Khe nước khô

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Bún mắm cô Ba ngon nhức nách, đặc biệt cuối tuần có cháo lòng húp nhức răng. Quán Cây Khế chẳng mấy đông khách, bị con cô Ba đường đột bồng bột nông nỗi dại ngỗ bỏ má đi theo trai. Cô Ba tâm sự với đôi mắt như đang xắt hành, ươn ướt lộ ruột để ngoài da.Cô làm như thực khách tới quán chỉ để nghía con Tưng. Sáo sổ lồng sang sông thì tình hình eo xèo đâm ế chảy bởi thanh niên trai tráng chẳng thiết vãng lai. Để mần chi, khi lưỡng mục không ngó ra mục tiêu đặng ký gửi một tia nhìn man dại. Ai kia có si tình thì chỉ hát được mỗi điệu “Lý quạ kêu”. Sáo bay mà quạ theo đó cũng tìm cách thăng. Nghe xao xác dật dờ quãng lặng.
Cô Ba không mắng đứa con hư sớm nhấm nháp mùi vị của hoan lạc đèo bồng chuyện chăn gối mà cứ than van cho bọn phàm phu tục tử “thực bất tri kỳ vị”. Cô Ba cũng dấu nhẹm tình trạng sức khoẻ khi đứa phụ bếp tài cán nọ trở chứng xé rào, giao bao công chuyện cho mình má nó tả xung hữu đột. Khách ăn thì nhức nách nhức răng, còn chủ quán đêm trường có nghe ra nhức mình nhức mẩy? Ơn trời là Cây Khế cũng biết đóng cửa vào ngày thứ hai hằng tuần, lao động quá thì ngay cả máy móc cũng sẽ lột dên đứt cu-roa cháy bu-gi tắt quạt huống hồ phận chân yếu tay mềm mình hạc xương mai!Ông Tư làm nhân viên cho tiệm tạp hoá Vạn Thắng chung khu vực vẫn thuỷ chung kéo ghế, trừ thứ Hai, vẫn tâm đắc một mực thực phẩm ấy lành. Ai chứ cô Ba thì tui tin tưởng, tui ngó vô ngực thấy cổ đeo cái tượng Phật bằng ngọc to đùng. Lâu ngày chầy tháng ngọc lên nước láng bóng, người tâm hiền như cô Ba nên ngọc cũng cho là hợp tạng để xởi lởi khoe da. Ai đó nói ngọc đẹp cũng do người mang, tui biết vật trang sức tuy vô tri giác nhưng có khi nó thui chột ở kẻ này lại phát quang khi vào tay người khác. Rất đều tay chuyện củi lửa hay cái miệng tui đã hợp vị với tài nêm nếm của cô Ba. Món cơm tấm bì ngó đơn sơ vậy chứ cả tuần quên ăn, nói tội trời, đâm ra nhớ thương. Cô Ba được tiếng hiền vì cho ông Tư ăn uống ghi sổ vô tư. Được cái, người đàn ông trên năm chục tuổi đầu kia chưa hề chạy làng, ngó trước trông sau rồi dõng dạc: Trên bước đường tha phương vô định vị mà tình cờ kỳ ngộ người đồng hương thì phải nên xem trời đãi kẻ khù khờ. Cứ giáp vòng hai tuần, đến thứ năm ra ngân hàng đổi tấm ngân phiếu là tui ba chân bốn cẳng tới Cây Khế thanh thoả những ân tình có với cô Ba. Tui với cô Ba liên hệ như kiểu cá với nước vậy. Cá mà không có nước, cá chết. Nước mà không có cá… Nước mà không có cá…Tóc ông Tư đã sâu sia nhiều sợi bạc. Thời gian ngoài chuyện làm con người già cỗi đi, nó còn tác hại sâu đậm vào trí óc cây sậy biết suy tư. Ông Tư cà lăm cà cặp không biết tìm ra mệnh đề nối tiếp. Hoặc giả sợ mình vô duyên. Nước mà không có cá thì… có sao đâu! Trăng vành vạnh sáng chỉ mỗi đêm rằm, đôi lúc bầu trời cao rộng thẳm đen thắp lẻ loi một vài vì sao mờ nhạt cũng nên hiểu là lẽ thường hằng của tạo hoá. Mọi thứ đều có chu kỳ để vận hành đi quanh. Quán Cây Khế là hình ảnh một bể nước cảnh giam đủ đầy bộ sậu: Máy lọc róc rách nổi bong bóng, rong đong đưa, giả sơn, sạn sỏi, hang động trầm mình mà chỉ gặp duy vấn nạn: Thiếu cá. Do đâu? Công tâm mà nói, do cái quán Fung Hinh án lối ngay đầu đường. Bề thế, hoành tráng, long hổ sum vầy, nhe nanh lộ móng, điệu võ dương oai, khách khứa rậm rật sáng chiều. Sáng thì dim sum mà chiều thì sơn hào hải vị tam thập lục thức bốc mùi xào xẹt. Bồi bàn đồng phục thắt nơ cột bím, gái trai tươi mươi đon đả chào mời vô ra nhanh lẹ tợ biết lăng ba vi bộ.

Nghe cô Ba chép miệng chắt lưỡi, ngồi trên ghế ông Tư nhấp nhổm phát lời bình luận: Ngó dậy mà hổng phải dậy. Hoặc ngó lùng tùng xèn như rứa đó mà tiền đồ là cả một tuột dốc đứt thắng không thể kềm hãm. Nói cô Ba nghe, trước hết là cái cây sồi hình thù kỳ dị án trước quán mà chính quyền sở tại bảo vệ môi trường không cho ai di dời chặt đốn. Thứ hai, cánh cửa sơn màu đỏ loét phản cảm. Thứ ba, nội thất trưng bày quá nhiều gương soi. Chỉ ba điều ấy thôi cũng đủ phạm tới những huý kị ở trong lãnh vực phong thuỷ. Fung Hinh sẽ điêu đứng và Cây Khế sẽ mọc lắm trái vàng. Cô Ba tin tui hông? Cô Ba mang ra cho ông Tư bình trà nóng, ngồi xuống ghế đối diện sơ hở cho Phật ngọc lung lay thoát khỏi khu vực bị cưỡng chế, lộ hàng dễ thắt tim ông Tư. Dậy hén? Ngộ quá ta, hơn ai cả người Tàu họ rành phong thuỷ hơn người mình sao họ chẳng hay chuyện chí tử nọ? Mà nói nào ngay người đồng hương ai cũng ngôn kiểu anh Tư thì tui mới có sức ngậm đắng nuốt cay để đi tiếp cuộc trầm luân này. Con Tưng đã chọn ra ngày lành và mai hậu bên đàng trai quyết dùng địa điểm cái dằm nằm trong con mắt ấy mà tổ chức hôn lễ rình rang. Lão chủ quán Fung Hinh vin vô tình lân bang láng giềng kỳ cựu nên có tính toán sổ sách gia giảm chút phí tổn bớt năm mươi phần trăm gọi là chúc mừng lứa đôi răng long đầu bạc. Chao ôi, mình lớn tuổi chậm lụt khù khờ chẳng tính được chuyện tựa bọn trẻ ngày nay. Sách hoạch, thậm tinh ranh, thậm mưu lược. Nói bỏ lỗi, chúng mà ra yêu sách, chúng mà đặt đâu là cha mẹ phải ngồi đó, cấp kỳ cấp lệnh. Yên vị, chớ nhúc nhích, không vị tình thái sơn suối nguồn gì ráo, buộc phải nghe theo nghiêm lệnh. Bắt trao đô phải hao tiền, cho mua xế khủng mới thôi ghiền ô tô! Nuôi con cho rạc rài thần trí hao mòn thể lực mà lớn lên con ho một tràng thời cha mẹ phải run theo. Qua tới đây cha mẹ phải bỏ quên roi vọt ở cố quận, đi mình ên thúc thủ mà trả món nợ đời. Đêm nằm tứ bề yên vắng, nghe gió vật vã vườn lạ mà tự dưng mắt cay tim lạnh co thắt dồn nén bao chuyện tủi thân. Cô Ba nói đi mình ên thì ông Tư phải tin, vì suốt tháng năm dài thọc mạch dòm chừng ổng chưa hề ngó ra một nhân dạng đờn ông nào chàng ràng chấu rấu quanh thân cô Ba chủ tiệm. Gà mái nuôi con đằng đẵng nhưng con gà trống đạp mái thuở xưa đã cứng cựa bỏ đi đâu biền biệt chẳng vọng gửi về tiếng gáy mê sảng. Bình minh không hiện mọc vậy cô Ba có thực bụng tơ tưởng một đánh thức đầu ngày? Eo ôi, phận công nhân viên quèn lương ba đồng ba cọc không thể giúp ông Tư tròng đôi hia bảy dặm tự tin vượt biên tới những bến bờ trần tục. Ông đã vỡ mộng lắm phen, đã bị tình phụ muối xát gừng thoa lắm bận… nhưng tình ngay, có khi buồn chân ngang qua cửa hàng La Vie En Rose chuyên bán nội y đờn bà, ông vẫn tưởng tới một thứ định mệnh nằm dấu mặt sau ngổn ngang gò đống kia. Thế mới là màu hồng chứ. Đóng đô thường trực vào quán Cây Khế, người ơi, không phải đó là nuôi dưỡng sắc son niềm hy vọng ư? Họ, cô Ba và ông Tư thường trò chuyện ngắn dài những thứ vô thưởng vô phạt lúc quán vắng. Cái ấy chưa thể gọi là tâm sự để dốc lòng sẻ chia đồng cam cộng khổ. Ngồi bên nhau, cảm nhận vu vơ thứ thời tiết sáng nắng chiều mưa và tối tuyết đổ câm nín chẳng phải là phương thuốc làm nguôi ngoai một nỗi niềm chưa tiện nói ra? Nhà trống lạnh thì gia chủ có thể bày biện thêm vật thể cho vui mắt. Treo lên vách bức hình tự sướng, đổ nước đầy bình để cắm vào đấy đôi ba cành hoa nụ hé ướt át ngậm giọt sương trong. Ngồi bên người nữ tợ cô Ba, ông Tư mường tượng là được buông xuôi thân xác, thả lỏng tứ chi để chăm mắt đọc từng hàng chữ đầu Ngô mình Sở có trên cuốn sách mà cô Ba không ngại giở lật. Đa phần là những trang đánh số mù mờ với nội dung chẳng mấy vui. Mà thực lòng, khi nghe ông Tư vạch áo chuyện mình, hẳn cô Ba cũng vấp phải điều gì thoạt nghe không ổn thoả. Phận di dân thường hiếm muộn niềm vui. Hoặc cái hạnh phúc họ muốn tích luỹ thảy đều bèo bọt. Ra ngồi bờ bãi hoang vu nghe sóng mãi gào ở xa, vốc một nắm cát thì chúng dần vơi hao hụt trong kẽ tay. Nhẹ đi, rơi mãi, luôn cạn kiệt.

Cô Ba than, con Tưng nó hại tui dàng trời. Khi khổng khi không bỏ quán làm tui hoa mắt tối lửa tắt đèn không biết đường mà rờ. Định bụng dìa Việt-nam một chuyến mà đành bù trất chết một cửa tử. Quán không ai trông coi, chẳng lẽ đóng cửa cả tháng nhìn đời hiu quạnh? Về bển làm gì? Đi thăm thú những ai? Hẳn anh Tư sẽ hồ nghi cật vấn. Số là con em tui ở dưới quê điện qua cho hay nhà nước sẽ san bằng mảnh đất nơi có mộ phần tía má tui an nghỉ. Họ chỉnh trang nâng cấp làm văn phòng du lịch, tụ điểm đưa đón chỉ bày cho khách đi tham quan thắng cảnh với di tích đổ vỡ hào hùng thời chiến tranh. Tui rảnh thì ngồi nói chuyện cùng anh, nhà nước mà quỡn thì họ bày ra khối chuyện để thêm rách việc. Phá cái này dẹp cái kia, chỉ thị thu mua thức này ra quyết định bán buôn hàng khác. Họ lu bu kiểu của riêng họ mà dân ngu khu đen không hiểu được. Ở chốn này mần ăn không khấm khá e do bởi chốn kia mồ mả gia tộc bị động chăng? Cô Ba sa sầm nét mặt khi nói xong. Một chút thất thần, một chút hụt hơi, một chút ngây dại, tựa diện mạo của kẻ vừa bị móc túi, chới với cái mạng không đang sứt mẻ trầy trụa. Con Tưng nó có vẻ đẹp tươi sáng của đứa con gái vừa đủ lông đủ cánh, nghĩa là sắc đẹp kia vừa hồn nhiên, vừa tự tin, vừa mơn mởn lụa là sung mãn. Một sự dấn thân rộn ràng đầy sức sống ít chạm trán nỗi buồn. Má nó thì khác, thứ hoa chỉ nở trong bóng tối, mang sầu muộn tới, dằn vặt để tượng hình ra một điều gì kề cận với mong manh. Khi về già người ta buộc phải sầu héo, và tàn phai không hẳn là điều nhằm trút bỏ hết những vàng son cũ. Phún xuất thạch đã trào dâng tự lòng núi lửa, nhưng nó sẽ để lại trên hoang mạc một chu vi màu mỡ ăn sâu vào đất. Ông Tư ước ao được làm nông dân chí thú việc cày bừa khai khẩn dẫu loay hoay trong tay lắm thứ phương tiện thô sơ ông đang sở hữu. Một lòng thành, chỉ có vậy thôi. Và lòng thành phải đi đôi với cam chịu những hy sinh tổn thất.

Không nói tới chuyện tiền trao cháo múc, khi xong việc đằng tiệm tạp hoá ông Tư tấp về quán Cây Khế, gắp thức ăn nóng sốt cô Ba vừa dọn ra, nhai, thưởng thức, ngó cô Ba mồ hôi mồ kê ướt áo xống, nuốt xuống và lòng ông ăm ắp chộn rộn hình ảnh người chồng đang được vợ hiền săn sóc hỏi han chu đáo, thiệt mát cả ruột gan, ngậm mà nghe. Sướng rêm mé đìu hiu. Con Tưng khiếm diện thường trực là điều kiện thuận lợi. Một kẻ thứ ba, sự hiện hữu của nó thường làm người trong cuộc rối trí, chao đảo lung lạc những trận đồ.  Khi có khách vào, ông Tư đã lắm phen tự động cầm tấm thực đơn lại mở rộng nụ cười chào mời, cơm dâng nước rót. Ngồi không cũng chướng, mấy lúc mà có dịp đi “xã giao” làm bộ làm tịch tợ người của Cây Khế, chua ngọt khoan nói tới, chưa đả động việc leo trèo hái bức. Cô Ba chỉ can ngăn cho có lệ, cho phải phép thế thôi chứ bản thân cô đâu phải hạng người có ba đầu sáu tay mà mần từ a tới z. Sao tới bến đặng? Cô oải và hơn ai cả ông Tư đã chứng nghiệm bộn lần cái hoạt cảnh một con vụ có tứ chi đầu bù tóc rối. Người ta mệt ngất ngư con tàu đi mà mình làm đứa vô cảm thì có đáng trách không? Càm ràm với háy, nguýt, giận cá chém thớt thì tình hình mất vui, môi hở thì răng sẽ lạnh, điều ấy ắt sẽ tới. Thằng Sáu đảm nhận chức vụ rửa chén, quét dọn vệ sinh kiêm luôn job của Thiên lôi sai đâu uýnh đó, thấy ông Tư lăng xăng làm việc thiện nguyện, ngứa cổ đưa ra lời bàn, vọng từ chốn lầy lội xó xỉnh khuất tất: Không ấy chú bỏ mẹ chỗ làm kia đi, trôi về đây sum vầy có ngày mà đạt đạo. Chốn ni âm thịnh mà dương suy, phải có chú vô ra mới cân bằng được hoàn cảnh. Đôi khi riêng mình tui con chim đa đa lẻ bạn cứ bị nạt nộ rầy rà nghĩ mà tủi thân cho phận đờn ông thất cơ lỡ vận. Ông Tư ném nguyên chồng chén bát đũa muỗng vào bồn nước đục lờ nghe thằng Sáu ca cải lương mùi, miễn cưỡng phải đằng hắng giọng, lên cung bậc giao duyên: Thôi đi mày ơi, chớ vẽ đường cho hươu chạy mà hư bột hư đường, tao hổng có kinh nghiệm gì ráo, ngộ nhỡ ưa gồng mình cũng sợ người ta chê bai. Tìm người phụ việc thì chí ít cũng ngon cơm sức lực như mày vậy, trọng tuổi như tao chỉ tổ làm họ thêm vướng tay vướng chân chứ được ích gì. Thằng Sáu cười, nghe như dê kêu, he he he: Chú nhiêu tuổi mà sớm nhụt chí? Ông bác tui hơn sáu bó mà còn chơi bảnh, dã về nước cưới con vợ có ba mí xuân xanh, đêm bảy ngày ba vào ra không kể. Lại khe khe khe, cười mà như bị mắc xương cá vào cần cổ.

Ông Tư lộn ra, ngó cô Ba đứng nơi quầy thu ngân. Tóc búi lên, cột một cục trên đầu nhỉnh hơn trái chanh, nhường cái cổ trắng cho ông Tư đặt mắt vô. Lưa thưa ở đó vài sợi lông măng in tuồng đang dựng đứng. Ông Tư thủ thỉ: E đi dìa quê một thời gian thay đổi không khí chẳng chừng là phương án tốt. Chớ nên bội bạc, phải quan hoài tới chuyện mồ mả ông bà cha mẹ đang bị người ta đào xới. Nhắm đi được không? Khoảng nửa tháng mươi ngày thôi. Thử kêu con Tưng một tiếng, có gì tui xin phép đặng tháp tùng theo chim trời mỏi cánh. Mấy chục năm rồi tui cũng chưa ngó lại mặt ngang mặt dọc cố hương. Đường xa vạn dặm có người đồng hành cho đỡ cực thân. Cô Ba nhìn sâu vào mặt đối tượng, mắt long lanh. Cái khăn vắt vai bị cô lôi xuống vày vò trong đôi bàn tay. Cô chùi dầu mỡ thịt thà hành ngò mắm muối tỏi ớt và cũng muốn chùi trơn một cảm xúc vừa vướng mắc. Khi hoang mang thường người ta có những động thái thừa thải đến vậy, biểu tỏ sự khó xử. Vày vò cũng là cách thức nhằm gỡ rối những ý tưởng dùng dằng tiến thối lưỡng nan. Chùi tới chùi lui, trải ra xếp lại, như khăn ấy có ai vừa trao vào tay ở một sân ga diễn đầy cảnh đưa tiễn, người lên tàu lìa ra, kẻ ở lại đứng lóng cóng dậm chân nghe hao hụt lùa tới khi tiếng còi hú lên riết róng, nẫu ruột. Trong vô thanh, giữa câm nín, mơ hồ một dự tưởng lần hồi được tượng hình, ngày mỗi nhích gần tới hiện thực. Giác quan của ông Tư đánh hơi ra bản hợp đồng tròn trịa mà cô Ba sẽ vui vẻ tác thành. Không chắc ông sẽ về quê nếu hay tin mồ mả bố mẹ đẻ bị cày xới, ông sẵn lòng đưa ra cả vạn lý do để thoái thác; nhưng giờ đây, một mãnh lực nào ập tới hối thúc, mụ mị mong chóng hoàn thiện cuộc lữ kia. Đường Tăng cùng Trư Bát Giới đi thỉnh kinh e cũng nghe ra sự khinh khoái lớn bằng ngần ấy thôi. Và cô Ba gọi điện thoại cho con Tưng. Gọi khó khăn, ba chừng bảy đỗi bữa nhiếp bữa kia để bây chừ nó mới lộ hình. Tưng đến, như trăm khi, tựa vũ bão ập vào quán với những tiếng động đặc biệt mà Tưng tự khuấy động. Áo xống chễnh mảng ưa khoe da thịt và người ngợm thì luôn thịnh vượng hương thơm, reo rắc thứ mùi khó phân giải làm dật dờ mọi vật, làm át và giết ngay lập tức mùi mắm mùi lòng mùi dồi mùi cật mùi tim gan phèo phổi heo gà bò. Sự có mặt của đứa con gái mười tám tuổi điện nước thừa mứa như làm bừng tỉnh những bóng đèn vàng ưa chiếu sắc ủ dột, khung cảnh trong quán bỗng sáng hẳn lên.

Tưng vọt vào bếp, động nồi động niêu để nấu riêng cho mình món hải sản cầu kỳ chẳng có niêm yết trong thực đơn. Khuôn mặt đỏ au khi mang tô xe lửa ra bàn ăn. Tóc nhuộm nâu chen cài với vàng, cắt tuỳ tiện sợi ngắn sợi dài. Ngực vun đầy núp sau chiếc áo thun có nhiều lỗ thủng. Thằng Sáu lui cui sau bếp mà không lé mắt cũng uổng! Vừa ăn Tưng vừa liếm môi, cau mày nhọn mỏ: Má đi, con không có ý kiến. Con có thể kêu đôi ba đứa bạn tới phụ, trông coi hàng quán bán buôn thế má dăm bữa nửa tháng… Nhưng kẹt một nỗi, con đang lánh mặt người ta. Con xù, con bỏ. Vất hết, thèm vô! Mẹ rượt, nôm na là con không lấy thằng mắc dịch đó nữa. Khốn kiếp, ba thằng Tàu thảy chơi không được. Má biết nó nói với con ra sao không? Địt mẹ em tưởng em ngon hả, chỉ là người Việt thôi mà, ưa làm tàng hả? Rồi thằng a Pạt đằng quán Fung Hinh đổ thêm dầu: Cái quán Cây Khế của má nị chết tới nơi chứ béo bổ gì mà lên mặt. Đâu có “hủ xực” như đồ ăn Tàu. Má mà đóng cửa quán thì chúng ngộ nhận thêm khinh khi. Má nghe con nói không? Về bển mà được nước nôi gì trong lúc này. Người ta tìm cách chạy ra má lại kiếm cớ lộn vô, muốn từ chết tới bị thương hả? Ông Tư ngồi rùn vai, thu nhỏ người lại. Vậy là hết. Chắc chẳng ra ngô khoai cơm cháo gì nữa. Nói trước bước không rời, tắt thở chuyến song hành cùng nhau đi về miền quá khứ xa xôi. Ta lại phải nhắm mắt cày bừa như số phận đã định. Tiệm tạp hoá đằng ấy cũng có phần hùn của người Trung quốc, hàng hoá đa phần đều dán nhãn Made in China, từ cây tăm tre xỉa răng cho chí những máy móc kềnh càng rắc rối. Áo nịt ngực cho phụ nữ có thể làm ung thư vú, giày da dành cho phái nam có thể gây tác hại lỡ móng sưng chân. Gối kê đầu có thể tạo biến chứng mất ngủ rụng tóc. Đồ chơi dành cho con nít thì baby đụng vào cơ thể không chịu tăng trưởng. Thiên hình vạn trạng các thứ nhuốm độc tố trên từng cây số, ông Tư chẳng tường, chỉ nghe báo đài cảnh giác vậy thôi. Ngực con Tưng “xịn” thế kia, bềnh bồng như hai hòn đảo mà để rơi vào tay thằng Tàu mân mê sờ soạn, nghĩ cũng phí. Xem ra con Tưng thuộc diện thức thời. Nó ăn nói bổ bã vậy chứ thực bụng thuộc tuýp ưa tắm ao nhà, chả ham thích của lạ, biết phân biệt chánh tà. Ông Tư tợp hết chén nước trà đắng sau khi nghe cô Ba khẻ khàng bên tai: Xin lỗi anh Tư nghen, anh giỏi chân dìa cho má con tui đóng cửa nói chuyện riêng tư đại sự. Nhờ trời sau này tình hình yên vui thuận lợi nhứt định tui gọi anh Tư tới bàn tiếp việc thăm quê cho bỏ những ngày cơ cực. Ông Tư nghĩ mình bị đuổi khéo, tuân thủ bỏ ra ngoài đường thấy lạt miệng nhạt mồm. Ông ngó xuôi dòm ngược chẳng biết đang muốn mong một điều gì. Thằng Sáu mang hai bao rác lớn đi vất dáo dác đến gần: Bặp điếu thuốc cho thơm râu, tía. Dù buộc kín, đồ cặn bã hầm bà lằng nằm trong bao cũng xông mùi chua lét khiến xây xẩm. Ừ, chơi một điếu cho lai tỉnh thần hồn. Mẹ, cái xứ này mênh mông buồn tới độ tìm không ra chỗ để đi! Thằng Sau nhổ nước miếng: Trời, nói chi như không vậy tía. Sợ hổng đủ sở hụi thôi, chứ đất này chán khối mục cám dỗ. Muốn yêu tinh có yêu tinh, muốn ma nữ có ngay ma nữ. Thích chay có chay, ham mặn có mặn. Hang ổ đồi truỵ mọc đầy như nấm sau mưa. Bị tía chí thú đi mần việc, tan tầm lại tới quán này ngồi đồng nên bù trất chuyện rậm rật bên ngoài cảnh giới. Ông Tư quăng điếu thuốc. Thôi mày, lúc nào cũng ưa ca cẩm lung tung, để tao về ngủ cho yên thân phận già. Ông quay lưng, chất nỗi sầu trong dáng đi cắm cúi. Ông tới đứng bên tấm bảng hiệu mà chốc lát nữa xe buýt sẽ dừng đổ để tha ông về, thả ngay trước phòng trọ quanh năm yên hàn quạnh quẽ, một mực lặng như tờ. Phố lên đèn, bóng lá cây phong đen đúa vờn trên thân ông. Tự dưng ông Tư nhớ ra câu ca dao coi mòi hợp tạng:

“Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi,
Xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô!”.

Hừ, bún mắm với cháo lòng. Nhức đầu với nhức xương. Quê hương và cây khế, từ nay xin vĩnh biệt, người ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Thịt cầy!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Nghe nói thời Mao Trạch Đông, chiến dịch đại nhẩy vọt bị thọt cẳng, què giò, hơn 70 triệu dân Tàu gần chết đói! Hổng nhờ thịt cầy nầy thì dân Tàu chắc chết hết ráo rồi. Chó có công hy sinh xương, thịt, lòng, dồi của mình vì đại nghĩa; thì mình phải ghi công bằng cách tiếp tục ăn thịt chúng nữa vậy thôi.
Ăn rồi còn rủ rê người khác đến cùng ăn cho xôm, hằng năm phèng la quảng cáo ôm xồm: “Lễ hội thịt chó!” Thịt chó nguyên con, thui vàng rượm, được móc lủng lẳng móc trên các sạp hàng ở chợ Động Khẩu lớn nhất thành phố Ngọc Lâm, tỉnh Quảng Tây.
Mấy chú Ba cho rằng mùa hè nóng, ăn thịt chó mát, tăng cường sinh lý, chữa được bịnh trên bảo dưới hổng nghe thì ngu sao mà hổng hẩu xực ‘cẩu nhục’ (cẩu là chó; nhục là thịt đó bà con) chớ? Mấy người ăn heo, bò, gà thì tui ăn chó thì có khác gì nhau?
Rồi Đại Hàn, Việt Nam đó họ cũng ăn tới vài triệu con một năm đó thấy hông? Nói như vậy là vơ đũa cả nắm. Miền Nam mình, sau 75, đói rã họng nhưng đa số bà con mình cũng hổng ai ăn thịt người bạn thân nhứt, thông minh nhứt, tình nghĩa nhứt, trung thành nhứt và nhiều cái nhứt nhứt… là con chó bao giờ! Bà con mình trong Nam cho rằng thịt chó không có quốc hồn quốc túy gì ráo. Ăn thịt chó, mèo là ác. Mà làm ác, xui lắm, Trời sẽ bắt mình trả báo. Nếu có ăn là heo giả cầy tức thịt heo giả làm thịt chó vậy thôi.

***

Nhớ hồi xưa, tui đang dạy học ở một cái quận lỵ heo hút, miền đồng bằng sông Cửu Long. Sau 75, rán nấn ná vì thiệt ra tui hổng biết đi đâu, làm gì mà sống khi một cục đất chọi chim cũng không có.
Trường tui dạy là một trường tỉnh hạt ở quận, mỗi cấp chỉ có hai lớp, từ lớp 6 cho tới lớp 12. Học trò chừng 5, 6 trăm đứa; thầy cô được khoảng 20 là cùng. Bộ Giáo Dục ngoài Bắc bèn gởi vô một đứa ở Hà Tây tên ‘Vằn’, một đứa ở Ninh Bình tên ‘Vện’, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh vào; gọi là A chi viện cho tỉnh Hậu Giang.
Một hôm có tay Thanh tra từ Ty Giáo dục về trường. Ba đứa nó hùn được 18 đồng (Lương tháng giáo chức, dứt cháo, chỉ 5, 6 chục đồng thôi) vô cái Sóc Miên mua con chó chừng chục ký về, định giết thịt, làm dồi chó, rựa mận, chả chìa xúm nhau nhậu cho đỡ nhớ cái ‘hĩm’ còn ở lại ngoài miền Bắc.
Nắm cổ con chó về, nhốt vào cái bội bằng tre đan, (bội hay dùng để nhốt mấy con gà nòi đá độ). Trên nóc bội, có dằn cục đá. Bố con nhà nó, đứa mài dao xèn xoẹt định cắt tiết, đứa đi kiếm rơm về thui; tay còn lại qua chùa Tịnh Độ (chuyên bốc thuốc Nam) xin lá mơ; nhưng sư cụ biết tụi nó ăn thịt chó nên nhứt định không cho. Thấy 3 đứa nó mài dao, con chó nó rét quá rán sức bình sinh, tung cái bội văng cục đá xuống nó lên đường bôn tẩu, chạy mất về nhà chủ cũ. Ai nói ‘ngu như chó’ là nói trật lất rồi!

*** Ở Úc cũng khá là lâu, tui thấy cách đối xử của dân Úc với chó, với mèo chắc học từ cái phong tục tập quán tốt đẹp của người dân miền Nam mình đó thôi?! Ăn thịt chó là man rợ, cổ hủ, không văn minh gì ráo trọi hè. Vì chó cũng biết, buồn vui, đau đớn như người! Đài Loan rồi Nam Hàn mới đây cũng đồng ý với Tây là sẽ không ăn thịt chó nữa. Đứa nào giết chó để ăn sẽ bị phạt tiền, hoặc đi ở tù.
Tây không những không ăn thịt chó mà còn thương yêu chó không thua kém gì những người thân thuộc. Cho chó lên truyền hình, đóng phim 101 con chó đốm, cho chó đi thi hoa hậu. Cơn bão mấy năm trước đổ bộ vào miền Đông nước Mỹ gây ngập lụt thì lại thấy cảnh nhân viên cứu nạn bế chó lội bì bỏm trong dòng nước lũ để quay phim.

Xã hội Tây Phương nầy tôn thờ vật chất, chỉ vì đồng tiền mà người ta bội phản nhau lắm lắm; nên nhiều anh mình chọn sống cô đơn. Bị vợ bỏ ư? Ắt phải có ngay một con chó để bầu bạn, kẻo không, mình sẽ bị khủng hoảng tâm thần vì chìm ngập trong nỗi cô đơn.
Thằng bạn Úc của tui cũng vậy! Vợ bỏ ngày trước, ngay hôm sau nó rước về một em chó để điền khuyết chỗ của em yêu! Nó nói: Với chó, mình cứ ra lịnh thoải mái không bao giờ bị cự cãi. Chó không bao giờ đem mình ra ‘phê bình kiểm điểm’ (cái nầy nghe quen quen)! “Sao chưa giặt quần áo, chưa cạo râu, tại sao nách lại hôi?” “Sao trên người lại có mùi lạ, vừa đi với ‘con chó’ nào khác về phải không?”
Chó đơn giản, dễ hiểu! Không rắc rối như tánh của em yêu. Vui là vẫy đuôi, buồn là cụp tai lại. Mình lỡ quên mất sinh nhật của chó thì chẳng sao cả vì nó có biết đâu? Chó giúp mình hạ huyết áp, trong khi chơi với mèo hai chân, coi chừng tối ngủ với vợ nhà, mớ xì bậy bạ ra là chết!
Thế nên chó được cưng chiều cũng là phải phải. Tuy nhiên cái gì cũng có cái mặt trái. Chuyện rằng: Thằng nhóc Johnny lên 8 tuổi có nuôi một con chó tên là Buddy (nghĩa là Bồ Tèo). Johnny cưng Buddy lắm. Coi Buddy như là một người bạn tri kỷ, tri âm.
Một hôm bố Johnny đưa Buddy đi bác sĩ thú y. Khi về, bố báo hung tin: “Bác sĩ nói Buddy chỉ còn có 3 tuần lễ nữa để sống.” Johnny nghe hung tin òa lên khóc nức nở. Bố Johnny ôm lấy con mình an ủi.
“Thôi phần số của Buddy như vậy là bố con mình phải chịu vậy thôi. Đâu cãi lại được ông Trời!”
Johnny gạt nước mắt nói: “Rồi bố có làm đám ma cho Buddy không?” “Dĩ nhiên là có rồi!” “Con có mời bạn cùng lớp đến được không?” “Dĩ nhiên là được rồi!” “Rồi tụi có bánh kẹo và cà rem không?” “Dĩ nhiên con và bạn sẽ có tất cả những gì tụi con muốn!” Nghe vậy, Johnny gạt nước mắt, đề nghị là: “Buddy trước sau gì cũng chết! Thôi bố cho Buddy chết ngay bữa nay đi nhe!”
Bài học rút ra là: Tây thấy vậy; chớ hổng phải vậy!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Cây da trốc gốc!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 9th, 2024

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Nhớ: “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh. Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam”. Khoảng năm 1950, ông Trần Viết Long, đoàn Kim Chung ở Hà Nội làm bộ phim Kiếp Hoa. Bài hát “Làng Tôi” của Chung Quân đã được chọn làm bản nhạc nền.

Người Bắc trồng cây đa ở đầu làng, chợ, giữa cánh đồng, ở sân đình, chùa, bến đò. Khi phải vượt Trường Sơn vào xâm lược Miền Nam, nhớ cây đa đầu làng cao vút trời xanh, là điểm chuẩn để ‘thằng cu’ tưởng ‘sinh Bắc; tử Nam’ may còn sống sót nhắm hướng để trở về nơi mẹ và bu nó đang mong ngóng.

Ngoài ra, còn có ‘cây đa, cây đề’ trong giới văn học thời CS. Các nhà văn lớp hậu sinh của Bắc Kỳ có ý xỏ xiên ‘lão ấy’ (như Tố Hữu, Huy Cận, Thanh Tịnh… là bọn ‘sống lâu lên lão làng’, sáng tác nhàn nhạt như nước sirop, cà lăm ý cũ. Chỉ làm Thượng sĩ già vậy thôi!

Ngoài ra còn có câu: “Cậy thần phải nể cây đa”. Muốn đút lót Huyện Trìa là phải qua Thầy Đề. Trong tuồng Nghêu, sò, ốc, hến, ta thấy cái hủ tục đó.

Sài Gòn không có cây đa; chỉ có cây da.

Cây da trong Vườn Ông Thượng (quan lớn). “Dinh quan Thượng” là Nha Nội Vụ (Le Directeur de l’intérieur). Gia Định Báo, tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta: “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.

Cây da trong Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch giữa vườn)

Cây đa đầu làng 

Vườn Bờ Rô, thời CS là Công viên Tao Đàn, khoảng 10 mẫu tây, rộng nhứt cái đất Sài Gòn. Chu vi của nó là đường: Chasseloup Laubat thời Pháp, đường Hồng Thập Tự thời VNCH, Nguyễn Thị Minh Khai, thời CS. Đường Miss Clavell, thời Pháp. Huyền Trân Công Chúa. Tabert thời Pháp Nguyễn Du. Đường Verdun thời Pháp, thời VNCH Lê Văn Duyệt và Cách Mạng Tháng Tám thời CS.

Cây da trong Thảo Cầm Viên Blanchard de la Brosse, còn gọi là Sở Thú, số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sài Gòn còn có cây da nổi tiếng trước Dinh Gia Long (vì nó nằm trên đường Gia Long). Thời Pháp, nó được gọi là Palais de l’Inspection (Dinh Thanh tra) và sau đó là Palais de l’Indochine (Dinh Đông Dương). Giờ CS lấy Dinh Gia Long làm Bảo tàng Thành phố. Chúng bỏ tên đường Gia Long mà thay bằng đường Lý Tự Trọng. (Lý Tự Trọng (1914-1931) sinh tại Hà Tĩnh. Tháng 11 năm 1930, Lý Tự Trọng bắn chết một viên mật thám, Pháp xử tử hình Lý Tự Trọng khi mới 17 tuổi vào ngày 21 tháng 11 năm 1931)

Vì cây cao bóng cả, vẻ uy nghiêm, cây da thường trồng ở nơi thờ phượng. Vào năm 1744, Lý Thoại Long, người Minh Hương, đã xây một cái am trên gò vắng có trồng một cây da. Ngày nay là Chùa Giác Lâm hay Tổ Đình Giác Lâm của phái Thiền Lâm Tế Tông số 565 đường Lạc Long Quân thuộc Phường10, Quận Tân Bình.

Khuôn viên Nhà thờ Đức Bà (Cathédrale Notre-Dame de Saïgon) có nhiều cây da lớn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, là Công trường Hòa Bình; rồi đổi thành Công trường John F. Kennedy tưởng niệm Tổng thống Hoa Kỳ bị bắn chết ngày 22 tháng 11 năm 1963. Sau tháng Tư, năm 1975, CS đổi lại là Quảng trường Công xã Paris. Trong tiếng Việt, công trường thường được dùng để chỉ những khu vực rộng lớn, tụ tập cho lễ lạt lớn. Công trường hồi chiến tranh, mật danh Công Trường 7, CS lại chỉ sư đoàn 7 quân CS. Nghĩa là chúng xài chữ ‘Công trường’ lung tung, bà con không biết đâu mà rờ?.

Tàn rộng che mưa đụt nắng, cây da trong sân rộng 1000 m2 của Đình Nam Chơn số 29 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận Nhứt.

Cây da cổ thụ trước Dinh Gia Long – nguồn kienthuc.net

Với tàn rộng giúp che mưa, đụt nắng, cây da cũng là nơi họp chợ. Sách Gia Định thành thông chí (1820), Trịnh Hoài Đức ghi chép về Chợ Cây Da (Khung Dung thị): “Phía nam trấn, dưới chân thành về phía hữu có cây da nhánh rễ rằng ni, bóng lá xum xuê nửa mẫu, người buôn bán nhóm chợ dưới bóng cây. Lúc đầu canh tư người ta đã đi chợ đèn đuốc sáng trưng kẻ đội người gánh những đưa bí rau cải đến nhóm tại đầu chợ phía tây, có người mua sỉ ngồi bán lại; đến sáng đầu chợ phía đông cá thịt và vật hàng mới bày bán”

Tập Ký ức lịch sử về Sài Gòn và vùng phụ cận (Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, ấn bản 1885): “Trên khoảng Khám đường (nay là Tòa án mới, xưa có ngôi chợ gọi là chợ Cây Da Còm (còm cõi). Gần ngã tư đường Bà Hom, quận Sáu có cây da rất lớn; vùng đất đó bà con mình gọi là Cây Da Sà (cây sà xuống). Chợ Cây Da Bà Bầu (Quận Mười) gần nhà nhạc sĩ Trường Kỳ (1946-2009). Chợ Cây Da Thằng Mọi thời Đức Tả quân Lê Văn Duyệt; giờ ở góc đường Nguyễn Trãi – Cống Quỳnh, Quận Nhứt. Chợ này có bán chưn đèn bằng đất nung, nặn hình thằng mọi, đội đèn trên đầu, trong đó đặt một cái tim bấc thấm ngập dầu phộng hay dầu dừa.

Xã An Mỹ, quận Kế Sách (nơi tui một thời dạy giáo) tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) cũng có cây da ở ngã ba sông, là bến nước, đò Kế Sách ghé vô rước em ra chợ quận thăm anh ngày cũ

Quê người, tui nhớ: Vườn hoa Lạc Hồng, gần nhà hàng Cửu Long, cuối đại lộ Gia Long, tỉnh lỵ Mỹ Tho, một chiều giông gió năm 1969, cây da đà trốc gốc ngã làm chết người đụt mưa dưới tàn cây của nó.

Tui nhớ cái đất Sài Gòn, với câu hát ru: “Cây da Chợ Đũi nay nó trụi lủi, trốc gốc, mất tàn. Tình xưa còn đó, ngỡ ngàng nan phân” Rồi: “Cây da trước miễu? Ai biểu cây da tàn? Bao nhiêu lá rụng; em thương chàng bấy nhiêu! Cây da trốc gốc trôi rồi. Em xa người nghĩa đứng ngồi không yên.”

Ối em ơi! Anh giờ như cây da đà trốc gốc. Trôi rồi ra biển tuổi xuân anh. Cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu, Đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.”  “Đại mộc lưu giang, bất đắc hồi cố”. Cây lớn trôi sông, chẳng đặng về chỗ cũ. Xin em đừng đợi nữa em ơi!

ĐXT

Còn lại một mình giữa nhân gian

damau.org

Hoàng Chính

Post on 10 Jul 2024

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Sáng Chủ Nhật, tôi dậy muộn. Thằng bé đã thức nằm ngọ ngoạy một mình trong nôi. Tôi nhổm dậy, ngểnh cổ thì thầm, “Hello buddy!” Thằng bé múa tay, đạp chân, miệng ọ ẹ như muốn đáp lại câu chào của bố. Chợt có tiếng sụt sùi từ bên ngoài vọng vào. Nancy lại sao nữa rồi. Tôi vội vuốt má thằng bé rồi đẩy cửa, rảo bước ra hành lang, gõ nhẹ cánh cửa căn phòng đối diện.

“Nancy ơi, you okay?”

Tiếng khóc tức tưởi đáp lời tôi.

Tôi khẽ đẩy cửa bước vào. Căn phòng lờ mờ tối. Tôi đưa tay mở công tác điện. Ánh sáng bung ra từ ngọn đèn trần.

“Tắt đèn đi,” Nancy hét lên.

Tôi vội gạt công tác điện. Bóng tối ùa về.

“Em không muốn nhìn thấy mặt mình đâu,” Nancy tức tưởi.

Chiếc giường ở góc phòng khăn trải thẳng thớm. Chăn gối xếp gọn gàng. Nancy thức sớm hay cả đêm không ngủ được? Câu hỏi xớn xác trong óc tôi. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bàn, Nancy đang đứng trước tấm gương, xoay lưng ra ngoài. Tôi thấy đôi mắt ướt lờ mờ phản chiếu trong gương. Mành tóc rối lưa thưa che ngang khuôn mặt. Tôi bước tới sát bên Nancy. Vây phủ quanh Nancy là cả một không gian nồng mùi dầu nóng. Nancy xoay người lại, một tay cầm chiếc lược, một tay nắm một lọn tóc.

“Anh xem này, tóc em rụng hết rồi!” Nancy sụt sùi.

Tôi chợt nhớ Nancy làm hóa trị đã được gần ba tuần lễ.

Tôi bước tới, rụt rè đặt tay lên vai Nancy. Nàng giơ cao nắm tay với vụn tóc rối cho tôi xem. Những sợi tóc xám cong cuốn, và gẫy khúc. Cảm giác nhờm tởm khuấy lên trong tôi. Một vài sợi tóc con gái đang xuân đen mướt rụng rơi dễ là nguồn cảm hứng, là thứ người đàn ông bắt gặp sẽ nhặt lên, ép vào giữa những trang sách. Nhưng mớ tóc rối bệnh hoạn, xám ngoắt, khô héo, gẫy mục, gợi lên cảm giác ghê sợ, như những sợi tóc rối trên đầu mụ phù thủy gian manh.

“Tóc em rụng hết rồi!” Giọng Nancy ướt sũng.

Tôi gỡ nhúm tóc rối ra khỏi bàn tay Nancy, nhỏ nhẹ, “Cố gắng điều trị, Nancy à. Rồi sẽ hết bịnh.”

Tôi biết mình nói dối. Những người mắc ung thư mà tôi có dịp quen biết đều chết sớm, ngay cả khi xem ra đã ổn định sau một thời gian điều trị. Có thể là tôi sai. Có thể là tôi quen toàn những người xấu số. Cho dù là thế, tôi cũng không dám nghĩ thêm.

“Nancy sẽ hết bệnh,” tôi nói.

“Anh không cần phải gạt tôi!” Nancy gắt lên, giọng khàn đục. Nàng ngước nhìn tôi. Đôi mắt nhòe nhoẹt. Những sợi lông mi dính bết vào nhau. Ánh nhìn tung tóe lửa hận.

Tôi sững sờ. Mớ tóc chết trong lòng bàn tay. Cảm giác ngứa ngáy gờn gợn trên da. Nancy đang trong cơn tuyệt vọng. Khi tuyệt vọng người ta có thể buông xuôi tất cả. Người ta có thể cắt mạch máu cổ tay chính mình và siết cổ những sinh linh vướng víu chung quanh. Tôi đứng bất động. Khoảnh khắc này mọi cử chỉ đều là ngọn lửa châm vào thùng thuốc nổ.

Tiếng hắt hơi của thằng bé trong nôi ở phòng bên kia đánh thức hai chúng tôi. Trong một giây, Nancy bỗng dịu dàng, “Con nhảy mũi kìa.”

Chúng tôi dắt díu nhau bước ra ngoài. Từ hôm Nancy đi bệnh viện để cắt bỏ hai bên vú. Thằng bé không còn ngủ trong phòng Nancy nữa.

Đến trước cửa phòng tôi, Nancy níu áo tôi, “I’m sorry!”

Tôi vội vàng, “Không sao.”

Nancy tiếp, “Nghe em nói đây.”

Tôi đứng sựng, nghiêng tai, chăm chú. Nắm tóc vụn trong lòng bàn tay chưa biết bỏ đi đâu. Cảm giác ngứa ngáy làm tôi khó chịu, nhưng tôi cố không để ý đến nó. Tôi biết tôi chỉ tưởng tượng ra như thế.

“Em không sợ chết,” giọng Nancy đã ấm trở lại. “Nhưng em sợ xấu xí, tàn tạ.”

Tôi vội vã lắc đầu. Và tôi lại nói dối, “Không chết đâu.”

“Đã bảo em không sợ chết!” Nancy gằn giọng.

Tôi vội vã gật đầu.

Đẩy cái nôi thằng bé ra phòng ăn. Tôi nấu nướng thật nhanh. Bữa điểm tâm đơn sơ sáng Chủ Nhật. Trứng tráng. Những miếng bánh mì nướng. Vài quả chuối. Bình sữa cho thằng bé. Cà phê cho hai chúng tôi. Từ lúc Nancy nhận bản án ung thư, căn nhà nhỏ bé của chúng tôi âm u như nhà mồ. Và bữa ăn nào cũng sơ sài cho qua. Chúng tôi thường ngồi với nhau như thế. Không ai nói gì với ai. Buổi sáng kéo dài tưởng chừng như vô tận.

“Em không muốn ăn sáng,” Nancy nói.

“Điểm tâm thôi mà.”

“Miệng em nhạt thếch. Ăn thứ gì cũng thấy giống nhau.”

Tôi nhớ hôm đến đón Nancy ở bệnh viện, bác sĩ đã dặn tôi nhắc nàng uống thuốc đúng giờ, không được bỏ thứ nào, dù biết thuốc làm tê liệt vị giác. Người bệnh sẽ không còn nếm được vị của đồ ăn.

“Thôi, cố ăn để lấy sức,” tôi xuống giọng vỗ về. Và kéo ghế cho Nancy ngồi.

Nancy buông mình xuống ghế, ánh nhìn xa xăm. Có gì ở cuối tầm nhìn ấy? Một phép lạ. Một tin vui rằng một ngày nào đó bác sĩ bảo trong cơ thể nàng không còn tế bào ung thư? Tôi cũng bắt đầu mơ mộng xa vời. Hệt như Nancy. Tôi còn cầu nguyện nữa. Tôi kỳ kèo với Trời với Đất. Rằng Nancy thiệt thòi cũng đã nhiều. Rằng Nancy chỉ có một mình. Rằng công việc bắt buộc Nancy phải chuyển về cái thị trấn xa xôi hẻo lánh này. Rằng Nancy đã phải cắt bỏ cả hai bên vú. Nancy đã bị tước đoạt những báu vật của người nữ. Nancy không còn cho thằng bé bú được như vẫn thường cho bú. Nancy đã bị tước đi quyền làm mẹ. Nancy thương thằng bé hơn bất cứ thứ gì. Dù Nancy không sinh ra nó nhưng ngay buổi đầu khi mẹ nó đem nó đến đây rồi bỏ đi bặt tăm, chính Nancy đã cho nó bú dù nàng chưa bao giờ làm mẹ. Phép lạ đã xảy ra một lần giữa đời thường. Bị thằng bé bú hoài, đôi vú Nancy bắt đầu làm ra sữa. Phép lạ cũng có thể xảy ra một lần nữa. Rằng ung thư đã trị tuyệt. Tôi thèm khát một phép lạ giữa đời thường như thế. Và tôi âm thầm cầu nguyện. Bởi tôi chẳng biết xoay sở thế nào, khi còn lại một mình giữa nhân gian.

“Hồi nằm bệnh viện, em hay ngóng ra cửa sổ,” Nancy nói, mắt vẫn nhìn xa xăm. “Mấy hôm ấy trời mưa hoài. Em nhìn mưa. Em nghĩ mình còn cố sống để làm gì. Em nhìn ra cái lan can. Phòng em ở tận trên lầu sáu. Em thấy những thanh sắt lan can cong queo như những con rắn. Con rắn năm xưa dụ người đàn bà ăn trái cấm, những con rắn lan can hôm ấy rủ em thả mình xuống để không còn đau đớn, không còn khó thở, không còn phải nuốt những viên thuốc đắng, không còn bị kim đâm nát cánh tay. Buông mình xuống để giải thoát chính mình. Em thấy sự giải thoát ở trong tầm tay. Với tay ra là có ngay được. Anh biết không?”

Nancy ngừng nói, hai tay chặn lên ngực để thở. Tôi rùng mình. Tôi nhìn đôi mắt sâu. Hai quầng thâm dưới mi mắt. Đôi má hõm. Đôi môi xám nhạt. Chẳng còn là người đàn bà có nụ cười nửa miệng đầy quyến rũ, đến mức vừa đến hỏi thuê nhà là tôi đồng ý cho thuê ngay độ nào. Tôi hít một hơi dài để dồn nén cơn xúc động. Mùi dầu nóng căng đầy lồng ngực. Tôi nhìn cái cổ tay gầy guộc của Nancy. Tôi không thể ngờ Thần Chết đã từng rủ rê Nancy rời bỏ chốn này.

“Nhưng anh biết gì không?” Nancy xoay người đặt tay lên vành nôi thằng bé. “Em nghĩ đến thằng bé này.” Tôi khẽ gật đầu. Tôi cảm động. Tôi biết Nancy còn nói thêm nữa là tôi sẽ khóc.

“Nó đâu có tội gì,” Nancy tiếp.

“Nó đâu có tội gì,” tôi lặp lại câu nói của Nancy. Tôi đã toan nói Nancy cũng đâu có tội gì nhưng tôi ngừng lại kịp.

“Thay tã cho con chưa?” Nancy hỏi.

Tôi giật mình. Cả tháng trời Nancy săn sóc thằng bé. Nancy thay tã, tắm rửa, cho ăn uống. Nancy làm đủ thứ cho nó, cho đến khi nàng phải vào bệnh viện. Tôi lụp chụp đóng vai ông bố có con đầu lòng không quên thứ này thì cũng quên thứ kia.

Thấy tôi ú ớ, Nancy tiếp, “Lại quên nữa rồi.”

Tôi chạy đi lấy tã để Nancy thay cho thằng bé. Thay xong, nàng ôm thằng bé, hôn lên trán nó, thì thầm, “My baby!” Rồi quay sang tôi, “Mai mốt không còn em… Anh nhớ thay tã thường xuyên cho con.”

Bỗng dưng tôi hoảng sợ. Mai mốt còn lại một mình tôi. Tôi không dám nghĩ thêm. Tôi phải cố nghĩ sang chuyện khác. Tôi khẽ đẩy đĩa thức ăn lại trước mặt Nancy, “Nancy ăn đỡ miếng bánh mì cho khỏi đói.”

Nancy cầm quả chuối lên ngắm nghía. Những ngón tay Nancy run rẩy như những ngón tay người già. Nàng nghiêng đầu chăm chú nhìn cái nhãn hiệu dán trên vỏ chuối. Chùm tóc rối lòa xòa một bên vai. Nàng tỉ mỉ bóc cái nhãn ấy ra, dán xuống mặt bàn.

“Trái chuối này từ Guatemala nhập sang đây đó anh,” nàng chỉ vào hàng chữ trên nhãn hiệu.

Tôi cầm quả chuối của mình lên. Cái nhãn hình bầu dục dán ở giữa quả chuối. Cái nhãn đủ màu xanh, đỏ, tím, vàng và hàng chữ Guatemala. Ăn chuối biết bao lâu mà không bao giờ tôi để ý xem chúng từ đâu tới.

“Anh cứ tưởng tượng mà xem,” Nancy tiếp. “Nó từ một cánh đồng hay một nông trại. Người ta cắt buồng chuối ra khỏi thân cây. Người ta vác nó trên vai, đội nó trên đầu, cẩn thận để không bị gẫy hay giập. Rồi người ta chất nó cùng những buồng chuối khác lên chiếc xe bò lọc cọc trên đường đất gồ ghề, lầy lội. Đến xưởng thực phẩm trên thành phố, người ta dán cho mỗi quả chuối một nhãn hiệu, như tấm thẻ quốc tịch, như mẩu giấy thông hành. Rồi người ta chất nó lên xe tải chở ra phi trường.”

Một cơn ho cắt ngang câu nói. Nancy ôm khung ngực lép kẹp để ém cơn ho. Nàng thở hì hạch như vừa chạy nước rút. Nước mắt dàn dụa hai mi. Rồi nàng tiếp, giọng đứt quãng, “Người ta chất nó vào khoang hành lý máy bay. Nó lẩn vào giữa những đám mây. Nó đáp xuống phi trường nào đó ở xứ sở này. Người ta lại gỡ nó ra. Chở tới siêu thị, cho vào bọc, đặt lên quầy. Anh mua về. Và hôm nay mình dùng nó cho bữa điểm tâm buổi sáng.” Nancy cầm quả chuối lên ngắm nghía. “Nó đến từ Trung Mỹ, tận Guatemala. Có khi trái chuối này mọc trong cái vườn nhà nghèo kia, có đứa bé thèm ăn chuối nhưng mẹ nó bắt nhịn để bán lấy tiền mua gạo.”

Ngừng lại để thở, hai mắt đăm đắm nhìn quả chuối, một lát Nancy thì thào, “Em không muốn ăn trái chuối này đâu. Em muốn giữ nó lại để chuyện trò với nó. Em muốn hỏi thăm nó về đời sống ở xứ sở Trung Mỹ ấy. Em muốn được đi đó đi đây như nó. Anh biết không?”

Tôi nhai miếng bánh mì nướng khô khốc và cố nuốt xuống cùng với cái mặc cảm tội lỗi sần sượng. Cả tháng trời nay, tôi bị ám bởi cái ý nghĩ đầy ngu ngốc rằng nếu đừng có cái đêm bão tuyết, và tôi đừng mò vào phòng Nancy, đừng tuột vội chiếc áo thun Nancy mặc trên người và đừng mân mê khuôn ngực tròn đầy, thì tôi đã không phát hiện ra khối u ở ngực bên trái của Nancy và như vậy Nancy đã không bị chứng bệnh mang cái tên độc địa: ung thư vú.

Tôi cứ nghĩ là tôi làm Nancy bị ung thư. Và tôi có lỗi một phần. Ý nghĩ ấy gắn cứng vào óc tôi. Tôi biết mình vô lý nhưng làm sao xua nó đi cho được. Trong người tôi, nó đã di căn khắp châu thân, như những tế bào ung thư quỷ quái.

Tôi rót thêm sữa vào ly cà phê đã nguội ngắt của Nancy.

Nancy lắc đầu, nhỏ nhẹ, “Em không muốn ăn uống gì hết.” Nàng buông quả chuối xuống bàn, áp hai bàn tay lên hai bên thái dương, nhắm nghiền hai mắt, “Em chóng mặt. Với lại em bị lở miệng, ăn không được.”

Tôi ngồi yên như tượng đá. Tôi không biết phải làm gì. Nhưng Nancy đã vội trấn an tôi, “Anh ăn đi, em ngồi nhìn anh ăn cũng được rồi.”

Có những thứ cần phải đốt đi

damau.org

Hoàng Chính

Post on 20 Mar 2024

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Chờ cô ngồi yên trên chiếc ghế có lưng dựa, ông bác sĩ tự giới thiệu rồi nhìn thẳng vào mắt cô, “Cô có ý định tự tử từ lúc nào?”

Sững sờ. Miệng cô há hốc. Gần một phút trôi qua. Những con mắt xoáy vào nhau. Rồi như chợt hiểu ra, cô chồm ra trước, trừng mắt, nắm chặt hai bàn tay, gằn từng chữ, “Tôi không có ý định gì hết.”

Không quan tâm đến cử chỉ của cô, ông bác sĩ hỏi tiếp, “Thế có bao giờ cô toan tính tự tử chưa?”

“Trời ơi! Tôi không tự tử,” cô nói như hét. “Ai nói với mấy người là tôi tự tử chứ?”

“Cô là gì của anh…” ông bác sĩ xoay qua cô y tá đứng bên cạnh, nhướng mắt hỏi, “Anh ta tên gì nhỉ?” Cô y tá đọc cái tên đàn ông lạ hoắc. Ông bác sĩ gật gù, “Ừ, anh Jack; cô là người yêu của Jack phải không?”

“Jack nào? Tôi không phải là người yêu của ai hết,” cô gầm gừ trong cổ họng. Khi không lại được làm người yêu của một người không quen biết.

“Jack nói với cảnh sát cô là người yêu của anh ta.”

Đang hí hoáy ghi chép vào xấp hồ sơ, cô y tá ngưng tay, xen vào, “Người yêu mới dám liều mạng như thế.”

Thì ra tên hắn là Jack. Tên trộm ấy tên là Jack. Cô không quen biết hắn. Cô chỉ biết hắn là tên ăn trộm, một tên trộm kỳ quái.

Cô xoay qua người nữ y tá, “Tôi không quen biết gì anh ta hết.”

“Jack nói là cô đòi chia tay với anh ấy,” cô y tá nói.

Cô nghiến răng, “Trời ơi! Tôi không hiểu mấy người nói gì.”

“Thôi được, cô cứ ngồi đó nghỉ ngơi và định thần trở lại, lát nữa mình sẽ tiếp tục câu chuyện.”

Ông bác sĩ đứng dậy, đẩy chiếc ghế qua một bên, bước ra cửa. Cô y tá nhanh chân bước theo. Cánh cửa đóng sập. Chốt cửa khóa lại ở bên ngoài.

Cô ngả người ra lưng ghế, ngước nhìn trần nhà. Trần nhà sơn màu trắng. Cái màu chói lòa con mắt. Cô nhắm mắt, cố hình dung lại từng chi tiết của buổi chiều kỳ dị. Buổi chiều lạ lẫm như một giấc mơ, như một cơn ác mộng.

Bắt đầu là tiệm sách cũ ở cuối phố. Nơi cô vẫn thường ghé vào những khi rảnh rỗi, không biết phải làm gì cho qua thời gian. Tiệm sách thoang thoảng mùi mốc của giấy cũ. Những cuốn sách chồng chất lên nhau trên những kệ gỗ không sơn phết. Từ cửa vào, lối đi nhỏ dần rồi chia nhánh thành những khu sách riêng biệt, như những mê lộ. Cô thích đi lướt qua từng khu, chạm đầu ngón tay lên lưng những cuốn sách. Lâu lâu rút ra một cuốn, lật vu vơ vài trang, đọc lướt vài dòng, rồi để lại chỗ cũ. Cô ghé nhà sách như người phụ nữ có tấm lòng, ghé thăm những đứa trẻ trong viện mồ côi. Cô rảo hết những lối đi quanh co, chật hẹp. Vỗ về cuốn này, xoa đầu cuốn kia. Cô mỉm cười trước những cái tựa sách lạ lùng như nhìn đứa trẻ nghịch ngợm làm trò méo mặt, nhe răng, cười để mong được người lạ nhận về nuôi. Cô đi vòng qua hết những ngăn, những kệ. Hư cấu, phi hư cấu, thi ca, âm nhạc, sách dạy đàn, sách dạy cách làm tình, sách dạy nghề sửa ống nước và cô sựng lại trước khu sách triết học. Một người đàn ông ngồi xếp bằng ngay lối đi, lưng dựa vách tường, tay mân mê một cuốn sách bìa màu nâu cũ. Một cái ba lô màu đen căng phồng nằm bên cạnh. Hắn ngước lên nhìn cô rồi lại cắm cúi vào cuốn sách. Cô bước lui bởi lối đi hẹp không vừa cho cô lách qua, và lối vào khu sách triết học ngừng lại trước vách tường xi măng lở lói. Một tiếng chửi thề khô khốc. Cô quay lại nhìn. Gã vẫn chăm chú vào những trang sách. Cặp lông mày cau lại. Miệng lẩm bẩm bằng tiếng Anh, “Phải đốt, phải đốt thôi!”
Sách nằm ở khu này chắc là sách triết học. Không mấy quan tâm đến triết học nên cô lùi ra, lặng lẽ bước về phía cửa ra vào.

Gã đàn ông ấy thảnh thơi bước qua trước mặt cô, ba lô trên vai, cuốn sách bìa nâu trong tay. Gã đi thẳng ra ngoài, tan vào vũng nắng trên đường phố. Cô tròn mắt ngạc nhiên. Cô gái ngồi ở quầy tính tiền đang chăm chú nhìn vào cái điện thoại cầm tay. Có một kẻ vừa ăn trộm sách mà cô ta không hề hay biết.

Thì ra tên hắn là Jack, và hắn khoe với thiên hạ cô là người yêu của hắn. Và cô là kẻ phụ bạc.

Cô xuống phố. Con phố đông người và nhiều cửa tiệm thời trang đầy những món đại hạ giá mùa hè. Chiều rơi nhè nhẹ. Gió lả lơi với nắng trên những ngọn cây. Cô lơ đãng đếm những ngọn đèn chớp, tắt ở ngã tư. Cô ngừng bước trước khung kính một tiệm thời trang. Những chiếc áo đầm điểm trên mình sắc màu mùa hạ. Những đốm hoa vàng vướng đầu cành nâu và lá xanh điểm những nụ tím. “Cô sẽ đẹp rực rỡ trong chiếc áo đó.” Giọng đàn ông sau lưng cô. Cô còn nhớ thật rõ cái giọng trầm và ấm áp. Lúc ấy cô đã quay lại nhìn. Một người đàn ông không quan biết. Gã trung niên. Áo thun trắng và quần Jean xanh đặm. Gã nháy mắt với cô rồi rảo bước. Gã đi một khúc xa cô mới mỉm cười. Cô quay lại khung kính cửa tiệm. Bóng cô in trên đó. Mỏng mảnh. Và dịu dàng.

Những người đi đường lướt qua sau lưng cô. Hình ảnh họ nhập nhòe khung kính. Lờ mờ phía bên kia đường thấp thoáng bóng một người đàn ông đang đi bỗng dừng hẳn lại trên lề đường. Cô giật mình. Đúng là tên ăn trộm sách. Bây giờ thì cô biết tên hắn. Cô y tá vừa bảo tên hắn là Jack. Và hắn đã khai với cảnh sát là cô đòi chia tay với hắn nên hắn tự tử. Thật không hiểu nổi. Đúng là tên trộm sách. Cái bóng cao lêu nghêu và màu áo vàng- sắc úa của lá mùa thu- của hắn không lẫn vào đâu được.

Cô nheo mắt nhìn cho rõ. Hắn đứng bất động. Ba lô nặng trĩu sau vai. Người đi đường dạt qua một bên để tránh hắn. Một người tất tả bước, mắt ngó ngang ngó dọc và đâm sầm vào hắn. Cô xoay hẳn người nhìn xem hắn phản ứng như thế nào. Gã đàn ông vừa đâm sầm vào hắn lùi lại, vung vẩy hai tay. Miệng lắp bắp ném ra những mảnh âm thanh vỡ vụn. Hắn vẫn đứng yên, đầu ngẩng cao, mắt dõi xa xăm.

Rồi hắn đặt cái ba lô xuống bên chân. Lom khom mở móc khóa. Người đi đường ném cho hắn những cái nhìn vụn vặt rồi nhanh chóng rảo bước. Bên này đường, cô tròn mắt nhìn. Hắn moi trong ba lô ra vật gì đó vuông vức. Một cuốn sách. Cuốn sách bìa nâu. Đúng là cuốn sách lấy trộm trong tiệm sách cũ. Hắn thận trọng đặt cuốn sách xuống bên chân phải, sửa lại cho ngay ngắn. Rồi ngập ngừng một giây, lại cúi xuống, cầm cuốn sách lên đặt sang bên chân trái. Bây giờ cô mới nhìn thấy đôi giầy vải hắn mang. Một bên có giây buộc, bên kia không giây. Cô ngạc nhiên. Chiếc giầy không giây mà sao hắn đi không tuột.

Đặt cuốn sách ngay ngắn bên chân trái xong, hắn ngẩng đầu lên, chùm tóc dài rũ xuống trán. Hắn nhìn vào khoảng không trước mặt, vẻ mãn nguyện mơ hồ trên nét mặt. Rồi hắn cúi xuống, loay hoay với cái ba lô căng phồng. Cô thấy hắn lôi ra một cái thùng, từ xa, nhìn như một can nhựa đựng nước. Vài người đi đường bước chậm lại, tò mò nhìn hắn.
Hắn thong thả mở nắp thùng nhựa. Rồi hắn nắm quai thùng, xách nó lên, nghiêng miệng thùng lên phía trên cuốn sách. Chất lỏng lấp lánh đổ thành dòng lên bìa sách, tràn xuống mặt đường, rồi hắn nâng cái thùng lên, nghiêng miệng thùng ngay đỉnh đầu. Chất lỏng óng ánh tuôn ra, tràn trề trên tóc, trên cổ, trên mặt, dán vải áo vào ngực hắn, tuôn xuống hai chân, thấm đôi giầy vải. Và loang thành vũng trên lề đường.

Những bước chân sựng lại quanh hắn. Những con mắt trợn tròn, những cái miệng há hốc ngạc nhiên. Bên này đường tim cô đập vỡ tung lồng ngực. Tiếng hét của người nào đó khuấy động lòng con phố. Vài người tuông chạy. Vài người vây quanh hắn. Hắn đứng thẳng người. Chiếc áo sơ mi thấm chất lỏng ngả sang màu nâu nhạt.

Chôn chân trên lề đường cô cố kiễng chân lên nhìn cho rõ. Bên kia đường, hắn co ro. Tả tơi như vừa lầm lũi bước đi dưới cơn mưa trút nước. Cái bình nhựa màu trắng nằm ngay ngắn bên chân hắn. Đám đông vây quanh, lao xao, nôn nóng. Những cái điện thoại đi động săm soi chĩa vào hắn.

Hắn thọc tay vào túi quần bên phải, sựng lại, khẽ lắc đầu rồi luồn tay vào túi trái, moi ra vật gì đó nhỏ, gọn trong lòng bàn tay. Ánh nắng chiều lọt qua khe hở giữa hai dãy chung cư lấp lánh trên cái bật lửa màu bạc.

Chợt cái bật lửa tuột khỏi tay hắn, rơi xuống mặt đường. Hắn cúi xuống nhặt lên. Cô thoáng thấy hắn rùng mình. Hắn lại loay hoay mở nắp. Loại bật lửa này bây giờ ít người dùng. Bởi mắc tiền và không tiện dụng. Cô nhận ra bởi ngày trước bạn trai cũ của cô luôn miệng ca ngợi cái bật lửa Zippo mà anh ta mua được.

Hắn vừa mở được nắp cái bật lửa. Đám đông lại lao xao. Bên này đường cô thấy rõ ngón tay cái của hắn run rẩy đặt lên vòng bánh xe bật lửa. Và cô tuông chạy qua đường, bất chấp tiếng còi xe chát chúa bên tai. Cô nhào về phía hắn. Cô xô đẩy hung hăng. Cô ôm chẩm lấy hắn. Mùi xăng xốc vào cổ họng. Cô cảm nhận được những đốt xương sườn thô cứng cấn lên thân thể cô. Hắn sững sờ buông xuôi hai cánh tay. Cái bật lửa rơi xuống mặt xi măng vang lên một tiếng cạch khô khan. Hắn cao hơn cô. Cô phải ngước lên để gào vào mặt hắn, “Don’t do it! please, don’t do it!” Cô lặp đi lặp lại câu nài van ấy cho đến khi giọng cô khản đặc. Cho đến khi tiếng xì xào thất vọng của lũ người vây quanh dâng cao, cao mãi như thủy triều. Trong mớ âm thanh hỗn độn ấy cô nghe ra cả những lời nguyền rủa của đám đông dành cho “đứa con gái ngu xuẩn.”

Hắn đứng chết lặng trong vòng tay siết chặt của cô. Cô kiễng chân nhìn sâu vào mắt hắn, trong khi hắn vẫn rõi mắt về một không gian mơ hồ xa xăm nào đó. Vùng trời phía sau lưng cô, nơi những toà cao ốc xén bầu trời thành khung tranh xanh biếc. Hắn lẩm bẩm, “Có những thứ cần phải đốt đi…” Rồi im bặt.

Cô muốn buông hắn ra nhưng hai cánh tay cô như hai thanh sắt siết vòng ra tới sau lưng hắn. Cô lại cố kiễng chân nhìn vào mắt hắn. Mắt hắn màu nâu. Chắc cũng như màu mắt cô. Đám đông vây quanh họ dãn ra. Những tiếng cằn nhằn dấy lên chung quanh, mạt sát hành vi liều lĩnh của cô. Kẻ nào đó lại buột miệng rủa, “Stupid girl!”

Cô chợt hiểu. Cô đã lấy mất của đám đông cơ hội quay phim để nổi tiếng trên mạng xã hội. Cô không dám nhìn bất cứ khuôn mặt nào chung quanh. Và cánh tay cô vẫn siết cứng quanh thân thể người thanh niên áo vàng. Cho đến khi có ai đó gỡ hai cánh tay cô ra.

Hai người cảnh sát. Người cảnh sát nữ kéo cô qua một bên, người cảnh sát nam nhặt cái bật lửa và kéo cái ba lô qua một bên. Sau khi lục soát kỹ lưỡng túi áo, túi quần hắn, họ đẩy cả cô lẫn hắn vào xe cảnh sát.

Họ chuyển hai người vào bệnh viện. Cho cô thay áo quần của bệnh nhân và đưa cô lên phòng bác sĩ trực. Một người cảnh sát đi sát sau lưng cô. Cô xớn xác tìm người thanh niên áo vàng nhưng hắn đã biệt dạng.

Và bây giờ cô ở đây. Bệnh viện thành phố, trong căn phòng dành cho những bệnh nhân bạo động, có cửa khóa trái bên ngoài. Cô ngọ ngoạy trong chiếc áo rộng thùng thình. Mùi xăng đeo dính lấy cô dù cô đang khoác trên người áo choàng bệnh viện. Tiếng gõ cửa nhẹ, và cánh cửa bật mở. Ông bác sĩ trực và cô y tá ban nãy. Thêm một người nữ cảnh sát.

“Tôi có làm gì đâu.” Cô lặp đi lặp lại câu ấy, nhưng chẳng ai thèm nghe cô nói. Họ quả quyết cô cần gặp bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Ông bác sĩ kéo cái ghế ở góc phòng, ngồi đối diện với cô, chậm rãi, “Cô có ý định kết liễu đời mình tự bao giờ?”

“Tôi không có ý định gì hết,” cô nhỏ nhẹ. Ngồi ôn lại khúc phim của buổi chiều giúp cô lắng xuống, giọng cô ngọt ngào, “Tôi thấy người toan tự tử thì tôi cứu, vậy thôi.”

Ông bác sĩ gật gù, “Nhiều trường hợp người muốn tự tử nhưng không đủ can đảm thực hiện. Tuy nhiên người ta dễ dàng thực hiện ý định của mình khi có người chuẩn bị sẵn cách chết cho mình… Cô biết điều đó chứ?”

“Tôi không muốn tự tử,” cô nói cùng với cái lắc đầu.

Ông bác sĩ vẫn thong thả, “Hơn nữa, hành vi tự tử cũng như hành vi phạm tội, có kẻ đồng phạm người ta sẽ yên tâm phạm tội hơn.”

Cô mím môi, lặng thinh.

“Cô thấy bao nhiêu người chung quanh, không có ai ôm chầm lấy kẻ tẩm đầy xăng trên người như thế, họ tránh xa ra, và họ gọi cảnh sát.”

Nỗi bực bội lại dạt về, cô gằn giọng, “Họ tránh xa ra để quay phim, mấy người hiểu không?”

Ông bác sĩ chuyển hướng câu chuyện, “Cô là gì của hắn ta?”

“Ai?”

“Jack, anh chàng tẩm xăng lên người ấy.”

“Không là gì hết.”

Ông bác sĩ gật gù, nét nghi hoặc hiện rõ trong ánh mắt.

Im lặng một lúc, cô buột miệng, “Anh ta đâu rồi?”

“Nhập viện, chờ khám tâm thần.”

Cô nhắm mắt. Hình ảnh buổi chiều tắt nắng trong lòng phố lại hiện ra trước mắt cô. Gã thanh niên áo vàng. Tóc rũ trên vầng trán cao. Đôi con mắt màu nâu. Hai chiếc giầy vải và một bên giầy không có dây buộc. Chiếc ba lô màu đen. Thùng nhựa màu trắng. Chất lỏng lấp lánh trong nắng chiều. Cái bật lửa kiểu xưa có nắp đậy. Và cuốn sách bìa màu nâu lấy trộm trong tiệm sách cũ. Dòng chất lỏng chảy lênh láng trên cuốn sách tràn xuống nền xi măng lề phố.

Bỗng dưng cô muốn biết cuốn sách ấy là sách gì mà bị hắn tẩm xăng trước tiên. Cô quay sang người cảnh sát đứng cạnh đó, “Cuốn sách đâu rồi?”

Người nữ cảnh sát nhướng cặp lông mày, “Cuốn sách nào?”

Hành lang toà Milton 230512

Có gì mà phải vội vã nữa đâu!

damau.org

Post 21 May 2024

Hoàng Chính

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

“Em phải đi bác sĩ,” tôi buột miệng nói.

Đang ngồi cạnh chiếc nôi, đỡ bình sữa vào miệng thằng bé, Nancy ngẩng đầu lên, “Tại sao?”

Tôi lúng túng, “Em phải làm… mammogram.”

Nancy tròn mắt ngạc nhiên, “Tại sao?”

“Để định bệnh.”

“Bệnh gì?”

Tôi hít một hơi dài, gom góp hết dũng khí, và thở ra đứt quãng, “Có cục gì trong ngực trái của Nancy.”

Nancy trợn mắt, “Làm sao anh biết?”

“Bữa… hôm bão tuyết,” tôi lúng búng trong miệng.

Hai má ửng đỏ, Nancy úp vội bàn tay lên ngực. Hai con mắt mở lớn, bối rối và kinh ngạc. Nàng rút bình sữa từ miệng thằng bé, đưa cho tôi, bước vội vào nhà tắm.

“Bên trái,” tôi nói với theo.

Chuyện như thế này, nhà có hai phòng ngủ. Là chủ nhà nên tôi nhường phòng ngủ chính rộng rãi, có nhà vệ sinh riêng, cho Nancy. Bữa hôm bão tuyết, bận công việc và loay hoay với thằng bé sơ sinh chưa đầy sáu tháng, tôi không kịp vào rừng chặt cây hoặc ra khu ngoại ô mua củi đốt lò sưởi nên nhà lạnh cóng. Nhà chỉ có một máy sưởi điện xách tay, để trong phòng Nancy bởi cái nôi của thằng bé đặt trong ấy. Đêm lạnh, tôi đã phải liều mạng mò vào phòng Nancy. Vậy đó!

Nancy lủi thủi bước ra từ nhà tắm. Hai con mắt đờ đẫn, “Bây giờ làm sao đây?”

“Để anh gọi bác sĩ lấy hẹn cho Nancy.”

Tôi ôm điện thoại. Một loạt những thông tin từ máy ghi âm, chỉ dẫn bấm số này nếu muốn thế này, bấm số kia nếu muốn thế kia. Quay vòng vòng chóng mặt. Sau mười phút chờ, tôi gặp được nhân viên bệnh viện. Bệnh viện thành phố này nhỏ, không đủ phương tiện. Người ta giới thiệu Nancy lên thành phố lớn kế bên. Tám chục cây số. Nancy phải lên đấy để chụp hình quang tuyến vú. Chúng tôi lặn lội đường dài. Tới, lui, và chờ đợi. Cũng may thằng bé con ngủ suốt quãng đường.

Rồi cả hai chúng tôi nôn nóng chờ kết quả mammogram. Bác sĩ gọi Nancy, bảo chưa thể kết luận trên hình quang tuyến, nhưng cho cái hẹn, đòi nàng tới bệnh viện để làm sinh thiết.

Thời gian trôi. Thời gian ngừng. Thời gian đan chéo vào nhau. Buổi sáng lẫn vào buổi chiều. Ban trưa rối tung với những mảnh đêm u uẩn. Chúng tôi đã hiểu thế nào là chờ đợi. Đó là khoảng thời gian chúng tôi quay cuồng, khốn khổ.

Rồi gió dông cũng đến. Người ta tìm ra tế bào ung thư. Và không phải chỉ có ở bên trái, nơi tôi tình cờ nắn trúng cục gì đó cứng như viên sỏi. Trong phòng chờ đợi của Khu Ung Thư bệnh viện đa khoa, nghe cái tin khốn khó, Nancy bật khóc. Tôi đứng nhìn. Rồi tôi ngồi xuống cạnh Nancy. Ngồi chán tôi lại đứng. Tôi không biết phải làm gì khi Nancy khóc. Tôi hoàn toàn tan biến khi phải đối diện với một người đàn bà đau khổ. Tôi sợ những giọt nước mắt.

Rồi tôi nghĩ ra. Tôi vòng cánh tay ôm lấy hai bờ vai gầy guộc. Những tế bào ung thư khốn nạn đã làm Nancy gầy ốm từ lúc nào mà – ở chung nhà biết bao lâu – bây giờ tôi mới nhận ra. Những cái rung nhẹ của cơn khóc truyền sang tôi nỗi xót xa, niềm tuyệt vọng.

Mãi lâu sau Nancy mới sụt sùi, kể lể, “Em mới chỉ được ảo tưởng làm mẹ mỗi một lần. Thằng bé con của anh cho em cảm giác tuyệt vời ấy. Nó cho em làm mẹ. Anh là đàn ông, anh không hiểu được nỗi khao khát làm mẹ của đàn bà.”

Nancy ngưng nói, hai vai rung nhẹ theo từng tiếng nấc. Tôi chạy đi xin cô y tá miếng khăn giấy, cô ta đưa cho tôi nguyên hộp. Tôi gỡ một miếng, vùi vào lòng bàn tay Nancy.

“Em nhớ cảm giác ấy,” Nancy nói rì rầm, như cho một mình nàng nghe. “Cảm giác của người đàn bà khi đứa bé – dù không phải là con em – mút chùn chụt núm vú của em. Ban đầu em ngượng chín người. Nhưng rồi em thấy ấm áp. Em thấy gần gũi với thằng bé. Dù nó không từng nối liền với em bằng cuống rốn sơ sinh nhưng nó nối với em bằng cái núm màu hồng trên ngực em. Cảm giác đó giúp em bay bổng. Lúc nó bú, em nhìn vào mắt nó, em thấy chút gì đó như sự biết ơn. Nó cứ bú hoài, làm em khao khát được truyền cho nó sự sống, để nó lớn lên. Để nó không còn là đứa trẻ sơ sinh. Nó thành con em. Em thèm thấy nó lớn lên.” Nancy ngưng nói, đưa khăn giấy lên lau nước mắt. “Em thèm nghe nó gọi em bằng ‘mẹ’, dẫu chỉ một lần thôi. Chưa bao giờ em thấy thèm có con như bây giờ. Nó nhìn em bằng con mắt biết ơn. Em nhìn ra như thế chẳng biết có đúng không. Nhưng rồi chính em mới là kẻ mang ơn. Nó đem lại cho em niềm vui làm mẹ.”
Nancy ngưng nói, quay qua tôi, “Anh hiểu không?”

Tôi cuống quýt gật đầu. Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi nhớ đã từng đọc đâu đó về chuyện những người đàn bà không mang nặng đẻ đau, không phải cho con bú, cơ thể vẫn có thể làm ra sữa. Nancy đã từng sống cảm giác của người sản phụ mới sinh con từ khi Tiểu Quyên đem thằng bé – con của Tiểu Quyên và tôi – về cho chúng tôi nuôi. Và do biến chuyển sinh lý cơ thể, đứa bé bú hoài, kích thích cơ thể Nancy làm ra sữa. Điều đó đã xảy ra. Điều đó có thật. Chính tôi đã nếm vị sữa ấy một đêm kia. Tôi là người phát hiện ra điều đó khi chúng tôi quấn quyện vào nhau mà đo, đếm hạnh phúc.

Khi nhận ra hạnh phúc là thứ vô cùng hiếm hoi, tôi mất ngủ mấy đêm liền. Hai chữ “mất ngủ” nghe buồn cười nhưng thật chính xác. Tôi vẫn có những giấc ngủ tròn đầy, bỗng dưng dạo này những giấc ngủ ngon ấy biến đi như thể chúng bị kẻ nào lấy mất.

Lúc cô y tá gọi Nancy vào gặp bác sĩ chuyên khoa. Nancy đặt thằng bé vào tay tôi và thất thểu dò từng bước như can phạm bị điệu lên pháp trường. Tôi ngồi với thằng bé trong phòng chờ đợi. Gần nửa tiếng sau, Nancy bước ra. Nancy không còn là người đàn bà trẻ trung, linh hoạt mà chỉ là chiếc bóng của người đàn bà ấy, chiếc bóng mà một cơn gió nhẹ cũng có thể cuốn bay đi. Chiếc bóng ngồi thụp xuống trong chiếc ghế phòng chờ đợi. Tôi nhận ngay ra cái tin buồn. Kết quả mammogram vốn đã u ám, kết quả sinh thiết còn đen tối hơn cả ngàn lần. Những khối tế bào ung thư đã rải đều hai bên vú. Tôi đặt thằng bé vào xe đẩy, quỳ xuống trước mặt Nancy, choàng tay ôm lấy cái bóng chập chờn ấy. Tôi sững sờ. Nancy mỏng manh như chiếc bóng của chính nàng. Chúng tôi lặng câm như hai pho tượng. Đôi vai mỏng mảnh run rẩy trong vòng tay tôi. Người thư ký áo trắng nhìn chúng tôi. Ánh mắt nồng nặc mùi ái ngại. Những bệnh nhân khác nghiêng đầu, chớp mắt, trộm nhìn.

“Chừng nào?” Tôi thì thầm trong tóc Nancy.

Nancy sụt sùi, “Càng sớm càng tốt. Bác sĩ bảo vậy.”

Trên đường về, cơn xúc động nguôi dần, Nancy mím môi, “Em sẽ phải cắt bỏ cả hai bên.”

Tôi không biết nói gì nên tôi lặng thinh. Những con đường chợt dài ra trước mặt. Những ngọn đèn giao thông chớp nháy loạn cuồng. Tôi đặt tay lên cánh tay Nancy. Tôi muốn nói gì đó nhưng không nghĩ ra.

“Em không sợ xấu, em không sợ khuyết tật,” Nancy nói, rồi xoay người ra sau nhìn thằng bé đang ngủ trong chiếc ghế trẻ em. “Em chỉ buồn là sẽ không cho con bú được nữa.”

“Anh biết,” tôi cố tìm lời an ủi Nancy. “Nhưng con mình cũng sắp cai sữa rồi.”

Tôi nhấn mạnh hai chữ “con mình”, tôi biết mỗi lần tôi nói hai chữ ấy, đôi mắt Nancy lại thắp sáng niềm biết ơn.

“Sau khi làm mastectomy, bác sĩ sẽ cho em làm implant.” Nancy nói. Có chút gì đó như niềm hy vọng thấp thoáng trong giọng nói của Nancy. Nàng dùng tiếng Anh để nói về cái phẫu thuật ngặt nghèo ấy, bởi khi dùng tiếng Việt, sẽ nghe ra cái sự tàn bạo của dao kéo, thuốc mê. Tôi hiểu lờ mờ rằng người ta sẽ phải cắt bỏ hai bên vú của Nancy. Rồi độn cho nàng hai miếng silicone để giữ cái hơi hướm đàn bà.

“Có phải chờ lâu không?” tôi buột miệng hỏi. Rồi chợt nhận ra câu hỏi của mình có thể làm Nancy hiểu lầm. Đàn ông vẫn mê muội với những đôi vú mây mẩy của đàn bà. Không có đôi vú, đàn bà không hiện hữu trong thế giới trần tục của đàn ông. Vì vậy tôi vội sửa, “Bây giờ hẹn cái gì cũng lâu.”

“Bác sĩ bảo chờ vài tháng cho vết mổ lành hẳn.”

Tôi hình dung Nancy trần truồng trước tấm gương phòng tắm, hai tay nâng hai bầu vú tưởng tượng trên khoảng ngực lép kẹp hằn những đường chỉ khâu, và nước mắt hai dòng tuôn như suối.

“Trong khi chờ đợi, em phải làm hóa trị,” Nancy nói nhỏ như thể sợ tôi nghe được.

Tại sao lại là Nancy! Tôi muốn gào lên như thế suốt tám mươi cây số đường về. Tôi lái xe như tên điên trên xa lộ. Tôi quên bẵng đi rằng trong xe ngoài hai chúng tôi còn thằng bé con chưa đầy sáu tháng.

Chợt Nancy níu lấy tay áo tôi, “Chạy chậm lại đi anh. Có gì mà phải vội vã nữa đâu!”

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

13. Sau trận thánh chiến -Kết

Cũng như ngay sau khi tái chiếm Quảng Trị ở phía bắc, lần này với chiến thắng lớn lao tại mạn nam Vùng 1 Chiến Thuật, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu cùng các tướng lãnh Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ra thăm Đức Phổ, Quảng Ngãi. Tháp tùng phái đoàn còn có các cơ quan truyền thông. Tất cả sẽ ghé Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 6, thuộc Sư đoàn 2 Bộ Binh, để duyệt xem triển lãm chiến lợi phẩm mà hết 80 phần trăm là do Liên đoàn 1 Biệt Động Quân tịch thu tại mặt trận Sa Huỳnh.

Để bảo vệ các yếu nhân, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân và các lực lượng tham chiến khác đều bung rộng, làm nhiều vòng đai an ninh chung quanh. Đại đội tôi thì từ khu đồi 94 bên cửa khẩu, mục tiêu cuối cùng vừa dứt điểm, quành lại ven theo bờ đầm Nước Mặn lên trấn thủ một ngọn núi phía tây, dưới chân có con Quốc lộ 1 song song với đường xe lửa, nơi mà trước đó một tuần địch đã không ngờ tôi tấn công, phá vỡ phòng tuyến thép của chúng.

Từ đỉnh cao này nhìn xuống tôi thấy toàn vùng Sa Huỳnh Đức Phổ, một phần đất quê hương miền Trung tươi đẹp, những dãy đồi nhấp nhô như sóng lượn, nay đã sạch bóng quân thù. Trên các nẻo đường ngang dọc người người qua lại, dưới đầm Nước Mặn mênh mông cũng lao xao ghe thuyền đỗ bến.

Thiếu tá Quách Thưởng bảo bốn đại đội Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lập báo cáo thành tích của mình từ khi khởi sự tái chiếm Sa Huỳnh. Kết quả chung, đơn vị loại khỏi vòng chiến khoảng 500 Việt Cộng, bắt sống 19, tịch thu 256 súng đủ loại. Trong đó, riêng Đại đội 1 Biệt Động Quân của tôi chiếm một số lượng như sau:

Giết hơn 200, bắt sống 19 tên nêu trên làm tù binh, thu 106 súng, đặc biệt có một Phòng Không 12ly8 là khẩu lớn nhất tại mặt trận. Chưa kể đạn dược, chất nổ, cũng như không thể đếm được các đống thịt người bầy nhầy trong đồn lính, cùng hàng trăm xác giặc chìm sâu dưới đầm nước là riêng hai trận “Hỏa Thiêu”, “Thủy Táng” do tôi kêu pháo binh dập. Phần Đại đội chết hai, bị thương bốn binh sĩ.

Nhìn thành quả trên ai không sửng sốt? Nếu đem trưng các con số đó ra toàn quốc thì xưa nay QLVNCH có bao nhiêu cỡ đại đội trong một trận đánh, mà vừa giết lẫn bắt sống kẻ thù vừa tịch thu vũ khí nhiều đến thế?

Lúc đầu tham chiến, đơn vị chỉ 51 người, sau gần chấm dứt mới bổ sung thêm thành 70, cũng chỉ bằng phân nửa cấp số, nhưng lại đạt được một kỳ công rất hiếm. Trước hết, các chiến sĩ Đại đội 1 Biệt Động Quân chọc thủng phòng tuyến mặt tây Trung đoàn 141/2 Sao Vàng, kế tiếp là rượt bắn dài dài, địch chết cơ man vạn kể, nhất là tại bờ phía bắc đầm Nước Mặn vaø trên đồi 94 kết thúc cuộc đao binh tàn khốc Sa Huỳnh.

Thành thật mà nói, giặc chết thây phơi không sao kể xiết, và nếu đó không phải là một trận đánh thần thánh để đời của Đại đội 1/21 Biệt Động Quân thì là gì?

Sau chiến thắng anh em rất vui mừng, hy vọng sẽ được ban thưởng công lao xương máu mình đã đổ. Đó là chuyện đương nhiên dù ở quân đội nào, cả bộ lạc man rợ nhất. Nhưng khốn nạn thay! Rốt cuộc các chiến sĩ anh hùng này lại tủi nhục cho phận mình và bao kẻ đã hy sinh, gục ngã ở đầu non góc biển, những người con yêu của Tổ Quốc, cũng chỉ vì bọn lưu manh Trần văn Nhựt cướp công.

Theo lời Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, trước lúc Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đến Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 6 Bộ Binh xem thành quả tái chiếm Sa Huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẽ với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu. Dĩ nhiên, chiến lợi phẩm của Liên đoàn 1 Biệt Động Quân cũng có ghi rõ, đặc biệt một tấm tương tự treo trên nòng súng Phòng Không 12ly8. Nhưng khi phái đoàn Tổng Thống Thiệu sắp đáp trực thăng xuống, các sĩ quan Mũ Nâu bận ra sân bay đón rước, thì Chuẩn tướng Trần văn Nhựt Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh liền lợi dụng sơ hở cho bộ hạ trong phòng triển lãm lẹ tay hoán đổi hết các bảng ghi phần chiến lợi phẩm. Nghĩa là một dãy dài ngót 300 khẩu súng đủ loại do Biệt Động Quân tịch thu phút chốc biến thành “Chiến lợi phẩm của Sư đoàn 2”. Ông còn trắng trợn rất bỉ ổi không tả được là độc nhất có khẩu súng Phòng Không nổi bật của Đại đội 1 tôi tịch thu cũng bị đánh tráo luôn không chút nương tay. Rõ ràng tướng Nhựt treo đầu dê bán thịt chó. Tội nghiệp các tướng sĩ tượng, cả xe pháo mã chỉ biết đứng xem, tấm tắc khen tài Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh, chứ đâu ngờ ông bình vôi đó, nửa người nửa ngợm, hô phong hoán vũ, chơi trò xảo thuật cướp công xương máu của các chiến sĩ Mũ Nâu.

Hèn gì, tôi vừa thanh toán xong mục tiêu cuối cùng ở cửa khẩu, Trần văn Nhựt sai Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5/2 Bộ Binh gọi máy xin Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân cho một đơn vị của ông dàn trận giả bơi ghe qua tấn công đồi 94, để xảo trá quây phim, hô hoán chính chúng chiến thắng Sa Huỳnh. Đánh giặc, dù là giả, cũng phải có tiếng súng của địch chống lại, nên lũ hèn mới dám cả gan bảo Đại đội 1 tôi đang còn ở đó vờ làm Việt Cộng kháng cự dỏm, chỉ nã đạn lên trời, chứ đừng chúi xuống đầm Nước Mặn trúng âm binh của Nhựt. Nhưng tôi đã khẳng khái từ chối, không thi hành cái lệnh quái đản, trò hề của bọn côn đồ mà trời sẽ tru đất sẽ diệt một ngày không xa.

Còn gì nữa không? Con xin bái phục ông tướng đã một thời nổi tiếng anh hùng tử thủ… ở đâu đó!

Nghe Tiểu đoàn trưởng Quách Thưởng kể lại chuyện đánh tráo chiến lợi phẩm, cướp công Biệt Động Quân, tôi oán trách thì ông chửi thề:

– Mẹ, từ ngoài sân bay đi vô tao đã thấy vậy!

– Còn Trung tá Liên đoàn trưởng đâu, câm họng luôn sao?

– Thôi bỏ qua! Nếu mày không lên được đại úy, tao sẽ đề nghị cấp trên thưởng mày một Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu.

Tôi định trả lời Thưởng, dù tấm huy chương đó thuộc loại lón, tuyên dương công trạng cấp quân đội, nhưng tôi cũng đã có thừa ba cái, từ khi tôi còn mang lon thiếu úy dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971, và vì để lâu năm quá nên cả ba dương liễu đã hóa thành dương mai hết ráo rồi! Tôi không tiện nói, vì Thưởng là người bạn lâu năm và không chủ động được vấn đề.

Chán nản, tôi sai hai người lính thân cận Huỳnh văn Trung và Hoàng Anh toán Thám Báo, đem theo cái máy PRC25 để liên lạc, xuống núi vào khu phố Đức Phổ, cùng với tài xế Phó Trọng lấy chiếc xe Jeep chạy về Mộ Đức gặp Nhị. Nàng đang nóng lòng mong đợi tin tức nơi tôi.

Vài tiếng sau thì có tiếng Nhị gọi:

– Việt Quốc, em đây!

Tôi cầm ống liên hợp:

– Em và mẹ khỏe không?

– Dạ khỏe! Sao giọng anh khàn khàn vậy? Hoàng Anh nói anh có chuyện gì buồn lắm phải hôn? À này, sao em lại nghe đài phát thanh Quảng Ngãi loan tin Sư đoàn 2 Bộ Binh chiến thắng Sa Huỳnh chứ không phải Biệt Động Quân?

Nghe Nhị hỏi tôi càng tức thêm:

– Đó là lý do khiến Đại đội anh buồn. Buồn vì bị bọn Trần văn Nhựt cướp công. Anh sẽ viết sách về sự kiện lịch sử này, nêu đích danh tướng cướp. Chắc chú Trung đã kể em nghe hết mọi chuyện rồi!

Giọng Nhị như muốn khóc:

– Thôi, em không muốn anh buồn. Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhơn.

– Bị ma giáo, nên anh mất thành tích chứng minh để được thăng cấp mặt trận. Tội nghiệp, như em biết, lính lớp chết lớp bị thương, và gian khổ quá nhiều. Thế nào anh cũng cầm bút vạch mặt quân cướp cạn…

– Anh vừa tạo thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bậc nhỏ anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn, cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước. Tổ quốc đang cần những dũng sĩ như anh. Hãy tiếp tục chiến đấu, chứ đừng bỏ cuộc, nghe anh!

Tôi thật sự tối mắt, trả lời Nhị, người con gái vừa mới quen đã hơn một lần can đảm ra tận chiến trường thăm tôi:

– Em nói chí lý. Thôi, trời đã xế chiều rồi, cho Hoàng Anh và Trung trở lại Đại đội. Nhớ đừng đi theo nữa, anh ở tuốt trên núi cao lận. Gởi em ngàn cái hôn.

Nàng thỏ thẻ rất nhỏ, để tụi lính khỏi nghe:

– Em muốn hôn anh thiệt, không hôn gió đâu!

Tôi cười:

– Mai mốt anh về.

Chấm dứt cuộc vô tuyến điện đàm, tôi trả máy lại cho viên Hạ sĩ quan Truyền Tin Nguyễn Hiệp, rồi bước ra khỏi căn lều chênh vênh trên đỉnh núi đầy mây. Tai tôi vẫn còn nghe văng vẳng những lời Nhị nói, nhất là hai tiếng “thời thế”. Mỉa mai thật! Lẽ nào thời thế cứ nắn mãi phường sâu dân mọt nước ấy, một lũ hèn nguy hiểm hơn kẻ thù?

Tôi nhìn xuống đồng bằng phía đông trải rộng qua đến khu đồi 94 cửa khẩu Sa Huỳnh đang rực lên như tấm lụa. Xa hơn, về hướng bắc, sau dãy phố Đức Phổ dưới nắng chiều chói lọi, vài vật gì phản chiếu ánh sáng tia tỉa, như những ngôi sao bạc không đều cạnh, có chỗ nhòe nhoẹt giống miệng ông bình vôi trắng phếu. Dưới mắt tôi cơ hồ còn vang động tiếng thét hãi hùng của bầy giặc cỏ bị các Anh Hùng Bạt Mạng đánh tan xác hôm qua.

California 1996
Trần Thy Vân

NHẬN XÉT
Tác giả và tác phẩm
ANH HÙNG BẠT MẠNG

ĐÀI VNCR

-Đinh Quang Anh Thái: Quyển sách ANH HÙNG BẠT MẠNG này nếu người nào có dịp đọc sẽ thấy nội dung cuốn hút ngay từ đầu chí cuối với những đức tính ngang Oklahoma tàng của những những chiến sĩ mà tác giả đề cập trong truyện, cũng như những cái bạt mạng được nói tới không kém các hình ảnh cảm động. Tỉ dụ: đoàn người thân nhân của các binh sĩ đi theo đơn vị hành quân, nó nói lên một tấm lòng của tất cả những người chiến đấu bảo vệ cho miền Nam tự do.

ĐÀI LITTLE SAIGON

Trần Thy Vân, một sĩ quan chỉ huy thuộc binh chủng Biệt Động Quân trước 1975. Cuộc đời quân ngũ của ông là những tháng năm dài dưới lửa đạn, hai chân ông đã để lại nơi chiến trường trong lúc ông cố gắng bảo vệ tự do cho từng phần đất miền Nam VN. Trong tác phẩm đầu tay ANH HÙNG BẠT MẠNG ông đã kể lại phần lớn các cuộc hành quân thời gian chiến trường sôi động nhất vào những năm đầu thập niên 1970. Đọc cuốn hồi ký này chúng ta cảm thông sâu sắc với tâm tình tuổi trẻ đã một thời phục vụ cho đất nước, bao nhiêu đóng góp hy sinh để rồi dân tộc chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi nghèo đói, khổ ải, áp bức chỉ vì, theo tác giả, một số người lãnh đạo chỉ huy, như những đoạn văn mà chương trình “Anh Vẫn Sống” xin trích lại diễn đọc sau đây: “Sau Trận Thánh Chiến”, trang 203.

ĐÀI VOV

– Giáo sư Lưu Trung Khảo: Trần Thy Vân mới xuất bản cuốn truyện nhan đề ANH HÙNG BẠT MẠNG nghe cái tên có vẻ bạt mạng, mà đọc thì thấy đúng bạt mạng. Độc giả nào muốn tìm trong sách này hình thức tiểu thuyết ly kỳ, thì sẽ thất vọng. Đây là truyện dài không có cốt truyện, nhưng lại có nhiều chuyện do nhiều nhân vật đóng góp lại mà thành, không có nhân vật nào chính theo truyện dài truyền thống, nhân vật chính ở đây phải nói là những người anh hùng bạt mạng của Đại đội 1 BĐQ do Trung úy Trần Thy Vân chỉ huy.

Về văn học, cái xe lăn với ngòi bút của Trần Thy Vân, tôi nghĩ đó là khí giới mà Trần Thy Vân sau khi buông súng lại sử dụng để tấn công Cộng Sản. Cuốn AHBM là một phần đóng góp vào công cuộc chiến đấu. Sau khi tác giả đã hiến một phần thân xác mình cho đất nước vẫn không chịu buông súng, tiếp tục công việc lý tưởng…

– Giáo sư Trần Đức Thanh Phong: Đọc AHBM tôi thích nhất là tác giả đưa ra hình ảnh những người lính hạ tầng cơ sở thấp nhất quân đội, vì chưa có ai diễn tả từng tí như Trần Thy Vân. Cuốn sách nếu ai đọc mà không thấy xúc động, không biết cả triệu người lính chúng ta trong bao nhiêu năm khổ sở như thế nào là một việc thiếu sót…

BÁO THẾ KỶ 21

-Nhà văn Phạm Xuân Đài: Gọi đây là hồi ký đúng hơn truyện, vì tác giả viết chuyện thật hoàn toàn về cuộc đời chinh chiến của mình, một sĩ quan đại đội trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Chuyện kể trận nổi tiếng đánh chiếm lại Sa Huỳnh đầu năm 1973, mà đơn vị của tác giả đóng vai trò chủ chốt. Chuyện chinh chiến thì đã qua lâu nhưng bộ mặt thật của nó, những gian nguy và nỗ lực cùng cực của con người, những nét hào sảng những anh hùng trận mạc cũng như cái đê hèn của kẻ áp phe xương máu cần được ghi lại. Trần Thy Vân đã ghi lại. Tác giả không cường điệu hay hư cấu, tác giả chỉ kể chuyện chiến đấu của mình với sự tự trọng của một người có lý tưởng, trọng danh dự, với cái duyên dáng nghệ sĩ của kẻ “bạt mạng” đã nhiều phen vào sinh ra tử.

Người đọc hào hứng theo dõi cho đến màn chót của cuộc tái chiếm Sa Huỳnh đầy mưu trí, máu xương do đơn vị Biệt Động Quân của tác giả thực hiện, những bỗng buồn thấm thía khi đọc ở mấy trang chót. Tuy nhiên, trận chiến Sa Huỳnh dù chỉ xảy ra nơi một vùng nhỏ bé, nhưng liên hệ đến nhiều cá nhân, nhiều đơn vị nên có lẽ cũng còn nhiều mảnh sự thực khác nữa sẽ được đưa ra.

Lịch sử đang làm công việc của nó. Các mảnh sự thực đang được phục hồi lại, trong đó có những nhân dáng và nhân cách.

BÁO SAIGON TODAY và TÌNH THƯƠNG

– Ký giả Phạm Minh: Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG, tác phẩm đầu tay của Trần Thy Vân, tôi đã khóc lúc nào không hay. Rất may tôi đọc lúc đêm khuya, nếu không, các con tôi không hiểu vì sao cha mình lại nhỏ lệ. Quả thật cảm động lắm! Đó là hình ảnh một đời người, nhưng hơn thế nữa, đó chính là hình ảnh một dân tộc trong một thời kỳ đen tối của lịch sử, hình ảnh một quê hương quằn quại đau khổ… Tôi đã khóc với tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG, vì tôi thấy trong đó hình ảnh quê hương, của cả một thế hệ. Anh kể lại quãng đời niên thiếu của anh trong bối cảnh quê hương chiến tranh, anh có lý tưởng.

Hãy đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG để thấy cái phải thấy để mà biết đau khổ và điêu tàn tới đâu. Tôi đã đọc Phan Nhật Nam, Nhữ văn Úy, Nguyên Vũ, nay đọc thêm Trần Thy Vân quả là nhà văn tôi mến mộ và khâm phục.

VIỆT BÁO KINH TẾ

-Nhà thơ Viên Linh: Là một cựu sĩ quan Biệt Động Quân anh đã được gắn 18 huy chương anh dũng bội tinh với 4 nhành dương liễu, loại tuyên dương công trạng cấp quân đội và hai chiến thương bội tinh. Anh đã tham dự nhiều cuộc hành quân, kể cả trận Hạ Lào. ANH HÙNG BẠT MẠNG là chuyện đời anh, sống thật, nhưng không viết với giọng kể, mà dựng lại chuyện như đang xảy ra trước mặt. Cuốn truyện thực sự sống động, bởi Trần Thy Vân không làm văn chương, không hoa hòe hoa sói, chỉ trực thuật những đoạn đời, những cảnh sống, ngặt nghèo, gian nan đời lính.

Không phải ai cũng viết được như anh.

BÁO CON CÒ

– Giáo sư Trần Đức Thanh Phong: Thấy được một cuốn tài liệu giúp cho người đọc có thể sống lại những giờ phút ở tiền tuyến diễn tả như một bức tranh, một cuốn phim về người lính và sự đóng góp trọng đại của những anh hùng vô danh này, là một khám phá đầy ngạc nhiên.

AHBM là cuốn sách hiếm có, viết về lính, về các binh sĩ hạ tầng cơ sở của QLVNCH, những người cầm súng trực diện với địch, gần như hằng ngày tác giả chứng kiến các đồng đội gục ngã bên cạnh mình. Một câu chuyện về một đại đội Biệt Động Quân với những nhân vật trong đơn vị được nhắc nhở diễn tả bởi tác giả, một người hơn hai mươi năm trước là Trung úy chỉ huy đại đội này.

Với lời văn nhẹ nhàng, bình dân, hợp với những câu nói rất giản dị nhưng giàu tình đồng đội, người đọc được đưa vào một thế giới sống động của những người lính vào sinh ra tử, đồng thời cũng nhận thấy những người lính này bản chất con người, dù “bạt mạng” mà không quên gia đình, dù dứt khoát đối với địch vẫn còn tình thương đối với con người. Họ cũng biết yêu biết ghét, biết liều biết sợ, và đặc biệt biết “bạt mạng”.

Qua cuốn AHBM ông đã đóng góp thêm nhiều cho sự hiểu biết đời sống và tâm trạng của những người binh sĩ hạ tầng cơ sở gồm số đông của quân lực VNCH, nhất là về tình đồng ngũ đồng đội. Chọn từ anh hùng ghép với từ bạt mạng để đặt tên cho cuốn sách thật đúng với những nhân vật được nêu ra trong đó, phải chăng vì bạt mạng mà anh hùng, hay là vì anh hùng nên mới bạt mạng.

Người đọc còn khám phá thêm bên cạnh những “anh hùng bạt mạng” cũng có các phần tử hèn hạ, tuy thiểu số nhưng lại là cấp chỉ huy cao cấp, cho nên quân đội VNCH bị tai tiếng thật phi lý.

ĐÔNG PHƯƠNG THỜI BÁO và LẬP TRƯỜNG

– Ký giả Hồng Phúc: ANH HÙNG BẠT MẠNG tác phẩm đầu tay, là cốt chuyện của chàng Đại đội trưởng BĐQ Trần Thy Vân đánh nhau bạt mạng với quân đội Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam. Trong thời gian giữa lúc xáp trận tơi bời và nghỉ ngơi dưỡng quân, nhiều chuyện đã xảy ra, có khác nào trong quyển “Chiến Tranh và Hòa Bình” của đại văn hào Leo Tolstoi.

Trần Thy Vân, khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng Nam California hằng chục năm nay, là cựu Trung úy BĐQ đã hiến một phần thân thể trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. 1983 vượt biên qua Mỹ trên chiếc xe lăn anh vẫn tiếp tục đấu tranh chống Cộng như lúc còn quân phục. Trần Thy Vân từng làm chủ nhiệm báo, viết văn.

Buổi ra mắt sách AHBM có đủ thành phần cộng đồng, văn giới, báo giới, cựu tù nhân chính trị, đảng phái, hội đoàn, các nhà hoạt động đấu tranh, con số đếm được 221 người dự, chỉ kém chút đỉnh so với buổi nói chuyện của Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã tổ chức tại đây ít lâu, nhưng hơn xa nhiều vụ ra mắt sách khác. Các diễn giả được mời lên phát biểu gồm có:

– Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đề cập đến sử quan. Lịch sử thường bỏ quên các anh hùng nhỏ nbé như Trần Thy Vân và vô số Trần Thy Vân khác, chỉ nói đến tướng với tá, nên mới có câu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” hay lịch sử bị bóp méo, Quốc Sử Giám triều Nguyễn gọi triều đại Quang Trung Đại Đế là ngụy triều.

– Giáo sư Nguyễn sĩ Tế đề cập đến tiểu thuyết chiến tranh. Ông cho rằng Trần Thy Vân rời trường học, vào quân trường ra đánh giặc, kể chuyện giặc giã với tâm hồn trong sáng, nên vài nhân vật như cô Lý, cô Nhị không xung đột nhau. Tác giả hâm nóng chiến tranh, theo ông, với nhiệt độ vừa phải. Ông đã rung động nhẹ nhàng với tác phẩm AHBM. Ông tin tưởng kiểu viết như chương “Quán Hồng Cà Phê Máu, Máy Bay Bắn Lầm”, Trần Thy Vân nếu tiến sâu vào lãnh vực của tiểu thuyết chiến tranh anh sẽ có thừa cơ hội thành công.

– Nhà văn nữ Bùi Bích Hà cho rằng bà không bao giờ tưởng mình có thể đến đây trình bày cảm nghĩ về một tác phẩm nói đến chiến cuộc vì tuổi đời còn nhỏ. Thuở thiếu thời chỉ nghe chương trình Dạ Lan, đã khóc với Kỷ Vật Cho Em và Người Ở Lại Charlie. Nay đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG mới thấy sử tự hào về những đóng góp của bậc đàn anh nơi chiến trường.

BÁO DÂN QUYỀN Oklahoma.

– Nhà báo Quách Y Lành: Các độc giả bên Cali ngỡ Hoạt và Quách Y Lành chưa nhận được sách nên mới gọi qua báo Dân Quyền Oklahoma cho biết về tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG, trong đó tg Trần Thy Vân viết rất nhiều về hai ông anh của QYL.

Thú thật với anh, Y Lành viết bằng đầu óc tưởng tượng đôi khi một mình ngồi đọc lại cũng giọt ngắn giọt dài, huống chi đọc sách anh thấy chính tên tuổi của hai ông anh mình được trang trải trên từng trang giấy. Mặc dù đã hai mươi bốn năm qua, nhưng bao nỗi xúc động trong lòng đã không ngăn được những giòng nước mắt tuôn chảy, QYL đã khóc ròng khi đọc và nhớ lại người anh thứ (Quách Ẩn) kính thương đã hy sinh cho đất nước lúc tuổi đời còn non trẻ.

QYL chân thành cám ơn anh đã viết lên những sự thật…

Nữ độc giả MG Charlottesville, Virginia.

Tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG làm tôi vô cùng xúc động. Tôi cố tình đọc quyển này thật chậm rãi để cảm nhận từng ý văn của tác giả. Tôi cũng đã đọc nhiều sách báo đủ các loại nhưng chưa thấy cuốn sách nào lại làm tôi xúc động mãnh liệt như cuốn này.

Đặc biệt anh có một lối viết vô cùng độc đáo, hấp dẫn, lôi cuốn hẳn được mọi độc giả vào trong cuộc. Lắm lúc tôi không dám thở mạnh vì sợ…địch nghe thấy làm lộ quân mình, có khi trái tim tôi đập loạn xà ngầu lúc máy bay đang bắn lầm lính nhà hoặc tôi cảm thấy nóng mặt khi đọc qua chương tên tướng cướp thủ đoạn tiếm công xương máu các anh hùng Biệt Động Quân. Thêm vào đó bố cục mạch lạc, lời văn chân thành trong sáng, không chải chuốt, không khách sáo độc giả thấy dễ hiểu, dễ cảm nhận được tâm tình của tác giả. Sau khi đọc AHBM tôi biết anh có trí nhớ phi thường. Mọi việc đã xảy ra trên 20 năm anh còn nhớ vanh vách tên từng người, từng chi tiết. Tôi rất khâm phục anh người quân tử không luồn cúi nịnh bợ. Tôi cũng công nhận anh một là sĩ quan can đảm, cấp chỉ huy công bằng, biết hòa đồng thông cảm lính.

Tác phẩm AHBM tạo được một sự thu hút đặc biệt làm tôi đã phải “lờ” luôn vụ Olympics, không muốn bị gián đoạn giữa câu chuyện này.

Sinh viên NGUYỄN HIẾU Phoenix, Arizona.

Cháu sanh ra sau cuộc chiến, không biết về thời đó, nhưng chân thành cám ơn bác đã dùng ngòi bút kể lại thật là cặn kẽ làm cháu hiểu nhiều các anh hùng dân tộc. Cháu nghĩ, lúc ấy đất nước xuất hiện thêm anh hùng như bác, thì đâu có ngày nay hàng triệu đồng bào đâu có cảnh lưu lạc người trong nước nhớ thương người ngoài nước và có biết bao nhiêu mạng sống làm mồi cho cá chỉ vì chạy trốn Cộng Sản. Hy vọng tương lai có nhiều bậc anh hùng như bác để thay đổi số phận đất nước.

Trung tướng NGUYỄN CHÁNH THI Lancaster, Philadelphia.

ANH HÙNG BẠT MẠNG quả là quyển sách của một chiến sĩ, chiến đấu cho quê hương dân tộc. Tôi thành thật khen anh, con yêu của Trần Cao Vân, Thái Phiên xứ Quảng. Tôi rất thích chương “Sau Trận Thánh Chiến”. Tôi biết tên tướng bỏ sư đoàn chạy ra cù lao Ré, vào Phan Rang xin một máy bay nói là đi thám thính lại để chuồn.

Đại tá TRẦN KIM ĐẠI Nam California.
Liên đoàn trưởng LĐ1 BĐQ – danh hiệu Sơn Linh trong AHBM.

“Sách được lắm nhưng viết còn thiếu hai điều trí trá của ông tướng đó” Trang 9.

Trung tá HỒNG PHỔ Tyler, Texas.
Liên đoàn phó LĐ1 BĐQ – danh hiệu Sơn Linh Phó trong AHBM.

“Tiếp tục vạch mặt, đất nước mất do bọn vô tài, xôi thịt đó”.

(………Tôi chưa trình bày hết ý, Hoàng Phổ đã nổi cười khà khà, nghe dễ nóng: “Hay ha, phe ta bắn phe mình”. Tức giận người hùng Khe Sanh khen kiểu móc họng, tôi cúp máy, trả ống liên hợp, rồi buồn buồn ngồi chửi đổng: “Đời mà! ĐM… Tình nhà binh như tình nhà thổ”) Trang 136.

Trung tá QUÁCH THƯỞNG Nam California.
Tiểu đoàn trưởng 21 BĐQ – danh hiệu Trùng Dương trong AHBM.
Cấp chỉ huy trực tiếp, cũng là người bạn học cũ của tác giả vào những năm giữa thập niên 1950:

“Tao đọc tao buồn quá!”. Vẫn như ngày nào trong trận chiến Sa Huỳnh

(Giọng Thưởng muốn khóc: “Hộ tống tao ra Đức Phổ gấp! Thằng Ẩn chết rồi!”) Trang 114.

Đại uý Bác sĩ NGUYỄN TRUNG TÍN Canada.
Y sĩ trưởng BCH Liên Đoàn 1 BĐQ.

“Cuốn AHBM lại đầy kỷ niệm của tôi. Bao xúc động, thương tiếc những người lính đã bỏ xương máu nằm xuống cho dân tộc sống còn, để rồi phải buông súng đầu hàng tức tưởi. Thật cảm động với bao hình ảnh hào hùng của anh em như đang hiện ra trước mắt tôi”.

(Tác giả khó quên ngày tác giả bị mìn, gãy hai chân, Bác sĩ Nguyễn Trung Tín tới săn sóc ngay tại mặt trận. Bối cảnh này được nhắc lại trong Tiếng Hờn Chân Mây đã phát hành).

Đại uý DƯƠNG XUÂN Michigan.
Đại đội trưởng 2/21 BĐQ – danh hiệu Xích Bích trong AHBM.
Cùng với tác giả giáng xuống đầu địch nhiều đòn chí tử.

“Sách viết hay, bạn bè đọc đều nói vậy. Nếu còn chỗ nào anh quên thì hỏi tôi”.

(Tao đoán địch chừng một trung đội đang làm nút chặn để quân nó tháo chạy qua đầm. Xuân than: “Hầm hố chằng chịt, lính không thấy đường, đã chết hai rồi còn nằm dưới. Anh đánh giúp tôi bên phải, từ chớn nước vô…”) Trang 160.

Trung uý TRẦN THƯƠNG QUẢNG Norway, Âu châu.
Chỉ huy hậu cứ Tiểu đoàn 21 BĐQ.

“ Nhận được ANH HÙNG BẠT MẠNG, chưa đọc chữ nào, cái tựa đề đã làm tôi thích thú, nó làm sống lại hình ảnh BĐQ Trần Thy Vân trong trí tôi, nước da đen đen, gương mặt khắc khổ, ngang tàng đếch sợ thằng tây nào. Nhưng đó chỉ là bề ngoài của một sĩ quan chiến đấu cao, lúc nào cũng tình cảm với anh em”.

Khánh (phu nhân của Trần Thương Quảng):

“Tôi đã thức gần trọn hai đêm để đọc, hôm sau đi làm uể oải mà vui. Ngày xưa, tôi là con của lính, sau làm vợ lính nên ít nhiều cũng biết được thế nào là lo sợ, vui mừng của đời lính. Đọc đến đâu tôi cũng thấy cảm động, không thể ngưng được”. Đại uý PHẠM XẾP Brooklyn Park, Minnesota. Pháo đội trưởng PB SĐ2BB -yểm trợ hỏa lực mặt trận Sa Huỳnh.

“Trên 42 năm mới được tin tức bạn bè, mình vừa mừng vừa xót xa đau buồn vì sự mất mát của Vân, do các bạn cùng khóa phone cho biết. Đâu có ngờ những năm 1970-75, hai đứa cùng chung vùng trách nhiệm, Vân bên Biệt Động Quân, đơn vị mà Pháo đội mình đã từng bắn yểm trợ nhiều lần vùng I…

Đọc 2 cuốn sách mình cũng không ngờ bạn mình “bạt mạng” đến thế. Rõ đây là hồi ký đúng hơn tập truyện. Cảm ơn Vân đã cho mình, bạn bè, độc giả, những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời quân ngũ, nhất là một cấp chỉ huy có trách nhiệm. Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG, có cái ấn tượng sâu đậm nhất là vì không những mình là bạn Vân, mà các nơi xảy ra những cuộc đụng độ khốc liệt, rủi ro cho cá nhân cũng như đơn vị Vân lại chính ngay tại địa phương mình. Quê mình ở Đức Thuận, tức Đức Phong sau này. “Quán Hồng” Vân đề cập trong truyện, Quán Hồng Cà Phê Máu, là một địa danh của xã nhà-Đức Phong! Còn Đức Lương quê vợ mình. Cho nên Trần Thy Vân viết đến những địa danh đó, mình có cảm giác đang lâm trận với Vân…”. (PX)

Nhà thơ NGUYỄN ĐÔNG GIANG San Jose, California.
Tác giả thi phẩm “Vô Lượng Tình Sầu”, xuất thân khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, với Thiếu tá Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân.

“Tôi và Trần Thy Vân bạn thân thiết từ quê hương An Hải: “Bên ni sông Hàn nước xanh như tàu lá, bên kia Đà Nẵng phố xá nghênh ngang”. Thời niên thiếu đọng lại trong lòng nhau những kỷ niệm buồn vui như rủ nhau đi tắm biển Mỹ Khê, bơi ra Cồn Khoai đá bóng. Những ngày mưa nắng đứng đợi bến phà, chờ đò đi học lo xa đường về. Lớn lên lưu lạc… rồi chiến tranh bùng nổ khắp miền Tổ Quốc. Tôi vào Võ Bị Đà Lạt năm 1962. Trần Thy Vân thì tình nguyện K22 SQ Thủ Đức 1966.

Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG như sống lại một thời kỳ lịch sử chiến tranh VN với chiến thuật tấn công vũ bão, thần tốc…vang danh lừng lẫy làm địch quân kinh hồn bởi những chiến sĩ QLVNCH trong đó có Đại đội 1/21 BĐQ do Trung úy Trần Thy Vân Đại đội trưởng. Từ khi cha sinh mẹ đẻ đã có màu da đồng đen rất thuận lợi cho chiến tranh, lúc cận chiến, anh lì lợm, một dạng Lý Tiểu Long ăn đòn, chịu đòn, và tung những đòn chết bỏ… dứt điểm triệt hạ kẻ thù. Như những trận “Sa Huỳnh Biển Lửa” và “Chọc Thủng Bức Tường Thép” anh với 50 tay súng BĐQ coøn lại đã đánh tan một trung đoàn Cộng quân Bắc Việt. Anh và đồng đội là những tay sát thủ lành nghề.

ANH HÙNG BẠT MẠNG là một trong những thiên anh hùng ca của những nhà văn quân đội VNCH trước 1975. Những trận đánh được anh kể lại như phơi bày trước mắt ta, những chiến sĩ Biệt Động Quân mũ nâu Đại đội 1 Tiểu đoàn 21 gan dạ, anh hùng, dẫn dắt người đọc theo dõi, say mê như truyện trinh thám, hồi hộp, như: “Đại đội kỳ dị, ma quái…”, “cảnh vật chung quanh bỗng dưng im lặng, nghẹt thở, sự sống như muốn ngưng hẳn nơi một góc Trường Sơn hùng vĩ” (trang 130).

Đời lính dường như ngắn hơn đời người, nên tình yêu của anh cũng rất bạo, như trong “Tình Yêu Lãng Tử”…

ANH HÙNG BẠT MẠNG là một tác phẩm hồi ký chiến tranh không hư cấu, không cường điệu. Ngôn ngữ anh dùng mộc mạc, dễ hiểu. Anh viết văn như kể chuyện, bộc trực, thật lòng, không quan trọng hóa vấn đề. Văn phong gọn gàng, dứt điểm, không dài dòng, cũng không phóng bút lộng ngôn, vung vãi…

Hai tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG-TIẾNG HỜN CHÂN MÂY của Trần Thy Vân đã thành công từ nội dung lẫn hình thức. (NĐG)

Nữ độc giả PT KIM LIÊN Maryland.

“Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG mà như được người anh kể chuyện chiến trường cho các em nghe, vừa hồi hộp, lo sợ cho phe ta, vừa tức mình vì đồng minh hay “phe ta bắn phe mình”, và sĩ quan cao cấp lại cướp công lao xương máu của các cấp dưới. Anh cho người đọc thấy sự gian truân, can đảm, tài giỏi của các chiến sĩ QLVNCH. Tình thương của người chỉ huy đối với các binh sĩ như anh em một nhà, anh quả là người thông minh nhạy bén. Đánh giặc thì thần tốc, chính xác, còn khéo léo đối xử với người dân để có sự chân tình giúp đỡ lẫn nhau như gia đình chị Nhị…

Sách anh cô đọng, không những có lúc làm rơi nước mắt mà còn có khi bật cười…”. (PTKL)

TRẦN VĂN ĐÁ San Diego, California.
Đồng khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức với tác giả.

“Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG rất xúc động, càng đọc tôi càng thấy thấm thía. Mặc dù khác binh chủng, nhưng tôi cùng khóa 22, nên biết tính tình anh từ lúc còn học ở quân trường Võ Khoa Thủ Đức. Đủ điều kiện được về làm việc nơi quê nhà an nhàn mà không chịu, anh lại quyết tâm xông pha chiến trường, chỉ vì cái máu bạt mạng của Biệt Động Quân Trần Thy Vân. Tiếc một điều, đánh giặc như vậy, nào Hạ Lào, Quảng Trị, nhất là Sa Huỳnh Quảng Ngãi 1973 anh thắng vinh quang mà không được đặc ân thăng cấp. Cuối cùng, tháng 3/1974, anh lãnh hậu quả đau thương, bỏ lại chiến trường đôi chân. Dù gì anh cũng đem lại vinh dự cho QLVNCH là Đại đội anh đánh tan Trung đoàn 141 CS, mà các đơn vị khác không vào Sa Huỳnh được.

Vì cảm khái cái dũng của anh, đặc biệt chị Nhị đã can đảm sang đầm Nước Mặn dưới trời “Mây” đang còn xác thù, để vào thăm anh, Tình Cũng Bạt Mạng, tôi tặng bốn câu thơ:

Mây trắng ngang trời, mây trắng bay
Sông buồn nhẹ lướt bóng thuyền ai
Bâng khuâng có kẻ nhìn mây nước
Rồi mấy tơ vương vạn dặm dài.
 (TVĐ)

Đại tá NGUYỄN QUANG Moreno Valley, California.
Sĩ quan Truyền Tin Phủ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Đ/tá Nguyễn Quang có tháp tùng Tổng Thống ra thăm Sa Huỳnh sau khi đã tái chiếm.

Ngày 12-6-2007, tác giả có tiếp chuyện qua điện thoại với một vị cao niên, quý danh là Nguyễn Quang, cựu đại tá truyền tin ở Phủ Đầu Rồng, thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Sau vài giây thăm hỏi xã giao, giọng của ông Đại tá chuyển qua, tuy không gắt gỏng, nhưng không mấy dịu dàng, khi nhắc đến chuyện tướng Trần văn Nhựt được đề cập tới trong cuốn sách này, với tác giả: “Tôi nghe nói anh viết sách chửi tướng Nhựt cướp công anh ở trận tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi. Nhựt bạn tôi, tư lệnh mặt trận lúc đó, còn anh, một trung úy đại đội trưởng, tướng Nhựt cho anh huy chương, cho lên lon bao nhiêu cấp cũng được hà tất ông Nhựt lại cướp công anh?…” Ông diễn giải rất nhiều, lời nói có lúc nhấn mạnh như tát nước vào mặt, khiến vết thương lòng, cả thể chất xưa cũ của tác giả đau nhói lên. Tác giả mãi im lặng, lắng nghe xong, rồi cung kính thưa: “Niên trưởng vui lòng đọc 2 tác phẩm của tôi thì sẽ rõ chi tiết hơn là nghe nói”. Ông đáp: “Được, gởi tôi luôn 2 cuốn ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY, đọc xong tôi ý kiến”.

Sau hai tháng, ngày 8-8-2007, tác giả nhận được lá thư của Đại tá Nguyễn Quang với nội dung làm cho kẻ phế nhân này, một người mới ngày nào đây, lúc “sinh thời”, từng chỉ huy một đại đội anh hùng bắn gục địch quân như lá rụng mùa thu, phải chảy nước mắt:

“Tôi đã đọc 2 lần quyển ANH HÙNG BẠT MẠNG, tôi rất mến phục anh và thương cho những anh em bé cổ thấp họng như trường hợp của anh đã xảy ra rất nhiều, hình như đơn vị nào cũng có. Nếu có dịp tôi sẽ kể một câu chuyện… tương tự như anh.

Nhưng không hiểu sao khi tôi theo Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra thăm mặt trận Sa Huỳnh trong mấy tiếng đồng hồ, tự nhiên lòng tôi chùng xuống, nghĩ đến sự hy sinh của các chiến sĩ ta trong cuộc chiến cuối cùng nhưng vẫn anh hùng đạt thắng lợi huy hoàng. Tôi rất mến phục họ. Tôi có đến xem một căn hầm còn bốc khói, bên trong thì có mấy xác Việt Cộng, chung quanh có mấy cây dừa trốc gốc đổ ngả nghiêng. Theo báo cáo là do B52 oanh tạc, không biết đây là đầm Nước Mặn mà các anh đã chiến đấu ở đó không? Sa Huỳnh đối với tôi như cô gái còn trinh đang sống yên bình ở một nơi phong cảnh hữu tình dưới sự che chở của Tổ Quốc chúng ta hằng mấy thế kỷ, mà nay gần đến hòa bình, cô gái ngây thơ đó đã bị quân thù hãm hiếp một cách dã man, nên tôi động lòng trắc ẩn. Nay tôi lại đọc một tài liệu do anh Thy Vân cung cấp thật tuyệt vời. Đối với tôi đây là món quà tuyệt vời, không biết TT Thiệu có đọc quyển sách nhỏ bé này không. Nếu Tổng Thống còn tại thế thì tôi gởi tặng ông ngay ANH HÙNG BẠT MẠNG…

Tôi có linh tính khi nghe ông tướng Trần văn Nhựt thuyết trình tôi không tin Sư đoàn 2 Bộ Binh lại đơn phương gây được chiến thắng nên đầu óc tôi có nhiều thắc mắc…

Nếu anh có đọc: Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam của Trung tướng Nguyễn văn Toàn thì anh sẽ không buồn mà còn hãnh diện đã hy sinh một phần thân thể cho tổ quốc Việt Nam mà biết bao người yêu nước muốn hiến dâng cho tổ quốc họ mà không làm được. Ở đời hơn nhau một tiếng Anh Hùng mà thôi! Đời là thế, thế thời phải thế, nay tuy là một thương binh Tổ Quốc luôn luôn ghi công các anh, đồng bào đời đời biết ơn các anh trong đó có gia đình, con cháu chúng tôi…”. (NQ)

– Đôi lời của tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG/TIẾNG HỜN CHÂN MÂY:

Tôi xin lỗi tự ý trích dẫn vài đoạn trong thư, những lời công đạo, của Đại tá Nguyễn Quang, và thay mặt các chiến sĩ Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, lớp chết lớp đã trở thành phế nhân đang sống vất vưởng ở quê nhà, tôi cảm ơn mấy lời chân tình khen ngợi của Đại tá Nguyễn Quang, người đã có mặt ngay từ những tháng năm đầu tiên thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi không buồn đâu, tôi chỉ tức giận, và hãnh diện thì có. Người bạn gái của tôi sau khi Sa Huỳnh đã được tái chiếm, có khuyên: “Thôi, em không muốn anh buồn! Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhân… Anh vừa tạo ra thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bực nhỏ như anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước…”(Sau Trận Thánh Chiến).

Làm gì có, thưa Đại tá! Mặt trận Sa Huỳnh đầu năm 1973 không có chuyện B52 thả bom. Họ báo cáo láo! Vùng đất đầy dân cư sinh sống, làng Sa Huỳnh ven bờ đầm Nước Mặn giữa mục tiêu, rải bom B52 sao được. Vâng, Đại tá đã tới đó, theo TT Thiệu ra xem triễn lãm chiến lợi phẩm tại BCH của Trung đoàn 6 BB đóng ở Đức Phổ, Sa Huỳnh, nơi có cái vịnh mênh mông với cửa khẩu rộng lớn, mà Cộng Sản Bắc Việt rất ham muốn chiếm cứ. Đại tá ví von rất hay, romantique! Sa Huỳnh như một cô gái còn trinh! Nên bọn tướng soái Chu Huy Mân Việt Cộng hãm hiếp dã man. Chưa, chúng mới đè thôi, thì đã bị tay hảo hớn Việt Quốc Đại đội 1/21 BĐQ đập cho một trận nát thây khắp Sa Huỳnh (Chọc Thủng Bức Tường Thép).

Tổng Thống Thiệu chưa đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY vì hai quyển sách chưa được viết. Tuy nhiên tôi có kể đại khái ông nghe rồi. Chiều ngày 25-3-1990, sau 15 năm mất nước, lần đầu tiên cựu TT Nguyễn văn Thiệu xuất hiện ở San Jose, California. Ông có nhờ tướng Đỗ Kiến Nhiễu mời tôi về dự, ngồi kế ông trong buổi nói chuyện trước 1200 quan khách. Buổi sáng hôm đó, tại một khách sạn, tôi kể tóm lược vụ gian lận chiến lợi phẩm ở Sa Huỳnh 1973 cho ông Thiệu nghe, với vài vấn đề của gia đình. Dĩ nhiên, trước khi trình bày, tôi yêu cầu tướng Nguyễn Khắc Bình và Đại tá Điền lui ra ngoài, cả ông bạn tôi là Võ Cư Long cũng không được đứng quay phim. Ông Thiệu đồng ý. Đang lúc tôi nói, ông cứ ừ với hử chiếu lệ, mắt thì nhìn theo bàn tay chữ nhất của tôi. Rồi ông cũng trút “tâm sự”, về chín năm cầm quyền, dưới “trướng” ông có quá nhiều người kèn cựa với ông…

Phải chi nhân lúc đó tôi kể câu chuyện có tính cách huyễn hoặc, huyền thoại, cho ông cựu tổng thống nghe.

Năm 1964, khi tôi còn học trường TH Duy Tân Phan Rang. Gia đình anh Lê văn Phước, chủ nhà tôi ở trọ, có bà chị cả là một ni cô về rủ đi thăm Linh Sơn Tự. Tôi tháp tùng. Chiếc xe Lam ba bánh đến đậu trước sân chùa nằm bên sườn phía đông núi Cà Đú. Mọi người vào bái Phật, còn tôi thì trèo thẳng lên đỉnh ngắm cảnh. Dân Ninh Thuận và những ai hay qua lại xứ này đều thấy cái dãy núi toàn đá khô khan, nóng bỏng, chẳng một tàng cây râm mát, có gì đẹp đâu mà ngắm! Núi nằm dài bên phải Quốc lộ 1, cách thành phố Phan Rang khoảng 20 cây số, trên đường ra Nha Trang. Nếu ta đứng nhìn từ đỉnh Cà Đú về hướng mặt trời mọc, thì ngay ở sườn đồi có chùa Linh Sơn, dưới đồng bằng là làng Tri Thủy, nơi sanh quán của cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, ven đầm Nại, rồi xa hơn bên kia bờ là Ninh Chữ giáp với biển đông.

Cảnh không đẹp, thế ai xui khiến tôi lên đỉnh Cà Đú, để đi lang thang giữa lúc trời nắng cháy. Tôi vào núp mát dưới một tảng đá khá lớn, chênh vênh và nghiêng vẹo như mái nhà. Tôi thấy trong hốc chân tảng đá có cái lỗ hang bằng trái banh, sâu hút, đen ngòm, bèn khom lưng xuống nhìn vào, bụng thì nghĩ biết đâu có vàng Hời (Chàm) cất giấu ở trổng. Tò mò mà ngu, tôi quên rằng những chỗ ẩm thấp, yên tịnh như vậy thường có rắn, không loài xanh lục, vằn vện, thì cũng hổ mang đang le lưỡi chờ sẵn, tôi thò tay vô quơ quào lại nhặt được một cái thẻ bài bằng đồng bị ten mốc đen thui. Hình dạng nó giống chiếc đũa bếp trong nước mình dùng xới cơm, phía trên đầu có khắc bốn năm chữ, Hán không ra Hán, Chàm chẳng Chàm, nên tôi không hiểu nghĩa gì. Thấy lạ, tôi đem tấm thẻ xuống núi, đưa thầy trụ trì chùa Linh Sơn xem. Ông thầy cầm ngắm nghía nó, đầu gật gật, không giải thích vật gì. Một hồi lâu thầy mới nói: “Được, để thầy, để thầy!”, rồi thầy bỏ nó vào tủ khóa trái lại. Còn tôi ra về, không dám đòi cái thẻ huyền bí ấy. Nếu nó có khắc bốn hay năm con số 9 thì sức mấy tôi chịu rời xa thầy.

Sau, có tin đồn Ninh Thuận sẽ có một vị “vua” ra đời. Quả nhiên, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu lên “ngôi” 1965 và năm sau là tống thống nhiệm kỳ đầu nền Đệ II Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam.

Trước khi tình nguyện vào khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức 1966, tôi có kể lại chuyện nhặt được tấm thẻ cho một số các vị cao niên Kinh, Chàm ở Hữu Đức, Công Thành, Cà Na Phan Rang, ai nghe cũng ngạc nhiên, suy đoán đó là lá bùa yểm, do người Chiêm Thành hoặc Tàu ngày xưa biết vùng Cà Đú, Tri Thủy là một long mạch, nên ếm. Không ngờ đời sau, lại có một cậu học trò tinh nghịch đã vô tình tháo gỡ giải trừ…

Tiến sĩ NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG Anh quốc.
Soạn giả cuốn quân sử CHIẾN TRANH VIỆT NAM TOÀN TẬP.
Từ trận đầu Ấp Bắc 1963 đến trận cuối Sài Gòn 1975.

“… Quyển sách (ANH HÙNG BẠT MẠNG) rất hay, tiếc rằng sách không được quảng bá rộng rãi để người ngoài nước Mỹ biết. Nếu không nhờ N/t Quách Thưởng giới thiệu chắc tôi đã không có dịp đọc được quyển sách này. Hai chi tiết đã làm tôi cảm động là việc người lính BĐQ quyết không bỏ đơn vị và điều kia là sự hy sinh của gia đình người lính tác chiến.

Cám ơn anh đã cho tôi thấy những sự kiện thật đã xảy ra tại Sa Huỳnh. Suýt chút nữa tôi đã phạm phải sai lầm lớn. Cũng sẵn dịp xin phép được in tên anh vào lời cảm tạ mà tôi xin gửi một bản sao kèm theo đây. Có ba lý do để in những dòng cảm ơn này: “Nói lên mức độ chính xác về sử liệu ở một chừng mực nào đó…”. (NĐP)

Nhà văn TƯỜNG LAM Kansas City, Missouri.

“… Tháng 3/66, anh và tôi gặp nhau ở đồi Tăng Nhơn Phú, học khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức, và cùng chung Đại đội 16. Anh, nước da bánh mật, đi đứng nhanh nhẹn và tánh nóng.

Tháng 12/66 ra trường, tôi về vùng IV, anh chọn Biệt Động Quân. Tám năm, tính đến 1974 – 3/3/1974, ngày anh để lại đôi chân ở mặt trận Quảng Ngãi, anh đã giẫm nát các chiến trường từ vùng II ra vùng I, cả Hạ Lào. Hai lần bị thương, lần cuối cùng, không những mất hết đôi chân, thân thể anh còn mang nhiều mảnh đạn để rồi 33 năm sau, 2001, bệnh viện Garden Grove, California, mới giải phẫu và cũng chỉ gắp ra được một.

Đời lính anh trải qua nhiều trận đánh lẫy lừng, nhất là cuộc tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, đầu năm 1973. Với quân số còn nửa đại đội (trước khi xung trận, đơn vị đã bị máy bay bắn lầm, thiệt hại 31 người), anh cùng 50 tay súng Biệt Động còn lại đánh tan một trung đoàn của Cộng quân Bắc Việt. Quả là một chiến tích thần kỳ mà trong quân sử QLVNCH chưa có đơn vị cấp đại đội hoặc tiểu đoàn nào làm được.

Gian khổ tột cùng. Có lần lính anh phải đái ra uống, vì hết nước, trước lúc đơn vị của anh đơn độc mở đợt tấn công chiếm một mục tiêu trên đỉnh núi cao gần 1000 mét mà anh gọi đó laø “Đỉnh Mùa Đông”, trong dãy Trường Sơn, phía tây Mỹ Chánh Huế. Chúng ta hãy nghe anh Trần Thy Vân bày tỏ thắc mắc: “Thưởng (Tiểu đoàn trưởng) bảo ‘ráng’ đi, tôi chả hiểu ráng cái gì, ráng chiếm mục tiêu cho bằng được hay ráng đái ra uống?” (Trg.75 Quán Hồng Cà Phê Máu).

Với 18 huy chương, đa số là vàng và nhành dương liễu với hai Chiến Thương Bội Tinh trên ngực áo, Trần Thy Vân, bạn tôi đã đóng góp quá nhiều xương máu cho quê hương tổ quốc.

Tôi hãnh diện thưa với mọi người, bạn tôi là Trần Thy Vân, một sĩ quan ưu tú của QLVNCH, một nhà văn, một con người kiệt xuất, lẫy lừng. (TL)

ĐINH BẮC HỢP San Diego, California

Hợp đã nhận được ANH HÙNG BẠT MẠNG cách đây vài hôm. Sách viết rất hay, lời văn giản di, phù hợp với bản chất của những người lính. Cùng là sách viết về chiến trường, nhưng có nhiều tác giả viết quá cầu kỳ, bóng bẩy. Đặc biệt anh có tính tếu và bất cần đời. Lối viết của anh rất gợi sắc, gợi hình, làm người đọc có cảm giác như đang tham chiến, cũng nằm gai nếm mật cùng các binh sĩ.Nếu sách của anh được dịch sang English thì hay lắm, ít ra cũng giúp những thế hệ sau hiểu rõ thêm về những anh hùng bạt mạng Quân Lực VNCH. Đọc sách của ông Cao Văn Viên, rồi đến lượt ông Nguyễn Cao Kỳ, khiến cho những thế hệ trẻ cảm thấy ngán ngẫm mấy ông tướng quá. (ĐBH)

Đại uý LÊ ĐĂNG ÂN Dorchester, Massachusetts.
Đại úy Pháo đội trưởng Pháo Đội Chỉ Huy CV-BCH Tiểu đoàn 1 Phòng Không Quân Đoàn I.
Đồng môn K22PB với tác giả.

“Hai cuốn sách anh gởi tặng, như một chứng tích của người chiến binh đã trọn gởi tâm hồn và thể xác cho quê hương dân tộc. Thật vô giá! Để góp vào kho tàng của binh sử, anh đã ghi được những dấu chân người chiến sĩ QLVNCH như là món quà để lại cho thế hệ mai sau”. (LĐA)

NGUYỄN BÁ Edmonton, Canada.

Tác giả xin trích đoạn trong bài nói chuyện của anh NB ngày ra mắt 2 tác phẩm AHBM và THCM tại Edmonton, Canada, 2000.

“…Nếu ai trong chúng ta đã đọc Thuỷ Hử chắc còn nhớ 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Họ cũng được kể là những anh hùng, cũng bạt mạng, để chống bọn tham ô, cường hào ác bá, và để giúp đỡ những người dân thấp cổ bé miệng…

– Thuỷ Hử có nghĩa là “bến nước”, nơi xuất phát của 108 anh hùng bạt mạng trong truyện Tàu. Trong ANH HÙNG BẠT MẠNG thì cái khung chính là Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, với 107 chiến sĩ và cả Trần Thy Vân nữa là đủ 108 người. 108 AHBM của ĐĐ1 BĐQ cũng xuất phát từ một “bến nước”: Bến nước là bờ biển Nam Ô, nơi đặt hậu cứ Phú Lộc của ĐĐ1/21BĐQ, để chơi tay đôi với Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 2 Sao Vàng CSBV tại bến nước Sa Huỳnh (đầm Nước Mặn). Cái khác là họ không phải như các tay thảo khấu trong Thuỷ Hử, mà Đại đội 1 BĐQ là một đơn vị thiện chiến của QLVNHCH. Họ chỉ đánh trả quân Bắc Việt xâm lăng miền Nam.

– Trong Thuỷ Hử, từng cá nhân biểu lộ cái dũng khí ngang tàng của họ. Như Võ Tòng đả hổ, Lỗ Trí Thâm mang rượu thịt vào vào chùa nhậu nhẹt rồi đại náo cửa thiền. Đó là những cái dũng quá trớn. Trong ANH HÙNG BẠT MẠNG thì, cả Đại đội 1 cùng đồng tâm hiệp lực, và ngoài cái DŨNG còn phải có TRÍ của người chỉ huy. Phải biết lừa địch, nhắm vào tử huyệt của địch mà đánh, “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”. Nếu không thế, thì làm sao khi quân số của Đại đội 1 chỉ còn 50 người mà có thể bạt mạng Chọc Thủng Bức Tường Thép? Có Sa Huỳnh Biển Lửa? Có Thuỷ Táng cả trăm tên xâm lăng phải “sinh Bắc tử Nam”?

– Một điều nữa tôi muốn nói, cuộc chiến tranh vừa qua đối với những người lính là một cuộc chiến đầy khốc liệt, nhưng cũng đầy lãng mạn. Nếu không phải cái tính lãng mạn đó thì làm sao ở một xóm đèo heo hút gió thuộc quận Mộ Đức giữa không khí chiến tranh, người lính Biệt Động đi mua đồ cúng tết, trang hoàng nhà cửa cho gia đình nơi họ tạm trú vào ngày cận tết Quý Sửu? Chúng ta hãy tưởng tượng cảnh những người lính quân phục hoa rừng đội mũ nâu vo gạo, đãi đậu gói bánh tét… Ngược lại, cũng ngày đầu năm Mậu Thân, bộ đội miền Bắc lợi dụng ngày truyền thống của dân tộc, đánh phá khắp nơi, gây tang tóc biết bao người dân lành.

… Chắc hẳn quý vị thường nghe bài hát “Kỷ vật cho em” của PD: “Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời mai mốt anh về… Anh trở về bại tướng cụt chân…”. Hôm nay, chiến sĩ Trần Thy Vân đến với cộng đồng Edmonton chúng ta, anh đã để lại một phần thân thể vì quê hương. Như tướng De Gaulle đã nói, khi lưu vong vì sự xâm lăng của phát xít Đức: “Nous avons perdu la bataille, mais nous n’avons pas perdu la guerre” (Chúng ta đã thua một trận đánh, chứ không thua trận chiến)…”. (NB)

RANGERS CSM MICHAEL MARTIN & LTC McDONALD VALENTINE
Tác giả The Black Tigers Rangers of the Second Indochina War.

“Ranger Warrior”

First Lieutenant Tran Thy Van Commander First Company, 21St Ranger BN., First Ranger Group. Hero of I & II Corps: led assaults and commando raid; received 18 Cross of Gallantry medals -four with Palms and two Purple Hearts. Tran Thy Van lost both legs on 3-3-1974, fighting with the 21st Ranger BN., thus ending nine years of Ranger exploits. He is the author of THE AUDACIOUS HEROES.

Ranger Tran Thy Van,

You are a brave warrior; the people of South Vietnam, and the Biệt Động Quân, are proud of you… (MM)

Trân trọng đa tạ quý độc giả đã bình phẩm, khen ngợi tác phẩm này, thật quý hóa đối với tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG. ttv

NHỮNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
ĐÃ HY SINH VÀO MẤY NĂM CUỐI CÙNG CỦA CUỘC CHIẾN

– Cố Đại úy Phạm Minh Hồ: Đại đội phó ĐĐ1/21BĐQ. Tử trận tại quận Hương Điền, Thừa Thiên, 1972.

– Cố Đại úy Quách Ẩn: Đại đội trưởng ĐĐ2/21BĐQ. Bị trọng thương ở Quảng Ngãi, qua đời tại BV Duy Tân Đà Nẵng, 1973.

– Cố Đại úy Trần Quang Giảng: Đại đội trưởng ĐĐ3/21BĐQ. Tử trận tại Mỏ Cày, quận Mộ Đức, Quảng Ngãi, 1974.

– Cố Trung úy Đặng Văn Thiều: Đại đội phó ĐĐ1/21BĐQ. Hy sinh tại quận Tiên Phước, Quảng Nam, 1974.

– Cố Đại úy Nguyễn Thuận Cát: Đại đội trưởng ĐĐ3/39BĐQ. Qua đời tại trại tù Bình Điền, Thừa Thiên, 1975.

– Cố Trung tá Võ Vàng: Tiểu đoàn trưởng TĐ21BĐQ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5/2BB. Chết trong tù CS sau 1975.

– Đại úy Việt Tchépone: Chi đoàn trưởng Chi đoàn 17 Thiết Vận Xa M113. Chết tại Quảng Ngãi, 1974.

– Cố Hạ sĩ I Trần Văn Thanh: Truyền Tin BCH ĐĐ1/21BĐQ. Hy sinh tại quận Mộ Đức, Quảng Ngãi, mùng 1 Tết 1973.

– Cố Hạ sĩ Nguyễn Văn Châu: Khinh binh ĐĐ1/21BĐQ. Chết tại quận Quế Sơn, Quảng Nam, mùng 1 Tết 1974.

Các nhân vật khác trong ANH HÙNG BẠT MẠNG định cư tại hải ngoại và một số ở quê nhà, trong đó có bà Trần Thị Miên, chị kế của Tác giả.

TIỂU SỬ
TRẦN THY VÂN

Sinh ngày: 31-12-1944 tại Phan Rang, Ninh Thuận. Chánh quán: Quang Châu, Hòa Vang, Quảng Nam. Vượt biển tháng 7/1983. Định cư tại Nam California.

Tú tài 2 ban toán 1966. Cựu học sinh Phan Thanh Giản Đà Nẵng Bồ Đề, Quốc Học Huế, Duy Tân Phan Rang. Trước 75: Thơ đăng báo Phụ Nữ NM, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiếng Vang.

Tình nguyện nhập ngũ khóa 22 Sĩ Quan TĐ, tháng 03 năm 1966.
Đỗ thủ khoa (Honorman) khóa 2 Reconnaissance, do Sư Đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đào tạo tại Phước Tường Đà Nẵng 1970. Kế tiếp làm huấn luyện viên K.3 Recon, gồm các khóa sinh Việt-Mỹ và Đại Hàn. Trung đội trưởng Trung đội Viễn Thám, nhảy toán cho SĐ1TQLC Hoa Kỳ khắp rừng núi Trường Sơn vùng I.

Google photo

Chín năm Biệt Động, dự nhiều cuộc hành quân vùng I, II và Lam Sơn 719 Hạ Lào. 18 huy chương. Anh Dũng Bội Tinh gồm 1 Đồng, 1 Bạc, 10 ngôi sao Vàng, 4 nhành Dương Liễu là loại tuyên dương cấp quân đội, và 2 Chiến Thương BT ngôi sao Đỏ.

Chức vụ sau cùng: Trung úy Đại đội trưởng ĐĐ1/21BĐQ. 2 lần bị thương, lần hai cụt hai chân tại Quảng Ngãi, 3-3-74.

Thành viên sáng lập hội Thương Phế Binh, Biệt Động Quân, Tù Nhân Chính Trị là các đoàn thể đầu tiên tại Nam California, hiện phát triển nhiều nơi trên thế giới. Quyên góp 70 xe lăn gởi tặng các thương phế binh VNCH trong nước từ năm 1984.

Chủ Nhiệm & Chủ Bút BNS Thương Binh. Hội viên International P.E.N. Đệ nhị Phó chủ tịch VBVNHN, NK 2001-2003. Dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế tại London England, 2001. Chủ tịch TTVB Nam California ba nhiệm kỳ: 2000-02, 2002-04, 2007-2010.

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân
Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

12. Việt quốc chẻ tre

Đêm qua, vì ham vui tôi kể chuyện ma Nguyễn văn Khanh làm đám lính BCH Đại đội bị ám ảnh khó ngủ. Tôi cũng chập chờn, lại thêm suy nghĩ về cuộc tấn công điểm cuối cùng, khu đồi 94 trước mặt, mà tôi tin chắc Đại đội sẽ được tham dự để kết thúc trận chiến Sa Huỳnh.

Hiệp đánh thức tôi dậy quá sớm, sáng nay uể oải, có thể vật vờ cả ngày. Chung quanh nghĩa địa anh em nhúm lửa nấu cơm ăn, đơm luôn bữa trưa bỏ ba lô đem theo như thường lệ.

Trong lúc chờ cà phê, tôi rủ Thiếu úy Thiều chạy một tua xuống bãi cát, rồi đứng vặn vẹo, hít thở thật mạnh thải khỏi buồng phổi bầu tử khí dưới ngôi mộ bốc lên khi nằm ngủ. Các động tác Thiều tập, như vươn vai, ưỡn ngực rất nhuần nhuyễn, giống con mãnh hổ uốn mình cho giãn gân, giãn cốt để giành tôi chồm ra nuốt trửng khối mặt trời đang đỏ ối vừa ngoi lên khỏi biển.

Phía nam, ngọn đồi 94 sừng sững bên cửa khẩu, rực rỡ như bức tranh sơn thủy, cũng non xanh nước biếc dưới ánh hồng. Tôi nghĩ trong bụng nơi cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ đó lẽ nào không hẹn mà gặp, bất tương xứng, một bên gồm các chiến sĩ can trường làm nên lịch sử, còn bên là một bầy giặc cỏ, phá nước hại dân. Khu đồi của César ắt phải trả lại César, ba mặt giáp biển với đầm Nước Mặn mênh mông, kẻ thù đang trong rọ. Tôi sẽ ra tay lần nữa, đập chết một cách thê thảm bọn tàn quân Sao Vàng Bắc Việt còn lẩn trốn sau mấy mươi ngày xâm chiếm Sa Huỳnh Đức Phổ, Quảng Ngãi.

Tôi ngồi dựa lưng vào ngôi mộ, uống cà phê với Thiếu úy Thiều, mà lòng nôn nao mong đợi một điều gì.

Tiếng súng của các Đại đội 2, 3 và 4 BĐQ đã bắt đầu nổ. Hiệp đưa máy tôi tiếp chuyện Thiếu tá Thưởng gọi:

– Việt Quốc có thấy cụm núi nằm một mình sát bờ đầm?

Tôi lên một mô đất đứng nhìn:

– Nó nằm phía tây, dưới chân đồi 94, phải không?

– Đúng vậy! Việt Cộng đang chạy dồn xuống đó, hãy dàn Đại đội băng qua cánh đồng đánh gấp, kẻo chúng vọt hết!

Thưởng muốn tôi từ đây đâm thẳng tới chặn đầu. Dù chúng là vịt trời đi nữa cũng không thể lặn sâu dưới đầm nước được. Cụm núi ấy tuy thấp so với vị trí của Thưởng trên ngọn đồi 94, nhưng cao hơn thế đất nơi tôi nhiều, khó chơi. Tôi đề nghị:

– Để tôi đưa Đại đội lên sườn phía bắc 94 róc xuống…

Vừa nghe Thiếu tá Quách Thưởng đáp bằng lòng, tôi liền thúc Đại đội một hàng dọc phóng nhanh, và sau hai mươi phút đã ở trên cao. Nhìn tổng quát xuống lưng đồi, triền núi hướng tây, thế đất thoai thoải, tương đối quang đãng, chỉ có các lùm cây nhỏ, sần sùi như da cóc, cùng vài ba tảng đá lớn bằng cái nhà. Cách tôi mấy trăm mét, dưới chân đồi, một cụm núi nhô lên xanh um, trông giống cái đầu con ngựa đang thò mõm vào đầm uống nước. Đó là mục tiêu Thưởng nói, tôi sẽ hốt gọn kẻ thù phương Bắc.

Dù ở thế thượng phong, trên đạp xuống dễ như chẻ tre, tôi vẫn dè dặt, phòng ngừa phục kích hay các chốt liên hoàn yểm trợ của địch. Tôi dàn ngang hai trung đội đầu, kế là BCH cùng toán Thám Báo một hàng dọc phía sau, đội hình chữ “T”. Quả đúng như tôi dự đoán, toán khinh binh vừa nhớm chân, địch từ chòm đá to trước mặt đồng loạt bắn AK, B40 và Thượng liên Đông Đức làm hai Biệt Động trúng đạn gục tại chỗ. Nhờ địa thế lốc chốc lính tự động nằm xuống thủ. Tôi nghĩ bọn tàn dư Bắc Việt khoảng nửa đại đội còn kẹt, rời rạc, chưa kịp tổ chức tuyến chiến đấu, tôi điều động ngay hai trung đội đầu tách ra như hai gọng kìm siết chặt hai bên hông, khống chế luôn sau lưng chúng, rồi đẩy toán Thám Báo tắp vào đánh thẳng chánh diện. Tôi bảo anh em hãy nới lỏng mặt sau đễ địch tuôn chạy bớt xuống cụm núi xanh bờ đầm là cái túi cho dễ túm cổ làm thịt. Trường hợp này, Đại đội chủ động, tấn công quá đã, nắm phần thắng trong tay. Các vũ khí có sức phá dữ dội, giết người hàng loạt, gồm M72, M79, nhất là M26 được sử dụng tối đa, tiêu diệt kẻ thù nhanh chóng hơn.

Trận đánh tôi mong đợi bắt đầu nảy lửa lúc 8 giờ sáng…

Thám Báo là thành phần xung kích vừa được bổ sung thêm ba tay súng cự phách, như một bầy hổ dữ trở lại rừng, áp đảo mục tiêu bằng lựu đạn. Với ngón sở trường đó, anh em từng nâng đơn vị lên hàng anh hùng trong các trận vang danh ở Trị Thiên, Quảng Nam, và cách đây mấy hôm đã can trường bọc hậu đánh thủng bức tường thép mạn bắc Sa Huỳnh, để rồi hết hỏa thiêu chí đến trấn nước hàng trăm tên giặc. Giờ đây mèo đang vờn chuột, Đại đội lại vây cứng, dốc hết hỏa lực tàn bạo không chút nhân nhượng xuống đầu địch đến đá núi cũng tung cao, nướng đỏ khu đồi, mà trong Đức Phổ, dân chúng còn nhìn thấy khói mờ chân mây.

Đột nhiên nghe súng nổ dữ dội Thiếu tá Thưởng gọi hỏi:

– Đụng nặng, phải không Việt Quốc?

– Phải Trùng Dương, Việt Cộng rất đông!

– Sao không báo ngay? Cần gunship không?

– Cần, nhưng bảo nó quần ngoài xa, lưu ý bọn bê bối dưới cụm núi xanh vừa thụt B40, thượng liên…

Tôi bỏ máy chạy tới. Nhật, Trưởng Thám Báo, nhìn lui:

– Em cho thằng Xuân Bệt lục soát cái hầm.

Đại đội có hai người lính tên Xuân, cũng trùng họ. Một rỗ mặt, được gọi là Xuân Rô, đã bị thương trong vụ máy bay bắn lầm mùng 1 Tết tại Quán Hồng, còn một thì mỗi lần về phố chuyên gạ gẫm mánh mung chôm chĩa mấy thằng Gi Mỹ la cà ở các Bar, nên có biệt danh Xuân Bệt.

Nhật vừa dứt lời thì Bệt lôi lên một tên Bắc Việt trẻ măng, hai tay vòng trên đầu, và nói to:

– Thằng này giả chết nằm giữa hai xác. Trung sĩ Nhật trói nó để tôi vào lấy hai cây AK và thượng liên…

Nhật rút sợi dây dù cột võng trói chặt tên bộ đội. Thấy Bệt kéo hai khẩu súng ra khỏi hầm, tôi khen:

– Hay lắm, Xuân!

– Còn dài dài, Đại Bàng ơi!

Văn đưa máy:

– Trung sĩ Thuận xin báo cáo.

– Nghe!

– Lính đốc lựu đạn xuống hầm, địch chụp ném lên hết…

– Rồi sao?

– Mình bị thương nhẹ hai đứa…

Nổi xung tôi quát:

– Nặng nhẹ gì hả con bò? Sao không liệng xuống trước trái khói màu cho mù mắt rồi tiếp theo lựu đạn thì chúng thấy đâu mà chụp với giựt?

– Đáp nhận Đại Bàng!

– Lính nghề bây giờ mới nói “đáp nhận”?! Thanh toán gấp phía đó, coi chừng đạn lọt qua Trung đội 2. Còn Hai Mươi bên kia, nghe không?

– Nghe!… Đại Bàng, Đại Bàng, Việt Cộng đầu hàng!

Thấy hai tên độ 16, 17 tuổi tôi không nỡ ra lệnh bắn:

– Trói lại!

Trung đội Thuận bỗng nổ súng xối xả xuống tốp Việt Cộng đang chạy loạn xạ dưới triền đồi mé bắc. Trên các tảng đá to, ba khẩu Đại liên M60 đồng loạt quạt theo tới tấp, đạn lướt sát đầu làm Thuận la inh ỏi, vì sợ trúng lính Trung đội 1.

Tôi hét lớn trong máy:

– Lo trước mặt đi, đừng sợ lạc đạn!

– Việt Cộng chết rất nhiều, súng ngổn ngang không người nhặt, Đại Bàng!

– Hãy lượm bỏ hết lên các tảng đá để dễ thấy!

Hai chiếc trực thăng vừa xuất hiện, không biết của Mỹ hay Việt Nam, đang phóng rocket dọc chân đồi, cặp bờ đầm Nước Mặn, từ cụm núi xanh đến ngọn hải đăng ở cửa khẩu. Tuy xa nhưng vì đã bao lần Đại đội bị xạ kích lầm, tôi gọi Thưởng:

– Trùng Dương báo gunship biết vị trí tôi chưa? Nếu nó bay trên đầu tôi bắn ngay. Tốt hơn, bảo nó de đi!

– Việt Quốc không thấy tụi bê bối dưới cụm núi xanh quạt thượng liên, B40 lên sao?

Tôi bỏ máy không trả lời, nói to với Thiếu úy Thiều:

– Đề phòng trực thăng bắn lầm. Bảo lính sẵn sàng đại liên và M72, khi có lệnh tôi thì phơ ngay. Mặt khác, hãy coi giữ kỹ đám tù binh với chiến lợi phẩm…

Thiều lủi về sau lo công việc. Tôi cũng dặn các trung đội vậy rồi lao tới sát lưng toán Thám Báo. Chợt thấy tôi bọn Độc Nhãn Hoàng Anh, Sơn Râu, Xuân Bệt, ba tay tứ chiếng mới tái xuất giang hồ càng dữ dằn hơn, vừa nhảy lom xom qua các chướng ngại vật vừa bắn càn xuống kẻ thù đang bỏ chạy tán loạn. Các tiếng súng đủ loại của ta, cả địch, nổ ran tứ bề, đất đá tung tóe, nhiều đám cháy khói mù mịt. Tôi nghe bên trái, tiếng lính Trung đội 2 hét:

– Giơ tay lên! Giơ tay lên!…

Một giọng thịnh nộ như của Trung sĩ Nguyễn Hơn:

– Bắn, bắn mẹ nó đi!…

Tôi vội bảo Hiệu thính viên Nguyễn văn Văn gọi nhắc nhở anh em phải thi hành lệnh bắt sống, chỉ đốn ngã thằng nào bỏ chạy thôi.

Dưới cụm núi xanh, hai chiếc gunship diệt chẳng hết, địch quân vẫn tỉa các thứ đạn nổ tùm lum giữa đội hình Biệt Động. Đại đội đã tiến nhanh qua khỏi khu vực đá, và vì anh em bung ngang quá rộng, so với thế đất càng gần mỏm đồi càng hẹp và chập chùng, khó kiểm soát nhau, tôi nắm ống liên hợp:

– Mười, Hai Mươi, co lại. Nhắm hướng cụm núi xanh. Các đại liên hãy kê trên các tảng đá quạt thẳng xuống.

– Mười bắn chết 20 tên, bắt sống 5, thu 15 khẩu súng, Đại Bàng!

– Hay lắm, giao cho BCH. Còn Hai Mươi?

– Chưa đếm. Ước chừng giết chết 10 thằng, bắt sống 3, thu 10 súng đủ loại.

Nghe báo cáo các con số thêm một lần nữa, tôi lùng bùng lỗ tai. Tôi có cảm tưởng đây không phải là một trận chiến, dù với vũ khí tối tân, mà vì một thiên thạch trời giáng nên cả một bầy giặc Bắc trong tích tắc đã nát thây, súng ống lềnh khềnh như củi khúc. Tôi bảo hai người mang máy, Hiệp và Văn, ghi nhớ những con số lớn lao nhất trong đời lính chỉ huy của tôi.

Thiếu úy Đặng văn Thiều, Đại đội phó, cũng quýnh quáng, lăng xăng điều động băng bó thương binh, gom góp tập trung các chiến lợi phẩm và canh chừng đám tù binh mới bị bắt.

Hiệp trao liên hợp tôi tiếp chuyện Thiếu tá Thưởng:

– Sao, Việt Quốc?

Gặp người để chia sẻ niềm vui, tôi rống to:

– Việt Cộng bỏ chạy như bầy vịt, bắn không xuể!

– Cho biết sơ kết quả?

– Chưa chính xác lắm, Trùng Dương! Tối thiểu đã bắn chết 40 tên, bắt sống 10, thu 35 súng cá nhân lẫn cộng đồng, không kể các thứ linh tinh chất nổ, đạn dược…

Thưởng nghe cũng nghẹt thở, giọng khàn khàn, ông hét lên muốn bể cái máy:

– Thắng lớn vậy, bây giờ hỏi mới báo?

– Đang lúc loạn xà ngầu, phần thiếu dây trói tù nên lính đaõ phơ bớt rồi, chắc tôi phải cho lệnh bắn gãy chân hết để chúng khỏi vọt.

Nghe tôi dọa, Thưởng vội la to:

– Đừng làm bậy, Sơn Linh rầy! Trực thăng sẽ vào bốc, nhớ 10 người, giải giao đủ!

– Bộ tôi giấu bớt để ăn sao, Trùng Dương?

Vị Tiểu đoàn trưởng cười:

– OK. Cần pháo binh yểm trợ thêm không?

– Thôi, hai bên đã quá gần nhau, lính lại đang truy kích ra ba hướng khắp khu đồi. Dứt máy!

Hỏa lực địch yếu dần, tiếng súng thưa thớt, nhiều tên sống sót hết đường chạy, cứ cắm đầu lủi thẳng cuối mỏm, sát đầm Nước Mặn. Cái mỏm đó cũng là cái đáy lưới, cá bắt đầu dồn xuống, tôi sẽ túm sau.

Cả triền núi lởm chởm, mỗi bề rộng ba bốn trăm thước, lửa cháy nghi ngút. Thiều đốc thúc lính BCH tiếp tục lục soát các hang hốc, hấm hố, và gói poncho mấy anh lính Biệt Động vừa hy sinh.

Nhật kêu khoe:

– Em nhặt được xấp tài liệu, có băng đạn K54, không thấy súng đâu.

– Đưa coi!

Nhật trao bọc nylon gồm một quyển sổ ghi chằng chịt danh sách bộ đội và loại vũ khí mang. Chủ vật này tên Huỳnh văn Cao, chắc sĩ quan quân số. Khẩu K54 rất quan trọng, chẳng rõ người chủ cây súng đang ở đâu. Nhân lúc đơn vị dừng lục soát quanh, tôi cho dẫn Nguyễn Thành Công tới chỗ kín, không để các tù binh khác thấy rồi sau này ám hại nó. Tôi nói:

– Trung đoàn anh đã thất trận nặng, chết nhiều. Dưới mỏm đồi kia nữa, sẽ tiêu luôn.

Công nhìn tôi:

– Các anh đánh hay quá!

– Nè, trong 10 người đó, ai tên Huỳnh văn Cao?

Công lắc đầu:

– Không có Cao!

– Giờ phút này anh còn dối tôi?

– Em biết mặt Cao mà! Dối anh làm gì? Chắc anh ấy trốn đâu đấy, bảo lính “con mèo” đi tìm…

Nghe Công trả lời, tôi ngạc nhiên, trố mắt nhìn mặt nó:

– Anh nói lính “con mèo” nào?

Người tù binh không một chút ngần ngại, vừa lấy ngón trỏ chỉ vào cái phù hiệu có thêu đầu cọp trên cánh tay áo bên trái tôi vừa đáp:

– Lính các anh đây này.

Tôi vụt cười to:

– Ai bảo anh tụi tôi lính con mèo? Con mắt anh nhìn “nàm thao” mà cọp hóa ra mèo, hả? Xem cho kỹ ông nội. Biệt Động Quân cọp 13 răng người ta! Trời ơi, thằng Việt Cộng này chưa thuộc bài, dễ bị bắn bỏ quá à!

Bọn Hoàng Anh, Sơn Sư Tử và Xuân Bệt kéo tới:

– Gì vậy, Đại Bàng?

Tôi còn ôm bụng:

– Thằng Công nó dám cả gan gọi tụi mình là lính con mèo! Cọp mà nó nói mèo, dễ điên không?

Anh em hiểu chuyện nổi cười rần lên. Tôi gác qua vụ khẩu súng K54, cho lệnh Đại đội tiến gấp xuống đồi.

Dưới mắt tôi cụm núi có đường kính khoảng bốn năm mươi thước, chằng chịt bụi rậm, nhiều cây to xanh um, nằm sát bên cạnh đầm, cách ly mỏm đồi một vạt đất bằng phẳng. Quả thật, đây là “cây đa bến đò”, nơi đêm trước đã xuất phát hằng chục chiếc ghe đưa hàng trăm “khách sang sông” để chuồn vô núi, nhưng vừa mới giữa vời thì bị tôi kêu pháo bắn chìm ráo.

Nhìn kỹ cụm núi có nhiều vết trầy trụa, xơ xác, là các hầm hố cá nhân chiến đấu được ngụy trang bằng các cành lá. Để ước lượng quân số địch bao nhiêu, tôi bảo Trung sĩ Thuận:

– Bây giờ mình quậy lên. Thuận khạc đại liên và câu M79 lai rai xuống. Làm đi!

Lính dàn hàng ngang, từ trên chĩa súng tác xạ loạn xị, cây Đại liên M60 Hạ sĩ Nguyễn Đợi cũng xoáy tròn chung quanh mục tiêu. Trong lúc đạn rải mù mịt thì có một tên Việt Cộng nhanh như sóc, vọt ra giơ hai tay đầu hàng. Sợ lính phơ ẩu, tôi nói lớn:

– Đừng bắn! Đừng bắn nó!…

Nhưng, tiếng la của tôi vừa dứt, tên địch đã ngã chúi dưới chân đồi, máu me phọt đỏ cả lưng. Tưởng đâu Binh nhì Trần văn Liên Trung đội 1 bắn, tức giận tôi lao tới toan đánh Liên một bá súng, thì Trung sĩ Thuận kịp can ngăn:

– Không phải Liên, Đại Bàng! Cấp chỉ huy Việt Cộng bắn thằng đó!

Quả đúng, người kế tiếp cũng vậy, đạn xâu từ sau ót, gục ngay tại bìa cụm núi.

Tôi nghĩ bụng: “Thấy mẹ, ai đầu hàng đều bị cán bộ giết, chứng tỏ chúng cương quyết tử thủ, mình sẽ gặp khó khăn”. Trừ phi bất đắc dĩ chứ tôi không muốn tàn sát hết số địch còn trong mục tiêu, nên đổi chiến thuật. Tôi bảo Thiếu úy Đại đội phó đưa thằng Công tù binh tới đứng kế bên một tảng đá to ở mép đồi, gọi đồng đội buông súng. Công, tỏ vẻ sợ sệt, trù trừ, cuối cùng rống to cái họng, giọng như muốn khóc:

– Các đồng chí! Tôi là Nguyễn Thành Công, Phòng Không! Các đồng chí hãy ra hàng đi! Ra hàng đi, các đồng chí!…

Người tù binh dễ thương ấy, cựu sinh viên năm thứ hai Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, mới kêu có mấy tiếng và chưa dứt, thì một tràng thượng liên từ dưới cụm núi xanh bắn nhào lên, đạn tua tủa xẹt ngang tai của Công, chạm đá nẻ lửa. Thấy bất ổn, lại ngại người bộ đội trẻ này chết một cách oan nghiệt, tôi cho lui ra sau để đích thân Trung sĩ Thuận gọi và hẹn chúng mười phút, nếu không giơ tay thì sẽ bị diệt. Đúng là dân chịu chơi, chẳng mống nào nhúc nhích.

Thời gian ân huệ đã qua, Thuận đâm quạu:

– Mần thịt phứt cho rồi, Đại Bàng!

Tôi cười:

– Mần thì dễ thôi! Hãy xịt thêm ít quả M72 nữa coi.

Các đầu phóng tiễn tuy nhỏ “con” đã đủ bung đất đá. Ngay lập tức, bốn tên ùa ra một lượt, lại gục hai, còn hai lao nhanh lên khu đồi Biệt Động. Thuận lại nhảy tới thộp cổ áo một tên làm thằng nhóc xanh mặt:

– Tại sao chờ nổ súng rồi mới đầu hàng, hả?

Hai ranh con bộ đội run rẩy:

– Dạ… dạ… chúng em sợ cán bộ b.ắ.n…

– Còn bao nhiêu thằng dưới đó?

– Dạ, khoảng mười t.h.ằ.n.g…

Tôi nghĩ, địch còn ít, dù chúng đang quyết thủ tại một mục tiêu cô lập, chung quanh là đồng trống và bờ đầm Nước Mặn thế này thì cũng dễ bị diệt. Nhưng nếu tôi dùng số đông phang ngang từ đây có thể mình thiệt hại nhiều, nên chơi cách khác, chỉ cần ba tay súng cừ khôi. Tôi chợt nhớ bọn Sơn, Xuân Bệt và Hoàng Anh toán Thám Báo, thằng nào cũng gan dạ. Đặc biệt Nguyễn Sơn, hỗn danh Sơn Sư Tử hay Sơn Râu, vì bộ râu quai nón với cặp lông mày rậm tạo thành khuôn mặt của nó giống đầu con sư tử dữ dằn. Lại nữa, tính Sơn khi bị khích bác, trời cũng không thoát khỏi tay nó. Sơn Râu khét danh du đãng từ vùng 3 ra vùng 1, thuộc loại đâm thuê giết mướn, dĩ nhiên ăn giựt đ… chạy số một. Trong binh chủng Biệt Động Quân đố ai cầm cương nó nổi. Sau lần bị nhốt vào nhà lao trở lại do tội vượt ngục Côn Đảo, mãn tù Sơn về phục vụ Đại đội 4/21 Biệt Động, rồi chứng nào tật đó, Đại đội trưởng Đỗ văn Nai không trị được. Tháng 3/1972, nhân Đại đội 1 BĐQ này thiếu quân số trầm trọng, lúc còn Trung úy Hà Tự Tánh chỉ huy thất trận ở tây nam Quảng Trị, Đỗ văn Nai tống Sơn Sư Tử qua bổ sung cho khuất mắt. Khi Hà Tự Tánh mất chức, tôi lên thay thế làm Đại đội trưởng. Ngày đầu tiên vừa thấy mặt và biết rõ lai lịch hung thần ấy, tôi phải quậy lại cái máu chuyên diệt du đãng thời niên thiếu đã lắng đọng, để thách thức nó chơi bạo, mà tôi không cần dùng đến quyền hạn của cấp chỉ huy trực tiếp. Kết quả tôi đã khắc phục được Sơn Sư Tử, từ một tay đâm cha giết chú thành người hiền, biết yêu gia đình, quý mến đồng đội và tuân hành thượng cấp để chung lưng chiến đấu. Đôi khi Sơn lại bốc hứng ba gai, lối ba gai bình thường của người lính sống nay chết mai, mà vẫn giữ tình anh em cùng đơn vị. Sơn từng nói với đồng đội: “Giờ đây tôi mới gặp được một cấp chỉ huy thực sự là Đại Bàng Việt Quốc”.

Dụng nhân như dụng mộc. Nghĩ tới ngón nghề của mấy tay bạt mạng Thám Báo, tôi mừng, liền cắt đặt Sơn làm trưởng tổ chỉ huy Xuân Bệt, Hoàng Anh. Hai thằng này cũng thuộc loại voi lung, thường giở chứng, chỉ có thằng nài Sơn trị được thôi. Tôi mời luôn các thẩm quyền Trung đội đến nghe kế hoạch:

– Bộ ba Sơn Râu, Hoàng Anh, Xuân Bệt kín đáo đi về phía nam vài trăm thước, chỗ bụi rậm đầu kia rồi tụt dốc, bò ngược lại đột kích cụm núi xanh này. Toán Thám Báo của Nhật còn bảy người ứng chiến, sẵn sàng tiếp tay. Trung đội 1 Thuận cứ bắn lai rai, khi tốp thằng Sơn Râu bắt đầu xung phong thì cho làm tối đa, chuyển dần làn đạn về phải mục tiêu. Trung đội 2 Hơn kéo qua triền đồi mé bắc, dàn ngang nhấp nhá như muốn tấn công, để địch khỏi chú ý đến tổ Sơn đột kích. Tôi sẽ đích thân hướng dẫn yểm trợ. Sơn Râu đừng sợ lạc đạn. Nếu rủi bị một đứa thôi thì Trung sĩ Hơn cho lính tắp xuống tấn công mặt bắc mục tiêu ngay. Nhớ lệnh tôi, không còn thời giờ nhắc lại nữa. OK, Sơn Râu cố gắng mở màn cuộc đột kích ngoạn mục này. Đây là điểm cuối cùng Cộng quân tại trận địa Sa Huỳnh đang chờ chết. Tất cả thi hành!

Sơn Râu, Hoàng Anh, Xuân Bệt, ba người không một chút nao núng, liền cởi bỏ ba lô xuống tại chỗ, chỉ mang súng đạn, lủi nhanh về phía nam. Hai trung đội cũng bắt đầu làm nhiệm vụ giao phó. Hạ sĩ Đợi quạt Đại liên M60 từng tràng. Một lát, tốp Sơn xuất hiện, lom khom giữa các lùm cây hoang dại dọc theo bờ đầm Nước Mặn ngược về hướng bắc, Trung đội 2 bên phải vội đánh nhá. Các tiếng súng nổ vang, cụm núi xanh bị đạn xoáy, cây cối ngã đổ tung tóe. Địch đoán lầm nên chỉ lưu ý Biệt Động Quân trên đồi cao phía đông này tấn xuống.

Rồi thình lình ba anh hùng Thám Báo dựng đứng người lên hàng ngang hô xung phong, lao thẳng vào bờ tuyến địch, dồn dập ném lựu đạn. Các căn hầm địch đối diện lần lượt nổ bung, trong lúc các mũi hỏa lực của hai Trung đội xé banh nửa phần mục tiêu phía bắc. Những kẻ tử thủ vội dốc hết tàn lực bắn ra, đạn đôi bên mù mịt. Tôi phải nói, Cộng quân cũng can trường không kém, họ chiến đấu chống trả, giành sự sống, một cách mãnh liệt. Nhưng than ôi! Các dũng sĩ phương Bắc như ngọn đèn dầu chợt sáng lên rồi tắt ngấm trước sức tấn công vũ bão, hiểm hóc của các anh hùng Biệt Động Quân.

– Việt Cộng chạy ra…

– Tụi nó đầu hàng, Đại Bàng!

Chung quanh, lính gọi nhau ơi ới, ý muốn thi hành lệnh bắt sống hơn bắn chết. Nhưng mọi sự đã muộn, giờ phút cận chiến của bọn cảm tử Mũ Nâu Đại đội đang xung thiên thịnh nộ, tôi không thể ra lịnh ngưng bắn kịp nữa. Những kẻ xâm lăng chạy ra bao nhiêu gục ngã bấy nhiêu. Tôi đứng dậy nhìn trận địa, tuy nhỏ nhưng có tính cách quyết định chiến trường của người mang chí lớn.

Tôi cố hét lên dù biết vô hiệu quả giữa vùng trời òa vỡ âm thanh ghê rợn:

– Sơn! Nhào vô, nhào vô!…

Đột nhiên bọn Sơn Sư Tử mất dạng trong chòm cây. Tưởng đâu cả ba đã bị nuốt trửng, tôi vội tống hết bảy tay súng toán Thám Báo còn lại nhảy tiếp vào “cụm núi xanh”. Một số địch sống sót, quýnh quáng tuôn vội xuống bờ đầm toan chạy sảng về hướng bắc, cũng bị Trung đội 2 bắn chúi nhủi…

Thấy Xuân xuất hiện đang dí súng sau lưng hai tên, tôi cho lệnh cả Trung đội 2 tràn ngập mục tiêu ngừa bất trắc.

Sơn Râu rống to:

– Trình Đại Bàng, địch chết dưới hầm 9, ngoài tuyến 8, bắt sống 2, thu 15 súng cá nhân và một thượng liên…

Tôi vui vô cùng:

– Hay lắm, Sơn! Coi đề phòng mìn bẫy của chúng.

Tôi báo gấp BCH Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân trên đỉnh 94 cửa khẩu, đang theo dõi:

– Trùng Dương! Trùng Dương! Việt Quốc đã chẻ tre!

Thiếu tá Quách Thưởng:

– Kết quả sao?

– Ít thôi, giết 17, bắt sống thêm 2, súng chưa đếm hết, chắc khoảng 15 khẩu, kể cả một thượng liên…

Thưởng dường như đang nhảy đổng:

– Chiến thắng, đại chiến thắng! Xong xuôi Việt Quốc giựt lui lên cao phòng thủ. Đồng thời tập trung các thứ lại, báo cáo các con số thu đạt được trong ngày, để trình Sơn Linh gấp!

– Trùng Dương chờ!

Đại đội kéo lui, bao quanh khu vực đá, nơi khởi đầu chạm súng. Buổi trưa trời nắng gắt tôi bảo lính châm lửa đốt các vạt tranh săng cho quang đãng. Bất ngờ thêm 9 tên Việt Cộng còn ẩn núp, bị nóng vụt trồi dậy chạy dạt qua mỏm đồi hải đăng kế cửa khẩu, hướng nam. Biệt Động Quân rượt theo bắn chết 5, túm cổ được mấy tên nữa. Không hiểu anh em lính tra khảo bằng cách nào mà biết trong bốn người sống sót lại có Huỳnh văn Cao. Tụi nó nói “gặng hỏi” lắm tên Cao mới chịu nhận là chủ cây K54, và nhặt 7 AK49 giữa lớp tro tàn của tranh săng.

Thiếu úy Thiều tổng kết mọi thứ xong, tôi báo Thưởng:

– Vừa bắn chết thêm 5, bắt sống 4, thu 7 súng. Cộng chung ngày nay giết tất cả 70, tù binh 18, nếu kể luôn thằng Nguyễn Thành Công là 19 tên. Súng: 2 thượng liên, 16 B40, 46 AK, cả thảy 64 khẩu, chưa kể đồ lỉnh kỉnh. Riêng 2 khẩu K54 để tặng Trùng Dương và Dông Tố.

Thưởng nghiêm giọng:

– Việt Quốc, từ lúc ra trường tôi chưa thấy đơn vị nào xuất sắc, thắng lớn như Đại đội 1 Việt Quốc. Tôi sẽ trình mọi diễn tiến với kết quả tuyệt vời này lên Sơn Linh.

– Cảm ơn Trùng Dương. Bây giờ điều khẩn cấp nhất là tải thương, giải giao tù binh và chiến lợi phẩm…

– Lo rồi, Việt Quốc!…

Chung quanh súng chỉ còn nổ lẹt đẹt, nhưng đột nhiên có nhiều tiếng quát tháo, chửi thề. Tôi nghe rõ các lời văng tục, cả tiếng bình bịch như tiếng bá súng, gót giày dộng vào lưng hay bụng tù binh rất dữ dằn, để tra hỏi vũ khí cất giấu. Dường như anh em trút hết nỗi căm hờn xuống đầu kẻ thù đang điêu tàn, thảm bại. Điều này làm tôi nhớ cuộc hành quân vào mùa Xuân Kỷ Dậu 1969 ở Cẩm Lệ, Hòa Vang Quảng Nam. Đơn vị bắt được một du kích, đích thân vị Đại đội trưởng Đại đội 2/21 BĐQ tra khảo. Tên Việt Cộng khai trước hắn làm thợ máy tại hãng sửa xe Bảo Vân ở Đà Nẵng, theo địch dịp Tết Mậu Thân 1968. Nghe vậy, vốn ghét những kẻ ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản, nối giáo cho giặc, vị Đại đội trưởng 2/21 tức giận, đánh thằng nọ đến hộc máu.

Chuyện đập trào cơm lòi cuống họng mấy tên ngu xuẩn đó không nói làm gì, nhưng hình ảnh mà tôi nhớ mãi đến bây giờ là một cú đá dơ, dirty kick, của người chiến thắng. Đánh nhừ tử xong vị sĩ quan giả vờ quay lưng đi, kẻ chiến bại trong giây phút đau đớn ấy hẳn lóe lên một tia hy vọng là được tha thứ, chấm dứt trận đòn thù. Nhưng không, bỗng nhiên ông dừng lại rồi vụt nhảy nhổm lên đá quặt lui một cái thật mạnh, như trời giáng, vào mặt tên du kích đang ngồi với hai tay trói chặt phía sau. Hãy tưởng tượng cái gót giày sắc cạnh của botte de saut chắn ngay nhân trung, chỗ giữa môi trên và mũi, kẻ trúng đòn bật ngửa, toàn thân phát co giật như điện chạm.

Lần khác, một Biệt Động Quân vung cao nón sắt đập thẳng xuống sống lưng một tên địch nghe cái ự, hắn liền le lưỡi giẫy đành đạch, thở không ra hơi…

Hình ảnh ấy, tôi chỉ thấy thôi, mà ruột gan còn chết điếng lọ là nạn nhân. Trong cuộc chiến ngăn chặn họa Cộng Sản, cá nhân tôi cũng chẳng tốt lành gì, từng bắn địch rụng như lá đổ mùa thu, nhưng đánh lén, đánh hiểm, đánh kiểu mật thám Tây thì tôi không chơi. Thà đem họ ra giết, bắn bỏ chẳng hạn, viên đạn xuyên qua ngọt xớt, chết không đau, không nhục nhã, mà kẻ thắng trận vẫn giữ được sĩ khí của mình, của một dân tộc vốn rất hiếu hòa.

Khi lên làm Đại đội trưởng 1/21 Biệt Động Quân này tôi tuyệt đối cấm sử dụng những đòn thế dơ bẩn không cần thiết ấy để biểu lộ mối căm hờn với kẻ thù.

Để đề phòng chuyện khuất lấp, tôi ra lệnh tập trung 19 tù binh lại, ngồi bên tảng đá lớn. Trung đội 2 báo cáo tìm thấy cái địa bàn trong túi quần một xác chết, còn khẩu K59 thì nằm dưới đất chưa biết ai chủ. Các đơn vị tác chiến cấp nhỏ thường thiếu phương tiện và kém hiểu biết về chuyên môn, khó khai thác tù binh tại chỗ. Bộ đội trơn thì dễ, dọa sơ đã vội thú nhận mọi điều, chứ đa số sĩ quan rất cứng đầu, có đánh te tua cũng vô ích, ít khi khai ngay ở chiến trường. Tôi chẳng bao giờ cho dùng biện pháp đấm đá lôi thôi.

Các khuôn mặt tù binh hiện rõ những nét khiếp đởm, mỗi người một cách run khác nhau nơi từng thớ thịt. Thế mà họ đã mệnh danh là Sư Đoàn Sao Vàng. Tướng Chu Huy Mân Cộng Sản Bắc Việt chỉ huy trận chiến cướp đất Sa Huỳnh giờ mới thấy hổ thẹn, các đại đơn vị thuộc quyền của mình quá dở.

Họ sợ cũng phải. Lần đầu tiên trong sự nghiệp đi làm cách mạng… xâm lược, đoàn quân phương Bắc bị một đơn vị nhỏ Biệt Động miền Nam đánh tơi tả, bắt sống hàng loạt. Hẳn họ tự vấn rồi đây thân phận họ, dù đã biết sinh Bắc tử Nam, các Thiên Thần Mũ Nâu lừng danh này có đem ra ngoài kia bắn bỏ không. Khi vô Nam các cán binh cũng được “Bác và Đảng” dạy một cách thiếu giáo dục “Thà giết sạch địch chớ để địch giết”. Hôm qua Nguyễn Thành Công nói vậy. Anh ta tâm tình nhiều điều. Thấy một máy bay hàng không dân sự cất cánh từ Quảng Ngãi bay vòng ra biển vô Sài Gòn, Công tưởng họ chở các tù binh đem liệng ngoài khơi.

Tất cả ngồi im thin thít, mặt xanh như lá chuối, chẳng khác nào cá trên thớt, mà trước đó đã cố vùng vẫy không thoát. Họ nhìn người thắng trận, cấp bực nhỏ, chỉ huy lính chẳng là bao, lại nắm quyền sinh sát trong tay giữa giờ phút tiếng súng còn thịnh nộ, chưa nguôi, xác thù và bạn còn nằm la liệt trên lưng đồi cửa khẩu Sa Huỳnh. Giết hay tha đám giặc Hồ trước mặt là tùy tôi, Việt Quốc này. Vì bản chất người miền Nam phong phú, khác hẳn với bọn theo Marxist xuất thân từ bần cố nông xấu tính, hèn hạ, do miếng ăn manh áo mà lập đảng cộng sản đấu tranh giai cấp bằng bạo lực, ganh ghét kẻ giàu sang, diệt địa chủ, chỉ để cướp của, tôi nhã nhặn nói:

– Các anh yên tâm sẽ được trở về đất Bắc với vợ con, cha mẹ. Tôi biết trong hàng ngũ các anh có lắm tên gian ác, đáng khinh, nhưng cũng nhiều anh hùng, coi nhẹ cái chết. Lúc đối đầu hỗn chiến, dĩ nhiên hai bên phải tàn nhẫn lẫn nhau. Bây giờ các anh chớ toan tính gì khác, hãy ngồi chờ giải giao.

Nghe nói vậy đám tù binh đổi màu da, bớt sợ. Mấy bộ đội còn trẻ, giống Nguyễn Thành Công hôm nào, cảm động rưng rưng nước mắt.

Tôi báo Thiếu tá Quách Thưởng vài chi tiết:

– Trong số 19 tên bị bắt người có làm dấu trên cổ bằng tua compress trắng, chắc là sĩ quan cao cấp.

Thưởng cho hay:

– Sơn Linh nói có một tướng Việt Cộng kẹt trong này, nhớ giữ kỹ, đừng “thịt” sảng tên nào.

– Nguyễn Thành Công bị bắt mấy bữa khai nó là sinh viên năm thứ hai Đại Học Tổng Hợp. Công có học, lại dân Hà Nội, ăn nói dễ thương, nên được tôi đối xử tử tế, còn cho hút thuốc Capstan, uống bia…

Thưởng cười xòa:

– Tù mà mày làm như bạn không bằng.

– Thì ông cho tôi “nghệ sĩ” chút chứ!

– Rồi, Đại đội 1 hãy sẵn sàng. Quang Trung bắt đầu xuống lo việc chuyển giao chiến lợi phẩm và tù binh. Trực thăng sắp tới, cho lính bung rộng giữ an ninh bãi đáp.

Chấm dứt cuộc nói chuyện với Thiếu tá Quách Thưởng, tôi rải thưa Đại đội ra bố trí và sẵn sàng mọi thứ.

Vừa dẫn tốp lính lẫn Lao Công Đào Binh trên đỉnh 94 đem chiến lợi phẩm của các đại đội xuống, chưa kịp ngồi nghỉ xả hơi, Đại úy Trần văn Quy, Trưởng ban 3 Tiểu đoàn, đã nhận lệnh ném một quả khói vàng. Sau mấy phút bốn chiếc UH1B từ hướng bắc ào ào đáp giữa vòng đai Đại đội an toàn. Thiếu úy Đặng văn Thiều vội giao nạp số tù binh và một đống chiến lợi phẩm của đơn vị tôi tịch thu cùng các anh Biệt Động Quân bị thương và chết lên máy bay. Mọi công việc chu đáo, nhịp nhàng. Vùng đất bao la Sa Huỳnh đã trở lại yên bình, không một tiếng súng quanh bờ đầm Nước Mặn.

Tất cả vừa rời khỏi bãi, Đại úy Quy đến tâm tình với tôi:

– Anh biết không, ông Trung đoàn trưởng 5/2 Bộ Binh mới gọi máy yêu cầu Thiếu tá Quách Thưởng cho họ dàn trận giả là chèo ghe qua tấn công khu đồi này. Đại đội 1 BĐQ anh thì làm Việt Cộng nhưng chỉ bắn chổng lên trời. Mục đích để các ổng hô hoán lên Trung đoàn 5 Bộ Binh chiếm được mục tiêu, chiến thắng, hầu gỡ gạc thất bại vừa rồi. Tùy anh chứ tôi và Thiếu tá Thưởng thấy chó má lắm!

Nghe Trần văn Quy chuyển lại những lời “yêu cầu” nhầm mục đích để họ cướp công một cách ngu xuẩn, phản phúc, xúc phạm nặng nề đến các chiến sĩ anh hùng, nhất là những người vừa nằm xuống, máu đổ còn đỏ thắm trên mặt đất quanh đây, tôi nổi nóng quát to:

– Không! Tôi không làm trò hề đó! Chắc có âm mưu cướp công. Chuẩn tướng Trần văn Nhựt Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh xúi bậy. Anh nói lại mấy ổng dùm tôi, lạng quạng tôi bắn thấy mẹ chúng!…

Biết tôi không bằng lòng nhưng vì nhiệm vụ với tính thẳng thắn, Quy nói ra. Thấy tôi sừng sộ bọn táng tận lương tâm, tội nghiệp Quy, người bạn cũng từng gian khổ như tôi, đã bao lần bị thương ở các chiến trường Trị Thiên, Hạ Lào, buồn buồn bỏ đi một mạch lên lưng đồi còn vàng hoe lửa đạn trận cuối cùng Sa Huỳnh.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn
Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 31-Kết

Ở Sicily, nếu không có tiền thì cũng đừng hy vọng chôn người thân của mình trong lòng đất. Đó là sự thua thiệt cuối cùng của những thằng khố rách. Và, ngay cả ở đất Sicily mà cũng còn phải chịu trách nhiệm về quá nhiều nỗi tủi nhục. Vậy mà ở nghĩa địa lại đầy những phiến đá xinh xinh hay những nhà mồ có cổng vào bằng sắt uốn éo hoa mỹ. Có những ngôi còn để ngỏ, có ngôi đã gắn xi – măng. Có ngôi dành chung cho cả gia đình.
Giáo sư Hector Adonis đã chọn một ngày chủ nhật đẹp trời sau khi Aspanu chết để viếng nghĩa địa thị xã Montelepre. Ông Trùm Croce cũng sẽ đến đó gặp ông, để cùng với ông cầu nguyện bên mồ của Guiliano. Vì họ có việc phải bàn với nhau. Và có nơi nào tốt hơn để làm nơi gặp gỡ của những con người không còn kiêu căng khoe khoang, để tha thứ cho những nguyền rủa đã qua, để đào sâu những suy tính khôn ngoan?
Và có nơi nào tốt hơn để chúc tụng, khen ngợi người bạn đồng sự đã làm được một điều tốt? Nhiệm vụ của Ông Trùm là phải loại bỏ được thằng Pisciotta. Nó quá bép xép và có trí nhớ quá tốt. Ông Trùm đã chọn giáo sư Adonis làm đạo diễn. Tờ giấy luồn vào ngực thằng Pisciotta – là một trong những cử chỉ tế nhị nhất của Ông Trùm. Điều ấy làm cho giáo sư Adonis rất mãn nguyện. Và, một vụ mưu sát chính trị được ngụy trang dưới hình thức một cuộc trả thù rất lãng mạn, thì còn gì hay bằng. Đứng trước cửa nghĩa địa, ông giáo sư nhìn người tài xế và vệ sĩ đỡ Ông Trùm xuống xe. Những năm gần đây – thân xác Ông Trùm vốn đã phát phì – đã lại tăng trọng thêm nữa. Cứ như thể thân xác lão phát triển theo nhịp với sự phát triển quyền lực của lão.
Cả hai bước qua cổng nghĩa địa. Vòng cung phía trên cổng có hàng chữ uốn bằng sắt: “Trước kia chúng tôi cũng giống như quý vị – sắp tới, quí vị cũng giống như chúng tôi”. Ông Adonis mỉm cười vì cái câu vừa bi thương vừa chua chát giễu cợt đó. Nhưng, ở dưới mồ, chắc là Pisciotta đang gào thét, la lớn câu đó.
Ông Adonis không còn cảm thấy ghét cay ghét đắng cái thằng Pisciotta khốn kiếp đã sát hại thằng con đỡ đầu cưng của ông. Ông đã báo thù được cho nó. Ông nghĩ, có lẽ giờ này hai đứa lại đang chơi với nhau cái trò kẻ cướp như hồi còn nhỏ.
Ông Trùm nhìn tấm hình Guiliano:
– Thằng nhỏ thiệt ngon, chúng ta ai nấy đều yêu thương nó. Nhưng làm sao chúng ta có thể sống được với nó. Nó cứ muốn thay đổi cả thế giới này. Nó yêu con người. Nhưng thử hỏi, có mấy ai giết người nhiều hơn nó? Nó tin Chúa, nhưng lại bắt cóc đức Hồng y giáo chủ.
Giáo sư Adonis đăm đăm nhìn vào hình Guiliano. Tấm hình chụp năm hắn mười bảy tuổi. Ôi, cái vẻ đẹp tột cùng của Địa Trung Hải. Sự dịu dàng trên khuôn mặt khiến ta phải yêu thương hắn. Nhìn khuôn mặt ấy, ta không thể nào ngờ rằng hắn đã ra lệnh giết hàng ngàn người và đẩy hàng ngàn người xuống địa ngục.
Ơi Sicily! Hỡi ơi Sicily! Người đã hủy hoại những đứa con tuấn tú nhất của Người và đã biến chúng thành tro bụi. Những đứa con đẹp hơn cả thiên thần, đã lớn lên trên đất người và đã trở thành quỷ dữ. Quỷ dữ tràn lan trên đất Người, nhiều như cỏ, như cây! Vậy mà, tại sao một người như Croce lại đến đặt vòng hoa trên mộ Guiliano?
– Chúa ơi! – Ông Trùm than – Ước gì con có được một đứa con, chỉ một thôi cũng được, như Turi Guiliano! Và như vậy thì không hiểu con sẽ để lại cho nó một đế quốc như thế nào. Ai biết được nó sẽ đoạt được vinh quang đến mức nào!
Giáo sư Adonis mỉm cười. Đúng, Ông Trùm là một con người vĩ đại. Nhưng lão ta không có khái niệm gì về lịch sử. Thật ra lão có hàng ngàn đứa con sẽ kế tục sự cai trị của lão, sẽ thừa kế sự quỷ quyệt của lão, sẽ cướp phá Sicily cho đến tan hoang ra, sẽ làm cho Rome ung thối ra và chính ông, giáo sư sử học và văn học Palermo cũng là một trong những đứa con ấy.
Ông giáo sư và Ông Trùm quay ra về. Một dãy dài xe lừa kéo đang chờ trước nghĩa địa. Trên mỗi phân vuông của mỗi xe đều sơn màu lòe loẹt, vẽ lại các sự tích của Guiliano và Pisciotta. Nào là cướp tư trang của bà công tước, nào là cuộc hạ sát tập thể tất cả các sếp Mafia. Nào là cuộc sát hại Guiliano do chính tay Aspanu thực hiện. Ông giáo sư dường như đã biết tất cả những sự tích đó. Ông cũng biết rằng, mặc dù là một con người vĩ đại, Ông Trùm chắc chắn sẽ bị chìm sâu trong lãng quên. Rằng, vậy mà Guiliano sẽ sống mãi. Huyền thoại về Guiliano ngày càng lớn lên, càng thêm đậm đà, càng thêm sức lôi cuốn. Đã có vài người tin rằng Guiliano không chết. Hắn còn đang thét vang trên rặng núi Cammarata. Có người tin rằng vào một ngày vĩ đại nào đó hắn sẽ phục sinh để bẻ gãy xiềng xích và đưa Sicily ra khỏi cảnh nghèo đói, áp bức, bóc lột, bất công. Trong hàng ngàn thôn xóm có những ngôi nhà xây bằng đá thô sơ và dơ bẩn, trong những ngôi nhà đó, những đứa trẻ chưa ra đời mà đã biết cầu nguyện cho hương hồn Guiliano và cầu mong hắn phục sinh.
Và, Pisciotta – với cái tâm hồn tinh quái của y – như người ta nói, vì đã không chịu nghe ông Hector Adonis kể chuyện hiệp sĩ Roland và Oliveier, nên đã quyết định đi theo con đường khác? Công bằng mà nói thì lẽ ra Pisciotta cũng phải chìm trong lãng quên. Nhưng vì y đã phạm nhiều tôi ác quá lớn, nên y cũng được đứng bên cạnh Turi yêu quý mãi mãi.

Google photo edit by Sơn râu

Pisciotta cũng được chôn trong nghĩa địa này. Hai đứa chúng nó sẽ được mãi mãi nhìn ngắm dãy núi thân thiết của chúng. Và cũng chính trên dãy núi ấy có bộ xương con voi của Hanibal. Cũng trên rặng núi ấy còn văng vẳng tiếng tù và của Roland khi hiệp sĩ chiến đấu chống lại quân Hồi. Turi Guiliano và Aspanu Pisciotta chết trẻ. Nhưng chúng còn sống lâu, – nếu không phải là mãi mãi – thì ít ra cũng sống lâu hơn Ông Trùm Croce và lâu hơn cả chính ông, giáo sư Adonis.
Hai người – một cao lớn sồ sề, một thấp nhỏ – đã cùng rời khỏi nghĩa địa. Những thửa ruộng, mảnh vườn bậc thang bám quanh sườn núi như những dải băng xanh. Những tảng đá vôi trắng xóa lung linh dưới ánh mặt trời. Những con ó màu nâu đỏ đang bay lao về phía họ như mũi tên.
…..
Sicily! Ơi hỡi Sicily! Dung nhan của người!
Sicily! Ơi hỡi Sicily! Tâm hồn của người!
Mê hoặc và Huyền bí!
Đạo hạnh và Bạo tàn!


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

15. Những kẻ sĩ hoà mình và đứng về phía bình dân

Nói về văn chương Miền Nam, nhiều người nhắc đến Mạc Thiên Tứ, nhóm Chiêu Anh Các hoặc những bài thơ của Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Võ Trường Toản. Những tác phẩm nói trên không được phồ biến trong giới bình dân; chẳng qua là lúc đầu, việc làm văn chương thi phú chỉ thịnh hành trong giới trí thức. người ta chỉ nhớ tên của Mạc Thiên Tứ và nhan đề của mấy bài Hà Tiên thập vinh mà thôi; gần như chẳng ai thưởng thức, ngâm ngợi vì lời thơ còn thô, chưa thuần thục. Phải đợi đến ông Đồ Chiểu thì thi phú mềin Nam mới gây tiếng vang xa và thật sự được dân chúng thưởng thức, xem là món ăn tinh thần. 
Bàn về ông Đồ Chiểu và Lục Vân Tiên thì đã có nhiều bài khảo luận, nhiều tài liệu rồi. Lời lẽ của Lục Vân Tiên dễ hiểu tuy chứa nhiều điển tích, nhưng lả điển tích phổ thông mà một ông đồ vô danh trong làng có thể giải thích được. Bài văn tế Vong hồn dân mộ nghĩa, văn tế Nam Kỳ sĩ dân với lời lẽ nôm na bổng dưng trở thành trang trọng và xúc động được mọi giới. dùng văn chương để “chở đạo”. Nhiều kẻ sĩ tiếp tục truyền thống “chở đạo” ấy. Lúc Nam Kỳ gặp nạn ngoại xâm, hầu hết kẻ sĩ đều dấn thân, đến kẻ đầu hàng giặc như Tôn Thọ Tường cũng thú nhận tội lỗi công khai vì không thể nào chối quanh chối co. Nho sĩ đương thời bắt buộc họ Tôn phải tỏ thái độ, một là bạn hai là thù. Họ Tôn cố gắng thanh minh bằng vài hành động cụ thể: làm bài thơ vịnh chùa Cây Mai “Lặng lẽ chuông quen con bóng xế, tò le kèn lạ mặt trời chiều”, hoặc bảo lãnh một vài bạn nho sĩ theo nghĩa quân bị bắt. 
Đến những nho sĩ ở ẩn cũng tỏ thái độ, điển hình là ông Thủ khoa Nghĩa, tác giả Kim Thạch Kỳ Duyên (có Huỳnh Mẫn Đạt góp phần sáng tác, nhưng không hiểu tới mức nào); bổn tuồng này khó phổ biến vì qua nhiều chữ nho và điển tích. Nhưng khi thực dân đến, ông lên tiếng: 
Ai khiến thằng Tây tới vậy à? 
Đất bằng bỗng chốc nối phong ba. 
Hẳn hòi ít mặt đền ơn nước 
Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà. 
Đá sắt ôm lòng cam với trẻ 
Nước non có mắt thấy cho già 
Nam kỳ chi thiếu người trung nghĩa, 
Báo quốc Cần Vương há một ta?
 
Ông Huỳnh Mẫn Đạt mượn lời người kỹ nữ đi tu để gởi gấm tâm tự. Về mặt xử thế ông tỏ ra minh bạch, biết vinh biết nhục. 
“Lúc nhà nước lại thâu thủ Nam Kỳ, ngài (Huỳnh Mẫn Đạt) an phận dưỡng nhàn, không mang tiếng chi cả, hình trạng khô ngô ốm yếu, tánh nết hiền lành, hay làm thi quốc âm, tao nhã thiệp liệp lắm, ông Tôn Thọ Tường kính ngài là bực phụ chấp. có một ngày kia ngài lên Sài Gòn chơi, gặp lúc trời chiều, ngài đội cái nón ngựa, đứng coi Lang Sa thổi kèn tại Bồn kèn, gặp xe ông Tường đi, ngài lánh mặt bên gốc cây, không cho ông Tường thấy, ông Tường liếc mắt thấy ngài. Liền ngừng xe nhảy xuống mừa rỡ nghinh tiếp, trách ngài sao không ghé chơi; ngài tánh hay ngâm thơ nôm, liền ngâm một bài hát cú rằng: 
Cừu mã năm ba dạo cặp kè 
Duyên sao giải cấu khéo đè ne. 
Đã cam bít mặt cùng trời đất, 
Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe. 
Hớn hở trẻ dong đường dặm liễu. 
Lơ thơ già núp cội cây hoè. 
Sự đời thấy vậy thời hay vậy. 
Thà ẩn non cao chẳng biết nghe.
 
“Ông Tường biết ý ngài rồi, liền ngâm trả lại một bài thi rằng: 
Tình cờ xảy gặp bạn tiền liêu 
Thơ phú ngâm nga hứng gió chiều. 
Thế cuộc đổi đời càng lắm lắm. 
Thiên cơ mầu nhiệm hãy nhiều nhiều 
Nước non dường ấy, tình chứng ấy, 
Xe ngựa bao nhiêu, bụi bấy nhiêu. 
Hăm hở nhạc Tây hơi trổi mạnh 
Nghe qua ngùi nhớ giọng tiêu thiều.
 
“Rồi ông Tường rước ngài về chơi vài bữa” Tỉnh Vĩnh Long mất, ông Cử Trị làm bài thơ: 
Tò le kèn thổi tiếng năm ba, 
Nghe lọt vào tai dạ xót xa 
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói, 
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa, 
Tan nhà cảm nỗi câu ly hận, 
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa. 
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ, 
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.
 
Là kẻ thù về lập trường chánh trị với Tôn Thọ Tường, ông Cử Trị cứ hiên ngang thách thức khi gặp đốc phủ sứ họ Tôn: 
“Cử Trị ăn ở lạ lùng, 
Áo quần xịt xạ điên khùng quá tay, 
Gặp Tường thời Trị mắng ngay. 
Bởi vì tà tửu ít hay kiêng dè. 
Hoạ thơ chống đối chê dè, 
Tai ngơ danh lợi chẳng nghe chẳng cầu . . 
Mặc dầu kêu ngựa, kêu trâu thích tình . . .

Một kẻ sĩ ở ẩn khi thực dân Pháp đến là ông Nguyễn Lạc, gọi nôm na là ông Học Lạc. Học Lạc giỏi làm thơ hài hước, luận theo sức văn học tài bộ thì sầm sì với ông Đồ Chiểu và ông Cử Trị. Ngài sau tị nạn binh hỏa đời lên ở tại chợ Thuộc Nhiêu, cất ba căn nhà lá dạy trẻ học trò chữ nho và chuyên y đạp, tế nhơn độ thế rất nhiều, tánh lại ruột gan khí khái, trượng nghĩa sơ tài, tôi gặp ngài tại chợ Thuộc Nhiêu, giao du với nhau lấy làm tương đắc, ngài thương tôi như con, bất kỳ là bài thuốc chi hay hay thì ngài đều chỉ cho tôi cả, ngài hơi thi quốc âm tao nhã lắm, lúc ấy ngoài chợ vàm Rạch Gầm rước tôi ra dạy chữ nho, tôi từ tạ ngài ra đi, ngài có tiễn hành một bài thi rằng: 
Le the một cụm Thuộc Nhiêu giồng 
Chân bước ra đi mắt lại trông, 
Chỉ nhện lăng nhăng, cò vướng cánh, 
Bãi lau lẩn bẩn, cá quên sông. 
Tấm lòng qua lại cầu Bà Bếp 
Khúc ruột quanh co rạch Lão Tòng. 
Hai chữ tương tư đây nặng gánh, 
Nước non thăm thẳm biết hay không?
 
Ngay trong bài thơ cùng một vận, ca ngợi thú dưỡng nhàn ở giồng Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) được xem là một trong Ba Giồng, Học Lạc cũng gởi gấm ít nhiều tình cảm tha thiết. 
Đất linh bồi đắp cuộc Ba Giồng, 
Cánh Thuộc Nhiêu nhều khách ngợp trông, 
Đường cũ, ngựa biêu chơn ngán bước, 
Rạch cùng, cá lội mến quên sông 
Trướng văn lắm kẻ thêu rồng cọp, 
Miếu võ nhiều tay trí bá tòng. 

Cứng cáp thú quê vui tục cũ, 
Thềm dâu ruộng mía dễ cho không?
 
Trường hợp ông phan Thanh Giản được nhiều người biên luận, khen chê. Nhưng thiết tưởng không ai hiểu ông bằng người đương thời. Ông Đồ Chiểu và ông Cử Trị đều nổi danh là cứng rắn, lập trường chống Pháp rất dứt khoát. Nếu ông Phan Thanh giản quá hèn yếu hoặc phản quốc thì tại sao ông Đồ Chiểu lại làm đến hai bài thơ một chữ Hán, một chữ Nôm để điếu, so sánh ông với Phú Bật, Trường Tuần , hoặc “minh sanh chín chữ lòng son tạc, trời đất từ rày mịt gió thâu” Riêng về ông Cử Trị, qua bài thơ vừa dẫn, đã than thở “ngậm cười hết nỗi quan ta”. Quan tức là quan Phan chịu trách nhiệm lớn khi thành Vĩnh Long mất. 
Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp. Tuy nhiên, người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất, ông biết thân phận của người học giả sống trong thời kỳ khó khăn. 
Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai, 
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời. 
Học thức gửi tên con sách nát 
Công danh rốt cuộc cái quan tài. 
Dạo hòn, lũ kiến mau chân bước. 
Bò xối, con sừng chắc lưỡi hoài. 
Cuốn sổ bình sanh công với tội. 
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
 
Khi phong trào Duy Tân hoạt động công khai rầm rộ, ông Trần Chánh Chiếu cổ động lạc quyên đức tượng kỷ niệm ông Trương Vĩnh Ký với bài trong báo Lục Tỉnh Tân Văn nhan đề “ông Đốc Ký”. 
– “Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nứơc tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẻ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con vịt. Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ.. ! 
– Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông Trương vĩnh Ký còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bây giờ. Chuyện đời xưa của ông cũng là Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở.