phamhoangtung.blogspot.com
Phạm Hoàng Tùng
Post by Sơn râu 18 Oct 2024
2. Phần 2
Ra Đi
Vượt Thoát Khỏi Việt Nam Thống Nhất Dưới Ách Chuyên Chế
Tập Trung Kết Hợp Lý Thuyết Chuyên Chı́nh Vô Sản.
Phạm Hoàng Tùng
(Bắt đầu viết hôm thứ ba 24/10/2000.)

Google photo edit by Sơn râu
Sau khi giúp gia đình thu dọn đồ đạc trên rẫy về nhà ở Sài Gòn xong, tôi xin phép song thân ra đi tìm cuộc sống tự lập, trong ý nghĩ, khi đi xa, nếu may mắn, tôi có thể tạo cơ hội mới, đưa gia đình thoát được cảnh sống quá chật vật không ngày mai như lúc bấy giờ. Song thân vẫn còn hằn sâu trong lòng vết đau mất người con thứ năm nên không muốn tôi đi xa, song hoàn cảnh túng thiếu buổi ấy khiến gia đình khó bó buộc tôi cứ quanh quẩn mãi ở đất Sài Gòn.
Trong chuyến đi xa lần này, đầu tiên tôi về Long Xuyên tìm người bạn học cũ. Trước đây chúng tôi cùng học tại trường Trung học Văn Hóa Quân Đội nằm ở đường Thống Nhất – Sài Gòn. Hai đứa là đôi bạn rất thân trong lớp vì mang chí hướng giống nhau, chúng tôi nuôi ước mơ sau khi đậu tú tài hai xong sẽ thi vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Những năm tháng quá khứ ấy, tôi hằng ấp ủ trong lòng như một giấc mộng đẹp: Một ngày nào đó không xa, tôi sẽ mang trên người bộ quân phục – đẹp và hùng – của sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Đà Lạt. Niềm mong muốn tha thiết chọn binh nghiệp phục vụ cho quê hương chắc hẳn bắt nguồn từ cuộc chiến tranh dữ dội lúc đó. Cuộc chiến khốc liệt trên đất nước Việt thân yêu thời ấy đã đóng một dấu ấn đậm trong lòng mỗi người dân Việt lúc bấy giờ và còn kéo dài đến mãi sau này.
Trưởng thành từ một vùng đất ít bị khói lửa nhất của miền Nam trước 30/4/1975, tuy nhiên, thế hệ chúng tôi cũng không khác gì mấy các thế hệ cha anh trước đấy không bao lâu: Sinh ra, lớn lên trong một quê hương có chiến tranh triền miên! Nhìn lại thực trạng đau lòng của cảnh nồi da xáo thịt, có người đặt câu hỏi, hay giả định một giải pháp để chấm dứt cảnh tương tàn ấy: Nếu lúc đó, lãnh đạo hai miền Nam – Bắc biết ngồi lại nói chuyện hòa bình với nhau, hoặc cùng tìm tới một đường lối có lợi cho dân tộc Việt, thì có thể là dân tộc Việt sẽ tránh được họa binh đao kéo dài hai mươi năm cùng với những đổ vỡ vật chất, tinh thần cho đất nước và người dân không?
Đây là những ý nguyện chính đáng của những con dân Việt hằng ưu tư đến sự Tồn Vong – Hưng Thịnh của quốc gia dân tộc. Song nguyện vọng chân chính chỉ có chỗ đứng – chỉ có giá trị – hay được thỏa mãn, một khi tầng lớp lãnh đạo có sự đồng cảm với nhân dân, không ra ngoài truyền thống, văn hóa, lịch sử dân tộc! Nói cho cạn nghĩa, giới lãnh đạo đất nước phải luôn tỉnh táo, nhìn xa trông rộng, biết đặt quyền lợi cá nhân, gia đình, phe nhóm mình, “đảng ta” nằm dưới quyền lợi thiêng liêng của tổ quốc, và nhất là những kẻ tự nhận là lãnh đạo hay được chọn làm lãnh đạo phải có liêm sỉ của kẻ cầm quyền. Thế nhưng những cái căn bản, thiết yếu này thường bị bỏ quên hoặc có làm, chỉ làm cho đạt hình thức mà thiếu hẳn thực chất.
Hãy tìm về, thật khái lược, nguyên ủy cuộc chiến tại Việt Nam. Từ năm 1858, khi ngoại nhân Pháp đem 14 tàu chiến cùng 3.000 lính đến bắn phá thành lũy Đà Nẵng hòng thiết lập nền cai trị lên đất Việt, và sau đó, khi ách thống trị của ngoại nhân đã hiện diện, kéo dài cho tới thời điểm 1930, rõ ràng thực dân Pháp đã ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc trước khí thế đấu tranh bừng bừng của con dân Việt để giành lại Độc Lập – Tự Chủ cho quê hương Việt Nam. Trong suốt 72 năm quật khởi kiên cường đó, chính các quan lại sĩ phu thời nhà Nguyễn hay tầng lớp trí thức trẻ theo Tây học nhưng nặng lòng ái quốc đã liên tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh bằng võ lực có, bằng phương tiện hòa bình có, nhằm buộc thực dân Pháp phải trao trả chủ quyền quốc gia lại cho người Việt.
72 năm kháng Pháp, khi tính từ thời điểm 1858 tới 1930, chính dân tộc Việt đã tự đứng lên phản kháng mà không có thế lực quốc tế nào đứng sau giật dây hay yểm trợ, lúc đấy, rõ ràng là chưa có phong trào cộng sản ở nước ta. Khi chủ nghĩa Marx xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 19, tiếp đấy là sự ra đời của phong trào cộng sản quốc tế mà giai đoạn “cường triều” xảy ra vào năm 1917 khi những người cộng sản Nga cướp được chính quyền. Và sau đấy là thời kỳ mở rộng ảnh hưởng của khối cộng trên nhiều miền đất của thế giới sau đệ nhị thế chiến. Như một cơn bệnh dịch xông mùi tử khí, lây lan nhanh chóng, vào đầu những năm 1930, người ta đã thấy phong trào chính trị quốc tế này, có bản chất không chấp nhận sự tồn tại của cá thể quốc gia, cá thể công dân, đã mon men đi vào xã hội Việt Nam. Từ đấy cho đến các mốc lịch sử đáng ghi nhớ: 1945, Việt Nam giành được độc lập từ tay Pháp. 1954, Hiệp định ngừng chiến chia đôi hai miền Nam – Bắc, đã có bàn tay cộng sản nhúng vào thao túng chính trường Việt Nam dưới sự điều phối của các đàn anh cộng sản.
Chiến lược “Cách mạng trường kỳ”, những khẩu hiệu đanh thép mang hơi ẩm của máu, “Vô sản khắp thế giới đoàn kết lại”, “Quốc tế đại đồng”, “Đấu tranh giai cấp” v.v… đã tự nó nói lên, tự nó khẳng định: phải tiến công bằng bạo lực thường xuyên. Phải bành trướng ảnh hưởng của các đảng cộng sản vô hạn độ… nói cho rõ nghĩa là phải nhuộm đỏ cả hành tinh này mới thôi!
Đây là bản chất của chủ nghĩa cộng sản. Các trận tấn công Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa v.v… chắc hẳn đã minh họa được phần nào đặc tính đó. Không có khoan nhượng. Không có sự tạm ngưng. Không có tồn tại cá nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp. Không có bản sắc dân tộc, quốc gia trong chủ thuyết cộng sản. Và nếu xảy ra, nên nhớ từ những kinh nghiệm lịch sử đau thương: đó chỉ là bề ngoài giả tạo, thủ đoạn. Một bước tạm lui trước khi tiếp tục lao tới (phiêu lưu?) trên con đường xã hội chủ nghĩa không tưởng mà thôi!
Nếu kêu gọi lãnh đạo hai miền ngồi lại với nhau để giải quyết vấn đề dân tộc vào thời điểm trước 1975, thì có thể tựa ví chúng ta, những người miền Nam, chế độ miền Nam, giống như một chú dê hiền lành, chậm chạm, chân phác, đứng thụ động trước lũ sói rừng cuồng say máu thịt, lòng dạ nham hiểm vô lường!
Như vậy lời kêu gọi: “Lãnh đạo hai miền Nam – Bắc biết ngồi lại nói chuyện hòa bình với nhau. Hoặc là lãnh đạo hai miền cùng tìm tới một đường lối có lợi cho dân tộc Việt, thì có thể là dân tộc Việt sẽ tránh được họa binh đao kéo dài hai mươi năm cùng với những đổ vỡ vật chất, tinh thần cho đất nước và người dân?” Có phải là hành động nhẹ dạ cả tin? Lãng quên với thực tại cay đắng của đất nước thời ấy? Chi bằng chúng ta mỗi người góp một bàn tay, khối óc, xây dựng cho miền Nam, để đứng vững chứ không ngã quị trước cuộc chiến tranh thôn tính cho bằng được của miền Bắc cộng sản. Để rồi sau đấy xây dựng miền Nam hùng mạnh, Tự Do. Một khi miền Bắc đã không xóa sổ chính quyền miền Nam bằng võ lực được, có thể họ phải ngồi xuống nghe lời kêu gọi hòa bình, thống nhất từ miền Nam, hầu sớm chấm dứt cảnh tương tranh “Trịnh – Nguyễn”, anh em một nhà, đồng bào ruột thịt hai miền Nam – Bắc chung sức chung lòng kiến tạo quê hương Việt Nam phú cường, nhân ái, mà không cần tới một chủ thuyết ngoại lai nào dẫn lối soi đường!
Nếu giới lãnh đạo miền Bắc cực ngoan cố thì dù có muốn làm khác đi nữa cũng chẳng được, khi cục diện chính trị thế giới đã thay đổi: Chiến tranh lạnh kết thúc. Khối cộng sản Liên sô, Đông Âu bị sụp đổ thảm hại, lý thuyết vô thần đã tiêu vong!
Trong bàn cờ chính trị thế giới, nước nhược tiểu khó mà định cho quốc gia con đường độc lập tuyệt đối. Dẫu sao, gương hai nước Nam Hàn, Đài Loan khiến chúng ta suy nghĩ nhiều về sự liên kết với cường quốc, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ quyền quốc gia, và nhất là vẫn tồn tại trước những hung hăng đe dọa hay tràn quân xâm lấn của chế độc cộng sản ở ngay sát cạnh, để rồi vươn lên kiêu hãnh trong thịnh vượng – tự do.
Đấy chỉ là kết quả dựkiến suy từ giả định không bao giờ thành hiện hiện thực từ quá khứ phôi pha của miền Nam ngày xưa, trước thời điểm 1975! Vận nước chúng ta u uất, để rồi đến những năm 1980… những chàng trai Việt yêu quê hương dân tộc lại hành trang lên đường vì nước Việt ngày mai! Đây có phải là thân phận người Việt hay không? khi bóng đêm – do độc tài toàn trị – vẫn tràn ngập khắp cõi quê hương! … Nếu người ta coi mối tình đầu là sự trong trắng, tinh khiết quý vô cùng trong đời người, thì đối với tôi, vào lứa tuổi 17, 18, mối tình đầu được nâng niu ngày đêm là các hình ảnh quyến rũ, rạo rực lạ thường, từ hình ảnh chàng sinh viên sĩ quan Võ Bị mà tôi đọc, ngắm được qua một nguyệt san Đa Hiệu của trường Võ Bị. Tôi có nguyệt san này do người bạn tên Nguyễn Ngọc Trường nhà ở quận 3, Sài Gòn tặng cho, vì Trường có người anh học tại Trường Võ Bị vào năm 1972, tôi không còn nhớ đó là khóa thứ mấy nữa.
Trước năm 1975 và mãi về sau, khi đang ngồi đánh từng dòng chữ này trên cái máy “Twinhead”, tôi vẫn chưa được dịp đến Đà Lạt mong manh sương mù, đẹp thơ mộng với rừng thông reo lao xao trong con gió nhè nhẹ giữa đồi núi cao nguyên hoành tráng rất thu hút – qua phim ảnh – và vào thăm ngôi trường trong mộng này. Thế nhưng, những năm học lớp 11, 12, hàng đêm sau giờ học bài, tôi một mình ngồi ở lại bàn, lật từng trang sách trong nguyệt san Đa Hiệu đọc say mê hơn cả đọc thư tình! Nói như thế cho dễ hình dung niềm đam mê lý tưởng trong tâm hồn tôi ở tuổi 18. Chứ thật ra lúc đó, tôi chưa có người yêu để viết hay có thư tình đọc. Sau này khi biết yêu, một thôn nữ, chúng tôi cũng không có trao đổi thư tình với nhau… Và từng địa danh không bao giờ đi tới nhưng tôi lại biết rất rõ: quán cà phê Tùng, nơi các chàng trai Võ Bị thường tới lui vào ngày cuối tuần,v.v…chính vì nỗi đam mê say đắm ấy! Có một đêm, thời gian khoảng giữa năm 1973, lúc ấy đã gần 11 giờ rồi, như thường lệ vào mỗi tối, khi học bài xong, tôi ngồi trầm ngâm suy tưởng theo từng dòng chữ, từng hình ảnh trong nguyệt san Đa Hiệu. Như một trùng hợp đầy thích thú, căn nhà bên cạnh vẫn còn thức xem truyền hình. Những lời đối thoại trong cuốn phim họ đang coi, rất nhỏ nhưng rõ ràng vào tai tôi: Tiếng nhân vật Phạm Thái, một sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt (do ca sĩ Nhật Trường thủ vai) nói với người yêu Nguyễn Thị Mộng Thường (do ca sĩ Thanh Lan thủ vai). Chỉ nghe từng ấy âm thanh, tôi bật đứng dậy (vì có nghe nói về cuốn phim trước mấy ngày), chạy tới mở máy truyền hình để xem phim cho bằng được, nhưng phải vặn âm thanh nhỏ lại vì gia đình đang ngủ. Cuốn phim cho trình chiếu sau vài tháng (nếu trí nhớ không quay lưng lại với người viết) khi Hiệp định Hòa Bình Paris về Việt Nam đã được ký kết (27/1/1973). Nội dung xoay quanh cuộc tình dang dở nhiều đớn đau giữa Phạm Thái, một sĩ quan tác chiến, mang trên mình màu áo của binh chủng Biệt Động Quân, xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt, với người yêu tên Nguyễn Thị Mộng Thường, một chiêu tiếp viên Hàng Không Việt Nam. Người yêu của Phạm Thái bị chết trên chuyến xe lam khi đang trên đường tới thăm anh, do mìn của cộng quân gài dấu dưới mặt con lộ, một hành động rõ rệt phá hoại Hiệp Định Hòa Bình Paris, mặc dù chính họ vừa đặt bút ký!
Hình ảnh sau cùng có liên hệ tới ngôi trường trong mộng mà tôi chứng kiến được là lúc quân khu 2 đã mất. Tháng 3/1975, trường nhận lịnh di tản, số sinh viên sĩ quan đang thụ huấn được đưa về trú tạm tại sân vận động Hoa Lư nằm trên đường Hồng thập Tự, đối diện Đài Truyền Hình VN, cách nhà tôi không xa. Những ngày ấy, tôi hay đạp xe đi ngang sân Hoa Lư để cố nhìn vào bên trong, lúc ấy, thấy các thần tượng của tôi, kẻ đứng, người ngồi cạnh những túp lều dựng tạm trên bãi cỏ quen thuộc cùng các thân nhân của họ đang lui tới thăm viếng, trong những tháng ngày chót cùng của chế độViệt Nam Cộng Hòa.
Thế là dứt! Hình ảnh sau chót là hình ảnh nhức xót cả đời tôi! Mối tình đầu nồng hương trinh nguyên – hoài bão hiến dâng cao thượng cho quê hương thời lửa binh – của tuổi đôi mươi trong tôi đã bị vùi dập, chôn sâu bởi cơn giông tố “cách mạng” quái đản, làm rúng động lòng tôi! … Sau khi ông cụ thân sinh của anh bạn đi học tập cải tạo, mẹ anh đưa cả nhà về quê nội ở Long Xuyên sinh sống. Nói là ở Long Xuyên chứ thực ra, gia đình bạn tôi phải vào tận kinh Ông Cò, một vùng đất ở xa chợ Long Xuyên vài mươi cây số để làm ruộng, kiếm sống qua ngày.
Tôi về Long Xuyên với ý định đi cùng người bạn qua đất Cam Bốt, rồi tìm đường vượt biên tới đất Thái Lan với mong muốn kiếm một lối thoát khỏi xã hội đã chẳng rộng lòng dung chứa mình Trong khoảng thời gian này -1981- đã xảy ra nhiều biến chuyển chính trị trên đất nước Cam Bốt. Chế độ Kampuchia dân chủ tức Khmer đỏ bị người đồng chí cũ là Hà Nội, đánh bật khỏi thủ đô Nam Vang (PhnomPenh). Và bộ đội Hà nội có mặt đầy khắp xứ sở này trong 10 năm tiếp theo đấy. Những năm đó số lượng người Việt tìm đường sang sinh sống làm ăn nơi đây khá tấp nập. Sự kiện này cũng mở ra cơ hội cho những người dân khao khát tự do, có thể sử dụng đất Cam Bốt làm địa điểm trung gian trên cuộc hành trình đi tới đất Thái xin tị nạn chính trị!
Gần Tết 1981 bước sang 1982, lúc tôi đến nhà người bạn học cũ nằm trên bờ kinh Ông Cò thì cũng là lúc ông thân sinh của anh bạn vừa từ trại tù Hàm Tân về sum họp với gia đình sau gần 6 năm “học tập cải tạo”. Gia đình người bạn có bà con thân nhân sống lâu đời ở tỉnh Long Xuyên nhưng lại chưa từng đi qua đất Cam Bốt, và tôi cũng vậy. May mắn là tại Long Xuyên có nhiều người Khmer – Krom cũng như số đồng bào Việt thường đi lại buôn bán ở gần biên giới Kampuchea, đây là đầu mối để chúng tôi lần ra cách đi qua nước láng giềng tuy gần nhưng chưa bao giờ quen này!
Thân mẫu bạn tôi là một phụ nữ đảm đang trong ngoài, lúc ấy bà đang dự tính đưa đứa con trai thứ ba trong nhà đi ra nước ngoài, anh này chính là bạn học tôi. Hành nghề bà mụ, bà ấy đã đỡ đẻ cho con gái ông Trưởng Ấp ở Thường Phước gần bến đò Tân Châu sát biên giới Cam Bốt-Việt.Thêm một may mắn nữa, anh con rể viên Trưởng Ấp là người Khmer gốc Việt, anh này tên Tư Trung. Từng đi bộ đội trong hàng ngũ Khmer Đỏ nhiều năm, nhưng khi đã có vợ con, Tư Trung chỉ muốn quay về gia đình hưởng thú êm ấm, rất ít màng tới đoạn đường binh nghiệp đã trải qua. Quan trọng nhất là anh Tư Trung thường đi buôn bán qua lại trên tuyến đường PhnomPenh – Tân Châu. Vì mang ơn bà mụ giúp đỡ con gái mình trong lúc sinh nở được mẹ tròn con vuông, nên ông Chín, trưởng ấp ở chợ Thường Phước sẵn lòng giúp đỡ khi thân mẫu bạn tôi ngỏ lời.
Thế là có chút ít liên lạc, một cơ hội hé ra cho dự tính đi qua xứ Cam Bốt của chúng tôi. Song cũng có những trở ngại. Thứ nhất, anh Tư Trung còn ở trên Nam Vang, chưa về lại nhà ông già vợ. Thứ hai, phải tìm lời nói với anh Tư, sao để anh ấy đồng ý cho chúng tôi đi theo trong chuyến buôn sắp tới. Bởi vì tôi và anh bạn không có giấy tờ tùy thân và các rắc rối khác có thể xảy ra trên đường đi mà khi dẫn chúng tôi theo, anh phải đứng ra giải quyết. Tất nhiên tiền bạc đi đường là phía chúng tôi chịu, nói đúng ra là gia đình người bạn có lòng tốt chi ra gần hết khoản này, vì tôi có rất ít tiền.
Nói đến chuyện giấy tờ cá nhân của tôi là cả vấn đề. Tôi đã rời gia đình đi làm ăn kiếm sống ở địa phương khác sau tháng 5/1975, trong lúc gia đình tôi ở Sài Gòn được thông báo của phường phải làm “hộ khẩu” gia đình. Thời đó theo lịnh công an, ai có mặt ở nhà mới khai tên trong sổ hộ khẩu. Thời gian sau, khi về lại nhà tôi như tên vô gia cư đối với các công an khu vực (có lần ghé qua nhà ngủ một đêm tôi đã phải leo lên nóc cầu tiêu ở đàng sau trốn tránh lúc nửa đêm khi công an khu vực “đánh hơi” có kẻ lạ mặt đến trú. Lần đó, nếu em trai tôi, Tân, không thính tai, chắc là tôi bị bắt giải lên phường rồi). Nói sợ có người không tin, cho tới lúc viết cuốn hồi ký này, tức sau 25 năm sau ngày miền Nam bị mất, tôi vẫn sống cảnh bất hợp pháp ở xứ người. Trong mình không có giấy tờ hợp lệ đối với nhà nước sở tại!
Trong thời gian ở kinh Ông Cò chờ tin anh Tư Trung, chúng tôi có thử đi về ấp Thường Phước nhằm dò đường thêm. Thứ nữa quan sát tận mắt cuộc sống của dân cư dọc theo biên giới, vì tính hiếu kỳ sẵn có nơi tôi. Lúc đó, để đi qua biên giới Việt – xứ chùa tháp, tại tỉnh Châu Đốc có hai nơi xuất phát chính: bến đò Tân Châu và ấp Thường Phước (còn gọi là cù lao Thường Phước vì ấp chợ này nằm trên một cù lao nhỏ giữa dòng sông Mekong từ Cam Bốt đổ qua Việt Nam).
Cũng như Long Xuyên, đây là lần đầu tiên tôi đến Châu Đốc, phố chợ êm đềm, mộc mạc mang nét phảng phất giống như các tỉnh lỵ khác của miền Tây. Đồng bằng sông Cửu Long rất ít đồi núi. Ngồi trên xe đò chạy trên đường. Khách sẽ thêm phấn chấn, lòng bồi hồi như về lại miền đất quen thuộc nhiều trìu mến khi ngắm các cánh đồng lúa. Thỉnh thoảng xen kẽ những đám dừa xanh cao, những mái ngói đỏ hay nâu nhạt, những vườn cây ăn trái xanh um mát mắt, nối đuôi, đan nhau, hòa quyện thành bức tranh thiên nhiên trù phú, mênh mông của quê hương Việt!
Từ Sài Gòn đi về các tỉnh miền Tây Nam Phần đầu tiên phải qua phà Mỹ Thuận mà đồng bào mình ở Vùng Bốn (Vùng Bốn chiến thuật tức Quân Khu 4 cũ, tính từ Long An kéo dài xuống tới tỉnh Cà Mau) thường gọi là “Bắc” Mỹ Thuận. Chữ “Bắc” này có lẽ nói quen từ chữ “bâtiment” hay chữ “Paquebot” có nghĩa là chiếc tàu buôn chăng, vì đồng bào từ Sài Gòn trở xuống miệt đồng bằng sông Cửu Long (thế hệ chịu ảnh hưởng Tây học) thường có thói quen nói pha vài chữ hay vài câu tiếng Pháp trong lúc sử dụng tiếng Việt. Và trước khi vào đến địa phận tỉnh Long Xuyên, xe đò phải ngừng lại để hành khách xuống xe qua thêm một bến Bắc nữa, Bắc Vàm Cống.
Tôi ghé qua Châu Đốc vài lần nhưng chỉ tới tỉnh lỵ chứ chưa có dịp đi xuống các xã quận khác. Riêng ở Long Xuyên, trong thời gian chờ ngày về Thường Phước, thỉnh thoảng tôi ra chợ thị xã, ghé thăm ông nội của người bạn, một vị giáo chức lão thành đáng kính ở thị xã Long Xuyên (Long Xuyên cũng là quê hương của học giảLộc-Đı̀nh Nguyễn Hiến Lê) Chợ Long Xuyên lớn hơn Gò Công quê tôi nhiều, đường phố nơi đây rộng rãi, đến Long Xuyên buổi ấy trong tâm trạng chờ ngày ra đi, khiến lòng tôi nao nao buồn. Quê hương mình đẹp xinh thế đó, tình người lưu luyến thế đó, sao mình không ở được? Vì sao tôi phải bỏ ra đi?
Tính thân mẫu bạn tôi rất cẩn trọng, bà cụ vốn quê ở Hội An – tỉnh Quảng Nam, hai ông bà gặp nhau khi ông thân sinh anh bạn đi công tác ngoài miền Trung vào đầu những năm 1950. Trước khi đưa con mình về ấp Thường Phước để cùng anh Tư Trung đi qua Nam Vang, song thân người bạn bàn nhau nên đi qua Cần Thơ gặp ông Ngô Hữu Phước, một cựu Trung tá VNCH ở quân đoàn 4. Trước đây, khi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng còn là Tư Lịnh Vùng Bốn, thì ông Ngô Hữu Phước đảm nhiệm chức vụ Cục Phó Cục Miên Vụ của Quân Đoàn. Sau Trung tá Phước bị thương ở chân trong một cuộc hành quân và giải ngũ trước 1975. Ông thân sinh bạn tôi đi qua Cần Thơ tìm lại người bạn cũ để mong ông Phước giúp đi với chúng tôi lên Nam Vang một lần. Chuyến đi xa này nếu có ông theo giúp đỡ thì rất có lợi, vì ông Phước ngày xưa sinh đẻ và sống bên Cam Bốt. Đến tuổi trưởng thành, ông qua Sài Gòn học thêm và ở lại Việt Nam phục vụ cho các chế độ trong Nam. Nguyên quán ông ở tỉnh Pursat, nói tiếng Khmer rành rẻ và am tường phong tục, văn hóa, lịch sử Cam Bốt.
Phần vị cựu Trung tá, sau ngày miền Nam mất, ông sống tại Cần Thơ với nghề bán vé số ở góc phố nhỏ! Khi gặp lại người bạn cũ, hai vị cựu sĩ quan bồi hồi hàn huyên những tháng ngày đã phôi pha! Ông Phước nhận lời đi lên Nam Vang với chúng tôi. Thứ nhất vì nể lời bạn cũ, thứ hai nhân dịp đó, ông tìm về cảnh xưa nơi mấy mươi năm trước ông đã cất bước ra đi lập thân với đời! Đây quả là lòng tốt ông dành cho gia đình bạn tôi, bởi vì lúc ấy, đi đâu ông Phước cũng vẫn cầm cây gậy làm điểm tựa thêm cho cặp chân không còn mạnh.
Theo kế hoạch trong gia đình anh bạn tôi bàn tính, sau Tết 1981 bước qua 1982 chừng mấy ngày, tôi, bạn tôi cùng người anh thứ hai của bạn sẽ đi về Thường Phước trước và ngụ tại nhà ông Chín trưởng ấp mấy hôm. Nhân đó, nói chuyện làm quen với anh Tư Trung. Sau đó anh của bạn tôi sẽ trở lại kinh Ông Cò đưa tiếp bà thân mẫu và ông Phước xuống Thường Phước. Tổ chức đi như vậy để tránh sự theo dõi tai mắt Việt Cộng ở cả hai nơi. May mắn chuyến đi về ấp Thường Phước đều không có gì trở ngại và qua mấy ngày tiếp xúc làm quen với anh Tư Trung cũng tốt. Tư Trung tính tình điềm đạm, thật thà. Anh còn trẻ chừng 28 tuổi, lúc ấy tôi chỉ mới 24, anh Tư có nét từng trải của những người đã sống trong tập thể quân đội nhưng vẫn còn giữ bản tính hiền lành, cần cù của người lớn lên ở nông thôn.
Hôm ông Phước về đến cù lao Thường Phước, tôi mới có dịp được gặp mặt ông, vì trước đó chỉ nghe qua lời giới thiệu từ gia đình bạn. Vầng trán rộng, dáng ông tầm thước, đi đứng chậm rãi, ăn nói hoạt bát, kiến thức rộng, khi nói chuyện ông sẵn lòng chỉ dẫn chúng tôi về kinh nghiệm bản thân ông từng đụng phải.
Vẫn theo dự tính của gia đình anh bạn, về phía chúng tôi có bốn người đi: thân mẫu anh bạn, ông Phước, bạn tôi và tôi. Phía dẫn đường, có anh Tư Trung. Chuyến đi sẽ thực hiện như sau: đầu tiên đi đò từ cù lao Thường Phước tới Nek Luong (người Việt thường gọi là Hố Lương). Tới Hố Lương xong, đón xe đò đi đến cầu Sài Gòn (cầu sầm pa ằm pư) ở ngoại ô thành phố Nam Vang, sau đó sẽ đi xe lôi vào trong thủ đô. Khi đến Nam Vang xong, thân mẫu người bạn và ông Phước lưu lại mấy ngày rồi quay trở về Việt Nam, còn hai chúng tôi sẽ mướn nhà tạm trú, tìm cách sinh sống và lần ra bước đi tiếp sang đất Thái!
Ghi chú: Nước Cambodia còn được gọi làCam Bốt hay Kampuchea. Có người còn gọi là xứ Chùa Tháp, vı̀ đất nước này có nhiều chùa chiền. Nhiều người Việt có thói quen gọi người Kampuchea là người Khmer hay người Miên (tuy nhiên người Kampuchea không thı́ch người Việt gọi họlà Miên, vı̀cho rằng đây là một từ coi khinh họ). Có nhiều từ để gọi nhưng tất cả chı̉ làmột để nói về nước láng giềng rất gần của Việt Nam.
Viết xong chương 2, thứ ba ngày 7/11/2000.
PhnomPenh – Cam Bốt.
(có bổ sung vài chi tiết trong thời gian sau này).
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.