Dặm trường

Văn 18 Tháng Ba, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

(Kỳ 1)

Nhà xuất bản Văn Mới (California, Hoa Kỳ) xuất bản năm 2001. Thư Quán Bản Thảo tái bản 2018 với nhuận sắc của tác giả để tặng thân hữu.

Lời dẫn

Sau khi hoàn thành công cuộc “giải phóng” miền Nam, “Bên thắng cuộc” vận dụng triệt để học thuyết “đấu tranh giai cấp” và “chuyên chính vô sản” làm công cụ khống chế, đàn áp người dân “bên thua cuộc”. Say sưa trên đà “chiến thắng”, những người Cộng sản trả thù hàng triệu quân cán chính từng làm việc dưới chính thể Việt Nam cộng hòa bằng cách bắt họ đi “học tập, cải tạo” không thời hạn ở những nơi rừng thiêng nước độc. Rất nhiều người trong số họ bỏ xác tha hương, nếu may mắn trở về cũng thân tàn ma dại. Xuất phát từ nền học vấn và tầm văn hóa thấp, lại sẵn thói kiêu ngạo cộng sản họ bần cùng hóa nhân dân bằng chế độ hộ khẩu, tem phiếu cùng với chính sách cấm chợ ngăn sông, nhà nước độc tài toàn trị theo mô hình Stalin và Mao Trạch Đông đã biến Miền Nam Việt Nam, từ một nền kinh tế phát triển trong khu vực Đông Nam Á trở thành mảnh đất xơ xác, tiêu điều. Ở đấy, những nhân viên công vụ, những nhà giáo từng được đào tạo bài bản trong các trường đại học, cao đẳng hoặc dạy nghề, sau sự kiện 30 tháng 4, bỗng trở thành thất nghiệp.

Vì sinh kế, đội quân thất nghiệp này phải làm đủ mọi nghề mà phổ biến nhất là buôn lậu. Từ buôn lậu đẻ ra lắm hệ lụy, như một vòng luẩn quẩn trêu ngươi số phận và cuối cùng là con đường dẫn đến nhà tù. Vợ chồng Tống Viết Lục và Đoàn Thị Mỹ Hạnh vốn là những công dân lương thiện của Cố Đô Huế được nhà văn Trần Doãn Nho khắc họa rất thành công trong tiểu thuyết Dặm trường. Trần Doãn Nho hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ nhưng có lẽ ông cũng đã nếm trải không ít đắng cay của “nghề” buôn chuyến trên các con tàu Thống Nhất hay tàu chợ nên mới có những trang văn phản ánh một cách sinh động về hiện thực đất nước một thời chưa xa.

Văn Việt xin trân trọng giới thiệu tác phẩm Dặm trường của ông.

Văn Việt

Chương 1

Hạnh lay vai chồng:

–     Anh, anh, dậy nhanh lên. Em bàn việc này cho mà nghe.

Lục đang ngủ say, choàng thức dậy:

–     Gì vậy em? Anh đang nằm mơ thấy trời lụt.

Hạnh bật cười:

–    Thôi, đừng có mà mơ. Em muốn bàn với anh chuyện thật đây. Anh biết không, ở Sài Gòn, hàng đang “ăn”, hàng công ty cũng như hàng Campuchia. Em tính đi lại một chuyến nữa.

Lục nói, giọng có phần mệt mỏi:

–    Lại đi! Mất mấy lần chưa thất kinh sao mà còn muốn đi. Mà giá vàng gần Tết cứ lên ào ào. Em không nghe mới sáng đến chiều mà vàng “lên” một cây mấy ngàn sao?

–    Vàng lên thì vàng lên. Mình đi buôn chứ mình có bán vàng để tiêu mô mà sợ dữ rứa. Có lời thì mình đập vô vàng mua lại. Ai cũng thế mà thôi. Buôn bán mà sợ vàng lên vàng hạ thì sao được.

–    Cứ cho là vậy đi. Nhưng đường sá gần Tết, tụi công an với thuế vụ chúng nó chực khắp nơi để kiếm tiền tiêu Tết. Nó chụp một lần nữa thì sao?

Hạnh bụm miệng chồng lại:

–   Vợ con thì buôn bán mà cái miệng chuyên môn nói chuyện xui. Vả cái miệng một cái cho hết nói bậy. Có gan mới làm giàu, anh không nghe người ta nói sao? Vợ chồng Song – Tha mới Sài Gòn ra hôm qua trúng đậm, mua sắm thôi thì đủ thứ. Mua cả đầu máy JVC nữa. Ngó cái đầu máy mà phát thèm.

Nàng ôm riết lấy chồng, vuốt ve, giọng nghe càng nũng nịu:

–     Em mà trúng chuyến này, sẽ mua cho anh một cái JVC đời mới, mới toanh. Mễ –Tư ra hôm trước, anh nhớ không. Nghe Mễ nói thấy hàng vô là công ty với tụi Campuchia giành giựt nhau chí chóe.

Lục xuống giọng:

–     Tùy em. Anh thì anh ngán quá. Em đi, anh ở nhà cứ như ngồi trên bếp lửa. Mà giờ tiền đâu cho đủ để mua hàng?

Nghe giọng chồng có vẻ ưng chịu, Hạnh vội xoè ngay bàn tay ra trước mặt Lục:

–     Em còn đây bốn chỉ, nơi anh ba chỉ nữa, vị chi là bảy.  Em tính, anh lên bà nội mấy đứa muợn thêm năm chỉ, em qua dì Xuân xoay thêm ít chỉ. Em định mua một lô hàng khoảng cây rưởi đến hai cây là vừa. Có thiếu chút đỉnh, mình nợ, bán hàng xong ra trả sau.

Thông thường thì Hạnh chỉ hỏi Lục cho vui, vì nàng đã quyết định là nàng làm. Lục biết thế, cho nên, thường chỉ góp ý cho có lệ. Lục không rành chuyện buôn bán, lại nữa, anh nhát gan.  Gặp công an, thuế vụ, không có hàng đã run, huống hồ gì mang thứ hàng thuộc loại “quốc cấm” như trầm. Từ ngày bị giảm biên chế vì thuộc diện dính líu đến chế độ cũ, anh lui về lo việc nhà. Anh săn sóc con cái, nấu nướng, đếm tiền cho vợ. Vợ sai đâu, anh đi đó. Anh thuộc loại không thể thích nghi được với cái xã hội mới đầy cả mánh mun bên ngoài. Anh dị ứng với cảnh người ta lăng xăng lui tới gạ gẫm, đẩy đưa, mặc cả. Có lúc, anh chăm chú theo dõi, thậm chí thử tìm hiểu mà rốt cuộc vẫn cảm thấy lạ lẫm. Anh nhờ nó để sống, mà y như kẻ đứng ngoài, chẳng dính líu gì.

Hạnh khác. Hồi trước nàng nhút nhát, ít nói, rất sợ phải tiếp xúc. Thế mà đột nhiên, nàng đổi tính. Nàng nhảy một cái vào cái xã hội mới mẻ này, hòa nhập vào nó một cách mau chóng. Nàng nói nói cười cười thiệt thiệt giả giả. Khi tình, lúc lý. Khi giả đò, lúc thành thật. Nàng láo lường, tính toán, thủ đoạn. Nàng biết cách biến từ không đến có, từ giả thành thiệt. Ðêm đêm, sau khi đếm tiền, cất vàng, kiểm hàng xong, nàng mới trở lại một Hạnh của anh, dẫu không toàn vẹn lắm, nhưng cũng đủ để cho anh cảm thấy yên tâm. Nàng tỉ tê tâm sự. Nàng nũng nịu. Nàng chìu. Chỉ đến lúc này, Lục mới phần nào tìm thấy hơi hám quen thuộc của một Hạnh khép nép, dựa dẫm ngày nào. Suốt ngày anh lửng lửng lơ lơ, chờ mong cho đến lúc Hạnh xong mọi công việc làm ăn trong ngày, đổi lốt, trở về với anh.

Dặn dò thêm vài chuyện nữa, Hạnh quày quả lên xe, rú đi. Lục bảo mấy đứa con lo nấu cơm, rồi cũng lấy xe đạp lên mẹ anh mượn tiền. Khi trở về, thấy Hạnh đã ngồi đợi sẵn, vẻ mặt nôn nóng. Nàng trách:

–    Anh làm gì cũng lù rù lờ rờ. Em đợi sốt cả ruột. Thế nào? Mạ đưa vàng chưa? Mấy chỉ?

Anh nói:

–    Em mượn năm thì mạ đưa năm chứ mấy nữa.

–    Thôi thì cũng được. Anh lấy xe lên chợ bán hết cho em. Nhớ bán nơi con Bảo cho được giá. Mà phải hỏi giá cho kỹ rồi hãy bán.  Nhanh lên nghe, em hẹn người ta sáu giờ, chồng tiền. Em ở nhà sửa soạn hàng.

Lục đi ngay. Lấy tiền bán vàng về, đợi Hạnh đếm xong, anh hỏi:

–    Thế nào? Hàng có khá không?  Mấy kí?

Hạnh vừa cột tiền thành từng cọc một ngàn, vừa trả lời:

–    Em sang lại của thằng Quang-nụi. Chấp nhận giá cao một chút cho có hàng đi. Một ít loại “một”, loại “hai”, hai ký còn lại là loại “ba” và “bốn”. Em đã liên lạc được xe rồi, xe chở phế liệu. Khuya này đi. Hàng sẽ lên ở Vỹ Dạ. Lát nữa, thằng Vui-cò xuống báo địa điểm và xe sẵn sàng, anh đạp xe về Gia Hội, qua ngã bến đò Cồn, quan sát động tĩnh, có gì báo em biết ngay.

Lực dè dặt:

–     Mà em này, mạ nói ngày ni đi là xấu lắm. Hôm nay là ngày “sát chủ”, mai là ngày “thọ tử”, cả hai ngày, đi đều không tốt. Chỉ có mốt là được.

Hạnh gạt ngang:

–      Trời ơi, anh biết bữa nay là ngày mấy rồi không? Hai mươi ba rồi. Nếu mốt là hai mươi lăm đi, hai bảy mới đến Sài Gòn. Chẳng lẽ em bán hàng xong rồi ở lại ăn Tết ở đó sao? Mạ thì cứ khi nào cũng ngày tốt với ngày xấu. Ngày tốt mà không có xe cũng đành chịu.

–     Thì mạ anh nói sao, anh nói lại vậy.

–     Kệ mạ! Mạ có đi buôn mô mà mạ biết. À, may không thôi thì quên. Hôm nay hai mươi ba, phải mua gì cúng ông Táo. Anh xem quét dọn bàn thờ, thay cát trong lư hương, cắt một ít bông phượng. Em đi trả tiền hàng, rồi ghé chợ mua ít đồ cúng.

       Nói là làm ngay, Hạnh bước ra sân, rú xe chạy đi. Lục nhìn theo, băn khoăn nghĩ đến mấy cái từ “thọ tử”, “sát chủ”. Cái thì “tử”, còn cái thì “sát”, nghe mà ghê! Anh đứng tần ngần ngẫm nghĩ một lúc, rồi mới sửa soạn bàn thờ.

       Hạnh đi một lát là về ngay. Nàng mua chuối, giấy tiền, vàng bạc, và một miếng thịt heo luộc. Nàng xếp vàng mã, sắp lên bàn thờ, lên bếp và lên cái am lộ thiên ngoài sân. Cẩn thận hơn, nàng mở gói trầm, lấy một thanh trầm nhỏ bỏ bên cạnh lư hương.  Nàng cầu Phật, cầu tổ tiên, ông bà, ông táo, cầu các đấng “cô hồn các đảng” phù hộ cho chuyến đi của nàng được xuôi chèo mát mái và hứa là nếu chuyến này có lời, nàng sẽ cúng tạ một cái đầu heo và gà, vịt các thứ. 

       Khi cả nhà đang ăn cơm thì Vui chạy cò đến báo tin xe sẽ khởi hành vào lúc nửa đêm. Hạnh mừng rỡ, bỏ đũa xuống:

       –     Thế thì quá tốt. Chiều mốt là đã ở Sài Gòn.

Nàng quay qua chồng:

–     Anh tính xem, trễ lắm là hăm sáu em bán hàng. Bán xong, hăm bảy lấy tiền. Như vậy là chiều hăm bảy, em nhảy tàu Thống Nhất ra. Chậm lắm, chiều hăm chín, em có mặt ở nhà. Nói thì nói vậy, chứ anh và mấy đứa cứ lo việc nhà. Ðây, ba trăm, anh liệu làm gì thì làm. Chuyện sắm sửa Tết, em lo.  Giờ còn sớm, dọn dẹp xong, đi ngủ một tí, mười một giờ dậy đi là vừa.

Nói thì nói vậy, nhưng khi dọn dẹp các thứ xong xuôi, nàng vẫn không đi ngủ liền được, ngồi yên lặng tính toán. Như thế là nàng đã mua tất cả bốn ký hàng, hết một cây tám năm phân.  Nàng trả một cây rưởi, còn thiếu nợ ba chỉ rưởi. Nàng giữ một chỉ và ít tiền mặt để phòng thân. Nếu bán được hàng, nàng chỉ mong lời chừng năm, ba chỉ để trang trải một số nợ nần, còn lại thì sắm Tết. Nghĩ đến chuyện sắm Tết, nàng thật mệt mề.  Bánh trái, quà cáp, áo quần, ôi thôi, đủ thứ. Mặc, đến đó hãy hay. Nhưng nếu lỡ bị “chụp” thì sao? Nàng rùng mình. Ðã mấy lần bay hết vốn. Có lần suýt ở tù rồi. Hy vọng lần này không đến nỗi. Chẳng lẽ trời cứ phụ nàng. Nàng đi đâu cũng có cúng có quảy đàng hoàng, ăn ở với chồng con, gia nương lúc nào cũng phải đạo, có đâu cứ bị thiệt thòi hoài. Nhưng ai mà biết được. Phải sẵn sàng, nếu có chuyện gì thì liệu đường lo lót.  Một chỉ, sợ không đủ. Lỡ có chuyện gì, một chỉ thì làm sao xoay sở được nhỉ, nàng bần thần tự hỏi.

       Chợt có bàn tay ai đặt lên mái tóc. Nàng giật mình, quay lại.  Lục đứng sau lưng hồi nào. Anh âu yếm nói:

–     Sao em không ngủ một lát cho khỏe để khuya đi. Lo lắng tính toán làm gì nhiều cho mệt. Mọi chuyện đã đâu vào đấy rồi.

      Anh cầm tay vợ, mắt long lanh. Nàng im lặng nhìn chồng. Cái nhìn sáng rỡ, tình tứ của anh cho nàng hiểu anh muốn gì rồi. Cái anh này, cứ vòi vĩnh hoài, để cho thân thể người ta tinh sạch, người ta đi, thế mà không chịu. Gì thì gì nhưng Lục của nàng thật tuyệt. Nàng cười tình với anh. Thấy mắt vợ cũng long lanh, Lục thích thú, ôm hôn nàng thật dài, đôi tay ấn xuống, xoa xoa vào khoảng lưng, miệng cắn nhẹ vào vai nàng. Tật Lục vẫn thế, anh thích những cử chỉ vụn vặt. Nàng quen tính chồng, nên chìu. Lúc đầu, nàng không mấy thích. Có lúc bực nữa, vì đau. Nhưng anh làm riết rồi nàng cũng quen. Lần hồi, thấy thích. Không có, thiêu thiếu. Lục kéo nàng xuống:

–     Chỉ có lúc này, em mới là Hạnh của anh thôi.

      Cảm động, Hạnh vùi đầu vào ngực chồng, hôn lấy hôn để. Lục với tay tắt đèn, tắt radio, sờ soạng tìm nút áo. Nàng nằm im, thật im, mơ màng, rạo rực. Lục nhẩn nha vuốt ve, hôn hít. Hạnh nằm im, chờ đợi cơn lốc cuồng bạo đổ xuống từ chồng. Bỗng nhiên, nàng níu tay Lục lại, giọng hốt hoảng:

–    Chết cha! Anh ơi, em nhớ ra, còn một gói hàng em gửi ở dì Xuân chưa lấy về. May mà nhớ kịp, nếu không, thì phiền. Anh ngủ đi, em chạy đi lấy cho rồi.

      Nàng vùng dậy, bật đèn. Lục cụt hứng, im lặng nằm nhìn vợ nhanh nhẩu đắt xe ra ngoài. Anh lắng nghe tiếng nổ xa dần, xa dần trong đêm, ngao ngán thở dài.

*

Xe lên đường vào lúc một giờ sáng. Con đường đi ngang Ðập Ðá vắng tanh. Ánh sáng các ngọn đèn đường dội xuống mệt mỏi, miễn cưỡng, chừng như chẳng muốn soi sáng thêm cái thành phố đang ngủ vùi. Hạnh ngồi ép người sát trong thùng xe phía sau, lòng thấp thỏm, không yên. Thỉnh thoảng, nàng kéo tấm gỗ chắn cái ô trống phía trước để nhìn ra ngoài. Ðường trống trơn, nhưng đầy đe dọa. Một vệt sáng có thể bất chợt lóe lên. Một bóng người  trong bộ đồng phục xanh đậm hoặc trong bộ đồ vàng ở đâu đó, có thể đột ngột xuất hiện ngang giữa đường, vẫy xe dừng lại. Nơi nào cũng là nơi rình rập. Ðâu đâu cũng có thể có ai đó đứng dòm ngó mọi di chuyển của xe và mọi hành vi của nàng. Số hàng bốn ký lô nàng gói rất gọn, được tay tài xế giấu trong cái thùng sắt đập bẹp, chôn sâu dưới đống phế liệu gồm đủ thứ kim loại tạp nhạp, rỉ sét. Kín thì quá kín rồi. Nhưng lo thì vẫn lo. Công an, thuế vụ dường như có mặt khắp nơi. Càng ngày họ càng ranh ma. Nghề dạy nghề, nên dù giấu hàng khôn khéo đến đâu, họ cũng biết để lục ra khiến đám con buôn bể mánh hoài. Người ta làm ăn, họ cũng làm ăn. Tìm ra hàng, họ mới có tiền. Trên tuyến đường huyết mạch bắc nam với hàng chục trạm thuế làm việc ngày đêm, luôn luôn diễn ra một trận chiến thầm lặng, nhưng rất ác liệt.

Xe qua cầu An Cựu, ra khỏi thành phố bình an, bắt đầu chạy chậm lại. Tài xế tính toán giờ giấc để vượt trạm Lăng Cô vào lúc tảng sáng. Kinh nghiệm cho biết vào thời điểm đó, đám nhân viên trực ham ngủ hơn là hăm hở lục hàng. Đúng như dự tính, xe vượt trạm Lăng Cô lúc bốn giờ mười lăm.  Không thấy bóng người. Ba-ri-e buông lỏng, xả trạm. Xe từ từ tiến gần.  Hạnh nín thở nhìn vào ngôi trạm nhỏ nằm bên vệ đường, tưởng chừng như cả thế giới này sẽ nổ tung nếu nó đột ngột thức dậy, thi hành cái chức năng bình thường của nó. May quá, nó yên ngủ. Bên trong, tối. Mọi thứ im lìm. Chỉ có chiếc bóng đèn nhỏ gắn bên ngoài, lặng lẽ nhìn chiếc xe thận trọng, run rẩy bò qua lằn ranh an toàn. Hạnh đăm đăm nhìn thanh gỗ chắn, dùng làm cái ba-ri-e, chổng lên trời. Lúc này, sao trông nó hồn nhiên và đáng yêu đến tệ. Ðừng hạ xuống, đừng bao giờ hạ xuống chắn đường chị đi, nghe em, Hạnh nhủ thầm. Ðuôi xe vừa qua khỏi trạm, xe tăng tốc. Thanh ba-ri-e ngoan ngoãn nằm yên. Hạnh ôm ngực thở phào. Cám ơn trời phật.  Thế là bốn ký hàng vượt qua khỏi cửa ải đầu tiên.

Xe lần lượt qua các trạm Kim Liên, Nước Mặn, An Tân, Cù Mông, Ba Ngòi, Du Long, Căn Cứ Bốn. Nơi nào, xe cũng phải dừng trước trạm đợi tài xế đến trình giấy tờ. Cán bộ thuế lên xe, đảo mắt nhìn, chìa tay nhận xấp tiền từ người chủ hàng phế liệu kín đáo trao cho, rồi lặng lẽ xuống xe. Chiếc ba-ri-e quyền lực từ từ nâng lên để cho xe chạy qua. Ðể tránh sự chú ý của cán bộ thuế, trước khi đến trạm, Hạnh thường xuống xe khi còn cách trạm một đoạn đường, đi bộ khỏi trạm một quãng ngắn, đứng đợi. Chưa đến trạm là tài xế đã nhắc nhở nàng. Thông thường thì phế liệu là mặt hàng cồng kềnh, được buôn bán hợp pháp. Chủ hàng lo đóng thuế đàng hoàng cả đầu vào lẫn đầu ra. Họ chỉ khai gian trọng lượng để giảm tiền thuế. Qua mỗi một trạm, chủ hàng chỉ cần chung một ít tiền lót tay gọi là “thông cảm” với nhân viên trạm là xong. Ðó là một hợp đồng ngầm, đôi bên đều có lợi.

Nhưng đến trạm Căn Cứ Năm, thì có chuyện rắc rối. Số là anh tài xế quên dừng xe cho Hạnh xuống cách trạm một đoạn đường như thường lệ. Khi sực nhớ ra thì thanh ba-ri-e và tấm bảng “stop” đã hiện ra trước mặt. Lỡ rồi, tài xế làm lơ luôn, không gọi Hạnh, sợ gây thêm nghi ngờ. Nàng nằm im trên thùng xe, nhắm mắt giả vờ ngủ say. Khi nhân viên thuế lên xe, mở cửa ra, thấy nàng, bèn hỏi. Nàng nhướng mắt giả giọng ngái ngủ, trả lời nhát gừng. Nhân viên thuế gọi tài xế và chủ hàng phế liệu vào trạm, mang giấy tờ ra săm soi, hạch hỏi. Hạnh ngồi thu mình trong thùng xe, đầu óc rối tung lên. Nàng lục xách, lấy thanh kẹo cao su bỏ vào miệng nhai, hai tay run bần bật. Một lát sau, tài xế ra, cho biết là xe tải được lệnh vào trạm để kiểm tra. Hạnh xuống xe, nước mắt lưng tròng, đầu óc chọt nghe vang vang hai chữ “thọ tử” và “sát chủ” đáng ghét của bà mẹ chồng. Nàng nhìn theo chiếc xe tải chạy thẳng vào bãi đậu xe, lòng tan nát như ngày nào khi nghe tin Sài Gòn đầu hàng tháng tư năm bảy lăm.

Bãi đậu xe trạm chiếm một khu đất rộng thênh thang, nằm kế khu ruộng lúa, đủ chỗ chứa cho hàng chục chiếc xe đủ loại. Chẳng mấy khi bãi trống. Xe cộ ngược xuôi nam bắc hàng ngàn chiếc mỗi ngày, hiếm có chiếc nào không có “vấn đề”. Thông cảm cho đi thì thôi, chứ nếu đã quyết tâm lục, thì nhất định phải có chứa hàng lậu. Từ xe tư cho đến xe công, không có xe nào không có mánh chở hàng. Lúc đầu, chỉ có xe tư nhân sung công vào hợp tác xã là chủ xe bạo gan, sẵn sàng lao vào cuộc chơi, chấp nhận mọi rủi ro. Nhưng càng về sau, tất cả các tài xế, và qua đó, các thủ trưởng của họ, cũng tham gia. Lúc đầu, thử; sau, thấy ngon, trở thành chuyên nghiệp. Từ đó, cũng như xe tư, các xe thương nghiệp, xe quân sự, xe Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện, xe ngoại giao, và cả xe công an, thuế vụ cũng gia nhập đường dây chở hàng. Các trạm thuế đã từng chận bắt xe tòa đại sứ Liên Xô, Ba Lan chở thuốc tây, xe Bí thư tỉnh ủy chở trầm, xe Tổng cục an ninh bộ Nội Vụ chở thuốc Jet, thuốc “ba số”…Lúc đầu, bãi chỉ mở ra cho có. Dân dần, không đủ chỗ, bãi cứ nới dần ra, lấn cả vào đất canh tác. Cái văn phòng nhỏ xíu với năm, bảy nhân viên đột nhiên biến thành một trung tâm hàng hóa và dịch vụ, nơi họ thay nhau quản lý đủ loại xe, đủ loại hàng, đối phó với đủ loại tài xế, thủ trưởng qua nhiều tình huống khác nhau. Và khu vực quanh trạm biến thành một khu sinh hoạt náo nhiệt ngày đêm. Quán xá đủ loại mọc lên kéo theo một đám chạy mánh lành nghề: “gỡ” hàng bị bắt ra khỏi trạm.

Hạnh chán nản, vào ngồi ở một quán nước bên vệ đường. Miệng mồm nàng khô khốc, tay chân run rẩy, bụng dạ bồn chồn. Nàng nhìn đăm đăm vào trạm chờ đợi, như tội nhân chờ bản phán quyết cuối cùng của quan tòa trong một phiên xử kéo dài, chưa biết khi nào kết thúc. 

Rất lâu sau, anh tài xế từ trong trạm bước ra, mặt mày phờ phạc:

–    Không xong rồi. Tụi nó tuôn hết phế liệu và tìm thấy hàng chị.

Hồn vía Hạnh bay bổng. Nàng choáng váng như bị trúng gió. Thân hình lảo đảo, muốn ngã. Nàng bíu chặt  hai tay vào mép bàn, gượng lại, đứng nhìn trân vào khoảng không trước mặt, mắt nhòe đi. Thế là hết. Nàng nhìn tài xế, mếu máo:

–    Anh xem có giúp được gì em không?

–    Chịu thôi. Tôi đã làm hết sức, mà đành chịu. Chuyện chẳng ra gì mà lại lỡ bể lớn ra rồi.

–     Liệu anh chủ hàng phế liệu có xoay chạy gì được giúp em không?

Anh lắc đầu:

–    Khổ nỗi, anh ta cũng đang điên đầu vì hàng của anh đang nằm chình ình ra đấy. Tụi nó mà cân lại thì phải biết. Anh ta cằn nhằn, đổ lỗi cho cô và tôi. Còn tôi, lỡ việc lỡ vàng hết trơn. Tụi nó giam ở đây, chẳng biết khi nào mới cho đi. 

      Thế là hết đường. Cả hai ngồi im, chết đứng.

Hạnh chới với suy tính. Phải đi Sài Gòn thôi, nàng tự nhủ. Nàng nói:

–     Cám ơn anh. Bây giờ em phải tự lo lấy thôi.

–     Mà cô đi đâu giờ?

Nàng không buồn trả lời, bước đi ngay, không quay lại.

Chương 2

Hạnh đón ngay được một chiếc xe Kamaz từ Hà Nội vào.  Ca bin loại xe này rộng, có thêm băng ghế sau. Ngoài tài xế, còn có hai người đàn ông ngồi chung một ghế ở phía cửa trước.  Một người, có lẽ là tài phụ. Còn người kia ăn mặc xuề xòa, con buôn cũng không ra con buôn mà bộ đội cũng không ra bộ đội. Mới thấy nàng leo lên xe, anh ta đã nhìn nàng một cái nhìn xoáy sâu đầy khả ố. Mặc họ. Nàng giữ nét mặt thật nghiêm trang, im lặng gật đầu chào từng người. Nàng được dành cho ngồi ở băng ghế sau. Ghế dài, bọc da, êm ái như một cái giường cá nhân nhỏ. Chạy được một đoạn, người tài xế lên tiếng:

–    Sao, người đẹp đi đâu giờ này? Ði chơi hay đi buôn?

Mải đắm mình trong giòng suy nghĩ, Hạnh im lặng, chưa tìm ra cách trả lời. Người tài xế có vẻ phật ý:

–    Người gì mà cao đạo khiếp thế! Hỏi chẳng thèm trả lời. Khó nhỉ!

Anh ta kéo dài chữ “nhỉ” cuối câu với một cái giọng nghe rất “bộ đội”. Hạnh đáp, giọng mệt mỏi:

–    Tôi đi có chút việc, anh à.

Anh ta cười vang:

–    Khá lắm, khá lắm. Tưởng người đẹp không muốn cho kẻ hèn này nghe tiếng oanh vàng chứ.

Tiếng “chứ” dẻo và dài, đầy hơi gió, nghe giễu cợt. Hai người đàn ông kia cùng quay lui, nhìn nàng, cười lớn.  Hạnh nhìn lòng đường trước mặt vùn vụt chạy lùi về sau, cố giữ nét mặt thật bình thản. Người tài xế không hỏi tiếp, im lặng lái tránh một chiếc xe nào đó chạy ngược đường thật nhanh. Ðoạn đường tương đối êm ả. Không ai quấy rầy nữa, nàng tiếp tục vùi mình trong những tính toán vẩn vơ. Nàng cố không nghĩ  đến những điều tệ hại nhất, nhưng những ý nghĩ muộn phiền, cứ như tằm ăn dâu, xâm lấn từng khoảng trống trong đầu óc bề bộn của nàng. Chúng cấu xé, dằn vặt. Môi khô. Cổ họng rát bỏng như trải qua một cơn ho nặng. Hai người đàn ông thỉnh thoảng lại quay lui nhìn nàng, vẻ dò hỏi trân tráo.

Xe chạy khá lâu thì giảm tốc độ, từ từ dừng lại. Người tài xế xem đồng hồ, nói:

–    Hai giờ sáng rồi. Ta dừng lại đây nghỉ, tảng sáng đi tiếp.

Hạnh giật thót mình, hốt hoảng:

–    Sao thế anh? Dừng lại ở đây sao? Ðây là đâu thế này?

Anh chàng mặc đồ xuề xòa cười ha hả:

–    Thế người đẹp không chịu ngủ à? Chẳng lẽ chạy cả đêm. Chạy cả đêm, liệu người đẹp có chịu nổi không?

Anh ta cố ý nhấn mạnh “có chịu nổi không”, hàm ý tục tĩu.  Nàng làm lơ, hỏi tài xế:

–    Anh định nghỉ ở đây thật sao? Như thế này thì…thì…

Nàng ấp úng, không biết phải diễn tả thế nào. Người tài xế cười:

–    Thế cô chưa bao giờ đi xe đêm sao. Phải nghỉ ngơi, phải ngủ một chút mới tiếp tục được chứ tài xế làm sao chịu nổi.

Giọng anh ta bây giờ nghe đàng hoàng, có lẽ không chứa một ẩn ý bất thường nào. Nàng hơi yên tâm. Nhưng nhìn khung cảnh chung quanh, thấy tối tăm hoang vắng quá, nàng chột dạ. Một ý tưởng bất ngờ xuyên qua trí óc khiến nàng cảm thấy lạnh buốt xương sống. Họ âm mưu gì đây? Nàng xuống giọng van vỉ:

–    Các anh ráng chạy đi giùm tôi. Ðừng nghỉ nữa. Tôi cần về gấp Sài Gòn trong đêm nay. Tôi sẽ bồi dưỡng thêm cho các anh xứng đáng. Các anh giúp tôi đi. Tôi nói thật, tôi cần đi gấp.

Người tài xế cười sảng khoái:

–     Cô làm như là thủ trưởng của tôi không bằng. Ðám tài xế chúng tôi vậy đấy. Có chạy, có nghỉ. Luật nhà nước mà.

Anh ta tắt máy xe, quay sang nàng, giọng đầy giễu cợt:

–    Hay là cô sợ chúng tôi…ăn thịt cô. Không đâu. Chúng tôi chưa cần đâu.

Nhìn chăm nàng quan sát một lát, anh ta tiếp:

–     Nói thế chứ không có gì đâu mà cô lo. Có lẽ cô sợ bọn tôi làm ẩu chứ gì? Không đâu, người đẹp ạ. Nói người đẹp đừng buồn, nếu cần gái, chúng tôi chẳng thiếu đâu. Bây giờ, tôi hỏi thật: cô cần về gấp thành phố để làm gì? Cô đi buôn, phải không? Nói thật đi. Bọn tôi không phải công an, cũng chẳng phải là đầu trộm đuôi cướp đâu nhé. Chúng tôi là dân lái xe có gốc.

Hạnh thừ người, suy nghĩ. Một lát, nàng thú thật:

–    Nói thật với anh, tôi buôn trầm. Tôi mới bị bắt một bận hàng tại Căn Cứ Năm, chỗ tôi đón xe anh đấy. Hàng hiện đang giữ ở đó, nên vội đi Sài Gòn, tìm cách chạy ra.

Người tài xế đập tay một cái rõ mạnh trên ghế ngồi, rồi nói:

–    À, ra thế. Vậy mà nãy giờ cứ giấu. Cô đi buôn kiểu gì mà lại “lạc hậu” thế! Hàng thì bị dính ở đó, lại vào Sài Gòn để gỡ, thế là thế nào? Khi cô vào đến trong đó, thì ngoài này, hàng đã bị làm thịt thành trăm mảnh rồi, còn đâu. Sao khi nãy, lên xe, cô chẳng cho tôi biết. Cô làm cao, không thèm trả lời.  Bây giờ xa trạm quá rồi.

      Anh ta ngưng một chút, rồi hỏi:

–    Trầm loại gì, bao nhiêu ký? Ai làm biên bản tịch thu?  

–    Trầm từ loại “một” đến “bốn”, bốn ký. Tôi không vào trạm nên chẳng biết ai làm biên bản. Nhưng nghe tài xế nói là trưởng trạm thì phải.

–    Ối giời ôi, thằng tài xế nào mà ngu thế, chở có bốn ký trầm mà để bị bắt, thì bỏ mẹ nghề cho rồi. Nói thật với cô, xe này chở hơn một nửa trọng lượng là hàng ngoài luồng đấy, ấy thế mà qua trạm có thằng nào dám hỏi tôi đâu. Trưởng trạm là thằng Bụi đấy chứ ai. Nào, kể anh nghe vụ việc xem.

Hạnh kể lại vắn tắt sự việc. Tài xế đổi giọng, hỏi:

–    Em còn bao nhiêu tiền?

Hạnh bối rối, không biết nên nói thế nào. Anh ta khuyến khích:

–    Nếu em không cho anh biết khả năng thì anh không tính toán gì được. Nếu em ngại thì thôi.

Hạnh miễn cưỡng đáp:

–    Anh liệu có giúp gì được em không? Thú thật, em chỉ còn có một chỉ vàng với vài ngàn thôi à. Vì vậy mà em phải về Sài Gòn gấp.

–    Ra thế. Nhưng chừng đó thì rõ là chẳng ăn thua gì.  Muốn chuộc ra, phải nhường một nửa vốn. Ðó là nói biên bản chưa ký. Còn nếu ký rồi thì hà…hà…

Hạnh chột dạ. Nàng im lặng nhìn anh tài xế, cố diễn tả nỗi mong mỏi của mình bằng ánh mắt tràn đầy van vỉ và nét mặt tội nghiệp. Anh tài xế gục gặc đầu:

–    Nếu không giải quyết đêm nay, thì mai, hoặc là chúng nó tráo hàng hết, hoặc là chúng nó lập biên bản chuyển qua khâu khác. Lúc đó thì hết đường. Ðược rồi, anh giúp em. Em chịu tin anh không?

Nàng dè dặt gật đầu. Anh ta tiếp:

–    Ðược, không tin thì rồi sẽ tin. Này, Phú, cậu ở đây ngủ nhé. Nhớ trông xe cẩn thận. Tớ đi ngược về trạm, gặp thằng Bụi. Liệu mà ngủ ngáy cho tốt vào, đừng có mà “cải thiện linh tinh” nhé. Cái gì cũng phải có ý kiến của tớ trước. Nào, em, ta xuống xe đi ngay, không thì trễ mất, thêm phiền.

Hạnh ngạc nhiên:

–    Ði thế nào?

–    Ðón xe. Xe này không thể lái ngược trở lại được, vì nhiều hàng hóa linh tinh ở trên. Em gái cứ tin anh đi. Anh sẽ chơi đẹp cho em thấy.

Không đợi Hạnh phản ứng, anh ta cầm tay Hạnh kéo xuống. Nàng hoang mang bước. Thôi thì phó mặc. Có cái phao nào vớ được thì cứ vớ, Hạnh nghĩ thầm.

*

Tin vui đến với Hạnh vào lúc xế chiều, sau khi anh tài xế trải qua một chầu nhậu ba, bốn tiếng đồng hồ. Nàng mừng đến nỗi, khi vào trạm ký giấy nhận hàng về, run rẩy không viết được tên mình. Biên bản đã chuyển lô hàng “xịn” thành hàng “xô” với một số tiền đóng thuế hàng hóa không đáng kể.

Ra khỏi trạm, nàng mở miệng định hỏi han đôi điều, thì anh tài xế xua tay:

–   Im lặng. Em nghe anh đi, đừng có hỏi han gì ở đây hết.  Ta về xe cho kịp, mất toi gần nguyên ngày rồi.

Chỉ trong thoáng chốc, anh ta đón được một chiếc xe đi công tác, trở về chỗ cũ.

Anh tài xế giấu hàng Hạnh vào một khoảng trống nhỏ trước đầu máy xe, chung quanh đầy dây nhợ lỉnh kỉnh. Anh ta giải thích:

–    Không cần thiết phải làm thế, nhưng anh muốn em yên tâm.  Tội nghiệp cô em tôi, lo quá mất đi cả nhan sắc. Nào, ta đi.

Hạnh yên tâm leo lên xe. Trời bắt đầu loang loáng tối. Xe bắt đầu lăn bánh lại.  Lần này, anh ta nhường tay lái cho tài phụ, ra băng sau ngồi bên cạnh Hạnh. Hạnh nhích hẳn về phía bên kia. Băng ghế loại xe này chẳng khác gì  một loại  giường ngủ di động dành cho tài xế khi chạy đường trường. Mền chiếu, đồ đạc để lung tung. Anh tài xế dồn mền, gối và các thứ đồ đạc lại để có đủ chỗ trống cho hai người. Anh ta nói:

–    Em đừng phiền nhé. Hôm nay, anh uống nhiều. Cái lệ nó vậy, không uống nhiều, không nói chuyện được.

Hạnh cố ép mình tối đa để nhường chỗ cho anh ta. Anh ta ngả người vào đống mền gối, nhắm mắt. Lúc này, đầu óc nàng hoàn toàn thanh thản. Nàng ngẫm nghĩ đến cái may mắn bất ngờ của mình. Mọi thứ như đã được “ai đó” thiêng liêng sắp xếp cho nàng. Nàng nhớ đến lòng thành khẩn của mình trong khi cúng vái vừa rồi ở nhà. “Họ” đã lắng nghe và chấp nhận lời cầu xin thống thiết của nàng. Nàng liếc mắt nhìn anh tài xế, chất ngất  biết ơn.  Ðúng là các đấng thiêng liêng đã mang anh ta đến cho nàng. Anh ta nhắm nghiền hai mắt. Tội nghiệp, chắc say lắm.  Khi nãy, trên đường trở lại, anh ta trông mệt nhọc, mặt đỏ lừ, ít nói, hơi  thở phả ra toàn mùi bia. Giờ trông có vẻ đỡ hơn. Hơi thở đã nghe đều. Ngủ ngon đi anh, người ân nhân.  Không biết phải trả ơn cho anh ta như thế nào đây, nàng băn khoăn tự hỏi. Một chỉ, hai chỉ hay thế nào? Thôi, để đó mai dò ý anh ta rồi tính sau. Nàng quay sang tưởng tượng đến việc bán hàng, chuyện sắm Tết.

Anh tài xế bỗng trở mình, mở mắt, nhỏm dậy:

–    Sao, em không ngủ được sao? Yên lòng rồi, ráng ngủ một giấc đi em. Cho khỏe vào.

Hạnh nói:

–    Sao mà yên lòng cho được. Còn đến mấy trạm nữa lận mà! Ðâu đã hết lo.

Anh ta cười:

–    Anh bảo đảm. Nói cho em hay, trạm nào đối với anh cũng có ăn chịu cả. Em tưởng anh là thứ gì? Dân buôn chính gốc đây.

Hạnh ngạc nhiên:

–    Anh giao dịch với họ thế nào? Chung tiền nhiều vào à?

–   Ừ, thì tiền. Có gì mà không có “bác” chen vào, em.  Tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già…

–   Thế vừa rồi, không lẽ anh chỉ tốn một chầu nhậu thôi à?

–   Nói cho đúng, chẳng phải là một chầu nhậu mà đủ.  Nhưng lần này thì thật là chỉ một chầu thôi. Tụi nó thường tính gộp, chứ không chơi ba cái lẻ tẻ. Nhưng đó là đối với bọn anh thôi nhé. Anh từ cái lò đó ra mà.

–    Anh cũng là nhân viên thuế vụ à?

–    Báo cáo em, lý lịch anh thế này: bộ đội phục viên, chuyển qua thuế vụ. Lúc đầu anh chê, vì ghét cái món hạch hỏi người khác, lại chẳng chia chác được gì. Nhưng, vào cuộc rồi, tiền tuôn vào như nước. Không lấy chúng cũng chạy vào túi. Ấy, cái nghề nó lạ thế đấy. Anh công tác ở trạm Ngọc Hồi, em biết Ngọc Hồi chứ, ở ngay cửa ngõ vào Hà Nội ta đấy.  Chẳng có con phe con phảy, thằng mánh nào qua mặt được bọn anh đâu. Mệt quá thì tha làm phước thôi, chứ đừng có tưởng bọn anh ngây thơ. Nhưng rồi, anh bỏ nghề. Em biết sao không? Thất đức quá. Hồi xưa, ông nội anh đi tu. Có lẽ anh nhiễm cái món đó chăng. Thấy người ta đau khổ, anh chịu không nổi. Làm bộ đội bắn chết người mà còn ít tổn đức hơn.

Hạnh ngạc nhiên thực sự:

–    Anh mà cũng tin phúc đức sao?

–    Tin chứ. May rủi, hên xui, họa phúc đều có cả đấy. Ai chưa gặp thì chưa tin thôi. Ði buôn rồi mới thấy. Như em chẳng hạn, hên quá hên. Lô hàng phải tốn cả cây chưa chắc đã xong, thế mà rồi chỉ có một chầu nhậu. Tụi nó lập biên bản tịch thu rồi mà xé đi đó. Em thấy chưa, phúc là vậy. Em mà vô phúc thì không có gặp anh đâu.

Hạnh nhìn anh ta, lòng biết ơn càng thêm sâu nặng:

–    Thiệt, em không biết lấy gì để trả cho hết cái ơn này. Anh tài hết ý.

Anh ta cười sung sướng, hàm râu trên giựt giựt:

–    Chẳng phải là tài lắm đâu. Nhưng vụ việc là thế này: thằng Bụi, trưởng trạm  có nhờ anh một việc ở Hà Nội. Lấy cớ đó, anh gài qua việc này. Dễ như chơi vậy.

Anh ta rút thuốc châm hút, tiếp tục câu chuyện:

–    Khi nãy có hơi say. Tiếp một lúc năm thằng thuế với một tay công an. Bia vào như nước lã. Cái thằng Bụi trẻ mà uống như giặc. Cỡ như anh mà không đấu lại với hắn. Hắn cũng đang muốn chuyển nghành, em biết không. Làm ở trạm bốn năm, no nê, giờ lo nhảy. Thằng nhỏ này khôn hết ý. Ở một nơi như thế là phải biết rút lui đúng lúc.

Nhân cơ hội này, Hạnh muốn đề cập đến chuyện ơn nghĩa. Nàng ngập ngừng:

–    Tiền nhậu nhẹt bao nhiêu, anh cho em gửi lại. Còn ơn anh…em…em…anh xem tính giùm thế nào cho phải, em…Vào Sài Gòn rồi, anh ở đâu?

Anh tài xế dứt khoát:

–    Em cứ xem như thế là xong. Tiền bia không đáng kể. Còn cái gì khác, thì nói thật, em trả không nổi đâu.

–    Nổi. Mấy em cũng trả nổi hết. Ði buôn, tụi em sòng phẳng lắm, anh đừng lo.

Anh ta nhìn nàng cười:

–    Em muốn trả ơn lắm à?

–    Thì ơn phải đền, nghĩa phải trả. Chuyện thường tình mà anh.

–    Anh cho em khất. Lần sau trả. Chịu không?

–    Biết có còn gặp lại không mà lần sau.

–    Vậy là em không muốn gặp phải không? 

–    Em không có ý đó.

–    Muốn là gặp thôi, em ơi. Khó gì. Dân buôn và tài xế  là bạn mà. Em phải tâm niệm như vậy. Em thường hay đi…

Anh ta đột nhiên ho sặc sụa. Cơn ho kéo dài một thôi.  Anh ta nói:

–    Xin lỗi, anh nằm chút. 

Anh ta nằm xuống, mắt nhắm nghiền. Chỉ một thoáng sau, nàng đã nghe anh ta thở đều. Hạnh dựa đầu vào thành xe, nhắm mắt tưởng tượng lúc đã đến nơi đến chốn, bán hàng suôn sẻ, có lời. Ðầu nàng dựa vào thành xe, lắc lư. Chỗ chật, tay chân nàng xoay sở lúng túng. Nàng cựa quậy luôn, vừa để tìm chỗ đặt chân, chỗ dựa tay lại vừa tránh đừng để chạm vào người anh tài xế. Nhưng hễ hơi thiếp đi, người nàng lại  ngả về phía anh ta. Trong mơ mơ màng màng, hình như có ai vừa hôn. Nàng cựa quậy, hé mắt nhìn. Nàng giật mình thấy đang nằm gần như gọn trong vòng tay anh tài xế. Nàng nhắc chân, cảm thấy có gì khang khác. Nàng đưa tay sờ, bắt gặp bàn tay anh ta đang đặt lên đùi. Nàng hốt hoảng rút chân lui, thì anh ta bóp tay nàng, xiết chặt. Nàng nhỏm dậy. Anh ta kéo lại, thì thào:

–    Nằm im ngủ đi em. Ngủ cho đỡ mệt.

Nàng nghe lời, nằm yên, lại chìm vào giấc ngủ. Nàng mơ thấy Lục hôn nàng. Rồi tràn cả người lên bụng nàng.  Nàng vùng vằng, ngột thở, rướn người lên. Một bàn tay kéo nàng xuống. Bỗng có gì nhột nhạt trong người. Trong bóng tối nhờ nhờ của buồng lái, nàng thấy bàn tay anh tài xế đặt lên bụng nàng. Bàn tay kia luồn vào ngực. Nàng lấy tay đè lên tay anh ta, giữ lại. Nhưng anh ta dùng một tay giữ chặt tay nàng, còn tay kia tiếp tục sờ soạng. Nàng tỉnh hẳn, vùng mạnh. Anh ta không buông. Ðã thế anh ta ép sát, đặt những nụ hôn táo tợn, nhớp nháp lên người nàng. Mùi đàn ông hừng hực phả vào, khiến nàng nhớ đến Lục.  Nàng muốn la lên, nhưng không hiểu sao, không la được. Ðành vùng vẫy trong im lặng. Tay chân anh tài xế bây giờ như những gọng kềm xiết lấy nàng. Hàng nút áo bung ra. Sức nàng yếu dần, ý chí chống cự tan biến.  Nàng lơi tay, người mềm đi, phó mặc. Không thể được, không thể được. Nàng kêu lên ú ớ. Anh ta bịt chặt miệng nàng lại.  Nàng  nghe vang vang trong đầu: Hạnh ơi, không thể được, không thể được. Lục ơi, Lục ơi, anh ở đâu. Nàng cắn chặt đôi môi để khỏi phát ra tiếng rên. Nàng chao đảo, bồng bềnh.  Ghê tởm và biết ơn. Chống trả và buông lơi. Hân hoan và thù hận. Lục ơi, Lục, anh ở đâu! Nàng đột ngột cắn vào vai anh tài xế. Nụ cắn sâu, sâu thẳm.

Xe vẫn chạy đều. Rất đều, như mơ. Anh tài phụ dụi tàn thuốc. Người đàn ông nọ vẫn nằm vắt vẻo trên ghế, ngủ. Mọi chuyện vẫn như thế. Hạnh kéo quần lên, nằm yên lặng, thật yên lặng, mắt nhìn lên trần xe, miên man nghĩ  đến Lục của nàng. Thật tội nghiệp!  Trong ái ân, Lục điệu nghệ, nhẹ nhàng, tỉ mỉ. Như một bài học thuộc lòng, bao giờ anh cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt, quá chén hoặc có xa vắng nhau lâu ngày, anh vẫn thế, từ đầu chí cuối. Người đàn ông này khác hẳn. Hắn hấp tấp, cuồng bạo. Nàng khẽ thở dài, than thầm, mình hư quá, hư thật rồi. Trong thoáng chốc, mọi chuyện lật qua một trang khác. Nàng ngồi ngay ngắn dậy, vuốt lại áo quần, vòng tay trước ngực, quay nhìn. Anh ta ngủ. Ngủ thật hay giả đò? Anh ta đó, vẫn thế. Tóc lòa xòa trước trán. Hàng râu mép lởm chởm. Ðôi môi dày, thô tháp, không che kín hàm răng. Ðôi môi ấy đã hôn nàng. Những sợi râu loe ngoe chích vào má nàng nhột nhạt.  Trước sau, nàng đã nhìn khuôn mặt anh ta với nhiều cảm giác lẫn lộn. Ngờ vực. Tin cậy. Biết ơn. Căm ghét. Anh ta lương thiện hay lưu manh? Nàng phân vân, không tìm thấy câu trả lời.

Tảng sáng, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ. Anh tài xế thức dậy, hôn nhẹ lên má nàng, và mời nàng đi ăn sáng. Hạnh nằm im làm bộ ngủ. Khi ba người đàn ông trở lại xe, trời đã sáng hẳn. Hạnh ngượng nghịu tránh nhìn họ. Ngưới đàn ông cười:

–   Sao, người đẹp ngủ ngon chứ?

Lại cái anh chàng nham nhở này! Nàng làm lơ, không trả lời. Anh tài xế vẫn giao cho tài phụ lái, leo lên ngồi bên cạnh nàng. Nàng nhích hẳn người sang một bên, nhìn thẳng về phía trước. Anh ta nói nhỏ, đủ để cho nàng nghe:

–    Anh xin lỗi nếu đã làm em không vừa ý. Nghĩ cho cùng, có gì ghê gớm lắm đâu, phải không em.

Câu nói như một tia chớp lóe ngang trong đầu nàng, gợi lên một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ. Ừ, thì đâu có gì ghê gớm nhỉ.  Chỉ là một cách trả ơn thôi. Anh tài xế ngồi xích sát vào người nàng, vòng tay sau lưng, muốn ôm. Nàng cương quyết không chịu, tránh xa.  Anh ta cười, vẻ mơn trớn, nhưng buông tay, ngồi ngay ngắn, đàng hoàng.

Xe chạy nhanh trên xa lộ, qua trạm Ngã Ba Vũng Tàu, trạm cuối trước khi vào thành phố, an toàn. Hạnh thở phào, lòng rộn ràng một niềm hạnh phúc tươi mới. Xem như hàng của nàng đã lọt vào thành phố. Nàng xích lại gần, đưa mắt nhìn anh tài xế, long lanh, tỏ dấu cám ơn. Anh ta nắm chặt tay nàng, bóp lại, đầm ấm. Xe chạy nhanh, tấp vào một khu công sở nằm bên lề xa lộ. Anh ta nói:

–   Ðây là trụ sở công ty anh làm việc. Hàng xuống ở đây.  Anh lấy Honda đưa em về. Em muốn về đâu?

–   Chợ Bà Chiểu.

–   Tốt thôi. Tiện đường. Nhưng cho dù ở đâu, anh cũng đưa em tới.

Anh ta đột ngột ôm lấy nàng, hôn lung tung. Nàng để yên, chịu đựng. Hôn đã, anh ta đẩy nàng ra:

–    Ðến rồi. Ta xuống.

Chỉ không tới nửa giờ sau, anh tài xế chở Hạnh cùng hàng về nơi nàng tạm trú gần chợ Bà Chiểu.  Nàng bảo anh ta dừng lại trước đầu con đường hẻm. Anh ta quay đầu lui, cười:

–   Bộ em không muốn anh vào nhà sao?

Nàng chỉ đại một căn nhà:

–   Ðó là nơi em ở. Nhà này em tạm trú, không dám mời khách. Khi nào rảnh, anh cứ ghé.

Anh ta nhìn nàng, cười ý nhị:

–    Ðùa em một tí. Anh phải về ngay để giao hàng. Lo chạy hàng cho em, trễ mất rồi. Anh sẽ ghé.

Hạnh im lặng, cúi đầu cột xách hàng, tránh cái nhìn của anh ta. Anh xiết tay nàng một lần nữa rồi vọt xe đi. Nàng ngơ ngẩn nhìn theo, tự hỏi không biết anh ta tên gì.

*

Hạnh bán hàng được giá ngoài cả những dự tính lạc quan nhất. Dù lượng hàng ít ỏi, nhưng gần Tết, hàng hiếm, nên đám thương lái Campuchia nâng giá lên để mua. Họ chầu chực sẵn ở Sài Gòn, gom hàng cho đủ đợi chuyển lậu qua biên giới nhân dịp Tết. Tính ra, Hạnh lời hơn một cây vàng. Nàng vui mừng khôn xiết. Trong những tháng năm xuôi ngược buôn bán, chưa bao giờ nàng có được một chuyến lời to như thế này. Một cây vàng! Chao ôi, cả một gia tài. Chưa bao giờ nàng có thể mơ ước hơn thế. Cầm những khâu vàng óng ánh trên tay, nàng hầu như quên hết bao nhiêu nhọc nhằn, gian truân và dằn vặt. Trong thoáng chốc, hình ảnh tay tài xế và chuyến xe định mệnh như lùi vào quá vãng. Y như thể chúng chỉ là một giấc mộng bất bình thường. Y như thể chúng chỉ nằm đâu đó trong tiểu thuyết. Nàng cảm thấy mình như mới lại, đầy sinh lực.

Mua sắm đã đời, chiều hai mươi bảy Tết, Hạnh nhảy tàu Thống Nhất trở ra. Chuyến tàu cuối năm ít người, sao mà chậm ơi là chậm. Nàng ngồi nhìn những cánh đồng, những rừng cây chạy vùn vụt bên ngoài, nhấp nha nhấp nhỏm tính từng đoạn đường, tính từng giờ, không thể nào ngủ được. Huế kia rồi! Tàu vừa dừng, Hạnh đã bươn bả nhảy xuống, tay xách nách mang, lúng ta lúng túng, nên buộc phải để cho một tay thanh niên bốc vác ở sân ga phụ giúp. Vừa ra khỏi cửa ga, đám xích lô ùa tới, tranh khách. Nàng chọn một thanh niên mạnh khỏe, không cần trả giá, cho chất ngay đồ đạc lên xe. Năm cái túi xách, cái nào cũng đầy, choán hết chỗ, khiến Hạnh phải ngồi hẳn lên trên, ngất ngưởng. Không sao. Nàng vui vẻ nhìn quanh. Đã xế chiều hai mươi chín Tết mà khu vực ga vẫn còn rộn rịp, có lẽ vì người ta đợi chuyến tàu cuối trong năm.

Đến nhà, chưa kịp gọi thì đã thấy Lục và ba đứa con chạy ùa ra, mừng vui tíu tít. Mấy cha con hớn hở chuyền các thứ vào nhà, khiến anh chàng xích lô không có việc, chỉ biết đứng nhìn. Hạnh trả tiền, xua tay không nhận tiền thối, quày quả đi vào nhà. Lục nhìn đồ đạc để ngang để ngửa khắp trên bàn, trên ghế và cả giường, hỏi:

–    Lời khẳm lắm sao mà em mua sắm quá trời thế này?

Hạnh hân hoan, khoe:

–    Ngoài dự tính, anh ơi. Trên một cây.

Anh sửng sốt nhìn vợ, ngờ vực. Thấy vậy, Hạnh rút ra một xâu nhẫn vàng, xoay xoay trong mấy ngón tay trước mắt anh, như trêu chọc. Những chiếc khâu nhỏ va vào nhau kêu leng keng, nghe thật vui:

–    Xem cho rõ này. Đã tin chưa!

Lục reo lên “tin”, “tin” vừa ôm lấy vợ, hôn lấy hôn để. Nàng cười, nói giọng giễu cợt:

–    Anh xem, em xuất hành ngày “thọ tử”, với lại “sát chủ” đấy. Có lên bà nội, anh nói cho bà nội biết.

Lục dấu dịu:

–    Thì mạ lo, anh lo mới nói vậy. Chuyện buôn bán xưa nay là chuyện của em, anh mô có dám xen vào.

Hạnh dọn trái cây tươi, bánh mứt đặt lên bàn thờ. Nàng dặn Lục:

–    Anh thay áo quần vào thắp nhang dùm em. Người em mới về còn nhớp nhúa lắm. Anh nhớ đọc lớn tên con, tên em, tên anh, xin cám ơn tổ tiên ông bà, cô hồn các đảng đã phù hộ cho gia đình mình. Nhớ khấn là mình sẽ cúng tạ cái đầu heo.  Vì hôm trước khi đi, em có hứa với “họ” rồi. Chiều mai, cúng ba mươi và cúng tạ luôn thể. Không có ông bà phù hộ là vốn liếng bay sạch rồi đó, anh biết không?

Lục hỏi:

–   Sao vậy?

–   Hàng bị bắt, bị tịch thu rồi mà chuộc ra được. Chỉ tốn không đáng kể. Anh biết không, cuối năm mà em được quý nhân phù trợ. Nếu không thì…

Hạnh ngừng nói. Tự dưng, nàng cảm thấy lấn cấn. Lục đợi nàng kể tiếp, nhưng thấy vợ đột nhiên im lặng, anh bỏ đi thay áo quần. Thắp nhang, khấn vái xong, anh đi ra thì thấy Hạnh đã bày đủ thứ đồ đạc trên bàn: mứt, bánh, lạp xưởng, pháo, đồ chơi, đồ cúng, sách báo xuân, băng nhạc xuân…Mấy đứa con hân hoan rờ rịt, trầm trồ, giành giựt nhau. Lục đứng nhìn, không ngờ Hạnh đã mua sắm nhiều như vậy. Hạnh vui vẻ gọi:

–    Ðể đó đã. Mấy cha con lại đây.

Nàng mở cái xách nặng nhất. Mấy cha con hồi hộp chờ đợi. Hạnh lần lượt lôi ra từng món. Bọn trẻ đồng loạt reo lên:

–   Ðồ Tết!

Chúng xúm lại, đứa nào cũng muốn xáo ra trước. Hạnh rầy:

–    Không được đứa nào đụng tới hết, để mạ lấy từ từ.

Chúng thèm thuồng đứng nhìn. Hạnh lấy áo quần phân phát cho từng đứa, mỗi đứa hai bộ đồ mới tinh. Quần jean, áo pull, giày, nịt, mũ. Hạnh rút ra trong túi một hộp nhỏ, cười:

–    Bây giờ đến phần anh. Anh đoán thử xem cái gì đây?

Lục lắc đầu. Anh cảm động, run run mở hộp. Chiếc đồng hồ Seiko Five đời mới. Anh nghẹn ngào reo lên:

–   Trời, đồng hồ Seiko!

Anh đứng trân trân nhìn vợ. Từ lâu, anh vẫn thèm thuồng cái đồng Nhật hình vuông này. Anh một đôi lần gạ gẫm vợ, nhưng Hạnh tiếc tiền (thật ra, nàng chẳng có tiền, nếu có thì để dành làm vốn buôn bán), hẹn rày hẹn mai. Bây giờ đeo vào tay, anh vui mừng như trẻ con nhặt được tiền rơi ngoài đường. E chừng còn hơn thế nữa. Anh định vào phòng nằm săm soi, ngắm nghía cho đã mắt, thì Hạnh cản lại:

–   Khoan đã anh. Còn nữa.

Hạnh lôi ra một cái radio cassette. Nàng nhìn chồng tươi cười:

–   Cái này mà anh nghe đài BBC thì hết ý! Còn nghe nhạc nữa.

Lục đứng trần trân nhìn, không tin ở mắt mình nữa. Nó là của anh đấy sao! Hạnh thú vị nhìn chồng, mỉm cười, chỉ một cái thùng nãy giờ nằm ở góc chưa ai để ý:

–    Cái đó để anh mời bạn đầu năm. Ðồng, mở ra đi con.

Ðồng vội vàng lôi cái thùng đến, mở ra. Bia Sài Gòn. Trời, bia thiệt. Bao nhiêu năm chỉ được thưởng thức bia rởm, bây giờ anh có bia thiệt, đã biết chừng nào! Anh ngẩn người nhìn. Áo quần con, áo quần anh, vải vóc, cái đồng hồ, cái radio, thùng bia, đồ Tết. Và Hạnh, vợ anh. Nàng đứng đó, dịu hiền, tấm lòng rộng mở, phơi phới như một tiên nữ hiện xuống trần gian. Không, nàng còn hơn tiên nữa. Tiên chỉ hiện xuống rồi đi, còn nàng, nàng ở với anh. Mãi mãi. Nàng là của anh. Mãi mãi.  Hạnh nói:

–   Em đi tắm rửa tí. Người bẩn quá, ba ngày rồi không tắm.

Lúc nàng đến cửa buồng tắm, Lục đi theo. Hạnh biết ý chồng, cố tránh, nhưng anh ôm đại nàng, hôn tới tấp.  Hạnh đẩy nhẹ chồng ra, âu yếm:

–   Thì từ từ đã, gì mà vội thế. Trước sau gì thì cũng tới thôi.

Hạnh tắm rửa kỳ cọ thật sạch sẽ, như để tẩy sạch hết những nỗi gian truân, lo lắng dọc đường. Ðể đền bù cho Lục.  Nhưng khi nhìn xuống thân thể mình, nàng bỗng cảm thấy có cái gì thiếu hụt, mất mát. Một cái gì không còn nguyên vẹn nữa. Ừ, thì chẳng có gì ghê gớm lắm. Nhưng tội nghiệp Lục. Anh hồn nhiên, vô tư. Anh không biết gì hết. Sẽ không bao giờ biết. Vĩnh viễn không biết. Hạnh thở dài.

Trên nhà, mấy cha con đang mở băng nhạc xuân rộn rã.  Hạnh bước ra nhìn chồng, nói:

–   Anh vặn nhỏ lại anh. Băng nhạc hải ngoại đó. Coi chừng công an khu vực vào thì phiền.

Tiếng nhạc và tiếng hát nhỏ dần: “…nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ, tiếng thi ca nét chấm phá tô nên đời mới, bạn hỡi, vang lên, lời ước thiêng liêng..”.

Chương 3

Chưa bao giờ gia đình Hạnh có một cái tết vui như thế! Có pháo đốt giao thừa. Có trà ngon đãi khách. Có nhạc xuân. Có bia thứ thiệt để đãi bạn bè. Nhìn mấy đứa con ăn uống chơi đùa vui vẻ, nhìn Lục thoải mái, lòng nàng rộn rã. Nàng có thể sờ mó được từng miếng hạnh phúc, có thể ôm ấp ngay từng nỗi hân hoan. Bao nhiêu năm tháng bươn chải, có lúc tưởng chừng như kiệt lực, nàng vẫn không hề ngừng mơ ước. Ðó chỉ là những giấc mơ  nhỏ nhoi, tầm thường. Bây giờ, chúng hiện thực. Theo lời khuyên của Lục, Hạnh cố gạt chuyện buôn bán ra khỏi tâm trí trong mấy ngày Tết. Phải nghỉ ngơi thoải mái để bù vào những gian khổ mà em vừa trải qua, Lục nói thế.  Nàng sung sướng nghe lời chồng.

      Vào lúc giao thừa, sau khi dọn các thứ lên chiếc bàn lớn bày ra ngoài sân, Hạnh thay áo quần chuẩn bị cúng. Công việc thiêng liêng này, nàng vẫn làm hàng năm, vì Lục không mấy thích.  Nhưng khi ra đứng trước bàn thờ, nàng khựng lại. Khấn vái gì đây? Cầu nguyện gì đây? Nhìn khói hương nghi ngút bốc lên, nàng bất giác rùng mình, ớn lạnh. Nàng có thể nói nhiều điều không thật với chồng, với con, với mọi người, nhưng trước đấng thiêng liêng, nàng đâm ra bối rối. Một nỗi sợ hãi mơ hồ đột ngột dấy lên trong lòng. Nàng bước lùi lại, than mệt, gọi Lục thay nàng ra cúng.

Sau đó, nàng cảm thấy bửng lửng bơ lơ. Một vết sẹo âm thầm mọc lên đâu đó trong tâm. Nỗi bất an thầm lặng lớn dần. Các con nàng vô tâm an hưởng. Lục cũng thế, không khác gì các con, hồn nhiên vui hưởng những thành quả mà nàng mang về. Rất rộn ràng. Rất trẻ con. Anh săm soi mãi cái cassette, bỏ băng vô rồi lấy băng ra, vặn hết đài này rồi đến đài nọ. Anh lấy đồng hồ ra ngắm nghía, xuýt xoa nhiều lần. Anh hãnh diện mang bia ra mời bạn bè uống, không bỏ lỡ dịp nào khoe với bạn bè về đức hạnh và tấm lòng của vợ.  Khách về rồi, anh quay sang vui đùa thoải mái với mấy đứa con. Thỉnh thoảng lập lại điệp khúc: mẹ chúng mày là số một, số một, là dzách lầu. Cái cách biểu lộ hạnh phúc tràn trề của anh vô tình làm Hạnh bứt rứt không nguôi. Nàng có cảm giác anh đã vượt quá giới hạn. Những điều anh nói, những cử chỉ biểu lộ nỗi hân hoan của anh có cái gì quá đáng, dường như không thật. Cũng như lần vừa rồi, khi mua sắm, nhất là mua sắm đồ cho anh, hình như cái gì nàng cũng cố ráng thêm một chút, quá đi một chút, nhiều thêm một chút. Trong lúc đáng lẽ nàng phải tiết kiệm, phải để dành. Còn đi buôn là còn bất trắc. Nhưng nàng vẫn không thấy tiếc. Ðồng tiền trong túi nàng có vẻ nhẹ hơn thường lệ.

Sáng ngày mồng ba, vừa thức dậy, nàng bỗng cảm thấy trống rỗng. Người bứt rứt như thiếu cái gì. Tự dưng cái phải ở nhà, tiếp khách, nói vu vơ với hết người này đến người khác những chuyện tầm phào. Rồi chúc nhau lăng nhăng, chẳng có gì thành thật. Ðể làm gì vậy? Vô ích. Nàng thấy quá phí phạm thời gian khi chôn chân ở nhà với những việc vặt vãnh. Ra đầu ngõ ăn sáng, nàng gặp mấy người quen vừa ăn vừa kháo nhau chuyện mua hàng đi Sài Gòn. Câu chuyện của họ khiến nàng thêm sốt ruột.

Trở vào nhà, nàng tìm Lục. Thấy anh vẫn còn đang nằm trong mùng, chiếc máy thu thanh ép sát bên tai, nàng trách:

–    Chồng em quá tệ! Giờ này mà còn nằm ngủ.

Lục âu yếm kéo ngay vợ xuống. Nàng la:

–    Coi chừng rách mùng kìa. Người gì mà không bỏ sót cơ hội nào hết. Thấy một cái là “chập chộ” liền!

Lục cười khì khì:

–    Giờ này mà không ngủ thì làm cái gì. Nói thế chứ anh dậy lâu rồi. Em không thấy anh đang tìm đài sao? Anh đợi nghe đài VOA.

–   Cẩn thận nghe anh. Tụi công an nó tinh lắm. Mà này, em định hôm nay xuất hành mua hàng đầu năm. Lịch nói mồng ba Tết này xuất hành, khai trương đều tốt.

Lục nhỏm dậy:

–   Rồi! Chưa hết Tết đã lại tính chuyện đi. Em hứa với anh sau mồng năm rồi tính. Thế mà, bây giờ…Khoan đã, hãy ở nhà với anh đi.

Hạnh xô nhẹ chồng ra:

–    Phải mua hàng cho kịp chuyến xe tuần sau. Mễ-Tư mới cho cò ra Hà Nội bắt được một chiếc xe Bộ Nội Vụ, an toàn lắm.

Nghe vợ nói bắt được xe, Lục cảm thấy không xong rồi.  Như thế là nàng quyết định đi lại. Anh sững sờ nhìn nàng. Ði, đối với nàng, có lẽ đã trở thành quán tính. Nàng ở nhà không yên. Từ lâu rồi, Hạnh quyết định mọi việc. Lục chỉ góp ý lấy lệ. Thỉnh thoảng nàng hỏi anh là để chứng tỏ nàng có quan tâm đến anh, thế thôi. Giá dụ như nàng có bảo anh quyết định, anh cũng chẳng dám. Anh bất lực. 

Thấy anh im lặng, Hạnh hỏi tiếp:

–    Sao, anh không bằng lòng hả?

Nàng ngồi xuống cạnh, ôm vai anh. Lục hỏi:

–    Nếu không đồng ý thì sao?

–    Thì…thì…

Nàng nhéo Lục một cái trên má. Lục để yên, nói:

–    Bữa nay, em cũng hơi lạ. Hỏi anh đến mấy lần. Chẳng phải là em đã quyết định rồi sao?

Ờ, mà lạ thật, Hạnh nghĩ. Làm thì mình làm, đi thì mình đi, quyết định thì mình quyết định, mắc mớ gì phải hỏi anh chàng cù lần này. Nghĩ thế, nhưng Hạnh lại cười:

–    Bữa nay khác. Em muốn có ý kiến anh. Không được sao? 

Nàng lại ôm Lục, hôn nhẹ. Mùi mồ hôi thân thuộc của chồng tỏa ra từ chiếc áo lót sờn rách khiến nàng bất giác cảm động. Nàng nói:

–    Trời, mua lung tung mà em lại quên mất chuyện mua cho anh một tá mai-ô. Tội nghiệp chồng em, áo sờn rách cả.  Tự nhủ mấy lần rồi mà cứ quên.  Hôm nào đi lại, nhớ nhắc em ghi vào sổ nhé. Vào Sài Gòn, đôi khi mải lo chuyện mua bán, quên mất.

Lục ôn tồn:

–    Ðừng. Áo quần mặc trong đâu có sao. Mình còn bao nhiêu việc phải lo. Mà lại, thời buổi này, ra buôn bán, chuyện lời, lỗ, còn, mất trông như bàn tay sấp ngửa. Em lo cho gia đình, lo cho anh như thế là quá sức rồi. Anh tiếc là anh đầu óc chậm lụt quá, không thích nghi kịp với cuộc sống.

Anh ôm vợ vào lòng. Hạnh nói:

–    Thời buổi này là thời buổi của đàn bà, anh ơi. Ðàn ông các anh chẳng còn hợp thời nữa mô!

–    Chẳng phải vậy đâu. Dân buôn trầm lui tới với em mười người thì hết bảy là đàn ông, em không thấy sao?

Hạnh cười:

–    Ðúng. Nhưng anh biết sao không, hầu như họ đều là dân trước đây đã từng sống va chạm với xã hội nhiều. Anh khác. Anh là nhà giáo, lại là sĩ quan chế độ cũ. Ðầu óc anh không thể thích nghi được với cái nghề đi buôn thời nay. Gian xảo, lừa lọc, dối trá là chính.

–    Em thì sao. Một hai chứng chỉ đại học rồi chứ có phải chơi đâu. Thế mà em…

Hạnh chống chế:

–    Ừ, thì cũng có khác. Anh xem, em bất đắc dĩ mà thôi.  Riết thành quen. Mà lại, gặp sự việc gì rắc rối, đàn bà thì dễ…tính, dễ…dễ có cách…giải quyết…

Nói xong, nàng bỗng cảm thấy lấn cấn. Giọng trở nên ngập ngừng. Hình ảnh anh chàng tài xế xe Kamaz bỗng hiện lên, rõ mồn một. Có phải mình đã từng dễ tính?  Nàng nói tiếp, loanh quanh:

–    Ấy là em nói, em nói…Không, em muốn nói, anh biết sao không, miệng lưỡi đàn bà nhẹ nhàng, từ tốn, dễ năn nỉ, ỉ ôi, lại dễ khóc. Nếu cần, có bà còn nằm vạ ở sở thuế. Gặp chuyện, chỉ tiền không, chưa đủ. Phải biết, đúng là phải biết… mềm mỏng nữa. Như chuyến hàng vừa rồi…

Hạnh ngừng bặt. Ðã bao phen dặn lòng, đừng nhắc lại nghe, đừng bao giờ nhắc về chuyến xe vừa rồi nghe Hạnh, xem như chuyện qua đường nghe Hạnh. Ðừng nghĩ, đừng nhớ, đừng thắc mắc gì hết nghe. Thế mà không hiểu sao, nó vẫn cứ đến. Ban đêm, nằm cạnh Lục, ôm Lục, nàng cố đánh bạt đi hình ảnh những gì đã xảy ra. Nhưng cái lạ là, bất cứ động tác ân ái nào của Lục cũng đánh thức trong nàng những cảm giác kỳ lạ. Nàng ôm xiết lấy anh. Lục ơi, anh là nhất, anh là số một, nàng kêu thầm trong trí.

Lục tắt máy, vén mùng, ngồi dậy:

–     Em độ này trông có vẻ khác.

Hạnh giật mình:

–     Em khác à. Khác gì vậy anh?

Anh tát yêu vào má vợ:

–     Thì khác. Ðã muốn đi mua hàng thì nói cha cho rồi, còn bày đặt hỏi chồng này nọ. Vừa thôi nghe bà bạn!

Hạnh cười thoải mái:

–    Bộ lâu nay không hỏi, giờ hỏi không được sao? Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Anh không nghe người ta nói thế à. Vậy em đi nhé, có khách thì tiếp giùm em. Sao?  Ðồng ý cho đi không?

–    Không!

–    Không, em cũng đi.

–    Mới mồng ba, ai sẵn hàng mô mà bán cho em. Người ta còn bận khách khứa thăm Tết.

–    Anh nói nghe lạ. Không nhớ năm ngoái, sáng mồng một là có người tới nhà mình xem hàng đầu năm sao. Có người giờ này đang còn nằm trên rừng, đợi hàng, đón giao thừa trong láng. Cái nghề này đâu có kể giờ giấc, anh biết rồi. Hễ thuận tiện là mua là bán. Mà thôi, đầu năm, không nên nói nhiều, thành kỳ đà cản mũi, không hay.

–    Anh nói cho vui vậy mà. 

Nói là làm. Hạnh chạy xe đi.

Lục nhìn theo, thở dài. Trông nàng chẳng khác gì một cái máy. Đúng hơn, như một bộ phận đã được tự động hóa. Nói năng, đi, đứng, đếm tiền, gói hàng và ngay cả khi giao dịch, cười đùa với bạn bè và khách mua hàng, nàng hành động y như thể mọi thứ đã nằm sẵn đâu đó trong người nàng, chỉ bấm đúng nút là nó tự động tuôn ra. Nhanh nhẹn, chính xác, vừa đủ. Dường như suốt ngày, đầu óc nàng chỉ xoay quanh một việc: buôn bán. Ngôn ngữ nàng chỉ xoay quanh trong mấy chữ: hàng, vàng, tiền, lời, lỗ. Nàng là bộ máy chính, còn anh và mấy đứa con như đồ phụ tùng. Khi cần thì nàng kêu, nàng hỏi. Còn không cần thì nàng xem như không có. Biết tính nàng, nên rốt cuộc, chính Lục và mấy đứa con cũng phản ứng với Hạnh như một bộ phận tự động. Không thắc mắc.

*

Hạnh tới nhà Mễ-Tư. Mễ-Tư có nghĩa là chị Mễ, vợ anh Tư. Nhiều lần nàng cười thầm vì cái lối ghép tên của dân buôn. Lúc đầu, người ta ghép tên vợ với tên chồng hoặc ngược lại chỉ để khỏi nhầm lẫn giữa hai người trùng tên. Nhưng khi kêu quen rồi, người ta cảm thấy kêu một tên thôi nghe nó thiêu thiếu sao ấy, nên lần hồi, các bạn hàng đều tìm cách ghép tên để gọi nhau.  Nếu không ghép tên vợ với tên chồng, người ta ghép tên bằng cách nêu một đặc điểm nổi bật nào đó. Như Quang thì là Quang-nụi. Nụi có nghĩa là chắc chắn. Quang-nụi là vì anh chàng này mua bán cái gì cũng thật chắc mới quyết định. Hậu thì là Hậu-ruồi, vì có mốt ruồi khá to ở cằm. Riêng nàng được gọi là Hạnh-khểnh, vì nàng có cái răng khểnh để phân biệt với ít nhất là hai cô Hạnh nữa, người thì là Hạnh-biển (dân ở biển lên) và Hạnh-nói (nói nhiều, hở cái là nói liên tu bất tận). Sau này, răng khểnh của nàng rụng mất, nhưng cái tên xem như đã chết, nên cứ Hạnh-khểnh. Cũng may, cái tên ghép của nàng vô thưởng vô phạt.

Mễ đang bận khách thăm Tết, thấy nàng vào, nháy mắt bảo đợi. Nhà Mễ phong quang, sáng sủa, đầy đủ tiện nghi.  Quạt trần, quạt bàn, TV, tủ lạnh, tủ buýp-phê. Mễ là loại đàn bà làm ăn khôn ngoan, kín đáo, ít khoe mẻ. Từ một người bán thuốc lá lẻ vệ đường, tập tễnh chạy hàng trầm, dành dụm gầy vốn lên, hùn hạp đi buôn Sài Gòn. Gặp thời, chỉ trong vòng có hai năm, chị ta sửa sang nhà cửa, sắm sửa đồ đạc. Bây giờ chị ta được xếp vào trong hàng ngũ những người có máu mặt, thuộc một bộ ba ưu thế của thời đại mới: công an-thuế vụ- con buôn. Trong thành phố, nơi mà ngay cả cái vẻ bình an bên ngoài cũng bị quyền lực độc đoán ngự trị, thì hoạt động của bộ ba này khiến cho cái xã hội vốn đơn điệu và nghèo nàn trở nên sôi động. Họ khắc chế nhau nhưng ký sinh vào nhau để tồn tại. Đó là hậu quả của chế độ xã hội chủ nghĩa khi đi vào thực tiễn ở xã hội miền Nam sau 1975. Khác hẳn với miền bắc. Sau quá nhiều năm bị kềm chế tối đa, xã hội miền bắc trở nên bị đông cứng trong trật tự và kỷ cương một cách quạnh hiu và buồn thảm.

Khách ra về. Mễ kéo Hạnh vào phòng ngủ. Không đợi Hạnh hỏi, Mễ nói chuyện ngay:

–    Mình bắt được chiếc xe Bộ Nội Vụ đi công tác Minh Hải. Bà biết Minh Hải chứ? Minh Hải là Cà Mâu đấy. Xe khởi hành ở Hà Nội thứ bảy tuần này, hy vọng chậm lắm là thứ hai sẽ có mặt ở đây. Ðịa điểm lên hàng chưa có. Tính sau. Bà xem có hàng, gói ghém cẩn thận. Vì xe chở tài liệu mật gì đó, nên không thể dừng lâu ở đây được. Có tin báo là chuyển hàng lên xe, đi ngay. Mình đánh nhanh, rút nhanh.

Hạnh băn khoăn:

–    Mình giờ đã có miếng hàng nào đâu mà đi.

–    Ai mượn ăn Tết kỹ quá!

–    Bà nghĩ xem, về nhà đã hai mươi chín, chạy lui chạy tới lo chuyện tết nhứt bở hơi tai, thì giờ đâu mà nghĩ đến chuyện mua hàng lại. Sáng này đi mà ông xã còn cự nự, chẳng muốn cho đi đấy. Bà xem có “bận” nào thừa, trông được được, sang lại mình một “bận”, trả tiền tươi.

–    Ðã đủ hàng đâu mà sang cho bà. Mình cũng đang lo đây. 

–    Bà mua hàng từ trong Tết sao gọi là chưa đủ?

–    Không hẳn là chưa đủ, mà là hàng còn xoàng quá, yếu quá. Muốn mua thêm một bận nào xịn xịn để “kéo” hàng.  Hàng loại “ba” và “bốn” nhiều quá, sợ tụi chạy hàng Sài Gòn chúng nó chê, ép giá.

Hạnh chép miệng:

–    Buôn hàng này nhiều vốn cũng sướng. Mình yếu vốn, gặp bận vừa giá là lấy, tiền đâu mà mua thêm hàng kéo.

Mễ khuyên:

–    Yếu vốn thì hùn.

Hạnh cười:

–    Bà cho tôi hùn đi.

Mễ nhỏ nhẻ chống chế:

–    Cũng sẵn sàng thôi. Nhưng bà biết sao không, ông thầy Lộc chấm tử vi mình bảo là cái số mình chỉ nên làm ăn một mình, hùn hạp không lợi cho mình mà cho cả người hùn nữa. Bởi thế mà nhiều khi ưng hùn, đành cắn răng chịu. Hạnh biết đó chỉ là một cách nói cho qua chuyện, nên lảng sang chuyện khác, nói vẩn vơ vài điều rồi chào từ giã. Rời nhà Mễ, nàng sốt ruột chạy quanh, hết những bạn hàng quen đến những tay chuyên chạy cò. Nơi đâu, nàng cũng gặp con buôn, người nào người nấy, ai cũng ráo riết lùng hàng. Từ ngõ trước đến xóm sau, tiếng Honda nghe rú lên từng hồi. Kẻ chạy ra, người chạy vào, hỏi han, bàn tán ồn ào. Chẳng ai tìm ra được bận hàng nào cả. Chán nản, định quay về, Hạnh chợt nhớ ra, từ sáng đến giờ, nàng chỉ chạy loanh quanh trong thành phố. Sao không thử đi về những vùng xa hơn, biết đâu! Nhìn đồng hồ, thấy đã chiều lắm rồi, nhưng quán tính dẫn dắt, xe nàng cứ chạy ra phía ngoại ô. Đồng ruộng, làng mạc phía xa trông đã mờ. Lỡ rồi, tối thì tối, cứ chạy.

Nàng quẹo vào con đường làng Dương Xuân quen thuộc. Cũng như nhiều vùng khác, ngôi làng ngoại ô này lao vào cơn sốt buôn trầm. Có thương lái, có dân đi cội, có dân chạy cò. Những con đường làng vắng vẻ nằm bên bờ con sông đào lờ đờ này, thỉnh thoảng lại rộn ràng lên với tiếng xe gầm rú chạy quanh, tiếng người xôn xao cười nói ở các quán thuốc lá bên đường, hoặc người vô kẻ ra tấp nập nơi nhà của một ai đó đang sở hữu một lô hàng. Qua khỏi cầu, rẽ xuống con đường đất, Hạnh chạy quanh co dưới những hàng tre đan nhau rậm rạp thành một cái vòm dài, che khuất hẳn cả bầu trời. Không khí Tết vẫn còn đậm đà trên đường làng với các em nhỏ mặc áo mới đùa chơi, một vài người đàn ông áo dài khăn đóng đi quanh thăm viếng bà con. Hạnh rẽ vào nhà Tâm, một tay chạy cò lành nghề. Gặp Tâm, Hạnh vỗ vai thân mật:

–    Chị cần gấp bận hàng để đi cho kịp chuyến. Em xem có bận nào được, cho chị xem với. Ðầu năm đầu tháng, chị muốn coi hàng, trả giá cái một, lấy hên.

Tâm ra ngay điều kiện:

–    Năm trăm dẫn mối. Mua được, thêm năm trăm nữa.  Bận này bảo đảm với chị “xịn”. Nhưng phải kín tiếng. Chủ hàng không muốn qua tay thứ hai. Nó chỉ bán cho ai thật cần, không muốn người ta đến giảo giá. Chị, chứ người khác, em không dẫn đi đâu. Gặp loại lái ưa kỳ kèo, bớt một thêm hai, mất thiêng. Chị liệu chơi được không?

Hạnh cười:

–    Nhất trí ngay! Ðây, chú lấy năm trăm trước.

Hạnh móc bóp, đưa ngay tiền cho Tâm. Tâm dẫn xe vào một ngôi nhà gần đó, dựng ngay gốc cây, rồi vẫy tay ra hiệu cho Hạnh theo sau. Cả hai người men theo đường ruộng, vượt qua một cánh đồng trống nhỏ, băng thêm hai khu vườn, đến một căn nhà gạch, nằm khuất dưới tàn một cây nhãn và cụm cây vả, cành lá chen nhau, kín một khoảng vườn. Tâm bảo đứng đợi. Cậu ta tuồn nhanh vào cửa nhà bếp. Hạnh lộn trái quần, lấy ra cái đảy lận quanh lưng, kiểm tra lại chùm khâu vàng.

Một lát, Tâm thò đầu ra khỏi cửa nhà bếp, vẫy tay gọi Hạnh vào. Hai người vào nhà. Chủ hàng, hóa ra là Gò đen, một người nàng đã từng giao dịch. Sau khi đưa ra một vài điều kiện mua bán và được Hạnh đồng ý, Gò đen bươn bả chạy băng qua hai khu vườn bên cạnh.  Cậu ta trở lại với một bịch hàng gói chặt trong vải ni lông, vẫy tay cho Hạnh vào trong buồng sau, sau khi ra dấu cho Tâm ra đứng canh chừng ở bên ngoài. Gò đen đặt hàng trên chiếc giuờng tre chênh chếch gần cửa sổ, đủ để có ánh sáng bên ngoài  lọt vào. Hạnh thận trọng mở hàng. Nhìn thấy màu đen đều trên lô hàng được sắp xếp đều đặn, Hạnh mừng thầm. Hàng khá. Nàng nâng niu từng miếng hàng, xem xét cẩn thận. Mặc cả một hồi, nàng chấp nhận mua lô hàng. Gò-đen bảo:

–    Chị nể tình cho em thêm ít ngàn nữa đi. Ði rừng đi núi cực khổ…

Hạnh lắc đầu:

–    Ðầu năm đầu tháng, đừng kèo nài làm chi, mất hên em à.

Gò-đen xuống giọng:

–    Em đồng ý bán. Cho em tiền tươi nghe.

–    Có ngay! Cần tiền có tiền, cần vàng có vàng.

Hạnh mừng rỡ vào kiểm hàng, cân hàng lại cẩn thận, niêm phong, giao cho Tâm:

–    Em giúp chị ôm hàng băng vườn, ra phía đường, đợi chị. Chị đi ngã kia, lấy xe nổ máy trước đợi em. Cẩn thận giúp chị nghe.

Nàng đếm khâu, tính ra tiền mặt, giao cho Gò đen rồi vội vã đi.

Cuộc Chiến Bí Mật Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Phần 6

Chiến Tranh Ngoại Lệ
Số lượng những toán biệt kích mất tích tăng lên. CIA và Phòng 45 chẳng biết làm gì hơn là vét quân chuẩn bị cho toán biệt kích cuối cùng xâm nhập miền Bắc. Toán biệt kích mang mật danh Dragon gồm toàn lính người dân tộc Nùng sẽ được đổ bộ bằng thuyền vào địa bàn tỉnh Quảng Ninh, gần biên giới Trung – Việt. Xui xẻo làm sao, CIA lên kế hoạch cho sự khởi sự đúng vào lúc thời tiết xấu. Cả 5 lần xuất phát đều phải quay trở lại. Cuối cùng, vào ngày 15/7/1963, bảy người trong toán Dragon cũng xuất phát bằng thuyền cao su, xâm nhập hải phận Bắc Việt. Chẳng hiểu sao, từ đó họ cũng biệt tăm, biệt tích.
Như vậy, cộng cả toán Dragon, CIA đã thả xuống lãnh thổ Bắc Việt 13 toán biệt kích chỉ trong vòng 7 tháng. Tính đến tháng 7/1963, chỉ có một trong số 13 toán biệt kích điện báo về Sài Gòn rằng đã đến mục tiêu. 12 toán khác coi như “mất tích”. Ngày 9/7/1963, Hà Nội đưa tin xét xử toán biệt kích Pegasus. Sau đó trong vòng ba tháng có thêm 5 phiên tòa xử những toán biệt kích khác.
Không còn gì để chối cãi rằng CIA đã thất bại hoàn toàn trong âm mưu thả các toán biệt kích xâm nhập lãnh thổ miền Bắc. Trong muôn vàn lý do thất bại, có thể vì lý do chọn bãi đáp không chính xác. Nhiều toán biệt kích phải nhảy xuống những nơi gần làng mạc và lập tức bị phát giác. Như toán Tellus xâm nhập tỉnh Ninh Bình ngày 8/6, bị phát hiện ngay khi dù đang lơ lửng trên không, cả 4 biệt kích quân trong toán Tellus đều bị bắt trong vòng 25 phút. Toán Packer xui xẻo hơn, nhảy dù … đúng giữa một làng dân cư đông đúc, còn nhân viên truyền tin rơi đúng ngay nóc nhà dân.
Dịch giả có mặt trong toán này
Tháng 12/1963, Hà Nội sử dụng toán Europa làm mồi nhử trong lúc bố trí 4 khẩu đội pháo phòng không 14,7 mm tại khu vực đồi núi tỉnh Hòa Bình. Không chút mảy may nghi ngờ, đêm 10/8, viên phi công Đài Loan lái chiếc C123 chở đồ tiếp tế cho toán biệt kích Europa.
Từ xa, viên phi công Đài Loan đã trông thấy đèn hiệu thắp sáng theo hình chữ “T” đúng như kế hoạch. Nhưng bỗng nhiên đạn phòng không từ dưới mặt đất bắn lên trúng nhiều chỗ trên thân máy bay, viên phi công cố lái chiếc C123 lết về căn cứ trong nỗi kinh hoàng tột độ! Đến Sài Gòn rồi mà viên phi công người Đài Loan vẫn chưa hoàn hồn nên xin nghỉ luôn, chẳng màng đến đô la Mỹ và … dông thẳng một mạch về Đài Loan. Những phi công Đài Loan khác cũng rất sợ, họ từ chối bay tiếp tế cho toán biệt kích Europa, vẫn đang đâu đó dưới kia, ở tỉnh Hòa Bình. Grin
Ngày 20/11/1963, những yếu nhân ở chính quyền Mỹ, cũng là những người có tiếng nói quyết định trong phương thức tiến hành chiến tranh đặc biệt trên chiến trường Việt Nam, đã ngồi lại bàn định sau cái chết của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và chính trường Sài Gòn đã trở nên hỗn loạn. CIA thấy rằng phải xem xét lại mọi kế hoạch.
Người ngồi ghế chủ tọa là Bộ trưởng quốc phòng Robert S. Mc Namara, bên phải là đô đốc Felt, Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ tại Thái Bình Dương (CINCPAC). Ngồi đối diện với Mc Namara là ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk, viên phụ tá là George Ball, cố vấn an ninh quốc gia Mc. Geoge Bundy, trùm CIA John Mc Cane. Thêm hai người đến từ Sài Gòn là Đại sứ Henry Cabot Lodge và tướng Paul Harkins – Tư lệnh Quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV).
Họ quyết định chuyển giao những hoạt động của cơ quan CIA cho Quân đội với một mật danh “Trở lại” (Switch Back).
Từ năm 1957, cơ quan CIA và Lầu Năm Góc (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Mỹ) đã phối hợp làm việc. Những quân nhân “Mũ nồi xanh” hay lực lượng đặc biệt Mỹ đều làm cố vấn cho Liên đoàn Quan sát số 1. Từ năm 1961, lực lượng đặc biệt Mỹ tăng cường cộng tác với cơ quan CIA. Cũng trong năm 1961, CIA thành lập Trung tâm huấn luyện ở Thủ Đức và Hòa Cầm, Đà Nẵng.
Trung tâm Thủ Đức có lưu lượng huấn luyện mỗi khóa khoảng bốn đại đội biệt kích dù, phục vụ cho những kế hoạch xâm nhập lãnh thổ Lào. Trung tâm Hòa Cầm chuyên huấn luyện biệt kích do thám khu vực biên giới, hệ thống các đường hành lang vận chuyển tiếp tế của Bắc Việt. Cơ quan CIA cấp kinh phí cho quân Mũ Nồi Xanh tổ chức những khóa huấn luyện cho cả hai trung tâm Thủ Đức và Hòa Cầm.
Hồ sơ mật về hoạt động của các toán Strata.
Tòa nhà cao bảy tầng tại số 22-Lý Tự Trọng (Gia Long cũ), Q.1 từng là trụ sở của CIA, nhìn từ công viên Chi Lăng (nay bị tòa nhà Vincom, bên phải ảnh, án ngữ). Chính tại đây vào ngày 30/4/1975, tướng Phạm Xuân Ẩn bằng mối quan hệ và sự nhanh trí của mình, đã giúp bác sĩ Trần Kim Tuyến lên chuyến bay cuối cùng của hãng Air America (CIA) rời Sài Gòn.
Bức ảnh nổi tiếng do Hubert Van Es chụp chuyến bay đó tại sân thượng, cũng chính là “nắp” thang máy, của tòa nhà.

Cuộc Chiến Bí Mật Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Phần 5
Chiến Tranh Ngoại Lệ
Đến cuối mùa hè 1962, toán người nhái SEAL chuyên huấn luyện của Hải quân Mỹ đã huấn luyện xong cho 4 toán biệt kích hải quân Sài Gòn. Mỗi toán đều được phép tuyển mộ cả dân sự và hạ sĩ quan của lục quân Quân đội Sài Gòn.
Trong bốn toán thì Neptune là toán người nhái, toán Cancer gồm toàn biệt kích quân là người dân tộc Nùng, được tuyển chọn từ Sư đoàn bộ binh 5. Người tổ chức ra các toán biệt kích biển là Gougleman. Ông ta đòi hỏi được cung cấp loại tàu tốt nhất, với tốc độ cao, hỏa lực mạnh hơn để tránh lặp lại thảm họa của chiếc Nautilus 2, vốn là tàu gỗ đóng giả tàu đánh cá, mới xảy ra cách đó không lâu.
Theo yêu cầu của Gougleman, Hải quân Mỹ bàn giao 2 chiếc tàu tuần tiễu phóng thủy lôi mác PT-810, PT-811 cho Trung tâm hành quân biển (Marops, Maritime Operation). Hai chiếc tàu này khi đến Đà Nẵng được đổi tên thành PTF-1 và PTF-2. Trong lúc đó, CIA chẳng cần được phép hay không, đã đặt mua hai chiếc tàu Nasty của Na Uy, đem về đặt tên là PTF-3 và PTF-4.
Tàu Nasty của Na Uy
Thêm vào đó, về vấn đề nhân lực, CIA thuê hẳn người Na Uy lái tàu, vì người Mỹ không được phép đến hải phận Bắc Việt. Theo đó, ba thủy thủ Na Uy đã đến Đà Nẵng với thời hạn hợp đồng 6 tháng. Họ có biệt danh là “Viking”. Theo Đại úy Trương Duy Tài, một sĩ quan trong đơn vị biệt kích biển, thì người “Viking” sống hòa hợp với thủy thủ Việt Nam và rất rành đi biển.
Ngày 15/12/1962, một chiếc PTF hướng ra biển Bắc Bộ, đem theo toán người nhái Neptune. Trước khi đến mục tiêu, chiếc tàu … bị lạc hướng, phải quay về Đà Nẵng, hủy bỏ phi vụ xâm nhập. CIA đợi đến ngày 14/1/1963 mới thực thi 2 phi vụ cùng một lúc. Hai chiếc Swift rời bến, chạy song song cho đến vĩ tuyến 17 mới tách ra. Một chiếc hướng về những nhà máy, công xưởng dọc theo bãi biển gần thị xã Đồng Hới. Chiếc thứ hai tiếp tục chạy thêm 18 km nữa đến cửa Ròn thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Toán biệt kích biển tấn công Đồng Hới có biệt danh Zeus không gặp trở ngại nào. Họ đến đúng lúc mặt trời lặn, toán biệt kích chèo xuồng cao su vào bờ, đặt dàn hỏa tiễn nhỏ, lắp kíp nổ hẹn giờ do CIA chế tạo, hướng vào nhà máy rồi rút êm trở lại chiếc Swift. Trước khi quay về, họ còn thả xuống biển thêm mấy thùng truyền đơn tuyên truyền chống phá chế độ Bắc Việt, để sóng đánh trôi dạt vào bờ.
Toán biệt kích thứ 2, với mật danh Charon không được may mắn như đồng sự của họ. Chiếc Swift còn cách mục tiêu chừng 19 km, viên thyền trưởng người Na Uy trông thấy có chiếc tàu từ hướng bắc chạy ngược chiều bèn chạy vòng vo để tránh. Cho đến khi mất bóng chiếc tàu lạ họ mới tiếp tục tiến đến mục tiêu nên chậm mất mấy giờ đồng hồ.
Sau khi thảo luận sẽ tiếp tục phi vụ, toán trưởng ra lệnh cho toán Charon xuống thuyền cao su hướng về cửa Ròn. Khi gần đến cửa Ròn, toán người nhái lắp chân nhái rồi bơi vào bờ theo từng cặp hai người. Một cặp sẽ bơi vào bờ phía bắc, cặp khác đến bờ phía nam cửa sông Gianh. Run rủi thế nào, một cặp bất ngờ gặp phải một chiếc tàu đi ra. Do lòng sông cạn, nhiều bùn, hai người nhái sợ người trên chiếc tàu nọ trông thấy, vội vã bơi trở lại chiếc thuyền cao su đang đợi ở cửa biển. Cặp người nhái thứ hai biến mất, không thấy trở lại. Viên thuyền trưởng người Na Uy vẫn gắng đợi cho đến khi mặt trời lặn. Lúc nổ máy, bỗng ông ta phát hiện có đèn hiệu chiếu ra từ bờ. Viên thuyền trưởng liều mạng lái chiếc Swift chạy vào bờ, vớt hai người nhái bị cho là mất tích từ lúc chiều. Coi như nhiệm vụ đã xong, họ hướng tàu về căn cứ xuất phát ở Đà Nẵng.
Cố vấn Mỹ huấn luyện biệt kích sử dụng thuyền cao su đổ bộ tại bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng.
Hiệp định Geneve về vấn đề trung lập hóa Vương quốc Lào có hiệu lực kể từ ngày 6/10/1963. Tình thế đó buộc tổng thống Kennedy phải ra lệnh ngưng tất cả các hoạt động bí mật trên lãnh thổ Bắc Việt Nam.
Sau sự việc chiếc máy bay C123 của hãng hàng không Air America (CIA) bị bắn rơi vào ngày 22/11/1963, mà Mỹ biện minh “chỉ chở đồ tiếp tế nhân đạo cho dân Lào, chứ không có mục đích quân sự nào”, làm cái cớ cho chính quyền Kennedy “nổi giận”. Vịn vào đó, CIA và Phòng 45 được lệnh tiếp tục các hoạt động bí mật tại Bắc Việt Nam. Toán biệt kích Tourbillon được lệnh “làm cú nữa”, nhắm vào một cây cầu khác, cách cây cầu bị đánh trước đó khoảng 12 km về hướng tây. Ngày 8/12, Tourbillon báo cáo đã hoàn thành phi vụ thứ hai.
Thấy toán Tourbillon thành công, CIA và Phòng 45 tiếp tục chuẩn bị cho những toán biệt kích kế tiếp vào cuộc. Toán Lyre có nhiệm vụ phá hoại và thu thập tin tức nên đã tuyển những người theo đạo Thiên Chúa, như hai toán trước đây là Echo và Atlas đã làm, nhưng đều thất bại. Toán Lyre được thả xuống khu vực gần đèo Ngang. Khu vực này gần biển, CIA sẽ sử dụng tàu đổ bộ từ biển vào thay vì thả dù như những toán biệt kích trước đó.
Ngày 29/12, ngay lúc đổ bộ, toán biệt kích Lyre đã bị một trạm kiểm soát của Bắc Việt ở bãi biển phát hiện. Năm người trong toán Lyre bị bắt ngay ngày hôm sau. Hai biệt kích quân còn lại định trốn về hướng nam cũng bị bắt vào cuối tuần.
Toán biệt kích phá hoại đầu tiên trong năm 1963 là toán Tarzan gồm 5 người, địa bàn hoạt động tại khu vực huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Trước đó hai năm, toán biệt kích Echo từng nhảy dù xuống vùng này. Đêm 6/1, các biệt kích quân lên chiếc máy bay C54, do phi công Đài Loan lái, cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất. Chuyến thả biệt kích thành công, ít hôm sau, Tarzan báo cáo về Sài Gòn đã đến mục tiêu an toàn.
Ngày 12/4/1963, sáu biệt kích của nhóm Pegasus, gồm toàn người dân tộc Thổ đã nhảy dù xuống tỉnh Lạng Sơn. Nhiệm vụ của họ là phá hoại một trong hai tuyến đường sắt chính chạy từ biên giới Trung – Việt đến Hà Nội. Ở Sài Gòn, CIA nóng lòng ngồi đợi báo cáo của toán Pegasus, nhưng kết quả vẫn biệt tăm. Bước sang tháng 5, một toán biệt kích khác cũng nhảy dù xuống miền Bắc cũng mất tích luôn.

Toán Alabama tại Phú Bài
Chẳng đếm xỉa gì đến những toán biệt kích đã bặt vô âm tín, ngày 4/6/1963, CIA quyết định cùng lúc thả ba toán biệt kích. Chiếc C54 không đủ sức chở ba toán biệt kích cùng lúc, CIA phải mượn thêm một chiếc C54 khác của Đài Loan để sử dụng trong vòng một tháng. Sáng sớm ngày 5/6, cả hai chiếc C54 trở về an toàn sau khi thả ba toán biệt kích xuống lãnh thổ Bắc Việt. Thế nhưng chỉ có toán Bell báo cáo về Sài Gòn, hai toán kia biệt tăm luôn.
Ba ngày sau, CIA tiếp tục kịch bản cũ, chở hai toán biệt kích trên một chiếc máy bay C54, thả dù xuống hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Cả hai đều không liên lạc. Hai hôm sau, hai toán khác lên đường trên một chuyến C54 nhảy dù xuống vùng Hà Tĩnh, Nghệ An rồi cũng biến mất luôn. CIA hầu như chẳng quan tâm gì đến kết cục trên, chỉ lo tìm loại máy bay khác để thay thế chiếc C54 đến hạn phải trả lại cho Đài Loan.
Họ chọn loại máy bay C123 có đuôi rộng hơn, toán biệt kích và thùng tiếp tế có thể thả ra khỏi máy bay trong vòng vài giây, như vậy đỡ phân tán, thất lạc. Những chiếc C123 không phù hiệu này sẽ do phi công Đài Loan lái đến Tân Sơn Nhất ngày 15/6/1963.

Google photo

Máy bay C123 tại An Khê
Toán biệt kích tiếp theo gồm 8 người, mang mật danh Giant. Vào một buổi tối, chiếc máy bay C123 chở cả toán cất cánh bay ra biển, hướng về vịnh Bắc bộ, cắt ngang qua thành phố Vinh, Nghệ An, về vùng rừng núi phía tây. Đến mục tiêu, cả toán Giant nhảy ra khỏi máy bay và chiếc C123 quay đầu xuôi về hướng nam. Tại Sài Gòn, các nhân viên CIA cố dò tìm làn sóng để nhận điện báo cáo của toán Giant, nhưng chỉ hoài công. Tất cả đều im lặng.
Hai hôm sau, hai toán biệt kích khác đã sẵn sàng lên đường. Toán thứ nhất mang mật danh Packer, gồm những biệt kích quân là người dân tộc thiểu số, sẽ xâm nhập vùng Yên Bái. Hy vọng toán Packer sẽ thành công như toán Bell, toán duy nhất gửi điện báo về trong suốt mùa hè 1963. Cũng như toán Bell, Packer gồm 5 biệt kích quân, có nhiệm vụ phá hoại tuyến xe lửa Hà Nội – Lào Cai, chạy xuyên qua tỉnh Yên Bái. Trưởng toán Packer là Ngô Quốc Chung, người dân tộc Tày. Toán thứ hai gồm ba người, sẽ nhảy dù xuống tăng cường cho toán Europa. Toán này từng nhảy dù xuống địa bàn tỉnh Hòa Bình 17 tháng trước đó.
Khi đó chiếc phi cơ C54 đã hết hạn hoạt động. Thế nhưng chủ nhân của nó vẫn muốn bay chuyến chót, với dự định chở cả hai toán biệt kích cùng lúc. Đầu tiên, chiếc C54 bay đến không phận tỉnh Yên Bái. Đến bãi đáp, những biệt kích quân trong toán Packer nhảy khỏi máy bay. Chiếc C54 lượn vòng bay về hướng Hòa Bình. Viên phi công Đài Loan cố tình bay thấp để tránh mây. Nhưng đột nhiên nó biến mất trong không trung cùng toán biệt kích thứ hai. Trong lúc đó toán Packer đáp đất xong cũng mất liên lạc với Sài Gòn.
Lần lượt từng toán biệt kích ra đi để rồi … biệt tích





Cuộc Chiến Bí Mật- Hồ Sơ Lực Lượng Đặc Biệt Quân Đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Google photo

Phần 4
Chiến Tranh Ngoại Lệ
Toán Tourbillon sẽ nhảy dù xuống những ngọn đồi ở phía bắc huyện Mộc Châu, rồi di chuyển khoảng 6 km về hướng nam, đến quốc lộ 6, dự định sẽ phá sập những chiếc cầu trên quốc lộ 6 để ngăn chặn đường tiếp tế của Bắc Việt từ Điện Biên Phủ cho Quân giải phóng Pathét Lào, để phần nào giảm áp lực bên Lào. Trước đây trùm CIA Lansdale đã từng xác nhận: “Nằm vùng trong một xã hội quản chế nghiêm khắc đã khó thì việc phá hoại kể như quá khó khăn đối với những biệt kích quân trẻ tuổi”.
Trùm CIA Lansdale, chuyên gia đảo chính, gây rối. Được tiểu thuyết hóa qua tác phẩm “Một người Mỹ trầm lặng”
Để đảm bảo kế hoạch, Phòng 45 tiếp tục tuyển chọn tình nguyện quân từ Liên đoàn Quan sát số 1, thời điểm đó đã đổi tên thành Liên đoàn 77. Có 7 người được chọn học lớp huấn luyện nhảy dù và chiến thuật biệt động. Riêng người hiệu thính viên từng vượt biên xâm nhập đất Lào 2 lần nên ít nhiều đã có kinh nghiệm. Từ tháng 5/1962, quân đội Hoàng gia Lào liên tục bại trận, trước khi Quân giải phóng Pathet Lào làm chủ Nậm Thà.
Toán biệt kích Tourbillon khởi hành bốn lần đều phải quay lại vì lý do thời tiết và nằm chờ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ngày 9/5/1962, Quân giải phóng Pathet Lào làm chủ Nậm Thà. Một tuần sau đó, toán biệt kích Tourbillon xuất phát bằng phương tiện máy bay, do những phi công Đài Loan lái. Họ bắt buộc phải để lại mọi giấy tờ tùy thân trước khi lên máy bay.
Đến điểm hẹn với toán Castor, những biệt kích quân toán Tourbillon nhảy dù xuống đất mà không hề biết, ở dưới mặt đất, ngoài toán biệt kích Castor còn có ít nhất một đại đội công an vũ trang và cả chó nghiệp vụ đang chờ họ. Vào thời điểm đó, lại có gió thổi mạnh. Các thành viên biệt kích quân Tourbillon bị trôi dạt đi xa bãi đáp khiến cho đơn vị công an vũ trang phải đuổi theo. Chiếc dù của viên toán phó bị vướng trên ngọn cây và anh ta bị bắn chết. Những biệt kích quân khác đều mạnh ai nấy chạy, cố tìm lối thoát thân khi đáp đất. Nhưng chỉ hai hôm sau tất cả đều bị bắt. Nhân viên truyền tin lập tức bị cô lập và buộc phải báo cáo về Sài Gòn rằng toán đã đáp xuống mục tiêu an toàn. Phòng 45 tin tưởng rằng bãi đáp đã được toán Castor chuẩn bị và bảo vệ cẩn mật. Sau 11 ngày đấu tranh, suy nghĩ, tay nhân viên truyền tin đã gửi đi bản báo cáo đầu tiên rằng toán đã đáp xuống mục tiêu an toàn.
Bốn ngày sau khi toán Tourbillon nhảy dù xuống Mộc Châu, toán biệt kích kế tiếp mang mật danh Eros lên chiếc máy bay C54, xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất. Chuyến đi này phi công bay theo đường vòng qua đất Lào, xâm nhập không phận tỉnh Thanh Hóa, thả toán biệt kích chớp nhoáng rồi bay về. Phi vụ này diễn ra quá nhanh đến nỗi quân Bắc Việt chưa kịp đề phòng, chuyến xâm nhập coi như thành công.
Xuống tới đất, toán Eros gom lại an toàn. Họ gồm 5 người thuộc sắc tộc Mường và Thái đỏ ( Dao đỏ?), cả hai sắc dân thiểu số trên đều sống ở phía tây tỉnh Thanh Hóa. Có điều đặc biệt là trong số các thành viên của toán có 3 người Mường, thì hai người là anh em, người thứ ba là anh em họ. Hai người Thái là chú cháu. Phòng 45 hy vọng sợi dây liên hệ dòng tộc này sẽ làm cho toán gắn bó hơn và họ dễ dàng móc nối những người cùng sắc tộc khác.
Sau ba tuần lễ trong rừng, vài người Thái trông thấy toán biệt kích. Hốt hoảng, toán Eros chạy lên hướng bắc. Mấy người Thái quay trở lại tìm thấy những vỏ lon đồ hộp lạ, không phải sản xuất ở miền Bắc. Họ bèn báo cáo sự việc cho công an địa phương. Trong khi đó toán Eros trên đường chạy đã gần cạn lương thực, mà Sài Gòn lại đáp rằng do thời tiết xấu, chưa thể tiếp tế được. Những biệt kích quân phải tự tìm thức ăn cho mình.
Dân quân xã Phú Hải, Hà Cối, Quảng Ninh tham gia truy bắt nhóm biệt kích xâm nhập bãi biển Hà Cối 28/7/1963
Ngày 2/8/1962, một lần nữa họ bị dân làng phát giác và cuộc truy lùng lại tiếp diễn. Lần này Phòng 45 nhận được công điện khẩn của toán Eros rằng họ đang bị truy lùng.
Ngày 29/9, sau khoảng 2 tháng bị truy đuổi, toán biệt kích bị bao vây. Một biệt kích quân bị trúng đạn bỏ mạng, một người bị bắt. Ba người kia chạy thoát, rồi nhập vào toán dân Lào đi săn. Tưởng thoát, ai dè họ lại bị phát giác và bắt sống, giao nộp cho Quân đội Bắc Việt.
Khi mặt trời chưa kịp nhô lên ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, từng đoàn đánh cá của ngư dân đã giăng như mắc cửi trên cửa sông Gianh, cách Đồng Hới, một tỉnh cực nam của miền Bắc Việt Nam, khoảng 40 km. Từ biển theo sông Gianh vào khoảng 40 km, có căn cứ hải quân Quảng Khê. Đây là bàn đạp xuất phát của lực lượng Phòng vệ Duyên Hải của Bắc Việt.
Ngày 16/2/1962, quang cảnh căn cứ Quảng Khê có vẻ bình yên. Không ai biết rằng dưới đáy biển có một chiếc tàu ngầm Catfish của Hải quân Mỹ đang do thám vùng biển Bắc Bộ. Chiếc tàu ngầm này từng hoạt động nhiều năm tại hải phận của Trung Quốc và Việt Nam. Lần này chiếc Catfish quan sát những chiếc tốc đỉnh vũ trang Swatow của Hải quân QĐND Việt Nam. Chiếc Swatow dài 83 bộ (25,3 m), được trang bị radar để phát hiện những chiếc tàu lạ xâm nhập hải phận, với hỏa lực gồm 3 khẩu súng máy phòng không 37mm, cộng với hai khẩu 14.5mm hai nòng và thủy thủ đoàn 30 người. Tàu có thể chạy với tốc độ 28 hải lý mỗi giờ.
Sau khi dò biết trong căn cứ Quảng Khê có ba chiếc Swatow đang bỏ neo, chiếc tàu ngầm Catfish kiểm tra lại tin tức tình báo và báo cáo về trung tâm tại thủ đô Manila, Philippin và văn phòng CIA tại Sài Gòn. CIA lập tức phác thảo kế hoạch sử dụng người nhái phá hủy những chiếc tốc đỉnh của Hải quân Bắc Việt.

Tàu Swatow 154 tại Quảng Ninh
Cùng thời điểm tháng 4/1962, Phòng 45 quyết định thành lập toán cảm tử quân người nhái do Đài Loan huấn luyện, mang mật danh Vulcan. Họ được đưa đến Đà Nẵng huấn luyện cách đặt mìn phá tàu. Sau khi xác định được mục tiêu, theo thông tin của tàu ngầm Catfish cung cấp, toán người nhái Vulcan cùng với 10 thủy thủ lên chiếc tàu Nautilus 2, hướng ra hải phận Bắc Bộ. Chiếc Nautilus 2 thả neo ngoài khơi trước của sông Gianh, để cho 4 cảm tử quân chèo thuyền vào căn cứ thám thính. Sau khi xâm nhập, bốn người này quay ra, báo cáo rất yên tĩnh.
Chiếc Nautilus 1 bị bắt giữ trước đó
Đại úy Hà Ngọc Oanh, với mật danh Antoine, từng phục vụ 2 năm tại phòng 45, đã nhận lệnh tấn công những chiếc tốc đỉnh Swatow vào ngày 28/6/1962. Trong buổi thuyết trình kế hoạch hành quân, với sự hiện diện của hai nhân viên CIA và ảnh chụp căn cứ hải quân Quảng Khê, Đại úy Hà Ngọc Oanh đã trình bày kế hoạch tấn công và đường rút lui trước các cảm tử quân người nhái được chỉ định tham gia phi vụ.
Theo kế hoạch, các cảm tử quân từ chiếc Nautilus 2 xuống thuyền gỗ, chèo vào bờ theo hướng cửa sông Gianh. Vì chỉ có ba chiếc Swatow trong căn cứ Quảng Khê nên người nhái thứ 4 là Nguyễn Chuyên sẽ ở lại giữ xuồng và làm dự bị. Ba cảm tử quân trong bộ đồ người nhái sẽ bơi vào căn cứ, gắn mìn vào ba chiếc Swatow, rồi rút êm. Sau buổi thuyết trình, mọi người chúc rượu, tiễn đưa đến tận khuya. Những người nhái thực thi phi vụ được đưa vào mật cứ riêng biệt để đảm bảo bí mật hoàn toàn.
Đúng 20h 30’ tối 29/6/1962, toán người nhái lên tàu xuất phát. Đêm hôm sau, họ đã nằm ngoài khơi hải phận Bắc Việt và tiến dần tiếp cận mục tiêu. Trước nửa đêm ngày 30, chiếc Nautilus 2 tắt cả hai máy, hạ thủy chiếc thuyền gỗ có gắn động cơ. Các cảm tử quân lặng lẽ xuống thuyền, chạy thẳng vào bờ. 15 phút sau, Lê Văn Kính đã có thể nhìn thấy cửa sông Gianh. Toán người nhái dự tính sẽ thực thi xong phi vụ trong vòng hai giờ đồng hồ, đủ thời gian bơi vào mục tiêu đặt mình, rồi bơi trở lại thuyền. Hợp đồng với đồng sự xong, Lê Văn Kính kéo kính che mắt lại rồi trườn xuống nước, theo sau là Nguyễn Hữu Thao.

Google photo

Chiếc Swatow 108 bị máy bay đánh chìm
Trên boong chiếc Swatow mang số hiệu 185, người lính canh gác nghe tiếng chân vịt quạt vào nước. Lập tức thuyền trưởng Hồ Ngọc Minh dẫn mấy thủy thủ chạy xuống cuối tàu quan sát. Trong lúc đó, ở dưới nước, Nguyễn Hữu Thao đang gắn quả mìn vào lườn tàu. Nghe tiếng chân người chạy rầm rập trên boong, anh ta hốt hoảng, trật tay và quả mìn phát nổ, Thao chết ngay tức khắc.
Kính đã đặt xong quả mìn, bơi ra xa chiếc Swatow chừng 20 m, trồi lên khỏi mặt nước đúng lúc quả mìn của Thao phát nổ. Sức ép của quả mìn khiến anh ta tức ngực, chân tê dại, trôi vật vờ trên mặt nước. Kính trông thấy chiếc Swatow 185 bị hư hại nặng và biết chắc chắn lính Hải quân Bắc Việt sẽ tràn ra đầy căn cứ trong giây lát. Vì thế Kính gắng bơi vào bờ sông, rồi lủi vào bãi sậy trốn. Anh ta hy vọng khi sự việc lắng xuống sẽ tìm cách trở về căn cứ. Nhưng chuyện đó đã không bao giờ xảy ra, lính Bắc Việt đã tìm thấy và lôi anh ta ra từ bãi sậy.
Ngồi đợi ngoài thuyền, Nguyễn Chuyên cùng 2 thợ máy hoảng hốt khi trông thấy quả mìn phát nổ. Hải quân Bắc Việt phát hiện thấy chiếc thuyền nhỏ đợi ở ngoài xa, họ liền cho tàu đuổi theo. Chiếc thuyền cuống cuồng chạy ra khơi trong làn đạn truy đuổi, hướng về chiếc Nautilus 2. Khi đến được chiếc Nautilus 2, Chuyên trúng đạn bị thương.
Người nhái thứ ba là Nguyễn Văn Tâm cũng kém may mắn. Sau khi đặt mìn xong, anh ta bơi trở lại thuyền, rồi quả mìn thứ nhất phát nổ, chiếc thuyền vọt mất và Tâm bị bỏ rơi. Anh ta lấy một chiếc thuyền của một ngư dân, định chạy ra biển. Nhưng mới leo lên thuyền, anh ta đã rơi vào tay lực lượng tự vệ địa phương, vì quân đội Bắc Việt đã báo động khắp nơi.
Căn cứ hải quân Quảng Khê lại phát nổ, chiếc Swatow 185 chìm ngay. Trong lúc hỗn loạn, chiếc Swatow 161 chạy ra biển đuổi theo chiếc thuyền gỗ và phát hiện ra chiếc Nautilus 2. Trên tàu Nautilus 2, các thủy thủ cố cầm cự với đại liên, rồi tháo chạy về hướng nam. Đến 6h sáng hôm sau, chiếc Nautilus 2 bị trúng đạn, hỏng máy, đành nằm chờ chết. Không bỏ lỡ cơ hội, chiếc Swatow 161 bắn chiếc Nautilus 2 tan tành. Người nhái Nguyễn Chuyên thoát chết đợt đầu, nay cùng chung số phận với các thủy thủ còn lại. Sau khi chiếc Nautilus 2 bị bắn chìm, 10 người nhái sống sót được chiếc Swatow 161 vớt lên, bắt làm tù binh. Tuy nhiên vẫn sót một người nhái là Nguyễn Văn Ngọc trốn trong chiếc tàu đang chìm, không ai hay biết. Sau khi chiếc Swatow 161 đi khỏi, anh ta trôi vật vờ qua vĩ tuyến 17, được phi cơ tuần tiễu phát hiện và cứu sống.
Ngày 21/7/1962, Hà Nội đưa toán biệt kích hải quân Sài Gòn ra xét xử công khai. Đây là lần thứ hai Bắc Việt xét xử những tội phạm là biệt kích và có kẻ đã bị phạt tù chung thân. Thất bại này khiến cho CIA mất mặt. Phải một năm sau, họ mới toan tính tổ chức tiếp những đợt tập kích phá hoại ở vịnh Bắc Bộ.



Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 14

Trại Bellampo ở Montelepre được tăng cường thêm hai trăm lính cảnh vệ. Guiliano cũng ít dám lẻn về thăm nhà. Bây giờ, lực lượng của hắn có mạnh hơn trước thật. Nhưng, dù sao hắn vẫn sợ bị cớm “chộp” lúc bất ngờ.
Chiều hôm ấy, ngồi nghe ông bố ôn lại chuyện cũ hồi còn ở bên Mỹ với một ông bạn già, Guiliano bỗng nảy ra một ý nghĩ. Hai ông già đang nhậu khề khà và thân mật trách lẫn nhau ngu quá. Đang làm ăn ngon lành bên Mỹ, khi không cả hai nổi điên, nổi khùng, cùng kéo nhau đâm đầu quay về Sicily. Tưởng làm vương làm tướng gì ở cái đất Sicily này, ai dè lại quay về cái đời đói khổ, nghèo mạt rệp này. Ông bạn già của ông bố Guiliano làm nghề thợ mộc và tên là Alfio Dorio. Lão nhắc lại cho ông bố Guiliano những năm đầu tiên mới sang Mỹ, trước khi họ cùng làm cho Ông Trùm Corleone (tức là ông thân sinh của Miechael Corleone). Họ được mướn làm đường hầm ngầm dưới lòng sông. Họ đang cãi nhau. Người thì bảo đường hầm ngầm ấy dẫn tới New Jersay, người thì bảo dẫn tới Long Island. Họ nhắc lại nỗi phập phồng lúc làm việc ngầm dưới lòng sông. Chỉ sợ ống thép bị rò, bị bể, nước trào vào, chắc sẽ chết đuối như chuột. Nghe chuyện làm đường hầm ngầm, Turi Guiliano chợt nghĩ hai ông già này và một vài người tin cẩn nữa có thể đào một đường hầm từ nhà hắn, ăn thông đến một cứ điểm trong núi chỉ cách đó khoảng trên trăm mét. Cửa thông ra núi có thể ngụy trang dưới một tảng đá. Cửa thông vào nhà thì đặt gần bếp hay một chỗ nào đó. Băng qua đường hầm này, Guiliano có thể đi, về nhà thường xuyên và an toàn hơn.
Hai ông già thì bảo là không được. Nhưng bà mẹ hắn thì lại chịu hết mình. Bởi vì, cứ nghĩ đến cái cảnh thằng con có thể đi về thường xuyên và an toàn hơn là bà già đã thấy mừng rơn. Nhất là những ngày đông tháng giá, Guiliano lại được ngủ trên chiếc giường êm ái tại nhà nữa thì tuyệt. Việc bà “kết” với cái ý tưởng đào hầm ấy kể cũng chẳng lấy làm lạ. Theo Alfio Dorio, muốn như vậy thì một là, phải tuyệt đối bí mật, hai là, phải có kha khá người làm, ba là, chỉ đào vào ban đêm. Cứ như vậy thì cả năm chưa chắc đã rồi. Nhưng, vẫn chưa hết vấn đề. Làm thế nào để đổ chỗ đất, đá mà không có ai nhìn thấy? Và đất ở đây thì lẫn đá tảng, làm thế nào để thấy tim đường. Đục tảng đá đó hả? Có họa là nằm mơ. Và trong số những người mướn làm, nếu có đứa bép xép, làm phản thì sao? Nhưng cái lý lẽ mạnh mẽ nhất hai ông lão ấy đưa ra để phản đối là phải mất cả năm chưa chắc đã xong. Guiliano biết rằng họ ngại cái lý do thời gian và coi đó là trở ngại chính, vì trong thâm tâm, họ nghĩ là đoạn đường hầm ấy chưa xong, thì Guiliano đã ra người thiên cổ.
Bà mẹ của hắn cũng thoáng nghĩ như vậy. Nhưng cái tình mẫu tử đã át đi được cái ý nghĩ hung hiểm, đen tối ấy. Bà nói, giọng hờn mát:
– Thằng nhỏ nhờ các ông làm cái đó để đảm bảo an toàn sinh mạng cho nó. Nhưng nếu các ông ngại tốn công, tốn sức không làm, thì để đó tôi ráng làm cho con tôi.
Bà sụt sùi, rấm rứt khóc và đay nghiến:
– Ít ra thì cứ thử cái đã. Đằng này chưa gì đã bai bải, bai bải tại thế này, tại thế kia. Mình có tốn kém gì ngoài cái công sức ra? Nhà cầm quyền có phát giác ra đường hầm ấy thì đã sao? Mình hoàn toàn có quyền đào trên đất của mình. Mình cứ nói là ừ tôi sửa soạn làm cái hầm chứa rượu, chứa khoai… thiếu gì cách nói. Nghĩ coi, có thể ngày nào đó, đường hầm này cứu được mạng của thằng Turi. Chỉ bấy nhiêu đó, thì dù tốn bao nhiêu công sức cũng đáng.
Lúc đó, giáo sư Adonis cũng có mặt. Ông nói là cửa hầm trong nhà có thể ngụy trang làm chỗ để sách vở hay là thứ đồ gì cần thiết. Ông đề nghị thay đổi chút xíu để làm vừa lòng mọi người: làm thêm một nhánh đường hầm thông sang một căn nhà khác ở đường Via Bella. Coi như một cái ngách để thoát thân trong trường hợp nhà bị vây hãm, lối thông ra núi bị hỏng, bị lộ. Cái nhánh này có thể làm trước và chỉ do hai ông già và bà Maria Lombardo cùng làm. Như vậy, vừa không mất nhiều thì giờ, vừa không sợ lộ bí mật.
Lại tranh cãi về ngôi nhà nào đáng tin cậy. Ông bố Guiliano gợi ý là nhà của bà mẹ Pisciotta. Nhưng Guiliano bác ngay. Ngôi nhà này cũng bị nghi và bị canh chừng rất kỹ, không thua gì nhà của Guiliano. Vả lại, trong nhà ấy có cả núi người. Và như vậy dễ lộ bí mật. Hơn thế nữa, Aspanu đâu có thuận thỏa với gia đình y. Ông bố đẻ y chết. Bà mẹ rinh một ông chồng khác về. Aspanu không chịu và không bao giờ tha thứ cho bà mẹ y về chuyện tái giá của bà. Ông Hector Adonis đề nghị lấy căn nhà của ông. Nhưng cũng bị bác vì quá xa. Vả lại Guiliano không muốn ông bố đỡ đầu của hắn phải mang họa. Lỡ ra đường hầm bị lộ thì ổng bị phiền phức là cái chắc. Các nhà bè bạn hoặc bà con được nhắc tới cũng đều bị bác vì lý do này, lý do khác. Tưởng lâm vào thế bí, ai dè bà mẹ Guiliano đưa ra được giải đáp rất bất ngờ:
– Chỉ có một người. Chị ta sống có một mình, mà lại chỉ cách nhà mình có bốn căn. Chồng chị ta cũng bị bọn cớm bắn chết. Bởi vậy chị ta cũng thù mấy thằng cớm dữ lắm. Chị ta là bạn thân của tôi. Và cũng rất mến thằng Turi. Chị ta biết Turi từ lúc nó còn là con nít. Suốt mùa đông rồi lúc Turi sống trên núi, thỉnh thoảng chị ta cũng gởi thức ăn cho nó đấy thôi. Chị ta là bạn rất chân thành của tôi và tôi hòan toàn tin cậy chị ta.
Bà ngưng một lúc rồi mới nói: La Venera.
Ngay từ lúc bà vừa nói, thì mọi người đã biết “chị ta” là ai rồi. Nhưng mọi người vẫn kiên nhẫn, chờ đợi để cho bà “chị ta”, “chị ta” hoài. Nhà của La Venera thì hợp lý quá đi rồi. Nhưng tất cả mọi người đang có mặt ở đó – ngoại trừ bà mẹ Guiliano – đều là dân “đực rựa” Sicilian. Có lẽ ngay từ đầu họ cũng đã nghĩ đến căn nhà này nhưng tự họ không tiện nói ra miệng. Nếu La Venera đồng ý và nếu chuyện vỡ lở ra, thì chắc chắn La Venera mang tai mang tiếng. Một người đàn bà góa còn trẻ, mà lại chịu để cho một chàng thanh niên qua lại nhà trong lúc chỉ có hai người với nhau thì ai mà tin được là không có chuyện “tòm tem”, ai mà tin được tiết hạnh của chị ta. Ở Sicily này sẽ chẳng có ai lấy, và cũng chẳng có ai trọng nể một người đàn bà như vậy. Đúng là chị ta hơn Turi tới mười lăm tuổi. Nhưng chị ta chưa đến bốn mươi. Chị ta không phải loại chim sa cá lặn. Nhưng, cũng đâu phải quỉ dạ xoa hiện hình. Đôi mắt cũng vẫn còn “long lanh” lắm. Đêm hôm, trong căn nhà chỉ có một người đàn bà như vậy và một chàng thanh niên như vậy mà lại không có chuyện “táy máy” thì chắc họ phải là thánh. Dĩ nhiên, họ chẳng thề non hẹn biển để ăn đời ở kiếp với nhau. Nhưng, không một người Sicilian nào tin rằng trong một khung cảnh như vậy, không một thằng đàn ông, một con đàn bà nào – dù có cách biệt về tuổi tác như vậy – lại chịu được cái cảnh cám treo, heo nhịn đó. Như vậy, đường hầm thông sang nhà chị ta có cứu được Turi hay không thì chưa biết. Nhưng chị ta mang tiếng xấu là cái chắc.
Cái mà mọi người đều hiểu và lo ngại, trừ Turi – là cái chuyện “bậy bạ” của đàn ông. Thật ra, đối với đàn ông Sicilian thì đó là thường tình. Tay chân bộ hạ của hắn đi Palermo chơi điếm lu bù đó. Và, Pisciotta thiếu gì những vụ chơi bời tai tiếng. Các “sếp” Passatempo và Terranova cũng có những nhân tình là mấy mụ góa chồng nạ dòng mà họ “tặng quà” đó thôi. Passatempo còn nổi tiếng là một tay hãm hiếp hơn là tán tỉnh yêu đương nhăng nhít, vợ lớn vợ bé tùm lum. Ấy là đã bị Guiliano cấm ngặt rồi đấy. Các tay em của Guiliano mà hãm hiếp đàn bà con gái là bị Guiliano “bụp liền”.
Chính vì vậy mà mấy người đàn ông kia nóng ruột xem chính miệng bà mẹ Guiliano nói ra xem “chị ta” là ai. Vốn bà là một người rất sùng đạo, nên họ rất ngạc nhiên khi thấy bà quyết định như vậy. Bà chẳng ngần ngại gì mà không gọi mấy con nhỏ là “đồ đĩ thõa” chỉ vì chúng ra đường mà không trùm khăn kín mặt. Họ không hiểu bà có rõ những điều mà hình như ai cũng biết về La Venera hay không. Rằng sau hai lần sinh nở bị trục trặc và vì thuốc men không có, nên La Vennera đã không thể chửa, đẻ gì được nữa. Nhưng họ đâu hiểu rằng đó chính là cái thâm ý của bà. Chính vì vậy mà Le Venera được bà coi là thích hợp nhất, an toàn nhất cho con trai bà. Con trai bà là một tên cướp, đầu bị treo giá rất cao và dễ dàng bị một con đàn bà phản bội. Trong khi đó, nó còn trẻ, tràn trề sinh lực, nó thiếu đàn bà sao được. Vậy, trong trường hợp này, còn ai thích hợp hơn La Venera, một người đàn bà lớn tuổi hơn nó mà lại không chửa đẻ gì được nữa? Và chị ta cũng chẳng muốn có chồng có con, vướng bận làm gì nữa. Vả lại, chị ta cũng chẳng muốn tái giá với một thằng ăn cướp. Cái cảnh làm vợ một tên cướp đã làm chị ta ớn phát sốt phát rét lên rồi. Cái cảnh thằng chồng bị bắn chết tươi ngay trước mặt đã là một ám ảnh rùng rợn, khó quên đối với La Venera. Bởi vậy, sự sắp xếp của bà mẹ Guiliano đúng là một cao kiến tuyệt hảo. Còn cái chuyện tai tiếng – nếu chị ta chấp thuận cho đào hầm – thì chị ta ráng chịu.
Vài ngày sau, bà chỉ mới vừa ngỏ ý thì La Venera đã “ô – kê” liền, một cách đầy hăm hở, sẵn lòng. Thái độ khẳng định điều mà người ta ngờ là thấy cái thân thể cường tráng của Turi, chị ta đã thèm chảy nước miếng từ lâu rồi. Bà Maria Lombardo rơm rớm nước măt, tay ôm hôn chị ta, miệng nói cám ơn, nhưng lòng thầm nghĩ: “Đã muốn thế thì bà cho toại nguyện”.
Đường hầm thông sang nhà La Venera phải mất bốn tháng mới xong. Đường hầm thông đến chân núi cả năm nữa chưa chắc đã rồi. Thỉnh thoảng Guiliano lại lẻn về nhà ăn một bữa nóng sốt do bà nấu cho và ngủ một đêm trên cái giường êm ấm. Đường hầm thông sang nhà La Venera đã xong nhưng chưa có dịp dùng tới. Vào đầu xuân, dịp ấy đã đến. Tối hôm đó, bọn cớm tuần tiễu tới lui rầm rập trên đường. Đặc biệt, hôm đó bọn cớm được võ trang đầy đủ. Tuy đã có bốn cảnh vệ phục sẵn ở hai nhà hai bên, nhưng Guiliano cũng thấy là nên phòng xa trường hợp bất thình lình, bọn cớm ập vào lục soát. Lần đầu tiên hắn sử dụng đường hầm ấy. Phải mất mười lăm phút mới chui qua hết đường hầm để sang nhà La Venera. Cửa hầm phía nhà La Venera thì đặt ở bếp. Nắp hầm được ngụy trang bằng cái lò lớn, tro than phủ kín – Guiliano gõ vào nắp hầm theo ám hiệu. Đợi. Rồi lại gõ nữa. Súng đạn Guiliano không sợ mà sợ bóng tối mới kỳ lạ. Nằm trong hầm, Guiliano nghe tiếng lục cục trên nắp hầm. Sau đó, nắp hầm được nhấc lên. Hắn không chui lên ngay được, vì cái lò bị bể, nắp hầm chỉ hơi hé ra khiến hắn chui ra khó khăn và bị trầy da bụng.
Mặc dù lúc đó đã là nửa đêm, La Venera vẫn mặc bộ đồ tang màu đen u ám, buồn thảm. Chị ta để tang chồng chết cách đó ba năm. Chị đi chân đất, mà cũng chẳng mang bít – tất. Vừa ở dưới hầm chui lên thì cái đầu tiên mà hắn thấy là đôi bắp chân trắng trẻo của La Venera. Thật khác hẳn với nước da nâu trên khuôn mặt sạm nắng, với mái tóc đen, khô, cứng, dính bết lại với nhau trên đầu chị. Lần đầu tiên nhìn kỹ khuôn mặt chị, Guiliano thấy khuôn mặt ấy không bành bạnh ra như hầu hết mấy bà trong thị trấn. Trên mặt có vết tàn nhang mà vì trước đây không nhìn kỹ nên hắn không thấy. Trong tay, La Venera còn đang cầm cái xẻng chứa đầy than còn đỏ rực vừa xúc ở lò ra để mở nắp hầm. Chị lặng lẽ đổ than trở lại lò và đậy nắp hầm lại. Trông chị có vẻ sợ và tay run run. Guiliano nói cho chị an tâm:
– Tụi cớm đi tuần tiễu bên ngoài thôi. Khi tụi nó về trại, tôi sẽ chuồn liền. Quanh đây, tôi cũng có đặt anh em canh chừng cả.
La Venera pha cà – phê. Hai người trò chuyện nho nhỏ, nhưng vui vẻ. Chị nhận thấy hắn không có những cử chỉ hốt hoảng, cuống cuồng như chồng chị trước kia trong trường hợp như thế này. Hắn không chốc chốc lại hé cửa sổ, lấp ló nhìn ra ngoài, không giật mình mỗi khi nghe tiếng động mạnh hay tiếng ồn ào đột ngột ngòai đường. Hắn hoàn toàn bình thản, thư thái. Chị đâu hiểu là hắn đã tập cho hắn những cử chỉ, thái độ như vậy sau khi nghe kể những chuyện về chồng chị. Đồng thời, hắn cũng không muốn gây kinh hoàng cho bố mẹ hắn, nhất là cho bà mẹ. Nét mặt và cử chỉ của hắn toát ra sự tự tin và bình tĩnh, đến nỗi chị quên hẳn hắn đang trong tình trạng hiểm nghèo. Hai người nói chuyện với nhau về những điều vặt vãnh xảy ra trong thị trấn.
Chị hỏi hắn có nhận được những thực phẩm mà thỉnh thoảng chị gởi cho hắn hay không? Guiliano cám ơn và kể lại cảnh hắn và các tay em của hắn vồ lấy gói thực phẩm, cứ như bảy chú lùn tíu tít với gói quà do nàng Bạch Tuyết gửi cho. Các tay em của hắn nức nở khen tài làm bánh của chị. Nhưng hắn không nhắc lại câu pha trò tục tĩu của một vài đứa. Trong khi đó hắn cũng ngắm nghĩa chị rất kỹ. Chị không tỏ ra thân mật như khi có mặt mọi người khiến Guiliano thắc mắc tự hỏi không hiểu hắn đã làm gì khiến chị không bằng lòng. Khi nguy hiểm đã qua, và cho đến lúc hắn ra đi, hai người vẫn xử sự với nhau theo đúng khuôn phép.
Hai tuần lễ sau, Guiliano lại đến nhà La Venera lần nữa.
Mùa đông tuy sắp hết, nhưng trên núi gió lạnh còn thổi ào ào. Mái của những miếu thờ bên lề đường vẫn tí tách tiếng mưa rơi. Ngồi trong hang, Guiliano mơ màng nghĩ đến món ăn nóng hổi do bà mẹ hắn nấu, tới tắm nước nóng, tới cái giường êm ấm nó ngủ từ hồi nhỏ. Và đột nhiên, từ cái ký ức lộn xộn ấy, hình ảnh cặp giò trắng trẻo của La Venera hiện ra. Thế là, dù màn đêm đã buông xuống, hắn vẫn gọi mấy cận vệ đi xuống Montelepre.
Gia đình vui mừng đón tiếp. Bà mẹ sửa soạn nấu những món ăn khoái khẩu của hắn, đun nước cho hắn tắm. Ông bố hắn vừa rót ly rượu thì chợt có mật báo viên cho biết bọn cớm đã vây kín tất cả thị trấn và đích thân Maresciallo dẫn tóan đặc nhiệm đến lục soát nhà Guiliano. Hắn đành phải mở nắp hầm chui qua nhà La Venera. Trời mưa, đường hầm dính sình, lép nhép. Chui qua hầm trơn trượt, khó khăn. Và tất nhiên áo quần tay chân mặt mũi lấm lem. Nhìn thấy hắn, La Venera cười rũ ra. Và đó là nụ cười mà hắn không bao giờ quên được:
– Nom cậu như thằng mọi đen!
Guiliano cảm thấy lòng tự ái bị tổn thương. Nhưng ngay sau đó hắn lại cảm thấy hắn con nít, ấm ớ, tự ái kỳ cục. Mà hắn tự ái cũng là phải. Vì trong các kịch rối của Sicily, mọi đen bao giờ cũng là vai vừa xấu xí, kỳ hình dị dáng, vừa tồi, hèn, ngu đần… Không bao giờ mọi đen là một anh hùng dù trong cơn nguy khốn vẫn đường hoàng, hào hùng, oai phong lẫm liệt. Như vậy, đối với chị ta, có lẽ hắn chỉ là một thằng cù lần. Hay có lẽ chị ta cười và nói vậy để gián tiếp cho hắn thấy là cái ước muốn thầm kín do cặp giò trắng của chị khêu gợi ra là cái mà người như hắn đừng có hòng mơ tưởng. Chị ta nhìn hắn mà hắn tưởng như chị ta chế nhạo “trẻ nít mà cũng học đòi làm người lớn”. Rồi thình lình chị ta nói:
– Để tôi đi nấu nước cho cậu tắm. Cậu mặc tạm đồ của nhà tôi còn lại, để bộ đồ kia tôi giặt cho.
Chị ta tưởng là hắn sẽ không chịu. Vì trong lúc nguy hiểm như thế này hắn phải bồn chồn, lo lắng. Lòng dạ nào mà nghĩ đến tắm rửa, thay đồ. Trước kia, mỗi lần ghé về nhà, thằng chồng chị lúc nào cũng dáo dác hốt hoảng, dễ giật mình đến nỗi chẳng dám cởi quần áo hay là rời tay khỏi cây súng. Nhưng, nghe chị ta nói đi tắm, Guiliano lại mỉm cười, cởi cái áo ngoài đầy đạn nặng trình trịch, để khẩu súng lục trỏng trơ trên cái thùng gỗ đựng củi.
Đun nước tắm cũng mất một lúc khá lâu. Trong khi đó, La Venera pha cà phê, ngồi đợi và ngắm nghía hắn. Chị ta nghĩ bụng “Cậu ta đẹp trai quá, đẹp như thiên thần”. Nhưng ý nghĩ lan man của chị lại nhắc chị nhớ đến anh chồng cũ của chị. Hắn cũng điển trai. Nhưng giết người thì hắn cũng “ngọt” tay lắm. Lúc hắn chết, thân thể nát bấy, co quắp nhăn nhó, nom xấu tệ. Ở cái đất Sicily này, đàn bà con gái mà đi mê mấy thằng đẹp trai là điều rất không nên. Lúc thằng chồng chị chết, chị ta khóc biết mấy. Nhưng cũng mau nguôi ngoai. Một thằng đàn ông đã chọn làm nghề ăn cướp, thì kể như cầm chắc cái chết trong tay. Một con đàn bà đã chọn thằng chồng làm nghề ăn cướp, thì cứ may sẵn bộ đồ tang, không sợ bộ đồ ấy cũ mất đâu. Chị ta rất thương yêu chồng. Nhưng mỗi ngày chị đều chờ đợi cái chết của y. Và mong rằng nếu y có chết thì chết trên núi hay ở nơi nào khuất mắt chị. Ấy thế mà y lại bị bắn chết ngay trước mặt chị, và chẳng bao giờ chị quên được nỗi nhục nhã. Nhục, không phải vì y là kẻ cướp, mà vì y chết hèn quá, không hào hùng chút nào. Y đã đầu hàng, đã van xin bọn cớm thương xót. Nhưng bọn chó đó đâu có tha. Cũng may, con gái y không trông thấy bố nó chết hèn như thế nào. Đó cũng là do Chúa thương.
Chị ta thấy Guiliano đang nhìn mình bằng con mắt thèm khát, hừng hực dục vọng của một thằng đàn ông. Chị ta biết thừa điều đó. Tay chân bộ hạ của thằng chồng chị cũng thường có những cái nhìn như vậy. Nhưng, chị ta cũng biết Turi không tìm cách quyến rũ, dụ dỗ mình. Vì lòng kính yêu bà mẹ hắn, vì lòng kính nể chị khi chị phải mạo hiểm cho đặt cửa hầm trong nhà.
Chị ta rời nhà bết đi vào phòng nhỏ khác để Guiliano tắm được thoải mái. Khi chị ta đã đi khỏi, Guiliano trần truồng ra tắm. Cái cảnh trần truồng tắm, bên cạnh đó lại có một người đàn bà, bảo sao lửa dục không khỏi bốc lên phừng phừng. Guiliano cố tắm thật kỹ. Nhưng càng chà xát thân thể bao nhiêu, ngọn lửa dục vọng như càng được khêu gợi bùng lên bấy nhiêu. Hắn nghiến răng, nhắm mắt, xối nước. Vô ích!
Hắn mặc tạm bộ quần áo của anh chồng cũ La Venera. Cái quần thì ngắn, cái áo thì chật đến nỗi không đóng cúc áo ngực được. Cái khăn tắm nhỏ xíu và chẳng khác cái giẻ lau không đủ để lau khô thân thể của hắn. Lần đầu tiên hắn mới thấy chị ta thật quá nghèo. Hắn quyết định thông qua bà mẹ để trợ cấp cho chị ta. Hắn nói đủ cho La Venera ở phòng kia nghe thấy là hắn đã mặc quần áo, và chị ta có thể trở lại bếp dọn dẹp. Chị ta nhìn hắn từ đầu đến chân, ngạc nhiên.

Google photo edit by Sơn râu

– Thế ra cậu vẫn không chịu gội đầu. Trên đầu cậu có khi có cả ổ tắc kè không chừng!
Chị ta nói hơi gắt. Nhưng nghe ra vẫn là cái giọng “mắng yêu” nên hắn không thấy bị chạm tự ái. Giống như một bà mẹ già, chị ta đưa tay nắm mớ tóc bết dính bết lại với nhau vì do bẩn, dính đầy sình và cúi xuống thay nước.
Guiliano cảm thấy người nóng hừng hực khi bàn tay chị ta chạm vào đầu hắn, xối nước, thoa xà phòng – thứ xà phòng rửa chén – và chà mạnh đầu hắn. Trong khi chà như vậy, thân thể và nhất là cặp giò chị ta cà lên người hắn. Hắn phải gồng mình lên mới khỏi đưa tay lùa vào ngực và bụng chị ta. Gội đầu cho hắn xong, chị ta bảo hắn ngồi lên cái kệ tráng men đen, và lấy cái khăn lau màu nâu sỉn, chà xát làm khô tóc. Tóc hắn lâu ngày không cắt, dài phủ kín cả cổ.
– Nom cậu cứ như một tên quí tộc lưu manh, phá sản trong phim ảnh ấy. Để tôi phải cắt tóc cho cậu mới được. Nhưng, không cắt ở chỗ bếp này được vì tóc bay vào lu nước và thức ăn. Đi sang phòng kia.
Guiliano thấy thích thích, vui vui vì cái vẻ cố làm ra nghiêm nghị của chị ta. Chị ta đang cố thủ vai một bà dì hay một bà mẹ, để cố kìm hãm sự rạo rực đang làm loạn trong cơ thể của chị. Guilian dư biết tâm trạng đó. Vậy mà hắn vẫn cảm thấy e dè. Trong lãnh vực này, Guiliano rất ít kinh nghiệm, không có cái thói “nhăn nhở” của Pisciotta. Nhưng, hắn không tỏ ra là “ngốc”. Cũng giống như trong chiến tranh du kích, Guiliano chỉ ra tay khi hắn có ưu thế là nắm chắc phần thắng. Nhưng đây không phải là địa thế đã được thám sát. Mấy năm trời làm chỉ huy và giết người đã khiến hắn chai sạn, không còn cảm thấy sự e dè, ngượng nghịu của cậu con trai mới lớn khi gặp gái. Trái lại, hắn lại coi sự e dè, nhút nhát ấy là một cái gì vui vui, ngộ ngộ. Nếu có bị gái từ chối, hắn cũng chẳng thấy tay chân đờ đẫn, lóng ngóng, líu lưỡi. Hắn vẫn được tiếng là sống trong sạch, không chơi bời trác táng, mặc dù thỉnh thoảng hắn và bạn bè vẫn đi đến xóm chị em ta ở Palermo để nếm mùi đời. Nhưng đó là lúc trước khi trở thành đầu đảng cướp kia. Nhưng nay thì… trong các truyện cổ tích, có bao giờ nghe nói các anh hùng đi chơi bời bậy bạ.
La Venera đưa hắn vào một căn phòng có vẻ là một phòng khác, nhưng đồ đạc bừa bộn. Trên mặt bàn lồng kính có những tấm ảnh chồng và đứa con gái đã chết của La Venera, chụp chung có, chụp riêng có. Guiliano ngạc nhiên khi thấy ảnh chụp La Venera lúc còn trẻ. Nom cũng ra vẻ lắm chứ đâu có phải xoàng. Trong giây lát, hắn thoáng nghĩ tới anh chồng của chị ta cũng như bao nhiêu tội ác mà thằng cha này đã phạm có thể đem về những món nữ trang quần áo chị ta mặc lúc chụp tấm hình này. Với nụ cười buồn, La Venera nói:
– Đừng nhìn những tấm hình đó. Đó là những tấm hình chụp vào thời kỳ tôi nhìn thấy cuộc đời là màu hồng, tôi nghĩ là trần gian này có thể đem lại hạnh phúc cho tôi.
Chị ta nói thế, nhưng Guiliano thừa hiểu, trong thâm tâm chị ta cố ý cho hắn nhìn thấy những tấm ảnh ngày xưa son trẻ, mượt mà của mình. Cũng có nét lắm chớ.
Lấy chân xê một vật gì đó vào một góc, La Venera bảo Guiliano ngồi lên đó. Chị ta lôi từ trong một cái hộp da khá đẹp ra nào kéo, nào dao cạo… Đó là “chiến lợi phẩm” của anh chồng đã chết. Quay vào phòng ngủ, chị ta lấy ra một miếng vải trắng, choàng lên vai hắn…
Tiếng xe Jeep chạy đi chạy lại vun vút ngoài đường phố. Trên xe chở đầy lính đến bao vây, lục soát nhà của ông bà già Guiliano. Hắn bình thản như không vì biết rằng: một, nếu bọn cớm có bao vây và phá được cửa cài then kỹ như căn nhà của La Venera, thì Pisciotta và mấy tay em nó đã cho bọn cớm ăn no kẹo chì rồi; hai nữa, trước khi rời nơi đây, nắp hầm đã đậy lại, bếp lò to tướng chặn lên thì chẳng ai biết cửa hầm đâu nữa.
– Tôi vào bếp lấy súng đem ra đây cho cậu nhé.
Hắn nắm lấy tay chị ta, giữ lại và nói:
– Khỏi, tôi không cần vũ khí, trừ khi chị định lấy dao cạo cắt họng tôi.
Cả hai cùng cười. Guiliano im lặng cho chị ta cắt tóc. Hắn nhìn lên tường, chỗ treo tấm hình phóng lớn Rutillo Candeleira, thằng chồng đã chết của chị ta. Bộ ria mép kiểu kỵ binh làm cho anh ta có già trước tuổi, mặc dù lúc bị cảnh vệ bắn chết, anh ta mới ba mươi lăm. Trong hình, khuôn mặt anh ta trông cũng dễ ưa. Chỉ có đôi mắt và nhất là cái miệng là dữ tợn, độc ác và tán bạo. Nhưng khuôn mặt đó cũng thể hiện rõ cái vẽ nhẫn nhục, cam tâm chịu đựng. Như thể anh ta đã biết trước kết thúc bi thảm của đời mình, nhưng không biết làm sao tránh được, nên đành chịu phó thác cho số phận.
La Venera lúi húi cắt tóc cho hắn. Guiliano cảm thấy cặp đùi chị ta ép sát vào người hắn. Hơi nóng của cặp đùi ấy truyền qua lần vải thô của cái váy, thấm vào người hắn, cặp đùi chị ta hơi cách xa ra một chút. Nhưng lúc hơi cúi xuống, thì ngực chi ta lại cà cà vào mặt và môi hắn. Mùi thơm hơi mạnh toát ra từ thân thể chị ta làm cho mặt hắn nóng bừng bừng như đứng trước lò lửa. Hắn thấy tấm hình Rutillo Candeleira treo trên tường bỗng trở thành nhạt nhòa.
Cặp giò của La Venera lại ép sát vào cánh tay Guiliano. Hắn cảm thấy được làn da mịn của cặp giò ấy mặc dù cái váy chị đang mặc là thứ vài khá dày và hơi thô. Hắn gồng mình cứng như đá để chống lại cái ý muốn luồn tay tốc váy chị ta lên để ve vuốt cặp giò nóng hổi ấy. Chị ta áp sát vào hắn hơn nữa. Guiliano cất tiếng, giọng bỡn cợt:
– Giá tụi mình là Samson và Dalilah, nhỉ? (1)
Thình lình, La Venera hơi nhích ra, không áp sát vào người hắn nữa. Và Guiliano ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má La Venera. Chẳng kịp nghĩ ngợi gì, Guiliano kéo chị ta áp sát vào người mình. Chị ta nhoài người ra và đặt cây kéo xuống.
Hai bàn tay Guiliano luồn dưới váy vuốt ve cặp đùi mịn màng, nóng hổi, run rẩy. Cúi xuống, chị ta đặt cặp môi của mình gắn vào đôi môi hơi thưỡi ra của Guiliano. Và mút như muốn nuốt chửng cặp môi ấy. Cử chỉ ấy chính là hành động mở then cài cái cánh cửa nhốt con thú đam mê khoái lạc nhục dục bị giam hãm ba năm trời trong vòng tay “trai tịnh” của đời góa phụ.
Sau vài giây đầu tiên của cái khoảnh khắc ấy, Guiliano không còn ý thức được chính mình và thế giới bên ngoài nữa. Thân thể của La Venera săn quá, mịn quá và nóng hôi hổi. Sức nóng ấy thấm vào tận xương tủy Guiliano. Ngực của chị ta dưới làn áo tang che kín thật ra căng tròn, đầy đặn, rắn chắc và chĩa ra như khiêu khích. Nhìn hai cái nấm hình bán cầu ấy, Guiliano cảm thấy mạch máu trên đầu hắn nảy tưng tưng. Đôi môi tham lam của Guiliano dụi tới dụi lui trên hai núm vú.
Họ nằm xuống sàn nhà. La Venera cố nén đà cảm giác đê mê ngây ngất cho khỏi bật lên thành tiếng rên la khoái lạc. Những âm thanh “Turi, Turi” nghe ú ớ như tiếng người nói mơ và như tiếng văng vẳng từ xa vọng lại… Guiliano cảm thấy như bị tan biến trong cảm giác khoái ngất tột cùng trên thân xác bốc lửa của La Venera. Nhưng, như một đám cháy rừng thì một vài thùng nước có nhằm nhò gì. Những thèm khát, những đòi hỏi bị ức chế lâu ngày của cả hai người, cơ thể tràn trề sinh lực của họ làm cho cả hai cảm thấy còn hơn cả đám cháy rừng. La Venera dẫn Guiliano vào giường. Cả hai mới vừa đặt lưng lên giường thì cơn rạo rực của họ đã cuộn dâng lên như đợt sóng thần. Họ như hai con rắn quấn chặt lấy nhau…
Sáng hôm sau, Guiliano rời khỏi nhà bằng cửa trước. Súng giấu dưới áo khoác ngoài, hắn cẩn thận bước ra cửa. Hắn nói với La Venera là hắn không thể trở lại nhà để chào từ biệt bà mẹ và nhờ chị ta nói lại giùm. La Venera kinh sợ cho sự bình tĩnh và táo bạo của hắn. Nhưng chị đâu biết rằng hắn có một đội quân nho nhỏ đón sẵn ở đó. Chị ta đâu có để ý mà biết rằng trước khi hắn bước ra đường, hắn đã để ngỏ cánh cửa cả mấy phút để báo trước cho Pisciotta và đồng bọn. Lúc ấy, vô phúc cho tên cớm nào, vì bất cứ lý do gì, đi ngang đó, đều bị chúng “khử” hết.
Chị ta bẽn lẽn hôn hắn. Sự thèm thuồng còn thấy rõ trong cái hôn dù là phớt nhẹ đó. Chị ta thì thào:
– Chừng nào lại về?
– Bất kỳ khi nào có thể được!
Mãi đến trưa hôm đó, La Venera mới đến gặp mẹ của Guiliano. Thoạt nhìn chị ta, bà cũng biết ngay cái gì đã xảy ra. La Venera nom trẻ lại có đến mười tuổi. Đôi mắt màu nâu đậm long lanh. Hai gò má ửng hồng. Đúng là thài lài gặp cứt chó. Bà Maria Lombardo thầm cảm ơn tình thân hữu, lòng can đảm và sự trung thực của chị ta. Và bà cũng thầm thỏa mãn vì sự thể đã xảy ra đúng y kế hoạch bà đã định. Đó là sự sắp xếp tuyệt vời cho con bà. Một người đàn bà không bao giờ phản bội. Một người đàn bà không bao giờ đòi hỏi gì ở nơi con bà. Dù yêu con hết sức, bà Maria Lombardo cũng không cảm thấy ghen tức như bất cứ bà mẹ nào cảm thấy khi thằng con trai cưng của mình yêu quí vợ con. Có lẽ bà sẽ thấy bực nếu La Venera nói lại cho bà hay là con bà đã khen những món ăn của chị ta gửi cho nó: “Turi nói là cậu ấy ăn gấp năm lần bình thường và thề chưa bao giờ cậu ấy ăn ngon như thế”.
……….
(1) Samson – Dalilah: nhân vật truyền kỳ của người Do Thái có sức mạnh phi thường nhờ bộ tóc dài. Samson thường dùng cái hàm con lừa làm chùy để đánh quân Philistin. Tình nhân của Samson là Dalilah phản bội ông, lén cắt tóc của ông trong lúc ông đang ngủ và trói lại giao nạp cho quân Philistin. Samson bị trói vào cột đền thờ Pagan. Trong lúc quân Philistin đang làm lễ chiến thắng, Samson đã giật đổ cây cột làm cho cả đền thờ sụp đổ, giết chết hết quân Philistin và chính Samson cũng bị chôn vùi trong đống đổ nát của đền thờ. (N.D).


Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

1. Cấm bắt rùa

Từ Thủ Dầu Một, rừng miền Đông đến trấn nhậm tại đồn kiểm lâm ở rạch Thứ Sáu, hai năm rồi nhưng thầy đội Bình vẫn chưa hiểu rõ khu rừng tràm dưới quyền kiểm soát của mình bắt đầu từ đâu và chấm dứt ở đâu. Ranh giới không rõ rệt như vậy, nghĩ cũng khó làm việc.

Theo bản đồ thì bốn phía rừng giáp ranh với đất công điền và đất của ông Tây Mu Ri, các khoảnh đất này đều bỏ hoang, tràm mọc từng cụm dày bịt, giống như “lô” rừng cấm của chánh phủ Pháp! Thầy đội Bình suy nghĩ:

– Ranh giới ở đâu cũng được. Giữa rừng tràm của nhà nước và đất tư nhân, cần gì ranh. Việc đó can hệ tới mấy ông họa đồ, mấy ông hương chức làng và ông Mu Ri. Mình làm tài khôn, e đụng chạm tới mấy ổng. Thôi thì mình cứ xem vùng ranh giới đó như vô chủ. Rắn rít, chồn đèn, chuột, chim cúm núm và dân làng… ai muốn làm gì thì làm, tự do. Như vậy, mình được cảm tình với dân làng, với các loại chim muông cây cỏ, với âm binh, cô hồn các đảng. Mình còn trẻ, chưa kinh nghiệm, mới tốt nghiệp ra trường, nên ăn ở hiền lành một chút.

Nhưng tình thế không yên ổn và thời gian nào chịu trôi qua âm thầm từ đầu tháng đến cuối tháng như thầy mong ước. Mùa hạn năm ấy, trong vòng nửa tháng, ở vùng biên giới vô định nọ đã xảy ra nhiều biến cố rắc rối.

– Lửa cháy rừng! Lửa cháy rừng!

Đôi ba ngày thì rừng cháy một lần, khói cuồn cuộn đen kịt góc trời, đỏ ké như hoàng hôn đổ xuống và mãi đến canh ba, canh tư, ánh lửa mới chịu đổi ra màu vàng vọt khi màn sương buông nhẹ, mờ mờ. Sáng nay, mặt trời vừa mọc là lửa lại cháy nữa. Cùng với hai người lính kiểm lâm, thầy đội đích thân chạy băng ra vùng cỏ hoang, đến nơi cháy để lập vi bằng, báo cáo lên quan trên.

Rừng nổ lên, vang dội tiếng lốp bốp như pháo ngày tết. Khói tỏa cay mắt, che khuất trước mặt, phảng phất mùi gì như vị thuốc bắc.

– Cái gì lạ vậy? Cái gì vậy? – Thầy đội hỏi.

Một chú kiểm lâm đáp:

– Dạ, cây tươi mà cháy tức tưởi thì… nổ.

Thầy đội Bình nói gắt:

– Tôi làm kiểm lâm, bộ tôi dốt chuyện đó sao? Nhưng mà tại sao nổ liên tu bất tận, lạ quá. Hồi ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa, rừng cháy hoài mà sao tôi không nghe như vậy?

– Dạ, ở đây là rừng tràm. Tràm có nhiều hột. Hễ gặp lửa là hột nổ nghe lốp bốp, rậm đám lắm.

Thầy đội lắc đầu:

– Trời lửa như vầy, cháy mãi, phá hoại bao nhiêu cây tươi. Nước cạn, làm sao chữa lửa được.

– Dạ thưa thầy, mọi năm cháy như vầy hoài, rồi tràm mọc lại, rừng cũng hoàn toàn là rừng.

Thầy đội lấy tay che mắt. Trong làn khói chưa tan, có bóng dáng đôi ba người chạy lăng xăng: sau lưng, họ mang vật gì khá to, giống như cái gùi.

Một giọng nói đàn ông reo to:

– Được quá! Cháy như vầy coi được quá. Vái trời cho gió thổi lên, cháy thêm nữa.

Giọng đàn bà nhỏ nhẹ hơn:

– Bữa nay cháy khá hơn hôm qua, thấy mà mừng. Ờ! Cu đâu? Ếch đâu? Mỏi lưng chưa con? Hửi khói rồi sặc, rồi ho hả?

Mấy đứa con nít nói eo éo:

– Một con! Hai con! Bốn con! Một con tổ nái này nữa! Chạy đi đâu, mấy đứa lon con này nữa! Tao thộp đầu tụi bây! Tao nhốt tụi bây!

Thầy đội Bình ngơ ngác, hỏi chú lính:

– Họ làm gì vậy? Giống như đánh giặc…

– Dạ họ bắt rùa.

– Rùa ở đâu vậy?

– Dạ, rùa trời sanh trong rừng. Rùa vàng, rùa quạ, rùa hôi, rùa nắp, rùa sen đủ loại. Rừng cháy, rùa hoảng sợ chạy ra. Thầy muốn ăn không? Để tôi biểu họ đem lại cho thầy. (Nói lớn) Bà con ơi!

Một người trạc bốn mươi tuổi, bước ra từ đám khói mù mịt, lưng đen láng mướt mồ hôi:

– Chào thầy đội. Chào mấy chú. Nãy giờ… mấy ông tới mà tôi không dè. Mấy ông cảm phiền.

Thầy đội hỏi:

– Còn đám kia? Hò hét điều gì?

– Dạ, đó là vợ với hai đứa con tôi chớ ai đâu xa lạ. Góc rừng này tôi cất chòi ở “một mình ên! một cõi”. Hổm rày nghe danh thầy, tôi muốn tới thăm, ngặt chưa tìm được món gì xứng đáng. Sẵn đây, tôi biểu mấy đứa nhỏ xách ra cho thầy một xâu rùa vàng, mùa này trứng rùa béo lắm.

Thầy đội gật đầu:

– Được rồi! Cám ơn. Chú tên gì?

– Dạ, tôi là Trương văn Đặng, kêu là Bảy Đặng, vợ tôi là Trần thị Tám, gốc gác ở Bò Húc, Cần Thơ xuống đây lập nghiệp. Mấy năm rồi, nghèo quá, nói thiệt thầy thương giùm, tôi chưa đóng nổi giấy thuế thân. Tôi nghĩ: mình ở một chỗ không có đi đâu, vài bữa thì ra ngoài xóm, tới tiệm Chệt mua rượu uống cho ấm bụng, vậy thôi. Cần gì giấy tờ, thuế khóa.

– Thịt rùa ngon quá. Trứng béo quá!

Đó là lý do khiến thầy đội Bình trở lại vùng ranh giới mà tìm Bảy Đặng, người tặng rùa hôm trước. Thêm một nhiệm vụ bí mật khác: thầy muốn điều tra nguyên do cháy rừng. Mùa hạn; lửa cháy, lá khô, lan ra: ấy là trời xui đất khiến, nhờ vậy mà hồi xửa hồi xưa ông bà chúng ta được dịp ăn thịt nướng lần đầu tiên trong hang đá. Trường hợp cháy rừng này có khác. Biết đâu Bảy Đặng cố ý đốt rừng để bắt rùa nhậu chơi. Việc phá hoại tài sản nhà nước ấy cần ngừa trị gấp. Tại sao thế gian này lại còn có những phần tử ích kỷ. Hèn gì… dân Việt Nam chưa mở mặt với thế giới.

Đến chòi của Bảy Đặng, thầy đội trố mắt hồi lâu. Trong chòi, chú Bảy đã xây cái hồ to lớn, chứa chấp bao nhiêu là rùa. Đôi ba trăm con rùa đủ cỡ, đủ loại, đang cỡi đè lên nhau, chen lấn nghe lộp cộp. Con thì ngả ngửa, khoe cái yếm vàng lườm, bốn cẳng ngoe nguẩy bơi trong không khí. Con khác cố gắng quào vào vách hồ bằng sậy, lú cổ dài nhằng, miệng há rộng, thiếu răng giống như mỏ chim. Loại rùa nắp thì e thẹn, khép cái yếm lại, giấu kín đầu cổ vào trong mai, giống như món đồ ngon cất kỹ trong cái hộp bằng xương.

Tay bắt mặt mừng, chú Bảy Đặng gật đầu hoan hỉ khi nghe thầy đội Bình khen rằng:

– Thịt rùa ăn ngon hơn thịt gà. Mấy con rùa bữa hổm thiệt xứng đáng là… rùa!

Bảy Đặng nói vồn vã:

– Má bầy trẻ luộc thêm năm ba con nữa đi. Thầy đội chiếu cố tới nhà mình. Ếch đâu? Cu đâu? Kiếm rau ngổ rau răm về cho nhiều. Gần lung sen, rau mọc hoang cả đám. Nhớ không?

Thầy đội Bình hớp miếng rượu ngồi lên bộ vạt:

– Chú Bảy rành nghề bắt rùa quá!

– Đâu phải là nghề. Bất chợt vậy thôi. Rùa xứ này nhiều quá mạng, tôi không muốn bắt hết. Con nào quá nhỏ tôi liệng bỏ. Còn rùa quạ thì tôi lựa toàn là rùa cái, rùa quạ đực ốm nhom, nhốt chật chỗ. Xin lỗi, thầy đội quê ở xứ nào? Chắc xứ đó ít rùa lắm.

– Tôi ở Cần Đước, phía Chợ Lớn xa lắm, nhưng mà con cần đước hết rồi. Đó là hồi xưa, hồi đàng cựu. Bây giờ, lội đỏ con mắt cũng không kiếm ra một con cần đước nhỏ xíu.

Bảy Đặng nói:

– Ở đây, nhiều bữa tôi ăn rùa trừ cơm, ăn độn với cơm như người ăn khoai lang. Ăn thét rồi ngán quá. Rùa nướng, rùa rang, rùa nấu cháo, rùa xào lá cách lá lốt. Riết rồi ăn gan, ăn trứng, bỏ thịt.

– Nó đẻ đâu mà nhiều quá vậy?

– Dạ trời sanh. Mùa này, rùa tượng trứng non trong bụng. Đúng cữ, nó đào hang mà đẻ, trứng như trứng gà nhỏ, tròng đỏ lớn lắm. Nó khôn mà khéo, rùa cái chôn giấu trứng dưới đất.

Thầy đội suy nghĩ:

– Tôi không hiểu…

– Dạ, nó lựa chỗ cao ráo mà gởi trứng để khỏi bị ẩm ướt hôi thúi. Một chỗ chôn mười, hai mươi trứng không chừng. Tôi gặp vài lần, moi móc lên coi thử nhưng tới chừng sắp trở lại chỗ cũ thì không tài nào sắp gọn như nó được. Thế nào cũng dư đôi ba trứng. Tháng ba, trời gầm chuyển mưa. Đất nứt, mấy con rùa con phá vỏ bò ra, nhỏ cỡ ngón tay út con nít.

– Chú Bảy nói đúng. Hèn gì rùa chẳng sợ trời gầm. Người ta nói rùa cắn trời gầm không nhả. Tôi muốn kiếm vài con rùa nhỏ cho mấy đứa con chơi, ngặt sợ bị cắn.

– Không sao đâu thầy. Rủi bề gì, lấy cọng cỏ hay khúc chưn nhang thọc vô lỗ mũi rùa. Ngộp thở, nó há miệng ra tức thì. Nói mà nghe, chớ năm khi mười họa nó mới cắn một lần. Nó thuộc vào hàng tứ linh: long, lân, quy, phụng có căn tu lâu đời…

Thịt rùa dọn ra trong cái vim lớn, xông hơi nghi ngút. Chú Bảy Đặng mời mọc:

– Ăn đi thầy. Rượu đây, uống thêm nữa đi thầy. Thịt rùa hiền lắm, không có phong.

Hai người uống một chén rượu, rồi hai chén.

– Nè, ăn gan rùa đi thầy, bổ lắm, “nên thuốc” lắm. Gan rùa gan anh hùng, nhỏ con mà lớn gan, sống dưới bầu trời mà không sợ… trời. Còn ruột non ruột già của nó thì sạch bong ăn luôn cũng không dơ.

Thầy đội đỏ hoe đôi mắt, mồ hôi tươm ra, tỏa mùi rượu nực nồng theo lỗ chân lông:

– Tầm bậy quá. Tây dạy tôi nhiều chuyện nhưng nó quên. Nó dạy nào cây trắc, cây gõ. Nó quên rằng hễ làm kiểm lâm ở U Minh thì phải biết ăn thịt rùa…

Bảy Đặng ngạc nhiên:

– Bên Tây không có rùa sao thầy?

– Ừ! Có chớ… Để nhớ coi…

Rùa với thỏ chạy đua. “Xem kìa xem tích xưa, thỏ với rùa hai chú chạy đua”. Đó là bài ca Bình bán vắn. Thỏ thua rùa. Rùa chạy về nhất vì thỏ ham chơi.

– Còn tích gì nữa không vậy thầy?

– Bên xứ mình, con rùa là thần Kim Qui… Trọng Thủy Mỵ Châu đó. Rùa là ông thần xây thành đắp lũy. Móng rùa là cái… máy, để vô cái ná lãy, kêu là cái nỏ thần thì… bá phát bá trúng. Lại còn bên Tàu, xưa kia rùa nổi trên sông Hoàng Hà, trên lưng vẽ hình bát quái, tức là bản đồ của càn khôn vũ trụ, vạn vật.

Bảy Đặng suy nghĩ rồi góp thêm một ý kiến:

– Hèn gì rùa có căn tu. Rùa sẵn sàng chịu đựng sự ép bức, khó nhọc. Lời thơ xưa nói rằng kiếp con rùa “trong đình đội hạc, trên chùa đội bia”, “qui hạc xưa nay ở một đình, cớ sao con trọng lại con khinh”.

Thầy đội Bình ngà ngà men rượu, nhướng mắt rồi vỗ trán gật đầu lia lịa:

– Bởi vậy kiếp của chú Bảy đây là… kiếp rùa, đội hạc đội bia riết rồi ốm nhách. Chú Bảy có sở làm. Từ rày về sau, hễ chỗ nào rừng hư hao vì… tai họa bất ngờ thì nhà nước sẵn sàng trồng tràm trở lại. Rừng này bị cháy hoài, chú kiếm cho tôi chừng một trăm lít hột tràm, tôi mua hai xu một lít. Chịu không? Phải trồng tràm con cho rừng tươi tốt trở lại như xưa kẻo quan trên rầy rà… Chịu không?

Thím Bảy từ nãy giờ lui cui vào bếp, bỗng bước ra nhìn chồng, cau mày, như nhắc nhở chuyện thực tế.

Chú Bảy giật mình:

– Dạ… không cần, rừng tràm bị cháy thì tự nhiên mọc trở lại. Hột rớt xuống đất, nhờ bị cháy nên nó nứt mầm mau lắm. Hột tràm hái về thầy muốn trồng thì cũng phải bỏ vô chảo mà rang cho nóng, nó mới chịu mọc.

Google photo edit by Sơn râu

– Ừ, ừ… Vậy thì khỏi trồng. Nhưng chú Bảy lấy gì mà sống? Trồng cây cho nhà nước, đó là nhiệm vụ, làm ra tiền. Chú Bảy chê à! Vậy thì làm sao có bạc xài. Chẳng lẽ ăn thịt rùa trừ cơm hoài sao? Con người ăn cơm, thiếu cơm thì ốm nhom ốm nhách.

– Uống rượu say, nói chuyện lung tung, làm hại nhà cửa. Ba nó thấy chưa?

Tàn buổi tiệc rùa, chú Bảy Đặng bị vợ cằn nhằn tới lui. Chú hối hận vô cùng vì một vài câu nói lơ đễnh, thốt ra lúc ăn nhậu với thầy đội Bình.

“Buổi tiệc đó thiệt là hữu ích”. Thầy đội Bình nghĩ như vậy. Nó giúp thầy tìm được vài tia sáng trong vấn đề cháy rừng.

Đúng là vậy, Bảy Đặng là tay bợm nhậu, chuyên nghề đốt rừng để bắt rùa, ném đá giấu tay! Bằng cớ là từ buổi tiệc ấy về sau, ít khi nào Bảy Đặng tới đồn kiểm lâm thăm viếng thầy như đã hứa. Chú Bảy bơi xuồng ngang đồn kiểm lâm, gởi lên vài con rùa rồi hối hả tách bến, đến tiệm tạp hóa, tại xóm đình.

Trời sa mưa.

Muỗi mòng sinh sôi nảy nở gấp mười lần, so với mùa hạn. Thầy đội không buồn đến vùng biên giới mà tuần tra nữa vì hiểm họa cháy rừng đã giảm bớt, nhờ thời tiết.

Thầy bơi xuồng đến xóm đình, ghé tiệm Xìn Phóc mà uống giải sầu, mua pin đèn, thuốc hút. Tình cờ, thầy nghe chệt Xìn Phóc thốt lời tâm sự:

– Bảy Đặng kỳ cục quá, cất chòi ở trong rừng, làm vua một cõi, ít chịu giao thiệp. Thầy đội biết thằng cha đó không?

Thầy đội gật đầu nghe tiếp:

– Nó mua chịu gạo của tôi từ mấy tháng rồi mà chưa trả tiền. Nó hứa đem yếm rùa ra bán cho tôi để trừ nợ. Yếm rùa gởi về bên Tàu, quý lắm. Người ta nấu thuốc cao, thuốc bổ gân cốt… Hôm qua, nó đem yếm rùa cho tôi. Nó mua thêm nào là nhang, đèn cầy, một cây dao, hai cây búa… đủ thứ. Nó mua thêm một con gà. Nghèo mà xài sang. Rốt cuộc, nợ chồng chất…

Thầy đội sửng sốt. Phải chăng Bảy Đặng là tay đầu trộm đuôi cướp, tay gian đạo sĩ trá hình. Anh ta muốn sống một cõi riêng biệt để giữ bí mật mọi hành động bất chánh. Việc bắt rùa là bình phong để che mắt thế gian. Rủi bề gì, thầy chịu trách nhiệm lớn.

Sáng sớm, thầy đích thân bơi chiếc xuồng nhỏ, mặc áo bà ba như bọn đốn củi lậu, đội nón lá che khuất nửa mặt. Nhưng dưới chiếc chiếu rách lót trong lòng xuồng, thầy giấu kín một cây súng, ngừa khi bất trắc.

Gặp thằng Cu đứng trước sân một mình, thầy hỏi khẽ:

– Ủa! Ba má đâu hết rồi?

Thằng bé nhìn vào trong chòi:

– Cúng cơm ông nội, bà nội đó!

Trên bộ vạt, một con gà nằm ngóng mỏ, hai cánh chéo lại. Đôi ba ngọn đèn cầy cháy leo heo. Mớ nhang ngút khói, bay cuồn cuộn. Thầy đội Bình hỏi lần nữa:

– Ba má đâu? Thằng anh mày đâu?

Nó nói như sợ sệt:

– Ngoài rừng, ngoài kia đó?

Đôi mắt thầy đội dán vào kẽ vách: Vách lá, rách te tua, trống trải quá. Ngoài rừng, bên kia vách là cả một vùng trời nước trong sáng. Nước mưa nổi lên, lai láng, phản chiếu ánh nắng mai và soi rõ bóng dáng một đợt mây trắng, bao nhiêu thân tràm đã ngã xuống, rũ rượi. Góc rừng ở ranh giới đã hóa ra thửa ruộng. Chú Bảy Đặng và vợ đang lui cui cầm búa đốn mấy gốc tràm còn sót lại, mấy gốc tràm đã bị cháy từ hôm trước!

Thằng Ếch thì ở truồng, cầm dao cạy mớ rễ cây.

Vài con cò trắng bước tới lui, mò cá.

Giọng chú Bảy Đặng nói to rõ:

– Đất mềm quá, nhiều phân. Gieo mạ xuống là “hít vô” liền. Lúa giống khỏi bị nạn cá ăn. Cò bắt cá giùm mình, phải không… bà chủ điền?

Thím Bảy cười tủm tỉm:

– Mấy năm rồi, mình đốt mà rừng không chịu cháy sạch. Năm nay, cháy rừng nhiều, chẳng sợ thầy đội kiểm lâm rầy la. Mình đâu có phá rừng của nhà nước để làm ruộng. Đây là cây khô, cây chết cháy: mình dọn cho sạch để cấy lúa mà thôi! Mừng quá. Trăm nghề, không gì bằng nghề nông. Cúng ông bà, ăn lễ thượng điền luôn thể, nhờ đất nước phò hộ.

Chú Bảy nói:

– Ai mà không biết như vậy. Hồi ở Bò Húc, Cần Thơ, mình làm tá điền. Bây giờ, miếng đất nhỏ nhưng là của mình làm chủ. Không lẽ thầy đội Bình bắt bớ, quở phạt mình. Thầy tới đây làm việc chừng một hai năm rồi đi nơi khác. Thầy gây ác cảm với vợ chồng mình làm gì?

Trong khi đó thằng Ếch ngưng tay, chạy lại gần cha mà nói:

– Vô nhà ăn thịt gà nghe ba! Ở trỏng không chừng thằng Cu nó ăn trước rồi. Thịt gà chắc ngon hơn thịt rùa đó. Mai mốt, nuôi gà nghe ba!

Thầy đội thở dài cười thầm, nghĩ tới việc đốt rừng nhà nước để chiếm hữu đất ruộng! Rõ ràng vợ chồng Bảy Đặng xâm lấn theo kế hoạch định sẵn từ trước.

Làm thế nào để tranh cản, giải thích.

Dung túng Bảy Đặng chăng? Hợp với lòng nhân đạo đó. Nhưng e có ngày thầy đội bị cách chức. Thầy chợt hiểu vì sao Bảy Đặng không nhận lời kiếm hột tràm đem về trồng vào những chỗ bị cháy.

Thầy nghĩ ra một kế. Rồi thầy về, gấp rút. Chiều hôm ấy, một người lính kiểm lâm bơi xuồng tới chòi Bảy Đặng, mang theo một tấm bảng, dựng ngay ranh của khu rừng với ba chữ to: “Cấm bắt rùa”.

Vợ chồng Bảy Đặng lắc đầu, nói với người lính kiểm lâm:

-… Tụi tôi hiểu rồi. Không biết chữ nghĩa nhưng hiểu rồi. Cám ơn thầy đội quá chừng. Đốt rừng bao nhiêu đó đủ rồi.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Google photo

26. Thơ núi Tà Lơn

Ðêm đó, đã quá mười một giờ. Khách du ngoạn trên cầu chữ Y đã thưa thớt. Quá nực nội không ngủ được, tôi đi rong đi rểu trên cầu chờ mong một làn gió mát. Cảnh vật hầu như im lặng, chiếc xích lô máy vượt qua rồi mất hút. Tôi thơ thẩn ngắm ánh đèn điện nơi xa rồi cúi đầu theo dõi đường nước đen ngòm phía dưới. 
Một chiếc tàu hiện ra đằng kia, loại tàu kéo ghe. Tàu chạy chầm chậm vì nước đổ ngược. Tàu chạy dưới gầm là chuyện thường nên tôi không muốn để ý. Vì vậy tôi hơi ngạc nhiên khi thấy người khách bên cạnh cứ nhìn mãi chiếc tàu. Tàu đã khuất dạng, khách lặng lẽ thở dài. 
Tôi tò mò nói để gợi chuyện: 
– Tàu dòng ghe gì vậy bác? 
– Ghe chở than. Bảo đảm than Cà Mau. Hồi nãy tôi thấy rõ ràng than gốc lớn bằng cây cột nhà. 
Sực nhớ lại, ở Sài Gòn cột nhà bằng cây không có thứ nào to bằng gốc cây đước Cà Mau như khách đã nói, tôi mỉm cười: 
– Sài Gòn có hai thứ cột. Cột gạch thì mỗi bề ba tấc. Cột cây dầu thì chừng một tấc vuôgn. Ðằng nầy gốc than có khác.
Khách nhìn tôi với đôi mắt sáng rực: 
– Ông anh nói đúng. Gốc đước hầm than lớn bằng cây cột nhà miệt dưới. Tôi hỏi: 
– Miệt nào? 
Khách ra vẻ bực bội: 
– Thì miệt Cà Mau, tôi nói nãy giờ. Xin lỗi ông anh có biết miệt đó không? 
Tôi trả lời rằng biết. Khách chưa tin nên gạn hỏi: 
– Cũng là ở Cà Mau nhưng làng của ông anh cách làng tôi hai ngày đường. Ðể tôi hỏi câu này: Tam Giang ở đâu? 
– Dạ Tam Giang ở chỗ sông cửa Lớn đổ ra cửa Bồ Ðề. Từ Tam Giang tới mũi Cà Mau chừng ba mươi cây số. 
Khách vỗ vai tôi, mời hút thuốt rồi hỏi tiếp: 
– Tại sao kêu là xóm Năm Căn? 
– Tôi nghe nói hồi xưa, nơi đó có năm miệng đáy. Sông sâu, nhiều sấu người ta không đóng cột xuống sông. Cứ neo sáu chiếc ghe cách khoảng đồng đều nhau. Giữa hai chiếc ghe, họ giăng miệng đáy. Căn có nghĩa là gian, là miệng… 
Ông Tư đến Sài Gòn độ hai mươi năm rồi. Ðiều ân hận nhất của ông là không được dịp trở về quê cũ. 
– Cha mẹ tôi mất hết rồi, còn người anh hiện giờ trên năm mươi tuổi đã có cháu nội ở Tam Giang. Anh tôi là người lang bạt kỳ hồ. Năm đó anh bỏ nhà trốn nợ tận núi Tà Lơn bên Cao Miên. Không hiểu ảnh làm gì ở bển, không hiểu ảnh tới núi không. Năm sau, ảnh trở về với cái quần xà lỏn dính da. Hỏi công chuyện làm ăn, ảnh cười. Lúc uống rượu, ảnh đọc thuộc lòng vè gọi là vè Tà Lơn. 
Ông Tư nhướng mắt như hỏi tôi biết bài vè đó chưa. Tôi trả lời chưa biết. Ông đọc cho tôi nghe một hơi. 
Tà Lơn xứ rày tạm con ở. 
Làm lưới chài ngày tháng náu nương. 
Gởi thơ về cho cha mẹ tỏ tường. 
Cùng huynh đệ đặng cho hãn ý. 
Kể từ thưở bôn trình vạn lý. 
Ðến bây giờ hơn bảy tháng dư. 
Nghiêng mình nằm nhóo tới mẫu từ. 
Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt. 
Nhớ huynh đệ lụy tuôn nước mắt. 
Cam phận em ruột thắt từng hổi. 
Vận bất tề nên phải nổi trôi. 
Thời bất đạt nên con xa xứ. 
Tôi hỏi: 
– Bài về ai đặt ra. Cảm động quá. Ai lại không từng sống trong cảnh cô độc, xa nhà vì sinh kế. 
Ông tư đáp: 
– Của tác giả vô danh, phần đầu tả tình, phần sau tả cảnh tiếp theo như vầy: 
Xứ lạ lùng con có một mình. 
Cơn nguy hiểm lấy ai phò trợ. 
Bởi thiếu thốn bao nhiêu đồng nợ, 
Nay thân con phải chịu hoành hành. 

…………. 

Việc ăn ở nhiều nỗi đắng cay, 
Vái trời phật xin về quê cũ. 
Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú, 
Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan. 
Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn, 
Nhìn trên suối sấu nằm như trăm khúc. 
Tôi cật vấn ông: 
– Nhớ hơi quá. Không lẽ núi Tà Lơn âm u nguy hiểm như vậy. 
Ông Tư cười: 
– Có tích mới đặt tuồng. Còn nữa… 
Nay con tới nguồn cay nước đục, 
Loại thú cầm trông thấy chỉnh ghê, 
Giống chằng tinh lai vãng dựa xó hè. 
Con gấu ngựa tới lui gần xó vách. 
Bầy chồn cáo đua nhau lúc nhúc, 
Lũ heo rừng chạy giỡn bát loạn thiên. 
Trên chót núi, nai đi nối gót, 
Cặp giả nhân kêu tiếng rảnh vang. 
Ngó sau lưng, con kỳ lân mặt đỏ như vàng, 
Nhìn phía trước, ông voi đen huyền như hổ. 
Hướng đông bắc, con công như tố hộ. 
Cõi tây nam, gà rừng gáy ó o… 
Bài vè Tà Lơn, ông Tư đọc còn dài lắm. Ðoạn sau tả các loài ong độc, loài rắn, loài kiến hùm. Tóm lại, toàn là loài thú dữ ở trong sở thú Sài Gòn. Chấm dứt bài còn mấy chữcẩn ký nay thì. Ông Tư Khuyên tôi nên chép bài đó để học thuộc nằm lòng, xem như lá bùa hộ mạng. Ông còn khoe nhờ ông mà bài vè này được phổ biến khá sâu rộng trong xóm nhỏ. 
Ông nói: 
– Khi quá vui thì mình đọc nó để cho tâm hồn bình tĩnh trở lại! Nhớ tới công lao cực nhọc của ông bà khi xưa. Khi nào túng tiền, mình nhớ xứ Cà Mau, bài vè này sẽ gợi chút ấm áp. Cũng như trời lập đông, mua chút rượu để mà uống.

Hai ba năm sau. 
Từ ngày dời nhà lên vùng Phú Nhuận, tôi không còn hoàn cảnh thuận tiện để thăm viếng ông Tư, hoặc lên cầu chữ Y hóng mát nữa. 
Thỉnh thoảng gặp dịp đi qua, ghé hỏi thăm thì ông không có ở nhà. Mãi đến buổi chiều nọ, trời chuyển mưa to, tôi chạy ghé vào nhà ông. Bà vợ ông nói: 
– Ôi thôi! Hơi đâu mà hỏi tới ổng. Só là người anh ruột của ổng chết từ hai tháng nay. Ổng buồn, ổng uống rượu, tối ngày không nói không rằng. Hồi nào hễ rảnh là ổng đi đằng xóm dạy thiên hạ học bài vè thơ Tà Lơn. Ai không học thì ổng giận. Bây giờ ổng thủ khẩu như bình. Ai nhắc lại thơ Tà Lơn, ổng day mặt chỗ khác. Chú em nghĩ coi! Anh của ổng, năm nay già sáu mươi tuổi. Ðời người hưởng được bao nhiêu năm như vậy nghĩ cũng là thọ. Tội tình gì mà quá than khóc! Hôm trước, ổng biểu tôi vay nợ để ổng về Cà Mau. Chừng chạy đôn chạy đáo mượn được tiền, ổng không thèm về. Khó hiểu quá. 
Tôi hỏi: 
– Ổng đâu rồi, tôi muốn gặp để thăm. Hèn lâu không gặp. 
Bà đáp lại: 
– Chú em cứ lên cầu Chữ Y, chạng vạng là có mặt ổng ở trển tới khuya. Ổng dòm trời, dòm đất. Mấy ngày đầu, tôi sợ ổng buồn rầu mà tự tử… 
Ðường lên cầu Chữ Y chiều hôm đó cũng rộn rịp ngựa xe như năm nào, đèn điện sáng rực lên, từng đoàn người đứng cười cười nói nói dựa theo lan can. Tôi đi suốt đầu này qua đầu kia, tìm ông Tư. Ông đứng đó, kìa. Mái tóc bạc phếu, khác hẳn ngày nào. Mắt ổng nheo nheo nhìn về phía chợ Sài Gòn, môi ổng mấp máy. 
Nói với ai? Nói chuyện gì hở ông lão? Tôi muốn hỏi lớn như vậy. Phải chăng là đoạn thơ Tà Lơn”Nhớ huynh đệ lụy tuôn nước mắt, cảm phận em ruột thắt từng hồi, vận bất tề nên phải nổi trôi?”hay là đoạn”Cõi tây nam gà rừng gáy ó o, hướng đông bắc, con công kêu tố hộ?” 
Nhưng mà thôi. Tôi đành đứng lại, không dám khuấy sự yên lặng của ông. Nhìn chung quanh rõ ràng cầu Chữ Y này cao quá, cao bằng cái nhà lầu hai tần. Gió trên cầu giống như gió núi Tà Lơn, đem lại cho người đời đôi phút tiêu diêu thoát tục? Tại sao lòng ông Tư lại chứa chất nhiều bí ẩn như thế? Bài thơ núi Tà Lơn do một nông dân vùng Cà Mau soạn ra tại sao lại đủ khả năng quyến rũ, trở thành một món nợ đối với ông lão ở kinh thành ánh sáng này như ông là một? 
Có lẽ nhờ mang nặng khối nợ đó nên ông không nhào đầu xuống sông khi ý nghĩ tự tử len lỏi vào tim óc. Ðêm đó, mãi đến mười giờ khuya mà ông còn đứng tren cầu cúi xuống dòng sông đen thui, lốm đốm những bọt nước trắng.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Pinterest photo

25. Một kiểu anh hùng

Cái câu “được kiện như sọ trâu khô, thất kiện như mồ cha chết” dường như không đúng với trường hợp tranh chấp giữa hai ông điền chủ ở làng Vĩnh Hoà thời Pháp thuộc. Về tên tuổi của hai ông, kẻ viết bài nầy xin tạm dấu. Ðể dễ bề theo dõi, chúng tôi gọi ông thứ nhất là hội đồng Hai, ông thứ nhì là cai tổng Ba. 
Về điền sản, hai ông đều làm chủ những khoảnh đất cò bay thẳng cáh, rộng tới đôi ba ngàn mẫu tây. Con cái của hai ông đều ăn học thành tài, nếp sống theo hình thức nửa tây nửa ta,”trên ô tô dưới thời ca nô.” Ðiều đáng nói là hai ông này khách nhau ở vóc dáng: hội đồng Hai quá ốm yếu nhu người nghiền thuốc phiện, cai tổng Ba thì khoẻ mạnh, giỏi võ. 
Từ lâu, hai ông tranh chấp một miếng nhỏ, ở bên ranh. Vụ kiện cáo dài bảy – tám năm, mỗi ôn gđều mướn thầy kiện riêng. Mãi đến tháng rồi toà tuyên bố hội đồng Hai bị thất kiện, bồi thường sở tổn cho cai tổng Ba, kèm theo mười quan danh dự. 
Bà hội đồng Hai thường cằn nhằn với chồng: 
– Tại sao không chống án lên toà trên. Cai tổng Ba rêu rao rằng nó sắp vật heo ăn mừng, kêu gánh hát bội về làng, hát thí cho đám tá điền coi chơi. 
Dòng máu oanh liệt của ông hội đồng Hai bừng sống lên: 
– Vậy hả? làm thịt heo ăn mừng! Ừ! Việc đó tôi bỏ qua. Nhưng còn việc kêu gánh hát về làng, rõ ràng là điều sỉ nhục. Chừng nào gánh hát tới? 
– Mười lăm ngày nữa. Phải rồi, bữa hăm mốt tháng Chạp. 
– Bà đừng lo. bữa đó, vợ nó làm đám ma cho nó. Bọn đờn cò, bọn đánh trống cơm… hoà bản Nam ai, Xuân nữ. Con cái nó bận đồ tang… trắng nhà. 
Nghe qua, bà hội đồng áy náy. Hiểu đưọoc nỗi lo âu của vợ, ông hội đồng nói rù rì bên tai rồi kết luận: 
– Chẳng bao giờ ở tù. Bà khéo lo thời thôi! Tôi bắt đầu giết nó, kể từ hôm nay. Bà nhắn tin cho thằng Hùng, thằng Cứ lo tập dượt, chờ ngày dụng võ. Tôi đang chờ tin tức. 
Lập tức, ông hội đồng ra sân, ngắm nghía mấy chậu kiểng. Con nhền nhện hùm buông mình lơ lửng từ ngọn cây tùng, chưa rơi xuống sát đất. Nó cố gắng cựa quậy, rút trở lên. Ông nói lẩm bẩm: 
– Vì sợi tơ mà nó té, vì sợi tơ mà nó trở lên ngọn cây, như cũ. 
Ông cười thíchthú, tự hào rằng mình đã tìm ra một cách ngôn mới, không kém cách ngôn thánh hiền. Cánh cửa sắt từ từ mở. Một bóng người bước vào: 
– Thưa ông! 
Ông giựt mình: 
– À! Công việc ra sao? Tiến! Mầy nói đầu đuôi cho tao nghe. Hả? Day mặt lại coi. Nó đánh mầy bầm mặt hả? 
Lát sau, chủ và tớ ngồi trên chiếc băng bằng cẩm thạch. Thằng Tiến – đứa ở của ông hội đồng – từ từ cất giọng: 
– Thưa ông, tôi đi ngang qua nhà cai tổng Ba, theo lời ông dạy. Tôi đi qua rồi tôi trở lại. Cai tổng Ba kêu tôi vô nhà, hạch hỏi, cho tôi là đứa dọ thám. Lẽ dĩ nhiên, tôi cãi lại. 
– Rồi sao nữa? 
– Cai tổng Ba vu oan, cho tôi muốn rình nhà để vô ăn trộm. Ổng đòi đánh tôi. Tôi cự nự. Rốt cuộc, tôi chịu thua, mặc tình cho bọn lâu la của ổng sỉ vả, đấm đá. Ổng thách đố: “Giỏi thì vô đây!” Rồi thì ổng hỏi tôi ở đâu tới, đi rình nhà theo lịnh của ai. Tôi trả lời: “Theo lịnh của ông hội đồng Hai.” 
Nói xong, thằng Tiến ôm mặt khóc, không phải vì đau đớn nhưng vì quá xấu hổ. Qua tiếng nấc của nó, ông hội đồng đoán chừng: nó sẵn sàng đổ máu để rửa hận. Ông nói: 
– Vô nhà nghỉ cho khoẻ, đây, mười đồng bạc. 
Thằng Tiến hỏi: 
– Chừng nào ông ra tay? 

– Chưa thuận tiện. Mình mới dàn trận sơ sơ vậy thôi. Tao làm bài toán thứ nhì, trong nay mai. Giết thì phải giết cho chết. Ðừng lo. Thể diện của tao lớn hơn thể diện của mầy mà. 
Cai tổng Ba thích chí sau khi ban trận đòn nên thân cho thằng Tiến. Ông sai mua rượu về, gọi bọn gia nhân đến để khao thưởng: 
– Thằng cha hội đồng Hai thua em, gỡ bài cào. Nó thất kiện nên tìm cách trả thù, mướn ăn trộm cạy tủ sắt của tao. Thằng cha đó đê hèn quá. 
Một đứa gia nhân nói:
– Thưa ông cả, tôi sợ nó mướn ăn cướp tới đánh nhà này, giết hoặc bắt sống gia chủ, cho chuộc lại với số tiền lớn. 
– Võ nghệ như tao đây, một trăm đứa cướp tao cũng không sợ. Tao có sắm một cây súng, tụi bây dư biết. Lúc nguy nan, tụi bây sẵn sàng sống chết với tao không? Nhà này phòng thủ đầy đủ. Uống cạn chén đi. Rồi lên lầu xem xét lại. Tụi bây nói có lý. Thằng cha hội đồng Hai muốn bắt sống tao. 
Lũ gia nhân theo ông cai tổng Ba, lên tầng lầu trên. Nóc xây bằng xi măng cốt sắt, bằng phẳng, bốn phía có vách hơi cao nhô lên, khoét từng lỗ nhỏ. 
Một đứa gia nhân hỏi: 
– Ông khoét vách để bắn xuống cho dễ, phải không? 
Ông cai tổng Ba cười, giọng bí mật: 
– Coi kìa! 
Vừa nói, ông vừa chỉ tay về phía bên phải. Hàng trăm cái ve chai dựng đứng đậy nút thật kỹ lưỡng, phía trên có miếng bao bố tời đậy lại. Theo lời yêu cầu của một đứa gia nhân, ông xách một cái chai đặt trước mặt mở nút ra… 
Ngoài cổng có tiếng nói vang: 
– Cai tổng… bờ a ba? Ba con cá, ba con cua, ba con… 
Cai tổng Ba quát to: – Ðứa nào chịu khó xuống dưới, ra ngoài bắt sống nó đem lên đây trị tội. 
Ðứa gia nhân chạy xuống. Cai tổng Ba cau mày, nuốt nước miếng ừng ực. Tất cả bọn tá điền, bấy nay đều phải”kỵ úy,” tránh tiếng”ba” là tên của ông, khi đếm số, khi đong lúa họ nói”tam” thay vì ba. 
Lát sua, đứa gia nhân dẫn một chàng thanh niên lên tận nóc lầu. Ông Cai nói: 
– Mầy ở đâu? Mầy chửi tao hả? Mầy coi tao như loài thú vật, như đồ dơ dáy hả? 
Sau trận đòn nhừ tử, chàng thanh niên khai thật: hắn là tá điền của ông hội đồng Hai, lãnh trách nhiệm dọ thám để hiểu rõ tổng số gia nhân của nhà này ước chừng bao nhiêu người. 
– Chi vậy? 
Hắn trả lời: 
– Dạ, để đánh cướp. 
Một đứa gia nhân nói: 
– Nguy quá. Tôi trót lỡ lầm, dắt nó lên trên này. 
Ông cai vẫn bình tĩnh, nói với chàng thanh niên: 
– Nè, đống ve chai. Nè! Cái chai này mầy hửi thử rồi về cho chủ mầy biết mùi vị. 
Chàng nọ hinh hỉnh lỗ mũi, nghiêng đầu về phía sau: 
– Thúi quá! Giống như nước mắm hạng bét. 
– Tao để dành, chờ bọn cướp. Một trăm cái ve chai đầy nước mắm này sẽ quăng xuống, trúng ai thì nấy chịu. Miểng chai nát ngướu, dính nước mắm. Nó cắt da thịt thì… voi cọp cũng té quị xuống. Chừng đó sân nhà đầy miểng ve chai, mầy hiểu chưa? 
Chàng nọ thở dài, quỳ xuống lạy, xin tha tội. Bấy giờ ông cai mới sực nhớ: 
– Ai dạy mầy câu nói hồi nãy? 
– Dạ, ông hội đồng. 
– Ổng có tới đây chịu đòn thay thế cho mầy không? Tướng mạo của ổng như con nhái, tao bóp một cái là dẹp lép. 
Và để chứng minh tài năng của mình, cai tổng Ba đến gần nơi tận cùng nóc lầu, dụm chân, nhảy phóc xuống đất. Bọn gia nhân chắt lưỡi: 
– Tài nghệ siêu quần! Một trăm đứa võ sĩ vô đây cũng chết. 
Từ phía dưới, ông cai gọi vọng lên: 
– Dẫn nó xuống đây! 
Chàng thanh niên xám mặt, chưa hiểu ông cai sẽ hăm doạ hoặc trừng trị bằng phương cách nào. Ông cai nắm lấy tay chàng ta, dẫn đến mé sông. Gió thổi hiu hiu. Mấy cây dừa trồng dài theo ven đường như xoã tóc rối. Ông cai đến cái nhà mát, cất gie ra trên sông. Ðó là kiểu nhà thủy tạ, hình tròn, chung quanh có đóng băng ngồi. 
Ông nói: 
– Mầy chờ tao. Ðáng lý ra, tao bắt mầy nhốt lại rồi cắt lỗ tai mầy, gởi cho hội đồng Hai… làm kỷ niệm. Nhưng thôi, tao là người văn minh. Ðừng hòng mướn bọn trộm cướp tới đây. Uổng tiền lắm. Tao đâu sợ. 
Chàng thanh niên cúi mặt, hổ thẹn như con chuột lặn hụp trong vũng bùn: 
– Xin ông cho tôi về. Tôi hứa nói lại với ông hội đồng. 
– À! Ông kêu tụi ăn cướp tới chưa? 
Chàng thanh niên sực nhớ lời căn dặn của ông hội đồng Hai, nói nhanh: 
– Dạ tới rồi. Chắc đêm nay hoặc đêm mai, tụi nó ra tay. Ông hội đồng muốn trả thù theo kiểu ném đá dấu tay. Ổng giúp tụi bất lương về mặt dọ thám. Tụi kia tha hồ vơ vét, bắt sống gia chủ, đốt nhà… 
– Vậy hả? 
Cai tổng Ba hơi sợ, ông dư hiểu rằng tên thanh niên này sẽ thuật lại cho hội đồng Hai tất cả những điều tai nghe mắt thấy tại đây. Một cây dừa trồng sát mé sông khiến ông nảy ra một kế: “chẳng lẽ kẻ vừa thắng kiện như mình đây lại mưới trộm cướp trả thù hội đồng Hai. Trể quá rồi. Bây giờ chỉ còn cách thị oai, hăm doạ để hội đồng Hai thối chí, từ bỏ kế hoạch.” Gió thổi ngày càng mạnh. Cai tổng Ba chú ý, gốc dừa lung lay khi mớ lá trên ngọn quật quá mạnh, chỉ chờ một cơn gió là gốc dừa tróc lên. 
Bọn gia nhân kêu rú lên: 
– Ông cai! Làm gì vậy? 
Ông cai cứ tiếp tục làm công việc riêng, đứng ưỡn ngực, tấn bộ chữ dinh như bọn Sơn Ðông mãi võ. Chàng thanh niên ngờ rằng ông cai sắp ban cho trận đòn quì xuống van nài: 
– Con hứa từ rày về sau… 
Hai tay ông cai vươn ra, xoay tròn như hai cánh chim phụng hoàng rồi rơi thẳng trước mặt, ngón tay co quắp lại: 
– Tụi bây biết đây là miếng gì không? 
Gia nhân đáp: 
– Dạ không! Thế võ của ông, xem lợi hại quá. 
– Miếng “Song long thủ châu.” 
– Dạ khó hiểu quá. Mấy chữ nho đó nghĩa gì? 
– Là hai con rồng giành một trái châu, ôm và cắn hai trái châu trong miệng. Khi xáp trận, người ta dùng miếng “Song long thủ châu” để móc mắt kẻ thù. Nay mai, tao móc cặp mắt hội đồng Hai, kẹp giữa hai ngón tay như hai trái nhãn. 
Ðôi mắt cai tổng Ba nhìn trừng trừng phía mé sông. Từ xa, trận gió kéo tới, rặng dừa nước lả ngọn. Ðọt cây dừa xoay tròn, thân cây nghiêng nghiêng. Nhanh như chớp, ông cai chạy tới, hai tay ôm gốc dừa, hai chân nhảy lên một lượt. Cây dừa nghiêng xuống, ngã ầm trong khi ông quay mặt, nhún chân, nhảy trở lại phía sau cho khỏi té xuống sông. Chàng thanh niên trố mắt. 
Ông cai đã chứng tỏ tài năng vô song dùng sức người mà đá tróc gốc cây dừa!

Sau hai lần khiêu khích ấy, ông hội đồng gọi gia nhân đến, quyết định: 
– Tao hại thằng cha cai tổng Ba gần tới ngaỳ rồi. Tụi bây nghe nói chừng nào nó mời gánh hát bội về làng để… chửi tao! 
Thằng Tiến đáp: 
– Dạ, hai ngày nữa. 
– Cai tổng Ba mượn tiếng trống tiếng kèn của hát bội để chọc tức tao. Làm sao tao nhịn được. 
Hùng và Cứ – hai tên võ sĩ thân tín – đã đến ngụ tại nhà ông hội đồng từ bốn ngày rày. Chúng nó vừa thắng mấy độ võ đài ở hội chợ Phước Thiện, ngoài Rạch Giá. Hùng và Cứ tỏ vẻ nóng nảy: 
– Ông hội đồng cho phép chúng tôi giết cai tổng Ba là xong… 
– Thủng thỉnh đã … 
– Trong lúc chờ đợi, tụi tôi đốt cháy đình làng hoặc là tìm ông bầu gánh hát bội, hăm doạ. 
– Ðừng làm vậy. Thần thánh quở phạt. Phải trị cho tận nọc. Cai tổng Ba giỏi lắm. Nó dám nhảy từ trên lầu xuống đất. Nhà của nó phòng thủ kiên cố, hàng trăm cái ve chai, đầy nước mắm, quăng xuống thì tụi bây phải biết. Hơn nữa nó biết mấy thế võ”Song long thủ châu” để móc mắt. Và cái thế… đá tróc gốc cây dừa gọi là… 
Thằng Hùng nói nhanh: 
– Hơi đâu mà sợ mấy chữ nho đó. Họ bịa thế này, thế kia. Thí dụ như”Phong xuy trịch liễu”hai chân người ví như hai con rắn giành gốc liễu, liễu là… cây dừa. Hoặc cai tổng Ba nói dóc là thế võ”Nhứt tiên quá hải. ” Xưa kia, tám ông tiên cỡi trên khúc gậy trầm hương, ngao du miền biển đông. Giờ đây, cai tổng Ba cỡi trên gốc dừa, khi gốc ấy ngã ầm xuống sông. Vậy thôi… 
Hội đồng Hai cau mày: 
– Hùng, Cứ ơi! Tao còn nóng ruột hơn tụi bây nữa. Tóm lại, mình không thể giết cai tổng Ba ban lúc ban đêm… Nha trảo của nó quá đông, nhà của nó phòng thủ chắc chắn, mình khó bề phá cửa xông vào. Nếu vào được cũng chẳng làm gì ra trò trống. Rủi mấy em bị bắt rồi thì uổng mạng quá. Bây giờ chỉ còn cách này: giết nó giữa ban ngày. 
Thằng Cứ đáp: 
– Hổm rày, con tới đó vài lần, cai tổng Ba ngồi dưới cầu mát, sát mé sông lim dim hút thuốc. 
– Nó đá giỏi lắm! Coi chừng – hội đồng Hai nói. 
Hùng và Cứ nhìn nhau. Ăn cơm chúa thì phải múa tối ngày. Hai đứa nó gọi thằng Tiến: 
– Mầy lại nhà cai tổng Ba, dọ thám cho kỹ. Mình không cần dùng kế “điệu hổ ly sơn” mà nó đã mắc kế rồi. 
Mười phút sau, thằng Tiến chạy về cho biết: 
– Cai tổng Ba đang ngồi dưới cầu mát đọc nhựt trình. 
Thằng Hùng nói: 
– Nó có mang vũ khí gì không? 
– Dạ không. 
– Sao mầy biết? Bộ mầy rờ vô mình nó hả? Mấy tay võ nghệ cao cường thường dấu dao trong mình. 
Thằng Tiến đáp: 
– Dạ, hai bữa rày, cai tổng Ba mặc cái xà rông ở trần trùi trụi. Thứ xà rông của người Miên. 
Hùng và Cứ đứng dậy, tát tai thằng Tiến: 
– Vậy mà mầy không cho tụi tao biết. 
Rồi day qua ông hội đồng Hai: 
– Chừng năm phút nữa, cai tổng Ba phải chết. Thằng cha đó chưa biết mặt tụi con lần nào. 
– Sao? Hai em nói giỡn hả? Nó đá giỏi lắm. Hai em đánh nó giữa ban ngày, nơi trống trải… Khó bề có kết quả. 
– Ông đưa cho thằng Tiến một cái bao là đủ… 
Cai tổng Ba mặc xà rông ngồi trên cầu mát, đọc báo Lục Tĩnh Tân Văn. 
Từ xa, thằng Tiến bước lại: 
– Thưa ông, ông chủ tôi dạy tôi đem cái thư này. 
Cai tổng Ba trợn mắt: 
– Thư từ gì đó? Ðưa đây. 
Ông cai cúi mặt, xé phong thư. Một chiếc xuồng bơi đến gần cầu mát. Từ dưới xuồng, thằng Hùng thằng cứ nhảy lên, hươi đao. Trễ quá rồi! 
Cai tổng Ba giựt mình, thối lui. Nhưng sau lưng ông ta là khoảng trống, lui thêm bước nữa là té xuống sông. Chạy trở về sân chăng? Một đứa lạ mặt đã chận đường. Ông sực nhớ đến sở trường của mình. Cái thế đá – ngọn đá ngàn cân mà ngày trước ông ta quật tróc gốc dừa. 
Ông toan hươi chân. Nhưng cái xà rông quá chật, bó hai chân lại. Giống như mấy cô đầm mặc cái”củng.” Cái xà rông bằng tơ quá chắc. Tuột ra để chết loã lồ chăng? Thiên hạ cười chết. Nhảy xuống sông chăng? Hơi trễ. Hai đứa sát nhân này sẽ nhảy theo, đâm chết dưới sông. Dòng máu”yên hùng” sôi lên bừng bừng. Cai tổng Ba nói: 
– Tụi bây muốn giết tao hả! Tao sẵn sàng đưa ngực cho tụi bây đâm. Tao đâu phải là đứa tiểu nhân. Thà đổ máu trên cầu mát này còn hơn sống lõa lồ thân thể hoặc loi ngoi dưới nước. Giết tao đi! 
Hùng và Cứ nhìn nhau. Rõ ràng là cai tổng Ba là kẻ đáng sống. Chúng nó từ từ xuống xuồng, bơi về. Thằng Tiến co chân chạy tuốt. 
Từ đó về sau, suy nghĩ sao không biết, hội đồng Hai và cai tổng Ba chẳng còn khiêu khích nhau nữa, tuy họ tránh gặp mặt nhau.

Ba Cụm

Chim Việt

Tivi Tuần San Úc châu

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Loạt bài của cụ Chim Việt đăng trên tuần báo Tivi Tuần San tại Úc vào thập niên 80 được Sơn râu lưu giữ trước đây, nay soạn lại và đăng trên trang blog này với lòng thành tưởng nhớ đến cụ Chim Việt.

Sau năm đình chiến năm 1954 hiệp định Geneve, tình hình an ninh lập lại, nhân dân miền Nam được hưởng lại cảnh hoà bình. Tình cờ tôi gặp lại người bạn đồng hương anh Bảy Lâu, người bạn học trò khi còn ngồi lớp đồng ấu (Enfantaire) cho tới cùng nhau thi đậu bẳng cấp Tiểu học lớp Sơ Đẳng (Elementaire).

Anh Bảy Lâu là đứa con út trong một gia đình có tới 5 chị gái, nên khi sanh tới anh là trai ba má anh cho anh xấu háy? nên trên đầu anh có chừa ba vá, đặc biệt là sau ót anh, vì để vá nên có cái đuôi rùa dài xuống sau lưng. Thời kỳ lên tới lớp Dự Bị (Preparatoire) tuổi học trò cỡ đó lớn hơn lớp nhỏ Đồng Ấu, nhưng lại nhỏ hơn lớp Sơ Đẳng. Đầu hớt trọc (Carre) áo thung quần xà lỏn lớp mà người ta cho là nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.

Google photo

Cách phía sau công sở Thới Thuận một cái sân rộng lớn, chung quanh có trồng cây cao bóng mát, trường học trên một nền cao gần bìa rừng. Lúc chạy dỡn trước sân trường khi cao hứng đồng ca bài Mạnh Lệ Quân, bắt chước trong dĩa hát của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho dĩa Pathe, Phono nghe chơi…Buổi sớm mơi con ra kinh thành dạo chơi…Con mới tới nơi, ông liền đánh con…Nhờ con chạy mới còn đây mẹ…Ca xong câu này thì cùng nhau rượt bắt Lý Đạo Tông (anh Bảy lâu) khi bắt được Lý Đạo Tông rồi, thì hai đứa ôm chặt hai tay, rồi mỗi đứa trong bọn vuốt sau đuôi rùa anh cái nhẹ … rồi cười…anh củng cười theo…

Trong truyện Thuyết Đường có ông Lý Đạo Tông đi dạo ngoài thành, có đám con cháu dòng họ Tiết, đè ông xuống đứa nhổ râu, đứa nhổ tóc, sau đám này bị bắt về tội toàn gia chu lục. Nhưng khi tới tôi vuốt đám tóc đuôi rùa đó, tôi không nói vuốt tóc Lý Đạo Tông mà tôi nói giựt chóp mao con Hồ Lôi Báo (củng trong truyện Thuyết Đường, có ông tướng Thượng Sư Đồ có con ngựa thần trên đầu có chòm lông, khi giữa trận tiền gặp nguy Thượng Sư Đồ nắm chóp mao con Hồ Lôi Báo giựt mạnh tức thời nó hét lên một tiếng tất cả con ngựa bên địch đều quỵ xuống. Nhưng đời của con ngựa này chỉ hét có 3 lần. Cho nên anh Bảy Lâu thấy tôi vuốt đuôi rùa của anh mà nói Hồ Lôi Báo thì anh không hét lên như ngựa thần mà anh về thưa thầy. Cho nên thay vì đám ngựa bị cóng giò thì đám học trò bị quỳ mỏi gối…

Những truyện vui thưở học trò tụi tôi còn nhiều thứ nửa. Khi cùng thi đậu bằng Tiểu học, anh có đủ phương tiện lên học trường Mỹ Tho, còn tôi không đủ phương tiện đi học xa nhà nên ở nhà làm công tử!

Đám học trò đó lớn lên kẻ ngược xuôi, người ngang dọc lập thân. Hôm nay tình cờ gặp lại tiệm cà phê Nam Sơn một tiệc này không đủ cho đôi bạn đồng hương bấy lâu xa cách hàn huyên cho phỉ dạ. Bảy Lâu nhất định mời tôi lên nhà anh ở chơi vài ngày. Nhà anh trên vùng Xoài Hột, không biết anh định cư lập nghiệp đây hồi nào, nhà 3 căn lợp ngói trong một khu vườn đầy cây ăn trái nằm cạnh con rạch Xoài Hột. Trong nhà đầy đủ tiện nghi, tủ cẩn, salon, đi văng gõ, dưới nhà cầu mé rạch có hai chiếc ghe chở trái cây đi bán.

Anh kêu vợ con ra giới thiệu tôi là bạn đồng hương, dân tài tử, giờ là thợ may đồ Tây, trước kia là dân công tử tại làng. Hôm nay nhà anh Bảy Lâu dưới bếp lăng xăng phụ nữ nấu ăn, trên nhà thì trai tráng lo dọn dẹp bàn ghế mượn.

_Bữa nay nhà anh có đám cúng gì mà lối xóm lại phụ giúp đông đảo vậy?

_Nay là ngày lễ Thanh Minh, củng là tới phiên tôi tổ chức.Mỗi năm tại đây đều luân phiên tổ chức lễ cúng Thanh Minh tập thể. Ban khánh tiết vùng này mỗi năm có tổ chức lễ Thanh Minh, năm nay tới phiên tôi được tổ chức, nên gặp anh là một dịp may, mời anh lên chung vui quen biết được một lễ Thanh Minh duy nhất tại vùng này.

Google photo

Khi con heo quay về tới nhà tất cả lối xóm ăn mặc chỉnh tề đồng đi ra ngoài mé sông Cửu Long cạnh đường lội xe đi Rạch Gầm. Khi đoàn đi tới một nghĩa trang nằm phía ngoài bờ sông Cửu Long tất cả đều vô đó… và tiệc cúng bằng con heo quay, chè xôi, hoa quả, bày ra giữa đám mả trong nghĩa trang, nơi đây được dọn dẹp sạch sẽ cỏ cây, đường xá ngay thẳng từng hàng. Khi khởi sự cúng anh Bảy Lâu đưa cho tôi một bó nhang đã đốt anh nhờ tôi là người khách lạ mới tới dự lễ này, mỗi cái mả cắm một cây nhang. Mỗi cái mả đều có làm dấu một cây thánh giá sơn trắng. Nhưng có một điều làm tôi ngạc nhiên tại sao cả mấy chục cái mả mà tôi đi cắm nhang, trên cây thánh giá lại không ghi tên người nằm dưới mộ? sau đám cúng Thanh Minh, về nhà anh Bảy Lâu bày ra làm tiệc chung cùng nhau ăn uống chuyện trò than mật. Giờ đây tôi mới biệt được cái tiểu sử nghĩa trang mới làm lễ cúng Thanh Minh, nó được mang nhiều cái duy nhất.

*Một nghĩa trang duy nhất tại xứ Nam kỳ

*Duy nhất… có cắm bia mà không có tên người nằm dưới mộ

*Duy nhất…không có thân nhân tảo mộ hằng năm.

*Duy nhất, già trẻ, trai gái, giàu nghèo đều cùng chết một đêm.

*Duy nhất được dân vùng Xoài Hột luân phiên cúng Thanh Minh tập thể.

Cái nghĩa trang mang nhiều duy nhất đó là nạn nhân của chiếc tàu đò đưa khách trên con đường Sài Gòn-Trà Vinh chiếc tàu đò đưa khách đó có tên là Đồng Sanh! Mỉa may thay nó mang tên Đồng Sanh .. mà lại là Đồng Tử? Chiếc tàu đò này nó bị chìm khi từ trên Vàm Kỳ Hôn chạy xuống gần tới Vàm Giao Hoà nhằm con nước lớn có nhiều ngọn sóng thần từ cửa Tiểu và cửa Đại tạo nên giới thương hồ gọi là ngã ba Tam Điền.

Trước đó không lâu củng có chiếc tàu hiệu Quay Lợi (Hoai Lợi) củng chạy con đường này nhưng chiếc tàu này khi bị sóng đánh gần chìm nhờ tài công tỉnh trí, cho tàu chạy đại vô bờ vì vậy mà không bị thiệt hại về nhân mạng bao nhiêu. Tối lại khi lối xóm dọn dẹp xong ra về, anh Bảy Lâu cùng tôi ra sau phía vườn có cất cái nhà để chứa trái cây mới hái từ chung quanh vườn đem vô đây mới lựa tuyển thứ tốt vô bội chở đi. Hơn mười mấy năm hai đứa trong ban tài tử bỏ túi Thới Thuận mới gặp lại đàn ca, anh cây Guitar, tôi cây Kìm, cố ôn lại những bài bản trước kia rồi thâu lượm nhưng bài bản ngày nay.

Giờ phút này tôi vẫn còn bị cái nghĩa địa Đồng Sanh ám ảnh, sau khi chiếc tàu đò chạy đường Sài Gòn – Trà Vinh chìm. Thời gian sau vùng cù lao An Hoà, có một bài ca vọng cổ Tàu Đồng Sanh chìm vào Giao Hoà. Bài ca này tôi không có học vì nó buồn quá. Nhưng có nhiều người họ ca nên tôi củng thuộc được nửa bài vọng cổ đó. Bảy Lâu đờn, tôi ca:

_Ôi cuộc đời thật là tang thương biến đổi.

_Kiếp nhân sinh dường như trong giấc mộng hoàng lương.

_Từ Sài Gòn ra Kỳ Hơn tới Giao Hoà tôi vẫn vui cười có ngờ đâu là

_Tới sông Cửu Long giang chổ người ta gọi là Tam Điền

_Thình lình phong ba dội thổi, phần bọn học trò chạy qua lại, làm cho tàu nọ phải nghiêng.

_Than ôi ngọn sóng thần nó vừa chụp qua ngọn thứ nhì

_Lần lần tàu kia riễu hạ tiếng cha khóc con kêu bên tai nghe thảm thiết bi ai.

_May sao tôi tỉnh mới cởi giày lột áo phóng đại ra ngoài

_Tôi ôm được cái phao mà phú cho ngọn song thuỷ triều

_Khi tỉnh lại thấy chung quanh mình tôi lao nhau lố nhố kẻ lo hơ lửa người lại cho uống nước gừng. Theo như nạn nhân còn sống sót nạn tàu chìm này. Nguyên vì cuối năm học trò các nơi như Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh về nghỉ Tết Nguyên Đán. Những chuyến tàu gần Tết củng nhận chở hàng hoá về bán Tết cho nhiều cùng với đám học trò mất bình tĩnh khi thấy ngọn sóng thần đánh vô thân tàu rồi sợ nên chạy qua chạy lại vì tàu chở hàng hoá quá khẳm nên chìm luôn.

Giữa đêm khuya sóng lớn mênh mông, không biết bên nào là bờ cho nên trọn đám hành khách tàu Đồng Sanh chết chìm gần hết. Nhà cầm quyền thời đó mới vớt những thây ma trên song Cửu Long từ Vàm Giao Hoà tới Thị xã Mỹ Tho đem lên chôn chung trên Vàm Xoài Hột rồi xác tàu Đồng Sanh củng kéo bỏ gần Vàm Xoài Hột. Thân nhân nạn nhân đâu biết tin tức gì về vụ tàu chìm, vì thời đó hệ thống thông tin không đủ, như báo chí và đài phát thanh trong dân chúng hằng ngày như ngày nay. Khi thấy đã tết mà không thấy họ về tới nhà mới biệt đã bị tai nạn đó. Sự cố gắng của chính quyền thời đó nội lo chôn cất gần cả trăm thây ma là cả vấn đề khó khăn rồi. Nhưng lý lịch nạn nhân nếu có thì củng bị ngâm nước mấy ngày, giấy mực thời đó mà bị mấy ngày ngâm nước củng không sao coi được cho rõ ràng. Cho nên những nấm mộ vô danh tại nghĩa trang Đồng Sanh đó, không có tên họ là gì hết, chỉ chôn riêng một bên nam, một bên nữ.

Cho tới ngày nay ghe thương hồ đi dưới sông củng thấy mà trên đường lộ đá khỏi cầu sắt Xoài Hột đi ngang qua củng thấy, một nghĩa trang duy nhất của xứ Nam kỳ. Trong khi đó trên Sài Gòn trước kia kêu đất thánh Tây hay đất thánh Mayer vì nó toạ lạc ở góc đường Paul-Blanchy-Mayer, sau này kêu là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, có lẽ nghĩa trang đó có hơn cả trăm năm nay. Nay thì nó không còn, nó bị bọn VC sang bằng làm vườn trẻ!!

 Đêm khuya giữa khu vườn thanh tịnh, tôi nghe tiếng đờn Guitar của anh Bảy Lâu thật điêu luyện còn tiếng đờn của tôi thì từ hôi nào cho tới giờ vẫn vậy. Tôi mới biết, từ khi lập gia đình mà anh Bảy Lâu vẫn có thời giờ vô chợ Vĩnh Kim học thêm nhiều bài bản cổ nhạc với các danh sư trong đó. Giờ thì nghỉ đờn, để hai đứa bắt đầu tâm sự cuộc đời mấy năm qua. Tôi mới tâm sự đời của tôi trước cho anh nghe:

Google photo

Sau khi thi đậu với anh, anh thì lên đây học thêm, còn tôi thì ở lại cùng nếp sống lêu lỏng vui chơi như ngày nào. Nhưng biến cố lớn là tôi đã nặng lời nguyền với một thôn nữ, cái cô đi học mà có mang theo gói cơm, tan học mấy cô cùng chung lại ăn cơm phía sau nhà công sở đó, nhưng cô ấy chỉ học tới lớp dự bị thì thôi. Gia đình cô và gia đình tôi cùng chung một nghề: buôn bán tôm khô. Khi đi tới hôn nhân thì bị trở ngại là không hợp tuổi, kẻ Dần, người Hợi. Rồi bị cái vụ đờn ca tài tử này, ông Mười Thao điền chủ ở quận An Hoá là bà con với gia đình tôi, nhân dịp con gái ông thi đậu bằng cấp gì đó nên ông ăn mừng, tổ chức tiệc vui, có tổ chức đàn ca tài tử trên làng Song Phước xuống, ban tài tử dưới Thới Thuận lên.

Đó là tiệc mừng chị V. thi đậu mà sau đó ông Mười sẽ cho đi Pháp học (Sau này là nữ luật sư Nguyễn Thị V. con ông Mười An Hoá). Đám tài tử trên Song Phước là nơi quê hương nghệ sĩ Tư Chơi tức Huỳnh Thu Trung. Trong đêm hoà đờn giao nghĩa hai làng chung một quận An Hoá, củng là đêm tôi bị gia đình bí mật giới thiệu với gia đình một thiếu nữ ở làng Song Phước. Thiếu nữ đó biết mặt tôi, mà tôi không biết cô đó, mà lại là người vợ tương lai. Cho tới khi bên gái theo lời mời của gia đình tôi xuống Thới Thuận thăm xã giao đặng chot ôi biết mặt vì tôi không chịu đi coi vợ! Công chuyện nhà tôi, tôi không biết gì hết vậy mà nàng lại biết. Rồi một đêm dài hò hẹn nhau lần chót để giã từ ai đi đường nấy. Chớ chi đêm đó nàng khóc lóc thở than cho duyên nợ thì không đến nổi. Đằng này nàng lại an ủi khuyên tôi nên nghe theo gia đình mà kết duyên với người từ trên Song Phước, mặt hoa da phấn mới xứng đôi với tôi. Nàng chấp nhận hy sinh mối tình đầu, kể như có một đời chồng rồi. Lại còn tặng tôi một kỷ vật nếu cần thì bán xài vì biết tôi là thuộc hạng tiền phát gạo đong! Tôi gây tội lỗi với nàng quá đỗi nàng chưa về làm dâu mà tôi đã làm rễ, củng vì bên trong cạnh tranh thương mại, một áp lực đầy quyền lực, chúng tôi đành ân hận mà chia tay nhau. Sẳn có chất nghệ sĩ lãng mạn trong tâm hồn, tôi sống trong hạnh phúc với duyên mới, mà thấy nàng đau khổ vì tôi, tuổi trẻ bồng bột rồi một đêm tôi trốn gia đình đi tìm người dì có tiệm masy tận trong tỉnh Sóc Trăng và ở đó hoc thi công thành thợ may ngày nay như anh biết.

Giờ tới phiên anh Bảy Lâu tâm sự, sau khi thi đậu cùng khoá với anh tôi được người cô bà con vùng này nuôi cho ăn đi học, hoc tiếp bằng sơ học. Cô tôi là bà Hương Sư Tồn, cô có hai người con gái có chồng trong Thục Nhiêu và Nhị Quý. Ông Hương Sư chết, cô tôi mươn cặp vợ chồng nông dân ở năm, chồng làm vườn, vợ lo cơm nước cho cô tôi, phía cuối vườn cất cái nhà cho cặp vợ chồng này ở, đặng ban đêm canh chừng những kẻ phá phách vô phá cây trái.

Từ khi ông Hương Sư Tồn chết, cô tôi tu tại gia, mỗi đêm có tụng một thời kinh tới khuya. Bổn phận tôi thì lo nấu nước pha trà khi có khách, khi cô buồn tôi đọc thơ, đọc chuyện cho cô nghe. Mỗi sáng đi học tôi xách theo một gà mên cơm, khi xuống đến chợ thì tôi gởi xe đạp và cơm cho hãng cà rem cây, tôi lãnh một thùng cà rem cây đem vô trường chờ giờ ra chơi đặng bán, tan học lại hãng cà rem cây ăn cơm và tới giờ củng đem theo một thùng cà rem cây vô trường bán buổi chiều.

Ngày thứ Năm và Chủ Nhật, tôi lãnh sổ sách đàng công sở đem về làm phụ với ông Biện làng. Tôi kiếm được một chút tiền nhờ hai công việc này, vì ngồi ở lớp Court Superieu, tôi cần một số tiền để mua sách và sắm quần áo đồng phục theo nhà trường. Gia đình cô tôi khá giả, nhưng cô nuôi tôi là một điều quý, gia đình tôi đâu có khả năng cho tôi lên Mỹ tho học thêm, lấy bằng cấp Sơ Học đặng làm thầy?

Anh có nhớ năm mình đi thi có mười bốn trò, có bốn trò gái mà chỉ rớt hai trò trai, vậy mà trong tám trò đậu bằng Tiểu Học mà chỉ có mình tôi được lên Mỹ Tho vô học trường College, còn lại có lẽ lo cưới vợ rồi làm Làng. Trong trường tới giờ moral, thầy thường đem tôi ra làm đề tài để khuyến khích các bạn đồng lớp và thường ví với Trần Minh khố chuối. Vì vậy trong lớp tôi tuy là một đứa học trò nghèo nhưng vẫn được các bạn trai gái con nhà giàu kết bạn, có những cuộc lễ họ mời tôi về nhà chơi.

Rồi với một vốn liếng có sẳn về cổ nhạc trước ở dưới mình, nay lên đây mỗi khi có đám tiệc, có hoạ đờn ca cổ nhạc họ mời tôi tới dự. Trong Tứ Hữu: Cầm, Kỳ, Thi Hoạ không có môn nào xã giao bén nhậy bằng Cầm và Kỳ…Một chiều mưa gió có hai nhà sư ghé nhà bà Hương Sư xin nghỉ một đêm vì lỡ đường đi xuống chùa Vình Tràng, lúc đó chỉ đi xe ngựa, mà ngựa khi chiều cho ăn, thì có bao xe bao nhiêu chủ xe củng không đi được vì sợ bị đứt ruột.

Bà Hương Sư vội vã dọn cơm chay đãi khách lỡ đường mà lại là Sư. Tối lại, như thường lệ tôi nấu nước pha trà cho bà cô tôi tụng kinh. Một điều tôi thấy lạ.. Tại sao nhà sư lại nhà một tín nữ có tu, đáng lẽ khi tín nữ chủ gia tụng kinh thì hai nhà sư đó củng phải ra quỳ ngay bàn thờ Phật, hay là cùng chủ nhà thay phiên tụng kinh?

Sự tò mò tôi mới lần tới kẻ vách dòm lén vô phòng riêng, thấy hai ông sư không nằm nghỉ mà hình như đang bàn tán, rầm rì bí mật. Tới khi họ soạn gói đồ ra, tôi thấy không phải là kinh sách gì trong đó. Tôi mới bắt đầu đau bụng tôi la lớn lên, vợ chồng người làm vườn nghe tôi la mới chạy lên phụ với cô tôi cạo gió thoa dầu, nhưng khi đụng tới mình tôi thì tôi la làng… tôi lăn lộn như người gần chết tới, lối xóm nghe nhà bà Hương Sư có tiếng ồn ào, họ thắp đuốc lại củng không ai dám đụng tới mình tôi… tôi vẫn la làng…

Nghe thấy động tỉnh ông Chánh Hương Quản mới đem tuần lại nhà bà cô tôi , tới khi thầy được mặt ông Hương Quản M. Ông lại gần hỏi thăm , tôi mới ôm ông kéo xuống sát mặt tôi, nói nhỏ… ông vô trong phòng khách … bắt mấy ông thầy chùa…

Thiên hạ lối xóm tới đông nghẹt như vậy mà hai ông sư vẫn ở trong phòng , khi ông Hương Quản M. xô cửa bước vô cùng đám tuần bắt khoá tay…chừng đó tôi mới chạy vô biểu dân tuần xét gói hành lý của hai ông thầy chùa, thì thấy có con dao găm và một xâu chìa khoá đủ thứ để mở tủ sắt… Hai tên đầu trộm đôi cướp liền bị giải xuống Mỹ Tho. Kể từ ngày đó về sau, địa vị tôi đối với gia đình cô tôi đổi khác và củng đổi khác với làng này, chưa có đứa nào cỡ tuổi tôi mà khôn như người lớn? Nhưng tôi củng không tiếp tục học đặng thi bằng Sơ Học, vì một phần phải lo công chuyện nhà cho cô tôi, và một phần lớn là tôi chỉ thích đi học đờn ca tài tử mà thôi! Rồi cô tôi lo vợ cho, gia đình bên vợ là hai anh em song sinh, ông già vợ tôi là vai em lại là dân cờ bạc, chuyên về đá gà nòi. Anh củng biết là bộ sách tướng về gà nòi của ông Lê Văn Duyệt là phát xuất ở đây, vì vùng này là quê hương ông.

Google photo

Còn người bác vợ thì mê về võ nghệ, bắn cung. Thừa hưởng phụ ân không biết được bao nhiêu, nhưng người bác vợ đi làm ăn xa đem về cho ông già vợ tôi một số tiền lớn tạo thêm gia sản có ba mẫu vườn. Nhưng ông già vợ tôi lập tại đây một trường gà thật lớn, tới mùa các nơi quy tụ về đây kêu là trường gà Xoài Hột. Sau khi uỷ quyền cho người em, ông bác vợ lên đường phiêu lưu với một người con gái có hai giòng máu, mà người ta thường kêu là Xẩm Lai. Khi lập trường đá gà nòi tại đây, ba vợ anh ta đã bán hết hai mẫu vườn, nay chỉ còn lại một mẫu mà vợ chồng anh hưởng phần hương hoả. Năm độc lập 1945 ba vợ anh bị việt Minh xử tử về tội cờ bạc, má vợ anh rầu buồn củng chết theo chồng. Nay tuy là thừa hưởng của này của người bác vợ mà anh chưa từng thấy mặt người hào hiệp đó lần nào!.

**

Từ khi chiếc tàu Đồng Sanh chìm, một thời gian sau có một người triệu phú tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Văn Kiệu mở lại chạy con đường này bằng loại tàu chạy bằng dầu Mazout, tàu lớn máy vững vàng không như loại tàu chạy bằng củi trước kia, chiếc khởi hành từ Sài Gòn, chiếc khởi hành từ Trà Vinh. Bến tàu Nguyễn Văn Kiệu nằm ngoài sông Sài Gòn, ngoài cột cờ Thủ Ngữ. Ông Nguyễn Văn Kiệu là anh ông Nguyễn Văn Hảo (rạp Nguyễn Văn Hảo). Tại bến Sài Gòn khởi hành vào lối 7 giờ tối, hồi đó vào giờ này ra bến tàu khi súp lê 3, tàu mở đõi, trên cầu người đua tiển người đi… dưới tàu vẫy tay, vẫy khăn, kẻ ở lại châu thành, người về lục tỉnh.

Tàu Nguyễn Văn Kiệu chạy xuống chun qua cầu Tân Thuận, chạy vô bến đò Long Kiên, chạy ngang qua sở rác đô thành. Khi tàu chạy qua đây hành khách bị một nùi khó thở, vì ngoài mé sông có mấy cái bồn lớn chứa toàn là phân người trong đô thành đem đổ vô đây, rồi từ đây họ đem qua khỏi cầu Rạch Ông mới đổ ra nền xi măng phơi từng miếng cho thật khô gói kín để bán cho nhà vườn.