Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

14. Vụ Phan Xích Long năm 1913 và 1916

“Năm quý Sửu có vụ Phan Xích Long làm “cách mạng”. Phan Phát Sanh tự Lạc năm ấy (1913) vừa hai mươi tuổi, con của Phan Núi làm cảnh sát trong Chợ Lớn. Lúc nhỏ không ham học, lớn ở bồi với Tây, bổng xưng Phan Xích Long, tự cho mình là Đông cung, con vua Hàm Nghi, sắm mão và dây đai vàng, tự tôn làm hoàng đế, lập đảng kín, chế tạo lựu đạn trái phá, in trát dán khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân nổi dậy chống Pháp. Việc làm như giả ngộ, chưa chi mà lậu sự bắt bớ lung tung. Phan Xích Long bị cò Tây bắt tại Phan Thiết, còng giải về Sài Gòn. Đồng đảng cả thảy bị bắt 111 người, đem ra Tòa Áo đỏ xử tử mùng 5 đến 12 tháng 11 dương lịch 1913, tha bổng 57 người, năng hơn hết là án chung thân khổ sai 6 người, Phan Xích Long, Nguyễn Tri và Nguyễn Hiệp, án hiện diện; còn Nguyễn Màng, Trương Phước và Nguyễn Ngọ trốn thoát không bắt được, bị án khiếm diện. Ba người này bị giam Khám lớn Sài Gòn, làm chống động giới giang hồ mã thượng”. 
Qua lời bạch hỏi của tòa án, vụ Phan Xích Long chứa nhiều chi tiết quan trọng. 
– Trong 57 người bị kêu án, chỉ có 1 người Hoa kiều mà thôi, kỳ dư là người Việt Nam, đa số là dân ở tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An. 
– Phan Xích long, Nguyễn Tri và Nguyễn HIệp là nhân vật hành động có ý thức. Trước tòa, Phan Xích Long dám bảo: ông chống đối chính sách thuế khóa nặng nề của người Tây và đặt những trái bom trong thành phố là để hăm dọa người Tây, để mong người Tây giảm thuế cho dân. Và cách chế tạo mấy quả bom thì ông học ở bên Xiêm La. 
– Cùng với Nguyễn Tri và Nguyễn Hiệp, Phan Xích Long đặt cơ sở đầu tiên ở đất Cao Miên tại Cần Vọt, cất ngôi chùa do tiền bạc quyên để làm nơi tụ họp. Nên nhớ là vùng Cần Vọt (Kam pot) được xem là nơi trú ngụ lý tưởng của những chiến sĩ Cần Vương, sau khi phong trào ở làng An Định (núi Tượng) thất bại, dân làng bị tống xuất về quê cũ. Phan Xích Long vẫn giữ được tinh thần vững chắc, trả lời với tòa rằng ông xem thường cái chết, sẳn sàng chết vì nước và muốn được xử tử. 
– Nguyễn Hiệp cung khai rằng chống nhà nước Tây là có dụng ý nhắc nhở nhà nứoc phải thương dân, làm mấy quả bom chỉ là để dọa người Tây chớ không có ý giết người Việt. Năm ấy, Nguyễn Hiệp 27 tuổi. 
Ba năm sau, phong trào lại phát khởi: 
– ” Qua năm Bính Thìn (1916), giữa trận Âu Châu Đại chiến bên trời Tây, Tây thua xiểng niểng thì đêm 12 tháng giêng âm lịch, đảng kín “Thiên Địa HỘi” tổ chức cuộc phá khám định cứu đại ca ra khỏi vòng Dủ lý. Ban đầu rất nhiều thuyền nhỏ tứ xứ đến đậu chen nhau dưới gầm cầu móng Khánh Hội, đấn ba giờ khuya là khởi sự. Dưới khẩu hiệu “Cứu đại ca”, các đồng đảng thảy đều uống bùa, cổ mang phù chú, tay cầm gươm mác, kéo lên Khám lớn Sài Gòn. Dao nói chuyện với súng làm sao lại, bùa chú chống đạn chỉ có hiệu lực trong trí óc người mê tín. Sự thực thì hai người bị bắn chết tại cửa Khám lớn, bốn người bị rượt theo, bắn ngã tại Xóm Dầu torng Chợ Lớn. đồng đảng bất cứ đàn ông đàn bà ai mặc quần đen áo trắng buổi sáng ấy cứ lẩn quẩn trong xóm, tình nghị là bị bắt nhốt khám, đem ra xử tòa đại hình. Kết cộc: 38 người bị xử tại Đồng tập trận và bắn ngày 22 tháng 2 năm 1916, kể luôn 2 người đêm phá khám bị tử chiến tại trận tiền và 4 người bị hạ sát tại Xóm Dầu thì cuộc phá khám năm 1914 đã khiến 57 vị anh hùng, tên ghi vào sử nhưng thây thì bị chôn vùi “đất thánh Chà” đường Hiền Vương, cho đến mới đây nghĩa địa này bị ban phá ra thành bình địa, xây xóm nhà anh em lao động tài xế đô thành, mồ mả xiêu lạc mất tích luôn nhưng danh thơm còn mãi trong trí óc người yêu nước. 
Vụ hành quyết 51 người yêu nước trên đây đã khiến cho vài người Pháp bất mãn, trong đó có viên Chưởng lý Tricon. Sau này, chính ông Tricon làm luật sự biện hộ hùng hồn cho những nông dân bị Tòa án quân sự xử tử nhưng nhà nước phải để cho can nhân chống án qua Pháp. Đành rằng nước Pháp trong tình trạng chiến tranh, tình thế khẩn cấp, nhưng ở thuộc địa Nam Kỳ là nơi cách xa chánh quốc đến 16.000 cây số thì làm sao có việc khẩn cấp như ở chánh quốc được. Và viên Chưởng lý Tricon công khai phản đối hành động của Thống đốc Nam kỳ, khi tên này cho hành quyết ngay các can phạm. 
Phong trào Thiên Địa Hội từ các tỉnh Nam Kỳ đã phối hợp với Sài Gòn – Chợ Lớn tại Mỹ Tho, vùng Long Hưng, vùng Thuộc Nhiêu, vùng cù lao Thới Sơn, nhóm Nghĩa Hòa tham gia tích cực. Vào cuối tháng 1-1916, phong trào nổi lên ở vài làng tỉnh Trà Vinh, đạt thành công nhất định ở tỉnh phải ghi công đầu của Thiên Địa Hội tại chợ Biên Hòa. Cuốc đánh phá diễn ra nhanh chóng, phối hợp với bọn tù nhân nổi loạn bên trong ,17 tù nhân thoát nạn được. Ở Bến Trẻ, tại Mỏ Cày phong trào lên cao nhằm đánh phá công sở, hăm doạ hương chức hội tề. Ở Thủ Dầu Một, Bà Rịa, tỉnh Gia Định, tỉnh Tân An cũng xảy ra nhiều cuộc tụ họp, phía Cần Giuộc có báo động. 
Người trong hội kín gồm đa số là người Việt Nam, người Hoa Kiều đóng vai phụ, thường là giữ chức vụ coi sóc nghi lễ trong hội mà thôi. 
Thiên Địa Hội không còn hoạt động sau khi bị khủng bố những dư âm vẫn còn mạnh. Rải rác từ thành thị tới thôn quê, nhềiu anh hùng còn tới lui với nếp ngang tàng, giang hồ quen thói. Họ là người trước kia gia nhập hội. Hoặc chỉ là cảm tình viên bị sa thải. Trường hợp tiêu biểu nhứt là đại ca Tư Mắt, một nhân vật bấy giờ ở Sài Gòn – Chợ Lớn không ai không nghe danh. 
“Tư Mắt tên thiệt là Nguyễn Văn Tước, sanh tiền có lập một tiệm hớt tóc, số nhà 200 đường Thủy Bình cũ (rue des Marins, nay là đường Đồng Khánh) lấy hiệu tiệm là Nam Hữu Mai. Ngày 14-5-1915, tòa đem Tư Mắt ra xử, kể lai lịch Tư Mắt có đến ba vợ, đều phục sự “Anh Tư” hết lòng và vô số anh em. Tòa khép tư Mắt vào tội “gia nhập hội kín ám trợ Cường Để”, kếu án lấy chừng, kỳ trung Tư Mắt bắt chước theo gương Đơn Hùng Tín trong truyện Thiết Đường: phàm trong đám du côn có đứa nào đã chịu làm em nuôi của “đại ca Tư Mắt” thì đại ca không khi nào bỏ, hoạn nạn tương ứng, sanh tử bất ly. Không tiền đại ca cho tiền, không áo đại ca cho áo, thậm chí khi bị tù rạc thì có người nuôi ăn và cung cấp thuốc bánh. Nhưng khi nào đại ca cần dùng thì ra lịnh phải tuân hành, chết sống không kể thân, sai biểu chém ai, giết ai là chém giết bất luận là bà con thân thích. Tư Mắt đi đến tỉnh nào, xứ nào là em út rần rần đứa theo ủng hộ, đứa đến trình diện bái nghinh đại ca. Tư Mắt bước vào quán nước nào thì người khác hội nên lui chân, hàng em út tha hồ gọi bánh, gọi mì vì đã có đại ca bao trả. Nhưng phải nhớ “ăn của anh Tư thì sau này có việc chớ khá so đo cùng anh Tư”. Lính trang kiêng dè nể mặt, bót cò miệng ngậm sáp cũng làm lơ. Linh sai nã tróc đã ra, mà tìm không có ai dám sanh cầm Tư Mắt; không khéo có ngày mang thẹo ăn dao của hàng em út anh Tư. Tuy vậy, hết hồi vinh đến hồi xuống dốc. Về sua Tư Mắt ăn năn, vào chùa Giác Lâm (Chợ lớn) lần chuỗi bồ đề tụng kinh sám hối.

Vài nhà khảo cứu chê bai phong trào Thiên Địa Hội là manh động, gần như du đãng, thất nhơn tâm. Có người cho rằng anh hùng Thiên Địa Hội chọn một lý tưởng quá lạc hậu là tôn vương, bảo hoàng, vào lúc trong nước đã có phong trào Duy Tân tiến bộ hơn ra đời từ năm năm về trước- nhưng phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ lúc bấy giờ nặng tánh chất bảo hoàng, hướng về chế độ quân chủ lập hiến dành cho kẻ giàu sang. 
Âm vang của Thiên Địa Hội khá mạnh mẽ. Nhiều người bảo là dân chúng ở Nam Kỳ hiếu khách, ăn nói sổ sàng, không quanh co giấu giếm, dám ăn xài hết túi là do máu nóng của dân đi khẩn hoang: vì nhiều tiền, nhiều tương lai nên không sợ đói. Nhưng thiết tưởng đó là lý do phụ. Thiên Địa Hội tạo ra một nếp sanh hoạt sâu đậm khá hấp dẫn, thực tế: ăn cơm nhà lo chuyện ngoài đường, sống chết nhờ anh em, tận tình giúp đỡ bạn. Trút tất cả tâm sự với bạn kết nghĩa thì không có gì đáng ngại, đã là bạn với nhau rồi thì làm sao có chuyện phản bội.! Ưa gặp gỡ nhau, nói chuyện làm ăn và chuyện đời ngoài quán nước, quán rượu. Gặp chuyện bất bình, hoặc như bạn nào bị kẻ khác ăn hiếp thì nổi nóng, trả thù cho bạn vô điều kiện, lập tức. 
Đó là đạo nghĩa giang hồ, là điệu nghệ giữa anh em kết nghĩa, tứ hải giai huynh đệ. Người bạn lớn tuổi hơn mình thường được gọi nửa đùa nửa thật là “đại ca” (theo tổ chức bí mật của hội kín, đại ca là người giữ chức vụ lớn nhứt, không khác nào người chỉ huy trưởng về quân sự). 
Nói tới Thiên Địa Hội, không thể quên là đạo Minh Sư đã từng làm cho thực dân lo ngại hồi cuối thế kỷ vừa qua. Đây là tôn giáo hơi khác thường, tu học có vẻ bí mật. Về lý thuyết, đạo Minh Sư thờ Tam giáo nhưng nặng về Lão giáo với phép luyện trường sinh, với nghi thức cúng kiến phức tạp. Về mặt chính trị, thiực dân theo dõi khi đã thâu thập bằng chứng xác nhận một vài lãnh tụ của đạo này vận động chống Pháp, như cuộc khởi loạn 18 thôn vườn Trầu của ông Quản hơn năm 1885 (Tài liệu của thực dân ghi hồ đồ là đạo “Phật Đường”, chùa của đạo này không xưng là tự, nhưng là phật Đường. 
Năm 1882, vào tháng 6 dương lịch, ở Long Xuyên có phú thương Hoa kiều là Dư Tú (A Xious) mời đại lão tên Hứa Mỹ ở bên Trung Hoa tới để làm lễ, lạc quyên cất chùa. Đại lão sự Hứa Mỹ đi qua Châu Đốc, đã từng ở Nam Vang. Ở Gò công, tại chợ Thậun Tắc, làng Tân Duân Trung, Nguyễn Văn Hiền bị bắt với nhiều tài liệu Ở Sài Gòn, thực dân phát giác vị lão sư của đạo Minh Sư ở vùng Cầu Kho là Ba Hý, ngoài ra còn một số người torng đạo cùng bị bắt ở Cần Thơ (8-1882). Dưới mắt thực dân thời bây giờ, trung tâm của đạo Minh Sư ở Trà Ngoa (giáp ranh với Cần Thơ). Người hoạt động hăng hái nhứt là Nguyễn Văn Di còn mang tên là Khoa, tục danh lão Báu, 70 tuổi vào năm 1896. Quê của thầy Di ở Chợ lớn, vùng Cần Giuộc. Thầy tới lui vùng Cầu Kho (Sài Gòn), vùng Trảng Bàng (Tây Ninh), vùng Ba Kè (Tam Bình, Vĩnh long) và liên lạc với đồng đạo ở Hương Cảng, ở Bình Thuận. Lục soát trong nhà thầy di, gặp kinh sách, địa bàn, mặt kiếng, chuỗi, đặc biệt là bức ảnh của vị Tổ sư (ông này đã qua Sài Gòn năm 1894 được đón rước long trọng, mất ở bên Tàu năm 1895). Nhà cầm quyền theo dõi nhóm Minh Sư ở Trà Ngoa, khám phá ra một ngôi chùa về danh nghĩa công khai thì thờ ông Quan Đế nhưng bên trong là chùa của đạo Minh Sư. Hương chức làm báo cáo rằng khi cúng chùa thì chùa không đánh trống hoặc nhạc lễ gì cả, người torng chùa cứ khấn vái lầm thầm; họ mặc áo dài may bằng vải trắng, tay rộng, có người nhuộm áo màu xanh lợt; khi lạy, không cúi đầu xuống. Cúng xong người trong đạo dọn lễ vật đến nơi khác, sau đó dân địa phương mới được phép đem heo hoặc vịt tới cúng ông Quan đế. Nhà của người theo đạo không thờ món gì rõ rệt, trước tấm trần bằng đệm buồn, đôi khi bày một tượng Phật nhỏ nỏ, trên bàn thờ ngày như đêm đốt ngọn đèn nhỏ không bao giờ để tắt. Trong đạo nếu có ai chết thì người ngoại đạo chẳng được lại gần, chỉ riêng bổn đạo đến khấn vái; khi tẩn liệm, đặt trong quan tài thì người chết day đầu vào vách nhà. 
Ở Cần Thơ, còn một chùa Minh Sư nổi danh thời bấy giờ tại Bình Thủy: Minh Sư Thảo Phật đường, gọi nôm na là chùa Nam Nhã. Ông lão sư chùa này là Nguyễn Giác Nguyên, học trò của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Khi phong trào Duy Tân nổi lên ở miền Nam, ông lão sư Nguyễn Giác Nguyên đã tích cực hoạt động ủng hộ ông Cường Để, và chùa đã bị lục soát.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

13. Thiên Địa Hội của người Việt Nam và những biến tướng phúc tạp

Trong thời gian gia nhập Thiên Địa Hộivới người Trung Hoa, người Việt học được kinh nghiệm về tổ chức và tác phong mới. Sự sụp đổ về chánh trị khiến cho anh hùng Thiên Địa Hộihoang mang. Trước kia là chí hướng cao cả (liên kết với giặc Cờ Đen), trong hiện tại chỉ còn là sanh kế và bầu máu nóng nhưng nếp sống cũ vẫn còn đó. Ta thử xem qua những lời thề: 
” Khi vô hội có hai tuần lạy, trước lạy bốn, sau lạy tám. Bốn lạy trước mang ý nghĩa: 
– Lạy trời đất làm cha mẹ 
– Lạy mặt nhựt mặt nguyệt làm chứng. 
– Lạy Đào viên kết nghĩa làm anh em . 
– Lạy để giáo kết: người nào bụng xấu thì trời đánh chết. 
Tám lạy sau gợi ý: 
– Lạy lòng trời làm chứng. 
– Lạy thể giữa trời 
– Lay noi theo ông Quan Công 
– Lạy giao kết anh em chung, lấy chữ Hồng làm họ 
– Lạy để hứa rủ anh hùng làm anh em. 
– Lạy thề đồng lòng đánh vua nhà Thanh, giúp vua nhà Minh. 
– Lạy xưng vương về nhà Minh. 
Vể kỷ luật, người trong hội phải thông suốt các điều khoản: 
– Coi việc trong làng cũng tỏ rõ như mặt kiếng. 
– Việc trung ngãi rất công, không tư vị, cứ luận công lao mà thưởng. 
– Không phân biệt bà con và người dưng, cứ lấy lẽ ngay mà xét đoán. 
– Chớ tham của người mà làm lợi cho mình, cũng không lấy thế mạnh mà khinh rẻ người yếu. 
– Như có sự bất bình thì đem tới hội, lấy lẽ ngay mà ph án đoán, người nào có công trận thì gia cao quyền tước, chẳng khá nói dối mà bỏ trốn công việc, muốn làm việc gì thì đồng bàn bạc với nhau. 
Sau đây là lời thề: 
– Khi rút cây gươm ra, thề với nhau rằng: cây gươm nó cũng bén như nước, như ta ngó thấy cây gươm này thì ta phải sợ, đừng dối trá mà bỏ cái niềm ngay lành. Ta theo Thiên Địa Hội, lấy họ Hồng để sau này ta giết vua nhà Thanh. 
– Khi rút cây gươm đưa lên thì coi nó sáng cũng như mặt trời mặt trăng, như đưa cây gươm lên thì đưa cho ngang đầu, lấy lời thề làm trọng. Đã là anh em với nhau thì lấy sự ngay thẳng làm chắc, nếu ai không ăn ở ngay thẳng với anh em thì cây gươm này sẽ chém chết. 
– Khi đốt hương thì khói lên thơm tho lắm, ta nguyện cùng năm ông tổ, quyết lòng giết vua nhà Thanh. 
– Thuở trước có Đào viên kết nghĩa làm ba anh em là ông Lưu, Quan, Trương. Anh em ta có bùa, đem bùa ấy vô rừng thì cọp thấy cũng sợ. 
– Làm người phải có trung nghĩa, người trong hội của chúng ta gặp nhau làm dấu hiệu là biết ngay. Ta là bọn trung nghĩa, không ai giết ta cho đặng. 
– Anh em ta đầu đội trời chân đạp đất, anh phải có lòng ngay, em phải có sự can đảm. 
– Tay ta cầm cây hương mà vái cho đặng tám lần, đi khắp ngũ hồ tứ hải thì xứ nào ta cũng là anh em. 
– Nhân dịp cúng quảy (vào buổi kết nạp), uống rượu thì ta uống hai chén mà thôi. Ngày bữa nay ta gặp anh em, biết ngày mai ta còn gặp không? 
– Cúng quảy rồi ăn uống xong, từ giã anh em mà ra đi, bây giờ còn thấy mặt anh em thì ta bịn rịn, hể khuất mặt anh em rồi thì ta cứ đi xa. Ta đi qua xứ khác rồi thì anh em phải nhớ với nhau. Bởi vậy, ta uống ba chén trước khi ra đi. 
– Ta đút gươm trở lại trong vỏ thì xem cây gươm trong như nước, ta phải giữ chí cho bền mà đánh vua nhà thanh. 
Ở Sài gòn, nhiều cuộc xáo trộn diễn ra với qui mô nhỏ, anh hùng của hội kín nhờ học được phương thức hoạt động bí mật, dùng ám hệiu nhứt là dám liều chết nên khuấy rối trong những xóm lao động , bày ra cướp bóc, thanh trừng giữa ban ngày tại Phú Nhuận, chợ Cầu Ông Lãnh trên sông Sài Gòn, ở Đất Hộ . . Thanh danh Thiên Địa Hộibị sứt mẻ không ít; bọn làm bồi cho Tây, bọn cầm đầu nài ngựa thao túng ở Trường đua tha hồ khoát nạt. Lại còn những nhóm hội kín sống bằng nghề chứa bạc, gìn giữ sòng bạc cho chủ hoặc bảo vệ mấy ổ mại dâm. Người nào có tiền mà không biết điệu nghệ với anh em trong hội thì bị họ mượn tiền không bao giờ trả. 
Vào năm 1888, hội Van Xe phát triển, lộng hành từ bình Đông, Phú Lâm, minh Phụng trở ra An Bình (Chợ lớn) khiến tám ông Hộ trưởng ở các vùng nói trên cầu cưú với nhà đương cuộc Chợ Lớn – Sài Gòn. Vạn tức là hình thức “nghiệp đoàn” theo kiểu vạn lưới vạn chài, vạn cấy. Vạn này thâu nạp những người đánh xe ngựa, loại xe thông dụng nhất ở Sài Gòn – Chợ lớn lúc bấy giờ. Người trong Vạn thề sống chết có nhau, một người bị hà hiếp là cả bọn kéo tới binh vực vô điều kiện, khi thấy lính cảnh sát, họ chạy trốn rất nhanh. Chủ xe phải dùng những người của Vạn đưa vào, không được dùng người ngoài. Ngoài những người sống bằng nghề đánh xe, vạn còn kết nạp bọn bồi bếp, người làm công ở hiệu buôn, cứ đóng tiền thì được che chở không ai hiếp đáp. Nơi nào có gánh hát hội trình diễn là họ kéo tới khuấy rối, nếu chủ gánh biết phải quấy đưa cho một chút tiền thì yên. Họ kiểm soát luôn những ổ mãi dâm và tống tiền những người ra vào. Ai nói xâu họ, họ đánh. Vì chiếm độc quyền phương tiện chuyên chở, họ tự ý đập đồ, dọc đường dừng lại để xin thêm tiền, không cho thì làm nhục, chửi mắng. Đặc biệt nhứt là người trong xóm lao động, bạn hàng chợ nếu gây gỗ nhau thì phải nhờ họ phân xử, đóng tiền cho họ. Ai đến nhờ cảnh sát hoặc cò bót phân xử, họ lại đánh đập bằng củ chì, bằng roi cá đuối hoặc họ giết. Trụ sở của Vạn gọi là Tân Hưng hội quán, đóng ở ngôi miếu vùng Tân Hưng. Khi cần ăn nhậu và kiếm thêm tiền xài, họ bày ra lệ cúng miễu để đi lạc quyên bừa bãi khắp đô thành, ai không cho là họ trả thù: họ gop tiền trong giới bạn hàng, giới chủ tiệm Sài Gòn (tức là khu chợ Cũ ngày nay) , chợ Cầu Ông Lãnh, vùng Khánh Hội, những người sống trên ghe thuyền và đặc biệt là những chủ chứa gái điếm. Thực dân ra tay bắt cả bọn, được biết người cầm đầu là bếp Tốt, Sáu Còn. Hai tên này lợi dụng hình thức cúng tế ở miễu để hợp thức hoá những chức vụ: chủ hội, hương nhứt, hương nhị, hương ba, hương tư rồi bày thâm chánh hội, phó hội, tri khách, trị sự, hương hội và phó tổng lý biện . . . 
Ngoài hội Vạn Xe khá tiêu biểu cho sanh hoạt của bọn anh hùng bị lưu manh hoá, còn nhiều nhóm du đảng tổ chức khéo léo với kỷ luật chặt chẽ (gọi là luật giang hồ, điệu nghệ). Họ tụ tập đông đảo, che mắt nhà cầm quyền bằng cách tổ chức đám giỗ, cúng miễu Ngũ hành hoặc giả vờ bày chuyện mời thầy pháp đến chữa bệnh. Tình hình ở các tỉnh ra sao? Chúng tôi không sưu tầm được tài liệu nào cụ thể trong khoảng thời gian sau năm 1882. Thực dân ra lệnh cho các tỉnh kê khai và theo dõi thật kỹ những hội cúng miễu, cúng đình. Từ lâu, những hội này mặc nhiên là hợp pháp vì mang tánh chất thuần tuý về tín ngưỡng, mỗi đình có hương chức đình với chức vụ chánh bái, bồi bái v.v. . . Chủ tỉnh Bến Tre là Sandret (người am hiểu khá rành rẽ tình hìnhdân chúng Mỹ Tho, qua cuộc khởi loạn của ông Năm Thiếp) đưa ý kiến: sự liên kết giữa người Việt và người Hoa Kiều nhất định là có hại cho nhà nước, chưa thành vấn đề lớn nhưng trong tương lai sự liên kết ấy sẽ thành tựu. Trong hiện tại, hoạ chăng là có sự thông đồng ngấm ngầm giữa người Hoa Kiều chủ chứa sòng bạc và công chức Việt Nam ăn hối lộ. 
Viên chủ tỉnh nói trên lại ngạc nhiên và cương quyết áp dụng kỷ luật, thuyên chuyển một vài viên chức Việt và lính mã tà về tội chơi hụi với người Hoa Kiều, những uyển sổ của người chơi hụi lại bị tình nghi là hình thức góp tiền cho Thiên Địa Hội. 
Về người Hoa Kiều ở tỉnh, chỉ riêng chợ Bạc Liêu là xảy ra náo loạn: người Hoa kiều ở tỉnh lỵ này đồng loạt bãi thị, đóng cửa tiệm để phản đối việc phạt vạ của chủ tỉnh, khi ra lệnh mỗi nhà phải giữ vệ sinh trước cửa, để phòng bệnh thời khí đang lan tràn. 
Nhưng ở thôn quê và chợ nhỏ, Thiên Địa Hội do người Việt cầm đầu lại phát triển ngấm ngầm theo mức nhà nước thực dân lâm vào trận hỏa mù, không phân biệt đâu là mục đích, đâu là phương tiện. Một số hương chức hội tề tham gia vào hội để được yên thân hoặc chính họ đóng vai quan trọng. 
Hội viên gặp nhau nhanh chóng, dùng mật hiệu, khi tụ khi tán, hoặc ở ngoài ruộng, hoặc ở quán rượu rồi lại đi. Họ gần như không dùng giấy tờ, ngoại trừ một số sổ sách ghi tiền bạc thâu xuất, nhưng lại che giấu, giả như là đóng tiền hụi hoặc thâu xuất lúc mua bán. Thư từ qua lại nếu có thì vắn tắt và dùng lời lẽ bóng gió, con dấu của hội lại khắc những chữ khó hiểu hoặc là ám hiệu, thoạt xem qua tưởng là con dấu tiệm buôn. 
Hội bị đặt ra ngoài vòng phát luật nhưng nhiều người dám theo và hương chức làng yểm trợ vì lý do: khi bị bắt trong lúc ấu đả, thanh toán bằng võ lực thì họ tự nhận là ra tay vì thù oán cá nhân, theo lối du đãng để rồi bị buộc tội nhỏ với lý do làm náo động làng xóm, đánh nhau vì nợ nần, cờ bạc. 
Nhờ đó bộ tham mưu chánh trị cầm đầu bên trên ít khi bị bắt quả tang. Thực dân nhìn nhận có hội kín những chỉ trong phạm vị tương tế hoặc chỉ là nhóm du đãng hoành hành tạm thời tại địa phương. Hơn nữa, vào đầu thế kỷ thứ XX, từ Bắc chí Nam đang phát khởi một phong trào nhiều thực lực hơn Thiên Địa Hội, đó là phong trào Duy Tân đang lôi cuốn được nho sĩ và điền chủ, công chức, khiến thực dân bận tâm đối phó. 
Không giấy tờ sổ sách hoặc biên bản thì khó mà tổng kết cụ thể. Hơn nữa , người torng hội nếu bị bắt, thật tình cung khai thì chỉ cung cấp được những chi tiết phiến diện cục bộ. Những tài liệu mà thực dân tịch thâu được từ các tỉnh, các làng ở mềin Tây hoặc ở Chợ Lớn đều giống nhau, không đem thêm gì mới mẻ, đại khái một cây gươm, một vài bộ truyện tàu, năm bảy cái bằng cấp in theo công thức giống nhau hoặc vài tờ giấy ghi chép lời thề, mật hiệu, ghi việc xuất tiền hoặc những con dấu giống như của hiệu buôn. 
Thực dân tìm cách vu cáo rằng Thiên Địa Hộiđáng giải tán, hội viên đáng ở tù nhiều năm chỉ vì thành phần của họ gồm đa số là du đãng, có tiền án về trộm cắp, xâm phạm tài sản của người khác. Chúng không dám phủ nhận rằng đầu não của Thiên Địa Hộilắm khi gồm những người yêu nước; người dân thích vô hội chỉ vì muốn sống trong bầu không khí riêng, với luật lệ riêng tách ra khỏi bộ máy chính quyền mà thực dân đã áp đặt. 
Chúng tôi xin trích dẫn một số tài liệu mà Henri Dusson, tên chánh án nặng óc thực dân đã chịu khó tổng kết về tình hình trong tỉnh Long Xuyên năm 1909 để rồi báo nguy về Thiên Địa Hôi. 
Theo ý kiến của hắn thì Thiên Địa Hộiphát triển mạnh vì nhà nước thuộc địa đã kêu án quá nhẹ những người theo phong trào Minh Tân (Duy Tân) của Trần Chánh Chiếu vào tháng 4-1909 Trần Chánh Chiếu được miễn tố cùng với bao nhiêu bạn bè khác do bản án của tòa án Mỹ Tho. Dân chúng nô nức, được trớn, tin rằng vào hội kín để chống đối nhà nước thì không bao giờ bị ở tù nhiều năm, nếu hoạt động kín đáo. So với tội trạng của Trần Chánh Chiếu, họ chỉ là người hiền lành và ít nguy hại. 
Về danh xưng, có hai nhóm quan trọng ỏ Long Xuyên: 
1. Nhóm Nghĩa Hưng thường dùng con dấu khắc bốn chữ Nghĩa Hưng công ty, người Việt gọi là Kèo Xanh. Kèo (theo nghĩa cột kèo) cà cái vành của mui ghe, làm sườn để lợp lá hoặc đóng ván phía trên. Người thuộc Nghĩa Hưng dùng màu xanh sơn vào cây kèo thức nhất của mui ghe. 
Từ nhóm Nghĩa Hưng này tách ra một chi nhánh là Hoà Xuân gọi là Kèo Đỏ, kèo của mui ghe dùng để di chuyển hoặc mua bán luôn luôn sơn màu xanh ở vành thức nhứt (màu chánh của Nghĩa Hưng) nhưng lại có thêm cây kèo thứ nhì sơn màu đỏ. Nhóm Nghĩa Hưng gồm đa số người Hoa Kiều gốc Phước Kiến. Đôi khi họ có những chi nhánh gọi là Nhơn Hưng hoặc Đồng Hưng. 
2. Nhóm Nghĩa Hòa, với cây kèo sơn màu vàng (Kèo Vàng) đa số là người Triều Châu. 
Nhóm Nghĩa quân của người Hẹ (Akas) thực lực không không đáng kể. 
Về chánh trị, hội kín ở Long Xuyên theo đường lối phò vua. Trong số tài liệu bắt được, có bài hịch kêu gọi các lớp sĩ nông đánh đổ thực dân Pháp “xứ Nam Kỳ giống như nước Trung Hoa đời Hán, đời Đường. Thực dân là bọn Hung Nô, bọn rợ Đột Quyết. Vua Tự đức là thông minh tuyệt vời, 13 tỉnh đã liên kết lại. Từ năm 1905, trong hội đã loan tin rằng người Nhật sẽ tràn qua Nam Kỳ; người Nhật theo Thiên Địa Hội, ai theo thì sau này được sống, được phong làm quan để rồi được Nhật trợ giúp đánh đuổi thực dân Pháp! 
Về sự phát triển của hội, tài liệu trên cho biết: tỉnh Long Xuyên gồm tất cả 60 làng, chỉ 5 làng là có thể có hội kính, 42 làng kia chia làm hai loại, loại thứ nhất là 35 làng bị ảnh hưởng nặng, thứ nhì là 17 làng bị ảnh hưởng ở mức vừa phải.
Trong cấp lãnh đạo ,người Hoa kiều hoặc Hoa Kiều lai là thiểu số, người Việt chiếm đa số, thường là hương chức hội tề đương nhiên hoặc hương chức cựu, Tại làng thời Thuận, (tổng định Mỹ) niều tín đồ Thiên chúa đã theo hội kín hoặc nhóm Nghĩa Hưng. 
Trong làng, lúc đầu cần vài người hoạt động tích cực, sau đó cứ thuyết phục và hăm dọa để rồi những kẻ cầu an hoặc chống đối cũng lần lượt theo hội để khỏi bị hiếp đáp, vì thấy mình là thiểu số. Hương chức làng, người có uy tín, có đạo đức được chọn trước. Ai không theo thì bị phá rối liên miên: đốt nhà, đánh đập công khai hoặc lén lút, đốn cây ăn trái, phá đám mạ, đập lu hũ trong nhà. . .

Rượu thủ công

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on May 26th, 2022

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Hai lò rượu của người Việt vừa đoạt Huy chương Vàng trong một cuộc tranh tài quốc tế thường niên do hiệp hội American Distilling Institute tổ chức. Đó là lò Vena từ Quảng Trị và lò SuTi từ Texas. Đây quả là một sự kiện lịch sử và một niềm hãnh diện cho ngành rượu thủ công của dân ta.

Nguồn: SuTi Craft Distillery    

American Distilling Institute (ADI) là hiệp hội lớn nhất và lâu đời nhất dành cho các nhà nấu rượu thủ công — craft distillery, trên thế giới.Năm 2003, Bill Owens nảy ra ý tưởng thành lập một hiệp hội quy tụ các nhà nấu rượu nhỏ trên nước Mỹ. Lúc bấy giờ phong trào nấu rượu riêng lẻ chỉ mới nhen nhúm, giống như kỹ nghệ nấu bia thủ công — craft brewery, bùng phát trước đó chừng hai mươi năm.

Thật ra thì nghề nấu rượu ở Mỹ, bắt đầu từ những thế kỷ 18-19, đa phần là thủ công nghệ. Thời đó chỉ có một số ít các hãng rượu công nghiệp, trong số đó kỳ cựu và thuộc hàng lớn nhất là hãng whisky của George Washington ở Mount Vernon, Virginia. Sử liệu cho biết năm 1799 lò rượu của vị cựu Tổng thống Mỹ đầu tiên đã sản xuất hơn 11,000 gallon whisky, chỉ để bán sỉ trong các thùng gỗ 200 lít (53 gallon).

Sang thế kỷ 19, tiểu bang Kentucky trở thành cái nôi của công nghệ bourbon whiskey. Ðồng thời ngành rượu thủ công tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Nhưng sang thập niên 1920 thì đạo luật cấm uống rượu (Prohibition) ra đời; hầu hết các lò rượu phải dẹp tiệm, song một số chuyển sang nấu rượu lậu. Trường hợp này không khác mấy sự ra đời của ngành rượu đế lậu ở Việt Nam sau khi người Pháp cấm dân ta nấu rượu vì họ muốn thống lĩnh thị trường.

Suý Đinh (trái) và Tiến Ngô lắp ráp máy móc. Nguồn: SuTi

Sau khi luật Prohibition ở Mỹ bị bãi bỏ năm 1933, ngành nấu rượu thủ công không phục hồi được vì bị đủ thứ luật lệ khó khăn, phần lớn các cản trở này do các hãng rượu lớn vẽ ra để bóp nghẹt cạnh tranh. Mãi đến gần đây rượu thủ công mới được hồi sinh, và ADI là tổ chức đã đóng góp rất nhiều cho sự lớn mạnh của nó. Mục đích chính của ADI là làm tiếng nói đại diện cho giới nấu rượu thủ công, đồng thời là nơi để các nhà nấu rượu có thể đến để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

Hàng năm ADI tổ chức một cuộc đấu xảo triển lãm hàng hoá rất lớn chuyên về ngành nấu rượu. Tại đây, các nhà làm rượu thủ công có cơ hội giao tiếp với những công ty sản xuất dụng cụ và nguyên liệu nấu rượu, cũng như tiếp cận những kỹ thuật tân tiến nhất cho ngành nghề của mình. Trên mạng, ADI có một diễn đàn công cộng nơi mọi người có thể đến để trao đổi thông tin, chia sẻ kiến thức về bất cứ đề tài nào liên quan đến việc nấu rượu hay mở một lò rượu thủ công.

Theo lời kể của anh Suý Ðinh, nhà nấu rượu đế Ông Già, thì trước khi mở lò rượu SuTi, anh đã bỏ rất nhiều thì giờ trên diễn đàn của ADI để học hỏi từ những người đi trước. Chẳng hạn như loại lò nào tốt nhất để làm rượu từ gạo, những loại men nào thích hợp nhất, luật lệ của liên bang và tiểu bang về việc làm và bán rượu ra sao, đo nồng độ bằng dụng cụ gì chính xác nhất v.v. Ngoài ra Suý cũng đã đích thân tham dự một cuộc triển lãm tại Maryland để, như anh nói, “nhìn tận mắt các thiết bị máy móc” và được nghe các nhà chuyên môn giải thích thật cặn kẽ mọi thắc mắc của mình.

“Ông Già” bốc khói. Ảnh: Tiến Ngô

Nói cách khác ADI là một nguồn thông tin vô cùng hữu ích và đã đóng một vai trò quan trọng cho sự ra đời của lò rượu đế của người Việt đầu tiên trên nước Mỹ (và cả thế giới ngoài Việt Nam). Hiện nay chính phủ Mỹ chưa có một định nghĩa chính thức nào về mặt pháp lý cho cụm từ “craft distillery.” Cho nên mỗi tiểu bang phải có luật lệ riêng để kiểm soát các nhà nấu rượu thủ công, và để … đánh thuế. Theo lời kể của chủ nhân SuTi, một khi rượu cất xong, trước khi vô chai là anh đã phải làm biên bản để đóng thuế liên bang. Sau đó, mỗi chai rượu bán được phải đóng thêm thuế tiểu bang.

Như đã nói ở trên, luật lệ cho các nhà nấu rượu ở Mỹ vô cùng khắt khe. Ngoài việc phải nộp thuế đầy đủ và đúng kỳ, họ còn phải tuân theo quy định về nồng độ rượu ghi trên nhãn. Trước đây, mức sai biệt được đặt ra là +/- 0.05%, nhưng nhờ sự vận động của các hiệp hội những nhà nấu rượu như ADI, quy định này đã được nới rộng lên +/- 0.15%. Mức thuế liên bang gần đây cũng được hạ thấp, từ $13/gallon xuống còn khoảng $3/gallon, nhằm khuyến khích kỹ nghệ đang lên này.

Thêm vào đó, hàng năm ADI còn tổ chức một cuộc thi dành cho các nhà nấu rượu thủ công trên khắp thế giới. ADI định nghĩa craft distillery là các hãng rượu nhỏ, sản xuất không quá 100,000 gallon một năm. Ra lò được hơn một năm thì SuTi cũng đánh bạo, gởi hai chai Ông Già cho ADI để xem họ đánh giá ra sao. Trong bụng ai cũng hy vọng nếu được huy chương bạc là cũng mừng lắm rồi. Nào ngờ các nhà chuyên môn của ADI đã chấm điểm Ông Già khá cao — 91 điểm, và trao cho SuTi chiếc Huy Chương Vàng, tức phần thưởng cao quý thứ nhì sau Double Gold. Ðây cũng là lần đầu tiên chữ Rượu Ðế trở thành một thể loại chính thức trong hạng mục Rượu Á Ðông của ADI.

SuTi nhận bằng tri ân tại đêm gây quỹ. Từ trái: Nancy Bùi, Cha Nguyễn Thái Hợp, Tiến Ngô, Suý Đinh. Ảnh: ianbui/Trẻ

Trong phần thẩm định, một nhà chuyên môn ghi: “Tôi khoái rượu này quá! Nó mang hương thơm của những cánh đồng lúa, có mùi cỏ non, rất sạch.” Tuy nhiên, họ cũng chua thêm trong phần “Phải làm sao cho ngon hơn” như vầy: “Khi mới nhắp, mũi tôi bị tấn công khá mạnh bởi mùi cồn làm át đi một phần những mùi hương mà tôi đang kiếm tìm.” Một vị khác nói thêm: “Rượu có một mùi đất thoang thoảng làm tôi khó nhận ra mùi hương của gạo, tuy nhiên điều này không khó để khắc phục. Bạn đã đến rất gần mức Double Gold.”

Hôm Chủ Nhật cuối tuần rồi, nhân dịp gây quỹ cho tổ chức Công Lý cho Nạn nhân Formosa tại Dallas, SuTi đã là một trong những nhà bảo trợ chính. Ðêm hôm ấy, Ðức Cha Nguyễn Thái Hợp đến từ Hà Tĩnh cũng có mặt và được nếm rượu đế Ông Già. Tôi quên hỏi xem ông thấy nó ngon dở ra sao, nhưng nhìn nét mặt Ðức Cha sau khi ông thử ly rượu từ tay anh Tiến Ngô (đồng chủ nhân của SuTi), tôi có thể đoán là ông rất ngạc nhiên và thích thú. Ðêm ấy SuTi có mang đến mấy chục chai rượu để giúp cho cuộc đấu giá, và đã được quân ta ủng hộ nồng nhiệt. Thậm chí anh Tiến phải chạy về nhà để lấy thêm, làm quà tặng cho Ðức Cha và các anh chị em trong ban tổ chức.

Mẻ rượu đêm ấy là mẻ rượu mới nhất, đã được “chỉnh trang” lại sau khi nhận được những lời khuyên chân thành từ ADI. Tuy không phải là dân nếm rượu chuyên nghiệp, nhưng tôi phải công nhận nó nhẹ và êm hơn mẻ #55 được gởi dự thi. Tôi tin rằng với đà này, rượu đế Ông Già sẽ ngày càng ngon hơn, và chiếc huy chương Double Gold là điều hoàn toàn trong tầm tay với. Thành thật chúc mừng cho hai lò rượu Vena và SuTi, và hy vọng chúng ta sẽ còn được thưởng thức nhiều chai rượu ngon nữa từ tay các nhà thủ công người Việt.

Sản phẩm mới nhất: “Whisky Phượng Hoàng”, làm từ gạo, vừa mới ra lò. Nguồn: SuTi

IB

Phụ nữ phi thường

baotreonline.com

Ian Bùi

August 9th, 2024

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Paris 2024 đánh dấu một mùa Thế Vận Hội đầy kỳ tích cho các nữ lực sĩ đến từ khắp nơi trên thế giới. Từ nước giàu nhất đến nước nghèo nhất, nhìn đâu cũng thấy các kỷ lục mới được liên tục lập nên và phá vỡ. Simone Biles (trái) trở thành nữ lực sĩ gymnastics với nhiều huy chương nhất trong lịch sử (9), và Sunisa Lee (phải) là người H’Mong duy nhất sở hữu hai HC Vàng, một HC Bạc, một HC Đồng.

Ảnh: AP       

Trong cuộc chạy đua 100m, mệnh danh người nhanh nhất hành tinh, Sha’Carri Richardson (trái) và Melissa Jefferson (phải) của Mỹ đã bị qua mặt dễ dàng bởi Julien Alfred của Saint Lucia, một đảo quốc trong vùng Caribe gần Nam Mỹ. Saint Lucia chưa bao giờ thắng bất cứ huy chương Olympics nào. Đây là lần đầu tiên quốc kỳ và quốc ca của Saint Lucia được trổi lên tại Thế Vận Hội, thật là một niềm hãnh diện cho 180,000 cư dân trên hòn đảo nhỏ bé này!

Ảnh: David Phillip/AP

Cuộc thư hùng trong hồ bơi giữa hai đội kình ngư Mỹ/Úc đã không gây thất vọng, với kết quả nghiêng ngửa 8/7 HC Vàng cho Mỹ. Mỹ cũng thắng tổng cộng 28/18 huy chương cả thảy. Tuy nhiên lần này đội Nam chỉ giành được 1 HC Vàng, trong khi đội Nữ thắng đến 4. Riêng Katie Ledecky của Mỹ còn là nữ lực sĩ bơi lội đoạt nhiều huy chương nhất trong lịch sử Olympics (14), với 9 chiếc HC Vàng.

Ảnh: Tsvangirayi Mukwazhi/AP

Trong mục bắn cung, Nam Hàn chứng tỏ họ vẫn là nhà vô địch không có đối thủ, với chiếc HC Vàng Nữ đồng đội thứ mười trong 10 giải Olympic liên tiếp! Riêng tại Paris, Nam Hàn thắng 5 HC Vàng, 1 HC Bạc, 1 HC Đồng trong tất cả các nội dung, kể cả Nam Nữ hỗn hợp. Có thể nói bắn cung là một trong những môn thi cổ xưa nhất của con người, với nguồn gốc đến từ săn bắn và chiến tranh. Đáng lý đây phải là môn thể thao được người Việt đầu tư vào nhiều hơn, vì nó không đòi hỏi phải có thể lực hay cao to như nhiều môn khác. Bằng chứng là các nữ lực sĩ Hàn tuy nhỏ nhắn, gọn xinh nhưng bắn rất chính xác.

Ảnh: Yonhap News

Đáng kinh ngạc nhất, và cũng vẻ vang nhất, phải kể đến chiến thắng ngựa về ngược của đội Rugby Sevens của Mỹ trong trận HC Đồng trước đối thủ nặng ký Úc. Bị gác 12-7 với chỉ còn 10 giây, Alex Sedrick của Mỹ đã liều mạng ôm banh chạy gần hết chiều dài sân banh trong sự ngỡ ngàng của đội tuyển và huấn luyện viên Úc. Rugby là môn thể thao khá xa lạ với khán giả Mỹ, và các lực sĩ nữ này phần lớn không được trả tiền để chơi. Thậm chí cách đây không lâu đa số còn phải *đóng tiền* để được chơi trong đội tuyển quốc gia. Sau chiến thắng, hiệp hội Rugby của Mỹ đã nhận được 4 triệu Mỹ kim từ nữ doanh nhân Michele Kang để giúp đào tạo nhân tài và chuẩn bị cho TVH 2028 tại Los Angeles.

Ảnh: Carl De Souza/AFP

Bắn súng cũng là một môn thi không đòi hỏi thể lực mà người Việt có thể dư sức cạnh tranh ngang hàng với thế giới. Song từ trước tới nay vẫn chưa có tay súng người Việt nào thắng Olympic. Trong khi đó tại Paris 2024 Adriana Ruano Oliva (trong ảnh) đã làm nên lịch sử khi cô trở thành nhà quán quân TVH đầu tiên đến từ Guatemala – một quốc gia vùng Trung Mỹ dân số chưa đầy 20 triệu và thu nhập bình quân chỉ khoảng $5,800 mỗi đầu người. Oliva đoạt HC Vàng trong nội dung Trap Shooting, tức bắn dĩa — một môn chơi cực kỳ vui mắt vì xạ thủ phải nhắm bắn một chiếc dĩa bằng đất nung được phóng lên không trung!

Ảnh: Photosport

Đánh kiếm cũng là một môn thể thao có nguồn gốc chiến tranh. Và như ta biết, Olympics 2024 diễn ra trong lúc Âu Châu đang sôi sục bởi cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine. Vì vậy mà tại TVH năm nay các lực sĩ Ukraine đều thi đấu trong tâm trạng căng thẳng hơn hầu hết những lực sĩ khác. Mọi nỗ lực của họ, dù nhỏ cách mấy, cũng được khán giả trên thế giới ghi nhận và ủng hộ nhiệt tình. Khi đội kiếm nữ của Ukraine đoạt HC Vàng và hát quốc ca trên bục, những giọt nước mắt của họ chắc chắn không chỉ đến từ niềm vui chiến thắng mà còn đại diện cho bao mất mát và đau thương của người dân Ukraine.

Ảnh: Getty Image

Trong tất cả các lực sĩ Ukraine tham dự TVH năm nay, người được chú ý nhiều nhất có lẽ là Yaroslava Mahuchikh, chuyên gia môn nhảy cao đang giữ kỷ lục thế giới sau giải điền kinh quốc tế hồi đầu năm. Mahuchikh nói mỗi khi cô phải đụng độ các lực sĩ Nga, cô luôn nghĩ đến bao nhiêu người Ukraine đã bỏ mình trong cuộc chiến phi nghĩa của Putin. Điều này không những làm tăng áp lực mà còn khiến cô tập trung nhiều hơn nữa. Tại Paris 2024 Mahuchikh đã đạt được mục đích với chiếc HC Vàng, trước sự ngưỡng mộ của cộng đồng thể thao nói riêng và của cả thế giới nói chung.

Ảnh: Kirby Lee/USA Today

Từ Texas đến Paris

baotreonline.com

Ian Bùi

August 16th, 2024

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Ảnh: Patrick Smith

Thế Vận Hội Mùa Hè Paris 2024 đã kết thúc. Hoa Kỳ một lần nữa đứng đầu bảng với tổng cộng 126 chiếc huy chương (40 Vàng, 44 Bạc, 42 Đồng). Nhưng nếu Texas là một quốc gia riêng biệt, số huy chương của các lực sĩ đến từ đây cũng không phải ít – 44 huy chương (18 Vàng, 15 Bạc, 11 Đồng), tức hạng 7 sau Nhật (45 HC) và trên Ý (40HC). Hai người trong đội Gymnastics Nữ là Hezly Rivera (Plano, TX) và Simone Biles (Spring, TX) thắng HCV.

Từ trái: Jordan Chiles, Hezly Rivera, Jade Carey, Simone Biles và Sunisa Lee (Charlie Riedell/AP)       

Riêng điền kinh đã có đến 11 lực sĩ từ Texas với 18 huy chương các loại, trong đó hết 10 chiếc là HCV. Nổi bật nhất là các gương mặt như Sha’Carri Richardson từ Dallas (1 Vàng, 1 Bạc), Tara David-Woodhall từ Frisco (1 Vàng), và Ryan Crouser (1 Vàng) từng chơi cho đại học UT Austin… Nhưng đáng nể hơn hết chắc phải là Gabrielle Thomas, hiện đang sống và làm việc tại Austin. Gabby tốt nghiệp Harvard ngành sinh học thần kinh, sau đó lấy thêm bằng thạc sĩ dịch tễ học tại UT Austin. Ban ngày luyện tập chạy đua, ban đêm cô làm việc thiện nguyện ở một trạm y tế dành cho người nghèo không có bảo hiểm. Tại Paris 2024, người đẹp văn võ song toàn này đã ẵm 3 chiếc HCV!

Trong bơi lội, các lực sĩ có mối liên hệ với Texas cũng kiếm được 13 huy chương cả thảy (2 Vàng, 8 Bạc, 3 Đồng). Cần nói thêm rằng không phải tất cả các huy chương này đều vào tay Hoa Kỳ. Hubert Kos chuyển trường từ Arizona sang UT Austin để tập với HLV lừng danh Bob Bowman, nhưng lại thi đấu cho đội Hung Gia Lợi và thắng 1 HCV. Bob Bowman từng là HLV cho nhà vô địch Michael Phelps, và tại Paris ông còn có một tay học trò rất giỏi bơi cho đội Pháp tên là Leon Marchand với kỳ tích 4 chiếc HCV. Trong ảnh là Nic Fink trong trận bơi ếch 100m mà anh đoạt huy chương Bạc. Năm nay đã 31 tuổi và hiện đang làm kỹ sư điện tử tại Dallas, Fink còn là lực sĩ lớn tuổi nhất thắng huy chương bơi lội trong lịch sử thế vận hội.

Ảnh: Martin Meissner / AP

Tại giải bóng tròn World Cup Nữ hồi năm ngoái, Mỹ đã bị loại ê chề sau khi chỉ thắng một trận duy nhất nhờ đánh bại Việt Nam trong vòng bảng. Lần này, với huấn luyện viên mới và dàn cầu thủ trẻ trung hơn, Mỹ đã lấy lại được phong độ và phục hồi danh dự với chiếc huy chương Vàng sau khi hạ thủ Brazil 1-0 trong trận chung kết cực kỳ gay cấn. Đặc biệt hơn cả, đội Mỹ năm nay có một nữ cầu thủ mẹ Việt cha Mỹ tên Jaedyn Shaw, đến từ Frisco, Texas (hàng đầu, thứ tư từ phải). Jaedyn là cầu thủ gốc Việt đầu tiên chơi cho đội tuyển bóng tròn Hoa Kỳ tại Olympics, và cũng là người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt huy chương Vàng.

Ảnh: Isabel Infantes /Reuters

Trong một sự kiện gây chấn động khắp thế giới, một cặp vợt của Mỹ đã đánh bại hai tên tuổi lớn trong giới quần vợt là Rafael Nadal (phải) và Carlos Alcaraz của Tây Ban Nha trong trận tứ kết Đôi Nam. Rajeev Ram (trái) và Austin Krajicek đã làm nên lịch sử khi loại Spain khỏi vòng chiến và kết thúc sự nghiệp vẻ vang của Nadal. Krajicek là cư dân Plano, Texas, và từng chơi cho đại học Texas A&M. Tuy không nổi tiếng lắm, nhưng Krajicek là một chuyên gia đánh đôi rất khá, từng được xếp hạng #1 trên thế giới. Rất tiếc anh và Ram không tiến vào được trận chung kết, song cặp bài trùng này vẫn mang về được cho Team USA một chiếc huy chương Đồng.

Ảnh: Kirby Lee / USA Today Sports

Paris 2024 cho thấy vùng Bắc Texas quả là một cái nôi đào tạo rất nhiều lực sĩ Olympics, không thua gì Cali. Đặc biệt các trường đại học như UT hay A&M thu hút được khá nhiều lực sĩ sinh viên. Nhiều người về sau trở thành thể tháo gia chuyên nghiệp, như danh tài bóng rổ Kevin Durant (HCV TVH 2012, 2016, 2020, 2024). Tuy nhiên so với thế giới thì Mỹ nói chung không mạnh về môn thể dục dụng cụ Nam. Cho nên kỳ này dân Mỹ rất vui mừng khi đội tuyển Nam của Mỹ đoạt được một chiếc huy chương lần đầu (Đồng) kể từ năm 2008. Và người có đóng góp đáng kể trong chiến thắng bất ngờ ấy là một cư dân Plano tên Asher Hong, năm nay mới 20 tuổi.

Ảnh: Naomi Baker

Thế Vận Hội luôn thay đổi theo thời gian với nhiều môn thi mới như kayak cross hoặc break dancing. Nhiều môn khác đã không còn nữa như baseball, softball… Đầu thế kỷ 20, Olympics còn có những môn thi lạ lùng như chữa cháy (firefighting), kéo dây (tug-of war). Leo nhanh (speed climbing) cũng là một bộ môn tương đối mới trong Olympics. Sam Watson, một học sinh 18 tuổi đến từ Westlake, một thành phố phụ cận trong vùng Dallas-Fort Worth, đã lập nên kỳ tích khi anh tự phá vỡ kỷ lục quốc tế của chính mình hai lần, mặc dù cuối cùng cũng chỉ đoạt được chiếc HCĐ. Thế Vận Hội quả là nơi xảy ra vô số chuyện khó tin nhưng có thật.

Ảnh: Jack Gruber/USA TODAY Sports

Paris 2024 là lần thứ ba golf có mặt tại Olympics. Lydia Ko của New Zealand trở thành người duy nhất thắng huy chương môn này 3 lần liên tiếp – Bạc và Đồng 2 lần trước, và Vàng năm nay. Thật là một thành tích khó thể qua mặt. Trong khi đó Lilia Vũ của Mỹ (từ Nam Cali) đã về tay không. Bên Nam, tay golfer số một thế giới Scottie Scheffler đã khiến mọi người sửng sốt khi anh chuyển thua thành thắng với 6 trái birdies trong 9 lỗ cuối cùng của hiệp 4 để mang về cho Uncle Sam thêm một chiếc HCV. Trên bục nhận giải, chàng cư dân Dallas này đã không cầm được nước mắt khi nghe bản quốc ca.

Ảnh: NBC Sports

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

11. Tình cũng bạt mạng

Sau vài tiếng gió xì xì, một giọng nói khàn khàn phát ra từ speaker máy PRC25 liên lạc nội bộ:

– Thiên Nga, Thiên Nga, đây Tango!

– Thiên Nga nghe Tango nào?

– Tango, Trưởng Ban Tiếp Tế, xin gặp Đại Bàng 1.

– Tango chờ…

Hạ sĩ Nguyễn Hiệp truyền tin quay qua tôi:

– Trung sĩ Tam muốn thưa chuyện với Đại Bàng.

– Tao nghe rồi, đưa đây!

Tôi nắm ống liên hợp:

– Nghe Tango!…

– Trình Việt Quốc, cho ghe vô đường chỉ đỏ nhận hàng và lính bổ sung.

– OK! Tango nói Hạ sĩ Tuy của Đống Đa 1 chia lương thực trước cho những ai có mặt tại chỗ để họ giữ an ninh bến. Dứt!

Trung sĩ Hơn nhận nhiệm vụ chỉ huy năm Biệt Động Quân, phân công hộ tống năm ghe do các bác ngư phủ chèo, chở hai binh sĩ chết và một bị thương, với mấy cây súng của Đại đội 2 qua bên kia đầm. Trung sĩ Thuận thì lo hướng dẫn các cư dân đào huyệt chôn 27 xác Việt Cộng. Có nhiều thây không còn nguyên vẹn, tôi bảo họ tìm ghép lại các phần tứ chi đã đứt lìa và chôn riêng mỗi người một mộ, nằm quay đầu vào chân đồi, cũng là hướng về phương bắc, nơi quê hương của những người vừa nằm xuống. Tôi tới góc đầm đứng quan sát các công việc đang diễn tiến. Dù đơn giản và vội vàng giữa lúc tiếng súng còn nổ vang trên triền núi có độ cao 94 mét bên cửa khẩu Sa Huỳnh, 27 tử thi vẫn lần lượt hạ huyệt chu đáo.

Nhớ hồi còn đi học, tôi có đọc, hình như trong “Tâm Hồn Cao Thượng” của Hà Mai Anh, một câu chuyện về những anh hùng trận mạc. Hai người lính khác chiến tuyến, khi xáp lá cà cả hai đều bị thương nặng nằm gục kế bên, họ gác bỏ hận thù để cứu giúp nhau… Bài học ấy nhắc nhở, tôi nghĩ bụng:

“Đây, những kẻ sinh Bắc tử Nam, vì sai lầm hoặc bị cưỡng bách theo chế độ Cộng Sản Hà Nội, phá nước hại dân, đắc tội với Tổ Quốc. Tôi, Trần Thy Vân, một cấp chỉ huy trận đánh tái chiếm Sa Huỳnh, nhơn danh các chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, xóa bỏ hận thù 27 cán binh này đã đền tội được chôn cất tử tế, an giấc nghìn thu”.

Xong, việc ai nấy tiếp tục, tôi mang súng ra phía biển bắn dừa tươi lấy nước uống. Nhật Thám Báo đi theo. Thầy trò dở quá, nhắm chẳng trúng cái cuống, viên đạn lệch làm bể mấy trái vung vãi nước hết. Tôi định bảo Nhật trèo hái cho chắc ăn thì Hiệp truyền tin vừa xách cái máy chạy ra vừa reo lên:

– Đại Bàng, Đại Bàng!…

– Cái gì?

Hiệp nhảy tưng tưng:

– Anh Trung, anh Xá trong quốc lộ gọi Đại Bàng.

Nghe hai đệ tử xuất viện tôi mừng, vội nắm ống liên hợp:

– Nghe Trung!

– Đại Bàng khỏe không?

– Nếu không, tao đã gặp mày tại bệnh viện rồi. Các sĩ quan thế nào?

– Chỉ một mình Thiếu úy Đặng văn Thiều, ông đang giúp phân phát lương thực đây, còn mấy vị kia chưa xuất viện. Đại Bàng có tin vui…

– Tin gì nói coi.

Trung ngập ngừng:

– Lát nữa… Đại Bàng gặp mà, vui lắm!…

Nóng lòng, tôi làm bộ dọa:

– Để lát nữa thì mày ăn đòn…

Trung cười:

– Dạ, Chị Nhị! Chị Nhị vô thăm Đại Bàng, rồi chiều về với Trung sĩ Nguyễn Đựng.

Tôi giựt mình:

– Ai dẫn cô ấy đi vậy? Mày biết ở đây thế nào không?

– Nghe rầy, chị khóc đó. Thôi, cho vô nghe Đại Bàng?

– Ừ, lẹ đi! Xuống ghe ngồi cẩn thận!

Sẵn bọn lính đứng chơi trước mặt, tôi bảo:

– Anh em lên nói toán tiền đồn hãy mang súng đi cặp bìa đồi giữ an ninh trên cao gấp, cho ghe tiếp tế bơi ra.

Mới nghe lệnh, Trung sĩ Nhật Thám Báo đã tự nguyện cắm đầu chạy như tên bay. Đoàn ghe đã rời bến. Qua ống dòm tôi quan sát từng chiếc chở đầy khẳm lính cùng đồ tiếp tế, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng một phụ nữ nào. Ngoài các ngư phủ chèo lái mặc đồ đen dân sự, còn thì quần áo màu hoa rừng hết, cả mấy người cầm giầm trước mũi cũng Biệt Động Quân luôn. Lạ! Hay Nhị nghe rầy rồi ở lại trên bờ? Nếu thật, vùng đất này vô nghĩa.

Rất tiếc việc quan trọng như vậy mà tôi không bảo anh em đem theo cái máy PRC25 để liên lạc. Tôi than thở cùng Hiệp truyền tin:

– Sao tao chẳng thấy Nhị, mày Hiệp!

Hiệp trố mắt nhìn đăm đăm các chiếc ghe đang bềnh bồng trên sóng nước, rồi cũng chép miệng:

– Không thiệt, Đại Bàng ơi!

Viên truyền tin vừa nói vừa lắc đầu lia khiến tôi càng buồn như mới đánh mất một vật gì quý giá lắm. Thà nàng đừng đến bên kia để tôi bên này khỏi ngẩn ngơ mong đợi và tuyệt vọng. Buồn tình tôi trở vào nhà và định nhờ Vinh treo cái võng để ngủ một giấc, thì nghe dưới bến nước có tiếng ồn ào, rồi người đầu tiên vội vàng chạy lên, đứng nghiêm đưa tay chào:

– Em, Hạ sĩ Huỳnh văn Trung, trình diện Đại Bàng!

Tôi vỗ vai Trung:

– Gặp lại mày và Xá tao rất vui. Còn Nhị sao không qua?

Người đệ tử trung thành giương to đôi mắt:

– Dạ có! Cô “nữ quân nhân” yếu quá, mới xuống ghe ngồi một chút đã say sóng…

Tôi vội quay ra. Nhị, trong bộ quân phục hoa rừng của Biệt Động mới toanh, vừa vặn, chân mang đôi bata, đang mỉm cười đi giữa Trung sĩ Nguyễn Đựng, hậu cứ, và Thiếu úy Đặng văn Thiều về hướng tôi. Vì trước mặt 20 người lính bổ sung, tôi cố giữ thái độ bình thản nắm tay Nhị:

– Lúc nào em cũng gan đầy mình.

Nàng nhìn tôi trân trân:

– Nhớ anh quá à! Nghe tái chiếm được Sa Huỳnh đồng bào ngoài đó họ bàn tán xôn xao và mừng lắm!

– Ừ, nhớ quá nên em quên nguy hiểm, có ngày chết. Thôi, em vô trong nói chuyện với chú Hiệp. Anh còn giải quyết vài công việc.

Tôi quay qua hỏi thăm Thiều và Đựng:

– Hai anh khỏe chứ? Riêng Thiều chóng bình phục tôi vui. Ủa, không nghỉ phép xuất viện 15 ngày sao?

Vị Đại đội phó mỉm cười:

– Biết quân số Đại đội thiếu hụt, tôi lên hành quân tốt hơn về Sài Gòn chơi vô ích. Có 19 người lính cũ và tân binh đang chờ trình diện Đại Bàng.

Trước khi theo Thiều ra ngoài, tôi nói Hiệp:

– Đưa chị Nhị dạo một vòng quanh Bộ Chỉ Huy chơi. Tiện thể nói Vinh chuẩn bị cơm nước tiếp khách.

Dứt lời tôi đi thẳng tới đám lính bổ sung đứng sắp hàng nơi khoảnh đất trống. Vì đa số khuôn mặt lạ, vừa xuất thân trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, tôi vồn vã hỏi thăm như tình anh em để họ bớt lo sợ ngày đầu đáo nhậm đơn vị ngay tại mặt trận thế này. Tôi cũng không quên cười đùa một chút với mấy chú lính vừa xuất viện, sau vụ bị thương do trực thăng bắn nhầm, mà mỗi lần nhớ tôi còn tức giận. Rồi tôi cho các thẩm quyền nhận lại số người cũ của Trung đội họ, và có thêm mới để các thành phần tương đương nhau. Đại đội vẫn giữ nguyên trạng, BCH và hai trung đội, dù khả năng tham chiến đã tăng lên 70 tay súng. Đồ tiếp tế kỳ này cũng chỉ thực phẩm, đạn dược căn bản, được phân phát ngay.

Trung và Xá khiêng bộ phản ra kê bên gốc dừa, ngồi dùng cơm. Các món ăn tuy đơn sơ nhưng rất “tươi” như ở thành phố, vì mới tiếp tế. Tôi, Thúy úy Thiều, Trung sĩ Đựng, và đặc biệt có cô “nữ quân nhân” bất đắc dĩ nữa, quây quần chung quanh. Tôi cũng không quên nhắc nhở Xá lo phần cơm nước đầy đủ cho ông bạn tù Nguyễn Thành Công, một cán binh Bắc Việt, lại được may mắn “sa cơ thất thế” rơi vào tay đơn vị “nghệ sĩ” Biệt Động Quân này.

Mọi người vừa ăn vừa nói huyên thiên, làm rộn rã con xóm chài vốn yên tịnh dưới những hàng dừa xanh mượt, và chỉ có sóng biển lao xao ngoài bãi cát.

Tôi nhìn Nhị với mái tóc rối phủ xuống nửa khuôn mặt:

– Ai rủ em đi?

Nhị liếc mắt qua Trung ngồi ăn bên cạnh:

– Mấy chú lính chạy xe Jeep vô thăm mẹ, gặp dịp em quá giang. Trung sợ anh rầy, nói khi đến Đức Phổ rồi hãy gọi máy xin phép anh.

Tôi cười:

– Sao không để vào tận nơi xin luôn? Bộ tưởng đây an toàn lắm hả? Lát nữa anh đưa em ra coi 27 thây ma Việt Cộng, bị bắn chết hôm qua, mới chôn một dãy dài tòn ngoài kia kìa!

Nhị lắc đầu:

– Thôi, em sợ…

– Còn bộ quần áo lính ở đâu em diện đẹp vậy?

Với cử chỉ ngây thơ nàng vừa cúi nhìn chiếc áo hoa rừng đang mặc vừa đáp:

– Của chú Trung, nhờ nó mà em đi lọt. Anh biết hôn, Biệt Động Quân ở các trạm kiểm soát nhìn em chòng chọc, còn hỏi kỹ nữa. Trung nói họ em là dzợ Trung úy Vân, họ mới chịu…

– Họ chịu em là dzợ anh, hay chịu cho đi?

Nhị vừa cúi xuống vừa lấy tay che miệng cười:

– Chịu cả hai…

Tôi vuốt tóc Nhị như buổi đầu tiên gặp nàng:

– Em quá trời rồi đó! Bây giờ, mặc đồ Biệt Động nên uống chút bia, một ngụm thôi!

Nhị ngoan ngoãn cầm lon bia của tôi đưa lên môi, đôi mắt nheo lại như ăn đồ chua. Dễ thương! Cơm nước xong Thiều và Đựng lấy cớ tới hỏi chuyện người tù Nguyễn Thành Công, để tôi và Nhị tự nhiên tâm tình. Nhưng đã trót mang nghiệp lính, một đời giong ruổi khi quê hương chiến tranh còn tàn khốc thì chẳng có gì riêng tư, hứa hẹn. Nhị thông minh thừa hiểu điều đó nên cũng đồng lõa yêu cuồng sống vội.

Tôi đưa nàng ra sau bãi biển, hai đứa ngồi nhìn sóng nước mênh mông, trải rộng một màu xanh thẳm đến chân trời.

Trung cao bồi chẳng tâm lý chút nào, cứ giữ thói quen bảo vệ, lại dẫn theo ba người, cầm súng đi tới phá rầy:

– Tụi em bắn dừa Đại Bàng và chị Nhị ăn, nghen?

Tôi lắc đầu:

– Bắn bể hết, mày chịu khó trèo lên bẻ.

Trong lúc chờ Trung hái dừa, tôi nảy ra ý kiến tập Nhị bắn M16. Nàng vui vẻ bằng lòng, không chút do dự. Với thế đứng, Nhị giương súng nhắm một vỏ ốc vôi dưới chớn nước rồi thản nhiên bóp cò. Tiếng nổ làm nàng ngã lui vô tôi đang đứng sau lưng, viên đạn thì bay vèo đâu không biết. Nhị khoái chí cười ngất nghểu. Tôi bắt tập lại. Lần này nàng kẹp hông khẩu súng có vẻ thiện nghệ, chơi “ra phanh” luôn hằng chục viên…

Bỗng Nhị ngưng bắn, quay qua nhìn tôi, làm nũng:

– Anh ở sau ôm em mới được.

– Trời! Bắn súng mà còn có người ôm, chắc bọn Việt Cộng chết sớm hết quá! Rồi, chuẩn bị…

Nàng giẫy giụa:

– Ôm vậy nhột sao em bắn, anh nghịch quá à!

Tôi cười khật khật và cúi hôn vào cổ nàng:

– Thôi, không giỡn nữa, bắn đi!

Thấy Nhị bặm chặt môi dữ quá, tôi vội nắm cứng cây M16, nhưng chưa gì nàng đã siết cò, một tràng liên thanh chát chúa, đạn phun ra tá lả tới chớn nước, sủi tung cát bụi mịt mù. Con ốc vôi trước mặt làm mục tiêu vẫn còn nguyên, trắng phếu.

– Em bắn hay thiệt, con ốc nó cười kìa!

Nhị, một tay áp khẩu súng vào lồng ngực, tay kia vén mấy sợi tóc quyện trên môi, đôi mắt tròn xoe, lóng lánh:

– Nếu có thằng Việt Cộng đứng đó thử, chết liền chớ bộ!

Tôi trả cây súng lại cho Trung, rồi ôm Nhị vào lòng:

– Đã chưa?

– Thôi đi vô, anh!

– Nhưng mà đã chưa?

Nàng vòng hai tay ghì cổ tôi xuống hôn:

– Đã, hỏi hoài!

Hai đứa thấm ý cười và vừa uống hết ca nước dừa thì Hiệp chạy đến đưa máy:

– Đại Bàng tiếp chuyện Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng.

Tôi cầm ống liên hợp:

– Nghe Trùng Dương!

Giọng Thưởng có vẻ khẩn cấp:

– Đêm nay hai Đại đội 3, 4 tấn công ngọn 94 cửa khẩu. Bí đường Việt Cộng đã chạy lên đó. Lát nữa gia đình Việt Quốc move về hướng tôi, khi gặp cái nghĩa địa gần chân đồi, dừng lại đóng quân.

– Đáp nhận!

Nghe sắp di chuyển, Trung sĩ Đựng nói:

– Trình Trung úy ký các hồ sơ và cho phép tôi về sớm.

Tôi hạ bút ký một hơi, chẳng buồn xem kỹ mớ giấy tờ như thường lệ. Xong, tôi bảo toán Thám Báo lấy ghe và đem theo cái máy PRC25, đưa Nhị cùng Trung sĩ Nguyễn Đựng qua bên kia bờ đầm. Chợt nhớ lời hứa với chú lính khinh binh Nguyễn Mẫn hôm mùng Một Tết, tôi kêu cho anh ta 4 ngày phép đặc biệt vợ sinh. Mặc dù tôi nghĩ vì cuộc hành quân này còn kéo dài, đầy gian nguy, nay có dịp về thăm gia đình ở Tùng Nghĩa Lâm Đồng, Nguyễn Mẫn có thể đào ngũ luôn không chừng. Nhưng Mẫn cũng là một chiến sĩ xuất sắc phải được ân thưởng công bằng. Ngoài số lương hậu cứ sẽ ứng trước, Mẫn còn may mắn được chia thêm một ngàn đồng nữa, tiền của toán Thám Báo tịch thu Việt Cộng lúc sáng. Mẫn mừng quýnh, như vừa thoát chết, vội đùm túm ba lô súng đạn chạy thẳng xuống bến quên cả việc trình diện tôi để nói một lời từ giã.

Tôi quay qua Nhị, trông nàng có vẻ buồn như lúc chia tay lần trước ở Quán Hồng:

– Đơn vị sắp đi, em về, nghen! Anh gởi lời thăm mẹ.

Nhị nắm tay tôi:

– Em theo anh không được sao?

– Không được đâu, nguy hiểm lắm!

Mặt nàng phụng phịu:

– Lần nào cũng biểu về sớm. Đi cẩn thận, nghe hôn!

Tôi đưa Nhị vừa tới bến, nàng lại dùng dằng muốn đổi ý. Tôi vờ làm nghiêm, nói nhỏ vào tai nàng:

– OK, kỳ sau anh cho em ở chơi hai ba ngày luôn. Kìa, em thấy không, tụi lính đang dòm, anh hôn em không được.

Nhị cười. Tôi ẵm Nhị ra ghe để ngồi vào khoang giữa. Hai đứa miễn cưỡng vẫy tay chào tạm biệt trong lúc bác ngư phủ chống sào xuống bờ quay mũi hướng tây. Tôi đứng trông theo, bỗng nhiên lòng tôi xao động, không muốn ở đây thêm chút nào, để khỏi nhìn lại những gì không phải của ngày đầu xuân yêu dấu với những nụ hoa vàng, ánh mắt long lanh. Phút chốc, khuôn mặt dễ thương của nàng đã mất dạng, chiếc ghe cũng nhỏ dần, chỉ còn một chấm đen nhấp nhô trên sóng nước màu trời, bàng bạc bóng mây muôn hình vân cẩu.

Đại đội cũng bắt đầu rời khỏi con xóm tiến về hướng nam. Lâu lắm, từ ngày triệt thoái khỏi Quảng Trị, nay đơn vị mới có dịp di hành dọc theo bờ biển đêm thanh bạch. Những hàng dương yểu điệu, tưởng chừng như bao chiếc lược chải gió vi vu, những ngọn sóng bạc đầu nhịp nhàng vỗ vào bãi cát đầy trăng lung linh và huyền ảo…

Tôi đang hồi tưởng, thả hồn về lại buổi chiều êm đềm, thì một tràng súng nổ vang phía trước, làm tan biến bao hình ảnh đẹp. Lính tự động dạt ra hai bên.

Trung đội trưởng Trung đội 1 gọi báo lui:

– Trình Đại Bàng, vừa bắn ngã hai tên Việt Cộng.

– Có súng không?

– Chưa biết, xác nằm dưới chớn nước.

Tôi bảo Trung sĩ Thuận:

– Cho anh em tới thêm trăm mét bố trí rồi ra lục soát.

Ba người lính lom khom đi xuống bãi:

– Có hai AK, Thẩm quyền!

– Cầm vô, lẹ đi!

Hiệp trình:

– Nghe tiếng súng, Bộ Chỉ Huy lớn hỏi, em đã báo kết quả. Trùng Dương nói Việt Cộng đang cố tìm cách thoát khỏi vùng này, mình nên lưu ý mặt sau.

– Ừ, bảo Trung đội đầu tiếp tục di chuyển. Còn Trung canh chừng tù binh Nguyễn Thành Công.

Một lát, Thuận gọi:

– Trình Đại Bàng, đã đến nghĩa địa.

Tôi ra lệnh:

– Anh rải lính bố trí mặt tây, Trung đội 2 của Hơn nối tiếp bên phải, bao ngược phía mặt bắc, phần tuyến còn lại thì toán Thám Báo. Tất cả ôm vòng quanh nghĩa địa, khỏi cần đào hố cá nhân, để tránh đụng chạm mả mồ. Mỗi Trung đội đặt một tiền đồn ngay trước.

Hôm nay có thêm hai đệ tử Trung và Xá, thầy trò cùng ban truyền tin vào trải poncho nằm cạnh một cái mả giữa bốn bức tường cao một thước. Tuy không tráng đá li tô hoa hòe rực rỡ như kim tĩnh, nhưng ngôi mộ sạch sẽ, nước vôi chưa tróc, sáng trưng dưới trăng thanh gió mát. Vì đêm tối tôi không đọc được trên tấm bia của người chết khắc tên gì, già hay trẻ. Biết đâu kẻ bạc mệnh là một trinh nữ, sinh thời cũng dịu hiền, yêu đời lính quá gian truân, yêu cả những đóm mắt hỏa châu thế này.

Chiến tranh đã dạy cho người lính nhiều cái quái đản, phải chọn điều mà đời thường không thể lấy đó làm vui.

Ước chi đêm nay có bàn cầu cơ, để hỏi “người ấy” chuyện hão huyền, nơi thế giới vô hình, như Thiếu úy Nguyễn Sang thường chơi. Tôi nhớ ngày Đại đội 2/21 Biệt Động dừng quân ở thôn Cẩm Văn, gần đồi Bồ Bồ Đà Nẵng, Sang sai lính kiếm một miếng nhỏ của gỗ hòm về gọt thành hình quả tim và một tờ giấy ghi 24 chữ cái, với sáu chữ: Tiên, Phật, Thánh, Thần, Ma, Quỉ. Đến khuya ông thắp nhang, rồi bảo Thiếu úy Phước, Trung úy Ẩn và tôi, mỗi người đặt một ngón trỏ lên quả tim, gọi là cơ. Sang khấn lâm râm, đọc “thần chú”, nhưng vái hoài mà chẳng thấy động tĩnh gì hết. Nghĩ tại mấy thằng lính ngồi xem lại cười khúc khích làm mất linh nên Sang bực mình đuổi tụi nó ra ngoài, thì cơ rục rịch, có “ai” về. Chắc hồn ma bóng quế này bị bệnh hoạn, đi chậm rì. Riêng tôi không xạo rồi, đặt ngón tay nhẹ nhàng. Còn Ẩn, miệng cứ mủm mỉm, mấp máy, muốn phì cười to. Một lát cơ trườn tới, chạy quanh chữ “Quỉ” mãi, như gà mắc đẻ. Thiếu úy Phước lắc đầu lia lịa, tỏ ý chê thằng “quỉ” nào nhập ẩu. Tôi nói: “Kệ cha nó, Phước! Quỉ sứ hay cô hồn gì cũng được, miễn nhập vào là vui rồi. Sang tiếp tục vái cầu đi!”. Quách Ẩn nín hết nổi, thình lình ngã ngửa ra sau ôm bụng cười khật khật, chân thì đạp tung bàn cơ, nhang đèn văng tuốt ngoài trại, khiến tụi lính xúm xem quá trời…

Nằm nhớ chuyện vui và nghĩ bậy bạ trong đầu, tôi nổi cười như Quách Ẩn trong đêm vắng. Tưởng đâu tôi bị ma ám, cao bồi Trung mất hồn, vội hỏi:

– Cái gì Đại Bàng cười ghê vậy?

Tôi ngồi phắt dậy, vờ nhún vai:

– Cho tao nằm giữa đi, khiếp lắm!

– Trời, Đại Bàng sợ ma hả?

– Ừ, mày lấy C4 nấu cà phê gấp, kẻo tao run lập cập đây nè. Hỏi Thiếu úy Thiều còn thức, muốn uống không, làm luôn hai ly!

Trung biết tôi đùa, vừa nhe răng cười vừa lòm khòm ngồi dậy đúng lúc các đại đội bắt đầu nổ súng đột kích lên đỉnh 94, nơi cửa khẩu, như Thiếu tá Thưởng nói hồi chiều. Hạ sĩ Hiệp chụp ống liên hợp áp vào tai.

Tôi bảo Văn nội bộ:

– Gọi máy dặn chừng các trung đội, Thám Báo luôn cả tiền đồn canh gác cẩn thận.

Xong, tôi nói mấy người lính chung quanh:

– Ở đây tao không ngán nữa. Bây giờ đứa nào gồng mình kể chuyện ma nghe chơi…

Mấy thầy trò tôi đang đùa giỡn cho bớt căng thẳng thì bỗng đâu Thiếu úy Thiều từ ngoài bức tường nhảy vọt vô cái bịch, làm ba thằng lính giật mình, tưởng âm hồn Ninja dưới mả trồi lên. Thiều ngồi xuống poncho:

– Nghe sắp kể chuyện ma tôi nằm không yên.

Tôi cười:

– Chứ không phải đánh được mùi cà phê sao?

– Cả hai luôn. Hôm trước Đại Bàng kể dở dang vụ Nguyễn văn Khanh, vì bị pháo kích, bữa nay xin tiếp tục…

Thằng Văn truyền tin cũng xúi:

– Đúng đó, kể tụi em nghe đi!

– Chờ có cà phê đã mày. Xong chưa Trung?

– Dạ xong!

Trung để hai ly cà phê nóng hổi trên thùng đạn đại liên, tôi vừa mời Thiều vừa bưng hớp một ngụm, rồi bắt đầu kể lại câu chuyện có thật đã xảy ra tại trại gia binh hậu cứ Liên Đoàn I Biệt Động Quân 1970:

– Đến bây giờ cũng chẳng ai rõ tên thật của người lính trẻ ấy đã một thời làm chấn động khu gia binh Phú Lộc Đà Nẵng. Đồng đội chỉ quen gọi nó là Khanh, Nguyễn văn Khanh, như được khắc trên tấm bia mộ ở Nghĩa Trang Hòa Khánh, Quảng Nam. Sinh thời, lúc 16, 17, nó đã có ý thích đi lính Biệt Động, nhưng chưa đến tuổi, nên nó lấy đại tờ giấy khai sinh của tên Khanh nào đó để tình nguyện nhập ngũ.

Khi Khanh tử thương, hậu cứ Đại đội 2 BĐQ đánh điện về nguyên quán theo giấy tờ thì không tìm ra được thân nhân nó. Chẳng lẽ tất cả đều là ma?

Tôi nhớ năm 1970, tôi làm Đại đội phó Đại đội 2, Trung úy Hồ Dơn Đại đội trưởng. Ngày nọ, một tốp tân binh bổ sung có Nguyễn văn Khanh, 20 tuổi, quê Sài Gòn. Thấy tướng cao ráo, lại đẹp trai, tôi cho vác khẩu đại liên M60 Trung đội 3. Khanh siêng năng, gan lì, không đam mê cờ bạc, gặp môn xóc dĩa thì chơi đôi chút, và nó chỉ thích giở chén nếu cái hô chẵn hay lẻ thừa. Dù ăn dù thua Khanh cũng bỏ đi.

Thấy Khanh cô đơn, thuộc loại con bà sơ, chả bao giờ nghe nó tâm sự buồn “xa quê hương nhớ mẹ hiền”, vợ chồng Trung sĩ Huỳnh Sinh, gia đình đạo Thiên Chúa, thương như em ruột, cho ở chung trong nhà. Mỗi lần đơn vị hành quân về hậu cứ, thú vui của Khanh là ra quán thụt bi da chơi tới khuya, khi về nhà thì bưng đèn xuống bếp đốt lò xô, chiên bánh bột mì ăn, đêm nào cũng vậy. Sinh có đứa con gái cưng, 12 tuổi, rất mến chú Khanh. Nhiều buổi tối cô bé cứ đeo theo coi chú đánh bi da quên cả học hành. Một hôm, đang lúc Khanh lục đục chiên bánh như thường lệ, cô bé cũng đói bụng ngồi chống cằm chờ ăn. Vợ Trung sĩ Sinh tức giận, vì việc này, và đêm nào cũng tái diễn, bà liền chụp cái lò ném tuốt ngoài sân, Khanh lặng lẽ ra lượm vào lấy búa kèm gõ sửa rồi bắt chảo lên bếp chiên bánh tiếp.

Sáng hôm sau, Đại đội hành quân, tảo thanh Việt Cộng tại các xã Hòa Lân, Hòa Hải, Hòa Phụng… là một vùng khá rộng cặp theo bờ biển với núi Ngũ Hành Sơn, Non Nước, do huyện Hòa Vang yêu cầu. Chẳng may Khanh đạp một trái mìn nội hóa, có mảnh trúng ngay háng, không nặng lắm. Đang lúc chờ trực thăng tải Khanh về nhập viện tôi tới ngồi kế bên, vừa đốt cho nó điếu thuốc Capstan vừa nói đùa:

– Khanh nhập viện tao buồn lắm, thiếu một tay xóc dĩa!

Với nét mặt tỉnh táo, nó hít một hơi thuốc:

– Em đau muốn chết, Thẩm quyền còn giỡn.

Rồi một lát, trực thăng đáp bốc Khanh, và mới bay lên cao mấy phút, pilot gọi ngược xuống báo Đại đội biết Khanh đã tắt thở, khiến ai cũng sửng sốt, chảy nước mắt.

Ở Quân y viện Duy Tân Đà Nẵng, dĩ nhiên bác sĩ biết chắc Khanh chết rồi mới đưa vào nhà xác. Sau đó hậu cứ Đại đội 2 BĐQ đánh điện hai ba lần về gia đình Khanh đều được trả lời “không có thân nhân”. Vì vô thừa nhận, đơn vị phải đứng ra mai táng Khanh theo nghi thức quân đội.

Nếu câu chuyện như vậy thì đâu có gì đáng nói, đơn vị tác chiến nào cũng có trương hợp tương tự, lính độc thân, vô gia đình, khi qua đời đơn vị chôn cất. Khanh lại khác, ghê hồn…

Ngày hậu cứ vào bệnh viện nhận xác có vợ Sinh cùng đi. Điều lạ lùng là lúc bà đến gần thì thình lình Khanh nằm trong bao nylon vụt quay mặt qua đưa đôi mắt mở to, trao tráo trắng dã nhìn bà. Hoảng hốt vợ Sinh cắm đầu tuôn chạy. Đó là lần đầu Khanh ma “chào tái ngộ” bà.

Đã chôn Khanh một tháng rồi, vợ Sinh còn liên tục chứng kiến nhiều đêm khủng khiếp. Nó hiện nguyên hình. Cứ 10 giờ tối là có tiếng chân người giậm ba cái trên nóc tôn, rồi Khanh với bộ đồ hoa rừng, đầu đội mũ nâu, nhảy xuống giữa nhà như đi đánh bi da về. Thấy vậy, hai mẹ con nằm trên giường phát run lập cập. Kế tiếp, Khanh bưng cây đèn dầu nơi bàn xuống bếp, lấy dao búa gõ lốc cốc, giống lúc còn sống sửa cái lò xô vậy. Xong, nó mồi lửa chiên bánh. Khi sống siêng năng bao nhiêu, nay chết Khanh lười bấy nhiêu. Nó bày ra nấu nướng, ăn xong chẳng dọn dẹp chén bát, cây đèn không đem lại bàn, cái lò xô cũng để lửa cháy xanh lè, Khanh vội phóng lên nóc nhà “thăng thiên”. Anh chàng Ninja Mũ Nâu này chỉ chơi độc có ngón đó…

Kể tới đây thấy hai thằng Trung và Văn ngồi co rúm, mồm thì há hốc, tôi vụt hù to: “í à!” một tiếng rồi ụi lẹ vào giữa hai đứa nằm chùm hum. Cả đám giựt mình.

– Đại Bàng làm hết hồn!

Tôi cười ha hả:

– Biệt Động Quân gì yếu vậy?

Trung lắp bắp:

– Biệt là Biệt với ai chớ Động tới ma, Quân nào chả ngán? Đại Bàng kể tiếp đi mà!

– Thì cứ vậy, Khanh đêm nào cũng biểu diễn các động tác đó. Mấy tiếng kêu lốc cốc là Khanh lụi hụi sửa cái lò hư như khi còn sống. Bữa đầu bất ngờ thấy nó xuất hiện cầm cây đèn xuống bếp, lúc đi ngang qua giường hai mẹ con, tội nghiệp cô bé đang nằm lại mừng, quên mất Khanh đã chết khá lâu, buột miệng kêu to:

– Mẹ!… Mẹ!… Chú Khanh kìa!

Vợ Sinh vội bụm miệng nó:

– M…a!…

Hoảng hồn bà vội mò tìm xâu chuỗi dưới gối để niệm kinh. Niệm kinh là chuyện đạo của bà, Khanh vẫn chiên bánh ăn no thôi. Sáng sớm hôm sau, vợ Sinh lật đật dắt con “di tản chiến thuật” qua hàng xóm, tối về chịu trận, chứ rủ ai cũng không dám tới nhà ngủ.

Thế rồi tin đồn lan ra, Sinh đang ngoài hành quân, viết thư khuyên vợ: “Em chớ tin ba chuyện vớ vẩn. Chắc mình thương Khanh quá bị ám ảnh, chứ ma quỉ gì? Nếu em để đồn đãi rùm beng, ông chú biết được vào đập chết đó”. Gia đình công giáo dòng, lâu đời, gốc La Vang Quảng Trị, lại chưa bao giờ thấy ma lần nào, nên Huỳnh Sinh cho nhảm nhí. Nhưng Khanh vẫn về nhát hai mẹ con hoài. Có đêm sợ quá bà run lập cập thành tiếng to “hừ hừ”, làm ma Khanh đi sát cạnh giường nghe, liền đưa cây đèn vào soi sát mặt, bà thêm chết điếng. Bà viết thư hối chồng: “Nếu anh không về gấp, mẹ con em sẽ điên mất. Khanh dòm sát mặt em luôn”. Đọc thư khẩn báo, Sinh đâm rối trí, bán tín bán nghi, đến tôi tâm sự, và nhờ xin Đại đội trưởng cho Sinh đi phép. Tôi giúp ngay. Nhưng gặp ông Trung úy Hồ Dơn khó tính thấy mẹ, chẳng màng chơi hoặc tìm hiểu thuộc cấp, ông lại cự tôi:

– Anh nữa, cứ mắc lừa ba thằng lính xạo. Chúng luôn luôn phịa chuyện mà vẫn tin.

Bất đắc dĩ tôi phải thêm mắm thêm muối:

– Vợ con Trung sĩ Sinh đã thật sự bị khủng hoảng tinh thần. Đại đội còn đây lâu, Trung úy vui lòng cho ông ấy về nhà vài hôm giải quyết chuyện gia đình, sau này mình khỏi ân hận…

Trung úy Dơn trợn mắt:

– Gì ân hận? OK, đi đi, lên trễ chớ trách tôi!

Được chấp thuận Sinh vội nhảy lên chiếc trực thăng vừa đoå hàng tiếp tế xuống. Đến nhà Sinh tỏ vẻ bình thản ngồi ăn cơm chiều, tới tối lại làm oai nằm ngoài bìa giường lý giải chuyện khoa học cho vợ con nghe. Rồi mới mười giờ tối, đang lúc mọi người còn thức, khu gia binh Phú Lộc còn sinh hoạt ồn ào, thì có tiếng đùng đùng trên nóc tôn báo hiệu Khanh “giáng trần”. Là một tay Ninja thứ thiệt chăng, vẫn bộ chiến phục rằn ri oai phong của Biệt Động, như lúc đột kích đêm ở Phong Thử mấy tháng trước, chỉ thiếu cây Đại liên M60 thôi, Khanh biểu diễn ngay một đường lả lướt là cầm đèn xuống bếp đốt lò xô cháy sáng. Lúc bấy giờ Huỳnh Sinh mới thấy rõ thằng em tinh thần, vội ôm cứng vợ con co rúm nơi góc giường, miệng thì lập cập cầu nguyện. Hình như đã ăn bánh rồi và trước khi thăng thiên, Khanh cũng ba gai, chẳng thu dọn “chiến trường” gì cả, để nồi niêu xoong chảo lung tung.

Trung sĩ Sinh còn dạn dĩ, nửa đêm dám ra quán mua nhang đèn vàng bạc. Bà chủ quán đã biết câu chuyện ma Khanh vẫn hỏi móc:

– Uïa, chú công giáo, mua đồ cúng ai vậy?

– Đâu có! Tôi bắt chước thiên hạ tối nên thắp nhang để ấm nhà ấm cửa.

– Chớ không phải vái thằng Khanh sao?

Sinh im lặng quay về, đốt nhang đứng quay mặt ra đường, lâm râm: “Khanh ơi, sống khôn thác thiêng, hồn còn lẩn quất đâu đây, đừng về nhát chị và cháu nữa, cũng đừng lấy dao lấy búa… sửa hoài cái lò xô méo mó ấy, ghê quá! Vợ chồng anh hứa đến ngày kỵ cơm em đàng hoàng, Khanh ạ!”.

Quả thật, Nguyễn văn Khanh bỏ nghề Ninja. Gia đình Sinh không phải tối nào cũng run lẩy bẩy, sáng nào cũng dọn dẹp, tắt lửa, rửa chảo… cho chú ma dễ thương!

Hai hôm sau lên hành quân Sinh trình diện, tôi hỏi:

– Chuyện thế nào?

Thấy có người đứng gần, Sinh đáp:

– Họ đồn nhảm thôi!

Chưa kịp hiểu ý, tôi tức giận:

– Này, đừng bao giờ xin đi phép nữa, nghe chưa?

Sinh nháy mắt tôi ra ngoài phân bua:

– Xin lỗi Thiếu úy, sợ tụi lính nó nghe nên tôi nói vậy, chứ Khanh hiện ma thật. Tôi kể để Thiếu úy biết thôi, đừng nói ai. Ông chú ở La Vang hay được là chết, dù lớn đầu, có vợ con mặc kệ, ổng cũng đập như trâu.

Trung sĩ Huỳnh Sinh thuật lại đầu đuôi câu chuyện rồi kết luận bằng một hơi than thở:

– Thằng Khanh chắc nó điên, quậy vợ con tôi dữ quá! Lúc Khanh còn sống, tôi có làm khó dễ gì nó đâu. Bên Phật giáo cũng vậy chớ, Thẩm Quyền?

Tôi làm bộ nghiêm nghị:

– Trời, ma mà kể chi ai, bộ nó ớn đạo à?…

Đột nhiên, một trái hỏa châu 105ly nổ bùng sáng chói trên bầu trời, tôi chợt nhớ ông bạn tù Nguyễn Thành Công, vội đập vào vai thằng đệ tử Huỳnh văn Trung:

– Thấy mẹ, mày chạy coi con ma Việt Cộng ấy còn không, hay đã thăng thiên theo thằng Khanh rồi?

Trung coi bộ lạnh cẳng, thò thụt cả đỗi mới ra khỏi lều. Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn cũng gọi máy nhắc 4 đại đội canh gác cẩn thận. Câu chuyện ma Nguyễn văn Khanh, từng làm chấn động khu gia binh Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân Phú Lộc, phía bắc thành phố Đà Nẵng, phải được chấm dứt để anh em ngủ, mai tiếp tục đi “cày” sớm.

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

10. Trận thủy táng

Dù Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn văn Do có mất hồn hay hết vía đi nữa, tôi cũng bắn thêm hàng trăm viên đạn Phòng Không chúi xuống khu đồi hướng nam để dọn sạch điểm đóng quân của Đại đội tối nay. Sẵn trớn tôi tỉa rộng ra chung quanh, từng lùm cây bụi cỏ, từ trái sang phải dọc bờ đầm Nước Mặn. Nghĩa là nơi nào khả nghi, tôi quay nòng súng tới mà siết cò, ngoại trừ trên bầu trời xanh lơ với những áng mây bàng bạc, ý nghĩa tên tôi đẹp vô cùng. Đặc biệt cuộc chiến Việt Nam, Tổ Quốc Không Gian lại vắng bóng quân thù. Các đầu đạn 12ly8 nổ reo như pháo, lao đi từ một Đại đội anh hùng từng làm chết điếng Trung đoàn 141 Cộng Sản Bắc Việt chạy khùng luôn.

Thấy ba thẩm quyền Thuận, Hơn, Nhật tỏ vẻ thích, tôi cho mỗi anh thọc nách nó một cái để biết giống gà Hồ gáy ra sao, rồi trói cổ lôi đi. Ai cũng trầm trồ cơ bẩm nhạy, vừa nhấn cò thì đầu nòng phụt đạn liên hồi. Hèn gì thị Bình và thị Định, cả Nguyễn thị Minh Khai, vợ “đồng chí” nào đây, quên tên, đều khoái súng của Bác.

Xong, anh em tụt dốc kéo xuống mỏm đồi. Đơn vị có mấy chục mạng đấm đá suốt ngày nhừ tử, giờ thiếu nước uống, lại nai lưng khiêng khẩu Phòng Không và hàng chục bao đạn tổ bố, còn dìu thêm hai thương binh, khiến lính đi hết nổi. Thua thì te tua như cái mền rách đã đành, thắng cũng tả tơi. Thấy tụi nó lê thê lếch thếch, tôi mang dùm cái ba lô nặng trịch của Binh nhì Lê văn Tân gãy chân, muốn xỉu luôn. Tình trạng này Đại đội bị phục kích chắc chết.

Dù chưa có lệnh BCH Tiểu đoàn, nhưng vì mặt trời đã ngả bóng, lính tráng cũng quá uể oải tôi cho đơn vị dừng quân bao quanh ngay cái mỏm, nơi góc đông bắc đầm Nước Mặn, như ý định để ngừa bất trắc. Vị trí tương đối rộng, quang đãng. Bên ngoài là một xóm chài, nhà cửa sụp sệ, rải rác ẩn khuất dưới những hàng dừa xanh cùng dương liễu cặp theo ven biển đến tận chân đồi 94 hướng nam, bên cửa khẩu Sa Huỳnh.

Tôi cho cởi trói con gà cồ để vỗ cánh gáy tiếp, cảnh cáo kẻ thù lần nữa. Nghe tiếng gáy dòn tan của chú gà từng làm mưa làm gió, đá lung tung trong những ngày đầu mặt trận, nay đã về tay chủ mới, hẳn bọn giặc cỏ xâm lược như “ngựa run đùi hí lạnh giữa tàn quân” (Thơ Mã Chiến Sơn?).

Hai Đại đội 3, 4 và Bộ Chỉ Huy lớn đã lên tới khu đồi tôi vừa đánh. Đại đội 2 dẫn tốp Lao Công Đào Binh, những người đào ngũ đang thọ hình, đến nhận khẩu Phòng Không 12ly8.

Phía tây, Trung đoàn 5 Bộ Binh và Tiểu đoàn 37 Biệt Động từ hướng bắc di chuyển theo Quốc lộ 1 về nam. Dĩ nhiên, họ phải đi qua đoạn đường đầy dấu vết ngang tàng, kỳ lạ của các chiến sĩ bạt mạng Đại đội 1 BĐQ. Kỳ lạ mà dễ thương dễ nhớ, rung động hồn thiêng sông núi. Đó là chiến tích lừng lẫy đánh tan phòng tuyến thép Trung đoàn 141 CSBV, kế bên góc đồi, nơi mà hai ngày trước tôi đã không tuân lệnh Thiếu tá Hoàng Phổ bảo trổ cái “cửa hông” vào lòng đất địch. Bây giờ nơi đó là “cổng” chính vinh quang, do Đại đội 1/21 Thiên Thần Mũ Nâu mở ra bằng máu, không những để chào đón đồng bào hồi hương về Sa Huỳnh, quê cha đất tổ, mà còn hoan nghênh toàn dân nước Việt được tiếp tục lên đường xuôi nam ngược bắc.

Hôm nay thêm một niềm vui nữa. Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng 21 Biệt Động Quân, đã trở lại chiến trường, sau bốn ngày về mai táng cố Đại úy Quách Ẩn, bào đệ ông, qua đời tại Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng ngày 15-02-1973, tức mùng 7 tháng Giêng năm Quý Sửu. Rõ ràng hổ nhớ rừng.

Vừa vào vùng, Thưởng liền gọi tôi:

– Việt Quốc, đây Trùng Dương!

Nghe giọng nói của vị chỉ huy trực tiếp, cũng là người bạn học từ thuở ôm sách đến trường, tôi reo lên:

– Chào Trùng Dương!

– Nghe Việt Quốc đã tạo được tiếng vang. Việc mình phải làm còn dài dài. Tối nay Đại đội 2 sẽ đột kích xuống con xóm dưới chân Việt Quốc. Bây giờ hãy đón Xích Bích cùng Thiếu úy Phụ đang dẫn Lao Công Đào Binh mang nước uống tới, rồi anh giao cây Phòng Không lẫn đạn lại cho họ đem lên Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn, nghe rõ không?…

– Đáp nhận! Đại đội 2 đã tới, dứt máy, Trùng Dương!

Trung úy Dương Xuân đưa tay chào tôi:

– Chúc mừng! Chúc mừng Đại đội 1 chiến thắng! Gia đình tôi tạm rải bên ngoài anh, phía biển.

Tôi vỗ vai Xuân:

– Dù tạm tao cũng giựt hết Đại đội 1 qua sát bên mé đầm này để lát tối mày đột kích xuống làng. Bảo Đại đội phó làm, tụi mình ngồi nói chuyện chơi chút.

Xích Bích “điếc không sợ súng” dựa lưng vào tảng đá, đôi mắt nheo lại:

– Việt Quốc lúc nào cũng lộn xộn. Vui gì đây mà chơi? À, lì quá ha, dzớt được cây 12ly8 ngon lành! Chắc khẩu súng đầu tiên Việt Cộng đem sâu vào nội địa để nạp mạng cho anh…

– Chắc vậy, nên chúng nó nổi điên rồi đó, coi chừng! Mày thấy không, mấy lúc tao thất nghiệp dài dài. Mới đầu năm bị trực thăng bắn, con cái chết chóc, bị thương tùm lum tại Quán Hồng Mộ Đức. Mười ngày nay, thiếu người tao phải gánh vác đủ thứ, trưởng là tao, phó, y tá, cả thường vụ, cũng tao nốt! Đã bao lần tao còn ăn chực cơm của tụi lính, chứ hai thằng đệ tử ruột cùng rủ nhau bị thương ráo. Thế mà mày cứ kéo tao vào tròng, chiếm nơi này, đánh giúp chỗ kia…

– Lâu lâu giúp chút, anh cứ rên hoài…

– Đại Bàng! Việt Cộng!… Việt Cộng!…

Tôi giật mình đứng phắt dậy:

– Ở đâu?

Một đám lính ùa ra mép đầm lấy tay chỉ xuống:

– Việt Cộng sát dưới chân đồi mình đây!

– Bắn! ĐM. bắn liền!

Súng nổ ran. Tôi phóng tới một gốc cây thân mọc chồm ra ngoài bờ dốc hãm đứng, nhìn xuống. Một bầy Việt Cộng đang ùn ùn chạy thục mạng dưới bãi cát, chớn nước.

Tôi hét:

– Ném lựu đạn, ném lựu đạn, và quét đại liên, mau!

Lập tức, Hạ sĩ Đợi kẹp hông khẩu M60 quạt chúi nhủi mấy tên chạy xa phía trước, ai gần thì bị M26 tới tấp, xác địch lẫn đá núi tung lên giữa vực sâu tóe lửa đỏ rực. Vài tên sống sót, nhờ ẩn núp sát vách đồi, giơ tay hàng, cũng không tránh khỏi các mũi súng còn bốc khói đốn ngã. Phút chốc, cảnh vật dưới góc đầm chẳng khác nào địa ngục, rồi bỗng dưng im lặng lạnh lùng dù nắng chiều hừng hực trên bầu trời Sa Huỳnh.

Tôi nói Trung úy Dương Xuân:

– Đại đội 2 mày hãy bắn chặn dùm đầu xóm để lính tao hạ sơn lục soát.

– OK, OK!…

Trung đội 1 tụt dốc. Một lát, Thuận líu lưỡi gọi lên:

– Trình Đại Bàng! Việt Cộng chết quá trời, 27 tên, súng 24 khẩu, gồm AK, B40 và một K59. Có cái hầm to lắm!…

Cũng như lính, thấy đã quá, nên tôi đâm quýnh, vội thúc:

– Lẹ, ôm hết súng lên, kẻo trời tối nguy hiểm!

Hiệp vặn lớn speaker rồi xách cái máy PRC25 chạy tới để tôi nghe, tiếng Quách Thưởng phát ra oang oang. Tôi bóp ống liên hợp:

– Thiên Nga! Thiên Nga!…

– Việt Quốc đây!

– Sao không trực máy, hả? Chạm địch thế nào mà súng nổ dữ vậy?

– Bất ngờ Việt Cộng dẫn xác tới nạp mạng, chúng chạy cả bầy dưới chân đồi, mình bắn sạch hết 27 tên, thu 24 súng…

Thưởng khoái chí cười khà khà:

– “Làm ăn” dễ dàng quá, Việt quốc?

Thiếu tá Hoàng Phổ đã trở lên Liên đoàn, còn xen vô:

– Việt Quốc cất kỹ cây K59 cho tôi.

Tôi chửng hửng, lộ mẹ nó khẩu súng “con” dễ thương, phải đem nạp. K59 hay K54 cũng vậy, đều bán cho mấy chú Gi với giá 25.000 đồng Việt Nam, tương đương 15 tạ gạo mua ở cửa hàng Quân Tiếp Vụ, hoặc đổi lấy một xe tôn. Hoàng Phổ vẫn còn theo dõi, nghe lén tần số nội bộ Đại đội này. Ông mới là Liên đoàn phó thôi, đời lính tôi cũng đủ tàn.

Trung sĩ Thuận mô tả căn hầm đào sâu trong vách đồi như hang động, lối ra vào hình chữ “L”, sát chớn nước. Cái ổ âm binh vuông vức, mỗi bề khoảng ba thước, giữa kê bộ sofa gỗ, và một máy điện thoại trên bàn. Nơi trú ẩn an toàn thật, bom đạn không thể phá sập. Chắc là chỗ trú đóng của BCH Trung đoàn 141/2 Cộng Sản Bắc Việt trấn thủ mạn bắc Sa Huỳnh. Nếu đúng vậy thì 27 xác chết kia và còn nhiều tên nữa có thể bị thương lẩn trốn đâu đó là đầu não đơn vị này.

Tôi không hủy bỏ căn hầm, mà nhắm phá cũng không nổi, để lưu niệm một chiến tích lịch sử, người dân nơi đây sẽ nhớ mãi trận đánh lẫy lừng của một đại đội Biệt Động Quân, dù chẳng hề biết kẻ chỉ huy có tên Việt Quốc Trần Thy Vân.

Nói là đại đội chứ sự thực chỉ 50 tay súng, lại đánh tan một trung đoàn, với một tiểu đoàn Phòng Không tăng cường, tức 4 tiểu đoàn là 16 đại đội. Đổ đồng một chiến sĩ Biệt Động đập bại xuội ít nhất 16 tên địch tại đây. Chuyện rất hiếm có trong chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến mà toàn dân phải giải quyết bằng máu để miền Nam khỏi sống dưới ách độc tài của một lũ bất nhân, hèn hạ Cộng Sản Bắc Việt.

Chính kẻ chiến thắng cũng không ngờ mình làm cho giặc kinh hồn bạt vía đến vậy. Vì lo xa, tôi gọi máy trình Thiếu tá Thưởng những điều tôi nghĩ:

– Trùng Dương cử người xuống lấy chiến lợi phẩm lên Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn kẻo mất lại như chơi.

– Ừ, coi đón họ.

Tôi nói với lính:

– Tối nay, đề phòng tối đa, thêm vọng gác, luôn luôn mang giày, ngủ thì ôm súng bên hông…

Trung sĩ Hơn góp ý:

– Vì thua cay, Việt Cộng có thể đến trả thù…

Thuận cười gằn:

– Trả gì nổi! Bây giờ bọn nó như rắn mất đầu, còn cái đuôi ngo ngoe, chạy tán loạn xà ngầu…

Tôi trừng mắt:

– Ừ giỏi, Thuận ngon!

Nghe nói vui, các anh hùng bạt mạng cười nhoi.

Tốp lính trên BCH Tiểu đoàn đã đến nhận chiến lợi phẩm và Đại đội 1 cơm chiều xong, sẵn sàng yểm trợ Đại đội 2 đột kích. Mặt trời đã khuất, con xóm chài loang lỗ dấu đạn chìm dần vào màn đêm ma quái. Tôi đến mép đồi ngồi nhìn xuống các xác chết dưới vực sâu. Tuy không thấy rõ từng thây người nát ngấu, bầy nhầy, tôi vẫn nhờn nhợn, có cảm giác đang sình lên. Rồi đây tình trạng còn đánh nhau, dân di tản xa chưa về, không ai chôn lấp, mùi hôi thối sẽ nồng nặc khắp thôn làng. Hy vọng khuya con nước lớn sẽ giựt hết 27 xác chết ra thủy táng giữa đầm Nước Mặn.

Pháo binh bắt đầu bắn quấy rối phía nam đầu xóm. Trong lúc đơn vị Trung úy Xuân sắp hạ sơn, tôi chợt thấy lờ mờ dưới trăng nhiều bóng đen di động trên mặt nước. Rất tiếc ống dòm đã hỏng, tôi vội kêu Hạ sĩ Hiệp truyền tin đến nhìn thử đúng không hay mắt tôi bị quáng gà. Quả thật, hàng chục chiếc ghe đều chở đầy khẳm, khoảng trên 20 người, đang nhấp nhô giữa đầm, chèo từ đông sang tây để vào núi. Tàn quân trên đường bôn tẩu, lại rơi vào tử lộ.

Tôi gọi Thưởng:

– Trùng Dương! Trùng Dương!…

– Nghe!

– Việt Cộng di chuyển bằng ghe giữa đầm Nước Mặn, xin pháo binh dập ngay, tọa độ XY…

Thưởng hỏi:

– Bao nhiêu? Coi chừng lầm dân đánh cá.

Tôi quả quyết:

– Việt Cộng! Cả chục chiếc chở hàng trăm tên. Mục tiêu di động, xin bắn đầu nổ VT.

Ùm… Ùm… Ùm… Những quả đạn liên tục gắm xuống, các cột nước tung lên trắng xóa.

– Bắn VT, Trùng Dương!

– VT hiếm, chơi thứ đó thấy mẹ nó rồi!

– OK, mần nhiều đi, kéo dần qua phía Quốc lộ 1 chặn đầu!

Rất tiếc lại thiếu VT, một loại đầu đạn vô tuyến được điều chỉnh tự động nổ cao, cách đất 20 mét, để mảnh chụp xuống mục tiêu di động hay các hầm hố cá nhân không có nắp. Dẫu sao hàng trăm quả 105ly chạm nổ, quậy bung đầm Nước Mặn như sóng thần, cũng đủ thủy táng cho chúng mò tôm.

Pháo binh dứt Thưởng gọi:

– Kết quả sao?

Để giảm bớt căng thẳng, bởi những hình ảnh chết chóc quá nhiều, tôi trả lời ví von, thơ mộng hóa một đêm xuân mà rùng rợn của chiến trường Sa Huỳnh:

– Chưa biết, Trùng Dương! Mặt nước đã trở lại phẳng lặng, mơ màng dưới ánh trăng phản chiếu sáng ngời, tưởng đâu như sông Hương núi Ngự (Huế của Quách Thưởng, Hoàng Phổ).

Nói xong, tôi có ý chờ ông bạn học nhỏ con nhất, cùng lớp với tôi ngày xưa, bên kia đầu máy ứng đáp tương tự để vơi bớt nỗi buồn chinh chiến. Nhưng không, chắc chưa phải lúc, hôm nay còn sặc mùi máu lửa, nên ông lại hỏi một câu nghe chẳng thú vị chút nào:

– Việt Quốc có định mai lặn xuống mò súng không?

Tôi cười gượng:

– Dám lắm chứ! Cả một kho vũ khí dưới đó!

Thưởng im lặng, chuyển qua Dương Xuân:

– OK… Hai Mươi Xích Bích hạ sơn đi!

Đại đội 2 đã chờ sẵn, liền nổ súng, địch quân nổi điên quất AK, B40 lên mỏm đồi. Chúng đã hiểu tình huống nên kháng cự mạnh, chặn đầu. Xuân báo:

– Trùng Dương, đây Xích Bích!

– Nghe Xích Bích!

– Tôi bị hai đứa kẹt dưới xóm, xin soi sáng.

Thiếu tá Thưởng quát:

– Tại sao vọt lui để bị kẹt, hả?

– Việt Cộng tử thủ nhiều trong các hầm…

– Mẹ, nó phải thủ chứ đứng đưa ngực cho anh bắn à?

Tôi mở tần số nội bộ Đại đội 2:

– Xích Bích, tao đoán địch khoảng một trung đội đang làm nút chặn để quân nó phía nam tháo chạy qua đầm.

Dương Xuân than:

– Hầm hố chằng chịt lính không thấy đường, đã chết hai rồi còn nằm dưới. Anh đánh giúp bên phải, từ chớn nước vô…

– Mày đì tao dữ vậy? Để tao hỏi Trùng Dương coi.

– Trời ơi, anh hỏi thì ổng chửi nữa.

– Ổng chửi mày chớ chửi tao sao? OK, chờ đi!

Bực mình, tôi nắm máy nói bướng lên Tiểu đoàn:

– Trùng Dương! Xích Bích yêu cầu nhưng tôi dứt khoát chờ rạng đông mới đánh. Giờ để lính ngủ một chút.

Nghe tôi nói ngang ngang, Thưởng chửi thề:

– Mẹ bay, có biết Sơn Linh hối không?

Tôi nổi xung:

– Hối kệ ổng, vừa phải thôi! Sáng mai tôi đập!

– Hai thằng làm sao làm cho xong trước mặt trời mọc, để BCH Tiểu đoàn cùng hai Đại đội 3, 4 qua mặt vô trong kia.

Tôi nói Xuân:

– Xích Bích biết không, tụi bê bối trong mục tiêu của Xích Bích chưa rõ BCH Trung đoàn 141 đã chết hết, bởi ăn lựu đạn Việt Quốc hồi chiều, nên chúng phải chặn cứng mình lại đây, để ai còn sống có đường chạy thoát ra và đồng bọn phía nam rút lui bằng ghe qua đầm. Chờ rạng đông chơi khỏe hơn, đừng dí chuột vô góc tường. Ngủ đi!

Xong tôi cúp máy, ngồi tựa lưng vào tảng đá ngáp dài. Giờ phút này, dù thân thiết cách mấy tôi cũng không thể chiều ý Dương Xuân. Tôi đã giúp từ yểm trợ đến nỗ lực chính rồi, dây dưa nữa lính khổ. Mấy ngày qua Đại đội đơn phương độc mã quá gian nan, căng thẳng thần kinh, lính phải ngủ, mọi chuyện tính sau.

Chưa kịp chợp mắt trời đã hừng hừng ngoài biển. Lính vừa thức dậy, tôi gọi Xuân:

– Bây giờ Xích Bích chuẩn bị xuống đi, tao bên này sẽ thọc ngang hông, từ bờ đầm. Xong, hai thằng cùng quét về nam.

Giọng Xuân khàn khàn ngáy ngủ:

– Ừ, tôi để lại trên đồi này một trung đội để yểm trợ và lo phần tải thương. OK, tôi bắt đầu hạ sơn.

Tôi đẩy toán Thám Báo xuống khu vực, nơi căn hầm dưới chớn nước, án ngữ mặt tây, hướng đồn lính bị đánh cháy buổi tối nọ. Trong lúc Trung đội Hơn còn nằm trên cao với tôi chĩa súng ngay bìa xóm, Trung đội Thuận tụt dốc, vượt qua Thám Báo. Vì thế đất hẹp, Thuận cho anh em lom khom hàng dọc, mò mẫm từng bước tiến lên như bóng ma. Tất cả âm thầm dàn quân, tôi gọi nói Dương Xuân:

– Một thằng con lớn tao đã có mặt ở bến đò nhưng trời còn tối chưa khai hỏa được.

– Bên này tôi đã bám đầu xóm. Dường như Việt Cộng giãn dần, phải không?

– Có thể lắm! Giờ mày dặn lính khoan nổ súng, khi mần thì cẩn thận tầm đạn, kẻo choảng trúng nhau…

Thình lình, một loạt AK, xen lẫn B40, của địch xoáy mạnh vào mỏm đồi. Xuân buộc phải hạ lệnh tấn xuống mạnh. Tôi bảo Trung đội 1 đốc lựu đạn vào dãy nhà kế bến đò. Trung sĩ Thuận chưa kịp thi hành thì một khẩu thượng liên Việt Cộng hướng nam quạt tới. Hs Đợi tức tốc siết cò M60 bắn trả. Đạn hai bên bắt đầu chéo nhau như mạng lưới đỏ rực. Không ngờ địch còn kháng cự mạnh. Nhiều quả B40 nổ tóe lửa ở bãi cát trước mặt khiến tụi lính của Trung đội 1 phản ứng tự nhiên lăn tòm hết xuống đầm.

Tôi hét vào ống liên hợp:

– Thuận! Dồn hỏa lực sang phải đi, để Trung đội 2 đập vào bên trái.

Trung sĩ Hơn đã thấy rõ địa thế và tình hình địch, vội kéo Trung đội xuống áp đảo ngay nơi vừa chỉ. Tôi phóng theo, gặp dịp tôi dừng lại trước cái cửa hầm “âm binh”. Xác giặc, tất cả 27 tên bị bắn lúc chiều, nằm ngổn ngang, tôi chẳng biết tránh chỗ nào khỏi giẵm. Hiệp truyền tin tò mò bước quẹo vào, rọi đèn pin xem bên trong căn hầm, tôi cũng ghé mắt nhìn, một mùi tử khí xông ra…

Đột nhiên Xuân gọi máy la bải hoải:

– Tụi con anh bắn sau lưng con tôi, stop gấp!

Nghe “thằng điếc không sợ súng” mắng vốn, tôi hỏi:

– Cái gì mà con anh con tôi, Xích Bích?

– Mẹ, lính anh xỏ ngang hông lính tôi.

Tôi bật cười trong máy;

– Lạ, sao lỗ dưới chúng không xỏ, lại xỏ ở hông. Để tao la. Xong, tôi nắm ống liên hợp nội bộ:

– Hai Mươi, Hai Mươi!

– Nghe Đại Bàng!

– Đừng bắn xa hướng đông, trúng thằng Hai Mươi lớn kìa. Nhào vô dãy nhà chưa?

– Rồi, Đại Bàng!

– Còn Mười chiếm gấp bìa xóm phía tây kẻo địch kéo tới.

Binh nhì Dũng Trung đội 2 reo lên:

– Thu được hai AK dưới hầm, Đại Bàng!

– Ừ, bảo lục soát tiếp, Dũng!

Mặt trời ngoi lên khỏi biển đỏ ối, con xóm nghèo chài lưới hiện ra rõ nét điêu tàn. Tiếng súng đã im hẳn, vài căn nhà lá dừa nghiêng đổ, bốc cháy kêu lách tách.

Thưởng gọi:

– Mười, Hai Mươi, đây Trùng Dương!

– Việt Quốc nghe!

– Xích Bích nghe!

– Sao, khỏe chưa?

Dương Xuân báo trước:

– Đã chiếm xong con xóm, địch chết bảy, thu bốn AK, một B40. Mình hai dài hạn, một ngắn…

– Còn Việt Quốc?

– Vô sự, lấy hai súng cá nhân.

Nghe hai đơn vị báo con số vũ khí tịch thu quá ít, trong khi đánh nhau rền trời, dường như Thiếu tá Thưởng chưa hài lòng:

– Thôi được, hai anh nghe cho rõ đây, Đại đội 1 Việt Quốc dừng tại chỗ giữ an ninh khu vực đó. Hai Đại đội 3, 4 và BCH Tiểu đoàn sẽ move tới, còn Xích Bích để hết chiến lợi phẩm và cả thương binh lại cho Việt Quốc rồi tiến thẳng hướng nam một cây số, dọc đường lục soát kỹ. Đề phòng phục kích.

Tôi trả máy lại Hiệp và đang lúc bận rộn thì một đệ tử của Dương Xuân chạy đến, đưa tay chào:

– Đại Bàng em mời Trung úy qua uống cà phê.

Tôi hỏi đùa:

– Cà phê đắng “Quán Hồng” hả?

Nghe nhắc hai tiếng Quán Hồng, mấy chú cao bồi tôi hiểu ý cười rồ lên. Quán Hồng, nơi đồn lính phía nam của quận Mộ Đức, Đại đội này bị máy bay bắn lầm hôm mùng 1 Tết. Tôi đi theo người lính Đại đội 2. Gặp Trung úy Xuân tôi hỏi:

– Mới đó đã có cà phê lẹ vậy?

– Gì chớ món này sáng sớm phải sẵn sàng cho tôi.

Xuân đưa một ly tôi ực một phát hết phân nửa, ực tiếp phát thứ hai thì sạch bách, không còn một giọt.

– Cà phê Đà Lạt ngon ghê!

Xuân há họng nhìn tôi:

– Trời! Anh chả biết uống cà phê gì trọi!

– Cái gì?… Đã quá mà mậy!

– Cà phê người ta uống rỉ rả, anh ộc ộc như nước lạnh.

– Rỉ rả là kiểu hà tiện, vô quán ngồi câu giờ ngắm gái. Vì ghiền tao tu hai ngụm. Lại nữa, ở ngoài chiến trường tao uống khác với lúc tà tà trong thành phố. Hèn gì tụi mày, Hưng ròm, thêm thằng Quảng nhí nữa, đến quán là ôm cái ly cà phê ngủ luôn. Thôi, lo move đi, còn tao ngự nơi đây.

Xuân chán nản:

– Kệ mẹ nó, vội gì!

– Nếu chưa thì mày đẩy một trung đội vọt trước, tránh nạn Việt Cộng đủ thời giờ tổ chức phục kích.

– Gởi anh mấy đứa chết, bị thương và năm cây súng.

Dứt lời, Trung úy Dương Xuân đứng dậy, ra lệnh dàn quân trong lúc những quả 105ly hướng Đức Phổ bay vòng qua đầu rải xuống khu đồi 94. Tiếng nổ quấy động cả vòm trời trong xanh buổi sáng. Tôi cho Đại đội bao quanh con xóm, đặt trên đồi một tiền đồn nhỏ, và sai lính lục soát hết các căn nhà lần nữa để tìm hầm bí mật mà ở các vùng xôi đậu thế này thường có. Tôi cấm lính phá phách những gì còn lại của dân ngoại trừ dừa trái được phép hái ăn.

Bỗng từ ngoài xa, nơi mấy căn nhà lup xụp, có tiếng người quát tháo chửi thề om sòm, tôi định hỏi thì Trung sĩ Thuận đã dẫn đến một tên Việt Cộng hai tay trói sau lưng, mặt thì sưng vù bê bết máu.

– Trình Đại Bàng, thằng này trốn dưới hầm, súng giấu đâu hỏi không khai, đập cũng chẳng nói.

Tôi để tay vào bá súng Colt bên hông, tên cán binh hiểu ý phát run như cầy sấy, hai bờ môi khô nứt lập cập mấy lời van xin, nghe cứng ngắt:

– Lạy anh tha cho em. Em tải lương không phải thành phần chiến đấu…

Câu nói ấy làm tôi xúc động, nhìn từ đầu xuống chân hắn. Khác hẳn với nhiều tên ba đá, mặt dày mày dạn vờ vĩnh ngây ngô, mà tôi đã từng bắt được trong các cuộc hành quân, người bộ đội trẻ này trông có dáng điệu thư sinh, nước da trắng trẻo, đôi mắt lờ đờ và dường như đang đói lả. Tự nhiên tôi cảm tình kẻ sa cơ thất thế.

Tôi vờ làm nghiêm sắc mặt:

– Anh tên gì, bao nhiêu tuổi?

Nghe giọng hỏi nhẹ nhàng, lịch thiệp, hắn cúi xuống khóc sướt mướt như một cậu bé:

– Em tên Nguyễn Thành Công… 22 tuổi… quê Hà Nội…

– Súng giấu đâu?

– Súng em bỏ bên kia đầm. Em đội tải lương sang đây tiếp tế đơn vị thì bị đánh. Các anh ấy chạy được, còn em bị thương nằm dưới hầm hai ngày nay ạ!

Trước khi cho cởi trói và băng bó lại vết đạn trên cánh tay người tù Nguyễn Thành Công, tôi dặn thêm:

– Đừng chạy đâu nghe chưa! Khi có súng nổ thì để hai tay lên đầu, ngồi tại chỗ, kẻo bị bắn chết uổng mạng.

– Dạ vâng! Dạ vâng! Cám ơn anh, em ngồi đây!

Trung sĩ Nguyễn Nhật toán Thám Báo đến đứng bên cạnh, tay cầm một gói giấy bọc nylon:

– Trình Đại Bàng, tụi em nhặt được 100.000 đồng…

Tôi hỏi:

– Ở đâu vậy?

– Trong ba lô Việt Cộng chết dưới bãi, cùng tài liệu vớ vẩn của đơn vị nó.

– Cất đi, sau chia đều anh em xài. Nhật bảo Vinh nhớ nấu thêm cơm cho thằng Công tù binh ăn, nó đang đói đó! Và dặn anh em không được đánh nó nữa. Tao nói rồi!

Hiệp báo:

– BCH Tiểu đoàn và các đại đội đến.

Đại đội 3 BĐQ Trung úy Trần Quang Giảng trên đồi ào ào đổ xuống rung rinh con xóm. Đơn vị chưa đụng trận nên quân số còn đông như kiến, đi xuyên qua muốn hắt văng bọn lính tôi đang đứng nhìn. Thấy tôi, Giảng 23 sĩ quan Thủ Đức, sau tôi một khóa, cầm bản đồ vẫy vẫy:

– Ê, anh hùng “Phòng Không”!

Thiếu tá Quách Thưởng cũng trờ tới, tôi đưa tay chào, ông cười tươi:

– Trung tá Liên đoàn trưởng khen Vân lắm!

Tôi đưa tay vừa chỉ ra chớn nước mé chân đồi vừa nói:

– Mời Thiếu tá đi xem căn hầm tổ bố của BCH Trung đoàn 141 và 27 xác chết ngoài kia!

Thưởng lắc đầu lia lịa:

– Thôi, dơ dáy! Tao gớm mấy cái thây ma sình thối đó. Đại đội 1 sáng nay nhận tiếp tế, ngoài lương thực, đạn dược, có 20 người lính cũ lẫn mới bổ sung. Bây giờ tập trung các ghe lại, nhờ dân chèo vô quốc lộ chở hàng ra. Lính Sư đoàn 2 Bộ Binh nằm đầy trổng nên an ninh. Tần số liên lạc Trung sĩ Tam, Ban Tiếp Tế, là 34.00.

Tôi đưa ông đến người tù mới bị bắt. Nghe nói, Nhật nhanh trí vớ được sợi dây dù đâu đó trói chặt hai tay Nguyễn Thành Công. Thưởng nhìn sơ qua rồi nói:

– Chưa giải giao được, hãy dẫn theo. Coi chừng nó vọt.

Nói xong, vị Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và BCH Tiểu đoàn vội vàng nối tiếp đi sau Đại đội 4 của Đại úy Đỗ văn Nai, tôi không kịp hỏi han thêm vài chuyện, như việc mai táng cố Đại úy Quách Ẩn.

Trung sĩ Hơn dẫn một số anh em lội dọc bờ đầm Nước Mặn kiếm mấy chiếc xuồng lớn. Đồng thời, toán Thám Báo vô tận con xóm dưới chân đồi đồn lính pháo binh bắn cháy hôm kia, kêu những cư dân còn khỏe mạnh giúp chèo ghe và làm vài công việc khác nữa.

Nghe tin nhận tiếp tế và lính bổ sung, mặt người nào cũng hớn hởn, vui vẻ như trẻ thơ thấy mẹ đi chợ về.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 30  

Cái chết của Guiliano đã nghiền nát tinh thần của người dân Sicily. Hắn đã là người lính chiến của họ, là cái mộc che chở cho họ khỏi sự áp bức của bọn nhà giàu, bọn quý tộc, bọn “Người anh em” và bọn chính khách đảng Dân chủ Thiên chúa giáo ở Rome. Với cái chết của Guiliano, Ông Trùm Croce đã đưa toàn dân Sicily từ thằng có của cho đến tên khố rách – vào cái cối ép, để ép cho ra tài sản, của cải của bọn này. Khi chính quyền muốn xây đập, làm thủy lợi để cung cấp nước, với giá rẻ cho dân, Ông Trùm cho đặt mìn, phá các trang thiết bị dùng để xây đập. Bởi vì, lão kiểm soát tất cả các giếng nước. Đập nước cung cấp nước với giá rẻ cho dân. Nhưng ích lợi gì cho lão, nếu không nói là làm giảm số thu của lão? Sau thời kỳ chiến tranh là thời kỳ tái thiết. Ông Trùm có tay trong, biết trước bản đồ thiết kế, quy hoạch. Chỗ nào ngon, lão mua rẻ – và tất nhiên, lão “mua” thì phải được – sau đó, bán lại với cái giá chóng mày chóng mặt. Lão đứng ra “bảo vệ an ninh” cho các xí nghiệp. Đừng hòng bán – dù chỉ là nước A – ti – sô ở một quầy tại chợ Palermo – nếu không đóng chút đỉnh “thuế đen” cho Ông Trùm. Mấy anh nhà giàu đừng hòng mua sắm nữ trang cho vợ hoặc tậu ngựa nòi cho con trai mà không xin Ông Trùm bảo vệ an ninh cho. Với bàn tay cứng rắn, lão đã bóp nát mọi hy vọng “điên khùng” của đám nông dân khố rách chỉ ao ước được trồng trọt cho mình, trên mảnh đất bỏ hoang của hoàng thân Ollorto. Đạo luật cải cách ruộng đất do nghị viện ở Rome thông qua là cái mẹ gì. Một trăm, một ngàn đạo luật đó, cũng chấp. Bị ép, Ông Trùm một bên và đám quý tộc cùng với chính quyền một bên, thằng dân đen Sicily chỉ còn nước há họng than trời. Và, từ bỏ mọi hy vọng.
Hai năm sau khi Guiliano chết, năm trăm ngàn dân Sicilian – hầu hết là đàn ông, con trai – đã bỏ xứ tha phương cầu thực. Có người lặn lội sang nước Anh để làm vườn, để bán kem, để làm bồi trong các nhà hàng. Có người lần mò sang Đức để nhận những công việc tay chân nặng nhọc, hiểm nghèo. Khá lắm thì cũng sang Thụy Sĩ để quét đường hoặc đóng vỏ đồng hồ chim cúc cu. Có người sang tận Brazil, để vào rừng làm tiều phu. Có người liều mạng mò mẫm lên tận vùng Bắc Âu để chịu cóng rét ở đó mà kiếm miếng ăn. Và phúc đức lắm thì được Clemenza tuyển sang Mỹ để bổ sung “quân” cho cánh Corleone. Những tên đó được coi là may mắn nhất rồi đó. Cứ như vậy, cả cái xứ Sicily trở thành vùng đất của ông già bà cả, của con nít, của mẹ góa con côi. Đất đai trong xóm lẫn lộn sỏi đó không còn đủ sức cung cấp dân làm thuê cho các lãnh địa nữa. Vì vậy, mấy ông điền chủ cũng bị ảnh hưởng. Chỉ có Ông Trùm là mỗi ngày một giàu sụ thêm ra.
Gaspare Aspanu Pisciotta bị bắt vì cái tội phạm khi còn làm ăn cướp. Bị kết án chung thân. Bị giam tại nhà tù Ucciardone. Nhưng ai nấy đều ngầm hiểu trước sau gì y cũng được ân giảm. Nỗi lo lắng độc nhất của y là có thể bị làm thịt ngay trong tù. Chờ mãi chẳng thấy ai ân giảm. Y nhắn tin cho Ông Trùm là nếu không thả ngay y ra thì y sẽ tiết lộ tất cả những cuộc tiếp xúc giữa ngài Trezza và băng ăn cướp của y trước kia. Rồi chính ngài đương kim thủ tướng – lúc này ngài Trezza đã vồ được cái ghế thủ tướng rồi – đã âm mưu với Ông Trùm để sát hại các công dân trong vụ Portella del Ginestra.
Chính vào buổi sáng ngài Trezza nhận chức thủ tướng nước Ý, Aspanu Pisciotta thức dậy lúc tám giờ sáng. Y được biệt giam trong một xà lim rộng rãi, có cây cảnh, có mẫu thêu, may mà nó đã tập làm trong lúc bị giam. Công việc thêu may tỉ mẩn làm cho thần kinh y bớt căng thẳng. Thỉnh thoảng y cũng hồi tưởng lại tuổi thơ của y và Turi. Y cũng nhớ lại tình anh em, bè bạn thắm thiết giữa hai đứa.

Google photo edit by Sơn râu

Pisciotta làm cà phê uống. Y sợ bị đầu độc. Bởi vậy, mọi thứ trong cái ly cà phê ấy đều là do gia đình y gửi vô, thức ăn do nhà giam cung cấp y dùng để nuôi con vật cưng trong lồng. Những nhu yếu phẩm, y để trên một trong những cái giá cùng với đồ thêu, may, vải vóc và một bình dầu ôliu. Có nghĩa là, nếu bị đầu độc, cứ uống đại một họng đầy dầu ôliu là sẽ ói ra hết. Đếch sợ một thứ bạo hành nào hết. Bởi vì, y được canh gác kỹ quá mà: người đến thăm phải được nó xác nhận mới được vào cửa xà lim. Nó không được phép ra khỏi phòng nó. Kiên nhẫn ngồi nhìn con vẹt ăn hết thức ăn, rồi y mới bắt đầu bữa ăn sáng của mình, một cách ngon lành.
Hector Adonis rời Palermo và đáp xe đi đến nhà giam Ucciardone. Mặt trời tháng Hai đã bắt đầu nóng, mặc dù lúc đó mới là buổi sáng. Ông lấy làm tiếc mình đã thắt cà – vạt và bận đồ màu đen. Nhưng ông cảm thấy mình cũng phải ăn mặc đúng điệu trong những dịp như thế này. Tay ông chạm vào tờ giấy quan trọng để ở túi áo trong, chỗ ngực.
Khi đi qua thành phố, ông cảm thấy bóng ma của Guiliano cũng dõi theo ông. Ông nhớ lại một buổi sáng, chiếc xe điện chở đầy cảnh vệ bị mìn nổ tung. Đó là để báo thù cho gia đình Guiliano bị bắt giam cũng tại nhà tù này. Đã bao lần ông tự hỏi làm sao mà một đứa bé ông đã dạy dỗ kỹ càng như vậy về chủ nghĩa nhân đạo lại có thể làm những việc như vậy được. Ngày nay, những bức tường trước các tòa nhà ông đi qua đã cũ, nhưng trong trí tưởng tượng, ông vẫn nhìn thấy những hàng chữ sơn đỏ “Guiliano muôn năm”. Phải, thằng con đỡ đầu của ông không sống lâu. Nhưng điều làm ông buồn phiền là nó lại bị chính thằng em, thằng bạn từ lúc còn nhỏ của nó sát hại. Chính vì vậy ông đã rất thú vị khi nhận được chỉ thị đặc biệt của Ông Trùm.
Bức tường vào nhà tù cao và kiên cố. Dây kẽm gai chằng chịt. Lính canh gác cẩn mật, tuần tiễu ngày đêm. Giáo sư Adonis có đủ mọi giấy tờ cần thiết cầm tay, nên đã được cảnh sát đặc biệt đi cùng đến tận bệnh xá của nhà tù. Ông được lão Cuto, dược sĩ của nhà tù chào đón. Ông dược sĩ này mặc đồ trắng tinh. Thắt cà – vạt cẩn thận. Có lẽ ông ta cũng được theo học một khóa về tâm lý, nên ông ta cũng đã quyết định phải ăn mặc một cách đặc biệt trong một dịp đặc biệt như thế này. Ông ta thân mật chào hỏi Adonis. Và hai người ngồi chờ Pisciotta vẫn đến dùng thuốc streptomycin để trị bệnh lao phổi.
– Aspanu vẫn dùng thuốc đều đều đấy chớ? – ông Adonis hỏi.
– Phải, ông ranh ấy gìn giữ kỹ sức khỏe của mình nữa là khác. Y còn cai luôn cả thuốc lá nữa. Nghĩ cũng kỳ, tôi đã để ý thấy nơi nhiều tù nhân, lúc còn tự do, chúng phóng túng, bừa bãi, chúng hút thuốc cho đến cháy cổ họng, nhậu nhẹt đến cái mức mà giá như lá gan có bằng thép cũng phải xơ, chơi bời đĩ điếm cho đến kiệt sức, ngủ nghê cũng bất thường, và thường là thiếu ngủ. Còn tập thể dục ấy hả? Khỏi có bao giờ. Ấy vậy mà khi bị kết án chung thân thì mấy ông phá gia chi tử ấy lại bỏ hết mấy thói hư tật xấu ấy, ăn uống điều độ, tập thể dục đều đều, kiêng khem cẩn thận, bỏ hút thuốc…
– Có lẽ vì họ ít có dịp.
– Ấy, không. Ông bạn lầm. Hễ có tiền thì tại nhà tù này, ông bạn muốn gì cũng có. Thì có gì đâu. Lính tráng, cai ngục thì nghèo, mà tù nhân thì giàu. Bởi vậy, có thể hưởng bất cứ “thú vui” gì.
Adonis đưa mắt nhìn quanh tủ thuốc: có những kệ đầy thuốc và y cụ. Có những ô kéo bằng gỗ sồi, dán băng keo (đựng thuốc loại độc). Có cả hai giường bệnh nữa.
– Ông có gặp điều gì rắc rối khi phải lo thuốc cho thằng Pisciotta không? – ông Adonis hỏi.
– Không, tụi tôi đã được lệnh đặc biệt. Sáng nay tôi vừa trao cho y túi thuốc mới, có dấu niêm đặc biệt, người Mỹ làm để xuất khẩu. Thuốc ấy đặc biệt đắt tiền. Tôi lấy làm lạ không hiểu sao nhà nước lại cứ phải quan tâm nhiều quá đến việc giữ cho y sống như vậy, để làm gì không biết?
Cả hai nhìn nhau, mỉm cười.
Trong xà lim, Aspanu Pisciotta cầm lấy túi thuốc strepto và cẩn thận mở niêm. Y đong liều lượng cẩn thận rồi nuốt. Y lấy làm lạ vì cái vị hơi chua chua. Mới chỉ ngẫm nghĩ vậy được chừng một chút, thì thân thể y đã ưỡn cong về phía trước, rồi té lăn xuống sàn. Y la lớn lên, đến nỗi lính canh phải chạy vào. Pisciotta ráng đứng lên, chống cơn đau đớn nhức nhối trong khắp cơ thể, cổ họng rát buốt như muốn tét ra. Y loạng choạng bước về phía bình dầu ôliu: Một lần nữa, cơ thể y cong gập lại và y la lớn cho lính canh gác nghe: “Cứu tôi với! Cứu tôi với! Tôi bị đầu độc!”.
Trước khi gục ngã, y cảm thấy tức giận, vì biết mình bị lão Croce lừa gạt.
Lính gác khiêng Pisciotta xuống trạm xá và nói tù nhân bị ngộ độc. Cuto bảo họ đặt Pisciotta nằm trên giường và khám nghiệm. Ông ta vội vàng pha thuốc giải độc và đổ vào cuống họng Pisciotta. Chỉ có Hector Adonis hiểu rằng thuốc giải độc ấy là quá nhẹ, chẳng giúp ích gì cho nạn nhân. Adonis đi lại cạnh giường, tay thủ sẵn mảnh giấy ấy dưới áo lót của Pisciotta. Cùng lúc đó, ông nhìn vào khuôn mặt y. Cũng đẹp trai. Nhưng khuôn mặt ấy nhăn nhó vì đau đớn. Ông Adonis biết, cơn đau ấy thật là khủng khiếp. Lúc đó, Adonis đọc lời cầu nguyện cho linh hồn y. Và ông cảm thấy buồn kinh khủng. Ông nhớ lại lúc thằng này và thằng con đỡ đầu của ông, hai đứa, tay trong tay, vừa đi trên ngọn đồi, vừa đọc thơ về hiệp sĩ Roland.
Mãi sáu tiếng đồng hồ sau đó – khi liệm xác – người ta mới thấy mảnh giấy luồn dưới áo Pisciotta. Vì vậy, nên không kịp đăng cùng với tin tức về cái chết của Pisciotta đã được đăng trên báo chí và được lan ra khắp Sicily.
Trên mảnh giấy ấy có ghi dòng chữ: “Kẻ phản bội Guiliano sẽ chết như thế đó”.


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

12. Khi người Huê Kiều nắm quyền chủ động chờ dịp tiếp tay với quân Cờ Đen

Ngoài những nhóm lẻ tẻ bị phát giác tại Sài Gòn – Chợ Lớn, thực dân Pháp rất quan tâm về tình hình ở phía mũi Cà Mau. Bấy giờ, tỉnh Bạc Liêu chưa thành lập; phần đất cao ráo thuộc Bạc Liêu chưa thành lập; phần đất cao ráo thuộc Bạc Liêu ngày nay giáp ranh với Sóc Trăng là nơi mà người Triều Châu đến mua bán, làm rẫy, làm ruộng (tỉnh Sóc Trăng ngày xưa ăn qua vùng Vĩnh Châu). Lúa đã tốt (gạo Ba Thắc), dân địa phương gồm đa số người Miên thì hầu như không biết việc thương mãi. Người Triều Châu đến làm ăn dễ dàng, nắm độc quyền mua bán lúa gạo để cung cấp cho mấy chành ở Chợ Lớn, nắm luôn các phương tiện chuyên chở cùng việc mua bán lúa tạp hóa sỉ và lẻ. Đồng thời, họ cũng khai thác ruộng muối, xây lò hầm than. Nếu hồi cuối thế kỷ thứ XVII, đời HIền Vương, nhóm bài Mãn phục Minh của Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu một mình một chợ làm ăn ở Biên Hòa, Mỹ Tho, Hà Tiên thì vào cuối thế kỷ htứ XIX, người Huê Kiều cũng tung hoành, đến làm vua một cõi phía Sóc Trăng, Bạc Liêu. 
Trong số 12.484 dân Triều Châu và bộ toàn cõi Nam Kỳ (trừ Sài Gòn – Chợ Lớn) , riêng tỉnh Sóc Trăng (và một phần của Bạc Liêu ngày nay) chiếm đến 5.300 người, tức là non một nửa. Thực dân phỏng đoán ở Sóc Trăng còn đến 6.000 người Triều Châu khác trốn thuế, chưa ghi vào bộ. 
Từ năm 1877, nhà cầm quyền ở Sóc Trăng nhận ra sự hoạt động của Thiên Địa Hội. Nhưng đến 1880, tình hình trở nênrối rắm lạ thường, các nhóm Thiên Địa Hội dậy giặc chòm, họ không xúc phạm đến công sở, không đụng tới lính mã tà nhưng đánh nhau giữa các phe phái: Thiên Địa Hội thuộc Nghĩa Hưng (Kèo Xanh) đánh với Thiên Địa Hội Nghĩa Hòa (Kèo vàng). Cuộc tranh giành ảnh hưởng này có lẽ xảy ra từ khi họ chưa qua Nam Kỳ, là mối thù truyền kiếp giữacác lãnh tụ lớn, các lãnh tụ nhỏ cứ tiếp tục thanh toán (mãi đến nay, chưa thấy tài liệu nào giải thích rõ). 
Thiên Địa Hội ở vùng Sóc Trăng lúc đầu chỉ gồm người Huê Kiều và người Minh hương (Hoa liều lai việt hoặc Miên). Tháng 9-1880, họ đánh nhau có chừng 50 đến 60 người cầm gậy gộc; riêng về Bạc Liêu, có 3 người bị thương nặng phải gởi đi Chợ Lớn điều trị. Ngoài bọn cầm gậy gộc, còn nhiều người đi theo yển trợ về tinh thần, hò hét. Nên nhớ là người Hoa Kiều am hiểu nhiều môn phái võ thuậ,t số người cầm gậy toàn là võ sĩ được tuyển chọn. Lúc họ đánh nhau, hương chức làng và lính mã tà giữ thái độ không can thiệp và không đến giải tán. Hai nhóm rút luui sau khi mỏi mệt, không tố cáo với nhà cầm quyền. Tháng 11 cũng năm ấy, lại đánh nhau giữa hai phe Nghĩa Hưng và Nghĩa Hòa tại đường phố chợ Sóc Trăng, lần này có xung đột nhỏ với hương chức hội tề. Ngày 2 tháng 12 năm ấy tại Bãi Xàu, chừng 100 người dậy giặc ngoài đường, rồi đến 17 tháng 12, chừng 400 người lại đánh nhau giữa đường phố tỉnh lỵ. Thống đốc Nam Kỳ chấp thuận phạt bằng tiền tám bang Hoa Kiều ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bãi Xàu, Trà nho, Bố Thảo, Lai Tâm, Rạch Gòi, Láng Dài. Mặc dầu thỉnh thoảng có lục soát, bắt bớ, tịch thu tài lệiu, tống xuất về Trung Hoa hoặc đày ra Côn Đảo, Thiên Địa HỘi cứ phát triển về tổ chức. Ở nơi đất rộng người thừa từ Đại Ngãi tới mũi Cà Mau, bọn “anh hùng” xuất hiện từng toán chừng ba bốn chục người để đốt nhà, cướp giựt, ăn cắp lúa bó (vừa gặt xong). Nên hiểu đây là việc làm nhứt cử lưỡng tiện của họ: vừa có tiền xài, vừa hăm dọa được những người chưa chịu theo hội. Đầu tháng 1-1882, chánh quyền ở Nam Kỳ gởi một pháo hạm cỡ nhỏ đến đại Ngãi để thị oai, vì vậy mà bọn báo động tạm trốn tránh, tình hình trở nên khả quan. 
Năm 1882, khi tình hình ở Bắc Kỳ sôi động thì thực dân ở Nam Kỳ phát giác nhiều người Việt gia nhập thiên Địa HỘi. Một nghĩa quân từng lãnh bằng cấp tên là Phạm Văn Ngoạn (còn tên riêng là Chí, ở An Hòa Đông, tổng An Mỹ, tỉnh Sa Đéc) bị bắt về tội hoạt động cho hội kín. Ông thầy thuốc Tòng ở rạch Cái Đôi (Vĩnh Long) mộ người theo Thiên Địa Hội dưới uqyền chỉ huy của một Hoa kiều là Trần Ngãi. Từ Mỹ Tho, Nguyễn Văn nở đến xin gia nhập, được ông thầy Tòng phong chức đốc binh. Tháng 4 năm ấy, 22 người bị bắt về tội tham gia hội kín bị đày ra Công Đảo, chỉ có 2 người Minh Hương kỳ dư là người Việt – trong đó có 2 người thuộc họ Phạm đang lãnh phận sự oci xóc phần hộ hoàng tộc họ Phạm, tại Sơn qui (Gò công). Và người ở Sa Đéc, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Gò Công. 
Trong phúc trình về an ninh, viên Giám Đốc nội vụ báo động với Thống đốc Nam Kỳ rằng người Hoa kiều đang tuyển mộ, ép buộc người Việt vào Thiên Địa HỘi. Viên Giám đốc cũng thắc mắc không hiểu tại sao Nghĩa Hưng và Nghĩa Hòa lại chống nhau như rồi tại Sóc Trăng, họ ăn thua ở năm sáu địa điểm khác nhau. Tháng 5 cũng năm 1882, viên cai tổng Định Chí (Sóc Trăng) báo cáo rằng tất cả 18 làng trong tổng gồm người Hoa Kiều, Minh Hương và người Việt đều theo thiên Địa Hội không sót một làng nào cả. Từ Cần Thơ, chủ tỉnh Nicolai nổi tiếng là giỏi giắn và trầm tĩnh báo cáo là tất cả làng trong tỉnh, kg chừa một làng đều có Thiên Địa Hội. “Ngay trong lễ gia nhập, hội viên thề nguyền sẽ khởi loạn. Đầu mối của phong trào là từ trên Chợ Lớn phát triển xuống . . . 
Tuy nhiên, thực dân tạm yên tâm vì chưa thấy hành động chánh trị nào rõ rệt chứng tỏ họ chống Pháp. Phía Sóc Trăng, sát mé biển hoang vu thuộc tổng Thạnh Hòa (sau là Bạc Liêu), thực dân thoe dõi một cuộc tập họp qui mô của Hoa kiều đang cất chòi rải rác, canh phòng cẩn mật, số người lui tới thường trực đến 3 hoặc 400. Đầu tháng 7-1882, mẻ lưới tung ra với viên cai tổng dẫn đường, một viên đội mật thám cùng 12 nhân viên tháp tùng, ngoài ra còn hơn 50 dân tuần đi theo yểm trợ. Bị bao vây thình lình, mấy người Hoa kiều ấy chống cự mãnh liệt bằng gậy gộc. Nhơn viên mật thám bắt 17 người đang tẩu thoát và khi xét trong căn chòi có vẽ bí mật lại gặp trọn ổ 19 người đang nấu á phiện lậu và một số tài liệu liên quan đến hội kín. Số người bị bắt là 76, toàn là dân Triều Châu. 
Tại Sài gòn – chợ Lớn, từ lâu thực dân theo dõi, bắt những nhóm lẻ tẻ, tịch thâu tài liệu. Quan trọng nhất là việc khám xét và tịch biên hai căn nhà số 127-129 đường Lareynìere (Sài Gòn) được xem là sào huyệt quan trọng của nhóm Nghĩa Hòa, 7 người bị đề nghị trục xuất về tàu. 
Nhóm Nghĩa Hưng ở Sài Gòn và Chợ Lớn với đầu não là người Phước Kiến hoạt động tích cực, với xu hướng chánh trị rõ rệt, torng khi nhóm Nghĩa Hòa chiếm nhiều uy thế ở Sóc Trăng, Bạc Liêu chỉ nặng về hoạt động kinh tài. 
Từ hai năm trước, một nhóm Nghĩa Hưng bị phát giác (15-3-1880), 23 người bị bắt nhưng được thả ra hai tháng sau. Người trong hội lợi dụng tật tham những của viên chức Việt và Pháp, cứ lo hối lộ, nhờ vài người có uy tính bảo lãnh là xong vì thiếu yếu tố về mặt pháp lý; họ bảo vô hội là để tương trợ làm ăn, biên lai thâu tiền chỉ là biên lai chơi hụi hoặc góp tiền cúng chùa Ông, chùa Bà. Người Phước Kiến thường tới Chợ Lớn, về Tàu rồi trở ra giả danh mua bán, mang theo nào là sản phẩm ; mỹ nghệ bằng đá, bằng sứ, sơn mài, tơ lụa, đến những nhà khá giả mà bán rồi lợi dụng cơ hội tuyên truyền vận động ; “Họ sẽ gởi đại diện ra Bắc Kỳ để gặp bọn Cờ Đen”. 
Cảnh sát Chợ Lớn lại báo cáo rằng giới Hoa kiều đang bàn tán về nguồn tin của báo ở Hồng Kông loan tin ở Bắc Kỳ hiện đang xảy ra ác chiến giữa liên quân Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ xanh chống quân Pháp: quân Pháp chết 75, bị thương 12 và một số bị chết đuối. Nguồn tin khác của cảnh sát Chợ Lớn cho biết một nhơn vật của nhóm Cờ Đen tên là Xuân Hu hoặc Chu Tcheng Seng từ Tân Gia Ba đến, đi Sa Đéc rồi lên Sài Gòn. Thiên Địa Hội thuộc Nghĩa Hưng cùng phe đảng với nhóm Cờ Đen đang hoạt động chống Pháp ngoài Bắc. Vì vậy mà người theo Nghĩa Hưng phấn khởi, cho là thời ơc đã đến “triều đình quyết định ngày rằm tháng chạp âm lịch năm nay sẽ khởi nghĩa” Nhóm Nghĩa Hưng ở Chợ Lớn tuyển mộ thêm người, lãnh tụ của họ có thể là Kỳ Ao, trong căn cước ghi là Diệp Kỳ Thủy. thực dân bắt Kỳ Ao nhưng người trong Nghĩa Hưng lại tin chắc lãnh tụ này sẽ được luật sư Vinson danh tiến lúc bấy giờ lãnh ngoại hầu tra. Lại còn tin khác đồn đãi rằng người cầm đầu lớn nhất của nhóm Nghĩa Hưng là Huỳnh Coi đang ẩn lánh tại Hà Tiên vừa nhận lá thư mật từ bên Tàu gởi qua cho biết Lý HỒng Chương đã rời Quảng Tây, với cánh quân ước 15.000 người từ tháng 9 âm lịch, để tăng cường hoc đạo quân nàh Thanh đang có mặt tại Bắc Kỳ, đương đầu với pháp. Vì sợ giặc giã xảy ra đến nơi nên bấy giờ dân chúng không thích trữ tiền mà tích trữ vàng; một lượng vàng trị giá 32 đồng. 
Tuy nhiên, vài tháng sau chẳng có gì quan trọng xảy ra ở Nam Kỳ. Giới bình dân Hoa kiều ở Chợ Lớn lại loan tin: quân Pháp không bao giờ chiếm Bắc Kỳ được vì đạo quân do Lý Hồng Chương cầm đầu sẽ tái chiếm với lực lượng 120.000 người! Và khi người Tàu chiếm Bắc Kỳ rồi thì bọn Pháp phải nhượng bộ, người theo Thiên Địa Hội bị trục xuất sẽ trở về Chợ Lớn làm ăn như trước. 
Rõ ràng là lúc quân Pháp đánh Bắc Kỳ, người theo Thiên Địa Hội ở Chợ Lớn quá lạc quan, toan lợi dụng cơ hội làm áp lực với chánh phủ thuộc địa để rồi họ nổi lên tại Chợ lớn, giành quyền tự trị. 
Những lời đồn đãi của nhóm Nghĩa Hưng không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Tướng Cờ Đen là Lưu Vĩnh phúc (thuộc hạ của Ngô Côn, tướng của Thái Bình Thiên quốc) chạy sang Bắc Kỳ, lập được thành tích vẻ vang là lần lượt giết Francis Garnier và Henri Tivìere. Nhà Thanh vẫn xem Việt Nam là phiên thuộc nên cho quân sĩ tràn biên giới và tiến sâu chiếm vài vị trí trong nội địa. Trung Hoa và Pháp tranh chấp nhau, Lý Hồng Chương với danh nghĩa là Thự Lý thông thương đại thần cùng với Công sứ Pháp điều đình giằng co, trong khi chiến tranh cứ xảy ra ở chiến trường Trung Hoa. Thoạt tiên Pháp bày trận ở Phúc Châu trong khi quân Tàu giành được chiến thắng đáng kể ở Lạng Sơn. 
Sau cùng, vì Hạ nghị viện ở Pháp bỏ phiếu tăng thêm ngân sách dùng vào việc chinh phục Bắc Kỳ và cũng vì Trung Hoa đang gặp nhiều rắc rối ở Tây Tạng nên Lý Hồng Chương và đại diện Pháp là Patenôtre dứt khoát ký hòa ước Thiên Tân (tháng 6-1885) theo đó quân Tàu chịu rút lui về bên kia biên giới. Nhờ hiệp ước này, một số người theo thiên Địa Hội được Pháp ân xá cho trở về làm ăn. Họ không còn tham vọng chánh trị. Những anh em kết nghĩa Hoa kiều trước kia chỉ còn hoạt động trong phạm vi hùn hạp làm ăn, chơi hụi, giành ảnh hưởng kinh tế hoặc buôn lậu. thỉnh thoảng, xảy ra vài cuộc thanh toán mà người ngoại cuộc thấy là vô lý nhưng chẳng qua là vì tự ái thời trước giữa nhóm Nghĩa Hưng và Nghĩa Hòa.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 20 Aug 2024

11. Khi thực dân chú ý và phát giác

Từ năm 1869, viên Giám đốc Nội vụ nhiều khả năng, am hiểu tình hình Nam kỳ nhất là Paulin Vial đã lưu ý các tham biện nên theo dõi một vài hội kín. Có lẽ đến năm 1875, thực dân ở Nam Kỳ mới đặt thành vấn để, sau khi bắt được vài vụ Thiên Địa Hội, trước tiên là vụ Trương Đế Điển, người Triều Châu ở Biên Hòa thuộc nhóm Nghĩa Hòa Công ty. Lại còn người Triều Châu tên là Hứa Thanh ở Chợ Lớn cũng sa lưới. Sau khi phối kiểm, thực dân thấy rằng ở Hà Tiên, bên kia biên giới Cao Miên cũng Thiên Địa Hội. Nếu chỉ là người Huê kiều thì không đáng ngại, nhưng hoạt động của Hội kín lại mang tính chất chánh trị. Từ mấy năm qua, một nhân vật tên là Kim, tục danh là Quản Kim hoặc Ngô Quan Kim hoạt động ráo riết chống Pháp, đang cư ngụ ở Măng Thít (Vĩnh Long) chứa chấp những phần tử đáng tình nghi. Quản Kim này từng tham gia cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, bị bắt ở đảo Phú Quốc, đày ra Công Đảo rồi trốn về. Quản Kim đã ra Bình Thuận từ trước, trong hàng ngũ nghĩa quân từng được phong chức Quản. Đa số người Triều Châu và Phước Kiến, sau khi nhập cảnh vào lãnh thổ Nam Kỳ dường như bị bắt buộc vào Hội. Vùng Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh và khu vực hai bờ sông Hậu đặt dưới quyền của một nhân vật quan trọng mang biệt danh là Hồng Bằng Phi, thương cư ngụ tại Sa Đéc. Các chủ tỉnh được lệnh theo dõi hội kín và dùng biện pháp cứng rắn để đối phó. 
Chủ tỉnh Chợ Lớn cho biết là có hai ông bang (thuộc bang Triều Châu) đã xin yết kiến để tố cáo một lãnh tụ Thiên Địa Hội tên Tsiao Sen (sau đổi là (Tsiao Hen) đang hoạt động tại Chợ Lớn, cưỡng bách giới Huê kiều ở địa phương phải gia nhập. 
Trong tình trạng dọ dẫm, thực dân cố gắng khai thác các nguồn tin. Theo ý kiến và tài liệu của Emile Puech, chủ tỉnh Hà Tiên (đã từng ở Long Xuyên dẹp cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa) thì Thiên Địa Hội đã có mặt trước khi người Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây. Các hội viên họp thành đảng cướp khá mạnh, hoành hàn hvùng biển vịnh Xiêm La, hệ thống bao gồm đường hàng hải từ Hương Cảng, cù lao Hải Nam, Tân Gia Ba, Xiêm, Cần Giọt (Kampot), Rạch Giá, Sài Gòn, Hà Tiên. Hàng năm họ tụ họp để cúng tổ vào ngày 25 tháng giêng âm lịch. Lễ cúng diễn ra vào lúc đầu canh ba. Theo lời bọn dọ thám kể lại thì người cầm quyền lớn nhứt là lão Kiếm, từng bị xữ chặt đứt tay trái về tội ăn cướp từ hồi 30 năm trước. Bọn tay em ướcl ượng chừng 25 người. Lão kiếm là chúa đảng danh dự; chúa đảng hoạt động thật sự là người Minh Hương tên là Tăng Bộ, còn mang tên Việt là Huỳnh Văn Bửu, cỡ 41 tuổi đã hoạt động trước khi người Pháp đến, từ Hà Tiên đến tận mũi Cà Mau. Chúa đảng lập sổ, xướng danh từng người khi chia số tiền cướp bóc được. Ai túng tiền để làm ăn thì dịp này có thể mượn trước của ngân quỹ chung, với tiền lời 3 phân mỗi tháng, năm sau, họ đem tới trả, kẻ vắng mặt luôn luôn có nhờ một người khác trả giùm. Sau đó là lễ cắt cổ gà, uống rượu pha máu gà và tro của lá bùa vừa đốt. Rồi vào khoảng 4 giờ sáng, chúa đảng lên đàn, cắt lá gan của con heo mà chia đồng phần cho anh em ăn, gan còn sống, tiêu biểu cho lá gan của kẻ thù. Chủ tỉnh Puech giải thích: kẻ thù của họ năm nay có thể là Thống đốc Nam Kỳ! Sau đó, cả bọn giải tán bằng tiệc rượu, uống say mèm hoặc tha hồ hút á phiện, nằm tại chỗ. 
Chủ tỉnh cho biết thêm ở cái Tàu Thượng và Cái Tàu Hạ (Sa Đéc) có hai ngôi chùa làm trụ sở họp mặt của bọn cướp theo Thiên Địa Hội, hằng năm họ tụ tập cúng tổ rồi chia tiền. 
Để kết thúc bản báo cáo trên, chủ tỉnh Hà Tiên hứa là sẽ rình bắt cuộc hội họp cửa bọn hải tặc vịnh Xiêm La trong vài ngày sắp tới. Nhưng hắn không làm được. 
Viên hội đồng quản hạt là Nguyễn Thành Trung giải thích với cấp trên về nguồn gốc Thiên Địa Hội: Ngày xưa, đời Tam quốc xảy ra giặc Huỳnh Cân, ba người xưng là thiên công tướng quân, Địa công tướng quân và Nhân công tướng quân họp lại xưng là tụ Nghĩa Hội hoặc Huyết Bái HỘi. Bọn người theo hội kín ngày nay gọi là Chệt trường phát (để tóc dài), không cạo đầu thắt bím như người Mãn thanh. Bên Trung Hoa, vùng Tứ Xuyên, Hiệp Tây, Vân Nam, Qưới Châu đã từng bị hội kím làm loạn suốt hai năm, nhằm năm Nhâm Tý, Quí Sửu. Họ đưa ra câu sấm truyền: 
Nhứt sĩ anh hùng xuất 
Song thiên nhật nguyệt khai 
Và câu Thiên khia ư tý 
Địa tịch ư Sửu.
 
Đến đời vua Hàm Phong, ở tỉnh Quảng Đông, dân Triều Châu rủ nhau lập hội kín, một số người phỏng theo tổ chức của hội mà lập đảng cướp biển, gọi là giặc Tàu Ô. Hai ưtớng cướp Tàu Ô nổi danh là Cao Bằng Phi và Huỳnh Quốc Lập kiểm soát con đường biển từ Huế vô tới Kampot (Cao Miên), về sau chúng bị giết nên tạm yên. 
Tài liệu do ông hội đồng quản hạt nói trên cung cấp trùng hợp với tài liệu của chủ tỉnh Puech về chi tiết cướp biển. 
Đến khi quyển sách khảo cứu của Schlegel phổ biến ở Nam Kỳ thì nhà cầm quyền địa phương mới hiểu rành hơn. Quyển sách này được Giám đốc Nội vụ yêu cầu Tham biện xuất công quỹ ra mua làm tài liệu. Sách biên soạn với những tài liệu do nhà cẩm quyền thực dân ở Hà Lan sưu tầm, sau khi phát giác những hoạt động của Thiên Địa Hội của Hoa kiều ở Nam Dương. Thiên Địa Hội khởi đầu từ cuộc hỏa thiêu chùa Thiếu Lâm, đời vua Ung Chánh. Cách tổ chức của hội cùng nguyên tắc hoạt động khác nhau về chi tiết, tùy địa phương và trình độ của từng lãnh tụ, nhưng mục đích chánh vẫn là lập một chánh quyền, một tòa án riêng, không nhìn nhận chế độ, luật lệ đương thời.