Một người tên là Trần Văn Bá

Image edit by Sơn râu

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 19 Oct 2024

Chương 8

Lãnh Đạo 4 có khuôn mặt thật nhân hậu. Ông ta cũng trên 50 tuổi. Không hỏi han gì chàng về bản tự khai, ông ta làm như thể hoàn toàn chẳng biết gì về diễn tiến tư tưởng của chàng. Có lẽ, ông ta thừa hiểu chàng chưa thèm đặt bút viết tự khai. Lãnh Đạo 4 là người có… trọng lượng, nói theo chủ nghĩa của cộng sản. Do đó, cái bàn nhỏ đã được thay bằng cái bàn lớn, cái ghế chàng ngồi có đệm >, trên bàn có lọ hoa tươi. Và, đặc biệt, hôm nay bình trà sứ, tách sứ Trung quốc. Ông Lãnh Đạo 4 mời chàng thuốc lá Thăng Long cao cấp bọc giấy bạc bên trong, giấy bóng kính bên ngoài; còn ông ta hút thuốc đen Tam Đảo rẻ tiền, đơn giản.

– Anh Bá, anh có biết chúng tôi đánh giá trí thức ra sao không?

– Chắc chắn, các ông ví người trí thức như cục phân, giá trị của trí thức không hơn cục phân.

– Sự ví von ấy của Mao Trạch Đông. Nó đã chết rồi.

– Nhưng đã nằm trong giáo điều.

– Không còn giáo điều của Mao ở Việt Nam nữa. Không còn luôn cả ảnh hưởng tư tưởng Trung quốc ở Việt Nam luôn. Chúng ta sẽ xóa dần mọi vết tích nô lệ văn hóa Trung Quốc. Mao Trạch Đông đã quá đà công kích trí thức. Có hai loại trí thức. Trí thức tiến bộ, yêu nước và trí thức lạc hậu, phản động. Loại dưới vô dụng, cần tiêu diệt. Loại trên được đánh giá cao.

– Được lùa vào cái chuồng tên là Hội Trí Thức Yêu Nước.

– Anh thuộc loại trí thức nào?

– Theo tôi, có hai hạng trí thức: Trí thức khoa bảng và trí thức dấn thân. Trí thức khoa bảng là hạng theo chủ nghĩa giá áo túi cơm. Hạng trí thức này dùng bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ của nó đánh đổi địa vị xã hội để thụ hưởng những tiện nghi biệt thự, xe hơi, vợ đẹp, con khôn. Khi đã thụ hưởng thừa mứa, nó bon chen vào chính trường và cố ngoi ngóp lên hàng lãnh tụ. Lãnh tụ quốc gia không xong, nó làm lãnh tụ phong trào, mặt trận, hội đoàn. Nó phải vác bằng được cái tiến sĩ, thạc sĩ của nó vào cuộc phiêu lưu chính trị giả tưởng. Xã hội ta là xã hội lạc hậu, kính trọng khoa bảng, vì vẫn tưởng trí thức khoa bảng còn nguyên vẹn khí khái của Chu Vãn An, Nguyễn Khuyến. Do đó, khoa bảng vẫn có đất phô trương. Một anh bác sĩ chủ tịch một hội đoàn vẫn được nể vì hơn một anh trung sĩ! Và anh bác sĩ chủ tịch lên mặt khinh bỉ anh trung sĩ chủ tịch. Nhưng nếu thời thế đổi thay như nó đã thay đổi, anh trung sĩ được ngoại nhân phong trung tướng tổng thống, trí thức khoa bảng sẽ biến thành nghị sĩ, dân biểu, bộ trưởng gia nô. Thái độ của trí thức khoa bảng là thái độ cho thuê bản thân bất cứ giá nào, với bất cứ người nào. Nó hèn mọn. ích kỷ và rất sợ chết. Nó giống hệt bọ hung. Còn sự lăng quăng của nó thì giống hệt bọ gậy. Trí thức dấn thân là những người biết đem kiến thức của mình soi sáng mọi u tối của dân tộc, biết cảm thông với dân tộc, biết chia xẻ nỗi đau khổ với dân tộc, dám vì dân tộc mà thắp lửa đấu tranh tìm kiếm hạnh phúc cho dân tộc, vinh quang cho tổ quốc. Trí thức dấn thân khước từ địa vị, quyền lợi cá nhân, không tham vọng quyền bính. Tâm hồn trí thức dấn thân là tâm hồn cách mạng, không bao giờ là tâm hồn cai trị, thống trị. Ý nghĩa chiến đấu của trí thức dấn thân khôn cùng. Họ có bằng cấp cao hoặc chẳng có bằng cấp gì thì vẫn cứ khinh thường khoa bảng. Giá trị của dấn thân vô hạn, tuyệt vời. Một người du đãng, một anh hạ sĩ biết làm đẹp quê hương, dám dấn thân chiến đấu cho tự do, dân chủ, hạnh phúc của dân tộc thì cũng kể là trí thức dấn thân. Bởi thái độ của họ đẹp, họ biết đem cái mà họ có cống hiến cho mọi người. Tôi nghĩ, người du đãng có lý tưởng chiến đấu giá trị hơn trí thức khoa bảng ngàn lần. Ông biết chứ, trong mọi dấy động của thời thế, ai là những kẻ dẫn đầu và lôi cuốn quần chúng? Những kẻ anh hùng ngang dọc mà cuộc đời hẹp hòi thường miệt thị là du đãng đấy. Lúc ấy, trí thức khoa bảng ở đâu? Nó nằm dưới váy vợ run sợ hoặc hí hửng chờ đọc tuyên ngôn, tuyên cáo chiến thắng! Với tôi, Nguyễn Nhạc là thần tượng của du đãng và việc làm của ông ta là lý tưởng của du đãng. Thiếu Nguyễn Nhạc không có Nguyễn Huệ. Nhưng tôi sẽ không nói với ông về > của Nguyễn Nhạc đâu, tôi sợ phải so sánh với

– Anh tự xếp anh vào hạng trí thức nào?

– Tôi hả, thưa ông? Ông đã biết rõ tôi thuộc hạng trí thức nào rồi.

– Đảng quý trọng thái độ trí thức của anh, của những người như anh.

– Cám ơn Đảng! Tôi nghĩ Đảng quý trọng trí thức trong chuồng Hội Trí Thức Yêu Nước mới phải chứ.

– Anh không là người cộng sản, anh không thể hiểu nổi Đảng. Dưới ánh sáng quang vinh của Đảng, mọi vấn đề đều sáng tỏ. Hiện nay, ở Việt Nam, không còn trí thức nữa hay, nói chính xác, chỉ còn trí thức đầu hàng. Những tiến sĩ, phó tiến sĩ mới là do Đảng đào tạo, vậy gọi là trí thức cộng sản. Còn trí thức cũ, từ Nguyễn Mạnh Hà, Trần Văn Giàu đến Nguyễn Khắc Viện thì đã đầu hàng lâu rồi và sắp chết hết. Bọn trí thức phản kháng tiêu biểu là Nhân Văn Giai Phẩm thì bị diệt gọn. Nói tóm lại, miền Bắc không còn trí thức, hoặc rõ rệt, chỉ còn trí thức anh hùng lao động. Tôi nói về trí thức miền Nam chắc là anh thông suốt hơn. Đại trí thức mon men hàng học giả là Hồ Hữu Tường, chẳng hạn, có biết làm đẹp quê hương không? Không đâu, hắn đã đem tài năng của hắn phục vụ tên trùm chứa thổ, đổ hồ Lê Văn Viễn, tên giặc cỏ hà hiếp nhân dân, tên lái buôn thuốc phiện đầu độc nhân dân. Thế mà hắn còn vô liêm sỉ tự nhận mình là tù nhân chính trị, chống đối độc tài và ra ứng cử dân biểu, rồi quỵt nợ ngân hàng, dở nhiều trò nham nhở. Hắn đã dấn thân đấy. Anh biết bọn trí thức khúm núm đi giật lùi trước mặt Ngô Đình Diệm chứ? Anh đã biết trí thức khoa bảng nặng Nguyễn Cao Hách, Nguyễn Khắc Hoạch và đồng bọn chứ? Chúng nó ra vào cửa sau Sở Nghiên Cứu Chính Trị của Trần Kim Tuyến, tình nguyện làm mật vụ trí thức để có tiền xuất bản báo và địa vị xã hội. Bọn trí thức này, Ngô Đình Nhu đã khinh bỉ thậm tệ. Còn bọn trí thức khoa bảng mà chế độ nào cũng phục vụ, không cho nó địa vị, nó đối lập inh ỏi thì đầy rẫy ở Sàigòn ngày xưa. Bọn trí thức tồi tệ mà báo chí Sàigòn đã chửi đích danh chúng, gọi chúng là bọn  càng nhan nhản. Chúng nó hết bám đít Nguyễn Cao Kỳ lại theo chân Nguyễn Văn Thiệu. Thậm chí, chúng nó quỳ lạy mấy ông cố đạo, van xin mấy ông thầy chùa để làm nghị sĩ, dân biểu, bộ trưởng. Trí thức Sàigòn là thế, cho chúng nó vào cái chuồng Hội Trí Thức Yêu Nước, như anh nói là khoan hồng, đại lượng rồi. Để tôi nói về sinh hoạt của trí thức yêu nước trong  cho anh nghe. Nguyễn Xuân Oánh có yêu nước không? Nó chỉ yêu đào hát. Nó vì đào hát, vì sự nghiệp đào hát, vì gánh hát của vợ nó, vì sự lưu diễn Liên xô, Đông Âu của vợ nó mà cúc cung phục vụ chế độ mới. Ở chế độ cũ, nó phò thằng Nguyễn Khánh phường chèo. Thôi, tôi không kể tên chúng nó ra nữa, sợ anh buồn. Đảng khinh thường chúng, lần lượt cấp xuất cảnh cho chúng nó chuồn ra ngoại quốc. Anh hãy tưởng tượng nỗi lo lắng, hồi hộp của chúng khi chúng nộp đơn ở Phòng Công Tác Về Người Nước Ngoài và nỗi hồ hởi phấn khởi của chúng khi chúng bước lên máy bay. Đảng ban phát ân huệ cho chúng nó. Đảng có bắt chúng nó đi học tập đâu? Chúng nó vẫn lái xe hơi, đánh quần vợt, cờ bạc, rượu chè. Vậy mà ra ngoại quốc, chúng bầy đặt  ngoác miệng chống cộng sản! Thái độ của chúng nó ở trại, ở nhà tù ra sao? Thằng Vũ Quốc Thông tranh cơm, ăn cắp xì dầu của tù nhân khác. Bao nhiêu tù nhân khác ráng chịu đói, có tranh cơm đâu? Chúng nó hưởng thụ quen rồi, không kham nổi thiếu thốn. Lũ thư lại mới tởm, chúng nó lười biếng lao động, chấp nhận bị chửi bới để làm việc lơ là, ăn cắp ngô, khoai, rau, sắn. Vậy mà ra ngoại quốc, chúng tự nhận là anh hùng tù ngục. Đứa làm chó săn đích thị, rêu rao đứa khác làm chó săn. Đấy, trí thức đang ở Pháp, ở Mỹ… Anh muốn biết một loại trí thức Việt Nam hải ngoại bịp bợm và phản bội không? Loại bịp bợm lăng xăng viện sĩ hàn lâm thì chỉ đáng khinh, còn loại phản bội thì đáng tởm. Điển hình là thằng Trung ở Paris. Trước nó theo chúng tôi, hoạt động tích cực. Thành tích của nó là khiêng quan tài ở Paris để phản đối Mỹ chọi bom B52 ở Hà Nội. Đảng và nhà nước ta nghèo, không thể nuôi nó phè phỡn, gặp dịp thằng Trương Như Tảng trốn sang Pháp cấu kết với thằng Hoàng Văn Hoan nhận tiền của lũ bành trướng Bắc Kinh phá hoại tổ quốc Việt Nam, nó trở dáo theo thằng Tảng, thằng Hoan, tình nguyện làm Việt gian, đầy tớ của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Đấy, trí thức yêu nước trong nước sáng chiều lo ra Bưu Điện nhận quà của thân nhân bên Mỹ, bên Tây gửi về, sáng chiều tới Câu lạc bộ của Hội ăn uống giá rẻ, sáng chiều hỏi han nhau giá bán thuốc, giá vải, giá quần, giá áo, sáng chiều đôn đáo các chợ trời; trí thức yêu nước ngoài nước phản bội, chỉ rình về Sàigòn phe phẩy, dụ dỗ kết hôn với gái đẹp để dẫn qua Tây, cho chúng nó vào cái chuồng là đúng. Đáng lẽ, phải nhốt chúng vào chuồng cạnh chuồng khỉ Sở Thú Sàigòn! Làm sao chúng tôi có thể dùng được chúng nó mà quý trọng chúng nó. Anh nghĩ đúng chứ?

– Thưa ông Lãnh Đạo, tôi đã nói với ông rồi. Loại trí thức mà ông đề cập không bao giờ là trí thức cả. Những người tuổi trẻ như tôi đã biết khinh bỉ chúng.

– Anh nghĩ gì về Hoàng Văn Hoan?

– Trước hết, ông ấy già rồi. Với chúng tôi, những người già nua khụ khị, đầu óc đặc xệt bình vôi không có gì đáng để ý tới. Sau hết, một người cộng sản thì theo Nga hay theo Tầu vẫn là người cộng sản thôi. Con khỉ mặc quần áo người, diễn trò người thì vẫn cứ là khỉ… Nhưng nếu người cộng sản vụt thức, hoàn toàn vụt thức, dám chống đối chủ nghĩa cộng sản, đứng hẳn về quốc gia, dân tộc mà đấu tranh cho tự do, dân chủ và hạnh phúc cho giống nòi thì vấn đề khác đi.

– Trương Như Tảng là người ấy?

– Không bao giờ Trương Như Tảng có thể là người ấy. Trước hết, ông ta không phải là người cộng sản, ông ta chỉ là người theo đám cộng sản để ăn cái tàn bộ trưởng Tư pháp. Trương Như Tảng lả người thiếu đầu óc. Tất cả những kẻ theo đám cộng sản trong cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đều là những kẻ thiếu đầu óc, nếu không muốn liệt họ vào hạng > hoặc hạng lái buôn thời thế. Thí dụ, các ông không xóa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, không giải thể cái Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam, Trương Như Tảng vẫn làm bộ trưởng Tư pháp, tôi tin chắc không có vấn đề Trương Như Tảng, ngàn năm sau ông ta cũng không biết > đâu. Vì ông ta bị cách chức Bộ trưởng, ông ta cay cú, ông ta > Sự thức tỉnh này đáng tội nghiệp hơn là đáng coi thường nếu ông ta yên phận chết già ở xứ người. Tôi nghĩ, nếu Tảng > vào hôm 1-5-1975, ông ta sẽ có giá hơn với những người muốn lợi dụng ông ta. Theo tôi và trong ý nghĩ của tôi, ông Trương Như Tảng đã chết. Nhưng, thưa ông Lãnh Đạo, tôi chưa thấy một người cộng sản nào dám tách khỏi chủ nghĩa, lãnh tụ, đồng chí để sám hối với dân tộc. Họa may là ông.

– Anh tuyên truyền tôi?

– Ông muốn làm anh hùng dân tộc, hay suốt đời chỉ nhận chỉ thị của các ông Lê Duẩn, Trường Chinh? Ông suy nghĩ di…

– Anh là người của ai?

– Tôi là người của dân tộc Việt Nam.

– Anh quốc tịch Pháp.

– Tôi vẫn mang quốc tịch Việt Nam.

– Người mang quốc tịch Pháp hay quốc tịch Mỹ, xâm nhập Việt Nam bị pháp chế của nước Việt Nam kết tội xâm lăng, gián điệp. Anh hiểu chứ?

– Tôi là người Việt Nam, tôi về nước Việt Nam vì tôi yêu nước tôi.

– Ai đưa anh về? Tòa đại sứ cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Paris không cho phép anh về thì ai cho phép anh? Thế lực nào đưa đường dẫn lối cho anh về?

– Xin ông bình tĩnh, ông Lãnh Đạo. Người cộng sản hay nói câu  Tôi chỉ cần về được Việt Nam và thực hiện mục đích của tôi, còn ai đưa tôi về, thế lực nào đưa tôi về, tôi chấp nhận cả. Ông muốn ai đưa tôi về, thế lực nào đưa tôi về, tôi đồng ý hết.

– Anh ở trong tổ chức nào?

– Tôi hoàn toàn độc lập, hoàn toàn cô đơn. Tôi chỉ ở trong tổ chức của những người tuổi trẻ hoạt động ngay trên quê hương tôi. Nói thẳng thắn, tôi về để vận động cách mạng tuổi trẻ, để làm cách mạng Tây Sơn thứ hai.

– Anh đang nói chuyện với ai?

– Với ông Lãnh Đạo, thưa ông.

– Thế mà tôi cứ tưởng anh kể chuyện Phong Thần cho một nông dân.

– Tôi rất thành khẩn.

– Chỉ có một kẻ duy nhất đủ khả năng đưa anh về Việt Nam là Trung quốc. Một kẻ khả năng ngờ vực là bọn Tây thực dân đồn điền. Nghe tôi nói, anh Bá!

– Tôi đang nghe ông.

– Trung quốc âm mưu thâm độc vô cùng. Từ Hoàng Văn Hoan đến Trương Như Tảng, nó đẻ ra cả chục hệ phái chầu quanh Hoan và Tảng. Anh không nằm trong tổ chức của Hoan, của Tảng nhưng, chắc chắn vô tình hay cố ý, anh phải ở trong một hệ phái nào đó.

– Tôi không ở trong một hệ phái, một tổ chức nào cả.

– Anh cam kết?

– Danh dự của tôi.

Lãnh Đạo 4 cười. Ông ta không nói thêm câu nào. Buổi mạn đàm chấm dứt. Người công an bảo vệ đưa chàng về phòng.

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 19 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 7

Nhìn sự khúm núm của người công an bảo vệ, chàng có thể đoán ra ngay địa vị của kẻ đang ngồi đối diện mình. Lãnh Đạo 3. Chàng đặt cho ông ta một cái tên. Lãnh Đạo 3 không đề cập chuyện tự khai. Hai mươi tờ giấy trắng còn nguyên đó. Chưa viết vì chưa biết mình tạm trú chỗ nào chính xác. Lãnh Đạo 3 ăn mặc chải chuốt hơn Lãnh Đạo 2. Ông ta xách cái cặp da sản xuất tại ngoại quốc. Vẫn bình trà sen nóng và gói thuốc thơm hảo hạng nội hóa trên chiếc bàn nhỏ. Sự chiếu cố có phần tăng nồng độ vì thêm gói kẹo mềm của công ty Bánh Kẹo quốc doanh Hà Nội.

– Anh Bá, Lãnh Đạo 3 mở đầu buổi mạn đàm, tại sao anh chống chúng tôi?

– Tôi không chống các ông. Chàng nói.

– Vậy anh chống ai, chống cái gì?

– Tôi chống chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ cộng sản.

– Tại sao anh chống chủ nghĩa và lãnh tụ?

– Chàng quẹt diêm mồi thuốc:

– Trước hết, tôi xin hỏi ông một câu, được không, thưa ông?

Lãnh Đạo 3 gật gù:

– Được chứ. Với anh, cái gì cũng được, miễn là anh thành khẩn.

– Cám ơn ông. Ông có cho phép tôi được bình đẳng trong đối thoại không?

– Tôi cho phép anh.

– Tôi không sợ nằm cachot với tay còng, chân xích đâu nhưng tôi muốn đối thoại là đối thoại và thẩm vấn là thẩm vấn.

– Tôi nhất trí với anh.

Chàng nhả khói thuốc:

– Tại sao tôi chống chủ nghĩa? Thưa ông, tôi nói chủ nghĩa là gom chung hai chủ nghĩa tư bản, cộng sản, hai thứ chủ nghĩa đã và đang làm điêu đứng nhân loại và đã hoàn toàn bất lực trong mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Tư bản là bọn bất lương, tráo trở, thủ lợi. Cộng sản bất nhân, thủ đoạn, tàn bạo, gian dối. Chủ nghĩa và giáo điều của nó mê hoặc và sai khiến con người xa cách con người, xa cách tình tự đích thực của con người. Chủ nghĩa và trò chơi của nó gây thù hận, binh lửa, tàn sát; tạo nô lệ, tù đầy, lạc hậu, ngu dốt, đói khổ; diệt thương yêu, tình cảm. Chủ nghĩa và tham vọng của nó cám dỗ con người thèm khát quyền lực. Con người phải thanh trừng con người để lên ngôi lãnh tụ, thứ bạo chúa tân thời…

Lãnh Đạo 3 xua tay:

– Anh đi vào sự viển vông rồi đấy. Tôi thích nghe những điều thực tế.

Chàng gạt tàn thuốc:

– Vậy tôi thực tế, thật sát thực tế. Tôi chống chủ nghĩa cộng sản vì chủ nghĩa ấy không tạo nổi hạnh phúc cho dân tộc tôi. Tôi chống lãnh tụ cộng sản vì họ tham quyền cố vị, độc đoán, gian ác, ích kỷ và kiêu ngạo hẹp hòi.

– Căn cứ vào đâu mà anh nói chủ nghĩa cộng sản không tạo nổi hạnh phúc cho dân tộc.

– Vào 30 năm phiêu lưu vô vọng của Đảng cộng sản Việt Nam!

– Quốc gia các anh không phiêu lưu?

– Ông muốn nói quốc gia nào?

– Bọn ngụy!

– Bọn ngụy không bao giờ là quốc gia cả. Bọn ngụy, nói rõ rệt, từ lũ bồi Tây đến lũ bồi Mỹ đều là tội đồ của dân tộc. Người quốc gia không biết làm bồi. Ông tưởng bọn Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh, Cao Văn Viên là người quốc gia à? Ông lầm rồi. Ngay cả Ngô Đình Diệm giáo hội trước, tổ quốc sau cũng chẳng phải là người quốc gia đâu.

– Anh là người quốc gia?

– Phải, tôi là người quốc gia chân chính. Tất cả người Việt Nam không làm bồi Tây, bồi Nhật, bồi Mỹ, bồi Tầu, bồi Nga đều là người quốc gia. Người quốc gia chưa hề nắm quyền bính, do đó, không ai được phép gọi người quốc gia là ngụy quyền, là bọn ngụy. Bọn ngụy đã làm ung thối đất nước, đã thua cuộc, đã chạy trốn. Mỗi đứa đều đã bị ghim một bản án chờ ngày phán xét.

– Của ai?

– Của người quốc gia chân chính làm lại đất nước và tạo dựng chính quyền.

– Chính quyền đang nằm trong tay người cộng sản đấy.

– Người cộng sản không có quyền hành chính đáng, sao gọi là chính quyền. Nếu Sàigòn là ngụy quyền thì Hà Nội là phỉ quyền.

Lãnh Đạo 3 đập bàn:

– Anh đại phản động!

Chàng bình thản:

– Tôi không đối thoại với ông nữa, ông nói và làm khác nhau.

– Tôi ra lệnh cho anh tiếp tục đối thoại.

– Không ai được quyền ra lệnh cho tôi.

– Anh biết anh là gì, ở đâu chứ?

– Với ông, tôi là tù nhân đang nằm nhà tù. Với tôi, tôi là người quốc gia đang ở trên quê hương tôi. Ông có thể còng tay tôi, xích chân tôi, dí súng vào thái dương tôi, bỏ tôi vào cần xé ràng giây kẽm gai và rồi đầy đọa tôi đến khi tôi chết. Nhưng ông đừng hòng ra lệnh cho tôi, bởi vì ông không đủ khả năng còng khóa ý chí và ước mơ của tôi. Tôi khước từ mạn đàm. Còn ông thích thẩm vấn thì cứ thẩm vấn đi. Tôi sẽ trả lời ông với tư cách tù nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Lãnh Đạo 3 rót trà vô ly của chàng, mỉm cười:

– Anh xứng đáng lắm. Chúng tôi quý mến sự khẳng khái của anh. Ta tiếp tục đối thoại nhé!

Chàng nhấp một ngụm trà sen:

– Nếu ông bình tĩnh. Thực sự, tôi muốn tìm ra chân lý từ phiá ông. Và, tham vọng mạn đàm của tôi là ông sẽ tìm ra chân lý từ phiá tôi.

– Được.

– Tôi tiếp nối câu dang dở: Ngụy quyền thì khỏi đề cập nữa, nó do ngoại nhân tạo ra và nó đã chết. Còn phỉ quyền, tại sao? Vì người cộng sản có nghệ thuật cướp quyền hành. Người cộng sản cướp quyền hành rồi bảo mình nắm chính quyền, mình làm cách mạng để có chính quyền. Quyền bính của người cộng sản là phỉ quyền. Sau 100 năm nô lệ Pháp, đất nước ta chưa có chính quyền. Khi có chính quyền, dân tộc ta sẽ có hạnh phúc, tự do, dân chủ. Phỉ quyền và ngụy quyền, tự cái bản chất ăn cướp và ăn cắp, không thể mang ấm no, hạnh phúc cho dân tộc được.

– Người quốc gia chân chính của anh làm chính quyền?

– Vâng, đúng thế.

– Họ là ai nhỉ?

– Là tuổi trẻ Việt nam sau 30-4-75

– Vậy mà tôi lại tưởng là bọn Hoàng Cơ Minh, Phạm Văn Liễu, Vũ Ngọc Hoàn, Nguyễn Văn Là, Nguyễn Cao Kỳ, Hà Thúc Ký, Lê Phước Sang vân vân…

– Ông tưởng tượng hay là dùng duy vật biện chứng đấy? Tôi nhắc lại: Những người đang làm chính quyền cho đất nước Việt Nam là tuổi trẻ Việt Nam.

– Tuổi trẻ ấy chỉ là anh, một mình anh không tưởng, lãng mạn, điên rồ.

– Ông sợ sự thật, sợ chân lý, sợ tuổi trẻ, sợ chính quyền. Ông nói đi, nói thật lòng ông đi, ông Lãnh Đạo.

– Tôi sợ anh!

– Tại sao ông sợ tôi?

– Vì anh sẽ chết dần chết mòn mà chưa cống hiến được mảy may hạnh phúc nào cho dân tộc anh. Anh cống hiến nhiệt tình và tài năng của anh cho dân tộc, không cho Đảng cộng sản, chúng tôi chỉ yêu cầu anh vậy thôi. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã cống hiến tài năng cho dân tộc đấy. Anh thương dân tộc, muốn chia sẻ nỗi đau khổ với dân tộc, sao lại khước từ cống hiến khả năng của anh?

– Tôi không khước từ.

– nghĩa là anh muốn phục vụ dân tộc?

– Vâng.

– Anh cam kết?

– Vâng, nhưng…

– Gì?

– Nhưng tôi không phục vụ dân tộc với người cộng sản.

– Tại sao?

– Vì kinh nghiệm hợp tác, kinh nghiệm đoàn kết của cha anh tôi dạy, tôi khôn lớn để khỏi bị hủy diệt bởi người cộng sản. Ông nhiều tuổi hơn tôi, hẳn nhiên, ông hiểu nhiều hơn tôi. Và, hẳn nhiên, ông chưa quên vụ tàn sát 2.000 đảng viên Duy Dân trên đồi Nga Mi khi họ chống Pháp với cộng sản, ông chưa quên vụ thủ tiêu lãnh tụ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, ông chưa quên màn quy định thành phần giai cấp 1950 để loại bỏ và chôn sống những người quốc gia đã hợp tác với cộng sản.

– Không hợp tác với cộng sản, anh làm gì có cơ hội phục vụ dân tộc?

– Chúng tôi tạo ra cơ hội.

– Cơ hội Lê Chiêu Thống hay cơ hội Ngô Đình Diệm?

– Ông nên kể thêm cơ hội Hồ Chí Minh. Không không bao giờ là những cơ hội ấy.

– Thế cơ hội nào?

– Cơ hội Tây Sơn. Ông nhìn lại lịch sử đi, ông Lãnh Đạo. Chỉ có cơ hội Tây Sơn mới giải quyết ổn thỏa tình hình đất nước.

– Anh ở tận bên Pháp, đòi tạo cơ hội Tây Sơn có lố bịch không?

– Tôi đã về Việt Nam.

– Và đã vào tù.

– Tôi chỉ là một Nguyễn Nhạc nằm cũi cho Nguyễn Huệ phất cờ.

– Nguyễn Huệ giật mìn phá cầu làm khổ nhân dân.

– Phá cầu, giết người không phải là mục đích của tuổi trẻ thế hệ tôi. Phá cầu, giết công an, bộ đội không giải quyết nổi sự băng rã của chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi chiến đấu bằng tư tưởng. Khi tư tưởng thấm nhuần trong mỗi người dân, kể luôn trong mỗi người bộ đội, cán bộ của cộng sản, đó là lúc hàng hàng lớp lớp tiến quân. Cầu cống, đường sá cần giữ nguyên vẹn để nghĩa quân đễ dàng lưu thông, ông hiểu chưa?

– Này, người tuổi trẻ tên là Trần Văn Bá, bối cảnh lịch sử đã khác xưa, khác nhiều lắm. Đàng trong bị Đàng ngoài thôn tính rồi, Nguyễn Huệ tìm đâu ra?

– Tìm ở trái tim yêu nước nồng nàn và chí tình của con cháu ông, con cháu lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Ông tưởng con cháu lãnh tụ cộng sản Việt Nam không dám phản kháng cha ông họ ư? Võ Điện Biên, Thọ lột đấy, chúng nó làm du đãng để phản kháng cha, ông chúng nó đấy. Ông Võ Nguyên Giáp, ông Nguyễn Lương Bằng đã nghĩ gì? > đã nghĩ gì? Tôi mong ông sống thật lâu, chờ ngày phán xét cộng sản. Không lâu đâu, cái cột đỡ chế độ của cộng sản đã mục rồi. Tuổi trẻ không thể chịu đựng tuổi già muôn năm được. Và đó là cơ hội Tây Sơn, cơ hội cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam.

– Anh về nước để vận động cuộc cách mạng ấy?

– Phải.

– Anh nằm tù rồi, cuộc cách mạng ấy không bao giờ dấy động nổi đâu.

– Có hàng trăm ngàn người hơn tôi và đang làm công việc của tôi.

– Họ cũng nằm tù cả rồi.

– Nói như ông thì cả nước đang nằm tù. 50 triệu dân Việt Nam là tù nhân của chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ, lẵnh đạo chỉ là cai ngục.

Lãnh Đạo 3 tái mặt. Ông ta nén giận dữ để khỏi phải đập bàn. Người cộng sản khôn ngoan lắm. Họ không dại gì dồn con người vào chân tường. Con người, khi bị dồn cùng đường, tất nhiên, phải chống đối. Và chống đối mãnh liệt, chống đối lấy chết. Bởi vậy, từ 30 năm nay, dưới chế độ cộng sản, không còn ai bị chết đói mà chỉ còn bị đói thôi. Vẫn còn thức ăn cầm hơi, muốn chống đối cũng không đủ sức chống đối. Với một người chọn lựa sự đau đớn như Trần Văn Bá, những chuyên viên hành hạ con người đã nghiên cứu kỹ lưỡng, chỉ nên khơi dậy lòng tự phụ để chàng nói mà truy nã tư tưởng của chàng.

Lãnh Đạo 3 vuốt mặt:

– Anh đầy rẫy thành kiến với người cộng sản. Người cộng sản đã làm gì anh. Gia đình anh?

Chàng nói:

– Ông nên hỏi người cộng sản đã làm gì dân tộc tôi và tự ông, ông đã có câu trả lời.

– Anh Bá, anh cần hiểu rằng đập phá thì dễ mà xây dựng thì khó và lâu. 30 năm, với một đời người thì dài, với lịch sử lại ngắn, với sự xây dựng nước lại càng ngắn.

– Dài và ngắn là vấn đề của già và trẻ. Lãnh tụ cộng sản Việt Nam già nua khụ khị rồi. Các ông không thể đè nén dân tộc bằng cái muôn năm của khẩu hiệu suy tôn các ông. Các ông nên chấm dứt cuộc phiêu lưu của các ông đi.

– Anh lộng ngôn quá.

– Tôi nói sự thật.

– Sự thật, ngông cuồng của anh. Người cộng sản cống hiến cơ hội cho anh phục vụ dân tộc, anh khước từ. Đó là ý nguyện của anh. Sự kiên trì của tôi có giới hạn. Anh cứ ngoan cố đi, cứ nằm ép trong xó tù mà mơ mộng cách mạng Tây Sơn, cách mạng của tuổi trẻ.

Lãnh Đạo 3 đứng dậy:

– Dẫu sao, anh vẫn phải làm bản tự khai.

Chàng dập điếu thuốc:

– Tôi sẽ tự khai.

Người công an bảo vệ dẫn chàng về phòng. Chàng cảm thấm mệt mỏi sau cuộc mạn đàm. Bước sát lavabo, chàng mở vòi nước, ghé miệng uống rồi vục tay hứng nước rửa mặt. Có cái gì khiến chàng sót xa, dù chàng đã chọn lựa sự đau đớn. Chàng nhớ thân phụ và những giòng máu còn nguyên dấu tích trên mặt đường quê hương. Người Việt Nam mãi mãi say mê thù hận, mãi mãi chém giết nhau, mãi mãi bỏ tù nhau và đầy đọa nhau. Cả một dân tộc hiền hòa bị bủa lưới chủ nghĩa rồi thoi thóp trong màng lưới khốn kiếp đó. Tham vọng quyền bính! Chàng bỗng ghê tởm quyền bính và những thủ đoạn tranh giành quyền bính. Thẫn thờ bước gần giường, chàng gieo mình xuống, nằm úp mặt và tưởng tượng cuộc tàn sát ghê rợn sẽ xẩy ra.

Hạnh Phúc là có thật

baotreonline.com

Huy Phương

Post on June 18th, 2020

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Ðức Khổng Tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẩy đàn cầm vừa đi vừa hát.

Ðức Khổng Tử hỏi:

“Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ như thế?”

Ông Vinh Khải Kỳ nói:

“Trời sinh muôn vật, loài người quý nhất mà ta được làm người. Trong loài người đàn ông quý hơn đàn bà mà ta được làm đàn ông. Người ta sinh ra có đui què, non yểu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi. Ðó là ba điều đáng vui, có gì mà phải lo buồn”.

Ðó là chuyện xưa bên Tàu. Chuyện nay bên Mỹ thì tôi vừa nhận được một thiệp Giáng Sinh, xin lược ghi lại vài câu hay hay để trình các bạn:

– Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, quần áo mặc trên người, một mái nhà để nương náu và một nơi để nghỉ ngơi, bạn đã giàu có hơn 75% dân số trên quả đất này.

– Nếu bạn có tiền gởi trong ngân hàng, để trong ví và tiền lẻ rải rác đâu đó trong nhà, bạn đã ở trong 8% những người giàu có trên địa cầu này.

– Nếu sáng nay thức dậy, bạn thấy khỏe mạnh hơn là đau ốm, bạn đã có phước hơn cả một triệu người sẽ không sống qua tuần lễ này.

– Nếu bạn chưa bao giờ trải qua cơn dằn vặt của đói khát, nguy hiểm của chiến tranh, lẻ loi vì tù đày hay đau đớn vì bởi tra tấn, bạn là người có phước hơn 500 triệu người trên hành tinh này.

– Nếu bạn có thể đi đến nơi thờ phượng theo tôn giáo của bạn mà không sợ bị sách nhiễu, bắt bớ, nhục hình hay thậm chí bị mất mạng thì bạn đã có phước hơn 3 tỉ người trên thế giới này.

– Nếu song thân của bạn còn sống và còn ở với nhau, trường hợp này rất hiếm hoi ngay tại nước Mỹ này.

– Nếu bạn có thể đọc những dòng chữ này, bạn hạnh phúc hơn hai tỉ người khác mù chữ trên quả đất này.

Và trong kinh Phật, chúng ta cũng đọc được những câu như sau:

– Hạnh phúc thay, ta sống không hận thù giữa đám người thù hận.

– Hạnh phúc thay, ta sống mạnh khỏe giữa những người đau yếu.

– Hạnh phúc thay, ta sống không khao khát (dục lạc) giữa những người khao khát.

Con người ta thường lạc quan hơn là bi quan: hy vọng trúng số độc đắc hơn là nghĩ mình sẽ chết chiều nay (số người chết vì tai nạn, bệnh tật trong ba ngày chờ xổ số ở Cali là hằng nghìn trong khi người trúng số độc đắc chỉ là một, hoặc đôi khi không có người nào). Tuy vậy khi nhìn lại mình, hầu hết đều cho mình là khổ nhiều hơn là hạnh phúc. Chúng ta thường than cuộc đời buồn chán phải uống rượu, hút thuốc hay đánh bạc để giải sầu. Nào chuyện làm ăn khó khăn, nhà cửa bề bộn, chủ sở càu nhàu, gia đình xào xáo, mới bị ticket, con hư, bạn bè không tốt, trời hôm nay lạnh quá, kẹt xe trên xa lộ, bill ngập đầu… Trời ơi, sao bao nhiêu chuyện khổ sở thế này? Tôi là người khổ nhất trên thế giới này… Bạn coi, có ai khổ hơn tôi không?

Thật tình, các bạn, những người hôm nay giở trang báo này ra, tình cờ ghé thăm mục Chuyện Ðời Thường của chúng tôi, dù bạn đang ngồi trong xe, đứng ngoài đường, nơi chỗ làm việc, hay nằm nhà thì bạn là những người hạnh phúc nhất. Hạnh phúc vì những điều chúng tôi mạn phép ghi lại ở trên:

– mạnh khoẻ, mắt còn rõ và đọc được sách báo, có cơm ăn, có xe đi

– không thì cũng có tiền lên xe bus, có một mái nhà hay có thêm một hai người thân để tối nay có thể về nghỉ ngơi

– sum họp, trong ví chắc chắn là có tiền

– không nhiều thì ít, ăn được bát phở còn thấy ngon miệng, không bị ai hăm dọa, mắng nhiếc, đánh đập…

Ôi, quá sung sướng, hạnh phúc được làm người như bạn.

Hiện nay chúng ta không làm ruộng mà có đủ cơm ăn, hơn hẳn những nông dân chân lấm tay bùn ở Việt Nam. Chúng ta không phải là phu mỏ mà có than đốt mùa Ðông, hơn cả triệu phu mỏ nghèo đói bất hạnh ở Trung Quốc. Chúng ta không dệt vải mà có áo quần mặc ấm, hơn cả trăm nghìn công nhân ngành dệt khốn khổ ở Bắc Hàn.

Vậy mà cứ tới mùa Giáng Sinh vẫn có người đi theo Chúa khóc lóc, lải nhải:

“Chúa ơi! Chúa ơi! Người ta lại bỏ con rồi, Chúa ơi!”

Chúa bỗng quay lại nói với người ấy rằng: “Con nhìn thế giới này chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo, tai ương, chết chóc, thù hận…Con có biết con là người hạnh phúc nhất không. Hiện nay trên trái đất này có 800 triệu người bị vợ hay bạn gái đánh đập, mắng nhiếc hay khinh bạc mà không thể dứt ra, riêng con lại được nàng bỏ đi thì còn than vãn nỗi gì? Nỗi khổ của con có đáng thá gì mà phải kể. Thôi về đi, chớ có theo ta mà rên rỉ mãi!”

Hy vọng đến đây, bạn có thể nở một nụ cười. Thêm một điều chứng minh rằng bạn đang hạnh phúc. Rồi ra bạn sẽ thấy được niềm hạnh phúc của mình, và xin nhắc nhở với mọi người là chúng ta đang sống trong hạnh phúc mà chúng ta không hề hay biết. Cũng xin bạn san sẻ hạnh phúc ấy với những người chung quanh bạn.

HP

Orange County, CA

Buổi điểm danh cuối cùng

hung-viet.org

Huy Phương

Post on 7 Jul 2016

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Ngày mới bước chân đến Mỹ, với tuổi mới trên 50, lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia niềm vui của con cháu mình và con cháu bạn bè, tháng nào chúng tôi cũng phải tham dự một hai tiệc cưới. Bây giờ suýt soát tuổi 80, sắp lên chức “cố,” cả năm không còn khăn áo chỉnh tề, lên xe “phó hội” ký tên vào sổ vàng, tươi cười đóng hụi chết, mà áo trắng, cà vạt đen, mặt mày buồn thảm đi viếng tang cũng khá nhiều.

Google photo

(Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Bạn bè, đơn vị cũ, một thời chinh chiến hay là long nhong thời thơ ấu, ông thì nằm trong nhà hưu dưỡng đã hơn năm, ông thì đi gậy chống, walker hay ngồi xe lăn, ông thì đã thành tro bụi chứa trong cái hũ có khắc tên để trên chùa, hay ra nằm ngoài nghĩa địa với bia mộ đề tên!

Bây giờ không còn vào nhà hộ sinh để thăm cháu ra đời, hay chúc mừng hôn lễ của ai nữa, mà toàn đi nhà dưỡng lão, bệnh viện hay tang nghi quán! Có người bạn mới gặp ở quán cà phê, tươi vui, yêu đời, vài hôm sau vừa nghe tin đột quỵ. Sau một vài tuần ở bệnh viện và trung tâm phục hồi trở về, bây giờ không còn nói được, tay chân lẩy bẩy, gặp nhau, ứa nước mắt, mà không khóc, sợ bạn buồn nản chí.

Trong nhà hưu dưỡng, đi thăm một người bạn khác, gặp một người bạn biến chứng tiểu đường, mắt đã mù, nằm ở đây đã bốn năm, còn nhớ tiếng nói của bạn mà mừng, nhưng không còn trông thấy nhau nữa. Rồi có người mang ống dẫn tiểu, có người mang tã, có người sống nhờ thức ăn chuyền thẳng vào bao tử, mà phải sống không chối từ, không thể dễ dàng chọn cái chết dù muốn chết.

Tôi cũng biết có trường hợp, anh nằm đây đã trên 10 năm, sau lần “tai biến.” Anh mở lớn đôi mắt nhìn tôi, anh nhớ tôi hay không, tôi không rõ, đôi mắt đờ đẫn, mệt mỏi, đầy những chịu đựng. Lần nào vào thăm anh, tôi cũng thấy chị ngồi đó, theo anh suốt một cuộc hành trình dài lâu, mà vẫn như đi một mình. Nhan sắc chị đã tàn phai, thân gầy như xác ve, sức tàn, lực kiệt. Chỉ sợ một ngày nào đó, chị ra đi, bỏ anh lại cho ai? Rồi một ngày, nghe tin anh mất, buồn, nhưng mừng cho chị, từ nay được giải thoát.

Nhưng chỉ ít lâu sau thôi, nghe tin chị cũng theo anh. Chút dầu còn lại trong cây đèn nhỏ đã cạn!

Tuần rồi vào bệnh viện thăm một thằng bạn thời niên thiếu, cái thuở bạn bè mùa Hè nào cũng rong chơi, tinh nghịch mà vô tư, có đêm ngủ lại nhà nhau, mà bây giờ nó nằm đó, hôn mê. Cũng một thời hạnh phúc, cũng một thời đau khổ, cũng vật vã trong chiến tranh, cũng tủi nhục trong tù đày, giờ này đâu còn gì vui buồn mang theo nữa. Thôi ra đi bình yên!

Những người lính cũ dự định tổ chức họp khóa, thời còn sung mãn, một năm một lần, bây giờ ba năm chưa muốn gọi nhau. Ngày trước tập họp vài ba trăm có dư, nay là vài ba chục cũng khó kiếm. Trong điện thoại, ở xa, có bạn nói thều thào không ra hơi, có anh điếc ù phải đeo máy, có người kêu than đau chân đi không nổi, thì làm sao mà họp khóa, điểm danh với anh em được. Ở gần thì đau mắt, không lái xe được, cũng có nhớ bạn thương bè, nhưng sức đã tàn, lực đã kiệt, cũng chẳng còn vui thú gì những lúc gặp gỡ anh em. Thôi đành một tiếng “xin lỗi” là xong!

Trước đó, thăm một anh bạn cùng khóa nhà binh, tuy già yếu, đau ốm trên giường bệnh, nhưng thấy còn lạc quan vui tươi: “Thế nào tháng sau, họp khóa, tôi cũng đến! Lâu quá không gặp anh em!” Lời hứa vui vẻ ấy không ngờ không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi “họp khóa” năm ba thằng với anh tại nhà quàn trong ngày tiễn đưa. Rõ ràng là anh có hẹn với chúng tôi là anh sẽ đến, nhưng ở một nơi khác.

Hôm nay họp khóa, chị đã trở thành bà quả phụ, nhận bó hoa từ anh em, nhắc lại như một lời chia buồn. Lần “điểm danh” này, vắng mặt quá nhiều anh em, trong đó có anh. Vắng mặt có lý do – Miễn tố!

Quân số hôm nay đã hao hụt nhiều, phần lớn bất khiển dụng, hoặc được xếp loại 2, nhưng không bao giờ được bổ sung! Chắc các bạn còn nhớ giờ điểm danh cuối cùng, hay là buổi chào cờ cuối cùng trong đơn vị vào cái Tháng Tư nghiệt ngã của đất nước, rồi anh em, mỗi người một nơi. Có anh em may mắn trôi giạt, sống sót đến xứ người, có người thất thân lâm cảnh tù đày. Đã có bao người chết trong trại tù hung hãn, bao nhiêu người chìm sâu xuống đáy biển oan khiên.

Bây giờ quê người lận đận, mà vẫn có đồng đội, rỗi công đi tìm người thất tán, tái cấu trúc, hay tái bố trí, gọi là đồng môn cùng quân trường, là khóa học, là binh chủng, là đơn vị! Họ gặp nhau, già yếu hơn xưa, tóc đã bạc phơ, câu chuyện ngày cũ, nhớ nhớ, quên quên. Họ gặp nhau mà nước mắt lưng tròng. Nhưng những lần tập họp thưa thớt dần, xa dần, mệt mỏi dần trong ngày tháng phai tàn.

Không phải là một lời nói bi quan, đây có thể là lần điểm danh cuối cùng. Ở tuổi ngoài bảy mươi, cuộc đời còn lại chỉ có thể tính bằng giờ. Nhiều đồng đội đã bỏ anh em đi xa, nhiều người đã không đến. Con số người mất cũng lớn bằng người còn. Răng, tóc, trí nhớ cùng với bạn bè đã bỏ chúng ta ra đi biền biệt.

Tướng MacArthur đã để lại một câu nói để đời: “Old soldiers never die; they just fade away” (Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi).

Tôi thích và yêu kính những người lính chết trận. Tôi không thích những người lính sống cũng như chết, sống như cái bóng ma. Phải có sự khác biệt của một người lính hy sinh trên chiến địa ngày xưa và một người lính cũ chết trong nhà dưỡng lão. Không thể coi họ như nhau.

Sống mà phai nhạt dần, cho đến một ngày nào đó, không ai còn nhớ đến mình nữa, thì cuộc đời này buồn biết mấy! Mà thôi, chuyện gì rồi cũng qua, cái gì rồi cũng đến!

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

2. Phần 2

Ra Đi

Vượt Thoát Khỏi Việt Nam Thống Nhất Dưới Ách Chuyên Chế

Tập Trung Kết Hợp Lý Thuyết Chuyên Chı́nh Vô Sản.

Phạm Hoàng Tùng

(Bắt đầu viết hôm thứ ba 24/10/2000.)

Google photo edit by Sơn râu

Sau khi giúp gia đình thu dọn đồ đạc trên rẫy về nhà ở Sài Gòn xong, tôi xin phép song thân ra đi tìm cuộc sống tự lập, trong ý nghĩ, khi đi xa, nếu may mắn, tôi có thể tạo cơ hội mới, đưa gia đình thoát được cảnh sống quá chật vật không ngày mai như lúc bấy giờ. Song thân vẫn còn hằn sâu trong lòng vết đau mất người con thứ năm nên không muốn tôi đi xa, song hoàn cảnh túng thiếu buổi ấy khiến gia đình khó bó buộc tôi cứ quanh quẩn mãi ở đất Sài Gòn.

Trong chuyến đi xa lần này, đầu tiên tôi về Long Xuyên tìm người bạn học cũ. Trước đây chúng tôi cùng học tại trường Trung học Văn Hóa Quân Đội nằm ở đường Thống Nhất – Sài Gòn. Hai đứa là đôi bạn rất thân trong lớp vì mang chí hướng giống nhau, chúng tôi nuôi ước mơ sau khi đậu tú tài hai xong sẽ thi vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Những năm tháng quá khứ ấy, tôi hằng ấp ủ trong lòng như một giấc mộng đẹp: Một ngày nào đó không xa, tôi sẽ mang trên người bộ quân phục – đẹp và hùng – của sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Đà Lạt. Niềm mong muốn tha thiết chọn binh nghiệp phục vụ cho quê hương chắc hẳn bắt nguồn từ cuộc chiến tranh dữ dội lúc đó. Cuộc chiến khốc liệt trên đất nước Việt thân yêu thời ấy đã đóng một dấu ấn đậm trong lòng mỗi người dân Việt lúc bấy giờ và còn kéo dài đến mãi sau này.

Trưởng thành từ một vùng đất ít bị khói lửa nhất của miền Nam trước 30/4/1975, tuy nhiên, thế hệ chúng tôi cũng không khác gì mấy các thế hệ cha anh trước đấy không bao lâu: Sinh ra, lớn lên trong một quê hương có chiến tranh triền miên! Nhìn lại thực trạng đau lòng của cảnh nồi da xáo thịt, có người đặt câu hỏi, hay giả định một giải pháp để chấm dứt cảnh tương tàn ấy: Nếu lúc đó, lãnh đạo hai miền Nam – Bắc biết ngồi lại nói chuyện hòa bình với nhau, hoặc cùng tìm tới một đường lối có lợi cho dân tộc Việt, thì có thể là dân tộc Việt sẽ tránh được họa binh đao kéo dài hai mươi năm cùng với những đổ vỡ vật chất, tinh thần cho đất nước và người dân không?

Đây là những ý nguyện chính đáng của những con dân Việt hằng ưu tư đến sự Tồn Vong – Hưng Thịnh của quốc gia dân tộc. Song nguyện vọng chân chính chỉ có chỗ đứng – chỉ có giá trị – hay được thỏa mãn, một khi tầng lớp lãnh đạo có sự đồng cảm với nhân dân, không ra ngoài truyền thống, văn hóa, lịch sử dân tộc! Nói cho cạn nghĩa, giới lãnh đạo đất nước phải luôn tỉnh táo, nhìn xa trông rộng, biết đặt quyền lợi cá nhân, gia đình, phe nhóm mình, “đảng ta” nằm dưới quyền lợi thiêng liêng của tổ quốc, và nhất là những kẻ tự nhận là lãnh đạo hay được chọn làm lãnh đạo phải có liêm sỉ của kẻ cầm quyền. Thế nhưng những cái căn bản, thiết yếu này thường bị bỏ quên hoặc có làm, chỉ làm cho đạt hình thức mà thiếu hẳn thực chất.

Hãy tìm về, thật khái lược, nguyên ủy cuộc chiến tại Việt Nam. Từ năm 1858, khi ngoại nhân Pháp đem 14 tàu chiến cùng 3.000 lính đến bắn phá thành lũy Đà Nẵng hòng thiết lập nền cai trị lên đất Việt, và sau đó, khi ách thống trị của ngoại nhân đã hiện diện, kéo dài cho tới thời điểm 1930, rõ ràng thực dân Pháp đã ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc trước khí thế đấu tranh bừng bừng của con dân Việt để giành lại Độc Lập – Tự Chủ cho quê hương Việt Nam. Trong suốt 72 năm quật khởi kiên cường đó, chính các quan lại sĩ phu thời nhà Nguyễn hay tầng lớp trí thức trẻ theo Tây học nhưng nặng lòng ái quốc đã liên tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh bằng võ lực có, bằng phương tiện hòa bình có, nhằm buộc thực dân Pháp phải trao trả chủ quyền quốc gia lại cho người Việt.

72 năm kháng Pháp, khi tính từ thời điểm 1858 tới 1930, chính dân tộc Việt đã tự đứng lên phản kháng mà không có thế lực quốc tế nào đứng sau giật dây hay yểm trợ, lúc đấy, rõ ràng là chưa có phong trào cộng sản ở nước ta. Khi chủ nghĩa Marx xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 19, tiếp đấy là sự ra đời của phong trào cộng sản quốc tế mà giai đoạn “cường triều” xảy ra vào năm 1917 khi những người cộng sản Nga cướp được chính quyền. Và sau đấy là thời kỳ mở rộng ảnh hưởng của khối cộng trên nhiều miền đất của thế giới sau đệ nhị thế chiến. Như một cơn bệnh dịch xông mùi tử khí, lây lan nhanh chóng, vào đầu những năm 1930, người ta đã thấy phong trào chính trị quốc tế này, có bản chất không chấp nhận sự tồn tại của cá thể quốc gia, cá thể công dân, đã mon men đi vào xã hội Việt Nam. Từ đấy cho đến các mốc lịch sử đáng ghi nhớ: 1945, Việt Nam giành được độc lập từ tay Pháp. 1954, Hiệp định ngừng chiến chia đôi hai miền Nam – Bắc, đã có bàn tay cộng sản nhúng vào thao túng chính trường Việt Nam dưới sự điều phối của các đàn anh cộng sản.

Chiến lược “Cách mạng trường kỳ”, những khẩu hiệu đanh thép mang hơi ẩm của máu, “Vô sản khắp thế giới đoàn kết lại”, “Quốc tế đại đồng”, “Đấu tranh giai cấp” v.v… đã tự nó nói lên, tự nó khẳng định: phải tiến công bằng bạo lực thường xuyên. Phải bành trướng ảnh hưởng của các đảng cộng sản vô hạn độ… nói cho rõ nghĩa là phải nhuộm đỏ cả hành tinh này mới thôi!

Đây là bản chất của chủ nghĩa cộng sản. Các trận tấn công Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa v.v… chắc hẳn đã minh họa được phần nào đặc tính đó. Không có khoan nhượng. Không có sự tạm ngưng. Không có tồn tại cá nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp. Không có bản sắc dân tộc, quốc gia trong chủ thuyết cộng sản. Và nếu xảy ra, nên nhớ từ những kinh nghiệm lịch sử đau thương: đó chỉ là bề ngoài giả tạo, thủ đoạn. Một bước tạm lui trước khi tiếp tục lao tới (phiêu lưu?) trên con đường xã hội chủ nghĩa không tưởng mà thôi!

Nếu kêu gọi lãnh đạo hai miền ngồi lại với nhau để giải quyết vấn đề dân tộc vào thời điểm trước 1975, thì có thể tựa ví chúng ta, những người miền Nam, chế độ miền Nam, giống như một chú dê hiền lành, chậm chạm, chân phác, đứng thụ động trước lũ sói rừng cuồng say máu thịt, lòng dạ nham hiểm vô lường!

Như vậy lời kêu gọi: “Lãnh đạo hai miền Nam – Bắc biết ngồi lại nói chuyện hòa bình với nhau. Hoặc là lãnh đạo hai miền cùng tìm tới một đường lối có lợi cho dân tộc Việt, thì có thể là dân tộc Việt sẽ tránh được họa binh đao kéo dài hai mươi năm cùng với những đổ vỡ vật chất, tinh thần cho đất nước và người dân?” Có phải là hành động nhẹ dạ cả tin? Lãng quên với thực tại cay đắng của đất nước thời ấy? Chi bằng chúng ta mỗi người góp một bàn tay, khối óc, xây dựng cho miền Nam, để đứng vững chứ không ngã quị trước cuộc chiến tranh thôn tính cho bằng được của miền Bắc cộng sản. Để rồi sau đấy xây dựng miền Nam hùng mạnh, Tự Do. Một khi miền Bắc đã không xóa sổ chính quyền miền Nam bằng võ lực được, có thể họ phải ngồi xuống nghe lời kêu gọi hòa bình, thống nhất từ miền Nam, hầu sớm chấm dứt cảnh tương tranh “Trịnh – Nguyễn”, anh em một nhà, đồng bào ruột thịt hai miền Nam – Bắc chung sức chung lòng kiến tạo quê hương Việt Nam phú cường, nhân ái, mà không cần tới một chủ thuyết ngoại lai nào dẫn lối soi đường!

Nếu giới lãnh đạo miền Bắc cực ngoan cố thì dù có muốn làm khác đi nữa cũng chẳng được, khi cục diện chính trị thế giới đã thay đổi: Chiến tranh lạnh kết thúc. Khối cộng sản Liên sô, Đông Âu bị sụp đổ thảm hại, lý thuyết vô thần đã tiêu vong!

Trong bàn cờ chính trị thế giới, nước nhược tiểu khó mà định cho quốc gia con đường độc lập tuyệt đối. Dẫu sao, gương hai nước Nam Hàn, Đài Loan khiến chúng ta suy nghĩ nhiều về sự liên kết với cường quốc, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ quyền quốc gia, và nhất là vẫn tồn tại trước những hung hăng đe dọa hay tràn quân xâm lấn của chế độc cộng sản ở ngay sát cạnh, để rồi vươn lên kiêu hãnh trong thịnh vượng – tự do.

Đấy chỉ là kết quả dựkiến suy từ giả định không bao giờ thành hiện hiện thực từ quá khứ phôi pha của miền Nam ngày xưa, trước thời điểm 1975! Vận nước chúng ta u uất, để rồi đến những năm 1980… những chàng trai Việt yêu quê hương dân tộc lại hành trang lên đường vì nước Việt ngày mai! Đây có phải là thân phận người Việt hay không? khi bóng đêm – do độc tài toàn trị – vẫn tràn ngập khắp cõi quê hương! … Nếu người ta coi mối tình đầu là sự trong trắng, tinh khiết quý vô cùng trong đời người, thì đối với tôi, vào lứa tuổi 17, 18, mối tình đầu được nâng niu ngày đêm là các hình ảnh quyến rũ, rạo rực lạ thường, từ hình ảnh chàng sinh viên sĩ quan Võ Bị mà tôi đọc, ngắm được qua một nguyệt san Đa Hiệu của trường Võ Bị. Tôi có nguyệt san này do người bạn tên Nguyễn Ngọc Trường nhà ở quận 3, Sài Gòn tặng cho, vì Trường có người anh học tại Trường Võ Bị vào năm 1972, tôi không còn nhớ đó là khóa thứ mấy nữa.

Trước năm 1975 và mãi về sau, khi đang ngồi đánh từng dòng chữ này trên cái máy “Twinhead”, tôi vẫn chưa được dịp đến Đà Lạt mong manh sương mù, đẹp thơ mộng với rừng thông reo lao xao trong con gió nhè nhẹ giữa đồi núi cao nguyên hoành tráng rất thu hút – qua phim ảnh – và vào thăm ngôi trường trong mộng này. Thế nhưng, những năm học lớp 11, 12, hàng đêm sau giờ học bài, tôi một mình ngồi ở lại bàn, lật từng trang sách trong nguyệt san Đa Hiệu đọc say mê hơn cả đọc thư tình! Nói như thế cho dễ hình dung niềm đam mê lý tưởng trong tâm hồn tôi ở tuổi 18. Chứ thật ra lúc đó, tôi chưa có người yêu để viết hay có thư tình đọc. Sau này khi biết yêu, một thôn nữ, chúng tôi cũng không có trao đổi thư tình với nhau… Và từng địa danh không bao giờ đi tới nhưng tôi lại biết rất rõ: quán cà phê Tùng, nơi các chàng trai Võ Bị thường tới lui vào ngày cuối tuần,v.v…chính vì nỗi đam mê say đắm ấy! Có một đêm, thời gian khoảng giữa năm 1973, lúc ấy đã gần 11 giờ rồi, như thường lệ vào mỗi tối, khi học bài xong, tôi ngồi trầm ngâm suy tưởng theo từng dòng chữ, từng hình ảnh trong nguyệt san Đa Hiệu. Như một trùng hợp đầy thích thú, căn nhà bên cạnh vẫn còn thức xem truyền hình. Những lời đối thoại trong cuốn phim họ đang coi, rất nhỏ nhưng rõ ràng vào tai tôi: Tiếng nhân vật Phạm Thái, một sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt (do ca sĩ Nhật Trường thủ vai) nói với người yêu Nguyễn Thị Mộng Thường (do ca sĩ Thanh Lan thủ vai). Chỉ nghe từng ấy âm thanh, tôi bật đứng dậy (vì có nghe nói về cuốn phim trước mấy ngày), chạy tới mở máy truyền hình để xem phim cho bằng được, nhưng phải vặn âm thanh nhỏ lại vì gia đình đang ngủ. Cuốn phim cho trình chiếu sau vài tháng (nếu trí nhớ không quay lưng lại với người viết) khi Hiệp định Hòa Bình Paris về Việt Nam đã được ký kết (27/1/1973). Nội dung xoay quanh cuộc tình dang dở nhiều đớn đau giữa Phạm Thái, một sĩ quan tác chiến, mang trên mình màu áo của binh chủng Biệt Động Quân, xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt, với người yêu tên Nguyễn Thị Mộng Thường, một chiêu tiếp viên Hàng Không Việt Nam. Người yêu của Phạm Thái bị chết trên chuyến xe lam khi đang trên đường tới thăm anh, do mìn của cộng quân gài dấu dưới mặt con lộ, một hành động rõ rệt phá hoại Hiệp Định Hòa Bình Paris, mặc dù chính họ vừa đặt bút ký!

Hình ảnh sau cùng có liên hệ tới ngôi trường trong mộng mà tôi chứng kiến được là lúc quân khu 2 đã mất. Tháng 3/1975, trường nhận lịnh di tản, số sinh viên sĩ quan đang thụ huấn được đưa về trú tạm tại sân vận động Hoa Lư nằm trên đường Hồng thập Tự, đối diện Đài Truyền Hình VN, cách nhà tôi không xa. Những ngày ấy, tôi hay đạp xe đi ngang sân Hoa Lư để cố nhìn vào bên trong, lúc ấy, thấy các thần tượng của tôi, kẻ đứng, người ngồi cạnh những túp lều dựng tạm trên bãi cỏ quen thuộc cùng các thân nhân của họ đang lui tới thăm viếng, trong những tháng ngày chót cùng của chế độViệt Nam Cộng Hòa.

Thế là dứt! Hình ảnh sau chót là hình ảnh nhức xót cả đời tôi! Mối tình đầu nồng hương trinh nguyên – hoài bão hiến dâng cao thượng cho quê hương thời lửa binh – của tuổi đôi mươi trong tôi đã bị vùi dập, chôn sâu bởi cơn giông tố “cách mạng” quái đản, làm rúng động lòng tôi! … Sau khi ông cụ thân sinh của anh bạn đi học tập cải tạo, mẹ anh đưa cả nhà về quê nội ở Long Xuyên sinh sống. Nói là ở Long Xuyên chứ thực ra, gia đình bạn tôi phải vào tận kinh Ông Cò, một vùng đất ở xa chợ Long Xuyên vài mươi cây số để làm ruộng, kiếm sống qua ngày.

Tôi về Long Xuyên với ý định đi cùng người bạn qua đất Cam Bốt, rồi tìm đường vượt biên tới đất Thái Lan với mong muốn kiếm một lối thoát khỏi xã hội đã chẳng rộng lòng dung chứa mình Trong khoảng thời gian này -1981- đã xảy ra nhiều biến chuyển chính trị trên đất nước Cam Bốt. Chế độ Kampuchia dân chủ tức Khmer đỏ bị người đồng chí cũ là Hà Nội, đánh bật khỏi thủ đô Nam Vang (PhnomPenh). Và bộ đội Hà nội có mặt đầy khắp xứ sở này trong 10 năm tiếp theo đấy. Những năm đó số lượng người Việt tìm đường sang sinh sống làm ăn nơi đây khá tấp nập. Sự kiện này cũng mở ra cơ hội cho những người dân khao khát tự do, có thể sử dụng đất Cam Bốt làm địa điểm trung gian trên cuộc hành trình đi tới đất Thái xin tị nạn chính trị!

Gần Tết 1981 bước sang 1982, lúc tôi đến nhà người bạn học cũ nằm trên bờ kinh Ông Cò thì cũng là lúc ông thân sinh của anh bạn vừa từ trại tù Hàm Tân về sum họp với gia đình sau gần 6 năm “học tập cải tạo”. Gia đình người bạn có bà con thân nhân sống lâu đời ở tỉnh Long Xuyên nhưng lại chưa từng đi qua đất Cam Bốt, và tôi cũng vậy. May mắn là tại Long Xuyên có nhiều người Khmer – Krom cũng như số đồng bào Việt thường đi lại buôn bán ở gần biên giới Kampuchea, đây là đầu mối để chúng tôi lần ra cách đi qua nước láng giềng tuy gần nhưng chưa bao giờ quen này!

Thân mẫu bạn tôi là một phụ nữ đảm đang trong ngoài, lúc ấy bà đang dự tính đưa đứa con trai thứ ba trong nhà đi ra nước ngoài, anh này chính là bạn học tôi. Hành nghề bà mụ, bà ấy đã đỡ đẻ cho con gái ông Trưởng Ấp ở Thường Phước gần bến đò Tân Châu sát biên giới Cam Bốt-Việt.Thêm một may mắn nữa, anh con rể viên Trưởng Ấp là người Khmer gốc Việt, anh này tên Tư Trung. Từng đi bộ đội trong hàng ngũ Khmer Đỏ nhiều năm, nhưng khi đã có vợ con, Tư Trung chỉ muốn quay về gia đình hưởng thú êm ấm, rất ít màng tới đoạn đường binh nghiệp đã trải qua. Quan trọng nhất là anh Tư Trung thường đi buôn bán qua lại trên tuyến đường PhnomPenh – Tân Châu. Vì mang ơn bà mụ giúp đỡ con gái mình trong lúc sinh nở được mẹ tròn con vuông, nên ông Chín, trưởng ấp ở chợ Thường Phước sẵn lòng giúp đỡ khi thân mẫu bạn tôi ngỏ lời.

Thế là có chút ít liên lạc, một cơ hội hé ra cho dự tính đi qua xứ Cam Bốt của chúng tôi. Song cũng có những trở ngại. Thứ nhất, anh Tư Trung còn ở trên Nam Vang, chưa về lại nhà ông già vợ. Thứ hai, phải tìm lời nói với anh Tư, sao để anh ấy đồng ý cho chúng tôi đi theo trong chuyến buôn sắp tới. Bởi vì tôi và anh bạn không có giấy tờ tùy thân và các rắc rối khác có thể xảy ra trên đường đi mà khi dẫn chúng tôi theo, anh phải đứng ra giải quyết. Tất nhiên tiền bạc đi đường là phía chúng tôi chịu, nói đúng ra là gia đình người bạn có lòng tốt chi ra gần hết khoản này, vì tôi có rất ít tiền.

Nói đến chuyện giấy tờ cá nhân của tôi là cả vấn đề. Tôi đã rời gia đình đi làm ăn kiếm sống ở địa phương khác sau tháng 5/1975, trong lúc gia đình tôi ở Sài Gòn được thông báo của phường phải làm “hộ khẩu” gia đình. Thời đó theo lịnh công an, ai có mặt ở nhà mới khai tên trong sổ hộ khẩu. Thời gian sau, khi về lại nhà tôi như tên vô gia cư đối với các công an khu vực (có lần ghé qua nhà ngủ một đêm tôi đã phải leo lên nóc cầu tiêu ở đàng sau trốn tránh lúc nửa đêm khi công an khu vực “đánh hơi” có kẻ lạ mặt đến trú. Lần đó, nếu em trai tôi, Tân, không thính tai, chắc là tôi bị bắt giải lên phường rồi). Nói sợ có người không tin, cho tới lúc viết cuốn hồi ký này, tức sau 25 năm sau ngày miền Nam bị mất, tôi vẫn sống cảnh bất hợp pháp ở xứ người. Trong mình không có giấy tờ hợp lệ đối với nhà nước sở tại!

Trong thời gian ở kinh Ông Cò chờ tin anh Tư Trung, chúng tôi có thử đi về ấp Thường Phước nhằm dò đường thêm. Thứ nữa quan sát tận mắt cuộc sống của dân cư dọc theo biên giới, vì tính hiếu kỳ sẵn có nơi tôi. Lúc đó, để đi qua biên giới Việt – xứ chùa tháp, tại tỉnh Châu Đốc có hai nơi xuất phát chính: bến đò Tân Châu và ấp Thường Phước (còn gọi là cù lao Thường Phước vì ấp chợ này nằm trên một cù lao nhỏ giữa dòng sông Mekong từ Cam Bốt đổ qua Việt Nam).

Cũng như Long Xuyên, đây là lần đầu tiên tôi đến Châu Đốc, phố chợ êm đềm, mộc mạc mang nét phảng phất giống như các tỉnh lỵ khác của miền Tây. Đồng bằng sông Cửu Long rất ít đồi núi. Ngồi trên xe đò chạy trên đường. Khách sẽ thêm phấn chấn, lòng bồi hồi như về lại miền đất quen thuộc nhiều trìu mến khi ngắm các cánh đồng lúa. Thỉnh thoảng xen kẽ những đám dừa xanh cao, những mái ngói đỏ hay nâu nhạt, những vườn cây ăn trái xanh um mát mắt, nối đuôi, đan nhau, hòa quyện thành bức tranh thiên nhiên trù phú, mênh mông của quê hương Việt!

Từ Sài Gòn đi về các tỉnh miền Tây Nam Phần đầu tiên phải qua phà Mỹ Thuận mà đồng bào mình ở Vùng Bốn (Vùng Bốn chiến thuật tức Quân Khu 4 cũ, tính từ Long An kéo dài xuống tới tỉnh Cà Mau) thường gọi là “Bắc” Mỹ Thuận. Chữ “Bắc” này có lẽ nói quen từ chữ “bâtiment” hay chữ “Paquebot” có nghĩa là chiếc tàu buôn chăng, vì đồng bào từ Sài Gòn trở xuống miệt đồng bằng sông Cửu Long (thế hệ chịu ảnh hưởng Tây học) thường có thói quen nói pha vài chữ hay vài câu tiếng Pháp trong lúc sử dụng tiếng Việt. Và trước khi vào đến địa phận tỉnh Long Xuyên, xe đò phải ngừng lại để hành khách xuống xe qua thêm một bến Bắc nữa, Bắc Vàm Cống.

Tôi ghé qua Châu Đốc vài lần nhưng chỉ tới tỉnh lỵ chứ chưa có dịp đi xuống các xã quận khác. Riêng ở Long Xuyên, trong thời gian chờ ngày về Thường Phước, thỉnh thoảng tôi ra chợ thị xã, ghé thăm ông nội của người bạn, một vị giáo chức lão thành đáng kính ở thị xã Long Xuyên (Long Xuyên cũng là quê hương của học giảLộc-Đı̀nh Nguyễn Hiến Lê) Chợ Long Xuyên lớn hơn Gò Công quê tôi nhiều, đường phố nơi đây rộng rãi, đến Long Xuyên buổi ấy trong tâm trạng chờ ngày ra đi, khiến lòng tôi nao nao buồn. Quê hương mình đẹp xinh thế đó, tình người lưu luyến thế đó, sao mình không ở được? Vì sao tôi phải bỏ ra đi?

Tính thân mẫu bạn tôi rất cẩn trọng, bà cụ vốn quê ở Hội An – tỉnh Quảng Nam, hai ông bà gặp nhau khi ông thân sinh anh bạn đi công tác ngoài miền Trung vào đầu những năm 1950. Trước khi đưa con mình về ấp Thường Phước để cùng anh Tư Trung đi qua Nam Vang, song thân người bạn bàn nhau nên đi qua Cần Thơ gặp ông Ngô Hữu Phước, một cựu Trung tá VNCH ở quân đoàn 4. Trước đây, khi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng còn là Tư Lịnh Vùng Bốn, thì ông Ngô Hữu Phước đảm nhiệm chức vụ Cục Phó Cục Miên Vụ của Quân Đoàn. Sau Trung tá Phước bị thương ở chân trong một cuộc hành quân và giải ngũ trước 1975. Ông thân sinh bạn tôi đi qua Cần Thơ tìm lại người bạn cũ để mong ông Phước giúp đi với chúng tôi lên Nam Vang một lần. Chuyến đi xa này nếu có ông theo giúp đỡ thì rất có lợi, vì ông Phước ngày xưa sinh đẻ và sống bên Cam Bốt. Đến tuổi trưởng thành, ông qua Sài Gòn học thêm và ở lại Việt Nam phục vụ cho các chế độ trong Nam. Nguyên quán ông ở tỉnh Pursat, nói tiếng Khmer rành rẻ và am tường phong tục, văn hóa, lịch sử Cam Bốt.

Phần vị cựu Trung tá, sau ngày miền Nam mất, ông sống tại Cần Thơ với nghề bán vé số ở góc phố nhỏ! Khi gặp lại người bạn cũ, hai vị cựu sĩ quan bồi hồi hàn huyên những tháng ngày đã phôi pha! Ông Phước nhận lời đi lên Nam Vang với chúng tôi. Thứ nhất vì nể lời bạn cũ, thứ hai nhân dịp đó, ông tìm về cảnh xưa nơi mấy mươi năm trước ông đã cất bước ra đi lập thân với đời! Đây quả là lòng tốt ông dành cho gia đình bạn tôi, bởi vì lúc ấy, đi đâu ông Phước cũng vẫn cầm cây gậy làm điểm tựa thêm cho cặp chân không còn mạnh.

Theo kế hoạch trong gia đình anh bạn tôi bàn tính, sau Tết 1981 bước qua 1982 chừng mấy ngày, tôi, bạn tôi cùng người anh thứ hai của bạn sẽ đi về Thường Phước trước và ngụ tại nhà ông Chín trưởng ấp mấy hôm. Nhân đó, nói chuyện làm quen với anh Tư Trung. Sau đó anh của bạn tôi sẽ trở lại kinh Ông Cò đưa tiếp bà thân mẫu và ông Phước xuống Thường Phước. Tổ chức đi như vậy để tránh sự theo dõi tai mắt Việt Cộng ở cả hai nơi. May mắn chuyến đi về ấp Thường Phước đều không có gì trở ngại và qua mấy ngày tiếp xúc làm quen với anh Tư Trung cũng tốt. Tư Trung tính tình điềm đạm, thật thà. Anh còn trẻ chừng 28 tuổi, lúc ấy tôi chỉ mới 24, anh Tư có nét từng trải của những người đã sống trong tập thể quân đội nhưng vẫn còn giữ bản tính hiền lành, cần cù của người lớn lên ở nông thôn.

Hôm ông Phước về đến cù lao Thường Phước, tôi mới có dịp được gặp mặt ông, vì trước đó chỉ nghe qua lời giới thiệu từ gia đình bạn. Vầng trán rộng, dáng ông tầm thước, đi đứng chậm rãi, ăn nói hoạt bát, kiến thức rộng, khi nói chuyện ông sẵn lòng chỉ dẫn chúng tôi về kinh nghiệm bản thân ông từng đụng phải.

Vẫn theo dự tính của gia đình anh bạn, về phía chúng tôi có bốn người đi: thân mẫu anh bạn, ông Phước, bạn tôi và tôi. Phía dẫn đường, có anh Tư Trung. Chuyến đi sẽ thực hiện như sau: đầu tiên đi đò từ cù lao Thường Phước tới Nek Luong (người Việt thường gọi là Hố Lương). Tới Hố Lương xong, đón xe đò đi đến cầu Sài Gòn (cầu sầm pa ằm pư) ở ngoại ô thành phố Nam Vang, sau đó sẽ đi xe lôi vào trong thủ đô. Khi đến Nam Vang xong, thân mẫu người bạn và ông Phước lưu lại mấy ngày rồi quay trở về Việt Nam, còn hai chúng tôi sẽ mướn nhà tạm trú, tìm cách sinh sống và lần ra bước đi tiếp sang đất Thái!

Ghi chú: Nước Cambodia còn được gọi làCam Bốt hay Kampuchea. Có người còn gọi là xứ Chùa Tháp, vı̀ đất nước này có nhiều chùa chiền. Nhiều người Việt có thói quen gọi người Kampuchea là người Khmer hay người Miên (tuy nhiên người Kampuchea không thı́ch người Việt gọi họlà Miên, vı̀cho rằng đây là một từ coi khinh họ). Có nhiều từ để gọi nhưng tất cả chı̉ làmột để nói về nước láng giềng rất gần của Việt Nam.

Viết xong chương 2, thứ ba ngày 7/11/2000.

PhnomPenh – Cam Bốt.

(có bổ sung vài chi tiết trong thời gian sau này).

Hành Trình Người Đi Cứu Nước & Hồi Ký Kháng Chiến & Chiến Khu Hoàng Cơ Minh

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Tỵ Nạn Vượt Biển Bằng Bè!?

Người ta sống không nổi với cộng sản nên phải ra đi bằng mọi giá!

Trong số hàng nhiều ngàn con thuyền mong manh dùng đi vượt biển, đôi khi cũng có cả tàu sắt, nhưng chắc là không thể ngờ có cả bè.

Chiếc bè được làm tại bến Thanh Đa, Sài Gòn vào cuối năm 1975, bằng 18 thùng phuy xăng loại 200 lít, chia ra làm 2 hàng hàn nối với nhau, phía đầu cắt nhọn để rẽ sóng,

bên trên làm giàn và nhà tạm trú.

Bè chở 14 người (trong số đó có một em bé sơ sinh mới 6 tháng) theo sông Sài Gòn ra biển Vũng Tàu, sau 3, 4 ngay lênh đênh, may mắn được một tàu Nhật vớt đưa tới Nhật.

Và chúng ta may mắn có được tấm hình quý giá này, chụp cảnh những người trên bè đang vẫy cờ SOS.

Năm 1954, đã từng có người dùng bè vượt tuyến từ Bắc vào Nam.

Hơn 10 người trên bè sau đó đã đi định cư ở Mỹ, phần lớn là San Jose, Cali.

PHẦN I

CỤT LỐI – TÌM ĐƯỜNG

CHƯƠNG 1

TÌNH NHÀ – MIỀN NAM SỤP ĐỖ BI HÙNG

Một Sự Sụp Đổ Rất Cần Thiết Để Khai Tử Chế Độ Miền Nam

Bị Khuynh Loát Bởi Thành Phần Lãnh Đạo Không Trong Sạch, Không Xứng Đáng.

Và Để Lịch Sử Soi Rọi Chân Tướng Độc Tài Bạo Trị Của Chế Độ Đảng Quyền Hà Nội.

1- Xóm Nhỏ

Căn nhà nhỏ của gia đình tôi nằm ở số 4 bis/ E đường Nguyễn Trung Ngạn, quận Nhất, Sài gòn. Ba má tôi đã mua được căn nhà này do nhà nước bán rẻ vào năm 1955, khi hai ông bà đều phục vụ trong ngành quân nhân, công chức cho chế độ miền Nam. Tôi nghe kể lại, căn nhà này nằm trong dãy nhà thuộc một bệnh viện của quân đội Nhật lúc chiếm đóng Sài Gòn, sau đó sửa sang lại chút đỉnh để trở thành khu cư xá nhỏ.

Dãy phố xây theo kiểu đơn giản, các tường chung quanh đều bằng gạch, trên lợp ngói đỏ, nền nhà còn giữ được mặt nền của con lộ trong thành phố, chắc trước đây dãy phố được xây trên mặt con đường nối liền giữa đường đại tá Palanca và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hồi thời Pháp thuộc có nhiều đường hay đại lộ trong thành phố Sài gòn được đặt theo tên người Pháp hoặc Tây Ban Nha có công với quân đội thực dân Pháp.

Đường Palanca sau đổi tên thành Nguyễn Trung Ngạn, một danh thần đời Trần, ông nổi tiếng với bài thơ “Khóc Nam Chinh”, tả lại nỗi sợ hãi của người lính viễn chinh của ĐếQuốc Mông Cổ mỗi khi nhắc tới chuyện phải đi chinh phạt Nam Quốc bé nhỏ, tức Việt Nam ngày nay.

Dãy phố nơi tôi ở có gần hai chục gia đình quân nhân công chức, trở thành khu xóm yên tịnh nằm lọt thỏm trong khu vực có có nhiều dinh thự quan trọng nhất của thủ đô Sài Gòn hồi thời kỳ đó. Vì xóm nhà được cất trên mặt lộ chỉ có một lối đi vô, nên tất cả những căn nhà trong xóm đều hướng cửa chính ra con đường hẹp chạy từ đầu tới cuối xóm. Phía trước và sau dãy nhà có hai hàng cây dầu cao vút, tôi không biết được trồng vào lúc nào, nhưng cây nào cây nấy bự khoảng chừng hai ba người ôm không hết. Nghe ba má tôi kể lại, dầu được trồng từ thời thực dân Pháp chiếm đóng Sài Gòn nên tuổi dầu cũng gần trăm năm.

Gần đấy có đại lộ Cường Để chạy ngang hợp thành ngã tư Cường Để – Nguyễn Trung Ngạn, nằm ở lối vào khu xóm tôi, cũng đầy cây dầu hai bên, tạo cho đại lộ Cường Đểđầy bóng mát quanh năm. (Kỳ Ngoại Hầu Cường Để tên thật là Nguyễn Phúc Đan thuộc dòng nhà Nguyễn, chắt Vua Gia Long, cụ Cường Để đã bôn ba qua Nhật tìm đường cứu nước vào những năm 1906 trong thời kỳ Đông Du do nhà cách mạng ái quốc Phan Bội Châu chủ trương, Cụ Cường Để bị bệnh chết ở Nhật vào năm 1951).

Ngày còn thơ ấu, những buổi trưa vắng vẻ đi lang thang trong khu xóm, tôi và những thằng bạn hay bắt gặp các vỏ trứng bể hoặc xác cá bị đánh rơi từ trên cây cao. Số là trên ngọn dầu, loài chim diệc thường tới làm tổ ở, chim diệc cao, lớn con, cẳng, cổ và mỏ của chúng đều dài. Diệc thường lui tới con sông Thị Nghè gần đó kiếm mồi, thức ăn của chim gồm có cá và rắn, khi ăn mồi diệc hay làm rớt xuống mái nhà hoặc trên con đường hẹp trong khu xóm cụt lối của tôi. Thịt chim diệc khá ngon, trứng chúng lớn gần bằng nắm tay người lớn, vỏ trứng màu xanh da trời nhưng hơi lợt.

Diệc là giống chim lớn nên các tay thợ săn, phần lớn là những kẻ có tiền hoặc các quan chức thời đó, thỉnh thoảng mang loại súng săn tài tử tới khu xóm tôi bắn chim diệc, vừa giải trí, vừa kiếm món thịt chim lúc cuối tuần, có khi hạ được con mồi, thợ săn lại tặng cho chủ nhà gần đó.

Một hôm, không biết vì sao, có một chú chim diệc lại đứng trên nóc nhà bên cạnh nhà tôi và bay lên không được, tôi cùng các bạn trẻ leo lên mái ngói vừa đi vừa bò, tı̀m cách rượt chim bắt sống. Có lẽ chim vì thân mình lớn nên phải cần khoảng trống để chạy lấy trớn trước khi đập cánh bay về tổ trên tận ngọn dầu, hoặc vì chim gặp nạn đó còn non, đang tập bay thì bị rớt xuống mái nhà.

Xóm tôi, con xóm cụt, chỉ có một lối đi vào, nhà tôi nằm về phía cuối xóm, chỗ này có bức tường được xây cao, trên được rào kẽm gai. Bên kia bức tường là trường nữ trung học Trưng Vương – một trường nữ nổi tiếng nhất Sài Gòn thời đó cùng với trường nữ trung học Gia Long, cả hai đều là trường công lập. Trước cửa nhà là con đường hẹp vừa đủ chỗ cho hai chiếc Honda chạy ngược chiều tránh nhau. Cạnh nó có bức tường cao, phía sau bức tường này là Chủng viện Thánh Giu Se. Ngay sau nhà cũng lại có bức tường cao, các cơ ngơi rộng rãi bên sau bức tường đó thuộc cơ sở một dòng nữ tu. Thế là con xóm nhỏ của tôi bị vây bọc ba bề là các bức tường cao, khuất tầm mắt.

Nơi này đã có từ lâu, chắc được lập nên hồi đầu thế kỷ 20. Cơ sở nào cũng rộng rãi, có nhiều nhà cửa bên trong, vì đây là nơi tu hành, nơi ăn ở học hành của chủng sinh, chỗ tàng trữ kinh sách đồng thời cũng là chỗ các vị tu hành cư trú. Phía trong hai cơ sở này có nhiều đất trống dùng cho việc trồng trọt, chăn nuôi. Ngoài ra bên cơ sở các vị nữ tu còn mở ra một trường nữ trung học chuyên dạy Pháp ngữ mang tên trường Saint Paul, trường này có học phí khá cao và thường chỉ những con gái nhà giàu mới theo học được tại đây.

Hai nơi tu đạo này đều có cổng chính nằm trên đại lộ Cường Để và hai cổng phụ nằm trên đường Nguyễn Trung Ngạn ngay lối vào con hẻm nhỏ. Nói là cổng phụ vì chúng nằm trên con đường sâu bên trong, song các cổng này được xây bằng sắt, to lớn, kiên cố.

Những ngày còn nhỏ, tôi và các bạn hiếu động hay trèo lên nóc cầu tiêu sau nhà rồi bò lên mái ngói đỏ của dãy nhà dòng nữ tu, vì ở phía bên đó có vườn khế sai trái, hơn nữa khu đất lớn bên kia bức tường nằm đằng sau nhà là những gì bí ẩn mà chúng tôi muốn khám phá. Việc “đột nhập” vào vùng đất này khá gây cấn, vì có thể bị trượt chân té từ mái ngói xuống khu vườn cây bên dưới, hoặc có thể bị bắt gặp bởi những người đang làm việc chăn nuôi heo, gà ở gần khu vườn.

Hồi đó các bạn trẻ trong xóm thường bị cảnh sát phường (lúc đó có tên là phường Tự Đức, sau đổi thành Bến Nghé) bắt về tội leo vào nơi tu hành phá phách. Hình phạt không có gì nặng, có thể bị cú đá ngay mông hoặc bị giữ lại trong khu nữ tu một buổi chờ ba má tới nhận về, sau khi được nghe các lời giảng dạy. Mặc dù như thế, tôi vẫn là một tên trong đám nhỏ thích leo trèo vào khu cấm này!

Sài Gòn Đầu Thế Kỷ 20!

Một ngôi chùa xưa ở khu vực Cầu Ông Lãnh – Sài Gòn.

2- Quanh Xóm Nhỏ

Con đường ra vào duy nhất của xóm nhỏ là đường Nguyễn Trung Ngạn. Trong hẻm, lối đi nhỏ hẹp, ra đầu ngõ thì rộng dần. Đường Nguyễn Trung Ngạn ngắn, từ Đông sang Tây chạy xuyên qua một ngã tư và một ngã ba. Ngã tư đầu tiên: Cường Để – Nguyễn Trung Ngạn, ngã ba tiếp đó đường Nguyễn Trung Ngạn đụng phải Chu Mạnh Trinh (trên đường Chu Mạnh Trinh tại đoạn này là mặt hông của nhà thương Grall (Đồn Đất – một bịnh viện lớn, nổi tiếng của Pháp).

Đại lộ Cường Để từ trên xuống dưới, hướng Bắc – Nam. Lấy đường Hồng Thập Tự làm ranh, ở mạn trên có đường Đinh Tiên Hoàng thuộc khu vực Đa kao. Mạn dưới, đầu tiên là đài truyền hình VN (hồi đó có đài truyền hình Mỹ nằm ngay sát bên). Kế tiếp, đường chạy ngang thành Cộng Hòa, sau đảo chánh 1963, thành này được đổi làm khu đại học Văn Khoa và Nông Lâm Súc. Xuống dưới một chút đại lộ Cường Để Để chạy ngang đầu đường Gia Long, đây cũng là cổng chính của cơ sở nữ tu. Dưới đó là đường Lê Thánh Tôn và rồi cuối cùng là bến Bạch Đằng, vị trí đặt bộ tư lịnh Hải quân VN, trong khu vực này còn có tư dinh Thủ Tướng Chính Phủ chế độ VNCH.

Giờ cũng nên nói sơ qua đại lộ Thống Nhất, hai bên đường Thống Nhất có nhiều cơ quan trọng yếu. Khi tính từ đông sang tây, trước tiên phải kể tới sở thú Sài Gòn. Cạnh đấy có Nha Khảo Cổ, trước mặt Nha là trường Cao Đẳng Quốc Phòng, gần bên Nha có Phủ Thủ Tướng, đối diện cổng chính của Phủ là hông khu đại học. Tiếp tục theo hướng tây của đại lộ, từ dãy tường bên hông khu đại học nhìn qua bên kia đường thì gặp công ty Shell, sát bên công ty này là ngôi trường tôi từng ngồi học: trường trung học Văn Hóa Quân Đội. Từ mái trường nhiều kỷ niệm này nhìn xéo về phía trước thì đụng phải Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, từ cơ quan này đi lên chừng vài chục thước sẽ thấy hai bên đường có hai tòa đại sứ Anh, Mỹ. Cuối cùng tới Dinh Độc Lập, trước mặt Dinh có khu vườn cây cao su rợp bóng, ở phía phải khu vườn người ta thấy được ngôi Nhà thờ Đức Bà đẹp cổ kính, thánh thiện.

3- Tuổi Thơ Và Biến Cố Chı́nh Trị

Hồi nhỏ, trên những đường phố quanh khu xóm thân yêu của tôi có nhiều sự kiện mang dấu ấn lịch sử đã xảy ra. Vào năm 1963, khi ấy tôi mới sáu tuổi, Sài Gòn xảy ra cuộc đảo chánh của các tướng lĩnh nhằm lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Khu vực gia đình tôi ở không phải là trọng điểm của quân đảo chánh nhưng cũng bị ảnh hưởng vì trên đường Thống Nhất có một khu doanh trại mà thời đó thường được gọi là thành Cộng Hòa, nơi có những đơn vị trung thành với vị Tổng Thống họ Ngô trấn giữ.

Thành Cộng Hòa lúc ấy chiếm lấy một khu đất rộng, tính theo hướng bắc – nam, cổng trên giáp với đường Hồng Thập Tự, cổng dưới giáp với đường Thống Nhất, chiều đông – tây của thành khá dài. Ngày nổ ra đảo chánh, tôi nghe tiếng súng vang rền từ Bộ tư lịnh Thủy Quân Lục Chiến hướng về thành Cộng Hòa (Bộ này nằm trên đường Lê Thánh Tôn, sát cạnh BộTư Lịnh Hải Quân) chắc một số đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ngả theo phe đảo chánh, đang tiến đánh thành Cộng Hòa do quân trung thành với chế độ cố thủ.

Sau khi tiếng súng đảo chánh ngừng nổ, tôi theo người chị Hai (chị tôi tên Phạm Thị Ngọc Bích, chết vì tai nạn súng đạn vào năm1977 tại Gò Công – nguyên quán của gia đình chúng tôi) chạy ra đầu xóm coi quang cảnh sau cuộc bắn nhau. Những đầu đạn, vỏ đạn nằm rơi rớt trên mặt đường. Lúc ấy hai chị em nghe nói lính đóng trong thành Cộng Hòa chết nhiều lắm, cả hai chúng tôi cùng nhiều người trong xóm vì hiếu kỳ kéo đi về hướng khu thành cách xóm nhà tôi chừng 500 thước.

Thành Cộng Hòa đã thay đổi chủ, những người lính ngồi trên bờ thành lúc này thuộc các đơn vị phe đảo chánh. Cảnh tượng chung quanh còn ngổn ngang khói đạn, những bức tường thành bị bắn cháy, bị bể nát. Ở một đoạn, tôi còn trông thấy xác một quân nhân tử thủ nằm chết vắt trên mặt thành, mọi thứ hầu như chưa được dọn dẹp. Những năm về sau, nơi này được sửa sang lại trở nên khu đại học Văn Khoa và Nông Lâm Súc. Hai cổng nằm ở hai phía đường Thống Nhất và Hồng Thập Tự bị phá bỏ cho xe cộ lưu thông qua lại, khúc đường này cũng là đoạn đầu của đại lộ Cường Để.

Tuy nhiên đi dọc theo đại lộ Thống Nhất, mé chân thành cũ, người đi đường vẫn còn nhận ra nét kiến trúc cổ hồi thời Pháp thuộc. Như các viên đá xanh được xây dính liền nhau tạo nên dãy nền cao khoảng hai thước, trên có hàng cột sắt cao mang đầu nhọn, cột này cách cột kia chừng một tấc và kéo dài theo chu vi thành. Đây là kiểu kiến trúc các cơ quan công quyền hoặc tư dinh thời Pháp thuộc còn sót lại ở Sài Gòn. Trên đoạn tường thành còn lại, chỗ đối diện với Phủ Thủ Tướng, có tấm bảng nhỏ hình chữ nhật, ngoài mặt có lớp mạ màu vàng ghi vài hàng chữ lưu niệm ngày tháng, nơi chốn quân đảo chánh đã lật đổ chế độ gia đình trị của gia đình họ Ngô.

Nhiều người Việt Nam đã sống trải qua các thời kỳ chı́nh biến quan trọng ở miền Nam. Với nhiều hiểu biết, các vịnày đã phát biểu những suy tư hay viết những bài báo, sách để ghi nhận trung thực lại thời kỳ lịch sử của miền Nam từ 1954 đến 1975. Bởi vı̀ các hiểu biết lịch sử phải được truyền thụ lại, để cho người đương thời hiểu được sự thật lịch sử một cách quang minh và công bằng, ngoài ra, giúp cho các thế hệ sau không bị đui mù, câm điếc về việc làm của tiền nhân, mà có thể rút tı̉a và ứng dụng được các giá trị thực tiễn quı́ báu cho cuộc sống cá nhân, hài hòa trong sự phát triển, tiến bộ của đất nước trong trạng thái văn minh, nhân đạo, tựdo. Chứ hiểu biết lịch sử không thể và không bao giờ dùng để đánh đổi như một lợi nhuận, vı̀ ý đồ hoặc tham vọng cá nhân, phe phái cũng không thể bị giấu kı́n, chôn cất, hủy diệt bởi con người hay bởi dòng thời gian vô tı̀nh, vô tận.

Liên hệ đến biến cố 1963, trong tác phẩm Việt Nam 1945 – 1995 Chiến Tranh, Tỵ Nạn Và Bài Học Lịch Sử – Tiên Rồng 2004, Chương 9: Sai lầm của Việt Nam Quốc Gia, Phần III. Giáo Sư Lê Xuân Khoa viết:

“Năm 1963, các biến chuyển bất lợi cho chı́nh quyền Ngô Đı̀nh Diệm liên tiếp xảy ra đưa đến cái chết thê thảm của các ông Diệm, Nhu, Cẩn và sự sụp đổ của ĐệNhất Cộng Hòa. Việc hạ sát các ông Diệm, Nhu, Cẩn là những quyết định chı́nh trị mà cả Hoa Kỳ và những người làm đảo chı́nh đều có trách nhiệm nhưng sau này lại đổ lẫn cho nhau. Nhóm tướng lãnh có thể lo ngại rằng nếu các ông Diệm, Nhu không bị giết, sau này các ông ấy có thể trở lại cầm quyền và trả thù. Nhưng ai cũng thấy rõ là vào thời điểm của cuộc đảo chı́nh 1963, chı́nh phủ Ngô Đı̀nh Diệm đã hoàn toàn bị thất thế cả về đối nội lẫn đối ngoại. Đại đa số các giới quân sự, chı́nh trị và dân chúng trong nước đều chống đối, dư luận thế giới đều bất mãn và Hoa Kỳ đã quyết định chấm dứt hợp tác với Ngô Đı̀nh Diệm. Khi Tổng Thống Diệm bị lâm nguy, không thấy có một hành động can thiệp nào của các lực lượng “Thanh Niên Cộng Hòa” hay “Phụ Nữ Liên Đới” mà ông bà Nhu vẫn tựhào là những lực lượng nồng cốt với hàng triệu thành viên. Nhiều người từng ủng hộ Ngô Đı̀nh Diệm đã thấy sự sai lầm của ông và đã trở nên thờ ơ hay chống đối. Như vậy, trong trường hợp của hai ông Diệm, Nhu không bị giết và chı̉ bị lưu đày ra ngoại quốc, các ông cũng không còn cơ hội nào để có thể trở lại lãnh đạo cuộc chiến đấu chống cộng sản. Cho dù hai ông có tı̀m cách liên kết với cộng sản để tı́nh chuyện trung lập hóa miền Nam và chấm dứt vai trò của Mỹ ở Việt Nam, các ông cũng không còn có những điều kiện có thể nói chuyện được với họ, nhất là khi tı̀nh hı̀nh chı́nh trị và quân sự đã trở nên thuận lợi cho họ.”

Trước biến cố 1 tháng 11 năm 1963, Sài Gòn đã chứng kiến một vụ đảo chı́nh khác. Cũng tác phẩm trên cho biết:

“Ngày 11/11/1960, một số tiểu đoàn Nhảy Dù, do Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Trung Tá Vương Văn Đông cầm đầu, thực hiện một cuộc đảo chı́nh, chiếm giữ một số cơ quan chı́nh phủ và bao vây Dinh Độc Lập. Nhóm sı̃ quan này được sự ủng hộ của một số chı́nh trị gia chống Diệm như Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu. Cuộc đảo chı́nh bất thành vı̀ mục đı́ch chı́nh của những người làm đảo chı́nh chı̉ nhằm ép buộc ông Diệm thay đổi chı́nh sách và lập chı́nh phủ mới. Đại sứ Mỹ giữ thái độ trung lập và khuyến khı́ch hai bên thương thuyết. Ông Diệm hứa thay đổi chı́nh phủ nhưng kéo dài cuộc điều đı̀nh cho đến khi viện binh của Trần Thiện Khiêm và Huỳnh Văn Cao từ Mỹ Tho và Biên Hòa về giải cứu ngày 12 tháng 11. Nhóm cầm đầu đảo chı́nh phải bỏ trốn qua Nam Vang.”…

(Xin xem thêm Việt Nam: 1945 – 1995 Chiến Tranh, TịNạn Và Bài Học Lịch Sử của Giáo Sư Lê Xuân Khoa trong phần Tài Liệu ở cuối sách)

Tuổi thơ tôi trôi qua bı̀nh yên nơi chốn thị thành miền Nam. Tuy vậy, có những xáo động chı́nh trị thời đó vẫn mãi đọng trong tâm trí tôi, dù tháng ngày đã qua rất xa, không nhớ rõ vào năm 1966 hay 1967, nhưng chắc xảy ra trước khi Việt Cộng tấn công vào các thành thị miền Nam hồi Tết Mậu thân 1968.

Một buổi trưa, lúc 11 giờ, trường học vừa tan (hồi ở tiểu học, tôi học tại trường Thống Nhất, nằm cạnh bên trung học Văn Hóa Quân Đội, cả hai đều nằm trên đại lộ Thống Nhất), tôi đi bộ về nhà, khoảng đường từ đó đến nhà chừng 1000 thước. Khi bước gần tới cổng chính của công ty Shell, cách cổng trường tiểu học chừng 100 mét, tai bỗng dưng nghe hàng loạt đạn nổ rền ngay phía cổng hãng Shell bắn ra. Cùng lúc ấy quang cảnh hỗn loạn, huyên náo xảy ra: đoàn xe chở Thủ Tướng, bấy giờ là ông Trần Văn Hương, phóng như bay về hướng Bến Bạch Đằng. Thì ra khi đoàn xe vừa rời khỏi cổng phủ Thủ Tướng ở đường Thống Nhất, chạy tới đường Cường Để rồi quẹo xuống bến tàu, đã gặp ngay ổ phục kích của đặc công Việt Cộng. Đoạn đường từ Phủ Thủ Tướng xuống tới tư dinh Thủ Tướng ở dưới Bến Bạch Đằng phải đi qua đại lộ Cường Để, đây là lộ trình hàng ngày của đoàn xe Thủ Tướng. Chắc Việt Cộng đã theo dõi từ lâu, biết được sơ hở nên họ mới tổ chức cuộc mưu sát đó.

Chính đôi mắt ngây thơ của tôi ngày ấy nhìn thấy được vài người mặc quân phục Biệt Động Quân, đặc công giả dạng lính VNCH (Việt Cộng khá giỏi nghề ngụy trang!) cầm súng bắn thẳng vào đoàn xe chở Thủ Tướng Trần Văn Hương, tính ám sát ông hòng gây rối loạn an ninh – chính trị, đồng thời gây tiếng vang cho Việt Cộng. Mãi về sau, khi trưởng thành tôi mới nhận ra điều này.

Khi đoàn xe yếu nhân đi khỏi, cảnh sát, an ninh chìm, nổi kéo tới đông đúc. Xe cộ, khách bộ hành bị chận lại tra hỏi giấy tờ tùy thân. Tôi lúc ấy chừng 10 tuổi không bị xét hỏi, sự kiện xảy ra quá nhanh, không ai có thể ngờ được. Chính bản thân tôi cũng không dè mình vừa đi bộ tới chỗ đó thì lại chứng kiến một sự kiện đặc biệt, quá đổi kinh ngạc so với hiểu biết non nớt của độ tuổi ấy!

Sau cuộc mưu sát hụt vài ngày, thêm một câu chuyện được tiết lộ, ngoài mấy đặc công đứng ở hãng Shell, Việt Cộng còn đặt thêm một xe xích lô nằm ở ngã tư Nguyễn Du – Cường Để nằm ngay bên hông nhà Thống Tướng Lê Văn Tỵ, ngay mặt sau hãng Shell, trong chiếc xích lô, cảnh sát khám phá ra có gài mìn bên dưới chỗ ghế ngồi.

Theo kế hoạch của Việt Cộng, nếu đoàn xe yếu nhân thoát được ổ phục kích bất ngờ ở ngã tư trên thì khi xuống đến ngã tư dưới, một nguời lái xích lô, cũng do Việt Cộng giả dạng, sẽ cho mìn được gài sẵn trên xích lô phát nổ hướng vào đoàn xe Thủ Tướng. Nhưng may mắn là lúc súng nổ ở hướng hãng Shell, người đặc công giữ chiếc xích lô quá hoảng sợ nên bỏ trốn trước.

Và trong cuộc khám xét khách vãng lai gần khu vực mưu sát, một thanh niên tên Mầm bị bắt giữ. Mầm là con của một gia đình bán nước sinh tố ở đầu con hẻm nhỏ, anh có dáng dấp khỏe mạnh, nước da rám nắng vì là con nhà lao động. Chắc cảnh sát khả nghi về điểm này nên Mầm bị bắt, sau đó mấy ngày anh được thả ra. Gia đình anh Mầm bán sinh tố nhiều năm liền ở trước xóm tôi, nơi đây ngoài học sinh trường Saint Paul giải khát sau giờ học còn có những người lính Hải Quân, lính Thủy Quân Lục Chiến và công nhân hãng Ba Son, hãng này cũng nằm trong khu vực Hải Quân.

Những năm sau 1975, khi tôi đang đi lang thang kiếm sống ở huyện Định Quán – tỉnh Đồng Nai, cách Sài Gòn về hướng đông khoảng 125 km, tôi có gặp lại gia đình anh Mầm một lần nữa, lúc ấy đã bỏ nghề buôn bán, về làm rẫy ở xã Phú Hoa, huyện Định Quán, như phần lớn người dân Việt bị đẩy lùi cuộc sống của mình khi miền Nam chìm vào bóng đêm!

4- Bến Bạch Đằng… Tắm Sông

Và dòng ký ức vẫn không ngừng trôi… ngay ngã tư Nguyễn Trung Ngạn – Cường Để, từ nhà tôi tại cuối hẻm đi ra tới ngã tư này độ chừng 100 thước, quẹo tay trái đi theo đường Cường Để sẽ đụng cổng số hai của Bộ Tư Lịnh Hải Quân. Cổng số một gần đó nằm ở công trường Mê Linh – nơi có dựng bức tượng Thánh Trần Hưng Đạo đứng chỉ tay xuống dòng sông Sài Gòn – theo sử thì ngài đã đứng chỉ tay xuống dòng sông Hóa thuộc địa phận Bắc Việt – mà binh chủng Hải Quân xem là ông tổ binh chủng. Ở ngay chỗ đặt bức tượng này, trước kia vào những năm cuối thập niên 50 và đầu những năm 60 khi còn chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là bức tượng bà Trưng Trắc và bà Trưng Nhị. Nhưng sau đảo chính 1/11/1963, bức tượng Hai Bà bị kéo đổ xuống vì bị cho là gương mặt hai bức tượng có nét giống bà Trần Lệ Xuân, vợ ông cố vấn Ngô Đình Nhu, người em trai của cố Tổng Thống Diệm.

Bên trong khu vực Bộ Tư Lịnh Hải Quân ngoài khu cư xá sĩ quan yên tịnh, nhà cửa gọn gàng đẹp mắt, nơi tôi thường tới chơi với các bạn nhỏ hồi còn ở tiểu học, còn có một địa điểm nữa hấp dẫn những thằng bé chúng tôi hơn. Đó là con sông Sài Gòn (hay còn gọi là sông Bạch Đằng để nhớ tới một chiến thắng lịch sử từ thời nhà Trần ở nước ta chống lại quân Nguyên Mông xâm lược), khúc chạy ngang hãng Ba Son.

Ngày bãi trường hay cuối tuần không đi học, bọn nhỏ chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống bến Bạch Đằng tắm sông. Có lần tôi và người bạn tên Hai đang tập bơi thì tôi bị hụt chân, mặc dù chỗ tắm chỉ sâu hơn ngực. Tôi hoảng hốt kêu cứu, Hai, là người bạn thân hồi thiếu thời, có sức khỏe hơn đã nhô mình ra kéo tôi vào sát bờ. Sau lần mém chết đuối đó, tôi gan thêm một ít và thời gian sau thì tự bơi được và bơi ra xa, nơi có mấy chiếc tàu đang đậu, nhưng dĩ nhiên lính gác khi thấy sẽ đuổi chúng tôi lên bờ vì thời đánh nhau các tàu đậu hay bị đặc công Việt Cộng phá hoại.

Cuộc đời khó mà tiên liệu được, không ngờ những lúc trốn nhà cùng bạn bè đi tắm sông, học bơi, lại là điều may cho sau này. Nhờ biết bơi nên tôi bình tỉnh lúc qua sông, suối và thoát được nhiều tai nạn trong cuộc hành trình gian lao mà suốt đời người chỉ xảy ra một lần! Lắm khi lại không xảy ra, nếu ai đó cứ quanh quẩn nơi một góc phòng đến cuối đời.

Nói tới chuyện tắm sông thuở nhỏ lại nhớ đến người bạn cũ, nhà Hai cũng ở cuối xóm, sát cạnh nhà tôi. Gia đình Hai nghèo nhất trong khu xóm công chức vừa đủ ăn này, anh chỉ học hết bậc tiểu học, trong lúc tôi lên trung học thì anh phải nghỉ học đi làm thuê, vác mướn phụ giúp cho gia đình có nhiều miệng ăn. Ba anh, một người lính sư đoàn 18 đóng ở Long Khánh, những ngày ông về Sài Gòn nghỉ phép, tôi hay qua nhà bạn chơi và nghe người lính yêu đời ấy miệng luôn huýt sáo bản hùng ca: “… đoàn quân… ta đã về đây…”.

Sau năm 1975, trong khi tôi rời nhà đi kiếm sống ở các tỉnh – thời gian này tôi làm nhiều nghề từ đạp xe ba bánh, cu li, nông dân, thư ký tới dạy học – thì lúc ấy Hai ở Sài Gòn bị bắt đi “nghĩa vụ quân sự?”. Khoảng năm 1978, tôi ghé thăm gia đình và qua nhà bạn chơi mới biết anh đang mắc bịnh tâm thần. Không rõ những ngày đi nghĩa vụ quân sự Hai đã bị đối xử như thế nào mà hóa sảng, miệng anh cứ nói lảm nhảm. Có lúc tôi và Hai đang trò chuyện, anh cứ mở miệng kêu “L…ê D…uẫn là L…ưỡi D…ao – một kẻgiết người!”. Vài năm sau nghe nói, bịnh nói sảng của anh giảm đi rất nhiều và người bạn Hai của tôi, sống qua ngày bằng nghề đạp xích lô.

5- Chiến Tranh Đến Gần… Mang Anh Tôi Về Nhà Cũ!!!

Tôi được sinh ra và lớn lên trong căn nhà nhỏ này, cả quảng đời ấu thơ êm đềm như công việc thường nhật của má tôi, một công chức ở Bộ Giáo Dục. Đầu thập niên 70, bà được đổi về Nha Thanh Tra Trung Học nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, sát bên trường Trưng Vương, cách nhà chỉ có bức tường. Nhưng khi đi làm, bà phải đi bộ vòng qua đường Cường Để – Thống Nhất rồi quẹo vào đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vào năm 1973, gia đình tôi mới cảm thấy chiến tranh tới gần hơn bao giờ hết, mặc dù vào năm 1968, Sài Gòn đã bị nhiều cuộc tấn công của Việt Cộng, nhưng khu xóm nhỏ chưa bị hề hấn gì trừ những tiếng đạn pháo được nghe vang xa xa.

Người anh thứ năm, tên Phạm Hoàng Tuấn vào năm 1973 vừa đúng 18 tuổi (anh sinh năm 1955, tuổi Mùi) đã phải bỏ học – lúc ấy anh đang học lớp 11 ban A trường Văn Hóa Quân Đội – để lên đường nhập ngũ theo lịnh tổng động viên của chính quyền miền Nam. Thời đó thanh niên 18 tuổi phải vào quân đội, nếu đang học lớp 12 sẽ được miễn động viên chờ cho qua kỳ thi tú tài. Ngày anh lên đường, tôi vẫn còn nhớ như in, gương mặt anh trắng như con gái, dáng đi nhút nhát của nguời học trò mới lớn chưa từng sống xa gia đình buổi nào.

Má tôi rất thương anh thứ năm vì tính tình hiền lành quá mức của anh, khác với cái tính hiếu động hay tụ tập cùng chúng bạn của tôi. Tôi thứ sáu trong gia đình 9 anh chị em gồm bốn trai, năm gái. Bà muốn ba tôi chạy lo để đứa con trai được tiếp tục đi học ở Sài Gòn, nhưng ba tôi, một thượng sĩ thâm niên quân vụ trong binh chủng Quân Cảnh Tư Pháp, vì trách nhiệm, nhất là vì sợ phép nước, mặc dù trong lòng rất thương con, dù không muốn anh tôi dở dang việc học, cũng đã phải chở con mình trên chiếc xe Suzuki cũ mèm tới trung tâm nhận quân. Vì điều này, mãi đến những năm về sau, ba má chúng tôi thỉnh thoảng vẫn lời qua tiếng lại khi nhớ tới con.

Giữa xã hội thời chinh chiến loạn lạc mà ba tôi, một người lính bình thường của chế độ, vẫn kiềm mình trong khuôn phép. Dường như suốt đời binh nghiệp 20 năm, ông không dám vi phạm kỷ luật, nhất là làm trái luật pháp.

Vào năm 1955, chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập ra hội đồng trưng binh, cha tôi đã tham gia lực lượng hiến binh của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa từ lúc đó. Ông đã học vài năm trung học chương trình Pháp ngữ và tại ngũ trong 20 năm nhưng vẫn chưa được thăng cấp úy. Cho tới khi giải ngũ vào năm 1974, ba tôi chỉ mới 44 tuổi. Trong khi ấy, có không ít những kẻ quyền cao chức trọng, được đãi ngộ nhiều bổng lộc, nếu họ hành xử theo đúng khuôn phép quốc gia, chắc hẳn đã không góp phần dẫn đến đại bại vô lường cho miền Nam sau này, khiến cho quân dân miền Nam phải chịu đựng bao tai ương sầu bi!

Thời đó, khi chiến tranh tại miền Nam bùng nổ dữ dội, rất nhiều thanh niên bị đưa vào lính và cũng có nhiều người tình nguyện, trong số ấy có người anh thứ ba của tôi tên Phạm Hoàng Tiên gia nhập tự nguyện binh chủng Biệt Động Quân. Nhưng cạnh đó cũng không ít những thanh niên trốn quân dịch bằng nhiều cách, đó là những thanh niên bị Việt Cộng tuyên truyền cũng như đám thanh niên con ông cháu cha hoặc con nhà giàu có, vì họ không muốn chết vô ích giữa hai làn đạn hoặc vì ích kỷ chỉ muốn an nhàn, hưởng thụ cho bản thân, gia đình, giữa cảnh lửa khói ngút trời trên quê hương miền Nam do bạo lực chuyên chính cộng sản gieo nên!

Sau 6 tháng được huấn luyện tại trung tâm Đồng Đế, Nha Trang, anh năm tôi ra trường với cấp bậc trung sĩ địa phương quân. Trước ngày lên đường nhận nhiệm vụ, anh được phép về nhà chơi mấy hôm. Đơn vị mới của anh tôi là một trung đội có hơn 10 người, vị sĩ quan trung đội trưởng còn quá trẻ chưa có mấy kinh nghiệm trận mạc, địa điểm tiền đồn lại cheo leo trong cánh đồng xa.

Vào tháng đầu tiên khi anh năm về tiền đồn, ba má tôi xin nghỉ phép đi về Trà Vinh tìm cách thăm anh, nhưng chỉ tới được tỉnh lỵ nhận tin chứ không vào được tiền đồn. Má tôi có người bà con xa, lúc ấy đang sống tại chợ Trà Vinh, nhân đấy, bà có gởi nhờ người bà con này khi tiện dịp thì chăm sóc thăm hỏi anh tôi. Tình mẹ thật hiền hòa, bao la, nhưng chiến tranh tàn khốc đâu có điều gì để bảo đảm giữ tình thương, hạnh phúc gia đı̀nh được vững bền!

Sau đó chừng vài tháng, tôi không nhớ rõ là vào tháng mấy của năm 1974, tiền đồn nơi anh tôi trú đóng bị Việt Cộng tấn công dữ dội, nếu không nói quá tàn bạo với chiến thuật cổ điển vay mượn từ đàn anh Tàu: “tiền pháo hậu xung”. Hơn 10 địa phương quân trong tiền đồn đã không chịu nổi trước hàng loạt đạn pháo của cái gọi là những đơn vị bộ đội “giải phóng”. Tất cả các quân nhân trong đồn đều chết tức tưởi trước khi quân chi viện của tiểu khu Trà Vinh được phái đến. Ba tôi được tin điện khẩn từ tiểu khu, ông vội vã về Trà Vinh nhận xác con, theo lời ba tôi kể lại, xác anh tôi bị cháy đen không còn nhìn ra được, duy nhất chỉ còn lại tấm thẻ bài có mang tên tuổi số quân của anh!

Sau đó một ngày, được sự giúp đỡ của tiểu khu Trà Vinh, quan tài anh thứ năm tôi được đặt trên chiếc xe GMC (ngày xưa hay gọi là xe nhà binh) trở về căn nhà cũ, nơi anh được sinh ra và lớn lên. Sau hơn một ngày giữ quan tài ở nhà để bà con họ hàng cùng làng xóm tới viếng thăm anh lần cuối, hôm sau, chiếc xe tang quân đội đã mang anh tôi tới Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, chôn cất đúng theo lễ nghi cung cách dành cho một chiến binh tử trận ngoài chiến trường.

Nghĩa trang quân đội Biên Hòa

Đền tử sĩ

Anh nằm xuống

Xin hãy ngủ yên

Ghi chú: Một số hı̀nh ảnh về Nghı̃a Trang Quân Đội ở Biên Hòa bên trên, tác giả tı̀m kiếm và xin được trı́ch lại từ trên net của các cộng đồng người Việt hải ngoại. Thời gian các bức hı̀nh được chụp khoảng 2003, 2004, gần 30 năm sau ngày mất miền Nam.

Anh tôi đã nằm xuống nơi đó, cùng với hàng chục ngàn thanh niên tuấn tú mang nhiều ước mơ của miền Nam, trong một cuộc chiến tranh di hại đến nhiều thế hệ sau từ vật chất tới tinh thần. Một cuộc chiến khiến dân tộc Việt lụn bại, nghèo nhục! Người anh em phía Bắc, nói rõ hơn là chế độ chính trị ở miền Bắc đã ngày càng trở nên xa lạ với chính giống nòi Việt. Họ cuồng tưởng đến độ họ gây chiến tranh – nói theo từ ngữ vô hồn của lãnh đạo Hà nội – là để thực hiện cuộc cách mạng giải phóng nhân dân, nhằm mang hạnh phúc lại cho hơn hai chục triệu dân cư miền Nam!? Nhưng thực tế quá đỗi cay đắng, cho đến vài thập niên sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm bằng nòng súng AK của Liên Xô và Trung Cộng, đất nước đã đi thụt lùi lại hơn nửa thế kỷ. Thế nhưng cái nghèo đói, nhục hèn đó dường như chưa làm thỏa mãn cái cuồng tư, cùng thủ đoạn bám chặt quyền cai trị của bộ chính trị cộng đảng.

Miền Nam Sụp Đổ Bi Hùng

Một Sự Sụp Đổ Rất Cần Thiết Để Khai Tử Chế ĐộMiền Nam Bị Khuynh Loát Bởi Thành Phần Lãnh Đạo Không Trong Sạch, Không Xứng Đáng. Và Để Lịch Sử Soi Rọi Chân Tướng Độc Tài Bạo Trị Của Chế Độ Đảng Quyền Hà Nội.

6- Sài Gòn Ngày Ấy… Ngày Đau Đớn Lòng!

Bước vào đầu những năm 1970, cuộc chiến kháng cộng tại miền Nam – hay cuộc chiến huynh đệ tương tàn thảm khốc trong dòng sử Việt hiện đại – đang diễn ra quyết liệt, một mất một còn. Vào năm 1972, Hà nội đã mở hàng loạt cuộc tấn công nhằm đẩy nhanh tiến trình thôn tính miền Nam bằng bạo lực quân sự, rốt ráo thực hiện chủ trương cộng sản hóa miền Nam trong chiến lược “cách mạng” thường trực của Liên Xô và Trung Quốc. Các trận đánh từ cổ thành Quảng Trịxuống tới An lộc, Bình Long đã ghi lại những nét son trong chiến sử của quân dân miền Nam.

Từ năm 1972 – thực ra là trước thời điểm này – tình hình miền Nam đang dần dần có những thay đổi khi đồng minh Hoa kỳ bộc lộcác chı̉ dấu cho thấy, họđang muốn thay đổi chiến lược, vı̀ quyền lợi siêu cường. Cụthể, họmuốn ứng dụng học thuyết “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Điều này đồng nghı̃a với việc trao dần trách nhiệm chiến đấu gìn giữ miền Nam V.N lại riêng cho quân đội VNCH, chứ không còn sự hiện diện hợp tác của các đơn vị quân đội đồng minh trên lãnh thổ miền Nam nữa.

Một thay đổi chiến lược từ phía Mỹ, nói khác đi, Hoa Kỳ muốn rút chân ra khỏi cái mà họgọi là “vũng lầy Việt Nam”. Nhưng giới lãnh đạo chính trị, quân sự ở miền Nam, từ trước, vào đầu thập niên 1960, trong đường lối phòng thủ miền Nam, từ sau khi đất nước chia đôi 1954, đã thiếu sự chuẩn bị lâu dài cho chính phần đất này, đã không vạch ra được một chiến lược phòng thủ bằng chı́nh sức của nhân dân miền Nam khi đất nước phải đối diện với áp lực xâm lược từ phı́a Bắc, cùng áp lực ngoại giao, chı́nh trị, quân sự của đồng minh bên cạnh mı̀nh.

Năm 1973, sau khi học xong lớp 9, tôi rời trường trung học Văn Hóa Quân Đội, ngôi trường có nhiều bạn bè thân và cha mẹ những người bạn ấy cũng là quân nhân công chức giống như gia đình tôi. Đầu năm 1975, lúc ấy tôi đang học dồn ở trung tâm lớp đêm Võ Trường Toản cạnh nhà để chuẩn bị cho kỳ thi tú tài sắp tới. Thời gian này tin tỉnh lỵ Phước Long bị rơi vào tay c.s đã về tới Sài Gòn. Tı̉nh Phước Long vào ngày 13 tháng 12 / 1974 bị8.000 quân Bắc Việt với thiết giáp và hỏa lực mạnh tấn công. Ngày 6/1/1975 Phước Long thất thủ. Đây là tỉnh lỵ không lớn nhưng có vị trí gần Sài Gòn. Phước Long thuộc vùng ba chiến thuật, bị cộng quân chiếm đóng hoàn toàn tính từ ngày Hiệp Định Hòa Bình Paris về VN ra đời năm 1973.

Sau đó gần ba tháng, vào đầu tháng 3/1975, tỉnh lỵ Ban Mê Thuột bị tấn công bất ngờ, thời gian ngắn sau lại rơi vào tay quân Bắc Việt. Trận đánh Ban Mê Thuột khai màn cho nhiều trận đánh kế tiếp đẩy miền Nam tự do (phôi thai) mau chóng sụp đổ toàn diện. Một trang sử quá bi ai cho dân tộc Việt được mở ra khi cả nước bị thu về một mối dưới ách cực kỳ chuyên chế: đảng trị! Thật sự hồi ấy với số tuổi 18, tôi chưa thể hình dung ra hết kết cục đau thương mà phải hàng 10 năm sau, mới nhận chân được.

Những ngày giữa tháng 4/1975, lớp học tôi đã không còn bình thường, ít nhiều xôn xao bắt đầu xuất hiện. Vài người bạn con nhà giàu thố lộ với nhau về chuyến đi xa sắp tới của gia đình họ, vài vị giáo sư trong lớp đã vắng mặt, không biết thầy cô đi đâu. Chỉ biết rằng số học sinh nghèo như chúng tôi hãy còn tới trường đều đặn mỗi buổi, ngồi im lặng chờ thầy cô đến dạy. Lúc ấy ngôi trường không còn được điều hành nghiêm chỉnh như trước đó nữa.

Gần cuối tháng 4/1975, chiến tranh không phải ở gần mà đã thực sự đi vào Sài Gòn. Tiếng bom nổ ở dinh Độc Lập do máy bay của phi công Nguyễn Thành Trung (một Việt Cộng nằm vùng trong binh chủng không quân) đánh phá theo kế hoạch của Hà Nội. Những tiếng đạn pháo lác đác rồi từng đợt rơi vào trung tâm thủ đô Sài Gòn. Những tin tức gây hoang mang, làm nản lòng người được cộng sản tung ra. Tiếng động cơ trực thăng bay hối hả trên bầu trời. Từng đợt sóng người kéo tới các địa điểm di tản ra nước ngoài. Sài Gòn lúc ấy hỗn loạn! suy sụp!

Đại lộ Cường Để phía trước khu xóm tôi vào các ngày 28, 29 tháng 4 bị nghẹt ứ xe cộ. Một đoàn dài xe hơi đủ loại đang đậu trước cổng Bộ Tư Lịnh Hải Quân để chờ toán quân cảnh Hải Quân kiểm tra giấy tờ trước khi cho qua cổng, đi xuống chiếc tàu HQ đang bỏ neo dưới bến Bạch đằng. Chủ nhân các chiếc xe này gồm những vị sĩ quan Hải Quân hay những người có chức quyền hoặc người biết tin trước chiếc tàu chiến sẽ ra khơi đi xứ người tìm tự do một khi Sài gòn thất thủ.

Trong lúc chờ đợi được cho vô cổng Bộ Tư Lịnh Hải Quân, đoàn người đông đúc này đã tràn vào các cửa tiệm ở ngay đầu con xóm nhỏ mua thức ăn. Tại đây cơm, bánh mì, các loại nước uống như xá xị, trà đá, nước sinh tố, nước đá v.v… được bán đắt không thể tưởng. Các bà bán hàng ở đầu xóm vui mừng vì  trúng mối thình lình. Khu xóm tôi đa số là quân nhân công chức, nhưng gần như 9/10 các gia đình ở đây lại bình chân không động đậy, dù trước xóm nhỏ đang tấp nập, ồn ào vì đám đông chuẩn bị xuống tàu di tản, bỏ quê hương!!!

Sự bình chân này có thể giải thích bằng những lý do sau: Một là sự sụp đổ bất thần của chế độ VNCH khiến cho nhiều người hoang mang không biết tương lai sẽ như thế nào, nên chưa thể quyết định ngay tức khắc cuộc sống sắp tới cho gia đình con cái mình, nhất là người Việt mang nặng tình cảm yêu mến quê hương làng xóm không muốn ra đi sống nơi xứ người; Hai là trước cảnh chế độ cũ sụp đổ, tan nát, tản lạc đồng thời kẻ chiến thắng mới đến chưa lộ diện, nên rất nhiều người dân chưa thể biết được tác hại ghê gớm, từ những chính sách cai trị tàn khốc sau này của tân chế độ. Về điểm này phải nêu ra một chi tiết quan trọng nữa, cả khu xóm tôi và còn nhiều nơi khác trong thủ đô Sài gòn, đa phần đều sinh trưởng trong Nam nên chưa đụng phải kinh nghiệm chết người khi sống chung với cộng sản, như đồng bào miền Bắc đã gặp trong cải cách ruộng đất, những màn đấu tố giết người, các chiến dịch hãm hại trí thức, địa chủ, phú nông nhằm “cào bằng xã hội” v.v… Hẳn nhiên còn nhiều điều hung tợn khác không thể kể ra chỉ trong vài trang giấy, vì thế, lúc miền Bắc rơi vào tay cộng sản năm 1954, đồng bào miền Bắc đã hối hả lên đường xuôi Nam tìm cuộc sống tự do.

Chỉ vài năm sau 1975, khi chấn song sắt đã hạ xuống, một trại tù khổng lồ trên khắp lãnh thổ được tân chế độ thiết lập xong thì đồng bào trong khu xóm tôi mới bẽ bàng nhận ra được, nhưng cơ hội ra đi không còn nữa và tình trạng vượt biên, vượt biển không phải lúc nào cũng đưa người ta đến chốn tự do mà không phải trả giá đắt.

… Sáng ngày 30 tháng 4, khi bước ra đến đầu ngõ, tôi không còn trông thấy đám đông ồn ào chờ đợi di tản nữa. Cổng gác của Bộ Tư Lịnh Hải Quân đã mở toang, toán quân cảnh đứng gác nơi cổng cũng biến mất, chỉ còn lại đoàn xe hơi dài đậu trước xóm. Lúc ấy nhiều người trông thấy của bỏ giữa đường không có chủ nhân, nên tìm cách mở cửa xe rồi lái đi về nhà mình.

Đến khoảng 11 giờ trưa, lịnh đầu hàng được loan đi trên đài phát thanh, đường phố vắng lặng, những người lớn tuổi lui vào nhà chờ đợi một biến đổi mà theo linh cảm người từng trải cho biết: tình hình sẽ ảm đạm, bi quan.

Đến quá trưa, do tính tò mò lại hiếu động, tôi lấy chiếc xe đạp, chạy vòng quanh các đường phố gần nhà để chính mắt mình được xem sự thể. Khi đạp xe tới đường Thống Nhất, thấy nhiều người đang đứng hai bên đường coi đoàn xe tăng cộng sản chạy từ phía cầu Thị Nghè hướng đến Dinh Độc Lập. Chưa thỏa mãn, tôi đạp tiếp xuống công trường Mê Linh, nơi có bức tượng đức Trần Hưng Đạo, tại đây chiếc tàu đậu gần bến đò Thủ Thiêm bị bốc cháy, cạnh đó có vài phóng viên nước ngoài đang thu hình. Những phóng viên này có hình dáng của người châu Á, tôi không rõhọ là người Nhật, người Nam Hàn, hay người Trung Hoa. Sau đó tôi đạp xe chạy trở lại cổng Bộ Tư Lịnh Hải Quân. Trước cổng chính của Bộ, có đám đông bu quanh anh bộ đội gác cổng, nhiều người muốn hỏi coi cuộc sống ngoài miền Bắc tự do như thế nào. Tôi cũng chen vào đám đông để nghe anh bộ đội trả lời, anh cười, nói lớn cho mọi người nghe, giọng thao thao không vấp như đã học thuộc bài: “… Nhân dân miền Bắc sống tự do, nhưng là sự tự do có giới hạn”?!.

Đứng nghe người bộ đội nói một lúc, tôi đạp tiếp về hướng sở Ba son, chưa tới hãng, tôi đã thấy một đám đông tràn vào nhà Trung Tướng Thủy Quân Lục Chiến Lê Nguyên Khang để hôi của. Họ lôi ra khỏi nhà từ chiếc nệm ngủ, cái giường, cái quạt, quần áo v.v…, bất cứ cái gì có thể bán được hay mang về nhà dùng. Tôi thụ động đứng ngoài ngó cảnh giành giựt, chửi bới, mắng nhiếc lẫn nhau vì tôi không quen thói tranh cướp của người.

Cách biệt thự này chỉ vài chục thước có một biệt thự nhỏ hơn, trước năm 1972 là nhà của Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến, ông Nguyễn Thành Yên. Vị Đại Tá này là thân sinh của người bạn tôi tại trường Văn Hoá Quân Đội, anh Nguyễn Thanh Hồ. Lúc còn học chung, thỉnh thoảng tôi vẫn theo Hồ về nhà anh chơi và hay đến trước cổng biệt thự của vị trung tướng để trèo lên cây me hái trái.

Từ quá trưa tới khoảng 4, 5 giờ chiều ngày 30/4 là thời gian bằng vàng cho những người hôi của. Lúc này có một số đơn vị bộ đội đã vào chiếm giữ vài cơ sở trọng yếu nhưng chưa chiếm hết, do đó nhân lúc giao thời, các đám trộm cướp mặc sức tung hoành. Kho nhu yếu phẩm nằm trong bộ tư lịnh Hải Quân bị đập phá. Gạo, đường, sữa v.v… được chất lên những chiếc xe ba bánh, xe đạp, xe gắn máy hoặc có người đặt lên vai khiêng đi. Khu lao động ở phía trước xóm tôi trở nên náo nhiệt chưa từng thấy vì những hoạt động như vậy. Có gia đình ông đạp xe ba gác, hàng ngày sống thiếu thốn, nay nhân dịp hôi của được, trong nhà ông chất đầy vài chục bao gạo, mươi thùng sữa hộp, vài chục thùng mì gói. Số gia đình quân nhân công chức trong con xóm nhỏ, phần vì sĩ diện, phần vì không quen với cảnh giành giựt trộm cướp (cũng có vài mươi người đã nhanh chóng tham gia đám đông hôi của) nên chỉ ngồi nhà coi thiên hạ tranh nhau hàng hóa trong kho hoặc tài sản của kẻ ra đi. Nhưng chỉ mấy hôm sau đã thấy sự hiệu nghiệm của câu nói trong dân gian: “nhân đạo thì không có gạo mà ăn”.

Đến khoảng 6, 7 giờ tối ngày 30/4, tôi và vài người bạn rủ nhau ra đứng ở đầu ngõ xem cảnh bộ đội đi lại. Lúc này có nhiều đơn vị tăng và bộ binh cộng sản vào nội thành thủ đô, cảnh người dân hôi của cũng đã chấm dứt. Trên đường phố xe nhà binh, xe zeep, xe Honda chạy đi chạy lại, tất cả đều là bộ đội. Có một chiếc xe zeep chở 5, 7 người, tôi nghĩ chắc là sĩ quan, vì thấy thái độ cùng quần áo họ. Số này vào ngôi quán nhỏ ở đầu xóm kiếm bia uống, giọng nói họ khá khó nghe đối với dân trong Nam, có lẽ họ ở Bắc Trung Phần.

Mới vào thành phố chưa được một ngày, nhưng có nhiều bộ đội đã có xe Honda lái mà không phải loại xe thường, đa phần là xe tốt, loại trên 90 phân khối. Không biết họ kiếm đâu mà tài quá! Ông thân tôi phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong 20 năm mà chỉ mua được chiếc xe Suzuki cũ mèm.

Còn có nhiều cảnh lố bịch hiện ra trước mắt người dân miền Nam đang lúc đau buồn vì miền Nam thân yêu thất tán, cáo chung. Có những bộ đội trời tối rồi vẫn mang kiếng mát, mặt mày vênh váo. Nhưng than ôi những cặp kiếng họ đeo là kiểu kiếng chỉ các cô gái điếm rẻ tiền, “hoạt động” ở vùng ngã ba Chú Ía mới đeo! (ngã ba Chú Ía ở bên xã An Nhơn, quận Gò Vấp, Gia Định – nhà người bạn học tôi ở gần khu vực này, muốn đi thăm bạn, tôi phải đạp xe chạy ngang ngã ba).

Không thể trách những người dân nghèo khổ, nhân lúc giao thời giữa hai chế độ, chạy đi hôi của chỉ vì phải chăm chút cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, vì lúc đó nhiều người lãnh đạo miền Nam đã chạy tan tác bỏ mặc dân tình ra sao thì ra!

Hành động hôi của cỏn con của người dân miền Nam, chỉ vài tiếng đồng hồ vào xế trưa ngày 30 tháng 4, làm sao sánh được với tiến trình hôi của sau này do tân chế độ thực hiện. Gạo, hàng hóa, chiến cụ, xăng dầu, vàng bạc, thực phẩm, thuốc men v.v…, được mang từ trong Nam, chở về miền Bắc. Cho chế độ có, cho lãnh tụ có, cho cán bộ cao cấp có, trả nợ chiến tranh cho Trung Quốc, Liên Xô cũng có. Thế còn người dân đất Bắc được gì? Chỉ có được cái bánh vẽ to tướng. Gọi là tiến trình hôi của vì việc cướp bóc có hệ thống, có tổ chức chỉ đạo của đảng và kéo dài trong nhiều năm tháng sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm. Giữa cảnh đổ nát – trốn chạy – giành giựt miếng ăn trong cuộc sống đa nhục – cùng nền tân lập chứa đựng mầm mống vô nhân hiện lên tinh thần TRUNG – DŨNG, thật đáng khâm phục của vài vị tướng lĩnh, nhiều sĩ quan trung cấp trong quân lực VNCH, một số vị trong bộ máy công quyền còn giữ lại niềm tự hào của kẻ sĩ VN – thà chết không khuất phục – thành mất thì tuẫn tiết theo thành. Nay miền Nam đã mất, họ chọn cái chết hoặc nguyện ở lại trên quê hương miền Nam để cùng chia xẻ với mệnh nước quá u uất! Đây là các viên ngọc bích sáng rực trong thời binh đao rực lửa hận thù, khi sự hèn nhát, ếm thế tràn chiếm cách hành xử của nhiều người.

7 – “Đổi Đời” – Cuộc Sống Đi Lui

Từ ngày 1/5/1975, cuộc sống gia đình tôi đã thực sự thay đổi đáng sợ, cái thay đổi mà thời ấy thường gọi là “đổi đời “. Nhà tôi lúc đó sống trong cảnh sum vầy nhưng đầy lo âu. Ba tôi giải ngũ từ năm 1974, việc dự định đi Long Thành khẩn hoang lập ấp theo chương trình của chính phủ dành cho những quân nhân hồi hưu, bị hủy bỏ. Mọi quyền lợi dành cho ông sau khi giải ngũ bị mất tất cả (ông là binh sĩ giải ngũ trước lúc miền Nam sụp đổ nên không nằm trong diện phải đi cải tạo). Má tôi đang làm việc tại Nha Thanh Tra Giáo Dục cũng bị cho nghỉ việc vì tân chính quyền không tin người cũ. Chị hai tôi đang làm việc ở Nha Khảo Thí thuộc Bộ Giáo Dục cũng bị sa thải cùng lý do trên. Anh ba tôi đang là một quân nhân thuộc sư đoàn 7 bộ binh đóng tại Kiến Phong, Vùng 4 Chiến Thuật, sau lịnh đầu hàng, anh với nhiều chiến hữu trong đơn vị phải cởi bỏ quân phục, lội bộ từ miền tây về Sài gòn trong đói khát. Chịtư tôi Phạm Thị Ngọc Thủy đã nghỉ học đang đi tìm việc làm.

Tôi nghỉ học từ gần cuối tháng 4. Sau ngày 30/4 độ 10 ngày, trường tôi mở cửa lại, nhưng mọi việc đều khác, bạn bè cũ đã đi đâu gần hết. Những nhà giáo mới vẫn còn đọng nét rừng núi hoặc có thái độ của người sinh trưởng ngoài miền Bắc xã hội chủ nghĩa rất xa lạ với chúng tôi vào những ngày ấy, mặc dù cùng là đồng bào, cùng một dân tộc. Cảnh nhà đang sa sút quá đổi, tôi lặng lẽ rời mái trường không lời từ biệt, nơi mà chỉ trước đó một năm, tôi đến trường với nhiều ước vọng ấp ủ trong lòng để hiến dâng ở tương lai! Đời học trò đã chấm hết từ buổi đó với đầy nuối tiếc, day dứt trong tôi và của má tôi mãi nhiều năm về sau!

Nhưng nếu tôi được học tiếp, chắc cũng phải bỏ ngang vì không nuốt nổi những kiến thức khô khan, suy tôn một chiều, đả phá một chiều, làm ngưng đọng sáng tạo, nhưng lại luôn luôn nuôi dưỡng sự căm thù, giết chóc lẫn nhau. Ba đứa em, Phạm Thị Tuyết Sương, Phạm Hoàng Tân, Phạm Thị Ngọc Thúy đang độ tuổi đi học nhưng sau này cũng bỏ dở vì không có tiền theo đuổi. Những định kiến của chế độ mới dành cho các gia đình quân nhân, công chức miền Nam: “ngụy quân – ngụy quyền” – loại công dân hạng hai.

Sum vầy trong lo âu bởi vì cả nhà thất nghiệp, tiền bạc dự trữ trong nhà có giới hạn, má tôi dù quen tính cần kiệm, chịu đựng, những ngày này bà càng ít nói hơn. Mọi sinh hoạt trong gia đình bị thu hẹp lại tối đa, vào mỗi bữa cơm, cả nhà 9 miệng ăn quây quần bên một nồi cơm nhỏ, thức ăn chỉ là một dĩa rau muống luộc chấm với tương hột kho mặn. Má tôi ngồi cạnh nồi cơm, tự tay bới cơm cho từng người nhưng đúng hơn để phân chia phần cơm cho đều. Không ai ăn quá số chén được quy định vì gạo quá ít và tiền thì không còn dễ kiếm được như ngày trước nữa.

Nhằm gỡ cơn túng cùng cho gia đình, hàng ngày ba tôi chở tôi trên chiếc xe đạp (lúc này chiếc xe Suzuki cũ đem bán rẻ rồi) chạy lang thang trong khu quận 4 bên Khánh Hội tìm kiếm việc làm. Ông có ít vốn Anh ngữ và bằng lái xe hơi nhưng đạp mỏi chân vẫn không kiếm được việc gì làm.

Chị Hai tôi xin gia đình đi về Gò Công làm việc cho người bà con, tiền bạc không nhiều nhưng thỉnh thoảng chị dành dụm ít tiền gởi về giúp gia đình. Người anh thứ ba (chỉ học tập cải tạo có 3 ngày vì là binh sĩ) từ ngày rã ngũ về nhà sống trong cảnh bẩn chật khiến anh lại nghĩ tới chuyện rời gia đình đi xa. Tính tình anh ba tôi ngang tàng không chịu tùng phục ba má, ngày ấy ở nhà chỉ còn chiếc xe đạp làm chân, nhưng anh cũng lấy đem bán để có tiền đi Long Khánh thăm người vợ cũ và sinh sống luôn trên đó trong nhiều năm.

Người cậu thứ ba (má tôi thứ tư trong gia đình bên ngoại), thấy cảnh nhà em mình đang bế tắc, nên nói với má tôi cho tôi qua nhà ông ấy đạp xe ba bánh chung với hai người anh họ, kiếm được đồng nào đỡ đồng đó. Nhà cậu ba hơi khá, trước đây, ông buôn bán trên Ban Mê Thuột và vẫn đi đi về về bằng máy bay thương mại. Sài gòn thất thủ, gia đình ông còn cái sạp nhỏ bán trái cây ở ngôi chợ bên cầu chữ Y, chiếc xe ba bánh dùng để chở trái cây từ nhà ra chợ, nhà ông cậu nằm ở đường Âu Dương Lân gần đấy.

Năm đó đã 18 tuổi, lâu nay vẫn sống với gia đình chỉ lo ăn học, bây giờ lần đầu tiên đi làm kiếm tiền giúp gia đình và lại bằng nghề lao động chân tay, tôi không quen nên thấy mắc cở với mọi người chung quanh.

Những hôm đầu mới hành nghề đạp xe ba bánh, khi ra khỏi nhà, tôi lấy cái nón lính cũ của ba tôi đội lên đầu và kéo hơi sụp xuống để người quen không nhìn thấy mặt. Nhưng có tạm dấu được láng giềng thì bên ngoài người ta vẫn biết vì cái tướng dáng học trò trắng trẻo, ăn nói lại nhỏ nhẹ đôi khi hiền quá thành khù khờ, chứ không chưởi thề, bạo mồm bạo miệng như mấy anh đạp xe ba bánh chuyên nghiệp. Vả lại khi Sài gòn đổi chủ, rất nhiều gia đình sa cơ thất thế từ địa vị thầy cô rớt xuống làm thợ, làm cu li nên mọi người quen mắt dần đi và nhẫn nhịn với cuộc sống mới.

Thế nhưng nghề đạp xe ba bánh cũng không lấy gì làm khá trong buổi túng thiếu, có ngày tôi chẳng được đồng nào, mang xe về nhà ông cậu cất mà lòng buồn buồn. Toàn, con trai thứ tư của ông cậu ba thấy vậy bèn lấy nải chuối sứ nhỏ nhét đưa tôi, đem về phụ vào phần cơm ít ỏi trong nhà, cũng để cho gia đình bớt tủi vì không lẽ chạy xe cả ngày mà lại không có đồng nào.

Nhà tôi bên Quận Nhất, nhà cậu ba ở tận Quận 8. Mỗi lần đi làm, tôi phải đi lên đườngThống Nhất đón xe buýt đi qua ngã tư Trần Hưng Đạo – Nguyễn Trãi, sau đó xuống xe đi bộ qua cầu chữ Y. Có bữa tối về, tiền ít, tôi chỉ đi xe buýt một đoạn, rồi xuống xe đi bộ từ đường Hàm Nghi phía chợ Cũ để về nhà. Dọc  những con đường quen thuộc thời học trò trong trắng, kỷ niệm xưa êm đềm chất chứa mộng ước sống dậy và rồi nhìn lại chính mình trong hiện tại với tương lai vô định, lòng pha chút xót xa!

Cách nhà tôi hai căn, hướng ra đầu ngõ, có gia đình viên đại úy gốc người Khmer, họ Thạch. Ông đại úy này đi từ chiến sĩ lên hàng sĩ quan vì lập nhiều công trận, hơn nữa thời VNCH thường có chính sách nâng đỡ những công dân gốc thiểu số. Những năm 1970, đại úy Thạch được chuyển về công tác trong đơn vị Kỵ Binh phòng vệ Phủ Tổng Thống ở Dinh Độc Lập. Vào những ngày cuối cùng của miền Nam, viên Đại úy họ Thạch vẫn hiện diện tại đơn vị chờ lịnh, sau khi Phủ Tổng Thống bị chiếm, ông được cho về nhà, những ngày này ông hay qua nhà trò chuyện về tình hình với ông thân tôi.

Chỉ vài ngày sau, như bao sĩ quan khác trong quân đội miền Nam, ông bị lùa đi cải tạo với lịnh của nhà cầm quyền mới: đi mười ngày sẽ trở về sum họp cùng gia đình!? Sau ngày ông đi chừng một năm, cảnh nhà ông xuống dốc thấy rõ, 7 đứa con gồm bốn gái, ba trai đều nghỉ học. Cô con gái lớn tên Kim Loan, trước học chung trường Văn Hóa Quân Đội với tôi, phải lấy chồng sớm để giúp đỡ gia đình vì anh này là một người thợ trong hãng Ba Son gần đó. Thời buổi này, thợ dễ kiếm tiền hơn những người khác vì đây là xã hội của giai cấp công nhân mà!?

Bà vợ viên Đại úy trước làm công chức tại Quốc Hội, sau khi Quốc Hội bị chế độ mới biến thành nhà hát thành phố, bà về nhà sống bằng nghề bán bánh mì thịt nhưng cuộc sống ngày một khó khăn. Căn nhà nhỏ, gọn gàng xinh đẹp một thời nay bị chủ nhân tháo gỡ bán dần dần, lúc đầu là tủ, bàn, ghế, sau đó là giường, nệm, kế đến phải cạy gạch bông lên bán vì bán riết không còn gì để bán nữa.

Dạo các năm 1976-1977, có những nghề mua đi bán lại mới nổi lên nhưng rất phất. Người làm nghề này đi đến từng nhà hỏi mua đồ cũ, sau đó mang ra bán tại khu chợ đặc biệt chỉ sau năm 1975 mới có. Những ngôi chợ này chuyên bày bán các loại gia dụng trong nhà từ miếng thiếc lợp nhà tới cái bàn, chiếc xe đạp v.v… hay những loại quý hơn nhưng do chủ nhân quá kẹt tiền nên đành đem bán rẻ như các loại bình cổ, chén kiểu, các bộ bàn ghế cổ đóng bằng loại gỗ quý từ đời xưa. Và hiển nhiên những người có tiền mua những món hàng này là các cán bộ có chức có quyền trong chế độ mới. Một sự hoán chuyển độc đáo: người chủ cũ trở thành kẻ trắng tay – kẻ “vô sản” đang dần dần được hữu sản hóa bằng nhiều hình thức, kể cả cướp đoạt!

Quay trở lại chuyện của viên Đại úy họ Thạch cũng là láng giềng với gia đình tôi, sức con người chịu đựng có hạn. Người vợ ông phần vì buồn chán trước cảnh người chồng bị bắt đi cải tạo miệt mài không thấy ngày trở về, phần vì không muốn nhìn thấy cảnh cũ làm gợi nhớ tới cuộc sống ngày trước đã mất khó tìm lại được, đã dẫn hai đứa con trai và cô con gái út đi về quê ở Sóc Trăng tìm kế sinh sống.

Ở Sài Gòn, người con trai lớn của bà – tên Mai Vĩnh, anh này nhỏ hơn tôi chừng 4 tuổi, buổi thơ ấu cũng là bè bạn rong chơi trong xóm nhỏ – bị bắt đi thanh niên xung phong. Sau đó vì chán chường với cuộc sống “mới”, nghe nói anh tìm lãng quên bằng ma dược và rồi bị chính quyền mang đi cải tạo ở vùng Vĩnh An – Đồng Nai. Thế là trong tân chế độ, hai cha con đều bị tù cải tạo. Mãi những năm về sau, tôi rời gia đình đi tìm sinh kế nên không biết vị Đại úy đó có mãn hạn tù trở về sum hợp với gia đình hay không, sau hàng mươi năm bị giam cầm!?

Nhà tôi cũng không khá gì hơn nhà viên Đại úy kia, trừ nền gạch bông chưa kịp cạy lên bán, còn những đồ đạc bày biện trong nhà như ti vi, tủ lạnh, bộ ván rộng để nằm nghỉ trưa – mặt ván được đánh vẹc ni bóng láng – cái bàn học của tôi, những bộ ấm trà, chén kiểu, dĩa kiểu mà song thân sắm từ hàng chục năm trước, chỉ khi nào có tiệc tùng, đám giổ, đám cưới mới đem ra dùng, tủ đựng quần áo v.v… đều được mang ra bán rẻ để đổi lấy những chi dùng thiết yếu trong nhà như gạo, thực phẩm hàng ngày. Ngay cả căn gác đóng bằng cây, ván khá chắc cũng bị cưa, gỡ xuống bán, khiến từ dưới ngó lên trần nhà thấy trống rỗng. Ngày trước, ba má tôi làm thêm căn gác nhỏ ở bên trên để cho các bà chị tôi ở, nhà lúc trước khá rộng, sau bán lại nửa căn cho anh hai Thượng, người làm cùng sở với má tôi, nên mới dư tiền đóng thêm căn gác xếp (Anh hai Thượng sau năm 1971 đổi về ty giáo dục Bình Long công tác, trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972, anh bị chết mất xác trên đường chạy giặc, căn nhà anh mua để lại cho bà mẹ và người em gái anh ở).

Cuộc chiến chống lại sựxâm lược cuồng nộcủa chế độcộng sản miền Bắc kết thúc trong thất bại thảm hại, tan tác, tan rã, tiêu vong hầu như hoàn toàn của lực lượng quốc gia chống cộng ở miền Nam.

Đồng minh Hoa Kỳ của miền Nam bỏ chạy trong tráo trở, bội phản, thất tı́n, điêu ngoa cùng cực, phản ảnh trung thực cho chủ nghı̃a thực dụng chı́nh trị đương thời.

Giới lãnh đạo quân sự, chı́nh trịở miền Nam phần lớn cuốn gói, trốn chạy lấy thân cùng gia đı̀nh và tài sản tom góp, tı́ch lũy trong hàng bao nhiêu năm cầm quyền. Tuy nhiên, nhiều sı̃quan, tướng lı̃nh trong quân đội miền Nam sau những năm trong những trại tù của chế độcộng sản rồi cũng thoát khỏi cuộc sống mất tựdo qua sựgiúp đỡ của đồng minh, trong cơn hồi tâm sau sự bội phản hèn mạt bị khắc ghi bằng những dòng chữ đen đậm trong lịch sữMỹ-Việt.

Ngoài ra, non một triệu người lı́nh chiến và thân nhân của họ, đặc biệt là những thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, đã không chạy được và cũng không nhận đ̣ược sự giúp đỡ nào của người bạn đồng minh cũ. Ngay chı́nh cả những cấp chı̉huy của những chiến sı̃ bạc phận này, cũng đành tâm lãng quên đồng đội chiến hữu của mı̀nh, trong cuộc đời tuy gọi là lưu đày, lưu vong… thừa mứa vật chất, nệm ấm chăn êm, nhà cao cửa rộng!?

Chứng nhân còn đó, chứng tı́ch một thời chiến tranh phi nhân, tàn phá, hủy diệt quê hương Việt cùng cực, còn đó. Xin được trı́ch những giòng tâm sự tha thiết sau đây, để được cùng chia xẻ với những người con yêu của tổ quốc Việt Nam bịđời, bịngười, bị đồng đội, bị lãnh đạo, đồng bào bỏ quên trong xót xa, cay đắng, tủi nhục!!!

(Xin đọc Thương Quá Phận Bèo của Mường Giang trong phần Tài Liệu.)

8 – Lên Rừng Làm Rẫy.

Những cố gắng “cầm cự” của gia đình tôi nhằm kéo dài cuộc sống tại đất Sài thành cũng không được bao lâu và hiển nhiên xã hội mới cũng chẳng muốn lưu dung người Sài Gòn cũ trên chính mảnh đất này. Nhưng rời Sài Gòn đi về đâu để tạo cuộc sống khác? Nguyên quán hai họ nội ngoại của tôi đều ở đất Gò Công cách Sài gòn chưa đầy 60 cây số.

Ông nội tôi tên Phạm văn Danh, một công chức thuế vụ thời Pháp thuộc, vào những năm 1920, do nhu cầu nghề nghiệp, ông thường đi khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Vì thế, bà nội tôi tên Trần thị Hương luôn phải mang các con tới địa phương ông làm việc nhằm tiện cho sinh hoạt, lưu trú của gia đình, do vậy việc sinh sống ăn học của ông thân tôi hay thay đổi. Gia đình bên họ nội trú ngụ ở Cầu Tàu, nằm không xa mấy một trong những địa danh nổi tiếng ở Gò Công là Lăng Hoàng Gia, nơi chôn cất gia đình vị đại thần Phạm đăng Hưng thời vua Minh Mạng (lên ngôi từ năm 1820 tới 1840), và vuaThiệu Trị (lên ngôi từ năm 1840 tới năm 1847).

Đức ông Phạm Đăng Hưng, giữ chức Lễ bộ thượng thư, ông cũng là thầy dạy học cho vua Thiệu Trị lúc thiếu thời. Con gái Đức ông, Bà Phạm Thị Hàng, người sau này là vợ Vua Thiệu Trị nhà Nguyễn và là mẹ của Vua Tự Đức. Bà Phạm Thị Hàng sau được tôn làm Đức Từ Dũ.

Bên họ ngoại của tôi sống ngay tỉnh lỵ Gò Công, ông ngoại tôi tên Phan Văn Tròn là thầy thuốc bắc ở gần chợ Gò Công, cả nhà ngoại chỉ có má tôi là con gái nên ông ngoại rất thương bà. Nghe nói ông ngoại tôi là người viết hai câu đối bằng chữ Hán trước cổng ngôi đền thờ vị anh hùng dân tộc Trương Công Định ở trung tâm thị xã Gò Công. Bà ngoại tôi tênTrương Thị Đãnh, quê ở Kiễng Phước (có người viết là Kiến Phước) cách chợ Gò Công chừng 15 cây số, hướng đi ra biển Tân Thành nổi tiếng tại Gò Công. Ở gần Kiễng Phước có một vùng được người địa phương gọi là “Đám Lá Tối Trời”. Tương truyền rằng, ngày xưa đây là khu vực hoạt động của lực luợng nghĩa binh do tướng quân Trương Công Định chỉ huy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập tự chủ cho nước nhà.

Đất Gò Công đã ghi nhiều kỷ niệm thời thơ ấu của tôi, những ngày bãi trường, tôi được bà nội dẫn về thăm quê, bà nội tôi cứ ba tháng lại đi Gò Công một lần để lãnh tiền trợ cấp do cái chết của ông nội tôi để lại. Những ngày tháng này, hình ảnh một miền quê thân yêu, êm đềm với ao cá, cánh đồng lúa, cây sa ry, con đường ruộng nhỏ, chiếc bánh giá ngon thơm ở chợ Gò Công, buổi lễ cúng Ông (cá voi) ở bãi biển Vàm Láng (từ Kiễng Phước đi ra hướng biển Tân Thành) đã ghi sâu trong lòng tôi. Tôi còn nhớ căn nhà ngói xưa cũ của bên ngoại nằm trên đường Miếu Bà gần con hẻm mang tên “chiến sĩ 12”. Tình quê mộc mạc, chất phác đã đi vào tâm trí tôi và lắng đọng tới mãi sau này khiến mỗi lần nhớ quê xưa lòng tôi hằng bùi ngùi tiếc nuối dòng thời gian tĩnh lặng, quý vô ngần của tuổi thơ trong trắng, hồn nhiên. Đôi khi bù vào sự trống vắng  của hiện tại, tôi tìm về quá khứ bằng độc thoại trong tâm tưởng. Nhưng thời gian qua rồi có ai bắt lại được đâu!

Ngày ba má tôi rời đất Gò Công lên Sài Gòn lập nghiệp vào năm 1950, thời ấy miền Nam đã có chiến tranh, song chưa bị mở rộng và ác liệt như sau này. Do hoàn cảnh gia đình và do công ăn việc làm của ba tôi lúc chưa bị động viên, song thân tôi dùng số tiền dành dụm được, sắm chiếc xe hơi hiệu Simca màu trắng sữa. Về sau khi gia đình ngày càng đông người, chiến tranh cũng gia tăng ác liệt, cuộc sống mỗi lúc mỗi khó khăn thêm, chiếc xe được đem bán. Cái nhà xe ở trước xóm bị phá bỏ, đất thì bán cho những người dân đang từ miền quê chạy lên thành thị tránh chiến tranh. Và từ ấy cuộc sống êm ả của gia đình cứ sa sút dần.

Gia đình tôi có liên lạc với bà con dòng họ ở dưới quê thật mật thiết, hàng năm ba, má hoặc chị hai tôi đều thay nhau về quê thăm viếng bà con họ hàng hay sửa sang phần mộ của những thân nhân đã mất. Thı̉nh thoảng bà con dưới quê lên Sài gòn có việc đều ghé qua nhà tôi trú vài ngày.

Thế nhưng sau cuộc đổi đời giữa lúc cảnh nhà sa sút quá đỗi, hầu như không tìm thấy tương lai, ba má tôi lại không muốn về quê cũ sinh sống. Phần vì Gò Công đất chật người đông, phần vì sĩ diện gia đình, không lẽ lên Sài Gòn lập nghiệp bao nhiêu năm nay rồi lại đi về quê kiếm cuộc đất nhỏ nương thân qua ngày. Một phần nữa là lý do an ninh, vì người quen biết ở quê khá đông và họ biết công việc của ba má tôi, trong bao nhiêu năm qua đã phục vụ cho chế độ miền Nam, mặc dù không phải là việc quan trọng, song ba tôi không muốn những người làm việc trong guồng máy mới bươi móc chuyện cũ, hòng làm khó dễ gia đình. Sau cùng, ông quyết định đi lên xã Bảo Chánh lập nghiệp, cách thị xã Long Khánh chừng 10 cây số đường bộ về hướng Bắc (Long Khánh cách Sài Gòn chừng 100 Km).

Xã Bảo Chánh trước đây là một “ấp chiến lược” trong thời chiến tranh, sau đó trở thành khu giãn dân của thị xã Long Khánh. Gần khu giãn dân này có một lô đất rừng chừng vài mẫu do một tổ hợp người Việt gốc Hoa “thương lượng mua lại” từ chính quyền địa phương để khai phá làm nông. Cậu ba tôi có quen với tổ hợp này nên xin mua hơn một mẫu đất không được tốt cho lắm, sau đó má tôi chia lại vài sào đất với giá rẻ từ ông cậu, mặc dầu tiền bạc trong nhà đã cạn sạch, cũng còn hơn là nhắm mắt để chính quyền lùa đi đến những vùng đất mà mình không sống được!

Từ đầu năm 1976, ba tôi một mình lên đất Bảo Chánh phá rừng làm rẫy, thời gian sau có anh ba từ Ngã Ba Rừng Lá, gần đường đi Hàm Tân, về phụ giúp. Miếng rẫy này đã gắn bó trong cuộc sống gia đình chúng tôi tới cuối năm 1981. Riêng tôi, từ tháng 7/1975, đã rời Sài Gòn đi tìm việc làm ở nhiều nơi, để có điều kiện giúp đỡ cho cha mẹ, anh em và mong tìm một cơ hội, dù rằng chưa biết rõ cái mình muốn tìm là gì? Thế nhưng, đó chỉ là mong mỏi nhỏ nhoi bị lạc loài, vùi dập trong xã hội mới không sẵn lòng dung chứa những khác biệt với tín điều chế độ! Trong nhiều năm lang thang, tự lập, tôi thỉnh thoảng vẫn ghé thăm song thân trên rẫy. Có lần đi xin dạy học ở một trường xã, khi vào nộp đơn, tôi chỉ nhận được những ánh mắt soi mói, tìm hiểu không thân thiện. Dường như chỉ cuốc, cày sẳn đợi những thanh niên miền Nam như chúng tôi lúc ấy! Đấy cũng là lần sau cùng tôi bước chân tới thềm cửa bộ máy công quyền. Sau cùng vào đầu năm 1980, quá thất vọng vì sự phân biệt Nam – Bắc, đảng ta – ngụy quyền, vô sản – tiểu tư sản thành thị, tôi trở về sống với gia đình mà lòng buồn chán, ngao ngán với thời vận. Ý nghĩ rời bỏ quê hương, ra đi tìm cuộc sống tự do len lỏi dần vào tâm trí tôi từ khi đó.

Từ nhỏ, lòng tôi vốn thích hình ảnh hùng vĩ, cao cả của Núi – Rừng. Quang cảnh thiên nhiên đẹp cuốn hút này đã thực sự đến với tôi trong những ngày tháng làm nông tại Bảo Chánh. Nhưng để lại nhiều kỷ niệm khó phai trong đời là thời gian sống và hoạt động ở miền rừng núi Thái – Cambodia – Lào trong bộ quân phục KHÁNG CHIẾN cùng với hàng trăm thanh niên Việt khác trên mọi nẻo đường đời quy tụ về đây đi xây dựng niềm tin mới!

Bảo Chánh là một xã nghèo, trừ phần nhỏ dân cư đã sinh sống ở đây từ trước, còn đa phần mới chạy tới đây lập nghiệp sau năm 1975, trong đó gồm những gia đình quân nhân công chức nghèo ở thị xã Long Khánh bị chánh quyền mới đuổi ra khỏi thị xã, được ngụy trang dưới những từ ngữ mị dân: chính sách giãn dân (một bộ phận của chính sách xây dựng vùng kinh tế mới). Đúng ra là đẩy người dân vô tội ra khỏi thành phố, lên rừng làm nông nhằm gạt bỏ những trở ngại, nguy hiểm có thể xảy đến cho chế độ mới theo cái nhìn của họ sau khi cướp được chính quyền.   Ngôi chợ xã lụp xụp với mấy sạp bán hàng cất tạm bợ bằng lá, tre và cây rừng. Mùa mưa, khi vào chợ phải xăn quần tới đấu gối do những vũng nước đọng hay đất sình đầy lối đi. Đối diện chợ là ủy ban nhân dân xã Bảo Chánh, cơ quan uy quyền ở địa phương. Cả hai nơi cách mặt nhau bởi con đường xe lửa nằm ngay giữa từ Sài Gòn chạy ra miền Trung, dưới đó vài chục thước là ga Bảo Chánh.

Miếng rẫy của gia đình tôi nằm xa chợ Bảo Chánh chừng 4 cây số đường đất chạy ngoằn ngoèo qua các xóm nhỏ của đồng bào Thượng cùng những khoảnh ruộng, nương rẫy nằm dọc theo đường đi. Gần đấy vươn lên trời cao lừng lững ngọn núi Chứa Chan. Núi Chứa Chan không cao lắm, đứng từ Bảo Chánh trông núi khá rõ. Những buổi sáng sớm, ra tập thể dục trước căn nhà lá, tôi thấy đỉnh núi ẩn hiện trong bóng sương mù khiến cho tâm hồn sảng khoái giữa cảnh ban mai yên tịnh, trong lành!

Mấy sào đất của gia đình tôi thuộc loại đất xấu, có chỗ toàn cát, có chỗ pha chút đất thịt. Ở khúc cuối cận con suối nhỏ, bên kia suối là khu giãn dân Long Khánh, đất còn màu vì đây là lỏm rừng nhỏ mới được phát quang sau này. Đầu mảnh đất giáp với con đường từ xã chạy vào ấp Thọ An, ở giữa rẫy, ba tôi cất một căn nhà lá để gia đình che mưa che nắng tạm. Chung quanh nhà rẫy, ông trồng nhiều loại cây từ đu đủ, dừa, mít, khoai mì, ớt, chuối. Nhiều nhất vẫn là chuối vì có bóng mát lại vừa ăn ngon và dễ đem ra chợ xã bán trong ngày rằm hàng tháng. Phần đất còn lại, thường chỉ canh tác vào mùa mưa, lúc mưa xuống, nhân lực trên rẫy gồm có ba tôi, anh ba. Má tôi lúc thời vụ bận rộn thì bà có mặt trên rẫy, còn những lúc khác bà đi lên, đi xuống Long Khánh – Sài Gòn bằng xe lửa trong những chuyến buôn lẻ, vừa tiện bề chăm sóc nhà cửa ở hai nơi. Tân đã bỏ học lên Bảo Chánh giúp gia đình, Tân cũng không thường xuyên có mặt ở rẫy vì tuổi còn nhỏ (năm đó Tân mới 15 tuổi). Xa Sài Gòn đôi khi nhớ bạn bè, em lại đòi về Sài Gòn mấy hôm, và tôi được xem là nhân lực chính nhưng lại trễ tràng vì mãi tới năm 1980 mới trở về làm rẫy cùng gia đình.

Do mấy sào đất không cao lại không thấp, nên làm ruộng thì thiếu nước còn trồng các hoa màu khác lại hay bị ngập nước sền sệt. Mưa xuống các loại hoa màu như đậu xanh, đậu phộng, đậu đen xanh lòng (loại này bán có giá) và bắp là lương thực chính yếu phải được gieo trồng. Căn bản vẫn là bắp để thay cho lúa không cấy được. Còn các loại đậu khi thu hoạch sẽ được mang bán đổi lấy các thực phẩm khác như bột ngọt, cá khô, mỡ, nước mắm, mắm ruốc, đường v.v… dùng trong bữa ăn hàng ngày.

Hàng năm, bắp được trồng gần kín miếng rẫy nhỏ.Có lúc ba tôi cho phép hái một ít ăn tươi hoặc thỉnh thoảng nấu một nồi chè bắp nước cốt dừa, còn phần lớn được lẫy hột, đem phơi nắng thật khô. Phơi hột bắp mất nhiều thì giờ vì mùa mưa, sau đó vác hoặc gánh ra nhà máy xay xát ở ngoài chợ để xay nhỏ, cám thì chịu bán rẻ cho nhà máy xay. Những hạt bắp được nghiền thành nhiều mảnh nhỏ xı́u được sử dụng thay gạo trong các bữa ăn quanh năm.

Có mùa, bắp bị thất, do giông gió quá nhiều hoặc bị những đàn két rừng kéo nhau tới ăn phá, gặp cảnh này, những buổi gánh bắp đi ra xã để xay không còn nữa. Vì tiết kiệm, ba má tôi để nguyên hột, phơi cho thật khô. Trước khi nấu, đem ngâm hạt bắp trong nồi nước có pha chút vôi trắng và lấy tay chà đi xát lại nhiều lần để cho hạt được sạch, khi hầm nấu, hạt bắp mau mềm. Ăn bắp hầm mau ngán hơn bắp được chà nhỏ, nhưng có ngán cũng ráng nuốt vì trong nhà không có gạo. Những mùa bắp trúng, loại bắp nếp khi được chà (xay nhỏ) ăn bùi hơn loại bắp nù, bắp nếp nhỏ trái, nhỏ hột hơn bắp nù song nấu ăn tươi hoặc dùng thay cho gạo thì dễ ăn hơn. Bắp nù tuy không ngon như bắp nếp nhưng có lợi vì trái to và hột bự.

Trong mấy năm làm rẫy, gia đình tôi ít có dịp ăn được những bữa cơm nấu bằng gạo trắng. Hàng năm chỉ những ngày Tết hoặc cúng giỗ, má tôi mới bán chút đỉnh đậu, bắp hay vài con gà để đổi lấy mấy ký gạo ngon về nấu cỗ, trước cúng tổ tiên ông bà sau cho cả nhà dùng. Những buổi ăn có cơm trắng với chút thịt, cá như thế thật đáng nhớ. Nhưng cũng không có nhiều để ăn cho thỏa mãn! Sau những ngày đó, gia đình chúng tôi tiếp tục ăn bắp chà hay khoai mì, khoai lang (tươi hoặc khô) quanh năm.

Do đất không làm ruộng được, và thời vụ canh tác lại chỉ trông vào sáu tháng mưa, nên lương thực dự trữ trong nhà lúc nào cũng thiếu. Mùa nắng lao động lại nhàn nhã, có ít việc để làm. Vào mùa này chỉ còn lại ba tôi ở nhà coi rẫy và chăm sóc đàn gà vịt cùng số cây ăn trái chung quanh nhà như ớt, đu đủ, mít, giàn dưa tây v.v… Sau này khi tôi về phụ giúp, vào mùa nắng, tôi cùng em Tân cuốc chừng hai sào đất để trồng lang, khoai lang trồng có ba tháng, củ đã bán được. Trồng lang có nhiều cái lợi, thứ nhất tạo thêm việc làm cho gia đình trong mùa nắng rảnh rỗi, thứ nhì lúc củ lang chưa đủ lớn để bán, dây lang được cắt đem bán cho những người nuôi heo. Việc cắt ngọn dây lang, dài khoảng hơn hai gang tay, có lợi vì kích thích cho  dây mọc thêm ngọn, lá. Nhưng khi trồng lang lấy củ người ta không để cho dây lá mọc sum sê sẽ lấy hết phân nuôi củ. Nông dân có câu: tốt lá thì không tốt củ. Cứ vậy, cắt lại mọc, mọc thêm lại cắt. Tiền bán dây lang góp mua thêm ı́t thực phẩm như khô, gia vịhàng ngày trong gia đình.

Thời gian dây lang được cắm xuống đất, tôi gánh nước tưới lang mỗi ngày, từ cái giếng nước ba tôi cùng anh ba đào sau nhà đi tới khu đất trồng lang mất vài phút. Hai sào đất gồm vài chục giồng lang, chia ra sáng chiều mới gánh tưới hết. Đã vậy mùa nắng nước giếng mau cạn, phải vét thêm giếng để vừa có nước tưới lang lại vừa có nước dùng trong nhà. Khi dây lang đã có thể cắt được, mỗi buỗi chiều tôi đi ngó từng giồng lang, coi đọt lang nào đủ dài thì cắt bớt và xếp thanh từng bó nhỏ chất vào bụi chuối trước nhà để ngọn lang được tươi lâu, chờ sáng sớm ngày mai gánh ra chợ bỏ mối cho những người mua quen. Bán đọt lang thường đi sớm vì khi có nắng nhiều, đọt lang héo dần, các mối mua không vừa lòng. Những buổi sáng như thế, tôi dậy vào lúc nghe gà gáy hừng đông, tập vài động tác thể dục. Thói quen tập thể dục 30 phút mỗi sáng đã có từ hàng chục năm qua, vì thuở nhỏ, tôi thường thấy song thân tập nên bắt chước theo và giữ mãi tới bây giờ. Nhờ luyện tập luôn mà sau này đuợc dẻo dai vượt qua nhiều cuộc hành trình như chuyến vượt biển rồi nhập biên. Nhất là lúc nhập biên phải vượt bao rừng sâu, núi cao, nhiều sông lắm suối, ăn uống kham khổ. Có anh em tướng dáng mập khỏe thế nhưng khi di hành lâu trong địa hình rừng núi hiểm trở, hai bắp chân mau bị đuối, có người đi không nổi đành bỏ cuộc, nằm lại bơ vơ giữa chốn rừng sâu hiu hắt.

… Sau đó tôi đặt cái đòn gánh lên vai, đầu trước đầu sau là hai đống dây lang khá nặng đặt trên hai cái dóng. Từ nhà ra chợ xã chừng bốn cây số đường đất, vào mùa nắng đường dễ đi hơn vì không đọng nước hay sình lầy. Tôi gánh một hơi ra đến chợ, trời còn sớm, sương mù vẫn lợn vợn quanh lưng chừng núi Chứa Chan. Bán dây lang xong được được ít tiền, ghé chợ mua một gói mắm ruốc, vài con khô, đây là những món ăn thường nhật của gia đình. Xong lại đi bộ về, ăn sáng cùng ba tôi trong căn nhà lá nhiều kỷ niệm và rồi tiếp tục gánh nước tưới lang.

Tới ngày đào lang, gia đình lại thêm một ít thu nhập. Ngoài số lang tươi được tôi gánh ra chợ xã bán, số ít được luộc ăn tươi mỗi buổi sáng. Phần lớn số củ lang còn lại được xắt thành từng lát không mỏng lắm, sau đấy đem phơi nắng cho thật khô và cất vào bao dùng làm lương thực dự trữ. Khi ăn hết số lang tươi – thường thì củ lang tươi không để được lâu – những lát lang đã được phơi khô ráo sẽ được mang ra ăn dần. Mỗi sáng sớm, ba tôi lấy chừng mười lát lang khô đem rửa sạch và ngâm nước độ năm phút cho lang mềm ra, kế đến bỏ vào nồi hấp cho chín. Đây là món ăn sáng trong những ngày chờ mưa xuống để gieo hạt.

Vào mùa nắng, trồng rau cải cũng là thứ dễ kiếm tiền và tạo thêm việc cho lao động nhàn rỗi trong nhà. Các loại cải dễ trồng, dễ bán thường là cải bẹ xanh, bẹ trắng, sà lách. Cải từ lúc gieo hạt đến lúc nhổ bán chỉ mất chừng hai tháng. Không như rau lang, trồng cải phải dùng phân nhiều hơn để thúc cải mau lớn, kịp mang ra chợ bán. Thứ nữa, cải bán có tiền hơn dây lang. Phân bón cho cải thường là phân hóa học, nhưng nếu dùng nhiều lại không tốt cho đất cũng như không được lời bao nhiêu khi thu hoạch. Vì vậy nông dân nghèo miền quê thường chứa nước tiểu để làm phân tưới cho cải. Nước tiểu được trữ lâu mới có tác dụng, khi tưới phải pha thêm với nước để nồng độ nhẹ xuống, nếu không cải sẽ bị héo lá hoặc chết dần. Và khi cải còn độ một tuần nữa thì nhổ bán được, lúc đó người ta chỉ dùng nước trong tưới như là một cách rửa cải sạch trước khi đem tới cho nguời tiêu thụ.

Ở bụi chuối phía sau căn nhà lá của gia đình tôi có đặt một cái lu nhỏ, cao chừng bốn tấc đã bị mẻ chút đỉnh nơi miệng, nên được ba tôi dùng để chứa nước tiểu. Trong lu thỉnh thoảng còn có xác một hai con gà con bị chết được bỏ vào đó ngâm làm phân. Chỉ một lu này thôi, tôi đã trồng nên hàng trăm kí lô cải trong hai mùa nắng, giúp gia đình kiếm thêm tí tiền xoay sở trong cơn túng ngặt. Sau đó vài năm, tức khoảng năm 1983, khi tôi đang sống trong trại tị nạn Sikhiu thuộc tỉnh Nakhon Ratchasima hay còn gọi là Khorat, nằm ở hướng bắc đông bắc của thủ đô Băng Cốc – Thái Lan, tôi thấy nhiều người trong trại lúc nhàn rỗi trồng thêm rau cải để kiếm thêm thu nhập. Trong trại có nhiều mương rãnh thoát nước chảy ra từ các khu đông chật người tị nạn ăn ở sinh hoạt, các cống thoát nước này là nguồn cung cấp phân tổng hợp rất tiện lợi cho những người trồng rau cải.

… Vào ngày thu hoạch, sáng sớm khi sương mù chưa tan hết, tôi đã dậy nhổ cải. Sau đấy lấy thùng kéo nước từ giếng lên rửa sạch đất bám nơi rễ, song thân tôi dậy trễ một chút vì trời còn hơi lạnh. Khi cải đã được chất vào gánh thì má tôi cũng đã rửa mặt xong, mùa bán cải bà thường đi sau gánh cải tôi ra chợ vì giá cải hay lên xuống theo buổi chợ nhiều hay ít cải. Do vậy, có bà tiện cho việc nói giá với khách mua hơn, vì tính tôi thẳng, không chịu cù cưa nên khi đi mua bán thường hay bị qua mặt, nói cho đúng, tı́nh thật thà như tôi thı̀chı̉bịlường gạt. Thêm nữa bán cải được nhiều tiền hơn rau lang, nên sau khi bán xong, sẵn buổi chợ đấy, má tôi lại mua thêm ít thực phẩm mang về trong rẫy cho gia đình dùng.

Đời sống trên miếng rẫy nhỏ của gia đình trôi qua đơn điệu tứ mùa. Anh ba tôi về rồi lại đi, dường như anh không đồng ý với cuộc sống hiện tại, nhưng đi đâu cũng không được xa và cũng không tìm đâu ra cơ hội như ngày trước vì xã hội đã khép chặt! Ba tôi mau già vì mỏi mệt với cuộc sống, phần lớn do cảnh túng thiếu triền miên trong nhà.

Những lúc không có gì làm tôi lại đi lang thang qua các khu đất gần nhà, mong tìm chút gì khuây khỏa trong đời sống. Gần nhà tôi có gia đình người Việt gốc Hoa, chủ gia đình là người đàn bà, thiếm hai Dzùng. Nghe nói thím là vợ lẽ của một thương gia người Hoa ở Chợ Lớn, đời sống gia đình của thiếm không êm đẹp. Sau 1975, thiếm hai dắt các con lên Bảo Chánh sinh sống qua ngày, cảnh nhà thiếm hai từ thiếu ít tới thiếu nhiều, giống như hầu hết gia đình nơi đây. Thỉnh thoảng tôi ghé nhà thiếm ngồi nói chuyện cho qua giờ. Có một hôm thiếm thấy tôi buồn nên lấy mấy tấm hình những người cháu cho tôi coi vui mắt, theo lời thiếm nói các tấm hình này chụp tại một trại tị nạn trên đảo thuộc Indonesia. Đây là lần đầu tiên, những hình ảnh bên ngoài lọt vào mắt tôi từ sau ngày 30/4/1975!!!

Tôi nhìn những tấm hình thật lâu, đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Làm sao có quá nhiều người đi lọt ra bên ngoài? Cuộc sống ở trại tị nạn như thế nào? Tôi ngạc nhiên là phải. Vì sau ngày 30 tháng 4, do phải kiếm sống vất vả lại bị bưng bít thông tin với bên ngoài, nên tôi biết rất ít những gì đã xảy ra, phần nữa do tuổi trẻ, tôi không cố gắng tìm hiểu thận trọng các vấn đề xã hội. Điều này, khi đã có thêm ít tuổi cùng một số kinh nghiệm sống thì tôi mới hiểu ra. Sự từng trải là kiến thức quý báu mà tuổi trẻ cùng với kiến thức rút từ sách vở không thể nào bằng.

Từ xã Bảo Chánh đi ra thị xã Long Khánh (chính quyền mới đổi tên là huyện Xuân Lộc, từ Sài gòn đi về hướng đông – bắc, ta sẽ đến Long Khánh trước sau đó mới tới Xã Bảo Chánh) có ba cách đi. Một là đón xe lam ba bánh chạy vòng từ chợ xã theo con đường đất nhỏ đâm ra quốc lộ 1, rồi theo quốc lộ xuôi về hướng Nam độ 15 cây số sẽ tới chợ Long Khánh.

Cách thứ hai là đi bằng xe lửa, ngay giữa xã Bảo Chánh có đặt một nhà ga cũng cùng một tên, đường xe lửa này chạy xuyên bắc – nam, từ Sài Gòn đến Hà Nội, mà thời sau 1975 hay gọi là “đường tàu thống nhất”. Từ ga Bảo Chánh đi theo tàu chợ tức xe lửa chạy hàng ngày xuyên qua một số tỉnh, về tới ga Long Khánh không bao xa, thường vài mươi phút.

Cách thứ ba là đi bộ đối với những người không có tiền, con đường đất này chạy cặp với con đường rày xe lửa, đường khá rộng, bề ngang khoảng chừng 4, 5 thước. Nó chỉ chạy dài từ Bảo Chánh tới chợ Long Khánh. Khi đi theo con đường đất này, lúc đầu sẽ vượt qua nhiều khu vườn trái cây sum sê đầy trái, nhất là chôm chôm, sầu riêng, hai loại hoa quả có tiếng ở Long Khánh. Nghe nói những khu vườn trái cây này, trước 1975, thuộc về tài sản của những người có quyền thế trong chế độ, sau “cách mạng” những miếng đất hái ra tiền đó được đổi chủ, chủ nhân mới cũng lại là đám quyền thế ngồi mát ăn bát vàng, chỉ có dân đen hoàn dân đen!

Gia đình tôi hầu như rất ít sử dụng tuyến đường xe lam vì mỗi lần đi khá hao tốn trong thời buổi “gạo châu”, những lúc có việc cần về nhà ở Sài Gòn thường dùng xe lửa. Còn con đường đất nhỏ được sử dụng thường xuyên hơn vào mùa nắng. Nhất là đối với tôi, vì cặp chân thanh niên còn khỏe, tiết kiệm được mớ tiền, đường dài hơn 10 cây số, đi bộ phải mất gần hai tiếng đồng hồ, nếu đi ra rồi trở về liền cũng hết một buổi. Dọc theo đường đi là những cánh đồng lúa xanh rờn, những đám rẫy mới phá, những căn nhà lá đơn sơ quá quen mắt và ấm cúng trong cái tình nghèo. Chủ nhân đôi khi là những người từ miệt Bình Định, Thừa Thiên lặn lội vào đến đây lập nghiệp. Có những đoạn đường bị ngập nước, khách đi bộ phải leo lên đường rầy xe lửa đi một quãng. Sau đó quay trở xuống con đuờng đất đi tiếp, hai con đường chạy song song nhưng con đường rầy cao hơn.

Trong 5, 3 năm đầu sau khi miền Nam “đổi đời“ với kiếp sống khốn nạn, phương tiện đi lại chính yếu của người dân ở miền Đông hay từ Sài gòn ra miền Trung thường là bằng xe lửa. Xe lửa thời đó được chia làm hai loại. Một là tàu thống nhất, chạy xuyên Việt từ Sài Gòn đến Hà Nội, đây thường dành cho cán bộ, công nhân viên nhà nước hoặc những người dân có nhu cầu đi xa, như từ Bắc vô Nam thăm bà con, và thường thì tuyến đường tàu này trở thành một đặc quyền của giai cấp mới: đảng viên cán bộ nhà nước trong các hoạt động đi buôn bất chính. Vì dân nghèo khó mà leo lên loại tàu được bày biện sạch sẽ ngăn nắp này. Thứ nữa tầng lớp dân chúng sống bên trong vĩ tuyến 17 vào những năm đó vẫn đang bị chế độ nhìn bằng cặp mắt cảnh giác: ngụy dân! Một loại công dân lớp dưới!

Loại tàu lửa thứ hai được là tàu chợ, đúng như tên gọi, tuyến đường xe lửa này chuyên dành người dân đi lại hàng ngày, từ xã này qua xã kia, từ tỉnh này sang tỉnh khác. Tàu chạy chậm, cứ mỗi ga lại ngừng một lần và chạy dài từ Sài Gòn đến Nha Trang, từ Nha Trang trở ra phía Bắc, có thêm những tuyến đường nối dài tới Quy Nhơn. Đi tàu chợ trong những năm này mới thấy được một phần nào nỗi khổ của dân nghèo. Trên tàu giống như một cái chợ dơ bẩn không ai muốn dọn dẹp cho sạch, vì có dọn rồi ngày mai lại cũng vậy. Khách đi tàu đa số là dân đi buôn, số ít còn lại là khách vãng lai không muốn dùng xe đò. Vì đi tàu chợ rất dễ trốn vé, người đông, các toa tàu lại nối liền với nhau, nhân viên kiểm soát vé đi tới toa này thì họ lại chạy sang toa khác. Có những thanh thiếu niên còn trèo lên nóc xe lửa trốn cảnh xét vé nữa.

Trên tàu, ôi thôi đủ loại dân buôn, từ người buôn cá hấp ở miền Trung mang về Sài Gòn bán hay người từ Sài Gòn, Thủ Đức lên miền Đông tìm mua khoai lang, đậu các loại, bắp đem về thành phố bán kiếm lời… Đáng sợ nhất là đám buôn gỗ, than. Những năm sau “giải phóng“, người dân Sài Gòn thiếu thốn nhiều nhu cầu từng có trong cuộc sống hàng ngày trước đây, trong đó phải kể tới dầu lửa. Không có dầu đốt thì chặt cây rừng làm củi thay thế dầu. Do vậy rừng đã bị tàn phá mặc sức, lớp bị phá để biến thành nương rẫy nuôi sống người dân khi “cách mạng” kéo về, lớp bị phá chỉ để lấy cây làm củi nấu nướng! Có cầu tất sẽ sinh ra cung, đúng như quy luật căn bản trong kinh tế học. Những người dân đang thất nghiệp triền miên do nhà nước không sử dụng hoặc quá khó để tìm việc làm trong xã hội mới, nay đã tự tạo được nghề nghiệp khác có thu nhập qua ngày đó là nghề đi buôn cây làm củi – tạo nguồn cung cấp cho cư dân nơi thành thị.

Số người đi buôn này có liên lạc chặt chẽ với những người đốn cây, họ gom số cây mua được từ ven rừng mang ra chất gần nhà ga nơi xe lửa sẽ ngừng vào giờ nhất định nào đó trong ngày. Cây được cưa thành từng khúc dài độ 1mét 2 để có thể chuyển lên các toa tàu. Sau khi về tới chỗ tiêu thụ, cây được cưa, chẻ thành từng que củi nhỏ. Những ga Mường Mán, Gia Rai, Bảo Chánh…là các nơi tụ tập đám người buôn cây làm củi khá đông.

Khi còn khoảng hai tiếng đồng hồ nữa xe lửa vào ga, người ta đã thấy các “công ty khai thác chất đốt” này di chuyển từng khối cây đến sát đường ray. Để khi tàu tới, những kẻ được thuê mướn làm phu bốc vác sẽ nhanh nhẹn chuyền số lượng cây nhiều đáng sợ này lên từng toa tàu. Mục tiêu trong việc chất cây lên tàu là: nhanh – hết, không được bỏ sót số lượng cây đã được chất cặp theo đường rầy. Có đứng gần nơi những người chất cây lên các toa tàu lửa, nhất là lúc tàu chạy về đêm, mới thấy đáng sợ cho những hành khách đang đứng trên các toa tàu.

Số phu bốc vác được trả tiền theo số lượng cây được quăng thảy lên, còn chủ cây thì muốn số cây đã gom mua rồi phải được vận chuyển đi hết trong chuyến tàu đó. Do vậy, họ quăng, ném, nhét tối đa không cần biết có khách đi tàu đang đứng đầy nghẹt ở trong các toa. Và thường thì khách, không ai nói ai, phải lẹ làng tránh né các khúc cây được quăng lên từ bên dưới, nếu không muốn bị trúng vào mình mang thuơng tích hay bị đám con buôn gây gổ sinh sự, chưởi bới. Chuyện bị kẹt chân, kẹt tay hay bị đè chết dưới những đống cây chất đầy ứ, cao ngất trong các toa tàu chật hẹp ẩm mốc, tối tăm vào ban đêm là chuyện không có gì đặc biệt vào những ngày đó.

Có một hôm, tôi đi theo tàu về Sài Gòn, khi tới ga Hố Nai (Hố Nai, Thủ đức là những địa điểm đổ hàng của con buôn), lúc tàu ngừng, hành khách và cây thay phiên nhau xuống ga. Đã gần một giờ đêm, tàu vẫn chưa chạy, tôi thấy đám đông đang tụ tập xầm xì. Hỏi ra mới biết có một bà già bị chết dưới đống cây chất trong toa, bà chết lúc nào không ai biết. Vì quá đông người, hầu như toa tàu nào cũng đầy cây củi, khi hàng được tuông xuống gần hết tại Hố Nai, người ta mới tìm thấy xác bà già nằm bẹp bên dưới!

Tôi vẫn còn nhớ đêm ấy, khoảng năm 1980, ánh đèn vàng lờ mờ ở dãy nhà ga, những người khách còn lại trên toa thì mỏi mệt ngồi gục đầu vào tay tìm giấc ngủ tạm bợ.

Trong nhiều năm liền, các hoạt động buôn cây làm củi đã phát đạt nhờ vào sự “đồng thuận” của nhân viên ngành hỏa xa. Thời buổi kinh tế cực khó, chuyện ăn gian nói dối, chuyện đạp lên nhau tranh cái ăn, chuyện móc ngoặc làm giàu là một trong cách hành xử của con người. Nếu không muốn nói đấy là đạo lý cuộc sống khi nước Việt đi vào thời xã hội chủ nghĩa!

Trong gia đình, má tôi và em Tân là hai người khá thường xuyên đi tàu lửa, vì phải đi lên đi xuống Sài Gòn – Bảo Chánh, làm công việc “hậu cần“ cho gia đình. Chị Tư cùng hai cô em gái tôi rất ít lên rẫy vì có việc làm cũng như coi sóc căn nhà còn lại ở Sài Gòn.Tiếng còi tàu hụ, tiếng bánh xe lửa nghiến trên đường rẫy là các âm thanh ồn ào nhưng rất quen thuộc với má và em tôi vào những ngày cơ hàn ấy. Khi má tôi có việc về Sài Gòn, hẹn sẽ quay trở lại trong tuần sau, đúng ngày hẹn, từng tiếng còi tàu vọng xa xa từ nhà ga ở xã được ba tôi chú ý lắng nghe, và ông phân biệt tinh tường tiếng còi nào kéo lên từ tàu chợ và tiếng còi nào của chuyến tàu thống nhất chạy ngang xã nhà! Dù rằng ông chỉ đi tàu một năm chừng đôi lần.

Nhìn những đồ đạc trong căn nhà lá nền đất, mới thấy sự nhẫn nại vô bờ của người đàn bà. Từng cái lu đựng lương thực trong nhà, cái ly, cái dĩa, cái chén, chiếc mền, chiếc gối, cái nồi, cái thau tới con chó, con vịt, con gà mua gây giống… đã được má tôi cùng em Tân đưa từ Sài Gòn theo từng chuyến xe lửa, lên đến miếng rẫy nằm heo hút tận ven rừng, dưới chân núi Chứa Chan!

Thỉnh thoảng có lúc tôi đi cùng má về Sài gòn, từ rẫy ra ga vào lúc 4 giờ chiều, vì chuyến tàu chợ lúc đó từ Nha Trang chạy vô Bảo Chánh độ 5 giờ chiều. Nhưng có khi chúng tôi ngồi đợi mãi đến 10 giờ đêm mới nghe tiếng còi hụ báo hiệu tàu sắp đến, tàu hay trễ giờ là do các đám đi buôn khi thả hàng ở điểm hẹn, họ thường bứt ống hơi đặt dưới lườn tàu để bắt tàu phải ngừng muơi mười lăm phút. Có khi kéo dài hàng tiếng đồng hồ, lúc nhân viên bảo vệ xuống tàu đi kiểm tra tìm được chỗ bị đứt và nối lại ống hơi xong thì hàng buôn cũng đã được tuôn xuống đất hết rồi.

Khi tàu ngừng, tôi nhanh nhẹn tìm toa nào hơi trống dìu bà lên, sức người đàn bà có tuổi khó mà chen lấn với các hành khách khác, nhất là với kẻ đi buôn được tổ chức thành từng băng nhóm. Lên được và chen vô trong toa rồi, chỗ ngồi thường là các bao hàng chất đầy dưới sàn của toa tàu, rất khó tìm được một ghế ngồi. Nếu may mắn kiếm ghế được thì cũng khó ngồi cho đàng hoàng yên ổn, vì bị ép như cá trong hộp do số ghế ít mà khách lại quá đông, nhưng vậy là may mắn rồi!

Chuyện đứng chen chân, tay bám ở bậc thang lên xuống của xe lửa, để mỗi lần tàu chạy ngang rừng cây ven đường hay dãy nhà lợp bằng mấy miếng tôn cũ, khi sắp vào thị xã Long Khánh, khách phải ép mình vào trong toa vốn nghẹt cứng rồi, để khỏi bị cành cây quẹt hay mái nhà chém trúng, là chuyện thường ngày trên các chuyến xe lửa.

Trong bóng đêm lờ mờ của khoang tàu về đêm không ánh đèn, mùi cá khô, mùi mắm, mùi vỏ cây pha lẫn mùi mồ hôi người chua lòm xông nồng lên thật khó ngửi. Cùng lúc ấy ở sát bên tai lại vang chói các âm thanh hỗn độn, tiếng kêu nhau ơi ới, tiếng la hét, chưởi thề, cãi lộn, rồi xúm lại đánh nhau inh ỏi. Đứng nơi góc tối gần đấy, tôi nhìn má ngồi co ro yên lặng trên mấy cái bao hàng, trong tận đáy lòng, tôi thấy buồn, thương thân mẫu vô hạn!

Những buổi tối, sau một ngày phơi nắng đứng cuốc trên đất rẫy, tôi lại cầm các quyển sách thời luyện thi tú tài, mở ra coi lại. Nhưng thời gian lặng lẽ trong thiếu thốn nơi chốn nương rẫy đìu hiu không còn kéo dài nữa. Không phải vì thiếu dầu đốt mà ba tôi bảo phải tắt đèn nghỉ sớm trên cái giường tre mà đó là vì song thân tôi quyết định bỏ miếng rẫy sau gần năm mùa mưa nắng làm nông dân, để về lại Sài Gòn. Năm ấy, năm 1981. Sài Gòn – miền Nam đã bước đến năm thứ sáu trong bóng đêm – câm nín!

Cuối năm 1981, lúc trời đã dứt mưa, vào ngày cuối cùng trên nương rẫy, lúc trời chưa sáng tỏ, tôi gánh một gánh gà lội bộ theo con đường đất nhỏ hướng ra thị xã. Đây là số gà dành dụm được của gia đình, mang về Sài Gòn bán kiếm tiền độ nhật trong những ngày mới vừa quay lại nơi chốn xưa. Má tôi đi sau trên chuyến xe lam thẳng ra bến xe đò Long Khánh – Sài Gòn. Ba tôi và em Tân chờ tới trưa, mang số đồ đạc còn lại trong nhà, theo chuyến xe lửa về sau. Riêng anh ba tôi đã tìm việc làm ở một tổ hợp chế biến nhựa cao su tại chợ Long Khánh, nên anh không đi cùng gia đình về Sài Gòn.

Vĩnh biệt mảnh đất Bảo Chánh! Giờ đây tôi vẫn còn nhớ rõ những lời nói vĩnh biệt ấy khi đặt đôi gánh gà lên vai bước đi. Không phải vĩnh biệt miếng đất nhỏ nghèo nàn chất chứa kỷ niệm, nhiều lưu luyến đó. Nhưng tôi muốn nói lời vĩnh biệt những tháng ngày khốn quẫn mất tự do. Bởi vì có ai đành lòng rời quê hương ra đi tìm cuộc sống mới mà lòng không nhớ nhung quê cha đất tổ! Từ ngày ra đi ấy, tới nay, lúc đang viết những dòng chữ này hồi tưởng về nơi xưa – tháng 10/2000. Thời gian đã trôi qua 20 năm nhưng tôi vẫn chưa thể nào trở về thăm chốn cũ!

Đó dường như là những ngày sau cùng tôi sống gần cha mẹ cùng anh em ruột thịt trong tình gia đình đọng đầy kỷ niệm! Gọi là dường như, vì 18 năm qua, trong lặng lẽ, âm thầm và cảnh giác, tôi chỉ về lại căn nhà xưa ở Sài Gòn lúc hai giờ khuya ngày chủ nhật vào đầu tháng 3/1993 với thân mình mang nhiều thương tích trong bộ đồ rách rưới sau khi vượt qua đoạn đường dài gần sáu trăm cây số… từ một trại trừng giới!

Viết xong chương “Tình Nhà” vào ngày chủ nhật 15/10/2000. Tại căn phòng trọ nhỏ hẹp, nằm trong con hẻm 128, ở cầu thang 108, lầu 2, mặt trước ngó ra phía đường Kampuchia Krom, gần chợ Mới.

Nam Vang – Cam Bốt, 15/10/2000

(Năm 2005 có bổ sung)

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 6

Người ta để lên bàn một xấp giấy pelure fort đánh số từ 1 đến 20 trên mỗi góc trang đầu lề, một cây bút Bic, một gói thuốc lá Sông Cầu, một hộp diêm Thống Nhất và một bình trà.

– Anh không được phép xé một tờ nào. Dù viết sai, viết dơ, anh phải để nguyên, cấm xóa bỏ hoặc làm mất dấu tích chữ đã viết sai. Nói tóm lại, anh phải nộp đủ 20 tờ. Anh viết một mặt giấy thôi. Hết giấy, anh báo cáo, sẽ có thêm.

– Viết cái gỉ?

– Tự khai.

– Tự khai cái gỉ?

– Cuộc đời anh, từ năm 10 tuổi đến hôm nay, những trường anh đã học, những người anh giao du, những việc anh đã làm. Viết hết, thành khẩn và chi tiết. Mở đầu là sơ yếu lý lịch của anh.

– Sơ yếu lý lịch là cái gì?

– Là họ và tên anh, năm sinh, nguyên quán, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp, dân tộc, quốc tịch…

– Để làm gì?

– Hồ sơ.

– Tôi không làm tự khai thì sao?

– Quyền lợi của anh, tại sao không làm?

– Tôi không thích.

– Tùy ý anh. Tôi chỉ nhận chỉ thị đưa giấy bút, thuốc, nước và quản lý anh trong giờ anh làm tự khai. Theo tôi, anh nên làm, trước sau thì cũng phải làm thôi.

– Mỗi ngày viết 20 trang à?

– Theo khả năng của anh mà viết.

– Được, tôi sẽ viết vì anh.

– Tại sao lại vì tôi?

– Vì anh đã bỏ tôi vào cái cần xé. Anh bạn ạ, anh đã là đảng viên chưa?

– Tôi còn phấn đấu lâu.

– Hy vọng sẽ gặp anh ngoài đời. Anh cứ yên chí, sẽ chẳng có thứ chỉ thị nào bỏ con người vào cần xé, ràng giây thép gai nữa. Chỉ có tín hiệu của thương yêu và hạnh phúc. Cũng sẽ chẳng còn tự khai, chẳng còn con người quản lý con người, chẳng còn phòng biệt giam nơi chốn con người bị tước đoạt hết phẩm cách. Nếu còn phương pháp nào đầy đọa con người tàn nhẫn hơn, tôi xin vì anh chịu đựng hết để ngày mai anh không bị ai đầy đọa nữa.

– Anh thức hay anh ngủ, anh Bá?

– Tôi thức.

– Thức mà anh lảm nhảm, anh nói phét. Anh vì cái thân anh làm tự khai đi.

– Anh không thích nghe tiếng nói của con người à?

– Không ai chỉ thị cho tôi nghe anh. Tôi ra ngoài đây, anh cần gì thì báo cáo.

Người công an bảo vệ đóng cửa phòng lại. Chàng mỉm cười. Rồi chàng sót thương người công an. Khi con người biến thành công cụ của chủ nghĩa, nó mất tính người, nó sợ hãi sự thật, nó không dám nghe con người nói về lương tri con người, tình yêu con người. Nó chỉ còn biết triệt để tuân hành chỉ thị và chỉ thị mà nó chẳng hề tìm hiểu xem chỉ thị là cái thứ gì và nó khốn kiếp đến mức nào. Người công an thì tin nghe chỉ thị. Bọn lãnh đạo thì tin nghe giáo điều. Bất hạnh thay cho chúng ta, cho dân tộc ta, ở những nơi chúng ta có thể, có quyền dẵm lên chỉ thị, đạp lên giáo điều lại nẩy sinh bọn phục hồi quyền bính tôi mọi dĩ vãng tự phong lãnh tụ. Bọn lãnh tụ giả hình – bọn tướng tá đào ngũ, bọn cò cớm gian manh – cũng học đòi bầy đặt chỉ thị và giáo điều trong những cái gọi là mặt trận, phong trào bịp bợm của chúng để thắt chúng ta, để bắt ép chúng ta vào cái vòng đai chiến đấu u mê của chúng. Nếu trước 30-4-1975, người Việt Nam chân chính chiến đấu chống phỉ quyền cộng sản, đồng thời, phải chống cả ngụy quyền tay sai ngoại bang, thì bây giờ, người Việt Nam chân chính chiến đấu diệt cộng sản vẫn còn phải chiến đấu luôn với cả bè lũ ngụy phong trào kháng chiến ngụy mặt trận cứu nước. Chỉ thị và giáo điều của lãnh tụ đào ngũ, cò cớm và lũ trí thức chạy trốn bất lương toa rập là gì? Là lạc quyên, xổ số và đẩy đoàn quân ma đi kháng chiến. Là bôi bẩn, nhục mạ những ai phản kháng chúng. Là vu khống những ai trải dài một khoảng đời mình trong tù ngục cộng sản các tội hèn nhát, ăng ten, cộng tác với kẻ thù. Vân vân… Cuối cùng, khi hết đối tượng bôi bẩn, chúng nó bôi bẩn lẫn nhau, chúng nó cống hiến cho đời sống những pho tài liệu hôi thối về sự nghiệp buôn bán kháng chiến của chúng, về sự chia chác lạc quyên không đồng đều giữa chúng! Lãnh đạo cộng sản đã nói không sai, chàng là biểu tượng rực rỡ của tuổi trẻ. Trong thế chiến đấu tiêu diệt chủ nghĩa và lãnh tụ cộng sản hôm nay, tuổi trẻ sừng sững như Thái Sơn, chói lọi như Bắc Đẩu. Bọn chính khách chuyên nghiệp, bọn trí thức bất lương, bọn tướng tá đào ngũ, bọn cò cớm gian manh chỉ còn là cỏ úa chết mòn dưới chân núi tuổi trẻ. Nếu chúng biết ăn năn, sám hối, chúng có thể làm guốc cho tuổi trẻ đi trên đường giải thoát dân tộc.

Ý nghĩ của chàng sẽ phơi trên tự khai? Phải, chàng sẽ giáo dục những kẻ thích giáo dục người khác. Nhìn sấp giấy, cây Bic, chàng ghê tởm thủ đoạn cộng sản. Họ muốn soi kính hiển vi chủ nghĩa vào cả những chữ, những giòng viết sai, viết dơ! > Những giòng kinh nghiệm xương máu của một nhà văn sáu năm quằn quại ngục tù cộng sản. Nhà văn này khuyên những ai, nếu lỡ bị cộng sản bắt, thì cứ nhẩn nha mà tự khai và nên kéo dài thời gian tự khai này bằng cách viết…tùy bút tự khai!

Vậy thì chàng nhẩn nha. Và chàng tìm cách tán gẫu với người công an bảo vệ. Chàng ngâm thơ:

Mảnh vườn xưa, cây mỗi ngày mỗi xanh

Tóc mẹ già thì mỗi ngày mỗi bạc

Hai chúng ta ở hai đầu công tác

Có bao giờ trở lại mảnh vườn xưa

Hai chúng ta như trời nắng tránh trời mưa

Như sao hôm, sao mai không cùng ở

Như mặt trăng, mặt trời cách trở

Có bao giờ trở lại mảnh vườn xưa?

Giọng chàng vang vang, buồn bã. Người công an bảo vệ đẩy cửa bước vào.

– Anh làm tự khai đi.

– Tôi phải ngâm thơ lấy khí thế. Tôi quên mất đoạn dưới, anh có nhớ không? Bài thơ cảm động quá.

– Bài thơ phản động.

– Thi sĩ của ta mà phản động sao?

– Bọn cá nhân chủ nghĩa, bọn Nhân Văn Giai Phẩm, bọn đòi hỏi xét lại, bọn oán trách Đảng đều là phản động.

– Chúng nó đông không?

– Nhan nhản.

– Thế thì tôi mất độc quyền…phản động rồi.

Chàng giả vờ:

– Anh giải thích cho tôi nghe cái thằng thi sĩ làm bài thơ tôi vừa ngâm nó phản động ra sao?

Người công an hồ hởi:

– Nó trách Đảng đầy nó đi công tác một nơi, vợ nó đi một nơi, hai vợ chồng nó không thể gặp nhau. Nó ví von sâu độc.

Chàng hỏi:

– Còn đoạn sau?

Người công an mím môi, rít qua kẽ răng:

– Nó ăn cứt tiểu tư sản, lãng mạn hóa nỗi khổ của nó. Nó bảo về đến nhà thăm mẹ nó thì mẹ nó nói vợ nó đã về, ra giếng múc nước và vừa đi. Nó bèn nhìn xuống giếng mà tưởng tượng hình ảnh vợ nó. Lại có lần nó về, mẹ nó nói vợ nó đã về, leo lên cây ổi hái trái và đi rồi. Nó bèn nhìn lá ổi rung rinh mà mơ mộng. Nó oán trách Đảng.

Chàng nói:

– Nó oán trách chỉ thị!

Người công an nín thinh.

– Nếu anh trong trường hợp nó, anh oán trách chỉ thị của Đảng hơn nó. Tại sao hai vợ chồng mà biến thành mặt trăng, mặt trời, dẫu người ta gắn bó thương yêu nhau nhỉ?

– Anh làm bản tự khai đi!

– Ngay cả đảng viên cũng không được yêu vợ mình, anh thấy chỉ thị nó độc ác không?

– Tôi bảo anh làm tự khai đi!

– Anh đâu nỡ bỏ tôi vào cần xé, đâu nỡ dục tôi viết tự khai, tại chỉ thị. Nói thật đi, anh bạn, anh khoái ngồi uống trà, hút thuốc, nghe tôi kể chuyện Paris.

– Tôi không là bạn với anh.

– Vậy anh là bạn với ai? Vơí chỉ thị và mệnh lệnh à? Anh biết tại sao tôi tự do chọn lựa đau đớn chứ? Để hủy diệt chỉ thị và mệnh lệnh bắt con người hành hạ con người.

Người công an bỏ ra. Chàng cần khai thác triệt để cái trường hợp đặc biệt của chàng trong thời gian > ngục tù. Họ muốn đo lường tư tưởng của chàng, chàng muốn đo lường thái độ của họ.

– Báo cáo cán bộ! Chàng gọi lớn.

Người công an mở cửa.

– Anh muốn gì?

– Tôi thắc mắc một chút.

– Gì?

– Tự khai.

Người công an bước vào, đứng gần chàng.

– Thắc mắc điểm nào?

Chàng nhìn người công an:

– Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú?

– Anh ghi địa chỉ của anh bên Pháp.

– Còn tạm trú?

– Thành phố Hồ Chí Minh.

– Đường nào, quận nào, số nhà nào? Anh phải cho tôi biết rõ tôi đang ở đường phố nào, số mấy, quận nào chứ?

– Không có chỉ thị.

– Vậy tôi chờ có chỉ thị mới viết.

– Anh gây nhiều rắc rối quá.

– Xin lỗi anh.

– Xin lỗi gì?

– Xin lỗi đã bắt anh nghe chuyện tình người. A, anh không đề phòng tôi hạ anh rồi trốn ư?

Người công an lặng im. Y muốn giữ kín sự canh phòng chàng. Y ngó chàng, đôi mắt chớp mau:

– Tôi không hiểu sao lãnh đạo chiếu cố anh tận tình thế. Anh nên biết điều một chút.

Chàng nói:

– Tôi đâu cần lãnh đạo của anh chiếu cố. Tôi cần anh chiếu cố thôi.

– Tôi không có khả năng chiếu cố anh.

– Thí dụ anh có?

– Không có cả thí dụ.

– Tội nghiệp anh ghê. Anh có vợ chưa?

– Rồi.

– Đã bao giờ anh mơ ước sẽ làm Tổng bí thư Đảng chưa? Chắc chắn là anh chẳng dám mơ ước. Anh có biết ông Trường Chinh, ông Lê Duẩn sung sướng chừng nào không. Anh suy nghĩ đi rồi anh sẽ hiểu tôi và anh không dục tôi tự khai nữa.

– Tôi không có quyền hiểu anh. Anh nói nhiều rồi. Tôi nói thật với anh rằng tôi nhịn anh vì chỉ thị đấy. Anh viết tự khai hay không viết mặc kệ anh. Nếu anh còn xúc phạm lãnh tụ của tôi, tôi sẽ quên chỉ thị.

Người công an bước ra, đóng cửa phòng thật mạnh. Bọn công an bảo vệ và quản lý chàng, tên nào cũng có bản lãnh, không dễ gợi xúc động họ hay khơi dậy ở họ mảy may trắc ẩn. Thì thôi, chàng ngồi hút thuốc và uống trà. Sẽ phải viết một cái gì. -, tại sao không viết một bài về mục đích chiến đấu của mình? Nhìn khói thuốc, chàng mơ mộng xa xôi và, bỗng dưng, tâm hồn chàng xao xuyến khôn cùng. Chàng dập điếu thuốc dang dở, bỏ về giường, nằm duỗi chân tay thoải mái. Ngày hôm đó, chàng không viết nửa chữ. Cơm nước vẫn đều đặn, ngon lành. Hôm sau, hôm sau nữa, Lãnh Đạo 2 không tới, Lãnh Đạo 3 chưa tới. Nhưng người công an bảo vệ cũ đã được thay thế bằng người mới. Người này, dân Nghệ Tĩnh, nói trọ trẹ rất khó nghe và cũng rất ít nói. Y lầm lỳ, đôi mắt soi mói, rình rập. Khi y nhìn chàng, mắt y toát ra sự đe đọa gớm ghiếc. Chàng tự nhủ: Đã sắp hết tuần trăng mật sao?

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 5

Nhưng buổi chiều không ai cấp giấy bút cho chàng làm bản tự khai. Chàng được gọi ra mạn đàm với một người khác. Ông này đứng tuổi và cung cách đối xử với chàng giống hệt Lãnh Đạo nên chàng tạm đặt bí danh cho ông ta là Lãnh Đạo 2. Người cộng sản không bao giờ nói tên thật của mình và đừng dại dột hỏi tên người cộng sản khi ta gặp họ trong nhà tù. Lãnh Đạo 2 mời chàng uống trà, hút thuốc lá Phù Đổng.
– Có ai đánh đập anh không, anh Bá?
– Chưa ai đánh đập, chửi bới tôi cả.
– Sẽ chẳng ai dám đánh đập, chửi bới anh.
– Có lẽ tại tôi là
– Không phải. Tại vì chế độ ta tôn trọng con người, không xúc phạm đến thể xác con người.
Chàng muốn tranh luận với Lãnh Đạo 2 nhưng chợt nhớ lời Lãnh Đạo 1 chàng cố nín. Kinh nghiệm vơí Thượng Sĩ đã đưa chàng vào cái cần xé. Với Lãnh Đạo 2, chắc ghê gớm hơn, và rồi cũng chẳng giải quyết được gì. Muốn tiêu diệt chủ nghĩa, phải tiêu diệt lãnh tụ. Lãnh tụ đích thực của chủ nghĩa cộng sản đã chết hết. Bây giờ chỉ còn bọn người bị huyễn hoặc bởi chủ nghĩa bọn say thuốc phiện, xì ke chủ nghĩa, bọn máu mê lãnh tụ và tham vọng quyền bính. Muốn tiêu diệt họ, trước hết, cần lay động cái bóng tối đã phủ kín lương tri của họ. Sức mạnh làm lay động lương tri của họ là tư tưởng chiến đấu thật mới, thật sáng tạo, thật khai phóng nhân bản chỉ tìm thấy ở những người tuổi trẻ Việt Nam hôm nay. Chiến đấu không tư tưởng là chiến đấu mù loà. Chiến đấu với cộng sản mà thiếu võ khí tư tưởng là chiến đấu vô vọng, là cuộc chiến đấu trong chiêm bao của đám lạc quyên, xổ số.
– Anh Bá, Lãnh Đạo 2 nói, một đồng chí của tôi đã báo cáo với lãnh đạo của chúng tôi rằng anh kiêu ngạo và ngoan cường. Anh có biết trong trường hợp nào con người cố tạo ra vẻ kiêu ngạo không?
– Thưa ông lãnh đạo, chàng nói, với tôi, nếu tôi đã kiêu ngạo như các ông nghĩ, thì nó là trường hợp đặc biệt, vì các ông coi tôi là người đặc biệt.
– Tôi cần anh giải thích thêm.
– Để làm gì?
– Để gần gũi và thông cảm.
– Tôi và ông thật khó gần gũi và thông cảm.
– Anh mâu thuẫn với anh rồi đấy. Theo bản báo cáo về anh, anh hay nói về con người. Con người khó gần gũi con người lắm sao, anh Bá?
– Con người và con người sinh ra để gần gũi và thương yêu. Nhưng từ khi có những thứ chủ nghĩa phi nhân xúi dục con người xa cách con người thì nhiều con người đã biến thành công cụ của chủ nghĩa, đã mất nhân tính. Như thế, sự mời gọi gần gũi của một kẻ mất tính người chỉ là cạm bẫy. Và con người nguyên vẹn tính người với kẻ mất tính người rất khó gần gũi.
– Anh ám chỉ ai?
– Tôi nói thẳng thắn, thưa ông. Những người được quyền tự xưng là con người ưu việt ở hành tinh này chỉ là con người cộng sản. Vậy thì tội nghiệp con người quá.
– Anh hãy tội nhiệp anh là đủ. Quả thật, anh đã xa rời tình tự dân tộc, anh chẳng hiểu thế nào là vinh quang của nòi giống. Anh chiến đấu chống chúng tôi với mục đích gì?
– Vinh quang của nòi giống.
– Giải thoát dân tộc khỏi ách nô lệ trăm năm của thực dân và mở nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là gì? Chiến thắng Điện Biên Phủ là gì? Đánh bại thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ và bành trướng Trung Quốc là gì?
– Các ông thường khoe là thành tích của Đảng. Và sau những thành tích ấy là gì, thưa ông?
– Xây dựng hạnh phúc cho dân tộc không phải là một ngày, một tháng hay một năm. Dân tộc ta vừa quét sạch bóng kẻ thù xâm lược ra khỏi đất nước là bị ngay bọn thù hận truyền kiếp phá hoại. Anh có hiểu tại sao đã có hòa bình rồi mà nhân dân ta vẫn phải ăn độn khoai, sắn không? Trung quốc nó đòi nợ ta, nó bắt ta phải trả nợ cho nó gấp rút. Muốn tự chủ, ta đành trả hết nợ nần. Và nhân dân ta phải thắt lưng buộc bụng. Trả nợ nó rồi, nó vẫn chẳng chịu để dân tộc ta yên thân mà kiến thiết đất nước tan hoang vì chiến tranh, chia rẽ. Nó xúi dục, hà hơi tiếp sức cho bọn phản động Kampuchia gây chiến với ta ở biên giới. Nó xua quân xâm lăng chúng ta. Nó bao vây chúng ta mọi mặt. Bọn phản động quốc tế về hùa với nó, khiêu khích chúng ta, phá hoại chúng ta. Chúng ta có hàng ngàn vấn đề cấp bách cần đối phó, thế mà anh còn gây thêm khó khăn, tôi không hiểu các anh là hạng người nào!
– Tôi là người Việt Nam, người Việt Nam chân chính.
– Người Việt Nam chống phá người Việt Nam?
– Chống phá cộng sản. Bởi vì, tất cả mọi thảm hại mà ông vừa nói khiến tôi xúc động đều do chế độ của các ông gây ra.
– Anh ngoan cố.
– Nếu ông mất bình tĩnh thì tôi không nữa và ông cho tôi về phòng có giường đệm hay về cachot ỉa đái, ăn uống, thức ngủ tại chỗ, tùy ý ông.
Lãnh Đạo 2 rót thêm trà vào ly của chàng.
– Anh thù ghét chúng tôi?
Chàng thản nhiên nói:
– Với ông, có gì để thù ghét.
– Thế anh thù ghét gì?
– Chủ nghĩa, chế độ và lãnh tụ của ông.
– Tại sao?
– Vì sự gian ác và tham vọng đê tiện.
Lãnh Đạo 2 cười:
– Trường hợp ngoan cường và kiêu ngạo của anh là trường hợp tuyệt vọng.
Chàng cười theo:
– Bên kia biên giới tuyệt vọng là gì? Thưa ông, là đỉnh ngọn hy vọng. Ông giết tôi rất dễ, giết ước mơ của tôi thì rất khó, có thể nói, các ông bất lực trong ý đồ hủy diệt ước mơ của tôi.
– Anh chết, ước mơ của anh chết theo anh.
– Tuổi trẻ Việt Nam không phải chỉ có một mình tôi.
– Tôi khẳng định vơí anh rằng, tuổi trẻ Việt Nam có một mình anh, một mình anh mà thôi.
– Ông đề cao tôi quá.
– Tôi nói sự thật. Anh bị bắt, anh nằm trong tay chúng tôi. Giết anh hay tha anh là quyền hành của chúng tôi, anh thừa hiểu rồi. Vậy những gì chúng tôi nói với anh, yêu cầu anh, đều phát xuất từ lòng chân thành, từ sự cảm mến thái độ can đảm của anh.
Chàng trầm ngâm, giả vờ thấm cái sự giả nhân giả nghĩa của Lãnh Đạo 2, cái thủ đoạn tinh vi của công an cộng sản. Họ đang giăng bẫy. Họ muốn chàng làm gì đây? Chàng bỗng nhớ một câu kinh nghiệm của một nhà văn sáu năm trong ngục tù cộng sản: Nhưng chọc tức họ để họ hành hạ mình là điều vụng dại. > Chàng sẽ không chọc tức, khiêu khích Lãng Đạo 1, 2, 3 hay 4 nữa mà cố gắng tỉnh táo đo lường thái độ của họ để khỏi bị khuất phục dưới móng vuốt của lãnh đạo của họ.
– Anh hiểu tôi chứ, anh Bá?
– Cám ơn ông, nếu ông đã nói thật.
– Anh vẫn nghi ngờ thiện chí của tôi. Bây giờ, tôi nói với anh những điều tâm cảm, những điều mà anh không nỡ ngờ vực vì anh đã nhìn rõ, nghe rõ. Anh biết đám thằng Giao con Cư bướu và thằng Tiến chứ? A, chúng nó cũng tuối trẻ đấy, trí thức đấy. Một thằng thì chỉ yêu nước như con bọ gậy loăng quăng ở cái xó Paris. Thái độ của nó giống hệt lũ dán hôi, luôn luôn bầy tỏ thái độ chính trị trong bóng tối. Nó yêu nước làm dáng và thủ lợi. Chẳng bao giờ nó dám về quê hương để chia sẻ nỗi đau khổ vơí dân tộc nó sau 20 năm quằn quại trong chiến tranh và 10 năm xây dựng lại đất nước, dù nó về bằng máy bay Air France rồi sẽ trở lại Paris bằng máy bay Air France. Một thằng thì phản phúc. Nó gian manh từ lúc nó tập làm > ở nội trú Đắc Lộ, luôn chống Ngô Đình Diệm rồi vác xác đi thi tham vụ ngoại giao, xoay sở sang Paris dung thân trốn đi lính cho chế độ Thiệu. Nó ngửi được Mỹ sắp cút, trở cờ đào nhiệm rồi tình nguyện đầu quân cho Tòa Đại Sứ ta. Biết nó là thằng sớm đầu tối đánh, ta vẫn cứ dùng. Để tuyên truyền. Nó là công giáo, ai tin nổi nó. Cái bọn công giáo là bọn chỉ đi theo kẻ mạnh thôi, chính quyền nào bọn nó cũng có chỗ dựa. Nó đã về nước bằng con đường Việt kiều yêu nước đấy. Nó phe phẩy tem phiếu mua đồ Imex, vàng, đô la và buôn tranh sơn mài, sơn dầu, áo dài thêu qua Pháp. Nó còn phe phẩy xuất cảnh, nhập cảnh. Mỗi lần nó về Sàigòn > là mỗi lần nó sửa nhà, tậu xe mới ở Paris. Ta biết chứ, biết và khinh bỉ, nhưng vẫn cứ dùng nó. Thứ thời cơ chủ nghĩa, sớm đầu tối đánh, người cộng sản tởm lắm. Anh hoàn toàn khác, anh Bá ạ! Nếu anh cho rằng con đường hẹp và cửa hẹp dẫn anh đến sự sống thì, đồng thời, nó cũng dẫn anh về với dân tộc. Chúng tôi cần anh.
– Cần tôi làm công việc của những kẻ các ông khinh bỉ?
– Anh hiểu lầm rồi. Chúng tôi cần thái độ can đảm của anh.
– Tôi đã chống các ông.
– Anh chống chúng tôi vô vị lợi, anh chống tự nguyện và vì anh chưa hiểu rõ chúng tôi. Anh còn nhiều thì giờ tìm hiểu. Khi anh hiểu chúng tôi, anh sẽ trở lại Paris.
– Tôi không muốn trở lại Paris nữa.
– Càng tốt. Đất nước cần anh. Anh là một biểu tượng rực rỡ của tuổi trẻ Việt Nam, của tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với sự phản tỉnh của anh, anh sẽ là lãnh tụ của tuổi trẻ.
– Tôi đã nói tôi không có tham vọng lãnh tụ.
– Thì anh cứu quê hương anh. Anh dập tắt phá hoại tứ phiá. Anh có phải phấn đấu cam go gì đâu? Chỉ yêu cầu anh thành khẩn nhận mọi sai lầm của anh. Thế thôi. Rồi anh sẽ thăm Liên xô, sang tận nước Mỹ, qua Úc, Phi… Anh sẽ đi thăm mộ của thân phụ anh.
– Tôi đã thắp hương trên mộ phần của ba tôi rồi.
– Có hàng ngàn việc tổ quốc kêu gọi anh.
– Vâng, có hàng ngàn việc tổ quốc kêu gọi tôi. Và tôi đã về.
Lãnh Đạo 2 cho rằng liều thuốc của mình đã đủ không cần thiết bắt con bệnh uống thêm, sợ biến chứng trong hiệu quả. Ông ta đưa cho chàng một gói nhỏ:
– Thuốc đánh răng và bàn chải của anh. Cán bộ vừa báo cáo là anh thiếu những món này.
Chàng đỡ gói quà:
– Cám ơn ông.
– Bất cứ điều gì anh cần, cứ báo cáo cán bộ bảo vệ anh.
– Tôi nhớ.
Lãnh Đạo 2 trầm ngâm giây lát rồi cầm gói Phù Đổng mời chàng. Rút thêm điếu nữa, chàng tự quẹt diêm mồi thuốc.
– Ở Paris anh quen biết nhiều lắm phải không, anh Bá?
– Cũng vừa vừa thôi.
– Chúng ta nói về Tổng Hội Sinh Viên của anh đi!
– Tổng Hội Sinh Viên không phải của tôi.
– Vậy của ai?
– Của sinh viên.
– Nhưng anh làm chủ tịch mà?
– Vâng, tôi đã được bầu làm chủ tịch. Hiện nay là người khác. Thưa ông, không bao giờ có chủ tịch muôn năm ở thế giơí tự do, nhất là, ở những người tuổi trẻ. Khi một chủ nghĩa, một chế độ hay một lãnh tụ đòi hỏi cái muôn năm thì loài người bảo nó muôn năm rồi. Chẳng có cái gì vĩnh cửu tồn tại cả kể luôn trái đất.

Đám tang ông Trần Văn Văn thân phụ Trần văn Bá – Google photo edit by Sơn râu

Mạnh và hung như phát xít thì cũng đã bị tận diệt.
– Cộng sản thì không thể bị tận diệt vì không ai đủ khả năng diệt cộng sản. Cộng sản là muôn năm.
– Nhưng Lénine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vẫn cứ chết. Cái lẽ của trời đất mới muôn năm. Nếu đừng đòi hỏi tuyệt đối thì hạnh phúc, muôn năm, tình yêu muôn năm, những thứ bất tử mới muôn năm, sự hy sinh cho lý tưởng cao cả, chẳng hạn.
Lãnh Đạo 2 khẽ gạt tàn thuốc lá:
– Theo báo cáo khẩn của bọn thằng Giao, thằng Tiến thì anh là người trầm lặng, ít nói. Tại sao, ở đây, anh ham tranh luận thế?
Chàng nhả khói thuốc:
– Tôi trả lời những câu hỏi của ông để khỏi mang tiếng chữ của các ông, khỏi mang tiếng bất lịch sự, chữ thông thường. Tôi không ham tranh luận.
Lãnh Đạo 2 gật gù:
– Chúng tôi nắm hết tình hình sinh hoạt của các tổ chức phản động Việt Nam ở Paris.
Chàng cười:
– Dĩ nhiên rồi, các ông thừa thãi chó săn trong các vớ vẩn. Ông muốn tôi kể hết tên tuổi, điạ chỉ của chúng nó ra không?
Lãnh Đạo 2 liếm mép:
– Nhiều thằng ngụy gian manh đã len lỏi vào Tổng Hội Sinh Viên, đã gây chia rẽ sinh viên, đã biến Tổng Hội của các anh thành nhiều khuynh hướng, anh biết chứ?
Chàng gật đầu:
– Tôi biết. Những thằng sâu bọ đó chỉ làm trò múa rối, bởi vì chúng nó bất tài vô tướng, làm sao lung lạc nổi anh em sinh viên! Ông muốn ám chỉ những thằng nào? Chủ tịch tự phong hay nhà văn tiêu bạc giả? Tướng cúi đầu nhận xuất cảnh của các ông nhờ váy vợ đầm hay tá đào ngũ đội lốt văn nghệ?
Lãnh Đạo 2 ngẩn ngơ. Ông ta ngạc nhiên thấy chàng khinh bỉ những kẻ mà ông ta tưởng rằng đã và đang giật giây sinh viên ở Paris, ở nước Pháp. Đó là vấn đề gay go. Lãnh Đạo 2 chuyển mục:
– Anh cần viết thư sang Pháp không?
– Không. Tôi không muốn làm phung phí những giọt nước mắt của mẹ tôi, em tôi, bằng hữu tôi. Và nữa, tôi biết chắc, thư của tôi sẽ nằm chặt trong hồ sơ. Và, có dịp, thư sẽ phổ biến trên báo chí. Đồng chí của ông đã nói với tôi: Thế đó, thưa ông.
– Trong tự điển có hai tiếng du di, anh hiểu chứ?
– Nguyên tắc của các ông, chắc chắn, không có du di cho.
– Anh khước từ liên hệ gia đình đấy nhé, anh Bá!
– Vâng, tôi khước từ.
– Sau này, anh đừng trách chúng tôi xúc phạm tình cảm, đừng bảo chúng tôi không có tình cảm.
– Ông chu đáo quá.
Lãnh Đạo 2 gọi người công an bảo vệ. Chàng lại về phòng. Gói quà của Lãnh Đạo 2, người công an quản lý. Dễ hiểu thôi, bàn chải cũng có thể là võ khí tự sát.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

24. Chương Hai mươi bốn – Chương cuối

Khu vườn chìm trong màu sáng bạc. Không khí thoang thoảng hương hoa tím. Cây ăn trái trồng dài theo bờ tường phía Nam trông như đang bị bao phủ bởi một rừng bướm trắng hồng. Alfred đi đầu, phía sau là ba người mặc quân phục. Họ đi trong im lặng. Alfred chỉ tay về trại nuôi gia súc. Ba người Mỹ tản mác không một tiếng động.

Alfred đẩy cửa ra:

– Neubauer! Ra đây!

Có tiếng càu nhàu từ trong bóng tối vọng ra:

– Cái gì đó? Ai vậy?

– Ra đây?

– Ủa! Alfred đó hả?

– Phải.

Neubauer lại càu nhàu:

– Mẹ kiếp! Lại ngủ nữa! Cứ nằm mơ…

Hắn sửa giọng rồi nói tiếp:

– Có phải chú mới bảo tôi ra không?

Một người Mỹ từ nãy rón rén tới sát bên Alfred bỗng bấm đèn lên:

– Đưa tay lên! Bước ra ngay!

Trong vòng tròn ánh sáng xanh mờ, Neubauer mình trần vẫn còn ngồi trên một chiếc ghế bố nhà binh. Hắn nhấp nháy mắt:

– Cái gì? Các người là ai?

Người Mỹ quát:

– Đưa tay lên! Có phải tên là Neubauer không?

Neubauer vừa đưa tay vừa gật đầu.

– Chỉ huy trưởng trại tập trung Mellern hả?

Neubauer lại gật đầu.

– Bước ra!

Neubauer nhìn vào họng súng đang chĩa thẳng vào hắn.

– Cho tôi mặc áo đã!

– Bước ra ngay!

Ngập ngừng, Neubauer bước ra. Một trong ba quân nhân Mỹ nhảy phóc tới kềm chế Neubauer trong khi người kia lục soát căn trại.

Neubauer lườm Alfred:

– Chú đưa họ tới hả?

– Phải.

– Đồ Judas!

Alfred trả lời từng tiếng một:

– Ông không phải là Jesus Christ mà tôi cũng không phải là đảng viên Quốc Xã.

Người Mỹ lục soát bên trong đã trở ra. Neubauer hỏi viên Trung sĩ Mỹ biết nói tiếng Đức:

– Cho tôi mặc áo vào, được không? Treo ở sau chuồng thỏ.

Viên Trung sĩ Mỹ do dự một chút rồi vào trong lấy chiếc áo thường phục ra. Neubauer xuống giọng :

– Không phải áo này. Tôi là quân nhân mà.

– Không có quân nhân gì cả.

Neubaner năn nỉ:

– Xin lấy giùm tôi chiếc áo của Đảng.

Viên Trung sĩ vào trong lấy chiếc áo Đảng của hắn ra. Cài nút xong, Neubauer đứng thẳng người lên, lấy giọng dõng dạc:

– Đại tá Neubauer đã sẵn sàng!

– Được rồi. Được rồi. Đi!

Họ đi qua khu vườn. Neubauer nhận thấy chưa cài đầy đủ tất cả các nút áo. Hắn cẩn thận cài lại. Thế là mọi việc đều hỏng vào phút chót, hắn nghĩ thầm. Thằng Weber chó chết đã phản hắn bằng cách nổi lửa đốt trại giam. Nó làm theo ý riêng của nó chớ mình có xúi giục đâu. Điều đó ai cũng biết.

Đêm hôm trước, Neubauer không có mặt tại Bộ chỉ huy. Hắn chỉ được tin qua điện thoại. Lại thêm thằng khốn kiếp Alfred. Hắn dẫn người ta tới bắt mình… Đêm đó, Neubauer đứng chờ mãi không thấy xe tới đón trong khi hắn nôn nóng bỏ chạy. Binh sĩ đã rút trước cả rồi. Không thể lẩn trốn vào rừng, hắn đành về trại chăn nuôi lánh mặt và không bao giờ nghĩ rằng có thể bị phát giác. Vừa về tới trại, hắn đã cạo phăng bộ râu Hitler. Tên phản thầy, Alfred!

Viên Trung sĩ Mỹ chỉ vào một chỗ trên xe, bảo Neubauer:

– Ngồi xuống đây!

Neubauer vừa leo lên xe vừa nghĩ, chắc đây là loại xe “Jeep” như mình từng nghe nói. Hắn nghĩ tiếp, kể ra thì người Mỹ cũng không đến nỗi nào. Tuy không niềm nở nhưng họ cũng chẳng lạnh lùng thái quá. Chắc viên Trung sĩ này người Mỹ gốc Đức mình vẫn thường nghe nói tới họ.

Hắn dè dặt bảo:

– Anh nói tiếng Đức thông thạo lắm.

Viên Trung sĩ đáp gọn:

– Dĩ nhiên. Sinh quán tôi là Frankfurt.

– A…

Hắn chỉ kêu lên như thế rồi thôi. Hắn không ngờ lại xui xẻo đến thế. Đúng là một ngày thảm hại. Thỏ của hắn cũng bị đánh cắp. Lúc hắn về tới trại cửa chuồng đã bị bàn tay nào đó mở toang. Quả là điềm chẳng lành.

Cổng ra vào của trại tập trung mở rộng. Một vài lá cờ may vội vàng cắm rải rác trên các cửa lao xá. Máy phóng thanh lặp đi lặp lại mãi những chỉ thị của tân ủy ban điều hành.

Một trong số những xe vận tải đi xuống phố đã trở về chở theo đầy sữa hộp.

Chiếc xe chở Neubauer cũng đã tới nơi, đậu ngay trước cửa Bộ chỉ huy SS. Một Đại tá Mỹ đứng gần đó với một số sĩ quan thuộc cấp. Neubauer bước xuống xe, vuốt thẳng nếp quân phục rồi bước tới chào theo kiểu nhà binh:

– Đại tá Neubauer trình diện!

Đại tá Mỹ nhìn sang viên Trung sĩ. Người này thông dịch lại.

– Phải đúng tên khốn kiếp này không?

– Thưa Đại tá, phải.

– Cho nó ra làm tạp dịch đằng kia. Cứ bắn bỏ nếu nó có bất cứ hành động nào đáng nghi ngờ.

Neubauer cố gắng tìm hiểu nhưng Anh ngữ của hắn chẳng được bao nhiêu nên chỉ biết giương mắt chờ. Viên Trung sĩ lạnh lùng:

– Lại đây! Ra làm việc với bọn côn đồ các anh đàng kia!

Neubauer sững sờ. Hắn không nghĩ là có thể bị đổi xử tàn tệ như vậy. Hắn ấp úng:

– Tôi là sĩ quan mà. Cấp bậc ngang hàng Đại tá.

– Chính vì vậy mới độc hại hơn.

– Tôi có nhân chứng. Không bao giờ tôi xử tệ với tù nhân cả. Các ông cứ hỏi họ xem.

Viên Trung sĩ trừng mắt:

– Không có lính của tụi này, họ đã xé anh ra từng mảnh rồi. Thôi mau lên!

Neubauer liếc sang viên Đại tá Mỹ nhưng ông này đã không để ý gì tới hắn nữa cả. Hắn nhìn quanh. Hai bên hắn có hai người lính đi kèm, người thứ ba đi ngay phía sau hắn.

Chỉ mới được vài thước, hắn đã bị một số tù nhân nhận ra. Ba người Mỹ chuẫn bị can thiệp trong trường hợp Neubauer bị tấn công. Mồ hôi hắn vã ra. Hắn nhìn thẳng về phía trước như không trông thấy gì cả.

Chẳng có gì xảy ra. Những người tù vẫn đứng yên nhìn theo Neubauer. Họ tránh sang một bên để hắn có lối đi. Không ai tới gần hắn. Cũng chẳng ai nói một tiếng nào. Họ chỉ nhìn hắn. Những cặp mắt khó hiểu…

Hắn thở ra nhẹ nhõm nhưng mồ hôi lại toát ra thêm. Hắn lẩm bẩm không nghe rõ. Bây giờ hắn đã cúi mặt nhưng vẫn cảm thấy những con mắt lạnh lùng, nghiêm khắc đó dán chặt vào người hắn… vô số con mắt đang phán xử hắn.

Người hắn càng lúc càng nóng ran. Hắn cố bước mau hơn nhưng những cặp mắt kia vẫn không rời hắn. Chúng bám chặt trên đầu trên cổ hắn. Chúng giống như những con đỉa đang hút máu trên thân hắn.

Tự nhiên hắn rùng mình. Những tia mắt bắt đầu xuyên qua da thịt hắn. Hắn ấp úng:

– Tôi… tôi có làm gì đâu… Phận sự… Lệnh của cấp trên… Lúc nào… Tôi cũng…

Hắn vừa đi ngang qua lao xá 22 thì mồ hôi đã ướt cả áo. Sáu tên lính SS bị bắt đang làm việc tại đó cùng một số tù nhân đã làm tay sai cho chúng. Bên cạnh chúng là một toán lính Mỹ võ trang tiểu liên.

Neubauer đứng sựng lại. Trên mặt đất ngay phía trước hắn là một số thây người bị cháy đen. Hắn sững sờ:

– Ủa! Cái gì… lạ vậy!

Viên Trung sĩ Mỹ lườm hắn :

– Đừng giả đui. Chính bọn các anh đã phóng hỏa. Bên trong còn ít lắm là ba mươi người nữa. Thu dọn chỗ này, mau lên!

– Nhưng tôi đâu có ra lệnh…

– Rồi sao?

– Lúc đó, tôi không có ở đây. Chúng nó tự động…

– Phải rồi. Lúc nào cũng chúng nó. Còn những người bị giam rục xương và bị bỏ đói, bỏ khát ở đây cũng là do chúng nó nữa à?

– Đó là lệnh cấp trên. Chúng tôi chỉ thừa hành.

Viên Trung sĩ nhìn sang người lính bên cạnh :

– Chỉ trong vài năm nữa là cả nước Đức sẽ thuộc làu cách đổ lỗi… tôi chỉ làm theo lệnh trên… tôi không biết gì cả.

Neubauer như không nghe thấy, hắn tiếp tục nói:

– Tôi luôn luôn cố gắng… cải thiện…

Viên Trung sĩ nổi nóng:

– Thôi, đi khiêng xác của họ ra. Tôi mà chịu không nổi nữa là nát như cám ngay.

Google photo edit by Sơn râu

Những người tù đói, những bộ xương người còn thoi thóp thở được khiêng tới Bộ chỉ huy SS. Họ nằm dài theo các hành lang. Quần áo tả tơi đầy rận của họ được lột ra mang đi đốt. Kế đó, họ được đưa vào các phòng tắm.

Nhiều người vẫn còn chưa nhận ra việc gì đang xảy tới. Họ dửng dưng nằm, mắt nhắm nghiền. Mãi cho tới khi hơi nước xì ra họ mới choàng tỉnh, hốt hoảng bò tủa đi.

Những người tù còn khỏe hơn, kêu to:

– Đừng sợ! Đừng sợ! Tắm mà!

Vô ích, họ vẫn không nghe. Họ quờ quạng bấu víu nhau xô đẩy nhau tìm lối ra. Đối với họ, tắm có nghĩa là bị giết bằng hơi ngạt. Khăn lau và xà bông được đưa vào nhưng họ vẫn cứ bò lềnh nghềnh như cua. Khăn lau và xà bông cũng là những thứ mà bọn SS thường dùng để lừa tù nhân vào phòng hơi độc. Nhiều người đã chết trên tay còn cầm cái khăn lau.

Mãi một lúc sau, khi nhìn thấy một toán đồng bạn đã được tắm rửa và khiêng qua, họ mới yên lòng. Tới chừng đó họ mới hiểu là được tắm nước nóng chớ không phải tắm bằng hơi ngạt.

Nước ấm từ trong các bức tường lót gạch phun ra như những bàn tay kỳ diệu. Họ nằm đó, vốc nước trong bàn tay xương xấu vỗ vỗ vào các khớp tay chân. Lớp cáu ghét dầy cộm bắt đầu mềm ra. Xà bông làm tan dần những mảng bụi đất trên người và làn da khô đét bắt đầu nóng ran lên. Cái nóng như chui tọt vào xương tủy. Nước nóng… họ dường như quên mất trên đời này còn có thứ nước gọi là nước nóng.

Bucher, Lebenthal và Berger ngồi gần nhau. Hơi nóng tỏa ra chung quanh họ, luồn lõi giữa họ. Họ cảm thấy vui – một niềm vui dã thú, một niềm vui tái sanh… – dường như sự sống chính là con đẻ của hơi ấm. Những mầm sống, những tế bào từ lâu lạnh giá bây giờ bắt đầu chuyển động, nảy nở như rau cỏ, cây trái dưới ánh nắng huyền dịu của mặt trời.

Đồng thời với những lớp cáu ghét trên da dẻ tróc lần ra, những lớp cáu ghét trong tâm hồn cũng rã tan theo. Họ ngồi đó, chung quanh là sự an toàn. Một hình thức an toàn đơn giản nhất: hơi ấm chung quanh. Họ là hiện thân của những người sống trong hang động chợt bắt gặp ngọn lửa đầu tiên.

Những chiếc khăn lau. Kỳ diệu. Ngắm lại màu da sau khi đã lau khô, họ không khỏi ngạc nhiên. Những đốm bầm tím vẫn còn ở khắp thân nhưng với con mắt họ, màu da đã trắng như lông thiên nga.

Quần áo sạch sẽ, tươm tất được phát ra. Trước lúc mặc vào, họ sờ mò, ngắm nghía chúng như những vật lạ.

Một lúc sau, tất cả được đưa sang khu vực khác. Tắm rửa xong, họ cảm thấy hứng khởi nhưng đồng thời cũng mệt nhoài ra. Chân vẫn bước nhưng mắt họ gần như híp lại vì buồn ngủ.

Căn phòng kê san sát mấy dãy giường cũng làm cho họ ngạc nhiên. Người lính Mỹ hướng dẫn bảo :

– Của các bạn đó.

Họ nhìn sững người lính:

– Của tụi này?

– Phải. Ngủ đi.

– Một giường mấy người?

Lebenthal chỉ chiếc giường gần nhất rồi chỉ vào ngực mình và Bucher:

– Hai?

Hồi hắn lại chỉ Berger:

– Hay ba?

Người lính phì cười. Anh kéo tay Lebenthal tới một chiếc giường, trở lại lôi Bucher tới giường kế đó, Berger tiếp theo và Sulzbacher…

– Mỗi người một giường sao?

Người lính gật đầu:

– Với một cái mền.

Lebenthal kêu lên:

– Chịu thôi! Có cả gối nữa!

Người lính Mỹ thôi cười:

– Ngủ đi! Ngủ bao lâu cứ ngủ!

Bucher lắc đầu có vẻ không tin những gì trước mắt là có thật:

– Vậy mà họ là kẻ thù của chúng ta!

Nhóm Lão Làng được phát cho một chiếc quan tài. Cái hòm màu đen nhạt cỡ trung bình nhưng lại quá rộng so với thi thể 509, có thể để thêm vào đó một người nữa cũng vừa. Đây là lần đầu tiên từ mười năm qua, hắn mới có được một chỗ dành riêng quá rộng.

Bạn hữu đã đào cho hắn một cái huyệt ngay trên nền cũ của lao xá 22. Họ cho rằng đó chính là nơi thích hợp nhất của 509. Lúc họ khiêng linh cữu hắn tới đó, trời đã tối. Trăng lưỡi liềm treo lơ lửng giữa sương mù. Một số người bên trại lao tác tiếp sức với họ trong khi hạ huyệt.

Bâng khuâng, mỗi người im lặng ném xuống huyệt một mớ đất. Ông lão Ahasver cũng cố moi lên một hòn đất để ném xuống nhưng trật chân, ngã luôn xuống huyệt. Những người của trại lao tác phải hết sức vất vả mới lôi được ông lên.

Họ đi trở lại. Rosen vác chiếc xuổng theo. Họ tới gần lao xá 20. Hai tên lính SS đang khiêng xác một tù nhân.

Tên SS phía trước là Niemann, chuyên viên chích thuốc độc. Quân đội Mỹ đã bắt được hắn ở ngoại ô và giải hắn về đây. Hắn là tên Đội trưởng đã bắt đoàn tù phát lưu chạy quanh sân điểm danh để chọn kẻ kiệt lực đưa đi thủ tiêu. Trong cuộc chạy đua với tử thần lần đó, nếu không có 509 cứu thì Rosen đã chết từ lâu.

Vừa nhận ra Niemann, Rosen bước tới chắn đường. Hắn nhìn tên Đội trưởng Đức gần rách cả khóe mắt. Thình lình, Rosen lùi lại, đưa xuống lên cao và bổ xuống mặt Niemann. Hắn lại dở xuổng lên nhưng người lính Mỹ gần đó trông thấy kịp nhảy phóng tới đoạt lấy xuổng trong đôi tay run rẩy vì oán hận của Rosen.

– Thôi, đừng nóng! Để hắn cho tụi này lo.

Toàn thân Rosen run bắn lên. Cái đập của hắn chỉ làm cho Niemann bị thương không đáng kể. Berger nắm tay Rosen:

– Thôi, mình đi. Bạn hãy còn quá yếu.

Rosen bật khóc. Sulzbacher choàng tay qua vai bạn :

– Rosen, đừng buồn nữa. Nó sẽ đền tội nay mai.

Vừa khóc, Rosen vừa ấm ức:

– Đập cho chết! Bọn nó phải đập cho chết! Không làm như thế bọn chúng sẽ lại nổi dậy!

Nhóm Lão Làng kéo lôi hắn đi. Người lính Mỹ giao cái xuổng cho Bucher. Một lúc sau, Lebenthal lên tiếng:

– Lạ thật, chính anh ta là người tuyên bố không tính chuyện trả thù.

– Thôi, Lebenthal!

– Thôi thì thôi.

Ngày nào cũng có một số tù nhân rời khỏi trại. Một số lớn người Ba Lan vẫn còn ở lại, chưa biết phải đi đâu vì họ không muốn trở về vùng đất thuộc người Nga.

Hầu hết những người của Tiểu trại đều còn quá yếu nên chưa tính chuyện lên đường. Họ còn phải được chăm sóc thêm một ít lâu. Vả lại, họ cũng chưa tính được một điều gì dứt khoát. Thân nhân của họ đã bị thất lạc hay đều bị giết hại, của cải họ không còn, thành phố, làng mạc đã đổ nát.

Họ đã hoàn toàn được tự do nhưng không biết phải sử dụng tự do ấy ra sao. Họ không có tiền bạc. Họ phụ giúp công việc vệ sinh toàn trại, họ được cấp phát giường mền và thực phẩm. Đó là những người tự hiểu rằng chẳng có gì đang chờ đón. Nhưng rồi cũng có một số người không muốn tin như thế. Họ thử đi tìm một cái gì. Hàng ngày, họ chia nhau đi lang thang, trong tay có chứng minh thư của nhà cầm quyền cấp để xin thẻ thực phẩm và trong đầu chỉ có những địa chỉ lờ mờ.

Sự việc không giống như họ tưởng. Viễn ảnh của sự giải thoát đã quá vĩ đại đối với họ nên họ không nhớ ra rằng sự thật ít khi trùng với tưởng tượng. Bây giờ, sự thật đã hiện ra trước mắt, trên đó không hề có bóng dáng của khu vườn Địa Đàng với các phép mầu, với những cuộc sum vầy, với những năm đi ngược thời gian về cái thuở không thống khổ. Trên đó, họ chỉ thấy trải dài một tấm thảm cô đơn với những hồi tưởng xót xa, với sự mất mát quá nhiều và phía trước đó là một sa mạc hoang liêu có một ốc đảo mang tên Hy Vọng.

Họ đi xuống núi, họ lang thang tới một vài địa chỉ, một vài danh tánh. Họ đi tới một vài trại tập trung đầu đó với hy vọng sẽ tìm ra một cái gì…

Sulzbacher thở dài:

– Mình nên đi sớm tốt hơn. Ở đây chẳng còn gì thay đổi nữa, càng ở lại lâu càng gặp khó khăn về sau.

– Bạn có cảm thấy khỏe nhiều chưa?

– Tôi được thêm 5 ký.

– Vẫn chưa đủ đâu.

– Chắc được mà.

– Nhưng đi đâu?

– Về Dusseldorf. Biết đâu vợ tôi…

– Làm cách nào để tới Dusseldorf? Xe lửa đâu?

Sulzbacher nhún vai:

– Không biết. Nhưng có hai người nữa ở đây cũng tính đi về hướng đó. Chúng tôi sẽ nương tựa nhau.

– Có quen nhiều với họ không?

– Mới biết thôi. Nhưng dầu sao cũng đỡ hơn là chỉ có một mình.

– Đúng vậy.

– Tôi cũng nghĩ thế.

Hắn bắt tay từ giã bạn bè. Lebenthal hỏi:

– Còn đủ đồ ăn không?

– Được hai ngày. Dọc đường có thể nhờ vào quân đội Mỹ. Chắc không đến nỗi nào.

Hắn rời trại với hai người kia. Được một quãng đường hắn quay lại vẫy tay lần cuối rồi đi luôn.

Lebenthal tâm sự với Berger:

– Sulzbacher có lý. Tôi cũng phải đi sớm. Tối nay sẽ ngủ trong thị trấn để bàn với một người lính chuyện làm ăn chung. Anh ta có chút ít vốn, tôi có kinh nghiệm.

– Vậy là tốt rồi.

Lebenthal lấy một gói thuốc lá Mỹ ra, mời mỗi người một điếu, ra điều quan trọng:

– Chắc sẽ làm ăn lớn. Buôn thuốc lá Mỹ. Cũng như sau trận thế chiến rồi.

Hắn ngắm nghía bao thuốc nhiều màu sắc:

– Coi bộ ăn chắc.

Berger cười :

– Bạn có lý lắm.

Lebenthal nhìn ông ta với vẻ nghi ngờ:

– Tôi không có tham vọng làm một tư tưởng gia.

– Đừng hiểu lầm, Leo. Tôi không có ý đó đâu. Chính bạn đã xoay xở cho chúng tôi quá nhiều mà.

Lebenthal mỉm cười đắc ý:

– Mình làm cái gì có thể làm được, chỉ vậy thôi. Người thực tế bao giờ cũng thích hợp với việc kinh doanh. Nếu có gì có thể giúp được ai… à, Bucher, có đi không?

– Chưa, còn chờ Ruth lấy lại sức đã.

– Phải.

Hắn rút trong túi ra một cây bút máy Mỹ hí hoáy ghi vài giòng trên một mảnh giấy.

– Đây, địa chỉ của tôi. Trong trường hợp…

Berger hỏi:

– Bút máy ở đâu mà đẹp vậy?

– Đổi với lính Mỹ. Họ mê những kỷ vật của trại tập trung. Mình chụp lấy cơ hội.

– Nghĩa là…

– Họ sưu tầm kỷ vật như súng lục, dao nhọn, huy hiệu, roi da, cờ… Tôi chuẩn bị sẵn cả.

Berger thán phục thật sự:

– Bạn tinh tế lắm.

Lebenthal thản nhiên nhận lời khen:

– Chắc ông còn phải ở đây ít lâu?

– Có lẽ như thế.

– Thỉnh thoảng tôi sẽ tới thăm. Ông có thuốc đủ hút không?

– Không.

Lebenthal móc từ trong tủi ra hai gói thuốc còn nguyên trao cho Berger và Bucher mỗi người một gói. Bucher hỏi:

– Bạn còn gì khác nữa không?

– Còn đồ hộp.

Hắn nhìn vào đồng hồ:

– Tôi phải đi mới kịp.

Hắn lôi từ dưới giường ra một chiếc áo mưa của Mỹ còn mới tinh và mặc vào. Không ai còn biết nói năng ra sao nữa. Ngay lúc đó nếu hắn bảo còn có một chiếc xe hơi để ở bên ngoài chắc cũng chẳng ai ngạc nhiên. Hắn bảo Bucher:

– Đìrng làm mất địa chỉ, bọn mình mà mất liên lạc luôn với nhau thì buồn lắm.

– Không thể như thế được.

Ông lão Ahasver nói với Berger:

– Tụi này cũng sắp đi. Tôi và Karel.

Họ đang đứng trước mặt Berger.

– Ở lại thêm vài tuần nữa đã. Mấy người chưa được khỏe lắm.

– Chắc không được.

– Vây thì đi đâu?

– Cũng chưa biết.

– Thế thì tại sao lại muốn đi?

Ahasver khoác tay bâng quơ:

– Mình ở đây lâu quá rồi.

Ông ta đang mặc một chiếc áo Havelock, kiểu áo choàng của người đánh xe. Chính Lebenthal đã tặng ông. Đó là cái áo của một giáo sư dạy văn phạm vừa bị chết trong lần oanh tạc cuối cùng. Thằng bé Karel cũng mặc một bộ đồ mới kiểu quân phục Mỹ. Ahasver nói :

– Thằng Karel cần phải đi.

Bucher ngắm nghía Karel:

– Mày biến thành một chú lính Mỹ con rồi hả?

– Người Mỹ nhận nó làm con nuôi. Trung đoàn đầu tiên vừa đi qua. Họ mới gởi một xe Jeep tới tìm nó. Tôi sẽ cùng đi.

– Họ có nhận ông làm gì không?

– Không. Tôi chỉ đi nhờ thôi.

– Rồi sau đó?

– Sau đó?

Ông lão nhìn xuống thung lũng. Tà áo rộng bay trong gió.

– Còn một số trại giam khác mà tôi quen biết khá nhiều.

Berger nhìn người Do Thái già và nghĩ là Lebenthal đã sắm mặc cho ông ta khá đúng điệu, ông lão trông như người đi hành hương. Ông ta sẽ đi từ trại này sang trại khác. Từ ngôi mộ này sang ngôi mộ khác. Nhưng, có người tù nào đủ sang trọng để tự xây cho mình một ngôi mộ đâu? Như vậy, ông ta đi tìm gì?

Google photo edit by Sơn râu

Ahasver phân trần:

– Thỉnh thoảng biết đâu mình sẽ gặp một người nào đó trên đường.

– Phải.

Họ nhìn theo một già một trẻ ra đi. Bucher nhíu mày:

– Lạ thật, chúng mình ở chung nhau quá lâu, bây giờ ra đi mỗi người một hướng.

– Anh cũng sắp sửa đi, phải không?

– Phải. Nhưng mình cố đừng mất liên lạc với nhau.

– Tự nhiên.

– Mình phải gặp lại nhau. Một ngày nào đó.

– Không.

Bucher ngạc nhiên nhìn vào mắt người bác sĩ già. Berger lặp lại:

– Không. Mình không nên quên cảnh đày đọa ở đây nhưng đừng biến nó thành một thứ ám ảnh. Làm như thế là suốt đời tự giam hãm giữa bóng tối của các chòi canh đáng nguyền rủa này.

Bucher hỏi Ruth:

– Em đủ sức lên đường không?

– Được mà.

– Vậy thì chúng mình đi. Hôm nay thứ mấy?

– Thứ Năm.

– Thứ Năm. Cám ơn Chúa. Ngày tháng lại bắt đầu được gọi bằng tên hiệu. Ở đây, ngày nào cũng là ngày như nhau.

Họ đã lãnh xong giấy tờ cần thiết để đi đường.

– Mình đi đâu, anh?

– Tới đằng kia.

Berger chỉ vào ngọn đồi có ngôi nhà trắng nhỏ xinh xinh.

– Hãy tới đó trước. Đó là biểu tượng hạnh phúc của mình.

– Rồi sau đó?

– Sau đó hả? Mình có thể lại về đây. Ở đây có thực phẩm.

– Đừng anh! Đừng bao giờ trở lại đây nữa.

Bucher nhìn người yêu:

– Cũng được. Đợi anh một chút. Phải mang vài món cần thiết theo.

Thật ra họ chẳng có gì nhiều để mang theo. Một số bánh mì để ăn nhiều ngày và hai hộp sữa đặc.

– Mình đi thật hả anh?

Nhìn sự lo ngại trong ánh mắt Ruth, hắn quả quyết:

– Thật chớ.

Họ từ giã Berger và đi ra cổng trại. Từ ngày được giải thoát, họ đã ra ngoài trại nhiều lần, và cứ mỗi lần như thế họ đều bị xúc động như nhau. Dòng điện châm vào hàng rào và những khẩu súng máy quanh đó dường như vẫn còn. Ngay trong bước đầu tiên đặt chân ngoài bờ rào cũ, họ rợn người lên. Nhưng rồi, thế giới nằm kia, vô hạn định.

Họ đi chầm chậm bên nhau. Trời trong và nắng dịu. Nhiều năm qua, họ đã bị bắt buộc phải bò, phải chạy… bây giờ họ đã được đi thẳng người một cách ung dung không sợ tai biến bất thần ụp tới. Không ai bắn họ. Không ai quát tháo. Không ai đánh đập.

Bucher lên tiếng trước:

– Thật là khó tưởng tượng. Cứ mỗi lần ra ngoài là cảm thấy như vậy.

– Vâng. Khủng khiếp quá.

– Em đừng nhìn quanh.

– Vâng. Nhưng em cứ thấy như có gì khó chịu ở cổ. Dường như có bàn tay nào đó cứ xoay đầu mình.

– Hãy cố quên đi. Quên lần cuối.

– Vâng.

Trước mặt họ là một cánh đồng rải rác những đốm vàng của hoa ngọc trâm. Bucher chợt nhớ tới những cành hoa ngọc trâm úa héo mà Neubauer đã cho cắm vội vàng trước lao xá 22. Hắn lắc đầu như cố đánh rơi cái nhớ vô ích đó.

– Mình đi băng qua chỗ này.

– Họ có cho phép không?

– Sao lại không? Chẳng có gì phải sợ nữa.

Họ cảm nhận được sự mềm mại của lá cỏ dưới đế giày. Lâu quá, họ chưa hề chạm chân lên cỏ, chỉ biết có mặt đất khô khốc của sân điểm danh thôi.

Họ đi về phía phải. Họ tung tăng như trẻ con và rất hài lòng. Không ai ra lệnh cho họ phải đi về hướng nào nữa. Ruth vẫn còn xúc động mạnh:

– Giống như nằm mơ, phải không anh? Em cứ sợ mình tỉnh giấc rồi thấy lao xá đen nghẹt những người.

– Anh chưa hề nằm mơ như thế.

– Chết chưa! Hôm nay mình không nên nói như vậy.

– Phải rồi.

– Không khí ở đây khác hẳn. Tươi mát chớ không khô đặc.

Bucher chăm chú nhìn người yêu. Hai gò má Ruth hơi ửng đỏ, mắt sáng ngời.

– Phải rồi, đây là vùng sinh động. Tươi mát chớ không hôi thúi.

Họ dừng chân dưới một rặng bạch dương. Bucher bảo:

– Mình ngồi đây nghỉ một chút. Không ai dám tới đuổi mình. Nếu muốn, mình có thể khiêu vũ nữa.

Cả hai nhìn ngắm những con thú trên đồng cỏ và những con chim nhỏ trên cành. Ở trại, họ chỉ thấy toàn là chuột xù với lằn xanh. Họ lắng nghe tiếng nước chảy rốc rách dưới rặng cây. Nước trong và trôi mau. Ở trại, họ thiếu nước quanh năm suốt tháng. Tại đây, nước tuôn chảy tự do và chẳng cần thiết nữa. Phải tập làm quen lần lần.

Họ lại tiếp tục xuống đồi, nơi nào cảm thấy hứng thú thì ngồi lại nghỉ ngơi. Tới một đoạn lõm vào, họ nhìn ngoái lại… trại giam đã mất dạng.

Ngồi xuống bên đường, họ thẫn thờ im lặng. Trại giam không còn nữa, cả thành phố bị tàn phá dưới kia cũng khuất mắt. Họ chỉ nhìn thấy đồng cỏ và khung trời hiền dịu bên trên. Gió ấm thoảng qua da mặt như những bàn tay từ tốn đang nhẹ nhàng đẩy lùi những quá khứ đau buồn.

Bucher liên miên nghĩ, có lẽ đây là bước khởi đầu. Bước khởi đầu thật sự, không phải với xót xa và thù hận mà là với những sự việc đơn giản nhất. Với cảm nghĩ là mình vẫn sống, không phải sống trong đời tù ngục mà là sống với ý nghĩa nguyên vẹn của nó.

Hắn biết 509 đã đặt tin cậy nhiều vào hắn, muốn hắn phải vượt qua, không sứt mẻ… để làm nhân chứng và chiến đấu. Và hắn bỗng nhiẻn nhận ra là sự ký thác của người quá cố sẽ thôi còn là gánh nặng chỉ khi nào sức sống đến tiếp tay với hắn.

Hắn nói giọng đầy tin tưởng :

– Ruth, anh nghĩ là bắt đầu từ một khởi điểm thấp như thế này, mình sẽ gặp nhiều hạnh phúc hơn.

Khoảnh vườn phía trước vẫn xinh tươi nhưng mãi tới lúc đến sát cửa họ mới phát giác cả phần sau của ngôi nhà trắng đã bị một quả bom làm đổ nát, chỉ có mặt tiền là nguyên vẹn.

Họ đẩy cửa ra. Bên trong gạch ngói ngổn ngang.

– Vậy mà trọn thời gian từ trại nhìn sang, mình cứ tưởng là một ngôi nhà…

– Mình không biết nó bị phá hủy cũng là điều tốt.

Trước đó, họ đặt tin tưởng rằng hễ ngôi nhà xinh xinh trên ngọn đồi này không bị hủy diệt thì họ cũng sẽ tồn tại. Họ đã sống bằng ảo giác. Chuyện thật buồn cười nhưng đồng thời cũng xen lẫn đôi chút an ủi kỳ lạ.

Không có thây người bên trong. Có lẽ người trong nhà đã di tản trước khi nó bị trúng bom. Họ bắt gặp một cánh cửa sút bản lề ngả nghiêng. Đẩy cánh cửa sang bên, họ bước vào gian bếp.

Căn phòng nhỏ này chỉ bị hư hại có một phần, bếp lò vẫn còn nguyên, cạnh đó là một số chén dĩa và soong chảo. Bucher bảo:

– Mình nhóm lửa lên, ngoài kia anh thấy có khá nhiều củi khô.

Hắn cúi xuống lục lọi trong đống đồ đổ nát.

– Còn mấy cái nệm kẹt dưới này. Mình có thể lôi ra nếu chịu khó một chút.

Ruth ngần ngại:

– Nhà này không phải của mình.

– Cũng không phải là của ai cả. Mình có thể ở tạm vài hôm.

Đến chiều, họ đã có được hai chiếc nệm trải trên sàn bếp. Họ cũng kéo ra được vài chiếc mền đầy bụi cát và một cái ghế còn nguyên. Trong ngăn kéo của một cái bàn, họ tìm thấy một số muỗng nĩa và một con dao.

Lửa đang cháy trong lò. Khói tản mác ra ngoài cửa sổ. Bucher tiếp tục lục lọi bên ngoài.

Ruth lượm được một mảnh gương bể, vội vàng giấu vào túi và bây giờ đem ra soi lén bên cửa sổ. Nghe Bucher gọi, Ruth trả lời ngay nhưng mắt vẫn không rời những gì đang thấy trong gương. Màu tóc xám đục, hai con mắt trủng sâu, vành môi nhợt nhạt hé mở, lộ ra những khoảng trống ở hàm răng. Ruth nhìn thật lâu rồi thình lình ném tấm gương vào lửa.

Bucher quay vào. Hắn tìm thấy một cái gối. Trời đổi màu chiều trong khi vạn vật chung quanh yên tĩnh lạ. Họ nhìn trời qua khung cửa, bất giác thấy cô đơn. Lâu lắm rồi, họ không biết cô đơn là gì cả. Quanh họ là những bạn đồng cảnh tràn ngập trong lao xá, tràn ngập cả nhà cầu. Có đồng bạn chung quanh là chuyện tốt nhưng chẳng bao giờ được sống cho riêng mình lại cũng là điều đáng tiếc.

– Được một lần sống riêng cho mình cũng tốt phải không em?

– Dạ. Giống như chúng mình là những người sống sót cuối cùng.

– Không phải cuối cùng mà là đầu tiên.

Họ dời chỗ tấm nệm để có thể nhìn ra cửa. Sau khi ăn bánh mì với sữa đặc, họ nằm xuống bên nhau.

Phía sau đống gạch ngói vỡ vụn là ánh sáng cuối ngày.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

23. Chương Hai mươi ba

Tiếng ồn ào nổi lên lúc trời gần sáng. 509 là người nghe thấy trước tiên. Tiếng ồn ào từ xa vọng tới, không giống như tiếng kêu thét của những người bị tra tấn mà là tiếng la hét của một toán người say.

Nhiều phát súng nổ vang. 509 chụp tay vào nách áo, nơi giấu khẩu súng. Hắn cố lắng nghe xem có phải bọn SS bắn đi hay nhóm biệt động của Werner bắn trả. Tiếp theo đó là một tràng tiểu liên.

Hắn bò mau tới phía sau một đống thây người, nhìn chăm chú về phía cửa vào Tiểu trại.

Trời vẫn còn tối và đây đó rải rác vài xác tù nhân vừa chết trong đêm nên hắn không sợ bị nhìn thấy hay nghi ngờ.

Tiếng la hét và tiếng súng nổ kéo dài nhiều phút rồi thình lình tới gần hơn và nghe lớn hơn. 509 áp sát vào đống thây người. Hắn đã nhìn thấy các tia lửa phát ra từ các họng tiểu liên. Đạn rơi vãi khắp nơi. Khoảng một bán đội SS vừa đi vừa bắn trên hai con lộ chánh. Chúng bắn vào các lao xá hai bên. Thỉnh thoảng một viên đạn chui phập vào các đống xác chết. 509 nằm rạp xuống nhờ thây đồng bạn che chở.

Tù nhân từ khắp phía vùng dậy trong hốt hoảng, tay họ quơ quào trong khoảng không, 509 kêu lớn:

– Nằm xuống! Nằm rạp xuống! Giả chết! Đừng cử động!

Một số nghe ra vội vàng buông mình ngã xuống, một số khác quờ quạng bò vào lao xá và mắc nghẽn tại cửa.

Toán lính SS đã qua khỏi nhà cầu bắt đầu vào Tiểu trại, cổng trại bị đạp tung ra. Trong bóng tối, 509 có thể nhận ra bóng dáng chúng, và qua tia lửa từ các khẩu súng, hắn trông thấy những bộ mặt biến dạng.

Một đứa kêu lên:

– Lại đây! Lại các trại gỗ đây nè! Mau lên để lo sưởi ấm mấy ông bạn! Họ đang rét run kìa! Mau lên!

– Đi đi, Steinbrenner! Đem mấy cái thùng theo!

509 nhận ra tiếng nói của Weber. Steinbrenner hét lớn:

– Coi kìa, còn mấy đứa ở trước cửa!

Nhiều loại súng tiểu liên nổ vào đám người này. Cả một đám tù từ từ sụm xuống.

– Tuyệt diệu! Thôi bắt đầu đi!

509 nghe tiếng òng ọc như nước đổ ra. Hắn cố nhìn và nhận thấy bọn SS đang đổ nước trong những chiếc thùng vào các vách trại. Mùi xăng nồng nặc bốc ra!

Tim hắn đập mạnh hơn. Thì ra bọn cuồng tín của Weber định đánh dấu ngày rút lui của chúng bằng một trò chơi độc địa. Khoảng nửa đêm, quân SS được lệnh di tản, phần lớn đã lên đường. Toán sát nhân Weber đã uống thật say mèm để rồi sau đó, cả bọn quyết định phải làm một cái gì cho đỡ tức. Mục tiêu của chúng là trại tập trung. Theo lệnh riêng của Weber, chúng mang xăng lên trại để làm chuyện nhớ đời – cái nhớ của bọn người hung bạo.

Biết là không thể làm gì được với những lao xá có tường xi măng, chúng xoay sang những dãy trại vách ván.

Steinbrenner cuồng nhiệt hô to:

– Nổi lửa thần! Nào, bắt tay đi!

Một que diêm bật lửa rồi cả hộp diêm phát cháy. Tên SS cuống quít ném cả hộp diêm xuống đất. Một tên khác ném một que diêm cháy vào thùng xăng gần đó nhưng thùng xăng không bắt lửa.

Tuy nhiên, ngay chỗ hộp diêm thứ nhất đang cháy trên mặt đất có một giòng xăng vừa liếm lửa, kéo dài như một sợi chỉ tới vách trại. Thoạt tiên, sợi chỉ lửa mỏng manh trông chẳng có gì đáng ngại và có thể tắt ngấm bất cứ lúc nào, nhưng khi vừa ráp nối với vách trại, sợi chỉ lửa bỗng như nổ tung ra và lửa bốc cháy rần rần. Lửa lan rộng thật mau làm ửng đỏ một góc đêm.

Nhìn thấy cửa trại đang hé mở, Weber ra lệnh:

– Đứa nào chạy ra là hạ ngay!

Hắn vừa nói xong là bắn một tràng tiểu liên. Một bóng người vừa tới cửa ngã quỵ xuống. 509 kinh mạng. Bucher chăng? Hay Ahasver? Cả hai đều có thói quen ngủ sát cửa. Một gã SS chạy nhào tới, đá tung cánh cửa ra rồi chạy về chỗ cũ.

– Rồi đó! Chuẩn bị săn thỏ!

Súng nổ dồn dập. Xuyên qua tiếng reo hò của họn người cuồng tín, 509 nghe tiêng kêu la thảm khốc của tù nhân. Cảnh cửa của khu trại bên cạnh đó vụt mở toang. Tù nhân lũ lượt ào ra, miệng há to. Súng lại nổ về phía đó. Chẳng một người nào chạy thoát. Họ ngã chồng lên nhau, tay chân quều quào như một đống nhện đang co duỗi. Lúc sự việc mới xảy ra, 509 nằm yên như tê liệt. Bây giờ, bắt đầu hoàn hồn, hắn từ từ nhổm lên. Hắn nhìn sững vào những bóng đen của bọn SS nổi bật trên màn lửa. Kẻ mà hắn nhận ra trước tiên là Weber đang đứng dạng chân. Hắn tự trấn tĩnh… phải từ từ chớ… sao lại run thế này. Phải từ từ… Hắn vừa tự nhủ vừa cho tay vào trong áo rút khẩu súng lục ra.

Rồi trong thời gian ngắn ngủi mà bọn SS ngừng la hét, chỉ còn có tiếng lửa reo, hắn nghe rõ tiếng, kêu thảm thiết của các bạn bên trong. Tiếng kêu vút cao lên, không còn giống tiếng người.

Đột nhiên, không suy nghĩ gì cả, hắn đưa súng lên nhắm bắn vào Weber.

Hắn không nghe thấy tiếng súng nổ giữa những tiếng súng của bọn SS. Hắn cũng không thấy Weber ngã xuống. Hắn chợt nhớ là lúc bóp cò không có sức chấn động ở tay. Tim hắn gần như ngưng đập. Khẩu súng đã hỏng rồi!

Hắn không biết là đang cắn vào môi. Sự bất lực vừa làm hắn quính quáng vừa khiến hắn tuyệt vọng, hắn càng cắn mạnh thêm vào môi mình như cố bấu víu lại để khỏi bị trôi tuột trong màn đêm. Nước mắt, vị mặn trong luỡi, cơn giận hối hả… tất cả đổ xô tới một lúc khiến bàn tay hắn run rẩy, run rẩy rồi thình lình một ngón tay chạm vào khóa an toàn. Hắn ngưng thở… thì ra chưa mở khóa an toàn.

Thế là trời có mắt. Không một tên SS nào nhìn quanh. Chúng không chú ý gì ở phía hắn đang ẩn núp. Chúng đứng đó reo hò và tiếp tục nổ súng vào cánh cửa.

509 đưa súng lên. Tay hắn vẫn còn run. Hắn tựa vào đống thây người để lấy bộ cho vững chắc. Hắn cầm súng với cả hai tay. Weber đang đứng cách hắn khoảng mười bước. 509 thở dồn dập. Hắn thu hết tàn lực, nín thở, nắm chặt khẩu súng và bóp cò. Tiếng nổ chìm khuất trong tiếng súng tiểu liên. Hắn không nghe rõ lắm nhưng đã có sức chấn động ở tay. Hắn bắn tiếp phát thứ hai.

Weber lảo đảo, bước tới vài bước, quay người lại như ngạc nhiên đến tột cùng rồi từ từ sụm xuống. 509 tiếp tục bắn như điên. Hắn nhắm vào tên SS đang đứng cạnh đó đang bắn tiểu liên.

Hắn bấm cò, bấm cò mãi cho tới lúc hết đạn mà vẫn chưa hay. Tên SS không ngã. 509 đứng thẳng người lên, khẩu súng nằm trong bàn tay tê dại. Hắn chờ bọn chúng bắn lại, nhưng trong cảnh hỗn loạn ghê rợn này, chẳng một ai nhìn thấy hắn.

Từ từ, hắn quỵ xuống như chiếc bong bóng xì hơi.

Giữa lúc đó, một tên SS chợt thấy Weber. Hắn la lên:

– Sao vậy, Trại trưởng?

Trước đó, Weber đứng sau hắn vài bước nên hắn không thấy việc gì đã xảy ra. Hắn lại hỏi:

– Trại trưởng, sao vậy?

Một tên khác lắp bắp:

– Trời ơi… bị thương rồi!

– Ai làm bị thương? Đứa nào trong bọn mày?

Chúng không thể nghĩ được rằng Weber lại bị một người khác bắn, mà chỉ có thể bị thương vì đạn lạc thôi. Một tên trong bọn chửi đổng:

– Khốn kiếp, chẳng cẩn thận gì cả…

Nhiều tiếng súng nổ vang, nhưng lần này, những tiếng súng đó phát đi từ phía trại lao tác. Nhiều tên SS hô to:

– Tụi Mỹ tới! Chạy mau!

Steinbrenner nổ một tràng tiểu liên về phía nhà cầu. Một tên SS khác la lên:

– Chạy mau! Chạy sang phải! Vượt qua sân điểm danh.

– Còn Trại trưởng?

– Không kịp nữa rồi!

Tiếng súng từ phía nhà cầu càng lúc càng tới gần. Bọn SS cuống cuồng:

– Mau lên! Chạy mau!

Chúng chạy vòng lao xá đang bốc cháy, vừa chạy vừa nổ súng. 509 đứng lên. Hắn lảo đảo đi về phía lao xá. Tuy cố gắng nhưng hắn vẫn té sấp xuống lúc gần tới nơi. Hắn gượng gạo lết tới, đẩy cánh cửa mở ra, rồi vận dụng tàn lực, hắn hét to:

– Ra mau! Bọn chúng chạy hết rồi!

Từ bên trong có tiếng người đáp lại:

– Tụi nó còn bắn mà!

– Không phải đâu, súng của bọn mình. Ra mau!

509 lại bò lê tới cánh cửa gần đó và cố gọi to lên:

– Ra mau! Chúng nó chạy cả rồi!

Nhiều bóng người bên trong thoát ra, vấp phải những người chết bên ngưỡng cửa, ngã té, rồi nhổm lên, tiếp tục bò càn. Lúc bấy giờ, lửa đã bắt cháy ngay trước cửa khu A, 509 không thể tới gần. Hắn hét to. Hét thật to. Hắn nghe nhiều tiếng súng, tiếng đổ vỡ rồi một mảnh gỗ đang cháy đỏ từ trên nóc lao xá rơi trúng vai làm hắn sụm xuống. Hắn vẫn cố gắng nhổm lên, nhưng quá đuối sức nên chỉ có thể ngồi như bị dán chặt xuống đất. Nhiều lần hắn gượng đứng lên hoặc bò đi nhưng không sao được.

Hắn ngồi đó, nghe súng nổ, và như một người từ xa chứng kiến, hắn thấy lố nhố những bóng người – không phải bọn SS – những tù nhân đang khiêng đồng bạn chạy ngang qua, có kẻ dẫm cả lên người hắn.

Hắn cố tránh sang một bên nhưng chẳng còn chút sức lực nào cả. Tự nhiên, hắn cảm thấy sắp ngất đi. Trong tình trạng nửa mê, nửa tỉnh, hắn tự hỏi… Weber có bị trúng đạn không? Tên SS bên cạnh hắn sao cứ vẫn như không?

Hắn lê lết bò đi. Trước mặt hắn là đống thây tù. Phải chăng đó là nơi cuối cùng? Sao lại không? Bucher đã chết. Ahasver đã chết. Vừa bò hắn vừa nghĩ tiếp… sao mình không giao súng cho Bucher? Hắn còn trẻ, hắn sẽ bắn chính xác hơn… bây giờ thì còn gì nữa?

Hắn vừa tới bên đống xác người thì cũng vừa kiệt sức, ngã bổ vào. Có cái gì làm hắn đau nhói. Hắn sờ vào ngực và đưa bàn tay lên. Máu! Hắn nhìn thấy máu nhưng chẳng có cảm tưởng gì khác lạ. Hắn không còn là hắn nữa. Tất cả những gì hắn còn có thể cảm nhận được là sức nóng của lửa và những tiếng kêu gào thảm thiết. Nhưng rồi ngần ấy thứ cứ tàn lụi dần đi…

509 tỉnh dậy. Lao xá vẫn còn cháy rực hắt ra mùi gỗ khét pha lẫn với mùi thịt nướng… thịt của con người. Sức nóng lửa làm cho đống xác ấm lên. Nhiều ngày qua, không có xe đến chở đi, các thây tù đã sình chương và nặng mùi.

Tiếng kêu la thảm khốc không còn nghe thấy nữa. Một đoàn tù nối tiếp nhau đi qua trước mặt hắn, khiêng theo những người bị phỏng. Thình lình hắn nghe tiếng nói của Bucher từ một nơi nào đó.

Bucher chưa chết. Thì ra không phải tất cả đều vô ích.

Hắn xoay đầu. Có cái gì khẽ động đậy bên cạnh hắn. Hắn không muốn nhìn nhưng vẫn cứ nhìn. Và phải một lúc lâu sau, hắn mới nhận ra đó là một hình người… hình người của Weber.

Google photo edit by Sơn râu

Tên Trại trưởng hung bạo đang nằm sấp. Trước đó, hắn đã cố lết tới phía sau đống xác tù, vừa kịp lẩn tránh khi toán Biệt động của Werner và Lewinsky đến nơi. Một chân hắn quặp lên trong khi cả hai tay duỗi dài. Máu từ trong miệng hắn trào ra nhưng hắn còn sống.

509 gắng gượng đưa tay lên để gọi một người nào đó đang đi qua nhưng không nổi. Cổ họng hắn khô đặc chỉ còn tiếng khò khè.

Weber nhìn thấy bàn tay động đậy của 509. Mắt hắn đang chăm chú nhìn bàn tay đó bỗng đảo ngược lên rồi dừng sựng lại khi bắt gặp ánh mắt của 509. Cả hai lặng nhìn nhau.

509 tự hỏi chẳng biết Weber có nhận ra mình không. Hắn cũng chẳng rõ cặp mắt đối diện hắn muốn nói gì. Hắn chỉ biết có một việc là phải sống lâu hơn nó, dầu chỉ lâu hơn đôi phút.

Đột nhiên, vấn đề bỗng trở nên tối quan trọng… dường như tất cả những gì hắn tin tưởng cũng như những gì hắn đang chịu đựng và chiến đấu tùy thuộc vào những phút ấy thôi. Hằn phải tự chứng tỏ đủ sức kiên trì và phải chiến thắng. Nhìn nhau như thế cũng là một hình thức chiến đấu. Nếu hắn nhìn lâu hơn Weber… ừ, nếu nhìn lâu hơn thì điều đó tự nó có ý nghĩa là chiến thắng rồi. Và đó cũng là chánh nghĩa.

Hắn lại tự nhủ phải thở nhẹ nhàng, thở thật cẩn thận để kéo dài sức sống. Nhìn thấy máu từ miệng Weber trào ra, hắn cũng đưa tay sờ miệng mình để xem sao. Hắn cảm thấy ươn ướt ở môi – chỉ một chút thôi – vì lúc nãy trong một cơn cố gắng tự trấn an, hắn đã cắn mạnh vào môi – chỉ một chút thôi, không đáng kể.

Mắt Weber di chuyển theo bàn tay của 509. Rồi cả hai lại nhìn nhau.

509 cố tâp trung tư tưởng. Một lần nữa, hắn cố tìm hiểu xem đâu là vấn đề quan trọng nhất và đó là vấn đề gì. Hắn muốn nó sẽ giúp hắn thêm sinh lực. Nhưng tư tưởng của hắn lại bị chìm lấp…

509 cũng lấy làm lạ tại sao không ai nhìn thấy Weber, có lẽ vì hắn và cả Weber đều ở sau đống thây tù. Chính những cái xác của tù nhân đã che chở cho hắn đồng thời cũng che chở cho Weber – kẻ đã từng giết tù nhân chẳng gớm tay.

Chung quanh đó chẳng còn bao nhiêu người.. Hầu hết đều đang nhìn vào lao xá. Hình ảnh của hằng mươi năm thống khổ và tuyệt vọng đang bốc cháy.

Lao xá đổ ụp xuống, lửa bắn tóe ra. 509 nhìn theo những mảnh ván cháy rực tung bay. Đối với hắn dường như chúng bay quá chậm. Một trong những mảnh ván ấy bay ngang đống thây tù, chạm phải một bàn chân của xác chết rồi rơi trên lưng Weber.

Mắt Weber nheo lại. Cổ áo hắn đang bắt lửa. Chỉ cần nghiêng mình tới là 509 có thể đẩy tấm ván ra, nhưng hắn vẫn ngồi bất động. Đó không phải là ý nghĩ của sự phục thù. Sự thù hận chẳng còn có nghĩa gì cả khi đã có quá nhiều chết chóc chung quanh. 509 không muốn nghĩ gì thêm vì hắn đã hoàn toàn kiệt lực.

Hai bàn tay Weber hơi động đậy. Đầu hắn rụt vào, cố gắng lắc lư. Mảnh ván tiếp tục chảy lên cổ hắn, cháy dài trên lưng áo. Weber cố lay động cái đầu. Mảnh ván chuồi xuống phía trước và bắt lửa vào tóc. Lửa phừng lên chung quanh đầu khiến ánh mắt Weber như sáng rực ra…

Cái đầu bây giờ đã cháy đen. Mảnh ván không còn nữa. Máu từ trong miệng Weber cũng hết trào ra.

Chẳng còn gì cả, chỉ có đôi mắt thôi, đôi mắt Weber… một con dã thú.

509 không rõ là thời gian đã trôi qua được bao lâu… đột nhiên, hai cánh tay của Weber duỗi thẳng ra và đôi mắt không còn là đôi mắt nữa. Trông chúng giống như hai vỏ ốc.

509 vẫn ngồi yên như thế một lúc rất lâu rồi từ từ chống một tay xuống để nhích tới trước. Hắn có cảm tưởng toàn thân nặng như chì mà đồng thời cũng nhẹ như bấc. Hết sức cố gắng nhưng hắn cũng không xê dịch được chút nào.

Phải vận dụng tất cả sức tàn, 509 mới nghiêng mình tới trước được một ít để thọc một ngón tay vào mắt Weber. Con mắt đã đứng tròng. Weber đã chết.

509 gượng ngồi thẳng lại nhưng thân hình hắn cứ từ từ ngã tới trước. Hắn bỗng thấy máu từ trong người đổ ra không một chút đau đớn nào cả. Máu của hắn tưới lên đầu Weber. Hắn không muốn ngậm miệng lại để máu khỏi trào ra thêm. Hai tay hắn bắt đầu tê dại.

Qua cái nhìn cuối cùng, hắn thấy ông lão Ahasver đang đứng lêu nghêu cách đó chừng mươi thước. Và trong ý nghĩ cuối cùng, hắn tự nhủ… ông ta cũng không chết… Bucher cũng không chết… rồi trời đất quay cuồng và hắn bị cuốn trôi vào cơn xoáy.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, họ tìm thấy 509. Sau cơn xúc động mạnh đầu tiên, họ bắt đầu chia nhau đi tìm hắn. Trong khi mọi người tìm ở những chỗ xa hơn, Bucher chẳng biết đã nghĩ gì lại quay vào lao xá và bắt gặp 509 đang nằm cạnh đống xác tù.

Lewinsky và Werner cũng tới nơi một lúc sau.

Bucher thẫn thờ:

– 509 chết rồi. Bị bắn. Weber cũng vậy. Cả hai nằm gần nhau.

– Sao lại bị bắn? Bộ lúc đó ở bên ngoài hả?

– Phải. Lúc đó ông ấy ở bên ngoài.

– Còn khẩu súng không?

– Còn.

Lewinsky gãi đầu :

– Như vậy là ông ta đã bắn Weber.

Họ sửa bộ cho 509 nằm ngay ngắn và lật xác Weber qua lại để xem xét. Werner gật gật đầu:

– Có lẽ là như vậy. Nó bị bắn hai phát vào lưng.

Hắn tìm quanh bắt gặp khẩu súng của 509 và lượm lên:

– Thế là đúng rồi. Bắn hết cả đạn.

Bucher đề nghị:

– Mình nên đem thi thể 509 ra chỗ khác.

– Đem đi đâu bây giờ. Chỗ nào cũng có người chết nằm rải rác. Hơn bảy mươi người bị chết cháy và bị bắn. Trên một trăm người bị thương. Cứ để ở đây rồi tính sau.

Werner lơ đễnh nhìn Bucher, nói tiếp:

– Bạn có biết gì về xe hơi không?

– Không.

– Chúng tôi cần…

Hắn bỗng sực nhớ :

– À mà không. Bạn là người của Tiểu trại. Tụi này đang cần người lái xe vận tải. Thôi, mình đi, Lewinsky.

Lewinsky nhìn xuống chỗ 509:

– Tội nghiệp ông ấy…

– Ừ…

Họ trở về trại lao tác. Lewinsky nhìn ngoái lại một lần nữa rồi cúi mặt đi luôn.

Bucher tần ngần đứng lại. Buổi sáng đầy mây xám. Phần còn lại của lao xá vẫn ngún cháy. Bảy mươi người chết cháy… hắn nghĩ tiếp, nhưng chỉ một cái chết của 509 cũng hơn con số đó quá nhiều.

Hắn đứng yên một chỗ thật lâu. Hơi nóng từ lao xá tỏa ra làm thành một mùa Hè giả tạo. 509 đã chết. Dường như không phải chỉ có bảy mươi người chết mà là cả trăm hoặc cả ngàn người chết.

Ủy ban điều hành mới vừa được bầu lên bắt đầu làm việc. Tới trưa, nhà bếp đã có vẻ rộn rịp. Một số tù nhân võ trang chiếm đóng tất cả những ngõ đường vào trại đề phòng trường hợp bọn SS quay lại. Một toán tù được chỉ định ra các làng mạc chung quanh để tìm thức ăn.

Có người nói với Berger:

– Thôi, để tôi làm thay cho.

Berger nhìn lên. Quá mỏi mệt ông ta gần như chẳng còn phân biệt được gì nữa cả. Đưa cánh tay ra, ông ta bảo :

– Cho tôi một mũi thuốc. Tôi không nhìn được rõ ràng nữa.

Người vừa nói lại dịu dàng bảo:

– Tôi vừa mới ngủ được một giấc, để tôi thay cho.

– Mình chẳng còn bao nhiêu thuốc tê. Làm sao kiếm thêm mới kịp. Mấy người xuống phố đã về chưa? Tôi có bảo họ vào các nhà thương lấy một mớ.

Giáo sư Swoboda, một tù nhân của trại Tiệp Khắc, nhận ra ngay tình trạng của Berger, ông ta đã làm việc như một cái máy và bây giờ thì cái máy tiếp tục chạy tự động, không còn ý thức gì nữa cả. Swoboda nói to hơn:

– Bạn nên đi ngủ một giấc.

Berger dụi tay vào đôi mắt đỏ:

– Vâng, vâng.

Nhưng thay vì đứng lên, Berger lại cúi xuống xem xét vết thương của một người tù bị cháy phỏng. Swoboda nắm tay ông ta lôi lên?

– Thôi, đi ngủ đi. Để tôi thay cho. Bạn nên đi ngủ.

Berger lẩn thẩn:

– Ngủ hả?

– Phải.

– Được rồi. Nhưng… lao xá đã bị cháy rụi.

– Xuống kho y phục ngủ. Người ta đã lo cho bọn mình mấy cái giường. Chút nữa tỏôi sẽ tới gọi bạn dậy.

– Chút nữa làm sao được? Tôi mà nằm xuống là không bao giờ dậy nổi nữa. Tôi phải trở vào lao xá… tôi phải…

Swoboda thôi kiên nhẫn:

– Thôi, đứng lên đi. Bạn làm việc như điên, phải nghỉ ngơi chút ít.

Một người khác được gọi tới.

– Đưa ông ấy tới kho y phục. Họ đã dành sẵn mấy chiếc giường cho các y sĩ.

Berger bị nắm tay kéo đi. Ông ta nói nửa mê nửa tỉnh:

– 509…

Swoboda không hiểu người tù bác sĩ đồng cảnh với mình muốn nói gì nhưng cứ đáp cho xong chuyện:

– Phải rồi, đúng vậy. 509, dĩ nhiên. Mọi việc đều tốt đẹp.

Berger cứ để mặc cho họ lột chiếc áo blouse trắng ra và để mặc cho họ lôi đi. Không khí bên ngoài làm ông ta choáng váng, có cảm tưởng như các đợt sóng biển đang ập vào người.

– Trời ơi, mình đã giải phẫu!

Người tù đang đỡ Berger đi gật đầu:

– Đúng vậy. Bác sĩ đã giải phẫu cho họ.

Berger lặp lại:

– Giải phẫu…

– Vâng, bác sĩ đã làm việc quá nhiều. Bác sĩ băng bó, bác sĩ lấy dao mổ, chích thuốc tê… May phước… nếu không có bác sĩ. Bị thương nhiều lắm.

– Giải phẫu. Dao mổ. Thật à?

– Chớ sao. Nếu không nhìn tận mắt chắc tôi không tin được. Gày ốm như bác sĩ mà… Thôi, bây giờ nên nghỉ ngơi đôi chút. Họ đã trải nệm sẵn sàng. Bác sĩ sẽ nằm trên một cái giường đúng nghĩa của nó. Cái giường của một gã Đội trưởng.

– Vậy mà tối tưởng…

– Bác sĩ tưởng gì?

– Tôi tưởng là không bao giờ giải phẫu được nữa…

Berger đưa hai bàn tay lên, lật qua lật lại rồi buông xuống:

– Phải… Ngủ.

Trời vẫn đầy mây xám. Tinh thần mọi người căng thẳng. Các lao xá ồn ào như những tổ ong. Đây là giai đoạn giao thời, một giai đoạn không có gì rõ rệt. Cảm giác chung là một sự tự do chưa hẳn đã tự do vì còn bị hạn chế bởi các tin đồn, bởi hy vọng và bởi những lo âu mờ mịt. Bọn SS có thể quay trở lại? Quân đội Đức hay Thanh niên đoàn Hitler có thể bất thần xuất hiện? Mặc dầu tất cả võ khí trong kho đã được phân phát cho một số lớn tù nhân nhưng lực lượng hỗn tạp của họ làm sao có thể kháng cự lại những toán quân tinh nhuệ, đó là chưa kể trường hợp họ có thể bị đè bẹp bởi pháo binh.

Những người chết đã được đưa tới lò thiêu. Chẳng có cách gì khác hơn. Bệnh xá đã tràn ngập.

Buổi chiều, một phi cơ thình lình hiện ra ở chân trời, chui vào các đám mây trên thành phố. Toàn trại xôn xao lên.

– Tập trung ngay tại sân điểm danh! Bạn nào còn đi được hãy ra ngay sân điểm danh!

Hai chiếc phi cơ nữa từ trong mây chui ra. Chúng bay vòng quanh theo chiếc phi cơ trước. Hàng ngàn bộ mặt hốc hác nhìn lên.

Các tù nhân mới được bầu làm trật tự viên hối hả dẫn theo các tù nhân trong toán của mình chạy ùa ra sân điểm danh. Họ đứng thành hai hàng dài… tréo ngang nhau thành hình chữ thập.

Trong khi đó, toán của Lewinsky đã mang ra được một số vải trải giường lấy từ trại quân SS. Cứ bốn người – mỗi người một góc – cầm tấm vải phất lên phất xuống.

Ba chiếc máy bay bây giờ đã bay quần ngay trên trại. Chúng sà thấp xuống.

Một tù nhân kêu lên:

– Coi kìa! Cánh máy bay! Họ đập cánh như lần trước!

Những tấm vải trải giường phất mau hơn. Hàng ngàn cánh tay đưa lên cao. Hàng ngàn cái miệng hô to làm chìm mất cả tiếng máy phi cơ. Những người cuồng nhiệt hơn xé cả áo ra để vẫy lên trời.

Hai chiếc phi cơ sà thật thắp xuống. Một lần nữa cánh phi cơ nghiêng qua nghiêng lại ra dấu hiệu rồi bay mất hút về phía chân trời.

Đoàn tù trở về lao xá, thỉnh thoảng lại nhìn lên. Không còn bóng dáng một con chim sắt nào nữa cả.

Từ xa, trên con đường đi vào thành phố, một chiến xa lù lù xuất hiện. Chiến xa của Mỹ.