vietmessenger.com
Trần Thy Vân
Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu
13. Sau trận thánh chiến -Kết
Cũng như ngay sau khi tái chiếm Quảng Trị ở phía bắc, lần này với chiến thắng lớn lao tại mạn nam Vùng 1 Chiến Thuật, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu cùng các tướng lãnh Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ra thăm Đức Phổ, Quảng Ngãi. Tháp tùng phái đoàn còn có các cơ quan truyền thông. Tất cả sẽ ghé Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 6, thuộc Sư đoàn 2 Bộ Binh, để duyệt xem triển lãm chiến lợi phẩm mà hết 80 phần trăm là do Liên đoàn 1 Biệt Động Quân tịch thu tại mặt trận Sa Huỳnh.
Để bảo vệ các yếu nhân, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân và các lực lượng tham chiến khác đều bung rộng, làm nhiều vòng đai an ninh chung quanh. Đại đội tôi thì từ khu đồi 94 bên cửa khẩu, mục tiêu cuối cùng vừa dứt điểm, quành lại ven theo bờ đầm Nước Mặn lên trấn thủ một ngọn núi phía tây, dưới chân có con Quốc lộ 1 song song với đường xe lửa, nơi mà trước đó một tuần địch đã không ngờ tôi tấn công, phá vỡ phòng tuyến thép của chúng.
Từ đỉnh cao này nhìn xuống tôi thấy toàn vùng Sa Huỳnh Đức Phổ, một phần đất quê hương miền Trung tươi đẹp, những dãy đồi nhấp nhô như sóng lượn, nay đã sạch bóng quân thù. Trên các nẻo đường ngang dọc người người qua lại, dưới đầm Nước Mặn mênh mông cũng lao xao ghe thuyền đỗ bến.
Thiếu tá Quách Thưởng bảo bốn đại đội Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lập báo cáo thành tích của mình từ khi khởi sự tái chiếm Sa Huỳnh. Kết quả chung, đơn vị loại khỏi vòng chiến khoảng 500 Việt Cộng, bắt sống 19, tịch thu 256 súng đủ loại. Trong đó, riêng Đại đội 1 Biệt Động Quân của tôi chiếm một số lượng như sau:
Giết hơn 200, bắt sống 19 tên nêu trên làm tù binh, thu 106 súng, đặc biệt có một Phòng Không 12ly8 là khẩu lớn nhất tại mặt trận. Chưa kể đạn dược, chất nổ, cũng như không thể đếm được các đống thịt người bầy nhầy trong đồn lính, cùng hàng trăm xác giặc chìm sâu dưới đầm nước là riêng hai trận “Hỏa Thiêu”, “Thủy Táng” do tôi kêu pháo binh dập. Phần Đại đội chết hai, bị thương bốn binh sĩ.
Nhìn thành quả trên ai không sửng sốt? Nếu đem trưng các con số đó ra toàn quốc thì xưa nay QLVNCH có bao nhiêu cỡ đại đội trong một trận đánh, mà vừa giết lẫn bắt sống kẻ thù vừa tịch thu vũ khí nhiều đến thế?
Lúc đầu tham chiến, đơn vị chỉ 51 người, sau gần chấm dứt mới bổ sung thêm thành 70, cũng chỉ bằng phân nửa cấp số, nhưng lại đạt được một kỳ công rất hiếm. Trước hết, các chiến sĩ Đại đội 1 Biệt Động Quân chọc thủng phòng tuyến mặt tây Trung đoàn 141/2 Sao Vàng, kế tiếp là rượt bắn dài dài, địch chết cơ man vạn kể, nhất là tại bờ phía bắc đầm Nước Mặn vaø trên đồi 94 kết thúc cuộc đao binh tàn khốc Sa Huỳnh.
Thành thật mà nói, giặc chết thây phơi không sao kể xiết, và nếu đó không phải là một trận đánh thần thánh để đời của Đại đội 1/21 Biệt Động Quân thì là gì?
Sau chiến thắng anh em rất vui mừng, hy vọng sẽ được ban thưởng công lao xương máu mình đã đổ. Đó là chuyện đương nhiên dù ở quân đội nào, cả bộ lạc man rợ nhất. Nhưng khốn nạn thay! Rốt cuộc các chiến sĩ anh hùng này lại tủi nhục cho phận mình và bao kẻ đã hy sinh, gục ngã ở đầu non góc biển, những người con yêu của Tổ Quốc, cũng chỉ vì bọn lưu manh Trần văn Nhựt cướp công.
Theo lời Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, trước lúc Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đến Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 6 Bộ Binh xem thành quả tái chiếm Sa Huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẽ với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu. Dĩ nhiên, chiến lợi phẩm của Liên đoàn 1 Biệt Động Quân cũng có ghi rõ, đặc biệt một tấm tương tự treo trên nòng súng Phòng Không 12ly8. Nhưng khi phái đoàn Tổng Thống Thiệu sắp đáp trực thăng xuống, các sĩ quan Mũ Nâu bận ra sân bay đón rước, thì Chuẩn tướng Trần văn Nhựt Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh liền lợi dụng sơ hở cho bộ hạ trong phòng triển lãm lẹ tay hoán đổi hết các bảng ghi phần chiến lợi phẩm. Nghĩa là một dãy dài ngót 300 khẩu súng đủ loại do Biệt Động Quân tịch thu phút chốc biến thành “Chiến lợi phẩm của Sư đoàn 2”. Ông còn trắng trợn rất bỉ ổi không tả được là độc nhất có khẩu súng Phòng Không nổi bật của Đại đội 1 tôi tịch thu cũng bị đánh tráo luôn không chút nương tay. Rõ ràng tướng Nhựt treo đầu dê bán thịt chó. Tội nghiệp các tướng sĩ tượng, cả xe pháo mã chỉ biết đứng xem, tấm tắc khen tài Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh, chứ đâu ngờ ông bình vôi đó, nửa người nửa ngợm, hô phong hoán vũ, chơi trò xảo thuật cướp công xương máu của các chiến sĩ Mũ Nâu.
Hèn gì, tôi vừa thanh toán xong mục tiêu cuối cùng ở cửa khẩu, Trần văn Nhựt sai Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5/2 Bộ Binh gọi máy xin Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân cho một đơn vị của ông dàn trận giả bơi ghe qua tấn công đồi 94, để xảo trá quây phim, hô hoán chính chúng chiến thắng Sa Huỳnh. Đánh giặc, dù là giả, cũng phải có tiếng súng của địch chống lại, nên lũ hèn mới dám cả gan bảo Đại đội 1 tôi đang còn ở đó vờ làm Việt Cộng kháng cự dỏm, chỉ nã đạn lên trời, chứ đừng chúi xuống đầm Nước Mặn trúng âm binh của Nhựt. Nhưng tôi đã khẳng khái từ chối, không thi hành cái lệnh quái đản, trò hề của bọn côn đồ mà trời sẽ tru đất sẽ diệt một ngày không xa.
Còn gì nữa không? Con xin bái phục ông tướng đã một thời nổi tiếng anh hùng tử thủ… ở đâu đó!
Nghe Tiểu đoàn trưởng Quách Thưởng kể lại chuyện đánh tráo chiến lợi phẩm, cướp công Biệt Động Quân, tôi oán trách thì ông chửi thề:
– Mẹ, từ ngoài sân bay đi vô tao đã thấy vậy!
– Còn Trung tá Liên đoàn trưởng đâu, câm họng luôn sao?
– Thôi bỏ qua! Nếu mày không lên được đại úy, tao sẽ đề nghị cấp trên thưởng mày một Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu.
Tôi định trả lời Thưởng, dù tấm huy chương đó thuộc loại lón, tuyên dương công trạng cấp quân đội, nhưng tôi cũng đã có thừa ba cái, từ khi tôi còn mang lon thiếu úy dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971, và vì để lâu năm quá nên cả ba dương liễu đã hóa thành dương mai hết ráo rồi! Tôi không tiện nói, vì Thưởng là người bạn lâu năm và không chủ động được vấn đề.
Chán nản, tôi sai hai người lính thân cận Huỳnh văn Trung và Hoàng Anh toán Thám Báo, đem theo cái máy PRC25 để liên lạc, xuống núi vào khu phố Đức Phổ, cùng với tài xế Phó Trọng lấy chiếc xe Jeep chạy về Mộ Đức gặp Nhị. Nàng đang nóng lòng mong đợi tin tức nơi tôi.
Vài tiếng sau thì có tiếng Nhị gọi:
– Việt Quốc, em đây!
Tôi cầm ống liên hợp:
– Em và mẹ khỏe không?
– Dạ khỏe! Sao giọng anh khàn khàn vậy? Hoàng Anh nói anh có chuyện gì buồn lắm phải hôn? À này, sao em lại nghe đài phát thanh Quảng Ngãi loan tin Sư đoàn 2 Bộ Binh chiến thắng Sa Huỳnh chứ không phải Biệt Động Quân?
Nghe Nhị hỏi tôi càng tức thêm:
– Đó là lý do khiến Đại đội anh buồn. Buồn vì bị bọn Trần văn Nhựt cướp công. Anh sẽ viết sách về sự kiện lịch sử này, nêu đích danh tướng cướp. Chắc chú Trung đã kể em nghe hết mọi chuyện rồi!
Giọng Nhị như muốn khóc:
– Thôi, em không muốn anh buồn. Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhơn.
– Bị ma giáo, nên anh mất thành tích chứng minh để được thăng cấp mặt trận. Tội nghiệp, như em biết, lính lớp chết lớp bị thương, và gian khổ quá nhiều. Thế nào anh cũng cầm bút vạch mặt quân cướp cạn…
– Anh vừa tạo thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bậc nhỏ anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn, cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước. Tổ quốc đang cần những dũng sĩ như anh. Hãy tiếp tục chiến đấu, chứ đừng bỏ cuộc, nghe anh!
Tôi thật sự tối mắt, trả lời Nhị, người con gái vừa mới quen đã hơn một lần can đảm ra tận chiến trường thăm tôi:
– Em nói chí lý. Thôi, trời đã xế chiều rồi, cho Hoàng Anh và Trung trở lại Đại đội. Nhớ đừng đi theo nữa, anh ở tuốt trên núi cao lận. Gởi em ngàn cái hôn.
Nàng thỏ thẻ rất nhỏ, để tụi lính khỏi nghe:
– Em muốn hôn anh thiệt, không hôn gió đâu!
Tôi cười:
– Mai mốt anh về.
Chấm dứt cuộc vô tuyến điện đàm, tôi trả máy lại cho viên Hạ sĩ quan Truyền Tin Nguyễn Hiệp, rồi bước ra khỏi căn lều chênh vênh trên đỉnh núi đầy mây. Tai tôi vẫn còn nghe văng vẳng những lời Nhị nói, nhất là hai tiếng “thời thế”. Mỉa mai thật! Lẽ nào thời thế cứ nắn mãi phường sâu dân mọt nước ấy, một lũ hèn nguy hiểm hơn kẻ thù?
Tôi nhìn xuống đồng bằng phía đông trải rộng qua đến khu đồi 94 cửa khẩu Sa Huỳnh đang rực lên như tấm lụa. Xa hơn, về hướng bắc, sau dãy phố Đức Phổ dưới nắng chiều chói lọi, vài vật gì phản chiếu ánh sáng tia tỉa, như những ngôi sao bạc không đều cạnh, có chỗ nhòe nhoẹt giống miệng ông bình vôi trắng phếu. Dưới mắt tôi cơ hồ còn vang động tiếng thét hãi hùng của bầy giặc cỏ bị các Anh Hùng Bạt Mạng đánh tan xác hôm qua.
California 1996
Trần Thy Vân
NHẬN XÉT
Tác giả và tác phẩm
ANH HÙNG BẠT MẠNG
ĐÀI VNCR
-Đinh Quang Anh Thái: Quyển sách ANH HÙNG BẠT MẠNG này nếu người nào có dịp đọc sẽ thấy nội dung cuốn hút ngay từ đầu chí cuối với những đức tính ngang Oklahoma tàng của những những chiến sĩ mà tác giả đề cập trong truyện, cũng như những cái bạt mạng được nói tới không kém các hình ảnh cảm động. Tỉ dụ: đoàn người thân nhân của các binh sĩ đi theo đơn vị hành quân, nó nói lên một tấm lòng của tất cả những người chiến đấu bảo vệ cho miền Nam tự do.
ĐÀI LITTLE SAIGON
Trần Thy Vân, một sĩ quan chỉ huy thuộc binh chủng Biệt Động Quân trước 1975. Cuộc đời quân ngũ của ông là những tháng năm dài dưới lửa đạn, hai chân ông đã để lại nơi chiến trường trong lúc ông cố gắng bảo vệ tự do cho từng phần đất miền Nam VN. Trong tác phẩm đầu tay ANH HÙNG BẠT MẠNG ông đã kể lại phần lớn các cuộc hành quân thời gian chiến trường sôi động nhất vào những năm đầu thập niên 1970. Đọc cuốn hồi ký này chúng ta cảm thông sâu sắc với tâm tình tuổi trẻ đã một thời phục vụ cho đất nước, bao nhiêu đóng góp hy sinh để rồi dân tộc chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi nghèo đói, khổ ải, áp bức chỉ vì, theo tác giả, một số người lãnh đạo chỉ huy, như những đoạn văn mà chương trình “Anh Vẫn Sống” xin trích lại diễn đọc sau đây: “Sau Trận Thánh Chiến”, trang 203.
ĐÀI VOV
– Giáo sư Lưu Trung Khảo: Trần Thy Vân mới xuất bản cuốn truyện nhan đề ANH HÙNG BẠT MẠNG nghe cái tên có vẻ bạt mạng, mà đọc thì thấy đúng bạt mạng. Độc giả nào muốn tìm trong sách này hình thức tiểu thuyết ly kỳ, thì sẽ thất vọng. Đây là truyện dài không có cốt truyện, nhưng lại có nhiều chuyện do nhiều nhân vật đóng góp lại mà thành, không có nhân vật nào chính theo truyện dài truyền thống, nhân vật chính ở đây phải nói là những người anh hùng bạt mạng của Đại đội 1 BĐQ do Trung úy Trần Thy Vân chỉ huy.
Về văn học, cái xe lăn với ngòi bút của Trần Thy Vân, tôi nghĩ đó là khí giới mà Trần Thy Vân sau khi buông súng lại sử dụng để tấn công Cộng Sản. Cuốn AHBM là một phần đóng góp vào công cuộc chiến đấu. Sau khi tác giả đã hiến một phần thân xác mình cho đất nước vẫn không chịu buông súng, tiếp tục công việc lý tưởng…
– Giáo sư Trần Đức Thanh Phong: Đọc AHBM tôi thích nhất là tác giả đưa ra hình ảnh những người lính hạ tầng cơ sở thấp nhất quân đội, vì chưa có ai diễn tả từng tí như Trần Thy Vân. Cuốn sách nếu ai đọc mà không thấy xúc động, không biết cả triệu người lính chúng ta trong bao nhiêu năm khổ sở như thế nào là một việc thiếu sót…
BÁO THẾ KỶ 21
-Nhà văn Phạm Xuân Đài: Gọi đây là hồi ký đúng hơn truyện, vì tác giả viết chuyện thật hoàn toàn về cuộc đời chinh chiến của mình, một sĩ quan đại đội trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Chuyện kể trận nổi tiếng đánh chiếm lại Sa Huỳnh đầu năm 1973, mà đơn vị của tác giả đóng vai trò chủ chốt. Chuyện chinh chiến thì đã qua lâu nhưng bộ mặt thật của nó, những gian nguy và nỗ lực cùng cực của con người, những nét hào sảng những anh hùng trận mạc cũng như cái đê hèn của kẻ áp phe xương máu cần được ghi lại. Trần Thy Vân đã ghi lại. Tác giả không cường điệu hay hư cấu, tác giả chỉ kể chuyện chiến đấu của mình với sự tự trọng của một người có lý tưởng, trọng danh dự, với cái duyên dáng nghệ sĩ của kẻ “bạt mạng” đã nhiều phen vào sinh ra tử.
Người đọc hào hứng theo dõi cho đến màn chót của cuộc tái chiếm Sa Huỳnh đầy mưu trí, máu xương do đơn vị Biệt Động Quân của tác giả thực hiện, những bỗng buồn thấm thía khi đọc ở mấy trang chót. Tuy nhiên, trận chiến Sa Huỳnh dù chỉ xảy ra nơi một vùng nhỏ bé, nhưng liên hệ đến nhiều cá nhân, nhiều đơn vị nên có lẽ cũng còn nhiều mảnh sự thực khác nữa sẽ được đưa ra.
Lịch sử đang làm công việc của nó. Các mảnh sự thực đang được phục hồi lại, trong đó có những nhân dáng và nhân cách.
BÁO SAIGON TODAY và TÌNH THƯƠNG
– Ký giả Phạm Minh: Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG, tác phẩm đầu tay của Trần Thy Vân, tôi đã khóc lúc nào không hay. Rất may tôi đọc lúc đêm khuya, nếu không, các con tôi không hiểu vì sao cha mình lại nhỏ lệ. Quả thật cảm động lắm! Đó là hình ảnh một đời người, nhưng hơn thế nữa, đó chính là hình ảnh một dân tộc trong một thời kỳ đen tối của lịch sử, hình ảnh một quê hương quằn quại đau khổ… Tôi đã khóc với tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG, vì tôi thấy trong đó hình ảnh quê hương, của cả một thế hệ. Anh kể lại quãng đời niên thiếu của anh trong bối cảnh quê hương chiến tranh, anh có lý tưởng.
Hãy đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG để thấy cái phải thấy để mà biết đau khổ và điêu tàn tới đâu. Tôi đã đọc Phan Nhật Nam, Nhữ văn Úy, Nguyên Vũ, nay đọc thêm Trần Thy Vân quả là nhà văn tôi mến mộ và khâm phục.
VIỆT BÁO KINH TẾ
-Nhà thơ Viên Linh: Là một cựu sĩ quan Biệt Động Quân anh đã được gắn 18 huy chương anh dũng bội tinh với 4 nhành dương liễu, loại tuyên dương công trạng cấp quân đội và hai chiến thương bội tinh. Anh đã tham dự nhiều cuộc hành quân, kể cả trận Hạ Lào. ANH HÙNG BẠT MẠNG là chuyện đời anh, sống thật, nhưng không viết với giọng kể, mà dựng lại chuyện như đang xảy ra trước mặt. Cuốn truyện thực sự sống động, bởi Trần Thy Vân không làm văn chương, không hoa hòe hoa sói, chỉ trực thuật những đoạn đời, những cảnh sống, ngặt nghèo, gian nan đời lính.
Không phải ai cũng viết được như anh.
BÁO CON CÒ
– Giáo sư Trần Đức Thanh Phong: Thấy được một cuốn tài liệu giúp cho người đọc có thể sống lại những giờ phút ở tiền tuyến diễn tả như một bức tranh, một cuốn phim về người lính và sự đóng góp trọng đại của những anh hùng vô danh này, là một khám phá đầy ngạc nhiên.
AHBM là cuốn sách hiếm có, viết về lính, về các binh sĩ hạ tầng cơ sở của QLVNCH, những người cầm súng trực diện với địch, gần như hằng ngày tác giả chứng kiến các đồng đội gục ngã bên cạnh mình. Một câu chuyện về một đại đội Biệt Động Quân với những nhân vật trong đơn vị được nhắc nhở diễn tả bởi tác giả, một người hơn hai mươi năm trước là Trung úy chỉ huy đại đội này.
Với lời văn nhẹ nhàng, bình dân, hợp với những câu nói rất giản dị nhưng giàu tình đồng đội, người đọc được đưa vào một thế giới sống động của những người lính vào sinh ra tử, đồng thời cũng nhận thấy những người lính này bản chất con người, dù “bạt mạng” mà không quên gia đình, dù dứt khoát đối với địch vẫn còn tình thương đối với con người. Họ cũng biết yêu biết ghét, biết liều biết sợ, và đặc biệt biết “bạt mạng”.
Qua cuốn AHBM ông đã đóng góp thêm nhiều cho sự hiểu biết đời sống và tâm trạng của những người binh sĩ hạ tầng cơ sở gồm số đông của quân lực VNCH, nhất là về tình đồng ngũ đồng đội. Chọn từ anh hùng ghép với từ bạt mạng để đặt tên cho cuốn sách thật đúng với những nhân vật được nêu ra trong đó, phải chăng vì bạt mạng mà anh hùng, hay là vì anh hùng nên mới bạt mạng.
Người đọc còn khám phá thêm bên cạnh những “anh hùng bạt mạng” cũng có các phần tử hèn hạ, tuy thiểu số nhưng lại là cấp chỉ huy cao cấp, cho nên quân đội VNCH bị tai tiếng thật phi lý.
ĐÔNG PHƯƠNG THỜI BÁO và LẬP TRƯỜNG
– Ký giả Hồng Phúc: ANH HÙNG BẠT MẠNG tác phẩm đầu tay, là cốt chuyện của chàng Đại đội trưởng BĐQ Trần Thy Vân đánh nhau bạt mạng với quân đội Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam. Trong thời gian giữa lúc xáp trận tơi bời và nghỉ ngơi dưỡng quân, nhiều chuyện đã xảy ra, có khác nào trong quyển “Chiến Tranh và Hòa Bình” của đại văn hào Leo Tolstoi.
Trần Thy Vân, khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng Nam California hằng chục năm nay, là cựu Trung úy BĐQ đã hiến một phần thân thể trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. 1983 vượt biên qua Mỹ trên chiếc xe lăn anh vẫn tiếp tục đấu tranh chống Cộng như lúc còn quân phục. Trần Thy Vân từng làm chủ nhiệm báo, viết văn.
Buổi ra mắt sách AHBM có đủ thành phần cộng đồng, văn giới, báo giới, cựu tù nhân chính trị, đảng phái, hội đoàn, các nhà hoạt động đấu tranh, con số đếm được 221 người dự, chỉ kém chút đỉnh so với buổi nói chuyện của Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã tổ chức tại đây ít lâu, nhưng hơn xa nhiều vụ ra mắt sách khác. Các diễn giả được mời lên phát biểu gồm có:
– Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đề cập đến sử quan. Lịch sử thường bỏ quên các anh hùng nhỏ nbé như Trần Thy Vân và vô số Trần Thy Vân khác, chỉ nói đến tướng với tá, nên mới có câu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” hay lịch sử bị bóp méo, Quốc Sử Giám triều Nguyễn gọi triều đại Quang Trung Đại Đế là ngụy triều.
– Giáo sư Nguyễn sĩ Tế đề cập đến tiểu thuyết chiến tranh. Ông cho rằng Trần Thy Vân rời trường học, vào quân trường ra đánh giặc, kể chuyện giặc giã với tâm hồn trong sáng, nên vài nhân vật như cô Lý, cô Nhị không xung đột nhau. Tác giả hâm nóng chiến tranh, theo ông, với nhiệt độ vừa phải. Ông đã rung động nhẹ nhàng với tác phẩm AHBM. Ông tin tưởng kiểu viết như chương “Quán Hồng Cà Phê Máu, Máy Bay Bắn Lầm”, Trần Thy Vân nếu tiến sâu vào lãnh vực của tiểu thuyết chiến tranh anh sẽ có thừa cơ hội thành công.
– Nhà văn nữ Bùi Bích Hà cho rằng bà không bao giờ tưởng mình có thể đến đây trình bày cảm nghĩ về một tác phẩm nói đến chiến cuộc vì tuổi đời còn nhỏ. Thuở thiếu thời chỉ nghe chương trình Dạ Lan, đã khóc với Kỷ Vật Cho Em và Người Ở Lại Charlie. Nay đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG mới thấy sử tự hào về những đóng góp của bậc đàn anh nơi chiến trường.
BÁO DÂN QUYỀN Oklahoma.
– Nhà báo Quách Y Lành: Các độc giả bên Cali ngỡ Hoạt và Quách Y Lành chưa nhận được sách nên mới gọi qua báo Dân Quyền Oklahoma cho biết về tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG, trong đó tg Trần Thy Vân viết rất nhiều về hai ông anh của QYL.
Thú thật với anh, Y Lành viết bằng đầu óc tưởng tượng đôi khi một mình ngồi đọc lại cũng giọt ngắn giọt dài, huống chi đọc sách anh thấy chính tên tuổi của hai ông anh mình được trang trải trên từng trang giấy. Mặc dù đã hai mươi bốn năm qua, nhưng bao nỗi xúc động trong lòng đã không ngăn được những giòng nước mắt tuôn chảy, QYL đã khóc ròng khi đọc và nhớ lại người anh thứ (Quách Ẩn) kính thương đã hy sinh cho đất nước lúc tuổi đời còn non trẻ.
QYL chân thành cám ơn anh đã viết lên những sự thật…
Nữ độc giả MG Charlottesville, Virginia.
Tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG làm tôi vô cùng xúc động. Tôi cố tình đọc quyển này thật chậm rãi để cảm nhận từng ý văn của tác giả. Tôi cũng đã đọc nhiều sách báo đủ các loại nhưng chưa thấy cuốn sách nào lại làm tôi xúc động mãnh liệt như cuốn này.
Đặc biệt anh có một lối viết vô cùng độc đáo, hấp dẫn, lôi cuốn hẳn được mọi độc giả vào trong cuộc. Lắm lúc tôi không dám thở mạnh vì sợ…địch nghe thấy làm lộ quân mình, có khi trái tim tôi đập loạn xà ngầu lúc máy bay đang bắn lầm lính nhà hoặc tôi cảm thấy nóng mặt khi đọc qua chương tên tướng cướp thủ đoạn tiếm công xương máu các anh hùng Biệt Động Quân. Thêm vào đó bố cục mạch lạc, lời văn chân thành trong sáng, không chải chuốt, không khách sáo độc giả thấy dễ hiểu, dễ cảm nhận được tâm tình của tác giả. Sau khi đọc AHBM tôi biết anh có trí nhớ phi thường. Mọi việc đã xảy ra trên 20 năm anh còn nhớ vanh vách tên từng người, từng chi tiết. Tôi rất khâm phục anh người quân tử không luồn cúi nịnh bợ. Tôi cũng công nhận anh một là sĩ quan can đảm, cấp chỉ huy công bằng, biết hòa đồng thông cảm lính.
Tác phẩm AHBM tạo được một sự thu hút đặc biệt làm tôi đã phải “lờ” luôn vụ Olympics, không muốn bị gián đoạn giữa câu chuyện này.
Sinh viên NGUYỄN HIẾU Phoenix, Arizona.
Cháu sanh ra sau cuộc chiến, không biết về thời đó, nhưng chân thành cám ơn bác đã dùng ngòi bút kể lại thật là cặn kẽ làm cháu hiểu nhiều các anh hùng dân tộc. Cháu nghĩ, lúc ấy đất nước xuất hiện thêm anh hùng như bác, thì đâu có ngày nay hàng triệu đồng bào đâu có cảnh lưu lạc người trong nước nhớ thương người ngoài nước và có biết bao nhiêu mạng sống làm mồi cho cá chỉ vì chạy trốn Cộng Sản. Hy vọng tương lai có nhiều bậc anh hùng như bác để thay đổi số phận đất nước.
Trung tướng NGUYỄN CHÁNH THI Lancaster, Philadelphia.
ANH HÙNG BẠT MẠNG quả là quyển sách của một chiến sĩ, chiến đấu cho quê hương dân tộc. Tôi thành thật khen anh, con yêu của Trần Cao Vân, Thái Phiên xứ Quảng. Tôi rất thích chương “Sau Trận Thánh Chiến”. Tôi biết tên tướng bỏ sư đoàn chạy ra cù lao Ré, vào Phan Rang xin một máy bay nói là đi thám thính lại để chuồn.
Đại tá TRẦN KIM ĐẠI Nam California.
Liên đoàn trưởng LĐ1 BĐQ – danh hiệu Sơn Linh trong AHBM.
“Sách được lắm nhưng viết còn thiếu hai điều trí trá của ông tướng đó” Trang 9.
Trung tá HỒNG PHỔ Tyler, Texas.
Liên đoàn phó LĐ1 BĐQ – danh hiệu Sơn Linh Phó trong AHBM.
“Tiếp tục vạch mặt, đất nước mất do bọn vô tài, xôi thịt đó”.
(………Tôi chưa trình bày hết ý, Hoàng Phổ đã nổi cười khà khà, nghe dễ nóng: “Hay ha, phe ta bắn phe mình”. Tức giận người hùng Khe Sanh khen kiểu móc họng, tôi cúp máy, trả ống liên hợp, rồi buồn buồn ngồi chửi đổng: “Đời mà! ĐM… Tình nhà binh như tình nhà thổ”) Trang 136.
Trung tá QUÁCH THƯỞNG Nam California.
Tiểu đoàn trưởng 21 BĐQ – danh hiệu Trùng Dương trong AHBM.
Cấp chỉ huy trực tiếp, cũng là người bạn học cũ của tác giả vào những năm giữa thập niên 1950:
“Tao đọc tao buồn quá!”. Vẫn như ngày nào trong trận chiến Sa Huỳnh
(Giọng Thưởng muốn khóc: “Hộ tống tao ra Đức Phổ gấp! Thằng Ẩn chết rồi!”) Trang 114.
Đại uý Bác sĩ NGUYỄN TRUNG TÍN Canada.
Y sĩ trưởng BCH Liên Đoàn 1 BĐQ.
“Cuốn AHBM lại đầy kỷ niệm của tôi. Bao xúc động, thương tiếc những người lính đã bỏ xương máu nằm xuống cho dân tộc sống còn, để rồi phải buông súng đầu hàng tức tưởi. Thật cảm động với bao hình ảnh hào hùng của anh em như đang hiện ra trước mắt tôi”.
(Tác giả khó quên ngày tác giả bị mìn, gãy hai chân, Bác sĩ Nguyễn Trung Tín tới săn sóc ngay tại mặt trận. Bối cảnh này được nhắc lại trong Tiếng Hờn Chân Mây đã phát hành).
Đại uý DƯƠNG XUÂN Michigan.
Đại đội trưởng 2/21 BĐQ – danh hiệu Xích Bích trong AHBM.
Cùng với tác giả giáng xuống đầu địch nhiều đòn chí tử.
“Sách viết hay, bạn bè đọc đều nói vậy. Nếu còn chỗ nào anh quên thì hỏi tôi”.
(Tao đoán địch chừng một trung đội đang làm nút chặn để quân nó tháo chạy qua đầm. Xuân than: “Hầm hố chằng chịt, lính không thấy đường, đã chết hai rồi còn nằm dưới. Anh đánh giúp tôi bên phải, từ chớn nước vô…”) Trang 160.
Trung uý TRẦN THƯƠNG QUẢNG Norway, Âu châu.
Chỉ huy hậu cứ Tiểu đoàn 21 BĐQ.
“ Nhận được ANH HÙNG BẠT MẠNG, chưa đọc chữ nào, cái tựa đề đã làm tôi thích thú, nó làm sống lại hình ảnh BĐQ Trần Thy Vân trong trí tôi, nước da đen đen, gương mặt khắc khổ, ngang tàng đếch sợ thằng tây nào. Nhưng đó chỉ là bề ngoài của một sĩ quan chiến đấu cao, lúc nào cũng tình cảm với anh em”.
Khánh (phu nhân của Trần Thương Quảng):
“Tôi đã thức gần trọn hai đêm để đọc, hôm sau đi làm uể oải mà vui. Ngày xưa, tôi là con của lính, sau làm vợ lính nên ít nhiều cũng biết được thế nào là lo sợ, vui mừng của đời lính. Đọc đến đâu tôi cũng thấy cảm động, không thể ngưng được”. Đại uý PHẠM XẾP Brooklyn Park, Minnesota. Pháo đội trưởng PB SĐ2BB -yểm trợ hỏa lực mặt trận Sa Huỳnh.
“Trên 42 năm mới được tin tức bạn bè, mình vừa mừng vừa xót xa đau buồn vì sự mất mát của Vân, do các bạn cùng khóa phone cho biết. Đâu có ngờ những năm 1970-75, hai đứa cùng chung vùng trách nhiệm, Vân bên Biệt Động Quân, đơn vị mà Pháo đội mình đã từng bắn yểm trợ nhiều lần vùng I…
Đọc 2 cuốn sách mình cũng không ngờ bạn mình “bạt mạng” đến thế. Rõ đây là hồi ký đúng hơn tập truyện. Cảm ơn Vân đã cho mình, bạn bè, độc giả, những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời quân ngũ, nhất là một cấp chỉ huy có trách nhiệm. Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG, có cái ấn tượng sâu đậm nhất là vì không những mình là bạn Vân, mà các nơi xảy ra những cuộc đụng độ khốc liệt, rủi ro cho cá nhân cũng như đơn vị Vân lại chính ngay tại địa phương mình. Quê mình ở Đức Thuận, tức Đức Phong sau này. “Quán Hồng” Vân đề cập trong truyện, Quán Hồng Cà Phê Máu, là một địa danh của xã nhà-Đức Phong! Còn Đức Lương quê vợ mình. Cho nên Trần Thy Vân viết đến những địa danh đó, mình có cảm giác đang lâm trận với Vân…”. (PX)
Nhà thơ NGUYỄN ĐÔNG GIANG San Jose, California.
Tác giả thi phẩm “Vô Lượng Tình Sầu”, xuất thân khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, với Thiếu tá Nguyễn văn Do Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân.
“Tôi và Trần Thy Vân bạn thân thiết từ quê hương An Hải: “Bên ni sông Hàn nước xanh như tàu lá, bên kia Đà Nẵng phố xá nghênh ngang”. Thời niên thiếu đọng lại trong lòng nhau những kỷ niệm buồn vui như rủ nhau đi tắm biển Mỹ Khê, bơi ra Cồn Khoai đá bóng. Những ngày mưa nắng đứng đợi bến phà, chờ đò đi học lo xa đường về. Lớn lên lưu lạc… rồi chiến tranh bùng nổ khắp miền Tổ Quốc. Tôi vào Võ Bị Đà Lạt năm 1962. Trần Thy Vân thì tình nguyện K22 SQ Thủ Đức 1966.
Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG như sống lại một thời kỳ lịch sử chiến tranh VN với chiến thuật tấn công vũ bão, thần tốc…vang danh lừng lẫy làm địch quân kinh hồn bởi những chiến sĩ QLVNCH trong đó có Đại đội 1/21 BĐQ do Trung úy Trần Thy Vân Đại đội trưởng. Từ khi cha sinh mẹ đẻ đã có màu da đồng đen rất thuận lợi cho chiến tranh, lúc cận chiến, anh lì lợm, một dạng Lý Tiểu Long ăn đòn, chịu đòn, và tung những đòn chết bỏ… dứt điểm triệt hạ kẻ thù. Như những trận “Sa Huỳnh Biển Lửa” và “Chọc Thủng Bức Tường Thép” anh với 50 tay súng BĐQ coøn lại đã đánh tan một trung đoàn Cộng quân Bắc Việt. Anh và đồng đội là những tay sát thủ lành nghề.
ANH HÙNG BẠT MẠNG là một trong những thiên anh hùng ca của những nhà văn quân đội VNCH trước 1975. Những trận đánh được anh kể lại như phơi bày trước mắt ta, những chiến sĩ Biệt Động Quân mũ nâu Đại đội 1 Tiểu đoàn 21 gan dạ, anh hùng, dẫn dắt người đọc theo dõi, say mê như truyện trinh thám, hồi hộp, như: “Đại đội kỳ dị, ma quái…”, “cảnh vật chung quanh bỗng dưng im lặng, nghẹt thở, sự sống như muốn ngưng hẳn nơi một góc Trường Sơn hùng vĩ” (trang 130).
Đời lính dường như ngắn hơn đời người, nên tình yêu của anh cũng rất bạo, như trong “Tình Yêu Lãng Tử”…
ANH HÙNG BẠT MẠNG là một tác phẩm hồi ký chiến tranh không hư cấu, không cường điệu. Ngôn ngữ anh dùng mộc mạc, dễ hiểu. Anh viết văn như kể chuyện, bộc trực, thật lòng, không quan trọng hóa vấn đề. Văn phong gọn gàng, dứt điểm, không dài dòng, cũng không phóng bút lộng ngôn, vung vãi…
Hai tác phẩm ANH HÙNG BẠT MẠNG-TIẾNG HỜN CHÂN MÂY của Trần Thy Vân đã thành công từ nội dung lẫn hình thức. (NĐG)
Nữ độc giả PT KIM LIÊN Maryland.
“Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG mà như được người anh kể chuyện chiến trường cho các em nghe, vừa hồi hộp, lo sợ cho phe ta, vừa tức mình vì đồng minh hay “phe ta bắn phe mình”, và sĩ quan cao cấp lại cướp công lao xương máu của các cấp dưới. Anh cho người đọc thấy sự gian truân, can đảm, tài giỏi của các chiến sĩ QLVNCH. Tình thương của người chỉ huy đối với các binh sĩ như anh em một nhà, anh quả là người thông minh nhạy bén. Đánh giặc thì thần tốc, chính xác, còn khéo léo đối xử với người dân để có sự chân tình giúp đỡ lẫn nhau như gia đình chị Nhị…
Sách anh cô đọng, không những có lúc làm rơi nước mắt mà còn có khi bật cười…”. (PTKL)
TRẦN VĂN ĐÁ San Diego, California.
Đồng khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức với tác giả.
“Đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG rất xúc động, càng đọc tôi càng thấy thấm thía. Mặc dù khác binh chủng, nhưng tôi cùng khóa 22, nên biết tính tình anh từ lúc còn học ở quân trường Võ Khoa Thủ Đức. Đủ điều kiện được về làm việc nơi quê nhà an nhàn mà không chịu, anh lại quyết tâm xông pha chiến trường, chỉ vì cái máu bạt mạng của Biệt Động Quân Trần Thy Vân. Tiếc một điều, đánh giặc như vậy, nào Hạ Lào, Quảng Trị, nhất là Sa Huỳnh Quảng Ngãi 1973 anh thắng vinh quang mà không được đặc ân thăng cấp. Cuối cùng, tháng 3/1974, anh lãnh hậu quả đau thương, bỏ lại chiến trường đôi chân. Dù gì anh cũng đem lại vinh dự cho QLVNCH là Đại đội anh đánh tan Trung đoàn 141 CS, mà các đơn vị khác không vào Sa Huỳnh được.
Vì cảm khái cái dũng của anh, đặc biệt chị Nhị đã can đảm sang đầm Nước Mặn dưới trời “Mây” đang còn xác thù, để vào thăm anh, Tình Cũng Bạt Mạng, tôi tặng bốn câu thơ:
Mây trắng ngang trời, mây trắng bay
Sông buồn nhẹ lướt bóng thuyền ai
Bâng khuâng có kẻ nhìn mây nước
Rồi mấy tơ vương vạn dặm dài. (TVĐ)
Đại tá NGUYỄN QUANG Moreno Valley, California.
Sĩ quan Truyền Tin Phủ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Đ/tá Nguyễn Quang có tháp tùng Tổng Thống ra thăm Sa Huỳnh sau khi đã tái chiếm.
Ngày 12-6-2007, tác giả có tiếp chuyện qua điện thoại với một vị cao niên, quý danh là Nguyễn Quang, cựu đại tá truyền tin ở Phủ Đầu Rồng, thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Sau vài giây thăm hỏi xã giao, giọng của ông Đại tá chuyển qua, tuy không gắt gỏng, nhưng không mấy dịu dàng, khi nhắc đến chuyện tướng Trần văn Nhựt được đề cập tới trong cuốn sách này, với tác giả: “Tôi nghe nói anh viết sách chửi tướng Nhựt cướp công anh ở trận tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi. Nhựt bạn tôi, tư lệnh mặt trận lúc đó, còn anh, một trung úy đại đội trưởng, tướng Nhựt cho anh huy chương, cho lên lon bao nhiêu cấp cũng được hà tất ông Nhựt lại cướp công anh?…” Ông diễn giải rất nhiều, lời nói có lúc nhấn mạnh như tát nước vào mặt, khiến vết thương lòng, cả thể chất xưa cũ của tác giả đau nhói lên. Tác giả mãi im lặng, lắng nghe xong, rồi cung kính thưa: “Niên trưởng vui lòng đọc 2 tác phẩm của tôi thì sẽ rõ chi tiết hơn là nghe nói”. Ông đáp: “Được, gởi tôi luôn 2 cuốn ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY, đọc xong tôi ý kiến”.
Sau hai tháng, ngày 8-8-2007, tác giả nhận được lá thư của Đại tá Nguyễn Quang với nội dung làm cho kẻ phế nhân này, một người mới ngày nào đây, lúc “sinh thời”, từng chỉ huy một đại đội anh hùng bắn gục địch quân như lá rụng mùa thu, phải chảy nước mắt:
“Tôi đã đọc 2 lần quyển ANH HÙNG BẠT MẠNG, tôi rất mến phục anh và thương cho những anh em bé cổ thấp họng như trường hợp của anh đã xảy ra rất nhiều, hình như đơn vị nào cũng có. Nếu có dịp tôi sẽ kể một câu chuyện… tương tự như anh.
Nhưng không hiểu sao khi tôi theo Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra thăm mặt trận Sa Huỳnh trong mấy tiếng đồng hồ, tự nhiên lòng tôi chùng xuống, nghĩ đến sự hy sinh của các chiến sĩ ta trong cuộc chiến cuối cùng nhưng vẫn anh hùng đạt thắng lợi huy hoàng. Tôi rất mến phục họ. Tôi có đến xem một căn hầm còn bốc khói, bên trong thì có mấy xác Việt Cộng, chung quanh có mấy cây dừa trốc gốc đổ ngả nghiêng. Theo báo cáo là do B52 oanh tạc, không biết đây là đầm Nước Mặn mà các anh đã chiến đấu ở đó không? Sa Huỳnh đối với tôi như cô gái còn trinh đang sống yên bình ở một nơi phong cảnh hữu tình dưới sự che chở của Tổ Quốc chúng ta hằng mấy thế kỷ, mà nay gần đến hòa bình, cô gái ngây thơ đó đã bị quân thù hãm hiếp một cách dã man, nên tôi động lòng trắc ẩn. Nay tôi lại đọc một tài liệu do anh Thy Vân cung cấp thật tuyệt vời. Đối với tôi đây là món quà tuyệt vời, không biết TT Thiệu có đọc quyển sách nhỏ bé này không. Nếu Tổng Thống còn tại thế thì tôi gởi tặng ông ngay ANH HÙNG BẠT MẠNG…
Tôi có linh tính khi nghe ông tướng Trần văn Nhựt thuyết trình tôi không tin Sư đoàn 2 Bộ Binh lại đơn phương gây được chiến thắng nên đầu óc tôi có nhiều thắc mắc…
Nếu anh có đọc: Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam của Trung tướng Nguyễn văn Toàn thì anh sẽ không buồn mà còn hãnh diện đã hy sinh một phần thân thể cho tổ quốc Việt Nam mà biết bao người yêu nước muốn hiến dâng cho tổ quốc họ mà không làm được. Ở đời hơn nhau một tiếng Anh Hùng mà thôi! Đời là thế, thế thời phải thế, nay tuy là một thương binh Tổ Quốc luôn luôn ghi công các anh, đồng bào đời đời biết ơn các anh trong đó có gia đình, con cháu chúng tôi…”. (NQ)
– Đôi lời của tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG/TIẾNG HỜN CHÂN MÂY:
Tôi xin lỗi tự ý trích dẫn vài đoạn trong thư, những lời công đạo, của Đại tá Nguyễn Quang, và thay mặt các chiến sĩ Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, lớp chết lớp đã trở thành phế nhân đang sống vất vưởng ở quê nhà, tôi cảm ơn mấy lời chân tình khen ngợi của Đại tá Nguyễn Quang, người đã có mặt ngay từ những tháng năm đầu tiên thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi không buồn đâu, tôi chỉ tức giận, và hãnh diện thì có. Người bạn gái của tôi sau khi Sa Huỳnh đã được tái chiếm, có khuyên: “Thôi, em không muốn anh buồn! Họ là tướng cướp, đừng sánh mình anh hùng với tiểu nhân… Anh vừa tạo ra thời thế, chính cái thời thế đó nắn ra chúng. Thà cấp bực nhỏ như anh còn giữ được cho quê hương từng tấc đất hơn kẻ lon lớn cổ đầy sao mà hèn hạ bán nước…”(Sau Trận Thánh Chiến).
Làm gì có, thưa Đại tá! Mặt trận Sa Huỳnh đầu năm 1973 không có chuyện B52 thả bom. Họ báo cáo láo! Vùng đất đầy dân cư sinh sống, làng Sa Huỳnh ven bờ đầm Nước Mặn giữa mục tiêu, rải bom B52 sao được. Vâng, Đại tá đã tới đó, theo TT Thiệu ra xem triễn lãm chiến lợi phẩm tại BCH của Trung đoàn 6 BB đóng ở Đức Phổ, Sa Huỳnh, nơi có cái vịnh mênh mông với cửa khẩu rộng lớn, mà Cộng Sản Bắc Việt rất ham muốn chiếm cứ. Đại tá ví von rất hay, romantique! Sa Huỳnh như một cô gái còn trinh! Nên bọn tướng soái Chu Huy Mân Việt Cộng hãm hiếp dã man. Chưa, chúng mới đè thôi, thì đã bị tay hảo hớn Việt Quốc Đại đội 1/21 BĐQ đập cho một trận nát thây khắp Sa Huỳnh (Chọc Thủng Bức Tường Thép).
Tổng Thống Thiệu chưa đọc ANH HÙNG BẠT MẠNG và TIẾNG HỜN CHÂN MÂY vì hai quyển sách chưa được viết. Tuy nhiên tôi có kể đại khái ông nghe rồi. Chiều ngày 25-3-1990, sau 15 năm mất nước, lần đầu tiên cựu TT Nguyễn văn Thiệu xuất hiện ở San Jose, California. Ông có nhờ tướng Đỗ Kiến Nhiễu mời tôi về dự, ngồi kế ông trong buổi nói chuyện trước 1200 quan khách. Buổi sáng hôm đó, tại một khách sạn, tôi kể tóm lược vụ gian lận chiến lợi phẩm ở Sa Huỳnh 1973 cho ông Thiệu nghe, với vài vấn đề của gia đình. Dĩ nhiên, trước khi trình bày, tôi yêu cầu tướng Nguyễn Khắc Bình và Đại tá Điền lui ra ngoài, cả ông bạn tôi là Võ Cư Long cũng không được đứng quay phim. Ông Thiệu đồng ý. Đang lúc tôi nói, ông cứ ừ với hử chiếu lệ, mắt thì nhìn theo bàn tay chữ nhất của tôi. Rồi ông cũng trút “tâm sự”, về chín năm cầm quyền, dưới “trướng” ông có quá nhiều người kèn cựa với ông…
Phải chi nhân lúc đó tôi kể câu chuyện có tính cách huyễn hoặc, huyền thoại, cho ông cựu tổng thống nghe.
Năm 1964, khi tôi còn học trường TH Duy Tân Phan Rang. Gia đình anh Lê văn Phước, chủ nhà tôi ở trọ, có bà chị cả là một ni cô về rủ đi thăm Linh Sơn Tự. Tôi tháp tùng. Chiếc xe Lam ba bánh đến đậu trước sân chùa nằm bên sườn phía đông núi Cà Đú. Mọi người vào bái Phật, còn tôi thì trèo thẳng lên đỉnh ngắm cảnh. Dân Ninh Thuận và những ai hay qua lại xứ này đều thấy cái dãy núi toàn đá khô khan, nóng bỏng, chẳng một tàng cây râm mát, có gì đẹp đâu mà ngắm! Núi nằm dài bên phải Quốc lộ 1, cách thành phố Phan Rang khoảng 20 cây số, trên đường ra Nha Trang. Nếu ta đứng nhìn từ đỉnh Cà Đú về hướng mặt trời mọc, thì ngay ở sườn đồi có chùa Linh Sơn, dưới đồng bằng là làng Tri Thủy, nơi sanh quán của cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, ven đầm Nại, rồi xa hơn bên kia bờ là Ninh Chữ giáp với biển đông.
Cảnh không đẹp, thế ai xui khiến tôi lên đỉnh Cà Đú, để đi lang thang giữa lúc trời nắng cháy. Tôi vào núp mát dưới một tảng đá khá lớn, chênh vênh và nghiêng vẹo như mái nhà. Tôi thấy trong hốc chân tảng đá có cái lỗ hang bằng trái banh, sâu hút, đen ngòm, bèn khom lưng xuống nhìn vào, bụng thì nghĩ biết đâu có vàng Hời (Chàm) cất giấu ở trổng. Tò mò mà ngu, tôi quên rằng những chỗ ẩm thấp, yên tịnh như vậy thường có rắn, không loài xanh lục, vằn vện, thì cũng hổ mang đang le lưỡi chờ sẵn, tôi thò tay vô quơ quào lại nhặt được một cái thẻ bài bằng đồng bị ten mốc đen thui. Hình dạng nó giống chiếc đũa bếp trong nước mình dùng xới cơm, phía trên đầu có khắc bốn năm chữ, Hán không ra Hán, Chàm chẳng Chàm, nên tôi không hiểu nghĩa gì. Thấy lạ, tôi đem tấm thẻ xuống núi, đưa thầy trụ trì chùa Linh Sơn xem. Ông thầy cầm ngắm nghía nó, đầu gật gật, không giải thích vật gì. Một hồi lâu thầy mới nói: “Được, để thầy, để thầy!”, rồi thầy bỏ nó vào tủ khóa trái lại. Còn tôi ra về, không dám đòi cái thẻ huyền bí ấy. Nếu nó có khắc bốn hay năm con số 9 thì sức mấy tôi chịu rời xa thầy.
Sau, có tin đồn Ninh Thuận sẽ có một vị “vua” ra đời. Quả nhiên, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu lên “ngôi” 1965 và năm sau là tống thống nhiệm kỳ đầu nền Đệ II Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam.
Trước khi tình nguyện vào khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức 1966, tôi có kể lại chuyện nhặt được tấm thẻ cho một số các vị cao niên Kinh, Chàm ở Hữu Đức, Công Thành, Cà Na Phan Rang, ai nghe cũng ngạc nhiên, suy đoán đó là lá bùa yểm, do người Chiêm Thành hoặc Tàu ngày xưa biết vùng Cà Đú, Tri Thủy là một long mạch, nên ếm. Không ngờ đời sau, lại có một cậu học trò tinh nghịch đã vô tình tháo gỡ giải trừ…
Tiến sĩ NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG Anh quốc.
Soạn giả cuốn quân sử CHIẾN TRANH VIỆT NAM TOÀN TẬP.
Từ trận đầu Ấp Bắc 1963 đến trận cuối Sài Gòn 1975.
“… Quyển sách (ANH HÙNG BẠT MẠNG) rất hay, tiếc rằng sách không được quảng bá rộng rãi để người ngoài nước Mỹ biết. Nếu không nhờ N/t Quách Thưởng giới thiệu chắc tôi đã không có dịp đọc được quyển sách này. Hai chi tiết đã làm tôi cảm động là việc người lính BĐQ quyết không bỏ đơn vị và điều kia là sự hy sinh của gia đình người lính tác chiến.
Cám ơn anh đã cho tôi thấy những sự kiện thật đã xảy ra tại Sa Huỳnh. Suýt chút nữa tôi đã phạm phải sai lầm lớn. Cũng sẵn dịp xin phép được in tên anh vào lời cảm tạ mà tôi xin gửi một bản sao kèm theo đây. Có ba lý do để in những dòng cảm ơn này: “Nói lên mức độ chính xác về sử liệu ở một chừng mực nào đó…”. (NĐP)
Nhà văn TƯỜNG LAM Kansas City, Missouri.
“… Tháng 3/66, anh và tôi gặp nhau ở đồi Tăng Nhơn Phú, học khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức, và cùng chung Đại đội 16. Anh, nước da bánh mật, đi đứng nhanh nhẹn và tánh nóng.
Tháng 12/66 ra trường, tôi về vùng IV, anh chọn Biệt Động Quân. Tám năm, tính đến 1974 – 3/3/1974, ngày anh để lại đôi chân ở mặt trận Quảng Ngãi, anh đã giẫm nát các chiến trường từ vùng II ra vùng I, cả Hạ Lào. Hai lần bị thương, lần cuối cùng, không những mất hết đôi chân, thân thể anh còn mang nhiều mảnh đạn để rồi 33 năm sau, 2001, bệnh viện Garden Grove, California, mới giải phẫu và cũng chỉ gắp ra được một.
Đời lính anh trải qua nhiều trận đánh lẫy lừng, nhất là cuộc tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, đầu năm 1973. Với quân số còn nửa đại đội (trước khi xung trận, đơn vị đã bị máy bay bắn lầm, thiệt hại 31 người), anh cùng 50 tay súng Biệt Động còn lại đánh tan một trung đoàn của Cộng quân Bắc Việt. Quả là một chiến tích thần kỳ mà trong quân sử QLVNCH chưa có đơn vị cấp đại đội hoặc tiểu đoàn nào làm được.
Gian khổ tột cùng. Có lần lính anh phải đái ra uống, vì hết nước, trước lúc đơn vị của anh đơn độc mở đợt tấn công chiếm một mục tiêu trên đỉnh núi cao gần 1000 mét mà anh gọi đó laø “Đỉnh Mùa Đông”, trong dãy Trường Sơn, phía tây Mỹ Chánh Huế. Chúng ta hãy nghe anh Trần Thy Vân bày tỏ thắc mắc: “Thưởng (Tiểu đoàn trưởng) bảo ‘ráng’ đi, tôi chả hiểu ráng cái gì, ráng chiếm mục tiêu cho bằng được hay ráng đái ra uống?” (Trg.75 Quán Hồng Cà Phê Máu).
Với 18 huy chương, đa số là vàng và nhành dương liễu với hai Chiến Thương Bội Tinh trên ngực áo, Trần Thy Vân, bạn tôi đã đóng góp quá nhiều xương máu cho quê hương tổ quốc.
Tôi hãnh diện thưa với mọi người, bạn tôi là Trần Thy Vân, một sĩ quan ưu tú của QLVNCH, một nhà văn, một con người kiệt xuất, lẫy lừng. (TL)
ĐINH BẮC HỢP San Diego, California
Hợp đã nhận được ANH HÙNG BẠT MẠNG cách đây vài hôm. Sách viết rất hay, lời văn giản di, phù hợp với bản chất của những người lính. Cùng là sách viết về chiến trường, nhưng có nhiều tác giả viết quá cầu kỳ, bóng bẩy. Đặc biệt anh có tính tếu và bất cần đời. Lối viết của anh rất gợi sắc, gợi hình, làm người đọc có cảm giác như đang tham chiến, cũng nằm gai nếm mật cùng các binh sĩ.Nếu sách của anh được dịch sang English thì hay lắm, ít ra cũng giúp những thế hệ sau hiểu rõ thêm về những anh hùng bạt mạng Quân Lực VNCH. Đọc sách của ông Cao Văn Viên, rồi đến lượt ông Nguyễn Cao Kỳ, khiến cho những thế hệ trẻ cảm thấy ngán ngẫm mấy ông tướng quá. (ĐBH)
Đại uý LÊ ĐĂNG ÂN Dorchester, Massachusetts.
Đại úy Pháo đội trưởng Pháo Đội Chỉ Huy CV-BCH Tiểu đoàn 1 Phòng Không Quân Đoàn I.
Đồng môn K22PB với tác giả.
“Hai cuốn sách anh gởi tặng, như một chứng tích của người chiến binh đã trọn gởi tâm hồn và thể xác cho quê hương dân tộc. Thật vô giá! Để góp vào kho tàng của binh sử, anh đã ghi được những dấu chân người chiến sĩ QLVNCH như là món quà để lại cho thế hệ mai sau”. (LĐA)
NGUYỄN BÁ Edmonton, Canada.
Tác giả xin trích đoạn trong bài nói chuyện của anh NB ngày ra mắt 2 tác phẩm AHBM và THCM tại Edmonton, Canada, 2000.
“…Nếu ai trong chúng ta đã đọc Thuỷ Hử chắc còn nhớ 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Họ cũng được kể là những anh hùng, cũng bạt mạng, để chống bọn tham ô, cường hào ác bá, và để giúp đỡ những người dân thấp cổ bé miệng…
– Thuỷ Hử có nghĩa là “bến nước”, nơi xuất phát của 108 anh hùng bạt mạng trong truyện Tàu. Trong ANH HÙNG BẠT MẠNG thì cái khung chính là Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, với 107 chiến sĩ và cả Trần Thy Vân nữa là đủ 108 người. 108 AHBM của ĐĐ1 BĐQ cũng xuất phát từ một “bến nước”: Bến nước là bờ biển Nam Ô, nơi đặt hậu cứ Phú Lộc của ĐĐ1/21BĐQ, để chơi tay đôi với Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 2 Sao Vàng CSBV tại bến nước Sa Huỳnh (đầm Nước Mặn). Cái khác là họ không phải như các tay thảo khấu trong Thuỷ Hử, mà Đại đội 1 BĐQ là một đơn vị thiện chiến của QLVNHCH. Họ chỉ đánh trả quân Bắc Việt xâm lăng miền Nam.
– Trong Thuỷ Hử, từng cá nhân biểu lộ cái dũng khí ngang tàng của họ. Như Võ Tòng đả hổ, Lỗ Trí Thâm mang rượu thịt vào vào chùa nhậu nhẹt rồi đại náo cửa thiền. Đó là những cái dũng quá trớn. Trong ANH HÙNG BẠT MẠNG thì, cả Đại đội 1 cùng đồng tâm hiệp lực, và ngoài cái DŨNG còn phải có TRÍ của người chỉ huy. Phải biết lừa địch, nhắm vào tử huyệt của địch mà đánh, “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”. Nếu không thế, thì làm sao khi quân số của Đại đội 1 chỉ còn 50 người mà có thể bạt mạng Chọc Thủng Bức Tường Thép? Có Sa Huỳnh Biển Lửa? Có Thuỷ Táng cả trăm tên xâm lăng phải “sinh Bắc tử Nam”?
– Một điều nữa tôi muốn nói, cuộc chiến tranh vừa qua đối với những người lính là một cuộc chiến đầy khốc liệt, nhưng cũng đầy lãng mạn. Nếu không phải cái tính lãng mạn đó thì làm sao ở một xóm đèo heo hút gió thuộc quận Mộ Đức giữa không khí chiến tranh, người lính Biệt Động đi mua đồ cúng tết, trang hoàng nhà cửa cho gia đình nơi họ tạm trú vào ngày cận tết Quý Sửu? Chúng ta hãy tưởng tượng cảnh những người lính quân phục hoa rừng đội mũ nâu vo gạo, đãi đậu gói bánh tét… Ngược lại, cũng ngày đầu năm Mậu Thân, bộ đội miền Bắc lợi dụng ngày truyền thống của dân tộc, đánh phá khắp nơi, gây tang tóc biết bao người dân lành.
… Chắc hẳn quý vị thường nghe bài hát “Kỷ vật cho em” của PD: “Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời mai mốt anh về… Anh trở về bại tướng cụt chân…”. Hôm nay, chiến sĩ Trần Thy Vân đến với cộng đồng Edmonton chúng ta, anh đã để lại một phần thân thể vì quê hương. Như tướng De Gaulle đã nói, khi lưu vong vì sự xâm lăng của phát xít Đức: “Nous avons perdu la bataille, mais nous n’avons pas perdu la guerre” (Chúng ta đã thua một trận đánh, chứ không thua trận chiến)…”. (NB)
RANGERS CSM MICHAEL MARTIN & LTC McDONALD VALENTINE
Tác giả The Black Tigers Rangers of the Second Indochina War.
“Ranger Warrior”
First Lieutenant Tran Thy Van Commander First Company, 21St Ranger BN., First Ranger Group. Hero of I & II Corps: led assaults and commando raid; received 18 Cross of Gallantry medals -four with Palms and two Purple Hearts. Tran Thy Van lost both legs on 3-3-1974, fighting with the 21st Ranger BN., thus ending nine years of Ranger exploits. He is the author of THE AUDACIOUS HEROES.
Ranger Tran Thy Van,
You are a brave warrior; the people of South Vietnam, and the Biệt Động Quân, are proud of you… (MM)
Trân trọng đa tạ quý độc giả đã bình phẩm, khen ngợi tác phẩm này, thật quý hóa đối với tác giả ANH HÙNG BẠT MẠNG. ttv
NHỮNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN
ĐÃ HY SINH VÀO MẤY NĂM CUỐI CÙNG CỦA CUỘC CHIẾN
– Cố Đại úy Phạm Minh Hồ: Đại đội phó ĐĐ1/21BĐQ. Tử trận tại quận Hương Điền, Thừa Thiên, 1972.
– Cố Đại úy Quách Ẩn: Đại đội trưởng ĐĐ2/21BĐQ. Bị trọng thương ở Quảng Ngãi, qua đời tại BV Duy Tân Đà Nẵng, 1973.
– Cố Đại úy Trần Quang Giảng: Đại đội trưởng ĐĐ3/21BĐQ. Tử trận tại Mỏ Cày, quận Mộ Đức, Quảng Ngãi, 1974.
– Cố Trung úy Đặng Văn Thiều: Đại đội phó ĐĐ1/21BĐQ. Hy sinh tại quận Tiên Phước, Quảng Nam, 1974.
– Cố Đại úy Nguyễn Thuận Cát: Đại đội trưởng ĐĐ3/39BĐQ. Qua đời tại trại tù Bình Điền, Thừa Thiên, 1975.
– Cố Trung tá Võ Vàng: Tiểu đoàn trưởng TĐ21BĐQ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5/2BB. Chết trong tù CS sau 1975.
– Đại úy Việt Tchépone: Chi đoàn trưởng Chi đoàn 17 Thiết Vận Xa M113. Chết tại Quảng Ngãi, 1974.
– Cố Hạ sĩ I Trần Văn Thanh: Truyền Tin BCH ĐĐ1/21BĐQ. Hy sinh tại quận Mộ Đức, Quảng Ngãi, mùng 1 Tết 1973.
– Cố Hạ sĩ Nguyễn Văn Châu: Khinh binh ĐĐ1/21BĐQ. Chết tại quận Quế Sơn, Quảng Nam, mùng 1 Tết 1974.
Các nhân vật khác trong ANH HÙNG BẠT MẠNG định cư tại hải ngoại và một số ở quê nhà, trong đó có bà Trần Thị Miên, chị kế của Tác giả.
TIỂU SỬ
TRẦN THY VÂN
Sinh ngày: 31-12-1944 tại Phan Rang, Ninh Thuận. Chánh quán: Quang Châu, Hòa Vang, Quảng Nam. Vượt biển tháng 7/1983. Định cư tại Nam California.
Tú tài 2 ban toán 1966. Cựu học sinh Phan Thanh Giản Đà Nẵng Bồ Đề, Quốc Học Huế, Duy Tân Phan Rang. Trước 75: Thơ đăng báo Phụ Nữ NM, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiếng Vang.
Tình nguyện nhập ngũ khóa 22 Sĩ Quan TĐ, tháng 03 năm 1966.
Đỗ thủ khoa (Honorman) khóa 2 Reconnaissance, do Sư Đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đào tạo tại Phước Tường Đà Nẵng 1970. Kế tiếp làm huấn luyện viên K.3 Recon, gồm các khóa sinh Việt-Mỹ và Đại Hàn. Trung đội trưởng Trung đội Viễn Thám, nhảy toán cho SĐ1TQLC Hoa Kỳ khắp rừng núi Trường Sơn vùng I.

Google photo
Chín năm Biệt Động, dự nhiều cuộc hành quân vùng I, II và Lam Sơn 719 Hạ Lào. 18 huy chương. Anh Dũng Bội Tinh gồm 1 Đồng, 1 Bạc, 10 ngôi sao Vàng, 4 nhành Dương Liễu là loại tuyên dương cấp quân đội, và 2 Chiến Thương BT ngôi sao Đỏ.
Chức vụ sau cùng: Trung úy Đại đội trưởng ĐĐ1/21BĐQ. 2 lần bị thương, lần hai cụt hai chân tại Quảng Ngãi, 3-3-74.
Thành viên sáng lập hội Thương Phế Binh, Biệt Động Quân, Tù Nhân Chính Trị là các đoàn thể đầu tiên tại Nam California, hiện phát triển nhiều nơi trên thế giới. Quyên góp 70 xe lăn gởi tặng các thương phế binh VNCH trong nước từ năm 1984.
Chủ Nhiệm & Chủ Bút BNS Thương Binh. Hội viên International P.E.N. Đệ nhị Phó chủ tịch VBVNHN, NK 2001-2003. Dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế tại London England, 2001. Chủ tịch TTVB Nam California ba nhiệm kỳ: 2000-02, 2002-04, 2007-2010.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.