Hành Trình Người Đi Cứu Nước & Hồi Ký Kháng Chiến & Chiến Khu Hoàng Cơ Minh

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 18 Oct 2024

Tỵ Nạn Vượt Biển Bằng Bè!?

Người ta sống không nổi với cộng sản nên phải ra đi bằng mọi giá!

Trong số hàng nhiều ngàn con thuyền mong manh dùng đi vượt biển, đôi khi cũng có cả tàu sắt, nhưng chắc là không thể ngờ có cả bè.

Chiếc bè được làm tại bến Thanh Đa, Sài Gòn vào cuối năm 1975, bằng 18 thùng phuy xăng loại 200 lít, chia ra làm 2 hàng hàn nối với nhau, phía đầu cắt nhọn để rẽ sóng,

bên trên làm giàn và nhà tạm trú.

Bè chở 14 người (trong số đó có một em bé sơ sinh mới 6 tháng) theo sông Sài Gòn ra biển Vũng Tàu, sau 3, 4 ngay lênh đênh, may mắn được một tàu Nhật vớt đưa tới Nhật.

Và chúng ta may mắn có được tấm hình quý giá này, chụp cảnh những người trên bè đang vẫy cờ SOS.

Năm 1954, đã từng có người dùng bè vượt tuyến từ Bắc vào Nam.

Hơn 10 người trên bè sau đó đã đi định cư ở Mỹ, phần lớn là San Jose, Cali.

PHẦN I

CỤT LỐI – TÌM ĐƯỜNG

CHƯƠNG 1

TÌNH NHÀ – MIỀN NAM SỤP ĐỖ BI HÙNG

Một Sự Sụp Đổ Rất Cần Thiết Để Khai Tử Chế Độ Miền Nam

Bị Khuynh Loát Bởi Thành Phần Lãnh Đạo Không Trong Sạch, Không Xứng Đáng.

Và Để Lịch Sử Soi Rọi Chân Tướng Độc Tài Bạo Trị Của Chế Độ Đảng Quyền Hà Nội.

1- Xóm Nhỏ

Căn nhà nhỏ của gia đình tôi nằm ở số 4 bis/ E đường Nguyễn Trung Ngạn, quận Nhất, Sài gòn. Ba má tôi đã mua được căn nhà này do nhà nước bán rẻ vào năm 1955, khi hai ông bà đều phục vụ trong ngành quân nhân, công chức cho chế độ miền Nam. Tôi nghe kể lại, căn nhà này nằm trong dãy nhà thuộc một bệnh viện của quân đội Nhật lúc chiếm đóng Sài Gòn, sau đó sửa sang lại chút đỉnh để trở thành khu cư xá nhỏ.

Dãy phố xây theo kiểu đơn giản, các tường chung quanh đều bằng gạch, trên lợp ngói đỏ, nền nhà còn giữ được mặt nền của con lộ trong thành phố, chắc trước đây dãy phố được xây trên mặt con đường nối liền giữa đường đại tá Palanca và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hồi thời Pháp thuộc có nhiều đường hay đại lộ trong thành phố Sài gòn được đặt theo tên người Pháp hoặc Tây Ban Nha có công với quân đội thực dân Pháp.

Đường Palanca sau đổi tên thành Nguyễn Trung Ngạn, một danh thần đời Trần, ông nổi tiếng với bài thơ “Khóc Nam Chinh”, tả lại nỗi sợ hãi của người lính viễn chinh của ĐếQuốc Mông Cổ mỗi khi nhắc tới chuyện phải đi chinh phạt Nam Quốc bé nhỏ, tức Việt Nam ngày nay.

Dãy phố nơi tôi ở có gần hai chục gia đình quân nhân công chức, trở thành khu xóm yên tịnh nằm lọt thỏm trong khu vực có có nhiều dinh thự quan trọng nhất của thủ đô Sài Gòn hồi thời kỳ đó. Vì xóm nhà được cất trên mặt lộ chỉ có một lối đi vô, nên tất cả những căn nhà trong xóm đều hướng cửa chính ra con đường hẹp chạy từ đầu tới cuối xóm. Phía trước và sau dãy nhà có hai hàng cây dầu cao vút, tôi không biết được trồng vào lúc nào, nhưng cây nào cây nấy bự khoảng chừng hai ba người ôm không hết. Nghe ba má tôi kể lại, dầu được trồng từ thời thực dân Pháp chiếm đóng Sài Gòn nên tuổi dầu cũng gần trăm năm.

Gần đấy có đại lộ Cường Để chạy ngang hợp thành ngã tư Cường Để – Nguyễn Trung Ngạn, nằm ở lối vào khu xóm tôi, cũng đầy cây dầu hai bên, tạo cho đại lộ Cường Đểđầy bóng mát quanh năm. (Kỳ Ngoại Hầu Cường Để tên thật là Nguyễn Phúc Đan thuộc dòng nhà Nguyễn, chắt Vua Gia Long, cụ Cường Để đã bôn ba qua Nhật tìm đường cứu nước vào những năm 1906 trong thời kỳ Đông Du do nhà cách mạng ái quốc Phan Bội Châu chủ trương, Cụ Cường Để bị bệnh chết ở Nhật vào năm 1951).

Ngày còn thơ ấu, những buổi trưa vắng vẻ đi lang thang trong khu xóm, tôi và những thằng bạn hay bắt gặp các vỏ trứng bể hoặc xác cá bị đánh rơi từ trên cây cao. Số là trên ngọn dầu, loài chim diệc thường tới làm tổ ở, chim diệc cao, lớn con, cẳng, cổ và mỏ của chúng đều dài. Diệc thường lui tới con sông Thị Nghè gần đó kiếm mồi, thức ăn của chim gồm có cá và rắn, khi ăn mồi diệc hay làm rớt xuống mái nhà hoặc trên con đường hẹp trong khu xóm cụt lối của tôi. Thịt chim diệc khá ngon, trứng chúng lớn gần bằng nắm tay người lớn, vỏ trứng màu xanh da trời nhưng hơi lợt.

Diệc là giống chim lớn nên các tay thợ săn, phần lớn là những kẻ có tiền hoặc các quan chức thời đó, thỉnh thoảng mang loại súng săn tài tử tới khu xóm tôi bắn chim diệc, vừa giải trí, vừa kiếm món thịt chim lúc cuối tuần, có khi hạ được con mồi, thợ săn lại tặng cho chủ nhà gần đó.

Một hôm, không biết vì sao, có một chú chim diệc lại đứng trên nóc nhà bên cạnh nhà tôi và bay lên không được, tôi cùng các bạn trẻ leo lên mái ngói vừa đi vừa bò, tı̀m cách rượt chim bắt sống. Có lẽ chim vì thân mình lớn nên phải cần khoảng trống để chạy lấy trớn trước khi đập cánh bay về tổ trên tận ngọn dầu, hoặc vì chim gặp nạn đó còn non, đang tập bay thì bị rớt xuống mái nhà.

Xóm tôi, con xóm cụt, chỉ có một lối đi vào, nhà tôi nằm về phía cuối xóm, chỗ này có bức tường được xây cao, trên được rào kẽm gai. Bên kia bức tường là trường nữ trung học Trưng Vương – một trường nữ nổi tiếng nhất Sài Gòn thời đó cùng với trường nữ trung học Gia Long, cả hai đều là trường công lập. Trước cửa nhà là con đường hẹp vừa đủ chỗ cho hai chiếc Honda chạy ngược chiều tránh nhau. Cạnh nó có bức tường cao, phía sau bức tường này là Chủng viện Thánh Giu Se. Ngay sau nhà cũng lại có bức tường cao, các cơ ngơi rộng rãi bên sau bức tường đó thuộc cơ sở một dòng nữ tu. Thế là con xóm nhỏ của tôi bị vây bọc ba bề là các bức tường cao, khuất tầm mắt.

Nơi này đã có từ lâu, chắc được lập nên hồi đầu thế kỷ 20. Cơ sở nào cũng rộng rãi, có nhiều nhà cửa bên trong, vì đây là nơi tu hành, nơi ăn ở học hành của chủng sinh, chỗ tàng trữ kinh sách đồng thời cũng là chỗ các vị tu hành cư trú. Phía trong hai cơ sở này có nhiều đất trống dùng cho việc trồng trọt, chăn nuôi. Ngoài ra bên cơ sở các vị nữ tu còn mở ra một trường nữ trung học chuyên dạy Pháp ngữ mang tên trường Saint Paul, trường này có học phí khá cao và thường chỉ những con gái nhà giàu mới theo học được tại đây.

Hai nơi tu đạo này đều có cổng chính nằm trên đại lộ Cường Để và hai cổng phụ nằm trên đường Nguyễn Trung Ngạn ngay lối vào con hẻm nhỏ. Nói là cổng phụ vì chúng nằm trên con đường sâu bên trong, song các cổng này được xây bằng sắt, to lớn, kiên cố.

Những ngày còn nhỏ, tôi và các bạn hiếu động hay trèo lên nóc cầu tiêu sau nhà rồi bò lên mái ngói đỏ của dãy nhà dòng nữ tu, vì ở phía bên đó có vườn khế sai trái, hơn nữa khu đất lớn bên kia bức tường nằm đằng sau nhà là những gì bí ẩn mà chúng tôi muốn khám phá. Việc “đột nhập” vào vùng đất này khá gây cấn, vì có thể bị trượt chân té từ mái ngói xuống khu vườn cây bên dưới, hoặc có thể bị bắt gặp bởi những người đang làm việc chăn nuôi heo, gà ở gần khu vườn.

Hồi đó các bạn trẻ trong xóm thường bị cảnh sát phường (lúc đó có tên là phường Tự Đức, sau đổi thành Bến Nghé) bắt về tội leo vào nơi tu hành phá phách. Hình phạt không có gì nặng, có thể bị cú đá ngay mông hoặc bị giữ lại trong khu nữ tu một buổi chờ ba má tới nhận về, sau khi được nghe các lời giảng dạy. Mặc dù như thế, tôi vẫn là một tên trong đám nhỏ thích leo trèo vào khu cấm này!

Sài Gòn Đầu Thế Kỷ 20!

Một ngôi chùa xưa ở khu vực Cầu Ông Lãnh – Sài Gòn.

2- Quanh Xóm Nhỏ

Con đường ra vào duy nhất của xóm nhỏ là đường Nguyễn Trung Ngạn. Trong hẻm, lối đi nhỏ hẹp, ra đầu ngõ thì rộng dần. Đường Nguyễn Trung Ngạn ngắn, từ Đông sang Tây chạy xuyên qua một ngã tư và một ngã ba. Ngã tư đầu tiên: Cường Để – Nguyễn Trung Ngạn, ngã ba tiếp đó đường Nguyễn Trung Ngạn đụng phải Chu Mạnh Trinh (trên đường Chu Mạnh Trinh tại đoạn này là mặt hông của nhà thương Grall (Đồn Đất – một bịnh viện lớn, nổi tiếng của Pháp).

Đại lộ Cường Để từ trên xuống dưới, hướng Bắc – Nam. Lấy đường Hồng Thập Tự làm ranh, ở mạn trên có đường Đinh Tiên Hoàng thuộc khu vực Đa kao. Mạn dưới, đầu tiên là đài truyền hình VN (hồi đó có đài truyền hình Mỹ nằm ngay sát bên). Kế tiếp, đường chạy ngang thành Cộng Hòa, sau đảo chánh 1963, thành này được đổi làm khu đại học Văn Khoa và Nông Lâm Súc. Xuống dưới một chút đại lộ Cường Để Để chạy ngang đầu đường Gia Long, đây cũng là cổng chính của cơ sở nữ tu. Dưới đó là đường Lê Thánh Tôn và rồi cuối cùng là bến Bạch Đằng, vị trí đặt bộ tư lịnh Hải quân VN, trong khu vực này còn có tư dinh Thủ Tướng Chính Phủ chế độ VNCH.

Giờ cũng nên nói sơ qua đại lộ Thống Nhất, hai bên đường Thống Nhất có nhiều cơ quan trọng yếu. Khi tính từ đông sang tây, trước tiên phải kể tới sở thú Sài Gòn. Cạnh đấy có Nha Khảo Cổ, trước mặt Nha là trường Cao Đẳng Quốc Phòng, gần bên Nha có Phủ Thủ Tướng, đối diện cổng chính của Phủ là hông khu đại học. Tiếp tục theo hướng tây của đại lộ, từ dãy tường bên hông khu đại học nhìn qua bên kia đường thì gặp công ty Shell, sát bên công ty này là ngôi trường tôi từng ngồi học: trường trung học Văn Hóa Quân Đội. Từ mái trường nhiều kỷ niệm này nhìn xéo về phía trước thì đụng phải Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, từ cơ quan này đi lên chừng vài chục thước sẽ thấy hai bên đường có hai tòa đại sứ Anh, Mỹ. Cuối cùng tới Dinh Độc Lập, trước mặt Dinh có khu vườn cây cao su rợp bóng, ở phía phải khu vườn người ta thấy được ngôi Nhà thờ Đức Bà đẹp cổ kính, thánh thiện.

3- Tuổi Thơ Và Biến Cố Chı́nh Trị

Hồi nhỏ, trên những đường phố quanh khu xóm thân yêu của tôi có nhiều sự kiện mang dấu ấn lịch sử đã xảy ra. Vào năm 1963, khi ấy tôi mới sáu tuổi, Sài Gòn xảy ra cuộc đảo chánh của các tướng lĩnh nhằm lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Khu vực gia đình tôi ở không phải là trọng điểm của quân đảo chánh nhưng cũng bị ảnh hưởng vì trên đường Thống Nhất có một khu doanh trại mà thời đó thường được gọi là thành Cộng Hòa, nơi có những đơn vị trung thành với vị Tổng Thống họ Ngô trấn giữ.

Thành Cộng Hòa lúc ấy chiếm lấy một khu đất rộng, tính theo hướng bắc – nam, cổng trên giáp với đường Hồng Thập Tự, cổng dưới giáp với đường Thống Nhất, chiều đông – tây của thành khá dài. Ngày nổ ra đảo chánh, tôi nghe tiếng súng vang rền từ Bộ tư lịnh Thủy Quân Lục Chiến hướng về thành Cộng Hòa (Bộ này nằm trên đường Lê Thánh Tôn, sát cạnh BộTư Lịnh Hải Quân) chắc một số đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ngả theo phe đảo chánh, đang tiến đánh thành Cộng Hòa do quân trung thành với chế độ cố thủ.

Sau khi tiếng súng đảo chánh ngừng nổ, tôi theo người chị Hai (chị tôi tên Phạm Thị Ngọc Bích, chết vì tai nạn súng đạn vào năm1977 tại Gò Công – nguyên quán của gia đình chúng tôi) chạy ra đầu xóm coi quang cảnh sau cuộc bắn nhau. Những đầu đạn, vỏ đạn nằm rơi rớt trên mặt đường. Lúc ấy hai chị em nghe nói lính đóng trong thành Cộng Hòa chết nhiều lắm, cả hai chúng tôi cùng nhiều người trong xóm vì hiếu kỳ kéo đi về hướng khu thành cách xóm nhà tôi chừng 500 thước.

Thành Cộng Hòa đã thay đổi chủ, những người lính ngồi trên bờ thành lúc này thuộc các đơn vị phe đảo chánh. Cảnh tượng chung quanh còn ngổn ngang khói đạn, những bức tường thành bị bắn cháy, bị bể nát. Ở một đoạn, tôi còn trông thấy xác một quân nhân tử thủ nằm chết vắt trên mặt thành, mọi thứ hầu như chưa được dọn dẹp. Những năm về sau, nơi này được sửa sang lại trở nên khu đại học Văn Khoa và Nông Lâm Súc. Hai cổng nằm ở hai phía đường Thống Nhất và Hồng Thập Tự bị phá bỏ cho xe cộ lưu thông qua lại, khúc đường này cũng là đoạn đầu của đại lộ Cường Để.

Tuy nhiên đi dọc theo đại lộ Thống Nhất, mé chân thành cũ, người đi đường vẫn còn nhận ra nét kiến trúc cổ hồi thời Pháp thuộc. Như các viên đá xanh được xây dính liền nhau tạo nên dãy nền cao khoảng hai thước, trên có hàng cột sắt cao mang đầu nhọn, cột này cách cột kia chừng một tấc và kéo dài theo chu vi thành. Đây là kiểu kiến trúc các cơ quan công quyền hoặc tư dinh thời Pháp thuộc còn sót lại ở Sài Gòn. Trên đoạn tường thành còn lại, chỗ đối diện với Phủ Thủ Tướng, có tấm bảng nhỏ hình chữ nhật, ngoài mặt có lớp mạ màu vàng ghi vài hàng chữ lưu niệm ngày tháng, nơi chốn quân đảo chánh đã lật đổ chế độ gia đình trị của gia đình họ Ngô.

Nhiều người Việt Nam đã sống trải qua các thời kỳ chı́nh biến quan trọng ở miền Nam. Với nhiều hiểu biết, các vịnày đã phát biểu những suy tư hay viết những bài báo, sách để ghi nhận trung thực lại thời kỳ lịch sử của miền Nam từ 1954 đến 1975. Bởi vı̀ các hiểu biết lịch sử phải được truyền thụ lại, để cho người đương thời hiểu được sự thật lịch sử một cách quang minh và công bằng, ngoài ra, giúp cho các thế hệ sau không bị đui mù, câm điếc về việc làm của tiền nhân, mà có thể rút tı̉a và ứng dụng được các giá trị thực tiễn quı́ báu cho cuộc sống cá nhân, hài hòa trong sự phát triển, tiến bộ của đất nước trong trạng thái văn minh, nhân đạo, tựdo. Chứ hiểu biết lịch sử không thể và không bao giờ dùng để đánh đổi như một lợi nhuận, vı̀ ý đồ hoặc tham vọng cá nhân, phe phái cũng không thể bị giấu kı́n, chôn cất, hủy diệt bởi con người hay bởi dòng thời gian vô tı̀nh, vô tận.

Liên hệ đến biến cố 1963, trong tác phẩm Việt Nam 1945 – 1995 Chiến Tranh, Tỵ Nạn Và Bài Học Lịch Sử – Tiên Rồng 2004, Chương 9: Sai lầm của Việt Nam Quốc Gia, Phần III. Giáo Sư Lê Xuân Khoa viết:

“Năm 1963, các biến chuyển bất lợi cho chı́nh quyền Ngô Đı̀nh Diệm liên tiếp xảy ra đưa đến cái chết thê thảm của các ông Diệm, Nhu, Cẩn và sự sụp đổ của ĐệNhất Cộng Hòa. Việc hạ sát các ông Diệm, Nhu, Cẩn là những quyết định chı́nh trị mà cả Hoa Kỳ và những người làm đảo chı́nh đều có trách nhiệm nhưng sau này lại đổ lẫn cho nhau. Nhóm tướng lãnh có thể lo ngại rằng nếu các ông Diệm, Nhu không bị giết, sau này các ông ấy có thể trở lại cầm quyền và trả thù. Nhưng ai cũng thấy rõ là vào thời điểm của cuộc đảo chı́nh 1963, chı́nh phủ Ngô Đı̀nh Diệm đã hoàn toàn bị thất thế cả về đối nội lẫn đối ngoại. Đại đa số các giới quân sự, chı́nh trị và dân chúng trong nước đều chống đối, dư luận thế giới đều bất mãn và Hoa Kỳ đã quyết định chấm dứt hợp tác với Ngô Đı̀nh Diệm. Khi Tổng Thống Diệm bị lâm nguy, không thấy có một hành động can thiệp nào của các lực lượng “Thanh Niên Cộng Hòa” hay “Phụ Nữ Liên Đới” mà ông bà Nhu vẫn tựhào là những lực lượng nồng cốt với hàng triệu thành viên. Nhiều người từng ủng hộ Ngô Đı̀nh Diệm đã thấy sự sai lầm của ông và đã trở nên thờ ơ hay chống đối. Như vậy, trong trường hợp của hai ông Diệm, Nhu không bị giết và chı̉ bị lưu đày ra ngoại quốc, các ông cũng không còn cơ hội nào để có thể trở lại lãnh đạo cuộc chiến đấu chống cộng sản. Cho dù hai ông có tı̀m cách liên kết với cộng sản để tı́nh chuyện trung lập hóa miền Nam và chấm dứt vai trò của Mỹ ở Việt Nam, các ông cũng không còn có những điều kiện có thể nói chuyện được với họ, nhất là khi tı̀nh hı̀nh chı́nh trị và quân sự đã trở nên thuận lợi cho họ.”

Trước biến cố 1 tháng 11 năm 1963, Sài Gòn đã chứng kiến một vụ đảo chı́nh khác. Cũng tác phẩm trên cho biết:

“Ngày 11/11/1960, một số tiểu đoàn Nhảy Dù, do Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Trung Tá Vương Văn Đông cầm đầu, thực hiện một cuộc đảo chı́nh, chiếm giữ một số cơ quan chı́nh phủ và bao vây Dinh Độc Lập. Nhóm sı̃ quan này được sự ủng hộ của một số chı́nh trị gia chống Diệm như Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu. Cuộc đảo chı́nh bất thành vı̀ mục đı́ch chı́nh của những người làm đảo chı́nh chı̉ nhằm ép buộc ông Diệm thay đổi chı́nh sách và lập chı́nh phủ mới. Đại sứ Mỹ giữ thái độ trung lập và khuyến khı́ch hai bên thương thuyết. Ông Diệm hứa thay đổi chı́nh phủ nhưng kéo dài cuộc điều đı̀nh cho đến khi viện binh của Trần Thiện Khiêm và Huỳnh Văn Cao từ Mỹ Tho và Biên Hòa về giải cứu ngày 12 tháng 11. Nhóm cầm đầu đảo chı́nh phải bỏ trốn qua Nam Vang.”…

(Xin xem thêm Việt Nam: 1945 – 1995 Chiến Tranh, TịNạn Và Bài Học Lịch Sử của Giáo Sư Lê Xuân Khoa trong phần Tài Liệu ở cuối sách)

Tuổi thơ tôi trôi qua bı̀nh yên nơi chốn thị thành miền Nam. Tuy vậy, có những xáo động chı́nh trị thời đó vẫn mãi đọng trong tâm trí tôi, dù tháng ngày đã qua rất xa, không nhớ rõ vào năm 1966 hay 1967, nhưng chắc xảy ra trước khi Việt Cộng tấn công vào các thành thị miền Nam hồi Tết Mậu thân 1968.

Một buổi trưa, lúc 11 giờ, trường học vừa tan (hồi ở tiểu học, tôi học tại trường Thống Nhất, nằm cạnh bên trung học Văn Hóa Quân Đội, cả hai đều nằm trên đại lộ Thống Nhất), tôi đi bộ về nhà, khoảng đường từ đó đến nhà chừng 1000 thước. Khi bước gần tới cổng chính của công ty Shell, cách cổng trường tiểu học chừng 100 mét, tai bỗng dưng nghe hàng loạt đạn nổ rền ngay phía cổng hãng Shell bắn ra. Cùng lúc ấy quang cảnh hỗn loạn, huyên náo xảy ra: đoàn xe chở Thủ Tướng, bấy giờ là ông Trần Văn Hương, phóng như bay về hướng Bến Bạch Đằng. Thì ra khi đoàn xe vừa rời khỏi cổng phủ Thủ Tướng ở đường Thống Nhất, chạy tới đường Cường Để rồi quẹo xuống bến tàu, đã gặp ngay ổ phục kích của đặc công Việt Cộng. Đoạn đường từ Phủ Thủ Tướng xuống tới tư dinh Thủ Tướng ở dưới Bến Bạch Đằng phải đi qua đại lộ Cường Để, đây là lộ trình hàng ngày của đoàn xe Thủ Tướng. Chắc Việt Cộng đã theo dõi từ lâu, biết được sơ hở nên họ mới tổ chức cuộc mưu sát đó.

Chính đôi mắt ngây thơ của tôi ngày ấy nhìn thấy được vài người mặc quân phục Biệt Động Quân, đặc công giả dạng lính VNCH (Việt Cộng khá giỏi nghề ngụy trang!) cầm súng bắn thẳng vào đoàn xe chở Thủ Tướng Trần Văn Hương, tính ám sát ông hòng gây rối loạn an ninh – chính trị, đồng thời gây tiếng vang cho Việt Cộng. Mãi về sau, khi trưởng thành tôi mới nhận ra điều này.

Khi đoàn xe yếu nhân đi khỏi, cảnh sát, an ninh chìm, nổi kéo tới đông đúc. Xe cộ, khách bộ hành bị chận lại tra hỏi giấy tờ tùy thân. Tôi lúc ấy chừng 10 tuổi không bị xét hỏi, sự kiện xảy ra quá nhanh, không ai có thể ngờ được. Chính bản thân tôi cũng không dè mình vừa đi bộ tới chỗ đó thì lại chứng kiến một sự kiện đặc biệt, quá đổi kinh ngạc so với hiểu biết non nớt của độ tuổi ấy!

Sau cuộc mưu sát hụt vài ngày, thêm một câu chuyện được tiết lộ, ngoài mấy đặc công đứng ở hãng Shell, Việt Cộng còn đặt thêm một xe xích lô nằm ở ngã tư Nguyễn Du – Cường Để nằm ngay bên hông nhà Thống Tướng Lê Văn Tỵ, ngay mặt sau hãng Shell, trong chiếc xích lô, cảnh sát khám phá ra có gài mìn bên dưới chỗ ghế ngồi.

Theo kế hoạch của Việt Cộng, nếu đoàn xe yếu nhân thoát được ổ phục kích bất ngờ ở ngã tư trên thì khi xuống đến ngã tư dưới, một nguời lái xích lô, cũng do Việt Cộng giả dạng, sẽ cho mìn được gài sẵn trên xích lô phát nổ hướng vào đoàn xe Thủ Tướng. Nhưng may mắn là lúc súng nổ ở hướng hãng Shell, người đặc công giữ chiếc xích lô quá hoảng sợ nên bỏ trốn trước.

Và trong cuộc khám xét khách vãng lai gần khu vực mưu sát, một thanh niên tên Mầm bị bắt giữ. Mầm là con của một gia đình bán nước sinh tố ở đầu con hẻm nhỏ, anh có dáng dấp khỏe mạnh, nước da rám nắng vì là con nhà lao động. Chắc cảnh sát khả nghi về điểm này nên Mầm bị bắt, sau đó mấy ngày anh được thả ra. Gia đình anh Mầm bán sinh tố nhiều năm liền ở trước xóm tôi, nơi đây ngoài học sinh trường Saint Paul giải khát sau giờ học còn có những người lính Hải Quân, lính Thủy Quân Lục Chiến và công nhân hãng Ba Son, hãng này cũng nằm trong khu vực Hải Quân.

Những năm sau 1975, khi tôi đang đi lang thang kiếm sống ở huyện Định Quán – tỉnh Đồng Nai, cách Sài Gòn về hướng đông khoảng 125 km, tôi có gặp lại gia đình anh Mầm một lần nữa, lúc ấy đã bỏ nghề buôn bán, về làm rẫy ở xã Phú Hoa, huyện Định Quán, như phần lớn người dân Việt bị đẩy lùi cuộc sống của mình khi miền Nam chìm vào bóng đêm!

4- Bến Bạch Đằng… Tắm Sông

Và dòng ký ức vẫn không ngừng trôi… ngay ngã tư Nguyễn Trung Ngạn – Cường Để, từ nhà tôi tại cuối hẻm đi ra tới ngã tư này độ chừng 100 thước, quẹo tay trái đi theo đường Cường Để sẽ đụng cổng số hai của Bộ Tư Lịnh Hải Quân. Cổng số một gần đó nằm ở công trường Mê Linh – nơi có dựng bức tượng Thánh Trần Hưng Đạo đứng chỉ tay xuống dòng sông Sài Gòn – theo sử thì ngài đã đứng chỉ tay xuống dòng sông Hóa thuộc địa phận Bắc Việt – mà binh chủng Hải Quân xem là ông tổ binh chủng. Ở ngay chỗ đặt bức tượng này, trước kia vào những năm cuối thập niên 50 và đầu những năm 60 khi còn chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là bức tượng bà Trưng Trắc và bà Trưng Nhị. Nhưng sau đảo chính 1/11/1963, bức tượng Hai Bà bị kéo đổ xuống vì bị cho là gương mặt hai bức tượng có nét giống bà Trần Lệ Xuân, vợ ông cố vấn Ngô Đình Nhu, người em trai của cố Tổng Thống Diệm.

Bên trong khu vực Bộ Tư Lịnh Hải Quân ngoài khu cư xá sĩ quan yên tịnh, nhà cửa gọn gàng đẹp mắt, nơi tôi thường tới chơi với các bạn nhỏ hồi còn ở tiểu học, còn có một địa điểm nữa hấp dẫn những thằng bé chúng tôi hơn. Đó là con sông Sài Gòn (hay còn gọi là sông Bạch Đằng để nhớ tới một chiến thắng lịch sử từ thời nhà Trần ở nước ta chống lại quân Nguyên Mông xâm lược), khúc chạy ngang hãng Ba Son.

Ngày bãi trường hay cuối tuần không đi học, bọn nhỏ chúng tôi thường rủ nhau kéo xuống bến Bạch Đằng tắm sông. Có lần tôi và người bạn tên Hai đang tập bơi thì tôi bị hụt chân, mặc dù chỗ tắm chỉ sâu hơn ngực. Tôi hoảng hốt kêu cứu, Hai, là người bạn thân hồi thiếu thời, có sức khỏe hơn đã nhô mình ra kéo tôi vào sát bờ. Sau lần mém chết đuối đó, tôi gan thêm một ít và thời gian sau thì tự bơi được và bơi ra xa, nơi có mấy chiếc tàu đang đậu, nhưng dĩ nhiên lính gác khi thấy sẽ đuổi chúng tôi lên bờ vì thời đánh nhau các tàu đậu hay bị đặc công Việt Cộng phá hoại.

Cuộc đời khó mà tiên liệu được, không ngờ những lúc trốn nhà cùng bạn bè đi tắm sông, học bơi, lại là điều may cho sau này. Nhờ biết bơi nên tôi bình tỉnh lúc qua sông, suối và thoát được nhiều tai nạn trong cuộc hành trình gian lao mà suốt đời người chỉ xảy ra một lần! Lắm khi lại không xảy ra, nếu ai đó cứ quanh quẩn nơi một góc phòng đến cuối đời.

Nói tới chuyện tắm sông thuở nhỏ lại nhớ đến người bạn cũ, nhà Hai cũng ở cuối xóm, sát cạnh nhà tôi. Gia đình Hai nghèo nhất trong khu xóm công chức vừa đủ ăn này, anh chỉ học hết bậc tiểu học, trong lúc tôi lên trung học thì anh phải nghỉ học đi làm thuê, vác mướn phụ giúp cho gia đình có nhiều miệng ăn. Ba anh, một người lính sư đoàn 18 đóng ở Long Khánh, những ngày ông về Sài Gòn nghỉ phép, tôi hay qua nhà bạn chơi và nghe người lính yêu đời ấy miệng luôn huýt sáo bản hùng ca: “… đoàn quân… ta đã về đây…”.

Sau năm 1975, trong khi tôi rời nhà đi kiếm sống ở các tỉnh – thời gian này tôi làm nhiều nghề từ đạp xe ba bánh, cu li, nông dân, thư ký tới dạy học – thì lúc ấy Hai ở Sài Gòn bị bắt đi “nghĩa vụ quân sự?”. Khoảng năm 1978, tôi ghé thăm gia đình và qua nhà bạn chơi mới biết anh đang mắc bịnh tâm thần. Không rõ những ngày đi nghĩa vụ quân sự Hai đã bị đối xử như thế nào mà hóa sảng, miệng anh cứ nói lảm nhảm. Có lúc tôi và Hai đang trò chuyện, anh cứ mở miệng kêu “L…ê D…uẫn là L…ưỡi D…ao – một kẻgiết người!”. Vài năm sau nghe nói, bịnh nói sảng của anh giảm đi rất nhiều và người bạn Hai của tôi, sống qua ngày bằng nghề đạp xích lô.

5- Chiến Tranh Đến Gần… Mang Anh Tôi Về Nhà Cũ!!!

Tôi được sinh ra và lớn lên trong căn nhà nhỏ này, cả quảng đời ấu thơ êm đềm như công việc thường nhật của má tôi, một công chức ở Bộ Giáo Dục. Đầu thập niên 70, bà được đổi về Nha Thanh Tra Trung Học nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, sát bên trường Trưng Vương, cách nhà chỉ có bức tường. Nhưng khi đi làm, bà phải đi bộ vòng qua đường Cường Để – Thống Nhất rồi quẹo vào đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vào năm 1973, gia đình tôi mới cảm thấy chiến tranh tới gần hơn bao giờ hết, mặc dù vào năm 1968, Sài Gòn đã bị nhiều cuộc tấn công của Việt Cộng, nhưng khu xóm nhỏ chưa bị hề hấn gì trừ những tiếng đạn pháo được nghe vang xa xa.

Người anh thứ năm, tên Phạm Hoàng Tuấn vào năm 1973 vừa đúng 18 tuổi (anh sinh năm 1955, tuổi Mùi) đã phải bỏ học – lúc ấy anh đang học lớp 11 ban A trường Văn Hóa Quân Đội – để lên đường nhập ngũ theo lịnh tổng động viên của chính quyền miền Nam. Thời đó thanh niên 18 tuổi phải vào quân đội, nếu đang học lớp 12 sẽ được miễn động viên chờ cho qua kỳ thi tú tài. Ngày anh lên đường, tôi vẫn còn nhớ như in, gương mặt anh trắng như con gái, dáng đi nhút nhát của nguời học trò mới lớn chưa từng sống xa gia đình buổi nào.

Má tôi rất thương anh thứ năm vì tính tình hiền lành quá mức của anh, khác với cái tính hiếu động hay tụ tập cùng chúng bạn của tôi. Tôi thứ sáu trong gia đình 9 anh chị em gồm bốn trai, năm gái. Bà muốn ba tôi chạy lo để đứa con trai được tiếp tục đi học ở Sài Gòn, nhưng ba tôi, một thượng sĩ thâm niên quân vụ trong binh chủng Quân Cảnh Tư Pháp, vì trách nhiệm, nhất là vì sợ phép nước, mặc dù trong lòng rất thương con, dù không muốn anh tôi dở dang việc học, cũng đã phải chở con mình trên chiếc xe Suzuki cũ mèm tới trung tâm nhận quân. Vì điều này, mãi đến những năm về sau, ba má chúng tôi thỉnh thoảng vẫn lời qua tiếng lại khi nhớ tới con.

Giữa xã hội thời chinh chiến loạn lạc mà ba tôi, một người lính bình thường của chế độ, vẫn kiềm mình trong khuôn phép. Dường như suốt đời binh nghiệp 20 năm, ông không dám vi phạm kỷ luật, nhất là làm trái luật pháp.

Vào năm 1955, chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm lập ra hội đồng trưng binh, cha tôi đã tham gia lực lượng hiến binh của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa từ lúc đó. Ông đã học vài năm trung học chương trình Pháp ngữ và tại ngũ trong 20 năm nhưng vẫn chưa được thăng cấp úy. Cho tới khi giải ngũ vào năm 1974, ba tôi chỉ mới 44 tuổi. Trong khi ấy, có không ít những kẻ quyền cao chức trọng, được đãi ngộ nhiều bổng lộc, nếu họ hành xử theo đúng khuôn phép quốc gia, chắc hẳn đã không góp phần dẫn đến đại bại vô lường cho miền Nam sau này, khiến cho quân dân miền Nam phải chịu đựng bao tai ương sầu bi!

Thời đó, khi chiến tranh tại miền Nam bùng nổ dữ dội, rất nhiều thanh niên bị đưa vào lính và cũng có nhiều người tình nguyện, trong số ấy có người anh thứ ba của tôi tên Phạm Hoàng Tiên gia nhập tự nguyện binh chủng Biệt Động Quân. Nhưng cạnh đó cũng không ít những thanh niên trốn quân dịch bằng nhiều cách, đó là những thanh niên bị Việt Cộng tuyên truyền cũng như đám thanh niên con ông cháu cha hoặc con nhà giàu có, vì họ không muốn chết vô ích giữa hai làn đạn hoặc vì ích kỷ chỉ muốn an nhàn, hưởng thụ cho bản thân, gia đình, giữa cảnh lửa khói ngút trời trên quê hương miền Nam do bạo lực chuyên chính cộng sản gieo nên!

Sau 6 tháng được huấn luyện tại trung tâm Đồng Đế, Nha Trang, anh năm tôi ra trường với cấp bậc trung sĩ địa phương quân. Trước ngày lên đường nhận nhiệm vụ, anh được phép về nhà chơi mấy hôm. Đơn vị mới của anh tôi là một trung đội có hơn 10 người, vị sĩ quan trung đội trưởng còn quá trẻ chưa có mấy kinh nghiệm trận mạc, địa điểm tiền đồn lại cheo leo trong cánh đồng xa.

Vào tháng đầu tiên khi anh năm về tiền đồn, ba má tôi xin nghỉ phép đi về Trà Vinh tìm cách thăm anh, nhưng chỉ tới được tỉnh lỵ nhận tin chứ không vào được tiền đồn. Má tôi có người bà con xa, lúc ấy đang sống tại chợ Trà Vinh, nhân đấy, bà có gởi nhờ người bà con này khi tiện dịp thì chăm sóc thăm hỏi anh tôi. Tình mẹ thật hiền hòa, bao la, nhưng chiến tranh tàn khốc đâu có điều gì để bảo đảm giữ tình thương, hạnh phúc gia đı̀nh được vững bền!

Sau đó chừng vài tháng, tôi không nhớ rõ là vào tháng mấy của năm 1974, tiền đồn nơi anh tôi trú đóng bị Việt Cộng tấn công dữ dội, nếu không nói quá tàn bạo với chiến thuật cổ điển vay mượn từ đàn anh Tàu: “tiền pháo hậu xung”. Hơn 10 địa phương quân trong tiền đồn đã không chịu nổi trước hàng loạt đạn pháo của cái gọi là những đơn vị bộ đội “giải phóng”. Tất cả các quân nhân trong đồn đều chết tức tưởi trước khi quân chi viện của tiểu khu Trà Vinh được phái đến. Ba tôi được tin điện khẩn từ tiểu khu, ông vội vã về Trà Vinh nhận xác con, theo lời ba tôi kể lại, xác anh tôi bị cháy đen không còn nhìn ra được, duy nhất chỉ còn lại tấm thẻ bài có mang tên tuổi số quân của anh!

Sau đó một ngày, được sự giúp đỡ của tiểu khu Trà Vinh, quan tài anh thứ năm tôi được đặt trên chiếc xe GMC (ngày xưa hay gọi là xe nhà binh) trở về căn nhà cũ, nơi anh được sinh ra và lớn lên. Sau hơn một ngày giữ quan tài ở nhà để bà con họ hàng cùng làng xóm tới viếng thăm anh lần cuối, hôm sau, chiếc xe tang quân đội đã mang anh tôi tới Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, chôn cất đúng theo lễ nghi cung cách dành cho một chiến binh tử trận ngoài chiến trường.

Nghĩa trang quân đội Biên Hòa

Đền tử sĩ

Anh nằm xuống

Xin hãy ngủ yên

Ghi chú: Một số hı̀nh ảnh về Nghı̃a Trang Quân Đội ở Biên Hòa bên trên, tác giả tı̀m kiếm và xin được trı́ch lại từ trên net của các cộng đồng người Việt hải ngoại. Thời gian các bức hı̀nh được chụp khoảng 2003, 2004, gần 30 năm sau ngày mất miền Nam.

Anh tôi đã nằm xuống nơi đó, cùng với hàng chục ngàn thanh niên tuấn tú mang nhiều ước mơ của miền Nam, trong một cuộc chiến tranh di hại đến nhiều thế hệ sau từ vật chất tới tinh thần. Một cuộc chiến khiến dân tộc Việt lụn bại, nghèo nhục! Người anh em phía Bắc, nói rõ hơn là chế độ chính trị ở miền Bắc đã ngày càng trở nên xa lạ với chính giống nòi Việt. Họ cuồng tưởng đến độ họ gây chiến tranh – nói theo từ ngữ vô hồn của lãnh đạo Hà nội – là để thực hiện cuộc cách mạng giải phóng nhân dân, nhằm mang hạnh phúc lại cho hơn hai chục triệu dân cư miền Nam!? Nhưng thực tế quá đỗi cay đắng, cho đến vài thập niên sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm bằng nòng súng AK của Liên Xô và Trung Cộng, đất nước đã đi thụt lùi lại hơn nửa thế kỷ. Thế nhưng cái nghèo đói, nhục hèn đó dường như chưa làm thỏa mãn cái cuồng tư, cùng thủ đoạn bám chặt quyền cai trị của bộ chính trị cộng đảng.

Miền Nam Sụp Đổ Bi Hùng

Một Sự Sụp Đổ Rất Cần Thiết Để Khai Tử Chế ĐộMiền Nam Bị Khuynh Loát Bởi Thành Phần Lãnh Đạo Không Trong Sạch, Không Xứng Đáng. Và Để Lịch Sử Soi Rọi Chân Tướng Độc Tài Bạo Trị Của Chế Độ Đảng Quyền Hà Nội.

6- Sài Gòn Ngày Ấy… Ngày Đau Đớn Lòng!

Bước vào đầu những năm 1970, cuộc chiến kháng cộng tại miền Nam – hay cuộc chiến huynh đệ tương tàn thảm khốc trong dòng sử Việt hiện đại – đang diễn ra quyết liệt, một mất một còn. Vào năm 1972, Hà nội đã mở hàng loạt cuộc tấn công nhằm đẩy nhanh tiến trình thôn tính miền Nam bằng bạo lực quân sự, rốt ráo thực hiện chủ trương cộng sản hóa miền Nam trong chiến lược “cách mạng” thường trực của Liên Xô và Trung Quốc. Các trận đánh từ cổ thành Quảng Trịxuống tới An lộc, Bình Long đã ghi lại những nét son trong chiến sử của quân dân miền Nam.

Từ năm 1972 – thực ra là trước thời điểm này – tình hình miền Nam đang dần dần có những thay đổi khi đồng minh Hoa kỳ bộc lộcác chı̉ dấu cho thấy, họđang muốn thay đổi chiến lược, vı̀ quyền lợi siêu cường. Cụthể, họmuốn ứng dụng học thuyết “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Điều này đồng nghı̃a với việc trao dần trách nhiệm chiến đấu gìn giữ miền Nam V.N lại riêng cho quân đội VNCH, chứ không còn sự hiện diện hợp tác của các đơn vị quân đội đồng minh trên lãnh thổ miền Nam nữa.

Một thay đổi chiến lược từ phía Mỹ, nói khác đi, Hoa Kỳ muốn rút chân ra khỏi cái mà họgọi là “vũng lầy Việt Nam”. Nhưng giới lãnh đạo chính trị, quân sự ở miền Nam, từ trước, vào đầu thập niên 1960, trong đường lối phòng thủ miền Nam, từ sau khi đất nước chia đôi 1954, đã thiếu sự chuẩn bị lâu dài cho chính phần đất này, đã không vạch ra được một chiến lược phòng thủ bằng chı́nh sức của nhân dân miền Nam khi đất nước phải đối diện với áp lực xâm lược từ phı́a Bắc, cùng áp lực ngoại giao, chı́nh trị, quân sự của đồng minh bên cạnh mı̀nh.

Năm 1973, sau khi học xong lớp 9, tôi rời trường trung học Văn Hóa Quân Đội, ngôi trường có nhiều bạn bè thân và cha mẹ những người bạn ấy cũng là quân nhân công chức giống như gia đình tôi. Đầu năm 1975, lúc ấy tôi đang học dồn ở trung tâm lớp đêm Võ Trường Toản cạnh nhà để chuẩn bị cho kỳ thi tú tài sắp tới. Thời gian này tin tỉnh lỵ Phước Long bị rơi vào tay c.s đã về tới Sài Gòn. Tı̉nh Phước Long vào ngày 13 tháng 12 / 1974 bị8.000 quân Bắc Việt với thiết giáp và hỏa lực mạnh tấn công. Ngày 6/1/1975 Phước Long thất thủ. Đây là tỉnh lỵ không lớn nhưng có vị trí gần Sài Gòn. Phước Long thuộc vùng ba chiến thuật, bị cộng quân chiếm đóng hoàn toàn tính từ ngày Hiệp Định Hòa Bình Paris về VN ra đời năm 1973.

Sau đó gần ba tháng, vào đầu tháng 3/1975, tỉnh lỵ Ban Mê Thuột bị tấn công bất ngờ, thời gian ngắn sau lại rơi vào tay quân Bắc Việt. Trận đánh Ban Mê Thuột khai màn cho nhiều trận đánh kế tiếp đẩy miền Nam tự do (phôi thai) mau chóng sụp đổ toàn diện. Một trang sử quá bi ai cho dân tộc Việt được mở ra khi cả nước bị thu về một mối dưới ách cực kỳ chuyên chế: đảng trị! Thật sự hồi ấy với số tuổi 18, tôi chưa thể hình dung ra hết kết cục đau thương mà phải hàng 10 năm sau, mới nhận chân được.

Những ngày giữa tháng 4/1975, lớp học tôi đã không còn bình thường, ít nhiều xôn xao bắt đầu xuất hiện. Vài người bạn con nhà giàu thố lộ với nhau về chuyến đi xa sắp tới của gia đình họ, vài vị giáo sư trong lớp đã vắng mặt, không biết thầy cô đi đâu. Chỉ biết rằng số học sinh nghèo như chúng tôi hãy còn tới trường đều đặn mỗi buổi, ngồi im lặng chờ thầy cô đến dạy. Lúc ấy ngôi trường không còn được điều hành nghiêm chỉnh như trước đó nữa.

Gần cuối tháng 4/1975, chiến tranh không phải ở gần mà đã thực sự đi vào Sài Gòn. Tiếng bom nổ ở dinh Độc Lập do máy bay của phi công Nguyễn Thành Trung (một Việt Cộng nằm vùng trong binh chủng không quân) đánh phá theo kế hoạch của Hà Nội. Những tiếng đạn pháo lác đác rồi từng đợt rơi vào trung tâm thủ đô Sài Gòn. Những tin tức gây hoang mang, làm nản lòng người được cộng sản tung ra. Tiếng động cơ trực thăng bay hối hả trên bầu trời. Từng đợt sóng người kéo tới các địa điểm di tản ra nước ngoài. Sài Gòn lúc ấy hỗn loạn! suy sụp!

Đại lộ Cường Để phía trước khu xóm tôi vào các ngày 28, 29 tháng 4 bị nghẹt ứ xe cộ. Một đoàn dài xe hơi đủ loại đang đậu trước cổng Bộ Tư Lịnh Hải Quân để chờ toán quân cảnh Hải Quân kiểm tra giấy tờ trước khi cho qua cổng, đi xuống chiếc tàu HQ đang bỏ neo dưới bến Bạch đằng. Chủ nhân các chiếc xe này gồm những vị sĩ quan Hải Quân hay những người có chức quyền hoặc người biết tin trước chiếc tàu chiến sẽ ra khơi đi xứ người tìm tự do một khi Sài gòn thất thủ.

Trong lúc chờ đợi được cho vô cổng Bộ Tư Lịnh Hải Quân, đoàn người đông đúc này đã tràn vào các cửa tiệm ở ngay đầu con xóm nhỏ mua thức ăn. Tại đây cơm, bánh mì, các loại nước uống như xá xị, trà đá, nước sinh tố, nước đá v.v… được bán đắt không thể tưởng. Các bà bán hàng ở đầu xóm vui mừng vì  trúng mối thình lình. Khu xóm tôi đa số là quân nhân công chức, nhưng gần như 9/10 các gia đình ở đây lại bình chân không động đậy, dù trước xóm nhỏ đang tấp nập, ồn ào vì đám đông chuẩn bị xuống tàu di tản, bỏ quê hương!!!

Sự bình chân này có thể giải thích bằng những lý do sau: Một là sự sụp đổ bất thần của chế độ VNCH khiến cho nhiều người hoang mang không biết tương lai sẽ như thế nào, nên chưa thể quyết định ngay tức khắc cuộc sống sắp tới cho gia đình con cái mình, nhất là người Việt mang nặng tình cảm yêu mến quê hương làng xóm không muốn ra đi sống nơi xứ người; Hai là trước cảnh chế độ cũ sụp đổ, tan nát, tản lạc đồng thời kẻ chiến thắng mới đến chưa lộ diện, nên rất nhiều người dân chưa thể biết được tác hại ghê gớm, từ những chính sách cai trị tàn khốc sau này của tân chế độ. Về điểm này phải nêu ra một chi tiết quan trọng nữa, cả khu xóm tôi và còn nhiều nơi khác trong thủ đô Sài gòn, đa phần đều sinh trưởng trong Nam nên chưa đụng phải kinh nghiệm chết người khi sống chung với cộng sản, như đồng bào miền Bắc đã gặp trong cải cách ruộng đất, những màn đấu tố giết người, các chiến dịch hãm hại trí thức, địa chủ, phú nông nhằm “cào bằng xã hội” v.v… Hẳn nhiên còn nhiều điều hung tợn khác không thể kể ra chỉ trong vài trang giấy, vì thế, lúc miền Bắc rơi vào tay cộng sản năm 1954, đồng bào miền Bắc đã hối hả lên đường xuôi Nam tìm cuộc sống tự do.

Chỉ vài năm sau 1975, khi chấn song sắt đã hạ xuống, một trại tù khổng lồ trên khắp lãnh thổ được tân chế độ thiết lập xong thì đồng bào trong khu xóm tôi mới bẽ bàng nhận ra được, nhưng cơ hội ra đi không còn nữa và tình trạng vượt biên, vượt biển không phải lúc nào cũng đưa người ta đến chốn tự do mà không phải trả giá đắt.

… Sáng ngày 30 tháng 4, khi bước ra đến đầu ngõ, tôi không còn trông thấy đám đông ồn ào chờ đợi di tản nữa. Cổng gác của Bộ Tư Lịnh Hải Quân đã mở toang, toán quân cảnh đứng gác nơi cổng cũng biến mất, chỉ còn lại đoàn xe hơi dài đậu trước xóm. Lúc ấy nhiều người trông thấy của bỏ giữa đường không có chủ nhân, nên tìm cách mở cửa xe rồi lái đi về nhà mình.

Đến khoảng 11 giờ trưa, lịnh đầu hàng được loan đi trên đài phát thanh, đường phố vắng lặng, những người lớn tuổi lui vào nhà chờ đợi một biến đổi mà theo linh cảm người từng trải cho biết: tình hình sẽ ảm đạm, bi quan.

Đến quá trưa, do tính tò mò lại hiếu động, tôi lấy chiếc xe đạp, chạy vòng quanh các đường phố gần nhà để chính mắt mình được xem sự thể. Khi đạp xe tới đường Thống Nhất, thấy nhiều người đang đứng hai bên đường coi đoàn xe tăng cộng sản chạy từ phía cầu Thị Nghè hướng đến Dinh Độc Lập. Chưa thỏa mãn, tôi đạp tiếp xuống công trường Mê Linh, nơi có bức tượng đức Trần Hưng Đạo, tại đây chiếc tàu đậu gần bến đò Thủ Thiêm bị bốc cháy, cạnh đó có vài phóng viên nước ngoài đang thu hình. Những phóng viên này có hình dáng của người châu Á, tôi không rõhọ là người Nhật, người Nam Hàn, hay người Trung Hoa. Sau đó tôi đạp xe chạy trở lại cổng Bộ Tư Lịnh Hải Quân. Trước cổng chính của Bộ, có đám đông bu quanh anh bộ đội gác cổng, nhiều người muốn hỏi coi cuộc sống ngoài miền Bắc tự do như thế nào. Tôi cũng chen vào đám đông để nghe anh bộ đội trả lời, anh cười, nói lớn cho mọi người nghe, giọng thao thao không vấp như đã học thuộc bài: “… Nhân dân miền Bắc sống tự do, nhưng là sự tự do có giới hạn”?!.

Đứng nghe người bộ đội nói một lúc, tôi đạp tiếp về hướng sở Ba son, chưa tới hãng, tôi đã thấy một đám đông tràn vào nhà Trung Tướng Thủy Quân Lục Chiến Lê Nguyên Khang để hôi của. Họ lôi ra khỏi nhà từ chiếc nệm ngủ, cái giường, cái quạt, quần áo v.v…, bất cứ cái gì có thể bán được hay mang về nhà dùng. Tôi thụ động đứng ngoài ngó cảnh giành giựt, chửi bới, mắng nhiếc lẫn nhau vì tôi không quen thói tranh cướp của người.

Cách biệt thự này chỉ vài chục thước có một biệt thự nhỏ hơn, trước năm 1972 là nhà của Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến, ông Nguyễn Thành Yên. Vị Đại Tá này là thân sinh của người bạn tôi tại trường Văn Hoá Quân Đội, anh Nguyễn Thanh Hồ. Lúc còn học chung, thỉnh thoảng tôi vẫn theo Hồ về nhà anh chơi và hay đến trước cổng biệt thự của vị trung tướng để trèo lên cây me hái trái.

Từ quá trưa tới khoảng 4, 5 giờ chiều ngày 30/4 là thời gian bằng vàng cho những người hôi của. Lúc này có một số đơn vị bộ đội đã vào chiếm giữ vài cơ sở trọng yếu nhưng chưa chiếm hết, do đó nhân lúc giao thời, các đám trộm cướp mặc sức tung hoành. Kho nhu yếu phẩm nằm trong bộ tư lịnh Hải Quân bị đập phá. Gạo, đường, sữa v.v… được chất lên những chiếc xe ba bánh, xe đạp, xe gắn máy hoặc có người đặt lên vai khiêng đi. Khu lao động ở phía trước xóm tôi trở nên náo nhiệt chưa từng thấy vì những hoạt động như vậy. Có gia đình ông đạp xe ba gác, hàng ngày sống thiếu thốn, nay nhân dịp hôi của được, trong nhà ông chất đầy vài chục bao gạo, mươi thùng sữa hộp, vài chục thùng mì gói. Số gia đình quân nhân công chức trong con xóm nhỏ, phần vì sĩ diện, phần vì không quen với cảnh giành giựt trộm cướp (cũng có vài mươi người đã nhanh chóng tham gia đám đông hôi của) nên chỉ ngồi nhà coi thiên hạ tranh nhau hàng hóa trong kho hoặc tài sản của kẻ ra đi. Nhưng chỉ mấy hôm sau đã thấy sự hiệu nghiệm của câu nói trong dân gian: “nhân đạo thì không có gạo mà ăn”.

Đến khoảng 6, 7 giờ tối ngày 30/4, tôi và vài người bạn rủ nhau ra đứng ở đầu ngõ xem cảnh bộ đội đi lại. Lúc này có nhiều đơn vị tăng và bộ binh cộng sản vào nội thành thủ đô, cảnh người dân hôi của cũng đã chấm dứt. Trên đường phố xe nhà binh, xe zeep, xe Honda chạy đi chạy lại, tất cả đều là bộ đội. Có một chiếc xe zeep chở 5, 7 người, tôi nghĩ chắc là sĩ quan, vì thấy thái độ cùng quần áo họ. Số này vào ngôi quán nhỏ ở đầu xóm kiếm bia uống, giọng nói họ khá khó nghe đối với dân trong Nam, có lẽ họ ở Bắc Trung Phần.

Mới vào thành phố chưa được một ngày, nhưng có nhiều bộ đội đã có xe Honda lái mà không phải loại xe thường, đa phần là xe tốt, loại trên 90 phân khối. Không biết họ kiếm đâu mà tài quá! Ông thân tôi phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong 20 năm mà chỉ mua được chiếc xe Suzuki cũ mèm.

Còn có nhiều cảnh lố bịch hiện ra trước mắt người dân miền Nam đang lúc đau buồn vì miền Nam thân yêu thất tán, cáo chung. Có những bộ đội trời tối rồi vẫn mang kiếng mát, mặt mày vênh váo. Nhưng than ôi những cặp kiếng họ đeo là kiểu kiếng chỉ các cô gái điếm rẻ tiền, “hoạt động” ở vùng ngã ba Chú Ía mới đeo! (ngã ba Chú Ía ở bên xã An Nhơn, quận Gò Vấp, Gia Định – nhà người bạn học tôi ở gần khu vực này, muốn đi thăm bạn, tôi phải đạp xe chạy ngang ngã ba).

Không thể trách những người dân nghèo khổ, nhân lúc giao thời giữa hai chế độ, chạy đi hôi của chỉ vì phải chăm chút cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, vì lúc đó nhiều người lãnh đạo miền Nam đã chạy tan tác bỏ mặc dân tình ra sao thì ra!

Hành động hôi của cỏn con của người dân miền Nam, chỉ vài tiếng đồng hồ vào xế trưa ngày 30 tháng 4, làm sao sánh được với tiến trình hôi của sau này do tân chế độ thực hiện. Gạo, hàng hóa, chiến cụ, xăng dầu, vàng bạc, thực phẩm, thuốc men v.v…, được mang từ trong Nam, chở về miền Bắc. Cho chế độ có, cho lãnh tụ có, cho cán bộ cao cấp có, trả nợ chiến tranh cho Trung Quốc, Liên Xô cũng có. Thế còn người dân đất Bắc được gì? Chỉ có được cái bánh vẽ to tướng. Gọi là tiến trình hôi của vì việc cướp bóc có hệ thống, có tổ chức chỉ đạo của đảng và kéo dài trong nhiều năm tháng sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm. Giữa cảnh đổ nát – trốn chạy – giành giựt miếng ăn trong cuộc sống đa nhục – cùng nền tân lập chứa đựng mầm mống vô nhân hiện lên tinh thần TRUNG – DŨNG, thật đáng khâm phục của vài vị tướng lĩnh, nhiều sĩ quan trung cấp trong quân lực VNCH, một số vị trong bộ máy công quyền còn giữ lại niềm tự hào của kẻ sĩ VN – thà chết không khuất phục – thành mất thì tuẫn tiết theo thành. Nay miền Nam đã mất, họ chọn cái chết hoặc nguyện ở lại trên quê hương miền Nam để cùng chia xẻ với mệnh nước quá u uất! Đây là các viên ngọc bích sáng rực trong thời binh đao rực lửa hận thù, khi sự hèn nhát, ếm thế tràn chiếm cách hành xử của nhiều người.

7 – “Đổi Đời” – Cuộc Sống Đi Lui

Từ ngày 1/5/1975, cuộc sống gia đình tôi đã thực sự thay đổi đáng sợ, cái thay đổi mà thời ấy thường gọi là “đổi đời “. Nhà tôi lúc đó sống trong cảnh sum vầy nhưng đầy lo âu. Ba tôi giải ngũ từ năm 1974, việc dự định đi Long Thành khẩn hoang lập ấp theo chương trình của chính phủ dành cho những quân nhân hồi hưu, bị hủy bỏ. Mọi quyền lợi dành cho ông sau khi giải ngũ bị mất tất cả (ông là binh sĩ giải ngũ trước lúc miền Nam sụp đổ nên không nằm trong diện phải đi cải tạo). Má tôi đang làm việc tại Nha Thanh Tra Giáo Dục cũng bị cho nghỉ việc vì tân chính quyền không tin người cũ. Chị hai tôi đang làm việc ở Nha Khảo Thí thuộc Bộ Giáo Dục cũng bị sa thải cùng lý do trên. Anh ba tôi đang là một quân nhân thuộc sư đoàn 7 bộ binh đóng tại Kiến Phong, Vùng 4 Chiến Thuật, sau lịnh đầu hàng, anh với nhiều chiến hữu trong đơn vị phải cởi bỏ quân phục, lội bộ từ miền tây về Sài gòn trong đói khát. Chịtư tôi Phạm Thị Ngọc Thủy đã nghỉ học đang đi tìm việc làm.

Tôi nghỉ học từ gần cuối tháng 4. Sau ngày 30/4 độ 10 ngày, trường tôi mở cửa lại, nhưng mọi việc đều khác, bạn bè cũ đã đi đâu gần hết. Những nhà giáo mới vẫn còn đọng nét rừng núi hoặc có thái độ của người sinh trưởng ngoài miền Bắc xã hội chủ nghĩa rất xa lạ với chúng tôi vào những ngày ấy, mặc dù cùng là đồng bào, cùng một dân tộc. Cảnh nhà đang sa sút quá đổi, tôi lặng lẽ rời mái trường không lời từ biệt, nơi mà chỉ trước đó một năm, tôi đến trường với nhiều ước vọng ấp ủ trong lòng để hiến dâng ở tương lai! Đời học trò đã chấm hết từ buổi đó với đầy nuối tiếc, day dứt trong tôi và của má tôi mãi nhiều năm về sau!

Nhưng nếu tôi được học tiếp, chắc cũng phải bỏ ngang vì không nuốt nổi những kiến thức khô khan, suy tôn một chiều, đả phá một chiều, làm ngưng đọng sáng tạo, nhưng lại luôn luôn nuôi dưỡng sự căm thù, giết chóc lẫn nhau. Ba đứa em, Phạm Thị Tuyết Sương, Phạm Hoàng Tân, Phạm Thị Ngọc Thúy đang độ tuổi đi học nhưng sau này cũng bỏ dở vì không có tiền theo đuổi. Những định kiến của chế độ mới dành cho các gia đình quân nhân, công chức miền Nam: “ngụy quân – ngụy quyền” – loại công dân hạng hai.

Sum vầy trong lo âu bởi vì cả nhà thất nghiệp, tiền bạc dự trữ trong nhà có giới hạn, má tôi dù quen tính cần kiệm, chịu đựng, những ngày này bà càng ít nói hơn. Mọi sinh hoạt trong gia đình bị thu hẹp lại tối đa, vào mỗi bữa cơm, cả nhà 9 miệng ăn quây quần bên một nồi cơm nhỏ, thức ăn chỉ là một dĩa rau muống luộc chấm với tương hột kho mặn. Má tôi ngồi cạnh nồi cơm, tự tay bới cơm cho từng người nhưng đúng hơn để phân chia phần cơm cho đều. Không ai ăn quá số chén được quy định vì gạo quá ít và tiền thì không còn dễ kiếm được như ngày trước nữa.

Nhằm gỡ cơn túng cùng cho gia đình, hàng ngày ba tôi chở tôi trên chiếc xe đạp (lúc này chiếc xe Suzuki cũ đem bán rẻ rồi) chạy lang thang trong khu quận 4 bên Khánh Hội tìm kiếm việc làm. Ông có ít vốn Anh ngữ và bằng lái xe hơi nhưng đạp mỏi chân vẫn không kiếm được việc gì làm.

Chị Hai tôi xin gia đình đi về Gò Công làm việc cho người bà con, tiền bạc không nhiều nhưng thỉnh thoảng chị dành dụm ít tiền gởi về giúp gia đình. Người anh thứ ba (chỉ học tập cải tạo có 3 ngày vì là binh sĩ) từ ngày rã ngũ về nhà sống trong cảnh bẩn chật khiến anh lại nghĩ tới chuyện rời gia đình đi xa. Tính tình anh ba tôi ngang tàng không chịu tùng phục ba má, ngày ấy ở nhà chỉ còn chiếc xe đạp làm chân, nhưng anh cũng lấy đem bán để có tiền đi Long Khánh thăm người vợ cũ và sinh sống luôn trên đó trong nhiều năm.

Người cậu thứ ba (má tôi thứ tư trong gia đình bên ngoại), thấy cảnh nhà em mình đang bế tắc, nên nói với má tôi cho tôi qua nhà ông ấy đạp xe ba bánh chung với hai người anh họ, kiếm được đồng nào đỡ đồng đó. Nhà cậu ba hơi khá, trước đây, ông buôn bán trên Ban Mê Thuột và vẫn đi đi về về bằng máy bay thương mại. Sài gòn thất thủ, gia đình ông còn cái sạp nhỏ bán trái cây ở ngôi chợ bên cầu chữ Y, chiếc xe ba bánh dùng để chở trái cây từ nhà ra chợ, nhà ông cậu nằm ở đường Âu Dương Lân gần đấy.

Năm đó đã 18 tuổi, lâu nay vẫn sống với gia đình chỉ lo ăn học, bây giờ lần đầu tiên đi làm kiếm tiền giúp gia đình và lại bằng nghề lao động chân tay, tôi không quen nên thấy mắc cở với mọi người chung quanh.

Những hôm đầu mới hành nghề đạp xe ba bánh, khi ra khỏi nhà, tôi lấy cái nón lính cũ của ba tôi đội lên đầu và kéo hơi sụp xuống để người quen không nhìn thấy mặt. Nhưng có tạm dấu được láng giềng thì bên ngoài người ta vẫn biết vì cái tướng dáng học trò trắng trẻo, ăn nói lại nhỏ nhẹ đôi khi hiền quá thành khù khờ, chứ không chưởi thề, bạo mồm bạo miệng như mấy anh đạp xe ba bánh chuyên nghiệp. Vả lại khi Sài gòn đổi chủ, rất nhiều gia đình sa cơ thất thế từ địa vị thầy cô rớt xuống làm thợ, làm cu li nên mọi người quen mắt dần đi và nhẫn nhịn với cuộc sống mới.

Thế nhưng nghề đạp xe ba bánh cũng không lấy gì làm khá trong buổi túng thiếu, có ngày tôi chẳng được đồng nào, mang xe về nhà ông cậu cất mà lòng buồn buồn. Toàn, con trai thứ tư của ông cậu ba thấy vậy bèn lấy nải chuối sứ nhỏ nhét đưa tôi, đem về phụ vào phần cơm ít ỏi trong nhà, cũng để cho gia đình bớt tủi vì không lẽ chạy xe cả ngày mà lại không có đồng nào.

Nhà tôi bên Quận Nhất, nhà cậu ba ở tận Quận 8. Mỗi lần đi làm, tôi phải đi lên đườngThống Nhất đón xe buýt đi qua ngã tư Trần Hưng Đạo – Nguyễn Trãi, sau đó xuống xe đi bộ qua cầu chữ Y. Có bữa tối về, tiền ít, tôi chỉ đi xe buýt một đoạn, rồi xuống xe đi bộ từ đường Hàm Nghi phía chợ Cũ để về nhà. Dọc  những con đường quen thuộc thời học trò trong trắng, kỷ niệm xưa êm đềm chất chứa mộng ước sống dậy và rồi nhìn lại chính mình trong hiện tại với tương lai vô định, lòng pha chút xót xa!

Cách nhà tôi hai căn, hướng ra đầu ngõ, có gia đình viên đại úy gốc người Khmer, họ Thạch. Ông đại úy này đi từ chiến sĩ lên hàng sĩ quan vì lập nhiều công trận, hơn nữa thời VNCH thường có chính sách nâng đỡ những công dân gốc thiểu số. Những năm 1970, đại úy Thạch được chuyển về công tác trong đơn vị Kỵ Binh phòng vệ Phủ Tổng Thống ở Dinh Độc Lập. Vào những ngày cuối cùng của miền Nam, viên Đại úy họ Thạch vẫn hiện diện tại đơn vị chờ lịnh, sau khi Phủ Tổng Thống bị chiếm, ông được cho về nhà, những ngày này ông hay qua nhà trò chuyện về tình hình với ông thân tôi.

Chỉ vài ngày sau, như bao sĩ quan khác trong quân đội miền Nam, ông bị lùa đi cải tạo với lịnh của nhà cầm quyền mới: đi mười ngày sẽ trở về sum họp cùng gia đình!? Sau ngày ông đi chừng một năm, cảnh nhà ông xuống dốc thấy rõ, 7 đứa con gồm bốn gái, ba trai đều nghỉ học. Cô con gái lớn tên Kim Loan, trước học chung trường Văn Hóa Quân Đội với tôi, phải lấy chồng sớm để giúp đỡ gia đình vì anh này là một người thợ trong hãng Ba Son gần đó. Thời buổi này, thợ dễ kiếm tiền hơn những người khác vì đây là xã hội của giai cấp công nhân mà!?

Bà vợ viên Đại úy trước làm công chức tại Quốc Hội, sau khi Quốc Hội bị chế độ mới biến thành nhà hát thành phố, bà về nhà sống bằng nghề bán bánh mì thịt nhưng cuộc sống ngày một khó khăn. Căn nhà nhỏ, gọn gàng xinh đẹp một thời nay bị chủ nhân tháo gỡ bán dần dần, lúc đầu là tủ, bàn, ghế, sau đó là giường, nệm, kế đến phải cạy gạch bông lên bán vì bán riết không còn gì để bán nữa.

Dạo các năm 1976-1977, có những nghề mua đi bán lại mới nổi lên nhưng rất phất. Người làm nghề này đi đến từng nhà hỏi mua đồ cũ, sau đó mang ra bán tại khu chợ đặc biệt chỉ sau năm 1975 mới có. Những ngôi chợ này chuyên bày bán các loại gia dụng trong nhà từ miếng thiếc lợp nhà tới cái bàn, chiếc xe đạp v.v… hay những loại quý hơn nhưng do chủ nhân quá kẹt tiền nên đành đem bán rẻ như các loại bình cổ, chén kiểu, các bộ bàn ghế cổ đóng bằng loại gỗ quý từ đời xưa. Và hiển nhiên những người có tiền mua những món hàng này là các cán bộ có chức có quyền trong chế độ mới. Một sự hoán chuyển độc đáo: người chủ cũ trở thành kẻ trắng tay – kẻ “vô sản” đang dần dần được hữu sản hóa bằng nhiều hình thức, kể cả cướp đoạt!

Quay trở lại chuyện của viên Đại úy họ Thạch cũng là láng giềng với gia đình tôi, sức con người chịu đựng có hạn. Người vợ ông phần vì buồn chán trước cảnh người chồng bị bắt đi cải tạo miệt mài không thấy ngày trở về, phần vì không muốn nhìn thấy cảnh cũ làm gợi nhớ tới cuộc sống ngày trước đã mất khó tìm lại được, đã dẫn hai đứa con trai và cô con gái út đi về quê ở Sóc Trăng tìm kế sinh sống.

Ở Sài Gòn, người con trai lớn của bà – tên Mai Vĩnh, anh này nhỏ hơn tôi chừng 4 tuổi, buổi thơ ấu cũng là bè bạn rong chơi trong xóm nhỏ – bị bắt đi thanh niên xung phong. Sau đó vì chán chường với cuộc sống “mới”, nghe nói anh tìm lãng quên bằng ma dược và rồi bị chính quyền mang đi cải tạo ở vùng Vĩnh An – Đồng Nai. Thế là trong tân chế độ, hai cha con đều bị tù cải tạo. Mãi những năm về sau, tôi rời gia đình đi tìm sinh kế nên không biết vị Đại úy đó có mãn hạn tù trở về sum hợp với gia đình hay không, sau hàng mươi năm bị giam cầm!?

Nhà tôi cũng không khá gì hơn nhà viên Đại úy kia, trừ nền gạch bông chưa kịp cạy lên bán, còn những đồ đạc bày biện trong nhà như ti vi, tủ lạnh, bộ ván rộng để nằm nghỉ trưa – mặt ván được đánh vẹc ni bóng láng – cái bàn học của tôi, những bộ ấm trà, chén kiểu, dĩa kiểu mà song thân sắm từ hàng chục năm trước, chỉ khi nào có tiệc tùng, đám giổ, đám cưới mới đem ra dùng, tủ đựng quần áo v.v… đều được mang ra bán rẻ để đổi lấy những chi dùng thiết yếu trong nhà như gạo, thực phẩm hàng ngày. Ngay cả căn gác đóng bằng cây, ván khá chắc cũng bị cưa, gỡ xuống bán, khiến từ dưới ngó lên trần nhà thấy trống rỗng. Ngày trước, ba má tôi làm thêm căn gác nhỏ ở bên trên để cho các bà chị tôi ở, nhà lúc trước khá rộng, sau bán lại nửa căn cho anh hai Thượng, người làm cùng sở với má tôi, nên mới dư tiền đóng thêm căn gác xếp (Anh hai Thượng sau năm 1971 đổi về ty giáo dục Bình Long công tác, trong trận chiến Mùa Hè đỏ lửa 1972, anh bị chết mất xác trên đường chạy giặc, căn nhà anh mua để lại cho bà mẹ và người em gái anh ở).

Cuộc chiến chống lại sựxâm lược cuồng nộcủa chế độcộng sản miền Bắc kết thúc trong thất bại thảm hại, tan tác, tan rã, tiêu vong hầu như hoàn toàn của lực lượng quốc gia chống cộng ở miền Nam.

Đồng minh Hoa Kỳ của miền Nam bỏ chạy trong tráo trở, bội phản, thất tı́n, điêu ngoa cùng cực, phản ảnh trung thực cho chủ nghı̃a thực dụng chı́nh trị đương thời.

Giới lãnh đạo quân sự, chı́nh trịở miền Nam phần lớn cuốn gói, trốn chạy lấy thân cùng gia đı̀nh và tài sản tom góp, tı́ch lũy trong hàng bao nhiêu năm cầm quyền. Tuy nhiên, nhiều sı̃quan, tướng lı̃nh trong quân đội miền Nam sau những năm trong những trại tù của chế độcộng sản rồi cũng thoát khỏi cuộc sống mất tựdo qua sựgiúp đỡ của đồng minh, trong cơn hồi tâm sau sự bội phản hèn mạt bị khắc ghi bằng những dòng chữ đen đậm trong lịch sữMỹ-Việt.

Ngoài ra, non một triệu người lı́nh chiến và thân nhân của họ, đặc biệt là những thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, đã không chạy được và cũng không nhận đ̣ược sự giúp đỡ nào của người bạn đồng minh cũ. Ngay chı́nh cả những cấp chı̉huy của những chiến sı̃ bạc phận này, cũng đành tâm lãng quên đồng đội chiến hữu của mı̀nh, trong cuộc đời tuy gọi là lưu đày, lưu vong… thừa mứa vật chất, nệm ấm chăn êm, nhà cao cửa rộng!?

Chứng nhân còn đó, chứng tı́ch một thời chiến tranh phi nhân, tàn phá, hủy diệt quê hương Việt cùng cực, còn đó. Xin được trı́ch những giòng tâm sự tha thiết sau đây, để được cùng chia xẻ với những người con yêu của tổ quốc Việt Nam bịđời, bịngười, bị đồng đội, bị lãnh đạo, đồng bào bỏ quên trong xót xa, cay đắng, tủi nhục!!!

(Xin đọc Thương Quá Phận Bèo của Mường Giang trong phần Tài Liệu.)

8 – Lên Rừng Làm Rẫy.

Những cố gắng “cầm cự” của gia đình tôi nhằm kéo dài cuộc sống tại đất Sài thành cũng không được bao lâu và hiển nhiên xã hội mới cũng chẳng muốn lưu dung người Sài Gòn cũ trên chính mảnh đất này. Nhưng rời Sài Gòn đi về đâu để tạo cuộc sống khác? Nguyên quán hai họ nội ngoại của tôi đều ở đất Gò Công cách Sài gòn chưa đầy 60 cây số.

Ông nội tôi tên Phạm văn Danh, một công chức thuế vụ thời Pháp thuộc, vào những năm 1920, do nhu cầu nghề nghiệp, ông thường đi khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Vì thế, bà nội tôi tên Trần thị Hương luôn phải mang các con tới địa phương ông làm việc nhằm tiện cho sinh hoạt, lưu trú của gia đình, do vậy việc sinh sống ăn học của ông thân tôi hay thay đổi. Gia đình bên họ nội trú ngụ ở Cầu Tàu, nằm không xa mấy một trong những địa danh nổi tiếng ở Gò Công là Lăng Hoàng Gia, nơi chôn cất gia đình vị đại thần Phạm đăng Hưng thời vua Minh Mạng (lên ngôi từ năm 1820 tới 1840), và vuaThiệu Trị (lên ngôi từ năm 1840 tới năm 1847).

Đức ông Phạm Đăng Hưng, giữ chức Lễ bộ thượng thư, ông cũng là thầy dạy học cho vua Thiệu Trị lúc thiếu thời. Con gái Đức ông, Bà Phạm Thị Hàng, người sau này là vợ Vua Thiệu Trị nhà Nguyễn và là mẹ của Vua Tự Đức. Bà Phạm Thị Hàng sau được tôn làm Đức Từ Dũ.

Bên họ ngoại của tôi sống ngay tỉnh lỵ Gò Công, ông ngoại tôi tên Phan Văn Tròn là thầy thuốc bắc ở gần chợ Gò Công, cả nhà ngoại chỉ có má tôi là con gái nên ông ngoại rất thương bà. Nghe nói ông ngoại tôi là người viết hai câu đối bằng chữ Hán trước cổng ngôi đền thờ vị anh hùng dân tộc Trương Công Định ở trung tâm thị xã Gò Công. Bà ngoại tôi tênTrương Thị Đãnh, quê ở Kiễng Phước (có người viết là Kiến Phước) cách chợ Gò Công chừng 15 cây số, hướng đi ra biển Tân Thành nổi tiếng tại Gò Công. Ở gần Kiễng Phước có một vùng được người địa phương gọi là “Đám Lá Tối Trời”. Tương truyền rằng, ngày xưa đây là khu vực hoạt động của lực luợng nghĩa binh do tướng quân Trương Công Định chỉ huy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập tự chủ cho nước nhà.

Đất Gò Công đã ghi nhiều kỷ niệm thời thơ ấu của tôi, những ngày bãi trường, tôi được bà nội dẫn về thăm quê, bà nội tôi cứ ba tháng lại đi Gò Công một lần để lãnh tiền trợ cấp do cái chết của ông nội tôi để lại. Những ngày tháng này, hình ảnh một miền quê thân yêu, êm đềm với ao cá, cánh đồng lúa, cây sa ry, con đường ruộng nhỏ, chiếc bánh giá ngon thơm ở chợ Gò Công, buổi lễ cúng Ông (cá voi) ở bãi biển Vàm Láng (từ Kiễng Phước đi ra hướng biển Tân Thành) đã ghi sâu trong lòng tôi. Tôi còn nhớ căn nhà ngói xưa cũ của bên ngoại nằm trên đường Miếu Bà gần con hẻm mang tên “chiến sĩ 12”. Tình quê mộc mạc, chất phác đã đi vào tâm trí tôi và lắng đọng tới mãi sau này khiến mỗi lần nhớ quê xưa lòng tôi hằng bùi ngùi tiếc nuối dòng thời gian tĩnh lặng, quý vô ngần của tuổi thơ trong trắng, hồn nhiên. Đôi khi bù vào sự trống vắng  của hiện tại, tôi tìm về quá khứ bằng độc thoại trong tâm tưởng. Nhưng thời gian qua rồi có ai bắt lại được đâu!

Ngày ba má tôi rời đất Gò Công lên Sài Gòn lập nghiệp vào năm 1950, thời ấy miền Nam đã có chiến tranh, song chưa bị mở rộng và ác liệt như sau này. Do hoàn cảnh gia đình và do công ăn việc làm của ba tôi lúc chưa bị động viên, song thân tôi dùng số tiền dành dụm được, sắm chiếc xe hơi hiệu Simca màu trắng sữa. Về sau khi gia đình ngày càng đông người, chiến tranh cũng gia tăng ác liệt, cuộc sống mỗi lúc mỗi khó khăn thêm, chiếc xe được đem bán. Cái nhà xe ở trước xóm bị phá bỏ, đất thì bán cho những người dân đang từ miền quê chạy lên thành thị tránh chiến tranh. Và từ ấy cuộc sống êm ả của gia đình cứ sa sút dần.

Gia đình tôi có liên lạc với bà con dòng họ ở dưới quê thật mật thiết, hàng năm ba, má hoặc chị hai tôi đều thay nhau về quê thăm viếng bà con họ hàng hay sửa sang phần mộ của những thân nhân đã mất. Thı̉nh thoảng bà con dưới quê lên Sài gòn có việc đều ghé qua nhà tôi trú vài ngày.

Thế nhưng sau cuộc đổi đời giữa lúc cảnh nhà sa sút quá đỗi, hầu như không tìm thấy tương lai, ba má tôi lại không muốn về quê cũ sinh sống. Phần vì Gò Công đất chật người đông, phần vì sĩ diện gia đình, không lẽ lên Sài Gòn lập nghiệp bao nhiêu năm nay rồi lại đi về quê kiếm cuộc đất nhỏ nương thân qua ngày. Một phần nữa là lý do an ninh, vì người quen biết ở quê khá đông và họ biết công việc của ba má tôi, trong bao nhiêu năm qua đã phục vụ cho chế độ miền Nam, mặc dù không phải là việc quan trọng, song ba tôi không muốn những người làm việc trong guồng máy mới bươi móc chuyện cũ, hòng làm khó dễ gia đình. Sau cùng, ông quyết định đi lên xã Bảo Chánh lập nghiệp, cách thị xã Long Khánh chừng 10 cây số đường bộ về hướng Bắc (Long Khánh cách Sài Gòn chừng 100 Km).

Xã Bảo Chánh trước đây là một “ấp chiến lược” trong thời chiến tranh, sau đó trở thành khu giãn dân của thị xã Long Khánh. Gần khu giãn dân này có một lô đất rừng chừng vài mẫu do một tổ hợp người Việt gốc Hoa “thương lượng mua lại” từ chính quyền địa phương để khai phá làm nông. Cậu ba tôi có quen với tổ hợp này nên xin mua hơn một mẫu đất không được tốt cho lắm, sau đó má tôi chia lại vài sào đất với giá rẻ từ ông cậu, mặc dầu tiền bạc trong nhà đã cạn sạch, cũng còn hơn là nhắm mắt để chính quyền lùa đi đến những vùng đất mà mình không sống được!

Từ đầu năm 1976, ba tôi một mình lên đất Bảo Chánh phá rừng làm rẫy, thời gian sau có anh ba từ Ngã Ba Rừng Lá, gần đường đi Hàm Tân, về phụ giúp. Miếng rẫy này đã gắn bó trong cuộc sống gia đình chúng tôi tới cuối năm 1981. Riêng tôi, từ tháng 7/1975, đã rời Sài Gòn đi tìm việc làm ở nhiều nơi, để có điều kiện giúp đỡ cho cha mẹ, anh em và mong tìm một cơ hội, dù rằng chưa biết rõ cái mình muốn tìm là gì? Thế nhưng, đó chỉ là mong mỏi nhỏ nhoi bị lạc loài, vùi dập trong xã hội mới không sẵn lòng dung chứa những khác biệt với tín điều chế độ! Trong nhiều năm lang thang, tự lập, tôi thỉnh thoảng vẫn ghé thăm song thân trên rẫy. Có lần đi xin dạy học ở một trường xã, khi vào nộp đơn, tôi chỉ nhận được những ánh mắt soi mói, tìm hiểu không thân thiện. Dường như chỉ cuốc, cày sẳn đợi những thanh niên miền Nam như chúng tôi lúc ấy! Đấy cũng là lần sau cùng tôi bước chân tới thềm cửa bộ máy công quyền. Sau cùng vào đầu năm 1980, quá thất vọng vì sự phân biệt Nam – Bắc, đảng ta – ngụy quyền, vô sản – tiểu tư sản thành thị, tôi trở về sống với gia đình mà lòng buồn chán, ngao ngán với thời vận. Ý nghĩ rời bỏ quê hương, ra đi tìm cuộc sống tự do len lỏi dần vào tâm trí tôi từ khi đó.

Từ nhỏ, lòng tôi vốn thích hình ảnh hùng vĩ, cao cả của Núi – Rừng. Quang cảnh thiên nhiên đẹp cuốn hút này đã thực sự đến với tôi trong những ngày tháng làm nông tại Bảo Chánh. Nhưng để lại nhiều kỷ niệm khó phai trong đời là thời gian sống và hoạt động ở miền rừng núi Thái – Cambodia – Lào trong bộ quân phục KHÁNG CHIẾN cùng với hàng trăm thanh niên Việt khác trên mọi nẻo đường đời quy tụ về đây đi xây dựng niềm tin mới!

Bảo Chánh là một xã nghèo, trừ phần nhỏ dân cư đã sinh sống ở đây từ trước, còn đa phần mới chạy tới đây lập nghiệp sau năm 1975, trong đó gồm những gia đình quân nhân công chức nghèo ở thị xã Long Khánh bị chánh quyền mới đuổi ra khỏi thị xã, được ngụy trang dưới những từ ngữ mị dân: chính sách giãn dân (một bộ phận của chính sách xây dựng vùng kinh tế mới). Đúng ra là đẩy người dân vô tội ra khỏi thành phố, lên rừng làm nông nhằm gạt bỏ những trở ngại, nguy hiểm có thể xảy đến cho chế độ mới theo cái nhìn của họ sau khi cướp được chính quyền.   Ngôi chợ xã lụp xụp với mấy sạp bán hàng cất tạm bợ bằng lá, tre và cây rừng. Mùa mưa, khi vào chợ phải xăn quần tới đấu gối do những vũng nước đọng hay đất sình đầy lối đi. Đối diện chợ là ủy ban nhân dân xã Bảo Chánh, cơ quan uy quyền ở địa phương. Cả hai nơi cách mặt nhau bởi con đường xe lửa nằm ngay giữa từ Sài Gòn chạy ra miền Trung, dưới đó vài chục thước là ga Bảo Chánh.

Miếng rẫy của gia đình tôi nằm xa chợ Bảo Chánh chừng 4 cây số đường đất chạy ngoằn ngoèo qua các xóm nhỏ của đồng bào Thượng cùng những khoảnh ruộng, nương rẫy nằm dọc theo đường đi. Gần đấy vươn lên trời cao lừng lững ngọn núi Chứa Chan. Núi Chứa Chan không cao lắm, đứng từ Bảo Chánh trông núi khá rõ. Những buổi sáng sớm, ra tập thể dục trước căn nhà lá, tôi thấy đỉnh núi ẩn hiện trong bóng sương mù khiến cho tâm hồn sảng khoái giữa cảnh ban mai yên tịnh, trong lành!

Mấy sào đất của gia đình tôi thuộc loại đất xấu, có chỗ toàn cát, có chỗ pha chút đất thịt. Ở khúc cuối cận con suối nhỏ, bên kia suối là khu giãn dân Long Khánh, đất còn màu vì đây là lỏm rừng nhỏ mới được phát quang sau này. Đầu mảnh đất giáp với con đường từ xã chạy vào ấp Thọ An, ở giữa rẫy, ba tôi cất một căn nhà lá để gia đình che mưa che nắng tạm. Chung quanh nhà rẫy, ông trồng nhiều loại cây từ đu đủ, dừa, mít, khoai mì, ớt, chuối. Nhiều nhất vẫn là chuối vì có bóng mát lại vừa ăn ngon và dễ đem ra chợ xã bán trong ngày rằm hàng tháng. Phần đất còn lại, thường chỉ canh tác vào mùa mưa, lúc mưa xuống, nhân lực trên rẫy gồm có ba tôi, anh ba. Má tôi lúc thời vụ bận rộn thì bà có mặt trên rẫy, còn những lúc khác bà đi lên, đi xuống Long Khánh – Sài Gòn bằng xe lửa trong những chuyến buôn lẻ, vừa tiện bề chăm sóc nhà cửa ở hai nơi. Tân đã bỏ học lên Bảo Chánh giúp gia đình, Tân cũng không thường xuyên có mặt ở rẫy vì tuổi còn nhỏ (năm đó Tân mới 15 tuổi). Xa Sài Gòn đôi khi nhớ bạn bè, em lại đòi về Sài Gòn mấy hôm, và tôi được xem là nhân lực chính nhưng lại trễ tràng vì mãi tới năm 1980 mới trở về làm rẫy cùng gia đình.

Do mấy sào đất không cao lại không thấp, nên làm ruộng thì thiếu nước còn trồng các hoa màu khác lại hay bị ngập nước sền sệt. Mưa xuống các loại hoa màu như đậu xanh, đậu phộng, đậu đen xanh lòng (loại này bán có giá) và bắp là lương thực chính yếu phải được gieo trồng. Căn bản vẫn là bắp để thay cho lúa không cấy được. Còn các loại đậu khi thu hoạch sẽ được mang bán đổi lấy các thực phẩm khác như bột ngọt, cá khô, mỡ, nước mắm, mắm ruốc, đường v.v… dùng trong bữa ăn hàng ngày.

Hàng năm, bắp được trồng gần kín miếng rẫy nhỏ.Có lúc ba tôi cho phép hái một ít ăn tươi hoặc thỉnh thoảng nấu một nồi chè bắp nước cốt dừa, còn phần lớn được lẫy hột, đem phơi nắng thật khô. Phơi hột bắp mất nhiều thì giờ vì mùa mưa, sau đó vác hoặc gánh ra nhà máy xay xát ở ngoài chợ để xay nhỏ, cám thì chịu bán rẻ cho nhà máy xay. Những hạt bắp được nghiền thành nhiều mảnh nhỏ xı́u được sử dụng thay gạo trong các bữa ăn quanh năm.

Có mùa, bắp bị thất, do giông gió quá nhiều hoặc bị những đàn két rừng kéo nhau tới ăn phá, gặp cảnh này, những buổi gánh bắp đi ra xã để xay không còn nữa. Vì tiết kiệm, ba má tôi để nguyên hột, phơi cho thật khô. Trước khi nấu, đem ngâm hạt bắp trong nồi nước có pha chút vôi trắng và lấy tay chà đi xát lại nhiều lần để cho hạt được sạch, khi hầm nấu, hạt bắp mau mềm. Ăn bắp hầm mau ngán hơn bắp được chà nhỏ, nhưng có ngán cũng ráng nuốt vì trong nhà không có gạo. Những mùa bắp trúng, loại bắp nếp khi được chà (xay nhỏ) ăn bùi hơn loại bắp nù, bắp nếp nhỏ trái, nhỏ hột hơn bắp nù song nấu ăn tươi hoặc dùng thay cho gạo thì dễ ăn hơn. Bắp nù tuy không ngon như bắp nếp nhưng có lợi vì trái to và hột bự.

Trong mấy năm làm rẫy, gia đình tôi ít có dịp ăn được những bữa cơm nấu bằng gạo trắng. Hàng năm chỉ những ngày Tết hoặc cúng giỗ, má tôi mới bán chút đỉnh đậu, bắp hay vài con gà để đổi lấy mấy ký gạo ngon về nấu cỗ, trước cúng tổ tiên ông bà sau cho cả nhà dùng. Những buổi ăn có cơm trắng với chút thịt, cá như thế thật đáng nhớ. Nhưng cũng không có nhiều để ăn cho thỏa mãn! Sau những ngày đó, gia đình chúng tôi tiếp tục ăn bắp chà hay khoai mì, khoai lang (tươi hoặc khô) quanh năm.

Do đất không làm ruộng được, và thời vụ canh tác lại chỉ trông vào sáu tháng mưa, nên lương thực dự trữ trong nhà lúc nào cũng thiếu. Mùa nắng lao động lại nhàn nhã, có ít việc để làm. Vào mùa này chỉ còn lại ba tôi ở nhà coi rẫy và chăm sóc đàn gà vịt cùng số cây ăn trái chung quanh nhà như ớt, đu đủ, mít, giàn dưa tây v.v… Sau này khi tôi về phụ giúp, vào mùa nắng, tôi cùng em Tân cuốc chừng hai sào đất để trồng lang, khoai lang trồng có ba tháng, củ đã bán được. Trồng lang có nhiều cái lợi, thứ nhất tạo thêm việc làm cho gia đình trong mùa nắng rảnh rỗi, thứ nhì lúc củ lang chưa đủ lớn để bán, dây lang được cắt đem bán cho những người nuôi heo. Việc cắt ngọn dây lang, dài khoảng hơn hai gang tay, có lợi vì kích thích cho  dây mọc thêm ngọn, lá. Nhưng khi trồng lang lấy củ người ta không để cho dây lá mọc sum sê sẽ lấy hết phân nuôi củ. Nông dân có câu: tốt lá thì không tốt củ. Cứ vậy, cắt lại mọc, mọc thêm lại cắt. Tiền bán dây lang góp mua thêm ı́t thực phẩm như khô, gia vịhàng ngày trong gia đình.

Thời gian dây lang được cắm xuống đất, tôi gánh nước tưới lang mỗi ngày, từ cái giếng nước ba tôi cùng anh ba đào sau nhà đi tới khu đất trồng lang mất vài phút. Hai sào đất gồm vài chục giồng lang, chia ra sáng chiều mới gánh tưới hết. Đã vậy mùa nắng nước giếng mau cạn, phải vét thêm giếng để vừa có nước tưới lang lại vừa có nước dùng trong nhà. Khi dây lang đã có thể cắt được, mỗi buỗi chiều tôi đi ngó từng giồng lang, coi đọt lang nào đủ dài thì cắt bớt và xếp thanh từng bó nhỏ chất vào bụi chuối trước nhà để ngọn lang được tươi lâu, chờ sáng sớm ngày mai gánh ra chợ bỏ mối cho những người mua quen. Bán đọt lang thường đi sớm vì khi có nắng nhiều, đọt lang héo dần, các mối mua không vừa lòng. Những buổi sáng như thế, tôi dậy vào lúc nghe gà gáy hừng đông, tập vài động tác thể dục. Thói quen tập thể dục 30 phút mỗi sáng đã có từ hàng chục năm qua, vì thuở nhỏ, tôi thường thấy song thân tập nên bắt chước theo và giữ mãi tới bây giờ. Nhờ luyện tập luôn mà sau này đuợc dẻo dai vượt qua nhiều cuộc hành trình như chuyến vượt biển rồi nhập biên. Nhất là lúc nhập biên phải vượt bao rừng sâu, núi cao, nhiều sông lắm suối, ăn uống kham khổ. Có anh em tướng dáng mập khỏe thế nhưng khi di hành lâu trong địa hình rừng núi hiểm trở, hai bắp chân mau bị đuối, có người đi không nổi đành bỏ cuộc, nằm lại bơ vơ giữa chốn rừng sâu hiu hắt.

… Sau đó tôi đặt cái đòn gánh lên vai, đầu trước đầu sau là hai đống dây lang khá nặng đặt trên hai cái dóng. Từ nhà ra chợ xã chừng bốn cây số đường đất, vào mùa nắng đường dễ đi hơn vì không đọng nước hay sình lầy. Tôi gánh một hơi ra đến chợ, trời còn sớm, sương mù vẫn lợn vợn quanh lưng chừng núi Chứa Chan. Bán dây lang xong được được ít tiền, ghé chợ mua một gói mắm ruốc, vài con khô, đây là những món ăn thường nhật của gia đình. Xong lại đi bộ về, ăn sáng cùng ba tôi trong căn nhà lá nhiều kỷ niệm và rồi tiếp tục gánh nước tưới lang.

Tới ngày đào lang, gia đình lại thêm một ít thu nhập. Ngoài số lang tươi được tôi gánh ra chợ xã bán, số ít được luộc ăn tươi mỗi buổi sáng. Phần lớn số củ lang còn lại được xắt thành từng lát không mỏng lắm, sau đấy đem phơi nắng cho thật khô và cất vào bao dùng làm lương thực dự trữ. Khi ăn hết số lang tươi – thường thì củ lang tươi không để được lâu – những lát lang đã được phơi khô ráo sẽ được mang ra ăn dần. Mỗi sáng sớm, ba tôi lấy chừng mười lát lang khô đem rửa sạch và ngâm nước độ năm phút cho lang mềm ra, kế đến bỏ vào nồi hấp cho chín. Đây là món ăn sáng trong những ngày chờ mưa xuống để gieo hạt.

Vào mùa nắng, trồng rau cải cũng là thứ dễ kiếm tiền và tạo thêm việc cho lao động nhàn rỗi trong nhà. Các loại cải dễ trồng, dễ bán thường là cải bẹ xanh, bẹ trắng, sà lách. Cải từ lúc gieo hạt đến lúc nhổ bán chỉ mất chừng hai tháng. Không như rau lang, trồng cải phải dùng phân nhiều hơn để thúc cải mau lớn, kịp mang ra chợ bán. Thứ nữa, cải bán có tiền hơn dây lang. Phân bón cho cải thường là phân hóa học, nhưng nếu dùng nhiều lại không tốt cho đất cũng như không được lời bao nhiêu khi thu hoạch. Vì vậy nông dân nghèo miền quê thường chứa nước tiểu để làm phân tưới cho cải. Nước tiểu được trữ lâu mới có tác dụng, khi tưới phải pha thêm với nước để nồng độ nhẹ xuống, nếu không cải sẽ bị héo lá hoặc chết dần. Và khi cải còn độ một tuần nữa thì nhổ bán được, lúc đó người ta chỉ dùng nước trong tưới như là một cách rửa cải sạch trước khi đem tới cho nguời tiêu thụ.

Ở bụi chuối phía sau căn nhà lá của gia đình tôi có đặt một cái lu nhỏ, cao chừng bốn tấc đã bị mẻ chút đỉnh nơi miệng, nên được ba tôi dùng để chứa nước tiểu. Trong lu thỉnh thoảng còn có xác một hai con gà con bị chết được bỏ vào đó ngâm làm phân. Chỉ một lu này thôi, tôi đã trồng nên hàng trăm kí lô cải trong hai mùa nắng, giúp gia đình kiếm thêm tí tiền xoay sở trong cơn túng ngặt. Sau đó vài năm, tức khoảng năm 1983, khi tôi đang sống trong trại tị nạn Sikhiu thuộc tỉnh Nakhon Ratchasima hay còn gọi là Khorat, nằm ở hướng bắc đông bắc của thủ đô Băng Cốc – Thái Lan, tôi thấy nhiều người trong trại lúc nhàn rỗi trồng thêm rau cải để kiếm thêm thu nhập. Trong trại có nhiều mương rãnh thoát nước chảy ra từ các khu đông chật người tị nạn ăn ở sinh hoạt, các cống thoát nước này là nguồn cung cấp phân tổng hợp rất tiện lợi cho những người trồng rau cải.

… Vào ngày thu hoạch, sáng sớm khi sương mù chưa tan hết, tôi đã dậy nhổ cải. Sau đấy lấy thùng kéo nước từ giếng lên rửa sạch đất bám nơi rễ, song thân tôi dậy trễ một chút vì trời còn hơi lạnh. Khi cải đã được chất vào gánh thì má tôi cũng đã rửa mặt xong, mùa bán cải bà thường đi sau gánh cải tôi ra chợ vì giá cải hay lên xuống theo buổi chợ nhiều hay ít cải. Do vậy, có bà tiện cho việc nói giá với khách mua hơn, vì tính tôi thẳng, không chịu cù cưa nên khi đi mua bán thường hay bị qua mặt, nói cho đúng, tı́nh thật thà như tôi thı̀chı̉bịlường gạt. Thêm nữa bán cải được nhiều tiền hơn rau lang, nên sau khi bán xong, sẵn buổi chợ đấy, má tôi lại mua thêm ít thực phẩm mang về trong rẫy cho gia đình dùng.

Đời sống trên miếng rẫy nhỏ của gia đình trôi qua đơn điệu tứ mùa. Anh ba tôi về rồi lại đi, dường như anh không đồng ý với cuộc sống hiện tại, nhưng đi đâu cũng không được xa và cũng không tìm đâu ra cơ hội như ngày trước vì xã hội đã khép chặt! Ba tôi mau già vì mỏi mệt với cuộc sống, phần lớn do cảnh túng thiếu triền miên trong nhà.

Những lúc không có gì làm tôi lại đi lang thang qua các khu đất gần nhà, mong tìm chút gì khuây khỏa trong đời sống. Gần nhà tôi có gia đình người Việt gốc Hoa, chủ gia đình là người đàn bà, thiếm hai Dzùng. Nghe nói thím là vợ lẽ của một thương gia người Hoa ở Chợ Lớn, đời sống gia đình của thiếm không êm đẹp. Sau 1975, thiếm hai dắt các con lên Bảo Chánh sinh sống qua ngày, cảnh nhà thiếm hai từ thiếu ít tới thiếu nhiều, giống như hầu hết gia đình nơi đây. Thỉnh thoảng tôi ghé nhà thiếm ngồi nói chuyện cho qua giờ. Có một hôm thiếm thấy tôi buồn nên lấy mấy tấm hình những người cháu cho tôi coi vui mắt, theo lời thiếm nói các tấm hình này chụp tại một trại tị nạn trên đảo thuộc Indonesia. Đây là lần đầu tiên, những hình ảnh bên ngoài lọt vào mắt tôi từ sau ngày 30/4/1975!!!

Tôi nhìn những tấm hình thật lâu, đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Làm sao có quá nhiều người đi lọt ra bên ngoài? Cuộc sống ở trại tị nạn như thế nào? Tôi ngạc nhiên là phải. Vì sau ngày 30 tháng 4, do phải kiếm sống vất vả lại bị bưng bít thông tin với bên ngoài, nên tôi biết rất ít những gì đã xảy ra, phần nữa do tuổi trẻ, tôi không cố gắng tìm hiểu thận trọng các vấn đề xã hội. Điều này, khi đã có thêm ít tuổi cùng một số kinh nghiệm sống thì tôi mới hiểu ra. Sự từng trải là kiến thức quý báu mà tuổi trẻ cùng với kiến thức rút từ sách vở không thể nào bằng.

Từ xã Bảo Chánh đi ra thị xã Long Khánh (chính quyền mới đổi tên là huyện Xuân Lộc, từ Sài gòn đi về hướng đông – bắc, ta sẽ đến Long Khánh trước sau đó mới tới Xã Bảo Chánh) có ba cách đi. Một là đón xe lam ba bánh chạy vòng từ chợ xã theo con đường đất nhỏ đâm ra quốc lộ 1, rồi theo quốc lộ xuôi về hướng Nam độ 15 cây số sẽ tới chợ Long Khánh.

Cách thứ hai là đi bằng xe lửa, ngay giữa xã Bảo Chánh có đặt một nhà ga cũng cùng một tên, đường xe lửa này chạy xuyên bắc – nam, từ Sài Gòn đến Hà Nội, mà thời sau 1975 hay gọi là “đường tàu thống nhất”. Từ ga Bảo Chánh đi theo tàu chợ tức xe lửa chạy hàng ngày xuyên qua một số tỉnh, về tới ga Long Khánh không bao xa, thường vài mươi phút.

Cách thứ ba là đi bộ đối với những người không có tiền, con đường đất này chạy cặp với con đường rày xe lửa, đường khá rộng, bề ngang khoảng chừng 4, 5 thước. Nó chỉ chạy dài từ Bảo Chánh tới chợ Long Khánh. Khi đi theo con đường đất này, lúc đầu sẽ vượt qua nhiều khu vườn trái cây sum sê đầy trái, nhất là chôm chôm, sầu riêng, hai loại hoa quả có tiếng ở Long Khánh. Nghe nói những khu vườn trái cây này, trước 1975, thuộc về tài sản của những người có quyền thế trong chế độ, sau “cách mạng” những miếng đất hái ra tiền đó được đổi chủ, chủ nhân mới cũng lại là đám quyền thế ngồi mát ăn bát vàng, chỉ có dân đen hoàn dân đen!

Gia đình tôi hầu như rất ít sử dụng tuyến đường xe lam vì mỗi lần đi khá hao tốn trong thời buổi “gạo châu”, những lúc có việc cần về nhà ở Sài Gòn thường dùng xe lửa. Còn con đường đất nhỏ được sử dụng thường xuyên hơn vào mùa nắng. Nhất là đối với tôi, vì cặp chân thanh niên còn khỏe, tiết kiệm được mớ tiền, đường dài hơn 10 cây số, đi bộ phải mất gần hai tiếng đồng hồ, nếu đi ra rồi trở về liền cũng hết một buổi. Dọc theo đường đi là những cánh đồng lúa xanh rờn, những đám rẫy mới phá, những căn nhà lá đơn sơ quá quen mắt và ấm cúng trong cái tình nghèo. Chủ nhân đôi khi là những người từ miệt Bình Định, Thừa Thiên lặn lội vào đến đây lập nghiệp. Có những đoạn đường bị ngập nước, khách đi bộ phải leo lên đường rầy xe lửa đi một quãng. Sau đó quay trở xuống con đuờng đất đi tiếp, hai con đường chạy song song nhưng con đường rầy cao hơn.

Trong 5, 3 năm đầu sau khi miền Nam “đổi đời“ với kiếp sống khốn nạn, phương tiện đi lại chính yếu của người dân ở miền Đông hay từ Sài gòn ra miền Trung thường là bằng xe lửa. Xe lửa thời đó được chia làm hai loại. Một là tàu thống nhất, chạy xuyên Việt từ Sài Gòn đến Hà Nội, đây thường dành cho cán bộ, công nhân viên nhà nước hoặc những người dân có nhu cầu đi xa, như từ Bắc vô Nam thăm bà con, và thường thì tuyến đường tàu này trở thành một đặc quyền của giai cấp mới: đảng viên cán bộ nhà nước trong các hoạt động đi buôn bất chính. Vì dân nghèo khó mà leo lên loại tàu được bày biện sạch sẽ ngăn nắp này. Thứ nữa tầng lớp dân chúng sống bên trong vĩ tuyến 17 vào những năm đó vẫn đang bị chế độ nhìn bằng cặp mắt cảnh giác: ngụy dân! Một loại công dân lớp dưới!

Loại tàu lửa thứ hai được là tàu chợ, đúng như tên gọi, tuyến đường xe lửa này chuyên dành người dân đi lại hàng ngày, từ xã này qua xã kia, từ tỉnh này sang tỉnh khác. Tàu chạy chậm, cứ mỗi ga lại ngừng một lần và chạy dài từ Sài Gòn đến Nha Trang, từ Nha Trang trở ra phía Bắc, có thêm những tuyến đường nối dài tới Quy Nhơn. Đi tàu chợ trong những năm này mới thấy được một phần nào nỗi khổ của dân nghèo. Trên tàu giống như một cái chợ dơ bẩn không ai muốn dọn dẹp cho sạch, vì có dọn rồi ngày mai lại cũng vậy. Khách đi tàu đa số là dân đi buôn, số ít còn lại là khách vãng lai không muốn dùng xe đò. Vì đi tàu chợ rất dễ trốn vé, người đông, các toa tàu lại nối liền với nhau, nhân viên kiểm soát vé đi tới toa này thì họ lại chạy sang toa khác. Có những thanh thiếu niên còn trèo lên nóc xe lửa trốn cảnh xét vé nữa.

Trên tàu, ôi thôi đủ loại dân buôn, từ người buôn cá hấp ở miền Trung mang về Sài Gòn bán hay người từ Sài Gòn, Thủ Đức lên miền Đông tìm mua khoai lang, đậu các loại, bắp đem về thành phố bán kiếm lời… Đáng sợ nhất là đám buôn gỗ, than. Những năm sau “giải phóng“, người dân Sài Gòn thiếu thốn nhiều nhu cầu từng có trong cuộc sống hàng ngày trước đây, trong đó phải kể tới dầu lửa. Không có dầu đốt thì chặt cây rừng làm củi thay thế dầu. Do vậy rừng đã bị tàn phá mặc sức, lớp bị phá để biến thành nương rẫy nuôi sống người dân khi “cách mạng” kéo về, lớp bị phá chỉ để lấy cây làm củi nấu nướng! Có cầu tất sẽ sinh ra cung, đúng như quy luật căn bản trong kinh tế học. Những người dân đang thất nghiệp triền miên do nhà nước không sử dụng hoặc quá khó để tìm việc làm trong xã hội mới, nay đã tự tạo được nghề nghiệp khác có thu nhập qua ngày đó là nghề đi buôn cây làm củi – tạo nguồn cung cấp cho cư dân nơi thành thị.

Số người đi buôn này có liên lạc chặt chẽ với những người đốn cây, họ gom số cây mua được từ ven rừng mang ra chất gần nhà ga nơi xe lửa sẽ ngừng vào giờ nhất định nào đó trong ngày. Cây được cưa thành từng khúc dài độ 1mét 2 để có thể chuyển lên các toa tàu. Sau khi về tới chỗ tiêu thụ, cây được cưa, chẻ thành từng que củi nhỏ. Những ga Mường Mán, Gia Rai, Bảo Chánh…là các nơi tụ tập đám người buôn cây làm củi khá đông.

Khi còn khoảng hai tiếng đồng hồ nữa xe lửa vào ga, người ta đã thấy các “công ty khai thác chất đốt” này di chuyển từng khối cây đến sát đường ray. Để khi tàu tới, những kẻ được thuê mướn làm phu bốc vác sẽ nhanh nhẹn chuyền số lượng cây nhiều đáng sợ này lên từng toa tàu. Mục tiêu trong việc chất cây lên tàu là: nhanh – hết, không được bỏ sót số lượng cây đã được chất cặp theo đường rầy. Có đứng gần nơi những người chất cây lên các toa tàu lửa, nhất là lúc tàu chạy về đêm, mới thấy đáng sợ cho những hành khách đang đứng trên các toa tàu.

Số phu bốc vác được trả tiền theo số lượng cây được quăng thảy lên, còn chủ cây thì muốn số cây đã gom mua rồi phải được vận chuyển đi hết trong chuyến tàu đó. Do vậy, họ quăng, ném, nhét tối đa không cần biết có khách đi tàu đang đứng đầy nghẹt ở trong các toa. Và thường thì khách, không ai nói ai, phải lẹ làng tránh né các khúc cây được quăng lên từ bên dưới, nếu không muốn bị trúng vào mình mang thuơng tích hay bị đám con buôn gây gổ sinh sự, chưởi bới. Chuyện bị kẹt chân, kẹt tay hay bị đè chết dưới những đống cây chất đầy ứ, cao ngất trong các toa tàu chật hẹp ẩm mốc, tối tăm vào ban đêm là chuyện không có gì đặc biệt vào những ngày đó.

Có một hôm, tôi đi theo tàu về Sài Gòn, khi tới ga Hố Nai (Hố Nai, Thủ đức là những địa điểm đổ hàng của con buôn), lúc tàu ngừng, hành khách và cây thay phiên nhau xuống ga. Đã gần một giờ đêm, tàu vẫn chưa chạy, tôi thấy đám đông đang tụ tập xầm xì. Hỏi ra mới biết có một bà già bị chết dưới đống cây chất trong toa, bà chết lúc nào không ai biết. Vì quá đông người, hầu như toa tàu nào cũng đầy cây củi, khi hàng được tuông xuống gần hết tại Hố Nai, người ta mới tìm thấy xác bà già nằm bẹp bên dưới!

Tôi vẫn còn nhớ đêm ấy, khoảng năm 1980, ánh đèn vàng lờ mờ ở dãy nhà ga, những người khách còn lại trên toa thì mỏi mệt ngồi gục đầu vào tay tìm giấc ngủ tạm bợ.

Trong nhiều năm liền, các hoạt động buôn cây làm củi đã phát đạt nhờ vào sự “đồng thuận” của nhân viên ngành hỏa xa. Thời buổi kinh tế cực khó, chuyện ăn gian nói dối, chuyện đạp lên nhau tranh cái ăn, chuyện móc ngoặc làm giàu là một trong cách hành xử của con người. Nếu không muốn nói đấy là đạo lý cuộc sống khi nước Việt đi vào thời xã hội chủ nghĩa!

Trong gia đình, má tôi và em Tân là hai người khá thường xuyên đi tàu lửa, vì phải đi lên đi xuống Sài Gòn – Bảo Chánh, làm công việc “hậu cần“ cho gia đình. Chị Tư cùng hai cô em gái tôi rất ít lên rẫy vì có việc làm cũng như coi sóc căn nhà còn lại ở Sài Gòn.Tiếng còi tàu hụ, tiếng bánh xe lửa nghiến trên đường rẫy là các âm thanh ồn ào nhưng rất quen thuộc với má và em tôi vào những ngày cơ hàn ấy. Khi má tôi có việc về Sài Gòn, hẹn sẽ quay trở lại trong tuần sau, đúng ngày hẹn, từng tiếng còi tàu vọng xa xa từ nhà ga ở xã được ba tôi chú ý lắng nghe, và ông phân biệt tinh tường tiếng còi nào kéo lên từ tàu chợ và tiếng còi nào của chuyến tàu thống nhất chạy ngang xã nhà! Dù rằng ông chỉ đi tàu một năm chừng đôi lần.

Nhìn những đồ đạc trong căn nhà lá nền đất, mới thấy sự nhẫn nại vô bờ của người đàn bà. Từng cái lu đựng lương thực trong nhà, cái ly, cái dĩa, cái chén, chiếc mền, chiếc gối, cái nồi, cái thau tới con chó, con vịt, con gà mua gây giống… đã được má tôi cùng em Tân đưa từ Sài Gòn theo từng chuyến xe lửa, lên đến miếng rẫy nằm heo hút tận ven rừng, dưới chân núi Chứa Chan!

Thỉnh thoảng có lúc tôi đi cùng má về Sài gòn, từ rẫy ra ga vào lúc 4 giờ chiều, vì chuyến tàu chợ lúc đó từ Nha Trang chạy vô Bảo Chánh độ 5 giờ chiều. Nhưng có khi chúng tôi ngồi đợi mãi đến 10 giờ đêm mới nghe tiếng còi hụ báo hiệu tàu sắp đến, tàu hay trễ giờ là do các đám đi buôn khi thả hàng ở điểm hẹn, họ thường bứt ống hơi đặt dưới lườn tàu để bắt tàu phải ngừng muơi mười lăm phút. Có khi kéo dài hàng tiếng đồng hồ, lúc nhân viên bảo vệ xuống tàu đi kiểm tra tìm được chỗ bị đứt và nối lại ống hơi xong thì hàng buôn cũng đã được tuôn xuống đất hết rồi.

Khi tàu ngừng, tôi nhanh nhẹn tìm toa nào hơi trống dìu bà lên, sức người đàn bà có tuổi khó mà chen lấn với các hành khách khác, nhất là với kẻ đi buôn được tổ chức thành từng băng nhóm. Lên được và chen vô trong toa rồi, chỗ ngồi thường là các bao hàng chất đầy dưới sàn của toa tàu, rất khó tìm được một ghế ngồi. Nếu may mắn kiếm ghế được thì cũng khó ngồi cho đàng hoàng yên ổn, vì bị ép như cá trong hộp do số ghế ít mà khách lại quá đông, nhưng vậy là may mắn rồi!

Chuyện đứng chen chân, tay bám ở bậc thang lên xuống của xe lửa, để mỗi lần tàu chạy ngang rừng cây ven đường hay dãy nhà lợp bằng mấy miếng tôn cũ, khi sắp vào thị xã Long Khánh, khách phải ép mình vào trong toa vốn nghẹt cứng rồi, để khỏi bị cành cây quẹt hay mái nhà chém trúng, là chuyện thường ngày trên các chuyến xe lửa.

Trong bóng đêm lờ mờ của khoang tàu về đêm không ánh đèn, mùi cá khô, mùi mắm, mùi vỏ cây pha lẫn mùi mồ hôi người chua lòm xông nồng lên thật khó ngửi. Cùng lúc ấy ở sát bên tai lại vang chói các âm thanh hỗn độn, tiếng kêu nhau ơi ới, tiếng la hét, chưởi thề, cãi lộn, rồi xúm lại đánh nhau inh ỏi. Đứng nơi góc tối gần đấy, tôi nhìn má ngồi co ro yên lặng trên mấy cái bao hàng, trong tận đáy lòng, tôi thấy buồn, thương thân mẫu vô hạn!

Những buổi tối, sau một ngày phơi nắng đứng cuốc trên đất rẫy, tôi lại cầm các quyển sách thời luyện thi tú tài, mở ra coi lại. Nhưng thời gian lặng lẽ trong thiếu thốn nơi chốn nương rẫy đìu hiu không còn kéo dài nữa. Không phải vì thiếu dầu đốt mà ba tôi bảo phải tắt đèn nghỉ sớm trên cái giường tre mà đó là vì song thân tôi quyết định bỏ miếng rẫy sau gần năm mùa mưa nắng làm nông dân, để về lại Sài Gòn. Năm ấy, năm 1981. Sài Gòn – miền Nam đã bước đến năm thứ sáu trong bóng đêm – câm nín!

Cuối năm 1981, lúc trời đã dứt mưa, vào ngày cuối cùng trên nương rẫy, lúc trời chưa sáng tỏ, tôi gánh một gánh gà lội bộ theo con đường đất nhỏ hướng ra thị xã. Đây là số gà dành dụm được của gia đình, mang về Sài Gòn bán kiếm tiền độ nhật trong những ngày mới vừa quay lại nơi chốn xưa. Má tôi đi sau trên chuyến xe lam thẳng ra bến xe đò Long Khánh – Sài Gòn. Ba tôi và em Tân chờ tới trưa, mang số đồ đạc còn lại trong nhà, theo chuyến xe lửa về sau. Riêng anh ba tôi đã tìm việc làm ở một tổ hợp chế biến nhựa cao su tại chợ Long Khánh, nên anh không đi cùng gia đình về Sài Gòn.

Vĩnh biệt mảnh đất Bảo Chánh! Giờ đây tôi vẫn còn nhớ rõ những lời nói vĩnh biệt ấy khi đặt đôi gánh gà lên vai bước đi. Không phải vĩnh biệt miếng đất nhỏ nghèo nàn chất chứa kỷ niệm, nhiều lưu luyến đó. Nhưng tôi muốn nói lời vĩnh biệt những tháng ngày khốn quẫn mất tự do. Bởi vì có ai đành lòng rời quê hương ra đi tìm cuộc sống mới mà lòng không nhớ nhung quê cha đất tổ! Từ ngày ra đi ấy, tới nay, lúc đang viết những dòng chữ này hồi tưởng về nơi xưa – tháng 10/2000. Thời gian đã trôi qua 20 năm nhưng tôi vẫn chưa thể nào trở về thăm chốn cũ!

Đó dường như là những ngày sau cùng tôi sống gần cha mẹ cùng anh em ruột thịt trong tình gia đình đọng đầy kỷ niệm! Gọi là dường như, vì 18 năm qua, trong lặng lẽ, âm thầm và cảnh giác, tôi chỉ về lại căn nhà xưa ở Sài Gòn lúc hai giờ khuya ngày chủ nhật vào đầu tháng 3/1993 với thân mình mang nhiều thương tích trong bộ đồ rách rưới sau khi vượt qua đoạn đường dài gần sáu trăm cây số… từ một trại trừng giới!

Viết xong chương “Tình Nhà” vào ngày chủ nhật 15/10/2000. Tại căn phòng trọ nhỏ hẹp, nằm trong con hẻm 128, ở cầu thang 108, lầu 2, mặt trước ngó ra phía đường Kampuchia Krom, gần chợ Mới.

Nam Vang – Cam Bốt, 15/10/2000

(Năm 2005 có bổ sung)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment