This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
– Ba con vẫn còn mất tích mà! Đó là cái lý của mẹ mỗi khi chị em tôi tính chuyện lập bàn thờ cho ba. Mẹ vẫn hy vọng một ngày nào đó ba sẽ đột ngột quay về. Lần cuối cùng ba về là tết năm Quý Mão nhưng chỉ ở nhà được mỗi ngày Mồng Một là ba phải về đơn vị vì tình hình chiến sự ngày đó nóng lắm. Sau tết, tin từ các mặt trận ngày một xấu. Tây nguyên thất thủ, Quảng Trị đánh lớn rồi thất thủ, quân VNCH rút về Huế rồi co cụm tại Đà Nẵng. Tiếp đến là tin mất Tam Kỳ, Nha Trang, cuối cùng là trận cầm cự đẫm máu Xuân Lộc rồi miền nam thất thủ hoàn toàn. Từng ấy ngày diễn ra chiến sự, mẹ tôi đứng ngồi không yên. Không đêm nào bà trọn giấc, cứ thấp thỏm lo cho ba tôi giữa làn tên mũi đạn. Tin Sài Gòn giải phóng qua radio, mẹ tôi thở phào: – Vậy là hoà bình rồi! Hết đánh nhau rồi! Ba con sẽ sớm trở về thôi. Bà hy vọng sẽ một đêm có tiếng gõ cửa đánh thức để bà được ôm ba tôi khi ông đột ngột xuất hiện. Rồi tiếng gõ đợi chờ cũng đến. Đêm đó nghe tiếng gõ, mẹ bật dậy sung sướng: “Ba con về!”. Bà ào ra mở cửa. Bà và hai chị em tôi sững người. Không phải ba mà là ba người cách mạng. Một người mặc đồ dân sự, hai người còn lại mặc đồ bà ba mang súng. Mẹ tôi mời họ ngồi. Người cán bộ dân sự từ tốn: – Tôi đến hỏi tin tức anh nhà. Đã hơn một tháng vẫn chưa thấy anh ấy lên trình diện chính quyền cách mạng. Lúc đầu mẹ tôi nghe sợ nhưng nghe người cán bộ nói mẹ cũng an lòng, bà đáp: – Tôi cũng mong anh ấy về hoặc tin tức về anh nhưng đến nay vẫn chưa thấy. Khi nào ảnh về tôi sẽ bảo ảnh nhanh lên trình diện. Gia đình cũng mong các anh giúp đỡ, nếu có tin tức gì về chồng tôi xin báo cho gia đình tôi biết. Họ đi ra, để lại niềm hy vọng cho mẹ tôi hết tính bằng ngày, chuyển qua tháng rồi tính bằng năm. Ba tôi vẫn biền biệt. Những ngày sau đó là những ngày khốn khổ. Gia đình tôi là gia đình nguỵ quân. Mẹ tôi xoay xở đủ thứ để lo cho ba miệng ăn. Của cải rồi vật dụng trong nhà từ dây chuyền, hoa tai sau đến quạt máy, bàn là… cái gì bán được mẹ cũng bán để lo cho cuộc sống khốn khó của ba miệng ăn. Chị em tôi đi học lại nhưng ba năm sau chị phải ở nhà cùng mẹ bươn chải, bán bánh, bán xôi ở bến xe để có tiền lo cho cái ăn cái mặc và để nuôi tôi đi học. Khổ quá, dù cật lực cũng không đủ ăn, chị tôi xin đi công nhân đường sắt. Mẹ tôi thương con rướm nước mắt nhưng không còn đường nào khác. Tôi cũng muốn nghỉ học để đi kiếm việc làm nhưng mẹ nhất quyết không cho. Mẹ buồn buồn: “Chị con nghỉ học giữa chừng mẹ đau lòng lắm rồi, con mà nghỉ nữa, ba về mẹ ăn nói với ba sao đây!” Mẹ tôi vẫn hy vọng. Khắp trại cải tạo từ nam ra bắc, ai bà biết có người thân cải tạo cũng nhờ hỏi tin tức về ba tôi. Bà vẫn đợi chờ, không có tin trong nước, bà mong tin từ nước ngoài. Biết đâu ba tôi đã được định cư ở một quốc gia nào đó. Tôi tốt nghiệp cấp 3, định nộp đơn thi vào đại học nhưng đơn tôi đã bị gạt khi chưa kịp đến “vòng gửi xe” vì lời nhận xét trong lý lịch: Cha: Đại uý, sĩ quan ác ôn nguỵ. Tôi chán nản không thiết gì với tương lai giờ chỉ lo tìm việc gì kiếm được tiền giúp mẹ. Nghe ý định mở quán sửa xe đạp, mẹ tôi ủng hộ. Bà chắt bóp đồng tiền kiếm được và vay mượn thêm mua cho tôi bộ đồ nghề. Nhà tôi mặt phố nên tôi làm quán sửa xe ngay tại nhà. Từ sửa xe đạp tôi mày mò tìm hiểu rồi sửa được xe máy honda. Tuy không khá mấy nhưng cũng có được đồng tiền giúp mẹ. Năm năm sau chị tôi lấy chồng xa, mẹ tôi cũng yếu dần vì gánh xôi trên vai mẹ. Một hôm mẹ về bảo tôi: – Con nè! Mẹ nghe ngoài bến xe họ nói là từ nay thi đại học họ bỏ xét lý lịch. Hay là con nộp đơn thi thử. Tôi cười buồn: Năm năm rồi, chữ thầy đã trả cho thầy, còn nhớ chi đâu mà thi hả mẹ!. Mẹ vận động viên: Con từng là học sinh giỏi nhất trường mà! Con thử ôn lại hay đi học thêm, mẹ dành dụm được ít tiền chắc cũng đủ cho con học. Tôi tìm hiểu và đúng như mẹ nói. Trong công cuộc “mở cửa” nhà nước đã bước đầu “mở trói”, bớt phân biệt thái độ chính trị, trước hết là cho thành phần con em gia đình dính líu đến chế độ cũ được học đại học. Tôi bỏ ra ba tháng ôn luyện kiến thức cơ bản, vốn gần như quên sạch. Sau đó bằng đồng tiền tích cóp ít ỏi, tôi lùng mua các cuốn sách luyện thi đại học. Tiền mẹ cho, tôi xin ghi tên học mấy khoá luyện thi đại học cấp tốc. Đúng vậy, lần này làm lý lịch, phần chứng nhận của phường chỉ ghi: Lý lịch khai đúng như hồ sơ tại địa phương. Tôi nộp hồ sơ thi vào đại học kinh tế. Tôi đậu đại học. Mẹ tôi mừng phát khóc khi tôi đọc điểm thi trên giấy báo khá cao để khoe mẹ. Tôi vào trường đại học trong điều kiện cực kỳ khốn khó. Chị tôi không đủ sức lo cho gia đình chị thì làm sao có thể giúp tôi. Đôi vai mẹ cũng không còn sức nuôi tôi trên gánh xôi đi – về của mẹ. Tôi chống chọi với miếng ăn nơi thành phố đã khó huống gì việc học. May mà trong cái khó ló cái khôn. Trường đại học có một khoảnh đất hẹp, cỏ mọc giáp đường. Tôi lên ban giám hiệu trình bày hoàn cảnh, xin được đặt tạm cái lều chỗ đó để làm quán sửa xe. Thông cảm hoàn cảnh của tôi, nhà trường đồng ý. Vậy là tôi đã có cần câu cơm. Một buổi đi học, một buổi tôi thay bộ đồ, làm anh thợ sửa xe bên cái quán tềnh toàng với cái tên rất gợi: “Quán sửa xe Sinh viên”. Tôi sửa chủ yếu xe đạp cho sinh viên. Giá cả cũng rất “sinh viên” vì ai cũng nghèo mà! Qua gần 4 năm tôi bám trụ “cần câu cơm” để học và để mơ về tương lai của mình. Có lẽ ở trường tôi là sinh viên nổi tiếng với 3 cái nhất: Sinh viên già nhất, nghèo nhất và… giỏi nhất khoá. Giữa học kỳ 1 năm cuối, trường có buổi hội thảo về thị trường Châu Âu. Diễn giả là một tiến sĩ người Thuỵ Sĩ, Dr Moolie Hoods. Sinh viên tham dự phần lớn do tính hiếu kỳ vì ngày đó khái niệm “kinh tế thị trường” còn lạ lẫm lắm, có lẽ trừ tôi ra. Từ khi đọc được cuốn Economics: An Introductory Analysis của nhà kinh tế học người Mỹ, Paul Samuelson, tôi hiểu rằng kiến thức kinh tế học được ở nhà trường chỉ là hạt cát, nhiều khi những điều học từ giáo trình xem ra rất phản quy luật. Do vậy được tham gia dự thính buổi hội thảo với tôi là cơ hội quý giá nhất để hiểu biết thêm về nền kinh tế châu Âu tư bản. Tôi chăm chú nghe ngài Hoods giới thiệu về kinh tế châu Âu trong giai đoạn tiền hợp nhất thành EU và tương lai sắp tới mà cứ há hốc mồm. Tôi không cần nghe qua phiên dịch, thậm chí người phiên dịch trong nhiều ngữ cảnh dịch rất tệ. Tiếng Anh với tôi cũng không khó khăn gì vì từ hồi 5 tuổi, ba tôi đã gửi tôi vào trường của hội Việt – Mỹ nên sau 7 năm, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ thứ hai của tôi rồi. Thời gian gần đây tôi thích tìm đọc các sách báo bằng tiếng Anh và nghe đài nước ngoài nên vốn liếng Anh ngữ của tôi ngày được nâng cao. Sau bài giới thiệu về nền kinh tế châu Âu, ngài Hoods khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi để ông trao đổi, trả lời. Chỉ một vài sinh viên đứng lên dè dặt đặt câu hỏi mà kiến thức chủ yếu không vượt qua được những gì tiếp thu tại giảng đường. Vẻ thất vọng thoáng hiện trên khuôn mặt ngài Hoods. Đợi không còn ai hỏi nữa, tôi đứng dậy đặt câu hỏi bằng tiếng Anh. Mắt ông sáng lên đầy thú vị vì chỉ có tôi là sinh viên trao đổi trực tiếp bằng tiếng Anh với ông. Diễn đàn trở nên hấp dẫn vì cuộc trao đổi và tranh luận bằng tiếng Anh chỉ có tôi và ngài Hoods. Sinh viên chủ yếu ngồi nghe chứ phần lớn không hiểu hết chúng tôi tranh luận về đề tài, nội dung gì, chỉ biết rằng họ rất ngưỡng mộ mỗi khi tôi đối đáp bằng tiếng Anh và được ngài Hoods gật đầu kèm với nụ cười. Buổi chiều, khi tôi còn loay hoay trong bộ đồ dính đầy dầu mỡ để sửa xe thì bỗng nghe tiếng gọi: “Hi!”. Tôi ngẩng lên thì ngài Hoods tay cầm máy ảnh vừa nháy tôi một pô. Tôi đứng dậy chào, đưa tay bắt nhưng sực nhớ tay mình đang nhem nhuốc, định rụt về thì ngài đã bắt tay tôi lắc mạnh, cười tươi thân thiện: “No problem! you’re good!”. Tôi lấy chiếc ghế đòn, phủi bụi mời ông ngồi. Ông đưa máy ảnh chụp “gara” tôi thêm vài kiểu nữa rồi ngồi xuống ghế. Cứ tưởng sau buổi hội thảo khi sáng ông đã đi rồi. Ông bảo đoàn ông còn buổi chiều làm việc với nhà trường về việc tài trợ học bổng tương lai. Người phụ trách đoàn ông đang làm việc với ban giám hiệu, ông tranh thủ dạo chơi quanh trường chụp mấy kiểu ảnh làm kỷ niệm và không ngờ gặp tôi nơi đây. Ông hỏi tôi về gia đình, về tài chính học tập. Tôi kể sơ về hoàn cảnh của mình và cười chỉ bộ đồ nghề sửa xe bảo là “nhà tài trợ tài chính” cho tôi suốt 4 năm đại học. Ông cười, trong nụ cười chứa đầy thông cảm. Cuối buổi ông hỏi tôi là có khi nào nghĩ đến du học nước ngoài không? Tôi lắc đầu bảo là tôi sống được để học là nhờ cái “gara” này thì lấy tiền đâu mà ra nước ngoài. Chỉ mong học xong có được việc làm là mừng lắm rồi. Ông chia tay tôi bằng nụ cười với ngón tay “number one” cùng với một lời khen: “good!” Một tháng sau, một người bạn học báo là tôi có thư từ nước ngoài. Tôi mừng phát run, chạy lên văn phòng khoa. Cứ nghĩ là ba tôi ở một nơi nào đó gửi về. Nhưng khi nhận thư, xem lại là thư ngài Hoods gửi cho tôi. Tôi đọc thư. Dr Hoods kể rằng đã đọc qua học bạ của tôi, về nước ông đã trao đổi với viện công nghệ danh tiếng của Thuỵ Sĩ là ETH Zurich và xin cho tôi được 1 suất học bổng toàn phần để làm luận án Master sau khi tôi tốt nghiệp đại học. Kèm theo thư là các tài liệu giới thiệu về trường ETH Zurich cùng các mẫu đơn và bản hướng dẫn về hồ sơ xin học bổng. Dù không phải thư của ba nhưng tôi mừng khôn xiết. Úp lá thư ngài Hoods vào ngực tôi nhắm mắt cho cơn mơ vượt khỏi dải đất hình chữ S bay đến tận trời Âu. Tôi tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi. Theo hướng dẫn, tôi làm đơn và gửi cho viện ETH Zurich rồi chờ đợi. Một tháng, hai tháng tôi đợi thư trả lời từ Thuỵ Sĩ nhưng đến tháng thứ ba thì hy vọng trong tôi tắt lịm. Tôi lại quay về thực tại là mơ ước được một chân nhân viên quèn ở bất kỳ công ty nào để có việc làm. Trong cơn tuyệt vọng thì ngài Hoods như từ trên trời rơi xuống. Ngài quay lại Việt Nam tìm tôi vì tin chắc có chuyện không hay nào đó xảy ra với tôi vì ngài đã liên hệ với viện ETH Zurich. Họ báo rằng đã gửi thư chấp nhận đến 2 lần nhưng không thấy tôi liên hệ lại. Khóa học mới đã học 1 tháng nhưng không có tên tôi nên ông quyết định sang tìm tôi. Khi biết tôi chưa nhận được bất cứ thư nào, ông đã hiểu ra. Ông cầm tay tôi động viên: “Đừng từ bỏ hy vọng, anh bạn trẻ! Tôi sẽ làm hết sức mình”. Ông chia tay tôi bay ra làm việc và nhờ đại sứ quán Thuỵ Sĩ tại Hà Nội can thiệp. Chưa đến một tuần, hai thư chấp nhận của viện ETH Zurich gửi các tháng trước đã đến được với tôi. Nửa tháng sau tôi từ giã mẹ và chị, bay qua châu Âu bằng vé máy bay do ngài Hoods tài trợ. Năm sau, tôi đã xong luận án Master rồi được luôn học bổng toàn phần để lấy bằng tiến sĩ về kinh tế tại viện ETH Zurich danh giá. Thời gian học tập tôi luôn được sự giúp đỡ chân tình của Dr Hoods. Ông là ân nhân, là bạn và là đối tác của tôi sau này. Ngày nhận bằng tiến sĩ, tôi không có mẹ bên cạnh để tri ân nhưng tôi được hân hạnh có ngài Hoods thay mẹ trong buổi vinh dự trao bằng. Ngài rất tự hào về tôi. Hôm sau, một tờ báo Thuỵ Sĩ với tít: From a bicycle repair student to a doctor of the prestigious university. (Từ một sinh viên sửa xe đạp đến tiến sĩ của một đại học danh tiếng) Bài báo với hình tôi ngồi sửa xe mà Dr Hoods chụp năm xưa cùng với hình ảnh tôi tươi cười nhận bằng tiến sĩ hôm qua chiếm hẳn một trang báo. Thì ra bài là của Dr Hoods viết về tôi. Từ bài báo này, cùng với lời giới thiệu của Dr Hoods mà Viện Nghiên cứu chiến lược kinh tế Đông Nam Á Thuỵ Sĩ (gọi tắt là IESSAS) mời tôi về làm việc. Một năm sau, IESSAS mở văn phòng đại diện tại Việt Nam ngay trên thành phố quê tôi,. Tôi được cơ hội trở về với quê hương cùng mẹ, cùng chị. Tôi trở thành cầu nối giữa Việt Nam – Thuỵ Sĩ về quan hệ kinh tế. Các nhà đầu tư Thuỵ Sĩ qua giới thiệu của tôi đã đầu tư rất nhiều dự án tại Việt Nam đặc biệt là tại thành phố nơi tôi sống. Trường đại học kinh tế nơi tôi từng học, qua mối quan hệ với Dr Hoods tôi đã tìm được nhiều suất học bổng sau đại học cho các khoá sinh viên sau này. Trên Facebook cá nhân, tôi đặt ảnh ba tôi làm avatar và hình nền là ảnh tôi ngồi sửa xe năm xưa mà Dr Hoods chụp tặng tôi. Thỉnh thoảng mở facebook, tôi lại được nhìn ba tôi cười. Nhìn chân dung thời trai trẻ trong bộ quân phục lính dù mà tôi thầm ngưỡng mộ. Cám ơn ba, cuộc đời này con luôn tự hào được là con trai của ba. Tôi nhìn hình nền để được nhắc nhở rằng: Dù hôm nay tôi có là tiến sĩ danh giá thì quá khứ năm xưa, tôi đã từng là cậu sinh viên sửa xe đạp để tự nuôi mình. Một đêm, nghe messenger báo tin nhắn, tôi tỉnh thức, nhìn màn hình điện thoại, có ai đó nhắn cho tôi: – Xin chào! Tôi nhắn lại: “Xin chào!” Nhìn nick name là John Le, tôi đoán là một Việt kiều. Người đó nhắn tiếp: – Xin lỗi, cháu có phải là con trai của đại uý Giang, Hoàng Thanh Giang, không? Tôi bật dậy, tim đập dồn. Tôi nhìn avatar của người đang chat. Đó là người đàn ông ở tuổi 70 trong quân phục lính dù, mũ đỏ giống quân phục ba tôi. Tôi đáp: – Dạ, đúng rồi, con là con trai của ba Giang. Bác biết ba con à? – Bác là trung uý Tá, Lê Văn Tá là đại đội phó của ba con. Tôi mừng rơn mà tim đập thình thịch. – Vậy bác có biết tin tức gì về ba con không? Bác không đáp mà hỏi lại: – Vậy từ đó đến nay con không có tin tức gì về ba à? – Dạ không, con và mẹ không biết ba còn hay mất. Một lát lâu bác nhắn lại: – Ba con mất rồi! Dẫu biết câu trả lời sẽ không chút hy vọng nhưng lời chat của bác làm tôi không khỏi bàng hoàng. – Ba con mất ở đâu? Khi nào? Bác biết không? – Ba con mất trên cầu Sài Gòn vào buổi sáng 30/4/1975. Rồi bác kể: Sáng hôm đó đại đội ba tôi chỉ còn hơn 10 người. Vì bị truy kích nên phải rút về cố thủ trên cầu Sài Gòn. Cuộc giao tranh ác liệt vẫn chưa dừng lại. Quân số và súng đạn không thể đối chọi với quân giải phóng. Phải rút tiếp thôi! Ba tôi cùng hai đồng đội bò lên phía trước thu hút hoả lực địch để toán còn lại phía sau có cơ hội thoát lui. Khi trung uý Tá cùng các chiến hữu về được bên trong cầu Sài Gòn thì hoả lực đã nổ tung khiến thân xác ba tôi cùng hai chiến hữu của ông bị hất tung lên rồi rớt xuống sông. Khi trung uý Tá rút về đến ngã tư Hàng Xanh thì trên loa truyền thanh, Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng và yêu cầu các lực lượng quân đội VNCH bỏ súng. Tôi ngồi úp mặt vào lòng hai bàn tay. Tưởng tượng lại phút giây chiến đấu không cân sức nhưng bi hùng của ba tôi năm ấy trên cầu Sài Gòn mà nước mắt giàn dụa. Bình tâm lại tôi gọi điện thoại cho mẹ. Mẹ tôi nghe máy khi nghe tôi báo là đã có tin tức của ba. Câu đầu tiên mẹ hỏi là “ba con giờ đâu rồi?” Tôi ngậm ngùi kể lại nội dung vừa chat với bác Tá. Mẹ tôi im lặng nghe tôi kể, khi tôi nghe mẹ nấc lên trong điện thoại là mẹ tắt máy. Ngày hôm sau mẹ điện thoại bảo là tôi đưa mẹ vào cầu Sài Gòn được không? Tôi bảo được. Chiều hôm sau, theo chuyến bay, mẹ, chị và tôi vào Tân Sơn Nhất rồi đón taxi đến cầu Sài Gòn. Chúng tôi đi bộ dọc theo thành cầu mà mường tượng trận đánh cuối cùng năm xưa. Cầu Sài Gòn người xe như mắc cửi. Dưới cầu, sông Sài Gòn lượn lờ mang những mảng lục bình trôi về biển. Trong dòng nước bao la ấy, thân xác, thịt da ba tôi cùng với bao người của hai chiến tuyến và những người dân vô tội năm xưa, bao năm nay đã bị rửa trôi về cùng biển mặn. Chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau vẫn còn ở lại với bao người trong đó có gia đình tôi. Mẹ thẫn thờ nhìn những mảng lục bình trôi xuôi như cố tìm dáng hình ba tôi trong ấy. Qua đến bên kia cầu, tìm được nơi, tôi thắp bó hương rồi trao nửa bó cho mẹ, nửa còn lại chị em tôi chia ra cắm xung quanh. Mẹ tôi quỳ hướng về sông, lâm râm khấn. Chắc trên trời ba tôi đã hiểu nỗi đau trong lời khấn của mẹ. Bà đã đi gần nửa thế kỷ trong thân phận người vọng phu. Mẹ tôi cắm phần hương trên mô cát gần đó để mặc cho làn khói bay xa. Tôi mong sao làn khói kia cuốn bớt nỗi đau trong lòng mẹ. Hương tàn hơn nửa, tôi bảo mẹ: – Thôi mình về đi mẹ. Mẹ không quay lại, giọng buồn buồn: – Hãy để hương cháy thêm lát nữa đi con. Hai chị em tôi lặng im, chắp tay đứng sau lưng mẹ, cứ để mẹ thì thầm từ tận đáy lòng với ba tôi trong cõi hư vô. Nén hương cháy hết, tắt hẳn, mẹ mới quay lại gật đầu: – Mình về thôi các con! Vậy là gia đình tôi chọn 30/4 là ngày giỗ ba tôi. Hôm nay là ngày giỗ đầu tiên của ba. Gia đình cũng vừa nhận được tin vui là bác Tá, chiến hữu của ba cũng về dự giỗ. Bác bảo rằng đây là lần về Việt Nam đầu tiên kể từ ngày bác định cư ở Mỹ. Trước khi đáp chuyến bay tiếp theo về thăm gia đình tôi, bác sẽ đến cầu Sài Gòn thắp hương tưởng niệm ba tôi cùng đồng đội bỏ mình ngày đó. Hy vọng cuộc tương phùng này, qua bác, gia đình tôi sẽ biết thật nhiều về đời binh nghiệp của ba, đặc biệt là trong những ngày cuối của cuộc chiến. Sáng nay tôi dậy sớm, sửa sang và dâng hoa bàn thờ ba trước khi đi dự buổi lễ kỷ niệm ngày “Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước” do Uỷ ban nhân dân thành phố mời. Vì tính chất trong quan hệ đối ngoại giữa cơ quan đại diện viện nghiên cứu với cấp chính quyền sở tại mà tôi không thể không dự. Buổi lễ diễn ra hết sức hoành tráng. Trước khi vị chủ tịch đọc diễn văn là các màn trình diễn múa vui văn nghệ. Các bài ca đi cùng các vũ điệu tái hiện những giây phút hào hùng của ngày chiến thắng năm xưa. Vị chủ tịch lên đọc diễn văn kỷ niệm ngày chiến thắng. Các điệp khúc “Mỹ cút, ngụy nhào”, “Chiến thắng vinh quang dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng” gần nửa thế kỷ được lặp lại trong giọng đọc đầy tự hào của vị chủ tịch. Trước khi kết thúc buổi lễ, dàn đồng ca lên sân khấu hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Tôi quay lại, chỉ có quan khách ngoại giao nước ngoài, kể cả tôi là còn ngồi. Hầu hết hội trường đều đứng dậy hát theo trong nhịp vỗ tay tự hào. Khi người dẫn chương trình tuyên bố bế mạc, tôi đứng dậy. Vị chủ tịch thành phố tiến đến tươi cười bắt tay tôi. Ông cám ơn tôi vì đã tham dự cùng với lời mời trân trọng: – Hôm nay là kỷ niệm ngày chiến thắng, Uỷ ban có tổ chức buổi tiệc trưa long trọng, xin mời anh đến dự. Tôi cười đáp lại: – Rất cám ơn lời mời của anh nhưng trưa nay tôi không thể. – Anh bận việc gì à? Vị chủ tịch hỏi lại, tôi rời bàn tay ông còn đang nắm chặt, trả lời: – Hôm nay là ngày giỗ ba tôi.
Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa, thì có một số tù đuợc đưa lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long. Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này. Đon vị đầu tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long. Và trong suốt thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở trong vùng rừng xanh đất đỏ này.
Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẽm gai bên ngoài và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy đuợc bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc trí súng đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.
Khi ở trại Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.
Trong thời gian ở tù chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp. Thu cũng cho biết là có thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm để cắt kẽm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẽm gai concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu đuợc đập dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luỡi dao. Nhưng khi hai cái luỡi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
Để chuẩn bị cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc nylon thật kín cho khỏi ướt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu hướng Bắc bằng dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm. Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào. Ngoài ra chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên giới Kampuchia.
Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá động gì tới chuyện trốn trại.
Suốt trong ba tuần lễ liền, Thu đã phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là 9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra. Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt. Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẽm gai và 5 phút chót phải bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài. Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại. Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp. Còn ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời còn tối, đến nửa đêm trăng lên dễ thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm 22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.
Đúng 8 giờ ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện vừa tắt là chui ngay. Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.
Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ. Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chỗ tốt nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý. Bình bắt đầu cắt dây lạt của lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẵn sàng chui ra. Lớp hàng rào tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan chéo vào nhau dầy đặc. Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn tre. Khi máy phát điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì bất ngờ có hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng trốn. Bình chui ra truớc là để cắt kẽm gai rồi đến tôi chui kế, tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng.
Sau khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẽm gai thứ nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẽm gai này là rãnh thoát nuớc với đất bùn sình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt. Đến lớp hàng rào kẽm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẽm gai của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ. Họ bắt phải đào một cái rãnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và rào kẽm gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải cắt thì mới chui ra đuợc. Mà cái kềm cắt kẽm gai của Bình biến chế nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn sình hôi thúi, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.
Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa. Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh, chỉ dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong nước để lội qua suối.
Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể cây để leo lên vì lòng suối sâu thẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám rừng tre, rồi băng qua con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới. Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm.
Không bao lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần. Tiếng lên đạn súng AK47 nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa “địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đuờng chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó. Sau này được biết là sau khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo, nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy đuổi theo để bắt chúng tôi.
Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay là đã đi chỗ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.
Chúng tôi 5 đứa bắt đầu bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ nhàng, nếu lở có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi đuợc bao nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì. Sau đó chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chỗ này, nhưng vẫn đi hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng. Tôi lấy thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với huớng Bắc là hướng qua biên giới. Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đuờng mòn hay chỗ trống, bất kể là băng qua các đám ô-rô duới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.
Khi đó nghe có tiếng xe molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không đuợc gây tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ. Mỗi nguời nhìn một huớng, khi đến chỗ trống hay gặp đuờng mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp họ đang đi bằng xe đạp, chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới chạy nhanh qua từng nguời một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thuợng, vợ chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp thời.
Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là huớng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra. Đi tới chiều thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẫn bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một khoảng xa rồi dừng lại nghỉ. Chúng tôi lựa chỗ kín đáo để dừng lại nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố vuợt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống nhưng đã bị đỗ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ thấy khát rát cỗ họng. May sao Bình tìm đuợc một giếng nuớc bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nuớc, nhung khi thòng lon guigoz xuống, múc lên đuợc những lon nuớc thật trong veo, uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nuớc lạnh. Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẫn tránh. Chúng tôi ra giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh chung quanh. Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc vì tranh cao quá khỏi đầu. Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai nguời đi chui theo, đó là Tuờng phi công phản lực A37 và một nguời nữa tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả hai anh đều mang dép nên rất khó đi.
Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẫy của nguời Thuợng rất là nguy hiểm, như bẫy cò ke, nếu vuớng chân vào thì cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẫy bắn tên khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mũi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống. Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh xa ra. Chúng tôi rất khát nuớc vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không có miếng nuớc uống nên khát dữ lắm. Gặp một cây nói là trái gấm, Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô còn đọng nuớc của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp những giọt nước đó cho đỡ khát.
Đến chiều thì trong lúc đang đi bất chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có suối, thì em bé đó chỉ về huớng truớc mặt, đi thêm vài chục thuớc là thấy suối, một con suối rất lớn. Nhìn ở phía xa kia là một khu rừng đã đuợc phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám nguời đang cuốc đất làm rẩy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chỗ bụi lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bữa cơm này thật là ngon, ăn cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.
Sau khi ăn xong, trời đã xế chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẫy đi về nhà đi theo hướng Đông, như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ 13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình như có cổng ra vào, giống nhu một trại tập trung, nên chúng tôi không dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.
Sau khi trời sụp tối thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo đuờng rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi, dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đuờng đón xe. Riêng hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho địa chỉ nếu ai về đuợc đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đinh họ lên đón. Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm.
Sáng sớm hôm sau lên đuờng đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn. Xong rồi lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ đuợc che phủ bởi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi lao động về, họ đi ngang qua khá gần chỗ chúng tôi đang trốn, tiếng chó sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.
Chiều hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giởn trên đuờng, nhìn khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao. Một uớc muốn tầm thuờng, đuợc làm một nguời dân bình thuờng để sống mà lo cho gia đinh nuôi vợ nuôi con cũng không đuợc. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu “nước mất nhà tan, gia đình ly tán”.
Đêm đó chúng tôi khát nước vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nuớc uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ xuống một trận mưa thật lớn. Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng xong rồi, đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng lớn. Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở truớc ngực để giữ cho khô. Trận mưa này thật lớn thật lâu sau cùng rồi cũng dứt hẳn. Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quân Chơn Thành, vì đuờng còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó đi, chỉ có thể chui lòn duới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.
Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần luợt ra đuờng, lựa khoảng trống giửa hai nhà mà ra đón xe. Bình lên đuờng trước tiên, một lúc sau thì đến Thu, và tôi là nguời ra đuờng sau cùng. Khi buớc ra quốc lộ 13 tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía sau. Thu cũng lên đuợc chiếc xe đi truớc tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai. Trước kia, đây là đoạn đuờng nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13 và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.
Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an. Đi bộ dọc theo con đuờng vào quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xua quen biết như Trại cưa Lê Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm Thãnh cũng lập thêm trại cưa. Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại ngả tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xua có các tiệm ăn như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho tộ. Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ. Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô một quán nước. Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán nuớc. Tôi nhớ mài mại hình như đây là quán của bà Năm Chích, có cô con gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm soát đó nó hoạt động như thế nào. Tôi thấy rõ hai thằng công an coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên. Mỗi khi xe đến đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong, thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe.
Tôi đoán chắc là nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua thì cũng sợ gặp phải nguời lạ mặt họ dể nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ tươm tất quá. Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi nguợc trở lại, ngang qua chỗ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
Tôi ngồi chờ một hồi thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi nguời tài xế vô trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở lại bến xe để đón xe đi. Đây là chỗ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng không đuợc nên đành phải liều mạng.
Khi vô bến xe thì thấy có một chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi, mà thuờng là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép. Ngồi một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn muời tuổi tay cầm một con gà, tay xách một giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đở trống trải vì có hai em nhỏ che đỡ phần nào.
Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, buớc ra để nhìn mặt nguời trên xe. Nó nhìn vào băng truớc, trên đó có hai nguời ngồi, tôi nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là “tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đảng, đâu đưa giấy tờ coi”. Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe, bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.
Xe chạy qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở ngại. Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài. Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình giấy tờ và nộp tiền mải lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi. Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đuờng hay là giấy căn cuớc, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi, chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết. Tôi vào quán nước kêu ly nuớc đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là bằng xe ôm. Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước buớc, làm sao vô nhà, đi vô ngỏ hẻm nào v.v….Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh biết ý định trốn trại của tôi.
Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50 đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng và trở lại đón tôi. Trên đuờng đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để tránh các trạm kiểm soát. Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện ngày trước. Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản để về Phú Thọ.
Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại, tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lỏng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xưa, một thời đã từng đuợc mệnh danh là một “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Nay tôi thấy trên đuờng toàn là xe đạp, mà nguời nguời trông lam lũ tả tơi, không cuời không nói, với dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui đâu bao giờ”.
Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng, tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên: “Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin muợn chị 50 đồng để trả tiền xe. Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con nít đa tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vuợt biên đã đi thoát được. Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dỏi, cho nên chị không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đuờng đón xe autobus để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau. Truớc khi đi tôi còn hỏi muợn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi muợn đôi giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.
Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu, uống một ly cà phê sữa rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền Tây. Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi nương tựa đành phải sống lang thang đầu đuờng xó chợ bến xe. Sau khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ tạm qua đêm ở đây.
Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ vào nhà, chị rất lo sợ có nguời theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay là tôi đã trốn trại. Tôi đang ngồi uống nuớc đá chanh ở xe nuớc đá và định chỗ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng mai ra mua vé xe đò để về Mỹ Tho.
Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai nguời trốn chui theo. Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về đuợc Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón. Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp ghé qua báo tin. Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đuờng vắng vẻ. Khi đi ngang qua trạm xe chữa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc, tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua. Sau cùng tôi tìm đuợc nhà của Thạch, tôi gỏ cửa một hồi thì có nguời ra mở cửa nhưng với dáng vẻ bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm. Tôi hỏi có phải là nhà của Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo, có thoát đuợc không và bây giờ ra sao.
Tôi trở ra bến xe ngồi xếp hàng chờ để mua vé xe về Mỹ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích lần lên. Tôi ngồi chồm hổm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chỗ tôi để mua vé xe.
Tôi vô quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao, xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này. Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi. Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần thì không biết là về Mỹ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỹ Tho, mà nên ở nhà lo cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không ai lo cho các con.
Tôi trở ra chỗ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé xong xuôi và chị còn cẩn thận mua cho tôi tờ báo Nhân Dân, chị bảo lên xe đọc báo này nguời ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.
Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phuờng 4 ở bến xe này. Mới vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4, có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được. Tôi giả bộ như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền. Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà. Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn thấy.
Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỹ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi. Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng. Thì ra em tôi chạy qua Chợ Cũ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn, Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ ăn rất ngon qua cho tôi.
Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi. Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ. Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng. Phần thì không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, như ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa biển Gò Công v.v…. Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng. Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính để đi bằng đuờng bộ.
Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn. Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên, và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên lạc khi cần. Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn.
Thế là phải trở về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia. Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội. Tôi và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô định này. Ở lại Mỹ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây không biết có còn được gặp lại nhau. Trong đêm đó hai bà cháu đã tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an. Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn. Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn. Ông xe lôi, đạp không muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.
Vô tới ngã ba Trung Lương là trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chữa. Chúng tôi mon men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một cách xẳng giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng tôi lại lủi thủi đi tiếp. Ở đây có một trạm công an khá lớn để xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc xe lô chạy từ Mỹ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang. Bác tài chỉ cho đi quá giang một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn.
Trong khi xe đang chạy và qua tài giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có cảm tình với chúng tôi. Và sẵn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về. Vợ tôi móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200 đồng. Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.
Khi xe chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng khó trúng. Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy vuợt qua một cách êm xuôi. Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn. Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi.
Sau khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi. Chúng tôi về nhà của Nghĩa cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở. Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.
Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chỗ đậu xe, để kịp chui vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì. Sau khi sắp lại đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long mới gát hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ rất là kín đáo. Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.
Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới. Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao, nhưng vẫn còn tốt hơn là ở lại Việt Nam.
Sáng sớm hôm sau xe rời bến để đi Nam Vang, nhìn qua khe ván ở sàn xe trời còn lờ mờ nghe tiếng nguời nói lao xao mới biết là vừa qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền. Khi đến trạm kiểm soát biên giới thì họ chỉ xét qua loa vì đây là chuyến xe công tác chở đồ cho bộ đội VC. Xe chạy càng nhanh đống chiếu trên đầu càng đe nặng, vì cây gỗ chận trên đầu không còn ở nguyên vị trí cũ, mà vì sự lúc lắc của chiếc xe đa làm lệch đi và hai đứa tôi phải đưa lưng chống đỡ sức nặng bên trên đè xuống. Tệ hại hơn nữa là dọc đuờng VC đón xe đi quá giang nên họ ngồi trên đầu chúng tôi. Nghe tiếng họ nói chuyện với nhau thì biết là VC đang ngồi ở ngay trên đầu mình. Chúng tôi phải rán đưa lưng ra chịu đựng, vì chỉ sợ nó sụp xuống thì bị lộ ngay, rất là nguy hiểm. Khi tiểu tiện thì phải đợi lúc xe chạy nhanh rồi mới dám tiểu qua khe hở của ván sàn xe mà phải tiểu từ từ để bên ngoài không thấy không biết.
Đến chiều thì xe tới nơi đậu vào một chỗ nào đó mà tôi nghe có tiếng nhạc của những bản nhạc ngày xưa. Tôi mừng thầm vì được nghe lại những tiếng hát quen thuộc đầm ấm nồng nàn tràn đầy kỷ niệm của ngày truớc. Tiếng nhạc hòa lẫn tiếng nguời nói chuyện lao xao gần bên cạnh xe. Chúng tôi vẫn nằm im trong xe chờ khi nào có hiệu lệnh của Long thì mới ra đuợc. Một hồi lâu sau khi bên ngoài hoàn toàn im vắng và khi nghe ba tiếng hiệu lệnh của Long thì chúng tôi chui ra. Khi nhảy xuống xe, tôi không thể đứng được vì bị ngồi lâu trong thế co ro nên chân bị tê cứng, mà Long thì thúc hối phải đi khỏi nơi đây ngay vì sợ tài xế và an ninh đoàn xe họ biết, nên tôi và Nghĩa phải cố lết đi ra khỏi xe thật xa.
Nhìn chung quanh, đây là một bồn binh khá lớn ở cuối đại lộ, bên cạnh một sân vận động, xe đậu một đoàn dài chừng vài chục chiếc, tài xế và lơ xe khá đông, có nhiều xe họ mang theo cả gia đinh vợ con với đồ đoàn nồi niêu soong chảo, nên tôi thấy cũng dễ trà trộn ẩn thân. Tối đó tôi và Nghĩa ngủ ở một đám cỏ bên cạnh đường khoảng giữa đoàn xe và không dám gần xe nào cả vì sợ họ báo với an ninh đoàn xe.
Ngay tối hôm sau, tôi bán chiếc nhẩn cuới đuợc 75 đồng Riel, tiền Kampuchia, và nhờ Long môi giới mời một số tài xế lơ xe ra quán nuớc uống cà phê nghe nhạc, để tìm cách lân la làm quen gây cảm tình với họ. Tôi và Nghĩa đóng vai lơ xe, bạn với Long. Vì Nghĩa cũng là lơ xe nên nói chuyện dễ dàng, còn tôi thì cảm thấy hoàn toàn xa lạ, nên trong các câu giao tiếp tôi thuờng cuời nhiều hon là nói vì sợ bị bại lộ tông tích.
Ban ngày thì ra chợ Nam Vang, bữa đầu thì đi bằng xe lôi cho mọi nguời thấy, và vì không biết đường, mấy lần sau thì đi bộ. Đi ngang qua mấy con đuờng rất đẹp với hai hàng cây phủ mát bên đuờng, với những ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu villa của Pháp, giống như khu đường Duy Tân, Yên Đổ ở bên xứ mình. Mấy ngôi nhà sang trọng đó bây giờ là dinh của VC, treo cờ đỏ sao vàng và có lính canh truớc cổng. Mỗi khi đi ngang qua thấy hơi chùng chân vì sợ nó hỏi giấy tờ bất tử.
Uống nuớc phông tên ở gần đó, ăn cơm thì mua của mấy gánh bán hàng rong, cơm một dĩa 10 đồng Riel. Ra ngoài chợ thì đi lòng vòng coi nhìn cái này cái nọ cho hết thì giờ, thỉnh thoảng công an chạy ruợt đuổi bắt người ở trong chợ, làm mình cũng sợ giật mình. Tôi thì có ý định tìm mua một quyển sách địa lý để coi bản đồ vùng Battambang, Siem Rệp, vùng biên giới Thái Lan. Họ bày bán sách cũ rất nhiều nhưng đều là tiếng Miên. Tôi lựa xem mấy cuốn sách có hình bản đồ rồi mua một quyển. Nhưng vì tôi không biết tiếng Miên mà mua sách Miên trong đó có hình bản đồ địa lý, nên họ có ý nghi ngờ. Mua xong tôi lật đật đi bộ về chỗ đậu xe vì sợ họ báo với công an chợ. Sau khi nghiên cứu bản đồ để biết địa thế, đường đi nuớc buớc, cũng như khoảng cách bao xa. Tôi cố học thuộc lòng vùng Battambang, Siem Rep, vùng gần biên giới Thái Lan, rồi xé bỏ quyển sách đó ngay.
Lúc bấy giờ bên Miên hoàn toàn do VC kiểm soát, thỉnh thoảng có mấy tên lính Miên trẻ mặt còn non choẹt, mang khẩu AK dài đụng tới đất. Ở đây họ mắc loa phóng thanh cứ sáng sớm và chiều tối là nghe tiếng nhạc Miên, một âm điệu đều đều nghe buồn não ruột, nghe nhớ nhà, nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương mình vô cùng. Cuộc đời tôi cũng không ngờ lại lưu lạc đến noi đây, xứ lạ quê nguời, rồi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nghĩ lại thân phận mình, lêu bêu bình bồng, mà cảm thấy buồn vô hạn.
Tôi lân la mấy quán nuớc làm quen hỏi chuyện để tìm đuờng đi, thì đuợc biết là xe lửa chạy từ Nam Vang lên Battambang đã bị giật mìn không còn chạy nữa, bây giờ chỉ còn đuờng xe, nhưng VC đặt rất nhiều nút chận kiểm soát để chận bắt đào binh, nên rất khó mà lọt qua đuợc. Tôi ra phía đầu thành phố đường đi về huớng Battambang để xem trạm kiểm soát họ xét ra sao. Tôi thấy rất ít xe đi về phía đó và họ kiểm soát rất kỹ. Xe thì không thấy loại xe đò chở khách, mà toàn là xe chở hàng hay xe quân sự. Vả lại tôi không biết tiếng Miên nên rất ít hy vọng thoát qua đuợc, giá mà còn xe lửa thì tốt hơn.
Ở đây đuợc ba ngày thì nghe tin đoàn xe được lệnh đi xuống hải cảng Kompong Som tức là Sihanoukville. Tôi không biết hải cảng này ra sao, nhưng nghe nói ở đó có tàu ngoại quốc ra vào. Trước đó tôi có dọ hỏi đuờng lên Battambang, thì họ nói là phải có nguời dẫn đuờng và phải trả bằng vàng, ít nhứt là hai lượng. Trong mình tôi chỉ đuợc hai chỉ vàng thì làm sao mà đi và hơn nữa chúng tôi không biết tiếng Miên nên rất khó khăn, thành ra tôi đã bỏ ý định đi lên Battambang. Bây giờ nghe tin đi xuống hải cảng Kampong Som thì tôi thấy cứ đi đại xuống đó rồi sẽ tính sau, dầu sao ở hải cảng cũng còn có hy vọng hơn.
Buổi trua hôm đó tôi và Nghĩa ra chợ mua một nải chuối, lên chùa Năm Tháp gần đó để cúng Phật, để cầu xin Đức Phật Từ Bi độ trì đưa đuờng dẫn lối cho chúng tôi thoát ra đuợc khỏi nạn cộng sản. Sau khi quỳ lạy cầu nguyện Đức Phật xong, khi đứng lên là không còn thấy nải chuối đâu hết, mà trong lúc chúng tôi quỳ lạy thì có nguời tới chớp nải chuối đi mất thật là nhanh.
Đêm đó suy tính cách theo xe để đi, vì Long bảo phải tìm xe khác mà đi, chứ không được đi theo xe cũ vì sợ tài xế biết. Trong thời gian mấy ngày ở đó tôi cũng đã quen biết nhiều nên họ nhận cho tôi đi theo. Đoàn xe đi đến trạm kiểm soát thì ngừng lại để xét truớc khi ra khỏi thành phố, nhưng vì đoàn xe này có sự vụ lệnh đi công tác xuống hải cảng để chở hàng cho bộ đội VC nên không bị lục soát hay hỏi han gì và qua trạm kiểm soát này một cách dễ dàng.
Trên đuờng đi VC đóng đồn dọc theo đường, thỉnh thoảng đón xe quá giang, nhưng tôi ngồi phía trước chung với tài xế và lơ xe, nên rất là yên tâm. Trên xe bác tài có khoe một khẩu súng AK47 đuợc phát cho mỗi xe, nhưng chưa chắc là bác tài đã biết sử dụng. Tôi nhớ bữa đó trời mua tầm tả và xe bị hư máy phải dừng lại để sửa chữa, nhưng bác tài rất rành nghề chỉ sửa một chút là xong ngay, nhưng phải câu một bình xăng phụ ở bên ngoài. Đến chiều thì xe đến hải cảng Kampong Som, xe dừng trước cổng trên con đường lộ đá dẫn vào hải cảng. Khi xe vừa đến nơi thì tài xế và lơ xe đi vô cổng một cách tự nhiên mà không bị hỏi giấy tờ gì hết, nên tôi, Long và Nghĩa cũng đi theo vô trong hải cảng một cách dễ dàng.
Hải cảng này ở xa khu dân cư, có mấy lớp hàng rào kẽm gai bao bọc chung quanh, và một trạm kiểm soát tại cổng chính ra vào, với một số công an biên phòng VC canh gác. Đóng trên một ngọn đồi gần đó là một đồn công an biên phòng. Bên trong hải cảng là một bến đá, xây bằng đá tảng, để tàu cặp bến. Tôi cố nhìn thật kỹ quanh bến tàu để tìm xem có chiếc tàu nào của nuớc tự do, nhưng tôi chỉ thấy toàn cờ đỏ búa lìềm, toàn cờ cộng sản, thật là thất vọng vô cùng. Gần bến tàu là hai nhà kho rất lớn bằng sắt cất theo kiểu tiền chế của Mỹ. Có một đuờng rầy xe lửa, và ở phía trong xó góc có vài toa xe lửa bỏ không, không thấy nguời lai vãng, gần đó có một phong tên nuớc. Ở phía ngoài cổng bên cạnh con đuờng lộ đá là một cái ao khá lớn, mà thỉnh thoảng thấy có công an đến câu cá. Chiều tối đó tôi trở ra xe để ngủ qua đêm.
Sáng sớm hôm sau xe vô đậu truớc nhà kho lớn để chất hàng lên. Họ chất lên những bao bắp hột do nhân đạo quốc tế viện trợ để cứu đói cho dân Kampuchia, nay thực phẩm đó đuợc dùng để nuôi ăn cho bộ đội VC. Tôi chỉ còn bửa nay để đi lại thong thả trong hải cảng này, đến sáng mai khi đoàn xe đi rồi thì tôi không còn chuờng mặt ra đây đuợc nữa, vì bọn công an thấy sẽ biết ngay.
Chúng tôi đang lân la trong hải cảng thì bỗng có một chiếc tàu tuần của công an biên phòng VC vào cặp bến để lấy nước ngọt ở cái phong tên nuớc. Khi đó họ có hỏi tụi tôi, có muốn mua mấy món đồ lậu như ruợu, thuốc lá, đồng hồ, máy radio cassette v.v….Chúng tôi làm bộ nhận chịu, nhưng hẹn với họ ngày mai sẽ gom tiền cho nhiều để mua một lần cho tiện. Họ nghe nói thế tuởng là trúng mối to. Sau khi lấy nuớc xong là họ đi, truớc khi rời bến họ rủ chúng tôi lên tàu. Long nhanh chân nhảy lên truớc, tôi còn đang luỡng lự ngần ngừ, vì không biết họ đi đâu và đi làm cái gì, họ không nói gì cả, chỉ rủ lên tàu để đi thế thôi. Long đã ở trên tàu rồi nên thúc hối tôi lên tàu. Khi tàu mở dây cột tàu sắp chạy và vì sự thúc hối của Long nên tôi cũng nhảy lên theo, còn Nghĩa thì không đi.
Tàu chạy ra ngoài, nghe họ kể về những chuyện đi bắt ghe tàu vuợt biên. Họ đã bắt rất nhiều ghe tàu vuợt biên và lên giọng rất là sắt máu. Nguyền rủa những nguời vuợt biên là bọn phản quốc, chạy ra nuớc ngoài, bám chân đế quốc để ăn bơ thừa sữa cặn v.v… Tôi thầm nghĩ đến những chiếc ghe tàu vuợt biên nếu bị chiếc tàu tuần này bắt, thì coi như là thân tàn ma dại. Có những chuyến ghe tàu vuợt biên bị công an VC xả súng tàn sát mặc dầu họ biết đa số là đàn bà con trẻ.
Họ dẫn chúng tôi xuống hầm tàu để quảng cáo mấy món hàng mà chúng tôi hứa sẽ mua. Tàu chạy một lúc rồi cặp bến vô đậu trong căn cứ hải quân của chúng, rồi bảo chúng tôi lên bờ. Tôi cứ tuởng là tàu trở lại bến cũ cho mình lên, ai dè lại vô căn cứ VC nên cũng hơi ngại ngại. Hai đứa tôi đi ra cổng và đi theo con đuờng lộ đá dẫn vô bờ. Căn cứ này nằm xa bờ chừng vài chục thuớc, có con đuờng lộ đá làm bằng những tảng đá núi mà xe loại lớn có thể chạy đuợc.
Vô tới bờ đi bộ nguợc trở về hải cảng, dọc theo bờ biển thấy có một xóm chài, có một số tàu đánh cá, hai đứa tôi vô hỏi thăm. Lên một chiếc tàu thì gặp một nguời có mang một khẩu súng AK47, lỡ rồi nên tôi làm bộ hỏi để mua cá. Anh này nguời Miên gốc Việt nên nói được tiếng Việt. Anh ta ngó tới ngó lui rồi hỏi tụi tôi có muốn vuợt biên không. Chắc có lẽ họ thấy bộ dạng mình vô đây là định tìm đuờng vuợt biên nên mới hỏi thẳng như vậy. Thấy anh ta có súng thì hơi sợ, nhưng trong bụng thì muốn tìm cơ hội để đi, nên tôi cũng trả lời lưng chừng là bây giờ mà tính chuyện vuợt biên đâu phải dễ, tụi tôi ở đoàn xe vận tải đang đi công tác ở hải cảng. Ông ta tiếp thêm là nếu muốn vuợt biên thì ba ngày nữa trở lại đây rồi họ sẽ đưa ra hải đảo, ở đó họ sẽ chuyển qua tàu đánh cá Thái Lan, mỗi nguời hai lượng vàng, ba ngày nữa tàu sẽ ra khơi, nếu muốn đi thì lại đây. Nói xong ông ta cho một con cá to và hối tụi tôi đi ngay, vì ở đây lâu không tiện dễ bị nghi ngờ.
Tôi và Long trở về hải cảng, trên đuờng đi thỉnh thoảng gặp các toán tuần tiểu của công an biên phòng, họ đi tuần tra dọc theo bờ biển. Chúng tôi giả vờ mò cua bắt cá trong các hóc kẻ đá, khi họ đi qua khỏi rồi thì tiếp tục đi. Đi bộ một đoạn đường khá xa chừng vài cây số. Khi về đến chỗ đậu xe thì thấy có gánh bán cơm, tôi đổi cho họ con cá để lấy hai dĩa cơm. Sau khi ăn xong, tôi bàn với Long và Nghĩa là tối nay phải vô ngủ ở trong hải cảng, vì sáng sớm đoàn xe sẽ chạy trở về Nam Vang, khi đó thì mình không còn có chỗ ẩn thân ở bên ngoài đuợc. Long và Nghĩa thì có ý định trở lại Nam Vang, rồi trở về Việt Nam kiếm thêm tiền, vàng rồi trở qua đây, để đi theo mấy ghe tàu đánh cá. Riêng tôi thì tôi quyết tâm ở lại, kiếm chỗ ẩn náu quanh đây, may ra có dịp tìm đường đi, chớ quay trở lại Việt Nam thì không thể đuợc. Tôi quyết tâm là sẽ đi tới mãi chớ không quay lui. Riêng Long và Nghĩa đều là lơ xe nên chuyện đi hay trở về đều không có gì là nguy hiểm cả. Sau khi bàn tính một lúc thì Long và Nghĩa đồng ý ở lại vì thấy tôi quá quyết tâm. Chúng tôi mua ba ỗ bánh mì và lấy theo một bình nuớc rồi vô trong hải cảng ngay, truớc khi trời tối.
Tôi đã để ý từ truớc thấy có mấy goong xe lửa bỏ không ở một xó góc không có nguời lui tới. Vì vậy chúng tôi đợi đến khi trời tối, kín đáo lẻn vô trong toa xe đó và trốn luôn trong đó. Ngồi trong goong xe nhìn qua khe ván thấy đồn công an canh gác ở cổng cũng không xa lắm, vì vậy chúng tôi phải giữ gìn thật hết sức im lặng, đề phòng thật kỹ luỡng. Trong những lúc nguy hiểm tôi thuờng cảnh giác thức suốt đêm, quan sát nghe ngóng mọi động tịnh bên ngoài. Sợ khi ngủ hết, lỡ mà có nguời nào ngủ mớ la hoảng hay phát ra tiếng ngáy thì nguy hiểm lắm.
Khi trời sáng hẳn, tiếng đoàn xe rời hải cảng để trở về Nam Vang. Lúc bấy giờ bên ngoài không còn nguời lui tới, không còn thấy bóng dáng tài xế hay lơ xe nữa, vì vậy chúng tôi phải ẩn mình cho thật kỹ. Chúng tôi nằm im trong toa xe lửa đó, buổi trưa trời nóng như thiêu, chúng tôi cởi trần, nhờ khe ván hở nên cũng không đến đỗi nào. Tôi chỉ sợ nếu có nguời muốn sử dụng goong xe này, họ đến kéo đi thì rất là nguy, chúng tôi sẽ bị phát giác ngay.
Cho đến chiều thì may quá có một đoàn xe khác xuống cùng vào đậu ở phía cổng như truớc. Tôi mừng quá vì lại có dịp ra ngoài trà trộn với đám tài xế lơ xe mà không ai để ý. Và cũng vào khoảng 4 , 5 giờ chiều hôm đó, bỗng đâu xuất hiện một chấm đen từ ngoài biển khơi đang tiến dần vô bờ, càng lúc càng lớn dần và sau cùng hiện rõ ra một chiếc tàu đang huớng vô hải cảng, rồi từ từ cặp vào bến đá. Một chiếc thương thuyền quá lớn mang tên PEP STAR, đặc biệt là lá cờ trên tàu không phải là cờ đỏ búa liềm, chắc chắn không phải là tàu cộng sản. Hơn nữa chữ PEP STAR có vẻ là tiếng Anh hơn là tiếng Nga.
Sau khi tàu cặp bến xong xuôi, thấy có nhiều nguời đi lại gần chiếc tàu, khi đó tài xế và lơ xe ra vô tấp nập. Trời đã tối chúng tôi chui ra khỏi chỗ trốn và tìm cách lại gần chiếc tàu. Lúc đó có nhiều công nhân nguời Miên đang lên tàu, tôi liền hỏi nguời thủy thủ trên tàu họ cho biết là tàu của nuớc Đan Mạch, mà Đan Mạch là một nuớc ở Âu Châu, nên tôi yên trí chắc chắn không phải là một nuớc cộng sản, tôi mừng quá vì có thể xin tị nạn đuợc.
Trong bóng tối chúng tôi ngồi ở xa xa nhìn lên chiếc tàu thấy công nhân nguời Miên lên xuống theo chiếc cầu sắt cặp sát bên hông tàu. Ở trên tàu ngay chỗ đầu cầu lên xuống có hai tên công an đang đứng canh gác kiểm soát mọi nguời lên xuống rất là kỹ lưỡng. Tôi tập trung quan sát mọi hoạt động trên tàu để tìm cách lẻn trốn lên tàu, nhưng rất là khó khăn vì hai tên công an đang canh gác quá kỹ. Nếu lở lên tàu mà chúng bắt tại trận thì hết đuờng chối cãi chỉ có nuớc vô tù, mà riêng tôi thêm tội trốn trại nữa thì chắc chúng sẽ không tha.
Kể từ khi chui ra khỏi hàng rào ở trại tù Tống Lê Chân cho đến bây giờ là tôi đã vuợt đuợc một quảng đuờng khá xa, đã ra khỏi nuớc và ra đến biển và con đuờng duy nhất là phải lên cho bằng đuợc chiếc tàu này. Nhìn lên trên tàu mà thèm thuồng uớc gì mình đuợc trốn vô nằm trong chiếc thuyền cấp cứu đang treo lủng lẳng đong đưa trên đó thì quá kín đáo. Tôi cứ nhìn hoài, tàu này chở những chiếc xe truck, chỉ có phần đầu máy với cái suờn phía sau. Đây là những chiếc xe viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Cần trục trên tàu đang hoạt động liên tục đang bốc hàng xuống, mỗi lần một chiếc xe, cho nên rất là nhanh. Theo tôi nghĩ thì trong đêm nay sẽ bốc hàng xong và ngày mai tàu sẽ đi, mà tàu của các nuớc Âu Châu thì hiếm khi vào hải cảng của nuớc cộng sản này.
Trời tối dần mà Long và Nghia thì cứ hối thúc hoài, định leo đại theo dây cột tàu mà ra tàu. Nhưng đèn pha chiếu sáng khắp tứ phía thì làm sao mà leo ra đuợc, mà làm sao thoát hết đuợc ba đứa. Rồi Long lại tính đuờng nhảy xuống nuớc bơi qua bên kia thành tàu rồi tìm cách leo lên tàu. Tàu thì cao sừng sững đâu có dễ gì leo lên được, mà chung quanh đèn chiếu sáng choang, vừa nhảy xuống nuớc là bị bắn liền chứ đừng nói gì tới bơi ra tàu.
Tôi cứ chờ đợi dịp thuận tiện, mắt tôi cứ dán sát vào hai tên công an đang đứng gác trên tàu, một tên mang súng AK47, còn một tên mang K54 có lẽ là cán bộ. Quan sát theo dõi họ thật kỹ để mong tìm một chút sơ hở, nhưng mỗi lần có ai lên tàu là nó chận lại xét hỏi rất kỹ càng. Với lại mình không biết tiếng Miên, không giống nguời Miên, nên khó qua mặt đuợc nó.
Bỗng dưng trời xui đất khiến hai tên công an này đồng lúc rời bỏ vị trí buớc vô trong cabin tàu. Tôi vụt chạy lên tàu tức khắc kéo theo Long và Nghĩa. Khi lên đuợc trên tàu chúng tôi chạy băng qua bên kia thành tàu và tìm chỗ ẩn trốn, thì khi đó hai tên công an lại trở ra canh gác như cũ, nhưng chúng chỉ nhìn về phía cầu thang lên xuống, chứ không để ý gì về phía chúng tôi. Tôi nhìn quanh quất không thấy có chỗ nào để ẩn thân, không thể chui vô đống dây luột hay đống cây gỗ bên cạnh đó, vì dấu đầu lòi đuôi không thể che dấu hết ba nguời. Nhìn xuống hầm tàu thì thấy nhân công Miên đang làm ở duới đó và không thể lẫn quẫn ở đây lâu đuợc vì thủy thủ hay công nhân Miên bất chợt họ thấy họ sẽ nghi.
Ở trên tàu có hai cần trục một cần trục ở phía bên kia đang hoạt động liên tục, còn một cần trục phía gần bên tôi thì không hoạt động. Ở phía trên là phòng điều khiển bằng kiến, ở bên duới là phòng máy, có một lỗ tròn vừa nguời chun vô, tôi liền thử chui vô rồi kéo Long và Nghia vô theo. Tôi cố ép sát nguời vô trong để vừa đủ chỗ cho ba đứa ẩn mình. Lần lần tôi dọn dẹp các lon dầu, đồ đạt dụng cụ để chui sâu vào trong. Nếu có ai bất chợt đi ngang qua thì sẽ không thấy chúng tôi đuợc, nhưng nếu ló đầu vô trong thì sẽ thấy ngay. Hơi yên tâm một chút, lúc đó chắc cũng vào khoảng 11, 12 giờ đêm.
Cần trục bên kia vẫn còn đang tiếp tục hoạt động, độ một giờ sau thì chấm dứt. Sau đó công nhân lần luợt rời khỏi tàu, duy chỉ còn hai tên công an vẫn đi tới đi lui canh gác bên kia thành tàu. Sau đó nắp hầm tàu đuợc đóng lại, nắp hầm tàu làm bằng những lá sách bằng sắt nó chạy từ trong ra ngoài nghe rền vang. Sau khi nắp hầm tàu đậy xong, bây giờ chúng tôi có thể chui vô sâu thêm nằm truờn mình trên nóc hầm tàu và mọi sự trở lại vắng lặng hoàn toàn.
Tôi suy nghĩ, truớc khi tàu rời bến chắc chắn công an biên phòng và quan thuế sẽ kiểm soát rất kỹ, cho nên tôi phải tìm chỗ trốn khác kín đáo hơn, chớ không thể trốn ở đây đuợc. Lúc còn ở duới nhìn kỹ mọi hoạt động trên tàu, tôi thấy thỉnh thoảng có thủy thủ lên xuống ở phía truớc mủi tàu, như vậy phải có cầu thang lên xuống ở mũi tàu.
Đợi đêm thật khuya vắng lặng, tôi dặn dò Long và Nghĩa từng nguời một lần luợt chui ra và phải chờ khi nào công an quay lưng lại thì mới cho chui ra. Bò theo thành tàu, bò ra phía truớc mũi tàu để tìm cầu thang đi xuống hầm tàu. Trên tàu rất trống trải mà đèn thì sáng choang, do đó phải bò thật thấp để không thấy lộ hình lên trên nền trời. Sau cùng tôi đợi khi tên công an vừa xây lưng lại là tôi chui ra sau cùng, bò dọc núp duới thành tàu đến gần mủi tàu thì thấy có một cửa nhỏ, tôi mở chốt cửa rồi chui vào trong, có một cầu thang bằng sắt hình khu ốc, tôi lần theo xuống.
Xuống đến hầm tàu thì tôi thấy Long và Nghĩa nằm dài ở đó. Đây là khoang tàu nơi chứa hàng, sau khi hàng bốc đi rồi thì trống trơn không có chỗ nào để ẩn thân, mấy cây cột bằng sắt cũng không lớn đủ để che thân. Tôi thấy trốn ở đây không đuợc vì sẽ bị lộ ngay. Tôi lần theo cầu thang khu ốc để đi xuống nữa, thì khi xuống duới đáy hầm tàu, tôi thấy có một đống cây gỗ ở ngay mũi tàu, tôi mừng quá vì tìm đuợc chỗ trốn tốt. Tôi sắp lại đống cây gỗ để chừa ra một lỗ trống, đủ chỗ để cho ba đứa chui vào, xong rồi kéo thanh gỗ đậy lại, trông giống như cũ, không có dấu vết gì khả nghi. Lúc đó chắc khoảng 3, 4 giờ sáng, tôi nằm im trong đó, không dám ngủ và dặn kỹ Long và Nghĩa phải giữ thật im lặng, không được thở mạnh hay ho hen.
Độ khoảng 6 giờ sáng, tôi nghe tiếng lộp cộp đi xuống cầu thang, họ quét đèn lên trên đống cây, nhưng không thấy gì khả nghi, họ bỏ đi trở lên. Một lúc sau nữa tôi nghe tiếng còi tàu hụ lên ba tiếng, tôi mừng quá vì “tàu souffler ba là tàu ra cửa biển”. Một hồi sau tôi nghe tiếng sóng nước rào rào ở mủi tàu, tôi chợt biết là tàu đã chạy. Vì đang ở mủi tàu nên tôi không nghe tiếng máy tàu, mà chỉ nghe tiếng sóng nước đập vào thân tàu nghe rào rào và càng lúc càng mạnh. Đến một hồi nữa nghe ầm ầm, tôi biết là tàu đang chạy nhanh, đang rẽ sóng ra khơi. Một hồi sau chúng tôi chui ra khỏi đống cây gỗ.
Tôi định chờ một ngày một đêm rồi mới lên trình diện vì sợ nếu còn trong hải phận Kampuchia hay Việt Nam, thì họ có thể kêu tàu tuần đến bắt chúng tôi. Nhưng đến chiều thì Long bị ói mửa vì say sóng, càng lúc càng nặng, mặc dù trong bụng không còn thức ăn, chỉ ói ra nuớc, ói ra mật xanh. Sau cùng Long năn nỉ tôi phải lên trình diện, nếu không sẽ chết. Lúc đó tôi nghĩ là tàu đã chạy đuợc khoảng 8, 9 tiếng đồng hồ, chưa được xa lắm, chắc là còn trong hải phận Việt Nam, nhưng vì Long năn nỉ quá, nên sau cùng tôi đành phải lên trình diện.
Một mình tôi lên truớc, theo cầu thang khu ốc để lên và khi vừa chui ra khỏi cửa ở mủi tàu nhìn lên phía phòng lái bằng kính, tôi thấy nguời hoa tiêu đang nhìn xuống phía chỗ tôi, chỗ mũi tàu. Tôi tức tốc tìm cách đi thật nhanh lên đó ngay, vì sợ họ kêu tàu tuần đến bắt. Tôi đi thật nhanh, leo lên cầu thang lên tầng trên cùng và đi thẳng vô phòng lái.
Thấy tôi vừa buớc vô phòng hoa tiêu, ông ta nỗi giận dậm chân đùng đùng, bấm còi báo động. Ông hỏi tôi là ai, làm gì vô đây. Tôi liền trả lời tôi là sĩ quan Việt Nam trốn từ trại tù ở Việt Nam sang Kampuchia và trốn xuống tàu hồi đêm qua, tôi xin được tị nạn. Nhờ tôi nói bằng tiếng Anh, mặc dù không được trôi chảy, nhưng cũng hiểu đuợc phần nào. Lúc đó quần áo mặt mày tôi lem luốt dính đầy dầu nhớt, mạt cưa trông không giống ai. Tôi nói tiếp tên họ số quân của tôi và tôi đã học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại truờng Fort Benning, tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ và xin ông vui lòng liên lạc với tòa đại sứ Mỹ nào gần đây thì sẽ xác đinh đuợc lý lịch của tôi. Tôi xin ông một điều là nếu ông không nhận cho tôi tị nạn, thì xin ông bỏ tôi xuống biển, chớ đừng gọi tàu tuần đến bắt tôi, vì họ sẽ giết tôi.
Sau khi nghe tôi trình bày sự việc, tình hình bắt đầu lắng dịu, tôi liền nói thêm là hiện còn có hai nguời nữa còn đang trốn duới hầm tàu. Ông ta lại nỗi giận lên, kêu nguời đi xuống dẫn Long và Nghĩa lên. Long và Nghĩa đuợc dẫn lên ngồi trong góc, trông rất thãm não, mặt mày xanh xao, quần áo lem luốc bẩn thỉu. Xong rồi ông Thuyền truởng gọi báo về công ty, một lúc sau thì công ty chấp nhận cho chúng tôi tị nạn. Tôi mừng quá đỗi, coi như được sống lại và tôi có hỏi ông là hiện giờ tàu đang ở đâu, có còn trong hải phận Việt Nam không, thì ông chỉ cho tôi thấy một hòn đảo trông mờ mờ từ xa đó là đảo Thổ Chu của Việt Nam và ông cũng nói thêm rằng là kể từ bây giờ không ai có quyền lên tàu này để bắt chúng tôi lại, vì đây là tàu của Đan Mạch là đất nuớc Đan Mạch.
Một số thủy thủ đứng chung quanh, nghe thấy, dần dần họ có cảm tình với chúng tôi, họ đưa cho quần áo giày dép rồi dẫn chúng tôi đi tắm. Cho chúng tôi vô ở trong một căn phòng, đây là phòng của một ông kỹ sư đã đi phép. Trên giường nệm có hai tấm nệm tôi lấy một tấm đặt xuống sàn nằm ngã lưng xuống một cách thoải mái tuyệt trần. Một lúc sau chúng tôi được dẫn đi ăn, một bửa ăn thật tuyệt diệu trong đời, trong đó có cơm chiên dương châu và mấy khúc cá thu hấp rất thơm ngon chưa từng có. Đây là một bửa ăn tuyệt diệu nhất, tự do nhất, thoải mái nhất, mà tôi cảm thấy như đuợc sống lại sau bao nhiêu ngày trốn tránh lang thang vất vả căng thẳng tột cùng, có đôi khi gần nhu tuyệt vọng.
Sau khi ăn xong bửa cơm tuyệt diệu đó, chúng tôi đuợc dẫn đi thăm viếng tàu. Truớc hết đến phòng ông thuyền truởng, ông rót ruợu uống mừng cho chúng tôi đã thoát nạn cộng sản và chụp hình lưu niệm. Sau đó đi tiếp qua các phòng và được biết trên chiếc tàu này có nhiều nguời thuộc quốc tịch khác nhau như Hòa Lan, Đan Mạch, Ba Tây, Phi Luật Tân v.v….Các thủy thủ trên tàu cho chúng tôi xem hình ảnh gia đình của họ và chuyện trò rất là thân mật, thật là hết sức lịch sự và đầy tình nhân ái. Nghĩa có mang theo một số tiền Việt Nam không còn xài được nữa, nên mới đưa cho các thủy thủ. Họ rất tốt bụng đã cho lại chúng tôi mỗi nguời 20 US dollars và chọn cho chúng tôi mỗi đứa một bộ đồ vừa vặn đẹp đẽ để mặc khi lên bờ.
Chúng tôi được cho lên phòng hoa tiêu để ngắm nhìn hoàng hôn trong buổi chiều tàn, nhìn mặt trời lặn trong cảnh nuớc trời bao la, thật là tuyệt đẹp, mà tuởng chừng như trên chốn bồng lai tiên cảnh nào vậy, trong khi con tàu đang luớt sóng thật êm đềm. Đây là một chiếc thương thuyền rất lớn nên chạy thật là êm ái, khác xa với cảnh tuợng của những chiếc ghe vuợt biên bé nhỏ, chở đầy nguời, bập bềnh trên biển cả mênh mông, sóng gió hãi hùng, và còn phải lo sợ bị hải tặc hảm hiếp, cuớp của giết nguời thật là ghê rợn.
Buổi tối hôm sau tàu tiến vô một hải cảng với muôn ngàn ánh đèn rực rỡ, trong một vùng vịnh bao la, với vô số thương thuyền tàu bè đủ loại, trông thật hùng vĩ huy hoàng tráng lệ. Đó là hải cảng Singapore. Theo thủ tục của luật di trú thì chúng tôi phải vô trong phòng và thuyền truởng sẽ khóa cửa lại, để giử chúng tôi trong đó. Tuy nhiên nếu có cần gì thì cứ gọi, thỉnh thoảng có nguời đến thăm chừng, thật là hết sức lịch sự tử tế và chu đáo vô cùng.
Chừng vài tiếng đồng hồ sau thì có hai nhân viên của sở di trú Singapore đi xuồng máy ra lên tàu và mở khóa cửa phòng, thẫm vấn chúng tôi và làm thủ tục giấy tờ, xong rồi họ đi ngay. Sau đó thì có một phái đoàn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, xuống phỏng vấn và làm thủ tục. Tôi trình bày bằng tiếng Anh, nhưng bất ngờ nguời đó trả lời bằng tiếng Việt và bảo tôi cứ nói bằng tiếng Việt Nam đuợc rồi. Tôi mừng quá vì đuợc gặp nguời đồng hương, sau này tôi đuợc biết đó là cô Bích làm việc trong văn phòng Cao Ủy Tị Nạn ở Singapore. Khi làm thủ tục giấy tờ, và trong nguyện vọng xin đi định cư nuớc nào, thì tôi xin đuợc đi Mỹ, vì hiện tôi có một đứa em đang ở Mỹ, và tôi cũng đã từng du học ở Mỹ, nên nghĩ rằng sẽ đuợc cứu xét dễ dàng hơn. Chúng tôi ngủ thêm một đêm trên tàu và sáng hôm sau thì có nguời của Cao Ủy Tị Nạn ra đón ba đứa tôi lên bờ, tôi còn nhớ đó là cô Robin, nguời nuớc New Zealand.
Sau một thời gian 22 ngày đêm vuợt thoát từ trại tù Tống Lê Chân, nay tôi được đặt chân lên một đất nuớc tự do là nuớc Singapore vào ngày 27 tháng 6 năm 1980. Chúng tôi đuợc đưa về tạm trú ở khách sạn YMCA. Ở đây hiện có chừng muời nguời Việt Nam tị nạn cũng mới đến chừng vài ngày truớc và họ giao nhiệm vụ cho tôi làm thông dịch viên. Điều đầu tiên là tôi ra Bưu điện để đánh điện tín về Việt Nam cho gia đình tôi biết tin. Vì có tiền 20 dollars nên tôi gọi taxi ra Bưu điện và gởi điện tín về cho vợ tôi với nội dung nhu sau: “Đã giải phẩu xong bình an” , đó là câu mật hiệu để cho vợ tôi biết là tôi đã thoát nạn và đã đến nơi an toàn. Điện tín này đã đến nhà tôi vào ngày 30 tháng 6 năm 1980. Vợ tôi hết sức vui mừng khi nhận đuợc điện tín này, phân vân không biết Singapore là nước nào ở đâu. Vợ tôi liền đi xuống Mỹ Tho để báo tin mừng và vô Trung Lương, nơi đất hương quả mồ mã tổ tiên để cúng tạ.
Chúng tôi ở khách sạn YMCA vài ba ngày để làm thủ tục. Buổi chiều rỗi rảnh chúng tôi dắt nhau ra chợ Tàu. Đi bộ chừng 15 phút là đến, một dãy kios quán ăn rất là đông vui và ngon miệng. Long biết nói tiếng Tàu nên rất dễ giao tiếp. Ở Singapore 80% là người Hoa, còn lại là nguời Ấn và người Mã Lai.
Sau đó chúng tôi đuợc đưa vào Trại Tị nạn Sambewang, còn gọi là trại Hawkins. Khi vừa buớc vô văn phòng trại tị nạn, tôi chợt thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn treo trên tường mà lòng hân hoan vui mừng quá độ. Tôi và nhóm nguời mới tới đều vui mừng sung suớng đến rơi nuớc mắt, đuợc hôn lên Lá Cờ Quốc Gia Dân Tộc và biết chắc rằng mình đã thật sự thoát khỏi ngục tù cộng sản và đã đến đuợc bến bờ tự do.
Chúng tôi đuợc lãnh tiền trợ cấp mỗi nguời 2.50 đồng một ngày, một đồng Singapore lúc đó trị giá vào khoảng 0.8-dollar Mỹ. Ngoài ra còn đuợc phát mỗi nguời một chiếc chiếu, và cứ 6 nguời thì đuợc phát một cái lò nấu ăn. Đây là một trại lính với nhiều tòa nhà có hai tầng khang trang, trại viên trải chiếu trên sàn gạch rất mát mẻ sạch sẽ, không có ruồi muỗi. Phía ngoài là sân cỏ, đuợc giử gìn chăm sóc cắt xén rất đẹp như một tấm thảm xanh.
Cuộc sống ở trại tị nạn này rất là thoải mái, có khu chợ nhỏ ngay trong trại, đa số là nguời Ấn độ, bán đủ loại thực phẩm, rau cải, trái cây, đặc biệt là trái sầu riêng ở đây có rất nhiều. Ở ngoài vòng rào và cách trại chừng vài trăm thuớc, có một con rạch rất lớn, có nhiều cá, nhứt là cá rô Phi. Có nguời chui rào ra, luới đuợc rất nhiều cá, đem về bán chui qua các nhà.
Những nguời đuợc đưa về trại này thuờng là chỉ đuợc tạm trú ở đây khoảng 3 tháng, để làm thủ tục đi định cu, hoặc là những nguời từ trại đảo Galang đưa đến chờ máy bay để đi định cư. Hàng ngày công việc của trại là theo dỏi tin tức phát thanh trên loa, để biết khi nào đuợc gặp phái đoàn để đuợc phỏng vấn và khám sức khỏe.
Khi mới đến trại khai hồ sơ lý lịch, vì tôi đã từng du học bên Mỹ nên được Ban Chỉ huy trại giao nhiệm vụ làm Thông dịch viên. Công việc thường ngày của tôi là giúp thông dịch nếu có phái đoàn vô trại. Còn không thì phải đưa người đi ra các toà Đại Sứ Anh, Mỹ, Úc v.v…Hoặc đưa người đi bệnh viện, để khám sức khỏe để đi định cư. Ở trong trại cũng có bệnh xá để điều trị các bệnh nhẹ thông thường như ho, đau bụng, nhức đầu, nóng lạnh v.v…Lúc đó có Bác sĩ Rạng trách nhiệm bệnh xá, ông cũng là người tị nạn và trước kia ông từng là bác sĩ của Bệnh viện 3 Dã chiến ở Phú Lợi Bình Dương.
Ở trong trại tôi thấy có nhiều hoàn cảnh rất là thương tâm. Có nhiều nguời mất vợ mất con mất cha mất chồng trên đường vượt biển. Như có một ông bác sĩ, tôi nhớ mang máng tên là Phùng, Bác sĩ Phùng, ông bị khủng hoảng tinh thần gần như điên loạn, vì cả gia đinh vợ con đều bị chết. Tôi thấy ông cứ đi lang thang nói nhảm suốt cả ngày. Vì ông mắc bệnh tâm thần như vậy nên không được phái đoàn nào phỏng vấn, rồi không biết sau này ra sao.
Sau khi đến trại đuợc một tuần, tôi liền gởi gói quà nhỏ đầu tiên về cho gia đình, trong đó có vài thước vải đen, chai dầu xanh và kẹo bánh. Ba tháng sau vào tháng 10 năm 1980 thì tôi được đi định cư qua Mỹ. Long và Nghĩa thì được định cư ở Đan Mạch.
Với lòng tri ơn sâu xa, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn cứu tử của thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ đoàn trên chiếc thương thuyền Pep Star, thuộc công ty hàng hải của nước Đan Mạch, đã cứu vớt tôi và giúp cho tôi thoát khỏi ngục tù cộng sản và cho tôi đến được bến bờ tự do. Đây quả là một công ơn quá lớn lao mà suốt đời tôi không bao giờ quên đuợc.
Tôi cũng không bao giờ quên nghĩa cử cao đẹp, đầy lòng nhân đạo của Cơ quan Tị nạn Liên Hiệp Quốc UN/HCR và dân tộc các nuớc trên thế giới, đã mở rộng vòng tay cứu vớt, trợ giúp và cưu mang chúng tôi, những người tị nạn trốn chạy khỏi chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân bản.
Sau khi đến Hoa Kỳ được một năm thì tôi đuợc vào quy chế thường trú, năm năm thì đuợc vào quốc tịch. Ngay khi đến Hoa Kỳ, tôi lo ngay việc nạp đon xin bảo lãnh gia đình qua chương trình ODP và 9 năm sau thì vợ tôi và ba đứa con đã đến được Hoa Kỳ. Sau hơn 14 năm xa cách kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản, nay gia đinh tôi đuợc đoàn tụ lại như xưa, đã thoát khỏi gông cùm cộng sản và được sống trên quê hương mới đầy lòng nhân ái bao dung.
Đây quả như là một phép lạ do Ơn Trên ban phuớc cho./.
Nếu có thể tự quyết định vận mệnh của mình thì đời tôi đâu có tệ. Tôi thuộc loại học hành không được siêng năng, nhưng có cái mộng lớn, muốn đỗ đạt cao, để khi ra làm việc khoẻ thân, lại được nhiều người trọng vọng. Bao nhiêu lần, tôi ra vào đã nhẵn mặt trường thi, nhưng kết quả chẳng lấy gì làm khả quan lắm. Thất bại trên đường khoa cử, tôi còn đang loay hoay tìm một hướng đi khác, thì lệnh động viên gởi tới. Túng thế, tôi đành trốn lính. Nói rằng trốn cũng không đúng, tôi đang chờ định mệnh đưa tôi đến một cơ hội nào đó, khá hơn trường hợp đi lính. Nếu tình trạng bấp bênh này, kéo dài tới mùa thi năm sau, may ra tôi kiếm thêm được một cái bằng cấp lận lưng cho đời đỡ tủi. Hàng ngày, tôi vẫn lêu bêu ngoài phố, ngang nhiên đi trước mặt các toán Cảnh Sát chận xét giấy tờ tùy thân của thanh niên, để tóm cổ những thằng không thi hành lệnh gọi nhập ngũ, như tôi. Và mười lần như một, Cảnh Sát đều làm ngơ, không thèm xét hỏi khi tôi đi qua. Chắc họ thấy cái mặt có vẻ hiên ngang đầy khí phách của tôi, rồi tưởng tôi là thằng đàng hoàng?
Một hôm, khi đi ngang khu chợ đông người, tôi thấy một bà bán hàng cầm đòn gánh đánh một người đàn ông đạp xích lô. Người đàn ông chỉ tránh né, đỡ đòn mà không hề phản công. Bà bán hàng vừa đánh vừa chửi rủa. Tò mò, tôi đứng lại coi, và cau mày, nghĩ: “Cái loại đàn bà đanh đá, chanh chua thế này, mà cũng có người dám lấy làm vợ!” Trong phút chốc, một xe Cảnh Sát ập tới, hốt gọn hai người lên xe. Bà bán hàng thấy tôi cau mày, tưởng tôi động lòng trắc ẩn, cảm thông với bà, nên đưa tay chỉ tôi và nói với Cảnh Sát: “Cậu này là người chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, có thể làm chứng cho tôi.”
Tôi vội chống chế: “Không! Tôi có biết gì đâu?”
Nhưng đã quá muộn, người Cảnh Sát đẫy luôn tôi lên xe, và nói: “Chúng tôi cần lời khai trung thực của cậu, giúp chúng tôi phân xử vụ này phân minh.”
Khi ngồi trên xe, trên đường về bót, người đàn bà bán hàng và người đàn ông xích lô tranh nhau để giải thích với tôi về lý do ấu đả xảy ra, cố giành phần phải cho mình. Người nào cũng mong vì cảm tình riêng trong nhất thời, tôi sẽ nói những lời có lợi cho họ. Nhưng, tôi còn tâm trí đâu mà để ý chuyện ruồi bu của họ. Tôi đang nghĩ đến vấn đề khó khăn rắc rối sắp tới của tôi.
Tại bót Cảnh Sát, trước khi lấy lời khai nhân chứng, họ yêu cầu tôi xuất trình giấy tờ tùy thân. Sau khi xem xét giấy tờ, viên Cảnh Sát ngồi sau chiếc bàn nhỏ, ngẩng đầu lên hỏi: “Cậu có giấy hoãn dịch không?”
Tôi lắc đầu. Thế là họ chẳng cần tôi làm nhân chứng. Họ tống tôi vô phòng tạm giam, chờ giao cho Quân Cảnh, đưa vào quân trường thụ huấn trò chơi súng đạn. Tôi nghĩ, định mệnh đã khiến người đàn bà bán hàng xô tôi vào khúc quanh mới của cuộc đời. Thời gian thụ huấn tại quân trường Thủ Đức, có một bài thi trắc nghiệm tâm lý. Theo lời vị sĩ quan giám khảo, bài thi này được chấm bởi máy IBM, đưa tới quyết định ám số chuyên nghiệp của mỗi quân nhân trong đời binh nghiệp. Trong bài có rất nhiều câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, vô lý.
Thí dụ: “Khi đang đứng trên lầu cao, bạn có ý tưởng muốn nhảy xuống đất không?” Chỉ những kẻ điên khùng hoặc muốn tự vận mới trả lời “có” mà thôi. Tôi không thuộc loại người này. Nhưng muốn trả lời trái ngược, để cho cái máy IBM không biết đường nào quyết định. Tôi đánh dấu thập vào ô chữ “có”. Nhiều câu hỏi khác, tôi cũng trả lời một cách bất thường như thế. Thật không ngờ, ngày ra trường, tôi mang ám số chuyên nghiệp loại tác chiến. Tôi nói với mấy tên bạn đồng khoá về điều này, và chê cái máy IBM thiếu chính xác.
Chúng nó lý luận rằng: “Đứng trên lầu cao, mày muốn nhảy xuống đất, có nghĩa mày là thằng gan cùng mình. Vì thế, cái máy quyết định đưa mày ra tác chiến để làm người hùng chiến trường. IBM chính xác quá đi chứ!”
Cũng trong thời gian ở quân trường, kỳ thi hạch miệng về môn chiến thuật, vị sĩ quan giám khảo đặt câu hỏi: “Theo tin tình báo, vào giờ G, sẽ có một trung đội địch di chuyển ngang địa điểm B. Anh nhận nhiệm vụ dẫn trung đội đến điểm B phục kích. Đúng giờ G, địch di chuyển ngang qua một tiểu đoàn, chứ không phải một trung đội như tin tình báo. Trong trường hợp này, anh là trung đội trưởng, phải xử trí thế nào?”
Tôi đứng ngẩn ra một lúc, than thầm: “Trời ơi, đặt chi một câu hỏi hóc búa, làm khó người đem thân giúp nước!” Đối với môn chiến thuật, khi huấn luyện viên giảng bài, tôi thường ngủ gục, nên sự lãnh hội và ghi chép có rất nhiều thiếu sót. Cuối cùng, tôi nghĩ, đã đem quân đi phục kích, gặp địch là phải đánh chứ còn lừng khừng gì nữa.
Tôi trả lời một tiếng cứng cỏi: “Đánh.”
Vị sĩ quan trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi, nói: “Cấp số giữa địch và ta quá chênh lệch. Nếu đánh thì trung đội sẽ chết hết. Tôi cho anh quyết định lần thứ hai.” Tôi lại suy nghĩ, nếu dẫn quân chạy, thì cũng chưa chắc thoát được hoả lực hùng hậu của địch, mà còn mang tiếng hèn. Chi bằng nhào vô tử chiến, dù bên ta chết hết, nhưng cũng gây cho địch một tổn thất nặng nề. (Đó chỉ là ý nghĩ thôi. Trên thực tế, có lẽ tôi sợ đến quýu cả tay chân, không dám động đậy.)
Google photo
Và lần thứ hai, tôi cũng trả lời: “Nhất định đánh.” Vị sĩ quan giám khảo lắc đầu, bỉu môi: “Anh không biết gì về chiến thuật cả. Trường hợp này, anh phải im lặng cho địch đi qua, để ta bảo toàn lực lượng. Sau đó, báo về trung tâm hành quân, cho phi pháo dội lên đầu tiêu diệt địch.” Ông ngó tôi một lúc để nghĩ ngợi, rồi nhè nhẹ gục gật cái đầu, nói tiếp: “Môn thi này, tôi cho anh mười bảy điểm, không phải vì anh giỏi chiến thuật. Đó là số điểm gan dạ phi thường của anh.” Sau chín tháng mồ hôi, sương gió, nắng mưa trên các bãi tập vùng đồi Tăng Nhơn Phú, tôi ra trường Thủ Đức, được đưa về một đơn vị Biệt Động Quân. Nghe nói, có vị sĩ quan trưởng phòng năm, sắp sửa đi thụ huấn bổ túc một khoá tâm lý chiến. Hiện tại, tiểu đoàn đang cần một phụ tá trưởng phòng năm, để tạm thay thế điều hành công việc trong thời gian ông này đi vắng. Tôi cố tạo một bộ mặt hiền lành, để người ta thấy tôi dễ thương, cho tôi làm phụ tá thì đời đỡ khổ biết mấy. (Đâu có ai thích bộ mặt hung dữ, dễ ghét làm phụ tá cho mình).
Một buổi chiều, trong phiên hợp, ông già tiểu đoàn trưởng, nói với các sĩ quan: “Có thằng chuẩn uý mới ra trường, trông nó còn non sữa lắm, cần phải lăn chai, tẩm thuốc cho săn da, chắc thịt. Có đại đội nào nhận thằng này không?”
Vị đại đội trưởng đại đội hai, lên tiếng: “Để tôi nhận. Tôi chỉ cần “dợt” nó vài ba tháng là đêm ngủ hết thấy ác mộng, sét đánh cũng không giật mình.”
Quay nhìn tôi, ông già tiểu đoàn trưởng nói: “Tạm thời chuẩn uý về đại đội hai, rồi từ từ sắp xếp lại, tính sau.”
Tôi đã chờ đợi cái câu: “… từ từ sắp xếp lại, tính sau.” gần mười năm, nhưng chẳng thấy ai sắp xếp lại, và tính gì cả. Tôi vẫn là thằng lính đi trận cho đến ngày tàn cuộc chiến.
Về đại đội hai, tôi làm cố vấn trung đội. Theo thông lệ của binh chủng, sĩ quan mới ra trường chỉ được làm cố vấn trung đội. Gọi là cố vấn cho oai, chứ hình thức chỉ là thằng lính trơn, mang ba lô lẽo đẽo theo trung đội để học nghề đánh giặc. Sau ba tháng, nếu thấy “làm ăn” được, sẽ cho nắm trung đội trưởng.
Đúng mười lăm ngày, sau khi tôi về đại đội, một trận đánh lớn xảy ra. Giữa khuya, đang nằm ngủ, tôi choàng dậy vì một tiếng nổ thật lớn. Tiếp theo, tiếng súng nổ liên hồi không ngớt. Tôi nghe có tiếng ai la lớn: “Địch tấn công!” Trong bóng đêm lờ mờ, tôi thấy mọi người đang lao xao, tất bật xách súng đạn nhào ra kháng tuyến. Tôi cũng quơ vội súng đạn, phóng xuống hố cá nhân, nằm chết điếng, không dám ngóc đầu lên, nghĩ thầm: “Đi thứ lính gì mà lang thang rày đây mai đó, không có đồn bót phòng vệ cố định. Đêm nằm, không có lấy một hàng rào kẽm gai làm chướng ngại vật. Địch chỉ cần xông tới là vị trí bị tràn ngập ngay. Đời một chuẩn uý mới ra trường, sắp tàn mạng tại đây, đêm nay.”
Khi trận đánh còn đang tiếp diễn, không biết thằng truyền tin từ đâu vụt đến, bảo tôi hãy di chuyển chỗ khác, vì chỗ tôi đang núp, ngay tầm B40 của địch. Quả thật, đã có mấy trái B40 nổ chát chúa gần bên tôi rồi. Nhưng, tôi không đi đâu hết. Không phải tôi gan, chỉ vì quá sợ, tôi không dám ló đầu lên khỏi mặt đất mà thôi. Một lúc sau, vị thượng sĩ già trung đội trưởng bò tới, căn dặn tôi hãy nằm yên tại chỗ, và bảo tôi hô lên thật lớn.
Tôi hỏi: “Hô cái gì?”
“Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.” Thượng sĩ nói.
Tôi lập lại: “Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.”
“Phải la thật lớn cho mọi người đều nghe.”
Tôi rướn đầu lên khỏi miệng hố, gân cổ hô mệnh lệnh bằng cái giọng sợ hãi lạc thần, bị át đi trong tiếng đạn nổ dữ dội như nhiều nhà cùng đốt pháo tết một lượt. Trong đêm, ba lần, vị thượng sĩ đã bò tới, bò lui bắt tôi hô lớn câu đó.
Trận đánh tàn trước lúc trời sáng. Có nhiều người chết và bị thương. Tôi lên khỏi hố, đi qua đi lại, không biết làm gì. Những người khác đang lo bó những tử thi vào poncho, và những chiếc trực thăng đang đáp xuống tải thương, dưới ánh sáng chập chờn của hoả châu.
Buổi xế chiều, sau phiên họp với các đại đội trưởng, ông già tiểu đoàn trưởng cho lệnh gọi tôi lên trình diện. Tôi hồi hộp, lo sợ ông ta sẽ xài xễ trách mắng. Vì trong suốt trận đánh, tôi chỉ rúc đầu xuống hố cá nhân, không bắn được viên đạn nào. Nhưng thái độ của ông làm tôi vô cùng ngạc nhiên.
Ông thân mật vỗ vai tôi, và nói: “Tuyến phòng thủ của đại đội hai là mặt bị tấn công mạnh nhất. Mày, chuẩn uý mới ra lò mà can đảm, và biết điều động trung đội giữ vững vị trí chiến đấu, đẫy lùi hai đợt xung phong của địch. Đáng lẽ mày được tưởng thưởng anh dũng bội tinh, nhưng còn nhiều anh em khác đã tham dự nhiều trận trước, chưa được tưởng thưởng. Thôi, lần này hãy nhường cho họ. Tao biết mày có khả năng, lần sau tao không quên đâu. Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.”
Tôi đâu biết, địch đã xung phong hai lần, đều bị đẫy lui. Công đó của ai, chứ không phải của tôi. Tôi cũng không ham cái huy chương. Tôi lo vì câu nói của ông tiểu đoàn trưởng: “…Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.” Với tôi, câu này còn có nghĩa rằng, mày còn nhiều cơ hội chạm mặt tử thần. Nghe mà ớn lạnh!
Trở lại trung đội, tôi hỏi vị thượng sĩ: “Tại sao trong đêm ông bảo tôi hô lớn mệnh lệnh nhiều lần, khi có ông đang chỉ huy trung đội?”
Ông giải thích: “Nay mai, chuẩn uý sẽ nắm quyền trung đội trưởng, và tôi làm trung đội phó. Tôi muốn tạo cho chuẩn uý một lớp hào quang người hùng. Nếu anh em không tin khả năng của chuẩn uý, khó chỉ huy lắm. Chuẩn uý yên trí đi, với cương vị trung đội phó, tôi sẽ giúp đỡ chuẩn uý hết mình. Đừng lo.”
Bây giờ, tôi mới hiểu mục đích của người đồng đội. Tôi nghĩ, định mệnh đã dùng ông như bàn tay, để sơn phết cho tôi, một tên hèn nhát được nhìn như một người can đảm. Lại một lần khác, trong cuộc hành quân vùng sình lầy. Mục tiêu là khu rừng phía trước. Khi đại đội đang lội bì bõm dưới nước, gần tới bìa rừng thì từ trong những lùm cây, địch khai hoả dữ dội. Tôi nhìn thấy nhiều người ngã xuống. Cả đơn vị lâm vào thế tấn thối lưỡng nan. Lui không được, tiến không xong. Những người còn lại phải trầm mình xuống nước, bám theo những bờ đất, bắn chống trả, chờ phi pháo yểm trợ. Tôi cũng trầm mình xuống nước. Chợt nhớ đến một con vật tối kỵ đối với tôi: con đỉa. Tôi quay đầu ra sau, quan sát. Trời ơi! Một con đỉa bự bằng cái quai dép râu, trên lưng có hai cái sọc vàng như cương ngựa, đang phóng nước đại về phía tôi. Kinh hoàng, tôi trườn lên nằm trên bờ đất. Bây giờ, tôi là mục tiêu ngon lành cho bao nhiêu họng súng từ bìa rừng bắn xuống.
Thằng truyền tin hấp tấp, nói: “Thẩm quyền gọi máy, bảo chuẩn uý xuống bờ núp đạn.”
Tôi vẫn nằm trên bờ, xả súng bắn ngược lên bìa rừng.
Lúc sau, thằng truyền tin lại nói nữa: “Thẩm quyền bảo, nếu chuẩn uý không chịu núp đạn, ổng sẽ bắn chuẩn uý chết trước khi bị địch bắn.”
Tôi nhìn lui, thấy vị đại đội trưởng chỉa họng súng về phía tôi. Tôi nhìn xuống nước, con đỉa đâu mất rồi. Nhưng, chắc còn nhiều con khác đang lặn trong nước chờ đợi tôi, để chui vào quần áo, bám vào da thịt. Nghĩ đến lớp da con đỉa nhớt nhợt, trơn lùi, tôi ghê tởm, rùng mình nổi gai ốc.
Nỗi sợ đỉa lớn hơn nỗi sợ hoả lực của địch, tôi vụt đứng dậy, quơ tay làm thủ hiệu tấn công, miệng la lớn: “Xung phong. Xung phong.”
Vừa la, tôi vừa bắn và nhào lên. Lính trong trung đội thấy tôi xung phong một cách anh dũng, cũng đứng dậy bắn, đồng loạt hô: “Xung phong” và tràn lên chiếm bìa rừng. Nhiều anh em đồng đội ngả xuống giữa khoảng đường ngắn ngủi nhưng thập tử nhất sinh này.
Nhờ vào địa thế mới chiếm làm bàn đạp, đơn vị đã thanh toán hoàn toàn được mục tiêu sau một ngày giằng co quyết liệt. Quân số trung đội tôi, hai mươi sáu thằng, chỉ trở về một nửa.
Ngày ông liên đoàn trưởng đến thăm đơn vị, để khen tặng công trạng tiểu đoàn, ông già tiểu đoàn trưởng ca ngợi tôi không tiếc lời: “Tao đứng từ xa, quan sát trận địa bằng ống dòm, thấy trung đội của mày chơi mạnh và đẹp như một mũi nhọn đầu tiên thọc vào hông địch. Nhất là mày, một chuẩn uý mới ra lò, đã tỏ ra xứng đáng là con chim gương mẫu đầu đàn. Dù chưa đủ ba tháng thử thách, tao cũng cho mày nắm quyền trung đội trưởng, từ đây. Tao đã đề nghị lên thượng cấp, tưởng thưởng cho mày anh dũng bội tinh ngôi sao bạc.”
Nghe ông tiểu đoàn trưởng nói, tôi mắc cỡ đỏ mặt. Lần này, định mệnh dùng con đỉa rượt tôi chạy về phía trước, để người ta lầm tưởng rằng tôi là một tên anh hùng gan dạ. Trong binh nghiệp, đời tôi cứ thế mà đi, như có bàn tay vô hình đưa đẩy. Bao nhiêu lần dấn thân vào bom đạn, vì chưa tận số nên tử thần chưa cầm lưỡi hái cắt đứt sự sống của tôi. Gần mười năm trận mạc, tôi chỉ bị xây xước nhẹ, vài lần. Lính trận coi chuyện đó như kiến cắn mà thôi.
Nếu đứng trên phương diện quốc gia mà xét, tôi là một công dân tốt. Chẳng có ông thầy bói nào dám tiên đoán rằng tôi có số ở tù. Cuối tháng Tư, năm bảy mươi lăm. Định mệnh lại xô tôi vào khúc quanh mới. Khúc quanh này bi thảm và ác liệt hơn khúc quanh mười năm trước.
Sau ngày chế độ miền Nam sụp đổ, tôi lò dò ra nạp mạng. Tưởng chỉ bị chửi bới sơ sơ, rồi người ta đuổi về, cho đạp xích lô, hoặc đi cày, làm ruộng kiếm ăn. Không ngờ họ lý luận rằng, kẻ tốt của chế độ này, là thành phần xấu của chế độ kia. Cùng một không gian, nhưng thời gian thay đổi, tôi vụt biến thành tù nhân, và bị đưa ra đất Bắc cải tạo. Chẳng biết Nguyễn Du thông đạt cái lý lẽ thiên cơ mầu nhiệm đến cỡ nào, nhưng trường hợp của tôi, ông đã nói quá đúng: “Cho hay muôn sự tại trời!”
Làm tù khổ sai nơi miền thượng du. Lao động quần quật giữa vùng sơn lam chướng khí. Chiều về, không đủ miếng ăn. Thường xuyên bị nhục mạ đủ điều. Đêm nằm trong bóng tối phòng giam, tôi nghĩ, sao vận mệnh con người lại bị sắp xếp bởi một bàn tay vô hình? Dù không làm được việc thiện, nhưng tôi cũng chẳng làm việc gì ác. Thế tại sao tôi lại sa vào địa ngục trần gian? Có cách nào cưỡng lại được không? Đang trong hoàn cảnh bi đát, bỗng tôi nhớ thêm một câu, trong truyện Kiều: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.” Tôi tin cụ Nguyễn Du, và quyết tâm thay đổi vận mệnh, bằng cách tháp tùng với vài người bạn, làm một cuộc vượt trại, hi vọng cải được số trời.
Toán vượt trại gồm bốn người. Trong thời gian ba tháng, chúng tôi bí mật bàn thảo kế hoạch, và chuẩn bị những vật dụng cần thiết cho chuyến đi.
Đêm đầu tiên, chui ra khỏi hàng rào trại tù, chúng tôi đi về hướng Tây, và để lại nhiều dấu vết. Mục đích đánh lừa cho địch theo dấu, truy đuổi về hướng Tây. Họ sẽ đoán, chúng tôi xuyên Lào, qua Thái Lan. Đến ngày thứ hai, chúng tôi đột ngột chuyển về hướng Bắc, và không để lại dấu vết. Sở dĩ, chúng tôi chọn hướng này vì biết được mối tình hữu nghị giữa hai nước Việt Trung đã trở mặt rồi. Chúng tôi đang nằm trong địa phận Yên Bái, dự trù mười lăm ngày sau, sẽ có mặt bên kia biên giới. Dãy núi hình rẽ quạt Hoàng Liên Sơn trong sách địa dư ngày còn đi học, hiểm trở hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi. Núi tiếp núi, chập chùng như sóng biển. Nhắm hướng Bắc, theo đường chim bay, chúng tôi leo lên tận những đỉnh núi mây mù phủ kín quanh năm, lần mò qua những lũng thấp âm u đầy sên vắt. Chịu biết bao nhiêu nhọc nhằn, nguy hiểm. Ngày thứ mười hai, một người vĩnh viễn bỏ thây lại giữa rừng già, bởi chứng sốt cấp tính. Còn lại ba người, chúng tôi vẫn đi tiếp tục đoạn đường, theo kế hoạch ban đầu. Hai ngày sau, khi đang len lỏi giữa rừng cây, trèo lên dốc núi, chúng tôi bị một người đàn bà Mèo nhìn thấy. Tính giết đi để bảo toàn bí mật, nhưng không ai nở xuống tay với người vô tội. Để sống, thì cũng biết đây là mầm tai họa. Cuối cùng, tha cho người đàn bà Mèo đi. Và chính người này, đã tố giác chúng tôi với chính quyền đia phương. Định mệnh vẫn không dung cho kẻ có lòng nhân. Chúng tôi bị bủa vây cùng khắp. Ngày thứ mười sáu, cả toán bị phát hiện, lúc tôi đang núp ló nơi một khe nước trên lưng chừng núi.
Một tên chỉa súng vào tôi, hô lớn: “Đứng dậy. Giơ tay lên.”
Tôi từ từ đứng dậy, buông xuôi hai tay.
“Giơ tay lên.” Hắn lập lại mệnh lệnh.
Tôi lắc đầu, đứng sững nhìn hắn. Cử chỉ phản đối này, như một thách thức cho hắn bắn vào giữa ngực tôi. Trong khi chờ đợi viên đạn, tôi nghe một luồng khí lạnh từ dưới bàn chân, vụt tràn dâng lên tới đỉnh đầu, làm cả người lạnh toát. Tôi vốn nhát gan, nhưng lâm vào đường cùng, tôi liều mạng. Hành động này, dễ làm cho người ta tưởng tôi là người can đảm.
Tên cầm súng kéo cơ bẩm, cho đạn lên nòng, nghiêng đầu, nhắm hướng súng vào mục tiêu. Bỗng tên chỉ huy từ phía sau, vượt tới, hất mũi súng chỉa lên trời, không cho bắn.
Hắn ra lệnh: “Trói nó lại.”
Một lần nữa, bàn tay vô hình của định mệnh đã điều khiển tên chỉ huy giữ lại mạng sống tôi. Nơi chúng tôi bị bắt, thuộc địa phận Lao Cai. Nếu chậm hơn vài ngày, có thể chúng tôi sang được bên kia biên giới Việt Trung, thoát khỏi cảnh tù đày và đời tôi đã đổi khác.
Mười năm sau, tôi ra khỏi tù. Sức khoẻ đã bị vắt cạn trong những ngày lầm than, đói khổ. Bây giờ, tôi đang sống tàn tạ nơi quê người. Nhìn lại đời mình như một bức tranh lỡ tay của người hoạ sĩ, với những phác hoạ nửa chừng dang dở, những lem nhem làm ố khung màu. Một bức tranh hư, bị ném vào xó góc, buồn hiu, đóng bụi.
(Một bài viết cũ. Một chuyện thiếu nhi dành cho người lớn, đọc mua vui trong thời gian dịch Covid-19 hoành hành theo chiến thuật du kích rình mò đánh lén).
Gốc gác gia đình cậu Hai Say là nhà nông, nhưng cậu ít khi ngó ngàng đến ruộng nương. Mùa màng cấy gặt, cậu giao hết cho vợ trông nom. Còn cậu, cứ tà tà đi tán dóc, coi đời như chốn rong chơi. Đầu thôn cuối xóm, ai cậu cũng quen. Ra đường, gặp nhau chào hỏi mệt nghỉ. Chào mãi đâm nhàm, chỉ cần nhìn mặt nhếch mép mỉm cười là đủ.
Có một thời cậu theo cách mạng vô bưng biền. Công cuộc trường kỳ kháng chiến cần nhiều hy sinh gian khổ, không hợp với tính ưa hưởng nhàn của cậu. Cậu bỏ về, mang theo căn bệnh sốt rừng. Da cậu tái nhợt như tàu lá chuối non. Thầy thuốc Nam bảo, cậu ăn uống nhiều vật thực mang tính âm hàn nên sinh ra dị chứng, phải xổ độc để tống khứ nhiễm khí rừng thiêng. Cậu uống bao nhiêu thang thuốc Nam, vẫn không xổ hết chất độc. Mợ Hai, vợ cậu phải bán một bồ lúa, đưa cậu ra tỉnh thành trị bệnh. Bác sĩ nói, cậu bị sốt rét kinh niên. Nếu để lâu, con vi trùng xâm nhập vào gan thì bỏ mạng. Sau một thời gian dùng thuốc Tây, cậu khỏi bệnh. Và từ đó, cậu lấy chữ nhàn làm gốc.
Cái tên của cậu làm tôi thắc mắc. Cậu là Hai Say hay Hay Say? Cách phát âm của người miền Nam, không phân biệt giữa Hai với Hay. Và Say có phải là tên thật của cậu, hay người ta thấy cậu thường có hơi rượu, rồi gán cho cậu cái biệt danh Say? Tôi không dám hỏi về điều này. Mà có hỏi, cũng chưa chắc cậu trả lời thật. Bởi xưa nay, cậu vẫn hay thêu rồng vẽ rắn. Chuyện thật như đùa, chuyện đùa như thật. Biết đâu mà lường.
Trước cửa nhà tôi có con đường đất. Cậu Hai Say thường đi trên đường này, mỗi ngày. Cậu ghé vào nhà này, nói năm ba chuyện trên trời dưới đất. Tạt vào nhà kia, tiên đoán thời tiết nắng mưa. Không bao giờ nghe cậu đặt vấn đề làm ăn sinh kế. Cậu nói, cậu là ông tiên ở trên trời bị đọa xuống trần gian, và ngâm nga:
Có chồng say như trong chay ngoài bội
Ngó vô nhà như hội Tầm Dương
Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ
Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh.
Đã là tiên thì đâu cần phải làm gì. Cậu rong chơi, chờ ngày mãn kiếp về trời.
Nhà tôi là nơi cậu thường vào nghỉ chân sau một chuyến đi rảo quanh làng, hoặc lừng khừng sau khi lai rai vài ba sợi đế. Cậu đến nhà tôi, người lớn không cần phải bận tâm đón tiếp. Quen thân quá, hóa lờn. Không ai vô công rồi nghề để ngồi nghe cậu nói chuyện Nam Tào Bắc Đẩu. Cậu cũng không cần làm khách, cứ nằm tự nhiên trên cái võng giữa nhà, đưa qua đưa lại, miệng phì phà điếu thuốc.
Anh chị em tôi rất thích cậu Hai Say. Cậu có cả một kho tàng chuyện lạ, kể hoài không hết. Muốn nghe cậu kể chuyện, chúng tôi phải thay phiên đưa võng cho cậu lấy hứng. Đưa võng cũng phải có nghệ thuật. Cậu nói, đưa mạnh quá làm nôn ruột, đưa nhẹ quá dễ buồn ngủ. Thế thì phải đưa thử, đến lúc nào cậu bảo được là giữ nhịp võng ấy mà đưa hoài. Mỗi khi cậu chấm dứt một câu chuyện kể, phải biết ý cậu, đưa mạnh hơn để tán dương và phụ họa cho tiếng cười phơi phới lên cao. Không phải lúc nào cậu cũng chịu đưa võng. Những khi trời nóng nực, phải quạt cho cậu mát. Quạt mạnh quá, cậu nói ngộp thở. Nhẹ quá, cậu bảo không mát. Phải quạt vừa vừa, đều đặn. Cậu nằm phanh áo, bày ngực và bụng. Quạt từ trên mặt, quạt dài xuống bụng. Cái quạt làm bằng mo cau, tôi còn nhỏ phải cầm hai tay quạt mới xuể.
Những chuyện kể của cậu Hai Say, mấy mươi năm qua rồi, tôi không nhớ hết. Sau đây là một trong vài chuyện, tôi còn nhớ được:
Thời cậu còn theo kháng chiến làm cách mạng. Cậu đã đi rất nhiều nơi, từ chốn bưng biền cho đến miền rừng sâu núi thẳm. Một hôm cậu ngang qua một vùng núi non hiểm trở, bỗng nghe tiếng động ầm ầm dữ dội như tiếng của Thần Rừng Thần Núi giao tranh. Cậu hoảng hồn, mau chân chạy tránh xa nơi hung hiểm. Năm sau, cậu có dịp hộ tống Bác Hồ ngang qua vùng ấy nữa. Cậu thấy xác hai con vật khổng lồ, con rít chúa và con mảng xà vương nằm chết. Xác đã rữa mục rồi. Bấy giờ, cậu mới hiểu ra rằng tiếng động ầm ầm mà cậu nghe năm ngoái là do hai con vật đánh nhau. Cái đuôi của chúng vùng vẫy làm gãy đổ cây cối cả một vùng rừng rộng lớn.
Mảng xà vương chết, còn lại bộ da trải dài như con đường lát gạch. Bác Hồ là người thông minh, có nhiều sáng kiến lạ. Bác bảo, mỗi người cắt vài miếng da mảng xà để làm dép râu. Và Bác đã mang đôi dép này đi suốt “Đường Kách Mệnh.” Đôi dép râu bằng da mảng xà, bền chắc vô cùng. Khi Bác lên làm chủ tịch nước, người ta đưa đôi dép râu này vào trưng bày trong viện bảo tàng. Các nhà khoa học lừng danh của Liên Xô có đến chiêm ngưỡng. Họ dùng phương pháp khoa học tối tân để phân chất, nhưng vẫn không khám phá ra dép của Bác làm bằng nguyên liệu gì. Đó một bí mật mà nhà nước ta giấu kín, không công bố cho bất cứ nước nào biết, dù là nước anh em xã hội chủ nghĩa cũng vậy. Tất cả những gì liên quan đến Bác, đều được truyền miệng một cách hư hư thực thực như huyền thoại. Để từ đó, người ta nhìn thấy Bác là một vĩ nhân.
Con rít chúa chết, còn lại cái vỏ. Vỏ rít có nhiều đốt, nối lại như một đường ống dài. Lúc ấy, trời bỗng đổ mưa to. Bác Hồ bảo mọi người chui vào cái vỏ rít mà trú mưa. Mưa to thế mà không ai bị ướt.
Bác Hồ nói: “Lấy cái vỏ rít này dùng làm địa đạo hoặc nóc hầm trú ẩn, có thể chống được bom đạn.”
Đấy lại là một sáng kiến độc đáo nữa. Có người rút nhật ký ra ghi chép lời Bác.
Anh tôi hỏi: “Ghi chép làm gì?”
Cậu nói: “Để sau này Bác dùng làm tài liệu, viết ký sự “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện,” dưới cái tên giả T. Lan hay Trần Dân Tiên gì đó.”
Cậu tiếc rằng, ở giữa vùng rừng núi xa xôi, không thể khiêng vài cái đốt của vỏ rít chúa về xóm làng.
Anh tôi lại hỏi: “Khiêng về làm gì?”
Cậu nói: “Để bán cho người ta làm mui xe bò. Mỗi đốt làm được một cái mui xe, rất chắc. Xài cả đời cũng không hư.”
Chị tôi hỏi: “Cậu từng phục vụ cho Bác Hồ. Cậu thấy Bác ra sao?”
Cậu tấm tắc khen: “Ồ, đẹp lắm. Trông Bác có cái dáng vẻ tiên phong đạo cốt, dưới càm phơ phất một chòm râu.”
Tôi phấn khởi, hát bài hát được cách mạng dạy cho trẻ em miền quê lúc ấy: “Mong Bác Hồ cho chúng cháu xin, đôi sợi râu làm dây thân ái.” Và hỏi: “Sao cậu không xin Bác một sợi râu?”
“Dễ gì? Bác chỉ có một chòm râu mà trẻ em cả nước đứa nào cũng muốn xin một sợi. Lấy đâu cho đủ?” Ngừng một lúc, cậu lại nói. “Dù thế, nhưng cậu cũng tìm cách để có được một sợi râu của Bác.”
“Khi Bác ngủ, cậu lén nhổ râu bác hả?”
“Không. Nhổ râu Bác cũng giống như vuốt cái vảy ngược dưới cổ con rồng.”
“Vuốt cái vảy ngược của rồng thì sao?”
“Thì chết chứ sao? Tương truyền, rồng là một linh vật chúa tể của muôn loài. Vảy rồng mọc xuôi về phía sau, nhưng dưới cổ có một cái vảy mọc ngược về phía trước. Ai chạm phải cái vảy ngược, nó giết liền. Người có chân mạng đế vương, thường được ví với rồng. Vì thế, mỗi sợi râu của Bác được coi như một sợi râu rồng. Người đời thường gọi là long tu. Nhổ long tu của Bác, chẳng khác nào chạm cái vảy ngược của rồng.”
“Nguy hiểm như vậy, làm sao cậu lấy được long tu Bác?” Anh tôi hỏi.
Cậu giải thích: “Mỗi buổi sáng, cậu có bổn phận bưng thau nước vào cho Bác rửa mặt. Khi xong, cậu đem đi đổ. Trước khi đổ, cậu quan sát thật kỹ, những mong có được một may mắn. Và cậu đã may mắn thật, trong thau nước rửa có một sợi râu rụng của Bác. Cậu giữ lại sợi râu quý này làm kỷ niệm.”
“Cho tụi cháu xem thử đi.” Chị tôi háo hức.
Cậu nạt: “Ngồi yên! Nghe cậu kể. Người ta nói cọp chết để da, nhưng không ai nói cọp chết để râu. Vì mỗi lần hạ được một con cọp, việc đầu tiên phải làm là đốt ngay bộ râu.”
“Sao thế?” “Nếu kẻ ác lấy được sợi râu cọp, họ sẽ dùng vào việc giết người.”
Anh tôi thắc mắc: “Râu cọp mà có thể giết người được sao?”
Cậu Hai Say nói: “Họ nhét râu cọp vào mụt măng. Cháu biết măng là gì không?”
Chị tôi nhanh miệng: “Măng là mầm non của tre trúc mới nhú lên khỏi mặt đất.”
“Đúng rồi. Nhét sợi râu cọp vào mụt măng. Lâu ngày, sợi râu sẽ hóa thành con sâu màu đen. Cứt của con sâu này là một thứ thuốc độc ghê gớm. Chỉ cần cho vài viên cứt sâu nhỏ bằng đầu cọng tăm vào lu nước. Ai uống phải nước này, sẽ ngả ra chết liền.”
Chúng tôi rút cổ le lưỡi: “Ghê quá!”
“Im! Bình tĩnh, nghe cậu kể tiếp. Râu Bác Hồ như râu rồng. Cậu tự hỏi, nếu đem nhét vào mụt măng, nó sẽ hóa ra con gì? Vì tò mò, cậu đã làm thử.” “Cháu nghĩ nó sẽ hóa ra một con rồng nhỏ.” Chị tôi đoán.
“Không. Chẳng phải rồng mà là một con sâu đỏ lòm, cháu ạ.”
“Thế, cậu làm gì với con sâu ấy?”
“Chẳng làm gì cả. Thấy con vật lạ thì nuôi chơi vậy thôi. Cậu nhốt nó trong một chiếc hộp nhỏ, đi đâu cũng mang theo bên mình. Nhưng nó không chịu ăn, lừ đừ gần chết. Cậu không biết làm sao để có thể nuôi nó lâu dài. Có lần, cậu vô ý làm đứt tay, một giọt máu tươi rớt vào trong hộp. Nghe mùi tanh của máu, nó như được hồi sinh và hút sạch giọt máu. Thế là cậu khám phá ra con sâu đỏ này chỉ có thể nuôi bằng máu.”
“Cậu làm sao đủ máu mà nuôi nó hoài?” Anh tôi hỏi.
“Phải có cách chứ. Đâu thể trích máu của cậu mãi được. Đi với Bác lâu ngày, cậu cũng khôn ra. Nghĩa là tận dụng mọi thứ chung quanh mà không hề làm tổn hại đến mình. Cậu bắt con đỉa hút no máu con trâu. Xong, cậu cho con đỉa vào hộp. Con sâu đỏ hút lại máu từ con đỉa. Đỉa là loài sống rất dai, cho nên có câu “sống dai như đỉa.” Thế mà sau khi bị con sâu đỏ hút máu, con đỉa chết luôn. Điều này cho cậu biết rằng, con sâu đỏ là một độc vật ghê gớm nhất trên đời.”
Chị tôi hỏi: “Sao không giết nó đi, nuôi chi một con vật gớm ghiếc?”
“Cậu đã nói, thấy con vật lạ thì nuôi chơi. Mãi sau, có người biết được, tố giác chuyện này lên Bác Hồ. Bác ra lệnh tịch thu con sâu đỏ. Cậu giao nạp con sâu, nhưng vẫn còn sợ bị khép tội ăn cắp long tu Bác Hồ nên trốn về, không theo cách mạng nữa.”
“Rồi Bác Hồ giết nó hay nuôi?”
“Nếu giết nó thì đỡ khổ cho dân lành rồi. Bác nuôi mới chết người chứ!”
“Không lẽ Bác nuôi nó bằng chính máu của Bác?”
“Bác đâu có dại? Máu của nhân dân thiếu chi!”
“Nhưng Bác nuôi nó làm gì?”
“Làm gì, ai biết? Mọi hành vi của Bác đều được giữ bí mật. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, tiêu diệt thành phần trí phú địa hào, thanh trừng văn nghệ sĩ bất mãn, có hàng vạn người bỗng ngả lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Cậu nghi họ bị đầu độc bằng cứt của con sâu đỏ này.”
Sau mỗi chuyện kể của cậu Hai Say, thường là những tiếng cười vui thích thú. Nhưng sau chuyện này, cậu không cười. Và chúng tôi thì sợ.
Mấy chục năm qua rồi, ấn tượng về con sâu đỏ vẫn còn đậm nét trong tôi.
Mùa Xuân năm Ất Mão (Tháng Tư năm 1975), theo lệnh đầu hàng, tôi buông súng, quay về làng cũ. Cậu Hai Say bây giờ đã già lắm rồi.
Cậu bảo: “Hãy chạy đi.”
Tôi hỏi: “Sao cậu không chạy?”
“Với số tuổi đời của tao, bỏ thây không tiếc.”
“Cậu thường hay nói chơi. Không biết lần này cậu nói chơi hay nói thật. Nhưng đất nước vừa chấm dứt chiến tranh, không ở lại mà hưởng thái bình, còn chạy đi đâu?” Tôi phân trần.
Cậu ngước mặt lên trời, than: “Người ngu mắc nạn, thường hay đổ thừa cho thiên mệnh.”
Rồi mười năm sau nữa. Tôi ra khỏi tù, áo rách xác ve trở về chốn cũ. Nghe nói, cậu Hai Say được cách mạng mời tham dự tiệc mừng Đại Thắng Mùa Xuân. Và, cậu đã chết ngay sau khi rời bàn tiệc. Tôi chợt nghĩ đến con sâu đỏ. Chẳng biết cái chết của cậu, có liên quan gì với cứt của loài độc vật này hay không?
Thành hướng dẫn tôi từ nhà thờ Domaine de Marie xổ dốc chạy tiếp đến gần khúc cua khuỷu tay của con đường xuyên qua khu số 4, phía tây thành phố sương mù Đà Lạt.
Lâu ghê, sau bảy năm, ngày giải tỏa Việt Cộng xâm nhập dịp Tết Mậu Thân 1968, tôi mới trở lại vùng này.
Tôi vào đậu trước sân một ngôi nhà mái ngói, nằm khuất giữa vườn cây ăn trái sum sê. Xe chưa kịp tắt máy, Thành đã vội tụt xuống đất, đứng gọi lớn:
– Ba ơi, con về đây này?…
Một vị cao niên, tuổi trạc sáu mươi, hẳn là ba của Thành, hé cửa nhìn ra. Bất chợt, thấy tôi lạ mặt lại cụt hai chân, ngồi trên chiếc Honda 3 bánh, cùng đồ đạc lỉnh kỉnh sau lưng, ông nhíu cặp lông mày, ngạc nhiên. Tôi cúi đầu chào, vị gia chủ đáp lễ bằng một nụ cười nhếch môi, rồi cất tiếng hỏi lớn, có ý trách móc Thành đi Đà Nẵng quá lâu:
– Mãi đến nay mới về?
Thành im lặng, cõng tôi vô nhà để ngồi trên đi-văng. Anh phân bua với ông cụ, giọng anh nói như thuở còn bé:
– Không khí ngoài Quảng căng lắm, ba ơi! Vật giá gì mà leo thang hết trọi. À ba, đây là Vân bạn con, cựu sĩ quan Đại đội trưởng, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân.
Advertisement
Ông cụ không quan tâm đến lời giới thiệu, vì sự biện minh của Thành chưa làm ông hài lòng:
– Căng lắm, đến nỗi con không về sớm được?
Thành vừa nhún vai vừa xuống nhà dưới lục tủ kiếm thức ăn cho hai đứa đang đói meo, chứ hai tô bún lúc sáng đã tiêu tan hết.
– Này, ở Biệt Động Quân, có biết Đại úy Trực?
Ba của Thành bất ngờ hỏi một câu tắt ngang làm tôi ngớ người, giây lâu mới nhớ được nhân vật mà một thời tôi coi là thần tượng. Tôi dè dặt đáp:
– Dạ, cháu chỉ nghe truyền khẩu và qua hình ảnh trên báo chí. Thời Đại úy Trực nổi tiếng đánh giặc ở miền Trung, Việt Cộng hễ thấy Tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân của anh đâu là né đó, cháu còn cắp sách đi học. Sau, cháu vào binh chủng Cọp Rừng này thì anh Trực đã chết…
– Vân qua bàn này được chứ? Qua đây dùng nước trà với bác.
Tôi leo lên chiếc xe lăn, tới ngồi cách ông một cái ghế.
– Bác và Trực chơi thân nhau một dạo. Trực như con ngựa chứng, đánh giặc hay mà cũng rất bướng. Ngoài chiến trường Trực anh hùng, ở hậu phương nó là vua quậy.
– Anh ấy chỉ “quậy” bọn du đãng thôi, bác ơi! Nơi nào có anh là không có du đãng.
Ông cụ cười khà khà:
– Cháu không biết đâu. Trực dung túng nhiều phần tử vô kỷ luật, tạo tiền lệ Tiểu đoàn 11 Biệt Động phá phách lung tung, một đơn vị hùng dũng nhất mà cũng kiêu binh nhất, đưa đến tình trạng Tiểu đoàn ly khai 1966…
Than phiền xong, ông ngả người ra sau, tay khoanh ngực, và thở dài:
– Buồn quá ! Chẳng lẽ ngồi chờ chết?…
Hiểu được tâm trạng ông, không phải buồn vì chuyện quá khứ xa xưa của Đại úy Trực, người hùng mũ nâu, mà do thời cuộc hiện tại làm đau khổ mọi người.
Thành dưới bếp bưng lên bàn một xoong mì nóng hổi, cắt đứt câu chuyện phiếm giữa tôi với ông cụ. Ba người ngồi lại. Trời chiều Đà Lạt lành lạnh, mùi tôm khô lẫn mùi tiêu hành với lớp mỡ óng ánh làm tôi háu ăn. Phút chốc tôi đã tém gọn hai tô, no cành hông. Thành cũng gác đũa, cầm bình nước rót ra ba tách, hương trà lài thơm ngát. Tôi trầm trồ:
– Ngon quá, bác Hai! Miền Nam chúng ta chỉ có hai hiệu trà danh tiếng: Quốc Thái và Đỗ Hữu Bảo Lộc. Kỹ thuật họ ướp sói hay lài rất tuyệt diệu. Nước nhì ngon hơn nước nhất. Phải không bác Hai?
– Tôi thứ Sáu. Giờ Quốc Thái với Đỗ Hữu gì nữa, chúng đã tịch thu hết của người ta. Các cơ sở, máy móc chế biến thảy đều bị niêm phong. Vân dân Đà Nẵng mà rành trà Bảo Lộc dữ vậy sao?
– Thưa bác Sáu. Xưa, cháu từng hành quân qua các vùng rừng núi và phố phường cao nguyên, kể cả Đà Lạt, trước và sau biến cố Tết Mậu Thân năm 1968. Đó là dịp đầu tiên binh chủng Mũ Nâu của cháu xuất hiện nơi xứ hoa anh đào này, để đuổi giặc ra khỏi khu số 4 của bác…
Ông cụ trố mắt:
– Vậy à? Lúc ấy cháu ở đơn vị nào?
Tôi khẽ cười rồi đáp, nhấn mạnh cái oai danh mà ông đã biết để ông ngạc nhiên chơi:
– Tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân!
– Ồ, Tiểu đoàn thằng Trực !
– Như bác Sáu rõ, sau giai đoạn ly khai, ủng hộ Phật giáo miền Trung tranh đấu chống chính phủ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa giữa thập niên 1960, đơn vị Biệt Động Quân này chuyển lên Pleiku, đặt hậu cứ đóng tại Biển Hồ, bị đì, bắt lội liên miên khắp xứ Thượng. Lúc ấy anh Trực đã buộc phải rời khỏi binh chủng, ra phục vụ ở một sư đoàn bộ binh đâu miền Đông, rồi bị giết một cách mờ ám.
Kỳ Tết Mậu Thân, các vận tải cơ khổng lồ, C-130, vừa đổ xuống phi trường Cam Ly, và dưới sự chỉ huy của Đại úy Hồ Khắc Đàm, Tiểu đoàn tiến đánh ngay cái mục tiêu rộng lớn là khu số 4 này, từ nhà thờ Domaine de Marie vào đến chân núi Chúa Cứu Thế. Hai bên giao chiến dữ dội suốt mấy ngày, nhiều nhà cửa hư hao khá nặng. Trên dải đồi trọc nằm trước mặt bác, Việt Cộng chết la liệt hàng chục tên. Thật bi thảm, chúng cùng đường phải chạy băng qua, để vào núi, thì bị đại bác 105ly của mình dập xuống cả trăm quả, xác chết tung lên từng mảnh như xác pháo.
Đà Lạt yên, Biệt Động Quân lại vào Di Linh giải tỏa tiếp áp lực Việt Cộng đang quấy phá, đắp mô chặn đường nhiều nơi trên Quốc lộ 20. Đơn vị đi tới đâu là tháo gỡ tới đó, làm sạch hết các chướng ngại vật, kể cả trên các ngọn núi trong vùng. Xong, tụi cháu về trấn thủ quanh cầu Đại Nga, gần phố Bảo Lộc.
Advertisement
Cháu ghiền trà Quốc Thái, Đổ Hữu từ những chuyến hành quân đó. Vì ghiền trà cháu mới được quen biết ông chủ Quốc Thái. Mỗi lần cháu đến ông mời vào bàn, tự tay ông pha trà ngon nhất để nhâm nhi, rồi khi ra về cháu còn có vài gói…
Tôi đang say mê nói đến cái goût của tôi sau thuốc lá là trà thì Thành xen ngang câu chuyện:
– Vụ tái chiếm Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, Vân có tham dự, và gặp nói chuyện với Cha Vàng mình nữa…
Ông thân sinh của Thành hình như đã thấm mệt, chỉ nhoẻn miệng cười một cách trìu mến, rồi uể oải tới ngả lưng xuống chiếc ghế bố kế bên.
Tôi lăn xe ra sau ngồi ngắm quanh khu vườn xanh mượt và nhìn xa xa về phía tây. Trên ngọn đồi ngôi nhà thờ Chúa Cứu Thế lúc ẩn lúc hiện, mờ mờ trong sương. Hình ảnh ấy, sau bảy năm, chợt gợi tôi nhớ lại đầu xuân 1968, những tiếng kêu gào thảm thiết của các giáo dân lánh nạn trên thánh đường vọng xuống khi nghe thấy Tiểu đoàn 11 Biệt Động dưới chân đồi, đang truy lùng tàn quân Việt Cộng vừa bị đánh bật khỏi khu số 4, thành phố Đà Lạt, chúng chạy lên vơ vét hết thực phẩm, áo quần, kể cả các vật dụng, máy đánh chữ, của nhà thờ đem đi…
Cơm tối xong, Thành mời tôi vô căn phòng riêng của anh để bàn chuyện tôi sẽ đi lập nghiệp ở xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng, nơi ngày xưa có lần tôi đến thăm gia đình một người bà con. Địa điểm mà tôi nhắm tới, theo Thành mô tả hôm qua, thì rất hẻo lánh, thâm sơn cùng cốc. Nhưng vùng đất ấy đối với tôi dễ bề mai danh ẩn tích, giấu lý lịch, giữa lúc giao thời tranh tối tranh sáng. Sống riêng rẽ vô tình bị nổi bật mà che đậy được sự khai man.
Thành, nhân danh tình bạn, bất đắc dĩ mới chấp nhận cho tôi lựa chọn cách đó. Anh thở dài:
– Phiêu lưu quá ? Cái khó là Vân bị cụt hai chân, làm sao bươn chải kiếm ăn, khi đời sống cần sức lao động.
Tôi gượng cười che lấp nỗi khổ tâm:
– Đừng bi thảm hóa vấn đề, Thành ơi? Tôi đã nói với chị Miên: “Trời sinh voi sinh cỏ”. Thành giúp tôi ở đây vài hôm nữa, cho khỏe khoắn chút, lấy lại tinh thần rồi đi. Hãy thông cảm, tôi sắp đối đầu với mọi gian nguy, nhưng tôi tin rằng nó không gian nguy hơn thời binh lửa đẫm máu vừa qua.
Thấy tôi quả quyết, gương mặt Thành bớt thiểu não. ông Sáu bước vào ngồi xuống bên cạnh. Sự hiện diện của tôi đêm nay làm phiền ông không ít, chẳng ngủ sớm được, còn vướng bận lo âu.
Advertisement
Biết cuộc đàm đạo liên quan nhiều việc, Thành đảo một vòng quanh nhà, nghe ngóng động tĩnh, và không quên khóa chặt các cửa trước ngõ sau xong mới trở vào nói:
– Hình như đồng bào trong xóm đi họp đâu hết, ba à !
Ông Sáu phì phà điếu thuốc, khói tỏa mù mịt:
– Mấy bữa đã có tin đồn chính phủ “cách mạng” sắp phát động chiến dịch đánh mạnh các thành phần mà chúng gọi là gian thương, tư thương. Nếu đúng vậy thì chiêu thức đó khởi đầu cho chính sách lừa đảo, cướp đoạt tài sản đồng bào thôi. Xong rồi, Bắc Bộ Phủ sẽ tiến dần tới chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích bần cùng hóa nhân dân miền Nam, nghĩa là lấy hết của cải, tài nguyên ở đây đem về Bắc. Chúng đi từng bước…
– Tức thiệt!…
Thành cay đắng, lầm bằm trong miệng những lời bất bình.
Tôi nói:
– Chính chúng ta đã làm mất nước.
– Đúng. Bác thấy tại mình mới nông nổi này.
– Sao tại mình, ba?
Ông Sáu không trả lời câu hỏi của Thành. Chắc ông ngại phải diễn giải rộng ra quanh chữ “mình”, chỉ gật gật cái đầu, như hài lòng một vấn đề gì đó ông đã nhận định, nay nghiệm lại thấy không sai. Nhưng trên khuôn mặt rắn rỏi, trầm tư ấy cũng hiện rõ những nét đau khổ tột cùng, nỗi đau khổ chẳng riêng ông, nó đang xói mòn trong tâm não mọi người…
Tôi hỏi ông Sáu:
– Mấy năm xưa, đi hành quân liên tục, rồi bị thương nằm bệnh viện cả năm, không theo dõi kịp tình hình chính trị, nên cháu thắc mắc tại sao Việt Nam Cộng Hòa chịu ký vào hiệp định Ba Lê quái ác đưa đến mất nước thế này? Tổng Thống Thiệu cứng rắn với Cộng Sản lắm mà !
Được cởi tấc lòng, ông Sáu vừa lấy gói thuốc ra quấn hút vừa giải thích:
– Trước lúc ký hiệp định, phía miền Nam chẳng ai rõ các thỏa thuận ngầm, gồm những gì giữa Bấc Việt và Hoa Kỳ. Chỉ có Tiến sĩ Kissinger, Lê Đức Thọ và Xuân Thủy mật đàm với nhau thôi. Lại nữa, họ muốn quân đội Mỹ phải rút hết về nước, theo đòi hỏi của cao trào phản chiến ở Hoa Kỳ, mới đặt thành vấn đề “Việt Nam hóa chiến tranh”. Vì quyền lợi riêng ông bạn đồng minh đành muối mặt áp lực miền Nam chúng ta phải chấp nhận hạ bút ký vào hiệp ước là cái “bản án khai tử” chính mình.
Nhìn xuống hai chân cụt, tôi lắc đầu:
– Khốn nạn thật?
Ông Sáu hét to:
– Gọi khốn nạn thì nhẹ quá ! Kissinger không những phản bạn lừa thầy, còn qua mặt luôn tổng thống của ông nữa. Nói nôm na kiểu Việt Nam mình là hắn đâm sau lưng chiến sĩ!
Một điều rất oái oăm, đất nước sắp rơi xuống vực thẳm mà thượng viện ta chẳng hay. Thậm chí, các tin tức về cuộc hòa đàm Paris, các nghị sĩ cũng chỉ biết qua báo chí, các đài phát thanh, nhất là nghe được từ đài Hà Nội. Đến lúc, ngày 11-9-1972, Bắc Việt đề nghị thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần thì các ông quýnh lên, mở phiên họp khoáng đại cuối năm 1972, để bàn thảo đến các nguy cơ của chế độ miền Nam. Mất trâu rồi mới lo đóng chuồng…
Ông Sáu bỗng ngưng nói, vụt đứng dậy bước ra ngoài. Tôi lấy làm lạ, nhìn theo đáng ông đi, phía sau cái áo sơ-mi trắng đang mặc ông dựa vào vật gì dính lấm lem. Một lát trở vào với bó giấy cũ mốc trên tay, ông ngồi bệt xuống nền nhà vừa tháo sợi dây vừa lẩm bẩm:
– Còn nguyên đây. Việc gì cũng có dẫn chứng. Đây, Vân xem các bài phát biểu của mấy ông thượng nghị sĩ được ghi lại trong phiên họp khoáng đại đó. Các ông mổ nhau dữ dằn, chỉ biết chửi cho đã giữa phe này nhóm nọ, chứ chẳng có một kế sách chung nào khẩn trương cứu nước.
Tôi lấy một xấp và xin phép ông Sáu nằm đọc từng trang. Trước hết, tôi thoáng qua những đoạn có đánh dấu bút mực. Khi đọc tôi tưởng tôi đang dự thính, nghe từng giọng điệu, từ ôn hòa xây dựng, nêu dẫn lập trường chống Cộng dứt khoát, đến những lời lẽ gay gắt, chỉ trích Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Trong 56 thượng nghị sĩ tham dự có ba khuynh hướng rõ rệt: ủng hộ, trung dung và chống đối hành pháp cả quan điểm chính kiến về hiện tình đất nước. Nhất là nhóm đối lập chọi nhau ráo riết. Tôi nghĩ chắc là nhiệm vụ của phường ăn hại đái nát này vào thượng viện chẳng phải vì dân, mà chỉ để tranh giành quyền lợi cho bản thân của họ.
“Những điều trông thấy thật đau lòng” ấy, mấy ai biết từ đâu để trách? Nhưng, những lúc ấy cũng có nhiều kẻ đã thấy rõ cái mưu đồ cơm áo của đồng viện. Hãy nghe Nghị sĩ Trần Quang Thuận đã đưa ra vài thắc mắc để bàn, để những con quấy rối lưu tâm:
“Ngày hôm nay Thượng Nghị Viện chúng ta bàn về vấn đề hòa bình, vấn đề ngưng chiến thì cố vấn Kissinger đã gặp Lê Đức Thọ, gặp Xuân Thủy biết bao nhiêu lần. Trong khi nhiệm vụ của Thượng Nghị Viện là theo dõi sự thực thi chính sách của chính phủ mà chúng ta không biết hòa đàm Ba Lê đã đi đến đâu rồi. Và một dân biểu, ông Dân Biểu Trần văn Đôn đã qua Ba Lê để theo dõi hội đàm, và không biết rằng Thượng Nghị Viện chúng ta thảo luận về vấn đề này với sự hiểu biết về các căn nguyên như thế nào?
Advertisement
Phải chăng chúng ta ở trong cái rọ, rồi cũng thảo luận và biểu quyết trong cái rọ hay sao? Do đó chúng tôi thấy rằng chúng ta phải đặt vấn đề một cách rõ ràng hơn nữa. Thượng Nghị Viện chúng ta có làm đúng nhiệm vụ Hiến Pháp giao phó cho chúng ta hay không? Nghĩa là kiểm soát việc thực thi chánh sách của Chánh Phủ.
Ở một lúc khác ông Thuận kêu gào các đồng viện:
“Trong giai đoạn hiện tại cũng như trước đây mấy tháng, chúng tôi có nói là chúng ta không nên đặt vấn đề chống đối hay ủng hộ nữa, chúng ta chỉ nên đặt vấn đề làm sao cho miền Nam này có thể tồn tại được. . . ” .
Nghị sĩ Tôn Thất Niệm thì điềm tĩnh, lên diễn đàn nhằm mục đích là kêu gọi đại đoàn kết. Bên dưới có nhiều tiếng xì xào, nhất là ở hàng ghế NS Trần Thế Minh. Tuy chủ trương ôn hòa, Bác sĩ Niệm cũng chua chát mở đầu bằng những câu ẩn ý trách móc Hành Pháp và cả những vị dân cử lưỡng viện, thảy đều mù tịt, mà lại chia rẽ nữa, trước nguy cơ mất nước. Ông đã bao lần nói đến chữ “sinh động” để yêu cầu các đồng viện của ông phải động hơn “tĩnh”, như một quan niệm chính chắn. Ông dẫn chứng có sự thiếu đoàn kết trong chính quyền như không tận tình cứu giúp dân tỵ nạn. Ý Nghị Sĩ Tôn Thất Niệm muốn nhắc vụ đồng bào Huế, Quảng Trị lánh nạn vào Đà Nẵng trong chiến cuộc mùa hè đỏ lửa 1972.
Ông cũng không quên đề cập đến công lao của Phật giáo:
“Nếu không có những sự tranh đấu của những Phật tử năm 1966 đòi có Quốc Hội Lập Hiến, tôi nghĩ chắc chúng ta ngày nay không có ngồi ở Thượng Nghị Viện này”…
“Nếu câu nói của chúng tôi có làm buồn lòng vị đồng viện nào, xin quý vị tha thử cho chúng tôi. Chúng tôi nói với chân tình là hình như các nhà chính khách tại miền Nam đang chờ đợi gió rõ ràng, ngã về phía nào, khi đó giơ tay đón cho chắc.
Chúng tôi quan niệm rằng công việc của chúng ta sắp làm ở đây là với quyết nghị này, chúng ta đừng để nó bị coi như là một bè phụ của một bản hợp tấu, đã được xếp đặt và đang có người nhạc trưởng điều khiển.
Chúng tôi muốn đóng góp là chúng ta phải thể hiện cái công việc của chúng ta, của Thượng Nghị Viện, bằng cách thúc đẩy chánh quyền thực hiện một chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Do đó, giờ phút này hơn lúc nào hết những oán thù cũ cần phải được xóa bỏ. Chúng ta kêu gọi đoàn kết mà trong quốc gia chúng ta lại nhìn những người quốc gia với nhiều thù hận hơn là nhìn Việt Cộng nữa… “.
Nghị sĩ Trần Thế Minh cũng tỏ bất bình trước sự mưu toan phản bội của đồng minh:
Nói tới hòa đàm thì những nhân vật ở quốc ngoại nói đến rất nhiều. Nhưng ở quốc nội thì thật là mù tịt. Tôi mới nhận được một tài liệu của ủy ban Ngoại Giao Thông tin Thượng Nghị Viện đưa đên gồm có một bản họp báo của ông Kissinger, một bản của đài Hà Nội, cũng như xem báo chí xuất bản hàng ngày mà thôi chứ chưa có một tài liệu chính xác về lập trường của quốc gia mật đàm ra sao ? Công khai ra làm sao? Tôi chẳng được ai thông báo.
Quý vị Nghị sĩ đang họp ở đây có vị nào biết hòa đàm ra làm sao? Bí mật ra làm sao? Công khai ra làm sao? Được, thua ra làm sao? hay là chỉ xem báo nói mò ?
Đặc biệt xin kính thỉnh cùng ông Chủ Tịch Thượng Nghị Viện, nếu ngài có những dữ kiện, biết được việc nước, xin vui lòng cho các nghị sĩ chúng tôi hay để chúng tôi đồng chèo.
Bởi vì ngài cũng là một nghị sĩ làm Chủ tịch Thượng Nghị Viện, chúng tôi là nghị sĩ đang họp ở Thượng Nghị Viện, vô lý ngài giữ bí mật làm chi để anh em phải chống gậy đi mò.
Chúng tôi xin phép chất vấn ông Chủ Tịch ủy ban Ngoại Giao Thông Tin Thượng Nghị Viện là đã có những dữ kiện gì về lập trường hòa đàm của Việt Nam Cộng Hòa không ? Chính xác không? Hay là xem báo rồi trả lời chúng tôi, cái đó không được!
Kinh nghiệm máu lẫn nước mắt cho chúng ta thấy từ khi Cộng Sản nẩy mầm ra ở đất nước này thì xảy ra chiến tranh giữa Cộng Sản, Quốc Gia và Pháp đánh nhau.
Năm 1954 thực dân Pháp cấu kết với Cộng Sản Bắc Việt ký hiệp định chia đôi đất nước, chính phủ không biết, hàng ngũ quốc Gia không biết.
Trước khi ký hiệp đinh ba tháng, thực dân rút quân ở năm tỉnh miền Nam Trung châu, Bắc Việt chạy lên Hà Nội không ai biết. Ngày nay chúng ta cũng tiếp tục đi vào con đường không biết, rồi biểu quyết tuyên ngôn, tuyên cáo hay sao?
Ngày 22-10-1972, tôi đã đòi hỏi Hoa Kỳ không được chà đạp lên quyền dân tộc tự quyết của VNCH, không được phản bội lại quyền lợi của đồng minh Việt Nam trong những cuộc thương nghị hòa bình.
Khuyến cáo TT Nguyễn văn Thiệu phải trung thành với lời tuyên thệ bảo vệ Hiến Pháp, noi gương các vị anh hùng dân tộc bảo vệ chủ quyền Quốc Gia, không được nhượng bộ ngoại bang và Cộng Sản để khỏi đắc tội với tổ quốc và toàn dân.
Advertisement
Nhưng chúng tôi tiếc rằng những lời tuyến bố này bị ngăn cấm không được phổ biến trên báo chí, đài phát thanh. Tuy nhiên nay mai nhà nước hoặc những người phải ứng phó với tình thế sẽ phải học lại những điểm này mà nói.
56 ông nghị sĩ ở Thượng Nghị Viện này có lẽ không biết lập trường quốc gia ra sao.
Vừa chấm dứt bài tham luận, định bước xuống diễn đàn, NS Trần Thế Minh bỗng khựng lại, xin phép Chủ tịch để nói thêm vài lời, rồi ông nhìn về hướng NS Tôn Thất Niệm đang ngồi dưới:
Nghe thấy NS Tôn Thất Niệm đề cập đến “đại đoàn kết ” làm cho chúng tôi phải xin phép nói thêm nửa câu.
Từ trước nay, người ta chỉ đoàn kết suông, đoàn kết cái lỗ mồm, miệng nói đoàn kết, nhưng bụng coi nhau như thù địch.
Bởi vậy cho nên chúng tôi yêu cầu TT Nguyễn văn Thiệu phải trọng nhân hiền, dụng chính ngôn, đoàn kết và đích thân tận dụng những người quốc gia chống Cộng Sản vào một khối mạnh để đối phó với tình thế nay mai. Bởi vì, những người quốc gia chống Cộng còn chút lương tâm ngày nay đang bị một lũ gian thần dối trên, lừa dưới, phá phách, không hiểu nhà vua có biết hay không?
Khi nghe tin Bắc Việt đề nghị lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần mà chúng gọi là “Hội Đồng Quốc Gia Hòa Hợp Dân Tộc” thì NS Trần văn Quá phản đối mãnh liệt. Ông tỏ ra rất am tường về các mưu mô xảo quyệt của Cộng Sản, nhắc nhở các đồng viện đừng quên hai nghị quyết số 3 và 7 địch ban hành năm 1969, chủ trương liên hiệp với chúng ta ở thượng tầng, còn cấp xã ấp thì lực lượng thứ ba chính là lực lượng Cộng Sản. Như vậy chúng hai, ta một ắt phải thua.
Giả như ở các tầng, số lượng đầu người hai bên bằng nhau, tức số phiếu véto với nhau, cũng không giải quyết được việc. Trái lại, phía quốc gia chỉ cần một người bị hăm dọa thủ tiêu, ta sẽ thua ngay trong các cuộc biểu quyết quan trọng.
Nay đã tới lúc Bắc Việt âm mưu thôn tính miền Nam bằng mọi giải pháp quyết liệt, quân sự lẫn chính trị. Chính trị, cho dù đòi hỏi vô lý, như chúng đề nghị thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần ngày 11-09-1972, mà thành phần thứ ba không ai khác hơn là tay sai của chúng, hoặc bọn đón gió trở cờ, trung lập…
Do đó, Nghị sĩ Trần văn Quá bày tỏ lập trường dứt khoát. Ông đề nghị:
1. Cương quyết bác bỏ sự đòi hỏi thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần của Cộng Sản ngày 11-09-1972, mà hiện nay Cộng Sản dùng danh xưng bịp bợp là Hội Đồng Quốc Gia Hòa Hợp Dân Tộc. Đồng thời chống lại mọi ý đồ đen tối nào nhằm thực hiện đòi hỏi phi lý đó của Cộng Sản dưới bất cứ hình thức hay danh xưng nào.
2. Kể cả những dự thảo đình chiến không do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng ý thì không thể chấp nhận được.
3. Quyết nghị của Thượng Nghị Viện đưa ra hôm nay, phải thể hiện lập trường chống Cộng cố hữu của Thượng Nghị Viện, phải nói lên khát vọng hòa bình chân chính của toàn dân, đòi hỏi quyền dân tộc tự quyết phải được tôn trọng.
4. Thượng Nghị Viện phải ấn định một số công thức tổng quát về nghị hòa, buộc Hành Pháp phải theo. Hành Pháp không được tự ý hoặc vì bị áp lực đi ra ngoài công thức căn bản đó.
Rất tiếc, những đề nghị phát xuất từ lòng yêu nước của NS Trần văn Quá không mấy ai quan tâm, hường ứng. Hẳn ông đã biết vậy vì ngay trong hội trường này cũng giống như một chính phủ gồm ba thành phần rồi, đã từng kèn cựa nhau rõ rệt.
Rồi, bỗng nhiên nghị trường trở nên sôi động. Những tay hoạt bát lần lượt đăng đàn chỉ trích Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Trong lịch sử Việt Nam dường như chỉ có ông Thiệu, vị nguyên thủ quốc gia, luôn luôn trên đe dưới búa. Hãy xem nhóm “con ghẹ” bắt đầu cựa quậy. Đám ghẹ đã khiến cho hội trường Thượng Nghị Viện hôm đó có cảm tưởng họ thay mặt Cộng Sản Bắc Việt nguyền rủa TT Nguyễn văn Thiệu.
Trước hết, NS Phạm văn Tâm làm mọi người nghẹt thở. Ông xác quyết cuộc chiến Nam Bắc chỉ vì tranh quyền nhau mà thôi. NS Tâm còn cho rằng Hoa Kỳ không phản bội Đồng minh VNCH, chỉ có hoàn cảnh thực tế (ám chỉ sự lãnh đạo của TT Thiệu) là phản bội dân tộc. Ông nêu dẫn những lời TT Nguyễn văn Thiệu tuyên bố như: “Bác bỏ mọi giải pháp ba thành phần tiền chế; chống lại hình thức chính quyền liên hiệp”, nhất là câu TT Thiệu nói với sinh viên, học sinh: “ông làm lịch sử”, để chỉ trích một cách hỗn láo về cái lập trường cứng rắn đối với Cộng Sản của TT Nguyễn văn Thiệu:
Lịch sử của ông (TT Thiệu) là cái chính trị 5 năm đã qua! 5 năm ông chà đạp lên Hiến Pháp (vụ hành hạ và bắt bớ dân biểu, vụ độc diễn và vụ ủy quyền chỉ là những vụ điển hình).
Advertisement
Ông Thiệu đã bất chấp luật pháp, ông biến Tối cao pháp viện thành bù nhìn, làm trò cười cho thiên hạ, ông cũng biến Hạ Nghị Viện thành một đối tượng bị khinh rẻ trước mắt quốc dân, ông đưa tham nhũng lên thành một chế độ, ông đưa gian lận lên thành một quốc sách. Trên đầu những chiến hữu ông, ông đặt các cấp chỉ huy nổi tiếng tham nhũng, buôn lậu, bất tài và lấy sự luồn lọt làm cầu thang danh lợi.
Năm năm làm lịch sử của ông là năm năm phá chế độ và tự phá mình. Con đường ông đi là con đường phá sản toàn bộ và đưa chế độ đến chỗ diệt vong.
Điều đó chúng ta đã nói nhiều lần để cản ngăn ông nhưng chỉ được nghe ông trả lời: “Đoàn người cứ tiến, chó sủa mặc chó “ . Bây giờ đoàn người đã “tiến ” tới vực thẳm, chó không sủa nữa! (NS Tâm hét to: “chó không sủa nữa!”).
Cộng Sản đưa chế độ này đến bờ vực thẳm ư? Trăm ngàn lần không. Cộng Sản không có khả năng đó, bất quá trong cái tương quan giữa ta và địch; những khuyết điểm ở phía ta đã trở thành những ưu điểm của Cộng Sản, sự suy yếu ở phía ta là sự lớn mạnh ở phía Cộng Sản và sự ngu dốt của chúng ta đã trở thành sự tài giỏi của Cộng Sản, đều theo một thứ quy luật đấu tranh mà Cộng Sản đã vận dụng được.
Chẳng hạn cái chính nghĩa đấu tranh cho dân tộc ở phía ta không phát huy được, ngày càng lu mờ thì cái danh nghĩa “giải phóng ” của Cộng Sản nhờ đó mà sáng tỏ lên, mặc dầu miền Nam Việt Nam chúng ta không có nhu cầu giải phóng mà chỉ có nhu cầu cải tạo xã hội….
Chúng tôi chia sẻ những nỗi lo âu của quý vị nhưng chúng ta chẳng nên có những phản ứng của những con vật bị trói và bị đưa tới lò sát sinh, chỉ còn có biết kêu tuyệt vọng.
Chúng ta không chống khi chân tay bị trói. Chúng ta không chống trong những điều kiện bị phá sản, đổ vỡ. Bởi vì chúng ta biết tự trọng không muốn đóng vai lâu la và cũng không muốn dân chúng phải tủi hổ thêm nữa vì chúng ta…
Lúc này, chúng ta lẫn quốc dân thực không có điều kiện không gian và thời gian để chống theo cái ý nghĩa đứng đắn của một sự chống đối. Lúc này chúng ta chỉ “quẫy ” mà thôi, “quẫy” như chim trong lồng, như cá trên thớt. Sự chống đối đứng đắn không phải đợi đến lúc này mới bắt đầu mà phải chống ngay khi chế độ này được thành lập.. .
Advertisement
Người ta chỉ mải ăn, mải chơi, mải bóc lột, mải chia chác quyền lợi, mải tranh giành địa vị với chức tước trong khói lửa chiến tranh, trước những giòng máu, nước mắt không ngừng chảy của quân đội và dân chúng.
Người ta đi vào con đường phải chia quyền với Cộng Sản từ lâu rồi, trước khi cúi đầu chấp nhận hình thức liên hiệp với Cộng Sản.
Con đường đó, cho tới giờ phút này, chúng ta vẫn còn tiếp tục đi, vẫn tham nhũng, thối nát, vẫn ăn gian, nói dối, không một chút thành tín với quốc dân, vẫn hành pháp cướp quyền lập pháp để độc tôn, độc quyền, vẫn tư pháp bỏ trách nhiệm cán cân công lý để chạy theo quyền lực, vẫn bóp chết tự do ngôn luận, vẫn “bỏ tù và bắn bỏ ” dân lúc nào cũng được…
Những người cầm quyền ở đây vì ý thức chính trị hạn chế và nông cạn đã sử dụng chính quyền trong tay như một quyền lực riêng của mìn, muốn làm gì thì làm. Chính quyền ờ đây vì thế mà đã biến thành một thứ chính quyền của một cá nhân, không phải là một chính quyền chân chính dân tộc. Cũng như ở ngoài miền Bắc, không có chính quyền dân tộc mà chỉ có chính quyền Cộng Sản.
Dân tộc chúng ta bị lôi kéo vào một cuộc chiến giành đoạt chính quyền cho phe cánh này nọ lồng trong một cuộc tranh chấp quốc tế.
Chiến tranh dẫu có chấm dứt nay mai, cuộc đấu tranh đoạt chính quyền sẽ còn tiếp diễn dưới những hình thức khác.
Chúng ta đã đánh mất những điều kiện chiến thắng trong chiến tranh. Chúng ta cũng đánh mất những điều kiện chiến thắng trong hòa bình… “.
Từ lâu, tại miền Nam có ai đòi hỏi giải pháp là phải chia quyền lãnh đạo miền Nam cho Cộng Sản, như lúc đầu Trần Thế Minh xác quyết? Chỉ có ông lập lửng nêu ra để rồi ông kết luận bài tham luận đầy những ý tưởng phản nghịch, làm xuống tinh thần quân đội đang chiến đấu ngoài trận mạc:
Nếu không làm được thế thì dẫu bây giờ có không phải chia quyền thì sau này cũng phải chia, và dầu bây giờ mới mất có một phần quyền thì sau này cũng sẽ mất hết, dầu có đào sâu và mở rộng thêm sông Bến Hải và có xây thành đắp lũy ở vĩ tuyến 17 thì cũng không ngăn chặn nổi sự phát triển của Cộng Sản.
Thấy tôi đọc xong mấy bản văn muốn phờ người, ông Sáu vội búng cái mẩu thuốc rê đã tắt ngấm ra ngoài khung cửa, rồi nhìn tôi cười chua chát:
Advertisement
– Đấy, NS Tâm còn nương tay. Đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư.
Tôi cầm xấp giấy đã thâm kim, đổi màu, đọc từng chữ:
“Năm 1954, sau 9 năm chiến đấu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã bị đảng Cộng Sản Việt Nam phản bội, phải chấp nhận hiệp định Genève chia đôi đất nước: miền Bắc dưới quyền thống tri của độc tài Cộng Sản, miền Nam là đất sống tự do của người Quốc Gia. Tiếng súng tạm ngưng gần 6 năm.
Ngày 20-12-1960, đảng Cộng Sản Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế đem chiến tranh xâm lăng miền Nam Việt Nam ròng rã 12 năm nay, quân đội và nhân dân đã hy sinh xương máu để chống lại cuộc xâm lăng ấy, với sự giúp đỡ của các nước đồng minh, đặc biệt là Hoa Kỳ. Sự hy sinh của quân dân ta rất to lớn, không lịch sử nào viết cho hết. Hy sinh cho chính nghĩa dân tộc, hy sinh cho quyền được sống trong tự do, hòa bình của thế hệ này và của thế hệ mai sau.
Bây giờ khúc quanh lịch sử đang hiện ra trước mắt. Cuộc chiến đang đi vào giai đoạn kết thúc, khởi đầu bằng một thỏa hiệp ngưng bắn.
Là những người đau khổ nhiều vì chiến tranh, chúng ta khao khát hòa bình hơn bất cứ ai, khao khát ấy đã trở thành sự khao khát của thể xác. Vì vậy, ngưng bắn phải là một tin mừng, bởi lẽ ngưng bắn là bước đầu tiên để chấm dứt chiến tranh, để có hòa bình. Nhưng vấn đề không giản dị như vậy. Như mọi người đã biết, cuộc chiến tranh mà quân dân ta phải đương đầu ròng rã 12 năm nay là một cuộc chiến tranh xâm lược do Cộng Sản Quốc Tê phát động và do Cộng Sản Việt Nam thừa hành. Ròng rã 12 năm nay, quân dân ta chiến đấu gian khổ, là để cho miền Nam này không rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản. Vậy thì một cuộc ngưng bắn chỉ có ý nghĩa dân tộc, nếu nó không đưa miền Nam này rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản.
Hiện giờ chúng ta chưa biết rõ nội dung thỏa ước giữa Hà Nội và Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Chúng ta chỉ được biết một đàng là bản văn 9 điểm do Hà Nội công bố ngày 26-10-72, và một đàng là những lời minh xác của Tiến sĩ Kissinger trong cuộc họp báo giải thích của ông trưa 26-10-1972. Cứ tạm cho rằng sự thật phải được tìm giữa hai lập trường ấy, nhưng chắc chắn căn bản sẽ không thay đổi. Vì vậy chúng ta có lý do để khẳng định rằng nếu đem thi hành thì thỏa hiệp ấy sẽ có lợi cho phía Cộng Sản, chứ không lợi cho phía chúng ta. Cho nên việc chúng ta đòi hỏi những bảo đảm tối thiểu, trước khi ký kết, là một điều dĩ nhiên.
Advertisement
Những bảo đảm ấy được thực hiện trong những điều kiện có thể gọi là tiên quyết sau đây:
– Quân đội Bắc Việt phải rút toàn bộ ra khỏi miền Nam.
– Vùng phi quân sự phải được duy trì và tôn trọng.
– Miền Nam Việt Nam chỉ có một chính quyền hợp hiến, hợp pháp, là chính quyền hiện hữu.
Đó là lập trường nguyên tắc. Ông Thiệu đang nỗ lực nói lên lập trường nguyên tắc ấy. Chúng ta không thể nào không đồng ý với ông. Nhưng vấn đề đặt ra cho Thượng Nghị Viện ngày hôm nay không phải là thảo luận để tìm kiếm một thái độ thuận lý, bênh vực một lập trường nguyên tắc.
Với những đề nghị của Việt Nam Cộng Hòa và của Hoa Kỳ ngày 26-01-72, nhất là với đề nghị ngày 8-5-72 của riêng Hoa Kỳ (không bị Việt Nam Cộng Hòa phản đối), lập trường nguyên tắc ấy đã bị bỏ rơi. Bánh xe thực tế quay một cách nghiệt ngã, và không đi trở lại.
Thực tế có cho phép chúng ta chống lại thỏa hiệp ngưng bắn hay không? Và nếu chúng ta bó buộc phải chấp nhận, bản thỏa hiệp mà Hà Nội đã đưa ra qua đài phát thanh của họ ngày 26-10-72 vừa qua. Lẽ tất nhiên với một vài sự thay đổi, thì chúng ta sẽ chuẩn bị đối phó như thế nào ?
Có hai giả thuyết: Giả thuyết thứ nhất, chúng ta chống, giả thuyết thứ hai, chúng ta phải chấp nhận.
Giả thuyết thứ nhất chúng ta chống. Vấn đề đặt ra, chúng ta liệu có thể bắt Hoa Kỳ phải theo quan điểm của chúng ta hay không? Có thể chắc chắn là không. Bởi vì, Hoa Kỳ phải giải quyết chiến tranh Việt Nam với mọi giá, chiến thắng Cộng Sản bằng quân sự đã không còn đặt ra cho Hoa Kỳ từ sau Tết Mậu Thân. Người Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh, bằng thương thuyết, để có thể rút quân ra khỏi Việt Nam và đem tù binh về.
Đó là một trong những vấn đề nội bộ chính quyền Nixon phải giải quyết trong những tháng đầu của nhiệm kỳ tổng thống thử hai. Hãy nghe Tiến sĩ Kissinger tuyên bố ở phần kết luận cuộc họp báo 26-/O-72: “Với thái độ ấy, chúng ta (Hoa Kỳ) hy vọng đem lại hòa bình và thống nhất cho nước Mỹ “.
Hãy nghe cho rõ: “hòa bình và thống nhất cho nước Mỹ” chứ không cho nước Việt Nam.
Trong trường hợp chúng ta chống thỏa ước ngưng bắn với những điểm căn bản đã được tiết lộ thì Hoa Kỳ sẽ làm gì ? Chắc chắn Hoa Kỳ sẽ ký kết hòa bình riêng với Hà Nội. Đại cương chúng ta có thể ước tính được rằng Hoa Kỳ sẽ chấm dứt oanh tạc và phong tỏa Bắc Việt. Hoa Kỳ sẽ không còn trực tiếp tham chiến ở Nam Việt Nam, bằng Lục quân, Hải quân, Không quân. Đổi lại, Hà Nội sẽ phóng thích tù binh của Hoa Kỳ. Như vậy có nghĩa là chiến tranh ở đây vẫn còn tiếp tục.
Chúng ta, những người không thể chấp nhận hòa bình nô lệ, những người không chấp nhận một cuộc ngưng bắn tủi nhục sẽ đơn độc chiến đấu với Cộng Sản.
Trong cuộc chiến đấu này chúng ta hãy lạc quan mà tin rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Chúng ta hãy lạc quan mà tin rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế để chúng ta đương đầu với Cộng Sản. Việc Hoa Kỳ đang vội đổ thêm vũ khí vô đây nếu không phải là một bằng chứng thì cũng là một dấu hiệu. Mặc dầu chúng ta cũng phải cầm chắc rằng số lượng viện trợ quân sự và kinh tế ấy tất sẽ giới hạn, không dồi dào như từ trước. Thế nhưng chúng ta cũng tạm lạc quan mà tin rằng trong bối cảnh thế giới mới, trong những quan hệ mới giữa Hoa Kỳ, Nga Sô, Trung Cộng, thì Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng sẽ giới hạn viện trợ quân sự, kinh tế cho Bắc Việt, và cho bọn tay sai Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong những điều kiện trên, chúng ta cứ lạc quan mà nghĩ rằng cán cân lực lượng sẽ nghiêng về chúng ta. Ít nhất là trong hiện trạng.
Về bộ máy quân sự của Cộng Sản đã suy sụp nhiều từ hơn sáu tháng nay, nhất là sau khi họ xua quân công khai xâm lăng miền Nam ngày 29-3-72 vừa qua. Trái lại, bộ máy quân sự của chúng ta từ sáu tháng nay đã được tăng cường nhiều, lớn mạnh nhiều. Ít nhất, theo lời giải thích và tuyên truyền của chính phủ..
Về phía nhân dân thì như thế nào ? Chúng ta hãy tạm tin vào những con số mà chính phủ vẫn thường rêu rao kiểm soát được 99% dân số, 98% đất đai và nhất là 94,36% cử tri bỏ phiếu cho vị “Tổng Thống 3-10-71 “. Tương quan lực lượng đã rõ rệt. Cộng Sản yếu ta mạnh.
Nhưng, trong cái yếu của Cộng Sản có mầm mống cái mạnh, do khả năng khắc phục sự khó khăn, do tổ chức, và do lãnh đạo của họ.
Và trong cái mạnh của ta đã có sẵn mầm mống cái yếu, do sự bất lực không khắc phục nổi khó khăn, do tổ chức lỏng lẻo, và nhất là do lãnh đạo quá tồi tệ.
Bởi vậy, trong trường hợp chống lại bản văn ngưng bắn, tiếp tục chiến tranh một mình, vấn đề căn bản của chúng ta vẫn là chỉnh đốn tổ chức và cải thiện lãnh đạo, hoặc tốt nhất là thay thế lãnh đạo.
Trong giả thuyết thứ 2, chúng ta bắt buộc phải chấp nhận một hiệp đinh với nội dung đã được tiết lộ qua đài phát thanh Hà Nội ngày 26-10-1972, và được xác nhận một phần bởi Tiến sĩ Kissinger. Những gì sẽ xảy ra ? Điều chắc chắn căn bản hiến định của chế độ này không còn nữa và cả cái thế hợp pháp của chính quyền này không còn nữa.
Vấn đề được đặt ra sẽ là sự hữu hiệu của một chính quyền thực tại của quốc gia dù chính quyền ấy là chính quyền Nguyễn văn Thiệu hay không Nguyễn văn Thiệu.
Sự hữu hiệu ấy căn cứ trên mực độ kiểm soát quần chúng tại đô thị và nông thôn, đồng thời trên khả năng và sự nhất trí của quân đội. Hai sự hiện hữu ấy cần được thể hiện gấp bằng những biện pháp cấp bách trước khi nói đến các chương trình dài hạn. Thế nhưng hai căn bản hữu hiệu ấy lại hoàn toàn tùy thuộc vào lãnh đạo.
Từ mấy năm nay và đã nhiều lần tại diễn đàn này, tôi đã nói về lãnh đạo. Nhiều người đã nói về lãnh đạo. Cụ thể hơn nói về Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.
Lãnh đạo có ba yếu tố căn bản là quyền lực, quyền bính và quyền uy. Nền tảng của quyền lực là sức mạnh, sức mạnh quân đội, sức mạnh cảnh sát. Nền tảng của quyền bính là luật pháp quốc gia. Nền tảng của quyền uy là sự kính nể của quần chúng đối với người lãnh đạo. Nhưng, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu có những gì trong ba yếu tố đó?
Về quyền lực, tạm gọi Trung tướng Thiệu có một triệu quân đội, 125 ngàn cảnh sát, 4 triệu nhân dân tự vệ, trong đó có 500 ngàn được trang bị võ khí.
Quyền bính, Trung tướng Nguyễn văn thiệu đã mất. Mất, vì ông đã không thi hành nghiêm chỉnh luật pháp quốc gia, trong đó có hiến pháp.
Trong bài nói chuyện ngày 24/10 mới đây, ông đã nói nhiều đến cái thế hợp pháp chính quyền hiện hữu. Ông đã nói đến luật pháp quốc gia, ông đã nói đến hiến pháp. Nhưng hiến pháp đó, luật pháp quốc gia đó, và cái thế hợp pháp đó, ông có tôn trọng hay không? Chúng ta phải trả lời là không. Ai cũng biết, bảy năm nay, hiến pháp và luật pháp quốc gia đã bị chà đạp như thế nào, chà đạp bởi ngay người cai trị. Những thí dụ không thiếu. Điển hình cuộc bầu cử ô nhục ngày 3-10-71, với sự đồng loã của Tối Cao Pháp Viện đã từ nhiệm, rồi vụ cướp quyền lập pháp trong đêm 27-6-72, vụ ném lựu đạn vào giữa phiên họp Thượng Nghị Viện ngày 23-9-72, rồi các sắc luật nhân danh cái gọi là luật ủy quyền.
Ấy là chưa nói đến những sắc lệnh của chính phủ đưa ra các biện pháp chế tài đối với các vị dân cử ở địa phương, như nghị viên hội đồng tỉnh, nhân viên hội đồng xã ấp. Những sắc lệnh ấy hoàn toàn trái hiến pháp.
Tôi sẽ không nói nhiều, vì sợ mất thì giờ quý vị. Tôi chỉ nói rằng quyền bính là căn bản mà người cai trị nhân danh, để có quyền sử dụng quyền lực trong việc duy trì luật pháp quốc gia. Nhưng cái đó chính người cai trị không tôn trọng. Cho nên có tình trạng loạn pháp như ngày nay, mà nạn nhân là dân chúng.
Thời đại ông Nguyễn văn Thiệu là thời đại hỗn loạn nhất, vô trật tự, vô luật pháp. Điều đó lịch sử đã ghi nhận rồi. Quyền lực (puissance), quyền bính (pouvoir) quan trọng, và quan trọng nhất vẫn là quyền uy (autorité).
Quyền uy là gì ? Phía người lãnh đạo, là khả năng. Phía quần chúng, là sự tin tưởng rằng lãnh đạo có thể giải quyết các vấn đề lớn của cộng đồng theo chiều hướng có lợi cho cộng đồng. Khả năng chưa đủ, lãnh đạo còn phải có phẩm cách. Thử hỏi nhà cầm quyền đương thời có hai yếu tố khả năng, phẩm cách hay không?
Bảy năm đã trả lời rằng không. Bảy năm bất lực, trên mọi bình diện, nhất là về kinh tế, an ninh xã hội. Bảy năm bất xứng, vì thiếu thành tín, và nhất là vì tham nhũng.
Ông Thiệu đã nuôi dưỡng tham nhũng, sống trên lưng tham nhũng. Tham nhũng trong quân đội, trong chính phủ, trong các cơ quan công quyền. Tham nhũng làm lở loét chế độ tới xương tủy, từ trên xuống dưới hôi thối nồng nặc.
Chính vì vậy, mà quần chúng không kính nể lãnh đạo, chẳng những thế còn coi thường, khinh khi, còn riễu cợt.
Chính vì vậy mà bảy năm lãnh đạo thiếu hẳn yếu tố quyền uy nghĩa là thiếu cái thế chánh đáng (légitimité). Chính vì vậy mà bảy năm nay tại miền Nam Việt Nam không có lãnh đạo. Người ta lập luận dù sao ông Thiệu cũng là người chống Cộng, lúc này chống Cộng là mục tiêu lớn nhất của Quốc Gia. Nhưng chúng tôi xin khẳng đinh, ông Thiệu đánh Cộng, giết Cộng chứ không chống Cộng. Cũng như một người ngồi trong căn nhà, suốt ngày vỗ ruồi, đập ruồi, hai bàn tay nhoe nhoét máu, đang khi đó thì các ổ ruồi muỗi là phân bón, rác rưới vẫn ngập ngụa trong nhà. Người ấy cùng với vợ con ăn ngủ ngay trên đống rác, ngay trên đống phân.
Ông Thiệu đánh Cộng, giết Cộng, nhưng ông đã vô tình nuôi dưỡng Cộng Sản bằng tham nhũng bất công, bất lực và bằng sự phá hoại cái thế hợp pháp của chế độ này. Như vậy, có phải là chống Cộng hay không?
Tóm lại, miền Nam đứng trước hai con đường, hoặc chống lại mọi hiệp đinh ngưng bắn ô nhục, chấp nhận chiến đấu một mình với Cộng Sản, hoặc phải chấp nhận hiệp định ngưng bắn ấy, chấp nhận đấu tranh chính trị với Cộng Sản. Trên cả hai con đường miền Nam này cần một lãnh đạo theo đúng nghĩa của nó.
Nếu không, ngày thua trận sẽ không xa “.
Bài phát biểu của Nghị sĩ Nguyễn văn Chức (4) làm tôi xốn xang trong lòng. Tôi áp vào ngực xấp giấy đánh máy đã thâm kim với những vết loang ẩm mốc, cố dỗ giấc ngủ, như để chạy trốn thực tại.
(4)Chương 6, trang 80- “Giặc Ngoài Loạn Trong”. Cuối năm 2000, tôi gởi biếu quyển Tiếng Hờn Chân Mây đến hai vị cựu Thượng nghị sĩ VNCH, Luật sư Nguyễn văn Chức và Bác sĩ Tôn Thất Niệm. Bất ngờ được đọc, như nghe lại những lời phát biểu của chính mình cách đây 26 năm về trước, trong một phiên họp khoáng đại thượng viện 1974.
Bs Niệm, có phòng mạch trên đường Bolsa, Nam Califomia, nói với Tác giả: “Lâu quá tôi quên, không nhớ những lời phát biểu của tôi”. Còn Luật sư Nguyễn văn Chức, từ Texas điện thoại qua, thì tỏ nỗi ngạc nhiên và xúc động: “Đúng là bài tham luận của tôi đã thất lạc. Ở đâu mà Vân có vậy?” Bỗng giọng ông như muốn khóc: “Tôi bị oan, Vân ơi? Tôi bị oan?”. Lời kêu oan ấy cũng làm tôi nao núng dù tôi không hiểu “bị oan” chuyện gì. Tôi nghĩ, ngày xưa ông là một vị thẩm phán nổi tiếng cương trực, sao lại bị buộc vào một tội nào đó. Hay ông cựu nghị sĩ buồn vì đọc thấy câu nói của ông Sáu: “Đấy, NS Tâm còn nương tay, đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó, bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi, miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư ‘ (Tr. 73).
Tôi nhớ năm ấy ông gọi tôi vào một chiều mùa đông, khác với quê nhà, nơi xứ lưu vong này trời lạnh căm căm, tôi càng thêm bùi ngùi sau khi ông vừa dứt lời.
Thấm thoát, chiếc xe đò cũ kỹ, nhét vội mấy mươi người, đã rời khỏi Sa Huỳnh, chạy thâu đêm xuyên qua Bình Định, Khánh Hòa, sáng nay thì dừng lại ở xóm Động.
Phan Rang đây rồi sao? Ngày trở về có anh thương binh, tổ quốc đã dành cho một sự trừng phạt, mất nửa phần thân thể vẫn chưa chai đá, để còn biết hổ thẹn. Phan Rang, thành phố cũ, của mười năm trước tôi thôi học lên đường tòng quân với mộng ước quê hương sẽ sạch bóng thù, mà nay tôi như kẻ xa lạ giữa khung trời ảm đạm, lớp phế hưng che khuất đường về với những ánh mắt thân thương, bao nụ cười tuổi đại. Tôi ngơ ngác, lạc lõng…
Thành, người bạn mới quen, lăng xăng lấy hành lý và nhờ các phu khuân vác đưa chiếc Honda ba bánh trên mui xuống. Xong, Thành và tôi, cả hai như bất động, đứng nhìn nhau, dù sâu kín cũng không giấu được một nỗi buồn hiện rõ trên mỗi nét mặt. Tôi ở đây, Thành thì đổi hướng tiếp tục lên Đà Lạt, biết bao giờ gặp lại.
Rất tiếc, qua một chặng đường dài mệt mỏi, hai đứa ngủ gà ngủ gật, chưa kể hết cho nhau nghe những mẩu chuyện về thân phận những kẻ chiến bại sa cơ, bị đọa đày dưới chế độ bạo ngược này, nhưng Thành cũng rất tâm đầu ý hiệp với tôi từ lúc xe ngừng tại Sa Huỳnh.
Trước phút chia tay Thành biết tôi chưa dứt khoát về đâu, nhà Huệ, cô em gái cùng cha khác mẹ của tôi có chồng dưới Vân Sơn, gần Ninh Chữ. Trên bước đường lánh nạn thế này, tôi không muốn lụy tới Huệ. Còn ông bà ngoại sắp nhỏ trên ấp Phủ Thành, Thuyền Cũ, thì cũng ý hướng đó. Thấy tôi mãi lưỡng lự, Thành chạnh lòng đổi ý, bỏ ngang chuyến xe lên Đà Lạt, anh đưa tay chỉ cái quán ăn bên kia đường, nơi khu Tam Giác:
– Vào đó kiếm gì lót bụng, mọi chuyện tính sau. Tôi hiểu tâm trạng Vân, như kẻ đứng giữa ngã ba đường.
Không đợi tôi gật đầu, Thành vội vứt hai túi xách lên phía sau chiếc Honda ba bánh, rồi hì hục dắt bộ, tôi lăn xe theo.
Tuy quán vắng khách, Thành vẫn ngại hai đứa có thể hớ hênh không ý tứ, nói năng “phản động”, nên đưa tôi vào ngồi bàn trong cùng.
Bà chủ còn trẻ, gật đầu chào và giới thiệu thực đơn:
– Sáng nay chỉ có bún tươi với mắm nêm.
Thành nói:
– Được! Cho hai tô, bỏ ớt tỏi nhiều, rau nữa.
– Phan Rang này khỏi nhắc mấy thứ đó? Phải không, anh Thy Vân?
Tôi giật mình, ngước nhìn người chủ quán:
– Sao biết tên tôi hay vậy?
Với nụ cười mủm mỉm, bà vừa cầm khăn lau các vệt nước loang lổ trên mặt bàn vừa hỏi lại:
– Làm như tên anh đẹp lắm! Không nhớ ai đây sao?
Tôi nhíu mày:
– Nhớ sao nổi…
– Anh biệt xứ cả chục năm, quên hết! Hân học Duy Tân đây, nhớ chưa? Tụi bạn nói anh đi Biệt Động Quân bị thương cụt hết hai chân trong trận nào đó ngoài miền trung, nay Hân mới thấy. Sao dữ vậy?
– À… Hân cùng lớp ngày xưa với tôi. Xin lỗi, vì Hắn bây giờ đẹp hơn thời thiếu nữ, hay vì tôi tàn phế, lẩm cẩm không nhìn ra cô bạn cũ. Chồng đâu Hân?
Nghe tôi hỏi, Hân đổi sắc mặt, từ vui qua buồn, đôi môi mấp máy, muốn khóc:
– Tù rồi…
Cô bạn miễn cưỡng trả lời xong vội đi xuống bếp. Vì chưa thấu hiểu tâm trạng của nàng, tôi nói với theo:
– “Học tập cải tạo” chứ tù gì, Hân!
Nàng quay lui:
– Anh cũng nói vậy à?…
Hân im lặng một giây sau câu hỏi vặn lại ẩn ý trách móc, rồi nàng vừa run rẩy vừa trút ra một tràng lời cay đắng:
– Huân, chồng tôi, không tuân hành cái lệnh hèn nhát của tổng thống phản quốc Dương văn Minh, bảo toàn quân buông súng đầu hàng, giao nạp vũ khí, cả mạng sống của mình cho kẻ thù. Cái lệnh ngu xuẩn ấy tiếp tay giặc chiếm miền Nam, sẽ còn ám hại đến ba đời chứ không riêng thế hệ này. Huân không thể làm “hàng thần lơ láo”, tự trình diện “học tập cải tạo, để bản thân, đất nước ô nhục. Huân vào rừng, thà hợp tác với Fulro tiếp tục chiến đấu như ngày nào. Dĩ nhiên, anh đã phải sa cơ, bị Cộng quân, lũ cướp nước, bắn trọng thương ờ Hữu Đức tháng Sáu vừa qua… Như vậy mà gọi là “học tập cải tạo,, sao anh Vân?
Tôi tối mắt, mặt sa sầm xấu hổ. Lời nói tôi vô tình chạm đến nỗi đau đớn của người bạn học có chồng là một chiến sĩ bất khuất, đang chết dần mòn trong bàn tay sắt máu của giặc cướp phương Bắc.
Thành cũng kém vui, anh phân bua:
– Vân dùng cụm từ đó là để che mắt bọn gian ác, cô Hân!
Xong, Thành gật gật cái đầu, tỏ vẻ đắc ý. Câu Thành nói như một châm ngôn, đã hóa giải được sự tự ái của hai người, hôm qua tôi tại Sa Huỳnh, hôm nay đối với Hân.
Chắc chưa nguôi giận, gương mặt Hân còn lộ nét chua xót khi đến đặt bình trà trên bàn và không buồn nhìn tôi như lúc mới gặp nhau. Hân chậm rãi rót nước ra hai ly, thái độ chần chờ một điều gì.
Tôi nói khẽ:
– Xin lỗi nghe Hân! Huân khí khái thật? Hân à, tôi không buồn vì những lời đay nghiến ấy, mà còn muốn đón nhận sự nguyền rủa nặng hơn.
Hân im lặng. Thành thì không nắm bắt được ý của tôi, vội chuyển qua đề tài khác, đánh trống lảng, và cũng để thay đổi bầu không khí hơi u ám, anh hất cằm hỏi tôi:
– Hân vừa đề cập đến Hữu Đức, là ở đâu?
– Một làng Chàm, thuộc quận Bửu Sơn, nằm heo hút phía tây Phan Rang, cách đây trên mười cây số. Cảnh trí nên thơ, có núi sau lưng, có sông trước mặt…
– Vân tới rồi?
– Hồi còn học trường Duy Tân Phan Rang, tôi thường theo mấy người bạn Chàm Năng Xuân Bì, Quảng Đại Banh, Hán Thanh Tủ, Đàng Năng Hồi… về chơi các miền quê cố quốc Chiêm Thành mỗi dịp hè ở Hữu Đức, Cà Na, Chất Thường, Công Thành, Bà Dày, và vào tuốt Mỹ Nghiệp tán tỉnh các cô trong đội vũ Chiêm từng đi lưu diễn nhiều nơi… Vui nhất là những lần dự đám cưới, tụi này phải lưu lại hai ba ngày, ăn uống thoải mái. Người Chàm hiếu khách, tiếp đón niềm nở, nhà luôn luôn sẵn sàng hàng chục đôi chiếu để khách nằm. Tụi tôi hay lui tới nơi nào có con gái. Mỗi lần vậy thì cha mẹ lánh mặt hết, nhường nhà trên cho các cô cậu tự do đùa giỡn suốt đêm. Nhưng chớ bao giờ dại dột tán tỉnh công khai, hay nói: “Ai ních tài lô” (anh yêu em) là chết…
Thành cười khật khật:
– Sao vậy?
– Đề cập đến yêu đương tức thuộc về hôn nhân, rất quan trọng. Người Chàm theo mẫu hệ. Nếu cha mẹ cô ta nghe được câu tỏ tình ướt át thì lập tức họ yêu cầu cả bọn về ngay, như đuổi khéo để họ hỏi ý cô con gái cưng, nếu thuận sẽ đem lễ vật đến cưới. Tục lệ người Chàm phải bắt rể. Trai kinh đừng hòng có chuyện đó, chẳng bao giờ các cô đáp lại: “Tài lô ai ních” (Em cũng yêu anh), và được nghe hát bài: “Em sẽ đưa anh về, về quê hương Chiêm quốc…”. Ngược lại, con gái kinh mình cũng lắm cô bắt chước Huyền Trân Công Chúa. Tín ngưỡng, người Chàm theo hai đạo, Bà La Môn và Bà Ni hay Bà Chăm, chắc đạo Hồi. Một bên cữ thịt heo ăn thịt bò, bên thì ngược lại…
– Vân cữ món nào?
Tôi nhìn Thành:
– Tôi hả? Vì đạo “trung dung” cửa giữa, tôi đớp láng cả hai, thịt heo lẫn bò, cho bỏ ghét.
– Gái Hời sao?
Tôi trừng mắt:
– Sao là sao, ý anh muốn hỏi gì? Đừng gọi Hời. Con cháu Chế Bồng Nga bây giờ văn minh lắm, có nhiều học giả, văn nghệ sĩ nổi tiếng.
– Nước Chàm có bao đời trước, đâu phải Chế Bồng Nga, vua đầu tiên? Chắc Thy Vân thích cái tên đẹp đó?
– Đúng vậy. Thế kỷ thứ 2 đã có nước Lâm Ấp, sau gọi là Chiêm Thành, giang sơn từ đèo Ải Vân đến Phan Rang, Ninh Thuận (có sách viết từ Quảng Bình đến Bình Thuận), dải đất hiền hòa, dân tình đôn hậu. Khoảng cuối thế kỷ 17 thì quê hương Chàm bị xâm chiếm, chỉ còn hồn, chứ quốc đã bị xóa tên trên bản đồ. Sở dĩ tôi nói họ là con cháu Chế Bồng Nga, vì ông vua này rất được dân Chàm quý trọng. Theo sử sách, nước Chiêm thời hậu bán thế kỷ 14 cường thịnh nhất. Vị anh hùng ấy đã dám đem quân ra đánh thành Thăng Long, khiến vua tôi nhà Trần phải thất điên bát đảo, chạy trối chết. Nói đến sắc thì tuyệt vời. Thoạt nhìn dung nhan các nàng rất uẩn khúc, lúc nào cũng “Hận Đồ Bàn”, nhờ nước da ngăm ngăm, không đen không trắng, tiếng Việt thiếu từ chính xác để diễn tả, thích hợp với xiêm y lộng lẫy, tha thướt, làm tăng thêm vẻ đẹp liêu trai của các cô gái Chàm. Quốc mất hồn còn. Tôi không nhìn hồn qua phong tục tập quán đặc thù họ giữ được đến ngày nay và chắc sẽ mãi mãi, mà trên khóe mắt u buồn người Chiêm nữ. Thuở đi học tôi có làm bài thơ tặng một cô gái Chiêm tên B. trong ban vũ truyền thống ở Mỹ Nghiệp. Nghe tôi đọc:
HUYỀN SỬ
Huyền thoại ca một mùa xuân lịch sử Chiêm quốc kiêu hùng vó ngựa ba quân Ngày em về ngàn xiêm y rực rỡ Trăm lời ca trăm họ nước non Chàm.
Nay còn đâu giang sơn ta cẩm tú Nét đẹp thiên hương màu mắt giai nhân Ngàn năm sau em vẫn là huyền sử Hồn Chế rêu phong thành quách điêu tàn. . .
Thành lắc đầu và thở dài:
– Sao nó giống tâm trạng mình quá, Vân ơi? Mình có khác họ đâu, nước mất nhà tan vì giặc Bắc. Kìa, Hân đem bún lên. Ngon, nay mới có dịp ăn lại mắm nêm Phan Rang…
Anh vừa nói vừa lụp chụp chan mắm vào tô, như đói đâu lắm. Tôi hầm hừ anh:
– Làm mất hứng. Tôi đang thả hồn thơ, tưởng tượng tôi là Chế Bồng Nga đang triệu giai nhân tên B vô cung múa quạt để “trẫm” xem, anh lại reo lên “mắm nêm!”, và chưa ăn đã biết ngon. Trộn xà bần rau bún lẫn nhau. ăn trưa luôn đó!
Hân đứng bên cạnh, thấy vui nàng mỉm cười:
– Các anh có nghĩ mai đây thiên hạ sẽ lấy mắm nêm, búp chuối làm chuẩn không?
Tôi đáp:
– Nữa, hết mắm nêm giờ tới búp chuối, mà làm chuẩn với thứ gì chứ, cơm gạo Nàng Hương thơm phức hay với sắn luộc đắng ngắt?
– Chọc tức hoài. Nàng Hương chỉ ở xứ Quảng anh thôi!
– Trật! Giống gạo tuyệt vời đó gốc Huế, ngày xưa họ chỉ trồng cho vua chúa ăn. Dân đen không được vớ tới. Huân bị nhốt ở đâu? Hân có đi thăm?
– Gần Di Linh. Thăm ảnh mới hai lần.
– Cho gởi lời thăm, nghe!
– Vô duyên, Huân có biết anh đâu mà nói?
Tôi lấy tay bóp trán:
– Quên, lẩm cẩm thật?
Hân kéo cái ghế sát vào đầu bàn và ngồi xuống:
– À, hôm trước Hân gặp Nhẫn vợ anh đi chợ Dinh. Lát về Thuyền Cũ, Phủ Thành chứ?
– Hân hỏi ai?
– Anh chớ ai?
– Ồ chưa biết sao đây. Hân làm mỗi đứa một tô nữa, nhớ đừng quên hai món “chuẩn”.
Nàng vừa đứng dậy vừa hỏi gặng:
– Sao chưa?
Tôi gác đũa:
– Thôi, đừng nhắc người ấy!
Thành xen ngang:
– Ăn xong mình vọt thẳng Đà Lạt chơi.
– Chà, bất ngờ ghê! Như tôi kể đêm qua, dù ông bà ngoại sắp nhỏ xúi vợ chồng tôi thôi nhau, tôi cũng phải đến thăm, nhân tiện dắt vài đứa con theo để nhờ. Có chúng nó bên cạnh mình bớt cô đơn.
– Chuyện dẫn con đi, dù vài đứa, không đơn giản đâu, và cũng chưa thuận tiện trong lúc này, phải chờ cơ hội. Vân lên chơi ít hôm để biết nhà và đủ thời gian bàn tính.
Ý kiến người bạn mới quen mà đã thông cảm hoàn cảnh, tôi đành nhắm mắt đưa chân:
– Được, mình chạy chiếc Honda ba bánh này, nhưng phải ghé qua thăm mấy đứa con một chút, nhớ quá!
– Xe chở hai thằng lên dốc Sông Pha nổi không?
– 72 phân khối lận, mạnh lắm? Từng chở trên cả trăm ký. Dốc Sông Pha ăn nhằm gì, đèo Ải Vân nó còn phóng lên như tên bay. Thành ngồi đằng sau, lưng dựa cái túi dết và ba lô. Xe lăn thì xếp để trên khung sắt bên hông.
Thành bảo Hân tính tiền. Nàng lẩm nhẩm:
– Bốn tô 100 đồng chẵn.
Thành lấy đưa tờ giấy 200:
– Khỏi thối. Xin tạm biệt, chúc Hân gặp nhiều may mắn.
Tôi nhìn Hân vẻ xúc động:
– Tôi cũng mong vậy, nhất là Huân sớm bình phục về với Hân, người vợ quý.
Xong, tôi lăn xe ra khỏi quán. Tội nghiệp cô bạn, đứng im lặng nhìn theo, nàng mỉm cười mà như muốn khóc, biểu lộ sự cảm nhận thân phận lạc loài của người thương binh ngay trên đất nước mình.
Tôi nổ máy, chạy vào con đường ngày xưa có tên là Khải Định, nhắm hướng Phủ Thành, nơi mười năm trước, Tý cùng tôi trốn học đi chơi bị ông anh nàng bất gặp về mét mẹ đánh đòn. Thấp thoáng, dọc hai bên lề, từng tốp bộ đội mang súng đi lang bang, mắt láu liên nhìn quanh, trước những ngôi nhà im vắng, buồn tẻ.
Tôi gợi chuyện:
– Thành à, gặp tôi chắc sắp con mừng lắm. Tôi vẫn chưa tin đã thực sự đổi đời. Lẽ nào mất nước là mất tất cả, như lời ai nói đó!
Anh sửa lại thế ngồi, áp sát lưng tôi và nói nhỏ bên tai:
– Đừng bi quan. Còn nước còn tát…
– Nước non gì nữa? Mới ngày nào đây một quân đội hùng mạnh giờ đã tan rã, khiến lớp chết lớp tù đày, một số cao bay xa chạy ra nước ngoài…
– Lúc nãy Hân có đề cập chuyện Fulro, nhóm Huân hợp tác. Tuy anh đã bị thương và ở tù, nhưng các tổ chức kháng Cộng vẫn còn. Vân biết Fulro chứ? Nhớ trả lời nhỏ, kẻo tiếng nói vọng xa phía trước, khách bộ hành họ nghe.
– Fulro, tên một tổ chức người Thượng: “Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh Các Dân Tộc Bị Áp Bức”, nổi loạn ở Buôn Mê Thuột từ thời Đệ I Cộng Hòa, với yêu sách quá lớn, đòi tự trị cả cao nguyên trung phần. Bất thành, họ ly khai chống chính phủ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm sai Tướng Tôn Thất Đính lên hòa giải không được, Fulro vẫn ngoan cố, và vì đa số là quân nhân sẵn có vũ khí, liền vào rừng lập chiến khu. Và mùa thu năm 1964, Fulro nổi lên chiếm cả một buôn lớn ở Buôn Mê Thuột. Họ cũng đánh luôn Việt Cộng mười năm nay, nên rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch.
Năm 72, trên đường ra tái chiếm Quảng Trị, Tiểu đoàn 21 Biệt Động của tụi tôi đã đôi lần chạm súng với Fulro trong một thung lũng phía tây An Lỗ, Huế. Lạ, tầm hoạt động của Fulro ra đến vùng I. Tuy quân số ít, mà họ rất can đảm. Bất đắc dĩ phải đánh nhau chứ Fulro không nặng lòng thù hận với người Quốc Gia. Do đó chồng Hân dựa được đám loạn quân mà bây giờ ta mới thấy hữu ích, họ chống Cộng còn hơn mình.
Một lợi điểm nữa, lực lượng Fulro có sự kết hợp với người Chiêm. Tôi nghĩ chắc Thượng-Chàm dựa dẫm nhau để tranh đấu Tôi nhớ 1964, người Chiêm lại đòi hỏi tiếng Chàm phải được dạy ở các trường học, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thuận. Dịp hè năm đó, từ Tháp Chàm tôi cuốc bộ vào Hữu Đức chơi, nửa đường dừng chân bên một con sông nhỏ, điểm hẹn, chờ người bạn Chàm tên Bì cỡi ngựa ra đón. Khi gặp nhau, Bì lại nghiêm sắc mặt bảo. tôi quay lui gấp, vì trong làng đang có cuộc họp lớn, bàn nhiều vấn đề trọng đại, sẽ tổ chức chống chính phủ. Tôi vội trở về.
Vì sự cảm mến nên đã hai lần tao ngộ chiến năm 1972, dĩ nhiên Fulro bỏ chạy, mà lần nào tôi cũng không thúc Đại đội 1/21 Biệt Động Quân truy kích theo, vì ngại rằng lính tôi sẽ bắn nhầm, biết đâu trong số ấy có người Chàm chưa hề phản nghịch, lại là bạn học chung trường Duy Tân Phan Rang với tôi ngày nào…
Thành vỗ vai tôi:
– Có dịp tôi kể nhiều câu chuyện huyền thoại giữa vùng rừng núi tam biên Lâm Đồng, Bình Thuận và Ninh Thuận.
“Có dịp”, nghĩa là Thành chưa thể kể lúc này. Không buồn nhìn lui anh, tôi vặn thêm tay ga cho xe phóng nhanh trên con đường quen thuộc mà buồn tênh.
Quê hương ơi, tôi đã trở về thành phố cũ thân thương, xin đừng xua đuổi nữa…
Vào đúng buổi tối mà Julia Deutschmann trở về nhà, ném chiếc áo khoác lên ghế, chạy vào phòng thí nghiệm của chồng, mặc chiếc áo choàng trắng và bắt đần sắp xếp lại những bản ghi chú của chồng thì ở Posen, tại căn cứ chính của Tiểu Đoàn trừng-giới 999, cảnh tượng như sau:
Trung Úy Wsraher, Đại đội trưởng đại đội I, cưỡi ngựa băng qua sân trại đến nhà bà nghiệp chủ người Ba Lan lai Đức. Bà là một góa phụ còn trẻ, chồng chết tại mặt trận Ba lan.
Đại úy Bart, Tiểu đoàn trưởng, ngồi trong phòng, dưới cây đèn đọc cuốn “Những cuộc mạo hiểm của Tom Sawyers”. Chân đi tất gác lên thành ghế, ông mỉm cười luôn. Khuôn mặt ông lúc đó mang một vẻ thiếu niên, thoải mái.
Thượng sĩ nhất Krull, đội nón sắt, bước ròn rã trong sân. Thỉnh thoảng ông dẫm phải một vũng nước. Có lúc ông ngừng lại nhìn trời. Có lẽ ông định đi tới các phòng ngủ để kiểm soát như thường lệ. Trung úy Obermeier chăm chú theo dõi viên Thượng sĩ một lúc rồi quay vào, kéo chiếc màn, đóng cửa sổ lại, lần mò tìm chiếc núm bật đèn và nhắm mắt lại vì quáng, ông rỏt nửa ly rượu Cô-nhắc, ực một hơi cạn. Ồng quyết định uống cho say.
Trong các phòng ngủ, người ta lo ngại tự hỏi không biết Thượng sĩ Krull sẽ chọn phòng nào để thi hành công tác thường nhật của ông, nhưng ai cũng có thể đoán được rằng chắc hẳn Thượng sĩ sẽ đến phòng có bốn anh lính mới tới. Trước hết, dưới gầm chiếu giường cuối, Thượng sĩ Krull khám phá ra được hạt sỏi lớn hơn hạt cát. Ông nhặt lấy, cầm giữa ngón tay cái và tay trỏ rồi buông cho hạt sỏi rơi xuống, ông không nói một tiếng. Tiếp theo, ông lại gần chiếc ghế đẩu đặt trước tủ, lấy ngón tay sờ và không thấy chút bụi nào. Nhưng đến chiếc giường sắt và khung cửa sổ thì thấy bụi. Gọi anh binh sĩ trực phòng, cựu Trung úy Stubnitz, người mà ông đã bắt chạy suốt buổi tối ở sân, ông quệt bụi lên má, lên trán, lên mũi, ngang dọc thành những ô vuông. Lần này ông cũng chẳng nói gì.
Cả phòng im lặng nặng nề, chỉ có tiếng bước chân của Thượng sĩ vang lên rõ rệt. Không một ai động đậy : hai mươi hai người nằm ngửa, chiếc chăn ẩm kéo lèn tận cằm, tay duỗi thẳng dán sát vào người, gót chân chụm lại, một kiểu “đứng nghiêm trong thế nằm”, ai cũng chờ đợi truyện không thể tránh được sắp xảy ra. Trong một góc phòng có tiếng thở hổn hển của binh nhì Reiner nguyên luật sư ở Munich, bị giam ở trại Dachau từ năm 1939, rồi được thuyên chuyển về Tiểu đoàn 999 từ mùa xuân năm 1943. Anh ta mắc bệnh suyễn.
Khi Thượng sĩ Krull ước chừng đã bôi đủ bụi lên mặt Binh nhì Stubnitz, ông đi khám các tủ. Ông ném quần áo trong chiếc tủ thứ nhất ra ngoài, đến chiếc thứ nhì thì ông lôi ra hết mọi đồ đạc. Ông bỏ qua chiếc tủ thứ ba, thứ tư, ném quần áo chiếc tủ thứ năm, vét sạch chiếc thứ sáu, vẫn không nói một tiếng.
Chiếc tủ thứ bảy là của Karl Schwnecke Krull mở tủ và lập tức lùi lại một bước. Một tai họa thực sự ! Vật duy nhất được xếp có thứ tự, theo thứ tự của nhà binh, đó là những hình đàn bà khỏa thân được gắn phía sau cửa tủ.
Krull cố nén tính tò mò, thâm tâm quyết định phải đến xem kỹ những hình này một cách thỏa thích, và cho lệnh lôi mọi người dậy. Ông chờ dịp khám chân binh sĩ trước khi đuổi họ ra sân tập thể dục ban đêm ; nhưng rồi ông bỏ ý định đó và cho lệnh họ xếp hàng diễn hành trước tủ của Schwanecke với “động tác nhìn trái !”
Rồi ông cho xuống sân. Hình phạt kéo dài trong nửa giờ. Quang cảnh thực kỳ quặc với những người mặc sơ mi, chân đi guốc gỗ, thao diễn như những bóng ma trong chiếc sân tối tăm. Thượng sĩ bắt họ thi hành : đi chân ngỗng, nhảy cóc v.v…
Khi chấm dứt thì ba binh sĩ gần lên cơn đau tim : nguyên luật sư bị bệnh suyễn, Deutschmann và Barlitz. Những người khác thì ngất ngư chân đi lảo đảo, người xanh lét, đẫm mồ hôi và bẩn thỉu. Ai cũng mệt lử, chỉ trừ Schwanecke. Hắn vừa cười vừa nguyền rủa Thượng sĩ. Vi vậy hắn phải chạy thêm mấy vòng sân. Nhưng hắn vẫn không để tắt nụ cười, chẳng bao giờ hắn không cười. Mọi người phải mất trọn một giờ để tắm rửa, lau chùi căn phòng. Mãi đến 11 giờ rưỡi họ mới được đi nằm với hy vọng được ngủ yên cho tới sáng mà không bị đánh thức dậy. Ernst Deutschmann nằm ngửa, cố thở thật dài và thật đều. Tim anh đập mạnh. Rồi dần dần, tình trạng khá hơn, cơn chóng mặt biến mất, anh chỉ còn thấy như bị liệt bại đau đớn khiến thân thể nặng nề như một khối chì.
Người nằm cạnh là anh nông dân Wiedeck mà anh quen từ ngày ở quân lao Francfort-Suroder. Hắn là một người bạn tù thật ít nói Họ mới chỉ trao đổi với nhau một vài lời mặc dầu luôn luôn họ ở chung,- cả khi làm công việc đóng đinh đế giầy của quân đội. Tình bạn đã nảy nở vào một hôm có viên Thượng sĩ vốn không ưa bộ mặt Deutschinann đem đổ luôn mấy thùng đinh giữa buổi nghỉ trưa và cho lệnh ông cựu bác sĩ phải nhặt lên. Vẫn giữ im lặng, Wiedeck đã giúp anh trong công việc đó.
Deutschmann nghe tiếng anh bạn nông dân nằm cạnh hỏi :
– “Thế nào, đỡ rồi chứ ?”
– “Khá hơn.”
Hai người cùng im lặng.
Một lát sau, Wiedck thì thầm :
– “Thằng khốn nạn thật.
– “Thắc mắc với nó làm gì.”
Lại im lặng. Wiedeck lại hỏi :
– “Mày nghĩ gì ?”
– “Nghĩ tới vợ tao, Julia”.
– “Tao cũng vậy, Tao nghĩ tới Erna. Mày có con chưa ?”
– “Chưa.”
– “Tao, hai rồi… Nhưng không, bây giờ là ba”
Có tiếng la :
– “Tụi bây câm mồm lại.”
Erich Viedeck bắt đầu kể chuyện bằng giọng thật khẽ, thỉnh thoảng ngừng lại thật lâu để lựa lời. Tuy vậy, qua truyện của hắn, Deutschmann thấy hiện lên trước mặt cả một thế giới xa lạ với anh. Anh không còn nghe thấy hơi thở rộn ràng của anh lính suyễn, cũng không nghe thẩy tiếng ngáy của Schvvanecke. Bóng tối dầy đặc của căn phòng dường như mở rộng giống như cánh đồng miền Porémanie.
Và đây là câu chuyện tại sao cựu hạ sĩ Erich Wiedeck, từng được ân thưởng huy chương anh dũng đệ nhất hạng, từng mang huy hiệu bạc của đoàn bộ binh xung phong và huy hiệu chiến thương đã phải về Tiểu-đoàn Trừng-giới 999 trước khi sắp thăng cấp Trung sĩ : Ngày đó là một buổi trưa trên cánh đồng Melchow. Một vài chiếc máy kéo kêu lách cách trên có những người đàn ông tóc cắt ngắn, mặc rách rưới, theo sau là những đàn bà và thiếu nữ, tóc phủ khăn quàng nhiều màu. Đó là những thợ nông nghiệp người Nga, những nông dân miền Ukraine, Caucase, miền Nga trắng, vùng lân cận Minsk hoặc miền đồng hoang Saporojié, bị bắt như những con vật săn, trong ban dêm, tại giường ngủ của họ, được chất lên những toa tàu chở súc vật và gửi sang Đức để hoàn thành mùa màng bảo đảm cho chiến thắng,
Wiedeck lấy ngón tay vuốt những bòng lúa mạch của anh. Bông nào cũng dầy, phồng lên, chín kỹ, đẹp hơn những năm trước. Hai mươi mẫu ruộng đã được cày cấy đủ thử hoa màu : lúa mạch, lúa mỉ, khoai tây, củ cải đường.
Anh nhìn những chiếc máy kéo và những người Nga trở lại thôn xóm, tươi cười. Hôm nay thứ bảy, trước ngày nghỉ. Trời đẹp. Mặt trời còn rực rỡ chừng vài ngày nữa thôi. Anh nghĩ :
– “Họ sẽ không kịp, họ không thể nào kịp. Một vài người Nga, mấy người đàn bà, một hai chiếc máy kéo. Mùa màng sẽ chín rục dưới chân nếu không gặt hái cho nhanh. Rồi anh chợt nhớ tới vợ anh, Erna, đang có mang, sẽ sinh nở trong ba tuần nữa, chị ấy không thể cúi xuống được và sẽ đau ốm nếu làm việc dưới nắng.
Anh nhìn cánh đồng như một mặt biển gợn sóng lúa, tính nhẩm xem phải mất mấy ngày mới gặt xong trước đầu mùa mưa. Khi anh trở về vào lúc xế trưa, Erna đứng đợi anh ở khung cửa.
Chị lo ngại hỏi anh :
– “Anh ở đâu về đó ? Chuyến tàu anh đi khởi hành lúc 2 giờ trưa đó”.
Anh trả lời vắn tắt:
– “Anh ra đông xem qua một chút”.
Chị cởi chiếc áo vải làm bếp choàng ngang người rồi nói :
– “Lúa thật đẹp. Anh vào ăn một miếng, Em làm cho anh chiếc bánh để anh mang đi.”
– “Ai lo vụ đó ?”
– “Vụ gì ?”
– “Gặt lúa.”
– “Em…”
– “Em lo?”
– “Hẳn rồi. Với ba người Nga nữa. Khi họ xong việc bên bác Pilchow, họ sẽ đến đây cùng chiếc máy bó lúa kiểu lớn.”
– “Như vậy quá chậm.”
Anh ngửng lên nhìn bầu trời. Chắc không nắng lâu quá một tuần nữa, và khi mưa bắt đầu thì mùa màng càng chóng thối rữa.
Erna kẻo chồng vào nhà :
– “Vào đây… Chả có cách nào khác. Mình cố gắng thu hoạch được gì hay nấy. Còn lại đành… Ngày nào đó sẽ hết chiến tranh, lúc đó anh sẽ chăm nom chu đáo.”
– “Để cho mùa màng thối rục thực là điều xấu hổ.”
Anh ngồi trong nhà bếp, gần cửa sổ, nhìn ra ngoài, rồi anh quay lại Erna đang rót cà phê cạnh bếp, hơi thơm ngát căn nhà. Trên bàn, có chiếc bánh ngọt trộn lần nho khô. Bên cạnh là bó hoa… hoa lấy trên đồng cỏ của anh. Anh quay lại nhìn cảnh đồng quê. Anh nói :
– “Anh ở lại.”
Erna sững sờ hỏi:
– “Sao ? Anh nói gì ?”
– “Anh không đi.”…
° ° °
Erich Wiedeck kể tiếp, trời tối nên không ai thấy mắt anh ướt đẫm :
– “Thế là tao ở lại. Tao bảo Erna là tao được gia hạn phép, tao được ở nhà cho tới khi mùa màng xong xuôi. Thực ra tao đâu có ở lại chỉ vì vụ đó, mày hiều không ? Bác sĩ bảo vợ tao phải giữ gìn trước khi sanh, nhưng nó giữ gìn thế nào được nếu tao phải đi và nó phải tự làm lấy mọi việc. Mà nếu không làm thì lấy gì ăn, lấy gì nuôi lũ trẻ. Mùa màng đâu có được là mấy và tụi nó chịu chết đói sao ? Mày hiểu tại sao tao không thể bỏ đi được.”
Deutschmann đáp :
-“Ừ”
– “Thế là tao lo việc gặt hái, làm vỉệc như một con vật. Từ sớm đến tối tao ở ngoài đồng, rồi lại còn phải làm thêm công việc ở nhà nữa chứ Nhưng rồi tao cũng đem được thóc lúa vào vựa. Đem hết ! Tao chỉ ngại công an đến bắt tao đi, nhưng họ không thấy tới. Tao chỉ tiếc có một điều…”
Anh ta ngừng lại Deutschmann hỏi :
– “Điều gì vậy ?”
– “Tao tiếc là không được ở nhà lâu hơn cho tới khi Erna sinh nở. Chắc nó sinh con trai. Mày nghĩ sao ?”
– “Chắc thế.”
– “Có lẽ tao nên ở lại mới phải. Nhưng sau đó, khi mùa màng xong, tao sợ quá. Thế nên tao ra đi. Hai đứa con gái nhỏ của tao tiễn tao ra ga vì Erna không đi nổi. Đứa lớn lên năm tên là Dorthe, đứa nhỏ lên ba tên Elke. Tao bảo chúng nó phải ngoan ngoãn vì má chúng sắp đau, dặn chúng không được nghịch ngợm. Chủng hứa với tao như vậy và tao tin chúng vì chúng ngoan lắm… Tao chỉ mong được biết Erna ra sao… Mày tin rằng có chuyện gì chứ ?”
Deutschmann trả lời chắc chắn :
– “Hẳn thế rồi.”
– “Tao có thể ở thêm hai hay ba ngày nữa. Và như thế, bây giờ tao có lẽ đã biết được. Nhưng…”
Deutschmann suy nghĩ… “Phải, bao giờ cũng có một tiếng “nhưng” : nếu ta làm như thế thì mọi việc sẽ khác, nhưng… Bây giờ mình đã hiểu. Mình còn sống được đã là một phép lạ. Với tình trạng hiện lại cho thấy chất huyết thanh không hiệu nghiệm. Minh đã mắc phải một điều sai lầm. Có lẽ mình chẳng nên hấp tấp quá như vậy. Chính ra mình nên suy nghĩ lâu hơn, tính toán kỹ hơn. Nhưng…”
Deulschmann nói từ tốn :
– “Thôi ngủ đi”.
Wiedeck đáp : “ừ” và hắn không nói thêm tiếng nào vì hắn đang khóc…
° ° ° ° ° ° °
Ngày hôm sau, khi xong công việc trở về, cả Tiểu-đoàn được phép viết thư. Những tay cáo già hiểu ngay là sắp có chuyện gì ; có lẽ họ sắp đưa đơn vị này sang Nga.
Deutschmann viết cho vợ ;
“Em Julia yêu dấu,
“Anh vẫn khỏe, ăn uống đầy đủ. Anh chẳng có gì, trừ em, đôi mắt nai của anh. Em không thể biết anh thiếu em đến mức nào. Anh thèm được nhìn lại em… nhưng, vào lúc này thì đó chỉ là một ước vọng thực vô tích sự. Đừng lo ngại gì cho anh cả, nhưng em cần cẩn thận, nhất là lúc này với những cuộc ném bom đó. Anh van em, hãy giữ gìn cẩn thận, đôi mắt nai của anh. Anh muốn rằng khi trở về, anh thấy em đẹp và mạnh khỏe”.
“Hôn anh của em đi”…..
…..“Em Erna”
“Anh vẫn không rõ em sinh nở ra sao? Con trai hay con gái ? Nếu là con trai, đặt tên nó là Wilhelm, như tên ông nội, nếu là con gái em phải rỏ phải đặt tên nó là Erna, như tên em. Ở đây anh khỏe mạnh, anh chỉ lo cho em và các con. Nhưng phải tin ở Trời để ngài chóng đưa anh về với em và các con. Anh hôn em và các con.”
Chồng em
Erich……
Hai bức thư hơi dài hơn luật lệ ấn định, nhưng biết rằng họ sắp phải đi xa nên người ta cũng bỏ qua.
Dù là một anh mù đi chăng nữa cũng có thể đoán biết một chuyện gì đang chuẩn bị. Hơn nữa Đại úy Bart lại mới có thêm viên Tiểu-đoàn- phó.
Mới đầu Đại-úy không hiểu rõ tinh thần bức văn thư mà ông vừa nhận được từ Bộ Chỉ-huy các đơn-vị trừng-giới.
Ông nói với Obermeier và Wernher :
– “Mình có thêm ông bạn mới, các bố ơi. Một Trung úy tên là Fritz Bevern, theo lý lịch thì là một tay khá đây: Trưởng đoàn thanh niên Hít le, con một công chức cao cấp, tốt nghiệp sĩ quan ưu hạng, chuyên môn về giáo dực. Huy chương hạng nhất chiến công, anh dũng bội tinh hạng nhì, Hôm nay cậu ta tới đây.”
Wernher bàn:
– “Thật đúng như mình cần. Mình xin đã lâu rồi phải không Đại-úy ?”
Bart trả lời :
– “Anh chàng này chắc khá lắm. Chờ xem. Dù sao, tôi cũng có một ông phó. Tuyệt chứ, hả ? Vừa nhẹ bớt được công việc chỉ huy lại là người trung gian với binh sĩ. Tôi chỉ sợ ông ta sớm trở thành dư.”
– “Đại-úy khó hiểu quá.”
Bart mỉm cười :
– “Độ ba hay bốn tuần sau khi mình tới đất Nga thì liệu còn ai nữa không để ông ta làm trung gian liên lạc nhỉ ?”
Wernher nói:
– “Đại úy lại bi quan nữa. Xin phép Đại ủy cho tôi đi chút.”
Bart hỏi, vẻ chế riễu :
– “Ngựa đã đóng yên chưa ?
– “Dạ, từ một tiếng đồng hồ rồi.”
– “Được, chúc cậu vui nhiều. Còn Obermeier, cậu ở lại với tôi chứ ?
Trung úy Bevern tới đơn vị bằng chiếc xe Horch lộng lẫy, chắc khi trước là của một đại nghiệp chủ nào.
Khi ông xuống xe là đi những bước mềm dẻo vào văn phòng Tiểu-Đoàn, có nhiều tiếng xuýt xoa từ các cửa sổ doanh trại. Bốt bóng loáng, quân phục vừa khít, mũ kết ngay ngắn, găng tay bằng da heo rừng màu xám nhạt, súng lục trong chiếc bao da nâu thật đẹp : đúng là mẫu Sĩ Quan, một hình nộm từ trong tủ kính các nhà may quân phục.
Đại Úy Bart đốt điếu thuốc, tự nhủ với vẻ ngán ngẩm : “Mình làm gì được với con khỉ ăn mặc chỉnh tề như thế này ? Có lẽ phải đem theo một thợ sửa bàn tay cho hắn khi Tiểu Đoàn lăn lóc trong bùn lầy đất Nga !”
Nhưng ông đã lầm. Khi trình diện xong, ba Sĩ Quan tìm hiểu nhau thêm quanh chai rượu chát, Fritz Bevern đã đứng vào tư thế tấn công ngay, ông nói :
– “Khi vừa tới, tôi nhận thấy ở ngoài cổng trại có một thằng ba bị tay cầm chiếc chổi. Mới đầu tôi lại tưởng rằng đó là một tên Nga. Nhưng mà, thưa quý vị, đó là một binh sĩ Đức. Tôi đoán chắc như vậy ! Tôi gọi lại nhìn tận mặt, nhưng thằng cha mất gốc đó cũng không thèm chào tôi. Hắn làm cho tôi có cảm tưởng hắn không phải là người. Và lúc đó, hắn cho tay ngoáy mũi. Thực là xấu hổ. Tôi hỏi tên hắn. Quỷ vị biết hắn trả lời sao không ?”
Bart hỏi, vẻ chú ý !
– “Sao ?”
– “Ha…”
– “Thế là thế nào ?”
– “Hắn chỉ nói : Ha… Thực là kỳ quái !”
Đến lượt Obermeier bỏi :
– “Tên hắn là gì ?”
Bevern lấy từ trong túi áo khoác ra một tấm giấy, đóng nắp túi rồi đọc:
– “Karl Schwanecke, Đại Đội 2. Biết được điều này không phải dễ. Thằng cha ấy điếc như vịt !”
Bart không nín được cười, hỏi :
– “Anh nói sao ?”
– “Nó điếc như vịt.”
Đại Úy Bart nói với vẻ thú vị:
– “Thằng cha kỳ quặc đó nó nghe rõ còn hơn anh hay tôi.”
Obermeier cũng mỉm cười.
Bevern chưng hửng, nhắc lại :
– “Nó nghe rõ hơn…”
Đại Úy Bart gật đầu :
– “Hơn nữa, hắn là một chuyên viên trộm đạo, ăn cướp có vũ khí, và hiếp dâm gái vị thành niên. Trước kia hắn là binh nhất, gan dạ một cách điên cuồng.”
Bevern mặt đỏ tía, nói :
– “Mai tôi sẽ gọi nó. Hỗn thật !”
Bart thở làn khói xanh bay lên trần nhà, đáp :
– “Mong anh sẽ làm được đến nơi đến chốn!”
– “Tại sao tôi lại không làm đến nơi đến chốn được ?”
– “Anh đã từng phục vụ trong một… một đơn vị này chưa ?”
Bevern ưỡn ngực trả lời :
– “Thưa Đại úy, cho tới nay, tôi đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác rồi.”
– “Vậy thì bây giờ nên thay đổi ý kiến đi một chút, anh bạn thân.”
– “Thay đổi vì quan hệ cho chính anh. Đơn vị này không giống các đơn vị khác, Đây là một Tiểu-Đoàn trừng-giởi (Đại úy nói rành mạch từng vần từng chữ theo thói quen mỗi khi nói say sưa . Anh sẽ thấy ở đây những người như Schwanecke, họ không biết tới một uy quyền nào cả và nếu uy quyền đó lại là cấp bậc thì họ càng ít biết tới nữa. Điều duy nhất mà bọn họ chịu khuất phục, đó là những tư tưởng của họ, nó đối nghịch lại với tư tưởng của các anh… ấy.., tôi muốn nói là tư tưởng của chúng ta: thí dự như trường hợp Schwanecke đó là nbững bản năng phạm tội. Đừng mong doạ nạt hắn cũng như doạ nạt những tên như hắn. Còn có một bọn khác nữa : đó là những người họ không hiểu tại sao họ lại bị đưa đến đây… chắc chắn là bọn nầy đông nhất. Trong bọn họ, người ta quan sát thấy đủ thứ khác biệt: có cả những tên không chút khí lực nào, giống như những con chó vừa bị đánh đập, sợ hãi tìm hiểu ý muốn trong mắt chủ, cho tới những tên sẵn sàng húc đầu vào tường dù biết rằng sẽ vỡ óc.”
Bevern bực tức hỏi:
– “Vậy thì chịu thua họ sao?”
Đại úy Bart trả lời cương quyết :
– “Không, chỉ cần thích ứng. Xem như Trung Uý Obermeier, ngồi trước mặt anh đó. Thân phụ anh ấy là Sĩ-Quan. Ông nội anh ấy cũng là Sĩ Quan, Cụ tổ anh ấy là cận vệ cao cấp của nhà vua. Còn riêng anh ẩy thì là một chiến sĩ tiền tuyến với đủ loại huy chương: anh dũng bội tinh đệ nhất hạng, bội tinh vàng Đức Quốc v…v… còn được bộ Tổng Tư Lệnh tuyên dương một lần. Khi tới đây, anh ấy tin tuyệt đối rằng chẳng còn gì phải học thêm nữa. Chỉ trong vòng một tuần, anh ấy đã cảm thấy quá nhỏ bé. Bây giờ thì anh ta đã bắt đầu trưởng thành”.
– “Dù sao tôi cũng nhất định cho gọi tên Schwaneike đó và tôi sẽ nói khiến hắn ta phải mềm nhũn đầu óc. Cũng là một cách thị uy với hắn.”
Obermeier lễ độ bàn:
– “Anh cần phải có tài bùng biện ghê gớm lắm.”
Đại úy Bart kêu: “Cha chả !” với vẻ luôn luôn tươi tắn.
Bevern im lặng, bực bội. Ổng nghĩ: “Bọn chi lạ ! Chịu đầu hàng trước những tên hôi thối được thoát án tử hình vì lòng nhân đạo! Thích ứng là cái gì? Thực lố bịch!”
Ông nhìn qua cửa sổ. Đại đội 2 đang tập. Những con người mắt sâu, mặt méo mó, quân phục dầy cộm vì bẩn thỉu. Ồng quay vội đi, kinh tởm, tự nghĩ: “Nên đem bắn bỏ hết, đó là giải pháp hay nhất.”
Buổi tối, trong khi Obermeier đi coi chiếu bóng, Wernher cùng với bà nhân tình tính toán toán ăn thêm nữa hay đi ngủ ngay, Đại úy Bart nghe nhạc Beethoven thì Trung úy Bevern đi quanh doanh trại để tự giới thiệu với tiểu đoàn theo phong cách của ông.
Trước hết, ông gặp Thượng Sĩ Nhất Krult. Ông này vừa đi kiểm soát trở về. Ông vừa bắt Deutschman lau cầu tiêu thêm một lần nữa vì thấy chưa được sạch theo ý ông. Thượng sĩ đã chắp tay sau lưng đứng ngắm một lúc lâu : nhà bác học đánh vật với chậu nước và nùi giẻ.
Ông nói:
– “Trong nửa giờ nữa, tao sẽ trở lại. Nếu không sạch được như một phòng giải phẫu, tao sẽ bắt mày liếm suốt cái sàn nhà này bằng cái lưỡi trí thức của mày. Hiểu chưa? “
Chạm trán với vị Trung úy mới, Thượng sĩ đứng nghiêm trong tư thế thật toàn hảo. Trung úy Bevern hỏi một cách lơ đãng ;
– “Tên anh là gì Thượng sĩ ?”
– ” Thưa Trung úy, Thượng sĩ Nhất Krull.”
– ” A!… Thế ra anh là Thượng sĩ Nhất Krull đó !”
Krull tươi tỉnh trả lời ;
– ” Dạ, thưa Trung úy.”
À, Thì ra như vậy đó. Ngay người mới tới cũng biết đến tiếng ông. Nhưng ông sẽ bớt khoan khoái nếu ông biết Bevern quyết định lấy ông để trả thù sự vô lễ của Obermeier :
– “Thượng sĩ cân nặng bao nhiêu ?”
Krull ngước mắt nhìn trời tự nghĩ :
– “Thằng cha này điên chắc !”
– “Thưa Trung Uý, tôi không rõ.”
– “Anh nặng 95 kí lô đó, Thượng sĩ !”
– “Tôi… không đến thế,.. Tôi tưởng…”
– “Anh nặng bao nhiêu, Thượng sĩ ?”
– “Thưa Trung Uý, 95 ki lô,”
– “Rõ ràng là nặng quá đó, Thượng sĩ. Anh không tin như thế sao ?”
– “Dạ, có, thưa Trung Uý.”
– “Ít ra cũng thừa đến 20 kílô.”
– “Dạ, thưa Trung Uý.”
– “Phải cho tiêu bớt chỗ đó đi, Thượng sĩ.”
– “Dạ phải, thưa Trung úy.”
Krull sững sờ, tưởng rằng cuộc thẩm vẩn ngớ ngẩn đó đã chấm đứt. Nhưng viên Trung úy mới không tỏ vẻ gì muốn cho Thượng sĩ được đi. Trái lại, Krull ngờ rằng có lẽ ông Trung úy này đang sử dụng đúng những phương pháp như chính Thượng sĩ đã từng làm.
– “Mình bắt đầu ngay, Thượng sĩ… Đằng sau, quay!… Chạy đều… Đằng trước, bước!”
Krull chạy đủ bốn phía, mặt đỏ bừng, mồm há hốc. Đã từ 5 năm nay, lần đầu ông ta phải chạy. Chiếc áo sơ mi dính sát vào thân ướt đẫm mồ hôi. Bao nhiêu định kiến của ông bay biến hết. Cho tới nay, ông vẫn tin là mình đứng ở phía bên này hàng rào ngăn cách, cùng phía với các sĩ quan, Nay cái anh chàng bảnh bao này đột nhiên làm ông bắn sang phía bên kia. Ông thở hổn hển.
Giọng nói chua cay của Bevern như búa bổ đầu ông:
– “Nhanh hơn, Thượng sĩ. Kìa, nhanh hơn lên chứ. Chạy như thế sẽ làm thân mềm dẻo và thoải mái. Lại rất tốt cho bộ phổi. Nhanh nữa lên.”
Cuối cùng, Krull thất thần, gần như bất tỉnh rồi cũng được trở về phòng.
Đối với Bevern, đây mới chỉ là khởi sự thôi. Răng nghiến chặt, ông tự nhủ: “Rồi tụi bay sẽ biết tay tao. cả bọn chúng bay. Binh sĩ ! Hạ sĩ quan ! Và cả mấy Sĩ Quan thích lợi dụng cả tên Obermeier và Bart nữa.”
Trong phòng ngủ Đại đội 2, Trung úy Bevern khám phá ra một điều mà mới đầu làm ông sững người : đó là tập sưu tầm hình ảnh của Schwanecke. Hắn ta đang bận bịu trang hoàng đầu giường và hai bên cạnh bằng những hình đàn bà khỏa thân. Trung úy rón rén tiến lại gần và nói :
– “A! Bây giờ mới tìm thấy anh,”
Schwanecke quay lại mỉm cười :
– “Làm thế không ai sợ đâu, Trung Uý. Hình thật tuyệt, hả ?”
Bevern bắt đầu : “Anh..,” nhưng Schwanecke không hề lúng túng nói tiếp : – “Trung Úy khoái những hình này không ? Trung úy ? Cô tóc vàng này… hả ? Trung úy nghĩ sao ?… Cô nàng ở Bá Linh đó… Đâu có phải thường. Nếu Trung úy khoái (hắn nghiêng người về phía Viên Sĩ Quan như muốn tâm sự một chuyện bí mật , tôi sẽ cho Trung úy địa chỉ của nàng, đó dịp Trung úy về Bá Linh… một búp bê cỡ như như thế này, đáng tìm hiểu lắm, bất cứ ai!”
Bevern rùng mình, cảm thấy tức thở.
Ông đưa một ngón tay vào cổ áo.
Schwanecke hỏi với vẻ ân cần :
– “Trung úy khó chịu trong người hả ?”
Bevern ra lệnh cho hắn quay đằng sau và chạy vòng quanh sân trong nửa giờ. Rồi chính ông thấy mệt, còn Schwanecke vẫn cứ cười. Chỉ thấy hắn đổ mồ hôi một chút.
Karl tới trước mặt Bevern hắn nói :
– “Trung uý cũng giỏi gần bằng huấn luyện viên của tôi khi tôi mới nhập ngũ, À, vấn đề địa chỉ cô gái…”
– “Câm miệng !”
Schwanecke còn phải làm thêm năm mươi cử động đứng lên ngồi xuống. Đầu gối hắn run run, nhưng hắn giữ nụ cười. Hắn nghĩ : “Không phải mày ! Không phải mày ! Chính tao rồi sẽ thắng mày…”
Deutschmann đã kiệt lực.
° ° ° ° ° ° °
Cho tới nay, một thứ tinh thần hoạt kê đã hỗ trợ cho anh. Nhưng bây giờ thì hết, anh đã quá mệt mỏi, quá thất vọng để còn có thể coi những lời la hét, chửi mắng của Krull và các Hạ sĩ quan khác như là một thói khoa trương kiêu hãnh về thể chất, anh đã bị kiệt quệ vì căn bệnh lâu dài và trầm trọng, vì nhà tù, vì vụ án, bị vùi dập vì những tủi nhục liên tiếp, anh cần tất cả nghị lực còn lại để tự đứng vững được trong cái khung cảnh tiều tụy này. Anh hết còn thấy giận giữ hay đắng cay mà chỉ còn cảm thấy yếu đuối và mệt mỏi.
Sau khi đã cất dọn chiếc chậu, búi giẻ, chiếc chổi và tắm rửa xong, anh lê bước về phòng, chỉ náo nức về một thèm muốn duy nhất : hút điếu thuốc và ngủ, ngủ suốt một ngày, không động đậy. Cánh tay trái của anh đau không chịu nổi. Cánh tay này là nơi anh đã chích thí nghiệm vâ bây giờ chằng chịt những sẹo, gầy đét tới xương, chắc không bao giờ có thể lành hẳn.
Ngọn đèn điện trần trụi chiếu ánh sáng lờ mờ. Một vài binh sĩ còn chơi bài tại chiếc bàn lớn giữa phòng, nhưng đa số đã nằm dài trên giường. Ngồi ở đầu bàn là ông cựu đại tá cao lớn đang ngắm nghía bàn tay quấn băng. Một cựu thiếu tá, nguyên thuộc bộ tham mưu lộ quân, sử dụng uể oải chiếc chổi: hôm nay là phiên ông ta trực phòng.
Deutschmann lại tủ lấy chiếc hộp thuốc lá bằng da nhận bạc có chữ tắt tên anh ở góc dưới : một món quà tặng của Julia.
Anh ra bàn ngồi và mở hộp thuốc để trước mặt. Một người đang chơi bài, người gày ốm, mặt chuột hỏi:
– “Thằng cha Krull hành mày hả ?”
Hắn cười để lộ những chiếc răng xỉn. Nguyên là một thử cò mồi ở Bá Linh, hắn không thể nào ngưng việc ăn cắp vặt nên bị đưa đến tiểu-Đoàn trừng-giới.
Deutschmann gật đầu, quá mệt chẳng muốn trả lời, quá mệt đến nỗi không buồn đưa tay lấy một trong hai điếu thuốc lá anh đã dành dụm cho buổi tối.
Đúng lúc đó, Schwanecke bước vào với nụ cười nở rạng. Hắn đóng cửa lại và nói :
– “Tụi bay ! thằng khốn nạn đó tưởng rằng thắng được tao. Nó tự hại nó một cách thảm thương !”
Một người chơi bài hỏi :
– “Bây giờ nó đâu rồi ?”
– “Nó ngán quá và đi nằm rồi. Cỡ như nó là cái thá gì ? Thằng cha thắng nỗi Karl Schwanecke chưa hề sinh ra trên đời này mà !”
Tên mặt chuột hỏi :
– “Mày chơi không?”
– “Có ngay” – chợt Schwanecke nhận thấy Deulschmann ngồi gục xuống, hắn hỏi ;
– “Mày làm sao vậy ?”
Deutschmann không đáp. Schwanecke lại ngồi bên cạnh anh :
– “Có đứa nào chơi ác với mày hả, giáo sư ?”
Deutschmann chợt thấy bàn tay to lớn đầy lông, móng tay cáu ghét, lần về phía hộp thuốc lá và cầm lấy. Anh ngửng đầu nhìn hắn.
Schwanecke xoay qua, xoay lại chiếc hộp ngắm nghía kỹ, gật đầu hai ba lần, đưa chiếc hộp lêu mũi, hít một hơi dài, lấy một điếu thuốc châm hút.
– “Này, tao cho mày hai tấm ảnh. Tùy mày chọn lấy.”
Deutschmann cố gắng đứng dậy và giơ tay lấy lại chiếc hộp Schwanecke lùi lại một bước và bỏ chiếc hộp vào túi ngực.
Hắn nói :
– “Tao giữ chiếc hộp nầy cho tới khi mày quyết định đổi bằng cái gì. Ba chiếc hình? Đồng ý không ?”
Đối với hắn, công chuyện thế là giải quyết xong. Hắn trở lại với đám người đánh bài. Deutschmann dựa vào mép bàn, nhắm mắt, đứng lên và kêu tuyệt vọng :
– “Chiếc hộp… Trả tao chiếc hộp !”
Ông cựu đại tá cao lớn ngửng lên nhìn, Schwanecke hỏi :
– “Đến lượt thằng nào đi bài đây ?”
Tên mặt chuột đáp :
– “Đến lượt thằng Werner… mày xuống đây.”
Schwanecke lấy chân khều chiếc ghế đầu và sắp ngồi xuống thì thấy có người nắm vai và hắn quay lai. Erich Wiedeck, mặt đỏ bừng, đứng thẳng trước mặt hắn. Anh nói :
– “Trả nó chiếc hộp, thằng hèn!”
Schwanecke cười nhẹ:
– “Ê mày ! từ từ. Bỏ tay xuống !
Deutschmann đẩy vào chiếc bàn, cố tiến lên hai bước và nắm cánh tay Schwanecke Hắn đẩy nhẹ như đuổi ruồi. Deutschmann bị gạt ra, ngã ra, ngã trên chiếc ghế đẩu, đầu đập vào chiếc tủ, nằm lăn ra bàn, bất tỉnh.
Wiedeck nắm lấy áo Schwanecke gầm lên :
– “Thằng khốn nạn.”
Nhưng không, một cú đấm móc nhanh như chớp vào bụng và Wiedeck kêu rên lên, gặp người làm đôi. Một cú thứ hai, đánh trúng cằm với sức mạnh phi thường làm anh la dựng người lên và bắn về phía sau. Gáy anh đáp vào cánh tủ kêu rầm và Wiedeck mắt lờ đờ, từ từ rũ xuống. Schwanecke vẫn cười để lộ hàm răng trắng ởn.
Hắn cũng chưa kip lấy điếu thuốc gắn trên mép.
Hắn hỏi :
– “Đến lượt thằng nào đây ?”
Hắn đứng thẳng, hơi cúi, mi mắt lim dim vì khói thuốc, thân thể đầy bắp thịt tỏa ra một sinh lực được tập trung, một sự mềm dẻo của loại thú rừng, một sức mạnh khó chế ngự. Hắn nhoẻn cười rộng hơn, nhắc lại :
– “Đến lượt thằng nào ?”
Một tên chơi bài hỏi :
– “Thôi, mình chơi tiếp chứ ?”
Tên mặt chuột nói:
– “Bọn chết nhát… Ngồi xuống đi Karl.”
Viên cựu Đại Tá cao lớn tiến đến không nói một câu và ngừng lại trước Schwanecke cách hai bước. Wiedeck lật người nằm sấp xuống, cố gắng đứng dậy, nhưng lại ngã xuống, miệng rên rỉ.
Schwanecke hỏi cựu Đại-Tá :
– “Mày muốn gì ?”
– “Yêu cầu trả lại chiếc hộp đó ngay”
Tên mặt chuột kêu lên một tiếng đúng như ngựa hí. Một tên chơi bài từ từ đứng dậy, chống tay lên bàn, chờ xem..
Schwanecke nói :
– “A ! gì nữa đây ? Hãy nghe kỹ tao đây, cái loại Đại-Tá cao kều đã bị lột lon, hãy nghe kỹ tao đây : Mày đừng có làm mặt chì ở đây, mày nghe rõ không? Mày tưởng mày vẫn còn là một ông lớn nào đó chăng ? Mày đừng mong đánh lừa tao. Ở đây, mày cũng chỉ là cục cứt như tao vậy. Cút ngay nếu không ông đấm vỡ mặt.”
Viên cựu đại tá nghe với một vẻ thản nhiên. Khi Schwanecke quay đi, ông nói bằng giọng lớn hơn, oai nghiêm hơn :
– “Yêu cầu trả lại chiếc hộp ngay và lại xin lỗi Bác sĩ Deutschmann cùng Wiedeck. Anh nghe rõ tôi chứ ?”
Schwanecke quay mặt trở lại, giận dữ, giựt điếu thuốc lá khỏi môi và vất xuống nền nhà. Hắn thét lên :
– “Câm đi ! Câm đi ! Thằng cục cứt ! Tao không thể chịu được những thằng như loại mày nữa. Chúng mày làm tao buồn nôn. Thưa các ông lúc nào cũng thưa các ông ! Rồi còn gì nữa ? Nghe đây, thưa ông… (tiếng hắn thấp xuống, rít lên với một giọng hằn học chết chóc, biểu lộ sự thù hận mù quáng của những kẻ trọng tội đối với mọi người khác. Hắn ghé sát mặt vào viên cựu Đại tá … nghe đây! Tao luôn luôn bị những người như loại mày quấy nhiễu, tao luôn luôn phải hạ mình, trả lời: “Dạ, đúng như vậy, thưa ông… nào đó. Tao có thể nghiền nát mày bằng một bàn tay thôi, đại-tá của đít tao ! Và tao sẽ làm, tao nói cho mày biết (Hắn nắm áo ngoài của cựu Đại-tá, kéo ông lại gần, giơ bàn tay trái toan đánh. Lần này trên môi hắn không còn nụ cười . Tao sẽ đánh nếu mày không nói ngay: Dạ đúng thưa ông Schwanecke ! Mày đã hiểu tao nói: Dạ đúng, thưa ông Schwanecke !…”
Đại tá nói giọng khàn khàn :
– “Buông tao ra!”
– “Dạ đúng, thưa ông Schwanecke !… Nếu mày không nói tao giết mày.”
Gian phòng im phăng phắc. Không một ai nghi ngờ gì nữa : Schwanecke đã nói thực, không còn sức mạnh nào trên thế gian này này có thế bắt nó ngưng. Vị cựu Đại-tá và nguyên Tư-Lệnh sư- đoàn, có huy chương anh dũng với nhành lá sồi, nay là binh nhì Gottfried von Bartlitz thuộc Tiểu – đoàn trừng – giới 999, tượng trưng cho tất cả sức mạnh mà hắn ghét, vì suốt cuộc đời hắn phải cúi đầu truớc sức mạnh đó, phải trốn chạy như con chó ghẻ, phải trú ẩn trong những căn lều hôi tanh, phải nguyền rủa cuộc đời và nguyền rủa cả mẹ hắn đã sinh ra hắn. Tuy nhiên bản năng sinh tồn rất mạnh trong người hắn đã luôn luôn ngăn không cho hắn hạ một thám tử hay một cảnh binh đang truy lùng hắn. Nếu giết một người cỡ như vậy, chắc chắn thoát không khỏi tử hình, hắn biết thế. Cũng cái bản năng đó đã cấm hắn nghiền nát khối mỡ mang tên là Thượng sĩ Krull cho đến thành một đống thịt máu, cấm hắn bẻ gãy xương tên Trung úy giống như khỉ, Bevern. Những người đó hắn không dám động chạm đến, bởi vì đằng sau họ là cả một quyền hành có thể điều động được lưỡi gươm của đao phủ. Nhưng còn đối với lão cựu đại tá này thì không giống như thế. Thằng cha này, mới trước đây còn là thuộc phe của bọn kia, nhưng bây giờ thì cũng ở bên này hàng rào ngăn cách cùng với hắn. Hắn có thể bóp nát lão ta bằng bàn tay mạnh mẽ của hắn, làm nát ngướu bộ mặt kiêu ngạo đó và để tỏ cho đồng bọn của hắn trong căn trại khốn nạn này biết bây giờ ai làm chúa. Chắc chẳng còn ai mà nghĩ tới đại tá von Barilitz ?
– “Tao đếm đến ba. Một…”
Bỗng một giọng nói bình tĩnh cất lên :
– “Thôi như thế đủ rồi, nhỏ!”
Một binh sĩ còn trẻ, mập lùn, tóc vàng hoe, không có gì ghê gớm cả, lững thững lại gần chiếc bàn, chân đi đất.
– “Hai… và…”
Người lính trẻ nói lớn hơn.
– “Quay lại đây, mày !”
Schwanecke hình như lần đầu nghe thấy tiếng anh lính. Hắn khẽ quay đầu lại, nhìn thoáng qua để đánh giá trị địch thủ mới, rồi quay lại nhìn viên đại tá. Bàn tay hắn đã nắm lại.
Anh lính trẻ thét lên : “Nhìn đây” rồi như một giáo sư thể dục dày công luyện tập, anh nhảy thót qua bàn, giựt Schwanecke ra khỏi ông đại-tá khiến hắn ta phải ngạc nhiên.
Tên mặt chuột vừa la vừa nhảy nhót :
– “Thịt nó đi, Schwanecke!”
Những tên đánh bài cũng toan can thiệp nhưng đều không kịp nữa. Chuyện xảy ra lúc ấy diễn biến quá nhanh đến nỗi không ai dám nói chắc làm thế nào mà anh lính trẻ bề ngoài quả yếu ớt bên cạnh địch thủ to lớn lại thành công. Hai chiếc đầu cuốn xoáy vào nhau, chiếc bàn lật đổ, rồi người ta chỉ nghe tiếng gầm gừ giận dữ của Schwanecke, hơi thở hổn hển của hắn, rồi bất thần một tiêng kêu chói lói, man rợ..
Người lính trẻ khéo léo thoát ra khỏi thân hình to lớn nằm bất động. Anh cúi người một lúc rồi đứng thẳng dậy, tay vuốt bộ tóc ngắn và nói:
– “Thấy chưa !”
Schwanecke mắt lờ đờ, đau đớn nhìn trần nhà Nước mắt chảy trên gò má hắn. Hắn há miệng vừa phát ra tiếng kêu ghê gớm lúc trước rồi lại ngậm miệng, Mọi người chỉ nghe thấy tiếng nghiến ghê rợn của hàm răng đã mòn. Sau hết hắn ấp úng:
– “Cái gì ?… cái gì vậy”
Viên cựu đại tá hỏi :
– “Trời đất! anh làm gì nó vậy ?”
Anh lính trẻ đáp :
– “Không có sao đâu. Nó chỉ đau chốc lát thôi. Chút xíu xíu mà. Trong nữa giờ nữa nó sẽ như thường. Thôi dậy đi mày!”
Schwanecke trước còn nhìn anh ta, không hiểu rồi dần dần sức sống sự hiểu biết và…. sự sợ hãi hiện lên trong mắt hắn. Vừa rên rỉ, hắn nhỏm dậy, quỳ gối chống hai tay một lúc, ngắc ngư cái đầu và sau cùng vịn vào chiếc ghế đầu, hắn đứng dậy.
Anh lính trẻ nói bình thản :
– “Bây giờ trả lại chiếc hộp đi.”
Với dáng nặng nề như phải mang quá nặng trên vai, Schwaneeke thất thểu lê qua căn phòng và đưa chiếc hộp cho Deutschmann.
– “Cả thuốc lá nữa !”
Schwanecke rút điếu thuốc trong túi và đưa ra. Deutschmann ngần ngừ.
Anh lính nói:
– “Cầm lấy đi.” Khi Deutschmann đã nhận anh nói thêm với Schwanecke :
– “Thôi bây giờ mày xin lỗi đi.”
– “Được rồi ! Tao rất lấy làm tiếc !”
Viên cựu đại tá nói chen : “Cám ơn chú !”
Người lính quay lại nhìn ông khinh bỉ và nói bằng giọng ung dung như thường lệ, nhưng lần này hơi run run:
– “Ông không phải cám ơn tôi. Tôi làm thế đâu phải vì ông. Nếu một mình ông liên hệ đến việc này, tôi đã chẳng thèm động ngón tay. Nếu ông phải có mặt tại đây là lỗi của ông. Và nếu những thằng cha như thế (anh hất đầu về phía Schwanecke, ngồi rũ trên chiếc ghế đẩu nó tặng ông trận đòn cũng là tại ông. Chính ông đã từng giúp nâng cao bọn người đưa ông đến đây mà chẳng hề quyết định làm gì chống lại họ khi còn đủ thời gian. Lạ hơn nữa, ông còn giúp họ…, chính các ông, những sĩ quan (tiếng anh ta thêm lạnh lùng khinh bỉ. Anh bước nhanh về phía viên đại tá đang bối rối, nghiêng mình nói tiếp ông có biết tại sao tôi phải ở đây không? Bởi vì tôi đã sửa trị một thằng sĩ quan ngu xuẩn đúng – như thằng cha kia. Và, lạy trời, hắn xứng đáng bị trừng trị một cách khác hơn. Nên tôi đã khóa mõm thằng Schwanecke là bởi vì tôi chẳng muốn đổi sự tàn ác của bọn thượng sĩ, bọn sĩ quan bằng sự tàn ác của những quân vô lại. Với bọn này thì phải chẹt cổ chúng theo lối đó, còn đối với những người như các ông thì không. Các ông chỉ hết tàn ác khi nào các ông đã bị chôn chặt.”
Làm như kinh tởm, anh đi qua mặt viên cựu đại tá lúc đó xanh rờn, tiến lại chỗ Schwanecke và hỏi dịu dàng bằng giọng thân hữu :
– “Sao khỏe rồi chứ?”
Schwanecke ngước nhìn anh ta bằng ánh mắt gần như chịu khuất phục, trả lời;
– “Ờ, khá rồi, bồ. Cậu chơi tôi miếng gì gì thế? Cậu phải dậy tôi miếng đó mới được. Cho tới nay, chưa thằng nào đánh ngã được tôi đó.”
Anh lính trẻ mỉm cười nói:– “Tôi phải giữ miếng cho tôi chứ! Thôi bây giờ giúp bọn này xếp đặt lại cho gọn gàng đi.Thằng cha khùng có thể trở lại bất cứ lúc nào đó”….
Mấy ngày rày, nhìn kỹ cái khuôn mặt ấy, cái dáng đi ấy, cai bàn tay ấy nhưng tôi còn nghi ngờ, chưa dám quả quyết rằng cô gái bán hàng gọi là Liên này chính là Liên ở miệt Bình Thủy ngày trước. Biết đâu người lại giống người, tên lại trùng tên! Trong số có một trăm phụ nữ, rất dễ mà có bốn người mang cái tên thơ mộng là Liên (hoặc trong tờ khai sanh ghi sẵn, hoặc tự mình sửa lại cho hợp với trào lưu mới).
Còn về dung nhan thì đôi chân mày đẹp, làn môi đẹp, mái tóc đẹp của người phụ nữ ngày nay dường như đã thành công thức, thành qui chế chặt chẽ như luật giao thông đi đường, như danh từ trong tự điển. Kỹ thuật trang điểm đã trở thành khoa ảo thuật, hóa trang. Nói vậy không phải là tôi công kích Liên đâu! Ngoài đường – Lắm khi ở trong nhà và trong tâm tư – chúng ta ít nhiều là nhưng đào kép bất đắc dĩ thủ những vai Lữ Bố, Nguyệt Nga, Điêu Thuyền, Tào Tháo hoặc Lan và Điệp, Sạc-Lô, Tạc Dăng… trên cái hí trường bao la mà tạo hóa là tay đạo diễn nghiêm khắc.
Đã bẩy hôm rồi, cứ chiều chiều lại nhớ chiều chiều, là đôi chân của tôi cảm thấy ngứa ngáy, bầu trời như chuyển mưa u ám nếu tôi không được ngồi uống giải khát tại cái quán mà Liên là chiêu đãi viên. Thế nào tôi cũng phải đến. Đến để ngồi đó mà nhìn. Ngồi đó mà nhìn rồi chập sau trơ trẽn ra đi, như con cóc trong bài thơ khôi hài bất hủ. Con tim và ký ức của tôi điều khiển việc ấy. Tôi đóng vụng về vai trò của một “thám tử tình cảm” để dò xét những phản ứng của Liên khi Liên đối diện với tôi. Nhưng Liên vô tình quá, suốt buổi chị cười cười với tôi, thỉnh thoảng lại cám ơn, xin lỗi, vân vân… Với tất cả mọi người. Liên đã thận trọng san sẻ tình cảm xã giao, tùy trường hợp, như một nữ y tá lành nghề cầm ống bôm mà đếm từng nhểu sinh tố nhân tạo, mặc dầu cái quán này bán nước ép trai cây thứ thiệt.
Mới hồi tối hôm qua, tôi bước ra về, chán nản như mọi khi. Trong quán, Liên bỗng cười lớn với bạn:
– Cam mùa này sao mà chai cóng, ít nước. Khách hàng uống không vừa ý mà họ không muốn nói ra.
– Tại sao không nhiều nước? Cam thất mùa? Cam rụng chín héo?
Giọng của Liên chậm rãi:
– Đó là một lẽ. Nhưng cái chính là tại thiếu kiến vàng… như trái cam này đây, dưới đít héo queo, xù xì, kiến hôi đẻ trứng lấm tấm đen…
Trồng cam thì phải nuôi kiến vàng để nó đuổi kiến hôi. Hồi đó ở Bình Thủy, tôi ra vườn bắt kiến vàng rồi giỡn với kiến vàng hoài…
Tôi mừng quýnh. Rõ ràng đây chính là nàng Liên bé bỏng năm xưa. Tôi giả bộ đứng lại mua thuốc hút, nghe Liên nói tiếp:
– Kiến vàng đái nước đái… làm cho trái cam ngọt.
Cô bạn lên tiếng:
– Tốp bớt lại, muốn cho quán mình ế luôn sao chớ? Cái gì mà nước đái. Ghê quá, sao dám uống…
Đêm về nằm trên gác trọ, tôi không ngủ được, nghe hình ảnh của tuổi trẻ thơ mộng sống dậy trong tâm hồn khô cằn. “Hồi đó, tôi bắt kiến vàng rồi giỡn với kiến vàng hoài”. Câu nói hồn nhiên của Liên nhắc lại bao nhiêu chuyện cũ. Ờ! Năm đó, 1943 thì phải, tôi đi học ở Cần-Thơ, lần đầu tiên bước chân đến một miền quanh năm nước ngọt. Người bạn học rũ tôi về Bình Thủy thăm vườn ngày chủ nhật để ngắm dòng nước lình bình… như sông Hương đang soi bóng dáng đen ngòm của màn lá cam hai bên bờ. Thỉnh thoảng nắng lấp lánh chóa lên có lẽ vì sắc lá cam xanh đậm nhưng sáng chói…
Bước ra vườn, tôi thất vọng. Hàng trăm con vật gì bò chạy nhột nhạt trên tóc, sau ót, chui vào cổ áo mà cắn đau điếng. Tôi giậm chân, nhảy nhổm: Thì ra nãy giờ bao nhiêu kiến vàng lìa ổ xúm lại tấn công tôi, châm chích tận trong lưng quần, trong giày, trong vớ.
Tôi chạy hoảng vào nhà. Bạn tôi cười mà nói:
– Phải thận trọng từng bước. Ở đây cần săn sóc cây trái người ta mới ra vườn, không ai ra đó chơi hoặc nằm đọc sách, hóng mát. Có kiến vàng nhiều như vậy, cam mới ngọt.
Tôi sực nhớ một bài văn của A. Daudet rồi cãi lại:
– Bên Tây, bên Phi Châu không nghe nói tới chuyện kiến vàng. Họ trồng cam còn nhiều hơn xứ mình. Có lẽ người mình nuôi kiến vàng theo tục lệ dị đoan…
Bạn tôi không đồng ý và trưa hôm ấy dắt tôi qua nhà ông hương giáo kế bên:
– Muốn hiểu tục lệ dị đoan đó thì giỏi mà cãi vòi ông già này này…
Ông hương giáo chưa già cho lắm, đầu để búi tóc, móng tay hớt ngắn, đang săm soi lật qua lật lại mấy trang sách chữ nhỏ. Ông nhướng mắt, gỡ mục kỉnh ra rồi gật đầu như nể lời bạn tôi:
– Ồ! Cháu muốn coi vườn cam cho biết hả? Ra đó mà coi, ai rầy la gì mà sợ. Muốn hỏi điều gì thì phải coi trước cho tận mắt: “Bách văn bất như nhất kiến”.
Ông hương giáo lại cúi đầu vào trang sách, nói đúng hơn là ông nâng quyển sách lên, đưa ra thực xa để nhìn rõ, theo tật người viễn thị. Người bạn chỉ hướng sau nhà, bảo tôi cứ tự do đi dạo rồi lát nữa vào ăn cơm trưa.
Đất rộng, xẻ nhiều mương song song cam mọc sát mí nước, trông mút mắt, khuất mất chân trời. Nhìn cho rõ thì lá cam màu xanh đen, đọt non nhú lên, trải ra từng miếng lụa trắng vàng lợt, tương phản lại qua khỏi một líp dài, xảy đâu có mương nhỏ chắn ngang.
Tôi đứng lại, mải mê nhìn mấy con kiến vàng bò trên sợi dây giăng nối liền gốc cam này đến gốc cam nọ như những sợi dây thép nói… Chiếc cầu bắt ngang là trọn thân cây dừa nằm dầm dưới nước, một lớp bùn non mỏng mịn phủ lên như lớp nước sơn màu trắng.
Tôi đặt chân xuống. Bùn non quá trơn. Bị mất thế quân bình, tôi lảo đảo, bấm ngón chân xuống nhưng quá trễ, đành té xuống mương. Rất may lòng mương không sâu nên chỉ ướt khỏi đầu gối.
Đâu đây, có tiếng cười khúc khích trong trẻo. Tôi cả thẹn, day lại, nghe sột soạt trong líp cam bên kia bờ, và gương mặt một cô gái hiện ra, ẩn sau kẽ lá:
– Ông đi lạc hả? Vô nhà tui thì đi phía đẳng, ai biểu ra đây…
Tôi vội qua bên kia bờ. Cô bé toan chạy. Tôi gượng vui để trấn tĩnh:
– Bà con mà. Tôi ở trong nhà bác ra đây lần đầu coi vườn cam cho biết… Cháu đi đâu đây?
Cô bé nói:
– Ngộ nghĩnh gì đâu mà coi cho biết… Tôi đi hái kiến vàng. Sửa soạn vô nhà thì gặp ông ở đây.
Bây giờ tôi mới hiểu rõ cái giỏ bằng tre mà cô bé xách bên tay, tòn ten dưới một sợi dây chì.
– Hái kiến ở đâu vậy? Nó là trái cây sao mà hái?
– Nó đóng ổ trên cây xoài. Phải leo lên mà giựt xuống từ ổ. Nó cắn sần mình mẩy, ý là tôi vo ống quần lại. Năm ngoái mùa cam đâu có cực khổ như vầy, năm nay, kiến hôi tới nhiều quá sợ thất mùa.
Tôi hỏi tiếp:
– Sao vậy?
Kiến hôi nó đái làm hư bông hư lá, phải kiếm kiến vàng về nuôi để đánh tụi nó…
Ông thấy tụi nó đánh lộn chưa? Ông coi nè… Ba tôi ở nhà nói vậy tôi không tin…
Vừa nói, cô bé móc một cái vỏ hộp quẹt, mở ngăn ra thấy lểnh nghển kiến hôi… Cô bắt ra vài con, rồi thảy trên dây, nơi bọn kiến vàng đang bò lui tới. Chúng bắt cặp tay đôi ngừng lại, ngóc đầu lên rồi nhào tới mà ôm, mà cắn – Rốt cuộc cả hai đều té xuống đất.
Cô bé nói:
– Đó là thủ huề. Bây giờ ông coi… Tôi chăm chỉ chờ xem cô bé diễn tiếp trò gì, chợt nghe phía sau có tiếng nói lớn, giọng cáu kỉnh:
– Làm cái gì mà ở hoài ở ngoải, Liên à?
Tôi day lại, giựt mình. Ông hương giáo mang cặp mục kỉnh lên rồi gỡ cặp mục kỉnh ra, nheo nheo đôi mắt…
Liên nói nhỏ:
– Ông về trước đi. Đừng nói với ổng là tôi bắt lén kiến hôi đem vô vườn cho nó cắn lộn coi chơi. Ổng đánh chết.
Vào nhà, ông Hương giáo hỏi:
– Cháu thấy tở mở vườn cam chưa? Không có gì là ngộ để mà coi hết, phải không cháu.
Tôi đáp:
– Dạ có cái vụ nuôi Kiến Vàng. Sách ở bên Tây không thấy dạy chuyện đó…
Ông nói:
– Vậy sao! Sách chữ nho cũng không nhắc tới. Bác đọc mấy ngày rồi. Nè cháu! Bác dám khuyên cháu điều này: con người tuổi trẻ thì không nên lêu lổng…
Rồi ông nhìn thẳng vào tôi, nghiêm nghị:
– Phải cần học. Cháu rán tìm sách vở nói về cái việc kiến hôi phá hại mùa màng. Loại sao, độc ác quá, rớ tới đau là héo nhụy, lá úa cuốn kèn lại…
Tôi hỏi thêm:
– Kiến vàng đánh kiến hôi, phải không bác?
– Đúng vậy, nhưng còn công dụng khác. Cây cam nào không có kiến hôi mà cũng không có kiến vàng thì cũng hư như thường. Bác thí nghiệm rồi… Có lẽ nhờ nước đái của con kiến vàng. Thiếu chất đó không được. Cháu có rảnh tìm thử sách Tây coi nói làm sao.
Tôi gật đầu:
– Để cháu kiếm thử. Chuyến sau trở về đây, cháu nói cho bác rõ…
– Bác trông lắm! Nhớ nghe cháu. Trồng cam, trồng quít là nghiệp ông bà để lại, tấc đất tấc vàng. Con cháu phải ráng tái bồi, nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh…
Cuộc tạm biệt ấy mãi kéo dài, ngày qua tháng lụn. Suốt mấy năm trường chinh chiến, tôi không được dịp gặp lại bác giáo.
Tôi đã quên hẳn chuyện kiến hôi kiến vàng, quên hình dáng cô bé tên Liên. Và khi thấy từng giỏ cam chở trên xe cam-nhông từ lục tỉnh về Sài-gòn, tôi không còn được cảm giác gì, ngoài câu hỏi âm thầm: “Làm sao có tiền để ăn cam? Nó có sinh tố, bổ lắm!”
Nhưng trái đất thì tròn. Người ở khác lục địa thường gặp gỡ nhau huống chi là người ở chung một miền một xứ. Cách đây chừng một tháng, tình cờ tôi gặp lại bác hương giáo tại chợ Bình Tây, nói đúng hơn là bác gặp tôi. Bác chào hỏi trước:
– Mạnh giỏi hả châu! Trời ơi! Còn sống nhăn hả?
Tôi hỏi về chuyện làm ăn sanh sống, chuyện gia đình. Bác vui lên:
– Mấy năm đó, vườn cam của bác bị đốn rạp ngã liệt như thây ma. Tội nghiệp mấy gốc cam, gốc quít. Nó không chịu chết, sống thoi thóp mà gắng gượng chờ thời. Mấy con kiến vàng, cháu nhớ không? Không ai nuôi dưỡng vậy mà nó tới lui bên gốc cây, kết lá khô làm ổ che nắng.
Thiệt là có nghĩa.
Bây giờ lộc non đâm xanh mịt rồi. Năm tới là bác có tiền, ngặt không ai săn sóc. Bác có một mụn con gái, hồi năm đó…
Tôi gật đầu:
– Ờ! cô Liên. Phải tên là Liên không bác? Năm nay chắc cô có chồng rồi…
Bác hương giáo thở dài:
– Cháu ơi, nó đi theo bà con lên Sài-gòn này mần ăn. Hồi mấy năm đó nghèo lắm, lâu lâu nó gởi tiền về. Bây giờ thì bặt tin nhưng bà con nói chắc chắn với bác rằng nó còn sống… ngặt nó muốn ẩn mặt. Xe cộ lưu thông về lục tỉnh như vậy mà nó không về thăm. Cháu gặp nó lần nào không? Tuổi già rồi, có của mà không có con, nghĩ cũng buồn tủi…
Tôi xin địa chỉ của bác hương giáo và ghi địa chỉ tôi vào quyển sổ tay của bác.
Đêm ấy tôi về gác trọ, cám cảnh ngày xưa mà ráp lại mấy vần thơ… Tôi nhớ tới Liên… Đây là lần đầu tiên tôi làm thơ:
Thân quít lớn đẵn ngang nằm ủ rũ.
Lũ kiến vàng vương vấn gốc chưa khô.
Đếm lá rơi rơi… ngỡ đến bao giờ.
Chồi non dậy phất phơ màu lụa trắng.
Liên ơi! Sao Liên “ẩn mật” chưa về quê để bắt kiến vàng. Đoạn thơ tiếp theo, tôi chưa hoàn thành được. Nó phải là xây dựng nhưng làm sao xây dựng bằng lời thơ khách sáo, mơ hồ! E nó quá nhàm theo công thức lành mạnh chăng? Tôi chờ hành động cụ thể của Liên: Liên nên gởi thơ về gia đình. Chắc chắn rằng Liên vẫn nhớ địa chỉ cũ. Trong hoàn cảnh này tôi chỉ muốn yên lặng, nghĩ rằng hiệu lực của văn thơ, của câu văn chỉ có giới hạn.
Nó không khiến chúng ta suy nghĩ bằng tình nghĩa chung thủy của con kiến vàng chịu cực để xây dựng cho gốc cam ở vườn xưa. Nó là loại côn trùng nhưng mình nên noi gương nó.
Liên ơi! Về đi! Đời hơi muộn rồi đó! Thảm quá! Đêm vừa qua lúc quá mười giờ đêm dưới trời mưa lất phất, tôi đã thấy Liên bắt đầu ngồi trên yên chiếc “ếch ba” vòng tay vào eo ếch của người bạn (đã có vợ, ba con rồi) của tôi. Tôi chợt nhớ hồi nào Liên cho hai con kiến hôi kiến vàng cắn nhau, thí nghiệm trên dây để rồi nhào xuống chết chùm, thủ huề.
Cái tàn thuốc cũ cháy nghi ngút, bốc lên thứ khói nồng đầy thán khí khiến thi sĩ Hải Hồ muốn ngất xỉu. Chàng cố gắng chịu đựng. Mỗi ngày, chàng có nhiệm vụ viết đầy ba trang giấy học trò – viết một mặt – để trám cho đầy một lõm nhỏ ở trong hai tờ nhựt báo “gió thổi”. Từ nãy giờ, chàng viết hai trang rưỡi rồi. Còn nửa trăng nữa, tức là chừng mười hàng. Dễ quá. Thiên tình sử mỗi ngày tiếp nối đã đến lúc cực kỳ gây cấn. Việt Vương Câu Tiễn kéo đại quân sang đánh phá đất Ngô. Thì cứ cho quân sĩ của Câu Tiễn hướng thẳng về phía Cô Tô Đài, khen ngợi, cãi vã nhau, kẻ nói, người trả lời, đề cập đến nhan sắc của nàng Tây Thi diễm lệ.
Mùi khói từ cái gạt tàn thuốc xông ra như trút vài hơi “độc khí” cuối cùng.
Thi sĩ Hải Hồ viết: “Bỗng dưng từ phía Cô Tô Đài, tiếng dịch thâm trầm, réo rắt trôi lên. Vài lá ngô đồng rụng lả tả xuống giếng vàng… Còn tiếp”.
Vài bạn đồng nghiệp cằn nhằn:
– Ngột quá bạn ơi. Đổ một chút nước vô cái gạt tàn thuốc, cho nó tắt.
Thi sĩ Hải Hồ đứng dậy, vỗ tay vào túi quần tìm gói thuốc, rút ra một điếu, mồi vào cái tàn sắp lụn:
– Đừng nóng nảy. Nó tắt rồi. Bữa nay sao Cô Thúy Lệ khó tánh quá. Hồi tối, cô bị vợ rầy hả?
Anh chàng ký giả mang bút hiệu là Cô Thúy Lệ cười hô hố, bộ râu còi nhếch qua nhếch lại:
– Phá gạo hoài. Bí mật nhà nghề mà. Để thủng thẳng… viết vài hàng nữa là bọn mình đi uống cà phê. Viết ẩu không được. Cái mục “Gỡ rối Tơ vò” của tôi dạo này quá ăn khách, nữ độc giả bốn phương gởi thơ tới nườm nượp.
– Nói dóc. Thú thật với anh, tôi chẳng bao giờ đọc một hàng. Văn chương của anh giống như bài ca Vọng cổ hồi năm 1930.
– Lại đây. Mặc sức mà mơ mộng. Nếu tôi làm thơ nhanh như anh thì tôi sẽ gỡ rối bằng những bài thơ. Độc giả thích hơn.
Nói xong, chàng trai “Cô Thúy Lệ” khoe một xấp hàng chục cái thơ có dán tem. Bỗng dưng, thi sĩ Hải Hồ cảm thấy ganh ti vu vơ. Tự hỏi làm thơ… cho đến lúc ra mắt tập thơ đầu tay “Đôi mắt không tròn”, chàng hứng chịu bao nhiêu thất bại. Tập thơ bán quá ế, không đủ tiền trả cho nhà in, bạn bè chế riễu ra mặt đầu đuôi chỉ có hai bài phê bình ngắn ngủi liệt tập thơ “Đôi mắt không tròn” vào loại “hiện sinh” khó ngửi. Chàng gặp vỏn vẹn một bà góa phụ, yêu thơ, ở tận miệt lục tỉnh, tuổi hơn 40 đến tìm để xin chữ ký và triện son. Lý do: mua đem về cho cậu con trai, cậu này thích làm collection thơ xưa và nay.
– Anh tốt số quá. Suốt ngày làm quen với bao nhiêu cô gái, cậu trai…
Chàng trai “Cô Thúy Lệ” đáp:
– Nhiều bức thơ lạ lùng lắm, đọc sơ quá, mình muốn chảy nước mắt.
Thi sĩ Hải Hồ nói:
– Vậy hả? Quả tim của phái yếu thật là…
– Thôi thôi… Lâu ngày, tôi quen rồi. Tôi đâu dư nước mắt. Bởi vậy, lâu lâu tôi ngáp dài. Nước mắt tôi đã ráo khô. Tôi chỉ ao ước kỳ này, báo bán thêm ba số.
– Đừng khinh thường nỗi đau khổ của kẻ khác chớ.
Chàng “Cô Thúy Lệ” lắc đầu:
– Thi sĩ này ngơ ngác quá. Thí dụ như trường hợp của cô này. Có lẽ cô ta sắp tự tử. Một bức thơ kêu cứu với tất cả văn nhân ký giả tòa báo “Gió Thổi” chúng ta. Tôi thay mặt toàn thể anh em, viết bài này đúng mức lắm. Báo bán thêm 3 số! Hoặc 5 số!
– Thiệt hay chơi!
– Để tôi ghi chép tóm tắt tâm sự cô ấy. Dài quá. Nếu thi sĩ đa sầu đa cảm muốn giải đáp dùm một cách thực tế thì tôi sẵn sàng trao cho sứ mạng… cứu nhân độ thế. Tội nghiệp. Nàng mang cái tên rất đẹp: Paulette Cúc. Nhà ở đường Cây Me, số 1000. Nhưng nàng chưa muốn ai đến tận nhà, e gây thêm rắc rối.
*
Thi sĩ Hải Hồ nằm dài trên gác trọ, nằm sấp theo kiểu mấy anh học trò dài lưng tốn vải. Trong bao thơ, có tất cả 8 mặt giấy học trò, tuồng chữ hơi dối và hơi xấu.
Đây, bức thơ thứ nhất, sao y nguyên văn:
“Thủ đô, ngày…
Kính gởi quí anh ký giả,
Kính gởi cô Thúy Lệ, mục “Gở Rối Tơ Vò”. Em là một độc giả trung thành của quí báo “Gió Thổi” cho nên em viết thơ này gởi đến các anh và nhờ cô Thúy Lệ đăng hộ vào mục “Gở Rối Tơ Vò” vì em có một chuyện buồn lắm, buồn không thể kể được. Vậy em nhờ mấy anh có tấm lòng tốt và thương người em không bao giờ đòi hỏi ở các anh tiền nhuận bút và chỉ cầu xin chuyện của em được đăng mau và nếu được phổ biến thì em xin cám ơn lắm và xin các anh nhớ ghi tên người em đáng thương hại là Paulette C. và tránh gặp mặt em tại nhà.
Mong quí anh giúp đỡ em trên bước đường khổ sở, địa chỉ như sau: đường Cây Me, số 1000.”
Thi sĩ Hải Hồ lật qua, đọc tiếp bản văn tâm sự đính kèm (nguyên văn):
“Đêm nay, sao mình khó ngủ thế? Và chán đời quá, đã thao thức bao đêm khi nhà nhà yên vui trong giấc điệp. Thì trong lúc đó thân em nước mắt đầm đìa. Em khóc cho ai đây? Em cũng đang tự nghĩ.
“Đời em chắc có lẽ bị những vì sao trong sáng án ngữ chung quanh nên đành lu mờ theo định luật khắt khe của tạo hóa ban cho… thôi em không dám nói nữa vì nước mắt em đã rơi nhiều, em phải thay từng trang giấy. Em khổ quá vì ba má em đành sống ly thân. Ba em xưa kia địa vị, tiền bạc nào thua kém ai, còn má em thì thư ký đánh máy. Em phải sống với người dì và người dượng rể. Lắm lúc, dì em chửi mắng: mầy là đứa vô dụng, khùng điên, không cha, không mẹ. Trời ơi! còn cảnh nào khổ hơn nữa, hỡi các anh nhà báo?
“Không phải em muốn kể xấu gia đình, nhưng buồn quá, không biết giải lòng cùng ai nên mượn trang báo “Gió Thổi” của quí anh để tâm tình trước là với các anh, và tri kỷ bốn phương.
“Hỡi ôi! Nếu tình đời chỉ có thể thì như mặt nước hồ thu vướng chút là vàng khô; đằng này, sóng muốn êm, gió không ngừng thổi, cứ thổi để đưa chiếc lá đến một ngày lạnh lùng và ghê sợ nhứt như trận bão lụt đang tàn phá và giết chết bao nhiêu oan hồn.
“Trời ơi! Ngày ghê gớm kinh thiên động địa ấy đã đến trên mái đầu xanh vô tội. Một hôm ấy, người dượng ghẻ của em đến gần và bảo: “Này cháu, thấy cháu lớn khôn nên dượng thấy cần săn sóc đến cháu về mọi mặt. Cháu nên xem cuộc sống tưng bừng của mùa xuân, đừng để mùa xuân già héo… Rồi ổng nói tới những điều hại thuần phong mỹ tục, dụ dỗ em…
“Các anh ơi! Em có thể nghe theo lời xúi dục ấy không các anh? Danh dự của em còn đâu nữa. Người dượng hứa cho em một số tiền nữa.
“Các anh ơi! Chữ trinh đáng giá ngàn vàng phải không các anh? Vậy mà họ xem em như cỏ cây. Em khóc liên tiếp mấy đêm các anh à.
“Các anh đừng cười đứa em ngây thơ, đau khổ này. Có lẽ lúc chào đời, em được trời phú cho em tật ưa khóc.
“Chừng nào có một vị thiên thần hạnh phúc đưa tay vớt em ra khỏi hoàn cảnh bất hạnh. Chừng ấy em sẽ cười và… không biết nghĩ gì về đời em nữa.
“Các anh thân mến,
“Em viết thư này đến nhờ giúp đỡ, em chẳng cần xin tiền nhuận bút nhưng điều quan trọng cho hạnh phúc của em là được các anh thuật hoàn cảnh và trả lời trên mặt báo.
“Đứa em đau khổ nhứt đang mong đợi từng ngày, từng giờ. Paulette Cúc.”
…Xem xong, thi sĩ Hải Hồ đi tới đi lui trên sàn gác. Trời nắng chang chang. Chàng nhứt định xuống từng nhà dưới để ra đường. Trường hợp của người đẹp Paulette ra sao? Nàng nói ba hoa nhưng biết đâu vì chưa quen diễn tả tâm sự bằng phương tiện mực đen giấy trắng nên vấp nhiều khuyết điểm về hành văn.
Đồng hồ chỉ 12 g 45. Bỗng dưng thi sĩ nảy ra sáng kiến:
– Tại sao mình không đến tìm nàng, tìm lén, theo địa chỉ ghi rõ trong thơ. Giờ trưa, nàng có mặt tại nhà. Nghe đâu, bên Âu Châu… mỗi khi gặp tâm sự rắc rối trai hay gái thường nhờ một sở trinh thám tư hoặc một văn phòng giao duyên để giải quyết dùm. Nhân viên các sở này làm việc nhanh chóng, kín đáo. Họ đóng vai trò của ông tơ bà nguyệt. Nên thí nghiệm một phen.
Chiếc xích lô máy ngừng lại đầu đường Cây Me. Hẻm quá nhỏ, trẻ con chạy giỡn lăng xăng, mấy người bán hàng chưng bày thúng mủng chật cả lối đi. Thi sĩ Hải Hồ dùng phương tiện xê dịch ấy để tránh cặp mắt tò mò của người đẹp Paulette Cúc. Văn nhân ký giả thường đi Vespa, hoặc xe đạp, hoặc đi bộ. Nếu người đẹp tinh mắt, nàng chẳng bao giờ chú ý đến người thi sĩ trên chiếc xích lô máy.
Đường Cây Me mới tráng đá, số nhà còn hỗn loạn. Căn này số 75, căn nhà kế số 108A, số chẵn lẻ lộn xộn. Tuy nhiên, nhà cửa khá đẹp, cửa sổ sơn màu xanh đỏ lòe loẹt. Nhà ở không ra nhà ở, quán giải khát chẳng ra quán giải khát. Những tấm bảng nhỏ, kẻ chữ “Nhà bán, nhà sang”. Đó đây, một vài cô gái, già trước tuổi mặc kiểu quần áo ngủ đứng nhìn phía chân trời bị chắn ngang. Khói thuốc bay chập chờn, bao phủ mấy ngón tay thoa màu hường. Trưa thiếu gió.
Thi sĩ Hải Hồ day bên tả, bên hữu. Căn nhà số 998, rồi kế bên 997 rồi 1004B. Người đẹp đâu rồi? Ai là người con gái toan tự tử vì ông dượng bố ghẻ háo sắc. Dãy nhà trông nghiêm trang quá, cửa cái đóng hờ, giờ trưa.
Chàng lẩm bẩm:
– Nàng sống trong một gia đình đứng đắn, gần đây.
Một đứa bé trạc mười ba tuổi đội chiếc nón La mã bằng nhựa chạy xốc tới, trố mắt. Thi sĩ Hải Hồ vịn vai nó, cúi mình hỏi:
– Nhà số 1000 ở đâu em?
Thằng bé chỉ ngay căn nhà số 1005C:
– Ông hỏi nhà đó. Tui hổng biết. Nghe người ta nói nhà đó số 1000. Chủ nhà đó… dữ lắm.
– Bà chủ nhà… còn trẻ, chẳng lẽ hung dữ với em.
Thằng bé đáp:
– Bả thì cười hoài. Thầy sáu ưa đờn ca.
Dịp may để thi sĩ Hải Hồ sưu tầm tài liệu về người đẹp:
– Bà chừng mấy mươi tuổi? Tóc bạc chưa?
– Còn nhỏ xíu hè. Bà chủ Cúc ở khu Dân Sinh. Thôi…
Nói xong, thằng bé vụt chạy.
Cánh cửa nhà số 1005C tức là nhà số 1000 theo lời thằng bé – vụt mở. Một gã đàn ông gầy ốm ló mặt ra, nhe cái răng vàng. Sợi dây chuyền vàng đong đưa. Thi sĩ Hải Hồ rất ghét cái lối chưng diện ấy. Nhứt là gã ta có mái tóc quá dài, phủ gáy.
Gã nói đổng:
– Con cái nhà ai mà mất dạy quá. Xóm này thiếu văn nghệ…
– “Dường như gã đã thấy mặt mình tại đây nhưng gã chẳng thèm chú ý. Âu cũng là một việc đáng mừng.” Và để gã đừng nghi ngờ, thi sĩ Hải Hồ rảo bước về phía tận cùng đường Cây Me. Chừng mười phút sau, khi gặp ngôi mộ đá ong nằm chắn ngang, chàng mới dám quay mặt.
– Chuyến trở ra, thi sĩ Hải Hồ cố gắng nhìn thẳng về phía trước. Căn nhà khả nghi lại mở cửa. Bên trong, một thiếu nữ – dường như còn trẻ – nói giọng chanh chua:
– Chừng này rồi mà sao chưa thấy bán báo. Mấy ông đó làm việc… như thế nào đó mà phục vụ chậm chạp quá, như rùa.
*
– Hổm rày, tình hình… tới đâu rồi?
Dường như thi sĩ nhà ta bắt đầu thay đổi nguồn cảm hứng.
Câu nói châm chọc của chàng trai “cô Thúy Lệ” khiến thi sĩ Hải Hồ buồn phiền. Từ khi theo dõi nơi ăn chỗ ở của người đẹp, chàng vừa hy vọng, vừa thất vọng. Tại sao người đẹp lại lọt vào tay một kẻ thất phu như thế? Chàng thi sĩ muốn vào khu Dân Sinh, tìm quán Cúc Cúc để hỏi thêm nhưng chưa đủ phương tiện: Tiền bạc ít quá. Chiều hôm qua chàng đi một vòng liếc tìm bảng hiệu các quán giải khát. Quán đóng cửa, có lẽ vì còn sớm. Đời tư của Paulette như thế nào? Ông dượng rể si tình là ai? Nhiều phen, chàng toan trở lại rình mò nơi căn nhà ở đường Cây Me nhưng lại ngại ngùng vi gã đàn ông đeo sợi dây chuyền, có nụ cười răng vàng nọ thuộc vào hàng “hạ cấp” nếu gã xông ra để chất vấn, chàng trả lời thế nào cho xuôi? Người đẹp đã căn dặn quí anh ở nhà báo đừng tìm nhà kia mà!
Chàng ký giả “cô Thúy Lệ” nói tiếp:
– Tội nghiệp thi sĩ quá. Muốn cứu vớt người đẹp hả? Gặp nàng chưa? Nàng hất hủi rồi chăng?
Bị chạm tự ái, thi sĩ Hải Hồ nói gắt:
– Anh là kẻ vô nhân đạo.
– Thật vậy hả?
– Tôi gặp nàng rồi. Và chiều nay, chúng tôi hẹn nhau.
– Sao chừng này anh chưa đi?
– Vì chưa đủ tiền.
Với bản chất dễ dãi thường lệ, “cô Thúy Lệ” trao cho thi sĩ Hải Hồ tấm giấy một trăm đồng:
– Ngao du một buổi đi. Già rồi sinh tật.
– Tôi muốn kiếm đề tài mà. Này, tôi nói cho anh nghe. Cái mục “Gở Rối Tơ Vò” của anh dở quá, quanh đi quẩn lại chỉ có vài bài thuốc gia truyền. Văn chương vô thưởng vô phạt, vuốt ve mơn trớn.
– Nhờ vậy mà tôi thu hút cảm tình của nhiều độc giả. Anh đọc kỹ lần nào chưa? Toàn là lời an ủi, xây dựng. Nhiều cô muốn tự tử để phủi sạch nợ đời nhưng sau khi đọc bài giải đáp của tôi, họ trở thành lạc quan, bất chấp mọi trở ngại để tiến theo con đường hạnh phúc. Xin lỗi anh. Tính bổ đồng mỗi tuần tôi nhận chừng 60 bức thơ. Tháng này, đã có hai cô gái xinh xắn đến tòa soạn hỏi thăm gia cánh của tôi, mời tôi đi ăn để tạ ơn.
Mặt trời đã xế dài. Thi sĩ Hải Hồ suy luận: chừng này, chắc quán giải khát của người đẹp đã mở cửa.
– Tôi sẽ viết truyện ngắn thật hay, sống động… đi đến kết thúc xây dựng. Văn chương “Gở Rối Tơ Vò” của anh sao giống bài ca vọng cổ quá?
Dứt lời, thi sĩ Hải Hồ lên xe taxi:
– Về phía Khu Dân Sinh.
Xe dừng lại.
Ánh đèn nê ông sáng rực. Mấy nữ chiêu đãi viên bắt đầu kéo ghế, kéo bàn ra. Vài cô còn nằm dài, nghỉ lưng trên chiếc ghế “phô tơi”. Có cô đang nặn mụn, thoa phấn, kẻ chơn mày…
Mặc dù nghe hàng chục tiếng mời mọc, thi sĩ Hải Hồ vẫn làm tai ngơ mắt điếc, lách qua những dãy bàn ghế, đến quán Cúc Cúc.
Chàng ngồi xuống.
Đã 6 giờ chiều. Tại quán này chàng là người thân chủ đến trước tiên. Các cô chạy đến bao vây, niềm nở:
– Uống gì anh?
– Ba mươi ba.
Chai rượu khui ra, rót vào ly từ bao giờ. Bọt rượu tràn… Thi sĩ vẫn chăm chú nhìn vào quầy để tìm cho được cô chủ quán, tức là Paulette C. trong bức thư gởi đến tòa báo “Gió Thổi”.
Chàng thất vọng:
– Bà chủ đâu rồi các em?
Một chiêu đãi viên đáp:
– Bả gần ra rồi. Nhà ở trên Phú Nhuận.
Chàng buột miệng:
– Đường Cây Me.
– Sao anh biết… Chắc là…
– Bả già hay trẻ?
– Anh này giả ngộ hoài. Bả con trẻ khô, gọi bằng chị, bằng cô thì hợp hơn. Xin lỗi, anh ở đâu mà biết bả?
Người nữ chiêu đãi viên chợt nghe tiếng gọi, phía sau:
– Hường ơi! Lại đây nói cho nghe.
Linh tính như báo trước điều gì trục trặc! Thi sĩ lắng tai nhưng nghe không rõ. Lát sau, cô chiêu đãi viên trở lại bàn nói giọng eo éo:
– Nè! Anh làm nghề gì, em biết rồi.
– Thôi cô ơi! Mặc kệ đời tư của tôi. Nghèo lắm!
– Nghèo nhưng mà sang trọng. Anh làm ký giả. Đúng không?
– Thôi! Tôi không nói chuyện với cô nữa…
Nói xong, thi sĩ Hải Hồ nâng ly rượu, uống ừng ực. Một người đàn bà phấn son lòe loẹt, mặc áo bà ba ny lông xanh đã ngồi chễm chệ trong quầy rượu tự bao giờ.
Cô chiêu đãi viên nói khẽ:
– Bà chủ của em đó! Ủa! Anh uống lẹ quá vậy. Để em đem thêm hầu anh hai chai.
Gương mặt phàm tục của bà chủ khiến thi sĩ Hải Hồ cụt hứng. Chàng nói gắt to giọng:
– Thôi! Tôi đi bây giờ…
Cô chiêu đãi viên cụt hứng, đến gần nài nỉ:
– Tội nghiệp em. Anh mắng em lớn tiếng, e bà chủ nghe được, bà rầy.
Bà chủ quán phàm phu tục tử ấy có thể là nàng Paulette C. sao? Vô lý quá. Thi sĩ tự an ủi như vậy.
Đột nhiên, thi sĩ chợt kêu rú. Bà ta trương lên tờ báo “Gió Thổi”, lật ra trang 2, nơi đăng mục “Gỡ Rối Tơ Vò”. Bà ta gọi cô chiêu đãi viên:
– Làm gì mà mích lòng mấy thấy vậy?
Cô chiêu đãi viên đến gần bà chủ. Bà ta đem ra bốn tờ báo “Gió Thổi” còn mới tinh, chưa xếp, loại báo mới bán trước đây vài giờ. Bà chủ và nữ chiêu đãi viên cười khúc khích, đọc hơi to:
– Em Paulette C.
Thi sĩ Hải Hồ toan rút lui để bớt đau xót. Nhưng làm sao bây giờ. Trước khi rút lui, chàng phải trả tiền. Chàng gọi đôi ba lượt. Hỡi ôi! Tất cả bốn cô chiêu đãi viên đều bao quanh bà chủ. Nó đọc tiếng to tiếng nhỏ. Thi sĩ Hải Hồ nghe lóm. Rõ ràng giọng vẫn rất ăn khách của chàng ký giả “Cô Thúy Lệ”:
– “Nỗi đau của em… thế gian hy hữu. Đời còn tươi đẹp… mắt em, cửa sổ tâm hồn. Cố gắng lên. Bên cạnh em luôn luôn có Thúy Lệ… Đời mấy ai không buồn, hướng mắt nhìn tương lai.
“Còn điều gì chưa rõ, em cứ biên thơ về Thúy Lệ…”
Quá xấu hổ, thi sĩ Hải Hồ day mặt qua chỗ khác. Rồi chàng gõ vào ly nghe “keng keng”.
Cô nữ chiêu đãi viên chạy tới. Chàng hơi gắt:
– Làm gi lâu dữ vậy? Nói thật đi. Nói xấu tôi cái gì với bà chủ?
– Thưa anh… Em nói rằng anh làm ký giả, bả không tin. Bả nói rằng bả mới thiệt là ký giả. Bức thư của bả được đăng lên báo “Gió Thổi”!
– Thật vậy sao?
– Bả viết trước, chúng em thêm vào ý kiến. Nhà báo, mà cô Thúy Lệ đăng gần đúng… văn chương. Bả mừng quá, mua thêm 3 số, cất bài đó để dành.
Cô nữ chiêu đãi viên đánh mạnh vào vai thi sĩ Hải Hồ:
– Anh này tệ quá. Bà chủ phiền anh ghê…
– Tôi uống rượu, tôi trả tiền sòng phẳng mà…
Cô nữ chiêu đãi viên lắc đầu:
– Bả nói anh mạo danh ký giả. Thiệt ra, anh làm nghề khác.
– Nghề gì?
Làn môi người nữ chiêu đãi viên hé nở. Thi sĩ Hải Hồ suýt ngất xỉu khi nghe nàng nói thỏ thẻ:
– Nè! Đừng hại mấy em đây, nghe anh. Bả nói anh là nhân viên kiểm tục. Bữa hỗm, trời nắng chang chang mà anh đi qua lại rình nhà bả hai lần!
Tôi dạo thơ thẩn trên đường Phát Diệm với ý định đổ ra đại lộ Trần Hưng Đạo, tim xe đi Chợ Quán thăm người bạn thi sĩ vừa thọ tang cha. Vì công chuyện thăm viếng không gấp rút cho lắm nên tôi bước thật chậm, hút thuốc phì phà, liếc mắt nhìn xem các cô gái qua lại, nhìn chòng chọc, nhìn cho mãn nhãn – vì cái nhìn ấy không tốn kém gì ráo, nó làm cho tôi yêu đời thêm. Và chắc hẳn các cô sẵn sàng tha thứ cho muôn ngàn cặp mắt tò mò, mất dạy, biểu lộ bao nhiêu chuyện ác ý, vô lễ. Đó là giấc mơ giữa ban ngày của bọn mày râu, của những kẻ sẵn sàng chịu cực, lì lợm, đã học luân ly khá nhiều nhưng chẳng áp dụng được bao nhiêu, mặc dầu đầy đủ thiện chí bảo vệ luân lý cổ truyền!
Một cô gái mặc áo dài xanh đậm từ bên kia đường băng qua. Tôi ngừng lại để ngắm nghía dung nhan cô, từ chính diện. Đẹp thật. Có vẻ sang trọng, tay dài, chân dài. Tuy xe cộ chạy như mắc cửi nhưng cô băng qua dễ dàng, không hấp tấp, như kẻ dạo vườn hoa.
– Anh Ba ơi!
Cái giọng hơi quen ấy khiến tôi quay lại. Một bàn tay vẫy lên cao, làm dấu hiệu như ngầm bảo: “Có ta đây!”. Đó là anh chàng soạn giả tuồng cải lương, nhỏ tuổi hơn tôi, người đồng hương. Tôi lúng túng, chẳng biết xưng hô thế nào cho gọn. Chẳng lẽ gọi anh ta bằng biệt hiệu: soạn giả Hoa Mơ. Anh ta chẳng ưa khoe khoang nơi công cộng. Với năng lực dồi dào, với hàng chục tuồng ăn khách, anh ta được các ông chủ đoàn hát lưu ý từ lâu. Về đường tình duyên, anh ta đã có đến hai vợ, và dường như đã chán ngán thế sự thăng trầm. Tôi rẽ vào quán, nói trỗng:
– Ủa! Ngồi đây hồi nào?
– Lâu rồi! Bữa nay anh Ba coi bộ mến nguòi mến cảnh quá. Hồi nãy, anh Ba dòm cô đó. Thôi! Dòm mà làm gì. Tôi sẽ cho địa chỉ cô ta.
– Phá hoài. Lúc này, nhà cửa ở đâu?
– Bây giờ dời qua nhà khác, bỏ cái nhà bên kia cầu chữ Y, bỏ cái nhà trong chợ Bình Tây…
Trước kia, hồi… ông Diệm và bà Nhu còn sống, sống với uy thế gần như vô địch, tôi và soạn giả Hoa Mơ ở chung một nhà. Anh ta làm thơ ký tại một tư sở, lúc rảnh rang thì ngâm thơ và nghiên cứu cổ nhạc. Tiền lương hàng tháng – tuy ít oi – nhưng tạm đủ mua gạo, mua rau nuôi sống vài người bạn thân, trong đó có tôi. Tôi còn nhớ dạo ấy gian nhà chật, hẹp nhà mướn, cất trên vũng bùn. Ban đêm, tôi nằm trên chiếc ghế bố nhà binh, ngoài sân, mặt chiếc áo dày (kiểu áo cầu thủ bóng tròn) thay mền. Và cái ghế bố ấy lấn ra ngoài ngõ hẹp, đụng vào chậu kiểng của nhà đối diện.
Anh ta hỏi:
– Bây giờ anh Ba ở đâu? Xóm nào?
– Thì xóm cũ, từ hai năm qua, tôi không muốn di chuyển.
– Bà vợ tôi khó tánh. Tôi đổi nhà hoài, theo ý của bà cho yên vui. Hôm nào rảnh, anh Ba tới chơi. Chỗ này hơi ồn ào và khó kiếm số nhà.
Nói xong, anh ta gọi cô chiêu đãi viên:
– Thêm hai chai bia.
Lại phải uống rượu vào lúc mặt trời vừa mọc hai sào! Tôi sợ những cữ nhậu sớm. Lúc đói bụng, rượu dễ công phạt, khiến mình nhìn sự đời thêm méo mó. Nhưng tôi không muốn từ chối. Biết đâu ba bốn tháng sau, tôi mới gặp anh soạn giả cố tri này! Dường như anh ta đang “ưu thời mẫn thế”. Tội tình gì mà không ngồi nán, uống cạn ly cho vui. Quán này chuyên bán cơm trưa cho giới lao động. Vào lúc 9 giờ sáng, ít ai ra vào. Và có lẽ ông chủ quán cần sự hiện diện của vài ba người nào đó để bầu không khí thêm phần ấm áp. Cô nữ chiêu đãi viên khui chai rượu rồi lạnh lùng trở lại… “hậu trường”, đọc tiểu thuyết. Ngoài này, chúng tôi chọn vị trí, dựa lưng vào vách để chuẩn bị cuộc đối thoại lâu dài. Tôi mở lời:
– Có ai về xóm cũ không?
Anh ta đáp:
– Anh Ba muốn nói xóm nào?
– Xóm cầu Mũ, hồi mình ở chung đó. Bao nhiêu vật đổi sao dời rồi.
– Anh Ba đi tuốt chớ tôi thì về lai rai, để thăm ông già vợ, kẻo lỗi đạo quân thần. Vẫn còn y nguyên mấy gia đình cũ…
Tôi sực nhớ đến gốc cây trứng cá. Cây này to lắm, che phủ chừng mười thước vuông. Mỗi trưa, trẻ con và luôn cả bọn người lớn thất nghiệp xúm xít lại đó để nhìn lên. Mấy chị bán chè, bán cháo ngồi bên đường hẻm, nương vào bóng mát:
– Cây trứng cá còn không?
Anh ta đáp:
– Còn đó chớ ai bứng đem đi đâu.
– Chắc nó lớn dữ rồi. Năm sáu năm nay. Cây trứng cá mọc mau lắm.
– Thì thiên hạ chặt nhánh nó, mấy hồi…
Để câu chuyện khỏi lạc đề rồi đi sâu vào thế giới siêu hình, tôi nói cụ thể hơn:
– Cây trứng cá đó là tượng trưng cho xóm nhỏ. Chú mầy nhớ chưa! Nó như cây da đình làng ta… Nhà ông già vợ chú mầy còn đó chớ? Ổng còn mạnh khỏe?
Chàng soạn giả câu mày, nâng ly uống một hơi rồi im lặng. Trong ánh mắt anh ta, thoáng gợn bao nhiêu dĩ vãng riêng tư mà chỉ có riêng tôi mới đọc ra vài chữ. Đó là thiên tình sử thuộc loại “tình nghèo xóm nhỏ”. Chúng tôi ở sát vách một gia đình đông con gái. Năm ba cô mơn mởn, chưa chồng. Người cha ruột đang hồi làm ăn xuống dốc nên cứ ngồi nhà mà uống trà, thỉnh thoảng răn dạy các con về dung công ngôn hạnh. Ông theo luân lý cổ truyền và là người ngoan đạo. Vóc dáng của ông gợi hình ảnh người nông dân thời xa xưa với bao nhiêu khắc khổ. Cứ hừng sáng, ông mặc áo dài đen, xách dù, đi nhà thờ. Và đến tối, các con quì xuống đọc kinh, không được chểnh mảng bất cứ vì lý do nào. Mỗi đứa tự ý tìm sanh kế để tiêu xài. Ông hiểu mơ hồ công việc làm của các con, nhưng công việc thường bị dư luận khiển trách – nghề chiêu đãi viên ở khu Dân Sinh, chợ Trần Quốc Toản, đại khái… Lẽ đi nhiên, hễ thức đêm quá thì các cô ngủ suốt buổi trưa. Thôi! Đèn nhà ai nấy sáng. Điều mà tôi biết rõ là cô Tám, con gái ông, sống theo nếp đứng đắn, ít đi khỏi nhà, lo cơm nước cho cha rất chu đáo. Vài tháng sau, anh bạn của tôi trở thành người chồng của cô Tám, trong vòng lễ giáo. Lúc ấy, anh bạn chưa nổi danh là soạn giả.
Anh bạn gật gù:
– Ông già vợ của tôi còn ở đó hoài. Cũng đi nhà thờ.
Tôi hỏi:
– Mấy cô em vợ? Con Lương, con Mịn?
– Con Mịn có chồng rồi theo chồng ra ngoài Côn Đảo. Chồng nó làm gát dan giữ tù.
– Còn con Lương?
– Bây giờ ngon lắm. Nó giàu có, và là đứa có hiếu nhứt. Cả gia đình người một nơi. Còn nó săn sóc cha. Xưa kia, anh nhớ không?
Làm sao tôi không nhớ? Con Lương không đẹp nhưng trắng trẻo, nở nang. Nó ưa đi hoang. Thỉnh thoảng, nó bị cha đánh mắng, để làm gương cho các em và để đánh tan dư luận trong xóm. Giấy rách phải giữ lấy lệ. Việc đánh con được người cha cử hành như một nghi lễ trang nghiêm. Cha chuốt ngọn roi. Roi này để trên nóc tủ, không xê dịch, như lưỡi gươm treo trên vách nhà tướng. Ông giảng luân lý rồi gọi con ra. Đứa con nằm sấp. Người bên canh tha hồ tụ họp trước sân nhìn vào. Cửa cái và cửa sổ mở rộng. Ông đánh, đếm kỹ từng roi. Và đứa con không được rên la, kêu van hoặc cựa quậy. Sau đó đứa con quá tuổi dậy thì ấy được lịnh ngồi dậy và… tuyên thệ chẳng bao giờ dám tái phạm.
– Con Lương bây giờ ra sao? Làm nghề gì mà giàu?
– Nó học Ăng Lê, làm nữ chiêu đãi viên trong quán sang trọng và có chồng hẳn hòi. Chồng nó là một Mỹ kiều, đẹp trai. Chàng này “chịu chơi” lắm. Nó cưng con Lương, bắt buộc con Lương dẫn nó về nhà, ra mắt cha mẹ vợ. Nó trợ cấp cho vợ và cha vợ một số tiền khá to, hàng tháng. Còn gì vui mừng cho bằng. Mái nhà gần sập phía trước được tu bổ, vách tường có treo tranh ảnh đường xa xứ lạ. Ông già vợ vui lắm. Bởi vì con gái mình được tiếng tốt, có chồng đàng hoàng. Ban ngày, thằng chồng nó về ăn cơm và không quên mua vài thứ xa xí phẩm như thuốc Salem, xà bông thơm, máy thâu thanh thứ nhỏ, thuốc sinh tố ngừa bá bịnh…
Thằng chồng cũng vui lòng vì cưới con nhà lành, chứ không phải loại “chị em” mất nết đổi thay tình nghĩa như cơm bữa.
Tôi hơi buồn ngủ, có lẽ vì rượu công phạt cái bao tử trống rỗng và có lẽ vì câu chuyện hơi nhàm. Đợi lát sau, anh bạn soạn giả mới tổng kết.
– Thế là đứa con bất hiếu nhất ngày xưa trở thành rường cột gia đình, dưỡng nuôi cha già. Và người cha này có phản ứng rất tốt, khuyên con gái nên tuân theo dung công ngôn hạnh để đền đáp lại tấm lòng của người chồng xứng đáng. Và hàng ngày, cứ hừng sáng, ổng mặc áo dài, xách dù đi đọc kinh. Đứng về mặt tu thân mà xét, tôi chưa thấy ai đàng hoàng như ổng. Hồi nào cũng như hồi nào…
Câu chuyện tưởng có thể chấm dứt. Dè đâu anh soạn giả gọi thêm chai bia. Tôi nói nhanh:
– Được rồi. Nếu có về xóm cũ, tôi gởi lời thăm bác. Chắc ổng quên tôi rồi.
– Ổng bây giờ chẳng muốn chú ý tới ai hết, ờ anh Ba, anh còn gởi lời thăm ai nữa không?
– Nhớ ai bây gio? Có lẽ thiên hạ đã dời nhà đi chỗ khác.
– Họ còn ở đó y nguyên, anh Ba ơi. Năm ngoái, xôn xao một độ, thiên hạ đồn rằng tòa Đô Chánh giải tỏa, phóng con đường ăn thông qua chợ Năng Xy. Nhưng rồi đâu vào đó, chẳng ai bị đuổi đất dỡ nhà gì ráo.
Tôi sực nhớ đến gia đình cô Bảy Thém. Dạo trước, tôi thường qua hút thuốc, uống trà với cha ruột cô. Cô đã có chồng, sanh hai con. Chồng cô theo vợ bé, đi suốt, hằng tháng trợ cấp một số tiền tượng trưng là hai ngàn đồng. Ông chồng ấy làm nghề mua bán đường xa, tận Cao Nguyên Trung Phần. Ở trong xóm suốt hai ba năm mà tôi chỉ gặp mặt ông ta có hai lần. Lần nào, tôi cũng không dám nhìn kỹ. Dường như ông ta ghen bóng ghen gió với bọn trai tơ và trai già trong xóm. Ngày chồng về thăm con, cô Bảy Thém chẳng dám nhìn chúng tôi. Nhưng khi chồng cô ra đi biền biệt, thỉnh thoảng cô ôm con, ngồi ca Vọng Cổ trên võng. Lời ca vô nghĩa, trích trong mấy quyển bài ca hai đồng bạc, nhưng giọng ca áo não làm sao. Tưởng rằng tâm sự người ôm đàn tỳ bà ở bến Tầm Dương không khác mấy. “Khách trọng lợi khinh đường ly biệt, mãi buôn chè, sớm tếch ngàn khơi. Thuyền trơ đậu bến mặc ai, quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.” Về lúc ấy, cô Bảy sẵn sàng mời chúng tôi qua nói chuyện khào. Cô than thân và trách móc tất cả bọn đàn ông: “Chẳng ai chung thủy cả. Người đàn ông thiếu tình cảm và ác độc như con rắn”. Một bạn trẻ của tôi mỉm cười, nói bóng gió: “Thực tế sẽ chứng minh” rồi bạn đi tuốt. Người bạn này lợi hại lắm, tên là Chước, khá đẹp trai ít ăn nói. Cô Bảy Thém thích nói chuyện với tôi và bắt buộc đứa con gái gọi tôi bằng bác.
Người hàng xóm họ nghĩ rằng cô Bảy dành cho tôi khá nhiều cảm tình nồng hậu và rất ghét anh chàng Chước kiêu hãnh ấy…
– Thuở đó, anh Ba mê cô Bảy Thém.
– Đâu có làm ăn gì? Tình láng giềng giữa thanh thiên bạch nhựt.
Anh chàng soạn giả cười bí hiểm:
– Chỉ có tôi mới hiểu thấu nỗi lòng anh Ba. Bây giờ, nói thiệt nghe thử coi! Hằng đêm, cô Bảy ngủ ngoài chái nhà, xuất nhập tự do, không cần mở cửa khoét vách. Anh Ba có ý nghĩ gì đen tối không?
Tôi đáp:
– Có chớ. Nhưng không dám.
– Tại sao? Anh Ba sợ cô Bảy bị chồng bắt tại trận rồi “cúp” tiền trợ cấp?
– Đâu phải. Tôi sợ cô Bảy bắt buộc tôi đóng vai trò bình phong…
Chàng soạn giả cười vang:
– Anh Ba thông minh và hiểu đời quá. Anh Ba nhận xét cô Bảy là người như thế nào?
– Người đa tình, đầy đủ sức khỏe, ăn no rồi ở không, nhàn cư vi bất thiện. Thôi đi, hơi đâu mà nói xấu kẻ khác. Nhưng tôi phải nói ra để làm… đề tài văn nghệ. Cô Bảy cố tình bắt buộc tôi đóng vai bình phong.
– Đâu là bằng cớ? Anh Ba nói thử.
– Đêm đó tôi thao thức, bước ra khỏi nhà. Trời tối mờ mờ, mưa lác đác. Tôi thấy gió thổi mạnh. Bên kia, cách vài thước, cái thành mùng cô Bảy bay phấp phới. Cô thò tay ra ngoài. Tôi lại gần. Nhưng lập tức cô rút bàn tay vô, tấn ém mí mùng. Tôi ngỡ là mưa dột chái nhà nên đến gần. Trong mùng cô Bảy, lụ khụ những gối ôm. Và bỗng nhiên đứa bé khóc lên. Và trước khi nó khóc, tôi nghe cô chửi rủa nó. Cô Bảy cố tình gây tiếng khóc để cảnh cáo tôi, không cho tôi lại gần hơn.
Chàng soạn giả gật đầu:
– Anh Ba chưa hiểu rõ. Cô Bảy thỉnh thoảng rước một chàng trai trẻ vào mùng cho vui. Không chừng lúc đó anh Ba thấy chàng ta trong mùng mà ngỡ là cái gối. Chàng ta nhỏ thó, trắng trẻo. Chính là thằng Chước. Thằng Chước tìm cách chứng minh sự đa tình của bọn con trai.
Tôi lắc đầu:
– Vậy sao? Hèn gi có độ, thằng Chước thường đi chơi đêm. Khi về thì nó hút gió, động cửa, vặn đèn, làm rùm beng cả xóm theo kiểu “đợt sóng mới”.
– Nó ở trong mùng cô Bảy Thém chun ra chớ đi đâu xa. Nó muốn phi tang. Nhưng gà đẻ, gà cục tác. Tôi dám bảo đảm rằng chuyện thằng Chước tư tình với cô Bảy còn ở trong vòng bí mật, chẳng ai hay biết.
– Nhưng tại sao chú mầy biết?
– Thằng Chước nói lại. Dạo đó, thỉnh thoảng cô Bảy cho nó vài trăm, gọi là cho mượn xài đỡ… Anh Ba thử nghĩ coi: ông chồng thương gia chẳng bao giờ hay biết, luôn cả anh là người gần như trong cuộc. Ai cũng nói cô Bảy nết na, thủ tiết chờ đợi ngày hối cải của ông chồng…
– Bây giờ cô Bảy còn đó không?
– Chồng cổ về rồi. Anh chàng thương gia ấy đã về chuồng cũ, sau khi theo vợ bé. Lá rụng về cội mà. “Hồn con một thuở đã đi hoang” giờ đây về quì lụy bên cạnh người vợ lớn. Chàng ta mua nhà, nuôi nấng vợ con, cho con học trường Tây, gia đình êm ấm lắm.
– Cũng đáng mừng. Rốt cuộc rồi, mọi người đều vui và sống trong lúc tao loạn. Cũng là vui. Chẳng ai chết chóc, trong xóm Năng Xy.
Nói xong, tôi nốc cạn ly rượu. Câu chuyện đã đến lúc nhạt phèo. Anh bạn soạn giả vẫn dựa lưng vào vách. Tôi đoán chừng anh ta đang chờ một người bạn để vay hoặc đòi nợ. Anh ta nói lạt giọng:
– Không phải vậy đâu, anh Ba. Đời là buồn.
Trong một tháng, tôi chợt hiểu anh ta đang thắc mắc về gia đình. “Một vợ nằm vườn lèo, hai vợ nằm chuồng heo”. Sáng nay anh ta túng tiền, bị tất cả hai người vợ ruồng rẫy nên nhìn đời bằng cặp mắt xiêng xéo. Anh ta muốn giải bày nỗi lòng cho vũ trụ hay biết để bao nhiêu đau khổ được vơi! Tôi hỏi:
– Tại sao đời là buồn?
– Anh Ba lớn tuổi hơn tôi, anh dư biết.
– Làm sao tôi biết được. Chú mầy có tới hai vợ, hẳn là đầy đủ bản lãnh.
– Hai câu chuyện mà tôi vừa kể cho anh Ba nghe toàn là tài liệu sống, tai nghe mắt thấy. Nó chứng mình rằng mọi người đàn bà đều có dĩ vãng. Anh chàng Mỹ Kiều và anh chàng thương gia là hai kẻ vô tình mà biết sống với hạnh phúc hiện tại. Nếu suy nghĩ vớ vẩn đến dĩ vãng, nếu điều tra lý lịch vợ con mình thì làm sao họ cười cợt được.
– Ta nên bắt chước họ.
Chàng soạn giả lắc đầu:
– Làm sao bắt chước được. Anh chàng Mỹ Kiều và anh chàng thương gia chồng cô Bảy Thém hàn gần được dĩ vãng và hiện tại, nhờ họ có tiền. Chúng mình khô túi, chỉ còn cách nói dóc nghe chơi.
– Thôi, hẹn dịp khác.
– Anh Ba chưa tin hả? Cứ đi Năng Xy về xóm cũ.
Tôi vội bước ra khỏi quán, đi bộ, lần phía Năng Xy. Đường xa mà hóa ra gần. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ miên man. Nếu không gặp chàng soạn giả này, chưa ắt tôi trở về xóm cũ.
Đến đầu hẻm.
Tôi đi chậm rãi, qua cây cầu ván. Nước đen ngòm, chảy lờ đờ, hơi cạn hơn hồi xưa vì rác rến đổ xuống quá nhiều. Qua cầu, tôi nhìn hai bên đường. Chẳng có gì lạ. Chẳng ai nhận ra tôi.
Cây trứng cá hiện ra, cao lớn. Lá vàng rụng đầy gốc. Cái chái nhà, nơi cô Bảy ngủ lúc chồng theo vợ bé hãy còn đó. Bộ ván trống trơn.
Tôi qua nhà con Lương.
Nhà trang trí khá đẹp, sặc sỡ, cửa khép hờ. Con Lương vặn máy thâu thanh, nhai kẹo. Người cha đang nằm đọc báo. Con Lương nhận ra tôi. Nó chào hỏi. Tôi vào nhà. Nó đã có chồng sang trọng, như anh chàng soạn giả thuật lại. Tôi hỏi đến cô Bảy. Con Lương cho biết dạo này chồng cô mua nhà, cưng cô lắm. Nhà cũ của cô Bảy chẳng còn ai.
Tôi hút thuốc, liếc ra cửa sổ:
– Còn cây trứng cá. Buồn quá.
– Chú thấy cây đó khác không? Nó không lớn, cứ như vậy hoài.
Tôi dòm kỹ. Rõ ràng cây trứng cá không rậm rạp tuy gốc to hơn. Và bên gốc, tua tủa những nhánh to bị chặt, bui lại những vết thương khô cứng như những con mắt mù lòa. Tôi hỏi:
– Hổm rày, thằng anh rể soạn giả có về đây không?
Con Lương đáp:
– Ảnh có về rồi đi. Coi bộ ảnh khổ lắm. Mời vô nhà thì ảnh không chịu. Ảnh đứng dựa gốc cây trứng cá cả buổi…
Tôi ngáp dài, kiếu từ. Lại một buổi sáng trôi qua, chẳng có gì mới lạ. Từ chàng soạn giả đến cây trứng cá và đến tôi. Như những con mắt mù lòa, cúi xuống đất.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.