Chút lãng mạn cuối cùng

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc tháng 10 08, 2020

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

18 năm trước, tôi viết truyện ngắn này. Tôi xem nó như những dòng tâm sự bởi trong đó loáng thoáng có bóng mình. Tôi nghĩ sẽ chẳng cho ai đọc những gì mình đã viết, giữ lại cho riêng mình như những lời độc thoại với hư vô. Và rồi bản thảo truyện này biến mất, suốt một thời gian dài cả chục năm tôi tìm hoài mà không thấy. Hôm nay lục mấy tấm hình rửa cho một chị bạn học cùng trường đại học, lại tìm lại được truyện này. Nằm đọc lại cũng chỉ thấy buồn. Truyện viết đã gần hai mươi năm, nhân vật cũng đã vào tuổi xế chiều. Gần hai mươi năm biết bao biến cố đổi thay của một đời người nhưng câu chuyện vẫn còn đó, ghi lại một ký ức khó có thể quên. Tôi quyết định đăng trên facebook sau một thời gian dài chỉ giữ riêng cho mình để mọi người cùng đọc. Cũng chẳng để làm chi nhưng hi vọng nhiều người đọc sẽ thấm được nỗi đau của nhân vật trong một giai đoạn bi kịch của xã hội và lịch sử.

Có trầu mà chẳng có cau

Thì đành không đỏ môi nhau kiếp này

Buổi chiều ở Blao sương xuống sớm, những ngọn gió thổi về làm rung những cành thông non trong vườn, trời nhờ nhờ tối, không gian chùng xuống nặng nề. Ba người đàn ông ngồi uống rượu trong căn nhà nhỏ trên sườn đồi, li rượu được rót ra nhưng chẳng ai nâng chén, bởi rượu chỉ là cái cớ để níu chân nhau ngồi lại. Ngọn đèn cầy trắng cắm trên chiếc giá đồng cổ rất sang trọng hắt ánh sáng trên ba khuôn mặt tạo thành bức tranh mang phong cách thời Phục Hưng. Trong buổi chiều ấy và trong khung cảnh ấy, tôi được người bạn già kể lại câu chuyện này, đây là câu chuyện có thực, và là một đoạn đời của ông. Những con người trong câu chuyện này cũng đang còn hiện hữu, và đang là người nổi tiếng, nên khi kể lại chuyện này, tôi xin đổi tên của các nhân vật chính.

*********

Chị Lê là con gái đầu của O Hiếu, mẹ chị Lê là anh em chú bác với ba tôi, chị Lê hơn tôi mười tuổi. Lúc tôi khoảng mười hai tuổi đang học lớp đệ thất thì chị Lê đã là một cô gái đang học năm thứ nhất sư phạm Qui Nhơn. Chị là một cô gái đảm đang, rất giỏi việc nữ công, nội trợ. Chị có khuôn mặt hiền, thánh thiện, tóc chị dài thoang thoảng mùi bồ kết thường được kẹp bằng chiếc kẹp đồi mồi, nước da trắng, không chút son phấn và chính những nét tự nhiên đã làm cho khuôn mặt chị lúc nào cũng sáng lên một thứ ánh sáng mộc mạc mà đằm thắm rất Việt Nam. Chị không có nhan sắc rực rỡ, nhưng đôi mắt chị trong veo, những ngón tay thon nhỏ với các móng lúc nào cũng được cắt, sạch, cộng với những cử chỉ, lời nói luôn dịu dàng đầy nữ tính gây thiện cảm với người chung quanh. Tôi chưa bao giờ nghe chị nói nặng lời hay lớn tiếng với ai, dù đó là người ăn kẻ ở trong nhà. Chị thường đội nón lá, đi guốc mộc, mặc chiếc áo bà ba cổ trái tim bằng vải lụa mềm. Thời đó, tôi đọc rất nhiều tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn trong tủ sách khổng lồ của ba tôi nên tôi hình dung chị chính là những nhân vật trong các tác phẩm đó, chị là cô Mai trong Thừa tự, trong Nửa chừng xuân… Nhà tôi lúc ấy là một ngôi nhà lớn, trước nhà có sân rộng lát gạch tàu, ba tôi cho xây một hồ cá to và trồng một giàn thiên lí xanh mướt mắt. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh chị Lê ngồi làm mứt gừng dưới giàn thiên lí lúc ánh sáng chiều chênh chếch len qua những kẽ lá xanh um chiếu trên khuôn mặt rám hồng vì sức nóng của bếp lò và ánh sáng phản chiếu của những viên gạch tàu. Trong tâm thức của một đứa trẻ mười hai tuổi, bỗng tự nhủ, mai sau tôi chỉ yêu người con gái nào giống chị Lê, phải giống từ khuôn mặt, dáng người cho đến những nét đảm đang rất Việt Nam như chi.

********

Rồi tôi lớn dần lên, đến tuổi biết yêu, tôi đi tìm bóng hình của chị qua những người bạn gái, nhưng không tìm thấy được. Xã hội càng lúc càng đổi thay, lính Mỹ vào Việt Nam làm đảo lộn mọi giá trị của cuộc sống, son phấn nhòe nhoẹt và đủ thứ thời trang kệch cỡm làm cho tôi khó mà tìm được người con gái như mộng tưởng. Những cuộc tình thời mới lớn cũng qua đi chẳng để lại ấn tượng gì.

Tôi vào Sài Gòn học đại học, cuộc sống tự lập của người con trai miền Trung ở Sài Gòn gặp quá nhiều khó khăn, tôi luôn mặc cảm về cái nghèo túng của mình nên chẳng dám yêu ai, thật ra tôi cũng khó tìm ra giữa Sài Gòn này một cô gái như mình đang tìm kiếm. Tôi như gã con trai đi tìm lá diêu bông không có thực trên đời. Cũng có nhiều cô gái đến với tôi, nhiều cô rất đẹp và giàu có, cũng có cô rất quí phái sang trọng, nhất là khi tôi bắt đầu có chút tiếng tăm và tiền bạc qua mấy lần triển lãm tranh và nhiều bài báo gây ấn tượng trong giới sinh viên. Nhưng sao tôi vẫn thấy dửng dưng, vẫn chưa thề nói với ai về tình cảm của mình. Tôi vẫn đi tìm một bóng hình không có thực, nhưng tâm tôi vẫn bảo hãy tìm đi và sẽ gặp, giống như điều Chúa đã dạy là hãy gõ cửa thì cửa sẽ mở. Tôi sẽ tiếp tục đi tìm và tôi sẽ tiếp tục gõ cửa suốt cuộc đời bởi tình yêu có sự lựa chọn riêng của nó.

*******

Đội quân mới, chính quyền mới như một cơn gió lốc thổi nhanh giữa Sài Gòn, cuốn phăng đi mọi trật tự có sẵn, đảo lộn và đổi thay đến từng ngõ ngách, từng con người. Tôi cũng bị xoáy vào vòng xoáy đó, không kịp rút số tiền dành dụm được của những mấy năm cực nhọc vừa học vừa làm gởi ở ngân hàng. Tôi trở lại thời vừa mới vào đất này, trắng tay và đói rách, lại xếp hàng ăn những bữa cơm đạm bạc tập thể ở căn tin, chờ đợi những thay đổi mới. Ở thời kỳ đó, chẳng có việc làm gì rõ rệt, kẻ đi bán cà phê, người ra lập chợ trời, tôi không làm được những việc ấy nên ngày hai bữa lang thang với bạn bè văn nghệ của Sài Gòn cũ, làm những người rảnh nhất thế giới, chờ đợi.

Chúng tôi được phép đi học lại, sinh viên từ nhiều trường tập trung thành trường Đại học Sư phạm thành phố, sinh hoạt hát hò và suốt ngày làm quen với đường lối, chủ trương và nền giáo dục mới. 

Tôi chẳng có hứng thú gì việc học hành bởi cái đói luôn hành hạ, hờ hững đến giảng đường mà chẳng chú ý đến ai, nhưng cũng phải ráng ghi ghi chép chép hi vọng nay mai được ra trường, có việc làm để ổn định cuộc sống, hướng tới tương lai. Tôi tham gia vào những sinh hoạt của nhà trường bằng những tài vặt đàn ca xướng hát, và cũng bởi rảnh quá chẳng biết làm gì cho hết thì giờ. Được sự gợi ý của chi đoàn, tôi thành lập nhóm kịch của khoa Văn, và ngay bữa họp đầu tiên của nhóm tôi đã gặp cô gái mang một cái tên là lạ: Trân Cầm. Trân Cầm học ở Văn khoa chuyển qua cùng lớp nhưng vì tôi chẳng để ý đến ai nên chưa gặp lần nào, hay có thể đã gặp mà không thấy. Cảm giác đầu tiên khi tôi nhìn thấy Trân Cầm là như có một chiếc búa lớn bổ vào ngực, đè nặng trái tim và nhịp tim tôi như ngừng lại, bởi cô ấy chính là lá diêu bông mà tôi đã tìm kiếm lâu nay. Vóc dáng ấy, đôi mắt ấy, giọng nói ấy, tiếng cười ấy, khuôn mặt ấy chính là những hình ảnh liên tục hiện về trong những giấc mơ của tôi. Khi ánh nắng buổi chiều chiếu vào cửa sổ hắt vệt sáng trên mái tóc buộc túm bằng chiếc kẹp đồi mồi và làm rực lên nửa khuôn mặt của Trân Cầm, thì hình ảnh chị Lê ngồi dưới giàn thiên lí trong tiềm thức tôi hiện lên rõ rệt. Thế là tôi đã tìm thấy. Tôi đã gõ cửa và Chúa đã mở cửa cho tôi bắt gặp định mệnh của đời mình. Tối hôm đó trở về nhà trọ, dù chẳng có gì bỏ bụng tôi vẫn ôm đàn hát nghêu nghao cho đến khi trăng tàn trên những vòm cây.

Mấy năm lưu lạc học hành ở miền Nam tôi làm đủ thứ nghề, từ bán báo đến sửa morasse nhà in, rồi trở thành người viết báo, trình bày báo, vẽ tranh, làm thơ, đi hát, diễn kịch… cũng để dành được một số tiền khá lớn, đủ để bảo đảm một cuộc sống sung túc, nhưng cứ nghĩ mình còn trẻ, lại chưa lập gia đình nên gởi hết vào nhà băng. Ai ngờ thời thế đổi thay, trong cơn cuống quít của chuyện ra đi hay ở lại, tôi không rút được đồng nào, từ triệu phú trở thành kẻ đói cơm giữa Sài Gòn đầy lộn xộn, phải bán luôn chiếc xe hơi vừa mới mua chưa đầy ba tháng với một giá rẻ mạt như cho, để tồn tại, nên chẳng còn phương tiện nào để di chuyển ngoài đôi chân mệt mỏi. May thay, từ khi quen với Trân Cầm, tôi thường dùng chiếc xe đạp của Trân Cầm để chở cô ấy đi học, đi về, đi sinh hoạt hát ca. Tôi không biết ngỏ lời với Trân Cầm như thế nào để tỏ hết lòng mình, nên thông thường tôi chỉ biết lắng nghe những câu chuyện buồn vui của cô ấy kể bằng một giọng Bắc kỳ Hà Nội di cư, một giọng kể nhẹ nhàng duyên dáng với những nhận xét thông minh, những tình tiết đầy nữ tính.

Một hôm sau buổi diễn kịch ở trường về, trời đã khuya, con đường Trương Minh Giảng vắng rộng thênh thang chỉ còn tiếng dế gáy bên vệ đường và hương ngọc lan từ những biệt thự đầu đường ngào ngạt trong gió đêm, một không gian thật lãng mạn cho những đôi tình nhân. Có lẽ không gian đó cũng làm cho Trân Cầm xao xuyến, Trân Cầm ngả đầu vào lưng tôi. Một cảm giác lạ lùng đến với tôi, một tín hiệu tốt của tình yêu chưa dám nói? Tôi muốn con đường dài ra mãi, đi hoài không tới, để tôi giữ mãi được giây phút thần tiên ấy, để chúng tôi là dấu chấm của đời nhau, được đi cùng nhau suốt cả cuộc đời. Sau này, liên tục mấy mươi năm, hôm nào đi qua cảnh cũ tôi cũng thường lái xe đi chậm lại để mong được hít thở hương ngọc lan bay rất mỏng, để nhớ cái đêm đầu tiên ấy, để hưởng lại cảm giác ngọt ngào và hạnh phúc của ngày xưa đã mất. Nhưng những cây ngọc lan xưa không còn ra hoa nữa và người xưa cũng như cánh chim bay xa tít. 

Sau đêm đó, cả hai cũng chẳng có tín hiệu gì thêm nên chúng tôi vẫn là hai người bạn cùng lớp, cùng nhau trên một lối về.

*******

Tháng Sáu, Trân Cầm muốn ghé qua nhà trọ của tôi cho biết cuộc sống của những kẻ xa nhà. Khi chúng tôi vừa bước chân vào căn gác nhỏ thì trời đổ mưa như trút, mưa tháng Sáu của miền Nam, mưa tháng Sáu của Sài Gòn. Chúng tôi đứng nhìn mưa qua cửa sổ, những hạt mưa bay làm ướt nhè nhẹ trên khuôn mặt của hai đứa, và chúng tôi chụm đầu vào nhau, hai bàn tay không hẹn mà tìm nhau nắm chặt, hai bàn tay nóng bỏng giữa chiều mưa. Cái hôn đầu tiên đến quá bất ngờ nên cả hai đều sượng sùng khi nhìn vào mắt nhau, đôi mắt trong veo hình như ánh lên câu hỏi, trời vẫn mưa xối xả, chúng tôi quên mất đất trời chạy xuống cầu thang đội mưa đi, mưa ướt đẫm trên khuôn mặt, ướt hết hai tấm thân gầy, hai đứa lâu lâu lại nhìn nhau cười dưới cơn mưa như những người mất trí. Đó là nụ hôn đầu tiên và duy nhất của chúng tôi dành cho nhau suốt cả một cuộc tình dài. Khi nhìn Trân Cầm đạp xe đi về, bầu trời u ám, những dây điện giăng ngang cắt nát mảnh trời, dáng mong manh của Trân Cầm nổi lên khung trời xám đó như cánh chim nhỏ nhoi đang cố bay lên. Tôi buột miệng hát một đoạn trong bài Như cánh vạc bay của Trịnh Công Sơn: “Nắng có hồng bằng đôi môi em. Mưa có buồn bằng đôi mắt em. Tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống đời làm sóng lênh đênh… Vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi… ” Từ đó tội gọi Trân Cầm là Vạc, bởi em gầy với áo lụa bay, và cũng bởi tôi rất yêu cánh vạc, những con vạc mảnh mai bay về trong ánh mặt trời là hình ảnh thanh thoát và lãng mạn. Cũng từ đó cho đến nay, trải qua biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu đổi thay, tuổi càng ngày càng chồng chất, nhưng cứ đến những cơn mưa đầu mùa tháng Sáu hàng năm tôi lại đội mưa đi lang thang, đi trong mưa để nhớ ngày mưa tháng Sáu ngày xưa, tháng Sáu có ngày sinh nhật của Trân Cầm; và để nhớ về loài chim vạc, nhớ về nụ hôn duy nhất của một cuộc tình buồn.

Những buổi học sau đó là những ngày vui, tôi không còn hờ hững với giảng đường và bài giảng nữa, bởi đã có động cơ để tôi phải cố gắng, và những giờ học là dịp để được gặp nhau, để chào đón nhau, gởi cho nhau những bài thơ viết vội, hoặc những lời nhắn gởi vu vơ. Nhưng cũng từ bữa ấy, những đôi mắt sau lưng chúng tôi hình như có chứa đựng những ánh mắt ganh ghét, đố kỵ, lúc đầu còn kín đáo nhưng càng ngày càng lộ rõ. Tôi hồn nhiên sống và hồn nhiên yêu, không hình dung ra những đợt sóng ngầm đang chuẩn bị để vùi dập mình xuống tận đáy của cuộc đời. Tôi cũng không nghĩ tới cái ác của con người, chỉ nghĩ tới thiện tâm và không nghĩ rằng trên đời này lại có thể có những con người lúc nào cũng tính toán, âm mưu để xé xác đồng loại, để gài bẫy bạn bè. Tôi vô tư nên không nghĩ tới những hậu quả đang chực chờ đẩy tôi đến ngả rẽ làm thay đổi cả đời tôi.

Sau kỳ thi tốt nghiệp, chúng tôi phải đi một chuyến lao động ở nông trường, sống một tuần lễ với một đơn vị Thanh niên xung phong. Tôi chỉ tham dự chuyến lao động thực tế này đúng một ngày một đêm, bởi hồi ấy tôi còn tham gia vào đội kịch của thành phố, chuyến lưu diễn của đoàn trùng với thời gian đi lao động. Đêm ở lại duy nhất tại nông trường, tôi chỉ một lần nắm tay của Trân Cầm trong giấc ngủ, bởi chúng tôi ở cùng chung một lán trại. 

Lao động xong, chúng tôi được nghỉ hè chờ quyết định phân công công tác. Chúng tôi ít được dịp để gặp nhau, tôi suốt ngày lang thang ở sân trường lượm những chiếc lá vàng đề những câu thơ để tặng cho cánh chim Vạc của tôi, nhưng ít khi được gặp. Khi làm hồ sơ để ra trường, trong mục nguyện vọng, tôi mong được phân về dạy ở một thị trấn nhỏ miền núi, tôi hình dung ra một thị trấn cao nguyên, đầy những rừng chè và sương trắng. Và mỗi tuần tôi lại đến đợi Trân Cầm dưới chân đồi, cùng nhau dạo trong trảng cỏ đầy hoa dại và gió lạnh, Trân Cầm sẽ mang chiếc áo ấm màu rượu chát, chiếc kẹp đồi mồi giữ tóc không bay và chiếc khăn quàng ôm kín bờ vai gầy. Tôi hạnh phúc trong giấc mơ tưởng tượng.

Giấc mơ đẹp không thành sự thật, lần lượt bạn bè đều nhận được quyết định, chỉ mình tôi, Trân Cầm và vài người có lí lịch xấu không được đoái hoài, không một lời thông báo. Tôi bắt đầu tuyệt vọng trong sự đợi chờ, lúc ấy, đối với tôi lúc ấy việc được đi dạy học là con đường tốt nhất, bởi đó là ước mộng của tôi khi chọn trường sư phạm, và cũng là việc làm duy nhất có thể cứu tôi ra khỏi cảnh lông bông. Tôi ngu ngơ không hiểu được rằng còn có quá nhiều con đường khác để đi, còn rất nhiều nghề khác để chọn. Tôi hoang mang không hiểu lí do nào đã không cho phép tôi và Trân Cầm không được phân công tác. Phong phanh có dư luận cho rằng tôi và Trân Cầm phạm vào một lỗi rất nặng, nhưng chẳng có ai trả lời cụ thể tội gì, chỉ có những cặp mắt hả hê, những cái nhìn hằn học có cả những thái độ xa lánh làm cho tôi càng lúc càng bế tắc. Tôi quá dại khờ và hồn nhiên không nghĩ đến việc có ai đó đã rắp tâm hại mình và càng không nghĩ đến việc cả một nhóm người đang hè nhau để xô chúng tôi xuống bùn đen bằng những tội lỗi mà mình không bao giờ mắc phải. Một hôm, lúc đang lang thang ở sân trường, tôi gặp Hoàng, một bạn học cùng lớp, hắn rủ tôi vào quán cà phê, và rồi bằng một ánh mắt thương hại hỗn xược, những ngôn từ tiểu thuyết rẻ tiền hắn cho tôi biết hắn và Trân Cầm đã yêu nhau, rằng hai người đã có những thề ước hẹn hò, hắn chìa cho tôi xem nhiều mảnh giấy trong đó có chữ của Trân Cầm và bảo đó là những bức thư nàng gởi cho hắn trong suốt tuần lễ lao động ở nông trường, hắn khuyên tôi nên quên cô ấy đi, hãy về quê kiếm một việc làm khác mà sống vì hắn chắc chắn rằng, tôi sẽ không bao giờ được phân công và tỏ lòng xót xa cho cảnh ngộ của tôi. Tôi hèn nhát đến độ ngồi im cho hắn nói. Rồi lặng lẽ ra về với một chút hoài nghi. Tôi tin Trân Cầm, nhưng tôi cũng hơi tin những lời lẽ của Hoàng, bởi hắn nói với một thái độ hết sức tự tin và những vật chứng rõ ràng. Tôi đau khổ viết cho Trân Cầm một bức thư dài như một lời từ giã, một bức thư kể hết lòng mình. Tôi dự định sẽ lên cao nguyên, ẩn mình chờ cuộc đời trôi đi để quên hết. Tôi không nghĩ đến chuyện về quê, bởi không lẽ sau năm năm ra đi lại trở về ăn bám gia đình, trở thành một thằng vô nghề nghiệp, làm xấu một gia đình có nề nếp, có tiếng tăm trong thị xã nhỏ bé. Tôi đang đến bờ vực của kẻ cùng đường. Mối tình đẹp đẽ sau năm tháng kiếm tìm đã mất, người con gái mà từ tuổi mới lớn, tôi đã tâm nguyện sẽ đi tìm cũng bỏ tôi mà đi, công lao học hành trong khó khăn giờ đây đã bị khước từ một cách khó hiểu, tôi cô đơn gặm nhấm nỗi đau. Trân Cầm gởi trả bức thư dài của tôi không một lời giải thích, tôi càng đau hơn khi chính Trân Cầm đã cắt thêm nhát dao vào vết thương của tôi, tôi đâu ngờ rằng Trân Cầm lúc ấy cũng đang là một nạn nhân của một màn kịch bỉ ổi và đê tiện.

Có nhiều đêm tôi nằm mơ toàn những cơn ác mộng, tôi mơ tôi đang đi với Trân Cầm trong một thung lũng đầy hoa và bướm, bỗng dưng có một nhóm người, toàn là bè bạn nhảy vào xô tôi ngã xuống, đâm tôi bằng những nhát dao, tôi sắp ngất đi, ngửa mặt giữa trời xanh hiện lên hình ảnh của Trân Cầm nhìn tôi bị dày xéo một cách dửng dưng, tôi không đau nỗi đau thân xác, tôi đau vì ánh mắt lạnh nhạt của Trân Cầm. “Lẫn trong cái chết vẫn còn nỗi đau.(1) “

Tôi được gọi vào phòng tổ chức gặp một ông thầy hom hem nhìn tôi chằm chặp, ánh mắt không có chút hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Ông lơ đãng giở từng trang giấy trong đống hồ sơ dày cộp, đọc lẩm bẩm đôi dòng rồi ngước cặp mắt giễu cợt nhìn tôi. Tôi hồi hộp đợi chờ câu hỏi của ông, nhưng hình như ông không vội. Tôi như kẻ tội đồ đang đứng trước vành móng ngựa chờ tuyên án. Cuối cùng thì ông cũng buông được một câu: Cậu không thể đi dạy học được, hãy lập gia đình và kiếm lấy nghề khác mà sống . Tôi ngạc nhiên tột độ, tôi không hiểu gì cả.Tôi ngây người nhìn ông, ông đưa tay ngoắc ngoắc, ra dấu tôi về. Tôi sững lại một giây, rồi ngoan ngoãn trở ra cửa không một lời thưa. Gió ở đâu thổi về ào ạt, tôi đi lên dốc cầu Trương Minh Giảng, đứng nhìn xuống dòng nước đen ngòm đầy rác rưởi, đầu óc rối tung lên. Câu nói của người cán bộ phòng tổ chức có nghĩa gì? Sao lại khuyên tôi lập gia đình? Sao tôi lại không thể dạy học được. Tôi học tốt, bài làm ra trường rất tốt, khả năng diễn đạt của tôi cũng rất khá. Vậy tại sao tôi lại không thể. Tôi miên man với nhiều câu hỏi không có cách trả lời. Tôi nhìn dòng nước đen rồi hình dung đời mình rồi cũng sẽ như dòng nước kia, đen kịt vì tù đọng và hôi thối. Và rồi tôi cũng ý thức được rằng, tôi đã bị từ chối, người ta đã không chấp nhận tôi vì một lí do bí ẩn nào đó, chứ không phải vì khả năng hay do kết quả học tập của tôi. Gió lại thổi dữ dội, rồi những cơn mưa nặng hạt trút xuống. Tôi dầm mưa đi suốt con đường, con đường có rất nhiều ngả rẽ, nhưng không có ngả nào dành cho tôi, tôi đi mãi cho đến khi đường vắng không còn một bóng người qua rồi ngã gục trước hiên của một ngôi nhà lạ vì lạnh và đói.

******

Tôi gặp Trân Cầm trên sân trường đầy nắng, những cánh phượng đỏ như những giọt máu rỏ xuống sân trường, Trân Cầm hình như muốn tránh mặt tôi, ngôn từ mang tính xã giao, xa lạ, nụ cười không còn tươi trên mặt nàng, đôi mắt như có khói, buồn lặng lẽ. Chúng tôi chia tay trước sân trường không một lời chào. Hình như giữa chúng tôi đang có một bàn tay vô hình ngăn chặn. Tôi lại một mình đi lại những con dường chúng tôi đã từng đi qua, đi dưới những con đường có hàng dây điện giăng ngang cắt nát trời chiều. Cánh Vạc đã bay về, một mình với đôi vai gầy. Tôi biết đi đâu, cũng chỉ còn một mình nhìn quanh chỗ nào cũng chứa đầy kỷ niệm, tôi liêu xiêu một bóng đến con hẻm hun hút gió của nhà nàng. Và tôi gặp hắn – thằng Hoàng -ngay cửa ngõ nhà Trân Cầm. Ngôi nhà có giàn cây huỳnh hoa vàng rực rỡ. Hắn đứng đó, bên cạnh Trân Cầm, hình như hai người đang vui. Hình như có một nụ cười đang hiện ra trên khuôn mặt nàng. Hoàng có vẻ toại nguyện, hắn chào nàng bằng cái vẫy tay. Tôi nhìn lên những cánh hoa vàng trước ngõ nhà Trân Cầm, những cánh hoa vàng rực, vẫn những cánh hoa hôm trước nhưng hôm nay thấy chúng mới vô duyên, trơ trẽn làm sao? Tôi là người thua cuộc, trong cuộc chơi, kẻ thua cuộc phải rời vị trí, đó là qui luật. Tôi trở thành kẻ đứng xem cuộc đời tiếp tục, đó cũng là điều đúng với qui luật.

Thế là chúng tôi mất nhau, sao kết thúc lại nhạt nhẽo đến thế. Chúng tôi lặng lẽ xa nhau không một lời giải thích, cũng chẳng do một lí do nào. Một kết thúc vô lí, đến hàng chục năm sau tôi vẫn thấy vô cùng phi lí.

Trở về gác trọ, đầu tôi ngổn ngang nhiều câu hỏi. Tôi sẽ phải làm gì đây? Tôi sẽ đi về đâu đây? Khi tất cả mong ước, khi những giấc mơ nhỏ nhoi cũng không đạt được. Tôi đã phải trải qua biết bao nhiêu khó khăn mới gắng gượng đến lúc được ra trường. Những ngày đến lớp đói quặn lòng, những tuần lễ sống chỉ bằng nước lã và khoai lang, những đêm mưa trong căn gác không đủ che những cơn gió giật, chỉ có tình yêu của Trân Cầm đã làm cho tôi hi vọng, bởi đời còn có Trân Cầm nên tôi còn nghị lực để đến trường và tin rằng lúc ra trường cuộc sống sẽ đỡ hơn, bởi tôi chỉ cần cuộc sống bình thường, tôi đã mất hết số tiền lớn vì những thay đổi của thời cuộc, nên chẳng tin có ngày mình sẽ làm lại được như xưa. Nhưng tôi đã bị từ chối, người ta đã lấy cắp ước mơ của tôi, tôi sẽ không có được những buổi chiều cuối tuần đón đợi dưới chân đồi, tôi sẽ không bao giờ được trở về cùng với Trân Cầm trong đồng cỏ đầy hoa dại, sẽ không có dấu chấm nào để đặt dấu cuối cùng cho một tình yêu. “Gió đã thổi chiếc khăn quàng xuống cỏ, nụ cười xưa đã tắt dưới chân đồi. Tôi bất lực bị đời xô ngã quị, cuộc tao phùng còn li biệt mà thôi.(2)”

Tôi bỏ mất năm ngày ngồi ở nhà xếp năm trăm con Vạc giấy, những con Vạc nhỏ nằm ngổn ngang giữa sàn nhà trước cặp mắt ngạc nhiên của đám bạn cùng phòng, tôi cắn chặt răng xếp cho đến khi mấy đầu ngón tay sưng phồng, tóe máu, mất hết cảm giác. Những con Vạc lần lượt ra đời lẫn với những vết máu của tôi, những cánh chim tôi yêu và là hình ảnh của Trân Cầm. Nhưng rồi tôi chất các con Vạc giấy thành một đống lớn, châm lửa đốt. Lửa cháy, những cánh Vạc thành tro tàn bay trong buổi chiều u ám chờ mưa. Tôi cứ tưởng sẽ là quên được hết trong ngọn lửa ấy, nhưng không ngờ bóng Vạc mãi bay trong tôi suốt cuộc đời.

Buổi chiều cuối năm, nhìn gia đình hàng xóm đang quây quần sum họp trong nhà, bất giác tôi thèm một hơi ấm gia đình mãnh liệt, đứa con đi hoang bỗng dưng chạnh lòng nhớ tới ngôi nhà xưa, ở đó đang có cha mẹ, các em vây quanh chiếc bàn ăn tối, có không khí đầm ấm và những ánh mắt cảm thông, tôi thèm một gia đình. Và từ buổi chiều nhớ nhà, cần một hơi ấm sẻ chia những thất vọng, cần có nơi chốn để đi về, để quên đi những mơ ước cũ, quên đi hình bóng tôi đã mang theo từ thuở còn rong chơi, quên đi những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời mình, quên đi những cơn mơ dữ, tôi đi đến quyết định làm thay đổi đời mình: lấy vợ. Tôi muốn làm một con người khác, tôi muốn rũ bỏ tôi xưa, tôi sẽ không còn là tôi nữa, tôi bỏ lại ngàn cánh Vạc trên bầu trời mơ ước cũ, bỏ luôn những kỷ niệm và ước mơ của một thời ngây dại. Người tôi lấy làm vợ là cô gái đã cứu tôi trong buổi chiều tôi đi trong mưa và ngã quị trước hiên nhà cô ấy. “Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa, mộng trùng lai không có bao giờ.(3)”

*******

Khi chuyện cưới hỏi đã xong, tôi gửi đơn xin cứu xét trường hợp của tôi tới phòng tổ chức. Tôi làm việc này theo sự gợi ý của một cô bạn học cùng khóa vô tình gặp trên sân trường. Cô bạn này đang có quan hệ tình cảm với ông hiệu phó, nên có điều kiện để giúp đỡ tôi toại nguyện. Kết quả đến nhanh hơn tôi tưởng, tôi cầm được quyết định phân công tác đi về vùng tận cùng của đất nước. Dù không được đến vùng cao nguyên như mong đợi, nhưng tờ giấy đó đã đem đến cho tôi niềm vui khôn xiết, chỉ có điều không có Trân Cầm để chia vui với tôi, để được nói lời chia tay với nàng.

Nhưng suốt ba tháng trường, không biết bao lần tôi lên xuống tỉnh lỵ heo hút đó trong thời điểm xe cộ đi lại rất khó khăn, Sở giáo dục của tỉnh không có một dấu hiệu gì đả động đến việc trình diện của tôi. Ngày hai bữa báo cơm tập thể, đi ngu ngơ khắp thị trấn nhỏ bé, chẳng có ai hỏi han đến mình. Tôi lại bắt đầu lâm vào một ngõ bí mới. Khi tất cả trường học đã khai giảng gần hai tháng rồi, không kiên nhẫn được nữa tôi xin gặp cán bộ phụ trách ở sở. Tiếp tôi là một đồng chí nữ nhỏ bé, mặc chiếc áo bà ba và chiếc quần đen ngắn đến mắt cá chân. Sau một hồi hỏi chuyện bâng quơ, bà ta bảo với tôi bằng một thái độ rất nghiêm nghị: Sở chúng tôi rất cần những giáo viên được đào tạo chính qui như anh, nhưng sở không thể nhận một giáo viên có tư cách như anh được. Tôi ngạc nhiên: nhưng thưa, tôi đã tốt nghiệp với đầy đủ các môn học, tôi không vi phạm chính trị, tôi không chống đối lại đường lối, chính sách của nhà nước, thế tại sao tôi lại không đủ tư cách để dạy học. Bằng cái nhìn soi mói pha lẫn khinh rẻ, bà cao giọng: Anh có đủ trình độ để dạy học nhưng anh không đủ đạo đức để làm người thầy. Tôi bắt đầu thấy máu nóng bốc lên mặt: Sao lại không đủ đạo đức… Không đợi tôi nói hết câu, bà cán bộ rút từ trong ngăn kéo ra một bọc hồ sơ, đẩy đến trước mặt tôi và nói với giọng có vẻ dịu hơn: có lẽ anh không biết thật, vậy thì tôi nói rõ cho anh biết, trong hồ sơ của trường sư phạm chuyển về, có một biên bản của một buổi họp gồm hơn chục trang giấy kết luận anh đạo đức hạng C, là hạng không thể chấp nhận ngoài xã hội chứ đừng nói ở trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Anh bị lên án là có quan hệ nam nữ bất chính, không trong sáng trong quá trình học tập, là người kiêu căng, tự mãn, có tư tưởng chống đối tập thể.

Tôi há hốc miệng, không nói được câu nào, máu nóng không biết từ đâu trào lên làm cho mặt nóng bừng như có lửa. Tay nắm chặt tôi giơ lên định đấm mạnh xuống bàn, nhưng tôi kịp trấn tĩnh, bàn tay kịp dừng lại. Bây giờ thì tôi đã hiểu hết, đã nhìn thấy được hết, đã biết được mọi nguyên do. Mối tình đẹp như bài thơ của chúng tôi bị kết án là cuộc tình bất chính, không trong sáng. Những lời góp ý, phát biểu để hiểu hơn bài giảng trong sinh hoạt chính trị của tôi là những tư tưởng chống đối mọi người. Thế thì cuộc đời này còn có chi là đẹp đẽ, có chi là trung thực. Mọi giá trị đã bị đảo lộn, mọi qui ước đã bị đổi thay. Nhân danh ai, nhân danh cái gì để kết án chúng tôi. Suốt cả cuộc tình chúng tôi chỉ một lần hôn phớt môi nhau trong buổi chiều mưa tháng Sáu, chỉ một lần cầm tay trong giấc ngủ ở nông trường, đó là bất chính, là phạm vào điều tối kỵ sao?  Bỗng dưng tôi chợt nhớ có một câu thơ rất hay: “Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người”. (4)Sao chúng tôi yêu nhau lại bị tước mất quyền làm người tử tế? Chúng tôi cố giữ cho cuộc tình thật thánh thiện, thật đẹp đẽ lại bị loài người gán cho là mối quan hệ không trong sáng, bất chính, phải hủy diệt, phải chối từ, phải bị lên án.

Tôi được đọc chục trang biên bản đó, đó là buổi họp chi đoàn khoa Văn. Người chủ trì, những người tham dự đều là những người bạn học chung lớp, những người hàng ngày chứng kiến cuộc tình của chúng tôi, những người hàng ngày ngồi chung bàn, cười chung chuyện với chúng tôi. Bây giờ họ trở thành những quan tòa tố cáo, kết án chúng tôi. Lúc này tôi càng hiểu hơn những ánh mắt hằn học, đố kỵ thường lóe lên sau lưng tôi. Họ nhân danh đạo đức khi họ đang làm chuyện phi đạo đức. Họ thêm thắt, thêu dệt những điều không có, họ gán cho tôi những tội lỗi mà tôi không hề phạm, những tội lỗi mà tôi chưa hề nghĩ đến, nói chi chuyện thực hiện. Họ tưởng tượng ra cảnh chúng tôi hò hẹn với nhau trong những đêm ở nông trường, xa lánh mọi người để hưởng thụ xác thân với nhau trong nhiều đêm đi lao động, sao họ không biết rằng thời gian đó tôi không có mặt ở nơi người ta dựng lên cảnh giả, lúc đó tôi đang ở một tỉnh lỵ xa nơi đó hàng trăm cây số. Thương cho Trân Cầm, nếu cô ấy biết được chuyện này, Trân Cầm làm sao chống chọi được với dư luận khắc nghiệt, làm sao chịu được mối oan khiên này. Tôi đã hiểu được sao mắt Trân Cầm như có khói, nguyên do nàng cố tránh tôi. Trân Cầm đang cố tránh những lời dị nghị, những dư luận bắt nguồn từ một vở bi hài kịch. Một vở kịch rất tồi nhưng mọi người đều cố tin và cùng nhau vỗ tay. Họ có nghĩ gì không khi buông lời kết án một con người, họ có nghĩ tới một hậu quả vô cùng tai hại khi họ gieo xuống một mầm ác, họ nghĩ gì khi xô người khác xuống bùn đen. Tôi hiểu và thông cảm thái độ và quyết định của người cán bộ sở. Họ là người chỉ biết căn cứ vào biên bản, vào những báo cáo. Và khi tiếp nhận báo cáo như vậy thì ai có thể dám nhận một người đạo đức hạng C như tôi làm giáo viên để giảng dạy cho thế hệ trẻ.

Tôi trở về thành phố ngay trong đêm với bọc hồ sơ người cán bộ tin tưởng giao cho. Bọc hồ sơ hơn chục trang đầy kín chữ chứa những lời kết án đã đóng tôi vào thập tự.

Sau nhiều lần tìm đủ mọi cách để được gặp cán bộ phòng tổ chức, nhiều lần dùng đủ mọi lý lẽ, mọi bằng chứng chứng minh mình là người bị oan khuất, những lời kết tội là không đúng sự thật, tôi đã được bố trí về dạy học ở một trường xa tít ở ngoại thành.

*******

Con đường đến trường thật lắm gian nan, sau gần năm tiếng đồng hồ chuyển từ xe buýt qua xe lam, rồi lên xe ngựa, rồi một chuyến xe lam nữa đi qua nhiều chiếc cầu nhỏ, nhiều đồng lúa trơ gốc rạ tôi mới đến được ngôi trường. Đó là những dãy nhà thấp lè tè lợp tôn, vách tường nham nhở những vết thương. Sân trường đọng những vũng bùn với hàng cây điệp vàng quắt queo, hàng cây bã đậu xù xì gai góc. Đêm đêm tiếng ễnh ương kêu buồn não nuột. Nhưng tôi rất vui vì đã được đón nhận. Có lẽ người ta đã hủy bản án của tôi rồi, tôi nhủ thầm sẽ cố gắng phấn đấu để chứng minh rằng tôi vẫn là người còn có ích, tôi sẽ cố gắng dạy học và sống thật tốt để minh chứng cho cuộc đời thấy rằng những lời kết tội kia là những điều dối trá. Dù thời gian đầu gần sáu tháng, tôi không được lãnh lương, hàng tháng tôi chỉ lãnh được vài kí gạo độn bo bo, người ta muốn dò xét, hoặc thử lòng tôi chăng? Những năm tháng đó là giai đoạn khó khăn về kinh tế của cả nước, bữa cơm tập thể luôn độn bo bo hoặc bột mì, món ăn quanh năm là tô canh rau hay bầu bí lỏng bỏng nước và miếng cá tanh tưởi , nát nhừ, ươn thối. Những ngày ấy tôi sống không ham muốn, không lo âu, chỉ biết làm việc và cống hiến. Tôi chấp nhận cuộc sống ở miền quê này, tìm thấy niềm vui trước những tình cảm rất chân thật của các học trò nhỏ. Tôi xung phong dạy hết ba cấp lớp, dạy suốt tuần không nghỉ mong quên được hình bóng của Trân Cầm, hình ảnh của mối tình đã mất. Quên đi cay đắng cuộc đời dành cho.

Đôi khi, trong mùa đi chấm thi, tôi cũng có gặp Trân Cầm, chúng tôi cũng có nhiều câu chuyện để nói với nhau, nhưng rồi mỗi đứa lại đi mỗi ngả, để lại trong tôi nhiều nỗi nhớ hơn. Tôi ở đấy gần năm năm, gần như không biết những đổi thay của thế giới, bởi không điện, không truyền hình, truyền thanh, thỉnh thoảng chỉ đọc một vài tờ báo cũ. Tôi như người tù nhân tự nguyện bị giam lỏng nơi chốn xa xôi, xa nền văn minh đương đại. Bạn bè tôi ở thành phố không gặp được tôi nên một số cứ đinh ninh tôi đã vượt biên, bởi lúc này phong trào vượt biên rầm rộ lắm. Tôi trở thành anh nhà quê ngơ ngác khi có dịp về chốn thị thành, mà thật ra chốn thị thành thì cũng nghèo nàn, thiếu thốn, mọi người ai cũng lao lực kiếm ăn, chỉ biết làm sao để có ăn cho no là hạnh phúc. Hạnh phúc là được mua được tấm vải, chiếc vỏ xe, lạng thịt theo giá phân phối. Hạnh phúc rất giản đơn. Còn tôi thì cứ quắt quay tìm kiếm một thứ hạnh phúc xa vời không có thực.

*******

Những khó khăn trong cuộc sống, những mâu thuẫn gia đình càng ngày càng lớn dần lên đưa tới kết cuộc là vợ chồng tôi phải đi tới cảnh chia tay, tôi trở lại cuộc sống độc thân, lại ngày ngày nhận thau cơm ở bếp ăn tập thể, lại hàng đêm đối diện với bóng mình. Nhưng ở nơi xa xôi này, người ta vẫn chưa quên chuyện cũ, đã có lần chuyện đạo đức hạng C của tôi lại được đem ra bàn cãi, đó là lúc chi đoàn định kết nạp đoàn viên cho tôi. Qúa khứ đó cộng với việc tôi vừa ly dị đã khiến cho mọi người không đồng ý cho tôi cùng đứng chung hàng ngũ, tôi vẫn là người có không đủ đạo đức để tiến lên. Tôi cũng chẳng lấy chuyện đó làm buồn, bởi tôi hiểu mình đã bị vết chàm bôi bẩn, dễ gì được tẩy trắng lại đâu. Tôi chỉ mong sự bình yên.

Đủ thời gian công tác ở ngoại thành, tôi được trở về thành phố. Trân Cầm lập gia đình khi tôi vừa có quyết định li hôn. Âu đó cũng là số trời, bởi chúng tôi có duyên gặp nhau nhưng không có nợ để trói nhau. Tôi cầu mong cho Trân Cầm được hạnh phúc, có lẽ chúng tôi sẽ không nên gặp nhau nữa, mỗi người đã có một phần số của mình.

Tôi cố thu mình lại để sống, lạnh nhạt với mọi người, xa lánh chốn đông vui, một mình gặm nhấm những éo le và bất hạnh. Nhiều đồng nghiệp nữ có cảm tình với tôi, có lẽ do sự lạnh lùng xa cách không giống ai khiến họ tò mò muốn tìm một cuộc phiêu lưu, khám phá. Nhưng tôi không cùng tham dự được bằng trái tim nguội lạnh với con người.

Rồi Trân Cầm đi xa, tôi biết tin này chỉ một ngày trước khi nàng bay. Tôi viết vội vài dòng thay cho lời đưa tiễn. Ngày Trân Cầm đi, tôi đến sân bay kiếm góc kín đứng nhìn nàng lặng lẽ. Và khi nàng bước ra máy bay, tôi lên phòng lầu dành cho khách tiễn đưa nhau, nhìn xuống sân bay mênh mông, tìm một khung cửa sổ, buộc vào một chiếc khăn bay trong gió và hi vọng rằng từ khung cửa máy bay Trân Cầm sẽ nhìn thấy chiếc khăn như bàn tay vẫy vĩnh biệt. “Môi cười ở cuối sân ga, chùm bông tuyết mỏng pha màu vĩnh ly (5)”. Ở đây trưa nắng, không có tuyết, nhưng sao tôi thấy lạnh vô cùng. Thế là từ nay tôi sẽ không bao giờ gặp Trân Cầm được nữa. Chiếc khăn đã bị gió cuốn đi. Dòng đời cũng đã cuốn chúng tôi đi. Vĩnh biệt!

Từ ngày đó, khi đi đường, tôi cứ khao khát tìm theo những người như có dáng như Trân Cầm, những người tóc xõa, vai gầy, đi guốc mộc, đội nón lá, hi vọng tìm được Trân Cầm giữa phố đông, để chào nhau giữa con đường, để cho nhau nụ cười giữa phố phường ngựa xe. Nhưng hình bóng đó không còn tìm thấy được bởi người đã đi xa, mà phố xá bây giờ có ai dùng nón lá và guốc mộc. Ngỡ như là tuyệt vọng.

Nhưng rồi Trân Cầm lại trở về, với mái tóc bạc trắng vì những ngày tháng cực nhọc nơi xứ lạ. Tôi gặp Trân Cầm giữa phố, nỗi mừng vui pha lẫn chút xót xa. Cuộc hạnh ngộ rất ngắn nhưng làm cho tôi quá sững sờ. Dấu thời gian đã bắt đầu hiện diện trên nhan sắc. Hòn đá lăn không đóng rêu, thời gian làm rong rêu những bậc  thềm vắng. Thời gian làm rong rêu trái tim tôi, trái tim tù đọng mệt mỏi vì yêu người. Cả hai chúng tôi đã bắt đầu của tuổi già. Nhưng vẫn chưa được yêu nhau trọn vẹn.

***********

Tôi từ bỏ nghề giáo, nhảy vào nghề buôn, bởi nghề buôn chỉ cần chữ tín, người ta không xét lí lịch, thương trường không xét đạo đức hạng nào mà chỉ cần anh năng động và biết nắm bắt cơ hội. Tôi buôn bằng chất xám của mình, lấy tim óc đổi thành tiền bạc, lấy tiền bạc đổi thành ngựa xe, nhà cửa. Tôi trở thành anh nhà giàu trong thời kỳ đổi mới. Tôi lại có chức danh, có nhiều kẻ xoay quanh xu nịnh, có nhiều thứ trong tay, chỉ thiếu có tình yêu của Trân Cầm. Tôi chạy theo cơn lốc làm giàu suốt một thời gian dài, bỗng có lúc ngồi nhìn lại, trái tim bệnh hoạn mệt mỏi của tôi lên tiếng, nỗi khát khao về ngôi nhà trên đồi nhìn xuống cánh đồng hoa vàng trên thành phố đầy sương trắng của ngày xưa lại cháy bỏng trở về. Tôi lên Blao, mua trang trại này, trồng những khóm hoa vàng trên đồi, như để ghi nhớ một cuộc tình thời tuổi trẻ, một mối tình sẽ đi mãi suốt cuộc đời tôi. Một cuộc tình lãng mạn kéo dài qua hai thế kỷ.

Mới đây, tôi đọc được những bài viết của Trân Cầm ghi lại những ngày tháng năm nàng lao động ở xứ người, những nỗi cô đơn, nhớ quê nhà của cô ấy, bỗng tôi chợt có ý nghĩ lãng mạn cuối cùng, tôi sẽ bay qua xứ lạ đó. Tôi sẽ đi trên những con đường Trân Cầm đã đi, thở không khí Trân Cầm đã thở, để nghe trong bão cát vàng, trong gió tuyết những nỗi cô đơn của một kẻ xa nhà, để chia sẻ nỗi buồn của kẻ tha hương. Tôi sẽ đi nhìn những chiếc lá đỏ, những chiếc lá nàng đã từng nhìn, những cây phong lá đỏ của rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Tôi sẽ đứng nghe gió thổi, những ngọn gió đã từng thổi qua người nàng. Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa trên dốc núi, sẽ ngồi trên phiến đá nàng đã từng ngồi, nghe tiếng chuông chùa lặng lẽ giữa thinh không. Để cảm nhận được rằng, thế gian này có đó rồi mất đó. Sắc sắc không không.

Tôi không có được Trân Cầm trong cuộc sống lứa đôi, nhưng tôi đã có nàng trong mộng tưởng.

Tiếng chuông chùa sẽ cho tôi quên đi tục lụy, quên đi những ác tâm đã làm cho chúng tôi xa cách ngày xưa, quên hết mọi người để chỉ còn hai đứa chúng tôi, lại đi trong mưa trong mùa mưa tháng Sáu.

Thuở mới quen nhau. Trân Cầm có chép cho tôi bài thơ, trong đó có câu: Có trầu mà chẳng có cau, Thì đành không đỏ môi nhau kiếp này. Thật vậy, có trầu không cau đúng là quá vô duyên, tôi cũng quá vô duyên khi tưởng tượng đến một cuộc dầm mưa giữa tuổi năm mươi, khi cả hai đã bị dấu vết thời gian làm cho mệt mỏi, khi cuộc đời đã quật cho đến mệt nhoài. Nhưng hàng năm vẫn có tháng Sáu, và tháng Sáu vẫn có những cơn mưa. 

Thế nhưng chuyến đi của tôi đã không thực hiện được, khi hành lí đã chuẩn bị xong, chiếc vé máy bay đã nằm trong túi áo, mùa thu lá đã vàng thì tôi nhận tin Trân Cầm vừa qua đời . Cái chết đến đột ngột như một cơn gió độc thổi qua cõi trần gian này. Tôi không tiễn được nàng về chốn xa xôi ấy. Tôi không được mang những bông hoa cẩm chướng trắng mà nàng rất ưa thích đến bên tấm hình hài đã bất động rồi. Chúng tôi cũng chẳng có một đoạn đường ngắn ngủi để tiễn đưa nhau. Ước vọng của một thời cũng đã chấm dứt, tôi về đây để nghe gió thổi và lá rụng trên đồi. Mỗi buổi chiều ngồi lặng lẽ để nhớ những tàn phai và cuộc tình không có lời chia tay. Có lẽ ở bên kia của thế giới, mỗi buổi chiều nàng cũng giống như tôi ngồi nhìn chiều đang đi và tiếc cho một cuộc tình.

*******

Vệt sáng đã bắt đầu hiện lên ở chân đồi, ông bạn già của tôi ngừng kể, đôi mắt ông xa xăm nhìn về phía có ánh sáng vừa lên. Có tiếng kêu của con nai lẻ bạn, vang trong trảng cỏ. Ngày mai sẽ là ngày nắng đẹp. Tôi sẽ về Sài Gòn, về lại nơi loài người đang tranh nhau sống, đang cố sức để dìm nhau xuống. Chắc chắn sẽ có ngày tôi sẽ trở lại nơi này, ông bạn già của tôi ơi.

Sài Gòn, tháng Sáu 2002

DODUYNGOC

(1) Thơ Hồ Dzếnh

(2) Thơ Đỗ Duy Ngọc

(3) Thơ Bùi Giáng

(4) Thơ Nguyễn Đình Thi 

(5) Thơ Bùi Giáng

Vợ Thầy Hương

vietmessenger.com
Lê Xuyên
Miền Nam xuất bản 1965

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 4

Khi chiếc tam bản của anh Tư và thím Hương chèo lên tới Thục Nhân thì nghe nói trên Cần Thơ đã có lịnh tản cư triệt để.

Đằng nào cũng phải đi lên trên ấy rồi mới thả vô miệt Phong Điền được nên thím Hương hối hai anh bạn ở chèo rút.

Khi chiếc tam bản ló mũi vô vàm, cả thím Hương lẫn anh Tư đều hoảng kinh trước vẻ ‘‘hoang vu’’ rờn rợn của thành phố: bến sông vắng tanh, đường phố trống

trơn, hàng tiệm đóng cửa…

Thím Hương bồn chồn hỏi anh Tư:

– Sao… kỳ quá vậy anh?

Anh Tư giơ tay chỉ lên bờ, nhún vai:

– Kỳ khỉ gì! Bộ em hổng nghe nói sao ; họ tản cư triệt để mà!

– Vậy mình ghé lại để em lên thăm con Hạnh coi ra sao…

Anh Tư trợn mắt:

– Ý trời, giờ phút nầy em lên trển cũng vô ích, vì còn có ai ở lại đâu!… Mà không khéo mình mới xớ rớ tấp vô bờ, ba cha nội du kích phá hoại còn ở lại dám

thộp сổ rồi hô lên là Việt gian thì nguy lắm đa em! Nhằm cái lúc găng như vầy mà lọt vô tay mấy chả thì mấy chả bất kể quân thần, bắt chấp luật lệ.

– Mình ghé vô không được, rồi con Hạnh ra sao?

– Ối, anh đã nói: thiên hạ tản cư thì thầy Năm thẩy cũng phải đi theo và chẳng lẽ thẩy bỏ con Hạnh lại sao  em sợ ! Ai anh không dám nói chớ đối với thầy Năm thì mình khỏi lo gì hết… Thôi bây giờ chỉ có nước là mình cùng thả vô miệt trong, vô phía đó thế nào mình cũng gặp cái đám tản cư ở ngoài nầy dồn đùn cục ở trỏng chớ họ chạy đi đâu nữa!

Thím Hương thắc mắc hỏi thêm:

– Cái điệu nầy rồi làm sao anh sang thăm thằng Long được?

– Chuyện nầy thì anh xin chịu thua rồi. Bên nầy mà họ còn như vầy thì bên Vĩnh Long họ đã cuốn gói dông đi từ… khuya rồi ! Coi vậy chớ không sao hết em à! Thế nào thằng Long nó cũng tấp vô đám con của Thầy Giáo chủ nhà nó ở đậu để đi tản cư luôn.

Thím Hương nhìn lên hàng dương trơ vơ trên bờ sông chợ rồi chép miệng thở than:

– Cha, hổng biết rồi đây hai đứa nhỏ… có sao hông. Phải dè như vậy, em hối anh đi sớm sớm một chút nữa, tại mình cứ lần khần ở dưới hoài…

… Vô đến Phong Điền, anh Tư thấy ghe thuyền của dân tản cư đậu đặc nghẹt trong ấy, và làn sóng người lánh nạn bắt đầu đổ dồn vô miệt Đa Mít.

Anh Tư cũng cho tam bản thả rề theo để tấp vào mấy cái chợ “tản cư” bán hàng và cứ thế đi lần vô miệt Bà Đầm, Thác Lác.

Ngày tháng trôi qua, tiếng súng mỗi lúc mỗi nghe lan tràn. Mấy ‘‘Ủy ban’’ Tỉnh trước còn thấy đóng chỗ nầy chỗ kia, bây giờ rút đi đâu mất.

Dân thành tản cư xài hết tiền hết bạc đem theo, bơ vơ nơi chỗ ruộng rẫy lạ, không phương kế làm ăn nên bắt đầu lục tục hồi cư.

Thừa dịp ‘‘xả cảng’’… không làng không lính, không ủy ban, không du kích, trộm cướp nổi lên như ong không có đêm nào là không có tiếng mõ hồi một, khiến cho dân thành ở mấy đoàn ghe tản cư lên ruột lên gan hối hả cho chèo rút về miệt chợ bất kể nước lớn nước ròng.

Chiếc tâm bản của thím Hương và anh Tư cũng ở trong số đó và ngặt hơn nữa, vì muốn bán cho hết hàng, anh Tư còn nấn ná ở miệt Thác Lác nên chiếc tam bản của anh và thím Hương đi lẹt đẹt ở sau cùng.

Trước tình thế ấy, thím Hương lo ngại hỏi anh Tư:

– Nè anh, rủi ro ăn cướp bơi xuồng ra chận tam bản mình thì sao? Chẳng lẽ xuôi tay để cho tụi nó vơ vét hết tiền bạc vàng vòng hay sao?

Anh Tư nghiêm nghị đáp:

– Anh cũng tính bàn với em một chuyện đó, chớ lóng rày anh có nghe tin, tụi cướp hay chận đánh các ghe thuyền tản cư lắm. Tốt hơn hết là mình nên phòng xa, em chịu khó may một cái dây lưng lớn có từng ngăn theo kiểu cái ruột tượng của mấy ông già xưa đó, rồi tiền bạc vòng vàng mình thồn vô trỏng may kín lại, buộc luôn vô lưng. Như vậy rủi có Tây bố, hay có trộm cướp gì thì mình cứ liệu mà dông trốn cho tiện…

Thím Hương hỏi lại:

– Như vậy rui Tây hay cướp nó bắt được mình thì sao?

Anh Tư nhăn mặt:

– Nói như em vậy hết chuyện! Chớ em để tiền bạc trong mấy cái hộp bánh xâm banh, rủi có động tịnh gì, em ôm lình kình làng càng theo được phải hông? Tới chừng đó luýnh quýnh em dám để sót lại hoặc làm văng rớt dọc đường dọc xá nữa, đó là anh chưa nói tới chuyện em mà ôm của cái vàng bạc kè kè như vậy càng mau chết nữa!

Thím Hương thấm ý gật đầu:

–  Ờ phải há.

Anh Tư hăng hái nói tiếp:

– Còn mình dồn nó vô ruột tượng buộc chặt quanh bụng vừa gọn vừa tiện, có việc gì là phóng đi liền, mà nếu rủi ro có bị kẹt cái gì mình cũng dễ quăng dấu ở đâu đó được.

Thím Hương chợt hỏi ngang:

– Nhưng rủi nó bắt được mình rồi đánh đập tra khảo biểu chỉ chỗ dấu của thì sao?

Anh Tư mỉm cười trả lời như đã có sẵn trớn:

– Em thiệt thà quá đỗi! Cố nhiên là mình phải phòng xa trường hợp đó bằng cách làm bộ dấu nhét năm sáu trăm một ngàn đâu ở phía kẹt lá trên mui, đồng thời em lựa một vài món bông tai, dây chuyền, chuỗi hổ, cẩm thạch… gì đó đem gói để ở dưới khoang.. Mình cũng lựa một kẹt một hốc nào cho có vẻ thiệt kín để mà con mắt tụi cướp nếu rủi ro một trong hai đứa mình bị kẹt lại.

Thím Hương vói tay lấy cái rỗ may để trên kệ xuống:

– Thôi để em may cái ruột tượng ấy liền nghen anh!

– Ờ, nhớ lựa thứ vải nào dày chắc nó nghen em, và nếu… đồ đạc của mình nhiều, em nên may luôn hai cái để nữa hai đứa mình phân chia nhau mỗi đứa lãnh một cái.

Thím Hương tươi cười lắc đầu:

– Thôi để em may một cái thiệt bự, có bao nhiêu… đồ đạc mình dồn hết vô trong cho gọn rồi anh lãnh phần mang đa nghen! Em mang theo nặng bụng lắ, em chịu hổng nổi đâu!

Anh Tư cười xòa:

– Có vậy mà cũng sợ nặng. Được rồi để anh lãnh phần mang nó cho! Cái điệu nầy phải cho em… mang bầu một chuyến để coi em kêu nhẹ nữa hông!

Thím Hương nhăn mặt kêu lên:

– Ý thôi thôi đi! Lúc nầy mà em khệ một cái bụng lớn bằng cái trống chầu nữa thì… mệt đúng đa!

Nói đến đây, thím Hương đưa tay véo nhẹ vào bấp vế non anh Tư, và liếc xéo anh ta:

– Mà em biệt có sợ, nếu có thì đã có… từ đời cố lủy nào rồi! Anh Tư ơi, em chịu cái… nết đó của anh lắm nghe!

Anh Tư có vẻ mắc cở:

– Nói bậy nà. Em hổng lo may vá rút đi chứ ở đó nói cà rởn hoài! Mà nhớ giữ gìn kín đáo đừng cho hai thằng bạn ở thấy nghen. Thời buổi này hổng nên tin ai hết; hai thằng đó dám tối mắt tối mũi vì vàng bạc lắm, và biết đâu tụi nó hổng đợi tới khúc nào vắng, hè nhau đập đầu mình bằng cột chèo rồi chuồi xác luôn xuống sông…

Thím Hương chắc lưỡi chận ngang:

– Anh nầy nói sao nghe ghê thấy mồ! Anh làm em lo sợ quýnh đây nè!

Anh Tư cười đáp:

– Sợ cái lỗ miệng á! Thiệt nói ra đây xấu hổ ông bà, chớ nhiều đêm, nghe tiếng mõ hồi một đuổi cướp mình teo… ruột teo gan hết trơn hết trọi mà em vẫn coi như không, vẫn… chèo kéo như thường… Thiệt phục em sát đất !

Thím Hương vênh mặt lên, trân tráo đáp:

– Xí, có vậy mà cũng than! Đàn ông gì dở ẹt! Em hỏi anh: mõ đánh cách xa năm bảy cây số còn mình thì gần… Vậy chớ hồi còn ở trong Tân Thới, hồi còn thầy Hương Quản, lúc nào thẩy cũng có thể tông cửa vào bất tử được hết, mà sao em hổng thấy anh… run chút xíu nào vậy!

Anh Tư xẻn lẻn gãi đầu:

– Em sao hay hỏi cắc cớ quá! Thì mỗi thời, mỗi lúc mỗi khác, chớ em biểu lúc nào cũng vậy hết sao!

Thím Hương cười mũi rồi ngoe nguẫy quay mặt đi, đoạn vùng vằng kéo rột cái rỗ may lại để lục tìm kim chỉ…

… Thấy mặt trời đã khuất dần sau đám bần rậm rạp mọc liền một dãy ở mé kinh và lại gặp cơn nước ngược nữa, anh Tư liền miệng hối hai người bạn ở:

– Ráng lên một chút mấy cha ơi! Mình phải ráng vọt qua cái khoảng vắng vẻ này để kiếm chỗ nào có nhà cửa tắp vô nghĩ, hãy ít ra cũng theo kịp mấy chiếc ghe đi trước chớ hông thôi… mệt đa.

Hai anh kia nghe nói vậy và nhìn thấy từ bề vắng tanh nên cũng đâm ra ngán, cong lưng chèo miết.

Chẳng mấy lúc mà trời đã tối mò.

Bầy đom đóm đã bắt đầu lập lòe trên đám bần, đám tràm mọc nối liền nhau ở hai bên bờ kinh.

Trên tam bản, mọi người đều lặng thinh và người ta chỉ nghe có tiếng chèo kẽo kẹt cùng tiếng nước chảy ồ ồ trước mũi.

Thấy xa xa về phía trước có ánh đèn, thím Hương mừng rỡ khều anh Tư

– Coi bộ êm rồi anh Tư, có ánh đèn ở phía trước mũi đó!

Anh Tư nghểnh người lên nhìn:

– Êm khỉ gì, chắc là đèn của chiếc xuồng câu tôm câu cá gì đó…

Thím Hương cười gượng:

– Nhưng dầu sao em thấy có người, có ánh đèn em cũng vững dạ đôi chút, chớ tự nãy giờ vắng hoe… nhìn đom đóm chiếu và nghe mấy con nhạc sành kêu hoài, mình mẩy em mọc ốc mọc gai hết…

Thím Hương chưa dứt lời thì bỗng ở phía bờ bên trái có tiếng người quát to:

– Tam bản của ai đó ghé lại!

Thím Hương nín thở, anh Tư thì bò ra phía trước mũi đứng ngóng lên trên bờ, trong lúc hai anh bạn ở rà xuôi mái chèo…

Anh Tư vội hạ giọng bảo họ:

– Cứ chèo bương tới đi chớ sao ngừng lại vậy!

Đoạn anh ta lên tiếng hỏi vọng lên bờ:

– Dạ, ai ở trên kêu tam bản tôi ghé lại đó?

Trên bờ có tiếng cười gằn, rồi tiếng cò súng lên lách cách:

– Biểu ghé lại thì ghé chớ ở đó hỏi lôi thôi hả?

– Dạ mấy ông kêu tam bản tôi chi? Ghe đi tản cư mà mấy ông…

– Tản gì tản cũng phải tấp vô cho người ta… kiểm soát! Bộ mấy cha là Việt gian hay sao mà cứ chèo rướn tới hoài vậy cà? Đếm một hai ba, hổng chịu ghé thì tụi tao ria xuống bỏ mạng hết đó nghen!

Thím Hương thò đầu ra khỏi cửa mui:

– Anh Tư, anh liệu ghé vô cho mấy ổng xét…

Anh Tư không trả lời thím Hương mà xì xào căn dặn hai anh bạn ở:

– Mấy anh cứ lái bê sang phía bờ bên kia rồi chèo rút đi thẳng cho tôi. Tụi này là ăn cướp chớ hổng phải du kích du kiết gì đâu!

Thấy chiếc tam bản chèo dang ra chớ không chịu ghé lại, mấy người lạ mặt trên bờ chưởi thề vang rân và liền theo đó, một phát súng nổ chát chúa, lằn đạn bay véo trong không khí.

Thím Hương cuống quít réo anh Tư

– Anh Tư ơi, làm sao bây giờ anh Tư?…

Anh Tư vừa đưa tay sờ nắn lại chiếc ruột tượng đã buộc sẵn nơi thắt lưng vừa dỏng dạc hối hai anh bạn ở chèo riết đi.

Một phát súng nữa nổ vang lên, có lẽ lần nầy bọn người trên bờ bắn bằng súng săn, thứ một hai lòng gì đó, nên có một ít đạn ria ra chạm vào mui ghe nghe rào rào.

Thím Hương la lên bài hãi:

– Mấy ông ơi, để tôi ghé, để tôi ghé!

Anh Tư bực tức quát hối hai người bạn ở:

– Tôi biểu mấy anh cứ chèo thẳng cho tôi! Tầm nầy, với thứ súng bắn chim đó tụi nó bắn trúng khỉ gì được mà sợ hổng biết!

Anh vừa nói dứt lời thì nghe có tiếng xuồng bơi ồ ồ phát ra từ ở phía bên bờ này. Anh ta định thần nhìn kỹ thì thấy lờ mờ hai ba chiếc xuồng gì đó xông ra, dưới xuồng lố nhố bóng người.

Anh bạn ở chèo trước mũi tam bản lo lắng lên tiếng:

– Xuồng gì kỳ vậy cà!

Liền theo đó có tiếng đáp vọng lại:

– Xuồng đón tụi bây chớ xuồng gì mà hỏi hả em bậu!

Anh kia hoảng kinh kêu lên

– Chú Tư ơi, tụi nó bơi xuồng ra để chận lại đó anh!

Anh Tư chưa kịp nói gì hết thì ba chiếc xuồng ấy đã trờ tới đụng mạnh vào hông chiếc tam bản rồi cặp xuôi theo be liền theo đó. Không kịp nghĩ suy gì nữa, anh Tư xốc lại chiếc ruột tượng nặng trề xuống bụng rồi nhanh nhẹn nhảy ùm xuống kinh lặn trốn. Người dưới mấy chiếc xuồng tranh nhau nhảy ùa lên tam bản, kẻ thì nhào tới câu cổ hai anh bạn ở, kẻ thì đứng chận ở cửa trước cửa sau và số còn lại đứng hờm sẵn dưới xuồng.

Có tiếng quát to lên

– Mấy người trên tam bản, ai ở đâu ngồi yên đó! Rục rịch bắn nát óc đa!

Rồi có tiếng truyền lịnh tiếp theo đó:

– Đốt vài cày đuốc lên coi bây!… Tụi nào dưới xuồng đó làm ơn đi rà hết cái khoảng gần gần đây coi thằng mắc toi nào nhảy xuống kinh hồi nãy đó!

Khi mấy ngọn đuốc dầu chai được thắp sáng lên, anh bạn ở chèo mũi, tuy bị thúc ké và sợ hết hồn cũng phải khẽ đưa mắt tò mò nhìn tên đã ra lịnh này nọ tự nãy giờ.

Đó là tên đầu đảng, hắn ta người khá cao lớn dình dàng mặc một bộ bà ba đen, áo để phạch ngực và đội sùm sụp trên đầu một chiếc nón rơm rộng vành, thứ kiểu nón của Thanh Niên Tiền Phong trước đây.

Mấy tên bô hạ, đứa nào đứa nấy ở trần trùi trụi, hầu hết đều quấn khăn tắm rằn trên đầu.

Tên đầu đảng bước lại gần anh chèo mũi. Hắn ta lo le trên tay một khẩu súng lục Chiêu Hòa và dùng mũi súng điểm vào mặt anh nầy:

– Ê tụi, tại sao hồi nãy bọn ta gác ở phía bờ bên kia kêu tụi bây, tụi bây hổng chịu ghé lại hả? Bộ tụi bây tính đi bét qua bờ bên này là có thể dông luôn được hả?

Anh kia lập cập đáp:

– Dạ… tại chủ tui biểu vậy…

– À, thằng chủ mầy biểu vậy hả? Đâu, thằng chó chết đó đâu rồi?

Anh kia liếc nhanh về phía mặt nước kinh, nơi anh Tư lặn trốn:

– Dạ… chủ tui… nhảy xuống sông hồi nãy đó…

Tên đầu đảng gầm lên, tiện tay dùng ngay nòng súng lục đánh tạt xéo vô cầm anh kia một cái ‘‘bốp’’ làm cho anh này muốn ngã ngửa nếu không sẵn bị tên cướp câu cổ ghịt chặt từ trước.

Tên đầu đảng liền lớn tiếng gọi mấy tên bộ hạ đang vừa bơi xuồng vừa soi đuốc lần quần ngoài phía giữa dòng kinh:

– Tụi bây ở ngoải phải kiếm cho được cái thằng nhảy xuống nước hồi nãy đó nghen! Thằng chủ ghe đó! Chắc nó lặn trốn vô mấy đám lục bình, mấy bụi ô rô cốc kèn gì đó chớ chưa đi xa được đâu. Tụi bây cứ lấy dầm lấy sào đập tưới vô mấy đám cây cối rậm rạp đó thì thế nào nó cũng trồi lên!

Đoạn hắn ta day qua ôn tồn hỏi anh chèo mũi:

– Vậy chớ còn mấy mạng đang ở trong mui đó?

Anh này đang le lưỡi liếm vết máu nơi góc môi bị đánh vập, vội trả lời:

– Dạ, có một mình bà chủ thôi hè.

– Con mẹ chủ ở trỏng? Nếu vậy thì tốt lắm. Có con mẻ ở lại thì tụi này… hỏi càng mau ra, chớ chẳng can gì phải kiếm thằng chủ của chú mầy làm chi cho mất công nữa!

Tên đầu đảng định bước vô mui nhưng không biết nghĩ sao hắn quay lại hỏi anh chèo mũi thêm:

– Nè bạn, vậy chớ bạn có biết hai vợ chồng ông chủ bà chủ… cất tiền bạc, vòng vàng ở đâu không?

Anh kia lắc đầu lia lịa:

– Dạ, cái đó làm sao tui biết được!

Tên đầu đảng, chắc lưỡi:

– Bạn hổng biết được thì… hơi mệt cho bạn đa ! Bạn có muốn nếm mùi… váy lỗ tai bằng đinh mười phân, không?

Anh kia mếu máo đáp:

– Dạ tôi hổng biết thiệt mà! Nếu tôi nói gian xin cho súng đạn ăn tôi đi!

Một đứa trong bọn cướp bèn cười bảo tên đầu đảng:

– Chắc nó nói thiệt mà đại ca. Nếu thằng này nó biết chắc chỗ dấu thì nó ‘‘mần’’ trước anh em mình rồi! Đại ca nên hỏi ngay con mẹ chủ ghe coi bộ chắc ăn hơn, nhứt là đại ca… biết nhiều mánh lới trị đàn bà lắm!

Tên đầu đảng cười lên hô hố:

– Phải đa, tụi bây có thằng nào nặng bóng vía thì cầm theo cho tao một cây đuốc dầu chai để lát nữa tao nhểu dầu sôi vô rún con mẻ cho tụi bây coi chơi cho sướng con mắt!

Cả bọn cười ồ lên.

Nói xong tên đầu đảng hạ lịnh trói ké hai anh chèo ghe lại, cho kè chiếc tam bản vào đậu trong bờ, rồi khoan thai bước lại thò đầu vô mui, dõng dạc lên tiếng gọi:

– Đâu, mời bà chủ tam bản ra ngoài này nói chuyện cho được rộng rãi… Sao đèn đuốc đâu mà để tối thui vầy nè!

Thím Hương mếu máo đáp:

– Trăm ngàn lạy mấy ông, tội nghiệp tôi thân phận đàn bà…

Tên đầu đảng la át đi:

– Ra đây mau hay còn đợi tụi này vô thỉnh nữa hả?

Thím Hương run lên lập cập bò ra phía cửa. Thím vừa tới nơi thì tên đầu đảng đã đưa tay thộp lấy đầu tóc lôi mạnh lên để bắt đứng dậy. Hắn ta ghịt đầu thím ngửa ra phía sau để xem mặt và chưa chi hắn phải buông vội ra, lùi lại một bước, miệng lấp bấp kêu lên:

– Ý trời… thím Hương đây mà! Sao thím lại… lên đây?

Thím Hương chưng hửng ngó sững tên cướp.

Hắn ta vội đưa tay hất cái vành nón rơm trật lên phía chỏm đầu:

– Bộ thím… quên tôi rồi sao?

Ánh đuốc chập chờn soi gương mặt của tên đầu đảng và đến lượt thím Hương kinh ngạc kêu lên:

– Ủa, anh… Chín đây mà! Trời ơi, tôi cứ tưởng ai…

Rồi thím sượng lại đó vì chẳng biết nói như thế nào nữa!

Chín Thuộc (tên đầu đảng chính là hắn ta) cũng đâm ra lúng túng lây.

Mấy tên đồng đảng của hắn không biết ất giáp gì nên cũng đứng trân ở đó, ngạc nhiên đưa mắt nhìn hai người.

Một tên trẻ tuổi có vẻ là thủ hạ thân tín nhứt của  Chín Thuộc khều hắn ta hỏi nhỏ:

–  Bộ quen hả đại ca?

Chín Thuộc khẽ gật đầu.

Anh trẻ tuổi nhăn mặt chắc lưỡi:

– Cha, mần ăn cái nghề này mà gặp khách hàng…quen thì… phiền quá trời!

Thấy Chín Thuộc vẫn còn làm thinh, anh ta thắc mắc hỏi thêm:

– Bây giờ đại ca tính sao đây?… (anh ta liếc nhìn thím Hương)… Mà người quen đây là người quen… nhiều hay là sơ sơ, nếu quen… nhiều thì mình thả cho người ta đi cho rồi để anh em mình dìa ngủ cho khỏe chớ em coi bộ đêm nay bọn mình lỗ sở hụi bộn đa!

Chín Thuộc cau mày đáp:

– Thì tao có dè đâu gặp người quen như vầy! Thím Hương đây là chỗ… ơn nghĩa cũ tao hồi tao còn làm ăn trong miệt Tân Thới.

Anh trẻ tuổi vộị nói đỡ:

– À, như vậy là quen nhiều, quen gắt cũ kiệu rồi!

Chín Thuộc gãi đầu:

– Thiệt tao khó nghĩ quá Sơn Nhỏ à.

Sơn Nhỏ (tên cướp trẻ tuổi và là thủ hạ ‘‘ruột’’ của Chín Thuộc) cười đáp:

– Có gì đâu mà đại ca xốn xang thắc mắc! Nếu quen ắt như vậy thì mình cũng nên để… thím Hương đây đi,chớ giữ lại coi sao được. Tụi mình đang kẹt vô cái nghề này – chớ bộ ai cũng ham hết sao – nhưng anh em mình, vẫn trọng cái chuyện ‘‘ơn đền oán trả’’ phải hông đại ca?

Chín Thuộc gật đầu thở dài:

– Phải đó em.

Thím Hương mừng rỡ nói chen vô:

– Thiệt đội ơn anh Chín và anh đây hết sức (thím hướng về phía Sơn Nhỏ).

Chợt nhớ trực đến điều gì, Chín Thuộc vội quay sang hỏi thím Hương:

– Ý tôi quên phứt nữa, anh Tư đâu mà tôi không thấy ở đây?

Thím Hương vừa liếc về phía mặt nước kinh vừa đáp:

– Dạ, anh Tư… hồi nãy ảnh tưởng… ai, nên ảnh mhảy xuống kinh lặn trốn đó anh Chín.

Chín Thuộc cười xòa nhìn ra mặt nước:

–  À quên nữa há …Thiệt thằng cha nhát như thỏ đế!

… Thằng chả tánh nào tật nấy, hồi nào tới giờ vẫn у nguyên vậy! Lúc lâm chuyện thì dông một mình bỏ đàn bà lại chịu trận?

Cả bọn cùng cười ồ theo.

Thím Hương bực mình nên lên tiếng trả lời Chín Thuộc, giọng hơi xẳng:

– Mấy anh hổng biết, chẳng phải anh Tư ảnh lo trốn một mình để rơi tôi lại đâu, tôi giao cho ảnh…

Nói đến đây, chợt nhận thấy mình lỡ lời, Thím Hương nín bặt..

Chín Thuộc tằng hắng bước nhích lại gần Thím Hương, nheo mắt hỏi

– Thím giao thằng chả cái gì vậy?

Thím Hương ấp úng nói trở đi:

– Dạ… hổng phải tôi giao mà… anh Tư ảnh có nói trước, hễ có chuyện gì… lộn xộn thì ảnh lãnh phần đi kêu cứu…

Chín Thuộc cười lạt:

– Thằng chả đi kêu cứu cái mốc xì gì! Thằng chả ngu dại gì mà không biết rằng lúc này có ủy ban, bộ đội nào ở đây đâu mà đi kêu cứu! Nè thím Hương, có lẽ thím hổng rành về thằng chả bằng tôi đâu. Hứ, thằng chả khôn cải trời mà!

Thím Hương trả lời một cách xụi lơ:

– Tôi nói thiệt mà anh Chín.

Chín Thuộc nghiêm mặt hỏi ngang:

– Có phải thím giao cho thằng chả đeo tiền đeo bạc trong mình hông?

Thím Hương sửng sốt nhìn hắn ta nhưng rồi lại cúi gầm mặt xuống, ấp úng trả lời:

– Hổng có đâu… Nếu anh không tin để tôi vô trong mui tôi lấy ra cho anh xem, còn chút đỉnh tiền bạc vòng vàng tôi đem dấu ở trỏng…

Chín Thuộc lắc đầu :

– Thôi khỏi. Tôi làm cái nghề này, tôi phải biết, thím đừng tính chuyện qua mặt tôi được.

Thím Hương cố nói thêm:

– Tôi có dám dấu anh cái gì đâu anh Chín…

Chín Thuộc không buồn để ý đến câu nói đó, đưa mắt nhìn sang bên kia bờ kinh và hỏi Sơn Nhỏ:

– Sao tụi nó đi lùng kiếm thằng cha nhảy trốn xuống nước từ nãy giờ mà qua thấy tụi nó còn lẩn quẩn ở bển hoài vậy cà?

Sơn Nhỏ nhìn theo về hướng ấy:

– Chắc chưa kiếm ra thằng cha đó nên tụi nó chưa dìa chớ gì! Có chuyện chi vậy đại ca?

Chín Thuộc đáp gọn bân:

– Thằng cha đó đem đi hết vòng vàng tiền nong của thím Hương đây nè!

Sơn Nhỏ ấp úng hỏi lại:

– Nhưng… đằng nào mình cũng để cho thím Hương đây đi mà đại ca?

Chín Thuộc chắc lưỡi:

– Ối em hổng biết chuyện nầy đâu! Thằng chả mà mang tiền và vàng đi như vậy thì hổng dễ dàng gì chịu… quay trở lại. Cả cái gia tài của thầy Hương để lại ngon lành lắm mà! Chính qua đây hồi đó cũng ngấm nghé dòm ngó dữ lắm nhưng không dè đã có taỵ tổ đó bợ trước một cách… êm ru và (hắn ta liếc sang phía thím Hương) ngon lành như vậy!

Sơn Nhỏ kề tai Chín Thuộc hỏi

– Té ra thằng cha nhảy xuống sông đó là… chồng thứ hai của thím Hương đây à?

Chín Thuộc thì thầm đáp:

– Ối thằng cha Tư đó nó cập xách với thím Hương để bòn rút của cái chớ chồng vợ khỉ gì! Nó được cái… trẻ tuổi, lịch sự trai, ăn nói theo điệu tiểu thuyết nên thím Hương đây gặp nó là cắn câu liền… Còn thằng cha thầy Hương thì già ba xồn, ba xực…

Tự nhiên cả Chín Thuộc lẫn Sơn Nhỏ cùng quay đầu nhìn sang thím Hương. Sơn Nhỏ mỉm cười ghé tai Chín Thuộc trầm trồ:

– Thím Hương coi cũng được ớn… chắc đại ca cũng… mặn với thím Hương phải không? Mọi khi em thấy đại ca làm cái gì cũng mau lẹ chớ đâu có… cà rà như vầy nè!

Chín Thuộc cười xòa vỗ vai anh ta

– Thằng quỉ này sáng suốt quá ta! Thôi được rồi, để em coi, qua sẽ có cách xử trí.

Sơn Nhỏ nhíu mày

– Nói vậy đại ca… hổng thả cho thím đi sao?

Chín Thuộc mỉm cười suy nghĩ một vài giây rồi nghiêm giọng nói:

– Việc này không phải là chuyện… mần ăn của anh em mình nữa mà là chuyện riêng của qua, em để thây kệ qua. Nè Sơn Nhỏ, bây giờ em lấy một chiếc xuồng bơi qua bển kêu anh em trở dìa hết đi.

Sơn Nhỏ ngạc nhiên hỏi lại:

– Ủa, bộ đại ca muốn dang ra để cho thằng cha đó mang tiền của đi êm sao?

Chín Thuộc điềm nhiên đáp:

– Ậy, em đừng có lo. Qua đâu có khờ gì, qua đã nói việc này là việc riêng của qua mà!

Sơn Nhỏ gật gù:

– Đại ca nói vậy thì em… biết vậy. Thôi em đi nghen!

Dứt lời, Sơn Nhỏ nhảy phóc xuống xuồng quơ dầm bơi rút qua phía bên kia bờ kinh…

Chín Thuộc khoan thai bước lại gần thím Hương

– Thím Hương, bây giờ xin thím chịu khó ở nán lại đây…

Thím Hương hốt hoảng hỏi ngang

– Bộ mấy anh không để tui đi, không tha tui sao!

Chín Thuộc ôn tồn hỏi lại:

– Bộ thím hổng đợi anh Tư à?

Thím Hương nhìn sang phía bên kia bờ rồi nói

– Nhưng mấy anh ở đây rần rần như vầy làm sao anh Tư ảnh dám trở qua. Anh Chín nếu anh có… rộng lượng với tôi thì xin anh giúp cho trót…

Chín Thuộc cười đáp:

– Gặp lúc như vầy mà tôi không hết lòng hết dạ với thím thì còn gì nữa! Nhưng tôi nói ra đây chắc thím không được vừa ý tôi dám cá ăn chắc là chuyến nầy anh Tư ảnh..không trở lại đâu thím à.

– Mấy anh như vầy…

Chín Thuộc giơ xòe bàn tay ra trước mắt với một cư chỉ nửa như muốn chận lời thím Hương, nửa như muốn phân bua:

– Ậy, thím để tôi nói hết lời đã. Chẳng phải vì tôi… kỵ với anh Tư nên thừa lúc nầy tôi đặt điều nói xấu ảnh trước mặt thím. Không đâu thím Hương à! Tôi tuy, không được lương thiện chân chất gì, nhưng cũng không đến nỗi tệ lậu lắm, và tôi kỵ nhứt cái lối không đường đường chánh chánh.

Thím Hương sốt ruột hỏi chen vô:

– Vậy chớ anh tính sao bây giờ?

Chín Thuộc cười đáp:

– Thím sao nóng quá! Lát nữa đây, chờ cho mấy anh em kia qua tới thì tụi này sẽ rút đi hết để cho thím có dịp… thử coi bụng dạ thành thật của anh Tư như thế nào, cũng như lời nói trước của tôi… dốc láo ra làm sao!

Thím Hương gượng cười nói đỡ :

– Tôi mang ơn anh hết sức chớ đâu dám nói gì anh đâu.

Vừa lúc ấy, mấy chiếc xuồng ở phía bên kia bờ cũng trở qua tới nơi. Chín Thuộc cất tiếng hỏi lớn:

– Bộ kiếm không ra thằng cha đó hả?

Sơn Nhỏ mau miệng đáp:

– Không có đại ca à! Thiệt thằng cha đó nó lủi trốn tài dách quá ! Anh em quần nát hết từ đầu trên tới đầu dưới mà cũng chẳng ăn thua gì ráo !

Chín Thuộc vui vẻ xoa hai bàn taỵ vào nhau:

– Càng tốt chớ chẳng sao! Nè Sơn Nhỏ, biểu anh em dìa trong hết đi nghen, còn em thì để một chiếc xuồng lại cho hai anh em mình,

Đợi cho đám bộ hạ đi hết và Sơn Nhỏ cập xuồng leo lên tam bản để chờ mình, Chín Thuộc mới quay sang thím Hương, ngọt ngào lên tiếng:

– Đó thím coi, tôi nói cái gì là tôi giữ đúng cái nấy…

Thím Hương không mấy chú ý đến lời của hắn ta mà lo lắng hỏi lại:

– Bộ… mấy anh em đó kiếm hổng ra anh Tư sao anh Chín? Hổng biết anh trốn ở đâu vậy cà?

Chín Thuộc cười khan:

– Cái đó thì tôi xin chịu thua! (rồi hắn ta nheo mắt hỏi luôn)… Nhưng bộ thím muốn cho tụi nầy kiếm được thằng chả lắm sao?… Nếu thím muốn như vậy thì… hổng tốt đâu: một là mấy đứa nó sẽ làm cho anh Tư, bầm vập hết, hai là… lời tôi nói với thím từ hồi ‘‘đầu mùa’’ hóa ra chẳng ‘‘linh’’ hay sao! Thôi thím chịu khó ở đây đợi ảnh cho biết đá biết vàng một phen!

Đoạn Chín Thuộc quay sang bảo Sơn Nhỏ:

– Bây giờ em chịu khó ra mở trói cho hai thằng cha chèo ghe, rồi em dụi tắt đuốc đi, và sau đó hai anh em mình lui.

Dứt lời, Chín Thuộc ung dung bước xuống xuồng trước,

Thím Hương cuống quít gọi Chín Thuộc lại:

– Anh Chín, bộ anh với anh này (thím chỉ Sơn Nhỏ) đi hết sao?

Chín Thuộc cười dòn:

– Coi, tụi nầy phải rút đi để cho anh Tư ảnh bò về chớ! Từ trước tới nay, có lẽ thím nghĩ quấy về tôi nhiều lắm nên tôi muốn thừa dịp này… cho thím rõ lại bụng dạ của tôi như thế nào.

Thấy thím Hương còn đứng lựng khựng ở đó. Chín Thuộc niềm nở nói thêm:

– Đó, tôi đã biểu thằng em nuôi tôi đây mở trói cho hai anh chèo ghe rồi, vậy thím có muốn ở đây đợi ảnh thì đợi hay chèo đi đâu tùy ý… Nhưng theo ý tôi, thím nên đậu luôn tại đây thì tốt hơn…

Nói đến đây, hắn ta nhích mép cười rồi thản nhiên tiếp lời:

– Như vậy, nếu anh Tư ảnh còn chung tình chung thủy và hổng giống như lời tôi nói hồi nãy thì ảnh cũng dễ trở lại hơn. À, thím nhớ đốt đèn lên cho sáng tỏ nghen.

Sơn Nhỏ sau khi đã cởi trói xong cho hai người bạn ở của thím Hương liền nhảy xuống xuồng cầm dầm lên ngồi sẵn ở phía sau lái. Đợi Chín Thuộc dứt lời, anh ta bèn rụt rè lên tiếng hỏi :

– Bây giờ mình… đi chưa đại ca?

Chín Thuộc xô nhẹ mũi xuồng ra:

– Thì… đi chớ còn chờ gì nữa!

Đoạn, hắn ta hướng về phía thím Hương, nói lớn

– Thôi thím ở lại mạnh giỏi bình an và…khi nào anh Tư về nhờ thím nói tôi có gởi lời thăm ảnh… nhảy gấp quá chớ phải ở nán lại găp tôi thì êm rơ hết rồi ! Mần ăn là mần ăn, còn anh em là anh em chớ bộ ai tôi cũng… cắt đầu lột da hết sao!

…Ê Sơn Nhỏ, em chào thím Hương rồi anh em mình lui đi

Không nghe Sơn Nhỏ lên tiếng gì hết, Chín Thuộc cười hối anh ta:

– Cha, chú mầy sao lạ quá! Thím Hương đây chớ phải… con Tư con Tám nào nay sao mà chú mày cũng quíu lưỡi lại vậy!

Sơn Nhỏ cự nự:

– Đại ca sao kỳ quá!

Tuy nói thế anh ta cũng lúng búng trong miệng mấy tiếng chào thím Hương như cốt để ‘‘trả nợ quỷ thần’’ rồi quơ dầm bơi rút.

Không biết nghĩ sao thím Hương lại réo giựt ngược hai người

– Khoan đã anh Chín ơi!… Chú Sơn Nhỏ ơi, chú làm ơn quẹo lại để tôi hỏi thăm anh Chín chút xíu nầy nữa…

Sơn Nhỏ vừa rà dầm lại vừa lầm bầm cằn nhằn:

– Cha, sao con mẹ này rắc rối tổ bà!

Chín Thuộc xuống giọng vỗ về anh ta:

– Em ráng dùm qua một chút Sơn Nhỏ. Đàn bà thì họ hay rắc rối như vậy đó,

Sơn Nhỏ bắt tức cười:

– Biết vậy mà đại ca cũng nhào vô! Thiệt năm thuở mười thì mới gặp một chuyện như vầy chớ nếu đi mần ăn theo cái kiểu tụi mình mà đại ca… đụng hoài hoài hết bà này tới con mẹ nọ thì có nước… treo mỏ cả đám !

Chín Thuộc cười xòa theo…

Khi chiếc xuồng cập trở lại bên chiếc tam bản xong xuôi mà chưa nghe thím Hương nói năng gì hết, Chín Thuộc mới lên tiếng hỏi:

– Có chuyện chi mà thím kêu tụi nầy trở lại vậy a thím Hương?

Thím Hương ấp úng đáp:

– Dạ… tôi muốn hỏi thăm anh Chín chuyện nầy…

Nói đến đó, thím lại nín bặt, Chín Thuộc nhỏ nhẹ nói vô

– Chuyện chi thím cứ nói đại chớ đừng e ngại gì hết. Ở chỗ xa lạ này, dầu sao tôi cũng là người quen biết cũ, không giúp thím được nhiều thì cũng giúp được ít đó thím à!

Thím Hương đỡ lấy chiếc đèn ‘‘ve chai’’ của một anh chèo ghe từ trong mui trao ra để đem treo lên phía trước mui tam bản. Xong xuôi đâu đó thì mới quay sang Chín Thuộc ngượng ngập lên tiếng:

– Anh Chín, tôi muốn hỏi anh một chuyện nầy… rủi anh Tư ảnh… đi lạc không về đây được thì sao hả anh.

Chín Thuộc cười đáp:

– Ở đây chớ phải trên Saigon, Chợlớn gì mà đi lạc! Thím để đèn và đậu tam bản у nguyên như vầy thì dễ kiếm lắm mà! Như tôi dặn thím…

Thím Hương chận ngang:

– Hổng phải vậy đâu anh Chín. Tôi nói đi lạc đây là… đi lạc… mất tiêu (chợt nghe tiếng Chín Thuộc cười khẩy, thím vội nói đỡ).. Tôi nói phòng xa vậy mà anh Chín!

Chín Thuộc chẩm bẩm đáp

– Thím đừng lo, tôi nói hổng lạc đâu mà!

– Nhưng, rủi ảnh… kẹt đâu đó trở về hổng được thì anh liệu tính dùm tôi coi ra sao…

Chín Thuộc đưa tay mân mê vết thẹo trên mặt rồi trả lời một cách lơ lửng

– Thì… để tới đâu hay tới đó.

Thím Hương chắc lưỡi:

– Thiệt rầu hết sức! Lần nào tôi gặp mặt anh thì cũng có chuyện rắc rối hết!

Chín Thuộc mỉm cười nhìn thím

– Coi, chưa chi thím đã gieo tiếng oán cho tôi rồi! Thím may mà gặp tôi chớ rủi gặp tụi ba trợn nào khác thì một là thím không tránh khỏi đòn bọng, hai là đụng phải ba thằng chết thèm chết khát, cả đời và… cả giòng họ tụi nó chưa bao giờ hửi tới cái gót chưn của mấy bà mấy cô ở chợ ở thành thì trời cản tụi nó cũng cho thím… mệt cầm canh đa!

Thím Hương chép miệng than thở:

– Thiệt cái xứ gì kỳ quá! Phải dè như vầy… (đến đây thím nhìn ChínThuộc đổi giọng khẩn cầu) Anh Chín, anh đừng chấp nhứt tôi làm chi… Bị tôi lo cho anh Tư quá đỗi nên ăn nói… hổng ăn nhằm vào đâu hết! Anh Chín ơi, rủi anh Tư ảnh… đi lạc luôn hổng trở về thì tôi phải tính sao đây?

Chín Thuộc mỉm cười nhìn thím Hương một vài giây rồi nghiêm mặt hỏi trở lại;

– Thím Hương, thím hỏi xốc óc tôi hay là hỏi thiệt đó vậy?

Thím Hương nhăn nhó đáp:

– Trời ơi, tôi hỏi thiệt mà anh Chín! Tôi hỏi… phòng xa vậy mà!

Chín Thuộc gật gù

– Tôi tin lời thím rồi… nhưng ở vào cái chỗ của tôi, tôi chẳng biết mình nên chỉ bảo thím sao đây! Tôi lỡ để mang tai mang tiếng nhiều quá rồi bây giờ tôi ngại cái chuyện nói vô nói ra về anh Tư quá!

Chợt nghe thím Hương chắc lưỡi, hắn ta vội vã tiếp lời:

-… Như hồi nãy tôi có nói với thím: để đến đâu rồi mình sẽ tính đến đó… Chỗ của tụi tui cũng ở gần đây, vậy để sáng mơi sớm tôi sẽ quay trở lại thăm thím. Nếu từ bây giờ đến lúc đó anh Tư vẫn chưa về thì… mình sẽ bàn sau, bằng đến sáng mơi tôi ra đây mà không thấy chiếc tam bản này nữa thì kể như… mọi việc êm rơ hết rồi…

Thím Hương thở dài:

– Anh tính như vậy cũng phải… Dầu thế nào đi nữa tôi cũng rất đội ơn anh…

Chín Thuộc chận ngang:

– Ối ơn với nghĩa gì đó thím! Chỗ quen biết với nhau thì nhờ nhõi trong mấy lúc này mới quý, chớ khi bình thường thì ăn thua gì!Tiện đây tôi cũng dặn thím luôn: thời buổi lộn xộn không làng không lính, không vua không quan nầy thì… chuyện gì cũng có thế xảy ra được hết…

Thím Hương lo lắng hỏi:

– Cái gì đó nữa hả anh Chín?

Chín Thuộc điềm nhiên đáp:

– Không, tôi nói đây là nói phòng xa để thím liệu mà tránh trước được phần nào đỡ phần nấy. Thím phải biết cái khoang đường nầy nếu đem so với mấy chỗ ngoài kia… hiền nhiều lắm đó nghen! Chẳng nói dấu chi thím, tôi làm cái nghề này đã lâu rồi nên bề gì cũng có… luật lệ phép tắc, có ơn có nghĩa, có chỗ nào đáng chỗ nào không, chớ ba tụi nhỏ mới tấn lên ở miệt ngoài thiệt can hổng nổi.

– Sao vậy anh Chín?

– Thì tụi nó hồi nào tới giờ có biết chuyện đập đầu lấy của cái khỉ mốc gì đâu! Đây giờ sẵn có ba cây súng trong tay, lại thấy sao không có ai cấm cản ngăn trở gì ráo, tụi nó tùng tam tụ ngũ, tác yêu tác quái đến đỗi thứ cứng bóng vía như tôi đây mà nhiều lúc thấy cũng phải ngán trân!

– Họ làm cái gì mà anh nói nghe ghê quá vậy anh Chín?

– Ghê đây là ghê cho những người lương thiện làm ăn. Thím nghĩ coi: cái thứ gì mà, vài trăm đồng nó cũng giết, mà chục đồng nó cũng… lụi luôn ! Ối thôi, còn nói gì đàn bà con gái rủi ro lọt vô con mắt tụi nó thì.. tụi nó hổng chê ai hết ráo trọi: xồn xồn cũng hốt mà mới cứng cạy cũng vùa….

Thím Hương rùng mình:

– Trời ơi, sao họ lộng quá vậy anh Chín?

Chín Thuộc thản nhiên nói tiếp:

– Phải chi tụi nó làm đã đời rồi thả con người ta đi thì cũng kêu tụi nó bằng ông nội, đằng nầy nhiều khi, hổng biết ông bà ông vãi bắt hay là buồn buồn rồi bày đặt chuyện chơi, tụi nó… thẽo mũi, lắt vú rồi liệng xác xuống sông cho trôi lên trôi xuống mới hết chỗ nói chớ!

– Thiệt cái quân gì ác nhơn quá sao trời còn để mạng tụi nó hổng biết!

Chín Thuộc cười nhẹ:

– Trời để hay không để thì tui hông biết, chớ chiếc tam bản của thím đây mà xớ rớ ra miệt ngoải thì có đường lọt vô tay tụi nó lắm… Mà nếu tránh khỏi cái truông đó, dầu có mọc cánh cũng khó qua huốt được mấy cửa ải của mấy ông nội lính bạc-ti-dăng đầu đỏ…

Thím Hương nhăn nhó kêu lên:

– Nói như anh vậy thì tôi chịu chết ở trong này luôn hay sao!

Chín Thuộc nhún vai:

– Cái chuyện đó thì tôi chẳng dám nói… Mà thôi để anh Tư trở về ảnh tính… (đến đây, hắn ta dịu giọng lại) Thím Hương, nếu sáng mơi, tôi ra mà không thấy chiếc tam bản nầy thì… tiện bây giờ đây, tôi xin có lời kiếu thím trước và chúc cho hai ông bà đi đường được mạnh giỏi bình an, tôi mừng.

Thím Hương ấp úng lên tiếng:

– Dạ… cám ơn anh Chín. Anh Chín và anh (thím Hương hướng về phía Sơn Nhỏ)… ở lại mạnh giỏi…

Chín Thuộc vừa trìu mến nhìn Sơn Nhỏ vừa cười nói:

– Thím kêu Sơn Nhỏ bằng chú em cũng được rồi!

Thím Hương có vẻ cảm động nhìn hai người đàn ông ấy, rồi thím bỗng hấp tấp hỏi ngang:

– Ý quên nữa, mấy anh đi rồi rủi có… tốp nào khác tới đây kiếm chuyện lôi thôi nữa thì làm sao?

Chín Thuộc cười xòa:

– Thím đừng lo gì ráo, ở đây ngoài cái bọn của tụi nầy ra thì còn ai vô đó nữa! Hơn nữa, anh em bộ hạ của tôi không xô bồ xô bộn đâu.

Đoạn hắn ta dõng dạc bảo Sơn Nhỏ:

– Ê Sơn Nhỏ, em nhớ về căn dặn tụi nó hổng có một ai được phép léo hánh làng chàng ra phía ngoài này nữa nghe hông! Thằng nào lộn xộn cứ quất sụm nó cho qua!

Sơn Nhỏ ‘‘dà’’ một tiếng rất gọn rồi tự nhiên đứa tay xốc lại bao súng lục đeo xề xệ ở phía trước bụng. Mũi cây ru-lô thò ra ngoài đầu bao chạm vào ván sạp xuồng nghe một tiếng ‘‘cộp’’ khô khan.

Chín Thuộc xô mũi xuồng ra và bảo Sơn Nhỏ bơi đi

Thím Hương thẩn thờ nhìn theo chiếc xuồng biến mau vào bóng đêm và lắng nghe tiếng mái dầm khua trên mặt nước mỗi lúc mỗi nhỏ dần rồi im bặt…

Hai anh chèo ghe tự nãy giờ rút tuốt vô trong mui mới lọ mọ chui ra. Anh bị Chín Thuộc hành hung lúc bọn cướp mới xáp lên tam bản cất tiếng hỏi thím Hương:

– Bộ mấy ổng đi luôn hết rồi hả thím Tư?

Thím Hương ngó mong qua phía bên kia bờ kinh, lơ đãng đáp:

– Ờ, đi hết rồi.

Anh kia đưa tay bịn lấy cằm, giọng than thở:

– Cha, phải chi lúc ban đầu thím Tư mau miệng- lên tiếng nhận mấy ổng thì đỡ biết mấy!

Thím Hương chắc lưỡi:

– Ý trời ơi, lúc đó rối ruột rối gan hết hồn hết vía nên tôi có biết ai là ai đâu! Ví dầu cho có biết đi nữa, mình có rõ họ tính sao đâu mà dám bộp chộp nhận liền! Thôi hai chú chịu khó chèo tam bản qua phía bên kia kinh rồi mình hú gọi anh Tư để ảnh nghe tiếng ảnh mới dám chui ra;

Anh chèo lái vừa quơ chèo nạy cho chiếc tam bản bung ra khỏi bến vừa lên tiếng

– Tui vái trời cho qua bển mình kêu hú một tiếng, là chú Tư chú vọt ra liền để coi chú tính làm sao, chớ tui hết ham chỗ nầy rồi!

Thím Hương làm như không nghe biết câu than thở ấy mà lại xẳng giọng hối hai anh bạn ở:

– Hai chú chèo bương qua bển và liệu lên tiếng kêu anh Tư lần lần đi!

Sơn Nhỏ ngừng dầm nghe ngóng rồi cười bảo Chín Thuộc:

– Đại ca có nghe hông? Ở đằng nọ kêu réo thằng cha gì om sòm đó!

– Ừ… Mà em liệu thằng chả có còn lẫn quẫn ở đâu đó hông?

– Cam đoan với đại ca là không còn. Hồi nãy anh em mình đã quần nát nước hết rồi mà! Chắc thằng chả lủi vô miệt trong và nếu đại ca không kêu anh em dìa thì thế nào họ cũng theo sấn tới túm cổ thằng chả được liền.

Chín Thuộc cười nhẹ:

– Thì qua độ chừng như vậy nên mới dám kêụ mấy em về: thằng cha Tư đó chưa đi đâu xa được vì tháng này đường sá gì ngập nước hết; quanh vùng này lèo tèo chỉ có ba cái nhà ở gần đây thôi và thế nào thằng chả cũng lò mò tấp vô một trong ba cái nhà ấy để hỏi thăm đường đất hay kiếm xuồng kiếm bọng để đi…

– Đi đâu đại ca?

– Một là thằng chả đi kiếm chiếc tam bản của con mẹ Hương…

Sơn Nhỏ ngạc nhiên hỏi chận ngang:

– Ủa, sao hồi nãy em thấy đại ca có ý nói với thím Hương là thằng chả bê vàng bạc tiền nong quất ngựa chuối dông luôn mà?

Chín Thuộc cười xòa:

– Chú mầy sao khờ khạo quá! Qua phải nói như vậy để cho con mẹ kia, nó mới nao núng được chớ! Mà để rồi em coi, thằng cha Tư nó khơi luôn chớ không có quay trở lại đâu, qua rành về thằng chả lắm mà!

– Nhưng rủi thằng chả… quay trở lại thiệt thì sao?

Chín Thuộc vươn vai đáp:

– Đối với qua chẳng có gì là rủi là may hết ráo trọi. Em đi theo qua em cũng nên… tập cái ‘‘tánh’’ đó của qua… Đây nè, nếu thằng cha Tư còn có ý trở lại với con mẹ Hương thì mình làm cho thằng chả… trở lại hết được chớ có khó khăn gì!

Sơn Nhỏ vừa quơ dầm bơi tới, vừa cười nói:

– Đại ca tính điệu… quỷ khóc thần sầu đó thì mụ nội thằng chả cũng chết hết!… Nhưng sao đại ca biết chắt mẽm như vậy mà đại ca còn biểu thím Hương đó ở lại đợi thằng cha Tư, rồi còn hối anh em mình rút đi gấp gấp để cho thằng chả thấy vững bụng mau trở dìa nữa?

Chín Thuộc làm bộ chắc lưỡi:

– Thiệt, chú mầy bết quá! Ở đời mình phải biết… huê dạng một chút chớ cứ ăn thẳng nói ngay như chú mày thì chỉ có nước chết lên chết xuống!… Thì qua phải nói cho màu mè, cho có nhơn nghĩa như vậy thì con mẹ Hương nó mới… ngán mình chớ! Đàn bà nó chịu như vậy em à.

Sơn Nhỏ buông thỏng một câu ‘‘đàn bà rắc rối tổ mẹ!’’ rồi thản nhiên bơi tới.

Chín Thuộc chậm rãi nói tiếp:

– Trong trường hợp thằng cha Tư khơi luôn thì mình cũng phải ráng bắt nó lại…

Sơn Nhỏ cười hỏi:

– Bộ đại ca tính bắt thằng chả đem nạp cho thím Hương để lập công hả?

– Bậy nà! Làm như vậy chẳng khác gì đem thịt về nạp cho cọp! Qua tính một công đôi ba việc mình đi kiếm thằng cha Tư là vì số tịền bạc vòng vàng nó mang theo đó, chớ để nó hưởng số đó thì cũng uổng. Đó em coi, qua hổng để mất sở hụi mấy em đâu.

Sơn Nhỏ gục gặt đầu

– Ờ nếu như vậy thì có cái nầy mà cũng có cái kia… nghĩa là tình tiền gì cũng bợ hết náo nạo phải hông đại ca?

– Ừ. Vậy thì khi vô tới trỏng em tức tốc cho ba bốn chiếc xuồng đi bua khắp đầu trên xóm dưới để chận đón thằng cha Tư, mà nhớ đi lẻ tẻ, mỗi xuồng một đứa thôi để cho thằng chả thấy được khỏi sanh nghi. Thế nào thằng chả cũng kiếm xuống quá giang chớ không có cách gì khác được… Riêng phần em, qua giao cho em canh chừng sạt cái vụ nầy, chắc thằng cha Tư sẽ lò mò đi về phía Giồng-Riềng vì ở đó Tây u chưa tới. Một khi tóm cổ được thằng chả thì em liệu mà cho thằng chả… biệt tâm tích luôn, qua nói sơ sơ vậy chắc em rõ rồi chớ?

– Dạ rõ.

– Em cũng nhớ trông chừng đừng để cho mấy thằng chết dầm của mình… ngắt đầu bẻ đuôi số vàng và tiền đó nghen! Qua sống với tụi nó lâu qua biết: tay chơn của tụi nó nhám lắm! Và hễ có thằng nào thấy tiền của tối mắt tối mũi tính làm ẩu thì em cứ bắn mẹ nó hết cho qua.

– Dạ được.

– Còn phần qua… qua mắc ở đây… coi chừng coi đổi thím Hương… Đời qua chẳng biết sống nay chết mai nên chỉ có những cái lúc… hiếm hoi như vầy thôi em à.

– Dạ… có sao đại ca.

Chín Thuộc bỗng đâm ra ngượng nghịu trước lối trả lời gọn trơn ấy của người em út thân tín. Hắn ta lúng túng hỏi thêm:

– Sơn Nhỏ, em có cần… căn dặn hay hỏi han qua điều gì nữa chăng?

Sơn Nhỏ cười đáp:

– Em mà ‘‘căn dặn’’ đại ca khỉ gì được! Đại ca biểu cái gì là em làm cái nấy chớ khỏi phái nói on đơ hay hỏi han lôi thôi gì hết.

Chín Thuộc lộ vẻ cảm động:

– Sơn Nhỏ, chắc em hổng biết, em thiệt là một người tốt… qua chịu em lắm… Nhưng nhiều khi qua nghĩ rằng em theo qua đây thiệt cũng… uổng lắm, đáng lẽ em phải sống một cách đàng hoàng hơn, êm thấm hơn chớ không phải thèo kiểu… trời ơi đất hỡi nầy… Phải hồi đó qua dè em như vầy, qua cũng chẳng rủ rê em nhập bọn làm chi!

Sơn Nhỏ cười lớn lên và nói đùa:

– Cha, hổng biết bữa nay tại có… hơi hám đàn bà sơ sơ vô đó hay sao mà đại ca ăn nói coi bộ…lãng quẻ quá! Mọi khi bặm trợn lắm mà!

Chín Thuộc ôn tồn đáp:

– Qua nói thiệt chớ hổng phải giỡn đâu! Qua tuy kẹt vô cái nghề nầy chớ qua cũng sành đời biết người và hiểu qua nhiều lắm. Thôi để xong xuôi chuyến nầy, qua liệu kiếm đường rút lui về lo tu dưỡng làm ăn chớ qua cũng có tuổi rồi… Còn em thì để em về gầy dựng lại cuộc đời cho nó… giống như mọi người khác. Mấy anh em kia thì mạnh ai nấy lo. Lộn xộn thét rồi cũng có lúc bình yên chớ bộ cứ lung tung hoài để cho anh em mình làm… giặc trọn đời mãn kiếp hay sao!

Sơn Nhỏ quơ dầm múc mạnh xuống mặt nước, buông một câu lửng lơ:

– Bộ tính… ‘‘xên non’’ rồi sao đại ca?…

Sáng bữa hôm sau, Chín Thuộc thủng thỉnh bơi xuồng ra chỗ chiếc tam bản của thím Hương đậu. Cố nhiên là hắn ta dò biết chắc anh Tư đã đi luôn và thím Hương bắt buộc phải cho chiếc tam bản đậu nán lại đó.

Bơi vừa gần tới tam bản, hắn ta đã lên tiếng gọi:

– Thím Hương ơi, bộ thím… chưa đi sao?

Thím Hương đang nằm dài ở trong mui vội ngồi dậy chui tọt ra:

– Ý trời ơi anh Chín! Thiệt từ hồi sáng tới giờ tôi có ý mong anh hết sức!

Chín Thuộc cặp xuồng lại, thò đầu nhìn vô phía trong mui rồi quay sang hỏi anh bạn ở đang ngồi vo gạo phía sau lái:

– Ê tụi, bộ anh Tư… chưa trở về sao?

Anh kia chưa kịp trả lời thì thím Hương đã lên tiếng:

– Sao kỳ quá anh Chín, trưa trờ trưa trật rồi mà hổng thấy tâm hơi anh Tư đâu hết! Chẳng lẽ ảnh… đi lạc luôn sao?

Chín Thuộc nhíu mày nhìn qua phía bên kia bờ kinh:

– Mà thím có cho chèo chiếc tam bản rà lên rà xuống năm lần bảy lượt và kêu hú anh Tư không?

– Có chớ sao không anh Chín! Tôi làm đúng у như lời anh dặn và biểu hai chú bạn ở chèo lên chèo xuống suốt một đêm qua thiếu điều thụt con mắt, rồi hai chú đó và tôi thay phiên nhau kêu hú anh Tư thiếu điều khan cổ bể hầu hết mà cũng chẳng ăn thua gì ráo!

Chín Thuộc chắc lưỡi

– Lạ quá há! Ban đầu tôi cũng nghĩ anh Tư ảnh sẽ khơi luôn, có lẽ vì tôi… suy bụng ta ra bụng người, tôi quen làm cái nghề ác nhơn này nên lầm tưởng rằng ai cũng như mình… Sau đó, tôi suy nghĩ kỹ lại thì thấy… chẳng lẽ anh Tư ảnh đành đoạn làm vậy coi sao được? Tôi biết ảnh đeo đuổi và nặng tình với thím từ lâu rồi mà!

Thím Hương thở dài làm thinh.

Chín Thuộc lại than thở:

– Thiệt hổng biết anh Tư ảnh đi đâu mà hay quá vậy? Đường đất ở đây lạ hoắc lạ quơ, ảnh có biết chỗ nào là chỗ nào mà anh ta cũng lội càng đi cà!

Thím Hương bỗng hỏi ngang:

– Anh Chín, anh có chắc anh Tư ảnh… hổng có ở chung quanh đây hông?

Chín Thuộc ôn tồn đáp

– Thì thím nghĩ coi, nội xung quanh đây toàn là lùm bụi, chớ có nhà cửa hàng xóm gì đâu mà mình cho rằng anh Tư ảnh sẽ tấp đỡ vô đó để nghe ngóng. Bằng ảnh không có ý đi xa thì thế nào ảnh cũng lần quần đâu đây… Mà nếu thiệt như vậy thì: một là hồi tối bọn tụi nầy quần kiếm ra ảnh được, hai là nếu ảnh núp kín ở đâu đó thì thế nào ảnh cũng nghe tiếng kêu réo dưới này, và tới sáng thì cũng phải thấy chiếc tam bản của thím thả lên thả xuống chớ!

Thím Hương xụ mặt xuống, lẩm bẩm:

– Chẳng lẽ anh Tư ảnh đi luôn…

Chín Thuộc thở dài:

– Thiệt tôi cũng không dè như vậy! Tôi nói đây có súng đạn làm chứng, tôi tuy không ưa gì anh-nguyên do cũng vì nhiều chuyện giữa hai đứa tôi – nhưng lỡ kẹt thím vô trỏng nên tôi cũng phải nễ trọng thím chớ! Tôi nói đây hổng phải để than tiếc than uổng, chớ cái công của tôi cản trở ba thằng em út không cho tụi nó làm hỗn chiếc tam bản nầy, cũng bắt tụi nó bỏ rơi cuộc quần kiếm anh Tư hồi tối, rốt cuộc rồi cũng chẳng ăn nhằm gì ráo! Thím hổng biết chớ mấy thằng chúa ôn của tôi, khi về trỏng tụi nó xầm xì hoài và có đứa còn cằn nhằn nữa chớ! Cha, cái chuyện anh Tư dông mất nầy mà thấu tai tụi nó, tụi nó dám chửi tôi thục sình lắm chớ chẳng phải chơi đâu!

Nghe Chín Thuộc kể lể như vậy, thím Hương cũng, đâm ra ái ngại cho hắn ta:

– Bộ mấy anh em đó hổng sợ anh hay sao mà họ dám… cự nự anh?

Chín Thuộc nhún vai:

– Thì thím nghĩ coi: tại tôi làm cái chuyện tréo ngoe, tréo nguẩy và đi ăn trét hết như vậy nên cũng phải bóp bụng ngó lơ để cho tụi nó… xài xể mình đôi chút chớ! Thím Hương nhìn Chín Thuộc chép miệng thở than:

– Thiệt tôi làm phiền anh Chín nhiều quá! Mà bây giờ tôi hổng biết tính sao đây nữa!

Chín Thuộc vồn vã đáp:

-… Hay là thím ở nán một ngày nữa coi ra sao.

Thím Hương nhăn nhó!

– Đành vậy rồi, nhưng sao tôi ngán cái cảnh long chong nầy quá!

Chín Thuộc phụ họa theo:

– Ai mà hổng vậy! Thời buổi loạn lạc lung tung nầy, làm thân đàn bà mà bơ vơ một mình nơi chỗ xứ lạ thì… mệt lắm, nhứt là chỗ xứ lạ ấy là vùng khỉ ho cò gáy nầy thì càng dễ ngán nữa! Thiệt bây giờ tôi nghĩ

không biết thím nên đi đâu bây giờ: đầu nào giặc nó cũng đánh tới; ngỏ nào cũng có Tây đóng chận, chỗ nào cũng có… những thứ chúa ôn coi mạng người còn rẻ hơn một con gà, nhứt là cái mạng người ấy lại là một người đàn bà có bóng sắc như thím… Tôi nghĩ tới đó tôi cũng thấy… lo dùm thím rồi thím Hương à!

Thím Hương thở dài

– Tôi cũng lo rối ruột đây mà bị… cái gì cũng chưa rа cái gì hết nên chẳng biết sao mà tính, mà… lo!

Chín Thuộc có vẻ chí tình:

–  Tôi hiểu tình cảnh của thím nhiều lắm. Thím định đi chỗ nào khác thì tôi chẳng dám nói chớ ngày nào, giờ nào thím còn ở đây, tôi xin hết lòng hết dạ lo giúp thím được phần nào tốt phần nấy. Tánh tôi không ưa nói nhiều và nói những chuyện huê mỹ, nhưng để rồi đây thím sẽ có dịp thấy rằng tên Chín Thuộc nầy tuy mang tai mang tiếng nhiều nhưng suy đi gẫm lại thì cũng… không đến nỗi tệ lắm đâu!

Thím Hương gượng cười đáp

– Tôi biết rồi mà anh Chín. Nếu tối hôm qua tôi vô phước gặp tay nào khác thì giờ nầy đâu có được ngồi yên đây để thong dong nói chuyện như vầy! Ngày nào tôi còn kẹt chưa đi đâu được thì thế nào tôi cũng còn làm rộn anh Chín nhiều, nữa!

Tự nhiên Chín Thuộc đâm ra bẽn lẽn

– Ối chút đỉnh mà thím… Thôi để tôi trở về trỏng biểu mấy đứa nó bơi xuồng tủa ra khắp nơi dò la tìm kiếm anh Tư coi quả thiệt ảnh có đi đâu hay là còn kẹt ở chỗ nào đó. Tôi tính như vậy thím có chịu hông…

Thím Hương gật đầu lia lịa:

– Được, được mà anh Chín! Nói nào ngay tôi cũng tin cậy anh giúp cho chuyện đó mà còn ngần ngại chưa dám…

Chín Thuộc chắc lưỡi chận ngang:

– Cái đó thím hổng… thiệt bụng đối với tôi đa! Từ rày sắp lên nếu có chuyện gì cần thím cứ việc nói đại với tôi nghen!

Thím Hương mỉm cười, khẽ gật đầu,:

– Dà…

Một tiếng ‘‘dà’’ dịu dàng, gọn gàng mà đầy đủ làm sao khiến cho Chín Thuộc hởi lòng mát dạ và cứ muốn đứng cà rà ở đó chớ chưa chịu đi về liền.

Hắn ta đưa tay mân mê vết thẹo và ngập ngừng hỏi thím Hương:

– Nè thím, từ lúc gặp thím cho tới hôm nay mắc… lu bù công kia việc nọ nên tôi quên khuấy không hỏi thím  coi… hai đứa nhỏ bây giờ ra sao?

Thím Hương càng thêm buồn xo:

– Dạ, trước khi tản cư hai đứa nó cũng… bình yên ăn học như thường. Con Hạnh… nó cũng trở lại ở trên Cần-Thơ, thằng Long ở luôn bên Vĩnh-Long, nhưng trong lúc lộn xộn nầy không biết tụi nó ra sao nữa! Anh Tư ảnh nói mấy đứa nó theo chủ nhà tản cư.

– Chắc là như vậy rồi. Nói thiệt với thím, hồi đó tuy tôi có phần quấy, nhưng nếu thím hiểu cho tôi thì thế nào thím cũng châm chế, tôi lo kiếm con nhỏ hết sức… dè đâu có sự lầm lộn kỳ cục.

Thiếm Hương vội đỡ lời hắn ta

– Chuyện đó tôi rõ rồi anh Chín. Con Hạnh nó kể lại cho tôi nghe hết đầu đuôi. Thôi cái gì đã qua thì mình hổng hơi sức nào nhắc lại chi anh Chín à.

Nói đến đây, thím nhíu mày đưa mắt nhìn sang bên bờ kinh rồi thấp giọng hỏi luôn:

– À, còn cái việc hồi nãy anh nói anh… lo cho tôi đó anh Chín?

Chín Thuộc vỗ trán kêu lên:

– Ý quên nữa ! Thôi để tôi về trỏng lo hối ba đứa nó đi liền, có cái gì thì chiều nầy tôi sẽ trở ra… mà thím đừng đi đâu hết nghen!

Thím Hương nhoẽn miệng cười gật đầu :

– Tôi đi đâu nữa bây giờ !

Chín Thuộc dật đật bước qua xuồng bơi rút đi, tuy hắn ta đã riêng bảo Sơn Nhỏ lo việc tìm kiếm anh Tư từ hồi tối…

Sơn Nhỏ đang nằm lim dim trên sạp xuồng dưới bóng mát của đám tàng cây chưn bầu mọc de ra bờ kinh thì chợt có tiếng xuồng bơi nghe ồ ồ tới.

Anh ta vội nhổm đầu lên và nhận ra một tên đồng đảng đang chèo một chiếc xuồng hai chèo tiến phăng phăng về phía anh ta.

Sơn Nhỏ đứng rột dậy dụi mắt hỏi lớn :

– Cái gì đó mầy?

Tên kia rán chèo rút một hơi cho tới nơi rồi vừa thở vừa đáp:

– Anh Sơn Nhỏ ơi… thấy nó rồi!

– Thấy… thằng cha nhảy xuống kinh hồi tối hả?

Tên kia gật đầu:

– Phải, nó đó.

– Mầy thấy ở đâu? Mà có chắc hông?

Tên kia rút khăn tắm quấn nơi cổ ra lau mồ hôi trán, rồi giơ tay chỉ về phía miệt trong

– Tui hổng thấy nhưng tui mới gặp bác Chín gái có nhà ở trong này nè… Bác nói hồi gần sáng có một thằng cha lạ hoắc, hổng phải người xứ nầy, quần áo lấm lem bùn đất…

Sơn Nhỏ sốt ruột chửi thề om lên

– Mầy nói mẹ nó là tại sao mầy biết chắc rằng nó, chớ mày cứ ở đó kể lằng nhằng chuyện Nam Tào Bắc Đẩu nghe mệt quá!

– Ậy, thì tui phải kể cho có ngọn ngành anh mới biết được chớ!… Bác Chín gái bác nói thằng cha đó bị ăn cướp đánh hồi tối, giựt của nó hết của cải và luôn cả chiếc tam bản của nó, dóc tổ mẹ…

Sơn Nhỏ gạt ngang:

– Nó dóc thây kệ tía nó! Rồi sao nữa? Bộ hồi mầy vô nó không còn ở đó nữa hả?

– Còn sao được! Nếu còn tui đã cho chả dìa đây luôn cho anh rồi.

Sơn Nhỏ dịu giọng:

– Ừ, thôi kể tiếp đi mầy.

– Rồi thằng chả hỏi bác Chín gái có xuồng ghe và có ai rãnh đưa chả đi Giồng-Riềng liền để trở dìa nhà bà con ở trển…

Sơn Nhỏ dậm chân làm chòng chành chiếc xuồng rồi kêu lên:

– Nếu vậy thì nó đi mất đất, mụ nội tao bây giờ cũng hổng theo nó kịp!

Tên kia ôn tồn nói:

–  Dư sức kịp (liếc thấy Sơn Nhỏ quắc mắt nhìn, anh ta vội giải thích)… Lúc đó bác Chín trai mắc đi câu chưa dìa nên thằng chả đành phải ở nán lại… Hổng phải, ban  đầu thằng chả tính lội đại đi chớ ! Nhưng bác Chín gái nói nước ngập minh mông hổng có đường đất gì hết hên thằng chả mới thôi đó anh.

– Vậy tới chừng nào ông Già Chín ổng mớj dìa?

– Cũng hên cho anh em mình là bữa nay bác dìa trễ hơn mọi khi: giàn câu của bác bị mắc gốc nên bác phải lo gỡ cho xong… Bác mới dìa hồi sáng bét đây nè. Thằng cha kia có mướn bác năm chục đồng để chở nó đi Giồng-Riềng… Bác mừng quýnh chịu liền, nhưng bị hồi tối bác lặn hụp gỡ câu suốt đêm nên đói run… Bác phải hối vợ nấu liền một nồi cơm để bác ních cho chặt dạ rồi mới chịu…

– Sao nữa mậy?

– Bởi vậy nên bác mới đi ràng ràng đây nè! Tui thấy vậy, tui tức tốc chèo xả ga dìa cho anh hay liền… Anh nhắm có đúng là thằng cha nhảy xuống kinh hồi hôm hông?

– Đúng nó chớ ai vô đó nữa! Đâu mày đưa chiếc xuồng chèo của mầy cho tao rồi mầy lấy chiếc xuồng của tao bơi kêu anh em gom về trỏng và mầy báo tin cho đại ca biết luôn nghen.

– Ừa (anh ta đổi xuồng cho Sơn Nhỏ rồi thắc mắc hỏi lại)… Mà anh nhắm theo kịp xuồng bác Chín hông?

Sơn Nhỏ vừa vói lấy chiếc gàu bằng mo cau múc nước lên tưới cho êm hai cái quai chèo vừa đáp:

– Tao biết xuồng của ông già Chín là xuồng bơi, bây giờ bất quá là có thêm một dầm nữa của thằng cha đó, nhưng xuồng của mình là xuồng hai chèo, xuồng của dân ‘‘bối’’ mà mậy!

Đoạn anh ta tháo cái bao súng lục ra đem để khuất dưới khoang xuồng. Thấy vậy, tên kia vội lên tiếng:

– Tui còn cây Vanh-đơ-long (hai mươi hai lọng) đút dưới nóp kia anh có đem theo thì đem!

Sơn Nhỏ lắc đầu:

– Mầy lấy đem qua bển đi! Tao thì nội sáu viên đây cũng dư sức nói chuyện với thằng cha đó rồi. Thôi tao dông nghen!

Dứt lời, theo thói quen, Sơn Nhỏ nhổ nước miếng trên lòng hai bàn tay rồi quơ cầm lấy đầu chèo, chèo miết tới…

Đi được một khoảng chừng hai cây số mà Sơn Nhỏ chưa thấy bóng dáng chiếc xuồng của ông già Chín chở anh Tư đâu hết. Anh ta bắt đầu lo dữ: Nếu theo không kịp chiếc xuồng trước để cho nó đi huốt tới Giồng-Riềng thì anh ta chỉ có nước bó tay.

Nơi đó dân cư đông đúc, lại có các ủy ban và bộ đội còn đóng, anh ta đi cu ky một mình thì đâu dám xông xáo vào chỗ khác vùng ấy.

Ánh mặt trời đã bắt đầu thấy nóng và mồ hôi của Sơn Nhỏ đổ ra như tắm. Anh ta thở dốc buông chèo cúi xuống mặt kinh bụm tay khoác nước tưới lên mặt lên cổ, đoạn vớ lấy đôi chèo rán sức chèo miết tới nữa.

Anh ta rủa thầm tên đồng đảng kia, chắc tên ấy đặt điều nói láo chớ làm gì mà tự nãy giờ anh ta vẫn chưa thấy tăm hơi  chiếc xuồng đó đâu hết!

Vừa lúc ấy chiếc xuồng của Sơn Nhỏ cũng bắt đầu bọc qua khỏi một cái voi và anh ta buột miệng kêu khẽ:

– Dữ hông ! Tao tưởng mày bay lên trên trời rồi chớ!

Chiếc xuồng của ông già Chín đã xuất hiện trước mặt anh ta và rõ ràng có thêm một người ngồi bơi mũi nữa!

Sơn Nhỏ toan cất tiếng réo kêu ông già Chín ngừng lại nhưng kịp nghĩ nếu làm như vậy sợ anh Tư sanh nghi báo ông Chín tấp vô bờ, để anh ta dông trốn thì lại càng thêm… mệt nữa ! Xuồng của Sơn Nhỏ hãy còn cách xuồng phía trước khá xa.

Anh ta hí hửng đưa một tay lên quẹt mồ hôi trán, ưỡn ngực hít một hơi dài rồi mím môi nhìn thẳng về phía chiếc xuồng kia chèo rút tới…

Khi đến gần xuồng ấy, Sơn Nhỏ vội chèo chậm lại, tay đưa đẩy khoan thai, chân hất nhún nhịp nhàng. Anh ta tằng hắn một tiếng thật to rồi cất giọng niềm nở gọi ông già Chín:

– Bác Chín ơi, bác đi đâu đó? Bác đợi cháu đi chợ có bạn!

Ông già Chín gác dầm quay đầu lại:

– Sơn Nhỏ đó hả mậy? Bữa nay bộ mầy rảnh rang hay sao mà đi đâu có một mình đó? Chèo rút lên mầy…

Anh Tư cũng quay lại hỏi nhỏ ông già:

– Đứa nào đó vậy bác?

Ông già có vẻ lúng túng rồi gượng cười đáp :

– Dạ… cũng dân trong xóm đó chú à.

Anh Tư cau mày, cất dầm xuống khoang xuồng:

– Thôi bác rà lại nhường cho nó qua mặt mình đi.

Ông Chín thở dài:

– Cũng được.

Sơn Nhỏ đã chèo xuồng tới và cho cặp sánh đôi với chiếc xuồng của ông già Chín. Anh Tư thấy vậy nên dấu mặt nhìn về phía trong bờ.

Sơn Nhỏ tươi cười hỏi ông Chín:

– Bác đi đâu đó bác Chín? Sao bác không ở nhà nghỉ cho khỏe để tối còn thả câu nữa mà!

Ông Chín liếc nhanh phía anh Tư rồi tìm cách nói lảng ra:

– Thằng em nầy sao kỳ quá, hồi nãy qua hỏi chú em đi đâu, chưa trả lời chú lại hỏi ngược lại qua…

Sơn Nhỏ cười lớn:

– À, tui đi tới cái chỗ mà bác… đi đó!

Ông Chín, vốn dư biết Sơn Nhỏ ở trong cái đám ‘‘lục lâm’’ trong chỗ mình ở nên lo lắng đưa mắt nhìn xéo anh Tư rồi lại gượng cười, lựng khựng đáp:

–  Nói giỡn hoài chú em… Thôi chú em… đi xuồng chèo thì dong trước đi chớ hơi sức đâu đợi qua.. Qua cho ông khách nầy quá giang lên trên nầy một đổi, cũng gần tới rồi nên qua thả cà rịch cà tang cũng được…

Sơn Nhỏ mau miệng nói theo:

– Tui cũng vậy.

Ông Chín nhìn sững Sơn Nhỏ như để dò xét. Thấy vậy Sơn Nhỏ nghiêm mặt hất hàm chỉ về phía anh Tư.

Ông Chín tái mặt, ấp úng hỏi nhỏ:

– Bộ chú em…

Sơn Nhỏ gật đầu.

Ông già nhăn nhó rồi thấp giọng năn nỉ:

– Tội nghiệp người ta mà chú em… Người ta nhờ qua…

Sơn Nhỏ thản nhiên ngắt lời:

– Bác đừng có nói gì nữa mắc công. Chuyện này là chuyện của tụi tui, nhưng tôi hổng để bác lỗ sở hụi. Sau khi xong việc này tui sẽ thay ông bạn đây trả cho bác năm chục đồng đủ chẵn chòi chớ hổng có thiếu đâu!

Anh Tư quay phắt lại nhìn Sơn Nhỏ, lấp bấp lên tiếng hỏi:

– Xin lỗi anh, bộ anh đây… theo kiếm… ai hả?

Sơn Nhỏ trả lời gọn bân:

–  Kiếm ông bạn đó.

Anh Tư làm ra vẻ ngạc nhiên:

– Coi, chắc anh lầm rồi đa!

Sơn Nhỏ sốt ruột hỏi ngay:

– Anh có phải là anh Tư hông?

Anh Tư liếc nhanh về phía bờ kinh rồi làm tỉnh đáp:

– Tôi thứ hai mà.

Sơn Nhỏ cười mũi rồi quay qua bảo ông Chín:

– Cảm phiền bác cập xuồng sát vô xuồng tui để cho ông bạn đó leo qua bên nầy, Bác để tui lãnh phần chở ổng cho.

Ông Chín lúng túng chưa kịp quyết định ra sao thì ở đằng mũi, anh Tư đã nhãy ùm xuống nước, lặn một hơi xa rồi mới trồi đầu lên lội sãi miết vô phía bờ.

Sơn Nhỏ chữi thề rồi quát đuổi ông già Chín:

– Bác lui liền để thằng này lại đây cho tui. À, dìa trỏng mấy thằng bạn của tui có hỏi thì bác nói dùm: tui đã theo kịp thằng mắc toi mới nhảy xuống kinh nữa đó nghen!

Không đợi ông Chín trả lời, Sơn Nhỏ quơ chèo chèo rút theo anh Tư.

Theo đến nơi, anh ta tháo tuột một chèo ra định quơ đập ngay lưng anh Tư một cái cho đã nư giận, nhưng rồi lại cất tiếng cười vang lên, tra chèo vô cột như cũ. Sơn Nhỏ sợ anh Tư lãnh cú đó sẽ chìm mất và mang luôn theo số vàng bạc tiền của bọc trong mình theo thì… mệt lắm!

Anh ta bèn chèo rà rà theo sau lưng anh Tư như cốt để hưởng cái khoái cảm của.. một con mèo đùa giỡn với con chuột trước khi vồ lấy.

Anh Tư ngó ngoái lại thấy Sơn Nhỏ theo khít bên mình nên hoảng kinh vừa lặn vừa lội riết vô bờ cách đó chừng mười sải nữa để mong lủi vô đám lùm bụi trốn thoát.

Như đoán được ý của ‘‘con mồi’’, Sơn Nhỏ vội quơ chèo bơi sấn lên trước. Anh ta để mũi xuồng rướn tuốt lên mé cỏ, lẹ làng cúi xuống lấy bao súng lục lên rồi nhảy phốc lên bờ.

Anh ta chạy vòng lại để chận đầu anh Tư trong lúc anh này vừa nhào vô đám lát mọc ở ven bờ.

Sơn Nhỏ nhìn dò theo phía đầu lát xao động là dư biết anh Tư muốn lần về hướng nào rồi. Anh ta nhẹ nhàng bước mau lại chỗ ấy, móc súng ra hờm sẵn trên tay.

Anh Tư vừa bươn khỏi đám lát, mọp người xuống và khi mới ngước mặt lên để tìm chỗ lủi trốn nữa thì sửng sốt thấy một đôi chân đen trùi trụi sừng sững chấn ngang tằm mắt của mình.

Anh ta ngẩng lên để thấy tiếp theo đó một mũi súng, lục đen ngòm… rồi gương mặt ngạo nghễ của Sơn Nhỏ.

Anh ta vừa toan thụt lui thì Sơn Nhỏ đã quát lên:

– Khoan đã ông bạn! Biết điều lên chỗ trống trải khô ráo nầy nói chuyện chơi! Hổng nói dấu gì ông bạn tôi bắn ít có sai lắm và thứ ru lô nầy cũng khỏi lo cái chuyện đạn lép hay kẹt đạn gì hết!

Anh Tư vẫn ngồi mọp у chỗ, giọng thảm thương:

– Anh ơi, tôi có làm gì đầu… hồi tối tôi bị ăn cướp đánh chận bắt luôn chiếc tam bản, tôi phải đi trốn để về cho nhà hay…

Sơn Nhỏ cười đáp:

– Tụi tui đó!

Tự nhiên, anh Tư cũng bắt giật mình:

– Mấy anh hả? Nếu vậy mấy anh đã… lấy sạch bách chiếc tam bản rồi, vợ tôi cũng không biết sống chết ra sao, bây giờ xin anh… tha cho tôi đi chớ anh!

Sơn Nhỏ thản nhiên lên tiếng:

– Anh Tư, tui biểu anh lên đây hổng chịu nghe phải hông?

Anh Tư nhăn nhó hỏi lại:

– Mà sao anh biết tôi là… anh Tư?

– Tui biết như vậy… bộ hổng trúng sao? Thôi chịu khó lên đây đi bạn!

Anh Tư đành ríu ríu đứng dậy đi lên.

Sơn Nhỏ dùng nòng súng ngoắc anh ta lại gần

– Xích lợi đây cho tui hỏi thăm một chút xíu này coi!

Anh Tư lựng khựng đứng lại cách Sơn Nhỏ độ năm sáu bước. Anh ta ngượng nghịu đưa tay vắt hai vạt áo cho ráo bớt nước đoạn làm tỉnh lên tiếng hỏi Sơn Nhỏ:

– Dạ anh đi theo kiếm tôi có việc chi vậy? Mà từ hồi nào tới bây giờ tôi có gặp anh lần nào đâu, sao anh lại biết rõ tên thứ của tôi hả anh?

Sơn Nhỏ cười nhẹ:

– Tui biết hết mà! Hổng phải tui chỉ biết anh là anh Tư thôi, tui còn biết tới cái gì nữa là khác! (đến đây, Sơn Nhỏ bỗng đổi giọng nghiêm và đưa tay trái ra ngoắc ngoắc anh Tư) Ê, tiền của đâu đưa ra đây!

Tự nhiên anh Tư lùi lại một bước, lấp bấp hỏi lại:

– Coi, anh hỏi cái gì lạ vậy… Tiền nào đâu? có bao nhiêu tôi để trọn dưới tam bản hết… bộ mấy anh… hổng thấy sao?

Thấy Sơn Nhỏ làm thinh một cách dễ sợ, anh ta vội lấy tay giũ giũ hai cái túi áo:

– Anh coi đây nè: hai cái túi tôi sạch trơn… chớ đến giấy tờ hộ thân tôi cũng đem theo chẳng kịp nữa là…

Sơn Nhỏ chắc lưỡi chận lời anh Tư, đoạn châm bẩm hỏi anh ta:

– Tui xét trong mình anh nghen?

Anh Tư lại thụt lùi mấy bước. Sơn Nhỏ cười lạt:

– Bộ anh tính qua mặt tôi dễ lắm sao? Tiền bạc vòng vàng cha nội đeo trong mình như người ta đeo giây bì súng, bộ tui hổng biết sao! Tui rành hết mọi chuyện như vậy thì chắc anh dư hiểu là bận nầy anh hết đường… tương chao rồi!

Đến đây Sơn Nhỏ dịu giọng bảo anh ta:

– Thôi chịu khó tháo hết đưa ra để tui đem dìa cho người ta, chớ hông thôi trễ lắm rồi!

Anh Tư tìm cách tranh thủ thời gian để liệu chước đối phó. Anh ta bèn ra vẻ ân cần hỏi lại Sơn Nhỏ:

– Bộ ai sai biểu anh ra đây kiếm tôi phải hông anh?

Sơn Nhỏ cười đáp:

– Thì… cũng là người quen của anh chớ ai vô đó nữa!

Anh Tư trợn mắt:

– Người quen nào?

– Đại ca Chín Thuộc của tui, chắc anh dư biết mà!

Anh Tư sửng sốt nhìn Sơn Nhỏ:

– Trời trời… Chín Thuộc! Chín Thuộc có ở đây?

Sơn Nhỏ gật đầu:

– Anh quen với ảnh nhiều mà hén!

Anh Tư hấp tấp hỏi luôn:

– Nếu vậy thằng chả bắt mất thím Hương… vợ tôi rồi còn gì?

Sơn Nhỏ cười đáp:

– Anh lầm dữ rồi đa! Thím Hương vẫn mạnh giỏi bình yên như thường, và vẫn đậu tam bản у nguyên ở chỗ… hồi tối.

– Nếu vậy thì tốt quá. Vậy anh làm ơn chở tôi trở lộn về trỏng đi. Thiệt gặp anh…may quá!

Liếc thấy vẻ mặt Sơn Nhỏ bỗng trở nên lạnh như tiền, anh Tư rụt rè nói thêm:

– Thôi mình… xuống xuồng đi chớ đứng ở đây làm gì nữa…

Sơn Nhỏ chắc lưỡi:

– Cha, chuyện nầy… kẹt dữ đa!

– Sao vậy anh?

Sơn Nhỏ nhún vai:

– Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt: hổng nói giấu gì anh, tui chỉ được lịnh lấy tiền, lấy vàng của anh đem dìa không thôi hè!… Nghĩa là tui khỏi dẫn anh trở vô trỏng làm chi nữa.

– Coi, nếu anh Chín ảnh có lòng… nhận người quen cũ, không động chạm gì tới thím Hương hết, tôi quay trở về với thím Hương, với vợ tôi chớ có sao đâu? Tôi trở về tức nhiên là đem tiền bạc về cho thím luôn, thím giao cho tôi giữ mà anh!

– Điều đó tui biết rồi, nhưng cảm phiền anh trao lại cho tui số của cái ấy. Đại ca tui… tức Ià anh Chín Thuộc đó, căn dặn tui như vậy thì tui làm đúng theo răng rắc, tui xin nói trước cho anh biết kẻo mích lòng lắm!

– Tôi bằng lòng đem vô trỏng trả lại mà anh! Chớ tôi giao cho anh, tôi nói câu nầy xin anh cảm phiền, rồi có biết chắc số tiền của ấy đi tới tay thím Hương hông?

Sơn Nhỏ mỉm cười:

– Anh nói cũng có… lý. Nhưng nếu tui theo không kịp anh, thì số tiền của ấy cũng… theo anh mà biến luôn chớ gì!

Anh Tư sượng sùng tìm cách nói cho xuôi:

– Thì anh nghĩ coi, tôi có dè đâu thím Hương được bình yên… đến nước cùng tôi đành tìm cách lặn lội đi ra Giồng Riềng…

Sơn Nhỏ nói vuốt theo:

– Ra ngoài để khơi luôn… một cách êm ru chớ gì!

– Đâu có vậy! Chắc anh không biết rằng thím Hương, còn có hai đứa con của đời chồng trước, tôi có đi đây là cũng để lo cho hai đứa nó, nếu rủi ro thím ở trỏng gặp chuyện chẳng lành xảy ra…

Sơn Nhỏ chận ngang:

– Thôi đi anh ơi, chuyện đó có trời đất biết chớ tui hổng dám ngó vô đâu! Vậy anh làm ơn trao lại số tiền bạc vòng vàng ấy cho mau mau để tui dìa trỏng cho sớm. Tự nãy giờ tui với anh lần quần ở đây cũng lâu ớn rồi…

Anh Tư đưa tay sờ lên phía lưng quần rồi bổng thấp giọng bảo Sơn Nhỏ:

– Nè anh, bây giờ tôi muốn bàn riêng với anh việc nầy…

Sơn Nhỏ nhướng mắt lên:

– Cái gì mà lại có chuyện bàn riêng nữa đó cha nội?

Anh Tư niềm nở tiếp lời:

– Không nói giấu gì anh, tôi có mang theo đây một số tiền và vòng vàng kha khá… Tôi nghĩ nếu anh lấy hết đem về trỏng thì anh cũng chấm chút vậy thôi chớ ăn thua gì, chi bằng bây giờ tôi với anh nên tính cho… êm với nhau là hơn. Tôi bằng lòng nhường cho anh phân nửa số tiền và vàng đây nè (vừa nói anh ta vừa vỗ nhẹ vào chỗ thắt lưng).

Thấy Sơn Nhỏ làm thinh, anh ta hăng hái nói tiếp:

– Chỗ nầy vắng vẻ trước sau gì cũng chỉ có tôi với anh, bất quá về trỏng anh đổ thừa là tôi đã nhảy trốn mất… hay là anh vọt đại đi luôn, sẵn có vốn anh lo kiếm kế khác làm ăn chớ tội tình gì chui rúc ở đó hoài ! Không phải tui muốn trù ẻo gì chớ tui xin hỏi anh rủi ro mai kia mốt nọ anh Chín, anh gặp tai nạn bất thường gì thì có phải anh bơ vơ không nơi nương tựa đó sao?… Tôi khỏi nói chắc anh cũng dư biết, cái… nghề đó đâu có bền!

Sơn Nhỏ mỉm cười, đoạn ôn tồn hỏi lại anh ta:

– Anh nói hết chưa? Nếu hết thì… làm ơn đưa hết số tiền vàng lại đây cho mau đây tía nội!

Nghe câu nói ấy, anh Tư lặng người như đứng chết trân một chỗ.

Mãi một lúc sau, anh ta mới lên tiếng bảo Sơn Nhỏ giọng nửa như van lơn, nửa như bực tức:

– Anh đành đoạn nào xử gắt với tui như vậy hả anh? Suy đi gẫm lại tôi với anh có thù oán với nhau hồi nào đâu! Anh làm như vậy… anh có lợi đồng xu nhỏ nào không hả?

Sơn Nhỏ nhún vai:

– Thời buổi nầy cần gì phải thù oán nhau mới… sanh chuyện được! Còn cái việc có lợi đồng xu cắc bạc nào hông thì… thây kệ tui, ai biểu anh lo?

Anh Tư nhìn thẳng vào mặt Sơn Nhỏ, nói dằn từng tiếng:

– Tôi nói thêm một điều này nữa chắc thế nào cũng mích lòng anh lắm nhưng tôi xin anh nghĩ lại có đúng không: chắc anh Chín Thuộc ảnh xúi biểu anh… chơi ngặt với tôi như vầy để ảnh dễ bề о bế thím Hương chớ gì?

Sơn Nhỏ chắc lưỡi:

– Cha nội nầy rắc rối quá!

Anh Tư thản nhiên nói tiếp:

– Tôi nghĩ cũng lạ, thiên hạ thiếu chi người nhưng không biết sao anh Chín anh ‘‘mặn’’ với thím Hương quá  đỗi ! Ảnh thất bại mấy keo rồi mà vẫn đeo đuổi riết tới! Phải chi cái vụ nầy là chuyện… làm ăn chung của mấy anh em đàng anh thì tôi cũng chẳng thắc mắc chẳng kèn cựa làm gì. Số của tui xui thì tui ráng chịu. Nhưng đằng nầy… chuyện riêng của anh Chín, ảnh mê một người đàn bà rồi khi không níu kéo luôn anh vô để sai biểu làm cái việc… trặc trẹo nầy thì có phải ức cho tôi quá đỗi không chớ? Còn phần anh thì cũng…

Sơn Nhỏ nhăn mặt chận ngang:

– Thôi thôi, tui hổng nghe đâu mà anh nói nữa!

Nhưng rồi anh ta lại thở dài, cúi mặt xuống, dịu giọng bảo anh Tư:

– Anh nói vậy thì tui hay vậy nhưng tui với anh Chín là… nghĩa anh em lâu dài. Nhưng thôi, tui cũng châm chế đôi chút cho anh, anh gặp rủi thì anh ráng ôm bụng chịu dầu ít dầu nhiều… chớ bộ tui muốn làm khó dễ hay ức hiếp gì anh sao!

Anh Tư hớn hở hỏi liền:

– Anh bằng lòng… tôi với anh chia đôi số tiền của đó rồi phải hông?

Sơn Nhỏ cau mày lắc đầu:

– Tui bằng lòng hồi nào? Thằng cha nầy nói sao dễ quá! Bây giờ đây, anh trao hết số tiền bạc vòng vàng cho tui rồi tui sẽ đưa lại cho anh mớ, nhấm đủ xây xài dọc đường dông đi xứ khác mần ăn. Anh nhớ cho kỹ nếu anh mà còn lẩn quẩn xung quanh đây nữa, anh Chín ảnh nghe được anh cự tui thì anh mệt đa nghen!

Anh Tư mím môi lại, đoạn gượng cười đáp

– Thôi, nếu anh nhứt quyết như vậy thì tôi cũng đành chịu chớ biết sao bây giờ. Đây, để tôi tháo cái ruột tượng đựng trọn số của cái ấy trao lại cho anh, rồi xin anh tùy hỉ…

Vừa nói anh Tư vừa thò hai tay vô dưới vạt áo cởi mối dây buộc chiếc ruột tượng dày cộm chứa đầy giấy bạc và vòng vàng, đoạn anh ta cầm lấy một đầu để thòng đầu kia xuống và trao cho Sơn Nhỏ.

Sơn Nhỏ điềm nhiên bước tới đưa tay trái ra để đón lấy và khẩu súng lục bên tay mặt đã được cầm buông thẳng xuống. Anh Tư chỉ đợi có cơ hội đó và nhanh như chớp anh ta cắn răng vung chiếc ruột tượng nặng chĩu quất thẳng tay vào giữa mặt Sơn Nhỏ một cú như trời giáng, rồi phát chạy rút về phía bờ vườn chuối trước mặt.

Sơn Nhỏ chỉ kịp kêu thét lên một tiếng, loạng choạng bước lùi về phía sau và đưa hai tay ôm lấy mặt.

Nhưng rồi anh ta đứng vững lại liền, lắc đầu lia lịa cho đỡ hoa mắt, đoạn nghiến răng lao mình đuổi theo anh Tư.

Sơn Nhỏ vừa chạy vừa bắn càn hai phát về phía anh Tư. Tiếng súng nỗ chát chúa làm cho bầy tu hú ăn trên mấy chòm đủng đỉnh gần đó bay rộ lên kêu la om sòm.

Anh Tư hoảng kinh tuôn đại xuống mương vườn gần đó để leo trốn qua phía bên kia líp cây. Vừa lúc ấy Sơn Nhỏ cũng chạy gần tới nơi.

Anh ta dứng khựng lại, mắt không rời canh chừng anh Tư, thở ra ba bốn hơi dài để đỡ mệt và định thần lại.

Anh ta từ từ nâng mũi súng lên chỉa thẳng tay về phía trước chờ đợi.

Anh Tư leo lên tới bờ mương ngoái đầu nhìn lại để xem Sơn Nhỏ rượt mình tới đâu…

Khẩu ru-Iô trên tay Sơn Nhỏ khạc đạn đúng hai lần.

Anh Tư há hốc miệng, tưng người lên rồi ngã xấp xuống bờ mương, tay vẫn ôm khư khư chiếc ruột tượng như muốn giấu chặt dưới bụng.

Sơn Nhỏ thong thả lội xuống mương leo lên bờ đến bên cạnh người anh Tư, đưa chân hất mạnh qua cho anh ta nằm ngửa lện.

Đoạn Sơn Nhỏ thản nhiên cúi xuống giựt chiếc ruột tượng cho tuột ra khỏi tay anh Tư.

Thấy chiếc ruột tượng ấy dính đầy máu, anh ta nhăn mặt, đem chà mạnh lên trên đám cỏ gần đó để chùi bớt đi, rồi vắt lên vai.

Sơn Nhỏ toan bước đi nhưng rồi lại cúi xuống đưa tay lục soát qua một lượt nơi phía trong lưng quần của anh Tư. Không có gì thêm nữa hết.

Chợt thấy chiếc đồng hồ nơi cườm tay anh Tư, Sơn Nhỏ vội tháo ra đưa lên xem giờ, rồi kề vào tai nghe: tiếng tíc tắc vẫn vang đều đều.

Tiếng tíc tắc quá trơ trọi và lạc lõng ấy khiến cho Sơn Nhỏ phải quay nhìn lại xác anh Tư và tự nhiên anh ta đưa tay đặt nơi ngực kẻ bạc mạng để nghe ngóng. Tim anh Tư đã ngừng đập hẳn từ lâu…

 Một bầy kiến vàng như đánh hơi máu tanh bắt đầu bò lăng xăng trên mình xác chết.

Sơn Nhỏ sửa tay chưn anh Tư lại cho ngay ngắn, đoạn thở dài dứng dậy rồi bỏ đi thẳng về phía mé kinh nơi để xuồng…

Vừa đi anh ta vừa đưa tay quẹt mồ hôi trán và sờ qua vết bầm. Chiếc ruột tượng nặng chĩu muốn tuột xuống khiến anh ta bực mình chụp giữ lại.

Chưa bao giờ Sơn Nhỏ thấy mỏi mệt, rời rã như vậy…

MAY gặp con nước ròng nên tuy Sơn Nhỏ uể oải đưa hai mái chèo cầm chừng mà rồi cũng về tới địa phận mình ở không đến nỗi trễ lắm.

Chiếc tam bản của thím Hương vẫn còn cắm sào у chỗ cũ, bên cạnh có một chiếc xuồng cặp xuôi theo. Sơn Nhỏ dư đoán được đó là xuồng của Chín Thuộc.

Anh ta vừa định quẹo vô mương để về nhà trong đồng sâu nhưng không biết nghĩ sao lại nại cho mũi xuồng bét trở ra và chèo bương thẳng tới.

Có lẽ vì nghe tiếng nước khua động nên cả thím Hương lẫn Chín Thuộc đều bò ra khỏi mui và đứng ở phía sau lái ngóng về hướng Sơn Nhỏ.

Chưa gì Chín Thuộc đã tươi cuời, réo hỏi Sơn Nhỏ:

– Sao về sớm vậy? Có tin gì hông?

Sơn Nhỏ lầm lì đẩy một vài mái chèo nữa để cho xuồng đủ trớn cặp êm một bên hông tam bản cạnh xuồng của Chín Thuộc.

Chín Thuộc nghiêng người ra thầm thì hỏi Sơn Nhỏ:

– Êm hết mọi chuyện rồi hả? (chợt liếc thấy thím Hương bước xích lại gần, hắn ta bèn đổi giọng hỏi trở đi) Sao em, em có được tin gì của anh Tư hông? Qua nghe mấy đứa nó nói em đã phăng ra dấu ảnh rồi nên qua ra cho thím Hương hay nãy giờ đây kẻo thím trông đợi…

Sơn Nhỏ làm thinh, chạy tới mũi xuồng rút sợi dây lòi tói ra buộc vắt qua mũi xuồng của Chín Thuộc, đoạn quay trở lại khom xuống móc chiếc ruột tượng dấu dưới sạp sau lái ra và giơ tay quăng mạnh qua mui chiếc tam bản cho nó nằm vắt ngang trên ấy.

Thím Hương bước nhanh lại vồ lấy chiếc ruột tượng nâng lên xem trong lúc Chín Thuộc sửng sốt ngó châm bẩm Sơn Nhỏ.

Thím Hương hấp tấp đưa hai bàn tay nắn nắn suốt chiều dài chiếc ruột tượng và chợt để ý thấy mấy vết to màu đó bầm dính đầy trên làn vải ka-ki còn thấm ướt.

Thím quay phắt sang phía Sơn Nhỏ, hớt hải hỏi một hơi:

Mấy vết gì dính đây anh? Chiếc ruột tượng nầy Anh Tư ảnh mang theo mình mà! Anh kiếm thấy ở đâu vậy hả?

Chín Thuộc cũng đưa tay cầm lấy một đầu ruột tượng giơ lên coi rồi ngập ngừng hỏi Sơn Nhỏ luôn:

– Bộ có chuyện gì… rủi ro hả em?

Sơn Nhỏ cúi đầu làm thinh.

Thấy vậy thím Hương níu vai anh ta lắc mạnh:

– Có phải đó là vết máu không anh? Anh làm ơn làm phước nói cho tui biết coi máu me gì của ai mà lại dính trên đó kỳ quá vây?

 Sơn Nhỏ ngước mặt lên thiểu não đáp:

– Máu của… anh Tư đó!

Thím Hương lấp bấp hỏi lại

– Của anh Tư?

Không đợi Sơn Nhỏ trả lời, thím Hương chạy а lại ôm chiếc ruột tượng áp vào ngực khóc rống lên rồi réo gọi tên anh Tư để bù lu bù Ịoa kể lể…

Chín Thuộc thở dài bước lại khều Sơn Nhỏ:

– Sao qua dặn em… làm cho êm, em có hạ nó thì hạ sao còn đem cái món đó về đây bẹo trước mắt thím Hương làm gì…

Sơn Nhỏ quắc mắt lên nhìn Chín Thuộc làm cho hắn ta nín bặt. Nín bặt vì ngạc nhiên chớ không phải vì sợ hãi: lần đầu tiên Sơn Nhỏ mới nhìn hắn ta một cách dữ dội và thách thức như vậy.

Sơn Nhỏ giơ ngón tay chỉ vào vết đỏ còn in rõ trên mặt anh ta và hỏi gằn lại Chín Thuộc:

– Vậy chớ đại ca không thấy cái gì đây sao? Thiếu chút xíu nữa cái ruột tượng kia cũng mất mà con mắt tui đây cũng lọt tròng và nếu tui không kịp gượng lại thì hổng chừng giờ phút nầy tui khỏi thấy mặt đại ca nữa!

Chín Thuộc đưa tay nâng nhẹ cằm Sơn Nhỏ lên để xem cho rõ vết thương trên mặt ;

– Ờ, vậy mà tự nãy giờ mắc lu bù nên sơ ý có thấy gì đâu! Đầu đuôi câu chuyện ra sao vậy em?

Với một giọng bực dọc, Sơn Nhỏ kể sơ lại cuộc gặp gỡ anh Tư và cố nhiên là anh ta giấu bớt đi một đôi chỗ có động chạm đến Chín Thuộc cùng mưu kế của hắn ta.

Thím Hương vừa sịt mũi vừa kéo vạt áo lên lau nước mắt bước lại để nghe Sơn Nhỏ nói.

Kể xong, Sơn Nhỏ liếc nhanh về phía thím Hương rồi ấp úng nói thêm với Chín Thuộc:

– Đó đại ca coi… tui có muốn chi chuyện đó. Tui còn tính để ảnh đi yên lành không dè ảnh… chơi đá ngược mình như vậy… với lại tui cũng sẵn tức cái chuyện nầy kỳ quá hổng đâu ra đâu…

Chín Thuộc vội chận lời anh ta

– Thôi em kể sơ vậy qua dư hiểu rồi (đến đây hắn ta day qua thím Hương)… Đó thím thấy không: tôi nói cái gì là у bon cái đó! Tôi hiểu anh Tư nhiều nên tôi cẩn thận sai riêng em Sơn Nhỏ đây đi theo ảnh chớ hổng dám để cho ba thằng cô hồn khác nữa! Vậy mà rốt cuộc rồi cũng… hổng tránh khỏi chuyện rủi го!

Thím Hương bỗng vói tay chụp lấy chiếc ruột tượng quăng mạnh xuống sạp tam bản:

– Cũng tại cái của báo đời nầy!

Rồi thím vùng vằn ngồi thụp xuống thút thít khóc nữa.

Chín Thuộc bước lại đẩy nhẹ chiếc ruột tượng lại gần thím, giọng vỗ về:

– Thôi thím Hương à. Cái phần số của anh Tư nó vậy thì mình đành… chịu vậy, chớ bầy giờ có ngồi đó than khóc đến mấy cũng chẳng thay đổi gì hết. Tốt hơn thím nên lo cho thân phận mình bây giờ…

Thím Hương vừa đưa chân hất chiếc ruột tượng ra vừa nói gạt ngang:

– Tôi hổng cần tiền bạc, hổng muốn tính gì nữa hết! Tôi muốn chết liền bây giờ hè!

Chín Thuộc chắc lưỡi ngồi xuống gần đó

– Coi, thím nói như vậy hổng nên. Nếu ngày hôm nay thím không gặp chuyện buồn này thì mai kia mốt nọ cũng gặp thím à! Mà hổng chừng còn đụng với những chuyện dữ dội hơn nữa!… Tôi nói đây không sợ vong linh anh Tư phiền trách: Nếu ảnh… không đi như ngày hôm nay thì thế nào ba bảy hai mươi mốt ngày ảnh cũng phải tính tới chuyện đó. Đằng nào thì ảnh cũng để chuyện lo buồn cho thím, trước hay sau gì cũng vậy…

Thím Hương đưa cánh tay quẹt nước mắt, thở dài nhìn chiếc ruột tượng rồi rầu rầu bảo Chín Thuộc:

– Thôi anh Chín giữ cái nầy dùm tôi đi.

Chín Thuộc cau mày, cự nự một cách… nhỏ nhẹ:

– Coi, sở dĩ tôi cho Sơn Nhỏ rượt theo anh Tư là lấy nó về cho thím chớ nếu không thì… ảnh muốn đi đâu thì đi chớ ăn nhập gì đến tôi chớ!

Thím Hương thở dài:

– Tôi biết như vậy rồi mà anh! Nhưng bây giờ tôi nhờ anh cất tạm nó dùm tôi chớ để đây rủi ro có ai dòm ngó nữa sanh chuyện lôi thôi phiền lắm! Tôi bị một lần ngán quá rồi…

Chín Thuộc thở ra:

– Thím nói vậy thì tôi phải nghe vậy chớ biết sao! Thôi, cẩn tắc vô ưu… để tôi biểu Sơn Nhỏ đem về trỏng cất kỹ cho thím. Với anh ta thì không sợ sứt mẻ một đồng xu con nào đâu!

Đoạn hắn ta cầm lấy chiếc ruột tượng lên trao cho Sơn Nhỏ:

– Nè em, em đem về trỏng cất dùm cho thím Hương đi em!

Sơn Nhỏ chần chừ không chịu đỡ lấy:

– Đại ca giữ luôn hổng được sao!

Chín Thuộc vói tay đặt chiếc ruột tượng lên sạp xuồng của anh ta:

– Thì em cứ đem về trỏng trước đi mà, Qua cất thứ này, anh em họ hổng biết họ xầm xì lôi thôi lắm!

Sơn Nhỏ đành bước đến trước mũi mở dây lòi tói xô xuồng tách ra.

Anh ta ngó chừng thím Hương định lên tiếng chào từ biệt nhưng rồi quay mặt đi quơ lấy chèo, chèo thẳng…

Chín Thuộc ái ngại nhìn theo người em út thân tín của mình rồi day qua thím Hương, ngập ngừng lên tiếng:

– Thím cũng đừng phiền trách Sơn Nhỏ làm gì tội nghiệp. Tôi biết bắt buộc lắm mới để xảy ra chuyện rủi ro đó, chính tôi đây còn thường hay cự nự anh ta về cái chỗ anh ta hay có tánh thương người quá đỗi và thương hổng phải lúc. Thời buổi nầy, muốn khỏi chết đói, muốn khỏi phải làm … con thiên hạ thì… đôi khi cũng cần dẹp qua một bên cho xa cái chuyện… từ bi bác ái… Cái nghề của tụi nầy lại là một cái nghề … hổng giống như người ta nữa…

Thím Hương khẽ lắc đầu

– Tôi có phiền trách anh Sơn Nhỏ hồi nào đâu. Chẳng qua cái số phần của tôi… lận đận lao đao như vậy thì tôi phải ráng chịu. Hiện bây giờ đây, tôi bơ vơ một thân một mình nơi xứ lạ như vầy cũng chưa biết tính sao nữa!

Chín Thuộc chắc lưỡi:

– Coi, tôi đã nói: ngày nào thím còn ở đây thì đã có tôi, thím khỏi lo khỉ gì ráo! (rồi hắn ta ấp úng hỏi thêm)… Hay là thím còn tính đi đâu nữa chăng?

Thím Hương thở dài nhìn ra mặt nước kinh:

– Anh nghĩ coi tôi còn biết đi đâu nữa bây giờ! Chỗ nào thì cũng tứ cố vô thân… Dầu cho tôi muốn trở về xứ cũ bên Tân Thới cũng hổng thế được… điều nầy chắc anh… thừa hiểu…

Chín Thuộc gật đầu liền:

– Kẹt quá há! Mà thôi, thím nên ở tạm nơi đây thêm một thời gian nữa để nghe ngóng tình hình giặc giã coi yên động thế nào rồi hãy tính chuyện đi. Chớ bây giờ dầu trước dầu sau gì cũng lộn xộn, hổng có Tây bố, Thổ dậy thì cũng có cái nạn… mấy ông hoành ông trấn, ông nào cũng có thể giết mình một cách dễ ợt hết đó thím!

Thím Hương nhìn về phía hai anh bạn đang ngồi chòm nhom ở đằng trước mũi tam bản:

– Tôi ở nán lại đây thì được rồi, vì bây giờ dầu tôi có đi đâu… cũng vậy, nhưng còn kẹt hai chú chèo ghe đó. Sau cái vụ lộn xộn mới rồi họ cứ nằng nặc đòi về xứ, tôi nói cách nào họ cũng hổng nghe hết.

Chín Thuộc cười đáp:

– Cái chuyện đó dễ mà! Nếu họ đòi về xứ thì mình cứ cho họ đi, chớ níu kéo họ ở lại làm tế gì!

Thím Hương thắc mắc hỏi thêm:

– Nhưng làm sao họ có cách nào về được? Chẳng, lẽ tôi nhường tam bản nầy cho họ để rồi leo lên bờ ở sao?… Mà biết họ có đi tới nơi về tới chốn không, hay là bị chận, dọc đường dọc xá thì cũng tội nghiệp cho họ.

Chín Thuộc lại cười:

– Thím sao hay lo bao đồng thiên hạ quá! Họ có thân thì họ phải ráng liệu, khôn nhờ dại chịu, chớ hơi sức đâu mình phải ôm lãnh hết hổng biết! Được rồi, thím cứ cho hai thằng cha đó về đại đi, tôi sẽ kêu tụi nó đem ra cho hai chả muợn một chiếc xuồng ba lá….

– Họ về tuốt luốt rồi làm sao trả lại cho anh?

Chín Thuộc cười xòa

– Thím sao thiệt thà quá! Tôi cho mượn đó thì kể như bỏ rồi chớ đòi lại khỉ gì được!

Thím Hương lo lắng hỏi nữa:

– Rồi đây với chiếc tam bản nầy tôi biết chèo chống ra làm sao? Và chẳng lẽ tôi ở… một mình, trọn lõn trong mui giữa khúc kinh, vắng tanh vắng ngắt, lạ quắt lạ quơ này sao? Tôi hổng dám đâu!

Chín Thuộc đưa tay sờ vết thẹo cười mơn:

– Tôi nói thím khỏi lo mà ! Tôi có ở đây mà để thím như vậy thì… còn đất trời nào nữa! (Đoạn hắn ta nghiêm giọng nói tiếp)… Để sau khi hai chú ở của thím đi rồi, tôi sai tụi nhỏ ra chèo chiếc tam bản này vô trong xẽo…

– Vô trỏng làm chi hả anh?

– Thì vô trỏng mới có nhà cửa chớ ở ngoài này lùm bụi không thì sống khỉ gì nổi ! Với lại tôi tính mời thím lên nhà… một người quen của tôi ở đỡ chớ thím quanh quẩn dưới tam bản hoài tù túng chịu sao thấu?

– Đỡ một vài bữa hay một tuần thì có sao anh… Chớ cả mấy tháng nay tôi cũng sống dưới nầy chớ bộ…

Chín Thuộc chắc lưỡi chận ngang:

– Hồi đó chiếc tam bản còn thả tới thả lui chỗ nầy chỗ nọ, chớ bây giờ nó cắm sào một chỗ, trong khoang thím thui thủi có một mình… Mà thím có chắc gì năm ngày mười bữa rồi hết lộn xộn, hết giặc giã hay sao?

Thím Hương uể oải gật đầu:

– Được rồi. Để vô tới trong trỏng tôi sẽ tính sau, việc nầy dễ mà!

Chín Thuộc hăng hái đứng dậy:

– Thôi để tôi dong về trỏng trước để sắp đặt trước chỗ ở của thím cho sẵn sàng nghen! Còn cái vụ hai anh chèo ghe thì để tôi sai tụi nó đem xuồng ra liền để mấy ảnh muốn đi chừng nào đó tùy ý. À, thím còn tiền nong gì đó để trả công cho mấy ảnh không?

Thím Hương nhích mép cười:

– Còn. Bộ anh quên rằng tôi còn thủ sẵn một ít để làm gì đó sao?

Chín Thuộc xẻn lẻn cười theo:

– Ờ, tôi nhớ rồi… Mà bộ thím còn… phiền tôi dữ lắm sao hả thím? Trong công chuyện… làm ăn tôi có dè đâu gặp thím một cách bất tử như vậy ! Nhưng theo tôi nghĩ: cuộc gặp gỡ tréo ngoe nầy, tuy ban đầu là rủi mà rốt cuộc rồi sẽ là may, như mấy ông thầy bói nói ‘‘tiền hung hậu kiết’’ đó thím Hương à.

Thím Hương trề môi:

– Kiết hay không thì để nữa rồi coi chớ bây giờ sao tôi ngán ngẩm sự đời quá! Cái gì tôi chắt chiu gầy dựng từ bao năm nay… tới đây thì đổ nhào hết!

Thím lại thở dài tiếp lời

-… Nói thiệt, tội bị kẹt còn hai đứa nhỏ chẳng biết giặc giả loạn lạc như vầy mà tụi nó có được bình yên hay không. Chớ nếu hổng có hai đứa nó thì tôi muốn chết phứt cho rảnh nợ nần hay là… xuống tóc đi tu cho nó hết căn phần… tiền oan nghiệp chướng gì như vầy!

Như nhớ trực điều gì, thím ngước mắt lên hỏi Chín Thuộc luôn:

– À anh Chín, anh biết gần đây có ngôi chùa hay có cái am, cái cốc gì hông để tôi tới xin quy у cho rồi! Tôi hết ham muốn gì nữa!

Chín Thuộc nhìn lại thím, cười mủm mỉm, đưa tay sờ lên vết thẹo rồi khẽ lắc đầu:

– Hổng có thím à… Mà tôi xin can thím về cái chuyện nầy, thím còn… như vầy mà tu sao yên, sao thành! Cái gì mình cũng nên tính cho kỹ hông thôi… mang tội với Trời Phật thêm nữa đa thím!

Thím Hương cau mày hỏi lại:

– Tôi muốn đi tu cho rảnh nợ đời chớ làm gì mà sợ mang tội với Trời Phật? Mà anh nói tôi ‘‘như vầy’’ là tôi… làm sao mà đi tu hổng được chớ?

Chín Thuộc đưa mắt nhìn thím… khắp lượt rồi cười đáp:

– Thím còn… còn… dư sức làm khổ người khác như vầy thì làm sao mà tu cho yên được. Dầu thím dốc chí tu hành nhưng thiên hạ họ cứ… nhào xốc tới để phá đám thì sao! Tôi sợ ba bảy hai mươi mốt ngày…

Thím Hương đỏ mặt gạt ngang:

– Bậy nà! Tôi nói thiệt mà coi bộ anh không chịu tin… (rồi thím chợt thở dài nói lảng ra)… Tôi đang lo không biết làm sao tính chuyện chôn cất ảnh cho đàng hoàng. Dầu sao một ngày, một buổi cũng là nghĩa huống chi tôi với ảnh…

Chín Thuộc sốt sắng đỡ lời thím:

– Thím hổng nói ra tôi cũng đã nghĩ tới trước lâu rồi. Thím để tôi lo cho tròn cái vụ mồ yên mã đẹp cho anh Tư, bề gì ảnh cũng là người quen biết cùng một xứ sở với tôi hồi ảnh mới lớn lên… Chớ bây giờ thím lặn lội ra chổ ấy không tiện đâu: ở đó gần mặt trận, gần Tây u mà cũng gần luôn mấy cha nội du kích, ủy ban lôi thôi lắm!

Đến đây như để tránh đá động nhiều đến những chuyện gì có dính líu với anh Tư, hắn ta vội vói tay níu be xuồng để bước xuống sạp lái rồi quay qua bảo thím Hương:

– Thôi tôi xin tạm kiếu thím để về kịp sắp đặt mọi công chuyện cho xong xuôi đâu đó hết để đến xế chiều tôi sẽ dẫn mấy đứa nó ra chèo tam bản nầy rước thím vô trỏng…

Chín Thuộc bơi xuồng về tới ‘‘sào huyệt’’ thì thấy Sơn Nhỏ đứng vơ vẩn trước gian nhà sàn nơi hắn ta trú ẩn.

Bước lên bờ, hắn ta xâm xâm đi lại níu vai Sơn Nhỏ dắt ra một góc sàn cho cách xa đám thủ hạ đang ngồi chòm nhom kéo bài dì dách.

Hắn nhìn Sơn Nhỏ một hồi rồi lên tiếng trách móc anh ta, tuy vẫn giữ một giọng dịu dàng:

– Em sao kỳ quá, em đem chi cái ruột tượng ra bêu trước mặt thím Hương để cho thiếu chút nữa thì qua bị… óc trâu hết! Sao em hổng đem tuốt vô trong nầy phải… khỏe cho qua không?

Sơn Nhỏ quay mặt đi chỗ khác xẳng giọng trả lời:

– Ai biểu thằng cha đó tính chơi cha tui chi! Tui tính thả cho nó đi êm rồi nó trở lại muốn hạ tui chớ! Tui tức mình quá…

Chín Thuộc ngắt ngang:

– Đó em thấy không? Em mà cãi lịnh qua là có chuyện rắc rối liền. Qua biểu em hạ mẹ nó đi chớ còn tha với bắt làm khỉ gì nữa hả?

Sơn Nhỏ ấp úng đáp:

– Tui có dè đâu… nó như vậy… (đến đây anh la bỗng đổi giọng bực dọc ngang). Mà ai biểu đại ca… dính dáng vô đó làm chi! Thiên hạ thiếu gì người khác… ngộ, lịch sự gấp mấy trăm ngàn lần cái thím Hương đó nữa!

Chín Thuộc cười xòa, vỗ mạnh vào vai anh ta:

– Chú em mầy chưa nếm sành mùi đời nên làm sao xét đoán qua được! Trời ơi, thím còn mặn mòi giàng trời mây mà chú em mầy chê chớ!

Đến đây, Chín Thuộc nghiêm giọng lại:

– Em hổng biết chớ chuyện của thím Hương đó đã làm cho qua bứt rứt từ lâu lắm. Chú em nghĩ coi! Qua bề gì cũng là tên tướng cướp, còn thím Hương là vợ thầy Hương Quản, nghĩa là một thằng cha… kỵ nhứt tụi nầy. Bây giờ qua đã nắm được vợ của thằng chả thì tại sao qua lại buông tha chớ? Ở ngoài đời có luật có lệ, có còng, có khám thì qua chịu thua thằng chả, chớ về chuyện đàn bà, trên tình trường qua cũng như ai, cũng muốn làm… quan lớn, cũng có vai vế như thiên hạ chớ có thua sút cà-ram nào đâu!

Sơn Nhỏ gượng cười, lắc đầu mấy cái liền:

– Đại ca nói cái gì rắc rối quá, tui ù ù cạc cạc chẳng hiểu đâu là đâu hết! (đoạn anh ta hất hàm chỉ lên phía nhà sàn) Tiền và vàng tui đem dìa để ở trển đó, đại ca lấy cất đi.

Chín Thuộc lại níu vai anh ta:

– Coi, qua giao cho em giữ luôn mà!

Sơn Nhỏ nhíu mày:

– Ủa bộ đại ca tính hổng trả lại cho thím Hương luôn sao?

– Trời của mình lấy về thì trả lại sao nổi em!

Sơn nhỏ có vẻ không hiểu:

– Còn thím Hương? Đại ca… mặn mà với thím đó lắm mà!

Chín Thuộc cười đáp:

– Thì vậy chớ sao! Nhưng mặn với thím mà… mặn luôn với số tiền bạc vòng vàng kia nữa. Tình, tiền gì qua gom hết chớ hổng có chê thứ nào ráo?

Sơn Nhỏ nhăn nhó lẩm bẩm:

– Đại ca làm như vậy… kỳ quá. Rủi sau này thím Hương rõ ra thì biết ăn nói làm sao cho xuôi! Mình hổng thương người ta thì thôi…

Chín Thuộc vội chận lời anh ta:

– Cha cha, bộ chú mày muốn làm thầy đời ngược lại qua hay sao đó? Thím có biết thì cũng vậy thôi vì tới chừng đó, qua với em cũng đã vọt đi từ khuya rồi.. Đàn bà họ dại thì họ ráng chịu, hơi sức đâu mình băn khoăn hổng biết?

Đến đây, Chín Thuộc gật gù một cách rất tự phụ:

– Bây giờ em mới thấy rõ qua… sáng suốt trong mọi việc chưa? Vậy mà hồi nãy chưa chi em đã cằn nhằn qua nọ kìa, chắc em chê trách qua sao quá u mê ám chướng vì một con đàn bà phải hông? Qua mà em!

Sơn Nhỏ thở dài:

– Nói vậy làm thân đàn bà con gái vào thời buổi này lỗ quá há!

Chín Thuộc cười dòn xô mạnh vai anh ta ra:

– Chú mầy… từ thuở tạo thiên lập địa cho tới bây giờ chưa rõ con đàn bà tròn hay méo, đứng hay ngang thì biết khỉ gì mà bày đặt than thở cho họ! Suy đi gẫm lại thì cũng chẳng lỗ gì đâu chú mày ơi! Chú mầy hổng biết chớ trước khi họ chịu phép họ cũng làm mình trầy vi tróc vẫy, cũng hành mình ‘‘cúc cung, bái, hưng, bình thân’’ đã đời chớ bộ dễ dúng gì sao? Đó, em không thấy qua từng… trần ai khổ nhọc vì con mẹ Hương và đang о bế con mẽ hết cỡ đó sao? Đàn bà họ được nước lên chưn lên cẳng lúc ban đầu thì sau có chết lên chết xuống thì cũng… vừa lắm chớ hổng lỗ lã hay oan ức gì đâu em ơi!

Sơn Nhỏ hơi vui vẻ trở lại, anh ta mỉm cười khẽ lắc đầu:

– Đại ca nói quá lố…

Chín Thuộc trợn mắt:

– Ê thiệt nghe chú mầy! Chú mầy là trai mới lớn lên làm sao rành hơn qua được. Chú mầy phải nhớ cho kỹ, những lời của qua nói đây chẳng khác gì lời… sấm giảng vậy. Đờn bà con nào cũng thế, hễ mình mới xáp vô thì đứa nào đứa nấy cũng làm cao làm kỳ, đứa nào đứa nấy cũng tưởng tụi nó như… Phật bà Quan Âm vậy! Chú mầy ráng chịu khó dùm qua cái lúc đó để cho tụi nó lậm vô rồi thì dầu cho chú mầy có đá đít tụi nó mỗi ngày năm bảy lần… tụi nó cũng nhào а vô đeo dính cứng, mụ nội qua bây giờ rứt ra cũng hổng được nữa!

Liếc thấy Sơn Nhỏ mỉm cười lắc đầu cầm chừng. Chín Thuộc hăng hái nói tiếp luôn:

– Để chừng nào chú mầy để ý muốn о con nào, miễn là đừng nhè thứ tiên sa phụng lộn, con vua cháu chúa mà đòi thì qua hổng dám báo đảm, qua sẽ vẽ cách cho, thế nào cũng ăn tiền!… Bằng thất bại, qua cho chú mày cứ réo tên ông già của qua mà chửi thục sình đi!

– Đại ca nói như vậy chớ mình о mèo mà cũng nhờ người khác bày mưu thiết kế thì… đâu phải yêu thương thật tình… Cái đó cũng như… ăn gian…

Chín Thuộc nhún vai:

– Trời đắt quỉ thần ơi, yêu thương cũng là một công chuyện và công chuyện nào muốn thành phải có sắp đặt đàng hoàn đâu đó hết chớ! Chú mầy có muốn cô nào mà cứ cà lơ mơ như vậy thì chỉ có nước.. ra ngồi đầu cầu ca vọng cổ hay nói thơ Lục-vân-Tiên để cho nó đỡ khổ chớ làm mẹ gì ai được!

Sơn Nhỏ cười xòa rồi hỏi lảng ra:

– Đại ca nói giỏi như vậy chớ nhắm cái vụ thím Hương nầy có xuôi rót hay lại… ạch đụi như mấy lần trước đại ca nói đó!

Chín Thuộc ưỡn ngực ra vung vai rồi thản nhiên đáp:

– Không xuôi sao được chứ mày! Đường đi nước bước gì qua đã dọn trơn lu sẵn hết, thiệt cũng chẳng khác nào như quây đăng đặt lọp vậy mà hổng bắt dính… con cá rô mề bằng một bụm tay vầy sao được đó chú mầy!

Nói xong, hắn ta phát cười rộ lên rồi đưa tay mân mê vết thẹo nơi mặt và đôi mắt của hắn bỗng trở nên  vừa xa xăm vừa mơ màng một cách rất khác thường…

Bút Ký Phóng Sự Chiến Trường

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Hồng Phúc


9. Tái Chiếm Tam-Quan, Bồng-Sơn

Ai ra Bình Định mà coi

Trên đường Xuyên Việt, mỗi lần đến Qui Nhơn thường thường du khách chờ cho đến Tam quan – Bồng Sơn mới dừng xe dùng cơm trưa. Không một nơi nào tìm ra món ăn đặc thù địa phương, thơm, bùi, ngọt ngào, bằng nơi này: Cơm thố nấu với nước dừa ăn với “cá kho tộ” thì “nhất”!

Chúng tôi trở lại “xứ Dừa” bằng đường bộ ngày 26-7-72.

Tam Quan – Bồng Sơn vừa được tái chiếm ba hôm.

Lực lượng Biên Phòng cũng vừa trục “Ba sao vàng” ra khỏi Hoài Ân.

Hoài Ân, Quận lỵ cực Bắc Bình Định bị tràn ngập đầu tiên, vừa được giải tỏa sau cùng.

“Ai về Bình Định mà coi..”

Bình Định hồi sinh sau hơn hai tháng ngộp thở dưới gông cùm “Mặt trận GPMN”.

Cờ vàng trên xứ dừa xanh

Một điểm nổi bật lúc đang bay trên trời nhìn xuống Bình Định, là chúng ta có thể phân biệt rõ nơi nào địch đã vào, nơi nào không. Điều đó được đánh dấu bằng những vị trí “bình địa”, lổ chỗ hố bom, pháo, bên cạnh những thôn xóm e ấp, thu mình xung quanh hàng rào dừa xanh, chẳng cách xa bao nhiêu, một vài trăm thước.

Chúng tôi đã đến Tam Quan bằng một đoàn xe không cần có đại liên đi trước, lính theo sau, và khi mặt trời đã đứng bóng.

Cửa ngỏ Tam quan chào hỏi bằng cái nhìn bi ai mừng tủi của một trại tiếp cư, chứng nhân của một sự đổi thay, nạn nhân trực tiếp của những người mang danh “Giải phóng”, những ngày tạm chiến.

Từ mút này phố quận đến ranh giới Bồng Sơn, phố buồn gục đầu ngái ngủ.

Bước chân ngập ngừng trên đại lộ tráng nhựa.

Cũng cảnh này vừa thay ngôi đổi chủ,

Chưa có chiếc xe đò nào chạy qua.

Chỉ có chiếc “commando” ngược xuôi. Người lính BĐQ, Thiết Kỵ, Bộ Binh nói lên sự trở lại của mình.

Dãy phố đôi bên còn khép kín. Một vài nhà mở cửa he hé.

Quán tạp hóa, quán thuốc lào, tiệm xi-măng phân bón lưa thưa khách hàng. Chủ nhà, con cái ngồi chơi, lạ lùng đưa mắt nhìn theo đoàn du khách đầu tiên sau hai tháng mất thói quen giao tiếp.

Rải rác cảnh sát, cán bộ áo đen CTCT mang số 202, 204: Tiểu đoàn Quân Chánh cũng hành quân.

Một vài quán cóc sưởi ấm người chiến sĩ “Nẩu” kể cho chàng nghe những ngày “họ” tới đây.

Mừng ngày Tái chiếm Tam Quan!

“Hoan hô tinh thần chiến đấu dũng cảm của LĐ2/BĐQ, TĐ6/ BĐQ, Tr.đ 41/BB…”

Những giòng chữ đỏ mạnh, chồng chất, như quật xuống, xua đuổi, mừng rỡ, nhảy múa.

Cờ Việt Nam tung bay ngợp trời từ đầu này “cửa ngỏ” phố quận đến cuối đường, phần phật, nổi bật trên những ngọn dừa xanh đu đưa.

Chi khu Tam Quan: một đống gạch vụn. Bệnh viện ngã nghiêng. Một vài căn phố lún xuống, vỡ vụn chênh vênh. Thời buổi chiến tranh, rủi may trong gang tấc.

Nối lại nhịp cầu Bồng Sơn

Tạm biệt Tam Quan! Hẹn ngày tái ngộ!

Đây Bồng Sơn! Hoài Nhơn! Núm vú Bình Định

Chiếc xe chạy vùn vụt, nối đuôi, bụi tung lên che khuất, để rồi cũng cảnh đó : cầu cháy, nhà cửa ngã nghiêng lẫn lộn cái còn nguyên vẹn, cái xiêu vẹo, tróc ngói, tường vỡ như tổ ong, hang hóc. Dọc đường xe hàng, xe nhà binh bị lật ngữa, đốt cháy, chỉ còn lại đống sắt vụn.

Bồng Sơn lớn hơn, tấp nập hơn (vì có lính đóng ở đó), cũng tang thương hơn.

Những trận đụng độ lớn đã gặp nhau tại nơi này, tranh giành nhau giòng sông Lại Giang, chiếc cầu Bồng Sơn, huyết tnạch nối liền các Tỉnh miền cao Qui Nhơn – Nha Trang – Pleiku – Kontum.

Bao nhiêu dịp cầu, bấy nhiêu chứng tích của những năm chinh chiến. Ba chiếc cầu bắc qua sông! Thiếu Tướng Toàn hỏi ai lo về chiếc cầu này? Đại Tá Niệm kêu “Tín đâu ? Tín đâu?”

Tín trình diện. Quan khách khen ngợi đơn vị anh. Tín là em trai anh Lữ Hồ, đại đội trưởng cầu ghép.

Cầu Bồng Sơn vừa được tái thiết một khắc đồng hồ.

Thủy triều nhường cho cát trắng phơi mình. Bà con dìu nhau xuôi về miệt Đông Nam về làng.

Tái chiếm Hoài Nhơn

Tôi đứng trên cầu Bồng Sơn nhìn xuống: Giòng người theo vết chân trên cát trắng đua nhau trở về làng cũ.

Một vài gia đình binh sĩ đưa thân nhân lên GMC, xe Jeep mang theo mấy trái dừa.

Chi đoàn M18 chạy hàng ngang về Đông Nam.

“Đồng bào Bồng Sơn 70.000 người chỉ còn kẹt 6,7 ngàn chưa kiểm kê được”. Trung Tá tân Quận Trưởng Hoài Nhơn nói. Người trước, cũng như đồng đội đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Sư đoàn 3 Sao vàng chịu đựng phi pháo, hải pháo không nổi, rút về thung lũng An Lão. Chấm dứt 85 ngày làm mưa làm gió đối với những người dân vô tội.

Đồng nhịp với chiến dịch phản công địch, tái chiếm đất đai bị tạm chiếm, SĐ 22/BB được tăng cường 2 Liên đoàn Biệt Động Quân và 1 Lữ đoàn Kỵ Binh mở Bắc Bình Vương 8/22 đẩy SĐ3 Sao Vàng về cực Bắc và sau cùng về thung lũng An Lão.

Sư Đoàn 3 Sao Vàng không còn đủ khả năng tham chiến.

Tháng 5-72, SĐ 3 Sao Vàng xuất hiện từ phía Bắc Bình Định, mở những mũi dùi tràn ngập Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tam Quan.

Trung đoàn 40 quyết tử chiến, liên đội 2/48 Đ.P.Q. quyết tử thủ cho đến người cuối cùng. Liên đội Trưởng bị thương, sau khi được lệnh đưa vợ con về, quyết trở lại chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Hoài Ân, phòng tuyến vững chắc nhất Bình Định bị bể.

Tháng 6, Trung đoàn 41 ngang cửa tại Phù Mỹ Dương Liễu, Tam Quan, bắt buộc SĐ 3 Sao Vàng phải rút về, bổ sung và bồi dưỡng.

Hai tiểu đoàn 5,6 húc với một địch thủ trên chân, bị sứt mẻ , Tiểu đoàn 4/21/ SĐ 3 Sao Vàng bị B52 chụp gọn, loại khỏi vòng chiến từ đầu

Trung đoàn 18 (SĐ3 Sao Vàng) sau trận An khê (từ phía Tây Bình Định) rút về tăng cường Hoài Ân ; Trung đoàn 2 “tháp tùng” Sư đoàn rút về An Lão, Ba Sơn.

Để tránh phi pháo và phải chiếm các mục tiêu không liên tục, SĐ 3 Sao Vàng xé lẻ các trung đoàn cơ hữu, tăng cường hai Trung đoàn biệt lập, du kích đặc công QK5.

Từ phía Tây Bồng Sơn, BTL/SĐ3SV đưa ra 1 Trung đoàn nghênh chiến.

Sau những trận mưa bom và phi pháo, chém vè giao lại cho thành phần địa phương, Sư Đoàn 3 Sao Vàng thiệt hại trên 4000 quân (45 đến 50% quân số), mỗi tiểu đoàn còn không tới một trăm rưởi.

Một mặt SĐ3/Sao Vàng bị “dập” vì bom, pháo, mặt khác tiêu hao vì đụng với SĐ 22/BB, BBQ và Thiết kỵ của ta. Thượng Tá Nguyễn Trí Dũng cũng bị chôn sống trong trận mưa bom.

Đấu tố và gieo giống

Thêm một lần nữa những người khoác áo “cách mạng”, “giải phóng” đã có cơ hội chứng tỏ với dân chúng “chủ nghĩa xã hội” như thế nào.

Thêm một lần nữa, người dân sống trong vùng bị chiếm được chứng nghiệm bộ mặt thật của những con người Cộng sản bằng xương máu bản thân mình.

Mười tám năm sau, cả một thế hệ đổi thay (hột giống đã vươn mầm thành cây) mọi người còn in khắc hai chữ “tiếp thu” với nhiều đắng cay, oán hận nghe chuyện xưa tái diễn.

Quốc gia đã trục Cộng sản ra khỏi vùng. Cộng sản đã tập kết về Bắc, như vậy chưa phải là hết.

Cộng sản đã khéo léo chôn dấu vũ khí, đạn dược để rồi tiếp tục mộng xâm lăng cho đến ngày nay, gieo mầm qua những “đám cưới tập thể” dưới sân cờ, để ngày nay là những công cụ khích động nhất, thiêu thân vào chiến trường.

Không theo Bác và Đảng là đồ phản động?

Đấu tố và xử liền không cần toà án.

Giàu nghèo gì cũng phải đóng thuế ngang nhau.

Mỗi ngày chỉ phát gạo cho đủ cầm hơi, “còn để nuôi bộ đội chiến đấu dành độc lập”.

Có con tập kết làm cán bộ trung cấp, mặc, cũng truy thâu. Thuế cho nhà nước một vinh dự!

Dã man, tàn bạo cũng chưa đủ diễn tả những nỗi niềm thống khổ cho dân vô phúc lọt vào vùng kềm tỏa của các “đồng chí”.

Tập họp lại! Học tập!…

Già làm theo già, trẻ làm theo trẻ?

Tình nguyện hăng say mà làm?

“Bộ đội” có “ngũ hộ”, đồng bào “xung phong tình nguyện” theo khả năng.

Đệ nhất hộ, nhẹ lắm… “ủng hộ chiến sĩ”. Một bà 36t nghẹn ngào kể lại (xin được dấu tên, khỏi nhục và ô danh với bà con, chòm xóm):

– “Họ” cho gài người khích động “tự nguyện ủng hộ chiến sĩ”.

Du kích đứng gác ở ngoài, mấy “đồng chí bộ đội ngoài Bắc” thì tập họp tại một chỗ, gần đó là một dãy “giường”, họ đứng chờ.

Có người dẫn vào, mời các “đồng chí” làm tình, căn dặn mỗi lần xong với một đồng chí phải ngồi dậy, khoanh tay “cám ơn đồng chí”!

Mỗi ngày tôi phải tiếp 30 đồng chí!

Có nhiều em vừa đến tuổi ông bà xưa nói “nữ thập tam, nam thập lục” cũng được họ đưa vào “cắt chỉ” và kích động “nâng khăn sửa túi cho các đồng chí là góp phần chiến đấu cho Quốc gia”.

Và đồng chí nào muốn “cưới” cô nào được cô nấy.

Tôi đã chứng kiến hơn 70 em như vậy.

Bồng Sơn hồi sinh

Sau cơn giông bom đạn, ngộp thở với mấy “đồng chí bộ đội” Bồng Sơn tìm lại hơi thở quen thuộc.

Bồng Sơn sau những cơn xúc động mạnh, thân thể tàn phế, gượng gạo hồi sinh.

Bao lâu nữa Bồng Sơn mới tìm lại được sinh khí như xưa cũ?

Bao lâu nữa Bồng Sơn mới hàn gắn được nét rạn nứt, đổ vỡ?

Bao lầu nữa Bồng Sơn mới xóa nhòa những hạt mầm tủi nhục gieo vào thân thể những người con gái chưa tới tuổi làm đàn bà? Sản phẩm đắc ý nhất nằm trong chiến lược của các đồng chí CSBV.

Bồng Sơn vẫn nhẫn nhục chịu đựng như người mẹ già Việt Nam cong lưng với nắng mưa chinh chiến, ngước mắt trông về tương lai con cháu được huởng thanh bình.

HP

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Sao Bắc Đẩu


8. Chiến Trường Trị-Thiên Và Một Ngày Xa Chiến
Diễn biến đầu tiên mà tôi ghi nhận được của trận xa chiến lớn ngày 9-4-72 là một sự việc khá ngộ nghĩnh, khó giải thích nhưng lại là điều thường xẩy ra trên chiến trường: viên Thiếu Tá phi công của chiếc trực thăng đang đưa chúng tôi ra mặt trận quay lại nói với Thiếu Tướng Toàn:

– Một chiếc M.48 của mình gặp 2 chiếc T.54 của nó. Hai bên cách nhau 100 thước.

Sự kiện này khó giải thích ở nhiều dấu hỏi như: tại sao chiếc M.48 lại đi một mình ? cả hai loại M.48 và T.54 đều là những chiến xa nặng được trang bị nhiều loại súng bắn xa, tại sao hai bên lại tiến đến gần nhau chỉ 100 thước ?

Những dấu hỏi này chỉ có thể do chính người xa trưởng của chiếc xe tăng này trả lời. Tôi không có dịp tìm gặp anh ta.

Viên Thiếu Tá phi công lại quay lại để báo cáo với Thiếu Tướng Toàn những diễn biến mới mà anh vừa nghe được qua máy truyền tin:

– Chiếc M48 bắn cháy 1 chiếc T.54 rồi bỏ chạy.

Thiếu Tướng Toàn, vị Tư lệnh phó của chiến truờng giới tuyến cau mặt hỏi lại:

– Chiếc nào bỏ chạy?

– M.48 của mình.

Tôi đoán được cái thắc mắc của Tướng Toàn: Hoặc chiếc M.48 bỏ chạy ngay từ đầu, hoặc nó phải bắn luôn chiếc thứ nhì khi đã khai hỏa. Hành động bắn cháy 1 chiếc T.54 và hành động bỏ chạy là những việc làm mâu thuẫn với nhau, có thể người xạ thủ và người lái xe đã tự quyết định riêng rẽ.

Đọc đến đây, chắc nhiều độc giả quân nhân đã tự hỏi: Vậy người trưởng xa đâu? Tại sao anh ta không chỉ huy? Tôi xin viết lại lần thứ nhì câu tôi vừa viết ở đoạn trên: những dấu hỏi này chỉ có một người trả lời được, người trưởng xa. Và tôi đã không có dịp tìm gặp anh ta.

Lần thứ ba, viên Thiếu Tá phi công quay lại. Anh cho Tướng Toàn biết diễn biến giờ chót: chiếc M.48 bỏ chạy trước một chiếc T.54 đang đụng phải 7 chiếc khác sau lưng.

Đến giờ này, ngồi lại tòa soạn viết bài, tôi thấy rằng biến chuyển này ngộ nghĩnh, khó giải thích nhưng đó là việc thường xẩy ra trên chiến trường. Chắc chắn ngay chính Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tư Lệnh Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh cũng không giải thích được những dấu hỏi nêu lên quanh cuộc xa chiến giữa 1 chiếc M.48 và 9 chiếc T.54 này. Không ai chỉ huy chiếc xe đó đi phiêu lưu một mình vào giữa đất địch cả. Và cũng không người xa trưởng nào vừa ra lệnh bắn vào chiến xa địch vừa ra lệnh chạy.

Những việc này chỉ là phản ứng trực tiếp và tự nhiên của người lính. Chính vì vậy mà người ta có thể đo lường giá trị của một đơn vị qua những phản ứng của binh sĩ trên chiến trường : Được huấn luyện kỹ, có kinh nghiệm chiến đấu già dặn phản ứng của người lính thiện chiến nhanh chóng và đúng. Ngược lại, loạt súng đầu tiên thường cướp tinh thần của những đơn vi non nớt, thiếu huấn luyện, thiếu kinh nghiệm.

Đó là những phân tách mà tôi tìm được khi về đến Saigon. Ngay trong lúc đótôi chỉ nghe lo lắng cho chiếc xe “lãng tử”. Quay nhìn Tướng Toàn, tôi thấy ông ra lệnh cho người sĩ quan có máy truyền tin:

– Gọi pháo binh cứu “thằng” M.48.

Ông cũng bảo viên Thiếu Tá phi công gọi khu trục. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ chiếc trực thăng: mù mịt sương muối và mưa phùn. Đồng hồ cao độ trong máy bay chỉ 600 bộ (chưa đầy 200 thước). Từ những ngày đầu tiên mặt trận giới tuyến bộc phát dữ dội, khu trục cơ Mỹ vẫn từ chối can thiệp trực tiếp vì thời tiết xấu. Chúng ta có thể trách họ nhưng không thể phủ nhận rằng thái độ từ chối của họ không có ý do. Với 1 tầm mây thấp 200 thước chỉ có những phi công VN vì máu chảy ruột mềm mới dám xuất trận.

Chúng ta hãy thử hình dung chiếc xe hơi với tốc độ 100 cây số giờ và chúng ta phải thắng đứng trong khoảng 100 thước để thấy cái khó khăn, sự can đảm vô biên của người phi công VN. Lao xuống với tốc độ trên 300 cây số/giờ, họ chỉ có hơn 100 thước để làm 3 việc: nhận định mục tiêu, oanh kích và ngóc lên kịp thời.

Một phút sau, chúng tôi được tin pháo binh đã tác xạ với sự hướng dẫn của những kỵ binh trong chiếc M.48 đang đụng địch. Một phi tuần AD6 cũng đã cất cánh. Số phận của chiếc M.48 vẫn còn chỉ treo đầu mành nhưng tất cả những gì có thể làm để cứu nó, những người bạn đồng đội của nó đã làm, làm trong sốt sắng, trong lo lắng thương yêu.

Tướng Lãm thiếu nợ nửa triệu bạc trong 2 giờ đầu tiên của trận đánh 9-4

Đến Quảng Trị, chúng tôi vào thẳng Trung Tâm Hành Quân của Chuẩn Tướng Giai. Hơn chục cái máy vừa điện thoại, vừa máy truyền tin cùng làm việc một lúc. Hơn chục người thanh niên hò hét như những thằng điên trong ống nói. Họ đang xử dụng các hệ thống viễn liên, vô tuyến để điều khiển Pháo binh, Không quân, Kỵ binh, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân và Bộ Binh theo lệnh của Chuẩn Tướng Giai.

Một anh Trung úy Không quân hỏi thật lớn với người bạn đồng đội đang nói chuyện cách anh khoảng 200 cây số:

– Mày đừng đem rokét làm gì. Ở đây đang cần bom thứ 500 cân (cân Anh khoảng 250 kí). Mục tiêu là những xe tăng nặng.

Không hiểu đầu giây kia nói gì, chỉ thấy anh Trung úy chửi thề rồi lại gân cổ hét lên:

– Xe tăng. Xe tăng là thiết giáp đó. Không phải quân trang.

Viết lại câu “xe tăng là thiết giáp” nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng trong thực tế, những khó khăn liên lạc thường vẫn buộc người quân nhân phải dùng những cách ví von vô duyên hơn như vậy rất nhiều,

Hai chữ “xe tăng” lại có thể nghe lầm thành “quân trang”, lại có những thanh âm khác đi rất nhiều.

Tôi quan sát người Trung úy. Nhìn kỹ người ta có thể đoán gần đúng tuổi anh : khoảng 25-26. Nhưng thoạt trông, hàm râu 48 giờ chưa cạo, 2 mắt quầng thâm vì những đêm mất ngủ và vẻ mệt mỏi làm anh già thêm ít nhất cũng 10 tuổi nữa.

Bên cạnh anh Trung úy Không quân là 1 Thiếu úy Pháo binh. Vừa nhai một khúc bánh mì thịt, anh vừa chăm chú theo dõi trên bản đồ những tin tức ghi nhận được về hoạt động của pháo binh địch. Đầu bàn, một gói xối ăn dở bị tạm quên. Một sĩ quan nào đó đã phải bỏ dở bữa ăn sáng đạm bạc để đáp ứng một nhu cầu hành quân của những đơn vị đang chiến đấu bên ngoài.

Một tấm bảng trên tường ghi nhận 4 diễn biến trong 2 giờ đầu tiên của ngày 9-4:

– 0 giờ 30, Tiểu đoàn 6 TQLC bị tấn công và pháo kích. Chưa rõ kết quả.

– 7 giờ 10, Thiết đoàn 20 kỵ binh đụng chiến xa địch. Hạ 10 chiếc. Chưa rõ loại.

– 8 giờ 15, Tiểu đoàn 6 TQLC bắn hạ 12 chiến xa địch.

– 8 giờ 30, Liên đoàn 5 BĐQ bị tấn công. Chưa rõ kết quả.

Ngày xa chiến lớn 9-4-72 bắt đầu bằng cuộc tấn công một vị trí do Tiểu đoàn 6 TQLC chiếm giữ. Lực lượng Bắc Việt đã điều động 16 chiến xa để tấn công 500 người “lính thủy đánh bộ” trong một căn cứ mà họ không có vũ khí nặng để chống đở hiệu nghiệm chiến xa địch.

Thiếu Tá Tùng, Tiểu đoàn Trưởng TĐ 6 TQLC quyết định dùng lòng can đảm và sức người để trám vào lỗ trống kỷ thuật. Chiến sĩ Cọp Biển được lệnh kiên trì chịu đựng trong những vị trí chiến đấu chờ xe tăng địch vào sát trong tận hàng rào phòng thủ mới nổ súng. Lý do: những khẩu M.72 của họ chỉ có tác dụng trong vòng 150 thước.

Bên ngoài, vừa lầm lũi tiến tới những chiếc T.54 khổng lồ vừa rải đạn như mưa vào căn cứ của Tiểu Đoàn 6 TQLC. Những phát đạn đại bác thổi tung mọi công sự phòng thủ quân xa, chiến cụ trên mặt đất, nhưng dưới những hố cá nhân, những hào giao thông sâu vào lòng đất những con Cọp Biển gan lì vẫn ngồi yên chờ đợi.

Một tiếng mìn nổ, rồi tiếp theo đó nhiều tiếng mìn khác thi nhau nổ vangười. Những quả mìn này gài trong hàng rào phòng thủ vị trí. Chúng không đủ sức làm lật những chiếc T.54 nặng nề nhưng chúng đã báo động đã là một thứ hiệu lệnh cho những xạ thủ M.72.

Đồng loạt họ đứng dậy. Đồng loạt họ khai hoả. Và trước khi những kỵ binh Bắc Việt kịp hiểu sự việc vừa xảy ra thì trận chiến đã ngã ngủ: 12 trong số 16 chiến xa xung trận đã bị loại trong 1 phút ngắn ngủi.

Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm đã treo giải thưởng 20.000 đồng cho mỗi chiến xa bị bắn bạ. Trong 2 giờ đầu tiên của trận xa chiến mồng 9 tháng 4, ông đã phải trả đến gần nửa triệu bạc tiền thưởng.

Tướng Toàn tươi cười bảo tôi:

– Trung Tướng Tư Lệnh Quân Khu 1 đã ra lệnh cho Tỉnh Trưởng Quảng Trị ứng trước ngay số tiền này để thưởng cho các đơn vị. Trung Tướng cũng nhắn anh ghi nhận hộ lên Diều Hâu rằng ngày mồng 9 tháng 4 là ngày thê lương nhất của kỵ binh Bắc Việt (kể từ ngày họ xua quân vượt tuyến).

Nồi cơm của người lính dã ngoại

10 giờ sáng, chúng tôi được đưa ra mặt trận để quan sát tại chỗ. Chúng tôi không xử dụng trực thăng vì hiểu rằng trong trận địa, đáp trực thăng xuống đơn vị nào là chúng tôi đã gọi pháo binh địch đến đơn vị đó.

3 chiếc xe Jeep nổ máy. Chiếc thứ nhất có Thiếu Tướng Toàn và những cận vệ của ông, 2 chiếc sau là của những phóng viên báo chí, điện ảnh chúng tôi.

Trước khi lên đường Tướng Toàn đã dặn chúng tôi nên chạy kha khá cho kịp xe ông vì dọc theo đường pháo binh Bắc Việt thường bắn chận những đoàn xe. Ngang căn cứ Ái Tử chúng tôi đã bị bắn hơn chục viên đại bác. Một người lính cận vệ của Tuớng Toàn rơi xuống xe sau loạt tiếng nổ.

Nửa giờ sau chúng tôi đến Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn I Kỵ Binh. Trả lời câu hỏi của tôi về ước tính trận đánh, Đại Tá Nguyễn Trọug Luật, Tư Lệnh Lữ đoàn nói:

– Hôm nay là một trong những ngày hoàng đạo của Lữ Đoàn I. Đến giờ này chúng tôi có 1 chiến xa bị trúng đạn địch. Con số thiệt hại của kỵ binh Bắc Việt đã ghi nhận được tại Trung Tâm Hành Quân rồi.

Tại 1 tiểu đoàn khác, tôi bắt gặp 1 binh sĩ đang nhăn nhó, càu nhàu vì nồi cơm anh đang nấu trên bếp vừa bị pháo binh địch bắn vỡ. Binh sĩ thường nấu cơm ngay trên miệng hố cá nhân của họ. Khi nghe tiếng đạn đại bác của địch bay đến anh binh sĩ này đã kịp thời nhẩy xuống hố cá nhân. Dĩ nhiên anh không thể bưng theo cả nồi cơm đang sôi. Lúc chúng tôi đến thì bài toán khó giải quyểt của anh là anh chưa tìm được người bạn đồng đội nào có nồi cơm rộng chỗ để anh “ghé” mớ gạo chưa chín nhưng đã nở mà anh còn vớt vát được trong cái nồi bể.

Nhận định của 4 vị Tướng mặt trận về chiến trường Trị Thiên

Trận đánh chấm dứt trong ngày và bạn đọc cũng đã biết kết quả qua báo hàng ngày. Chúng tôi chỉ xin cống hiến độc giả thân mến những nhận định của 4 vị tướng mặt trận đang quần thảo với quân Bắc Việt tại chiến trường Trị Thiên.

Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm: Địch quân đã đẩy mọi cố gắng của họ đến điểm cao nhất mà họ có thể đạt tới. Nói một cách khác, từ nay trở đi họ không còn khả năng làm được một hành động quân sự nào lớn hơn những việc họ đã làm từ nửa tháng nay.

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn: dĩ nhiên địch quân đang cố gắng kéo pháo đến gần chúng ta hơn. Nhưng ý định của chúng là một việc, chúng có làm được không lại là một việc khác. Trong chiến tranh quy ước, tiếp vận là một yếu tố quyết định. Chỉ cần ngăn chặn được tiếp vận của địch chúng ta cũng có thể đánh bại chúng..

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú: Cho đến ngày bôm nay số tổn thất của những đơn vị Bắc Việt giao chiến với Sư Đoàn 1 BB vẫn ở trong tỷ lệ 10 đổi 1. Gần 1 tháng nay trời rất xấu và yếu tố này đã làm giảm bớt sự kiến hiệu của không yểm. Cơ quan khí tượng loan báo rằng chỉ 1 hoặc 2 ngày nữa thời tiết sẽ khá hơn. Tôi nghĩ rằng lúc đó trận đánh giới tuyến sẽ mau đi đến ngã ngũ hơn.

Chuẩn Tướng Võ Văn Giai: Địch quân không tiến thêm được một bước nào nữa. Mặt trận đang khựng lại tại chỗ. Giai đoạn này là giai đoạn chúng ta phản công tiêu diệt những đơn vị xâm nhập của địch.

SBĐ

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Phan Nhật Nam

7. Dựng Một Ngọn Cờ
Số báo trước vì tình hình chiến trận đang tiếp diễn, không thể viết rõ ràng các chi tiết về diễn tiến của cuộc hành quân. Hôm nay 27-7, Lữ đoàn 2 Dù đã bàn giao khu vực trách nhiệm lại cho quân bạn. Chiến dịch tái chiếm Quảng Trị coi như chấm dứt. Chấm dứt riêng đối với Lữ đoàn 2 Dù, đơn vị Chỉ huy tổng quát cuộc hành quân. Chiếm Quảng Trị cũng không hẳn là kết quả của một đại đội, một Tiểu đoàn, cũng không hẳn riêng của Lữ đoàn 2. Chiến dịch đã được phối hợp giữa Nhảy Dù ở phía Tây quốc lộ và TQLC ở phía Đông kéo dài ra đến biển. Lữ đoàn 2 cũng cần phải có một đơn vị hậu tập giữ đường về, lập một hàng cản trở ở cực Nam con đường chiến thuật 556B, từ thôn Đà đứng men theo vùng cận sơn qua vùng Động Ông Đô, Anne, Barbara qua đồi 142 để đổ ra Phong Điền. Lữ đoàn 3 Dù giữ phần nầy…

Chiến dịch bắt đầu từ lúc 07 giờ tối ngày 28-6 lúc những người lính Tiểu đoàn 7 Dù bắt đầu vượt sông Mỹ Chánh để bôn tập trong đêm đánh vào những mục tiêu Nam sông Ô Khê để làm đầu cầu cho cuộc trực thăng vận ngày mai của Tiểu đoàn 9, 11 Dù và chấm dứt lúc 12g45 phút ngày 25-7-72 khi Tố Quyên, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Dù châm cái píp nhìn Nguyền Tấn Sĩ , Đại Đội trưởng 51 tìm một chỗ để cắm ngọn cờ vàng trong Tiểu Khu Quảng Trị… Trong thời gian đằng đẵng mịt mùng lửa đạn đó, Lữ đoàn 2 Dù đã dùng các Tiểu đoàn 3, 5, 6, 7, 9, 11 Dù thay phiên nhau “nhồi” cho hết 32 mục tiêu mà mục tiêu chót là Cổ Thành hay Tiểu khu Quảng Trị.. Chiến trường quá rộng và chi tiết lại tràn ngập chỉ có thể một ủy ban quân sử mới có thể viết lại đầy đủ diễn tiến của 27 ngày chiến trận, công việc cũng đòi hỏi một thời gian dài để chuẩn bị.. Người viết chỉ với cố gắng cá nhân, ghi lại nét chính yếu trong một thời gian cấp thời để làm thành một cái khung tổng quát trên đó các Tiểu đoàn Dù đã chiến đấu với hào hùng bốc lửa, những tiểu đoàn thân yêu, những đơn vị cũ, thực thể kỳ diệu mà người viết đã sống chung qua một đoạn đời dài, rất dài….

Chiến dịch bắt đầu

Đáng lẽ ngày N là 28 tháng 6, nhưng vì các Tiểu đoàn 7, 9, 11 vừa rút ở vùng cận sơn bên phải Phong Điền ra đều đụng trận như Tiểu đoàn 7 Dù của Khôi Nguyên vừa chuẩn bị khăn gói đế “zulu” thì đụng, bốn bề, ba mặt của núi Cánh Dơi cộng quân đổ ra vây kín.

– Nó không muốn cho mình ra Sông Lô. – Khôi Nguyên nói cùng Lô (Tiểu đoàn phó).

– Không can chi, tôi dứt tụi nó được.

Lô nói là Lô làm, vùng núi chập chùng cao độ không làm Lô nao núng. Suốt đêm 26 rạng 27, Lô nói máy không ngừng, lính đánh lựu đạn hết cỡ gần nhất. Ngày đến, không biết bao nhiêu xác nhưng 36 súng AK bỏ trên trận địa thì số tổn thất phải hơn 100 xác giặc… Lô vất cái nón sắt: “Để tao ra thì chết, ai mượn tụi mày níu tao…” Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 9 của Sư đoàn 308 biến khỏi trận địa sau cú kéo tay của Lô không nở chia ly.

Đụng lớn nên Tiểu đoàn 7 được nghỉ một ngày: nghỉ nghĩa là kéo được ra đường, căng chiếc võng ngủ trong những ngôi nhà tan nát của quận Phong Điền, được rờ tay lên mặt nhựa con đường số 1 nhìn về hướng Bắc đỏ lửa, Quảng Trị ở cuối tầm nhìn luôn ầm vang tiếng động.

– Mốt mình đánh Quảng Trị.

– Đánh thì đánh sợ gì. Kontum, Chupao mình còn phá chốt được huống gì ở đây.

Lô và Khôi Nguyên chia nhau hộp bia đầu tiên khi rời những vùng đất nắng cháy – Tiểu đoàn đã ở trong đó hai tháng.

7 giờ tối ngày 28-8, Tiểu đoàn 7 xếp một hàng dọc bò từng người một qua cầu sắt vượt sông Mỹ Chánh, chiến địch tái chiếm Quảng Trị khai diễn. Phải qua hết sông trong 4 giờ, chiếm liền vùng Lương Điền, Tân Trường, Trường Vinh lần đến Nam sông Ô Khê, bám được cái cầu Ngắn thì trời sáng. Một đêm dài đã qua, Tiểu đoàn 7 Dù đến đúng mục tiêu, giữ mặt Nam cho bãi đáp ngày mai của Tiểu đoàn 11 và 9 Nhẩy Dù.

6g30 sáng ngày 29 tháng 7, Tiểu đoàn 9 xuống bãi trước. Tàu thả lộn bộ Chỉ huy Tiểu đoàn cùng Trung đội súng cối xuống vùng cát trắng còn mờ trong màn sương. Thối quá! Hơi người chết ào theo cơn gió xông vào lỗ mũi người lính Tiểu đoàn 9. Trời chưa tỏ hẳn nhưng lác đác trên đồng trống những sọ người trắng rõ, lính vấp phải càu nhàu thứ đá tang thương. Trung sĩ Hùng mang máy cho ông Phú – Cửu Long –Tiểu đoàn trưởng TĐ9, nhặt chiến lợi phẩm đầu tiên: Một đôi giày Map Mỹ…tốt thật, xuất quân thì nhà cháy, còn được mỗi bộ áo quần và 60 đồng bạc, ra Quảng Trị vớ được đôi giày là được an ủi lớn.

8 giờ 30 Tiểu đoàn 11 xuống bãi tiếp. 7 Dù tiến lên bên trái 11; 3 Tiểu đoàn hướng vào một hướng tiến chính, hướng Bắc – Quảng Trị, thành phố mờ nhạt ở xa trong hơi nắng có mùi người chết.

Ngày 4 tháng 7, coi như hoàn tất giai đoạn 1, Tiểu đoàn 3 Dù chiếm xong quận Hải Lăng để đặt Bộ chỉ Huy Lữ đoàn, 7 đến An Thái cách ngã ba Long Hưng 600 thước, 9 vào sát sông Thạch Hãn vùng Phước Môn, Tân Lê và 11, Tiểu đoàn đàn em. Tiểu đoàn sinh sau đẻ muộn vừa hồi sinh sau trận Charlie, rửa mặt lại bằng trận đồi Trần văn Lý ngày 22 tháng 6 với 22 Tăng bị đốt cháy trong đó có một T 50; chỉ huy viên Thượng úy Nguyễn Viết Thương bị xử tử hình sau khi nướng cháy 24 chiến xa mà không giết được Ngụy Dù nào (lời của viên Trung Tá Thiết đoàn trưởng thiết đoàn 81 khi kết tội Thương). Làm sao Thương thắng trận được, y đã gặp Mê-linh Mễ và Thành “râu” cặp uyên ương kiếm của Tiểu đoàn 9 Dù trước khi Mễ còn là đại đội trưởng 91 và Thành 92.. Thương hay bất kỳ một anh Thượng úy ngày nào của Bắc quân cũng không đánh được Mê Linh, Thành Thái, chưa kể thêm con “cua đinh” Nguyễn văn Thức với Chi đoàn I/11 Chiến xa, con cua đinh húc văng mạng vì “xe của tôi không có số de” .

Giai đoạn 1 chấm dứt với thành phần cao nhất là Tiểu đoàn 7, điều nầy không lạ vì Sông Lô là người ở đây, người của vùng nghèo không có một chữ lót để đặt tên, Nguyễn Lô, Trần Toán, Khan Niên, Khan Thởn. Dân Quảng Trị cực đến nỗi không có một chữ “văn” nghe cho êm tai… Đất cơ khổ.

Trông giòng Thạch Hãn

Ngày 6 tháng 7 mở đầu cho giai đoạn 2, giai đoạn “rờ” Quảng Trị. Tiểu đoàn 7 dùng 2 đại đội 71,74 nhất quyết “vồ” Quảng Trị. Lô theo 74. Khôi 71. Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó đều ở “tuyến đầu khói lửa”, hết rồi giai đoạn vàng son của thời “Tiểu đoàn trưởng Nhẩy Dù tắm nước nóng, uống rượu vang, chỉ huy điều động chỉ cần nói qua ban 3 hay Tiểu đoàn phó” . Bây giờ ông phó, ông Trưởng đến ở sau lưng khinh binh tối đa là 3 người, tối thiểu là ngang hàng. Một đại đội trong chiến tranh quy ước không là cái gì hết; chiến trường biến đổi tính chất mau lẹ, không ngừng nghỉ. Đánh vào An Thái thì dùng vận động chiến, lên ở đây thì chỉ còn tác chiến trong thành phố với cá nhân chiến đấu khai triển tối đa… Vì thế nên mới xẩy ra những chuyện khôi hài của đêm 6 rạng 7 khi Tiểu đoàn chiếm xong Đại Nại và đại đội 74 vượt quá ngã ba Long Hưng 600 thước ; đóng quân vì trời tối, thường vụ Đại đội kêu thương binh Bắc Việt dậy đi gác – Ta và địch trộn lẫn với nhau như gạo và đỗ. Ai ở đâu ngủ đó và gắng thức để giữ mạng sống. Đêm 6 rạng 7, Tiểu đoàn 7 chập chờn trong giấc ngủ nôn nóng…Mai là ngày 7 tháng 6, Tiểu đoàn mình số 7…Sao toàn 7 không à, 7 là số tốt, mình là người đầu tiên vào “thành phố” Quảng Trị. Mai dậy xem “nó” như thế nào?

– Thành phố gì đâu? Toàn là nhà đổ và đường bị cày nát, thành phố hơn được nhà quê là đường nhựa và đèn điện, đây chẳng còn gì hết cả…

Chẳng còn gì cả thật. An Lộc cũng đổ nát nhưng An Lộc chỉ là một thị trấn miền rừng, thị trấn nhỏ gồm một dãy phố chìm khuất giữa lòng rừng xanh. Trái lại, Quảng Trị là một thành phố đúng nghĩa, dù nhỏ bé tàn tạ, nhưng thành phố nầy có sức sống, lịch sử và vóc dáng riêng. Thành phố Quảng Trị đã bị xoá tan chỉ còn đống gạch ngói hoang tàn. Thừa thắng “xông ngang”, vì “lên” không được. Ngang lại có lợi hơn, che được phía Bắc cho “thằng” 11. Đại đội 74 từ Long Hưng quẹo ra trái đánh dần ra bờ Thạch Hãn. Trung úy Phi của Đại đội 74 dẫn quân đánh dần vào từng nhà một. Long Hưng – bờ sông chỉ khoảng 400 thước nhưng cũng phải tốn mất 3 ngày…3 ngày đi được 400 thước dày đặc “chốt” là quá giỏi, trái phải, trước sau không được che, di chuyển giữa một “thung lũng” cao ốc tối thiểu cũng do một khẩu đại liên kèm theo hai B40 hoặc một 57ly không giật…Nhưng 9 giờ sáng ngày 6, Phi cũng thấy được giòng sông cạn đáy chảy lờ đờ về hướng Bắc… Bờ sông dốc quá không xuống rửa tay được. Bên kia sông và đầu đường Gia Long những loạt đạn đan kín trời bay đến, Phi lẩm bẩm câu nói trước khi rút lui. Rửa được cái tay ở giòng sông này mà chết thì ngu quá.

Tung quân hoạt động chung quanh Long Hưng, Tiểu đoàn 7 Dù còn mở một con đường cho thằng 2 Trinh Sát của Út Bạch Lan vào Thành nội… Làm được như thế là khá rồi, Khôi Nguyên an ủi Lô sau khi đã thử băng đồng Mai Lĩnh đánh vào Trí Bưu nhưng không được. Cánh đồng mênh mông không hành lang che dấu, bên trái là Mai Lĩnh cứ điểm cứng, Lô có bằng thép cũng không qua khỏi cánh đồng… Nóng thì thua, Khôi Nguyên hạ hỏa cho Lô khi thằng cha nầy buồn vì không băng đồng được.

Khi Hùng móm về nhà

Phía trái của 7 là 11, sau khi đã dọn sạch vùng La Vang, Mễ thấy trước mắt 3 “khách sạn” khốn nạn, Maxim, Majestic, Moderne… Làm sao đánh ? Nhờ mấy đứa con của Hổ Xám đánh thử lên bằng đặc công, hai đêm 7, 8 đại đội xung kích cũng chỉ “ kéo giường kéo chiếu” được chút thì phải de. Tụi khốn nạn nằm chặt phòng ngủ, không đường thối lui, nên tử thủ. Anh Trung úy Đại Đội trưởng xung kích rề rề phê bình. Sáng ngày 9, Mễ dùng “thằng Quảng Trị” đánh ga xe lửa, mục tiêu chót của Tìểu đoàn.

Mầy đến ga, tiễn em đi được thì tao sau nầy mở sâm banh. Mễ dặn Hùng “móm” một lần chót trước khi “thằng Quảng Trị” kéo quân đi. Móm và Trinh ĐĐT 112 lên ga tiễn em. Em thứ dữ, em răng đen mã tấu, em đeo corset bằng đạn AK, em xách ví lựu đạn… “em” là đứa cháu cuối cùng của Bác : Sư đoàn 325 Tổng trừ bị Quân đội Nhân dân!

Hùng gan dạ nhưng cũng rất cẩn thận, đợi đêm men theo đường rầy xe lửa để đến ga tiễn “em” . Nhưng chẳng em nào muốn đi, em đòi ở lại, em bám đầy đường như hàu bám vào ghè đá. Hùng và Trinh cứ thay phiên nhau “tiếp”. Đoạn đường xe lửa dài không quá 500 trăm thước cặp Hùng–Trinh phải “ bò” mất 5 ngày, đúng ra là 5 đêm Hùng dẫn đầu vừa đánh vừa chỉ chỏ… Cái ngã ba xa xa đó là đường Trần Hưng Đạo, đường đó đi vô chợ Quảng Trị, chỗ đó có cái nhà thương… chắc giờ nầy thành nhà ghét rồi, tụi nó thế nào cũng tử thủ chỗ đó… Mẹ cha hắn, có đau lậu đâu mà nằm nhà thương kỹ rứa!!

Hùng chưởi một câu thật buồn cười sau khi suốt ngày 11 cứ tìm cách vào “lấy thuốc đỏ”, nhưng không được… Từ hăng hái vui vẻ của những ngày đầu trên đường về nhà, bỗng nhiên Hùng đổi tánh, la mắng lính như tát nước vào mặt… “Muốn chết phải khôog? Tại sao mi không đào hầm. Tao đánh cho mi chết, hơn để Việt Cộng bắn vỡ sọ mi…!!”

Hùng nói những câu không bao giờ nói, Hùng đổi tánh một cách đáng ngại và thất thường…Điềm đi khuất. Chiến tranh thường có những sự kiện lạ như thế, người biết mình sắp chết và đổi tánh, biết mình sắp chết nên trối trăn. Hùng gọi máy nói chuyện với Liệu (y sĩ Tiểu đoàn):

– Lấy được khẩu K 54 nào thì tôi cho ông.. Liệu ơi, sao moa nhớ mẹ moa quá, hôm ở Charlie về có được mấy ngày phép lại không đi thăm bà… Hết cuộc hành quân nầy moa xin Mê Linh vài ngày để đi Đà Nẵng… Còn 300 thước nữa là moa thấy cái nhà ở lúc nhỏ… Vì thế cứ nhớ bà già!!.

Thảm thương chưa, con chim kêu tiếng bi ai trước khi chết, con người linh thiêng hơn biết tìm chốn quê hương để đi về… Ngày 14-7 Hùng chết, chết cách sân ga 100 thước nơi thuở xưa Hùng đã nhiều lần đứng nhìn con tàu nám đen từ miền Nam đến mơ ước chuyến đi xa. Hùng đã đi xa, đi quá xa đến cuối trời miền Nam, Hùng đã đến hang sâu, núi thẳm của miền Trung và bây giờ Hùng đã trở về. Người tuổi trẻ đi hết đoạn đường khổ nạn của quê hương yêu quí, trở về chết tại nhà xưa.

Hùng chết Trinh nỗi điên dẫn đại đội đánh ngay vào nhà ga…7 giờ sáng ngày 15 Trinh đứng giữa sân ga vắng lạnh… Chẳng có gì cả. Mục tiêu ác liệt của 5 chiến trận là đây, giá mạng sống bằng hữu binh lính là đây, cái sân ga đổ nát bốc bụi mù dưới gió Lào hừng hực thổi.

– Xong rồi, tôi đến ga tiễn em rồi… Em đi rồi. – Trinh báo cáo với Tiểu đoàn đã chiếm xong mục tiêu.

Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù cũng vừa hết nhiệm vụ chỉ còn cái “củ khoai” ngã ba Lê Huấn và Quốc lộ 1. Thủng thẳng cũng được, Mễ nói với Thành bằng giọng nói ướt nhẹp. Mất Hùng “móm”, Mễ đau như mất một cánh tay– Một cánh tay nghĩa đen.. Rồi tiếp theo cái chết của Hébert, “Người bạn của lính Nhảy Dù” danh xưng của “ông già làm báo”, lính TĐ 11 đặt cho Hébert, 48 tuổi, 20 năm trong nghề theo Nhảy Dù từ KonTum vô An Lộc đến Quảng Trị. Không phải chỉ là lương tâm của một phóng viên, Hébert ở với lính Nhảy Dù như một người muốn chia chung khổ nạn.. Au diable le reste! Câu viết chưa ráo mực trên chiếc nón sắt của anh Trung sĩ Olesh đối diện với câu thơ “ngẫu cảm” của lính Dù “Quảng Trị buồn xơ xác bóng người đi” Mảnh đạn 130 ly chém đứt phần sọ, người phóng viên già ngã xuống mồm chưa dứt câu nói “Ce n’est rien mon docteur…” Ổng “đốc” là Liệu vừa chui kịp vào hầm

Trong vùng Cận Sơn

Trên nguyên tắc Tiểu đoàn 9 coi như trở lại với ông già – Lữ đoàn I Nhảy Dù – nhưng vùng trách nhiệm vẫn không xê xích một mảnh kể từ ngày đầu tiên nhận vùng. Nhiệm vụ cửa chàng là ở trong núi. Sư Tử ở núi là đúng. Ông Phú “Râu” hay Phú Cửu Long rất bằng lòng với những đứa con của mình. Moa phải rửa mặt cho Tiểu Đoàn mới được… Có gì cũng là Tiểu đoàn Nhảy Dù, bết hay không là do mình… “Cửu Long” Phú nói với tôi như vậy.

– Đây nầy một đêm nó hạ 15 xe tăng thì còn muốn gì nữa? Moa biết Đại đội Trưởng yếu, Thiếu úy con nít mới có hai năm quân vụ thì kinh nghiệm chiến trường ở đâu… Nhưng mình cứ theo dõi om nó từng điểm một, đặt nó ở cái thế đánh được thì nó đánh phải thắng.

Chiều xuống Cửu Long đi một đường Oral với các đại đội trưởng, bắt đầu từ anh yếu nhất…

– Gài lựu đạn, phục kích tự động chưa ?

– Dạ rồi.

– Đã xin yếu tố tiên liệu pháo binh cho cái thông thủy ở phía tây chưa?

– Dạ rồi.

– Nếu tối nay có đánh giữa tôi và anh thì anh xử trí làm sao?

– Dạ tôi cố tử thủ, nếu không được thì tôi men về phía Tây nơi ông Đường Tam Tạng (Sĩ quan ban ba, đại úy độc nhất của Tiểu đoàn thay Tiểu đoàn phó Nhỏ và coi Đại Đội tác chiến).

Nghe thấy thì buồn cười. Có Tiểu đoàn trưởng nào lại đi quay“vấn đáp” với Đại đội trưởng như vậy nhưng kẹt một điều: đại đội trưởng thực thụ rách áo hết chỉ còn trần xì dầu Thiếu úy. Thiếu úy cỡ Thiếu úy Thắng chưa biết “ấy” như thế nào!! Nhưng dù với giàn đại đội trưởng mỏng manh như thế, Tiểu đoàn vẫn gồng hết cỡ để giữ vững vùng trách nhiệm. Giữ thật chắc đến nỗi mỗi lần muốn đánh, lính cụ Hồ phải huy động tối thiểu chín vị trí súng cối 82 ly. Chỉ một giờ từ 17 đến 18 giờ chiều 9/7 Bắc quân đã rưới vô Tiểu đoàn 2000 quả đạn trước khi xua tăng leo đồi đánh “Cửu Long”, Đ…m hôm nay cho Cửu Long của tụi mầy về Nam! Lính ông Hồ đã nhất quyết vậy…

Nhưng dù bị pháo gần hai mươi vị trí, Cửu Long vẫn tìm cách chỉ định mục tiêu để phi cơ tiêu hủy.

– Bây giờ tôi bắn đạn lửa lên để anh biết vị trí tôi, xong tôi cho khoảng cách và hướng súng của tụi nó để anh dọn giùm.

– OK! bạn ở đâu mà có phương pháp chỉ định mục tiêu hay quá vậy. – Dân tàu bay khen nức nở…

– Dân Hạ Lào mà bạn, không hay không sống được…

Tiểu đoàn 9 dùng hết mánh lới nhà nghề, áp dụng cả chục nguyên tắc tác chiến, những nguyên tắc của sách vở cùng nguyên tắc do “vợ con” dạy. Không học không sống được để về cùng. Ví dụ như châm ngôn đánh Tăng: “Không chắc không bắn. Chưa trúng chưa bắt, bắn trúng bắn bồi”. Phải áp dụng từng điểm một, trật một điểm là đi… đoong. Ví như đêm 6 tháng 7, 15 chiếc lên 5 phía, cứ 3 chiếc một xếp hàng ngang ùa vào… luống cuống chậm chạp một giây là tăng nó cán như con mực.

Khóa hết pháo vùng Tân Lê, Phước Môn thôn Đá Đứng, giữ cạnh sườn cho 11 và 7 Dù một lớp áo giáp “dầy cui” che hết vùng Nam Quảng Trị. Tiểu đoàn 9 Dù lấy lai phong độ sau một thời gian khật khưởng… Đất này hạp với 9 Dù, dân Quảng Trị hồi Mậu Thân đã giọt ngắn giọt dài khi đưa “en” vô Huế. Ba yếu tố, thiên, địa, người, có đủ, thắng trận là chuyện thường. Chuyện phải xẩy đến,

Đoạn đường cuối cùng

Quảng Trị coi như xong. Long Phụng, Lữ đoàn trưởng có thể phủi tay, hút con mèo, đánh bữa cơm rau đay cà ghém trong bình yên, nếu không còn “bàn cờ”, hay cái mâm, hay củ khoai hay cái… khốn nạn nằm sờ sờ trước mặt – Cổ thành, bộ chỉ huy Tiểu khu Quảng Trị. 500 thước mỗi bề dài, hai lớp gạch nung ép một khối đất dầy 5 thước, phía trong lại có thêm một hệ thống hào sâu… Ông Nguyễn Ánh hại “xếp” quá nặng… làm thế nào? với ai và bằng gì? B52 không được phép đánh, pháo binh không có hiệu quả… Long Phụng lại thấy ngày đi quá mau, gần đến ngày giao “nhà” lại, giao lại mà chưa dọn sạch thì coi không được, không thế nào được, chỉ còn một ngày nữa thôi… Quyết định, khẩu lệnh từ Trung tướng Đống đến Long Phụng chuyển liền cho Minh Hiếu (Tiểu đoàn 5) và 18 Đỉnh (Tiểu đoàn 6). Chỉ có một ngày thôi, một lần chót cho đời, phải dọn cho sạch, chấp nhận thiệt hại… lệnh được ngụy hóa cẩn mật trước khi Long Phụng cầm ống liên hợp chuyển bản văn cho Minh Hiếu và 18 Đỉnh – hai Trung tá thực thụ, chuẩn bị thành “anh Sáu” với một tương lai sáng như đôi “xì kít”.

Từ An Lộc trở về, Đỉnh người cứ phừng phùng như say rượu. Ông số một, Tướng Minh, Tướng Hậu đều hứa “thay lon cho em”. Nhưng một tháng hơn rồi, cứ đợi dài cổ, đợi và ngồi chơi xơi nước tà tà…Tiểu đoàn thuộc quyền Lữ đoàn. Từ ngày vào vùng chỉ cứ việc nằm dài và chịu pháo. Làm thế nào hơn được? Trừ bị cho Lữ đoàn 3 đại đội trưởng sáng nhất thì một chết, hai bị thương ; giữ vị trí pháo binh thì bị pháo là cái vốn. Đỉnh ra vào phiền phiền dọc “phố” Hải Lăng. Tiên sư không có được chút thơm thơm để thở… đi đâu ngửi mùi chết đó. Đỉnh dẫn bộ tham mưu đi kiếm sách “Ăng Lê” để học cho đỡ dốt. Thôi thế thì tôi… thế thế thôi. Đỉnh áp dụng đạo “vô vi” trong những ngày nằm Hải Lăng nghe trên 7, 11 Dù cứ “mở sâm banh” liên tiếp.

Hiếu lại bực hơn nữa. Tiểu đoàn hàng đầu, Tiểu đoàn trưởng thâm niên nhất mà 3 tháng An Lộc không đánh được một trận cho đáng tiền, cứ “tử thủ” Cao Sơn (rừng cao su), Xa Cam đến độ trắng nhợt người; ra đến Trị Thiên thì cũng chỉ việc nằm co chịu pháo. Không lẽ mình là nam châm hay sao mà cứ “hút” pháo thế nầy! Ngày 8/7 vừa đến La vang Thượng đã mười mấy con bị thương vì “cái khốn nạn”.

Nhưng 2 Tiểu đoàn không còn cơ hội để “sốt ruột”. Long Phụng đã hạ lệnh “Khôi Nguyên” (TĐ7) de lui một chút, Minh Hiếu (TĐ5) 18 Đỉnh (TĐ6) vào vùng và thanh toán cho xong trước ngày 26, cái “bàn cờ khốn nạn”, Tiểu đoàn 5 và 6 Dù nhập trận.

Từ Hảỉ Lăng, Đỉnh thúc thằng 1 (ĐĐ61) dẫn đầu dọc Quốc lộ 1 men theo củ khoai (chốt ngã tư của đại đội 114/TĐ11) đến ngã tư Quang Trung Duy Tân “bắt tay” Út Bạch Lan (Đại Đội 2 Trinh Sát) để bàn giao sổ sách, xong “oẳn tù tì” xem coi có thằng em nào muốn đi dọn nhà dọc đường Quang Trung.

– Tôi, Trung Tá cho tôi đi – Trung úy Tạo (đại đội trưởng 61) xung phong miễn phải bắt thăm.

Đỉnh hiểu ý„ ưng thuận ngay. Tạo thuộc khóa 9 Thủ Đức, Trung úy từ 1964, xuất thân Tiểu đoàn 6. Tạo cũng là Tạo “đen” tay vô địch quyền Anh hạng lông của những năm 57, 58 ở Đà Nẳng. Tạo bị ra khỏi binh chủng vì cái máu thảo khấu Nhảy Dù của những năm 59, 60 là “kỷ luật thép”. Tạo đi khỏi binh chủng và tuyệt tích giang hồ… 1972 trở lại cấp bậc 10 năm trước. Và giờ đây Tạo phục hận, Tạo đã “rửa mặt” một lần ở An Lộc khi xung phong bằng lựu đạn chưa đủ, bây giờ Đại đội trưởng Tạo muốn chứng tỏ cho đời – ta không thường. Lon Trung úy mười năm đại nạn trời đã định, Tạo muốn cải số trời rửa sạch ngày tháng quân lao, phục hồi lại Tạo “đen” của mười năm trước. Nhưng đúng có một đinh mệnh, định mệnh khốn kiếp và khắc nghiệt. Tạo không thể tránh khỏi được, và cuối góc đường Quang Trung – Phan Đình Phùng, Tạo cùng hai Trung đội trưởng Mạnh, Trị chết ngay ở tuyến đầu, chết cùng khinh binh xung kích, chết trong thành phố lạ giữa một đống gạch ngói tan vỡ, chết trên đường đi xây dựng lại đời.

Đỉnh và Tùng (Tiểu đoàn phó) bỏ vị trí chỉ huy, tung bốn đại đội tác chiến ra khắp bốn hướng. Tránh được pháo và dọn thật sạch.. Tức rồi, thằng Út Bạch Lan một mình làm được không lẽ mình bi “quây” sao? Muốn thế thì cho thế, thế nào cũng được, Đỉnh “Tapi” Bắc quân cạn láng qua mỗi căn nhà, mỗi thước đất. Mậu Thân, Đỉnh đã cùng Tiểu đoàn 9 đánh “sập tiệm” một Trung đoàn 812 tại thành phố này…

Tiểu đoàn 5 cùng Liên đội Biệt cách nhảy dù bước xa hơn đến Tri Bưu – Khu Công giáo thép, nơi người dân không nhượng bộ “lính ông Hồ”. Mậu Thân, Đại đội 94 của Thừa đã sống sót được là nhờ những người dân chỉ một lòng tin ở Chúa của thôn xóm này… Tiểu đoàn 5 vào được Tri Bưu tựa người vào bức thành đá tảng nầy tấn công ngược hướng Lê văn Duyệt, Duy Tân… Mỗi ngày thêm mỗi nhà – Tiêu chuẩn tác chiến của Tiểu đoàn.

Đánh thành

Hai mũi kìm siết chặt từ từ, chậm nhưng chắc, lính của 5 và 6 có thể thấy được từng viên gạch đen mốc của bức tường cổ. Thấy nhưng rờ và leo lên được là một chuyện khó – Chuyện rất khó, rất khó nhưng phải làm cho kỳ được.

6 giờ sáng ngày 25 tháng 7. Chí “bệu” sĩ quan ban 3 của TĐ 5 nói với Trọng Nhi (ban 3 Lữ đoàn):

– Xong rồi, bây giờ mầy cho tao đi.

– Chút nữa thôi, trời còn mờ sáng, chưa có đủ nắng làm sao thấy đường được, hàng họ đầy đủ rồi chỉ còn chờ chút nắng thôi.

Chờ chút nắng, tối hôm qua trời lại mưa lất phất, hơi ẩm lạnh của đêm mưa chưa tan hẳn, lớp hơi nước bốc nhẹ trong không gian, lung linh trên phiến lá mít, đậm nhạt trên bức tường xám. Gió thổi từng cơn mang một vẻ ẩm ướt là lạ. Mùa nầy là mùa gió Lào, gió thổi từng chập ngắn, gió ào hơi lửa vào mặt, xoáy con “trốt” cát chạy lừng lững trên đồng cháy…

Sáng nay mặt trời chĩu nặng bất thường đè lên thành phố… Khói bốc mờ trời. Tố Quyên ngồi đợi giờ xuất quân phì phà tẩu thuốc ngồi “luận” vặt… Nhưng thật ra sau bề ngoài lừng lững lạnh lùng đó, Tố Quyên đang thiết kế, đang “đo” bề dày, độ cứng của bức tường, đang ngửi mùi hỏa tập tiên liệu cận phòng do 130 từ Đông Hà bắn xuống. Tố Quyên cũng đang nghĩ đến cái lầu nước, tháp canh bé con của Bộ chỉ huy Tiểu khu Quảng Trị mà giờ nầy là những “chốt” cứng với đại liên 50, 12 ly 7, yểm trợ thêm 75 ly không giật…

– Một rồi – Chí “bệu” báo cáo về Lữ đoàn khi phi tuần A37 đầu tiên chúi xuống…

Bom đánh ngay bờ thành bốc lên ngọn lửa vàng rực trộn khói đen tạt đến nơi đoàn quân đang chờ đợi… Nóng quá! nóng quá, như ai hơ lửa ngay mặt…

– Có vậy mới tốt! Tiếp đi Chí. – Quyền ngưng rung đùi, nhấc ống píp, nói với Chí câu độc nhất.

Khi Chí đếm được chữ thứ 7 thì Quyền bắt đầu xua quân vào chân thành. Hai đại đội 51, 54 bay qua mặt đường Lê văo Duyệt, Duy Tân, hai mũi giáp công bám bờ tường, theo gạch vụn leo lên… Người lính đầu tiên của ĐB 51 vừa nhú cái nón sắt lên khỏi mặt tường phải hụp đầu xuống lại. Đạn 12 ly7, 50 ly và mảnh 75 ly rơi như vãi gạo trên mặt thành.

– Bám mà lên từng thằng một, lợi dụng những nơi thành vỡ, lên được nằm xuống, đứng là chết. Nằm dựng “cột cờ” càng dễ…

Quyền khôi hài đen một phùa trước khi cất píp vào túi, chơi trò đánh đu với tử thần –Thành ngữ chính xác và sống động diễn tả đúng được một hoàn cảnh. Khi Chí nhìn được một hàng nón sắt và áo rằn ri bò lụp chụp trên mặt thành đổ nát thì đồng hồ chỉ đúng 10g15, Cổ thành Quảng Trị in dấu chân người Quốc Gia lần đầu sau ba tháng nằm trong tay giặc. Tại sao đối phương gọi ta là “Ngụy” ta lại không có quyền phản lại đòn mạnh hơn? Chí “bệu” từ từ báo cáo, thằng cha nầy khi nào cũng rình rang như thân thể.

– Báo với Trọng Nhi là Tố Quyên, mớn được bờ thành rồi.

– Đưa nói chuyện Tố Quyên, Long Phụng vào máy gọi Tố Quyên.

– Bây giờ anh cần gì nữa không? Phải dọn sạch tụi giặc cỏ, lên được đó là tốt nhưng phải diệt ổ trong mới đủ.

– Trình Long Phựug, trong nầy Tiểu khu toàn là nhà của Tây lúc xưa, pháo không có hiệu quả, xin cho bom, Napalm lại càng tốt, tụi tôi chưa đứng thẳng được.

– Có cho anh.

11g50 ba phi tuần phản lực đi một đường sát mái nhà – bom Napalm, chuỗi bom chụp một vòm lửa lên những tòa nhà Tiểu khu cách bờ thành không quá 50 thước. Hay quá, chệch một chút là mình bị “rô ti” chứ không phải tụi nó. Toán quân của hai Đại đội 51 và 54 cùng chung ý nghĩ khi nhìn những trái bom rơi từ từ vào mục tiêu. Sao cứ tưởng như chúng vào mặt mình! Chiến trường lặng tiếng súng trong 40 phút để thực hiện cuộc hỏa thiêu thành xưa.

Về phía Tiểu đoàn 6, Tùng chỉ huy hai đại đội 61 và 64 cùng ập vào chân bờ thành đá, góc đường Duy Tân và con đường hẻm sau đuờng Quang Trung. Vào, ra, vào rồi lại bị dội ngược… Lính Tiểu đoàn 6 đánh say sưa, lính mới, lính chưa biết sợ, lính của vụ “ào mội cái” qua Xa Trạch, An Lộc. Lính căng phồng trong hào hùng của đơn vị mang tâm trạng phục hận.

– Phải chấp nhận thiệt hại, bên Tố Quyên đã xong rồi, anh không làm được hay sao? – Long Phụng “Khích Tướng” Đỉnh.

Đỉnh chớp chớp đôi mắt có những hàng mi cong. Ba quân đang trông vào ta, Tố Quyên là đàn em mình! (Đỉnh khóa 15, Quyền khóa 16).

Đỉnh xin một đứa con của Mê Linh lên trám chỗ, đem thêm thằng 62 là hết Darvon lên tuyến đầu… Darvon là thứ thuốc an thần mạnh hơn APC. APC là tiếng lóng để gọi M113, Darvon là M48… Tinh thần hài hước của quân ta cũng tới nơi, tới chốn. Những chiếc M48 của Thiết đoàn 20 châu hết tất cả mọi nòng súng vào một góc thành bắt đầu nhã đạn. Cứ một chỗ đó mà thôi, quí vị “đục” hộ tôi cái lỗ, phía mình không có bom, chỉ trông vào quí vị… Chi đoàn trưởng chiến xa cũng không mong đợi gì hơn. Lần lui binh bất đắc dĩ của ngày đầu và cuối tháng 4 còn biểu hiệu đó, phải phục thù, chi đoàn chiến xa hung nhất miền Trung mà không đực nỗi cái thành cho nón Đỏ vào sao… Bắn! 8 nòng súng cùng một yếu tố làm auto vào bức tường đen cứng lặng.

Lửa bom, đạn 105, đạn đại bác chiến xa cùng mở một lượt, khu Cổ thành không dứt tiếng động, lớp thành cứng rung rinh, mặt đất ầm ì như cơn địa chấn đang vào độ mạnh nhất. Hai gọng kìm siết từng nấc nhỏ, từng nấc chắc, từng nấc cứng. Những chiếc nón sắt xấn qua mỗi nấc một, đá vỡ, đất tan và bụi đầy… Bờ thành, bờ hào, sân gạch, căn nhà đầu tiên của Tiểu khu Quảng Trị hay của nội thành… Cắm liền một cây cờ, tìm chỗ dễ đễ móc đại lên, đừng đứng phất phất như thằng Tiểu Đoàn 6, nó bắn chết. Sĩ, đại đội trưởng 51 thúc người lính dựng ngọn cờ. Tố Quyên thấy được màu vàng tươi lẫn trong bụi mù, liên lạc máy với Minh Hiếu:

– Xong rồi, có thể cho thằng con của Liên đội Hổ Xám lên giúp một tay dọn cho sạch, nghề chính của tụi nó mà…

Biệt cách Dù bỏ ba lô tại tuyến xuất phát một hàng một, từng người, từng người lăn qua lỗ hổng của bức tường tan vỡ.

12g40, chỉ còn lại một vài tiếng súng rời rạc hoặc lựu đạn nổ bục bục từ những miệng hầm kín cửa… Giặc không chạy nỗi, không thể chạy lên biến thành những anh hùng chết, họ đã chết từ lâu, từ khi cái còng bóp vào cổ chân vang tiểng “tách” khô khan, bên cạnh khẩu đại liên 50 im lìm đen đúa, vật sẽ cùng họ đi hết những ngày chót của cuộc đời…

Mặt trận Quảng Tri của Lữ đoàn 2 Dù chấm dứt, những người hoàn tất trang chiến sử rực rỡ mang một dãy số liên tục. Từ khóa 14 đến 20 trường Võ Bị có một ngắt khoảng: Không có tham dự của khóa 17, riêng khóa 18 trong đó có tôi chỉ là kẻ nghe và thấy, một khách bàng quan – Xin niên trưởng và đàn em cho góp mặt chút nhỏ. Tố Quyên –Bùi Quyền, cựu Liên đoàn trưởng– chắc không nỡ từ chối như huấn luyện viên thể chất của mười năm trước xuống tay mở phúc cho chúng tôi “được” đi bộ miễn chạy từ vòng PRI về đến trường sau bài học đâm lưỡi lê… Lưỡi lê, vũ khí đánh cận chiến hào hùng không được dùng đến trong trận đánh ngày hôm nay – Đây là thời đại lựu đạn – Lựu đạn, vũ khí kinh khiếp còn hơn quả bom….

PNN

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 10  

Ông Trùm được báo cáo đầy đủ chi tiết về Turi Guiliano và lão phục “thằng nhỏ ấy”sát đất. Lão phải thốt lên: “Thế mới đúng là Mafioso thứ rặt nòi”. Lão có ý muốn nói đến những Mafioso theo truyền thống: một tay giang hồ hành hiệp, “giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”, chớ không cần phải bị khiêu khích hay chính mình bị ức hiếp.
Ông Trùm ao ước có chàng thanh niên này làm “quả đấm sắt” cho lão, làm thủ lãnh cánh quân sự của lão. Mặc dù hiện nay Guiliano đang là cái gai đâm vào sườn lão, nhưng lão vẫn bỏ qua được. Hai tên cướp bị giam ở Montelepre – Passatempo tàn bạo và Terranova tinh quái – đã bị bắt với sự thỏa thuận và âm mưu của lão. Nhưng, tất cả những cái đó, lão vẫn có thể tha thứ cho Guiliano được – “Cái gì đã qua thì hãy để cho nó qua luôn, nhắc lại làm gì và nhất là lưu giữ trong tâm trí làm gì cho nó bận trí” – Ông Trùm không có thói quen thâm thù, ác cảm khi những tình cảm này không có ảnh hưởng bất lợi cho lợi ích, tương lai của lão. Lão theo dõi Guiliano rất sát.
Ẩn sâu trong núi, Guiliano đâu có biết là trên khắp nước Ý, tên tuổi hắn nổi như cồn. Hắn đang bận tâm phác họa kế hoạch phát triển quyền lực của mình. Vấn đề đầu tiên của hắn là hai tên cướp khét tiếng Terranova và Passatempo. Hắn hỏi rất kỹ về trường hợp chúng bị bắt và đi đến kết luận là chúng bị phản bội, bị mật báo. Chúng thề rằng tay chân, bộ hạ của chúng rất trung thành. Và nhiều đứa đã bỏ mạng trong cuộc bao vây đó. Guiliano đã suy nghĩ, cân nhắc rất kỹ các yếu tố, nhưng vẫn đi đến kết luận là Mafia đã cài người vào trong đám bộ hạ của chúng và chính bọn “điệp viên hai mang” này đã tiết lộ, đã báo hành tung của chúng để bọn cớm cài bẫy. Guiliano nói điều này cho chúng nghe, nhưng chúng vẫn không tin. Chúng vẫn tin tưởng rằng đã là “Người anh em” – dù có đốn mạt cách mấy đi chăng nữa – cũng không bao giờ phạm luật omerta. Chúng có thể, và dễ dàng phạm luật, giới điều của Chúa, nhưng luật omerta thì không bao giờ. Vì đó là luật sinh tử. Guiliano không muốn nhấn mạnh để chúng tin lập luận của mình. Guiliano chấp thuận cho chúng gia nhập băng của mình.
Hắn giải thích cho chúng hiểu mục tiêu của hắn không phải là sự sống còn của bản thân hắn mà là trở thành một lực lượng chính trị. Hắn nhấn mạnh là tuyệt đối không được hãm hiếp đàn bà con gái, không được cướp bóc người nghèo. Trái lại, một nửa số thu hoạch của băng kiếm được sẽ đem phân phát cho người nghèo trong các thị trấn “khu vực ảnh hưởng” của hắn, từ Montelepre cho đến tận ngoại ô của thủ phủ Palermo. Terranova và Passatempo vẫn có thể giữ lại các “tay em” cũng của mình, nhưng phải chịu sự chỉ huy chung của Guiliano. Những nhóm này không được xé lẻ làm ăn riêng bất cứ vụ nào dù lớn hay nhỏ mà không được sự đồng ý trước của Guiliano. Tất cả bọn chúng đều có quyền cai trị “tuyệt đối” trên khắp các thị trấn lớn nhỏ và ngay cả Palermo. Hắn nhấn mạnh là không được tấn công trước lực lượng cảnh vệ, không phải vì hắn sợ, mà vì hắn không muốn những cuộc tàn sát không cần thiết. Chính bọn cảnh sát dã chiến phải lo sợ cho mạng sống của mình, chứ không phải là băng của Guiliano.
Passatempo, một tên cướp mạt hạng chỉ nghĩ đến cướp bóc, hãm hiếp, tống tiền cò con, giết cả người chăn cừu… nghe Guiliano nói vậy, đã nghĩ thầm trong bung: “Vậy thì đi với thằng này đếch có lợi gì nhiều, có chia chác thì cũng chẳng được bao nhiêu, mà lại gò bó đủ thứ…”. Còn Terranova – tâm địa phần nào cũng giống với Guiliano và nhớ ơn nó đã giải thoát mình – thì tự hỏi: “ Làm thế nào mà một tên cướp trẻ, dù có tài lại có thể lèo lái cả băng đi theo con đường khôn ngoan và cao quý đó được?” Như đọc được ý nghĩ trong đầu của chúng, Guiliano mỉm cười, thấy vui vui vì các ý nghĩ ấy.
Chơi với Turi từ tấm bé, Aspanu còn lạ gì những “tư tưởng lớn” của Guiliano. Nhưng, dù những tư tưởng lớn ấy, có vẻ thơ mộng, lý tưởng, thậm chí điên khùng, thì Aspanu vẫn tin. Bởi vì chính nó đã được chứng nghiệm nhiều lần: một khi Turi nói sẽ làm điều gì thì y như rằng hắn sẽ làm điều ấy. Bởi vậy, khi Turi muốn biến băng cướp thành một lực lượng chính trị, Aspanu không hề thắc mắc, không hề hỏi để làm gì, làm được không.
Trong ánh nắng vàng rực rỡ ban mai chiếu rọi trên núi, cả ba – Pisciotta, Terranova và Passatempo – lắng nghe Guiliano giải thích: hắn sẽ lãnh đạo chúng đấu tranh cho tự do của Sicily, nâng cao mức sống của dân nghèo, hủy diệt quyền lực của bon Mafia, của bọn quý tộc và của ngay cả chính quyền ở Rome. Chúng có thể cười mà cho rằng hắn nói huyên thuyên những vấn đề trên mây trên gió gì đó. Và chúng sẵn sàng, dễ dàng quên những gì hắn nói. Nhưng mà chúng không thể nào quên là hình ảnh tên hạ sĩ cảnh sát chĩa súng bắn vào đầu hắn mà hắn vẫn bình tĩnh, tuyệt đối tự tin và tin rằng mình không thể chết. Hắn nhìn vào họng súng như thể hắn chờ đợi tên cớm lảy cò. Và, nhất là sự tha thứ cho tên cớm đã bắn hụt hắn. Đó chỉ có thể là hành vi của một người tuyệt đối tin vào sự bất tử của mình. Và, hắn đã chia sẻ niềm tin ấy cho người khác. Và, bây giờ, ba đứa đăm đăm nhìn vào khuôn mặt đẹp trai của hắn, chúng lại bị thu hút bởi vẻ đẹp, sự can đảm, sự ngây thơ trong trắng toát ra từ khuôn mặt hắn.
Sáng hôm sau, Guiliano dẫn ba người của mình xuống núi và đi theo con đường mòn dẫn tới cánh đồng gần thị trấn Castelvetrano. Hắn đến rất sớm để dò đường. Cả bọn đều ăn mặc giả nông dân.
Hắn biết các đoàn xe chở lương thực đến các chợ Palermo đều sẽ phải đi qua đây. Vấn đề là làm thế nào chặn được đoàn xe này lại. Chúng phải rảo bước để ngừa những bọ lục lâm khác ra tay trước và đối phó với những tài xế có võ trang.
Guiliano bảo người của mình nấp ở các bụi rậm, tảng đá bên lề đường bên ngoài thị xã Castelvetrano, còn chính hắn ngồi nghênh ngang, khơi khơi trên mỏm tảng đá vôi trơ trụi. Những người đi làm ruộng rẫy nhìn thấy hắn, người nào người nấy sợ tái xanh tái xám. Họ nhìn thấy hắn lăm lăm khẩu súng máy. Guiliano tự hỏi trong số ấy có ai nhận ra hắn không?
Rồi, nó nhận thấy chiếc xe sơn màu sặc sỡ như truyền thống, do một lừa kéo. Guiliano nhận ra lão đánh xe. Lão là một trong những tay đánh xe chuyên nghiệp kiếm ăn đầy ra ở Montelepre cũng như ở tất cả các thị trấn và đồng quê ở Sicily. Lão chở mướn những thanh trẻ từ các ấp bên ngoài thị trấn về các xí nghiệp trong thị trấn. Lão cư ngụ đã lâu tại Montelepre và nhiều lần chở đồ cho ông bố của Guiliano. Guiliano bước xuống giữa đường, tay đong đưa khẩu súng. Dù khuôn mặt không lộ ra, nhưng trong trí lão đã nhận ra hắn ngay trong nháy mắt. Guiliano chào lão lễ độ và thân mật như lúc hắn còn là đứa trẻ nít, và gọi lão là “dượng”.
– Dượng Peppino, – Hắn nói, – Con hên lắm nên người đầu tiên con gặp hôm nay là dượng. Bữa nay con “làm ăn” ở đây. Dượng ở đây chờ chút đặng giúp con chở đồ về giúp cho bà con nghèo.
Hắn ranh mãnh nhìn ông lão ngơ ngác và hắn cười thích thú. Ông lão chẳng trả lời. Lão nhìn chòng chọc vào Guiliano, nét mặt lộ vẻ sợ hãi. Hắn đặt một khẩu súng lên thùng xe và lại cười như nắc nẻ. Bởi vậy, hắn nghĩ rằng người đầu tiên hắn gặp hôm đó là dượng Peppino thì nhất định phải là một ngày may mắn.
Guiliano thưởng thức cái mát lạnh của thời tiết cuối thu, thưởng thức vẻ đẹp của rặng núi xa xa phía chân trời và biết rằng người – theo lệnh hắn – đang núp ở mấy bụi rậm kia với súng máy sẵn sàng yểm trợ. Hắn giải thích cho ông Peppino nghe kế hoạch của hắn. Ông lão nghe, chẳng nói chẳng rằng, nét mặt cũng không đổi. Mãi cho đến khi Guiliano nói cho lão biết là hắn sẽ thưởng cho lão một xe chất đầy lương thực, lão mới lúng túng trong miệng:
– Turi, lúc nào cháu cũng tốt bụng, hào hiệp và tử tế. Ngay từ lúc còn nhỏ, cháu đã vậy. Bây giờ thành người lớn, cháu vẫn vậy, chẳng thay đổi gì cả. Vẫn rộng rãi, từ tâm, dễ thương.
Bây giờ, Guiliano mới nhớ lại là dượng Peppino là người Sicilian theo “trường phái cổ điển”, nghĩa là ưa ăn nói văn hoa.
– Cháu cứ tin ở dượng, – Lão nói tiếp, – Lần này cũng như những lần khác. Dượng thèm được như ông già cháu, có thằng con khá quá hà!
Đến khoảng trưa thì một đoàn ba chiếc xe tải xuất hiện. Chưa qua khỏi khúc quẹo để rẽ về Partinico, thì chúng phải dừng lại. Một dãy xe lừa kéo đậu chình ình giữa đường, choán hết lối đi. Đó là theo kế của Peppino, một người rất được các tay đánh xe trong vùng nể vì.
Tên lái xe đi đầu bóp còi inh ỏi và cứ cho xe từ từ tiến tới, suýt nữa đụng phải chiếc xe lừa cuối dãy. Người đánh xe quay lại lườm gã một cái khiến gã phải tắt máy xe, và kiên nhẫn chờ, Gã biết rõ mấy cha đánh xe này lắm. Tuy chỉ làm cái nghề coi bộ mạt hạng này, nhưng họ rất hãnh diện, tự ái, sẵn sàng “ăn thua đủ” để bảo vệ cái quyền lưu thông của họ đối với các loại xe cơ giới, lơ mơ là “chơi đến cùng, chết bỏ”, rồi bình thản ra đi, miệng còn u ử ngâm khúc dân ca như không có gì xảy ra vậy.
Hai chiếc xe kia cũng ngừng lại. Các tài xế xuống xe. Một trong hai người cũng là người Sicilian nhưng ở miền đông, người kia “ngoại quốc” dù y chỉ là người Bắc (nước Ý). Anh chàng lái xe người Bắc lại gần mấy tay đánh xe, banh cúc áo ngực ra, giận dữ, la hét om sòm về mấy con lừa thổ tả, yêu cầu mấy người đánh xe dẹp đường cho y đi. Y thò tay vào túi. Guiliano nhảy ra khỏi một chiếc xe kéo, hắn cũng chẳng thèm rút khẩu súng tiểu liên của hắn để trên xe mà cũng chẳng thèm rút súng lục ở thắt lưng ra, mà chỉ ra hiệu cho mấy người của hắn nấp ở các bụi rậm, tay cầm vũ khí, chạy tới. Terranova lấy đá chèn bánh chiếc xe thứ nhất để chiếc xe này khỏi nhúc nhích gì được Pisciotta thì lướt qua đường và nhìn trừng trừng vào tên lái xe người Bắc đang nổi giận. Trong khi đó, Pasatempo – nóng nảy hơn Pisciotta và Terranova – lôi người lái xe thứ nhất ra khỏi ca – bin và ném gã xuống dưới chân Guiliano. Guiliano đưa tay đỡ gã dậy, trong khi Pisciotta lùa tên lái xe lên đứng chung với hai đứa kia. Tên người Bắc rút tay không ra khỏi túi nét mặt giận dữ biến thành sợ hãi. Guiliano mỉm cười có vẻ thành thật và vô hại:
– Bữa nay là ngày hên cho cả ba anh. Ba anh khỏi phải đi Palermo nữa. Mấy người đánh xe này sẽ dỡ hàng để phân phát cho mấy người nghèo trong khu vực này, tất nhiên là dưới sự giám sát của tôi. Cho phép tôi được tự giới thiệu, tôi là Guiliano.
Ba anh tài xế lập tức tỏ ra hối tiếc về sự nóng nảy vừa qua của minh,và họ cũng tỏ ra niềm nở, ít ra là bề ngoài. Họ nói họ cũng chẳng vội vã gì, họ còn dư chán thì giờ, và thực ra thì cũng đã đến giờ ăn trưa của họ. Xe của họ cũng tiện nghi lắm. Thật đúng là họ hên, gặp “thần thiện”.
Thấy họ nói vậy, nhưng coi bộ còn có vẻ sợ sệt, Guiliano nói:
– Đừng sợ, tôi không bao giờ giết những ai đổ mồ hôi mình ra để kiếm miếng ăn. Tôi mời các anh dùng cơm trưa với tôi, trong khi chờ đợi người của tôi dỡ hàng, rồi các anh về nhà bình yên với vợ con. Và nói với họ về sự may mắn của các anh hôm nay. Khi bọn cớm có hỏi các anh thì các anh giúp đỡ chúng càng ít càng tốt, như vậy, các anh sẽ được chúng tôi nhớ ơn.
Guiliano ngừng nói. Đối với hắn, điều quan trọng là đừng làm cho họ phải hổ thẹn vì bị khinh ghét. Phải làm sao để cho họ về kể lại cho mọi người quen biết của họ rằng họ đã được đối xử đàng hoàng, tôn trọng, lịch sự. Bởi vì, sau những người này sẽ còn những người khác nữa.
Họ được đưa vào tránh nắng dưới bóng một tảng đá bên lề đường. Họ tự ý đưa súng lục của họ cho Guiliano, chớ không cần phải chờ khám xét, họ bình thản ngồi nhìn những người đánh xe dỡ hàng. Khi những người đánh xe đã chất đầy cứng các xe lừa kéo, mà vẫn còn là một xe tải chưa đụng tới, Guiliano bảo Pisciotta và Passatempo cùng với người tài xế đi phân phát cho những người làm ruộng ở Montelepre. Chính Guiliano và Terranova trông coi việc phân phát thực phẩm trong hạt Castelvetrano và Partinico. Mãi tới tối chúng mới về đến sào huyệt trên núi.
Việc làm đó, Guilino đang trên đường chinh phục được sự ủng hộ của toàn thể những người dân trong vùng, kể cả những người vì lý do nào đó không nhận được lương thực hôm đó. Có đám cướp nào phân phát lại những thứ mà chúng đã cướp được cho dân bao giờ. Ngay hôm sau, báo chí ở Sicily lại rùm beng về chuyện đám anh hùng “Lương Sơn Bạc” này. Chỉ có Passatempo lầm bầm trong bụng là “mệt nhọc cả ngày mà chẳng nước non mẹ gì, chỉ được cái danh hão”. Nhưng Pisciotta và Terranova hiểu rằng băng của chúng có thêm hàng chục ngàn người ủng hộ để chống lại chính quyền ở Rome.

Photo edit by Sơn râu

Có một điều mà tất cả chúng không biết, đó là những xe thực phẩm đó được chở tới kho của Ông Trùm Croce Malo.
Chỉ trong một tháng, những mật báo viên của Guiliano đã cho nó biết là những tay làm giàu nhờ chợ đen chợ đỏ sắp đi đâu, lúc nào, qua tuyến đường nào. Rồi, nào là thói quen của các phú ông, địa chủ các nhà quyền quí và lai lịch của những thằng mạt hạng vẫn thì thọt với các thầy cớm gộc. Nó cũng được nghe bàn tán về những món nữ trang quí giá mà công tước phu nhân Alcamo thường đem ra khoe. Người ta nói là gần như suốt năm, những món nữ trang đó nằm trong két của nhà băng ở Palermo. Và bà ta chỉ lấy ra đeo để khoe của trong những dịp đi dự yến tiệc. Để biết rõ hơn về những món nữ trang ấy – mà Guiliano dự đoán là rất đắt giá – hắn đã phái Aspanu Pisciotta đến lãnh địa Alcamo.
Nằm cách thị trấn Montelepre khoảng 20 dặm về phía tây nam, lãnh địa của công tước Alcamo có vòng tường cao bao bọc, cổng có lính võ trang canh gác. Ngài công tước đã “thuê bao” đám “Người anh em” của Ông Trùm để được đảm bảo rằng bầy gia súc của ngài không bị tỉa dần, lâu đài của ngài không bị bọn trộm cướp thăm viếng và không có bất cứ thân nhân nào của ngài bị bắt cóc. Trong thời buổi bình thường, thì cái giá “thuê bao” đó giúp ngài sống an toàn còn hơn cả Đức Giáo hoàng sống trong điện Vatican.
Khoảng đầu tháng mười một là mùa hái nho của các lãnh địa Sicicly. Vì vậy, các lãnh địa này phải thuê mướn thêm những người ở vùng khác đến. Pisciotta cũng đến xin việc và cũng được mướn làm ở lãnh địa Alcamo. Có đến hơn hai trăm người đàn ông, đàn bà và cả con nít – làm việc trong vườn nho, vừa hái nho vừa ca hát om sòm. Đến trưa thì mọi người được cho bữa cơm, ăn ở giữa trời.
Qua một ngày làm việc mệt muốn đứt hơi vì những giỏ chứa đầy trái nho đen chín mọng, buổi trưa hôm sau Pisciotta ngồi một mình nhìn những người khác tíu tít ăn nói cười đùa. Y chú ý đến một em bưng khay bánh mì từ trong lâu đài đi ra. Em bé này trông kháu đáo để, phải cái hơi xanh, có lẽ do quanh năm chỉ làm việc trong nhà, ít ra ngòai nắng. Em bé ăn mặc nom cũng tươm tất hơn những cô gái nông thôn khác. Nhưng, cái làm cho Pisciotta bực là cái mặt em cứ vác lên, vênh vênh váo váo, ra vẻ ta đây, kênh kiệu không thèm tiếp xúc với ngay cả những đàn bà con gái khác. Pisciotta dò hỏi và được biết em là đứa hầu gái của công tước phu nhân.
Pisciotta thấy ngay em bé này là đối tượng có thể giúp cho y thực hiện mục tiêu hơn bất cứ ai khác. Quá biết cái “máu” của Pisciotta, nên trước khi y ra đi, Guiliano cấm ngặt y không được bờm xơm, chọc ghẹo lỗ mãng, làm nhục đàn bà con gái địa phương. Nhưng, Pisciotta cho rằng Guiliano quá ư lý tưởng, quá ư ngây ngô, đếch biết sự đời. Nữ trang quí và đắt quá! Đồng ý. Nhưng em này cũng kháu quá chứ, bỏ qua rất uổng!
Khi con bé trở lại với một khay bánh mì khác, Pisciotaa đứng dậy, làm điệu tài tử giằng lấy khay bánh bưng giùm em. Thoạt tiên, em giật mình, rồi cự nự. Khi Pisciotta hỏi tên, em nguýt một cái, kèm theo tiếng “xí” đầy khinh miệt và ngoe nguẩy quay đi. Pisciotta đâu phải tay vừa. Y đặt khay bánh xuống, túm chặt hai cổ tay em, nhìn chòng chọc vào hai mắt em, mỉm cười ranh mãnh:
– Khi anh hỏi thì cưng phải trả lời, nếu không, anh quẳng vào cái núi nho kia cho mà chết ngộp.
Rồi nó cười lớn để tỏ cho em biết là nó giỡn. Sau đó, mỉm cười rất duyên dáng – nụ cười duyên của Pisciotta làm cho bao nhiêu con tim thổn thức rồi – và bằng giọng nói duyên dáng nhất y nói:
– Em là cô gái đẹp nhất ở Sicily mà anh được thấy, anh phải nói chuyện với em mới được.
Con bé vừa sợ lại vừa khóai. Vả lại, nó cũng chú ý đến con dao Pisciotta cài ở thắt lưng. Nó cũng thấy cái cách xử sự của Pisciotta cứ như thể là một ông công tước thứ hai, nghĩa là vừa thân mật vừa oai nghiêm. Bấy giờ con bé mới thấy Pisciotta trông cũng ngồ ngộ. Và, nó nói cho y biết tên mình là Graziela.
Đến lúc hết giờ làm việc, Pisciotta liều lĩnh gõ đại phía cửa của nhà bếp lâu đài. Một mụ sồn sồn mở cửa ra, nghe y hỏi Graziela, mụ nói cộc lốc:
– Đầy tớ nhà này không được phép tiếp khách – rồi mụ đóng sầm cửa vào mặt y.
Ngày hôm sau, Pisciotta lại bưng khay bánh cho Graziela và nói nhỏ với em bé là y gặp em sau giờ làm việc. Vừa vuốt cổ tay em, y vừa luồn vào đó một chiếc lắc vàng. Em hứa sẽ chuồn ra gặp y vào lúc tối tại vườn nho, sau khi sửa soạn giường cho bà công tước xong.
Đến tối, Aspanu diện áo sơ – mi lụa may thật khéo tại Palermo. Khi Graziela tới, y ôm chặt lấy em. Khi em ngửa mặt lên nhìn, đôi môi he hé cười, thì Pisciotta gắn chặt đôi môi của mình vào. Và một tay ép sát Graziela vào người, tay kia “soạng” ngay bắp vế em. Con bé hơi nhổng mông ra để khỏi sát vào nó, nhưng tay nó cứ ép chặt. Trong khi đó môi nó vẫn không rời môi em. Hai đứa hôn nhau thật lâu, thật mùi mẫn. Và thằng láu cá ấy đốt giai đoạn. Nó ngạc nhiên vì thấy em mặc silíp bằng lụa. Pisciotta nghĩ bụng: “Con quái non này gớm thật, dám lấy đồ lót của công tước phu nhân để mặc đặng khoe với mình đây. Con quái non này nhí nhảnh, táo tợn và cũng từng trải gớm”.
Pisciotta đỡ em xuống tấm mền y đã trải sẵn ở đó. Hai đứa nằm xuống. Em chủ động hôn nó như điên trong khi hai tay nó sờ soạng tới tấp trên ngực và bắp vế em. Y cảm thấy ngực và bụng em phập phồng, giục giã dưới làn áo lụa mỏng. Hai đứa vẫn cứ gắn chặt đôi môi vào nhau, nhưng Pisciotta đã lăn lên trên người em. Y cảm thấy thân thể em như sóng gợn dưới thân thể của y, và y cũng cảm thấy bồng bềnh. Pisicotta thầm nghĩ “Mục đích chính của y là moi tin tức về món nữ trang của bà công tước. Nhưng kết quả tức thời không phải là không “đã”.”
Hai đứa quấn mền và ôm nhau chặt cứng. Pisciotta ba hoa với em: y đi làm thế này vừa để vận động tay chân, vừa để có tiền đi học đại học, rằng gia đình y muốn y học luật nhưng y lại thích học khoa học. Y muốn em tưởng là đã vớ được món bở. Rồi y gạ gẫm về chính em, chẳng hạn như em có thích việc làm hiện nay của em không, ai trong đám gia nhân là người bạn thân nhất của em. Và Pisciotta khéo léo hướng em đến chỗ nói về công tước phu nhân. Em đã tả bà công tước mặc quần áo, đeo nữ trang vào, nom bà đẹp như thế nào, em đã được bà chủ cưng như thế nào và bà đã cho em những đồ lót của bà thải ra như thế nào. Vừa nói em vừa lấy bàn tay của Pisciotta đặt vào giữa hai bắp vế của em rồi kẹp chặt lấy. Được thể, nó lấy tay day day. Nhột quá, em cười rú lên.
– Bà bá tước có cho em đeo nữ trang của bà không? – Pisciotta thủ thỉ bên tai em. – Giá anh mà được nhìn thấy em đeo nữ trang của bà, thì chắc anh phải tưởng em là tiên giáng trần mất.
– Có chứ, – Graziela kiêu hãnh đáp, – buổi chiều hôm trước lễ Giáng Sinh là bà cho em mang sợi dây chuyền của bà suốt cả buổi.
Vậy là đúng như Guiliano dự đoán, nữ trang được đem về nhà vào những dịp lễ tết. Pisciotta cũng muốn biết thêm vài chi tiết nữa, nhưng thình lình em nhỏm dậy, ngồi chồm hỗm lên người nó, rồi cứ thế day tới day lui. Nhột quá, Pisciotta nhỏm dậy, em vùng lên chạy. Hai đứa đuổi giỡn nhau đến chỗ đống nho thì cả hai đều té nhào vào đống nho.
– Không khí mát mẻ này thật dễ chịu. – Pisciotta nói. – Nhưng khi nào anh đến phòng em được thì mới thoải mái!
– Trong lúc ngài công tước ở nhà thì không thể được, – Graziela đáp, – Chỉ khi nào ngài công tước đi vắng, thì kỷ cương trong nhà mới hơi nới ra chút. Tháng sau, trước lễ Giáng Sinh ngài sẽ đi chừng vài tuần.
Aspanu mỉm cười. Bây giờ thì nó đã có đủ tin tức cần thiết. Nó rất chú ý đến công việc sắp tới của nó. Nhưng, thình lình nó lại ôm chầm lấy Graziela…
Năm ngày trước lễ Giáng Sinh, Guiliano, Pisciotta, Passatempo và Terranova chen chúc nhau trên một chiếc xe lừa kéo đến cổng lãnh địa Alcamo. Chúng ăn mặc như những nông dân khá giả đi săn. Tên gác cổng lãnh địa chặn chúng lại. Vì là giữa ban ngày ban mặt nên lính gác cũng lơ là, không cảnh giác, có súng nhưng đeo toòng teng trên vai.
Guiliano mau lẹ rảo bước đi về phía hai tên gác cổng. Hắn không võ trang, ngoại trừ khẩu súng lục cài trong người, bên ngoài phủ áo. Hắn mỉm cười làm thân với hai tên lính gác và trịnh trọng nói:
– Thưa quí huynh, tôi tên là Guiliano. Hôm nay tôi đến xin công tước phu nhân tiếp kiến và ban cho ít phẩm vật cứu trợ dân nghèo để họ ăn mừng lễ Giáng Sinh.
Nghe tên Guiliano, hai tên lính gác vừa kinh ngạc vừa sợ, cứ đứng ngây người ra. Ngay lúc đó, Pisciotta và Terranova chĩa súng lục vào chúng, Pisciotta tước súng và đẩy chúng lên thùng xe đóng chặt cửa lại. Teranova và Passatempo được để lại canh hai tên lính gác và canh chừng động tĩnh bên ngoài.
Để đi tới tòa lâu đài, phải đi qua một sân rộng có lát đá, ở một góc sân, có một bầy gà con tíu tít bên một mụ già đang rắc lúa cho chúng. Cách đó có mấy đứa con nhỏ của công tước đang chơi dưới sự trông coi của một bà bảo mẫu già. Phía bên kia vườn là một khoảng đất trống, rộng, trồng cây ăn trái và cây ôliu. Trong vườn có sáu người đang làm việc. Guiliano có Pisciotta đi bên cạnh, rảo bước đi về phía lâu đài. Những tin tức mà hắn nhận được thật chính xác. Guiliano rung chuông, nhưng không đợi người ra mở cửa. Hắn mở cửa vào đúng lúc người đầy tớ gái ra mở cửa. Graziela giật mình vì sự xuất hiện của Pisciotta ở ngay trước cửa. Guiliano nói nhỏ nhẹ:
– Đừng có báo động. Vào bẩm với lệnh bà chúng tôi là người được đức ngài công tước sai về đây có chút việc. Tôi có điều muốn bẩm với lệnh bà.
Hãy còn bối rối, nhưng Graziela cũng dẫn hai người tới phòng khách, ở đó, công tước phu nhân đang đọc sách. Ra hiệu cho đứa tớ gái lui, phu nhân có vẻ hơi bực vì nó đã dẫn khách vào mà không bẩm cho bà trước. Bà nghiệm giọng nói:
– Quan lớn đi vắng, các người muốn gì đây?
Như thể bàng hoàng trước vẻ đẹp sang trọng và lộng lẫy của phu nhân và của cả căn phòng, Guiliano đã không trả lời bà ta được. Đó là căn phòng rộng lớn mà hắn chưa từng thấy bao giờ và quái lạ hơn đối với hắn, là căn phòng này lại hình tròn và rộng hơn cả một quảng trường nữa. Cửa sổ kiểu Pháp treo màn thêu kim tuyến. Trên trần có hình nổi hoa văn và các thiên thần. Nơi nào cũng la liệt những sách: trên các kệ sách đã đành mà cả trên bàn cà phê, trên ghế tràng kỷ… Những bức họa sơn dầu khổ lớn treo trên tường. Những hình hoa lớn khắp nơi. Những hộp mạ vàng, mạ bạc rải rác trên mặt bàn chân quì đặt trước những ghế bành lớn. Phòng có thể chứa trên trăm người. Ấy thế mà trong lúc này lại chỉ có một người đàn bà đẹp. Bà ta mặc đồ bằng lụa. Ánh sáng mặt trời, không khí và tiếng cười trong trẻo thơ ngây của các cậu ấm cô chiêu lọt vào qua cửa sổ. Lần đầu tiên Guiliano mới hiểu thế nào là sức quyến rũ của sự giàu sang, mới hiểu rằng thế lực của kim tiền lại có thể làm ra nhiều thứ đẹp đẽ sang trọng như thế này. Và hắn lại tự nhủ phải chống lại bất cứ kẻ thô lỗ, tàn bạo nào đang tay phá hủy cái đẹp, cái sang trọng này, dù không phải là của hắn. Hắn sẵn lòng làm bất cứ điều gì hắn có thể làm được, để khung cảnh đẹp đẽ này không bị sứt mẻ.
Kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời, công tước phu nhân cũng xúc động trước vẻ đẹp hùng tráng của người thanh niên này. Bà thấy rõ sự xúc động của hắn trước vẻ đẹp và sự sang trọng của căn phòng. Bà nghĩ thật đáng tiếc hắn lại tỏ ra quá sức quê mùa, vụng về. Cũng phải thôi, bởi vì từ thuở cha mẹ sinh đẻ đến giờ chưa có lần nào hắn được đặt chân đến những nơi như thế này, được giao tiếp với giai cấp thượng lưu, mà trong những trường hợp như thế này, sự vuốt ve, tán tỉnh chẳng những không bị coi là khiếm nhã, mà còn được coi là một tác phong phải có. Nhìn cái vẻ ngơ ngác của Guiliano lộ qua khuôn mặt đẹp trai của hắn, công tước phu nhân vừa buồn cười vừa thấy tội nghiệp cho hắn. Bà đổi giọng bà lớn thành giọng dịu dàng, thân mật, gia đình:
– Này, cậu em, tôi xin lỗi, nếu cậu em đến đây để bàn chuyện làm ăn trong lãnh địa thì để khi khác nhé. Lúc này, ông nhà tôi không có nhà.
Guiliano nhìn vào bà ta. Hắn cảm thấy sâu sắc sự đối nghịch mà một thằng đàn ông nghèo cảm thấy, khi đối diện với một người đàn bà giàu có, mà bằng một cách nào đó, chỉ cảm thấy chứ không thể diễn tả bằng lời sự khẳng định của bà ta hơn hẳn về mặt tài sản và địa vị xã hội. Hắn lễ phép cúi đầu, chú ý đến cái chuông nhỏ (để gọi người hầu) kế bên tay bà ta, rồi cười thầm trong bụng và bắt đầu nói bằng một giọng vừa chế giễu vừa phục tùng:

Photo edit by Sơn râu

– Kính bẩm lệnh bà, tôi có điều muốn thưa với chính lệnh bà, tôi là Guiliano.
Nhưng cái dáng bộ khúm núm tuy có vẻ giễu cợt của hắn chẳng có nghĩa lý gì đối với công tước phu nhân. Vì bà ta đã quá quen với những cử chỉ khúm núm, lụy phục của đám gia nhân đầy tớ. Bà ta coi cử chỉ khúm núm của người khác trước mặt bà ta là hòan toàn tự nhiên. Bà là một người có văn hóa cao, có học thức, thích âm nhạc, ham đọc sách và hòan tòan dửng dưng với những việc hàng ngày ở Sicily, vì bà coi nó như đồ mọi rợ. Cũng rất ít khi bà đọc báo của ngay cả Rôme. Bà đọc báo của London, của Paris. Bởi thế, khi nghe Guiliano xưng danh, theo phép lịch sự, bà cũng đáp lại:
– Rất hân hạnh được biết cậu. Ta đã gặp nhau ở Palermo phải không nhỉ? – Bà không nói gặp nhau ở London hay Paris và ngay cả ở Rome bởi vì bà nghĩ bụng: “Cái ngữ này thì Palermo đã là thiên đường của nó rồi” – Hay là ta đã gặp nhau ở nhà hát nào nhỉ?
Nhìn và nghe đối đáp giữa Guiliano và công tước phu nhân, Pisciotta đã cố bấm bụng, nhưng không thể nín được nữa, nó phá ra cười hô hố và đi ra phía cửa sổ giả bộ nhìn xuống sân, nhưng thực ra là để xem có đứa gia nhân đầy tớ nào chạy tới không.
Guiliano bực mình vì tiếng cười của Pisciotta, còn công tước phu nhân thì ngạc nhiên. Nhưng Guiliano lại lấy làm thích thú vì phu nhân không biết hắn là ai. Hắn nói một cách nghiêm chỉnh:
– Kính bẩm lệnh bà, ta chưa hề gặp nhau bao giờ. Tôi là một tên cướp. Tên đầy đủ của tôi là Salvatore Guiliano. Tôi cứ đinh ninh mình là tay vô địch ở Sicily này và ai cũng biết tiếng kia đấy. Mục đích của tôi đến xin yết kiến lệnh bà hôm nay là xin lệnh bà mớ nữ trang của lệnh bà đặng cho người nghèo để họ có cái ăn mừng lễ kỷ niệm Chúa Giáng Sinh.
Công tước phu nhân mỉm cười trong bụng khen hắn đóng kịch có “thần”, vì bà vẫn không tin hắn là tên cướp. Phu nhân còn trẻ, rất trẻ. Khuôn mặt đẹp trai và thân thể cường tráng của chàng trai này đã khiến cho công tước phu nhân cảm thấy con tim xao xuyến, cơ thể rạo rực, thèm khát một cách mãnh liệt khác thường. Sự liên tưởng tới những khoái cảm xác thịt mà phu nhân hình dung ra khi được cùng chàng trai này ân ái đã khiến cho mạch máu trên đầu phu nhân nảy tưng tưng và làm cho ngực phu nhân thở dồn dập, phập phồng. Phu nhân liếc nhìn Pisciotta, rồi liếc nhìn Guiliano và tiếc rẻ: giá không có cái thằng ria mép mắc dịch kia thì có lẽ phu nhân đã không kìm hãm nổi lòng xuân phơi phới của mình. Công tước phu nhân chợt tỉnh cơn mơ khóai lạc vì cái ý tưởng tên cướp đã trở lại đầu óc bà. Không, bà thầm nghĩ, thằng thanh niên có bộ ria mép thô lỗ kia thì có thể, chớ chàng thanh niên tuấn tú xưng danh là Guiliano này không thể là mối nguy của bà. Và bà cũng thoáng cảm thấy bóng dáng của sự nguy hiểm pha lẫn sự ngạc nhiên và hiếu kỳ. Bà nghĩ: “Lại có một chuyện vui và hồi hộp để kể trong một bữa tiệc nào đó ở Palermo”. Bởi vậy, bà mỉm cười ngây thơ và nói:
– Tiếc quá, nữ trang tôi để cả ở Palermo rồi. Tại két trong nhà hiện nay, cậu muốn lấy gì thì lấy, tôi sẵn lòng.
Trong đời, chưa có ai nghi ngờ lời nói của bà. Ngay từ lúc còn nhỏ, bà cũng đã không hề nói dối bao giờ. Đây là lần đầu tiên. Thế mà bà nói cũng khá tự nhiên. Nhưng, cũng không qua được con mắt của Guiliano. Hắn nhìn chuỗi kim cương đang đeo ở cổ bà. Hắn biết là bà nói dối, nhưng hắn cũng đang phân vân chưa biết phải làm gì. Hắn gật đầu ra hiệu cho Pisciotta. Thằng này đưa hai ngón tay lên, bóp chúm môi dưới lại và “hoét hoét” lên mấy tiếng. Một hai phút sau đã thấy Pasatempo thập thò ngoài cửa sổ. Cái vóc dáng mập lùn và thô kệch, cái mặt đầy thẹo ngang dọc nom dữ dằn gớm ghiếc, cả khuôn mặt bành bạch như cái thớt, nhưng lại hầu như không có trán, nom rất cổ quá, dị dạng mà ngay cả mặt nạ búp bê cũng không có, mái tóc đen, cứng tua tủa. Lởm chởm, cặp lông mày chổi sể trùm bên trên đôi mắt ốc nhồi khiến hắn giống như con khỉ đột.
Sự xuất hiện của tên cướp thứ ba với hình dạng kinh khủng gớm ghiếc như vậy đã khiến cho công tước phu nhân khiếp đảm. Bà run run tháo sợi dây chuyền cẩn kim cương đang đeo ở cổ ra và trao cho Guiliano:
– Đây, cậu đã bằng lòng chưa?
– Kính bẩm lệnh bà, chưa, – Guiliano vẫn nhỏ nhẹ. – Nhưng tôi cũng xin bẩm để lệnh bà rõ: tôi là người có từ tâm. Tuy nhiên mấy “Người anh em” của tôi đây thì khác. Anh Aspanu của tôi đây, coi đẹp trai vậy đó nhưng ác không thua gì bộ ria mép của anh ta. Bộ ria ấy đã làm cho biết bao con tim tan nát rồi đấy. Và cái tên đang đứng ngoài cửa sổ kia, tuy là bộ hạ của tôi thật, nhưng nó cũng làm cho ngay cả tôi đây nhiều phen cũng hết hồn và đem lại nhiều cơn ác mộng. Lệnh bà đừng để tôi thả lỏng chúng nó. Chúng sẽ nhào vô vườn của lệnh bà như bầy diều hâu vồ gà con để mời mấy công tử lên núi nghỉ mát chơi ít ngày. Thôi, xin lệnh bà vui lòng đem tất cả hộp nữ trang của lệnh bà ra đây.
Công tước phu nhân chạy như bay vào phòng ngủ và chỉ ít phút sau trở lại với hộp nữ trang trên tay. Phu nhân cũng nhanh trí khôn và nhanh tay giấu vội vài món đắt giá nhất trước khi bưng cả hộp ra ngoài. Phu nhân trao hộp đó cho Guiliano. Hắn nhận một cách hết sức lịch sự, và quay về phía Aspanu, nói:
– Aspanu, có lẽ trong lúc vội vã, lệnh bà còn làm rớt hoặc bỏ sót một vài món chăng. Xinh lệnh bà cho phép nó vào phòng xem lại chút cho chắc chắn.
Hầu như ngay lập tức Pisciotta đã tìm được mấy món nữ trang mà công tước phu nhẫn đã giấu.
Trong khi đó, Guiliano mở hộp nữ trang ra. Tim hắn muốn nhảy ra ngoài khi nhìn thấy những viên ngọc quí. Hắn biết là giá trị của cái hộp này đủ nuôi tất cả dân thị trấn Montelepre trong cả năm ròng chưa hết. Một nguồn vui lớn khác nữa là đức ngài công tước đã sắm được những món nữ trang này bằng cách bóc lột công sức, mồ hôi của biết bao nông dân trong bao năm trời. Nhìn thấy công tước phu nhân thu thu hai bàn tay vào nhau như có vẻ e lệ, Guiliano đã chú ý đến chiếc cà rá ở ngón tay đeo nhẫn của bà:
– Kính bẩm lệnh bà, – Hắn vẫn giữ giọng vừa giễu cợt, vừa khúm núm, e dè, – Tại sao lệnh bà lại dại dột đi giấu mấy món kia? Kẻ hèn này tưởng là chỉ có mấy thằng khố rách áo ôm, mấy tên nông dân ngu muội mới làm nô lệ cho tài sản của mình chứ? Thế mà sao lệnh bà lại liều tấm thân ngọc ngà của mình và thí mạng cả mấy công tử chỉ vì mấy món nữ trang vô tri này. Có mất mấy cái của này thì lệnh bà cũng chẳng thiệt hại nhiều hơn đức ngài công tước làm mất một cái mũ đội trên đâu. Thôi, đừng có lôi thôi, om sòm lên làm gì, xin lệnh bà vui lòng trao nốt cho tôi chiếc cà rá đang đeo trên tay lệnh bà kia kìa.
– Xin các cậu hãy thương tôi, – Bà sụt sùi khóc, – Hãy để lại cho tôi cái cà rá này. Nó chẳng đáng giá gì nhiều, nhưng là vật kỷ niệm đính hôn của vợ chồng tôi. Tôi xin bù lại bằng một món tiền. Tôi không thể nào chịu nổi nếu không có nó. Lòng tôi tan nát, nếu không có nó.
Pisciotta cười khẩy. Y cố ý cười như vậy, vì y sợ Turi có thể động lòng trắc ẩn, mềm lòng vì nước mắt đàn bà để cho bà ta giữ lại cái cà rá hiển nhiên là rất có giá ấy.
Nhưng Guiliano đâu có mủi lòng kiểu ấy. Pisciotta nhớ mãi ánh mắt của Turi khi hắn nắm lấy bàn tay run rẩy của công tước phu nhân và tháo cái cà rá ra. Khi quay trở lại hắn liền đeo chiếc cà rá ấy vào ngón tay út bàn tay trái của hắn.
Turi nhìn thấy công tước đỏ mặt lên vì tức giận và đôi mắt ngấn lệ của bà ta. Cung cách của hắn lại trở nên khúm núm e dè một cách giễu cợt. Giơ bàn tay có đeo chiếc cà rá lên, hắn nói:
– Để luôn tưởng nhớ đến lệnh bà, tôi xin long trọng hứa với lệnh bà rằng tôi sẽ không bao giờ bán cái cà rá này trong bất cứ trường hợp nào, và cũng không cho bất cứ ai. Tôi sẽ luôn mang nó trong tay tôi.
Công tước phu nhân muốn thấy cái vẻ châm biếm, chế nhạo trên khuôn mặt hắn. Nhưng không, hắn rất trang trọng.
Nhưng, đó là giây phút thần kỳ đối với Turi. Bởi vì khi đeo chiếc cà rá ấy vào ngón tay, hắn cũng thấy quyền lực qua đó mà ùa tràn, thâm nhập vào hắn. Với chiếc cà rá ấy, hắn có cảm tưởng đã kết hôn với chính thần số mệnh. Đó là biểu tượng của quyền lực mà hắn đã thâu đoạt được từ thế giới của bọn nhà giàu. Viên ngọc xanh đậm viền vàng ấy hãy còn vương mùi thơm của người đàn bà ngọc ngà đã mang nó luôn trong mình từ bao năm qua chính là lời tuyên bố rõ ràng và dứt khoát rằng hắn, Turi Guiliano đã nắm được cái tinh túy của đời sống mà trước đó hắn chưa từng được biết, và cái đời sống ấy là của chính hắn hiện nay và sau này.
Ông Trùm Croce lẳng lặng ngồi nghe.
Ngài công tước Alcamo đang phàn nàn ra ý phiền trách chính bản thân Ông Trùm. Ngài đã chẳng phải trả tiền “thuê bao” hàng năm cho đám “Người anh em” để chúng đảm bảo không đụng chạm đến tài sản của ngài đó sao? Thế mà bọn đó lại chẳng đảm bảo được? Tại sao sự thể lại xảy ra như vậy? Thời xưa ấy hả, đố thằng nào dám vuốt râu cọp. Và bây giờ, liệu Ông Trùm có đủ sức để truy tìm cho ra và thâu hồi trả ngài mớ nữ trang kia không? Ngài công tước đã báo vụ cướp này cho nhà cầm quyền, mặc dầu ngài biết là vô ích và còn có thể làm cho Ông Trùm phiền lòng. Nhưng, chẳng thà làm vậy mà còn có chút ít hy vọng may ra vớt vát được chút gì chăng. Vả lại, có như vậy thì may ra chính quyền ở Rome mới để tâm đến cái “họa” Guiliano này một cách thích đáng hơn, đúng mức hơn.
Ông Trùm cũng nghĩ rằng đã đến lúc phải coi Guiliano là một vấn đề nghiêm trọng. Lão thủng thỉnh nói với ngài công tước:
– Nếu tôi lấy lại được những món nữ trang đó thì ngài có vui lòng chi một khoản tiền bằng giá trị một phần tư những món ấy không?
Ngài công tước trợn tròn đôi mắt, ngạc nhiên, rồi nổi xung la lớn:
– Trước hết, ta đã trả đủ cho các người số tiền “thuê bao” để đảm bảo an toàn tánh mạng và tài sản của gia đình ta. Thế mà mấy người đã không đảm bảo được. Đúng ra mấy người phải bồi thường thiệt hại cho ta, chứ lẽ nào còn dám mở miệng đòi ta tiền chuộc là làm sao? Trong công việc kinh doanh, làm ăn mà mấy người ăn nói đảo điên như vậy thì liệu mấy người dám hy vọng có được sự tín nhiệm của khách hàng nữa hay không?
– Tôi phải công nhận ngài có lý. – Ông Trùm gật gù đồng ý, – Nhưng ngài nên coi Salvatore Guiliano như một thiên tai. Chắc chắn ngài sẽ không trông đợi “Người anh em” bảo vệ ngài khỏi các thiên tai như động đất, núi lửa, lụt lội… Nếu có ai dám đảm bảo kiểm soát, kiềm chế được thiên tai thì tôi cũng dám bảo đảm với ngài là sẽ kiểm soát, kiềm chế được Salvatore Guiliano. Nhưng thôi cứ gạt chuyện thiên tai đó đã, cho đến khi nào kiểm soát, kiểm chế được thì sẽ tính. Bây giờ hãy tính chuyện thực tiễn trước mắt đây. Xin ngài nghĩ coi: nếu ngài chịu chi số tiền đó thì tôi mới có phương tiện để thương lượng dàn xếp. Và tôi cũng đành phải chịu thiệt thòi để chia sẻ cái xui xẻo của ngài bằng cách ngài khỏi trả tiền “thuê bao” cho năm năm tới mà tôi vẫn phải đảm bảo an toàn chongài như từ trước đến nay. Đồng thời tôi cũng phải thương lượng để trong khoảng thời gian đó, Guiliano cũng đồng ý không làm phiền ngài nữa. Vả lại sau vố này, hắn sẽ chẳng làm gì nữa, nếu ngài đủ khôn ngoan để cất giữ những món nữ trang quí giá ấy trong két của nhà băng ở Palermo? Các bà thì cứ ngây thơ lắm kia, họ đâu có biết rằng cái thói dâm đãng và lòng tham lam là những động lực mạnh – đến nỗi hầu như không thể cưỡng lại được – đã thúc đẩy bọn đàn ông lăn xả vào chém giết nhau để giành giật lấy của cải vật chất đời này? – Lão ngừng một chút, nhếch mép cười khi thấy vẻ thất vọng lộ trên khuôn mặt ngài công tước, rồi lão tiếp tục thủ thỉ: – Nếu ngài tính số tiền “thuê bao” để bảo vệ lãnh địa này cho năm năm sắp tới trong lúc mỗi ngày mỗi thêm nhiễu nhương thì ngài sẽ thấy, qua cái rủi ro này, ngài thiệt hại cũng chẳng đáng là bao.
Ngài công tước suy nghĩ, đã thấy Ông Trùm hòan toàn có lý về cái thời gian nhiễu nhương sắp tới đây. Hậu chiến mà. Nhà máy, xí nghiệp bị chiến tranh tàn phá, hàng triệu lính giải ngũ về, công ăn việc làm không có, mà thằng nào cũng quen bắn súng rồi, có thằng chết hụt đã dăm phen rồi, thì cái gì mà chúng chẳng dám liều. Như vậy, cái món tiền chuộc nữ trang so với tiền “thuê bao” năm năm sắp tới… tính coi… ngài công tước thấy cũng khá lớn chớ đâu phải ít. Vả lại, ai dám đảm bảo Ông Trùm sẽ sống được hết năm năm đó. Nửa chừng lão “đứt bóng” thì sao? Hoặc giả ai dám đảm bảo là Guiliano sẽ không quay trở lại làm vài ba vố nữa? Nhưng chẳng thà mất vậy còn hơn mất hết. Cái điều kiện Ông Trùm đưa ra dù sao cũng là cuộc mặc cả có lợi nhất trong hòan cảnh này. Và cái đó cũng khiến cho công tước phu nhân giảm bớt cái thói nhí nhảnh, đòi đem nữ trang vào lãnh địa để khoe mẽ với mấy đứa đầy tớ. Nhưng cái lợi lớn hơn là ngài công tước sẽ vin vào cái cớ an toàn để phu nhân không dám mè nheo đòi mua sắm thêm nữ trang. Như vậy đỡ tốn khối tiền. Có lẽ ngài công tước phải bấm bụng bán đi vài ba mảnh đất. Nhưng, từ bao đời nay rồi, tổ tiên của ngài cũng đã từng bán đi như vậy để trả giá cho những sự điên rồ của họ. Ấy vậy mà các cụ còn để lại cho ngài cả mấy ngàn mẫu.
Ngài gật đầu chấp thuận.
Ông Trùm cho mời giáo sư Hector Adonis tới. Ngày hôm sau cuộc hội kiến với Ông Trùm, gái sư làm một chuyến thăm thằng con đỡ đầu. Ông giải thích cho hắn cái sứ mạng của ông. Ông hết sức thành thật:
– Con sẽ không được cái giá cao hơn đâu, ngay cả nếu con đem bán cho bọn chuyên mua đồ gian ở Palermo. Và rồi con cũng phải mất một thời gian, chắc chắn là con không thể có tiền trước lễ Giáng sinh, nếu con đem bán cho bọn mua đồ gian. Ngoài ra, cho chuộc lại, con sẽ chinh phục được cảm tình của lão Croce. Cái đó rất quan trọng đối với con. Sau cùng, con đã làm lão ta mất mặt ít nhiều vì lão ta nhận “thuê bao” cho gia đình Alcamo mà. Nhưng, nếu con giúp lão ta giải quyết việc này, thì lão ta cũng sẵn sàng bỏ qua hết.
Guiliano mỉm cười nhìn ông bố đỡ đầu của mình. Hắn có coi cái ý muốn, ước nguyện và ngay cả sự đe dọa của Ông Trùm ra gì đâu. Sau cùng, ước mơ của chính hắn là diệt được con quái vật Mafia ở Sicily này. Ngoài ra, hắn cũng đã cho người đi Palermo dò hỏi giá cả mấy món nữ trang đã cướp được. Và hắn cũng thấy giá cả cũng không hơn giá cả mà Ông Trùm đề nghị, hơn nữa còn thêm rắc rối, nhiêu khê, lâu lắc lắm, chắc chắn không kịp trước lễ Giáng Sinh. Bởi vậy hắn đồng ý thương lượng, nhưng nhất định không trả lại chiếc cà rá ngọc.
Trước khi từ giã, Adonis cũng tuyên bố với hắn xin thôi luôn cái vai trò làm thầy dạy cho hắn những thiên anh hùng ca và văn học lý tưởng cách mạng, bởi vì hắn là hiện thân bằng xương bằng thịt những cái đó. Lần đầu tiên, ông nói với hắn về thực tế đời sống của người Sicilian:
– Con à, không có ai cảm mến những đức tính của con hơn thầy. Thầy cảm phục cái khát vọng hào hùng của con mà thấy hy vọng được góp phần của mình vào sự thực hiện khát vọng ấy. Tuy nhiên, bây giờ ta cũng phải xét đến sự sống còn, bởi vì sự sống còn là điều kiện tiên quyết, cơ bản của mọi hiện thực. Sự sống mà tắt thì khát vọng dù có hào hùng, cao cả cách mấy cũng tắt theo. Cũng như lửa tắt thì ánh sáng cũng phải tắt. Chưa nói đến sự thực hiện. Con không có hy vọng gì thắng được bọn “Người anh em” đâu. Từ hàng ngàn năm nay chúng cũng như hàng triệu con nhện dăng lưới dày đặc, phủ kín khắp Sicily, khắp mọi người và mọi mặt của đời sống, của xã hội. Ông Trùm Croce đang đứng giữa cái lưới nhện đó. Lão ta rất cảm phục con và rất muốn giữ tình hữu nghị với con. Lão ta muốn con và lão cùng làm giàu. Nhưng có đôi lúc, con phải chiều ý lão một chút. Thầy không nói con phải nhượng bộ, phải mất thể diện ở một khía cạnh nào đó. Con vẫn có giang sơn riêng của con, nhưng giang sơn của con phải nằm trong cái lưới nhện ấy. Có điều chắc chắn là con không thể trực tiếp đương đầu với lão ta được đâu. Nếu con cứ quyết tâm làm như vậy thì chính lịch sử sẽ giúp lão tiêu diệt con.
Vậy là “Châu về Hợp Phố” với món tiền chuộc của ngài công tước. Guiliano chia một nửa số tiền cho Pisciotta, Terranova và Passatempo. Chúng nhìn nhìn cái cà rá đeo ở ngón tay út của Guiliano, nhưng không thằng nào dám hó hé nói năng gì. Bởi vì, Guiliano tuyên bố không thèm đụng đến một xu trong khoản tiền đó. Một nửa số tiền còn lại, Guiliano quyết định phân phát cho đám chăn cừu, cho những cô nhi, quả phụ và những người nghèo khổ trong vùng.
Hắn luôn luôn trao tiền qua trung gian. Nhưng, có một hôm, hắn nhét tiền vào đầy các túi áo và đầy cái ba lô mà cha bề trên đã cho khi hắn rời khỏi tu viện. Hắn đi vào các làng quanh thị xã Montelepre, Piani dei Greci… Cùng đi, có Terranova.
Tại một làng có ba bà già sắp chết đói. Hắn cho mỗi bà cả cọc tiền. Họ cảm động quá, khóc và hôn tay hắn. Tại một làng khác, một nông dân sắp bị “siết” mất thửa ruộng anh ta đã đem “cầm” vì vợ ốm trong lúc gia đình lại quá quẫn bách, nay đến thời hạn, anh ta không có tiền để chuộc. Guiliano đã cho anh ta số tiền đủ để chuộc lại thửa ruộng. Tại một làng khác, hắn mua hết ráo hàng hóa trong tiệm bánh và tiệm tạp hóa, rồi phân phát bánh, phó – mát và kẹo… cho cả làng. Tại một làng gần thị trấn, hắn đã tặng cho cha mẹ một đứa trẻ đang ốm nặng để có tiền đi điều trị tại bệnh viện ở Palermo và trả tiền cho bác sĩ ở địa phương. Hắn cũng dự một đám cưới và tặng cho cặp vợ chồng trẻ một số tiền làm vốn.
Nhưng hắn thích nhất là tặng tiền cho đám trẻ nhà nghèo sống lang thang trên khắp các nẻo đường, trên khắp các tỉnh thành của Sicily. Hầu hết, bọn trẻ này trong vùng đều quen biết Guiliano. Chúng bu lấy Guiliano. Khi trao tiền cho chúng, Guiliano sung sướng nhìn chúng hớn hở chạy về nhà.
Chỉ còn lại chút ít tiền khi hắn quyết định về thăm bố mẹ hắn vào lúc chập tối. Khi đi qua dải đất phía sau nhà, Guiliano gặp hai đứa trẻ, một trai, một gái, ngồi khóc. Chúng mất số tiền mà má chúng trao cho chúng đi mua cái gì đó. Chúng nói là “thằng cớm đã cướp mất của tụi cháu”. Guiliano thấy vui vui trước tấn bi kịch nhỏ bé ấy, và cho chúng một món tiền gấp bội số tiền chúng mất. Thấy đứa bé gái xinh quá, hắn không thể chịu được khi nghĩ rằng bé này sẽ bị ba má nó đánh vì sơ ý để cớm cướp mất tiền, nên hắn đã ngồi lại, viết một bức thư yêu cầu ba má bé đừng đánh bé.
Không phải chỉ ba má con bé đó biết ơn Guiliano, mà dân ở các thị trấn Borgetto, Corleone, Partinico, Moreale, Piani dei Greci… cũng biết ơn hắn. Để tỏ lòng biết ơn, họ đã gọi hắn là “Quốc vương Montelepre”.
Mặc dù mất năm năm tiền “thuê bao” của ngài công tước, nhưng cái đầu óc quái quỉ của “Ông Trùm” đâu có để lão thiệt thòi, trái lại còn có lời nữa là khác. Bởi vì, một mặt lão đòi ngài công tước tiền chuộc bằng 25 phần trăm gái trị các món nữa trang, một mặt lão nói với ông Adonis là ngài công tước chỉ chịu trả bằng 20 phần trăm. Ở giữa, lão sớt lại 5 phần trăm bỏ túi. Chỉ 5 phần trăm nhưng cũng gấp mấy lần cái giá “thuê bao” năm năm mà đối với ngài công tước, lão vẫn được cái tiếng là chịu thiệt thòi và đối với Guiliano, lão được tiếng trung gian vất vả.
Nhưng, điều làm cho lão tự hào và khóai hơn cả là lão đã sớm phát hiện và đánh giá đúng tài năng của Guiliano, đồng thời qua việc chịu thương lượng – theo ý lão – Guiliano bước đâu đi vào quĩ đạo mà lão đã định. Guiliano đúng là một ngôi sao đang lên. Ai dám tin được một thanh niên có cái nhìn sáng suốt, hành động khôn ngoan và có tính tự hào đến mức kiêu hãnh như vậy, mà lại biết nghe lời một người lớn tuổi hơn và tinh khôn hơn là lão vậy?
Nhưng, về phần Guiliano, qua cuộc thương lượng này, nghe thì nghe – với trí thông minh và tính tóan lạnh lùng – hắn vẫn giữ được phần riêng của hắn. Điều này càng làm cho lão cảm phục hắn và càng đắc ý vì “Ai ngu dại gì mà đi liên kết với một thằng khùng?’
Ông Trùm gật gù thú vị với ý nghĩ một ngày kia, Guiliano có thể là cánh tay mặt của lão. Và với thời gian, hắn sẽ là đứa con kế nghiệp lão.
Turi nhìn thấu suốt những ý đồ đang bao quanh hắn. Hắn biết rõ ông bố đỡ đầu chân thành quan tâm và lo lắng cho lợi của hắn. Nhưng điều đó không có nghĩa là hắn hoàn toàn phó thác sinh mệnh và tương lai của hắn cho sự phán đóan và thẩm định của người lớn. Guiliano cũng thừa biết hắn chưa đủ lực lượng để ăn thua và chơi trực diện với đám “Người anh em” của Ông Trùm. Và, thật ra, hắn còn cần sự giúp đỡ của bọn này trong một thời gian. Nhưng hắn không hề có ảo tưởng về sự liên kết lâu dài với bọn đó. Nếu nghe lời ông bố đỡ đầu, rất có thể hắn chỉ trở thành một thứ bồi thần cho hoàng đế Ông Trùm Croce Malo. Và, đối với nó, điều đó không bao giờ có thể xảy ra. Nhưng, bây giờ hắn cần hoãn binh chi kế.



26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Google photo

15. Anh hùng rơm

Thời Pháp thuộc, làng Bình An, tỉnh Rạch Giá được nổi danh là sung túc. Ruộng đất quá phì nhiêu, chẳng cần bón phân, mỗi công đất (một ngàn thước vuông) thâu hoạch hơn hai chục giạ. Qua tháng mười một, mãn mùa gặt, dân chúng còn hưởng thêm mùa dưa hấu trồng ngay trên ruộng. Nếu trúng mùa dưa thì rõ ràng là vốn một lời mười. Họ tha hồ mà ăn xài suốt tháng Giêng cờ bạc, đờn ca vọng cổ lai rai đến lúc tháng Ba, sa mưa. 
Nhịp sống của đoàn nông phu cứ trôi qua đều đều. Nhưng đến năm 1937, một biến cố khá quan trọng xảy ra khiến dân chúng… nghẹt thở. Hầu hết những kẽ tay lấm chân bùn trong làng đều bị lên án là … kẻ ăn trộm trâu. 
Tiên cáo là một ông lạ mặt, người Việt Nam, mặc âu phục, tay xách cặp da, hút ống vố. 
Ông ta đến nhà thầy phó hương quản: 
– Có ai ở nhà không? 
Thầy phó hương quản ngơ ngác: 
– Xin lỗi, ông là ai? Xin cho biết quí danh. 
Ông ta nói: 
– Tôi muốn nói chuyện… 
Thầy phó hương quản mời ông khách vào nhà. Ông ta mở cặp da, đưa ra một tấm danh thiếp: 
” Nguyên Hưu Henri, 
Domaine agricole de Saigon.” 
Sau khi đọc sơ qua, thầy phó hương quản lấy làm bối rối: 
– Thưa ông. Xin ông vui lòng”thông ngôn” cho tôi được hiểu. 
Thông ngôn có nghĩa là thông dịch. Ông khách cứ hút thuốc, chưa chịu làm công việc ấy. Hồi lâu, ông trợn mắt: 
– Tấm”cạc” nầy nói nhiều rồi. Quyền hạn thanh tra… toàn Nam Kỳ thuộc địa của tôi như thế nào, chú phó hương quản dư hiểu. 
Khổ quá! Thầy phó hương quản đành nài nỉ, thú nhận sự dốt nát của mình: 
– Dạ, tấm”cạc” của quí ông… toàn là chữ Tây. Chắc là ở Sài Gòn! 
Khách cười nhếch mép: 
– Khá lắm. Còn hai chữ nữa”Nguyễn Hữu” tôi không thèm bỏ dấu cho đúng mẹo luật Lang Sa. Tôi thường giao thiệp với quan chủ tỉnh mà. Ðây, tôi tạm”thông ngôn ” cho chú hiểu: Tôi là Nguyễn Hữu Hăngri, thanh tra đồn điền Sai Gòn. Tôi vô dân Tây nên giữ chữ Nguyễn Hữu. Mới đây, sau khi tiếp xúc xa giao với quan chủ quận tôi ăn cơm ở nhà quan chánh sở mật thám. Bậy quá, chắc quan chủ quận phiền giận tôi… 
– Thưa ông sao vậy? 
– Ổng là anh em bạn học. 
Lần đầu tiên từ thưở nhỏ đến từng tuổi này. Thầy phó hương quản mới được vinh dự đón rước một nhân vật quan trọng. Lập tức, thầy gọi vợ ra chào khách, bắt gà làm thịt. Ông khách Hăngri nói, giọng bí mật: 
– Tánh tôi bình dân lắm. Tôi ưa làm quen với người chất phác như chú. Vừa vừa thôi, đừng bày tiệc tùng, tốn kém lắm.
Thầy phó hương quản suy nghĩ hồi lâu rồi giả bộ như mình cũng rành tất cả lề lối làm việc của người cầm giềng mối trị dân: 
– Ông nói chí lý quá. Các quan chủ quận đều rành chữ Tây. Ðọc sơ qua tấm”cạc” của ông, mấy ổng hiểu liền. Chẳng dám nào, ông cho phép… 

– Chú nói đi. Chỗ quen biết với nhau mà. 
– Ông cho tôi xin một tấm”cạc” như vầy để lộng kiếng, làm kỷ niệm. Hễ có khách quí tới nhà là tôi nhắc nhở, giới thiệu… lúc ông vắng mặt. 
Ông Hăngri cau mày: 
– Ðây! Chú giữ tấm”cạc” này. Nhưng mà chú phải dè dặt. Ðừng phô trương quá sớm. Tôi muốn giữ bí mật. Chờ đôi ba ngày nữa, xảy ra nhiều việc lạ lùng lắm, có lợi cho chú… trong tương lai. 
Thế là ông Hăngri nghiễm nhiên trở thành vị thượng khách của thầy phó hương quản. Thầy bắt đầu xa lánh bà con chòm xóm, vì lý do riêng. Trong lúc ông Hăngri nằm trên bộ ván gõ, đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn thì thầy phó hương quản trèo cây dừa xiêm hái xuống trọn quày. 
Nhớ đến câu”gái ngoan làm quan cho chồng,” thiếm phó hương quản thắt lưng buộc bụng… sẵn sàng đi tiệm mua nào càri, củ hành, tiêu, tỏi đem về để thanh toán bằng bầy gà bầy vịt. 
Tối hôm ấy, ông Hăngri mở đầu câu chuyện: 
– Này chú phó hương quản. Chú là người đáng tin cậy, xứng danh là người làm việc nước. Tôi nhờ chú giúp tôi một vấn đề quan trọng. Chừng mãn nhiệm vụ thanh tra, tôi sẽ gặp quan chủ quận, gởi gắm để thăng chức chú lên chức chánh hương quản. 
– Dạ, may phước cho đời tôi quá! 
– Vợ chú ngủ chưa? Ðừng cho đàn bà hay biết. Họ ưa chộn rộn. 
– Dạ, để tôi coi thử. 
Rồi chú trở ra: 
– Nó ngủ rồi. 
– Chú nên giữ bí mật hoàn toàn. Nếu hư hỏng công việc truy tầm của tôi, chú sẽ bị trừng phạt theo phép nước luật quan. Chừng đó mặc dầu thương mến chú, tôi cũng chẳng tài nào cạy gỡ dùm được. 
Dưới ánh đèn toạ dăng, trong khi sương mù mịt, bất chấp tiếng chó sủa ma trong xóm vắng, ông Hăngri mở cặp da, đem ra một mớ giấy có đóng dấu đỏ. Thầy phó huơng quản đếm thử: chừng ba chục tấm giấy cứng, màu xanh, lớn gấp đôi cái giấy thuế thân. 
Ông Hăngri lẩm bẩm: 
– A lo! A lo! 
Thầy phó hương quản giật mình, bước ra xa, vấn thuốc hút. Thầy càng tò mò, liếc qua xấp giấy xanh của ông Hăngri. Thầy sực nhớ đến loại giấy mà thầy có đôi ba tấm trong nhà. 
Thời thực dân, dân chúng gọi nôm na là đó là”bài kía” trâu bò, trên mỗi tấm, hài rõ tên chủ của gia súc, tên con gia súc, tuổi tác, dấu riêng… và số thuế đã nạp. 
Nhà thầy phó hương quản có hai con trâu và một con bò. Thầy đã lãnh”bài kía,” xác nhận thầy làm chủ ba con gia súc đó. nếu bị trộm cắp, thầy đem”bài kía” để nhìn nhận của đã mất. 
Ông Hăngri thừa hiểu rằng từ nãy giờ cặp mắt tò mò của chủ nhà đan xăm xoi về phía mình. 
– Chú phó hương quản. Lại đây tôi dạy việc. 
– Dạ, tôi sẵn sàng. 
Ông Hăngri lật đật đem xấp…”bài kía” trâu bò ấy bỏ vào cặp da rồi đưa cho thầy phó hương quản xem một tấm giấy trắng có chữ đánh máy, chữ Pháp. 
Ông giải thích: 
“Số là đồn điền chúng tôi – ở chi nhánh Sóc Trăng – từ lâu thường bị ăn trộm trâu. Theo tin riêng của sở mật thám Sài Gòn cho biết thì bọn bất lương đem số trâu bất hợp pháp ấy về bán tại làng Bình An này. Vì vậy, thừa lệnh quan trên…” 
Thật là đất bằng sóng dậy. Thầy Phó hương quản cố gợi lại trí nhớ. Thỉnh thoảng vài người ở xóm này mua trâu, nhưng là trâu tơ, sanh đẻ tại làng. Lúc nhậu nhẹt, nhiều người chế nhạo lẫn nhau:”mầy là chủ phồn ăn trộm trâu!” nhưng đó là tiếng thường lệ cũng như”đồ mặc dịch! đồ ma bắt.” Nó không có ngụ ý gì ráo. 
Thầy lẩm bẩm: 
– Té ra hổm rày ông làm nhiệm vụ mật thám. 
– Tôi là thanh tra! 
Phó hương quản bắt đầu e ngại: 
– Dạ, quan thanh tra muốn”ăn kết” theo cách nào? Theo ý tôi thì dân chúng ở xóm này toàn là người lương thiện. Trâu bò của họ nuôi đều có”bài kía,” đóng thuế đầy đủ, do quan trên thừa nhận. 
– Nhưng họ mua ở đâu? Mua của ai? 
– Dạ, mua ở Châu Ðốc, hoặc mua ở mấy xóm gần đây. 
– À! À! 
Ông Hăngri vừa gõ cái ống điếu vào gốc cột: 
– Phó hương quản đừng che dấu tội lỗi của họ mà chịu chung số phận. bây giờ, việc đầu tiên của phó hương quản cần thi hành là tới cái chuồng trâu nào gần đây nhứt, biểu họ trình cho tôi coi mấy cái”bài kía” của trâu bò trong chuồng để tôi kiểm soát. 
Trưa hôm sau, phó hương quản trở về: 
– Ðây! Nhà của Trần Văn Lén, tất cả bốn con trâu tên là trâu Pháo, trâu Bướm, trâu Ðiệu, trâu Mẫm. 
Ông Hăngri nói nhanh: 
– Tôi muốn kiểm soát dấu riêng của mỗi con trâu. Nếu nó trúng dấu với mấy con đã ghi trong tờ cớ của tôi thì đó là trâu gian. Tôi cần làm việc cẩn thận. Phó hương quản cứ tới nhà mấy người khác, từ nhà tên Trần Văn Lén này dài đến cuối xóm, tom góp tất cả”bài kía” đem cho tôi xem xét lại. 
Cả xóm nhốn nháo lên vì nguồn tin bất lành ấy. Vốn làm ăn chất phác, tin tưởng nơi công lý, các chủ trâu đều ngoan ngoãn tuân lịnh. 
– Vàng thiệt không sợ lửa, – họ tự an ủi.

Nhưng trò đời diễn ra khá phức tạp. 
Sáng hôm sau, phó hương quản đổ mồ hôi trán, đi thất thểu đến mời mấy người chủ trâu: 
– Nguy quá. Ông thanh tra mật thám mời bà con tới”hầu.” Tôi e đã xảy ra điều gì bất trắc. Nhớ tới nhà tôi cho đủ mặt, bằng không thì ông Hăngri lên án khiếm diện. 
Các đương sự lần lượt đến ngồi chồm hổm tại hàng ba, nhà thầy phó hương quản. 
Ông Hăngri nâng ống vố lên, rít một hơi dài rồi nói từng tiếng một: 
– Trần Văn Lén! Ai tên Trần Văn Lén? 
Người tên Trần Văn Lén”dạ” một tiếng nhỏ rồi chạy tới, đứng trước mặt ông Hăngri để nghe lời dạy. 
– Bốn con trâu Pháo, trâu Bướm, trâu Ðiệp, trâu Mẫm của chú đều là trâu ăn trộm. 
Trần Văn Lén trợn mắt: 
– Làm sao có chuyện đó? Xin quan lớn… coi lại. Trâu nhà của tôi mà! 
– Chú mua hồi nào? 
– Dạ, hồi năm ngoái, 1936. 
– Tôi cho biết: hồi năm 1935, đồn điền tôi bị mất trộm, có tờ cớ hẳn hoi. Cái tấm”bài kía…”của chú giữ ghi vô bộ năm 1936. Nhưng”bài kía” của đồn điền tôi vô bộ 1934. Dấu riêng của con trâu Bướm y hệt: sừng cong, hai xoáy ở chân trước bên mặt. 
Tên Lén hơ hãi, kêu nài: 
– Xin quan thanh tra cho tôi thấy cái”bài kía” của đồn điền… 
– Ðừng lẻo lự. Này đây Tờ cớ rành rành.”Bài kía” của tôi cũ hơn… Chứng tỏ rằng kẻ trộm đem trâu của đồn điền tôi đến làng Bình An này bán lại cho chú. Hoặc là chú có nhúng tay vô… 
Tên Lén trố mắt.”Bài kía” (bài chỉ) của ông Hăngri vô bộ trước, có đóng dấu đỏ và chữ ký tên… 
Ông Hăngri giựt cái “bài kía” trở lại: 
– Tôi tịch thâu con trâu Bướm của chú. Chú ngồi đó suy nghĩ. Nếu cự nự tôi giao cho quan chủ quận, truy tố ra toà. 
Sau tên Trần Văn Lén, lần lượt bốn năm khổ chủ khác đều bị cật vấn. Trâu của họ trùng dấu riêng với những con trâu mà đồn điền bị mất trộm, cách đó vài năm có ghi rõ trong tờ cớ. Kèm theo tờ cớ, ông Hăngri nêu ra mấy cái”bài kía” vô bộ sổ quá trễ mà dân chúng trong làng Bình An đang giữ. Bằng một giọng nhỏ nhẹ, ông Hăngri giải bày: 
– Tôi chẳng muốn đưa mấy chú ra toà làm gì. Tội nghiệp cho vợ con mấy chú. Nếu mấy chú ăn năn hối cải, tôi ém dùm. Tôi hứa chạy tờ về ông chủ đồn điền… Với điều kiện là mỗi người cho tôi năm chục đồng. Bằng không thì… 
Ai nấy cúi đầu, áy náy. Năm chục đồng đâu phải là số tiền nhỏ. 
Day qua phó hương quản, ông Hăngri tiếp lời: 
– Thế nào? Phó hưong quản dám bảo lãnh dùm họ không? Tới trưa mai họ phải chạy tiền đầy đủ. 
Phó hương quản gải đầu: 
– Tôi xin bảo lãnh. Ðể họ về vay nợ, đền ơn quan thanh tra. Nếu ai trốn, tôi chịu trách nhiệm. 
Ðã quá mười hai giờ trưa. 
Tại tiệm chạp phô ở cuối xóm, dân chúng tụ họp lại, bảo vây thầy phó hương quản. Hai ba chai rượu để trên bàn đều cạn. Ai nấy đều say ngà ngà. Người này sừng sộ: 
– Rõ ràng hương quản a tòng với ông Hăngri làm tiền bọn tôi. Trâu nhà, trâu hgé nuôi lớn lên rành rành vậy mà ông ta dám quả quyết là trâu ăn trộm. trời đất làm chứng dùm. 
Kẻ khác khóc mùi mẫm: 
– Rũi bề gì, mình mất trâu, lại ở tù oan mạng. Phó hương quản sao lại chấp chứa hắn? 
Phó hương quản trợn mắt: 
– Tôi hổ lắm rồi. Bà con yên tâm. Ta hãy tìm cách gỡ rối, lấy độc trừ độc… bà con giúp tôi vài cơ mưu… 
Một người nói xen vào: 
– Tôi biết trồi. Thừa dịp này, mình nên sửa dấu riêng trên trâu bò mình để chạy án. Theo kinh nghiệm ông bà còn để lại, mình cứ nướng sắt cho đỏ rồi đót ngay xoáy của con trâu để nó … bớt xoáy. Hoặc chặt một khúc chuối cây hơ lửa cho nóng rồi đút sừng trâu vô mà uốn bộ sừng của nó cho bớt cong… 
Phó hương quản gật gù, nhìn xuống mé sông. Thầy ta reo to: 
– Hay quá. Vợ tôi tới thăm tôi kìa! 
Có người nổi nóng: 
– Vợ tới thăm mà cũng”hay quá”! Thầy sung sướng trong lúc bà con chòm xóm đang tán gia bại sản. 
Sau khi ra sân nói chuyện rù rì với bà vợ, phó hương quản trở vào tiệm, nói khẻ: 
– Mời anh em tụ họp lại, nghe tôi nói rõ đầu đuôi. Số là tên Hăngri nó nhiều hành động gian dối. Hổm rày, vợ tôi theo dõi hắn. Hắn dự trữ trong cặp da môt số”bài kía,” đóng dấu giả: Hắn coi”bài kía” của trâu bò lối xóm rồi sao y, điền vô khoảng trống trong “bài kía” giả của hắn. Xong xuôi, hắn… ăn gian ngày tháng. Thí dụ như trâu bò của bọn mình vô bộ năm 1935 thì hắn ghi là 1934. Vợ tôi htấy rõ ràng hắn đang”sao y bổn chánh”, lúc tôi vắng mặt. Hắn tưởng vợ tôi dốt. 
Một nạn nhân nổi giận: 
– Tôi chém nó mới được. 
Phó hương quản nói: 
– Ðừng! Chém ruồi ai dùng gươm vàng làm chi. Tôi tính như vầy: đêm nay tôi ăn cắp cái cặp da đựng “bài kía” của hắn. Rồi tôi tri hô rằng ăn trộm đã lẻn vào nhà tôi. Tất nhiên bà con mình nên sắp xếp sẵn. Một người nào đó cứ chạy phía trước, giả như kẻ trộm xách cái cặp da. Rồi bà con xúm nhau đuổi phía sau. Tên Hăngri cũng rượt theo để giựt cái cặp da trở lại. Thừa dịp đó, mình dùng củi khúc mà ném cho hắn ta u đầu, què cẳng. 
Nửa giờ sau, kế hoạch được thi hành. Tên Hăngri hốt hoảng, yêu cầu dân làng giúp hắn giựt lại cái cặp da: 
– Tôi hứa trọng thưởng. Tôi hứa tha tội cho bà con! 
Nhưng ai nấy cứ hò hét, chạy dồn về phía hắn, hươi gậy gộc… Hắn hốt hoảng chạy. Dân làng đuổi theo mãi. 
Riêng thầy phó hương quản thì dè dặt hơn. Thầy ngồi núp trong bụi chuối, đề phòng trường hợp tên Hăngri là thanh tra… thứ thiệt. Hắn sẽ rút súng bắn thầy và truy tố thầy là kẻ chủ mưu. 
Thầy thất vọng vì quả thật hắn không có súng. 
Và dân làng hơi thất vọng, mất hào hứng. Cuộc rượt bắt diễn ra quá nhanh. Chạy được chừng trăm thước, tên Hăngri quẹo xuống mé kinh xáng rồi té quỵ, rơi tòm trong bóng tối. 
Có lẽ hắn biết lội, nên sáng hôm sau không ai thấy”anh hùng rơm” trở lại làng Bình An, và dân chài lưới tuyệt nhiên chẳng gặp cái thây ma chết trôi nào!

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Google photo

14. Cao Khỉ U Minh

Tôi ngả lưng vào gốc cột, nằm lim dim. Mùi rượu đế xông lên khiến mắt tôi lờ đờ, hơi thở bắt đầu nóng như sắp nhiễm bịnh cảm cúm. Ông Tư Huỳnh nói to: 
– Thầy Hai bỏ cuộc rồi sao? Ăn thêm nữa chớ. Rừng U Minh thiếu gì cá. 
Tôi đáp: 
– Dạ, ngán quá. Ăn nhiều sanh bịnh. 
– Thầy nói vậy đâu được. Ăn nhiều để trừ bịnh tật. Xưa nay, kẻ ăn ít thường chết sớm. 
Ông Tư Huỳnh với tay ra sau lưng đập muỗi, xoè bàn tay lốm đốm máu tươi cho tôi xem rồi tiếp lời: 
– Mỗi ngày mình mất bao nhiêu máu, nếu không ăn nhiều để tẩm bổ thì chết luôn. Hơn nữa, mùa này mà nhịn thì đợi bao giờ mới ăn! 
Lý luận của ông Tư Huỳnh khiến tôi ngồi dậy, ăn thêm, ăn mãi. Từ phía nhà bếp con gái ông Tư Huỳnh lui cui nướng cá. Chúng tôi đã ăn tuốt năm con cá lóc to, gọi là cá lóc nái, mỗi con nướng chín thơm phức, nằm trên miếng lá chuối tươi. Sau khi dùng đũa xẻ một lằn dưới bụng cá, chúng tôi trải con cá ra, gáp chừng ba bốn đũa là quăng bỏ cái xương sống cá, mặc dầu trong xương còn dính khá nhiều thịt. Ông Tư Huỳnh lãnh phần thanh toán bộ ruột, nuốt gan và mật cá: 
– Ồ! Cái mật cá đắmng thiệt nhưng vị đắng đó ngọt xớt, trị bịnh yếu mật. Còn cái đầu cá, ngon lắm, thầy Hai ăn đi. Cứ gắp hai cục thịt ở gò má con cá là đủ. Nghe đâu ở Biển Hồ Nam Vang, người ta đem thú gò má ấy phơi khô, nhậu rượu ngon lắm. 
Chập sau, tôi ngán ngẫm, sợ mang chứng trúng thục. Ông Tư Huỳnh nói: 
– Chưa hết. Bây giờ mình ăn qua món cá sặc rằn… 
Mỗi gắp là bốn hoặc năm con cá, mỗi con sặc to bằng bàn tay xoè, tươm mỡ. Ông Tư Huỳnh mời mọc: 
– Ăn thêm nữa đi. 
Tôi cầm đũa, chưa gắp miếng cá nào chợt nghe ông nói to với đứa con gái; 
– Nướng thêm một chục con cá nữa. Nghe chưa con! 
Tôi vội cản ngăn: 
– Thưa ông, đủ rồi. 
– Chưa đủ đâu, thầy Hai. Ăn nhiều cho đủ sức lực. Bà con xứ này nhờ ăn cá mà khỏi chết vì bịnh rét rừng. Muỗi cắn sanh bịnh rét. Nhưng nhờ muỗi mà cá được mập mạp. Cá U Minh lớn con nhờ ăn muỗi. Tóm lại, vì muỗi mà mình mang bịnh, vì muỗi mà mình có đủ cá để ngừa bịnh… 
Vừa rồi, ông Tư Huỳnh vừa dạy tôi cách ăn cá sặc rằn nướng,”mỗi con ăn hai đũa.” Ta cứ cầm đũa, giẻ một bên, đưa vào miệng rồi thì trở con cá, giẻ thêm đũ anữa, giẻ xong, cứ quăng cái xương cá… Tôi ngậm ngùi nhìn đống xương cá vun lên khá cao, nếu rỉa cho kỹ, trong đống xương đó còn dính chừng một ký lô cá. 
– Mình lãng phí quá, thưa ông. 
Ông Tư nheo mắt: 
– Ăn theo kiểu ông bà để lại. Ở sau hè này, còn một cái nền nhà xưa, từ đời nào không ai biết. Tôi đào nền nhà đó, tìm vàng bạc. Biết đâu hồi xưa, Gia Long tẩu quốc đã hạ trại đó rồi bị quân Tây Sơn rượt, bỏ quên nhiều món ngọc ngà châu báu. Rốt cuộc tôi gặp từng đống xương cá. Thầy hai hiểu chưa? Hồi xưa, họ ăn như bọn mình từ nãy giờ. 
Tôi mang tật hiếu cổ nên mừng quýnh: 
– Vậy hả ông? Lát nữa, nhờ ông dẫn tôi ra nền nhà đó. 
Ông Tư Huỳnh nói: 
– Cỏ mọc um tùm như trước sân nhà này, vậy thôi. 
– Nghĩa là rắn ở đó chớ gì! 
– Rắn thì không đáng ngại. Chỉ ngại một điều khó nói trong lúc đang ăn… 
– Thưa ông, chuyện gì quan trọng? 
Ông Tư ghé miệng sát bên tai tôi, nói thật khẽ: 
– Mấy cha nội giăng câu, đón củi thường tới cái nền nhà xưa đó mà … phóng uế. Hôi hám lắm. 
Tôi thất vọng, buột miệng nói một câu sầu thảm: 
– Uổng quá. Nếu ở xứ khác, có lẽ cái nền nhà xưa đó trở thành nơi quan trọng, được các nhà bác học chiếu cố tới. 
– Thầy Hai nói thiệt hay nói chơi đó? 
– Dạ, nói thiệt chớ. Mấy đống xương cá vụn đống là những”sử liệu biết nói.” Nó ghi lại hình ảnh oai hùng của người… di khai hoang. Và biết đâu, nói đánh dấu những nơi của loài người ở rừng U Minh từ ngàn năm về trước. Ở xứ Ðan Mạch, các nhà khảo cổ đã gặp nhiều đống võ sò vỏ ốc quến cục với nhau, chôn vùi trên bờ biển. Bên cạnh mớ vỏ sò ốc đó còn nhiều thanh củi, tro bếp. Họ phỏng định: xưa kia hồi thời cổ sử, loài người tới đó cư trú… Lại còn nhiều món đồ gốm thô sơ nữa. nếu tìm cho kỹ, biết đâu cái nền nhà sau hè này là… 
Ông Tư Huỳnh cười dòn: 
– Thầy Hai điên chữ rồi? Thầy muốn nói đó là dấu tích của người Bàn Cổ hả? Ăn cá là kiểu săn bắn, hái trái cây chớ gì? 
– Dạ, ông nói đúng. Ở xứ sình lầy, phù sa mộ địa, ngưòi Bàn Cổ bắt cá ăn thay thịt nai, thịt chồn và hái rau rừng ăn thay cho trái cây… 
Hồi lâu, ông Tư Huỳnh nói: 
– Dễ lắm. Ở xóm này có Hai Khị là người già nua, hiểu rành chuyện xưa tích cũ, ăn nói có đầu có đuôi. Nếu muốn biết về những Bàn Cổ ở rừng U Minh, thầy Hai nên tới thăm Hai Khị một phen. Như vậy chắc ăn hơn là đào cái nền nhà sau hè. Nhưng tôi căn dặn thầy một điều: Hai Khị nói hơi nhiều… Thầy ráng mà nghe một lần. Tôi nghe nhiều lần quá rồi… 
Tôi nài nỉ ông Tư Huỳnh: 
– Nhờ ông dẫn tôi tới nhà Hai Khị. Ông Hai Khị chắc già lắm rồi hả? Ông tới đây lập nghiệp từ bao giờ? 
– Thời giờ rảnh rang, tôi sẳn sàng… Hai Khị đã lớn tuổi… Ừ! Cha nội đó rành lắm, ăn nói nghe mà mê. Làm nghề săn khỉ!

Từ nhà ông Tư Huỳnh đến nhà Hai Khị, chúng tôi bơi xuồng, qua nhiều con rạch quanh cảm ơn. Mùa mưa, lá tràm xanh biếc, xa xa có vài gốc cây đước, cây vẹt. Muỗi rừng bay ra khá nhiều, tôi chăm chú nhìn lên trời, tìm vơ vẫn… 
Ông Tư Huỳnh nói: 
– Muỗi cắn no tròn trên mặt thầy Hai kìa! Kiếm cái gì ở trên ngọn cây? 
– Dạ kiếm khỉ. 
– Trời đất ơi! Rừng này đâu còn khỉ nữa. 
– Hồi nãy, ông nói rằng Hai Khị sống bằng nghề săn khỉ mà. 
– Ðó là chuyện đời xưa. Lát nữa, thầy Hai mặc sức mà nghe. Bây giờ, nói sớm quá, hết vui. Vả lại, Hai Khị tới rừng này trước tôi. Tôi là kẻ vong gia thất thế, từ Tân An xuống đây làm ăn… 
Tại sao ông Tư Huỳnh đố kỵ với Hai Khị tới mức đó? Ông đề cao Hai Khị, đồng thời ông lại hạ địa vị mình một cách quá đáng. Hay là hai lão già này có mối cựu thù. Vô lý quá. nếu thù hằn nhau thì ông Tư Huỳnh đâu sẵn sàng tới nhà Hai Khị. Hai Khị là ai? 
Chiếc thuyền rẽ nước khá nhanh. Vò trời mỡ rộng. Tôi ngạc nhiên, chẳng hiểu tại sao giữa rừng mà lại có ngôi nhà ngói ba căn hai chái, cất theo kiểu xưa, giống như nhà mấy ông cai tổng ở vùng Cần Thơ. Mái ngói tuy đóng rêu đen nhưng vẫn giữ dáng điệu cong cong. Trước nhà có cửa ngõ và vài chậu kiểng. Chó sủa vang dậy. Ông Tư Huỳnh nói nhanh: 
– Hai Khị ngồi hút thuốc đó! Bên gốc cột… 
Hai Khị đứng dậy, ngó xuống bến, miệng cười tươi. Ông ta dường như còn tươi trẻ hơn ông Tư Huỳnh. 
– Anh Tư tới đó hả? 
– Ừa! Sẵn có thầy Hai này muốn biết chuyện cổ tích, tôi đưa thẩy tới đây. 
Hai ông lão nói chuyện khá nhiều, nào là mùa màng, thời tiết, ong, mật, rùa, rắn, cá tôm. Hồi lâu, ông Hai Khị mới ngỏ lời: 
– Ờ… Thầy Hai đây hả! 
Tôi cúi đầu: 
– Dạ, cháu ở Sài Gòn, lâu lâu về đây chơi một lần. 
Cả ba người vào nhà. Mặt trời lên quá cao rồi, bầu không khí bên trong dường như ẩm ướt. Mái nhà thấp, che khuất ánh nắng. Vách nhà đóng bằng ván, đóng kín, chẳng khoét một cái cửa sổ nào hết. 
Ông Hai Khị mời ngồi nhưng cứ tần ngần, như lạc vào một thế giới nào xa lạ. Trên cái bàn khá to, bốn con khỉ đang ngồi – Những con khỉ chết khô – rụng hết lông, thịt da đen ngòm, thịt bám chặt vào xương giống như… xác ướp Ai Cập. Có một con to xác nhứt, ngồi lum khum trên nhánh cây, chân thòng xuống đụng vào mặt bàn, hai tay đặt trên đầu gối, hố mắt sâu hoắm, ra dáng suy tư. Tôi vừa sợ, vừa buồn cười: 
– Khỉ ở đâu vậy ông? Ðể trong nhà như vầy coi ghê quá! 
Ông Hai Khị im lặng, đi thẳng đến tủ kiếng, mở cửa tủ, đem ra một ngọn đèn sáp, đốt lên. Ông nói mơ hồ: 
– Nhà này cất theo kiểu xưa ở ngoài… Huế, ban ngày cũng như ban đêm… 
Mặc dầu chưa đến xứ Huế lần nào, tôi cũng cải lại: 
– Thưa ông, ở ngoài Huế nhà cửa sáng sủa… theo tân thời. 
Ông Hai Khị vừa thắp ngọn nến, vừa nói: 
– Thầy Hai còn trẻ quá. Tôi muốn nói tới kiểu nhà xưa của mấy ông quan đại thần, của vua chúa. Suốt ngày suốt đêm, đèn sáp cháy không dứt. Nếu tắt đèn thì tối om om. Mấy ông vua cũng vậy. Lúc đọc sách, lúc ngâm thơ, mấy ổng thắp đèn sáp giữa ban ngày. 
Ông Tư Huỳnh nheo mắt, che miệng, cười. Thừa lúc ông Hai Khị xuống nhà bếp. Ông Tư nói với tôi: 
– Ngán chưa! Thầy Hai thấy chuyện lạ chưa? Mấy con”khỉ khô” đó. Tôi dặn thầy điều này: đừng cãi với ông Hai Khị. Ổng ghét bất cứ kẻ nào dám cãi. Thầy cứ thưa thưa dạ dạ. Lát nữa, ổng nói chuyện sự tích mấy con”khỉ khô” đó, vui lắm. 
Ông Hai Khị trở lại bộ ván, mời chúng tôi uống trà. Tôi ngỏ ý muốn hiểu vì sao ông chưng bày mấy bộ xác khỉ trong nhà rồi nói tiếp: 
– Khỉ này đâu có lớn con! Ở Sở Thú Sài Gòn, tôi gặp nhiều thứ lạ hơn. Hay là con… xà niên, con đười ươi? 
Ông Tư Huỳnh đưa tay khều nhẹ tôi. Tôi chợt nhó lại lời căn dặn ban nãy nên nói vuốt ve trở lại: 
– Thưa ông, chác mấy con khỉ này có nguồn gốc lạ lùng… 
Ông Hai Khị gật đầu: 
– Quý lắm đó thầy Hai… Bởi vậy, tôi ít khi nói chuyện xưa cho người khác nghe. 
Ông Tư Huỳnh nói xen vào: 
– Thầy Hai này hơi bịnh. Thầy chưa hiểu tại sao ở đây thiên hạ sống hoài ăn cá quá nhiều. Thầy muốn tìm thuốc bổ đó.
– À! Hồi xưa, ông bà mình tới rừng U Minh này, mang bịnh nhưng cố gắng mà sống.”Bịnh ở đâu thì thuốc ở đó.” Ông bà mình nói nghe thậm phải. 
Rồi thì ông Hai Khị bắt đầu kể chuyện. Xưa kia, thời ông Mạc Thiên Tứ – con của Mạc Cửu, một người Trung Hoa sang tị nạn ở Việt Nam vùng chợ Hà Tiên – thì sung túc nhưng rừng U Minh còn sầm uất, khỉ sống từng bầy đôi ba chục con. Người Việt Nam đến rừng U Minh tìm huê lợi thiên nhiên. Họ chê cá tôm vì cá tôm bán rẻ hơn cọp và khỉ. Bấy giờ, cọp, khỉ và rừng rậm nuôi dưỡng cho nhau. Khỉ ăn trái rừng, lớn lên khỉ làm mồi cho cọp; cây sanh trái làm thức ăn cho khỉ. 
Ông Hai Khị nói: 
– Cách đây một trăm năm, ông cai Thoại đến U Minh, ra tài đánh cọp. Cọp chết quá nhiều hoặc chạy trốn về phía núi Tà Lơn, bên Cao Miên. 
Tôi chợt nghĩ ra một ý: 
– Thưa ông… Thế là khỉ sanh sản nảy nở quá nhiều. 
Ông Hai Khị gật đầu lia lịa: 
– Ðúng vậy. Ðúng vậy. Xưa kia, thiên địa tuần hoàn theo luật riêng. hết cọp, khỉ sống hoài trở thành… chúa sơn lâm. Ông cai Thoại đã vô tình là thay đổi luật trời đất. Nhưng may quá, người Việt Nam đến rừng U Minh, tìm cách để bắt khỉ. 
Tôi hỏi: 
– Bắt để làm gì? Ăn thịt khỉ à? Nhiều quá, làm sao ăn hết… Hay là ông bà mình hồi đời xưa bắt khỉ… làm khô, hoặc phơi khô nguyên xác khỉ, đem bán qua bên Tàu cho mấy người giàu có chưng bày trong phòng khác như vầy… 
Vừa nói, tôi vừa liếc qua mấy cái xác khỉ. 
Ông Hai Khị lắc đầu: 
– Ông bà mình hồi xưa khôn ngoan hơn nhiều. Họ bán khỉ qua bên Tàu, bán cái”tinh túy” của con khỉ. 
Theo lời ông Hai Khị, người tiền phong khai hoang ở U Minh đã bày ra nhiều cách lạ lùng để săn khỉ. Họ dùng lưới, mỗi tấm lưới to bằng cái nhà, lưới đang bằng dây gai thật chắc. Thợ săn khỉ vào rừng một mình, mang theo tấm lưới và vài nải chuối chín. Ðến nơi nào có nhiều khỉ, họ chọn khoảng đất trống, trải lưới ra, phủ trên cỏ. Ðâu đó xong xuôi, họ leo lên cây mà ngồi, chờ đợi, nắm trong tay sợi dây buộc dính liền với bốn góc tấm lưới. Từ trên cao um tùm, họ quăng xuống từng trái chuối chín, quăng vào tấm lưới vô hình ấy. 
Bọn khỉ thấy chuối thì ham, xúm nhau chạy tới, con này gọi con kia, mỗi lúc một đông. Ngưòi thọo săn cứ quăng chuối để làm mỗi nhử. Ðến lúc nào đó, người thợ săn bèn giựt bốn sợi dây. Lũ khỉ mê ăn bị tóm lại, gói trọn trong tấm lưới. Lẽ dĩ nhiên, nhờ lanh chân nên vài con khỉ chạy thoát kịp, nhưng đa số đành ở lại, chờ chết. 
Thợ săn đem khỉ về nhà. Rồi họ tiếp tục đi săn mãi mãi. 
Tôi hỏi: 
– Thưa ông, săn nhiều quá, làm cách nào tiêu thụ. Mỗi ngày, phải tốn bao nhiêu trái cây để nuôi khỉ. Rủi bán ế thì làm sao? 
– Thầy Hai chớ lo xa. Ông bà mình hồi xưa bày ra nhiều cách: nấu khỉ làm thuốc cao. 
Vẫn theo lời ông Hai Khị, thợ săn đem khỉ về, đập đầu lột da, mỗ bụng, lóc thịt để lấy xương khỉ làm thuốc. Họ bỏ xương khỉ vào một cái chảo thật to, nấu với nước, nấu ngày nấu đêm, thỉnh thoảng, họ cầm muỗng mà vớt màng màng, đổ bỏ. Năm bày ngày, năm bảy đêm trôi qua, xương khỉ trở thành mềm mại như”xí quách.” Họ quăng bỏ xương ấy. Dưới đáy chảo, còn sót lại môt thứ keo sền sệ. Ðó là”cao khỉ” theo kiểu cao hổ cốt. Cao hổ cốt”sọ khỉ” tuy yếu hơn”cao cọp” nhưng bổ về đường khí huyết. 
Ông Hai Khị cho biết: mỗi người chỉ có thể uống một miếng cao khỉ mỏng như đồng xu mà thôi; uống quá độ lượng thì sanh bịnh. Hồi thuở còn nhỏ, ông Hai Khị đã rắn mắt, cắn vào cục cao khỉ. Sau đó, ông nằm mê man, ngủ li bì, mình mẩy nóng ran, sắp chết. May thay, cha của ông h;ay kịp, đem ông lên trên bộ ván rồi đốt lửa phía dưới. Lửa sưởi ấm bộ ván và hơi ấm ấy truyền qua cơ thể ông Hai. Nhờ vậy, ông toát mồ hồi sống lại đến… giờ này, đến tuổi sáu mươi mà sức khoẻ vẫn còn đầy đủ. 
Tôi hỏi: 
– Lúc uống cao khỉ quá nhiều, chắc ông chết giấc? 
– Ừ! Hồi đó, tôi mới có mười ba, khi tỉnh dạy, mình mẫy tôi ê ẩm, tứ chi bải hoải… 
Rồi ông ghé miệng vào tai tôi mà nói khẽ: 
– Giống như người thừa sức lức… Chất”cao khỉ” gồm tinh túy của loài khỉ đó thầy Hai. 
– Dạ, bây giờ rừng U Minh còn lai rai vài con khỉ già, chắc nghề nấu cao khỉ không còn nữa phải không ông? 
Ông Hai Khị chỉ vào mấy cái xác khỉ khô: 
– Tôi còn chút cí cao khỉ của ông bà để lại. Nếu thầy Hai muốn hiểu sự tích khai hoang rừng U Minh, nếu thầy Hai muốn sống dai, ngừa bịnh rét rừng, sanh con để cháu nhiều hơn thiên hạ thì… 
Nói xong, ông Hai Khị mở tủ, đem ra một cục cao khỉ đen thui, gói trong giấy hút thuốc. Tôi hửi thử: mùi cao khỉ hơi thum thủm, giống mùi a dao vậy thôi. 
Bây giờ, ông Tư Huỳnh khều nhệ tôi, nói nhỏ: 
– Mình về, đủ rồi. Ðừng thèm mua. 
Tôi nói to giọng: 
– Thứ cao này ngộ quá. Thôi, hẹn với ông Hai sáng mai tôi trở lại… 
Ông Hai Khị nói: 
– Tôi chờ thầy Hai. Sáng mai, tôi cho thầy Hai uống thử một lát cao khỉ… 
Tôi đứng dậy, cáo từ. Trước khi ra về, tôi đến gần mấy con”khỉ khô” sờ thử và nắm tay từng con. Có một con khỉ mới ướp xác ngồi chết đó, xoè bàn tay. Tôi nhướng mắt nhìn kỹ. Trong lòng bàn tay khỉ có nào là đường trí đạo, đường vận mạng giống hết bàn tay con người. Và đường sạnh đạo của con khỉ đó lại đứt khúc, hèn gì nó… chết sớm. 
– Về cho kịp nước ròng, thầy Hai! 
Ông Tư Huỳnh nhắc nhở một lần nữa. Tôi với ông xuống xuồng. Ông Tư Huỳnh bơi sau lái, cười to: 
– Ðó, sự tích rừng U Minh huyền bí như vậy đó. Nói theo kiểu ông Hai Khị thì chắc là chung quanh nền nhà của ông có … hàng ngàn khúc xương khỉ, của ông bà hồi xưa nấu cao rồi quăng bỏ. 
Tôi hỏi: 
– Ông Hai Khị nói thiệt không vậy ông Tư? 
– Phần đầu, chuyện săn khỉ bằng lưới, ổng nói đúng sự thật. Nhưng tới phần sau, chuyện nấu cao khỉ rồi… chuyện nằm mê mang, ổng nói dóc để bán cao khỉ! Thức cao đó làm giả mạo. Nếu muốn bổ khoẻ, thầy Hai cứ ăn cá cho nhiều như mình ăn hồi nãy là đủ. Nói thiệt với thầy Hai, ba năm rồi, Hai Khị bán cao khỉ ế ẩm lắm vì bà con trong xóm đều chán ngán. Cha của Hai Khị hồi xưa săn khỉ giỏi lắm. Tới đời Hai Khị thì khỉ đã hết, thợ săn khỉ trở thành thợ… nói chuyện đời xưa giữa ban ngày mà đốt đèn sáp trong nhà! 
Chiếc xuồng trôi từ từ theo nước xuối. Trong rừng sâu, vài người đốn củi ca vọng cổ nghe văng vẳng.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

13. Hai viên ngọc

Ông hội đồng Tần khi trở về già sống quanh quẩn trong gian phòng thiếu cửa sổ, suốt ngày sờ mó mấy cái tô, cái chén đời Khang Hy, Càn Long. Và mỗi đêm, trước khi ngủ, ông mở tủ sắt, đem ra chiếc hộp nhỏ cẩn xả cừ. 
Sau khi đóng kín cửa phòng, ông từ từ mở nắp hộp, kiểm soát một lần chót mấy viên ngọc xanh, ngọc vàng, ngọc tím. Ông nâng một viên ngọc trắng tuyệt, tròn như chiếc nhẫn, để gần dod6i mắt tèm hem. Trong kho tàn của ông chỉ món ấy là quý nhứt. 
Tục truyền đó là viên ngọc phòng thân của tướng Tôn Thất Hiệp – vị quan võ đàng cựu, thuộc hoàng tộc – được lệnh vua Tự Ðức kéo binh từ Bình Thuận tới đánh chiếm đồn Khải Tường – Ngoại ô Sài Gòn – Ðã lọt vào tay thực dân Pháp. 
Trong một trận xung phong mãnh liệt, tướng Tôn Thất Hiệp tử thương. Nhiều người tỏ vẻ bi quan, cho rằng viên ngọc ấy chẳng có giá trị, thay vì hộ vệ chủ, nó trở thành sát chủ. 
Tuy nhiên nhờ viên ngọc phòng thân ấy mặt của ông Tôn Thất Hiệp vẫn tươi rói, xác ông cứ điềm nhiên như người đang ngủ mê. Mãi đến bốn ngày sau, quân sĩ liệu chừng vị tướng soái khó bề hồi sinh nên đành tẩn liệm di hài, chở về Huế để mai táng. Một gia đình quí tộc ở An Nhơn đã thừa chơ hội lén trộm viên ngọc ấy. 
Rồi kẻ trộm đã khoét vách vào phủ thờ của kiến họ nói trên. Dịp may. Ông hội đồng Tần mua lại với giá cao, tương đương với một trăm giạ lúa vào khoảng năm 1940. 
Bàn tay ông hội đồng đặt nhẹ viên ngọc quý ấy lên miếng gấm lót đáy hộp. Ông gật đầu, mỉm cười một mình với hy vọng xa xôi. Vài năm nữa, trước khi mãn phần, ông sẽ nuốt viên ngọc vào bụng (nếu đeo trước ngực thì biết đâu có kẻ sẽ đánh cắp). Xác của ông nhờ vậy mà bền vững với thiên thu… 
Ngoài cửa có tiếng động. 
Ông hội đồng giựt mình, nghĩ đến trường hợp bọn gian phi xông vào nhà, cướp giựt mấy món cổ ngoạn. 
Ông hỏi: 
– Ai làm gì vậy? 
Người lão bộc nói khàn khàn: 
– Thưa ông, khách tới. 
Giọng của lão bỗc vẫn tự nhiên. Nhưng ông hội đồng nghiêm mặt, chưa vội tin. 
Như đoán được ý của chủ, người lão bộc lại lên tiếng: 
– Thưa ông, ông chủ Hai ở Hà Tiên mới tới. 
Ông Hội đồng vững bụng, bước lại mở cửa thật nhanh. Ông chủ Hai vốn là người bạn cố tri của ông. Từ Hà Tiên, ông bạn già chịu khó tới đây, ắt có chuyện quan trọng, lý thú. 
– Ông anh ở Hà Tiên mới tới hà? Chờ tôi một chút. 
Giọng ông chủ Hai trả lời: 
– Tôi đây mà! Xe đò hư máy, bể vỏ nên tới trễ. Tôi lật đật lại đây… 
Ông hội đồng vặn cái hột xoài ngay ở khoá rồi bước ra: 
– Mời ông anh lại xa lông uống nước trà, chờ bầy trẻ lo cơm nước. 
Chủ Hai lẩm bẩm nhìn xéo về phía người lão bộc: 
– Ồ! Ðể ông già này xuống bếp lo cơm nước. Tôi hơi mệt muốn nằm trong phòng cho ấm cúng hơn. Vả lại, công việc này hơi dài dòng… 

Cửa phòng khoá chặt trở lại như trước. Ông hội đồng đề phòng”tai vách, mạch rừng.” Ðôi bạn già nheo mắt: 
– Chuyện gì dài dòng, quan trọng dữ vậy? Uống tách nước trà này rồi ông anh nói cho tôi nghe gấp. Chuyện ở Hà Tiên hả? 
Ông chủ Hai cười khẽ: 
– Tôi đố ông anh đoán ra. Bạn già với nhau, giống nhau ở điểm đó… 
– Ðiểm gì? Nói mờ ớ hoài. Thôi, tôi chịu thua. Chắc là tôi chén đời Khang Hy. 
– Trật rồi. Món đồ quý giá vô ngần, đông tây kim cổ… 
– Chắc là ông đã gặp một viên ngọc quý giá? 
Ông chủ Hai gật đầu lia lịa: 
– Ông anh đoán tài tình lắm. Người ta vừa điềm chỉ cho tôi một viên ngọc trường sinh kỳ kiệu. Ông anh chẳng bao giờ nghĩ tới công dụng lạ lùng của nó. Công dụng rõ rệt, thiết thực không phải mơ hồ như mấy loại ngọc kỵ phong, kỵ thuốc độc hoặc bắn không lủng da thịt. 
Bàn tay ông hội đồng Tần mải mân mê điếu thuốc Gò Vấp vấn chưa xong. Vừa rồi, ông chủ Hai cố ý hài hước, nhắc đến viên ngọc phòng thân của tướng Tôn Thất Hiệp. Ðể chứng tỏ sự hiểu biết khá rộng rãi của mình, ông hội đồng Tần cố vận dụng trí nhớ, nói thao thao bất thuyêt về con đường gay go mà mấy nhà chơi đồ xưa đã trải qua. Ngọc quý ở Việt Nam gồm nhiều loại… 
Nào là ngọc như ý, loại đá cẩm thạch màu xanh, chạm nổi hình con giao long, hình dáng ngọc như ý giống như cây cù ngoéo để các vị vua chúa dùng gãi ngứa sau lưng. 
Nào là ngọc lam quỳnh, tròn cỡ ngón tay cái, trong ruột khét bộng, chứa thuốc độc. Thời xưa, các vị đại thần hoặc sứ giả thường đeo nó ở ngực, phòng khi cần hy sinh, giữ tiết tháo. Gặp trường hợp khẩn cấp, các ngài đem viên ấy ra, mở nút mà uống để quyên sinh thung dung trực nghĩa. 
Sau rốt, ông hội đồng Tần lắc đầu: 
– Thôi, tôi chịu thua ông anh. Viên ngọc quý mà ông anh nói tới thuộc vào loại gì? Tôi suy nghĩ không ra. Ai có loại ngọc đó? Liệu chừng họ bán cho tôi không? 
Ông chủ Hai bắt đầu trình bày: 
– Gần đây mấy ông Tây tới núi Ba Thê để bòn vàng tại gò Óc Eo, đền vua hồi xưa, cách đây mấy ngàn năm. 
– Tôi biết tin tức đó rồi. Sao nữa? 
– Ở núi Ba Thê, người ta tìm trong ngôi mộ xưa, gặp viên ngọc trường sinh. 
Ông hội đồng Tần hơi thắc mắc: 
– Ai dám bảo đảm giá trị của viên ngọc đó. Nếu trường sinh thì tại sao chủ nhân lại chết trong ngôi mộ cổ đó? 
– Xin ông hội đồng bớt nóng nảy. Ở xóm Lê Trì, có người Miên đi núi Ba Thê để bón vàng. Năm sáu ngày liên tiếp, anh ta chẳng gặp móng gì ráo. Ðến chừng nghe đồn rằng thiên hạ đã gặp một ngội mộ xưa, anh ta đến quá trễ, chỉ còn lượm được viên ngọc màu trắng, lọt trong lòng ngực của người chết. Chắc chắn xưa kia viên ngọc được chủ nhân đeo trước ngực, đến chừng thịt nát thì nó lọt vào trong. 
Cúi cùng, anh nọ lượm viên ngọc, đem về xóm Lê Trì, bỏ lăn lóc trong cái chén trên bàn thờ. 
– Rồi làm sao ông anh gặp? Nó trường sinh ở điểm nào? 
– Một người hương ấp ở Lê trì lên Hà Tiên làm công tại lò vôi của ông Bang Sầm đếnmách bảo riêng cho tôi hay. Lập tức, tôi đến nơi xem tận mắt. 
Nó tròn cỡ ngón tay cái, khuyết một bên nhưng điêù ấy không quan hệ. Thấy viên ngọc nó có tì vết, móp méo, tôi xin phép chủ nhà đi rửa ráy cho sạch. 
Trời ơi! Nó cứng hơn đá. Tôi mài thử vào nắp lu. Nắp lu bị hao mòn. Tôi rưới nước vào, hy vọng rằng làm viên ngọc sẽ mềm “ăn” vào chất nhám. Nhưng tôi thất vọng, đem trả cho chủ. Chập sau, tôi nằm ngủ dưỡng sức, chờ chuyến xe lôi để về Hà Tiên. Ngủ xong, tôi thức dậy. 
Ông hội đồng tần chẳng còn bình tĩnh được nữa. 
– Chuyện ngủ, chuyện thức của ông sao mà dài dòng vậy? Thế gian này ai ngủ mà không thức, trừ người chết. 

Ông chủ Hai cười dòn: 
– Cái việc thức giậc của tôi thật là mầu nhiệm, phi phàm, đáng giá ngàn vàng. Sau khi thức, tôi đi rửa mặt. Tôi đứng bên cạnh lu nước, cầm cái gáo dừa. Bỗng nhiên, hai chân tôi ngứa ngáy khó chịu. Tôi dòm xuống, thấy một bầy kiến lửa; nó bụ vàng lườm ngay chỗi tôi mài thử viên ngọc lúc nãy, nó sắp hàng bò tới bò lui, từ nắp lu tới ngoài vườn. Kiến lửa ơi là kiến lửa. Tôi sanh nghe, trở về nhà mượn viên ngọc của gia chủ để trong chén rồi rót nước mưa vào. Rõ ràng hạt ngọc méo mó nọ có chất ngọt, uống vào thì mát mẻ, bổ khỏe như nước dừa xiêm Bến Tre. 
– À! May quá… 
Sau bữa cơm thịt gà xé phay, ông chủ Hai và hội đồng tần nằm kề nhau, rù rì như dod6i tri kỷ quá tương đắc. Lát sau, chủ Hai ngủ khò. Nhưng ông hội đồng Tần khó dỗ giấc ngủ. Lâu lâu, ông đánh thức người bạn già, dọ hỏi về cách thức ngoại giao với người chủ viên ngọc, phỏng định giá cả. Rốt cuộc, hai người đồng ý tranh thủ thời gian lên đường vào ngày mai, theo chuyến xe đò sớm nhứt.

Ông hội đồng hỏi: 
– Nhà của nó ở đâu? tới hay chưa? Nó tên gì? Nó giàu hay nghèo? Tôi hồ nghi nó sẽ làm giá thật cao. Hoặc có kẻ nào đến đó phổng tay trên thì mình hụt đỏi. 
Chủ Hai gật đầu từng chập: 
– Ðừng lo xa. Bữa hổm, tôi căn dặn kỹ lưỡng rồi. Chủ nhà là người đã từng chịu ơn tôi hồi chầu xưa. 
Hai người qua cây cầu khỉ, đến miếu ông Tà rồi theo đường mòn giữa hai hàng tre già mát rượi. Ông hội đồng vô cùng sung sướng, vì mình như kẻ”đạp tuyết tầm mai” mùa đông. Ông tưởng tượng đến những giờ phút mãn nguyện khi”viên ngọc nước dừa” nọ lọt vào tay mình. Chắc chắn là vị thuốc bổ khoẻ cứ mỗi buổi trưa nóng nực, ông chỉ cần bỏ viên ngọc vào chén, đổ nước lạnh vào để bào chế ra thức nước dừa, hiếm có nước cam lồ thứ thiệt. 
– Ðây rồi. Nhà này – ông chủ Hai vừa nói vừa nắm tay ông hội đồng. 
Sau vài câu xã giao thường lệ, ông chủ Hai đi thẳng vào vấn đề: 
– Chú em? Cục ngọc bữa trước còn không? 
Chủ nhà lặng thinh, gài nút cổ áo cho ra vể khiêm tốn, lễ phép. Ðôi mắt ông hội đồng Tần cứ nhướng lên, hướng về phía bàn thờ đê tìm cái chén to, trong đó có viên ngọc quí giá. Lạ quá. Mái nhà thấp chủn, trời tối om om. Cái lư nhang nằm đó trơ trẽn. Có tiến thằn lằn chắt lưỡi. Dưới bếp, mùi mắm bò hóc xông lên, khó thở. 
Hồi lâu, chủ nhà mới khai khẩu: 
– Cục ngọc nào? À, tôi nhớ rồi. Phen đó tôi đã thuât đầu đuôi cho ông nghe đó hả? Rồi chủ nhà nhìn về ông chủ Hai: 
– Ờ… Ờ… để coi. Một người bạn của tôi mượn nó, đem về Mỹ Lâm. Tôi chờ ông lâu quá. Vài ngày nữa, chắc người bạn đem về đây… 
Ông Hội đồng Tần hỏi gắt: 
– Vài ngày là bao lâu? 
– Dạ, đường xá xa xôi… 
Ông hội đồng nghĩ đến thủ đoạn làm già nên mở lời: 
– Trời! Sao không để dành cho tôi xem. Tôi biết mà”ngọc lành chờ đợi giá cao,” người xưa thường nói. Tôi đến đây xem thử và sẳn sàng chuộc nó với bất cứ giá nào. Ông chủ nhà cứ nói thiệt đem cho tôi xem thử liền bây giờ. Tôi là bạn thân của anh chủ Hai chớ nào phải kẻ xa lạ mà ngại ngùng. 
Chủ nhà như không lưu ý đến lời thỉnh cầu tha thiết ấy. Ông ta thong thả xuống nhà bếp, thúc hối vợ con bắt gà làm thịt, đãi khách qúi. 
Ông chủ Hai gật đầu: 
– Thiệt mất công quá. Dường như chủ nhà muốn đãi khách để tống khứ, phải không ông anh? Hay là mình đi qua Mỹ Lâm, cách đây chừng chục cây số thôi. 
Rồi ông gọi chủ nhà: 
– Tại sao chú không chờ tôi tới? 

– Dạ, tôi không ngờ. Người bạn nọ dường như muốn xem thử để… so sánh. 
Ông hội đồng trố mắt: 
– So sánh cái gì? Người đó cũng có một viên ngọc khác nữa à? Bòn ở núi Ba Thê? 
Chủ nhà thở phào, nhẹ nhõm: 
– Dạ… anh bạn đó tiểu nhân tìm vàng ở núi Ba Thê một lượt với tôi. Anh ta ghé nhà người quen để ăn cơm. Ăn cơm xong, trời sẫm tối, chuyển mưa đông. Vì nóng lòng muốn tới núi Ba Thê cho kịp với thiên hạ, anh bạn bất chấp mưa gió, đội nón lá, mặc áo tơi ra sân. Bỗng đâu, anh ta thấy nhiều tia sáng chóp loè, từ dưới đất chớp ngược lên trên trời. Ảnh đi phăng tới, gặp trong bụi tre gai một viên ngọc. Quí giá vô song… 
Chủ Hai nói: 
– Ủa! Mầu nhiệm quá vậy? Nó quý như viên ngọc nước dừa không? 
Chủ nhà nheo mắt: 
– Dạ, thứ khác. Tại gọi là”ngọc chớp”! 
Miệng ông hội đồng Tần há hốc: dè đầu ở thế gian này còn nhiều loại ngọc kỳ dị, có công dụng thiết thực hơn ngọc lam quỳnh, ngọc như ý mà ông gìn giữ trong cái hộp cẩn xa cừ. Ông hỏi gắt: 
– Nó chớp thiệt hay không? 
Chủ nhà mỉm cười: 
– Dạ, chớp thiệt. Tôi xin lấy một thí dụ. Từ khi gặp viên ngọc chớp, gia đình người bạn tôi sanh thêm tật ăn cơm chiều hơi trễ nải. Cơm dọn ra, gia đình ngồi chung quanh mâm, không cần đốt đèn cho sáng. Vì họ để cục ngọc đó ở mâm. Ánh sáng do viên ngọc đó chớp ra… nào kéo ngọn đèn con cóc! 
Hôm sau, hai người cám ơn gia chủ, lên đường tìm ngọc nước dừa và ngọc chớp ở tận Mỹ Lâm, theo địa chỉ rõ rệt. 
Người chủ nhà ở Mỹ Lâm tỏ vẻ thản nhiên, chẳng thèm mời hai ông khách quí vào nhà. Vừa cắt cỏ cho trâu ăn, ông ta vừa nói: 
– Anh sui của tôi ở chợ Rạch Giá tới đây, mượn hai viên ngọc đó đem về coi chơi. 
Nhà anh sui dễ kiếm lắm. Tại xóm Bánh Tằm, Cầu Ðúc, hỏi tên Năm Hến. 
Nỗi thất vọng hiện rõ rệ trên gương mặt ông hội đồng Tần. Thế rồi, ai lo phận nấy. Mối tình tri kỷ dường như sứt mẻ. Ông hội đồng cảm tạ chủ nhà rồi day qua ông chủ Hai: 
– Cám ơn anh bạn đã có công điềm chỉ. Coi bộ gay go quá. Thiệt là”kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc kè, cắc kè là mẹ kỳ nhông…” 
Ông chủ Hai nói, giọng buồn buồn: – tôi nói bằng sự thật. Tiếc vì tuổi già sức yếu, công việc làng xã còn bề bộn. Tôi cần về Hà Tiên, ông anh chịu phiền vậy… 
Hội đồng Tần nói gắt: 
– Tôi đi tới cùng cho biết đá biết vàng. Một mình tôi, tôi đi. Thử xem thời thế ra sao? 
Ðây, chợ Rạch Giá, xóm Bánh Tằm, gần Cầu Ðúc, nhà lão Năm Hến. Trước còn bỡ ngỡ, sau đến chỗ thân mật. Ông hội đồng nài nỉ hết lời: 
– Giấu giếm làm gì? Tôi muốn coi cho biết mặt hai viên ngọc đó chớ chẳng muốn mua hoặc tịch thâu. Tội nghiệp tôi. Phen này mà thất bại ắt thiên hạ cười dữ lắm. 
Lão Năm Hến lắc đầu: 
– Uổng quá. Ðối với tôi, hai viên ngọc đó cũng qúi những gìn giữ mà làm gì? Ðời này, ngoài chợ bán thiếu gì nước xá xị, nước dừa tươi. Ðường phố sáng trưng bao nhiêu đèn điện. Tôi cất hai viên ngọc chớp và ngọc nước dừa đó trong cái hộc tủ. Mấy đứa cháu nội của tôi đi học về, lục lạo, lúc tôi ngủ trưa. Tôi hỏi lại mới hay ràng tụi nó dùng ngọc mà bắn”cu li,” rớt xuống kinh xáng trước nhà từ lâu rồi! 
Bỗng dưng ông hội đồng Tần cười ha hả. Chẳng lẽ đi năn nỉ mấy đứa cháu nội của lão Năm Hến này. Rõ ràng là kẻ thất phu, giá áo túi cơm đang đùa giỡn với ông từ mấy ngày qua. Khó sống quá. Ông hội đồng tự so sánh với một sứ giả thời xa xưa. Nếu có đem theo kiểu hột ngọc đựng thuốc độc, chắc là ông đã uống để quyên sinh, giữ giá trong tiết sạch. Ông nhớ tới cái hộp cẫn xa cừ ở trong phòng. Hay là chủ Hai đã dùng quỉ kế, bày chuyện cho ông đi xa nhà -điệu hổ ly sơn – để thừa cơ hội ấy bó trí tên lão bộc làm nội ứng. Chẳng lẽ chủ Hai lại tàn nhẫn đến thế. Ôi thôi, cái nghề sưu tầm đồ cổ ngoạn mục để làm của riêng, để sống dai, sống khoẻ, để cái xác của mình chết khôn, không bao giờ hôi thúi… là cái nghề bạc bẽo, tuyệt vọng vậy thay! 
Ông đứng dậy, nói với Năm Hến: 
– Biết tôi cười chuyện gì không? 
Lão Năm Hến trợn mắt: 
– Làm sao tôi biết được? ông cười cho cái lão, người đời muôn sự của chung hả? Tôi ăn học ít ỏi lắm. 
– Ha ha… Tôi cười vì tôi sẽ làm giàu to. 
Lão Năm Hến chưng hửng; 
– Ông nói điều gì? Tôi chưa hiểu? 
Hội đồng Tần lại mở gói thuốc Gò Vấp hút phì phà, nhìn dòng nước cuồn cuộn dưới kinh, chảy vội vào chân Cầu Ðúc ra biển gần đó. 
– Tôi sẽ xin phép quan chánh tham biện chủ tình đấu thầu khúc kinh xáng trước mặt nhà này. Tôi mưới người ta đắp đập ở hai đầu kinh, chận lại đừng cho nước chảy, uổng lắm. 
Lão Năm Hến trợn mắt: 
– Bộ ông muốn tát nước lên để tìm hai viên ngọc chóp, ngọc nước dừa? Tốn kém lắm. Vô ích. Như mò kim đáy biển. 
Ông hội đồng lắc đầu, buồn dùm cho những kẻ phàm tục: 
– Mò lên làm chi. Tôi để nó nằm tại đó. Viên”ngọc nước dừa” sẽ pha vào nước. Tôi múc nước lên vô chai, đậy nút bán hàng vạn chai, cạnh tranh với”xá xị,” “li mô nách.” Còn viện”ngọc chớp” thì cứ chớp hoài suốt đêm, gió thổi không tắt, tốn xăng nhớt chạy máy. Công ty nước ngọt và công ty nhà đèn của Tây phải phá sản vì tôi cạnh tranh với họ mà. 
Bầu không khí trở nên trầm lặng. Lát sau, lão Năm Hến nói một câu xa xôi để đuổi ông khách lẩm cẩm nọ:
– Vậy thì đâu có gì lạ. Nước dưới sông bao giờ cũng ngọt xớt, nước Hậu Giang chảy về đây mà. Còn ban đêm, bữa rằm, trăng sáng soi bất cứ nhà ai. Ôi thôi! để tôi lo làm ăn… Ai mà rảnh rỗi như ông!

Hồi ức thời điêu linh… lò dầu hôi

chinhhoiuc.blogspot.com

Nguyễn Ngọc Chính

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Đọc trên Facebook thấy có bạn viết về lò dầu hôi, một loại bếp “hiện đại” trong thời kỳ “điêu linh” mà chỉ những gia đình “khá giả” mới có thể sở hữu một cái trong nhà để nấu nướng.

Dĩ nhiên lò dầu hôi dùng dầu lửa để làm chất đốt trong thời kỳ bao cấp, thay cho củi hoặc than. Lý do để loại lò này xuất hiện vì nhà nước mở ra những “của hàng chất đốt” trong đó có bán dầu hôi cho dân theo “chế độ tem phiếu”.

Xếp hàng mua dầu hôi

Những nơi này còn có khi mang một cái tên rất ngộ nghĩnh: “Cửa hàng chất đốt thanh niên”. Không phải nơi đây bán những chất đốt cho thanh niên mua về để đốt cuộc đời minh, mà đó là nơi bán dầu hôi do thanh niên quản lý, đứng ra bán theo tem phiếu!

Tem phiếu mua chất đốt

Dầu hôi là một trong những mặt hàng do nhà nước quản lý nên mới xuất hiện một sản phẩm “ăn theo” là… lò dầu hôi. Những cơ sở nhỏ lẻ của dân bắt đầu nắm bắt cơ hội đứng ra chế các loại lò đốt bằng dầu hôi.

Lò dầu hôi

Khi đi học tập về, tôi có thời gian đứng trông hàng cho một bà chị họ trong chợ Bình Tây ở tít trong Chợ Lớn. Cửa hàng của bà có bán lò và các “phụ tùng” cho bếp dầu hôi. Khi hết hàng, tôi chạy vào tổ sản xuất nhỏ lẻ của một “xì thẩu” người Hoa để lấy hàng về bán.

Đó là cơ duyên cho tôi gặp gỡ… lò dầu hôi. “Đầu óc kinh doanh” giúp tôi nảy sinh “kế hoạch” làm ăn trong thời buổi “gạo châu, củi quế”. Tôi tính toán, dân Sài Gòn được mua dầu hôi của nhà nước nên lò dầu hôi là một mặt hàng phải nói là “ăn khách”, “bán đắt như tôm tươi”.

Lò dầu hôi trong gia đình

Nghĩ là làm ngay. Tôi lên Cống Quỳnh mượn chiết xe đạp mini của một bà cô, chiếc xe đạp đã lâu không dùng đến. Từ Quận 1 tôi đạp xe vào “cơ sở sản xuất lò dầu hôi” của xì thẩu trong Chợ Lớn để lấy hàng. Rồi từ đó, chiếc xe đạp mini tỏa đi khắp các chợ lớn cũng như nhỏ ở Sài Gòn.

Bạn hàng của tôi là những chủ sạp trong chợ. Thay vì phải tự vào Chợ Lớn lấy hàng, nay có một cậu thư sinh đến giao hàng nên bà nào cũng vui, tuy “tiền công chuyên chở” hơi đắt một chút nhưng được cái tiện lợi đủ bề. 

Mặt hàng tôi mua của “xì thẩu” có đủ các thứ liên quan đến lò dầu hôi. Quan trọng nhất là “họng lò”, được coi như “trái tim” với nút điều chỉnh ngọn lửa. Giữa lò là một ống hình trụ và có thêm một ống có đục lỗ thoáng khí vây quanh để giữ ngọn lửa bốc lên theo chiều thắng đứng.

Ngoài ra còn có tim đèn (bấc) để hút dầu với cấu trúc tương tự như các loại đèn dầu thường thấy trong thời kỳ còn thắp đèn dầu từ thời… “Chị Dậu”. Loại bếp phổ biến có 12 tim, những người cẩn thận còn kiểm tra tim trước khi nấu.

Họng lò và tim lò

Khi tim bếp có ngọn lửa màu xanh là bếp trong tình trạng hoàn hảo nhưng lửa màu đỏ là dấu hiệu tim bếp có vấn đề. Lúc đó phải cắt tim cho đều hoặc thay bộ tim bếp mới. Đó là lúc các bà nội trợ tìm đến những sạp bán đồ phụ tùng lò dầu hôi trong chợ và “nuôi sống” anh chàng bỏ mối!

Đó cũng là những “đồ phụ tùng” cần thiết, là những mặt hàng tôi chuyên chở đến những sạp trong chợ, từ những chợ lớn như Bến Thành, Tân Định, Bà Chiểu cho đến những sạp nhỏ trong những chợ… không tên!

Các bà chủ sạp rất “thông cảm” với anh bỏ mối khi tôi thú thật “không thể cho gối đầu”, có nghĩa là “tiền trao, cháo múc”. Các bà vui vẻ trả tiền ngay khi nhận hàng, không như những mối hàng chuyên nghiệp khác, họ thường có “chế độ gối đầu”.

Cũng có bà hiểu anh chàng này vừa từ trại cải tạo trở về, vốn liếng chẳng có bao nhiêu nên lấy hàng là một hình thức “làm phúc”, giúp đỡ người vừa được… đổi đời. Tình người Sài Gòn là vậy!

Với chiếc xe đạp mini và những đồ phụ tùng bếp lò được xâu thành chuỗi phía sau, tôi đã “ngao du” khắp các chợ ở Sài Gòn. Chợt nhớ đến câu thơ của thi sĩ “điên” có tên Bùi Giáng:

“Sài Gòn, Chợ Lớn ngao du

Đi lên, đi xuống đã đời… du côn!”

Một chiếc lò cũ

Quả là một kinh nghiệm hiếm có khi được thâm nhập vào cái xã hội buôn bán nhỏ lẻ của “Hòn Ngọc Viễn Đông” khi miền Nam thất thủ.

Bây giờ ngồi viết lại chuyện xưa mà vẫn còn nghe đâu đây văng vẳng tiếng những đồ phụ tùng bếp lò rổn rảng phía sau lưng chiếc xe đạp mini.

Ôi, một thời… “điêu linh”!