This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 8 Thứ Hai, 5 tháng 1… Má ơi, má, Má làm nghề điếm phải không má. Chú con Hằng nói chuyện với nó thế. Con hỏi điếm là gì thì nó cũng không biết. Vì chú nó chỉ nói thế thôi. Có thật không má? Sở điếm của má có to không? Má làm chức gì ở trong ấy? Mà sở điếm thì buôn gì hở má. Sao má cứ giấu con. Nhưng thôi, con không cần hỏi má nữa. Con hỏi Ma soeur cũng biết. Mấy ngày đi chơi với má vui quá. Bây giờ ngồi nghĩ lại thấy tiếc thời gian đi thật là nhanh. Con chỉ mong có Noel cả năm để được về với má. Sang năm má lại cho con đi như thế nữa nhé. Lần đầu tiên con được ra vùng quê. Bây giờ con hãy còn nhớ những cánh đồng mông mênh, có những con cò trắng bay trên trời xanh. Con có kể cho lũ bạn con nghe, chúng nó cũng thích lắm vì chưa đứa nào được đi cả. Chúng nó chỉ kể được chuyện đi xem đèn ở nhà thờ, đi ăn réveillon ở nhà bạn thôi, chán lắm má ạ. Má ơi má, sáng hôm nay về, má có đi docteur không. Hôm má ho con sợ quá, mà bây giờ vẫn còn sợ. Dạo này má xanh lắm, má phải chăm uống dầu cá với sirop mới được. Má hứa với con gái má đi nào. Con cũng chả uống đều là gì. Mà dạo này đêm ngủ má haygiật mình lắm đấy nhé. Có hôm má còn nói mê nữa. Sao má không gọi ba về đưa má đi chữa thuốc. Ba tệ lắm, con ghét ba rồi. Con không thèm hỏi thăm ba nữa đâu. Vì ba có viết cho má lá thư nào đâu. Má nói dối. Hôm má đi chợ, con tìm trong ví, trong va-li của ma,ù chả thấy lá thư nào cả. Nhưng má đừng giận con nhé má. Con không làm mất gì đâu. Con cũng không tò mò đâu. Nhưng con định ghét ba thì con tìm thư của ba đấy. Cả Gigi cũng ghét ba nữa. Chị Hai bảo chỗ ba làm cách nhà ta mấy chục cây, sáng đi, chiều về được mà ba không thèm về. Má phải viết thư lên trách ba mới được nhé má. Có lẽ tại vì ba, mà má buồn đấy. Má cười không vui nữa. Mà những lúc không nhìn con thì mặt má cứ rầu rầu. Con biết má ạ. Nhưng con chỉ thương má thôi. Nếu má thấy nhớ con thì má cứ đến trường đón con ra. Con bỏ học về với má một hôm cũng được. Con không bắt má dẫn đi xa nữa. Chỉ nằm với nhau thôi. Con kể chuyện cho má nghe, gãi lưng cho má, nhé má. Má ạ, Gigi bẹp mất một mảng đầu rồi, vì đêm nằm con đè lên nó. Chắc là nó khóc “tiếng nó” ghê lắm má nhỉ. Con vội vàng đem nó đến đốctờ Hương, là con Hương ấy. Này nhé, Gigi có con là chị này, có con Hằng là Ma soeur này, có con Thúy là chị Hai thổi cơm cho nó này, lại còn con Hương là docteur nữa. Hôm nó bị bẹp đầu ai cũng đến hỏi thăm. Rồi tất cả đem cáng nó xuống bếp tìm chị Hai thật để xin chị ấy bát nước sôi. Chúng con nhúng đầu nó vào đấy. Nhưng nó không khỏi. Con Thu bảo nó chết rồi, định bàn đem nó ra chôn ở vườn. Nhưng đời nào con nghe. Gigi không đau mấy đâu, để nó ngồi mắt nó vẫn mở, mồm nó vẫn cười. Bao giờ thì nó cũng cười má nhỉ. Bây giờ thì Gigi phải nằm ở bệnh viện nhà con Hương. Hương bắt nó phải dưỡng bệnh những một tuần. Đêm Hương ôm nó ngủ, thỉnh thoảng lại cặp sốt cho nó. Thế mà con cũng phải tốn về nó 15 cái bon point tiền chữa chạy rồi đấy má ạ. Kỳ sau má đến con sẽ bế cả nó về cho má hỏi thăm nó. Yêu má, nhớ má, hôn má thật nhiều.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 7 Thứ Năm, 18 tháng 12… Má ơi, má, Ồ, quà Noel của má đẹp quá, nhiều quá. Trong những quà tặng các Ma soeur của lũ chúng nó, chẳng có món nào quí bằng của má. Các soeur thích lắm. Các bà ấy bảo sẽ viết carte chúc mừøng Noel cho má. Con hãnh diện lắm. Con đọc mãi lá thư của má gửi cho con. Thế là má không đón con ra ngoài ngay từ mai rồi. Ở sở má không cho nghỉ Noel hay sao mà lại bắt má đi công tác ở xa hàng bao nhiêu cây số thế? Nhưng thôi, con sẽ chờ má đến sáng 24. Sáng 24 thế nào má cũng phải đến đấy nhé. Đồ đạc của con đã sửa soạn xong từ đầu tuần rồi. Má cứ đến là đi về ngay. Gigi cũng thích về nữa. À, Noel này ba có được về không? Hộp couleur với bộ sách tập vẽ ba mua tặng con thật là đẹp. Con cũng thích vẽ nữa. Nhưng ba quên mất quà của Gigi. Gigi chẳng có gì cả. Con cho nó cái nơ mà má tặng đấy. Thích quá, nghĩ đến khi được má dẫn về vùng quê ở một tuần con sướng quá đi mất. Con sẽ được ngủ với má, được ôm vào cổ má mà hôn, được ngủ gọn trong lòng má cả đêm đến sáng. Gigi mà biết sướng thì nó cũng sướng lắm má ạ. Con bày kẹo, bánh của má lên mặt bàn. Gigi ngồi bên mắt mở thật to. Ngồi ngậm kẹo mà đọc thư của má cũng thích mê đi rồi. Chỉ tiếc ngày 22 má không có ở đây mà đi xem chúng con diễn kịch. Con nhảy múa này, phải đơn ca, đồng ca mấy bản nhạc nữa. Bây giờ con không xấu hổ nữa đâu. Các soeur bằng lòng lắm. Bà Cécile hứa tết tây ra thì cho con vào ban đồng ca ở nhà thờ lớn má ạ. Ba mà về con hát cho ba nghe thì ba cũng thích. Má ạ, mỗi đứa chúng con phải viết chúc tụng Noel cho một Ma soeur. Con chép cho má xem bài của con gái má nhé. Ma soeur Félicité.Nhân dịp Lễ Chúa Giáng Sinh năm nay con kính mừng Ma soeur bằng tất cả lòng của con. Trong ảnh Noel mà hàng năm Ma soeur vẫn thưởng cho chúng con, thì ở trên mái nhà thờ và những căn nhà bé xíu có tuyết. Cái chuông mà nhà thờ vẫn rung ở bên Pháp vào dịp Noel là chỗ đậu của mấy con chim. Chúng nó hát mừng Noel: Mừng Chúa giáng sinh ở trong hang Bê Lem. Trên đỉnh nhà thờ con trông thấy cả những vì sao sáng. Sáng hơn cả những ánh lửa màu vàng chiếu ra từ những khung kính của nhiều nhà. Chắc đêm Noel họ đang quây quần vui vẻ ở trong ấy. Nhà thờ lớn ở Hà Nội đây không có tuyết và đêm Noel thường thường cũng không có sao mọc. Nhưng những ngọn đèn chăng từ nóc xuống tượng Đức Bà cũng đẹp và vui. Nhất là lòng chúng con lại càng rộn ràng khi có những hồi chuông rung từ lúc trời còn sáng cho đến tận lễ mi- sa. Đêm Réveillon, con không nghe thấy tiếng hát của những con chim nhưng có nhiều tiếng hát của đoàn đồng ca. Ánh sáng của những ngọn nến trắng chiếu lên trên những cái áo trắng, trên đầu có vòng hoa trắng. Tất cả xếp hàng dưới chân tượng Chúa. Chúng con sung sướng nhìn các cha, các soeur mà các người cũng nhìn chúng con bằng đôi mắt đen và hiền từ. Chúng con muốn quì xuống chân tượng Chúa, xin ơn trên ban cho Ma soeur phước lành, vì Ma soeur là người vì Chúa, mà quên mình nghĩ đến kẻ khác. Ma soeur cũng vì chúng con mà dạy dỗ chúng con trên đường đến với Chúa. Ma soeur dọn mình cho chúng con gần Chúa. Chúng con nguyện xin vâng lời và biết ơn. Xin Chúa phù hộ cho Ma soeur đời đời.
baotreonline.com Tim Nguyễn Post on December 9th, 2021
Post by Sơn râu 7 Nov 2024
Hôm nay có phải là Thu… Có vẻ như đây là một câu hỏi, khá là bâng quơ, không biết hỏi mình hay hỏi ai. Và khi vừa cất tiếng lên là thấy ngay bầu trời chập chùng của mùa Thu và nghe vang lên trong đầu những câu thơ của Ðinh Hùng ngày nào. Ðồng thời cũng nhớ lại những ca khúc đã làm nên tâm cảm của mình một thời tuổi trẻ. Vậy hôm nay nhân buổi nhàn hứng, trong khí thu trầm lắng, Nguyễn tôi xin được cùng bạn đọc bàn phiếm đôi dòng về những hương sắc không bao giờ nhạt phai trong tim người. Hôm nay có phải là thu… Câu thơ của Ðinh Hùng quả thật đơn giản như một lời nói, ấy vậy mà gợi lên trong lòng biết bao cảm xúc. Vâng. Hôm nay có phải là thu / Mây năm xưa đã phiêu du trở về… Mình đọc và thuộc bài thơ từ thuở còn học Trung học ở Huế, nghĩa là lúc mộng chưa phai tàn, đời chưa vấp ngã đôi phen và vòng kim cô Cộng Sản chưa thít chặt lên đầu dân tộc. Bài thơ mùa Thu thật đẹp ấy đã ở lại trong đầu qua suốt năm sáu chục năm, bất chấp những đợt sóng bể dâu, không thèm biết đến những hệ lụy nhân sinh và áo cơm hành hạ. Hôm nay, bầu trời Dallas nhiều mây xám, và hình như có mưa thưa, tiếng sấm chuyển bụng ì ầm đâu ở cuối chân trời. Trí óc lại trở về với những câu thơ mùa Thu của Ðinh Hùng bèn ngồi chép ra giấy gởi qua làn sóng hư không về nơi phương trời viễn mộng để ai đó đồng cảm đồng tình thì đưa tay đón nhận. Em đi hoài cảm một mình / Hai lòng riêng để mối tình cô đơn / Hôm nay tưởng mắt em buồn / Ðã trông thấp thoáng ngọn cồn bóng sương / Lạnh lùng trăng gió tha hương / Em về bên ấy ai thương em cùng… Vâng. Cảm ơn thi sĩ Ðinh Hùng. Cảm ơn mùa Thu. Nói về những bài thơ mùa Thu thì nhiều lắm. Hàng ngàn bài, khởi đi từ Thu Hứng của Ðỗ Phủ rồi đến Cảm Thu Tiễn Thu của Tản Ðà. Ngoài ra, kẻ nào đã có cắp sách đi học lại không thuộc lòng Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư (thật ra, bài này chẳng để lại dấu tích gì bao nhiêu trong đầu óc kẻ này). Rồi nào là Chanson d’Automne Thu Ca của Paul Verlaine, Automne Malade Mùa Thu Ốm của Guillaume Apollinaire… Cũng như âm nhạc, ít ra cũng có tới hàng trăm bài nhạc viết về mùa Thu. Phải nói hầu hết đều hay. Ai không yêu Giọt Mưa Thu, Buồn Tàn Thu, Thu Quyến Rũ, Em Ra Ði Mùa Thu, Mùa Thu Chết, Les Feuilles Mortes The Falling Leaves?… Thế nhưng, riêng đối với kẻ này đặc biệt có hai bài thân thiết nhất và dấu yêu nhất mỗi khi lòng bâng khuâng tự hỏi “hôm nay có phải là Thu”. Ðó là Thu Vàng của Cung Tiến và Nhìn Những Mùa Thu Ði của Trịnh Công Sơn. Em sẽ hỏi, hơi cao giọng và ray rứt: Tại sao? Tại sao? Thì đây là câu trả lời: Chẳng tại trăng tại sao gì cả. Hay chỉ tại vì hai bài vừa nói có dính chút xíu tới những năm tháng màu xanh của kẻ này. Thu Vàng với năm đầu tiên làm sinh viên trường Luật -có cả Hồ Ðăng Tín và Cung Tiến chung lớp, chung bàn. A, những chiều xưa, gõ bước đi dưới hàng cây sao đường Duy Tân, lòng chưa yêu ai và chưa vướng bận những tính toán dung tục của cuộc đời. Nhạc của Cung Tiến đã tạo nên không gian trong sáng ấy. Có nhớ bâng khuâng, có chút chán chường nhưng chưa hề biết tới u sầu, tuyệt vọng. Chiều hôm qua lang thang trên đường / Hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương / Chiều hôm nay trời nhiều mây vương / Có mùa Thu vàng… Vâng. Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi… Cung Tiến viết Thu Vàng là để tặng Hà Nội thời thơ ấu của ông. Với kẻ này, Thu Vàng cũng là một loại les premières fleurs… những bông hoa đầu tiên trong cuộc đời.
Và Nhìn Những Mùa Thu Ði. Theo tài liệu của Ðặng Tiến và Hoàng Nguyên Nhuận (tức Hoàng Văn Giàu, khét tiếng đấu tranh thời thập niên 60, ở Huế) thì Trịnh Công Sơn sáng tác bài này vào năm 1967. Hoàng Nguyên Nhuận còn chú thích thêm một câu xanh rờn: “Năm 1967, giữa lúc chúng tôi (tức anh ta và đám phản chiến đi theo MTGPMN) còn lận đận trong tù vì chiến dịch Nước Lũ, thì Trịnh Công Sơn vẫn còn mơ màng nhìn những mùa Thu đi”. Thế đấy. Nhưng thôi mặc xác chiến dịch Nước Lũ con quỷ sứ gì đó của anh chàng Hoàng Nguyên Nhuận, chúng ta nhìn bài ca dưới một ánh sáng khác. Nhìn những mùa Thu đi / Anh nghe sầu lên trong nắng… Năm 1967, triết học hiện sinh và phong trào hippie cùng lối sống bụi đã quét qua đời sống thanh niên ở các đô thị miền Nam. Thế nhưng, ca từ trong “Nhìn Những Mùa Thu Ði” vẫn chứa đầy tình và mộng. Cùng với sầu lên trong nắng, còn có tháng ngày chết trong Thu tàn, có lãng quên và mộng nhạt phai… Có điều cần ghi nhận là ở đây, nỗi sầu chưa đậm nét, chưa tới độ chín muồi đau đớn của “đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời / như một lời chia tay”… Không gian trong bài ca có nắng trên hàng cây công viên, có gió heo may se lạnh và đặc biệt, có màu tím loang trên hè phố, mang nỗi buồn lãng du bụi bặm của thời đại. Từ màu vàng của mùa Thu Hà Nội bầu trời Cung Tiến, chuyển qua màu tím buổi chiều xác xơ buồn của Huế, ta thấy dường như tâm hồn vừa bước qua một ngưỡng nào đó, trước khi đi dần vào thế giới của cơn ác mộng chiến tranh, mang khuôn mặt dữ dằn, khốc liệt. Dẫu thế nào đi nữa, với Nguyễn tôi, thì Hôm Nay Có Phải Là Thu, và Thu Vàng, cùng với Nhìn Những Mùa Thu Ði, là cả một thời đầy xúc cảm trong sáng và mơ mộng không bao giờ mất dấu tích.
baotreonline.com Tim Nguyễn Post on June 14th, 2024
Post by Sơn râu 7 Nov 2024
Hình bóng người cha được nhắc nhiều trong văn chương và âm nhạc. Không thiếu những người cha đã làm lụng cực nhọc một đời để nuôi con khôn lớn, thành đạt. Lại có những người cha xả thân che cho con qua cơn hỏa hoạn, bão tuyết …Cũng có những người cha bị thảm nạn, để lại cho con bao nỗi đau buồn tiếc thương như trong phim Will của đạo diễn Eusong Lee, đã đoạt giải tại The Student Academy Award vào ngày 8 tháng 6.2013. Mở đầu và kết phim là lời của người cha được đọc bằng một giọng nam cảm động, “con gái, cha sẽ không sao đâu, cha sẽ trở về…” Phim kể, người cha là một trong hàng ngàn nạn nhân của thảm họa khủng bố ngày 11 tháng 9, 2001 tại World Trade Center, buổi sáng ông chia tay con gái đi làm và rồi không về nữa, cô bé với nỗi nhớ thương cùng ý muốn mãnh liệt đã cố gắng với món đồ chơi yo-yo (mà người cha cho trước khi đi làm đã cho bé) để quay ngược thời gian về lại thời điểm lúc sáng cha chia tay, và cái chết đã không xảy ra. Phim dài chỉ 4 phút, hình ảnh được thể hiện bằng những nét cắt kim cương như những vết buồn sắc nhọn cứa vào cảm xúc. Nhớ năm nào ngày Father’s Day. Nguyễn ngồi nghĩ đến bao chuyện trên đời rồi nghĩ đến cha mình. Và bài hát Papa bỗng trở lại trong tâm trí. Đã nhiều, rất nhiều lần mình nghe Paul Anka hát ca khúc này và mỗi lần nghe lại rưng rưng nước mắt. Lại sắp đến ngày Father’s Day. Đức Duy với giọng khàn khàn hát Papa cũng rất xúc cảm. Tới đây gặp Duy thế nào cũng sẽ bắt hắn hát lại.
Papa của Paul Anka – nguồn youtube Trở lại với bài Papa của Paul Anka, ca từ bài hát khởi đầu như sau: Everyday my papa would work To try to make ends meet To see that we would eat Keep those shoes upon my feet Ngày lại ngày cha làm việc cố gắng nuôi gia đình để chúng tôi có cái ăn và chân tôi được mang giày Mỗi đêm, cha bế tôi vào giường, hôn lên trán tôi, sau khi cầu kinh. Và rồi, có những năm gian khổ. buồn rơi nước mắt, nhưng rồi cũng qua. Chúng tôi đều mạnh mẽ dẫu khốn khó nhưng cha kiên cường và có mẹ một bên góp sức. Và rồi thời gian trôi qua, cha ngày một già đi, mẹ ốm đau bệnh tật. Một ngày kia mẹ qua đời và cha hoàn toàn suy sụp, người kêu lên: “Trời ơi, sao lại là bà ấy? Sao không mang tôi đi?” Mỗi ngày cha ngồi khóc nức trên chiếc ghế dựa và không bước lên lầu nữa vì không có mẹ trên ấy. Thế rồi một hôm cha bảo tôi: Con cứ đi đi tạo lập cuộc đời của riêng mình. Đừng lo lắng. Để cha một mình không sao. Và cha nói: Có những việc con phải làm. Có những nơi con phải được nhìn thấy. Và đôi mắt cha buồn thật là buồn khi cha nói lời chia tay với tôi. Mỗi lần tôi hôn con tôi lời cha lại vang lên – quá đúng. Trẻ con sống qua sự đùm bọc của người cha, hãy để chúng lớn lên và chúng sẽ ra đi. Tôi nhớ từng lời cha nói với tôi. tôi hôn các con tôi và cầu nguyện chúng sẽ nghĩ tới tôi như thế. Một ngày nào đó … Nội dung bài Papa của Paul Anka là như thế. Tình cảm cha con ở đây thật tuyệt vời. Cha của kẻ viết những dòng này cũng có những tình cảm như thế và đã tận tụy làm việc nuôi mình khôn lớn. Tuy nhiên do điều kiện địa lý thổ ngơi và những biến chuyển của thời thế có điều khác với người cha của Paul Anka. Những năm ấy, khoảng 1944-46 đang làm ăn buôn bán ở tỉnh Khongsédone, cha và anh của Nguyễn tham gia hoạt động bí mật chống Pháp nên bị bắt đưa đi giam ở nhà tù của tỉnh Paksé thuộc miền Bắc nước Lào. Nguyễn lúc ấy chừng 10-12 tuổi được mẹ sai đi thăm, bới xách cho cha và anh. Buổi đầu tiên từ nhà trọ mang đồ ăn vô thăm cha, nhằm giờ ăn, tù được đưa vào một phòng chung. Nguyễn và mấy người đi thăm nuôi có mặt ở đó. Cha xuất hiện trong dáng dấp gầy xanh, tiều tụy. Nguyễn chỉ biết đứng nhìn và khóc. Ở Paksé không bao lâu thì cha và đám tù được đưa đi Attopeu đất lưu đày. Đường xa diệu vợi, núi non chập chùng. Nguyễn và một thằng bạn cùng tuổi mang theo thức ăn thăm nuôi đi nhờ xe bò chở lúa từ Khongsédone tới Saravane rồi ngừng lại nghỉ ngơi ở nhà Dì Sáu, chờ theo xe hàng lên Attopeu. Đường đi muôn vàn cực nhọc. Nguyễn bé tí phải ngồi trên mui xe. Hết một ngày dài mới tới nơi. Tới Attopeu Nguyễn và thằng bạn xin ở tạm trên gác nhà một đồng hương rồi vào nhà giam thăm cha. Đây là đất lưu đày giữa vùng núi non trùng điệp nên đời sống của tù tương đối thong thả. Nguyễn đem đồ ăn tiếp tế vào với cha và anh, nhiều hôm ở lại luôn trong đó. Ăn chung trên sàn nhà lao, tối còn nghe ca hát, ngày đi tắm ở con sông rừng gần đó. Dòng sông sâu thẳm, nước chảy xiết, không bao giờ quên. Khoảng 2 năm sau, 1948, cha và đám tù nhân người Việt ở Attopeu được trục xuất về Việt Nam. Đoàn xe ghé Khongsédone đón gia đình Nguyễn và một hai gia đình khác nữa. Đi suốt mấy ngày, qua đèo Lao Bảo thì về đến lao Thừa Phủ Huế. Nguyễn cũng ở đó với cha chừng một tuần thì cả nhà được về sống ở Vỹ Dạ. Nhớ lại tuổi nhỏ với hình bóng cha lòng này cũng thấy được an ủi. Đây là lần đầu tiên Nguyễn kể lại và viết ra. Ngoài ra cũng có thơ viết về cha lúc mình đi tù ở Cẩm Nhân, Thanh Chương. Các ông Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm, Tô Thùy Yên … hồi ở trong trại đều đã có đọc. Hình bóng cha giờ đây như trong huyền sử, mang không khí Cựu Ước của thời hoang sơ. năm năm. ta qua vùng thảo nguyên nghe mơ hồ ngôi sao biếc gọi
cha đã đi qua vùng thảo nguyên gió mùa xưa chuyển cơn giông lớn vang thiên thu. chớp bể mưa nguồn nước vượt bờ. trùng khơi nước rộng hồn cựu kinh. thấp thoáng ngọn rừng đám lưu dân qua vùng châu thổ chẳng tìm đâu thấy một xóm làng thảo nguyên. tàn khuya. không ánh lửa trời mịt mùng. muông thú kêu hoang … cha trở về trong căn nhà gỗ trao cho ta chiếc gậy tìm đường đêm uống trà khan. đọc thơ cổ xót đời. qua một tiếng độc huyền (trích Tôi Cùng Gió Mùa) Tiếp theo đây là hình bóng người cha trong văn NT Khánh Minh. *Từ “Cha” chỉ là một tên gọi khác của lòng yêu thương (Fanny Fern) Đêm khuya đèn hắt bóng rầu rầu Lệ chữ theo hoài trang sách sâu Cha buông nét bút sầu ẩn sĩ Một dải sơn hà một nỗi đau Cách đây ba mươi mấy năm, tôi đã viết về cha tôi như thế. Cảm xúc từ một đêm rất khuya đi ngoài ban công nhìn vào bàn làm việc cha bên cửa sổ còn ánh đèn, in trên gương mặt xương nét sầu muộn cô độc. Khi đưa cha đọc, ông bảo, sao tứ tuyệt mà con để thất niêm luật thế…
Bảo Huân microsoft AI Chẳng bao lâu sau đó, ông bị đem đi, rất xa nhà. Không hiểu sao cuộc đời cha cứ đong đưa tù ngục, của cả hai phía. Tôi nghĩ cha tôi thật sự là người mơ mộng. Tại vậy, mà ông đúng là cây cô độc, như ông viết trong một vở kịch dở dang. Dang dở như sự nghiệp và hoài bão của ông. Cái nỗi đau dải sơn hà trong tâm cha thôi hãy để tan vào bụi tro trong chiếc tĩnh im lặng. Cha ơi. Con chỉ muốn nhắc đến tình cha, yêu thương con gái như thể mình là chỗ cho nó hành tỏi yêu thương. Làm nũng hết biết (giờ mới biết thế), từ cái ngày còn mặc áo đầm xòe trắng cho đến tuổi vòi tiền may một cái áo dài lụa hoàng hoa. Theo lời kể của Khánh Minh, cha cô là người yêu nước, yêu văn chương, sống bằng nghề dạy học và nghề làm báo. Xin nghe tiếp lời của Khánh Minh: …Hồi đó, tiễn cha đi dạy học xa, tôi vừa đủ tuổi để biết chia tay là rất buồn. Trong trí nhớ tôi là sân ga đêm, khói toa tầu, tiếng xình xịch rền trên thềm đưa tiễn. Cha ôm mẹ, ôm tôi, và tôi luôn được nghe, lúc cha bước lên mấy bực toa tầu, quay đầu lại, ba sẽ về sớm thôi mà tôi đã là một đứa con hạnh phúc khi luôn được đón bước cha về, không như cô bé trong Will, không như người con gái trong phim hoạt hình Father and Daughter, đã chờ cha mình suốt một đời và chỉ được ở trong vòng tay cha nơi màn sương ảo… …Dạo ở tù về, cha lặng lẽ. Mỗi sáng cha qua làm vườn bên sân chùa, bữa cơm nhà có thêm rau cải non, trái khổ qua… Sáng dắt xe đạp ra cổng, tôi nhìn theo dáng áo nâu với cuốc trên vai khấp khểnh trên con đường hai bên không phải là ruộng xanh mà là những nhà phố, tôi tự hỏi lúc ấy cha nghĩ gì. Tối thì cha thường xuyên thức khuya, nhìn qua cửa sổ, tôi cảm thấy một nỗi cô quạnh xót xa với cảnh ánh đèn vàng yếu và mái đầu cha cúi trên trang giấy, bóng một người khắc khổ trên một con đường dài. Hình ảnh trong bức tranh ấy cái gì cũng chỉ có một, lẻ loi. Và tôi, cũng một mình, đứng nhìn theo bóng cô độc ấy hút cuối đường gió và bụi. Cha ơi … con lại nhớ giọng cha, trạm trạm nhất phiến tâm/ minh nguyệt cổ tỉnh thủy…(tấm lòng vằng vặc/ như ánh trăng soi giếng năm xưa) … Khi cả nhà sum họp lại. Cha cũng không ở yên một chỗ. Dạy học khi thì Nha Trang khi thì Sài Gòn, Biên Hoà, rồi mãi miền Tây. Không bươn chải sao được khi một đàn con tuổi ăn và học. Và rồi cha làm rất nhiều nghề, ký giả, viết sách giáo khoa, soạn tự điển, dạy học, thầu khoán xây cất, nhà in, coi Tử Vi, bốc dịch, nhà Hán học (chả vậy mà, năm 1975, khi công an vào xét nhà, thấy một xấp những thiếp nhỏ ghi nghề nghiệp của ông trên bàn làm việc, họ đã phán, là CIA của Mỹ Ngụy) Như thế đó, cha của Khánh Minh là hình ảnh một cây cô độc vươn lên giữa trời trăng sao … Dạo tôi về thấy trên bàn thờ, mẹ để mấy tác phẩm đã in của cha, mấy cây bút cha cầm mỗi ngày, và một bản thảo kịch dang dở, Cây Cô Độc, cha ơi, lệ chữ theo hoài trang sách sâu… Cha của Khánh Minh cũng như bao người cha khác có tài năng, chí khí và tâm hồn đã vĩnh viễn ra đi, để lại bao nỗi nhớ và những trang sách bụi mờ. TN – Tổng Hợp
baotreonline.com Tim Nguyễn Post on August 24th, 2021
Post by Sơn râu 7 Nov 2024
Ðã qua rồi ngày trùng thất. Mưa ngâu đang rơi xuống nhiều nơi ở quê nhà. Mưa tháng Bảy. Ðành là mưa của đất trời nhưng cũng là mưa trên cõi người. Những tiếng mưa buồn dội xuống mái âm dương, nơi dân gian tin rằng những hồn chết trở về thăm chốn cũ. Nhiều nơi ở quê xa lập trai đàn chẩn tế. Và thơ chiêu hồn từ đó thấm cái lạnh nghìn trùng của những giọt mưa rơi. Mà nói tới thơ chiêu hồn là phải nói tới trường thi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du. Năm 1979, ở Thành Ðá Xanh, trại tù thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, trong không khí của Chiêu Hồn Ca tôi viết Thảo Nguyên, trong có mấy câu: cha đã đi qua vùng thảo nguyên những năm ấy. trời làm đói khổ kẻ sống người chết đều trơ xương lại thêm khắp bốn bề giặc giã muôn oan hồn dấp dúi lang thang nương trăng. nơi đầu sông cuối bến ngày gầy xơ. lất phất mưa phùn đường bạch dương. chiều không quán trọ hành nhân. hành nhân. đêm thu phân
Đinh Cường Tất nhiên, người đọc cũng thấy tôi đã mượn mấy chữ “đường bạch dương” của Nguyễn Du trong CHCTLCS. Có thể nói, Chiêu Hồn Ca là tuyệt tác của Tố Như, bên cạnh Ðoạn Trường Tân Thanh. Nó còn gần với dân tộc hơn, và mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo. Ðời sau, các thi sĩ khi viết tả không khí bi thương ảm đạm của mùa Thu, nơi âm dương chập choạng, kẻ chết và người sống chừng như đã hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình từng mang theo xuống lòng đất -trong bầu khí thê lương mưa thu lạnh buốt ấy, ít ai không nghĩ tới thơ chiêu hồn của Nguyễn Du. Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng Bảy mưa thu, chúng ta sẽ cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong CHCTLCS. Ðọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua. Và nhìn vào hiện thời để thấm thấu đức hiếu sinh của trời đất. Ðể mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du viết: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng… Ðường bạch dương bóng chiều man mác / Ngọn đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm… Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra –cõi trường dạ tối tăm trời đất…- những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du -như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm- lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh -nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao –chí những lăm cất gánh non sông…- nhưng gặp “thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở” để rồi “máu tươi lai láng xương khô rụng rời… “ Và chúng ta nghĩ ngay đến những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ –Khi thất thế tên rơi đạn lạc /Bãi sa trường thịt nát máu rơi… Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua – Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng “Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!… “ Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: “Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh …” Ðọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển –Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xế gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Ðem thân chôn rấp vào lòng kình nghê– chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ… Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy. Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng Bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Ðông… Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên… Hơn thế nữa nhìn vào thực trạng của đất nước hiện nay trong cơn dịch lệ ta thấy lòng mình dâng lên bao nỗi xót xa. Những ngày này mưa ngâu có rơi trên phố xá vắng tanh. Ở đâu đó cái đói cái lạnh trùng trùng vây hãm. Rồi dịch bệnh cái chết với thân người bó trong bao nylon chở đi trên những chuyến xe không quay về lại. Những bó rau, bát cơm, ổ bánh, ly nước, tấm chăn và bình dưỡng khí có tới được những anh em đồng bào xấu số đang chờ đợi. Rồi những đoàn xe ngày đêm tháo chạy có tới được nơi bình yên mong muốn. Oan này còn một kêu trời nhưng xa… Cũng đành xin mượn tuần nhang bát nước và thơ chiêu hồn cầu nguyện.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 6 Thứ Hai, 8 tháng 12.. Má ơi, má ơi, Con trông thấy má rồi. Nhất định là má đứng ở cổng trường nhìn vào trong sân lúc ra chơi. Má mặc quần đen, áo đen, má xách cái ví màu đỏ. Con đang nhảy dây ở gốc cây bàng. Con trông thấy má. Con chạy ra hét ầm ĩ:
Má ơi, má. Nhưng làm sao má lại chạy. Làm sao má không ở lại với con. Con khóc đấy. Con giận má đấy. Con leo lên hàng rào. Con nhìn rõ má đội cái nón viền chỉ xanh đang đi vội vã sang bên kia đường. Má nói dối con rồi. Hôm qua Chủ Nhật má không vào đón con thì má nhắn rằng má phải đi thăm ba ốm. Nhưng sao má về sớm thế. Sao ba mau khỏi thế. Con bắt đền má. Má giấu con. Ngày hôm qua má không đi đâu cả. Má vẫn ở nhà. Má vào ăn mì ở hiệu Tầu với một ông trẻ trẻ. Con Thu bảo thế. Chúng nó bảo con rằng “mày có những mấy ba”. Con không nghe chúng nó. Con cãi rằng chỉ có một ba. Ba đi làm xa. Ba mua Gigi cho con. Nhưng chúng nó lại hỏi:
Thế người ấy là ai? Con phải nói dối:
Đấy là chú tao đấy. Mình làm gì có chú hả má. Có bao giờ má kể chuyện chú nào đâu. Như thế là má ghét con. Má thích đi ăn mì hơn là đi nhặt lá bàng với con. Làm con cả ngày hôm qua chỉ lủi thủi một mình với Gigi. Con nhớ má mà má không nhớ con. Má có cần gặp con đâu! Má ghét con rồi, má không yêu con rồi. Quà của má gửi vào, con không ăn đâu, cả Gigi cũng không thèm ăn nữa. Con không cần bánh bằng cần má. Con soạn quần áo ra ngoài từ hôm Thứ Sáu. Con để dành cái váy xanh đẹp nhất để đi chơi với má. Hôm đem xuống bếp nhờ chị Hai ủi hộ, con khoe má với chị ấy. Chị ấy thì không có má đón ra, chẳng có ai đón chị ấy ra cả. Con hứa với chị ấy đến lúc về thì kể chuyện các nơi cho chị ấy nghe. Thế mà má lại nói dối là đi thăm ba. Ba to béo thế thì ốm sao được. Chỉ có má gầy má mới dễ ốm thôi. Kỳ trước má chẳng ho là gì. Má lại ho ra cả máu nữa. Má có nhớ uống sirop không, đêm má có mặc áo len đi ngủ không, má có nhớ đắp chăn cho kín ngực không? Dạo này đêm rét lắm phải không má? Bây giờ thì con vẫn còn giận má. Má cất công lên tận trường rồi, mà lại đi về, mà lại chạy. Con khóc đấy nhé. Đến trưa đi ngủ con cũng vẫn khóc nữa. Con ôm Gigi vào lòng rồi nằm nghĩ đến má. Nếu Gigi biết khóc thì nó cũng khóc. Đáng lẽ con định phạt má, không viết thư cho má nữa. Nhưng đến tối như bây giờ thì lại nhớ má ghê lắm. Thương cả má nữa. Con không khóc nữa đâu. Con không bắt đền má nữa đâu. Tuần này con sẽ bế Gigi ra thăm má, bắt cả Gigi hôn má nữa. Má có thích không, má có vui không, chúng con sẽ ngoan cho má khỏi buồn, cho má chóng khỏi ho má nhé. À, tuần này thì con không bắt má dẫn lên hồ nữa đâu. Gió lắm. Má mà bị cảm rồi lại ho ra máu nữa thì chết. Má phải nhớ uống sirop nghe không, đêm má cũng phải mặc áo len đi ngủ nữa. Cả hai con gái cùng hôn má.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 5 Thứ Ba, 2 tháng 12… Má ơi má, Chiều hôm nay má đi đâu đấy? Con trông thấy má cơ. Tại vì chúng con được bà Félicité dẫn sang nhà Chung tập múa để sửa soạn lễ Noel sắp tới. Má mặc áo màu tím than phải không, má đeo sợi dây chuyền màu trắng, tóc má buộc ở đằng sau phải không? Ô tô của ai đấy má? Cái ông ngồi bên cạnh má chắc không phải ba rồi. Con đoán là ông chủ sở của má. Có phải má đi làm ở sở không? Sở má là sở gì? À, tuần này gặp má, má phải cho con biết đấy. Không có bọn chúng nó hỏi nhau, đứa thì nói ba tao làm bác sĩ, đứa thì nói ba tao làm thầy giáo, làm hiệu ảnh, hiệu buôn. Mà con thì không biết trả lời ra sao cả. Má nhớ nhé, má nhớ bảo con nhé. Sở của má giàu thế, có ô tô đẹp thế thì chắc là to lắm má nhỉ. Mà chức má chắc cũng oai lắm. Mà giỏi như thế thì ai mà chả phải nể, phải không má? Lúc ấy con có vẫy má mà má không thấy. Tiếc quá, giá lúc ấy hai mẹ con trông thấy nhau, má lại cười với con, lại hôn con ở xa thì bây giờ con thích biết mấy. Con Huệ nó hỏi con:
Mày vẫy ai đấy? Con bảo:
Má tao đấy.
Nhà mày có ô tô cơ à?
Má tao muốn gì mà chả có! Có phải thế không má. Má muốn gì chả được. Má giỏi lắm. Chữ má phê ở trong Livret của con đẹp nhất đấy má ạ. Con cố học để ngày sau cũng được giống như má, chữ đẹp như chữ má, má có thích không? Trong lớp con có hơn bốn mươi đứa, mà chỉ có con và con Huệ được chọn đi múa thôi. Bà Cécile ở bên nhà dòng khen con hát hay má ạ. Con đứng ở trên bục, có bao nhiêu là người vừa đánh đàn, vừa xem. Con xấu hổ quá. Con hát bài Hằng Nga ngủ trong rừng, bài Con chim xanh, cả bài Le matin dans la forêt nữa. Nhưng hát cho má nghe thì không sao, chứ hát ở đây con cuống quít quá. May là ai cũng khen giọng con tốt má ạ. Bà Cécile cử con hát bài “Chân trời hào quang” hôm lễ Noel này. Bây giờ chiều nào bà ấy cũng bắt con sang nhà dòng vào lúc bốn giờ.Bà ấy hứa sẽ dạy con cả nhạc nữa. Má có thích không má. Con mà giỏi thì con sẽ đánh đàn cho má nghe. Má sẽ ngồi hát ở cửa sổ vào lúc trăng mọc. Lúc đã giỏi rồi thì tắt đèn đi con cũng sẽ đánh đàn được. Trong phòng chỉ có ánh trăng, ngoài vườn cũng có ánh trăng. Như thế sẽ đẹp lắm má nhỉ. Lễ Noel này con được nghỉ nửa tháng cơ má ạ. Con sẽ về với má. Đi chợ với má. Ồ, đi chợ thì thích lắm. Con sẽ xách giỏ cho má, thế nào má cũng mua thật nhiều rau bắp cải.Con thích ăn canh bắp cải luộc có giầm cà chua đỏ ối má ạ. Mà ở trong này thỉnh thoảng mới có món ấy. Tuần này Ma soeur Juliette dạy chúng con làm trứng gà au-plat. Con sẽ làm cho má ăn sáng với bánh mì, nhé má. Con vẫn nhớ lời má dặn hôm chủ nhật. Con nhắc lại xem có đúng không má nhé. Con không được ra gió này, không được giầm mưa này, tối đi ngủ phải mặc theo cái áo len nâu. Buổi tối trước khi đi nằm thì xin với Ma soeur cho uống hai viên dầu cá! Lúc nhắm mắt rồi thì không được nghĩ gì cả, mà phải đếm từ 1 đến 200. Có phải thế không má? Có hôm con đếm đến trăm rưởi thì ngủ quên mất má ạ. Nhưng thường thường thì con cũng cố đếm đến câu cuối cùng mới thôi, mặc dầu mắt con đã ríu lại rồi. Con búp-bê Gigi đã được mặc áo mới má ạ. Con may cho Gigi một cái váy dài đỏ, một cái áo lót và một cái khăn choàng màu xanh. Buổi tối con bế Gigi vào lòng. Nó bao giờ cũng nhắm mắt trước, thế là không được nói chuyện với nhau. Cho nên con bắt nó ngồi để cho nó mở mắt. Có hôm con ngủ quên đi mất thành ra cô ta cứ mở mắt cả đêm. Nhưng nó không cằn nhằn gì đâu. Lúc nào nó cũng tươi cười như má. Nó giống tính má đấy má ạ. Tuần sau má nhớ đón hai chị em ra nhé, má nhé.
“Buông tay súng, mà máu trào thành lệ, Lệ tuôn trào, lệ biển cả mênh mông Lính dù Lê Lộ Đức *
Khối Chiến tranh Chính Trị. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù có nhiều khả năng tác chiến, đa hiệu, thường áp dụng ba chiến thuật, tuy có khác nhau về nhiệm vụ, quân số, vũ khí… nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ba chiến thuật đó là: Thám Sát, phản Du kích và Trận Địa chiến.
Thám sát. Nhiệm vụ thám sát địch, tìm hiểu về hoạt động địch, lực lượng, đơn vị, căn cứ địa, kho tàng, vũ khí, khí tài, kế hoạch, mưu đồ, v.v…. Để có thể thâu lượm mọi tin tức nầy, các Toán Thám Sát đã được thả xuống hoạt động sâu trong lòng địch, thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch, trên “đường mòn Hồ Chí Minh”, vùng Tam Biên (Việt Miên Lào), hay dọc theo biên giới Việt Miên Lào, khi cần có thể vượt qua biên giới… không cần hạ sát địch quân, cần bắt sống để khai thác tin tức. Mỗi Toán Thám Sát gồm 6 người, được huấn luyện thuần thục võ nghệ, chuyên môn để có khả năng tác chiến, đặc biệt về do thám, quan sát, theo dõi, liên lạc, cứu thương và phá hoại, bao gồm cả nhiệm vụ tiền sát viên pháo binh, điều chỉnh phi pháo, bắt sống tù binh và mưu sinh thoát hiểm.. v.v… Như Độc Giả thấy trong các bài tường thuật ở phần trước, những hoạt động có chính Tác Giả tham gia, chỉ huy, đã gặt hái được một số thành quả, thâu lượm nhiều tin tức chính xác, cấp thời cho các cấp Chỉ Huy Sư Đoàn, Quân Đoàn, Bộ Tổng Tham Mưu, để các nơi nầy có biện pháp, kế hoạch, kịp thời đối đầu, chận đứng hay tấn công tiêu diệt địch quân. Biệt Cách Nhảy Dù, tùy từng thời điểm, và cũng tùy theo nhu cầu, sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, để đưa các Toán Thám Sát của các Biệt Đội tăng cường hoạt động đặc biệt ở các Quân Khu I, II, III. Số lượng tin tức thu hoạch được, đã cung cấp cho các Phòng 2 của các Sư Đoàn, Quân Đoàn và các vị Tư Lệnh các Quân Khu, các Vùng Chiến Thuật không phải là ít.
Phản Du Kích Chiến. Chiến thuật du kích của Việt cộng là rập khuôn theo chiến thuật của Mao. Yếu tố chính trị, tuyên truyền là quan trọng, mục đích lôi kéo dân chúng về phía của chúng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Về quân sự, Mao chủ trương rút lui để bảo toàn lực lượng khi bị ta tấn công, quấy phá khi ta dừng quân, tấn công khi ta mệt mỏi, và truy kích khi ta rút lui. Kinh nghiệm chiến đấu, sự trui rèn, tôi luyện trong máu lửa, đã cho cấp chỉ huy Biệt Cách Dù những bài học hay. Do đó, chiến thuật của Biệt Cách Dù là “Gậy ông đập lưng ông”, có nghĩa là dùng chiến thuật du kích để đánh du kích, cùng lúc áp dụng các phương cách bảo vệ dân, giúp đỡ và tuyên truyền dân chúng đứng về phe chúng ta, ủng hộ chúng ta. Độc giả từng thấy ở các phần trước, tại mặt trận Tha La, Trảng Bàng, dân chúng đã cung cấp những tin tức về các hoạt động của địch, hay tại Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, Gia Định trong Tết Mậu Thân, hay tại Bến Thế, Bình Dương, đồng bào đã đứng hai bên đường đón chào, hoan hô các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, cũng như tặng trái cây, quà bánh, như một biểu lộ bày tỏ lòng tri ơn sâu xa… Để đánh đuổi bọn địch ra khỏi vùng chúng chiếm đóng hoặc đóng chốt, Biệt Cách Nhảy Dù dùng chiến thuật du kích phản du kích, có nghĩa là lấy chiến thuật của địch để đánh lại địch, tạo sự bất ngờ, gây hoang mang, hoảng loạn cho bọn chúng và nhờ vậy mà đã đạt nhiều chiến thắng bất ngờ, làm cho các đơn vị bạn phải nể phục. Đó là kết quả của các trận đánh ở Bến Thế, Xóm Đạo Tha La, Ngã ba Tân Phú Trung và Mật Khu Mây Tào.. v.v… Căn bản của “Chiến tranh giải phóng” (chữ của cộng sản) là lấy Nông Thôn để bao vây Thành Thị, và áp dụng “chiến tranh du kích”. Về phía Quân Đội Việt Nam, trách nhiệm giữ đất khá nặng nề, mất tính cách di động, thường đóng Đồn, Bót. Chiến thuật nầy chỉ năng động về ban ngày, ban đêm rút vô phòng thủ trong Đồn Bót nên không bảo vệ được dân. Chiến thuật của Biệt Cách Nhảy Dù thì ngược lại. Thay vì đánh địch vào ban ngày, Biệt Cách Nhảy Dù lại dùng chiến thuật đánh đêm. Đánh đêm là gây yếu tố bất ngờ cho địch, kèm theo là chiến thuật phản du kích là bất ngờ thứ hai, vào tận sào huyệt Việt cộng để đánh chúng là bất ngờ thứ ba. Chính vì lối đánh thần tốc, gan dạ và đầy bí hiểm nầy, nên Biệt Cách Nhảy Dù đánh đâu thắng đó, giải tỏa áp lực nhanh, nếu không muốn nói là địch thua dài, chạy dài…
Trận địa chiến. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù được thành lập và phát triển về sau này quân số lên tới ba ngàn Chiến Sĩ, được chia thành ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật có bốn Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có hai trăm chiến sĩ. Nhiệm vụ chính yếu của Liên Đoàn là thả Toán Thám Sát vào các căn cứ địa, an toàn khu của địch, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, cách biệt hoàn toàn với các Quân Binh chủng bạn, để thu lượm tin tức, bắt cóc tù binh, chứ không phải để đánh các trận địa lớn như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân. Tuy vậy, trong một vài tình huống khẩn cấp, cần thanh toán dứt điểm những nơi dầu sôi lửa bỏng, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn phải tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù lâm trận, để giải quyết chiến trường như: Mậu Thân đợt 1 và 2 +n-ăm 1968, Bình Long (An Lộc), Quảng Trị (Cổ Thành) năm 1972, Tha La (Trảng Bàng) năm 1973 và Tân Phú Trung (Củ Chi) năm 1974, Phước Long năm 1975. Và Liên Đoàn đã lập nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, cho dù không thuộc sở trường tác chiến của Đơn vị. Cũng có đôi lần, khi các Toán phát hiện các căn cứ địa, kho tàng, hậu trạm địch, có quân số đông cấp Đại Đội, Liên Đoàn có khả năng đưa các Biệt Đội vào thanh toán địch ngay tại địa điểm địch đóng quân hay chiến trường do Biệt Cách Nhảy Dù chọn lựa. Đó là trường hợp Biệt Cách Nhảy Dù đã phục kích, tấn công Việt cộng tại thung lũng Ashau năm 1968, Đồng Xoài năm 1968 và Tam Biên năm 1971, sau khi các Toán Thám Sát phát hiện bọn chúng. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, còn có nhiều Toán Thám Sát của Lôi Hổ, Nha Kỹ Thuật, Sở Liên Lạc, Sở Công Tác, Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu v.v… cũng đảm nhận nhiệm vụ xâm nhập, hoạt động trong lòng địch như của Biệt Cách Nhảy Dù. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát nầy chỉ thu thập tin tức, ghi nhận “địch tình” rồi cung cấp lên các cấp Chỉ Huy mà họ tăng phái. Họ không có lực lượng, đơn vị có khả năng khai thác mục tiêu, tấn công địch. Biệt Cách Nhảy Dù thì hơn hẳn, khi cần mở trận địa tiêu diệt địch có quân số lớn, Biệt Cách Nhảy Dù sử dụng ngay các Biệt Đội xung kích. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù sau khi nhảy vào An Lộc, sau gần ba tháng chiến đấu dũng cảm, góp công truy quét tiêu diệt giặc thù cộng sản, lấy lại các phần đất đã bị giặc lấn chiếm, thì được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu, triệt thoái trở về Hậu cứ Liên Đoàn tại Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, để bổ sung quân số, trang bị vũ khí đạn dược, nhằm tăng viện cho chiến trường Quảng Trị, ở địa đầu giới tuyến, vùng I chiến thuật. Trong thời gian này, Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã được Đại Tướng Cao Văn Viên gọi đến trình diện tại Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Trong cuộc diện kiến, Đại Tướng đã hết lòng khen ngợi về ba hiệu năng và sở trường chiến đấu của Liên Đoàn mà chưa có một Đơn vị, Binh chủng nào trong Quân Lực VNCH có được như: – Thả Toán thâm nhập vào hậu tuyến của địch trong các mật khu bất khả xâm phạm – Kỹ thuật và khả năng tác chiến, đột kích đêm – Tham dự “trận địa chiến” cùng các đơn vị bạn trong các mặt trận lớn nóng bỏng và đầy cam go. Đại Tướng còn cho biết sẽ có kế hoạch nghiên cứu để gia tăng, bành trướng Liên Đoàn lớn hơn nữa. (Nếu kế hoạch này mà được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, Liên Đoàn dự trù trong tương lai sẽ có thêm khoảng 16 Biệt Đội, 04 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Và song song với sự gia tăng và phát triển cấp số, thay đổi tính danh, thì các Ban cũng sẽ được nâng cao thành Phòng, riêng Khối Chiến Tranh Chính Trị vẫn giữ nguyên như cũ. Có thể Liên Đoàn sẽ được nâng lên cấp Lữ Đoàn, Chỉ Huy Trưởng sẽ là Tư Lệnh với cấp bậc Chuẩn Tướng.) Trong chiều hướng phát triển nầy, trong khoảng giữa tháng 2 năm 1975, Đại Tá Phan Văn Huấn đã bổ nhiệm tôi vào chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị thay thế Thiếu Tá Phạm Châu Tài, vừa được đề cử nhiệm vụ mới là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Chiến Thuật. Lý do thứ hai mà tôi được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng chọn làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, theo tôi nghĩ có thể phát xuất từ những Bài Thơ đề cao tinh thần chiến đấu uy dũng của các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, mà tôi đã gửi đăng trên các báo của Quân Đội VNCH như: Tiền Phong, Chiến Sĩ Cộng Hòa, và một bài trên tờ Bích Báo của Biệt Đội 814, trong đó tôi đã đề cập về tâm sự của một Thương Binh Biệt Cách Dù, đã xả thân chiến đấu, để rồi bị trọng thương, phải nằm điều trị tại các Quân Y Viện, và trong suốt thời gian dài, Liên Đoàn miệt mài quân hành, nên không một ai trong đơn vị đến thăm viếng, ủi an, ủy lạo. Nỗi buồn cô đơn, sớm bị lãng quên, làm họ uất nghẹn và đau đớn tột cùng. Bài báo rất được anh em Binh Sĩ trong đơn vị hoan nghênh và Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn lưu tâm…lưu ý.. Lý do thứ ba là ngay tại Doanh Trại Biệt Đội 814 tại Căn Cứ Hành Quân Suối Máu, hay bất cứ nơi đâu, tôi đều tổ chức các phương tiện ẩm thực, vui chơi cho Binh Sĩ trong Biệt Đội như Bún Bò, Phở, Hủ Tiếu, Bò Kho, các bàn “Bi-Da”, “Ping-Pong”, phòng đọc sách báo.v.v.. để anh em Binh Sĩ ăn uống, giải trí trong những ngày dưỡng quân. Họ có thể được “ghi sổ”, lãnh lương sẽ trả lại sau. Nhờ những phương tiện nầy, Binh Sĩ cảm thấy thoải mái, không còn buồn nản khi được nghỉ ngơi, không đi lang thang ra ngoài doanh trại, vừa tốn tiền, lại có thể gặp những việc không hay xảy ra trong thời buổi chiến tranh loạn lạc này. Ngoài ra, tại vị trí đóng quân, tôi cho dựng Cổng Biệt Đội, thường xuyên cắt cử lính gát, làm hàng rào bao quanh, trồng hoa, cây cảnh trước mỗi dãy nhà của các Trung Đội và cả trong khu vực Doanh Trại. Binh Sĩ những lúc rảnh rỗi, có thể dạo chơi, ngồi hóng mát trò chuyện để vơi đi nỗi nhớ về Cha Mẹ, Vợ con…. Nhờ vậy, mà Doanh Trại Biệt Đội 814 đã trở thành mẫu mực. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn đã nhắc nhở các Biệt Đội khác nên làm theo. Trong một dịp Nhà Báo Minh Đức Hoài Trinh đến Căn Cứ Hành Quân để làm phóng sự, đích thân Đại Tá Phan Văn Huấn đã hướng dẫn Bà đến thăm Doanh Trại Biệt Đội 814 của tôi như là một lời ban thưởng. Lý do thứ tư cũng có thể do từ một cuộc phỏng vấn của Báo Chí, Truyền Thanh, Truyền Hình, khi tôi được chọn là Chiến Sĩ Xuất Sắc về tham dự buổi tiếp tân tại Phủ Tổng Thống, đã được phổ biến rộng rãi khắp cả nước, tôi đã trả lời như sau: “Suốt những tháng năm lăn lộn trên khắp các chiến trường, trận địa, trên ba vùng chiến thuật, sống chết như sợi chỉ treo mành, cũng chẳng làm tôi nao núng, nhụt chí. Bốn lần bị thương tích, 16 lần được tuyên dương công trạng, phải chăng đó là một ít công lao nhỏ nhoi, mà chính bản thân tôi đã đóng góp cho Tổ Quốc Việt Nam? Biết bao Đồng Đội, Chiến Sĩ của tôi đã ngã gục, hy sinh để tôi được sinh tồn. Và cũng chính nhờ vào những xác thân, xương máu của họ đã tạo lập nên nhiều chiến công, mà hôm nay tôi mới được vinh hạnh trở thành một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù để về đây tham dự Ngày Đại Lễ Quân Lực 19/ 6. Hôm nay, đứng trước làn sóng của Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình, tôi xin kính cẩn cúi đầu tưởng niệm và bày tỏ lòng tri ơn sâu xa đến các Anh Hùng Tử Sĩ, các Thương Binh, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã chung vai sát cánh cùng tôi chiến đấu tiêu diệt giặc thù, bảo vệ Tổ Quốc, Đồng Bào cho đến hơi thở cuối cùng…Tôi xin muôn đời đội ơn !!!” Sau khi đảm nhận chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị của Liên Đoàn, tôi thực hiện ngay những điều tôi đã đề cập và ấp ủ bấy lâu: Thường xuyên thăm viếng, ủy lạo, tặng quà cho Thương Phế Binh tại các Quân Y Viện hay tại nhà riêng. Chăm sóc và giúp đỡ các Cô Nhi, Qủa Phụ trong đời sống, trong học hành. Củng cố và phát triển Trường Tiểu Học Biệt Cách Nhảy Dù. Can thiệp cho các em nhập học các Trường Văn Hóa Quân Đội và Quốc Gia Nghĩa Tử. Xin việc làm cho các cựu quân nhân tại Tổng Công Ty Thực Phẩm và cùng Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Thành Châu tổ chức gây Quỹ cứu trợ cho Thương Phế Binh của Liên Đoàn. Cùng song hành với nhiệm vụ trên, để kịp thời bổ sung quân số cho đơn vị trước đà phát triển, theo lệnh của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng, tôi đã đến các Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế, Quang Trung, nơi các khóa Hạ Sĩ Quan và Tân Binh sắp mãn khóa để thuyết trình, tác động họ tình nguyện về phục vụ Liên Đoàn. Cứ sau mỗi lần chuyện trò cùng các khóa sinh chấm dứt, số xung phong gia nhập Biệt Cách Nhảy Dù vượt quá chỉ tiêu đã đề ra. Sau khi tiếp nhận các Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ về đơn vi, Liên Đoàn tiếp tục huấn luyện họ về các khả năng tác chiến đặc biệt của một Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, ngoài ra Khối Chiến Tranh Chính Trị còn tổ chức các chương trình huấn luyện về chính trị, về thái độ, tác phong đối với dân chúng, không những chung quanh đơn vị đồn trú mà đặc biệt ở các nơi hành quân, hầu lôi kéo người dân về phía Quốc Gia, không để dân chúng bị Việt cộng lợi dụng, tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc… Từ giữa tháng 2 năm 1975, sau khi đảm nhận chức vụ mới, tôi say sưa với công việc, suốt ngày chăm chú tìm tòi, học hỏi, để công tác Chiến Tranh Chính Trị trở nên thực tế hơn, hữu ích hơn, và dễ đi vào đời sống từng người lính trong đơn vị, cũng như với dân chúng, ở những nơi mà các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù phải tiếp xúc với họ.
Tàn cơn Binh lửa. Là một Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn cộng sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Định Paris năm 1973. Trước chủ trương “thay đổi màu da trên xác chết”, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn về tình hình chiến đấu và tiếp liệu. Việc “một đổi một” không được thi hành vì theo lệnh của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho VNCH. Tình hình chính trị kể từ đầu năm 1975 càng xáo trộn hơn, nhiều phong trào nảy sinh nhằm hạ uy tín của không những cá nhân Tổng Thống mà toàn bộ Chính Quyền Miền Nam. Đó là mục đích của Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ký Giả Đi Ăn Mày và Phong Trào Chống Tham Nhũng. Phong Trào nầy được tổ chức toàn cõi VNCH. Dĩ nhiên, tình hình xáo trộn nầy ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ VNCH, khiến họ phải suy nghĩ về việc làm của họ. Không lý họ chiến đấu cho một chính quyền tham nhũng, đang bóc lột người dân mà họ đang bảo vệ. Quan trọng hơn nữa, viện trợ ảnh hưởng đến khả năng tác chiến của Binh Sĩ. Đạn dược, xăng nhớt thiếu, nên khả năng vận chuyển Binh Lính bị hạn chế. Tình trạng nầy ảnh hưởng trực tiếp đến các đơn vị Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh hơn là ở các lực lượng Tổng Trừ Bị, trong đó có Biệt Cách Nhảy Dù. Trong giai đoạn nầy, câu binh thư “Thực túc binh cường” ám ảnh trí óc tôi không ít. Binh Sĩ của Liên Đoàn còn đủ “thực túc”, nhưng gia đình họ gặp khó khăn không ít trong đời sống hằng ngày.
Rút khỏi Căn Cứ Hành Quân, Biên Hòa. Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân cộng sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là cộng sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột. Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại Căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Đội 813 do Trung Úy Lại Đình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Điều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Đội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu. Riêng tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt Đội còn lại lên tới 2,000 Binh Sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc Phi Trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch. Trưa ngày 28 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III họp tất cả Đơn Vị Trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Đại Hàn, Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Saigon. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ Binh Sĩ rút qua khỏi cầu nầy được an toàn. Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho Trực Thăng đến đón các cấp Chỉ Huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Đại Tá Huấn thì Ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”. Và Đại Tá Huấn đã ở lại với Binh Sĩ của Ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngay trong đêm 28 tháng 4, Đại Tá Phan Văn Huấn ra lệnh Biệt Đội 812 đến canh giử cầu Biên Hòa, để ngăn cản đường tiến quân của giặc cộng, không cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, khi Liên Đoàn rời khỏi Căn cứ Hành quân Suối Máu, khi đoàn quân vừa rút qua khỏi Cầu, thì cũng vào lúc đó qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn, đã nghe được lệnh của Tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế cho Ông Trần Thiện Khiêm đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ. Đoàn quân Biệt Cách Nhảy Dù, theo thứ tự được phân định từ từ di chuyển trên Quốc Lộ 1, hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân Vạn, thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát, Đại Tá Phan Văn Huấn vẫn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn im lặng vô tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại Tá Huấn ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy và tất cả các Biệt Đội rút vào đóng quân qua đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Nhưng suốt đêm lặng lẽ trôi qua, vẫn chẳng có một tín hiệu liên lạc nào cả. Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 4. Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội VNCH buông súng đầu hàng. Đại Tá Huấn liền cho đơn vị rời khỏi Rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo Quốc Lộ 1, di hành theo hướng Nam đến Quân Lỵ Thủ Đức. Trên trục đường nầy, Liên Đoàn đã phát hiện, từ hướng Sài Gòn về Biên Hòa rất nhiều toán thanh niên chỉ mặc áo lót, quần “xà lỏn”, tay cầm giấy tờ tùy thân, chạy chân đất hớt ha hớt hải. Chận một vài người lại hỏi mới biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, bị Việt cộng bắt tước vũ khí, cởi bỏ quân phục, mủ nón, giày vớ, mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động! Tuy nhiên, đây là một đơn vị Quân Đội thiện chiến và kỹ luật. Tất cả vẫn giữ nguyên đội ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, bốn hàng dọc ngay hàng thẳng lối chậm rãi bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy bộ đội Việt cộng chạy song hành, chúng nhìn các Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sững sốt, lạ lùng.
Chiến Xa địch bị các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù bắn cháy ở Lăng Cha Cả trong ngày 30.4.1975
Là một cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỹ luật nghiêm minh, Đại Tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã họp tất cả các cấp Chỉ huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung. Đoàn quân 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hiên ngang tiếp bước trên Xa Lộ Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa chừng 100 mét, trong khi dừng lại nghỉ ngơi gần ngã tư Thủ Đức và Xa Lộ Đại Hàn, thì một đơn vị bộ đội Việt cộng đã đến gặp Đại Tá Phan Văn Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại Tá Huấn đã nói với họ: “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải cởi bỏ Quân Phục như một số Quân Nhân các đơn vị bạn đang chạy qua đây…”. Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng Chiến Binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định. Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay mỗi người mỗi ngả. Trước một Đơn vị Quân Đội hơn một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cộng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các Sĩ Quan của đơn vị về Saigon. Không muốn để cho các Sĩ Quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, Đại Tá đã đồng ý nhận lời. Vài ba chiếc xe Molotova được điều đến, tất cả các Sĩ Quan cùng một số Binh Sĩ lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Huấn nghĩ lại, không thể để Sĩ Quan của mình vào Saigòn bằng xe Molotova của địch. Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các Sĩ Quan, Binh Sĩ rời khỏi xe, cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với nỗi đớn đau ê chề bất tận. Vậy là chấm dứt hai mươi năm quân ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của Ông Thầy tôi. Tôi không thể không nói đôi lời, tỏ bày lòng cảm mến của tôi đối với Ông Thầy: Đại Tá Phan Văn Huấn, xuất thân Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, là một Sĩ Quan kỷ luật, tài ba, gặt hái nhiều chiến công trong cuộc đời 20 năm cầm súng chiến đấu. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với chiến trường Việt Nam, bách chiến bách thắng, đến tới đâu đồng bào hoan hô, ngưỡng phục tới đó, cũng là nhờ ở Đại Tá. Không có Đại Tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù không chắc đạt được các chiến thắng vang dội ấy trên khắp mọi chiến trường, ở Thành Phố cũng như trong các mật khu của địch. Điều đáng nói hơn nữa là tấm lòng của Đại Tá đối với Anh em Binh Sĩ. Đại Tá quí trọng mạng sống của họ như của chính ông. Một đơn vị dù lớn hay nhỏ hành quân thất lạc trong rừng bao nhiêu ngày đêm, là bấy nhiêu đêm ngày Đại Tá trằn trọc không ngủ yên. Đại Tá là một Sĩ Quan liêm khiết, trong sạch, tôn trọng quyền lợi của Binh Sĩ. Đại Tá quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng người lính, luôn luôn nghĩ đến họ, làm cách nào để họ có một đời sống vui tươi, nghỉ ngơi sau những ngày hành quân mệt nhọc mà vẫn văn ôn vũ luyện. Những ngày dưỡng quân là những ngày nghỉ ngơi nhưng cũng là những ngày tái huấn luyện cho thuần thục các khả năng tác chiến đặc biệt của người lính Biệt Cách Nhảy Dù. Cái giá mà Đại Tá Phan Văn Huấn phải trả cho hai mươi năm chiến đấu cho Dân Tộc và Đất Nước là 13 năm tù cải tạo khổ sai ở Việt Bắc. Đời sống Ông Thầy tôi và gia đình sau những năm tù trở về khá đạm bạc, nếu không nói là quá thiếu thốn, cơ cực bên cạnh một đàn con 8 đứa, bởi vì Ông không có gì để lại cho vợ con khi Ông bước chân vào vòng lao lý. Hễ mỗi lần đến thăm Ông, nhìn tấm thân tiều tụy, đau đớn vì bị những vết thương chiến trận đang hành hạ, mà điển hình vào một dịp đến thăm, trong lúc trò chuyện thì cơn đau của Ông bộc phát dữ dội, thì chính tôi và Bác Sĩ Trắc, cựu Y Sĩ Liên Đoàn, đã cấp tốc nâng bồng Ông từ trong nhà ra xe hơi của Bác sĩ Trắc, để cùng đưa Ông đi cấp cứu ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, lòng yêu kính Ông trong tim tôi như dâng trào. Tôi không khóc, nhưng có cái gì đó đã đè nặng trong thâm sâu đáy lòng, chỉ chực chờ là bộc phát. Tôi cảm thấy hãnh diện vì Ông: Đại Tá Phan Văn Huấn, là cấp Chỉ Huy mà tôi đã được phục vụ, trong suốt quãng đời Binh Nghiệp, trong một đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đó là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Tại Hậu Cứ An Sương. Là một cấp chỉ huy tác chiến, đã từng đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về hậu cứ trong trách vụ mới, với một thời gian còn quá ngắn, tôi khó mà quên được việc “điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường phong ba bảo táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren, quá ư bi dát đang diễn tiến từng giờ, từng ngày một của Đất Nước, tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm để hợp sức cùng Thiếu Tá Trần Quang Huế, Chỉ Huy Hậu cứ lo tổ chức phòng thủ Doanh Trại, tung các Toán tiền đồn, lập các công sự tại Ngã tư An Sương chờ giặc đến, ngăn chận và tiêu diệt chúng, không để cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên. Bên cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Ngã ba Trung Chánh, dọc theo Quốc Lộ 1 và trên Xa Lộ vòng đai Đại Hàn, Biệt Cách Nhảy Dù đặt thêm các Tổ Đại Liên 60, M.72, Đại Bác và Súng Cối. Trong khi chúng tôi đang tổ chức phòng thủ, Binh Sĩ của Sư Đoàn 25, Binh Sĩ cũng như khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rút chạy về đây thiếu trật tự, không cấp chỉ huy. Một số họ dừng lại đây, tự động cùng tổ chức phòng thủ bên cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của người lính VNCH không cho họ rút về xa hơn nữa. Ngày 29 tháng 4, sáu xe tăng T-54 Việt cộng từ hướng Củ Chi hàng một trên Quốc Lộ 1 tiến đến, nghênh ngang như chỗ không người. Khi đến gần Ngã tư An Sương, từ phòng tuyến của Hậu cứ Liên Đoàn, hai hỏa tiễn M.72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng bị quay nằm ngang. Quân cộng sản từ các xe tăng phía sau nhảy xuống xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa trung liên, B.40, B.41 và AK.47 vào các công sự, các ổ kháng cự nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, Đại Liên, M.79, không ngớt bắn vào đám địch quân đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc Lộ 1 không phải là ít, các xạ thủ M.72 bắn cháy thêm một T.54 ngay Ngã tư đường Xa lộ Đại Hàn và Quốc Lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân của địch trên đường tiến vào Thủ Đô Sài Gòn. Một số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy, nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ đường. Xe tăng của địch tiến lên, càn lên các công sự, Binh Sĩ bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch quá mạnh, và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong Doanh Trại Liên Đoàn. Trong khi đó, một xe Jeep chở một vài Quân Nhân, từ trong Hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa quẹo trái hướng về Saigon, một xe tăng của địch quay nòng đại bác bắn theo, chiếc xe Jeep trúng đạn, bay tung lên, hai ba binh sĩ trên xe đều tử trận. Sáng hôm sau 30 tháng 4, xe tăng, bộ đội địch và du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn lại trong và ngoài Hậu cứ Liên Đoàn. Trên Xa Lộ Đại Hàn, quân trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã bỏ lại đầy rẫy trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số Binh Sĩ còn lại, phá rào đằng sau, rút về hướng Saigon. Vượt qua Cầu Tham Lương, đến Hãng Dệt Vinatexco, gặp một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bố trí tại đây, tôi ra lệnh cho Binh Sĩ dừng lại, hợp tác phòng thủ cùng với họ. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể Quân Nhân buông súng đầu hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận, xong tự động tan rã. Trên đường về nơi tạm trú của một người bà con ở Quận Tư, Khánh Hội, nghĩ tới 9 năm đời Quân Ngũ, vào sinh ra tử bao nhiêu lần, chưa bao giờ tôi chùn bước, khuất phục trước quân thù. Vậy mà giờ nầy…
Món nợ còn lại. Ngày 30 tháng Tư, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn còn các Toán Thám Sát đang hoạt động trong Chiến Khu D. Tất cả các phương tiện liên lạc, truyền tin cũng như Trực Thăng đều không còn. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình. Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các Toán cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi sự liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật khu, theo phương cách mưu sinh thoát hiểm. Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hai Toán Thám Sát lần ra đến Ấp Thái Hưng, Xã Đại An, Quận Tân Uyên để tìm hiểu tình hình, họ được quần chúng cho biết Quân Đội Miền Nam đã buông súng đầu hàng, vậy là họ cùng ra đầu hàng. Nhưng bọn Việt cộng đã ra tay tàn sát hết tất cả rồi mang xác thả trôi sông. Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiêu hùng của họ, vẫn mãi sáng ngời trong Trang Sử 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
Về sau này, vào năm 1995, Liên Đoàn đã đưa người về lại Ấp Thái Hưng, Xã Đại An để tìm cách di dời mộ phần các Tử Sĩ, nhưng không thực hiện được, trong dịp này, qua trò chuyện tìm hiểu vói các cư dân nơi đây thì được biết bọn giặc cộng đã bắn chết 12 người, một số đem thả trôi trên sông Bé, số còn lại bọn chúng mang chôn trong một cái giếng đã bỏ hoang lâu năm. Ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Phương, Biệt Đội 815 và Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester. MA), rút ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra Ấp Thái Hưng, nhưng may mắn, hai Toán đã được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin chính quyền VNCH không còn nữa, Đại Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng đầu hàng, nên sau khi hai Toán đã giao nạp vũ khí, bọn Việt cộng có lẽ sau khi tàn sát hai Toán Thám Sát trước, đã bị đồng bào địa phương bàn tán xôn xao, nên với hai Toán này, bọn chúng chỉ bắt đưa vào trại tù gọi là “cải tạo”. Ngày 9 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát cuối cùng của Chuẩn Úy Lê Xuân Hiền, Biệt Đội 812 (hiện đang định cư tại Annaheim, CA), rút ra khỏi Chiến Khu D, khi gần đến Ấp Thái Hưng, Toán này cũng nhờ qua thông tin của người dân trong vùng, nên thấu đáo tình hình, họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cộng, rốt cuộc Toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù khổ sai ở trong Trại tù Bình Sơn, nơi rừng sâu nước độc cùng với hai Toán Thám Sát trên. Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán Chính VNCH sau ngày mất nước. “TÀN CƠN BINH LỬA”. Sau khi quân thù giặc cộng đã cưỡng chiếm Miền Nam, vẫn còn những người Lính Biệt Cách Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng Thượng Cấp giao phó, dù Thượng Cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm: “TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM”. Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25. Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ. Cho dù sau hơn 38 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian. Nhưng, đối với những Chiến Binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo vệ Tổ Quốc, những Chiến Sĩ Biệt Cách Dù đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó là một vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy lòng họ. Bởi vì, có biết bao Đồng Đội, Chiến Hữu của họ đã hy sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi nhục. Bởi vì, chính họ đã dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ tiền đồ Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở thành kẻ chiến bại trước một bọn người vong bản, vô thần và vô nhân tính. Trong cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần tình cờ, coi lại những tấm ảnh cũ trong Đời Binh Nghiệp, với Bộ Áo Hoa Rừng ngụy trang, với Chiếc Nón Xanh huyền thoại, với bảng Phù Hiệu Con Đại Bàng khạc lửa, sải rộng cánh, bung móng vuốt tung hoành, tôi cảm thấy tự hào, hãnh diện vì mình đã từng được chiến đấu trong một đơn vi thiện chiến, hào hùng: “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”. Nhưng rồi, kèm theo đó, một niềm xúc cảm lạnh buốt, từ từ lan rộng khắp cùng trong cơ thể tôi, trước mắt tôi hình ảnh những vị Anh Hùng Tử Sĩ như: “ Lê Như Tú, Nguyễn Văn Tùng, Từ Bá Thọ, Hoàng Xuân Cường, Đặng Thiện Chẩn, Trần Phụng Tiển, Lương Hữu Yên, Lưu Huyên, Nguyễn Ích Đoan, Mã Thế Kiệt, Phan Ngọc Trường, Trịnh Văn Hùynh, Nguyễn Quang Khánh, Phạm Văn Cứ, Khưu Công Qúi, Nguyễn Phiêu, Nguyễn văn Thủy, Mai Xuân Hùng, Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Kim Long, K.Tông, Đỗ Nguyên Sanh, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Viết Khải, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Xuân Ánh, Trần Ngọc Bửu, Vũ Huy Cần, Trương Cự Chính, Nguyễn Văn Chuyên, Phạm Văn Chuyên, Trần Thanh Đồng, Nguyễn Văn Giỏng… ”, còn còn nữa, làm sao kể hết, cứ lần lượt hiện về. Họ nhìn tôi trong nỗi buồn cảm thông, nhưng không thiếu sự trách móc, khi tôi vẫn còn sống sót mà không bảo vệ được Tổ Quốc, mà không trả được món nợ máu mà quân thù đã mang đến cho họ: những đồng đội, chiến hữu của tôi. …” Tôi cũng biết… Dù các Anh đã chết … Nhưng nỗi căm hờn còn mãi ở tâm linh, Xin một mai khi Đất Mẹ thanh bình, Tôi sẽ lấy máu quân thù tô vào nơi mộ chí.!!!” Và…đó cũng chính là món nợ mà tôi, một Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù còn sống đang và sẽ phải tiếp tục trả cho họ. Hy vọng đứa con đầu lòng, được viết bằng tất cả sự thật, từ thuở thiếu thời, đấu tranh và binh nghiệp, qua từng giai đoạn, từng trận chiến mà tôi đã trải qua, đã tham dự hay trực tiếp chỉ huy, sẽ được Đồng Đội, Chiến Hữu, Bạn Hữu đón nhận nồng nhiệt, thân tình và đầy vị tha. “Là người lính Biệt Cách Dù, Chưa bao giờ sợ mình cô đơn trong chiến đấu. Nhưng tại sao bây giờ, Lại sợ mình che dấu nỗi niềm riêng! Sợ phải cưu mang bao nỗi muộn phiền!!! Sợ phải sống trong triền miên khiếp sợ????
Phước Long “Chứng tích kẻ chạy làng” Ngày đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt Đội tăng cường, phòng thủ tại Phi trường Quân sự Trảng Lớn. Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu. Mặt trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn Quận của Phước Long đã bị Việt cộng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh Thị Xã, ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh. Nếu cộng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cộng với một Tiểu Đoàn Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T-54. Vào thời điểm đó, quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng Đông Bắc là căn cứ Bùi Gia Mập, hướng Tây Bắc là căn cứ Bù Đốp, cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành mật khu của chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng nầy tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai Thị Trấn Gia Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất rồi. Phía Tây Tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau trận chiến Mùa Hè 1972. Tình hình quân sự đã căng như thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội: “Phụ nữ đòi quyền sống, Ký giả đi ăn mày và Chống tham nhũng”. Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”.
Chuẩn bị vào Chiến Trường
Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cộng. Biết là Biệt Đội cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn, không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia xẻ và gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu. Rạng sáng ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là Đại Úy Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi chờ Trực Thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa. Mãi tới 2 giờ chiều, một Phi Đội Trực Thăng do Phi Đội Trưởng Thiếu Tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2 giờ 30, các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận. Từng chiếc UH.1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc C&C của Đại Tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ Căn cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số. Khi đoàn Trực Thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7 ly và 37 ly của bọn giặc cộng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các phi tuần A.37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng thấy xuất hiện. Đoàn Trực Thăng bay lượn hai vòng trên trời cao, họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811 và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối, nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở Phi Trường Long Bình. Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi qua nhanh. Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9 giờ, đoàn Trực Thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung Tá Vũ Xuân Thông và BCH 1 Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc, vừa qua khỏi Thị Xã Phước Long, đoàn Trực Thăng quay vòng trở lại hướng Nam, bay qua Sông Dak- Lung thì lần lượt đáp xuống lơ lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn ngang gốc cành, nằm rãi rác khắp cả khu đồi, cách Thị Xã chừng 500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ, nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75 ly từ đỉnh núi Bà Rá. Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống nầy. Bà Rá đã bị Việt cộng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch. Bà Rá, Bà Đen và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 7 trăm 36 mét, là con mắt và lỗ tai của Thị Xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các đơn vị Quân Đội, khóa họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích vào Thành Phố. Tại căn cứ nầy cũng có các Đài Truyền tin, phát tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực Thị Xã Phước Long. Tình hình căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm được đỉnh núi nầy, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không 12.7 ly trên núi và 37 ly dưới chân núi, Việt cộng gây khó khăn cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể trực xạ đại bác 75 ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây, địch dễ dàng quan sát cả Thị Xã, các hướng tiến quân của ta để điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác xạ chính xác, hiệu quả. Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu Tá Nguyễn Sơn Chỉ Huy Phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống, nằm chếch về hướng Tây Bắc của Thị Xã Phước Long, để từ đó cánh quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, đang phòng thủ trong Thị Xã và Tòa Hành Chánh Tỉnh. Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm Thị Xã, mọi hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một chiếc xe jeep của BCH/ Tỉnh đến đón một mình Trung Tá Thông rời khỏi đội ngũ.
Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong Thị Xã, đơn vị trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ chính, dẫn vào Trung tâm Thị Xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng. Vượt qua Ty Cảnh Sát, là Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô Thành Phố, mặt hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào của Ty Cảnh Sát. Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô-nét” gần bờ rào chính diện gây tử thương cho Hạ Sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75 ly do địch trực xạ từ trên đỉnh Núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn có khả năng phản pháo. Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết, xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải khắc tinh của chúng. Từ bên trong các công sự chiến đấu, những hỏa tiễn M.72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn sàng chờ đợi. Ầm. ầm ầm, Hạ Sĩ I Ẩn và Hạ Sĩ Sáng, Trung Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T.54 chạy đầu tiên, lửa đang rực cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T.54 kế tiếp vẫn trườn lên, ầm..ầm..ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng ra bìa rừng hướng Tây Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên lề đường, Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, không chần chờ bắn ngay một quả M.72, đạn trúng bên hông trái, phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm đang đổ xuống toàn Thị Xã Phước Long. Đêm hôm đó, thời gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ, Đại Úy Thứ gọi điện thọai thông báo: Trung Tá Thông ra lệnh cho các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn và Ban Quân Y sẽ rút về một hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng khác (?). Tôi thật qúa đổi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung Tá Thông lại cho lệnh rút quân. Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn chăng? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thối khẩn cấp?. Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với BCH 1 Chiến Thuật để am tường rỏ ràng về kế hoạch rút quân, nhưng chẳng có động tỉnh hay lệnh lạc gì khác cả. Và nếu như theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm Thị Xã, để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh Tỉnh. Chưa kịp hành động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ỉ khắp nơi. Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lủ giặc cộng. Đúng y như tôi dự đoán, Việt cộng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng chính của nó vẫn là xe tăng. Bốn chiếc xe tăng T-54, không phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng Đông, mà từ hướng Nam trong Thành Phố, tiến thẳng về phía phòng tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B.40 và B.41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến. Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, với M.72 trên vai, nhắm ngay chiếc T.54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn, chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60, Phóng Lựu M.79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không còn một tên sống sót. Chiếc T.54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới, càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng khựng lại, ngay tức thì, Hạ Sĩ Dữ, một xạ thủ XM. 202 của Trung Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước. Không chần chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung Đội Phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu Đội Trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên trong hai quả lựu đạn. Chiếc T.54 giờ đây đã hoàn toàn bất động. Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót, không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai ba lần sử dụng M.72 và XM.202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn nầy chưa thích ứng hoặc vô hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cộng rút kinh nghiệm, có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được. Hai chiếc T.54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của Chuẩn Úy Chuyển và Chuẩn Úy Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M.72 bắn nhưng không chận đứng được chiếc T.54 đang húc đổ cổng trại Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung Úy Qúi, Biệt Đội Phó, đã mang Đại bác 90 ly không giựt tác xạ phá hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T.54 theo sau quay bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời. Trời tối, đêm dần dần trôi qua trong lo lắng.
Sơ Đồ Mặt Trận Phước Long Tờ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không riêng gì ở Núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái Tỉnh Lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả. Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại của Quân Đội ta đang trú phòng. Từ dưới phố, từ bìa rừng hướng Tây Tây Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể. Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình nầy thì “căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn M-72, lại không có loại mìn tự chế của Đại Tá Huấn như ở trận Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của chúng đang đầy rẫy khắp các ngỏ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công qui mô. Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vả chống trả các đợt tấn công của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt Đội, đã sử dụng lựu đạn và M.79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân. Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống, toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo chạy từ trong đêm hôm qua. Ngay trong thời điểm đang phải chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thọai viên Biệt Đội cho tin: “Đại Úy Thứ vừa gọi máy, thông báo lệnh của Trung Tá Thông, toàn bộ đơn vị sẳn sàng rút quân. Lại rút quân !!!”. Nghe tin, chưa kịp định thần, thì ba bốn chiến xa T.54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75, XM.202, M.72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại Liên, XM.16, M.79 và lựu đạn là còn xử dụng, để tiêu diệt đám cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công sự. Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực vẫn còn sôi động, cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giử liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được ban hành từ Trung Tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông Bắc, chiếm lĩnh lợi thế trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak-Lung chừng 500 mét. Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố, bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn Việt cộng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng Sĩ Thủy Trung Đội Phó và B.1 Tài khinh binh, riêng Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy lênh láng, Trung sĩ Đức Y Tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để băng bó mới dứt hẳn được. Ngay trong lúc này, hai công việc tôi phải làm: Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa Hành Chánh Tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn? Nếu có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó. Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng Sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền nợ Nước. Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt bao trùm Tỉnh Lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi vào tay giặc cộng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rãi rác trong Thị Xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần cùng với ánh chiều tà. Phước Long thật sự đã mất, mất theo với Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long, với Trung Tá Quận Trưởng Quận Châu Thành, với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và còn nhiều nhiều Quân Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết. Liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân, nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trể, chiến trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi phải biết định đoạt vận mạng cho các Chiến sĩ và bản thân. Chỉ cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ đại bác 75 ly từ đỉnh Núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ trở thành cát bụi.
Núi Bà Rá Không còn chần chờ, mạng sống của trên 150 Binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển về hướng Đông Bắc tiếp cận bờ sông Dak-Lung, nơi đây bằng mọi giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak-Lung. Qua bên kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn. Dòng sông Dak-Lung nước chảy xiết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa, ít nhất là 50 mét. Một số Binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự chỉ huy của Trung Úy Biệt Đội Phó Nguyễn Văn Quí, đi ngược bờ sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn. Cũng trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trổi dậy trong lòng, tôi chắp tay ngưỡng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng thời gian ngắn, Trung Úy Qúi báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng nầy bỏ lại, đang neo đậu bên một lùm cây cổ thụ. Nhờ vào khả năng bơi lội của người vùng biển Nha Trang, Trung Úy Qúi đã đưa một Tiểu Đội qua sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc, dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy ra. Trong ngày qua, hôm nay và ngay thời điểm này, rất đông đồng bào Tỉnh Lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu Thác Mơ, nằm về hướng Đông Thị Xã, bắc ngang sông Dak-Lung. Việt cộng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu. Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cộng đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem lại thảm khốc cho người dân lành vô tội. Lẫn lộn trong đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát… trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc cộng. Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng Đông Đông Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông Bắc, phía có mật khu Bùi Gia Mập. Đó là phía cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện cho chiến trường Phước Long. Theo hướng Đông Đông Bắc, đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn, dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch, chắc chắn cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng, thiệt hại không nhỏ. Khi mặt trời lố dạng, nhìn vào tấm Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số. Biệt Đội 814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6 tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tầng số máy PRC.25 truyền tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi, chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi tàn nào để cầm cự. Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy xiết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống, thì Hạ Sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống bồ đàm cho tôi và nói: – “Đại Úy, Thái Dương đang gọi Đại Úy”. Đây là lần đầu tiên liên lạc được với cấp Chỉ Huy cao nhất của Liên Đoàn: Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, sau gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại Tá đã xoa dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang trên đường cao bay xa chạy. Suốt ngày nay, vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con: Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại Tá Huấn lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa. Ông liên tục theo Phi cơ Quan Sát L.19, bay miết trên vòm trời cao của Phước Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn Việt cộng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L.19 cho được an toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không thể liều lĩnh được. Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại Tá Huấn tìm ra được Biệt Đội 814. Sau khi chấm tọa độ chính xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại Tá từ trên Phi cơ L.19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc. Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực Thăng UH.1B tuần tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về Căn cứ Hành Quân tại Suối Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả cũng đều được Đại Tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc. Khi tôi vừa từ Trực Thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày nay rồi. Dân chúng Saigon dao động, lo lắng. Bóng ma cộng sản gần kề hơn!!! Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ cỏi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ trang phục quần Tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là: “Thục Viên, phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn…” Tôi chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và trôi qua. Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản ảnh trung thực về cá tính của con người tôi: “Sau khi Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt núi, đơn vị đầu tiên được Đại Tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt Đội 814 do Đại Úy Lê Đắc Lực chỉ huy. Đại Úy Lê Đắc Lực, người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì thấy Đại Úy Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn, chân tình, nhìn Đại Úy Lực lúc này thì lại giống như một con nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của Đại Úy Lê Đắc Lực……” Ngay chiều hôm đó và qua sáng ngày hôm sau, Đại Tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội 811, Đại Úy Trương Việt Lâm, cùng Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật trở về. Nhưng Liên Đoàn và riêng Đại Tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số xác thân của các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã bị Việt cộng bắt làm tù binh bao gồm: Trung Úy Đức, Chuẩn Úy Cấp, Chuẩn Úy Phước (BCH.I / CT), Thiếu Úy Long, Chuẩn Úy Bảo, Chuẩn Úy Lịch, Chuẩn Úy Linh (BĐ.811). Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “cải tạo” khổ sai. Trên bãi Trực Thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật “bại trận trở về”. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi bắt chặt tay Trung Tướng Tư Lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi xót xa, đau đớn tận cùng. Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy chưa hoàn thành sứ mạng: “Bảo Quốc An Dân”.
Tác giả đã nhận giải bán kết – thường được gọi đùa là giải á hậu 2001. Sách đã xuất bản: Chuyện Miền Thôn Dã. Từ nhiều năm, ông là một huynh trưởng Viết Về Nước Mỹ và là thành viên ban tuyển chọn chung kết của giải thưởng nhưng vẫn tiếp tục vui vẻ góp bài mới.
Nghe tôi bị đứt dây chằng người ta cười, cứ tưởng tôi nói đùa. “Đàn bà mới có dây chằng chứ đàn ông, đàn ang ai mà có”. Vậy mà tôi bị đứt thiệt đó. Đứt không phải 1 mà là 2 cái dây gân nối từ bắp thịt cánh tay lên bả vai. Ai có ngờ đâu đứt gân thì đau lắm, đau hơn đau đẻ! Cách đây hơn 20 năm, tôi đi làm cho công ty ông Bao Phan. Lúc đứng trên một bức tường cao chừng 4 ft thôi, thấy 1 cô “Mỹ đeng” đi ngang qua, cái mông nhún nhảy, tôi tự nhủ: -Chà, nếu đặt trên đó tô phở chắc cũng không rớt. Cô ta đi qua rồi tôi còn liếc mắt trông theo và chân thì cứ bước, đâu biết rằng phía trước là một vũng nước đóng rêu xanh trơn trợt. Tôi ngã nhào xuống đất, tuy tường không cao lắm nhưng cái thế té không gượng lại được nên tay chống xuống đất đau điếng, mắt đổ hào quang. Tôi kêu lên: -Hùng ơi, chắc anh bị gẫy tay. Nó gọi phone cho ông Bao, ông tới liền chở tôi đi chụp X ray mới biết là không gẫy xương, chỉ bị trật khớp, sau đó chở tới ông thầy võ quen biết. Ông này thoa dầu nóng và nắn cho khớp xương vào đúng chỗ. Tuy khỏi nhưng lâu lâu nó lại giở chứng đau nhức làm phiền tôi hoài. Hồi đầu năm 2019, tôi bị cụp xương cổ khi té thang. Chuyện này tôi kể rồi, vì trèo lên bức tường hái thanh long chồm qua nhà hàng xóm. Có người ghét, nói tôi đi rình bà Mễ hàng xóm tắm chứ hái cái quái gì. Thôi kệ, thiên hạ nói gì thì nói miễn tôi vẫn giữ lòng trong sạch là có ngày…nên thánh. Vì vụ té này nó cấn cả vô vai đã từng bị tì vết, mà khi khỏi đau cổ rồi tôi không biết bả vai bị chấn thương, cứ ra vườn làm cỏ trồng cây. Ngày đầu tháng 7 vừa qua tôi đào cái lỗ nhỏ bằng 2 cái tô để trồng cây hoa, thấy vai hơi ê ê, và rồi 2 hôm sau sự nhức nhối tăng dần. Tôi đi BS vì đau quá, đi đến 3 ông BS trong 1 tổ hợp lận, mà ông nào cũng cho rằng “Chú lớn tuổi rồi, cái gì nó cũng nhão! Cơ bắp ở vai bị giãn, cứ uống thuốc đều là nó dần dần sẽ khỏi.” Đọc tới đây, nếu bạn chưa tới 65 tuổi thì nên ngưng, bởi vì vào tầm tuổi đó, tôi ngán nhất là khi nghe mấy người già gặp nhau toàn là kể chuyện bệnh, với thuốc uống, nghe phát chán. Có lần tôi đi cùng 3 người khác vào tiệm phở, vừa thò đũa vào tô thì có 2 vợ chồng ông kia vô tiệm. Người cùng bàn với tôi gặp người quen thì chào xã giao: -Ông bà cũng đi ăn sáng ạ. Sao hồi này khoẻ không? Bà vợ vui mừng đến cạnh bàn: -Thưa vợ chồng tôi cũng không được mạnh. Ông ấy cứ bị tắc ruột hoài nên không đi cầu được. Khổ lắm. Thiệt tôi chưa thấy ai “dzô diên muộn” như cái bà này. Bữa đó ăn phở không biết ngon lành là gì. Vì bị đau quá nên tôi có xin BS chích cortisone vào ngay chỗ đau chứ uống thuốc không thấy si-nhê gì, xin được đi chụp MRI (chụp hình cắt lớp) và chuyển đi specialist. Người ta chích thuốc này có khi khỏi luôn, ít ra cũng mấy tháng sau mới đau lại, còn tôi chỉ 1 tuần là nó đau như cũ.
Năn nỉ ông BS cũng không chịu chích nữa, ông nói: -Thuốc chỉ làm cho ông không cảm thấy đau chứ không chữa được bệnh. Ông thấy không đau, tưởng khỏi rồi nên cứ lái xe, cứ làm việc nặng sẽ bị tổn thương nhiều hơn nữa. Từ ngày qua tuổi 65 tôi có mua Medical $135/tháng, đi khám bệnh hay mua thuốc không tốn đồng nào, mỗi tháng lại được mua ba cái thuốc vớ vẩn giá $30, mình không mua thì cũng uổng, mà mua cả băng dán, thuốc ho, thuốc cảm, kem đánh răng… cũng được, nên lấy làm khoái chí. Tới lúc bị đau nhiều mới thấy xài Medical chán lắm. Mình phải vô group, không vô BS không chịu khám dù mình có đưa thẻ Medical.. Để được đi chụp MRI hay đi BS chuyên khoa, phải đợi giấy approve của cái Group này khoảng 16 ngày. Có vài ông bạn già của tôi nói ổng làm đơn thế nào đó, mà không phải đóng $135/tháng, được cả 2 cái gọi là Medi-Medi của tiểu bang và liên bang, không cần vô group và muốn đi BS nào cũng được. Hỏi ra thì tôi không được qualify, vì có tài sản là vàng chôn dưới gốc khế trước sân! Tác giả Phạm Hoàng Chương đã từng có mấy bài viết cặn kẽ về vấn đề này. Khi đang chờ đợi thì cánh tay nhức hoài, tôi bèn đi đấm bóp ở mấy tiệm Tàu, về nhà thấy còn nhức bèn lấy máy đấm bóp ra, cho nó dộng tối đa vào khu vực bả vai. Than ôi tôi đâu ngờ nó càng chấn thương nặng hơn, đầu bắp thịt toét toè loe ra, đến nỗi không thể nằm ngồi gì được, đau “tái đé”. Tôi rên lên như heo bị thiến, đứa con phải chở gấp tới Urgent Care, chờ cả tiếng họ mới nói đây là 1 clinic nhỏ, không nhận Medical. Họ chỉ cho 1 cái khác cũng gần đó. Cũng may tiệm đang ế nên không phải chờ đợi, nhưng nơi đây không có BS, chỉ có 1 Practitioner. Cô ta khám xong, nói vì không có máy chụp Xray nên chỉ chích cho giảm đau thôi. Đêm đó tôi không ngủ được chút nào, nằm ở vị thế nào cũng đau nên sáng sớm phải vô phòng cấp cứu BV Fountain Valley. Có lẽ nhiều người có kinh nghiệm vô cấp cứu rồi, nếu bệnh nhân không đổ máu đương trường như bị đụng xe hay súng bắn, không ngáp ngáp như bị đau tim, stroke v v…. thì họ cứ để đấy, tha hồ chờ. Tôi vào lúc 9 g sáng, ra về lúc 3g chiều, được cột chặt rồi trượt vào cái máy chụp hình MRI và chích 1 mũi thuốc giảm đau. Được giới thiệu 1 Bs specialist, tôi về nhà gọi phone thì ông này nói không nhận Medical, thế là lại phải vòng về BS gia đình.. BS gia đình là gọi theo kiểu người Việt mình, chứ Mỹ gọi là Prime Provider. Vì đã có xin chuẩn thuận trước nên BS liền cho tôi đi BS chuyên khoa liền. Tôi kêu lên: -Ơ hay. Ông này là BS bàn chân bữa trước cắt cái móng chân ingrown nails cho tôi đây mà. Vậy là có lẽ mấy cô y tá lầm, lại phải re request và tôi chờ 16 ngày sau mới có giấy. Gọi phôn hoài không lấy được hẹn nên tôi tới ngay phòng mạch. Mở cửa ra tôi muốn dội ngược vì ngồi trong đó có đến gần 30 kẻ sứt càng gẫy gọng, ngồi xe lăn, chống nạng, băng bột…mà có rất nhiều người cầm cái giấy approved giống hệt tôi. Lại chờ chừng vài tiếng rồi nhận cái giấy hẹn 15 ngày nữa. Vậy là bị đau từ hôm 7 tháng 7, đến 23 tháng 9 nghĩa là hai tháng rưỡi tôi mới được gặp ông Bác Sĩ chuyên khoa để được cho biết tôi có cần giải phẫu hay không. Sau khi xem xét tấm hình tôi đã chụp MRI trên màn hình, ông BS specialist kêu y tá đem tôi đi chụp thêm 5 tấm hình nữa. Sau 1 giờ chờ đợi thì ông ấy phán:
Ông mạnh thiệt, so hình bữa trước với bữa nay thì thấy gân đứt đã gần lành. Chúc mừng. Nhớ về nhà phải thường xuyên kiếm cái gì mềm mềm mà bóp chứ không thôi sẽ đau lại đó và bắp thịt tay sẽ teo dần đi. Tôi dốt tiếng Mỹ nên ngớ mặt ra: -Cái mềm mềm của tôi hay của người khác? Ổng lừ mắt: -Mân mê cái của mình thì biết bao giờ mới khỏi? Ông đi mua trái banh mềm- soft ball- cỡ trái cam mà bóp. Thế là bệnh nhân hân hoan ra về, vừa đi vừa huýt sáo, bảo vợ ghé chợ mua 2 cục thịt bò Roast beef to tổ chảng mà có 21 usd, về chiều nay nướng ăn mừng. Ông anh cột chèo của tôi nói vậy là may lắm, chứ em gái ổng cũng không có làm việc gì nặng, mà bỗng dưng vai bị sưng lên đau đớn lắm. Bác sĩ giải phẫu phải cắt 2 lỗ rồi luồn kim như đan len vào mà dùng chỉ đặc biệt, kéo đầu gân đã đứt mà nối vào nhau. Nói tóm lại, qua tuổi 65 rồi chúng ta nên nghỉ ngơi hoàn toàn, mang bao gạo 50lbs từ xe vô, khiêng nồi phở từ bếp nọ qua bếp kia, cắt cỏ vườn, trồng cây v.v… nếu không có con cháu ở nhà, thì nên nhờ vợ giúp. Cẩn tắc vô áy náy các cụ ạ. Sách có câu “núp bóng tùng quân” ý nói người chồng như cây thông cây tùng, toả bóng mát cho vợ núp dưới đó tránh mưa nắng gió sương, còn tôi từ nay phải đành “Núp bóng tùng…xèng”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.