, chớ em sợ rủi ro như kỳ rồi để anh phải mất công nhọc trí…

Anh Tư mỉm cười:

– Cha, bây giờ nói ngọt xớt, chớ hồi đó… ối thôi, em rứt từng miếng da miếng thịt người ta га!

Thím Hương véo nhẹ vào vai anh ta:

– Cái anh mắc toi này sao hay nhắc tới chuyện cũ  quá hà!

Anh Tư nghiêm mặt lại :

– Thôi để anh nói hết chuyện con Hạnh cho em nghe, chỗ ở mới của nó đàng hoàng lắm. Thầy Năm phạm nhe chủ nhà là người không vợ không con nên coi bộ thẩy mến con nhỏ dữ đa ! Thẩy nói để xin mình cho con nhỏ ở  luôn với thẩy làm con nuôi…

– Ý đâu được!

– Thì anh cũng biết như vậy, nhưng bề ngoài mình cũng phải nói đẩy đưa kẻo mích lòng người ta. Thẩy… tốt thiệt tình, với lại anh cũng nghĩ đến chỗ mai mốt gì đây thế nào mình cũng phải chạy xuôi chạy ngược lo buôn bán làm ăn chớ bộ ở không ăn hoài như vầy được sao!

Thím Hương cự nự:

– Ai biểu anh tài khôn đó hả? Bộ em không đủ sức… lo một mình sao?

Anh Tư lắc đầu chán ngán:

– Bị em nói cái điệu đó mà ở ngoài người ta ngó vô người ta cười anh thúi óc! Nhưng điều đó chẳng ăn thua gÌ, đáng kể hơn hết là làm sao số vốn của mình có sanh lợi, chớ ngồi không ăn hoài thì… tới nhà băng cũng sụp đừng nói gì tới ba mớ của cái em đem theo đó.

Thím Hương thở dài:

– Em cũng biết như vậy nhưng để thủng thỉnh rồi mình sẽ tính, chớ anh nghĩ coi từ hồi nào tới giờ mình chỉ sống nhờ huê lợi của ba miếng đất đai, vườn tược, ngoài ra có biết buôn bán làm ăn gì khác nữa đâu !

Anh Tư cười đáp:

– Ý trời ơi, chuyện làm ăn mà em nói.. đẩy đưa coi bộ Ccó vẻ thông thả quá sao được ! Thời buổi nầy cái gì cũng bắt đầu khó khăn hết, em hổng thấy thiên hạ chợ đen chợ đỏ rầm rầm đó sao? Mình muốn kiếm ăn thì phải nhào vô xông xáo bương chạy với người ta chớ em cứ tính để mai để mốt hoài thì có nước ngồi đó mà… ngáp gió!

Thím Hương cười theo, nhưng rồi lại phụng phịu cự nự:

– Đã đành như vậy rồi, nhưng anh cũng phải để cho em nghĩ… xả hơi một vài năm chớ! Bây giờ bày đặt ra buôn bán mần ăn rồi ngày này qua tháng kia, hai đứa mình mắc lo túi bụi thì còn thì giờ đâu để… thong dong, sung sướng như vầy nè!

Anh Tư chắc lưỡi:

– Coi, lo thì lo chớ cũng ăn ở với nhau chớ bộ em nói hễ mắc làm ăn là… là bỏ tuột luôn cái chuyện vợ chồng yêu thương với nhau hay sao mà em sợ dữ vậy?

Thím Hương tuy có vẻ bẻn lẻn, nhưng vẫn ngoe ngoẩy đáp lại:

– Xí, anh nói như vậy chớ để nữa rồi anh coi! Hồi ba thằng Long con Hạnh còn sống, ổng lo chuyện làng chuyện nước đi dông đi dài hoài bỏ vợ con ở nhà lên mốc lên meo hết… em ngán cái cảnh ấy quá rồi. Bây giờ hai đứa mình về đây sống chưa ấm chỗ, anh lại tính đi buôn bán để bỏ bê em nữa hả? Em hổng chịu như vậy đâu!

Anh Tư kéo nhẹ thím Hương lại gần mình:

– Coi, làm ăn là làm ăn, còn… hai đứa mình thì… vẫn còn hai đứa mình chớ bộ…

Thím Hương giụi mặt lên vai người tình:

– Dẫu sao đi nữa cũng không bằng như vầy!

Anh Tư vuốt nhẹ một bên vai tròn mát của thím:

– Bộ anh không muốn hai đứa mình… hoài hoài như vầy sao ! Nhưng nếu mình không biết nghĩ đến đường dài một chút, để cho ba số vốn liếng em đem theo thâm thủng hết đến chừng đó, đố khỏi có chuyện xào xáo, cắn  đắng với nhau.

Nói đến đây anh Tư đưa hai bàn tay nâng mặt thím Hương ra, mỉm cười tiếp lời:

– Mà dầu cho không có cảnh đó đi nữa, anh xin hỏi em: đến cái nước mình không còn đồng xu dính túi, ăn cơm nguội với muối hột và bận quần áo bằng thứ vải bố tời thì liệu có sức ngồi đó mà ôm xà nẹo với nhau không? hay là đứa thì đứng đầu đường, đứa thì chực ở xó chợ…

Thím Hương võng hai tay ra sau lưng anh Tư ôm siết cứng, nhúi đầu vô ngực anh ta và rùng mình nói ngắt ngang:

– Ghê quá anh ! Làm gì mà có chuyện đó được!

Anh Tư cười dòn:

– À, em thử một chuyến coi có hông!

Thím Hương ngửa mặt ra, cự nự:

– Nói bậy nữa đi!

Anh Tư tươi cười trả lời:

– Cái gì mà bậy! Vậy chớ em không thấy có những cặp vợ chồng đi ăn xin đui mù, cùi phong rách rưới, lở lói ốm đau… mà họ vẫn đẻ con năm một đứa nào đứa nấy mới ra đời đỏ lói như con chuột lột đó sao!

Thím Hương lại vội dấu mặt xuống ngực anh Tư và nói như hét lên:

– Anh nói ghê thấy mò hà!

Anh Tư hơi nhún vai:

– Chuyện đời nó như vậy đó em!

Thím Hương dậm chân xuống đất:

– Như… khỉ gì vậy! Anh nói sao tệ lậu quá vậy? Em mà như vậy, em lên cầu sắt đâm đầu xuống sông tự vận còn sướng hơn!

Nhưng rồi thím lại dịu giọng hỏi anh Tư

– Vậy chớ bây giờ anh tính sao đây?

Anh Tư dìu thím ngồi xuống ghế và tươi cười đáp :

– Anh biết ý em lắm nên mới nghĩ đến cách làm ăn nầy. Nó vừa chắc chắn, vừa khỏe ru, vừa… thuận tiện cho mọi cặp vợ chồng son…

Thím Hương lấy ngón tay điểm vào mặt anh ta:

– Anh lại kiếm chuyện nói bông lơn nữa phải hông?

Anh Tư làm mặt nghiêm:

– Ê, chuyện làm ăn thiệt tình chớ bộ giỡn sao em! Để anh nói hết cho em nghe rồi tùy ý em liệu định: Anh tính mình nên bán phứt ngôi nhà nầy đi…

– Coi, sao lại bán đi?

Anh Tư thản nhiên đáp

– Phải. Mình bán ngôi nhà nầy để kiếm mua một chiếc tam bản bốn chèo nào còn khá đem về sửa sang, о bế trét dầu chai lại rồi thả đi buôn bán…

Thím Hương ngắt ngang:

– Em có quen buôn bán bao giờ đâu?

– Thì có anh đây làm chi? Với lại nghề dạy nghề mà em lo gì ! Anh tính mình đi kiếm mua một mớ hàng vải Nhựt Bổn, thứ này trong miệt vườn khan hiếm lắm ngay ở trên Cần Thơ họ còn bán ‘‘bông’’ thiên hạ chen lấn rách áo trầy vai hết mới mua được một khúc.

– Như vậy, anh làm sao mua được hả?

– Dễ ợt. Anh có quen với mấy chú ba, chú bảy trên Cần Thơ, hễ mình có tiền và biết chỗ đi cửa sau thì thiếu gì ! Mình mua về ba mớ trữ sẵn dưới tam bản rồi thả rề vô miệt làng xóm nào dân cư đông đúc bán lần bán hồi… rồi lại chèo đi chỗ khác. Chỗ nào vui vui thì đậu lại chơi lâu, thong dong ngày tháng… Như vậy vừa kiếm thêm tiền, vừa không ai để ý quấy rầy đến hai đứa mình nữa…

Thím Hương hăng hái gật đầu:

– Ờ như vậy thì được! (Thím mỉm cười liếc xéo anh ta)… miễn là… anh hổng rời em thì thôi ! Tiền bạc em không màng, em chỉ cần có anh hè!

Anh Tư ôm choàng lấy người tình:

– Chớ bộ anh không cần đến em sao, hả cưng!

Sau khi bán nhà cửa, sắm một chiếc tam bản với hai người bạn chèo, cùng đi bổ hàng xong xuôi, thím Hương và anh Tư bắt đầu đi bán dạo hàng vải ở những vùng dân cư trù phú.

Ban đầu thím Hương nằng nặc đòi cho con Năm ở theo để đỡ đần cơm nước nhưng anh Tư gạt ngang viện cớ rằng: trong tam bản chật hẹp nếu để con Năm. ở chung nữa thì… mất sự thân mật giữa hai người.

Đó là một ‘‘lý do’’ quá vững chắc khiến thím Hương vui vẻ nhận ngay, nhứt là hai người bạn chèo ghe còn có thể nấu cơm làm cá được, nghĩa là rất thạo chuyện, bếp nút thông thường.

Trước hết, anh Tư cho tam bản thả về mấy vùng gần đó như trong miệt Ngãi Tứ, dưới Rạch Chiếc, Mương Điều hay bên vùng Cù Lao Mây, gặp chỗ nào có xóm nhà giàu hay khá giả một chút là tấp vô xách một bao hàng vải lên, đi vào các nhà mời mua…

Cả tháng đầu công việc làm ăn rất trôi chảy.

Thêm vào đó, gặp chỗ nào ưng ý, sông mát, vườn rậm hai bên bờ là anh Tư cho tam bản đậu lại để nghỉ ngơi.

Thím Hương rất hài lòng với cuộc sống mới đó. Ở những vùng xa lạ không ai biết mặt mình là ai trong một khoang tuy chật hẹp nhưng kín đáo và ấm cúng, cùng với anh Tư, thím sống những giây phút say đắm mặn nồng chỉ có ở những cặp vợ chồng son…

Mới đi bán sơ sơ một vòng như thế mà số hàng mang theo đã hết sạch. Anh Tư phải cho chèo tam bản thẳng lên Cần Thơ bổ thêm hàng, và lần này anh ta không thể còn viện cớ gì nữa để cản trở không cho thím Hương đi thăm con Hạnh. Đó là điều mà anh ta ngại nhất, tuy vẫn yên tâm phần nào vì dầu sao thím Hương cũng không thể ‘‘na’’ con nhỏ theo ghe được. Như thế làm sao nó tiếp tục học hành!…

Khi tam bản cập bực thạch bến Cần Thơ, thím Hương hối anh Tư liền:

– Bây giờ anh kêu xe lôi dẫn em đến thăm con Hạnh một chút nghen!… Và để em còn cám ơn thầy gì chủ nhà của nó đó..

Anh Tư có vẻ ngần ngại:

– Thôi để mình lo bổ hàng trước cho xong đã em à! Chuyện làm ăn phải lo trước hết rồi mới tới chuyện… nhà cửa…

Thím Hương ngắt ngang:

– Trời ơi, cả mấy tháng trời em không thấy mặt mũi con đâu hết mà anh ! Thôi, anh đi lo bổ hàng phần anh, rồi anh chỉ biểu đường đi nước bước cho em để em đi thăm con Hạnh một mình cũng được.

Anh Tư hấp tấp nói:

– Thôi được, để anh đưa em đi tiện hơn. Bề gì anh cũng đã đến thăm người ta một lần rồi… (anh ta đưa cườm tay lên xem đồng hồ), À mình đi liền giờ nầy phải lắm, đúng lúc tan sở của… Thầy Năm.

Thím Hương mừng rỡ kéo tay anh ta đi:

– Em phải ghé lại chợ mua một vài thứ gì cho con Hạnh và thầy Năm cái đã.

Anh Tư miễn cưỡng gật đầu:

– Em mua cho thầy Năm chai rượu, hộp bánh gì đó cũng được. Còn con Hạnh thì… để rồi vô đó coi nó cần cái gì mình sẽ sắm sau cũng chẳng muộn…

Anh Tư tiến lại xô cửa hàng rào nhà thầy Năm phạm nhe. Thím Hương hồi hộp đưa tay giữ anh ta lại, đưa mắt nhìn qua ngôi nhà rồi ấp úng hỏi nhỏ, một câu rất thừa:

– Bộ con Hạnh ở đây hả?

Anh Tư nhíu mày hỏi lại:

– Ờ… Mà có chuyện gì nữa đó?

Thím Hương luống cuống lắc đầu:

– Không… không, em hỏi… cho chắc vậy mà (rồi thím kiếm cách nói lảng ra) Cha, em coi bộ thầy Năm đây cũng khá giả lắm phải hông anh?

Anh Tư xô mạnh cánh cửa rào qua một bên rồi vừa vùng vằng bước vô, vừa càu nhàu:

– Tự nãy giờ em hỏi câu nào câu nấy cũng chẳng ăn nhằm đâu vào đâu hết! Thẩy làm việc nhà nước mà hổng khá sao được! Với lại nhà cửa người ta sờ sờ như vầy, người ta còn đòi nuôi không con Hạnh nữa thì… giàu nữa chớ đừng nói tới chuyện ‘‘khá’’!

Thím Hương xẻn lẻn nín thinh và rón rén bước theo sau anh ta, mắt nhìn lom lom về phía trong nhà.

… Thầy Năm mặc một bộ đồ bà ba lụa lèo đang nằm đọc báo nơi ghế xích đu nghe động vội ngẩng mặt lên. Nhận ra anh Tư, thầy mừng rỡ hấp tấp đứng dậy, quăng tờ báo lên mặt bàn kế bên rồi bương bả chạy ra:

– Ý trời, thầy Tư, thầy lên hồi nào vậy?

Chợt thấy có một người đàn bà mới ló ra phía sau lưng anh Tư, thầy Năm vội đưa tay gài lại cái nút áo để hở cổ, rồi luống cuống gật đầu chào.

Anh Tư chưa kịp nói năng gì hết, thấy vậy cũng đâm ra lúng túng. Anh ta ấp úng giới thiệu:

– Dạ đây là… thím Hương, má của con Hạnh…

Thầy Năm nhìn sững thím Hương trong một giây rồi đon đả lên tiếng:

– À, té ra đây là… ‘‘bà thân’’ của con Hạnh.. Cha, con nhỏ nó nhắc đến thím hoài.

Thím Hương hỏi liền:

-Dạ, con Hạnh có ở nhà hông thầy?

Thầy Năm niềm nở đáp:

– Dạ có, xin mời thím và thầy Tư vô ngồi chơi để tôi chạy kêu nó. Chắc nó lúc thúc đâu ở phía sau nhà.

Vừa nói xong, thầy tất tả chạy vô nhà sau, miệng réo gọi om sòm:

– Hạnh ơi Hạnh! có thím Hương… má của cháu lên thăm đây nè! Hạnh ơi Hạnh…

Con Hạnh cuống quít chạy ra, hớt hải hỏi lại:

– Má cháu lên thiệt hả? Đâu, má cháu bây giờ ở đâu hả thầy?

Thầy Năm níu nó lại:

– Khoan đã! Thím Hương đang đợi cháu ở đằng trước kìa.. Mà cháu nên… sửa sang quần áo lại cho đàng hoàng, tóc tai cho suông sẻ, chớ hông thôi ra ngoải thím Hương thấy cháu… u tệ quá thím phiền qua chết!

Con Hạnh lật đật kéo vạt áo cho ngay ngắn, vuốt sơ mái tóc rồi tông chạy ra. Thầy Năm mỉm cười lặng lẽ bước theo sau.

Vừa vén bức màn che nơi cửa buồng, thò đầu ra phòng khách, con Hạnh nghẹn ngào kêu lên :

– Má ơi má! Con đây nè !

Thím Hương đứng rột dậy:

– Hạnh hả Hạnh… má đây nè con!

Con Hạnh chạy а lại, nhưng nó bổng dưng khựng liền theo đó: nó vừa chợt thấy anh Tư đứng xê ra một bên phòng khách và anh ta như đang mải mê ngắm nhìn mấy bức tranh sơn thủy lộng kiến treo trên vách tường.

Thấy bộ điệu của con Hạnh và nhứt là để ý đến nét mặt bỗng nhiên chầm dầm xuống của nó, thầy Năm liếc nhanh về phía thím Hương rồi bước tới xô nhẹ nó đi lên:

– Thím Hương đó… sao từ hổm nay cháu nhắc luôn mà bây giờ gặp mặt cháu lại đừng chết trân ở đó hoài vậy. Chạy bương ra cho má cháu mừng đi cháu!

Con Hạnh lúc thúc đi tới.

Thầy Năm, dự đoán được và ngượng nghịu bất thần của thím Hương nên niềm nở tiếp lời liền theo đó, như để bào chữa cho… êm đẹp về thái độ ‘‘kỳ cục’’ của con Hạnh:

– Dạ thưa thím, chắc cháu lâu ngày không gặp thím nên nó… mắc cỡ đó mà!

Thím Hương nhìn thầy Năm với vẻ biết ơn rồi vừa mỉm cười hỏi lại con, vừa đưa tay ngoắc nó.

– Có như vậy hông Hạnh?

Con Hạnh bước tới nhưng đứng lại cách thím Hương một khoảng, tay vịn vào thành ghế xa lông rồi bỗng nhiên nó phát khóc tức tửi.

Thầy Nầm vội tiến lên rút khăn mu xoa vừa lau mặt cho nó vừa chắc lưỡi cự nự:

– Coi sao cháu… làm gì kỳ quá vậy? Nín đi cháu! Có thầy Tư lên đây thăm cháu nữa đây nè, sao cháu không chào hỏi gì cả hết vậy ha? Cháu làm như vậy qua… giận lắm nghen!

Con Hạnh đưa cánh tay áo lên quẹt mắt, day qua lí nhí chào hỏi anh Tư rồi cúi gầm mặt xuống.

Anh Tư, tự nãy giờ đứng yên như một kẻ bàng quan, mới lên tiếng hỏi con Hạnh:

– Ai làm gì mà mày khóc hả Hạnh? Tao có công đưa thím Hương lại đây thăm mầy, mầy chẳng mừng rỡ thì chớ lại còn làm phiền người lớn…

Thím Hương cuống quít chận lời anh Tư:

– Ối, thì con nít nó hay… tủi thân…

Anh Tư cắt ngang, giọng hơi sừng sộ:

– Ai làm gì mà nó tủi thân cà? Con nít con nôi mà mình buông thùa như vậy rồi có ngày nói nó hết nổi !

Thầy Năm ngượng nghịu nói chen vô

– Dạ thầy Tư, thầy nói như vậy cũng phải, nhưng xin thầy cũng châm chế cho nó một chút… Bị con Hạnh lâu quá không gặp thím Hương đây, hôm nay thím và thầy lên thăm nó bất tử nên nó… cầm lòng không đậu. Thầy hổng biết chớ ở đây, tuy tôi bận đi làm bên nhà thương tôi cũng chằng chằng chỉ bảo nó hoài và nói nào ngay nó cũng dễ dạy lắm chớ không phải giống như nhiều đứa khác đâu!

Anh Tư cười nhẹ

– Thì từ nay trở đi, việc lớn việc nhỏ gì tôi xin nhờ thầy trông nom dạy dỗ nó dùm… Tôi chỉ nhờ vậy thôi chớ thiệt tình tôi cũng chẳng… có quyền gì vô đó hết…

Thím Hương bực mình trừng mắt nhìn anh Tư khiến cho anh ta nín bặt. Thấy vậy, thầy Năm liền lên tiếng bảо con Hạnh:

– Nè Hạnh, cháu chạy ra sau kêu bà Ba rót nước bưng lên đây nghen cháu! À, hay là cháu… dẫn má cháu đi xem qua nhà cửa cùng chỗ nghỉ ngơi của cháu, cháu nhớ lấy tập vở bài học ra cho má cháu coi luôn nữa nghen!

Day qua thím Hương, thầy tươi cười khoe sức học của con Hạnh:

– Dạ, con nhỏ coi lơ mơ vậy mà học khá lắm. Ban đầu bị nó… nghỉ đứt đoạn vô học trễ, lại học trường khác nữa – tôi xin cho nó vào học trường nhà nước đó thím – tôi cũng ngại rằng nó theo không kịp chúng bạn trong lớp, nhưng sau đó tôi thấy nó học rút tới, và nói nào ngay tối nào tôi cũng kèm sát bài vở của nó nên bây giờ thì… khỏe rồi! Lẩm đẩm mà tháng rồi nó leo lên hạng mười và có đứng trong bảng danh dự của lớp nó nữa thím à!

Thím Hương cảm động nhìn con, mắt đỏ hoe. Thấy con Hạnh cau mày ngó thầy Năm như thầm trách sao ‘‘khoe tài’’ của nó chi vậy, thím Hương mới nhớ trực lại người đã săn sóc con mình. Thím vội day qua phía thầy Năm, ấp úng lên tiếng:

– Thiệt… khi không tôi làm phiền thầy nhiều quá…

Thầy Năm vội chận lời thím lại:

– Dạ có chi đâu thím.

Đoạn thầy day qua hối con Hạnh:

– Dẫn má cháu… xem nhà đi cháu, để qua ở ngoài này tiếp chuyện với thầy Tư, anh em lâu ngày mới gặp mà tự nãy giờ mắc lu bu chưa kịp hỏi thăm hỏi nom gì nhau hết.

Anh Tư gượng cười bước lại ngồi xuống ghế.

Thầy Năm hướng về phía hai người nói thêm:

– … Hay là sẵn đây, tôi xin mới thầy và thím Hương ở lại dùng cơm trưa với tôi.

Thím Hương toan nhận lời nhưng rồi lại đưa mắt dò ý tứ anh Tư. Anh này nghiêm mặt đáp:

– Cảm ơn thầy Năm. Xin thầy Năm để cho khi khác chớ hôm nay cả thím Hương lẫn tôi đều mắc công kia việc nọ hết, hông nói giấu gì thầy tụi nầy phải lo đi bổ hàng…

–  Ủa bây giờ hai ông bà… bây giờ thầy và thím Hương đây sang nghề buôn bán rồi à?

– Dạ phải, bởi vậy tôi và thím Hương phải lo bổ hàng đem xuống tam bản cho xong xuôi đâu đó để đi cho kịp con nước.

– Nếu vậy thì tôi không dám ép nữa… À Hạnh cháu nhớ nói với bà Ba chạy mua dùm vài ba chai la ve đem ra đây liền nghe.

Con Hạnh dà một tiếng rồi níu tay thím Hương dẫn đi. Thím quay lại ngượng ngập nói với hai người đàn ông

– Thôi thầy Năm và… anh Tư ở ngoài nầỵ nói chuyện chơi để tôi vô trong một chút..

Thoát vô nhà xong con Hạnh hối má nó liền:

– Sao lâu quá má hổng lên trên này thăm con hả má?

Thím Hương có vẻ lúng túng:

– Má nóng ruột muốn lên thăm con lắm chớ, nhưng tại con… đi đâu đó. (rồi thím nói lảng ra) Nè, con lo dặn biểu bà Ba bà Tư gì đó hông thôi thầy Năm thẩy đợi ở ngoài nghen!

Con Hạnh chỉ vô một cái buồng nhỏ:

– Buồng con ngủ đó, má vô ngồi đợi một chút để con chạy xuống bếp nói với bà Ba…

Thím Hương vui vẻ níu tay nó:

– Thì con dẫn má xuống luôn ở dưới. Con ở đây thì bề gì má cũng cần gặp qua bà Ba một chút…

Con Hạnh gật đầu:

– Nếu má muốn đi thì đi… nhưng gặp bã má đừng có nói chuyện gì dông dài nghen!

– Sao vậy?

Con Hạnh ngó đi chỗ khác :

– Chẳng có sao hết má à, nhưng…, nếu má nói chuyện với bả lâu thì còn đâu thì giờ để… trò chuyện với con. Hồi nãy con nghe thầy giáo Tư nói là má với thẩy mắc đi mua hàng gì đó gấp lắm.

Thím Hương thở dàị

– Ờ phải. Thôi má con mình xuống gặp bà Ba cho mau đi…

– Sao, hồi đó sao con bỏ đi như vậy? Rồi con đi đâu khiến… má kiếm hết hơi hết sức vậy?

Con Hạnh ngó lên trần nhà, rồi cúi gầm mặt xuống và đến khi thím Hương nhắc hỏi lại lần thứ hai nó mới chậm rãi kể lại mọi chuyện đã xảy ra, cố nhiên là nó giấu bớt những sự việc nào có thể làm cho thím Hương phải phiền lòng.

Nghe xong thím Hương đưa tay vuốt tóc con nói như để tạ tội:

– Thiệt má cũng không dè… xảy ra cớ sự như vậy thôi bây giờ mọi việc kể như êm hết rồi má cũng mừng. Con và thằng Long, hai đứa bây ráng học hành… bề gì hai đứa bây cũng lớn rồi chớ không còn nhỏ nhít gì như còn ở Tân Thới.

Ngừng lại một chút, như để lựa lời, thím ấp úng nói tiếp:

– Má tới thăm con chuyến nầy chắc còn lâu lắm mới trở lại… Bây giờ má mắc lo đi buôn bán xuôi ngược chớ đâu còn ở yên một chỗ… Ba con mất rồi thì… má phải lo bương chải làm ăn chớ ở không hoài sao được.

Con Hạnh hớt hải hỏi:

– Nói vậy má… đi luôn sao?

Thím Hương chắc lưỡi:

– Làm sao mà đi luôn? Nhưng lâu lâu má mới về thăm mấy con được. Còn về cái chuyện tiền cơm tiền nước tiền bánh trái thì con khỏi lo, má nhờ.. thầy Giáo Tư gởi đều đều…

Con Hạnh xụ mặt xuống:

– Chuyện tiền nong… dầu hổng có hay chậm trễ cũng chẳng sao… Thầy Năm ở đây tử tế lắm…

– Người ta tử tế là một lẽ, còn mình phải lo cho đàng hoàng là một lẽ khác.

– Nhưng…

– Nhưng sao?

Con Hạnh ngước mắt lên, giọng thảm thiết

– Nhưng bộ… má hổng thương tụi con sao?

Thím Hương không dám ngó thẳng mặt con.

– Coi, sao con nói vậy! Má mà hổng thương mấy con thì… thương ai? Nhưng hoàn cảnh của má… khác, con còn nhỏ dầu… má có cắt nghĩa thế nào đi nữa con cũng không hiểu được. Để con lớn rồi con mới rõ, mới thấy thương má…

Con Hạnh vùng vằng:

– Sao hồi nãy má nói là tụi này đã lớn rồi!

Thím Hương cười xòa

– Má nói lớn là lớn …nên không còn nhỏng nhẻo như hồi đó nữa! (liếc thấy con Hạnh vẫn còn chầm dầm thím nói lảng ra)…Con có cần dùng món chi hông, quần áo, tập vở…để má đi mua cho.

– Thứ đó, thầy Nam lo cho con đầy đủ hết!

Thím Hương ngập ngừng hỏi thêm:

– Thôi con còn nói chuyện gì nữa không để má ra đằng trước hông thôi…mấy ổng đợi. Con Hạnh rầu rầu đáp:

– Hết rồi má à.

 Thím Hương ngượng nghịu đứng lên:

– Thôi má con mình đi ra con! Con Hạnh bỗng níu tay thím lại, hỏi ngay :

– Má đi như vầy rồi…ai lo cúng quảy cho ba?

Thím Hương ngó lơ sang chỗ khác:

– Ờ… thì má cúng chớ ai. Má nhớ mà con!

Con Hạnh lại hỏi thêm:

– Lát nữa má có rảnh để ghé thăm …ba Sáu ngoài chợ hông? Để con dẫn má đi.

Thím Hương có vẻ do dự.

Con Hạnh nói tiếp, giọng năn nỉ:

– Ba Sáu cũng tốt lắm, như con đã kể cho má nghe hồi nãy, nếu không có ba Sáu thì hổng biết con ra sao!

Thím Hương chép miệng:

– Má đây cũng biết ơn người ta lắm chớ con! Nhưng để má hỏi…để má nói qua cho thầy giáo Tư biết coi thẩy có …nhượng cho chút ít thì giờ …phải biết má còn lo đi bổ hàng nữa.

Con Hạnh thở ra, chán ngán:

– Thôi, má nói như vậy thì để khi khác cũng được.

Thím Hương có vẻ vừa ái ngại vừa xẻn lẻn:

– Thì để má …tính lại coi.

Con Hạnh thản nhiên bước lên trước:

– Thôi, mình ra đằng trước đi má… 

Anh Tư vừa bán hết chuyến hàng vải ở miệt Ba Mít thì đã nghe tin Việt Minh ‘‘lên’’ ngoài Cần Thơ. Anh ta vội vã hối hai người bạn ở chèo rút tam bản ra đấy bất kể nước lớn nước ròng.

Sở dĩ anh ta phải hấp tấp như vậy là cốt ra ngoài chợ Cần Thơ cho kịp vơ vét ba mớ hàng vải trong một chuyến cuối, chớ để rồi đây Nhựt ‘‘xuống’’ thì hàng vải Nhựt cũng chẳng còn sang nữa.

Thấy anh Tư lo lắng làm ăn như vậy thím Hương cũng yên tâm, nhứt là thím lại có dịp ghé lên Cần Thơ thăm con Hạnh.

Lần nầy cũng như lần trước, anh Tư sắp đặt thì giờ thật khít khao khiến cho thím không thể nào dây dưa ở nán lại với con Hạnh thêm một ngày một buổi nào hết.

Một khi hàng hóa chất khẩm tam bản, anh Tư cho chèo về Trà Ôn để nghỉ xả hơi một thời gian. Nói là nghỉ chớ thật ra anh ta muốn đợi cho dân tình… êm thắm trở lại, và nhắm chờ giá cả hàng vải lên thật cao rồi mới bắt đầu ‘‘rỉ rả’’ chở đem đi bán.

Sự dự tính của anh Tư chỉ đúng có một phần. Nếu giá vải sồ có vọt lên cao thật thì trái lại thời cuộc mỗi ngày mỗi… lung tung thêm lên.

Lần quầng mấy tháng dưới Trà Ôn, anh Tư và thím Hương chẳng có mua bán làm ăn gì được cả. Kế đến, lại có tin Tây bắt đầu nổ súng trên Saigon… Và cặp ‘‘vợ chồng son’’ ấy cũng bắt đầu kém vẻ mặn nồng…

Đó là điều làm cho thím Hương phiền muộn nhứt.

… Một đêm nọ; sau một buổi cơm chiều khá thịnh soạn với món lươn om lá cách và nửa ly cối rượu thuốc bổ. Anh Tư có vẻ vui tánh trở lại.

Đêm ấy, nước sông Bassac lớn đầy, trăng sáng tỏ, gió thổi hiu hiu… Anh Tư trải chiếu trước mũi tam bản rồi lên tiếng gọi thím Hương:

– Em ơi, em làm gì lục đục ở trỏng hoài vậy? Ra đây ngồi chơi cho mát em!

Từ trong mui, thím Hương trả lời vọng ra:

– Để em dọn dẹp cho xong ba cái nồi niêu chén dĩa nầy cái đã!

Anh Tư bụm hai tay che gió quẹt diêm đốt thuốc hút, rồi hỏi trở lại:

– Ủa, còn hai cái thằng chèo ghe đâu mà tụi nó hổng chịu dọn vầy cà?

Vừa lúc ấy, thím Hương đã chui ra ngoài, lẳng lặng đến ngồi bên cạnh anh Tư, rồi đưa hai tay lên xõa tóc cho rủ xòa xuống hai bên vai như để hong gió.

Dưới ánh trăng sáng vằng vặc anh Tư bỗng để ý đến đôi cánh tay no tròn, trắng mát ló ra ngoài chiếc áo túi ngắn phong phanh… đến mớ tóc xum xuê đen nhánh… Anh ta thầm trách mình mấy tháng nay đã quá… bỏ bê con người đàn bà vẫn còn đẹp lồ lộ, vẫn còn đa tình một cách… não nùng thế kia!

Thím Hương bỗng mỉm cười hỏi ngang:

– Bộ người ta lạ lắm sao mà nhìn dữ vậy?

Anh Tư như sực tỉnh, cười đáp:

– Ờ… bữa nay cọi bộ em… tươi lắm!

Thím Hương trề môi một cách thật khiêu khích:

– Dữ hông!

Anh Tư xẻn lẻn nằm xuống chiếu, đoạn đưa tay quàng ra sau lưng thím

– Thì em tươi anh nói… em tươi chớ cái gì đâu mà ‘‘dữ hông’’?

– Xí, đợi anh khen một câu như vậy cũng đủ mòn hơi múc con mắt, đủ thành… ông già bà cả hết đây nè

Anồ Tư cười xòa

-Thì người ta khen đó còn gì nữa!

– Ờ phải há? Cả mấy tháng nay anh có thèm ngó ngàng gì đâu! Chẳng bằng hồi đó cố… xô anh, anh cũng hổng dang ra! Phải dè như vầy em ráng ở góa phứt luôn cho rồi để khỏi… bận bịu cái khỉ khô gì nữa ráo!

Anh Tư chắc lưỡi, kéo thím ngồi nhích lại gần:

– Em sao… thù dai quá hổng biết! (rồi anh ta hỏi lảng ra)… À, hai thằng chết dầm đó đi đâu mất rồi hả em?

– Hai đứa nó mới vô Thanh Niên nên đêm nay bắt đầu đi canh đi gác gì đó… Mà tụi nó đi đâu thây kệ tụi nó, chớ bộ anh muốn ban ngày cũng như ban đêm lúc nào tụi nó cũng theo tò tò khít bên hai đứa mình hay sao cà?

Anh Tư đẩy đưa cho xuôi theo:

– Ờ phải há… (đoạn anh ta nhích người qua một bên để nhường chỗ cho thím Hương nằm)… Ngã lưng xuống đây một chút em!

Thím Hương lắc đầu:

– Em ngồi đây được rồi.

Anh Tư rít một hơi thuốc dài, lồm cồm ngồi dậy như mới chợt nhớ ra điều gì:

– Nè em, để anh vô trong mui bưng dàn hát máy ra đây mình hát lai rai vài dĩa mùi mẫn nghe chơi nghen em?

Thím Hương gạt ngay:

– Ý thôi thôi, em hổng muốn nghe gì nữa hết (rồi sợ anh Tư phật lòng, thím mỉm cười tiếp lời). Đêm khuya thanh vắng như vầy mà lại đem xen tiếng hát máy vô, dầu anh lựa cái dĩa nào mùi mẩn gắt củ kiệu đi nữa thì cũng là như… xọc rằn, xọc dưa hết.

Anh Tư cười dòn đưa tay vuốt nhẹ mớ tóc mướt rượt chạy dài xuống quá thắt lưng và để xòa lên trên mặt chiếu:

– Thôi em nói anh hiểu rồi!… Nghĩa là em không muốn có một tiếng động gì khác làm xáo trộn, làm chỏn lỏn đi cái không khí tĩnh mịch nầy chớ gì.

Thím Hương vồn vã nắm lấy tay anh ta:

– Anh nói đúng ý em đa!

– Thôi hai đứa mình nằm xuống… hứng mát vậy!

Thím Hương rùng mình, co ro đưa tay giữ lấy hai vai:

– Lạnh thấy mồ đây nè mà hứng mát nổi gì! Thôi em vô ngủ trước đây…

Anh Tư vội níu thím lại:

– Coi, rồi bỏ anh một mình ở ngoài này à?

Thím Hương cười mũi:

– Chớ cả mấy tháng trời nay em nằm chèo queo một mình đó thì sao!

Anh Tư chắc lưỡi, nói bỡn:

– Cha, bà nầy bả… nhớ dai quá ta! Thôi, anh cũng đi ngủ nữa chớ đêm nay dầu cho… mình đồng gan sắt anh cũng chẳng dám ở ngoài này nữa!

Thím Hương trề môi:

– Hứ, hổng ai nài ép anh đó nghen!

Nói đoạn thím xoay người chui vô trong mui tam bản.

Anh Tư vội réo giựt ngược:

– Đợi anh vô với em!

Thím Hương không nhịn được cười:

-Trời ơi, đó với đây mà đợi chờ gì nữa hổng biết ! (rồi thím làm mặt nghiêm) Anh coi chừng đa, anh bắt em đợi quá nhiều rồi, lần này mà anh… lôi thôi, ơ thờ nữa thì đừng có trách người ta đó nghen !

Anh Tư so vai rút cổ:

– Ý trời trời… làm gì mà em hăm he dữ quá vậy! (anh ta đứng lên chỉ về phía mũi tam bản)… Anh kêu em đợi là đợi anh nhổ sào chống chiếc tam bản dang ra khỏi cầu để mình đem lại đậu khuất dưới lùm me keo đằng kia kìa. Như vậy, em hổng ưng ý hay sao?

Thím Hương làm bộ hỏi lại:

– Anh đậu như vậy, lát nữa rủi hai chú chèo ghe về rồi làm sao người ta xuống ngủ hả?

– Thì mình đậụ dang ra khỏi cầu như vậy cốt để cho hai đứa nó xuống… phá đám bất tử hổng được… Có chút xíu đó mà em cũng hỏi!

Thím Hương mắc cỡ chui tọt vô trong mui:

– Anh muốn làm gì đó thì làm, em vô trước đây nghen…

Anh Tư mỉm cười bước lại nhổ sào.

Sau khi chiếc tam bản đậu yên chỗ khác rồi anh Tư vội vào với người tình. Thấy trong mui tối lờ mờ vì tàn mấy cây me keo chận bớt ánh trăng soi, anh Tư lên tiếng hỏi nho nhỏ:

– Em đâu em?

Thím Hương cựa mình:

– Đây nè, Anh làm gì ở ngoải lâu dữ vậy? Thôi vô nằm xuống đây đi.

Anh Tư bò vào đưa tay quờ quạng và kêu lên:

– Làm gì mà da thịt em nóng hừng hực như vậy nè?

Thím Hương quèo tay quớ lấy ngang lưng anh ta kéo nằm xuống.

– Bậy nà! Tại anh ở ngoài thấm sương lạnh mới vô nên thấy vậy… Mà thôi hổng nói chuyện gì nữa hết!…

Ngoài bóng rợp của đám me keo, trăng vẫn sang vằng vặc.

Nước sông vẫn lớn đầy, có điều là cơn gió ban nãy chỉ thổi hiu hiu bây giờ lại ùa ùa đến ào ào, liên tiếp đẩy những lượn sóng từ mặt sông cái vào bờ làm lắc lư không thôi chiếc tam bản của hai người không cần đến trăng sáng, gió lộng và… sóng dồn…

… Thím Hương rút nhẹ cánh tay ra khỏi cổ anh Tư rồi kề sát mặt anh ta, thủ thỉ:

– Anh Tư… bộ anh ngủ rồi sao hả? Em muốn bàn với anh việc nầy…

Anh Tư như sực tỉnh, lấy chân khều chiếc mền lại gần rồi vói tay lấy đắp lên bụng, giọng hơi cằn nhằn

– Thôi thôi, việc gì cũng dẹp đến sáng mai chớ bây giờ buồn ngủ thấy mồ đây nè!

Nói đoạn anh ta day mặt vô bên vách mui định ngủ, nhưng thím Hương vịn vai anh lại:

– Sao em thấy tỉnh khô hà?

Anh Tư thở dài:

– Thiệt tôi chịu thua mấy bà… Thôi em muốn bàn cái gì đó thì nói phứt đi chớ giờ nầy cũng khuya lắc khuya lơ rồi.

Thím Hương ngồi rột dậy, anh ta nhăn nhó kêu lên:

– Ý trời, bộ câu chuyện của em… dài dòng lắm sao hả?

Thím Hương mỉm cười đáp:

– Sao cưng rên quá vậy cưng? Em muốn bàn với anh về chuyện buôn bán làm ăn của hai đứa mình…

Anh Tư chận ngang:

– Cha sao bữa nay em bốc chứng muốn bàn tính chuyện làm ăn ngang xương nửa đêm nửa hôm như vầy nè!

Thím Hương vỗ nhẹ vai anh ta:

– Thì tại bữa nay anh vui vẻ nên em mới dám nói, chớ mọi khi thấy anh chầm dầm hoài em ngán thấy mồ! Vừa ngán mà lại vừa lo nữa.

Anh Tư bực mình ngồi dậy và lấy điếu thuốc ra hút đoạn hỏi xẳng lại:

–  Em lo cái gì hả!

Thím Hương kéo gối nằm xuống thản nhiên bảo anh ta:

– Thôi anh muốn ngủ thì ngủ đi, em cũng ngủ đây!

Anh Tư quăng mạnh điếu thuốc đang hút. dở xuống mặt nước, nói như quát:

– Sao ba hồi em bắt anh thức, ba hồi em biểu anh ngủ?

– Chớ ai biểu anh cự nự đó chi? Thôi bây giờ anh có ngủ thì ngủ đi em hổng nói gì nữa đâu.

Anh Tư cằn nhằn:

– Ngủ khỉ gì nữa được. Em làm người ta bực mình bực mẩy, tỉnh ngủ hết trơn đây nè!

Thím Hương bật cười, ngồi dậy bới tóc cho gọn lại:

– Anh sao dễ bực mình quá. Phải hồi nãy anh chịu khó nghe em nói chút thì êm ru hết và vui vẻ cả hai hén anh?

Anh Tư thở dài:

– Ờ phải. Chuyện chi đó em?

Thím Hương nhích lại gần anh ta

– Em thích hỏi anh coi… việc mua bán làm ăn của mình rồi ra sao… chẳng lẽ mình cứ neo tam bản nằm dầm nằm dề ở đây hoài sao? Nếu anh coi hổng êm thì tốt hơn hết mình nên bán phứt chiếc tam bản nầy đi lên bờ coi nhà nào kha khá mua lại ở đỡ, chớ lúc thúc dưới này tủ túng quá!

Anh Tư chắc lưỡi:

– Sao em nóng quá ! Làm ăn thì cũng phải có khi kẹt chớ em biểu phải xuôi chèo thuận mái luôn luôn được sao! Mà em nghĩ lại coi:  mình dè đâu thời thế nó biến đổi lung tung như vầy?

– Ờ sao kỳ này… lộn xộn lâu quá vậy anh? Anh nhắm coi chừng nào yên yên được hả anh?

Anh Tư nhún vai

– Thời buổi nầy mụ nội ai cũng hổng biết đâu mà nói trước được! Thì ban đầu mình tưởng Tây đi, Nhựt lại, Nhựt xuống, Việt Minh lên… nghĩa là ‘‘ông lên bà xuống’’ rồi êm cho dân gian người ta mua bán làm ăn, chớ có dè đâu Tây trở lại, rồi đánh giặc cù cưa cù nhầy như vầy nè!

Thím Hương lo lắng hỏi:

– Nói vậy, lộn xộn hoài sao?

– Ai biết đâu… mấy cha nội trên Ủy Ban mấy chả là… nhà nước bây giờ mà coi bộ mấy chả cũng không biết trời trăng gì ráo! Có hỏi, mấy chả cũng trả lời mờ ớ rằng mình ‘‘thắng’’ tứ tung nhưng coi bộ cha nội nào cũng lo cho vợ con tom góp tiền bạc của cải rục rịch tản cư hết!

Thím Hương hốt hoảng:

– Trời ơi, nếu vậy hai đứa mình đi đâu anh? Còn cả đống hàng vải trong ghe rồi làm sao? Hay là mình thả vô mấy miệt gần gần đây để bán cho hết đi, vừa tránh trước chuyện giặc giả…

Anh Tư lắc đầu:

– Thả vô mấy miệt đó nguy lắm. Bề gì mình cũng có chút đỉnh tiền bạc, ở đây gần Quận nên còn có luật lệ chớ đi ra khỏi chỗ nầy thì lớp mấy cha nội cò ke lục chốt ở mấy ủy ban dòm ngó, lớp mấy cha hồ chú nhẩn ở phe này phái nọ rình rập, lớp trộm cướp lền trời lền đất hết! Em hổng biết chớ ở mấy miệt đó, có người mới bán con heo buổi chiều là buổi tối có mấy cha nội tới.., vặn họng bẻ hầu rồi,..

Thím Hương chép miệng than thở:

– Hèn chi ông già bà cả họ nói thời buổi quỷ vương làm lộng cũng phải lắm mà!

Anh Tư thản nhiên nói tiếp:

– Đó là chưa kể cái nạn thổ dậy, rủi ro mình đi vô mấy miệt đó và gặp cái luồng mấy cha ‘‘ông trời hổng sợ’’ đó đi thì kể như… mạng vong dĩ tuyệt! Họ mà gặp em thì chỉ có nước… nát bấy như tương tàu hết!…

Thím Hương rùng mình

– Anh nói sao nghe ghê quá hà!

– Sự thiệt nó là như vậy.

– Bây giờ mình tính sao đó anh? Chẳng lẽ chịu chết ở đây sao?

Anh Tư nhún vai:

– Thì… ai sao mình vậy, thời buổi nầy ông trời kêu ai thì người nấy dạ,

– Thôi em hổng chịu ở đây nữa đâu!… Hay là mình lên trên… Cần Thơ ở hả anh?

– Trời trời… Tây nó đang nhắm mấy cái tỉnh lớn, cái điệu này đây sớm muộn gì nó cũng đi tàu binh xuống, thiên hạ ở trển họ đang rục rịch tản cư mà mình lên đó để… cho cơm súng đạn hả?

 Thím Hương chụp hỏi liền:

– Nếu vậy rồi con Hạnh với thằng Long, hai đứa nó đi đâu?

Đã nói lỡ lời rồi nên anh Tư lúng túng tìm cách đáp cho xuôi:

– Thì… người lớn đi đâu mấy đứa nó theo đó chớ gì… Em đừng lo, chủ nhà của hai đứa nó ở tử tế lắm!… Mà anh nói là chuyện… xa vậy chớ dễ gì Tây nó xuống liền được.

Thím Hương suy nghĩ một hồi rồi níu tay anh Tư, giọng rắn rỏi:

– Anh Tư, đằng nào mình cũng không thể ở lì một chỗ dưới nầy được, vậy em tính mình nên thả lên Cần Thơ để em thăm qua con Hạnh, còn anh, anh vọt sang Vĩnh Long thăm thằng Long… Nếu mình không thể rước tụi nó đi theo được, thì ít ra mình cũng gởi gắm tụi nó lại cho người ta và đưa trước chút đỉnh tiền nong.

– Để thủng thẳng hổng được sao em?

– Em nói thiệt nếu anh không chịu đi thì em để chiếc tam bản này cho anh giữ, em đi một mình đa!

Thấy thím Hương đã không đòi rước hai đứa nhỏ và có vẻ quyết liệt muốn đi, anh Tư đành nhân nhượng. Anh ta làm như… sốt sắng tán thành:

– Em tính như vậy cũng… gọn. À phải rồi, sau đó mình thả vô miệt Ba Mít, ở mấy chổ mà lúc trước mình có đi qua rồi đó em. Ở miệt đó, dân tình coi bộ hiền lương dễ chịu…

Thím Hương ôm choàng lấy cổ anh ta:

– Vậy mai mình sửa soạn rồi đến sáng mốt mình đi nghen anh?

– Cũng được.

Thím Hương hôn như mưa bất lên má, lên cổ lên tai anh ta:

– Cưng ơi cưng, em… cưng cưng quá!

 Anh Tư vừa ngáp vừa nhoai đầu ra

– Thôi bây giờ mình… đi ngủ chớ để quá giờ quá giấc mệt chết!

Thím Hương càng xiết chặt vòng tay và đã đớt hỏi lại

– Sao em hổng thấy buồn ngủ khỉ khô gì hết, hổng thấy mệt chút bẻo nào hết vậy anh?

Anh Tư nhẹ gỡ cánh tay của thím ra và đáp bằng một giọng quá… thê lương:

– Thôi mà em! Tội nghiệp mà em!

Thím Hương bực mình xô mạnh anh ta ra:

– Ngủ! ngủ! Hể rớ tới anh là anh… ngủ hè!

Nói xong, thím nằm vật xuống chiếu quay mặt vô vách mui.

Anh Tư xớ rớ ngồi đó một hồi: anh ta muốn năn nỉ vuốt ve thím một vài lời nhưng lại ngán thím… làm lành trở lại bất tử thì cũng… hơi phiền!

Anh ta rón rén nằm xuống ở sát bên nây vách, lắng tai nghe ngóng… Thấy ở bên kia, thím Hương có vẻ êm rơ, anh ta thở ra một hơi nhẹ nhõm, nhắm mắt lại và ngủ mê đi liền theo đó…

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Phạm Văn Bình


6. Huế, Pháo Đài Của Niềm Tin

Nếu chiến trận không diễn ra khốc liệt, Huế đang sửa soạn bước vào mùa thi. Bây giờ, phượng vĩ nở đầy hoa, thắm rực đường phổ. Bây giờ, trong những ngôi vườn rợp bóng cây xanh, tiếng ve vẫn vô tình inh ỏi, theo đúng chu kỳ đổi thay của thời tiết. Và cũng ây giờ, trên những xóm thôn dọc theo hai bên bờ sông Hương, những khu ngoại ô của Huế mang tên gọi thân thuộc như tên người tình: An Cựu, Kim Long, An Hòa, Đập Đá, Bao Vinh giờ đây các cây nhãn đã rụng hoa, kết trái để rồi khoảng một tháng sau, khi nắng hè, vàng chín lối đi, những chùm nhãn lồng được bày bán khắp phố Huế. Những chùm nhãn lồng qua mùa thi của Huế, vượt đường bộ theo các chuyến xe đò ra Đông Hà, Quảng Trị, quanh co leo đèo Hải Vân, mây sa trên đỉnh, biển lộng dưới chân, trên chuyến xe lửa tốc hành đến Đà Nẵng, Quảng Nam. Những chùm nhãn được nâng niu bởi mười ngón búp măng nõn nà, từ tốn rời phi cảng Phủ Bài, vượt mây, mang hương vị mùa hạ cố đô vào tận Saigon.

Những trái nhãn lồng tròn lẵng, cơm dày, mọng nước, cắn ngập chăn răng nhưng không dám ăn vội, nhai dè sẽn và nuốt chừng mực vì sợ chút ngọt ngào của Huế vừa bắt gặp chóng mất,và dư hương cũng chóng tàn phai.

Người lớn ăn nhãn Huế để hoài niệm quá khứ, bùi ngùi tưởng nhớ thời vàng son rực rỡ đã lùi vào bóng tối, những tháng ngày mũ áo thênh thang, sênh phách nỉ non đã bị lớp rêu thời gian làm mờ phai dấụ vết, chôn kín dưới đáy hồ sen bao phủ quanh dãy trường thành, chằng chịt những rễ cây biến cố. Người trẻ, ăn trái nhãn Huế chắc không khỏi chờ đến đôi môi người tình và những nụ hôn đầu đời, khai phá thế giời hoang sơ, kỳ diệu của tình yêu.

Bây giờ, nếu những tin tức chiến sự viết về Quảng Trị, Mỹ Chánh, Pleiku. Bình Long không chiếm đầy trên trang nhất các nhật báo thủ đô và vấn đề Việt Nam, một Việt Nam đau thương và bi tráng, đề tài vô tận được khai thác trên các đài bá âm, những bản tin viễn ký tới tấp đánh đi trên khắp địa điểm thế giới cạnh các cuộc công du gặp gỡ của các lãnh tụ hạng gộc. Nếu những sự kiện vừa liệt kê đã không xảy ra, nghĩa là Huế trở lại không khí bình thường của những ngày thanh bình cũ thì trên các con đường, dưới những tàng hoa phượng tại các khu Đồng Khánh, Quốc Học, Bồ Đề, Nguyễn Du giờ đây đã tấp nập đi về những đàn nữ sinh áo trắng, nói cười riu rít như chim.

Ngày trôi chảy trong nắng vàng và màu trắng trinh nguyên, khi những chùm sương lướt thuớt trên sông bắt đầu tản mạn làm hiện rõ những con đò soi bóng trên Hương giang mướt xanh màu mắt thiếu nữ. Thuyền khởi sự chuyển động, xe nhịp ròn máy nổ mở màn một ngày sinh hoạt mới khi mặt trời rực sáng từ hướng biển Thuận An. Và chiều buông, trăng lên, sao rạng rỡ lóng lánh khắp bầu trời. Nơi đó, chưa hiển hiện những tòa binh đinh cao ngất, những dòng ngựa xe thác lũ, bon chen theo nếp sống qua các ngã tư đèn xanh đèn đỏ máy móc nên trăng sao còn giữ lại chút huyền ảo, thơ mộng của thiên nhiên. Nhìn trăng còn có thể xúc động khi chợt nhớ ánh trăng mê cuồng trong thơ Hàn Mặc Tử, trăng mộng mơ của Xuân Diệu và trăng thổn thức khi lạc vào vườn thơ Lưu Trọng Lư. Ở đó, những vì sao còn mang nét quyến rũ, duyên dáng của chuyện tình được kể bởi Alphonse Daudet.

Không nơi nào mang lại những cảm giác kỳ thú, nhuốm đầy ảo tượng bằng Huế vào những đêm trăng, nắm bàn tay mềm mại của người tình thơ thẩn dạo chơi qua các ngã đường vắng lặng ướt đẫm sương trăng, những khu vườn thơm ngát mùi bông sứ hay thoảng nhẹ hương ngọc lan. Huế cổ kinh và thơ mộng, thế giới người sống trộn lẫn người chết, nơi chiếc bóng nặng nề của quá khứ vẫn tỏa rợp lên lối sống và sự suy tưởng hiện tại. Chưa đến Huế, chắc bạn sẽ không tin khi có người kề lại những đêm khuya khoắt đã nhìn thấy hình ảnh một chiếc thuyền rồng, hoa đèn rực rỡ và những cung nữ cũng sáng rực như đèn, vừa hát vừa đưa đẩy mái chèo…trên không trung. Cũng có kẻ, thỉnh thoảng đã nghe tiếng cười thống khoải, ẩn ức, giả tỉnh giả điên của vua Thành Thái trên bến Vân Lâu những đêm mưa mờ mịt.

⬤

Tháng Tư, mùa hạ trở về theo những vì sao biếc, tiếng đại pháo và xe tăng xuất phát từ bên kia con sông chia cắt tràn xuống phương Nam khiến dòng sinh hoạt xứ Huế sững sờ đứng khựng lại. Những sửa soạn của cuộc hành trình bưc vào mùa bạ, mùa thi tạm thời hủy bỏ, những xôn xao vừa nhen nhúm cũng lịm tắt theo âm vang lửa đạn của trận chiến qui mô đã khởi diễn nhiều nơi trên tấm bản đồ chiến thuật. Quân ta rời khỏi mười ba tiền đồn phía Nam khu phi chiến, địch tín công Lộc Ninh, chiến sự có thể nổ lớn trên chiến trường Tam Biên.

Những người dân Huế nhìn nhau mắt thoáng lo âu, hỏi nhau những câu vu vơ để trấn tĩnh vì không biết hỏi ai, không lý hỏi đất trời, vì trời vốn mênh mông và đất thường nín lặng : “Chi lạ rứa, ăn chi mà người ta ham đánh nhau hoài vậy hè”. Ôi những ánh mắt muộn phiền của mẹ, chị và các em ta ngoài nớ. Những câu hỏi thốt ra nghe ngậm ngùi, quặn thắt nhưng thật dễ thương, cũng bắt đầu bằng ba chữ “Chi lạ rửa”. Chi lạ rứa chiều ni tui muốn khóc, nhìn chi tui thân cỏ mọn hoa hèn.

Rồi những bà mẹ Gio Linh rớt nước mắt rời mảnh vườn nghèo chỉ trồng toàn cây bồ quân và mít theo dân chúng Đông Hà, Cam Lộ, Quảng Trị tất cả chạy vào Huế khi quân la “di tản chiến thuật” khỏi tỉnh địa đầu. Bao nhiêu chuyện thương lâm xảy ra trên đoạn đường đầy máu và nước mắt dọc theo Quốc lộ 1. Những tràng đạn pháo kích đuổi theo dân chạy loạn như tiếng hú của những con quỉ gọi hồn, những xác chết sình thối không người chôn, những trẻ thơ ngậm chiếc vú không của người người mẹ đã chết, bà mẹ sanh chưa đầy thángg đùm con trong bọc vải lết qua đoạn đường tử thần, khi vào Huế mới hay mình đã khư khư ôm giữ chiếc bọc trống không. Những ngày ấy bao nhiêu thương xót.

Bóng đen đe dọa và hơi hướm mùi tử khí từ phía Bắc, từ núi rừng trùng điệp phía Tây đã váng vất chung quanh Huế. Có tin 4 Sư Đoàn Bắc quân đang đào hầm, chuẩn bị cho thế trận mới, mục tiêu là Huế sau khi quân ta rút khỏi căn cứ chiến thuật Phú Xuân.

Dân chúng cố đô lại lũ lượt bồng bế nhau chạy vào Đà Nẵng, Saigon trên các chuyến xe đò, xe nhà bỉnh 10 bánh, máy bay dân sự, quân sự. Xe chật ních như nêm, người la liệt, xếp cá bộp, người bỉu chặt hai bên hông, chất đống trên trần xe. Miễn la chạy thoát khỏi hai làn đạn giao tranh, miễn là tìm được chút bình yên khiêm tốn trên quê hương cuồn cuộn khói lửa để được sống sót, nghe nhau nói, thấy nhau cười, dù chỉ được nhìn nhau bằng đôi mắt quầng thâm. Đây cũng là cơ hội tốt cho những con bạch tuột thời cơ quờ quạng chân tay, uốn éo vòi nhọn. Một trăm ngàn đồng vé chợ đen, chợ đỏ Huế – Saigon.

25 ngày bàng hoàng thất thanh của địa ngục máu lửa Mậu Thân còn đó. Những mồ chôn tập thể, xác đứng xác ngồi cho đến bây giờ 4 năm sau, những hài cốt chứng tích thảm sát vẫn chưa mục rã trong lòng đất và những đau đớn, xót xa còu bàng bạc, nguôi ngoai trong lòng những người còn lại. Huế đã bị đánh mất mùa Xuân 1968 và giờ đây, mùa hạ 1972, cơn địa chấn đạn bom trận hồng thủy nước mắt lại đe dọa tìm về.

Nhưng Huế không thể lọt vào tay địch, dù chỉ có 25 ngày như trong biến cố Mậu Thân, nhất định Huế không chấp nhận một cuộc lui quân dù chỉ lui quân vì chiến thuật. Một giai đoạn sai lầm đã được chỉnh trang, sự hốt hoảng, xáo trộn ban đầu đã lắng xuống. Huế đứng vững và Huế trở thành pháo đài niềm tin trong lòng người dân cả nước.

Và như hồi Tết Mậu Thân, những chiến sĩ Mũ xanh đã hiện diện trong những ngày đầu của trận chiến và bóng dáng những chàng trai chiến phục rằn, nón sắt, súng XM. -16 trên tay trở thành hình ảnh thân thuộc của người dân cố đô. Họ ở bên trong, bên ngoài dãy trường thành, kiểm soát sự lưu thông tại những cửa chính dẫn vào Thành nội. Xa hơn nữa phòng tuyến mới dọc theo bờ Nam sông Mỹ Chánh của đoàn Cọp Biển là một tường đồng vách sắt hóa giải mọi ý định tiến sâu xuống phía Nam để chế ngự Huế của Bắc quân. Thế công mới khởi dầu, các chiến sĩ Sư Đoàn 1 đã lấy lại căn cứ Phú Xuân, đoàn Mũ Xanh cũng đã đột kích xuống Hải Lăng và đổ bộ tại Đông Bắc Quảng Trị. Đám mây đen vần vũ những ngày tháng tư tan biến trên vòm trời xứ Huế, vầng trăng mới đã tỏa rạng sự bình an xuống cố đô, dân Huế lần lượt trở về. Sinh hoạt tuy chưa trở lại hơi thở bình thường nhưng những trái tim Huế không còn rộn rã nhịp trống ngũ liên. Nhà đã có người ở, chợ bắt đầu đông và trên các đườug phố vài hàng nước ngọt, bún bò, bánh xèo e lệ nhả khỏi xanh thơm.

“Giờ thứ 25” đã kết thúc hoặc không bao giờ đến với Huế lần thứ hai. “Nhà có người ở” những chữ viết đơn sơ, nguệch ngoạc trên các tấm bìa cứng xé ra từ thùng thực phầm khô nhà binh hoặc kẻ vội bằng than lò trên các bức tường vôi chính diện hàm xúc một xác định : Ngôi nhà của một đời người, một không gian, vùng trú ẩn riêng biệt. Ngôi nhà như một tư hữu bất khả chiếm (trừ trường hợp bạo lực) đểra đi lúc mặt trời lên và trở về khi tan việc, ăn bữa cơm gia đình, nghe tiếng người thân thủ thỉ, con khóc cười bập bẹ tiếng nói lên ba.

Huế đứng vững và tồn lại, không phải vì một vài lời tuyên bố cho rằng hình thức chính thể này tùy thuộc vào trận đánh lịch sử sẽ diễn ra tại Huế. Bởi Huế chỉ là Huế với một đời sống trầm lặng nhưng phản ảnh nhiều màu sắc và hồn tính.

Huế chỉ quyến rũ và mến yêu khi còn được thanh thản nghe tiếng guốc reo vui của đàn chim áo trắng qua cầu Trường Tiền, e ấp trên bến đò Thừa phủ, buổi sáng bình yên ngồi nhấm nháp tách cà phê nơi quán Lạc Sơn, ăn tô bún giò bốc khói, ớt cay nồng chảy cả nước mắt. Và Huế còn nhiều thứ : bánh ướt thịt nướng Kim Long, bánh bèo chả tôm Vĩ Dạ, bánh canh Nam Phổ, cơm hến Đập Đá, bánh khoái cầu Đông Ba. Bao nhiêu hương vị sẽ mất hết ý nghĩa khi phải nối đuôi, xếp hàng trình tiêu thụ như người dân Hà Nội phải làm khi muốn ăn một bát phở.

Một ngày trên xứ Huế phải được bắt đầu như thế, sau đó đến sở làm, trường học, hư việu, hiệu sách, chọn cuốn sách mình ưa thích của tác giả mình nguỡng mộ hay kéo nhau đến nhà thằng bạn thân, đấu láo chuyện thời sự, chuyện đàn bà con gái, nghe nhạc Trịnh công Sơn, rồi trở về khi nắng chiều đã nhạt trên tháp nước Kim Long, đêm huyền diệu khi những nắm kim cương tung toé khắp bầu trời xanh thẳm. Một ngày êm đềm đáng sống, khác hẳn “một ngày của Ivanovitch”.

Mùa Xuân hoa mai nở, mùa hạ sen thắm trong hồ, mùa thu hoa cúc vàng trước ngõ và mùa đông bếp lửa reo vui. Củi đun lò nhặt từ những nhánh lá khô trong vườn hay mua ngoài chợ, không phải thứ củi hàng rào trộm như bác sĩ Jivago, nhân vật của Boris Pasternak đã làm.

⬤

Bây giờ, nếu chiến trận không diễn ra khốc liệt từ hai tháng qua, Huế đang sửa soạn bước vào mùa thi. Hoa phượng rực đầy lối đi và hương sen ngào ngạt trong hồ nhưng trước cửa phòng thi chưa rộn ràng nhữag đàn chim áo trắng. Hỡi những môi thơm nồng nàn và mắt thăm thẳm hạt huyền của những nàng Lara xứ Huế, hãy mang mua hạ trở về, vì Huế là pháo đài của niềm tin sẽ khôngg có điệp khúc “Chanson de Lara” cho Huế,

Túy Hồng, nhà văn nữ sinh trưởng lại Huế, đã phát biêu một nhận định về Huế “Huế là đất tán chứ không phải đất tụ”. Cho dù Huế là đất tán nhưng trong tâm hồn những đứa con miền Trung vẫn mong mỏi Huế là nơi chốn có thể tìm về bất cứ lúc nào để được nhìn Huế thở hít không khí của Huế, ăn những mớn đặc biệt chỉ có ở Huế.

Không bao giờ Huế phải chịu số phận “Quê hương trong trí nhớ” như Hà Nội, xin mãi mãi Huế sừng sững, pháo đài của niềm tin và bình yên như bức tranh tĩnh vật.

PVB

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Người Xứ Huế


5. Quảng Trị Trong Trí Nhớ

Năm 17 tuổi, tôi đã bỏ nhà phiêu lưu tận Hà-nội, Hải Phòng trong những tháng cuối cùng của kỳ hạn tập kết. Rồi theo con tàu di cư vào Nam lêu bêu giữa Sàigòn. Và sau đó đi lang bang lên mãi các tỉnh Cao Nguyên rồi vòng xuống miền duyên hải Trung phần. Mười năm phiêu bạt, tôi đã biết nhiều về những vùng trời xa xôi ấy.

Nhưng còn Quảng Trị, miền đất nối liền với Huế bằng 60 cây số quốc lộ và chỉ một giờ xe chạy là tới, tôi vẫn thấy xa lạ, chưa bao giờ có dịp đến đó.

Cho mãi tới năm 1965, tôi mới đặt chân tới Quảng Trị. Tôi đến vào đầu mùa mưa. Cơn mưa ở đây cũng dai dẳng sụt sùi như mưa xứ Huế. Tôi vốn là đứa con sinh ra và lớn lên trong lòng quê hương nghìn năm mưa gió, cho nên khi đến đây đứng dưới cơn mưa này, bỗng thấy lòng ấm lại vì cảm được nét quen thân. Buổi sáng lên xe ở Huế, mưa đã giăng đầy trời. Rồi cơn mưa cứ đeo đẳng chuyến xe chạy dài theo quốc lộ hướng Bắc mà đổ xuống thị xã này.

Trông bến xe, ít ai có thể nghĩ đây là cửa ngõ của thành phố. Trên bãi đất lồi lõm chật hẹp, những chiếc xe cũ kỷ đậu ngang dọc trước một dãy hàng quán lợp tôn. Nó gợi nhớ những quận lỵ âm thầm nào tôi đã đi qua trong nhiều năm phiêu bạt.

Nhưng bến xe Quảng Trị có một nét tương phản là trường Nguyễn Hoàng. Ngôi trường trung bọc ngày tôi đến hình như vừa mới sơn quét nên trông sáng sủa, khang trang. Qua cổng nhà trường dưới làn mưa lất phất, tôi thoáng thấy những người nữ sinh cũng áo dài tha thướt, cũng mái tóc ngang vai. Một cái gì gần gũi và tha thiết.

Từ ngôi trường dễ thương này, tôi theo một con đường nhựa nhỏ đi vào lòng thành phố để bắt đầu sống suốt mùa mưa ở đó.

Quê nghèo

Tôi có cơ hội tìm hiểu đôi chút về Quảng Trị. Nhưng nét nổi bật nhất của tỉnh này vẫn là nghèo, nghèo lắm. Vài khu phố vắng lặng, hàng hóa ế ẩm. Cả khu chợ chính ở đây vào giờ hoạt động nhất trong ngày cũng chỉ lác đác người.

Quảng Trị sau ngày chia đôi đất nước là tỉnh cực bắc của Miền Nam. Các vận chuyển thương mại từ Nam ra đều ngừng lại ở Đà Nẵng trù phú. Quảng Trị cứ lẻ loi dần. Thật ra cả Huế cũng không hơn gì. Nhưng dù sao vì nhiều lý do khác nhau, người ta vẫn còn đến Huế. Riêng Quảng Trị thì không còn gì để níu kéo ai. Họa hoằn đôi khi có một vài phái đoàn du lịch từ đâu chạy vùn vụt qua thị xã ra tận vùng phi quân sự nhìn chiếc cầu Hiền Lương, con sông Bển Hải, chụp ít phim kỷ piệm rồi lại vội vã quay trở về.

Quảng Trị vốn đã nghèo từ mấy trăm năm trước, rồi vì hoàn cảnh đổi thay của đất nước mà cứ lẻ loi dần và nghèo thêm mãi. Phần đông các ngôi nhà lầu tương đối khang trang, những cửa tiệm có nhiều hàng hóa nhất trong thị xã lại không phải là của người Quảng Trị. Chủ nhân là dân tứ xứ đến khai thác túi tiền địa phương. Họ làm giàu rồi chuyển sự giàu có đi nơi khác.

Đôi mắt người nữ tu

Một đặc điểm khác của Quảng Trị là rất nhiều người có đạo Công giáo. Hầu hết là đạo dòng từ hơn trăm năm nay. Thế kỷ trước, triều đình nhà Nguyễn ở kinh đô Huế tìm mọi cách để tiêu diệt đạo Công giáo và sát hại các giáo dân. Nhưng Quảng Trị nhờ nằm hơi xa tầm mắt vua chúa và lại có cửa bể cho các cố đạo ra vào dễ dàng nên đạo nơi đây đã phát triễn mạnh. Ngày nay, ngoài ngôi nhà thờ Đức Mẹ tọa lạc trên ngọn đồi La Vang nổi tiếng, còn rất nhiều nhà thờ nhỏ khác rải rác khắp làng xã Quảng Trị.

Giáo dân ở đây khá đông. Tôi không rõ số đích xác là bao nhiêu. Nhưng đi đâu tôi cũng gặp đàn chiên của Chúa, có một cách để tôi nhận ra ai là người Công giáo lâu đời ở đây. Cứ nhìn vào đôi mắt họ. Có một nét gì là lạ. Ánh mắt họ xa xôi sâu thẳm như hướng về một cái huyền bí cách trở nào. Nét chung chung của người dân Quảng Trị la nước da sậm đen và khuôn mặt hốc hác vì sống gần biển lại lao lực nhiều. Nhưng đôi mắt của nguời có đạo dòng vẫn ánh lên niềm tin trên gương mặt phong trần đó.

Nhiều cụ già ở đây giải thích cho tôi rằng người theo đạo vì quen đọc kinh cầu nguyện, tâm trí và đôi mắt luôn luôn hướng về cõi siêu hình, ngày lại ngày tạo cho họ một ánh mắt diệu vợi. Rồi họ sinh con đẻ cháu, đời nầy qua đời khác, con mắt đặc biệt đó biến thành nét lưu truyền trong giòng bọ.

Có lần tôi đã bắt gặp đôi mắt huyền diệu ấy nhưng đẹp hơn hẳn những đôi mắt huyền diệu khác của các giáo dân. Đó là đôi mắt một người nữ tu hiệu trưởng một ngôi trường nhỏ ở Quảng Trị. Hôm nói chuyện với cô trong văn phòng nhà trường tôi thật không ngờ người đi tu lại có khuôn mặt diễm lệ và dáng dấp đài các đến thế. Nếu thay chiếc áo dòng của cô bằng bộ áo trần tục, tôi tin chắc người nữ tu ấy có quyền dẫm lên hàng triệu con tim đàn ông mà bước.

Lúc ra về, tôi nói với anh bạn cùng đi rằng: “Không biết ai xúi dại cô ta bỏ đi tu như vậy”

Những Kinh Kha của thế kỷ 20

Đã nhiều giáo dân, Quảng Trị lại có nhiều người theo đảng phái chính trị nữa. Đảng ở đây chống Cộng kịch liệt. Có lẽ hai yếu tố Thiên chúa Giáo và đảng phái quốc gia đã un đúc cho đồng bào tỉnh này một lập trường dứt khoát với Cộng Sản đó cũng là lợi thế cho chính quyền địa phương.

Trong thời gian tôi lưu trú ở Quảng Trị có khá nhiều tổ chức tình báo Việt Nam và Mỹ gửi chuyên viên đến đây để lập các hệ thống sưu tầm tin tức hướng về nội địa Bắc Việt. Họ đã nhờ vào dân chúng địa phương rất nhiều. Các bản doanh tình báo thường đặt ở Đông Hà nằm về phía Bắc thành phố Quảng Trị và cái vùng phi quân sự. Đông Hà là thị trấn rất nhỏ. Ít ai ngờ cái phố thị khiêm nhường kia một dạo đã là tiền đồn chiến lược về cả quân sự lẫn tình báo.

Năm 1966, một viên đại úy từ Saigon ra tuyển dụng ngay tại địa phương một vị tu xuất lớn tuổi. Ông già này hàng ngày mang nải thuốc tây đi vào các thôn ấp vùng Đông Hà, Gio Linh để chấm định và tuyển dụng các tình báo viên. Những người này đóng vai Kinh Kha của thời đại mới vượt sông Bến Hải qua đặc khu Vĩnh Linh của CSBV. Dần dà họ đi sâu vào Nghệ An, Thanh Hóa. Một vài người bị phản gián CSBV bắt giết. Ông già tu xuất cũng bị thương vì đạn pháo kích của Việt Cộng ở Đông Hà. Nhưng ông ta không chịu vào Huế điều trị như lời đề nghị của viên đại úy mà nhất quyết tiếp nối công tác.

Kế hoạch còn dự trù đẩy các tình báo viên đó đi sâu hơn nữa vào nội địa Bắc Việt và thiết lập các đường dây có triển vọng kéo dài tới gần Hà Nội. Nhưng sau đó vì phương tiện yễm trợ thiếu thốn nên công tác phải bỏ dở dang.

Giòng sông định mệnh

Nếu tinh thần chống cộng, tinh thần sùng đạo của người dân Quảng Trị làm nên đặc tính của miền đất này thì cũng còn một đặc điểm khác ở đây mà người VN nào, người ngoại quốc nào cũng phải biết đến. Đó là con sông Bến Hải với chiếc cầu Hiền Lương. Rất nhiều du khách vượt hàng ngàn, có khi hàng chục ngàn cây số đến đây để nhìn tận mắt giòng sông lịch sử này.

Từ Quảng Trị đi theo quốc lộ 1 theo hướng Bắc qua một chặng đèo ngắn trên ấy có vài đồn bót của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, xe của du khách sẽ xuống thấp dần và đến Trung Lương nơi đặt một kỳ đài cao lêu nghêu.

Trước kia kỳ đài này thấp hơn nhiều. Một hôm người ta dựng lên một cột cờ mới cao hơn. Bên kia bờ Bến Hải, CSBV thấy cột cờ của họ thấy thua, họ liền dựng cột khác cao hơn của ta. Bên ta lại thi đua leo thang cột cờ. Rồi CSBV cũng hăng máu thi đua theo và cứ thế mà 2 kỳ đài Nam Bắc lên cao mãi cho tới ngày tôi tới thăm (cuối năm 1965) thì thấy kỳ đài của ta cao hơn của bên kia một tí.

Đi bộ từ đồn Cảnh Sát Trung Lương chừng vài trăm thước, khách có thể đứng ngay trên đầu cầu Hiền Lương phía Nam. Khách có thể trông rõ ràng người lính Công An võ trang của CSBV đứng gác bên kia cầu. Không có vật gì ngăn đôi chiếc cầu cả. Ngoại trừ 2 phần cầu được sơn hai màu khác hẳn nhau.

Về cái màu cây cầu cũng có một lịch sử thi đua. Trước kia toàn cầu là màu đen. Bên ta thấy cầu cũ quá nên cho sơn lại, dĩ nhiên sơn nửa thân cầu phía Nam thôi. Bên CSBV tức mình cũng cho sơn lại phân nửa cầu của họ, nhưng lại sơn màu khác. Vì vậy, chiếc cầu Hiền Lương đã mang hai màu tượng trưng cho sự cách biệt hai miền đất nước.

Bên kia cầu, quốc lộ 1 vẫn tiếp tục chạy thẳng ra hướng Bắc. Nhiều người Hà Nội đã nói với tôi là họ thích đứng đây, nhắm con mắt lại để tưởng tượng mình đang ngồi trên con tàu xuyên Việt theo quốc lộ thẳng tắp đó mà về tận cố đô yêu dấu.

Chính cũng tại cây cầu Hiền Lương này mà trước đây Tướng Nguyễn Chánh Thi đã tống khứ ra Bắc Việt các lãnh tụ trong phong trào hòa bình thân Cộng trong số đó có ông bác sĩ thân phụ của bà tranh đấu hung hăng Ngô Bá Thành.

Phải đứng trên đầu cầu Hiền Lương mới nhận ra tất cả cái phi lý của lịch sử. Chiếc cầu sắt rất hẹp, rất ngắn, bách hộ 5 phút là tới mà nó lại làm nên cả Vạn lý trường thành ngăn đôi hai thế giới thù nghịch.

Rồi phải bước xuống bãi cỏ dưới chân cầu để nhìn giòng sống êm ả trước mắt mà thấm thía hơn nỗi bẽ bàng của đất nước. Con sông quá hẹp, chỉ bơi vài chục sải tay là tới. Khách có thể điềm nhiên bước xuống rửa ráy ở bờ sông. Tôi không rõ con nước bên này và bên kia bờ có chất gì khác nhau không ? Thỉnh thoảng người ta vẫn cho đàn trâu xuống trầm mình dưới sông. Nếu có con trâu nào nổi hứng lội sang bên kia bờ liệu nó có biến thành con trâu… Cộng sản chăng?

Buổi chiều, người dân Trung Lương vẫn xuống đây giặt giũ, tắm rửa. Dù sao, Bến Hải vẫn là con “sông nhà” của họ.

Hải Lăng, quê hương của những cung tần mỹ nữ

Trên một chuyến xe đò nào trong quá khứ, có một ông khách lớn tuổi đã tỉ tê với tôi rằng Hải Lăng là nơi sản xuất nhiều gái đẹp và lãng mạn nhất miền này. Một số ái phi, cung tần mỹ nữ của vua chúa nhà Nguyễn vốn xuất thân từ Hải Lăng. Ông khách qua đường còn hóm hỉnh thêm rằng người trai phương xa nào đến đây nếu muốn lấy vợ Quảng Trị thì phải tìm cho ra con gái Hải Lăng mà lấy. Tôi đã cười và sau khi xuống xe cũng quên chuyện vu vơ đó.

Nhưng mùa mưa năm ấy, tôi đã gặp và yêu một nữ sinh trường Nguyễn Hoàng ở thành phố Quảng Trị. Sự tình cờ nàng lại là con gái Hải Lăng.

Những ngày cuối tuần, tôi đã đi về trên chặng đường mười mấy cây số, suốt hai bên là ruộng đồng và cỏ nội, nối liền thị xã Quảng Trị với quận lỵ Hải Lăng. Cái quận lỵ cực Nam của tỉnh mà trước kia nhiền lần chạy xe qua đó tôi chưa hề để ý. Vì quận nằm vào một vị trí e ấp. Đi qua đây, bên một sườn dọc của quốc lộ 1, khách chỉ thấy tấm bảng đề Chi Khu Hải Lăng ở trước vài căn nhà đơn sơ dùng làm trụ sở. Còn chợ búa, nhà cửa, dân chúng… thì lùi đàng xa, ẩn hiện sau những lùm tre nghiêng ngả bên kia lối mòn băng qua một thửa ruộng dài.

Những ngày gió mưa lầy lội, tôi đã băng qua thửa ruộng đó. “Một yêu là sự đã liều…” Hãy đi vào lối chợ. Hãy lần bước trên những đường đất quanh co đầy lá tre xào xạc. Hãy nhìn vào các căn nhà kín đáo âm thầm. Nhìn những mái tóc, những khuôn mặt thanh thoát, những ánh mắt sao quá đa tình gặp một lần rồi nhớ mãi.

Dạo về Hải Lăng, nhìn vào Lâm, tôi thật không còn ước mơ nào hơn nữa. Lâm và hình như một số thiếu nữ khác ở Hải Lăng cũng vậy, có nước da nõn nà không giống người các vùng khác của Quảng Trị. Một người bạn ngoài đó có lần nói với tôi:

– Mày mà lấy con Lâm thì sẽ nguy hiểm lắm.

Tôi hỏi vì sao. Anh ta bảo:

– Có ngày mày phải ngạt thở mà chết vì bộ ngực của nó.

Tôi mỉm cười sung sướng về câu nói đùa hàm ý khen tặng Lâm. Ngoài khuôn mặt phúc hậu, nàng còn được trời cho một thân hình nẩy nở với gò ngực căn phồng và êm ả.

Hôm đầu tiên bước vào nhà Lâm, tôi thấy ngay ở giữa nhà treo một bức hoành lớn sơn son thếp vàng. Tôi hỏi mẹ Lâm rằng bốn chữ Tứ Đại Đồng Đường này được Vua ban bao giờ vậy? Mẹ Lâm ngạc nhiên và sung sướng nhìn tôi:

– Ủa, anh cũng biết đọc chữ Hán nữa à?

Tôi mỉm cười nói với bà : “thật là một phúc lớn”. Tôi biết mẹ Lâm kiêu hãnh lắm cũng như một số gia đình khác ở Hải Lăng vẫn kiêu hãnh về những gì được vua ban tặng.

Thật tình tôi không biết chi về Hán văn cả, nhưng ở Huế tôi đã gặp một số bức hoành có 4 chữ Tứ Đại Đồng Đường Vua ban như vậy, nên quen mắt đi thôi. Các cụ già giảng giải rằng ngày xưa giòng họ nào có đủ 4 thế hệ còn sống (từ ông cố, ông nội đến cha con chắt chiu) thì coi như nhà đại phước và được Vua ban thưởng 4 chữ quý hóa đó.

⬤

Năm nay đứng giữa thủ đô Sàigòn, nghe tin khói lửa bốc cháy trên xóm làng Hải Lăng, tôi bồn chồn nghĩ về vùng đất heo hút kia với bao nhiêu kỹ niệm thân yêu bừng sống dậy.

Có khi tôi buông mình theo giấc mơ làm người lính chiến có mặt trong quân đoàn trở lại Hải Lăng, cái quận lỵ mà có lần tôi đã nối với bạn bè ở Quảng Trị là nếu sau này làm Quốc Trưởng tôi sẽ cho đổi tên thành quận Hải Lâm, chỉ vì người con gái tôi yêu ở đó mang tên Lâm.

Nhưng dù cho hai điều mơ ước đó có thực hiện được chăng nữa thì cũng chỉ là dã tràng xe cát biển đông. Từ sau bữa cơm chia tay ở nhà Lâm, trước ngày tôi nhập ngũ cuối năm 65, thì đường đời đã diệu vợi. Rồi 31 tháng trước đây, Lâm đi lấy chồng. Rồi những biến cố quân sự đột khởi, rồi loạn lạc chết chóc vã không còn tin tức gì nữa về người xưa. Đó có lẽ là một kết thúc quá tầm thường trong thời buổi loạn ly bây giờ.

Nhưng sao tôi vẫn khao khát trở về đó, nhìn lại Hải Lăng trong tai biến… Lâm và bao nhiêu người con gái đẹp thuần hậu như Lâm hình hài đã dập vùi đâu đó dưới bờ tre ruộng lúa của quê hương.

Tôi muốn về Hải Lăng xem có còn không ngôi nhà của Lâm với 4 chữ Tứ Đại Đồng Đường vàng son kiêu hãnh, với bờ dậu chè tầu xanh ngắt thật cao che kín khuôn sân rộng có nhiều cát xám. Khuôn sân mà sau bữa cơm chia tay, Lâm tiễn tôi đi ngang qua đó, trời chiều đã tạnh mưa, mẹ Lâm đem mấy cánh áo ra phơi, tôi muốn tự dối mình rằng cảnh cũ người xưa Hải Lăng vẫn còn đó, vẫn sống mãi huyền hoặc như trong thơ Trần Dạ Từ:

Em mười sáu tuổi, trăng mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa

N.X.H

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Huỳnh Văn Phú


4. Thủy Quân Lục Chiến Phòng Thủ Mỹ Chánh Như Thế Nào

I. Giòng sông Mỹ Chánh

Điều mà ít ai ngờ đến đã biến thành sự thật, một sự thật tàn khốc trong cuộc chiến tranh diệt chủng hiện tại. Đó là việc Hà Nội công khai xua quân tràn qua con sông ngăn cách Bến Hải với hàng ngàn xe tăng, đại pháo 130 ly và hỏa tiễn xâm lăng miền Nam Việt Nam. Và nếu chiến cuộc không bùng nổ lớn như thế, cái tên Mỹ Chánh cũng như bao nhiêu địa danh xa xôi khác trên phần đất khốn khổ này đã không trở thành quen thuộc với mọi người như hiện tại.

Vào những ngày đầu tiên của tháng 4-72 khi trận chiến bùng lên dữ dội, các căn cứ hỏa lực của ta nằm dọc theo khu phi quân sự bị thất thủ, sự sinh hoạt ở Mỹ Chánh vẫn bình thường. Người ta vẫn tấp nập đi đi về về, và giòng nước vẫn lặng lờ xuôi chảy ra Phá Tam Giang. Và cũng không một ai có thể nghĩ rằng một tháng sau đó, con sông Mỹ Chánh đã đi vào huyền sử đấu tranh của dân tộc. Bây giờ thì bất cứ người lính TQLC nào cũng có quyền hãnh diện khi nhắc đến địa danh đó. Nơi đây, gót giày xâm lăng của quân Cộng sản miền Bắc đã chùn bước và đã bỏ lại dọc theo giòng sông đó hàng trăm chiếc xe tăng đủ loại, hàng ngàn xác chết của đồng bọn khi chúng mưu toan tiến sâu hơn về phía Nam. Trong bài viết này tôi sẽ ghi lại một cách tóm lược trong truờng hợp nào mà con sông Mỹ Chánh trở thành phòng-tuyến bảo vệ Cố đô Huế từ sau cuộc lui binh (…)của Sư Đoàn 3 BB ra khỏi tỉnh Quảng Trị ngày 1-5-72, cùng những diễn biển tổng quát và những người lính TQLC đã chiến đấu như thế nào để giữ vững phòng tuyến này.

Ngày 15-4 tôi từ giã Saigon ra đơn vị trong khi học “nửa chừng” khóa học “điều chỉnh” rất ư là “Cultivateur” tại trường Bộ Binh Thủ Đức, một quân trường mà buổi sáng ngủ dậy đã có gánh hàng rong bán bánh cuốn, bún riêu la ơi ới ở đầu giường, buổi trưa thì đậu hũ và chè cháo loạn xạ. Khoảng thời gian này, từ 10-4 đến 30 tháng 4-72 Lữ đoàn 369/TQLC với các Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 9/TQLC đang hoạt động ở phía Tây và Tây Bắc Mỹ Chánh trong một khu vực rộng chừng 200 cây số vuông gồm các căn cứ Nancy, căn cứ Barbara và căn cứ Động Ông Đô nhằm ngăn chận sự xâm nhập của Cộng quân từ mặt Tây Nam Quảng Trị. Đơn vị tôi thì đóng tại căn cứ Nancy nằm bên trái quốc lộ l, cách cây cầu Mỹ Chánh chừng một cây số về phía Tây Bắc, sau đó di chuyển ra đóng ở một ngôi làng nhỏ, kín đáo sát bên cạnh đường rầy xe lửa. Gần một tháng trời chịu trách nhiệm khu vực trên, các đơn vị thuộc Lữ đoàn 369/TQLC đã chiến đấu trong những hoàn cảnh cực kỳ gian khổ. Hàng ngày chạm địch liên miên từ cấp Tiểu đoàn trở lên, đại pháo 130 ly của địch nã như mưa bấc, mọi công tác tải thương đều phải di chuyển bằng đường bộ, khiêng hoặc cáng đi trên một quãng đường dài gần 10 cây số đường núi vì trực thăng không có. (…)

Nhưng dù thế nào mặc lòng, các chiến sĩ TQLC cũng đã chiến đấu hăng say trong hoàn cảnh eo hẹp đó và mọi cố gắng của địch tiến quân ra vùng đồng bằng thuộc quận Hải Lăng đều bị chặn đứng hoàn toàn. Vì ai cũng hiểu rằng nếu để địch xâm nhập được thì tỉnh Quảng Trị bị cô lập ngay và quốc lộ 1 bị cắt đứt. Do đó địch quân cay cú, hằng ngày chúng gia tăng pháo kích các đơn vị của ta. Các pháo đội của Tiểu đoàn 1 PB/TQLC phải thay đổi vị trí đặt súng ngày một, nhưng di chuyển đi đâu cũng đều bị chúng pháo theo. Tiền sát viên của địch bám rất sát mọi sự xê dịch, di chuyển của ta. Lâu lâu quân ta bắt được một vài tên có máy móc vô tuyến đàng hoàng nhưng cường độ pháo kích của địch vẫn không hề suy giảm.

Tôi đã từng nghe những tiếng nổ, tiếng rít của các loại hỏa tiễn 122 ly, 240 nhưng lần này tiếng rít xé gió đi trong không khí cũng như tiếng nổ của loại đại bác 130 ly (bắn xa 27 cây số do Nga Sô chế tạo) nghe thật khiếp. Tiếng rít xé gió bay qua đầu, tôi có cảm tưởng như là tiếng phản lực bay trên trời. Rồi tiếp theo là một tiếng nổ thật lớn nhưng ấm, mảnh văng tung tóe rơi trên những mái nhà tôn như có ai lấy thật nhiều đá ném lên. Mảnh nào mảnh nấy to bằng cái chén và văng ra xa trong vòng bán kính 200th. Chẳng có ai biết chúng đặt súng ở đâu cả (Biết thì còn nói làm chi nữa) nhưng nghe được tiếng départ ở đâu trong dãy núi xa xa rồi sau đó khoảng chừng 5, 7 giây là đạn đã bay đến nổ ầm rồi.

Thường thì chúng cứ bắn hai quả một. Lính tráng hễ nghe hai tiếng départ ùng ùng thì la to : ” Một. cặp” đó các anh em ơi! Thế là mọi người chui lẹ vào hầm. Địch bớt pháo thì chui ra. Cứ chui ra chui vào như thế suốt ngày. Cái hoạt cảnh, lên hầm xuống hầm đó có lẽ tôi chẳng bao giờ quên được, nhất là khi một mảnh đạn văng rơi trên cái mũ sắt của tôi đánh cồng một tiếng như tiếng chuông chùa. Ôi ta thương cái mũ sắt biết chừng nào! Có hôm mấy trăm quả nã vào đơn vị của tôi, ôi thôi tơi bời hoa lá nhưng khi kiểm điểm lại thì chỉ có một chết và 3 bị thương vì đạn rớt trúng ngay hầm. Giữa lúc bị pháo kích, ai nấy ở trong hầm tinh thần căng thẳng nhưng khi nghe một quả bị lép không nổ thì một mọi người lại vỗ tay cười.

Tôi cũng không biết họ nghĩ sao mà lại cười như thế, có lẽ cười vì cái khôi hài của chiến tranh tự nhiên khi không bắn giết nhau. Riêng tôi thì tôi thương cái hầm của tôi hết sức, hôm nào đổi vị trí đóng quân, tôi không tiếc cái gì hết chỉ tiếc có cái hầm mà mấy thầy trò, anh em tôi đã đào đắp công phu. Nhiều khi nhìn nó, tôi nghĩ đến sự nhiệm mầu của đất. Đất nuôi sống con người, cứu vãn con người và khi người ta buông xuôi cũng trở về với 3 thước đất. Trên cõi đời ô trọc và buồn phiền này có cái gì tồn tại hơn là đất cát. Và đó có lẽ là cái ý nghĩa sau cùng của con người nhưng buồn thay không mấy ai để ý đến, chỉ lo đi tìm những cái ảo ảnh, danh vọng để lừa dối, phản bội và bắn giết nhau.

II.Hành lang máu

Khoảng thời gian đó, ngày cũng như đêm đối với tôi thật là dài. Ngày thì nóng, nóng tàn nhẫn. Trời không một cơn gió. Mồ hôi vã ra như tắm. Bên tai lúc nào cũng nghe tiếng súng, tiếng pháo của ta và tiếng pháo của địch xen lẫn những tiếng súng nhỏ của các đơn vị đang đụng độ. Ban đêm thì trời trong, sao giăng mắc. Chùm Đại Hùng Tinh với ngôi sao Bắc Đẩu in rõ trên nền trời, còn chùm sao Hiệp Sĩ nữa, cả hai đều chỉ về phương Bắc, nơi đó thành phố Quảng Trị đang cố đẩy lui các cuộc tấn công của Cộng quân. Hỏa châu thả sáng đầy trời, thỉnh thoảng ở phía Đông những lằn lửa xẹt lên ngang bầu trời rồi vụt tắt. Có lẽ đó là hải pháo đang bắn đi từ ngoài biển, đôi khi tôi cũng thấy những cụm lửa thật to của chiếc hỏa tiễn SAM của địch bắn lên các phi cơ.

Cho đến giờ phút đó, phòng tuyến ở phía Tây Mỹ Chánh do TQLC trấn giữ vẫn vững như bàn thạch. Và không một ai nghĩ rằng Quảng Tri sẽ bị thất thủ cả. Nhưng đùng một cái, trong các ngày 28, 29 và 30-4. Cộng quân pháo kích dữ dội vào thành phố Quảng Trị. Thế là dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau chạy đi về Huế lánh nạn. Không thể nào kể hết những thảm cảnh của đám dân chạy nạn đó. Trong hai ngày 29 và 30-4, trên quãng đường dài từ Quảng Trị đến Mỹ Chánh, người ta đi chen chúc nhau chật cả quốc lộ từ sáng đến chiều vẫn chưa dứt. Thôi thì đủ các loại xe lớn nhỏ nối đuôi nhau đi nườm nượp về Nam. Nhưng người đi bộ, gồng gánh vẫn nhiều hơn. Dưới mắt tôi, đó là một “con rắn người” khổng lồ ngoằn ngoèo dài đến hàng mấy chục cây số. Đây là một người thanh niên cõng một người mù vừa đi vừa thở, đàng kia là một người đàn bà gánh đôi thúng, trên đó một em bé chừng 4 tuổi đang vốc cơm ăn ngon lành.

Chỗ khác, hết cả một gia đình đang ra sức đẩy cái xe bò chất đủ thứ áo quần, bàn ghế và một con heo nằm co quắp ở phía trước. Một ông già, hình như là chủ gia đình đang kéo chiếc xe một cách mệt nhọc. Chiếc máy ảnh cầm trên tay, tôi đến trước mặt ông và bấm một “bô”. Ông cố nở một nụ cười đau khổ. Không biết ông cười vì được chụp ảnh hay cười vì cảnh đời dâu bể này ? Và trong ánh nắng hoàng hôn của ngày 29-4 một bà già có tật đang khập khểnh đi nhờ chiếc gậy trên tay, cái bóng đổ dài trên mặt đường. Bà ta đi chừng mười bựớc thì lại dừng. Xa hơn một chút, một ông già và hai cháu nhỏ đang ngồi thở dốc trên vệ đường.

Ngay trước vị trí đóng quân của Tiểu đoàn 5/TQLC, các anh chiến sĩ đem mấy thùng nước ra để bên đường cho dân uống, có anh đem cả phần gạo sấy của mình chia cho những gia đình đang đói lả. Dù sao đây cũng là những người còn được ít nhiều may mắn vì đã vượt về đến Mỹ Chánh. Một số lớn dân chúng bị kẹt trong vùng giao tranh giữa ta và địch tại cây cầu Bến Đá, 6 cây số Bắc Mỹ Chánh. Đó là khoảng đường “hành lang máu” của hàng ngàn dân vô tội chết oan trong khi đi lánh nạn. Lợi dụng một lỗ hổng nhỏ do sự rút quân của Tiểu đoàn 7/TQLC để đi ra tăng cường mặt trận Quảng Trị, Cộng quân đã xâm nhập được cây cầu Bến Đá và từ đó chận đốt những đoàn xe chở dân chúng cũng như bắn giết dân chạy nạn không tiếc tay.

Dân chúng đang đi trên đường thì bị hàng loạt đại bác 130 ly ngã ra chết. Những cái chết vô lý bủa chụp xuống đời họ như những nỗi kinh hoàng. Họ có biết gì đâu. Có cả một chiếc xe bị bắn lật nhào xuống hố kéo theo 30 mạng người và cái hố đó là mồ chôn chính họ luôn. Trên khoảng đường này không có một gia đình nào nguyên vẹn, kẻ mất người còn và thất lạc tứ tung.

Đấy sự nghiệp giải phóng của đoàn quân miền Bắc là như thế đó. Giải phóng người sống về mau bên kia thế giới, giải phóng tất cả sự nghiệp của mọi người trở về hai bàn tay trắng. Những hình ảnh đó có lẽ suốt đời tôi không thể nào quên được. Mỗi ngày, tôi từ vị trí đóng quân ra ngồi trên con đường sắt, con đường mà ngày xưa xe lửa đã chạy ra đến Hà Nội, nhìn đám dân lũ lượt kéo nhau đi mà lòng nghe chua xót. Tôi cố tìm trong đám người đi đó xem có ai quen thuộc không nhưng không, không có ai cả. Tôi muốn chia xẻ những nỗi khổ đau với họ nhưng tôi đã hoàn toàn bất lực

III. Bên này sông, bên kia sông

Giữa toán người đi hỗn độn đó, Tiểu đoàn 5/TQLC tung quân lên cầu Đập Đá để giải vây áp lực địch, tại đây Tiểu đoàn 7/TQLC khi đi tăng cường cho mặt trận Bắc Quảng Trị vẫn còn bị kẹt lại hai đại đội ở khúc đường này. Hai đơn vị phối hợp nhau đánh bật địch quân về phía Tây, cuộc giao tranh kéo dài suốt ngày, các chiến sĩ TQLC đã thanh toán hết các phần tử địch vừa xâm nhập ở đây.

Cho đến giờ phút đó, mặt trận phía Tây Mỹ Chánh vẫn vững như vách núi Trường Sơn, nhưng việc gì đến đã xẩy đến. Ngày 1-5-72 các đơn vị tử thủ Quảng Trị rời bỏ thành phố di chuyển về Nam. Cuộc lui binh mà trước đó mấy ngày ít ai nghĩ đến đã thành sự thật. Và tình hình bây giờ đổi khác, Lữ đoàn 369/TQLC trở thành tuyến đầu ngăn chận địch tại Mỹ Chánh, không còn một đơn vị bạn nào khác nữa.

Bám sát các cánh quân của ta vừa di tản chiến thuật ra khỏi tỉnh Quảng Trị, Cộng quân lần lần tiến theo cho đến quận Hải Lăng. Tại đây các đơn vị thuộc Lữ đoàn 369/TQLC một mặt “tiếp rước” các đơn vị bạn từ Bắc xuống, mặt khác cố đánh bật địch dội ngược trở lên. Nội trong buổi sáng ngày 1-5 Tiểu đoàn 9/TQLC đã dùng súng M.72 hạ một lúc 9 xe Tăng T.54 của Cộng sản Bắc Việt chặn đứng hoàn toàn sức tiến của địch. Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 2/TQLC đã quần thảo với địch suốt trong ngày dài nhất đó với một mục đích duy nhất: Không cho chúng tiến thêm một tấc đất nào nữa kể từ khu vực này.

Sau đó cây cầu Mỹ Chánh được giật sập ngay trong đêm và các đơn vị TQLC thiết lập một phòng tuyến mới ở bên này con sông. Theo sát những diễn biến, tôi đã nghĩ rằng nếu ngày hôm ấy mà không có các Tiểu đoàn 2 và 9/TQLC kiên trì chận đứng được địch quân tại Mỹ Chánh giữa cơn ngặt nghèo đó thì không biết chiến trường trong những ngày kế tiếp sẽ diễn biến ra sao và đến đâu. Một Nguyễn Kim Để của Tiểu đoàn 9, một Nguyễn Xuân Phúc của Tiểu đoàn 2/TQLC tại mặt trận Mỹ Chánh ngày 1-5 cũng như một Đỗ Hữu Tùng của Tiểu đoàn 6/TQLC trong trận “xa chiến lớn” tại căn cứ Phượng Hoàng ngày 9-4 là những đơn vị trưởng đã góp công không nhỏ trên chiến trường Trị Thiên suốt 60 ngày chiến đấu đẩm máu.

Họ là những sĩ quan có đầy đủ kích thước tài ba và mưu lược để chỉ huy những đơn vị cỡ trung cấp. Đại Tá Phạm Văn Chung, Lữ đoàn Trưởng LĐ369/TQLC, người chỉ huy trận đánh và đơn phương quyết định phải chặn địch ngay tức khắc tại phòng tuyến Mỹ Chánh cũng đã không tiếc lời ngợi khen hai đơn vị nói trên. (Bây giờ Đại Tá Chung về Bộ Tư Lệnh SĐTQLC làm Tham mưu trưởng hành quân, Trung Tá Nguyễn Thế Lương thay thế).

Buổi chiều, khi tôi rời Mỹ Chánh để về đóng quân tại Phong Điền, ánh nắng vàng vọt buồn bã ngả dài trên những dãy núi phía Tây lổ chổ những vệt xanh vệt trắng. Nhà cửa hai bên đường không một bóng người, quang cảnh thật thê lương. Đã nhiều lần tôi bắt gặp lòng mình lắng sâu trong lòng cảnh vật bởi tôi đã đi trên cái hoang vắng đó. Trên con đường nhựa duy nhất một ông già với chiếc bị da đã ngả mầu trên vai, đi âm thầm trong ánh nắng hoàng hôn sắp tắt.

Ông đã đi giữa buổi hoàng hôn của cuộc đời và hoàng hôn của đất trời. Nhưng ai biết được ông đi về đâu ? Tôi quay về phía sau, bóng những người lính TQLC in lên trên nền trời đang dần dần đổi sang màu đen của bóng đêm. Xa hơn, về phía Bắc những cụm khói đen khổng lồ bốc lên cao cùng những tiếng nổ ì ầm. Quảng Trị đã xa tầm tay với! Ít ra trong lúc này, niềm ước mơ có phút rỗi rảnh nào đó được “dọt” lẹ về thành phố này uống một chai bia, ăn một tô bún đã không thể thành tựu đựợc nữa.

Và cái truyện Bên Kia Giáo Đường của gôi cũng tan thành mây khói, không biết đến bao giờ mới xong vì nhân vật chính đã phiêu bạt ở phương nào rồi. Tôi cũng ước mong được trở lại căn nhà mà tôi đã trú đóng ở bên kia giòng sông Mỹ Chánh, không biết để làm gì, vì nơi đó không phải là quê hương của tôi nhưng tôi mong muốn như thế, sớm hơn. Niềm mong ước đó cũng giống như hàng vạn người dân Quảng Trị mong sớm được về nhìn giòng sông Thạch Hãn của bọ. Nhưng tôi tin chắc rằng niềm mong ước của họ lớn lao hơn, to tát hơn. Trong buổi chiều đó, khi đi ngang qua cây cầu, tôi đã “tức cảnh sinh tình”, và rất lẩn thẩn “mần” ra mấy câu “thi” thuộc loại siêu tự do, siêu khôi hài mà chỉ có những đại thi sĩ cỡ “khều mặt trời” mới mần ra nỗi. Bài thơ như sau :

Tôi ở bên này sông Mỹ Chánh,
Anh ở bên kia sông.
Đứng bên này sông,
Nhìn thấy bên kia.
Đứng ở bên kia,
Trông thấy bên nầy.
Lội ra giữa giòng sông,
Nhìn thấy cả hai bên.
Lặn xuống nước,
Chả trông thấy bên nào cả!

IV- Một quan niệm về phòng thủ tấn công

Đoàn xe chở chúng tôi rời Mỹ Chánh chừng 3 cây số về phía Nam thì thay vì chạy trên đường lại rẽ trái chạy trên khoảng đất song song với đường nhựa, có lẽ khúc đường này bị đặt mìn chưa xử dụng được. Đoàn xe chạy trên đường đất chừng 100 thước thì ầm ầm, những tiếng nổ vang dội ở trước đầu xe, bụi tung bay mù mịt không trông thấy gì cả. Ngay quả nổ đầu tiên, trong trí óc của tôi lúc bấy giờ, tôi tưởng rằng đoàn xe đã bị địch phục kích và trong phút giây, tôi cố chờ đợi những tiếng đại liên xổ ra như kinh nghiệm cho thấy những lần bị phục kích. Nhưng may quá, không có đại liên và súng nhỏ. Rồi những tiếng nổ ì ầm tiếp theo. Tôi nhận ra tiếng nổ ấm và rất quen thuộc của loại đạn M.79. Tôi chợt yên tâm hơn, phía trước 3 chiếc xe chạy đầu vẫn tiếp tục chạy, một chiếc xe Jeep đã bị nổ lốp nhưng vẫn cứ phom phom. Tôi giục tài xế:

-Tống hết ga chạy nhanh lên,

Chiếc xe chồm lên chạy giữa đám khói mịt mù cùng những tiếng nổ tiếp theo. Khổ quá! Vài người “anh em thù nghịch” mò ra ở khu rừng thấp bên phía Tây bắn M.79 vào đoàn xe của chúng tôi chơi cho vui giữa lúc bóng đêm sắp sửa xông lên từ lòng đất. Đến quận Phong Điền, kiểm điểm lại chỉ hai người bị thương nhẹ ở đùi mà thôi. Những chiếc xe chạy ở phía sau cũng đã đến an toàn. Buổi tối đó, tại chi khu Phong Điền, Thiếu Tá Bích, Quận Trưởng, một niên trưởng của tôi đã mời chúng tôi mấy chai bia, chưa bao giờ tôi thấy bia ngon như đêm hôm đó. Vài ngày sau tôi có dịp đi Huế để nhìn ngắm kết quả của cuộc lui binh ngày 1-5 ra khỏi Quảng Trị. Phố xá tiêu điều, hàng quán đóng kín cửa. Chợ Đông Ba bị đốt cháy nám đen. Huế lúc đó là một thành phố chết, không thể mua được một cái gì cả. Giòng sông Hương đã vắng bóng những con đò, “Đệ thất hạm độí” của “chị em ta” lừng danh một thuở cũng đã xuôi giòng ra cửa biển mất tăm! Huế của lãng mạn, của thơ mộng với những tà áo trắng phất phơ bay trong gió trên cầu Trường Tiền, chiếc nón bài thơ e ấp không còn nữa. Ít ra là ở trong giây phút đó.

Tuyến phòng thủ Mỹ Chánh đã đứng vững và được kéo dài thêm ra đến biển với hai Lữ đoàn 258/TQLC và Lữ đoàn 369/TQLC chịu trách rhiệm. Với một quan niệm là phòng thủ nhiều khi cũng phải tấn công để gây rối loạn hậu tuyến địch, phá vỡ việc địch tập trung để tấn công Huế và cho địch hiểu rằng ta muốn lấy lại những phần đất đã bị mất bất cứ lúc nào: ngày 13-5-72 Lữ đoàn 369/TQLC đã bất thần mở cuộc phản công vào quận Hải Lămg bằng cách trực thăng vận đổ Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6/TQLC xuống trận địa. Trong khi đó thì Tiểu đoàn 9/TQLC lại vượt qua sông Mỹ Chánh tiến lên phía Bắc để giao tiếp với các đơn vị bạn.

Trước đó sự phối hợp yểm trợ hỏa lực phi pháo cũng như của B52 thật chặt chẽ . Trận đột kích đã gây náo loạn cho hàng ngũ Cộng quân, khi các trực thăng khổng lồ đổ những người lính TQLC xuống thì quân CSBV tan rã hàng ngũ bỏ chạy tán loạn ra các cánh đồng, trong khi đó thì dân chúng cũng bắt đầu chạy về hướng TQLC. Một sự kiện lạ là trong khi Cộng quân bỏ chạy trước các cánh quân của TĐ 3 và TB 6/TQLC ở phía Bắc, thì địch lại chịu chạm súng với Tiểu đoàn 9/TQLC lúc đơn vị này vừa bơi qua sông. Trung tá Nguyễn Kim Để, TĐT Tiểu đoàn 9/TQLC người hùng trong trận đánh chận đứng địch tại hành lang máu ngày 1-5 đã quyết định táo bạo khi cho các “con cái” của ông vượt sông lúc 5 giờ sáng thay vì 7 giờ như đã ấn định.

Chính quyết định này đã gây hoàn toàn bất ngờ đối với địch quân và giảm thiểu mức độ thiệt hại của bạn. Cuộc hành quân đã gây những yếu tố tâm lý quan trọng hiện tại và là một cuộc hành quân được phối hợp tuyệt vời nhất, kín đáo nhất. Hơn một ngàn ba trăm dân đã được giải thoát nhờ cuộc hành quân nàỵ.

V. Địch mưu toan chọc thủng phòng tuyến Mỹ Chánh

Cuộc hành quân kéo dài trong ngày và các đơn vị TQLC lại về phòng thủ tại tuyến Mỹ Chánh. Suốt trong một tuần lễ sau đó, lằn mức giao chiến giữa ta và địch tại con sông Mỹ Chánh cứ nhập nhằng, thỉnh thoảng địch cố mở vài mũi dùi dò la sức phản công của ta rồi im lặng. Cho đến ngày 22-5, trận chiến dữ dội mở màn ghi một điểm son trong pho quân sử của binh chủng TQLC. Trận đánh đã xảy ra 24 giờ đồng hồ trước khi những nút chai sâm banh được mở ra để đãi vị Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon trong một bữa tiệc lại thủ đô Nga Sô mà 23 xe tăng PT. 76 và T.54 của CSBV đã bốc cháy cùng 130 xác đồng bọn bỏ lại trên trận địa dọc theo phòng tuyến. Theo ước tính của tình báo, lẽ ra trận tấn công trên của địch diễn ra ngày 19-5-72 nhưng không biết vì trục trặc cái gì đó mà trễ mất 3 ngày.Và người ta nhận định rằng chỉ có khoảng thời gian đủ là thuận tiện cho việc tấn công vì ý đồ của Hà nội đã thấy rõ: Muốn biến cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Nga Mỹ thành một hội nghị Genève mới. Và nếu để sau ngày Nga du của TT. Nixon thì mọi việc kể như “xong” rồi (…)

Ngày 21-5, CSBV tung quân bộ chiến có xe yểm trợ tiến đánh một đơn vị ĐPQ tại 9 cây số Đông Bắc Mỹ Chánh. Lực lượng này không chịu nổi sức tấn cống của địch đã phải tháo lui về phía sau phòng tuyến 2 cây số. Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 3/TQLC đã tức tốc đem quân chận đứng địch, đồng thời trám lại một lỗ hổng nhỏ trên tuyến phòng thủ chính. Hậu quả của sự tháo lui của lực lượng ĐPQ nay là một vài toán chốt của địch đã xâm nhập được phía Nam sông Mỹ Chánh. Do đó con đường huyết mạch để tiếp tế cho các đơn vị TQLC đi từ quận Phong-Điền đến phía Đông-Bắc phòng tuyến bị gián đoạn trong 3 tiếng đồng hồ.

BTL/SĐ/TQLC liền quyết định tung thêm Tiểu đoàn 30/BĐQ tăng cường cho Lữ đoàn 369/TQLC. Tiểu đoàn BĐQ này di chuyển bộ từ Phong-Điền đến tiếp giáp với Tiểu đoàn 8/TQLC đang trú đóng tại 3 cây số Nam phòng tuyến để phối hợp với đơn vị này càn quét và thanh toán chốt vừa xâm nhập đêm qua. Trong khi đó thì Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 9/TQLC vẫn giữ mặt Bắc không cho địch tràn xuống. Mục đích của địch là cho các toán chốt xâm nhập trước để quấy rối ta rồi sau đó các đơn vị hỏa lực với tăng và pháo yểm trợ chọc thủng phòng tuyến.

Trong ngày 21-5, quân ta đã thanh toán xong các toán chốt của địch lẩn quất trong vùng. Bây giờ lằn ranh giao tranh giữa hai bên vẫn là con sông Mỹ Chánh. Ngay trong buổi chiều hôm đó, Tiểu đoàn 3 TQLC tung thêm một đại đội xa hơn về phía Đông vượt qua con sông Ô Lâu; chi nhánh của Phá Tam Giang ăn thông với sông Mỹ Chnh nằm chặn địch tại đó. 23 giờ ngày 21-5, khoảng 30 xe tăng PT. 76, T.54 và PT.85 của CSBV với tùng thiết (Bộ binh tháp tùng xe tăng) chia làm hai mũi dùi từ Bắc và Đông Bắc Mỹ Chánh ào ạt tiến xuống. Trận chiến bắt đầu từ giây phút này.

Đêm ấy tôi hoàn toàn thức trắng ngồi tại T.O.C. theo dõi diễn tiến trận đánh. T/Tá Lê Bá Bình – Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 3/TQTC cho lệnh các đại đội của ông sẵn sàng M.72 và chờ cho chúng đến gần 100 thước mới khai hỏa. Ngay phút đầu tiên có bảy PT.76 bị hạ. Nhằm không cho các đơn vị của ta tiếp ứng lẫn nhau, Cộng quân đã pháo kích dữ dội vào vị trí của các đơn vị Tiểu đoàn 9/TQLC trong khi tiến đánh TĐ 3/TQLC. Sau 3 giờ giao tranh, một Đại dội của TĐ 3/TQLC đã phải lui về phía sau con sông Ô Lâu một cây số. Một phi cơ soi sáng từ Đà nẵng được gọi lên vùng, hai bên lại tiếp tục quần thảo nhau. Một mũi dùi khác thọc xuống phía Nam né tránh hoàn toàn giao tranh với Tiểu đoàn 39/BBQ.

Đến đây thì cái mấu chốt của sự thảm bại của CSBV bắt đầu.

VI. Gài địch vào vùng tập trung hỏa lực

Cánh quân thứ hai của địch tưởng rằng đã chọc thủng được phòng tuyến rồi nên chúng cố thọc sâu hơn về hướng Nam từ lúc 4 giờ sáng ngày 22-5. Vùng tập trung hỏa lực của LĐ 369/TQLC tại hơn 3 cây số về phía Nam phòng tuyến với Tiểu đoàn 8/TQLC, hai pháo đội của Tiểu đoàn 3 PB/TQLC và một số chiến xa. 5 giờ, phi cơ bắt đầu soi sáng vị trí của Tiểu đoàn 8/TQLC.

Khi trái sáng cuối cùng vừa dứt, tôi nhìn đồng hồ : 5 giờ 55 phút. Mặt trời chưa lên, đó là lúc “bình minh hàng hải” vừa để đủ trông thấy mọi vật một cách lờ mờ. Cánh quân của địch vừa thoát xuống chia làm hai mũi dùi tiến thẳng tới vị trí của Tiểu đoàn 8 và hai pháo đội của TĐ3 PB/TQLC. Lúc bấy giờ mọi người đã sẵn sàng. Xạ trường ở phía trước trống trải toàn là đồng ruộng, xa hơn chừng 5 trăm thước là những lùm cây thấp. Xe tăng địch lù lù tiến đến vừa tác xạ dữ đội với đủ mọi loại súng đặt trên xe cũng như của quân di chuyển bộ. Các chiến sĩ TĐ8/TQLC và TĐ3 PB/TQLC vẫn bình tĩnh chờ đợi; không một ai nao núng.

Xe tăng địch còn cách 500 thước, 400 thước, 300 thước, 200 thước rồi 150. Tất cả súng M.72 đồng loạt khai hỏa, các khẩu pháo binh 105 ly thì bắn trực xạ. Ngay trong phát đầu tiên, các pháo thủ của pháo đội K do Tr/úy Vũ Quang Vinh chỉ huy đã hạ được một chiếc PT. 76 bốc cháy. Rồi lần lượt các chiếc chiến xa khác của địch trên một trận tuyến dài 500 thước đều bị bắn cháy. Tiếng súng hai bên vẫn nổ ròn. Trước mắt tôi chừng 500 thước một chiếc PT. 76 bị bắn cháy nhưng vẫn còn chạy được trông không khác gì một con chuột bị nguời ta tẩm xăng đốt cháy. Chiếc hỏa tiễn TOW, loại vũ khí chống chiến xa mới nhất do Hoa Kỳ cung cấp, đặt từ trong tuyến phòng thủ phóng bồi theo một quả nữa, chiếc xe tăng của địch đang chạy bỗng khựng lại, ngọn lửa bùng cháy cao hơn. Lúc bấy giờ chung quanh tôi rào rào tiếng vỗ tay reo hò của lính.

Một chiếc T.51 khác thì thê thảm hơn : Bị bắn cháy lật nằm nghiêng, ngọn lửa bùng lên từng chập như có ai đổ dầu thêm. Trong vòng 15 phút đồng hồ, tất cả xe tăng của địch đều bị hạ. Mọi người ai cũng thấy phấn khởi và lên tinh thần. Hai chiếc xe tăng khác hoảng sợ không dám tiến vào nữa mà ẩn núp sau lùm cây thấp và bị phát giác nhờ ống nhắm của chiếc hỏa tiễn TOW khi thấy hai cái ăng-ten của hai chiếc xe ló lên. Lập tức, hai chiếc phản lực cơ được gọi đến hạ ngay tại chỗ. Lúc này thì trời đã sáng, ánh sáng tạm đủ nhìn thấy cảnh vật qua lớp sương mờ mờ. Vài chiếc xe tăng không bị trúng đạn cố gắng tháo chạy về phía Bắc cũng bị phi cơ đuổi theo oanh kích cháy nốt.

Trải dài trước mắt tôi, dọc theo tuyến phòng thủ thành một hình vòng cung là 9 xác xe tăng của địch vừa PT.76 vừa T.54 nằm la liệt, lửa từ trong các xe bốc lên hừng hực. Trận chiến xảy ra như một cảnh trong cinéma. Tôi nghĩ rằng chỉ trong ciné mới có thể có được những cảnh đó nhưng sự thật đã diễn ra trước mắt tôi và đã có lúc tôi tưởng rằng đó là cơn mê. Một giờ sau, Tr/Tá Nguyễn Thế Lương, Lữ Đoàn Trưởng Lữ đoàn 369/TQLC cho lệnh Tiểu đoàn 8/TQLC tung quân truy kích địch. Cuộc chạm súng lẻ tẻ trong vòng bán kính 800 thước lại xảy ra. Các chiến sĩ TĐ 8/TQLC của Thiếu Tá Nguyễn Văn Phán như say men chiến thắng ào ạt tiến lên tiêu diệt nốt những tên còn sót lại.

Thiệt hại về phía TQLC chỉ có 3 chết và 5 bị thương, một số tổn thất coi như không đáng kể. Tôi không nhớ rõ là các chiến sĩ TĐ 8/TQLC đã tịch thu được bao nhiêu súng cộng đồng và cá nhân nhưng chỉ biết là khá nhiều. Tôi cũng như bao nhiêu người khác lúc đó chỉ khoái chú ý đến những chiếc xe tăng của địch còn bốc khói nghi ngút. Đặc biệt trong số này có một chiếc xe tăng loại PT. 85. Thứ này na ná như loại M.113 của ta nhưng “đẹp” hơn nhiều. Chiếc xe đó đang được kéo về triển lãm ở Huế.

Tôi cũng không thể hiểu được Cộng quận điều binh theo cái lối nào mà kỳ quặc đến thế : cho xe tăng dàn hàng ngang trước một tuyến hoàn toàn trống trải để đưa lưng mà nhận lãnh đạn. Điều đáng ghi nhận trong trận đánh này là sự bình tĩnh vô cùng của các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến. Một chi tiết đáng ghi nhận khác là khi chiếc xe tăng đầu tiên của địch bị hạ, không một quân nhân nào của TĐ 8/TQLC còn núp ở trong hầm, tất cả đều đứng thẳng lên, M.72 trên vai ngắm xe tăng mà bóp còn. Có anh bỏ vị trí chạy ra bờ ruộng để bắn gần cho chắc ăn.

Vài giờ đồng hồ sau đó, Chuẩn Tướng Tư Lệnh SĐ/TQLC đã có mặt tại trận địa bên cạnh những chiếc xe tăng của địch còn cháy nghi ngút để khen thưởng các chiến sĩ thuộc LĐ 369/TQLC và đồng thời quyết định những kế hoạch kế tiếp.

Với chiếc máy ảnh trên tay, tôi mò ra chỗ những chiếc xẹ tăng bị hạ. Xác chết của địch nằm la liệt. Chung quanh những chiếc xe tăng, chỗ này 30 xác chết, chỗ khác 11 xác. Rất ít xác còn được nguyên vẹn. Có xác bị cháy đen thân thể co quắp lại như một đứa con nít. Nhìn họ, bỗng tôi nhớ đến buổi nói chuyện với một tù binh Cộng sản, Thượng sĩ Viên giữ chức vụ Đại đội phó thuộc Tiểu đoàn K.2 Trung đoàn 3 CSBV.

Anh nói với tôi:

– Tôi cũng biết rằng vào đây không có đánh Mỹ nữa vì Mỹ đã rút quân dân ra khỏi miền Nam rồi, nhưng lệnh bảo đi thì đi. Thế thôi, muốn cưỡng lại cũng không được. Rốt cuộc chỉ chúng ta là những người Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc bị chết trong chiến cuộc nầy.

Cũng trong trận đánh trên, TQLC tịch thu được hai khẩu súng SA. 7 (còn có tên là STRELLA) đó là loại hỏa tiễn giật tay “dò tìm hơi nóng” để bắn phi cơ. Đây là lần đầu tiên, QLVNCH tịch thu được loại vũ khí đó trên chiến trường. Thảm bại của CSBV lần này còn nặng nề hơn ngày 09-04-1972 mà TĐ 6/TQLC đã dùng súng M.72 hạ hàng loạt chiến xa địch mở đầu cho chiến dịch thi đua diệt xe tăng Cộng Sản Bắc Việt.

Những ngày kế tiếp, suốt dãy tuyến phòng thủ dọc theo Mỹ Chánh từ quốc lộ 1 ra đến biển, ngày nào cũng có xe tăng địch bị hạ, khi thì 2 chiếc khi thì 3 chiếc. Nếu không bị các đơn vị của Lữ đoàn 258/TQLC quất sụm thì cững bị LĐ.369 TQLC đốn ngã hay do phi cơ oanh kích cháy.

Ngày 25-05-1962 LĐ.147/TQLC lại mở một cuộc tấn công khác sâu hơn vào hậu tuyến địch vừa bằng trực thăng vừa đổ bộ bằng tàu của Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ, tung các TĐ.6, TĐ.7 và TĐ.4/ TQLC vào khu vực 15 cây số Đông Quảng Trị. Trước đó vài giờ, toàn bộ ban chỉ huy của Trung Đoàn 66 CSBV bị B.52 cày nát. Mặc dù vẫn có giao tranh ác liệt giữa các đơn vị TQLC với Cộng quân khi tiến sâu về phía Bắc nhưng điểm chính yếu ghi nhận được là phần lớn địch đã cố tình né tránh các cuộc tấn công của ta và đã rời bỏ vị trí tháo chạy.

Cuộc hành quân trên đã đạt được một kết quả đáng kể : hơn 5.000 dân chúng đã theo các đơn vị TQLC về quận Hương Điền an toàn. Điều đó, một lần nữa chứng tỏ rằng dân chúng không thể nào sống trong vùng do Cộng sản kiểm soát.

Đến nay thì sau những lần mưu toan chọc thủng phòng tuyến Mỹ Chánh để tiến về Huế của địch đã thất bại, thêm vào đó là Cộng quân nơm nớp lo sợ không biết ta tung quân tấn công lúc nào nên khi tôi viết những giòng này, chiến trường ở phía Đông Bắc Mỹ Chánh đã bớt sôi nổi. Mặc dù vậy, địch cũng đang cố hướng mũi dùi về phía Tây, nơi đó LĐ. 258/TQLC đang ngày đêm chận đánh kẻ thù và mọi cố gắng xâm nhập của địch đều hoàn toàn bị chặn đứng tại đây.

VII. Ngày mai trời sẽ sáng

Khác với mọi lời tiên đoán bi quan lúc đầu khi thành phố Quảng Tri bị thất thủ là cố đô Huế bị đe dọa nặng nề và không biết sẽ mất lúc nào, tình hình chung bây giờ đã sáng sủa. Những cố gắng của địch đều bị phá vỡ. Phòng tuyến Mỹ Chánh đã đứng vững. Sự sinh hoạt ở Huế đã trở lại bình thường. Nếu bỏ qua một phần những giải pháp chính trị cho chiến cuộc Việt Nam (…) theo đó sự tái chiếm Quảng Trị chưa cần thiết thì trên bình diện quân sự, việc tái chiếm Quảng Trị và những phần đất đã bị mất chỉ là vấn đề thời gian. Việc tiếp liệu về lâu về dài cho các đơn vị CSBV trên chiến trường miền Nam đã là một vấn đề nan giải trong cường độ oanh tạc miền Bắc của không lực Hoa kỳ hiện tại. Mặt khác, theo một nguồn tin tình báo Hoa kỳ thì Cộng quân sẽ đánh mạnh để chiếm Huế trong khoảng thời gian từ 03-06-1972 đến 10-06-1972. Tuy nhiên, dưới con mắt nhìn của các giới quan sát quân sự thì việc đó đối với Cộng quân khó có thể xảy ra trong thắng lợi được vì sự thiệt hại của địch quá lớn lao sau gần 2 tháng xâm lăng. Tinh thần cán binh thấp xuống đến mức e ngại mà theo tin tức thì các vị Tư lệnh chiến trường của CSBV đã khuyến cáo Hà nội cũng nên tìm một giải pháp nào cho chiến cuộc này khác hơn là ở trên chiến trường. Thế nhưng chiến trường nào cũng có thể có những diễn biến bất ngờ và sự bất ngờ đó đối với Hà nội chỉ có trong trường hợp Tướng Võ nguyên Giáp có được chiếc đũa thần.

Để kết thúc, tôi xin ghi lại ở đây nội dung cuộc phỏng vấn Chuẩn tướng Bùi thế Lân, Tư lệnh SĐ/TQLG của phái viên “đầu bạc” Nguyễn Tú của nhật báo Chỉnh luận ngày 27-5-1972, theo đó vị Tướng Tư lệnh SĐ/TQLC cho rằng : “Vấn đề chống địch, phản công địch, diệt địch, không khó. Điều quan trọng là nắm vững tình hình địch, điều quân mau lẹ như chính ông (phái viên CL) đã thấy tại trận địa và nhất là sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị bạn. Điển hình là hành quân Sóng Thần 6-72 tấn công Hảỉ Lăng ngày 25-5-72 đã được thiết kế và quyết định trong 24 tiếng đồng hồ”.

– Còn tương lai?

– Ông không thấy trời rất đẹp sao?

HVP

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 9 

Turi và Aspanu thức dậy trước lúc bình minh, dù chẳng muốn dậy. Nhưng, vì bọn cảnh vệ cũng có thể khởi hành sớm để bất ngờ chộp hai đứa lúc đang tắm nắng ban mai. Lúc sẩm tối hôm qua, chúng đã nhìn thấy một chiếc xe võ trang liên thanh hạng nặng cùng với hai xe Jeep nữa chạy vào trại Bellampo để tăng cường. Ban đêm, Guiliano tuần khám phía bên kia sườn núi và lắng nghe xem có tiếng động gì khác thường không. Pisciotta châm chọc sự đề phòng đó:
– Lúc tụi mình còn nhỏ thì may ra tụi mình mới dám liều mạng vậy. Bộ mày tưởng bọn cớm lười như hủi, nhát như thỏ đế ấy lại chịu liều mạng đi rình mò trong đêm tối hơn là quấn mền nằm trên giường nệm đánh một giấc cho đến sáng bảnh mắt ra, rồi lại còn khệnh khạng cà – phê cà pháo hay sao?
– Mình phải tập có thói quen tốt, và nhất là cảnh giác thì không bao giờ thừa! – Turi đáp.
Hắn biết rằng sẽ có ngày nó phải đối đầu với kẻ thù khá hơn bọn này.
Turi và Aspanu lại miệt mài kiểm tra lại vũ khí, từng món và từng chi tiết. Nó ăn vài miếng bánh bằng hớp rượu nho do Hector Adonis để lại cho chúng. Miếng bánh, với những gia vị cay, nóng, đã làm cho chúng cảm thấy ấm bao tử, tăng thêm sức lực để dựng chướng ngại vật và ngụy trang cành lá chỗ mép bìa mỏm đá. Đứng đằng sau chướng ngại vật, chúng chiếu ống nhòm xuống thành phố. Guiliano khoác tiểu liên lên vai, từ tốn nhét đạn vào đầy các túi áo. Hắn cũng cẩn thận chôn tất cả các thứ khác rồi phủ đất lên, bên trên chèn một tảng đá lớn. Hắn có thói quen tự mình kiểm tra lại các chi tiết, chứ không hoàn toàn tin một ai. Qua ống nhòm, Pisciotta nhìn thấy chiếc xe có võ trang đại liên ra khỏi trại.
– Mày có lý, – Pisciotta nói. – Chiếc xe đi vòng xuống thung lũng Castellammarra để đánh bọc hậu tụi mình.
Chúng toét miệng cười với nhau, Guiliano cảm thấy một niềm vui phơi phới. Pisciotta nói tiếp:
– “Chơi” lại bọn cớm, nói cho cùng, đếch có gì là khó! Chỉ là trò trẻ nít chơi lại bọn trẻ nít quỉ quyệt hơn một chút vậy thôi. Chắc tụi nó cũng biết cái hang này có đường hầm thông qua sườn núi bên kia, và chắc tụi nó nghĩ là mình sẽ chuồn qua đó khi bị chúng nó lùa đuổi bên này, cho nên, chúng nó cho xe gắn súng đại liên phục sẵn để “đón tiếp” tụi mình.
Một giờ đồng hồ nữa có thể sẽ có một đơn vị cảnh vệ đến phía dưới chân núi, chỗ đỉnh Ora, tấn công trực diện. Nếu giết được chúng ta càng hay, nếu không thì lùa qua sườn núi bên kia cho súng đại liên. Bọn cớm nghĩ chúng ta chỉ là lũ con nít mới lớn ngông cuồng mà lại nông nổi, dại dột, tập sự làm ăn cướp, khờ khạo ít kinh nghiệm. Chính lá cờ Sicilian treo đó là một bằng chứng “lạy ông tôi ở bụi này”. Hớ hênh, ngây ngô, ngu dại.
Y như rằng, một giờ đồng hồ sau, một chiếc xe tải chở cớm và một chiếc xe Jeep chở Marseciallo vượt qua cổng trại Bellampo. Hai chiếc xe tà tà đến chân núi, ngừng lại và đổ quân xuống. Mười hai tên cớm đeo tiểu liên dò dẫm, lò mò theo đường mòn lên dốc. Maresciallo gỡ cái mũ đen viền trắng và chỉ tay về phía lá cờ cắm trên mỏm đá.
Turi Guiliano đứng đằng sau chướng ngại vật, chiếu ống nhòm quan sát. Bỗng hắn chợt nhớ đến chiếc xe có súng đại liên ở phía bên kia núi, không biết ở bên đó có bao nhiêu thằng. Nhưng rồi hắn lại an tâm, vì lúc đó có leo lên được đến nơi thì cũng mất cả nửa giờ nữa, cho nên, không sợ bị đánh tập hậu, không quan tâm đến bọn bên kia sườn núi nữa, hắn quay ra nói với Pisicotta:
– Nếu tụi mình không thực hiện khéo, đúng với kế hoạch thì chắc sẽ khỏi về nhà ăn tô mì nóng tối nay như lúc mình còn bé đi chơi trên núi về vậy, đúng không?
– Nhưng, mày nhớ không? – Pisciotta nói. – Tụi mình vẫn không thích về nhà. Tuy nhiên, phải công nhận, chơi lần này vui hơn, thú vị hơn. Mình phải hóa kiếp cho một vài thằng chứ?
– Đừng, Guiliano nói. Nghĩ đến chuyện đêm hôm trước, Pisciotta đã không nghe lời nó, nên Guiliano nói chẳng có ích gì cho mục tiêu của tụi mình trong giai đoạn này.
Hai đứa kiên nhẫn chờ thêm một giờ nữa. Guiliano chĩa khẩu súng ra ngoài chướng ngại vật, bắn hai phát. Bọn lính đang đi thành hàng, bỗng chạy tán loạn và mau lẹ tản ra, nấp và các tảng đá và bụi rậm như những con kiến chui và đám cỏ. Pisciotta bắn bốn phát, khói bay lên ở những chỗ khác nhau. Bọn cảnh vệ nổ súng như mưa, nhưng nổ cầu may chứ có nhìn thấy chúng đâu.
Guiliano bỏ súng xuống, đưa ống nhòm lên, nhìn. Hắn thấy Maresciallo và tên lính đang mở máy truyền tin, chúng tiếp xúc với chiếc xe ở sườn núi bên kia, chắc là để báo tin cho bọn kia chuẩn bị, chúng có thể sắp chuồn qua bên đó. Guiliano cầm súng lên, bắn hai phát nữa, rồi nói với Pisciotta:
– Đã đến lúc tụi mình chuồn được rồi đó!
Hai đứa lủi qua phía bên kia mỏm đá, khuất tầm nhìn của bọn cớm đang tiến lên, rồi tuồn xuống một mỏm đá dốc và lăn xuống dốc cách đó khoảng năm chục mét rồi đứng dậy, súng ống sẵn sàng. Chúng lom khom chạy luồn phía dưới và chỉ ngừng lại để Guiliano chiếu ống nhòm quan sát bọn cớm. Đến một chỗ dốc khác, chúng lại lăn xuống hai cái dốc như vậy nữa và thế là chúng đã ở phía dưới bọn Maresciallo.
Phía trên chỗ Pisciotta và Guiliano đang đứng, qua ống nhòm, chúng thấy Maresciallo vừa đì đụp bắn bâng quơ vừa rón rén bò lên. Chúng cứ thi nhau bắn vào chỗ lá cờ, mà đâu ngờ rằng hai thằng ranh đang đứng ở cạnh sườn chúng. Hai đứa, khi thì lom khom luồn lỏi, khi thì lúp xúp chạy qua các tảng đá lớn che khuất phía dưới và đi vào vạt rừng nhỏ. Đứng nghỉ một chút, chúng lại rón rén lần theo đường mòn chạy xuống. Khoảng một giờ sau chúng đã đến dải đất tiếp giáp chân núi và thị xã. Chúng giấu vũ khí dưới lớp áo khoác và bình thản đi qua dải đất như thể nông dân đi làm về. Chúng vào thị xã qua chỗ cuối đường Via Bella chỉ cách trại Bellampo chừng hơn trăm mét.
Cũng trong thời gian đó, Maresciallo ra lệnh cho đám lính của gã tiếp tục tiến lên chỗ mỏm đá có cắm cờ. Nhưng không thấy súng bắn trả, gã tin rằng hai thằng ranh con đã chuồn theo đường hầm qua phía sườn núi bên kia. Gã muốn bao vây để sập bẫy. Gã ra lệnh cho lính mon men bò lên tiếp. Mất cả tiếng đồng hồ sau gã mới lên đến chỗ mỏm đá và xé lá cờ. Maresciallo chui vào hang, đẩy tảng đá chặn ở cuối hang qua sườn núi bên kia. Gã chưng hửng khi thấy con mồi của gã đã chuồn đâu mất. Tức điên lên, gã cứ đinh ninh con mồi của gã không thể thoát được, mà chỉ là ẩn nấp đâu đó. Bởi vậy gã đốc thúc đám lính hì hục lục soát khắp hai bên sườn núi và từng tảng đá, quyết lùa cho được con mồi ra khỏi nơi ẩn náu. Hector Adonis đã theo đúng chỉ dẫn của Guiliano. Ở đầu đường Via Bella đã có một cái xe lừa đậu sẵn ở đó. Cái xe đúng kiểu mẫu truyền thống, sơn lòe loẹt, sặc sỡ với các tấm tranh kể các tích truyện anh hùng hiệp sĩ. Xe sơn lòe loẹt từ trước ra sau từ trên xuống dưới, từ càng xe cho đến những nan hoa bánh xe. Cái xe trông loang lổ sặc sỡ như hình xăm trên thân thể một tay anh chị, chỉ khác là xăm kín hết không để hở lấy một phân vuông. Đứng giữa càng xe là một con lừa đang hình như ngủ gà ngủ gật. Guiliano nhảy lên ngồi vào chỗ người lái và nhìn vào bên trong xe xếp đầy những vò rượu. Hắn đưa mắt thoáng nhìn về phía đường đi Castellammare xem chiếc xe gắn súng đại liên có quay về không, nhưng không thấy tăm dạng. Thoáng liếc mắt lên phía ngọn núi: chẳng thấy gì hết ngoài ngọn cờ vẫn phất phới tung bay. Hắn toét miệng cười với Pisciotta:
– Đúng y kế hoạch, đầy đủ phương tiên, đúng vị trí. Thôi, đi “múa” chút, coi!
Pisciotta đưa tay phác chào vừa có vẻ trang nghiêm vừa có vẻ giỡn giỡn. Y đóng nút áo lại để che kín khẩu súng lục gài bên hông và chệnh choạng đi về phía trại Bellampo.
Ngồi trên chỗ người đánh xe, Turi nhìn Pisciotta chậm chạp lướt qua thửa đất trống dẫn tới con đường mòn có đá dẫn vào cổng trại. Cũng từ đó, hắn nhìn về phía cuối đường phía nhà hắn. Không thấy ai ra đứng ngoài cửa. Hắn mong được thoáng thấy bóng bà mẹ hắn. Trước cửa của một trong những căn nhà gần đó có một vài “bợm nhậu” đang khề khà quanh một cái bàn trên có vò rượu. Chỗ cái bàn được bóng của một ban công che nắng. Bỗng hắn giật mình sực nhớ ra cái ống nhòm vẫn lủng lẳng đeo trước ngực, cũng may, quãng đường chỗ đó không có ai qua lại. Hắn vội vã tháo ra và nhét vào khe mấy vò rượu.
Một chú cớm đang đứng gác ở cổng. Đó là một cớm oắt mặt non choẹt chưa thể nào quá 18 tuổi. Hai má hồng hào, nhẵn thín, chứng tỏ chú là người ở các tỉnh phía Bắc nước Ý. Bộ đồng phục màu đen viền trắng, túi trên, túi dưới, may vừa dối vừa vụng. Cái mũ lính mỏ vịt chụp hờ hững trên đầu làm cho chú vừa có vẻ một búp – bê vừa có vẻ một anh hề. Trái với quân kỳ, điếu thuốc phì phèo trên cặp môi dày, trông có dáng vừa tham lam vừa dâm dục. Bước lại gần, Pisciotta bỗng cảm thấy trong lòng nổi lên một cái cảm tưởng khinh lờn và cái ý muốn trêu trọc, bỡn cợt và vờn chú cớm oắt như mèo vờn chuột. Chỉ mới cách đây có vài ngày, đám cớm ở đây bị một vố như vậy mà chú cớm oắt cũng chẳng có tí gì gọi là cảnh giác, đề phòng, khẩu súng tiểu liên vẫn đeo lủng lẳng ngang lưng.
Cớm oắt thấy một tên nhà quê ăn mặc xốc xếch thế mà dám ngạo ngược để bộ ria mép rậm rì trông không xứng tí nào. Chú ta quát lên:
– Ê, thằng kia, đồ cà chớn, xớ xa xớn xác đi đâu vậy? Bộ không biết đây là đâu sao chớ?
Quát ngậu xị lên như vậy, nhưng chú ta cũng chẳng buồn hạ khẩu súng và giữ tư thế sẵn sàng tác chiến. Pisciotta ta có thể cắt họng chú trong nháy mắt. Nhưng thay vì thế, y lại làm ra vẻ rụt rè, khúm núm. Y phải cố nén để khỏi bật cười trước cái vẻ vênh váo con nít và ra cái điều ta đây oai vệ của cớm oắt.
– Cậu Hai. – Y rụt rè nói. – Cậu làm ơn cho tôi gặp ông sếp, tôi có một cái tin quan trọng muốn báo cho sếp.
– Cứ nói cho tao cũng được, – Cớm oắt nói.
Không nén được cơn tức trước câu nói xấc của cớm oắt, Pisciotta bèn giở giọng cha chú liền:
– Bộ mày tưởng mày có đủ tiền đặng trả cho cái tin này sao chớ? Cho mày hay, mười năm lương của mày cũng không đủ đâu!
Chưng hửng trước cái giọng thay đổi xấc láo một cách đột ngột của thằng nhà quê, cớm oắt hơi chột dạ, nhưng vẫn đáp lại bằng cái giọng khinh khỉnh, tuy đã có chút e dè:
– Bây giờ chú có nói cho tôi trời sập chỗ nào thì tôi cũng đếch có tiền trả cho chú!
– Còn hơn trời sập nữa kìa, – Pisciotta toét miệng cười, đổi mặt làm vui, – Cho cậu Hai hay, tôi biết chỗ thằng Guiliano đang trốn né, cái thằng mà mới cách đây mấy bữa đã cho mấy cậu ở đây “lỗ mũi ăn trầu” đó. Cậu Hai không cho tôi vô gặp sếp gấp, nó đi mất, cậu Hai chịu trách nhiệm đó.
Cớm oắt nói một cách ngờ vực:
– Đời thuở nào mà ở cái đất trời đánh này lại có một thằng Sicilian cộng tác, báo tin cho chính quyền thế này. Hôm nay đúng là trời sập chỗ nào rồi.
Pisciotta tiến lại gần hơn chút nữa:
– Nhưng tôi có ý đồ. Tôi định xin đăng lính cảnh vệ như chú vậy đó. Tháng sau tôi đi Palermo xin khám sức khỏe nên tôi nghĩ là phải có một cái lễ gì đó ra mắt. Nhưng, vì nghèo quá nên lấy cái tin này đề làm lễ ra mắt đặng “sếp” ở đây chiếu cố. Ai biết đâu đấy, không chừng tôi và cậu Hai có ngày cùng mặc bộ đồ cảnh phục này.
Cớm oắt nhìn Pisciotta vừa có chút thích thú, cảm tình lại vừa có chút thương hại tội nghiệp. Thật ra thì có thiếu gì thằng dân Sicilian muốn xin đăng lính cảnh vệ. Đó là một lối để thoát khỏi cái cảnh nghèo kinh niên, sạch gạch mà lại có tí ti quyền hành, quát nạt, làm phách với bọn nhà quê, cũng oai chán và ít nhất cũng được no cái bụng. Bữa nào trúng mối, gặp được thằng cù lần buôn chui thì cũng được đấm cho tí tiền còm, nếu không thì “tóm” cái tang vật về chia chác với nhau hoặc đớp thả ga miễn phí. Trong truyện tiếu lâm bình dân của người Bắc nước Ý mà ai cũng biết, tất cả những thằng đàn ông con trai nào cũng thế – tất nhiên, phải loại từ những thằng “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” ra – cũng chỉ có thể hoặc là làm ăn cướp, hoặc là làm cớm. Và ở phía nào thì chúng cũng làm hại ngang nhau.
Pisciotta cười thầm trong bụng với cái ý nghĩ có ngày mình xin làm cớm. Là một tay ưa ăn diện, chẳng thế mà quần áo Pisciotta phải đặt may tại thủ phủ Palermo chứ không chịu mấy anh thợ may “vườn” ở cái thị trấn Montelpre này. Chỉ có mấy thằng khùng mới cho bộ cảnh phục đen viền trắng và cái mũ mỏ vịt là đẹp, chớ cỡ Pisciotta thì còn lâu.
Có lẽ trong thâm tâm cớm oắt có lòng ái ngại thật sự hay là không muốn cho ai cũng “đi lên” bằng mình, nên chú ta nói:
– Chú suy nghĩ cho kỹ chưa mà xin đăng lính cảnh vệ? Lương bổng cảnh vệ “yếu” lắm. Tụi này có ngày phải trễ miệng, nếu không kiếm chác được ở mấy thằng buôn chui. Và cũng nguy hiểm lắm. Đó, mấy hôm nay, ngay ở thị trấn này, hai tay trong trại này – trong đó có một đứa là bạn tôi – bị cái thằng trời đánh khốn kiếp “ lật gọng” chết ngay đứ đừ.
Pisciotta đáp lại, giọng giỡn giỡn:
– Mẹ kiếp, bắt được tụi nó, trước khi “phơ”, phải cho tụi nó no đòn bastinado…, để cho tất cả những thằng khác trông thấy sợ té đái ra quần, thì chúng mới biết cách ăn ở cho phải phép, phải không cậu Hai.
Rồi, bằng cái giọng thân mật như thể tự hồi nào tới giờ, y với cớm oắt đã là anh em hay đồng đội thân thích, Pisciotta chép chép cái miệng, háy háy bộ ria, rồi nói:
– Đằng ấy có thuốc lá không, cho xin điếu?
Để đáp lại cái vẻ phởn chí, được đằng chân, lân đằng đầu của Pisciotta, cớm oắt thấy thân mật với thằng nhà quê này coi bộ không ổn, nó bèn sửng cồ với Pisciotta:
– Cho mày thuốc lá? – Vừa có vẻ xấc láo vừa có vẻ ngờ vực, nó nói tiếp: – Mẹ kiếp, một thằng Sicilian trời đánh nào đó mà nó dám há cái mõm thối tha của nó ra xin thuốc lá tôi chớ. Thiên địa, trời đất ơi!
Và nó gỡ súng ra khỏi vai. Lập tức, Pisciotta cảm thấy như có một sức thúc đẩy phải chồm lên lìa cho nó một nhát vào cổ họng để nó câm cái mõm chó của nó lại. Nhưng, Pisciotta dằn lại, nói bả lả:
– Bởi vì tôi có thể chỉ chỗ cho mà bắt thằng Guiliano. Mấy cha kia ngu thấy mẹ, giờ này lên núi có mà tìm tắc kè ở trên ấy. Mà này, cậu Hai không đưa tôi vào gặp “sếp” gấp, chậm trễ, nó đi mất, cậu Hai chịu à, nghe chưa!
Cớm oắt ngó sững. Câu nói xấc láo của nó vừa rồi khiến cho nó bối rối. Loại tin tức mà thằng nhà quê không chừng thuộc loại có cỡ đối với thượng cấp của nó. Và cái vẻ câng câng, xấc xấc của thằng cha này có thể làm cho nó bị thượng cấp sờ gáy nếu thằng cha này “tâu rỗi” là nó đã xấc với hắn. Nghĩ vậy, cớm oắt lặng lẳng ra mở cửa và lấy mũi súng ra hiệu cho Pisciotta đi vào. Tên cớm oắt và Pisciotta vừa quay lưng lại, thì lập tức Guiliano ra roi quất con lừa cho chạy về phía cổng trại.
Doanh trại Bellampo rộng đến 4.000 mét vuông. Trên có một dãy nhà lớn hình chữ L. Cách sau là nhà giam. Phía sau nữa là nhà ở tập thể của cớm, rộng có thể chứa cả trăm người. Có cả khu đặc biệt dành làm nơi ở cho Maresciallo. Phía bên phải là nhà để xe. Thật ra, trước kia nhà để xe vốn là cái chuồng ngựa và hiện vẫn còn dành một phần để nhốt mấy con lừa và la cho cớm dùng trong trường hợp phải lên núi hoặc đến những nơi xe hơi không tới được. Phía xa đằng sau nữa là kho quân trang, vũ khí, kho này có cửa sắt. Quanh doanh trại là hàng rào kẽm gai chằng chịt cao có đến ba mét. Có mấy tháp canh, nhưng từ mấy tháng nay tháp canh không có lính gác nữa vì trại giảm quân số chỉ còn có một tiểu đội. Doanh trại được xây dưới thời Musolini và được mở rộng trong chiến dịch càn quét Mafia. Lúc đó, các tháp canh có lính gác ngày đêm rất cẩn mật.
Khi qua cổng trại. Pisciotta đã để ý xem có dấu hiệu gì nguy hiểm không. Không có tiếng nô đùa ồn ào của bọn cớm. Doanh trại im lặng như một trang trại bỏ hoang. Trong nhà xe, không có xe và cũng không có một cái xe nào đậu ở bất cứ chỗ nào. Đó là điều làm cho y ngạc nhiên và hơi lo, vì có thể có một cái xe nào đó về bất chợt. Y không thể nào quan niệm được Maresciallo mà lại ngu đến mức để doanh trại trống không như vậy, và không có một cái xe nào để trực. Y sẽ phải tìm cách báo cho Turi biết tình hình, rất có thể chúng gặp những vị khách bất ngờ.
Cớm oắt đang gác cửa đã bỏ vọng gác, dẫn Pisciotta đi qua một cửa lớn để vào phòng làm việc. Đây là căn phòng rộng mênh mông, có quạt trần. Nhưng cái quạt cũng chẳng làm cho căn phòng mát đi được là bao. Có một cái bàn lớn, cao như thể muốn chế ngự căn phòng. Hai bên bàn lớn có hai dãy bàn nhỏ, chắc là cho các thư ký. Tất cả các bàn đều trống, trừ chỗ bàn lớn. Ngồi phía sau bàn ấy là thầy cai cảnh vệ. Trông thầy cai thật khác hẳn với cớm oắt vừa dẫn Pisciotta vào. Trước bàn thầy cai ngồi có tấm bảng ghi chữ “Hạ sĩ Canio Silvestro”. Phần thân của thầy cai nhô lên khỏi mặt bàn trông thật dễ sợ: vai rộng cái đầu to như một tảng đá đè trên một cái cổ có ngấn nần nẫn. Vết thẹo đỏ sậm – gần như đen – chạy dài suốt từ mang tai xuống tận cái cằm bạnh. Bộ ria mép rậm, vểnh lên trông như cặp cánh đại bàng gắn trên miệng của hắn. Hắn mặc cảnh phục, cánh tay trái gần via gắn cái lon hạ sĩ, khẩu súng lục trong bao đeo lủng lẳng ở thắt lưng. Khi nghe tên lính gác báo cáo hắn nhìn Pisciotta với vẻ ngạc nhiên, rồi nghi ngờ và không tin. Khi thầy cai mở miệng nói, thì biết ngay là dân Sicilian chánh gốc.
– Đồ ba xạo, – hắn nói với Pisciotta.

Photo edit by Sơn râu

Nhưng hắn chưa kịp nói gì thêm, thì từ ngoài cổng, tiếng của Guiliano ong óng vọng vào đến tận văn phòng.
– Ê nè, mấy ông lính, có ra mà lấy rượu cho không! Có hay không thì biểu!
Pisciotta rất phục cái giọng nói của Guiliano, cái giọng khàn khàn đặc sệt âm sắc thổ ngữ, đến nỗi nếu không phải là người địa phương thì khó mà hiểu nó nói gì. Thêm vào đó là cái lối nói gàn gàn, hách hách của mấy anh trọc phú nhà quê. Thầy cai cũng từ trong phòng la lớn lên:
– Thằng quỉ nào làm cái gì ở ngoài đó mà rống lên như bò vậy?
Và thầy cai hùng hổ đứng lên, đi ra. Pisciotta và cớm oắt cũng theo ra. Chiếc xe sơn sặc sỡ, lòe loẹt và con lừa trắng đứng chặn ngay cổng doanh trại. Áo mở banh hết cúc, mồ hôi nhễ nhại, Turi ngồi vắt vẻo ôm vò rượu. Hắn toét miệng cười giả bộ khờ khờ, quê mùa. Toàn thân hắn trông có vẻ ngây ngô. Nhìn mặt hắn, không ai có thể nghi ngờ gì. Trên người không có vũ khí, lại có vẻ ngà ngà say, giọng nói đặc sệt âm sắc thổ ngữ. Thầy cai rời tay khỏi bao súng và cớm oắt cũng đeo súng vào vai. Pisciotta lùi lại đằng sau, trong tư thế sẵn sàng rút súng ra tác chiến.
– Tôi có cả một xe rượu nho cho mấy ông nè.
Guiliano cất giọng oang oang. Rồi nó đưa tay lên mũi, hỉ cái ‘ret” và chùi tay vào ngay cánh cổng doanh trại.
– Ai bảo đem đến? – Thầy cai vừa hỏi vừa bước tới.
Guiliano biết thầy cai sẽ mở tung thùng xe đặng nhìn vào.
– Ba tôi bảo tôi mang đến cho ông đội Maresciallo, – Guiliano vừa nói vừa nháy mắt ra hiệu cho thầy cai.
Thầy cai nhìn chòng chọc vào hắn. Thật ra thì mấy tay buôn lậu – ngoài món tiền lót tay – vẫn thường hay “vi thiềng” các sản phẩm, nhất là rượu, đặng cớm thông cảm nhắm mắt làm ngơ. Nhưng thầy cai cũng thắc mắc là thường thì chính cái lão già buôn lậu ấy đích thân đem rượu hay đồ biếu xén đến để thầy chú biết mặt mà thông cảm cho lúc bắt gặp tại trận, chứ ai hơi sức đâu mà nhớ tên mấy thằng chó chết ấy làm gì cho bận trí. Nhưng thầy cai cũng quá hiểu cái “nết” của thầy đội Maresciallo, nên thầy cũng nhún vai, ra lệnh:
– Để mấy vò đó xuống, rồi mang vào trong kia!
– Tôi để xuống? Tôi mang vào trong? Xí, xin kiếu đi!
Một lần nữa thầy cai lại thoáng gợn một chút nghi ngờ, như có một thứ linh cảm mơ hồ gì đó chẳng lành. Hiểu được điều đó, Guiliano giả bộ nhảy xuống khỏi chỗ ngồi, giả bộ lôi vò rượu để có thể dễ dàng rút khẩu tiểu liên ra. Hắn nâng một vò lên và nói:
– Tôi có tới hai chục vò như thế này cho mấy ông! Hai chục!
Thầy cai quay ra phía doanh trại kêu lớn:
– Mấy thằng ở trong kia, ra tao bảo!
Có hai tên chạy ra, áo banh cúc, đầu trần, chẳng có đứa nào mang vũ khí. Guiliano đưa hai vò cho hai tên mới ra và một vò cho thằng gác tay còn cầm khẩu súng. Tên này định không đỡ lấy, nhưng Guiliano đã nói và giỡn:
– Chừng này rượu ông đội nhậu gì hết, thế nào mấy chú chẳng được nhậu ké, vậy thì hãy đỡ lấy đi.
Ba tên cớm ôm ba vò rượu. Nhìn cảnh ấy, Guiliano mỉm cười: đúng như hắn muốn. Pisciotta đứng ngay phía sau lưng thầy cai, tên cớm duy nhất hai tay chưa ôm vò rượu. Guiliano liếc nhanh về phía dốc hướng đi Castellammare: không thấy dấu hiệu chiếc xe có gắn súng đại liên trở về. Nhìn về phía dốc núi: cũng không có dấu hiệu toán tuần tiễu của Maresciallo. Phía cuối đường Via bella chỉ thấy mấy đứa con nít đang chơi. Hắn quay vào thùng xe, rút khẩu tiểu liên, chĩa ngay vào mặt thầy cai. Ngay lúc đó, Pisciotta cũng thọc tay vào trong áo rút khẩu súng lục của mình, ra lệnh cho thầy cai quay vào:
– Đừng có nhúc nhích nghe cha, nếu không, tôi lấy đạn hớt bộ ria thì cha đừng trách!
Guiliano chĩa súng vào ba cớm oắt đang sợ quá đứng ngây người ra:
– Ba đứa cứ ôm ba vò rượu, – Guiliano nói; – Anh kia bỏ cây súng xuống. Tất cả quay trở lại văn phòng.
Tên gác thả súng xuống đất. Lúc đi ngang, Pisciotta cúi xuống lượm khẩu súng ấy. Vào đến văn phòng, Guiliano cầm lấy tấm biển tên của thầy cai, gật gù ngắm nghía, rồi quay nhìn thầy cai và ra lệnh:
– Hạ sĩ Canio Silvestro, làm ơn đưa chìa khóa, tất cả chìa khóa!
Tay của thầy cai đặt trên bao súng, mắt nhìn chòng chọc vào Guiliano. Pisciotta hất tay hắn ra và thò tay móc khẩu súng lục hắn ra. Hắn nhìn y, lườm lườm như muốn xé xác y ra. Pisciotta nở nụ cười tủm tỉm, chế giễu:
– Xin lỗi nhé!
Thầy cai quay về phía Guiliano, và nói:
– Này lỏi, hãy chạy đi và tìm gánh hát nào đó mà xin làm diễn viên. Trông mày đẹp trai, hy vọng ăn khách đấy. Nhưng, đi thì chớ có mang theo những thứ giết người đó. Tụi bay không thoát đâu. Maresciallo và lính của ông sắp về. Ông sẽ săn đuổi tụi bay cho đến tận cùng trời đất. Nghĩ kỹ đi, con. Chơi cái trò kẻ cướp làm gì để cái đầu bị treo giải thưởng. Chính tao cũng sẽ săn đuổi tụi bay và sẽ không bao giờ quên cái bản mặt tụi bay. Tao sẽ tìm ra tên tụi bay, dù tụi bay có chui xuống địa ngục tao cũng sẽ moi tụi bay ra cho bằng được.
Guiliano mỉm cười với thầy cai. Vì một lý do nào đó, hắn lại thấy có cảm tình với con người này. Hắn nói:
– Muốn biết tên tụi này, sao không hỏi?
Thầy cai nhìn chòng chọc vào nó, giọng khinh bỉ:
– Đời nào tụi bay dám nói, hay nếu có thì cũng bịa ra một cái tên vớ vẩn nào đó.
– Tôi không bao giờ nói dối. – Guiliano nói: – Tên tôi là Guiliano.
Thầy cai quên mất là súng đã bị tước mất rồi, nên vẫn đưa tay lên bao súng. Nhưng đưa tay lên rồi mới nhớ ra và bỏ tay xuống. Guiliano lại càng thấy thích con người này hơn vì cái phản ứng tự nhiên ấy. Hắn đánh giá thầy cai là người can đảm vì có ý thức bổn phận rất cao. Ba cớm oắt sợ, mặt mày tái xanh tái xám, run run đứng không muốn vững. Đây là Guiliano, người đã hắn hạ ba đồng đội của chúng. Không có lý do gì để tin rằng hắn sẽ để cho chúng sống.
Thầy cai nhìn kỹ vào mặt Guiliano và Pisciotta như để ghi sâu vào trí nhớ cái bản mặt của chúng, rồi từ từ, rụt rè lấy chùm chìa khóa trong ngăn kéo ra. Hắn phải làm vậy, vì Guiliano đã gí súng vào lưng hắn. Guiliano cầm lấy chùm chìa khóa, ném cho Pisciotta và nói:
– Thả tù ra.
Trong nhà tù, có nhiều người bị bắt đêm hôm Guiliano trốn thoát khỏi Montelepre. Trong một xà lim nhỏ, có hai tên cướp khét tiếng trong vùng là Passtempo và Teranova. Pisciotta mở luôn cửa xà lim này và chúng hớn hở theo Pisciotta đến các phòng khác.
Những thị dân Montelepre bị bắt, tất cả đều là người hàng xóm của Guiliano. Họ đổ dồn vào phòng và ôm hôn Guiliano, tỏ lòng biết ơn. Guiliano để họ ôm hôn, nhưng vẫn cảnh giác, mắt vẫn nhìn về phía mấy tên cớm. Những người hàng xóm rất sung sướng và rất phục cách hành động của Guiliano. Làm như vậy, nó đã hạ nhục mấy tên cớm đáng ghét. Trước mặt họ, Guiliano là vô địch. Họ nói với Guiliano là tên Marsciallo đã ra lệnh cho họ ăn đòn bastinado. Nhưng, ông hạ sĩ đã ngăn lại kịp. Do tánh ngay thẳng và bằng lập luận vững chắc, hạ sĩ đã cho Maresciallo thấy là làm vậy sẽ chỉ gây tình hình nguy hiểm và bất lợi cho an ninh doanh trại. Bởi vậy, thay vì tra tấn bằng đòn bastinado thì sáng hôm sau, họ sẽ bị giải đi Palermo để dự thẩm lấy cung.
Guiliano chĩa súng xuống đất, vì sợ lỡ ra trúng phải người những người hàng xóm. Những người này đều lớn tuổi hơn hắn, họ biết hắn từ lúc còn nhỏ xíu. Bây giờ cũng như trước kia, với họ, hắn đều nói năng lễ độ, có ý có tứ.
– Các chú, các bác có thể lên núi theo tôi, – hắn nói – hay là đi ẩn náu ở một người bà con nào đó càng xa Montelepre càng tốt, đợi cho nhà cầm quyền tỉnh trí, không còn bắt giam ẩu nữa thì hãy về.
Hắn đợi. Nhưng mọi người im lặng. Hai tên cướp – Passatempo va Teranova – đứng cạnh nhau. Chúng rất cảnh giác, lúc nào cũng như cái lò xo sẵn sàng bung ra. Passatempo là một người mập, lùn, xấu xí, mặt bự, rỗ huê, môi dày và méo mó. Nông dân trong vùng gọi là “đồ tể”. Teranova vóc dáng nhỏ nhắn, săn gọn như con chồn sương, tuy nhiên, dáng dấp dễ nhìn, đôi môi lúc nào cũng he hé như đang mỉm cười. Passatempo là điển hình cho một tên cướp Sicilian tham lam, chỉ chuyên cướp của giết người vì tiền. Terranova nguyên là một nông dân cần cù. Y trở thành ăn cướp chỉ vì hai thằng thu thuế đã tịch thu mất của y hai con heo có giá trị lớn. Y giết luôn hai tên đó, kế đó, giết luôn hai con heo, mời tất cả bà con lối xóm đến nhậu một bữa tơi bời, còn dư, ai muốn đem về xin cũng cứ tự nhiên. Sau bữa đó, y lên núi làm kẻ cướp. Terranova và Passatempo liên kết lực lượng với nhau. Nhưng chúng bị phản bội và bị bắt khi đang lẩn trốn tại một nhà kho bỏ hoang ngoài cánh đồng thị trấn Corleone.
Guiliano nói với hai tên cướp:
– Hai anh thì chắc đâu còn cách nào khác. Tôi đồng ý cho các anh theo lên núi. Và ở đó, nếu chịu ở dưới sự chỉ huy của tôi thì ở. Hay là lại muốn ra đi làm ăn riêng thì tùy ý. Nhưng hôm nay, tôi cần hai anh giúp tôi một tay, ít ra cũng là để trả cái ơn mà tôi đã giải thoát các anh hôm nay. Đồng ý chứ?
Hắn mỉm cười với chúng như thể muốn làm dịu cái đòi hỏi chúng phải tuân lệnh hắn.
Trước khi hai tên cướp kịp trả lời, thầy cai đã hành động khinh suất một cách tai hại. Hành động đó có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như lòng kiêu hãnh của một người Sicilian bị tổn thương, hoặc do lòng lang dạ thú ác đôc bẩm sinh, hoặc tức giận vì hai tên cướp khét tiếng đang bị giam dưới sự canh giữ của hắn được thả ra khiến cho hắn phải chịu trách nhiệm hoặc nghĩ rằng hai tên cướp được thả sẽ lại tiếp tục cướp bóc giết chóc người dân…
Đứng trước mặt Guiliano và chỉ cách vài bước, hắn bất ngờ tiến lên, tay rút lẹ khẩu súng lục nhỏ giấu trong người chĩa thẳng vào Guiliano. Guiliano kịp nâng khẩu súng của mình lên nhưng cũng quá trễ, thầy cai đã lảy cò, viên đạn bay xẹt qua đầu Guiliano chỉ cách đầu chừng một, hai xăng ti met. Mặt thầy cai đỏ lên vì tức giận, các bắp thịt trên mặt hắn xoắn, vặn cuồn cuộn như những con rắn uốn khúc. Nhưng rồi khẩu súng trở nên lờ đờ, chậm chạp, từ từ rớt xuống trong cơn ác mộng của hắn. Và rớt xuống đất luôn, vì hắn đã nhận ra cuồng vọng của mình. Hắn cảm thấy như đất dưới chân hắn sụp xuống và hắn rớt xuống một cái hang không đáy. Một nhấp nháy trước khi thầy cai lảy cò, Guiliano nhìn thấy họng súng của thầy cai chĩa vào mặt mình mà ý thức được những gì có thể xảy ra, nhưng hắn vẫn cảm thấy lòng mình bình thản một cách lạ thường. Không cảm thấy sợ hãi gì. Hắn không chớp mắt khi thầy cai lẩy cò và còn tiến lên thêm một bước. Sau tiếng nổ là tiếng “tách” khô khan của òc súng “suông”. Và cũng chỉ trong nhấp nháy, thầy cai bị Terranova vặn ngược tay hắn lên, giật lấy khẩu súng. Passatempo nắm tóc giật ngửa mặt hắn lên, đưa ngón tay định móc mắt. Pisciotta rút dao định lụi vào ngực hắn. Nhưng, Guiliano kịp thời cản lại. Hắn lôi thầy cai ra khỏi ba người và bình thản nói!
– Đừng giết ông ta!
Thầy cai cúi mặt xuống đất, mất hết tinh thần khi ý thức được những tai họa xảy ra cho mình do đám người giận dữ kia gây ra, nếu không có sự can thiệp kịp thời của Guiliano. Trong lúc xo xát, lỗ tai của hắn bị tét, mí mắt cũng bị tét, máu chảy ròng ròng, cánh tay bị vặn tréo ra sau một cách thô bại khiến cho hắn cảm thấy đau. Tuy nhiên, hắn vẫn giữ được dáng vẻ không sợ hãi, không hốt hoảng và bình tĩnh chờ chết. Trong khi ấy, Guiliano cảm thấy lòng mình tràn ngập lòng trìu mến và cảm phục đối với thầy cai. Guiliano cho rằng con người này đúng là một thử thách, một trắc nghiệm, một bằng chứng chứng tỏ sự bất kha tử của hắn, củng cố cái niềm tin của hắn rằng hắn không thể chết. Guiliano kéo thầy cai lại phía mình. Và trước sự kinh ngạc cảu mọi người, hắn đã ôm hôn thầy cai. Lúc đó, hắn có cảm tưởng hắn phải đỡ cho thầy cai thì hắn mới đứng vững.
Terranova xem xét khẩu súng lục mà thầy cai đã dùng để bắn Guiliano, và nói:
– Anh thật là hên! Trong băng đạn chỉ còn đúng có một viên đó thôi!
Guiliano đưa tay cầm khẩu súng. Terranova hơi do dự, nhưng cũng trao cho hắn. Guiliano quay lại phía thầy cai trao cho y khẩu súng lục và nói:
– Ông cứ giữ lấy. Ông và mấy người của ông sẽ không sao đâu. Tôi đảm bảo điều đó.
Đờ người ra vì kinh ngạc, thầy cai ú ớ không nói nên lời và cũng chẳng biết nói gì. Passatempo ghé vào tai Pisciotta nói nhỏ:
– Đưa tao con dao, tao cho nó vài nhát cho rồi.
– Ở đây, Guiliano là người ra lệnh, – Pisciotta đáp, – và mọi người có mặt ở đây phải tuân lệnh.
Pisciotta nói, thực tế là để cảnh cáo Passatempo rằng chính y cũng có thể giết chết ngay Passatempo nếu gã có manh tâm vọng động.
Những thị dân Montelepre vội vã rời khỏi doanh trại, một phần vì họ sợ Maresciallo và bọn kia có thể trở về bất chợt, một phần vì họ không muốn chứng kiến cuộc tàn sát những tên cớm có thể xảy ra. Guiliano bảo Pisciotta đưa thầy cai và ba tên cớm oắt vào giam trong xà lim, khóa cửa lại. Sau đó, hắn, Pisciotta, Passatempo và Terranova lùng sục khắp các phòng trong doanh trại. Đến kho vũ khí, chúng thấy nào súng trường, súng lục, tiẻu liên… và đạn dược. Chúng lấy hết súng chia nhau đeo lên người và khiêng đạn chất lên xe. Qua phòng ngủ, chúng lấy thêm mấy cái mền và túi ngủ. Pisciotta còn quơ thêm hai bộ cảnh phục ném lên xe, miệng nói: “Để lấy hên”. Guiliano ngồi lên chỗ đánh xe, ba người lăm lăm vũ khí, hộ tống sẵn sàng khai hỏa chống lại bất cứ cuộc tấn công nào. Họ đi nhanh về hướng Castellammare. Phải mất một giờ sau họ mới tới nhà của người nông dân mà ông Hector Adonis đã mướn xe. Họ chôn giấu chiến lợi phẩm dưới chuồng heo.
Mãi đến giờ cơm tối Marescillo và toán cảnh vệ tuần tiễu mới trở về. Tuy mặt trời đã khuất bóng, nhưng nếu còn thì ánh mặt trời cũng không thể nóng hơn cơn tức giận điên cuồng của Maresciallo khi thấy tù thì sổng, mà người trong tù lại là Silvestro và ba cớm oắt. Gã điên cuồng lồng lộn ra lệnh cho xe và lính truy kích. Nhưng lúc đó, Guiliano và đồng bọn đã an toàn trên núi rồi.
Báo chí Ý làm rùm beng vụ này. Mới chỉ ba ngày trước kẻ đã giết thêm hai cảnh vệ sau hai tháng giết chết một cớm sếp, đã chiếm những hàng tít lớn và những cột báo trên trang nhất của tất cả các tờ báo ở Sicily và trên toàn nước Ý. Nhưng lúc đó, Guiliano chỉ được mô tả như một tên cướp xứ Sicilian chỉ muốn được nổi tiếng bằng sự tàn bạo, độc ác của mình. Nhưng, đến vụ này thì lại khác, Guiliano được mô tả như một người anh hùng đầy đảm lược và mưu trí, đã thắng lực lượng cảnh sát Ý một cách oanh liệt bằng chiến thuật vừa táo bạo vừa khôn ngoan, tài tình. Hắn đã giữ lời hứa giải thoát những người hàng xóm bị chính quyền giam ẩu và bất công. Các phóng viên từ Palermo, Naples, Rome và cả thành phố Milan tít phía bắc nước Ý. Cũng đổ xô nhau đến Montelepre, phỏng vấn gia đình và bè bạn của Turi Guiliano. Bà mẹ của Guiliano được chụp ảnh tay đang cầm tấm hình Guiliano gảy đàn ghi ta mà theo lời bà “nó chơi hay không thua gì các thiên thần” (thật ra, do cao hứng mà bà bốc thơm lên vậy, chớ nó mới chỉ biết chơi gọi là). Ông thầy cũ của nó nói nó là người say mê đọc sách đến nỗi bạn bè tặng cho cái biệt danh là “mọt sách”. Báo chí vồ ngay lấy những chi tiết ấy, phóng đại lên với những hàng tít giật gân đại khái như một tên cướp “học giả”, một tên cướp “nghệ sĩ”. Pisciotta cũng được báo chí đề cập đến là em họ và là chiến hữu trung thành với Guiliano. Với tấm hình chụp năm nó 17 tuổi, với dáng đẹp trai, đúng kiểu mẫy lý tưởng Địa Trung Hải, Guiliano đã khiên scho những gì mà giới báo chí đã nói trở thành một sự thật không thể phủ nhận được đối với độc giả. Nưhng trong số tất cả những câu chuyện đó thì câu chuyện Guiliano đã tha mạng cho Canio Silvestro, một người đã cố ý giết hắn, là câu chuyện làm cho cả nước Ý cảm phuc. Đối với họ, câu chuyện đó còn hơn anh hùng ca, còn hơn kịch rối àm dân nước Ý rất mê. Khuôn mặt bằng gỗ trong kịch rối làm soa sánh được với “người thật, việc thật”, con người bằng xương bằng thịt, việc diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật… Trong kịch làm gì có đạn thật bay sướt ngang đầu, làm gì có vết thương toác hoác, làm gì có vết thẹo đỏ lói?
Báo chí chỉ hơi phàn nàn việc Guiliano thả luôn cả hai tên cướp khét tiếng độc ác và tàn bạo là Terranova và Passatempo, đồng thời ngụ ý hành động này đã phần nào làm lu mờ cái hình ảnh hiệp sĩ chói sáng của Guiliano. Chỉ có một tờ báo ở Milan nhấn mạnh, Salvatore “Turi” Guiliano đã sát hại ba nhân viên cảnh sát đang lúc thi hành công vụ và gợi ý phải áp dụng những biện pháp đặc biệt để bắt hắn cho bằng được. Bởi vì tội sát nhân của hắn không thể được miễn xá chỉ vì nó đẹp trai, mê đọc sách và biết chơi đàn.


26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Google photo

12. Xóm Cù Là

Xin tạm giải thích cái địa danh ấy. Dân trong xóm sống vui vẻ tập trung tại Ngã Tư, nơi gặp gỡ tự nhiên của hai con rạch cong queo và dùng đến ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Miên, tiếng Triều Châu. 
Các vị bô lão cho biết: xưa kia, vài người mộ đạo đã cất ngôi chùa tại Ngã Tư. Một vị tướng nhà Nguyễn có tá túc tại chùa, dâng cho chùa một tượng Phật nhỏ mà ông đã thỉnh tại xứ Cù Là, lúc bôn ba hải ngoại. Các vị bô lão còn nói rõ: gọi là Cồ Là mới đúng sách vở, Cồ Là tức là xứ Miến Ðiện giáp ranh Xiêm La. 
Nhân vật nổi danh nhứt ở xóm Xù Là tên là Trần Hanh. Ông ta là chức cai tổng, có ruộng đất khá nhiều. Ðiền đất được giao cho người khác bao thầu, với số lúa phỏng định là mười ngàn giạ. Do đó, ông không tiếp xúc trực tiếp với đám tá điền. Vợ lớn của ông chết sớm để lại cậu Hai và cô Ba. Ông cai tổng Hanh ít khi có mặt tại xóm Cù Là. Dường như ông thăm viếng luân phiên ba bốn nàng hầu thiếp ở những vùng xa cách xóm Cù Là hàng ba bốn chục cây số. 
Về mặt khai phát đất hoang, giúp đỡ dân chúng thì ông cai tổng Trần Hanh đã ghi thêm vài nét hơi đậm trên bản đồ xóm Cù Là. Ông mướn người đào kinh, xẻ ngang thửa ruộng, giúp tá điền chở lúa dễ dàng từ đồng rượng đến lẫm lúa: đó là”kinh Thầy Cai Hanh”. Lại còn con lộ gọi nôm na là”lộ Thầy Cai Hanh”. Só là vào năm 1936, thầy Cai mua được chiếc xe hơi du lịch hiệu Ðờlahay. Ðiều ấy làm hãnh diện cho toàn thể dân chúng trong vùng. Trong lúc thầy cai còn do dự, chưa biết làm cách nào đem xe đến tận nhà tại ngã tư Cù Là, dân chúng thúc hối: 
– Thầy cứ mua. Tụi tôi sẵn sàng ra sức đắp con lộ từ đường xe của nhà nước vô tới nhà thầy. 
Chỉ trong vòng bốn hôm, con lộ bề ngang hai thước, bề dài hơn tám thước được hoàn thành, cao nghệu như bờ đê. Chiếc xeÐờlahay trông oai vệ làm sao! Nó giống hệt chiếc xe bò, với bốn bánh có từng cây căm tua tủa. Thùng xe hình vuông trước mũi có chưng hình đầu con đầm mọc cánh, màu bạc, khi đổ xăng là vặn con đầm ra. Ngày nay, xe hơi biến hoá tiến đến những hình dáng huê dạng hơn, giống như con rùa, con chim, con cá nược. Các bạn dưới hai mươi tuổi cứ tra các quyển tự điển là gặp kiểu xe cổ lỗ”vang bóng một thời” ấy. 
Chiếc xe ấy bị hư, trước khi thầy Cai Hanh chết. Và thầy cai Hanh chết tại xóm Cù Là, trước khi việc tống táng người chết được nâng lên hàng tiểu công nghệ với những cửa hiệu chuyện nghề bao thầu quan tài, tẩn liệm. XeÐờlahay hư máy, nằm tại nhà, không được ai mua theo kiểu “ve chai”. Và việc tống táng thầy cai Hanh – lúc bấy giờ – trở nên rắc rối. Nếu hồi còn sống thầy cai đào kinh, đắp lộ điểm tô nét nhỏ trong bức địa đồ xóm Cù Là thì lúc chết – sau khi tắt thở – được vài phút, thầy cai bắt đầu đóng vai trò lịch sử trong xóm nhỏ, với cái xác nặng hơnbảy mươi ký lô (chi tiết này rất quan trọng). Muốn mô tả lại, không gì tốt hơn là dùng phương pháp…”chép sử” ngày qua ngày mà các phóng viên mặt trận hồi Ðệ Nhị Thế Chiến thường áp dụng. 
Ngày thứ nhứt: Vào khoảng bốn giờ chiêù, cai tổng Trần Hanh tắt thở. Già thì chết, con người ai cũng chết một lần. Ông mang bệnh nan y – bệnh đau ruột – từ lâu, ông hy vọng được kéo dài thời gian sống, nhờ kỹ thuật điều trị của các bác sĩ Tây và ta ở Sài Gòn. Ðến giờ chót, cái chết ấy quá đột ngột, một sự đột ngột nho nhỏ nằm trong cái phạm vi bình thường to lớn. 
Ông nhắm mắt, sau khi làm”xung” chừng ba phút. Chẳng ai khám nghiệm thi hài ông, nhưng cậu Hai (con trưởng nam) quả quyết: 
– Ổng bị đứt ruột. Năm ngoái, ông bị cắt khúc ruột, bác sĩ Tây ở Sài Gòn nối hai khúc bằng một ống cao su. Vì mệt mỏi và quên thay ống nên cái ống ấy tuột ra, hai khúc ruột không nối liền được. Trễ rồi! 
Cậu Hai leo lên cái giường nệm, sờ vào ngực cha. Ngực đã lạnh ngắt. Cậu đánh diêm quẹt và đốt ngọn đèn sáp giữa ban ngày. 
Cô Ba cằn nhằn: 
– Làm gì vậy? Chưa tẩm liệm tại sao anh đốt đèn cúng vái? Nên giữ đúng tục lệ ông bà, kẻo xảy ra… 
Cậu Hai nói gằn: 
– Mầy đừng làm bộ. Lát nữa mầy biết. Mầy là em tao, chưa khôn hơn tao đâu. 
Cô Ba gạt nước mắt: 
– Anh đừng nói vậy! Anh đuổi tôi hả? 
Nói xong, cô Ba bước ra khỏi phòng, khóc thật to, khóc quá to. Bọn gia nhân an ủi cô với những câu thường lệ. Cô vào phòng riêng lấy xâu chiềa khoá mở tủ, lục lạo rồi khoá tủ. Ðâu đó xong xuôi, cô ra khỏi cổng, hơi bí mật. 
Bên giường nệm của cha, cậu Hai đi tới đi lui, tay cầm ngọn đèn sáp. Cậu đốt vào đầu ngón tay, vào lòng bàn chân của cha. Hỡi ơi! Da thịt người chết… đã chết thật. Nó không phồng lên, giộp da, chứa đựng nước giữa da và thịt. Bàn chân người chết không cựa quậy, mất tất cả cảm giác khi ngọn lửa châm vào. 
Cậu Hai tắt ngọn đèn sáp. Ông đại hương cả đến, gương mặt thiểu não. Lẽ dĩ nhiên, ông đại hương cả sẵn lòng giúp đỡ cậu Hai trong việc tẩn liệm và tống táng. Trong một phút xúc động, cậu Hai ngỏ ý rót rượu dâng cho ông hương cả và lạy tạ, cám ơn ông trước khi ông ban ơn. Ông đại hương cả nói: 
– Cậu Hai nên lo”giàn ngoài” . Lúc bình sinh, ông cai tổng giao thiệp rộng, quen biết nhiều người, có ơn nghĩa qua lại. Ðây là đám tang của người làm”chức việc”. Tất cả hương chức hội tề mười làng trong tổng sẽ tới bái điếu, quan chủ quận, quan chánh tham biện chủ tỉnh nữa. 
– Cháu hứa… báo hiếu tận tình. 
Nói cong, cậu Hai trao cho ông đại hương cả một số tiền để mua sắm các dụng cụ cần thiết. Cậu ra khỏi cổng, trong khi cô Ba từ ngoài cổng bước vào sân nhà. Hai anh em lườm nhau, không nói. 
Tư Tề là người chuyên lo tống táng ở xóm Cù Là. Năm ấy, Tư Tề gần năm mươi tuổi. Tư Tề lo tống táng, không lấy tiền thù lao. Dưới quyền ông ta, có gần hai mươi cậu thanh niên lực lưỡng, bọn này được tập dượt kỹ lưỡng về kỹ thuật khiêng quan tài ra khỏi nhà, đưa quan tài lên nhà vàng rồi hạ huyệt… một cách êm thắm. 
Tư Tề mừng rỡ, đến nhà bọn đệ tử, thúc hối: 
– Tụi bay chiều nay tới nhà tao để tập dượt. Ông cai tổng Hanh là người quá mập. Tụi bây dư hiểu: khi chết rồi, vài ba ngày sau, cái xác con người nặng thêm gấp đôi, gấp ba. Lại còn cái quan tài bằng cây trai Phú Quốc. Nặng lắm phải đủ mười sáu đứa mới mong khiêng nổi. Nếu làm xong phận sự, bọn mình được thưởng và được tiếng… thơm lây. Quan chủ quận, quan chánh tham biện và hương chức hội tề của mười làng trong tổng này tới chứng kiến đó. Cô Ba tới gặp mặt tao, nhờ tao lo dùm. Chôn thật gấp. Chắc là ngày mai, ngày mốt. 
Bọn đệ tử của Tư tề chưa phải làđô tuỳ (đạo tỳ) chuyên nghiệp. Tư Tề muốn bắt chúng nó tập dượt suốt đêm. Trước khi thực hiện kế hoạch, ông ta vào quán mua năm lít rượu đế, đưa ra tấm giấy bạc”con công” – năm đồng – số tiền to tát thời bấy giờ. Bỗng nhiên, cậu Hai bước vào quán, nói to: 
– Tư Tề! Tiền đâu nhiều dữ vậy? 
Tư Tề hơi sửng sốt. Mọi khi, cậu Hai tỏ ra rộng lưỡng đối với kẻ dưới. 
Tư Tề đáp, thật thà: 
– Dạ, của cô Ba gởi cho tôi. Tôi mua rượu để anh em đạo tỳ tập dượt gấp. 
Cậu Hai bỉu môi, cười dòn: 
– Cô Ba ngu dại quá, xài tiền không nhằm chỗ. 
Người trong quán ngồìm. Tại sao cậu Hai tỏ ra keo kiệt lúc tang gia bối rối? Số tiền năm đồng bạc này chưa phải là nhiều, chưa xứng đáng với công lao của Tư Tề. Cậu Hai nói tiếp, không nhìn vào mặt Tư Tề: 
– Cho nó uống rượu, ăn vài miếng thịt vụn là nó khiêng dùm. Tụi dưng quan, tụi đô tùy ưa rượu thịt. Hễ thấy có đám ma là mừng như kiến, như ruồi thấy mật mỡ. Không mời, tụi nó cũng năn nỉ mà bò tới… 
Bị chạm tự ái. Tư Tề nói bâng quơ: 
– Vậy thì tụi nầy nằm nhà ngủ chơi… 
Cậu Hai bước ra khỏi quán. 
Chờ khi cậu Hai khuất dạng. Tư Tề lắc đầu nói ba hoa với cử toạ: 
– Ðể cho xác cai tổng Hanh hôi thúi tại nhà… mới hả giận tôi. Bà con nghĩ coi. Cô Ba tử tế bao nhiêu thì cậu Hai phách lối bấy nhiêu. 
Lão chủ quán mỉm cười: 
– Rắc rối lắm. Cậu Hai có tâm sự riêng. Thôi, ông về đi. Chừng nào họ cần tới mình thì mình tới. 
Ngày thứ nhì: Xác cai tổng Trần Hanh còn nằm trên giường trong khi ông đại hương cả đi ra đi vào, thúc hối: 
– Cậu Hai đừng làm vậy! Ông cai nhắm mắt rồi, con cháu nên sống thuận thảo. Không khéo, ông cai trở mình dưới mộ. Ổng trở mình, cậu ơi! 
Cậu Hai đáp: 
– Tức mình lắm, bác ơi. Trước khi nhắm mắt, ba tôi còn giấu hai mươi lượng vàng trong tủ, do con Ba giữ chìa khoá. Hồi khuya này, con Ba cho biết: trong cái hộp vàng không còn… lượng nào cả. Tôi hỏi tại sao? Con ba gẫy gỗ với tôi… 
Cô Ba chạy vào: 
– Anh đừng nói bậy. Anh là con trưởng nam. Ba để tất cả của cải cho anh. Em là gái, nào biết chuyện gì? 
– Mầy không đưa vàng ra thì tao không đồng ý tẩn liệm. 
Cuộc trang chấp kéo dài cho đến hừng sáng. Cậu Hai đành nhượng bộ. Mãi xế chiều, bao nhiêu nguyên liệu tẩn liệm đã chuẩn bị đầy đủ. Cái quan tài bằng cây trai đã nằm giữa nhà, nơi phòng khách. Ông đại hương cả thở dài: 
– Khổ quá. Chờ đợi quá lâu, bác e rằng nó bay mùi. 
Cậu Hai thấy ngoài sân, nơi che rạp, đã xuất hiện quá nhiều thân hào. Họ chờ đợi để phúng điếu bằng… tiền bạc. Số tiền nầ, nhứt định cậu nắm giữ. Cậu nói: 
– Xin bác điều khiển tẩn liệm. 
Ông đại hương cả nói: 
– Phải tẩn liệm cẩn thận. Bác coi rồi… Ðiệu này khó xong. 
Bên cạnh quan tài, một số gia nhân lo quết một mớ ổ muối, quết thành bột mĩn, đem trộn với cháo nếp. Họ dùng thứ”xi măng” ấy trét vào đáy quan tài, nơi mấy tấm ván ráp với nhau. Trong đáy hòm, còn đổ thêm một lớptòng chỉ (nhựa thông). Hằng trăm cái kèn đã cuốn sẵn chất đống. Kèn là những gói giấy bên trong chứa gòn. Gòn là chất rút nước, thứ nước từ xác chết xảy ra khi bị biến chất… 
Ông đại hương cả lật quyển lịch để xem ngày, xem giờ. Ðã từng sống nhiều năm, ông đại hương cả dư biết sự tranh chấp giữa hai đứa con ông cai tổng Trần Hanh. Cô Ba muốn làm lễ tống táng thật sớm để rồi sau đó, cô ra chợ Rạch Giá, với số vốn hai chục lượng vàng và khá nhiều bạc mặt do ông Cai tổng để lại. Cậu Hai muốn kéo dài thời gian, để quàn cái quan tài lại nhà hòng làm áp lực với cô Ba. Ðồng thời, vì phương tiện giao thông và phương tiện báo tin khó khăn, cậu Hai tin chắc: “nếu quàn suốt nửa tháng thì vẫn còn vô số thân bằng quyến hữu đến điếu. Tổng cộng số tiền ấy… tính đổ đồng mỗi người năm đồng…” 
Theo phe nào bây giờ? Ông đại hương cả nói, lưỡng lự: 
– Ngày nào cũng tốt, ngày nào cũng xấu. Khi nào cậu Hai và cô Ba đồng ý thì tôi xem giờ để chôn cất. Bởi vì trong ngày tốt có giờ xấu, ngày xấu nhưng nếu động quan nhằm giờ tốt thì mọi sự bằng an. 
Xác ông cai tổng đã buộc lại, tấn ém kỹ lưỡng. Số kèn bông gòn dường như dư dùng vì xác ông cai choán gần trọn cái lòng quan tài. Bọn gia nhân trèo lên nắp quan tài, nhún nhảy để ém xuống, trước khi đóng bốn cái khoá sắt: nó giống như bản lề cửa. Nắp quan tài trở thành cái cửa không bao giờ mở ra được vì có đóng bản lề ở hai bên. Ðinh đóng thật chắc, được kiểm soát cẩn thận. Rồi thì nhang đèn cháy không dứt. Dưới quan tài ngay đầu và chân ông cai tổng, bọn gia nhân thay phiên nhau ngồi, đốt liên miên nào vàng bạc, nào bạch đàn, huỳnh đàn. Trước quan tài, đỉnh lư trầm toả khói, bức ảnh ông cải tổng được chưng trên bàn thờ. Qua làn khói người ta thấy dường như bức ảnh biết cười, biết nhăn nhó… mờ mờ nhân ảnh. 
Ngày thứ ba: Cô Ba rót rượu mời ông đại hương cả ngõ ý thúc hối: 
– Ðể như vầy, cháu đau khổ quá. Thấy cái quan tài, cháu cầm lòng không đậu… Anh Hai của cháu muốn quàn cái quan tài chờ khi nào cháu đem mấy chục lượng vàng ra chia với ảnh, chừng đó ảnh mới cho động quan. Làm sao có đủ vàng? Ba cháu đâu thương con gái bằng con trai… 
Ông đại hương cả gật gù: 
– Cháu đừng lo. Chôn sớm mà! 
Cô Ba chắp tay, cảm tạ tấm lòng ông đại hương cả. Ðến trưa, ông đại hương cả ngủ lim dim chợt nghe tiếng gọi. Ông mở mắt nhìn. Đó là thầy hương quản làng Giục Tượng. Thầy ta đến làm lễ điếu, mặc áo dài, đội khăn đen trông thật chỉnh tề nhưng gương mặt tái mét: 
– Ông đại hương cả! Mệt quá. Tôi nín thở mà lạy. Nó… có mùi rồi. 
– Thôi đừng nói, thầy có thể qua nhà khác mà ở tạm cho khoẻ khoắn, chờ ngày dự đưa đám… 
– Chừng nào lận? 
– Ðừng lo. Cũng gần ngày rồi. 
Ðột nhiên, bọn gia nhân nói lên một lượt rồi rời bỏ phòng khách. 
– Ðứt néo! 
Cậu Hai lắc đầu, đến cầu cứu với ông đại hương cả: 
– Bác… giúp cháu. Ðứt néo là làm sao! Tụi gia nhân này… chó chết quá. 
Vừa lúc ấy, cậu Hai bắt gặp một thứ mùi khó chịu. Ông đại hương cả lấy khăn che mũi: 
– Ðứt néo là cái quan tài xì hơi. 
Cậu Hai cằn nhằn: 
– Tại trét không cẩn thận. 
– Cháu đừng nói bậy mà anh em chòm xóm họ giận. Xưa nay hễ lúc quàn quan tài trong nhà mà anh em xích mích gây gỗ để chia của thì người chết trở mình trong quan tài, sanh ra chuyện đứt néo. mấy cái bản lề còn nguyên nhưng nó xì hơi ở dưới đáy quan tài, nó xì hơi và nó xì ra… nước! 
Cậu Hai bước tới nghiêng mình lên bên quan tài. Nước nhểu nhểu từ đáy quan tài xuống nền gạch, thứ nước xanh lè và sôi bọt. 
– Trời! Làm sao bây giờ bác? Tất cả mười làng, hai ngày rày, mới có năm làng tới điếu. Còn năm làng nữa, ở xa xôi. Nhứt là mấ người bà con ở ngoài Hòn Tre, sóng gió bất thường, làm sao họ vô trong đất liền được? Ðứa em gái tôi thì ngỗ nghịch. Hổm rày tốn hao khá nhiều. Tiền mua quan tài, tiền rượu thịt… Nếu không gom góp tiền bà con đi điếu thì khó bề xoay xở… 
– Cậu đừng lo. Người ta chạy tứ tán hết rồi. Ở đây thanh vắng. Cậu lại gần quan tài kiếm cái nùi giẻ, chùi cho khéo léo. Cậu nhớ nghiêng mình, lom khom… cho thiên hạ tin lời của tôi. 
Ðám khách khứa ăn uống đã kéo nhau đến gần mé sông để đổi gió. Ông đại hương cả gọi: 
– Bà con ơi! Hế rồi! cứ vào đây cho ấm cứng. Bà con dư biết: hễ xảy ra chuyện đứt néo thì con cái le lưỡi mà liếm để chịu tội với người trong quan tài. Cậu Hai là đứa con chí hiếu dám làm chuyện ấy. 
Các quan khác vào trong. Họ thấy cậu Hai và cô Ba đang quỳ lạy, xin lỗi cha. Theo lệnh ông đại hương cả, bọn gia nhân đem thêm bạch đàn, huỳnh đàn, cây tóc… quăng vào lư đồng. Khói bay cuồn cuộn, trở thành bức trường thành ngăn cản luồng ám khí từ quan tài bốc ra. Tuy màn khói khá dày, khá thơm nhưng thỉnh thoảng vài người”thính hơi” đã nín thở. Dường như luồng ám khí tuôn ra từng đợt. 
Ðêm ấy, quan khách chạy tán loạn, đâu vào khoảng canh tư. Ông đại hương cả giải thích với cậu Hai: 
– Hễ đứt néo một lần thì nó đứt hoài, độ ba giờ đứt một chập. Ðốt trầm hương là chuyện tạm thời, có lỡi gần nhưng có hại xa. Mùi trầm hương đánh tan, che khuất làn hơi ô uế, đã đành. Ngặt nó nóng quá, làm cho người trong quan tài mau”trở mình”. Cháu lo liệu là vừa. Ngày mai này, nếu đốt trầm hương tới xế trưa thì hơi lửa, hơi nắng dồn lại, ắt không chịu nổi. 
Ngày thứ tư: Tư Tề nằm trằn trọc, đau khổ như kẻ có tài nhưng chưa được dịp thi thố. Ông ta uống rưọu khan, một mình. Nếu cậu Hai đừng ăn nói hỗn hào thì ông ta đã tình nguyện biểu diễn, là lễ động quan. Ông ta nhớ những giờ phút oai hùng đã qua: đám đô tùy cắm cây nhang trong miệng quỳ xuống lậy như con ếch, theo hiệu lịnh. Rồi ông ta xung phong phá quàn. Cái quan tài quàn trong nhà lâu ngày thì luôn luôn có ma quỉ kéo níu. Ông ta làm phận sự”dưng quan,” tức là giành giựt cái quan tài, chống bọn ma quỉ, để đem quan tài ra khỏi nhà. Trên nắp quan tài ông ta yêu cầu chủ nhà đặt một miếng vàng bạc, trên miếng vàng bạch, có chén rượu tràn đầy. Dưới sự điều khiển âm thầm của ông ta, bọn đô tùy khiêng quan tài , khiêng ngay ngắn, không lắc qua lắc lại. Chén rượu không bao giờ nghiêng, rượu nằm im trong chén, miếng giấy bạc vẫn khô ran. Khó nhưng mà dễ! Cứ rót rượu đầy chén vì chén đầy thì ít lúc lắc. Và lúc cầm ngọn đèn sáp để múa men đánh với bọn ma quỉ, ông ta đã khéo léo cho nhểu một giọt sáp vào chén. Giọt sáp ấy đóng vai trò những nhánh cây mà ngưòi gánh nước giếng thường bỏ vào thùng, để nước ít xao động. 
Phèn la và trống nổi lên inh ỏi! 
Tư Tề thức dậy, tức giận: 
– Úy! Mình tẩy chay đám ma này rồi! Ai dám lãnh công việc động quan… 
Vài người đi rộn rịp trước nhà Tư Tề. Họ bàn tán: 
– Hay lắm. Bà con lối xóm dám liều mạng, bất chấp bịnh tât, tới nhà ông cai tổng lo dùm cậu Hai. Ðể lâu ngày, hơi độc bay ra, cả xóm phải mắc dịch. Ở đầu xóm, cách xa năm bảy trăm thước mà … mùi bay nhức đầu. Cái hòm bị đứt néo liên miên, chảy nước vàng nước xanh… linh láng. 
Tư Tề chạy ra sau hè đi xem “người ta không mời mình tới làm gì.” Trên con đường lộ xe, tức là con lộ mang tên thầy Cai, hàng chục thanh niên xỏ đòn ngang, đòn dọc để khiêng quan tài. Mỗi cây đòn dài chừng năm sáu thước, xỏ qua xỏ lại trên vòng dây. Cái quan tài trở thành cái bánh xe, mỗi cây đòn là một cây căm tua tủa. Gió thổi mạnh. Bọn người khiêng quan tài và bọn người đưa đám đều tỏ ra khôn ngoan, hiểu tình thế. 
Cái quan tài di chuyển theo hướng gió xuôi, vì vậy, mùi ô uế luôn luôn bay về phía trước. Ðôi khi gió trở ngọn, bọn đô tùy dừng chân, xoay tròn một chỗ. Ðám quan khách cũng xoay tròn để tránh hơi ô uế. Hễ đi được vài chục bước, bọn dod6 tùy như bịn rịn, để quan tài xuống đất. Quan tài bằng cây trai, chứa đựng một người to xác đâu phải là nhẹ. Khi quan tài vừa dudụng mặt đất là bọn đô tuỳ và quan khách chạy dang xa. Cái quan tài nằm cô độc như cục đá, thiếu bóng cây tùng, con cò còn hạc. Lát sau, bọn đô tùy xáp vô, khiêng quan tài lên. Gió lại thổi. Bọn đô tùy xoay trở theo hướng gió. Họ di chuyển theo đường gãy đường con để tránh các hiểm hoạ mất vệ sinh. Lúc thì đầu quan tài đi trước, lúc thì chân quan tài đi trước. 
Sau rốt, gần tới huyệt. Cái quan tài được di chuyển theo bề ngang, như con cua bò. Một tràng pháo nổ đì đẹt, vài tiếng súng nổ, ấy là mấy người lính mã tà do làng sở tại phái đến làm lễ hạ gộng. 
Từ Tề lủi thủi đến nhà ông cai tổng Trần Hanh, không vui, không hối hận. Gian nhà vắng vẻ quá. Tại gian nhà để xe hơi, Tư Tề nghe tiếng lụp cụp. Năm sáu đứa bé xúm nhau trèo vào xe, cầm tay lái, lúc lắc. Chúng nó bắt chước ông cai tổng hồi thời nào: đạp ga xăng, bóp kèn nhưng ga xăng không rồ, kèn thì kêu te te. Tư Tề quát to: 
– Tụi bây không sợ ổng bắt hả? 
Khi lũ trẻ chạy tán loạn. Tư Tề đến nhà xe, nhìn trước nhìn sau rồi vặn cái nắp đậy bình xăng, cái nắp có gắn hình đầu con đầm mọc cánh. Tư Tề nhủ thầm: 
– Xe hư rồi, để cái hình này cũng vô ích. Mình đem về để dành, lén lén coi chơi. Vài chục năm nữa, mình gắn nó lên hòn non bộ, coi cũng sướng.