Hallelujah

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

July 12th, 2024

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Tranh Hồ Đắc Vũ

Tìm việc

Ngà bước xuống giường, đi thẳng ra tủ lạnh, lấy hộp nước trái cây, hộp không còn một giọt, cô ném mạnh vô thùng rác, lấy ly, ấn nút, nốc hết ly nước lạnh, ngước mặt, thở một hơi dài, vô phòng thay đồ, tay chụp chùm chìa khóa xe trên bàn.

Căn phòng khách nhỏ, tối thui, nồng mùi rượu, mùi cần sa. Ngà bước tới mở màn cửa sổ.

– F…! Tao đang ngủ.

Ngà khép màn.

Mike say thuốc, anh ngồi dậy, dựa lưng chiếc ghế dài, chiếc mền vắt ngang người, một nửa rớt dưới sàn, lăn lóc mấy vỏ bia.

– Đi đâu?

– Tìm việc ở bên Marble head.

– Vậy ghé Harry, lấy cho tao 5 bông.

– Tiền?

– Khỏi trả, nó cho tao nợ.

– Em không đi!

– Tại sao?

– Nó… Không tốt

Harry

“Lần trước, Ngà vừa bấm chuông, Harry đã lôi tuột cô từ cửa vô phòng ngủ, đẩy Ngà bật ngửa ra giường, cô đang cố ngồi dậy, Harry đổ ập cái thân thể to lớn trần truồng của nó xuống, một tay đè cổ, tay kia lột chiếc quần của Ngà.

– Hà hà! Yên đi, tao chỉ mần một phát.

Tay Harry thô bạo, giựt tung hàng nút áo, chiếc nịt ngực, văng ra, Ngà lăn qua, nhưng con bò mộng Mike đã bồng cô lên. Ngà trần truồng, đạp 2 chân vô khoảng không.

Hai chân Ngà co lại, tiếng la từ cái thân thể trắng nõn của người phụ nữ nhỏ bé thất thế, chìm mất trong tiếng giường kêu, tiếng thở hồng hộc của thằng khốn Harry.

Harry ném cái gói ny lông vô Ngà, cô đang ngồi co người ở ghế dài, uống từng ngụm nước.

– Đây! 5 bông loại ngon cho chồng mầy! Mẹ! Mất cha $500 của tao…

Harry bước tới, mở cửa.

– Biến lẹ giùm cái! Vợ tao sắp về!

Ngà ra về”

Cú đấm

– Mẹ! Tại sao không đi? Nó cho tao chơi hàng đắt tiền, không tốn xu nào mà!

Ngà khoanh tay.

– Xin lỗi anh, em không thể đi!

Mike đứng dậy, chỉ tay

– Tao muốn mày đi!

Ngà rớt nước mắt.

– Không!… Không anh.

Mike đấm một cú dã man vô mặt Ngà, cô bật ngửa, té xuống, máu trên mặt túa ra, xỉu…

Quầy bánh mì

“Cô gái tóc ngắn, bán quầy bánh mì cười.

– Anh ăn gì? Bánh mì thịt nguội, chả lụa, bò nướng, phá lấu, chả bò nướng, đậu hũ chiên hay trứng gà?

– Hôm qua thịt nguội…hôm nay ăn bò… nấu!

– Bò nướng!

Mike nói tiếng Việt giống như Ngà bập bẹ nói tiếng Mỹ.

– Và cà phê lạnh.

– Cà phê đá!

Mike nhún vai.

– Lạnh và đá đâu có khác gì!

Đó là ngày thứ 2 của Mike ở Sài Gòn. Anh mướn 1 phòng nhỏ trong căn nhà lớn, kiểu phòng trọ ở đường Phạm Ngũ Lão, khu phố “Tây”, Sài Gòn, quầy bánh mì của Ngà nằm đầu hẻm, sát bên phòng trọ.

Cho tới ổ bánh mì thứ 5, thì Mike nói tiếng Việt khá hơn và Ngà đã nói thêm được nhiều từ Mỹ. Bữa đó trời mưa, mới 6 giờ sáng, Ngà dọn xong quầy bánh mì. Mike bước vô.

– Bữa nay là ổ bánh mì thứ 6… Thịt bò hay thịt nguội, Mike?

– Cô Ngà cho bánh mì đậu hũ chiên.

– Hôm nay không có đậu hũ.

– Trứng gà với thịt nguội vậy!

Ngà nói nguyên câu tiếng Mỹ rõ ràng.

– Anh làm ra món bánh mì mới.

– Ha ha.

Ngà làm ổ bánh mì thập cẩm, cô nói

– Ngày mai ăn đậu hũ chiên.

– Không được!

Đang gắp thịt nguội, Ngà dừng lại.

– Tại sao?

Mike sửa lại cổ áo, chắp tay trước ngực.

– Vì tôi muốn mời cô Ngà đi chơi Đà Lạt vào thứ 7, chiều Chúa Nhật trở lại… Tối thứ 2, tôi về Mỹ.

Ngà để ổ bánh mì và cái gắp xuống quầy, ngước nhìn Mike, Mike đang lúng túng, vái mấy vái.

– Có được không?

Ngà chúm chím, cúi mặt, nói thật nhỏ.

– Yes!

Mike la.

– Ô! Chúa ơi!

Ngà đưa tay lên môi.

– Đừng la lớn…

Chỉ vô 2 bàn tay chắp trước ngực của Mike.

– Cũng đừng vái! Không tốt!

Mike bỏ tay xuống, Ngà làm ổ bánh mì.

– Nhưng tôi thấy ở chùa người ta làm vậy để cầu xin.

Ngà chỉ tay lên trời.

– Xin Buddha…

Chỉ mình

– Not me.

Đà Lạt

Mike không còn dịp mua ổ bánh mì thứ 7, vì tối thứ 7 đó, Anh và Ngà ăn bữa đồ Huế thật ngon tại một nhà hàng nhỏ, sau lưng chợ Đà Lạt. 10 giờ tối, trời mưa to, Mike kéo Ngà đi nhậu bê thui ở tiệm nhà lá gần thác Cam Ly. Bữa nhậu bê thui giữa đêm Đà Lạt gió mưa với vò rượu cần đã đưa Mike và Ngà về phòng trọ, ngủ với nhau trên chiếc giường nhỏ cho 1 người nằm, suốt đêm Ngà nằm ngủ trên người Mike. Về Mỹ, 6 tháng sau Mike trở lại, làm đám cưới với Ngà.

Revere

“Ngà tới Revere, một thành phố nhỏ, ven biển ở Massachusetts.

Mike mướn căn nhà 2 phòng ngủ, gần khu đánh tôm, sát con lạch dài, đâm thẳng ra bãi biển, Anh thừa hưởng chiếc tàu đánh tôm và 1 công nhân của người cha quá cố để lại, nên, sau khi tốt nghiệp, anh dẹp cái bằng đại học thương mại qua một bên, ra biển đánh tôm, cá, mực theo mùa, như ba anh đã làm trong 60 năm qua.

– Năm nay thời tiết thay đổi …Tôm cá biến mất, mực ở New Port mỗi lưới chỉ chừng vài chục con…

Mike dựa vô thành lan can, uống ngụm bia, nhìn ra biển xanh ngắt, bên kia đường.

– Tiền thu được chỉ đủ trả tiền dầu, lương cho người phụ việc.

Mike quay lại nhìn Ngà đang ngồi trên ghế dài, trước hiên nhà, cô khoanh tay bối rối.

– Công việc ở nhà hàng của em cũng chậm lại từ 2 tháng trước, nhiều lúc, cả ngày chỉ có 10 khách, ông chủ đã cắt 30% lương.

Cô bước tới bên chồng.

– Chắc em tìm việc khác.

Việc khác của Ngà là làm một ngày 8 tiếng ở tiệm giặt ủi của ông Tàu bên vùng Marblehead, cách nhà 30 phút”

Khủng hoảng

… Mike đã đi khỏi nhà, Ngà tỉnh dậy, 2 tay ôm đầu, cô vô phòng tắm chùi sạch vết máu, thay đồ, đeo kính mát lớn để che vết bầm nằm ngang mắt, đánh chút son, đè vết nứt trên môi, ném cái răng gãy vô thùng rác, lấy chìa khóa xe.

Đã 2 giờ chiều, Ngà chạy tới nhà hàng dọc bờ biển Marblehead.

– Rất tiếc, hôm qua quản lý hẹn chị 1 giờ…

Người phục vụ coi đồng hồ tay.

– Bây giờ là 2:15 chiều, chị tới trễ quá, ông ta không tiếp!

Ngà buồn bã ra xe, lái xe đi… Nhưng cô không biết phải đi đâu với cái mặt sưng và đôi mắt bầm.

Đi đâu?

Con đường với 2 hàng cây xanh quen thuộc trước mắt, sao bỗng lạ, mặt nhựa đen lại, gập ghềnh, hàng cây xanh biến mất, thay vào là ánh đèn màu chớp sáng, chạy vùn vụt, rồi mờ đi, màu đen chụp xuống… Tiếng kèn xe chói tai, Ngà sực tỉnh, cô ngước mặt, mấy chiếc xe phía sau bấm kèn liên tục, một chiếc xe vượt qua, người lái thò đầu ra cửa, hét lên.

– Đồ điên!

Ngà ghé vô lề

– Đi đâu?

Cô lẩm bẩm.

Ngà lên xe, quẹo về hướng Nahant. Con đường qua Nahant cắt ngang eo biển lớn, hai bên là nước và đá. Trời thật xanh, đồng vị với mặt biển bằng một đường ngang lô nhô những tòa cao ốc, dinh thự và chiếc cầu treo vô Boston. Biển bên kia, mấy người bắt sò, ốc với những thùng nhựa trắng, lom khom dọc bãi đá, phía bờ trái, nhiều chiếc lều màu của dân tắm biển, câu cá, xa ngoài bãi là nhóm người chơi môn thể thao bay diều, những con diều lớn nhiều màu sặc sỡ, bay lượn trên cao.

Ngà tấp vô bãi đậu, bước ra, ngồi xuống gộp đá nhỏ, mấy đứa nhỏ dắt chó chạy ngang, vẫy tay chào.

– Hello.

Chiều đang tới, khu dân cư dọc eo biển Nahant từ bên trái, rực lên một màu đồng thau của ánh nắng cuối ngày, hắt những mảng vàng lăn tăn trên mặt biển yên lặng.

Ngà nhìn trân trân vô đường biển màu xanh, vạch ngang tận chân trời, cô bật khóc, những lọn tóc bay trên mặt…

Thất nghiệp

“Chừng 2 tuần.

kinh tế Mỹ tuột dốc, dân Mỹ không dư tiền ăn nhà hàng, bây giờ lại không có tiền giặt đồ, nên.

– Chắc nị nghỉ việc từ thứ 2 này…Tặng nị $500, xài đỡ, tìm việc khác.

Ông Tàu tử tế, ái ngại nói với Ngà.

Ngà về tới nhà đúng lúc Mike đang uống Vodka, ăn mấy bao chip nướng với Harry, người bạn đồng nghiệp, mặt 2 người đỏ gay.

– Ủa! Sao về sớm vậy em?

– Mất việc!

Ngà không chào Harry, cúi đầu, lặng lẽ vô nhà, mở tủ lạnh, uống ly nước, tới bếp nướng ổ bánh mì, lấy bao xà lách dọn ra dĩa, rưới 2 muỗng dầu ô liu, rắc lớp phô mai bột lên trên, lấy vỉ đùi gà trong tủ lạnh đã xả đá từ sáng, mở lửa đặt chảo, đổ dầu, bỏ vô 5 cái đùi gà, tiếng dầu xì xèo.

Bữa tối đã dọn ra bàn, Ngà vô phòng, lấy đồ đi tắm, cô bỗng khựng lại.

Tiếng Harry nói nhỏ.

– Mẹ! Đã không làm ra tiền, mầy còn phải nuôi con nhỏ ăn bám đó…

– … Nhưng nó là vợ tao.

– Vợ cũng vậy! Vợ tao làm ra tiền ngay sau đêm động phòng, đã 10 năm kiếm tiền tự lo! Tự nhiên mầy gánh cục nợ tuốt bên Việt Nam vô thân mình! Nên nghĩ lại, bỏ những phiền toái bám víu, lo cho mình đi.

Tiếng chửi thề lớn của Mike, tiếng ly bể dưới sàn, tiếng xe của Harry chạy đi.

Hôm sau, Ngà dậy sớm, dọn chai rượu, 2 cái ly bể và bao chip văng tung tóe, bỏ vô thùng rác, cô làm 2 cái bánh mì kẹp ham và xà lách để trên bàn cho Mike ăn trưa, uống ly sữa, rồi đi thẳng ra trạm bus. Lang thang trong siêu thị ở Reverve cho tới 4 giờ chiều, Ngà vẫn không tìm ra một việc làm, ngay cả việc lau chùi tiệm, hay đổ rác cho mấy nhà hàng, cô chán nản về nhà.”

Bandidos

Mike đang ngồi bàn tán gì đó với 2 người lạ mặt, trên ghế dài, trước thềm nhà, Ngà cúi đầu chào, vô phòng.

Ngoài thềm bỗng có người lớn tiếng, chửi thề, gây gổ, Ngà bước ra, một người lạ mặt, đè cổ Mike sát tường, đút đầu khẩu súng ngắn vô miệng anh.

Ngà la lớn.

– Ê! Ngừng lại.

Người lạ kia chụp lấy Ngà, kéo lên, chĩa đầu súng vô trán cô.

– Im! La là tụi tao cho thằng gian lận kia đi tàu suốt luôn!

Nó thả Ngà xuống, chỉ mặt Mike.

– Thằng Mike khốn kiếp này đã bán “Cỏ” với tụi tao từ khi còn đánh cá, mấy tháng rồi gian lận tiền hàng tới $5,000, bây giờ nó lấy cớ thất nghiệp, hết tiền, không trả nợ…

Chả quay súng chỉ vô mặt Ngà.

– … Mẹ! Trong 2 ngày, không trả hết số tiền, thì nó…

Chĩa súng vô hạ bộ Mike.

– … Ăn 1 viên, mất dái!”

Lang thang

Ngà nhìn ra biển. Phía bên kia chắc là quê mình, nơi cha mẹ chết nghèo xác xơ, bó đôi chiếu, chôn ở cái cồn hoang gần con lạch, tới mùa nước, nước trôi, cồn lở, sạt mất trong đêm. Cả đời, nhà mình ai cũng khổ…

Mấy đứa nhỏ lại dắt chó chạy ngang, vẫy tay chào. Ngà cười.

– Hello!

Ngà bước tới chỗ ghềnh đá, nhiều người đang câu, phía trên là tảng đá lớn, nhô ra mặt biển, cô bước xéo qua gần mép tảng đá, ở dưới là biển xanh đen, sóng từ ngoài đập vô tung những lớp bọt trắng.

Ngà loáng thoáng nghĩ tới cái chết, cô nhìn xuống biển

Nợ

Hôm sau.

– Tới ngày phải trả tiền, Harry cho mượn $1,000, thiếu $4,000… Em có cách nào đi mượn, hoặc cho anh mượn số tiền còn lại…

– Em không còn đồng nào

Mike ngồi xuống ghế, ôm đầu,

Ngà nói.

– Tiền dành dụm cả năm nay, đã chi vô đồ ăn, tiền điện, tiền rượu cho anh rồi… Còn xu nào đâu.

– …Nếu không, tụi nó chơi anh liền, Bandidos nói là làm!

Ngà tới của sổ, nhìn ra biển đầy sương, mờ mịt ngoài xa.

– Em không có cách nào…

Câu nói chưa ra hết miệng, Mike đã nhảy tới, chụp chiếc khăn tay vô mặt Ngà, cô sụm xuống.

Trả nợ

Ngà mở mắt trong căn phòng đèn mờ, thơm mùi trầm, nhạc văng vẳng trên trần, cô ngồi lên, không khí mát lạnh cho biết là Ngà đang mặc bộ đồ ngủ mỏng dính. Đang ngơ ngác, thì cửa phòng mở, 2 người lạ mặt đã cầm súng hăm dọa Mike bước vô, cúi chào, cùng nói.

– Chào cô gái xinh đẹp, cám ơn thằng chồng gian lận của cô đã mang cô tới đây trừ nợ!

Ngà hiểu ra, nhảy xuống giường, cầm cái gối, che ngực, thủ thế.

Một người nói.

– Cô biết là mình sẽ vui chơi tối nay… Cho tới sáng.

Người kia nói.

– Với màn sex “Xa luân chiến” kiểu “Thành Cát Tư Hãn công thành.”

Và hai thằng chó Bandidos đã “Công cái thành của Ngà” cho tới sáng.

6 giờ sáng, 2 thằng Bandidos, chở Ngà về nhà, Mike đang say thuốc, nằm trên ghế, Ngà lẳng lặng đi ngang, vô thẳng phòng tắm, mở đèn, chiếc áo ngủ rớt xuống, Ngà nhìn vô kiếng, những dấu vết bạo dâm của 2 thằng Bandidos đã giày vò, hiện rõ, bầm đen trên thân thể, cô bật khóc trong lòng bàn tay … Ngà ngước lên, đôi mắt buồn bã bỗng sáng rực, cô lấy khẩu súng Browning đã ăn cắp trong phòng của tụi Bandidos, đeo đôi bao tay mỏng.

Ngà trần truồng bước ra, tay giấu sau lưng.

Căn phòng khách nhỏ, tối thui, nồng mùi rượu, mùi cần sa. Ngà bước tới mở màn cửa sổ.

– F…! Tao đang ngủ… mở làm gì?

Ngà mở màn thật rộng, ánh sáng ùa vô, tạo một mảng sáng ngay ghế dài, chỗ Mike đang nằm say thuốc,

Ngà bước tới.

– Good morning, Mike! Mở mắt ra…

– Làm gì?

– Em muốn cám ơn anh đã mang em qua đây, cho em một đời sống, một gia đình…

Mike vẫn nhắm mắt, lầm bầm.

– … Một gia đình có con vợ ăn hại, nghèo xác xơ.

– Điều này do anh gây ra!

– Do mầy ăn bám!

Ngà cười nhẹ.

– Mike! Ngước mặt lên, nhìn đây.

Mike mở mắt, lờ đờ

– Hãy nhìn cái thân xác của em…

Mike cố ngồi dậy.

– … Chính anh, anh là người đã tàn nhẫn bán đứng vợ mình, làm dơ bẩn cuộc đời em…

Ngà khóc.

– …Làm nát tan mảnh thịt da nhỏ bé mà cha mẹ đã cho em…

Ngà nhắm mắt.

– Xin anh tha thứ cho một người vợ.

Mike tựa lưng vô ghế dài, nghiêng đầu, nhìn Ngà.

Ngà đưa khẩu súng, chỉ vô mặt Mike.

– Đùng!

Cô quay mặt đi, lẩm bẩm.

– Hallelujah.

HĐV

* Hallelujah, nguyên gốc là Hebrew, diễn tả sự hân hoan, thường sử dụng trong cầu nguyện, bài hát, kinh lễ. Tiếng Việt là, “Há lê lu ya”

Lụy đò

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7/11/2013 

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Cái đập vào mắt tôi trước tiên là tấm bảng đỏ Stop mà ai đã bôi đen để xịt sơn lem nhem bên dưới chữ Arret. Phía sau, thương hiệu gắn vào gạch đá ở trên cao có chú thích năm: 1835. Ông nội tôi chắc chưa chào đời? Xưa mút thẳm xa. Cung cấm triều Nguyễn e đã rêu xanh mấy lớp, đền đài tịch liêu gãy đổ chốn ấy. Sao chốn này vẫn thọ? Quá xá quà xa…

Stop, dừng lại, đôi khi không chỉ thoáng phút giây như luật lệ giao thông qui định. Có đôi người dừng lại để rồi nán ở dài lâu với cuộc chơi, chẳng cưỡng chống. Năm 1991 nhà thơ Hoàng Xuân Sơn đã dắt tôi ngơ ngáo tới địa chỉ ấy, chẳng có một màn phỏng vấn nào cả và từ một tay tơ lơ mơ tôi được nhận vào làm việc trong căn nhà rường cột đang đến hồi xiêu vẹo. Một nơi in ấn thượng vàng hạ cám, từ những hoá đơn mỏng tang cho chí một cuốn niên giám điện thoại dày cộm với máy móc thô lậu. Linh tinh đủ việc chúi mũi chúi lái thần sắc hư hao nhưng anh Hoàng Xuân Sơn tâm sự, đa phần những bài thơ nằm trong thi tập “Huế Buồn Chi” đều được viết ra trong giai đoạn “hồn lìa khỏi xác” nọ.
Không nên gạn hỏi nhà thơ, cớ sao lại Huế buồn chi? Tự tìm câu trả lời thích hợp: ngoài chuyện xa nơi chôn nhau cắt rốn tang thương, anh em chúng tôi còn lòng dạ nào vui thú với việc làm bất ưng chốn đây? Buồn ngủ mà suốt đời chẳng gặp chiếu manh, cứ đè thầy tu mà mượn lược cố xá. Bắt cóc bỏ dĩa. Biểu trói gà mà chẳng đưa được sợi giây. Vắn tắc: cực chẳng đã, không sướng, dễ hư bột hư đường. Dễ từ chết tới bị thương. “Thôi thà cứ để nguyên lòng giấy, trắng cả chân như trắng cả lời”. (HXS).

Hai kẻ Việt Nam lìa quê xa vạn dặm loay hoay trong cộng đồng mắt xanh tóc vàng để bị chúng nó phân lìa ra, mỗi người một góc hồn ai nấy giữ. Anh Hoàng Xuân Sơn nói tiếng Anh với chúng, tôi thì sử dụng Pháp văn pạt-lê-phờ-răng-xe. Xe qua dốc dựng xuôi miền, người ôm hệ luỵ thấp triền áo cơm. Đôi lúc cả hai giả ngây nói tiếng Đan Mạch có nhuận sắc Việt ngữ cho hả cơn giận sau những giờ túi bụi lùng bùng, nói sướng mồm mà chẳng chết thằng Tây nào cả: Mẹ rượt, có biết chúng ông là thành phần quen lao động chữ nghĩa không hở? Một ngày đẹp trời nào đấy chúng ông sẽ trở lại bắt bọn bây cặm cụi in sách cho chúng ông. In ấn thậm đàng hoàng siêu đẹp đẽ, gây ra lầm lỗi là chúng ông đếch có giả tiền, dẫu một xu đen.

Tuyết không rơi vào mùa hạ, phượng đỏ chẳng ra bông vào mùa đông nên chúng ông ngậm bồ hòn làm ngọt ngày ngày đổ mồ hôi sôi nước mắt mà ngâm câu kệ: Tình xê la mua, tiền xê lạt răng, đời xê la vi. Ba xu triết lý ngẫm cũng đủ hinh hích cười nửa miệng. Bắt mỉm chi cười mím chi, cho vui nhếch mép để rồi nín thinh!

Vì nhà thơ mang tên Sơn nên thằng cai khi giao việc thường la toáng: Ê son, son. Dễ nực gà vì chữ ấy tựa như cha gọi con. Mụ nội mi, tao là Sony, biết không hả? Tôi thì phổng phao với danh xưng bác Hồ bé tí. Chúng nó biết tỏng ông Hồ có thời cong đít đi rửa chén bát do bởi chúng từng in cho ai đó một xấp tài liệu những ôn chóp bu cộng sản cùng bọn hậu duệ. Dĩ nhiên chúng cũng rành sáu câu mà mông-xừ Mirek Chojecki ở trong Công đoàn Đoàn kết Ba Lan từng nói: “Những người Cộng sản là những kẻ không được bình thường!” Chúng tôi chạy trốn cộng sản nên chúng tôi rất mực bình thường. Chúng tôi trả giá sòng phẳng cho những thất thoát cũng như nhận mua niềm vui hiếm muộn chẳng mặc cả. Công ăn việc làm khiến cảm xúc hư hao nghèo dần, muốn tìm điều quân bình chúng tôi phải thiếp đi trong mộng tưởng mà chỉ có vật lộn cùng thơ văn mới giúp chúng tôi đứng vững trong thế giới thợ thuyền tạp nhạp.

Rồi người mang tên Sơn khuân núi bỏ đi, bác Hồ bé tí vẫn cực thân ở lại bám trụ tìm đường cứu… thân.

Chấp nhận đắm mình vào mê hồn trận vì vẫn ngại một cuộc giải phóng, bức rời đi, thoát khỏi nó và rồi lại loay hoay thi gan nhảy vào một trận đồ khác? Trịnh Công Sơn có chữ dùng thậm hay, thậm chính xác: Đường chạy vòng quanh, một vòng tiều tuỵ… Hoặc “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt “. Một vòng tròn khép kín tựa như chiếc nhẫn tròng vào ngón tay áp út của sống đời chồng vợ. Nhẫn là nhẫn nhục nhịn nhường nhân như nhu.

Chủ lớn là một vị nữ lưu, là công chúa được vua cha giao truyền ngôi báu cai quản cơ ngơi. Có trưa “bà chủ” bắt gặp thằng nhân viên quèn đang ngồi trên bãi cỏ cúi mặt với giấy viết hí hoáy ghi chép.

Mi không ăn trưa?

Đã.

Chẳng lẽ mi là nhà văn?

Phải.

Hú hồn! Thú thật là tao không ngờ tới.

Trang vở còn mở rộng, để ngõ. Nắng dội vàng những tuồng chữ hoa mắt.

Mi viết những gì?

Fiction.

“Hay gì bà hỏi đến tôi. Khóc thì trái thói mà cười vô duyên” (Trần Huyền Trân).

Đối thoại ngắn vì lunch-time rất giới hạn, chóng mãn. Vu vơ, chiếu lệ, ngỡ sẽ chìm quên. Nhưng không, lại tái ngộ, cảnh cũ, người xưa. Tao rất thích hình ảnh một kẻ đưa đầu trần ngồi chết trân dưới nắng để viết quên ăn, lơ là luôn cả ngoại cảnh. Và bà chủ có lối chấm câu rất ấn tượng: Tao đã lên lương cho mi. Tuần tới nhận ngân phiếu, tự khắc biết.

Cho hay văn chương hạ giới rẻ như bèo hay không, hạ hồi phân giải. Trước mắt, người ấy nghe ta biết vọc chữ tư duy người ấy có đổi thay. Ấy, chẳng qua nhà ngươi vì hoàn cảnh mà hoán đổi thân phận chịu đầu quân dưới trướng ta làm việc tạp nhạp sinh bất phùng thời không tìm ra giờ hoàng đạo. Bản cô nương vẫn quí trọng kẻ hiền tài, tốn thêm ngân lượng cho ngươi ta thật chẳng tiếc! Chỉ hận một điều, ấy là ta không đọc trôi chữ nghĩa bí hiểm của bộ tộc nhà ngươi.

Người viết văn vẫn chậm lụt mài bút nơi hiểm địa, trong lúc núi kia đắm vàng mùa Xuân. Nhà thơ lại cho ra đời thi tập Lục Bát. Thằng đồng chí cũ vẫn quẩn quanh cổ thành mòn vẹt những đế giày đường hầm không ánh sáng gay cấn chuyện đẻ sinh, để nghe tin xa từ Laval truyền về, bây chừ ta đổi món, ta chơi phóng bút và ta vất vào cõi bạc tình cuốn bí kíp Cũng Cần Có Nhau.

Có khi cấu thành chữ nghĩa bí hiểm thì cha đẻ ra thơ ấy là Sử Mặc. Tôi đã từng bắt tay hai ôn Mặc Sơn, vậy thì phải kíp mọc thêm “cũng cần có tay” để ôm choàng anh chàng văn xuôi hiện hữu bất ngờ. Hát hay và hay (ca) hát. Thơ hay và hay (làm) thơ. Ngoài song long cầm nã thủ giờ thì thi triển tuý quyền huê dạng cước bộ gừng càng già càng cay.

Mi còn làm chỗ cũ?

Còn. Vẫn trú thân hiểm địa.

Lâu hung! Mi hẳn còn năng, chảu vảy.

Ngó rứa đó nhưng nội thương thì mô có chộ được. Eng thì ra reng?

Ta đã nghỉ hưu. Sân sau chẳng có gà mà đuổi. Mây trắng trôi nhanh qua đầu! Tặng mi cuốn ni đọc chơi.

Móc viết từ túi áo. Mi về ta cho mi về, chờ lật trang đầu ta đề câu thơ. Ui chao tuồng chữ cứng cáp hiển lộng e chừng hổng khớp cho tuổi hưu trí mô nghe. Còn năng hung, cắt đầu gối máu hẳn còn ràn rụa, thậm sung. Hay là hết xí goách chuyện lao động chân tay thôi, còn món kia thì vẫn ngon cơm thường hằng. “Đời không khoá một linh hồn để ngõ, miệng quỳnh thơm xin cứ nhả hương vào”. (HXS).

Đừng nói là người làm nhiều thơ, bút lực dồi dào. Ngay cả trí nhớ, người tuồng sắc sảo khi bước về miền quá khứ, mồm một, chi li. Rứa mà còn thưa thốt lời ốt dột: “viết hồi kí đòi hỏi phải có một đầu óc khá minh mẫn…” Ôi chao, nếu thực sự là vậy thì suốt đời kẻ hèn này phải lánh xa thể loại ấy, bởi có những sự việc vừa xảy ra hôm qua, hôm nay đã vội thừ người cật vấn, mi đã thanh thỏa chưa, mi còn nhớ hay mi đã quên? “Chìm sao vội đắm muôn nghìn khúc kể, chiếc thuyền con và tuổi nhỏ không về” (HXS).

Tôi rất yêu chuộng cái kết luận mà nhà thơ đưa ra: “Rồi ra, nghiệm thấy một điều. Chỉ xin nghiệm một điều: Bạn ơi! Lúc tuổi đã dần dà ám sương, dù đã bằng hữu hay chưa bằng hữu; hãy đến với nhau, nhìn ngắm nhau thân thiện. Hãy thăng hoa lòng tử tế. Và đừng nên nói với nhau những lời cay đắng. Để làm gì?”

Chung chỗ, chung công việc trong gần hai năm với anh Hoàng Xuân Sơn tôi vẫn thầm nghi hoặc, sao “đại ca” này giao tiếp rộng, bạn bè đông vui quá thể. Để bụng, không tiện hỏi. Và giờ đây thì ngó ra đáp án, “Cũng Cần Có Nhau” là cuốn sách kể lại một chặng đường thời trai trẻ, tháng ngày ấy thật tươi đẹp vì nhân vật chính đã quây quần cùng bằng hữu, đã chia sẻ với họ với tấm lòng thành chẳng nghi ngại. Một trái tim nhân hậu, một sự tử tế viết hoa. Giữa họ tuồng như không có đất để mọc lên cay đắng. Cái kết trong thiên phóng bút dường như mới viết ở đêm qua, quá khứ gần. Đế làm gì? Để cuộc đời này hẳn chúng ta “cũng cần có nhau”.

Đi làm (vẫn còn năng), tôi mang sách theo đọc khi ngồi métro, suýt xuống nhầm trạm vì những con chữ trong sách mang tội quyến rũ chúi mũi chúi lái. Vào hãng, bà chủ chào “hai”. Tôi đáp “ba”. (Bả muốn trau dồi ngôn ngữ bộ tộc xa lạ). Bà ngó thấy cuốn sách. Của mi? Phải chăng? Tôi cho bà ta xem ảnh tác giả. Mi còn nhớ hay mi đã quên? Lạy Chúa tôi, Sony đây mà, đúng thế chăng? Lọ phải ngôn, còn ai trồng khoai đất này? Cha chả, có ai dè chốn này đã là nơi ngoạ hổ tàng long!
Sách in ở đâu mà ngó cũng mượt? Tôi nhún vai, dĩ nhiên là những cái máy cổ xưa sẽ không đủ tài cán.

Tôi ngó về một góc khuất, thế kỷ trước, chỗ ấy, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn một mình một cõi làm việc trong mộng du để chiều về đọc cho tôi nghe, nhin nhín: em lên côi bợt em ngồi, tới bờ em đứng khóc mùi mẩn em.

Nhà thơ đang thong dong ở nơi khô ráo. Tôi vẫn mỗi ngày bơi qua sông rộng, lên bờ có khi tôi đã mùi mẩn khóc. Những giọt nước rỉ rả chảy ngược bên trong. Lệ, là thứ cần có. Tôi yêu tất thảy những ai còn biết khóc, để thấy vui khi nhìn ra một nụ cười.

Cám ơn nụ cười tròn đầy của anh Hoàng Xuân Sơn.

Hồ Đình Nghiêm
(Đem theo iPad và viết trong giờ cơm trưa quên giờ giấc)

Long bào

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19/01/2015 

Vua Tự Đức dụng bút: “Tứ thời giai hữu hạ, nhất vũ tiện thành đông”.

Minh quân, cai quản đế đô, ăn dầm ở dề nên hiểu thấu diện mạo nó, ngôn một câu thơ thậm ấn tượng về “tính tình” Huế: Bốn mùa thảy đều hè, chỉ mưa một trộ là biến thành mùa đông.

Vua có nói quá không? Mùa đông hình thành bởi vạn cơn mưa, chí ít. Mưa một trận, chỉ một mà thôi? Vậy thì mưa nọ hẳn rơi triền miên, dầm dề, lê thê, giọt ngắn giọt dài chẳng đứt đoạn ròng rã ngày này qua tuần nọ, hết tuần lại đến tháng. Ướt át sang giêng, hai.

Người xứ Thần kinh, do chịu ơn mưa móc kiểu đó nên lòng dạ úng thuỷ đôi phần, phên dậu ẩm thấp hứng tạt vào nơi sâu khuất chút thâm trầm, hơi bị chảnh. Một ông người Pháp mang tên Jean Hougron viết trong cuốn sách “Soleil au ventre”: Các cô gái Huế kiêu sa, làm ra vẻ khinh khỉnh, bởi chăng họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang trôi chảy trong huyết quản mình.
Tên vua chúa được mang ra đặt cho những ngôi trường. Trường Khải Định, trường Hàm Nghi, trường Đồng Khánh… Ngoài mưa, nón lá và áo dài điểm xuyết vào, tạo ra và bao phủ lấy một địa chỉ độc tôn. Nhắc tới Huế mà quên đi cái vườn hoa đầy kỳ hoa dị thảo mang tên nữ trung học Đồng Khánh là một thiếu sót khó thứ tha. “Đồng Khánh gánh cứt trâu” phát ra từ cửa miệng của mấy “trò” nam bên Quốc Học khi đã hơn một lần bị mấy o Đồng Khánh dòm bằng nửa con mắt. Đôi khi cũng chả thèm nhìn để ngó ra mặt ngang mặt dọc của cái đuôi đeo bám nọ. Ốt dột một phần, phần khác do bởi cái vùng đất mọc lên ngọn núi Ngự Bình trước tròn sau méo kia. Nết na thuỳ mị, đoan trang hiền thục, lễ nghĩa gia giáo, công dung ngôn hạnh… có cả vạn điều can dự làm bóp méo, làm rào cản bưng bít một tấm lòng ưa thổ lộ buồn vui cùng tha nhân. Không đánh đổ thành kiến được, bước theo lối mòn của nề nếp để rồi than thở trong cuốn lưu bút: Mình đã hai mươi mùa lá đổ, nhưng chưa một lần nắm cổ tay ai! Mình ăn mặn nói ngay chứ không là hạng ăn chay nói láo. Mình trinh trắng từ ngoài vô trong tuyệt chưa một lần rớm máu.

Chỉ Nhược học trường Đồng Khánh. Đạp xe đi học mất khoảng hai chục phút có khi nửa tiếng vì nhà nằm không mấy xa, ở đường Giao Thuỷ. Tên nghe ướt át và vô tình con đường trở nên nổi tiếng, một địa chỉ hoa. Dài khoảng 150 mét nhưng Giao Thuỷ đã cho Huế biết bao bông hoa nức lòng: Cao thị Phố Châu, Hà thị Như Nguyện, Minh Nguyệt, Lưu thị Kim Đính, Ngọc Hà…

Dĩ nhiên Chỉ Nhược luôn được điểm danh, chen vai cùng chị em “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” kia. Nhược khác họ, thích xông xáo ra khỏi khuôn viên kín cổng cao tường, thích phô bày cái sản phẩm mà tạo hoá biệt đãi nặn trao. Nhược yêu thích bơi lội. Hè về, Hương giang là người tình thuỷ chung cho Nhược đắm thân vào vùng vẫy. Mười sáu tuổi, nẩy nở sớm hơn hạn kỳ, Nhược đã sở hữu một hình thể vẹn toàn đúng với những số đo chuẩn mực. Và rất đỗi bình thường, Nhược cũng rơi vào tầm ngắm của biết bao người con trai, những đứa chỉ vì ngộ ra một vẻ đẹp thoáng qua đầu đường mà có thể biến đổi hắn ta thành kẻ bán trời không văn tự. Hắn khoe sự đột biến vừa xảy ra, tỉ như: Nước mắm chanh dành ăn bánh hỏi, tui thương Nhược dịu dàng theo dõi bao niên. Những kẻ ấy ngồi cà phê Lạc Sơn sát chợ Đông Ba không ngớt tán dương vẻ sexy mà Nhược chẳng ngại ngần thu dấu. Họ sẵn lòng cạo sửa câu nói của Voltaire: Ý tưởng cũng giống như lông tóc vậy. Con gái không có nó cho tới khi họ trưởng thành.

Nhược trưởng thành. Như hầu hết các cô gái Huế, Nhược tự đóng cho mình một cuốn vở bằng giấy pelure xanh để chép tay bao bài thơ gây rung động của Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… Nhược sưu tập những hình ảnh các diễn viên điện ảnh tuyệt sắc như Ava Gardner, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Grace Kelly, Romy Schneider, Marilyn Monroe, Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Brigitte Bardot, Claudia Cardinale… Những đêm đi dưới lòng đường Lê Lợi sum vầy bóng lá cào xướt vào bóng tối rung động, dưới kia là Vỹ Dạ dâng đầy sương, Nhược đã đọc thầm câu thơ của Baudelaire: Entends, ma chère. Entends la douce nuit qui marche. Lắng lòng em yêu, lắng nghe đêm dịu dàng bước đi. Đó là giai đoạn Nhược rối trí trước những bày tỏ tình cảm của đôi ba kẻ khác phái. Phân vân giữa sự giằng xé: Tình yêu sẽ thăng hoa khi đi kèm với xác thịt hay giữ thân cho nhau để ngợi ca một cuộc tình trong sáng thánh thiện? Nhược biết, điều không thể chối cãi, chính cái vóc vạc ngồn ngộn sức sống của mình luôn có sức quyến dụ, và họ hăm hở lao vào chỉ với một mục đích, khám phá, lột truồng, cưỡng hãm, chiếm đoạt. Nhược nhớ một lời khuyên: How others see you, is not important. How you see yourself means everything. E hèm, thú thật tôi ưa làm con thiêu thân lao vào thử lửa và đằng khác, tôi lại sợ tiếng thị phi. Thành phố này nhỏ và dân cư sẵn lòng có ít xít ra cho nhiều, họ thiện nguyện vẽ rắn thêm chân. Tôi sẽ chết chìm dưới biển dư luận bạc ác mà không một kẻ chau mày cảm xót. Bọn con gái trời bắt xấu nghe tin sẽ hả hê, sẽ cả tin vào lẽ thường của đời bày biện: Mất cái này được cái khác, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Mỗi bận hoang mang không biết nhờ ai gỡ rối tơ lòng Nhược thường mặc áo tắm hai mảnh phóng thân xuống nước. Nhược bơi, bơi mãi miết. Sự bình an sẽ đến trong tâm trí, gạn đục khơi trong. Mặt khác sóng nước vỗ về ôm kín thân Nhược, vuốt ve đến rợn cảm từng phân da. Hưng phấn như khi dùng những ngón tay tự khám phá lấy ngóc nghách chìm ẩn vào thân thể mình. Thuật ngữ gọi là thủ dâm. Nhược ghét chữ đó nhưng rối trí chẳng tìm ra chữ điền thế. Quạnh vắng, mênh mông, chỉ có nước, chỉ có mây bay, trời yên bể lặng và có thể, chỉ một mình hà bá mới thấy bàn tay nàng tiên cá giúp Nhược tìm ra khoái cảm, xối xả, dâng trào. Sông Hương sẽ thơm hơn nếu như tất cả các nữ sinh trong thành phố đồng loạt xuống ngâm thân giao hoan cùng thuỷ thần tựa Nhược. Nước trong người họ rỉ ra, kể cả nước tiểu sẽ làm cho con sông không bao giờ cạn, thêm sâu thẳm mông lung. Con sông mà khi đứng núi cao nhìn về Nguyễn Trãi đã nhận xét: Nó nằm đó, tựa một thanh kiếm báu ngời sáng. Và hậu thế, ai đó nói: Vẻ đẹp nó mang, giống như lưỡi gươm đâm sâu vào lồng ngực, vào tâm hồn kẻ thưởng ngoạn. Rồi Nguyễn Du: Hương giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa tình.

Đầu tiên là vòng số một, kế đến là vòng số ba. Rồi đôi chân dài, rắn rỏi, mạnh khoẻ của em… Trong lúc này, nói năng là chuyện vô bổ, điều anh cần làm là hãy chứng minh anh yêu tôi tới mức độ nào. Nhược nói, tự mình cởi bỏ y phục. Giao cho đàn ông? Những thằng ấy thảy đều vụng dại, lóng cóng tựa trẻ con. Hoặc chúng nôn nóng khiến áo quần mình toe tua trong chóng vánh. Chỉ một cái móc nằm đằng sau nịt vú, mất nửa giờ chúng chẳng tài nào gỡ xong với đôi tay run. Dầu sôi lửa bỏng, nước tới chân rồi mà không biết cách nhảy, đành phải dẹp bỏ chướng ngại cho chúng nhờ, cho khỏi lôi thôi rách việc.

Nhược đã rời Huế, xuôi Nam theo cách định nghĩa của gia đình: Lớn rồi, đủ lông đủ cánh rồi, phải bay xa mưu sinh lập nghiệp cho thoả dạ. Điều này đồng nghĩa với động thái Nhược tự cởi bỏ cái vòng kim cô vô hình mãi chụp vào đầu. Xa Huế là quay lưng với những điều lệ nội quy y như mười điều răn gắn ngay cổng tu viện luôn chùi sạch bụi. Xa Huế là điếc đặc thính giác chẳng còn vang vọng tiếng chuông chùa Thiên Mụ gợi nhắc một giữ mình. Hừ, kinh kệ ích gì cho buổi ấy!

Nhược nằm ngửa ra đón đợi cơn chấn động sẽ đi sâu vào người. Bước chân vào vườn địa đàng, người ta không thể bỏ quên trái táo mọng đỏ nằm gần tay với. Hãy bức hái, hãy khiến cây cành rung động, hãy cắn nhai và nhâm nhi cái vị ngọt, hay chát đắng? Nước mắt tự nhiên ứa ra. Khóc vì ý thức mình mất trinh, và lệ đổ do bởi sự thống khoái sớm từ giã. Hạnh phúc chẳng hề là cái gì ghê gớm đến độ ta phải hát khúc hoan ca, nó mong manh vội tàn úa chỉ trong một sát na. Sát na sau là cả một sự bẻ bàng đầy hối tiếc. Như nỗi thất vọng của kẻ đầu đời tự sắm cho mình viên kim cương, phút giây sau nhìn nhận đó là hột xoàn giả. Bàng hoàng.

Không. Phim ảnh cũng như tiểu thuyết có lối diễn giải khác thế. Cái thơ mộng tiềm ẩn dẫn đến sự trao thân để sau đó người ta đón nhận sự vỡ bờ của ngàn cảm xúc khiến sướng rêm người. Buộc người ta phải kêu gào trong bải hoải. Nhược thất vọng, có lẽ đối tượng không phải là đứa nắm vững nghệ thuật gối chăn? Hắn lanh lợi ở mặt tán tỉnh chìu lòn nhưng hắn khù khờ dốt đặc cán mai trong việc cõng Nhược dìu qua bên kia bờ khổ nạn. Hắn khóc ngoài biên ải và Nhược tấm tức về cơn mưa chưa giải nhiệt vùng đất khô hạn.

Ngạn ngữ Nga có nói: Nếu bạn săn đuổi hai con thỏ, bạn không tài nào bắt được một con. Nhược chẳng săn đuổi, thỏ tự nguyện đến chầu chực vây quanh và Nhược toàn quyền gạt bỏ những anh chàng playboy dở hơi. Cắt bớt râu ria tua tủa cho lành. Nhược hứa sẽ thôi phiêu lưu hồi nào tìm được một người hướng đạo mang Nhược lên tận đỉnh vu sơn. Trác táng, tạm gọi thế, làm Nhược chóng già tựa một cánh hồng cắm trong bình cạn nước. Khi phát hiện cái manh nha của sự úa tàn tìm tới, Nhược thường thừ người nhớ vu vơ về quãng đời êm đẹp cũ. Nhớ có đêm tá túc nhà người anh cô bạn, Nhược đã tỉnh queo nằm giữa hai người đàn ông trên chiếc giường hẹp bé, Nhược thích thú khi tự mình cá cược, ai là kẻ động thủ trước, tả hay hữu? Họ sẽ thức trắng đêm, thúc thủ với những giấc mơ xằng bậy luôn diễu hành trong rối trí. Họ sẽ thầm đọc câu chú: Ngồi trên giếng mà khát nước. Và một sớm mai nào họ sẽ lập nên một bản án nhằm áp đặc vào thân Nhược: Ác phụ!

Những kỷ niệm thường không mấy đẹp, khi xấu nó sẽ là một vết thương lòng. Nhược đã hai lần phá thai, hai bận hát khúc đoạn trường. Nhược trách mình muôn đời không làm chủ được bản thân. Nếu sáng suốt và cứng rắn thì lần thử nghiệm bằng lý trí kia lại bị đối tượng lọc lừa. Thua cuộc, cháy túi. Đời biến Nhược thành một kẻ vô sản. Không tiền của, không chức vị, không gia đình, không luôn một người hiểu mình. Cô đơn gieo cho Nhược cái ý tưởng, hãy chìm quên, đắm mình vào kinh kệ an tâm dưỡng tánh. Năm tháng trôi chênh vênh, trước khi đóng cửa diện bích, có người run rủi tình cờ phát hiện ra Nhược. Cô ta khai tên Trinh, chị còn nhớ em không? Nhược tần ngần, gạn đục khơi trong để mong hiện ra một hình bóng nằm lắng đọng dưới bao hư ảo của bộ nhớ 60 GB. Trinh người Huế, em gái một người bạn trai. Khi Nhược đến thăm anh ta, ngày đó Trinh còn bé xíu, không nhớ là chuyện dễ hiểu.

Hai thế hệ già trẻ dắt nhau vào quán nước tha phương tâm sự. Xa nửa vòng trái đất nhưng qua chuyện trò của họ, tưởng chừng như Huế đang nằm ngoài sân, xô cánh cửa là dẫm phải đất đá trầm mặc, là rêu phong thành quách, là gió Lào bỏng rát thiêu đốt nung lửa, là lụt lội sông Hương lên bờ cá lội đầy mương. Địa hình khắc nghiệt đói kém ảnh hưởng tới tính tình người ngợm. Răng ri rứa một lát lại đến ui tội chưa tề chi mà đoản hậu dễ sợ. Làm đày làm láo một lúc lại thành tâm chuyện vãn riêng mục bí ẩn chị em ta. Nhược nói, đời chị sưu tập được tá chuyện tình. Trinh nheo con mắt lá răm. Chỉ một tá, mười hai thôi? Láo chết, rứa cũng đủ tổn thọ rồi em nợ. Sướng sung chi mà phải phách tấu. Còn em? Noái chị đừng cười, nhiều quá, tới độ em chưa tỉnh trí để kiểm điểm làm phép toán cọng cho được minh bạch. Nhược quan sát Trinh, quả là tuổi trẻ tài cao, đúng là sóng sau dồn sóng trước. Hỏi thăm một vài nhân vật, hoá ra những kẻ kia từng ăn nằm qua với Trinh, bất luận tuổi tác chênh lệch dễ khiến người bình thường phải ái ngại e dè khi ráp lại. Lạ lùng chi những cái mặt mâm nớ chị. Ui chào, chơi kiểu chi ba de rứa em, chơi nỏ sợ cha già mẹ yếu.

Lạ. Tên con người có vận vào mình, vào số phận họ mang không? Có đấy. Nguyễn Khoa Nam, Lê Minh Đảo, Ngô Quang Trưởng… Xướng tên là thấy ngay ra một vị võ tướng tài ba lỗi lạc. tên họ đó tuyệt không thể áp đặt vào một vị quan văn chân yếu tay mềm. Nhưng Trinh, nói bó lỗi, mợ này thuộc loại ưa đi làm cách mạng để lật đổ sự dị đoan. Phải vin nhờ vô ca dao để minh hoạ thân phận Trinh mang:

Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
từ anh chồng cũ đến chàng là năm
còn như yêu vụng nhớ thầm
họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì!

Chuyện trò nóng sốt đâu hai canh giờ là bắt đầu nguội lạnh. Nhược đang tập quên, đang muốn quay đầu vào bờ mà ngồi gần ma nữ này thì thị vẽ ra bao là sóng dữ tai ương khó bề tìm nhặt chút thanh tịnh. Chị hết xí quách rồi em nợ. Vóc vạc em còn năng mược sức mà trửng giỡn. Chị có cho em một lời khuyên thành tâm thiện ý? Chị mô có tư cách để bảo ban ai. Hay là thế này, em thử ngả chữ ra giấy viết hồi ký thật trung thực, có sao nói vậy người ơi, bảo đảm khi in thành sách nó mà không đắt như tôm tươi thì em chặt đầu chị đi. Bạch hoá chuyện thầm kín chăn gối thì có khối thằng lo sốt vó chị hí. Ừ, hãy cho bọn đó biết chút lễ độ khi vày vò trong tay một cành hoa. Ông Mai Thảo nói “Đời tôi sử chép cả ngàn trang” thì cuốn hồi ký của Trinh e phải lên tới hai ngàn, chí ít. Cầm mỏi tay đọc mờ con mắt.

Họ chia tay trong thứ viễn ảnh sẽ gây sốt dư luận. Họ cả tin, họ sẽ trả thù cuộc đời bội bạc này bằng chữ viết, hoặc không thì tôi nói lần cuối, cạn tàu ráo máng cho lòng dạ nguôi ngoai, vay thiên trả địa sòng phẳng. Họ sẽ thêm một lần nữa thoát y, bày cho bá tánh soi mói chiêm nghiệm về cụm chữ hồng nhan đa truân.

Trinh nói, em đọc truyện của Kim Dung, ông ấy cho một nhân vật nữ mang tên y như chị rứa. Chu Chỉ Nhược, qua bao đổ vỡ đắng cay trong tình trường, cuối cùng hấp thụ võ học cái thế và được đề cử làm chưởng môn nhân phái Nga Mi. Đạo sĩ thúi phái Võ Đang lắm thằng tẩu hoả nhập ma.

Nhược quay đầu, tóc điểm bạc. Bầu trời Cali tha hồ mây trắng bay.

Hồ Đình Nghiêm
Đầu năm Dê

Cơ Ngơi Ngày Cũ

hoiquantramhuong.org

Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo

Phía trước nhà ngoại tôi, có hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm. Cây không cao, tàn không lớn, mà chi chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục màu lá non. Chung quanh gốc cây, người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng gạch nung. Trong xóm có người đau bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói, có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần linh quở phạt. 

Bên kia hàng duối là gò đất cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may và những bụi chùm hôi chịu được nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì địa thế cao, không úng nước, nên được chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người trong thân tộc, tha phương bất cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên hệ huyết thống ra sao. Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi còn thanh xuân, tiếng đồn càng dễ sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù sương, dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi trí tò mò, năm ba đứa chúng tôi, núp dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò, không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì trở về dưới hình bóng một con ma. Lúc còn sống, dì Út là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da dẽ trắng trẻo mịn màng, và mỗi khi dì tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng. Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở. Dì cười, hỏi:

-Ngửi thấy thế nào?

 Tôi nói: -Nghe mùi của dì.

-Mùi dì ra sao?

-Mùi vú, và mùi dầu dừa.

Dì nhéo tai tôi:

-Ðừng nói mùi vú. Người ta cười chết. 

Thuở còn bé tí teo, tôi thường hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã thành thói quen. Khi ở nhà ngoại, tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật mằn vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra. 

-Ðừng!

Tôi hỏi:

-Ðau hả? 

Dì nói: -Mày cứ sờ mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng qua bên kia, quay lưng lại phía dì! Nằm như thế, tôi lại trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã ngủ, tôi quay qua mằn vú.

Dì thức giấc:

-Lại nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?

Tôi nín thinh. Ðể im bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai ngón tay tôi.

Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao. Năm hai mươi mốt tuổi, dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng diện áo quần. Dì trở chứng bất thường. Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ, cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc bệnh “cõi âm”. Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau, dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội nghiệp.

Ðương nhiên, dì Út tôi được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá ong. Ngôi mộ nào cũng thế. Sao những cọng cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm đạm thê lương, làm tôi muốn khóc? 

Năm xưa. Có hai thầy trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế đất gò đồng mả, tấm tắc khen là nơi linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước đãi đằng tử tế, hỏi chuyện tương lai. Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này, thì đời sau con cháu sẽ phát về hướng quan trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm dựa lưng vào con sông thì tuyệt. 

Ông ngoại tôi hỏi:

-Tuyệt ra làm sao?

Thầy Tàu bảo:

-Gò đất dựa lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch, nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm gươm vạch đất, chia cắt giang sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.Ông ngoại tôi chắc lưỡi, tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông về bên gò đất, cho con cháu mai sau được nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.

Ðể đáp lại tấm lòng người đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc, ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng. Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học trò Tàu, biến hắn thành con rễ. 

Thời gian thấm thoát. Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu gà đít vịt. Tôi là một trong sáu đứa này. Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi. Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều đình.

 Sự kiên nhẫn đợi chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu:

-Sao người trong dòng họ nhà ta chưa khá? 

Ba tôi, tức chàng rễ Tàu, nói:

-Ngộ lâu piết.

 -Thế sao thầy của mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?

-Nó lâu phải thầy của ngộ.

-Vậy nó là ai?

-Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.

-Sao mày đi chung với nó?

 -Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ. Ngoại tôi trợn mắt:

-Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?

Ba tôi trả lời tỉnh bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.

-Bây giờ nó ở đâu?

-Ngộ lâu piết.

-Nó có phải là thầy phong thủy địa lý không?

-Nó cũng như ngộ thôi. Piết chi mà làm thầy.

-Khốn nạn! Vậy mà nó bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.

-Nó gạt nị, pảo lất của nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu thôi. Làm gì có lất linh hay không linh? Ruộng vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn là may rồi. Ngoại tôi tức khí, chửi đổng:

-Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt ta!

Dù có tức, thì chuyện cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi tuổi già sức yếu. Không còn cơ hội trở mình. Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã.

Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ

 cỏ, vườn cây.

Ba tôi nói:

-Nị là người trường thọ.

Ngoại tôi nạt:

-Lại nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực, gạt ta sao?

-Ngộ là con rể của nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức còn dẻo, lòng dạ thảnh thơi. Không làm thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ tử, thì nị còn sống được nhiều năm nữa. Như thế không gọi là trường thọ sao? 

-Ừ! Mày cũng có lý. Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ với ta.

Phải gọi ta là cha, và xưng là con.

 -Lược! Nị làm cha, ngộ làm con. 

Tám mươi ba tuổi, ông ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má tôi kể lại cho đám con đầu gà đít vịt nghe chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột. 

Tôi hỏi:

-Tình duyên của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không? 

Má nói:

-Má không biết tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương vì ổng có trách nhiệm gia đình, và biết lo cho các con. 

-Lần đầu ngủ chung, ba có tâm tình gì với má không?

-Ngôn ngữ bất đồng. Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng ra. 

Anh tôi nheo một con mắt, chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống. Nếu không hất, chắc tụi con phải có đến hàng tá anh em. Chúng tôi lại cười nghiêng ngửa.

Một lần khác. Nhân lúc ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi:

-Ba ơi! Ở bên Tàu, dòng họ mình có ai nổi tiếng trong lịch sử không? 

Ông nói:

-Có chứ. Lâm Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Pạt. 

Thời kỳ chiến tranh nha phiến, tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng. 

-Còn ở Việt Nam, họ Lâm có ai nổi tiếng không?

-Mày học chữ Việt mà không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật của ổng là Lâm Tấn Phát.

 -Còn ai nữa không?

 -Trong quân lội pây giờ, cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân có Lâm Nguơn Tánh.

 -Mấy ông ấy đâu có bà con gì với mình?

-Gốc gác cùng một ông tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?

 -Nhưng mấy ông ấy làm tướng. Còn nhà mình nghèo quá.

-Mới qua Việt Nam, thằng Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.

 Xây dựng sự nghiệp pan đầu, pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn, thì mở tiệm pán pánh pao, hủ tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc cho pà con Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm sau,

lược làm quan lớn. Quân lội Việt Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm. 

-Ấy là chuyện tương lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi trên bàn thờ. 

-Sống ở lất nước này, phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.

 -Ba nói nghe dễ sợ quá!

-Sao lại sợ? Tao ở pên Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện tao

với má tụi pây, cũng do ông Trời lịnh. 

Anh tôi cải:

-Phải nói là do ông ngoại định.

 Ba tôi lý luận:

-Ông Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu tao.

 -Như vậy là má bị ép duyên!

 Chúng tôi la lên. Lại được một trận cười nữa

 Ai cũng có hai nơi, quê nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó, sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm, hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn, mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo, phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được. Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để chửi chúng tôi cho hả dạ.

 Vì thiếu quê nội, nên bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm. Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi đâu nữa?

Những năm chiến tranh ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người đời xưa.

 Dưới cơn mưa mùa tháng bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng đứa nào chạnh lòng khóc theo. 

Tôi cầm tay ngoại: -Thôi đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?

Ngoại mếu máo: -Thời mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ mả. Người sống làm sao sống được?

-Ngoại đừng lo chi cho hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục sống thôi. 

Ngoại tôi đang khóc, bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi:

-Tổ cha thằng

Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót chi người ở đây!

Bà con anh em bên ngoại tôi, đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước mắt, cười theo. 

Nhiều lần, sau những cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó, ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa. Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia xiêu lệch, như những nấm mồ hoang. Quân du kích không còn nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm. Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm ăn, và rỉ tai ngoại tôi:

-Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả. Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc. Ðem bom đạn giết hại dân lành…

Ngoại nói:

-Nếu các ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén, thì bom đạn đâu có động đến mồ mả nhà tôi.

-Mẹ chiến sĩ đừng nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị phê bình chỉ trích là phản cách mạng.

-Tôi có nhập bè kết đảng với ai đâu, mà bảo là phản?

-Mẹ nói thế là có ý gì?

-Tôi không có ý gì hết. Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi, chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.

-Công cuộc giải phóng đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng như thế, nhân dân không thể chấp nhận.

Ngoại tôi không dám nói tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì.Mãi lâu sau, có người hỏi ngoại:

-Già rồi, còn sợ chết hay sao? 

Ngoại ngước mặt, nhìn trời: Thân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống thay. Huống chi ta! Nếu đứng bên ngoài mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao lót gạch, mái ngói âm dương. Dù tường vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực. Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa, và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ, mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp, thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức, đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại, tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to. Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe, cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong toàn là chén dĩa bằng sứ, và những nồi đồng, mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp ten xanh. 

Tôi hỏi:

-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương theo?

Ngoại nói:

-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.

-Ở bên Tây không có những thứ này sao?

-Xứ nó nghèo, làm sao có được của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp. 

Tôi tin lời ngoại, nhưng vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những chán dĩa, nồi đồng, mâm thau thôi sao?

Ngày còn thơ ấu. Những buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại. Khi thức dậy, thấy những tia nắng xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn, nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng mình càng bé lại. Thế là tôi khóc. 

Ngoại tôi cằn nhằn:

-Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ trưa dậy, cũng khóc.

Cậu tôi là người rất dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi trong cái thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng. 

-Nếu mày không nín. Tao thả rớt xuống luôn.

Tôi vừa khóc vừa nói:

-Thả rớt luôn đi. 

Cậu từ từ thòng tôi xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.

Cậu hỏi vọng xuống:

-Mày chịu nín không?

 Tôi khóc, không trả lời. Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.Giếng quá sâu, không đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh bị hành hạ khốn nạn này.

Có tiếng ai la nheo nhéo trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang khóc.Ngoại nhấc tôi ra khỏi cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng hồn

chết luôn làm sao? 

Cậu chống chế:

-Nó mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa chắc đã làm nó sợ. 

Ngoại dẫn tôi vào nhà, ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt. Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.

Sau này, cậu bỏ nhà theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương. Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.

Cái chết của cậu, một kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách công tác nội thành. Lâu lâu, về mật khu để báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng chí về gần tới mật khu.Bỗng nghe bên đường, trong cây rậm, có tiếng hô lớn:

-Tất cả đứng lại. Giơ tay lên! 

Cậu nói:

-Ðường sá xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!

-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa với mầy hả? 

Những người cùng đi với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn của Việt Minh, sao bị phục kích?

Từ trong cây rậm, ra lệnh:

-Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những người khác tiếp tục đi.

Cậu ở lại. Người ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng. Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu. Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn, loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu, xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng để đem xác cậu về, không là chuyện dễ. 

Vợ cậu, người tôi gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ quyết chí trả thù chồng, làm đơn khiếu nại, tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường. Một ngày mưa, mợ đội nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người đàn bà khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng cây xanh ở phía chân trời. 

Ngoại tôi chạy theo, níu áo:

-Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu nại, tố

cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng đã rồi. 

Mợ nói:

 -Người ta giết oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?

-Nếu không im lặng, con làm gì được ai?

Mợ nghẹn lời, rồi bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.

Ngoại tôi lủi thủi quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp. 

Những ngày sau. Ngoại bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe mợ báo tin, trả được thù chồng. Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ. Rồi mợ cũng về trong bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.

Cái gan của mợ, chẳng biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại. Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng, dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới, báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi. Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn. Theo thời gian, nhà ngoại đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò, nằm kế bên mả ông ngoại. Má tôi rầu rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình, không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà, theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng mả dòng họ ngoại tôi.Thời thế xoay nhanh đến chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những thăng trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn? Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã. Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị san bằng, biến thành sân đá banh.

Dòng đời, và tất cả cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng.

Lâm Chương

Chuồng Người

http://www.dutule.com

Lâm Chương

23 Tháng Chín 2019

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức.
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Đổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh.

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó:

– Mày tên gì?

– Ný!

– Tên ngộ quá! Họ gì?

– Nê!

– Cái gì? Làm gì có họ Nê?

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný.
Tôi chợt hiểu, bật cười:

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý.

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný!

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný.

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn:

– Ný! Mày làm cái gì đó?

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi.

– Hôm nay sao chú được nghỉ?

– Tao bị bong gân chân. Còn mày?

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội!

– Mày tìm gì trong thùng phân?

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi!

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.

Đứng tần ngần một lúc, nó hỏi:

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi!

-Vô đây!

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói:

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi.
Tiếc thật!

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc?

– Thích chứ! Được xơi thịt!

– Cán bộ cho ăn hả?

– Không. Làm gì có người tốt thế!

– Vậy ăn bằng cách nào?

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Đến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát!

-Tụi mày tài thật!

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật.

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ?

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết.

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi:

– Chú cho cháu thêm bi thuốc!

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ.

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục:
– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày!

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết!

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo.

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi!

– Ăn thịt sống hả?

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao?

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử!

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu?

– Chẳng phải xứ nào cả! Đó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống.

– Đấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế!

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng?

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng.

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào?

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon.

Nói xong, thằng Ný đứng dậy:

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều.

Nó quay lưng, ra khỏi lán.

Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai của người bệnh ho lao, tôi gọi: -Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh!

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Đồi nương ẩm đục. Ngày hai mươi chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phải xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ cỏ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói:

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân!

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi.

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng!

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế!

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió.

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói:

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay!

Nhiều thằng khác lao nhao:

– Nôn? đi! Nôn đi!

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn:

– Hãy khoan!

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný:

– Hãy nôn vào đây!

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Đồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn.

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá!

Thằng bưng thau nói:
– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi!

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi:

– Mày khỏe hẳn chưa?

– Hôm sau nà khỏe ngay!

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không?

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi.

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ?

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ!

Tôi trợn mắt:

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi?
– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói.

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo

Chương Bốn

Hình Ảnh Chiến Trường Xưa với Lm. Nguyễn Văn Vàng

Chiếc Renault vừa trườn lên tới đầu dốc bỗng phát ra mấy tiếng nổ liên tục, với luồng khói đen khét lẹt mùi dầu ở trước máy, và muốn khựng lại. Bác tài xế vội bẻ tay lái tắp vào lề. Chú lơ xe cũng nhanh như chớp, rút trái khế gỗ ba cạnh nhảy xuống chêm dưới một cái bánh sau, rồi hô to: “Xe banh?”. Hành khách lao nhao, kẻ nhổm dậy, người lom khom mò mẫm tìm đồ đạc của mình một cách mất trật tự.

Tưởng tôi còn ngái ngủ, không hay biết sự việc đang xảy ra, vị khách ngồi kế vỗ vai tôi và chỉ lên mui, tỏ ý để anh leo qua cửa sổ lấy giúp chiếc xe lăn. Tôi gật đầu.

Xe hỏng máy ai cũng thở dài, tôi thì chẳng lo lắm, tới đâu tới, vì đã rời xa Đà Nẵng. Từ đây tôi có thể khai man lý lịch, giấu cả tông tích. Tôi ráng hết sức còn lại của nửa thân mình lăn chiếc xe vượt qua vạt đất xù xì sỏi đá, để theo mọi người vào bóng mát. Ngồi nhìn quanh, đột nhiên tôi ngờ ngợ trước cảnh vật. Vách núi cũng áp sát phía tây Quốc lộ 1, mặt đông là khu đồi thấp, nhấp nhô như sóng lượn, làm tôi xúc động. Tôi muốn nhìn xa hơn, mới xác định được nơi này là đâu, mà trông quen thuộc. Rất tiếc, tầm mắt bị giới hạn.

Ông bạn lúc nãy đến gợi chuyện:

– Anh là phế binh chế độ “quỵ”?

Bị quấy rầy, làm tan biến những điều tôi vừa hồi tưởng, lại nghe hỏi bằng một giọng miền Nam ngụy thành quỵ, mà từ nào cũng ẩn ý xấu, xấc xược, tôi giằn từng tiếng đáp:

– Ai “quỵ” chứ tụi này chưa quỵ đâu!

Đã không tỏ vẻ giận hay trách móc tôi chóng quên ơn việc lấy giúp chiếc xe lăn trên mui xuống đất, kẻ đối diện còn nở nụ cười thiện cảm:

– Đó là một cách nói che mắt bọn ác, bỏ qua đi bạn…

Nói xong, anh ngồi xuống tảng đá bên cạnh, tay ôm cứng cái túi dết nhà binh trước ngực. Dáng điệu anh như một quân nhân vừa rã ngũ, chưa hoàn hồn. Trên cổ đeo một thánh giá, càng làm tôi tin anh cùng chung số phận “quỵ” thật. Tuy vậy, tôi vẫn giữ thái độ không mấy cởi mở:

– Xin lỗi, anh có biết địa danh này?

– Sa Huỳnh Đức Phổ!

Nghe anh đáp vừa cộc lốc vừa nhanh như bốn phát súng bốn tiếng thân thương ấy, tôi vội bụm mặt:

– Trời!…

– Gì kêu trời?

– Trí nhớ tôi tệ quá !

– Tuổi chưa già mà thời thế muốn mình sụm sớm…

– Không phải ý nghĩa đó. Mới hai năm tôi đã quên… Khu đồi che khuất trước mắt tôi không thấy được đầm Nước Mặn. Và vì ngủ gà ngủ gật, tôi cũng chẳng hề hay biết khi xe chạy ngang qua con xóm cũ của Nhị, bạn gái tôi, ở quận Mộ Đức.

-Ừ ngoài kia có cái vịnh lớn lắm! Chắc lúc trước anh là lính trấn thủ lưu đồn, hay làm nghề đánh cá ở đây, hả?

Không biết anh hỏi thật hay đùa mà miệng cứ mủm mỉm, như cười nhạo báng, làm tôi tức thêm:

– Tôi đánh giặc liểng xiểng thì có, chứ đánh cá đánh tôm gì! Mới đầu năm kia đây, 1973, tôi Đại đội trướng Đại đội 1, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, dự cuộc tái chiếm Sa Huỳnh này. Xương máu lính đổ khá nhiều, nhưng bọn giặc thiệt hại gấp bội, hai trung đoàn của chúng đều tan rã, hàng ngàn xác chết bị vùi dập, từ trên các dãy đồi xuống tận dưới đáy sâu đầm Nước Mặn…

Tôi đưa mắt nhìn ra xa và kể tắt ngang, không đầu không đuôi về một trận chiến đã xảy diễn nơi đây. ông bạn lộ vẻ thích thú :

– Ồ, ở Đà Lạt tôi có nghe vụ Sa Huỳnh, các anh đã cứu vãn được tình thế bi đát, năm tỉnh địa đầu miền Trung khỏi cô lập chấm dứt nạn thiếu các nhu yếu phẩm. Dữ lấm đó !

– Dữ thì không bằng các cuộc giải tỏa các thành phố hồi biến cố Tết Mậu Thân 1968, Bình Long An Lộc… Nó cũng nhẹ hơn việc tái chiếm tỉnh Quảng Trị suốt mùa hè sang thu 1972 về tầm vóc ác liệt, cả không gian, thời gian. Nhưng trận đánh Sa Huỳnh lại quá rùng rợn, khác lạ, ai nghe cũng tường chuyện huyền thoại…

– Huyền thoại, ly kỳ?

Tôi quấn một điếu thuốc rê, đốt hít một hơi dài rồi nhìn xuống con dốc phía sau chiếc xe đò:

– Nếu không lấy lại được Quảng Trị, dân miền Nam mỗi người bị bớt một chén cơm, còn mất hẳn Sa Huỳnh, Đức Phổ, dù đây là cỡ quận, thì một phần ba nước, gồm năm tỉnh địa đầu miền Trung, đói te tua. Ví như vậy để anh thấy tầm quan trọng của vùng đất anh và tôi đang đứng. Trung đoàn 141/2 với một tiểu đoàn phòng không của địch chiếm cứ lại bị một đại đội chỉ 52 tay súng, đánh vỡ phòng tuyến, và bị bắn ngã dài dài từ trên các khu đồi đất đá chập chùng, xuống tới ven bờ lẫn đáy sâu đầm Nước Mặn.

Tính ra, trung bình một người lính Đại đội 1 Biệt Động tôi chỉ huy, rượt chạy trối chết 16 Cộng quân Bắc Việt. Rùng rợn và nghe như chuyện huyền thoại là chỗ đó, đúng không? Nay dù cụt hai chân tôi cũng thỏa mãn…

Kìa, tôi nhớ rồi! Hãy nhìn dưới dốc, cái vách đồi dài còn đổ vỡ bên phải con lộ, là nơi khởi đầu Đại đội 1 tôi đột nhập tấn công phòng tuyến địch, điểm xuất phát từ đường xe lửa bị cây cối phủ lấp, sát chân núi mé tây. Sau đó, chúng tôi vòng quanh qua cửa khẩu ngoài kia, để truy kích đánh nát đám tàn quân Sư đoàn 3 Sao Vàng đang tháo chạy như bầy vịt, và bắt sống hàng loạt, chúng vừa khóc vừa cúi đầu lạy xin tha. Tội nghiệp, dù anh hùng cách mấy khi sa cơ trông chúng rất thảm. Chỉ nơi một sườn đồi thoai thoải trải dài xuống mỏm kế bờ đầm khoảng 300 thước, mà địch thiệt hại non một đại đội còn bị túm cổ 18 tên, trong đó có mấy sĩ quan…

– Anh nói tôi thích quá. Đánh cách nào thắng hay vậy?

– Khi cùng đường, địch bị dí vào tử lộ, ba mặt là biển, Biệt Động Quân siết dần vòng vây, ép chúng dồn lại, những tay súng bạt mạng của Trần Thy Vân tha hồ bắn.

Thấy anh chịu nghe, tôi vắn tắt thêm phần Đại đội 1 Biệt Động đã đạt được trong trận đó, tháng 2/1973:

– Kết quả để đời. Tuy mình có thiệt hại, từ khi xuất quân mùng 1 Tết, 1973, tại Mộ Đức, lính tôi chết lẫn bị thương 37 người, nhưng đã đổi lại giết trên 200 tên Việt Cộng, bắt sống 19. Vũ khí thu 106 súng đủ loại, có khẩu phòng không 12ly8. Đó là thành tích chưa từng thấy ở cấp đại đội trong Quân Lực VNCH. Người thắng còn kinh hồn lọ là kẻ thù bại trận…

Mải mê nói tôi quên tìm hiểu chút lai lịch người bạn đồng hành, mà tôi đã hết thành kiến. Tôi hỏi:

– Từ Đà Lạt anh đi Đà Nẵng thăm ai vậy?

– Tôi đưa Cha Vàng ra đó, bây giờ về.

– Linh mục Nguyễn văn Vàng (1) phải không?

– Anh biết Cha à?

Tôi vừa cười vừa gật đầu:

– Tôi gặp Cha hai ba lần lận, lần sau cùng tại đây…

Anh ngạc nhiên:

– Tại Sa Huỳnh này? Tôi tên Thành, Nguyễn văn Thành. Còn quý danh anh, và xin cho biết những trường hợp nào anh gặp Cha, mà lần sau cùng lại tại đây, một nơi khỉ ho gà gáy? Cha đến Sa Huỳnh làm gì nhỉ?

Ngẫu nhiên hai người có vài điểm trùng hợp, ai cũng thấy thích thú trong lòng. Tôi quấn một điếu thuốc rê đốt hút cho đỡ đói rồi nối tiếp những hình ảnh vui buồn hai năm qua và mười bảy năm về trước.

Tôi làm ra vẻ kênh kiệu:

– Hồi nãy tôi có nói đến tên tôi “những tay súng bạt mạng của Trần Thy Vân tha hồ bắn…”. Tại anh không để ý. Giờ kể chuyện dĩ vãng, về Cha Vàng, Nguyễn văn Vàng, thì nó dài dòng lắm, chẳng mấy hấp dẫn.

Thành nôn nóng:

– Tiện đây anh nói cho vui, chứ để lát nữa lên xe tâm tình nguy hiểm lắm, biết đâu có công an chìm trà trộn…

– À, tôi quên nói, Quảng Trị được tái chiếm chưa đầy một trăm ngày, còn hoang tàn đổ nát, thì Sa Huỳnh, Đức Phổ, rơi vào tay giặc. Anh thấy không, vùng đồng bằng này chiều dài khoảng 30 cây số, nhưng hẹp, chỗ rộng nhất, từ chân núi ra biển chừng 600 thước, chỉ có con quốc lộ chúng ta đang đứng cặp sát hông núi xuyên qua, độc đạo. Do đó Sa Huỳnh được coi là một vị thế trọng yếu. Hình dung xem, rõ ràng nó giống cái cuống họng, bộ đầu là Vùng 1 chiến thuật. Đầu năm 1973, địch lấn chiếm, khống chế trục giao thông huyết mạch, năm tỉnh giới tuyến miền Trung đều bị cô lập, các nhu yếu phẩm trở nên khan hiếm, thiếu hụt trầm trọng, dân chúng chen lấn nhau mua xăng dầu, mua gạo, cả khoai khô nữa…

Mặc dầu hiệp định Ba Lê về hòa bình Việt Nam, cái lệnh ngưng bắn đã có hiệu lực ngày 27-01-73, Sư đoàn 2 Bộ Binh vẫn trách nhiệm tổ chức phối hợp các quân binh chủng, trong đó có Liên đoàn 1 Biệt Động Quân gồm ba Tiểu đoàn 21, 37 và 39 làm nỗ lực chính, mở ngay cuộc phản công, đánh bật được Sư đoàn 3 Sao Vàng, một đại đơn vị hung hãn nhất, với Trung đoàn 141/2 Cộng Sản Bắc Việt tăng cường, ra khỏi Sa Huỳnh quận Đức Phổ, Quảng Ngãi, tháng 2/1973.

Chiến thắng, Quốc lộ 1 được khai thông, cứu nguy Vùng 1. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu cùng các tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, các cơ quan truyền thông ra thăm Đức Phổ. Xong, họ về lại Sài Gòn, các lực lượng tham chiến, với Liên đoàn 1 Mũ Nâu chúng tôi, đều xuất phái.

Đại đội Biệt Động của tôi lúc đó, thời gian phái đoàn TT Thiệu đến thăm, đang trấn thủ trên đỉnh núi ngay sau lưng tôi và anh đây, để giữ an ninh, cũng nhận lệnh hạ sơn về hậu cứ Đà Nẵng. Trong lúc chờ xe, tôi rải lính nằm dài theo quốc lộ, trước mặt làng Sa Huỳnh.

Ngày ấy thật là nhộn nhịp, xe cộ ngược xuôi và từng đoàn người lánh nạn phương xa lũ lượt dắt díu gia đình hồi cư. Nơi các thôn xóm đã đổ nát quanh bờ đầm Nước Mặn, dân chúng lăng xăng sửa sang lại nhà cửa, đường sá… Họ còn đào huyệt chôn cất các thây ma của thân nhân và luôn cả những kẻ thù chết vì bom đạn vào những ngày giặc về xâm chiếm.

Khi Đại đội đang dừng chân, bỗng tôi nghe có tiếng quát tháo trước trụ sở xã Sa Huỳnh. Tôi và hai người lính đi tới thì thấy một vị hạ sĩ quan của tôi, Trung sĩ Nguyễn Thuận, đứng giữa đám đông hành khách gần chiếc xe đang đậu sửa máy. Anh ta vừa nói vừa vung tay trông dữ dần. Vì mới có chuyện buồn, bọn lính còn tức giận, là Biệt Động Quân chúng tôi bị tướng Tư Lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh cướp công, tiếm đoạt mấy trăm khẩu súng đủ cỡ trước phái đoàn Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, tôi ngại Thuận gây gổ dân chúng không tốt. Tôi hỏi Trung sĩ Thuận:

– Anh to tiếng chuyện gì vậy?

Thuận trả lời:

– Chiếc xe đò Sài Gòn ra bị banh, một tiểu đội bộ binh từ đâu kéo tới hối thúc tài xế sửa máy cho lẹ để chở họ vô Đức Phổ, bất bình tôi cự tụi nó.

Tôi liền gọi tốp lính lạ lại hỏi:

– Các anh ở đơn vị nào?

Người trưởng toán đáp:

– Trung đoàn 5, thưa Trung úy?

– Đây vô phố Đức Phổ bao xa mà đòi đi quá giang khi xe hư chưa sửa xong? Cuốc bộ được không?

Tốp lính ngoan ngoãn kéo nhau lên đường, vừa lúc một vị linh mục cùng hai thanh niên mặc áo sơ-mi trắng quần xanh từ trong một ngôi nhà bước ra. Thấy Cha quen quen, đã gặp đâu đây tôi cố nhớ… Đúng là Linh mục Nguyễn văn Vàng. Tôi mừng, còn Cha thì tỉnh bơ, chỉ thoáng nhìn tôi, rồi lạnh lùng quay mặt về phía chiếc xe đò. Cha không nhận ra tôi sau 15 năm phong trần, giày saut áo trận đầy cát bụi, chẳng còn vẻ thư sinh của thuở nào…

Khi Cha vừa đi ngang trước mặt, tôi khẽ cúi đầu:

– Kính chào Cha ! . . .

Vị Linh mục tưởng tôi chỉ vì lễ phép chào, chứ không hiểu ý tôi muốn nhìn thầy. Tuy vậy, ông cũng dừng bước, đáp lễ:

– Chào Trung úy!

Tôi, như cậu học trò năm xưa, đứng thẳng người:

– Con hân hạnh được gặp lại Cha.

Cha Vàng, thần tượng của tôi ngày nào, nay hơi già, tóc đã muối tiêu. Cha ngước mặt lên ngọn núi Diễn Trường xa xa ở phía bắc, ra chiều suy nghĩ:

– Lần trước chúng mình gặp nhau ở đâu nhỉ?

– Tại Đà Nẵng, 15 năm trước, thưa Cha !

– Ồ, xin lỗi, lâu quá tôi quên…

– Cha không nhớ đâu. Con tên Trần Thyy Vân, cựu học sinh trường Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Năm 1958, con có dự buổi diễn thuyết của Cha tại trường Phan Chu Trinh kế bên. Chiều hôm sau con tới nhà thờ xin theo Cha để học “tài hùng biện”. Cha từ chối, bảo con còn nhỏ, phải thi đậu xong tú tài toàn…

Linh mục Vàng bỗng nhìn tôi đăm đăm:

– Nhớ rồi! Hồi đó anh đến gặp tôi. Thì ra, nay là trung úy Biệt Động, chắc anh Vân đánh giặc dữ lắm?

Mặc dầu là môn sinh hụt, không được may mắn theo Cha thọ giáo, tôi vẫn nghĩ Cha như một vị thầy, đã hấp thụ nhiều điều hữu ích mỗi lần nghe Cha diễn thuyết tại Đà Nẵng và Phan Rang. Nay gặp nhau, giữa chiến trường vừa ngưng tiếng súng, dấu bom đạn còn nồng nặc khói mây, xác thù chưa rữa mục vung vãi khắp vùng đất Sa Huỳnh. Tôi, và có thể cả Cha Vàng, đều cảm thấy buồn.

Tôi đáp:

– Chỉ vì bổn phận. Con nhớ ngày xưa Cha dạy chúng con qua bài thơ “Chí Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ. Còn một vị sĩ quan nữa, học cùng lớp -Thiếu tá Quách Thưởng- hiện là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này, dự buổi diễn thuyết của Cha trước sân trường Phan Chu Trinh.

Tiện thể tôi khoe:

– Cha à, Liên đoàn Biệt Động Quân tụi con mới tái chiếm nơi đây, từ khu phố Đức Phổ đến ranh giới quận Tam Quan, Bình Định. Kìa, Cha xem…

Tôi lấy tay chỉ vài địa điểm nguyên là các mục tiêu hiểm hóc, rồi kể sơ diễn tiến trận đánh giữa ta và địch. Lúc ấy, tôi có cảm tưởng Cha Vàng như một ông tướng đến thị sát mặt trận, hơn là vị linh mục, một hành khách của chiếc xe đò.

Cha đưa mắt nhìn sang bên kia đầm Nước Mặn đang lung linh soi bóng những hàng cây dương liễu, khu đồi 94, và vòng qua hải đăng nơi cửa khẩu, toàn vùng rực lên như bức tranh sơn thủy của một chặng đường quê mẹ.

Rồi đột nhiên, Linh mục Nguyễn văn Vàng chưa nói một lời khen tặng cậu học trò xưa cũ vừa góp công không nhỏ tái lập an cư Sa Huỳnh, Đức Phổ, thì tiếng còi inh ỏi thúc bách, ba người vội vàng vẫy tay từ giã. Tôi cũng chẳng kịp chúc họ thượng lộ bình an. Tôi nhìn theo dáng Cha đi thoăn thoắt về hướng chiếc xe đò đang nổ máy…

Tôi ngưng câu chuyện, lấy thuốc đốt hút. Tôi hít liên tục. Nguyễn văn Thành, ông bạn sơ giao, ngồi thở dài. Chắc anh đang suy nghĩ đến một vấn đề gì, hoặc buồn vì chuyện tôi kể nhưng đây chỉ mới khởi đầu. Tôi nói tiếp:

– Lúc ấy tâm trạng tôi vui buồn bất chợt. Khi chiếc xe chở Cha Vàng đã lăn bánh vào quốc lộ, tôi ngồi phệt xuống bên lề đường, hồi tưởng về mùa thu 1958. Tôi nhớ sau ngày thi rớt bằng trung học, tôi ngồi lại Đệ tứ Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Tuy trường cũ, thầy cô quen thuộc, như quý thầy Tôn Thất Dung, Nguyễn văn Thông, Nguyễn văn Xuân và Bùi Đặng Hà thị Phụng… sao tôi lại thấy mình xa lạ, lạc lõng giữa đám học trò lớp dưới mới lên.

Những ngày đầu niên khoá, sân trường rất rộn rã tiếng nói tiếng cười của các cô cậu ăn mặc bảnh bao. Chúng đùa giỡn, chạy nhảy tung tăng, gọi nhau chí chóe, đứa khoe cái cặp da kiểu mới, nhiều ngăn, thằng thì đưa xem cây bút máy Parker mà ngòi viết đâm mạnh xuống bàn không rè…

Tôi thì mặc cảm, ngồi thúc thủ một mình cuối phòng nghe cô đơn, tâm trạng não nề vì thi hỏng. “Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”, tưởng chừng tôi buồn hơn Tú Xương. Nhìn quanh, bạn bè cũ chẳng thấy ai, đa số đậu được chuyển qua học Đệ tam Phan Chu Trinh, còn những khuôn mặt thân thiết khác tản mạn đâu hết. Nghe nói năm sáu đứa đủ tuổi rủ nhau tình nguyện đi lính, vào quân trường Sĩ Quan Thủ Đức và Đà Lạt; cũng lắm thằng lại bị công an mật vụ bắt vì hoạt động chống chính phủ Ngô Đình Diệm, như bọn Huỳnh Bá Thành
(2), dân xã Hòa Long, kế núi Non Nước. Đặc biệt, một người bạn chí thân, cùng xóm với tôi, thường sánh vai nhau đi học, qua lại sông Hàn chung một chuyến đò, là Lê Độ vừa mới chết. Độ (3)bị xử bắn tại sân vận động Chi Lăng Đà Nẵng… Sau đó, một buổi sáng, hàng ngàn học sinh từ các trường trung học ở Đà Nẵng, lần đầu tiên được các thầy cô dẫn qua Phan Châu Trinh để nghe Linh mục Nguyễn văn Vàng diễn thuyết. Tôi vốn thành kiến, ghét những lời truyền đạo, nhưng không hiểu sao hôm ấy, tôi lại náo nức, mong thấy mặt nhà hùng biện tài danh Nguyễn văn Vàng mà tôi đã nghe tiếng. Qua hai đề tài hấp dẫn, như có chất tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, “Dũng Khí” dành cho nam sinh, “Hương Hoa Đất Nước” cho nữ sinh, dù cả hai phái đang ngồi chung đông đảo trên sân trường mang tên nhà cách mạng miền Trung.

Sau lời giới thiệu của thầy Hiệu trưởng Phan Chu Trinh, Cha Vàng bước tới đứng trước hành lang, bên một cái bục, rồi bắt đầu thao thao bất tuyệt. Tuy vóc dáng nhỏ nhắn, thanh nhã, nhưng giọng Cha vang động, thấm sâu vào tim óc rừng người từng lời dạy dỗ. Ý Cha khuyên các lứa tuổi thanh xuân, nam lẫn nữ, là rường cột nước nhà, sống cho ra hồn, ích nước lợi dân. Cha đọc một đoạn bài “Chí Làm Trai”, thơ Nguyễn Công Trứ, nhấn mạnh những câu cần thiết, như bản hùng ca, và luận về cái dũng của người trai:

Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức anh hùng trong bốn bể

Tôi nhớ có lúc giọng Cha trầm buồn than phiền về chuyện một thiếu niên cầm dao giết một cụ già để đoạt lấy 150 đồng (bằng số tiền học phí một tháng lớp đệ thất thời đó). Các cô gái thì phô bày, ăn mặc quá mỏng manh, hở hang đến rõ nét những đường cong tuyệt mỹ…

Hay thật! “đường cong tuyệt mỹ”! Những lời Cha nói bao lần bị đứt quãng bởi hàng ngàn tràng vỗ tay với tiếng cười ồ vang dậy tán dương. Các cô cậu choai choai, dĩ nhiên, lấy làm khoái chí mấy cụm từ gợi hình, mà cũng gợi tình ấy. Tôi khác gì họ, nhưng chẳng qua vì lòng buồn rũ rượi, hét không nổi thôi. Tôi chỉ miên man suy nghĩ theo từng ý tướng lạ phát ra từ các loa phóng thanh cực mạnh vít trên mái hiên trường.

Tôi tiếc, phải chi Cha Vàng đừng nêu dẫn cái oái oăm cậu bé giết người. Tuổi học trò thời thập niên 50 ít ai muốn nghe mấy điều hung dữ tương tự. Xã hội lúc bấy giờ khó tìm thấy lớp trẻ ngậm điếu thuốc đi ngoài đường phố, hoặc một tiếng văng tục, chửi thề. Tâm hồn họ thích hợp với những giấc mơ tiên cho dù hão huyền. Tiếng ve sầu nỉ non trên cành phượng cũng làm người học sinh xúc cảm…

Sau ngày diễn thuyết, tôi còn lẻn vào rạp Ly Đô để nghe thêm một buổi về đề tài “Nhân Loại Sẽ Về Đâu’, chỉ dành riêng cho các giới quân nhân, công chức trong tỉnh. Linh mục Vàng vẫn hùng hồn, khiến ai cũng nín thở. Riêng tôi, tưởng chừng tôi đã trưởng thành, có sự suy nghĩ xa vời với thực tế, nên muốn thôi học theo Cha thọ giáo dù tôi người ngoại đạo.

Chiều đó tôi đến nhà thờ “Con Gà ” ở đường Độc Lập, nơi Linh mục Nguyễn văn Vàng tạm trú. Gặp mặt tôi trình bày ý nguyện ngay:

– Dạ thưa, sau khi nghe hai buổi Cha diễn thuyết ở trường Phan Châu Trinh và rạp Ly Đô, con đã lãnh hội nên đến đây xin được hân hạnh hầu chuyện Cha.

Cha Vàng mỉm cười:

– Chắc em muốn góp ý kiến về hai đề tài “Dũng Khí và Hương Hoa Đất Nước”?

Tôi vòng tay trước ngực:

– Dạ không dám…

– Chứ sao?

– Tuy con đạo Phật, con xin Cha ban ân là nhận con theo làm đệ tử. Cha đâu con đó…

Vị Linh mục khả ái nhìn tôi từ đầu xuống chân. Vì quá bất ngờ trước một vấn đề quan trọng, nên có một giây phút Cha ngỡ ngàng im lặng. Dưới ánh mắt nhà hùng biện thời danh rực sáng tỏ sao băng, tôi như con nai ngơ ngác, rụt rè. Thuở niên thiếu tôi chẳng mấy khôi ngô tuấn tú, tóc tai lòa xòa tới gáy, hẳn không được Cha thiện cảm lắm, chỉ vì lịch sự Cha niềm nở đón tiếp. Rồi đột nhiên Cha Vàng “quay” tôi như con dế về ba chuyện đâu đâu, làm tôi vốn rất gan lì cũng quýnh lên.

Trước hết Cha hỏi:

– Em tên gì, bao nhiêu tuổi, học lớp mấy, tên song thân và nhà ở đâu?…

Anh Thành nghe đó, câu hỏi quá dài dòng văn tự? Với tôi, nó còn dính dáng đến nhiều vấn đề, như làm tôi nhớ chuyện một viên cảnh sát thời Pháp, ở Hội An Quảng Nam 1953. Vì câu hỏi dài lê thê khiến tôi nhớ đầu quên đuôi, trả lời không đầy đủ, ăn khớp, liền bị mấy bạt tai nảy lửa, khi ông ta hạch sách xuất xứ một tài liệu của Việt Minh nằm trong túi áo tôi. Đó là tờ pelure màu hồng, ghi chằng chịt các hàng chữ bằng mực xanh, ai vứt trong thùng rác, trước tiệm ăn Thời Đại Đà Nẵng. Thấy tờ giấy còn sạch và chưa nhàu nát, tôi nhặt để về xếp làm tàu bay hay chiếc ghe chơi, ỷ y chả đọc, nên không biết nội dung viết gì. Lúc đến bến đò Hội An, đang lúc ngồi chờ ghe qua cồn Vạn giữa sông, tôi lấy nó ra ngắm nghía, thì bỗng một ông cảnh sát từ đâu bước tới giật xem, rồi nắm tay tôi dẫn về đồn ở một góc phố. Nơi đây, họ nói tôi chạy liên lạc cho Việt Minh và vặn vẹo hỏi mãi ai đưa, đem đi đâu cái tài liệu có ám hiệu màu hồng ghê gớm ấy. Mà thật, tôi nào biết Việt Minh là cái mốc gì. Ngay sau câu hỏi tôi ngớ, liền bị đục te tua, nào mấy ông cú cốc cốc trên đầu, nào bộp tai, đá đít nữa, có ông còn ngắt véo, chằn hai bên má tôi ra đau điếng, rồi tống tôi vào xà lim tối thui. Mãi chiều mẹ tôi mới hay tin, lên xin trả tự do cho tên “tù’ vừa tròn 10 tuổi này…

Đến lúc Cha Nguyễn văn Vàng “hỏi thăm”, cũng kiểu một câu hỏi gồm nhiều chi tiết ấy, tôi không phát lạnh sao được? Chỉ khác cách xưng hô, Cha gọi tôi bằng em ngọt dịu, không phải mày, thằng nhóc, nên ít run.

Để được nhận làm môn sinh, như dự cuộc tuyển lựa, tôicố trả lời sát ý, phải tràng giang đại hải và rất “bay bướm”:

– Con tên Trần Thy Vân, tuổi thật 15, vừa thi rớt, học lại Đệ tứ trường Trung Học Phan Thanh Giản Đà Nẵng. Dưỡng phụ tên Huỳnh văn Hậu, nhân viên quan thuế, dưỡng mẫu là bà Ngô thị Em. Nhà bên kia sông Hàn, phường An Thuận, xã An Hải, quận 3, còn gọi là quận Đông Giang, thưa Cha?

Cha đưa tay chỉ cái ghế bành bằng gỗ gõ:

– Em ngồi. À, sao lại có cái vụ tuổi thật, tuổi giả vậy?

Linh mục Vàng vừa hỏi vừa cười cười. Tôi ngồi xuống với lòng mừng thầm, chắc “đậu” rồi, nên Cha cho ngồi:

– Đó là con tính theo tuổi ta.

– Thế thì tuổi “giả” bao nhiêu?

Hiểu ý Cha đùa: “giả” đây là tuổi Tây, tôi đáp:

– Dạ, 14.

– 14 đã thi trung học, giỏi nhỉ? Hỏng môn gì, nhớ không?

– Con khá toán và luận. Vào oral con trả lời đúng một, trật hai câu sử địa. Chắc bị zéro bài dịch tiếng Pháp qua Việt.

– Dịch thế nào lại bị zéro?

Tôi đáp têu tếu cho Cha vui, mà cũng thật:

– Cái đề kỳ cục, gãy gọn một chữ “Auberge”, con tưởng nghĩa của nó là chó Berger, tên loại chó Đức. Bạn bè kế bên cũng nói vậy. Sau về tra tự điển mới vỡ lẽ “auberge” là quán trọ, chẳng dính dáng gì đến chó mèo hết.

Cười khật khật xong, Cha hỏi thêm: Ngay cái đề đã dịch trật, đến phần thân bài thì sao?

Tôi không nhớ hết, mà kể ra ngượng lấm, vì tôi bốc hứng sửa đổi nội dung bài thi, cầu may. Tôi nói quẩn quanh:

– Con quên, đại khái con khai triển: “Lúc bấy giờ nước Đức dưới thời Hitler, một lãnh tụ độc tài của đảng Quốc Xã, mới bại trận, người và thú đều đói. Có một chú ‘Auberge’ vô chủ mãi chạy rông ngoài đường…”. Các thí sinh ngồi thi cùng bàn đều “phỏng dịch” tương tự. Traduire librement hết, thưa Cha !

Linh mục Nguyễn văn Vàng lại cười ngất. Cha co một ngón tay đưa lên giụi mất, mặt đỏ au. Xong, Cha chất vấn tôi câu chót, chẳng khác nào những lần roi xé thịt đối với một cậu học trò đang “tầm sư học đạo”, cứ ngỡ đời bao giờ cũng đẹp:

– Vân định theo tôi học cái gì?

– Con xin học “tài hùng biện”…

– Vân lầm rồi, tôi đâu có tài đó? Hùng biện là khả năng thiên phú. Chưa đủ, còn nhiều điều khác ràng buộc, nào tuổi tác, kinh nghiệm… ít nhất em cũng phải đậu tú tài 2 mới được. Thôi, về lo gạo bài, sang năm tái thí. Nợ đèn sách em còn…

Thất vọng, tai tôi lùng bùng, uể oải đứng dậy xin kiếu từ. Vị Linh mục khả kính hẳn cảm động đến đặt tay lên vai tôi, giọng nhỏ nhẹ:

– Gắng học, theo tôi khổ lắm, rày đây mai đó…

Tôi ứa nước mất, lảo đảo bước ra khỏi giáo đường.

Con phố đã về đêm. ánh sáng các bóng đèn tròn trên các trụ sắt cũ kỹ từ thời Pháp thuộc, nhuộm màn sương vàng vọt, thấm hút vào hàng me Tây chập chờn, ma quái. Hai đầu đại lộ Độc Lập ngang trước nhà thờ Con Gà, thường thì khách bộ hành, xe cộ qua lại đông đúc nhất Đà thành, lúc ấy như hai cái cửa hang sâu hoắm, đang chờ đợi, đi hướng nào tôi cũng bơ vơ, lạc lõng…

Kết thúc câu chuyện chẳng mấy vui, Thành cũng uể oải, ngồi phệt xuống đất, lưng dựa tảng đá. Trông anh dày dạn, khuôn mặt sạm nắng, đầy nét suy tư, bí ẩn. Thành khéo tìm hiểu tôi ngay phút đầu gặp nhau. Tôi thì không muốn tò mò, hỏi han đời tư, những ý nghĩ của anh về hiện tình đất nước. Chắc gì anh thổ lộ tâm tình giữa thời buổi quá nhiễu nhương, dưới chế độ cực kỳ hiểm ác, phân hóa, gieo rắc mọi ngờ vực, khiến chẳng ai tin ai. Thậm chí trong gia đình, chồng vợ, cha con, anh em, thân bằng quyến thuộc, vẫn giữ thái độ dè dặt, không thật lòng. Tuy nhiên, tôi có linh tính Thành và tôi sẽ là đôi bạn thân.

Sau một hồi im lặng anh hỏi:

– Vân nói Vân có dự buổi diễn thuyết của Linh mục Vàng ở Phan Rang nữa, phải không?

– Ừ, tại rạp Thanh Bình, ở đường Thống Nhất, năm 1965. Không những dự còn giữ trật tự, ghi âm, vì tôi đã có lòng yêu mến Cha từ bảy năm trước ngoài Đà Nẵng. Cuộc nói chuyện ấy do trường Trung Học Duy Tân Phan Rang tổ chức. Học trò bốn trường đến nghe, chật cứng cả rạp.

– Vân rất xông xáo, có sự liên hệ với Cha. Bây giờ ông bạn về đâu? Một điều tôi xin hỏi thêm: vợ con thế nào?

Tôi cười buồn:

– Bộ muốn bắt chước Cha Vàng quay tôi nữa à? Vợ con? Vì gia đình mà tôi chưa biết nơi đến. Tôi muốn dừng chân ở một miền quê hẻo lánh của cao nguyên Lâm Đồng, chẳng ai để ý mình. Tôi mong gặp lại vài người lính cũ, với cô gái tên Nhị đã thương tôi trong thời chiến, lúc tôi chưa gãy chân, bại trận. Chắc cô ấy sống đâu đó trên phố núi, “phố núi cao, phố núi đầy sương”. May mà có em đã hơn một lần ra tận chiến trường Sa Huỳnh này…

Chiếc xe đò đã sửa xong, máy nổ. Tài xế rú ga inh ỏi làm hành khách, kẻ đứng người ngồi rải rác ở các gốc cây, tảng đá mừng reo lên và lật đật tủa ra.

Thành vội đẩy chiếc xe lăn. Có anh tôi đỡ khổ. Thành thỏ thẻ bên tai, như sợ không còn cơ hội tâm sự:

– Tôi trước phục vụ ở Tiểu đoàn 304 Địa Phương Quân…

Anh chỉ nói có vậy rồi hì hục đẩy cái xe lăn bươn qua vạt đất lốc chốc sỏi đá .

Tôi gợi ý:

– Của Đại úy Phong, Tiểu khu Tuyên Đức, đúng không? Tôi biết Tiểu đoàn Phong đánh giặc giỏi, mà cũng tan hàng, “cải cách Lê Lai” (chạy làng). Tức thật!

– Không phải đâu, họ chưa bao giờ “cải cách Lê Lai”, vẫn tiếp tục Mình còn nhiều cơ hội gặp nhau! Tôi cầu mong Cha Vàng thành công…

Tôi nghĩ thầm, ông bạn mới quen hơi chủ quan, tôi không buồn cãi lại, chỉ nói lảm nhảm trong miệng: “Lớp bỏ chạy ra hải ngoại, lớp lọt mưu bọn tặc phương Bắc mời đi tù ráo, còn ai nữa chiến đấu?”.

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Chương Ba

Giã Từ Vũ Khí

Mặc Xá đứng bên cạnh, tôi nhắm nghiền đôi mắt, cố nhớ lại những hình ảnh ngày đau buồn, một ngày trong tuần trước mà như hôm qua, tôi còn nghe âm vang của tiếng nổ…

Dù đã thất bại, từ khi Sa Huỳnh quận Đức Phổ do các lực lượng chính phủ tái chiếm tháng 2/1973, Cộng quân vẫn tiếp tục vi phạm Hiệp Định Ba Lê, về hòa bình Việt Nam, lấn đất giành dân, cắm cờ Mặt Trận Giải Phóng khắp các vùng quê, chung quanh tỉnh Quảng Ngãi. Chúng tung tin nay mai các tướng Trần văn Trà, Chu Huy Mân, cả Phạm văn Đồng, thủ tướng miền Bắc, sẽ về thăm cố hương Quảng Ngãi này, nên người dân bản xứ lớp dè dặt, lớp hãnh diện.

Vì tin đồn vớ vẩn ấy, hay vì chiến cuộc sắp leo thang, mà đầu tháng 3/1974, Tiểu đoàn 21 Biệt Động ở Đà Nẵng lại trở vào đổ quân xuống vùng đất thênh thang phía đông Mộ Đức, một quận ở hướng nam của tỉnh lỵ.

Đại đội 1/21 Biệt Động Quân, do tôi Đại đội trưởng, trách nhiệm càn quét các nhóm du kích đang hoạt động mạnh tại Đức Lương, Đức Quang và các thôn xóm liên ranh liên địa. Hai xã trên cùng tiếp cận với ngôi làng của Phạm văn Đồng phía tây Quốc lộ 1, tạo thành hình tam giác, phần đáy giáp biển, chằng chịt những hàng dương liễu bao phủ âm u, đáy đặc chông mìn. Bọn du kích địa phương đa số có liên hệ họ hàng với hai bên nội ngoại của thủ tướng miền Bắc, nên là một thứ giặc ngang tàng nhất miền Trung.

Dường như Tiểu đoàn 21 BĐQ có “cơ duyên” lui tới khu “tam giác” này. Đã bao lần khi hành quân xa về là đơn vị lại vào vùng hắc ám Đức Lương, Đức Quang. Thỉnh thoảng Đại đội tôi mới được tùng thiết, phối hợp với Chi đoàn 17 M113, còn thường thì đi riêng rẽ, tùy nghi đâm ngang thọc dọc giữa lãnh nhiệm của mình. Ở những vùng hành quân khác, lúc đơn vị tiến vô hay rút ra không khó lắm. Nhưng tại đây, rất đặc biệt, địch để vào tự do, không phản ứng dữ dội, chỉ chờ ta kéo lui về, chúng mới bám sát, chặn đánh khúc sau, làm mất thì giờ tháo gỡ.

Giặc “tam giác”, ngoài chuyện “vuốt đuôi” như vậy, còn có luật giang hồ là lập mưu giết cho được kẻ nào chúng căm thù. Trường hợp Đại úy Trần Quang Giảng, Đại đội trưởng Đại đội 3/21 Biệt Động, là một. Sau khi đánh tả tơi một đơn vị địa phương của địch, Giảng bị rải truyền đơn lên án “bêu đầu”. Nửa đêm chúng đến tấn công cùng lúc rất dữ dội vào các vị trí đóng quân, BCH lẫn tiền đồn, của Đại đội 3 Biệt Động trên khu đồi Mỏ Cày, phía đông bấc quận lỵ Mộ Đức, với thế đất nhấp nhô từ Quốc lộ 1 ra tới bờ biển. Cả hai bên chết như rạ, trong đó có Trần Quang Giảng. Trận đánh này, phải nói địch đã dùng mưu thần mới giết được người bạn tôi.

Chiến tranh Việt Nam xảy ra nhiều chuyện lạ. Cuộc hành quân ở “tam giác” cũng vậy, không nhất thiết ta và địch luôn luôn phải đằng đằng sát khí, hở là chém giết, mà đôi khi còn đùa nhau một cách nghệ sĩ. Nhiều đêm bọn du kích lẻn vào gỡ hết các quả lựu đạn tôi cho gài ngoài bờ tuyến. Gỡ xong, chúng cuốn dây gọn gàng rồi để tại chỗ, không lấy đi. Mục đích của chúng là biểu diễn tài nghệ xuất quỷ nhập thần, và dằn mặt Đại đội tôi ngán chơi, chứ chẳng phải dọn đường để nửa đêm tấn công hoặc quấy rối gì hết.

Chuyện đấu trí kiểu giang hồ đó làm tôi nhớ một lần tôi cùng chú em đi mua sắm, dựng chiếc Honda trước tiệm sách ở Chợ Cồn Đà Nẵng. Khi trở ra thì các ổ khóa cổ và sợi dây xích khóa vòng cái bánh sau đều bị mở tung rồi cuốn tròn lại để trên yên xe và kèm một mảnh giấy viết mấy chữ: “Cảnh cáo khóa hai khóa”. Nghĩa là có mấy lớp khóa đi chăng nữa, gặp các tay chôm cao thủ xe cũng mất như thường.

Lần đó, vào Đức Lương, Đức Quang tôi rất dè dặt. Đêm đầu không bận rộn lắm, Cộng quân chỉ quấy nhiễu bằng vài trái B40, không có sự thiệt hại nào. Sáng hôm sau, đang lúc đơn vị chuẩn bị tiến lên mé bắc, dọc theo các lũy tre già bao bọc con xóm, thì một tiền đồn cho hay địch xuất hiện ở phía đông. Tôi đến bờ tuyến quan sát. Thoạt đầu, tưởng dân làm ruộng, nhưng nhìn kỹ, quả đúng là du kích, khoảng một trung đội đang lom khom băng qua cánh đồng về hướng nam, cách tôi 300 thước. Miếng mồi ngon trong tầm tay. Tôi định bụng cho toán Thám Báo thiện chiến rượt theo và nã đạn cối 601y xuống, thì nhằm lúc người lính truyền tin tới trình:

– Lệnh Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bảo Đại đội rút gấp ra đường, không chậm trễ.

Ngạc nhiên và muốn chính tai tôi nghe, nên bấm máy gọi hỏi Bộ Chỉ Huy lớn đang đóng trên đồi Chi khu Mộ Đức:

– Lam Đa, đây Việt Quốc? (Lam Đa danh hiệu của Thiếu tá Nguyễn văn Long, khóa 19 Võ Bị Đà Lạt, mới thay Trung tá Quách Thưởng về Sài Gòn học tham mưu cao cấp).

Tôi chưa kịp hỏi, Thiếu tá Long đã nói dồn dập trong ống liên hợp:

– Việt Quốc cho Đại đội di chuyển ngay ra phố Mộ Đức, rồi theo Quốc lộ 1 tiến về hướng bắc, đến tọa độ XY… Việt Cộng đắp mô chặn lưu thông, bắn cháy chiếc Jeep, chết một sĩ quan Pháo Binh tiền sát viên Tiểu đoàn mình. Lẹ đi!

Hiểu rõ vấn đề, tôi khỏi cần định hướng bản đồ, vội dàn quân băng ngang cánh đồng phóng thẳng tới mục tiêu ở XY, không ôm vòng qua ngỏ khu phố. Chẳng mấy chốc trục tiến theo cạnh huyền nhanh như chớp, hai trung đội đầu tắp vào các bờ ruộng khô, đối diện và cách vị trí Thiếu tá Long chỉ định một trăm thước. Thấy lính Mũ Nâu xuất hiện mé đông, Cộng quân rút chạy về con xóm phía tây , bên kia Quốc lộ 1 , hướng bắc ngôi nhà cổ kính của Thủ Tướng Phạm văn Đồng khoảng nửa cây số, rồi bắn càn trung liên, AK ra. Nghe súng nổ, các hành khách lật đật bò lê bò lết, lủi dưới các lườn xe, vệ đường, trẻ em thì la khóc inh ỏi.

Trước tình thế có thể lâm nguy cho đồng bào kẹt giữa hai lằn đạn, nếu tôi trả đũa vu vơ bằng cách câu vòng cầu M79 với M72, cả cối 601y. Tôi yêu cầu bà con chạy dạt xa về hai đầu quốc lộ, để ta và địch trực diện nhau, không vướng mắc.

Thiếu tá Long, không hiểu thực trạng, cứ gọi xuống thúc phá hủy các bờ mô, và tiến đánh gấp bọn phá hoại, điều mà tôi sắp làm. Tôi liền đẩy một trung đội qua con lộ, men theo vạt gò mả giữa đồng ruộng hông phải để gây sức ép, còn lại thì dàn ngang áp đảo mặt trước con xóm, cách lộ khoảng một trăm mét. Tôi nghĩ quân số địch chẳng nhiều nhưng chúng có thế, chiếm cứ nhà cửa, vườn tược với lũy tre già bao bọc rậm rạp, Biệt Động Quân thì ngoài đồng trống.

Chúng nằm im, như mai phục, chờ đợi. Cả Đại đội dè dặt tiến vào, nhưng bên trong không một bóng người, chỉ lác đác đôi ba cái chòi giữa vườn hoang, đầy cỏ dại.

Rồi thình tinh, từ phía tây, hàng loạt AK cùng B40 bắn ra. Lập tức tôi cho hai trung đội đầu đồng loạt đánh mạnh lên…

Suốt một năm nay, từ ngày Hiệp Định Ba Lê man trá “tái lập hòa bình Việt Nam” được ký kết, và sau trận đẫm máu, góp phần chiến thắng Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, Đại đội 1 Biệt Động Quân này chỉ dự các cuộc hành quân có tính cách tảo thanh bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấn đất giành dân. Những chuyến đi chán ngắt, khi tành tành, như du ngoạn qua các miền quê êm ả để tháo gỡ cờ Việt Cộng, hoặc nằm giữ an ninh trên các khu đồi đỉnh núi, kiểu trấn thủ lưu đồn buồn nản, không một tiếng súng. Êm ả vì chưa có cơ hội kịch chiến với kẻ thù, như những tháng năm còn nẩy lửa Sa Huỳnh, Trị Thiên, nên lính tráng ngứa ngáy tay chân. Hổ nhớ rừng!

Bây giờ gặp dịp địch quấy phá làm khổ dân, tôi cho lệnh Đại đội nổ súng không nương tay. Rất tiếc, chỉ giết được vài tên, chẳng nhằm nhò gì, mà tôi phải đổi cái giá quá đắt.

An ninh vừa tái lập, tôi tìm địa điểm đóng quân đêm giữa xóm. Vì sợ mìn bẫy, rủi ro có thể bị thiệt hại nặng, tôi không để anh em theo đông, ngay cả việc sử dụng toán Thám Báo rà rẫm trước cũng không, chỉ mỗi mình Thượng sĩ Nguyễn văn Thiệp, Thường vụ Đại đội, cùng đi với tôi. Quả thật, vừa vào trong khu vườn đầy cỏ dại, thì chính tôi đạp một trái mìn nội hóa khá lớn, nổ tung như quả đại bác l051y. Thượng sĩ Thiệp bị gãy một chân, còn tôi cả hai, quỵ xuống giữa một hố sâu to bằng cái nia. Tuy không giập nát, nhưng máu ra nhiều nơi hai mắt cá, rồi phần dưới cơ thể nóng ran, cơ hồ như lửa đốt. Tôi vẫn nghe rõ tiếng anh em gọi nhau tới cấp cứu, nhưng tôi bảo ở ngoài hết, đề phòng đối phương lợi dụng tấn công, và có thể còn nhiều mìn bẫy đâu đó nữa, chỉ y tá với hai người lính thân cận là Trung và Xá vào băng bó.

Hạ sĩ Nguyễn Hiệp truyền tin mang máy PRC-25 tới ngồi bên cạnh, speaker phát ra văng vẳng giọng Thiếu tá Nguyễn văn Long, Tiểu đoàn trưởng 21 Biệt Động Quân, từ căn cứ Chi khu Mộ Đức trên đồi đất đỏ gọi xuống:

– Cho biết tiếng nổ vừa rồi thế nào?

Hiệp đáp:

– Bị mìn hai ngắn hạn: Đại Bàng 1 và Thường vụ, từ vị trí Việt Cộng đắp mô, phương giác 4800, khoảng cách 400 mét.

Nghe Hiệp trả lời chưa rõ rệt, tôi bảo đưa ống liên hợp tôi nói chuyện với Thiếu tá Long:

– Lam Đa!…

– Nặng hay nhẹ, Việt Quốc?

Tôi ứa nước mắt vì quá yêu đời lính:

– Hai chân đều chạm xương ngang mắt cá. Chắc tôi phải rời khỏi quân đội, Lam Đa à!…

– Bình tĩnh, để tôi trình lên Bộ Chỉ Huy Liên đoàn cho xe Ambulance đến tải thương ngay tại địa điểm Việt Cộng đắp mô. Anh bảo Đại đội rút hết ra ngoài lộ ?

Thiếu tá Nguyễn văn Long cúp máy. Việc băng bó các vết thương của tôi và Thiệp cũng vừa xong. Biết rõ mình đã mất khả năng chiến đấu, không thể điều động đơn vị được nữa, tôi cho mời các cấp, tiểu đội trưởng trở lên, đến dự việc bàn giao chức vụ tại chỗ. Vừa thấy đông đủ, tôi nói với Thiếu úy Đặng văn Thiều, Đại đội phó, tết nghiệp khóa 6169 Thủ Đức, vị sĩ quan đã hơn một lần góp công không nhỏ trận đánh hào hùng, đem lại chiến thắng vinh quang cho Đại đội này tại Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, đầu năm 1973:

– Tôi lấy làm vinh dự lần cuối cùng, sau hai năm chỉ huy, hôm nay cử Thiếu úy Đại đội phó giữ quyền Đại đội trưởng Đại đội 1/21 Biệt Động Quân thay tôi cho đến khi có lệnh mới của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn. Thi hành!!

Vị sĩ quan trẻ đứng nghiêm, vẻ mặt xúc động, đưa tay chào tôi nhận lãnh trách nhiệm trước sự chứng kiến của các chiến sĩ Mũ Nâu từng vào sinh ra tử trên khắp chiến trường bão lửa miền Trung, vào một buổi chiều buồn, ngày 3-3-1974…

– Trung úy Vân!

Nghe tiếng gọi tôi mở mắt thấy tôi nằm trên tấm poncho, bên lề đường. Chung quanh có những người lính trận màu áo hoa rừng, tay cầm súng, đi đi lại lại, như chờ giặc dưới nắng chiều vàng hoe. Lâu lắm tôi mới nhận ra các khuôn mặt thân thương của Đại đội 1, họ vẫn còn đây, hay để tiễn đưa tôi về một nơi nào xa cách. Đôi chân tôi bỗng run lên đau đớn.

– Thy Vân biết tôi không?

Nhìn Đại úy Y sĩ trưởng Liên đoàn 1 Biệt Động Quân mờ mờ ngồi bên cạnh, tôi gật đầu:

– Bác sĩ Nguyễn Trung Tín…

– Ừ, nghe báo tôi đến ngay.

– Tín nghĩ chân mình có bị cưa không?

– Vân lắc lắc hai ngón cái thử.

Tôi làm theo. Bác sĩ Tín mỉm cười:

– Gân và động mạch còn tốt, không sao!

Tôi không tin Tín nói. Lúc đạp mìn đôi chân đều bị mảnh chạm thấu xương nơi hai mắt cá.

Tôi bệu bạo:

– Các thầy thuốc khám bệnh ai cũng bảo tốt hết, người ta chết tới nơi, vẫn nói sống dài dài…

Nghe tôi lằm bằm, vị Đại úy Y sĩ trưởng Liên đoàn vẫn nở nụ cười đôn hậu. Rồi đích thân ông băng lại các vết thương dường như đã bị nhiễm trùng làm tôi cứ phát sốt. Tín vừa săn sóc vừa kể chuyện huyên thiên cốt để tôi quên bớt cơn đau đang hoành hành dữ dội.

Từ lâu tôi rất phục vị sĩ quan này. Thiên chức của lương y là cứu người, dù đó là kẻ thù. Nhưng người đang ngồi kế tôi, Nguyễn Trung Tín, thật đặc biệt, như huyền thoại. Mặc dù ở địa vị vừa nhàn hạ vừa cao quý của một bác sĩ, Tín lại thích cầm quân đánh giặc để tung hoành hơn là đeo đuổi cái nghề có tính cách thụ động. Do đó, các chiến sĩ Mũ Nâu chẳng lấy làm lạ khi vị Đại úy Y sĩ trưởng Liên đoàn 1 Biệt Động Quân chưa bao giờ thúc thủ cầu an, mà lúc nào cũng sẵn sàng súng đạn, xông xáo tới tận tuyến đầu khốc liệt, cấp cứu kịp thời thương binh…

Tiếng máy chiếc xe đò vụt nổ, tiếp theo là những lời mời gọi hành khách, và sự va chạm chen lấn giành chỗ ngồi, kéo tôi về với thực tại.

Trời đã sáng tôi nhìn qua khu bệnh viện Duy Tân lần nữa, lần cuối cùng tôi từ giã nó thật sự, khi bốn bánh từ từ lăn ra khỏi bến. Mới hôm nào tôi cũng nói vậy, lúc quân thù nhơn danh cách mạng, mặt đằng đằng sát khí, vào bệnh viện chĩa súng đuổi hết các thương binh miền Nam ra đường. Ngày ấy làm sao tôi quên, kẻ lăn xe người chống nạng, có anh mang đùm ruột bọc ni-lông ngoài bụng với bị máu trên vai, đi ngất ngưởng, đi lang thang, đi mà không biết đi đâu, như những hồn ma bóng quế.

Sau lưng tôi, thành phố thân thương đầy kỷ niệm, trong tay kẻ chiến thắng. Bao cảnh vật chung quanh đều đảo lộn, đang lao nhanh về phía sau. Tôi ôm mặt nhủ thầm, rồi mai đây tôi sẽ trôi dạt nơi nào? Có một điều tôi biết chắc tôi cũng phạm tội là bắt đầu nhập bọn, như chị Trần thị Miên tôi nói: “Một lũ hèn nhát bỏ chạy?”.

Tiểu Đoàn Trừng Giới

Heinz G. Konsalik

Nguyên tác: Straf-battalion 999

Tâm Vũ dịch

Nhà xuất bản: Thùy Dương 1973

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 2.

Họ vừa đi dưới mưa, vừa hát. Dẫn đầu là Trung sĩ Hefe, có hỗn danh là “Ông Quạu” ướt sũng, bẩn thỉu, giận dữ, cũng bắt buộc phải bước qua những vũng nước, vũng bùn như những binh sĩ đi theo sau.

Con đường kéo dài, vô tận giữa cánh đồng lúa mì đã gặt, trước những hàng cây buồn thảm, sầu muộn. Phía xa, con sông tuôn dòng nước xám giữa hai bờ cát. Đám binh sĩ mệt mỏi chẳng muốn hát chút nào. Nhưng họ vẫn hát vì “Ông Quạu” ra lệnh. Đoàn quân rầu rĩ bước theo nhịp chân, giữa phong cảnh ảm đạm, dưới bầu trời ủ ê, những khuôn mặt chan hòa nước mưa, những chiếc miệng đen sì tuôn ra những bài ca nói về hoa thơm cỏ lạ, về những đoàn chiến xa gầm thét, về những nắm xương tàn trở về cát bụi. Và mưa vẫn cứ rơi, làm chìm ngập tất cả trong nỗi buồn thảm càng sâu đậm hơn. Tất cả gồm năm mươi ba người.

Peter Hefe hô:

– “Đại đội đứng lại… đứng!”

Tách ra phía bên trái, Hefe nhìn đám binh sĩ suy nhược, ướt sũng và bẩn thỉu, Họ cũng nhìn lại anh, không biểu lộ gì qua sắc mặt, chỉ sung sướng là không còn phải hát nữa. Số phận họ thực buồn thảm.

Anh nói léo nhéo:

– “Nghe tao đây, bọn ngu ngốc. Tụi bây hát như những cô gái si tình trong đêm trăng. Nếu tao còn nghe thấy sai điệu hay mất nhịp vì ngủ gục, tao sẽ cho tụi bay chạy lại suốt con đường vừa đi qua. Nghe chưa?”

Đã đành đó là câu đe dọa hão. Chẳng có cái gì trên thế gian này có thể đem anh ta trở lại con đường dài dằng dặc ở phía sau. Vả lại cũng đã khá muộn rồi nên anh cũng tạm bằng lòng khi chỉ độ hai chục binh sĩ đáp : “Dạ, nghe rõ, thưa Trung sĩ”. Anh nói tiếp:

– “Tốt. Trong mười lăm phút nữa, chúng ta sẽ tới trại. Lúc đó thì phải đàng hoàng nghe. Tiểu đoàn trưởng sẽ quan sát đó. Tụi bay đừng có để phiền gì cho tao. Nghe chưa?”

– “Dạ, nghe, thưa Trung sĩ”.

– “Được… bây giờ cần một bài hát. Bài: “Đẹp làm sao đời lính”. Tụi bây phải hát cho có tình cảm, có tâm hồn.”

Đám người lại bước đều trong tiếng hát, giữa hai hàng cây. Họ đi như vậy vào doanh trại, nơi có Thượng sĩ nhất Krull đang đứng chờ.

Vào giữa lúc xế chiều nầy, Krull khám phá ra một điều mà sau này ông gọi là “nghệ thuật để cho tràn ứa”. Ông ta đang giận dữ, nghĩa là tình trạng nóng giận của ông đã vượt qua một cao điểm mới, nguyên do là vì Karl Schwanecke và sự chậm trễ của Đại đội. Lẽ ra Đại đội phải về tới đây từ bảy phút trước rồi. Và giờ này chắc chắn là ông Tiểu đoàn trưởng đang đứng bên cửa sổ, nhìn đồng hồ và mỉm cười theo lối thâm hiểm của ông ta. Krull suy nghĩ: “Rồi ông sẽ thấy. Chính tôi đây nè, tôi sẽ cho ông hay…” nhưng không nghĩ xa hơn nữa. Riêng ngón tay út của ông, nơi tập trung tất cả sự hiểu biết của một viên Thượng sĩ, đang ngọ ngoạy không ngừng.

Chiếc rào cản được nâng lên, Đại đội đi ngoẹo về phía trái : Trung sĩ Peter Hefe cất tiếng hô mạnh mẽ hơn trong chiếc sân rộng, trước mặt Thượng sĩ đang nhìn anh, chân đứng dạng, nắm tay chống nạnh, trong lúc ấy, thẳng phía trước đoàn quân, bốn anh binh sĩ mới tới, nằm sấp bất động, mặt hơi nghiêng nhìn những đôi bốt tiến lại gần.

Một lát sau, Peter Hefe mới nhận ra họ, nhưng anh hô ngay khẩu lệnh cho đổi hướng về bên phải để tránh. Đoàn quân hơi ngập ngừng.

Krull lại thét lên:

– “Tiếp tục đi thẳng!”

Sự ngập ngừng tăng thêm. Peter Hefe nhận thấy tình hình, hiểu rõ Thượng sĩ muốn gì và tuân theo lập tức. Anh cất tiếng hô khẩu lệnh thích ứng. Năm mươi ba người xếp hàng ba, chia thành bốn trung đội, vừa hát vừa tiến lên phía những người bạn đang nằm soài. Krull biết rằng chẳng có gì đáng ngại. Khoảng cách giữa bốn người lính đang nằm kia không xa quá mà vừa đủ. Chỉ cần chú ý, người ta có thể đặt chân vào giữa. Hơn nữa ông ta biết rằng đoàn người sẽ không bước lên những người nằm dài kia, cũng như một con ngựa biết cách tránh trong trường hợp tương tự… Ý kiến này thật mới mẻ và thích ứng để cho những anh lính mới tới được nếm trước, những gì còn chờ đợi họ, một thứ cảnh cáo bổ ích. Sau này, ông phải hoàn hảo phương pháp đó mới được.

Nhưng những người đang bước tới đã mệt lử và dửng dưng. Một số lớn chẳng hiểu có chuyện gì xảy ra. Nhiều người đến nỗi nhắc chân khỏi mặt đất không quá 10 phân và đa số khi nhìn thấy những người nằm quá chậm. Vì thế trong cái cảnh đón tiếp do Thượng sĩ nhất bày đặt ra đó, mấy người nằm bị bầm tím cùng khắp thân thể và binh nhì Coltírieđ Von Bartlitz bị dập ngón tay vì anh ta không kịp dấu bàn tay dưới thân mình.

Đại úy Bart, chỉ huy trưởng Tiểu đoàn, đứng bên cửa sổ của văn-phòng hành chành, nhìn cảnh diễn biến. Khi hàng người sau chót diễn hành qua và bốn hình thù nằm dài lại hiện ra, Đại-úy lại hỏi vị Trung úy đứng phía sau:

– “Đại đội của cậu phải không Obermeier?”

– “Dạ phải, thưa Đại-Úy. Bọn họ đi làm tạp dịch trở về. Chắc chẳng có thú vị gì với trời đất bẩn thỉu này!”

“Một thằng cha kỳ cục, tên Krull đó!”, không thấy viên Trung-úy trả lời, ông nói tiếp: “Đúng là loại người đang cần cho chúng ta.”

Bấy giờ viên Trung úy mới nói:

– “Thưa Đại-úy, tôi không biết”

Đại đội đứng ở giữa sân. Peter trình diện Thượng sĩ Krull. Ông ta lắng nghe và khẽ hất đầu về phía 53 binh sĩ. Rồi thọc ngón tay cái vào giữa nút thứ ba và thứ tư của chiếc áo, ông bắt đầu bài hiểu thị hàng ngày, ông nói về cuộc đi chơi ngoài trời, về những hòn đá cuội mà binh sĩ đã ném thia lia trên giòng sông Warthe, về sự chậm trễ của họ, về truyện này, truyện nọ… một bài diễn từ mà bản chất chẳng có gì khác với những bài, vào giờ này tại các doanh trại hầu khắp Âu châu, những ông Thượng sĩ khác cũng đang nói với những binh sĩ, những tân binh. Nếu có khác chút nào chăng là những binh sĩ ở đây thuộc một Tiểu đoàn trừng giới và đa số họ chẳng nghe gì cả.

Thoạt nhìn thì sự khác biệt không có gì rõ rệt lắm. Một Tiểu-đoàn trừng giới gồm những người mà cái chết nắm chắc từ 95 tới 98 phần trăm, nhưng vào thời kỳ này, gần như mọi người mặc quân phục đều nắm chắc phần chết, tuy rằng ở những đơn vị khác thường tỷ lệ tử vong không cao đến mức đó. Vì vậy trước hết, sự khác biệt chỉ nhận rõ trong cách đối xử với quân phạm, trong những sự sỉ nhục mà người ta trút xuống đầu họ, trong những cảnh gian khổ về tinh thần và thể xác họ phải chịu, trong nỗi tuyệt vọng mà người ta dồn họ tới.

Bài diễn từ chấm dứt, Krull bắt đám binh sĩ đã kiệt quệ chạy hai vòng sân, bắt họ nằm xuống rồi sau mới cho tan hàng. Bổn anh lính mới tới vẫn còn nằm dài.

Viên Trung-úy nhận xét:

– “Bây giờ tụi nó sẽ đánh lộn nhau quanh vòi nước cho mà xem”.

Đại úy hỏi:

– “Sao vậy? Bên ngoài mưa khá lớn mà.”

– “Tôi đã thấy rồi. Làm việc suốt 6 tiếng đồng hồ không được uống nước rồi trở về còn phải hát nữa. Với tôi thì thôi, xin chào thua!” Đại-úy rút điếu thuốc lá, đẩy gói thuốc trên bàn về phía viên Trung Úy và nói với vẻ riễu cợt:

– “Nè, Obermeier, tôi mong được gặp lại cậu ở đây như một người bạn vui tính của câu lạc bộ sĩ quan khi trước. Thế mà bây giờ cậu lại bi thảm như một cây dù ướt, Khi còn ở Vitebsk cậu đâu có như thế.”

– “Đúng vậy, thưa Đại-úy. Ngoài mặt trận, tôi thấy đúng chỗ…. nhưng còn ở đây? Tôi là một sĩ quan chứ không phải anh cai ngục.” Ông lấy điếu thuốc, châm hút, tay hơi run, Đại-úy Bart nhìn ông với vẻ tò mò:

– “Cậu thương hại mấy thằng cha đó hả?

– “Còn Đại-úy thì không hay sao?”

– “Tại sao lại thương? Trong bọn nó, có đứa nào là không bị kết tội một cách xứng đáng đâu?”

Obermeier dập điếu thuốc lá vừa châm vào đĩa đựng tàn:

– “Đại-Úy vừa nhìn thấy Đại đội của tôi đó, năm mươi ba cái xác chết đi vật vờ. Thượng sĩ Krull lại vừa hành hạ thêm vì họ về chậm mất bảy phút. Như vậy là kết tội một cách xứng đáng sao? Thí dụ như cái thằng nhỏ bé, gầy ốm ở hàng thứ nhất, Trung úy Remberg đã được thưởng anh dũng bội tinh, là một trong những chiến sĩ đầu tiên tiến vào Mạc-Tư-Khoa đó. Thế rồi trong một cuộc hội thảo tình hình, anh ấy tuyên bố rằng, quân đội sẽ bị tiêu hao suy mòn tại miền đất mênh mông của nước Nga, rằng cần phải ngưng lại cho kịp thời nếu không chúng ta sẽ đi tới thảm họa. Người ta tống cổ anh đến đây. Anh ấy nói; “Tôi không phải là anh đồ tể, tôi không thể tham dự vào vụ đó được”. Bây giờ thì anh ấy đào đất.

– “Để khỏi thành anh đồ tể, hắn trở thành thợ đào đất. Như vậy hắn không khoái hơn là chết sao?”

Viên Trung úy không nói tiếp truyện đó nữa.

– “Đại-Úy có nhìn thấy người tiều tụy, sói trán, mang kính đang đi ngoài sân kia không?”

– “Hắn ta làm sao?”

– “Giáo sư Ewald Puttkamer, Thiếu-Tá trừ bị đó. Ông ấy dám nói rằng sơ-mi màu nâu (áo của đảng là y phục mới của bọn phu đào huyệt”.

Đại Úy mỉm cười:

– “Khá lắm”.

– “Những người như vậy ở đây rất nhiều. Nhưng Đại-úy cũng biết rồi mà”

– “Có cả những tội nhân nữa phải không?

– “Vâng, cũng có”.

– “Kết luận?”

– “Tôi không tin rằng một sĩ quan Đửc lại thích hợp trong vai trò cai ngục”,

Đại Úy Bart, mỉm cười ngồi xuống chiếc ghế duy nhất trong phòng, thả khói thuốc lên trần nhà. Từ ngoài sân vọng vào, qua cửa sổ, tiếng la hét của Thượng sĩ Krulll, ông ta đang đi đến nơi phát cơm.

Obermeier nói:

– “Thực ghê tởm!”

Bart nói nhẹ nhàng:

– “Ô hay! Chiến tranh là ghê tởm. Và hòa nhã còn ghê tởm hơn nữa vì lính tráng như mình thành vô dụng. Hãy nhận xét sự việc một cách bình tĩnh hơn, từ tốn hơn nhiều nữa, bồ ơi! Có thế thì may ra cậu mới sống sót được. Đừng có bất bình khi nhìn thấy một Trung Tá, một sĩ quan anh dũng bội tinh hay một giáo sư siêu việt phải chạy vòng quanh sân dưới quyền xài xể của thượng sĩ Krull, giống như…cậu nói giống như khỉ… à phải, giống như những xác chết đi vật vã. Đúng vậy không?

Vị Trung-úy đồng ý.

Bart uể oải đứng dậy, ngáp, vươn vai và sửa lại chiếc đai da. Rồi ông nhìn chiếc đồng hồ nhỏ trên cổ tay, ngáp thêm lần nữa, chẳng che miệng. Giây đeo đồng hồ làm bằng vải. Người ta nói rằng, mỗi ngày Bart thay một dây để lúc nào giây cũng trắng tinh. Có thể là mặc dầu việc đó hình như không thích hợp tính tình của con người to khỏe đó, mà lại rất thích hợp với Đại-Đội trưởng Đại đội 1, cục cưng của các bà, Trung úy Wernher.

Khi Đại Úy Bart ngước mắt lên thì thấy Trung úy Obermeier đứng nghiêm trước mặt ông.

– “Thưa Đại-úy, xin Đại-úy vui lòng chấp thuận đơn của tôi xin thuyên chuyển đi một đơn vị tiền tuyến”.

Đại Úy nói với vẻ nhạo báng:

– “Này, này! Một vị anh hùng! Nếu cậu có thể đợi thêm một phút nữa, cậu đã có thể để dành lại cái hình thức biểu lộ anh dũng đó.”

Ông thò tay vào túi lấy ra một tờ gấp đặt thêm vào đống giấy tờ phủ kín một phần chiếc bàn.

– “Đại đội của cậu, Đại-đội 2 của Tiểu đoàn 999 sẽ sang Nga một ngày rất gần đây.”

– “Sang Nga?”

– “Rất đúng, Các Đại đội khác sẽ đi tiếp theo sau 2 ngày. Tôi đi với Đại-đội sau chót, nghĩa là Đại-đội 1. Thỏa mãn không?”

– “Không thưa Đại-úy”.

– “Vẫn chưa? Mẹ kiếp! Vậy thì cậu muốn gì?”

– “Một đơn vị bình thường. Tôi sẽ làm được gì ở Nga với những kẻ dở sống, dở chết này? Chúng ta sẽ thắng trận sao được với những thân xác vờ?”

– “Thắng trận? Obermeier, Cậu thật còn trẻ. Rút cục thì chủng ta cũng đã nhận được một nhiệm vụ rất cao đẹp. Cậu sẽ có thể phô trương tất cả chí khí anh hùng của cậu. Một nhiệm vụ với một mục tiêu phải đạt được nếu không sẽ phải đưa ra tòa-án binh. Không còn phải làm những tạp dịch chán ngắt : gỡ mìn, tháo bom, tát cạn giao thông hào, chuyển đạn, làm đường, chôn xác…”

– “Thế nhiệm vụ rất cao đẹp đó là gì?”

– “Cậu sẽ được biết vào đúng lúc”.

Bart đến gần cửa sổ. Ngoài sân, Krull đang la hét đuổi theo một binh sĩ như đuổi theo một con thỏ rừng.

– “Tên nào đó? Cậu có vẽ am hiểu tất cả binh sĩ của cậu mà.”

Obermeier đáp;

– “Trung-Úy Stubnitz”

Đại-úy sửa lại:

– “Binh nhì Stubnitz. Hắn phạm tội gì vậy?”

– Khi ở Dortmund, hắn ném ly rượu vào hình lãnh tụ và la lên : xin mừng anh khỏe mạnh, anh hề!”

– “Thằng ngu vậy!”

– “Hắn say rượu.”

– “Nếu thế nó là thằng ngu say! Tại sao cậu không can thiệp đi. Tại sao cậu không làm một phúc trình tố cáo Krull đã hành hạ binh sĩ trực thuộc?”

– “Việc đó đưa tôi đi đến đâu? Chắc sẽ đi tới một cuộc điều tra nhanh chóng như thế này: Hỏi: Đơn vị nao ? Đáp: Tiểu đoàn trừng giới 999”.

– Thượng sĩ, ông đã làm gì? – Tôi nhắc lại bổn phận cho một binh sĩ cứng đầu trong khuôn khổ kỷ luật – Tốt lắm, Thượng sĩ, ông cứ tiếp tục! Và cuối cùng là chính tôi sẽ bị khiển phạt”.

– “Đúng vậy. Cậu không “bết” lắm đâu. Nhưng vì chúng ta sẽ sang Nga,

chẳng bao lâu rồi cậu sẽ dẹp được những ưu tư và những hoài nghi triết lý của cậu”.

– “Tại sao thế?”

Đại-úy Bart nói rành rẽ từng tiếng:

– “Bởi vì chỉ trong vòng vài tuần là cậu sẽ không còn Đại đội nữa.”

Im lặng.

Rồi chắc hẳn Đại-úy muốn làm dịu ấn tượng gây ra bởi lời nói của ông ta và để xua đuổi hình ảnh ma quái đẫm máu mà lời nói đã gợi lên, ông nói:

– “Bốn người nằm trong bùn kia thuộc Đại- đội của cậu. Thành phần tăng cường cho cậu đó. Tóm lại, đó là những tên rất đáng chú ý, sẽ không làm mất vẻ đẹp bộ sưu tập của tụi mình đâu. Tên thứ nhất là… ông tìm trong hồ sơ – Gottried von Bartlitz, cựu Đại tá, được ân thưởng huy chương anh dũng kèm theo nhành lá sồi, nguyên Tư lệnh Sư đoàn, bây giờ là binh nhì. Sau trận Stalingrad hắn ta đã nói quá nhiều…. Hình như hắn cũng không muốn trở thành đồ tể. Tên thứ hai tên là Erich Wiedeck, cựu hạ sĩ, nông dân miền Poméranie. Hắn đã tự ý kéo dài thêm ngày nghỉ phép vì hắn muốn gặt lúa cho kịp, đó là hắn tin như vậy. Tên thứ ba, Karl Schwanecke, là một thợ thuộc kim nhưng trước hết là một tội nhân tái phạm nhiều lần, một thứ “phi nhân”. Còn tên thứ tư, bác sĩ Ernst Deutschmann, bị buộc tội tự ý hủy hoại thân thể một cách rất khôn khéo nhưng cũng không thoát. Nhưng mà cậu làm sao vậy, Obermeier?”

– “Người thứ nhất…. tên là gì?”

– “Sao? Cậu biết hắn à?”

– “Tên hắn là gì?”

– “Gottfried von Bartlitz. Cậu biết hắn?”

– “Dạ. Tiểu đoàn trưởng cũ của tôi”

– “Vậy hả! Thú vị đấy chứ!”

Đại-úy Bart trở lại bên cửa sổ coi như cảnh Kull la lối không làm cho ông khó chịu. Không nhìn vị Trung-úy, ông khẽ nói:

– “Truyện đời nó như vậy đó, cậu thấy không? Hôm qua còn ở tít trên cao, hôm nay xuống thấp và ngày mai, còn xuống thấp nữa… dưới lớp đất đen. Phải ở trên cao, Obermeier ạ, đó là điều quan trọng. Cậu hãy cố gắng trèo lên nữa, nhưng đừng cố quá cao. Hãy quên đi mấy thằng cha đó trước đây là cái gì. Hãy quên điều đó đi để khỏi xẩy đến cho cậu những truyện tương tự như họ. Họ không còn dĩ-vãng nữa. Ở đây họ chỉ còn là những binh sĩ trong một Tiểu-đoàn trừng-giới. Những người binh sĩ không vũ khí. Họ đã bị truất mất danh dự mang vũ khí. Đối với bọ, chỉ còn có danh dự được chết. Những binh sĩ của Tiểu-đoàn trừng-giới 999.

Ông thọc hai tay vào túi, nhún vai nói tiếp:

– “Phải sống, phải ở trên cao, đừng có xuẩn động. Có gì uống không cậu?”

– “Đại-úy uống Hennessy?”

– “Thứ đó được quá”.

Hy vọng giống như những món đồ chơi có gắn chì ở đáy, đặt thế nào rồi cũng dựng đứng dậy. Tưởng rằng đã hoàn toàn tiêu tan, ấy thế mà nó giống như một cái mầm nhỏ xíu phát hiện, trước còn rụt rè nhưng rồi lớn mạnh thực mau như tia sáng mặt trời. Tất nhiên nó thường hay đánh lừa chúng ta. Nó phát sinh từ những ước muốn của chúng ta hơn là từ lý trí, nhưng mà cần chi, hãy biết nó giúp cho chúng ta thoát khỏi sự an phận và đôi khi cũng giúp chúng ta tìm thấy hay nhận ra một con đường thoát nạn.

Julia Deutschmann cũng ở vào tỉnh trạng như vậy.

Sau khi gặp Tướng von Frankenstein, cái tia hy vọng le lói mà nàng dự liệu mang một danh tính: Bác sĩ Albert Kukill.

Điều đó hơi lạ lùng vì chỉnh Bác sĩ Kukill đã là nhà chuyên môn được mời ra làm chứng trong hồ sơ buộc tội Ernst. Với đầu óc lạnh lùng, ông đã tuyên bố những ý kiến được coi như không thể sai lầm. Nếu không có Bác sĩ Kukill, có lẽ Ernst đã không bị kết tội. ông Tướng chẳng nói rằng: ý kiến của nhà chuyên môn là yếu tố quyết định, Julia nghĩ rằng chỉ còn một con đường duy nhất: chứng minh cho nhà chuyên môn đó thấy rằng, ông ta đã lầm. Một sự thú nhận của ông ta sẽ đưa đến việc tái xét hồ sơ và Ernst sẽ thoát khỏi Tiểu đoàn trừng giới 999.

Nàng biết rằng chuyện đó sẽ không dễ dàng. Nàng quả hiểu các bạn đồng nghiệp, những vị bác sĩ: chỉ một rất nhỏ dám nhận một sự lầm lẫn và Bác sĩ Kukill thì hình như không thuộc vào nhóm ít ỏi đó. Tuy nhiên, nếu nàng đủ tài khéo léo, nếu nàng có thể tìm được những câu thích hợp, nếu…Dù sao mặc lòng, nàng cũng chẳng còn khả năng nào khác để cứu Ernst.

Thế nên ngay buổi tối, sau khi gặp vị Tướng, nàng đến biệt thự của Bác sĩ Kukill và lấy hết can đảm, nàng nhấn chuông. Nàng không muốn thông báo trước vì chắc chắn người quản gia hay cô thư ký khi nghe tên nàng sẽ trả lời ngay là bác sĩ không có nhà. Nàng đến bất thình lình, gặp ông ta bất ngờ, buộc ông ta phải nói, đặt ông ta đối diện với ác tâm của ông.

Bác sĩ Kukill mặc bộ đồ lịch sự có nút cài chéo, bộ tóc hoa râm chải sát ngược về phía sau. Khuôn mặt ông hẹp làm liên tưởng đến mặt loài chim ăn thịt đang rình mồi và cặp mắt xám, dữ tợn, thích hợp với vóc dáng đó.

Ông không tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy Julia và nếu ông có cảm thấy phần tội lỗi nào đó đối với nàng, hay đúng hơn đối với chồng nàng thì ông ta cũng tuyệt đối không để lộ ra. Nhưng mà một con người trầm tĩnh như thế, từ tốn như thế, có thể nào cảm thấy phạm tội được?

Chính Julia cảm thấy bối rối.

Ông đưa tay bắt tay nàng như đối với người quen biết từ lâu và mỉm cười. Thoắt cái, bộ mặt ông mất vẻ cứng cỏi, hiểm hóc. Khi ông nói, với phong thái của người thành Vienne, bằng tiếng nói mà ông biết xử dụng một cách tuyệt hảo cho thêm âm vang, để khẳng định với giọng lãnh đạm hoặc để biện hộ với niềm tự tin dễ lây sang người khác.

– “Chắc ông biết tại sao tôi tới đây?” Julia nói và mừng thầm căn phòng tranh tối tranh sáng đã che dấu bàn tay run rẩy và nét mặt đỏ của nàng.

– “Tôi tự đoán được điều đó, thưa bà, hay đúng hơn thưa nữ đồng nghiệp vì cả hai chúng ta đều là y-sĩ, phải không thưa bà? Mà ta không nên đứng đây. Dù bà có chuyện gì cần nói với tôi, chúng ta cũng nên vào ngồi trong này tốt hơn.”

Ông ta mở chiếc cửa và mời Julia vào trong một phòng khách, đồ đạc bày biện sang trọng, quay ra vườn. Một chiếc cửa sổ rộng nhìn xuống khu vườn trồng nhiều cây lớn nom như một công viên, nơi hoàng hôn đang phủ xuống. Những bồn hoa các loại che khuất nửa chiếc hồ tắm.

Bác sĩ Kukill bật đèn và kéo chiếc màn cửa. Rồi ông chỉ chiếc ghế bành lớn bọc nệm màu trái chanh:

– “Xin mời bà ngồi”

Nàng nghe theo. Làm thế nào mà con người này có thể mỉm cười và bình thản khi ông ta thừa biết rõ lý do cuộc tới thăm của nàng?

Nàng nói:

– “Tôi muốn được nói chuyện thêm với ông về tất cả vụ đó”.

Nàng lấy lại được thái độ tự chủ. Đối phương trước mặt nàng chỉ có thể bị khuất phục hay dồn vào thế bí bằng sức mạnh của lý trí.

Ông ta đáp:

– “Tôi không được hiểu rõ rằng điều bà yêu cầu có thể có ích lợi gì không ? Nhưng mà bà dùng gì? Cô nhắc? Ác-ma-nhắc 1913? Tôi để dành riêng tiếp đãi bạn bè.”

Ông ta nói không một chút riễu cợt nào.

– “Dạ cám ơn ông, ông cho gì cũng được”.

Bác sĩ Kukill đốt ngọn nến, hơ ly cho nóng và rót chất rượu màu hổ phách, mỗi ly chừng một ngón tay.

Ông nói :

– “Có một số người chê trách tôi về tất cả những thứ này: về nhà cửa phong lưu hoặc về rượu Ác-ma-nhắc 1913. Theo họ, những thứ đó coi chướng mắt trong lúc này. Nhưng thử hỏi lúc nào thì nó không chướng mắt? Các công ty bảo hiểm ước lượng đời sống trung bình một người Âu-Châu bây giờ là 66 tuổi, và chiến tranh lại làm con số đó xuống thấp rõ ràng. Ngày mai có thể là quá xa xôi… và cũng có khi chẳng bao giờ tới với người nào đó. Vậy tội gì không cố đem lại chút hương vị có thể được cho cuộc sống ? Bà nghĩ về vấn đề đó ra sao?”

– “Tôi chẳng bao giờ nghĩ tới điều đó.”

Ông mỉm cười nói:

– “Dù sao mặc lòng, nên làm cho cuộc sống bớt sầu thảm!”

Ông giơ ly rượu nhìn qua chất nước trong vắt:

– “Xin mời bà”

– “Tôi tự hỏi không hiểu ông là con người như thế nào. Có lẽ ông chỉ bận trí về những thứ này (nàng phác một cử chỉ bao quanh phòng khách vườn tược, chai rượu Cô-nhắc và không chú ý đến truyện gì xảy ra quanh ông.”

Kukill vẫn mỉm cười, đáp:

– “Có phần nào,”

– “Vậy mà những truyện đó đang xảy ra. Mới hôm qua, một vụ ném bom làm nhiều người chết, chắc chắn hôm nay cũng sẽ cố. Rồi còn bao nhiêu người đang chết tại mặt trận Nga, mặt trận Ý. Lại còn có những sự bề ngoài coi không đáng gì cả mà có tầm quan hệ, hơn nữa, mang trọn vẹn ý nghĩa cho cuộc sống của một con người.”

Ông ta nói một cách lạnh lùng;

– “Có lẽ bà muốn ngụ ý nói về ông nhà.”

Julia nhìn thẳng ông ta và nói:

– “Dạ phải. Anh ấy là cuộc sống của tôi. Xin ông hiểu cho, tôi không còn biết kiếm ai ngoài ông ra. Câu chuyện gồm toàn hoàn cảnh thảm khốc liên tục.”

– “Một luật gia có thể nói như bà. Nhưng chúng ta hãy nói một cách rõ ràng hơn : bà muốn nói là đã có sự lầm lẫn?”

– “Thế còn ông? Ông nghĩ sao?”

Bác sĩ Kukill trề môi dưới, ngắm nghía bàn tay bé nhỏ trắng trẻo của ông:

– “Và nếu đích thực là một sự lầm lẫn?…”

Julia vuột dậy:

– “Ông…ông nói thế đó! Bản giám định của ông đã làm Ernst thân bại danh liệt. Chính ông đã làm cho anh ấy bị tù tội. Và bây giờ lương tâm ông yên ổn khi tuyên bố rằng, có thể có lầm lẫn trong chuyện đó hay sao?”

– “Xin bà bình tĩnh. Bà ngồi xuống đi. Bản giám định của tôi mang tính chất hoàn toàn khoa học. Trong tình trạng khoa học hiện nay, bản đó đã được thiết lập hoàn toàn đủng. Với tư cách một chuyên viên đứng trước tòa án không thể nói lắt léo với những điều dự tưởng, những giả thuyết.”

– “Thế nhưng tôi và nhà tôi đã đạt được nhiều kết quả mỹ mãn trong cuộc thí nghiệm…?”

– “Ông đã thực hiện bao nhiêu loạt thí nghiệm?”

– “Chừng ba chục.”

– “Như vậy chưa có thể nói là đạt được kết quả mỹ mãn, bà thừa hiểu điều đỏ. Nhưng hãy xếp vấn đề đó lại. Bà thấy nội vụ như thế nào, hay nói cho đúng hơn, nội vụ diễn tiến ra sao?”

Ông chắp tay nhìn Julia, mơ màng, ông không quan tâm mấy đến câu chuyện vừa vô ích, vừa chán ngắt. Chẳng ai có thể cứu Ernst Deutschmann được nữa. Có lúc ông tự nhủ, người đàn bà này làm ông mất thì giờ. Nhưng… bà ta xinh xắn, lịch sự, dám can đảm. Tóm lại là đẹp. Một vẻ quyến rũ đặc biệt của trí thông minh, nghị lực và niềm tuyệt vọng, ông thấy hơi ghen với Ernst Deutschmann và tự hỏi :

“Đối với một người đàn ông thì còn đòi hỏi gì hơn nữa?. Nếu chồng bà chết ở Tiểu Đoàn trừng giới thì bà ta sẽ ra sao?”.

Vừa tìm kiếm những câu để thuyết phục cho nàng thấy nỗ lực của nàng vô ích, ông nghĩ rằng nàng sẽ là một góa phụ xinh dẹp. có điều chắc không phải là góa phụ tươi vui như người ta thường nói.

Ông bắt đầu nói:

– “Thưa bà, cần phải đặt mình vào quan điểm của chúng tôi. Chồng bà nhận được lệnh gọi nhập ngũ hôm trước thì hôm sau lâm bệnh ngay. Sau đó, người ta khám thấy ông ấy đã tự chích mủ một người bệnh sắp chết vào mình, lấy cớ là để thử xem hiệu quả một chất trị độc do ông ấy tìm ra. Một vết thương làm độc do vi khuẩn Staphy-Locoque vàng gây ra như loại đó, đòi hỏi phải nghỉ dưỡng sức vào khoảng một năm và lẽ dĩ nhiên, bất lực về quân dịch”.

Ông ta nói thong thả, dằn từng tiếng. Julia không nói gì. Ông tiếp tục:

– “Ông ấy biết mà chúng tôi cũng biết rằng: sự làm độc như vậy thường là chết và đã có hàng ngàn người chết vì nó trong cuộc chiến tranh này. Tuy nhiên tôi không muốn buộc cho ông ấy là có ý định tự tử. Rất có thể ông ấy tin rằng mình đã tìm ra…thí dụ một thứ huyết thanh nào đó…và rồi giống như mấy người…hà…hà…cuồng tín hay anh hùng khoa học, ông ấy muốn thí nghiệm ngay trên bản thân. Đó, vì sao mà tôi lại nói có thể có sự lầm lẫn…lầm lẫn ở điểm ông ấy tự hủy không phải vì muốn tránh quân dịch, mà vì sự ngộ nhận đáng tiếc. Tuy nhiên, tại tòa án quân sự họ đâu có cứu xét đến những điều như vậy, Người ta chỉ chú ý đến việc ông ấy tự làm cho bất lực với nhiệm vụ quân dịch. Và chỉ có điều đó là quyết định.

– “Nhưng… tôi tin chắc về công việc của anh ấy, tôi thường xuyên có mặt và tôi biết anh ấy đang đi đúng phương pháp. Chứng tôi có rất ít thời gian, cần phải làm gấp…”

– “Cá nhân tôi, tôi nhìn nhận điều đó có thể thành tựu. Nhưng một vị quan tòa thì khác. Tôi đã từng nói với bà: hiện nay không có một thứ thuốc nào thật hiệu lực chống lại sự làm độc đó. Và tôi xin được phép nghi ngờ rằng, chồng bà, dù tài ba mấy đi nữa, khó có thể một mình tìm ra được thứ mà bao nhiêu nhà khảo cứu cố gắng tìm tòi vô ích trong bao nhiêu năm nay. Đó là điều tôi tuyên bố trước tòa. Tôi đã tin tưởng chắc chắn như vậy và hiện tôi vẫn duy trì niềm tin đó. Tôi đâu có thể làm gì hơn được. À mà bà đã tìm cách xin tái thẩm chưa?”

– “Dạ, đã”

– “Thế sao?”

– “Người ta nói với tôi… một nhân viên trong đội phòng vệ SS đã nói với tôi rằng (nàng ngập ngừng nửa như sợ những câu sắp nói, nửa như nhớ lại người đã nói câu đó nếu có vụ tái thẩm hồ sơ của Deutschmann thì kết cục sẽ là cái án tử hình.”

Hai người cùng im lặng. Bác sĩ Kukill đốt điếu thuốc lá và hỏi:

– “Loại nhân viên phòng vệ SS nào đó?”

Julia nhún vai không trả lời.

– “Bây giờ bà tính sao?”

Nàng nhìn ông ta bằng cặp mắt đen lo ngại, rồi hỏi lại bằng giọng run run:

– “Vậy không còn cách nào nữa sao?”

Nàng đứng dậy, vòng quanh bàn, nắm lấy cánh tay ông bác sĩ. Ông ta ngồi yên, e ngại, và dù sao mặc lòng, ông cũng thấy cảm động về nỗi đau khổ và tuyệt vọng của nàng..

Julia khẩn khoản:

– “Ông có thể làm được chút gì… Chắc chắn ông có thể làm được… Tôi van ông. Tất cả đều trông cậy ở ông, tôi biết… ông có thể bảo là có truyện lầm lẫn… thế là anh ấy được trở về với tôi… Lạy trời… Tôi xin khẩn cầu ông, ông hãy giúp tôi…”

Ông ta cố gắng trấn tĩnh nàng, nhưng biết rằng nàng không nghe ông, mà nàng cũng không tin rằng đối với Ernst thế là hết, nàng chẳng có thể làm được gì cho chồng, một khi hàng ngũ Tiểu Đoàn trừng-giới đã nuốt gọn anh ta. Ông cho nàng biết, chính ông cũng không thể làm gì hơn và nhìn nàng yên lặng. Ông tự nhủ nàng có một sắc đẹp khiến người ta phải tôn thờ. Nỗi đau đớn và tuyệt vọng không ảnh hưởng gì mà chỉ làm cho mặn mà thêm. Rồi chợt một ý định thoáng qua trong đầu sẽ không để Deutschmann trở về với nàng nữa.

Julia đột nhiên cất tiếng, không để ý tới người đàn ông trước mặt đã bị xúc động, đứng lên và nghiêng mình xuống nhìn nàng:

– “Còn, vẫn còn một điều có thể làm được. Tôi đã tham dự trong mọi cuộc thí nghiệm của anh ẩy. Tôi còn giữ tất cả những điều anh ấy ghi chú. Tôi sẽ theo đuổi công trình của anh ấy. Tôi sẽ tiếp tục các cuộc thí nghiệm đó, nếu cần, tôi sẽ thí nghiệm ngay trên mình tôi “

Bác sĩ Kukill thốt lên:

– “Trời đất!”

– “Tôi sẽ chứng mình rẳng anh ấy có lý. Và người ta sẽ cho anh ấy trở lại đề tiếp tục làm việc. Và…”

– “Thưa bà, tôi xin bà. Đừng làm thế, chắc chắn bà sẽ chết”…

Một kiểu làm ăn

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Phần 2

Hồi Tết năm ngoái, tôi được hân hạnh ra nghỉ mát ở Vùng Tàu trong 24 tiếng đồng hồ. Phút vui quá ngắn ngủi, bởi vậy tôi tìm mọi cách để tận hưởng thời gian đổi gió. Đến 2 giờ trưa, tôi còn ngồi ở Bãi Sau, gần cái chỗ gọi là Eo Quắn. Buồn lắm. Buổi trưa ít gió, hơi cát bốc lên ngùn ngụt. Mấy chiếc ghe lưới đã về bến tự bao giờ. Trong quán giải khát, tôi ngồi trơ trẽn. Ông chủ quán tắt máy radio cho đỡ tốn điện rồi nằm lim dim. Mặt biển xanh cham, lấp lóe ánh nắng, tôi ngả lưng xuống chiếc ghế xếp tìm cách giết thời giờ. Khi hết tiền bạc, hết tình yêu (tình trai gái) thì con người chỉ còn một cách để giải trí, đó là đùa giỡn với bộ óc, với ký ức của mình. Tôi mỉm cười một mình, tâm tư hướng về miền Thất Sơn xa xôi. Ở đây, có vô số “ô”. Nào ô Lâm, ô Đùng, ô Chat. Ô tức là con suối nhỏ, theo tiếng Miên. Ở đây, đúng ra đồng bào nên mạnh dạn xác nhận, nói rõ ràng: Ô Quắn thay vì Eo Quắn. Mình về Sài-Gòn, viết một bài nho nhỏ đăng trên nhật báo, giải thích tiếng “Ô” cho độc giả nghe chơi. Phía sau lưng tôi, có tiếng ngáp dài. Đó là ông chủ quán. Tôi gợi chuyện:

– Ở đây buồn quá. Chắc là ít khách.

Ông ta trả lời:

– Lai rai vài người, nhứt là buổi trưa.

– Ủa! Nãy giờ chỉ một mình tôi. Còn ai đâu nữa?

– Kìa! Thí dụ như hai người đó. Họ vô đây, lát nữa.

Tôi chụp cặp kiếng cận thị, mang lên để nhìn ra xa. Đúng như lời ông chủ quán, đằng kia, dưới ánh nắng chang chang, một người bụng bự và một cô gái “đợt sóng mới” đang ngồi kề nhau, rồi cô gái ngả đầu vào ngực người bụng bự. Mắt tôi sáng lên. Anh chàng bụng bự đó dường như quen thuộc, đã gặp mặt tôi, bắt tay tôi và mời tôi uống cà phê, hút thuốc nhiều lần ở Sài-Gòn. Anh ta là Xìn Phóc. Vì tò mò “khảo cổ”, tôi hỏi anh ta Xìn Phóc chữ viết ra sao, là nghĩa gì? Anh ta viết lên giấy hai chữ Thần Phước.

Kìa kìa! Cô gái xinh đẹp, tuổi độ trăng tròn đang vuốt ve Xìn Phóc. Tức giận quá! Gương mặt cô ta trông cũng khá thông minh. Nhưng mà… Xìn Phóc chỉ là gã chuyên nghề bán a giao, mài dao cắt giấy cho nhà in. Hằng ngày, hắn đạp chiếc xe máy cũ, chạy khắp các nhà in để tìm mối. Hắn đem lưỡi dao lụt và a giao cũ về phía Chợ Lớn để rồi vài ngày sau, trao lại cho nhà in mớ a giao sạch sẽ hơn, cái lưỡi dao bén hơn. Để quí vị độc giả hiểu rõ, tôi xin mạn phép giải thích: a giao dùng để làm ống lăn mực in, lưỡi dao cắt giấy khá to giống như dao của máy chém, phải mài bằng máy mới đều đặn. Tóm lại, mỗi ngày Xìn Phóc kiếm được 100 đồng tiền huê hồng mà thôi.

Một chiếc xe hơi kiểu mới nhất đậu từ lúc nào bên lề đường cái. Phải chăng xe của Xìn Phóc? Hay là anh chàng bụng bự đang làm công việc mùi mẫn ấy là anh hoặc em ruột của Xìn Phóc? Tôi không dám vẫy tay chào. Giữa tôi và Xìn Phóc đâu cần xã giao vớ vẩn. Là bạn thân, từng uống cà phê bình dân với nhau, tôi có đủ tư cách để cười reo và khuấy rối giờ phút nô đùa của anh ta mà.

Hai người từ từ đứng dậy, phủi cát trên quần áo, tiến vào quán. Xìn Phóc reo:

– Thầy Hai! Nãy giờ ngồi đó hả? Sao không kêu tôi?

Tôi đáp nhanh:

– À!… Ông chủ! Ra hồi nào? Chừng nào về?

Xìn Phóc gật đầu:

– Đi xe nhà. Chiếc xe của tôi mới mua. Còn cô này là bạn mới quen. Ngoài kia, nắng quá. Tôi muốn vô quán nhưng sợ gặp người quen… Dè đâu… Thôi! Mời Thầy Hai uống rượu. Đừng kêu tôi là ông chủ.

Cô gái khoác tay, gọi anh chiêu đãi viên:

– Cho tôi một chai “bia lây”!

Rồi xít ghế ra xa, day mặt về phía mặt trời mọc, tức là phía Long Hải, giữ thái độ kẻ xa lạ, đứng ngoại cuộc.

Xìn Phóc cười tươi, nói rỉ vào tai tôi:

– Thầy Hai nhớ cô này không? Lúc trước đứng bán hàng ở “cu loa Ê Đen”. Bây giờ thì về làm thơ ký cho hãng xuất nhập cảng của bạn tôi. Học tới bằng cấp Tú Tài đó.

Tôi đáp:

– Anh giỏi quá. Lập hãng hồi nào? Mấy tháng rồi, anh làm ăn ở xứ nào mà mau giàu quá vậy? Đi Hồng Kông? Đi bên Lào? Đi Nam Vang?

Xìn Phóc lắc đầu:

– Ở Chợ Lớn hoài mà.

– Làm nghề gì vậy? Trúng số độc đắc?

Anh ta im lặng hồi lâu:

– Tôi đâu có mua giấy số.

– Hay là anh buôn lậu?

– Làm ăn đàng hoàng mà! Tôi đố thầy Hai nói trúng cái nghề của tôi. Hay lắm.

Tôi ngả lưng, thở dài. Từ lâu rồi, tôi cam phận làm mướn, ăn tiền ngày, ăn tiền tháng. Thỉnh thoảng tôi nghe vài người bạn chạy “áp phe” thuật lại vài mánh khóe kinh tài của giới Hoa thương. Thôi thì phen này tôi đành chịu dốt để nghe lời giảng giải của Xìn Phóc.

Cô gái đợt sóng mới ngậm cái ống giấy, nút một hơi nước ngọt rồi trợn mắt liếc qua tôi. Tôi chép miệng. Cô ta trông đẹp quá. Đẹp nẩy lửa. Nhờ có xe hơi, nhờ đóng vai chủ nhân mà Xìn Phóc rinh cục lửa đỏ ấy quá dễ dàng, chẳng phỏng tay. Trong giây phút, tôi buồn rười rượi. Còn lâu lắm – hoặc chẳng bao giờ tôi mới gặp một người tình nhân như cô ta. Tôi nhớ đến câu hát “Tiếc thay cây quế giữa rừng” hoặc “Vợ khôn lấy thằng chồng dại”. Phải chỉ cô ta là nữ chiêu đãi viên thì cũng dễ hiểu. Đằng này, cô ta đậu Tú Tài, nghĩ thiệt là uổng.

Cô ta phùng mang, thổi mạnh vào cái ống giấy. Mớ nước cam trong ly lại sôi ùng ục. Trông dơ dáy quá. Tôi đã hiểu: Cô ta muốn phản đối hiện tại, xem thường vũ trụ. Tôi hơi buồn. Cô ta tự dối lòng. Nếu phản đối hiện tại thì tại sao cô ta nhận lãnh tất cả tiện nghi của hiện tại.

Xìn Phóc gọi đem đến hai con cua lược, ăn ngấu nghiến hai cái càng, mời tôi luôn mồm:

– Ăn chơi mà thầy Hai. Thầy Hai chưa tin tôi à?

– Tôi chịu thua rồi.

– Bây giờ tôi nói thiệt cho thầy Hai biết.

Làm sao Xìn Phóc dám nói thiệt công cuộc làm ăn trong thời gian qua? Nói với một người… viết báo, anh ta phải giữ bí mật chớ. Anh ta nheo mắt, rót rượu vào ly cho tôi:

– Tôi làm ăn đàng hoàng mà. Hơi giống công việc làm ăn của người đi ngoại quốc, người buôn lậu, nhưng không có luật lệ nào ngăn cản tôi. Tôi nói ra cho thầy Hai nghe. Tôi không sợ ai cười. Người nào muốn bắt chước như tôi thì cũng khó gặp “cái dịp may”.

Thế rồi Xìn Phóc kể thao thao bất tuyệt công việc làm ăn của anh ta trong thời gian qua, đại khái như sau:

Một hôm, anh ta qua Khánh Hội, khu vực thương cảng, nơi có hàng chục cái kho hàng to lớn cất dài theo mé sông Sài Gòn, từ kho 1, kho 2, đến kho 10… vân, vân.

Xìn Phóc vừa đi, vừa nhìn vào một kho hàng – mà anh ta tạm giấu tên – Cửa kho hàng mở rộng. Anh ta tò mò dừng lại để biết kho hàng là cái gì? Bên trong kho hàng ra sao? Chiếc xe hơi từ ngoài đường cái chạy đến sát cửa kho hàng. Một ông Tây bước xuống, vào kho, theo sự chỉ dẫn của người Chà gác dan.

Lát sau, ông Tây trở ra đường cái, cầm trên tay một món kỳ lạ, gói giấy.

Ông Tây hút thuốc phì phèo, ra vẻ suy tư. Hồi nào đến giờ, Xìn Phóc làm ăn ở phía Chợ Lớn, Bình Tây, lăn lóc trong ngành tiểu thương, tiểu công nghệ nên anh ta tò mò muốn tìm hiểu công việc của giới thương cảng.

Đôi mắt đục ngầu của ông Tây nhìn thẳng Xìn Phóc. Ông ta nói tiếng Việt khá rành rẽ.

– Ông chủ…

Xìn Phóc cười hề hề:

– Ông chủ. Ông chủ bán cái gì?

Ông Tây nói dồn:

– Bán cái này! Khổ quá! Thứ này chắc là quăng bỏ.

Nói xong, ông Tây mở miếng giấy gói bên ngoài. Đó là một cái hộp sữa bò, có dán nhãn. Nhãn sữa đã tróc hết phân nửa, hoen ố màu sét (rỉ).

Bàn tay Xìn Phóc từ từ đưa tới về phía ông Tây như thầm nói:

– Xin lỗi, ông cho tôi coi thử!

Ông Tây nọ tỏ ra lịch thiệp, trao hộp sữa cho Xìn Phóc:

– Biết cái gì không?

Xìn Phóc cười:

– Biết chớ sao không biết! Ông hỏi thiệt hay hỏi chơi?

– Biết cái gì? Nói thử cho tôi nghe.

– Dạ, hộp sữa bò mà. Có dán cái nhãn. Thứ sữa này bán lẻ 10 đồng năm cắc.

Ông Tây lắc đầu:

– Nhưng mà… bán không được. Anh tính coi, một kho như vậy đó, mấy trăm ngàn hộp, cũ mèm, hôi hám qua, tôi tính quăng bỏ.

Thiệt là… ngàn năm một thuở. Xìn Phóc thấy chập chờn trước mắt một khung cảnh náo loạn. Hàng ngàn người chen chúc, giành mua cho kỳ được. Những tiệm cà phê lớn ở Chợ lớn, ở khắp miền Nam, miền Trung, từ tỉnh lỵ đến quận lỵ. Mùi cà phê bốc lên, tiếng guốc kéo lết nghe lốp cốp. Những chiếc ghế đẩu đen bóng. Và tiếng phổ ky nói có ca có kệ: Tống mạnh. Cà phê tống dách. Bạc tẩy xỉu phé. Dách cô xây cá nại…

Anh ta đưa hộp sữa lên mũi, hửi thử rồi nói với ông Tây:

– Sữa này chắc là mua lâu ngày rồi! Uống được không? Đem cho con nít bú…

Ông Tây nọ lãnh nhiệm vụ quản lý kho hàng từ lâu nên tỏ ra dè dặt. Đó là những thùng sữa bò, chồng chất hai năm qua trong kho mà không ai thèm lãnh. Người nhập cảng sữa đã bị phá sản, lúc sữa vừa cặp bến nên không chạy tiền kịp. Nhưng lý do chánh vẫn là sữa nọ bị hư, biến chất khi cặp bến: Lúc chở chuyên, sữa bị ẩm ướt vì hầm tàu thiếu tiện nghi; sữa chịu đựng sức nóng của hầm máy quá lâu ngày nên đặc lại! Ông Tây giữ kho chẳng thèm trình bày “lý đó kĩ thuật” nói trên cho Xìn Phóc biết, vì anh ta là người chưa quen thân. Tạm thời, ông muốn tống khứ số sữa hư hao ấy để kho hàng thêm chỗ trống trải. Theo luật vệ sinh, ông ta phải mướn bọn lao công, vác sữa xuống ghe, chở ra tận phía Nhà Bè, thật xa thương cảng để quăng bỏ xuống sông. Nếu bỏ quá gần, ông ta bị phạt. Ngày lại ngày qua, từ hai tháng rồi, mớ sữa biến chất ấy bốc mùi tanh hôi khó chịu. Ông đã mở vài thùng, xem kỹ: hộp đã sét, sữa chảy ra sền sệt, vừa chua, vừa dơ bẩn, chẳng ai đủ can đảm sờ vào hoặc đưa lên mũi hửi thử!

Xìn Phóc nói khẽ:

– Ông bán cho tôi vài hộp… đem về xài thử!

Ông Tây trố mắt:

– Giỡn sao chớ! Anh đem về uống sao? Coi chừng di cầu sáng đêm. Con nít uống chết…

Xìn Phóc đáp:

– Tôi đem bán.

– Điều đó, tôi chẳng dám bảo đảm. Anh ở tù chừng 10 năm về tội bán sữa bò hư. Nghe chưa.

Gương mặt Xìn Phóc vẫn lạnh lùng:

– Tôi muốn mua. Chẳng hay ông chủ muốn để lại cho tôi với giá nào? Bao nhiêu một hộp? Sau một thoáng suy nghĩ, ông Tây quản lý kho hàng tỏ vẻ bằng lòng. Nếu người Hoa Kiều này chịu mua, ông ta được thêm một số tiền bỏ túi, thay vì xuất tiền ra để mướn nhân công dọn dẹp số hàng hóa mất vệ sinh còn tồn trữ trong kho.

– Một đồng một hộp! Tôi bán tất cả số sữa trong kho, mỗi thùng 48 hộp, tất cả hơn 10.000 thùng.

Xìn Phóc gật đầu:

– Tất cả 480.000 hộp! Mỗi hộp 1 đồng, gần nửa triệu đồng. Nhiều quá. Ông chủ bớt vài cắc một hộp. Tôi hứa…

Vốn là một tay cáo già, ông Tây giữ kho thừa hiểu; tên Huê Kiều này đã làm bài toán xong xuôi. Và đây là một cái “áp phe” lớn. Nhưng ông Tây chỉ đoán chừng:

– Anh mua về… nuôi heo hả? Coi chừng heo mang bệnh.

Xìn Phóc lắc đầu:

– Đâu có nuôi heo. Đem về xài mà.

– Mua về tháo cái lon ra để bán sắt vụn hả? Lon hư rồi. Bộ anh khùng hả? Tôi không bảo đảm rằng lon còn nguyên.

Xìn Phóc mỉm cười:

– Ông chủ… chưa hiểu tôi. Bây giờ thì xin ông chủ cho biết giá cả rõ ràng, cách thức chở chuyên.

Rốt cuộc, ông Tây giữ kho lên giá, và đưa ra vài điều kiện khó khăn. Linh tính như báo trước cho ông biết rằng với 10.000 thùng sữa kia, tên Huê Kiều sẽ làm giàu to. Theo sự thoả thuận chung, đúng 4 giờ chiều hôm ấy, Xìn Phóc phải trả tất cả số tiền, mỗi hộp sữa là một đồng một cắc, thay vì một đồng chẵn. Xìn Phóc phải đem xe cam nhông tới cửa kho hàng và xuất tiền túi ra để mướn phu khuân vác…

°

Kể chuyện tới đó, Xìn Phóc liếc nhìn cái đồng hồ tay:

– Chiều nay về Sài Gòn.

Tôi luyến tiếc câu chuyện sữa bò của anh ta:

– Mua sữa về làm gì? Nhờ đâu mà anh sắm chiếc xe hơi và… cưới vợ?

– Tôi đố thấy Hai biết. Thí dụ như gặp “áp phe” sữa bò trong kho của Tây, thầy Hai dám mua không?

Tôi lắc đầu. Làm sao mà chế biến loại sữa hộp ấy trở thành xe hơi và gái đẹp cho được. Bấy lâu, tôi nghe nhiều thủ đoạn đầu cơ, buôn lậu nhưng trước bài toán sữa hư này, tôi đành chịu thua Xìn Phóc.

Anh ta rút điếu thuốc Lucky, hút phì phà:

– Tôi vô Chợ Lớn kiếm anh em bán. Lúc đó, làm gì tôi có nửa triệu đồng bạc vốn. Anh em bạn trong Chợ Lớn mê tôi qua, sau khi nghe tôi làm bài toán.

Tôi hỏi gắt:

– Mua sữa về làm gì?

Xìn Phóc thích chí, nói to, cố ý khoe tài cho người đẹp nghe:

– Tôi đố thầy Hai!

– Thì tôi chịu thua rồi.

– Nè, sữa hư đó đem vô Chợ Lớn, bán cho mấy người làm bánh sữa, bánh ngọt trong tiệm nước, bánh sữa khô, vô hộp. Mê chưa! Từ trước, mấy ông chủ tiệm mua sữa thứ rẻ, chừng 8 đồng một hộp, đem về trộn với đường, với bột mì. Bây giờ, tôi bán cho họ sữa hư, với giá 4 đồng một hộp. Nghĩa là một hộp tôi lời chừng 2 đồng tám cắc, trừ mọi sở phí, nhơn cho nửa triệu hộp… Cũng vậy thôi! Sữa hư đem về hấp cho chín, ăn cũng ngọn, cũng béo.

– Hay quá!

Xìn Phóc đứng dậy, tiếp lời:

– Vui lắm. Đem sữa về tới Chợ Lớn là tôi bán lẹ như diều! Mấy ông chủ tiệm bánh ngọt tới bao vây tôi, đòi mua cho thiệt nhiều.

Mấy ông lời 4 đồng một hộp mà. Vài ngày sau, bạn bè ở Chợ Lớn rũ tôi lập “công xi”. Tôi lắc đầu vì đâu còn áp phe thứ nhì giống hệt như vậy được. Rồi hai ba tháng sau, mấy người bạn ở Sóc Trăng, ở Đà Lạt, ở ngoài Huế vô Chợ Lớn kiếm tôi, nài nỉ mua thứ sữa hư đó. Họ dám mua tới giá 5 đồng một hộp, họ năn nỉ tôi để họ đặt tiền cọc. Tôi từ chối.

Xìn Phóc và cô gái lên xe. Tôi ngồi một mình trong quán. Bãi biển chiều hôm bắt đầu rộn rịp. Tôi nghĩ đến những “áp phe” luôn luôn xảy ra trong xã hội. Tôi thất bại trên trường đời vì tôi thiếu “nhãn quang thương mãi”.

Năm sau, tôi lại gặp Xìn Phóc tại tòa soạn báo Con Vịt. Anh ta chúc mừng, khuyên tôi cố gắng… về mặt văn nghệ rồi mời tôi lại quán uống la ve. Tôi nhận lời. Xìn Phóc cho biết công việc làm ăn của anh ta dạo này… khá lắm.

Tôi hỏi:

– Còn cô hồi năm ngoái?

Xìn Phóc đáp:

– Đi rồi. Mình kiếm cô khác chớ. Bữa nào thầy Hai rảnh, đi Cấp với tôi một chuyến. Tôi dẫn theo cho thầy Hai một cô.

Vừa nâng ly rượu, Xìn Phóc vừa liếc mắt về tòa soạn báo Con Vit. Ông quản lý nhà báo đang mang kiếng, ghi chép. Vài người lao công vác hì hục những chồng báo bán ế, chất trên cái cân.

Xìn Phóc nói:

– Báo bán nhiều quá hả?

Tôi giật mình nói chua chát:

– Bán ế… bởi vậy mới còn dư nhiều. Bởi vậy ông chủ mới bán “ve chai” nhiều như vậy. Ủa Xìn Phóc mua giấy báo ế?

– Làm ăn mà. Gặp đâu làm đó.

– Giống như mua sữa hộp!… Cái chuyện sữa hộp mà Xìn Phóc nói cho tôi nghe hồi ở ngoài Cấp?

Xìn Phóc gật đầu, tôi hỏi:

– Mua về bán cho thiên hạ gói đồ!

– Ừ. Nhưng bán như vậy dở lắm. Tôi mới lập một cái lò nấu giấy súc. Thứ giấy đó, bán chạy lắm. Bình dân xài nhiều, bán để xài đủ chuyện.

Tôi đưa tay làm dấu hiệu để hỏi riêng Xìn Phóc. Loại giấy súc được chế tạo bằng giấy báo cũ và bông gòn (gòn ta, gòn dồn gối). Các cô các bà thuộc đợt sóng cũ dùng loại giấy ấy làm giấy… vệ sinh, mỗi tháng một lần, thay cho loại “khăn vệ sinh đắt tiền”. Và mấy người chết, nằm trong hòm, thường được tấn được ém bằng giấy súc… để khỏi trở mình dưới ba tấc đất.

Tôi thở dài, nói gượng, nốc cạn ly rượu.

– Vài tháng nữa, Xìn Phóc thành tỷ phú rồi!

Con gà què

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by6 Sơn râu 23 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Đã trưa rồi, đại lộ Lê Lợi không còn tấp nập ngoại trừ công trường Diên Hồng. Trước những biến cố dồn dập, lộn xộn, Tấn đã lựa chọn cho mình một thái độ: về nhà nằm nghỉ, vặn máy radio, ăn cơm, đọc tiểu thuyết cho qua ngày qua tháng. Ai làm gì thì làm, mình cứ giữ phận mình. Nhưng lương tâm của hắn dường như ray rứt… Phận mình là cái quái gì? Thân phận người dân nhược tiểu, thân phận của thế kỷ thứ hai mươi, của nhân loại chăng? Hay là số phận “bi đát” mà bình thường vài người đã rêu rao? Bên Pháp, có không khí bi đát, còn bên Việt Nam mình? Lại còn hàng chục danh từ triết học; nào phi lý, nào bản thể luận, nào cái tôi, cái ta! Tấn đứng hút thuốc trên hè phố… vầng trán nhăn nheo… suy tư để tìm một tư thế ổn thỏa nhứt, khỏe khoắn nhứt, có lợi nhứt… cho cá nhân mình, lúc mất trật tự ngoài xã hội.

Mấy khung cửa sắt bắt đầu kéo ra, đóng kín cửa tiệm. Người kéo cửa lại là một cô gái mặc áo dài, phấn son lộng lẫy. Mãn giờ làm việc cô ta đảm nhận “công tác” cực nhọc ấy, trước khi về nhà. Đôi tay cô ta gầy yếu quá, lần hồi cánh cửa cũng tháo ra. Ngoài đường mấy anh bán hàng “la” đang hối hả thu dọn nào vớ, nào kiếng mát, nào bột giặt quần áo. Người qua lại ngoài đường dường như đang lo âu về vấn đề khác.

Hồi lâu, Tấn hơi nhột nhạt: Còn gì hổ thẹn cho bằng đứng lì đó, suy tư về thế giới siêu hình để bào chữa cho thân phận ích kỷ của tên vô danh sống trong thế kỷ bi đát như… ta đây?

Tấn nhớ đến lời nói văng vẳng của nhà hiền triết nào đó: 

– Suy nghĩ… tức là hành động!

Ngụy biện quá. Giờ phút này, nếu thốt câu nói “cao xa” ấy ra, chắc thiên hạ sẽ bịt mũi mà đi qua. Tấn chép miệng, cố gắng hút cho trọn cái tàn thuốc cay đắng đang cháy dở trên môi. Nhựa thuốc điếu dường như có tác dụng an thần, “thống chỉ an miên” như khói thuốc phiện. Tấn ngáp dài, bước lủi thủi, tự an ủi:

– Bước tức là hành động, là hành động tích cực để trốn lánh.

Giữa trưa, nắng gắt. Động cơ xích lô máy, xe gắn máy nổ giòn, tuôn khói mù mịt. Tấn cho rằng đó là hình thức siêu thoát:

– Có lẽ họ lựa chọn thái độ chạy nhanh về nhà để lo hủ gạo như mình. Nhưng tại sao mình bơ vơ? Giữa họ với mình không có mối thông cảm gì ráo!

Đôi chân của Tấn cứ di chuyển như chân của con cua (nói theo triết học). Nhưng Tấn vẫn là con cua có dục vọng của con người. Đến ngã tư đường, Tấn dừng lại, vuốt sau cổ rồi đưa mấy ngón tay ra xem. Đen những bụi. Đau xót quá. Mới hơn ba mươi tuổi đầu mà Tấn ngỡ mình là một chánh khách lão thành hồi thời Đông kinh Nghĩa Thục, giờ đây đã về hưu, mang mề đay “yêu đất yêu nước”, sống ngày hai buổi một cách khỏe khoắn, thong dong nhờ mờ hôi và máu của đoàn trẻ hậu tiến!

– Lên xe thầy! Lên về gấp!

Tấn giật mình, trở lại thực tế. Anh phu xích lô đạp vừa bóp chuông vừa mời. Chiếc xe số 0001, quen thuộc quá, từ năm sáu tháng qua. Tấn đi trên chiếc xe này hàng trăm lượt. Ngồi trên cho người ta chở thì đúng hơn. Anh phu xe vẫn tươi cười, gương mặt đen xạm, mái tóc cứng như rễ tre. Chưa chi, anh ta đã nhảy lên yên:

– Về thầy!

Tấn mỉm cười:

– Bữa nay, tiền bạc hơi yếu.

– Cứ lên. Tôi với thầy mà. Tiền bạc gì, chừng nào cũng được.

Vừa lúc ấy, một cô hơi lớn tuổi, mặc váy đầm, đeo nhẫn hột xoàn thứ thiệt bước tới. Cô ta thấy xe không có khách nên nhướng mắt:

– Đi về phía Ca-ti-na!

Anh phu lắc đầu:

– Cảm ơn. Ông này sửa soạn đi mà. Xe neo.

Cô nọ bĩu môi, bước vài bước rồi lại day lại với đôi mắt hờn giỗi. Tôi nói:

– Sao anh không chở cô đi?

– Tôi chờ thầy. Nhứt định tôi chở thầy về nhà. Mời thầy. Ở đây làm gì nữa. Tôi muốn nói chuyện riêng.

“Chuyện riêng” là chuyện gì? Tấn mãi ôn trí nhớ. Anh ta đẩy xe tới. Tấn lên ngồi. Chiếc xe quay trở lại, theo con đường thường lệ về nhà Tấn mà anh ta hiểu quá rành: Đường Phạm Ngũ Lão.

Bánh xe cứ lăn. Tấn cau mày. Anh này muốn mượn tiền chăng? Từ mấy tháng trước, anh ta làm quen với Tấn, hỏi han về nghề nghiệp của Tấn. Tấn nhớ rõ anh ta đã vô tình hay cố ý nói:

– Thầy làm một tháng chừng bao nhiêu? Gia đình như thế nào?

Tấn vui miệng, trả lời:

– Chừng chín mười ngàn. Tôi nuôi một mình “ên” tôi.

Bấy giờ anh ta khen ngợi Tấn là kẻ tốt số. Sẵn dịp, anh ta nhìn Tấn là kẻ đồng hương:

– Thầy ở miệt Bạc Liêu hả?

Tấn hỏi ngược lại:

– Sao anh biết?

Anh ta nói chậm rãi:

– Ở xứ mình, thiên hạ ưa nói một mình “ên” nghĩa là một mình mình.

Rồi anh ta kể qua phong cảnh thơ mộng vùng duyên hải Bạc Liêu, bãi Vĩnh Châu. Nào ruộng muối, nào vườn nhãn. Nhứt là ruộng muối. Ông chủ ruộng muối Bạc Liêu là người Việt Nam đầu tiên dám xuất tiền túi để mua máy bay, bay dạo chơi. Ông ta mướn một phi công người Pháp, cho ăn lương tháng, hồi bốn mươi năm về trước.

Tấn đã phụ họa thêm:

– Nghĩ cũng hãnh diện. Làm dân bị mất nước mà ông chủ ruộng muối ấy lại sống sang trọng hơn Tây, mướn người Tây làm đầy tớ ngược cho dân bản xứ…

Đến ngã tư, xe quẹo. Anh phu đạp chậm rãi, sát bên lề. Anh ta hỏi:

– Trưa nay thầy nghỉ ở đâu thầy?

Tấn giựt mình:

– Về nhà. Sao anh lạ vậy? Mấy ngày này chộn rộn… ra ngoài đường dạo chơi vớ vẩn, rủi bề gì tai bay họa gởi…

Anh ta nói:

– Phải chỉ thầy rảnh…

Tấn hơi hồ nghi. Chiếc xe cứ lướt tới. Đến gần đầu ngõ hẻm X… anh ta tự ý ngừng lại. Thật là mất lịch sự. Đúng ra, trước khi muốn ngừng xe vô cớ ở dọc đường, anh ta phải báo hiệu trước, xin phép người thân chủ đang ngồi trên xe. Nếu là ban đêm, có lẽ Tấn vụt chạy, nghĩ đến trường hợp anh phu xe này liên lạc với bọn bất lương. Bọn họ sẽ ào tới, giả bộ đánh anh phu xe rồi thừa cơ giựt hầu bao của Tấn.

Nhưng bây giờ là ban ngày. Anh nọ muốn điều gì?

Tấn day lại, nghiêm mặt. Anh ta cứ ung dung ngồi trên yên, hai chân ngừng đạp, tay thì thò vào túi áo trên của mình, rút ra một gói thuốc Lucky:

– Mời thầy!

Tấn đáp:

– Ủa! Cám ơn. Tôi hút rồi.

Anh ta nói miên man:

– Hút rồi… chết cũng sướng. Lát nữa, tôi nói cho thầy nghe.

Tấn hợi phập phồng. Tại sao giữa ngày “bất an” mà anh ta bàn chuyện chết? Đành rằng ở miền đất tự do mọi người đều tha hồ mua sắm, hưởng thụ nếu mình có tiền, nhưng trường hợp hút thuốc thơm, mỗi gói 28 đồng, mỗi điếu 1 đồng 4 cắc thật là đáng hồ nghi. Hút để chết? Ai giết mà anh ta chết?

Tấn nói nhanh:

– Chuyện gì mà chết sướng. Xưa nay, chết là khổ bởi vậy con người ai cũng ham sống, thà sống khổ còn hơn chết sướng. Anh nói nghe lạ quá.

Anh ta im lặng, hồi lâu mới nói mơ hồ:

– Bây giờ chưa nói được. Nói ra sớm, tôi sợ thầy phiền. Lát nữa gần tới nhà của thầy, tôi nói sau.

Tấn đâm ra sợ sệt. Hay là anh này toan rủ Tấn làm chuyện phi pháp. Tấn đặt ra trong tưởng tượng hai trường hợp vào tù: một là mua dâm, bị bắt quả tang, hai là làm quốc sự, bạo động. Anh phu xe vừa đạp, vừa ca vọng cổ, giọng ca khàn khàn, lời ca quá xưa đâu từ hồi mồ ma thực dân, lúc cô ba Bến Tre còn hát đủ 20 câu trong dĩa hiệu Béka:

– Tôi khóc đã lắm phen rồi… Sao mà hồ lệ nó chưa có được vơi, tim tôi nát tan mà tâm sự đắng cay càng thêm cay đắng…

Nghi ngờ gì nữa. Tấn đoán chắc anh phu xe muốn dắt mối, đưa người bạn đồng hương vào một ổ mãi dâm. Mấy ngày này, có lẽ nhân viên kiểm tục ít hoạt động. Một số ít phu xe đã chịu mối với các mụ Tú bà, hễ đưa khách đến, anh phu xe hưởng số tiền huê hồng nào đó.

Tấn lại thất vọng. Chiếc xe chạy chậm chậm qua đầu hẻm. Anh phu xe chẳng nói chẳng rằng. Xe đến khoảng đường vắng nhà. Bầu không khí trở nên khó chịu. Thái độ nửa úp nửa mở của anh phu xe khiến chàng phân vân. Chỉ còn giả thuyết chót. Anh phu xe này là kẻ phá hoại, toan rủ chàng giúp một tay trong âm mưu nào đó.

Từ phía sau, anh ta nói:

– Thầy à?

Tấn giật mình:

– Cái gì nữa đó!

– Dạ, hôm qua thầy có đọc báo không?

Đọc báo để làm gì? Một là tìm hiểu tình hình chánh trị trong nước, ngoài nước. Hai là xem trang trong với những mục cổ tích, tâm tình bạn gái và tiểu thuyết. Tấn nhìn quãng đường trước mặt. Đã gần tới nhà chàng rồi. Thà im lặng, tỏ thái độ kiêu căng còn hơn là đi sâu vào tâm tình anh phu xe.

Anh ta hỏi tôi:

– Thời buổi này, thầy hiểu tại sao có người giàu, kẻ nghèo không? Người ở không, vô “áp phe” đều đều, sắm cho mỗi đứa con một chiếc xe hơi đời EB, EC. Kẻ làm cháy da phỏng trán…

Đúng là luận điệu xuyên tạc, phát động căm thù.

Tấn muốn chấm dứt câu chuyên để khỏi giải thích cho anh phu xe hiểu rõ về những sai lầm của thuyết giai cấp tranh đấu:

– Anh đừng nóng nảy. Mỗi người đều có thời vận riêng. Những người khá giả như anh thấy đều đã trải qua khoảng thời gian khổ cực. Họ gặp dịp may mắn, biết dành dụm…

Anh phu xe càng đạp nhanh:

– Nhưng tại sao người khác không may mắn?

– Chuyện đó tùy số tử vi. Nên cố gắng làm ăn là hơn. Rồi dịp may sẽ đến, nhờ phước đức ông bà để lại…

Anh phu xe đáp:

– Như tôi đây, cha mẹ tôi hiền lành, tôi làm ăn cần kiệm, tại sao người khác làm giàu mau hơn tôi? Tại sao tôi không có chiếc xe “tắc xi” bốn ngựa mà cứ cam tâm đạp xe như thế này?

Mớ lý luận hỗn láo ấy nghe thật là điếc con ráy. Trong phút giây, Tấn dằn bớt sự nóng giận. Chàng tự nhủ:  “Sự im lặng là vàng, lời nói là bạc”, rồi đâm ra thương hại cho anh phu xe. Anh nọ còn sống trong chân trời chật hẹp, cổ lỗ như bài ca vọng cổ, chưa hiểu những luật lệ của thời đại nguyên tử. Nếu anh ta giàu thì chắc sẽ là tay hà tiện ngu xuẩn, đem giấy bạc cất giấu trong ống trẻ, chôn dưới đất, với niềm tin sắt đá: một trăm đồng vẫn luôn luôn giữ giá một trăm đồng từ giờ phút này đến ngày tận thế. Thật ra, trên thị trường, đồng bạc có thể lên giá hoặc xuống giá.

– Thầy làm tôi tức quá! Thầy khinh tôi à?

Nói xong, anh phu xe đạp chậm. Tấn nhớ câu “dĩ hòa vi quí” nên trả lời, hạ thấp giọng:

– Ai dám khinh anh! Thời buổi này, mỗi người có một cách làm ăn riêng… Anh nên kiên nhẫn. Trước sau gì, anh cũng gặp lúc dễ thở. Đừng nói bậy nói bạ… Thiên hạ họ nghĩ anh là kẻ bất hảo…

Bỗng nhiên, anh phu xe ngừng hẳn lại. Tấn nhảy nhổm, day mặt ra phía sau. Anh phu xe cúi đầu, cười gằn, rút gói thuốc thơm Lucky, châm hút phì phà. Dịp may để Tấn từ giả anh ta. Từ đó về nhà chỉ còn chừng hai trăm thước. Tấn muốn cưốc bộ cho thảnh thơi tâm trí. Rõ ràng anh phu xe đã lợi dụng tình đồng hương, lợi dụng sự thân mật từ trước tới nay.

Anh phu xe cố ý tránh cái nhìn chòng chọc của Tấn. Tấn hiểu rằng mình đang thắng thế. Chàng rút bóp, đưa ra tấm giấy 5 đồng:

– Tôi đi bộ. Anh trở lại kiếm mối khác.

Anh phu xe lắc đầu:

– Thà tôi chết. Tôi đâu muốn đưa thầy tới đây để kiếm năm đồng. Thà tôi chết. Buồn quá. Chắc đời tôi không còn cơ hội thứ nhì. Thầy chưa tin à? Nãy giờ, tôi muốn cho thầy thấy rõ trước mắt.

Nói xong, anh ta nhảy xuống yên, tiếp tục:

– Đọc báo ngày hôm qua, tôi ăn ngũ không yên. Chỗ quen biết lâu ngày, giữa tôi với thầy, tôi muốn tỏ thật. Xin thầy đừng bắt lỗi, cho tôi quá đường đột.

– Anh cứ nói. Nãy giờ, tôi nhức đầu lắm rồi.

– Thầy ngồi trên đó hoài.

– Trên cái gì?

– Trên tấm nệm. Tôi để nó ở dưới tấm nệm.

Với bản chất tham sanh úy tử, Tấn đứng dậy, nhảy xuống đất. Đúng rồi! Anh phu xe đã cất giấu một chất nổ dưới nệm, một trái lựu đạn, thí dụ như vậy. Rủi nhà cầm quyền thấy được, ắt Tấn can tội đồng lõa.

Chàng bước ra xa, toan rút lên rồi chạy nhưng nghĩ làm vậy thì hơi khó coi.

Anh phu xe nói nhanh:

– Thầy xít lại gần đây, tôi nói riêng với thầy mà thôi. Chỗ thân tình, nếu thầy là người lạ thì tôi giấu luôn. Họ cười tôi là kẻ lắm chuyện điên khùng.

– Chuyện gì?

– Thầy dở mí nệm mà xem.

– Tôi đâu dám.

Anh phu xe bước tới gần tấm nệm, cau mày:

– Nãy giờ tôi nói dông dài, không dám chỉ rõ bằng cớ về cuộc đời của tôi, sợ thầy phiền. Cái gì bí mật, luôn luôn tôi không cho thiên hạ thấy. Tôi lỡ giấu nó dưới nệm. Mà hễ muốn lấy ra thì phải ngừng xe lại. Tôi chẳng dám làm mất thời giờ… của thầy. Chớ thời giờ của tôi thì bắt đầu từ đây… tôi sống cũng như chết.

Đôi mắt Tấn nhìn chòng chọc vào tấm nệm. Bàn tay gân guốc của anh phu xe sờ vào, dở hé lên. Anh ta cau mày.

Tấn thở dài, nhẹ nhõm. Dưới nệm xe, chẳng thấy thứ vũ khí nào hết. Nhưng anh phu xe mở tờ báo đã xếp đôi, đem ra một cái bao thơ, trao cho chàng:

– Thầy lên nệm ngồi đi rồi mở ra xem thử.

Sau khi lên yên, anh ta đạp chậm rãi. Tấn ngại ngùng. Phải chăng anh ta vừa trao cho chàng một lá truyền đơn in không cần kiểm duyệt? Tuy nhiên, đã cầm trong tay rồi, chẳng lẽ quăng bỏ. Nếu nhân viên công lực theo dõi, chàng khó bề chạy chối, kêu van.

Giọng anh phu xe như thúc hối:

– Cứ mở bao thơ ra. Thầy đừng ngại. Trong đó, chẳng có tiền bạc gì ráo. Có món khác, ngộ lắm. Hồi nào tới giờ tôi cam đoan thầy chưa thấy.

Trời ơi! Ba tấm giấy số cặp ba và một miếng giấy nhỏ thuộc loại “kết quả xổ số kỳ C” mà các nhật báo thường in tặng không cho độc giả thân mến! Tấn chưa hiểu đó là giấy số trật hay trúng. Liếc sơ qua, chàng nhận ngay: nó không dính dáng gì đến số trúng một triệu.

Anh phu xe nói thao thao bất tuyệt:

– Thấy chưa! Thầy thấy gì chưa? Trật một con số ở đầu, tôi trúng 300.000 đồng rồi. Người ta số 1, còn tôi số “dia rô”. Nói thiệt cho thầy thương, hồi tối rồi, tôi thức suốt đêm, không dám báo tin cho vợ tôi biết, sợ vợ tôi buồn rồi tức tối, gia đình đã nghèo lại gặp thêm chuyện buồn thảm. Tôi uống rượu liên miên. Tôi mua cái bao thơ, để dành 3 tấm giấy số đó làm kỷ niệm cuộc đời. Nhích một chút là đời tôi đâu phải như vầy. Từ số “dia rô” nhích qua số 1. Trời ơi! Có một chút xíu mà sao coi bộ khó quá.

Tấn cười xòa, nghĩ đến chứng bệnh nhát gan của mình. Chàng im lặng, cúi mặt. Đến đầu hẻm, chàng trả tiền rồi giao phong thơ bí mật ấy cho anh phu xe:

– Thời vận mà! Kỳ sau anh sẽ trúng. Đừng lo. Tôi mua giấy số từ năm bảy năm mà chưa lần nào may mắn như anh. Từ số “dia rô” qua số 1 mà nó không chịu qua.

Anh phu xe gật đầu:

– Vậy hả thầy hai. Tôi để dành nó ở đây. Thủng thỉnh, gặp thầy thì tôi đem ra khoe. Chẳng lẽ thầy cười tôi, người một xứ…

Tấn vào ngõ hẻm. Hai bên phố, mấy người hàng xóm đổ xô ra, chào đón:

– Thầy Hai về kìa! Có gì lạ không thầy Hai? Nghe nói ở ngoãi lộn xộn lắm. Hồi sáng tới giờ, tôi giữ chằng chằng mấy đứa nhỏ, sợ tụi nó đi bậy. Nhắm… có sao không? Ghê không thầy Hai?

Thiên hạ người nói vầy, người nói khác, nghe phát ớn. Dân tình coi bộ…

Tấn rút thuốc hút, nói như nói riêng cho mình nghe:

– Hồi nãy tới giờ tôi ở ngoài đường. Ghê lắm, tôi thấy cái chết từng chập.

Rồi chàng sực nhớ tới ba tấm giấy số:

– Hễ cái gì tới thì nhứt định sẽ tới. Còn cái gì không tới thì nhứt định không tới.

Người hai bên đường hẻm nhìn Tấn. Họ khâm phục, ngỡ Tấn là một “chánh trị gia” lão luyện. Chàng nói mơ hồ, như gần như xa. Thà là ra đường, sống bên lề còn hơn nằm co rúc ở nhà. Lần đầu tiên, trong nếp suy tư, chàng tìm ra nguồn hứng cỏn con – như con gà què dám chạy đến gốc tre, bươi đống rác, gặp con sâu bọ nhỏ:

– Tranh đấu là một sự mầu nhiệm! Từ số “dia rô” đến số 1, tuy ngắn ngủi nhưng gang tấc bé bỏng ấy quyết định tất cả vận mạng con người. Ngày nào đó nếu tất cả mọi người đều được như vậy thì… chúng ta không phải là chúng ta nữa.