This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Loài cá có cả trăm tên gọi không đụng hàng, ba tên liệt kê bên trên xem ra gần gũi với miệng mồm dân dã người Việt, hầu như ai cũng có khi ăn qua thịt nó, chí ít một lần. Y rằng như con gái vậy, tên Hoa tên Nguyệt tên Hằng luôn chiếm số đông trong giới liễu yếu đào tơ hoa nhường nguyệt thẹn. Bố mẹ đặt tên khai sanh cho con hẳn phải có nguồn cơn xúi dục chớ hổng phải vô cớ tuỳ tiện như nick name tại gia: Cái Bướm, con Nụ, con Hĩm.
Chứng minh một nguồn cơn? Dạ thưa: Các nhà khoa học vừa chính thức trao tên Obama để dùng gọi một giống cá lạ mặt. Tạp chí National Geographic cho hay loài cá này có màu vàng nâu, sinh sống vào độ sâu 90 m, tìm thấy ngoài khơi rạn san hô Kure Atoll ở Hawaii. Phát hiện ra chúng từ tháng 6 nhưng chưa nghĩ ra tên gọi, chỉ vừa đặt tên là Obama hôm 2 tháng 9, nhằm để nhớ ơn Tổng thống Mỹ khi ông dành 40 triệu USD cho mở rộng khu bảo tồn, tăng gấp 4 lần kích thước ban đầu dùng làm nơi trú thân an toàn của hơn 7.000 loài sinh vật thuỷ sản khác nhau. Dĩ nhiên Obama, người quyền lực nhất thế giới khi nghe tin cá lạ mang tên mình đã vui thầm trong dạ, sống để bụng chết chôn theo, quyết không lấy đó làm điều. Sinh ra ta là cha mẹ ta mà mang trùng tên ta chính là cá vậy! Cá Obama sống loanh quanh ở Hạ Uy Di, một ngày xấu trời bơi lạc sang quần đảo Phi Luật Tân để oan nghiệt dính lưới ngư phủ thì không khéo mà bị chúng đặt tên “Cá Chó Đẻ”. Không đặng sao? Ngài tối cao Duterte của bọn tớ từng ngứa miệng gọi đích danh “thằng” Obama ở nhà trắng là đồ chó đẻ đó thôi. Ăn nói ninh tinh vậy đó, làm gì nhau nào?
Các quan nhớn đầy quyền lực ở Việt Nam vừa cho hay là nước biển (nước chảy đá mòn) đang tự thân làm vệ sinh lấy, gạn đục khơi trong lấy, nay mai biển sẽ sạch lại như xưa. Chứng minh ư? Bọn tớ năm bảy thằng ở trần dung dăng nô đùa cùng sóng biển đây này. Nước mát lắm chúng mày ạ. Không nghe cha ông ta từng bảo: Rừng vàng biển bạc đấy sao. Cứ bơi lội cho thoả thích, cho bỏ những ngày cơ cực chứ ai nỡ tâm khoanh vùng ngăn cấm đâu nào. Cá cần nước sạch, ngày kia nước sẽ sạch, sẽ nhiệt liệt đón chào bạn cá khắp năm châu bơi về. Giả sử có con cá lạ mà các nhà khoa học chưa đặt được tên gọi, nó bơi mình ên vô sông Sài Gòn thì ta có nên hồ hởi gọi nó là cá Hồ Chí Minh? Chuyện nhỏ, nước chúng ta luôn tự hào có nền dân chủ lâu đời và bền vững. Bắt chước và noi gương lãnh tụ Obama, người nằm ngoài Ba Đình ắt sẽ mỉm miệng cười nơi chín suối, nhỉ! An giấc ngàn thu hay không thì hẳn đợi xem con cá lạc loài kia thịt hiền hay dữ. Có ngộ độc ngứa ngáy ngoài da cồn cào trong ruột, có an toàn thực phẩm chăng thì đợi bà Kim Tiến sếp sòng bộ y tế duyệt đã, nhớ?
Giời ạ, chỉ mường tượng thôi đã thấy ra viễn cảnh ấy sẽ làm dân giàu nước mạnh xiết bao. Hà Nội sẽ mọc lên lắm quán Bún chả cá HCM đậm đà bản sắc dân tộc, các ngài nguyên thủ quốc gia ở những nước văn minh tiến bộ sẽ vào kéo ghế, xuề xoà giản dị chụp ảnh tự sướng học lén chiêu thức của Obama có lắm quân sư theo hầu. Chỉ sợ một chuyện là khi ấy bọn đầu bếp có chao đảo lập trường, khôn ba năm dại một giờ, hoạnh hoẹ giận cá chém thớt chăng? Nói ngay tình, món ấy e chỉ nằm trong menu dành cho Tây, người mình thiệt nuốt hổng xuống đâu nghen, thấy nhợn lắm lận! Bèn nhắp môi vào ly “nước mắt quê hương”, đưa cay, nhậu khan mà ngôn theo khẩu khí của Bùi Giáng tiên sinh thuở nọ: Con cá thì ta biết nó bơi, ngư phủ thì ta biết là người đánh cá và thịt con cá ấy có ăn được không thì đó là điều mà ta không tài nào biết được!
Ngày 2 tháng 9 các nhà khoa học ở Hawaii mới tìm nhặt được một danh xưng cho loài cá vừa phát hiện. Trùng hợp thay, vào ngày đình đám kia dân nước Việt phải chịu hứng đỡ nhiều sự kiện dễ gây bức xúc, tổn hại đến đầu óc làm sứt mẻ sự tử tế muốn giữ gìn cho nhân thân. Đại để như T.S Vũ Thu Hương, giảng viên khoa Giáo dục tiểu học- ĐHSP nói: “Hiện nay trên thế giới có 2 tỷ người biết tiếng Hán. Do đó, muốn trở thành công dân toàn cầu, học sinh theo học chữ Hán là điều cần thiết”. Một vị chủ tịch nào đó mang tên Lê Phước Vũ tức cảnh sinh tình nên đã đại ngôn rằng: “Chỉ mới có mỗi vụ Formosa mà đã lớn chuyện!”. Quả có thế thật, bởi chăng ở địa bàn Ninh Thuận đang sắp lộ hình một nhà máy hoành tráng Formosa thứ hai. Thương cho con cá nào lạc loài ghé biển thép Việt Nam. Biết đọc chữ sẽ ngậm ngùi cho áng văn bất tuyệt “Thép đã tôi thế đấy”. Sinh mạng con người còn xem thường khi rẻ huống hồ là giống cá, cho dẫu cá có mang tên Người. Obama có thể sang thăm thú Việt Nam vịnh Kiều thăm chùa ứng xử này nọ, nhưng cá Obama sẽ bạt vía không dám bơi vào hải phận xứ có thuỷ triều đỏ ấy đâu. Em chả, em chả!
Gạt bỏ ngoài tai những vấn nạn ô nhiễm môi sinh, một vị bộ trưởng mang tên Nguyễn Ngọc Thiện không cần đeo khẩu trang, ung dung tự tại phát ngôn như giữa chốn không người: “Không làm tốt bóng đá là có tội với dân, với nước”. Ông này chắc không biết chơi “phây bút”, chứ nếu có hẳn ông đã thêm ba chữ cuối: He he he!
Ngày 2 tháng 9, về sau sẽ là ngày sinh nhật của cá Obama. Cùng ngày đó, ở Sài-gòn có một blogger than van: Chúng ta sống ngộp trong môi trường của những chiếc điện thoại thông minh và những kẻ ngu dốt. Ít học hơn, một tay chuyên bắt trộm chó (cẩu tặc) thì bày vẽ kinh nghiệm: Một con chó luôn nhìn xuống khi nó gây lầm lỗi, nhưng một con rắn, hai mắt nó luôn đặt để tới người bạn. Cẩu tặc tuyên bố giải nghệ nhưng đổi nghề đi săn bắt rắn, đăng lên facebook có hơn 100 cái like.
Bắt chó hay bắt rắn đều là nghề có thu nhập cao (chỉ thua nghề bán vé số, hehehe). Chỉ tội cho nghề bắt cá, dù không sử dụng hai tay, đang đói rêm mình, vợ dại con thơ phải đi ăn xin hoặc chạy qua mấy nước láng giềng nộp đơn lao động bá nghệ. Nghề chi cũng ô kê, miễn có cơm ăn áo mặc. Ngang đây dằn lòng không được phải chửi thề một tiếng. Cá Obama ơi, có thương cho biển Việt Nam không? Cái xứ gì chỉ tuyền cả rắn mà chẳng có lấy được một con chó. Trân tráo ác độc mà không biết gục mặt ăn năn.
Trận bão tuyết âm thầm thổi qua, đổ xuống. Sáng mở mắt ra quang cảnh đã đổi thay. Tuyết chôn vùi hai hàng xe đậu, con đường nhỏ mọc lên những nấm mồ đồng dạng, song song. Và hoạt cảnh quen thuộc hằng năm đang diễn ra, thứ ngụ ngôn mùa đông chẳng nói nên lời. Lịch ghi mùa xuân chính thức cựa mình vào ngày 20 tháng 3. Tuần trước đã chỉnh sửa kim đồng hồ chạy tới một giờ, đã cảm được chút nắng ấm ngại ngần ghé thăm. Vậy mà…
Phu phen lao động dậy sớm hơn thường nhật, trùm kín áo xống ngự hàn tay nắm xẻng ra vật lộn với tuyết, hì hục đào xới khai thông mở cửa mả. Có người chẳng nhớ đêm rồi xe đỗ ở đâu nên toát mồ hôi khi tung được tấm mền ra, nhầm lẫn nàng Corolla chứ chẳng phải người tình Acura. Mẹ rượt hay phất cũng một nghĩa như nhau. Ngụ ngôn là vì thế. Chẳng nhìn nhận ra dấu vết dị hình được, xanh đỏ mà kể gì, thảy toàn sắc trắng. Thảy dị dạng như những cái nấm Đông cô hoành tráng.
Người to xác thì sớm đưa được xe ra, kẻ nhỏ con thì tự an ủi “dục tốc bất đạt” chuyện gì cũng còn có đó. Bộ y tế từng cảnh báo: Bà con nên liệu cơm gắp mắm, nên tự lượng sức mình kẻo mà nhồi máu cơ tim và trăm nguy nan luôn chờ chực đột biến. Chống cuốc dựng cày mà thở cho lại sức điều hoà kinh mạch, nếu cần thì hát hỏng tìm chút nguôi ngoai: Con đường xưa em đi, giờ đây tuyết chôn vùi, ngõ hồn dâng tái tê, năm sau anh đổi xe, mua thứ 4×4, hòng làm cho em vui…
Có người mất hơn một giờ mới di dời thoát khỏi vấn nạn, để lại hiện trường nát tan một mộ huyệt lõm khuyết. Xe vừa gầm rú đi ra ngoài lộ chưa nóng đít khi khổng khi không có ông nội nào đó hí hửng đun xe vào, sít sao, êm re. Phẻ cách chi. Bây chừ kiếm parking khó lắm em ạ. Ông bà mình từng dạy: “Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau” là vì vậy!
Tôi không đi làm, chẳng phải thành phần chây lười lao động. Cũng chưa rơi vào hạng tuổi nghỉ hưu, tại băng tuyết mùa đông nó xúi thế, không thể cưỡng chống được. Cái số nó vậy, bắt hưởng nhàn phải hưởng nhàn, cho vắng vẻ mới được phần dại khôn. Nhàn cư thì vi có việc, đứng sau màn cửa dòm thiên hạ hì hục dọn đường. Có xe ra không được mặc dù bánh xe thì cứ quay miết, quay liên hồi kỳ trận. Hai vị có lòng hảo tâm ghé mắt, biểu chêm cục gạch thử xem. Vô số đi, tụi tui ra sức đẩy đít thử. Một hai ba, cũng là thằng cha khi nãy. Khói xăng xám xịt che đủ một mộ phần. Phất du với bu sịt cũng một nghĩa như nhau. Ngụ ngôn mà, cái lạnh cũng có nhiều nấc vậy. Rét cứng tai rồi mới tới teo bu-gi. Hậu vận mới lạnh chết cha mệ nội! Nhằm nhò chi ba cái lẻ tẻ, Québec này có bài hát trứ danh “Quê hương tôi” với ca từ:
“Mon pays ce n’est pas un pays, c’est hiver.
Mon chemin ce n’est pas un chemin, c’est la neige…
Ma maison c’est votre maison
Entre mes quatre murs de glace…”
May mà chẳng có dư luận viên với bọn nói xấu chế độ, có chúng ắt sẽ năng nổ chêm hai cục gạch vào lời nhạc rét mướt kia: Mùa đông lạnh đến độ đi đái xong bạn phải dùng tay ngắt cái vòi nước đóng băng kia mới thu được của quý vào lãnh cung.
Tôi dư nhiều thì giờ như đã thưa, vì vậy tôi cực lực lên án thành ngữ “Thời giờ là tiền bạc”. Tôi đang là đại gia, hào phóng chuyện tiêu pha đêm ngày, nghe ai gọi phone cù đi uống cà phê thì mở cờ trong bụng ngay. Trưa nay có tiếng chuông réo, bất ngờ là nghe ra giọng cậu em. Ủa, mày hổng đi cày sao?
Tui cớ ốm đau xin nghỉ việc đôi ba hôm, thay đổi xiêm y đi, tui tạt ngang rước ra Starbucks. Mẹ nó chớ, sáng nay dọn tuyết đến rêm người!
Hai chục phút sau hay nửa giờ chi đó thì đến hẹn nại nên. Cậu em phân trần, xe đời cũ thì nó cà gật cà tang ra sao hẳn anh phải biết, chốn này chừng bốn năm thì e xe phải lên cơn suyễn, ho suốt đường dài. Mặt mày cậu em chừng tiêu hao thần sắc, như đồng bệnh tương lân với khối sắt đang kêu ca. Bị mất ngủ suốt tuần nay anh ạ! “Suốt đời phải thức suốt đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”, theo cách nói của Bùi Giáng thì cậu em chưa thành người được. Sao mày không liệu cách ngủ nướng mà còn chạy đi tìm tao? Đang tang gia bối rối anh ơi! Đang đêm ngày lắm mộng. Dộng cà phê cho nhiều vào hổng chừng mà kinh qua. Hắn nói lung tung khi điều khiển chiếc xe lảo đảo trên con đường trắng toát. Chưa khi nào ngôn ngữ hắn dùng đậm chất triết lý đến thế, ngộ chứng “đời là thế”. Đời vốn là bản tình ca nhiều nốt thăng trầm chẳng cách nào hoàn thiện một cung bậc dễ nghe. Nồi niêu soong chảo trong nhà bếp mãi loảng xoảng hợp tấu tiếng chì tiếng bấc. Suốt đời phải tìm tiếng du dương, phải chêm phải ém mới nên phận người!
Cậu em biểu tôi ngồi yên để hắn xẳng xái tới quầy mua cà phê phục vụ. Thời buổi khó khăn quá, chai nước mắm ba con cua xanh đã lên tới 6 đồng, bây giờ ly Colombian này lại đổi giá thành 3 đô. Hắn lại than van. Nhưng mà nói vậy thôi, mọi thứ đều phù du cả. Anh có gì lạ không? Tôi khuấy ly cà phê đang đổi màu. Ông chồng da đen lấy vợ da trắng đẻ ra đứa con màu cà phê sữa. Cũng tuỳ vào âm dương thịnh suy, có khi đứa bé chào đời lại y như cột nhà cháy. Thế mới không cháy nhà lòi mặt chuột. Đẻ ra cục thịt trắng tợ cục bột thì nguy to, chết tía hay chết mẹ cũng một nghĩa như nhau.
Cậu em nhấp nhổm như ngồi trên hòn than đỏ lửa, cứ nhập đề vô thưởng vô phạt miết tới lúc phải phơi bày gan ruột mà xót cho cái thân bài đưa ra hòng mong đón nghe tôi viết phần kết luận. Tôi dự cảm rằng hắn đang tìm một cái thùng rác để xả oá. Và tôi đồ rằng mình đang nghe bản tân cổ giao duyên xuống sáu câu về một chuyện tình không đoạn kết.
Anh còn nhớ mặt mũi con Nhài không? Cà phê có hơi đắng, tôi cho thêm chút đường. Nhớ sao không. Mới quá mà, mới hôm tê bữa nhiếp, mày làm như đã bộn tháng năm. Anh thấy con Nhài ra sao? Tôi nhìn cậu em: Sao là sao? Tính tình hay nhân dạng? Hôm dự tiệc mừng, trăm người như một đều xem mày là thằng tốt phước, rinh được cô vợ thể hình ngon lành mặn mà có duyên các thứ. Hắn uống gần cạn cốc cà phê, phải mà có bia lúc này e hợp khẩu cưa vừa hai chai. Về làm đám cưới, lo giấy tờ thủ tục bảo lãnh, mua vé máy bay… anh biết tốn nhiêu không? Mất hơn ba chục ngàn anh ạ. Một tài sản mà tui cắc củm cày bừa cả mười năm trên ruộng tuyết. Cày cho mẻ lưỡi mụ người!
Tôi rụt cổ thử nhớ lại khuôn mặt vợ hắn. Nếu mười điểm là nấc thang cuối thì Nhài cũng leo lên số tám. Trắng da dài tóc, dân miền tây Nam bộ, giỏi ứng xử và khi nói, giọng em nghe ngọt lừ như nước dừa xiêm. Cậu em mang phận chồng tuồng như chưa húp hết nước, chưa cạo được cơm dừa mảy may đã sớm nghe sầu riêng rụng sau vườn. Tui bỏ công đi điều tra, tui theo dõi, tui xin sở làm về sớm đôi lần; không ngờ con Nhài nó phụ bạc trở mặt đi cắm sừng vào đầu tui. Nó thương anh chàng cùng quê làm cai hãng dệt, chẳng thèm sửa soạn áo xống cứ vậy mà đi hoang. Để lại miếng giấy gắn ở cửa tủ lạnh: Tui lỡ cấn thai với ảnh, duyên nợ mình chỉ có bấy nhiêu. Có ưa bồi hoàn chi phí này nọ thì cứ kê khai đặng vợ chồng tui toan tính. Ẻm ký tên Nancy chứ hổng thèm xài tên cúng cơm. Rõ là hoa nhài cắm bãi cứt trâu! Ngày một ngày hai mang ân tình đem trôi sông đổ biển.
Tôi nói điều vừa nghĩ bụng: Không chừng Nhài lên kế hoạch từ trước, nó mượn mày làm bàn đạp, qua cầu thì rút ván để kíp tìm gặp lại người xưa. Anh có cao kiến chi không? Phải mà còn ở bển tui sẽ thuê bọn xã hội đen xin hai đứa tí huyết cho biết thế nào là lễ độ. Hạ sách! Tôi sửa giọng. Tao chỉ biết nói có hai chữ ấy, trời sinh ra tao không phải để làm quân sư. Hai chữ khác là số phận. Về quê nhà lấy vợ tao chưa thấy có ai hạnh phúc cả. Cậu em mặt tái mét như gặp phải ma. Anh nói sao a chớ, trong chỗ tui làm có thằng tán gái trên facebook, hư ảo khó lường mà cuối cùng cũng nên duyên vợ chồng. Mẹ nó chứ, càng nghĩ càng tức. Đi ngoài đường bị ngựa đá bò húc cũng không xốn xang bằng! Tôi kể cho hắn nghe sáng nay có lão hì hục dọn tuyết, mang xe ra khỏi thì có đứa nhanh tay chui đầu vào vuông đất đã khai thông. Mày là thằng đổ mồ hôi đi khai quật, dọn cỗ cho bá tánh điền vào chỗ trống ngon ơ. Ngẫm ra chuyện ấy nào lạ gì, lấy phải người coi nhẹ nghĩa vợ chồng như con Nhàn thì chưa hẳn là buồn toàn tập. Đã rắp tâm bội phản thì trước sau sẽ xảy ra, ân đoạn nghĩa tuyệt sớm chừng nào khổ đau càng nhẹ. Kệ mẹ nó chứ biết tính sao.
Ra khỏi quán cà phê, xe hắn phun khói chưa tan đã có đứa nháy đèn đòi xí chỗ. Mày thấy chưa, khuyết đầy là lẽ tự nhiên. Hắn nạt tôi: Anh nói thiệt khó nghe, cứ mang chuyện vợ chồng mà liên tưởng tới bãi đậu xe. Quá sức sai trật! Mày xách xe chạy lòng vòng cuối cùng cũng tìm được chỗ đậu, đúng không? Ừa, chỉ mất chút thì giờ thôi. Đó, cứ thong thả, rồi ra mày cũng tìm được người bạn đời. Gấp gáp sinh tai nạn chứ được ích gì.
Thôi đi cha, chả an ủi chút xíu cho người ta nhờ. Có ưa đi nhậu uống say một bữa không nè. Quán này có mấy em tiếp viên ngon cơm lắm. Radio băng tần FM đài tiếng nói địa phương thông báo: Bão tuyết đã qua, ngày mai trường học mở cửa lại và mọi thứ sẽ chóng bình thường. Qua hai ngả tư, thấy có nhiều ánh đèn loang loáng quét từ trần xe cứu thương, xe cảnh sát. Một vụ đụng xe nát nhàu từ chết đến bị thương chưa được kiểm chứng. Giả như chiếc xe móp méo kia do gian phu điều khiển chở dâm phụ thì mày nghĩ sao.
Cậu em cười to tiếng. He he he. Giọng cười của một tên nát rượu hoặc bị chấn thương nặng ở con tim vừa chết một nửa.
Năm 1999, trong thời gian Bolsa xảy ra vụ Trần Trường, tôi đang có mặt tại đây. Sau 52 ngày đêm sôi sục đấu tranh, có thể nói, không một người Việt tị nạn nào không chia sẻ tình cảm của mình trong biến cố chung này, tiêu biểu cho tinh thần chống Cộng không chấp nhận một hình ảnh hay một hoạt động nào của Cộng Sản trên đất tự do này. Thời gian ấy, Orange County chưa có đài truyền hình Việt Nam, trong khi đài truyền hình địa phương của Mỹ thì chưa vào cuộc, nên người Việt tại đây chỉ còn theo dõi biến chuyển này qua hai đài phát thanh, mà quyết liệt năng nổ nhất là đài Radio Bolsa của Minh Phượng và Việt Dzũng, gần như làm phóng sự ngay tại chỗ suốt 24 tiếng đồng hồ.
Qua đài phát thanh, tiếng la hét, tiếng đồng ca, tiếng hoan hô đả đảo vang dội từ khu phố Bolsa dội về mỗi gia đình, đôi khi tưởng chừng như bóp nghẹt con tim của mọi người.
Căng thẳng nhất là đêm 22 Tháng Hai, 1999, đêm cao điểm của trận chiến quyết tiêu diệt hình ảnh Hồ Chí Minh và lá cờ máu, số người tham dự tràn ra các ngõ đường tại góc đường Bolsa và Bushard đến mức kỷ lục. Cảnh sát Mỹ, với ngựa, chó săn, dàn trận đối diện với hàng nghìn người biểu tình, đề phòng một cuộc bạo loạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Thử tưởng tượng vào lúc ấy, mà chuyện đã xẩy ra có thực, trong không khí sôi sục của cả một cộng đồng người Việt đang ở giữ cơn sốt đấu tranh, trên một đài phát thanh, cô xướng ngôn viên chuyển mục, không biết vô tình hay hữu ý, bắt đầu giới thiệu một bài hát kiểu: “Tôi đưa em sang sông…” hay “Chuyện tình hoa sim…” Thật tình trong lúc ấy, nếu không ghìm được sự bực tức, tôi đã đập vỡ cái máy thu thanh xuống sàn nhà, hay liệng nó ra cửa sổ. Mười tám năm sau, ngày hôm nay, thỉnh thoảng tôi vẫn mang cái cảm giác bực tức ấy trở lại.
Trong muôn vàn bản tin thời sự gửi đi từ Việt Nam, gây đau xót, căm phẫn cho người đọc, người nghe, trên Internet, tôi vẫn nhận được những câu chuyện lạc loài, tưởng như không hề dính líu đến tình cảm của một người Việt Nam, một bản nhạc, một bài thơ tình đi lạc vào chiếc máy điện toán của tôi. Tôi cảm thấy một niềm xót xa. Thật sự bây giờ tôi không đang còn ở Việt Nam, nhưng tôi biết tôi là một người Việt Nam, nếu không tôi đã không chịu đựng nỗi ray rứt, phiền muộn như thế này, thì ra Việt Nam vẫn còn đang luôn ở trong tôi. Thỉnh thoảng ở trong một quán cà-phê tôi vẫn vô tình nghe được những câu chuyện từ chiếc bàn bên cạnh, về những chuyến du lịch, những thú ăn chơi trên những địa danh ở Việt Nam được kể lại.
Nói như Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ: “Có còn gì không, không lẽ bây giờ chúng ta chỉ nói chuyện vợ đẹp, con ngoan và những chuyện lạc thú ăn chơi ở trên đời này!”
Nếu chúng ta sống vô tình, như người đang đứng ngoài lề cuộc đời, không thấy đau, thấy giận, thấy buồn về những chuyện đất nước, chúng ta không mang mặc cảm là những người vô tình và có tội với quê hương, nói rõ là những con người họ hàng, đồng bào của chúng ta, hay sao?
Trên Facebook, một người tên Thanh Tôn từ Canada đã kêu gọi mọi người nên vào Facebook để tranh đấu cho chính nghĩa của chúng ta, vì hiện nay Facebook là phương tiện phổ biến nhanh chóng và rộng rãi nhất:
“Như hàng triệu người Việt Nam khác, thấy rằng không thể nào sống chung được với loại người mê muội, điên loạn; tàn ác thờ Tàu và bất tài vô đức; đã phá nát cái đất nước Việt Nam về mọi mặt, hủy hoại đạo đức, môi trường… và không muốn chết chùm với chúng nên bạn tìm cách thoát ra, và may mắn đã thoát ra được.
Thoát ra được rồi và bây giờ bạn đã có cuộc sống mới, sung túc hạnh phúc, nhưng bạn không còn quan tâm gì đến chuyện Việt Nam, muốn quên hết chuyện đất nước, và bạn đã quên Việt Nam được rồi; bạn nghĩ chuyện bây giờ là chuyện của người trong nước; đã không còn là chuyện của bạn; đó cũng là quyền của bạn.
Thế nhưng mà một khi đã tạm ổn về công ăn việc làm, vì ở đâu cũng phải làm mới có ăn, khi đã tạm an cư lạc nghiệp và bạn vẫn nhớ mình là người Việt Nam, vẫn mong đất nước không lọt vào tay Tàu, muốn đồng bào mình sớm có độc lập, tự do, hạnh phúc… thật sự thì như nhiều người Việt Nam tha phương khác, bạn sẽ không thể không vào mạng Facebook để theo dõi, tìm hiểu tình hình Việt Nam.
Và rồi trước những băn khoăn về những tội ác của bọn Tàu và bọn Cộng Sản tay sai trên quê mẹ, bạn sẽ bị thôi thúc muốn có những đóng góp thiết thực nào đó cho quê mẹ, mà trở thành người viết Facebook tố cáo tội ác của chúng, hình như đã trở thành cách nhanh nhất và dễ nhất hiện nay.
Facebook và báo chí đang tiến dần đến tuy hai mà một, và mỗi trang Facebook cũng là một tờ báo, một đài truyền hình có thể phát tin, hình trực tiếp, mỗi người viết Facebook đều có thể là một nhà văn nhà báo tự do, một nhà cổ xúy, tổ chức sự kiện và cũng là một tổng biên tập báo đài tự do thực sự!” Ở hải ngoại này, tin một phụ nữ bị giật sợi dây chuyền trong tiệm ăn hay Minh Béo bị cảnh sát còng tay cũng gây xôn xao dư luận để thiên hạ gặp gỡ nhau, bàn tán. Còn chuyện Việt Nam chúng ta coi như chuyện ở vùng Giang Nam bên Trung Quốc, hình như không có liên hệ gì đến chúng ta cả!
Cá chết đầy sông đầy biển hay một người bị cắt cổ chết trong đồn công an cũng là chết. Con số 5,000 người từ các giáo xứ tỉnh Nghệ An đồng loạt xuống đường phản đối Formosa, 2,000 người dân xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu, bao gồm phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên, được chính quyền đưa ra để đấu tố Linh Mục Đặng Hữu Nam, bên cạnh bản tin hàng nghìn người tham dự lễ Phật Đản ở Sài Gòn có Thiếu Tướng Trần Quốc Liêm, phó tổng cục trưởng Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An, tham dự cũng là những con số. Cái tên công an đứng trên xe buýt đạp lên mặt người biểu tình và tên công an ở phi trường Tân Sơn Nhất đang cười “cầu tài” với bạn khi bạn chìa cái “passport” màu xanh ra, hình như cũng là công an.
Người ta trách chuyện người qua đường lạnh lùng với một người đang bị tai nạn không người cứu giúp, lạnh lùng với người vô gia cư đứng ở đầu đường nơi đèn xanh đèn đỏ, nhưng chúng ta không thấy rất nhiều người lạnh lùng với những chuyện gì đang xẩy ra trên quê hương mình.
Và cả trong nước, chính quyền hiện nay rõ ràng là đang “ngậm miệng” để ăn tiền, “nhắm mắt” để khỏi thấy cái khổ của dân, “bịt tai” để khỏi nghe lời dân ta thán!
Sách vở hàm ý sâu xa chuyện ba con khỉ thông thái Mizaru, Iwazaru và Kikazaru cho rằng bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói, chẳng qua đó là thái độ ngụy biện.
Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam-Bắc. (Hình: Wikipedia)
Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí hàng đầu để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.
Minh chứng sự tốt đẹp của việc “đất lành chim đậu,”thực tế là trong thời gian 30 năm chia cắt, chỉ thấy người miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, chứ không thấy ai ở miền Nam ra miền Bắc tìm tự do.
Sau ngày 30 tháng 4-1975, nhờ thông thương đi lại, nhờ mắt thấy tai nghe, người Việt Nam của cả hai phe, đã thấy rõ sự tuyên truyền, tố cáo của chế độ bên này đối với phía kia là đúng hay sai.
Sự tuyên truyền và những thông tin của miền Nam đưa ra chưa thấm vào đâu so với sự thật tàn tệ và thảm cảnh của đồng bào miền Bắc. Sau này, chuyện đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất năm 1949 còn kinh hoàng gấp trăm lần những gì miền Nam đã biết qua các tác phẩm của các nhân chứng miền Bắc được viết sau ngày “thống nhất” như “Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân, “Une Voix dans La Nuit” (Tiếng vọng trong đêm,) của Hoàng Văn Chí – Mạc Định, “Chuyện Làng Ngày Ấy” của Võ Văn Trực và rải rác hầu hết trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Đĩnh… mà khả năng của người viết không đếm hết.
Một cuốn phim “Tố Cộng” của miền Nam như “Chúng Tôi Muốn Sống” không nói đủ 1/10 sự thật. Sau này, trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, nhà văn Dương Thu Hương đã kể: “Tôi còn nhớ lúc xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tử bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết.”
Về chuyện đói nghèo của dân miền Bắc, dù giàu tưởng tượng, tôi không bao giờ nghĩ ra được cái cảnh đói của ngay gia đình của chị ruột tôi ở vùng Đức Thọ, Nghệ Tĩnh. Chị tôi đi lấy chồng trước năm 1954, sau này làm hộ sinh nông thôn, đi đỡ đẻ về, đói quá, có lần bị té xỉu dọc đường. Anh rể có thời gian làm Trưởng Ty Thương Binh- Xã Hội tỉnh Quảng Bình, sau về làm ở Ủy Ban Nhân Dân huyện Đức Thọ. Trong bốn năm chị tôi mất ba đứa con trong thời gian chỉ có vài tháng tuổi, vì mẹ thiếu ăn, không có sữa, nhà nhiều lúc phải ăn lá bí ngô nấu với sắn mốc qua ngày.
Ở miền Bắc, chế độ Cộng Sản tuyên truyền nói xấu miền Nam thì quá cường điệu, lếu láo, không có nổi 1% sự thật. Khi vào được để “tham quan” miền Nam và thăm bà con, dân miền Bắc còn ngây thơ mang vào Nam cứu trợ mấy ký gạo đỏ và chục chén ăn cơm. Sự thật thì miền Bắc đã mang về từ vùng đất “được giải phóng” hàng chục tấn vàng, kim cương cho Bộ Chính Trị đảng và cho hàng vạn xe gắn máy, đồng hồ, radio, quạt máy và vàng bạc đủ xây lại nhà cửa khang trang từ những thân nhân mà họ đã “khai tử” trên bản lý lịch trích ngang, vì không muốn liên hệ gì với những người đã di cư vào Nam năm 1954.
Bà chị tôi sau ngày “giải phóng” thương nhớ quay quắt cha già, nhưng chỉ có nước mắt làm quà cho cha. Phía Nam, gia đình tôi toàn là thầy giáo theo nghề sư phạm, không giàu có gì, nhưng lúc nào gạt lệ trước khi ra Bắc, chị cũng được cô em dâu dúi vào tay bà một hai chỉ vàng làm quà “thất trận!” Anh tôi, mỗi lần đi thăm bà chị “bên thắng cuộc” cũng kho một nồi cá lớn, khi cá sòng, khi cá thu vì gia đình chị tôi vẫn thường “thiếu chất!”
Sự nhồi sọ đến mù quáng, khó tưởng tượng nỗi, khi một thằng cháu, con bà chị tôi đã dẫn ở đoạn trên, tốt nghiệp kỹ sư Hà Nội, từng du học Liên Xô, khi vào gặp tôi sau năm 1982 tại Sài Gòn, đã thắc mắc:
– “Cậu mang quân hàm Đại Úy mà nhà cửa chỉ thế này sao?” (Nó được tuyên truyền sĩ quan miền Nam, cắt cổ mổ bụng, bóc lột nhân dân nên ai cũng có đời sống vương giả, nhà lầu xe hơi!)
Một hôm, có vẻ sau một hồi ngần ngại, “ông kỹ sư Hà Nội” này đã rụt rè hỏi tôi một câu rất mâu thuẫn với câu hỏi trước.
– “Thế Mợ có bị cảnh sát… không?” (Miền Bắc được tuyên truyền ở Miền Nam bị cảnh sát Ngụy kìm kẹp, cảnh sát muốn hiếp dâm ai cũng được, kể cả vợ… Đại Úy Ngụy!)
Biết là “Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin” – Nếu một lần ta đã làm người khác mất lòng tin thì những lần sau không ai tin mình nữa! Nhưng trong vòng cương tỏa của đảng, bị bịt mắt che tai, đồng bào miền Bắc không có dịp để biết sự thật, chỉ biết nghe chuyện hoang đường. Từ chuyện Nguyễn Văn Trỗi bị trói tay vào cột, còn dùng tay giật băng vải đen bịt mắt, sau khi nhận một tràng đạn vào ngực còn dõng dạc hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!” đến chuyện hồi chánh viên Nguyễn Văn Bé còn sống sờ sờ, đã miền Bắc dựng thành liệt sĩ sau khi cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và VNCH, phá hủy nhiều xe tăng. Từ chuyện Kim Đồng xa xưa tẩm xăng vào mình cho nổ kho đạn ở Thị Nghè, đến chuyện ngày nay “Hercule” Bùi Minh Kiểm tay không níu càng trực thăng chúi đầu xuống đất cho đồng đội bắn, máy bay nổ tan xác. Rồi chuyện đồng bào ở bờ Nam Bến Hải nghe tiếng loa đài phát thanh Vĩnh Linh vang lên, đã chạy ào ra bờ sông mừng rỡ reo hò: “Bà con ơi, o Nhạn, anh Tích (xướng ngôn viên) chưa chết. Đài Vĩnh Linh còn. Quốc gia nói láo.”
Rõ ràng quốc gia nói chưa được 1% sự thật của miền Bắc, trong khi cộng sản nói láo từ suốt 30 năm cho tới ngày cả nước được sáng mắt, sáng lòng.
Ai cũng nghĩ rằng nhà nước cộng sản dù chính sách ngu dân, làm cho dân càng ngày càng ngu, để tuyên truyền được hữu hiệu, nhưng ngu là đối với nông dân thất học, quanh quẩn trong rặng tre làng. Ở đây một kỹ sư có học, từng đi ngoại quốc lại nghe và tin sự tuyên truyền như vậy, thì không còn chỗ nói nữa.
Quả là nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt quá hay, nhưng không may Việt Nam có cái ngày 30 Tháng Tư đã làm rơi cái mặt nạ giả dối, phơi bày một sự thật trần truồng khiến người có lòng tự trọng thấy xấu hổ. Miền Bắc cảm thấy nếu được sống 1/10 cuộc đời bị đàn áp bóc lột của người dân miền Nam thì cũng đã sung sướng chán. Huy Phương Nguồn Người Việt
Ba Mươi Tháng Tư, khi Việt Cộng tiến chiếm miền Nam, không ít người dân quan niệm biến cố 30 Tháng Tư là biến cố mất nước, nên nhiều người có ý nghĩ phải tranh đấu phục quốc.
Cũng có người phản bác, cho rằng nước vẫn còn, chỉ có chế độ là thay đổi, như ông Nguyễn Cao Kỳ trong một câu nói chuẩn bị cho thái độ “hồi đầu” sau này, đã phát biểu: “Nước Việt Nam có mất cho Tây, cho Tàu đâu mà phục quốc?”
Bắc Việt xả thân đánh miền Nam cho ai, nếu không là cho Tàu cho Nga? Những thứ mất đó, ai cũng thấy.
Rõ ràng là miền Nam bị xâm lược. Theo Điều 1 của Nghị Quyết 3314 nhằm định nghĩa về xâm lược của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, “xâm lược là việc sử dụng lực lượng vũ trang hoặc là bất kỳ hành động nào trái với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự độc lập về chính trị của một quốc gia khác hoặc của một liên minh các quốc gia khác.” Mặt khác, Bắc Việt còn công khai xé bỏ hiệp định Paris 1973.
Hố sâu cách biệt giàu nghèo trong xã hội Việt Nam sau 44 năm biến cố 30 Tháng Tư ngày càng trầm trọng. (Hình: Getty Images) Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bị quân đội một quốc gia khác là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) – Bắc Việt- tấn công và chiếm đóng (Bắc và Nam Việt là hai quốc gia có thể chế khác nhau và được thế giới công nhận.)
Người miền Nam bị mất nước, vì bị quân đội Bắc Việt xua quân chiếm đóng, lật đổ chính quyền, lập chính quyền mới. Quân chiếm đóng đã có chính sách bỏ tù lâu dài quân cán chính chế độ miền Nam, đày ải lưu đày đội quân bại trận và đưa đến các vùng thâm sơn cùng cốc để đày đọa họ. Đội quân chiếm đóng cướp bóc tài nguyên, tịch thu tài sản, kho tàng, của cải của miền Nam đem về Bắc, cướp nhà, cướp đất, chia cho đoàn quân chiếm đóng với danh nghĩa “cải tạo tư sản,” dùng chính sách kỳ thị lâu dài để triệt tiêu và lùa đẩy thế hệ tinh hoa của miền Nam vào nhà tù hay đẩy ra biển cả.
Hành động cướp nước này còn tinh vi và tàn bạo hơn cả thời thuộc địa Pháp, số người thua trận bị giết và đày đọa, kỳ thị chưa bao giờ lên cao như ngày nay, giữa một giống người cùng quê hương với nhau, được tuyên truyền dưới chiêu bài “giải phóng” và “thống nhất” đất nước!
Dù có tuyên truyền đến mức độ nào về chuyện mất cả nước về tay Pháp hay chuyện “xâm lược” miền Nam của Mỹ, thì người dân ngày nay cũng đủ trình độ hiểu biết để nhận thức về việc này!
Dưới thảm họa mất nước, miền Nam rõ ràng đã mất nhiều thứ. Của cải tài sản là nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, kho đụn, vàng bạc… đằng đẵng trong gần 45 năm, cuộc cướp bóc vẫn còn tiếp diễn với một cường độ không thấy dấu hiệu thuyên giảm. Chế độ kỳ thị, phân biệt, thù hận gần nửa thế kỷ nay chưa chấm dứt. Dân miền Bắc nghèo đói, sống những vùng cạn kiệt tài nguyên, di dân tràn ngập lãnh thổ miền Nam, chia sự trù phú của miền Nam và đồng hóa con người.
Về mặt tinh thần là quyền làm người bị triệt tiêu, tự do bị trói buộc. Cả nước chỉ có một thứ báo, thứ loa, thứ “đài” là cơ quan tuyên truyền của đảng. Đảng cầm đầu và quyết định. Đảng viên thống trị đất nước từ chức vụ một viên công an gác đường cho đến chủ tịch nước, có đặc quyền, đặc lợi, có một thứ luật pháp miễn trừ, có chế độ giáo dục và y tế ưu đãi riêng.
Một đất nước mà mọi người dân cũng như cả những viên chức chính phủ luôn lăm le tìm đường bỏ nước ra đi phải chăng là một xứ sở tốt đẹp mà các lãnh tụ cộng sản vẫn thường ca ngợi? Nếu cuộc sống hạnh phúc có thể tìm thấy trong chế độ này vì sao con người ta phải tìm vượt thoát, không bằng con đường lén lút ra khơi thì cũng cậy cục bán nhà, vay mượn, cầm cố để đi lao động, làm thuê, ở đợ, lấy chồng, hay thậm chí bán thân nơi xứ người?
Xã hội rêu rao “mình sống vì mọi người,” “con người là vốn quý,” “làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu,” cuối cùng cũng chỉ là một xã hội bóc lột, giàu nghèo cách biệt, cán bộ đảng viên làm giàu trên quyền lực, nhờ súng đạn và nhà tù và băng đảng trong tay.
Nhưng điều mất mát lớn lao nhất mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu hôm nay, cho đến cả trăm năm sau, dù một ngày kia chế độ cộng sản không còn trên quê hương nữa, là sự mất mát đạo lý và nhân tính của con người. VNCH xây dựng con người trong cả thế kỷ, cộng sản phá nát con người chỉ trong vòng vài năm.
Con người đối với nhau “cạn tàu ráo máng” như loài thú hoang, không phải chỉ là nhà cầm quyền đối với dân bị trị, mà còn là giữa con người với nhau, trong đó có láng giềng, làng nước. Con giết cha mẹ, vợ chồng dâm chém nhau, tình yêu thương được thay thế bằng luật giang hồ. Những vụ cướp đất, cưỡng chế từ quyền lực, tranh giành, thù hận giữa con người với nhau đến mức khó tin. Cả một vườn chuối bị đốn ngang, một ao cá bị bỏ thuốc độc, thuốc chuột được bỏ vào một nồi bún riêu để hại người thân thuộc. Ngoài đường phố, dao bầu, mã tấu, gậy gộc được dùng để đối thoại, giải quyết mâu thuẫn với nhau. Chuyện hiếp dâm, tấn công tình dục, nhất là đối với trẻ con đã trở thành một tệ nạn lan tràn. Những vụ án mạng của băng đảng và giết tróc hàng loạt, hiếp dâm tập thể không gờm tay, nhờ sự tiếp sức của ma túy, rượu chè.
Người xưa vẫn đem tiêu chuẩn “trọng tài khinh nghĩa” ra để giữ gìn cương thường, đạo lý cho con người, ngày nay đồng tiền là cứu cánh và mục đích tối thượng. Ngay trong hai ngành tiêu biểu cho hoạt động căn bản của một quốc gia của xã hội là giáo dục và y tế, đồng tiền một mặt làm hư hỏng, mặt khác có thể giết chết con người không thương tiếc.
Tình nghĩa giữa thầy trò trong nhà trường, bác sĩ -y tá với bệnh nhân trên giường bệnh, quan chức và dân đen nơi chốn công đường, không còn chỗ cho sự tử tế, tình nghĩa giữa con người với nhau, mà chỉ thấy toàn sự thủ lợi, ích kỷ giẫm đạp lên nhau mà sống!
Ngay trong cả tập thể lãnh đạo của đảng cầm quyền, truyền thống của những đảng Cộng Sản, đã có những vụ thanh toán, giết tróc nhau công khai mà không bao giờ có thủ phạm. Trong một xã hội băng hoại, đạo đức xuống cấp trầm trọng, nhưng danh từ như “nếp sống văn hóa,” “đời sống nhân văn” thành ra những khẩu hiệu trơ trẽn, vẫn viết bằng những hàng chữ lớn, hoa mỹ trên nền đỏ thẫm tượng trưng cho chế độ, hiện diện ở khắp hang cùng ngõ hẻm. Con người sống với nhau bằng sự dối trá, lường gạt nhau càng nhiều càng tốt, từ thực phẩm vào con đường dạ dày, đến niềm tin và trí tuệ cho phần tinh thần.
Những ngày cộng sản Bắc Việt mới vào Nam, dân chúng còn thấy được những điều tốt xấu, lối sống khác biệt giữa hai miền Nam Bắc, từ lối ăn nói, cử chỉ, phản ánh từ văn hóa, giáo dục và nếp sống hằng ngày giữa hai miền. Từ những khác biệt giữa hai miền, chúng ta thấy bật rõ, từ thói quen của một đứa trẻ trong trường học, thái độ của một cô bán hàng, lối cư xử của một nhân viên công lực… Nhưng dần dần cái xấu tràn lan, áp đảo những điều tốt đẹp, mảnh đất không được chăm bón, trở thành môi trường cho cỏ dại, loài trùng độc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời (theo ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma,) nên đất nước ngày hôm nay không còn mấy tốt đẹp, tử tế và cũng chẳng còn mấy ai chú ý hay muốn duy trì hay phục hồi những điều tốt đẹp ấy nữa.
Nỗi mất mát đó, tưởng chừng khó có thể tìm lại được. Miền Bắc đã ở dưới chế độ Cộng Sản hơn 70 năm, miền Nam đã mất 44 năm, thời gian đó đã sinh sản ra những thế hệ con người gọi là “xã hội chủ nghĩa,” của một thế hệ hãnh tiến, còn được gọi là “thế hệ Hồ Chí Minh.” Liệu rằng, một ngày nọ, chế độ này không còn, dân tộc phải trải qua bao nhiêu thời gian nữa để xây dựng lại con người?
Người ta tháo còng tay, cởi xích chân và, sau hết, người ta gỡ miếng vải bịt kín mắt chàng. Chậm rãi, chàng mở mắt. Người ta bảo chàng ngồi xuống ghế. Rồi người ta biến đâu mất. Bây giờ, chỉ còn một mình chàng trong căn phòng sạch sẽ ngập đầy ánh sáng điện, trước một cái bàn nhỏ. Chàng nắn cổ tay, nắn cổ chân. Chàng vươn vai, duỗi chân. Rồi chàng đưa những ngón tay lên đầu, nhẹ nhàng rẽ tóc, rờ rẫm những vết thương. Máu ở những vết thương đã khô nhưng những vết thương còn đau nhức. Chàng, hai bàn tay sướt sát vì nan tre cần xé. Và chàng tự hỏi người ta dẫn chàng tới đây làm gì. Một người xuất hiện. Chàng ngồi im và đợi mãi không quên quan sát người ấy. Ông ta đứng tuổi, mang kính cận, mặc quần áo dân sự đơn giản, chân đi giày da và vai đeo cái túi xà cột. Ông ta tới sát cái bàn, gỡ túi xà cột đặt trên mặt bàn, kéo ghế ngồi đối diện chàng. – Mạnh khỏe chứ, anh Bá? Ông ta mở đầu. – Vâng, chưa chết. Cám ơn ông. Chàng đáp. Ông ta ngạc nhiên: – Anh nói gì? Chết. Tại sao phải chết? Tôi không hiểu. Thành thật tôi không hiểu. Chàng thản nhiên: – Tôi chưa chết. Ông ta mím môi giận dữ, rồi gọi lớn: – Đồng chí bảo vệ! Người công an bảo vệ mở một cánh cửa gần đó, bước ra: – Chờ lệnh đồng chí lãnh Đạo. Ông Lãnh Đạo – hay tạm hiểu vậy – hất hàm: – Đồng chí báo cáo những sự việc đã xảy ra. Khẩn trương và vắn tắt! Người công an bảo vệ đứng nghiêm: – Báo cáo đồng chí lãnh đạo, chỉ thị của Sở là áp dụng hình thức kỷ luật cao đối với tên phản động nguy hiểm Hoàng Văn Bá. Ông Lãnh Đạo đập bàn: – Hiện tượng và hiện tượng! Các đồng chí vô trách nhiệm. Tôi yêu cầu các đồng chí làm tự kiểm rút kinh nghiệm sai lầm. Đây là anh Trần Văn Bá, không phải Hoàng Văn Bá gài mìn đánh sập cầu cống bậy bạ. Rõ chưa? Người công an bảo vệ khúm núm: – Rõ. – Đồng chí hiểu những vấn đề cần thiết phải giải quyết ngay không? – Tôi hiểu. Người công an bảo vệ mời chàng theo y. Y dẫn chàng vào phòng tắm, bảo chàng tắm gội và thay quần áo mới. Chàng không từ chối. Người công an đứng canh chàng ở ngay trong phòng. Xà phòng thơm, khăn tắm đầy đủ. Chàng mở hoa sen. Những tia nước phun xuống đầu tóc chàng mát rượi khiến chàng quên nhức nhối vết thương. Chàng sát xà phòng, khe khẽ vò tóc. Chàng vò thật lâu cho máu khô quánh tan ra. Người công an bảo vệ thân mật hỏi chàng: – Anh là Trần Văn Bá, hả? – Phải. – Anh… Tôi nhận khuyết điểm với anh vì tưởng anh là Hoàng Văn Bá. – Rồi sao? – Anh trong vụ Hoàng Văn Bá à? – Không. – Nó đã giết năm đồng chí của tôi. Tôi lầm anh với nó. – Anh lầm thật hay lầm giả đó? – Thật. – Nhưng chỉ thị của lãnh đạo không lầm đâu nhỉ? Người công an bảo vệ nín thinh. Chàng sát xà phòng khắp mình mẩy, tắm một trận thoải mái. Bỗng chàng thấy hố là đã nói một câu đang lẽ không nên nói với công an. Vặn cái hoa sen lại, chàng dùng khăn lau khô mình mẩy, chà nhẹ tóc và niềm nở nói: – Ở đời, ai mà chẳng có khi lầm. Chỉ thị của lãnh đạo đúng nhưng cán bộ thực thi sai lầm. Lỗi do tôi trùng tên với tên Hoàng Văn Bá, phải không anh? – Đúng thế. Người công an hồ hởi. Người ta để sẵn cho chàng bộ quần áo tù xám đậm còn mới nguyên. Chàng mặc xong, soi gương chải tóc rồi theo người công an bảo vệ trở ra chỗ cũ. Chàng thấy, trên chiếc bàn nhỏ, đã bày hai ly cà phê đá và một gói thuốc lá Thủ Đô. Và đứng gần đó, một người con gái cầm một chiếc hộp. Người công an bảo vệ đã hết nhiệm vụ ở đây. Ông Lãnh Đạo ân cần: – Anh ngồi đi! Ngồi xuống để cô y tá săn sóc vết thương cho anh kẻo bị làm độc. Cô y tá tới chỗ chàng ngồi, mở hộp đồ nghề, dùng bông thắm khô nước trên những vết thương ở đầu chàng, ở má chàng, ở trán chàng rồi bôi thuốc đỏ lên. Cô ta đưa chàng mấy viên thuốc kháng sinh. Chàng cảm ơn cô y tá. Cô ta mỉm cười, bước khỏi căn phòng. Bây giờ, chỉ còn ông Lãnh Đạo và chàng. – Anh dùng nước kẻo đá tan mất. Ông Lãnh Đạo mời chàng. Chàng nâng ly cà phê đá uống một ngụm rồi, tiện thể, uống luôn mấy viên thuốc. Ông Lãnh Đạo bóc gói thuốc lá, niềm nở. – Anh hút thử sản phẩm hảo hạng của ta. Chàng rút một điếu thuốc Thủ Đô: – Cám ơn ông. Ông Lãnh Đạo bật lửa. Chàng mồi thuốc. Hít một hơi đầy dạ, chàng nhả khói: – Thuốc lá ngon lắm, thưa ông. Tôi mong ước, con người đối với con người sẽ thơm như khói thuốc. – Mọi việc sẽ tốt đẹp. Vấn đề cần bàn là thiện chí của mọi con người. Ông Lãnh Đạo nâng ly cà phê, uống một hơi dài. – Những gì người của chúng tôi đối xử với anh tôi đã được báo cáo. Bắt đầu từ giây phút này, mọi sự việc sẽ thay đổi, thay đổi hẳn. Chàng thấy không cần thiết phải xoáy vào sự. Hãy để mặc Lãnh Đạo diễn xuất trọn vẹn vai trò của ông ta trong vở kịch Nhân Nghĩa ngắn ngủi. Và hãy để mặc Lãnh Đạo tưởng rằng chàng là một khán giả ngây thơ, một cậu bé nghe ba kể chuyện cổ tích, thần thoại. – Tôi đến đây để thăm sức khỏe của anh và mạn đàm thân mật. – Cám ơn ông. – Tôi sẽ còn đến đây nhiều lần. Anh có thể yêu cầu bất cứ điều gì, nếu trong khả năng của tôi, tôi giải quyết tức thời. – Vâng, tôi yêu cầu ông một điều. – Ang cứ đề xuất. – Ông cho tôi biết nhà tù này tên là gì? Ông Lãnh Đạo cười: – Anh Bá, không có nhà tù bình thường cho anh đâu. Những nhà tù mà bọn chúng đã tới, đã ra, đã vượt biên để viết sách, viết báo láo lếu là Sở Công An Thành phố, đề lao Gia Định, khám Chí Hòa, nhà tù Đại Lợi,v.v… đều không phải là nơi chốn của anh. Cũng chẳng bao giờ anh được đi học tập lao cải, nơi chốn mà bọn phản động gọi là trại tập trung, đâu. Đây là một biệt thự. Anh muốn hiểu là nhà tù thì nó là nhà tù Biệt Thự. Một can phạm như anh, tôi tưởng anh đã hiểu mình sẽ ở thứ nhà tù nào chứ? Chàng nói: – Tôi tưởng mọi can phạm đều bình đẳng và tôi yêu cầu được nhốt chung với các can phạm khác. Ông Lãnh Đạo vẫn giữ nguyên nụ cười: – Một anh, chúng tôi đã thấm mệt, nhốt chung anh với bọn phản động trong nước để anh tuyên truyền à? Anh không hiểu nguyên tắc làm việc của công an hay anh giả vờ ngây thơ? Tôi nói thật với anh đấy, anh Bá: Anh sẽ trở về Pháp hoặc anh sẽ ở đây cho đến khi anh chết. Cả hai trường hợp, anh đều không gặp ai và chẳng ai biết tới anh. Ngoài người cộng sản, không ai được phép làm anh hùng. Chàng hỏi: – Tôi sẽ trở về Pháp? Ông Lãnh Đạo gật đầu: – Phải, anh sẽ về Pháp, sẽ về bằng máy bay của hãng Air France. Điều này, tôi hiểu, anh sẽ phải phấn đấu với bản thân anh khá lâu đấy. Nói đơn giản đi, anh muốn về Pháp, bất cứ lúc nào, đều do anh cả. Mà thôi, chúng ta mạn đàm thân mật. Ông ta chuyển đề: – Anh lập gia đình chưa anh Bá? Chàng đáp: – Chưa. – Muộn quá đấy nhé! Đáng lẽ phải có, ít nhất, hai cháu rồi. Bác gái sống ở Paris, hả? – Mẹ tôi sống ở tỉnh nhỏ. – Bên ấy làm ăn dễ dàng không, anh Bá? – Dễ và khó. Tất cả đều phải làm việc chăm chỉ. – Lao động là cái đích của loài người. – Vâng lao động là vinh quang, vinh quang thật sự. Làm nhiều hưởng nhiều chứ không làm nhiều ăn ít hay làm nhiều nhịn đói. – Anh thích đời sống bên Pháp? – Không. – Sao vậy? – Ở đấy tôi cảm tưởng tôi không phải là tôi. – Vì thế anh xin người ta đưa anh về Việt Nam? – Ông quyết đoán vội vàng quá. – Tôi nhận khuyết điểm… Chàng thấy của Lãnh Đạo đã chẳng thân mật tí nào. Ông ta hỏi han vớ vẫn rồi dẫn chàng vào quỹ đạo của ông ta. – Anh cần bảo vệ sức khỏe, anh Bá ạ! Đấ t nước ta khan hiếm tài năng và những người có lòng như anh. Anh sẽ gặp các vị lãnh đạo của tôi. Tôi nhắc lại: Mọi việc sẽ tốt đẹp. Anh nên nghỉ ngơi. Sẽ gặp anh sau. Ông Lãnh Đạo gọi người công an bảo vệ dẫn chàng về phòng. Chàng đã được chuyển phòng. Và căn phòng mới đúng nghĩa là căn phòng của ngôi biệt thự. Một chiếc giường có đệm trải drap trắng muốt. Một chiếc bàn viết. Một chiếc ghế. Một cái cầu tiêu giật nước. Một cái lavabo. Tiện nghi chỉ có thể, dành cho một can phạm đặc biệt. Cửa sổ đã bị xây kín mít. Cửa ra vào khoét một cái lỗ để bên ngoài dễ kiểm soát bên trong. Ngọn đèn tràn đủ ánh sáng và công tắc đã chuyển ra ngoài. Người công an bảo vệ dẫn chàng: – Cần gì thì anh báo cáo.
– Báo cáo? – Anh gọi tôi. – Tên anh? – Anh cứ hô là tôi tới. Y đóng cửa, khóa bên ngoài. Chàng không còn bị còng tay, xích chân nữa. Chàng gieo mình xuống đệm, lăn đi lăn lại rồi ngủ một giấc dài. Người công an bảo vệ mang cơm vào lúc nào chàng không hay. Y đánh thức chàng dậy. Khay cơm đặt trên bàn. Chàng thấy có dĩa cơm sườn nướng và tô canh. Chàng nhẩn nha ăn một cách thích thú. Trái chuối tráng miệng và ly nước trà gây cho chàng nhiều cảm hứng. Người công an bảo vệ ngồi ở mép giường. – Khẩu phần đền bù ha, cán bộ? Chàng hỏi. – Tôi không nắm vững. Người công an đáp. – Tôi sẽ hưởng khẩu phần này bao lâu? – Tùy thuộc chỉ thị của lãnh đạo. Cơm nước xong, người công an mời chàng điếu Thủ Đô. Y mồi lửa cho chàng. Tôi để lại cái ca nhựa cho anh uống nước khi khát. Nước ở vòi, cứ việc mở. Cần hút thuốc thì anh báo cáo. Diêm quẹt để trong phòng bất tiện. Y bưng khay chén bát ra khỏi phòng, đóng cửa lại. Chàng đốt hết điếu thuốc, đứng dậy, đi quanh quẩn trong phòng một lát. Rồi nằm ngủ. Rồi thức. Chàng nhớ câu nói của Lãnh Đạo: > Câu nói khiến chàng suy nghĩ. Nó mở đường rồi nó bịt lối. Nó gợi tưởng một thua thiệt ghê gớm mà chàng mơ hồ cảm thấy. Cái ngọt ngào của cộng sản mới đáng khiếp sợ. Cái giường đệm, drap trắng này nguy hiểm hơn cái sàn xi măng lởm chởm đá râm. Chàng giật mình, ngồi vụt dậy. – Báo cáo cán bộ… Người công an bảo vệ xuất hiện vội vàng. – Anh cần gì? – Cần anh nói chuyện. – Không có chỉ thị ấy. – Vậy có những chỉ thị nào? – Bảo vệ anh! Anh cần hút thuốc không? Uống trà nhé! – Có tờ báo nào không? – Không. – Thời tiết bên ngoài ra sao? – Trời đầy nắng. – Anh có hay đi Vũng Tàu tắm biển không? Không có tiếng trả lời. Chàng hiểu người công an bảo vệ đã tuân hành chỉ thị triệt để. Chàng đứng dậy, ra ghế ngồi, chống tay lên cằm nghĩ cách gợi chuyện để biết nơi chàng đang bị nhốt. Buổi chiều, người công an bảo vệ lại mang cơm nước cho chàng. Tuyệt nhiên, y không trả lời những câu hỏi của chàng nữa. Ăn xong, chàng nằm ngủ dưới ngọn đèn chàng bao giờ chịu tắt. Ngọn đèn đã biến thành công cụ của chủ nghĩa. Để canh chừng chàng vượt ngục. Để bên ngoài nhìn rõ mọi cử chỉ, hành động của chàng. Chàng đành nằm úp mặt tránh cái thứ ánh sáng soi mói. Rồi một đêm cũng trôi qua, một đêm của nghìn đêm cuộc đời. Sáng hôm sau, người công an bảo vệ dục chàng tắm gội. Cô y tá săn sóc những vết sướt sát trên đầu chàng. Nhờ mấy viên thuốc kháng sinh, những vết thương đã không làm mủ. Chàng uống thêm mấy viên thuốc nữa. Ông Lãnh Đạo giữ lời hứa đã tới thăm chàng và mời chàng dùng bữa điểm tâm, uống cà phê sữa nóng. – Anh cảm thấy thế nào, anh Bá? Ông Lãnh Đạo hỏi. – Bình thường. Cảm ơn ông. Chàng đáp. – Anh có nhớ nhà không? – Ở đây là nhà tôi rồi. – Trong ý nghĩ của anh, ở đây là nhà tù mà? – Nhà tù trên quê hương tôi. Thưa ông Lãnh Đạo, được sống ở nhà tù trên quê hương mình, được chia sẽ nổi đau khổ với dân tộc mình, tôi nghĩ, là hạnh phúc. – Ý nghĩ của anh thành khẩn và đáng quý lắm. Anh nói điều này tôi tin anh. Người khác thì tôi cho là già đời. Rất tiếc là anh không có cơ hội sống chung với bọn bộ trưởng, tướng lãnh, chính khách xôi thịt. Nếu anh phải sống chung với chúng nó, anh sẽ được chia sẽ nỗi đau khổ với dân tộc anh bằng cung cách khác. – Như thế nào, thưa ông Lãnh Đạo? – Bằng lối về thênh thang. Anh xa quê hương lâu rồi, làm sao anh cảm nỗi nỗi khổ của dân tộc mà đòi chia sẽ? Ngay cả nỗi khổ của dân tộc Việt Nam cũng bị kẻ thù và bọn phản động quốc tế xuyên tạc một cách bỉ ổi. Anh yêu nước nhưng anh đã đi trên con đường vẽ láo của bọn phản động. – Thưa ông, tôi hiểu về con đường tôi đi. – Anh hiểu gì về dân tộc ta? – Tôi là người Việt Nam. – Anh đâu còn là người Việt Nam! – Đó là cách suy diễn của ông thôi. Tôi không muốn làm mất lòng một người đã đối xử tốt với tôi nên xin miễn tranh luận. – Thế anh hiểu gì về nỗi khổ của dân tộc ta? – Nỗi khổ hôm qua, hôm nay; nỗi khổ dĩ vãng, nỗi khổ tương lai, nỗi khổ triền miên, ông muốn nghe về nỗi khổ nào? Ông Lãnh Đạo cười nửa miệng: – Sẽ có lần anh chỉ nói về nỗi khổ của bản thân anh. Tôi nhấn mạnh để anh suy nghĩ: Với cộng sản, anh không bao giờ là anh hùng cả. Và anh sẽ ân hận anh đã đánh mất cơ hội về quê hương qua một cửa rộng để chia sẻ nỗi khỗ với dân tộc anh. Chàng tròn xoe mắt, giả bộ làm nai tơ: – Tôi không hiểu cửa rộng mà ông nói. – Cửa rộng mà những Việt kiều yêu nước đã về. – Tôi thích qua cửa hẹp. – Lạ nhỉ, sao lại cửa hẹp? – Đâu có gì lạ. Thưa ông, ông có đọc Thánh kinh không? – Sách phản động! – Sách để suy gẫm. Karl Marx đã lấy cảm hứng từ sách phản động – theo ông- để viết chủ nghĩa mác xít đấy. – Anh nói vô căn cứ. – Tùy ông hiểu. Tôi cũng xin nhấn mạnh để ông suy nghĩ: – Anh tìm cái lối ấy? – Vâng. – Và lối ấy đưa anh vào tù. – Không, lối ấy đưa tôi đến sự sống, đưa dân tộc tôi đến sự sống. – Chúng tôi không cho anh sống. – Các ông giết tôi là dẫn tôi đến sự sống. – Chúng tôi không giết anh. Để tự anh chết dần chết mòn trên đường hẹp hòi, thiển cận và lạc hậu của anh. Ông Lãnh Đạo đổi giọng: – Anh Bá à, sự kiêu ngạo của anh không tạo điều kiện thuận lợi cho ngày trở lại nước Pháp của anh đâu. Sự kiêu ngạo không thể dẫn anh đến sự sống như anh mong muốn. Muốn đến sự sống, anh phải biết sống. Muốn biết sống anh phải tự hỏi anh đang ở đâu, phải truy nã thân phận hiện tại của anh. Giữa tôi và anh, chẳng cần gì phải dấu diếm kinh nghiệm tù đày của người cộng sản. Hồ chủ tịch đã không kiêu ngạo để chết rũ trong tù. Đồng chí Lê Duẩn đã không kiêu ngạo để chết rũ trong tù. Họ kiêu ngạo, lấy ai trở thành lãnh tụ, lấy ai đưa dân tộc đến sự sống? Những kẻ kiêu ngạo trong ngục tù để chết là những kẻ bất trí, Những liệt sĩ mù lòa, ngu xuẩn. – Liệt sĩ của các ông? – Đúng thế. Anh điểm mặt những liệt sĩ xem có thằng nào đủ khả năng làm lãnh tụ không. Chúng nó nên dại dột can đảm chết để chúng tôi sinh tồn. Còn anh, anh có khả năng trở thành lãnh tụ đấy, anh đừng dại dột tìm cái chết hèn mọn, mà rồi cũng chẳng ai biết tới anh mà phong anh làm liệt sĩ! Chàng nhún vai: – Tôi không thích làm lãnh tụ hay liệt sĩ hiểu theo ý của ông hoặc của bất cứ ai. Tôi là người, tôi cố sống đúng nghĩa một con người cả chết đúng nghĩa một con người. – Tùy anh đấy, tôi chỉ gợi ý. Điều này không phải để răn đe, dọa nạt mà là sự thật: Sự kiên trì của người cộng sản đã chiến thắng tất cả. Chúng tôi đủ khả năng biến sự kiên trì thành át xít sói mòn sắt thép. – Cám ơn ông. Ước mơ của tôi tránh nổi sự sói mòn của át xít. – Anh kiêu ngạo quá. – Thưa ông, nếu ông ở trong trường hợp tôi, ông sẽ kiêu ngạo hơn. Người cộng sản kiêu ngạo nhất thế giới. Tôi nghĩ, lúc này sự kiêu ngạo cần thiết hơn lúc nào. Vì, nhờ nó, tôi có thể bảo vệ được phẩm cách của tôi. Ông Lãnh Đạo ngó đồng hồ: – Anh về nghĩ ngợi nhé! Chiều nay, người ta sẽ cấp giấy bút cho anh để anh làm bản tự khai. Chàng hỏi: – Tự khai về cái gì? Ông Lãnh Đạo đã đứng dậy: – Một thủ tục thông thường cho bất cứ một can phạm nào. Sau tự khai, anh sẽ làm việc với các cấp lãnh đạo của tôi. Hãy nhớ kỹ: Anh là người đặc biệt và chúng tôi sẽ đối xử với anh thật đặc biệt. Người công an bảo vệ đưa chàng về phòng.
Bữa cơm thứ hai giống hệt bữa cơm thứ nhất. Khác một chút thôi. Là Trung Sĩ được thay thế bằng một người khác. – Anh cũng là Trung sĩ? Chàng hỏi. – Không, Thượng sĩ. Người công an đáp. – Bí danh hay quân hàm? – Quân hàm. – Tên khai sinh của anh là gì? – Đứng dậy, tôi mở còng tay cho anh. – Tôi gọi anh là Thượng Sĩ vậy. Chàng vươn vai, nắm cổ tay, nói bâng quơ: – Anh có thèm được tháo xích chân một lúc không? Chàng nói: – Anh nên hỏi xích, đừng hỏi tôi câu ấy. – Tại sao phải hỏi xích? – Vì nó thèm tháo. – Tại sao anh biết xích thèm tháo? – Vì tôi nghĩ rằng xích đau chứ chân tôi không đau. – Anh muốn chân anh đau? – Tôi muốn cả xích cũng không bị đau đớn. – Tôi không nghe rõ xích rên la nên tôi không hỏi xích. Anh không thèm được tháo xích để chân thoải mái thì thôi. Anh tự do chọn lựa sự đau đớn. – Phải, tôi đã tự do chọn lựa sự đau đớn. – Vậy anh tiếp tục sự đau đớn vì sự chọn lựa mang đầy tính chất cường điệu của anh. – Tôi luôn luôn bình thường. – Anh muốn làm anh hùng? Nhớ kỹ điều này: Anh hùng của thời đại chúng ta chỉ tìm thấy ở những người cộng sản… – Anh Thượng Sĩ – chàng cắt ngang câu tuyên truyền mòn vẹt của người công an – sau bữa cơm, tôi cần một cái xô, một cái hộp và vài tờ giấy. – Nói là anh thèm đi! – Vâng, tôi thèm. – Để làm gì? – Đi ỉa! – Chưa có chỉ thị về điều anh yêu cầu. – Về điều tôi thèm. Chàng nhấn mạnh. – Về điều anh thèm. Thượng Sĩ nhắc lại. – Thế thì tôi đi ỉa ở đâu? – Ở ngay biệt giam này, chỗ nào anh khoái tự do chọn lựa. – Anh không biết đau đớn à? – Đau đớn cho anh? – Không, đau đớn cho chế độ của anh, cho chủ nghĩa cộng sản của anh. Tưởng tượng một người tay còng, chân xích lết tới một góc phòng tối tăm, khó khăn tụt quần ngồi xuống ỉa, đái, dẫu có giấy chùi đít cũng khó khăn chùi nổi. Rồi, con người lại phải nằm, ăn, ngủ chung với cức, nước đái, còng, xích và nghe người khác luận về anh hùng thời đại, anh không đau đớn ư? Xích và còng của chế độ biết đau đớn đấy, anh Thượng Sĩ ạ! – Anh đã tự do chọn lựa sự đau đớn, thắc mắc gì nữa? – Thắc mắc cho anh thôi. Tôi tự do chọn lựa thêm nỗi đau đớn cho chủ nghĩa của anh. – Đó là hình phạt cho sự chọn lựa dại dột của anh. – Cũng là bản chất đạo đức giả của chủ nghĩa cộng sản. Các anh hằng rêu rao chủ nghĩa của các anh quý trọng con người, bảo vệ con người đích đáng. Các anh đánh bóng danh từ học tập, cải tạo. Thế giới u mê, nặng thành kiến và khiếp sợ tin các anh. Hãy hỏi chính anh đi, anh đang giáo dục tôi cái gì, các anh đã giáo dục tôi cái gì. Chỉ là đe dọa và đọa đày siêu đế quốc, siêu phát xít. Anh không còn là anh nữa, các anh không còn chất người nữa. Bây giờ tôi mới thấy rõ các anh ra và có một số sãnh sẹ khiến anh nổi giận. – Anh cứ nói đi – Chủ nghĩa của các anh như cái sàn cachot này, Thượng Sĩ à! Và tôi đau đớn giùm chủ nghĩa ấy vì tôi phải ỉa, đái lên nó bởi hình phạt của lũ giáo điều. Anh còng tay tôi lại và mang cơm nước ra khỏi phòng đi. Tôi không ăn để khỏi phải ỉa lên chủ nghĩa cộng sản. Người công an, bí danh Thượng Sĩ, không những không nổi giận mà còn ngọt ngào: – Còn họ, lúc vừa bị vướng lưỡi, vùng vẫy, gầm thét, cứ ngỡ mình vẫn là chúa sơn lâm. Vùng vẫy gầm thét chán thì mệt mỏi và sợ hãi và biến thành con chó đói. Anh đang mang tâm trạng của con hổ sa lưới. Chàng cười gằn: – Tôi không phải là họ, đáng tiếc quá. – Anh tự ví anh là gì? – Chẳng ví gì cả, tôi là người. Tôi chấp nhận mọi ngược đãi vì tôi hiểu những kẻ đã hành hạ tôi không là người, không bao giờ có thể là người nổi. Tôi không tự ăn uống. – Anh định tuyệt thực? – Không tuyệt thực, tôi tự do chọn lựa ăn uống và ỉa đái. Các anh cần thiết ăn uống, tôi cần thiết ỉa đái. Luôn luôn tôi có tự do. Người công an không với chàng nữa. Y bước ra khỏi phòng biệt giam. Cánh cửa sắt mở rộng thêm. Y không mang dĩa cơm ra, cũng không còng tay chàng lại. Chàng ngồi xuống dựa lưng vào tường, bất động. Chàng biết, đôi mắt cú vọ của Thượng Sĩ và, có thể, của các đồng chí của y, đang chiếu những tia cực sáng theo dõi từng cử chỉ của chàng. Một hành động nào đó mà họ nghi rằng chàng muốn tự sát, họ sẽ can thiệp tức thời. Nhưng đời nào chàng dại dột tự sát. Chàng mong mỏi đi tới cuối đích đau khổ, đi xuống đáy đời hệ lụy để soi sáng lý tưởng chiến đấu của chàng. Người cộng sản muốn đo lường tư tưởng của chàng và chàng muốn đo lường phản ứng của họ. Do đó, chàng đã dùng những lời lẽ khiêu khích sự phẫn nộ của kẻ thù. Cộng sản thật điêu luyện trong nghệ thuật khai thác niềm bí ẩn của con người. Họ nhẫn nhịn, kiên trì và triệt để tuân hành chỉ thị. Nếu không vì trì chí, không hóa thành máy móc, Thưọng Sĩ đã đánh đập chàng cho bỏ ghét. Chàng đã hiểu kẻ thù sợ chàng tự tử, chàng vừa hiểu thêm, kẻ thù rất thèm chàng, rất cần chàng, rất khao khát chờ đợi những của chàng để ra tay. Chàng nhắm mắt, thấy ý nghĩ bay vút ra ngoài vùng trời rộng bao la. Thượng Sĩ lại vào. – Anh nhất định tuyệt thực? Chàng mở mắt. – Tôi cần giải quyết ỉa sau khi ăn. – Ăn trước, yêu sách giải quyết sau. – Tôi không yêu sách, yêu cầu, van xin. – Muốn gì? – Tôi muốn khỏi phải khinh bỉ các anh. Thù hận và khinh bỉ khác nhau. – Đồng ý, tôi sẽ báo cáo lãnh đạo, nhưng anh ăn đi. Nhiệm vụ của tôi là mang cơm nước cho anh. Anh phải giúp tôi hoàn tất nhiệm vụ. – Anh đổ cơm nước đi và báo cáo tôi đã ăn uống. – Người cộng sản không biết gian dối. – Vậy anh không phải là người cộng sản rồi! – Đừng ngụy biện. – Người cộng sản là người gian dối chuyên nghiệp. Anh thú nhận thế tôi mới tin anh là cộng sản và tôi sẽ ăn uống. Thượng Sĩ nín thinh. Y còng tay chàng lại, mang dĩa cơm ra và quên luôn ca nước không đem vào mời chàng. Cánh cửa sắt đóng và khóa chặt. Bên ngoài chắc trời đã xế chiều. Bóng tối cachot mờ mờ, mông lung. Khi nó tối mờ, chàng đoán màn đêm đã trùm kín quê hương. Chàng bỗng đau bụng. > Thượng Sĩ, người của Đảng, đã bảo chàng thế, lúc chàng hỏi y chàng sẽ đại tiện ở đâu. Ở ngay biệt giam này, chàng đã tiểu tiện vung vít. Ở ngay biệt giam này, chàng sắp đại tiện. Biệt giam dành cho chàng và cho những người như chàng là nơi chốn của biểu tượng thiên đường mác xít. Cái nôi của nhân loại đấy. Sự ưu việt của chủ nghĩa đấy. Người ta đã nói nhiều, viết nhiều, la lối nhiều về chuồng cọp Côn Sơn dưới chế độ Sàigòn cũ. Chàng cũng đã thấy hình chuồng cọp in trên báo chí thế giới, nhất là báo chí Hoa Kỳ. Quả thật, chuồng cọp là chuồng cọp, những nơi có chắn song sắt thưa và đầy ánh sáng. Chuồng cọp chỉ giam những tù nhân nổi loạn trong tù, âm mưu vượt ngục, đánh giết tù nhân khác hoặc chống lại cai ngục. Chuồng cọp thoải mái hơn cả những cái chuồng mà phát xít Nhật nhốt lính Anh, lính Mỹ… Còn nơi chàng và bao nhiêu người Việt Nam, bao nhiêu người Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp khắc, Nga xô đang bị nhốt về tội yêu nước Việt Nam, nước Ba lan, nước Hung gia lợi, nước Tiệp khắc, nước Nga thì không phải cái chuồng, cái củi nữa. Đó là cái quan tài xi măng dựng đứng. Con người – con người của Thượng Đế tạo dựng – bị xích chắn, còng tay, bị nhốt trong đó, bị ngồi một kiểu, khó khăn tụt quần ỉa, đái và nao núng ăn uống, hít thở, thức ngủ và ước mơ. Thế giới mù lòa đã không nhìn thấy cái quan tài, cái nỗi êm ái của chủ nghĩa này. Và họ cam đành câm điếc để được cộng sản phong cho hai tiếng tiến bộ. Bọn đồng lõa với tội ác xúm nhau lại suy tôn lũ đồ tể sát nhân và ngoảnh mặt trước mọi đau thương của con người trong thời đại chung. Chàng buồn nôn. Không, để cứt tả lòng khinh bỉ, phải dùng chữ mới, dẫu thô bỉ song vẫn trên cả sự thô bỉ của cộng sản và bọn đồng lõa: buồn ỉa! Và chàng gắng đứng dậy, lết tới góc phòng, dùng hai tay còng chéo sau lưng, tụt quần, ngồi xuống mà ỉa. Chàng cảm giác sung sướng vì đã chọn lựa đau đớn để được ỉa lên câu chính nghĩa > của cộng sản và bọn phiêu lưu. Làm xong công việc đại tiện, chằng lại gắng gượng đứng dậy, kéo quần lên. Hạnh phúc cho chàng là, trước khi tống vào cachot, công an bảo vệ chính trị và chống gián điệp đã lột hết áo quần, giày vớ của chàng. Họ muốn khám phá trong quần áo, giày vớ của chàng có dấu phim ảnh, tài liệu gì không. Trên thân thể của chàng chỉ còn vỏn vẹn dính cái quần xà lỏn, cái áo thung ân huệ của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Được hưởng mảnh áo, tấm quần của cộng sản, thật bẽ bàng! Người ta mở còng, tháo xích, bảo chàng tự mặc lấy. Mắt chàng vẫn bị bịt chặt. Rồi người ta còng tay, xích chân rồi mới đây chàng vô cái quan tài xi măng. Chàng để nguyên cái lỗ đít còn dính cứt mà lết sát cửa sắt. Cộng sản rất khoan dung, đại lượng. Họ chỉ hẹp hòi giấy chùi đít cho tù nhân! Chàng nằm nghiêng, úp một bên má lên sàn xi măng lởm chởm đá râm. Chúng mỏi ê, chàng phải lăn để đổi má bên kia. Người xưa nằm gai, nếm mật tưởng đã là phi thường, dẫu sự nằm gai nếm mật chỉ xảy ra trong khoảnh khắc trình diễn để nhớ thù hằn, nuôi thù hằn. Người nay, chàng đó, tay ôm còng, chân mang xích, chiếc quần xà lỏn, chiếc áo thung, nằm trên nước đái và cứt, nằm trên nỗi nhục nhằn của kiếp người hệ lụy mà suy tưởng thân phận dân tộc mình, thế hệ mình và ước mơ làm đẹp đất nước, làm rạng danh giống nòi. Chàng không nuôi thù hận. Chàng không chủ trương tiêu diệt con người. Con người cần tồn tại, cần tìm lại đúng phẩm cách và quyền sống. Con người, ở thời đại chàng, bị chủ nghĩa và những trò chơi khốn kiếp của chủ nghĩa biến thành công cụ của thù hận để lao vào đâm chém, tàn sát lẫn nhau. Cái đích tiến tới của chàng và bằng hữu chiến đấu là đánh nát chủ nghĩa và lãnh tụ. Để cứu vớt con người. Để con người gần gũi con người, chia sẽ, cảm thông và yêu thương. Một ý nghĩ mà chàng cho rằng đúng với chàng là, trong cô đơn và trực diện thống khổ, con người khôn lớn vượt bậc. Lòng thành khẩn ở đây, nỗi thiết tha ở đây, sự trang trải ở đây. Nó không bao giờ là thành tích để làm dáng sự nhiệp tranh đấu, để khoe khoang công lao.
. Nó thật. Nó hiện thực. Nó không chiêm bao. Nó đang nghe muỗi đói vi vu. Nó đang ngửi cứt và nước đái. Nó đang sống trong cái quan tài xi măng. Tiếng chìa khóa tra vào ổ. Chàng vụt thức nhưng giả vờ nằm im. Cánh cửa đã mở. Người ta quét một tia đèn pin khắp cachot và lay chàng dậy. Không phải Thượng Sĩ. Ba bốn nhân vật mới lạ. Người ta bịt mắt chàng, dẫn chàng ra khỏi cachot. Hoàn toàn im lặng. Người ta bê chàng lên, bỏ chàng vào cái cần xé, ấn chàng ngồi xuống. Vẫn tay còng chéo sau lưng, chân đeo xích, chàng ngồi một thế ngồi, một lối ngồi, một kiểu ngồi lạ lùng nhất từ thuở con người biết hành hạ con người. Hai bàn tay phía sau chạm vào nan tre, hai bàn chân phía trước chạm vào nan tre, chàng không thể nhúc nhích. Chàng nhớ, đã đọc hồi nào, bài báo viết về nỗi chết hãi hùng của nhà văn Lan Khai và nhà văn Khái Hưng. Cả hai đều bị bỏ vào cái bao bố với tảng đá nặng thắt chặt miệng bao và liệng xuống sông. Chàng đợi chờ người ta kết thúc đời mình như người ta đã hủy diệt Lan Khai, Khái Hưng. Cảm giác sợ hãi chưa hoàn toàn tê liệt, chàng vẫn còn rờn rợn. Người ta biết cách kéo dài cảm giác sợ hãi của con người; người ta thừa thải nghệ thuật tăng cao độ nóng đe dọa và giảm thấp độ lạnh khủng bố tinh thần con người dẫu con người gần kề cái chết. Với cộng sản, nỗi chết không còn phải là sự giải thoát cuối cùng mà là sự chịu đựng miếng đau đớn cuối cùng. Người ta ràng dây trên miệng cái cần xé và buộc xoắn chắc chắn. Chàng thử nhô đầu lên. Đau nhói. Cái gai của sợi giây theo chui xuống đụng da đầu chàng. A, người ta ràng bằng giây thép gai. Chàng ngồi bất động nghe tiếng giây thép gai xoắn chung quanh miệng cần xé. Mồ hôi chàng toát ra. Nước tiểu đã, tự nhiên, chảy ướt đẫm quanh chàng. Chàng lên cơn sốt, cơn sốt sợ hãi một lối chết ghê gớm, một lối chết có thể tính bằng nhịp đập của trái tim. Nhưng lạ lùng thay, một đốm lửa bỗng vụt thắp trong cơn sốt khiến chàng tỉnh táo, sáng suốt: Chẳng bao giờ công an của bất cứ một nước nào thủ tiêu một kẻ thù chính trị nguy hiểm mà không khai thác tận tình. Người ta muốn làm nhụt chí khí của chàng. Người ta muốn làm chàng khắc khoải. Mệt mỏi cho dễ dàng sự khai thác. Nếu thủ tiêu chàng, người ta đã thủ tiêu đêm qua. Chàng lại có thêm một kinh nghiệm với cộng sản. Và chàng cảm thấy tội nghiệp nước đái sợ hãi. Chàng muốn lên tiếng khiêu khích. Vô ích. Hãy lấy sự im lặng trả lại sự im lặng. Người ta kéo cái cần xé xềnh xệch trên sàn nhà. Người ta kéo nó tụt xuống ba bậc tam cấp của > Chàng như con chó, con heo trong cái cần xé. Đó là định nghĩa chính xác của sự bảo vệ phẩm cách con người của cộng sản. Người ta tung chàng lên sàn xe – xe bít bùng, chàng đoán – đóng cửa, khóa lại, và cho chàng đi. Xe chạy nhanh, chạy chậm, quẹo cua… Chàng bị xô dật ngang, dọc. Người ta cố tình tạo cách lật ngược cái cần xé trên đường xe chạy. Đầu chàng dong ngược. Giây thép gai tua tủa đâm thẳng vào da đầu chàng. Đôi khi, cái cần xé nằm ngang, chàng xoay tròn như khúc gỗ. Chàng chịu đựng hình phạt của thù hận cho đến lúc chàng hết còn biết đau đớn thì chiếc xe quái ác chủ nghĩa dừng lại ở một địa điểm nào đó. Người ta trả chàng về chốn cũ, đúng là chốn cũ, vì chàng ngửi thấy mùi cứt và nước đái của mình. Chàng sung sướng hít thở mùi thơm của tủi nhục và chàng nghĩ rằng mùi nước đái và cứt của chàng thơm tho và giá trị hơn mùi của chủ nghĩa cộng sản.
Xác tù chất cao hàng đống. Xe chở xác không thấy tới. Bui mưa đóng trắng xóa trên tóc và chân mày họ. Những tiếng ầm ì ở chân trời không còn nghe thấy nữa. Tù nhân còn trông thấy lửa lóe lên từ họng súng và còn nghe tiếng nổ cho tới nửa đêm, rồi tất cả đều yên lặng.
Mặt trời đã lên. Nền trời trong xanh và gió nhẹ mang hơi ấm tới. Trên những xa lộ bên ngoài thành phố cũng chẳng thấy được gì, không cả bóng dáng của dân tỵ nạn. Thành phố nằm đó, cháy đen. Con sông chảy ngang qua, uốn khúc như một con rắn khổng lồ đang cố nuốt xác chẽt của thành phố. Binh sĩ cũng vắng bóng.
Trong đêm, trời mưa khoảng một tiếng đồng hồ nhưng không lớn lắm, bây giờ còn lại đôi vũng nước. 509 ngồi bên một vũng nước mưa, tình cờ trông thấy mặt mình phản chiếu. Hắn khom xuống sát hơn. Hắn không còn nhớ lúc nào là lần cuối cùng soi mặt trong gương, rất có thể là đã quá nhiều năm. Thời gian bị giam giữ, hắn chưa hề soi mặt vì chẳng có gương. Do đó, bây giờ hắn không nhận ra khuôn mặt từ dưới nước nhìn sững hắn.
Tóc hắn chỉ còn là một chùm lưa thưa bạc xám. Trước ngày vào trại, tóc hắn dày rậm và hung đen. Hắn đã biết tóc đổi màu từ lâu vì nhiều lần trông thấy những lọn rơi xuống đất vào dịp được cho hớt tóc. Nhìn những mớ tóc rơi vãi trên mặt đất, lắm lúc hắn có cảm tưởng đó không phải là tóc của mình.
Trên khuôn mặt dưới nước hắn cũng chẳng nhận ra nét nào là của mình nữa, ngay cả đôi mắt cũng thế. Hai vật nhấp nháy từ hai lỗ trũng nằm trên hai cánh mũi phồng to và cái miệng mất quá nhiều răng chỉ là một cái gì để phân biệt hắn với một xác chết.
– Mình đó sao?
Hắn lại nhìn sững vào khuôn mặt trong vũng nước. Hắn từng nghĩ là mình cũng tương tự với hình dáng của bao nhiêu người khác ở chung quanh, nhưng hắn không đặt thành vấn đề. Năm này qua năm khác, hắn cứ phải nhìn thấy họ và để ý xem họ thay đổi ra sao, nhưng rồi cứ nhìn thấy nhau mỗi ngày, hắn không còn để ý nhiều nữa để rồi bây giờ hắn ngạc nhiên nhìn thấy chính mình lần đầu tiên sau quá nhiều năm.
Tóc bạc màu chẳng làm hắn nghĩ ngợi bao nhiêu nhưng chính những nét già nua vượt ra ngoài tưởng tượng khiến hắn bị xúc động.
Một lần nữa, 509 nhìn xuống vũng nước. Hắn nghĩ đó là mắt của mình. Hắn khom mình xuống sát hơn nữa để nhìn cho rõ. Hơi thở nặng nề của hắn làm mặt nước nhăn nheo và hình ảnh rung mờ trong chốc lát. Hắn lại nghĩ, đó là phổi của mình, và nó vẫn còn bơm hơi. Hắn thò tay khuấy nước và nghĩ tiếp: đó là bàn tay của mình – bàn tay có thể hủy diệt hình ảnh của mình.
Hủy diệt, hắn lặp lại trong đầu. Nhưng còn xây dựng thì sao? Và thù hận? Chỉ có sự thù hận thôi thì nhỏ bé quá. Muốn sống, con người còn cần nhiều thứ hơn là thù hận.
Hắn ngồi thẳng lên vì vừa thấy Bucher đang đi tới. Bucher hỏi ngay:
– 509, bạn có nghe nói chưa? Lò thiêu xác đã ngưng hoạt động.
– Làm gì có chuyện đó?
– Toán làm việc tại lò thiêu đã bị giết cả rồi. Dường như chúng nó không có ý định chọn toán khác. Có thể…
Cả hai người nhìn nhau.
– Có thể là lò thiêu không còn cần thiết nữa. Chắc bọn chúng đã…
Hắn ngưng ngang. 509 nói tiếp:
– Rút đi?
– Có thể lắm. Sáng nay, chúng cũng không đưa xe tới lấy xác.
Rosen và Sulzbacher đi tới. Rosen nói trước:
– Pháo binh ngưng hoạt động rồi. Chẳng biết việc gì sắp xảy ra?
– Chắc trận tuyến đã bị phá vỡ.
– Hoặc họ bị đẩy lui. Có tin là bọn SS định cố thủ ở đây.
– Chắc tin đồn từ nhà cầu. Cứ năm phút là có một tin đồn. Nếu bọn chúng cố thủ ở đây thì chúng mình sẽ bị ném bom.
509 nhìn lên. Hắn ước gì trời lại tối. Trời tối dễ ẩn núp hơn. Làm sao biết chuyện gì sắp xảy ra? Cả một ngày có tới 12 tiếng đồng hồ trong khi cái chết chỉ cần có vài giây.
Thình lình Sulzbacher hô lớn:
– Máy bay kìa!
Xúc động mạnh, hắn chỉ tay lên trời. Vài phút sau một đóm trắng nhỏ hiện ra. Rosea thì thầm :
– Chắc phi cơ Đức. Nếu không thì đã có còi báo động.
Tất cả vội vàng nhìn quanh tìm một chỗ ẩn núp. Trước đó đã có tin đồn là máy bay Đức được lệnh san bằng tất cả những trại tập trung nào còn sót lại vào giờ chót.
– Chỉ có một chiếc thôi! Đúng một chiếc!
Họ vẫn còn đứng. Nếu là một cuộc ném bom thì phải cần tới nhiều phi cơ hơn chớ không phải một chiếc.
Lebenthal góp ý kiến :
– Chắc là máy bay quan sát Mỹ. Mình không nghe còi báo động.
– Sao bạn biết?
Lebenthal không trả lời. Tất cả đều nhìn chăm chú vào đốm trắng nhỏ đang từ từ lớn thêm ra. Sulzbacher gần như quả quyết:
– Không phải phi cơ Đức.
Lúc này họ đã nhìn chiếc máy bay rõ hơn. Nó đang tiến thẳng về phía trại. 509 cảm thấy dường như có một bàn tay từ dưới đất thò lên nắm lấy đùm ruột của hắn và kéo lôi xuống… dường như hắn đang đứng khỏa thân trên một bục gỗ làm vật tế thần mà không làm sao có thể chạy thoát được. Hắn nhìn thấy những người chung quanh đã nằm rạp xuốngvà không hiểu vì sao mình vẫn còn đứng.
Ngay lúc đó, có một tràng súng nổ. Chiếc phi cơ đổi hướng bay dạt ra rồi quần trên trại. Những phát súng vừa rồi vang lên từ trong trại, đó là tiếng súng máy bắn ra từ phía sau đồn binh của SS.
Phi cơ rà thấp xuống. Mọi người đều chăm chú nhìn lên. Thình lình họ thấy nó nghiêng cánh qua lại dường như ra dấu hiệu. Mới đầu các tù nhân tưởng là phi cơ đã bị trúng đạn, nhưng nó vẫn tiếp tục bay vòng quanh một lần nữa và nghiêng cánh qua lại hai lần, giống như chim vỗ cánh. Sau đó nó lên cao và bay đi luôn.
Nhiều phát súng nổ theo. Lần này có cả tiếng súng nổ từ các chòi canh. Nhưng chỉ trong chốc lát, tiếng súng im bặt, chỉ còn lại tiếng động cơ của máy bay nhỏ dần… nhỏ dần…
Bucher thở hắt ra:
– Họ ra dấu hiệu.
– Dường như họ muốn ra dấu bằng cách đập cánh, giống như một người vẫy tay.
– Chắc chắn rồi, họ muốn báo hiệu với bọn mình.
– Họ muốn cho biết là đã biết rõ bọn mình đang bị giam ở đây. Thế là đúng rồi. 509, bạn nghĩ sao?
– Tôi cũng cho là như thế.
Đây là lần đầu tiên họ nhận được dấu hiệu của những người bên ngoài trại. Thế là bức tường cô lập quá dầy và ghê gớm bao quanh họ từ nhiều năm qua đã bị chọc thủng. Những người lạ sắp sửa giải thoát họ đã báo hiệu với họ. Họ không còn cô đơn nữa.
Đây cũng là lần đầu tiên, họ đón nhận cái chào mừng của thế giới tự do. Một nhân vật nào đó đã phái phi cơ tới để xác định rằng cả thế giới đã rõ tình trạng họ và sẵn sàng đến cứu. Họ không phải là cặn bã của trái đất, bị khinh khi, bị nhổ nước miếng vào mặt, bị ngồi lên đầu lên cô, bị dẫm quằn quại như giun… họ đã trở lại những con người…
Cái gì vậy? Cái gì làm cho mình thế này? 509 tự hỏi. Nước mắt? Mình? Một kẻ già nua còn có thể khóc được sao?
Neubauer xem xét bộ quần áo. Trước khi bỏ đi, Selma đã mắc bộ quần áo này ngay trước tủ áo của hắn. Một bộ thường phục mà hắn chưa bao giờ mặc từ mười hai năm qua. Một bộ đồ màu xám muối tiêu.
Hắn nhấc bộ đồ lên và nhìn ngắm. Hắn cởi bỏ bộ quân phục rồi đi tới phía trước gian buồng ngủ. Hắn mặc áo vào. Chiếc áo bó sát vào thân khiến không thể gài nút được, mặc dầu hắn cố thót bụng vào. Hắn bước tới trước tấm gương. Hắn trông thấy mình có vẻ buồn cười. Trong thời gian mười hai năm đó hắn đã mập thêm ra khoảng hai mươi kí. Cũng chẳng có gì lạ. Trước năm 1933, gia đình hắn đã phải sống khắc khổ, tằn tiện.
Kể cũng lạ, khi bộ quân phục không còn dính trên người, vẻ oai phong bỗng mất đi. Trông con người nhũn ra. Hắn nhìn lại cái quần, có lẽ nó còn chật hơn chiếc áo. Bây giờ thì muộn quá rồi…
Hắn nghĩ… mình sẽ đầu hàng đúng cách, đúng theo quân cách. Họ cũng sẽ đối xử với hắn đúng theo quân cách. Dầu sao thì hắn cũng là một quân nhân. Một quân nhân thật sự, có quân phục và cấp bậc sĩ quan cao cấp.
Neubauer vươn vai. Chắc họ sẽ quản thúc hắn trong một thời gian ngắn. Chắc có lẽ là trong một lâu đài nào gần đây cùng với những sĩ quan tương đương cấp bậc – Dĩ nhiên là họ phải áp dụng đúng luật nhà binh. Nhất định là mình sẽ không chào theo kiểu Hitler được, hắn tự nhủ. Đưa một cánh tay ra… đó không phải lối chào nhà binh, phải đưa bàn tay lên mũ.
Hắn bước tới vài bước và chào theo lối nhà binh. Chưa được, chưa phải là kiểu chào của một sĩ quan cao cấp. Hắn lại thử chào lần nữa. Kể ra cũng khó khi muốn phối hợp cách chào thế nào vừa đúng cách lại vừa oai vệ. Bàn tay đưa hơi cao. Lại bị ảnh hưởng bởi lối chào Hitler.
Bây giờ hắn nhận ra sao kiểu chào gì lại trẻ con đến thế, à… giống với hướng đạo sinh chớ không phải của sĩ quan. Vậy mà từ lâu mình vẫn chào như thế!
Hắn lại tập chào kiểu nhà binh. Phải từ từ! Nhanh quá không được. Hắn nhìn mình trong gương, lùi ra vài bước rồi bước tới:
– Thưa Đại tướng, tôi chấp nhận đầu hàng…
Hắn lại thử bước tới vài bước. Không nên gần lắm, phải cách khoảng vài thước.
– Thưa Đại tướng…
Hay có thể gọi “Thưa Bạn”. Nhưng… không gọi như thế được đối với một tướng lãnh. Chỉ cần chào đúng cách, vỗ tay vào đùi. Gọn và đứng đắn. Không cố bắt tay. Dầu sao thì cũng vẫn còn sự tương kính giữa hai đối thủ. Giữa sĩ quan với sĩ quan. Mình chỉ thua trận sau khi đã anh dũng chiến đấu. Phải có sự kính trọng đối với kẻ thua trong danh dự.
Trong một thoáng, Neubauer sực nhớ tới con người thư ký bưu điện của mình trước đây. Chỉ có những phút nguy ngập hay chán đời hắn mới nhớ ra dĩ vãng.
Có thể là sẽ có một bữa ăn chung xã giao như đã đọc thấy trong sách về trường hợp đối xử của các hiệp sĩ với nhau. Rất tiếc là không biết tiếng Anh. Cũng chẳng sao, còn cả lố thông dịch trong số các tù nhân.
À, mới đây mà chào đã khá thuần thục rồi! Nói cho đúng, mình có phải là một đảng viên Quốc Xã cuồng tín đâu. Cũng không phải là một viên chức hy sinh hết mình cho Tổ quốc. Weber và những kẻ như hắn, Dietz và bè đảng của hắn, đó mới là bọn Quốc xã.
Hắn lục tìm xì-gà. Trong thời gian chờ đợi chắc hút hết bốn hay năm điếu còn lại. Có cần để dành biếu cho đối phương không? Một điếu xì-gà quý có thể làm dịu được tình hình.
Hắn hút luôn mấy hơi thuốc. Nếu họ muốn viếng trại thì sao? Cũng được. Nếu họ thấy có gì không thích hợp thì mình cho sửa đổi ngay. Tuy có hơi chạm tự ái. Cũng không sao. Đã là quân nhân thì đó là chuyện dễ thông cảm. Nhưng…
Đột nhiên, hắn nghĩ tới một việc: thực phẩm. Phải cho những món ngon và nhiều hơn. Đúng thế. Đó là chuyện mà đối phương lưu ý trước tiên. Vậy là phải ra lệnh ngay gia tăng khẩu phần. Có hành động như thế mới chứng tỏ rằng mặc dầu không có ai nhìn ngó hay chỉ trích, hắn vẫn lo đến sức khỏe của tù nhân.
Trước hết là phải gọi hai đại diện trại tới thông báo cho họ. Họ cũng là tù nhân. Về sau, khi cần, họ sẽ làm chứng tốt cho mình.
Buổi chiều kéo dài ra. Rõ ràng là bọn SS không có ý định lên trại. Mặc dầu không hề hay biết về việc một số tù nhân đã được bí mật võ trang nhưng đó không phải là lý do khiến chúng e ngại.
Dầu cho có gấp trăm lần số súng lục đang cất giấu, tù nhân cũng không thể công khai chiến đấu với súng máy. Chính cái khối người quá đông đảo bỗng nhiên khiến cho chúng ngại ngùng.
Đúng ba giờ trưa, máy phóng thanh gọi tên hai mươi người tù và ra lệnh cho họ phải tập trung tại cổng trong vòng mười phút.
Điều này có nghĩa là dấu hiệu chẳng lành. Ban điều hành mật của trại lập tức đưa hai mươi người bị gọi tên ra khỏi lao xá. Trong số này có bảy người ở Tiểu trại.
Lệnh gọi được lặp lại lần thứ hai. Tất cả những kẻ bị gọi đều là tù nhân chánh trị.
Qua mười phút, không một bóng người nào tới cổng. Đây là lần đầu tiên, tù nhân công khai chống đối.
Vài phút sau, máy phóng thanh truyền lệnh cho toàn thể tù nhân tập hợp tại sân điểm danh. Ban điều hành mật lập tức phái người len lỏi tới tất cả các trại dặn chớ nên ra. Tập trung tại sân điểm danh sẽ dễ dàng bị đàn áp.
Weber nóng tiết định cho nổ súng máy nhưng không dám vì làm như thế là chống hẳn lại Neubauer. Theo tin tức từ văn phòng Bộ Chỉ huy tiết lộ thì đây là ý riêng của Weber chớ không phải lệnh của Neubauer.
Xuyên qua máy phóng thanh, Weber tuyên bố là toàn trại sẽ bị cúp khẩu phần nếu tất cả tù nhân không chịu ra sân điểm danh và hai mươi tù nhân chánh trị kia không chịu trình diện tại cổng.
Bốn giờ, lệnh của Neubauer cho gọi hai đại diện trại tới gặp hắn ngay. Hai người ra đi. Toàn trại hồi hộp chờ họ trở về.
Họ về trại nửa giờ sau. Neubauer đã cho họ xem tận mắt lệnh của cấp trên về việc phát lưu tù. Đây là lệnh thứ hai. Căn cứ theo lệnh mới này thì hai ngàn tù nhân phải rời khỏi trại trong một tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, Neubauer cho biết hắn sẵn sàng dời cuộc phát lưu tới sáng mai.
Lập tức ủy ban điều hành mật được triệu tập tại một căn phòng trong bệnh xá. Sau phiên họp, việc trước tiên của họ là thuyết phục y sĩ Hoffmann – đã ngã về phe họ – hãy dùng ảnh hưởng riêng để nói với Neubauer hoãn gọi hai mươi tù nhân chánh tri cho tới hôm sau và hủy bỏ việc điểm danh. Vấn đề thứ hai là cho rút lại lệnh cúp khẩu phần. Hoffmann ưng thuận và đi ngay.
Vẫn theo quyết định của ủy ban điều hành mật thì dầu ở bất cứ trường hợp nào cũng nhất định không để cho bất cứ ai bị phát lưu vào sáng hôm sau. Nếu bọn SS đàn áp thì mọi người chạy ngay ra khỏi sân điểm danh chui vào lao xá. Cảnh sát đoàn của trại – một tổ chức gồm toàn tù nhân – hứa sẽ tiếp tay.
Theo sự ước tính của ủy ban thì hầu hết bọn SS – ngoại trừ khoảng một chục tên – đều không muốn tận tình nhúng tay vào vụ này. Nhờ tin tức lấy được của Đội trưởng Bieder nên họ tin như thế vì Bieder là cảm tình viên của ủy ban.
Cảm động nhất là quyết định hy sinh của hai trăm người tù Tiệp Khắc. Họ tuyên bố sẵn sàng tình nguyện chịu phát lưu để cứu hai trăm người đồng hương của họ đang ở trong tình trạng đau yếu, không thể chịu nổi một chuyến đi đày ải.
Tại khu sưng màng óc, Werner mặc y phục bệnh nhân, thì thầm với những người xung quanh:
– Một ngày là đủ lắm rồi. Chúng ta đang tính từng giờ. Hoffmann còn ở lại với Neubauer hả?
– Còn.
– Nếu hắn không thành công thì tới lượt chúng mình xoay xở.
– Bằng võ lực?
– Không chỉ một phần võ lực thôi. Nhưng phải chờ tới sáng mai. Ngày mai chúng mình sẽ khỏe gấp đôi.
Hắn nhìn ra cửa sổ, sắp đặt chương trình. Hắn lẩm bẩm :
– Số bánh mì dự trữ còn đủ sống đến bốn ngày nếu mỗi ngày chỉ ăn một khẩu phần. Bột mì, lúa mạch, bột ống…
– Được rồi, thưa bác sĩ. Tôi sẽ chịu trách nhiệm. Hẹn gặp lại ngày mai.
Nhìn Hoffmann bước ra, Neubauer huýt sáo miệng nho nhỏ, đầy vẻ đắc ý. “Lại có thêm một ông bạn đứng về phe mình. Được lắm, càng nhiều càng tốt. Người này biện hộ cho người kia”.
Hắn cất kỹ lệnh phát lưu vào hồ sơ riêng. Bằng một máy đánh chữ nhỏ, hắn đánh chỉ thị đình hoãn lệnh phát lưu. Hắn mở tủ sắt, cho hồ sơ riêng vào và khóa lại. Không ngờ cái lệnh khẩn cấp ấy lại tạo cho hắn một dịp may.
Vừa rung đùi, hắn vừa đánh máy thêm một khoản nhật lệnh hủy bỏ lệnh trước của Weber về vấn đề cúp khẩu phần cho tù nhân. Hắn lại còn ghi chú là khẩu phần chiều phải được phát nhiều hơn thường lệ.
Bucher vừa nhìn vào các tháp súng máy vắng bóng lính canh vừa nói với các bạn :
– Hơn một tiếng đồng hồ rồi.
Lính gác mãn giờ đã bỏ đi và không có ai tới thay. Việc này thỉnh thoảng vẫn xảy ra nhưng nhiều lắm cũng không quá nửa giờ, và chỉ riêng tại các chòi canh bên Tiểu trại thôi. Bây giờ thì khác hẳn. Tất cả các chòi canh đều trống rỗng.
Ngày dường như kéo dài ra đến năm mươi tiếng đồng hồ nhưng đồng thời cũng như thâu ngắn trong ba giờ. Mọi người đều mệt lả đến nỗi không buồn nói.
Thoạt tiên họ chẳng chú ý mấy đến sự vắng trống tại các tháp súng. Rồi Bucher nói ra. Hắn còn cho biết thêm là cũng không có lính gác trên các chòi canh bên trại lao tác.
– Chắc bọn chúng rút hết rồi.
– Chưa đâu. Lebenthal bảo là chúng vẫn còn.
Họ tiếp tục chờ. Lính đổi gác vẫn không tới.
Họ phái người đi lấy thực phẩm. Những người này trở về cho biết bọn SS vẫn còn. Tuy nhiên, dường như bọn chúng đang sửa soạn rút đi.
Phần ăn vừa bắt đầu chia thì hỗn loạn ngay. Các bộ xương rỗng ruột xáp tới bị đẩy lui. 509 nói lớn :
– Đồ ăn còn nhiều! Mỗi người sẽ được phần khá hơn thường lệ! Nhiều lắm! Các bạn hãy giữ trật tự!
Những tù nhân khỏe nhất được cắt đặt đứng thành vòng tròn quanh các thùng đựng thức ăn trong khi 509 chia phần. Berger vẫn còn lẩn tránh trong bệnh xá.
Ông lão Ahasver tròn mắt ngạc nhiên:
– Coi kia! Có cả khoai tây! Lại có xương sụn nữa!
Ngoài món súp đặc và nhiều gấp đôi, bành mì cũng được phát bằng hai khẩu phần thường ngày.
Bucher tỏ ra thạo tin:
– Chính Neubauer đích thân xuống nhà bếp giám thị. Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến chuyện hi hữu.
– Hắn đang tìm cách gỡ tội.
Lebenthal trề môi:
– Nó tưởng bọn mình câm.
509 đặt cái vá không xuống:
– Cũng không phải vậy đâu. Chúng không hề bận tâm nghĩ đến mình. Chúng nó cho là muốn biến mình thành cái gì cũng được. Ở đâu chúng cũng làm thế. Chúng biết mọi thứ và luôn luôn là những thứ tốt hơn. Chính vì vậy mà chúng bại trận. Chúng biết mọi thứ tốt hơn về Mỹ, về Anh, và Nga.
Lebenthal ợ dài:
– Nghe coi bộ được quá. Lâu lắm rồi chưa có gì để ợ.
Họ bị xúc động và mệt nhoài vì chờ đợi. Họ nói chuyện nhưng gần như không nghe thấy đang nói những gì. Họ nằm trên một hòn đảo vô hình. Chung quanh họ những người Hồi đang lịm chết vẫn cứ chết, dầu khẩu phần súp trội hơn.
Bucher cố bước từng bước chậm và chững chạc đi qua sân điểm danh để tới hàng rào kẽm gai ngăn đôi Tiểu trại và trại đàn bà. Hắn dựa vào rào kẽm:
– Ruth.
Người yêu của hắn đã đứng sẵn bên kia. Nắng chiều làm mặt Ruth ửng lên như khuôn mặt hồng hào của những kẻ ăn uổng đầy đủ. Bucher ngập ngừng:
– Chúng mình đứng đây… Mình đứng đây… không ẩn núp. Lần đầu tiên không lo sợ.
Ruth như có vẻ đang cười:
– Đúng vậy. Đây là lần đầu.
– Em có thấy hàng rào này trông như hàng rào của một khu vườn không? Mình có thể trò chuyện với nhau. Không sợ sệt. Hàng rào của một vườn Xuân.
Tuy nói thế, họ chưa hẳn đã hoàn toàn không sợ. Thỉnh thoảng họ lại liếc nhìn ra sau và lên các chòi canh trống vắng. Cái sợ đã bắt rễ trong họ quá lâu rồi. Không còn sợ là một cái gì quá mới. Nhưng họ bắt buộc phải quen với thái độ mới này. Hai người nhìn nhau mỉm cười và cố giữ thật lâu để khỏi lén nhìn mau sang chỗ khác.
Lần lần, các người khác bắt chước theo. Những người còn đủ sức đứng lên, đi quanh quẩn. Một vài kẻ tới sát bờ rào… sát hơn thường lệ và có thể bị bắn ngay nếu trên tháp súng có lính canh.
Đi đứng như thế làm cho họ vui ra. Điệu bộ của họ trông thật trẻ con, hoàn toàn trẻ con. Có người chưa quen đi đứng nên trông giống như đi bằng chân gỗ. Có người mới đi được vài bước đã lảo đảo, phải vội vàng vịn lấy một nơi nào.
Những cái đầu ngẩng cao, những đôi mắt thôi nhìn xuống hoặc thôi lờ đờ xa vắng đã bắt đầu nhìn rõ ra. Một cái gì từ lâu bị bỏ quên bắt đầu xâm nhập, vào đầu… một cái gì không tên. Họ đi vơ vẩn trên trên sân, đi qua những đống thây người, đi qua những nhóm bạn đồng lao đang lịm chết hoặc đang hôn mê tưởng tượng tới những món ăn.
Trông họ đi giống như một cuộc diễn hành ma quái của những bộ xương người… những bộ xưong nhất định chống đối tử thần. Ánh nắng đỏ ối buổi chiều đã tắt. Từng khoảnh xanh mờ trải lên thung lũng, tràn ngập các ngọn đồi. Lính canh vẫn không có mặt nơi chòi gác.
Đêm xuống. Đội trưởng Bolte không tới để điểm danh.
Lewinsky mang tin tới. Bọn SS đang chuẫn bị. Quân đội Mỹ sẽ có mặt tại đây trong một hoặc hai ngày. Ngày mai sẽ không có chuyến phát lưu. Neubauer đã xuống phố. Hắn cười nhe răng :
– Chẳng còn bao lâu nữa! Thôi tôi về!
Hắn dẫn theo ba người đã lẩn tránh ở Tiểu trại mấy ngày qua.
– Không có gì cả. Không súp, không bánh mì. Lệnh của Weber.
– Còn trại lao tác?
– Cũng không luôn. Toàn trại đều như thế.
Berger quay lại:
– Bạn nghĩ sao? Chúng nó phát thêm quần áo lót nhưng lại cúp phần ăn.
509 chỉ vào hai luống ngọc trâm mới trồng dài hai bên cửa:
– Mình lại có thêm loại hoa này.
– Hay là bọn chúng bảo mình ăn hoa.
– Không được đâu. Nếu mất mát là chúng cúp khẩu phần luôn cả tuần.
Lebenthal chen vào :
– Đây là lệnh riêng của Weber chớ không phải của Neubauer. Weber bực tức thái độ muốn làm thân của Neubauer để gỡ gạc khi chiến tranh chấm dứt. Chính mấy nhân viên văn phòng cho biết như thế. Bên trại lao tác cũng bảo vậy. Trâu bò húc nhau, bọn ruồi muỗi chúng mình chịu chết.
– Thế này là sẽ có hàng tá người chết.
Họ nhìn lên nền trời ửng đỏ. Lebenthal gỡ hàm răng giả ra xem xét rồi đặt trở lại.
Có tiếng rên yếu đuối từ các lao xá vọng tới. Tin bị cúp khẩu phần đã được truyền miệng rất mau. Những người Hồi lảo đảo ra cửa để ngửi thùng đựng súp xem có mùi đồ ăn còn sót lại hay không vì họ sợ những người khỏe mạnh hơn lường gat.
Những tiếng kêu rên vang dậy rõ ràng hơn. Một số tù nhân ngã quỵ xuống đập tay lên mặt đất trong khi đa số bò ra chỗ khác nằm bất động, mắt trợn trừng. Từ từ, tiếng kêu rên kéo dài hơn nhưng chìm xuống như một bản hợp ca tới đoạn tuyệt vọng chỉ còn những tiếng ngâm nga khốn khổ. Tiếng rên ư ử và tiếng móng tay cào vào vách, cào lên mặt đất khiến lao xá có vẻ giống như những chiếc hộp khổng lồ chứa đựng các loại côn trùng đang giẫy chết.
7 giờ tối, ban nhạc bắt đầu hòa tấu. Tiểu trại ngập tràn những âm thanh của nhạc bản “Bông hồng từ phương Nam” một bản nhạc mà Neubauer ưa chuộng nhất.
509 gượng gạo an ủi mọi người:
– Nếu chẳng có gì ăn thì bọn mình tự nuôi dưỡng bằng hy vọng. Cố nuốt lấy tất cả hy vọng còn sót lại. Cố nhai nuốt những tiếng súng đại bác đang tới gần. Phải vượt qua. Chúng ta sẽ vượt qua.
Nhóm Lão Làng ngồi thu mình sát vào lao xá. Đêm đầy sương và lạnh giá nhưng họ không cảm thấy lạnh bao nhiêu. Chỉ mới có mấy tiếng đồng hồ sau này đã có tới 28 người chết. Nhóm Lão Làng lột lấy quần áo của họ đế chống rét. Họ không muốn ở trong lao xá, quá cận kề với sự chết chóc.
Đã ba ngày họ không được phát bánh mì và đêm nay lại không có súp. Chết chốc cũng như bệnh dịch. Họ sợ nếu nhắm mắt ngủ thì cái chết sẽ tấn công bất ngờ không làm sao chống chỏi kịp. Họ ngồi bên ngoài quấn quần áo của những kẻ chết quanh người nhìn về phía chân trời. 509 cố phá sự im lặng đóng băng:
– Chỉ còn đêm nay thôi! Chỉ một đêm! Tin tôi đi. Neubauer sẽ hay tin và sẽ hủy lệnh cúp khẩu phần. Bọn chúng đã tới đường cùng. Đây là khởi điểm của giai đoạn cuối. Chúng ta đã chịu đựng nổi từ lâu. Hãy cố chịu đựng một đêm nữa!
Không ai buồn góp chuyện. Họ ngồi sát vào nhau không phải để giữ cho khỏi lạnh mà là để gia tăng bội số của lòng can đảm hầu đủ sức chiến đấu với tử thần. Một lúc sau, Berger đề nghị:
– Mình nói sang chuyện khác đi.
Rồi quay sang Sulzbacher, ông ta hỏi:
– Ra khỏi đây bạn định làm gì?
Sulzbacher ngập ngừng:
– Tôi hả? Thôi đừng nói chuyện đó, xui xẻo lắm.
509 hăng hái:
– Không xui đâu. Mình đã tránh nói vấn đề đó nhiều năm, bây giờ là lúc phải nói ra. Nhất là đêm nay! Còn đợi chừng nào nữa? Phải nuốt lấy hy vọng. Vậy, ra khỏi đây bạn làm gì?
– Không biết vợ tôi còn ở Dusseldorf không? Cả vùng này đều bị tàn phá.
– Nếu chị ấy còn ở Dusseldorf thì không sao. Tin tức qua máy thu thanh cho biết vùng này do người Anh kiểm soát.
– Nhưng nếu chết?
– Không nên nghĩ như thế. Bọn mình làm sao biết được những người ngoài trại.
Bucher chen vào:
– Và họ cũng không biết mình ra sao.
509 nhìn sang người bạn vong niên. Hắn không tiết lộ là cha Bucher đã chết. Bucher hãy còn trẻ. Vấn đề là hắn phải chung sống với ai, với một người nào đó. Meyerhof thắc mắc :
– Còn gì để nói nữa. Tôi đã bị giam hãm sáu năm rồi.
Berger hững hờ :
– Còn tôi thì đã mười hai năm.
– Lâu như vậy à? Ông làm chính trị?
– Không. Từ năm 1928 tới năm 1932, tôi chữa cho một bệnh nhân Quốc Xã, sau đó người này trở thành một lãnh tụ nho nhỏ. Ngay sau đó hắn không còn đến với tôi nhưng vẫn đến chỗ tôi làm việc vì một người bạn của tôi là chuyên viên chữa trị bệnh phong tình.
– Và hắn bắt ông?
– Dĩ nhiên. Để che giấu bệnh của hắn.
– Còn người bạn của ông?
– Bị bắn chết. Riêng tôi, nhờ làm như không biết gì cả nên hắn chỉ cho vào trại tập trung để phòng ngừa.
– Nếu hắn còn sống, lúc ra khỏi đây ông sẽ đối phó ra sao?
Berger suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu:
– Chưa biết phải làm sao.
Meyerhof chen vào:
– Nếu là tôi, tôi sẽ giết hắn.
Lebenthal trề môi:
– Để rồi bị tống giam lần nữa về tội sát nhân? Lại ở từ mười đến hai chục năm.
509 hỏi:
– Còn bạn, Leo, ra khỏi đây bạn làm gì?
– Tôi sẽ mở một cửa hàng bán áo choàng. Loại may sẵn.
– Bán áo choàng giữa mùa Hè sao Leo?
– Có những loại áo choàng mùa Hè chớ. Tôi còn bán áo mưa nữa.
– Sao bạn không mở một hiệu buôn thực phẩm? Thực tế hơn vì lúc đó nhiều người cần mà ở đây bạn cũng sành sỏi rồi.
Lebenthal đắc ý:
– Thế à?
– Cố nhiên.
– Bạn nói có lẽ đúng. Tôi sẽ nghĩ lại. Thí dụ như đồ hộp Mỹ. À, được lắm. Bạn còn nhớ thịt đùi không, nạc trắng tươi có chỗ hồng hồng…
– Câm miệng lại, Leo! Bộ điên hả?
– Đâu có. Tôi vừa chợt nhớ ra. Chẳng biết họ có chịu buôn bán với mình không? Nhất là với bọn mình?
Rosen xoay câu chuyện trở lại:
– Berger, ông định sẽ sống ra sao?
Berger lại dụi đôi mắt đỏ:
– Tôi định xin tập sự tại một nhà thuốc Tây. Với hai bàn tay gần như tàn phế này… chắc không thể hành nghề giải phẫu nữa. Còn bạn?
– Vợ tôi đã xin ly dị vì tôi là Do Thái. Từ đó tới nay không được tin tức gì cả.
Meyerhof tò mò:
– Chắc bạn sẽ đi tìm vợ?
Rosen ngập ngừng:
– Có lẽ nó phải làm thế vì áp lực.
Lebenthal vẫn tàn nhẫn một cách vô tư :
– Có thể vợ bạn bây giờ xấu xí lắm rồi. Nếu có gặp lại chắc bạn còn muốn chạy xa.
– Bọn mình có còn ai trẻ nữa đâu.
Sulzbacher ho khan:
– Chín năm. Con người đã thay đổi quá nhiều. Bạn bè, thân nhân và chúng ta nữa, đều là những kẻ lạ với nhau.
Giữa tiếng khua chân lạo xạo kéo lê của những người Hồi có tiếng chân chắc nịch hơn. Berger báo động:
– Coi chừng, 509!
– Lewinsky chớ không phải ai đâu.
Bucher thường đoán trúng người qua tiếng bước chân. Lewinsky tới gần:
– Các bạn ra sao? Thật là chán. Tôi bắt liên lạc với môt gã ở nhà bếp nhưng chỉ xin được có bánh mì vơi củ cải đỏ. Ít thôi, nhưng chúng ta có thể chia ra để cầm hơi.
Mỗi người được nửa miếng bánh nhỏ và một củ cải đỏ. Berger đưa cải đỏ trước rồi vài phút sau mới đưa bánh. Rosen vừa nhai vừa nói:
– Ăn vụng như thế này khiến chúng ta giống như kẻ phạm tội thật sự.
Lewinsky đáp gọn:
– Thế thì bạn đừng ăn.
Rosen biết ngay là Lewinsky giận đúng nên im lặng. Lewinsky lược thuật tình hình trong trại với giọng khàn khàn:
– Bọn chúng đều hoang mang. Tù thường phạm cũng hoang mang. Trật tự viên, đại diện lao xá, trưởng phòng đều hoang mang ngõ ý muốn về phe mình. Chúng tôi chấp nhận tất cả, để rồi chọn lựa sau. Trong số này có hai tên SS. Cả Hoffmann nữa.
Bucher ngạc nhiên:
– Có cả tên y sĩ thúi tha ấy nữa sao?
– Chúng tôi biết rõ hắn ta nhưng vẫn có chỗ xài được. Nhờ hắn mà được biết trong đêm nay sẽ có lệnh phát lưu.
509 và Berger đồng thanh hỏi:
– Sao?
– Phát lưu. Hai ngàn người.
– Chúng nó định dẹp trại à?
– Hiện thời chúng chỉ đưa đi hai ngàn thôi.
Berger lo ngại:
– Đó là điều mà mình lo sợ từ lâu.
– Chẳng sao đâu. Người thư ký tóc đỏ sẽ giúp mình. Lúc làm danh sách, anh ta sẽ canh chừng để không có tên ông. Người của chúng ta đã có mặt khắp nơi. Ngoài ra, có tin đồn là Neubauer hãy còn do dự.
Rosen nói chen vào:
– Chúng có cần gì danh sách. Ở trại trước của tụi này chúng cứ bắt càn rồi làm danh sách sau.
– Đừng quá lo như thế. Sự việc có thể biến đổi bất cứ giờ phút nào.
Rosen bất mãn:
– Sao lại bảo đừng quá lo.
– Nếu không có cách nào đối phó, mình có thể trốn vào bệnh xá. Tên y sĩ Hoffmann bây giờ đã hoàn toàn để mặc cho mình. Hiện thời có một số người của chúng tôi đang ở đó.
Bucher lo cho Ruth:
– Chúng có định phát lưu tù đàn bà không?
– Không. Nữ tù nhân ở đây chẳng có bao nhiêu.
Lewinsky xuất hiện bất thần và bảo Berger:
– Đi theo tôi. Tôi tới tìm ông đây.
– Đi đâu?
– Tới bệnh xá. Ông nên lẩn tránh vài hôm. Một hay hai hôm thôi. Chúng tôi có một cái buồng nhỏ bên cạnh khu sưng màng óc. Không một tên Quốc Xã nào dám bén mảng tới.
– Nhưng tại sao vậy?
– Ngày mai, bọn chúng thanh toán nhóm lao tác lại lò thiêu. Không thể biết có tên của ông trong danh sách hay không. Tuy vậy, phải đề phòng trước. Ông đã chứng kiến quá nhiều, chắc bọn nó không tha. Thay đồ đi. Đổi quần áo với một xác chết nào đó rồi đi với tôi.
– Còn người đại diện lao xá?
Ông lão Ahasver đáp ngay:
– Để tụi này lo. Hắn không dám hé răng đâu.
– Mau đi, Ephraim!
509 hối thúc Berger. Họ đang ngồi bên phía lao xá khuất góc với chòi canh. Berger vừa đổi quần áo với người chết xong thì Lewinsky căn dặn:
– Các bạn nhớ báo cáo là ông ta đã chết.
– Được rồi. Tên SS lao xá trưởng không biết mặt ông ta. Chỉ cần đối phó với gã đại diện thôi.
Rosen nhìn theo Berger:
– Chúng lại nghĩ tới chuyện phát lưu rồi. Sulzbacher nói đúng, không nên nói chuyện tương lai. Xui xẻo lắm.
– Vô lý! Xui xẻo sao mình lại có đồ ăn và Berger được an toàn. Vả lại cũng chưa chắc Neubauer ký lệnh.
Một người phía sau 509 lên tiếng:
– Berger có trở lại không?
Rosen đứng lên, cay đắng:
– Ông ấy được an toàn, khỏi lo bị phát lưu.
509 phát cáu:
– Im miệng đi!
Hắn nhìn quanh. Phía sau hắn là thằng bé Tiệp Khắc Karel. Hắn hỏi thằng bé :
– Sao không ở trong lao xá?
Karel nhún vai:
– Tôi tưởng là ở ngoài này còn có một miếng da nào đó để nhai.
Ông lão Ahasver trao miếng bánh và củ cà rốt mà ông đã để dành cho nó. Thằng bé nhai chầm chậm. Được một lúc nó bỗng để ý mọi người đang nhìn nó. Nó đứng lên đi ra chỗ khác. Lúc trở lại, nó đã thôi nhai.
Lebenthal nhìn đồng hồ:
– Mười phút. Giỏi lắm Karel. Với tao thì chỉ mười giây thôi là nuốt xong.
509 chợt nhớ:
– Mình có thể đổi đồng hồ lấy đồ ăn chớ?
– Đêm nay thì không đổi chác gì được đâu.
– Mình có thể ăn gan cho đỡ đói.
Thằng bé Karel nói rất tự nhiên; hai ba người đồng hỏi:
– Mày nói sao?
– Lấy gan ăn. Nếu cắt đúng chỗ là ăn được.
– Cắt ở đâu?
– Mấy người chết kia kìa.
Ỏng lão Ahasver ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi:
– Mày có ý nghĩ đó từ lúc nào?
– Ở trại Brno. Blatzek bảo là thà ăn để sống còn hơn chịu chết. Ông ta nói người chết đằng nào cũng chết rồi. Ông ấy dạy tôi nhiều thứ như giả chết, cách chạy đâm qua đâm lại khi bị bắn ở phía sau. Tôi còn biết cách làm thế nào để khỏi chết ngộp khi bị chôn tập thể để rồi ban đêm moi đất chui ra.
– Mày biết khá nhiều đó.
– Biết chớ. Nếu không biết làm sao tôi có mặt ở đây?
509 chen vào:
– Thôi, nói sang chuyện khác đi.
Tiếng đại bác từ xa vọng tới. Người tù Do Thái già lắng nghe một lúc rồi chậm chạp nói :
– Khi người Do Thái đầu tiên bị sát hại tức là lúc chúng phá vỡ quy luật của sự sống. Chúng bảo “Ăn nhằm gì một vài tên Do Thái so với nước Đức vĩ đại?” Chúng bất chấp. Lúc đó Quân đội của chúng không thuộc quyền lãnh đạo của những tên sát nhân. Quân đội có thể ngăn cản cuộc tàn sát đó chỉ trong một ngày thôi nhưng lại không làm. Bỏi vậy, bây giờ họ bị Chúa trừng phạt. Một mạng người là một mạng người, dầu là mạng của kẻ nghèo hèn nhất.
Từ việc “giải cứu thịt lợn” đến đề xuất “giải cứu giáo viên.”
Vào năm 2006, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo Dục – Đào Tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nói Bộ sẽ trình Chính phủ đề án cải cách tiền lương nhà giáo để đến năm 2010, nhà giáo có thể sống được bằng đồng lương của mình! Công nhân, viên chức nhà nước, ai đi làm cũng phải có đồng lương đủ sống, nói theo câu nói thời thượng, lương không đủ sống, không lẽ “cạp đất mà ăn!” Đã 11 năm trôi qua, ông Nguyễn thiện Nhân đã vào Saigon, nắm chức Bí thư Thành Ủy Saigon, nhưng lương giáo viên giờ này cũng chỉ đủ để cầm hơi qua ngày.
Để giải quyết tình trạng này, Việt Nam cần đề xuất, thay vì lấy tiền từ các dự án hoang tưởng, như tượng đài Hồ Chí Minh, các cổng chào hào nhoáng, có tính cách phô trương, thì ông Tiến Sĩ Lê Trường Tùng, Hiệu trưởng Đại Học FPT, có một đề xuất khá “lạnh người” là bắt phụ huynh đóng thêm 100,000 ĐVN, ngoài khoảng 10 thứ phí tổn mà lâu nay phụ huynh học sinh đã phải “oằn lưng” ra chịu vì tương lai con em.
Quỹ này được mang tên là “ Quỹ giải cứu giáo viên,” hoặc “Quỹ Khuyến Dạy,” thực chất là góp tiền để trả thêm lương cho giáo viên, nhưng được lý luận là để “nâng cao chất lượng giáo dục!”
Một ví dụ như trường trung học cơ sở Nam Thành Công Hà Nội, số thu trên mỗi đầu em học sinh lên đến 4 triệu đồng, một học kỳ. Con số 100,000 ĐVN này thực chất là tiền lương trả thêm cho giáo viên, không khác ngày xưa con em học trường tư thục phải đóng tiền trường hàng tháng.
Hiện nay đồng lương của giáo viên công lập thấp nhất là 1.3 triệu đồng, sau 10 năm thâm niên được 3.5 triệu đồng/tháng thì làm sao cho đủ sống.
Ông cho rằng, cần “giải cứu” ngay giáo viên các trường tiểu học công lập vì đó là tương lai của 7.7 triệu học sinh tiểu học công lập.
Từ đây giáo viên vào lớp sẽ mặc cảm chính các em học sinh đang đóng tiền để nuôi mình. Chuyện lương tiền là chuyện của nhà nước chứ không phải trách nhiệm của phụ huynh học sinh, “giải cứu giáo viên” như đề nghị của ông tiến sĩ, thì ai “giải cứu phụ huynh?” đang lo trăm thứ tiền để cho con được ngồi dưới mái trường XHCN.
Về phía giáo viên, hầu hết không tán thành “đề xuất” khi còn chút liêm sĩ. Một giáo viên trường Tiểu Học Ngô Gia Tự (Hà Nội) đã nói: “Chúng tôi không phải ăn mày trên mồ hôi công sức của phụ huynh học sinh.” Một giáo viên khác tại Sài Gòn, cho hay cá nhân ông không đồng tình việc lập quỹ để “giải cứu giáo viên” như “giải cứu dưa hấu,” “giải cứu thị lợn” rớt giá!
Chúng ta cũng đã biết chuyện “giải cứu” khi một nhóm sinh viên Saigon tình nguyện vay tiền mua 20 tấn dưa với giá cao gấp 6 lần so với thương lái, để “giải cứu dưa hấu” cho nông dân Quảng Ngãi. Ở Hà Nội thì có phong trào “giải cứu thịt lợn” để giúp nông da bị thịt heo rớt giá vì sự chèn ép của thị trường thịt lợn Trung Quốc. Việc chênh lệnh của cung – cầu trên thị trường là do đường lối chủ trương của chính phủ (do đảng dắt đường), về sản xuất, xuất nhập cảng, vì sao phải “giải cứu?” Chính quyền cho rằng chia sẻ khó khăn là truyền thống của người Việt, và “giải cứu thịt lợn” đang trở thành phong trào lan rộng khắp xã hội, có ý nghĩa nhân văn (!)…”
Theo đường lối và huấn thị của Hồ Chí Minh (Thanh Hóa 4-1947) thì “giải pháp cơ bản của thực hành dân chủ và tạo sự đồng thuận đoàn kết trong nhân dân là giải pháp “nhân dân và chính phủ cùng làm!” Ông Hồ cũng nói thêm: “Không phải chính phủ bỏ ra 10, 15 triệu để mở lò máy, làm cái này cái khác. Phải đem sức dân, tài dân, của dân để làm cho dân!”
Phải đem sức dân, tài dân, của dân… để làm cho dân vậy thì đảng và chính phủ ở đâu?
Trong khi đảng, bộ chính trị cai trị đất nước, ngoài xương máu nhân dân đóng góp cho đảng thắng lợi và cầm quyền, dân còn lo toan trăm thứ thuế, mỗi việc đều kêu dân đóng góp. Làm đường, thuỷ lợi, xây cầu… là việc của chính phủ lấy từ tiền thuế của dân, nếu dân đã đóng thuế rồi mà việc gì cũng kêu gọi dân đóng góp, dưới danh nghĩa mỹ miều “cùng làm” (nhân dân và nhà nước cùng làm) Nhưng khổ nỗi “nhà nước và nhân dân cùng làm” nhưng nhà nước ở vị trí chủ đạo, ở vị thế quyết định.
Chờ việc. (Nguyễn Đình Hà)
Một số hộ dân tại phường Bắc Hà (Hà Tĩnh) phản ánh tới báo chí trong nước về việc phường kêu gọi dân ủng hộ thiện nguyện, nhưng lại “ra giá” tối thiểu 500 ngàn đồng.
Chuyện lo cho thương binh liệt sĩ là việc của nhà nước, sao Hà Nội lại kêu dân đóng tiền để sửa chữa, nâng cấp nhà bia tưởng niệm các liệt sĩ, hay xây nhà tình nghĩa? Quảng nam kêu gọi dân đóng tiền để xây nhà văn hoá. Cao Bằng bắt dân đóng tiền “xoá đói giảm nghèo” tức là bắt dân ăn lại cái đuôi của dân, chứ chính quyền không móc hầu bao của mình. Một quận ở Dak Lắc kêu dân đóng góp tiền để chào mừng 30 năm ngày thành lập quận. Hải Phòng đã có lần kêu dân đóng góp để xây dựng công trình “nhạc nước” cả chục tỷ…
Việt Nam bây giờ đã có phong trào “giải cứu” vĩa hè, “giải cứu” thịt lợn ế hàng, đến “giải cứu” món dưa đỏ thặng dư, chưa biết may mai còn đến món hàng ế ẩm nào nữa. Bây giờ lương giáo viên không đủ sống, cần “giải cứu” lại có đề xuất móc túi cha mẹ học sinh. Nay mai sẽ đến lượt bệnh nhân phải “giải cứu” bác sĩ, y tá; nhân dân xử dụng giao thông “giải cứu” công an đứng đường; nhân viên, cán bộ “giải cứu” thủ trưởng.
Việt Nam hiện nay có mức nợ công/GDP cao hơn hẳn các nước trong ASEAN, gấp đôi nhiều nước và gấp rưỡi Thái Lan là nước có mức nợ công/GDP đứng sau Việt Nam, ai là người “giải cứu” cho Việt Nam.
Chẳng may đảng lâm bệnh, thì toàn dân phải hiệp đồng mà “giải cứu” đảng.
Và một ngày kia, tất cả phải cùng đồng lòng đứng dậy để “giải cứu” cho quê hương.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.