26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam
Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Google photo

11. Con sấu cuối cùng.

Một tai hoạ thảm khóc vừa xảy đến cho gia đình ông cai tổng Hy. Hôm ngày cưới vợ của đứa con trai út, đoàn ghe rước dâu bị sấu cản mũi, bà con hai họ kêu la ỏm tỏi. Sấu lặn xuống rồi trồi lên đập đuôi ngay chiếc ghe chở cô dâu, chú rể. 
Ai nấy trở về bình yên, trừ trường hợp đặc biệt của cô dâu. Nàng mất dạng sau khi quơ đôi chân ngược lên trời, lần cuối cùng, đầu và mình đều khuất dưới mặt nước xao động, trong miệng sấu. 
Tôi đến chia buồn với ông cai tổng Hy. Ông nói giọng buồn bã: 
– Nó mất xác. Bây giờ chỉ còn chờ báo thù. 
Vì chưa biết rõ, tôi hỏi kỹ: 
– Dạ thưa ông, ai báo thù? 
– Sấu báo thù cho sấu… Theo tục lệ hồi xửa hồi xưa, sấu là loài thú bị đầy, mỗi con muốn thành tinh, để đầu thai kiếp khác cần phải nuốt… chín mươi chín nhơn mạng, thêm một người nữa là đúng một trăm chẵn. Nhưng mấy thầy câu sấu ở xứ mình quả quyết rằng họ có thể sửa đổi luật lệ của quỷ thần. Họ sẵn sàng giết sấu để báo thù cho người chết với điều kiện phải mướn bằng một số tiền khá cao. 
– Ông mướn thầy câu sấu nào chưa? 
– Họ đòi giá cao quá, dầu bắt được hay không, mình phải đặt tền tổ trước khi họ ra tay. Khổ lắm. Họ biết rằng kẻ bị”hùm tha, sấu bắt” chẳng bao giờ trở về nhà hưởng nhang khói nếu con sấu, con cọp sát nhân kia còn sống. Vì muốn cúng kiếng cho con dâu, bác dọ hỏi giá cả…. sơ sơ trên hai trăm đồng. Còn thêm điều kiện: bao nhiêu vòng vàng trong bụng sấu đều thuộc quyền của họ. Cách đây vài bữa, lão Năm Hên tới đây hỏi han kỹ lưỡng rồi xin phép bắt con sấu đó, không ăn một đồng xu nào hết. 
– Người đâu mà tử tế quá vậy? 
– Khó hiểu lắm. Ông ta nói rằng muốn bắt một con sấu cuối cùng, trước khi giải nghệ… 
Rồi ông cai tổng Hy nói khẽ: 
– Chắc ông ta biết con dâu tôi… nó mang theo hai chiếc neo đúng hai lượng vàng nên động lòng tham. Hễ bắt được con sấu. ông ta mổ bụng nó lượm trước hết rồi tri hô sau, hoặc chẳng thèm tri hô gì ráo. Như vậy, ông ta vừa… làm giàu, vừa được tiếng tốt với hậu thế!

Ðể hiểu rõ hơn, tôi đến Ngã Ba Ðình để làm quen với ông Năm Hên. Biết tôi là người quen thuộc với gia đình ông cai tổng Hy, ông Năm tỏ vẻ ái ngại: 
– Nguy lắm. Tốt hơn cháu về nhà chờ đợi. Khi nào bắt được nó, bác cho cháu hay. 
Tôi nài nỉ xin phép ở lại căn chòi che tạm ấy. Ông mải im lặng. Tôi sanh nghi, liên tưởng đến hai chiếc neo hai lượng vàng còn nằm trong bao tử con sấu ác nghiệt. Gương mặt ông Năm Hên trông hiền nhưng bí hiểm lạ thường. Ông đi ra đi vào, quan sát bãi bùn, nhìn mấy giề lục bình trôi ngang qua rồi nói: 
– Sợ cháu không đủ kiên nhẫn. Chuyện nguy hiểm này, bác muốn chịu đựng một mình. Nếu có mặt một người thứ nhì, bác e xảy ra nhiều tiến dị nghị. Hồi xưa, cháu nên nhớ rằng: bác làm nghề này vì miễn cưỡng. Hôm nay bác muốn tự ý bỏ nghề không trống, không kèn. Thôi, được rồi. Cháu ráng ở sớm hôm với bác. Ðiều quan trọng là cháu đừng làm điều gì mà bác ngăn cấm. Ðừng chàng ràng hỏi tới hỏi lui. Ðừng thắc mắc là tại sao cháu hỏi mà bác không trả lời. Bây giờ thì cháu ăn cơm rồi ngủ cho thẳng giấc. 
Vì tò mò muốn điều tra những thủ đoạn của thầy câu sấu, tôi nhận lời và ngoan ngoạn ăn cơm. Ăn xong tôi lựa một nhánh bần cổ thụ, trèo lên nằm co mình. Gió thổi mát rượi. Ông Năm Hên cứ hút thuốc phì phà. Tôi vui sướng như nằm trên chiếc ghế dựa. Con sông Ngã Ba Ðình nổi tiếng có nhiều sấu hung ác nên ghe xuồng qua lại rất thưa thớt. Trời xế dần, chưa chi mà cò, diệc hay giăng hàng về rừng. Lục bình trôi hết giề này tới giề kia, mấy cây khô trốc gốc nổi lềnh bềnh quay qua quay lại như xác người rũ tóc. 
Tôi ngủ từ bao giờ, không hay biết. 
Bỗng nhiên, tôi giật mình thức dây. Một trái bần chín khá to, vừa rụng xuống bãi bùn. Tôi mừng quýnh, nhảy xuống đất, chạy ra ngoài bãi, cúi xuống lượm, chợt nghe nhiều tiếng động lạ lùng, giống như giọng cười the thé củacô hồn ma quái. 
Trên chòi, ông Năm Hên vụt đứng dậy mỉm cười: 
– Coi chừng. Không nguy hiểm nhưng đừng giật mình, đừng la lớn. Nó đó! 
“Nó” là ma hay là con sấu ăn thịt đứa con dâu của ông cai tổng Hy? Tôi muốn hỏi to nhưng sực nhớ lời căn dặn. Vả lại, tôi muốn tỏ rằng mình đây chẳng phải thợ câu sấu nhưng vẫn đầy đủ bản lãnh. 
Hai chân tôi đau điếng như đạp nhằm gai. Vừa ngó xuống, tôi hoảng hốt: Hàng chục con thú nhỏ – vóc dáng bằng con cắc kè – chạy tới bao vây, nhe răng, phóng mình cắn khỏi mắt cá. Tôi rút chân khỏi bùn, toan rút lui về phía cây bần để tìm một nhánh cây làm roi. Không cần suy nghiệm, tôi hiểu ngay! Ðó là bầy sấu con mới nở, dưới bụng mỗi con đều dính những bệt màu vàng – màu của tròng đỏ trứng sấu. Ông Năm Hên quát to: 
– Chạy luôn đi! 
Tới gốc bần, tôi leo lên thật cao rồi ngóng xuống bãi. Kìa, một con sấu dài hơn ba thước từ mé nước bò trườn, bao vây đàn con, lùa xuống mé nước. 
– Xuống đi! 
Nghe theo lệnh ông Năm Hên, tôi tới căn chòi. Ông cứ ung dung hút thuốc, nhìn mơ màng theo làn khói. Trên vách lá, hang chục cây mun – mũi tên bằng cây cau già phía trước có mũi nhọn bằng sắt – nằm im lìm trong cái ống tre khá to. Bỗng dưng, tôi nổi giận, thầm trách: 
– Lão Năm Hên này quá ác, muốn nhử cho sấu ăn thịt kẻ khác. Ðã ác, lão còn nhát gan. Cớ sao ông chưa chịu phóng vài cây mun bịt sắt để giết con ác thú? 
Tôi nói: 
– Sao bác thờ ơ quá vậy! 
Lão trợn mắt: 
– Ðó là con sấu cái. Nó lo giữ bầy con. Con sấu đực mới là chánh phạm. 
-“Nó” đâu rồi? Tại sao bác biết là”nó”? 
– Cháu đừng hỏi. 
Rồi ông nói lảng qua chuyện khác. Nào loài sấu đẻ hàng đôi ba chục trứng, đẻ xong khoét lỗ, sắp trứng từng lớp, cứ mỗi lớp trứn glà có một lớp lá cây mục, cỏ khổ. Ðâu đó xong xuôi, sấu kiếm lục bình, nhánh cây, rác rến mà phủ lên giống như mô đất, cao đến sáu bảy tấc. Khi trứng gần ngày nở, sấu mẹ bò quanh quẩn, nghiêng tai nghe tiếng động trong lòng trứng… Lúc mới nở, sấu con sống bằng chút ít tròng đỏ còn dính dưới bụng. Hằng ngày sấu mẹ cạnh chừng sấu con, sợ sấu cha trở về ăn thịt con… 
Chúng tôi ăn cơm chiều. Trời sụp tối. Ông ngồi chồm hổ, bấm đốt tay, tính lẩm bẩm. 
Ðến khoảng đầu canh hai, ông vỗ nhẹ vào vai tôi: 
– Thức chưa hay còn ngủ? 
Tôi trố mắt: 
-“Nó” hả? 
– “Người ta”hồi đầu mùa rồi, đừng hỏi nữa. Nếu buồn bực thì lại đây cói cái này cho vui. 
Tôi bắt đầu lo ngại, nghĩ tới bao nhiêu giai thoại về hồn ma hiện về cỡi trên lưng loại sấu đội đèn. Ông Năm thúc hối: 
– Mau mau! 
Qua khi đìa, tôi thấy dưới này năm ba vật gì đen thui, giống như khúc củi nổi lều bều. Ông Năm giải thích: 
– Tụi nó điếm đàng như vậy đó. Nó xuôi chân xuôi đuôi và cứ nổi phêu phêu trên mặt nước. Con sấu cái ở chính giữa, xung quanh là bầy sấu đực tới ve vãn. Sấu cái lội tới đâu, mũi”xạ” trong miệng nó hôi thúi tới đó, rù quến bầy sấu đực… Tụi đực rựa đánh mùi, giành”mèo”. Coi kìa! 
Mặt nước xao động. Mấy”đốm đen” chuyển mình rượt nhau, đập đuôi nghe ầm ầm vang lên chấp choá dưới ánh trăng non. Chập sau, bầy sấu mất dạng. 
Ông Năm Hên khép kín cánh liếp, nói nhanh: 
– Cháu thấy nhãn tiền chưa? Con sấu cái này chờ”chồng” . Nó đánh bạt bầy sấu đực xấu máu. Bọn sấu đực giành mèo dữ tợn lắm. Bác gặp nhiều phen lạ lùng: sấu đực cắn lộn, con này cyui xuống bụng con kia để thiến lẫn nhau. 
Rồi ông tắc đèn chui vào nóp ngủ.

Ngày qua ngày, ông Năm Hên xuống bãi bùn, cắm nhánh cây để ghi mức nước lớn, nước ròng. Ðôi khi, thừa lúc tôi nằm lim dim, ông xách cây dao phay, đi ra sau nhà, khuất dạng trong vùng rừng tràm lưa thưa. Tôi sực nhớ tới tập quán của vài người mỗi lần vào rừng phóng uế,”bón phân cho cây” là họ mang theo cây dao để đào lỗ rồi lấp lại cho hợp vệ sinh. Nhưng tại sao ông Năm Hên che dấu cái nhu cầu đơn giản ấy? Mội buổi sáng, nghe tiếng quạ kêu sau rừng, lão hối hã chạy ra khỏi nhà, hò hét inh ỏi: 
– Quả đùng! Quạ đùng! 
Lão trở vào, hút thuốc, bấm đốt tay rồi chạy xuống bãi bùn. Hồi lậu, lão trở lên: 
– Cháu ở nhà một mình nghe không? Bác qua bên kia chừng vài giờ đồng hồ. Ở nhà, nhớ đuổi quạ. Và đừng bao giờ ra sau nhà, phía rừng tràm. 
Tôi gật đầu, hứa vâng lời. Chờ lão khuất dạng, tôi làm bài toán liều mạng. Ra sau rừng để xem thử. Tại sao lão ngăn cấm? Nhứt định lão chôn giấu một vật gì bí mật. Rủi lạo bắt gặp, tôi bị rầy, bị đuổi ra khỏi nhà là cùng. Vùng rừng tràm quá thấp, nước đọng quanh năm. Giữa ban ngày muỗi mòng cứ bay vo ve, từ mặt nước, bầy lăng quăng thoát xác bay lên nhu con ngài lột vỏ kén. Hồi lâu, tôi đến vùng đất cao ráo, in tỏ rõ dấu chân người. Tôi dừng bước, ngạc nhiên và sợ sệ, nhận ra một nấm đất vuông vức. Kho tàng chăng? Bùa phép hoặc cạm bẫy gì đây? Sau khi hái một nhánh cây khôn, tôi xới đất: Hai khúc xương lòi ra, xương ống chân và xương bắp đùi và mớ xương vụn khác. Lập tức, tôi lấp đất lại rồi chạy nhanh về chòi để tránh mùi hôi thúi. Té ra ông Năm Hên đã chôn nguyên cái chân của một người, người ấy phải chăng là cô dâu của ông cai tổng Hy? 
Chừng hai giờ sau, ông Năm Hên trở về, nhìn thẳng vào mặt tôi như muốn nói điều gì… Ông vấn thuốc hút, mỉm cười: 
– Hổm rày, cháu buồn bực, hồ nghi công việc làm của bác hả? Ráng ở thêm tối nay, tới trưa mai cháu về nhà được rồi.
– Xin lỗi bác. Lúc bác vắng mặt… 
– Cháu đừng hiểu lầm. Bác mời cháu ở lại chớ đâu muốn đuổi. Cái gì bác cũng tha thứ được hết. À, tuổi trẻ, người ngoại cuộc như cháu ưa tò mò. Bác muốn cháu tò mò cho tới nơi tới chốn. Ðời bác quá già rồi. Bác làm rẫy khoai mì ở rạch Ngan Trâu, tính giải nghệ từ lâu nh; ưng chưa giải nghệ được. Bữa nay hoắc sáng mai, bác giết con sấu cuối cùng. Sanh nghề tử nghiệp, bác đều sợ, vì nếu “tử vì nghiệp” thì đó là luật quả báo. Bác sợ những người tò mò, mới xem nửa chừng rồi bỏ cuộc… 
Tôi im lặng, cúi đầu nghe lời trách mắng quá nghiêm khắc ấy. Dường như ông Năm Hên muốn trút bao nhiêu bất mãn chồng chất từ bao nhiêu năm qua lên đầu tôi. 
Lão day mặt, hỉ mũi, nói nghẹn ngào: 
– Cháu nên ở lại. Bác sợ cháu đồn đãi… bậy bạ. Giờ phút này, cháu thấy sự thật khi đào lên sau rừng. Nhưng cháu có thể hiểu lầm… cũng như ông cai tổng Hy hiểu lầm. 
Chiều hôm ấy, ông Năm Hên nhịn ăn, vì buồn bực. Tôi lục nồi cơm nguội, nuốt lua láo nửa chén rồi chun vô nóp. 
Ông đốt đuốc lên, nói khẽ: 
– Ðừng ngủ. Hễ nghe phía sau rừng có tiếng sấu”nghé” đừng giật mình nghe không! Nước ở cái lung bên kia cạn rồi. Tối nay nó về đó. 
Tôi đứng lóm thóm bên ngoài cửa, nhướng mắt… Bỗng nhiên, ông Năm Hên chạy ra ngoài, ngoắt lia lịa: 
– Ðừng sợ. Cháu coi kìa! Nó trườn lẹ ghê, giống của nó dữ lắm. Bữa hổm, sấu cái lo ấp trứng, nó rảnh rỗi sanh tật hung hăng đón ghe… đám cưới. Hôm nay, đoán chừng bày sấu con đã nở, nó bò về để ăn thịt con. 
Dưới bãi bùn, con sấu hiện ra, đen ngòm giống như cái xuồng độc mộc. Trăng sáng vằng vặc. Con sấu trườn dài, dọc theo bờ sống, day mũi qua bên tả, bên hữu. Ông Năm Hên nói: 
– Cháu cầm cây đuốc dùm bác. Ðừng la hoảng nghe không. Ðể bác giết nó. Cầm đuốc cho thật chắc! 
Tôi nhận lấy bó đuốc… 
Ông Năm Hên bước xuống bãi với hai bàn tay không…. Sực nhóo tới cái ống tre đựng mấy ngọn mun bịt sắt, tôi nói nhỏ: 
– Ðem ngọn mun theo chớ? 
– Khỏi cần. Chắc ăn lắm rồi. Nó đó. Nhất định là nó. 
Con sấu tiến lần về cái ổ trứng – đúng nơi tôi bị bầy sấu con bao vây hôm nọ. Bầy sấu con hoảng chạy… Sấu đực lướt tới đớp con. Nhanh như chớp, ông Năm Hên nhảy lên sấu mà cỡi… Ông cúi đầu xuống, hai tay cựa quậy… Sấu day mũi xuống nước rồ8i quẹo lên bãi, trở mình, vật ông Năm Hên nằm ngửa dưới bải… Trong phút giây, người và sấu chỉ là một đống đen thui. Khói từ bó đuốc thổi tạt ngang mặt tôi… Gió thổi hù hù. Ông Năm Hên hò hét, làm vang động khu rừng tràm sau hè. Tôi đứng không vững vì dường như mặt đất rung rinh. Bỗng dưng ông Năm Hên đứng dậy, chạy bò càn lên bờ đến bên cạnh tôi rồi quỵ xuống, thở hổn hển: 
– Nó gần chết rồi kìa. 
Dưới bãi bùn lấp lánh ánh trăng, con sấu đen ngòm nằm im. Tôi hỏi: 
– Tại sao bác không kéo xác nó lên. Hay là… để cháu tiếp sức với bác. 
Ông khoát tay: 
– Kìa! Con sấu cái với bầy sấu đực bữa hổm trườn lên đó. Tụi nó kéo xác con sấu chết, ngâm vùi dưới đáy sông rồi chia phần với nhau. Mình giành cái xác đó làm gì? 
Lão nhìn trưòng trừng vào mắt tôi: 
– Bộ cháu tiếc hai lượng vàng trong bụng của nó hả? 
Tôi im lặng, cúi đầu: 
– Xin lỗi bác. 
– Lỗi phải gì? Bác giải nghệ rồi. Cháu tưởng bác vì tham hai lượng vàng mà liều mạng, cỡi trên lưng sấu hả? Thôi mình vô nhà, nói vài lời nữa rồi ai về nhà nấy. 
Ánh đuốc tàn rụi dần. Ông Năm Hên nói: 
– Sợ ma không? Nếu sợ thì cháu cứ dỡ cái nóc nhà lá này mà bó lại làm đuốc. 
Ánh lửa tắt. Tôi lính quýnh chưa biết ứng phó ra sao. Thật ra tôi sợ ma, vì sực nhớ tới hai khúc xương chânchôn vùi sau hè. Giọng ông Năm Hên trổi lên trong bóng tối, ghê rợn như giọng nói của ma: 
– Ông cai tổng Hy hiểu lầm. Bữa nay, bác ra nghề lần chót… Ồ, sức bác còn dẻo lắm, cháu thấy không? Bác cỡi lên lưng sấu, lật hai cái chân trước của nó cho trở ngược lên lưng rồi bác điều khiển như người cầm cương ngựa. Nó phải quẹo lên bãi như ý muốn của bác. Rồi bác thọt cho nó đui hai con mắt. Kỳ sau, nếu muốn bắt sấu, cháu làm theo cách đó. Bốn mươi năm kinh nghiệm của đời bác! 
– Dạ, cháu không dám. Ðể cháu thuật lại cho ông cai tổng Hy biết đầu đuôi. 
Ông Năm Hên nói gắt: 
– Ðừng cho ổng biết gì ráo. Hồi cỡi trên lưng sấu bác đâu nhớ tới hai lượng vàng? Bác ra nghề lần chót đâu phải vì ông cai tổng Hy mà vì lý do khác. Nếu tiếc hai lượng vàng, ổng cứ mướn thợ chài tới đó mà vãi… mò lên. Trời đất chứng minh cho bác. 
Bầu không khí trở nên nặng nề. Dưới mé sông, sấu quậy đùng đùng, con sống giành xác con chết. Ông Năm Hên vụt đứng dậy: 
– Cháu ở đây ngủ, bác về liền bây giờ. Tới đây là dứt. 
– Trời đất! ban đêm, bác đi đâu? Tội nghiệp cháu. 
Ông Năm Hên ra khỏi cửa, mắt đăm đăm hướng về phía bãi bùn: 
– Nhắn với ông cai tổng: cứ cúng cơm trên bàn thờ, vì người chết đã ngậm cười. 
Tôi lính quýnh, tìm cách cầm chân ông Năm: 
– Thưa bác, còn cái ống tre đứng mấy ngọn mun nè! 
Nhưng ông Năm mất dạng trong bóng tối. Tiếng nói của ông, ngày càng nhỏ rí nói vọng về căn chòi: 
– Bỏ đi. Hay là cháu muốn giữ làm kỷ niệm để khoe khoang với bà con rằng ta đây… dám bắt sấu như ai kìa. Nếu muốn kỷ niệm, tốt hơn cháu nên ra về, im lặng, với hai bàn tay không, trong bóng tối.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 26 Jul 2024

Google photo

10. Con heo khịt

Từ hồi tháng mười một năm ngoái, mấy người cuốc rẫy ở ven rừng Ngã Bát không ngớt bàn tán xôn xao: 
– Con heo Khịt về đây rồi. Nó lớn bằng con bò con lận mà. 
– Phải! Tôi nghe danh nó từ lâu. Chú vợ của tôi ở Rạch Ruộng có nói lại: nội một đêm, nó ủi phá gần hai chục công rẫy khoai mì. Củ lớn ăn đã đành, củ nhỏ cũng không chừa. 
– Sao không đâm nó? Thợ săn ở dưới Rạch Ruộng coi bộ dở quá, chưa xứng đáng là thợ rừng. Rầu lắm. Coi chừng con heo Khịt phá hại mùa khoai ở xóm mình. Nó đâu phải cọp mà mình sợ! 
– Nói bậy đi. Chừng nào con heo Khịt phá hại, đụng chạm tới tài sản của mình thì hãy hay. Nói trước, xui xẻo lắm. Thợ săn ở Rạch Ruộng giỏi lắm chớ. Một người bị đổ ruột. Một người khác bị tét đùi. Phen đó, con heo Khịt mắc bẫy dây chì. Vậy mà nó tẩu thoát được. 
– Bằng cách nào? 
– Nó cắn một khúc giò, bỏ lại coi chơi. Khúc giò còn dính trong cái vòng dây chì. Coi mà phát ớn. Nó cắn giò nó cho đứt, một mình nó đánh chét bón con cho săn. Tôi đoán chừng con heo Khịt này ít nhât đã bảy – tám tuổi, nanh dài trên một tấc, mình mẩy nổi dấu chì. Thôi chuyện đâu còn đó. Nó chưa tới nhà mà bàn tán hoài, ngán lắm. Cứ lo làm ăn cho vợ con nhờ.

Chuyện ấy thấu đến tai ông Hai Cháy và ông Năm Tự. Vốn là thợ săn chuyên nghiệp, hai ông giữ vẻ mặt trầm tĩnh nhưng làm sao che giấu được bao nhiêu nỗi lo âu áy náy trong lòng. 
Tháng này nhằm mùa hạn, rừng khô nước, heo rừng không ngủ nơi nào nhất định, chi bằng chờ lúc Sa trại chủmừa, nước nổi chừng ba tấc, heo rừng phải tìm nơi gò đất cao ráo mà ngủ, dễ tìm tông tích nó. Nhưng phải đề phòng! Mặc dầu mình nặng nề, chân nhỏ thó, heo rừng lội nước khá nhanh. Ðối phó lại, thơ săn nên tìm loại chó săn biết lội nước. Ðã có người chống xuồng cản chận đầu con heo rừng đang lội. Heo thản nhiên, hụp đầu xuống rồi hất lên như cõng vào chiếc xuồng nọ lên vai. 
Ông Hai Cháy đến nhà ông Năm Tự mà nói: 
– Mình ăn thịt hơn trăm con heo rừng. Nhung mà chuyến này coi bộ khó nuốt. 
Năm Tự cau mày: 
– Sao vậy? Tôi dọ kỹ rồi. Nó thành danh con heo Khịt vì nó dữ, khi dod63 quạu là sôi bọt mồm, khịt lên một tiếng lớn. Vậy thôi. Mình chưa ngán nó… 
Ông Hai Cháy đáp lại chậm rãi: 
– Bà con ở Rạch Ruộng cho biết: nó là heo độc giác. Theo chữ nho, chẳng hiểu nanh heo kêu bằng gì. Mình tạm kêu là”giác” đi. Trâu độc giác, voi một ngà, heo một nanh và … người một mắt đều là thứ dữ. 
Năm Tự im lặng: 
– Ờ! Nếu con heo Khịt lên tới xóm này, nên lo liệu… 
– Ðánh nó cho chết chớ lo liệu cái gì. Tôi dám liều chết nếu nó là heo Khịt. Rủi gặp heo nhỏ, tầm thường thì uổng công quá. Năm nay, gần sáu mươi tuổi rồi, tôi làm biếng lắm. 
Năm Tự nói nhanh: 
– Miễn là ông anh đi theo để làm quân sư, thằng em này vui vẻ ăn thua. Ông Anh cứ nhường cái bổn phận đó cho em. Em nhờ bà con dọ thám thử. 
Giết heo là chuyện khó. Rình xem heo là chuyện dễ. Ðêm đó, theo lời yêu cầu của Năm Tự và Hai Cháy, một đám con nít xúm nhau rình bên giồng khoai mì đã bị heo phá hại đêm trước. Ðêm sáng trăng. Mù sương rắc xuống nhỏ từng hột trắng mỗi lúc thêm dày. Biết chống muỗi, vắt, lũ trẽ xúm nhau ngồi quanh gốc cây tràm. Cảnh rừng đêm mơ hồ. Ngồi hồi lâu không thấy gì lạ, lũ trẻ ngóng lên trời nhìn sương mù đang trôi gờn gợn như chất gì lỏng lẻo. Thích chí quá. Như ngồi dưới đáy biển sâu mà lớp sưong kia là sóng gió trôi trên đầu. Nhìn mãi sanh chán. Vài đứa ngủ gục ngáy to tiếng. 
Bỗng đâu sậy đế gãy nghe rôm rốp. Rồi một bóng đen lộ ra đứng sát bụi mì ngóng mỏ rồi quay lưng, chạy về phía rừng tràm. 
Lũ trẻ lập tức cho ông Năm Tự hay: 
– Nó rồi! Nè ông Năm, nó như con bò con. Tưởng sao chứ vậy tụi tui đâu sợ. Nó chạy cong đuôi. 
Ông Năm cười: 
– Tại tụi bây đứng trên gió, nó đánh hơi được. Nó đâu sợ, nó xáp tới nhưng nó quay lưng vì sợ sụp nhầm bẫy hoặc hầm hố. 
Nghe đến sáng kiến làm cần bẫy, bọn trẻ mừng quýnh. Vài đứa có kinh nghiệm lập tức bơi xuồng ra chợ Thới Bình để mua dây chì làm vòng bẫy. Gặp thầy đội kiểm lâm có mang súng, chúng nó mời thầy vô xóm Ngã Bát để bắn con heo Khịt. Nghe tin ấy, ông Năm vô cùng mừng rỡ. Nếu bắn được con heo ghê tởm ấy, ông khỏi ra tay. Vả lại, bắn sớm chừng nào hay chừng ấy. Từ bây giờ cho đến mùa mưa. Khi thời cơ thuận lợi. Còn năm – sáu tháng nữa lận. Biết đâu tới chừng đó; con heo Khịt sẽ bỏ xóm Ngã Bạt, sau khi phá hại mùa màng. 
Trời chạn vạng. 
Thầy đội kiểm lâm tới xóm. Ðêm đó, thầy ta hăng hái lắm vì mới vừa mượn được cây đènpin , loại năm pin của ông xếp kiểm lâm. Dịp may để thầy ta luyện tập về cách săn đèn! 
Lại một đêm đầy sương, thứ sương mù khét lẹt, lạnh lẽo của rừng tràm U Minh khi mặt trời vừa chen lặn. Thầy đội mang đèn, ánh sáng chói mạnh tới trước soi một vòng tròn thấy rõ rệt từng nhành cây chiếc lá từng con muỗi. 
– Tao làm gì thì làm. Tụi bây đừng nói chuyện. Ðứa nào sáng mắt, coi chừng tiếp với tao. Hai đốm đỏ tức là con mắt ông hổ. Nếu hai đốm vàng tức là mình chiếu ngay mắt con heo Khịt. Tao nghe đồn đãi như vậy. 
– Kìa! Hai đốm vàng hiện ra. 
Thầy đội từ từ bước tới. 
Một bước rồi hai bước. 
– Ðùng! 
Súng nổ chát chúa, xé rừng. Một tiếng kêu rống. Lạ quá! Tiếng rống ấy nghe một chỗ và con thịt run rẫy, chẳng vang ra tiếng… khịt nào cả. Chừng xúm lại coi thì ô hô, thầy đội vừa bắn trúng một con heo rừng bé tí teo vừa mắc bẫy, chân còn treo lủng lẳng trên cây cần. Làm sao bây giờ. Ai dám gỡ nó xuống? Âu là bỗi thêm một phát nữa. 
Ðằng xóm, ai nấy đều thức giấc, chờ kết quả. Sau khi nghe hai tiếng súng, họ đốt đuốc, chạy tới nơi, hô to: 
– Rồi rồi. Xong rồi. Con heo Khịt đi dodòi! 
Chừng đụng đầu với con heo nhỏ bé, ai nấy cười ngã nghiêng.

Ông Năm Tự đổ quạu: 
– Làm chuyện bá lạp! Mấy đứa con nít thì rình trên gió. Người lớn thì bắn trúng cảm ơn heo”hà nàm” mắc bẫy. Không khéo, ai nấy là hề hạng bét. Bà con ở dưới Rạch Ruộng hay được là cười cả đám, chê đất này thiếu nhân tài. 
Ông uống chút xíu rượu đế rồi thét to: 
-“Vực một” đâu? 
Từ ngoài sân, một con chó săn chạy vào đứng ngay trước mặt ông, phía tay mặt. 
-“Vực hai” đâu? 
Con khác chạy vô, đứng im bên trái. 
-“Vực ba”! 
Nó đứng ngoan ngoãn phía sau, và con chó”Vực Tư” giành góc còn lại. Cái bộ ván nhỏ bé mà ông đang ngồi trở thành cái ngai vàng. 
Vỗ đầu từng con, ông bảo: 
– Hồi nào tới giờ, tụi bây ở nhà, chưa bao giờ ra trận đủ bốn đứa. Mai này, Vực một, Vực hai phải ứng phó cho lanh:”Vực” là cánh, mỗi đứa là một cánh quân. Vực ba, Vực tư cũng vậy. Dưỡng sức đi. Thôi đi ngủ sớm, mùa nắng khó săn heo lắm. Ðây là thể diện của ta. 
Bốn con chó vẫy đuôi, ra chiều hăng hái. Chúng ra ngoài hàng ba, trước khi nằm xuống, mỗi con đều quay tròn dod6i ba vòng, nhìn kỹ chung quanh. “Chó ba khoanh mới nằm.” ông Năm Tự lẩm bẩm như vậy, tự hào cho rằng cho săn của mình là giống tốt nhứt. Còn lại năm – sáu con chó nhỏ đứng xớ rớ chung quanh bộ ván, sủa gâu gâu, như kêu nài, bất mãn, ông nói: 
– Còn tụi bây nữa. Chưa tới tuổi ra nghề. Tao lo cho tụi bây mà. Ði chỗ khác! 
Gày gáy dứt canh hai. Sương lùa vào đầy nhà, vậy mà ông Năm Tự chưa nhắm mắt ngủ. Dựng đứng gần vách, ông ngắm nghía rõ ràng kìa… Một cây lao cổ phụng, một cây lao bay một cây mác thông. Tất cả khí giới này từ bảy tháng qua chưa xài tới mà vẫn sáng chói, không một bợn sét, nhờ ông lau chùi hằng ngày. 
“Hừng đông, mình đi kêu Mười Hy phụ lực với mình. Khỏi cần bận rộn tới ông Hai Cháy, ổng già rồi.” 
Nghĩ vậy, ông Năm Tự ngủ yên. Ông có biết đâu là sự bố trí chua đáo ấy không được đúng với tình thế và đem lại nhiều hậu quả mà ông không đoán nổi.

– Tu… Tu… u… 
Còi vừa túc lên. Bốn con chó Vực và năm con chó săn nhỏ bé đồng hè nhau chạy miết vô khu rừng tràm gáp ranh với đám rẫy khoai mì. Ông Năm Tự nói với Mười Hy: 
– Chú Mười thấy chưa! Chó mà ăn cơm nguội thì lanh lẹ. Ăn cơm nóng, nó hư lỗ mũi đánh hơi hở ẹt. Cây lao bay với cây lao cỏ phụng của tôi đây nè chú cầm dùm. Tôi hô lên cây nào chú nhớ đưa cây đó cho kịp. 
Chim rừng hót vang. Bước chân của hai người dẫm lên mớ lá vàng ẩm ướt. Muỗi, bù mắc… động ổ bay lên. Họ chen vào khoảng giữa chật hẹp mấy gốc tràm chòi. Nắng lên chui vào vòm cây lộ ra những đốm vàng tươi. Cá lóc, cá trê mắc cạn lăn tròn trên bùn nọn, mọi khi hễ gặp mồi nhậu thì hai người bắt liền. Hôm nay có khác. Ông Năm Tự thỉnh thoảng tháo khăn trên đầu, bịt lại chặt hơn, quần xà lỏn được vo lên sát vào bắp đùi. Ông nhướng mắt: 
– Lâu quá vậy! 
Rồi túc còi. Trong phút giây đàn chó gom lại. Ông căn dặn: 
– Ðừng sủa bậy nghe! Tụi bây gặp trăn sủa cách khác, gặp rùa sủa cách khác. Giỏi lắm. Nhưng bữa nay, khi nào gặp heo rừng thì hãy sủa. Làm động rừng con Khịt đi xa. 
Dứt lời, bầy chó tản ra. Hai phút sau, phía Lung Cây Kè, có tiếng chó sủa to, ba tiếng còi túc lên liên hồi. Ông Năm Tự và Mười Hy vạch lau sậy, chạy đến. 
Con heo Khịt đứng sững, hai chân trước cao nghệu, mình mẩy đen thui, hươi nanh. Tiếng đồn không sai: nanh dài trên một tấc, con heo Khịt như con bò nhỏ, mớ lông gáy dựng lên vàng hực, lấp lánh. 
– Vực một! 
Ông Năm quát to. 
Con Vực một nhảy vô cắn chân phía trước, bên hữu của con Khịt. Con Khịt vừa quay đầu là ông Năm ra lịnh: 
– Vực hai! 
Con Vực hai xốc tới cắn chân trước, bên tả. Con Khịt trở mình ngó phía sau tìm cách thủ thế, lui vào lùm cây! 
– Vực ba! Vực tư! 
Bị vây bốn góc, Khịt đứng nhóng lên. Thật ra răng của chó dầu bén nhọn nhưng làm sao cắn lủng da nổi chì của con Khịt được. Con Khịt lại đầy đủ kinh nghiệm: đây là thợ săn lão luyện và bầy chó hung hăng. 
Nó tìm cách chạy tới. Mười Hy trao ngọn mác cho ông Năm Tự. Ông Năm ghìm ngọn mác trước ngực. 
Heo Khịt thối lui, dùng hai chân sau bươi đất làm cái hố nhỏ, tạm che khuất cái mông dưới đất để hạn chế sự tấn công của Vực ba và Vực tư. Nhưng đất cứng quá. Nó quỳ hai chân sau. Mấy con chó nhỏ bao vây, đứng ngoài xa, sủa vang lên nhưng hưởng ứng, thúc hối bốn con Vực đang quyết chiến. 
Bỗng nhiên, con heo Khịt thở mạnh nghe… khịt một tiếng. Ông Năm Tư thối lui. Heo Khịt trợn mắt trắng, miệng sôi bọt, đang lướt qua phía Vực một, bất chấp Vực hai. 
Lẹ như chớp, con chó Vực một nhảy dựng đứng lên không trung ngang tầm đọt sậy. Nó vừa rớt xuống là con heo Khịt chĩa nanh lên, hứng ngay bụng. 
Vực một giãy đành đạch, lủng ruột. Thừa cơ hội ấy con Khịt phá vòng vây, chạy nhanh. 
Thấy con chó thân yêu vừa thiệt mạng, gan mật ông Năm Tự sôi lên. Chụp ngọn lao bay trong tay Mười Hy, ông phóng mạnh, buông tay. Ngọn lao ghim vào ngực con Khịt. 
Nó mang ngọn lao mà chạy. 
Nhanh như hớp, ông Năm với cây lao cổ phụng – Loại lao cong, giống như cổ con phụng, có ngạnh như cái mồng – Mũi lao ghim vào hông con Khịt, đúng như sự tính toán của ông. 
Bị đau điếng, con Khịt chạy nhanh, bất chấp cây cối, lau sậy, gò nỗng, ao vũng. Bày chó sủa vang, cố chạy cho nhanh hơn để chận đầu, cản mũi con Khịt. Nhưng may quá! Ông Năm Tự nói với Mười Hy: 
– Nó chịu trận rồí 
Mười Hy hơ hãi: 
– Nó chạy như vầy, làm sao chịu trận. Bầy chó của mình đuối sức rồi. 
Ông Năm Tự nói: 
– Kìa! Cây lao cổ phụng này… hay quá. Con Khịt chạy không lâu đâu… Mình ráng theo nó cho kịp. 
– Làm sao theo kịp được? Nó mất dạng rồi. Mấy con chó làm sao dám xáp vô để ăn thua? 
– Thằng Mười này dở hơi quá. Chưa biết cây lao cổ phụng sao? 
Chớ cứ sủa, ngày càng xa, xa dần. Con Khịt đã khéo léo chọn phương hướng, tìm nơi rậm rạp mà chui, mà nhủi. Trong khi đó, hai người thợ săn chạy chậm hơn, và chạy vòng quanh tránh mấy bụi chà là gai. Gai chà là đâm nhức nhối, mỗi bẹ chà là là một cái bàn chông. 
Chó sủa rộ lên, càng gần, Mười Hy nói: 
– Coi chừng! Hay là con Khịt trở lại ăn thua với anh em mình. Còn cái gì không! 
Ông Năm Tự nói gắt: 
– Bộ thằng Mười mất trí rồi sao? Có ba cái”bửu bối,” xài hết hai rồi. Còn cây mác thông này mà thôi. 
– Tôi ngán lắm. Tôi… chạy à! Hai bàn tay không, làm sao tôi dám đứng lại. 
– Ai biểu mày ăn thua với nó. Ðứng ngoài xa mà coi. Chạy mau. Câu lao cổ phụng”ngon” rồi đó! 
Phía trước mặt họ, con heo Khịt xuất hiện. Ngọn lao cổ phụng gồm hai bộ phận rời: Lưỡi và cán. Hai bộ phận này dính nhau nhờ một sợi dây dài. Lúc phóng tới, lưỡi và cán dính nhau, tạm thời nhờ cái khâu lỏng lẻo. Vì nhúc nhích, lưỡi cứ ghim vào hông con Khịt trong khi cái cán sút ra, tòn ten, lê lết trên mặt đất, có sợi dây nối liền. 
– Nó kìa! 
Ông Năm Tự la to trong khi Mười Hy sợ sệt. Cái cán lao bị kéo dài… Nhưng vài phút sau, vô tình con heo Khịt chui vào bụi rậm. 
Cái cán trở thành chướng ngại vật, day ngang giữa hai gốc cây, trở thành một cái neo… 
Con heo Khịt đứng lại, trì níu. Hai gốc cây tràm rung chuyển… Nó kêu rống vì càng trì níu thì ngọn lao càng xoáy bên họng, giữa hai cái be sườn rướm máu. 
– Chết cha mầy! 
Cây mác thông của ông Năm Tự lại cắm vào mông con heo Khịt, làm lủng da. 
Con Khịt cảm ơn chân, phóng tới, ghê thật. Ngọn lao cựa quậy từ bên hông con Khịt vì cái ngạnh lút khá sâu. 
Ngọn lao sút ra, làm gãy một khúc như be sườn. Nhờ vậy, con Khịt thoát nạn. 
Bầy chó xáp lại hiểu rằng con Khịt đã đổ máu quá nhiều… Chó bao vây con Khịt. 
Lúc con Khịt bối rối, ông Năm Tự đến trước mặt nó, cắm một mũi mác vào ngực. Khịt gào thét nhóng lên. Tay ông Năm ghì xuống chịu đựng. 
Và cứ như vậy suốt mười phút, con Khịt chưa chết, nhưng ông Năm đã run tay, mồ hôi xuống ướt mặt. Mười Hy đứng xớ rớ chưa biết liệu lẽ nào. 
Lâu lâu con Khịt rống lên xoay trở. Ông Năm Tự quỳ xuống hai tay bám chặt cây mác. Bầy chó giữ phía sau khiến con Khịt hết đường tháo lui. Hai hàng nước mắt tuôn ra tràn trề rưng rưng chảy trên má ông Năm. Ông dư hiểu: nếu con Khịt chạy vuột thì nó sẽ cắm đầu phóng cái nanh”độc giác” vào bụng ông trong tức khắc. 
Mắt ông đổ hào quang, cảnh vật chấp chóe đất trời nghêng ngửa, cây rừng như trở gốc lên trời dang ngọn xuống đất. Nhưng may thay từ xa có bóng người chạy tới: 
– Dữ ác hông? Sao không cho tôi hay trước? 
Ông Hai Cháy xuất hiện như một vì cứu tinh, phóng vô yết hầu con Khịt một lưỡi mác, ghim vô thật sâu gần lút hết lưỡi thép. 
Con Khịt ngã lăn và ông Năm cũng ngã ngửa, xuối tay thỏn mỏn. 
Hôm sau, ông Năm Tự nằm mê man tại nhà, cơm ăn không trôi, phải nuốt nước cháo cầm hơi. Nhưng khi có ông Hai Cháy tới, ông Năm ngồi dậy như cái máy: 
– Sao? 
Hai Cháy đáp: 
– Một trăm bảy chục ký lô! Cái nanh dài hai tấc. 
Ông Năm Tự gật đầu lia lịa: 
– Non ba tạ hả? Sướng quá! Cọp mà gặp con Khịt thì cọp đã rút lui. Tôi cầm cự chừng nửa giờ rồi anh tới… tiếp cứu đó. Mộ Di Phật! Hú hồn.

Đất có thổ công?

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on May 31st, 2024

Post by Sơn râu 25 Jul 2024

Có độc giả hỏi tui: “Thấy ông đăng bài biểu viết Tân Sơn Nhứt là sai, Tân Sơn Nhất mới đúng… Rồi bây giờ ‘share’ bài của người khác lại viết sân bay Tân Sơn Nhất? Sao kỳ vậy?

Tui xin kính cẩn nghiêng mình rồi trả lời bạn đọc thân mến nầy như vầy: “Phép lịch sự của một người ‘share’ bài của người khác là phải:

  1. Đề tên tác giả. Không đề tên tác giả là mình’ đạo văn, con ông Đạo Chích. Còn trích chỉ một đoạn thì phải để trong ngoặc kép.
  2. Giữ nguyên văn cho dù mình không đồng ý. Vì lẽ rất dễ hiểu: bài đó của người ta không phải của mình. Mình không được quyền sửa cho dù có chướng tai, gai mắt.
  3. Ghi lại toàn bài hay chép lại một đoạn phải có chua thêm chữ ‘sic’.

Từ ‘sic’ xuất phát từ tiếng Latinh và được sử dụng trong văn bản tiếng Anh. Nó có nghĩa là ‘đúng như vậy’ hoặc ‘chính xác như thế.’ ‘Sic’ thường được sử dụng để chỉ rõ rằng một từ hoặc một đoạn văn bản được trích dẫn từ nguồn gốc có chứa một lỗi chính tả, ngữ pháp hoặc cấu trúc câu. Khi sử dụng ‘sic’ người viết muốn bảo đảm rằng lỗi trong trích dẫn không phải do sai sót của mình mà là do nguồn gốc ban đầu.

Thí dụ trong một bài viết, bạn trích dẫn một câu từ sách mà có chứa một lỗi chính tả như sau: ‘The car was paked in the garage’ Đúng ra là ‘parked’. Để chỉ ra rằng lỗi chính tả không phải do bạn mà là do nguồn gốc ban đầu, bạn có thể sử dụng “sic” như sau: “The car was paked [sic] in the garage.”

“Sic” cũng có thể được sử dụng trong văn bản để chỉ rõ một ý kiến, câu nói, hoặc hành động mà người viết muốn bày tỏ sự hoài nghi, khinh thường hoặc không đồng ý.

  1. Đúng hay sai là nói về thời nào mới được!

Không phải nhà báo nào viết cũng trúng. Xưa Mạnh Tử nói: “Tận tín ư thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách thì thà đừng có sách còn hơn)

Tác giả nầy lớn lên sau 1975, dùng Tân Sơn Nhất để nói chuyện hồi xưa là sai. Rất nhiều người sai như vậy cả trong và ngoài nước. Đó là do viết cẩu thả.

Ngay nhà văn nổi tiếng Nguyễn Ngọc Tư, dân Đầm Dơi, Cà Mau, trong bài “Xa Đầm Thị Tường” (cũng ở Cà Mau) mà còn dám viết ‘vắt tí chanh’ (từ của Miền Bắc) thì biết ẩu đến mức nào. Dân Miệt nào nói tiếng Miệt ấy mới là cách viết văn tinh tế phải không nào?

“…Không, mình có đem về quà xứ Đầm. Mình nhớ lời chị T. nói hôm trước. Chị ngồi tả, vừa tả vừa chắc lưỡi ngọt xớt: “Trời ơi, giữa trưa mà ăn cơm nguội với ghẹm muối còn gì bằng, mà phải muối cho thật mặn nghe, (chắc lưỡi), ăn đã dữ lắm. Còn mắm thì làm hai món: nấu ninh lược nước làm lẩu, ăn với cá rô, cá phổi, khổ qua, rau thì có rau đắng đất, cải xanh… mắm chua thì ăn sống. Mắm cá nâu cá bống nhỏ tẳn mẳn để nguyên con, trộn gừng, đường cát, vắt tí chanh. Gắp một con mắm cặp với chuối chát, khế xắt lát mỏng dính mà ăn, (chắc lưỡi), nó ngon hổng biết làm sao mà nói. Vừa chua vừa ngọt, vừa chát vừa cay, tả một hồi bắt thèm”. Trích Xa Đầm Thị Tường của Nguyễn Ngọc Tư.

Tranh Bảo Huân

Trong Nam, bà con mình thường viết là ‘chắt lưỡi’. ‘Chắt’ là tiếng tượng thanh như tiếng kêu của con thằn lằn đeo trên trần nhà. Họ ít khi viết ‘chắc lưỡi’ như tiếng Bắc (tặc lưỡi).

Trong Nam, bà con mình nói ‘nặn chút chanh’. Nặn là miếng chanh nhỏ ra vài giọt. Nói vậy hay hơn là nói ‘vắt tí chanh’ Vắt là làm hết nước một cái gì đó. Thí dụ vắt cái khăn tắm cho khô! Vì vắt là làm cho hết nước thì miếng chanh phải ra nhiều đến hết nước! Nước chanh nhiều thì làm sao là ‘tí’ cho được?

Tóm lại: Tác giả viết bài “Tân Sơn Nhất” sao tui để vậy! Tui không dám sửa bài của người ta! Vì làm vậy là vô phép!

Bài nầy, theo ý tui ngoài cái điểm nầy sai vì nói Phi trường thời VNCH mà kêu là Phi trường Tân Sơn Nhất. Nó cũng còn có những tài liệu khác do tác giả bỏ công sưu tầm cũng đáng cho mình biết! Cũng như con người, không có bài viết nào toàn bích cả. Không lẽ bị một vài tì vết mình bỏ luôn công sức của tác giả viết nguyên bài hay sao? Tui không cực đoan đến thế!

Thưa bà con sau 75, có nhiều thứ CSBV làm tui không đủ sức hiểu. Ông bà mình lấy con người làm trung tâm. Trên có trời; dưới có đất. Trời làm ra nước. Nước rơi xuống đất tạo thành sông. Nên mới có từ ‘đất nước’. Đất rồi nước! Từ đất mới có địa danh, tên đất. Tên đất sẽ đẻ ra tên một dòng sông chảy ngang qua nó. Sông mang tên sông Sài Gòn vì nó chảy qua đất Sài Gòn. Sông chảy qua đất Mỹ Tho mình gọi là Sông Mỹ. Ca dao có câu: Chẻ tre bện sáo cho dầy. Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp em!

CSBV thì làm ngược ngạo lấy tên sông đặt cho tên đất. Cho dù vùng đất đó đã có tên rồi: như Tiền Giang thay cho tỉnh Định Tường. Hậu Giang những năm 1980 thay cho tỉnh Phong Dinh. CS ngu không biết mình ngu mà còn ngạo mạn!

Đời mà: Đất có thổ công; sông có Hà Bá tới vùng đất khác, con người khác, tiếng nói khác ta phải tôn trọng cái khác đó. Không láo xược, bắt con người vùng đất đó, tiếng nói đó phải tuân thủ theo mình vì mình có súng.

49 năm CSBV vẫn coi đất phương Nam là vùng chiếm đóng. Rõ ràng là vậy. Chúng muốn đồng hoá người Miền Nam. CSBV thắng về quân sự nhưng sẽ thua về văn hóa vì người Miền Nam tuy đầu óc cởi mở, dễ tiếp nhận cái mới; nhưng không chấp nhận cái ngu.

Tui chỉ trích phê bình và phê đúng cho tụi nó học thêm ngày bớt ngu đi. Nhưng bọn dư luận viên, bọn khỉ đít đỏ Trường Sơn không biết mang ơn. Khi đuối lý, chúng chửi bới lung tung như người quên uống thuốc. Rồi hùa nhau một bầy khỉ report tui với thằng Mark Zuckerberg. Thằng nầy đâu biết khỉ gì nên nó ‘block’ tui hoài. Nhằm nhè gì! Cho ‘post’ thì ‘post’! Không cho thì thôi. Kêu tui viết theo ý nó là tui không có huỡn! He he!

ĐXT

Bước Không Qua Số Phận

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc

Posted on 5 Jul 2021

Post by Sơn râu 25 Jul 2024

1.
Tôi học chung với Nhân từ năm 1964 lớp đệ ngũ. Trước đó, tôi có năm năm học nội trú trường Pellerin, một trường dòng Lasan ở Huế do các Frère giảng dạy. Những năm học ở đó, tôi luôn đứng đầu lớp, là niềm tự hào của các Frère phụ trách và gia đình. Nhưng từ khi về học ở Đà nẵng, tôi chưa bao giờ vượt qua được Nhân. Lúc nhỏ tôi rất xấu tính, hay ganh tị, không muốn ai hơn mình. Do vậy, tôi chẳng ưa gì Nhân.
Thành phố này có hai ông Đốc. Một ông Đốc học phụ trách chuyện giáo dục của toàn thành, ông Đốc này là ba Nhân. Ông Đốc thứ hai là ông Đốc tờ, tức là ba tôi, quản lý ngành y tế của thành phố. Mấy ông quan chức thường tụ họp nhau vào sáng chủ nhật ăn sáng, uống cà phê, bàn chuyện thời thế. Sau khi mất nhiều thì giờ trao đổi chuyện chính trị, chuyện thế sự, chuyện tiếp đó thường là chuyện con cái. Và lần nào cũng vậy, việc học hành giỏi giang, thông minh của Nhân lại được đem ra tán dương. Mỗi lần nghe chuyện, tôi rất khó chịu. Tự nghĩ mình cũng học giỏi có thua gì Nhân mà chẳng bao giờ được nhắc tới. Nhân càng được ngợi khen, tôi càng thêm ghét hắn. Khác hẳn tôi, Nhân rất muốn làm thân với tôi. 
Tôi càng tránh hắn càng cố đến gần. Lần nào gặp tôi hắn cũng nở nụ cười thật tươi, còn tôi thì mặt nặng như chì. Nhân đẹp trai, tuy người hơi thấp. Da trắng, mũi cao, mấy lọn tóc xoăn lúc nào cũng lòa xòa trước trán. Môi lúc nào cũng đỏ như son. Mà kể cũng lạ. Nhà ông Đốc học có năm người con, hai trai ba gái, chỉ có mình Nhân là đẹp, mấy đứa còn lại đứa nào cũng xấu như ma. Lại thêm có đứa con gái kế Nhân bị thần kinh, hay bỏ nhà đi lang thang, đứa em trai út thì bị bệnh down, lúc nào cũng ngơ ngác, nước dãi chảy lòng thòng. Vì cảnh nhà như thế nên ông Đốc học rất kỳ vọng ở Nhân, Nhân là niềm tin, niềm tự hào và cũng là lẽ sống của ông. 
Học chung lớp với Nhân, càng ngày tôi càng thấy hắn giỏi, nhất là những môn toán, lý, hóa. Thầy dạy môn toán tên Thanh, thầy dạy rất hay, học trò rất mê. Thầy Thanh lúc nào áo quần cũng chải chuốt, tóc chải dầu bóng lưỡng, cách đi giọng nói rất điệu. Thầy hay cho làm toán chạy, tức là thầy đọc đề xong, trong năm hoặc bảy phút sau thầy chỉ nhận mười bài giải nộp nhanh nhất. Nếu giải đúng thầy cho điểm tối đa, còn giải sai thì khỏi có điểm. Nhân luôn luôn là người giải bài nhanh và đúng nhất. Khi nào hắn nộp trễ hơn một chút thì có nghĩa hắn giải bài toán đó bằng hai cách khác nhau. Lúc lên bảng giải toán hình học, hắn vẽ hình bằng tay trái còn tay phải ghi lời giải. Thầy Thanh nể hắn lắm, gặp thầy nào thầy Thanh cũng ca ngợi Nhân. Thầy còn bảo với Nhân là vào giờ của thầy, hắn không cần ghi chép, muốn làm gì thì làm. Các thầy dạy môn lý, hóa cũng bảo hắn thế. Nghe vậy, hắn chỉ cười, giờ học nào cũng ghi chép rất cẩn thận.
Không những học giỏi, Nhân còn đá banh rất siêu, đánh cờ tướng rất cừ. Lại thêm rất giỏi võ. Không biết hắn học võ từ khi nào mà tay hắn cứng như thép, cỡ mấy viên gạch xây nhà hoặc năm ba viên gạch thẻ chỉ cần hắn vung tay là bị bể đôi ngay. Hắn múa gậy vun vút, đá ném không chạm vào người hắn. Cỡ hai người công kênh nhau, người trên cầm mấy cục gạch, hắn chỉ cần lấy đà chạy ba bước, bay lên đá viên gạch vỡ nát. Hay nhất là trèo tường. Nhân chạy lấy đà, tung người thẳng góc với bức tường, chạy thoăn thoắt lên trần nhà. Y như là mấy nhân vật trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Mỗi lần Nhân làm trò, cả bọn học trò chúng tôi trố mắt, há mồm mà nhìn, lắc đầu thán phục.Mọi người đặt cho hắn cái tên là Siêu Nhân. Tôi vừa sợ vừa ghét hắn. Tôi vốn ốm yếu, lại chúa nhát gan, chúng bạn gọi tôi là con mọt sách. Cho nên dù không ưa, tôi cũng nể sợ hắn. Không biết có phải vì võ công thâm hậu quá mà đôi mắt của Nhân trông lạ lắm. Ánh nhìn như dao sắc, như có lửa, như muốn bóp nát người ta, đầy sát khí. Tôi thường tránh ánh mắt của hắn. Nụ cười của hắn thân thiện nhưng đôi mắt thì đầy hăm dọa.
Trong các môn học, tôi chỉ nhỉnh hơn Nhân môn Pháp văn và hai môn phụ là âm nhạc và hội họa. Bởi những môn này tôi được rèn luyện năm năm ở trường dòng Lasan. Nhưng đến năm đệ tam, tiếng Pháp của hắn tiến bộ đến không ngờ, đến thầy giáo già dạy Pháp văn cũng ngạc nhiên. Sau này tôi mới biết là suốt cả mùa hè hắn chỉ tập trung vào môn học đó, cả ngày nghe đài Pháp để luyện giọng và lảm nhảm luôn mồm mấy từ vựng. Có một lần tình cờ tôi thấy trên bìa sách Pháp văn của Siêu Nhân có ghi câu bằng chữ in đậm VOULOIR C’EST POUVOIR. Có lẽ đó là quan niệm của Nhân.

Cuối năm đệ tam, Nhân lại khiến cho các Thầy và đám học trò thêm thán phục khi giải bài thi toán tú tài 1 ban B chỉ trong 27 phút. Hắn lại tiếp tục là tấm gương cho các bậc cha mẹ thường nhắn nhủ các con: gắng học cho giỏi như anh Nhân. Hắn đi đến đâu cũng được mọi người trầm trồ khen ngợi. Bởi thời đó, người giàu có không được trọng nể bằng người học giỏi. Ngay cả những quan chức cũng rất trân trọng người tài, học trò gỉỏi. Năm học đó, hắn lãnh phần thưởng lớn lắm, phải thuê xích lô chở về nhà. Ông Đôc học rất hãnh diện. Mà hãnh diện cũng phải thôi, cha mẹ nào lại không sướng khi có người con như thế.
Trong lớp chúng tôi, thường chia ra hai nhóm rõ rệt. Mấy đứa nhỏ con, học kha khá thường ngồi mấy bàn trên, còn mấy bàn cuối lớp mà mấy thầy gọi là xóm nhà lá toàn là mấy đứa bự con, ba trợn, chơi nhiều hơn học và thường chọc phá mọi người. Cầm đầu xóm này là thằng Hồ Lê. Đó là một thằng sừng sỏ tuy cũng có tố chất thông minh, học hành cũng không đến nỗi tệ. Hồ Lê người đen giòn, cao to lừng lững, mặt chữ điền, góc cạnh. Ngay trên trán có một vết sẹo dài khiến khuôn mặt của hắn càng thêm vẻ anh chị. Hắn bảo đó là vết tích chiến tranh. Hỏi thêm nữa hắn sẽ trừng mắt hăm dọa nên chẳng ai dám lên tiếng thắc mắc nữa. Nhà Hồ Lê nằm trong hẻm sâu sau lưng nhà tôi, mẹ hắn bán rau hành ở chợ. Nhà hắn trơ trọi chỉ hai mẹ con và không bao giờ hắn nhắc đến cha. Tôi sợ hắn lắm, vì hắn hình như rất ghét tôi, cứ tìm mọi cách để sinh sự.
Mỗi lần gặp tôi hắn thường dí tay vào trán tôi mà gầm gừ: đồ quý tộc dơ bẩn. Tôi cũng chẳng biết sao hắn lại bảo tôi thế. Tôi vốn nhát như cáy nên thường tìm đủ mọi cách để tránh mặt hắn. Tránh hắn nhưng miệng lầm bầm: ĐM thằng Lê sẹo, rồi ông sẽ giết mày, anh hùng báo thù mười năm chưa muộn. Nói thầm thế thôi, chứ thấy bản mặt nó là tôi đã sợ chết khiếp, nổi gai cả người. Nhưng tôi càng tránh, hắn lại tìm đủ mọi cách để trêu ghẹo tôi. Lúc thì đi đàng sau khèo chân cho tôi té. Khi thì búng tai, giựt tóc mai của tôi rồi cười cợt với một lũ âm binh ăn ké.
Một hôm chúng tôi được nghỉ tiết cuối, đang trên đường về nhà thì tôi bị đám thằng Hồ Lê chận đường. Hắn đứng trước mặt tôi, hai chân khuỳnh khuỳnh, cái mặt kênh kênh.Hắn bảo tôi rúc dưới háng hắn mà đi. Mặt tôi xanh như đít nhái. Vừa tức vừa sợ. Miệng lắp bắp định van xin. Đường vắng teo, chẳng có ai có thể giúp tôi. Tôi nghĩ phen này chắc tiêu. Không chết vì nhục thì cũng ốm đòn với hắn. Hắn xắn tay áo, hai cánh tay cuồn cuộn. Vung tay. Tôi nhắm mắt, tưởng như muốn đái cả quần. Hai chân muốn quỵ xuống, bởi tôi vốn nhát đòn. Tôi chờ đợi cú đấm như trời giáng của hắn. Bỗng nghe tiếng hự..hự.. huỳnh huỵch… như ai đấm bao cát. Sao tôi chẳng thấy đau.
Hé mắt nhìn, thấy thằng Lê đang nằm chỏng gọng, mặt nhăn nhó, méo xẹo. Trước mặt hắn là Nhân. Siêu Nhân. Nhân chỉ tay vào mặt hắn và bảo: – Tao cấm mày đụng đến thằng Ngọc, tao là bạn nó. Thằng nào ăn hiếp hắn sẽ biết tay tao. Liệu hồn. Cút…Bọn thằng Lê chạy một mạch không ngoái đầu. Nhân vỗ vai tôi, cười: Đừng sợ chúng, cứ sợ mãi thì chúng cứ ức hiếp hoài.
Từ đó, tôi và Nhân thân nhau. Đi đâu cũng có đôi. Và đám thằng Lê cũng không dám đụng vào tôi nữa, dù ánh mắt nó cũng còn gầm ghè.
Đến lớp đệ nhị, tôi chọn ban A còn Nhân tiếp tục ban B. Bởi ba tôi muốn chuẩn bị cho tôi lên học y khoa nên bảo tôi học ban Vạn vật. Hơn nữa tôi cũng còn háo thắng, muốn học khác lớp với Nhân để được đứng đầu lớp, chứ học chung tôi không vượt qua được hắn. Dù khác lớp nhưng chúng tôi vẫn đi chơi chung với nhau, gắn bó với nhau như hai anh em.
Nhân thường dẫn tôi đến quán nước ở góc sân trường. Chủ quán là chị Đầm. Tôi gọi bằng chị vì chị lớn hơn chúng tôi vài ba tuổi. Chị bị rỗ huê nên bọn học trò thường gọi là chị Đầm rô. Chị to lớn như đàn ông, giọng ồ ề, lại khoái hút thuốc lá nên môi thâm xì. Tuy vậy, chè đậu của quán chị rất ngon, nên lũ học trò rất khoái tụ tập ở quán chị. Chị Đầm lại rất ái mộ Nhân, xem Nhân như thần tượng, ánh mắt nhìn Nhân rất lạ. Tại quán đó, tôi bị chị dụ tập hút thuốc lá và thói quen này theo suốt đời tôi. Và cũng tại quán đó trong một buổi trưa trú mưa, tôi biết lý do tại sao Nhân cứ muốn làm thân với tôi.
Số là cạnh nhà tôi có một gia đình rất giàu có, là chủ của mấy rạp xi nê và khách sạn ở Đà Nẵng, Huế, Qui Nhơn và Nha Trang. Chủ nhân vốn xuất than từ hoàng tộc tên Bửu Hân. Nhà có cậu con trai út tên Vĩnh Đệ còn nhỏ và hai cô con gái rất đẹp, cô chị tên Huyền Tôn Nữ Dạ Lan, cô em là Huyền Tôn Nữ Dạ Hương. Mỗi cô có nét đẹp riêng. Dạ Lan đẹp kiêu sa, đài các. Dáng thanh mảnh, thướt tha. Cổ cao ba ngấn, da trắng như ngà, tóc dài chấm mông, mặt như Đức Mẹ, mắt lúc nào cũng buồn vời vợi.
Suốt ngày ngoài giờ học chỉ thơ thẩn trong vườn đọc sách, đan len, chiều chiều lại đánh đàn piano cho đến tối. Dạ Lan thích mặc áo màu tím Huế. Dù là áo dài đi phố, đi lễ nhà thờ hay áo cánh đi chơi, cô chỉ chọn độc một màu tím rịm. Cô em Dạ Hương thì trái ngược với chị. Mới mười lăm tuổi mà bộ ngực đã tròn to khêu gợi. Tóc cắt ngắn, da rám hồng. Suốt ngày sau giờ học chỉ đi tắm biển và đánh quần vợt. Chỉ thích mặc áo thun và quần jean, cỡi xe Honda chạy vù vù. Đọc toàn báo Tây, hát toàn nhạc Pháp. Tuần nào cũng đi nhảy đầm với lũ bạn học cùng trường Lycée Blaise Pascal
Vì ở cạnh nhà lại là đồng hương nên gia đình tôi rất thân với nhà đó. Lễ tết, giỗ chạp, tang ma hiếu hỉ đều qua lại với nhau. Nhân thích Dạ Lan. Nhân thổ lộ với tôi như vậy. Và Nhân muốn qua tôi làm quen với cô ấy. Chuyện dễ ợt, chẳng có chi khó khăn. Nhưng tôi lại bảo với Nhân là chuyện này khó lắm, cần phải có thời gian. Nhân cầm tay tôi lắc lắc: – Cố nghe, cố nghe.
Việc làm ông mai tiến hành quá suôn sẻ, tôi ướm lời với Dạ Lan: – Tôi có anh bạn ái mộ Dạ Lan lắm, anh ấy muốn tôi giới thiệu với Dạ Lan. Cô ấy thoáng chút ngạc nhiên – Ai vậy? Quen hay lạ? – Dạ Lan biết người này mà. – Nhưng mà ai mới được chứ. Tôi cười bảo: – Anh Nhân, bạn thân của tôi – Anh Nhân con ông Đốc Lễ phải không? Tội gật. Dạ Lan cười: – Tưởng ai.
Sau này, khi hai người đã gắn bó nhau, tôi mới biết hóa ra Dạ Lan cũng đã để ý đến Nhân lâu rồi. Thì trai tài gái sắc, đến với nhau là lẽ đương nhiên của cuộc đời.
Hai người yêu nhau thắm thiết lắm. Hai gia đình cũng thoáng biết nhưng chẳng có ý kiến gì. Mà thật ra còn đòi hỏi chi, vừa môn đăng hộ đối, vừa đôi lứa xứng đôi. Nhân cám ơn tôi nhiều lắm.
Chúng tôi hay đi chơi với nhau, ngoài tôi, Nhân, Dạ Lan còn có Dạ Hương. Thường là đi xem phim, đi ăn kem hoặc đi dạo bên bờ biển. Dạ Hương sôi nổi, nhí nhảnh còn Dạ Lan khép nép, dịu dàng. Một hôm, chúng tôi đi dạo trên bờ biển, trời vừa tối, chân trời ráng đỏ. Dạ Hương kéo tay tôi và bảo khẽ: Mình tránh đi cho anh chị ấy tâm sự, cứ như thế này thì anh chị ấy tâm tình làm sao được.
Dạ Hương kéo tôi chạy vào hàng phi lao, trời tối hẳn, những ngọn gió xào xạc. Theo đà chạy dưới cát lún, Dạ Hương ngã vào người tôi, ôm cứng, hơi thở gấp. Theo quán tính, tôi cũng ôm siết lấy nàng, hai bầu ngực căng khép vào ngực tôi. Tôi thấy mình căng cứng. Dạ Hương vít đầu tôi xuống, hôn trên môi tôi. Tôi như đang bay bổng vì nụ hôn đầu đời.
Tôi chẳng biết phải hôn trả lại thế nào nữa. Tôi lạng quạng và thả lỏng đôi tay. Bỗng dưng tôi cảm thấy sợ. Hóa ra tôi luôn luôn vẫn là thằng nhút nhát. Kiểu tấn công mạnh mẽ của Dạ Hương làm tôi hãi, dù phần dưới cơ thể của tôi đã đông cứng lại rồi. Tôi bỏ đi và như kẻ mộng du. Tôi bỗng muốn khóc. Dạ Hương chạy theo tôi hét lớn: Anh có phải là đàn ông không? Tôi ngồi xuống giữa bãi cát và tự hỏi, mình có phải là đàn ông không?
Từ đó, Dạ Hương tránh mặt tôi, và tôi cũng có ý không muốn gặp nàng. Tôi vẫn tự nhủ mình tệ quá.
Kỳ thi Tú tài 1 năm đó, tôi và Nhân đều đậu Ưu hạng. Cả hai gia đình rất vui. Hôm lãnh thưởng ở trường, đôi mắt của ông Đốc học ba Nhân ánh lên niềm tự hào, sung sướng và mãn nguyện. Còn đôi mắt của Dạ Lan thì tràn đầy hạnh phúc.
Ba tôi dù theo Tây học, nhưng lại rất mê nghiên cứu Kinh Dịch. Có một người Hoa thường đến trao đổi cùng ba tôi. Người này tên Lý Hạnh, chuyên nghề phong thủy và tướng số. Hai người tâm đắc lắm, thường nói chuyện với nhau cả buổi mà không chán. Một hôm, khi ba tôi và chú Lý Hạnh đang nói chuyện với nhau thì tình cờ tôi nghe được cả hai bàn về Nhân. Ông Lý Hạnh bảo: – Cậu Nhân tướng toàn tốt, thông minh hơn người, nhưng ánh mắt lộ hung quang, tôi e cậu ấy nếu không học đựợc chữ nhẫn sẽ phải phạm tội sát nhân, hậu vận xấu lắm. Ba tôi trầm ngâm một lát rồi hỏi đến tương lai của tôi, Ông Lý Hạnh im lặng một lát rồi gật gù: – Cũng tạm. Ba tôi nhíu mày: – Cụ thể là sao? – Ông Đốc cũng đã nghiên cứu lý số. Số nói sao thì nghe vậy. Còn cụ thể thì chịu. Nhiều khi thiên cơ bất khả lậu – Nhưng đôi khi cũng nhân định thắng thiên – Dạ, cũng có thể. Nghe được vậy, lúc đó tôi hơi hoang mang, nhưng rồi tuổi trẻ chóng quên. Tuy thế lâu lâu nhìn ánh mắt của Nhân, tôi cũng cảm thấy ghê ghê.
Cũng cuối năm ấy, Dạ Hương bỏ nhà đi. Có tin đồn đã kết hôn với một sĩ quan Mỹ ở Sài Gòn. Tôi cứ tự hỏi là mình có lỗi gì trong tai ương này không?
Tết năm Mậu Thân 1968, chiến tranh lan vào nhiều thành phố. Huế bị nặng nhất, rất nhiều người chết trong những ngày xuân. Đà Nẵng cũng không tránh khỏi bị tấn công, nhưng không bị chiếm đóng. Sau Tết, lớp học thưa thớt hẳn, đứa đi lính, đứa đi đâu mất dấu. Trong những đứa vắng mặt, có Hồ Lê. Nghe đồn nó đã lên núi, gia nhập quân giải phóng quân.
Chúng tôi đậu Tú tài 2 dễ dàng. Nhân lại đậu Ưu hạng, tôi chỉ đậu Bình. Tôi lại thua Nhân….

Vào Sài gòn làm thủ tục du học, thời gian chờ đợi khá dài, tôi ghi danh học Văn khoa, còn Nhân thi vào trường Kỹ sư Công nghệ Phú Thọ, học cho vui để quên thì giờ chờ đợi. Thế mà hắn cũng đỗ hạng nhì kỳ thi tuyển vào Phú Thọ năm đó. Tôi vừa xong lớp dự bị ban Văn chương Việt Nam thì có giấy lên đường.
Ngày tôi và Nhân rời Việt Nam đi Pháp du học, hai gia đình tiễn ra phi trường. Ba Nhân ôm vai Nhân: – Gia đình và giòng họ tin tưởng vào con. Ba tin chắc con làm được như ước nguyện. Nhân gật gật đầu, mắt lóe lên niềm hy vọng lớn lao. Dạ Lan mặc áo dài tím, quấn khăn quàng tím nhạt, nước mắt hoen mi. Dạ Lan cầm tay Nhân lắc mãi mà chẳng nói gì. Ba tôi bắt tay tôi, bảo khẽ: – Cố lên nhé!
Hôm qua tôi và ba đã nói chuyện với nhau rất lâu về chuyện truyền thống ba đời làm ngành y, về việc phải tiếp nối nếp nhà. Thật ra, tôi chẳng thích thú gì chuyện du học. Tôi sợ cô đơn ở xứ người, tôi sợ những bất trắc sẽ xảy đến mà chung quanh chẳng có ai giúp đỡ. Tôi như con chim non được nhốt trong lồng son, giờ được thả ra, chẳng định được phương nào để bay đến. Nhưng tôi phải bay đi. Đi và mang theo niềm hy vọng của cả gia đình. Bước lên máy bay, nước mắt tôi cứ muốn trào ra, hai bàn chân tôi như có gì níu lại. Rời Việt Nam, tôi vẫn chưa có mối tình nào vắt vai, không có cô gái nào đưa tiễn. Tôi thấy Nhân hạnh phúc vì còn có tình yêu để đợi chờ.
Chuyến bay kéo dài hơn hai mươi tiếng đồng hồ, chúng tôi nói nhiều chuyện với nhau về tương lai. Thế giới đang mở ra với chúng tôi, và cả hai đang bước vào và tin sẽ chiến thắng. Hai đứa vẽ ra cảnh tượng lúc thành đạt trở về trong niềm hoan hỉ của mọi người. Nhân bỗng bảo tôi: – Cậu chơi piano thế cậu có biết loại đàn nào tốt nhất không? – Để làm gì, sao tự nhiên lại đi hỏi về đàn lúc này? – Thì cứ nói đi – Theo mình biết thì hiện nay đàn hiệu Steinway & Son là tốt nhất, ở Việt Nam chỉ có một hai cái. Nhưng đắt lắm. Cậu đang có ý định gì vậy? Nhân lim dim mắt, cười cười, nhìn ra bầu trời trong xanh: – Khi nào thành đạt, làm ra tiền, mình sẽ mua cho Dạ Lan một cây đàn như vậy.

*******

2.
Chúng tôi chia tay nhau ở phi trường, Nhân sẽ ở lại Paris thi vào trường Đại học Bách khoa Paris. Tôi lại tiếp tục đi gần 750 cây số nữa về Montpellier, một thành phố nằm gần biển Địa Trung hải, để thi vào trường Y. Đại học Montpellier là một trong những trường đại học Y khoa nổi tiếng thế giới, nơi đào tạo nhiều nhà khoa học đã được nhiều giải thưởng y học quốc tế.
Phải mất 9 tháng học dự bị tôi mới thi đậu vào trường, dù chỉ đứng thứ 26, nhưng cũng vui vì đã đi được bước đầu.
Nhân thành công hơn tôi nhiều. Chỉ mất 6 tháng, Nhân đã đỗ thủ khoa vào trường Đại học Bách khoa Paris (École polytechnique) Đây là trường đào tạo kỹ sư danh giá nhất nước Pháp. Đúng ra Nhân phải học đủ một năm dự bị theo chương trình EV1 dành cho học sinh Pháp và các nước nói tiếng Pháp. Nhưng chỉ một thời gian ngắn học ở Lycée Louis – Le – Grand, Ban giảng huấn ở đó nhận thấy Nhân quá xuất sắc nên đặc cách cho thi trước thời hạn. Mục đích phấn đấu của các sinh viên học trưòng này là trở thành nhân lực cấp cao của nưóc Pháp và thông thường 10 sinh viên đứng đầu sẽ được lựa chọn trở thành Corps de Mines, được tham gia chương trình đào tạo nhân lực lãnh đạo tương lai. Đây cũng là trưòng đã tạo ra ba vị tổng thống của nước Pháp: Valéry Giscard d’ Estaing, Sadi Carnot, Albert Lebrun. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và giáo sư Nguyễn Văn Xuân của Việt Nam cũng tốt nghiệp từ trường này.
Nhân là ngưòi nước ngoài đầu tiên đỗ thủ khoa kỳ thi tuyển vào trường, nên trở thành một sự kiện được báo chí Pháp chú ý. Hình chân dung của Nhân được đăng trên nhiều tờ báo, là niềm tự hào của giới sinh viên du học và những người Việt Nam đang ở Pháp thời bấy giờ. Ở Montpellier, trong giới sinh viên cũng bàn tán chuyện này dữ lắm.
Nhưng Nhân không ngừng lại ở đó, trong thời gian theo học, Nhân là một nhân vật nổi bật toàn diện. Không những học giỏi, Nhân còn là cầu thủ xuất sắc của đội bóng tròn sinh viên Paris, là kỳ thủ không thể qua mặt của bộ môn cờ, Nhân còn là huấn luyện viên võ thuật của võ đường trong khu đại học, đồng thời đã mang về cho trường rất nhiều huy chương trong các cuộc thi đấu. Hình ảnh Nhân liên tục được đăng trên các báo sinh viên và một số báo thể thao. Đã có lần một câu lạc bộ nhà nghề nổi tiếng của Paris đề nghị Nhân ký hợp đồng để được đào tạo làm cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, nhưng Nhân từ chối. Tiếng tăm Nhân vang dội trong cộng đồng sinh viên của các trường đại học, Nhân đã từng đưọc tiếp đón và nhận phần thưỏng của tổng thống Pháp lúc bấy giờ là Georges Pompidou ở điện Élysées. Nhân được đặt tên là Super Man, cái tên mà hồi ở Việt Nam mọi người đã đặt cho hắn. Hóa ra siêu nhân thì ở vòm trời nào cũng là siêu nhân. Còn con chim chưa định được đường bay là tôi vẫn là cậu sinh viên nhút nhát và không chút tự tin, dù là ở phương trời nào, lúc nào cũng quấn quanh trong chiếc lồng vô hình chật chội của mình.
Với những thành tích và tính cách của Nhân, Nhân mau chóng trở thành lãnh tụ của các phong trào sinh viên, Lúc đầu là anh cả của các môn thể thao, dần dà, Nhân lại làm luôn lãnh tụ chính trị với nhiều tham vọng. Thời điểm bấy giờ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã đến cao điểm. Mỹ liên tục ném bom miền Bắc, cuộc chiến đấu ở miền Nam càng ngày càng nhiều máu lửa. Sinh viên Việt Nam đi du học hàng ngày nhìn thấy những đổ nát, những tàn phá, máu xương rơi của chiến tranh, lại thêm chính quyền miền Bắc và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên truyền ở Âu châu rất mạnh, nên đa số đều tham gia chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình với một ý thức chính trị rất mơ hồ. Lực lượng này rất mạnh và rất đông đảo. Và tham gia phong trào chống Mỹ trở thành một cái mốt của người trí thức.
Nhân thì ngược lại, hắn làm lãnh tụ một nhóm sinh viên ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chuyên phá đám các cuộc biểu tình và tuần hành của nhóm sinh viên kia. Đụng độ giữa hai phái xảy ra như cơm bữa.
Đúng thời điểm này thì chúng tôi nhận hung tin từ Việt Nam. Mẹ tôi và mẹ Nhân trong một chuyến hành hương về La Vang, Quảng Trị, trên đường về thì xe bị lật vì trúng mìn. Mẹ Nhân tan xác tại chỗ, mẹ tôi được đưa vào bệnh viện Trung ương Huế, nhưng rồi cũng từ trần ở đó. Tôi điện thoại cho Nhân, khóc nức nở trong điện thoại, Nhân chỉ ậm ừ khuyên lơn tôi. Tôi đòi bỏ về Việt Nam ngay, nhưng Nhân khuyên nhủ, động viên tôi ở lại tiếp tục học và phải cố học tốt hơn nữa, đó cũng là một cách để khỏi làm buồn lòng mẹ. Tôi nghe lời Nhân, nhưng lòng thì tan nát, dạ rối bời, chẳng thiết ăn uống gần mấy tuần liền. Riêng Nhân từ đó càng lao vào những cuộc đấu tranh để ủng hộ phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang ở Paris để hội đàm tìm cách giải quyết chiến tranh. Nhân mơ ước ngày trở về sẽ trở thành một công chức cốt cán của chính quyền miền Nam, với những đổi thay và cương lĩnh mới.
Hiệp định Paris được ký kết, Nhân cay cú vì bảo rằng chính quyền miền Nam đã bị Mỹ lừa. Nhân càng hoạt động mạnh hơn, quyết liệt hơn. Và trong tâm trạng đó, Nhân đã phạm một sai lầm oan nghiệt, chấm dứt mọi ước mơ và hoài bão. Cắt đứt tương lai đang rộng cửa.
Trong khu đại học xá, Nhân được bố trí ở cùng chung phòng với Thành, cũng là một du học sinh học trường Bách Khoa Paris, học sau Nhân một khóa. Thành là con trai của Chủ tịch Tối cao Pháp viện của chính quyền miền Nam, nhưng Thành lại là lãnh tụ của phong trào thiên tả ủng hộ Cộng sản. Thành cũng là một thành viên rất cực đoan của lực lượng này.
Từ lâu, cả hai đã có nhiều lần tranh cãi nhau dữ dội vì những quan điểm xung khắc nhau về cuộc chiến đang xảy ra. Khi hiệp định Paris vừa có hiệu lực thi hành, Nhân trong cơn bực tức đã nổ ra cuộc đấu khẩu với Thành và trong lúc không kềm lòng được đã bay đến phóng chân đá vào đầu Thành ngay trong phòng của hai người. Thành gãy cổ chết ngay lập tức, máu trào khóe miệng. Nhân bị bắt ngay. Báo chí đưa tin hàng giờ. Tôi ở Montpellier đọc báo thấy đăng hình của Nhân, nhưng lần này không phải là khuôn mặt tươi cười, hớn hở như xưa mà là tấm hình Nhân cúi đầu đi giữa đám cảnh sát, hai tay bị còng, những sợi tóc xoăn trước trán rũ xuống khuôn mặt nhợt nhạt không còn chút sinh khí. Tôi chợt nhớ nhận định của chú Lý Hạnh ngày nào và bỗng tin vào số mệnh.
Tôi bay ngay về Paris, nhưng không được gặp trực tiếp Nhân. Hắn đang bị cách ly để điều tra. Sau một thời gian, Nhân bị trục xuất và dẫn độ về Sài Gòn với cái án giết người. Tôi lại chỉ gặp được Nhân qua hình trên báo đăng hình Nhân ở chân phi cơ lúc bị dẫn độ, tay Nhân vẫn bị còng và Nhân vẫn lại lọt thỏm giữa đám cảnh sát với khuôn mặt hớt hãi.
Tôi nhận được thư Nhân lúc trở về Montpellier, Trong thư Nhân dặn dò tôi là không được tin cho ai ở nhà biết việc này, đồng thời Nhân cũng nhờ tôi là khi nào nhận được thư Nhân với hai phong bì, tôi phải bỏ bì thư ngoài và gởi lại cái thư bên trong về Việt Nam cho gia đình Nhân, nếu nhận được thư của ba Nhân, tôi lại gởi về Sài Gòn làm như là Nhân vẫn đang ở Pháp vậy. Nhân khuyên tôi cố gắng học cho xong và xin lỗi tôi, tôi chẳng biết Nhân xin lỗi tôi vì lí do gì. Mỗi lần đi gởi thơ về cho ba Nhân, tôi cảm thấy mình đang làm một chuyện tội lỗi tày đình vì đang đánh lừa ba Nhân, người đang hi vọng về đứa con thiên tài của mình. Lần nào đi gởi thư, tôi cũng khóc. Không biết bao giờ tôi mới bỏ được kiểu thường hay rơi nước mắt như thế này.
Năm 1972 tôi đang học năm thứ hai Y khoa, tôi bỗng chán nản cùng cực và ý thức một cách rõ ràng là nghề y không phù hợp với tôi. Tôi sợ thấy máu chảy. Tôi sợ những khuôn mặt nhăn nhó, đau đớn vì bệnh tật của bệnh nhân. Tôi cũng biết rất rõ mình không đủ phẩm chất để làm người thầy thuốc. Tôi quá nhạy cảm trước mọi sự. Tôi chỉ mong ước mình trở thành họa sĩ, suốt ngày lang thang vẽ vời, sáng tạo, đùa giỡn với sắc màu, không phải đối diện với những nỗi đau bệnh tật, máu me, chết choc của con người như nghề bác sĩ. Nếu cứ tiếp tục cố nhồi nhét những kiến thức y khoa như thế này, chắc chắn tôi sẽ điên mất. Trước đây tôi chọn học y vì ba tôi bắt phải thế, lúc đó tôi vẫn chưa có ý thức về nghề, về tương lai. Nhưng bây giờ, qua gần ba năm, tôi tuyệt vọng vì thấy mình đang đi lần vào một hố thẳm và sợ hãi khi nghĩ đến việc suốt đời phải gắn bó công việc khủng khiếp này. Và rồi tôi đi đến quyết định cuối cùng. Đây là quyết định đầu tiên trong đời do tôi tự quyết. Không biết tương lai rồi sẽ ra sao, nhưng tôi có chút hài long vì đã thoát ra được bế tắc. Ít ra con chim rời long son cũng đã tự định hướng cho đời mình. Tôi bỏ trường Y, thi vào L’Ecole supérieure des Beaux – Arts de Montpellier Aggomération, tức trường Trang trí Mỹ thuật Montpellier. Học trường này có nghĩa là tôi sẽ bị mất học bổng ở trường cũ, do vậy kể từ đó cuộc sống của tôi bấp bênh, no đói thất thường, làm nhiều nghề để kiếm cơm và để được học những thứ mình ưa thích. Nhưng tôi vốn vụng về và hậu đậu, chẳng làm tốt được chuyện gì, đi đưa báo thì đưa lộn địa chỉ, làm bồi rửa chén thì chuyên làm vỡ bát dĩa, đi giao sữa thì đổ sữa lai láng trước cửa nhà của khách. Bởi từ bé cho đến lớn, tôi chỉ việc học, ba mẹ tôi không cho tôi làm gì ngoài chuyện phải học thật giỏi. Lối giáo dục đó làm cho tôi vấp phải thất bại trong bước đầu trong cuộc đời.
Trong các thầy giáo dạy ở trường Mỹ thuật, có giáo sư Alain Bourdon dạy rất giỏi, thầy được gọi là họa sư. Thầy rất thương tôi và biết rất rõ tình trạng của tôi, nên thường tìm cách giúp đỡ. Lúc thì kẹp ít tiền trong sách của tôi, khi thì giỏ thức ăn. Cuối tuần, Thầy thường đón tôi về căn nhà ở ngoại ô của Thầy. Ở đó, tôi được ăn no nê và được Thầy dạy thêm những kiến thức vô cùng quý báu. Vợ Thầy đã mất cách đây bốn năm vì bệnh ung thư, Thầy ở với cô con gái duy nhất khoảng 18 tuổi tên Monique rất đẹp, khuôn mặt thánh thiện, sáng bừng như thiên thần. Monique thường nhờ tôi đệm piano cho cô ấy hát, Monique có một giọng hát trong trẻo và cao vút rất hợp với nhiều bài Thánh ca cũng như những bài ca dân dã. Tôi thường đọc thơ cho nàng nghe, những bài thơ của Arthur Rimbaud, Paul Verlaine …, Guillaume Apollinaire và cả thơ Tagore. Monique rất thích bài thơ L’Adieu của Apollinaire, nhất là khi tôi ngâm bài thơ này bằng giọng Quảng Nam, mỗi lần nghe xong, nàng bật cười ngặt nghẽo, cứ giả giọng của tôi rồi cười khanh khách, nhưng đôi mắt thì ngập nước:
“J’ai cueilli ce brin de bruyère L’automne est morte souviens-t’en Nous ne nous verrons plus sur terre Odeur du temps Brin de bruyère Et souviens-toi que je t’attends ” (L’Adieu – Apollinaire)
Monique rất quý tôi, tuần nào tôi không về, cô ấy gởi bánh trái cho Thầy Alain mang lên cho tôi. Biết thân phận mình, lại vẫn cái tánh nhút nhát, không tin vào mình, nên dù có rất nhiều cảm tình với nàng, tôi vẫn không dám ngỏ, cứ mặc cảm mình không xứng đáng. Chúng tôi thường đi dạo trên con đường mòn của cánh rừng sau nhà, cùng đi qua đủ bốn mùa. Mùa thu sắc đỏ, lá vàng ngập lối đi. Mùa hạ bầu trời xanh và mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn. Mùa xuân với những cành lá biếc, hoa nở tím cả rừng và mùa đông với những cành trơ trọi, trời lạnh giá, trên cổ mỗi người quấn chiếc khăn quàng do Monique tự tay đan. Trong những buổi cùng lang thang, hái hoa, nghe tiếng chim líu lo, chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện trên đời. Nhưng cũng có khi trên đường về, hai đứa cứ im lặng suốt cả con đường dài, nhưng vẫn ngập tràn một thứ hạnh phúc khó diễn tả nổi. Tình yêu đến nhẹ nhàng, trong như giọt sương, tôi không dám động mạnh, chỉ sợ nó vỡ tan. Và ánh mắt nhìn nhau, nụ cười trao nhau như những lời ước hẹn, đổi trao diễn ra trong im lặng. Mỗi khi đến nhà của Thầy Alain, được ngồi ăn chung với hai bố con Thầy, được nhìn khuôn mặt đẹp tựa thiên sứ của Monique, nghe tiếng hát trong veo của nàng, tôi cảm thấy cuộc đời thật tươi đẹp và mong ước mình cứ được mãi như thế này…
Nhưng số phận lại giáng xuống đời, khi tôi vừa xong năm thứ hai đang kỳ nghỉ hè thì tai họa ập đến gia đình Thầy Alain. Trong chuyến đi về Paris của hè năm ấy, họ đã bị tai nạn giao thông. Thầy Alain chết ngay trên volant, Monique bị thương nặng, được chở vào bệnh viện, một tuần sau thì mất. Tôi bay về Paris ngay khi được tin và chăm sóc Monique suốt một tuần nàng thoi thóp, mê man trên giường bệnh, suốt ngày tôi quên ăn uống, chỉ ngồi nắm trong tay bàn tay bé nhỏ lạnh giá của Monique, chờ phép lạ. Đến hôm cuối cùng, Monique mở mắt nhìn tôi rất lâu, hai dòng nước mắt chảy dài trên má nàng, mặt tôi cũng đầm đìa nước mắt. Môi nàng mấp máy: Je t’aime… Je t’aime… và bàn tay rời khỏi tay tôi. Phép lạ đã không đến. Chúa cũng đã quay mặt đi trước nỗi đau của thiên thần. Tôi gần như không kêu lên được tiếng gọi y tá cấp cứu, cổ họng tôi đông cứng và tôi đứng chôn chân gần mấy tiếng đồng hồ trong niềm tuyệt vọng như bức tượng đá bên giường. Tôi không tin đó là sự thật.
Suốt cuộc đời, tôi không bao giờ quên được ánh mắt và câu nói cuối cùng đó. Câu nói của Monique như vết khắc trong tim tôi, không phai.
Tôi đau đớn tột cùng trước cái chết của cha con Thầy Alain, người tôi xem như người cha thứ hai của mình. Và Monique, mối tình đầu của tôi, mối tình câm chưa dám ngỏ của tôi. Tôi có cảm tưởng mình đã bị rút hết tất cả sinh lực. Tôi mất ngủ, lang thang như kẻ điên suốt mấy tháng dài. Tôi chẳng còn thiết tha gì chuyện học hành và tương lai. Thiên thần Monique của tôi hiện ra như ánh chớp, lóe sáng đời tôi một khoảnh khắc rồi bay về trời. Nàng như một thứ định mệnh làm thay đổi ý nghĩ của tôi về cuộc sống. Cái chết của mẹ tôi, mẹ Nhân, của Thầy Alain, của Monique khiến tôi thấy cuộc sống này chỉ là một ảo ảnh, có đó rồi mất đó. Hiện hữu rồi tan vào hư vô. Sống chết là một ranh giới quá mỏng manh. Cuộc sống chỉ là một ánh chớp. Tôi đóng cửa suốt ngày và cứ nghĩ về lẽ tử sinh. Và rồi số phận lại đổi thay, tôi ngộ ra rằng những tham vọng, những ước mơ, những hoài bão, những cố gắng cuối cùng rồi cũng sẽ được chấm hết bằng một cái chết do muôn ngàn bất trắc của đời sống. Thế thì ham danh vọng để làm gì, mải mê theo những ảo vọng để làm gì?
Tất cả thật ra rồi cũng chỉ là ảo ảnh. Và tôi buông tay, thả cuộc đời mình cho những con sóng của số phận. Tôi bỏ lại tất cả và trở về Việt Nam

********

3.
Tôi không dám về quê, cố bám lấy Sài Gòn. Tôi tìm gặp Nhân, hai đứa thuê chung căn phòng ở khu Trương Minh Giảng. Tôi và Nhân bàn cách để tránh những người quen biết. Tôi để tóc, râu dài thậm thượt, Nhân cũng thế. Hai đứa thường mang đôi kính đen, ban đêm thì mang kính đổi màu. Hàng tháng, tôi và Nhân viết thư gởi qua Pháp cho một người bạn, anh này lại bỏ phong bì ngoài, gởi tiếp về Việt Nam cho ba tôi và ba Nhân. Và nhận những lá thư từ gia đình gởi qua chặng Đà Nẵng – Pháp – Sài Gòn.
Chúng tôi lại tiếp tục lừa dối và loay hoay trong lừa dối tự mình bày ra.
Lúc Nhân vừa bị dẫn độ về Sài Gòn, ông chủ tịch Tối cao Pháp viện, tức là bố của Thành, người bị Nhân giết chết bằng cú đá oan nghiệt, đang chuẩn bị ra tranh cử dân biểu quốc hội. Không muốn bị báo chí phanh phui là có con theo Cộng Sản bị giết chết nên ông này tìm mọi cách ỉm vụ đó đi. Nhân chỉ bị đưa ra tòa bí mật và kết luận là gây án ngộ sát trong tình trạng thần kinh không bình thường, nên được trả tự do sau hai tháng giam giữ.
Được một người bạn du học Mỹ về đang làm Tổng cục trưởng, Nhân được bố trí làm việc ở Tổng cục gia cư, chuyên về xây dựng. Khi tôi về, Nhân lại giới thiệu tôi vào làm với nhiệm vụ họa viên vẽ họa đồ. Để trốn khỏi đi lính, Nhân mua cho tôi một cái giấy hoãn dịch vì lí do sức khỏe và hắn thì hoãn dịch vì gia cảnh. Cả hai đều là giấy giả. Đi làm lương cũng kha khá đủ sống, nhưng hai thằng sống như hai thằng buôn thuốc phiện lậu, lúc nào cũng lén lén lút lút, cứ sợ gặp người quen với gia đình và cũng phải trốn tránh bọn cảnh sát chìm nổi đầy mọi ngõ ngách. Cả hai trường hợp nếu bị phát giác cũng đều đưa đến kết quả bi thảm cả. Thế mà tôi cũng phiêu lưu dám ghi danh học tiếp ở Đại học Văn khoa. Vừa làm vừa học, dù ít khi có mặt ở giảng đường. Từ đó, tôi cảm thấy mình an phận, chấp nhận số phận do mình chọn lựa.
Nhưng hình như Nhân không nghĩ giống tôi. Có rất nhiều khi Nhân không cười, không nói, lầm lì suốt cả tuần lễ, có lúc lại uống rượu đập bàn, đập vỡ li chén, uống say mèm và khóc tức tưởi. Những lúc như vậy, tôi chỉ biết ngồi im vì ánh mắt của hắn lúc đó trông như ánh mắt của quỷ dữ, như con thú bị dồn đến đường cùng. Có một điều lạ nữa là Nhân không bao giờ nhắc đến Dạ Lan lúc tỉnh táo, mặc dù tôi biết Nhân nhớ thương nàng nhiều lắm. Nhưng cứ đến khi say, hắn khóc và réo mãi tên Dạ Lan. Khi tỉnh, nếu tôi vô tình nhắc đến tên nàng, Nhân quắc mắt lên rất dữ tợn, riết rồi tôi chả bao giờ dám nhắc đến cái tên đó nữa.
Hàng tuần, cứ mỗi chiều thứ bảy khi đi làm về, Nhân lại mua một bó hoa lớn, vào nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, ngồi trước mộ Thành đến tối mịt mới về. Tôi hiểu tâm trạng của Nhân nên cũng chẳng có ý kiến, nhưng tôi tự nghĩ, một cú đá đã giết chết cuộc đời của hai người: cái chết tức thời của Thành và cái chết dai dẳng của Nhân. Cú đá đã làm cho cuộc đời của Nhân qua một ngã rẽ để đi tới hố sâu thăm thẳm.
Chúng tôi sống bình lặng chẳng có gì đáng kể như thế cho đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

********
4.
Những tin tức chiến sự dồn dập, Tây nguyên thất thủ, Huế mất, Đà Nẵng mất. Hàng trăm ngàn người trôi dạt trên biển từ miền Trung, lớp lớp người trên những con đường đầy xác chết. Cuộc chiến đi vào những giây phút cuối cùng. Sài gòn rung lên từng phút. Hai trái bom CBU nổ trên tỉnh lỵ Long khánh. Thành phố nhốn nháo. Thành phố lo âu. Thành phố chuẩn bị cuộc hỗn loạn đang chuẩn bị ập tới.
Tôi và Nhân vẫn bình chân như vại. Sáng sáng vẫn ngồi cà phê chờ xe đến rước đi làm. Thiên hạ bàn tán nhiều đến chuyện ở, chuyện đi. Hai thằng không quan tâm, Cũng đúng thôi, vì chúng tôi từng ở bên đó về, đã thấm những nỗi nhục nhằn, đã chấp nhận nhát búa của số phận. Không lẽ bây giờ lại trở lại tiếp tục chui đầu vào con đường cũ. Những ngày cuối cùng của tháng tư, công sở đóng cửa, hai đứa ngồi nhìn thiên hạ xôn xao lòng dửng dưng. Nhưng đến hôm 29.4 thì bỗng nhiên cả hai thấy sợ trước những lời đồn đoán.
Nửa đêm hai đứa vùng dậy, đem hết giấy tờ, hình ảnh liên quan đến những năm tháng du học ở Pháp ra đốt. Nhân có cả mấy thùng lớn loại này, những hình ảnh thời Nhân còn được gọi là Super Man trên đất Pháp. Ngọn lửa bập bùng suốt đêm. Tôi chỉ giữ lại mấy tấm hình tôi chụp chung với Thầy Alain và Monique, mấy bức tranh tôi vẽ ở trường Mỹ thuật tôi đã chọn lựa để đem về Việt Nam. Đó là những kỷ vật tôi không thể để mất được, dù tôi hiểu có thể sẽ đưa đến hậu quả không may.
Sài Gòn sau đó là một Sài Gòn khác. Những lều quán bỗng dưng mọc lên trên những con phố. Chủ quán là chị cave, cũng có thể là vợ của một anh sĩ quan nào đó, cũng có thể là một nghệ sĩ, một nhà báo không còn được sử dụng. Thiên hạ nháo nhào đổ ra đường kiếm sống, cuộc sống bị xáo trộn ghê gớm, chẳng còn phân biệt được đâu là ông, đâu là thằng của những con người cũ.
Chúng tôi suốt ngày lê la hàng quán, đấu láo quên thời gian mà không biết rồi ngày mai sẽ ra sao. Có người rủ mở quán, có đứa kêu đi bán đủ thứ thứ tàn dư của xã hội cũ lọc lừa mấy chàng bộ đội khờ khạo, có thằng rủ đi bán thuốc Tây. Có đám rủ rê vượt biên. Có người nhỏ to tính chuyện tổ chức phản động. Chúng tôi phớt lờ tất cả. Cứ bán dần những thứ còn lại trong mớ đồ đạc sống qua ngày.
Sống lây lất mấy tháng như vậy thì chúng tôi bắt đầu bế tắc. Công việc không có, áo quần, giày dép, mắt kính, sách vở, túi xách, va li lần lượt lên đường. Đùng một cái, đổi tiền lần thứ nhất (2.9.1975), chúng tôi chẳng có xu nào để đổi. Bắt đầu những ngày khốn khó. Có nhiều bữa chỉ còn đủ tiền mua một lon gạo và một quả trứng. Hai thằng luộc rồi chia trứng làm bốn mảnh, tưới nhiều nước mắm, dành ăn cho hai bữa. Có ngày chỉ còn mấy miếng khoai mì mua được dọc đường…. Rồi không ai bảo ai, cả hai bắt đầu tản ra, mỗi thằng tự đi, tự kiếm ăn, tối về ngủ. Nhân bỗng cọc cằn, dễ nổi nóng, tối ngủ cứ đá vào tường suốt đêm… Rồi tới một ngày, chúng tôi chia tay nhau, Nhân bỏ đi mất hút…
Tôi bắt đầu đói dữ, có ngày chỉ được trái chuối, có hôm chỉ được củ khoai. Người tôi xanh mướt, xuống sức dữ dội, chỉ còn 39 ki lô. Tôi đành phải chấp nhận vào làm bưng bê trong quán cà phê ven đường của vợ chồng người bạn họa sĩ, kiếm cơm ăn. Nhưng cũng chỉ được mấy tháng, hai vợ chồng người bạn bị bắt vì có dính líu chính trị sao đó chẳng biết. Tôi lại trôi như bèo. Bèo nhèo. Tôi cũng chẳng có chút tin tức gì về Nhân, không biết hắn sống ra sao. Mù tăm.
Tôi đã đói tới ngày thứ ba, ba ngày chỉ có củ khoai lang và li nước đường uống lậu ở quán con Sáu ốm. Người mệt lả. Thèm đủ thứ. Thấy gì cũng muốn giật bỏ vào mồm. Mệt. Người cứ như đang say sóng.Nhưng cũng cứ phải ra đường, vì ra đường mới hi vọng có miếng ăn. Đói, nhưng cũng quần áo chỉnh tề, giày vớ đầy đủ, nghiêm chỉnh ra đường như một kẻ nhàn du. Ra đường đứng lơ ngơ, đi lơ ngơ không mục đích. Và trong khi lớ ngớ như thế, tôi phát hiện phía bên đống rác ở chân cầu Trương Minh Gỉảng có chiếc xe đạp ai bỏ đó. Tôi đứng gần hai tiếng đồng hồ phía bên này đường, không thấy ai đến lấy. Tôi chờ thêm thời gian nữa, rồi băng qua đường. Chỉ việc tỉnh queo dắt xe đi, làm như xe của mình là xong. Bán đi sống cũng được năm mười bữa. Tôi đã chạm tay vào ghi đông xe. Nhưng rồi rụt tay lại như phỏng lửa. Hình như có người nhìn tôi. Hình như mọi người nhìn tôi. Hình như mọi người đang cùng chỉ tay vào tôi và đồng thanh: thằng ăn cắp.. thằng ăn cắp… Trong đầu tôi cũng vang lên điệp khúc đó: thằng ăn cắp.. thằng ăn cắp…
Tôi lại lủi vào chợ. Những món hàng bánh trái lèo tèo nhưng hấp dẫn tôi vì cơn đói đang hành hạ. Có một chị đang bế con đi qua. Đứa bé khóc ngặt nghẽo đòi ăn quà. Chị ngồi xuống gánh chuối chiên. Những miếng chuối chiên vàng quyến rũ. Nước miếng chảy ra đầy miệng tôi. Tôi nghe có tiếng dòn rụm trong hàm răng, vị ngòn ngọt, beo béo tỏa trên đầu lưỡi. Thằng bé vẫn khóc. Người đàn bà đứng lên, đứa bé tay cầm miếng bánh, miệng vẫn khóc, người vùng vằng. Tôi chắc chắn trong đầu là thằng bé sẽ đánh rơi miếng bánh. Tôi lặng lẽ đi theo. Thằng bé làm rơi bánh thật. Tôi cúi người lẹ như sóc, lượm nhanh và tạt ngay vào con hẻm nhỏ. Miếng bánh tưởng sẽ ngon vô cùng vì cơn đói, nhưng vừa bỏ bánh vào miệng, hai dòng nước mắt chảy dài trên mặt tôi, những miếng bánh vỡ như những mảnh vỡ của thủy tinh xé nát buồng ngực tôi.
Tôi đau đớn và nhục nhã….
Tráng là người bạn học chung ở Văn khoa, hắn là chuyên gia đạp xích lô. Tôi tìm tới hắn, nhờ bảo lãnh thuê một chiếc ở hẻm Trần Quang Diệu. Tôi chưa chạy xe xích lô lần nào, nhưng nghĩ Tráng chạy được thì tôi cũng sẽ chạy được. Nghĩ đơn giản ai dè trèo lên mới thấy không phải dễ ăn. Tập vài vòng thì cũng tạm chạy được. Tráng bảo tôi chạy về Trần Quốc Toản, chỗ chợ cá sẽ có mối. Đúng là vậy, một bà mập béo và đôi thùng đầy nhóc cá lóc thụê tôi chở về chợ Trương Minh Gỉang. Chỉ chạy đến ngã sáu Lê Văn Duyệt là tôi đã đuối hơi. Chân bắt đầu nặng, thở hổn hển. Tôi ráng đạp, nghĩ rằng chỉ qua tới Yên Đỗ, quẹo, qua được cầu là xong. Sẽ có bữa ăn cho trưa nay. Nhưng tôi không qua nổi cầu, ba bánh xe như có ai ghì lại, không lên nổi dốc, dù tôi đã gồng hết đôi chân. Chiếc xe như muốn tuột xuống, tuột xuống. Tôi không nhảy được, hai chân cố giữ bàn đạp, cả người cố gồng lên. Nhưng chiếc xe vẫn từ từ tuột. Tôi không chịu nổi nữa, ngực tôi nặng như đeo chì, hơi thở đứt quãng. Phen này thì chắc chết. Bà khách thấy xe tuột dần thì la lên chói lói, nhảy xuống cũng không xong vì kẹt hai thùng cá. Tôi buông xuôi, nhắm mắt chờ xe lật ngửa và thế là xong một đời. Nhưng, hình như có một sức mạnh thần kỳ, chiếc xe khựng lại một lát và đi lên như có ai đẩy. Tôi mở mắt nhìn lui thì thấy Nhân đang gò lưng đẩy xe từ phía sau, chiếc xe lên dốc rồi đổ dốc, an toàn đến chợ. Tôi gặp lại Nhân như thế đó, và Nhân đã cứu tôi lần nữa như đã cứu tôi một lần lúc thằng Hồ Lê bắt tôi chui qua háng thuở còn đi học….

Ngồi ở quán bún ngay góc Trương Minh Giảng và Trần Quang Diệu, tôi ăn ngon lành hai tô bún thịt nướng đầy rau xanh. Nhân không nói gì, ngồi nhìn tôi với đôi mắt ngập nước mắt thương xót. Nhưng khi tôi định gọi thêm tô thứ ba thì Nhân ngăn lại: – Cậu đã không chết vì đói thì đừng nên để chết vì no. Cứ từ từ. Sẽ không phải đói nữa đâu.
Nhân rút từ túi ra một cọc tiền lớn, trả tiền bún xong, Nhân ngắt đôi cọc tiền, đưa tôi một phần và bảo: – Cậu giữ số tiền này mà sống. Người ta đang chuẩn bị cho các trường đại học hoạt động trở lại rồi. Cậu nên tiếp tục học hi vọng kiếm được một việc làm trong chế độ mới. Cậu ốm yếu lại quá thật thà đến hóa ngu, không làm buôn bán lọc lừa, không làm phu xe, bốc vác được đâu! – Nhưng tiền đâu cậu có nhiều thế. Mấy tháng nay cậu ở đâu, làm gì??? – Từ từ rồi sẽ biết. Mình sẽ kể cho cậu nghe. Xong rồi mình sẽ về Đà Nẵng. Chốn này không còn là chỗ dung thân của mình nữa rồi. Đã đến lúc mình phải chấm dứt mọi sự giả dối. Mình sẽ nói hết sự thật cho ba mình. Chắc chắn sự thật sẽ làm cho ông cụ đau đớn, nhưng thế sẽ tốt hơn, cho mình và cho cả ông cụ. Im lặng một lát, lấm lét nhìn quanh, Nhân ghé miệng sát tai tôi, thầm thì: Mình đang bị truy nã.

*******

5.
Mấy tháng trước, chúng tôi chia tay nhau vì cả hai đang lâm vào cảnh đói ăn thê thảm, Nhân bỏ đi và lang thang vào khu Chợ Lớn. Nhân kể là vào đó hi vọng sẽ không gặp ai quen, đồng thời mấy ông Ba Tàu chắc cũng có đời sống, sinh hoạt khá hơn người Việt, dễ kiếm cơm hơn. Nhưng suốt một ngày từ chợ Hòa Bình, rồi qua chợ Kim Biên đến chợ Bình Tây vẫn chưa kiếm được mối nào nhờ giúp việc. Nhân mở miệng đề nghị chủ hàng để được bốc vác thì chủ hàng nhìn Nhân đầy nghi ngờ. Bởi chàng ta vẫn còn bỏ áo trong quần, nai nịt đầy đủ, chân còn mang đôi giày da tuy đã cũ sờn, lại thêm cắp kính đen che đôi mắt sùm sụp. Ai lại tin người có vẻ trí thức như vậy chịu làm chuyện của người lao động. Chắc có mục đích gì đây. Nghe ngóng? Theo dõi?… Nghi là phải. Mà lúc này xã hội mới hình thành một lối sợ mơ hồ và đầy nghi ngại với tất cả mọi người. Chẳng ai tin ai. Cũng may vỉa hè, quán sá, phố phường cũng không thiếu những anh chàng có vẻ ngoài như vậy lê bước với khuôn mặt chán chường và tuyệt vọng. Cho nên Nhân cũng không bị để ý lắm.
Trời tối, đói meo, Nhân lê gót đến ghế đá cạnh tượng ông chủ họ Quách, người lập ra ngôi chợ này. Bức tượng đã bị đem đi đâu mất, chỉ còn cái bệ tượng chơ vơ. Có ba người thanh niên đang ngồi nhậu trên đó. Họ ngồi quanh, ở giữa có dĩa mồi là con gà luộc da vàng óng. Cuộc nhậu hình như mới bắt đầu, li rượu mới chuẩn bị xoay tua. Ngôi chợ vắng vẻ, ánh đèn vàng vọt và âm thanh chỉ là tiếng chổi quét lẹt quẹt của người phu quét chợ. Nhân ngồi ở ghế đá nhìn lên, con gà hấp dẫn quá. Hắn nuốt nước bọt liên tục. Đã mấy lần quay đi và cũng đã nhiều lần nhìn lại. Con gà vẫn bóng lưỡng khêu gợi tênh hênh giữa chiếu nhậu…
Bỗng nhiên Nhân tì tay vào ghế đá, bắn người lên. Đôi chân vừa chạm đất quét ngang, con gà bay lên nằm gọn trong tay Nhân. Ba gã thanh niên quá bất ngờ, không kịp một phản ứng nào. Nhân ngoạm một miếng vào đùi gà, nhai nhồm nhoàm. Ba gã thanh niên đã định thần, cùng hét lớn xông vào đứa đấm, đứa đá, đứa lên gối. Nhân vừa nhai, vừa cầm chắc con gà, xoay nhiều vòng, hai chân đạp hai gã gần nhất đang chồm tới, tay còn lại đấm vào ngực gã kia. Ba tên bị bắn lui, kinh hoàng. Ba gã lại tiếp tục hè nhau tấn công thêm mấy bận nữa, nhưng chẳng làm gì được Nhân. Nhân vừa nhai vừa né đòn, rồi ra đòn nhưng chỉ mấy miếng đấm đá không nhằm chỗ hiểm. Cuối cùng cả bọn dừng tay. Gã râu xồm có vẻ đầu đàn hất hàm nhưng trong giọng nói có chút vị nể: – Ông bạn ở đâu mà dám đến đây cướp gà của tụi này? Nhân dừng nhai: – Tôi đói quá, định xin mấy người anh em chút gì bỏ bụng, nhưng biết chắc là khó nên đành cướp vậy. Có gì các anh thứ lỗi. – Ông ở băng nào mà ngón nghề cũng oách quá vậy? – Chẳng có băng nào cả, thất nghiệp lang thang thôi….
Lời qua tiếng lại một hồi, hiểu được nhau. Giang hồ vốn trọng người tài, nên rồi cả bọn ngồi chung chiếu, nhậu suốt đêm thâu. Từ đó, Nhân nhập băng, lần hồi nhờ tài võ nghệ cộng với trí thông minh, hắn trở thành đại ca của băng chợ Bình Tây, từ từ lan ra một vùng khá rộng của khu Chợ Lớn, dưới trướng có vài chục đàn em, cùng nhau hành hiệp. Lúc đầu chỉ quanh quẩn công việc ở các chợ, lần lần nhảy vào bán mua, rồi buôn lậu đường dài. Càng ngày càng lấn sâu vào chốn giang hồ phạm pháp, tên tuổi của trùm Nhân nổi tiếng khắp chốn giang hồ là một đại ca mưu mô tuyệt diệu mà võ công lại vô cùng thâm hậu, được đàn em vô cùng quý mến, tôn sùng. Tiền bạc vô ào ào. Nhớ bạn đang nghèo nhưng mặc cảm đang là thằng tướng cướp nên chẳng dám về tìm lại.
Giang hồ có lãnh địa riêng, bán buôn cũng chia từng khu vực, các băng nhóm không được xâm phạm, vi phạm là sẽ có máu đổ ngay. Nhưng không lấn sân nhau thì không tồn tại và phát triển được, nên đụng độ nhau là chuyện không thể tránh. Sau mấy tháng làm đại ca, một cuộc tranh chấp lãnh thổ và mối lái giữa băng của Nhân và băng ALũ xảy ra. Đây sẽ là trận lớn, cả hai bên trang bị mã tấu, ống nước inox, dao bầu, kiếm nhọn. Một trận huyết chiến, một mất một còn, máu me tràn ngập chắc chắn sẽ không tránh khỏi. A Lũ là một đại ca máu mặt ở vùng này, trước tháng 4.75 là trùm khu Chợ Lớn – Phú Lâm, bị Ban bài trừ du đãng của cảnh sát Sài Gòn bắt giam ở Chí Hòa, được thoát ra trưa 30. Hắn ngứa mắt trước ảnh hưởng càng ngày càng lan rộng của băng thằng Nhân, nên quyết đấu.
Nhân không muốn cuộc chiến diễn ra ồn ào, công an xuất hiện là điều bất lợi cho bản thân hắn và lũ đàn em, nên đến gần giờ máu đổ, Nhân đề nghị đấu tay đôi với A Lũ. Bên nào thắng sẽ được trọn quyền hoạt động toàn khu, bên thất bại sẽ giải tán hoặc gộp chung thành đàn em của băng thắng. A Lũ đồng ý ngay, bởi hắn là một tay võ sư có hạng của võ Thiếu Lâm. Hắn nhìn thân hình hơi thấp và dáng thư sinh của Nhân nên có vẻ xem thường. Cuộc đấu tay đôi sẽ diễn ra trong nghĩa địa nhị tì khu cây da xà lúc nửa đêm.
Hai thằng đúng là kỳ phùng địch thủ, bất phân thắng bại. Hơn nữa, Nhân cố tránh không sử dụng đòn chí mạng, chỉ muốn làm cho A Lũ và đám đàn em hắn tâm phục khẩu phục, nên cuộc chiến kéo dài hơn tiếng đồng hồ. Hai bên ra lệnh không được hò reo, tránh sự chú ý. A Lũ đúng là một tay võ lâm đầy tài nghệ. Hắn tránh được nhiều đòn của Nhân và cũng phản đòn rất dũng mãnh. Cuối cùng, không muốn kéo dài cuộc chiến, Nhân phải sử dụng đến ngón đòn giết người rất nguy hiểm. Hắn bấm mình bay đến bức tường sau lưng A Lũ, chạy như gió trên tường rồi bắn ngược trở lại, tung cước ngay đầu A Lũ, A Lũ gục xuống như thân chuối bị đốn. Đấu trường xôn xao. Cùng lúc ấy có tiếng chân chạy sầm sập, tiếng còi thổi và bóng nhiều công an xuất hiện ở cổng nghĩa trang. Cả bọn tháo chạy. A Lũ cố gượng dậy nhưng không nhấc mình lên được. Đã chạy đi rồi, quay nhìn lại thấy A Lũ quằn quại không gượng dậy nổi, Nhân quay lại cõng A Lũ trên vai và cố thoát khỏi vòng vây. Nhưng không kịp. Ba công an kềm sát chân anh, ôm chặt lấy Nhân, quật xuống và tra còng . . .
Nhân bị giam ở đồn hai ngày, hai tay bị còng vào song cửa sổ, chờ xe chở về Đắc Nông, nơi tập trung đám giang hồ bị bắt cải tạo lao động. Bọn đàn em bắn tin sẽ tìm cách giải cứu đại ca, đồng thời báo cho biết A Lũ chỉ bị trọng thương, đang nằm ở bệnh viện, công an canh giữ sát sao, nhưng liệt nửa người dặt dẹo. Thời đó chẳng có tòa án, cũng chẳng xét hỏi, lập hồ sơ, cứ thế mà đi thẳng vào trại, chẳng biết ngày về.
Nhân nghĩ chỉ có giải pháp duy nhất là phải trốn thôi, không thể giam mình trong trại không lối thoát như thế được. Nửa đêm đó, chờ mọi người ngủ say, Nhân lấy hết sức bình sinh, bẻ song cửa sổ, hai tay còn dính còng, trốn thoát. Anh chạy về sào huyệt báo tin cho đàn em, từ biệt chúng, chia chác tiền bạc và sáng hôm sau đi tìm tôi. Và chúng tôi đã gặp nhau ở dốc chân cầu Trương Minh Gỉang, khi tôi chuẩn bị tuột dốc.
Tôi hỏi Nhân: – Cậu mua vé tàu xe gì chưa? Nhân bảo: – Mình tránh mua vé, sợ bị lộ. Mình sẽ đi bộ về Đà Nẵng, gặp đâu xin đi đó, được đoạn nào hay đoạn đó, chứ đi tàu dễ bị xét hỏi lắm, chắc là khó thoát.

Và chúng tôi chia tay nhau. Lúc ấy là cuối năm 1976.

*******

6.
Tôi được ghi tên đi học lại, khóa chúng tôi được nhập chung với sinh viên Sư phạm thành trường Đại học Sư Phạm Thành phố. Nhờ số tiền Nhân đưa, tôi sống được thời gian dài, dù cũng chỉ tạm đủ ngày hai bữa cơm rau ở căn tin và qua lần đổi tiền lần thứ hai 1978. Cuộc sống trôi đi, học hành rồi ra trường, tôi ra trường cũng gặp chút khó khăn lúc phân công tác. Lí lịch xấu quá, đen thui. Con công chức cao cấp chế độ cũ. Bản thân thiếu phấn đấu. Nhưng rồi trời thương, được vài người giúp đỡ, tôi được phân công về dạy ở một trường cấp 3 heo hút ở Củ chi. Cuộc sống cũng được cho là ổn. Tôi cố tìm cách liên lạc với gia đình, nhưng thư gởi đi mà không có hồi âm. Tôi cũng chẳng nhận được lá thư nào từ Pháp gởi về. Cũng chẳng nhận được chút tin tức nào của Nhân. Tất cả im lìm như nấm mộ.
Đầu năm 1978, tôi nhận được một lá thư từ nước Pháp. Lá thư của em gái tôi, cô em duy nhất mà khi tôi rời Việt Nam, em mới 14 tuổi. Em gởi từ Mỹ qua địa chỉ cũ của tôi ở Montpellier từ cuối năm 1975, nay tôi mới nhận được. Trong thư em báo tin đã di tản qua Mỹ từ tháng 4.1975, hiện ở New Hampshire, miền đông nước Mỹ đồng thời cho biết ba tôi đang bị học tập cải tạo tại Hàm Tân. Tôi chạy ra Hàm Tân thì được tin ba tôi đã bị chuyển ra Bắc, đang ở Hà Nam Ninh. Mùa hè năm 1978 tôi ra bắc, lên Hà Nam Ninh thăm nuôi ba nhưng không được gặp mặt, đến năm sau ra lần nữa thì được tin ba tôi đã chết trong trại. Trên đường từ bắc xuôi nam, tôi dự định ghé Đà Nẵng thắp nhang cho mẹ thì lại biết rằng nghĩa trang Nam Ô, nơi mẹ tôi nằm đã bị qui hoạch, mộ mẹ tôi không biết tìm đâu? Như vậy, từ khi rời Đà Nẵng năm 1968, tôi chưa trở lại chốn này lần nào. Bởi chẳng còn gì để tôi trở lại, cha mất chưa tìm được xác ở chốn xa xôi. Mộ mẹ bị san bằng không dấu vết. Nhà cửa không còn. Trở lại chỉ thêm buồn đau và hờn tủi.
Tôi lập gia đình, sinh con. Quẩn quanh với cuộc sống từ những khó khăn và thiếu thốn. Cuộc sống cứ thế trôi đi. Những kỷ niệm của ngày xưa lần hồi phôi pha. Phải tập quên để sống. Phải cứ hướng tới phía trước để tồn tại. Cho đến 2010, khi tôi tròn 60 tuổi, về hưu, con cái cũng đã lớn, đã yên bề gia thất. Nhiều đêm không ngủ được, tuổi mới chớm già mà cứ nhớ đến quá khứ đến quắt quay. Tôi nhớ Nhân, nhớ đến những năm tháng đã qua đi và sẽ không còn trở lại. Không biết bây giờ Nhân sống ra sao, còn ở Việt Nam hay đã trôi dạt xứ nào. Thời gian quá dài, quá nhiều đổi thay, quá nhiều bất trắc. Không biết những nơi chốn xưa có còn như cũ nữa không? Biết bao là hình ảnh, biết bao là câu hỏi cứ quẩn quanh….Tôi mua vé bay về Đà Nẵng, tìm lại kỷ niệm xưa, đồng thời tìm lại người bạn thân yêu đã một thời gắn bó.
Thành phố không còn như cũ nữa, nhiều đổi thay. Những dấu vết kỷ niệm đã bị mất dấu. Tôi ngu ngơ giữa thành phố xa lạ. Chẳng gặp người quen, chẳng tìm ra cảnh cũ.
Tôi lang thang quẩn quanh ở chợ Cồn, nơi ngã tư. Chỗ đó hồi xưa là nơi thường ngày tôi qua. Ngày xưa, bên này là cây xăng, bên kia là cư xá Đoàn Kết của quân đội, bên kia đường là nhà sách Văn Hóa, nơi tôi thường mua sách. Xuống một chút là cà phê Xướng, nơi bán những ly cà phê đượm hương beurre Bretel và bánh mì thịt thơm nức mũi ba tôi thường ăn mỗi sáng. Đi qua đường rầy của đường Hùng Vương, có xưởng vẽ của họa sĩ Trần Viết Hậu, người họa sĩ già mà ngày nào đi học ngang qua, tôi cũng dừng chân đứng lại một chút để nhìn ông ta vẽ, tôi mê hội họa từ những nét vẽ của ông. Tất cả biến mất, chẳng còn dấu vết. Tôi đi loanh quanh cả chục lần chốn cũ mà không tìm thấy chút hình ảnh nào sót lại. Ở góc phố, tôi dừng lại mua gói thuốc. Ông già bán thuốc tóc bạc chải mượt có khuôn mặt rất quen, quen lắm, nhưng tôi vẫn chưa nhớ ra được. Tôi băng qua đường, đốt thuốc nhìn qua. Ông già đốt thuốc hút, hai ngón tay cầm điếu thuốc hững hờ, điệu nghệ. Nhìn hình ảnh đó, tự nhiên gợi tôi nhớ đến một người, tôi băng nhanh qua đường, ôm lấy vai người bán thuốc: Thầy Thanh, Thầy Thanh, phải Thầy không? Thầy nhớ con không?
Thầy Thanh ngỡ ngàng nhìn tôi, ngờ ngợ: – Phải, tôi là Thanh đây, trước đây tôi có thời dạy học. Anh là ai mà biết tôi? – Con là Ngọc. Ngọc con ông Đốc Kim, học trò của thầy hồi đó. Thầy ôm vai tôi, ngấn nước mắt: – Tôi nhớ ra rồi… Anh về hồi nào?…Trời ơi lâu quá rồi, lâu quá rồi…
Mấy chục năm rồi nhỉ? Phải hơn bốn chục năm rồi. Đúng không?
Tôi và thầy Thanh ngồi trong quán cà phê, nhắc hoài chuyện cũ. Nhắc đến người đi, kẻ ở, kẻ mất người còn. Nhắc đến những đổi thay. Tôi hỏi thầy có nhớ Nhân không, thầy bảo làm sao quên được người học trò đặc biệt ấy. Thầy cho biết bây giờ Nhân khó khăn lắm, cũng khó gặp vì Nhân tìm đủ cách để tránh mọi người. Nghe như Nhân đạp xe ba gác chở rau ở chợ Thanh Khê, đến đấy tìm chắc gặp. Thầy còn cho biết Hồ Lê bây giờ làm chức lớn lắm, cũng có ghé Thầy mấy lần, có khi còn tặng quà.
Tôi tìm về chợ Thanh Khê, hồi xưa đây là xóm chài ven biển, nghèo lắm. Bây giờ nhà cửa cao ngất như phố thị. Lân la ở chợ, hỏi nhiều người tôi tìm vào nhà Nhân men theo con đường nhỏ loằng ngoằn, sâu trong mấy cánh đồng còn sót lại, nhà cửa thưa thớt, chung quanh toàn rác rưởi. Căn nhà như cái lều, phía trước có khoảnh sân nhỏ, rào thưa. Con chó gầy còm đang phơi nắng thấy người lạ cất tiếng sủa yếu ớt. Sân vắng, tôi gọi mãi không thấy ai. Một lát sau, một cái đầu bù rối hiện ra nơi khung cửa cất tiếng ồm ồm: Hỏi ai? Tôi bảo: Tìm Nhân. Lại cái giọng ấy: Nhân đi vắng rồi.
Người đàn bà hiện ra, khuôn mặt lộ diện dưới ánh nắng. Một khuôn mặt rất quen. Tôi nghĩ vẫn chưa ra. Tôi bảo: Khi nào thì Nhân về. Tôi đợi được không? Người đàn bà nhìn tôi trân trân. Khuôn mặt quen lắm. Tôi vẫn chưa nhớ ra nổi khuôn mặt rất quen này. Tôi chào và đi ra ngõ. Con chó lười biếng không tiếng sủa. Người đàn bà nhìn theo lẩm bẩm chi đó không nghe được.
Tôi ngược ra đầu ngõ, ngồi ở quán bên đường, đợi Nhân.
Tôi đốt đến điếu thuốc thứ ba thì trí nhớ vỡ oà. Đúng là chị Đầm rô. Chị Đầm rô bán quán chè đậu rất ngon, giọng nói ồ ề. Chị Đầm rô dạy tôi hút thuốc lá. Chị Đầm rô có ánh mắt ngưỡng mộ Nhân. Phải rồi. Đúng là khuôn mặt của chị Đầm. Nhưng sao chị lại ở trong nhà của Nhân?
Tôi không cách gì nhận ra Nhân. Nhân ngồi đó, trên chiếc ghế đẩu trơ trọi giữa sân, trong ngôi nhà có khoảnh rào thưa, dưới chân có con chó gầy gò quanh quẩn. Ly rượu cầm tay, miếng mồi chỉ là con cá khô nhỏ và dĩa ớt trái đỏ rực. Không còn nét nào của Nhân ngày xưa. Đó chỉ là lão nông ngồi uống rượu buổi chiều. Những lọn tóc duyên dáng cũ đâu mất rồi, chỉ còn một nhúm tóc lơ thơ lốm đốm bạc, bết lại nằm lạc lõng trên vầng trán hói. Đôi môi đỏ cũng đã không còn, chỉ còn lại một khóe miệng khinh bạc, thâm xì và móm mém, hàm răng trống rỗng khiến cho khuôn mặt như choắt lại. Da mặt bì bì, thâm tái, men mét của người mắc bệnh gan kinh niên. Những nếp nhăn dồn dập làm cho khuôn mặt héo hon như trái táo tàu khô. Đôi mắt trũng, mờ tối, đầy khói u ám. Đâu mất rồi ánh mắt sáng rực đầy sát khí của Nhân bốn mươi năm trước. Siêu nhân đây ư? Tấm gương của nhiều bậc cha mẹ đây sao? Niềm mơ ước của nhiều người!!! Chỉ còn lại là một tấm thân tiều tụy và hom hem thảm sầu. Chắc chắn là không phải là sự tàn phá của thời gian. Thời gian không thể xóa hết dấu vết của một con người tàn nhẫn đến như thế. Chỉ có nỗi đau đớn của cuộc đời, tuyệt vọng, tủi nhục, cay đắng và sự thất bại cùng cực mới làm cho một con người đổ gục đến vậy. Nhân hoàn toàn mang hình dáng của một con người khác.
Tôi ôm Nhân, những giọt nước mắt trào ra ướt mặt. Từ thân thể Nhân bốc lên một mùi nằng nặng. Mùi chua của mồ hôi lâu ngày, mùi úng thối của rau củ, mùi rượu trộn lẫn với mùi bụi đời đắng cay. Tôi lại khóc. Tôi cầm lấy tay Nhân, bàn tay nhiều vết xước, màu da đen tái lốm đốm mủ cây trái, những móng tay cũng đầy nhựa, nứt nẻ, nhiều vết chai sần. Tôi nhìn xuống đôi chân của Nhân. Đôi chân cũng khẳng khiu, sứt sẹo, đen xì, những chiếc móng đầy cáu ghét, đôi dép đứt quai được buộc lại bằng sợi dây nhựa đỏ, đế mòn vẹt. Lúc đầu Nhân hững hờ ôm vai tôi, rồi bỗng siết chặt và người Nhân rung lên. Tôi khóc như trẻ con. Bỗng Nhân buông tay và nói như mắng: ĐM, mày vẫn như xưa, lúc nào cũng ẩm ướt.
Tôi lại thêm một ngạc nhiên, không những Nhân đổi thay hình dáng, mà còn thay đổi luôn cách xưng hô, và biết chưởi thề. Suốt thời gian dài quen biết nhau, chưa bao giờ chúng tôi xưng hô mày tao với nhau, chỉ gọi nhau là cậu tớ, Tôi chưa một lần nghe Nhân buột miệng chưởi ai. Tôi trố mắt nhìn Nhân, trời ơi, Nhân ngày xưa đã chết thật rồi. Biết đổ lỗi cho ai đây, hoàn cảnh, cuộc đời hay thời thế. Hay là đổ cho số phận.

Tôi ở lại với Nhân ba ngày còn lại của chuyến đi. Ban ngày hai đứa lang thang với những chốn kỷ niệm cũ, lê la các hàng quán. Đêm về, hai đứa kể nhau nghe những chuyện của đời nhau, những chuyện đời buồn nhiều hơn vui. Tôi mua sắm nhiều vật dụng cần thiết của cuộc sống, chị Đầm rất vui khi nhận những món quà này, riêng Nhân vẫn dửng dưng…

******
7.
Hồi đó, cuối năm 1976, Nhân vội vã trở về Đà Nẵng để trốn lệnh truy nã. Chuyến đi kéo dài hơn tuần lễ. Đón xe dọc đường từng chặng, có khi đi bộ suốt buổi. Suốt đoạn đường cũng chẳng có chuyện gì. Nhưng hôm từ Bình Định về Quảng Ngãi, sau một bữa nhậu say quắc cần câu với cánh tài xế, sang hôm sau khi tỉnh rượu, Nhân thấy mình nằm ở vệ đường ở Mộ Đức, tiền bạc trong túi bị tước hết. Hai tên tài xế cho Nhân đi nhờ biến đâu mất. Cũng may, Nhân đã chia nhỏ bó tiền, để mỗi nơi một chút, nhờ vậy, cũng còn chút tiền dấu trong đôi giày, dù không nhiều lắm. Đến Đà Nẵng nửa đêm, căn nhà cũ của gia đình nay đã biến thành cơ quan của chính quyền mới. Lang thang suốt đêm, thấy mình như kẻ xa lạ ở một thành phố khác. Lân la quán cà phê gần ngôi nhà cũ từ tờ mờ sớm, Nhân biết được gia đình mình đang ở trong một con kiệt nhỏ cuối đường Hoàng Diệu, gần đường rầy xe lửa. Ngôi nhà ngày xưa đã bị trưng dụng từ khi cách mạng về, ba Nhân nhờ ngày trước có tham gia kháng chiến chống Pháp, trước 75 cũng có thành tích nuôi dấu cán bộ gì đó, nên không bị đi học tập cải tạo, nhưng không được sử dụng.
Nhân vừa bước vào ngõ, ba Nhân đã nhận ra ngay. Ông cuống quit ôm lấy Nhân, miệng cứ lập lại mãi một câu hỏi: Về lúc nào? Sao lại về? Về lúc nào? Hành lí đâu? Nhân cũng ôm lấy cha, nước mắt giàn giụa: Ba ngồi xuống đây nghe con nói, ba ngồi xuống đi. Nhân quì dưới đất, lạy mấy lạy. cứ lập đi lập lại: Ba ơi, con bất hiếu không làm được ước nguyện của ba rồi, rồi lại lạy. Ông Đốc ngồi sững sờ, mang máng hiểu đã có một tai họa tày trời. Niềm tin của ông, lẽ sống của ông. Sao lại thế này? Nhân vừa khóc, vừa lạy, vừa kể hết mọi chuyện. Lâu lâu lại nấc lên, nước mắt đầy mặt. Ông Đốc có cảm giác như ngàn lưỡi dao đâm vô ngực, xoáy mạnh. Tai lùng bùng, trái tim như đang có bàn tay ai bóp nghẹt. Đầu óc choáng váng, trái đất như sụp dưới chân ông, ông thấy khó thở, trước mặt chỉ là một khoảng tối vô tận. Nhân kể lể không biết bao lâu, không thấy ông Đốc động tĩnh gì. Nhân ngước lên, nắm lấy tay cha. Anh hoảng hốt như điện giật, tay ông Kim lạnh ngắt như nước đá, cứng đờ. Nhân hốt hoảng ngồi lên, nhìn thấy khuôn mặt trắng bệt, hai mắt mở trừng trừng của ba mình, anh hét lên: Ba ơi, con giết ba rồi, ba ơi!!! Ông Đốc đã tắt thở từ lúc nào, mặt đanh lại, hai mắt vẫn mở, hai hàm răng nghiến chặt, giận dữ.
Đám ma diễn ra lạnh lẽo, chỉ còn hai anh em: Nhân và cô em gái. Cô em kế Nhân bị bệnh thần kinh không biết lang thang ở đâu mà bị cưỡng hiếp có bầu, rồi băng huyết lúc sinh, chết hồi đầu năm. Đứa em bị bệnh down thì mất tích trong những ngày chộn rộn cuối tháng ba năm bảy lăm. Thằng em trai kế Nhân nghe nói đi bộ đội đóng ở Tây Ninh, nhưng chẳng có địa chỉ liên lạc. Hôm đưa đám trời lại mưa suốt buổi, hai anh em mặc áo xô, chống gậy trông thảm thiết giữa đồng trống. Nhân không khóc, nhưng hai mắt đỏ ngầu.
Đám tang xong xuôi, Nhân đi tìm Dạ Lan. Gia đình Dạ Lan cũng lâm vào bi kịch. Hôm Dạ Lan về Huế thăm bà ngoại, gia đình ông Bửu Hân tổ chức vượt biên. Hai vợ chồng và cậu con trai bị bão tố dìm xác xuống đáy biển, chuyến đi đó chỉ có mấy người được tàu lớn cứu thoát, tạm ngụ ở Hồng Kông. Nhà bị tịch thu vì tội phản quốc. Dạ Lan xin được ở lại trong căn phòng nhỏ dành cho người giúp việc ở góc sân cùng với cây đàn piano. Không biết vì lí do nào, những người phụ trách cũng chấp nhận.
Nhân nhiều lần tìm đến chỗ ở của Dạ Lan, nhưng nàng không tiếp, cứ trốn tránh mãi. Sau cùng, hai người gặp mặt nhau, Dạ Lan cho biết nàng đang mang thai, nhưng không cho biết cha đứa bé là ai. Sững sờ. Nhưng Nhân chấp nhận tất cả, chỉ mong ước được sống cùng nhau. Nhân cũng không tìm hiểu ai là cha đứa bé…Sau này, Nhân mới biết rằng cái bào thai là kết quả của cuộc trao đổi để nàng được ở lại căn phòng nhỏ đó cùng với cây đàn.
Và hai người đồng ý chung sống, không lễ cưới, không hôn thú, trong căn phòng chật hẹp dưới gốc cây ngọc lan, kết cục một cuộc tình như thế cũng là một đoạn kết đẹp vì lúc bấy giờ là thời kỳ loạn lạc, nhiều bất trắc.

Nhưng cuộc sống không phải chỉ có tình yêu là đủ. Nhân không tìm đâu được việc làm, vì cũng chẳng có giấy tờ chứng minh năng lực, lí lịch lại mù mờ mà cũng vì thời bấy giờ phải có mối quan hệ nhất định nào đó mới có thể kiếm được việc.. Loay hoay mãi với cơm áo, cuộc sống gia đình bắt đầu thiếu vắng tiếng cười. Lương cô giáo của Dạ Lan với tiêu chuẩn mười ba kí gạo bây giờ phải chia ra cho hai người, những bữa cơm toàn độn sắn khoai với bo bo, canh rau và cá hẩm Mùa đông năm đó, Dạ Lan bị tai nạn xe cộ lúc đi dạy học về, chiếc xe đạp cong niềng, gãy phuộc. Dạ Lan chỉ bị trầy sướt nhưng lại bị hư thai, máu nhuộm đỏ phần dưới cơ thể. Không biết kiếm đâu ra tiền, Nhân đành bán chiếc piano lấy chỉ vàng lo thuốc men cho vợ. Ở bệnh viện về, biết chiếc đàn đã bị bán, Dạ Lan im lặng suốt cả tháng, chẳng hé một câu nào. Nhân thấy mình có lỗi, và Nhân nhớ dự định của mình khi bước đầu du học, sẽ mua cho Dạ Lan chiếc đàn piano tốt nhất lúc tốt nghiệp trở về.. Dự định không thực hiện được lại đem bán chiếc đàn kỉ niệm của Dạ Lan. Nhân cảm thấy mình hèn hạ và bất lực.
Thời kì này, người ta rủ nhau đi săn trầm, kiếm được rất khá. Trước bức bách của đời sống và nỗi buồn khó nguôi của Dạ Lan, Nhân quyết định vào núi tìm trầm, mong đổi đời, hi vọng sẽ mua lại đền cho vợ chiếc đàn khác.
Rừng rú bao la, ngậm ngãi tìm trầm, những chuyến đi nhiều khi kéo dài cả mấy tuần. Cả bọn sống như dân du mục, đến đâu dựng lều trại ở đó. Tìm trầm là công việc chẳng dễ dàng gì, mưa gió, rắn rít, thú dữ… tất cả đều đáng sợ, có thể chấm dứt đời người bất cứ lúc nào. Nhưng đáng sợ hơn cả là con người. Lo nhất là lúc ăn được trầm, đó là thời gian sinh tử, phải rời rừng ngay bất cứ giá nào, nếu muốn còn sống để trở về. Chỉ cần một phát đạn, hay chỉ là một nhát dao, một cú đâm từ sau lưng, số trầm vừa kiếm được sẽ không còn và tính mạng sẽ bị định đoạt. Sống như kẻ du mục và cư xử như những kẻ du thủ. Nhân hòa mình vào thế giới đó, và trở thành thủ lãnh một nhóm ba người. Suốt mấy tháng gần như kiệt sức và cũng chẳng còn bao nhiêu vốn liếng, trầm vẫn là những giấc mơ. Cả bọn quyết định đi sâu vào rừng nguyên sinh, giáp ranh với vùng Tây nguyên. Trúng đậm. Có cả kỳ nam.
Chuyến này sẽ đổi đời. Ba người run rẩy gói ghém, rời rừng. Mưa như trút.
Mỗi người một ba lô đầy căng trầm và kỳ nam. Trời nhá nhem, sấm sét xé trời, đi ngang qua một đường mòn, dưới là vực sâu thăm thẳm. Một nhóm cướp xuất hiện như từ dưới đất mọc lên. Tiếng nổ đầu tiên hạ gục ngay người đi đầu, xác rơi xuống vực cùng chiếc ba lô. Nhân hét như sấm, băng lên, nhắm vào thằng đầu đàn đang cầm súng, một cú song phi, tên cướp ngã ngửa, súng văng ra. Nhân nhanh chân đạp ngay báng súng, bật lên, cây súng nằm trong tay như một ánh chớp. Anh lên đạn, bắn chỉ thiên nguyên một tràng. Bọn cướp lóp ngóp bỏ chạy.
Hai người chạy dưới mưa, băng qua con suối tràn nước. Hình như lũ về. Những thác nước trắng xóa ào ạt. Nhân và người đồng hành lóp ngóp bơi qua con suối. Nước dữ dội, cuốn phăng phăng. Cả hai mệt lử. Ranh giới sống chết. Đang cố chống trả dòng nước cuồn cuộn, Nhân nghe tiếng kêu thảm thiết của người bạn. Anh quay lại, nước đang kéo người bạn xa dần. Nhân cố bương tới, nắm được tay trơn tuột. Anh bạn sợ hãi, run rẫy, lắp bắp: Cứu tôi..Cứu tôi. Lại tuột tay, Nhân cố bơi tới, anh bạn buông mình xuôi dòng nước, chiếc ba lô của anh ta rời khỏi người trôi băng băng. Anh ta cố với theo nhưng không kịp. Nhân cố vượt lên, nắm được tay bạn, ghì hết sức kéo lại. Lại một đợt nước ào ạt, chiếc ba lô của Nhân tuột khỏi vai, trôi theo dòng nước dữ. Không tiếc, phải sống đã. Cố lên, gắng lên. Nước lũ đang về, những tiếng ầm ầm như sấm động. Nhân ôm bạn, cố vươn lên. Đến bờ, lại tuôn chạy trốn lũ. Người bạn như cái xác không hồn, líu díu chạy theo Nhân. Mưa rát mặt. Những cành cây quất vào thân thể. Cứ bương tới. Bương tới. Để sống.
Cả hai chạy ra tới bìa rừng, bên kia là quốc lộ. Sống rồi. Hai người ôm lấy nhau, nước mắt hòa nước mưa. Lại trắng tay.
Đón được một chiếc xe của bộ đội sau khi ăn hai tô phở lớn ngút khói ở quán phở bên đường. Nhân thấy khỏe hơn và lúc đó anh mới thấy tiếc cái ba lô kỳ nam vừa mất. Một gia tài đã tuột khỏi tay. Ngồi trên xe dưới cơn mưa tầm tã, Nhân nhớ Dạ Lan đến cồn cào. Anh hình dung thân thể trắng ngà, thơm tho của vợ. Anh nhớ tiếng rên như mèo kêu của nàng khi cả hai lên đến đỉnh của yêu đương. Mái tóc dài xõa trên nền drap trắng. Nỗi nhớ xôn xao trong dạ, anh mong về mau để được ôm nàng trong vòng tay với những lời yêu thương.
Nửa đêm Nhân mới về đến căn nhà nhỏ dưới cây ngọc lan. Phố vắng tanh. Mưa vẫn ào ạt. Anh đội mưa đi về, định tạo một sự ngạc nhiên cho Dạ Lan. Căn phòng đèn mờ sáng. Cửa chỉ khép hờ. Anh nhẹ nhàng đẩy cửa. Anh sững người. Dưới ánh đèn mờ ảo, trên giường, những khoảng trắng da thịt loang loáng theo nhịp. Tiếng thở của người đàn ông, tiếng rên như mèo kêu của người đàn bà. Khốn nạn. Máu Nhân như đông cứng lại. Tim muốn vỡ ra. Hai bàn tay bỗng nắm chặt, gồng lên chuẩn bị một cú đấm.
Đôi chân muốn vọng động. Chỉ một cú tấn công, sẽ có người chết. Bỗng Nhân run rẩy như người mắc kinh phong, cả thân người giật không kiểm soát được. Những giọt nước mưa từ người anh đọng vũng trên sàn nhà. Đầu anh bỗng nhức như muốn vỡ ra. Tim loạn nhịp. Anh lặng lẽ đi ra, ngồi dưới gốc ngọc lan, mưa vẫn xối trên người anh. Nhân thấy mình bất lực, tự khinh mình. Anh chẳng trách ai cả. Chẳng qua cũng bởi tại anh, vì anh chẳng làm tròn trách nhiệm của một người chồng. Anh chỉ mang lại những nỗi đau. Nhân ngồi như bức tượng suốt đêm.
Trời gần sáng, chân trời sáng lên một vệt mờ. Có tiếng kẹt cửa, người đàn ông len lén đi ra, lặng lẽ đi về cuối phố. Nhân chẳng cần biết đó là ai. Chỉ biết đó là người đàn ông đã ngủ với vợ mình suốt đêm qua. Từng đó cũng đã đủ.
Trời sáng hẳn. Dạ Lan mở cửa, dắt xe ra. Nàng quay lại khóa cửa thì nhìn thấy Nhân. Thoáng một chút hoảng hốt. Nàng cất tiếng: – Anh về hồi nào mà không vào nhà? Sao lại ngồi dầm mưa thế này? – Về hồi hôm. Không vào vì căn nhà này không còn chỗ cho tôi nữa rồi. Dạ Lan tái mặt, người như muốn ngã, nàng níu cánh cửa, hoảng hốt, lắp bắp. Chiếc xe ngã chổng chơ bên thềm. Không chờ câu nói tiếp của Dạ Lan, Nhân lẳng lặng đi nhanh ra đường. Phố bắt đầu một ngày mới. Anh bước mà chẳng biết đi đâu. Cả ngày hôm đó, Nhân say khướt. Mấy hôm sau anh rời thành phố, lại đi vào núi. Gần nửa năm sau, Nhân mới lại về.
Lần này trở về, Nhân định sẽ quên hết, sẽ sống lại với Dạ Lan, làm lại một chương mới. Quên tất cả. Nhưng, Dạ Lan đã không còn nữa.
Một tuần lễ sau khi Nhân bỏ đi, không thấy Dạ Lan đến lớp, nhà trường đến tìm nàng thì phát hiện Dạ Lan đã treo cổ tự sát. Nàng mặc chiếc áo màu tím than, cổ quấn chiếc khăn quàng màu tím nhạt, di đôi guốc cao cũng màu tím. Dây treo cổ siết làm cho lưỡi nàng thè ra, khuôn mặt cũng tím rịm.
Từ hôm đó, thành phố thêm một người điên. Nhân lang thang bờ bụi, lúc nào cũng say khướt, Áo quần càng ngày càng rách bươm, hôi hám, tóc tai bù xù, dơ bẩn. Ban ngày Nhân thường đi dọc biển, lượm những cành cây khô, bẻ nhỏ mang đến tiệm bán trầm hương, đòi bán với giá cao, khi người ta bảo không mua, đuổi đi, Nhân chưởi một tràng tiếng Pháp và bắt đầu xổ tiếng Tây giờ này qua giờ nọ, không ai hiểu. Đêm đến, anh múa võ trên hè phố, miệng lẩm bẩm tên Dạ Lan. Anh khóc cười vô chừng như mưa nắng. Anh sống trong một thế giới khác. Những người trước đây biết tài năng của Nhân, chỉ biết chép miệng lắc đầu, thương cho một số phận. Lúc đầu, bên công an nghi Nhân giả điên với mục đích mờ ám chính trị nào đó, nhưng rồi sau một thời gian thẩm vấn và theo dõi, chẳng thu thập được gì. Nhân sống như vậy gần hai năm dài, rồi bỗng dưng thành phố vắng bóng người thanh niên điên loạn nói toàn tiếng Pháp.
Nhân lại đi vào núi, đến Bồng Miêu rồi qua Phước Sơn đào vàng. Ở đâu anh cũng trở thành đại ca vì thế giới của những kẻ săn vàng là thế giới của bạo lực, giết nhau như cơm bữa, mà Nhân thì võ nghệ cao cường, nên đắc dụng trong cái thế giới máu và vàng đó. Hơn nữa, sau những biến cố của cuộc đời, Nhân bất cần thân thể, liều lĩnh và tàn nhẫn. Những đặc tính đó ở chốn giang hồ không xanh cỏ sớm thì chỉ là lãnh chúa.
Nhân bắt đầu giàu có, những miếng vàng đào được biến Nhân thành một đại gia, tiêu tiền như rác. Anh về phố, mua một chiếc đàn piano mới cứng, thuê xe chở đến mộ Dạ Lan, ngồi suốt ngày độc thoại với cỏ cây, giun dế. Khi hoàng hôn xuống, anh đốt chiếc đàn. Lửa cháy rừng rực sáng một góc nghĩa trang.
Trong một lần nhậu ở quán bên biển Mỹ Khê, sau khi đã chếnh choáng thì anh nghe ở bàn bên đang nói về anh. Một tay anh chị chắc cũng đã xỉn, nói với mọi người:
– ĐM, tưởng đi Tây đi Mỹ về làm ông này bà nọ, cuối cùng cũng chỉ là một thằng đi mót vàng. Lại thêm giết cha, giết vợ.
Nhân loạng quạng bước qua, chỉ vào mặt tên đó và bảo:
– ĐM mày là thằng nào mà dám trêu ông, mày vừa bảo gì, nhắc lại xem nào.
Thằng kia cũng chẳng phải tay vừa, đứng lên hùng hổ, nói chưa hết câu đã ngã vật ra giẫy đành đạch. Nhân vung tay một cú atémi chặt vào gáy của địch thủ. Hắn chết ngay sau mấy cái giẫy. Cả quán xôn xao, đứng cả lên. Nhân lừng khừng bước ra quán, xiêu vẹo trên đường. Tay chủ quán bắt vào mạch của nạn nhân, hét lớn:
– Nó chết rồi, bắt cái thằng giết người lại.
Ai cũng la hét nhưng chẳng ai có một hành động cụ thể nào. Nhân bước ra ngõ, đi đến đồn công an bên kia đường, tự thú. Án giết người, tòa xử 15 năm.
Ở tù trên rừng, lao động đúng 9 năm thì Nhân được đặc xá. Tiều tụy trở về thành phố, Nhân chưa biết mình sẽ sống như thế nào thì cơn sốt rét ác tính quật ngã anh. Anh bất tỉnh bên vệ đường. Người đi đường mang anh vào nhà thương, anh mê man suốt mấy ngày, thân thể như cái xác ve, không một người thân chăm sóc. Số mệnh đẩy đưa, hôm đó chị Đầm vào bệnh viện thăm người quen. Đi tìm phòng, trời xui đất khiến thế nào mà chị nhìn ra Nhân đang thoi thóp trên giường bệnh. Chị ở lại chăm sóc cho Nhân mấy tháng ròng, lúc xuất viện chị đưa Nhân về nhà mình, tiếp tục lo miếng ăn, giấc ngủ cho Nhân. Và rồi họ sống như vợ chồng. Lúc trước chị Đầm ở bàu Thạc Gián, bán rau ở chợ Cồn, sau đó khu bàu bị quy hoạch, được đền bù được ít tiền thì chị gặp Nhân, lo thuốc thang cho Nhân, còn lại một ít, hai vợ chồng mua khoảnh đất ở Thanh Khê. Vợ bán rau còn chồng chạy xe ba gác, sống tạm cho xong một đời gần mười mấy năm nay, loay hoay mãi mà không đủ đút lỗ miệng.
Tôi, Nhân và thầy Thanh ngồi uống cà phê ở Bạch Đằng. Điện thoại của thầy Thanh reo, thầy bảo đến đi, đến đi, có Ngọc ngồi với Nhân, đến cho vui nhé. Tôi hỏi ai vậy, thầy bảo:
– Hồ Lê, Hồ Lê bữa trước gặp tôi có nói là khi nào ngồi với mấy anh thì bảo Lê ra cho vui.
Hồ Lê đến, vẫn to cao lừng lững, trông còn khỏe hơn xưa. Hắn mang vợt tennis, giày Adidas, áo thun cá sấu trắng kẻ sọc, nhìn như tài tử. Sau lưng hắn có hai thanh niên trẻ, đi kè kè, chắc là bảo vệ. Vừa bắt tay tôi hắn đã hất hàm: Chào. Lúc này mày còn sợ tao không. Tôi buột miệng:
– Sợ gấp đôi ngày xưa.
Hắn cười cười:
– Sao vậy?
Tôi tiếp liền, sợ sẽ không dám nói nếu ngần ngừ:
– Ngày xưa tao sợ mày vì mày có sức mạnh, bây giờ mày vừa vẫn có sức mạnh lại thêm quyền lực, sợ gấp đôi là phải rồi.
Thầy Thanh giảng hòa:
– Anh em bạn cũ gặp nhau, mừng vui đi, hằm hè nhau làm gì hè.
Tôi chợt nhớ ngày xưa tôi hay chưởi thầm nó và tự bảo anh hùng mười năm trả thù chưa muộn. Bây giờ đã bốn mươi năm trôi qua, tôi vẫn là thằng dưới cơ.
Nhân bỗng lên tiếng:
– Mày biết ngày xưa tại sao thằng Hồ Lê ghét tụi mình không?
Tôi chưa kịp trả lời thì hắn nói luôn:
– Ngày trước hắn thèm cuộc sống của chúng ta mà không có được nên ganh tỵ. Bây giờ hắn có điều kiện, mày thấy không, hắn đang tập tành sống như ngày xưa cha ông chúng ta đã sống, ăn chơi, nhậu nhẹt, đánh gôn, chơi tennis, thế thôi.
Thầy Thanh xua tay:
-Thôi mà, cay cú nhau làm chi, vui với nhau đi.
Hồ Lê im lặng, chẳng trả lời. Hắn đang nghĩ gì nhỉ?
Bữa cuối ở Đà Nẵng, tôi đi mua cho Nhân đôi săng đan, hắn bảo mua dép nhựa dễ đi hơn, nhưng tôi nói thay đổi tư duy cho đời khá hơn đi, mang dép da vẫn tốt hơn chứ. Hắn cười: “ĐM, đương nhiên da phải hơn nhựa rồi”.Tôi rút hết tiền tiết kiệm được 37 triệu, tôi đưa hết cho vợ chồng Nhân. Chị Đầm cầm tiền cứ khóc mãi, cám ơn tôi hoài. Tôi bảo với chị:
– Đây là tiền của Nhân, tôi gởi lại cho Nhân chứ không có ơn huệ gì trong sự việc này, chị đừng bận tâm. Sau này, cần gì cứ bảo tôi, tuy cũng chẳng giàu có gì nhưng tôi với Nhân là hai anh em, phải biết giúp nhau chứ.
Hôm tiễn tôi ra phi trường, chị Đầm khóc và Nhân cũng rơm rớm nước mắt khi ôm tôi.

*****

8.
Tôi về Sài Gòn được nửa tháng thì chị Đầm điện thoại cho tôi. Bữa đó trời mưa, nghe tiếng được tiếng mất vì chị khóc nhiều hơn nói. Đại khái là Nhân đã bị tai nạn, xe lửa cán nát đôi chân của Nhân, không biết có qua nổi không?
Gần Tết Nguyên Đán, mua vé quá khó khăn, tôi phải chầu chực hai hôm ở phi trường mới kiếm được cái vé bay ra. Nhân nằm đó, hai chân đã cưa đến bẹn, băng trắng cả phần dưới. Người hắn teo tóp, xanh mướt.
Hắn cầm tay tôi, rưng rưng. Đôi săng đan mới mua để trên đầu giường. Nhân bảo:
– Mình để nó ở đây để nhớ đến cậu, cậu bảo mình trong năm tháng còn lại gắng bước qua số phận, mình cũng muốn bước qua, nhưng giờ còn chân đâu nữa mà bước, hở Ngọc. C’est bien!
Tôi khóc và ngạc nhiên vì thấy Nhân đã xưng hô như xưa, như cái thuở chúng tôi là những thanh niên với tương lai rộng mở. Và kiểu nói “C’est bien” làm tôi nhớ đến Andre Gide, năm 1951 lúc sắp từ trần, cũng bảo “C’est bien”, và nhà triết học Kant cũng thế, lúc sắp lìa đời cũng buột miệng: “Es ist gut”. Có phải là điềm gở chăng. Hay là suy nghĩ của các thiên tài đối với cuộc đời điên dại này. Với tôi, Nhân cũng là một thiên tài, nhưng là thiên tài mắc đọa.
Chị Đầm kể hôm trước đi chở rau ở chợ về, ngang qua đường rầy xe lửa. Có hai mẹ con đang băng qua đường rầy khi xe lửa đang ầm ầm chạy tới. Mọi người la oai oái, không biết phải làm gì. Nhân bay từ chiếc xe ba gác, đẩy hai mẹ con ngã sấp phía bên kia, và Nhân kẹt đôi chân trên đường rầy, những bánh xe lửa nghiến qua, nát bét. Chị lại khóc và lo lắng. Tôi biết chị thương Nhân lắm. Thương từ khi Nhân ở đỉnh cao cũng như lúc Nhân ở vực sâu.
Có hai cô nhà báo và anh chàng quay phim của Đài Truyền hình vào phỏng vấn Nhân. Nhân được trở thành gương người tốt việc tốt. Nhân cầm bằng khen và bao thư, cô nhà báo giương máy ảnh cứ hét lên: “Cười đi, cười đi..1..2..3… chụp nè”. Máy quay phim chạy sè sè. Mặt Nhân nhăn nhúm vì đau đớn. Chị Đầm thảng thốt lo âu. Hôm ngồi trên máy bay về lại Sài Gòn, đọc trên báo thấy hình của Nhân, nụ cười như đang khóc.

Sài gòn, tháng 3.2011

ĐỖ DUY NGỌC

Bệnh Hoa Liễu

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 11 13, 2018

ĐỌC CHO VUI

Một ông Tây đi du lịch Trung quốc.
Ở đâu không biết chứ ở xứ Tàu thì gái ê hề, cô nào cũng xinh, em nào cũng đẹp mà giá lại rẻ bèo. Ông Tây khoái da vàng ngăm ngăm, mắt xếch, tóc lông đen rậm, nên ngày nào cũng đi thăm các nàng.

Trở về Pháp, ông phát hiện mình bị bệnh hoa liễu. Cái ấy của ông sưng vủ, xanh lét. Ông dấu vợ, đi khám bác sĩ chuyên khoa.

Ông bác sĩ vừa nhìn thấy của quý của ông, liền nói ngay:
” Ông vừa đi Trung quốc về phải không? Lại dính chưởng của mấy cô nương xinh đẹp rồi.
” Dạ đúng thế. Tui xui gì đâu.”
” Bệnh này thuốc men không ăn thua, chỉ còn một cách là cắt bỏ”
Ông Tây nghe thế toát mồ hôi:
” Có cách nào khác không bác sĩ”
” Chịu chết. Cắt thôi”
Ông bàng hoàng chạy ra khỏi cửa, mặt xanh lè cắt không ra hột máu.

Chưa tin, ông tìm bác sĩ thứ hai, nghe đồn ông này cũng rất giỏi về mấy vụ này.
Ông này cũng vậy, vừa thấy cái đó đang xanh lè sưng vù của ông đã phán ngay:
” Thua! Cái này chỉ còn cách cắt thôi”
Ông cũng ù té chạy

Ông hãi quá, tìm tới ông giáo sư nổi tiếng khoa niệu, dù giá khám bệnh của lão này rất đắt. Cũng như những bác sĩ trước, vị giáo sư này sau khi xem xét rất kỹ lưỡng cũng tuyên bố: “Cắt!”

Ông bế tắc quá đành thú thật với vợ. Vừa nghe chuyện, bà chửi ông một trận tơi bời hoa lá hẹ. Nhưng rồi, thương chồng mà cũng vì tương lai hai đứa chúng ta, bà mới bảo ông:
” Anh hãy trở lại Trung quốc kiếm thầy mà chữa. Chúng gây bệnh thì làm gì cũng có cách chữa bệnh”

Ông Tây nghe có lý, mua vé bay qua Trung quốc ngay với niềm hi vọng đã vươn lên.
Ông nhờ người giới thiệu cho một lương y nổi tiếng nhất Bắc Kinh.

Ông thầy Tàu già khám, lấy cây lật qua lật lại cái của quý của ông rồi bảo:
“Cái lị qua chơi ở lây, bị mấy cô nương truyền pệnh cho lị rồi.
Cái lị ti khám Pác sĩ …Pác sĩ Tây lói phải cắt cũng có cái lí của họ. Pây giờ thì ngộ đã khám dzồi. Ngộ pảo lị là không phải CẮT!!!”

Ông Tây nghe mừng chảy nước mắt, run giọng bảo. “Tạ ơn Thầy…Thầy cứu dùm tôi!

Ông thầy Tàu tủm tỉm cười và bảo:
“Không phải cắt ..vì tự ló sẽ RỤNG!!!!

A ha…ha!!!!!
(Chuyện bên Tây, tui chỉ kể lại he..he)
DODUYNGOC

Bàu Thạc Gián

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đổ Duy Ngọc

Post by Sơn râu 25 Jul 2024

Hồi xưa ở Đà Nẵng có cái bàu lớn lắm. Hoặc có lẽ lúc đó tui còn nhỏ nên thấy nó lớn. Nó nằm ở trong hẻm bến xe chợ Cồn đi vào. Khu đó thì có nhiều hẻm, hẻm nào cũng vô tới bàu. Còn đi đường Ông Ích Khiêm xuống tới Hoàng Diệu thì kiệt nào cũng dẫn đến bàu. Nó nằm song song với đường rầy. Đi từ Ông Ích Khiêm xuống thì gặp một đường xe lửa, cứ men theo đường đấy mà đi thì một bên là nhà dân một bên là bàu nước mênh mông và ở giữa là đường tàu lửa chạy. Hồi tui học lớp nhất, ba tui bệnh một thời gian nằm điều trị trong cơ quan của ba tui là Tổng y viện Duy Tân, ngày nào tui cũng đi dọc theo đường rầy mang cơm cho Ba, thích lắm vì vừa đi vừa bắt chuồn chuồn, châu chấu, ngắm hoa và cỏ dại ven đường. Thú thế cho nên tui hay giành lấy việc này mà chẳng ngại trưa nắng, chiều mưa. Những trò mà ngày thường không thể nào làm được. Nhà tui ở khu Chợ Cồn trên đường Ông Ích Khiêm, hồi đó Ba tui nghiêm lắm, sáng phải thức dậy lúc năm giờ, trưa phải ngủ trưa. Tui hay trốn ngủ mò vô bàu để săn những con chuồn đỏ, những con chuồn chuồn có màu đỏ rực với hai cánh mỏng, đậu lắt lay trên cành lá cỏ hay những đọt cây thấp, những con chuồn chuồn voi to kềnh với hai con mắt to, hàm răng khoẻ cắn đau như kiến. Có khi lại chạy theo những con chuồn kim bé xíu có thân dài ngoằng bé tẹo. Có lúc lại ngồi ở mấy gốc tre nghe mấy con chim chích chòe than hót trầm bổng giữa buổi trưa hè, thú vị lắm. Cũng có khi ngồi nhìn lên mấy đọt tre trên cao đung đưa xào xạc với gió, mê say. Khu này có nhiều cây tre trồng hai bên vệ đường, lúc đó chỉ là những con đường đất đỏ, nên xóm này còn có tên gọi là xóm Tre. Hậu quả của những buổi trưa thơ mộng đó là những trận đòn nát đít, nhưng tui vẫn không chừa. Và cũng vì nó hoang vắng cho nên Ba tui hay đem quỷ ma ra doạ, Ba tui bảo khu đó toàn ma ở với người nên nhiều lúc trốn vô đó chơi mà thấy vắng quá lòng tui cũng hơi hoảng, nhất là khi nghe hai thân tre cọ vào nhau kêu kót két là lúc trong đầu toàn nghĩ chuyện ma bắt người đem dấu vô bụi.
Khi lính Mỹ đổ quân vào miền Nam, khu đường rầy biến thành xóm đĩ. Lúc đó ai nói đi đường rầy là người ta nghĩ đến đi chuyện giải quyết sinh lý. Nơi nào có đĩ thì có du đãng, bụi đời, xì ke, thuốc phiện. Do đó, có một thời khu này khét tiếng lộn xộn, lính lác, cô hồn choảng nhau như cơm bữa.
Lúc mới lớn, có đôi chút chữ nghĩa tui cứ thắc mắc về cái chữ bàu này. Tìm hiểu thì được giải thích người miền Trung thường gọi hồ là bàu. Tui vẫn thấy hình như chưa đúng. Tìm hiểu mãi cho đến giờ cũng chưa trả lời được khi nào thì gọi là bàu và như thế nào thì gọi là hồ, là ao. Và giờ đây, người ta vẫn gọi là bàu Thạc Gián.
Theo những người nghiên cứu về Đà Nẵng thì xưa kia Đà Nẵng chia làm sáu xứ. Ở hữu ngạn sông Hàn là xứ Bà Thân (một trong các tiền hiền làng An Hải), là làng An Hải ngày nay. Năm xứ còn lại ở tả ngạn, có xứ Bàu Lác (xưa có nhiều cỏ lác, nay thuộc phường Thạc Gián, quận Thanh Khê) là cái bàu mà tui đang nói tới. Rồi đến xứ Rẫy Cu (ngày trước nơi đây có nhiều lùm bụi, vùng lý tưởng cho chim cò trong đó có loài chim cu đất sinh sống và là nơi hội tụ các tay say mê trò gác cu, nay thuộc địa phận các phường Bình Thuận, Hòa Thuận Đông, Hòa Thuận Tây). Xứ Giếng Bộng (gọi tên thế vì nơi đó có một giếng nước ngọt mát phục vụ nhân dân quanh vùng thuộc làng Nại Hiên xưa, nay thuộc phường Bình Hiên, quận Hải Châu). Tiếp đó là xứ Trèm Trẹm (hay gọi tắt là Trẹm, thuộc các phường Thiệu Bình, Thạch Thang). Cuối cùng là xứ Đà Nẵng, tức vùng trung tâm thành phố ngày nay, phần lớn nằm trên địa bàn các phường Hải Châu 1, Hải Châu 2.
Như vậy bàu Thạc gián chính là bàu Lác, một trong sáu xứ của Đà Nẵng xưa. Gọi tên bàu Lác vì khi xưa là vùng mênh mông cỏ lác, sau đó nó nằm trong khu Thạc Gián nên mang tên là bàu Thạc Gián. Hồi tui hay trốn vô đó, đất đai còn mênh mông lắm, đa số nhà nào cũng có vườn trồng tre và cây ăn trái. Nó như một vùng quê yên ả trong thành phố nhộn nhịp. Dân ở đây hồi đó cũng thường là bà con, giòng họ với nhau. Tui có nhiều người bạn ở vùng này, nhưng rất tiếc họ đã qua đời gần hết. Năm 1972, đôn quân, bạn Lưu Văn Thành ở đoạn đầu của xóm Tre tử trận khi mới ra trường Thủ Đức. Tiếp đó là bạn Ý vừa gắn lon thiếu úy cũng bị bắn tỉa trên càu ở Cẩm Lệ. Trong vùng này có ông Tùng, thầu khoán, giàu lắm, nhà cửa đất đai vô số kể. Con trai đầu của ông là anh Thành, du học Pháp, học ngành y, ra trường mở một bệnh viện khá nổi tiếng ở Pháp. Hồi nhỏ tui nể anh này lắm. Kế anh Thành là chị Minh, yêu một anh ở sát nhà tui, ảnh cũng tên Ngọc, đi lính hi sinh năm 1971. Ông Tùng này nhiều vợ, có một đứa con bà thứ, sống lang bạt kỳ hồ sau này vào sống căn biệt thự của ông ở cổng xe lửa số 6 Trương Minh Ký, hơi tưng, cũng chết mấy năm rồi. Một người bạn nữa cũng ở xóm Tre, bàu Thạc Gián, cũng là cháu ông Tùng này, học chung với tui ở trường Kỹ thuật thời trung học, tên Nguyễn Ngọc Chi, một người bạn hiền lành, năm trước đây cũng đi luôn trong giấc ngủ. Tui nhớ năm tui học đệ thất, một hôm được nghỉ mấy tiết cuối, tụi tui rủ nhau về nhà một người bạn ở bàu chơi. Nhà anh này ở bên kia bàu Thạc Gián, hồi đó đi vào như là về quê, trâu bò, rơm rạ đầy đường, lúa phơi giữa lộ, khói đốt mù mịt. Mấy thằng dân phố công tử bột như tui lấy làm lạ lẫm lắm. Đến khi về, đã quá trưa, cả bọn rủ nhau lội qua bàu về. Áo quần ướt sũng, tui sợ về bị đánh đòn nên cởi truồng vắt phơi cho khô, tồng ngồng bên xóm vắng, tui khóc tu tu vì sợ khi nghĩ đến bó roi mây của ba tui. Anh bạn Thể chủ nhà hôm đó giờ cũng mất rồi.
Đất ở khu này như thung lũng, trồi lên trụt xuống ngộ lắm. Tui nhớ ở vùng thung lũng đó có hai gia đình có nhiều cô gái xinh đẹp. Đầu tiên là cô tên Hoá, con ông Giảng. Ông này làm nghề hàn máng xối, cao cao gầy gầy, mặt lúc nào cũng buồn buồn nhưng con gái ông thì quá xinh, bọn con trai ai cũng làm kẻ si tình. Khi tuổi vừa lớn, tui rời Đà Nẵng đi học xa nên không biết có ai trong xóm ấy có lấy được cô này không? Gia đình thứ hai là nhà ông Tư hớt tóc. Ông có một miếng đất ven đường Ông Ích Khiêm làm nơi hành nghề. Ba tui hãy dẫn tui hàng tháng đến đây và ra lệnh: hớt caré cho tui. Tuổi bắt đầu xài lược mà chơi caré là tiêu rồi. Ông có ba bốn cô con gái, tuy nhà nghèo nhưng cô nào cũng có nhan sắc. Tui nhớ tên cô Liễu vì cô này trạc tuổi tui. Mấy cô này mà còn chắc đã lên chức bà cố, bà ngoại hết rồi.
Năm 1956, gia đình tui mới vào Đà Nẵng thì trong khu xóm Tre này có một ông giáo mở một lớp học trường làng. Ông tên Thức nên mọi người gọi là Thầy Thức. Trong khi mấy ông giáo làng còn mặc áo the đen với khăn đóng thì Thầy Thức luôn mang bộ veston trắng, giày da trắng, đội mũ phớt và đôi lúc cầm baton trông rất ư là thanh lịch. Thầy Thức là dân Tây học dù vợ chỉ là người bán gà vịt đã nhổ lông ở Chợ Cồn. Tui không học trường này nhưng anh Hai tui thì tốt nghiệp lớp ba trường làng rồi mới vào trường Nam tiểu học. Tuy không học với Thầy Thức nhưng tui ngưỡng mộ Thầy lắm. Mỗi lần gặp Ba tui, hai người nói chuyện bằng tiếng Pháp với phong cách thật thanh lịch. Cung cách ấy sau này tui không tìm thấy nữa ở ngoài xã hội, kể cả ở miền Nam những năm gần 75.
Năm 1966, tướng Nguyễn Chánh Thi cùng với Phật giáo miền Trung ly khai. Ông tướng này là chồng của Dì Tá, là chị của Mạ tui cho nên tui gọi là dì, gọi tướng Thi bằng dượng. Ông Nguyễn Cao Kỳ cho quân nhảy dù ra đánh, súng nổ tơi bời. Nhà tui dính hai trái M79, sợ quá cả nhà chạy vào xóm Tre tránh đạn. Đó là lần đầu tiên tui biết súng nổ đạn bay của chiến tranh. Cả nhà tui tạm lánh ở nhà ông Tư hớt tóc, nhà có nhiều cô gái xinh xinh đấy. Nhưng lúc đó sợ quá nên cũng chẳng dám nghĩ chuyện ghẹo gái.
Bàu Thạc Gián, xóm Tre là nơi tui có nhiều kỷ niệm. Những kỷ niệm gắn với tuổi thơ và thời mới lớn. Cuối những năm 60 của thế kỷ trước, tui rời Đà Nẵng đi học xa rồi chẳng có dịp trở về. Rồi biến cố của lịch sử, tui chẳng còn ai thân thuộc để có cớ mà về. Đến khi bắt đầu già, nhớ quá khứ, trở về thăm thì cảnh chẳng còn như xưa nữa. Bàu Thạc Gián, xóm Tre giờ giống như bài Sông Lấp của Trần Tế Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Bàu Thạc Gián giờ thuộc quận Thanh Khê, chỉ còn là cái ao bé xíu. Chung quanh người ta xây cao ốc rầm rộ. Bàu lấp thành đất vàng. Vào xóm Tre cũng chẳng còn tre, nhà cửa lố nhố, bạn cũ chẳng còn, người xưa đâu tá? Vẫn biết cuộc bể dâu là quy luật của đất trời, sao lòng bỗng thấy thật buồn. Tìm nhà bạn cũ, cũng một thời học cùng trường, bố bạn ấy làm điền địa, cũng khá thân với Ba tui, lại thấy hình bạn ấy đặt trên bàn thờ, ánh mắt trong hình buồn bã nhìn mọi người. Bạn ấy là Trương Minh Tú có nick name là Tú Bà. Cảnh chẳng còn, người đã mất, lòng lại buồn hơn.


2.9.2018
DODUYNGOC

Vợ Thầy Hương

vietmessenger
Lê Xuyên
Miền Nam xuất bản 1965

Post by Sơn râu 25 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 2

Tuy cùng đi học tại Cần Thơ, nhưng thằng Long và con Hạnh ở khác nơi và học khác trường. Khi ra tới chợ, anh Tư đã khôn khéo tách rời hai đứa nó ra làm cho đứa này không biết đứa kia ăn ở, học hành tại nơi nào nữa!

Thằng Long hay con Hạnh thắc mắc hỏi thì được anh ta trả lời gọn ghẽ: ‘‘Mấy đứa bây khỏi lo gì hết tới chúa nhựt má bây sẽ ra thăm rồi tới chừng đó sẽ biết chỗ ở của nhau cũng không muộn’’.Anh Tư lại không quên dặn riêng ông giáo chủ nhà trọ của thằng Long và bà đốc trường nữ của con Hạnh phải đặc biệt coi chừng coi đổi hai đứa nhỏ răn cấm chúng không được tự ý đi đâu hết, dầu là đi chơi gì, như anh Tư đã cho biết thêm, hai đứa nó có tánh lêu lỏng bê tha nên người nhà của chúng mới ‘‘trấn’’ chúng ra ngoài nầy! Hai lần chúa nhựt đã trôi qua. Thằng Long con Hạnh trông chờ mỏi mắt mà chẳng thấy má nó tới thăm gì hết! Riêng phần con Hạnh, nó bồn chồn vô cùng và đến chúa nhựt sau, thừa lúc nhà trường dẫn số học sinh lưu trú đi dạo chơi nó lẻn trốn đi tìm anh.

Khổ nỗi ngày chúa nhựt trường nào cũng… đóng cửa nghỉ hết, mà hỏi thăm nhà trọ của thằng Long thì có ai biết đâu là đâu nữa! Đến nước nầy, nó bèn tính phải liều; sẵn có mang theo một ít tiền mà thím Hương đã đưa riêng cho mỗi đứa để ‘‘ăn bánh’’ hằng tháng, nó liền đi thẳng, ra bến xe đò dông tuốt về nhà.

…Về đến nơi, con Hạnh hoảng kinh khi thấy cửa nẻo đóng im ỉm từ đằng trước cho đến đằng sau…

Nó vừa đập cửa vừa kêu réo om sòm.

Mãi một lúc sau, mới có người ra mở cửa. Con Hạnh, chưng hửng khi thấy ông già Năm tá điền ló mặt ra.

– Ủa ông Năm, ông làm gì ở đây?

Ông Năm nheo mắt hỏi lại:

– À cô Ba ! Cô mần gì dìa đây? Tui nghe nói cô đi học ngoài Cần Thơ mà?

Con Hạnh hỏi dồn tới:

– Má tôi đâu mà nhà cửa vắng hoe như vầy hả ông Năm?

Ông Năm nhíu mày

– Ủa cô hỏi gì lạ vậy? Bộ cô hổng hay Thím Hương đi buôn bán mần ăn gì sao?

– Ông Năm có nghe má tôi nói chừng nào dìa hông?

Ông già Năm nhìn sững con Hạnh rồi ái ngại đáp:

– Chắc… lâu lắm cô à! Đất điền ở đây thím Hương đã nhường hết cho chủ chà ở ngoài Cần Thơ. Thím cho con Bảy ở nghỉ mần rồi cậy tui ra đây trông chừng nhà cửa, mai mốt gì đây cũng sẽ có người vô nhận nhà… Bộ cô hổng… hay biết gì ráo trọi sao?

Con Hạnh tuy chết điếng trong lòng nhưng ráng làm tĩnh:

– À má tôi có… nhắn ra cho hay, nhưng tôi không dè má tôi đi sớm như vầy… Nè ông Năm, ông có biết thầy Giáo Tư còn ở đây hông?

– Thầy Giáo Tư hả? Thẩy đi dìa xứ trước một hai ngày gì đó rồi kế thím Hương ở đây mới dọn dẹp đồ đạc để đi hùn vốn buôn với người quen…

– Ông hổng nghe nói rõ nơi nào sao?

– Thím nói đâu ở miệt Vĩnh Long, Sa Đéc gì đó tui cũng hổng hỏi kỹ làm chi…

Rồi ông Năm ái ngại hỏi tiếp:

– Bây giờ cô Ba… tính sao đây?

Con Hạnh chớp mắt liền mấy cái để giữ cho nước mắt khỏi trào ra rồi quay mặt ngó lảng ra chỗ khác:

– Tôi tưởng má tôi chưa đi nên về thăm, bây giờ thì tôi quay trở ra Cần Thơ để mai kịp đi học chớ còn tính gì nữa!

– Từ sáng sớm tới bây giờ cô đã có cơm nước gì chưa? Thôi vô ăn với tôi ba hột rồi chờ mát trời đón xe dìa ngoải cũng chẳng muộn…

Con Hạnh gượng cười đáp:

– Thôi cảm ơn ông Năm. Tôi phải đi liền cho nó sớm… Ông cho tôi vô trong nhà… chơi một chút được hông, sẵn dịp tôi lấy một vài món…

Ông Năm sốt sắng bước lại mở banh cửa ra:

– Được, được mà cô Ba! Bề gì thì nhà nầy cũng là nhà của cô… Nhưng cô tính lấy cái gì đó? Đồ đạc trong nhà đã dọn trống trơn sạch bách cô à!

Con Hạnh cau mặt:

– Sao kỳ vậy?

– Thì tôi đã nói với cô nhà nầy sắp có chủ khác đến nhận mà!

Con Hạnh chỉ buông thõng, hai tiếng ‘‘vậy hả’’ rồi lặng lẽ bước vô nhà. Nó đứng khựng lại nhìn sững về phía bàn thờ thầy Hương…

Chiếc tủ cẩn thờ còn đó nhưng lư hương, chân đèn cùng bức ảnh thờ phóng đại của thầy Hương đã xếp dọn đâu mất. Di tích của nơi thờ phượng ấy chỉ còn vỏn vẹn tấm tiền bàn, tấm trướng trên vách bằng vải trắng chữ đen trơ vơ tẻ lạnh.

Con Hạnh đưa tay quẹt nhanh nơi mắt đoạn tất tả bỏ đi trở ra ngoài cửa.

Ông già Năm lập cập bước theo sau:

–  Ủa bộ cô… hổng đi xem qua mấy căn buồng ở phía trong sao?

Con Hạnh lắc đầu:

– Thôi đủ rồi ông Năm à? Tôi phải ra đón xe về cho sớm…

Vừa nói, con Hạnh vừa tất tả bước đi thẳng ra ngoài lộ đá. Thời may lúc ấy chiếc xe đò từ miệt Ô Môn cũng vừa chạy tới. Con Hạnh giơ tay đón xe rồi quay qua phía ông Năm:

– Ông ở lại mạnh giỏi nghen ông Năm!

Ông Năm kêu vói theo.

Chiếc xe rồ máy bắt trớn chạy đi mỗi lúc mỗi thêm mau…

Con Hạnh cố ló đầu ra phía ngoài để nhìn ngoái lại về phía ngôi nhà… Mãi đến lúc nầy nó mới để cho hai dòng nước mắt tự do trào lăn trên đôi gò má, không buồn gắng gượng lại hay giấu giếm che đậy gì nữa…

Chiếc xe đò hôm ấy rủi ro thay lại chết máy đến hai lần: lần thứ nhứt gần tới Cầu Nhiếm, lần nhì… nó nằm ì luôn tại bến Phong Điền và соn Hạnh cũng như bao hành khách khác phải ngồi chờ tại đó cho đến gần xế chiều mới có chuyến khác ra để sang xe chạy thẳng về Cần Thơ.

Xe tới bến trước cầu tàu lục tỉnh thì cũng vừa lúc đèn điện ngoài đường bật sáng…

Con Hạnh lo quýnh, vội kêu xe lôi chạy về trường cho kịp giờ, nhưng đến nơi… cổng trường đã đóng kín !

Sau khi trả tiền xe xong nó hấp tấp bước lại định kêu người gác cửa ở phía trong, nhưng rồi nó đứng khựng lại trước đôi cánh cửa sắt sừng sững nối liền với dẫy tường rào cao nghệu, tua tủa miểng chai bén nhọn bao quanh lấy mặt tiền của trường học…

Rồi không biết nghĩ sao nó bỗng thối lui để xoay người bước nhanh đi như muốn lẫn trốn.

Như người mất trí, nó đi lang thang ra phía mé sông định tìm một chiếc đò nào để xin ngủ nhờ, vì trước đây có lần nó cùng với thằng Long đi với hai vợ chồng thầy Hương ra chợ Cần Thơ bằng tam bản chèo, nên nó có dịp thấy khách lỡ đường xuống bến sông mướn đò để nghỉ lưng.

Nhưng tối hôm đó mấy chiếc đò đều có khách mướn nên con Hạnh lên tiếng hỏi ngủ nhờ là mấy chủ đò từ chối liền và có người thấy bộ điệu của nó sanh nghi còn tính dắt nó đem giao cho lính phú-lít nữa.

Con Hạnh hoảng kinh không dám đứng xớ rớ ở đó nữa mà lủi chạy về phía nhà lồng chợ, rồi thả rề lên phía Cầu Xéo hy vọng tìm được nhà thường, chớ ở đó toàn là phố xá buôn bán của khách trú.

…Thấy có dãy nhà sàn lểu nghểu dưới mé sông, con Hạnh bèn đi thẳng lại phía đó. Nó đi qua hết nhà nầy tới nhà kia nhưng đâu đâu nó cũng thấy có người ở đông đúc ồn ào nên ngại ngùng không dám lên tiếng hỏi xin ngủ nhờ cho qua đêm.

Cuối cùng nó dừng chân trước một căn nhà sàn lợp lá nhỏ hẹp vì để ý thấy vắng hoe.

Trong nhà một ngọn đèn dầu leo lét cháy trên bàn và tuyệt nhiên không thấy một bóng người nào hết.

Ngắm nghía coi bộ được, con Hạnh bèn làm gan bước đại vô và rụt rè lên tiếng gọi:

– Có ai ở nhà hông?

Thấy không có ai trả lời hết, nó bèn đánh bạo hỏi lớn lên:

– Bộ không có ai ở trong nhà hết sao?

Vừa lúc ấy có tiếng chân người chạy thình thịch ở phía trên đường và tiếp theo tiếng một đứa con gái hỏi vọng xuống lanh lảnh:

– Ê, ai hỏi thăm nhà tui gì đó hả?

Con Hạnh vội quay qua ấp úng đáp:

– Tôi muốn hỏi thăm… chủ nhà…

Nhưng nó bỗng nhìn sững con nhỏ kia rồi lấp bấp kêu lên:

– Ủa tôi coi bộ chị… quen quá mà!

Con nhỏ kia bước sát lại gần một bên, nhíu mày nhìn châm bẩm vào mặt nó rồi gật gù đáp:

– Ờ… tao coi bộ mầy cũng quen lắm! Tao nhớ ngờ ngợ như gặp ở đâu đây nè!… (rồi nó bỗng reo lên). À phải rồi, mày là con của ông Hương Quản trong Tân Thới phải hông?

Tự nhlên con Hạnh mừng rỡ hỏi lại liền

– Tại sao chị biết tài quá vậy?

Con nhỏ kia nhoẻn miệng cười:

– Tài mốc xì gì- Tao với ba Sáu có tới nhà ông Hương Quản một lần… Tao thấy bà Hương Quản nè, một ông gì nho nhỏ nè…

– Thầy Giáo Tư đó!

– Mầy nè… với một thằng nho nhỏ coi bộ dễ thương nữa nè…

– Anh Long của tôi đó!

– Còn mầy, bộ mầy quên tao rồi sao? Tao tới cái bữa bà Hương cho tao tiền mà tao hổng thèm lấy đó!

Con Hạnh vồn vã níu tay con nhỏ kia:

– Thôi tôi nhớ rồi: chị đi với ông gì già già đó phải hông?

– Phải… (rồi nó tò mò nhìn con Hạnh từ đầu đến chân). Mà mầy mần gì giờ nầy còn lang thang ở đây?

Con Hạnh ấp úng đáp

– Tôi, đi học ngoài này, bữa nay về thăm nhà rồi ra trễ nên trường đóng cửa…

– Đóng cửa thì kêu họ mở cửa.

– Như vậy cũng được nhưng tôi muốn ở ngoài ngủ để sáng mai đi kiếm anh Hai tôi.

– Ủa, bộ thằng anh của mầy cũng ra học ngoài này nữa sao? Mà tại sao mầy phải đi kiếm? Bộ nó không ở chung với mầy à?

Con Hạnh cúi gầm mặt xuống

– Không… Hai anh em tôi ra ngoài này học riêng. Bữa nay nhằm ngày nghỉ nên tôi về thăm nhà nhưng má tôi đi làm ăn xa… bất tử… Bởi vậy tôi mới tính nán ở ngoài này để kiếm anh Hai tôi cho ảnh hay…

Con Lụa (vì đó là con gái của tên cướp Ba Câu) chép miệng:

– Sao má của mầy đi âu tả vậy? Ba Sáu của tao đây không phải là ba thiệt mà đi đâu ổng cũng cho tao hay hết á!

Con Hạnh tò mò hỏi:

– Ba Sáu nào? Phải ông già đi theo chị hôm lại nhà tôi phải không?

– Đúng rồi. Ổng coi vậy mà tốt lắm nghen, ổng dẫn tao rạ ngoài nầy ở đó mầy à!

– Vậy hả, tôi có dè đâu chị cũng ở Cần Thơ như tôi với anh Long…

Con Lụa vỗ vai nó rồi ân cần hỏi:

– Té ra mầy đi kiếm nhà ngủ đỡ một đêm nay phải hông?

Con Hạnh gật đầu.

Vừa lúc ấy, con Lụa ngó ra và reo lên:

– Ba Sáu dìa kìa!

Con Hạnh hồi hộp nhìn theo… ông Sáu Giò lững thững đi tới và khi thấy hai đứa nó, ông ta hỏi lớn lên:

– Cơm nước mầy nấu xong chưa mà giờ nầy mầy còn ra đánh bè đánh bạn đó Lụa?

Con Lụa nắm tay con Hạnh dắt lại.

– Rồi hết Ba Sá à! Ba Sáu có biết con nhỏ nầy là ai không mà dám nói con đánh bạn đánh bè hả? xớn xác hoài!

Ông Sáu nạt ngang

– Đừng có ăn nói hỗn xược rồi quen tánh đó mày! (đoạn ông ta day qua nhìn kỹ con Hạnh nhưng vì đèn điện ngoài đường không đủ sáng và mắt ông ta cũng hơi kém nên chỉ để ý đến cách ăn bận của con nầy)…Ờ con nhỏ này ở đâu đây? Quần áo nó tươm tất như vầy thì hổng phải là con nít lối xóm rồi!

Con Lụa cười rộ lên

– Đúng đa! Bộ Ba Sáu hổng nhớ mặt nó sao?

– Ai đó mậy?

– Con nhỏ con của bà Hương Quản trong làng mình đó!

Ông Sáu cúi nhìn sát vào mặt con Hạnh:

– Thiệt chơi hả Lụa?

Con Hạnh liền đáp thế

– Dạ phải đó ông… Sáu à.

– Ý trời, sao giờ này cháu còn đi đâu đây và ra ngoài nầy hồi nào? Thím Hương Quản đâu rồi?

Con Lụa làm mặt khôn lanh thuật sơ tình cảnh con Hạnh để rồi kết luận

– Nó xin ngủ nhờ nhà mình một đêm đó ba Sáu! Chắc được hén?

– Được… được mà! Thôi mầy dắt… con cháu đây vô nhà và dọn cơm ra đây cho nó ăn luôn một thể…

Con Hạnh vừa bước theo hai ‘‘cha con’’ ông Sáu vừa rụt rè đáp:

– Cháu… hổng đói ông Sáu à.

– Hổng đói cũng phải ăn bậy một chén cơm cho nó chặt dạ rồi sáng mơi… bác dẫn cháu đi kiếm anh cháu…

– Dạ cháu cám ơn ông Sáu. Thiệt may gặp chị…(nó khều tay con Lụa) chị tên gì hả chị?

– Tao tên Lụa bộ mầy chưa biết sao? Còn mầy?

– Tôi tên Hạnh…

– Ừ, tên mầy nghe hay quá! (rồi nó day qua hỏi ông Sáu). Nè ba Sáu, sao tên của con ai đặt mà dở ẹt vậy?

– Thằng tía của mầy đặt chớ còn ai vô đó nữa!

Nhắc đến tía của con Lụa, ông Sáu bỗng nhớ trực lại chuyện cũ… ông ta níu lấy vai con Hạnh rồi lúng túng nói;

– Bác muốn để cháu ngủ đêm nay ở đây lắm, nhưng nghĩ đi nghĩ lợi bác thấy có chỗ bất tiện…

Con Lụa cầm lấy tay con Hạnh lôi đi;

– Mày cứ việc vô đây ngủ đêm nay với tao…

Ông Sáu quắt mắt nhìn nó:

– Con nhỏ này sao kỳ quá! Chuyện này là chuyện người lớn chớ bộ giỡn sao mà mầy lôi kéo nó vậy hả!

Con Lụa giận lẫy đứng lại, mặt chầm dầm trong lúc con Hạnh lo sợ hỏi nho nhỏ ông Sáu:

– Sao… kỳ vậy ông Sáu? Cháu ngủ đỡ ở đây một đêm rồi sáng mai sớm cháu đi mà!

Ông Sáu chắc lưỡi:

– Hổng phải bác tiếc gì một chỗ ngủ đối với cháu nhưng bác thấy có nhiều cái bất tiện lắm. Cháu còn nhớ nên cháu hổng biết chớ hồi còn ở trong trổng bác đã bầm vập mình mẩy vì cái chuyện…ông già của cháu và… tía của con Lụa này nè… Hổng biết hồi đó cháu có nghe ai nói lại cho cháu rõ không…

Con Hạnh lắc đầu lia lịa!

– Không. Cháu hổng biết gì ráo mà!

Ông Sáu thở ra:

– Cháu hổng biết thì càng tốt. Con nít cũng chẳng nên biết chuyện người lớn làm gì… Thôi bây giờ cháu để bác dẫn cháu trả vô trường của cháu là tiện hơn hết. Trường nào, cháu chỉ đường cho bác nghen!

Con Lụa nói chen vô:

– Sao lạ vậy Ba Sáu? Bộ mình để con nhỏ này ngủ ở đây một đêm rồi chết sao mà ba phải chộn rộn dữ vậy? Con Hạnh nó đã nói là nó cần ở ngoài nầy để kiếm anh nó mà! Bây giờ ba dắt nó vô trường cho bà đốc ăn thịt nó hả?

Ông Sáu bực mình nói lớn

– Mầy hổng biết khỉ gì hết mà cũng xía mỏ chó vô hoài! Nếu con nhỏ này hổng muốn trở vô trường thì tao đem giao nó cho ông cò dưới bót chớ tao hổng dám chứa chấp nó đâu! Hồi đó tao dính chuyện với thằng tía của mầy cũng đủ mệt rồi!

Con Lụa níu chặt lấy tay con Hạnh, cau mày nhìn ông Sáu, rồi nói bằng một giọng thật quả quyết:

– Ba Sáu mà đem con nhỏ này giao cho dưới bót thì con dắt nó trốn liền bây giờ đa?

Ông Sáu cười mũi:

– Chớ tao đây là khúc cây hay sao mà để cho hai đứa bây dắt nhau đi trốn chớ?

Con Lụa cũng không nhịn:

– À nếu vậy thì để xong chuyện rồi con cũng bỏ nhà nầy con trốn đi một mình cho coi!

– Mầy đừng có hăm he tao! Mầy trốn đi rồi… cạp đất mà ăn à?

Con Lụa thản nhiên đáp

– Thì ba bắt nó nạp cho ông cò một cái thử coi con có dám bung ra đi hông? Bộ ba ở nhà canh chừng con hoài rồi hổng lo đi mần ăn sao!

Ông Sáu chắc lưỡi, giọng đã hơi dịu xuống:

– Thiệt cái con ngựa bà trời nầy nó cứng đầu cứng cổ quá! Hổng biết tới chừng nào tao mới hết khổ vì mầy.

Con Lụa nhoẽn miệng cười:

– Ai biểu ba lãnh nuôi con làm chi?

Ông Sáu day qua con Hạnh và dịu dàng bảo nó

– Thôi cháu vào nhà nghỉ đi… Bác lỡ kẹt vô chuyện này thì…kẹt thêm một chút nữa cũng hổng chết chóc gì, nhưng mơi nầy bác sẽ dẫn cháu đi kiếm anh của cháu… Bác nói dứt đạt như vậy, sau đó bác không dám chứa cháu thêm một giờ một phút nào nữa đó nghen!

Con Hạnh mừng rỡ gật đầu:

– Cháu ngủ đỡ một đêm thôi mà ông Sáu. Cám ơn ông Sáu nhiều lắm!

Ông Sáu đứng lùi về phía sau nhường cho con Lụa và con Hạnh cặp kè nhau đi vô nhà. Nhìn theo hai đứa trẻ mồ côi mà cha của chúng lúc còn sống đã từng coi nhau như kẻ tử thù, ông Sáu thở dài lẩm bẩm than thở một mình:

– Thiệt oan gia tương báo gì đâu… Đối đế quá mình mới chứa hai đứa nó chung nhau như vậy…

Sáng sớm hôm sau, ông Sáu sửa soạn dắt con Hạnh đi tìm anh. Con Lụa quấn quít một bên con Hạnh và không quên căn dặn ba Sáu của nó:

– Nếu kiếm nhà của anh con Hạnh không ra, ba Sáu nhớ dẫn nó dìa đây nghen!

– Nếu tao kiếm nhà của thằng nhỏ đó không ra thì tao dắt luôn con nầy trả vô trường của nó chớ để nó ở đây sao được! Nó còn có má của nó chớ bỏ như mày sao!

Con Lụa mau miệng đáp

– Nhưng má nó bỏ nó dông mất rồi! Hồi tối nằm ngủ với con, nó nói thiệt rằng má nó bán nhà bán cửa, bán đất bán vườn đi theo cái ông thầy giáo mất tiêu rồi!

Ông Sáu chưng hửng quay hỏi con Hạnh

– Sao cháu biết? Hồi tối cháu nói má cháu đi buôn mà!

Con Hạnh rươm rướm nước mắt:

– Cháu đoán chừng chừng như vậy. Hồi tối cháu nói như vậy là vì cháu sợ bị người ta kêu ngạo cháu… (đến đây nó hăng hái tiếp thêm)… Mà ông Sáu nghỉ coi! nếu má cháu hổng đi theo thầy giáo thì má cháu đâu có bán đến nhà đất của ba cháu như vậy?… Hèn chi thầy giáo cứ bắt hai anh em cháu ra ngoài này học, và còn không cho hai đứa ở chung nhau nữa. Thẩy muốn cho ba mẹ con cháu lạc nhau mất mà!

Ông Sáu nhíu mày suy nghĩ rồi khẽ lắc đầu:

– Chưa chắc như vậy đâu! Cháu còn nhỏ nên đừng có nghĩ tầm ruồng hổng nên, Thôi theo bác đi hỏi thăm về vụ thằng anh của cháu để rồi bác còn phải ra chợ nữa…

Con Lụa nói xen vô liền:

– Ba Sáu nghỉ đại một bữa hổng được sao?

Ông Sáu cười khan:

– Mầy nói sao dễ nghe quá! Tao đi mần kiếm ăn chớ bộ đi học như mầy sao mà muốn bỏ trốn lúc nào thì bỏ!

Con Lụa xẻn lẻn nhìn con Hạnh:

– Con trốn học hồi nào đâu? Con còn mắc lo chuyện nhà cửa nữa chớ bộ rảnh rang lắm sao?… À, Ba Sáu để con Hạnh ở đây đi học cho có bạn với con thì con biệt thèm trốn nữa đâu!

Ông Sáu lắc đầu:

– Mày giỏi có chuyện… hổng có không hè! (đoạn ông ta day qua níu tay con Hạnh) Đi cho sớm cháu, bác còn phải ra quét chợ va kiếm mối khiêng vác cho mấy người bạn hàng nữa… Cha, cái điệu ra trễ nầy, bữa nay kêu ai lo đây.

 Con Lụa hấp tấp bước theo để căn dặn ông Sáu:

– Nếu ba Sáu kiếm nhà thằng anh con Hạnh hổng ra thì dắt nó dìa đây nghen! Ba mà giao nó cho ai…

Ông Sáu đáp chận ngay để đỡ mất thì giờ:

– Được rồi. Nếu hổng kiếm ra thì tao dẫn nó dìa; cho mầy nuôi nó nghen!… Đất địa ở đây bằng một bụm tay mà làm gì tao kiếm hổng ra đó mậy!

…Nghe con Hạnh nói anh nó ra ngoài nầy đi học nghề nên ông Sáu Giò hỏi thăm thẳng tới trường dạy ‘‘tập nghề’’ và phăng lần tới ông giáo nuôi cơm tháng thằng Long.

Nhưng ông giáo nầy lại cho biết: thằng Long chỉ ở nhà ông chứa tới một tuần rồi có người nhà của nó (cũng người thầy giáo trước đây đã đem gởi nó trọ học ở đó) đến xin lãnh ra để đưa nó đi học nơi khác cho tiện hơn. Ông Sáu đành tiu nghĩu dắt con Hạnh về.

Ra đến ngoài đường, con Hạnh lên tiếng trách móc ông liền:

– Đó, cháu nói đúng у bon mà ông hổng chịu tin! Rõ ràng là thằng cha thầy giáo nó kiếm chuyện dời anh Hai đi nơi khác cho hai anh em cháu khó gặp nhau để bàn tán kia nọ và má cháu cũng… ngại đi thăm nom hai đứa nữa!

– Biết đâu chừng thẩy lo cho việc học hành của thằng anh cháu sao đó nên thẩy mới làm như vậy. Mà thôi để bác dẫn cháu về cho con Lụa…

Con Hạnh nôn lên:

– Thiệt hả ông! Thôi ông cho cháu ở luôn với chị Lụa, chớ nếu ông trả cháu vô trường rồi má cháu đi mất ai vô trả tiền ăn học đây?

Ông Sáu gải đầu:

– À cái đó trong trường họ tính sao thì tính chớ bác làm sao biết được… Mà nếu cháu hổng chịu trở vô trường, thì chắc bác phải… đem cháu nạp ở dưới bót để cho ông Cò ổng định liệu…

Con Hạnh lớn tiếng cự nự:

– Cháu có tội gì đâu mà đem giao cháu cho ông cò chớ?

Ông Sáu nhăn nhó chắc lưỡi:

– Cháu hổng biết.. bác giao cháu cho ông Cò để kiếm người ra lãnh cháu…

– Ai đâu vô lãnh ông thử nói coi?

– Nếu không có ai thì ông Cò ổng gửi cháu cho mấy dì phước nuôi…

Con Hạnh đứng khựng lại, nhìn ông Sáu đăm đăm rồi nói gọn lõn:

– Thôi ông đi về một mình đi!

Ông Sáu trợn mắt:

– Coi, sao lạ vậy?

Con Hạnh thản nhiên đáp:

– Ông thây kệ cháu đi, cháu muốn đi đâu thì đi, ông khỏi mắc công gì hết.

Ông Sáu bước lại lôi nó đi rồi cằn nhằn:

– Thiệt con nhỏ nầy quá cỡ mà! Đã gánh con kia rồi bây giờ lại gặp thêm con nầy nữa!

Nhận thấy con Hạnh còn rị lại chưa chịu đi, ông ta vội nói thêm:

– Được rồi, bây giờ cháu dìa nhà bác ở đỡ đi rồi bác tốc vô trong Tân Thới cho kịp chuyến xe đò ‘‘tài nhì’’ sáng nầy…

– Chi vậy ông Sáu?

– Thì bác cũng vô trỏng hỏi đầu đuôi mọi việc về chuyện… thím Hương với thầy giáo coi ra làm sao rồi bác mới tính được…

Con Hạnh hăng hái chận lời:

– Cháu ăn cá với ông Sáu là cháu nói hổng có sai chạy chút nào hết… Mà nếu đúng như vậy, ông Sáu đừng… đuổi cháu nữa nghen!

Ông Sáu chép miệng thở ra:

– Ai đuổi cháu tế mồ tế tổ gì… Phải tình cảnh cháu như con Lụa thì… dễ quá, đằng nầy còn có thím Hương sờ sờ ra đó… rủi mai kia mốt nọ thím phát đơn kiện bác rủ rê dụ dỗ cháu thì… hổng phải dễ dúng gì đa!

Con Hạnh đáp liền:

– Cháu nói má cháu bỏ hai anh em cháu rồi mà ông Sáu! Ông Sáu hổng tin thì về trỏng hỏi coi! Thằng cha thầy giáo nó xúi như vậy mà!

Ông Sáu nghiêm mặt lại:

– Thì để bác dìa trỏng rồi mới tính được… Mà cháu ở ngoài này rủi… có ai nhìn ra cháu hỏi thăm thì cháu cứ nói là cháu mới lợi ở nhà bác, nhứt là kể cho rõ là… tình cờ cháu đi ngang qua gặp con Lụa nên ở nán lại đó chơi… Nhớ cho kỹ, đừng nói dong dài bất kỳ chuyện gì khác đó nghen! Cháu mà bép xép bậy bạ thì chẳng những họ lôi cháu đi, mà bác đây cũng dám vô nằm ăn gạo lức lắm nghen cháu!

Con Hạnh gật đầu lia lịa

– Cái đó ông Sáu khỏi phải dặn mà!… 

Vừa thấy ông Sáu bước vô nhà, con Lụa bỏ con Hạnh ngồi đó chạy ùa ra, hỏi dồn:

– Sao ba Sáu? Ở nhà con đợi ba Sáu muốn hụt hơi! Thiệt đúng như vậy phải hông?

Ông Sáu không trả lời thẳng câu hỏi ấy mà quay qua rầy quở nó.

– Còn mầy sao giờ này mầy hổng chịu đi học? Đã dốt đặc lại còn làm biếng nữa! Con nầy hổng đánh nó hổng đựợc mà!

Con Lụa cười mơn

– Con ở nhà…giữ con Hạnh mà ba!

Vừa lúc ấy, con Hạnh cũng bước ra lo lắng hỏi ông  Sáu:

– Ông đi vô trỏng…thế nào đó ông Sáu?

Ông Sáu ngó lơ sang chỗ khác:

– Thì bác hỏi thăm bà con lối xóm…

– Họ nói sao hả ông?

– Thì…họ nói vậy vậy đó… (đoạn ông ta chép miệng thở dài) Thiệt bác nghĩ tình cảnh hai anh em cháu cũng tội nghiệp quá chừng!

Con Hạnh nói liền:

– Đó ông Sáu thấy chưa? Cháu có đặt điều chút nào đâu!… Bây giờ ông Sáu cho cháu ở luôn đây nghen?

Con Lụa lớn tiếng chen vô:

– Thì mầy ở đây chớ còn đi đâu nữa!

Ông Sáu đưa mắt lườm cô con gái nuôi:

– Mầy giỏi nói hớt hoài! Nó ở đây rồi mầy nuôi nó nghen?

Con Lụa hăng hái gật đầu:

– Được mà ba Sáu! Để con thôi học đi bán cà-rem cây cũng đủ tiền nuôi nó cho ba Sáu coi!

– Mầy giỏi! Nhưng rủi ro má nó thưa kiện bắt tao ở tù thì mầy chết đói nhăn răng nghen Lụa!

Con Hạnh vội đỡ lời:

– Cái chuyện đó ông Sáu khỏi lo, má cháu hổng thưa ông Sáu đâu! Má cháu bỏ đi như vậy thì còn kể gì tới hai anh em cháu nữa!

– Nhưng cháu ở đây đâu chắc bác đủ sức nuôi cháu  cho nên vóc nên người…Hay là cháu chịu khó vô nhờ mấy dì phước…

Con Hạnh mếu máo đáp:

– Nếu ông hổng chịu chứa cháu thì cháu đi chỗ khác, chớ ông đem nhốt cháu vô trường học hay vô nhà mấy dì phước thì thế nào cháu cũng trốn đi…mà nếu trốn không được thì cháu cũng chết mòn ở trỏng.

Ông Sáu có vẻ ái ngại:

– Cháu nói vậy chớ rồi cháu khuây khoả lần hồi…

– Ý trời ơi, ở đây có chị Lụa cháu mới mau quên, chớ ở trỏng…cháu nhớ hoài hoài hè!

Con Lụa sốt ruột cự nự ông Sáu:

– Nó nói phải mà sao ba Sáu cứ đẩy nó ra hoài vậy! Mọi khi ba Sáu dễ chịu lắm mà!

ông Sáu mỉm cười, giơ tay cú nhẹ vào đầu nó:

– Thằng tía mầy chớ dễ chịu! Mầy cũng để tao suy nghĩ cặn kẽ chớ!

Con Lụa làm bộ cau có:

– Ối, có chút xíu đó mà ba Sáu cũng rắc rối quá tổ mẹ! Cho nó ở đại đi hổng được sao!

Ông Sáu thở ra như chịu thua:

– Thôi tao cũng xin..‘‘bái luôn mầy’’! Được rồi, tao ráng nai lưng ra lãnh thêm một cục nợ nữa cho đủ cặp!

Con Lụa nắm lấy tay con Hạnh, reo lên:

– Ba Sáu chịu rồi đó nghen! Phải tự nãy giờ Ba ‘‘ừa’’mẹ nó một tiếng phứt cho rồi…

Ông Sáu giơ ngón tay điểm mặt nói:

– Mầy hổn vừa vừa nó nghen! Mày hổng thấy con Hạnh nó ăn nói có khuông phép đàng hoàng đó sao! Tao để nó ở đây thì mầy ráng bắt chước nó bỏ bớt cái giọng… du côn đó đùm tao một chút!

Con Lụa vừa cười vừa cãi lại:

– Nó là con nhà giàu nên nó quen ăn nói như vậy, bây giờ nó còn phải học theo con nữa!

– Hứ, học theo mầy để lớn lên ra ngoài chợ đi ăn mày, rồi tối tối leo lên mấy thớt thịt ngủ đó phải hông?

Hai đứa nhỏ nhìn nhau cười xòa, đoạn níu tay bước vào trong.

Bỗng như nhớ trực điều gì, ông Sáu vội lên tiếng kêu con Hạnh:

– Nè cháu, bác cho cháu ở đỡ đây để khi nào dò là được tin tức của bà Hương Quản thì cháu phải đi với bả đó nghen!

Con Lụa ngó ngoái lại trả lời hớt:

– Thì Ba Sáu kiếm má nó cho ra bây giờ đi, rồi nó dìa liền cho mà coi!

Ông Sáu đành…mắng át đi

– Con nhỏ nầy sao xẻo sự quá!

Nhưng rồi ông Sáu lại nhún vai, đứng yên nheo mắt nhìn hai đứa nó vừa sánh vai đi vào nhà, vừa nói chuyện huyên thiên… 

Thím Hương vừa căng treo tấm màn màu xanh dương lợt nơi cửa buồng ngủ, vừa lên tiếng hỏi anh GiáoTư:

– Anh coi em sửa soạn nhà cửa của mình như vầy có được hông?

Anh Tư đang nằm dài trên chiếc ghế xít đu hút thuốc, vội đứng rột dậy chạy đến ôm ngang hông người tình:

– Tay em là tay tiên nên làm cái gì mà lại chẳng khéo chẳng đẹp! Cha, sao anh coi giống cái buồng của cô dâu quá!

Thím Hương gạt nhẹ tay của anh ta ra cau mày cự nự:

– Anh sao hổng có ý tứ gì ráo! Rủi ở ngoài đường có ai đi qua dòm thấy thì sao!

Anh Tư cười rè

– Thấy khỉ gì được! Vậy chớ em có công treo màn nầy làm chi!

Thím Hương xẻn lẻn nói sang chuyện khác:

– Anh nói buồng này giống buồng của cô dâu hả? Xí, cô dâu gì mà dắt nhau trốn chui trốn nhủi у như là dân ăn trộm ăn cướp gì đâu á!

Anh Tư nhăn mặt:

– Thì em nghĩ coi mình phải làm như vậy để đợi đôi ba năm nữa cho mọi chuyện nguôi ngoai rồi thì mặc tình mình muốn đi đâu cũng được hết. Nói là nói vậy chớ ngay bây giờ, hai đứa mình về ở tuốt dưới Trà Ôn này, xung quanh toàn là người xa lạ thì có ai dòm ngó để ý gì đâu!

Thím Hương, bỗng xụ mặt xuống, thở dài:

– Được phần này thì lại mất phần kia… Mình ở dưới này thì càng… xa hai đứa nhỏ…

– Cái gì mà xa? Đường tàu đường xe gì cũng nội trong một ngày hai bận lên Cần Thơ rồi trở về nhà kịp hết có điều ở đây xứ lạ, trái ngõ đường nên bà con chòm xóm ở chỗ cũ khó lòng có dịp gặp hai đứa mình được, vậy thôi!

Thím Hương tươi nét mặt lại:

– Nếu vậy để chúa nhựt tới đây anh cho em lên trển thăm hai đứa nhỏ nghen?

Anh Tư khe khẻ lắc đầu:

– Không phải anh không rõ lòng em nhớ thương mấy đứa nhỏ, nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh thấy có chỗ không nên em à! Mình có lên thăm con Hạnh và thằng Long thì chỉ làm cho hai đứa nó thêm bịn rịn nhớ nhà, nhứt là hai đứa nó mới có vô học chừng tháng nay chớ gì!

Thấy thím Hương làm thinh, anh Tư đưa tay ôm lấy vai thím kéo lại ngồi bên cạnh giường:

– Phần em, em có lên trển gặp mấy đứa nhỏ… nhiều lắm là cũng chỉ đôi ba giờ đồng hồ rồi sau đó lại sanh ra quyến luyến nhớ thương tụi nó thêm… Như vậy em thêm buồn chớ chẳng ích lợi gì. Đó là anh chưa nói đến trường hợp con Hạnh ở một nơi, thằng Long ở một nẻo, em biết đi thăm đứa nào mà bỏ đứa nào!

Thím Hương phụng phịu cằn nhằn anh Tư:

– Ai biểu anh đem gởi thằng Long đi nơi khác chi!

– Coi, em cũng đã bằng lòng nữa mà! Anh làm cái gì anh cũng hỏi qua em hết, nhứt là về vấn đề hai đứa nhỏ. Em phải biết anh tính chi ly từ đồng xu cắt bạc, thế cho nên để hai đứa nó ở riêng ra như vậy tốn hao lắm, nhưng mình không thể làm khác hơn em à. Để cho con Hạnh và thằng Long ở chung một chỗ thế nào hai đứa nó cũng… ngày một ngày hai bàn tán nọ kia, rồi nó hiểu lầm là em bỏ bê chúng nó rồi… Em phải biết con nít nó không biết suy nghĩ thiệt hơn nên nó dám làm liều lắm đó em!

Thím Hương thở dài:

– Thì em cũng biết như vậy nên em mới nghe lời anh răng rắc đó.

Anh Tư nâng cằm thím Hương lên:

– Em cưng, em cứ tin nơi anh đi! Em nên biết rằng anh lo cho hai đứa nhỏ còn hơn là em nữa, và nếu đôi khi anh có vẻ… ích kỷ, hơi hơi ích kỷ một chút thôi, thì em cũng nên hiểu rằng đó là vì ahh… nghĩ rất nhiều đến hạnh phúc của hai đứa mình…

Thím Hương đưa tay nâng niu vuốt mớ tóc xỏa xuống trước trán của anh Tư qua một bên, rồi nhí nhảnh nói:

– Em biết rồi! Chớ nếu không em đâu chịu… cuốn gói theo anh như vầy nè!

Anh Tư vả nhẹ vào đôi môi đang trề ra một cách rất dễ thương của Thím Hương:

– Bậy nà! Em làm như anh… rù quến em vậy!

Thím Hương nhích lại gần thêm một chút nữa

– Chớ hổng phải vậy sao?

Anh Tư cười xòa…

Bỗng thím Hương nhoài người ra hỏi ngang:

– Ý quên nữa, nếu mình lên thăm mấy đứa nhỏ không tiện rồi làm sao đóng tiền ăn học cho tụi nó?

Anh Tư vui vẻ đáp:

– Việc đó em khỏi lo mà! Anh đã sắp đặt đâu đó hết rồi: mỗi đầu tháng mình cứ mua măng  đa gởi tiền trường, tiền ăn ở và tiền bánh cho con Hạnh và thằng Long, mình cứ gởi đều đều như vậy cũng tiện lắm em à.

– Ở phải há!

– Rồi đây lối vài ba tháng nữa chở cho hai đứa nó ăn học quen nề nếp đâu đó hết, em muốn lên thăm chúng nó lúc nào anh cũng không cản, anh còn xúi em thêm nữa là khác!.

– Vậy chớ tháng nầy anh đã gởi tiền cho hai đứa nó chưa?

– Rồi hồi đời nào… bữa anh hỏi em lấy một ngàn đồng đó! Cái gì anh cũng phải… hỏi xin bà chủ hết mà!

Thím Hương làm bộ cự nự:

– Anh đừng nói cái giọng đó em ghét lắm nghen! Bây giờ cái gì của em là của chung của hai đứa mình hết…

Anh Tư cười xòa:

– Như vậy thì em lổ nặng đa! Phần anh chỉ có cái mình trơn…

Thím Hương luồn một bàn tay vô khe hỡ giữa khoảng hai chiếc nút áo bà ba trắng của anh Tư để mân mê sờ soạn đôi bắp thịt ức khá nở nang của chàng trai ấy…

Đôi mắt lim dim, mãi một lúc sau thím Hương mới đáp bằng một giọng ngừ ngừ và nhão nhẹt như chỉ đủ hơi để thoát ra. ngoài thành tiếng nói:

– Bấy nhiêu đó… em cũng đủ cưng rồi…

Anh Tư mỉm cười cúi xuống hỏi nhỏ:

– Thiệt như vậy hén?

Thím Hương khẽ gật đầu.

Anh Tư nhẹ gỡ cánh tay thím ra rồi từ từ đứng dậy. Thím Hương mở choàng mắt ra:

– Gì vậy anh?

Anh Tư cười mủm mỉm rồi làm thinh đi lại bên cửa sổ đưa tay móc lại cái khoen bên góc chân tấm màn che bị gió thổi sút ra khỏi cây đinh tự nãy giờ… và để lộ một khoảng trống trong suốt ra tới ngoài đường.

Tự nhiên thím Hương cúi mặt xuống, cười tỏn tẻn:

– Cái anh này thiệt… hết chỗ nói!

Chiều hôm ấy, trong lúc anh Tư đang đứng trước hàng ba ngó mong ra ngoài mặt sông Bassac, vẩn vơ nhìn theo mấy chiếc ghe lưới ca chạy thì có người phát thơ thắng xe đạp trước cửa:

– Có thơ nè thầy Hai ơi!

Anh lẩm bẩm một mình:

– Ủa, ai biết mình ở đây mà thơ từ gởi lại vậy cà?

Và anh ta hỏi lại liền:

– Thơ gởi cho ai vậy bác? Chắc lộn nhà rồi đa?

Người phát thơ đưa phong thơ lên gần mắt:

– Thơ gởi cho ông Trần văn Di ở đúng số nhà nầy mà! Tui đâu có lộn!

Anh Tư vội cầm lấy bức thơ:

– Tôi đó bác! Cám ơn bác nhiều lắm đó nghen! Hút bậy chơi một điếu thuốc rồi hãy đi bác!

– Cám ơn thầy Hai, thôi tôi xin kiếu để còn đi năm sáu nơi nữa lận!

Anh Tư chậm rãi xé phong thơ ra..

Mới đọc được mấy hàng, anh ta đã vội lập cập gấp tờ giấy lại, lấm la lấm lét nhìn vô trong nhà. Vừa lúc ấy thím Hương bước ra tươi cười gọi anh ta:

– Vô rửa mặt rồi ăn cơm anh Tư! Sao em đói quá anh à! (Chợt thấy tờ giấy và bao thơ trên tay anh Tư, thím Hương tò mò hỏi)…Thơ gì đó anh?

Anh Tư lúng túng đáp:

– À… thơ của Bà đốc trường của con Hạnh học đó mà! Bà gởi thơ cho anh hay rằng đã nhận được măng đa tiền ăn học của con nhỏ…

– Vậy hả! Anh nhớ mỗi tháng gởi tiền lên đều đều cho bả nhen! Thôi vô ăn cơm đi, em đói rã ruột đây nè!

Anh Tư vội nhét lá thơ vô bao rồi đút luôn vào túi. Anh ta rối trí không biết nghĩ ra cách nào ổn thỏa nhứt để báo cho thím Hương hay một tin chẳng lành mà bức thơ kia vừa mang đến, vì ngoài việc cho biết là nhận được măng đa, bà đốc trường con Hạnh còn viết tiếp:

 ‘‘Nhơn tiện, tôi rất lấy làm áy náy báo cho ông rõ một việc chẳng lành sau đây: trò Trần thị Hạnh đã bỏ trường trốn đi biệt tích cách đây hơn một tuần lễ, và đến nay vẫn biệt vô âm tín.

Việc này tôi đã trình cớ cùng nhà chức trách và có đánh giây thép báo tin cho ông theo địa chỉ cũ và bức giây thép nầy đã được gởi trả lại vì không có ai nhận. Thời may mới đây tôi tiếp được măng đa của ông gởi lên nên rõ biết được địa chỉ mới…’’.

Anh Tư cau mày đứng suy nghĩ mặc cho thím Hương réo gọi vọng ra.. Bỗng như chợt khám phá ra một điều gì, anh Tư thọc tay nhét kỹ bao thơ xuống dưới đáy túi, và hớn hở bước vào nhà… 

Cơm nước xong xuôi, anh Tư châm một điếu thuốc đoạn thong dong bước ra đường. Thím Hương đang chỉ bảo con nhỏ ở lo dọn dẹp mâm cơm liếc thấy nên hỏi liền:

– Anh đi đâu đó, anh Tư?

– Anh đi hứng mát một vòng ra phía sân banh em à

– Anh đợi em đi với!

– Thôi em ở nhà đi! Em mới ăn cơm no đi nhiều thêm mệt chớ ích lợi gì! Nè, nhớ ở nhà bắt nồi chè bạch quả lên để tối hai đứa mình ăn chơi còn được hơn! Anh đi chút xíu anh về mà.

Thím Hương còn ráng dặn vói theo:

– Anh đi mau mau về nghe!

Anh Tư không đáp lời mà lửng thửng bước ra đường cái, đi vòng ra phía sân banh là nơi vắng vẻ, để tiện suy nghĩ thêm về bức thơ báo tin con Hạnh bỏ trường.

Gió chiều lồng lộng làm cho anh Tư thấy dễ chịu. Tin con Hạnh đi mất biệt, lúc đầu có làm cho anh Tư bối rối thật, nhưng suy đi nghĩ lại anh ta nhận thấy cũng có chỗ… hay: con nhỏ đó bỏ đi thì rảnh bận tâm một mối nợ! Như vậy má con nó dễ gì gặp lại nhau nữa!

Anh Tư vừa đi vừa gật gù như tự bằng lòng rồi mỉm cười vu vơ…

– Thầy Tư ơi, thầy Tư!

Tiếng gọi giựt ngược ở phía sau lưng làm cho anh Tư giật mình quay phắt lại.

Một đứa con trai độ mười bảy mười tám tuổi đang ráo bước lại và chưa chi nó đã nói liền một hơi:

– Ý trời ơi, tui rượt theo thầy thiếu điều mệt le lưỡi… Có chuyện cần lắm thầy Tư ơi!.. có phải thầy Tư Di đó không?

Anh Tư chưng hửng hỏi lại:

– Chú em là ai mà kiếm thầy Tư Di?

– Tui ở ngoài nhà ngủ ngang hông nhà lồng chợ đó thầy! Có ông khách mới tới mướn phòng ổng nhờ tui đi kiếm thầy có việc cần… Mà xin lỗi thầy, thầy có phải là thầy Tư Di không?…

Anh Tư gật đầu!

– Thì qua đây nè!..Nhưng qua có quen biết với ông khách nào ở đâu mà ổng kiếm qua kia ? Đâu chú em nói qua nghe coi ông nào đó?

– Ông nầy ổng dặn tôi kiếm thầy cho được và nói ‘‘người quen cũ ở Bạc-Liêu’’ muốn gặp thầy gấp để hỏi thăm thầy coi mạnh giỏi thế nào… Đó, ông khách mướn phòng ổng dặn tui nói rồi thầy у như vậy.

Anh Tư сau mày suy nghĩ một hồi rồi xẳng giọng nói.

– Qua không có quen biết một ai dưới Bạc Liêu hết ráo! Và qua cũng chẳng cần gặp một ai hết…

– Ý, ông khách đó ổng nói rất gắt lắm nghen thầy Tư! Thầy suy nghĩ kỹ càng lại coi có quen một ông nào như vậy chăng! Ổng còn dặn tui nói với thầy thêm: nếu thầy do dự không chịu lợi kiếm gặp ổng thì tới phiên ổng, ổng sẽ đi kiếm thầy… Chừng đó thầy… mệt đa thầy Tư – đó là ổng dặn tôi nói với thầy у như vậy…

Anh Tư dịu giọng xuống:

– Đâu chú em tả cho qua nghe coi vóc vạc của ổng như thế nào?

Anh bồi phòng ngắm nghía anh Tư như để có một tiêu chuẩn hầu dễ bề ước lượng;

– Ổng cao hơn thầy một chút… có bề ngang hơn… tóc hơi dợn sóng… mà không bảnh trai như thầy đâu!

Nói lén ở đây nghe thôi, chớ mặt mày của ổng coi có… cô hồn lắm!… Nhứt là ổng có một cái thẹo lớn bằng con đĩa trâu chạy vắt ngang qua gò má… bên này nè…

Anh Tư hấp tấp chận ngang:

– Thôi thôi, chú em khỏi phải tả hình dáng ổng thêm nữa! Phiền chú em về nói với ổng rằng qua sẵn lòng đến… thăm ổng. Qua cứ đi đại vô phòng ngủ rồi hỏi thăm có được hông?

– Ý tui quên dặn thầy Tư nữa! Ổng dặn tui nói ổng chờ thầy Tư vào lúc tám giờ rưỡi tối nầy, tại tiệm nước gần phòng ngủ đó – chắc thầy Tư biết chớ?

– Được rồi. Chú em đi về trước cho ổng hay đi – (đoạn anh ta bực dọc cằn nhằn)… Sao bữa nay nhiều chuyện rắc rối quá chừng!

 Anh kia ngạc nhiên quay lại hỏi.

– Thầy nói chi vậy thầy Tư?

Anh Tư lắc đầu gượng cười đáp:

– Không.. Qua nói chuyện riêng hổng ăn nhằm đến chú em hết.. Thôi chú em về nói đùm với ông khách rằng qua sẽ у hẹn đến thăm ổng, mà chú em nhớ đừng… học lại cho ai hay biết một điều gì ráo hết nghen !

Anh kia ưỡn ngực lên, giọng tự phụ:

– Thầy khỏi dặn mà thầy Tư! Tui làm nghề này năm sáu năm, nếu bép xép cái miệng thì… dễ gì sống nỗi đó thầy!

Anh Tư đưa tay vẫy chào

– Tôi dặn phòng hờ vậy mà! Thôi chú em về trước đi nghen? 

Thím Hương đập một cái trứng gà ra, gạn bỏ tròng trắng rồi cho vào bát chè bạch quả đường phèn nóng hôi hổi, đoạn bưng lại cho anh Tư:

– Đây phần của anh… ủa, mà sao anh không thay quần áo ra lại đóng у nguyên trọn bộ vậy?

Anh Tư đỡ lấy chén chè, gượng cười rồi ấp úng đáp:

– Cha, chè ngon quá ha!… À, anh còn phải đi… có công chuyện em à.

– Chuyện gì mà giờ nầy nè?

– Chuyện… buôn bán làm ăn đó mà ! Bộ em tính hai đứa mình cứ ở không rồi hú hí nhau được sao? Mới đây có người anh vừa làm quen, họ rũ anh hùn hạp làm ăn… họ vừa cho người tới mời anh lên nhà họ bàn tính việc gì gấp lắm…

– Để mai hổng được saọ?

– Trời ơi, chuyện làm ăn… mình cần tới người ta…

Thím Hương phụng phịu:

– Bộ anh nói em hổng đủ sức nuôi anh sao mà phải cần tới họ?

Anh Tư chắc lưỡi:

– Đã đành như vậy rồi, nhưng mình phải nghĩ tới chuyên lâu dài chớ em! Thêm nữa, thân phận anh là đàn ông con trai mà cam chịu nhờ nhõi… vợ hoài coi cũng kỳ. Người ngoài họ không biết xầm xì nọ kìa phiền lắm!

– Xí, anh sống cho người ngoài hay là anh sống vì em hả? Miễn em rõ bụng anh là được rồi.

– Em nói vậy chứ anh cũng có cái tự ái riêng của anh chớ! Mà anh đi chút xíu anh về chớ bộ ngủ luôn ở nhà người ta sao!

Thím Hương bỗng quắc mắt lên:

– Hay là anh kiếm chuyện để thăm con nào đó? Chắc vậy rồi!

Anh Tư thở ra một hơi dài

– Ý trời ơi, hai đứa mình mới dắt nhau về đây ở chưa đủ ấm chỗ nữa thì làm sao anh có dịp quen biết ai mà em ghen bóng ghen gió hổng biết. Nói không phải để nịnh em, từ ngày anh gặp em cho tới bây giờ thì đối với anh, đàn bà con gái trong thiên hạ, anh coi chẳng ra cái khỉ móc gì hết!

Thím Hương vả nhẹ vào má anh ta:

– Anh thì chỉ giỏi lẻo mép!

Anh Tư quàng lấy vai ngươi tình, cười mơn

– Em bằng lòng cho anh đi hén! Một chút xíu anh về với em mà !

– Một chút xĩu xiu xíu đó nhen! Anh để em đợi lâu thì anh biết!

Anh Tư vội vã ăn cho hết chén chè rồi đứng dậy căn dặn thím Hương:

–  Em đừng đóng cửa trước làm gì, anh về liền đó mà! (đến đây, anh ta kê sát tai thím Hương thì thầm )… Anh bỏ em một đêm đâu có được!

Thím Hương gật đầu, cười lỏn lẻn:

– Em… cũng vậy…

Anh Tư âu yếm nhìn lại thím trong một giây rồi hối hả bước ra đường…

…Anh Tư đi rảo ngang qua tiệm nước, liếc mắt nhìn vô trong để xem ‘‘người khách lạ’’ ấy ngồi chỗ nào… Hắn ta ngồi lù lù ở ngay bàn đầu như cố ý để cho ai muốn tìm thì sẽ nhận ra hắn ta ngay.

Anh Tư làm tỉnh quay trở lại, chậm rãi bước vô quán và khi hai người chạm trán nhau, anh ta, tuy đoán trước được người mình sắp gặp gỡ mà cũng phải kêu sẽ lên mấy tiếng:

– Trời, anh đó hả?

Khách lạ mỉm cười gật đầu:

– Anh nhớ dai đa! Thì tôi đây… chớ bộ anh vái cho tôi chết biệt đi à!

Anh Tư nhăn nhó

– Anh đừng nói như vậy… nhưng anh muốn kiếm tôi có chuyện chi? Mà sao anh biết tôi… về ở đây?

Khách lạ đứng dậy, tươi cười đáp :

– Việc đó, để thủng thính rồi tôi sẽ cho anh rõ, còn bây giờ xin mới anh vô trong bàn trong ngồi… như vậy dễ nói chuyện hơn.

– Anh làm ơn nói đại hổng được sao? Tôi cần phải về gấp.

Khách lạ vổ vai anh ta:

– Cha, hai ông bà khắn khít nhau quá há!  Thiệt làm như đôi sâm bắt cặp! (Đến đây, hắn ta nghiêm giọng lại) Nè anh Tư; anh gặp tôi như vầy… anh hổng mừng sao anh? Anh hổng muốn hai đứa mình, hàn huyên với nhau… lâu lâu một chút sao? Thôi vô đây anh!

 Anh Tư đứng nhăn nhó một hồi rồi đành nối gót đi theo người khách lạ vô ngồi ở phía bàn trong cùng của tiệm nước.

Người khách lạ lên tiếng trước:

– Sao, tôi nghe nói anh mới trúng mối này lớn lắm mà!

Giọng anh Tư có vẻ hơi cự nự:

– Tôi trúng mối gì đâu hả?

Người khách lạ giơ bàn tay ra như muốn chận lời anh Tư:

– Ê, đừng có nổi nóng nghen ta! Bà Hương quản đó… hổng phải là mối lớn sao cha nội?

– Anh đừng có nói bậy như vậy… tôi với thím Hương thương yêu nhau thiệt tình…

– Dẹp chuyện đó qua một bên đi! Tôi đâu phải là con nít lên năm lên ba mà để anh tính chuyện mà con mắt, tôi chớ!

Anh Tư đành xuống nước hỏi lãng ra:

– Mà sao anh biết, tôi ở đây hay quá vậy?

Người khách lạ cười xòa:

– Anh thiệt…tệ!…Bị anh lậm hơi con mẹ Hương riết rồi sanh ra u mê ám chưởng! Tôi còn nhớ hồi trước, trong làng mình anh là người thông minh ăn học giỏi lắm mà!

Anh Tư nhún vai lặng thinh.

Người khách lạ khẽ nhích mép cười:

– Mới rồi anh có hỏi tôi vì sao tôi biết anh ở đây phải hông? Dễ quá: hồi anh đi trước rồi kế thím Hương lót tót theo sau cách đó bốn ngày, hai chuyến đi của hai người tôi đều để ý nom theo hết… Người ngoài không có dính dáng gì vô chuyện này thì ai đâu nhọc công tốn của đi theo mấy người làm gì!

Anh Giáo Tư trợn mắt:

– Nói vậy anh cũng có mặt ở Tân Thới sao?

– Cũng gần như vậy.

– Sao anh biết tôi… có ở trển?

Người khách lạ thở ra.

– Đó cũng là một sự tình cờ… Chắc trời xui đất khiến như vậy!

– Hừ! … Mà anh ở trển từ hồi nào vậy? Sao tôi không thấy ló mặt ra đâu hết cả?

Người khách lạ ngó mong ra ngoài đường:

– Từ ngày… có những đám cướp của tên… Ba Câu. Cái này chắc anh rành lắm: tôi nghe nói anh cũng lo viết báo cáo lập vi bằng cho thầy Hương quản Nam nữa mà!

Anh Tư nhìn đăm đăm vào mặt khách lạ, rồi cười gằn:

– Nói vậy anh đây là tên đồng đảng của Ba Câu phải không?

Khách lạ đáp gọn:

– Đúng.

Anh Tư tươi cười đứng dậy chống hai tay lên mặt bàn:

– Tự anh, anh khai ra đó nghen! Thôi tôi xin kiếu anh, bây giờ tôi kể như không có chuyện gì hết giữa hai đứa mình…

khách lạ thản nhiên hỏi lại:

– Sao vậy?

-… Vì bây giờ kể như hai đàng, nghĩa là tôi với anh đều huề hết! Tánh tôi dễ dãi và cũng không ham kiếm chuyện nên tôi mới kể là huề đó, chớ phải tôi là người khác… tôi đi cáo báo cho làng quận thộp anh thì tôi còn càng… nhẹ mình hơn nữa! Nhưng thôi, chỗ quen lớn cũ mình cũng nên… châm chế một chút!

Khách lạ cười rộ lên, rồi níu tay anh Tư kéo xuống:

– Khoan đã! Ngồi xuống đây một chút nữa mà bậu! Thiệt thằng cha này tính chuyện đời một cách dễ dàng quá…

Nói đến đây người khách lạ bóp mạnh lấy cánh tay anh Tư làm cho anh ta nhăn nhó hất mạnh ra và lên tiếng cự nự:

– Anh đừng ép buộc tôi… xử tệ đa nghen!

Khách lạ cười rè:

– Tôi thách anh đó! Bằng cớ gì đâu hả?

Còn anh, tôi nắm mạng sống của anh trong túi này (vừa nói hắn vừa đưa bàn tay vỗ nhẹ vào túi quần sau nơi có để chiếc bóp da dày cộm) Anh quên rằng anh đã có viết cho tôi một tờ giấy… một tấm giấy nợ trả bằng mạng sống của anh… Bộ anh quên rồi hả?

Anh Tư lặng thinh lập cập móc bao thuốc hút một điếu… Anh ta lấy hộp quẹt máy ra quẹt bốn năm cái liền mà vẫn chưa bắt lửa.

Khách lạ mỉm cười đưa tay giành lấy hộp quẹt, quẹt một cái là lửa phựt cháy lên liền đoạn trao qua cho anh Tư đốt thuốc. Xong xuôi đâu đó, hắn ta mới chậm rãi lên tiếng:

– Nè anh Tư, nếu lâu ngày anh quên chuyện cũ thì dễ tôi nhắc sơ lại cho anh nhớ… Mà có lâu khỉ gì đâu, mới có năm năm trở lại đây, hồi đó anh còn ở dưới Bạc Liêu… và cũng do sự tình cờ mà tôi được… quen biết với anh…

Anh Tư cười mũi

– Tình cờ khỉ gì! Cái nghề của anh là hay rình rập…

– Cũng đúng một phần nào, nhưng gặp đúng anh và… ngay vào lúc đó thì kể ra… tình cờ thiệt đa ông bạn.

Rồi giọng hắn ta trở nên xa xăm:

– Phải rồi, tôi còn nhớ bữa chiều hôm đó tôi lò mò sang làng anh ở – cái này hổng phải chuyện tình cờ đâu nghen – dọ sơ mấy đám để tính chuyện ăn hàng sau nầy… Cha cái làng gì mà nhà giàu nhiều quá cở… Chiều hôm đó, tôi vừa đi dọ qua cái chuồng trâu nơi nhà ruộng của ông cả Tám… Cha, cả một bầy trâu mập cùi cụi, tôi lại quen nhiều với mấy tay chủ phồn chuyên môn chứa trâu lậu. Tôi mà lùa bầy trâu của ông cả này về cho mấy chả sửa ‘‘xoáy’’, uốn lại sừng và cấp cho mỗi con một cái bài chỉ mới thì… khoẻ quá. Mối lớn đó anh Tư!

Anh Tư cau có:

– Thôi mà!

– Bận đi về, tôi lội băng đồng cho mau và trong lúc đang hí hửng vì món lợi đầy hứa hẹn ấy thì bỗng nghe có tiếng người la ú ớ trong đám sậy gần bên đìa – tiếng của một đứa con gái…

Anh Tư lấm lét ngó xung quanh:

– Thôi mà anh! Chuyện cũ bỏ qua cho rồi!

Khách lạ vẫn thản nhiên kể tiếp bằng một giọng nho nhỏ đều đều:

-… Tôi nghĩ thầm trong bụng ‘‘Chắc cô cậu chăn trâu nào đây buồn buồn dẫn vô đám sậy… làm cái chuyện học mót được của người lớn… Nói nào ngay trong lúc đó trong lòng tôi cũng hơi vui vẻ và cao hứng đôi chút nên mới lọ mọ lách mình vô đám sậy đi lần về phía chỗ có tiếng la đó…

Tôi thấy một chàng con trai – anh đó nghen – đang vật lộn dữ dội với một đứa, con gái nhỏ, mười lăm tuổi là cùng… Con nhỏ quần áo rách nát… À cái nầy không phải là chuyện… mèo chuột thông thường rồi ! Tôi tính nhảy vô cứu con nhỏ nhưng nghĩ đi nghĩ lại… mình dấn thân qua đây để dò đường đi ‘‘mần ăn’’ chớ bộ đi làm…  ‘‘nghĩa hiệp’’ hay sao mà mắc mớ gì lại nhảy xổ vô chuyện… của tụi trai gái. Tốt hơn hết làm khách bàng quan, vừa thủ thân vừa…rửa con mắt… Con nhỏ la hét rồi ú ớ, rồi nín bặt… tôi thầm phục tài của anh, nhưng sau đó, tôi chi xiết hãi hùng khi thấy anh xong rồi… anh đứng dậy lôi con nhỏ… nằm xuôi cò đó… đem chùi luôn xuống dưới nước đìa!

Nói đến đây, người khách lạ khều nhẹ anh Tư:

– Anh thiệt ẩu! Trong đời… cường san lạc thảo của tôi cũng có lúc… vì bắt buộc hay vì rũi ro tôi để… mãn phần đôi ba người, nhưng gẫm lại, làm như vậy… còn có lý hơn, đằng nầy anh… đè một đứa con nít rồi phóng nó xuống đìa như vậy… đến tôi đây thấy qua mà còn phải rụng rời kêu lên bốn năm tiếng  ‘‘trời trời’’… liền khi đó tôi không nghĩ suy nữa nhảy vô liền và chận anh lại…

Anh Tư liếc xéo người khách lạ, giọng hằn học

– Phải chi hồi lúc đó, tôi có một khúc cây, một con dao trong tay…

Khách lạ mỉm cười nối lời:

-… Thì anh cho tôi đi luôn theo con nhỏ đó phải hông?… Bây giờ anh nói bảnh như vậy, chớ hồi đó, tôi còn nhớ không sót một mảy may: anh thấy tôi nhảy vô anh hoảng kinh hồn vía toan phóng chạy… Tôi nhào theo chụp anh lại liền. Anh hụp xuống… lạy tôi như tế sao, rồi anh móc bóp ra đưa cho tôi, thấy tôi không nói gì anh bèn lột luôn chiếc đồng hồ đeo tay, rút luôn cây viết máy ‘‘kao-lô’’ trao thêm…

Khách lạ bỗng phát cười rú lên, rồi thấp giọng nói tiếp:

– Thiệt anh cũng dại: anh có biết đâu rằng tôi nóng mũi nhảy vô đại vậy thôi chớ đời nào dám bắt anh đem nạр cho làng xã mà anh sợ ! Tôi muốn yên thân đi mần ăn chớ dính vô chuyện của anh làm chi để rồi phải ra Iàm chứng cho mấy ông hương chức hạch hỏi lôi thôi…

Anh Giáo Tư thở dài!

– Phải hồi đó tôi… như vầy thì anh khỏi có lộn xộn!

– Bây giờ anh…như vầy tôi cũng…lộn xộn như thường! Mà thôi để tôi kể cho hết câu chuyện cũ đó cho anh có dịp cân nhắc kỹ rằng… dầu sao, cũng còn lâu lắm anh mới qua mặt nổi tôi! À, hồi nãy tôi nói tới đâu rồi cà?..Ờ, lúc đó anh đưa bóp, đồng hồ, viết máy ra để… trám miệng tôi, và tôi rất… sẵn lòng nhận liền – nhận phứt để rồi còn dông đi chớ – nhưng trước khi từ biệt anh, tôi tằn mằn mở bóp ra cốt ý coi… phía trong bóp có tiền nong gì xứng đáng với ‘‘công lao’’ của tôi không, hay là ở trỏng chỉ có… vài ba con rệp khô thì phiền lắm ! Nói nào ngay cũng ‘‘khơ khớ’’… tôi vừa đút cái bóp vô túi bỏ đi thì anh chạy theo năn nỉ xin lại cái bóp không với giấy tờ để trong đó. Tôi móc tiền ra, và khi cầm tới cai giấy thuế thân của anh, tôi tò mò lật ra coi thấy để tên Trần văn Di, nghề: giáo viên. Tôi hỏi anh giáo viên gì mà nhỏ xíu tuổi như vậy, anh trả lời rằng anh làm thầy giáo vườn, thầy giáo dạy tư chớ không phải của nhà nước và anh đang dạy cho đám con cháu ông Hội đồng Sang, ăn ở luôn tại đó…

Anh Giáo Tư chép miệng:

– Cái số của tôi rủi ro cùng mình! Phải dè hồi đó tôi bỏ mẹ nó luôn giấy tờ ấy, hổng thèm đòi lại thì đâu có dây dưa lằng nhằng tới bây giờ như vầy!

– Ý, anh cũng khôn quá tổ mẹ người ta! Anh sợ tôi lấy giấy tờ của anh rồi làm chuyên bậy bạ… Được cái nầy thì mất cái kia… Liền khi biết anh ăn ở luôn trong nhà ông Hội-đồng, tui mừng thiệt hết muốn lớn ! Nhà ông Hội-đồng, giàu bực nhứt trong vùng, tôi mới thấy sơ sơ mà ham hết muốn đi, nhưng ngặt một nỗi nhà của ông nền đúc cao tới ngực, vách tường xây gạch hai mươi, song sắt cửa, cái nào cái nấy lớn bằng cườm tay, trong nhà lại có súng hai lòng… Thứ nhà bề thế như vậy, may ra chỉ có…Ngọ Ma tái thế mới vô nổi chớ tụi nầy chỉ có nước ngồi đó mà ngó… nhểu nước miếng chơi… Thiệt cũng nhờ tổ độ mà tôi mới được gặp anh. Tôi liền nhờ anh làm tay trong… mở cửa sau dùm. Anh ưng thuận liền…

Nói đến đây, khách lạ liền giơ tay ngoắc tên ‘‘phổ ky’’ trong tiệm bảo châm thêm nước sôi vào bình trà.

Anh Giáo Tư có vẻ sốt ruột:

– Thôi khuya lơ khuya lắc rồi, anh cứ nói vòng vo tam quốc hoài…

Khách uống một hớp nước nhỏ, khoan thai đặt chén xuống!

– Ậy anh sao gấp quá! Sợ về trễ bả cạo hả? Chuyện nầy tôi cần phải nói cho có ngọn ngành thì lát nữa anh mới…dễ tính…Vừa nghe tôi nhờ anh côngviệc nhỏ mọn đó, anh gật đầu liền! Tôi bụng bảo dạ: thằng này nó gật đầu mau quá cũng… hổng tốt! Tôi bèn nãy ra một ý hay: sẵn cây viết ‘‘Као-Lô’’ anh cho làm kỹ niệm đó, tôi mở nắp vặn ngòi lên, lục trong bóp móc ra một tờ giấy nhỏ rồi đặt kề trên mặt bóp, và nhờ anh viết cho mấy chữ làm bằng cớ… Tôi nói thiếu điều khô nước miếng anh mới chịu viết theo lời tôi đọc. Có vài ba hàng chữ gì đó – ‘‘Tờ thú nhận’’:

‘‘Tôi tên là Trần-văn-Di thuế thân số…nhận có cưỡng bức thị Mành, mười bốn tuổi và bóp cổ chết liệng xác xuống đìa ruộng ông Sáu Hưng vào hồi bốn giờ ngày…

Tôi xin viết tờ thú nhận nầy…” Ký tên… (nói đến đây, khách tằng hắng một tiếng to, rồi vỗ vào túi quần sau)…Tờ thú nhận ấy tôi còn cất kỹ trong bóp nầy nè anh Tư!

Anh Tư lườm ông khách

– Vậy mà hồi đó anh nói khi nào…tôi làm xong công việc, anh ăn hàng được nhà ông Hội đồng thì anh sẽ trả miếng giấy đó lại cho tôi…

Khách lạ thở ra:

– Thiệt tình tôi cũng tính như vậy. Tôi nói đây có Ba Câu làm chứng, sau cái đám đó rồi, tôi thấy anh được… ung dung tự toại tôi cũng mừng, và chỉ tội nghiệp cho mấy thằng Miên bạn ở trong nhà ông Hội đồng! Ai cũng nghi cho tụi nó thông đồng với cướp… nhứt là đêm đó tụi nầy vô, mặt mày bôi lọ nghẹ đen thui, trâm tiếng đàn thổ vang rân… Tôi tính để yên yên rồi giáp mặt anh em, trả tờ giấy đó, nhưng anh lại chơi hổng điệu, có lẽ tại anh tính khôn quá tổ mẹ người ta, nên rốt cuộc rồi mớị hóa ra dại! Anh nên nhớ kỹ rằng tụi nầy tuy thuộc vào hạng trộm cướp, dao búa nhưng đã hứa với ai thì chẳng có nuốt lời! Tôi nhắn anh ra gặp tôi để trả tờ giấy ấy cho anh và tôi lại còn nghỉ sẽ đền ơn anh thêm chút đỉnh – bề gì anh cũng có công lớn trong chuyến mần ăn ở nhà ông Hội – Phải chi anh đi ên một mình đến gặp thì êm quá!

Đằng này anh lén mạch cho làng lính đến bao vây bắt tôi sau khi anh tính lấy lại tờ giấy thú nhận ! Kể ra anh cũng khéo làm tròng làm tréo lắm, chắc vì anh ức tôi ghê gớm. Nhưng anh còn non tay ấn lắm, nội thấy cái điệu bộ cùng lời ăn tiếng nói của anh, tôi cũng đủ sanh nghi rồi! Anh phải biết trong cái nghề của tôi, tôi gần gủi với người lương thiện chơn chất thiệt thà thì ít mà đi kè kè với tụi đá cá lăn dưa, đóng cửa rút cầu, đâm cha giết chú, thì nhiều. Tôi đánh hơi sơ qua là sanh nghi nên vội vã rút lui liền, mặc dầu anh đeo dính cứng một bên…Vừa lúc ấy có những tiếng la chỏi trời, rồi mấy phát súng nổ. Làng lính nó cũng hỏng coi cái mạng anh ra đách gì hết… Tôi tưởng anh lãnh đủ cho đáng cái đời anh cho rồi, chớ đâu dè, sau đó hay tin anh vẫn còn sống nhăn. Phần tôi, một viên đạn xẹt qua gò má chỉ thiếu chút xíu nữa là bưng luôn một bên mặt rồi còn gì!

Vừa nói đến đó, khách lạ đưa tay mân mê vết sẹo trên mặt rồi quay nhìn anh Tư mỉm cười nói tiếp:

– Kể từ đó, Chín Thuộc này còn được anh em tặng thêm một biệt hiệu nữa là Chín Thẹo!

Chợt nhận thấy Chín Thuộc (tức là người khách lạ) nín bặt, anh Tư liền hỏi lại

– Bây giờ anh…tính nói với tôi cái gì đây? Chắc anh…muốn tôi trả lời về cái vịệc vừa kể đó phải hông? (giọng anh ta trở nên tha thiết)..Tôi xin chịu lỗi với anh: đúng như anh nhận xét, hồi đó tôi còn khờ lắm !…

 Nhưng bây giờ chuyện gì thì nó cũng đã qua hết rồi…Tôi sẵn lòng xin tạ tội với anh bằng một…số tiền sở phí xe pháo trà nước vì anh đã tốn công tốn của đến kiếm tôi tận dưới này. Xin anh bỏ qua mọi chuyện cũ dùm tôi, tờ giấy kia…tôi dư biết anh còn giữ cầm chừng đó thôi chớ đời nào anh thèm xài tới, vậy thì xin anh hũy nó đi cho rồi. Hổng nói dấu gì anh, tôi đang chí tâm lo lập cuộc đời mới…

Chín Thuộc cười nhẹ:

– Anh Tư, thiệt anh hổng có hiểu cái bụng của tôi, tôi có công kiếm anh đây không phải vì…cái thẹo nầy, nghĩa là không có ‘‘ơn đền oán trả’’ gì ráo! Tôi kiếm anh đây là chuyện khác, à phải rồi…đúng là chuyện cuộc đời mới của anh nói đó!

Anh Tư lấp bấp hỏi liền:

– Coi, sao lại có chuyện đó dính vô nữa cà? À, anh tính đem tờ giấy đó đến để bắt bí tôi, rồi tới vợ tôi phải bỏ tiền ra chuộc nó lại phải không?

Chín Thuộc vỗ nhẹ vào vai anh Tư:

– Cha, anh nói hai tiếng ‘‘vợ tôi’’ sao nghe trơn lu vậy! Còn cái…bắt bí đó, sao nói cũng đúng mà cũng… hổng đúng! Cái đó còn tùy sau này, nhưng dầu sau tôi cũng không dùng nó để nã tiền hai ông bà đâu – đứng về mặt tiền nong thì nó… vô giá, mười cái gia tài  sản nghiệp của ông Hương Quản gộp lại cũng  không đủ

trả đâu! Hổng chừng tôi dùng nó vào chỗ khác… chắc chỗ này tôi khỏi nói thì anh cũng dư biết cái chỗ mà anh phải trả bằng… mạng sống của anh, bằng cuộc đời tàn của vợ thầy Hương…

Anh Tư chắc lưỡi:

– Coi, anh nói anh không kiếm tôi để trả oán, mà cũng không chịu trả tấm giấy đó lại nữa…Như vậy anh đeo đuổi tôi tới dưới nầy làm cái gì hả?

Chín Thuộc vừa xoa nhẹ vào lưng anh ta:

– Đừng có nổi nóng ông bạn! Trước hết tôi hãy kể tiếp cho anh nghe…cái màn sau nầy nữa thì tức khắc anh hiểu…

Anh Tư cằn nhằn

– Ối thôi, chuyện gì tôi cũng biết, hết á! Chuyện cũ xì cũ xịt…

– Ậy chuyện cũ mà mới đó bạn ! Mà nếu anh không muốn nghe tôi cũng chẳng dám ép…

Anh Tư bực dọc chận ngang:

– Kể phứt đi cha nội!

– Vậy hả? Thì đây…Sau cái cú…đá giò của anh đó tôi buộc lòng phải đi chỗ khác gấp. Tôi và một số anh em lang bang nhiều nơi và cuối cùng trong năm rồi tụi nầy ghé qua miệt Ô-Môn, Bình-Thủy…Cha, chỗ nầy, nhà giàu nức vách, thổ ‘‘ngơi’’ tốt lành, cây trái sum sê…Tụi này thấy mà ham hết muốn đi đâu nữa!

– Hứ, tụi của anh ở đó luôn để…chết người ta hết hả!

Không để ý lời ‘‘nhận xét’’ của anh Tư, Chín Thuộc vẫn đều giọng kể tiếp:

– Nhưng ba ông nhà giàu ở đó cũng dữ lắm, tôi thiếu một chút nữa bị mấy ổng hạ, may nhờ gặp được anh Ba Câu…

– Tôi biết mà! Thằng cha Ba Câu thiệt thà chân chất như vậy mà gặp anh rồi cũng sanh ra…ham đập đầu thiên hạ! Thằng chả chết như vậy cũng đáng đời lắm!

Chín Thuộc cười mũi

– Đáng đời hay không thì tôi cũng chẳng cần biết có điều là đêm anh bị nạn, anh đã sai một đứa chạy qua báo cho tôi hay và nhờ tôi …lo dùm anh…

– Lo làm đám ma hả?

– Không.

– Lo nuôi đứa con gái mồ côi của thằng chả hả?

– Cũng không.

Anh Tư rụt rè hỏi thêm:

– Vậy thì chắc anh lo…trả thù dùm thằng chả chớ gì?

Giọng Chín Thuộc trở nên buồn rầu:

– Lo…làm cho tròn một lời hứa với một người anh em đồng sanh đồng tử thì đúng hơn…

Hồi nãy tôi có nói với anh: tụi này…giết người thì giết cũng được, nhưng giết… một lời hứa thì…hổng dám ngó tới mặt ai nữa hết! Và cũng vì việc đó mà tôi chịu khó lội xuống tới dưới nầỵ.

– Để trả thù à? Mà tôi có dính dáng gì vô vụ đó đâu! Còn thầy Hương Quản thì thẩy cũng chết rồi!

Chín Thuộc thản nhiên đáp:

– Anh không có dính dấp gì vô hết nên tôi mới để yên qua một bên. Còn thằng cha Hương quản chết thì đã có con mẹ Hương, còn có hai đứa con của con mẻ…

Anh Tư trợn mắt:

– Ý trời ơi, bộ bây giờ anh tính bắt tui đưa lối dẫn đường để giết ba mẹ con người ta sao? Lần này chết thì chết chớ không nghe đâu!

Chín Thuộc xòe bàn tay ra trước mặt như để chận lời anh ta:

– Ậy đừng có nóng! Anh coi mặt mũi tôi có phải là một tên uống máu người không biết tanh hay sao mà mỗi cái anh đều cho là tôi muốn sát sanh hại mạng! Anh hãy yên tâm về cái chuyện đó.

Anh Giáo Tư nhìn Chín Thuộc với cặp mắt hoài nghi:

– Chớ anh tính mưu sâu kế độc gì nữa đây? Anh phải biết người ta là đàn bà con nít hổng có làm nên tội tình gì…

Chín Thuộc nhún vai:

– À cái chuyện đó thì tôi xin… bất biết! Tôi đâu thuộc vào hạng người… ăn chay niệm Phật, ông Hương Quản chết thì còn vợ con của ổng, bởi vậy tôi mới tính nương tay một chút… và xin cam đoan với anh, chuyến nầy không có chuyện đổ máu đâu!

– Thôi đi anh; tôi xin anh nghĩ lại dùm. Tôi với thím Hương đang ráng hết sức để lập lại cuộc đời mới, và bây giờ cũng tạm yên rồi, hai đứa nhỏ cũng được gởi đi ăn học… Đó, anh thấy hông, anh nỡ lòng nào khuấy phá cái việc… gần thành ấy, Anh chưa bao giờ lập gia đình nên anh hổng biết…

Chín Thuộc lắc đầu chận ngay

“Xin lỗi bạn! Tôi có là học trò của anh đâu mà anh đem bài ra giảng chớ ! Tôi hỏi thiệt anh: anh tính lập cuộc đời mới với thím Hương hay là với… số gia tài của thằng cha Hương Quản để lại? Anh lo cho hai đứa đi ăn học hay là lo… tống khứ tụi nó cho biệt tăm biệt tích?

Anh Giáo Tư hớt hãi hỏi liền

– Sao anh biết… mấy đứa nhỏ… biệt tích?

Chín Thuộc mỉm cười:

– Thì thế nào mà anh chẳng sắp xếp đi đến chỗ đó! Tụi nó đi cho rảnh để…hai vợ chồng son hú hí với nhau khỏe quá mà!

Anh Giáo Tư thở ra và có vẻ yên chí

– Anh… suy bụng ta ra bụng người, chớ tôi đâu có tính như vậy. Tôi đã nói với anh, tôi với thím Hương, thương yêu nhau thiệt tình…

Chín Thuộc lắc đầu lia lịa:

– Thiệt hay không thiệt gì thì cũng… thây kệ anht. Tối nay tôi nhắn anh tới đây là để nhờ anh một việc.. một việc rất dể dàng. Nếu anh giúp tôi cho chót lọt thì kể như hai đứa mình huề nhau, nghĩa là tôi sẽ bỏ qua cái chuyện anh phản tôi và lẽ tự nhiên là tôi sẽ trả cho anh tờ giấy thú nhận mắc toi đó! Tôi giữ trong bóp hoài coi cũng kỳ…

Anh Giáo Tư nhích ghế lại thêm gần

– Anh nói sao? Một việc dễ dàng lắm à?

Chín Thuộc gật đầu:

– Phải.

– Việc chi vậy anh? Thiệt tôi mang ơn anh hết sức…

– Khoan khoan đã! Anh để tôi nói hết rồi anh muốn mang ơn cũng chẳng muộn. (Nói đến đây, Chín Thuộc nheo mắt lấy cùi chỏ thúc nhẹ vào hông anh Giáo Tư)…Cha anh khéo chọn ‘‘mồi’’ quá há! Con mẹ Hương vậy mà coi được ớn!

Anh Giáo Tư cười xẻn lẻn:

– Anh nói vậy chớ thím cũng đâu còn trẻ gì lắm!

– Ậy, người sành điêu ai mà thèm cái thứ gái tơ. Phải người như thím Hương như vậy mới mặn mòi, mới mê được chớ!

Anh Giáo Tư có vẻ sốt ruột:

– Anh Chín, anh tính nhờ tôi chuyện chi…

Chín Thuộc thản nhiên đáp:

– Thú thiệt với anh, ban đầu tôi lãnh lời ‘‘di chúc’’ của Ba Câu, tôi cũng ngán quá! Nhưng khi được biết qua dung mạo của thím Hương tôi liền nghĩ ngay đến cách làm tròn bổn phận đối với một người anh em ‘‘đồng sanh đồng tử’’ mãn phần, và cách đó rất là… hiền lành, rất là dễ chịu, không ác nhơn thất đức chút bẽo nào hết. Cách đó, phải có tay anh giúp vô mới xong đó anh Tư.

Anh Giáo Tư nhăn mặt:

– Cách gì?

– Dễ quá, tôi nhờ anh…sắp xếp làm sao cho tôi được lui tới nhà anh…

– Để chi vậy?

– Để làm quen với thím Hương.

– Bộ anh tính…

Chín Thuộc nhún vai:

– Đó là cách nhẹ nhứt. Anh đã đi qua một lượt rồi thì bây giờ đến lượt tôi. Anh nghĩ coi ở đời đâu có cái gì quý bằng ba thứ chuyện: tình, tiền và mạch sống, về cái chuyện sống đó, tôi đã gạt qua một bên. Anh Ba Câụ ảnh chết, chẳng lẽ tôi giữ lời hứa với ảnh rồi bắt người khác cũng phải chết theo nữa sao? Một mạng của thằng cha Hương Quản và hai đứa nhỏ. Thôi thì tôi đành chọn… thím Hương vậy! Với thím Hương thì có đủ tình lẫn tiền…

– Anh quên rằng thím Hương, bây giờ là vợ tôi? Anh làm như vậy cũng như anh giết tôi !

– Nếu anh không giúp tôi làm ‘‘như vậy’’, tôi bắt buộc phải xài tới tờ giấy thú nhận kia, anh sẽ bị ở tù, bị lên máy chém, bị phanh phui hết mọi chuyện lén lút với thím Hươug để sang đoạt của cái, mà chết theo lối xẻo từng miếng da miếng thịt. Anh nghe theo tôi thì anh vẫn sống ung dung, sống khỏe ru rồi hai đứa mình… ‘‘công xi’’ chia cái phần ‘‘tình tiền’’ của thím Hương đó… lẽ tự nhiên, anh có quyền hưởng trước, hưởng nhiều hơn tôi. Tôi chỉ vớt vát chút đỉnh cái nước ‘‘dảo’’ gọi là đủ để… làm tròn bổn phận một người anh em bạn của anh Ba Câu vậy mà!

– Anh thiệt là một tên tàn nhẫn vô nhơn đạo!

Chín Thuộc nghiêm mặt hỏi:

– Bây giờ anh hổng chịu hay sao đây?

Anh Tư ấp úng đáp

– Không phải vậy… Nhưng đứng vào địa vị của tôi kẹt quá!

– Cái gi mà kẹt? Anh phải biết nếu thím Hương là vợ của anh thiệt thì không đời nào tôi dám bức bách anh chuyện như vậy đâu. Đàng này thím Hương là vợ chánh hiệu ‘‘con nai’’ của thằng cha Hương Quản, một kẻ tử thù của người anh em tôi, tức là Ba Câu đó… Đối với người anh em khuất mặt ấy tôi có cái bổn phận phải làm cho tròn. Thời may, thím Hương còn mặn mòi quá và tiền của thím Hương cũng khá bộn. Anh hổng biết chớ hồi anh Ba Câu còn sống ảnh ngắm nghía các tủ sắt của thằng cha Hương quản hoài … Do hai cái lý lẽ đó tôi mới nghĩ ra một cách làm tròn bổn phận chứ thiệt…êm ru, thiệt tiện lợi và thiệt… khoái chí tử nữa.

– Anh tính cái gì thì cũng chết cha chết mẹ người ta hết á!

– Coi, anh đừng nói vậy mích lòng lắm nghen anh Tư ! Cái gì tôi cũng nương anh hết: phần anh nước ‘‘cốt’’, phần tôi nước ‘‘dảo’’ cái gì cũng phân minh hết! Đó là một cách ‘‘ơn đền oán trả’’ chuyện trước của anh và chuyện sau của anh bạn Ba Câu của tôi, hai cái tôi gộp làm một… Tôi nói rành rẽ như vậy một lần chót, anh nghe kịp rồi chớ hả anh Tư?

Nói đến đây, Chín Thuộc đưa tay quàng lên một bên vai anh Tư, vỗ nhè nhẹ rồi dịu giọng tiếp lời:

– Nè anh Tư, sau năm năm trời gặp mặt anh lại, tôi chắc lần này anh khôn ngoan chửng chạc hơn trước nhiều. Anh đừng để tôi phải xài tới… bùa phép, dao búa thì phụ cái lòng tốt của tôi lắm, và uổng cái công của anh rị mọ о bế thím Hương từ trước cho đến bây giờ. Anh Tư, anh không nhớ cái câu người ta nói ‘‘ăn ít no dai’’… đó sao?

Anh Tư cúi gầm xuống mặt bàn :

– Nhưng rủi thím Hương thím… hổng chịu anh rồi làm sao?

Chín Thuộc vỗ mạnh vào vai anh ta một cái rồi reo lên

– Cái thằng cha này biết điều đa! Ê hai đứa mình ‘‘rua’’ nhau một cái đi! Tôi tính thế nào anh cũng nghe lời tôi mà!

Anh Tư miễn cưỡng chìa tay ra cho Chín Thuộc chụp lấy giựt giựt mấy cái liền, đoạn anh ta nhăn nhó nhắc lại câu hỏi cũ:

– Nè anh Chín, anh… ép buộc tôi quá thì tôi cũng phải chịu, nhưng anh nên biết rằng anh làm quá lố không được đâu nghen!… Và bởi vậy tôi mới hỏi anh rủi, thím Hương thím hổng chịu thì anh tính sao đây?

Chín Thuộc ưỡn ngực ra:

– Cái đó là phần công việc của tôi. Anh chỉ cần giúp tôi ‘‘ra mắt’’ thím thì được rồi!…Sau đó tôi làm sao thây kệ tôi, mà nếu cùng lắm thím cứ khăng khăng một mực quyết giữ…trọn chữ ‘‘đồng’’ với anh thì tôi xin bái phục anh là ‘‘sư’’ và xin a la de lập tức chớ hổng cố nói oon-đơ (Un, deux=1, 2) gì nữa hết! Tụi nầy là dân chơi điệu nghệ mà anh Tư!…Đâu phải cái thứ ‘‘muốn’’ người ta rồi lôi càn ra lùm ra bụi chận hầu bóp cổ đó bạn!

Anh Tư xẻn lẻn hỏi lãng sang câu khác

– Nhưng tôi biết cách nào đưa anh tới để giới thiệu với thím Hương cho thím tin đây? Tôi nói bậy anh đừng phiền, mặt mày anh…rằn ri và có cô hồn như kiểu đó thì ngay tôi đây là đàn ông con trai mà tôi còn ngán trân, huống hồ gì thím Hương!

Chín Thuộc nhăn mặt đưa tay lên sờ vết thẹo nhưng rồi cười xòa :

– Ậy anh đừng có lo cái khoản đó !Tôi đã nói thây kệ tôi mà! Anh không biết chớ mặt mũi tôi như vầy mà có duyên ngầm lắm đa ! Đối đế lắm thì còn cả túi…bùa ngãi thuốc mê thuốc lú của tôi nữa chi? Để xong xuôi công việc hết, anh nhớ nhắc tôi, tôi sẽ chỉ cho anh vài môn để kiếm ăn về cái mặt nầy… Tôi coi bộ anh… có phần có số với các bà có tiền có của đa!

Anh Tư gượng cười

– Thôi tôi xin cám ơn anh! Tôi có cái mình trơn đây cũng đủ xài rồi chớ không dám rớ tới ba món bùa ngãi của anh đâu. Bây giờ theo ý anh, anh muốn… giới thiệu anh với thím Hương ra sao anh nói phứt đi?

– À cái đó tôi để cho anh có toàn quyền mà! Anh muốn nói sao đó cho êm, cho xuôi thì nói.

– Tôi nói anh là người mới quen tới để bàn tính chuyện mua bán làm ăn có được không?

– Sao không giới thiệu tôi là bạn của anh dưới xứ nghe có phải tiện hơn không?

Anh Tư quay lại nhìn Chín Thuộc rồi chắc lưỡi:

– Bạn mốc xì gì mà như… ông Tiêu trong lúc cúng rằm tháng bảy vậy!

Chín Thuộc cười

– Anh này kiếm chuyện chê bai tôi hoài ta! Tùy anh, anh muốn giới thiệu sao cũng được hết, miễn tôi lọt vô nhà thím Hương là được rồi. Anh ráng lo xếp đặt đi, rồi có cái gì… hay hay nhớ lên cho tôi rõ liền. Tôi chờ anh dữ lắm nghe! Thôi bây giờ tôi xin mời anh về kẻo bà Hương đợi bả rủa tôi chết.

Anh Tư thẫn thờ gật đầu:

– Ờ…

Chín Thuộc lặng lẽ đứng lên bỏ đi ra trước.

Anh Tư vừa xô cửa bước vô là thím Hương đã chạy ùa ra:

– Mèn đét ôi, sao anh đi lâu dữ vậy anh Tư? Anh biết bây giờ là mấy giờ rồi không? Em đợi anh buồn ngủ thấy mồ !

Anh Tư nắm lấy tay thím dắt vô:

– Ý thôi em ơi, tối hôm nay anh nhiều chuyện bê bối quá…

– Bộ việc anh nói mua bán làm ăn gì đó không xong rồi hả?

Anh Tư thở dài:

– Ối, việc đó xong hay không thì có quan hệ gì! Nhưng còn việc này… anh nói ra sợ em buồn em lo.

Thím Hương đứng khựng lại

– Sao anh? Việc gì anh nói đại đi?

Anh Tư dìu thím ngồi xuống ghế:

– Em đã biết lòng của anh đối với em như thế nào rồi, bởi vậy mới rồi khi… hay tin này anh phân vân chẳng biết có nên cho em hay, hay là dấu nhẹm luôn, nhưng  nghĩ đi nghĩ lại anh thấy cần phải cho em rõ. Tình nghĩa vợ chồng như hai đứa mình thì có điều gì mà phải dấu diếm với nhau, nhứt là cái chuyện về con Hạnh…

Thím Hương hớt hãi hỏi liền :

– Con Hạnh nó làm sao? Nó bị đau ốm gì hả?

Anh Tư lắc đầu:

– Không… Nếu nó đau ốm thì còn đỡ, đằng này… nó bỏ trường trốn mất rồi em à!

Thím Hương tái mặt

– Trốn hồi nào? Mà sao anh biết?

– Hổng nói dấu gì em, anh cũng mới vừa hay tin đây. Anh mới vừa gặp người quen ngoài chợ họ cho anh rõ như vậy. Anh bạn này đi thăm một đứa cháu gái cũng học trong trường đó, tình cờ hay biết được tin trên… Thiệt việc nầy anh ấy náy quá vì dầu sao anh cũng phải chịu trách nhiệm về vấn đề ăn học của hai đứa nhỏ…

Thím Hương đưa tay quẹt nước mắt:

– Vậy bây giờ anh tính sao đây? Em đã nói trước rằng mình gởi mấy đứa nhỏ đi học như vậy thế nào tụi nó chẳng nhớ nhà…

Anh Tư chắc lưỡi

– Em làm như anh không thương mấy đứa nhỏ đó bằng em vậy! Anh biết trước rằng thế nào cũng có lúc em sẽ cằn nhằn anh về việc nầy! Thiệt em phụ bụng anh…

Thím Hương vội chận ngang:

– Anh đừng nói vậy tội nghiệp em! Em đang rối ruột, rối gan đây nè anh hổng biết sao? Bây giờ đã lỡ như thế, anh… đã tính cách nào để đi tìm kiếm nó chưa? Hay là để ngày mai em đi tàu lên Cần Thơ…

Anh Tư nắm lấy tay thím:

– Nói thiệt với em, anh còn sốt ruột gấp mười em nữa, nhưng mình thương mình lo cho con Hạnh là một việc rồi nghĩ cách tìm chỗ ra nó lại là một việc khác và là một việc cần hơn hết. Em có lên trển thì bất quá cũng chỉ để hỏi thăm bà đốc trường và thế nào cò bót họ cũng mời em tới để hạch hỏi lôi thôi. Về việc này, anh khỏi phải nói, em cũng rõ là tình cảnhcủa hai đứa mình hơi.. bất thường một chút, nếu mình để sơ hở điều gì cho cò bót họ phăng tới thì cũng hơi… phiền.

– Coi em có làm gì đâu?

– Thì anh nói là hơi phiền thì thôi, chớ chuyện của hai đứa mình thì có luật lệ nào cấm cản đâu ! Nhưng theo anh nghĩ mình nên ráng giữ làm sao cho… ít ai biết tới chừng nào tốt chừng nấy. Riêng về chuyện nhờ cò bót kiếm con Hạnh thì chắc họ cũng không làm gì hơn là chạy giấy đi khắp nơi vậy thôi, chớ họ đâu có rảnh để rị mọ tìm cho ra dấu vết của đứa nhỏ!

– Nếu em hứa sẽ thưởng một số tiền lớn…

– Ý không nên ! Thời buổi này mà em khoe tiền khoe bạc ra lại còn rắc rối thêm nữa. Không phải anh sợ cái gì, nhưng nếu mình bộp chộp quá rủi ro có chuyện gì bất ngờ thì hối hận không kịp, chẳng hạn như… nếu có ai ở ngoài thừa dịp này kiếm con Hạnh đem về chứa chấp rồi xúi biểu nó thưa gởi về cái chuyện… gia tài điền sản của thầy Hương thì sao! Đó là anh nói chuyện phòng xa vậy thôi… em nghĩ coi có phải không?

Thím Hương thở dài:

– Thì gia tài của ba mấy đứa nhỏ để lại em cũng giữ у nguyên đó chớ có sứt mẽ chút nào đâu.

– Sự thật nó là như vậy, nhưng người ngoài họ dòm; ngó vô họ nghĩ… xiêng nghĩ xẻo chớ em!

Thím Hương có vẻ xiêu lòng:

– Vậy chớ bây giờ anh tính sao đây? Chẳng lẽ mình bỏ phế để con Hạnh nó muốn đi chừng nào đi, về chừng nào về, rủi có ai dụ dỗ nó hay rủi nó chết đường chết sá thì sao? Bề gì em cũng là má của nó…

Anh Tư hăng hái nói liền:

– Em nói đúng. Bổn phận của mình là phải lo cho con Hạnh, nhất là anh, dầu cho lên non xuống biển gì anh cũng phải kiếm cho ra. Để nữa em coi, con Hạnh rồi sẽ về trường học lại… êm ru như không có việc gì xảy ra hết.

Thím Hương tươi nét mặt lại:

– Chưa gì mà anh nói chắc ăn quá vậy?

Anh Tư gật gù vui vẻ:

– Anh đã nói là anh lo cho con Hạnh còn hơn em nữa mà! Anh đã sắp đặt đâu đó xong hết rồi: số là cái người… bạn quen mà anh nói cho em nghe hồi nãy đó, anh bạn đó, anh sẵn lòng đi dọ hỏi tìm kiếm con Hạnh dùm mình…

– Sao họ tốt quá vậy anh?

– Thì… chỗ quen biết cũ, trước đây… anh có giúp đỡ anh nhiều, bây giờ anh nhờ nhõi ảnh lại vậy thôi…

– Nhưng anh bạn đó người thế nào mà họ lo việc này cho được? Em tưởng có cò bót đủ người rần rần rộ rộ mà chưa chắc biết con nhỏ đi đâu..

– Họ có nhiều nhưng việc nay, tuy đối với mình là việc quan trọng, nhưng đối với họ cũng là việc thường, còn anh bạn này ảnh là người…đi buôn bán tứ xứ, giao thiệp nhiều, chỗ nào ảnh cũng có người quen, ảnh chịu khó hỏi thăm lần hồi là phăng tới chỗ con Hạnh ở liền.  Cái việc đó cũng chẳng khó khăn gì: con Hạnh nó còn nhỏ, tiền nong không có thì dầu có trốn bất quá cũng tấp vô đâu đó chớ đi xa sao được?

– Ở phải. Vậy anh có nhờ họ đi kiếm liền không?

– Có chớ! Nhưng mau lắm thì cũng phải đợi đến ngày mốt, vì anh bạn đó còn kẹt một mối buôn bán ở đấy. Anh có hối ảnh gắt mấu lắm. Và anh cũng tính bàn với em trước một việc này…

– Việc gì anh?

– Anh tính mời… anh bạn đó tới nhà mình dùng cơm một bữa để rồi sẵn dịp đó em cũng… nói vô một tiếng nhờ ảnh…

Thím Hương sốt sắng đáp:

– Tưởng chuyện gì chớ chuyện đó đáng lẽ anh mời anh bạn đó luôn phải tiện hông. Thôi sáng mai anh chịu khó ra chợ kiếm người ta đi, còn em thì lo cơm nước.

Anh Tư níu tay thím Hương đứng dậy:

– Bây giờ em đã yên tâm về vấn đề con Hạnh chưa. Hổng sao hết em à, mình gặp anh bạn đó thì kể như đi hết bảy phần đường. Việc gì cũng vậy, em cứ tin chắc nơi anh là mọi chuyện êm ru hết.

Thím Hương thở dài:

– Em chỉ còn có anh mà em hông tin anh thì tin ai nữa bây giờ!

Anh Tư vuốt nhẹ lưng thím:

– Thôi bây giờ mình đi nghĩ chớ em! Khuya lơ khuya lắc rồi

Thím Hương chép miệng:

– Chắc đêm nay em nhắm mắt không được đâu!

– Coi anh nói, em lo quá cũng chẳng ích lợi gì mà! Em để anh lo hết cho…

Và sau khi ngọn đèn dầu treo nơi buồng ngủ được vặn lu xuống, nằm gọn trong đôi cánh tay quen thuộc của anh Tư, thím không còn tỉnh táo để nhớ đến chuyện con Hạnh nữa… Và non một tiếng đồng hồ sau thím đã ngủ mê mệt…

Cúi xuống nhìn vẻ mặt thoải mái của thím Hương, tự nhiên anh Tư bắt mỉm cười. Anh nằm ngay lại, duỗi thẳng hai chân ra, bẻ mấy khớp lóng tay nghe răng rắc và lẩm bẩm một mình: ‘‘Chấp thằng Chín Thuộc nó làm gì đó thì làm! Nó có tài ba lỗi lạc gấp mười lần, cũng không rớ nổi cái móng chân của thím Hương!…

Như đã quá vững tâm, anh Tư ngáp dài một hơi rồi ngoẽo đầu ngủ lúc nào cũng chẳng hay…

Vừa thấy Chín Thuộc ló ra là anh Tư đi bươn tới:

– Cha sao lâu quá vậy tổ?

Chín Thuộc đưa cườm tay lên xem đồng hồ:

– Trể khỉ gì đâu? Mới có mười giờ ba mươi sáu phút!

Anh Tư đi song đôi với hắn ta

– Sáng nay anh đi đâu mà tôi lên phòng ngủ kiếm anh không thấy, vì vậy tôi phải để lại ba chữ và căn dặn anh bồi nói lại với anh.

– Thì tôi у hẹn đến nhà anh ăn cơm đây nè! Anh bảnh đa anh Tư!Tôi xin cho anh giáo ‘‘đít boon’’ (dix points = mười điểm)  về cái chuyện đó !

Anh Tư nhăn nhó nói tiếp:

– Hồi sáng anh đi lâu quá tôi đợi hết sức. Tính bàn trước với anh một vài việc để lát nữa tôi với anh nói cho ăn ‘‘rơ’’ với nhau, chớ không thôi hai đứa mình chỏi xịa nhau thì lòi chành hết!

Chín Thuộc tươi cười vỗ vai anh Tư

– Thằng cha nầy biết điều quá ta! Tôi phục anh về cái chuyện nầy! Vậy anh muốn bàn tính cái gì thì thì nói đi. Mà tôi để cho anh… toàn quyền, bày mưu thiết kế đó!

Anh Tư lườm Chín Thuộc rồi miễn cưỡng đáp:

– Tôi tính giới thiệu anh là… bạn cũ của tôi…

– Vậy được đa!

– Bạn cũ đi buôn bán khắp tứ xứ và tôi tính mời anh đến để bàn thêm cái việc mà tôi nhờ anh lo liệu dùm…

Chín Thuộc lỏ mắt, hoài nghi hỏi

– Việc gì đó cha nội? Bộ cha tính đá ngược thằng này một cú tối tâm mặt mũi nữa sao đó cha?

– Thì để thủng thỉnh tôi nói rõ đầu đuôi mọi việc cho anh nghe…(đoạn anh Tư kể sơ cho Chín Thuộc nghe chuyện con Hạnh, con gái của thím Hướng bỏ trường trốn đi, chính do Chín Thuộc đã hứa tận tình tìm kiếm cho ra con nhỏ.)

Kể xong, anh Tư kết luận:

– Đó, tôi sắp đặt đâu đó ngon lành để anh… ra mắt thím Hương. Cũng may là có chuyện con nhỏ trốn đi… Tôi chắc anh không mong muốn gì hơn như vậy nữa!

Chín Thuộc gật đầu:

– Đúng.

Rồi hắn ta đưa tay mân mê vết thẹo mặt, mơ màng:

– Mà có lẽ tôi cũng ráng tìm ra con nhỏ cho thím Hương! Chuyện đó đối với tôi khó khăn gì, số em út lâu la đệ tử của tôi ở hang cùng ngõ hẽm khắp lục tỉnh chỗ nào mà lại không có! Nhứt là cái tỉnh Cần Thơ nầy, nơi mà tôi đang ‘‘cắm sào’’ mần ăn thì… xin lỗi anh, ai ‘‘tẹt’’ ở đâu một cái tôi cũng hay liền!

Anh Tư vội chận lời hắn ta lại:

– Ý trời, tôi nói như vậy là cho anh tiện lại nhà tôi để gặp thím Hương một cách dễ dàng hơn, chứ bộ để nhờ anh làm thiệt sao?

Chín Thuộc cười rộ lên:

– Cái thằng dượng ghẻ này không biết lo cho con cái riêng của vợ chút nào hết. Bộ cha tính hưởng trọn gói cái gia tài của thằng cha Hương Quản sao cha nội?

Anh Tư nghiêm mặt lại:

– Nếu anh tính chuyện…lôi thôi đó thì tôi sẽ nghĩ ra cách khác để giới thiệu anh với thím Hương. Cách này dễ hơn nữa, tôi chỉ nói anh là một khách thương buôn tôi mới quen nên mời về bàn tính chuyện làm ăn…

Chín Thuộc thúc nhẹ cùi chỏ vào hông anh Tư:

– Thôi cho tôi can chuyện đó đi cha nội! Tôi cá với anh là suốt một đêm qua anh đã bàn tính nát nước với con mẹ Hương về tôi. Bây giờ thử thời anh không chịu giới thiệu, tôi cũng chẳng cần. Nội cái vụ con nhỏ mất tích cũng đủ ‘‘ăn tiền’’ rồi đó anh!

Mặt anh Tư chầm dầm:

– Anh làm quá tôi… không nhịn nữa đâu nghen!

Chín Thuộc thân mật vỗ vai anh Tư:

– Cái cỡ của anh, bất quá chỉ đủ sức hãm hại ba con mẹ đàn bà góa có tiền có bạc, hay cùng lắm là mấy đứa con gái mười ba mười bốn tuổi thôi! Anh Tư, đằng nào anh cũng bị thiệt hại thì anh nên chịu thiệt hại cách nào êm nhứt, nhẹ nhứt… Đó là cách mà tôi đã nói với anh.

Ngừng một giây để tằng hắng lấy giọng, Chín Thuộc chậm rãi nói tiếp:

– Anh Tư, anh đừng quên rằng: bổn mạng của anh tôi cầm chặt trong tay đây nè! Anh muốn êm thì tôi cho êm mà muốn sóng gió thì tôi cho sóng gió… Đừng nói đâu xa, nếu anh chơi xấu tôi, tôi sẽ chưng sơ với thím Hương… tờ giấy thú nhận của anh kèm theo một vài câu chuyện về cuộc đời của anh thì anh kể như lúa rồi đó anh Tư!

Anh Tư nhìn lườm lườm Chín Thuộc rồi xẳng giọng giục:

– Thôi đi riết đi cha nội!

Chín Thuộc cười xòa?

– Vậy thì… chịu hết rồi phải không? Tôi biết anh điệu lắm mà ! Nè, ngoéo tay một cái cho ăn chắc đi bồ tèo !

Vừa nói Chín Thuộc vừa chụp nghiến lấy ngón tay của anh Tư để ngoéo giựt mạnh một cái. Anh Tư nhăn nhó nhìn hắn ta rồi bĩu môi hỏi:

– Anh làm cái gì mà diện ngất trời vậy, bộ đi ăn đám cưới hả?

Chín Thuộc mau miệng đáp:

– Đi… hỏi vợ thì đúng hơn… Thì anh cũng phải cho tôi dàn giá một chút chớ!

Anh Tư xăm xoi nhìn từ đầu đến chân Chín Thuộc, từ chiếc nón nỉ nhung màu đỏ bầm, từ cái  ‘pát’’ tóc để dài, đen chấn sắc lẻm, tới cái áo sơ mi lụa mới tinh khôi ủi sát rạt, tới cái quần ‘‘tuýt xo’’ vàng ngà có ‘‘li’’ chém gió và gấu quần quét sà trên mặt đất… tới đôi giày da đánh bóng, đóng ‘‘móng ngựa’’ nên kêu lách tách ở mỗi bước đi…

Anh Tư dắt Chín Thuộc về nhà. Hắn ta ngó quanh ngó quẩn rồi trầm trồ nho nhỏ:

– Cha, sướng quá ta! Thiệt đôi trái tim vàng trong một túp lều tranh dầu sao cũng hổng bằng… vài ba chục lượng vàng trong một ngôi nhà vách bổ kho lợp ngói !

Anh Tư chưa kịp cằn nhằn lại hắn ta thì thím Hương đã bước ra và đon đả lên tiếng hỏi anh Tư:

– Sao lâu quá vậy anh Tư? (Rồi thím day qua phía Chín Thuộc)…Chắc… ông bạn đây…

Anh Tư vội giới thiệu:

– Anh Chín đó em.

Chín Thuộc mân mê vành nón nỉ trong mấy ngón tay:

– Dạ tôi đây là bạn cùng xứ anh Tư đó thím Hương à!

Thím Hương xẻn lẻn đáp:

– Dạ… anh kêu tôi bằng… thứ Tư cũng được. Ở dưới nầy thì kể như đâu còn… thím Hương thím hiếc gì nữa!

Chín Thuộc niềm nở đỡ lời:

– Dạ… chị Tư biểu sao thì tôi xin nghe theo vậy.

Thím Hương mỉm cười:

– Ý trời ơi, bộ anh tính rủа tôi hay sao mà lại kêu ‘‘chị’’!  Tôi với anh Tư đây chỉ đáng đứng vai em của anh Chín thôi mà!

Chín Thuộc gật gù:

– Phải, phải… vậy thì tôi kêu bằng… Thím Tư cho nó thân mật hơn..(và hắn ta day qua phía anh Tư hỏi đùa)…Vậy được hông… chú Tư?

Anh Tư chỉ cười khan.

Thím Hương rụt rè hỏi Chín Thuộc:

– Dạ thưa anh… còn về cái vụ con nhỏ của tôi?

Chín Thuộc làm ra vẻ thật sốt sắng:

– À, cái đó thím khỏi nhắc tôi cũng lo mà. sáng sớm hôm nay, tôi đã đánh một cái dây thép cho anh bạn của tôi trên Cần Thơ nhớ ảnh đi dọ hỏi liền về vụ nầy. Thím cứ vững lòng đi, hễ tôi mà nhúng tay vô thì kể như ăn chắc!

Thím Hương ấp úng nói thêm:

– Thiệt phiền anh quá… Còn về cái chuyện sở phí xe cộ trà nước thì… tôi luônluôn sẵn sàng…

Chín Thuộc chắc lưỡi và kêu lên:

– Ậy, thím đừng nói vậy mà mích lòng lắm nghe! Tôi lo cái vụ nầy là để giúp thím, chớ một đồng xu nhỏ tôi cũng hổng dám rớ vô!

– Dạ nếu vậy tôi mang ơn anh nhiều quá!

Chín Thuộc lắc đầu lia lịa

– Hổng có ơn nghĩa gì ráo! Tôi nói đây là lần chót tôi không muốn nghe thím nhắc đến mấy cái chuyện đó nữa  đâu nghen! Vì chỗ quen biết cũ với anh Tư đây, và nhứt là có thêm một lời nói của thím nữa nên tôi xin hết lòng tìm kiếm con nhỏ… con nhỏ tên chi vậy thím?

– Dạ con Hạnh.

– Ờ, tôi mới hết lòng lo kiếm con Hạnh, chớ thử thời gặp ai khác, dầu cho có bỏ ra bạc ức bạc triệu coi tôi có thèm không!

– Dạ tôi biết vậy rồi mà anh Chín!

Anh Tư có vẻ bực mình nên lên tiếng báo thím Hương:

– Thôi em vô coi có món gì ăn trước thì biểu con nhỏ ở dọn lên liền đi để cho anh Chín ảnh nhậu lai rai và để anh bàn với ảnh coi ảnh có thể đi gấp lên Cần Thơ vào chuyến xe chiều nay hông.

…Đợi cho thím Hương đi khuất khỏi tấm màn nơi cửa buồng, Chín Thuộc liền khều anh Tư, hỏi gằn :

– Bộ anh tính tống khứ tôi đi cho sớm hả? Còn lâu! Anh làm như tôi ham đi kiếm con Hạnh lắm vậy! Nó trốn đi đâu thì thây kệ nói mắc mớ gì tới tôi để tôi xách… ‘‘xe không’’ đi rồi bỏ thím Hương nheo nhẻo lại đây cho anh hưởng độc quyền hả? Tôi mới có xáp vô mà anh!

Anh Tư gượng gạo trả lời:

– Coi, sao hồi nãy tôi nghe anh nói ‘‘chí thú’’ là muốn kiếm cho ra con Hạnh mà! Nhưng bộ anh tính… ăn dầm nằm dề ở Trà Ôn nầy hoài sao chớ!

Chín Thuộc như có vẻ không chú ý đến lời anh Tư, nheo nheo mắt liếc xéo anh ta và mỉm cười nói đùa:

– Mẹt ơi, thím Hương ở xa trông bóng sắc mà lại gần thì thêm ưa nhìn. Hồi ở Tân Thới, có đôi ba lần tôi thấy dạng… dạng thím mà còn chắc lưỡi hít hà, bây giờ lại gần… thiệt đi hết muốn nổi!  Cha, cái cỡ này thì ‘‘bài bản’’ hổng chê được!

Anh Tư cau mày:

– Nói xàm hoài!

Chín Thuộc đưa mấy ngón tay mân mê vết thẹo, mắt lim dim:

– Anh Tư, tôi coi bộ lóng rày anh chao dao lắm đó nghen! Anh nên nghỉ xả hơi một thời gian… (rồi như chợt nghỉ ra điều gì, hắn ta mở choàng mắt ra hỏi vội)…Ý quên nữa, anh cũng nên cho tôi biết sơ sơ về hình dáng vóc vạc của con nhỏ, nó học trường nào, có bà con thân thuộc ở đâu không… để tôi liệu coi sau nầy mình có nên đi kiếm nó thiệt tình hông…

Anh Tư chắc lưỡi:

– Anh ba hồi vầy ba hồi khác không biết đâu mà rờ!

– Ậy, việc đời phải tùy cơ ứng biến. Nếu thím Hương, thím nằng nặc đòi tôi phải dẫn con nhỏ về thì chừng đó tôi phải ráng о bế thím chớ sao anh!

Cực chẳng đã anh Tư phải kể cho hắn ta nghe mọi điều cần biết về con Hạnh…

…Suốt bữa cơm, Chín Thuộc cười nói huyên thiên và không ngớt liếc mắt  ‘‘đá bóng’’ với thím Hương. Điều này làm cho anh Tư…  tím ruột bầm gan nhưng đành ngó lơ, còn thím Hương thì cũng có vẻ khó chịu và chỉ tìm cách nói lảng sang chuyện khác mỗi lần Chín Thuộc đưa lời ve vản xa xuôi bóng gió…

Sau khi tiễn khách ra khỏi cửa, thím Hương quay qua anh Tư nói liền:

– Cha, cái anh Chín đó… em coi bộ… hổng hiền đâu! Mỗi lần ảnh ngó em, thiếu điều em nổi óc! Nếu không có kẹt vụ con Hạnh vô, thì chắc em… chạy tét ảnh luôn!

Anh Tư trả lời xụi lơ

– Ờ, thì tánh của ảnh…như vậy. Mình nhờ nhỏi người ta thì cũng phải chịu đựng… một vài sự bất tiện!

Thím Hương lại nói thêm:

– Đàn ông gì mà mặt dữ dằn, mắt láo liên…hổng biết đàn bà con gái có ai dám mê ảnh nổi không!

Anh Tư hơi vững dạ đáp liền:

– Thì anh biết như vậy nên anh mới dám mời ảnh về nhà, chớ nếu không, để ảnh… rinh mất cục cưng của anh sao!

Thím Hương mắc cỡ tát nhẹ vào má anh ta:

– Nói bậy nà! Bộ hết người để em…mê sao!

Anh Tư bỗng thở dài:

– Nhưng dầu sao mình cũng phải nghĩ đến việc kiếm con Hạnh nhiều hơn hết..

Thím Hương vội nắm lấy tay anh ta, âu yếm kéo sát lại bên mình…

Một buổi chiều nọ. Thím Hương cùng anh Tư ra ngồi trên bực thềm ngoài hàng ba để hứng mát và bàn tính về chuyện con Hạnh.

Thím Hương có vẻ sốt ruột nên hỏi anh Tư:

– Sao anh Chín ảnh ở miết dưới này gần cả tuần nay và em không thấy ảnh đá động gì tới chuyện tìm kiếm con Hạnh hết ráo trọi vậy anh?

Anh Tư ấp úng đáp

– Chắc ảnh còn..chờ tin trên Cần Thơ. Hôm trước ảnh có đánh dây thép nhờ người quen ở trển dọ hỏi lần…

– Anh nhắm ảnh có thiệt tình tính giúp mình không… chớ sao em thấy ảnh càng ngày càng ló mòi…

Anh Tư nhăn nhó:

– Bộ em nói anh đây…vui sướng gì lắm sao! Nội bấy nhiêu đó em cũng đủ thấy rằng anh… lo cho con Hạnh nhiều!

Thím Hương bỗng ngẩng lên nhìn về phía đầu đường:

– Ủa, ai như anh Chín đi lại kìa!

Anh Tư đứng dậy:

– Thằng chả chớ ai!

Thím Hương có vẻ thắc mắc :

– Sao giờ này mà ảnh còn lọ mọ xuống đây để nói chuyện…năm trên năm dưới chớ gì!

…Chín Thuộc vừa ló mặt tới là nói bô bô lên:

– Chào thím Tư, tối hôm nay tôi phải bắt cóc anh Tư đi một lát nghen thím! Xin thím cảm phiền!

Đoạn hắn ta day qua phía anh Tư:

– Anh đi ăn cơm chiều với tôi, có mấy người bạn quen mới tới, tôi tính giới thiệu anh với họ để mình bàn chuyện hùn hạp mua bán mần ăn một chuyến coi! Với luôn tiện, tôi cũng tính nói riêng với anh về chuyện con Hạnh.

Thím Hương mau miệng hỏi liền:

– Bộ anh đã tìm thấy nó rồi hả?

Chín Thụộc lắc đầu:

– Chưa thím à. Nhưng tôi xin cam đoan với thím là không lâu nữa đâu ! Tôi đã phăng lần tới rồi.. và sở dĩ tôi muốn mời anh Tư đi tối nay cốt để cho mấy anh bạn của tôi hỏi thăm qua một vài chuyện dính dáng đến con nhỏ, dẫu sao anh Tư ảnh cũng rành hơn tôi…

– Sao anh hổng mời mấy ổng tới đây?

– Hổng nói dấu gì thím, mấy anh bạn của tôi cũng thuộc vào hạng… trời ơi đất hỡi lắm, nên tôi đâu dám dẫn họ lại đây! Hơn nữa, họ phải đi gấp và để anh Tư đây lên gặp họ tiện hơn.

Anh Tư bèn nói chen vô:

– Vậy để sáng mai hổng được sao!

Chín Thuộc quay qua anh ta, mắt quắc lên nhưng  vẫn giữ giọng ngọt ngào:

– Ý đâu được, tối nay họ mướn đò đi trở vệ trển liền. Họ có công việc làm ăn của họ gấp lắm. Thôi vô thay đồ đi anh Tư!

Thím Hương liền nói vào:

– Anh Chín ảnh nói vậy thì anh đi, chớ để mai sao được! Mà nhớ về sớm sớm, em đợi đó nghen!

– Hơi sức nào đợi đó thím! Thím cứ đi ngủ trước đi rồi giao cho anh Tư cái chìa khóa cửa để chừng nào ảnh về ảnh mở ên thì tiện hơn. Tối nay gặp mấy cha nội đó thế nào cũng có nhậu nhẹt sơ sơ và như vậy ảnh làm sao về sớm được!

Thím Hương gật đầu rồi quay sang bảo anh Tư:

– Anh cầm chìa khóa theo đi để rủi anh về trễ em có ngủ quên thì cũng chẳng sao.

Bất đắc dĩ anh Tư phải vào trong thay bộ bà ba trắng rồi theo Chín Thuộc ra chợ.

… Đến nơi, Chín Thuộc dẫn anh Tư lên thẳng nơi buồng hắn ta ở trên lầu nhứt phòng ngủ. Hắn ta mạnh dạn xô cửa buồng mở bét ra và chưa gì đã kêu lên:

– Ủa mấy cha nội đó đi đâu mất tiêu rồi cà!… Thôi anh vô ngồi chơi để tôi chạy xuống hỏi mấy anh bồi ở dưới coi.

Anh Tư chưa kịp nói gì hết thì hắn đã tất tả chạy đi. Độ gần năm phút sau, hắn lại chạy trở lên, chắc lưỡi luôn miệng.

Anh Tư nhìn hắn, cau mày hỏi:

– Họ đi đâu rồi anh?

Chín Thuộc giơ hai tay lên trời:

– Mấy gỉa dong về trển mất mẹ nó rồi còn đâu! Bị anh cứ lần khần không chịu đi gấp nên mấy giả đợi không được…

Anh Tư cự nự liền:

– Coi, anh xuống kêu là tôi xỏ áo đi liền..  Mà tôi cần gì ai đâu mà gấp với chẳng gẩp hả? Thôi bây giờ anh cho tôi kiếu nghen!

Chín Thuộc cười hề hề rồi dịu giọng nói:

– Khoan đã bạn! Tuy mấy giả dông đi rồi, nhưng mấy giả có để lại tôi ba chữ dặn tôi cứ bàn thẳng với anh cũng được, nhứt là vì chuyện của con Hạnh thì mấy giả cũng… có cho tôi biết sơ sơ rồi.

Anh Tư bực dọc đứng dậy định bước ra cửa:

– Tôi bây giờ… đi về nhà! Còn cái chuyện mua bán mần ăn hay là chuyện con Hạnh gì đó… để đến mai hay mốt gì anh muốn nói gì thì nói…

Chín Thuộc đã đứng chận ở cửa buồng và đưa hai tay dìu anh Tư trở vô, ấn cho ngồi trở lại xuống ghế:

– Ậy sao anh nóng nảy quá hổng biết! Tôi đã lỡ đặt cơm bên tiệm ‘‘Tiên lầu’’, bây giờ chẳng lẽ anh bỏ về để một mình tôi bao giàn hết sao! Đằng nào anh đi tới đây rồi thì anh nán lại một chút, tôi đã kêu bồi dọn thẳng lại đây cho hai đứa mình một mâm…

Anh Tư dịu giọng một chút:

– Tôi có đói khỉ gì đâu.

Chín Thuộc chắc lưỡi:

– Thì gặp dịp vui, tụi mình cứ đập đuôi nhảy vô chớ bộ ai nói anh đói khát gì sao! Hai đứa mình cụng ly lai rai chơi rồi tôi sẽ phơi gan phơi ruột ra cho anh rõ bụng dạ tôi thế nào kẻo bấy lâu nay anh hay ‘‘thành kiến’’ đối với thằng bạn của anh đây quá!

Anh Tư cười mũi:

– Bữa nay anh tử tế quá há!

– Tôi tử tế với anh từ đời cố lủy nào chớ bộ mới bây giờ sao cha! Nói nào ngay tánh của tôi hay làm hùm làm hổ một chút vậy chớ thiệt hiền khô anh à.

Anh Tư hoài nghi nhìn kỹ hắn ta, rồi hỏi xẳng:

– Anh còn mưu tính ngoắc ngoéo cái gì nữa thì nói đại mẹ nó đi, thằng nầy giỏi chịu đựng mà!

Chín Thuộc nhún vai lắc đầu :

– Anh sao đa nghi còn hơn Tào Tháo! Tôi nói đây có… Ông Lớn Duồng 1 làm chứng, tôi có bụng dạ nào hại anh thì cho tôi… hộc máu cả diệm đi!

Anh Tư mỉm cười:

– Vậy anh trả cái giấy ‘‘đó’’ lại cho tôi đi!

Chín Thuộc nhăn nhó:

– Trả thì cũng được lắm chứ chẳng phải không nhưng tôi còn ráng giữ lại đây cũng chỉ để… phòng thân vậy thôi… Rủi anh đá giò lái bất tử, tôi có sẵn ‘‘bùa’’ đó để đỡ, xin anh cảm phiền đợi một thời gian…

Anh Tư liền hỏi thêm:

– Còn cái chuyện… thím Hương?

Chín Thuộc thân mật vỗ vai anh ta:

– Ối chuyện… đàn bà đó mà ăn nhằm gì! Những cái thằng như tụi mình đâu phải thuộc vào cái hạng đâm chém nhau vì cái… cái mà ở khắp bầu trời thiên hạ đâu đâu cũng có hết! Cái chuyện tôi với thím Hương thì chẳng qua là chuyện… ù-ơ ví dầu cho qua ngày vậy thôi… Nhứt là dầu sao tôi cũng phải coi anh có nhiều… kí lô chớ ! Đốn cây da trước đình thì dễ, mà ngại còn có ông thần ở phía trong… là vậy đó anh Tư!

Anh Tư tươi cười hỏi lại:

– Chớ hổng phải tại anh ‘‘búa’’ hổng vô hả?

Chín Thuộc bắt cười xòa:

– Thì tôi cũng xin khen anh… khéo chọn thím Hương đa ! Chuyện… trời đất còn dài, mình biết trước đâu được đó bạn!

Vừa lúc ấy, anh bồi dắt tên phổ ky bên tiệm ‘‘Tiên lầu’’ bưng mâm cơm lên tới. Chín Thuộc quay qua hỏi liền:

– Ủa sao không có đem rượu gì lên hết vậy ‘‘Tài lủ’’? Tôi có dặn mua cho tôi một chai «rum» vuông mà?

Anh bồi vội đưa chai rượu ra:

– Tui cầm đây nè ông chủ!

Chín Thuộc đỡ lấy chai rượu xách lại gần bên anh Tư, mở nút ra rồi kề lên mũi ngữi sơ qua và tấm tắc khen:

– Cha thơm phức! Rượu này mà gặp buổi mát trời như vầy, tụi mình nhậu bất kể quân thần đa anh Tư !

Anh Tư ừ ào cho xong chuyện:

– Ờ cái đó… chút chút thì được.

Chín Thuộc day bảo anh bồi và tên phổ ky:

– Thôi anh em để mâm cơm đó cho tôi, có cái gì cần thì tôi sẽ kêu sau.

Đoạn hắn ta bước lại cầm một cái ly đưa lên ánh đèn xăm xoi rồi kêu lên:

– Cha tụi này làm ăn dơ dáy quá! Ly cốc gì tụi nó để đóng nhờn đóng mỡ ghê quá! (rồi day qua Anh Tư) Anh ngồi đây, tôi đi rữa cho sạch cái ly nầy mới được.

Anh Tư ngồi thừ người không buồn để ý đến hắn nữa.

Chín Thuộc đem cái ly vô buồng tắm, rửa sơ qua cho có lệ, và sau khi đã ngó ngoái lại xem có ai ló mặt ra không, hắn mới đặt cái ly xuống, móc trong túi áo sơ mi ra một gói nhỏ bọc bằng giấy quyến. Hắn cẩn thận mở banh gói ấy ra rồi đổ một chút xíu bột trăng trắng trong gói vô ly.

Xong xuôi đâu đó, Chín Thuộc thản nhiên cầm cái ly đi ra, bàn tay nắm che khuất phần dưới. Đến bên cạnh anh Tư, hắn nhấc chai rượu lên, đưa răng cắn mở nút ra rồi rót vô một nửa ly rượu, kế đó hắn mới rót cho mình cả một ly đầy.

Sau khi đặt hai ly rượu khít bên nhau, Chín Thuộc bèn vỗ vai anh Tư tươi cười nói:

– Thôi quay vô nhậu chớ! Bây giờ việc gì cũng dẹp qua hết… Đây nè, hai ly anh muốn bắt ly nào thì bắt!

Anh Tư quay mặt lại lơ đểnh cầm lấy ly ít rượu hơn… Thấy vậy Chín Thuộc cười xòa:

– Cha nầy khôn quá ta! Nhưng hổng phải có bao nhiêu đó rồi thôi nghe! Đây mới là tua đầu và tôi chấp trước đó!

Anh Tư gượng cười đáp:

– Cái đó thì tôi xin chịu thua anh trước.

Chín Thuộc kéo ghế nghe cái ‘‘rột’’

– А lê, hai đứa mình bắt đầu ‘‘nhập tiệc’’ đi anh! Làm xăng xăng lên một chút chớ!

Anh Tư đưa ly rượu lên môi, uống một hớp nhỏ rồi nhăn mặt kêu lên:

– Rum khỉ gì mà đắng nghét vậy cà!

Chín Thuộc cũng đưa ly lên uống rồi chép chép miệng như để thử mùi vị rượu:

– Đâu cò gì đắng hả anh… Chắc tại anh hút thuốc nhiều quá nên nó sanh ra như vậy, chớ thứ rum chai vuông nầy thì nhứt hạng bên tây mà!

Anh Tư chỉ ‘‘ờ’’ một tiếng xụi lơ rồi cầm đũa gắp thức ăn.

Suốt trong bữa nhậu, Chín Thuộc cười nói huyên thiên nhứt là hắn ta luôn luôn chêm vô một vài chuyện tiếu lâm…‘‘mặn’’  rất có duyên, khiến cho anh Tư cũng vui lây.

Và cố nhiên là hắn cũng không quên tiếp rượu liền liền cho anh Tư.

Một lúc sau, giọng của anh Tư đã trở nên lè nhè:

– Thôi anh Chín, tôi ‘‘đủ’’ rồi nghen ! Cha cái điệu nầy, lát nữa tôi về chắc bị con vợ tôi cạo sát ván quá!

– Ôi anh đừng có lo khỉ gì hết, lâu lâu mình mới dám thả gà một chuyến chớ bộ ngày nào cũng… vui với anh em như vầy sao!

– Ê, làm thêm một chút nữa đi bạn, có cái gì tôi sẽ lãnh phần kè anh về nhà cho.

Anh Tư nhăn nhó:

– Say nhướng con mắt lên hết nổi như vầy, về nhà con vợ tôi nó còn…lằng nhằn trì kéo nữa…chớ nó có chịu…buông tha để cho mình ngủ yên đâu! Anh Chín anh nghỉ coi như vậy…chịu đời sao thấu hả anh !

Chín Thuộc giơ tay qua bàn vỗ nhẹ lên vai anh ta:

– Cha khổ quá há! Chuyện đó thì tôi xin…а la de chớ đâu dám phụ tiếp với anh… Được rồi, để kỳ sau tôi có trở về đây, tôi sẽ tặng anh một chai rượu thuốc, thứ đặc biệt có ngâm con ‘‘cắc kè bay’’ trên núi…Mỗi buổi tối anh làm bậy một ly nhỏ cho sần sần lên rồi thì cam đoan…bất kể quân thần, liên tu bất tận, tối trời tối đất đa anh!

Bỗng anh Tư lắc lắc đầu mấy cái rồi gục xuống bàn. Chín Thuộc xăng xái xô ghế ra đứng dậy, bước lại sát một bên anh Tư. Hắn ta đưa tay lắc đầu anh Tư và gọi:

– Anh Tư, anh Tư! Tôi đưa anh đi về nghen!

Anh Tư ráng ngốc đầu lên ú ở một vài tiếng gì không rõ, rồi lại gục xuống như cũ.

Chín Thuộc lắc vai anh Tư mấy cái thật mạnh nhưng anh ta vẫn không hay biết gì ráo. Hắn ta bèn xốc anh Tư lên, lôi đặt cho nằm ngay trên giường, rồi đứng chống nạnh nhìn. Hắn ta nhích mép cười rồi gật gù lẩm bẩm:

– Nội chút xíu bột ‘‘đẻn cườm’’ đó cũng đủ ngủ li bì vài tiếng đồng hồ xeo không dậy, chớ đừng nói gì còn thêm ba bốn ly rum nữa!

Đoạn Chín Thuộc bước lại gần túi áo của anh Tư móc lấy cái chìa khóa rồi ung dung đi ra khỏi phòng sau khi đã khép kín cửa lại. 

Nghe tiếng khóa cửa kêu lạch cạch phía đằng trước, thím Hương còn nằm thức trong buồng bèn lên tiếng hỏi:

– Anh Tư về đó phải hông? Sao trễ vậy?

Chín Thuộc không nói không rằng khóa trái cửa lại rồi rón rén đi thẳng vô buồng nơi có ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn chong…

Bước đến cửa buồng, Chín Thuộc chột dạ đứng khựng lại nhưng khi để mắt nhìn thấy qua một lần mùng lưới mờ ảo, hình vóc của thím Hương nằm dài trên giường với mớ tóc đen xõa trên gối, hắn ta thấy cổ như khô lại và lỗ tai thì lùng bùng…

 Không bỏ lỡ thêm một giây nào nữa, Chín Thuộc bước gấp lại một bên giường, vén mùng chui vô.

Thím Hương vừa giơ tay định níu lấy cổ… nhưng bỗng thím hoảng kinh bò rột dậy, lết liền vô phía trong, và lập cập hỏi:

– Ai, ai đây?

Chín Thuộc cẩn thận ngồi ngay ngắn lại chớ không làm nồ tới sợ thím Hương la hoảng:

– Tôi đây mà thím … Chín Thuộc đây mà!

Thím Hương hơi lại hồn, vói tay bới sơ sịa đầu tóc vừa hỏi:

– Anh Chín, anh làm gì lạ vậy? Anh Tư đâu rồi hả?

Chín Thuộc dịu dàng đáp:

– Ối thím đừng có lo cho ảnh, ảnh uống quá chén nên về hết nổi rồi.. Và đêm nay chỉ có… mình tôi với thím…

Thím Hương nhíu mày suy nghĩ rồi ôn tồn nói:

– Anh Chín, anh là bạn thân của anh Tư, anh nên nghĩ lại kẻo sau này anh em hết ngó mặt nhau được. Tôi chắc đêm nay anh cũng …uống rượu hơi nhiều…

Nói đến đó, thím Hương vừa lấm lét canh chừng Chín Thuộc vừa lết sát theo thành giường để vọt ra phía ngoài.

Sợ thím Hương nhảy xuống giường mất, Chín Thuộc vội đưa tay chận thím lại… nhưng cũng quá say và quá…tự tin nên khi bị cái hất quá bất ngờ và quá mạnh của thím Hương, tay Chín Thuộc dạt qua một bên. Hắn ta nổi nóng vội chụp vói trở lại nhưng thím Hương đã tuột ra khỏi mép giường bên ngoài.

Thím hớt hải chạy lại dặn cho ngọn đèn sáng tỏ lên, lẩy bẩy gài lại mấy cái nút bóp áo túi sút ra vì bị kéo ban nãy.

Chín Thuộc cũng đã bước chân xuống giường. Hắn cười rè và đưa mắt nhìn thím Hương như để dò xét thêm.

Thím Hương vội chạy đứng luýnh quýnh nơi ngưỡng cửa buồng nửa muốn kêu la cầu cứu nửa muốn tìm cách đuổi êm Chín Thuộc ra.

 Chín Thuộc bước tới một bước:

– Thím ơi, bộ thím không hiểu rõ lòng tôi một chút xíu nào hết sao? Sở dĩ tôi còn nấn ná ỡ đây từ hôm nay là cũng vì ai thím có biết không?

– Anh Chín, tôi nể anh lắm nghen, nhưng anh đi quá lố thì nhứt định không được. Nếu anh không biết điều đi ra khỏi nhà này lập tức, lát nữa anh Tư ảnh về tôi nói với ảnh hết cho mà coi!

Chín Thuộc cười mũi

– Anh Tư ảnh mèm còn biết trời đất gì nữa mà về! Mà thím nên nghĩ lại: tôi đây với thằng chả có kém sút gì đâu! Thím còn trẻ, đời thím còn dài mà thằng cha Tư nó cũng long bong lắm chớ bộ hiền lành gì lắm sao? Độ thím tưởng thằng chả mê thím chớ không phải ‘‘mặn’’ với cái gia tài của thầy Hương Quản để lại chắc! Nói thiệt với thím cái bổn mạng của thằng cha Tư tôi nắm trong tay đây nè! Tôi muốn giết lúc nào thì giết mà muốn buông lúc nào thì buông… có điều tôi còn dị tình thím nên tôi không nỡ thẳng tay đó thôi.

– Hứ, bộ anh nói anh Tư cũng…như anh!

Chín Thuộc cười rè. Hắn ta định móc lấy giấy thú nhận của anh Tư ra nhưng chợt nghĩ nếu mình làm thẳng cảnh quá thì cũng kẹt luôn vố nên chỉ đáp một cách mập mờ:

– Thím hổng tin tôi thì cứ hỏi ngay thằng chả ắc rõ việc đó dễ mà! Nhưng thôi, tôi đã nói tôi hổng muốn đá động tới chuyện đó nữa. Bây giờ…nè thím, thím không. thương tôi chút nào hết sao? Tôi khổ công xắp đặt để gần gũi với thím trong giây lát…Chút nữa anh Tư ảnh có về thì…ai biết đâu là đâu.

Nói đến đây, Chín Thuộc lại bước tới thêm một bước nữa:

– Thím Hương…tôi nói như vậy có phải hông…

Thím Hương bước vọt ra khỏi ngưỡng cửa, hớt hải nói:

  – Tôi nói anh lần chót! anh làm tới tôi la lên đa!

 Chín Thuộc trừng mắt

– Thiệt la hông? Tôi nói thiệt: tôi lọt vô đây thì hổng dễ gì về không đâu nghen!

Vừa nói Chín Thuộc vừa xâm xâm đi tới.

Thím Hương thở hào hển!

– Tôi la thiệt đa!

Chín Thuộc cười hô hố:

– La thì cũng rồi, mà thím có la làng giờ này cũng chẳng ai nghe… có nhà chòm xóm nào ở khít đây đâu hả?

– Tôi réo con nhỏ ở dậy hổng được sao?

Lần này thì Chín Thuộc cười ngất:

– Tính ‘‘Dạ hành tỏ’’ tôi phải không? Hôm kia tôi lại đây có nghe thím nói chiều nay thím cho con nhỏ ở về thăm nhà dưới vườn mà ! Tôi rành mọi việc trong nhà này hết… cưng ơi!

Dứt lời, Chín Thuộc nhảy bổ tới tấn thím Hương vô góc nhà. Thím Hương vừa xô đẩy vừa réo gọi thất thanh:

– Năm ơi, Năm! Ra đây mau!

Thím Hương kêu lên thêm vài tiếng nữa thì phía nhà trong có tiếng ú ớ của con nhỏ ở!

– Thím Tư kêu tui hả thím?

Chín Thuộc cau mày nới tay ra. Thím Hương mừng rỡ réo thêm:

– Mau ra đây Năm!

Có tiếng guốc lách cách vang ra… Chín Thuộc vùng vằng buông thỏng tay xuống rồi hỏi xẳng  giọng thím Hương:

– Bộ con nhỏ ở hổng đi về thăm nhà hả?

Thím Hương hổn hển đáp:

– Nó bị trễ chuyến đò chót… Đó không, tôi nói tôi kêu mà!

Chín Thuộc lẩm bẩm: “Con nhỏ mắc toi.”  rồi bỏ đi ra ngồi ở ngoài bộ xa lông đằng trước trong lúc thím Hương bương bả đi tuốt ra phía sau để chận con nhỏ ở lại.

Nửa phút sau, thím Hương bưng một cây đèn chân đồng lớn ra và khi thấy mặt Chín Thuộc, thím nói liền:

– Bây giờ tôi xin mời anh ra khỏi nhà gấp dùm!

Chín Thuộc xẻn lẻn hỏi:

– Con nhỏ ở…bộ êm rồi hả thím?

– Chớ để nó thấy rồi nó lẻo mép đi học đầu này đầu nọ tùm lum lên sao?

Chín Thuộc cười gượng:

– Bộ thím cũng sợ tai tiếng lắm sao?

– Tôi đâu phải… mặt chai mày đá như ai mà không sợ thiên hạ dị nghị? Thôi bây giờ anh làm ơn đi ra dùm tôi, chớ đã anh Tư ảnh về kịp thì khó nói lắm đa! Và kể từ nay tôi không muốn thấy mặt anh ở đây nữa.

Chín Thuộc cúi đầu suy nghỉ, đoạn hắn đừng dậy bước ra phía cửa cái. Nhưng đi được hai bước, hắn quay lại, vẻ mặt làm như thiểu não lắm:

– Thím Hương tôi… xin lỗi thím. Tối hôm nay tôi có phần quá chén nên mới làm những chuyện… tầm bậy đó, tuy rằng trong lòng tôi lúc nào cũng… quí mến thím thiệt không có chỗ nào để cho hết.

Nói đến đây, hắn thở dài.

-…Chắc thím cũng xét dùm tới chỗ đó, chớ đành đoạn nào đuổi xua tôi như vầy sao?

Thím Hương cười mũi:

– À cái đó không phải lỗi tại tôi đâu nghen!

– Thì tôi nhận hết rồi mà thím! Thím không cho tôi có một dịp nào khác để chuộc tội tôi sao hả thím?

Thím Hương thản nhiên đáp:

– Anh đừng trông thấy mặt tôi, đừng bước chân vô cái nhà nầy nữa là đủ.

Giọng của Chín Thuộc trở nên thống thiết:

– Thím cũng cấm luôn không cho tôi đi kiếm con Hạnh dùm thím nữa sao? Anh em quen của tôi từ trên Cần Thơ mới xuống vừa cho biết đã dò hỏi ra dấu vết của con nhỏ…

Thím Hương nhíu mày lặng thinh.

Thấy thế Chín Thuộc tấn công tới:

– Nói là nói vậy, chớ dầu thím cấm cản tôi đi nữa, tôi cũng phải ráng tìm dẫn con Hạnh về cho thím. Tôi đã hứa thì phải giữ lời… (hắn ta chép miệng nói tiếp và tôi mong rằng khi nào tôi làm tròn lời hứa ấy chắc thím cũng… hỉ xã cái lỗi vừa qua cùng ngó lại… thân phận tôi…)

Giọng của thím Hương đã có phần hớt xẳng:

– Nếu anh có lòng… giúp như vậy thì tôi đâu dám quên ơn. Con người ta ai mà không có lúc lỗi lầm nhứt là như anh nói anh vì quá chén nên mới ra nông nỗi ấy… Và nếu anh còn quyết tìm kiếm con Hạnh nữa thì tôi đâu có thể viện lý lẽ gì nữa để xử ngặt với anh sau này được.

Chín Thuộc tươi hẳn mặt lên:

– Thôi thím nói bấy nhiêu đó cũng đủ rồi ! Thiệt như… nước Cam lồ vậy! Tôi cam đoan sẽ đem con Hạnh về cho thím, rồi tới chừng đó thím, muốn… rộng lượng với tôi như thế nào thì tôi ưng thế nấy chớ không dám kèo nài gì hết ráo,

Đoạn hắn xăng xái nói thêm:

– Để tôi đi gấp về phòng ngủ ‘‘lay tỉnh’’ anh Tư dậy kẻo thím đợi. Thím vô nghỉ đi thím Hương… Thím để tôi khóa cửa lại cho.

Thím Hương thở ra một hơi dài…

Nhưng Chín Thuộc vẫn còn xớ rớ ở đó. Thím Hương cau mày toan hỏi hắn ta, thì hắn ấp úng lên tiếng:

– Thiếu chút nữa tôi… quên dặn thím điều này ! Chừng nào anh Tư ảnh về… Thím cũng đừng nói lại với ảnh… cái chuyện vừa rồi làm chi… Đã đành rằng mình… chưa có làm gì quấy nhưng nếu ảnh biết được ảnh đâm ra… thắc mắc nọ kia không tốt… Tôi lo đây là lo phần của… thím nhiều hơn chớ thân phận tôi thì… kể số gì !

Thím Hương làm thinh, Chín Thuộc rón rén đi lại mở cửa rút lấy chìa khóa để một khi ra ngoài có thể khóa lại у như cũ…

Còn lại một mình, thím Hương thẩn thờ nhìn sững ngọn đèn vặn tim quá cao nên khói đen táp lên tới trên miệng ống thông phong… rồi tự nhiên nước mắt trào ra lúc nào mà thím cũng chẳng hay biết…

…Độ nửa giờ sau, anh Tư lò mò về đến nhà.

Thím Hương vội lấy vạt áo lau kỹ hai khóe mắt và khi giáp mặt với anh ta thím chỉ lên tiếng oán trách chớ không cự nự như mọi khi:

– Anh Tư, anh bày đặt uống rượu say sưa rồi đi về trễ đêm hôm như vầy…có ngày em chết mà anh cũng chẳng hay!

Anh Tư xẻn lẻn đáp

– Năm thuở mười thì mới có một lần nhậu ‘‘quắc’’ như vầy chớ bộ hoài hoài vậy sao? Mà cái gì chết, bất quá anh về hơi trễ một chút…

Thím Hương lắc đầu nhè nhẹ

– Ừ, thì một chút! Anh có biết bây giờ là mấy giờ rồi không?

Anh Tư liếc nhìn chiếc đồng hồ treo trên vách gượng cười đáp:

– Ờ khuya dữ rồi há! Bị anh say rồi ngủ vùi anh Chín anh cũng ‘‘quắc’’ cúp bình thiếc nhưng anh tính trước nên ảnh kêu anh dậy đi về đây chớ hông thôi anh dám ngủ quên luôp tới sáng lắm!

– Thiệt chẳng lẽ em cấm cản anh, chớ anh cặp bè cặp bạn chơi bời với anh đó, em không yên tâm một chút nào! Người như vậy mình quen thân rồi năng tới lui nhau quá không ích lợi gì hết mà còn sanh nhiều chuyện rắc rối nữa. Em nói để rồi anh coi…

Anh Tư nắm lấy tay thím Hương, chắc lưỡi:

– Em không nói anh cũng biết mà! Anh còn lạ gì cái thằng cha đó! Nhưng như anh đã nói : mình lỡ kẹt cái chuyện con Hạnh vô…À, sáng mai này thằng chả cũng đi tàu lên Cần Thơ sớm để lo về cái vụ đó em à ! Em hết sợ thằng chả rủ rê anh và tới lui đây quấy rầy em nữa nghen!

Thím Hương cúi đầu thở dài

– Em cũng vái trời cho việc con Hạnh xong xuôi phứt cho rồi, để mình đền ơn anh một số tiền rồi anh muốn đi đâu thì đi…

Anh Tư cười mỉm đưa tay âu yếm ôm lấy vai thím Hương như muốn tạ lỗi. Bỗng anh ta để ý đến ngọn đèn dầu sáng đặt trên bàn, và kêu lên:

– Em để đèn chi vầy nè!

Không đợi thím Hương trả lời, anh ta nhoai người kê miệng thổi mạnh cho tắt phụt ngọn đèn rồi quay qua hối thím:

– Thôi bây giờ mình vô ngủ chớ em!

Chợt nhận thấy thím Hương có vẻ lựng khựng trong vòng tay dìu đi của mình, anh Tư kề tai thím thủ thỉ:

– Bộ em giận lẫy hả? Để anh đền…phủ phê cho mà cưng!

Và khi vào đến buồng trong, nhìn thấy chiếu mùng xô lệch, thím Hương đâm ra ngượng ngùng, nhưng rồi sau đó, cũng cảnh tượng ấy lần lần gây cho thím một sự háo hức mới lạ bên tấm thân nóng hừng hực của anh Tư.

Thím nhoai đầu lên cắn nhẹ vào vai anh ta và nói rít qua hàm răng:

– Uống rượu cho dữ nó nghen quỷ!…

 Bên cạnh anh Tư thím Hương vững tâm trở lại và quên bẵng cơn sóng gió vừa qua… 

Vừa lên tới Cần Thơ, Chín Thuộc tìm ngay đến một thủ hạ thân tín để hỏi thăm về việc hắn ta nhờ dọ hỏi tin tức của con Hạnh. Đó là một tên thuộc giới ‘‘đóng cửa rút cằu’’ của thành phố nầy và có biệt danh là Năm Đen.

Gặp Năm Đen, Chín Thuộc hỏi liền:

– Sao mầy, cái việc tao nhờ mầy đó tới đâu rồi?

Năm Đen nhăn mặt đáp:

– Thiệt lạ quá, từ thuở tui quen biết anh tới bây giờ có lần nào anh nhờ tui một công việc…kỳ như lần này đâu! Kiếm đứa nhỏ đó chi vậy anh?

Chín Thuộc có vẻ bực mình:

– Bây giờ mầy bắt chước ai hạch hỏi lại tao đó mậy? Kiếm nó làm chi thì thây kệ mẹ tao!

– Anh đâu có biết cho những sự ‘‘trần ai’’ khổ nhọc của tui trong lúc tui chạy kiếm con nhỏ khắp bầu trời thiên hạ, sau cùng lại hóa ra nó ở khít nách mình mà không hay: may cũng nhờ có mấy anh em trong giới ‘‘chụp giựt’’ ngoài nhà lồng chợ cho biết là có ông Sáu quét chợ ổng có một đứa con gái nuôi…

– Biết phải đứa nhỏ đó hông mậy?

– Sao hổng phải: ông nầy cũng là người miệt trong Tân Thới mà! Đứa con gái trạc tám chín tuổi, mặt mày sáng láng phải hông?

– Vậy mầy dẫn tao tới đó liền đi.

Năm Đen làm ra vẻ nghiêm trang

– Dẫn anh đi thì mau lắm, nhưng anh nghỉ kỹ lại coi: rủi anh tới đó gặp ông già ổng nhìn mặt làm khó dễ thì thêm mắc công mắc linh đa. Với lại tui cũng nghe ổng mến con nhỏ đó lắm.

  Chín Thuộc vui vẻ vỗ vai anh ta:

– Mầy khỏi lo về vấn đề nhìn biết tao. Suốt mấy tháng tao mần ăn Tân Thới ban ngày tao có ló mặt ra chỗ nào đâu mà có người nhận ra tao được mậy!

Nói đoạn, Chín Thuộc xô Năm Đen đi và tiếp lời :

-… Với lại tao cũng chẳng cần gặp ông già đó làm gì. Mầy làm sao сho tao thấy mặt được con nhỏ rồi mầy để mặc kệ tao, tao tính sao xong thì thôi.

– Ờ, nếu vậy thì dễ ợt! mỗi bữa trưa con nhỏ đó hay xách cơm ra cho ông già tía nuôi nó ăn. Anh cứ việc canh chừng ở khoảng đường từ cầu Xéo lên nhà lồng chợ thì thế nào cũng gặp.

– Nhưng trước hết mầy phải chỉ sơ qua chuyến đầu cho tao biết mặt nó chớ!

– Được rồi. Nhưng… nè anh Chín, từ hôm nay chạy đông chạy đáo kiếm con nhỏ… tiền xe pháo tốn nhiều quá lại bỏ phí hết công chuyện mần ăn.

Chín Thuộc đấm nhẹ vào lưng anh ta:

– Cho tụi bây ăn ngập mặt thì chẳng sao, lâu lâu nhờ nhỏi một chút, tụi bây nói thiếu điều nhức mình! Đây nè cầm bậy một voi uống nước chơi, tao đối với em út bao giờ cũng ngọt lắm mà mậy!

Năm Đen cười hề hề đưa tay đỡ lấy tờ giấy một trăm đồng rồi xăng xái bước đi lên trước…

Vừa thấy con Lụa tay xách gào mên cơm đi tới, Năm Đen khều Chín Thuộc bảo nhỏ:

– Con nhỏ đó anh Chín!

Chín Thuộc nheo mắt nhìn kỹ rồi hỏi lại:

– Chắc hông mậy? Thiệt tao cũng quên hỏi con mẹ Hương coi có tấm hình nào của con nhỏ hông để mình coi theo đó mà nhận diện thì dễ quá?

Năm Đen chắc lưỡi

– Chắc mẽm mà anh! Thôi đó, tui giao cho anh muốn mần gì đó thì mần, tôi lui nghen!

Chín Thuộc không rời mắt nhìn con Lụa đang đi gần tới.

– Ờ, mầy để đó cho tao, có việc gì cần tao sẽ kêu mầy sau…

Vừa nói Chín Thuộc vừa bước đi lần về phía bên kia lề đường để đón chận con nhỏ. Hắn ta lấy vẻ tươi cười gọi con Lụa:

– Cháu bé ơi, lại đây cho qua hỏi thăm một chút coi!

Tuy giọng nói của Chín Thuộc rất mực dịu dàng nhưng vì hờ cơ nên con Lụa cũng phải giựt mình. Nó ngó lom lom người khách lạ và đi bét bét ra ngoài giữa đường.

Chín Thuộc mỉm cười đưa tay ngoắc nó lại!

– Nè cháu, đừng sợ gì hết… Cháu lại đây qua hỏi thăm một chút mà!

Con Lụa lựng khựng đứng lại rụt rè hỏi

– Chú kêu tui hả?

– Phải… Bước xích lại đây, qua có ăn thịt ăn cá gì đâu mà cháu sợ hổng biết?

Cọn Lua bước vô lề đường nhưng đứng hơi dang xа xa:

– Chú muốn hỏi thăm tui cái gì!

– Cháu có phải là con nuôi của ông… ông Sáu gì đó không?

Con Lụa nhíu mày:

– Tui là con của ba Sáu tui.

– Vậy chớ ba ruột cháu đâu?

Con Lụa trả lời xẳng bâng:

– Chết rồi!

Chín Thuộc ‘‘à’’ một tiếng rồi hấp tấp hỏi thêm :

– Còn má cháu ở đâu?

– Hổng biết!

Chín Thuộc cau mày suy nghĩ một vài giây, rồi chậm rải hỏi nữa :

– Sao nghe nói… cháu ra ngoài này để đi học mà?

 Con Lụa nhìn Chín Thuộc một hồi rồi hoài nghi hỏi lại:

– Chú là ai? Hồi nào tới giờ tui có quen biết đâu…

Chín Thuộc niềm nở đáp

– Ậy, cháu còn nhỏ nên hổng biết chớ qua đây cũng là người bà con của thầy Hương mà !

Con Lụa mở to mắt:

– Thầy Hương nào!

Chín Thuộc cười rồi nói lảng đi:

– Thầy Hương quản đó! Đối với qua đây cháu dấu diếm làm chi… À bộ lóng rày cháu… hổng đi học nữa hả?

Con Lụa hỉnh mũi lên:

– Lúc nào vui đi học chơi, lúc nào buồn thì ở nhà vậy thôi!

Đoạn nó dợm bước đi và nói:

– Thôi tui đi đem cơm cho ba Sáu tui hông thôi ông đợi ông chưởi chết.

Chín Thuộc vội lên tiếng giữ nó lại :

– Ậy khoan đã cháu, qua muốn nói với cháu một việc nầy…

– Tui là con nít mà có việc gì… chú nói chớ? Chú muốn nói thì theo tôi ra chợ gặp mặt ba Sáu tui.

Chín Thuộc chắc lưỡi:

– Đã đành như vậy rồi, nhưng qua thấy cháu mồ côi mồ cút qua thương…

– Tui có ba Sáu mà!

– Ba Sáu của cháu tuy thương mến cháu nên sẵn lòng chứa chấp cháu, nhưng tội nghiệp cho ông già ổng cũng nghèo sặt gạch chớ bộ dư dả gì sao! Bởi vậy qua tính kêu cháu về ở với qua, qua nuôi cho ăn học cũng như mấy đứa con nhà giàu sang khác.

Con Lụa lắc đầu:

– Tui hổng ham đi học đâu.

– Thì qua cũng biết vậy, nhưng tại cháu học nhầm cái trường mắc dịch đó nên cháu mới dám bỏ đi như vậy. Chuyến nầy cháu về với qua, qua sẽ kiếm cho cháu một trường khác rồi qua sẽ may mặc cho cháu bốn năm bộ quần áo mới nè, cho tiền ăn bánh nè, dẫn đi coi hát bóng, hát cải lương lu bù nè…

Con Lụa vẫn lắc đầu:

– Tui quen ở với ba Sáu rồi, tụi hổng muốn đi đâu hết!

Chín Thuộc vẫn giữ giọng ngọt ngào:

– Nhưng cháu nhắm ba Sáu của cháu nuôi cháu trọn đời được hông? Ông già khú đế như vậy rủi ổng chết bất tử bỏ cháu bơ vơ rồi cháu ở với ai bây giờ?

– Ba Sáu mạnh giàn trời chết sao được!

Chín Thuộc thở dài rồi hỏi thêm:

– Nhưng bộ cháu hổng nhớ má cháu sao? Cháu theo rồi qua dẫn cho cháu gặp má cháu…

Con Lụa nhíu mày suy nghĩ rồi lại lắc đầu đáp một cách rất thản nhiên:

– Tui hổng biết..má nào hết.

Chín Thuộc nhìn sững con nhỏ… Bỗng nhiên hắn ta cười xòa rồi thấp giọng hỏi nó:

– Thôi qua biết rồi… Chắc cháu còn giận má cháu lắm phải hông? Giận vậy là… phải. Qua cũng để ý đến chỗ đó lắm nên mới tính rước cháu về nhà qua ở đỡ, rồi qua sẽ kiếm thím Hương để khuyên lơn thím nghĩ lại… Dầu sao cũng còn tình nghĩa mẹ con chớ cháu!

Con Lụa xẳng giọng hỏi:

– Tui đã nói hổng có má khỉ gì hết mà! Thôi tui đi đây, chắc chú nhìn lộn rồi đa!

Vừa nói con Lụa vừa te te bỏ đi trước.

Chín Thuộc cười rè:

– Cha, con nhỏ khôn lanh tổ mẹ! (đoạn hắn ta cũng tất tả bước theo và réo gọi). Cháu ơi cháu!

Con Lụa chỉ ngó ngoái lại :

– Gì nữa đó hả? Tui nói tui hổng biết gì hết…

Chín Thuộc vội móc bóp lấy ra một tờ giấy bạc năm đồng và lo le về phía con Lụa:

– Cháu đừng xí gạt qua làm gì tội nghiệp. Qua lo cho cháu thiệt tình mà! Đây nè qua cho cháu năm đồng, cháu cầm lấy ăn bánh chơi…

Con Lụa nhìn tờ giấy bạc một hồi rồi chậm rãi lắc đầu:

– Tui hổng lấy đâu! Ba Sáu biết ổng quánh chết!

– Biết khỉ gì được. Cầm lấy đi cháu…

Con Lụa chẳng nói chẳng rằng cấm đầụ chạy đi thẳng và khi nó nghe có tiếng chân của Chín Thuộc rảo bước theo sau nó liền phát chạy luôn.

Chín Thuộc cũng chạy đuổi theo:

– Cháu ơi cháu ! Đứng lại một chút cháu!

Con Lụa hoảng kinh cố sức chạy rút hơn nữa, còn Chín Thuộc chợt thấy người đi đường để ý đứng lại ngó theo và cùng một lúc đó, một thầy phú lít đạp xe máy cọt kẹt đi trờ tới nên hắn ta vội chậm bước lại, rồi làm tỉnh ngó thẳng về phía trước như không có việc gì xảy ra hết…

Trưa hôm ấy, sau khi mang cơm cho ông Sáu Giò ăn xong rồi trở về nhà, con Lụa liền lôi con Hạnh vào tuốt trong buồng sau:

– Hạnh ơi, vô trong nầy tao nói cho mầy nghe chuyện này kỳ lắm !

  Con Hạnh ngoan ngoãn đi theo nó và một khi vào đến nơi, con Lụa hớt hải nói liền:

– Hạnh ơi tao gặp một chuyện quá xá, hồn vía gì bay bổng dìa trời hết!

Con Hạnh mỉm cười rồi nhỏ nhẹ lên tiếng:

– Tôi đã nói bây giờ hai đứa mình là chị em với nhau, vậy mà chị cứ… mầy tao hoài !

Con Lụa nhăn mặt :

– Dẹp chuyện đó qua đi bà nội! Gấp thấy mồ đây mà ở đó chị chị em em ! Để thủng thỉnh rồi tao bắt chước kêu lại, chớ bây giờ khỏi đi !

Con Hạnh vội bọc xuôi theo:

– Thì tôi nhắc chừng chừng vậy mà! Sao, chuyện gì mà tôi coi bộ chị quýnh lên vậy?

Con Lụa hăng hái đáp:

– Hồi nãy tao xách cơm cho Ba Sáu ăn đó, bận đi tao gặp một thằng cha lạ quắc nó chận đường, cái thằng cha… mặt mày như chúa ôn, phải mầy thấy thằng chả mầy té chết giấc liền một khi… Tao thấy mặt thằng chả có một cái thẹo ở bên tai…ở bên này nè, cái thẹo dài thòn, sâu quắm …

– Sao chị hổng la lên?

– La khỉ gì mậy! Thằng chả có làm gì mình đâu mà mình la? Thằng chả còn о bế đòi kêu tao dìa ở với thằng chả, rồi móc tiền ra cho, và có nói sẽ mua sắm cho tao đủ thứ nữa!

– Vậy chị… có lấy hông?

Con Lụa vênh mặt lên:

– Tao đấm thèm đi! Bộ mầy nói tao ham lắm sao? Nội cái bản mặt của thằng chả thấy cũng đủ ớn rồi…

– Ờ, chị làm như vậy phải đa! Rồi sao nữa chị?

– Thằng chả cứ theo bên đít năn nỉ riết tới nhưng tao… chạy luôn.

– Bộ thằng chả rượt chị hả?

– Ừa. May mà tao chạy mau hơn thằng chả đó nghen.

Đến đây, nó đứng chống nạnh nhìn con Hạnh rồi nghiêm giọng nói tiếp:

– Có điều lạ là tao nghe thằng chả nói nhiều câu gì đâu như… điên khùng, mà thằng chả có nhắc lời ông Hương Quản bà Hương Quản nữa…

Con Hạnh hớt hải hỏi liền:

– Ý trời! Thằng chả nói gì đó chị?

– Tao cũng hổng nhớ nữa vì… kỳ cục quá mà!

– Vậy chị có… nói gì tới tôi không?

– Mắc mớ gì mà nói tới mầy hả?

Con Hạnh có vẻ lo âu:

– Cha, cái điệu này chắc tôi… nguy quá..

Con Lụa gạt ngang :

– Sao con này nhát hơn thỏ đế, tao nói không ăn nhập gì tới mầy hết!… À mầy ơi tao coi bộ thằng cha đó có tiền có bạc dữ lắm…

Con Hạnh chắc lưỡi:

–  Thôi chị ơi, tôi lo thấy mồ đây nè, thằng chả giàu thì thây kệ thằng chả, hay lát nữa ba Sáu về mình nói lại cho ba Sáu nghe coi ổng tính sao!

– Ý không nên, tánh ổng nóng như lửa mình học lại cho ổng nghe rồi ổng làm tùm lum lên, rủi ro có chuyện gì xãy ra thì lòi chành ra mầy ở trỏng đó nghen!

– Ờ, phải há.

Con Lụa nắm lấy tay nó:

– Theo tao, bây giờ mầy cứ ở riết trong nhà đừng thèm ló mặt đi đâu hết. Còn tao, nếu tao có gặp thằng cha mắc toi đó thì tao sẽ liệu cách, tao đâu có ngán thằng cha đó mậy.

Con Hạnh mỉm cười:

– Chị cũng coi chừng coi đổi chớ đừng ỷ у quá không nên đa.

Con Lụa không trả lời mà đưa tay kéo sợi dây chuyền vàng tây của con Hạnh ra khỏi áo (vì con này có ý tứ không muốn đeo lộ ra ngoài) và xăm xoi một cách rất mê thích.

Nhận thấy từ hồi ở chung với con Lụa, con này đã nhiều lần táy máy trầm trồ sợi dây chuyền ấỵ nên con Hạnh hiểu ý bạn ngay. Nó dịu dàng bảo con Lụa:

– Bộ chị ham thứ nầy lắm bả?

Con Lụa mỉm cười gật đầu.

– Chị muốn đeo hông, tôi nhường lại cho chị đó !

– Muốn thì… muốn lắm, nhưng cái nầy của mầy tao lấy đeo sao được!

– Gì hổng được! Của tôi là của chị mà. Tôi đeo nó lâu quá cũ xì cũ xịt nên cũng hết ham nữa rồi.

Vừa nói con Hạnh vừa đưa tay mở khóa sợi dây chuyền rồi đeo luôn vào cổ con Lụa.

Con nầy làm bộ cự nự:

– Kỳ quá mầy, tao hổng đeo đâu!

Nhưng thấy con Hạnh thật tình muốn tặng nó thiệt; nó xẻn lẻn nói thêm:

– Tao đeo đỡ đây thôi nghen, chừng nào mầy muốn lấy lại thì nói.

– Ờ, cha chị đeo nó vô coi ngộ lắm, bữa nào chị rảnh chị kiếm chanh đánh cho nó bóng lại chớ hông thôi đóng ‘‘teng’’ hết.

Con Lụa hăng hái đáp:

– Được rồi, để chiều tao ra chợ xin chanh dìa chùi đánh cho nó sáng rỡ cho mày coi! (rồi như nhớ trực lại điều gì, nó thấp giọng bảo con Hạnh)…Mà nè, mầy nhớ đừng rỉ một lời nào cho ba Sáu hay hết nghen. Thằng cha kia bự lớn lắm rủi ba Sáu nóng mũi kiếm, nó gây lộn nó quánh ổng chết!

Con Hạnh mỉm cười:

– Người ta biết rồi mà.

  Sau khi bàn tính lại với Năm Đen, Chín Thuộc quyết ra tay hành động gấp. Nhưng vì quá bộp chộp nóng nảy và không dọ hỏi kỹ càng nên hắn ta không ngờ ông Sáu Giò lại có đến hai đứa con nuôi và cả hai cũng là gái vào một trang lứa như nhau!

Hắn ta cứ đinh ninh con Lụa là con của thím Hương, cho nên cố công rình rập nơi khoảng đường mà con nhỏ này hay đi lại để chận bắt. 

Còn đường nàу, từ Cầu Xéo ra thẳng ngoài nhà lồng chợ, nằm kế bên bờ sông Cần Thơ. Chín Thuộc đã bảo Năm Đen mướn trước một chiếc tam bản đò mui ống đem đậu sẵn ở mé bờ gần một trại cưa để khi bắt cóc được con Lụa là mang luôn xuống đò bơi liền.

Hắn ta canh chừng nhứt về khoảng xế trưa. Lúc ấy con Lụa đi đem cơm cho ông Sáu Giò trở về và ngoài đường thì cũng thưa hẳn người qua lại.

Mãi tới ba hôm sau, dịp may hiếm có đưa lại cho Chín Thuộc. Trưa hôm ấy, trời chuyển mưa dữ dội, mây kéo đen kịt, gió cuốn ào ào, sét gầm vang rền…Con đường càng trở nên vắng vẻ thêm..

Con Lụa sợ mắc mưa nên cắm đầu cắm cổ chạy rút về nhà, nhưng không kịp: cơn mưa đã đổ ào tới. Nó vội phóng vô trú ẩn dưới cái mái de ra của cổng trại cưa, một chỗ gần nhứt.

Vừa tới nơi, nó đặt cái gào mên không xuống đất, hơi nghiêng người vô đằng trước rồi lắc lắc đầu để giũ nước mưa không cho thắm nhiều vào tóc.

Bỗng có thêm một người nữa chạy ùa vô đó. Con Lụa mừng thầm vì có người đục mưa cho có bạn? Nó ngước mắt lên tính bắt chuyện làm quen…Nhưng chưa chi, nó hốt hoảng kêu ‘‘ớ ’’ lên một tiếng rồi bước lùi về phía sau…

– Qua đây mà cháu! Cháu đừng sợ gì hết…

Người mới vào ẩn mưa đó không ai khác hơn là Chín Thuộc. Thấy con Lụa toan vọt chạy, hắn vội đứng chận trước mặt và ráng lấy giọng thật ngọt ngào ‘‘trấn an’’ con nhỏ?

– Bộ cháu hổng nhớ qua đây sao? Cha, mưa lớn quá há!

– Chú làm ơn xê ra cho tui dìa…

– Coi, trời mưa tối mặt tối mũi như vầy mà về sao được cháu! À, sẵn gặp cháu ở đây qua hỏi thăm cháu luôn: cái việc mà qua nói với cháu hôm trước …*Chín Thuộc (chưa nói dứt lời thì thình lình con Lụa co giò phát chạy, nhưng hắn đã quơ tay chụp vai nó kéo lại. Con Lụa không nghĩ suy gì nữa quay đầu cắn một cái thật mạnh vào bàn tay hắn để thoát thân).

Hắn phát kêu lên ‘‘ái da’’! Rồi vói chụp liền cánh tay con Lụa kéo giựt lại. Con Lụa toan cắn nữa nhưng hắn đã bẻ lật cánh tay của nó khiến cho nó nhăn nhó rên rĩ và không sao xáp lại gần Chín Thuộc được.

Thấy, con nhỏ đã chịu phép, Chín Thuộc mới lên tiếng:

– Qua có làm gì hại cháu đâu mà cháu sợ qua như sợ cọp vậy? Để qua nói hết cho cháu nghe…

– Chú hổng buông tay tui ra tui la làng lên nghen?

Chín Thuộc cười ngất:

– Cháu đừng có dại như vậy, trời mưa trời gió ầm ầm như vầy dầu cho cháu có la lòi con trê đi nữa thì cũng chẳng có ma nào nghe.

Con Lụa đâm ra quýnh  thêm. Tuy biết Chín Thuộc nói có lý nhưng nó cũng phát la lên:

– Bớ làng xóm cứu tui! Bớ làng xóm…

Chín Thuộc mỉm cười nhìn nó:

– Đó qua nói có sai đâu! Thôi sẵn dịp gặp cháu đây qua … rước cháu đi luôn …

– Tui hổng thèm đi đâu!

– Coi, đi về thăm má cháu một lát rồi lên mà!

– Hổng đi đâu.

Chín Thuộc quắc mắt, giựt mạnh cánh tay hỏi:

– Tao nói ngon nói ngọt mầy hổng chịu nghe thì đừng có trách nghen ! Má mày giao cho tao bắt mày dìa đó!

Con Lụa tức quá đến phát khóc:

– Tui nói hổng có má tía náo nạo gì hết mà! Tui hổng đi đâu hết…

– Mầy hổng chịu tao cũng lôi cổ mầy đi!

Vừa nói Chín Thuộc vừa quơ chiếc áo mưa đang khoác trên vai xuống và chụp phủ lên mình con Lụa. Mặc cho con nhỏ chống cự, hắn ta nhảy xổ lại liền theo đó và ôm xốc nó lên vác tuốt xuống đường hẻm bên hông trại cưa để đi thẳng ra bờ sông.

Năm Đen đã chực sẵn trong mui tam bản, và khi nghe Chín Thuộc réo gọi anh ta vội vã chạy ra trước mũi để đỡ con Lụa xuống. Chín Thuộc vừa chuyền tay con nhỏ cho anh ta vừa căn dặn:

– Mầy ôm siết cứng lấy nó, chớ hông thôi nó tống rớt xuống sông bây giờ! Thiệt cái con gì nhỏ như hột mít mà dữ quá tổ mẹ!

Tuy Chín Thuộc cẩn thận dặn dò như vậy nhưng Năm Đen vốn ỷ y nơi sức lực của mình và vốn khinh thường hình vóc bé bỏng của con Lụa, nên anh ta vừa đưa tay ẵm lấy thì bất ngờ bị con nhỏ vùng đạp một cái thật mạnh. Năm Đen hốt hoảng quơ chụp lại nhưng con Lụa đã văng sút ra rớt xuống, đầu chạm vào be tam bản rồi lăn ùm xuống mặt nước. Chín Thuộc nhanh nhẹn nhảy xuống sông vớt con Lụa lên để cho Năm Đen bồng lấy đem đặt tuất vô trong mui.

Chín Thuộc, quần áo ướt loi ngoi, leo lên tam bản thò đầu vô hỏi Năm Ben:

– Mày coi nó có sao hông? Nó bị đập đầu vô be ghe đó!

Năm Ben lay gọi con Lụa một hồi rồi kề tai lên ngực nó dò nghe.

Chín Thuộc lo lắng hỏi:

– Sao mậy?

Năm Ben mau miệng đáp:

– Hong sao đâu mà anh Chín! Tim nó còn đập mạnh như trống chầu, chết chốc gì!

Chín Thuộc thở ra một hơi dài rồi lên tiếng cự nự:

– Tao mới dặn đó là mầy buông tuột con nhỏ liền theo tay! May mà nó còn sống. Thôi may га lo nhổ sào chèo đi mầy! Mà nhớ chèo bung ra giữa sông chớ đừng có cặp sát vào bờ nghen mầy!

Năm Đen vừa bò ra phía sau lái vừa càu nhàu

– Trời mưa ầm ầm như vầy mà anh bắt tui chèo, sao anh hổng chịu để cho chủ đò họ lãnh hổng biết!

Chín Thuộc la lối:

– Để chủ đò họ tọc mạch biết hết, rồi tao với mầy ở tù thấy mụ nội hả!

– Nói xong, Chín Thuộc lui cui lo cởi quần áo ướt sủng của con Lụa ra, rồi lấy chiếc mền có sẵn trong đó đem ra đắp kín nó lại. Hắn ta móc hộp dầu cù là ông Phật ra thoa xức lên khắp mình mẩy của con nhỏ.

Một lát sáu, con Lụa cựa mình rồi từ từ mở mắt ra. Khi nhận thấy Chín Thuộc nó kêu lên một tiếng kinh hãi rồi lăn nép người sát vô vách mui đò.

Chín Thuộc mỉm cười vỗ về nó:

– Cháu đừng sợ gì hết. Qua đây lo… rước cháu về gặp má cháu ở nhà, cháu hổng biết nên cháu mới… dụt dặt lôi thôi.

Con Lụa không nói năng gì hết mà đưa mắt nhìn một lượt khắp khoảng trong mui đò, rồi ngó mong ra phía trước cửa… Một màn mưa trắng xóa trên một vùng nước sông cái mênh mông làm cho nó rủn chí thơ dài.

Thừa đoán được tâm trạng của con nhỏ, Chín Thuộc bèn lên tiếng an ủi nó:

– À, qua nên nói với cháu nữa: qua có mướn chiếc đò này để đưa cháu về dưới đó. Cha, thím Hương gặp cháu thím mừng vô số kể!

Con Lụa nhíu mày nghe Chín Thuộc nói, rồi nó lại thở dài thêm một lần nữa…

Tuy cảm thấy bần thần mệt mỏi ghê nhưng nó cũng suy nghỉ lung lắm. Bây giờ dầu cho nó có la lên rằng mình không phải là con của thím Hương thì thằng cha kia cũng chẳng chịu tin. Đó là một…

  Cái thứ hai nữa: nếu nó chứng tỏ mình không phải là con của thím Hương thì thằng cha kia thế nào cũng quay trở lại tìm cách bắt con Hạnh- con Hạnh thiệt – và cũng chưa chắc thằng chả chịu tha nó ra liền !

Nghĩ đi nghĩ lại, con Lụa nó thấy cần… liều mạng một chuyến coi thể nào!… Mà nếu quả thật Chín Thuộc đưa nó về thẳng tới thím Hương biết cũng chẳng muộn! Chết chóc gì!…

Tự nhiên, con Lụa hết ngán Chín Thuộc và nó ngoan ngoãn nằm im luôn để rồi ngủ đi lúc nào chẳng hay… 

…Thím Hương nhẹ gỡ cánh tay của anh Tư ra rồi lại gọi nho nhỏ:

– Dậy đi anh Tư!

Ạnh Tư ừ hử vài tiếng rồi lại quay qua… ngủ luôn. Thím Hương mỉm cười gọi anh nữa:

– Dậy đi cưng, trưa trờ trưa trật rồi!

Nhận thấy anh Tư không nhúc nhích gì hết, thím bèn ngồi rột dậy, gài vội lại mấy chiếc nút áo rồi đưa ngón tay chọc lét anh Tư.

Bị nhột, anh Tư nhảy nhổm, lăn mạnh qua một bên, mở choàng mắt ra rồi càu nhàu, cự nự:

– Kỳ quá, hổng để người ta ngủ!

Thím Hương mỉm cười:

– Anh biết mấy giờ rồi hông? Ngủ suốt đêm chưa đã sao hả?

Anh Tư bực mình rướng cổ lên cãi:

– Thiệt ngủ suốt đêm hông? Vậy mà cũng nói!

Thím Hương cười lỏn lẻn nín thinh không trã lời.

Anh Tư vừa vặn vẹo mình mẩy vừa ngáp dài, anh ta nhăn nhó vươn vai rồi bẻ mấy lóng tay kêu răng rắc, đoạn liếc xéo thím Hương và làm bộ thở dài:

– Cha, cái điệu như vầy hoài chắc… chịu đời không thấu quá!

Thím Hương liền cúi xuống ôm chằm lấy anh ta và nói nựng:

– Tội nghiệp cưng tui quá hè! Thôi để em đi pha sẵn một ly sữa, đập vô hai cái tròng đỏ cưng nghen!

Anh Tư đẩy nhẹ thím ra:

– Thôi để anh đi tắm một cái cho khỏe rồi thả ra chợ kiếm cà phê uống. Ờ, hay là em cũng sửa soạn đi luôn với anh, ở ngoài nhà lồng chợ có bà bán cháo lòng ngon hổng chỗ chê !

Thím Hương lắc đầu

– Bữa nay em khỏi đi chợ vì em tính làm gà ăn. Chút nữa em sai con nhỏ đi mua phụ thêm rau cỏ là đủ rồi.

– Thì em đi ăn lót lòng với anh!

– Thôi anh đi một mình anh đi! Sao tự nhiên hôm nay em thèm ăn xôi quá! Để dì Hai bán xôi đi ngang em kêu vô mua ăn cũng được…

Nói đến đây thím bỗng chép miệng than thở:

– Hồi đó, con Hạnh và thằng Long cũng ham ăn xôi lắm, nhứt là thứ xôi nếp than gói bánh phồng mềm… Nè anh từ hôm nay anh có được tin gì của anh Chín không? Sao ảnh hứa như vậy rồi biệt luôn…

Anh Tư ái ngại nhìn thím:

– Ối, em hơi sức đâu mà tin cái thằng cha trời ơi đất hỡi đó hổng biết! Thằng chả hứa càng mạng như vậy để rồi quất ngựa chuối dông luôn chớ gì!

Chợt thấy thím Hương có vẻ quá rầu rĩ, anh Tư vội tìm lời nói đỡ:

-… Mà hổng chừng thằng chả còn ở nán trên đó để tìm cho ra con Hạnh cũng nên ! Anh tính để sáng mai đây anh cũng dông lên trển hỏi thăm hỏi nom về vụ này coi. Em đừng buồn phiền gì hết, thế nào anh cũng lo cho xong mà. Còn về chuyện ăn học của thằng Long thì êm lắm em à! Hôm qua nhà trường của nó có gởi thơ cho mình biết là tháng rồi thằng Long, được sắp vô bằng danh dự…

Cái thằng coi bộ lù khù như vậy mà học hành siêng năng lắm.

Rồi như sợ thím Hương sẽ hỏi dằng dai hoặc than thở thêm về hai đứa nhỏ, anh Tư vội ngồi dậy bước xuống giường và lôi thím Hương xuống theo:

– Thôi anh đi tắm rồi thả ra chợ đây. Em có dặn anh mua dùm cái gì không hả?

Thím Hương khẽ lắc đầu rồi bỏ đi thẳng ra nhà sau.

Sau khi anh Tư đi ra chợ uống cà phê, thím Hương ở nhà lui cui lo phụ giúp con nhỏ ở làm gà. Vừa lúc ấy có tiếng chân của người đi lẹp xẹp phía trước hàng ba. Thím liền bảo con Năm ở ra xem coi ai đến.

…Con Năm chạy vô báo

– Dạ có cái ông gì có thẹo mặt đó thím… à ông Chín, ổng nói đến thăm thím…

Thím Hương cau mày suy nghĩ, rồi quay qua bảo con nhỏ ở:

– Nè Năm, mầy chạy theo kêu chú Tư quay trở dìa gấp có chuyện cần lắm nghen!

Con Năm ấp úng đáp:

– Dạ, chú Tư đi nãy giờ cả tiếng đồng hồ rồi thím.

– Thôi được, mày lo coi chừng bếp núc để tao ra coi ổng đó muốn gì..

Thím Hương bước ra thì đã thấy Chín Thuộc chễm chệ ngồi sẵn trên ghế nơi bộ xa-lông.

– Chào anh Chín… anh Tư đi vắng rồi.

Chín Thuộc cười mơn:

– Tôi biết rồi thím ơi! Hổng dám giấu thím, tôi canh chừng cho ảnh đi ra khỏi nhà tôi mới vô đây…

Thím Hương cau mày:

– Anh… chứng nào tật nấy như vậy hoài khó coi lắm (rồi thím hỏi lảng ra) Anh trở về đây lâu mau rồi?

– Tôi mới tới là dông liền lại đây thăm thím…

Thím Hương rụt rè hỏi thêm:

– Còn cái vụ… anh hứa hôm trước?

Chín Thuộc vỗ đùi, vui vẻ đáp:

– À, cái vụ của con nhỏ phải hông? Cố nhiên là phải cho xong xuôi tôi mới dám vác mặt về đây chớ !

 Thím Hương có vẻ không tin:

– Lo cho xong là làm sao? Anh đến đây có một mình…

– Ậy, thím đừng nóng!… Xong nghĩa là tôi hứa  cái gì là tôi làm tròn cái nấy.

Thím Hương hấp tấp hỏi dồn:

– Nói vậy anh đã tìm thấy con Hạnh phải không? Sao anh không dẫn nó về?… Hay là… anh tính xí gạt cho tôi mừng hụt nữa hả?

Chín Thuộc chẳng nói chẳng rằng, thò tay vô túi móc ra một sợi dây chuyền rồi cầm đông đưa trước mặt thím Hương:

– Thím có biết vật nầy chăng?

Thím Hương trố mắt nhìn sững rồi chụp lấy tấm mề đay nhỏ tòn ten dưới sợi dây vàng tây và lấp bấp kêu lên:

– Sợi dây chuyền của con Hạnh đây mà! Anh đã kiếm ra con Hạnh thiệt hả anh?

Chín Thuộc thong thả gật đầu:

– Thiệt chớ chơi sao được thím! Đó, chứng cớ ràng ràng mà thím chưa chịu tin hay sao?

– Vậy chớ con Hạnh bây giờ ở đâu anh? Nó có sao không?

Chín Thuộc chậm rãi đáp:

– Con nhỏ hiện có mặt tại Trà-Ôn nầy, nè nó vẫn mạnh cùi cụi chớ chẳng sao hết!

Thím Hương ràng rụa nước mắt:

– Vậy hả anh! Làm sao  anh kiếm ra nó được? Sao anh không dẫn nó về đây luôn?

Chín Thuộc cười rè:

– Bây giờ thím mới chịu tin tôi há! Còn về cái việc dẫn con nhỏ tới đây thì… để thủng thẳng coi..

Thím Hương chưng hửng hỏi liền:

– Sao lạ vậy?

Chín Thuộc lại cười:

– Cũng thường thường thôi thím à! Cơn vui mừng đã qua rồi, bây giờ tôi xin thím… bình tâm trả lời dùm tôi câu nầy: Vậy chớ thím có biết tôi chịu gian lao khổ ải như thể nào để tìm cho ra con nhỏ hay không? Thím có biết, con nhỏ nó hổng chịu về đây- vì nó ngán cái thằng dượng ghẻ của nó – khiến cho tôi phải liều mạng bắt đại nó đi, và nếu rủi ro có bề gì tôi dám lãnh đủ chớ phải lơ mơ sao hả thím?

Thím Hương ngượng ngập đáp:

– Tôi biết chớ sao không… thiệt tôi mang ơn anh hết sức…

Chín Thuộc cười lạt rồi hỏi lại:

– Bộ thím tính… mang ơn khơi khơi vậy hả

Thím Hương nhíu mày:

– Anh có lòng tốt giúp tôi thì tôi phải mang ơn chớ sao!…Ngoài ra, việc nầy tôi cũng đã tính từ trước với anh Tư, tôi sẽ xin…gởi anh chút đỉnh tiền nong, cái này không phải tôi dám trả công cho anh mà để bù đấp phần nào sở phí lên xuống tốn hao của anh…

Chín Thuộc vừa cười mũi vừa đổi bộ ngồi gác chân tréo lên nhau :

– Thím Hương thiệt thà quá đỗi ! Xin lỗi thím, tôi đã nói hoài! Thử thời ai có bỏ ra bạc triệu biểu tôi đi kiếm cho ra con nhỏ coi tôi ham không! Phải tôi ham tiền thì tôi đâu có để cho thím xài xể nát nước như trong đêm hôm nọ đó thím! Bộ thím quên rồi sao?

Thím Hương bực mình hỏi xẳng:

– Vậy chớ anh muốn cái gì nữa bây giờ? Anh đừng thấy tôi hổng nói rồi làm tới !

Chín Thuộc chắc lưỡi rồi thản nhiên đáp:

– Đối với một người như tôi, thím đừng xài cái giọng đó mà…mích lòng dữ đa! Thím hỏi tôi muốn cái gì à? Thím thiệt hổng biết hay sao? Bây tôi xin nói huỵch tẹt ra cho rồi: tôi muốn thím…sang xẻ cho tôi đôi chút cái gì thím đã…đổ trút hết cho thằng cha Tư. Tôi cũng xin nói luôn nếu được, tôi xin giao con nhỏ cho thím liền.

Thiếm Hương trợn mắt giận dữ:

– Anh đám đi tới cái nước đó hả anh Chín? Anh muốn tôi thưa lính không hả?

Chín Thuộc chậm rãi đứng dậy, quơ quơ sợi dây chuyền trong tay:

– Thím muốn thưa làng thưa lính gì đó thì thím cứ việc làm ! Nhưng trước hết tôi khuyên thím nên hỏi qua anh Tư coi có nên không đã… Thím ơi, tôi từng tuổi này mà đâu có dại, tôi đã tính toán đâu đó chắc ăn hết rồi tôi mới dám đàng hoàng bước vô đây để hỏi chuyện… phải quấy với thím chớ!

Liếc thấy thím Hương nín thinh, Chín Thuộc thấp giọng nói tiếp:

– Đó là tôi chưa nói tới trường hợp tôi với thím… không thuận nhau để cho con nhỏ sẽ… không bao giờ ló mặt về đây được…

Thím Hương ấp úng hỏi

– Vậy chớ anh giữ nó luôn làm gì…

Chín Thuộc cười xòa:

– Bộ thím nói tôi hết chuyện chơi hay sao mà tính giữ con nhỏ đó tế mồ tế tổ gì? Ối thiếu gì cách: tôi đem bán nó cho gánh hát tiều, đem đi đợ nó ở tỉnh khác, hay đem nó gởi cho mấy dì phước hổng được sao! Đó là tôi vị tình thím lắm, chớ hông thôi tôi buộc cho nó một cục đá xanh rồi gởi xuống cho bà thủy…

Thím Hương buột miệng kêu lên:

– Đồ khốn nạn ! Quân tàn nhẫn!

Chín Thuộc tươi cười bước ra cửa:

– Ờ..thím có muốn chửi rủa hay la làng lên gì đó thì mặc tình. Tôi coi vậy mà không nỡ xử ngặt với thím, tôi cho thím có thời giờ suy nghĩ lại đó! Thôi tôi đi nghen!

Nói xong Chín Thuộc đi thẳng ra hàng ba.

Thím Hương hớt hải gọi lại

– Khoan đã anh Chín !

Chín Thuộc quay đầu lại, cau mày:

– Gì nữa đó? Tôi đã nói hết rồi mà!

Thím Hương van lơn:

– Bộ hổng có…cách gì khác nữa sao anh Chín?

– Không. Thím phải biết đây là lần đầu tiên tôi…ăn xài lớn vì một người đàn bà, chớ mọi khi tôi đâu có chịu khó mất công, mất của, mất thời giờ như vầy ! Thím cứ bình tĩnh suy nghĩ lại đi, tôi không nài ép gì hết mà!

– Nếu thím nghĩ… không ra thì tôi khuyên nên bàn tính lại với thằng cha Tư. Thôi, chuyến này tôi đi về luôn đừng kêu réo gì nữa đó nghen ! À, nếu có cái gì… hay thì thím viết cho tôi ba chữ gởi cho anh bồi ở nhà ngủ Bá Huê ở xéo xéo bên hông nhà lồng, chợ đó!

Và Chín Thuộc bước tới xô cửa rào đi thẳng.

Thím Hương ngồi phịch xuống ghế, nước mắt trào ra…

Độ nửa giờ sau anh Tư đi chợ về.

Thím Hương chạy ào ra níu tay anh ta lôi tuột vô trong buồng rồi mếu máo nói:

– Anh Tư ơi, sao anh không ở nhà mà coi…

– Việc gì vậy em?

– Thằng cha Chín Thuộc nó mới tới đây nè. Thằng chả kiếm ra con Hạnh rồi!

– Vậy há, con nhỏ đâu?

– Тrờiі ơi, anh hổng biết… thằng chẵ hổng chịu trả con nhỏ cho mình… Thằng chả đòi em phải… ưng thằng chả thì con Hạnh mới về nhà được!

Anh Tư thở ra rồi mỉm cười nói:

– Thôi em bị thằng cha mắc toi nó qua mặt rồi. Thằng chả bày đặt chuyện là đã tìm ra con nhỏ để bắt bí em đó!

Thím Hương chắc lưỡi

– Thiệt mà anh! Thằng chả có đưa cho em coi sợi dây chuyền này do tự tay em mua cho nó nên em biết mà !

Anh Tư mím môi đứng yên.

Thím Hương lo lắng hỏi thêm :

– Sao anh nín thinh vậy hả? Bây giờ anh tính sao đây? Hay là mình nên đi thưa?

Anh Tư suy nghĩ một chút rồi lắc đầu thở dài:

– Đúng là thằng bà hại đó muốn sanh sự rồi! Thôi em à, bây giờ mình thưa gởi thằng chả cũng chẳng có lợi, nó dám đến đây nói… như vậy, thì nó đã rào đón đầu này đầu nọ đủ hết rồi. Đâu em kể sơ cho anh nghe coi nó đến đây nó nói cái gì.

Thím Hương bèn thuật lại cuộc gặp gỡ vừa rồi.

Nghe xong, anh Tư nói liền:

– Đó, anh nói đúng у mà! Nó là một thằng trời đánh thánh đâm, độc còn hơn rắn hổ nữa!

Thím Hương sốt ruột hỏi ngay

– Vậy chớ anh tính thế nào? Chịu thua nó hay sao? Anh Tư nắm chặt lấy tay thím, nghiêm giọng nói:

– Nè em, chắc em biết lòng anh thương yêu em đến bực nào, và anh lo con Hạnh ra sao. Bởi vậy anh xin em hứa với anh một điều, dẫu cho thế nào đi em cũng hết lòng hết dạ thương anh.

Thím Hương ngạc nhiên hỏi liền:

– Coi, anh nói gì lạ vậy! Nếu em không thương anh, không quý anh thì làm sao hai đứa mình ở chung nhau nhu vầy và làm sao lại có những chuyện rắc rối về con Hạnh làm cho em rối ruột rối gan như vầy hả?

Anh Tư gật đầu:

– Được lắm. Em cũng nên biết trước là việc nầy anh khổ tâm ghê gớm nếu nó… sai chệch đi thì chắc anh sống hết nổi…

– Việc gì anh cứ nói đại đi!

– Đây nè, em lấy giấy ra viết thơ trả lời cho thằng chả…

– Bộ anh điên rồi sao?

Anh Tư không trả lời đi thẳng lại bàn, mở hộc tủ lấy giấy viết ra đặt sẵn lên trên rồi dìu thím Hương lại:

– Em cứ viết theo lời anh đọc đây…

Thím Hương nhăn nhó hỏi :

– Anh Tư anh suy nghĩ chính chắn chưa mà bắt em làm như vậy…

Anh Tư đáp hơi xẳng giọng:

– Anh biểu em viết thì em cứ nghe lời đi mà! Bộ em nói anh chịu thua trí thằng cha Chín Thuộc hay sao!

Thím Hương kéo ghế ngồi xuống mở nấp cây viết máy ra:

– Viết sao đây anh?

Anh Tư chắp tay sau lưng đi tới đi lui rồi thản nhiên đọc, giọng đều đều у như khi anh ta đọc ám tả học trò :

 ‘‘Anh Chín.

Về chuyện anh bàn với tôi mới rồi, tôi đã suy nghĩ kỹ và xin trả lời liền kẻo anh nóng ruột ! tôi bằng lòng…

 Thím Hương buông viết xuống, ngước lên hỏi anh Tư:

– Bộ… anh chịu như vậy thiệt hay sao? Kỳ quá mà!

 Anh Tư nghiêm mặt:

– Em cứ viết tới đi mà!

Thím Hương nhăn nhó cầm viết lên và anh Tư đọc tiếp: ‘‘…tôi bằng lòng у như lời anh muốn miễn là anh giữ đúng lời hứa.

 Vậy tối ngày mai, vào hồi mười giờ xin mời anh lại chơi.

Điều cần nhất là anh nhớ dẫn con Hạnh theo, Con Năm ở sẽ đứng đợi sẵn để dắt con Hạnh đi ra nhà sau cho nó ngủ. Tôi đã dặn kỹ con Năm về việc nầy, và để cho nó khỏi nghi ngờ tôi nói là anh mới xin cho tôi một đứa con nuôi. Tôi mới mướn con Năm từ hồi dìa ở dưới này nên nó không biết mặt mũi con Hạnh gì ráo. Sau khi con Năm ra nhà sau rồi, anh cứ đi thẳng vô buồng, tôi đợi anh. Mọi sự  tôi đã sắp đặt đâu đó đàng hoàng để cho việc này được hoàn toàn kín đáo…

Thím Hương ngừng viết ngước lên hỏi anh Tư:

– Sao anh bày vẻ chỉ cho rắc rối quá tổ mẹ như vậy hả?

Anh Tư mỉm cười:

– Ậy, thằng Chín Thuộc nó gian xảo lắm, mình phải bày ra cách… tiền trao cháo múc này mới được.

– Bộ anh tính… làm thiệt sao?

Anh Tư vuốt nhẹ má người tình:

– Hỏi gì hỏi hoài hà! Bộ em nói anh nhường cực cưng này cho thằng ôn hoàng dịch lệ ấy hưởng một cách dễ dàng lắm sao?

Thím Hương lại thắc mắc:

– Nhưng còn anh… trong lúc đó anh ở đâu? Không khéo thằng chả sanh nghi hổng dám tới.

Anh Tư đáp, nửa đùa nửa thật:

– Em sao cái gì cũng muốn hết à! Em vừa muốn khỏi sa vào tay thằng Chín Thuộc rồi lại e ngại, thằng chả động ổ dông mất không trả con Hạnh cho em! Mà thôi, anh đã nói em vững bụng làm у theo lời anh đi!

Nói đến đây anh ta cười lên khanh khách rồi dõng dạc tiếp lời:

– Đây nè, anh đọc cho em viết tiếp…

Thím Hương chăm chỉ đặt ngọn bút lên giấy:

‘‘… Về phần anh Tư, tôi buộc lòng phải giấu nhẹm ảnh chuyện này, bởi vậy sáng ngày mai này tôi nhờ ảnh đi lên trên chỗ thằng Long học để thăm thằng nhỏ dùm tôi. Anh đi ít lắm hai ngày mới về, như vậy cho nó tiện hơn.

‘‘Vài hàng gởi anh đặng rõ và xin hẹn anh đến tối ngày mai. Mong anh giữ đúng lời hứa cho mẹ con tôi sum hiệp thì tôi mang ơn anh lắm.’’

– Ký tên ở dưới đi em.

Tiếng nói của anh Tư làm cho thím Hương như sực tỉnh. Thím ngơ ngác nhìn lại tờ giấy rồi ngó lên phía anh Tư.

Anh Tư nhún vai hối thím thêm một lần nữa :

– Thì em ký tên đi rồi bỏ vô bao thơ, sáng mai đi chợ em ghé lại phòng ngủ đưa cho anh bồi như lời thằng chả dặn.

Thím Hương muốn hỏi anh Tư một vài điều nữa, nhưng khi thấy vẻ mặt nghiêm nghị lạnh lùng của anh ta, thím đành… thở dài rồi đặt viết xuống ký tên.

Thừa rõ tâm trạng của người tình, anh  Tư thấy cần phải vỗ về thím bằng một vài lời dịu ngọt, bùi tai:

– Em cứ làm у theo những lời anh dặn là mọi việc sẽ êm đẹp hết. Chuyện này mình mới vững bụng ăn đời ở kiếp với nhau đó em ! Anh cho thằng Chín Thuộc nó lãnh cú này nó tởn tới già !

Thím Hương đáp một cách xụi lơ :

– Em cũng vái trời cho xong hết việc này rồi em với anh mới… nhẹ thở được…

Anh Tư nở một nụ cười đắc chí:

– Có bàn tay của anh vô là phải xong mà! Anh biết anh đủ sức lo cho hạnh phúc của hai đứa mình nên anh mới dám lôi em đi ở chung như vầy chớ nếu không, anh rút dù êm từ đời cố lũy nào rồi… 

Mới có chín giờ đêm, Chín Thuộc đã chỉnh tề quần áo, một bộ bi-da-ma lục soạn ủi thẳng băng sát rạt, đứng xăm xoi trước tấm kiếng trong phòng ngủ. Hắn móc trong túi ra một chai dầu thơm Cô-ty (Coty)  nhỏ, mở nắp nhểu mấy giọt lên lòng bàn tay rồi vuốt lên tóc, lên cổ, lên ngực.

Xong xuôi đâu đó, hắn nhe răng chép miệng mấy cái và lấy làm vừa ý vì mấy chiếc răng vàng chiếu sáng rỡ. Hắn cười duyên, liếc tình với bóng mình trên mặt gương rồi thong thả bước xuống thang lầu, miệng hút gió vang rân một điệu ‘‘Sơn đồng hướng mã ‘’…

Chín Thuộc bước thẳng ra khỏi cửa nhà ngủ hối hả đi về phía bực thạch gần cầu tàu lục tỉnh để kiếm Năm Đen mà hắn đã giao cho trách nhiệm giữ con Lụa dưới chiếc tam bản đó… 

Thấy ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn trong nhà lọt qua khe cửa hé mở, Chín Thuộc rón rén dắt con Lụa vào.

Hắn ta vừa xô nhẹ cánh cửa qua để lách mình vô thì thấy liền con nhỏ ở của thím Hương chực sẵn ở đó và chưa chi nó đã lên tiếng trước:

– Dạ con nhỏ đâu ông?

Chín Thuộc níu tay con Lụa lôi tới và xô nhẹ nó về phía con Năm. Con này vội nắm tay con Lụa và thân mật bảo nhỏ nó:

– Vô đây rồi hai chị em mình đi ngủ, chớ khuya lắm rồi!

Con Lụa quay đầu lại nhìn Chín Thuộc… Hắn ta vội mỉm cười và lấy tay hất hất bảo nó cứ yên tâm đi theo con Năm ở.

Con Lụa thản nhiên bước theo con Năm; nội cái việc khỏi thấy mặt Chín Thuộc nữa cũng đủ làm cho nó… vững bụng rồi!

Con Lụa và con nhỏ ở mới xây lưng là Chín Thuộc lấm lét nhìn vô phía cửa buồng của thím Hương: ngọn đèn chong ở trỏng chắc vặn thấp tim lắm nên hắn ta chỉ thấỵ có một vệt mờ mờ dưới chân cửa buồng.

Tự nhiên Chín Thuộc đâm ra nôn nao lạ thường. Hắn ta hơi bực mình  khi chợt nhận thấy hơi thở của mình dồn dập đến như thở dốc và nghe rõ mồn một trong gian nhà im vắng!

Đợi cho con nhỏ ở dẫn con Lụa đi vừa khuất, Chín Thuộc mon men đi thẳng lại cửa buồng liền. Đến nơi, hắn ta lẫy bẫy đưa tay xô nhẹ cánh cửa cho đủ mở hé ra, lách mình vào rồi tiện tay khép kín lại.

Ngọn đèn chong trong buồng vặn thấp quá khiến hắn ta chưa nhận ra thím Hương ở đâu cả, và khi chợt nghe có tiếng động lịch kịch phía trên giường màn phủ kín mít, Chín Thuộc lên tiếng hỏi nho nhỏ:

– Thím Hương ơi…bộ em ở trong mùng đó hả?

Thay vì có câu trả lời, một người tốc mùng ra nhảy xuống đất nghe một cái ‘‘phịch’’, và liền theo đó ngọn đèn chong được vặn to lên soi sáng cả gian buồng.

Chín Thuộc hoảng kinh kêu ‘‘ớ’’lên một tiếng thụt lui vài bước rồi phát chửi thề om lên:

– Đ. m mầy hả thằng Giáo Tư ! Mày làm gì ở đây hả?

Anh Tư (vì chính người ở trong mùng nhảy ra là anh ta) cười khanh khách rồi hất hàm về phía ChínThuộc:

– Anh Chín, bộ anh khùng ba trợn rồi hả? Câu đó đáng lẽ để tôi hỏi lại anh thì mới đúng chớ?

Chín Thuộc co tay quắc mắt lên:

– Ê Tư, mầy tính chơi cửa ông nội tao hả? Rồi bây giờ mầy lại muốn nói xóc óc tao nữa hả? Tao đập thấy mẹ mầy bây giờ!

Anh Tư chép miệng :

– Đừng nóng anh Chín! Tôi nói chuyện với anh đàng hoàng quá sao anh lại giở cái giọng mầy tao đ.m, đ.bà ở trỏng… nghe kỳ quá! Ở đời thắng bại là lẽ thường, anh cũng là tay anh chị bự, sao còn… bết về cái chuyện đó quá!

Chín Thuộc gầm lên xông lại :

– Mầy lên giọng thầy đời với tao hả? Để tao quánh cho mầy gẫy hết mấy cái răng cửa cho mầy hết làm tàng dạy khôn người ta!

Vào lúc Chín Thuộc nhào tới thì thím Hương, tự nãy giờ đứng núp sau kẹt tủ quần áo vội chạy ra lôi anh Tư dang xa.

Anh Tư bực mình hất tay thím Hương xuống, cự nự:

– Anh đã dặn em đứng yên trong đó mà! Em cứ để thây kệ anh!

Thím Hương lại níu vai anh ta:

– Thôi mà anh Tư, anh hơn thua với ảnh làm gì hổng biết, rủi ảnh… nổi nóng quá sức giết chết anh thì sao?

Anh Tư cười mũi:

– Hứ thằng chả có giết anh được thì cũng còn lâu.

Thím Hương vội day qua Chín Thuộc xuống giọng năn nỉ:

– Thôi cho tôi xin việc nầy anh Chín ơi! Chuyện… dĩ lỡ ra thì xin anh nhắm mắt bỏ qua cho rồi, vì đầu dây mối nhợ gì cũng tại tôi hết…Tại tôi nóng lòng muốn gặp con Hạnh và bây giờ…dầu thế nào đi nữa tôi cũng mang ơn anh đời đời kiếp kiếp đó anh Chín à! Nhờ anh mà mẹ con tôi được sum hiệp…

Chín Thuộc đưa tay áo quét mồ hôi trán rồi cười lạt:

– Thôi đi ! Mấy người а tòng nhau để gài bẫy tôi há! Được lắm, đường đời còn gặp gỡ nhiều bận nữa mà!

Thím Hương ái ngại nhìn hắn ta

– Anh Chín, xin anh bớt giận và xin anh đi về nghỉ cho khỏe chớ cũng khá khuya rồi. Sáng mai tôi sẽ cho con Năm đem chút đỉnh tiền trà nước xin anh vui lòng nhận cho…Nói thiệt với anh, hồi nãy tôi nhìn qua khe vách thấy anh dẫn con Hạnh đi tới, nó đội khăn xùm xụp và lúc thúc đi sau con Năm, tôi thấy thương quá muốn chạy а ra ôm lấy nó nhưng…

Nói đến đây, thím Hương liếc nhanh về phía anh Tư rồi ngượng ngập tiếp lời:

– Thôi anh Chín ơi, tôi lại anh… anh làm ơn cho con tôi chuyến nầy cũng như… để phước đức về sau…

Chín Thuộc cười thành tiếng :

– Đứt họng thì có! Mấy người tọa rập chơi tôi đã nư bây giờ mưu tính cho tôi uống nước đường đỡ tức phải hông? Cha, thím và anh Tư… vợ chồng xứng lứa vừa đôi lắm, nhưng tôi sợ hổng bền chớ!

Anh Tư bèn lên tiếng chen vô:

– Anh Chín, nếu anh đã nhận là mình… thua keo này thì tốt hơn hết anh chẳng nên ở đây làm gì nữa…

Chín Thuộc trợn mắt

– Ê, thua đâu mau vậy ta? Bộ anh quên rằng thằng này nắm chặt bổn mạng anh trong tay hay sao?

Dự đoán trước ý định của Chín Thuộc, Anh Tư vội níu thím Hương lại sát gần mình và nghiêm mặt nói

– Em ơi, thằng cha mắc toi nầy nó tính nói xấu anh để trả thù đó. Nó sẽ trút trên đầu anh đủ thứ tội, nhưng phen này anh quyết không nhịn nó nữa đâu. Thiệt cũng vì anh nóng lòng muốn kiếm con Hạnh nên anh mới đánh liều nhờ cậy nó, chớ anh dư biết nó độc hại lắm mà!

Trong lúc thím Hương còn đang ngơ ngác thì Chín Thuộc tấn công liền:

– Nè thím Hương, hổng phải tôi… ăn hổng được rồi phá đám chớ tôi thấy tình cảnh của thím tôi ái ngại ghê lắm, nhứt là thấy thím coi bộ mến chuộng thằng cha Tư gian xảo này hơi quá lố…

Chín Thuộc vỗ nhẹ vào chiếc bóp nơi túi trong của chiếc áo bi-da-ma rồi dõng dạc tiếp lời:

– Tôi nói đây là nói… có chứng cớ đàng hoàng: tôi con giữ một tờ giấy thú nhận tội hiếp dâm, giết người của thằng cha quỷ sứ này (vừa nói Chín Thuộc vừa giơ ngón tay điểm mặt anh Tư), tôi muốn cho nó vô khám lúc nào cũng được hết, nhưng sở dĩ bấy lâu nay tôi không nỡ làm như vậy là vì tôi thương nó còn nhỏ tuổi, tương lai của nó còn nhiều… rồi kế gặp thím đây… Bây giờ hễ tôi bức mây là động rừng, tôi nghĩ có thím kẹt ở trỏng chớ hông thôi tôi cho nó đi luôn cho hết làm phách với tôi nữa ! Thím hổng biết chớ trước đây nó phá hại gia cang của người ta biết bao mà kể, tôi có nói ra hết đây thì mang tiếng là đâm thọc nó, chớ chưa chắc gì nó thương thím thực tình. Thử thời thím hổng có cái gia tài của thầy Hương Quản để lại, coi nó có trọng như vầy không?… Mà nói chi cho xa, nội việc nó đem hai đứa nhỏ của thím ra đó cũng đủ biết mưu mô của nó sâu độc như thế nào rồi!

Thím Hương cau mày đứng dang ra nhìn anh Tư.

– Có thiệt vậy hông anh Tư? Sao anh làm thinh vậy?

 Anh Tư cười mũi rồi lấy giọng thản nhiên đáp:

– Ối anh còn lạ gì thằng cha Chín Thuộc nầy! Tới chừng thằng chả nói thì ông già thằng chả thằng chả cũng chẳng từ!

Chín Thuộc gầm lên:

– Mày nói giọng đó nữa tao vặn cổ mầy ra sau lưng đa!

Thím Hương vội can thiệp:

– Thôi mà anh Chín! Anh để tôi hỏi anh Tư cho ra đầu đuôi thế nào…

Anh Tư nói gạt ngang:

– Em khỏi phải hỏi anh gì ráo! Anh thách thằng chả dám xách tờ giấy thú nhận khỉ khô gì đó thì đi thưa coi ! Em sao dễ tin quá: em hổng biết thằng chả là một tên cướp của giết người lừng danh, hay sao? Chính thằng chả hãm rồi bóp cổ chết con người ta rồi tìm cách bắt ép anh phải viết tờ giấy cô hồn đó… Lúc ấy anh còn… khờ, chớ phải bây giờ mụ nội thằng chả cũng hổng dám rớ tới sợi lông chưn của anh nữa!

Nói đến đây, như được trớn, anh Tư day qua phía Chín Thuộc:

– Tôi nói anh nghe rõ chớ? Anh có ngon anh đi thưa tôi, tôi kêu anh bằng cha! Ra trước làng lính tôi sẽ nói như vậy đó, và thêm chút nữa là… anh còn chủ mưu bắt cóc con Hạnh để đem về đây làm tiền thím Hương, anh còn chứa chấp tiền bạc vàng vòng của tên cướp Ba Câu để lại… Tôi kể sơ sơ như vậy cũng đủ… xài đó anh! Anh đừng tưởng tôi nhịn anh, lúc trước – vì thật ra tôi cũng nóng lòng muốn kiếm con nhỏ – rồi cho rằng tôi ‘‘phọt phe’’ luôn đâu nghen!

Chín Thuộc mím môi đứng nghe anh Tư nói.

Hắn ta bỗng phát cười to lên, đưa tay mân mê vết thẹo sâu lõm nơi gò má rồi gật gù nói:

– Cũng hay ! Tao khen mầy lẻo mép già hàm đó Tư ! Thôi tao xin chịu thua mầy keo này nhưng tao chống con mắt mà xem coi mày… sống đời tới chừng nào ! Tao cũng nói luôn: sở dĩ tao chịu thua mầy một cách… êm ru như vầy là tao trọng thím Hương ở đây, đập chuột thì bể đồ, nhưng tao báo trước! Mầy liệu giữ mình, bận sau thì bà hú mầy nghen Tư!

Đoạn Chín Thuộc hướng về phía thím Hương khẽ cúi đầu chào:

– Thôi tôi xin kiếu thím tôi đi…

Nói xong Chín Thuộc khoan thai xoay lưng đi thẳng ra phía trước… Tiếng của cánh cửa ngỏ bị Chín Thuộc xô mạnh đập vào vách kêu cái ‘‘rầm’’ làm cho thím Hương sực tỉnh, và tự nhiên anh Tư cũng đâm ra ngượng nghịu trước vẻ mặt lãnh đạm của thím.

Thím chép miệng bảo anh Tư, giọng rất thản nhiên.

– Thôi tối nay anh chịu khó bắt ghế bố ra phía đằng trước ngủ để cho hai mẹ con ‘‘tôi’’ ngủ trong buồng.

Anh Tư nhăn nhó hỏi lại thím:

– Coi, sao khi không em bốc chứng kỳ vậy? Bộ em tin lời nói bá láp của thằng chó đẻ đó hả?

Thím Hương cười:

– Xí, tôi hổng tin ai hết! Mà thôi dẹp cái chuyện lăng nhăng đó đi vì … không có lửa sau lại có khói được cả ! Anh dang ra để tôi xuống dẫn con Hạnh lên cho nó ngủ …Cha, chắc tự nãy giờ nó mong lắm !

– Mong khỉ gì, chắc nó mệt mỏi ngủ khò hồi nào rồi…

Thấy thím Hương làm thinh bước ra khỏi buồng thì anh Tư vội vã chạy theo:

– Đợi anh đi với em!

Thím Hương đứng khựng lại, xẳng giọng đáp:

– Khỏi cần mà! Anh cứ đi ngủ trước, để mặc kệ hai mẹ con tôi đêm nay…

Dứt lời, thím Hương ngoe nguẩy bỏ đi vô nhà sau.

Anh Tư nhíu mày, đứng yên một chỗ ngó theo rồi khẽ thở dài…

Thím Hương đi thẳng xuống buồng con Năm ở khít bên bếp. Đến nơi thím bước lại vặn tỏ ngọn đèn lên và chưa chi con Năm đã vén mùng chun rạ, vọt miệng nói liền:

– Con nhỏ ngủ rồi thím à. Nó dễ thương lắm và tui coi bộ nó hơi ấm đầu một chút.

Thím Hương buông hai tiếng ‘‘vậy hả’’ rồi vội vàng vén mùng lên nghẹn ngào gọi nho nhỏ

– Hạnh ơi, con ngủ rồi hả? Má đây nè con!

Con Lụa trong mùng tốc khăn, hất mền ngồi rột dậy dáng điệu tỉnh khô.

Một khi đã đối điện nhau, thím Hương trợn mắt nhìn sững đứa nhỏ, lấp bấp kêu lên.

– Ủa, đứa nào đây chớ không phải con Hạnh!

Thím buông mùng xuống liền định chạy đi cho anh Tư hay nhưng rồi lại vén mùng lên hỏi dồn con Lụa:

– Mầy là ai hả? Sao mày để cho cái thằng cha đó dẫn về đây hả? Nói cho mau!…Mà sao tao trông mặt mầy ngờ ngợ…Mầy là con cái của ai hả?

Con Lụa thản nhiên nghe thím Hương hỏi, vì một khi lọt vô nhà nầy nó dư biết trước sẽ có lúc bị người ta hạch hỏi lung tung như vầy…

Thím Hương nổi nóng giơ tay lắc vai nó:

– Sao mầy hổng nói? Bộ mày á khẩu rồi hả?

Con Lụa bình tỉnh đáp:

– Ai biểu thím hỏi lăng xăng tui biết trả lời làm sao cho kịp! Cái chú có thẹo mặt bắt tui dẫn dìa đây thì tui phải đi theo chớ bộ tui ham ở đây lắm sao mà thím hỏi tui như vậy…

Thím Hương chắc lưỡi:

– Vậy sao hồi mới vô đây mày hổng la lên cho người ta biết hả?

Con Lụa trề môi:

– Trời ơi, ai có dặn tui làm như vậy hồi nào đâu mà tui biết! Tui la lên rủi chú thẹo mặt chú lôi cổ tui đi nữa rồi sao? Tui tính vô cái nhà nầy rồi nói rõ đầu đuôi…

Vừa lúc ấy anh Tư ló mặt vào hỏi lớn:

– Cái gì ở dưới này mà la lối um sùm vậy?

Con Năm đứng xớ rớ bên cạnh, chẳng hiểu ất giáp gì bèn vọt miệng đáp:

– Hổng biết chụyện gì mà thím với con nhỏ nầy nói lăng xăng…

Thím Hương, quay mặt lại nhìn anh Tư rồi lấy tay chỉ vào trong mùng:

– Đó anh giỏi vô mà coi! Anh nói anh lo đem con Hạnh về cho tôi là vậy đó hả?

Anh Tư chưng hửng bước lại ngó vô trong mùng rồi hốt hoảng kêu lên:

– Ý trời, con nhỏ nào đây!

Anh bước luôn chân lên giường, đưa tay lôi con Lụa ra, rồi quay qua hỏi thím Hương:

– Sao kỳ như vầy hả em?

Thím Hương cười lạt:

– Hứ, bây giờ anh hỏi ngược trở lại tôi thì trái cựa quá !(đến đây, giọng của thím trở nên đay nghiến)… Đó, anh có nói miệng tài nữa chưa? Từ rày sắp lên anh nói cái gì chó nó tin anh chớ hổng ai thèm tin anh hết!… Hay là anh toa rập với thằng cha Chín Thuộc để xí gạt tôi hả?

Anh Tư nhăn nhó rồi phát chưởi thề om lên:

– Cái này là thằng Chín Thuộc nó chơi xỏ lá đá trái mình đây! Chuyến này nó biết tay tôi!

Thím Hương vẫn chưa chịu buông tha:

– Đó, bạn thân của anh đó! Đó, anh giỏi bày mưu thiết kế đặt thơ đặt từ bắt tôi viết nữa hông? Cha, cũng may mà thằng cha Chín Thuộc nó chưa… đụng tới tôi, chớ phải chi nó… hưởng đã đời rồi nó trao con nhỏ nầy cho mình lãnh thì mới sướng nữa! Thiệt làm tài khôn tài khéo hoài!. Tôi biết hết mà: anh cũng thuộc một phe một phồn với thằng chả chớ kém gì!

Anh Tư, mặt mày nhăn nhó, đáp lời thím Hương bằng giọng nửa như muốn cự nự, nữa như muốn van lơn

– Trời đất thánh thần ngó xuống coi: mình dại nên bị thằng Chín Thuộc nó chơi cho một vố này tức muốn trào máu mà em còn nói cái giọng bể đầu bể óc đó nữa chớ!

Thím Hương hơi dịu giọng:

  – Chớ anh nghĩ lại coi: em đinh ninh là con Hạnh nên mừng rỡ chạy xuống dưới này… tới chừng tá hỏa ra mới biết là không phải con nhỏ. Như vậy anh biểu em hổng ức trong bụng sao được!

Nghe thím Hương đã xưng ‘‘em’’ trở lại, anh Tư biết không đến nỗi nào nên dịu dàng nắm lấy tay thím rồi tha thiết nói:

– Em ơi, anh gặp thằng Chín Thuộc phen nầy chắc anh dằn lòng hết nổi, anh… giết chết nó quáỊ

Thím Hương hốt hoảng nắm chặt lấy tay anh ta:

– Ý hổng nên ! Anh đừng làm bậy như vậy ở tù chết đa!… Mà thằng cha Chín Thuộc cũng đâu phải là tay vừa, thứ đồ ăn cướp sát nhơn đó, em sợ anh chưa kịp làm gì nó đã xuống tay trước rồi…

Anh Tư chụp lấy câu nói ấy liền:

–  Đó em coi, em biết thằng chả như vậy nên em hơi sức đâu tin những lời nói bá xàm của thằng chả ! Thôi bây giờ cũng khuya quá rồi, mình nên đi nghỉ để rồi sáng mai mình mới đủ tỉnh táo bàn tính coi phải… ăn thua đủ với thằng Chín Thuộc như thế nào! Còn về việc kiếm con Hạnh, anh nhứt định chuyến nầy em nên để cho anh đích thân đi lùng bới tìm kiếm cho ra con nhỏ anh mới nghe!

Thím Hương có vẻ xiêu lòng nên hỏi lại anh ta:

– Còn con nhỏ này anh tính sao bây giờ? Em coi mặt mũi nó hình như cũng quen…

Anh Tư nói gạt ngang:

– Ối ! cái thứ con nít thì đứa nào nó cũng giống hao hao với nhau. Em để anh lo cho nó (nói đến đây anh Tư quay qua mỉm cười với con Lụa rồi dịu dàng bảo nó)… Nè cháu, thôi cháu vô mùng ngủ lại đi, rồi sáng mai qua đưa cháu về nhà…

Con Lụa tự nãy giờ chăm chú theo dõi câu chuyện giữa anh Tư thím Hương, và tuy nó không thấu rõ gì nhiều lắm nhưng cũng biết mang máng sự việc xảy ra giữa hai người lớn ấy. Và chắc vì nghe con Hạnh nói nhiều về anh Tư nên tự nhiên nó đâm ra ghét lây anh ta.

Thấy nó vẫn ngồi ra đó, anh Tư bèn quay qua bảo con Năm ở:

– Năm, thôi mầy cho con nhỏ nầy ngủ đỡ một đêm nay đi rồi mai tao sẽ tính.

Con Năm ngơ ngác hỏi lại thím Hương:

– Ủa, bộ… thím hổng tính nuôi nó nữa sao?

Thím Hương bực mình to tiếng:

– Vậy chớ tự nãy giờ mầy đứng như trời trồng ở đó mà hổng có nghe gì ráo sao?

Con Năm thật thà đáp:

– Dạ có… mà sao hồi chiều thím dặn…

Anh Tư nổi nóng nạt ngang:

– Thôi đi mầy ơi, tao biểu mầy cho con nhỏ ngủ, rồi mầy cũng cũng ngũ luôn dùm tao một cái, chứ đừng có nói lôi thôi gì nữa hết! Chuyện của mầy, mầy lo đừng có xía vô chuyện riêng của thím mầy với tao nghen !

Con Năm ‘‘dà’’ một tiếng rồi len lét leo lên giường xô nhẹ con Lụa nằm xuống:

– Chị em mình ngủ em!

Anh Tư đứng nhìn hai đứa nhỏ một hồi rồi bước lại thổi tắt ngọn đèn, đoạn níu tay thím Hương lôi nhẹ đi lên nhà trên. 

Con Lụa nằm im thin thít, không dám lăn trở cốt đợi cho con Năm ở nằm bên cạnh ngủ say. Con này,  sau khi anh Tư và thím Hương đi lên rồi, quay qua tò mò hỏi con Lụa láp giáp một vài câu, nhưng khi nghe con nhỏ trả lời ầm ừ không ăn đâu vào đâu hết, nó cũng đâm ra nản chí, ngáp một hơi dài rồi nằm co lại ngủ.

Đêm nay, con Năm thức khuya một cách bất thường như vậy nên một khi nó nhắm mắt là ngủ mê đi liền theo đó.

Con Lụa để ý nghe con Năm thở ‘‘pho pho’’ đều đều là ngốc đầu lên, gỡ nhẹ cái mền để qua một bên, rón rén ngồi dậy. Sau khi thử xô nhẹ vào vai con Năm một cái hơi mạnh mà không thấy con nầy hay biết gì hết, con Lụa bèn bước nhẹ xuống giường và mon men đi lên phía nhà trên, định mò ra chỗ cửa cái.

Ban nãy nó có đi ngang qua lối nầy một bận nên bây giờ nó không lấy làm gì bỡ ngỡ cho lắm. Nó cứ lần thео vách mò mẫm đi lên phía có ánh đèn mờ mờ rọi lọt qua phía lỗ hổng dưới cửa buồng.

Nó tính lẻn đi luôn ra nhà trước, nhưng khi nghe có tiếng người xầm xì ở trong buồng, nó bò lại kê mắt ngó qua một kẽ hở trong ván cửa.

Té ra đó là buồng của thím Hương và anh Tư. Dưới anh đèn lờ mờ con Lụa thấy hai người đang nằm song đôi trên giường, một tay của anh Tư đang gác choàng lên vai thím Hương.

Con Lụa cắn môi cố lắng nghe tiếng anh Tư rù rì ở trong buồng:

-… Anh đã nói em cứ coi như chuyện vừa rồi… hổng có đi, chớ hơi sức nào em nhằn nhằn hoài hổng biết!

Thím Hương đáp lẩy:

– Sướng hông! Đầu dây mối nhợ gì cũng tại anh hết á! Rồi bây giờ anh biểu người ta câm miệng lại hả?

Anh Tư vừa chắc lưỡi vừa kéo thím Hương lại sát gần mình!

– Thì… em cho thằng chả leo cây, thằng chả cho mình… vuốt mỡ bò lại… như vậy kể ra huề hết chớ gì!

Thím Hương ngoe ngoẫy nhích mình ra:

– Ừ huề! Rủi hồi nãy thằng chả… làm thiệt với em rồi thằng chả trao cho con Hạnh… giả thì bây giờ mặt ảnh hổng chầng vầng bằng cái nia anh chớ kể!

Anh Tư lại lôi thím gần lại:

– Bậy nà!  Anh tính kỹ đâu đó hết chớ! Anh có cục cưng nầy thì anh phải giữ, chớ để cho thằng mắc toi đó nó nhảy vô… ăn  một cách dễ dàng như vậy sao em! Nó mà đụng tới chân lông em, anh quyết ăn thua đủ với nó!

Sợ thím Hương nói xiêng nói xéo nữa, anh Tư vội tiếp lời:

-… Còn cái việc nó đem đứa nhỏ lạ hoắc nào đó đánh tráo vô thì theo anh, chắc nó tìm không ra con Hạnh rồi túng thế phải bắt ẩu con người ta để thế đại vô… mình cũng không dè lại có chuyện đó.

Thím Hương hỏi lại liền:

– Có anh ẩu tả thì có! Bộ anh quên rằng thằng chả đã có đưa ra cho em coi sợi dây chuyền của con Hạnh hay sao? Có món đó em mới tin chớ bộ khi không em nhắm mắt tin càng thằng chả sao?

– Ờ còn cái vụ đó nữa há! Nếu vậy để sáng mai anh dẫn con nhỏ đem lên nhà ngủ để trả cho thằng chả rồi nói phải quấy một chuyến nữa coi thằng chả tính sao… Nếu thằng chả khăng khăng không chịu thì…để anh ráng anh lo… Thiệt con nhỏ báo đời quá!

Có tiếng thím Hương cự nự:

– Anh nói gì kỳ vậy! Bộ tại nó không sao?

Anh Tư xẳng giọng lại

– Bây giờ em tính đổ thừa hết cho anh hả? Em phải biết: cũng vì yêu thương em mà anh hết bị lời ăn tiếng nói nặng nhẹ đủ điều, bị nhục nhã đủ thứ, đến phải chạy đôn chạy đáo lo lắng trớt da trán…

Thím Hương ôm lấy anh Tư:

– Thôi em lỡ lời anh đừng chấp tội nghiệp. Em… thương con thì nói như vậy, nhưng bây giờ đằng nào sự việc cũng… lỡ ra rồi phải hông anh cưng? Nếu em có ý gì thì giờ phút này em đâu có… đeo dính cứng anh như vầy!

Giọng nói như nghiến răng của thím Hương làm cho con Lụa bắt nổi dóa.

Bắt đầu từ đó, tiếng rù rì ở trong buồng im bặt. Con Lụa ráng ghé mắt nhìn kỹ qua khe ván để canh chừng xem cặp ấy đã ngủ chưa… Và nó càng bực mình thêm! Thiệt kỳ quá… hèn chi con Hạnh hổng ưa thằng cha Tư và bây giờ, dầu con nhỏ bạn của nó có ghét luôn cả thím Hương nữa thì cũng… phải lắm!

Nó bậm môi lắc đầu, rời chỗ đó để lần ra phía cửa cái. Nó đứng yên nghe ngóng một hồi rồi đưa tay kéo từ từ cái chốt khóa.

Bỗng có tiếng lạch cạch trong buồng, con Lụa hoảng kinh ngồi thụp xuống, bò núp dưới gằm bàn gần đó. Nó hồi hộp lắng đợi tiếng mở cửa buồng ở trong ấy nhưng rồi lại không thấy gì hết.

Nó định mon men bò trở vô để rình coi động tĩnh ra sao cho được vững tâm hơn, nhưng vừa lúc ấy có tiếng vật mình vật mẩy hay chòi đạp day trở gì của ai ở trên giường, rồi tiếp theo là tiếng ú ớ của thím Hương.

Con Lụa thở ra một hơi dài: cái điệu nầy ở trỏng họ đã ngủ mê rồi, và chắc thím Hương ngủ không nên nết nên mới day trở lung tung và chưa gì mớ la om sòm!

Vững bụng hơn thêm, con Lụa bước lại cửa, tiếp tục rút cái chốt khóa ra, nhè nhẹ mở hé cánh cửa, nhanh nhẹn lách mình ra ngoài rồi khép kín cửa lại như cũ.

Hơi lạnh đêm khuya làm cho nó rùng mình. Cũng may mà nó có quơ cái khăn bàn lông đem theo ! Nó vội kéo cái khăn vắt nơi cở đội lên đầu cho kín để khỏi bị nhiễm sương, rồi lật đật rảo bước thẳng ra đường.

Nó cứ theo lối Chín Thuộc đã dẫn nó tới nhà thím Hương mà đi trở lại để ra chợ.

Có ra tới đó nó mới hỏi thăm hỏi nom đường về Cần Thơ được.

… Đường xá vắng tanh, tối om trừ một vài khoảng cách xa xa có đặt đèn lồng kiến bên cạnh lộ. Con Lụa không sợ ma cỏ gì hết mà chỉ ngán mấy con chó thỉnh thoảng cứ xông ùa ra sủa rượt.

Nó vừa cắm đầu cắm cố đi rút vừa hít mũi rột rẹt liên hồi vì thấm lạnh…

Sáng bửng hôm sau, thím Hương giựt mình thức giấc. Thím uể oải vươn vai, ngáp dài, định nằm nướng thêm một chút nữa, nhưng chợt nhớ trực lại vụ ‘‘con nhỏ lạ mặt’’ hồi tối hôm qua.

 Thím bò rột dậy và khi nhận thấy anh Tư vẫn còn ngủ mê, thím kéo mền đấp lại cho anh ta rồi rón rén bước khỏi giường. Thím vừa bới lại mớ tóc vừa đi thẳng xuống nhà dưới.

Đến nơi, chưa thấy bóng con Năm ở đâu hết thím bèn bước lại bên giường, vừa tốc mùng lên vừa gọi:

– Năm ơi, Năm! Trưa trờ trưa trật rồi bộ mầy hổng biết sao?

Con Năm ngồi choàng dậy, đưa tay dụi mắt lia lịa. Nó chưa kịp lên tiếng trả lời thì thím Hương đã níu vai nó lắc mấy cái và hớt hải hỏi liền:

– Còn con nhỏ tao giao cho mầy hồi tối đâu hả?

Con Năm hoảng kinh ngó vô phía trong giường, xô gối, giựt mền như tìm một vật gì nhỏ bé vậy! Nó ấp úng đáp:

– Dạ…mới hồi tối nó ngủ chung với tui đây nè.

 Thím Hương la lớn:

– Ừ mới hồi tối! Còn bây giờ nó chui vào hang ngách nào hả?

– Dạ…nó đi tiểu đi tiện gì đâu đó…

Tuy nói thế, con Năm cũng nhảy tót xuống, chui đầu ngó xuống dưới sàng giường rồi te te chạy đi định ra phía sau cầu tiêu. Nhưng khi nhận thấy cánh cửa nhà bếp còn đóng chặt cứng, nó liền quay trở lại:

– Chắc nó ra chơi ở phía bờ sông đằng trước thím Tư à, chớ cửa nẻo gì ở phía sau đều còn đóng у nguyên.

– Mầy ngủ như con trâu chương nên có biết khỉ gì đâu! Đi ra ngoài kiếm nó coi!

Con Năm dợm bước đi rồi lừng khừng quay lại hỏi:

– Dạ, con nhỏ nó tên gì để tui réo gọi nó hả thím?

Thím Hương dậm chân chắc lưỡi.

– Con nầy kỳ hông! Tao nói tao hổng biết mà! Mầy đi kiếm đại nó hổng được hay sao mà cần phải hỏi tên hỏi tuổi!

Con Năm nhăn nhó tất tả chạy đi…

Thím Hương bèn bỏ đi lên nhà trên vào buồng ngủ gọi giựt ngược anh Tư dậy. Anh Tư mở mắt ra cự nự:

– Chuyện gì dữ vậy hả! Hổng để người ta ngủ một chút…

Thím Hương cau mặt:

– Sướng quá há! Con nhỏ mới tới hồi tối đó đi mất tiêu rồi!

Anh Tư trề môi

– Đi khỉ gì mà đi. Chắc nó thức sớm, lạ nhà lạ cửa chạy ra đứng trước chơi đâu đó.

Vừa lúc ấy, con Năm tốc chạy а vào và nói với thím Hương

– Con nhỏ đi đâu mất biệt rồi. Tui chạy kiếm nó cùng trời cùng đất mà hổng thấy bóng dáng đâu hết.

Thím Hương day qua phía anh Tư:

– Đó anh nói giỏi nữa đi! Cái gì anh cũng nói hổng có, hổng sao hết rốt cuộc rồi để mình em gánh trọn hết à.

Anh Tư thản nhiên đáp:

– Ối có cái gì đâu mà em la bài hãi như vậy hổng biết! Con nhỏ đó, nếu nó nằm vạ tại đây thì mình còn phải tốn công tốn của đưa nó về nhà, bây giờ nó dông đi thì.. thây kệ mẹ nó, mình càng rảnh chớ gì. Tánh sao hay lo bao đồng quá…

Thím Hương chận ngang

– Xí, vậy mà anh nói anh lo! Lo mốc xì họ! Con nhỏ đó đi mất rồi làm sao em hỏi nó về tông tích của sợi dây chuyền của con Hạnh hả?… Hay ít ra mình cũng biết cha mẹ nó ở đâu để phăng lần tới, vì cái điệu nầy thế nào nó cũng dính líu không gần thì xa đến con Hạnh, nhứt là em thấy mặt nó ngờ ngợ như có gặp ở đâu rồi…

Anh Tư khoan thai bước xuống giường, đi lại mở toang cửa sổ buồng ra rồi đứng dựa lưng vào thành cửa mỉm cười nhìn thím Hương

– Em nói như vậy…kể ra cũng phải, nhưng nay dầu cho con nhỏ nó đi mất tiêu hay chết bờ chết bụi gì nữa, thì em cũng khỏi phải lo quýnh như vậy.

Thím Hương vẫn còn xẳng giọng:

– Chuyện như trời như đất vậy mà anh nói tỉnh khô vầy hè! Anh giỏi anh tính thử coi!

Anh ta bước lại đưa tay âu yếm vén nhẹ mấy sợi tóc lòa xòa trên trán thím Hương:

– Anh hỏi em còn thằng cha Chín Thuộc đó chi? Sợi dây chuyền đó thằng chả lấy của con Hạnh thì mình cứ hỏi ngay tệnh thằng chả có phải dễ hơn không?

Thím Hương hơi dịu giọng:

– Biết thằng chả có chịu nói thiệt hông mà anh hỏi? Thằng cha đó hổng…dễ đúng gì đâu nghen anh!

Anh Tư cười rất tươi:

– Không nói thì mình… nhờ làng lính hỏi thằng chả chớ sao? Tang cớ đành rành là sợi dây chuyền đó, thằng chả lật trái lật ngược gì nữa được!

Thím Hương có vẻ lo ngại:

– Nhưng còn cái vụ… gì đó của anh, anh đừng ỷ у quá rủi thằng chả làm tầy quầy ra thì…

Anh Tư chận ngay:

– Ối cái chuyện của anh, dầu có đi nữa thì cũng đã nguội tanh nguội ơ rồi, và anh đã sắp sẵn câu trả lời đâu đó hết. Còn cái chuyện của thằng chả sốt dẻo, nóng hôi hổi đây mà em!

Đến đây anh Tư cả giọng nói tiếp:

– Anh nói là nói phòng hờ như vậy, chớ anh đâu có dính dáp gì vô đó hết. Em quên rằng thằng Chín Thuộc là một tên chuyên môn đặt điều hãm hại người ta hay sao!

Thím Hương có dáng đăm chiêu:

– Thiệt em lo quá anh à. Bị có con Hạnh ở trỏng chớ hông thôi em chẳng muốn anh động chạm thằng cha Chín Thuộc làm gì, dầu thể nào đi nữa, em cũng chẳng vững bụng được!

Anh Tư níu lấy hai vai thím Hương thở ra:

– Đằng nào thì mình cũng phải rấn tới chớ thụt lùi hết nổi nữa rồi! Thôi để xong chuyện nầy đi, hai  đứa mình kiếm coi có chỗ khỉ ho cò gáy nào đó về ở cho nó yên thân… 

… Sau khi hỏi thăm sơ qua anh tới phòng; anh Tư đi thẳng lên lầu đến gõ cửa nơi buồng của Chín Thuộc trọ.

Vừa thấy mặt anh Tư, hắn ta đã tặng ngay cho một tràn chưởi thề.

Anh Tư mỉm cười thản nhiên hỏi lại:

– Ngủ gì mà ngủ dữ làm cho người ta dộng cửa thiếu điều rớt ván ra vậy cha?

Chín Thuộc đưa tay dụi mắt.

– Tụi bây chọt tao được một cú vừa rồi nên tụi bây mừng húm ngủ hông được chớ tao thì có việc gì đâu mà hổng ngủ cho thẳng cẳng hả.

Anh Tư cười mơn

– Thôi vuốt giận đi anh Chín! Dữ hông, cái chuyện đã qua một đêm rồi mà bây giờ anh còn… chạy mày nóng xưng hô mầy tao như vậy thì… ẹ quá!

 Chín Thuộc hơi xẻn lẻn:

–  Chớ… anh nói với con mẹ Hương đá giò lái tôi một cái vừa rồi… hổng đáng tức hay sao? Nhứt là về phần tôi, tôi xử đàng hoàng quá! Té ra tôi tốn công tốn của mạo hiểm đem con nhỏ về dưng không cho mấy người!

Anh Tư bình tĩnh đợi cho hắn ta dứt lời rồi mới bước đến vỗ vai hắn ta, ôn tồn nói

– Anh Chín ơi, anh làm như anh hiền khô vậy! Anh nói anh đã dưng không con nhỏ, vậy chớ bây giờ tôi dẫn nó trả lại cho anh để anh hết… kêu rêu, anh có vừa lòng chăng?

Chín Thuộc quắc mắt nhìn anh Tư, hỏi gằn:

– Ê, bộ tính chơi cha người ta trong đêm qua rồi bây giờ lại tới nói xốc óc nữa hay sao đây?

Anh Tư chắc lưỡi:

– Vuốt giận đi mà anh Chín! Hay là anh tính lấy cớ cự nự lại để che lấp cái chuyện con nhỏ đó hay sao?

Chín Thuộc nhìn sững anh Tư:

– Ê, bộ con mẹ Hương nó cho anh uống cái đó hay sao mà tôi anh có vẻ khùng ba trợn quá! Tôi không kể công chớ mắc mớ mồ tổ gì lại phải che lấp hả?

 Anh Tư nheo mắt nhìn lại Chín Thuộc, mỉm cười hỏi thẳng:

– Thôi việc gì đó cũng đã qua hết rồi vì chỗ anh em mình tôi hỏi thiệt: vậy chớ anh đem con nào lạ hoắc tráo vô đó hả?

Chín Thuộc thụt lui lại một bước:

– Thì con nhỏ của thím Hương chớ còn tây con tàu gì vô đó nữa! Tôi có trao cho thím coi sợi dây chuyền của  nó đúng у bon mà! Đ.m mình rị mọ cả tuần lễ, bỏ hết công ăn việc làm để dẫn con nhỏ đó về đây cho được, bây giờ lại nói… hổng phải chớ…!

Anh Tư ôn tồn giảng giải:

– Tôi có nói gian nói dối cho Bà hại tôi đi ! Thiệt mà anh Chín ! Con nhỏ đó không phải con Hạnh, con của thím Hương, hồi tối sau khi anh đi rồi thím Hương chạy xuống …mới tá hỏa ra, ối thôi thím rủa anh không còn ghe tàu nào chở cho hết. Nói thiệt với anh tôi cũng bị họa lây, và vì vậy thím mới hối tôi lên trên này kiếm anh để hỏi coi anh …lấy sợi dây chuyền đó ở đâu, sợi dây chuyền đó thiệt là của con Hạnh…

Chín Thuộc phát cười ré lên. Hắn ta chạy а lại vỗ mạnh vào vai anh Tư:

– Thiệt khoái chí tử ! Đó là… trời hại mấy người, ai biểu mấy người tính gạt tôi chi? Thiệt tôi cũng không dè đã bắt lộn một đứa nhỏ khác… (đến đây, như chợt nhớ điều gì, hắn ta nhíu mày lẩm bẩm)… Ủa lạ quá, sao con nhỏ lại có sợi dây chuyền đó cà?

Mình cũng lấy cầu âu để đem làm bằng cớ với thím Hương… À… à…

Hắn ta quay qua hỏi anh Tư

– Vậy chớ con nhỏ bây giờ ở đâu, anh… giao trả lại nó cho tôi được hông?… Tôi chịu khó đưa nó về chỗ cũ chớ anh với thím Hương giữ lại nó té vàng té bạc gì ! Và rủi… cha mẹ nó hay được thưa kiện lôi thôi lắm!

Anh Tư cười phá lên, chậm rãi lắc đầu :

– Rất tiếc, tụi nầy thả con nhỏ ấy rồi…

Chín Thnộc hơi cau mày, đoạn lơ lửng đáp:

– Vậy hả! Cũng được. Tôi lại phải chịu khó cất công đi một chuyến nữa…

Anh Tư đâm ra nao núng và xuống giọng cầu cạnh:

– Anh Chín à, cái chuyện này thiệt ra cũng hổng đáng gì hết. Người như anh thiếu gì các bà các cô mến chuộng. Tôi bị lỡ kẹt lãnh phần gởi mấy đứa nhỏ của thím Hương đi học nên tôi phải trần thân như vầy… Vậy anh làm ơn giúp tôi một chuyến chót này nữa: anh chắc dư biết chỗ anh lấy sợi dây chuyền đó cũng không xa gì chỗ con Hạnh ẩn trốn. Anh ráng… chỉ cho tôi biết chỗ ấy đi, rồi tôi sẽ tính phải quấy với anh.

Thấy Chín Thuộc làm thinh, anh Tư chép miệng thở ra:

– Tôi cũng vái trời cho tôi lo xong cú này rồi tôi xin rút êm đi xứ khác làm ăn chớ không dám đeo đuổi thím Hương nữa! Thiệt tôi ngán tới cần cổ rồi!

Chín Thuộc chắc lưỡi đưa đẩy thêm:

– Coi, sao dở vậy chú em!

– Thiệt mà anh Chín!… Bởi vậy tôi mới xin anh làm ơn làm phước chỉ tôi chỗ đó…

Chín Thuộc trả lời mội cách gọn khô:

– Rất tiếc, tôi không thể làm vừa lòng anh được.

– Sao vậy hả?

Chín Thuộc cười xòa:

– Vì tôi cũng hổng biết cái móc xì gì hết!

Anh Tư bực mình:

– Anh nói vậy chớ tôi hổng tin…

Chín Thuộc càng cười lớn lên

– Anh tin hay không thì đó là ‘‘cái lẽ tự nhiên, cái  quyền tự do’’ của anh ! Tôi cũng vậy, tôi bây giờ cũng không tin ai được hết ráo!

Tôi bị đá vô ba sườn ạch ạch tức bế phổi mà tin ai sao nổi nữa đó bạn!

Giọng của anh Tư trở nên gay gắt:

– Té ra anh nhứt định không chịu chỉ cho tôi chỗ ấy phải không? Được rồi, để coi tôi có kiếm được con Hạnh không!

Chín Thuộc nheo mắt nhìn anh ta:

– Ủa lạ dữ hông! Nếu anh kiếm được tôi còn mừng cho anh nữa! Đây nè! tôi xin chỉ mí mí cho anh: anh chạy kiếm con nhỏ hồi tối hôm qua đó, anh hỏi nó thì thế nào cũng lòi ra một hai điều dính líu đến con thím Hương.

Anh Tư hoài nghi hỏi lại:

– Sao khi không anh… chỉ cho tôi chuyện đó? Tính xí gạt cho tôi mất thì giờ và đi lạc hướng hết ráo hả?

Chín Thuộc xô nhẹ vai anh Tư ra:

– Thằng cha nầy sao đa nghi hơn Tào Tháo! Tôi chỉ anh như vậy là tôi muốn… chấp anh đi trước một nước đó ! Sướng, thấy mụ nội mà còn làm bộ nữa!

Về phần con Lụa, sau khi từ nhà thím Hương lần mò ra tới chợ thì trời hãy còn khuya nên đâu đó đều vắng tanh.

Nó đứng ngó dáo dác một lúc rồi đi thẳng vô nhà lồng chợ tìm một sạp vải ở vào chỗ khuất gió nhất để nghỉ lưng chờ sáng.

Vì bị mệt mỏi trong hai ngày liền, con Lụa vừa đặt  mình nằm xuống là ngủ mê say theo đó và mãi đến lúc sáng bét, khi bà chủ sạp vải ra dọn hàng lắc vai kêu thúc nó mới mở choàng mắt ra.

Thấy nó có vẻ ngơ ngác, bà này liền hỏi nó:

– Thôi đi  chỗ khác để cho tao buôn bán mần ăn chớ nhỏ !

Rồi liếc thấy mặt mũi nó có vẻ sạch sẽ, quần áo lành lặn chớ không rách rưới lắm lem giống như mấy đứa ăn xin khác thường tấp vô mấy sạp vải và thớt thịt ngủ, bà ta tò mò hỏi thêm:

– Mà mày là còn cái của ai sao mà ngủ lang bang như vầy? Mầy có đi chung với ai không nhỏ?

Con Lụa không biết trả lời làm sao cho tiện nên ấp úng một cách lửng lơ:

–  …Tui đi dìa Cần Thơ

– Về Cần Thơ? Trời ơi, sao mầy hổng thức sớm một chút cho kịp chiếc tàu Phước Châu?

Con Lụa lo lắng hỏi lại:

– Bộ… tàu gì đó chạy rồi hả thím?

– Ừ.

Con Lụa tái mặt:

-Nó chạy rồi… mình dìa trển hết được sao thím?

– Sao hổng được! Mày ra bến đò, gần chỗ cầu tàu đó rồi sang bên kia sông kiếm xe đò đi, nhưng xe đò chỉ chạy tới Bắc Cái Vồn thôi hè.

Vừa lúc ấy, con Lụa chợt thấy anh Tư đang đi lơn tơn phía gần Nhà Việc nên nó vội vã chào bà chủ sạp vải để rảo bước lẫn vô mấy quán cốc trong chợ.

Chắc chắn là khuất hẳn tầm mắt của anh Tư rồi nó mới đứng lại, nép mình sát vô góc quán rồi ló đầu ra canh chừng coi anh kia đi đâu.

Sau đó nó thấy anh Tư bước vô cửa một căn phố lầu rồi mất biệt. Con Lụa vội vàng rời chỗ núp để đi thẳng xuống phía bến đò gần cầu tàu.

Đến nơi nó nhận thấy ngay chiếc đò ngang đậu cập bên cầu, khách quá giang lớp ngồi lớp đứng đông nghẹt dưới đò.

Con Lụa đi mon men lại gần đầu cầu, nhưng nó bỗng để ý thấy ai ai cũng lom lom nhìn về phía nó hết.

Vốn đã kinh nghiệm qua một lần bị bà chủ…sạp vải hạch hỏi lôi thôi, con Lụa hoảng kinh tháo lui. Nó ngán cà rà ở chỗ đó để thế nào cũng bị người nầy hỏi một câu, người kia hỏi một câu, mà toàn là những câu hỏi khó trả lời sao cho xuôi đươc!

Và biết đâu chừng trong lúc nó còn lựng khựng ở đó, anh Tư đi trở tới tóm cổ nó lại thì sao! Thế nào má con Hạnh chẳng biểu anh đó đi lùng kiếm bắt nó lại để rồi… hạch hỏi nó lung tung về con nầy.

Nhớ trực lại những lời mắt thấy tai nghe tại nhà thím Hương trong đêm rồi, tự nhiên con Lụa lắc đầu một mình: Cái điệu này làm sao con Hạnh về ở cho yên được với má nó và thằng cha dượng ghẻ kia!

Nghĩ thế con Lụa hối hả lánh cho xa chỗ bến đò ấy và đi ngược theo bực thạch về phía chợ cá…

Qua phút hồi hộp ấy, con Lụa mới đâm ra lo dữ: bây giờ làm sao nó sang sông để kiếm xe đò đi lên Cần Thơ được? Mà dầu có sang bên bển được, làm sao nó có tiền để mua giấy xe?

Tuy nghĩ thế, con Lụa cũng liều mạng đi tới để kiếm cách quá giang qua bên kia sông.

Ở phía đó, xuồng ghe đậu chen nhau dưới bến, nhưng đa số chủ xuồng chủ ghe đều lên mua bán trên chợ hết, những chiếc nào có người thì họ lại đang lăng xăng, kẻ lo bưng cây trái người lo xúc cá tôm lên bờ bán cho kịp buổi chợ sớm.

Con Lụa lại lần mò đi vô phía trong nữa…

Ở miệt nầy toàn là một thứ ghe thuyền lớn bỏ đỏi buông neo. Chiếc nào chiếc nấy cũng vắng hẳn bóng người và trên mui, ngọn đèn trong lồng kiến xanh đỏ vẫn còn để cháy.

Trời mỗi lúc mỗi sáng tỏ thêm…

Con Lụa càng thêm lo âu: mắt nó cứ ngó dớn dác hết đầu nay tới đầu nọ canh chừng coi có anh Tư, thím Hương hay Chín Thuộc, hay lính tráng gì theo đuổi để bắt nó lại chăng…

Thời may nó bỗng nghe có tiếng ho khúc khắc phát ra từ mũi một chiếc ghe chài ‘‘lớn’’, rồi có một người ốm tong ốm teo mặc áo thun lá chui ra khỏi chiếc nóp trải ở đằng trước mũi chiếc ghe chài ấy.

Con Lụa mừng rỡ bước lại gần và cất tiếng gọi hắn ta:

– Chú ơi chú, cho tui hỏi thăm cái nầy một chút…

Người trên mũi ghe đang chống nạnh một tay lên hông ưỡn người ẹo qua một bên để ‘‘bẻ xương sống’’ vội ngừng lại ngó lên bờ.

Con Lụa lại lên tiếng:

– Chú cho tui hỏi thăm cái nầy coi chú!

Người kia nheo mắt nhìn nó:

– Hỏi gì đó nhỏ?

Con Lụa đưa tay kéo hai cái chót khăn bàn lông rủ xuống trước ngực, và ấp úng đáp:

– Chú ơi,  hổng dám nào chú làm ơn..chở tui qua bên sông…

Người kia trợn mắt tròn xoe:

– Ý trời trời… Bộ mầy tính bắt tao chống trọn một chiếc ghe ‘‘từa náng’’ nầy để chở mầy qua bên kia bờ sông hả? Con nhỏ nầy bộ nó hết chuyện chơi hay sao mà!

Con Lụa nhăn nhó năn nỉ:

– Thiệt mà chú! Chú làm ơn chở tui qua bển cho kịp đi xe lên Cần Thơ…

Người kia nhìn nó, đầy vẻ hoài nghi:

– Sao mầy hổng lợi đằng bến đò gần ngoài vàm đó?

 Con Lụa dấu mặt ngó xuống đất:

– Tui có lợi rồi… Ở đó bị đông người ta quá…

Người kia bổng cười khan lên rồi thấp giọng hỏi nó…

– Ê nhỏ, có phải, mầy trốn mẹ cha bỏ đi một mình hông hả?

Con Lụa hấp tấp trả lời:

– Hổng phải vậy đâu! Tui muốn dìa nhà ba Sáu tui mà!

– Mà mầy đi đâu dưới nầy mà tính dìa nhà ba Sáu ba Bảy gì đó?

Con Lụa đâm ra lúng túng:

– Thì… có người quen dẫn tui đi chơi… lạc tuốt dưới này.

– Thôi mầy đừng dối quanh dối quẩn làm gì. Tao có ăn thua gì trong đó mà mầy sợ!

– Vậy chú chở tui qua bên kia sông hổng được hả?

– Tao đã nói không được rồi và khắp cái dãy ghe lớn nầy tao chắc cũng không ai làm chuyện đó được đâu!… Hay là mầy chịu khó đi xê xê vô phía trong một chút kiếm coi có chiếc xuồng hay tam bản gì khác hông…

Thấy con Lụa cứ đứng lựng khựng ở đó, người kia có vẻ ái ngại. Hắn ta bước theo cây đòn bắt vào bực thạch đi thẳng lên bờ, đến hỏi nhỏ con Lụa:

– Sao nhỏ, có chuyện gì nữa mà mầy chưa chịu đi?

Con Lụa rươm rướm nước mắt:

– Chú… làm ơn chỉ cách cho tui dìa ba Sáu…

Người kia nhún vai:

–  Chỉ có cách là mày lợi đằng bến đò, nhưng tao coi bộ mầy ngán chỗ đó. Chắc ai chận bắt mầy hả?

Thấy con Lụa làm thinh hắn ta chép miệng nói tiếp :

– Phải chi mầy đi về miệt Vĩnh Long thì để tao nói với hai vợ chồng ông bầu chủ ghe dùm mầy…

Con Lụa hấp tấp hỏi lại:

–  Ủa bộ ghe này đi Vĩnh Long hả chú?

–  Ừ lát nữa đây, chờ bà bầu đi chợ xuống là mở đỏi khơi liền…mà mầy hỏi làm chi vậy?

Con Lụa ngước mắt lên ấp úng:

– Giả tỷ bây giờ tui đi Vĩnh Long có được hông chú?

Người kia nhíu mày

– Sao ba hồi đi Cần Thơ, ba hồi mầy muốn đi Vĩnh Long?

Tự nhiên con Lụa bắt mỉm cười:

– Dạ… tui cũng có người quen ở bển…

Người kia chắc lưỡi:

– Cha sao con nhỏ nầy ăn nói lăng nhăng quá tao hổng biết đàng nào mà rờ!

Sở dĩ con Lụa bỗng đòi đi Vĩnh Long là vì trước ngày bị Chín Thuộc bắt đưa xuống dưới nầy nó có nghe ông Sáu Giò cho biết thêm một vài tin tức về thằng Long anh con Hạnh.

Ông Sáu tuy có lòng tốt chứa chấp con Hạnh trong nhà nhưng ông vẫn không yên tâm: thím Hương thì đi biệt tông biệt tích, giờ đây chỉ còn có thằng Long là may ra còn có liên lạc với gia đình…

Thời may, mới đây tình cờ ông giáo chủ nhà trọ cũ của thằng Long gặp ông Sáu ngoài chợ và cho biết có nhận được thơ của nó gởi về hỏi ông ta.

Ông giáo khen thằng nhỏ ăn ở ‘‘có hậu’’ và cho biết thêm: hiện nay thằng Long đang học ở bên Vĩnh Long và cũng ăn cơm tháng tại nhà một ông giáo nơi trường nam bên ấy.

Con Lụa từng nghe con Hạnh nhắc nhở đến anh nó hoài, bởi vậy nó mới nghĩ rằng: sẳn dịp hiếm có nầy nó dông tuốt qua bên Vĩnh Long để cho thằng Long hay tin tức về em nó, cũng như về việc đã xảy ra mới rồi giữa thím Hương và thầy Giáo Tư.

Nếu nó làm được chuyện này chắc con Hạnh vừa ý lắm, nhứt là nó định bụng sẽ rủ thằng Long về ở chung cùng con Hạnh tại nhà ba Sáu của nó, chớ đừng thèm về với thím Hương nữa. Thím Hương mê thầy Giáo Tư thì còn ngó ngàng gì đến hai đứa nó nữa!

Thầm sắp đặt sẵn những chuyện ‘‘phải làm’’ tài khôn tài khéo đó, con Lụa bèn hăng hái nói với người dưới ghe mà nó mới  ‘‘làm quen’’ và coi bộ người này cũng có vẻ thắc mắc đến số phận của nó lắm.

– Chú ơi, chú thương tui, chú làm ơn làm phước nói với bà chủ ghe cho tui có giang đi  Vĩnh Long một cái chú ! Tui ở dưới này họ chạy bắt tui lại thì nguy lắm!

Người kia chậm rãi đáp:

– Cho mầy có giang thì dễ ợt. Tao nói với bà bầu một tiếng thì được. Nhưng mầy nói cái gì mập mờ sao tao nghi quá ! Hay là tao chịu khó dẫn mầy đến nhà làng để nhờ mấy ổng xử sao đó thì xử…

Con Lụa lắc đầu lia lịa:

–  Ý hổng được đâu. Tui làm gì mà họ ‘‘xử’’ tui! Nếu chú hổng cho tui quá giang thì để tui đi kiếm ghe khác ! Thôi tui kiếu chú tui đi nghen!  

Vừa nói con Lụa vừa quay lưng rảo bước đi…

Không biết nghĩ sao, người kia réo giựt ngược nó lại:

–  Ê nhỏ, đợi chút xíu coi mậy!

Con Lụa ngừng bước, đứng dang ra xa.

– Gì nữa đó chú?

Người kia đưa tay ngoắc nó lại?

– Lợi đây nhỏ! Để tao nói với bà bầu chủ ghe cho mầy đi nhờ nghen!

Khi còn Lụa mừng rỡ bước nhanh tới, hắn ta thở dài ôn tồn bảo nó:

– Tao nghĩ kỹ rồi: tao cũng ráng làm phước cho mầy một chuyến chớ để mầy đi lang bang như vậy cũng tội nghiệp. Tao dư biết hổng ai hơi sức đâu, đưa đầu ra gánh cái chuyện bá vơ ở dọc đường dọc sá … Tao đố mầy kiếm được chiếc ghe nào khác chịu chứa chấp hay chở mầy đi!… Mà cái điệu mầy ăn nói…ấm ứ như vậy đố khỏi bị họ dắt đem giao cho làng lính… Biết đâu chừng mầy trốn cha trốn mẹ hay… ăn cắp ăn trộm, hay làm chuyện gì gian xảo thì sao?

Con Lụa quắc mắt cự liền:

– Ê chú hổng được nói bậy đó nghen! Tui ăn cắp ăn trộm hồi nào mà chú nói ẩu tả như vậy hổng sợ Bà bắn lọt tròng té nổ hay sao?

 Người kia cười xòa, đấu dịu:

–  Tao nói là nói …giả tỷ như vậy. Cha, con nhỏ này coi lơ mơ mà dữ quá hé! Thôi lợi đây mầy nhỏ!  

Con Lụa còn vùng vằng:

– Chú nói thiệt hay chơi đó?

Người kia thở ra:

– Ý trời, tao xí gạt mầy tế mồ tế tổ gì tao chớ! Mà mầy tên gì hả?

Con Lụa chậm rãi bước lại

– Tui tên Lụa.

– Lợi đây Lụa! Được rồi, để lát nữa tao nói với bà bầu… mà mầy có xuống ở dưới ghe bả có sai biểu cái gì thì… chịu khó nghe lời bả một chút nghen.

– Ừa, cái đó dễ mà! (rồi nó tò mỏ hỏi luôn) tự nãy giờ tui nghe chú nói bà bầu gì vậy chú?

Người kia cười xòa:

– Vậy chớ mầy hổng để ý biết ghe… này là ghe gì sao?

Bà Bầu là vợ của ông Bầu chủ gánh hát bội đây nè. Bộ mầy hổng thấy trên mui ghe có chất mấy cái rương đồ đạt sơn đỏ và mấy cái cuốn “sơn thủy” đó sao?

Con Lụa reo lên:

– Ý cha, đi theo ghe này chắc vui lắm hén ! Tui khoái coi hát lắm!

Người kia nhăn mặt:

– Ừ cho mầy vui ! Tụi này rầu thấy mụ nội đây nè! Bộ mầy hổng thấy thân tao ốm như cò ma đây sao?

Con Lụa như quên bẳn hết mọi việc, tò mò hỏi luôn:

– Vậy chớ chú hát chú đóng vai gì hả?

Người kia trề môi:

– Vai lạm xạm: vua, quân, tướng, hề, tiểu đồng…mấy cái vai đồ bỏ đó mà!

Con Lụa lại mò tò hỏi tiếp:

–  Chắc chú đóng tuồng vui lắm hén?

Người kia mỉm cười chua chát:

– Ờ… vui lắm! Tụi bây ở ngoài đi coi hát nên thấy vui như vậy chớ có lâm vào cái kiếp vẻ mặt vẽ mày, mang hia đội mão như vầy mới biết đá biết vàng!

Liếc thấy con nhỏ có vẻ không hiểu, người kia thở dài rồi hỏi lảng đi

– Ờ mầy tên gì? Hồi nãy mầy có nói mà tao quên mất.

– Tui nói tên Lụa rồi mà ! Còn chú, chú thứ mấy hả chú?

Nguời kia hơi tươi lại sắc mặt:

– Mày kêu tao bằng Ba Còm cũng được.

Con Lụa nhìn Ba Còm từ đầu đến chân, rồi cười mủm mỉm

–  Chắc tại chú…ốm nhom, đi cà lòm khòm nên họ đặt tên chú như vậy phải hông?

Ba Còm xoa đầu nó

– Con này coi bộ…xạo dữ đa!

Bỗng Ba Còm quay đầu nhìn về phía đằng chợ và khều con Lụa:

– Bà bầu đi chợ dìa đó nhỏ!

Dáng người ‘‘bề thế’’ đẩy đà của bà bầu làm cho con Lụa đâm ra khớp và tự nhiên nó đứng lùi lại phía sau lưng Ba Còm.

… Bà bầu đặt phịch cái giỏ đi chợ xuống đất rồi vừa lấy khăn vằn lau mồ hôi trán vừa cất tiếng hỏi rổn rảng.

– Đứa nhỏ nào đó Ba Còm? Ba Còm níu tay con Lụa lôi qua một bên:

– À..con nhỏ này hả bà chủ ? Tui tính nói cho bà hay kế bà hỏi trước : con nhỏ này nó xin có giang đi Vĩnh Long…Bà chủ liệu coi được hông…

Thấy Bà bầu chống nạnh ‘‘hai quai’’ đứng nhìn châm bẩm con Lụa như muốn nuốt trộng, Ba Còm ấp úng nói luôn.

– Bà Chủ à, theo tui thấy thì… mình cho nó đi theo cũng chẳng sao, vừa thương giúp nó vừa có lợi cho mình …Trong lúc chưa tới chỗ nó xuống, mình có thể cho nó…thay cái thằng nhỏ bỏ đi rồi đó…để phụ dọn đồ đạc và chạy hiệu…

Bà bầu có vẻ xiêu lòng nhưng còn ráng nói cứng:

– Thôi thôi, tao hổng thèm nuôi ba cái đồ trôi sông lạc chợ ôn dịch nầy nữa! Nuôi cho đã rồi nó muốn bỏ đi lúc nào thì đi.

– Ậy, con nhỏ này nó xin có giang tới Vĩnh Long mà bà chủ ! Mình có nuôi nó luôn đâu, và trong lúc đó mình cũng nhờ nó làm việc đôi chút. Từ hôm nay cho nó phụ chạy hiệu và sai vặt như vậy cũng đở lắm bà chủ à!

Bà bầu trề môi đầy đỏ thẩm vì nước cốt trầu:

– Nó có giang thì sao, cũng tốn cơm chớ bộ không sao ? Ba Còm chắc lưỡi :

– Ý trời ơi, con nhỏ chút tíu đó ăn được bao nhiêu mà bà chủ …thì cho nó chút cơm thừa cá cặn…

Bà bầu trả lời gọn bân:

– Cơm thừa cá cặn tao đi nuôi heo có lợi hơn không! Hồi sáng tao tính mua con heo lang nhỏ thiến rồi để bỏ nuôi ở phía đằng sau lái đó mầy!

Ba Còm thở ra:

– Ứ hự, bà chủ tính cái gì cũng… răng rắc như vậy hết thì thiên hạ chỉ còn nước cạp đất mà ăn…

– Ê bộ mầy rủa tao hả Ba?

Ba Còm nhăn nhó:

– Ai dám vậy bà chủ !… Thôi mà bà chủ, mình cho con nhỏ này có giang cũng như… để phước đức dìa sau… Bữa nay ba mươi, mai mùng một bà chủ ăn chay…

Bà bầu cự nự:

– Bậy nà. Bữa nay tao ăn chay rồi nghen mầy! (nói đến đây bà ta thở ra như… chịu thua)… Mô Phật, thôi tao cũng nghe lời mầy. Tánh tao hay làm nhơn làm đức, mà hễ ai nói vô hoài tao cũng…cầm lòng hổng đậu…

Bỗng bà ta ‘‘sang số’’ rướng giọng lên :

-… Mà tao giao hẹn với mầy: nếu nó ăn cắp đồ đạc dưới ghe dông đi thì mày lãnh đủ, hay cha mẹ nó thưa kiện nói tao dụ dỗ con người ta đi theo gánh hát thì tao chỉ ngay mầy đa nghen Ba!

Ba Còm hớn hở gật đầu:

– Được rồi. Tui bảo lãnh hết mà bà chủ! (hắn ta xô con Lụa lên trước và bảo nó)… Xong rồi đó mầy ! Mầy khoanh tay cám ơn bà chủ đi!

Con Lụa đành nghe lời làm theo.

Bà bầu nhíu mày nhìn nó một hồi nữa rồi quay qua nói với Ba Còm:

– Tao coi bộ vó con nhỏ nầy hổng vừa đâu Ba Còm à!

Ba Còm mau miệng đỡ lời

– Hổng phải đâu bà chủ à. Con nhỏ nầy nó có vẻ… hơi lanh lợi, cái nghề của mình gặp đứa như vậy đỡ lắm chớ rủi rớ phải cái thứ lù khù lờ khờ như gà mở cửa mả thì còn mần ăn gì được!

Nhận thấy lời nói của mình nghe cũng khá xuôi tai bà bầu, Ba Còm vội khều con Lụa để hối nó

– Nè nhỏ, thôi mầy xách giỏ đồ ăn của bà chủ đem lên ghe đi.

Con Lụa sợ đến phút chót bà bầu thay đổi ý kiến bất tử không cho nó đi nên xăng xái cúi xuống xách cái giỏ lên rồi te te nê đi.

Ba Còm vội chạy theo, đưa tay xách phụ cái giỏ với con Lụa vì hắn ta lo ngại con này không quen vừa xách nặng, vừa đi trên cây đòn nhúng lên nhúng xuống theo mỗi bước chân, và do đó, không khéo con nhỏ quăng luôn cái giỏ đồ ăn của bà bầu xuống sông thì… đổ nợ !<

——————————–

1Tức là Điều Bác tướng quân, một bực công thần (gốc người Miên) của vua Gia Long, có lăng thờ tại địa phương và từng nổi tiếng là linh thiêng.



Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 25 Jul 2024

Đoàn Kế Tường


3. Mỹ Chánh, Quảng Trị – Chặng Đường Ngút Ngàn Tử Khí

Tôi đã chờ trong ấm ức, từng bản tin chiến sự, từng chuyến theo chân hành quân các đơn vị Nhảy Dù, TQLC tôi hy vọng được về gần gũi quê hương mà tôi đã bỏ đi. Sau hơn hai tháng trời chui rúc trong các khu tạm cư khốn khổ. Ngày 29-6-72 hàng trăm ngàn trái tim người dân Quảng Trị đã cùng hòa điệu nhịp nhàng trong niềm ước mơ hiện hình được trở về quê hương theo chân đoàn quân áo hoa anh dũng. Buổi sáng niềm vui phả ngập trong hồn. Tuyến Mỹ Chánh không còn là lằn mức ranh giới, từng đoàn con yêu của tổ quốc súng đạn lên vai qua sông tiến về phương Bắc ở đó bầu trời dang rộng đôi tay chào đón. Tôi theo họ. Phải về nhìn lại đoạn đường như một tì vết ô nhục, bạo tàn mà ngày bỏ đi biết bao nhiêu đồng bào trong đó có cả bạn bè và tình nhân mình đã nằm xuống ngủ yên.

Đoạn đường với dẫy đầy bất trắc, đạn trọng pháo của Bắc quân rải đều đặn hai bên, tiếng đạn đã trở thành quen thuộc trong trí nhớ hãi hùng. Cầu Bến Đá gãy gục, vài ba quả mìn chống chiến xa nằm chênh hênh bên bờ cỏ ngụy trạng đã khô. Vài đám dân gầy gò hốc hác bồng bế nhau chạy về nhìn thấy người chiến binh mà trào nước mắt. Phía dưới chiếc cầu nổi vừa được bắc xong, người lính công binh ngồi dựa lưng vào vách tường sập đổ tìm giấc ngủ. Rồi cũng qua cầu đi lần về thành phố đổ nát phía trước, con dốc Bến Đá che khuất đoạn đường vừa qua còn lại đó một địa ngục khủng khiếp của cả một đoàn xe cháy nám nối đuôi chồng chất gần năm cây số. Bắt đầu bằng những chiếc xe gắn máy đủ loại, đủ kiểu nằm ngổn ngang. Bên những xác người đã khô khẳng khiu những đốt xương trong áo quần ám kín.

Tôi đã bật khóc thành tiếng, tiếng khóc uất nghẹn căm hờn không thể thoát ra cổ họng. Ngày 1-5-72 một trong những chiếc xe khốn nạn đã đưa tôi đến đây với hàng chục ngàn đồng bào khác đã nhận lãnh những đầu đạn của Bắc quân bắn phủ đầu. Tôi đã bỏ chạy trên xác anh em bà con mình mà không dám ngoảnh mặt nhìn lại. Bây giờ trở về đoạn đường máu thấm mạch đất cố tình tìm lại trên những đống xương nhầy nhụa trắng hếu này một khuôn mặt quen thuộc cũng là một điều khó khăn. Một mái tóc nằm bên một cái sọ và một chiếc áo dài màu tím phủ nắm xương tàn. Từ một cánh cửa gãy lìa của một chiếc xe cứu thương vài cánh tay đưa ra tội nghiệp. Trên một chiếc băng ca người lính xấu số đã thật sự chết hai lần nằm với nắng mưa suốt hai tháng trời. Tôi lay mình trong đoàn xe ngộp mùi tử khí sình thúi như một chứng nhân cho một cuộc thảm sát vĩ đại của người Việt cho người Việt. Một bà mẹ chết gục trên thành xe hai tay còn ôm chặt xác con. Trên một chiếc xe khác ngổn ngang một đống xương gần hai chục người đã cùng chết một lần. Tôi muốn ngộp đi vì không khí cô đọng mùi tử thi dày đặc, quay mặt chạy xuống bãi cát bên vệ đường, bãi cát Hải Lăng là một rừng xác người khô héo bên những đồ đạc họ đã mang theo trên bước đường chạy loạn. Rải rác đó đầy xác lính Bắc quân hai tay ghì chặt bá súng AK cũng xương trắng, đầu lâu cạnh những nạn nhân của họ.

Ngày mai, những người dân Quảng Trị khi trở về ngang đây tìm lại một quê hương đã điêu tàn chắc chắn họ không tránh khỏi ngậm ngùi bởi một phần đời của mình đã để lại đó. Một đoạn đường ô nhục nhất trong lịch sử của dân tộc hiếu hòa. Có lời lẽ nào có thể bào chữa nổi những hành động bạo tàn của Bắc quân với vũ khi tối tân trên tay họ nhắm vào đám dân lành vô tội. Có bao nhiêu người đã nằm xuống ở đó, chắc chắn không dưới vài ngàn. Tướng Giáp và những người chủ trương cuộc chiến tranh nầy nghĩ gì về cuộc thảm sát đồng bào Quảng Trị do quân đội của họ gây nên. Những hình ảnh về đoạn đường máu này có phải là những chiến thắng thiết thực nhất của những người cộng sản không?

Đoạn đường Mỹ Chánh — Quảng Trị với hàng ngàn oan hồn rên siết chắc chắn sẽ là niềm đau vĩ đại cho cả dân tộc hai miền Nam Bắc. Đành rằng mặt thật của bất cứ một cuộc chiến tranh nào là tàn phá nhưng không có nghĩa phải đem sự tàn phá của bom đạn vô tri được xử dụng bởi những bàn tay thô bạo đổ lên đầu đám người khốn khổ, hiền hòa đang cố chạy thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của chiến tranh ngoại trừ một cuộc chiến diệt chủng. Tôi nghĩ không thể nào là một cuộc xung đột tình cờ được, bởi lẽ ngay khi tiếng súng đầu tiên thoát nòng từ bàn tay của một tên lính Bắc quân nào đó bắn thẳng vào đoàn xe này đã có sự hiện diện của tôi tại chỗ. Không một người dân nào trên xe có lấy một tấc sắt để kháng cự và họ đã chạy bừa vào bãi cát mênh mông như đàn ong vỡ tổ. Đạn đại pháo và bắn thẳng của quân bộ chiến miền Bắc thi nhau đốn ngã rừng người. Họ phải giữ dân ở lại dù chỉ là cái xác không hồn. Một cuộc tàn sát có tính toán và được ra lệnh hẳn hoi đã diễn ra thật man rợ mà sau hai tháng những ai may mắn như tôi được nhìn lại không khỏi phải úp mặt trong lòng bàn tay.

Mãi mãi đoạn đường Mỹ Chánh — Quảng Trị đã trở thành một tì vết tủi nhục cho dân tộc không có gì xóa tẩy được. Liệu nấm mồ tập thể to lớn đó với khung cảnh bi thảm này có đủ để thức tỉnh những kẻ đang chơi trò chém giết để thỏa mãn quyền lợi và tham vọng mà hàn gắn được niềm thù hận anh em suốt mấy chục năm dài.

ĐKT

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Đoàn Kế Tường


2. Tâm Tư Người Dân Quảng Trị
Bây giờ thì niềm ước mơ được trở về mái nhà xưa ở một quê hương điêu tàn sau hai tháng chui rúc trong các khu tạm cư của người dân Quảng Trị đã đến độ chín mùi.

Làm sao mà ngoảnh mặt cho đành với nơi chôn nhau cắt rún có những con đường chạy quanh bờ sông đổ dài ra biển. Khi bỏ xứ mà đi với nỗi buồn đầy ắp trong hồn rưng rưng dòng lệ, tài sản một gánh lên vai kỷ niệm nào hơn nấm mồ tổ tiên, cha mẹ. Niềm luyến lưu níu chặt đôi chân dù ngoài kia súng đạn Bắc quân đang xích lại gần vớ ihọ. Rồi cũng phải ra đi không một dự tính tương lai. May mắn thì có đựợc một chỗ ngồi trên đoàn xe quân đội đang chực chờ đầu Quốc lộ 1. Rủi ro thì dắt dìu bống bế nhau lang thang trên con đường thiên lý tiến về Nam, kẻ chết thì nằm yên lại đó với thành phố buồn thiu làm mồi cho lũ chó hoang chạy rong khắp xóm. Người dân Quảng trị đã thực sự cô đơn từ giờ phút đó. Nỗi kinh hoàng hiện rõ trên hàng ngàn nét mặt từ trẻ thơ cho đến cụ già. Mùa hạ đốt lửa trên đầu gió mùa đùn cát xôn xao trên lớp da mặt họ lầm lũi đi trong tủi nhục và khốn khổ. Ngày mai rồi, sẽ ra sao ? Niềm lo âu cơm áo đè nặng tâm hồn họ cũng như nỗi thiết tha vởi quê hương sắp mất. Rồi bom đạn Bắc quân vùi dập trên đầu họ, vài người thân ngã xuống dù chết dù thương tích hoặc kiệt sức cũng phải đành đoạn bỏ đi. Họ tan loãng trong bãi cát mênh mông, bãi cát như một địa ngục hãi hùng với những tiếng khóc la thảm thiết. Còn hình ảnh nào diễn tả tình mẫu tử cảm động hơn một bà mẹ ngã gục với mảnh đạn ngay tim còn thì thào vỗ về đứa con chưa đầy hai tuổi đang dẫy dua trên ngực mẹ vì dòng sửa ngấm máu mằn mặn, kẻ sống sót bương bả qua những đồi cát trắng phau tìm về đồng lúa vàng đang độ chín mùi lần mò đến con sông Mỹ Chánh. Sinh lộ mở ra ở đó và họ chỉ còn lại hai bàn tay trắng với một tâm tình rách nát. Sau cùng rồi họ cũng đến được thành phố bên kia rặng núi Hải Vân. Người đến trước còn có được một chỗ nằm trong khu tạm cư những trường học, công sở, kẻ đến sau đành chui rúc ở các vỉa hè sống đời sống du mục. Cơm áo bây giờ mới là một vấn đề nan giải đối với họ, kẻ phải lê lết ăn xin, nhiều cô gái trong trắng hiền lành một sớm một chiều bỏ quên guốc gỗ sân trường để bán xác nuôi thân. Niềm tủi nhục lớn dần trong tâm hồn họ khi lặng nhìn người thành phố vẫn phè phởn ăn chơi vung tiền qua khung cửa những trà đình tửu điếm. Tình đồng bào chỉ được thể hiện ở vài ngày đầu với những hô hào, khẩu hiệu rồi lắng xuống theo nhịp độ vồn vã của một vùng đất mất gốc.

Tôi đã đến đó với đồng bào tôi bằng một tâm trạng nhọc nhằn ở những chung cư chật chội, hôi hám, phẩm vật cứu trợ của chính phủ tuy có nhưng làm sao đủ để đắp đỗi qua ngày dù chỉ là rau cháo. Từ đó họ nhìn về quê hương bằng những nhớ nhung xao động, dù khó nhọc nhưng đã trở thành gắn bó đậm đà trên luống rau, luống cải. Tôi đã phải nhọc nhằn lắm nhưng vẫn không thể nào tìm được câu trả lời xác thực nào hơn bằng sự im lặng khi ngbe họ hỏi :

– Răng chừ thì miền (mình) có thể về lại Quảng Trị được en (anh)?

– Liệu Quảng Trị có mất luôn không en?

Làm sao tôi có thể giải thích được cho họ, ừ chính mình cũng còn không hiểu được nữa. Cuộc chiến tranh ở đất nước này đã trở thành kỳ quặc với những bùa phép, toan tính của ngoại bang. Người dân Quảng Trị họ cũng đủ biết rằng mai có về lại mái nhà thân yêu của họ được chăng nữa cũng chỉ còn những đổ vỡ hoang tàn với hai bàn tay trắng. Nhưng bản chất cần cù chịu đựng họ vẫn có thể bắt đầu xây dựng lại bằng chính sức người tiềm tàng trong tâm hồn họ. Họ sẽ trồng rau trên cát, phá núi làm đồng và ươm mầu cho những tương lai chất đầy hy vọng như ngày xưa tổ tiên họ đã hiên ngang khai phá những địa danh Cam Lộ, Ba Lòng thâm u chướng khí khô cằn sỏi đá trở thành vùng đất màu mỡ với đồn điền chim bay thẳng cánh. Tôi tin tưởng rằng người dân Quảng Trị là những người hiền hòa nhưng có sức chịu đựng gian khổ dai dẳng nhất nhân loại. Nếu không đủ sức chịu đựng làm sao họ có thể sống từ đời này qua đời nọ ở một quê hương dẫy đầy thiên tai và chiến tranh tàn phá. Tôi đã gặp nhiều cụ già tuổi trời đã xé tâm sự như một điều hối hận khi đã bỏ Quảng Trị mà đi. Các cụ hối tiếc đã không ở lại để được chết trên quê cha đất tổ cho tròn đạo làm người. Quan niệm của các cụ tuy lỗi thời nhưng nói lên được cái tâm tình của người dân tha thiết với quê hương đã thành thiêng liêng cao quý. Họ chờ đợi không nản và mỏi mòn cho một lần về dù lúc ra đi thật vội vã và nhất quyết. Cũng lang thang bằng đôi chân ốm yếu nhưng rắn chắc mỗi người đã lần mò ra tận Mỹ Chánh, Bến Đá nghe đạn reo trên đầu để chỉ được nhìn những làng mạc, xóm thôn mờ mờ sau khói lửa và lủy tre xanh. Người lính ôm súng nằm tuyến đầu nhìn thấy cảnh đó như một réo gọi thúc đẩy phải tiến lên đánh bật kẻ thù để chiếm lại vùng đất tạm bỏ. Không hô hào, nhân danh và trục lợi nhưng tôi đã thấy những người dân Quảng Trị quần rách áo ôm, trên lay cầm những món quà nghèo nàn tìm đến trao tận tay những chiến binh Dù, TQLC bằng trọn vẹn chân tình. Món quà nhỏ họ traọ cho người lính nhưng không khác gì họ đã gởi trọn tâm hồn cho quê hương đang lọt vào lằn mức bên kia và người lính khi đón nhận bằng tất cả cảm xúc khác nào đang đón nhận một lời ủy thác cái nhiệm vụ thiêng liêng phải dành lại cho bằng được mảnh vườn của người dân dù trên đó chỉ còn tro than.

Người linh chiếm lại từng gò mả, từng chặng đường là có bóng dáng người dân theo sau hỏi han, chia sớt…

Tôi cũng đã theo chân đoàn quân nhảy xuống những làng mạc tiêu điều sau hai tháng dưới sự kiềm tỏa của Bắc quân. Từ các hầm hố ven làng người dân đã nhảy lên ôm chầm bờ vai người lính khóc nức nở như vừa tình cờ bắt gặp hạnh phúc. Họ đã tâm sự không nỡ bỏ làng mà đi vì còn lại những bàn thờ tổ tiên, những mồ mả ông cha không thể để hương tàn bàn lạnh. Nỗi kinh hoàng còn in rõ trên từng khuôn mặt hốc hác vì thiếu ăn, người lính TQLC chia sớt cho người dân nuốt miếng cơm sấy trong nỗi nghẹn ngào xúc động. Họ không ngớt cảm ơn ông bà, thần thánh đã cho họ có ngày hôm nay còn được nhìn thấy quê hương thực sự được giải phóng bởi những người con yêu. Tôi đã chứng kiến tận mắt một người lính TĐ1 TQLC cởi bớt chiếc áo lót trên mình để tặng cho một người dân ở Gia Đẳng và người dân nhận áo đã mân mê đôi tay khô kia của mình lên bàn tay người lính chai nám như tình nhân. Họ nhắc đến hai tiếng cộng quân bằng giọng điệu kinh tởm, hãi hùng. Hơn bao giờ hết lúc này những người lính Dù, TQLC đã trở thành một cái gì quí mến tràn trề yêu thương trong tâm hồn đồng bào Quảng Trị. Một vài bà mẹ ở Mai Đằng Thượng Xá đã nói với giọng nước mắt.

– Mấy en bộ đội ơi! cả làng ni chờ đợi các en mấy tháng trời rồi, ngày mô cũng ngồi trong hầm dòm ra mà cũng không thấy dạng mấy en mô bết. Toàn là tụi giải phóng khôn ni. Mần răng mà mấy en bỏ dân lâu rứa, mấy en mà tới trễ vài ngày nữa e dân chết hết ni.

Rồi họ chạy ra ngoài vườn in đầy những hố bom bới những gốc sắn tàu đem vô nấu tặng người lính. Một Sĩ Quan TQLC đã nói với tôi một câu thật đầy ý nghĩa:

– Trong suốt cuộc đời lính của tôi, bây giờ tôi mới thấy sự chiến đấu của mình được đền bù xứng đáng hơn bất cứ một sự thăng thưởng và huy chương nào hết.

Người dân Quảng Trị đã thực sự un đúc thêm ý chí chiến đấu cho người lính phong trần. Chính người lính cũng phải thú nhận rằng những chiến thắng ở mặt trận này mà họ tạo được phần lớn nhờ ở tâm tình của đồng bào cho họ. Quảng Trị một quê hương thật nghèo nàn khốn khó nhưng người dân ở đây mới thực sự là một thành trì chống cộng kiên cố nhất nhờ ý thức thâu lượm được ở kinh nghiệm chung đụng với cả hai bên. Cộng thêm đó là niềm thiết tha với xử sở thôi thúc họ trong từng hơi thở, trong từng nhịp đập của trái tim.

Bây giờ thì người dân Qaủng Trị đang chực chờ trở lại thành phố làng mạc họ biết chắc rằng đã điêu tàn đổ vỡ. Cho dù có một nơi khác bình an và sung túc hơn chắc chắn rằng họ cũng không thể nào từ bỏ quê hương của mình với thật nhiều kỹ niệm. Họ phải trở về để dựng xây lại trên những đống gạch vụn, phải nhặt lại nắm xương tàn cửa người thân đã nằm xuống vì bom đạn của Bắc quân; người sống không thể mất quê hương thì người chết cũng cần phải có quê hương để giữ gìn đời đời. Họ đã có sẵn sự chịu đựng vô bờ và niềm tin được thắp sáng lên từ nỗi nhọc nhằn để khai sơn, phá thạch thì sá gì một lần làm lại cho xứ sở một ngày mai huy hoàng và tươi sáng.

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 25 Jul 2024

Mục Lục

TRỊ THIÊN

  Quảng Trị, đất đợi về
  Tâm tư người dân Quảng Trị
  Mỹ Chánh, Quảng Trị chặng đường ngút ngàn tử khí
  Thủy quân Lục chiến phòng thủ Mỹ Chánh như thế nào
  Quảng Trị trong trí nhớ
  Huế, pháo đài của niềm tin
  Dựng một ngọn cờ
  Chiến trường Trị Thiên và một ngày xa chiến


PLEIKU, BÌNH ĐỊNH, KONTUM

  Tái chiếm Tam Quan, Bồng Sơn
  Trên đỉnh Charlie
  10 Tiểu đoàn Biệt Động Quân thanh toán xong Chu Pao
  Về một thị trấn


AN LỘC

  19 ngày với tử thần An Lộc
  Đứng dậy chiến đấu nữa!… Bắt tay “thằng 8”
  An lộc chiến sử
  Một ngày trong An Lộc


DƯƠNG NGHIỄM MẬU – ĐOÀN KẾ TƯỜNG
HÙYNH VĂN PHÚ – HỒNG PHÚC – NGƯỜI XỨ HUẾ
PHẠM VĂN BÌNH – PHAN NHẬT NAM
PHAN HUY – SAO BẮC ĐẨU – VŨ HOÀNG

Dương Nghiễm Mậu


  1. Quảng Trị, Đất Đợi Về

Mỗi lần trước khi trở lại miền Trung, điều tôi thường hỏi: ngoài đó bây giờ mưa hay nắng. Lần này cũng thế, người em tôi vừa từ Huế trở về sau hai mươi ngày công tác nói: trời đang nắng và thành phố đầy hoa phượng, hoa sen. Bây giờ ngoài đó mùa hè và tôi nhớ tới không khí oi bức trong những chuyến đi cũ vào những thời gian đầu mùa hè: hoa phượng đỏ trên những ngọn cây, hoa sen nở đầy trong hồ Tĩnh Tâm, chung quanh trường thành, những trái nhãn nhỏ sai trên ngọn cây trong Thành nội. Nhưng khi tôi đặt chân tới Đà Nẵng, buổi chiều mây thấp và mưa nhỏ hạt. Người bạn nói với tôi trời mới đổ mưa từ buổi sáng. Tôi nhìn thấy mây thấp trên phía đèo Hải Vân. Đà Nẵng mưa thì chắc Huế mưa. Tôi hỏi về con đường qua đèo, người bạn nói: đi được như thường, hôm qua hơi bị kẹt vì cầu Nam Ô bị gẫy. Tôi hỏi cây cầu nào. Anh bạn nhắc lại: cầu Nam Ô. Tôi nói không phải, tôi biết ở đó có hai cây cầu, tôi muốn biết cầu nào vì trong chuyến đi trước, cây cầu mới xây cất, thứ cầu cho những xa lộ chưa dùng được, hôm trước đã có tin cho biết cầu Nam Ô bị sập, nhưng là cây cầu cũ, cầu xe lửa, người bạn nói, bây giờ thì cả hai nhưng đang được sửa chữa. Trời mây thấp, mưa nhỏ hạt, những di chuyển ướt át khiến cho thị trấn có một khung cảnh đìu hiu.

Tôi gởi hành lý lại nhà người bạn rồi chạy quanh, vẫn khung cảnh quen thuộc, thêm một vài ngôi cao ốc đang được xây cất nhưng chừng như công việc đã ngừng lại, những trường học trở thành trại tạm cư. Tại trường nữ, tôi thấy những nữ học sinh ngồi gác cổng ra vào trong khi đó có một gia đình thì chất hành lý lên hai chiếc xích lô, tôi hỏi và được biết: họ dời ra trại Hòa Khánh. Trại tạm cư Nguyễn Thượng Hiền cũng đã đóng cửa với tấm vải lớn kẻ những hàng chữ cho thấy những người tị nạn đã ra sống ở trại tạm cư Hòa Khánh. Đi bộ trên đường phố tôi thấy số xe ôm gia tăng với những chiếc xe ghé lại lề đường. Buổi chiều báo từ Sàigòn ra trễ và những nhà sách đông người ghé lại đợi chờ những tờ báo phát hành từ chiều hôm trước tại Sàigòn… Tôi ghé lại nhà những người quen, nơi nào cũng có những người thân từ Quảng Trị, từ Huế vào tạm trú, một vài người đã trở lại Huế, hoặc đi Sàigòn, tôi được nghe nói về những người tị nạn đã vào Chu Lai, đã đi Long Khánh. Một gia đình trong khi chạy khỏi Quảng Trị đã bị thất tán, một nửa vào được Đà Nẵng, còn một nửa không biết đâu, những người thân đang đi tìm kiếm nhau. Đài phát thanh Đà Nẵng với mục nhắn tin đài của những người ở Quảng trị tìm tin cha, tìm mẹ, chồng con thất lạc. Có những đứa trẻ tám chín tuổi bị lạc gia đình trên đường chạy giặc. Theo dõi mục nhắn tin tôi thấy nỗi tan hoang đối với hơn ba trăm ngàn dân chúng vùng giới tuyến.

Trại tạm cư lớn nhứt ở Đà Nẵng dành cho Quảng Trị nằm ở Hòa Khánh, một quận ở ngoài thị xã, nằm phía nam đèo Hải Vân, ngay ven quốc lộ Một. Tôi ngạc nhiên khi vừa từ thị xã tới đây lúc đứng trước một ngã ba đường có tấm bảng lớn sơn xanh, kẽ chữ trắng hàng chữ: QUẬN GIO LINH. Quận Gio Linh, tôi nói với người bạn: quận Gio Linh ở Đà Nẵng! Tôi nhớ tới nơi tôi đã từng ghé lại trong những năm trước trên đường công tác. Ngày ấy tôi theo quốc lộ Một vượt Đông Hà ra tới đồn A2 nằm ngoài cùng giáp với vùng phi quân sự sau khi quân đội ta đã bỏ chân cầu Hiền Lương trở vào trấn đóng phía trong gần với quận Gio Linh. Trên con đường đầy những bom đạn tôi chỉ thấy những cánh đồng hoang vu không bóng người, dân chúng đã phải rời làng mạc trở vào sống trong khu định cư Hà Thành, còn lại chăng một số thôn ấp nhỏ bé nằm ở giữa quốc lộ với bờ biển, còn lại phía Tây quốc lộ thì coi như bình địa với vùng oanh kích tự do. Nay Gio Linh chỉ còn là tên gọi của một vùng đất. Hai tiếng Gio Linh đã đi theo dân chúng vào Đà Nẵng. Bỏ quốc lộ đi sâu vào gần bờ biển, nơi đây có hàng trăm lều vải mới được dựng lên cho dân chúng tạm trú. Người trưởng trại ngày nay là ông quận trưởng của vùng đất cũ. Vị thiếu tá này người nhỏ bé trong bộ đồ đen nói cho tôi biết qua tình hình dân chúng, ông không thể đoán chắc về số dân chúng tại Gio Linh đã ra đi, vì hiện dân chúng không những chỉ sống tại Đà Nẵng, họ còn vào Chu Lai và nhiều nơi khác nữa, con số phỏng chừng khoảng 28 ngàn người ra đi so với dân hơn ba chục ngàn người. Ông kể lại cho tôi nghe những ngày kinh hoàng ở Quảng Trị khi đoàn người rời khỏi nơi đây để vào Huế: cả đoàn xe bị mìn và pháo kích, nhiều người bị thương phải nằm lại với tiếng kêu la thảm thiết…

– Ông thấy dân chúng có muốn đi vào lập nghiệp ở trong Nam không?

– Phần lớn dân chúng không muốn đi, họ mong trở lại Gio Linh.

Khi tôi từ trong lều đi ra thì có một người đàn ông giữ tôi lại và hỏi tôi có phải nhà báo không? Tôi nói không phải. Ông ta nói điều muốn nhờ. Tôi nói cho tôi biết. Sau đó ông ta giới thiệu là một người thuộc làng Gia Hải, một làng phần lớn sống bằng nghề chài lưới tại Cửa Việt, tôi ngạc nhiên khi biết dân chúng tại làng này đã cùng nhau xuống thuyền đi về phía Nam bằng những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé của họ. Điều mà người này muốn nhờ tôi là: tranh đấu cho họ được ở lại Đà Nẵng sinh sống, họ chỉ cần giúp đỡ lương thực một tháng đầu rồi sẽ tự túc bằng nghề đánh cá của mình. Sau đó ông ta cho tôi thấy, dân chúng tại Gia Hải đưa được vào Đà Nẵng 150 chiếc thuyền, chuyến ra đi của họ hết sức gian khổ, trước hết khi ra khỏi Cửa Việt họ đã bị cộng quân ngăn cản, súng đã nổ vào đoàn thuyền, một số dân chúng đã không ra đi được vì những làn đạn này, nhiều người đã bị thương và chết trong chuyến ra đi, trước hết họ tới được Cửa Thuận An. Sau đó tới Thuận An vào trong bãi biển Đa Phước. Khi tôi nói tới chuyện đi vào miền Nam ông ta nói chính phủ có thể mang được người đi nhưng còn thuyền bè của chúng tôi thì sao, chúng tôi sống bằng nghề biển như vậy làm sao để thích ứng với nghề nông trong khu vực khai hoang? Chung quanh tôi mỗi lúc một đông người, mỗi người góp một câu chuyện, ai cũng trông được sống ở Đà Nẵng và chờ ngày trở lại quê hương của họ, tôi cũng đã được nghe câu chuyện thương tâm của một người mẹ kể lại cái chết của con mình trên chuyến đi Nam, đứa con của bà đã chết trên chiếc thuyền của gia đình trong khi vượt biển vào Cửa Thuận. Tôi mường tượng thấy cảnh tượng bi hùng của chuyến ra đi, cảnh tượng giống như những người dân miền Bắc trong vụ Trà Lý, những người đã chọn để được sống tự do hoặc là chết… Gần hai mươi năm sau, cảnh tượng đó lại tái diễn một lần nữa.

Câu hỏi mà tôi hỏi đi hỏi lại nhiều lần với những người đã gặp là: tại sao không nghĩ tới việc vào các vùng đất an ninh, phì nhiêu ở Nam lập nghiệp? Tất cả đều nói: chúng tôi chờ đợi trở về. Trở về, họ như gắn liền với đất đai khô khan cực nhọc, họ không muốn rời khỏi quê hương nơi có những mái tranh nghèo, những mồ mã tổ tiên, nơi họ đã sinh lớn lên trong nhọc nhằn. Trước đây, ngay từ thời Đệ nhất Cộng hòa, công việc di dân lập ấp được đặt ra, dân chúng tại đây cũng đã từ khước ra đi, ngày nay họ vẫn không thay đổi ý muốn đó. Chừng như quê hương càng đau khổ, đời sống càng nhọc nhằn người dân càng gắn bó keo sơn với nó. Vùng Gia Đẳng, Gia Hải… những vùng cát trắng khô khan kia vẫn còn lại những gì mà người dân thấy không thể bỏ nó mà ra đi được cho dù họ biết chắc rằng ra đi họ sẽ có một nơi sung sướng hơn, đầy đủ hơn.

Những gia đình với hành lý nghèo nàn người dân ở trong trại tạm cư chia nhau những diện tích nhỏ hẹp để sống, những trẻ con vẫn nô rỡn trên bãi cát, những bà mẹ vẫn nhẫn nại nhóm những bếp lửa nhỏ lo bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Tôi thấy chiếc áo màu của một sinh viên ra đây lo cứu trợ như lạc lõng với khung cảnh.

⬤

Trại tạm cư Hòa Khánh lớn lao hơn nhiều trại tạm cư dành cho người thuộc quận Gio Linh. Nơi đây bao gồm dân chúng thuộc nhiều quận, phần lớn họ được sống trong những ngôi nhà tôn của một trại binh Mỹ. Những con đường trong trại tráng nhựa phẳng lì còn tốt nguyên vẹn, nhưng những ngôi nhà thì phần lớn đã hư vì thời gian, nhiều vách gỗ đã bị gỡ, những bao cát phần lớn đã mục khiến cho khung cảnh có vẻ điêu tàn. Ngay trong những ngã tư đã có những hàng quán giải khát, dân chúng như đã thấy bắt tay ngay vào việc tìm sống. Nhiều người lo đi tìm kiếm những người quen, người ra kẻ vào tấp nập. Đại tá Hòa, người tôi gặp lúc ông cầm đầu một phái đoàn, là vị tỉnh trưởng Quảng Trị. Ông mới về làm tỉnh trưởng được ba tháng, nay ông đã ở Đà Nẵng với những người tị nạn. Trông ông thấy phảng phất một vẻ buồn. Dân số Quảng Trị có hơn ba trăm ngàn, con số còn bị kẹt lại khoảng 50 ngàn, tôi thấy số dân chúng ra đi thật lớn lao và thực sự là đau đầu với chính người cộng sản khi tới chiếm Quảng Trị. Họ phải nói thế nào với quốc tế và điều họ vẫn nói: dân chúng ủng hộ họ và về chiêu bài giải phóng vẫn không ngớt được nói đến. Không, dân chúng đã ra đi khi bom đạn và người cộng sản đến. Không có dân, đất đai còn có nghĩa gì nữa?

⬤

Người thanh niên ấy có nước da ngăm đen, vẻ ngơ ngác trên mắt nhìn, gò má cao, cằm vuông anh hơi chút mỉm cười ngậm ngùi khi tôi hỏi anh về chuyến hành trình đã trải qua. Anh lặng đi rất lâu, giọng anh trầm xuống, có lúc tôi chỉ thấy môi anh mấp máy và như tiếng nói biến mất: trước hết chúng tôi về Quảng Trị, thực chúng tôi không nghĩ có lúc sẽ ở đây, nếu biết vậy chúng tôi đã đi thẳng tới đây, chúng tôi không ai nghĩ thế cả, nhưng rồi chúng tôi phải đi khỏi Quảng Trị, ngày đó là ngày mấy nhỉ, không rõ là 28 hay 29 gì đó, mà chừng như…, phải rồi, pháo kích, rồi mìn anh ạ, rồi cả một cuộc giao tranh nữa, những chiếc xe nổ tung, những thân người văng lên, tan tác những tiếng kêu khóc thảm thiết, mạnh ai nấy chạy, không còn ai nghĩ tới chuyện cứu ai nữa… Chúng tôi chạy, chỉ biết chạy thế thôi… với hai bàn chân chúng tôi tiếp tục đi, trước hết là Huế, sau tiếp tục đi nữa, không, anh không thể hiểu được nếu anh không cùng chúng tôi trong chuyến ra đi ấy, chúng tôi có cảm tưởng như ngay sau chân chúng tôi cộng sản bên gót. Chúng tôi như tranh nhau lấn bước về phía trước, người ta có phương tiện để đi, chúng tôi thì không, quốc lộ như thế mà bốn hàng xe chạy thì anh thử hỏi làm sao chúng tôi len chân, và trên dọc đường ấy người ta như đứng lại với nhau, không còn trật tự nữa, thỉnh thoảng súng lại nổ và người nháo nhác… Tôi đã thấy ngay trước mắt tôi chiếc xe lật xuống đèo và những người chết, tôi đã thấy những bà mẹ kêu gào tìm đứa con thất lạc… Tôi không hiểu tại sao sự việc lại xẩy ra như thế, bây giờ nhìn lại tôi càng thấy vô lý, bọn nó chưa tới được vòng đai mà sao mình đã bỏ lại hết để chạy… Tôi lạc mất một người em gái, cho đến hôm nay tôi vẫn không hiểu nó còn sống hay đã chết phơi xác dọc theo quốc lộ…

Người thanh niên lặng đi, đôi mắt nhìn xuống trũng bóng tối. Tôi không còn biết có lời nào để nói với anh. Tôi nhớ lời anh Cường kể lại chuyến đi của chính anh, thực anh chưa muốn đi nhưng sau nhìn lại thấy mọi người đi hết thì anh sợ, người anh nghĩ chưa đi là anh Du thì anh đã thấy lên trực thăng đi rồi, cuối cùng anh phải đi chiếc xe cũ đưa anh lên đèo nhích từng chút, có lúc xe không đứng lại được mà tụt xuống, đi từ sáng cho mãi tới 9 giờ tối mới vào tới Đà Nẵng, trên đường anh đã thấy những người lính nổ súng bắt xe cho họ lên, anh đã thấy một bà cụ già ngồi trên một tấm gỗ có gắn bánh xe tay bám lấy chiếc dây thừng buộc vào chiếc xe đạp của người con đạp phía trước… Mường tượng tới cảnh ra đi, quãng đường Quảng Trị– Huế –Đà Nẳng trở thành một cuộc trường chinh cho người dân Trị Thiên, tôi nghĩ nếu con đường đèo bị cắt, hay một cuộc phục kích xảy ra thì họ sẽ ra sao?

⬤

Trời mưa nhỏ hạt suốt đêm, sáng hôm sau trời vẫn thấp mây, tôi mang theo hành lý để tới Huế như dự định, trước khi đi tôi ghé lại thăm anh Lam, tôi nghĩ anh nắm được nhiều dữ kiện về những sự việc đã xảy ra. Tôi thấy anh hết sức bình tĩnh và nói với tôi về công việc anh đang làm, giúp vào công việc đưa dân chúng Quảng Trị vào miền Nam theo chương trình di dân khẩn hoang của chính phủ, anh cho thấy dân chúng không muốn đi riêng, họ muốn đi cả quận, cả làng. Anh cũng nói tới hoạt động của các đảng phái một cách lạc quan. Khi hỏi anh: ai ra lệnh rút khỏi Quảng Trị, anh nói không phải Tướng Lãm ra lệnh. Anh cười khi đặt với tôi một vài vấn đề sau khi rút khỏi phần đất này, việc oanh tạc Bắc Việt, việc thả thủy lôi xuống các cửa biển và sông ngòi miền Bắc…

Tôi ra bến xe, trời mưa nhỏ, tôi chờ cho những chuyến xe từ Huế vào tới nơi thì leo xe trở ra. Tôi thường theo cách đó để có thể yên tâm lên đường mỗi khi ra đây công tác. Chuyến xe quen thuộc màu đen với mười chỗ ngồi, số người trở ra Huế chờ đợi từng chuyến xe đến và trong chốc lát lên đường trở ra. Đường ra khỏi thị xã xe cộ đủ loại nối đuôi nhau, có hàng trăm xe vận tải đưa đạn vượt qua đèo. Trước khi tới cầu Nam Ô xe bị đọng lại với sự chờ đợi oi bức, xe nhích từng khoảng ngắn. Khi ngang qua tôi thấy dòng sông rộng. Cây cầu xi măng bị hư một nhịp đang được sửa chữa và hiện có một cầu tạm bắc lên cho xe cộ lưu thông. Cầu Nam Ô là cây cầu xe lộ độc nhất được hãng thầu Mỹ làm cho suốt dọc quốc lộ từ Đà Nẵng tới Huế, cầu Lăng Cô là cầu cũ được sửa lại, còn hầu hết những cây cầu khác được làm bằng gỗ ở đây đã bị phá sập, những chiến sĩ công binh đang lo đắp một con đường vòng và sửa lại cây cầu. Chiếc xe tôi đi chạy hơi ra ngoài bị chận lại, như một hình phạt không được qua, người tài xế bứt đầu bứt tai nhìn những chiếc xe chạy sau vượt lên phía trước, tôi thấy nhiều xe chở hàng không có mui chở đầy người, đó là những gia đình ở Huế trở lại nhà, họ mang những hành lý. Có những chiếc xe có mui thì người ngồi cả trên mui cao, trên quãng đường này tôi cũng thấy nhiều xe chạy đường xuyên Việt, từ Quảng Trị tới Sàigòn, nhưng vì biến cố trong những ngày qua đã khiến cho những chuyến xe này không thể trở lại Sàigòn được. Những chuyến xe sẽ thương nhớ đường dài… Mưa vẫn đổ mau hạt trong khi xe qua đèo, con đường rộng, nhựa phẳng trở thành nguy hiểm, tôi nghĩ tới những ngày tháng trước khi đoàn người tỵ nạn phải ngang qua đây. Một trăm cây số của đường dài những lo âu chất ngất và nỗi kinh hoàng nhìn về ngày mai… Vùng biển Lăng Cô làm tôi nhớ lại mộng ước được về sống trong một xóm dân chài của Ninh Hòa, hai tiếng Hòn Khói vẫn còn ghi nhớ với những cồn cát trắng như tuyết và những ngọn dương cao cùng với biển xanh bao la phía trước… Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…

Cầu Phú Lưu bị sập nhưng vẫn di chuyển một chiều, khoảng đường từ phía chân đèo trở lại Huế tôi thấy nhiều binh sĩ thuộc Sư đoàn 3, họ có mặt nơi những chiếc cầu còn lại. Trên một thành cầu sắt của đường xe lửa tôi nhìn thấy hàng chữ: bảo vệ cây cầu tới giọt máu cuối cùng. Tôi buồn rầu nghĩ tới những cây cầu đã gãy. Tôi nghĩ tới những cây cầu gỗ trên quốc lộ 9 nối Đông Hà tới biên giới và trên quốc lộ 1 Gio Linh tới Đà Nẵng.

Năm 1968, khi tôi theo quốc lộ 9 lên Cam Lộ, nơi có trên 6 ngàn dân chúng quận Hưng Hóa từ trong núi về tị nạn, trong số này phần lớn là sắc tộc Bru. Bấy giờ trận chiến ác liệt ở Khe Sanh, trong khi xe ủi đất Mỹ làm việc không ngừng, họ mở rộng đường trải đá, trải nhựa và làm cầu. Tôi tự hỏi như vậy có phải con đường sẽ được dùng để sang Lào không? Năm 1970 trở lại, cả vùng đã hết lính Mỹ, chúng tôi dùng xe díp chạy từ Quảng Trị lên Cam Lộ uống cà phê và nói chuyện hòa bình, ngày lên xin đất mở đồn điền trên Khe Sanh… Tôi nghĩ tới những cây cầu và hỏi: những cây cầu bằng gỗ này chịu đựng được bao nhiêu năm? Tại sao không phải là cầu xi măng? Không ai trả lời. Và tôi cũng đã hỏi: sao Mỹ làm con đường này tốt vậy mà không dùng? Và câu trả lời mãi tới khi có cuộc hành quân sang hạ Lào tôi mới thấy, mỗi ngày hàng trăm xe đạn dược theo đó mà tới Khe Sanh. Nói tiếp về những cây cầu tôi cũng thấy từ Gio Linh vào Huế chỉ mới có một cây cầu mới đúc, còn hầu hết là cầu gỗ. Và bây giờ tôi lập lại câu hỏi: những cây cầu chưa bị phá sẽ còn chịu đựng được bao nhiêu lâu?

⬤

Phú Lộc, La Sơn, Phú Bài, Phú Lương, Dạ Lê, An Cựu… và cầu Trường Tiền. Huế vẫn còn đó, một sinh hoạt lặng lẽ, nhiều căn nhà cửa đóng nhưng có toán công nhân sửa đường vẫn làm việc, những người thợ nề vẫn tiếp tục chát vôi nơi bệnh viện trung ương đang xây cất… Hoa phượng đỏ như máu trên những con đường hai bên bờ sông, trong Thành nội, ghe thuyền đầy trong lòng sông nhà Bè và vùng Bao Vinh không khí như thuở thanh bình, tôi nghe thấy một không khí chìm chìm lặng lẽ nhưng đầy đe dọa. Tôi tìm gặp lại những người bạn cũ, gần hết đã ra đi. Anh Tấn bây giờ nuôi râu dài như một đạo sĩ, anh Du như già hơn mấy tuổi, anh nói lại một ngày từ sở làm ra đường tìm xe về nhà, phố vắng tanh, không một chuyến xe khiến anh ngao ngán thấy mình như con chó hoang, và mắt anh như rưng rưng khi kể lại chuyến bay đưa anh khỏi Thành nội trong không khí nháo nhác tan vỡ. Bây giờ thì anh đã trở về một mình sống như mình muốn sống. Thục nói: ở lại với ý nghĩ ngông cuồng làm kẻ tuẫn đạo… Liệu có mất Huế không?

Cộng sản có đánh Huế không? Tại sao Huế không bị pháo kích? Những câu hỏi đặt ra mà không ai dám trả lời khẳng định, ai cũng có ý kiến nhưng sao đó là cái mĩm cười ngụ ý… Thành phố đầy những lính, đủ màu áo, hình như không thiếu một binh chủng nào, ít hoặc nhiều họ đều có mặt. Tôi gặp lại những người bạn trong quân đội những ngày cũ. Những hàn huyên không hết về kẻ sống người chết, những người ở An Hậu, những ngày ở Phú Thứ, những ngày trong Dãy Phố Buồn Hiu, những ngày ở Khe Sanh, những ngày rong chơi yên bình trong những làng xóm ở Triệu Phong nói chuyện về những nàng cung phi sinh trưởng ở Sãi, và vẻ đẹp tây phương của những cô gái ở Mỹ Chánh, dòng sông mà người bạn tôi nói nửa đục nửa xanh, nơi những thuyền bè Tây phương từ thế kỷ trước đã vào đó…

Trên máy bay nhìn xuống quốc lộ 1 chỉ thấy một dòng xuôi về Nam hỗn độn…

⬤

Buổi chiều mưa thật lớn, người bạn nói với tôi cơn bão đang tiến tới. Một người bạn nói với tôi về Huế: đất gì lạ, một năm ở đây thì có ba tháng để tranh đấu, ba tháng để chịu tai ương, ba tháng để cứu trợ, còn ba tháng để làm thơ. Điều người bạn nói thực đúng với thời gian 10 năm trở lại đây, Huế đầy những tai ương và đau khổ, cơn ác mộng Mậu Thân với hàng ngàn người bị chôn sống vẫn còn ám ảnh tôi những người sống sót, đó là một trong những điều giải thích vì sao họ đã lũ lượt kéo nhau ra khỏi Huế dù thực sự chiến tranh chưa đến.

Tôi theo xe người bạn ra khỏi Huế, hiện đang có những cuộc chuyển quân vào phía Tây và phía Bắc, những chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã đột kích ba lần vào vùng đất Quảng Trị, nhưng sông Mỹ Chánh vẫn là chiến tuyến. Quốc lộ 1 chạy về phía Bắc vắng hoe, chỉ có những xe nhà binh di chuyển với vận tốc nhanh hơn thường ngày, những cánh đồng ở Hương Điền vẫn có bóng người nông phu, thiên nhiên vẫn như một ngày thanh bình cũ. Trong phòng tuyến, tôi hỏi một anh bạn: bao giờ qua bên kia? Người bạn cười, định qua rồi nhưng mưa nên ngừng. Sao vậy? Hết mùi thối rồi… Tôi không hiểu. Người bạn nói: Mấy hôm trời nắng, gió Nam thổi hôi quá chịu không nổi tính hành quân để chôn xác chết của mấy trận, nhưng mưa rồi nên đỡ.

Tôi rùng người và thấy như đầy mùi tử khí. Tôi mường tượng tới khoảng đường còn lại để tới Quảng Trị, những làng mạc và đồng ruộng ngày nay còn ngổn ngang những xác người đã nằm xuống trong những ngày trước, nắng lửa làm cho những tử thi trương lên và bây giờ những cơn mưa làm cho tan rã… Đêm lại cơn mưa lớn. Tôi cùng người bạn ngồi trong quán cà phê, chút rượu khiến cho chúng tôi ngây ngất. Trên chiếc xe nhỏ chúng tôi đi trên những con đường vắng không có bóng người, chỉ có những tàn cây và bóng tối, thỉnh thoảng mới gặp những người lính ướt nước. Tường thành lầm lì, những bãi cỏ tranh cao với bông trắng, tất cả như thầm thì một tâm sự. Không khí lặng như một cõi chết nào. Thiên nhiên kia còn nghĩa gì khi không còn những mắt nhìn chan chứa, không còn nhịp tim rộn ràng? Tôi như nghe thấy tiếng thở dài của những cánh sen hồng về nỗi tàn tạ. Mùa hè đã đến rồi đấy nhưng như đã mất vì không có tiếng guốc khuya trên cầu, hoa phượng đã nở đỏ nhưng không còn là màu của nắng lửa, nó trở thành những vũng máu đọng chờ khô của một cái chết.

Người bạn nói: Tôi ở lại đây và tôi chờ ngày vào Quảng Trị.

Tôi nhìn người bạn.

(tháng 6-72)