Người bạn triệu phú

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Tối hôm ấy – tối thứ ba (chi tiết này rất quan trọng) – đâu vào khoảng 7 giờ, tôi đi lang thang trên đường Huỳnh Quang Tiên với ý định thăm viếng một người bạn thân thiết. Rủi thay khi tôi đến thì bạn vừa ra khỏi nhà chừng năm ba phút. Tôi đứng dưới gốc cây, hút thuốc với vẻ mặt sầu tư của con người cô độc. Thời giờ còn dư nhiều quá, giết nó bằng cách nào bây giờ? Hút thuốc được vài hơi, tôi sực nhớ tới nhiệm vụ của mình là phải… Đứng lâu một chỗ, coi kỳ quá, tôi rảo bước về phía mé sông Cầu Ông Lãnh. Quang cảnh hai bên hơi rộn rịp khác thường. Trẻ con đứng lố nhố, chỉ chỏ… Ngay cả những người lớn tuổi, những ông chủ nhà lầu, chủ biệt thự cũng ra ngoài sân, rời khỏi cổng, đi tới lui ngoài đường, nện từng bước khá mạnh, biểu lộ nỗi xao xuyến, bất mãn. Họ giận ai vậy? Thái độ dân chúng ra ngoài đường khiến tôi suy nghĩ tưởng tượng đến một biến cố… sốt dẻo vào giờ chót mà báo chí và các thông tín viên thạo tin nhứt cũng chưa biết đến. Họ đều là người lạ. Người ở hai bên dòm tôi, dòm ngó qua lại. Tôi dòm họ, mỉm cười, nụ cười lạnh nhạt, theo kiểu xã giao mơ hồ. Một bà trạc bốn mươi tuổi từ cổng biệt thự tiến tới như muốn chận đầu. Biệt thự ấy thuộc quyền sở hữu chủ của một ông chủ xuất nhập cảng danh tiếng ở đường Trần Hưng Đạo. Đích thị bà ta là vợ ông chủ.

– Xin lỗi thầy… Bà ta nói ngập ngừng.

– Chào bà.

– Dạ không có gì.

Tôi hơi thắc mắc. Nếu không có gì, tại sao bà ta đột ngột làm quen với tôi. Bà ta tiếp lời:

– Dường như thầy hơi quen với cái ông… thợ sắp chữ nhà in ở đằng kia hả?

Tôi xác nhận với tất cả dè dặt:

– Dạ, hơi quen. Thợ nhà in tôi quen nhiều người lắm. Chẳng hay bà muốn…

– Thì cái ông thợ chạy xe máy “xệp lết” ưa đi uống cà phê với ông đó.

– Dạ… ông ta gặp tai nạn?

Bà ta vung tay, đập mạnh xuống, suýt chút nữa đụng nhằm vai tôi:

– Ổng trúng số độc đắc!

Người thợ nhà in mà bà ta ám chỉ, tôi biết rồi: chính là anh Mộc, anh này nghèo lắm. Thường lệ cứ ba đôi tuần lễ, tôi ghé thăm anh một lần. Nhà anh Mộc cất trên bãi bùn, kiểu nhà sàn nhưng có lầu bằng ván thông. Việc xây lầu của anh ta rất dễ hiểu: nhà quá chật chội, không có đất để phát triển theo bề dài thì chủ nhơn tìm cách cho nhà phát triển theo bề cao với mớ vật liệu kiến trúc thuộc vào loại nhẹ. Tuy nhiên, đám con cái lủ khủ của anh Mộc thích ở tầng dưới để thỉnh thoảng chạy giỡn rồi té xuống bãi, uống nước bùn no bụng.

Tôi đứng im. Bà chủ xuất nhập cảng thúc hối:

– Ổng trúng số độc đắc rồi!

Tôi nghĩ thầm: Rõ ràng Thần tài đến viếng mọi người bất phân giai cấp, tuổi tác. Nhưng trúng số độc đắc là việc thế gian hy hữu. Nhiều người loan tin mình trúng số với mục đích đôi khi bất chánh. Tôi từng đọc báo thấy đăng người này trúng số, người kia trúng số nhưng tất cả đều xa lạ, ngoài phạm vi quen thân.

Lần này, nếu quả thật ông bạn Mộc quí hóa trúng số thì tôi được hưởng cái hên lây.

Tôi hỏi kỹ lại:

– Thưa bà! Ổng trúng thiệt hay trúng chơi?

– Trúng thiệt chớ! Trúng cá cặp, cặp đôi! Tôi nói dốc làm gì? Mới trúng hồi chiều. Ông nên lai “đằng” thăm ổng một chút.

Tôi bắt đầu sượng sùng. Thăm người bạn thân vừa trúng số cá cặp (một triệu nhân cho hai tức là hai triệu) quả là điều hơi tế nhị. “Thăm” trong trường hợp này có nghĩa là xin tiền, một kiểu xin vừa hợp lý, vừa khéo léo. “Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến”, “Bầu cư náo thị vò nhơn vấn, phú tại lâm sơn hữu khách tầm”… vân vân… hàng chục câu thơ, câu cách ngôn hiện lên trong ký ức của tôi.

– Mình thăm như vậy coi kỳ không?

Tôi hỏi thầm như vậy rồi bỗng nhiên tìm được câu trả lời:

– Chẳng có chi gọi là kỳ hết. Bạn thân của ta… cụ thể là chưa lãnh tiền! Nghe đâu theo thủ tục, muốn lãnh triệu bạc ấy, “đương sự” cần phải đợi vài ba ngày gì đó. Đi thăm viếng trong trường hợp này, hợp lý quá. Hơn nữa, mình giả bộ như chưa hay biết tin mừng quan trọng ấy. Lời thiên hạ đồn đãi lắm khi trật kia mà. 

Bàn chân tôi từ từ di động. Thích thú quá. Tôi vái trời cho thiên hạ đồn trúng như sự thật. Dịp hy hữu để tôi dò xét, sưu tầm, khảo cứu về tâm lý của người vừa trở thành triệu phú.

Con đường hẻm hiện ra bên phải, tối om. Nói là đường hẻm chớ thật ra nó chỉ là một chiếc cầu ván ọp ẹp, nếu đi không quen ắt làm rớt guốc xuống bùn. Yên tịnh quá. Khung cảnh giống hệt như ngày nào anh Mộc chưa trúng số. Vài người ra vào, thưa thớt. Tôi nghĩ thầm:

– Các cha hồi nãy phóng tin vịt. Thần Tài chưa thèm viếng cái cầu ván này.

Đến trước cửa nhà bạn Mộc, tôi thấy mấy đứa con của bạn vẫn trần truồng như thuở nào! Con nít lên năm lên bảy ra đùa giỡn hồn nhiên, nhiều đứa hễ mặc quần áo chừng vài phút là đòi cởi ra lập tức cho cơ thể khỏi bực bội.

Tôi hỏi nhanh:

– Có ba ở nhà không?

Mấy đứa “con nhà triệu phú” mỉm cười:

– Ổng mới đi chợ.

Vì là chỗ quên thân, tôi mạnh dạn mở cửa, trèo lên cái cầu thang bằng cây, ngồi bẹp trên lầu chờ đợi.

Độ nửa phút sau, ở từng dưới tiếng vợ bạn Mộc hỏi:

– Ai đó? Anh Kỳ Phong hả?

Tôi đáp:

– Tôi đây. Anh đâu rồi chị?

– Nhà tôi đi “đốc tơ”.

– Dạ bịnh gì vậy?

Tôi muốn nói luôn: Chắc trở thành triệu phú rồi mang bịnh vì thần kinh xúc động. Nhưng xung quanh tôi, chẳng có điều gì báo hiệu, chủ nhân là người triệu phú hợp pháp trong hiện tại. Mùi cá kho khô từ dưới bếp xông lên thơm thơm. Tôi ghé nhìn trộm qua kẽ hở của sàn gác. Vợ bạn Mộc đang nấu cơm với chiếc soong nhôm, thức ăn quá đơn giản. Ngoài nồi cá kho, trên bếp còn một mớ rau muống chưa luộc, vậy thôi!

– Anh đau bao tử. Bịnh mọi lần đó. Anh ngồi chờ, lát nữa ảnh về mà!

Bây giờ, tôi tin chắc trăm phần trăm rằng anh bạn Mộc không trúng số một triệu hoặc hai triệu như thiên hạ đồn đại. Nếu có, anh chỉ hưởng “lô” an ủi hai ngàn đồng hoặc trúng 100.000 đồng là cao nhứt.

Ngồi chờ lâu quá, tôi trải chiếu, nằm xuống. Bao nhiêu giả thuyết lần lượt nêu ra. Không có lửa làm sao có khói? Anh bạn Mộc vốn hiền lành, chẳng bao giờ dính dáng trong công việc làm ăn hoặc trong hệ thống tình cảm chòm xóm liên gia với bà chủ xuất nhập cảng. Nhứt định nguồn tin nó xuất phát từ một điểm hữu lý nào đó. Chẳng lẽ anh bạn Mộc lương thiện, hiền lành như cục đất lại loan tin ẩu với dụng ý làm “áp phe”? Vô lý quá. Chẳng lẽ bà chủ xuất nhập cảng và số người đứng loi nhoi ngoài đường khi nẫy lại phóng tin vịt để ám hại người lương thiện.

Mấy đứa bé chợt reo lên:

– Ba về! Ba về!

Bạn Mộc vào nhà, dựng chiếc xe máy vào vách. Tôi nghe anh hỏi vợ:

– Nẫy giờ, có ai kiếm tôi không?

– Có anh Kỳ Phong chờ trên gác đó?

Bạn Mộc reo to:

– Anh Kỳ Phong hả? Lại đây lâu mau rồi? Có chuyện gì lạ không?

“Chuyện gì lạ”! Ba tiếng nói mầu nhiệm ấy đáng lý ra phải thốt từ của miệng của tôi, đằng này anh bạn triệu phú hỏi ngược, làm như tôi là kẻ vừa trúng số cá cặp hai triệu. Thiệt ra, nếu là kẻ trúng số, chưa chắc tôi “có lòng tốt” để tìm anh Mộc nghèo nàn, xơ xác này để báo tin trước nhứt.

Bước chân anh nện rầm rầm trên cầu thang. Anh cố tình bước nhẹ để bảo vệ tài sản nhưng cả sàn gác mỏng manh yếu ớt đều rung chuyển.

Nhanh như chớp, tôi liếc xem gương mặt anh Mộc. Chẳng có gì lạ hết, vẫn nụ cười hiền hòa ngày nào. Nụ cười ấy đượm chất gượng gạo dưới vầng trán nhăn nheo.

Tôi hỏi:

– Đi đâu vậy? Đi “đốc tơ” hả?

Anh Mộc thở dài:

– “Đốc tờ” ăn hết năm chục đồng, biên thêm cái toa này đây… tốn kém thêm vài trăm.

Vừa nói, anh rút trong quần ra cái toa thuốc và một tờ nhựt báo! Tờ báo dò số hồi chiều chớ gì? Tôi lại cụt hứng vì báo ra trước khi xổ số. Kết quả xổ số in vào miếng giấy rời. Nhưng miếng giấy rời ấy đâu rồi?

Thế là tôi và bạn Mộc nằm xuống sàn gác. Bạn mở tờ báo, xem tin trong nước:

– À! Ngộ quá, trong đêm tân hôn, nàng dâu đá chàng rể té xuống giường.

Tôi hỏi lấy lệ:

– Ở đâu vậy?

– Ở Tân An. Còn nữa, bên Phi Châu người ta mới đào được bộ xương người xưa hơn 100.000 năm.

Tôi ngáp dài, thất vọng. Toàn những chuyện lạc đề. Trong giây phút, tôi muốn hỏi thẳng “Hồi chiều xổ số có ai trúng không? Số mấy ở sau chót trúng 100 đồng?” Nhưng tôi nghĩ rằng “điều tra” như vậy thiếu khéo léo. Người mà thiên hạ đồn đại trúng số đã thản nhiên chẳng chịu cung khai, báo tin cho bạn bè “chia” vui, lẽ đâu tôi lại hỏi trước, chất vấn một cách thiếu xã giao. Nhưng có chắc anh Mộc “bần cố nông” nằm mệt nhoài bên cạnh tôi đã trúng số không đã? Tôi mỉm cười, tự ban cho cái hân hạnh được nằm bên cạnh một nhà triệu phú “cá cặp đôi”. Bỗng nhiên anh bạn Mộc ngồi dậy, cởi áo, sờ trong túi hồi lâu, rồi mở bóp, nói một câu rất xa khơi:

– Nãy giờ quên mua thuốc hút chớ. Hết thuốc mà đâu có hay.

Anh rút tấm giấy năm đông và trút bốp xuống. Đồng bạc xi kên lăn tròn. Nhập tấm giấy và đồng xi kên lại, anh gọi vợ:

– Mình mua gói thuốc đỏ về hút.

“Gói thuốc sáu đồng” thuộc vào loại khiêm tốn nhứt, rẻ tiền nhứt. Chẳng lẽ nhà triệu phú ăn xài tiện tặn đến mức ấy?

Tôi hỏi một câu chung quanh vấn đề:

– Cữ này làm ăn ra sao?

Anh bạn Mộc nói tỉnh táo:

– Việc làm ăn thụt lùi, so với mấy tháng trước. Còn anh?

Bị điều tra ngược, tôi đáp:

– Đại khái, qua ngày tháng… vậy thôi.

Anh bạn cau mày, im lặng. Hồi lâu, vợ anh đi ra đầu ngõ, mua gói thuốc đem về trao nó lên:

– Thuốc nè anh.

Vừa xé bao thuốc, anh vừa lẩm bẩm:

– Người như anh, cần phải gặp dịp khá… mới sống vui vẻ, đầy đủ như thiên hạ.

Tôi chụp lấy cơ hội:

– Dịp gì bây giờ? Tôi mua giấy số, mỗi kỳ một tấm.

Anh bạn Mộc đánh xạch-xạch, vào cái bánh xe của cái hộp quẹt nhôm. Lửa nháng ra, đổ sao nhưng vẫn không cháy. Anh vẩy mạnh, kéo tim lên. Năm bảy lần sau, ngọn lửa bốc… đen kịt màu khói dầu lửa.

Trao cái hộp quẹt máy cho tôi, anh nói lẩm bẩm:

– À! Mua vé số hoài, mỗi kỳ một tấm mà anh trúng được lần nào không?

Tôi trả lời thành thật:

– Trúng lai rai.

Đôi mắt anh bỗng sáng lên:

– Trúng bao nhiêu?

– Một trăm đồng, đôi ba tháng trúng một kỳ. Chưa bao giờ tôi trúng một triệu… như thiên hạ!

Bỗng nhiên, anh bạn Mộc nằm xuống im lặng rất lâu, rồi thở phào, mệt mỏi:

– Bữa nay ngày mấy rồi hả?

Tôi níu câu hỏi ấy để “đánh mạnh”:

– Bữa nay… chiều thứ ba. Ngày “triệu phú đến nơi, chỉ mười đồng thôi, mua lấy cửa nhà, giàu sang mấy hồi”.

Làn môi anh bạn như nhếch lên cười rồi đâu trở về đó, im lìm như môi của pho tượng bằng đá!

Anh nói:

– Tôi hỏi ngày “an nam” kìa!

Rồi liếc mắt lên tấm lịch, anh tiếp lời:

– Ngày 17. Thôi, để mời anh ngày 19 tới vui với vợ chồng tôi.

– Làm gi mà vui.

Anh bạn Mộc cau mày:

– Cúng ông bà.

Mấy đứa bé đùa giỡn ầm ĩ, rượt bắt nhau rồi bò lên cầu thang, lần lượt:

– Cho tiền mua kẹo ba! Cho đi ba.

Anh bạn gật đầu:

– Tụi bây bốn đứa. Ba cho mỗi đứa… năm cắc. Hai đồng bạc đây.

Anh ngồi dậy, móc bốp, trao tiền cho đàn con rồi nói khẽ với tôi:

– Tụi nó cứ lai rai như vậy hoài.

Đã đến lúc tôi ngồi dậy, chấm dứt cuộc điều tra về nhà triệu phú hụt!

Ngoài kia, gió thổi hiu hiu, xe cộ dập dìu qua lại dọc theo hai bên bờ sông cầu Ông Lãnh.

Chiếc đồng hồ reo kêu đều đều: tích tắc, tích tắc… Kiểu đồng hồ quá xưa, mấy đốm lân tinh ẩn hiện xanh lè bên ánh đèn chong leo lét. Tôi hỏi:

– Tám giờ rồi. Đúng không?

Anh bạn Mộc đáp:

– Đúng lắm. Tôi nhớ coi… mua nó đâu hồi bốn năm qua. Kiểu đồng hồ hơi xưa nhưng máy móc và chuông reo quá tốt, còn xài tới năm sau năm nữa là ít, chưa đem đi sửa hoặc chùi dầu lần nào hết. Cứ một tuần lễ, nó chạy chậm bốn phút rưỡi.

Tôi từ giã, xuống cầu thang. Vợ anh Mộc dọn sẵn mâm cơm cá kho, rau muống:

– Mời anh ăn luôn.

Tôi đáp:

– Dạ ăn rồi.

– Sao anh ăn sớm vậy? Chị Mộc hỏi.

Anh Mộc lại câu mày:

– Ngày 19, anh nhớ nghe…

Anh tiễn chân tôi ra tận đầu ngõ hẻm.

Tôi đi vài bước rồi ngoảnh lại. Anh Mộc ở trần, đứng vẫy tay.

Vài người còn đứng hai bên đường, giương mắt theo dõi phía anh bạn Mộc. Chờ khi anh vào khuất trong ngõ hẻm, họ đến gần tôi.

Qua ngang biệt thự của vợ chồng ông chủ xuất nhập cảng, tôi hơi ngạc nhiên vì họ đứng lẩn quẩn trước cổng. Tôi cúi đầu chào. Bà chủ hỏi dồn:

– Sao, ổng trúng cá cặp hả? Tôi chờ tin tức của ông nãy giờ.

Tôi nói không chút do dự:

– Thưa ông bà, chắc là chẳng trúng gì ráo. Tôi vừa thăm ổng, vợ chồng ổng tỉnh khô, cách ăn uống, con cái của ổng như mọi ngày. Xin lỗi, chắc bà con xóm này đồn đãi trật rồi.

Lần đầu tiên, ông chủ xuất nhập cảng ngỏ lời với tôi:

– Chắc chắn ổng trúng số độc đắc. Trúng thiệt mà.

Tôi cương quyết phản đối:

– Dạ, nếu có, chắc họ trúng chừng mười ngàn là tột bực.

Ông chủ lắc đầu:

– Trúng cá cặp hai triệu. Ông có hỏi không?

– Dạ tôi không dám hỏi thẳng việc trúng số. Chỗ anh em, hỏi vậy hơi kỳ quá. Mình dám mở miệng hỏi là khi nào họ khơi mào trước. Đằng này, từ vợ chồng đến con cái, ai nấy đều tỉnh khô.

Chập sau, tôi nói tiếp:

– Đã tỉnh táo mà còn có vẻ âu lo về sanh kế hơn mấy lúc khác. Nếu trở thành triệu phú, chắc chắn vợ chồng ông vui tươi, ăn uống hơi có cá thịt hơn mọi bữa. Đặt trường hợp tôi trúng cỡ một ngàn hoặc được an ủi hai mươi ngàn tôi hò hét, mua rượu về nhậu om sòm chớ làm sao giấu kín nỗi vui mừng cho được?

Ông chủ xuất nhập cảng mỉm cười:

– Ông nói sao chớ tôi tin chắc trăm phần trăm rằng ổng trúng số độc đắc, căn cứ vào thái đó tỉnh táo, âu lo, ăn uống kham khổ ấy. Nè, ông hiểu không? Điều này tôi xin lỗi… vì ông còn quá trẻ.

Tôi nhướng mắt, tò mò muốn cho ông chủ xuất nhập cảng nói hết ý kiến:

– Thưa ông, tôi sẵn sàng tôn trọng ý kiến của người lớn tuổi và đã thành công quá nhiều trên đường đời như ông.

Ông chủ xuất nhập cảng lại cười:

– Cám ơn, ông quá khen. Nhưng mà… theo kinh nghiệm, tôi thấy như vầy. Hễ trúng số một ngàn, mình hò hét, khoe khoang với anh em chòm xóm, niềm vui của mình được trọn vẹn, cởi mở. Còn nếu trúng một đôi triệu, mình trở nên con người khác… vừa lo lắng, vừa sợ sệt cho tương lai. Rồi đây hàng trăm người bà con xa, bà con gần tới thăm viếng, mình nhức đầu chưa biết đền ơn trả nghĩa mọi người chừng mấy trăm hoặc mấy “ghim” cho trọn vẹn. Lại còn hàng trăm kế hoạch làm ăn, kế hoạch nào cũng hay nhưng đồng thời cũng dở, không khéo chừng một năm sau tiền bạc tiêu tan ráo trọi, thiên hạ cười cho rằng “cốt khỉ hườn trở lại cốt khỉ”. 

Tôi gật đầu, gẫm lời nói của ông chủ xuất nhập cảng hơi có lý. Tôi chưa tin vội. Ông có gia sản đáng giá bạc triệu thật đấy, nhưng ông chưa ắt đã từng trải qua tâm trạng của người trúng số một triệu.

Đoán được nỗi thắc mắc của tôi, ông nói tiếp:

– Tôi biết ông chưa tin lời của tôi. Tôi cam đoan trăm phần trăm rằng ông bạn ấy đã trúng số độc đắc rồi đó. Người hàng xóm thấy rõ lúc ổng đang nghe “ra dô” dò số. Ổng la lên một tiếng rồi im phăng phắc không thèm tri hô tiếng thứ nhì. Sau đó, ổng hơi nhăn nhó mặt mày. Thôi, chào ông. Mai chiều, ông điều tra kỹ lại rồi cho biết tôi nói đúng hay sai… nếu khi nào ông có dịp qua đây.

Tôi về nhà đọc sách, uống cà phê, quên mất cái tin trúng số độc đắc nọ. Tôi cho rằng người hàng xóm thấy thấp thoáng con gà bay rồi tri hô… con phụng hoàng. Vài hôm sau, nhân đọc tờ nhật báo nọ, tôi trố mắt bắt gặp bức ảnh ông bạn Mộc đang cầu chứng “một cột” với lời chú thích “nhà tân triệu phú” nơi mục tin vặt trong nước.

Ông chủ xuất nhập cảng nọ quả là ông thánh sống! Tôi muốn trở lại biệt thự để ngỏ lời khâm phục sát đất ông ta. Nhưng trở lại làm gì nữa. Ông ta chắc chắn đã đọc tờ báo ấy hoặc nghe những độc giả ở lối xóm đồn đãi rùm beng rồi.

Lâu Lâu Một Lần

 gio-o.com

Hồ Đình Nghiêm

tản mạn 

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Lâu lâu một lần là tựa dùng đặt cho mục thư tín. Hiểu ra, năm khi mười hoạ người ta mới viết thư hỏi han nhau. Lời lẽ gay cấn thì đưa ra cùng chia sẻ. Vụ này chắc khác với lời đàm thoại xởi lởi “lông thai nô xi”, nhỉ?

Cơm nước xong, xem hết vở hài kịch trên TV, chồng nói khuya rồi vào ngủ em. Vợ nghe lời, lên giường sửa gối chăn xong liền chép miệng: Hay là mình… lâu lâu một lần… 

Trong mọi tình huống, lâu lâu một lần vẫn chứa đủ cái khác thường, bởi nếu đều đặn, chuyên cần vận hành suông sẻ thì đã không “than thở” tới vấn nạn thời gian. Lâu đến nỗi chẳng thèm nhớ tới lần cuối chúng mình gặp nhau là tháng mấy, năm nào? 

Tuy vậy, lâu lâu một lần cũng tựa như lô an ủi, có còn hơn không. Đừng quay mặt bỏ đi biền biệt chẳng ư hử, hãy nhớ lâu lâu nên tạt về nhìn lại mặt nhau chuyện trò, dẫu bâng quơ. Hàn Mặc Tử từng có thơ: 

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên… 

Chẳng trách móc nhắc nhở: Lâu quá rồi, bộ tính bỏ Huế mà đi luôn hay răng? Lâu lâu một lần tôi ghé thăm người ấy, theo gió San Jose về lần khân bên thềm. Tôi luôn bị xem là thằng nhà quê, thúc thủ nỗi dại chưa đi một ngày đàng. Đôi khi Gió O là thôn Vĩ của tôi (tưởng tượng dù trong tưởng tượng) ở đó từng hiện mọc từng đọt nắng mới, dòng sông, hoa bắp lay, hoặc một chuyến đò chở kịp trăng về tối nay. Những quý vị nữ lưu văn hay chữ tốt đi kèm với dung mạo xinh tươi mà năm tháng lâu-lâu-một-lần không khiến họ phải già cỗi. Thơ văn mà, làm sao định được tuổi tác? Từ nắng hàng cau đến nắng rám quả cam, chín hồng trái bưởi, họ già dặn trong cõi viết và mộng thắm cùng văn chương. Nhưng… 

Mùa này đang diễn ra cuộc so giày sôi nổi, đầy kịch tính lẫn oan nghiệt của các mỹ nhân khắp năm châu bốn bể quần tụ trên sân cỏ, vận hội được mang tên “FIFA Women’s World Cup 2019” tại France. Đã women, đã là bóng hồng thì cuộc chơi cũng vấp phải ít nhiều trở ngại. Xa chồng thương con nhỏ ở lại nhà thì chẳng nói làm gì, vì tối lên giường ở khách sạn có thể mở máy ra, bắt sóng tỉ tê tâm sự suốt năm canh. Đằng này áo xống hẳn hoi, mang vớ xỏ giày rồi nhưng nhăn nhó mặt hoa da phấn rỉ tai coach: Kẹt ghê nơi, em chơi hổng đặng đâu nha, bị em đang có tháng. 

Có tháng là chi? Thanh niên thật thà như đếm cần được “giáo dục” tại chỗ: Mày khờ quá nha, tiền đạo ấy bị kinh nguyệt hành sợ dẫn banh đi phá lưới không được đâu à nhen. Ác vừa vừa thôi, cho con người ta ngồi ở ghế dự bị suốt hai hiệp cho êm, hạ hồi phân giải. 

Ở lãnh vực văn chương, từ đầu thập niên 80 xuất hiện một đội ngũ quý cô quý bà đánh đấm ra trò, thơ văn hay dàng trời, lẫy lừng muốn qua mặt đám mày râu không thèm bóp còi (và bóp cái khác). Nhưng dần dà, lần hồi hết chị này đến chị khác… “bị có tháng”. Chồng khuyên: Thôi em đừng hành xác chơi trò vô bổ nữa, con đang mè nheo kìa, vén áo cho nó bú chút chít đặng êm ấm cửa nhà, yên bề gia thất. Lại có đại trượng phu khác ngôn: Anh hăm thik diệc em mần thơ đâu á. Chít mẹ rùi, sao lóng rày có nhìu thằng tán tỉnh em wá. Túm lợi là hỏng mún đâu nha. Nôm na: Vợ bỏ bê trách nhiệm, hết đảm đang. Người tình ra mắt sách, có khối thằng đàn ông xúm lại bu như sam. Ghen. Sợ một mai con sáo sổ lồng sáo bay. Sợ tiếc sợi dây dài lỡ cột vào chiếc gàu bên thành giếng cạn. 

Thêm vô vàn chuyện “nghĩ không ra” tác động vào và như vậy, những bóng hồng, những cau, cam, bưởi đã âm thầm như trái sầu riêng lặng lẽ rụng xuống vườn khuya, thôi lâu lâu một lần mang hương mùi cũ về xông lại bên đám cỏ sầu héo mọc hàng giậu thưa, tương tư. 

Sau đàng chị, lớp đàn em cỡi voi ra trận tiền. Con cháu hai bà nổi lên một mỹ nhân chung quê Gò Công với Nam Phương Hoàng Hậu: Trangđài Glassey-Trầnguyễn. Nàng xuống tấn, thi triển bao đường quyền huê dạng rồi đùng một cái, nàng nghỉ chơi. Nàng “xếp áo xống, buông gương lược để dành hơi”? Nàng còn ngụ ở khu “Bonsai” California hay nàng giỏi chân xuôi đổ xứ lắm cây xanh thơ mộng quê quán chàng? Tôi chờ tôi đợi viễn ảnh “em về điểm phấn tô son lại, ngạo với nhân gian một nụ cười” nhưng mô có thấy. Răng lạ rứa? Chớ bi chừ em ở nơi đâu? “Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?” (BG). 

Tôi định viết thư lâu lâu một lần để hỏi thăm nhà thơ Lê Thị Huệ về những khoảng trống đáng phàn nàn, về sự vắng mặt chẳng đáng có; nhưng nghĩ lại cái thét mét ấy hơi bị vô duyên. Mọi sự diễn ra, đến rồi đi, cứ nên xem đó chỉ là một cơn gió tình cờ thổi qua. Gió nâng những cánh diều bay lên, bay cao. Gió cũng mang theo mưa tạt, đầm đìa bao cánh hoa vừa hé nụ, rời rã. Gió va vào thái dương gây ra bệnh nhức đầu ớn lạnh, kêu bằng trúng gió. Đau răng mà chết? Dạ, khi không mà trúng gió, nằm thẳng cù đèo, ngủm củ tỏi, chết nhăn răng, bất đắc kỳ tử. 

Gió, do vậy, tự thân đã mang đủ cái vô thường. Đàn ông lắm khi cũng nhác chơi, có tháng. Trăng là nguyệt, trăng rằm hoặc nguyệt khuyết. Mấy thằng người sói khi “có tháng” thì tự nhiên lông mọc tràn đầy,  ngước mặt trông trăng mà rú lên. Không vô thường thì còn gì nữa? Lâu lâu một lần, quởn tôi xem báo điện tử trong nước, đọc phải bao điều thất thường, hơn cả vô thường, bà con cô bác ở biển ngoài có vị chắc chưa tường, lai rai thuật lại: 

Bệnh nhân ở Cà Mau bị tai nạn lao động, chẩn đoán gãy đột sống ngực số 8. Đưa về bệnh viện Chợ Rẫy ở TPHCM điều trị, bị khoan nhầm cẳng chân. Chuyện (có vẻ đùa) sau đó được kể lại: Bác sĩ chuẩn bị đưa máy khoan vào chân bệnh nhân, tôi nghe anh ấy hét to: “Khoan…” Thế thì tôi phải khoan thôi! (Ông bác sĩ này thuộc dạng “phải gió”, ra đường em gặp thằng phải gió nó đè em ra, nó chơi!) 

Lại chuyện nhức đầu khác: Ngày 20 tháng 6 vừa qua, toà án nhân dân huyện Quế Sơn, Quảng Nam đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Phước, sinh năm 1973, 3 năm tù vì tội trộm cắp tài sản. Đứng trước vành móng ngựa, bị can thành thật khai báo: Thưa quý toà, số tiền đó tôi đánh cắp trong tủ mẹ ruột để mang cho bà mẹ vợ, vì hoàn cảnh bả đáng thương hơn! 

Tôi không học luật, chẳng hiểu mô tê gì cả, nhưng cá nhân tôi dù không bị trúng gió cũng lấy làm cắn rức lương tâm khi nghe tội phạm nhận bản án là 3 năm tù. Anh ta tuy bất hiếu với mẹ này lại có hiếu với mẹ khác. Lý ra bị cáo ấy nên tự bào chữa: Quý toà chưa nghe câu “nhất vợ nhì trời” hay sao? Huống hồ người nhận tiền là mẹ vợ (đẻ ra bà trời). Bà Nguyễn Thị Kim Ngân có trên 300 bộ áo dài, một bộ giá không dưới 100 triệu. Chẳng hiểu bà ấy có được mấy thằng con rể ngon lành như tôi? 

300 bộ áo dài (vì sao báo đưa tin lại dùng thêm chữ bộ, ý nói là áo dài với quần dài là một cặp đồng nhất?). Nếu trong tủ bạn sở hữu tới chừng đó áo dài, một ngày kia bạn đứng săm soi, chảnh với gương soi, chắc bạn sẽ nói: Lâu lâu một lần ta mới đụng tới chiếc áo ni. Ui thui, dạo này vòng số hai sao bành trướng chết khiếp, mặc hổng vô rồi. Chuyện nhỏ! Bụng to cũng có nét xếch-xi của bụng to vậy. Không ấy, tìm lựa chiếc áo khác, rộng rãi thông thoáng một tẹo mà thử cài khuy xem sao. 

Tôi cũng xin “cài khuy” bài tản mạn dấm dớ này lại để thưa: Các nhà văn nữ thân mến, hãy vui chân trở lại vườn xưa. Cho dù hình hài bạn thay đổi đến cỡ nào đi chẳng nữa, tôi vẫn thuỷ chung ôm giữ một định kiến: Biu-ti-fùn. Lâu (vơ) ly. Tôi rất lấy làm hân hoan khi đọc phải tâm tình bạn dàn trải ra. Bởi xin bạn hiểu cho, dù sao chúng ta cũng có một thời là kẻ đồng hành, tuy chẳng nắm tay nhưng vẫn sát vai đi cày xới những luống đất lạ, nơi treo tấm bảng ngoài vùng đặc khu: “Văn chương hải ngoại”. Lâu lâu một lần, nhé. (Nhìn mặt nhau hoài thì cũng bất tiện?) 

Chẳng rõ người chủ biên trang Gió- O có đồng thuận để đăng bài tâm sự vu vơ của kẻ hèn này lên không? Thì cũng lâu lâu một lần vậy mà. Bận sau sẽ tiếp tục nán lại lâu lâu. 

Hồ Đình Nghiêm 

© gio-o.com 2019

Ký ức trắng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 4/04/2015 

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Hằng năm cứ vào tháng Tư, ai đó diễu nhại, lá trên đường đổi sắc đỏ và dân Mít lại đổ lệ nhiều. Hơn cả ung thư, có những mầm bệnh mà y khoa đầu hàng thua cuộc buông xuôi phó mặc cho huyền nhiệm. Tới bến bờ hay đắm mình giữa trùng khơi hoạn nạn, chưa khi nao ảnh Chúa tượng Phật lại có cớ lạm dụng hơn thế, mang ra làm lộ phí giữa mê muội hành hương. Có những cảnh đời bày biện đẩy con người chạy làng như quyết định tối hậu, có những cánh cửa mãi đóng chặt then cài và kẻ đứng ngoài ngớ ngẩn lầm bầm đọc vụng ca dao “bầu ơi thương lấy bí cùng”.

Anh và tôi chung một giàn nhưng điều ấy nào sá gì cho toan tính kèn cựa, giở trang sách xưa để gầm mặt vào hàng chữ gạch đít “người ta phải cố gắng để không chết hai lần”. Vượt qua hoạn nạn duy chỉ một lần, xoá nhanh đoạn phim ảm đạm để làm cá hồi ngược dòng về lại chốn xưa. Ví phỏng đường đời bằng phẳng mãi, anh hơn tôi thần sầu ở chỗ còn nghe ra tiếng gọi cố hương. Một con cá hồi, nghe người ta khuyên bảo chí ít một tuần phải ăn hai lần vì thịt nó chứa nhiều nguồn dinh dưỡng, chất omega 3 các thứ. Cá hồi về tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Nghe như chân lý, giống thứ chân lý từng có thời đắc địa “dù xăng có cạn lốp có mòn, thì số sườn số máy vẫn không hề thay đổi”.

Email bạn gửi rơi vào hòm thư: Quyết định dài hơn một mùa đông, ngày đầu xuân luôn gợn bao nhăn lòng, tháng tư mình về ngó lại mộ Mạ, chị dúi cho em ba ngàn lận lưng, ăn tiêu dè xẻn chứ đừng dại ngỗ nghe lời ma nữ, chớ tâm đắc câu “trời đãi kẻ khù khờ” mà mang hoạ vào thân, chụp toàn bộ núi đồi khu “nhà Mạ ở”, mang về cho chị xem thôi mộng mị quàng xiên, chuyến bay đêm quờ quạng đâm mây đặc, nếu lạc phi trình thì đến thế giới bên kia, ông bà cha mẹ chắc thôi quỡn, gọi mình về nhìn mặt mà ích gì, hộp đen mình để hộc trên đầu, mở ra chỉ toàn tư trang bèo nhèo phận di dân, mất tổ quốc từ lúc xanh đầu, nhớ và quên như ba lá bài oái oăm luôn đổi chỗ, mình xuống tới mặt đất không sức hút, trùng vây bao chuyện lạ giữa phố xưa, hai hàng cây đã bỏ trốn đi đâu, bạc nhược người trồng chân rát nắng vàng, kỷ niệm không xôn xao chùm lá xanh, người già trơ như vết rạn bấu cổ thành, mình không gặp ai quen thân sơ làm cây chùm gửi, hoa hổ ngươi chỉ lầm lủi ngó ra cậu bé ngày nào ham bắt ve sầu, hắn thả diều chán lại đá banh trên đồi trọc, đi tắm sông và đỏ mặt khi có gái đứng kề, thoáng hối hận bao trùm giây phút đó, chẳng gì xốn xang bằng hắn là kẻ lạ chính trên quê hương…

Là Ca-na-điên chắc bạn sẽ an toàn xa lộ, đứa tỉnh táo mới rước phiền não thường hằng. Nếu hắn biết tìm chỗ thư giãn, a tới z thì bợn lòng sẽ đổ biển trôi sông. Ví dầu đọc phải bảng hiệu “Cô chủ mồ côi” treo trước túp lều tranh trơ trọi trên quốc lộ, ai cầm lòng cho đậu để một mất một còn trong trận chiến đấu tranh tư tưởng? Với ba ngàn tiền như lá mùa thu mà cố quận gọi nhiều như quân Nguyên thì làm hoàng thượng cũng dễ, sá chi duy chỉ một cung tần. Bây đâu, kíp gọi thêm cho trẫm, bản thân ta rất dị ứng chữ mồ côi. Thêm thay nhà nước đang đề xuất an toàn thực phẩm vệ sinh nơi ở, ta không thích than: Long thể bất an vì long sàng có rệp! Ngứa ngáy mình mẫy sẽ nhắc trẫm nhớ lại chuyện xịt thuốc khử trùng ngày đầu chân dẫm lên bờ cõi tự do. Ôi thôi, sông có khúc người có lúc. Lúc đó ta rách nát thảm thương như thế nào em có hay? Y phục toe tua chẳng nhìn ra manh áo, ta đói khổ dơ xương làm mủi lòng người Liên hiệp quốc. Ác quỷ vẫn trốn dưới giường nhưng hàng đêm thiên thần siêng về, đừng sợ hãi những gì chúng thì thào, có ta hiện hữu là biểu tượng một bình minh chan hoà bao vầng quang. Mặt trời sưởi ấm, xua tan mọi giá băng ngươi nhiễm lạnh, hãy cùng ta hát bài ca ngợi tự do phút đổi đời.

Đừng nghe những gì trẫm nói hôm nay mà hãy nhìn con người trẫm ba chục năm về trước. Xốn xang lắm mẫu hậu ơi! Đó là lời trần tình chẳng phải ai cũng thốt ra được. Con người ưa dấu che quá khứ, càng đen tối càng ưa bưng bít thông tin. Xã hội chủ nghĩa mãi ngăn chận tiếng ong ve, họ hổng ưa văn minh nhân loại ngó xuyên suốt luỹ tre làng cũng chẳng phải thuộc dạng khó hiểu. Chớ lấy đó làm điều nên hàng năm Việt kiều búa xua đổ về từ hang cùng ngõ hẹp. Ăn chơi còn sợ mưa rơi nên anh cứ kiếm cách bào chữa cho bận áo gấm về làng. Ừ, thì vạn bất đắc dĩ thôi, cứ giả dại nhắm mắt trước bao điều ngang ngược thì cũng kinh qua. Và họ lập luận, đất nước bi chừ thay đổi dữ lắm. Cứ vô tư ăn chơi tới bến, miễn là anh đừng đá động tới chính chị chính em. Trăm năm trong cõi người ta, Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân. Bán mình chuộc cha, cái vận số nọ không liên quan tới chính trị sao? Oải hết biết. Đã mang cái nghiệp vào thân, Việt kiều nhiều hạng khéo là ghét nhau.

Tuy không phản hồi, bạn vẫn tiếp gửi điện thư, thư không suông văn vẻ vần vè tuồng như do tâm cảm chịu nhiều nếp gấp dồn cục gò đống. Hỗn mang nỗi niềm: Mình tình cờ gặp lại cô bạn học khi xưa, đã chồng con và nhan sắc là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn, một dung mạo đang đi- tới-cuối-tháng-Tư. Cô rộng lòng dắt về nhà làm cơm khao đãi ôn lại bao bể dâu sông kia rày đã nên đồng. Chồng công tác việc cơ quan ngoài thủ đô, con trai lấy vợ xa nhà, duy chỉ mình đứa con gái 17 tuổi là sớm tối kề cận mẹ hiền. Hai mẹ con tươi như hoa khi được tưới nước, họ dắt mình đi chợ tham quan cho biết sự tình thời giá sinh hoạt. Phút đầu ngại ngần nhưng sau họ thuận lòng cho mình chi trả sở hụi bữa cơm gia đình với phí tổn dễ chịu gần hai trăm đô. Ăn uống thoả thuê, mình thành thật khai báo là ở trọ trong khách sạn 3 sao nằm bên sông và mục đích lần về chẳng có gì to tát ngoài việc thăm lại mồ mả cha mẹ, nếu thấy xuống cấp thì kíp phải chỉnh trang ngó sao cho đặng như sự uỷ thác của người chị.

Bạn gửi theo sau là bốn tấm ảnh ghi lại cảnh quang, mặt tiền căn nhà ấy cũng như sơn hào hải vị nằm trên bàn tiệc. Ảnh hai mẹ con và ảnh bạn đứng sát sao bên người có duyên năng tương ngộ. Trông bạn có gầy đi chút đỉnh, đen đúa chút đỉnh, bơ phờ chút đỉnh mặc dù trong thư bạn không viết “mình là con cá nước ngọt rơi vô vùng thuỷ triều có pha muối”. Người đóng vai mẹ hẳn trạc tuổi bạn hoặc kém đôi ba năm. Vào tuổi 55, giả dụ thế, đàn bà hầu như chẳng còn biết định vị đâu là vòng 1, vòng 2, vòng 3 bởi người trong ảnh sở hữu cả ba vòng đều nhau, rất chuẩn. Chẳng có vòng nào ăn hiếp vòng nào cả, đề huề sống chung hoà bình. Riêng con bé 17 tuổi thì khác, nhìn là biết nó được mẹ nuông chiều rất mực. Mẹ mà nghiêm khắc chút đỉnh, mẹ sẽ van lơn, nhà đang có khách quý, nhất là khách đờn ông lão làng, con nên kíp thay chiếc áo khác ngó cho tử tế. Ăn vận kiểu đó mà con sơ ý thì sẽ lộ hàng mất. 17 thôi mà, sao nó chóng “trưởng thành” đến nhường ấy? Đứng đối diện ở cự ly gần, hai hòn đảo của nó có cớ để thổn thức truyền sóng nhấp nhô vào ngực thằng đàn ông luôn xao động. Thằng đàn ông sẽ dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt chủ quyền hoặc không, nó sẽ niệm Phật để quay đầu vào bờ diệt ngay sắc dục tà ma đen tối.

Tôi viết thư đáp trả: Ông về thăm lại mồ đấng sinh thành khiến tôi cắc cớ nhớ một chuyện tiếu xằng bậy: Một bà mẹ nhắn cậu con mưu sinh ở thị thành gửi về ngay cho tao tấm ảnh trông mặt đỡ nhớ. Thằng con trai trót làm nghề vũ khoả thân nên toàn cả ảnh “đồi truỵ”, buộc lòng phải cắt hai tấm ảnh rồi gửi mẹ phần “tử tế” phía trên. Đãng trí sao khi dán kín phong thư cậu ta bỏ lộn “cái mất mỹ thuật” kia vào. Thư đến tay mẹ, bóc ra xem: Mẹ mày chứ, chốn phồn hoa đô hội phồn vinh giả tạo đã tác hại quá lắm làm thay đổi người ngợm, còn bày đặc đua đòi theo chúng bạn nuôi râu ria rậm rạp, nhưng nhờ trời tao còn nhìn ra mày, không sai trật do bởi cái mũi rất cao giống y như thằng bố mày.

Tôi hỏi ông tính chừng nào trở lại, chẳng nhẽ ở lại cùng chúng sinh chật vật ăn mừng ngày 30 tháng 4 “đình đám”. Đừng mắng tôi là đồ đểu, nhé.

Đôi ba hôm sau lại dán thông báo lên màn hình: Bạn hiền, mình vừa tai qua nạn khỏi. Tối hôm đó con bé Nguyệt 17 tuổi phổng phao kia đến tìm mình ở khách sạn, hình như nó vừa đi hát karaoke về và dường như nó vừa chơi qua hàng quốc cấm. Người nó say thuốc, dật dờ, nó nói con buồn nản cuộc đời, con đéo thích sống trong cái phố phường bưng bít này, ra đường đụng chạm với những thứ bất ưng. Chỉ có chú là người có khả năng chắp vào thân con đôi cánh rộng. Bay đi, bay đi. Mặc giông bão, mặc oan trái, mặc cuối trời là bến đậu chênh vênh. Nó tự trút bỏ áo xống và buông thân xuống mặt nệm luôn tuồng nói nhảm. Chú chơi con đi. Con còn trinh, chú tin không? Cửa phòng lúc ấy quên khoá, cửa mở và cô bạn mình xuất hiện. Cô mắng nhiếc mình thậm tệ bằng thứ ngôn ngữ của một đứa đầu đường xó chợ. Cô la hét trời sầu đất thảm và đánh động thằng người bảo vệ khách sạn chạy ùa vào. Có sự cố gì xẩy ra ở đây? Ông Việt kiều này đã dụ dỗ con tôi, gái vị thành niên vào đây để mưu toan xâm hại nó. Cần tôi gọi công an để trình báo không? Chuyện nhục nhã này tôi không muốn người ta lùm xùm lôi lên mặt báo, anh làm nhân chứng, tạm thời hãy để chúng tôi thương lượng trước xem.

Bạn hiền, kết quả của thứ “hiệp định ngưng bắn” giữa hai bên là mình phải mất đi một ngàn đô để vụ việc chìm xuồng, mất năm trăm đô để mẹ mang con qua bệnh viện xét nghiệm cửa mình. Nếu lời thề mình chưa đút đầu vào biên ải hớ hênh kia là điều khó tin thì tổn thất ngân lượng sẽ hạ hồi phân giải. Bà mẹ giàu kinh nghiệm ứng xử kia biểu mình bôi trơn anh bảo vệ năm mươi đô tiền trà nước xem như chả có chuyện gì xẩy ra cả, chưa rụng một sợi lông. Và như thế, nói kiểu mấy dạy là giả như mình muốn chỉnh trang mộ Mạ mình thì lục soạn các túi quần chẳng còn một xu lận lưng. Mình nghe văng vẳng như tiếng Mạ nói: Tiền mất mà tật không mang là phước đức ba đời để lại đó con. Ca cẩm nỗi gì cho mất mặt bầu cua cá cọp nai gà.

Tháng Tư, chỗ này tuyết chưa tan, đau con mắt nhìn nó phản quang dưới nắng. Hai hàng cây vẫn thế, khẳng khiu chưa đâm chồi trên cành run rẩy. Và gió lộng thổi, chở theo giá băng từ Bắc cực đổ tràn trên những con lộ trắng mốc. Nguôi ngoai, rũ bỏ niệm sầu khi ngước mặt trời xanh nhìn ra từng đàn chim di làm mũi tên đen bay vội gửi xuống vô ngôn một tin nhắn bất diệt “đất lành chim đậu”.

Ba hôm nữa tôi sẽ ra phi trường đón một người trở lại từ vùng đất dữ. Bạn tôi có ăn có học, nó tuyệt không biết nói tục, một chữ chửi thề chẳng biết bẻ đôi. Vậy mà giờ đây, trong email bạn loan báo chuyến bay còn thòng thêm cơ man nào những từ cấm kị cỡ cứt, đái. Tôi đã làm một phép tính đơn giản, nó chứa tới năm lần chữ đê em mờ, còn khốn nạn với chó má thì tôi kể ra làm gì cho… tốn giấy!

Hồ Đình Nghiêm

Kinh rớt ngoài chùa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 27/02/2014 

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Thân bằng quyến thuộc, mười người hết chín, trách tôi bạc lòng, vụng về cư xử. Cúi đầu nhận tội, thành tâm sám hối, diện bích bóng đêm, câu kinh lướt trôi, khói nhang còn vướng: “Đệ tử vốn tạo các vọng nghiệp, đều do vô thỉ tham sân si…”

Ông ngoại mấy cháu qua đời hôm mồng sáu Tết, chẳng xem được thế vận mùa đông, ở Sochi. Năm vòng tròn có cái bạc mệnh nhác chơi để phơi bày bốn vòng kỳ cục, mặc dù khẩu hiệu ban tổ chức đề xuất khá ấn tượng: Hot. Cool. Yours. Chúng ta cuối cùng đều đi tới đích nhưng thảy chẳng có một huy chương tròng vào cổ. Những vận động viên bạc nhược dẫm bước trên lằn vôi chót, thở không ra hơi. Cũng có trao hoa, nhưng hoa kết vòng hoành tráng với hàng chữ thấy choáng “Thành kính phân ưu”.

Những ngày ấy trời cau có thở hàn khí làm co ro. Ngoại cảnh vụn vằn bông tuyết cào xới và trong nhà quàn cũng ủ dột toàn cả sắc xám, trắng, đen. Cực buốt giá. Không dưng nhớ hai câu trong bài Hoa Gạo của Thâm Tâm: “Lòng ai bầm tím, ai buồn tối. Cũng tại rừng đời lạc lối ra”. Tôi ngồi ngó ánh nến nhảy múa, ngó khói nhang nhợt nhạt và thấy cuộc đời đã vây khổn bằng tất cả những hoạn nạn luôn phục sẵn, chẳng bày lối ra. Hay ra đi là cách thế, là phương án cuối cùng, mà kinh sách gọi là giải thoát.

Có kẻ nào đó nói: Khi người ta khóc, giọt lệ đầu tiên ứa ra bên mắt phải, đó là sự hoan lạc. Nếu nó lăn đổ từ mắt trái, đấy chính là niềm khổ đau. Nếu điều đó đúng thì mắt phải chúng tôi luôn khô hạn, không như một đôi người trong đội tuyển Hockey nữ đã đưa tay gạt lệ con mắt phải hôm đánh thắng đội Mỹ để đoạt lấy huy chương vàng. Quốc ca trỗi lên. Oh Canada. Cờ lá phong kéo lên và vô vàn con mắt đỏ úng thuỷ ngước nhìn với niềm tự hào ngập ngụa. Khóc, không cứ là bạn đang đối mặt với niềm đau. Sao ông Bùi Giáng rành sáu câu quá! “Còn hai con mắt khóc người một con”.

Thôi em ạ, nước đã chảy qua cầu và mây đang trôi về cố quận. Hãy làm cách nào để cho đôi mắt được quân bình trong động từ tuôn chảy lệ trào. Cứ hành hạ, cứ bóc lột con mắt trái quá nghĩ cũng xốn lòng thót dạ, chịu đời chi thấu. Cụ bao nhiêu tuổi? Dạ, tám tư. Thôi, cũng tròn đầy. Tui chủ trương nhiêu đó đủ rồi. Cụ bệnh gì? Dạ, hổng bệnh. Bị lỗ tai ổng rất thính, ổng nghe trời kêu thì ổng dạ, có thế thôi. Cung kính không bằng phụng mạng và ông chắp tay không kịp ngoái đầu thốt lời từ biệt. Và như vậy tứ thân phụ mẫu của tôi lần lượt ra đi, chẳng còn ai sớm tối hàn huyên chuyện đất mẹ, chuyện nước người, chuyện Father land.

Cám ơn bài thơ của hoạ sĩ Đinh Cường có đôi dòng loan tin. Cám ơn nhà thơ Luân Hoán đã trách móc chuyện ém tin buồn. Cám ơn nhà văn Song Thao đã điện đàm chia sẻ. Mỗi tối lên giường, tôi không xác quyết được là mình có bừng tỉnh vào sáng hôm sau, tuy vậy tôi vẫn để chuông báo thức 6 AM. Việc đó nên xem là một sự kỳ vọng.

Thức giấc, đi làm, ăn, ngủ. Rõ là “rừng đời lạc lối ra”. Buồn không, cái vấn nạn lẩn quẩn ấy? Bởi thế bao giờ có tin vui tôi sẽ tứng lừng lựng mà khấp báo náo động thiên cung. Chứ tang gia thì buồn quá mạng, biết nói năng chi. Xin niệm tình tha thứ.

Nhứt thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện hương linh đắc độ cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc.

Hồ Đình Nghiêm

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương Hai

Màn Đêm U Hoài

Đà Nẵng đã chìm sâu vào đêm cuối hạ. Cơn gió heo may khe khẽ se lạnh, như gọi buồn vào thu. Tôi ngồi co rúm trên băng giữa chiếc xe đò chạy tuyến đường xa. Chung quanh bến, ngã ba Cai Lang, khu phố cũ im lìm với những hàng me già lặng lẽ, không người qua lại, vắng cả tiếng rao lanh lảnh của các cô gái bán hàng rong những tháng năm nhộn nhịp.

Tôi cố dỗ giấc ngủ mà không tài nào chợp mất, dù đã bao đêm thức trọn để lo cho chuyến đi phiêu phỏng này, và có ý ngóng đợi chị Miên từ Miếu Bông ra thăm. Con đường nhựa dưới ánh đèn lung linh, cơ hồ các đóm lửa ma trơi, xa tắp về hướng Phú Lộc, một địa danh khó quên, nơi mới hôm nào là hậu cứ của các Thiên Thần Mũ Nâu từng oanh oanh liệt liệt. Lòng tôi se lại.

Hỡi anh em, các chiến sĩ Biệt Động gan đồng dạ sắt! Nào Trung và Xá thân yêu, nào Hòa, Thiều, Cường, Hiệp, Thuận, Cát của hồn thiêng sông núi? Các bạn đã về đâu trên bước đường cùng sa cơ thất thế? Ai còn, ai mất, ai thân tàn ma dại trong tay giặc, vất vưởng lưu đày? Ơi súng gươm, máu đổ hận thù nhuộm đỏ Khe Sanh, Sa Huỳnh, Quảng Trị… Hình ảnh các anh, hình ảnh nào tôi cũng nhớ cũng thương, đang quay cuồng như bão táp lòng người thua cuộc.

Nhìn xa xa, bên kia con lộ, dù ẩn khuất giữa những vòng kẽm gai bao bọc, “Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng” vẫn hiện ra rõ nét, từ hàng cây xanh rủ bóng, đến xuyên suốt các bức tường trắng xóa mỗi căn phòng điều trị. Tôi thấy từng mũi kim, lọ thuốc, từng nét mặt nhăn nhó bên cạnh nụ cười hiền an ủi, và bao con đường phẳng phiu thẳng tắp, những dáng ai âu yếm đẩy chiếc xe lăn, dìu người chống nạng… Sao hôm nay tất cả đều lạnh căm, một màn đêm u hoài.

Tổng Y Viện Duy Tân, nơi đớn đau từng thớ thịt, mà cũng xoa dịu bao vết thương của người lính trận. Tôi đã hai lần bê bết máu đến đó rồi đi. Lần sau cùng mùa xuân năm trước tôi trở về còn nửa phần thân thể, nửa bỏ lại chiến trường.

Tôi nhớ hôm nào, vừa hồi tỉnh ở phòng hậu giải phẫu, tôi đã nhận ra ngay cảnh vật chung quanh, vài người đứng bên, thảy đều màu trắng.. Hai tay tôi bị cột chặt vào cạnh giường từ bao giờ, như tên tử tội trên ghế điện, các mũi kim chuyền máu, nước biển, làm tê cứng không co duỗi được.

Lần đầu tiên sau cơn mê giải phẫu, nhìn xuống thấy mình chỉ còn hai bắp đùi, tôi kịp hiểu vì sao tôi mất hai chân…

– Trung úy khỏe không?

Một người cúi xuống hỏi, tôi vẫn im lặng. Sự im lặng như kẻ sắp chết, trong trạng thái biếng nói, như ở một cõi xa xăm nào êm ả, không muốn trả lời để khỏi bị trần tục níu kéo. Tưởng tôi không nghe họ hỏi lại:

– Trung úy Vân khỏe không?

Cảm thấy mệt tôi đáp bằng cái gật đầu, rồi vẫn chưa yên, người ấy mỉm cười:

– Tôi Bác sĩ Trí. Trung úy cho biết số quân, đơn vị?

– 64/41 1567, Đại đội 1 Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân.

– Chức vụ và ngày Trung úy bị thương?

Bực mình tôi cằn nhằn:

– Hậu cứ 21 không gởi QĐ44 vô đây sao?

Vị Bác sĩ, vóc dáng thanh nhã, mang hai giống máu Pháp Việt cười thành tiếng:

– Tôi hỏi coi Trung úy đã tỉnh chưa, vì mới cưa đôi chân lần thứ hai và giải phẫu gắp mảnh đạn nơi đầu nữa. Tốt lắm, Trung úy còn trí nhớ.

Dứt lời, ông tới bàn giấy ở góc phòng, giở kẹp hồ sơ bệnh lý ra ghi chép. Hai y tá cũng lăng xăng, kẻ thăm chừng điều chỉnh từng bình nước biển, bị huyết, người thì thay băng cho các thương binh đang nằm trên hai dãy giường trắng lộp.

Bác sĩ nói tôi còn trí nhớ. Phải còn chứ làm sao mất được. Trí nhớ là sức mạnh, tạo sinh nhân cách, cái dũng, thôi thúc lòng căm hờn khi quê hương chưa sạch bóng thù. Nhưng tiếc thay, đời lính trận đành dở dang mộng ước…

Người lính Biệt Động của tôi, Nguyễn Xá, bước vào đứng bên cạnh:

– Có đau lắm không, Trung úy? Các y sĩ cho em ngồi chờ hai hôm nay trước cửa phòng trong lúc Trung úy mê man.

– Lần này họ cưa trên đầu gối, cách phần nhiễm trùng cả tấc nên thấy êm. Trung đâu?

– Vì thiếu quân số, Trung có lệnh đã lên hành quân. Anh em về cho hay Tiểu đoàn 21 mới chạm súng rất nặng ở Tiên Phước Quảng Nam, riêng Đại đội 1 mình bị thiệt hại khoảng mươi người. Em quên hỏi gồm những ai. Chiến trường đã sôi động trở lại dữ dội. À, Trung úy!… Khoan, để em ra cất cái ba lô, em sẽ trở vô nói Trung úy nghe…

Người lính vội quay lưng. Xá đi rồi tôi suy nghĩ, vì Xá vừa buộc miệng: “À, Trung úy!” rồi ngưng. Dường như anh muốn trình bày một vấn đề gì, nhưng ngại tôi buồn chăng? Tôi tin tưởng Xá, anh không nỡ nào toan tính phản bội giữa lúc đời tôi đen tối thế này. Hay Xá định xin đào ngũ thật, khi nhắm thấy không thể làm tròn nhiệm vụ nội tuyến của anh. Vô lý. Nếu có lòng dạ ấy, trong thời gian qua, anh có nhiều cơ hội ám hại cá nhân tôi, ngay cả đơn vị. Chẳng hạn, một lần trời vừa sập tối, tôi chỉ đem theo mình Xá để bảo vệ, hai thầy trò lén tụt dốc từ một khu đồi ở Kỳ Sơn Tam Kỳ để mong xuống đường về thành phố Quảng Tín gặp Nhị. Đi được một quãng thì tôi té ngã trẹo chân. Thay vì sẵn khẩu súng M16 trên tay bắn gục viên trung úy Đại đội trưởng Biệt Động Quân này, nhưng không, Nguyễn Xá lại cõng tôi chạy tuôn ra chiếc xe Jeep đang chờ ngoài lộ.

Lần khác, BCH Đại đội tạm đóng trên một đỉnh núi phía tây An Lỗ, Huế, bị pháo kích tơi tả. Lính nhảy hết xuống cá hầm hố, khe đá kịp, chỉ mình tôi kẹt cứng dưới một thân cây ngã đè, không ngoi đâu được, phần lửa cháy tứ bề, đạn dược phát nổ chung quanh, thì Xá ngoài tuyến vội lao vào, hì hục xách tôi bỏ lên lưng, và trước khi phóng xuống một trũng sâu bên sườn đồi, anh còn túm luôn cái máy PRC-25 với dây đạn nặng trịch của Binh I Nguyễn văn Thanh.

Đã bao phen cứu tôi như vậy, Xá không thể có ý đồ xấu…

Nguyễn Xá sinh trưởng tại Cửa Đợi, một làng chài lưới ở phía nam núi Non Nước, cửa khẩu dẫn vào phố cổ Hội An. Trước khi gia nhập quân đội Quốc Gia, Xá đã là một du kích Việt Cộng, vùng hoạt động từ quê anh đến các xã ven biển: Hòa Long, Hòa Lân, Hòa Qui, Hòa Phụng và Hòa Hải, thuộc quận Hòa Vang, Quảng Nam. Sau, Xá ra hồi chánh, và năm 1971 được sung vào lính, về Đại đội 1/21 Biệt Động Quân.

Khi lên làm Đại đội trưởng, thấy Xá siêng năng, thật thà, vạm vỡ, nhất là sự thông thạo kỹ thuật di động, cách ẩn trốn, phá hoại của địch quân, tôi không ngần ngại bổ sung Xá vào nhóm Huỳnh Thanh Trung giúp tôi các công việc hằng ngày.

Tôi đang hồi tưởng lại những gì đã xảy ra để tìm một kết luận về Xá, người lính hiếm quý cùng tôi từng vào sinh ra tử, thì anh bước vào.

Tôi gợi chuyện:

– Hình như lúc nãy Xá định nói gì?

– À, cách đây hai hôm chị Nhị đến thăm…

Tôi thấy lóe lên một niềm vui:

– Vậy à? Rồi Nhị đâu?

Xá rầu rầu đáp:

– Trước hết, chị ghé Bệnh Viện 1 Dã Chiến Quảng Ngãi hỏi thăm, họ cho hay Trung úy đã được đưa về Đà Nẵng. Rồi chị vô đây, em và Trung nói lập lững, theo ý Trung úy hôm ấy, là họ chuyển tiếp Trung úy vào b ệnh viện Cộng Hòa Sài Gòn, hoặc ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ không chừng. Chị vừa khóc vừa hỏi: “Bộ nặng lắm sao, đưa ảnh đi xa vậy?”.

Ngay trong ngày, nhắm thấy không tiện để chị Nhị ở đây lâu, Trung nhờ Thiếu úy Đại đội phó Đặng văn Thiều cấp sự vụ lệnh cho tài xế Phó Trọng lấy xe Jeep đưa chị về Mộ Đức Quảng Ngãi. Em bảo Trọng chớ nói ai nghe, ngay cả chị Nhị, là Trung úy cưa hai chân. Mọi việc sắp xếp xong, Trung mới lên hành quân. Trung gởi lời cầu mong Trung úy chóng bình phục, yên tâm dường bệnh.

Tôi thở dài:

– Ai báo tin Nhị biết tôi bị thương?

– Chắc đồng bào nơi đó đồn đãi vì có một số người chứng kiến Đại đội Biệt Động mình khai thông quốc lộ Việt Cộng đắp mô và lúc khiêng Trung úy từ trong con xóm nhỏ ở Mộ Đức ra đường.

Tôi thấy bầu trời như sụp đổ. Tại sao tôi không thành thật để đền đáp mối chân tình của người con gái ấy. Tôi có nhiều điều đáng trách, đầy lỗi với nàng. Chắc Nhị mải tìm tôi.

– Thôi, Xá đứng đây lâu các bác sĩ rầy.

– Không sao, Bác sĩ Tri cho phép em vào phòng hậu giải phẫu này thăm Trung úy lúc nào cũng được. Ông Bác sĩ lai Tây rất bình dân, đã đôi lần ngồi ăn bánh mì xíu mại với em ngoài hành lang. Ông nói ông cảm tình thầy trò mình. Trung úy còn nhớ những gì xảy đến ngày bị thương không?

Tôi khẽ gật đầu rồi im lặng…

Đó là hình ảnh hai thầy trò vào những ngày đất nước đầy biến động và Xá còn theo tôi để cùng chung số phận với các thương binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị quân Bắc Việt vào chĩa súng xô đuổi ra khỏi bệnh viện. Từ đó, vật đổi sao dời, Xá một đường, tôi một nẻo. Trong cơn đại hồng thủy, tôi không rõ người lính trung thành tôi mang ơn ấy hiện ở đâu? Kẻ chiến thắng có trả anh về lại ngôi làng chài lưới Cửa Đợi năm xưa, hay vì thành phần hồi chánh, Xá đã bị lưu đày tận rừng sâu nước độc nơi nào?

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Chương Một

Chuyến Đi Về Sáng

Hết hy vọng, tình thế không thể đảo ngược được nữa. Vỏn vẹn năm ngày giằng co, thoi thóp, cuối tháng 3/1975 toàn bộ Quân đoàn I, năm tỉnh địa đầu cùng các vùng phụ cận, đã rã ngũ, lần lượt rơi vào tay giặc, rồi tiếp theo cả miền Nam thân yêu sụp đổ, bao mạch sống muốn ngưng hẳn, 30/4/1975. Những kẻ chiến thắng mặt sát khí, ăn mặc hổ lốn, tràn lan khắp nơi, tìm bắt các sĩ quan, viên chức Việt Nam Cộng Hòa còn lẩn trốn, không đầu thú. Mặt khác, chúng vét hết xe cộ, kho tàng, hàng hóa buôn bán tư nhân đem về Bắc, sào huyệt của chúng. Các bất động sản, nào nhà to, đất rộng… của dân cũng bị tịch thu, chiếm cứ. Cộng quân còn giở trò ve vãn vợ con những ai đã phục vụ dưới chế độ cũ, với ý đồ tống tiền, tống tình, phá bỏ cả đạo đức, ly tán mọi gia đình người Nam.

Như lịch sử đã ghi, xưa một ngàn năm giặc Tàu, một trăm năm giặc Tây, nay giặc Hồ phương bắc, Mác-lê bạo quyền.

Trước các nguy cơ dồn dập, chắc tôi phải đi, rời khỏi Đà Nẵng càng sớm càng tốt. Tôi sẽ đến một nơi thật xa lạ, ở đâu tôi có thể ẩn náu được khoảng đời còn lại nửa phần thân thể của người lính bại trận.

Để thực hiện ý định, sáng sớm hôm nay khi tiếng gà còn eo óc của một ngày hoang tàn đầu tháng 5/1975, tôi lẻn vào thăm Quang Châu lần cuối cùng. Quang Châu, quê tôi, một ngôi làng xưa cũ, thuộc huyện Hòa Vang, Quảng Nam, phía tây nam thành phố Đà Nẵng 10 cây số, nơi tôi với hai người chị Trần thị Thông và Trần thị Minh ra đời. Chị Thông thì đã chết từ lâu, năm 16 tuổi.

Tôi phải ghé nhà chị Miên (Minh) trước. Chị lấy chồng ở Miếu Bông, một thôn cùng xã, kế cận với Quang Châu. Tôi sẽ nói rõ là tôi đã quyết định biệt xứ, không bao giờ trở lại.

Chiếc Honda ba bánh của tôi vừa rẽ vào con đường ngoằn ngoèo giữa hai hàng tre quen thuộc, tôi bắt đầu lo ngại. Khi nghe chuyện buồn tôi phải ra đi trong lúc tình hình bất ổn đủ thứ thế này, vì tình chị em chắc chắn Miên sẽ ngăn cản. Tính chị thật thà, thực tế, ít quan tâm đến thời cuộc, chỉ lam lũ làm ăn từ ngày lập gia đình. Cha mẹ và các anh chị lớn đã chết, chỉ còn tôi với Miên cùng chung máu mủ, nay chia tay biết bao giờ gặp lại, chị không buồn sao được.

Tôi dừng xe trước hiên và bỏ chiếc xe lăn tay xuống đất. Thấy Miên thấp thoáng nhà dưới nhìn ra, tôi lăn vào, vừa tới cửa, khác với thường lệ, tôi không chào hỏi chị mà nói ngay:

– Mai em đi sớm?

Đang lui cui bên bếp lửa, chị day mặt qua hỏi:

– Đi đâu?

– Cao nguyên Lâm Đồng!

Miên trố mắt:

– Làm chi?

– Làm ăn.

– Cậu nói đùa hay thật vậy?

Tôi vừa lấy gói thuốc trong túi áo ra đốt một điếu hút vừa nghiêm nghị trả lời:

– Tình thế khiến chết tới nơi, em còn đùa sao?

Miên lắc đầu:

– Cậu suy xét kỹ lưỡng chưa? Tiền bạc không có, phần thì cụt hai chân, bệnh viện mới về, ốm yếu, cậu đòi lên xứ núi xứ thượng, không thân nhân họ hàng, lấy chi sống?

Miên xót ruột, nêu dẫn một số yếu điểm của bản thân tôi, để mong tôi bỏ ý định thực hiện chuyến đi chẳng mấy sáng sủa. Nhìn quanh trong nhà không một bóng người nào khác, tôi dằn cơn xúc động nói cho hả dạ :

– Trời sinh voi thì phải sinh cỏ. Thà đói chết xứ người còn hơn sống nhục nơi mà mình đã bao năm chiến đấu để bảo vệ, nay tất cả đã rơi vào tay giặc, em không thể nhìn mãi kẻ thù rừng rú nhởn nhơ đầy phố. Chị đâu biết, hầu hết các sĩ quan, viên chức chính quyền cũ -Việt Nam Cộng Hòa- đều bị bắt. Vả lại em đã quen với đời sống quân đội rồi. Đói no, gian khổ là chuyện thường.

– Cậu nói tôi tưởng cậu đang đọc một quyển tiểu thuyết tình cảm xã hội. Quân đội đâu nữa để quen đói, quen no?

Miên giằn từng tiếng. Chằng hiểu sao hôm nay chị lại hằn học, hay chị giận cá chém thớt? Mấy năm trước, ông anh rể tôi khi còn trong quân đội, vì xa nhà đã sinh tật có vợ bé nên gia đình thường lục đục… Thấy thái độ của Miên có khác lạ khiến tôi đoán mò, chứ lẽ nào chị nhập nhằng chuyện chồng ngoại tình với con đường sinh tử của em mình. Dẫu sao tôi cũng cố thuyết phục chị:

– Nghe đồn có khóa học “cải tạo tư tưởng” 15 ngày tại chỗ sẽ mở nơi trường Trung Học Nguyễn Trường Tộ, kế Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cũ, bọn Việt Cộng, qua cái gọi là Ủy Ban Quân Quản thành phố Đà Nẵng, dành cho các phế binh Việt Nam Cộng Hòa cùng đám đầu trộm đuôi cướp, xì ke ma tuý. Nếu tham dự em sẽ bị lộ diện, tụi nằm vùng, đón gió trở cờ, tố cáo công trạng chiến đấu, kẻ thù ắt phải lưu đày em biệt xứ, hay đem chôn sống không chừng. Ai mà tin nổi cái chính sách nói là khoan hồng tất cả như chúng đang rêu rao tuyên truyền trên các đài phát thanh. Chính sách nào dưới chế độ Cộng Sản cũng bắt nguồn từ bản chất phi nhân, gian trá của tập đoàn Marxist.

Chúng đã buộc tội em phản quốc, chẳng hiểu quốc nào, là theo quân đội Quốc Gia. Họ sẽ giao cho các phần tử lưu manh, “cách mạng 30”, địa phương quản lý, bám sát theo dõi, ngay miếng ăn cái mặc, đi đứng thảy đều bị dòm ngó, coi mình như người tù. Trường hợp em dễ gì được chúng tha, kẻ thù sẽ bằm nát thây thôi! Cộng Sản là vậy, chị chưa biết sao?…

Tôi nói lung tung, toàn chuyện ghê gớm, mà thật sự đang xảy ra và còn tái diễn dài dài, để chị hiểu vì nguy cơ tôi phải dứt khoát lẩn trốn. Sáng sớm ngày mai tôi phải lìa quê hương, nơi tôi đã hơn một lần đẫm máu, bỏ lại đôi chân trên chiến trường bão lửa.

Miên xách ấm nước chè lá khô, thoảng mùi gừng, rót tôi một ly. Sau một năm nằm nhà thương, nay tôi về thăm, trông chị quá gầy guộc. Chỉ hơn tôi hai tuổi, mà khuôn mặt chị như trên một giáp, đầy nếp nhăn nheo khắc khổ, nụ cười dịu hiền của những ngày xưa cũng thiếu vắng. Từ lúc người mẹ yêu dấu, dòng dõi hoàng phái, hẳn đã không chịu nổi cảnh cơ cực ở miền quê hẻo lánh Quang Châu, phải quảy gói ra đi bỏ hai chị em tôi phải rày đây mai đó mãi theo cha tìm mẹ. Từ thuở lên ba đã thiếu mẹ, tôi sống bám vào tình thương của Miên, người chị duy nhất…

Chắc vì tình ruột thịt, dầu tôi có tràng giang đại hải, diễn giải hết bao nguy cơ sắp ập đến, chị vẫn phớt tỉnh, còn hầm hừ ngăn cản:

– Theo tôi, đi xa chi cho khổ. Cậu chỉ đoán vậy thôi, chứ đâu chắc chắn người ta hại cậu. Cứ dự 15 ngày để yên thân. Đài phát thanh loan tin mấy ông sĩ quan, cả tướng lãnh nữa, cũng học một tháng, họ trình diện hết rồi…

Không lẽ trái với ý nghĩ của tôi, Miên lại ghét bỏ, đẩy tôi lún sâu vào con đường ô nhục của người bại trận. Lối lý luận của chị làm tôi cay cú:

– Chị nói vậy sao?

Miên ráng gân cổ:

– Không phải à?

– Nghĩ sao mà bảo em đút đầu vô đó học? Học cái gì nơi những kẻ ngu dốt, hèn hạ ấy? Chị chẳng hiểu gì về cái thâm độc của Cộng Sản. “Cải tạo tư tưởng”, ghê không? Một bọn lộng ngôn!

Nghe thấm mệt, chị ngồi phệt xuống đất, bên bếp lửa, ôm mặt. Chắc chị khóc trước quyết định cứng rắn của tôi. Từ nay chị em bắt đầu xa cách mãi mãi, cũng là cái mốc thời gian Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ. Mai đây chị sẽ thấy quê hương này chẳng khác nào địa ngục dưới ngọn cờ đỏ sao vàng, với gót giày cướp nước đoàn quân Bắc Việt.

Tôi đặt điều trấn an chị:

– Đừng lo. Em có vài thằng bạn cùng đi. Tụi nó hứa giúp em trên bước đường hoạn nạn…

Miên với đôi mất đẫm ướt, vụt ngước mặt nhìn tôi:

– Tụi nó hứa giúp? Tụi nó là ai vậy? Đến nước này cậu vẫn còn tin lời hứa hẹn bạn bè? Bạn đó? Cấp chỉ huy của cậu nữa! Một lũ hèn nhát bỏ chạy! Quên à? Cậu không nhớ mấy ngày cuối tháng Ba vừa qua. Việt Cộng còn đâu trong núi, đồng bào lo sợ pháo kích, không được bảo vệ, mới đùm túm, dắt díu nhau di tản tán loạn đã đành; đằng này cả triệu quân, từng nói đánh đông dẹp bắc, cũng vội quăng súng đầu hàng tẩu thoát, bỏ cậu với hàng vạn thương binh, lớp đói khát nằm rên rỉ khắp các bệnh viện, lớp thì lê lết đầu đường xó chợ ăn xin. Chắc cậu tưởng tôi phận đàn bà không biết chăng? Tôi không biết, không hiểu nhiều thật nhưng thấy chứ, thấy quá rõ cái nguyên do đưa đẩy người dân đến thảm cảnh vô tiền khoáng hậu này. Mất nước, không phải Việt Cộng có ba đầu sáu tay đâu, tôi lặp lại cậu nghe, mà chỉ vì một lũ hèn nhát bỏ chạy!…

Tôi sửng sốt, lần đầu tiên tôi nghe Miên thao thao xổ một tràng lời lẽ như người am tường chiến lược quân sự lẫn chính trị đâu hồi nào rồi. Nhận xét và sự phẫn nộ ấy tiêu biểu cho dân chúng có phần đúng, nhưng giọng chị quá quyết liệt, đến độ đanh đá, không thích hợp chút nào với người phụ nữ suốt đời tần tảo nuôi chồng nuôi con. Tôi không ngờ chị trở chứng dữ vậy, làm tôi mất thăng bằng. Tôi biện hộ:

– Vì vận nước thôi. Nếu có ai hèn nhát như chị nói thì chỉ một số tướng tá nào đó, chứ người lính cấp nhỏ họ luôn luôn chiến đấu tới cùng, không được quyền bỏ chạy…

Chưa hả giận, vin vào câu tôi vừa nói Miên lẹ miệng giằn từng tiếng :

– À thì ra ngoài mặt trận có sự phân biệt rõ rệt, gồm hai hạng: một được quyền bỏ chạy, còn một phải chiến đấu đến chết, chết thay cho quân khốn kiếp bỏ chạy. Theo cậu hạng vinh dự để sống là các tướng? Chắc họ biết họ sinh vi tướng thời thế tử bất vi thần, nên tẩu vi thượng sách. Thế mà cứ nói vì vận nước, tức do ông trời!

Người dân tội tình gì phải thất điên bát đảo, con mất cha, vợ mất chồng, nhà cửa tan hoang trong lúc các cấp lãnh đạo, ăn trên ngồi trước, thì lại cao bay xa chạy tuốt ra nước ngoài hưởng thụ giàu sang. Cậu đã hy sinh nửa phần thân thể kể như chết rồi. Nếu ở đây thấy nhục nhã, đi nơi khác cậu lấy gì làm vinh, khi giặc tràn lan khắp nước? Nhân lúc chính phủ “cách mạng” đang đề xuất chính sách giãn dân, quê đâu về đó. Cậu nên dọn vô căn nhà sẵn đất đai vườn tược chung quanh của cha mẹ trong Quang Châu, hơn là lìa bỏ quê hương ra đi xứ người. Cậu coi việc nào lợi…

– Chị nói nghe dễ lắm! Em về ở thì làm sao sống nổi với mấy đứa con anh Phó kế bên, nhất là thằng gì, đại úy không quân Việt Cộng, từng theo xách cặp táp cho Võ Đông Giang đại diện Bắc Việt trong Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên tại phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn, nó thường về, kênh kênh cái bản mặt Marxist. Cả đám theo giặc đâu từ đời ông nội nó. Bây giờ những người chế độ cũ miền Nam chưa chết tiệt hết, chúng còn kiêng nể bà con giòng họ, chứ mai kia mốt nọ, khi quân cướp nước đã xây thành đắp lũy vững chắc rồi thì đừng hòng mình yên thân.

– Ông nội thằng đại úy là anh của ba, bác mình. Tụi hắn là cháu, ai vô?

Tôi trừng mắt:

– Ừ con cháu! Chị quên vụ Tết Kỷ Dậu 1969? Cháu đó, đứa nào, con ai, đã rước voi về giày mả tổ, đánh phá, làm đổ nát Quang Châu, ngôi nhà thờ ba má, anh hai Thái, chị Thông cũng suýt tan tành. Biệt Động Quân phải vào giải tỏa, tống cổ hết bọn chúng ra khỏi làng. Nay biết đâu cái thứ trời đánh đó nhơn danh giặc trả thù. Chúng đã nhúng tay vào máu rồi, mình đừng để mắc mưu nữa?…

Miên cướp lời:

– Chuyện ngôi nhà thiệt hại là do Biệt Động Quân. Ngày cậu dẫn lính vào giải tỏa tôi có nói Việt Cộng không nhiều, chỉ năm ba thằng bị kẹt lại, ẩn trốn trong làng, cậu vẫn mạnh tay, bắn sụp vách tường sau nhà…

Dù cậu muốn hay không miền Nam cũng đã mất. Giờ thì chính sách của họ là khoan hồng tất cả. Cậu đã thương tật cớ gì phải sợ trả thù .

Miên diễn giải, tôi có cảm tưởng chị đã bị bọn nằm vùng mượn tay chiêu dụ, tôi quá bực tức và dứt khoát:

– Em nói cho chị rõ một lần nữa, chị không hiểu cái độc ác của con người Cộng Sản nên bị lung lạc, phỉnh lừa. Chị ở đó để nhận sự khoan hồng!

Dứt lời, không đợi Miên biện hộ hay giải thích, tôi lăn xe ra cửa. Tôi lăn thật nhanh để khỏi nói gì thêm, dù còn nhiều điều cần bàn, như căn nhà tôi đang ở trước mặt Bộ Tư Lệnh Quân đoàn I Đà Nẵng, phải bán tháo bán rẻ hay là cho ai, và chuyện vợ tôi đã dắt mấy đứa nhỏ về quê ngoại Phan Rang cả tháng nay. Tôi cũng chưa kịp nói tôi cô đơn đến rợn người, những kẻ thân quen, những chiến sĩ từng gian khổ với tôi đã tản mạn đâu hết, phố phường vắng ngắt…

Sau lưng, tiếng chị vọng theo, như níu kéo: “Cậu đã hiểu sai ý tôi” rồi bật khóc. Tôi nhủ thầm hẳn đây là lần cuối cùng tôi sẽ không bao giờ còn được nghe giọng nói của chị nữa.

Tiểu Đoàn Trừng Giới

Heinz G. Konsalik

Nguyên tác: Straf-battalion 999

Tâm Vũ dịch

Nhà xuất bản: Thùy Dương 1973

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 1.

Sáng hôm đó, Julia Deutschmann n ông rất dễ chấp thuận sự giúp đỡ nếu người khẩn cầu là một phụ nữ xinh đẹp. Nàng cũng chẳng phải cố gắng nhiều lắm vì nàng đã đẹp sẵn dù cặp mắt có bị quầng đen vì thức đêm và đôi môi hơi nhợt nhạt. Một chút son, một chút phấn, vài nhát bàn chải trên mái tóc đen, cuộn thành lọn, buông lơi. Nàng mặc bộ quần áo thật giản dị, rất vừa vặn và chợt nhớ ra là Ernst đã chọn vải này. Một thoáng mơ mộng về kỷ niệm, nàng xỏ chân vào đôi giày gót cao, màu sắc cân xứng, liếc mắt kiểm điểm lần chốt trong gương rồi đi ra.

Tới cổng tòa nhà đồ sộ, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội Quốc Xã Đức (Wehrmachl nàng đưa tờ giấy cho anh lính gác. Anh ta đọc thật lâu và thật cẩn thận mặc dầu tờ giấy rất ngắn: vỏn vẹn có 3 giòng mời nàng tới trình diện Tướng von Frankenstein.

Trong căn phòng phía trước, một Thiếu-úy trẻ đập gót chân chào nàng và nhanh nhẩu xin dẫn nàng lên lầu hai. Anh ta ngừng ở đầu hành lang trước một chiếc cửa lớn bằng gỗ sồi, chiếc cửa có vẻ như mở sang một thế giới khác, thế giới mà số phận Ernst sẽ được định đoạt, một thế giới xa lạ thù nghịch,và bí ẩn. Một tấm bảng bên cạnh cửa ghi: Bodo v. Frankenstein.

Viên Thiếu-úy nói.

– Đại-Tướng chắc sẽ tiếp bà ngay. Tôi sẽ xin báo cho bà biết. Thưa bà, bà vui lòng đưa cho tôi tờ giấy mời.

Julia đưa cho anh ta. Một lát sau, anh trở lại, rõ ràng là có vẻ cứng cỏi hơn, dè dặt hơn.

– Chờ một phút. Người ta sẽ gọi tên bà.

Chẳng còn “Thưa bà”, chẳng còn chào hỏi. Anh ta bỏ đi thật nhanh. Đôi bốt nện ròn trên hành lang. Julia tự nghĩ với nỗi chua chát: “Vậy đó, chỉ riêng cái tên Deutschmann cũug đủ làm hắn ta thay đổi lạnh lùng như băng đá !”

Nàng ngồi trên chiếc ghế gỗ tồi tàn ở hành lang. Nửa giờ sau chiếc cửa nặng nề mới mở. Đầu người Thư ký trẻ hiện ra ;

-“Bà Deutschmann?”

-“Dạ tôi đây”.

-“Đại-Tướng mời bà vào”.

Tướng von Frankenstein tiến lên ba bước trước mặt nàng khi nàng bước vào phòng thứ hai, rồi ông đột nhiên đứng sững lại như một thứ đồ chơi bằng máy mà bị đứt lò so. Ông ta khẽ nghiêng mình:

-“Thưa có phải bà Deutschmann?”

-“Dạ đúng, Thưa Đại-Tướng”.

-“Bà có nộp một lá đơn xin ân xá cho chồng bà?

-“Dạ đúng như vậy.”

-“Tại sao”?

Julia nghĩ rằng, tiếng nói của ông này cũng răng rắc như đôi bốt của anh Thiếu úy. Nàng ấp úng :

-“Vì…. vì nhà tôi bị bắt lầm và bị tuyên xử phục vụ trong một Tiểu-đoàn Trừng Giới…. Tôi không biết bây giờ nhà tôi ở đâu”…

-“Chẳng có truyện sai lầm nào cả.”

-“Nhưng….”

Viên Tướng nghiêng mình một lần nữa và nói:

-“Xin lỗi ngắt lời bà”.

Hiển nhiên, đây là một Sĩ-quan thuộc lớp cũ mà chỉ gần đây người ta dạy cho Sĩ-quan trong mọi trường hợp phải tỏ ra lịch sự với các bà. Julia rõ ràng là một bà hẳn hoi, dù là một bà có chồng mang tên Bác sĩ Ernst Deutschmann. Điều đó ai chẳng thấy ngay.

Nhưng rồi ông Tưởng cũng mỉm cười và tiếp :

-“Thưa bà, chính bà cũng là một bác sĩ và tôi khỏi cần phải giải-thích để bà rõ. Không có chuyện sai lầm. Đó không phải là ý kiến riêng của tôi khi tôi nói như vậy, mà là kết quả của một điều tra do các nhà chuyên môn nổi tiếng thực biện. Chúng tôi không hành động nông nổi bao giờ. Quân đội Đức không có tính cách như vậy. Trường hợp của chồng bà đã được xem xét một cách khoa học và kết thúc minh bạch : tự hủy hoại thân thể bằng cách chích vi khuẩn Sta… Sta…………”

-“Staphylocoques”

-“Đúng thế”.

Giọng nói thực dõng dạc. Viên Tướng trở lại chiếc bàn giấy uy nghi. Một vệt nắng chiếu qua bức màn làm sáng rực những nẹp đỏ trên quần ông. Tới đằng sau chiếc bàn ông ngừng lại tay nắm để trước mặt, đầu hơi cúi. Ánh mắt Julia từ từ ngước nhìn lần lượt đôi bàn tay nổi gân của ông ta dọc theo chiếc áo màu xám, nhấp nhánh, ngưng lại một chút trên chiếc Bội tinh anh dũng hạng nhất của thế chiến I, màu đỏ với nhành lá sồi vàng. Ánh mắt của Julia tiếp tục nhìn sang chiếc huy chương khác, rồi đến chiếc cà-vạt Phần-Lan, chiếc cổ xếp nếp, bộ mặt xương xương, lạnh lùng, cho tới cặp mắt xanh lợt, mi đỏ duới chiếc trán

nhăn và bộ tóc cắt ngắn dựng dứng. Julia nhìn thẳng vào cặp mắt:

-“Chính vì tôi là một bác sĩ và tôi đã giúp đỡ công việc cho nhà tôi nên tôi mới càng chắc chắn về sự lầm lẫn của Đại-Tướng. Chưa có ai đã dám làm như nhà tôi. Để có thể cứu giúp cho nhiều người khác, nhà tôi đã thực hiện một cuộc thí nghiệm ngay trên thân thể mình. Đó sự thật là thế. Nhưng người ta đã bắt giữ anh ấy như một tội nhân và xử phạt. Vì vậy tôi đã nộp đơn xin ân xá cho nhà tôi, “

Vị Tướng trả lời với vẻ bồn chồn:

– “Sự việc còn có thể trở nên tai hại hơn cho ông ấy. Thưa bà, bà nghe tôi đây: Chồng bà là một nhà bác học nổi tiếng. Vì vậy, đầu tiên chứng tôi đã miễn nghĩa vụ quân sự cho ông ấy. Nhưng có thể chúng tôi phải gọi ông ấy. Thế là ông ấy tự chích cho mình cái… cái bệnh đó. Như vậy là một hành động hủy hoại, khỏi cần bàn cãi gì nữa. Và ông ấy bị xử phạt phải phục vụ tại Tiểu đoàn Trừng Giới, một đơn vị của quân đội Đức cũng như những đơn vị khác. Cho tới khi nào mà ông ấy chứng tỏ được lòng dũng cảm, ông ấy sẽ được thuyên chuyển. Như vậy người ta có thể chắc chắn ông ấy sẽ thoát khỏi nơi đó tới chỗ tốt đẹp hơn.”

Julia hỏi lại, biết rằng những lời nói của minh với con người này sẽ nẩy ngược lại như những viên đạn gặp bức tường:

– “Tôi nghe nói… nghe nói rằng Tiểu đoàn Trừng Giới 999… “

– ” Bà nghe nói như thế nào? “

– ” Những người ở Tiểu đoàn này bị ngược đãi hết sức, coi như những tội nhân… “

Vị tướng giơ tay một cách oai vệ và nói bằng giọng lạnh lùng:

– ” Ông ấy là một quân nhân. Bà đừng có nghe những lời đồn như vậy. Trong quân đội người ta phải chiến đấu. Hàng triệu người khác từng chiến đấu từ nhiều năm nay. Đó, tôi chỉ có thể nói với bà tất cả như vậy “.

Julia nói yếu ớt:

– ” Dạ…”

– “Bà thấy không, việc bà tới đây thực hoàn toàn vô ích. Tiểu đoàn 999 cũng là một đơn vị như những đơn vị khác. Tôi xin nhắc lại điều đó. Ông bà phục vụ ở đó hoặc ở nơi nào khác…”

– ” Dạ “.

– ” Vậy thì chẳng có gì cần phải nói nữa “.

Vị Tướng gập hồ sơ lại, ngước mắt lên và lại mỉm cười…..

Julia đã ra qua khỏi chiếc cửa lớn bằng gỗ sồi…

Julia đứng tựa vào chiếc cửa sổ bên cạnh. Nàng nghĩ: “Anh ấy phục vụ ở Tiểu đoàn 999 hay nơi nào khác.. Anh ấy là quân nhân như hàng triệu người khác. Anh ấy phải chứng tỏ được lòng dũng cảm, rồi thì… Ernst ! Ernst yêu dấu…”

Tất cả diễn lại trong đầu óc nàng : những tuần lễ phấn đấu tuyệt vọng và vô ích dài lê thê, những đêm thức trắng, rồi hồ sơ, phán quyết, rồi toan tính xin tái thẩm, cuộc tranh đấu dài với những người đã kết tội anh ấy, người nào cũng ngoan cố như viên Tướng vừa rồi, những nỗi lo ngại hoảng hốt, sự từ chối ít hay nhiều phũ phàng và tới hôm nay là sự tiêu tan của mối hy vọng chót! Nàng cảm thấy như bị cuốn trôi trong cơn tuyết đổ. Mắt trừng trừng nhìn vào quãng không, nàng không hiểu gì nữa, tâm thức nhạt nhòa dần dần….

Viên Thiếu-úy,trẻ tuổi với đối bốt kêu lách cách huýt sáo tiến lên thang lầu. Bước tới bậc chót, anh thốt nhiên ngừng lại, ngừng huýt sáo, môi mấp máy, kinh hãi nhìn hình thù nằm sóng sượt trước cửa phòng vị Tướng. Thế rồi, anh ta chạy, mới đầu còn ngập ngừng sau phóng thẳng.

Julia nằm yên, bất động. Những mẫu khăn mùi soa rách còn lắt lay trên cặp môi hé mở.

Trại Fridrichlust, căn cứ chính của Tiểu đoàn 999 ở ngay đầu tỉnh Posen, trên đường đi Kostzyn. Không biết ai đã đặt tên đó cho những căn trại bằng đá, đồ sộ, buồn nẫu này. Một cái tên nhắc nhớ đến những khu rừng trong sáng, những tiếng kèn săn, những tiếng sủa của bầy chó săn và những kỵ sĩ lãng mạn. Tên đó được ghi trên một tấm bảng đã hư mòn vì thời tiết, đặt cạnh điểm gác và chiếc rào cản di động ngăn cách quân trại với thế giới bên ngoài.

Đang mùa thu. Mưa bụi bay dưới nền trời xám nặng.

Cùng lúc này khi mà ở Bá-Linh, cách xa bao nhiêu cây số, viên Thiếu-úy đang cúi xuống hình thù bất động của Julia, thì ở đây, Thượng Sĩ Nhất Kruil, thuộc đại-đội 2, Tiểu đoàn 999, đứng ngay trước cổng ra vào, chờ đợi những tên lính mới tới để dành cho họ một sự đãi ngộ mà ông gọi là “cuộc tiếp đón xứng đáng”.

Trước hết, ông đáp lại những người quân cảnh bằng một cái chào hờ hững như muốn bảo họ:”Các anh đừng ngại gì cả. Kế từ giờ, tôi sẽ liệu cho bọn nó, những thằng cha này sẽ được đối xử xứng đáng với chúng”.

Bốn người được lệnh xếp hàng theo thứ tự lớn nhỏ cạnh đội lính gác. Ông Thượng-Sĩ lông mày nhíu lại dưới chiếc mũ kết hơi lật về phía sau, khoan thai ngắm nghía họ từ trái sang phải, từ người lớn nhất đến người nhỏ nhất, từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên. Ông ta có vẻ bực bội, bộ mặt tròn, núng nính, lộ vẻ khỉnh thị.

Ông gục gặc đầu như đã tìm thấy một sự khẳng định nào đó, ông quay sang hỏi người cao lớn nhất ở bên trái;

– Tên?

– Gottfried von Bartlitz.

Người vừa trả lời có mái tóc hoa râm, cặp mắt lõm hẳn trong lòng mắt, hai nếp nhăn hẳn sâu hai bên cánh mũi bao quanh chiếc miệng nhỏ với cặp môi lợt lạt. Nước mưa chảy xối xả trên mặt anh ta. Chiếc áo khoác ngắn thành quá rộng so với anh, đã ướt sũng nước mưa.

Thượng sĩ Krull cất tiếng:

– Chà! Họ von! Tướng lãnh hả?

– Dạ! Binh sĩ.

– Còn tao, tao cũng là binh sĩ, hả?

– Không. Ông là Thượng-sĩ nhất

– Rất đúng. Tao là Thượng-sĩ nhất. Và tao vừa trở thành má mày đó! Nào, bây giờ mày là ai? Tên mày là gì?

Ông Thượng-sĩ rống lên, tay chống nạnh. Người vừa bị la, trả lời mặt tỉnh khô:

– Binh nhì Gottfried Von Barllitz, trình diện Thượng sĩ.

Krull ra lệnh như muốn khạc ra tiếng nói:

– Nằm xuống!

Ông ta im lặng đi vòng quanh anh lính, lấy chân đẩy anh ta vào vũng nước, ngắm một lúc rồi trở lại đứng thẳng trước mặt mấy người khác. Ông hỏi người thứ hai;

– “Còn mày?”

– “Binh nhì Ernst Deutschmann, trình diện Thượng-sĩ,”

– “Nghề nghiệp?”

Deutschmann ngập ngừng

– “Y-sĩ, thưa Thượng-sĩ.”

– “Bác-sĩ hả?”

– “Dạ đúng, thưa Thượng-sĩ.”

Thượng-sĩ Krull ngắm nghía con người gầy ốm trán rất cao, mặt vàng vọt xanh xao, cặp mắt đầy lo sợ. Ông ta nhún vai, nhổ bãi nước bọt sang bên cạnh và lại thét:

– “Bác-sĩ với chẳng Bác-sĩ, mày là thằng lính, Nghề nghiệp của mày đó! Nằm xuống!”

Binh nhì Ernst Deutschmann, Y-khoa bác sĩ, nhà sinh hóa học, giáo sư diễn giảng tại Đại- học Bá-Linh, nhà bác-học nổi tiếng, tác-giả nhiều bài khảo luận được chú ý trong tập san y-học, theo lệnh nằm xuống và khép hai gót chân lại.

Viên Thượng sĩ gật gù nói thêm: “Ông binh nhì bác sĩ!” rồi quay hỏi người thứ ba.

– “Binh nhì Erich Wieđeck, trình diện Thượng sĩ”.

Viên Thượng sĩ vẫn tiếp tục la hét, nhưng Deutschmann không hiểu ông ta nói gì. Anh nằm yên, mặt gục trên cánh tay, mưa xối xả trên gáy anh, gõ nhịp trên lưng anh. Anh đang nóng lạnh. Ngay trước mắt anh một con kiến lạc lõng đang trèo lên viên đá cuội ẩm ướt. Anh nghĩ: “Phải còn lâu mình mới khỏi hẳn được”, rồi anh nghe thấy tiếng người thứ ba đến nằm bên cạnh.

Thượng sĩ Krull đang đứng trước người thứ tư. Anh này người tầm thước nhưng cũng vạm vỡ như ông Thượng sĩ. Tuy nhiên, Thượng sĩ thì béo mỡ, còn anh ta thì bắp thịt dầy và nổi phồng, tràn trề sinh lực trong mỗi cử động dưới chiếc áo khoác ngắn chật chội. Chiếc ngực nở nang căng phồng trên chiếc bụng dẹp. Trông anh ta như một khối đá được đẽo gọt thô sơ và khuôn mặt giống như chiếc mặt nạ bằng đất sét vừa được nắn sơ qua: chiếc trán thấp dưới mái tóc đen cắt ngắn, cái mũi tẹt và chiếc cằm bạnh của những tay anh chị quen giết chóc. Hắn mỉm cười bằng cặp môi, riêng đôi mắt hình như vẫn u tối, không hồn, giống như hai hòn bi ve.

Viên Thượng sĩ nói;

– “Được lắm… Mày có bộ mặt cô hồn đó”.

– “Thế mà, tôi đã đoạt giải thi sắc đẹp… chỉ thua có Thượng-sĩ. Tên tôi là Karl Schwaneeke. Còn ông, ông là thứ Thượng sĩ đồ bỏ, thôi bây giờ tôi đi nằm.” Hắn phát ra một cử chỉ như muốn đến nằm cạnh mấy người kia, nhưng Krull sững sờ, chết điếng, bảo hắn đứng thẳng. Karl Schwaneeke nghe theo, đứng ngay ngắn, mỉm cười nhìn viên Thượng sĩ trong khi ông ta không nói không rằng một lúc lâu.

Có trời biết ông ta đang nghĩ gì. Có lẽ ông chẳng nghĩ gì, vì đầu óc ông như bị tê liệt. Suốt cả đời, chưa bao giờ ông ta nghe thấy những lời như vậy, Tuy rằng chẳng thiếu những tên “lì” trong cái Tiểu đoàn khốn kiếp này, gồm cả những người thuộc thành phần trí thức ưu tú lẫn những tội nhân thường phạm mà người ta muốn trừ khử đi bằng cách đưa đến đây, nhưng chưa hề ai dám nói với ông, Thượng sĩ nhất Krult, một cách như thế. Ông ta chưa biết phải làm thế nào. Thế là ông văng tục. Đó là giải pháp tốt nhất và chỉ cần văng tục một hồi là sẽ nảy ra ý kiến hay. Mục lục về các câu chửi thề của ông rất phong phú. Trong cuộc đời binh nghiệp, ông đã được nghe rất nhiều câu chửi và ông lại có trí nhớ xuất sắc. Vả lại, với vấn đề này ông có một thứ tưởng tượng sáng tạo và một giọng nói chát chúa lắm tăng thêm mãnh lực cho những câu chửi thề mà ông tìm ra. Đức tính đó kèm theo với sự tận tụy, sự khắc nghiệt khó lay chuyển của ông làm cho ông nổi tiếng, và nhờ đó ông như bắt rễ vào Tiểu đoàn trừng- giới này. Một người như ông, hơn ai hết, phải thành công đối với những phần tử kẻ thù của dân tộc và những bọn ác ôn côn đồ đủ loại như vậy. Ông đã đáp ứng một cách thiết thực tất cả những hy vọng đặt ở nơi ông.

Tuy nhiên, trong lúc này, trí tưởng tượng của ông lại bị kẹt mà ông thì chẳng mấy khi tập điều hành khối óc. Chiến cuộc đã đến lúc toàn diện mới phải để cho những loại người như Schwanecke mặc quân phục. Trước kia, người ta nhốt bọn này vào ngục tối hay đem thủ tiêu đi tùy theo trường hợp. Thượng sĩ Krull tuy rằng không thiếu kinh nghiệm vẫn cảm thấy vô phương và ông ta đành che đậy bằng những tiếng la hét vô nghĩa, miệng mở lớn, mặt đỏ gay, mắt nhắm lưng chừng. Tiếng nói chát chúa vang dậy khắp chiếc sân rộng làm im lặng cả một dẫy nhà xám của doanh trại. Duy chỉ có Karl Schwanecke vẫn giữ nụ cười. Cuối cùng rồi Thượng sĩ Krull cũng ngưng và lẫn với tiếng nước xối của ống máng, có tiếng hát của đoàn quân di hành.

Đây là dịp thoát nạn cho Krull. Với khả năng đặc biệt của những người lính già biết thích ứng với mọi trường hợp, ông ta ngưng hẳn những tràng tiếng văng tục, chửi thề, nhìn đồng hồ tay so với đồng hồ ngoài điểm canh, hất đầu về phía Schwanecke vẫn đang mỉm cười, cho phép anh ta nằm xuống và ông lại gần chỗ hàng rào.

Bốn anh lính mới nằm sóng soài trong bùn và dưới mưa.

Đó là buổi đầu của Bác sĩ Ernst Deutschmann tới Tiểu đoàn trừng giới 999. Mắt theo dõi con kiến lạc lõng, thân thể run lên bần bật, anh cố chống lại cơn buồn nôn và lắng nghe tiếng hát quân hành đang tiến gần tới….

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Google photo

18. Hí nghệ Cải Lương – Kết

Ông Lương Khắc Ninh diễn thuyết tại nhà hội khuyến học Sài Gòn. Ngày thứ tư 28 tháng ba 1917 đúng 8 giờ tối có khai trương diễn thuyết tại nhà hội Khuyến học Sài Gòn. Có quan bác vật Bùi Quang Chiêu là Đổng lý hội, quan phủ Nguyễn Văn Hải phó Đổng lý, quan huyện Lê Bá Trang tư văn hội, quan huyện Đinh Trường Cửu, quan huyện Lê Thành Long, quan huyện Nguyễn Văn Của và nhiều hội viên chứng dám. 
Trước hết quan Đổng lý hội đứng dậy tỏ ít điều cùng hội viên rằng hội Khuyến học vẫn là hội lập để mà hóa dân để làm cho trong nước được mở mang hầu có dõi bước văn minh một ít. Ấy vậy, hội chẳng phải để mà khuyến khích văn chương mà thôi, hội cũng dốc sức cho nhân dân nong mả theo nông thương kỹ nghệ nữa. Vậy hí nghệ là một nghề nền cải lương, lại ông Lương đại Nhơn là người rành nghề sẵn lòng giải nghĩa cho rõ ràng xin các hội viên hãy hết lòng nghe ngài trần thuyết. 
Rồi đó ông Lương đại Nhơn lên diễn đàn trứơc xin lỗi viên quan chức sắc mấy ông, mấy thầy rằng chẳng phải tự xưng thông thạo mà dám làm nhọc lòng mấy ông mấy thầy, song xét vì ngài tuổi quá năm mươi lại làm bầu gánh nên từng trải một ít trong nhà nghề xin dẫn ra cặn kẽ, sau ngài khởi ra nói về nghề hát. 
Ngài nói rằng hát xướng thuở xưa tại trong cung cấm bày ra. Trước hết thì là đờn ca nghe cho êm tai, sau lần lần chế biến, sắp ra có đào kép múa men chơi, chỉ muốn giúp vui cho người coi mà thôi. Sau nữa các đấng tiên hiền đặt tuồng ra, có đủ tam cang ngũ thường, sắp đặt lớp lang rành rẽ, ban đầu để cho kẻ vạy hành hung người ngay mắc nạn, rốt lại thì người ngay được hưởng, đứa nịnh bị trù. Chủ ý cổ nhơn là muốn răn đời. Thử xem điều này thì biết: các ông có thấy như hát lối người ngay phải lắm lúc tai bay họa gởi, chạy đầu này bị dèm siểm, qua bên kia bị hiếp đáp, kiếm đường đi lánh thân mà kẻ nịnh còn rượt theo mà muốn giết. Thấy như vậy, ao ước trông cho có người đến mà giải cứu kẻ phải lâm nạn, dầu cho đứa hung hăng đãng tử ở nhà ăn cướp giựt đồ người, đến đó rồi thì nó cũng có chút đỉnh lương tâm mà thương hại cho người lâm cơ thất thế. Rất đỗi là kẻ vô lương vô khái còn vậy thay huống chi là bực lương thiện? Thấy được như vậy rồi, chắc sao người coi về cũng suy nghĩ mà tu lành lánh dữ. Ấy là cuộc hát của cổ nhân. 
Đương thời đây gánh hát thiếu chi, một tổng có chỗ có tới hai ba gánh, người lập gánh hát bầu thì lo kiếm lợi, bạn hát thì làm có chừng đó đặng lãnh tiền mà ăn hút thôi. Lại như vầy nữa: bạn hát hay mượn tiền của bầu khi năm ba đồng, khi năm bảy chục lần lần thành ra đôi ba trăm, lấy chi mà trả. Chừng ấy chỉ có hát mà trừ nợ làm sơ sịa đó thôi, có ráng đâu mà trả nợ. Dường ấy biểu sao không hư không tệ. Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm, để cho kẻ ngu dốt nó hát. Vì cái dốt ấy nó làm cho mấy chú kép làm một một ông quan cũng không ngồi cho vững, bộ tịch lất khất, đọc một cái thơ phùng mang, trợn mặt, phun râu và làm nhiều chuyện dễ cho trang thức giả đến coi rất hổ. Đã vậy, chúng nó lại tưởng mình hay, mình giỏi vẽ cái mặt vằn vện cho nhiều là tốt, ngồi giữa rạp nói cho lâu là hay, không chịu sửa, có dạy cách lịch sự cho cũng trơ trơ. Ấy vậy là cuộc hát kim thời, ngài tưởng rằng nếu muốn cải lương, chẳng phải bắt bọn đó mà cải lương được. 
Muốn cải lương phải làm sao? 
Theo ý ngài, người An Nam ta chẳng phải thông minh hơn các nước, song có đủ lực mà hành sự. Như văn chương Lang sa là khó, mình học được, bác vật có người học rồi, có lý nào các môn học thức ấy ta theo được mà nghề hát ta chẳng theo được sao? Vậy thì làm vầy: Phải có người biết học ra đi hát. Chẳng phải hát tuồng xưa, khơng vẽ mặt vẽ mày, cũng không ăn mặc loè loẹt đỏ đen như kép hát bây giờ đó. Người đi hát ấy là ai? Ban đầu chẳng phải lập ra một lần cho rành rẽ, cho đủ điệu được. Vậy tôi (mất một vài chữ trong bản chính) nhiều thầy trai trẻ có sở ăn sở làm (mất hai chữ trong bản chánh ) đóng tiền còn hẹp đến mấy nhà buôn xin làm đêm làm giờ. Chớ chi một ít thầy hiệp lại, nhơn công một tuần chừng ít giờ tập hát theo tân thời trước là chơi, hai là có tiền mà xài, ba nữa là cải lương cái điệu hát. Chuyện nói đây không phải khó, đó học trò trường Taberd đến lúc phát phần thưởng nó ra hát theo Lang sa, bộ tịch như Lang sa. Rất đỗi là hát theo ngoại quốc,trẻ em còn làm được huống người An Nam mà hát An Nam không được sao? Chừng lập được một gánh hát như vậy rồi, ắt người Lang sa, Chà Chệt, khi nào rảnh việc sao cũng đến mà coi hơi, bỏ sự đến rạp hát phải mắc cỡ mà xem trên nóc nhà chớ khơng dám ngó hát bội. 
Lúc ấy có ông Diệp Văn Kỳ là trưởng tử quan hàn lâm trực học sĩ Diệp Văn Cương đứng dậy xin lỗi mà hỏi ông đại nhơn rằng: 
– Ngài nói nghề hát có ích, nên sửa mà theo ý tôi thì lúc này chưa nhằm thời. Lúc này nghề nông ta còn trễ bước, kìa Đồng Tháp Mười hãy còn đất hoang nhiều không ai khai phá, kỹ nghệ lại không, may nhờ có quan bác vật Bùi Quang Chiêu thiết lập hội dệt tơ tại Tân Châu đó mới có một hội kỹ nghệ. Nông thương kỹ nghệ là đồ cần nhứt mà khơng lo hóa, để cải lương cuộc hát là đồ chơi không ích lợi không cần cho lắm, để lại về sau tưởng không hại chi. Huống chế sửa nghề hát theo ý ngài muốn đó, có nhiều chỗ khó. 
Một là trong cuộc hát phải có nhạc, mà nhạc An Nam còn phải sửa, vậy ai là ông nhạc sư ra sửa nhạc? 
Hai là tuồng đặt xưa nay thì ta dùng văn chương, dùng quốc tự. Vậy nay muốn sửa lại, ai là ông văn nhân đặt tuồng, ai là ông Corneille, ai là ông Moilìere? (Hai ông này là hiền sĩ đại danh bên Pháp đặt tuồng rất hay, sanh nhằm thế kỷ thứ XVII. Ông Moilìere lại là kép hát danh tiếng). 
Ba là hát phải có đào có kép. Như ngài diễn thuyết cho anh em chúng tôi ra làm kép, vậy ai ra mà diễn thuyết cho bọn nữ lưu làm đào. 
Nếu ngài làm được thì mấy anh em đây và tôi rất vui lòng mà theo hát. 
Ông Lương đại Nhơn đáp: Nghề nông ta phát triển rồi chớ. Còn như Đồng Tháp Mười mà chưa khia phá, ấy là tại trời, chớ nào phải người muốn đâu? Bởi nước trời xuống nhiều ứ lại tại Đồng Tháp Mười nên không thể khai phá một lần cho hết, một ngày một ít, rồi đây cũng sẽ rồi chớ nào không. Mà muốn khai phá phải dẫn nước ra, muốn dẫn nước phải có xáng múc kinh cho nước chảy. Nhà nước mỗi năm có xuất tiền ra làm việc ấy, có phải là không làm đâu, nhưng phải lâu ngày mới rồi được. 
Nói qua nhạc thì xin bãi nhạc đi. Đây tôi tính hát tiếng thường, không Nam Khách gì nên không kể đến nhạc. Hát tuồng diễn mà răn đời (comédies) thôi. 
Luận câu hỏi ai là Corneille, ai là Molìere thì không ai cả. Xét cho kỹ, hai ông ấy là danh sĩ theo đời ấy mà thôi. Nam Kỳ ta cũng có người, tuy chẳng được như Corneille, Molìere chớ cũng đặt để cho bực trung hiểu được. Chẳng phải đặt cao kỳ, mắc mỏ chỉ cho người tạm thường không hiểu thấu mà gọi rằng khó. Đặt tiếng thường dùng như vậy, có khó gì đâu. 
Hỏi: anh đi đâu? Đáp: tôi qua anh. Hỏi ai là đào? Tôi xin đáp không có đào. Trước hết dạy đờn ông, sau đờn ông rành rồi mới sang đàn bà. Như lúc người Pháp mới sang Nam đó, có tính dạy đàn bà chăng? Sau cũng dạy đàn ông cho thành thục, rồi mới khai trường con gái chớ. Tính một lần sao cho thành tựu được. 
Ông Diệp Văn Kỳ nói: Ngài nói vậy phải rồi, song việc ấy còn nhiều chỗ. Giả như đức Thành Thái là người có học thức đủ, có quyền thế, có bộ hạ, có đủ tiền bạc, người có lập cuộc hát trong cung, làm theo như ngài nói đó, không biết chừng còn rành hơn nữa, mà người làm còn chẳng nên thay. Tại Nam Kỳ đây, tôi nghe ngài ra làm bầu đặng tôn chế nghề hát mà ngài đã làm được điều chi rồi đâu? Nên chỉ tôi tưởng việc ấy làm chưa được. Ngài lại khuyến khích mấy ông mấy thầy theo hát bội, nếu mấy ông mấy thầy đi hát bội tất cả, lấy ai mà lo về nông thương kỹ nghệ là các mối ích lợi cần hơn hết. Nên nghề hát mà thiệt hại là đại ích cho nước, ắt đã có người sang Pháp mà du học việc ấy. Nhưng bởi nghề ấy không phải cần nên người sang Pháp chỉ học văn chương, bác vật, lương y, luật khoa chớ không tưởng đến ca xướng. Lấy theo nghĩa hát bộ thì tôi thiết tưởng người tử tế không dám dự đâu. Ngài muốn sửa nghề, xin ngài sửa cái tên trước đã. 
Ông Lương Khắc Ninh đáp: Việc làm thành bại; ấy sự thường, nhưng có làm thử rồi mới biết. Theo đây tôi có ý nói về mấy thầy trai ban đêm rảnh việc làm thêm chút đỉnh vậy htôi, chớ tôi không khuyến dụ học trò đi hát mà bỏ nông thương kỹ nghệ. 
Còn như tiếng hát bộ, người xưa đặt vậy là vì kép hát nhảy nhót, ra bộ ra tịch. Sau lần lần ta nói trại ta là hát bội. Quốc dân đã quen dùng thuở nay, nên rất khó mà đặt tiếng mới. 
Bây giờ đây muốn đặt tuồng hát thì tôi chịu lãnh àm đặt, chẳng phải là dùng văn chương, dùng tiếng cao xa, dùng điệu nói lối thường cho mấy con mẹ bán cá nghe cũng hiểu được nữa. Mấy bổn tuồng của quan tổng đốc Cao Hữu Dực ở An Giang thiệt rất hay mà đời này chẳng còn mấy ông nhiêu , mấy ông tú nữa, cho nên dùng bất tiện, đời nào là theo đời nấy thôi. 
Ông Diệp Văn Ký hỏi: Ngài đã có đặt bổn tuồng nào chữa? 
Ông Lương Khắc Ninh đáp: có, tôi có đặt hiếm, mà chưa dùng, nên chưa in ra bán. Nếu có hát thì tôi đặt chừng vài bửa rồi một bổn tuồng. Vậy tôi xin mấy thầy em hiệp lại tập chơi như người tập hát tây vậy, tập tại nàh hội khuyến học này, rồi trước hết cũng hát thử tại nhà thôi. Sau có nên sẽ tính thêm. 
Rốt lại, định ngày thứ tư Avril tựu lại nhà hội mà tính. Lương đại nhân sẽ đặt tuồng đem lại. Có nhiều thầy vui lòng vâng lời dạy của Lương đại nhân và ước ao cho Lương đại nhân đặt tuồng cho ăn vào thời thế, cho trùng điệu văn chương cho mỗi người đều nghe được, hiểu được, cho động lòng mỗi người hầu cho mỗi người lấy đó mà răn mình được. 
Nhiều người trông mong cho cuộc này mau thành tựu, đặng cho người Nam Kỳ theo kịp người Bắc Kỳ, có nghe rằng rạp hát tại Hà Nội thiệt là kinh dinh, người Lang sa cũng cho là phải điệu. 


Trần Phát Văn 

(Trích trọn bài trong Nông Cổ Mín Đàm số 12, năm thứ 16, ngày 19-4-1917)

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

17. Cao vọng của thanh niên trong bối cảnh đặc thù của miền Nam

Thiên địa Hội và cuộc Minh Tân đã qua, nhưng hơn mười năm sau vẫn còn để lại nhiều ảnh hưởng rõ rệt: ở nông thôn, các tỉnh lỵ và chợ quận chợ làng nảy sanh ra hai giới hiếu động nhất. 
– Bọn du côn trong từng lớp bình dân, nóng nảy khi thấy chuyện bất bình. 
– Những cậu công tử, con nhà khá giả, thích ăn chơi, ưa hòa mình với những người chung quanh không phân biệt giải cấp hoặc trình độ học vấn. 
Lần hồi, hai giới này gây ảnh hưởng qua lại. gọi là du côn, xuất thân nghèo túng gần như vô nghề nghiệp nhưng lại ham ăn chơi hưởng lạc theo kiểu nhà giàu . Và tuy là công tử, hào hoa, học chữ Pháp, con nhà gia giáo nhưng lắm khi mang vài tác phong có vẻ du côn, đặc biệt là ở lời ăn tiếng nói. Với sự phát triển kinh tế sau trận Âu châu đại chiến, giới đại điền chủ càng giàu thêm. Vài ngành kỹ nghệ hoặc tiểu công nghệ thành hình, và thực dân lại đầu tư, thâu dụng nhân công. Đường giao thông phát triển theo chiều hướng mới với những con lộ liên tỉnh hoặc lộ thuộc địa. Mức sản xuất lúa gạo gia tăng, đồng bạc Đông Dương vững giá; người tiểu điền chủ có thể cho con du học bên Pháp, nếu cố gắng. Nhiều cậu công tử ăn chơi mãi mà không hết tiền, khi phong trào cải lương phát triển, các cậu hùn vốn vào gánh hát để cầu vui và lấy danh. Mỗi làng thường lập hội đá banh do vác dậu đỡ đầu. Lại còn những sòng bạc gần như công khai, nhưng trường đá gà. Nhiều cậu qua Pháp du học vài năm, đỗ đạt, hoặc không đỗ đạt gì cả, về xứ cứ ở không mà chơi hoặc chỉ nhận một chức tượng trưng trong ban hương chức hội tề! 
Nguyễn An Ninh xuất hiện, đóng vai trò tích cực rồi trở thành người được ái mộ nhờ khả năng sáng tạo.về mặt lý thuyết cũng mặt thực hành. Nếu thân phụ của ông ao ước một cuộc Duy Tân hướng về nước Nhựt thì lần này, khi du học ông hấp thụ được những tinh túy về lý thuyết của Tây phương. Ông có sẵn một căn bản về triết học Đông phương vững chắc, am hiểu đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng. Nhưng quan trọng nhứt là am hiểu tình hình miền Nam. 
Lòng yêu nước nồng nhiệt, ông có thừa. Óc thực tế giúp ông thấy những điều có lợi và bất lợi ở miền Nam. Muốn làm cách mạng, phải tuỳ cơ duyên. Miền Nam là nơi mà đa số đồng bào tin vào tôn giáo, phụ nữ chưa tham gia vào các cuộc vận động lớn, vấn đề nông dân chưa được đặt đúng tầm quan trọng. Thiên Địa Hội thu hút được nông dân, nhờ những biến thể của đạo Lão, đạo Khổng, đạo Phật. Phong trào duy Tân được giới điền chủ hưởng ứng nhưng nông dân, tá điền gần như không được tham gia (làm sao có vốn để hùn vào công ty thương mãi hoặc cho con du học, nghèo dốt thì làm sao giao thiệp với các ông cải tổng, công chức). Thương vay khóc mướn, hướng về giới bình dân chưa đủ. Phải có lý thuyết xã hội. và phải nhìn vào cơ cấu của chính quyền Pháp ở xứ thuộc địa. Lý thuyết của ông đã cảnh tỉnh đám bọn “anh hùng hảo hán” và đem một nội dung yêu nước, yêu dân chủ, thay cho lý tưởng Cần Vương không còn hợp thời. 
Với chiến sĩ của phong trào Đông Du và Duy Tân đã thấm mệt, ông đặt nặng vấn đề tự cường, không ỷ lại vào ngoại bang, đả phá những kiểu cách phong kiến; tinh thần quốc tế không phải là chỉ liên kết với dân da vàng nhưng là với tất cả nhân loại tiến bộ. 
Ông chịu khó xem xét yếu tố tôn giáo đã một thời là căn bản cho phong trào Cần Vương và Thiên Địa Hội, để khơi nguồn sinh lực dân tộc. Yếu tố này bị các chiến sĩ của phong trào Duy Tân ở miền Nam đánh giá quá thấp hoặc công khai đả kích, căn cứ vào hình thức thờ phượng phức tạp, tốn kém. Ông đặt vấn đề nông dân, từng lớp mà phong trào Duy Tân miền Nam xem là thứ yếu. 
Du côn ở thành thị hay ở mềin quê phải thấy rằng ham đánh đấm thì không đủ gây hại hoặc làm sụp đổ chế độ thực dân, rốt cuộc chỉ làm tay sai đắc lực cho ông chủ xe đò hoặc một tay công tử hào hoa. 
Với từng lớp công tử hạng sang hay công tử vườn, ông vạch cho họ thấy rằng chia sẻ một vài tiện nghi và lạc thú cho đám em út, ăn xài rộng với dân nghèo vẫn chưa phải là bình dân, phóng khoáng; phải dám đối diện với thực dân Pháp. 
Về chiến thuật, ông khéo nắm những nhược điểm của chế độ thực dân ở Nam Kỳ. Dùng báo chí Pháp ngữ, dùng luật lệ hiện hành của thực dân để chống trả lại thực dân. 
Bởi vậy, nhiều người tuy không hiểu rành chánh kiến của ông, hoặc đang làm công chức, làm hương chức hội tề hoặc là đại điền chủ những vẫn mến mộ ông, xem như vị Thánh sống. Ông làm hài lòng mọi giới qua những tác phong độc đáo. Đạp xe đạp, thờ ông Quan Công, tụng kinh gõ mõ; hình ảnh của người trí thức trở về nguồn để tìm sinh lực. Ông ôm chồng báo đem đi rao bán trên đường phô Sài Gòn, ông đứng bán rao hàng chợ Tết, hình ảnh của lớp nghèo thành thị, người tiểu thương nặng lòng vì đại nghĩa. Ông xem việc làm của mình như là hành đạo: đạo ái quốc, đạo xã hội. 
Bài diễn thuyết “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam” đêm 15-10-1923 nêu rõ nỗi khát khao của người thanh niên lúc ấy mới 24 tuổi. Diễn thuyết bằng tiếng Pháp. 
Đây là bản tuyên ngôn súc tích, mỗi câu mỗi chữ gợi ý nghĩa lớn. Nội dung là khơi dậy tinh thần dân tộc, văn hóa dân tộc. Phải tự xét mình để hiểu khả năng và hoàn cảnh của nước mình. Theo ý của ông, không nên quá chú trọng đến chuyện quốc sự: “Cái mối lo của dân ta không phải ở nơi quốc sự mà nó ở trong cài tinh thần của dân ta từ Nam chí Bắc. Có lẽ là ta chưa đến sự lo ấy nữa. Ta còn đang phải lo cho có ra một cái cao vọng cho thời bây giờ, đặng sanh hạt giống của cái cây “ngày mai” của dân ta. 
..”chúng ta phải lo tạo lập ra mới, chúng phải là người tạo lập ra mới mãi. Mà người sanh tạo phải là người muồi như trái cây chín mới có hột đủ sức mà sanh cây được. Ta không phải là cần bắt chước in như kẻ khác, như kẻ ngu tối bắt chước người khôn vậy, còn bắt chước người như vậy là còn nhờ người, còn nương tực theo sự khốn khéo của người, thì không trông mong giải thoát được. Điều của ta sanh tạo phải là của ta, phải là ở trong máu mủ của ta mà ta, hay là ở nơi học thức Âu Tấy với Á đông hòa hợp nhau trong ta mà sanh ra. “Các bực Thánh nhơn thường giục các đệ tử mình phải bỏ nhà cha mẹ đi. Bọn thanh niên ta ngày nay cũng phải vượt ra khỏi nhà cha mẹ, vượt khỏi cái xã hội hẹp hòi, xa bỏ non sông của ta một lúc. Ta cần phải sống trong một nơi tranh cạnh đặng trau dồi, tu lập lại chút tinh thần còn hoi hóp đây. Ta cần phải biết cái giá trị của ta. Ta cần phải sống trong một chỗ nào nó giúp cho trí thức và tinh thần của ta được cao thanh thêm nữa. Ta cần phải lên một chỗ non cao, ở một nơi yên tịnh mà tra mình cho biết cái thân của mình thế nào rồi lấy con mắt hoà hảo, tương ái mà ngó cả vũ trụ, xã hội chung quanh mình. Chừng ấy tam ơi bỏ chỗ non cao là chỗ đày ta một lúc, mà trở về với xã hội, trở về với xã hội mà trong ấy ta có thể dùng trọn cái tinh thần tạo lập của ta được nghĩa là ta đây là người An Nam, ta phải trở về xứ Nam Việt nàyvì ta là người sanh trong xứ này, ta quen biết với non sông, nòi giống của ta thì ta làm việc làm của ta, ta khỏi mất công lần mò vô ích. 
Nguyễn An Ninh hiến trọn cuộc đời để hành động thực hiện chí hướng ấy. Nhiều thanh niên giàu tâm huyết đã ái mộ ông, cùng theo đuổi chí hướng. Về tác phong của ông, Phan Văn Hùm đã viết như sau: “Ông người thể chất yếu, nhờ thể thao, nhờ đi xe đạp, nhờ chịu cực mà mới khỏe được. Ông thân ông hiện có bệnh bại, đang ngồi rũ ở nhà dịch tự điển Khang Hi. Ông Ninh có chịu cái bịnh di truyền ấy nhiều ít. Người ông như vậy, cho nên về sau này ở trong ngực hễ thời tiết thay đổi là ông bị cảm ngay. Thế mà ông ghét đám thanh niên ăn sung mặc sướng, đi ra nửa bước đã ngồi xe, ông muốn bày ra một cảnh sinh hoạt tự do, mà “cần lao” như dân đi làm rừng làm rẩy, quần áo vải bô, chiếc nóp, đây cơm, bầu nước, rồi là mênh mông đâu cũng là nhà. Ông nói, ở trong nhà, ông thấy kèo cột nó đè ông, ông không chịu được. Ông lại cũng hay hát câu “La terre entìete appartient aux vagabonds” Dịch rằng “Một bầu thế giới mênh mông, dành riêng cho kẻ bềnh bồng phiêu lưu”. Tội nghiệp thay cho những người ru rú trong nhà. 
Tác phong bình dân ấy có sức thu hút mạnh. Khi vào tù cửa vừa đóng lại, thiên hạ vây chung quanh ông, khám bên kia có mấy người chun song sắt qua chào. 
“Người năm xưa viết báo La Cloche Fêlée, làm cho một góc trời Nam chấn động, bạn thanh niên đột khởi như sóng điện (ondes électriques) nổi trong lòng, phồn gian nịnh ghê hồn như búa trời sa trứơc mặt, mà cả nước bước một bước dài trên con đường cải cách, người ấy là người “quyết sống đặng làm cho điều phải nó thắng điều quấy”, hôm nay vì binh vực một đứa ngu không đáng binh vực là tội, mà phải chịu nhẫn nhục, chịu cho điều quấy nó đè ép, mới đáng thương, đáng thảm là dường nào. 
“Hỏi ra thời ông không để cho bị bắt, mà chính là ông thân đến nạp mình, sau khi thấy tờ tập nã của chánh phủ (thuộc địa) nói rằng ông đã đào thoát đi rồi. Ông thuật lại lúc đi nạp mìnhh, ông mặc đồ dài toàn sắc trắng tinh khiết, mà nói rằng: khi đem mình cho người ta làm lấm, tôi muốn cho tôi trong sạch.” 
“Đến năm 1928, anh Ninh tạo được một phong trào nông dân. Phong trào ấy âm thầm và thiếu huấn luyện chính trị.
Có người nhận xét rằng Nguyễn An Ninh mang tâm hồn nghệ sĩ. Ít nghĩ tới việc tổ chức lực lượng cách mạng. nhưng ta không nên đòi hỏi quá nhiều ở một kẻ sỉ. Ở một nhà hiền triết nồng nhiệt yêu nước. Cách mạng không phải là độc quyền của kẻ sĩ những là sự đóng góp của toàn dân từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhiều miền, nhiều giới. 
Ông làm tròn sứ mạng của kẻ sĩ: sáng tạo, đi tiên phong, đốt lên ánh đuốc sáng rực trong buổi bình minh đầy giông tố.

Sài Gòn, ngày 25-7-1974 (SƠN NAM)

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com    

Sơn Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2024

Google photo

16. Thơ-Tuồng-Truyện-Tích

Người Pháp đến, chữ quốc ngữ được phổ biến, ngành ấn loát hoạt động khá sớm so với Bắc Kỳ hoặc Trung Kỳ. Thoạt tiên là nhà in của chánh phủ thuộc địa kế đến là nhà in của tư nhân người Pháp, người Việt. Nhà in của người Pháp chú trọng việc đấu thầu những dịch vụ công sở, nhưng khi rảnh rang cũng cho ra các ấn phẩm bằng chữ Quốc ngữ: Imprimerie commerciate Rey, Curiol ot Cie, Claude et Cie, Imprimerie Saigonaise, Imprimerie de l’Union. Phát Toàn, J. Viết. Bấy giờ, theo luật lệ thì ấn phẩm khỏi phải kiểm duyệt nhưng phần trách nhiệm đặt vào chủ nhà in và sở Mật thám! Chánh phủ thuộc địa khinh thường những tác phẩm viết bằng chữ Việt. Nha Văn khố hoặc Thư viện Sài Gòn chú trọng vào sách và tài liệu bằng Pháp ngữ, nhằm phục vụ những người Pháp hoặc những người Việt viết Pháp văn. Vì vậy, nhiều ấn phẩm hồi cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ XX ở Nam kỳ bị thất lạc, may ra một đôi vị hiếu cổ có lòng tưởng vào chữ Quốc ngữ còn sưu tầm được. Những ấn phẩm Quốc ngữ ấy về giá trị nội dung thì không đồng đều, nhưng không phải là không có tác phẩm lớn. Lúc bấy giờ, ở Nam Kỳ lúa gạo xuất cảng nhiều, nhà nước khuyến khích khẩn đất, lại còn phát triển giao thông, đặc biệt là đường thủy. Giới tiểu điền chủ, hương chức hội tề ở làng hoặc công chức đều dư khả năng tài chính để mua sách. 
Nói theo ngôn ngữ bình dân, đây là giai đoạn của “Thơ, Tuồng, Truyện, Tích”. Để phục vụ số thân chủ đông đảo này, các nhà in đã tung ra hàng loạt ấn phẩm. Nói thơ là thú giải trí bình và thông dụng. Đây là những chuyện viết theo lối lục bát, người nói cứ trình bày theo giọng “nói thơ Vân tiên” người không biết chữ có thể lại gần nghe được. Vì câu chuyện bằng thơ kéo dài hàng mấy trăm câu nên người nói và luôn ả người nghe cần có tiện nghi tối thiểu hoặc nằm võng, hoặc ngồi trên bộ ván, hoặc ngồi dựa cột. Ai muốn phong lưu thì giăng võng bên vườn cây ăn trái, được hưởng bóng mát và cơn gió nhẹ giữa buổi trưa người bức, bên cạnh là mương vườn với sông nước lăn tăn. Nói thơ lai là hình thức trình diễn để xin tiền ở chợ, người mù lòa cứ học thuộc lòng, nói theo tiếng đàn độc huyền. 
Truyện tức là truyện Tàu, dịch lại, in từng cuốn mỏng, “Nói” là đọc lại nhanh, nhưng không quá nhanh đến mức người nghe không theo dõi kịp câu chuyện. Khi hết một hồi, người nói thường tạm nghỉ lấy hơi, uống trà, ăn bánh. Giọng “nói truyện” lần hồi trở thành một thứ nhạc (như trường hợp trẻ con đọc bài thuộc lòng hoặc người lớn đọc kinh). Nói với giọng hấp dẫn, dừng hơi đúng lúc, xuống giọng đúng hơi thì người nghe thêm phần thích thú. Truyện Tàu thường là quá dài, cuộc nói truyện cứ kéo ngày này qua ngày kia. Ai không tiền mua thì mượn đem về mà nói cho bà con trong nhà trong xóm nghe. Quyển sách lần hồi bị bóp mềm, muốn cho khỏi bị gãy lưng phải cập thêm hai thanh tre nhỏ cho sách được cứng. Nhiều cuốn được chuyền tay đến mức đen đúa vì bụi bậm, giấy lần hồi trở nên mềm như giấy bản. 
Trước tiên, xin lược kê một số quyển thơ xuất bản từ năm 1909 và trước đó độ ba năm. 
– Bạch Viên Tôn Các, Chiêu Quân Cống Hồ, Dương Ngọc, Đào Trinh-Luông Sanh, Lâm Sanh Xuân Nương, Lâm Sanh – Lâm thoại, Lang Châu, Mụ Đội, Nam Kinh Bắc Kinh, Nam Kỳ, Mục Liên Thanh Đề, Ngọc Cam Ngọc Khổ, Nữ Trung báo oán, Phạm Công Cúc Hoa, Quan Âm diễn ca, Tam Nương, Thạch Sanh Lý Thông, Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống Tử Vưu, Trần minh khố chuối, Cha mẹ dạy con . . 
Ngoài ra còn những quyển thơ lấy thời sự làm đề tài như. Thành Thái ngự du Gia Định, Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca, Đường lên núi Điện Bà. 
Lại còn những sách viết theo văn xuôi về Sử ký hoặc dạy chữ Nho như Huấn tử cách ngôn. Hoặc sách dạy đờn kìm, những bản đờn tranh và bài ca hoặc câu hát đối, sách dạy xem tướng gà nòi (Kê Kinh). Hoặc là vè, là phú. 
Năm 1914, đã thấy xuất hiện trên thị trường Gò Công Phong vịnh, thơ sáu Nhỏ, Văn Thánh Gẫm tử đạo, Hoàng Trừu, thơ Thập Điện, thơ Vân Tiên ghiền, thơ Vợ lớn bé đánh ghen, thơ Năm Tỵ . . 
Lục Vân Tiên tái bản nhiều lần, Sải Vãi in bằng chữ Quốc ngữ. Hát đối thì vừa sưu tầm vừa sáng tác thâm. Một số thơ nói trên do Đặng Lễ Nghi biên soạn, Kiều Phú, Kiều án là hình thức phổ biến nhứt của truyện Kiều. 
Truyện Tàu dịch ra quốc ngữ lần đầu tiên có lẽ là truyện Tam Quốc, khởi đăng trong Nông Cổ Mín Đàm (trước năm 1904). 
Bộ Đông Châu liệt Quốc ra mắt lai rai suốt 23 năm mới đủ bộ, từ 1906 đến 1929 (ba cuốn 8, 9, 10 ra nhằm lúc Âu châu đại chiến, những năm 1914, 1915, 1917). Dịch giả của bộ này gồm nhiều nho sĩ: Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều, Trần đình Nghi, Nguyễn Kỳ Sắt; nhà xuất bản cũng thay đổi, thí dụ như quyển thứ nhất do Imprimerie Saigonnaise (1906), quyển thứ ba do Huỳnh Kim Danh xuất bản tại nhà in Phát Toàn, quyển thứ 7 tại nhà in Schneider, quyển thứ 14 tại nhà in Xưa nay của Nguyễn Háo Vĩnh. 
Bộ Tái Sanh duyên ra mắt, quyển 1 do Nguyễn Văn Đẩu dịch (nhà in Saigonnaise năm 1906) rồi lần lượt Nguyễn An Khương và Nguyễn chánh Sắt tiếp tục dịch đến quyển chót số 11 (năm 1919 do nhà Phát Toàn xuất bản). Đại Minh Hồng Võ do Trần phong Sắc dịch, ra mắt năm 1907. Anh Hùng Náo Tam Môn Giai cũng Trần phong Sắc dịch, Hừnh Khắc Thuận xuất bản năm 1907 do nhà in Marcellin Rey. Nhạc Phi, thuyết Đường năm 1910, Phong Kiếm Xuân Thu diễn nghĩa do Trần Công HIển dịch gồm 11 cuốn, bắt đầu cuốn 1 năm 1907; chung Vô Diệm do Nguyễn Chánh Sắt, năm 1909-1910; Sự tích Bàng Quyên Tôn Tẩn do Ba Kè Bùi Thế Tích dịch, nhà in Saigonnaise in năm 1909. 
Năm 1909, trong thư mục của nhà Phát Toàn ghi thêm: Bắc Tống, Bạch Xà, Chinh Đong, Dương Văn Quảng bình Nam, đông Hớn, La thông tảo Bắc, Ngủ Hổ bình Nam – bình Tây, Phong Thần, Quần Anh Kiệt, Tam Hạ Nam Đường, Tây Du, Tây HỚn, Tam Quốc (tới thứ 25), Thủy hử, Thuyết Đường . . 
Tuồng, tức là tuồng hát bội, năm 1909 đã thấy: Đinh Lưu Tú, Gia Trường, Kim Thạch Kỳ Duyên, Từ Linh Thi Ân Báo Nghĩa, tuồng Cờ Bạc, Sơn Hậu (đủ ba thứ), Trần Trá Hôn, tuồng ô Thước, Trần Bồ. Năm 1914, thấy rao các tuồng đã in như Kim Long Xích Phụng tuồng, tuồng Phong Thần, Nhạc Phi, tuồng Tam Quốc (đương Dương Trường Bản, Phó hội Giang Đông, Phục Huê Dung đạo, Cầu hôn Giang Tả). 
Ngoài ra, còn vẽ “Bá hoa bá quả” sách thuốc gia truyền ngoại khoa cứu cấp, bản đờn kìm, hoặc Truyện đời xưa, Tiếu lâm, Tiếu đàm. Truyện đời xưa mới. Truyện đời xưa Arabe, Sử ký Đại Nam Việt, Sử ký Để thiên, Huấn tử cách ngôn. 
Từ 1906 đến 1914, mục lục thơ tuồng truyện thêm phong phú hơn. Các vị nho sĩ, thức giả biết đánh vào nhu cầu bình dân và đã thành công lớn. Người trung lưu dốt chữ Nho, dốt chữ Quốc ngữ ở thôn quê có thể thưởng thức được tinh hoa Á Đông và chút ít hương vị Tây phương. 
Đây không hẳn là theo đuôi quần chúng, nhưng là gợi thêm những thị hiếu mới, nâng cao trình độ. 
Nội dung của thơ, tuồng, truyện, tích trong giai đoạn này dều theo nguyên tắc căn bản là phải “có hậu” tức là ân thì đền, oán thì trả, người nịnh về sau bị bại lộ chân tướng, người trung mắc hàm oan được thắng thế ở hồi kết cuộc. Vài cuốn thơ khiến nhà cầm quyền Pháp lưu ý và cấm lưu hành: thơ Văn Đoan chàng Lía, kể chuyện chàng Lía làm lọan thời Minh Vương (chúa Nguyễn) tuy có hiếu, có chí nhưng lại chết, cuộc nổi loạn bất thành. Hoặc chuyện thầy Thông Chánh giết tên Biện lý Pháp Jaboin ở Trà Vinh rồi bị hành quyết, hoặc thơ Năm Ty, thơ Sáu nhỏ kể lại thành tích của hai tay anh chị, ăn ở thuỷ chung với bạn bè, rốt cuộc bị hại. Nếu theo công thức “có hậu” thì những chuyện trên không có hậu cho lắm, nhưng đồng bào lúc bấy giờ hiểu ngầm rằng những nhân vật trong thơ đều có “gan ruột”, có “nghĩa khí”; nếu trong kiếp này chưa được mãn nguyện thì kiếp sau họ cũng được đền bù, bao nhiêu người đang hoan nghinh, không dám chê bai họ. người đặt thơ thường là rào đón, nhưng người đọc vẫn nghĩ tới cốt truyện. tinh thần trung cang nghĩa khí của Thiên Địa Hội được khơi dậy mạnh. Chưa kể đến thơ Cậu Hai Miêng (không rõ năm ấn hành đầu tiên) ca ngợi thành tích ngang tàng của cậu Hai con Lãnh binh Tấn ra tay dẹp cường hào ác bá, theo Tây nhưng dám ăn thua với những tay sai của Tây, lấy độc trị độc. Người bình dân luôn cả người trí thức đã quan niệm vấn đề “có hậu” một cách sâu xa. Ngày xưa muốn có hậu thì nhân vật phải được tiên ông, tiên bà dứu hoặc nhà vua, ông phú hộ bổng dưng hối cải mà xét lại sự tình. Trong một nước bị thực dân Pháp cai trị, những cốt truyện mang tính cách thời sự thì phần kết cuộc chỉ có thể “có hậu” trong ý chí vương lên của từng độc giả, và chỉ “có hậu” thật sự khi thực dân vắng bóng, bằng hành động cụ thể của đồng bào. 
Nếu năm 1906 tạm được xem là khởi điểm của phong trào nói thơ, nói truyện lần hồi lan rộng trong giới bình dân, thì đó cũng là năm khởi điểm cho phong trào đờn ca tài tử. Trước kia, cầm kỳ thi hoạ là thú vui của kẻ sĩ để “di dưỡng tính tình”. Nhờ chữ Quốc ngữ (phổ biến bài ca, với lời ca mới) nhưng đặc biệt nhờ mức sống khá giả của giới trung lưu ở thôn quê mà việc đờn ca trở thành phổ thông. Những bản nhạc cổ đểin điệu Huế – mà ông Tấn sĩ Phan Hiền Đạo nổi danh là người biểu diễn khá tài hoa – lần hồi được giới mộ điệu ưa thích. Lại có những thầy đờn giỏi như Nguyễn Liên phong và con là Nguyễn Tòng Bá tiếp tục chế biến. Thầy đờn tha hồ đi dây, giới mộ điệu đón rước ân cần, chẳng riêng gì ở Mỹ Tho là đất văn vật mà luôn cả ở Vĩnh Long, tận Sóc Trăng. 
Phong trào Đông Du nổi lên rồi cuộc Minh Tân rầm rộ đòi “di phong dịch tục” thay đổi nếp sống cho hợp với trào lưu mới, tranh thương, mở mang công nghệ, học tập điều khiển xí nghiệp nhỏ. Trước kia, những buổi trình diễn bài bản cổ điển được ưa thích như Tứ Đại cảnh, Tứ Đại oán, Văn Thiên Tường, Tây Thi . . chỉ thu hẹp trong phạm vi bạn bè, trong nhà lúc uống rượu hoặc dưới thuyền lúc thưởng trăng trên sông dài. Nhưng người cổ suý cho phong trào Minh Tân bấy giờ đem đờn ca tài tử trình diễn cho bạn bè và thân chủ ở khách sạn (cơ quan kinh tài, tập họp của phong trào) vào cuối năm 1908; buổi chiều lại còn tiết mục hát thuật (ảo thuật) xen kẽ. Phong trào tan rã nhưng thú đờn ca vẫn phát triển mạnh, lời ca lấy đề tài ở điển tích Tô Huệ chức cẩm hồi văn, Bá Lý Hề, lục Vân Tiên, truyện Thúy Kiều. 
Điệu ca ra bộ (vừa ca vừa diễn xuất) rồi hình thức “hát chặp” ra đời (ca ra bộ với đôi ba người trình diễn một hoạt cảnh ngắn thâu hút cảm tình của từng nhóm nhỏ. Bấy giờ sự du nhập của văn chương Pháp, vài hài kịch được phổ biến trong trường học, những tuồng cổ điển với màn, cảnh bố trí rõ rệt, đồng thời có cảnh “sơn thủy” thích hợp. Một số người am hiểu Tây học hợp tác với các nhân sĩ đã cho ra mắt sân khấu cải lương. Cải lương là sửa đổi, canh tân hình thức sân khấu cũ của ta là Hát bội. Tuồng tích đặt ra giữa khoảng Âu châu đại chiến thứ nhất – với sự tham gia của người theo Tây học, thân Pháp. Và của những người tham gia phong trào Duy Tân. Tung tích bại lộ tuy được trả tự do nhưng thấm mệt – không tranh đấu về mặt chính trị, bèn làm công tác văn hóa. Hát bội lần lần bớt thu hút dân chúng, tuồng cải lương tỏ ra phong phú và có khả năng thích ứng với mọi từng lớp đồng bào. “tuồng Tàu” cho những người thích truyện Tàu. “tuồng Tây” với nghĩa là tuồng nặng về tả chân, đem con người của thời hiện tại ra phô bày, với áo lớn ,cà vạt, tuy dùng những bản cổ điển nhưng xem vào có những lớp đối thoại như thoại kịch. Người viết tuồng cải lương bắt đầu chú trọng vào việc bố trí nhân vật, phân phối màn, lớp, cách kéo màn, hạ màn hoặc chậm hoặc lẹ, cũng là ánh sáng sân khấu, đặc biệt là tranh cảnh (bấy giờ gọi là sơn thủy). So với hát bội, những động tác của diễn viên được phần tự nhiên, gần thực tế, câu văn dễ hiểu hơn. Gánh hát cải lương thi nhau trình diễn lưu động từ Sài Gòn tới các tỉnh lớn và một vài chợ quận giàu có. Ở làng ở tỉnh, lại còn gánh hát nhỏ. Phương tiện di chuyển thoạt tiên là đường thủy, sắm ghe lớn để chở đồ đạc, có tàu kéo vì vậy mà gọi là ghe hát. Cùng với tuồng cải lương, bài ca Vọng cổ cũng phát triển, tiết tấu thêm phong phú, trữ tình. 
Với Vọng cổ, lần hồi ở thôn quê những điệu hò đối đáp, hò giã gạo giảm uy thế. Cũng như từ khi cải lương ra đời, các hình thức nói thơ, nói truyện cùng là hát bội dường như đứng lại. Hai hình thức văn nghệ mới quả là sự biến chuyển đáng kể theo chiều hướng tốt. 
Số nhà in dồi dào lại cung cấp kịp thời những bổn tuồng cải lương ngắn vàn hững bài ca vọng cổ giúp cho dân ở nơi hẻo lánh có thể tổ chức đờn ca vui vẻ, khi rảnh rang hoặc lúc đám ma, đám giỗ, đám cưới. đĩa hát, máy hát phổ biến khá mạnh; mỗi làng quê ít ra cũng có năm bảy người đủ sức mua sắm. thoạt tiên tiếng hát thâu ở Sài Gòn, gởi về Pháp ép ra đĩa nhựa. 
Một trong những người ủng hộ việc sáng lập ngành sân khấu cải lương là Hồ Biểu Chánh. Năm 1910, ông cho ra tập thơ đầu tiên: U tình Lục những không thành công; từ 1910 đến 1920 làm báo rồi viết tiểu thuyết. Nói chung, ông giỏi tài phóng tác tiểu thuyết Pháp đến mức đọc qua ai cũng tưởng là chuyện xảy ra ở miền Nam. Tiểu thuyết của ông một thời được mọi giới ái mộ, đọc là hiểu ngay; ông tả tâm lý, tả cảnh rất linh động. Ở những gia đình trước kia thích nói truyện Tàu, tiểu thuyết của ông được tiếp đón, xem như là những truyện hiện đại hóa, vẫn là “có hậu”. 
Nếu yêu nước nồng nhiệt, thiết thực, chuộng tiến bộ, hướng về đại chúng là bản sắc của kẻ sĩ khi hành động về văn hóa thì về mặt chánh trị, vẫn là như thế. 
Thiên Địa Hội tạo ra được Phan Xích Long dám yêu cầu tòa xử tử hình ngay, và nhiều nhân vật khác điển hình là hương hào Hầu bị can vào tôi chống Pháp (vụ phá khám Biên Hoà 1916) đã nói khẳng khái trước giờ hành quyền: “ta sanh làm tướng, chết làm thần. Chào bà con ở lại mạnh giỏi.” Hai Sở cùng bị xử một lượt, thách thức trước mũi súng của thực dân khi thọ án tử hình: “Cứ bắn ta đi, Sở này không sợ đâu! Cái chết, ta thị như qui tân gia” (coi như về nhà mới vậy thôi.). Có thể kể thêm trường hợp anh hùng Thiên Địa Hội nhóm Nghĩa Hưng ở vùng Chợ Kiển (Cần Đước, tỉnh Chợ Lớn thời trước); cơ mưu bại lộ sắp bị bắt nhưng anh em thề sanh tử bất ly, trốn thì được nhưng lại lo vợ con bạn bè bị liên lụy, chi bằng khuyên bảo họ cứ đi nơi khác; anh em ở lại, tìm một căn chòi ở gần ngã ba chợ Trạm mà nghỉ ngơi. 
Năm anh em kết nghĩa này làm thịt con heo mà ăn uống no say, chỉ còn nồi cháo lòng là món ăn cuối cùng. Chờ hửng sáng, đoán chừng bọn tay sai của thực dân sắp lùng bắt, họ tự ray rắc thuộc độc vào nồi cháo, mỗi người ăn một vài tô rồi ngã lăn ra chết. 
Hồi xảy ra phong trào Duy Tân 1907, miền Nam nặng óc tôn quân. Về sau, phong trào tàn lụn, thực dân khủng bố gắt gao nhưng thân hoà nhân sĩ và đồng bào vẫn hăm hở đón rước ông Cường Để vào năm 1913, đến mức ông phải ngạc nhiên. Ông về Sài Gòn, lén lút đến Chợ Mới (chợ Gạo?) rồi qua Vĩnh Long bằng tàu thủy. Dưới tàu, ông nghe ba người nọ bàn tán với nhau về tin thực dân Pháp treo giải thưởng phong chức đốc phủ cho ai bắt được ông. Một trong ba người – vì không biết người ở cạnh nãy giờ ngồi lắng nghe chính là Cường Để – trả lời công khai với mấy người bạn kia: 
” – Có chuyện như thế ư? Tôi đây năm trước từng sang Nhựt có được biết đức Ông. Bây giờ nếu gặp vẫn còn nhớ mặt. Nhưng dù cho làm quan to mấy đi nữa, tôi cũng chẳng nỡ lòng nào “bán” đức Ông. Đức Ông là người vì nước vì dân, mình là người dân phải nên hết lòng ủng hộ. Đứa nào dám “bán” Đức Ông, ta đây quyết không tha.” 
Ông Cường Để bình luận: 
“Người này có từng sang Nhật thật không thì chẳng rõ, nhưng khi ấy thì bỉ nhân ở bên cạnh mà không nhận ra. Tuy vậy giọng nói và thái thì biểu hiện cái đặc tính trung thực và sốt sắng của người Nam Kỳ một cách đáng yêu” 
Đến Vĩnh Long, ông Cường Để được một chiến sĩ từng Đông Du đón rước bí mật đưa về làng. Tuy là bí mật nhưng ông Cường để vẫn phải đụng đầu với vài thanh niên đã từng qua Nhựt. Ông trú ngụ tại nhà của Huỳnh Quang Thành, tuyệt nhiên không cho ai đến ra mắt. Nhưng một việc buồn cười xảy ra: 
“Sáng hôm sau, bổng nghe tiếng trống rầm làng. Lệ làng ấy, hễ gặp khi có việc quan trọng thì đánh trống cái, triệu tập tất cả người làng ra đình để nghe báo cáo hoặc cùng bàn bạc. 
“Huỳnh quang Thành ra đình, người làng đã đông, mấy thanh niên kể trên đang diễn thuyết hô hào: 
“-Vua ta hiện đã về đây, ở nhà xã trưởng. Chúng ta là thần dân, người có của kẻ có công, phải đem cả ra mà hiến cho vua. 
“Huỳnh Quang Thành vội vàng chạy về nói cho bỉ nhân biết. Mấy người thanh niên kia có lòng tốt song chưa hiểu biết việc đời, cho nên có cái hành động ngộ nghĩnh như thế khác nào tuyên bố cho người Pháp biết chỗ bỉ nhân trú ngụ. Họ vốn có ý hoan nghinh bỉ nhân, mà thành ra hoan tống”. 
Cũng trong dịp này, một phú hộ (nên hiểu là đại điền chủ) ở Vĩnh Long tên là Lâm Bình – từng qua Nhựt đem theo hai đứa con trai nhờ ông Cường để cho đi học – đến nơi ông Cường Để đang ẩn trú để nói: 
“- Thưa ngài, tôi không giàu có chi song một năm có hoa lợi hơn vạn bạc. tôi định chỉ lưu một nửa ăn tiêu, còn một nửa xin hiến ngài dùng làm việc nước. gần đây tôi có làm được một tòa nhà kiểu Tây, tôi ở từng dưới, trên gác bỏ không. Xin rước ngài về đó ở, chớ ngài ở thuyền thế này thì khổ quá”. 
Một thân hào khác là cha của Lưu Do Hưng vì ái mộ ông Cường Để nên trước khi từ trần muốn hiến cho ông 30 vạn bạc, nhưng không biết giao cho ai đem đi. 
Đúng là tinh thần trọng nghĩa lớn, như trường hợp ông Trần Chánh Chiếu vì quá nồng nhiệt mà trên mặt báo vào thời Minh Tân cho đăng tải những bài lộ liễu, chửi mắng công khai tổng đốc Lộc “ăn cơm chúa phải múa tối ngày, ăn cây nào rào cây ấy, nếu quan Tổng đốc cực chẳng đã mới ra tay bắt đội quản, và các quan đàng cựu chém giết đày lưu, bắt vợ bắt con làm khổ khắc, thậm chí bắt không đặng quan cựu rồi lại bắc buộc đàn bà, hoặc bắt con nít còn hôi sửa mà tra cho nó khai ra, bởi vậy cho nên mang lấy tiếng thị phi, cũng vì thực lộc thì phải báo ân, nên làm cho đến thế .. ” Lại còn bài báo khen ngợi liệt sĩ Nguyễn Trung Trực cùng phó tương Lâm Văn Ky, ám chỉ rằng nếu còn sống thì hai ông ấy ắt sẽ tham gia phong trào Duy Tân. Mặc dầu là đại điền chủ, công chức hoặc hương chức hội tề, chiến sĩ Duy Tân trong Nam vẫn nhắc nhở đến đời sống thiết thực của đa số đồng bào nghèo kém: phô bày cái khổ của giới tá điền, một năm 12 tháng mà phải chịu cảnh thất nghiệp đến bảy tám tháng. Hoặc kêu gọi cải cách tận gốc rễ nếp sống vật chất và tinh thần do thời phong kiến lưu lại, được thực dân dung túng: bỏ tục ăn trầu, bỏ tục đạo tì khiên quan tài với nghi thức rườm rà, chống nạn tảo hôn, chế độ hà khác mẹ chồng hành hạ nàng dâu, chống việc cúng đình, để nghị đúc tượng những người có công với đất nước để chưng bày nơi công cộng. Thậm chí đến mức đề nghị bỏ những nghi thức tốn kém khi thờ Phật hoặc thờ cúng ông Quan Công …

Nồng nhiệt yêu nước, quá sốt sắng trước việc nghĩa là thái độ tốt nhưng có thể đem lại vài hậu quả xấu: nguội lạnh khi việc lớn không thành, lửa rơm, làm không xong thì không muốn tiếp tục. 
Và quá chú trọng vào chuyện thực tế thì thường bỏ quên những kế hoạch có tánh cách chiến lược, không vạch chương trình dài hạn, đụng đâu làm đó, không phân biệt chi tiết và đại cuộc. 
Có tác phong bình dân , hòa mình vào đại chúng vẫn chưa đủ. Phải biết tổ chức, biết huấn luyện đại chúng: lý thuyết mặc dầu là trừu tượng nhưng muốn đi đường dài thì phải nắm chắc định hướng cho bằng được. 
Về mặt văn chương, lý luận, người miền Nam ít chú trọng xây dựng tác phẩm lớn khả dĩ thoả mãn giới trí thức. Cải lương, hát đối với thơ bình dân vẫn là chưa đủ. Truyện Tàu tuy hay, bố cục hấp dẫn – với những nhân vật đầy đủ nét điển hình và cá tính – nhưng làm sao thay thế được những truyện lấy đề tài trong thực tế mà hàng ngày ta đang sống? Thoại kịch, tiểu thuyết viết theo kỹ thuật Tây phương là những bộ môn cần thiết không kèm, tuy nó ít hấp dẫn giới bình dân và số người thưởng ngoạn chỉ có hạn lúc bấy giờ.