Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Vũ Hoàng


12. Về Một Thị Trấn

Tôi trở lại Kontum nhìn lại những gì còn thấy được, để nhớ những gì đã mất đi, để tận mắt chứng kiến những cảnh tiêu điều đổ nát của một thành phố “nửa tỉnh nửa vườn”, và để xót xa. Hai tháng qua trong cơn ác mộng hãi hùng ngút ngàn lửa đạn thành phố còn lại những gì ? Phố xá buồn hiu không một bóng người, những đống gạch vụn nát dưới chân tường của bao căn nhà ngã đổ, những miếng tôn thủng lỗ nám đen treo lủng lẳng trên ngọn cây cháy khô hay trên những căn nhà chỉ còn trơ trọi chiếc sườn. Ngoại trừ một hai con đường chính dẫn ra phố lớn còn bỏ ngỏ cho người và xe cộ qua lại, hầu hết đường sá ra ngoại ô thị trấn đều bít kín bằng những đường kẽm gai chằng chịt nhiều lớp. Người ta cẩn thận treo lên đó một tấm bảng gỗ sơn trắng kẻ đen một sọ người với hai chiếc xương hình chữ X. Đó là vùng cấm địa, là khu vực không thể vượt qua trừ phi hết muốn sống, (mà có ai trong chúng ta kể cả những người quyết ở lại cố thủ trong thị trấn điêu tàn này lại chẳng muốn sống!).

Khi còn trong lòng một chiếc trực thăng cất cánh từ một bãi đáp nhỏ ngoại ô Pleiku, tôi đã liên tưởng đến cảnh tượng đổ nát của một thị trấn sừng sững chịu đựng gần hai tháng trời dưới cơn bão đạn. Và tôi đến Kontum lần này không để rong chơi cho thỏa chí, không để hẹn hò với tình nhân, cô tình nhân bé bỏng ở cuối con đường Lê Thánh Tôn yêu dấu. Tôi đến thị trấn này, như đã nói để tận mắt chứng kiến cảnh tiêu điều sau gần hai tháng thị trấn ngập tràn lửa đạn. Nhìn những gì đã mất mà hoài hoài chẳng tìm đâu ra được. Một dấu tích trong luyến tiếc nhớ thương. Những mất mát xót xa đến phát khóc.

Cũng từ trên máy bay, qua vuông cửa bỏ ngỏ, Kontum đã trở lại với tôi trước tiên bằng những chấm vàng sẩm, những chấm nhỏ li ti đều đặn khi máy bay còn ở độ cao để tránh tầm đạn địch từ dưới bắn lên không ngớt. Và những chấm đó hiện rõ dần khi máy bay lượn thấp tìm chỗ đáp. Đó là những hố đạn, lỗ bom của hơn năm mươi ngày qua. Bất giác tôi liên tưởng tới một người con gái đẹp – À, Kontum như một thiếu nữ, một thiếu nữ đẹp cơ! – một người con gái đẹp nhìn đi từ khuôn mặt, nhưng mà, qua mọi cơn bạo bệnh “trái trời” khuôn mặt đó đổi thay một cách đau xót, để lại những chấm rỗ chằng chịt. Ôi, người con gái đáng thương! Và bộ mặt Kontum bây giờ, nhìn qua vuông cửa trực thăng, là gương mặt người thiếu nữ đó. Chung quanh thị trấn, vườn ruộng, nghĩa trang hay những khoảng gò bỏ trống đều có dấu đạn bom. Những lỗ hổng sâu hoắm màu đất vung vãi còn mới nguyên. Cây trụi lá đứng trơ trông từ xa như một đám cọc.

Đám cọc cắm dưới một lòng sông nào đó trong trí nhớ, để chọc thủng hàng vạn chiếc thuyền của giặc hăng tiết tiến vội khi nước lên. Nhưng đám cọc ở đây không cắm giữa dòng sông mà cắm giữa ruộng vườn quanh những căn nhà yêu dấu. Đám cọc trở thành cọc một cách bất đắc dĩ để lại xót xa cho nhiều người không phải là giặc Nguyên!

Trước khi đáp xuống bãi đáp B15, máy bay lượn qua làng Phương Nghĩa. Một làng còn để lại trong tôi, cho đến bây giờ, thật nhiều kỷ niệm. Những kỷ niệm êm đềm của một thời. Ở đó, Phương Nghĩa dấu yêu, tôi đã gặp Hương Thu vào một đêm có trăng treo lơ lửng trên cành cây nhãn. Có gió mát dịu từ ngoài sông Dakhla thổi về. Có mùi hoa lài thơm ngát lồng trong gió. Có rất nhiều và có tôi với Hươog Thu giữa đêm trăng sáng. À, còn có tiếng cười khúc khích như tiếng kêu của con chuột nhỏ bên vai tôi. Có tiếng nói nhỏ nhẹ êm đềm như một câu thơ và sau cùng là tiếng khóc của người con gái bé bỏng đó như còn văng vẳng bên tôi, bây giờ, tôi khi tôi đi ngang qua làng Phương Nghĩa mến yêu của một thời và mãi mãi! Phương Nghĩa bây giờ nào có còn gì. Tìm đâu những vườn cây lá xanh trĩu trái. Tìm đâu những mái nhà tranh thật mát lúc nắng, thật ấm khi mưa. Ngôi trường Đào Duy Từ chỉ còn là đống gạch vun vỡ mỗi nơi một mảnh. Ngôi trường ba phần lầu với 24 phòng có nhiều cửa sổ. Không lục tìm trong trí nhớ thì làm sao biết đây là ngôi trường yêu dấu ngày xưa. Tôi nghĩ đến những người học trò mai kia trở lại. Trường cũ của các em hiện bày trước mắt một cảnh lượng hết sức thê thảm. Những kỷ nỉệm đã chôn chặt bên dưới những miếng gạch ngói vỡ vụng. Sẽ có bao nhiêu người trong những học trò cũ đó ôm mặt mà khóc khi trở lại với trường của mình ? Tôi bàng hoàng xúc động vì chính mình cũng đã hơn một lần gặp phải tình cảnh tương tự.

Tám năm bỏ trường mà đi rong chơi lận đận. Hình ảnh tôi mang theo vẫn là ngôi trường tỉnh của những năm cuối cùng ở bậc Trung học. Tôi ước mơ một lần trở lại quê nhà để thăm trường xưa, tìm lại chỗ ngồi của mình ở chiếc bàn cuối về góc trái. Và tôi đã trở về nhưng không tìm lại được những hình ảnh dấu yêu đó bởi trường đã đổ nát sau biến cố Mậu Thân.

Tôi đã đứng trước cổng trường hàng giờ để cúi đầu mặc niệm. Để nghe lòng rưng rưng muốn khóc. Gạch ngói và cỏ đã phủ kín dấu chân tôi và dấu chân bè bạn ngày xưa. Tôi hằn học với mình tại sao lại trở về. Bởi vì, ngôi trường đổ nát, những hình ảnh thân yêu ngày nào đã bị dập vùi.

Mai này những học sinh ở đây trở lại với ngôi trường Đào Duy Từ hẳn hoi rồi họ cũng sẽ nhận lấy một đau buồn xót xa như tôi bây giờ. Tôi thương họ như thể đã thương tôi. Tôi thấy chính mình cũng bị mất mát, bị cướp giật. Cướp giật những kỷ niệm thay vì được nuôi lớn để đủ nghị lực mà sống. Thì ra chiến tranh đã làm mất mát nhiều quá. Và sau chiến tranh thường khi kẻ bại trận phải bồi thường, nhung có những thứ mà kẻ bại trận không thể bồi thường được, trong đó có kỷ niệm. Thật đáng tiếc!

⬤

Ở đâu có bước chân giặc đi qua ở sẽ chẳng còn gì. Lời đó tôi đã đọc ở đâu, chắc là trên một tấm bảng cắm cở dọc đường tôi đã qua để tuyên truyền. Bây giờ, khi trở lại Kontum, tôi thấy câu nói đó thật xác thực. Câu đó đáng được mọi người đọc đi đọc lại cho thuộc nằm lòng và chịu khó suy ngẫm. Giặc cùng nghĩa với phá hoại. Tôi nghĩ vậy không hiểu có gì chủ quan lắm chăng ? Nhưng dầu sao, với tôi, khi chứng kiến cảnh tượng tiêu điều của làng Phương Nghĩa, tôi thấy tôi nói như vậy không có gì quá đáng. Trên một quãng đường dài tôi đã qua, con đường chạy qua làng Phương Nghĩa, nhà cửa chỉ còn trơ lại cái nền đen với những đống tro nguội lạnh.

Giặc đã giẫm chân lên làng này sau nhiều ngày vây hãm. Trước khi rút lui, rất cẩn thận mang theo tất cả những gì ăn được và nhóm lửa đốt làng. Ăn chẳng được thì đạp đổ, đó cũng là một phương sách, một quy luật của chiến tranh ? Cũng trên đường đi vào làng Phương Nghĩa, tôi đã gặp một người mẹ cặm cụi bơi đống tro tàn. Bà tìm của cải chôn dấu trước khi bỏ chạy ? Không. Tôi đã hỏi, bà tìm dấu tích đứa con thân yêu của mình. Nghe tin chồng chết ở Tân Cảnh, người thiếu phụ vội vàng đi đón xác chồng.

Đứa con lên mười đang ngã bệnh đành để lại nhà nhờ hàng xóm trông nom. Từ bệnh viện 2 Dã Chiến qua nhà xác Dân y không tìm đâu ra người chồng đã “mất”. Xác chồng được đưa về nhà xác Quân Y viện Pleiku. Người thiếu phụ quên bẳng đứa con để nghĩ đến chồng. Khi chôn cất chồng xong trở về thì ngôi nhà bây giờ chỉ còn là một nắm tro. Nước mắt còn đâu mà khóc.

Nước mắt đã khô cạn tự bao giờ! Bây giờ láng giềng còn ai để mà hỏi tin tức đứa con yêu dấu. Bới đống tro tàn tìm dấu tích đứa con cũng là một cách nuôi nấng chút hy vọng là con mình còn được sống! Đó là một thảm trạng của muôn ngàn thảm trạng của chiến tranh tại thành phố bé nhỏ này và tại một vài nơi khác có dấu chân giặc đi qua.

Phương Nghĩa ngày xưa với những vườn cây ăn trái bốn mùa. Với những mái nhà san sát. Với những con đường rợp bóng phượng, bóng me. Phương Nghĩa mỗi chiều với những tà áo màu, áo trắng đến giáo đường. Phương Nghĩa bên này bờ sông Dakhla; dòng sông có nước chảy ngược về nguồn, mỗi đêm trăng sáng nghe vang tiếng hò đạp nước lên soi. Gió xào xạc những bông cờ bắp. Và, trên bãi cát trắng sau làng, từng đôi thanh niên nắm tay nhau cười giòn giã.

Bây giờ… bây giờ Phương Nghĩa nồng nặc mùi xác chết nằm rải rác đó đây. Những cái xác chôn dập vội vàng còn đôi tay, đôi chân làm thức ăn cho ruồi nhặng. Hôm nay Phương Nghĩa tiêu điều. Tôi trở lại đây tìm lại buớc chân ngày xưa trên con đường mòn đi vào làng mà Hương Thu mỗi ngày hai buổi đến trường qua con đường đó. Tôi cố tìm kiếm một chút dấu tích, chẳng hạn một bóng cây, một sân cỏ mà Hương Thu đã ngồi, lẽ dĩ nhiên là ngồi bên tôi, và tôi đã thất vọng. Không có một hình ảnh quen thuộc nào giúp tôi tìm kiếm những dấu tích đó. Phương Nghĩa sau cơn bão đạn đã mất mát quá nhiều và những mất mát đã làm tôi xót xa.

⬤

Trên con đường dẫn ra phố chính tôi tình cờ gặp lại Hưng và Tân, hai người bạn xa cách đã lâu bây giờ mới gặp lại. Hai thằng bạn trông hốc hác quá chừng. Râu dài như tóc và tóc dài hơn râu! Bộ áo quần trận nhàu nát, nhớp nhúa, cái bảng tên may trên áo đã không còn đọc được, bụi bám đỏ bám đầy.

Hưng kể cho tôi nghe thành tích của Tiểu đoàn nó “hạ” chiến xa giặc. Nó nói thật say sưa, giọng nói trầm trầm đều đặn như một thi sĩ đang đọc thơ mình trước một cử tọa đông đúc và biết nghe thơ. Hắn nói về những người bạn đã chết, đã anh dũng hy sinh, để giữ thị trấn này, và lúc đó khuôn mặt Hưng trông dàu dàu buồn bã. Hắn cũng nói đến Trâm, người yêu, của hắn đã không còn đủ bình tĩnh ngồi ở Cần Thơ chờ tin thắng trận từ Kontum. Trâm đã đến với Hưng trong cơn khói lửa ngút ngàn vây phủ bốn bề. Và bây giờ, khi gặp tôi, Hưng hết lời ngợi ca tình yêu đó. Tôi hiểu Hưng cùng nỗi sung sướng còn lại với một cảm xúc lâng lâng trong hồn chàng.

Tân cũng tranh phần Hưng kể lại những ngày nó sống thật kham khổ trên Quốc lộ 14. Hai bạn tôi có quá nhiều điều muốn kể. Chẳng đứa nào hỏi tôi câu nào, chúng đồng hóa tôi như một máy thâu, chỉ nghe mà không được phát. Tôi không lấy làm bực bội gì cả, trái lại thấy thương bạn mình quá, gần hai tháng bạn tôi chẳng được tâm sự. Những gì muốn nói cứ chồng chất ngày này qua ngày khác để chờ có dịp phát nổ. Và gặp tôi như một ngọn nến châm thùng thuốc nổ đó.

Khác với Hưng nói chuyện thật say sưa, Tân nói nhỏ chỉ vừa đủ cho ba đứa nghe, giọng nói rời rạc chìm lỉm. Tân nói về những vết thương trên người chưa khô mũ. Về những cấp chỉ huy can trường mà nó hết lòng cảm phục. Trung tá Hưng sau hai mươi chín ngày dẫn đoàn quân đi tiên phuông khai thông Quốc lộ chỉ còn một nắm xương bọc lấy da. Cuối cùng khi con lộ dài 48 cây số được mở rộng cho người vào ra Kontum thì người sĩ quan can trường đó đã được binh sĩ chiến đoàn khiêng lên máy bay đưa ông về bệnh viện, ông không được đồng bào Kontum choàng lên vai những vòng hoa chiến thắng vào một ngày cuối cùng trên Quốc lộ. Tân cũng nói đến Thiếu Tá Triết, người được chỉ định thay thế Trung Tá Hưng bị thương. Tân nói đó là một sĩ quan đảm lược và gan lì. Một sự can đảm cần thiết để lật ngược thế cờ ở khúc đường cuối của Quốc lộ khi chiến đoàn vượt qua con suối máu cuối cùng để đi vào thị trấn Kontum. Tân còn kể cho tôi nghe suốt 29 ngày ròng rã anh chỉ uống nước bẩn đỏ ngầu đầy những lăng quăng, và có nhiều người ngã bệnh sốt rét cấp tính. Họ vừa run rẩy khi lên cơn sốt vừa cắn chốt lựu đạn tung vào đám giặc điên cuồng đang cố tìm cách bám vào thành chiến xa. Hai mươi chín ngày với những gói cơm sấy dùng nước lã dơ bẩn. Và cuối cùng đoàn quân đã hoàn tất nhiệm vụ của mình. Anh mô tả đoạn đường anh vừa đi qua như một con lộ máu. Tân nói đến núi Chu Pao và nhân đó đọc cho tôi nghe mấy câu thơ trong một bài thơ của một nhà thơ trẻ:

“Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi chiếc khăn tang một tấc đường”

(thơ Lâm Hảo Dũng)

Tân nhấn mạnh, chỉ có hai câu thơ đó mới nói lên được những gian truân mà bạn bè anh đã trải qua. Anh nói anh ít đọc thơ nhưng anh thuộc lòng bài thơ “Dưới chân đồi Chu Pao” đó của Lâm Hảo Dũng. Lẽ dĩ nhiên khi khẳng định như vậy về giá trị của một bài thơ anh đã có những lý lẽ riêng của mình.

Tân và Hưng dắt tôi đi thăm một vài nơi trong thị trấn. Những gì còn lại và những gì đã mất của thành phố chịu quả nhiều bất hạnh. Lúc ra về, tạm biệt một phố thị điêu tàn, tôi mang theo một chút buồn, một chút xót xa ngậm ngùỉ về một nơi mà tôi hết lòng yêu mến. Hương Thu của Phương Nghĩa nay chắc đã không còn? Và tôi nghe như tiếng khóc nàng ngày nào còn ở trong tôi.

VH

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Sao Bắc Đẩu


11. 10 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Thanh Toán Xong Chu Pao Khúc Xương Khó Nuốt

Chúng tôi ngồi bên bờ đường 14, con đường đã chôn xác hàng ngàn chiến sĩ VN, hàng ngàn lính BV. Hai chai rượu Martell của những thân hữu, những nhà phát hành sách báo VN, bị “bẻ cổ” rồi được chuyền từ tay này sang tay khác. Hai chai rượu này tôi tự ý trích ra trong số một thùng 12 chai được gởi đến Kontum, tặng những chiến sĩ tử thủ. Tôi nghĩ đã làm đúng ý những người bạn ở Saigon: đem 1 phút ấm lòng đến cho những người ngoài chiến tuyến dù họ đang ở Chu Pao hay ở Kontum.

40 người lính ngồi thành một vòng tròn, đường kính khoảng 15 thước. Chai rượu được rót vào cái nắp đậy, mỗi người một nắp. Câu chuyện cởi mở, thoải mải. Mọi người đều có cảm giác đã làm xong nhiệm vụ, xứng đáng thụ hưởng những phút nghỉ ngơi.

Ngoài đường, những chiếc xe hàng, xe đò ì ạch vượt quãng đường xấu, xấu vì bom đạn tàn phá, xấu vì trời đang mùa mưa. Những hành khách ngồi trên xe vẫy chúng tôi tíu tít, miệng la lớn: “cám ơn, cám ơn lắm”. Có người ném vào giữa “tiệc rượu” của chúng tôi một gói thuốc. Những người đầu tiên tái xử dụng đường 14 đều vui ra mặt, thương lính ra mặt. Những chiếc thiết giáp cháy đen, những quân xa lật chổng bánh rải rác hai bên đường đã là những chứng tích hùng biện nói lên với họ cái giá trị mà các đơn vị anh hùng đã phải trả để mở lại cho họ đường trở về tìm lại mái nhà ấm, tìm thửa vườn, khoảng sân mà hai tháng trước họ đã phải bỏ tất cả lại để chỉ chạy lấy thân.

Anh Thiếu úy Tám, Đại Đội trưởng Đại Đội 2, Tiểu Đoàn 62 BĐQ khẽ nói:

– Có triệu bạc thưởng nào lớn hơn những phút này! Nhìn đồng bào trở về Kontum, mình thấy kết quả những việc làm của mình, những hy sinh của mình như được cụ thể hóa.

Đại tá Đương, chỉ huy trưởng BĐQ Quân Khu II gật gù:

– Chu Pao quả là một khúc xương khó nuốt, hai tháng trước, đọc Diều Hâu, các anh nêu lên tính chất quan trọng của Chu Pao mình cũng chỉ biết vậy. Bây giờ mới thấy thấm thía đúng: không giữ Chu Pao không giữ Kontum được.

Sương mù và những trận đánh lựu đạn

Thiếu Tá Đồng Đăng Khoa, Tiểu Đoàn trưởng 71 BĐQ lắc đầu, rùng mình khi nhắc lại hình ảnh hãi hùng của những trận cận chiến:

– Chúng tôi thanh toán mục tiêu bằng lựu đạn. Đánh từng hầm, từng hầm một. Không có cách nào khác hơn để làm im tiếng súng của những đám xạ thủ đã bị xiềng chân vào hầm.

– Sao các anh không chụp hình ? Tổng Cục CTCT đang treo giải thưởng cho những người chụp hình lính BV bị xiềng chân.

Anh Jean, một HSQ lai Pháp 75 phần trăm lắc đầu:

– Nội việc chặt chân cái xác chết ra để kéo súng xuống núi cũng đã khó khăn lắm rồi. Địch quân phối trí hầm của chúng thành hình chữ V, hầm này yểm trợ cho hầm kia. Tử thần hẹn gặp chúng tôi ở khắp 4 phía và bất cứ lúc nào. Thì giờ đâu chúng tôi nghĩ đến chuyện chụp hình nữa ?

Tôi nhìn lên những đỉnh Chu Pao, Chu Thoi ngán ngẩm:

– Leo được lên đó và leo dưới hỏa lực của địch quân thật không phải là chuyện đi dạo.

Đại Úy Lê Thiên Phong, Tiểu Đoàn trưởng 62 BĐQ gật đầu xác nhận:

– Cam go lắm anh ạ. Nhưng cũng may lúc này có sương mù buổi sáng. Sương dày đặc đến mức cách nhau khoảng 10 thước là không nhìn thấy gì nữa rồi. Anh có để ý tất cả xe đang chạy ngoài đường đều mở đèn không ? Cũng nhờ sương mù mà chúng tôi bò lên đánh được những vị trí súng của địch.

Tôi nghĩ đến những buổi thuyết trình mà tôi được nghe tại một vài bộ chỉ huy lớn : yếu tố thường được người ta nhắc nhở đến là B52, là bom CBU, là tia sáng laser v.v… nhưng rồi rốt cuộc, bên những chiến cụ tối tân đó, lòng can đảm và tài thiện chiến của người lính BB vẫn là yếu tố quyết định.

Tôi hỏi:

– Giá trị tác chiến của quân lính BV thế nào?

Đại úy Phan Thới Bình, người anh hùng của những trận Lệ Khánh, Chu Pao lắc đầu.

– Đại khái cũng thường thôi. Điều này tưởng cũng dễ hiểu: lính BV đã đánh trận nào chưa mà thiện chiến. Trong khi đó thì lính mình đánh năm này sang năm khác. Tôi nghĩ nếu không bị cầm chân trong những vị trí cố định, bất lợi, quân đội mình đã giải quyết xong trận Tổng tấn công này từ lâu rồi.

Đại Úy Bình là trong những sĩ quan thăng cấp nhanh nhất trong quân đội. Từ Thiếu úy, anh lên Đại úy chỉ trong vòng 24 tháng và tất cả những cấp bực này anh đều thăng đặc cách tại mặt trận.

Anh tiếp:

– Núi non trùng điệp như thế kia, nếu lính BV chỉ khá thôi chứ đừng nói giỏi thì những đơn vị BĐQ chúng tôi cũng không lên được rồi.

Tôi đã chứng kiến những lần đánh Chu Pao trước và đã có lần tôi tường thuật lại những trận đánh đó. Hàng trung đoàn BB có chiến xa yểm trợ, từ phi tuần này đến phi tuần khác tiếp tục đánh và cả B.52 nữa, nhưng cuối cùng mọi người đành nhìn nhận rằng Chu Pao quả là khúc xương khó nuốt.

Đại Tá Đương chỉ cho tôi thấy một vết mẻ trên phiến đá lớn gần đấy rồi nói:

– Bom B52 mà chỉ làm “trầy” sơ sịa hòn đá như vậy thì mong gì dùng bom trục chúng nó ra khỏi hầm được. Chúng tôi đánh bằng lựu đạn đánh từng hầm một.

Anh Thiếu úy Sơn, tiền sát viên Pháo binh cho thêm một chi tiết:

– Hầm hố ở đây, địch quân đều đào theo kiểu hầm Triều Tiên. Bom hay đại bác có đánh trúng ngay trên hầm mới có kết quả. Đánh bên cạnh thì kể như huề.

Một người sĩ quan anh hùng trong quân đội BV

Trong lúc anh Sơn đang loay hoay vẽ bằng dao găm kiểu hầm Triều Tiên trên mặt đất cho tôi xem thì anh Thiếu úy Tám vẻ mặt trầm tư bảo tôi:

– Khi nãy Đại úy Bình nói rằng giá trị chiến đấu của lính BV rất tầm thường. Tôi hoàn toàn đồng ý. Có thể nói rằng họ nhát nữa. Nếu không bị khống chế chặt chẽ, bị xiềng chân v.v.. chắc họ đã bỏ chạy từ lâu. Tuy nhiên theo tôi thấy thì đó chỉ là nhận xét chung. Trong cái quân đội tầm thường đó, cũng vẫn có người khá.

Đại úy Bình cười chúm chím (khá có duyên).

– Chắc mày muốn nói trường hợp của anh Thiếu úy Phạm văn Đôi ?

Tám gật đầu. Anh tiếp tục nói với tôi, người độc nhất không biết những chuyện mà quanh “bàn tiệc ” này ai cũng biết rất rõ:

– Anh Đôi là một Thiếu úy trẻ, tốt nghiệp trường Võ Bị Lục Quân Hà Nội năm 1968. Anh ta chỉ huy một trung đội trấn giữ ngọn đồi trọc mà anh thấy cao chót vót kia cà (vừa nói Tám vừa chỉ cho tôi thấy ngọn đồi). Sương mù ôm kín ngọn núi nên lúc chúng tôi bò lên đến tận nơi, đánh rồi, lựu đạn nổ rồi anh mới bắt đầu tìm cách kháng cự. Dĩ nhiên là đối với những người lính BĐQ quen tốc chiến để giải quyết chớp nhoáng chiến trường thì cái phút hạ phong đầu tiên của đơn vị BV đã đặt họ vào tình trạng không gỡ được nữa. Trên mỗi miệng hầm đều đã có một người lính Biệt Động. Tất cả lựu đạn nổ gần như cùng một lượt. Sau loạt tiếng nổ này, sức chiến đấu của Trung đội BV chỉ còn bằng một phần mười so với giá trị tác chiến của chính đơn vị họ, một phút trước. Những tiếng rên siết cả những tiếng van lơn nữa nổi lên khắp nơi, nhưng theo lệnh tôi, Đại đội 2/62 BĐQ vẫn núp kín vào những ghềnh đá. Kinh nghiệm chiến trường làm chúng tôi hiểu rằng dù có đánh tàn nhẫn cách nào, đánh bất ngờ cách nào, chúng tôi cũng không thể tiêu diệt 100 phần trăm quân số địch ngay trong đòn đầu. Thế nào cũng có những chú bận đau bụng, bận xuống suối múc nước v.v… và nhờ vậy mà sống sót. Người sống sót trong trận đánh lựu đạn này lại chính là Thiếu úy Đôi, Trung đội trưởng. Trong lúc sơ ý, chúng tôi không thấy hầm của anh, đào hơi xa những hầm khác.

Chúng tôi núp khoảng chừng 1 phút thì nghe tiếng đại liên “quạt” ào ào trên đầu. Nhưng, như anh thấy quanh anh đó, trọng những ghềnh đá này, bom đạn không giết người. Điều đó là sự thật đối với những người lính Bắc Việt cũng như đối với chúng tôi. Ngồi an toàn dưới một tảng đá lớn, tôi lấy tất cả thì giờ cần thiết để quan sát hầm đại liên của địch và những lối di chuyển có thể đưa chúng tôi đến miệng hầm. Một phút sau, chúng tôi đã đứng trên đầu anh Đôi (dĩ nhiên khi đó chúng tôi không biết người xạ thủ đại liên phía dưới là 1 sĩ quan BV) Chúng tôi chờ 1 quãng ngừng của tràng đạn để lên tiếng gọi anh đầu hàng. Binh sĩ đã hành động như thường lệ cho địch quân một giới hạn thời gian và bảo cho bọ biết trước là sau khoảng thờỉ gian đó nếu họ không ném vũ khí ra, đưa cao tay lên đầu và bước ra khỏi hầm, lựu đạn sẽ ném xuống.

Chúng tôi chờ đợi. Một người lính ĐĐQ đếm những giây chót trong cuộc sống của anh SQ Bắc Việt.

– … Bẩy, tám, chín…

Miệng đếm, tay người lính mũ nâu đã cầm sẵn một quả lựu đạn rút chốt nhưng anh chưa kịp xử dụng thì một tiếng nổ rung chuyển đã vang lên. Căn hầm dưới chân chúng tôi bốc khói mù mịt. Trên miệng hầm một anh lính BĐQ khác bị miểng văng trúng bị thương nhẹ.

Tôi nhìn kỹ vào hầm quan sát. Nhất định sau một tiếng nổ như vậy bên trong hầm kín không thể còn một sinh vật nào nữa cả. Tuy vậy, khi tiến vào hầm, chúng tôi vẫn dè dặt. Trước mắt tôi, anh quân nhân BV với quân hàm Thiếu úy trên cổ áo nằm sóng soài, ngực vỡ ra vì bị phá bởi sức nổ của quả lựu đạn mà chính anh đã xử dụng: anh tự tử để không bị bắt.

Nghe xong câu chuyện khá dài tôi nhắp một nắp Martell, kết luận.

– Ít nhất, đó cũng là một người có liêm sỉ.

Đại úy Phong:

– Và là một thi sĩ nữa. Trong túi anh, ngoài những tài liệu quân sự, chúng tôi còn tìm thấy một tấm ảnh chụp chung với một người đàn bà (có lẽ là vợ anh). Mặt sau có 2 câu thơ :

Ngày nào trái đất còn quay
Trái tim còn đập, tình nầy còn yêu
.

Sau khi Đại úy Phong đọc xong 2 câu thơ nói lên tâm sự của một người lính xa vợ, tôi chợt nghe không khí quanh “bàn tiệc” như nặng hơn. Chai rượu cạn cũng được chuyền tay với nhịp độ mau hơn. Mọi người đều như muốn quên thật nhanh việc mà chính mắt họ đã chứng kiến 48 giờ trước.

Tôi hiểu. Những người lính mũ nâu, mũ đỏ, mũ xanh v.v… là những người lính có giá trị chiến đấu cao nhất của quân đội VN. Họ có thể lăn vào thanh toán khẩu đại liên đang khạc đạn ngăn cản bước tiến của họ. Họ có thể, họ đã và hiện nay họ vẫn còn đang chịu đựng hàng trăm ngày dài chiến đấu gian khổ, thiếu thốn, nguy hiểm, cam go mà không hề hé răng than phiền nửa lời. Nhưng họ cần một điều: đối tượng trước mặt họ phải là một khuôn mặt độc ác gian manh, ghê tởm v.v … chứ đừng là một người lính cũng biết yêu, biết nhớ vợ như họ.

Nhìn 40 khuôn mặt đen sạm vì mưa nắng cao nguyên bỗng nhiên tôi không còn thấy cái góc anh hùng gan lì của họ nữa. Tôi thử hình dung những người đàn bà sau lưng họ, những đứa trẻ quấn quít bên chân họ. Cái việc vận dụng trí tưởng tượng này không đòi hỏi tôi phải cố gắng một chút nào cả. Tôi biết họ quá nhiều, tôi biết những trại gia binh bẩn thỉu, không ngân khoản bảo trì, tôi biết những đám tang lạnh lẽo, những vành khăn sô đơn côi. Qua tất cả những cái biết đó, đang thấm thía hiểu phút khó chịu của những thiên thần mũ nâu trước cái chết của một người lính địch.

Tôi nhớ lại một câu nói của người lính già tên tuổi: Thống tướng Mac Arthur. Nguyên văn câu nói như thế nào, tôi không lập lại thật đúng.

Tôi chỉ xin viết đại ý của vị danh tướng này:

– Trọn đời sống trong quân ngũ vậy mà vẫn có một việc tôi không tài nào hiểu được : Đó là sức chịu đựng của người lính Bộ Binh. Anh ta di chuyển, mang theo trên lưng tất cả tài sản: Nhà bếp, nhà thương, phòng ngủ, tâm tư v.v… Anh tiến lên mặt trận hay từ mặt trận trở về thì mỗi ngày 24 giờ, giờ nào cũng có thể là giờ hẹn gặp của anh với tử thần. Nếu anh chưa gẫy gập xuống, quả là một phép lạ.

Người lính BB mà Thống tướng Mac Arthur mô tả là người lính BB Hoa Kỳ. Trên lưng người lính VN còn biết bao nhiêu gánh nặng nữa: Sự bất tài của những cấp chỉ huy, thăng thưởng thuyên chuyển qua ngã mua quan bán tước, sự trống vắng của đơn vì nạn lính kiểng, lính ma, sự thiếu thốn một hậu phương thật tình thương yêu, cảm thông với tiền tuyến.

Với tất cả những sức nặng đó trên lưng người lính VN vẫn đang làm được cái công việc mà 2 tháng trước đây không ai tin rằng họ làm nổi: đập vụn thành từng manh mún nhỏ đạo quân viễn chinh BV được trang bị mạnh hơn họ, được chiến đấu trong những điều kiện lợi hơn họ.

Trước sự chịu đựng anh hùng đó, người ta chỉ còn một việc để làm: Ngả nón bái phục.

SBĐ

Những ngày dài trên quê hương

Bút Ký
Phóng Sự Chiến Trường

Văn Nghệ Dân Tộc xuất bản 1972

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Phan Nhật Nam


10. Trên Đỉnh Charlie

Trong lúc những bạn tôi, những bạn thiết đã từng chung sống qua những ngày dài đầy âm động hào hùng rực rỡ, những người ấy đang nhai cơm sấy, uống nước hố bom, ngồi trong giao thông hào, nhào mình từ các “slick” xuống và đang… khó khăn. Nỗi khó khăn của một cái chết từ từ chắc chắn có khoảng cách, tiếng động khi các viên đạn 130 ly départ từ hốc núi bay đến, viên đạn bay đến “delay” một thời khắc – Thời khắc lặng lẽ tê điếng. Xong, viên đạn nổ với toàn thể tàn phá.

Trong những lúc đó, tôi đứng ngồi lười lẫm, vây bọc bởi một không khí bệ rạc dật dờ của bệnh viện, tụ họp với những người sớm mệt mỏi ở chiến trường, loay hoay rắc rối cùng các thứ thuốc men, những buổi tập “vật lý trị liệu”. Đời sống bốc một mùi ngây ngất nhạt thếch buồn buồn.

Bài viết như một lời tạ lỗi, cũng là lời chào tiễn những kẻ đã ra đi, như hòn đất vĩnh biệt ném xuống đáy huyệt đau đớn cho “anh Năm”, Thinh, Hùng “mập” và những lính thân ái nhiều lần tôi đã gặp…

Sau đây là nội dung câu chuyện thường tình và bi hùng của một trận đánh trong cuộc chiến cuối mùa. Trận đánh nhỏ, cấp Tiểu Đoàn, trên ba đỉnh núi trọc, dưới đám cỏ tranh, khuất sâu sau cành lá của dãy đường đỉnh phía Tây đường 14. Trận đánh nhỏ nhưng chất chứa toàn thể tuyệt vọng, phi lý và bão lửa của cuộc chiến tàn khốc dày đặc, trong đó người lính Việt Nam đã anh dũng chiến đấu vượt qua ý niệm – Anh dũng, tĩnh từ dùng nhiều quá hóa nhàm nhưng thật ra không còn ngữ từ nào để xác nhận tính cách của những người lính Nhảy Dù đã chiến đấu và chết trên trên cao độ được đặt tên là C hay Charlie… Một đỉnh núi nhỏ nằm trong trùng trùng của núi rừng cao nguyên chất ngất.

Viết cũng để dành cho M, người bạn thân, bị ngộ nhận sau trận đánh quá nhiều kẽ hở từ lúc thiết kế. Xác nhận M không thua, và thái độ muốn bỏ qua, quên đi niềm kiêu hãnh của mình là một điều không đúng. Thật sự M không quên, không muốn quên hay quên không nổi… M cũng không bại trận . Chẳng có gì gọi là thua trong cuộc chiến tranh vượt ra khỏi giới hạn và kích thước của mình, điều quan trọng là đã chiến đấu đúng cỡ. M đã làm được chuyện nầy, nhưng cái lon Thiếu tá quá nhỏ và trận đánh chỉ là lớp sơn bề mặt… Đấy là ngọn lửa để nung chín, làm già giặn trưởng thành hơn…

Viết như đốt ngọn lửa tự tin cho người bạn, viết để xác nhận những người chết, dù xác không mang về được vẫn là những anh hùng mà định mạng đau đớn của dân tộc bắt buộc phải dẫn lên để tồn tại qua cơn điêu linh, món quà cay độc do một đấng thượng đế khốn nạn đã đổ xuống trên quê hương. Đến đây, người gặp người.

Con đường Hồ Chí Mình khi vào đến đất Lào rẽ đến vùng ba biên ở phía đông cao nguyên Boloven chia làm hai nhánh. Nhánh thứ nhất từ Chayane đâm thẳng biên giới xuyên qua dãy Chumonray để nhắm vào Đakto. Nhánh thứ hai từ BanTasseng qua trại Lệ-Khánh và Kontum là điểm cuối cùng, trong quan niệm chiến thuật của Bắc quân, thị trấn phải chiếm giữ để làm bàn đạp lần xuống Pleiku, rồi từ đây đi về phía đông, bình nguyên vùng Bình Định. Gọi nhánh thứ nhất là nhánh Bắc, nhánh thứ nhì là nhánh Nam… Trong chiến dịch xuân hè 72 của mặt trận B3, đường rẽ phía Bắc được xử dụng, từ đỉnh 1773 của núi Chumonray con đường không thể gọi là một nhánh nhỏ của “đường mòn Hồ chí Minh” nữa, nhưng phải gọi đó là một cái lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằn ngoèo qua các cao độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dãy Big Manma Mountain rồi bò theo hướng Đông, cho đến tỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con đường phải quẹo qua trái đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại… Dừng lại vì phía đông hướng trước mặt chỉ cách 10 cây số con sông Pô Kô đang dậy sóng, con sông ầm đổ qua ghè đá ồn ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên kia sông, quốc lộ 14 chỉ khoảng trên dưới 6 cây số và đầu con đường là Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch. Từ ngày chiến tranh “giải phóng” bùng nổ. Đây rồi “nồi cơm điện National”, đây Tân Cảnh hấp dẫn ngon lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới một thung lũng bát ngát ở đằng kia… Bộ đội ta tiến lên! Nhưng không được nữa, con đường đã bị dừng lại, và bộ đội ta dù được tùng thiết, dù được đại pháo dọn đường cũng phải dừng lại, vì đỉnh 960 chính là bãi đáp C, là cứ điểm Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã xuống Lz này từ ngày 2-4. Con cháu Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa…. Nỗ lực kinh khiếp kéo dài trên năm mươi cây số đường núi, từ ngã rẽ đất Lào phải đứng lại vì chạm phải sức người. Ở đây, người đã gặp nhau…

Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con đường cuồng tín và tội nghiệp của miền Bắc đã làm được tất cả. Con đường núi của tướng Stilwell từ Miến Điện đến Trùng Khánh cũng là một sự khủng khiếp, đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc và giá trị của nó… Cả nước Tàu sống bám vào cái ống thậm thượt hun hút này. Nước Tàu dân chủ tự do, nước Tàu đồng minh tuyệt diệu của người Mỹ dễ thương, cần phải sống để chống đỡ trục vĩ đại Bá Linh–Đông Kinh. Con đường đáng tiền và đáng sợ. Nhưng con đường này làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các “ong biển” tuyệt hảo, những người lính Công binh chiến đấu hãnh diện của Mỹ Quốc giàu sang hùng mạnh…

Năm mươi cây số đường xuyên sơn của bộ đội ta thì khác, bộ đội làm bằng tay trong đêm tối, làm dưới tấm lưới thép của B52 trên chiếc thảm tử thần đầy bom bi CBU. Sức người và lòng cuồng tín ghê gớm đã vượt qua giới hạn, đấy không còn là người với thịt đã biết mệt mỏi đau đớn, cũng không phải là người với trí óc biết nguy biến và sợ hãi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp chìm đắm trong ảo tưởng và gian nguy triền miên. Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân thời được hoàn thành từng phân từng thước, Bắc quân theo nó đi về đông…

Nhưng đến đây, ở cao độ 960 người lính Bắc Việt không tiến được nữa vì người đã gặp người. Một thứ người rất thường và giản dị, người biết lo âu, biết sợ nguy biến, người có ước mơ và ham muốn vụn vặt, những người không thần thánh hóa lãnh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn ân tình… Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc “tới” nhất của quân lực miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận địa. Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ý định của đối phương. Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan vỡ, họ đã gặp lính Nhảy Dù Việt Nam.

Nhất kiếm trấn ải

Anh Năm bố trí quân hết xẩy. Cứ điểm C, hay Charlie hay cao độ 960 cho thằng 1 (Đại Đội 1) giữ. Phía Bắc của C là C1 cho thằng 3 do Hùng “mập” làm Đại Đội trưởng. Đại úy thôi, nhưng người có đủ tác phong và khả năng để tiến xa nơn nữa. Hừng cũng là tay văn nghệ, là cựu lãnh tụ sinh viên. Hùng có kích thước của tướng Thắng ở hình thức và lời nói, Hùng “mập” không phải là một “simple Captain”, Hùng có ý chí và đảm lược, nhưng bây giờ mới là Đại úy nên giữ phía Bắc của Charlie! Đồng ý, Hùng “mập” đem quân lên phía Bắc dưới chân Yankee đào hầm và giao thông hào, căng mìn bẫy để chờ con cháu Bác, những chiến sĩ Điện Biên… “Điện Biên cái mẹ gì, lúc xưa bố nó đánh Điện Biên chứ đâu phải nó, chú tôi cũng Tiểu Đoàn trưởng đánh Điện Biên lúc trước, bây giờ tụi nó là gì ? Không lẽ tôi là Tây sao ?” Và Charlie chính cống giao cho Thinh, Trung úy khoá 25 Thủ Đức. Thinh còn trẻ tuổi người lẫn tuổi lính. Thinh có vẻ yếu trước mắt mọi người vì Thinh đẹp trai. Đã đẹp trai tốt mã thì đánh giặc hơi yếu, chẳng hiểu sao phần nhiều là như thế. Những anh có vẻ tài tử ăn nói ngon lành thường thường hay lạnh cẳng. Con người mà, được cái này mất cái khác. Nhưng anh Năm, dưới cái nhìn sắc sảo của con ó, kiêm thêm sự “suy tư” của Mễ đã chọn Thinh để giữ Charlie, vì chắc được một điều ; đây là một tay “dur”, một thứ liều, loại kép trẻ đang lên của trận địa.. Thinh được lãnh hãnh diện “Nhất kiếm trấn ải ”. Và những ngày sau, Thinh đã chứng tỏ người chỉ huy mình không nhầm lẫn. Tuần còn lại Tiểu Đoàn lên ở cao điểm 1020 hay C2, anh Năm bảo Mễ:

– Mình giữ hột lạc này (ở bản đồ cao điểm thườg giống hình hột lạc), vì phía Nam tao chắc toàn tụi nó, lịnh hành quân bắt mình phải trấn cửa thằng Charlie. Bố khỉ, khó quá, trước sau gì tụi nó cũng đánh và mình chỉ gắng “thủ”.

Thủ, vậy là yếu rồi, lực lượng Nhảy Dù có ưu điểm vì được thế lưu động, bây giờ kẹt trên một đỉnh núi để thủ. Trong ý niệm hành quân, vị trí không được quan niệm như một điểm cần cố thủ, trận mưa pháo cối và hỏa tiễn… Đêm thật dài, người ở Charlie chờ đợi và theo dõi kết quả. “Tiên sư, tụi thằng Mạnh (Tiểu Đoàn ở Delta) bị rồi”, Bộ chỉ huy 11 Dù chong mắt vào loa khuếch đại của máy truyền tin… Trời dần sáng, Delta lấy lại được, quân ta thắng. Anh Năm nhìn Mễ:

– Mày thấy đấy, chúng nó cũng sẽ chơi với mình cách này, nó rút ưu khuyết điểm của Delta để “dứt” mình. Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn im lặng, đó cũng là nhận xét chung của mọi người . Bao giờ đến lượt mình ?

Nhưng “anh Năm” không thụ động, con hổ dù bị nhốt trong chuồng vẫn còn nguyên phong độ của nó. Không cần phải “luận” lâu, đây quyết định của anh.

– Mễ, mày đem hai thằng 2 và 4 (Đại Đội 2 và 4) lên chiếm tao cái này. – Anh chỉ vào cao điểm ở Nam C2. – chiếm được sẽ cho thêm một thằng giữ nó, mình đã bị phân tán mỏng thì cho mỏng luôn, càng mỏng càng tốt, tránh được pháo, đỡ bị tụi nó vây… Mày nghe chưa ?

Mễ gật đầu, anh Năm “thấy” trước, nó cũng chung ý nghĩ. Đã vào bẫy thì mình phải thoát, một đỉnh núi không thể là vị trí để cố thủ.

– Tôi nghe lời anh Năm. – Mễ trả lời.

Trời vừa sáng nó quay sang bảo Hải:

– Ông cho hai thằng 2 và 4 chuẩn bị, mình đi là ăn.

Ba đợt xung phong không thành, Bắc quân không dại dột để bỏ vị trí rất nhiều ưu điểm. Sườn dốc quân ta “chạy” bằng tay lẫn chân vẫn không nhưng nhiệm vụ thì phản lại. Quân ta hớ hênh ngay từ lúc đứng tấn, đường gươm đã chệch khỏi yếu huyệt đối phương. Anh Năm, Mễ, Hải đều biết rõ như thế. Nhưng làm gì được, “tao mới chỉ là Trung Tá, hôm họp hành quân lại được thuyết trình 320 (Sư Đoàn Điện Biên) đã rút về Tây.

– Thôi mình gắng vậy, đã xuống đây thì phải giữ chứ biết làm sao!

– Anh Năm yên chí, mình “hơn tiền” tụi nó mà…– Mễ chắc giọng.

Nhưng thật ra tất cả chỉ là những câu nói bề mặt, phía trong, sau những lý luận và phân tách do sự nhạy cảm về chiến trường mọi người đều cùng ý nghĩ –Xong rồi, mình lọt bẫy, chiến tranh miền núi là chiến tranh của cao điểm, đành rằng C2 và C cũng là là cao điểm nhưng 960 và 1020 làm sao chế ngự được 1773, 1274, 1512 của Big Manma Mountain và một dãy đường đỉnh phía Nam của rặng Chu To Sang… Và pháo binh của “tụi nó”. Pháo kèm một rừng cối như kỳ ở Hạ Lào… Sự thông minh tinh tế của những “sĩ quan trẻ” phải ngừng lại ở đây không dám nghĩ thêm nữa. Phần nhiệm vụ của lệnh hành quân đã giao cho họ đỉnh 960. Họ chỉ có trong tay một đỉnh núi trọc để sửa soạn vinh quang cùng cái chết. Họ chỉ có được một Charlie trơ trọi bốc hơi dưới nắng đỏ nóng chảy của trời Tây Nguyên. Định mệnh, sức mạnh khốn kiếp đã bắt như thế.

Ngày 6, Delta ở phía Nam bị đánh, đúng chiến thuật, trước khi đánh lính ông Giáp ào xuống một …

(thiếu trang 154)

…bám được, AK, thượng liên chỉ là đồ chơi nhỏ, 12ly7 hạ nòng và 75 sơn pháo bắn thẳng giăng ngang hàng lưới lửa…

“Cho thằng Mễ lui” Anh Năm bảo Hải, trán cau lại anh nhìn xuống đất, gỡ kính chớp mắt, nói sau tiếng chặc lưỡi : “Mình bị một con dao đâm lún cán vào lưng!”

Những ngày sau tương đối bình yên, hằng ngày các Đại Đội 1, 2, 3, 4 tung các đứa con ra xa lục soát, chỉ trừ đường về Nam nơi tụi “chó đẻ” đang chui trong núi. Làm sao “móc” nó ra được ? Bom thả xuống hằng ngày nhưng chỉ là bom miễng. Hầm “tụi nó” đào theo chữ U, chữ con c… gì làm sao bom “lách” vào được!

Anh Năm đi lại trên “hột lạc” nhìn bốn hướng trùng trùng, và xa xa trong ánh nắng về phía Tây, cuối con đường trong vùng “Núi lớn” có bụi mù…

– Xe chúng nó, Tăng hay GMC tụi nó, bom, bom, Hải! gọi Lữ Đoàn …

– Để em gọi, Molotova chứ không phải GMC anh Năm!

– Thì đấy là GMC của Nga, mầy biết gì!!

Đàn em thì bao giờ cũng chẳng “biết mẹ gì”. Anh Năm hay phủ đầu như vậy, nhưng đấy chỉ là cách nói, anh rõ ưu điểm của mỗi thằng như một máy ghi cực tốt. Máy bay ta ào ào bay tới, con đĩ “Lan 19” lượn một vòng trên vùng được chỉ định, cho “ra” một trái khói. Khu trục ào xuống, bom nổ dâng cột khói lên cao…

-Tiên sư, bom ném thì hay nhưng sợ tụi nó trốn rồi, nó không trốn bằng cách de nhưng lại tới mình gần hơn thì bỏ mẹ …

Sau cơn bom, khói bay lên không, trong ánh nắng lại có lớp bụi mới bốc lên…

– “Tăng” nữa! Đông quá, tụi nó chưa bị… Tiên sư nó trốn ở đâu nhỉ?

Trên đồi cao anh Năm đứng im như con báo nhìn lũ sài lang. Tiến tới hàng hàng lớp lớp. Làm gì được bây giờ, không lẽ xin thêm phi tuần bom sao?

Ngày 11, trận địa pháo bắt đầu, pháo thật sự, 122, 130 rơi xuống C, Cl, C2 không phải từng trái, nhưng từng chùm, từng loạt… Một, hai, ba… bốn, năm, sáu. Hải cố gắng đếm:

– Mày làm gì thế, điên à? – anh Năm vừa hỏi vừa cười…

– Mình gắng đếm để báo cho chính xác!

– Thế thì mày phải đếm bằng hàng chục, một chục, hai chục…Tụi nó đâu “đi tiền” lẻ…

– Tụi nó chơi tôi! – Thinh ở Charlie báo cáo qua máy.

– Mầy giữ nổi không? – Anh Năm cướp ống liên hợp trên tay Hải.

– Trình đích thân suya là tôi giữ được, xin cho pháo mình nổ gần tôi chút nữa…

Pháo ở Vẻ Vang rơi trước, xuống sườn phía đông của cứ điểm. 105 và 155 đều đặn từng trải một…

– C… bắn gì quí phái vậy, nó tấn công ở phía Tây, xin tụi ở căn cứ 5 bắn xuống dễ hơn.

Hải bốc ba bốn cái máy một lúc, năm ngón tay chuyên “xoa” và “nặn” di chuyển nhẹ như chớp .“Thằng này gọi khều là phải nó khều cái gì đúng cái đó”. – Anh Năm còn gắng phịa một câu…

Pháo ở căn cứ 5, Sơn Tây cùng ào xuống một cú. Thế này mới được – Anh Năm gật gù. Tiếng Thinh vang vang trong máy: Đích thân cho như vậy, em đánh tụi nó như chơi… Tốt, cho gần hơn 50 thước!

Bốn mươi lăm phút sau, pháo im, cả ta lẫn của địch. Anh Năm lên hầm chong ống nhòm xem thằng 1 bên kia lục soát. Súng và xác tụi nó nằm dài dài…

– Nó đánh thằng 1 để thử sức, chỉ là đợt chơi, cú dứt sẽ với mình..

– Trung Tá, ở trên họ không tin tụi nó pháo bằng 130 ly. – Hải báo cáo.

– Gì? – Anh Năm chỉ gắt được một tiếng. Như thế là người đang cáu, trường hợp này rất ít, và anh vốn rất tỉnh, sự giận chỉ đến sau chót của chịu đựng.

– Họ bảo mày sao?

– “Họ” bảo tôi kiếm mảnh 130 ly để gởi về!!

– Đến đây mà kiếm, muốn thấy súng thì cũng đến đây, tao mà hoảng đi để báo cáo láo sao !!– Anh đá một hòn đất bay tung. – Tụi nó xài toàn đạn “Delay” mới thế này… Câu nói ngắn đau đớn như một vùng vẫy tuyệt vọng.

– Cho sửa sang hầm hố lại, ngày mai gì tụi nó cũng chơi nữa.

Trước khi bước đi anh quay sang Hải:

– Mầy trình lại với Lữ Đoàn, đây là 130 ly thật, 130 ly với đạn “Delay”, loại xuyên phá… Mày bảo tao nói thế.

Đêm xuống thật mau, đêm núi rừng thẫm màu và đầy đe dọa. Sao trên cao lấp lánh, sương mù đùn lớp lớp. Đêm như có hình khối chuyển dịch, đêm kinh khiếp như chất chứa hàng ngàn sinh vật đang bò dần vào cứ điểm. Đêm yên lặng, nhưng khối yên lặng kinh dị như khoảng thời gian từ khi viên đạn ra khỏi nòng và sắp sửa “chui” xuống mái hầm. Trong bóng tối, mấy trăm con người trên ba cứ điểm dựng đứng đôi mắt. Ngủ chỉ là khoảng khắc ngắn để đôi mắt khép lại, đầu gục xuống, xong giật mình tỉnh giấc như vừa qua một cơn mê dài… Tiểu Đoàn 11 Dù qua đêm trong chập chờn sắc buốt với cảm giác có viên đạn vô tình đang bay thẳng vào mặt. Có ráng hồng ở bên kia núi, ngày đã tới, ánh sáng đẹp và âm vang hân hoan. Tiếng nhạc lặng lẽ nồng nàn vì đã sống qua được một đêm.

Ngày 12 bắt đầu, lính cong lưng xuống trên đất để đào thêm độ sâu, càng sâu càng tốt. Tỷ lệ được sống sót là lớp đất đá vô tri này, đất được đổ lên mái… Con người chui lọt vào giữa đất đá, tội nghiệp và thụ động như con sâu ẩn mình trong tổ. Pháo sẽ đến lúc nào… Câu hỏi âm thầm vang trong đầu của hàng trăm người, ba cứ điểm im lặng lơ thơ vài sợi khói mỏng manh, chỉ có tiếng cuốc chạm vào đất đá vang vang đều đều như hơi thở bị ngắt khoảng.

Trong lều chỉ huy của Hải, anh Năm Tiểu Đoàn Trưởng đang chỉ những điểm nghi ngờ Bắc quân đặt súng.

– Chắc chắn chúng nó chôn súng ở đây. – Anh chỉ tay trên các đỉnh Kngok To Im Kagok Im Derong, toàn là cao độ trên 1500, tụi nó thấỵ mình ở đây rõ như mình thấy thằng 1 ở dưới Charlie… Ngày hôm qua nó bắn mình không trật một phát ra ngoài… Mầy xin mấy phi tuần để sẵn, có gì cứ dội xuống… Xong, ông Mễ và Bác sĩ Liệu về hầm đi, đừng tụ tập một nơi.

Mễ và Liệu đứng dậy:

– Chào Trung Tá!

Anh Năm gật đầu, hình như anh gượng cười, có điều gì khó khăn sắp xảy ra. Không ai biết, nhưng tiếng nói của mọi người đều có vẻ cứng cứng đổ vỡ. Tai ương và nguy biến làm con người tê liệt.

– Thôi, tôi về có gì tôi chạy qua với ông. – Anh Năm cũng đứng dậy sau một lúc ngồi im lặng.

Hải tiễn anh ra cổng hầm, anh bước lên nặng nề và chậm, chiếc lưng cong xuống. Anh đi trên đất đá đào xới với dáng điệu của một con hổ khi trở lại rừng xưa bị tàn phá.

11 giờ 5, pháo lại bắt đầu nhưng C2 bị nặng hơn C và C1.

Hải đếm từng chục trái một. Nó hét trong máy báo cáo với Lữ Đoàn:

– Tôi và hai đứa con cùng bị một lúc, tọa độ đặt súng ở yếu tố buổi sáng, không ước lượng được, trên hai trăm trái rồi… Tụi nó tấn công C.

Bắc quân từ Tây và Tây Nam đồng nhào lên C, những người ở C2 nhìn xuống sườn đồi thấy lúc nhúc những bóng áo vàng di chuyển chậm chạp lui tới ở phía trái của cứ điểm.

– Nó đánh giặc kỳ vậy? – Anh hạ sĩ quan hành quân hỏi Hải.

– Tụi nó điên, đâu phải Sư Đoàn Điện Biên mà phải gọi là sư đoàn “điên”, đ… có thấy ai ngu bằng tụi nó.

Lính của Thinh nhỏm dậy khỏi giao thông hào, súng bắn không nhắm, lựu đạn ném không phải lấy đà, ta và địch cách nhau không đầy một tầm lựu đạn… C2 vẫn im lìm dưới mưa đạn và lửa…

800 trái hơn rồi… Đ.m… chưa đầy một tiếng nó đã nổ hơn tám bớp. – Hải ngồi bẹp xuống đất lẩm bẩm chính mình…

Trong máy nội bộ (máy giữa Tiểu Đoàn và các Đại Đội) tiếng chuyền lịnh của Thinh chững chạc và tự tin :“ Đợi tụi nó tới gần ta bắn, chỉ là con nít không biết đánh giặc… Tụi bây là lính Nhảy Dù mà thua là yếu đó… ”. Hải cố mỉm cười, nhưng nụ cười không thành hình. Pháo vẫn nổ liên hồi như kêu gọi… Tụi nó đòi dứt đứa con mình! Quái lạ sao chẳng thấy Anh Năm gọi qua, có chuyện gì?

Mễ không buồn nghĩ đến số vũ khí của 2 Đại Đội 3 và 1 tịch thu được. Anh Năm chết, nó là ông Phó tự động lên thay thế… Trách nhiệm quá nặng trong hoàn cảnh kẹt cứng. Và anh Năm, ông đàn anh thân mến từ bao nhiêu năm, gian nguy và khổ cực, bao ngày dài, cùng chia sớt đến đây là hết, mười hai năm chiến trận của một đời người phấn đấu. Anh Năm được gói bằng ba Poncho cột ba vòng băng cứu thương. Vĩnh biệt anh. Hầm bị ba trái cực mạnh, chịu sao thấu, cuộc đời sao dành cho anh toàn hoạn nạn… Hoạn nạn của ba mươi năm ở đời chưa đủ sao, bây giờ để lại cho anh món quà chót, món quà cuối cùng và độc ác. Vĩnh biệt anh Năm. Mễ, Hải, Liệu đưa mắt nhìn nhau… Trời chiều, cao nguyên sẩm bóng nắng, đêm lại sắp đến, chiếc bẫy sập từ từ, lũ người tuyệt vọng nhìn thấy những gân máu đỏ chạy phẫn nộ, hấp hối trong mắt nhau.

Đốt Charlie

Bây giờ là buổi chiều, buổi chiều nắng vàng và gió lộng, không còn tiếng nổ trong không gian. Ba mỏm núi bốc những sợi khói nhỏ, nóng không phải vì hơi nóng mặt trời nhưng âm ỉ của hơi thuốc súng chưa kịp tan.

– Thiếu Tá…

Hải gọi Mễ. Ít khi đứng riêng chúng nó gọi nhau bằng cấp bực, nhưng bây giờ tình hình đã khác. Trách nhiệm và bổn phận mới cùng những xao động trong lòng… Hải nhắc nhở Mễ :

– Thiếu Tá tổng kết mình bị 20 chết và 40 bị thương cần di tản…

Mễ gật đầu, đưa mắt hỏi Liệu:

– Đúng vậy!

Anh Toubib hết đồ nghề đứng im lặng nhìn xuống xác “Anh Năm”.

Người lính mang máy truyền tin tới:

– Dạ, ông Hùng muốn nói chuyện với Thiếu Tá…

Có tiếng Hùng ở C1 vọng trong máy:

– Trình Mê Linh, ở tôi thì không có gì nhưng từ sáng tới giờ sao chẳng nghe 008 (Tiểu Đoàn Trưởng) nói gì với tôi hết…

Giọng Hùng có vẻ trách móc xa vắng, nó linh cảm được tai ương xảy ra… Mễ đưa mắt nhìn xác “anh Năm” đôi mắt đỏ mệt mỏi chớp chớp hình như có giọt nước mắt ở lưng tròng.

– 008 đã bắt tay với ông Phan (Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1/ND đã chết ở Hạ Lào) … Biết thế thôi, đừng nói với một ai nữa…

– Dạ, tôi rõ… – Hùng không còn sức mạnh để hỏi thêm.

Súng lại nổ dưới Charlie… “Cất” anh Năm lại, đừng cho ai biết, tất cả giao thông hào… Trong sáng chiều những người lính ở C2 và C1 chăm chú theo dõi trận đánh ở C…

Cối và 75 sơn pháo từ những cao độ phía Tây bắn từng nhịp bốn trái một và bộ binh Điện Biên từ Tây, Tây Nam xếp hàng diễn hành đi vào…

Đúng là tụi nó điên rồi, chẳng điều động, ẩn núp gì cả. “Điện Biên cái gì thế này !!!” Lính ở C1 và C2 đồng đứng dậy khỏi giao thông hào chơi trò chơi mới…

– Mày bắn vào cái hầm có 4 thằng núp kia, nếu trật thì để tao…

Hai người lính của Đại Đội 112 thách nhau dùng phóng lựu và M72 từ đồi cao bắn xuống… Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất bụi bay lên. 4 Bắc quân nằm bẹp dí trên sườn đồi. Chết, sinh Bắc tử Nam, cậu lính nhỏ bỏ gia đình và quê hương mang trong lòng ảo tưởng “giải phóng” trong chốc lát chỉ là tấm bia thịt cho viên đạn vô tình.

Cuộc tấn công kéo dài trong 5 đợt. Lính của Thinh đánh tỉnh táo và chắc chắn, nhưng bỗng nhiên Mễ có ý định rút nó về, nó hết đạn rồi, nhỡ tối nay thì sao…. Hải gọi máy bảo Thinh:

– 401 (Thinh) đây 06 (Hải), anh xếp valy lại, nhớ mang mấy thằng rách áo… về ở với bố mẹ…

– Dạ, dạ, tôi nghe rõ, tôi cũng có ý định đó vì kẹo hết, nhưng sợ 07 và 08 hiểu lầm..

Đến giờ này Thinh vẫn không biết người anh cả của Tiểu Đoàn đã đi khuất… Trong tiếng nói còn sáng rực niềm tin : “ về với bố mẹ ”. Thinh đâu tiên đoán được đến lượt mình vào ngày mai!!

Đại Đội 111 rút về được C2. Năm giờ chiều trời chỉ còn chút nắng đỏ, gió lạnh… Đỉnh Charlie trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn… Và trong hoang vu hấp hối của cỏ cây đó, hằng trăm người lính Bắc Việt, “những chiến sĩ Điện Biên của Sư Đoàn Thép”, những bộ binh Bắc quân vang danh theo bốn chiều lục địa. Người lính cộng sản thượng hảo hạng của nước VNDCCH đã từng đánh bại thực dân Pháp cùng ào lên Charlie một lượt, những cặp chân đã vượt đèo Mụ Già đã qua Tchẻpone, Lao Bảo, những bàn chân gang thép mang linh hồn vũ bão vào Nam giải phóng, đánh đuổi “đế quốc Mỹ” chạy nhanh hơn, mau hơn chút nữa, hàng trăm con người cùng lăn lộn, dành giựt trên mảnh đất cằn cỗi của Charlie để đào xới, bới móc… Kiếm thức ăn! Họ tìm gạo sấy, thịt hộp và Cration. Cuối đường của chiến tranh giải phóng, các chiến sĩ Điện Biên anh dũng cùng nhào lên trên những hộp thịt được làm tại Mỹ Quốc!!

– Bom! Bom! Đốt cháy tụi nó hết. – Mễ nói như thét.

– Có ngay!

Hải “khều” ngay ba phi tuần Napalm… Toán lính Bắc định tháo chạy, nhưng không kịp nữa. Theo một hướng Tây Đông chính xác, ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc… Lửa lồng lộng, lửa vàng đỏ trộn với khói đen cuộn lên lớp lớp… Trong cây cỏ cháy khét có mùi thịt. Thịt của người và thịt thức ăn. Lính Điện Biên chết trên mục tiêu và chiến lợi phẩm của họ.

– Mầy “sinh Bắc tử Nam” thì tao cũng “Airborn, Ground died”. Không hiểu là câu nói đùa hay tiếng thét uất hận của lời thề… Mễ đứng như tượng đá bất động, cho đến khi cuộc “nướng cháy” chấm dứt.

“Xác anh Năm cất dưới hầm chưa Hải?”.

“Rồi!”

Ngày 13-4, Mễ cho 112 xuống chiếm lại C. Lính của Hùng “móm” vừa từ trên “hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay bởi một hàng rào mảnh của cối 60, 80, 75 bắn thẳng từ ngọn đồi phía Tây… Bộ Chỉ huy Tiểu Đoàn không một phút do dự : Cho thằng 2 về, tụi nó hận mình về vụ hôm qua, không thể đi được.

Lên phía Bắc không được, Mễ cho thằng 1 ra hướng Đông… Phải có một bãi đáp bằng bất cứ giá nào. Thương binh, người chết, xác anh Năm cần phải di tản… Sự hiện diện của những đau đớn này làm linh hồn nặng xuống, nó nâng cao hào hùng nhưng gây nhiều phản ứng lo sợ. Phải di tản gấp số thương binh!

Mễ nói với Thinh:

– Ông gắng ra chỗ này (một trảng trống cách C2 khoảng 300 về hướng Đông) kiếm được Lz nầy di tản hết thương binh và người chết, tụi còn lại mới yên lòng được. Đừng để cho lính có cảm giác bị bỏ rơi, vây khổn, tinh thần tụi nó giản dị nên dễ bị xúc động… Hơn nữa mình hết đạn và nước. Nhé, Ông gắng ra cho được nghe.

– Dạ, Thiếu Tá để tôi.

Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn Đại Đội chỉ trên 40 người rời khỏi căn cứ. Cái trảng trống kia rồi, 50, 40, 30… Gắng chút nữa, mình chiếm nó để có nước uống! Nhưng không thể được. Bắc quân đã bắt đầu khai hỏa, bốn phía cùng nổ từ các điểm xung quanh. Nguy hiểm hơn, địch cắt đứt đường về. Quân ở C2 ra đón bị chặn lại, không thể dùng một thứ vũ khí gì ngoài lựu đạn. Tiến không được thối bị kẹt, trên đầu những cao điểm ở phía Nam đạn sơn pháo nổ đầy trời… Thinh chết chỉ còn đường này thôi cho người chiến sĩ trẻ. Thinh chết giữa trời trên đồi cháy, viên đạn cuối cùng vừa bắn ra.. bóng Bắc quân vây kín, trái lựu đạn cuối cùng vừa ném, người sĩ quan tuổi vừa hai mươi ngã xuống bởi chục nòng súng cùng nhả đạn.

Chuẩn úy Ba nhào đến ôm xác Thinh, hứng nốt những viên đạn còn lại.

Mễ nổi điên trong giao thông hào, nó gọi máy liên lạc với 111:

– Ở đấy còn có ai?

– Có tôi. Khánh (sĩ quan Tiền sát viên pháo binh).

– Anh coi Đại Đội cố dẫn về lại tôi, có thằng 4 đón anh.

– Nghe, Đại Bàng.

Người sĩ quan Pháo binh góp quân làm một mũi dùi.

– Đánh! Để tao đi đầu, lựu đạn mở kíp hết…

Trung sĩ Lung, người Hạ sĩ quan thâm niên nhất, xung trận như mũi tên lửa, Bắc quân dạt ra, đường về có được rồi, lính bắn che nhau, Lung về chót. Còn hai “ông thày” Lung chạy ngược lại nơi xác Thinh và Ba. Một loại đạn mới của tên Bắc quân vô tình, chầm chậm, Lung ngã xuống. Ba xác chết chồng lên nhau bất động.

Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2, căn cứ chính.

Tụi nó “dứt” mình, được, tụi mày Điện Biên thì tao Nhảy Dù xem ai hơn ai. Tất cả ai ngồi được, kể cả thương binh ra giao thông hào, thằng nào kêu la, khóc lóc tao bắn chết. Chính tao bắn… Tụi mầy để thua tao cho bọn binh vào đây. Chết chết tất cả…”

Mễ nói xong thì ngất. Liệu nói nhỏ:

– Tim ông nó mệt rồi, ông đừng “gonfler” quá, chết luôn, hết người chỉ huy…

Lính Điện Biên thổi kèn xung phong dưới yểm trợ của cối và sơn pháo. Quân ta sau mỗi loạt súng cối, đứng khỏi giao thông hào… Vào nữa đi con, vào nữa. Lính Sư Đoàn Thép khờ khạo cứ xếp hàng đi đến, toàn là trẻ con, đây là trận đầu cũng là trận cuối của chúng. Kinh nghiệm, vinh quang của lớp cha anh họ ngày nào chỉ là ảo giác. Trước mặt lính Dù Việt Nam chỉ có một lớp con trẻ được chơi trò đánh nhau, chơi trong ép buộc tuyệt vọng… Có đứa nào “già” không mày ? Tao thấy toàn con nít, đánh tay không tao cũng bóp cổ tụi nó được… Một lớp, hai lớp, những “đứa trẻ” cứ tuần tự đi tới…

– Không nương tay với tụi nó nữa, napalm…Hải.

– Có ngay!

Hai chiếc Skyraider xuống thấp chưa bao giờ thấp hơn được, thấy được chiếc mũ trắng của anh Pilot, hình như anh ta muốn nhìn quân bạn, anh ta muốn “chào” thăm hỏi, như sau mỗi lần thả “líp” nhẩy dù chót, phi cơ hạ thấp cách mặt đất khoảng trên 30 thước để “chào bãi”. Ở đây cũng thế, hai chiếc máy bay sát xuống, coi như đụng ngọn cây… Thả bom với độ thấp như thế này chắc như cua gạch… Bom nổ không chệch một phân, cháy xém vào đến tuyến phòng thủ quân ta, nhưng như thế này mới đúng cỡ, lũ “trẻ con” lăn lộn bốc lửa la hét chạy dạt ra xa… Nhưng, ô kìa, 2 chiếc Skyraider không lên được nữa, sự can đảm và tình đồng đội đã giết các anh. Các anh đã xuống quá thấp để ném chính xác, để giải tỏa, để “bung” địch ra cho chúng tôi… Các anh quên thân rồi, hai cánh đại bàng chúi xuống, xuống nữa và bốc cháy… Vĩnh biệt các anh ! Đám cháy kết thúc trận đánh, thây người cháy đen nằm chật sườn đồi!

Chúng nó đánh để làm gì nhỉ. Một ngày của hai mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu nóng đi qua… Trời tối dần, đêm xuống, người lính dựa lưng vào giao thông hào liếm cặp môi khô… Từ sáng đến giờ chưa uống nước!

Ngày 14-4. Tính đến hai giờ chiều, C2 “nhận” hơn hai ngàn 130 “delay” và nổ chụp. Toàn bộ Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù “co” mình trong giao thông hào dưới cơn mưa pháo.

– Nó nổ xa mình. – Hải thều thào nói.

– Ừ, phía Tây, ra ngoài tuyến mình.

Liệu tiếp lời, gật đầu đồng ý với Hải… Nhưng thật ra tất cả đều nói dối, pháo không rơi một điểm, một tuyến, pháo “chụp” toàn thể C2, pháo tan nát và mênh mông…

Nên chỉ là câu nói để tự đánh lừa, để trấn tĩnh đồng đội.

– Hôm nay là 14? Liệu nói bâng quơ, gợi chuyện trong tiếng nổ ầm ĩ sắc buốt. Mễ và Hải không trả lời đưa mắt lên dò hỏi. Còn câu nói nào “nổi” được trên cơn mưa lũ của sắt thép vang động.

– Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày đầy tháng con tôi!

Bốn con mắt lại mở ra, Mễ và Hải không hiểu lời Liệu, không thể hiểu nổi… Vì Liệu đang nghĩ : Không lẽ ngày đầy tháng con, bố lại chết ! “Chết” chỉ chữ nhỏ vô nghĩa nầy làm tê liệt toàn thể phản ứng. Chết đến từ tiếng “bục” ở nơi xa, nơi rặng Big Manma rồi“oàng” giữa hai khoảng cách đó chữ “Chết” như một giải quang báo sáng rực, xong bùng nổ lên cùng toàn thể sức cộng phá… Tiếp tục, tiếp tục, bốn cây 130 ở nơi xa nã đạn xuống C2 nhịp nhàng.

– Trình đại bàng hơn bốn ông họ Trần rồi! – Mễ báo với Lữ Đoàn… Nó cố cười với Hải, nhưng cặp môi chỉ kéo lên được chút nhỏ…

17 giờ trận mưa chấm dứt, để cối và 75 điểm giọt.

– Xong rồi, tụi nó “chơi” lại. – Mễ đứng khỏi giao thông hào.

Đêm này là quyết định: Mình, nó last fighting từ giờ phút này. Mễ báo với Lữ Đoàn:

– Bây giờ tụi nó hết “Incomming” (pháo) và bắt đầu Ground-attack. – Không phải nó sính tiếng “Tây”, nhưng vì những danh từ trên phải ngụy hóa, thời giờ đâu bây giờ để tìm từng chữ trên bảng ngụy danh…

– Nó đánh anh chưa?

– Bắt đầu ở hướng cũ, Tây và Tây Nam. Heavy attack!

Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng colt lên nòng. Anh Bác sĩ Liệu lúi húi tìm thấy trái lựu đạn… Tiên sư, tôi hết “đồ nghề” rồi, chơi đồ chơi mới vậy. Mễ cong người nín thở, ngày hôm qua nó bị một quả Bétard nổ quá gần. Sức ép kẹt cứng xương sườn lại lấm chấm vết máu bầm. Gắng quên, đánh cái đã.

Trời tối dần. Hơi núi đùn lên cao, đậm đặc thêm vì khói súng. Bắc quân chiếm được một phần giao thông hào tuyến phòng thủ của Đại Đội 114.

– Trình Mê Linh, nó thấy của tôi một “khúc ruột”. – Cho, (Đại Đội trưởng 114) báo cáo cho Mễ…

– Gắng lấy lại, nó ăn ruột anh thì bao tử cũng bị nhai luôn, sống sao được. – Đến giờ phút này còn phịa được câu nói đùa.

– Hải báo với Lữ Đoàn nó vào tuyến mình rồi…

– Tao nói không nổi, Liệu nói máy hộ…

Bác sĩ Liệu, to con tốt tướng như cao bồi già đang lẩy súng nghe lạch cạch. Được để tôi …

– Tụi nó cắm được 1/4 vỏ lạc của tôi rồi. – Liệu nói với giọng đùa cợt.

– Ông phải la ơi ới mới được, đâu thế ở ngoài tưởng mình nói dỡn…

– Dỡn làm sao? không đùa mình lại mếu à… Ê, chạy đâu.

Liệu quay nòng súng colt về một anh lính đang dáo dác định chạy vào giao thông hào trung tâm…

– Ông Bác sĩ không bắn, thì tao bắn mầy…cho mầy biết chết như thế nào!

Chết như thế nào. Mễ cũng buồn cười vì lời nói của mình. Chết thì biết chó thế nào nữa ? Ầm! một trái bộc phá nổ thật sát bắn Mễ ngã xuống. Nó lồm cồm bò dậy, sờ lưng:

– Bác sĩ, chắc tao bị thương nặng!! – Mễ thều thào.

Liệu xoa tay vào lưng Mễ, thân áo rách lỗ chỗ. Đếch có gì cả, mảnh nhỏ như bụi, vì ông yếu sức nên ngất như thế thôi, đây là hậu quả cú đấm của thằng Hennessy trước kia.

– C…. giờ nầy ông còn nói đùa được…

– Stupid, why you fire 45? – Anh Cố vấn Trưởng Duffy hét vào tai Liệu.

– I haye only this!! Đ..m.. giờ này còn why với what, what cái cần câu…

– Một đợt, hai đợt… năm đợt, Bắc quân tràn vào bị đẩy ra chiếm được một khúc giao thông hào rồi từ từ lấn từng đoạn.

– Không xong, nó nhiều tiền quá!! – Hải lầm bầm, Mễ đưa mắt nhìn Liệu, Hải và Anh Cố vấn Trưởng…

– Tôi muốn ở lại! – Mễ chắc giọng…

– Nó vào chỗ của thằng 4 rồi đang lần qua thằng 2, mình hết đạn… Dọt, tôi đề nghị… – Hải nói.

– Phải, mình “ra” đi, ở đây không nổi, tụi nó đông gấp mấy mình… – Liệu tiếp theo.

Đại Đội 2 báo cáo đang mất thêm một “ khúc ruột ”… Mễ im lặng dỡ nón sắt ra khỏi đầu.

– No hesitation, the best way..Sir? – Viên Cố vấn Trưởng, Thiếu Tá Lực lượng đặc biệt, người quấn băng lỗ chỗ, anh ta bị thương ba nơi nhưng quyết ở lại với Tiểu Đoàn. Viên Cố vấn hiểu được phút giây nghiêm trọng của Mễ, với sự kính phục, anh ta góp ý kiến, lần đầu tiên trong đời anh gọi người cùng cấp bực bằng “Sir”. Một viên Thiếu Tá Việt Nam…

– Đồng ý! Thằng 2 dẫn đầu, xong đến Đại Đội chỉ huy và thằng 4 bao chót, Hải gọi qua thằng 3 bảo nó nhổ neo ra điểm hẹn này. – Mễ chỉ một vùng tập trung ở phía Đông Bắc. – Đi ngay, mang theo thương binh…

Lần đầu tiên Mễ “chạy”, Mậu Thân nó cũng bị nguy khốn, Đại Đội chỉ còn 37 người nhưng cũng đánh nổi cửa Thượng Tứ Huế… Nhưng lần này, viễn ảnh toàn bộ Tiểu Đoàn bị tràn ngập, không còn cách nào hơn nữa.

– Hướng Đông Bắc, khoảng 800, thằng 3 sẽ ra đó với mình, dọt lẹ… – Hải truyền lịnh cho Hùng “móm”. Thành phần cán búa của đơn vị.

– Dạ, em nghe, đ.m… em làm được. Hùng “móm” chửi thề nghe ngon lành. Giọng nói vẫn tếu wà ranh mảnh như bình thường.

Về phía mặt trời

Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời tối thẫm và cây rừng đan lưới. Chỉ có tiếng lá khẽ động dưới bước chân cùng những tiếng kêu âm ỉ được kềm trong cổ họng. Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như muốn tan thành vật vô hình. Sau lưng họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn, bom đã thả xuống khi người lính của Đại Đội 1 ra khỏi vòng vây… Thương binh nặng và xác “anh Năm” tất cả hình ảnh chồng lên từng khối lớn trên trí óc Mễ. Một cảm giác rõ rệt nhất, ba ngày và đêm không ăn, ngủ, chỉ nhắp chút nước lã cầm hơi và cuối cùng rút quân trong đêm. Đi nữa đi Hùng, đúng hướng rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao giờ đến chỗ trống – trống thì bảo tôi…

Mặt trời chưa thấy, đêm còn dầy, dầy từng khối lớn mông mênh và đặc cứng, hình như đã đến đáy một “Tan-vóc” (khe nhỏ chạy giữa hai chân núi) chân bước đến lớp đất ấm. Nước ! Người lính đặt tay xuống “mặt nước”, không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và đất bùn, khe suối mùa, chưa có nước …

Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi liếm miếng nước vô hình đó…

Qua khỏi “Tan-vóc” lên đỉnh đồi thấy lại sau lưng ngọn lửa ở C2 bập bùng, bạn bè ta còn đó sống làm sao được hở trời?

– Hải, khi chót mình để “anh Năm” ở đâu?

– Ở giao thông hào, nơi hầm đại liên…

Mễ và Hải chỉ nói với nhau được một câu trong đêm. Nguy biến và rình rập vẫn còn rất nhiều. Sao trời chưa sáng nhỉ ?Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó càng tốt, giữ được súng và thương binh nhẹ như thế này cũng tạm coi là “đẹp”… Đẹp, hình như Mễ cười chế diễu mình trong đêm… Thôi, đừng nghĩ gì nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt trên đầu, khi cởi ra còn nguyên ảo giác của âm vang tiếng nổ lộng trong lòng chiếc nón kim khí… Mệt quá!!!

Sống rồi! Hùng “móm” la một tiếng sảng khoái. Nó bốc máy báo cáo cho Mễ nhanh như chớp:

– Tôi thấy “nó” rồi về phía tay trái tôi…

Mễ nhìn lên tàn cây, trời tím nhạt, chưa có rạng nắng nhưng ngày đã bắt đầu. Trảng trống vùng tập trung đã gần đến. Thoát rồi chăng ? Mễ tự tin nhưng cũng rất đầy kinh nghiệm : “nó phục mình ở đây nữa thì tan hàng …” Ý nghĩ kinh khiếp như một mũi dao cực bén cắm ngay vào đỉnh đầu. Mễ không dám nghĩ tiếp…

– Kêu thằng “Đỗ Phủ” đến tao, Hải …

– Duffy come here… Viên Thiếu Tá cố vấn đang đi sau Hải và Liệu, nghe kêu, mỉm cười bước lại… Ba lần bị thương, bốn ngày chiến đấu không ăn, ngủ. Duffy vẫn “cứng” như một khối thép, đầu đội mũ đi rừng, khẩu M.18 đặt ngang hông, tự tin và bình thản như một ý chí không lay chuyển.

– Tiên Sư thằng cha này “dur” cả hồn lẫn xác, number one! – Liệu nói với Hải khi Duffy qua mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ý, mỉm cười: hello Doc!! Trong phút chốc hình như hình ảnh khủng khiếp của bốn ngày căng cứng tan đi… Nắng cũng vừa đến, nắng đầu tiên của một ngày, lòng người lính “duỗi” ra theo độ ẩm của vệt ánh sáng. Sống được rồi vui biết bao nhiêu? ?

– Đây nhé Duffy, vùng tập trung của mình, 113 bên trái phe ta bên trái cùng “move” lên.. Mình làm một cái Lz (bãi đáp) xong “mầy” gọi “Tây” đem máy bay tới móc mình ra, OK?

– OK Do! “Đỗ Phủ” gật đầu lia lịa. Very good! Very good you’re the best commander. – “Đỗ Phủ” đưa ra một ngón tay lên trời để ca tụng Mễ.

– C… Tao hay hơn nhiều, cú nầy bị “kẹt” mầy còn khen làm tao ngượng…

Duffy không biết Mễ nói gì, nhe răng cười, Mễ cười theo…

Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và Hùng “mập” cùng lên “trảng” trước. Hai thằng Hùng bắt “tay” nhau được, làm thành vòng phòng thủ, phần còn lại của Tiểu Đoàn với đám thương binh “bò” lên tiếp. Xong rồi, khá an toàn giữ được cái “trảng” là tốt, có đường thoát rồi. Duffy! Có tầu bay chưa?

– O.K! Ten minutes!!

Nhưng không còn “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa! Một trận mưa như mưa rào, mưa đầu mùa, mưa bởi một rừng cối và sơn pháo từ những cao độ phía Đông “tưới” xuống, Bắc quân lại tấn công bộ từ Đông Nam lên…. Không hầm hố, không đạn, mệt mỏi đói khát của bốn ngày đã đến đỉnh cao nhất của chịu đựng… Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối trên trảng cỏ tranh trơ trụi dưới một rừng lưới đạn và mảnh thép… Hàng sống, chống chết!! Hàng sống, chống chết!! Bắc quân ào ào như một con đê bị vỡ, nước lũ tràn đi… Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù như con báo kiệt lực bị vây khổn bởi rừng ong cực độc. Bây giờ là 18 giờ sáng của ngày 15-4-1972, Tiểu Đoàn Nhảy Dù mới tinh của anh Năm, Tiểu Đoàn đã khoan thủng bức tường thép của Cộng quân ở Damber, Tiểu Đoàn “nướng sống” hai tiểu đoàn của Sư Đoàn Điện Điên trên cứ điểm C…

Thua, thua đau và phi lý, đâu còn có thể để dựa vào…

Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực”. Thế đã mất ngay từ ngày đầu tiên khi bước xuống cao điểm với một nhiệm vụ “phòng thủ” quá mỏng manh thụ động, và Lực nào còn nổi sau 4 ngày hay 156 giờ căng thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu thốn… Hình như mọi người đã không ăn và uống kể từ ngày 12. Uống nếu có, chỉ là chữ để gọi động tác “nhúng” chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt ! Tan hàng… Những người còn lại tan biến vào rừng cỏ tranh…

Hết cuộc binh đao

Trận đánh đến đây coi như hết, chỉ còn lại những người lẫn trong cỏ tranh, đầm mình dưới lá. Đơn vị bị tan thành từng mảnh nhỏ. Mễ, Hải, Liệu dẫn được một số chạy thẳng hướng Đông. Viên Cố vấn Mỹ đi theo, chỉ còn một máy truyền tin của hệ thống cố vấn. Duffy gọi máy bay trực thăng, một “Slick” ở đâu lạc loài bay tới. Tám người lên trước, người nào yếu nhất… Mễ vẫn còn giữ nguyên phong thái của người chỉ huy:

– Bác sĩ Liệu đi luôn “líp” này, chân ông bị hư…

– Tôi ở lại với các Ông….

– Không được, Ông đi trước..

Chạy tiếp, Cộng quân chạy theo bén gót. Mễ, Hải dẫn dầu Duffy bọc bậu với khẩu M.18. Cứ chạy về hướng đông. Chiếc trực thăng trở lại. Người “Tây” Pilot này cũng can trường, nhưng thật ra đó là “lệnh” của Duffy:

– Tôi gọi máy bay trực thăng VN không được, chỉ có các anh giúp tôi. – Duffy nói với phi hành đoàn.

– Ông là người Mỹ, ưu tiên đi trước!

– Tôi đi, các cha “đếch ” trở lại cứu các bạn VN của tôi!

Duffy khôn và thật can đảm, vì nếu anh “dọt” chiếc trực thăng sẽ đi luôn, sức mấy trở lại…

Thêm hai “líp”, toán của Mễ chỉ còn lại 6 người…

– OK! Think our time, my dears. – Duffy vẫn cười tươi như không. Mễ im lặng. Những toán lính kia ai lo cho họ… mình là người chỉ huy! Một tràng súng cách năm thước trong bụi rậm, Duffy bắn trả lại. Mễ và Hải chỉ có colt 45… “Đ..m lần sau đi trận tôi mang theo một khẩu đại liên như thằng Django!” Nằm bẹp dí dưới cỏ Hải còn “phọt” câu khôi hài…

– Đ.m mầy không xuống tao bắn mày. – Duffy la như quạ với phi hành đoàn trực thăng.

– Nhưng dưới anh không an toàn!

– Tao Thiếu Tá, lệnh mầy xuống!

Chiếc trực thăng “rơi” một cú, móc vội 6 người. Hải lên chót một chân “thòng” ra ngoài… Chát! Viên đạn nhắm rất chính xác, Hải rơi xuống đất như bao gạo…

– Tao chết rồi Mễ ơi!!

Hình như Hải cố gọi trước khi rời khỏi máy bay…

Duffy chỉa súng vào lưng gã pilot: quẹo lại, tao xuống, nó là bạn tao…

Duffy như con diều hâu nhảy từ trên trực thăng cách đất 3 thước đang “hovering”. Anh khều đuợc Hải, Hải mềm như sợi bún…

– Kéo tôi lên, Duffy đưa tay cho gã xạ thủ đại liên ngồi ở hông tàu. Xong, hai đầu gối vừa chạm vào sàn tàu, một tia nước nóng phọt vào mặt. Máu ở ngực gã xạ thủ phun ra có vòi. Chết.

⬤

Còn rất nhiều can đảm tưởng như chỉ có ở trong các phim kiếm hiệp. Nho, Đại đội trưởng chỉ huy (tay Thái Cực Đạo chỉ 1 đẳng) nhưng dùng hai tay trần đánh ngã cả tiểu đội Bắc quân, những cú chặt “xé gió” bắn tung những tên trẻ con điên dại trên đường “giải phóng” đuổi đế quốc Mỹ, chúng chưa thấy một tên Mỹ nhưng chỉ thấy một sĩ quan “Ngụy” dùng chân và tay gạt hết một luồng lưỡi lê… Nho chết đứng, chết không nhắm mắt bởi mười mấy lưỡi nhọn xuyên qua thân thể một lần…

Và Hùng “mập”, rất tự tin, sáng suốt, Hùng bắn đến viên đạn colt chót. Còn viên này để dành cho ta… Hàng thì sống! Hàng tiên sư chú! Hùng đưa súng vào đầu… Tên lính phương Bắc nhanh hơn, nó ria một tràng AK, nó “sợ” phải chứng kiến cái chết anh hùng của người Sĩ Quan Việt Nam.

Trong những hào hùng và bi thảm, vẫn có rất nhiều “huyền thoại ” về khôn ngoan và dũng lược…

Hùng “móm” bị bắt, hai tay bị trói cứng.

– Ê, cho gặp ông chỉ huy cửa đồng chí, – Hùng mở giọng khiêu khích.

Gã tiểu đoàn trưởng Cộng quân mặt non choẹt sấn đến hỏi:

– Mầy là gì, cấp bậc, gặp tao có chuyện gì…?

– “Em” cai xếp!

– Cai xếp là gì?

– Dạ, em hạ sĩ nhất. (Tiên sư, – Hùng chưởi thầm trong bụng, – tao đáng “cha” mầy cả tuổi đời lẫn tuổi lính… nhưng thôi, phải đóng hết vở kịch.) – Dạ đồng chí trói em đau quá, đồng chí đi giải phóng mà đồng chí trói em!!

Đồng chí Tiểu đoàn trưởng ngu như thể người ngu nhất ở quả đất, đồng chí khoảng 24 tuổi lần đầu tiên xa nhà vào Nam “giải phóng” đồng chí thiếu sâu sắc nhận xét, thiếu tinh tế trực giác không thể đoán được đứng trước mình là một sĩ quan loại cáo già xuất thân từ trường Võ Bị.

Hùng được nới dây trói và khi qua một đám cỏ tranh, Hùng “lủi” nhanh như con sóc. Mười ngày, đêm đi ngày nghỉ Hùng men theo đường đáy tiến về phía Đông, có nhiều khi nó ngã xuống nhưng sức mạnh siêu hình ham sống thúc dục Hùng tiến lên. “Đi phía này là gặp bạn… phía này mới đúng” Hùng lầm bầm để chính mình nghe được… Phía nầy, phía nầy. Hùng lết từng bước, từng thước núi trong mười đêm… Đây rồi, có bóng khói và tiếng người. Một vòng vàng rực trước mắt khi nghe tiếng hỏi:

– Ai đó? – giọng người Nam, đúng là phe mình… Vòng vàng lớn dần và hóa đen. Hùng ngã xuống bất tỉnh!

Cũng có những người trốn thoát được tưởng như chuyện thần tiên… như Chuẩn úy Tâm bị thương nặng, không hiểu do một sức mạnh nào giúp Tâm về Võ Định sau khi “bò” trên 20 cây số đường núi. Về đến nơi Tâm vẫn tỉnh và tươi…

– “Có lẽ” tôi ra máu nhiều nên bây giờ hơi mệt!!

Cũng đầy kỳ lạ như trường hợp Thượng sĩ Bẩy và Chuẩn úy Thanh người nào cũng trên 18 năm lính, trốn thoát được sau khi đã bị dẫn vào đến bộ chỉ huy Trung đoàn 64 của SĐ 320…

– Có gì đâu… Trước kia ở Điện Biên Phủ bị bắt với ông Tướng Phú, tụi tôi còn trốn được, huống gì bây giờ chỉ là lũ trẻ con…

Sự trùng hợp cũng lạ, hai người cùng gặp lại kẻ “cựu thù”.

Trong rừng sâu, dưới hốc núi, sau trận đánh tàn, đã có những hành động dũng cảm âm thầm tuyệt vời như thế. Người lính Nhảy Dù của Tiểu Đoàn 11 vẫn xem đối phương chỉ là một lũ trẻ con rồ dại, một lũ trẻ chơi trò man dã của thời đại tan vỡ. Nên có thể nói rằng họ không ăn thua, họ chỉ thất thế… Vì nếu tổng kết số địch quân chết sau bốn ngày giao chiến quanh ba căn cứ và số vũ khí không thâu nhặt được…, tổng số đó sẽ là bao nhiêu ? Truyền thống “Anh Năm” là chân thật: Lấy được hai thượng liên cả 2 AK thì báo cáo đủ số như thế, cũng như 12 thằng chết thì báo cáo là 12 địch chết.

– Nhưng em thấy ngoài tuyến còn rất nhiều, cũng như tụi chết, 12 thằng này là chết sát ở em…– Thinh trong ngày hôm trước đã nói như thế.

– Không được, có gì báo đó, tao không cần “láo”.

Nhưng hãy nghe tên tiểu đoàn trưởng K7 nói với Hùng “móm”:

– Tụi mày giết tụi tao nhiều, nhưng tụi tao “nhất định” thắng, mầy biết Tiểu Đoàn mày đánh với ai không?

– Dạ “em” không biết!

– Tụi tao là Sư Đoàn Biện Biên tăng cường thêm Trung Đoàn của Sư Đoàn Sao Vàng…. Tụi mày làm sao đánh nổi !!!

Quả thật Tiểu Đoàn 11 Dù không thể đánh được vì Bắc quân đã đánh dưới xác định của Võ Nguyên Giáp thắng mới đánh, không thắng không đánh. Sự thắng đó không phải do cái nhạy cảm tinh tế thông minh của Tiểu đoàn Trưởng khi xét địch tình, không phải căn cứ trên can trường của Đại đội Trưởng, cũng không nằm trên đôi chân luôn luôn tiến về phía trước của mỗi khinh binh. Những yếu tố này, người lính Nhảy Dù hơn hẳn địch, vượt xa hẳn một chặng đường dù Bắc quân, dù quân Điện Biên, Sao Vàng, Sắt, Thép gì cũng thế.

Người của các đơn vị này dù dưới ảnh hưởng của hào quang và kiêu hãnh quá khứ cũng không làm sao bén gót được những người lính “cày” từ đầu cuộc chiến… Làm sao một anh “nhãi con” 24 tuổi Tiểu đoàn Trưởng K7 có thể so sánh với “Anh Năm” với Mễ, Hải, Hùng “mập”. Đây là trận đầu của nó. Thiên tài về quân sự cũng như toán học là một “cố gắng” có thừa và châm ngôn của binh chủng là gì nếu không là “NHẨY DÙ CỐ GẮNG”

Vậy, sự thắng trận ở đâu: Ở trên bàn giấy, trong lệnh hành quân của viên Tư Lệnh chiến trường. Phải nói như Thống Tướng Montgomery “Viên Tư Lệnh có thể đi ngủ đợi tin chiến thắng lúc chiến dịch bắt đầu…” Phải nói được chắc chắn như thế. Đạo làm Tướng phải chơi trò rủi may bằng xác chết của người lính.

PNN

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 11

Băng” của Guiliano nay lên đến con số ba mươi. Một vài người trong đám đó vốn là tay em của Terranova hoặc của Passatempo. Một vài người là dân trong thị trấn được Guiliano giải thoát trong cuộc đột kích trại Bellampo. Bị bắt oan, nhưng những người này vẫn cứ bị nhà nước truy nã. Họ nghĩ: đằng nào cũng bị truy nã. Vậy thì bị truy nã cùng với Guiliano còn hơn bị truy nã trong thân cô thế cô, không có bạn bè hỗ trợ.
Vào một buổi sáng tháng tư đẹp trời, Guiliano nhận được tin có một tên nom có vẻ khả nghi, có thể là lính kín lắm. Gã cứ dò la để xin “đăng lính” cho Guiliano. Gã ngồi chờ ở quảng trường trung tâm thị trấn Montelepre. Guiliano phái Terranova và bốn tay anh em nữa đi thẩm tra. Nếu coi bộ xài được thì dắt về. Nếu là cớm, là lính kín chơi trò khổ nhục kế thì cứ việc khử luôn.
Trưa hôm đó, Terranova trở về, báo cáo cho Guiliano:
– Có thể là cánh mình sẽ thêm một nhân khẩu. Thằng chó bắn hụt anh bữa hôm đột kích trại, thả tù đó. Anh thử tiếp xúc với gã xem sao.
Thấy cái mặt ngang dọc những vết thẹo mà lại ăn vận theo lối nhà quê Sicilian. Guiliano cười lớn:
– Rồi, ông bạn, bộ ông nghĩ là tôi có thể quên được cái bản mặt của ông bạn sao chứ. Lần này chắc là đồ nghề của ông bạn “tuyệt vời” rồi chứ?
Người đó chẳng phải ai xa lạ, mà chính là thầy cai Canio Sylvestro, kẻ đã chĩa súng bắn Guiliano, nhưng may mắn là viên đạn chỉ bay sướt qua đầu. Tuy mặt mày rằn ri như vậy, nhưng trông không có vẻ cô hồn, hắc ám, trái lại có vẻ kiên nghị, quả cảm. Khuôn mặt ấy gợi cho Guiliano một điều gì đó. Dù bị hắt hủi, Guiliano vẫn cảm thấy quí mến con người này. Gã là kẻ đã chứng minh cho Guiliano thấy sự bất khả tử của nó.
– Tôi đến xin gia nhập vào băng của mấy anh. Tôi cho rằng tôi có thể là một của quí đối với mấy anh nữa đó.
Đi xin việc mà lại giở giọng kẻ cả như vậy mới hách. Nhưng Guiliano lại chịu cách đó. Guiliano bảo hắn kể “cuộc đời và sự nghiệp” của hắn. Sau cuộc đột kích phá ngục cứu tù, “thầy cai” Sylvestro bị đưa ra tòa án binh ở Palermo. Tội danh: sao lãng nhiệm vụ gây hậu quả nghiêm trọng. Thầy đội Maresciallo tức điên lên với thầy cai. Lão điều tra gã rất gắt trước khi lập thủ tục truy tố. Kỳ quặc đến cái độ quái gở là lão nghi thầy cai chỉ giả bộ bắn Guiliano mà thôi. Nguyên nhân bắn hụt – theo Maresciallo – là do viên đạn không đủ thuốc súng. Maresciallo căn cứ vào chỗ mặc dù đã biết đạn có khuyết điểm mà vẫn cứ xài để kết tội Sylvestro. Do đó, toàn bộ cuộc kháng cự này nọ chỉ là để che mắt mấy chú cớm oắt. Cứ theo lão thì chính Sylvestro đã giúp Guiliano đặt và thực hiện kế hoạch phá ngục cứu tù, trong đó có việc sắp đặt người gác cà chớn để dễ bề qua mặt lão.
Guiliano ngắt ngang hỏi:
– Tại sao hắn lại biết viên đạn có khuyết điểm?
Syvestro có vẻ ngập ngừng:
– Quả thật là tôi cũng biết viên đạn có khuyết điểm. Tôi là chuyên viên vũ khí trong bộ binh lúc còn chiến tranh mà.
Mặt gã bỗng trở nên dữ tợn. Gã nhún vai, nói tiếp:
– Tôi sơ suất, đúng! Tôi là tổ trưởng vũ khí của trại Bellampo. Nhưng tôi đã không quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ chủ yếu của mình. Với khả năng chuyên môn về vũ khí của tôi, tôi nghĩ là tôi sẽ rất đắc dụng cho các anh. Tôi sẽ kiểm tra, sửa chữa, cải biên cho các anh nghĩa là làm đảm bảo vũ khí của các anh lúc nào cũng ngon lành. Súng không bị hóc, đạn không bị lép vào những lúc sinh tử nhất. Tôi cải biên, sửa chữa sao cho vũ khí của các anh thích hợp, tiện dụng ở vùng núi non này.
– Anh cứ kể tiếp đi.
Trong khi Sylvestro nói, Guiliano quan sát, ngắm nghía. Đây có thể là một khổ nhục kế cớm dùng để cài người. Hắn thấy rõ là Pisciotta, Passatempo và Terranova có vẻ không tin Sylvestro.
– Tụi nó điên hết, – Sylvestro nói, – Tụi nó như một lũ đàn bà hèn nhát. Khi nhìn kỹ, Maresciallo cũng biết mình quá ngu. Trại giam thì đầy tù, doanh trại thì mênh mông mà chỉ để lại có mấy ngóe thủ trại. Bọn cớm nói chung cứ coi xứ Sicily của mình như là vùng đất chiếm đóng, và tụi nó là lính viễn chinh. Tôi thường phản đối thái độ ấy. Vì vậy tôi bị ghi tên vào sổ đen. Nhà cầm quyền ở Palermo bênh lão Maresciallo. Họ phải chịu trách nhiệm về lão ta mà, luận điệu của mấy cha ấy là cuộc đột kích phải có tay trong, chớ không phải là do một người tài ba, đảm lược thực hiện. Có giải thích như vậy thì mới che giấu được cái dốt, cái bất tài của mấy cha… Nhưng, ra đến Palermo, mấy cha đếch dám đưa tôi ra tòa án quân sự. Đưa ra, lòi cái đuôi dốt là cái chắc. Mấy cha giở giọng nhân đức: bảo tôi làm đơn xin giải ngũ thì sẽ không bị đưa ra tòa, không bị án trong lý lịch tư pháp… Nhưng tôi thừa biết cái thâm ý của mấy cha và tôi cũng biết là dù không có án trong lý lịch tư pháp thì tôi cũng đừng hòng xin việc làm trong cơ quan chính quyền. Đối với mấy cha, tôi là đồ bỏ. Nhưng, là dân Sicilian thứ thiệt, tôi yêu xứ sở của tôi. Tôi tự hỏi: làm gì bây giờ? Và tôi tự trả lời: đi theo Guiliano.
Guiliano bảo Sylvestro ra nói mấy anh em ở ngoài kiếm cho cái gì ăn. Trong này, hắn bàn với mấy người kia. Cộc cằn, thô lỗ, Passatempo đưa ra ý kiến phản bác:
– Thằng chó đẻ ấy nghĩ bọn mình điên hay sao chớ? Cứ cho nó một phát rồi thảy xuống khe núi cho rảnh nợ. Trong băng tụi mình đếch cần thằng cớm.
Pisciotta nhìn Guiliano và biết thằng bạn mình có lòng trắc ẩn đối với Sylvestro. Bởi vậy, y dè dặt nói:
– Rất có thể đây là trò bịp. Sơ đẳng quá! Nhưng dù không phải là bịp đi nữa thì tại sao mình lại cứ phải thử thời vận hoài? Lúc nào cũng ngay ngáy đề phòng, cảnh giác. Mệt thấy mẹ. Cứ luôn luôn phải ngờ vực. Đuổi cha nó đi cho rảnh nợ.
– Nhưng nó đã biết sào huyệt của bọn mình rồi, – Terranova nói, – Nó đã biết mặt anh em mình, biết quân số của mình. Bấy nhiêu đó đã là những tin tức quá quý rồi!
Guiliano nói, giọng nồng nhiệt:
– Hắn đúng týp Sicilian thứ thiệt. Hắn bắn tao chỉ là do muốn bảo vệ danh dự. Tao không tin nó làm gián điệp, mật thám hay chỉ điểm gì ráo!
Nói vậy, hắn cũng biết bọn kia mỉm cười như thể tội nghiệp cho sự ngây thơ, cả tin của hắn. Pisciotta nói:
– Nên nhớ là chính nó đã muốn làm thịt mày. Ấy là nó đang là tù nhân của mình đấy. Đâu phải là bắn hốt hoảng mà là bình tĩnh, sáng suốt khi rút súng bắn mày đấy chớ? Hắn quyết ăn thua đủ mà. Làm gì nó không biết là nó không thể nào thoát được?
Không phải Guiliano không nghĩ đến điều đó. Trái lại, hắn coi điều đó là một giá trị. Guiliano cất cao giọng:
– Biết rằng chết mà vẫn cứ chơi mới là ngon chứ, mới là hành động vì danh dự chứ? Để nó ở lại đây, nó làm gì được mình? Mình sẽ không cho nó tham gia các buổi họp mặt. Chỉ cho nó làm thiên lôi, chỉ đâu đánh đấy. Để nó đấy cho tao. Tao sẽ kèm sát nó. Tao đích thân giám sát nó, gặp dịp thuận tiện, cho nó làm thử. Nếu nó chối từ thì dễ quá, biết liền. Để nó đó cho tao.
Xế chiều, khi biết mình được chấp thuận cho nhập băng, Sylvestro chỉ giản dị nói:
– Các anh có thể tin tôi về mọi vấn đề.
Trong thâm tâm, hắn biết Guiliano đã tha mạng cho hắn một lần nữa.
Lễ Phục Sinh, Guiliano lẻn về thăm nhà, Pisciotta phản đối việc này với lý do cớm có thể giăng bẫy. Ở Sicily, dịp lễ Phục Sinh lại thường là thời điểm chết chóc của các tay ăn cướp. Cớm cứ xoáy vào chỗ quyến luyến gia đình khiến cho bọn cướp liều mạng về thăm nhà dịp này để ra tay. Nhưng một nguồn tin cho biết Maresciallo và một nửa quân số của trại Bellampo được nghỉ phép về thăm gia đình ở lục địa vào dịp này. Guiliano quyết tâm định đem theo đủ số vệ sĩ để về thăm nhà. Hắn chuồn về hôm chiều thứ bảy tuần Lễ Thánh.
Chỉ nhắn tin cho gia đình biết trước hai ngày. Bà già hắn kín đáo chuẩn bị tiệc tùng. Đêm đó, hắn được ngủ trên chiếc giường hắn đã ngủ từ hồi nhỏ. Sáng hôm sau, hắn theo bà già đi nhà thờ. Có sáu vệ sĩ đi theo.
Lễ xong, hắn và bà già vừa bước ra đến cửa nhà thờ, thì sáu vệ sĩ cùng với Pisciotta đã đứng chờ ở đó. Mặt Pisciotta trắng bệch ra vì tức giận:
– Turi, mình bị phản rồi. Maresciallo cùng với hai chục lính đặc biệt vừa từ Palermo lộn về để bắt mày. Nhà mày đang bị vây, cũng may, tụi nó tưởng là mày đang ở trong nhà.
Thoáng một cái, Guiliano cảm thấy giận thân vì cái thói liều lĩnh ngu xuẩn của mình. Hắn thề từ này sẽ không bao giờ bất cẩn như vậy nữa. Nếu không, sẽ có ngày Maresciallo và bọn đặc vụ của lão sẽ vồ được hắn ngay tại nhà. Tất nhiên hắn và các vệ sĩ của hắn sẽ phải ra tay. Và sẽ có đụng độ đẫm máu. Và như vậy sẽ làm vẩn đục tinh thần ngày Lễ Phục Sinh. Ngày Chúa sống lại mà máu chảy, người chết thì bậy quá.
Hắn hôn từ giã bà già:
– Mẹ cứ trở về nhà tự nhiên, cớm có hỏi thì cứ nói thẳng là ừ, tôi vừa chia tay nó ở cửa nhà thờ. Như vậy, mẹ không bị tụi nó qui là đồng lõa, âm mưu gì ráo. Mẹ khỏi lo. Anh em trang bị đầy đủ. Chuồn dễ thôi. Và cũng sẽ không có đánh đấm gì đâu. Còn lâu bọn cớm mới dám đuổi theo lên núi.
Guiliano và đồng bọn rút êm. Bọn cớm không trông thấy. Đêm đó, tại sào huyệt, hắn bàn với Pisciotta. Tại sao Maresciallo biết chắc là nó về thăm nhà? Ai đã mật báo cho lão? Bằng mọi cách phải tìm ra manh mối việc này.
– Nhiệm vụ đặc biệt của mày đó, Aspanu. Và nếu đã có một đứa phản mà thoát, thì sau này sẽ có nhiều đứa khác nữa bắt chước. Lúc đó thì mệt lắm. Tao đếch cần biết mày phải mất bao nhiêu lâu và tốn bao nhiêu tiền. Nhưng, phải tìm cho ra.
Ngay từ lúc còn nhỏ, Pisciotta đã không sao ưa được thằng cha thợ hớt tóc ấy. Nói năng đểu cáng, tục tĩu. Giễu cợt rẻ tiền, vô duyên. Frisella là một trong những thợ hớt tóc chạy theo mốt. Khi thì hớt thật thấp. Khi thì hớt thượng lên đến đỉnh đầu, lúc lại “cổ điển” như mấy anh “dân ruộng”. Nào là bát dài, bát ngắn, ôi thôi đủ thứ vớ vẩn, đủ kiểu lố lắng. Chỉ thay đổi vặt vãnh như vậy mà gã cứ vênh váo tự coi mình là “nghệ sĩ” mới tức chớ. Gã ưa lối chơi trịnh thượng, chơi kiểu cha chú người ta. Đối với người bề trên gã, gã làm như ngang vai ngang vế. Đối với người bằng vai phải lứa với gã, gã giở giọng đàn anh. Đểu nhất là gã đối với mấy đứa nhỏ. Đểu và độc ác. Không hiểu sao, đối với tụi nhỏ, gã hằn học theo cái kiểu đặc biệt Sicilian mà dân lục địa thấy rất “gai”. Gã thường lấy cây kéo – cho sơ hai ngón tay – giả bộ lỡ hoặc vô tình kẹp tai mấy đứa nhỏ. Rồi cười xỏ lá. Có khi gã hớt tóc cho mấy đứa nhỏ tròn rung rủng như cái chén úp lên đầu. Có khi gọt trắng hết như trái bi-a. Bởi vậy, Pisciotta cảm thấy khoái chí một cách tàn nhẫn khi cho Guiliano biết tên thợ hớt tóc Firsella làm chỉ điểm cho cớm và phạm luật Omerta. Rõ ràng hôm lễ Phục Sinh, Maresciallo đã hoạt động theo tin tình báo chính xác, không “sục” bậy. Lão đâu có điều gì mà bỏ dịp nghỉ lễ, dẫn hai chục lính từ Palermo về Montelepre đúng ngày đó. Nhưng, tại sao lão lại biết được tin đó. Guiliano chỉ cho gia đình nó biết trước có hai mươi bốn tiếng đồng hồ thôi kia mà.
Pisciotta dùng mật báo viên của mình trong thị xã để kiểm tra lại từng bước của Maresciallo trong hai mươi bốn giờ trước khi lão đi Palermo. Lão đã đi những đâu, làm gì, gặp ai?… Chỉ có ông bà già của Guiliano biết con mình sẽ về nhà vào ngày giờ đó. Bởi vậy, Pisciotta hỏi thật kỹ lưỡng xem trong thời gian đó, có thể họ vô tình làm lộ tin đó ra. Bà mẹ của Guiliano cố moi móc trí nhớ xem mình đã làm gì, nói gì, với ai:
– Dì không hề nói với ai. Ngay cả hàng xóm. Dì ở lì trong nhà lo nấu nướng đặng thằng Turi về ăn mừng lễ.

Photo edit by Sơn râu

Nhưng bữa sáng hôm ông con trai về thì ông bố của Guiliano đã đến tiệm hớt tóc của Frisella. Tánh ông già này cũng đoảng vị lắm. Phù phiếm, nông nổi, ưa khoe khoang, ruột để ngoài da, phổi bò. Nhân dịp hiếm có, ông con trai về thăm nhà, nên lão cũng muốn sửa sang râu tóc cho thêm phần long trọng, thằng nhỏ trông thấy đỡ tủi. Frisella vừa hớt tóc, cạo râu cho lão, vừa nửa đùa nửa thật, giễu giễu như thường lệ:
– Có lẽ bữa nay “ông lớn” đi Palermo thăm “bà nhỏ”? Hay là bữa nay “ông lớn” sửa sang sắc đẹp để đón tiếp “ông bự” từ Rome về chơi. Thằng Frisella này rất lấy làm hân hạnh được góp phần “trang trí” cho ông lớn đặng ra mắt “Quốc vương” sắp vinh qui bái tổ.
Pisciotta hình dung ra cảnh ông già nghe nói thế, tuy không nói gì, nhưng tủm tỉm cười coi bộ khoái chí. Thằng cha thợ hớt tóc cứ thì thào bên tai lão:
– Bữa này nom lão gia phởn quá, chẳng khác gì một nhà quí phái cỡ bự, thứ chính hiệu “máu xanh”, có gốc, có củ đàng hoàng.
Frisella nói rồi làm bộ cười vô tội. Ông già của Guiliano sướng phổng mũi khi con lão nổi tiếng đến nỗi được dân thị trấn gọi là “Quốc vương Montelepre”. Hoặc giả, Frisella nghe phong thanh cái tin Guiliano về, nhưng chưa chắc chắn, nay thấy lão già hớt tóc, mặt mũi coi bộ mãn nguyện, phối hợp hai cái đó thì thấy ngay.
Mỗi ngày Maresciallo đều tạt qua tiệm hớt tóc của Frisella để cạo mặt. Hầu như giữa lão và Frisella không trò chuyện gì nhiều để có thể nói là họ báo tin cho nhau. Nhưng Pisciotta tin là có. Y cho mấy tay do thám lê lết suốt ngày ở tiệm hớt tóc. Lúc tán dóc, lúc đánh bài với Frisella ở cái bàn kê phía ngoài chỗ hớt tóc. Họ nhậu nhẹt, tán phét chính trị, và ới lên mỗi khi có bạn thân đi ngang.
Suốt tuần lễ như vậy, các tay do thám thâu lượm thêm được một số tin tức. Nếu không tán hươu tán vượn với khách hàng, thì Frisella cũng huýt sáo miệng theo điệu của một bài hát mà gã rất khoái. Hoặc gã sẽ vặn thật lớn cái ra – đi – ô của gã. Nhất là khi có Maresciallo tới. Trong khi ra – đi – ô đang nói, đang hát lớn, thì gã ghé sát tai Maresciallo để “báo cáo tin tức”. Nếu không để ý thì chỉ thấy gã thì thầm trò chuyện cũng như thì thầm trò chuyện với khách hàng khác. Nhưng một trong những tay do thám của Pisciotta đã vớ được cuốn sổ tay Maresciallo ghi trả tiền công “cạo mặt” cho gã. Họ để ý thấy Maresciallo ghi xong, Frisella cất kỹ vào túi áo trong của áo vét, bên ngoài lại mặc áo blu trắng. Khi các tay do thám vặn hỏi và đòi gã cho coi cuốn sổ ấy, họ đã thấy con số ghi lên đến mười ngàn lire. Tên thợ hớt tóc thề sống thề chết rằng đó là tiền công gã cạo râu hớt tóc cho Maresciallo trong mấy tháng trời. Các tay do thám làm bộ tin lời gã nói.
Pisciotta đưa ra những bằng chứng hiển nhiên cho Guiliano và cho cả Pasatempo, Terranova và cả Canio Sylvestro lúc đó cũng có mặt. Xem bằng chứng xong, Guiliano ra đứng ở mỏm đá nhìn xuống thị xã Motelepre.
Frisella – thợ hớt tóc là một phần của cái làm nên thị trấn Montelepre. Guiliano biết gã từ lâu. Hồi nhỏ, khi đến hớt tóc để lĩnh phép bí tích “Kiền thành”, Guiliano còn nhớ nó đã được gã tặng cho một đồng tiền mạ bạc để làm kỷ niệm. Hắn cũng quen biết cả vợ con gã. Mỗi khi đi ngang, trông thấy hắn, gã đều lớn tiếng gọi và hỏi thăm ông bà già hắn.
Bây giờ, Frisella phạm luật Omerta. Gã đã bán bí mật cho kẻ thù. Gã làm chỉ điểm có ăn lương của cớm. Tại sao gã lại ngu muội đến thế? Guiliano phải đối xử với gã ra sao đây? Giết một thằng cớm tại chiến trường là một việc. Lạnh lùng xử tử một người vào hàng cha chú mình và chính mình cũng quen biết lại là chuyện khác. Turi mới chỉ là hai mươi mốt. Đây là lần đầu tiên hắn phải quyết định một sự thanh toán độc ác, lạnh lùng, nhưng cần thiết. Để giải quyết hậu hoạn có tầm mức hết sức quan trọng và rộng lớn. Luật Omerta.
Nó quay trở vào họp với mấy người kia.
– Frisella biết rõ tao từ hồi tao còn nhỏ xíu. Hắn thường cho tao nước chanh đá. Mày nhớ không, Aspanu? Có thể là hắn chỉ bép xép mách lẻo. Không phải là làm chỉ điểm ăn tiền. Giá như có người – ông bà già tao chẳng hạn, nói rõ tao về ngày đó ngày đó, rồi hắn đến tâu với bọn cớm thì nó đi một lẽ. Có thể hắn mới chỉ đặt giả thuyết và bọn cớm thưởng nó. Có ai đồng ý vậy không?
Passatempo nhướn đôi mày him híp, ti hí của gã lên, nhìn Guiliano như thể con sói lang nhìn sát con sư tử xem có an toàn khi nhào vô cắn xé cái xác ấy.
Terranova nhè nhẹ lắc đầu mỉm cười như thể hắn đang nghe con nít kể chuyện thần tiên. Chỉ có Pisciotta nói thẳng thừng.
– Đ.m, hắn có tội rõ ràng. Cũng như thầy tu đi chơi đĩ vậy!
– Mình có thể cảnh cáo hắn, – Guiliano nói, – Mình có thể kéo hắn về phía mình. Dùng hắn để tung tin giả cho bọn cớm?
Ngay lúc nói như vậy, hắn đã biết là đã trật búa rồi. Không thể nào tỏ thiện chí được nữa. Pisciotta tức giận nói:
– Sao không tặng quà cho hắn luôn thể. Một bao lúa và một chục con gà? Turi, sự sống của mày cũng như sự sống của tụi tao tùy thuộc và sự can đảm, ý chí của mày, sự phán đoán của mày, sự lãnh đạo của mày. Làm sao tao dám theo mày nữa khi một thằng phản bội như Frisella mà mày cũng tha thứ?
Một thằng phạm luật Omerta! Nếu là bọn “Người anh em”, chúng chẳng cần đến bằng chứng như mình đâu, chúng đã moi gan, móc ruột thằng đó phơi lên sào coi chơi rồi. Nếu mày cứ để nó sống thì tất cả những thằng phản bội khác sẽ nghĩ: “Bán tin, phản bội một lần thì chưa bị trừng phạt”, mà có khi chỉ “một lần” là mình đã “tắt bóng” rồi.
– Frisella là một thằng hề ngu xuẩn, – Terra nói, – Một thằng phản bội, lừa bịp và tham lam. Lúc bình thường, nó làm hại một làng. Nhưng, bây giờ hắn trở nên rất nguy hiểm rồi. Tha thứ cho hắn là một sự liều lĩnh, không khôn ngoan và nguy hiểm. Hắn không đủ thông minh để cải tà qui chính đâu. Có thể hắn nghĩ bọn mình không phải những người đàng hoàng, chín chắn. Và như vậy, những đứa khác cũng sẽ bắt chước. Turi anh phải dứt điểm với bọn “Người anh em” đi, ít nhất là ở Montelepre này. Thằng cha Quintana – người của tụi nó – hoạt động rất cẩn thận, mặc dù hắn nói năng này nọ, không thân trọng, không khôn ngoan. Nếu anh không trừng trị Frisella, hoặc trừng trị bằng cách khác hơn là cái chết thì bọn “Người anh em” sẽ nghĩ là anh yếu. Chúng sẽ lấn mình. Chúng sẽ nắm gân mình mạnh hơn nữa. Bọn cớm sẽ trở nên táo bạo hơn, ít sợ hơn. Và do đó, trở nên nguy hiểm hơn. Thậm chí, có thể ngay cả dân thị trấn này cũng sẽ nghĩ không hay về anh. Do đó, không thể để Frisella sống!
Y nói câu cuối cùng này như thể có vẻ hối tiếc. Guiliano dáng tư lự và khẽ lẩm bẩm: “Có lý”. Hắn đọc được ý nghĩ của Passatempo qua cái nhìn của gã. Hắn hiểu được tâm tư của người khác. Passatempo sẽ không còn có thể tin cậy được nữa nếu Frisella được để cho sống. Không thể trở lại cái thời các hiệp sĩ của Charlemagne. Không thể đường đường chính chính và quân tử với bọn địch thủ tối nguy hiểm chúng dùng bất cứ thủ đoạn nào. Bất cứ lúc nào để chơi cho mình tiêu luôn mới nghe. Phải xử tử thằng Frisella, nhưng nếu đã thế thì phải xử tử thế nào để gây ra sự kinh khiếp nhất, dữ dội nhất cho các đối thủ.
Guiliano đã có ý định. Nó quay ra hỏi Syvestro.
– Anh nghĩ sao? Chắc chắn Maresciallo đã nói với anh về các chỉ điểm viên của lão ta. Vậy thì thằng thợ hớt tóc có đáng chết không?
Canio Sylvestro ậm à không nói. Mặt lạnh như tiền. Mấy người kia đều hiểu ngay lý do gã không nói. Không phản bội người trước kia đã tin cậy mình. Đó là vấn đề danhd ự. Và cũng không muốn nói dối. Như vậy, sự im lặng của gã là gián tiếp xác nhận thằng thợ hớt tóc là có tội làm lính kín cho Maresciallo. Tuy nhiên, Guiliano vẫn muốn tìm cho bằng được sự chân xác, chắc chắn. Hắn mỉm cười quay sang Sylvestro:
– Bây giờ là lúc anh có thể chứng tỏ lòng trung thực với tụi này. Ta sẽ cùng đi về Montelepre. Và chính tay anh sẽ xử tử thằng thợ hớt tóc ngay tại quảng trường thị trấn.
Aspanu kinh ngạc trước sự sâu hiểm của thằng bạn mình. Guiliano luôn luôn làm cho nó ngạc nhiên. Hành động mã thượng, nhưng vẫn luôn dăng được những cái bẫy tinh tế, khéo léo, chắc ăn không thua gì Iago (1). Qua vụ Frisella, nó sẽ biết bụng dạ thầy cai. Có đáng tin cậy, có biết chơi đẹp hay không? Biết chắc chắn thằng thợ hớt tóc có tội, mà đồng thời Sylvestro vẫn bảo toàn được danh dự, không phản bội người đã tin cậy mình. Nếu gã không nắm chắc Frisella có tội, gã sẽ không khi nào xử tử, dù hậu quả ra sao. Nhưng khi gã chịu tự tay xử tử thằng kia thì mọi sự đã rõ ràng. Pisciotta thấy môi Guiliano hình như phác một nụ cười. Nếu thầy cai không chịu xử tử thằng thợ hớt tóc, thì hắn có bằng chứng chắc chắn để coi Frisella là vô tội. Và do đó hắn sẽ tha chết cho bọn kia.
Bộ ria mép nháy nháy, thầy cai nhìn mấy đứa kia:
– Thằng Frisella hớt tóc ngu thấy bà. Chỉ chừng đó cũng đáng chết rồi. Tôi sẵn sàng thi hành án tử nó ngay ngày mai.
Lúc rạng đông, Guiliano, Pisciotta và ông “cựu” hạ sĩ cớm Sylvestro kéo nhau xuống Montelepre. Trước đó khoảng một giờ, Passatempo đã kéo bộ hạ của hắn đi “nằm đường” chặn lối vào thị trấn và các ngã rẽ vào quảng trường. Terranova thủ trại, đồng thời chuẩn bị một toán tiếp viện nếu trong thị trấn bị trục trặc lớn. Guiliano và Pisciotta vào đến quảng trường thị xã thì trời hãy còn sớm. Đường phố trải sỏi và chật hẹp ướt đẫm sương đêm. Một vài đứa trẻ đã chơi đùa trên sân khấu, chỗ con la và con lừa “gieo nọc” trước ngày định mệnh ấy. Guiliano bảo Sylvestro đuổi mấy đứa trẻ đi chỗ khác chơi, để chúng khỏi nhìn thấy những gì sắp diễn ra. Sylvestro làm bộ mặt “ba bị”, mấy đứa trẻ sợ hãi chạy tán loạn như bầy gà con. Thằng thợ hớt tóc cứ tưởng chúng “mời” lão điền chủ. Hắn cởi tấm vải trắng choàng trên người lão điền chủ, miệng cười mỉm, xảo quyệt như thể hắn muốn tặng cho chúng một món quà. Lão điền chủ, một nông dân Sicilia đã già. Lão đã làm giàu trong thời kỳ chiến tranh nhờ chợ đen, chợ đỏ khoản lương thực của quân đội Mỹ. Lão hiên ngang đứng dậy. Nhưng, Pisciotta đã ra hiệu cho lão đứng dẹp ra một bên. Nó nhăn răng ra cười, rồi nói:
– Lão không đủ tiền để làm khách mời của tụi này đâu. Nhưng, với tụi này thì lão khỏi lo.
Guiliano hết sức cảnh giác và nhìn chòng chọc vào tên thợ hớt tóc, tay gã vẫn cầm cây kéo.
– Để kéo xuống đi. Tụi này mời ông đến một nơi, ở đó ông khỏi phải làm nghề hớt tóc nữa. Thôi, nào ta đi.
Frisella đặt cây kéo xuống bàn. Cái mặt hề của gã bỗng nhăn nhúm, vì cố nặn ra một nụ cười mà không được.
– Turi, sáng sớm, vừa mở cửa tiệm thì làm gì đã có tiền. Tôi là một người nghèo.
Pisciotta nắm lấy mớ tóc gã, lôi ra khỏi tiệm và đẩy đi ra phía quảng trường, nơi Sylvestro đang đứng đợi. Frisella cảm thấy đầu gối muốm sụm xuống. Gã bắt đầu kêu la:
– Turi, Turi, tôi hớt tóc cho anh từ lúc anh còn bé, anh không nhớ sao? Vợ tôi sẽ chết đói, con tôi đang bị bệnh đau đầu… Trời ơi!
Pisciotta thấy Guiliano có vẻ mủi lòng, nao núng. Y đá tên thợ hớt tóc và nói:
– Lúc đi báo tin cho bọn cớm, sao mày không nhớ đến vợ, con?
– Không bao giờ tôi cho Maresciallo tin tức về Guiliano. Chỉ có báo tin về mấy thằng ăn trộm cừu. Tin vặt ấy mà. Tôi xin thề trên đầu vợ con tôi.
Guiliano nhìn xuống đất. Hắn cảm thấy như tan nát cả cõi lòng. Cái mà suýt nữa hắn làm có thể sẽ hủy diệt cuộc đời hắn, nhưng hắn đã kịp nói một cách dịu dàng:
– Ông có một phút để ăn năn tội và làm lành cùng Chúa.
Nhìn vào ba người đang đứng vây quanh, Frisella chẳng thấy một tên nào động lòng trắc ẩn. Gã cúi đầu xuống thì thầm cầu nguyện. Rồi, ngẩng đầu lên, gã nói với Guiliano:
– Đừng để vợ con tôi chết đói.
– Tôi hứa sẽ không để họ phải chết đói.
Guiliano quay sang phía Sylvestro, ra lệnh:
– Phơ đi!
Thầy cai nhìn cảnh ấy, lòng thấy bàng hoàng. Nhưng, gã đã lảy cò. Viên đạn hất ngược, thằng thợ hớt tóc nảy tung lên, rồi té nằm sóng soài ra mặt đường đá. Giẫy giụa một hồi. Máu hòa với nước đọng trên vũng. Từ trong các kẽ đá, mấy con tắc kè nhỏ bò ra liếm máu. Quảng trường lặng như tờ. Pisciotta quì xuống cạnh xác Frisella lúc này xuội lơ và ghim lên ngực hắn mảnh giấy.
Khi tới nơi, Marescialo thấy vẫn y nguyên như vậy. Hỏi người bán tiệm, lão nói lão chẳng thấy gì. Lúc đó lão đang ở đằng sau nhà. Hoặc người ta đang nhìn đám mấy trên núi. Khách hàng của Frisella thì khai lúc mấy người vào bắt Frisella, thì lão đang gục mặt vào thau nước nên không nhìn thấy mặt những tên sát nhân. Dù vậy, lão vẫn bị buộc tội. Mảnh giấy ghim trên ngực Frisella ghi hàng chữ: “Kẻ nào phản bội Guiliano cũng sẽ bị chết như thế này”.
(1) Iago: nhân vật trong vở kịch Othello của Shakespeare, một tay giết người rất tàn bạo, rất đa nghi, có lối giễu cợt, “bẫy” người khác một cách thâm độc (N.D)

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

18. Cái va li bí mật

Ở đây là hòn Móng Tay, cách bờ biển hơn hai mươi cây số ngàn. Tàu ngoại quốc thỉnh thoảng chạy qua lại ngoài xa xa. Ghe đánh lưới, ghe buôn lậu ít khi nào ghé vì trên hòn chỉ có một ngọn suối quá nhỏ, cạn khô khi trời vừa trở nắng.
Ấy thế mà Hai Khoánh ra đây, sống lây lất từ bốn tháng trường. Anh ta kéo chiếc ghe lên bãi, che giấu cẩn thận trong bụi cây đầy gai. Cái ngày trở lại đất liền, sống chung với xã hội loài người còn xa lơ xa lắc. Kẻ tù vượt ngục dường như sẽ được ân xá, nếu hắn trốn thoát vòng tập nã của nhà nước Pháp suốt hai mươi năm. Hồi bị giam ở khám đường Rạch Giá, Hai Khoánh nghe một bạn tù giảng giải như vậy. Hai Khoánh chưa vội tin vì người bạn ấy nào phải quan toà hay thầy kiện mà rành luật lệ. 
– Tại sao nhà nước ân xá nếu mình trốn được hai chục năm? 
Người bạn đáp: 
– Vì suốt thời gian ấy mình ân hận, ăn không ngon, ngủ không yên. Nếu mười bảy, mười tám năm trôi qua mà mình còn hung bạo, cố lỳ thì tới năm thứ mười chín, hai mươi mình cũng sám hối… 
Nghe lời hữu lý ấy, Hai Khoánh cương quyết tẩu thoát. Thừa lúc bọn lính mã tà dẫn đi nhổ cỏ trong vườn bông của ông chánh chủ tỉnh, anh ta cảm ơngiò, chạy nhanh ra bãi biển, cưới chiếc ghe lưới, xổ buồm… nhờ gió đưa ra hòn Móng Tay. Lâu ngày sanh buồn bực, anh ta lén vô bờ, ăn trộm gà vịt, xúc gạo của dân miền duyên hải để rồi trở ra hòn Móng Tay, nơi hoang vu chẳng một bóng người. 
Một sáng, khi thức dậy, Hai Khoánh nằm trên vồ đá khá cao chợt thấy có một chiếc ghe chạy thẳng vào bãi. Từ dưới ghe, một người cao lớn, mặc quần áo đen bước lên, tay xách vật gì giống như cái va li. Người nọ day lại, vẫy tay, tức thời chiếc ghe nọ quay mũi chạy trở về mất dạng phía đất liền. Hai Khoánh rất đỗi vui mừng. Ngưòi nọ nhứt định không phải là mật thám hay lính mã tà theo dõi tung tích của mình! Chắc hắn ta buôn lậu, bị tàu”đoan” rượt nên lên hòn Móng tay để ẩn thân, giấu mớ vàng hoặc á phiện. Không bỏ lỡ cơ hội, Hai Khoánh lập tức theo dõi kẻ lạ mặt. Hắn theo con đường mòn duy nhất mà Hai Khoánh đã dọn sẵn. Ðộ nửa giờ sau, nhờ rình núp sau tảng đá khá to, hai Khoánh nghe tiếng lá khô xào xạc. Hắn lú ra, gương mặt mệt nhọc, đưa hai bàn tay ôm cái va li trước ngực. 
– Phải là vật nặng đôi ba chục kí lô! Hắn trông lạ quá, mắt xếch, cườm tay xăm mình con rồng. Từ hồi nào tới giờ, mình chưa gặp hắn lần nào! 
Bỗng dưng khách lạ dừng bước. Hai Khoánh nín thở, ngỡ rằng hắn đã đánh hơi, hồ nghi có kẻ đang rình! Nhưng Hai Khoánh lầm to. Khách lạ cúi mặt, bước vòng quanh để khỏi đạp lên một con cuốn chiếu. Con cuốn chiếu thu mình, khoanh tròn như khu ốc. Hắn nhặt nó, đưa lên mũi hửi rồi khom lưng thả nó trên chiếc lá khô. 
Hắn leo lên ngọn cây thao lao, một tay vịn nhánh cây, một tya nắm quai chiếc va li. Hai Khoánh hiểu rằng hắn quan sát địa thế, tìm nơi an toàn nhứt. Rồi hắn trở xuống đất, cố sức trèo lên gành Ðá Trắng. 
– Ðược rồi! Mình đi nom theo, hắn sẽ giựt mình. Hắn như con cọp hoang. Trước khi đánh cọp, mình nên biết cọp làm ổ chỗ nào rồi mới”điệu hổ ly sơn.” 
Chờ khi hắn khuất dạng, Hai Khoánh trở về động đá dưới sườn đồi, lục lạo mớ cơm nguội còn sót trong nồi đất. Ðêm đến, anh ta nằm co chịu lạnh, không dám đốt lữa… 
Hôm sau, Hai Khoánh mặc quần rách, ở trần, lên bờ suối hái mớ rau má, chặt ống tre lồ ô để đựng nước. 
Từ phía sau lưng, Hai Khoánh chợt nghe tiếng gọi: 
– Chú em ơi! 
Ngưòi vừa gọi chính là”hắn”. Hắn cũng ở trần, ngồi dựa lưng vào bó củi khô. Hai Khoánh hỏi nhanh: 
– Ủa! Ai đó? 
Rồi lộ vẻ sợ sệt, để khách lạ đừng chạy đi chỗ khác. Hắn đưa tay ngoắc, với thái độ đàn anh kẻ cả, nói đúng hơn là hắn tự phong chức chúa đảo. 
Khách lạ mỉm cười: 
– Vậy mà tôi tưởng ở hòn Móng Tay này chẳng có ai, trừ tôi ra. 
Hai Khoánh gật đầu: 
– Tôi cũng nghĩ như”đại ca” vậy. Dè đâu còn người thứ hai là”đại ca”. Ðại ca tới đây hồi nào? Lập nghiệp bao lâu năm ở sườn đồi phía mặt trời lặn hay phía mặt trời mọc? đại ca có vợ con gì chưa? 
Khách lạ bèn móc trong túi đem ra gói thuốc rê, vét mớ thuốc nát, chia cho Hai Khoánh một điếu. Khách giới thiệu: 
– Tôi vừa giết vợ… 
Rồi lẩm bẩm, nhìn chòng chọc vào mắt Hai Khoánh: 
– Giết vợ rồi giết luôn con… 
Hai Khoánh kêu lên: 
– Ngán quá! vợ con của ai? 
– Của tôi chớ của ai? Ông già vợ tôi đánh mõ, tri hô… Nửa đêm, xóm giềng xách gậy, xách hèo tới vây bắt. Tôi ra bờ biển, mướn ngưòi đưa ra ngoài hòn để ở tù theo ý muốn của mình. Còn chú em? 
– Dạ, tôi ăn cắp vặt trong xóm vì túng tiền, thua cờ bạc, nợ nần kêu réo. Chủ nợ thưa tôi. Tôi ở khám Rách Giá, chạy ra đây. 
Khách lạ nhướng mắt: 
– Giỏi thiệt. Nhưng khi trốn, chú em có giết bạn tù hoặc lính của tù không. 
– Không. 
Khách đưa tay vỗ nhẹ lên đầu Hai Khoánh: 
– Xin lỗi. Thế là chú em… phải là em nuôi của tôi. Tội của chú em nhẹ quá. Bất quá, nhà nước Tây chồng án. Hồi đó chú em bị kêu án mấy tháng? 
– Hai năm. 
– Mai chiều, rủi ro bề gì chú em ở bốn năm, chồng án gấp đôi. Còn tôi đây thì… 
Bấy giờ, Hai Khoánh tung ra luận điệu: nếu trốn thoát suốt hai mưoi năm thì kể như trắng án. Khách lắc đầu: 
– Chú em ở đâu? 
Hai Khoánh đáp thật tình, cố ý mời khách lạ đến hang đán của anh ta để rồi sau đó, anh ta đến thăm viếng xã giao, dò xét cái xào huyệt… có chiếc va li quá nặng của khách. Vừa bước vào hang khách mừng rỡ quá mức, thấy món gì cũng thèm. 
– Chuối chín hả? Cho vài trái coi! Chuối ở đâu vậy? Tôi mới trốn ra đây vày bữa, cơm gạo, áo quần, thức ăn…. món gì cũng thiếu. Còn thứ gì ăn được nữa không? 
Hai Khoánh cố che giấu sự khinh bỉ đối với anh chàng”đại ca”nhỏ nhen ấy. Nhưng gây gổ, giảng luân lý với kẻ giết đàn bà, giết con nít là điều ngu xuẩn, hơi đâu khảy đờn vào tai trâu, múc nước đổ lá môn. Phải tương kế tựu kế, áp dụng triệt để câu quân tử tham tài, tiểu nhân tham thực: 
– Dạ, tôi vừa gài bẫy, bắt được một con gà rừng, buộc giò nó ngoài gốc cây… 
– Cho tôi mượn luôn. 
Hai khoánh chẳng tài nào chịu đựng nổi con người khả ố đó nữa: 
– Ðể tôi ăn chớ! Nếu thèm, đại ca chia nửa con. 
– Tôi muốn ăn bộ đồ lòng gà. 
Vừa nói, khách lạ vừa bước tới, vặn họng con gà rừng, rút trong lưng quần đem ra một”cây dao con chó,” mổ bụng gà, cắt gan, ruột và thịt nạc ở đùi. 
Khách từ giã. Hôm sau khách lại tới viếng Hai Khoánh: 
– Còn gạo không? Chừng nào chú em vô trong bờ mua gạo? 
Hai Khoánh đáp: 
– Dạ, sáng mai. 
– Nhớ kiếm cho tôi một hộp sữa bò, một cân bột nấu chè ăn chơi. 
Hai Khoánh cau mày: 
– Dạ, tôi ăn cắp gạo của thiên hạ. Sữa bò và bột là những món phải mua tại tiệm quán, lúc ban ngày, với tiền bạc sòng phẳng. 
Khách lạ gãi lưng sột sột: 
– Dễ quá. Tôi chỉ chỗ dùm chú em… Ở xóm Rạch Giồng, tiệm quán bán tới khuya, tư bề vắng vẻ. Tôi thèm sữa bò quá chừng quá đỗi. Chú em phải đi gấp. Bằng không thì đừng vác mặt trở về hòn Móng Tay này. Cực chẳng đã, tôi phải nhờ chú em. Chẳng lẽ tôi lén về để họ nhìn mặt, bắt bỏ tù mãn đời. Tôi muốn sống chừng… mười lăm năm nữa… Ờ! Ðúng mười lăm năm nữa là đũ.

Hai Khoánh xuống ghe, trương buồm… bao nhiêu công chuyện quan trọng to tát mà anh ta cần thực hiện! Rõ ràng”khách lạ” nọ là kẻ gian mà không ngoan. Hắn thú nhận đã giết vợ con, quê quán ở Rạch Giồng, người ở Rạch Giồng có thể nhìn mặt hắn. Va Li của hắn chứa một số vàng bạc hoặc á phiện lậu dù cho cho hắn… ăn chơi đến mưòi lăm năm ròng rã. 
Vừa tới Rạch Giồng. Hai Khoánh đến tiệm tạp hoá, uống liên tiếp hai chén rượu. Việc sát nhơn của”khách lạ” còn nóng hổi, dân chúng bàn tán xôn xao. Ðại khái,”khách lạ” nọ tên là Nguyễn Văn Hi, làm mướn cho ông chủ Tân, nhờ ăn nói có duyên, tên Hi tư tình với cái gái chủ nhà. Cô gái nọ mang thai. Ðể cứu vớt danh giá cho dòng họ, chủ Tân đem con gái gả cho một phú thương, tuổi hơn năm chục, đã chết vợ. Tên Hi buồn rầu, bỏ xứ đi bặt tăm tích. 
Bốn năm sau, tên Hi lại xuất hiện, giết người tình và đứa bé. 
Hai Khoánh hỏi người chủ tiệm: 
– Nhà ông chủ Tân gần hay xa? 
– Cái nhà ngói ba căn hai chái kia kìa! 
– Thằng Hi hèn hạ quá. 
Chủ quán nói: 
– Nó hèn nhưng nó có tài cao bay xa chạy nên nó cứ sống nhăn hoài. Nghe đâu ông chủ Tân đặt giải thưởng năm trăm đồng cho ai điểm chỉ nơi nên Hi ẩn náu. 
Thế là Hai Khoánh vững bụng. Anh ta sẽ điểm chỉ tên Hi để lãnh thưởng, để loại trừ một kẻ giết vợ giết con, để thanh toán một người bạn quá tham ăn, bóc lột kẻ yếu thế. Hai Khoánh lẩm bẩm: 
– Nếu không mang tội giết người, tên Hi còn hung dữ gấp mười. Mình làm một việc… nhơn đạo, đoái công chuộc tội. 
Ðến nhà ông chủ Tân. Hai Khoánh lân la, tự giới thiệu rồi trình bày kế hoặch. Chủ Tân mừng quýnh vì Hai Khoánh tả rất đúng hình dáng kẻ sát nhân, mắt xếch, có xăm nơi bắp tay. Chỉ có một chi tiết khó hiểu: chiếc va li đựng vàng hoặc á phiện lậu, đã cho tên Hi sống trên nhung lụa suốt mười lăm năm. 
Chủ Tân nói rỉ vào tai Hai Khoánh: 
– Tôi hứa chia phần nửa cái va li á phiện đó với chú em. Hạ được thằng hi, tôi hả dạ rồi. Ðiều quan trọng là đừng cho ai biết nó mang cái va li kẻo thấu tai chủ quận, chủ tỉnh. Tôi gởi chú em đi Châu Ðốc, cuốc rẫy tại Núi Dài, nơi nhà người bà con. Ở Núi Dài, dân trên núi sống thảnh thơi, Tây tà chẳng bao giờ dám tới xét giấy thuế thân. Với phân nửa va li á phiện, chú em sẽ mua đất, trở thành điền chủ. 
Hai Khoánh cau mày: 
– Tôi chỉ buồn buồn… Thiên hạ sẽ đàm tiếu, họ khinh khi cho tôi là đứa phản bạn! 
Chủ Tân cười dòn dã: 
– Chú em kết bạn, uống máu, ăn thề với nó hồi nào mà sợ thần thánh… Hoặc lương tâm cắn rứt? Dễ quá, lúc về già, chú em cất một cái am ở Núi Dài, tha hồ ăn năn xám hối. Vả lại, đạo Phật, đão Lão đều dạy mình trừng trị kẻ gian tà. Nhà nước Tây bắt tư Hi bỏ từ vài mươi năm chớ đâu chặt đầu, xử bắn nó. 
Tối hôm ấy, Hai Khoánh vạch ra một kế hoạch khá tinh vi. Tên Hi luôn luôn đứng trên gành Ðá Trắng để theo dõi những người lạ mặt bước chân lên hòn Móng Tay. Hai Khoánh về hòn trước một mình, mang theo đậu xanh, sữa hộp và thuốc hút. 
– Nó là đứa ham ăn. Gặp đồ ăn, nó mừng quýnh. Sẵn dịp, tôi lên chốt hòn, thăm viếng sào huyệt của nó. Ông dẫn bọn gia nhân tới sau, cho ghe cặp bãi lúc ban đêm. Ông cứ tới hang đá của tôi. Dọc đường, hễ đi được năm sáu bước là tôi bẻ một vài đọt cây để làm dấu. Phải tìm cho được cái va li của nó. 
Chủ Tân nói: 
– Nghĩa là tối mai tôi ra hòn. Sáng mốt, tôi theo dấu, tới hang của chú em rồi lên gành Ðá Trắng, sào huyệt của thằng Hi… Tôi nói thêm một điều này cho chú em vui mừng: Thằng Hi không biết võ nghệ. Nó chỉ có tài phóng dao mà thôi. Phóng dao chỉ có kết quả khi nào hai người đứng cách xa. Chú em nhớ coi chừng cây dao nó giấu đ6au đó. Tôi mang theo hai người võ sĩ, bạn cũ của thằng Hi. Hồi xưa, thằng Hi đánh lộn, vật lôn thua xa hai người đó.

Hai Khoánh ngồi trong hang mà chờ đợi. Anh ta đoán chừng: ông chủ Tân và bọn gia nhân đã có mặt tại hòn Móng Tay từ hồi hôm. Tại sao tên Hi chưa rời gành Ðá Trắng xuống đây? Hay là cơ mưu đã bị tiết lộ? 
Ngoài cửa hang, kia… tên Hi đứng thấp thoáng. Hai Khoánh mừng quýnh, kêu to: 
– Anh Hi! 
Tên Hi trợn mắt trong một thoáng rồi giữ vẻ mặt hồn nhiên bước vào. Hai Khoánh nghe trống ngực đánh thình thịch, nhận rằng mình đã vô ý, gọi hắn đích dạnh, hắn có thể nghi ngờ. 
Vừa vào hang, hắn hỏi nhanh: 
– Sữa bò đâu? Tôi thèm thứ đó quá. 
Hai Khoánh trao cho hắn hai hộp sữa: 
– Lát nữa mình khui ra, uống mỗi đứa một chén, bổ khoẻ lắm. 
– Ðâu được. Mình đem sữa bò lên gành Ðá Trắng dự trữ phòng khi đau ốm. Sữa bò là vị thuốc. Sao! Ở Rạch Giồng, thiên hạ làm ăn vui vẻ chớ? Có ai nhắc tới tên tôi không? 
– Dạ, tôi lén ăn trộm rồi về, sợ ngoài này đại ca nóng lòng trông đợi. Ðói bụng quá. Ðại ca có món gì ăn sốt dẻo không?
– Có gì đâu! Bây giờ mời chú em lên gành Ðá Trắng thăm mấy”nhà cửa” của tôi một lần cho biết. Tụi mình sẽ uống một vài hớp sữa cho khoẻ. 
Hai Khoánh mừng ra mặt. Anh ta đi theo sau tên Hi. Thỉnh thoảng, Hai Khoánh với tay, ngắt một vài đọt cây, bỏ lại sau lưng để làm dấu cho chủ Tân theo dõi. 
Ðến cách gành Ðá Trắng chừng mười bước, tên Hi ngồi xuống: 
– Chú em mệt chưa? 
Hai Khoánh sanh nghi “phải chăng hắn rủ mình lên thủ tiêu cho gọn?” 
Tên Hi xăn tay áo, cầm hai hộp sữa bò, nhìn nhãn hiệu rồi cười giòn: 
– Chú em đừng sợ sệt. Lát nữa tôi chết. 
Hai Khoánh hốt hoảng: 
– Dạ, đại ca đừng nói bậy. 
– Chú em ngồi xuống. Chú em làm gì mà biết tôi tên Hi? Ðừng nói dối với kẻ sắp chết như tôi. Chú em phản tôi, kêu thằng cha chủ Tân ra đây hả? 
Nói xong, tên Hi lắc đầu, tiếp lời: 
– Sao, chủ Tân nói sao? Nó nói tôi giết ai? 
Hai Khoánh cúi mặt, im lặng. 
Tên Hi rút cây”dao con chó” nạt to: 
– Nói thiệt đi. Chủ Tân nói tôi giết ai? 
– Dạ… dạ… nó nói đại ca giết vợ rồi giết luôn đứa con mới ba tuổi. 
Tên Hi cười sặc sụa: 
– Chú em là … đồ con nít, bày mưu điệu hổ ly sơn, để chiếm đoạt cái va li hả? Chừng nào chủ Tân tới đây? Nói mau… 
– Dạ, lát nửa ổng tới. 
Rồi Hai Khoánh chắp tay lạy: 
– Em có tội đáng chết. Xin đại ca trốn tránh đi. Em chịu trách nhiệm với chủ Tân. Thà là nhà nước Tây bắt em bỏ tù chồng án. Em đâu dám để họ bắt sống đại ca. 
Tên Hi chẳng cần nghe lời năn nỉ của Hai Khoánh. Hắn trèo lên gành đá, nép mình rồi trở xuống: 
– Nó tới bây giờ, nó đi với hai thằng thầy nghề võ. À! Lát nữa chú em dẫn nó qua cái hang của tôi. Ðây nè! 
Hai phút sau. Hai Khoánh trố mắt, thấy một đứa bé mạnh khoẻ chừng bốn tuổi đang bú tay. Trong hang, có manh chiếu nhỏ, cái gối nhỏ. 
Thằng bé chạy lại ôm chân Hi. 
Tên Hi hôn nó rồi trao cho Hai Khoánh. 
Hai Khoánh run tay: 
– Trời! 
– Ðừng cãi lời tao. Nó nằm trong cái va li của tao đó. Nó là cục vàng, là cục á phiện lậu của tao đó. Ðem nó trả lãi cho chủ Tân. Nó ăn cực không được. Nó đòi ăn chuối chín, ăn gan gà. Suốt đêm, nó dứt sữa rồi mà còn đòi bú… 
Nói xong, tên Hi chép miệng: 
– Hai Khoánh mầy tệ quá. 
Hai Khoánh ôm mặt khóc. Tên Hi tiếp lời: 
– Khóc làm gì? Mỗi lần mầy học khôn như vầy là một phen giết hại thiên hạ. Tao đi đây…

Ðoàn người trở xuống sườn núi. Ông chủ Tân bồng đứa cháu ngoại, hai tên võ sĩ cúi đầu. Hai Khoánh nhìn dáo dác ra phía sau. 
Bỗng nhiên, Hai Khoánh ôm ngực, ngã xuống. 
Chủ Tân la hoảng: 
– Nằm xuống! Nó tấn công. 
Tên võ sĩ thứ nhứt đỡ Hai Khoánh: 
– Thằng Hi trổ tài phóng dao bay! Giỏi thiệt. 
Chủ Tân nói gắt: 
– Thằng Hi! Nó là đồ chó chết. Trời hại nó. 
Tên võ sĩ thứ nhì trợn mắt: 
– Ðừng chửi thằng Hi. Kìa… Nó chứ ai? 
Từ trên gành Ðá Trắng, một bóng người lảo đảo rơi tỏm xuống biển sâu thẳm.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Google photos

17. Ðảng xăm mình

Ông Tây Lơ Pheo vừa được”nhà nước thuộc địa Nam Kỳ” cấp cho một phầnd dất hoang vu, sình lầy ở rạch Xẻo Quao, làng Ðông Hưng, sát mé biển vịnh Xiêm La. 
Sau khi hay tin ấy, mấy ông điền chủ Việt Nam ở gần không ngớt bàn tán: 
– Bộ thằng Tây đó muốn tán gia bại sản sao chớ? Thứ đất khô không ra khô, ướt không ra ướt, tràm mọc vài cụm xơ rơ… Biết chừng nào mới làm ruộng được. Cỏ mọc cao hơn đầu người. 
Có người đáp lại: 
– Ông Lơ Pheo không ngu dại gì đâu, ông làm tới chức”bác vật,” ông có vốn liếng nhiều. Vài chục năm nữa, đất phèn, mùa nàng thạch mậu nhờ ổng mướn người xẻ kinh, đào mương cho rút bớt chất phèn. 
– Vô lý. Vài chục năm sau, ông Lơ Pheo chết ngắt. Biết đâu Tây rút lui về chánh quốc trước khi đất này trở thành “đất thuộc” có huê lợi. Ông Trạng Trình tiên đoán rằng… thầy tăng trở về… gì đó, bà con mình quên rồi sao? 
Nhưng Sấm Trạng Trình, năm ấy, chưa ứng nghiệm. Co bộ còn hơi lâu Tây mới rút về nước họ. nhà nước Tây còn mạnh lắm. Quan chủ quận vừa gời trát xuống cho thầy hương quản”tuân cứ” là hôm sau cả ban hội tề Ðông Hưng mặc chỉnh tề, khăn đóng, áo dài đen, chầu chực đón rước vị điền chủ mới. 
Ông Lơ Pheo nói sành sỏi tiếng Việt Nam, không cần ai làm thôn ngôn. Ông không mang theo khí giới, súng đạn, khi người ta là một tay lịch lãm, dám bỏ quê xứ để qua thuộc địa miền nhiệt đới, khi người ta có bộ óc khá to, có cái trán sói sọi vì quá suy tư. 
Nghe trình bày những khó khăn trong công việc làm ăn, ông Lơ Pheo mỉm cười: 
– Hèn gì… Ngành canh nông ở đây kém phát triển, thua Nhật Bổn, Miến Ðiện, Nam Dương. Ðất nào mà không sanh ra huê lợi. Vậy chớ mấy ông điền chủ”An Nam” ở gần đất của tôi sanh sốn bằng nghề gì? 
Thầy hương quản nói: 
– Dạ, họ không làm ruộng. 
Ông Lơ Pheo trố mắt: 
– Tại sao họ xưng là người trồng tỉa lúa gạo. Họ khai trong giấy tờ làRi-di-cun-tưa (Riziculteur). 
Thầy hương quản gãi đầu: 
– Họ sống bằng nghề nuôi cá. 
– Ồ!Phọt-mi-đáp. Nuôi cá là chuyện khác với làm ruộng. Bây giờ, thầy hương quản cứ cho tôi biết. Mỗi mùa nuôi bao nhiêu… con cá? Loại cá gì? Cho cá ăn mồi gì? Làm sao có đủ thức ăn cho cá lớn? Lúc cá đẻ, phải săn sóc cá mẹ cá con ra sao? Mỗi ngày, cá ăn mấy lần? Mỗi năm, bán được bao nhiêu tiền?… 
Thầy hương quản nói tóm tắt: 
– Dạ, theo chỗ tôi biết thì mỗi người chủ đều bán ra vài chục ngàn kí lô cá. Ðó là cá lóc, cá trê, cá rô do trời sanh, trời dưỡng. Từ hồi… tạo thiên lập địa, cá kiếm ăn một mình. Mình cứ ở không, uống rưọu mà chờ mùa nắng để bắt cá một lần. Gọi tắt là mấy ông điền chủ”An Nam” đắp vuông nuôi cá. Nuôi cá trong cái”vuông”. 
– Vuông là cái gì? Sao tôi chưa nghe sách vở nói tới. Cái hình bốn góc bằng nhau. Làm sao cá ở trong đó? 
Thật vô cùng bối rối cho thầy hương quản. Làm sao giải thích rõ ràng cho ông Tây thuộc địa nghe được. Thầ ngỏ ý muốn đưa ông Lơ Pheo ra ngoài vuông để ông ta quan sát tận nơi. Trời nắng chang chang, đổ sao. Ông Lơ Pheo lắc đầu, nghĩ đến những vụ ám sát, bắt cóc. Phía chân trời, dường như có một dẫy rừng chạy dài. 
Rốt cuộc, thầy hương quản nói: 
– Dạ, đó là một khoảng đất rộng từ bảy chục, tám chục hoặc hai ba trăm mẫu. Trong khoảng đất hoang vu, người ta đào nhiều đường mương nhỏ, như bàn cờ, cho cá ở. Bên ngoài có bờ bao ngạn như vòng thành khá cao. Cao hơn một thước tây. Vì vậy cá lội quanh quẩn trong vùng đất bao la bên trong. Làm sao cá nhảy ra khỏi bờ bao ngạn được. Cái vuông ấy không nhứt thiết hình vuông. Nó méo mó, hoặc theo hình chữ nhựt. 
Ông Lơ Pheo thích chí: 
– Tôi hiểu rồi. Giỏi quá! Nhưng mà… làm sao gom cá lại một chỗ, bắt cá đem lên. Chẳng lẽ dùngmáy bơm để hút nước ra ngoài. Muốn bắt cá, phải tốn bao nhiêu nhân công? 
– Dạ bẩm, quan lớn… Qua mùa hạn bao nhiêu cá đều rút xuống mương, tự nhiên. Chừngmương cạn thì thì cá rút lui từ từ, dẫn vào một cái đìa khá to, ở sát bờ bao ngạn. Mình cất nhà ở bên cái đìa đó, để coi chừng kẻ trộm. cứ tát đìa. Cá lớn thì bán. Cá nhỏ thì để dành làm giống cho mùa tới. 
Ông Lơ Pheo gật đầu lia lịa, khoát tay ra dấu nhận lời thầy hương quản. Chẳng lẽ người Pháp lại thua trí người nông phu”An Nam”? ông ta nói nhanh: 
– Tôi hiểu rồi. Mấy người nuôi cá theo kiểu… cái Biển Hồ trên xứ Cao Miên. Mùa mưa cá lên rừng, lên ruộng, sanh đẻ trong lồng cỏ. Mùa nắng, cá gom xuống ao hồ. Tôi làm bài toán rồi. Mỗi năm, một cón cá mẹ sanh ra chừng mười ngàn cá con, hay quá. 
– Như vậy nghĩa là quan lớn thấy xa hiểu rộng hơn tôi nhiều. Sáng mai, tôi dẫn quan lớn đi thăm mấy cái ruộng của điền chủ”bổn xứ”, gần đây… 
– Cám ơn. Tôi đắp một cái ruộng, lớn bằng hai bằng ba… cho điền chủ An Nam noi theo. Ờ, tại sao mấy người điền chủ ở đây không làm giàu. Cá nưôi không cần mồi. Tiền bạc ở đâu? Tại sao không ai cất nhà lầu, mua tàu bè, lập nhà máy xay lúa. Tại sao ông chủ ruộng nào cũng nghèo xơ xác? 
Thầy hương quản mỉm cười bí mật. Thầy ta cũng là một người chủ vuông, luôn cả những người trong ban hương chức hội tề: 
– Thưa ông, khó nói quá. 
– Sao vậy? Tại vì mấy người chủ vuông hút á phiện, mê cờ bạc? 
– Dạ, khó nói quá.

Ông Lơ Pheo lấy làm hài lòng khi ông đích thân đến quan sát vùng đất, ông phác hoạ kế hoạch tương lai. 
Này, cái bản đồ với bón góc A, B, C, D có thể chứa hàng triệu con cá. 
Này, cái trại vuông, lợp bằng thiếc, nền lát gạch, vách ván, có cửa sổ che lưới sát mịn để ngừa loại muỗi đòn xóc gây bịnh rét rừng. 
Này, cái phòng khách. Bên góc, có bình lọc nước, thư viện nghiên cứu. Và trước sân là một cái hồ nhỏ, cẩn xi măng để nuôi thử vài loại cá lóc, cá trê. mấy loại này sẽ lai giống, gây ra vài thứ cá mau lớn, dễ nuôi hơn, ăn ngon hơn. 
Ngày đắp xong cái vuông, ông khen thưởng bọn”culi” một con heo quay. 
Rồi suốt ngày, ông nằm trong trại, theo dõi tình hình nuôi cá. 
Vài người đàn ông đen đúa, ở trần, tóc dài tới ót đi qua đi lại gần trại nuôi cá của ông Lơ Pheo. 
Họ chào ông, ông chào họ. Họ tự xưng là người”làm ăn lương thiện” ở ngoài mé biển. Họ hút điếu thuốc của ông Lơ Pheo thân tặng rồi họ nheo mắt, khều nhau. 
Họ nói nói, cười cười như âm mưu chuyện gì. 
Ông Lơ Pheo cau mày, linh tính như báo trước chuyện bất an. Ngực của mấy kẻ”làm ăn lương thiện”ấy xâm đầy chữ Tàu, chữ quốc ngữ, luôn cả chữ Pháp. Bí mật quá. 
Chờ khi họ khuất dạng, ông Lơ Pheo đến nhà hương quản: 
– Mấy người ở đâu vậy? Tên họ gì? Có đóng giấy thuế thân không? Hay là dân bất lương? 
Thầy hương quản nói: 
– Họ ngoài mé biển, làm nghề câu cua, đốn củi, gài bẫy chim. Mấy nghề đó, nhà nước Lang Sa đâu cấm đoán. Còn về giấy thuế thân thì… khó quá. Tôi chua dam1 hỏi thử vì làm vậy sợ mất cảm tình. Ðể tôi hỏi thầy xã trưỡng xem thử họ có ghi tên trong bộ sỗ không. 
Ông Lơ Pheo lắc đầu: 
– Họ còn làm gì khác không? Coi bộ họ rảnh rang hơn tôi. À, họ biết chữ Tây không? 
– Dạ, làm sao biết được Ở làng này, chẳng ai biết chữ Tây hết. 
– Nè, thầy hương quản. Họ xăm mấy chữ Pháp quá vô phép:”Plutôt la mort que la honte”(thà chết hơn chịu nhục). Họ lại ở trần cho tôi đọc. 
Thầy hương quản hơi bối rối: 
– Họ xăm mình từ hồi nào lận kìa! Vả lại, chữ nho cũng vậy”Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục.”đã xăm vào da vào thịt rồi thì làm sao bôi xoá được. Chữ Tây mà. Chữ Tây ngụ nhiều ý nghĩa quá. 
Ông Lơ Pheo lẩm bẩm: 
– Câu đó để dành cho người Pháp bên chánh quốc. Hoặc cho tôi. Ở xứ Nam Kỳ này, không nên nhắc lại câu đó, sợ dân tình bắt chước. Ngoài mé biển, còn chừng bao nhiêu người sống lang thang rảnh rổi như vậy? 
– Dạ, để tôi hỏi thầy phó hương quản. Phó hương quản lo trị dân ngoài đó. 
– Phó hương quản là ngườ nào? Mặt mày ra sao? Kêu lại cho tôi biết mặt. 
Thầy hương quản im lặng. Ngưòi xăm mình, xoay mấy chữ ngạo nghễ khi nãy chính là phó hưong quãn chó còn ai đâu xa lạ. Thầy che giấu: 
– Dạ, phó hưong quản giờ này đi câu cua ngoài biển. 
– Dân ngoài mé biển hiền hậu không? Uống rượu nhiều không? Họ uống rượu với… thịt chó hả? Ở vùng đồng bằng sông Hồng… 
Thầy hương quản gật đầu để chấm dứt câu chuyện rắc rối. 
– Dạ, uống rượu với thịt chó. 
Rồi thầy ra về với nụ cưòi bí mật. Sự thật là dân miền biển ưa nhậu rượu với cá, loại cá nước ngọt, nuôi trong vuông. Cá đồng ngon hơn loài cá biển. Nay mai, đến mùa nước cạn, họ sẽ nhậu với cá trong vuông của ông Lơ Pheo và ăn trộm cá để mua rượu. Họ ăn cá, thay cho cơm. 
Ông Lơ Pheo vào trại, tỏ thái độ cương quyết. Ông vừa thắng một trận giặc lòng. Lương tâm ông chẳng còn cắn rứt nữa. Ông quyết tâm vượt những khó khăn đầu tiên mà cuộc kinh doanh nào cũng vấp phải. Kế hoạch đối phó của ông như thế này: Về chợ Rạch Giá, tìm một tay võ sĩ, đánh lộn hay, chém lộn giỏi, rồi phong cho hắn làm chức quản lý vuông cá. Ấy là lấy độc trị độc. Mỗi tháng, cứ tăng lương đều đều cho hắn.

Mấy tháng qua, Tư Liệt lấy làm vui thích. Với trách nhiệm to tát, chú tư còn được quyền hạn khá rộng do ông Lơ Pheo giao cho. 
Sáng sớm, vừa thức giấc là chú Tư Liệt dạo vòng quan bờ ruộng, đi hơn một tiếng đồng hồ mới giáp bốn phía bờ bao ngạn. Chẳng có kẻ bất lương nào ẩn náu trong vùng cấm địa cả! Ông Lơ Pheo đã la hoảng, vậy thôi. Trong vuông, chú Tư Liệt thấy nào chi, cò, trích, cúm núm. Hàng trăm con le le bay lên từng chặp, từ mấy cái lung đầy sen bạch, nở muộn. Gió chướng thổi hiu hiu. Mấy giề rong đuôi chồn tan rã, chìm xuống. Mắt nước lềnh bềnh, đầy bông súng. 
Mấy tấm bảng”Vuông này là của riêng của ông Lơ Pheo, Cá có chủ! Coi chừng! Nếu trộm cắp sẽ bị nghiêm trị!”đứng trơ trẽn lạnh lùng trưóc cơn gió biển. Thỉnh thoảng, vài con cò quắm đáp xuống, đâu thử trên đầu bảng. Nhưng chặp sau, vì tấm bảng quá mỏng, nên cò quắm đau chân. Cò vỗ cánh, phóng uế, bay về phía rừng mắm xanh rì để đậu. Cành mắm tròn đậu êm ngón chân hơn. 
Tư Liệt ngáp dài, trở về trại, uống viên ký ninh, đúng theo lời căn dặn của ông Lơ Pheo, và uống với nước lọc, những giọt nước mát lạnh nhểu xuống từ cái”phít” bằng đất sét trắng. Buổi chơm chiều, chú ăn chậm rãi. Nhà đóng kín, muỗi không lọt vào được. Ông Lơ Pheo đã trở về Sài Gòn từ tháng trước. Tư Liệt nghiễm nhiên trở thành chủ nhà, chủ vuông cá. Còn năm ngày nữa, ông Lơ Pheo mới trở lại Xẻo Quao này. 
Chú nằm trên giường lắng tai. Bên ngoài có những tiếng động lạ thường. 
Trong cái đìa sau trại, cá quậy nước nghe ầm ầm. Hàng ngàn con cá to đã gom vào đó. Im một chặp, lại nghe tiếng”chép chép,” “lụp bụp,” “lào xào” … cứ như thế, mỗi lúc một náo nhiệt. 
Chú xách cây đèn”pin” , chạy ra ngoài rọi xuống đìa. Nước đục ngầu pha trộn với bùn đen. Hằng hà sa số cá lóc, cá trê cố vùng vẫy, toan lội trở ngược. Chú dạo một vòng, chung quanh bờ vuông. Cá gom xuống mương rồi. Cá muốn lội dài theo dòng nước đục, gom vào cái đìa lớn. Chú rọi đèn”pin” … Vài con cá choá mắt, nhảy dựng đứng để trốn ra ngoài bờ bao ngạn khá cao. “Cá ở đâu mà nhiều quá vậy?” Tư Liệt hỏi thầm. 
Sau cuộc tuần tra ấy, Tư Liệt vào nhà mừng thầm vì nay mai ông Lơ Pheo sẽ hài lòng. 
Hừng sáng, chú thúc dậy sớm, dạo một vòng trên bờ vuông. Ðằng kia, đôi ba người lực lưỡng đưa tay ngoắt chú. Bên cạnh họ, đống lửa cháy vàng lườm. Khói bay cuồn cuồn, đưa màu cá nướng thơm phức. Thấy họ đông đảo và mạnh khoẻ hơn mình, Tư Liệt dừng lại. Có tiếng kêu réo: 
– Lại đây nhậu chơi nè. Chẳng lẽ ba người ráp đánh một người. Anh hùng một thứ với nhau mà. 
Tư Liệt cười gượng, đến gần. Ô hô! Nãy giờ, và có lẽ từ mấy ngày trước, họ ăn hằng hai ba chục con cá lóc, cá trê, bỏ xương bỏ thịt một đống to. Dường như chưa thoả mãn, họ đang chuẩn bị cặp vào gắp tre chừng mười con cá trê mà nướng tiếp theo. 
– Lại đây đại chúng ta. Uống một hớp cho tỉnh táo để thính lỗ tai, nghe tụi tôi hạch tội. 
Tư Liệt ngạc nhiên: 
– Hổm rày, tôi đã làm gì khiến bà con hờn giận? 
Một người trong bọn nói: 
– Hồi tối, đại ca đi đâu. Rọi đèn”pin” để rình bắt tụi tôi hả? Rình ban ngày chưa đủ sao? Lại đây ăn no rồi kéo tay sơ sơ coi ai mạnh, ai yếu. Nè! Cá lóc Xẻo Quao ngon lắm, ngốn một miếng cho biết mùi. Ăn lớn miếng mới biết ngon. 
Cực chẳng đã, Tư Liệt phải ăn và uống. Bọn người cười vang: 
– Cha nội này tiếc của dùm cho ông Lơ Pheo. Cá này là cá của mình mà. Tại sao đại ca lại trung thành”bất tử” với ổng? 
Tư Liệt hỏi nhanh: 
– Cá ở đây vậy? 
– Cá ở trong vuông trốn ra chớ ở đâu. 
– Cá biết trốn à? Làm sao nó nhảy qua bờ bao ngạn, cao hơn một thước tây. 
– Nó đào hang, đào ngách. Ðất mềm lắm. Kìa! Thí dụ, như mấy bụi sen bạch này. Nó mọc phía ngoài nhưng nó trổ ngó, mọc thêm vài bụi phí trong vuông của ông Lơ Pheo. Hai bụi sen dính liền với nhau. Thử đào đất lên thì biết. Lời tục thường ví:”Ðất có con mắt”. 
Hôm sau, ông Lơ Pheo từ Sài Gòn về Xẻo Quao để… bán cá. Ông hơi buồn phiền vì Tư Liệt cứ vắng mặt. Chỉ còn người bạn tâm giao của ông ta là thầy hương quản. 
Thầy hương quản nói: 
– Xứ này khó làm giàu lắm. Bởi vậy, mấy ông điền chủ Xẻo Quao chỉ lo nhậu rượu rồi làm hương chức hội tề cho vui. Làm sao phân biệt cái hang tự nhiên với cái hang của tụi nó đào. Tôi biết. Gây gỗ với tụi nó vô ích. 
Ông Lơ Pheo nói giọng chán ngán: 
– Chắc thằng Tư Liệt theo đảng xăm mình rồi. Còn thầy có xăm mình không? 
Thầy hương quản mỉm cười: 
– Ôi thôi. Cá nước chim trời mà.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 28 Jul 2024

Tranh Đông Hồ – Google photos

16. Bức tranh con heo

Gia đình ông hương trưởng Neo rất nổi danh ở làng Thạnh Hòa. Rồi mới đến lập nghiệp, ông hương trưởng chuyên nghề đốn củi trong rừng, bà thì bày ra sáng kiến nuôi heo nọc – heo đực, không thiến – dành để gây giống. Phương châm của hai vợ chồng trẻ thưở ấy là:”đại phú do thiên, tiểu phú do cần.” Ông hưởng trưởng tỏ ra bảo thủ, giữ cái búi tóc và trung thành với chánh phủ thuộc địa, đến mức chẳng bao giờ đốn củi lậu thuế. Bà hương noi theo thôn lệ cổ truyền. Hễ ai có heo để nái, muốn cho nhảy đực lấy giống thì bà dẫn con heo nọc tới, kiểm soát cẩn thận, để phòng trường hợp thân chủ lợi dụng con heo nọc nọ”nhảy” liên tiếp hai con heo nái, thay vì một con. Ðến ngày heo sinh đẻ, nhơn danh là là chủ heo nọc, bà được quyền “ưu tiên,” lựa chọn con heo nào khoẻ khoắn nhứt, đem về nuôi hoặc bán lại cho kẻ khác. 
Lần hồi, gia đình trở nên khá giả, ông hương trưởng bỏ nghề đốn củi, mua đất, lập vườn. Theo sáng kiến của bà, ông cũng cho hương chức đình, liên tiếp ba năm liền, một số tiền khá to khi tổ chức lễ kỳ yên hàng năm. Lẽ dĩ nhiên, ông được ngồi mâm trên tham dự phần xôi thịt hơi nhiêù và hơi ngon. Việc gì đến phải đến. Ông được chức hội tề phong cho làm hương trưởng, cai trị dân làng bằng cách suốt ngày ở không. Thỉnh thoảng đi nhậu nhẹt hoặc mặc ái dài khăn đóng trong dịp đón rước quan chủ quận, chủ tỉnh thời Pháp thuộc. Thật ra, ông không có quyền hạn gì ráo. Ông muốn như thế để có thời giờ rảnh rỗi lo việc chăn nuôi, lập vườn. 
Nhưng có tiền nhiều để làm gì? Trong làng Thạnh Hoà, từ mấy năm qua, thiên hạ đàm tiếu: 
– Vợ chồng hương trưởng Neo Khờ khạo quá. Có tiền mà sống như người nhà quê, thời”đàng cựu.” Không chừng ổng bả chưa thấy đèn điện hoặc chiếc xe hơi. 
Bà hương trưởng đã nhiều lần tỉ tê với chồng: 
– Bữa nào mình ra chợ… một lần cho thiên hạ biết mặt. Tôi sợ tốn tiền. 
Ông gật đầu: 
– Lâu lâu cho nó tốn môt lần. Hơi đâu bà ngán miệng lằn lưỡi mối của thiên hạ. Mấy người kiêu ngạo vợ chồng mình, bà thử nhớ mặt họ. Nè, thằng Tám Theo, làm cu li xe kéo ở chợ rồi thất bại, trở về xóm này để làm ruộng. Nó tưởng làm ruộng dễ lắm. Ruộng thất, nó sạt nghiệp. Lại còn thằng Tư Mít, vừa bán hủ tiếu, vừa cờ bạc. Nó bị”tổ trác” phần vì thua cờ bạc, phần vì nấu hủ tiếu không ngon. Nó thấy vợ chồng mình làm ăn khá giả rồi nó ganh tỵ. 
– Đâu phải! Nó khinh vợ chồng mình hạ tiện. 
– Mà bà hà tiện thiệt! Họ nói không oan đâu! 
– Hứ! lâu lâu tôi cũng dám xài tiền một lần. Ông đừng hùa theo người hàng xóm mà chê bai tôi. Bây giờ tôi nhứt định đi chợ Rạch Giá một chuyến cho… phỉ tình. Tôi sợ điều này… 
– Ðiều gì? Ðàn bà đâu có đóng thuế thân mà bà sợ lính bắt. Cònt ôi thì năm nào năm nấy, đóng đầy đủ. Tôi là người”chức việc” trong làng. 
Bà hương trưởng nói khẽ: 
– Ở nhà thì tôi biết khôn biết dại, ngặt ra chợ ra búa, đi làm sao, đứng làm sao, mua sắm làm sao, tôi chưa từng biết. 
Ðể tỏ rằng”ta đây xứng đáng làm chồng.” Ông hương trưởng quả quyết: 
– Bà đừng lo. Tôi chỉ dẫn cho bà từng đường đi nước bước. Tuy chưa ra chợ lần nào nhưng tôi giao thiệp nhiều với mấy người đã từng đi chợ. Bà tin tôi đi. 
– Tôi sợ ông xài lãng nhách, tốn kém nhiều quá. 
Ông hương trưởng Neo cằn nhằn: 
– Hà tiện gì dữ vậy? Chừng năm chục đồng đủ rồi. 
– Làm gì tới năm chục đồng… Tính ra là một con heo đúng tạ, hàng trăm con gà mái. Mình đi sáng sớm hoặc hừng đông, cho kịp chuyến đò. Tới chiều, mình đi tàu trở về. Ðể”thằng bạn” ở nhà, cho nó coi chừng trộm cướp. Tôi nghĩ cách: chèo ghe ra chợ. Ngặt tốn thêm một miệng ăn. Nghe đâu ở chợ, mỗi bữa ăn tốn kém bằng năm, bằng mười ở nhà quê. 
Ông hương trưởng thở dài: 
– Ra tới chợ, mình phải ăn, phải uống. Xuống tàu đò, mình phải ăn, phải uống. 
Bà hương trưởng như chợt nảy ra sáng kiến: 
– Ă uống dễ quá, tôi lo cho ông… ăn cành hông. Ðể coi! Tiền tàu mỗi người bảy cắc, hai người là một đồng tư, bận đi bận về là hai đồng tám cắc. Mình đem theo năm đồng đủ rồi. Năm đồng là một phần mười của số tiền mà ông dự định. SÁng mốt mình ra chợ, cho thiên hạ đừng khinh, ông chịu không? 
Chiếc tàu đò Phước Sanh tách bến từ lâu rồi – kiểu tàu xưa, không có tần trên – tất cả hành khách ngồi chen chúc nhau trên hai hàng”băng” đóng sát be tàu. Hành khách bắt đầu mệt mỏi: máy tầu nổ quá to, hơi xăng nhớt toả ra ngùn ngụt. Tim và phổi của hành khách đều sống chung trong tình trạng bất bình thường. 
Ông hương trưởng Neo đã khéo léo chen lấn, giành chỗ ngồi ở khoang giữa. Lẽ dĩ nhiên, bà ngồi kế bên ông. Ông cười tủm mãi vì tàu đò ít nhảy sóng. Nhiều người cho rằng hễ đi chưa quen thì hành khách có thể ụa mửa. Ông nói với bà: 
– Sướng hơn đi bằng ghe biển. Vậy mà thiên hạ đồn đãi lung tung. 
Bà đáp: 
– Chật chội quá. Làm sao ông nói với người kế bên… Xét dùm. Mỏi cái bắp đùi… 
Bây giờ ông mới sực nhớ đến mớ hành lý quan trọng mà bà vợ cụ bị mang theo. Ðó là mớ gà rô tiểu nhân, vịt luộc gói khéo léo trong tờ giấy nhựt trình. Bên ngoài, có hai ba sợi dây buộc chặt. Bà vợ lãnh phần gìn giữ, ôm sát vào mình. Lúc mới xuống tàu, ông đã chỉ dạy: 
– Cứ để bên”băng” còn trống. Nhưng dọc đường, hành khách tăng thêm. Bà hương trưởng đành ôm gói hành lý vào lòng, đặt trên đùi. Dưới tàu, vài em bé đi tới lui, bán đậu phộng rang, nước cam, nước xá xị. 
Bà nói khẽ với chồng: 
– Mấy thứ đó ăn uống vào sanh bịnh! Ðồ ăn thiếu gì, trong gói nè. Cái gì… gái đậu phộng nhỏ xíu, bán năm cắc! 
Ông hương trưởng bắt đầu áy náy. Kế hoạch tự túc của bà vợ tuy khôn khéo nhưng hơi khác thiên hạ. Bà nói: 
– Ăn được chưa? 
Khó xử quá! Nếu mở gói”hành lý” ăn tại chỗ thì thiên hạ cười chê. Ngược lại, nếu bắt buộc bà ôm cái gói khá nặng ấy vào lòng thì lại tội nghiệp. Ông nhớ rõ: đêm rồi, bà vợ thức từ hồi canh tư, bắc nước nhổ lông gà, lông vịt rồi thì luộc, rô tiểu nhân, bay mùi thơm phức. Bà lại còn thắp đèn, ra sau vườn hái thêm mớ rau sống: “rau tốt quá! Bao nhiêu đây, nghe đâu ở ngoài chợ họ bán tới giá hai đồng bạc. Tội tình gì mình không hái đem theo”. 
– Ăn chưa! Tôi đói bụng rồi! 
Nghe bà vợ thúc hối, ông hương trưởng bắt đầu hơi mệt. Ông cũng đói như bà. Ông rất thông cảm. Ở nhà quê, vào khoảng chín giờ sáng là ai nấy bắt đầu ăn cơm trưa, tức là buổi ăn lót lòng sáng và buổi cơm trưa nhập một. Nhưng trong lúc tất cả bộ hành đều tỉnh táo, chẳng lẽ hai vợ chồng ăn riêng, coi hơi kỳ. 
Ông nói nhỏ: 
– Chờ lát nữa. thiên hạ chưa ăn mà! 
Nói xong, ông ho lên một tràng. Bên hàng ghế đối diện, một người gọi thằng bé bán dạo, mua chai xá xị, nút ở nghe cái bốp. Nước ngột chảy từ từ vào cái ly, sôi bọt, ông hương trưởng không còn nhịn thêm được nữa: 
– Bà có đem nước theo không? Tôi thèm nước trà quá. Uống được rồi. Thiên hạ uống kìa! 
Gói giấy từ từ mở ra, rất lâu, theo ngón tay khéo léo của bà hương trưởng. Bà tháo gút dây cẩn thận rồi cuốn sợi dây lại, để dành. 
– Quăng bỏ đi! Ông nói. 
– Ðể buộc lại chớ. Gà tới hai con. Vịt luộc cũng vậy. Ăn sao hết, để ngoài gió, rủi bụi bặm vào hoặc có con dời nó bò, dính vào thịt gà. Ăn nhằm con dời là chết! Ông quên rồi sao? 
– Ðem làm gì nhiều dữ vậy! Tôi tưởng bà làm thịt một con gà, một con vịt, dè đâu tất cả tới bốn con… 
– Ăn sáng rồi còn bận về, mình ăn chiều. Mấy chục năm qua, mình sống bằng nghề nuôi gà vịt, bữa nay ăn một bữa thoả thuê. Tốn kém gì? Cây nhà lá vườn mà! 
Mấy người bên cạnh đều trố mắt, lắng tai nghe tâm sự của bà bộ hành đặc biệt ấy. Họ cố gắng che giấu nụ cười. Bà hưởng trưởng ngỡ mình có duyên, nói tiếp: 
– Hay là ông nhớ thịt heo! Nhà mình còn hai con heo đúng tạ, bán sớm quá, hơi uổng. Tôi biết tánh ông ưa ăn thịt heo luộc nên mua hồi hôm qua tới nửa cân thịt ba rọi. 
Ông hương trưởng nhăn mặt: 
– Nhiều quá, ai ăn cho hết? 
Bà vợ vẫn chưa hiểu: 
– Tôi xắt từng miếng nhỏ rồi. Tôi hiểu mà. Dọc đường như vậy, dễ gì mượn tấm thớt với cây dao. 
Ðể chấm dứt sự hiểu lầm ấy, ông gật đầu: 
– Lát nữa hãy ăn. Tôi muốn uống hà. 
Bà hương trưởng đưa ra chai nước, xung quanh chai có quấn giấy nhựt trình để khỏi dính mùi thịt gà: 
– Cái chai sạch thiệt sạch. Ông uống đi! 
– Bà gói lại đi. Ðể cái chai này ở ngoài. 
– Vậy hả? 
Thấy ông chồng hơi lúng túng vì chẵng lẽ đưa miệng chai vào miệng mà nốc, bà chắt lưỡi: 
– Tôi quên đem theo cái ly, cái chén. Hồi hừng sáng, tôi nhớ kỹ, đem theo hai đôi đũa để gắp thịt, nhè quên cái ly uống nước. 
– Ðược rồi! 
Vừa nói, ông vừ nâng chai, uống ừng ực mớ nước trà nguội ngắt trao cho bà. Bà uống, hạ chai xuống, thở ra khoan khoái. 
– Như vậy đỡ tốn một đồng bạc. Ủa! Hai đồng bạc chớ. Một chai xá xị là một đồng. Hai chai là hai đồng. Chai gì mà nhỏ xíu cái ruột. Mình coi kìa! 
Ông hương trưởng ngồi im, không dám gợi chuyện thêm. Tàu cứ chạy. Hành khách bắt đầu uể oải vì đường còn khá xa. Vài người dựa đầu vào vách mui tàu mà ngủ hoặc bàn tán chuyện riêng tư, chẳng còn ai chú ý tới sự thắc mắc của hai vợ chồng người đồng hành. 
Ông hương trưởng hỏi người kế bên: 
– Gần tới chợ Rạch Giá chưa? 
Người nọ đáp: 
– Chừng hai giờ nữa. 
Ông buồn rầu. Như vậy là đúng ngọ tàu mới cặp bến. May thay, tiếng rao lanh lảnh của thàng bé bán hàng rong đã mở cho ông một lối thoát kỳ diệu: 
– Ai ăn cơm sườn không? 
Nó bưng hai đĩa cơm nghi ngút. Ði tới lui. Bà vợ mừng quýnh: 
– Chừng này ăn được rồi. Mình đem thịt gà thịt vịt ra ăn. Tệ quá. Coi đĩa cơm kìa! Bán năm cắc, đâu chừng một chén cơm với nửa miếng sườn. Tôi đói quá. 
Ông đáp: 
– Ăn hấp tấp quá, người ta cười. Mình cứ chờ. 
– Kìa! Có người mua cơm. Họ ăn kìa. 
– Nãy giờ tôi suy nghĩ điều này, bà có nhớ hay quên? Ăn thịt gà thịt vịt với món gì? Ðể tôi biểu thằng nhỏ đó bán một cắc bạc cơm, cơm không rẽ tiền. Chẳng lẽ mình ăn thịt gà thịt vịt trừ cơm! 
Bà cười tủm tỉm, như kẻ đắc thắng, thắng một ván cờ khá gay go, với chồng: 
– Tôi nấu cơm nếp đem theo. Nhiều lắm. 
– Sao tôi không hửi mùi? 
– Hửi làm sao được. Hồi khuya, rô tiểu nhânxong con gà, tôi thấy nó chảy mỡ quá nhiều. Tôi tiếc hùi hịu, nên nấu cơm nếp, trộn với mỡ gà. Cơm nếp đó nằm trong gói này. Nó thơm như thịt gà vậy! 
Thế là hành khách lại chứng kiến một cảnh vui vui: gói hành lý, lương thực được mở ra. Bắp đùi của ông và của bà kề sát lại, trở thành cái mâm cơm. Họ ngồi kề vai nhau; bà tặng cho ông một cái đùi gà, ông nói lẩm bẩm: 
– Bậy quá! thiếu rượu đế! 
– Hí! Uống rượu say sưa, thiên hạ phiền. Nè, nem sống thiếu gì! Cây nhà lá vườn. Rau răm, rau húng cây, rau húng lủi… nè dưa leo, nè ớt. 
Hành khách đổ dồn hàng chục đôi mắt về hía đôi vợ chồng già. Bà nói với ông: 
– Mời họ ăn không? Mình nên mời một tiếng. 
– Theo tục lệ, không ai mời ai cả. Ra đường, mạnh ai nấy lo, tiền ai nấy xài. Thí dụ như chiếc tàu này gặp dông bão, rủi chìm thì mạng ai nấy lội. Chết ai nấy chịu. Mình mời lung tung, thiên hạ không ưa. Bộ mình khinh khi, cho rằng thiên hạ đói hay sao? Họ no hết rồi. Họ không ăn như mình chì vì… họ no hoặc họ chưa muốn ăn. Mình cứ tự nhiên, đừng mắc cỡ.

Hai vợ chồng lên bờ sau chót. Bầu không khí nóng nực quá. buổi trưa, chọ vắng teo. Hầu hết các tiệm phố đều đóng cửa hoặc hép bớt cửa cái. 
Bà hương trưởng sửng sốt vì đường đá quá rộng và quá cứng! Chỗ này đá trồi lên lởm chởm, đau chân, chỗ kia, mặt đường đen thui, nhão nhoẹt mớ dầu hắc tráng đường chảy ra như dầu sôi. Ông hương trưởng cắm đầu, bước tới, sát bên lề: 
– Mình cứ đi theo tôi! Cứ theo đường thẳng từ đây tới mé sông. Rồi từ mé sông trở lại bến tàu này, kẻo lạc lối. Buồn quá! 
Ông hương trưởng không muốn che giấu nỗi buồn vô tận của mình. Người quá lại khá nhiều nhưng chẳng một ai chịu khó nhìn ông, chào hỏi như ở thôn quê. Rõ ràng chợ búa là chốn buồn tẻ, buổi trưa, muốn tìm bóng mát, đâu phải dễ. Vào quán thì sợ tốn tiền. Còn đi như vầy hoài, thiệt là hành hạ tấm thân. 
Nhưng bà vợ phía sau đã nêu vấn đề: 
– Kiếm chỗ nào nghỉ chân một chút. 
– Nãy giờ tôi cũng như bà. Mỏi quá. Mình vô quán ăn. 
– Bộ ông còn đói hả? 
– Mình mượn cái ghế mà ngồi… tạm. Họ tính bao nhiêu thì mình trả. Vài cắc bạc, chớ không lẽ nhiều. 
– Phải à, mình kiếm một cái quán nào nho nhỏ, uống bậy chén nước trà Huế, không chừng rẽ hơn. 
– Ông bà đi chợ! Chào ông bà! Hân hạnh cho tôi quá. 
Lần đầu tiên tù khi lên đường xa xứ, vợ chồng hương trưởng Neo nghe giọng nói ấm áp, mát rượi như vậy. 
Người ấy ngồi trên chiếc chiếu hơi rách, đang ăn bữa cơm đạm bạc: một đĩa cá kho, một dĩa dưa cải. Ăn một mình, dựa lưng vào vách. 
Ông hương trưởng nói: 
– Chaò ông! Xin lỗi, ông quen với vợ chồng tôi hồi nào? 
Người ấy vuốt mái tóc, vuốt hai cái tay áo cho thẳng thớm: 
– Chưa quen, nhưng tôi biết ông bà là người khá giả ở trong làng. Mấy khi ông bà ra chợ chơi. Ông bà làm trong ban hội tề. làm tới chức… 
Bà vợ mừng quýnh, buột miệng nói: 
– Chức hương trưởng làng Thạnh Hoà. 
– Mời ông bà ngồi, dùng cơm với tôi. 
Người ấy vừa nói, vừa liếc nhìn cái gói hành lý mà bà hương trưởng đeo trong cánh tay. 
Ông liếc về phía vợ, như để hỏi ý kiến: 
– Mình ngồi cho khoẻ chân. 
Bà gật đầu: 
– Rồi ăn luôn với ông này. 
Bữa tiệc… khai mạc khá sôi nổi ấm áp. 
Ông bà ăn chiếu lệ vì còn hơi no. Nhưng anh nọ ăn hơi nhiêù, vừa ăn vừa hỏi han về tình hình mùa màng trong làng Thạnh Hoà. Ăn hết con gà, con vịt, anh ta không ngần ngại gắp mấy miếng thịt ba rọi heo, nhai ngấu nghiến với rau sống, nhai liền miệng: 
– Ngọn quá! Heo ngoài chợ ăn không mấy ngọt bằng heo của ông bà. 
Bà vợ gật đầu: 
– Nhà tôi nuôi heo nhiều lắm. Chừng nào rảnh ông vô Thạnh Hoà mà xem. Còn một chuồng… Ông cứ ăn cho hết đi. 
– Cám ơn ông bà. Nhưng tôi biết lấy gì làm kỷ niệm. À… Xin thú thật với ông bà, tôi làm nghề.. thầy thuốc, chuyên bán thuốc nuôi heo mau lớn. Ngặt thuốc bán không đủ, thiên hạ mua nhiều quá rồi. Phải chi ông bà tới sớm một chút. Chờ xem. 
Nói xong, anh ta đứng dậy, chạy vào ngõ kêu đem ra… một bức tranh: con heo khá to, đuôi cong lên, mình heo có điểm vòng tròn âm dương: 
– Ông đem về, dán ngay cửa nhà, làm ăn phát đạt lắm! 
Bà hương trưởng ngắm nghía bức tranh, gật đầu. Trong lùng khi đó, ông hương trưởng nghĩ ngợi xa xôi hơn. Anh nọ lạnh lùng gói mớ thịt heo, thịt gà… để làm của riêng, đặt trong góc vách. Trông anh ta đói quá. Còn đói, còn thèm nhưng anh ta muốn để dành cho buổi ăn chiều. 
– Ngộ quá! 
Anh nọ gật đầu, đứng dậy như để … đuổi khách. 
– Cám ơn ông bà. Hẹn ông bà lát nữa hoặc tối nay đi ăn cao lầu… đi coi hát! 
Lại một sự tốn kém mới. Ông hương trưởng chợt hiểu: nếu hắn không là kẻ hoàn toàn bất lương thì hắn cũng đang sống trong tình trạng… ghiền á phiện hoặc thất nghiệp. Ông lật đật nắm tay vợ: 
– Thôi mình về! 
Rồi day lại chào anh nọ. 
Bà vợ còn mân mê bức tranh heo: 
– Ngộ quá! Ðem về dán trước của nhà. Vui quá! Làm ăn tấn phát, thiệt vậy hả ông? 
– Mình về, đủ rồi. 
– Cái hình ngộ quá. Mình thấy không! Bữa nay toàn chuyệnmay mắn, không tốn đồng xu. Coi hình tốt quá. 
Ông nói cho bà vợ được hưởng trọn niềm vui trong ảo mộng xa vời: 
– Tốt lắm. Ðem về dán trước cửa. Hễ gà vịt hoặc heo mà đau ốm thì mình van vái cái hình đó. Gà đẻ ra nhiều trứng, heo mập như thổi, vài ngày đúng tạ… mình làm giàu, cái tờ cử hương trưởng của tôi đem danh, cái hình này đem lợi… Ðủ danh đủ lợi rồi.

Ăn Mà Không Chơi Sau Cơn Đại Dịch 2.

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 10 08, 2021

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Muốn xem phần ăn sáng, trở lại bài phần 1.

Ăn Trưa

Ăn sáng có thể đi mình ên, nhưng ăn trưa là phải có bạn, đi đôi ba người ăn mới vui, không thì cảm thấy cô độc lắm. Thế là rủ nhau đi. Toàn đàn ông, con trai thì tốt, mà có đàn bà, con gái cũng vui. Chỉ khổ một nỗi, lúc này phụ nữ kiêng ăn nhiều quá, vào quán chỉ khoái gọi rau, mà tui không thích ăn rau nên có chênh vênh một chút.

Lúc này tiền bạc hiếm hoi mà đi cũng đông nên lựa quán bình dân cho nó an lòng. Đến quán Bà Mập, xéo toà soạn báo Người Lao động. Vô quán này thì tha hồ chọn món. Cá thu, cá rô chiên, mực nhồi thịt, heo quay kho dưa cải, canh rau đay, thế là đủ bữa cơm. Ừ thì rau, kêu rau củ xào hay dĩa rau sống. Nếu ngon kêu thêm dĩa tôm đầy gạch đỏ au. Bà chủ ngày xưa gọi là bà Mập nhưng nay gọi là Bà Béo đúng hơn. Tuy nặng kí nhưng bà ngồi điều hành, lính lác chạy theo lệnh, lâu lâu bà cũng ngồi trước một bàn lớn đầy thức ăn chỉ huy vào dĩa cho khách. Thêm mấy ly trà đá hay mấy chai nước La Vie là xong một buổi trưa no kềnh.

Thích ăn món Huế thì chạy về Quán Huế Hương Giang. Quán này nấu theo kiểu Huế do chủ cũng dân Huế chính hiệu con nai vàng chế biến. Ông chủ ngày xưa là thầy giáo ở Huế. Lưu lạc vào Nam mở tiệm cơm. Quán hẹp, khách đông lại kêu gì nấu đấy nên thức ăn nóng sốt nhưng chịu khó chờ chút xíu. Khách ngồi vào bàn, chủ nhân đưa giấy bút với menu, thích gì ghi nấy. Anh bạn Hiếu Piano của tui cũng khoái quán ni. 

Quán có món trái vả chấm ruốc, ăn nhớ Huế của ta ơi Huế của ta. Có cá chim, cá thu chiên, canh hến cà chua, rau lang luộc chấm nước ruốc, thịt heo luộc tôm chua, cá kho tộ, cá bống thệ kho tiêu, canh rau dền..với dĩa rau thơm, khế đúng điệu. Quán cũng có món cơm hến nhưng đã phai nhạt chất Huế, ăn để nhớ thôi chứ không ngon lắm. Món nào nấu cũng vừa miệng, nhớ cơm Mạ nấu ngày xưa ở quê nhà. Ăn ngon, giá cũng vừa túi tiền, còn đòi hỏi chi hơn. Chỉ cần ngồi quán ni thì: “Ai ra xứ Huế thì ra. Tui ngồi một chỗ cũng ra như thường” he…he.

Muốn sang thì ghé vào một trong hai nhà hàng của Cô Ba Thuỷ. Có thể vào Bếp nhà xứ Quảng, ngày xưa ở Hai Bà Trưng, giờ về Trần Cao Vân. Đi đường Trần Cao Vân xuôi chiều, thấy bên tay phải có ngôi nhà giống kiểu nhà Hội An thì chính là nó. Mặt tiền là căn nhà gỗ nâu, có balcon nhìn xuống con đường vắng với mấy chậu cảnh gợi nhớ những ngôi nhà gỗ nhìn xuống dòng sông Hoài. Trong nhà hàng có lồng đèn đỏ treo cao, tường gạch, khung cửa cũng màu trầm quen thuộc. Quán có nhiều món ăn xứ Quảng nhưng cũng không thiếu lắm món của nhiều miền. Trước hết là Mì Quảng sườn heo mỹ tôm trứng, quán Quảng mà không có món này sao được.  Rồi thịt luộc chấm dưa mắm Đà nẵng hay thịt luộc chấm mắm nhum Quảng ngãi. Mắm nhum là mắm chi? Thì đến ăn thử thì biết liền. Còn có cá nục Cẩm nam hấp cuốn bánh tráng rồi Lẩu cá thác lác khổ qua rừng hay Lẩu cá chình nấu bầu chua. Chưa hết mô, còn có dưa môn xào tôm thịt, đậu hủ kho tương cay. Dân Quảng Nam nhớ canh mít non thì vào đây gọi một tô, có điều hình như thiếu ruốc nên chua đúng vị của quê nhà lắm. Chưa hết,quán còn Xôi lá dứa cánh gà, bún mắm nêm mít non, sườn cá sấu nướng tương me, cao lầu xứ Quảng, gà trộn rau răm, lẩu cá đuối nấu mẻ, lẩu gà nòi nấu tiêu lốt, chả ram hạt sen, gỏi ngò gai vịt nướng, gà lên mâm sẽ có 6 món ngon chế biến từ gà: Đùi gà nướng mật ong, xôi nếp Lào nấu cốt gà, xôi lá dứa cuộn chà bông gà, cánh gà chiên nước mắm, gà bóp rau răm và miến lòng gà nấu măng. Nên kể thêm món cánh gà chiên nước mắm không ta? Có món ăn nhớ nhà ác liệt là Lẩu cá chình nấu bầu chua, bầu đem phơi hơi héo  muối chua đem ra nấu canh. Món ăn quê mùa có vị chua nhẹ, bầu giòn, thêm chút ớt bột, ngon lắm nghe, đừng chê món ăn dân dã. Canh cá nục mà nấu với bầu thì ngon nhức xương. Nhớ Mẹ, nhớ Ngoại liền kêu món cá kho. Cá kho có rưới chút mỡ, nước kho sánh lại như màu mật đường, thêm mấy trái ớt cay cay, trong mâm thêm tô canh bầu, canh bí là y chang bữa cơm ở nhà. Chút xíu nữa quên, quán này có món Cao lầu, dân Nam ít biết, món này ăn với mấy loại rau xứ quảng như rau thơm Trà Quế, một làng rau truyền thống này nằm sát bên dòng sông Cổ Cò, một phân lưu của dòng sông Thu Bồn. Có thêm rau cải non, rau đắng nhẫn nhẫn với húng lũi. Chưa biết hãy gọi thử ăn cho biết. Biết rồi cũng kêu một tô ngắm để vơi bớt nỗi nhớ về một vùng đất. Chén dĩa ở đây là chén đá, nồi chảo nhôm, cũng là nét đặc biệt của quán.

Không thích ăn món Quảng hãy đến Bếp nhà Lục tỉnh ăn món miền Tây. Ưu điểm lớn nhất của quán chính là khung cảnh. Giữa phố phường tấp nập, náo nhiệt của trung tâm Sài Gòn, chỉ cần bẻ tay lái đi vào, ta bắt gặp cảnh miền quê thu nhỏ của miền Tây. Có một cái ao, có lùm cây, có cánh lục bình trôi và con đò cắm sào đứng đợi. Và có nhiều món ăn quen thuộc. Khách đến đây nhiều khi chỉ muốn có một khung cảnh thơ mộng, mộc mạc,chân quê nhưng cũng không kém phần sang trọng với lối trang trí như một ngôi nhà địa chủ ngày xưa ở Nam Bộ. Thực đơn chủ yếu là các món đặc trưng miền Tây như kho quẹt chấm đọt choại, canh tép đồng nấu lá me non hay bánh xèo, bánh khọt. Nhiều món lẩu như Cù lao, lẩu Thuý Liễu với hải sản, lẩu mắm, lẩu vịt nấu chao, lẩu cháo cua đồng. Bánh xèo ở đây có món bánh xèo thịt vịt củ hủ dừa lạ miệng. Nếu ăn cơm đúng ngày có món cá He thì nhớ gọi. Món cá này được kho mấy chục tiếng đồng hồ, xương rục mềm, cá béo phù sa con nước lớn Cửu Long. Hay kêu thêm món thịt kho tàu, cá rô kho tộ. Có mấy thức uống cũng ngồ ngộ trong một nhà hàng khá sang thế này như nước mía, nước mía sầu riêng, nước sâm hạt é, rau má đậu xanh, sương sáo sữa dừa. Thứ bảy ở quán có tiệc buffet những món ăn Nam Bộ được bày bán như một con chợ nhỏ với thúng, với gánh vui ghê lắm. Cứ nhởn nhơ vừa đi vừa ăn vừa ngắm mấy cô thôn nữ quấn khăn rằn với chiếc áo bà ba. Nhưng cũng nên nhớ một điều, để có được một cái quán thế này, trưng bày thế này, trang trí thế này với những món ăn cũng như thế này, khách hàng nên chuẩn bị túi tiền kha khá vì giá cả ở đây hơi cao.

Sao? Thích ăn chay à? Dễ ợt. Sài Gòn thời nay lắm quán chay, sang chảnh có, bình dân có, vỉa hè có. Người người ăn chay, nhà nhà ăn chay mà. Nó như là cái mốt vậy. Người bảo mình tu lúc này cũng hơi nhiều, người ăn chay trường cũng lắm. Nhưng mấy chục năm nay, mỗi khi thích ăn chay tui lại đến Tín Nghĩa đầu đường Trần Hưng Đạo. Tui không tu hành chi, cũng rất ít đến chùa, kinh chắc là không tụng nhưng lâu lâu muốn đổi món nên tìm đến quán chay này. Đây chỉ là quán bình dân, bàn inox trải khăn nhựa màu mè. Bán hàng là bà cụ cũng đã già. Bà là đời thứ ba của quán. Căn nhà từ thời bà ngoại của bà, qua đến cha mẹ giờ đến bà ngót nghét cũng hơn bảy chục năm. Thời buổi tấc đất tấc vàng, căn nhà này bán đi cũng giá vài chục tỷ nhưng gia đình bà vẫn tiếp tục bán cơm chay như bao nhiêu đời nay vẫn thế. Nhiều khi ngồi trong căn nhà cũ kỹ ấy, trên chiếc bàn quen thuộc với lon đựng muỗng đũa muôn năm vẫn thế, gian bếp thiếu sáng với bóng người nhìn ra thế giới đổi thay từng giờ ngoài kia, có cảm giác như thời gian dừng lại từ năm ba chục năm trước. Cũng như mọi lấn, khách được bà chủ trao cho mảnh giấy với cây bút, muốn ăn gì nhìn menu mà ghi vào rồi ngồi đợi bởi món ăn ở đây khách gọi mới làm. Bởi thế, thức ăn dọn ra lúc nào cũng nóng, ăn như đang ăn ở nhà. Đặc biệt ở tiệm này là món ăn gọi đúng tên chứ không đặt tên kiểu cọ như mấy quán chay thời thượng hiện nay, ăn chay mà toàn đặt tên món mặn. Ở đây là Tàu hủ kho tiêu, kho tương, chả lụa chay kho nước tương tàu hủ ky kho sả, mắm chưng rau ghém, cải xào, nấm rơm kho tiêu , canh ngót thì là, miến xào tương hột. …Món tui thích nhất lần nào cũng kêu là món mắm chưng rau ghém. Dĩa rau tươi xanh với dưa leo xắt nhỏ, mắm chưng gồm chao trộn trứng và nấm nhuyễn, hình như có đậu phụng giã nhỏ. Nhúm rau bỏ vào chén, chan mấy muỗng mắm chưng, lùa tròn vào miệng, có vị béo của trứng, vị đậm của chao, bùi của đậu trộn với thơm của rau, mát của dưa leo thành một hỗn hợp ngon và lạ miệng. Người nào mê cải lương muốn gặp các diễn viên, cứ rằm, mồng một đến đây là sẽ gặp. Nào là Lệ Thuỷ, Bạch Tuyết, Bạch Long, Kim Tử Long, Thoại Mỹ…tha hồ cùng ăn chung quán với họ. Tuy bình dân là vậy nhưng giá cũng không rẻ như những quán bình dân khác vì món ăn ở đây ngon và chất lượng. Ăn chay cố ăn nhiều vì mau tiêu, mau đói.

Người ta bảo ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật. Ừa! Thì ăn cơm Tàu. Chịu chạy xa một tý. Vô Lý Thường Kiệt, chạy vào con hẻm nhỏ gặp quán cơm Truyền Ký, quán cơm người Hẹ. Người Hoa ở Chợ Lớn phần lớn thuộc về năm nhóm người chính: Quảng Đông (Việt) tính tình rộng rãi, giỏi kinh doanh buôn bán, Phúc Kiến (Mân) gia trưởng và coi trọng việc học hành, bằng cấp, thi cử đỗ đạt, Triều Châu (Tiều) sống tiết kiệm, kham khổ và siêng năng cũng chịu buôn bán hàng ăn, có món cháo Tiều độc đáo và Khách Gia (Hẹ) ham học và đặc biệt nấu ăn rất ngon, nhất là những món Tây và cuối cùng là người Hải Nam, món ngon của người Hải Nam là cơm gà Hải Nam, thịt dê tiềm. Người Hải Nam thường mở tiệm nước, cà phê, người Tiều bán bánh kẹo, người Hẹ nấu ăn, dạy học, bán thuốc Bắc và người Quảng Đông bán tạp hóa. Trong đó Quảng Đông là nhóm đông nhất.

Quán Truyền Ký là quán nhỏ, trong hẻm nhưng dân sành ăn ở Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi không ai là không biết. Cũng bảy chục năm rồi mà quán không thay đổi, thoạt nhìn như căn nhà ở bình thường với bàn thờ có mấy ngọn đèn đỏ theo tập quán của người Hoa. Bạn cứ men theo một cầu thang nhỏ đi lên gác, nhớ cúi đâu xuống nếu có chút chiều cao không thì sưng trán ráng chịu. Căn gác giống tửu lầu bình dân trong mấy phim kiếm hiệp hay truyện Thuỷ Hử của Tàu. Nếu đến giờ trưa khá đông khách. Chờ một chút. Ngày xưa quán bắt đầu từ chiếc xe đẩy bán rong của ông Nguyễn Hữu Truyền, sau dừng chân ở ngôi nhà này. Đến nay người kế tục là cháu của ông là Huỳnh Nhật Tài. Tiệm có trên trăm món nhưng cũng như các tiệm ăn khác có khoảng chục món là món độc đáo của quán này. Đó là gà hấp muối, gà xối mỡ, đậu hủ Đông Giang, thú linh chiên giòn, giò heo phá lấu, khoai môn hấp heo quay, bao tử heo xào cải chua, dồi trường xào hành gừng hay bông hẹ, bò xào Tàu xì, trứng ba màu, hột vịt muối chưng thịt, canh tàu hũ cá viên bông hành, canh tần ô cá viên…trong đó món gà hấp muối là món ai ghé quán cũng gọi.

Được chế biến từ gà ta vừa phải, khoảng trên 1kí một con. Gà tơ nên thịt mềm, da mỏng vừa phải, béo thơm thịt. Gà sau khi làm sạch được thoa muối rồi hấp cho đến khi thịt vừa chín, da căng vàng. Gà được xé trộn thêm chút muối, chút tiêu và gia vị. Món này được kèm dĩa muối trộn mỡ gà và dầu cải. Đã xơi món này ở đây thì không kiếm đâu được cái mùi vị của món này ở đâu khác. Nó khác hẳn gà xé phay của người Bắc, cũng chẳng giống gà luộc Tam Kỳ hay món gà ở Tây nguyên. Một món nữa nên gọi ra nhâm nhi trong khi chờ gà hấp muối là món thú linh chiên dòn. Thú linh là ruột cuối gần đuôi heo, làm sạch và chiên dòn rụm, beo béo chấm với nước chấm ngọt ăn rất thú vị. Cũng đừng quên món khâu nhục với khoai môn. Món này gần giống khâu nhục ở miền Tây Bắc Việt Nam. Là thịt heo cắt từng miếng kha khá hầm ướp với mấy món gia vị, ăn lạ mà hấp dẫn. Nhớ gọi thêm đậu hủ Đông Giang là tàu hủ, khổ qua, ớt trái dồn chả cá với nước sền sệt ăn với cơm rất đã. Nếu muốn gọi thêm món nữa hãy chọn món trứng ba màu gồm trứng vịt tươi đúc trứng bắc thảo. Màu vàng của trứng tươi, kết hợp màu của lòng trắng trứng bắc thảo và màu đen của lòng đỏ tạo thành một món ngon quyến rũ đậm chất Hoa Chợ Lớn. Cũng đừng quên món canh củ sen nấu đuôi heo hay tô canh rong biển. Bữa ăn thế là quá đủ, bụng no quá chỉ muốn lăn xuống cầu thang. Ăn nhiều món ngon nhưng giá cũng vừa phải, đừng lo bị chặt chém ở đây.

Ở chợ Cũ cũng có một quán cơm Tàu nổi tiếng một thời là quán cơm thố Chuyên Ký. Nó nằm khuất sau dãy hàng chợ Tôn Thất Đạm nên khó tìm thấy. Tuy vậy khách quen của ngày cũ vẫn tìm đến với những món ăn quen thuộc. Quán mở từ năm 1948, toàn món ăn của người Hoa. Cơm được đựng trong những chiếc thố đất nung nhỏ. Mấy chiếc thố này ngày xưa chắc từ các lò gốm Biên Hoà, Bình Dương sản xuất. Lúc trước người ta thường hấp cơm trực tiếp trong những chiếc thố này. Giờ hiện đại hơn, có lẽ người ta nấu cơm rồi mới cho vào thố hấp lại bên hạt cơm không được dẻo thơm như xưa. Chuyên Ký có rất nhiều món ngon. Những món khách hay dùng là gà hấp cải xanh, gà tiềm thuốc bắc, gà tiềm rong biển, hầm vĩ chưng hột vịt, hầm vĩ chưng giấm tương, bò tiềm, mì xào thập cẩm, sườn heo xào tàu vị yểu, cẳng vịt xào nấm đông cô, sườn xào chua ngọt. Món nào cũng được nấu theo công thức riêng của quán nên cũng món ấy mà ăn ở quán khác ta sẽ thấy có mùi, có vị khác. Cũng giống những quán xưa ở đất Sài Gòn, mỗi lần vào ăn ở Chuyên Ký, lại nhớ nhiều kỷ niệm, thời khu này là nơi sầm uất nhất Sài Gòn với những tiệm, những quán và những món ăn khó mà quên.

Muốn ăn cơm Bắc lại cho xe đến cơm Đồng Nhân. Vốn ngày xưa là quán cơm Bà Cả Đọi ở hẻm đường Nguyễn Huệ. Từ một quán trong hẻm nhỏ không quảng cáo, không rùm beng nhưng đã tạo được một thương hiệu mấy chục năm nay. Quán nhỏ hẹp, khách tới phải vào hẻm, lên cầu thang rồi lách vào nhà tìm chỗ ngồi trên chiếc phản hay mấy bộ bàn ghế con con. Nhiều khi khách đông quá, quán không đủ chỗ phục vụ, mọi người phải xếp hàng nhưng không ai than phiền mà kiên nhẫn chờ để được ăn cơm Bà Cả. Cơm Bà Cả Đọi nổi tiếng trước 1975. Là nơi tập trung nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ văn chương của Sài Gòn. Những người thế hệ đó chắc hẳn chẳng ai quên cái quán rặt Bắc Kỳ này. Theo tháng năm, Bà Cả đã già rồi nên giờ có đến hai quán, một quán ở góc Lê Thánh Tôn, Trương Định và một ở đường Tôn Thất Thiệp do những người con tiếp nối. Quán chỉ nấu những món ăn bình thường của người Bắc như canh cua rau đay, thịt luộc, cà pháo mắm tôm, giò heo giả cầy, đậu hủ dồn thịt, ốc nấu chuối đậu, trứng đúc thịt, thịt đông dưa muối, cá chiên, cà ri gà…Nổi bật là món giả cầy, đúng hương vị Bắc. Khách giờ không còn chỉ là người Bắc tìm ăn món của quê nhà mà có rất nhiều khách miền Nam và người dân tứ xứ. Nấu ngon, giá bình dân, phục vụ cũng được nên khách đông là chuyện đương nhiên.

Có một quán cơm nấu đúng vị miền Tây do một anh bếp từ một resort nổi tiếng ra mở phục vụ dân kén ăn tên là Quán cơm chú Tám Thường. Quán không đông khách, chỉ có vài bàn. Quán nằm trong hẻm nhỏ, lịch sự và gọn gàng, sạch sẽ. Ngồi ăn trong quán giống như ăn ở nhà hay đang đến ăn trưa nhà bạn. Tiêu chí ở đây là nấu nướng theo phong vị miệt sông nước lục tỉnh, với thành phần nguyên liệu chọn lựa kỹ càng từ nguồn cung cấp tươi ngon và bổ dưỡng. Thực đơn ở đây không cố định. Sáng anh bếp xách giỏ ra chợ, thấy gì ngon thì mua về chế biến thành menu của ngày hôm đó. Có nhiều món ngon tui hay thường được ăn là canh mướp nấu với chả cá thác lác. Tép xào. Mấy món bò nấu rất ngon không thua gì nhà hàng cao cấp. Tui khoái quán này vì khách kêu bếp mới nấu nên món nào cũng nóng, cũng dòn. Giá cũng vừa phải dành cho một mâm bốn người ăn. Đừng đi một mình, món ăn cũng từng đấy nên trả tiền như ăn bốn người.

Chán cơm Tàu, cơm Bắc, cơm Nam. Xin mời đi ăn cơm Đại Hàn. Nhiều quán lắm, nhất là khu Cộng Hoà. Nhưng xin mời đến Seoul House đường Bùi Thị Xuân. Ông chủ người Hàn này nằm trong danh sách những người mở quán ăn Hàn đầu tiên ở Sài Gòn. Quán đã dời địa chỉ đến lần thứ tư và giờ nằm ở đây. Không biết trong cơn đại dịch vừa rồi, quán có thoi thóp để tồn tại được không? Quán đủ các món nổi tiếng của Hàn Quốc nhưng cũng đã được chế biến cho hợp khẩu vị người Việt. Bò, heo nướng, cá saba, canh kim chi hải sản, cơm trộn, mì lạnh là những món được ưa chuộng ở đây. Nhớ gọi ly nước quế, ngon lắm mà lại dễ tiêu. Quán rộng, thoáng, món ăn vừa miệng giá lại bình dân. Ăn buổi trưa ở đây là một chọn lựa không tồi.

Cuối cùng, nếu chán cơm xin mời đến quán cháo lòng Võ Thị Sáu. Quán sạch sẽ, lòng ngon, nhầt là món dồi. Nhà văn Sơn Nam lúc sinh thời có bảo rằng: “Tại Sài Gòn, duy nhứt quán cháo lòng này có thể sánh ngang với cháo lòng Chợ Ðệm.” Tui chưa ăn cháo lòng chợ Đệm nên không làm chuyện so sánh, nhưng phải công nhận cháo ở đây ngon. Tô cháo ở đây không sánh như cháo ở miền Trung, không đặc như bát bột ở cháo Bắc mà cháo còn nguyên hạt, nước cháo lỏng vừa. Cháo ở miền Nam phân biệt rõ cháo lòng và cháo huyết. Cháo huyết chỉ nấu với huyết heo, là cháo nhà nghèo, ăn với giá. Cháo lòng đương nhiên là ăn với lòng. Lòng ở quán này đủ thứ để trên lớp cháo, nào là gan, tim, phèo, ruột, dồi. Nhưng như đã nói, dồi là món ngon nhất ở đây. Dồi miền Bắc là ruột heo được nhồi đầy huyết, rồi luộc. Dồi trong tô cháo miền Nam được nhồi với nhiều thứ, chủ yếu là thịt đầu heo bằm, sụn, ướp thêm sả bằm rồi mang chiên vàng. Cho nên nó thơm, nó quyến rũ vô cùng. Gắp miếng dồi đưa lẻn miệng, cắn một miếng, bao nhiêu hỗn hợp trong miếng dồi tan theo từng lần nhai, ngọt, béo, bùi, sần sật của sụn, thêm miếng rau. Ngon thật! Ở đây cũng có mắm tôm, giá, hành củ cùng tỏi ngâm, ai thích gì dùng thứ ấy. Có thêm giò cháo quẩy. Thế là trọn vẹn. Nếu thích cứ gọi một dĩa lòng với tô cháo không. Cứ thế mà làm tới là xong bữa trưa.

Thế là tui đã dẫn mấy người đi vòng quanh bữa cơm trưa. Ta có Bắc, Trung, Nam. Ngoại có Tàu, Hàn. Cơm, cháo đủ cả. Thôi no rồi, mắt lim dim rồi. Về ngủ một giấc chiều tui chở đi ăn vặt.

ĂN VẶT GIỮA CHIỀU.

Sài Gòn cũng giống Bangkok, Quảng Châu hay Hongkong. Là thiên đường dành cho những người khoái ăn vặt. Hà Nội cũng nhiều khu như thế nhưng người ta gọi là ăn quà. Chiều nay tui cùng bạn đi một vòng sơ sơ chơi nghen!

(Dài rồi, cho tui nghỉ, mai viết tiếp)

9.10.2021

DODUYNGOC

Địa chỉ quán ăn trưa:

– Cơm Bà Mập. 138 Võ Văn Tần. Q.3

– Quán Ăn Hương Giang -129 Lý Chính Thắng 

– Bếp nhà xứ Quảng, 16 Trần Cao Vân. Q.1

– Bếp nhà Lục tỉnh, 37 Nam Kỳ Khởi nghĩa. Q.1

– Cơm Truyền Ký người Hẹ, hẻm 39 Lý Thường Kiệt. Q.11

– Cơm thố Chuyên Ký 67 Tôn Thất Đạm, 

– Cơm Đồng Nhân(Bà Cả Đọi) 11 Tôn Thất Thiệp – 42 Trương Định.  Q1

– Cơm Chay Tín Nghĩa. 9 Trần Hưng Đạo, P. Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP. HCM

– Quán Hàn quốc Seoul House. 46.48 Bùi Thị Xuân. Q.1

– Cháo lòng. 170B Võ Thị Sáu 

– Tiệm cơm Chú Tám Thường. 27/1 Nguyễn Văn Nguyễn. P. Tân Định. Q.1

Chuyện Chú Chim Hoạ Mi Còi Cọc

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 31, 2018

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Linh bắt gặp nó rất tình cờ khi một buổi sáng rảnh rỗi ghé chơi gian hàng của người bạn bán chim cảnh. Nó như một miếng thịt bèo nhèo, tai tái. Hai khoé mỏ còn vàng ươm, hai mắt chưa mở, chỉ là hai đốm đen. Cái cổ ngẳng, quẹo một bên, thỉnh thoảng lại cố vươn lên, ngáp ngáp như người khó thở. Hai cái cánh bé xíu, cặp chân cũng nhỏ tí, co quắp lâu lâu lại giật giật như người mắc bệnh kinh phong. Cả thân hình trơ trụi, lông chưa lún phún. Nó nằm trong thùng giấy, trên mấy cọng rơm khoanh vội, rải thêm mấy giấy vụn. Lại gần nghe mùi thum thủm của phân. Có cảm tưởng như nó đang đói, cái mỏ cứ mở ra, nhưng chắc không thấy gì, khép lại sau cái giẫy. Bỗng dưng Linh thấy nó tội quá, anh quay qua hỏi tay chủ tiệm:

– Con chim gì ghê thế?
– À! Hoạ mi con. Mới vào từ Lạng Sơn một ổ mấy con, người ta lựa hết còn mình nó.
– Trông nó èo uột quá
– Ừ! Chắc không sống nổi đêm nay.
Linh chợt nghĩ đến một sinh linh đang đi đến một cái chết được báo trước. Chắc chắn nó sẽ chẳng thấy khổ đau thướng tiếc cuộc đời như con người, vì tất thảy sinh vật, chỉ có con người mới ý thức được sinh ra để rồi chết. Nhưng nó sẽ bị quăng vào chuồng của lũ chim ăn thịt, nó sẽ bị xé xác. Anh rùng mình khi nghĩ cảnh đó. Nó như đứa bé sơ sinh. Vốn Linh là người nhạy cảm, anh yêu cuộc sống và yêu những sinh vật có mặt trong đời sống. Giữa cuộc sống nháo nhào hôm nay, người như anh bị mọi người nhìn với cặp mắt kỳ dị, bởi anh nghĩ mọi sinh vật đều có quyền có được một cuộc sống, mọi sinh vật đều có một tâm hồn, đều khát khao sống. Không biết từ đâu khiến anh buột miệng:
– Nhiêu vậy?
– Gì? Con này hả, gần chết rổi, mua chi ông?
– Thì kệ tui, tui muốn lấy nó.
– Mua bán con mẹ gì, ông thích thì mang về, nhưng nó sắp đai rồi, nuôi không được đâu. Ông thích thì tui cho ông.
– Không có chuyện cho, mua bán đàng hoàng. Ông biết tánh tui mà, tui không thích lấy không của ai bao giờ
– Thôi được. Chiều ông. Năm chục. Nhưng tui nhắc lại là không sống nổi đâu, nó yếu quá rồi.
– Kệ!
Thế là Linh bỏ túi giấy mang về. Vẫn biết có thể nó không sống nổi, nhưng anh sẽ chôn nó dưới gốc cây nguyệt quế, còn hơn là để cho lũ diều hâu kia xé xác nó ra từng mảnh. Nó yếu quá rồi, nhưng Linh nghĩ với số vốn kiến thức dở dang mấy năm học trường Nông Lám Súc, biết đáu sẽ cứu được nó. Linh đang nuôi mấy con vẹt, con cockatoo mào vàng la hét suốt ngày, con Rainbow sặc sỡ và con xám đuôi đỏ Phi châu thông minh. Ái dà! Lại bận rộn rồi đây. Anh hoạ mi này phải theo dõi hăm bốn trên hăm bốn mới được. Nó dặt dẹo quá! Đang có sẵn mấy hộp sữa bột cho vẹt con, Linh đem ra khuấy thử cho nó ăn. Nó há mỏ, nhem nhép, sữa tràn ra đầy khoé, thêm chút nữa, nó nuốt, vô được miệng chút xíu, nuốt được là hi vọng sống. Tin vậy đi. Anh lấy cái rổ nhựa nhỏ, lót vải vụn, bỏ nó vào. Cầm trên tay thấy nó chút nị, nhẹ như không. Khoảng hơn giờ sau, thấy có chút phân, hi vọng sống tăng thêm một chút. Anh cockatoo đứng trên giàn ngó xuống, chắc ngạc nhiên nên cứ ngóng cổ hét làm con Rainbow nhảy cà tưng cà tưng.
Suốt tuần lễ Linh không làm được gì, cứ rảnh lúc nào là ngổi bên tồ nhựa, lúc thì bôm thức ăn, khi thì bôm chút nước, lâu lâu lại giọt cho chút thuốc bổ. Và nó sống được. Nó khoẻ ra từng ngày, cái cần cổ có thêm chút thịt, không còn quặt quẹo nữa. Sau hơn tuần lễ, hai cánh và đuôi đã thấy ló ra mấy cọng lông lún phún. Rồi đến lông đầu. Qua tuần thứ ba thì nó đứng được trên hai chân hai chân như cọng nhang, run rẩy bước từng bước nhỏ rồi bẹp xuống. Linh chắc chắn là nó đã được tái sinh. Cái mỏ đã bớt một chút khoé vàng, đã biết đòi ăn và lúc được hơn tháng thì hám ăn bất kể. Nó bắt đầu phổng phao, nhưng cái phổng phao của anh còi chậm lớn. Bộ lông bắt đầu mọc đầy, con mắt đã lộ dấu vết của giống nòi.
Linh bắt đầu chán mấy con vẹt, lần lượt cho chúng về chủ mới, chỉ còn lại chú hoạ mi còi cọt chậm lớn trong rổ nhựa.
Sau một năm, nó trổ hết lông đầu, lông cánh, lông đuôi, bộ lông màu vàng khoác lên thân mình bé bé. Nó vẫn là con chim còi cọc, nhưng rất khôn ngoan. Nó đã biết bay vòng vòng bằng đôi cánh nhỏ trong chiếc lồng tre. Mi mắt cũng bắt đầu lộ ra, xanh xanh khéo như một nét cọ vẽ. Mỗi lần thấy bóng Linh, nó kêu khèn khẹt, hai cánh đập liên hồi như quạt gió. Linh mở cửa lồng, nó bay ra đậu trên tay Linh, chiếc mỏ quẹt qua lại trên tay anh đòi ăn, anh cho
nó con cào cào non, nó nhận lấy bằng cú đớp rất lẹ. Anh mở băng cho nó nghe tiếng hót hàng ngày để hi vọng nó sẽ học giọng. Nó đã bắt đầu trổ mã của con chim mùa đầu, dáng cũng cao cầu, mi dài, mỏ dày, đầu xà, mắt trường mi xanh biếc chỉ tội nhỏ con, nhiều khi còn nhỏ hơn con chích choè than, kiểu này chỉ nuôi nghe hót chơi.

Một buổi trưa, đang nằm thiu thiu, nghe ngoài hiên có tiếng chim đi giọng gió. Thật ra ở giống chim, giọng gió của chúng nhiều khi nghe đã hơn giọng hót, bởi nó dìu dặt, đều đặn, không cao giọng chát chúa như giọng hót. Thế là anh chàng đã chuẩn bị trưởng thành, đã bắt đầu đi giọng. Và trưa trưa, thỉnh thoảng đã có mấy giọng hót ngắn. Mỗi lần bắt ra chơi, nó đã mở miệng nhay nháy kiểu của anh chàng trẻ tuổi muốn khoe giọng vỡ của mình. Từ lúc đấy, Linh thường mang nó vào mấy cội chim chơi, ai thấy nó cũng buồn cười vì trông nó dị dạng quá đỗi, lốt chim hoạ mi trong xác con chích choè.

Nhưng khi thay xong mùa lông thứ nhất, rồi đến hết mùa lông thứ hai thì mọi người quên mất thân hình bé nhỏ của nó mà cứ trầm trồ giọng hót. Linh cứ sợ nó hót giọng chim con, không ngờ oà nó hót giọng đặc rừng, lanh lảnh, vút cao, bộ ngực bé của nó sao lại chứa đựng hơi dài đến thế. Nó hót liên tục, lẹ miệng vô cùng, chỉ cần nghe tiếng chim hay chỉ nhảy lên tay là nó ngóng cổ hót, hót say sưa và không bao giờ có tiếng đề pa cạp cạp như những con chim khác. Khi hót đuôi nó xoè ra như cánh quạt, nhịp theo giọng hót, có khi lại lắc lư người, trông rất điệu. Mỗi lần đi chuyện cũng vậy, giọng nó véo von, trầm bổng, du dương nghe như một khúc nhạc giao hưởng của bầy chim trong rừng sâu. Đặc biệt, ẹt, tuy thân hán hình bé nhỏ ỉ, nhưng nó không oing bao giờ sợ iwj những con chim khác. Nhiều con chim to khoẻ nhưng nghe giọng nạt của kẻ mạnh hơn là xù đầu nhảy loạn trong lồng. Nó không bao giò, cứ nghe giọng nạt là nó nạt lại, giọng khè là nó khè lại, đưng vươn cồ trên cầu mà thảnh thơi hót. Đám chơi chim khoái nó lắm, bởi dễ gì kiếm được con hoạ mi đứng trên vai, trên tay hay trên nóc chuồng hót giọng rừng mà lại hót liên tu từ bắt đầu ra cho đến lúc về. Linh cưng nó lắm, ngày nào cũng có cào cào, thức ăn thì kiểu cách kê lột trộn trứng gà và chút gan heo sấy. Trưa nào cũng được tắm, thức ăn, thuốc men đầy đủ nên lông lúc nào cũng mượt mà. Anh bạn chủ tiệm cũng khiong ngờ nó sống nổi và càng ngạc nhiên khi nghe giọng hót của nó, giọng hót đầy chất hoang dã của núi rừng. Đám chơi chim thích nó, nhiều lần muốn mua, nhưng Linh không bán. Anh bảo:
– Tôi mua con chim này chỉ năm chục ngàn. Tôi mua để cứu sống nó, ai dè được có giọng hay. Tôi sẽ không bao giờ bán nó với bất cứ giá nào.
Linh lại đặt nó trên tay, nó cất cao giọng, anh nói với nó:
– Hoạ mi nhỉ! Ở với anh suốt đời nghe chú em!
*******
Cuối năm đó, bà chị ruột của Linh từ Canada về thăm quê sau ba mươi năm xa nhà. Linh bảo chị không được ở khách sạn, nhà Linh neo người mà phòng trống còn nhiều. Hai đứa con lớn Linh lấy vợ lấy chồng ra riêng cả, chỉ còn đứa út ở nhà. Hôm đầu tiên nói chuyện, Linh cứ ngờ ngợ về bà chị của mình. Ngày xưa, chị làm xướng ngôn viên truyền hình, quen toàn các ông to bà lớn thời ấy, cũng ăn chơi theo kiểu quý tộc. Bây giờ, chị toàn nói chuyện Phật pháp tu hành, nói toàn duyên với kiếp, toàn ngộ với vô thường, nghe phát mệt. Kiểu nói của các đạo hữu lúc nào cũng chắp tay Mô Phật liên hồi mà chẳng hiểu chút gì cái sâu xa của Phật pháp. Chi thấy Linh ngồi đùa với chim, chị bảo:
– Cậu biết nhốt con chim vào lồng là tàn ác không? Con chim thân của nó phải bay ngoài trời, phải tự do tung cánh. Cậu nhốt nó vào lồng, dù là lồng son, vẫn là nhà tù, tước đoạt cái quyền tự do bay nhảy của chim, như thế là cậu có tội
– Em chẳng thấy tội lỗi gì, em cứu sống nó, nó thán thiết với em, nó sống tự do trong khung trời của nó. Khái niệm tự do của nó là chiếc lồng này. Tự do đôi khi không phải là tung cánh trên bầu trời mà là cách cảm nhận tự do tuỳ mỗi hoàn cảnh.
– Cậu lý luận tào lao, làm gì có thứ ự do trong tù đày?
– Mỗi người tự chọn cho mình kiểu tự do theo ý mình. Khi người ta chấp nhận hôn nhân, có phải là người ta đã tự nguyện bỏ một kiểu tự do này để đến một kiểu tự do khác không?
– Thôi không nói lý sự cùn với cậu nữa, theo chị, cậu nên thả chim về với bầu trời của nó đi, chỉ có khoảng không gian rộng lớn ngoài kia mới là nơi chốn đi về của chúng
Linh cười ha hả:
– Nói chuyện với bà chị chẳng đi đến đâu, em với chị vẫn là hai đường thẳng song song.
Gần Tết, Linh phải bay ra Đà Nẵng năm ngày để thanh toán công nợ cho công ty, cũng như mọi lần, anh chuẩn bị cho con hoạ mi rất chu đáo. Anh gài thêm ba cóng nước, đổ đầy hai cóng thức ăn. Anh biết anh sẽ nhớ chim và con chim cũng sẽ buồn. Đừng nghĩ chim không có cảm xúc nhé. Chim cũng biết buồn, biết nhớ, cũng bị stress khi không được chăm sóc thường xuyên, không được chủ vuốt ve, lưu ý.
Công việc xong xuôi, Linh bay về ngay. Đến cửa anh huýt gió như mọi lần, bình thường chim sẽ vẫy cánh, hót một giọng dài trầm bổng như đón anh. Hôm nay im lặng như tờ, vợ anh nhìn anh khang khác. Anh bỏ va li, chạy lên balcon, lồng trống trơn. Anh huýt thẻm mấy đợt, không một vọng âm. Vợ anh cũng vừa lên, nói nhỏ:
– Chị Hai thả chim rồi, chị bảo anh sẽ đồng ý với chi thôi. Hồi nhỏ, chị bảo gì anh cũng nghe.
Linh muốn nổi đoá, muốn hét lên cho đỡ bực mà không hét được. Miệng anh há ra, hai tay anh ôm đầu rồi ngồi phịch xuống ghế. Anh hỏi vợ:
– Chị Hai đi đâu rồi?
– Chị lên chùa từ hồi sáng, chiều tối mới về
Linh ra lại balcon, nhìn quanh quất, huýt mấy tiếng, cũng chẳng thấy bóng dáng chim.
– Quái, làm sao nó đi xa được, chỉ quanh quẩn đây thôi, hay là ai bắt nó rồi.?
Anh đem cào cào non đặt một hàng trên thành balcon. Anh rải thức ăn cũng một hàng dài. Anh mở rộng cửa lồng, châm thuốc ngồi đợi, hi vọng chim đói sẽ về. Mà chắc nó phải về thôi. Ra khỏi lồng, vào thiên nhiẻn chim làm sao sống được vì đã quen với thức ăn người nuôi, rồi mèo, rồi chuột cống, rồi con người tham lam và gian ác.
Buổi tối chị Hai về, Linh chỉ gượng chào, chị bảo:
– Chị thả chim là chị tạo nghiệp cho cậu đó. Cậu cứ ôm lấy nó, nhốt nó trong nhà tù của chú, nghiệp chú càng lúc càng nặng thêm
Linh chẳng buồn cãi, ngồi hút thuốc lá, nhả khói um.
Đến đêm, giờ chim về tổ, Linh mấy lần ra cũng chẳng thấy gì, đang ngủ, nghe lịch kịch ngoài hiên, anh cũng thức giấc rọi đèn ra xem khắp mà cũng chẳng thấy tăm hơi.
Đã hai hôm rồi, chẳng thấy bóng chim, đi làm về anh cứ ngồi nhìn chiếc lồng mà nhớ chim. Chắc nó đã bay xa rồi. Chắc nó đã gặp đàn đâu đó rồi. Thôi thì cũng cầu mong thế.

Sáng ba mươi, cây nguyệt quế nở bông trắng thơm ngát, Linh định lấy cái xẻng nhỏ xới gốc cây, châm thêm chút phân thì nhìn thấy con chim hoạ mi. Nó đã chết, chắc mấy hôm rồi, kiến bu đầy đã ăn hết khoang ngực. Màng trắng đầy mắt, hai chân co quắp với hân hình teo tóp, cánh rũ và thân đã có mùi. Nó đã chết mấy hôm rồi, nó đói, nó về nhưng cũng không tìm thấy thức ăn quen thuộc và nó gục chết dưới gốc cây nguyệt quế. Ngày xưa khi đem nó về, Linh cũng nghĩ nếu nó chết,anh sẽ chôn nó dưới gốc cây này. Bây giờ sau gần ba năm nuôi nó, nó đã chết vì cái tự do nó không cần thiết. Anh chôn nó và thầm nghĩ: Đôi khi con người cứ nghĩ rằng đang làm việc thiện nhưng thật ra đang làm kẻ ác. Mỗi người, mỗi sinh vật đều có cách sống riêng của nó. Cách sống đó tạo ra từ hoàn cảnh, từ thói quen. Anh bứt người ta ra khỏi thói quen đôi lúc anh trở thành kẻ sát nhân. Bởi vậy, đem những người dân tộc rời rừng để trở về cộng đồng văn minh, chưa chắc đã là việc tốt. Bứng họ ra khỏi đại ngàn lâu nay họ đã sống chính là cắt đứt mạch máu của họ. Họ cũng sẽ chết như con chim hoạ mi này. Chết vì lòng thiện nửa vời.
9.8.2016
DODUYNGOC

Chuyện Chú A Tỷ Và Tiểu Thanh

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 10 03, 2018

Post by Sơn râu 27 Jul 2024

Hồi mới vô Sài Gòn, tôi thuê căn nhà nhỏ trên kênh Nhiêu Lộc. Đầu hẻm ở mặt tiền đường có một tiệm tạp hoá của một gia đình người Hoa. Có người gọi là tiệm chạp phô. Chắc là gọi theo tiếng Quảng.
Chủ tiệm là một người đàn ông trung niên, lúc nào cũng mặc chiếc áo thun ba lỗ với cái quần chỉ ngắn đến đầu gối. Chú đi chiếc xe Honda Dame màu đỏ, loại bán cho quân nhân hồi xe Honda mới nhập vào miền Nam. Có hai lí do mà đám sinh viên chúng tôi để ý đến tiệm tạp hoá này. Thứ nhất tiệm này cần mua gì cũng có, bán giá rẻ hơn nơi khác, dù chỉ vài đồng, nhưng sinh viên nghèo mà, rẻ hơn đồng nào đỡ đồng đó. Tiệm lại luôn mở cửa để bán hàng cho khách. Nhiều lần đi chơi đêm về khuya lắc lơ, muốn mua mấy gói mì hay chai bia con cọp, đập cửa rầm rầm, chú vẫn vui vẻ mở cửa bán hàng. Thứ hai là chú có cô con gái khá dễ thương. Tóc bím hai bên, da trắng hồng, lại hay mặc áo cắt theo kiểu người Hoa, nhìn ngộ lắm. Cô bé chắc nhỏ hơn tụi tôi vài tuổi. Thằng nào đi đâu về trước khi vào hẻm cũng liếc vào xem cô bé có ở tiệm không, dù chưa đứa nào tán được cô bé một câu. Chú tên A Tỷ, cô bé tên Tiểu Thanh. Biết tên cô bé là do công của tôi. Một lần vào tiệm mua đồ, chú A Tỷ lấy hàng, cô bé ngồi học bài ở gần kệ thu tiền, tôi thấy trên nhãn vở đề tên Tiểu Thanh bằng tiếng Hoa. Tôi là dân học Việt Hán, hai chữ này cũng dễ đọc nên tôi đọc được ngay. Tôi hỏi: Em tên Tiểu Thanh à? Cô bé ngước lên nhìn tôi, đôi mắt tròn xoe ngạc nhiên, cười rồi lại cúi xuống không trả lời. Chú A Tỷ đưa hàng, tôi không có lý do gi nán lại đành đi về. Về nhà, tôi nổ với mấy đứa cùng phòng là đã nói chuyện được với cô bé, biết được tên cô bé, mấy đứa phục tôi lắm.

Chú A Tỷ cũng được mọi người chung quanh và cả những người ở trong xóm sâu thương yêu vì chú lúc nào cũng nhẹ nhàng, mua bán đàng hoàng, biết gia đình nào khó khăn có khi chú không lấy tiền, lại cho thêm vài món. Nhờ thế, chú buôn bán phát đạt, hàng hoá càng ngày càng phong phú. Tết đến, chú mang tặng những gia đình nghèo trong xóm bờ kênh nước đen gói quà có mứt, bánh và lạp xưởng. Họ biết ơn chú lắm nên mua gì cũng ra tiệm của chú. Ăn Tết xong chú sửa nhà, xây thêm hai tầng, cửa tiệm bây giờ không còn là tiệm tạp hoá nho nhỏ nữa mà là một cửa hàng rộng rãi với hàng hoá chất đầy. Đàng sau chú làm cái kho, chứa gạo, đường , sữa… đầy nhóc. Mà quên, chưa nói đến vợ chú. Đó là người đàn bà Hoa có khuôn mặt phúc hậu, ít nói nhưng hay cười. Cũng là người tốt như chú. Chiều chiều, ngồi bán hàng thấy mấy đứa nhỏ đi học về, bà hay kêu vào lúc cho cái bánh, khi cho cái kẹo nên mấy đứa nhỏ thương bà lắm. Lúc nào gặp bà cũng vòng tay chào rất lễ phép.

Từ hôm biết tên cô bé là Tiểu Thanh, tôi lại càng siêng ghé tiệm của chú mua đồ, có khi mấy đứa bạn cần mua gì tôi lại xung phong đi mua giúp. Nhưng cũng hiếm khi gặp cô bé, nhất là khi nhà có thêm tầng lầu, chắc là cô bé ngồi học trên đó. Mà hoạ hoằn có gặp, tôi cười chào thì cô bé cũng chỉ nhoẻn cái miệng rất xinh cười lại thôi, chứ chẳng nói được gì. Nhưng rồi tôi cũng gặp may một lần. Hôm đó trên đường từ Đại học Văn Khoa về, xe bus thả tôi xuống đầu đường Trương Minh Giảng. Vừa xuống xe thì gặp Tiểu Thanh đang loay hoay với chiếc xe đạp tuột xích. Trưa nắng gắt, cô bé sửa hoài mà không gắn được sợi xích vào ổ líp, mặt đầy mồ hôi, má ửng hồng vì nóng. Thế là tôi ra tay hiệp sĩ, sửa xe cho nàng rồi luôn tiện xin đi ké chở nàng về luôn. Từ đó, tôi thường gặp cô bé hơn qua những cuộc hẹn. Thì cũng chỉ đi loanh quanh bằng chiếc xe đạp của Tiểu Thanh, bởi lúc đấy tôi chẳng có xe xiếc gì, đi đâu cũng cuốc bộ hay đi xa hơn thì có xe bus vàng. Đi ngồi quán thì cũng chỉ là những quán chè, quán nước bên đường hay mấy quán gỏi đu đủ, bột chiên. Có lẽ cô bé cũng biết tôi là sinh viên nghèo nên em chẳng bao giờ có ý kiến chi. Nói chuyện với nhau thì cũng là chuyện nắng mưa, chuyện học hành, luẩn quẩn lần nào cũng từng đấy chuyện. Tôi cũng hay hỏi em về những chữ Hán, những bài thơ Đường dù lúc đấy em mới học lớp mười một theo chương trình của Đài Loan. Tình thì cũng đã bén rồi, nhưng cả hai chẳng ai đề cập đến. Đến cái nắm tay, cái vuốt ve cũng chưa có dù cả hai đã có mấy lần vào Rex xem phim. Thế nhưng mấy đứa trong phòng thường được nghe tôi kể xạo như trong tiểu thuyết Quỳnh Giao, lãng mạn lắm, tình cảm lắm, thằng nào cũng phục lăn, lè lưỡi thèm thuồng.

Cuối năm đấy, tôi có được một học bổng của Trung tâm Học liệu Bộ Giáo Dục đi du học ở Pháp. Mừng vì được đi nước ngoài học nhưng cũng buồn vì xa Tiểu Thanh dù tình cảm cũng đang lửng lơ nửa vời. Tôi và Tiểu Thanh ngồi với nhau ở kem Bạch Đằng, đây là lần đầu tiên tôi xài sang thế. Và cũng lần đầu tôi cầm tay Tiểu Thanh để thông báo cho nàng tôi sắp đi học xa. Tiểu Thanh vẫn để yên bàn tay của em trong bàn tay tôi và em khóc. Tôi hỏi: Em chờ anh được không? Em bảo: Em chờ, bao lâu em cũng chờ. Ba em đang chuẩn bị cho em sang Đài Loan học Đại học, nhưng chắc em không đi. Em không muốn sống xa Ba Má, không nỡ để Ba Má ở một mình. Em ở lại Việt Nam chờ anh về.

Và thế là tôi đi. Hành trang tôi mang theo chẳng có gì chỉ là chiếc va li nhỏ. Tiểu Thanh gởi tôi món quà là chiếc khăn tay có thêu tên tôi và tên nàng và một lá bùa nhỏ gói trong chiếc khăn màu đỏ rực. Nàng bảo đó là lá bùa hộ mệnh giúp tôi luôn được mạnh khoẻ và sẽ thành công. Mấy năm ở Pháp, tuần nào tôi cũng gởi thư về cho nàng, và tuần nào tôi cũng nhận được thư của Tiểu Thanh. Tôi cũng thường gởi quà cho em, sinh viên nghèo, học bổng chẳng là bao chỉ đủ chi tiêu tằn tiện nên quà cũng chỉ là những món đồ kỷ niệm ít tiền, nhưng Tiểu Thanh rất vui. Nàng cũng báo tin là Ba Má nàng đã chấp nhận không qua Đài Loan học nữa. Và Tiểu Thanh trông ngóng tôi về.

Giáng sinh năm 1974, tôi về nước. Tiểu Thanh bây giờ là một cô gái hăm mốt tuổi, xinh hơn nhiều trong ý nghĩ của tôi. Chú A Tỷ vẫn vậy, vẫn cái áo thun ba lỗ và chiếc quần ngắn ngang đầu gối và vẫn cỡi chiếc xe Honda Dame màu đỏ. Tôi và Tiểu Thanh bàn cách để nói chuyện với chú A Tỷ xin cưới Tiểu Thanh làm vợ. Bởi phong tục người Hoa không muốn con gái lấy trai Việt, nên đó là cản trở lớn nhất của chúng tôi. Chưa có dịp để nói chuyện thì chiến sự càng ngày càng gay cấn. Và rồi 30.4.75, bộ đội miền Bắc chiếm được Sài Gòn. Chú A Tỷ vẫn bình thản vì chú bảo mình làm ăn lương thiện, chế độ nào cũng cần phải ăn để sống, chú cũng chẳng tham gia chính quyền cũ, chú sống tốt với mọi người, chú không có kẻ thù, chú không có gì phải ngại chính quyền chế độ mới. Nhưng rồi tai hoạ ập xuống gia đình chú. Vợ chú bị đau ruột thừa, vào bệnh viện, tình hình đang lộn xộn, bác sĩ cũ lớp thì di tản, lớp thì còn đang e ngại, lớp thì đi học tập chưa về, đa số là các bác sĩ và y tá trong rừng ra và ngoài Bắc vào. Chẳng biết họ chữa làm sao mà thím A Tỷ bị vỡ phúc mạc, chết trên bàn mổ. Tiểu Thanh khóc sưng cả mắt, chú A Tỷ thì như người mất hồn cứ đi ra đi vào và hỏi sao lại thế, sao lại thế? Lúc đấy xã hội lộn xộn lắm, ai cũng thu mình lại, dấu mình đi vì sợ. Bang hội của chú cũng đến giúp tang ma. Tôi cùng bạn bè và bà con trong xóm cũng lặng lẽ đến để đám tang được trọn vẹn. Chú A Tỷ ngơ ngẩn cả tháng trời, Tiểu Thanh cũng buồn bỏ cả ăn uống, người gầy rạc đi. Thế là chúng tôi chưa có dịp để nói chuyện cưới xin, mà phải đợi ít năm nữa sau khi mãn tang mới bàn tính được

Nhưng tai hoạ không chỉ dừng lại đó, mấy tháng sau gần ngày tết Trung thu năm bảy lăm, lúc đó khoảng bảy giờ tối, Tiểu Thanh hốt hoảng đạp xe đến báo cho tôi hay là bộ đội vào nhà, đang kiểm kê và niêm phong hàng hoá, kết tội chú A Tỷ là tư sản bóc lột, làm giàu trên xương máu nhân dân. Tôi chở nàng chạy về thì thấy bộ đội súng ống kè kè đi với một đám tay đeo băng đỏ cũng rần rộ súng ống đang lùng sục trong cửa hàng, mặt ai cũng đằng đằng sát khí. Chú A Tỷ thì vẫn áo ba lỗ và quần ngắn thường ngày, ngồi gục đầu như tượng, họ bảo ký vào đâu thì ký vào đó, không nói một lời. Tiểu Thanh thì run rẩy đứng tựa vào người tôi, đôi mắt mở to, uất hận đầy nước mắt nhưng cũng chẳng nói gì. Đến nửa đêm thì họ đọc quyết định tịch thu hàng hoá và căn nhà, ra lệnh gia đình chuẩn bị để đi vùng kinh tế mới. Lúc đó chú A Tỷ ngã ra bất tỉnh, Tiểu Thanh cũng gục trên vai tôi, mặt xanh như xác chết. Cả một đời gầy dựng, cả một đời làm ăn lương thiện chỉ một lời quyết định, người ta đã lấy hết, tịch thu hết lại còn kết án là kẻ bóc lột, đuổi đi vùng kinh tế mới. Chú A Tỷ vừa lai tỉnh, chú nhìn quanh, hét lên một tiếng lớn, đầy căm hờn như tiếng thú trong cơn tuyệt vọng cùng đường rồi lại ngã ra sàn bất tỉnh lần nữa. Tiểu Thanh cũng thét lên tiếng thét ai oán: Ba ơi! rồi gục trên thân thể lạnh giá của cha. Tình trạng thảm thương đó chẳng làm động lòng đám người thi hành lệnh, họ vẫn mặt lạnh như tiền, súng gờm gờm trên tay như sẵn sàng nhả đạn những ai có hành động phản kháng. Hàng hóa ngổn ngang, không khí như nén lại. Tôi bất lực chẳng biết phải làm gì ngoài việc cứ xức dầu cho chú A Tỷ.

Sáng hôm sau, đoàn xe đến chở người đi vùng kinh tế mới. Tiếng loa oang oang như nhói vào tai, bộ đội, du kích súng ống kè kè đưa từng hộ gia đình lên xe. Những người bị đưa đi ngơ ngác nhìn, đau khổ nhìn, uất ức nhìn nhà cửa, tài sản của mình đóng dấu niêm phong với dấu đỏ loè loẹt như những vết máu. Tôi ngồi theo xe cùng chú A Tỷ và Tiểu Thanh, đồ đạc chỉ được phép lầy mang theo là mấy cái nồi niêu, xong chảo và mùng mền chiếu gối. Tài sản bao nhiêu năm giờ chỉ là một đống đồ chẳng giá trị gì. Chú A Tỷ vẫn im lặng gục đầu. Tiểu Thanh vẫn đầy nước mắt, ngơ ngác không biết ngày mai sẽ ra sao? Nhiều người quay đầu nhìn lại, họ biết tất cả sẽ chẳng còn gì, tất cả đã bị tịch thu.

Xe chạy gần một ngày, qua những đoạn đường đầy bụi, xe dằn xốc liên tục, mặt mũi ai cũng bơ phờ đầy bụi đỏ. Đến chiều khi mặt trời đỏ như máu đang dần xuống ở đầu ngọn cây thì đoàn xe dừng lại. Mọi người bị lùa xuống một khoảng rừng thưa, trước là một bãi đất đầy cỏ dại ngút ngàn, khô cằn, hoang vu trong hoàng hôn. Có lác đác mấy lều tạm bợ đã được dựng sẵn. Loa lại kêu từng hộ gia đình vào lều, nhìn cảnh tượng như cảnh nhập trại tù binh của người Do Thái thời phát xít Đức. Buổi cơm tối được nấu tạm bợ trong chập choạng mờ tối với những ánh lửa hiu hắt. Nhưng chẳng ai nuốt nổi. Cả ngày đi đường quá mệt, tâm trạng lại rối bời, lại nhìn cánh rừng mà mốt mai phải sống ở đây, ai cũng lắc đầu ngao ngán. Nghe mọi người bảo đây là vùng Đắc Nông, Phước Long gì đó. Nghe như chốn xa vạn dặm nào. Tôi thu xếp cho Tiểu Thanh và chú A Tỷ có một chỗ tạm ngụ, sáng hôm sau tôi lại bu mấy xe đò chạy than về lại thành phố.

Lúc này tôi đã nộp đơn xin đi làm mấy cơ quan, nhưng chẳng chỗ nào nhận. Họ bảo lý lịch của tôi có nhiều điểm bất minh, cần làm rõ. Đặc biệt là sao tôi lại trở về Việt Nam vào tháng 12 năm 1974. Họ cho công an điều tra xem tôi trở về để làm gì? Có nhận nhiệm vụ gì của tổ chức nào không v..v? Cũng may, cuối cùng tôi cũng được Sở Giáo dục nhận, nhưng cũng do lý lịch, họ đẩy tôi về dạy học ở Củ Chi. Có lẽ lúc này nhà nước đang thiếu giáo viên quá. Nhìn ngôi trường, tôi quá ngao ngán. Đó là một ngôi trường quê, chỉ có một dãy khoảng năm phòng làm lớp học, một dãy nhà lợp tole khác gồm hai phòng làm phòng ban giám hiệu và kho chứa đồ. Ban đêm thầy cô giáo xếp bàn làm giường, giăng mùng nằm ngủ. Các tiện nghi sinh hoạt thiếu thốn trầm trọng. Tôi tự nhủ cố gắng cho qua rồi tính tiếp.

Tôi không có giờ dạy ngày thứ hai, nên hai tuần một lần thứ bảy tôi qua mấy chặng xe lên Bù Đăng thăm Tiểu Thanh và chú A Tỷ, sáng thứ hai hoặc tối chủ nhật lại bu mấy chặng xe về. Có mấy thứ nhu yếu phẩm cỏn con, có khi chỉ vài muỗng bột ngọt, miếng vải mùng, nhúm hạt tiêu, vài ba gói thuốc lá đen, tôi cũng để dành mang lên cho họ. Họ sống khó khăn quá. Toàn dân thành phố mà bây giờ phải vào rừng chặt cây dựng nhà, học cách trồng cây, gieo mạ, cấy lúa trên miếng đất khô cằn. Lác đác đã có người trốn về. Nhưng về thành phố rồi làm gì, ở đâu? Họ biến thành những kẻ đầu đường xó chợ. Lương thiện thì đi ăn xin, bất lương thì đi ăn trộm, móc túi để sống. Tôi thấy Tiểu Thanh và chú A Tỷ ở đây không ổn rồi, tôi đang tính cách để đưa họ về lại thành phố mà tính mãi chưa ra. Tính chưa xong thì lần thứ ba tôi lên lại Đắc Nông, tôi chứng kiến Tiểu Thanh bị rắn độc cắn cùng hai người khác khi đi rừng. Ba nạn nhân được dân chúng gánh về bệnh viện bằng cái võng và thân cây tre làm đòn khiêng. Chẳng có phương tiện nào khác. Tôi vừa chạy theo vừa niệm khẩn cầu Quan Thế Âm Bồ Tát, nhưng người không đoái hoài. Và cả ba đã chết trên đường đi. Nửa người của Tiểu Thanh tím đen vì nọc độc, mắt Tiểu Thanh không nhắm, mở trừng trừng như muốn nhìn thấu nỗi oan khiên. Chú A Tỷ một lần nữa ngã quỵ, chú bây giờ như bộ xương khô, đôi mắt lạc thần, khuôn mặt như kẻ điên dại. Tiểu Thanh được chôn trong nghĩa địa vừa mới hình thành, lác đác đã có gần chục nấm mồ mới mọc, cỏ chưa kịp xanh vì tuần nào cũng có người chết. Kẻ bị rắn cắn, người bị cây đè, người khác bị bom mìn còn sót nổ khi cuốc đất, người thì thấy bế tắc quá, tự tử chết, đủ cách để chết. Tôi khuyên chú A Tỷ trốn về, nhưng chú bảo bây giờ còn mộ Tiểu Thanh ở đây, con mới mất, chú đi không đành, ở lại để chiều chiều, sáng sáng thắp cho nó cây nhang, đêm đêm chuyện trò với nó, kẻo nó buồn, nó tủi thân. Tôi chỉ biết khóc, tội nghiệp Tiểu Thanh quá. Và tội cho chú A Tỷ nữa. Cũng tội nghiệp cho mọi người bị lùa lên đây. Họ làm gì nên tội. Đã lấy tài sản một đời gom góp của họ, đã cướp nhà của họ, có người chồng đã đi vào trại cải tạo không có ngày về, sao lại đày đoạ họ đến đây với rừng rú, với hoang địa, với đói nghèo và cận kề cái chết như thế này? Cùng một dòng máu đỏ da vàng mà sao người ta tàn nhẫn thế, ác nhân thế? Mà thật ra có thù hằn gì nhau đâu mà phải trả thù. Họ có tội gì đâu mà bắt họ đền tội.

Tôi vẫn tiếp tục đi dạy học ở trường quê đấy. Hàng ngày phải gào giọng rao giảng những điều giả dối, hàng ngày phải tuôn ra những lời ca tụng thời đại đẹp nhất trong lịch sử, ca ngợi những con người đang đày đoạ nhân dân mình trong đói nghèo và lạc hậu. Thỉnh thoảng đôi tuần, tôi lại bu xe về Đắc Nông thăm chú A Tỷ. Có nhiều đêm hai chú cháu nằm nói chuyện suốt đêm trong nước mắt. Chú bảo chú biết con và Tiểu Thanh thương nhau, nếu ngày xưa chắc hôn sự khó thành, nhưng thời buổi đảo điên này, chú định bỏ qua lệ ấy mà tác thành cho hai đứa, không ngờ mẹ nó chết rồi đến nó cũng không sống được. Chú quý con lắm, thôi thì số phận đã thế thì mình phải chịu phần số thế thôi. Rồi chú lại khóc. Chú ôm chặt vai tôi mà khóc, nước mắt đẫm vai tôi, rồi chú uống rượu, uống nhiều lắm dù trước đây chú chưa bao giờ biết đến rượu bia.

Mấy tháng cuối năm học, luyện cho học trò thi tốt nghiệp, rồi bận gác thi, chấm thi, tôi không ghé thăm chú được. Lúc công việc đã vãn, lên thăm thì nghe người ta bảo chú bị lên cơn điên, đưa vào bệnh viện huyện rồi chú trốn về mất biệt, không biết đi đâu. Tôi về thành phố, tìm khắp không gặp chú. Cuối cùng tôi nghĩ bụng chắc chú về khu nhà cũ. Đúng y như thế. Chú về căn nhà cũ, tối nằm ở vỉa hè trước nhà, ngày đi lượm ve chai, đói ai cho gì ăn đấy. Căn nhà của chú cấp cho gia đình cán bộ ngoài Bắc vào. Cũng có vài lần họ đuổi chú đi, nhưng chú lại về, ngủ ở đấy mặc họ la hét, chửi rủa, riết rồi họ chán, họ im. Lâu lâu có dịp về thành phố, tôi lại tìm đến chú, hai chú cháu ra quán, kêu vài món, vài ly bia hơi nhạt nhẽo, lần nào chú cũng khóc. Chú càng ngày càng gầy, áo quần rách rưới. Giờ chú không còn mặc áo thun ba lỗ với chiếc quần ngắn đến đầu gối nữa. Chú mặc bất cứ thứ gì kiếm được hoặc của mọi người mang đến cho. Dân ở khu đấy đã từng biết chú cũng hay giúp chú miếng ăn khi đói, viên thuốc khi bệnh. Nhưng mà lúc đấy ai cũng khó khăn,ai cũng túng bấn, không có gạo trắng để ăn, lương thực toàn bo bo với bột khoai mì với vài ba ký gạo hẩm. Nhiều khi nhiều người muốn giúp chú mà cũng chẳng có gì để giúp.

Mùa mưa năm 1977, không hiểu sao Sài Gòn cứ mưa mãi thế. Nhiều lúc mua từ nửa khuya cho đến hết ngày. Mưa như trút nước. Mưa như trời giận dữ loài người. Lại thêm bệnh ghẻ ngứa. Không biết sao mà người bị bệnh đó lắm thế. Mọi người cứ gãi sồn sột. Gãi đến tróc da, chảy máu. Con nít ngứa khóc suốt đêm, người lớn ngứa không ngủ được. Vào bệnh viện toàn cho thuốc xuyên tâm liên. Bệnh gì cũng xuyên tâm liên. Xuyên tâm liên là thuốc tiên, chữa bá bệnh.

Buổi chiều hôm đấy trời mưa, một trận mưa lịch sử. Đường sá Sài Gòn ngập lên đến bụng, cả thành phố như một biển nước. Lại thêm gió ào ạt, nghe đâu có bão rớt. Lo cho chú A Tỷ, đêm hôm sau tôi ghé chú vì chú chỉ về đó ban đêm. Đến nơi không thấy chú, hỏi thăm thì mọi người bảo chú chết rồi, chết đêm qua, trong cơn mưa bão. Xác chú dập dềnh suốt đêm trước cửa nhà. Sáng sớm bà giúp việc mở cửa định tát nước ra thì thấy xác chú lừng lững trôi vào nhà. Bà giúp việc hoảng quá la hét rầm trời bỏ chạy. Bà chủ nhà trên lầu bước xuống thấy xác chú vào đến giữa nhà, xoay mòng mòng theo con nước dội vào nhà khi có xe qua, bà sợ quá hét lên một tiếng rồi ngất xỉu. Ông chủ nhà là một cán bộ lãnh đạo của thành phố cũng từ trên lầu chạy xuống, thấy xác chú quay tròn giữa phòng khách thì cũng cứng đơ người, sai bà giúp việc lấy cây đẩy ra, nhưng càng đẩy ra, xác lại giạt vào. Ông ta hoảng quá gọi công an. Một giờ sau công an có mặt, xác vẫn xoay tròn. Công an làm biên bản, gọi xe cứu thương đến nhận xác. Lúc đấy, nước bắt đầu rút, xác chú A Tỷ xoay dến chân câu thang, nằm lại đó, đôi chân như muốn bước lên. Người ta chở xác chú đi đâu không rõ.

Từ đấy, người ta đồn nhà ấy có ma. Đêm đêm có người đàn ông đi lên đi xuống cầu thang. Có người còn kể thấy chú đứng ở balcon, mặc áo thun ba lỗ với chiếc quần ngắn đến đầu gối nhìn xuống đường. Gia đình cán bộ hãi quá, xin đổi nhà khác. Những gia đình đến sau đấy cũng ở không yên, đêm thì nghe tiếng khóc, đêm thì nghe tiếng người đi, đêm thì thấy bóng người ngồi thu lu trên ghế. Người không ở được, nhà nước chuyển thành văn phòng của ủy ban phường, sau đó thành đồn công an phường. Mấy anh công an kể đêm nào cũng thấy ma.

Đến thời kỳ đổi mới, nhà nước bán cho một công ty nước ngoài đập bỏ xây cao ốc. Không biết chú còn vất vưởng ở đó không hay đầu thai kiếp khác rồi. Và cũng từ đấy, ngôi nhà, cơ nghiệp cả đời của chú A Tỷ đã biến mất, chẳng còn dấu tích gì trên cõi đời này nữa
Saigon. Tháng mười.
DODUYNGOC