This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tỉnh lỵ Cần Thơ thuộc tỉnh Phong Dinh, nằm ở nơi sông Cần Thơ nhỏ hợp lưu với sông Hậu, một trong hai nhánh của sông Cửu Long. Nhánh kia là sông Tiền. William Ruzin, lính Mỹ, phóng viên ảnh chiến trường, (the war photographer), mang theo máy Minolta và Yashica (đều của Nhựt) đã chụp một số hình ảnh tại tỉnh Phong Dinh vào năm 1968. Các hình ảnh nầy kết hợp giữa cảnh đô thị và cảnh quê. Bạn đang đi dọc theo một con đường đông đúc với những chiếc xe đò cổ lỗ sĩ, và trong nháy mắt, với những khu ruộng rẫy, con sông đầy cát và những ngôi nhà lá tạo nên một bức tranh của nông thôn yên bình. Bà con mình ai cũng biết từ năm 1954 tới cuối năm 1960 lúc Vi Xi trỗi dậy, thời Đệ nhứt Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, những chiếc xe đò mang tên: Công Tạo, Đại Hưng, Đức Hiệp, Hiệp Hưng, Hiệp Thành, Hữu Phước, Kim Long, Liên Hiệp, Liên Trung, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Nhơn Hòa, Phi Long, Quang Minh, Tam Hữu, Thành Long, Thuận Hiệp, Thuận Lợi, Thuận Thành, Vĩnh Phát chạy khắp các tỉnh Miền Tây; chạy sáng đêm vì không có giới nghiêm gì ráo trọi. Trong tấm hình của phóng viên ảnh chiến trường William Ruzin là chiếc xe đò hiệu Desoto của hãng Đại Hưng chạy từ An Xuyên (Cà Mau), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Phong Dinh (Cần Thơ) tới Thủ đô Sài Gòn) và ngược lại. Nó đang đậu tại cây xăng Shell của cô Hai Định cặp bến xe mới Cần Thơ. Nhà biên khảo Huỳnh Minh viết: “Qua khỏi chỗ có cây cầu Sáu Thanh cũ mà nay đã lấp bằng ấy, xe chạy tới ngã ba Cây Xăng. Bạn trông thấy ngay công trường Tự Do, phía trái là Đại lộ Hai Bà Trưng, phía mặt là đường liên tỉnh số 27 đi Long Xuyên, là một khu công viên tân tạo rộng rãi, bến xe dài 250 thước, rộng 60 thước tập trung xe đò chở khách đi Bạc Liêu, Sóc Trăng, Châu Đốc v.v. “Những căn phố lầu khang trang nằm dọc theo đại lộ sau bến xe dùng làm khách sạn, tiệm ăn, nhà thuốc tây, bán hàng tạp hóa v.v.” (sic) Tại sao tui biết đây là Bến xe mới Cần Thơ?
Saigon Bus Can Tho 1968-69- nguồn William Ruzin/ flickr Bến xe mới Cần Thơ nên mới có xe lôi đến đón khách từ Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng lên hoặc từ Sài Gòn về. Sài Gòn không có xe lôi. Sài Gòn có taxi, xe xích lô máy, xe xích lô đạp! Chiếc xe đò Desoto Đại Hưng nầy khởi hành đề pa (depart) từ Sài Gòn về Cà Mau. Trong xe bao giờ cũng có trang thờ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và hàng chữ “Kính chúc quý khách thượng lộ bình an” thiệt là lễ phép và lịch sự. Chiếc xe đò Đại Hưng nầy được quyền đón và trả khách ở Cần Thơ, Sóc Trăng. Không được đón khách đi đường gần như: Long An, Mỹ Tho. Chia nhau mà sống. Còn giành hết ráo, đi gần cũng hốt thì có ngày ăn mỏ lết (gốc từ tiếng Pháp là ‘molette’ (hoặc ‘clé molette’ cờ lê) dùng để siết chặt các bù lon, con tán, (ê cu) (boulon và écrou trong tiếng Pháp) của dân đứng bến.
Hình William Ruzin chụp với đề tựa là “Saigon Bus CAN THO 1968-69”. Ông Tây nầy là Mỹ đề tựa không đúng, mình thông cảm. Còn mình là Mít ‘đặc’ mà chú thích: “Những hình ảnh tuyệt đẹp về xe đò ở Sài Gòn trước 1975?” Chú thích không đúng. Không đúng thì ‘Mít đặc’ thiệt! Thì có một facebooker dạy đời tui như vầy nè: “Trước 75, Tây là Tây, Mỹ là Mỹ. Không có vụ ông Tây này là Mỹ.” Tui xin kính cẩn nghiêng mình trước câu bình luận của ổng và xin mạn phép trả lời như vầy: Từ “Tây’ trong tiếng Việt có nguồn gốc từ “Tây phương” (nghĩa là phương Tây). Hồi xưa, bà con mình gọi tất cả những người da trắng mũi lõ đều là Tây hết ráo đó ông. Giờ ở hải ngoại cũng thế. Như nước Úc, vùng Footscray, nơi tui dừng giang hồ trên bước đường tị nạn CS có tới hàng trăm sắc tộc. Bà con Mít mình tạm chia làm 3 nhóm: Vàng như Mít, Miên, Lào, Tàu, Cà Ri… ‘Tây trắng’ như; Anh, Irish, Scottish, Ý, Hy Lạp… ‘Tây đen’ như: Somali, Ethiopian, Sudanese v.v. Riêng chủ nhà thì đặc biệt hơn; không ba xôi nhồi một chõ, Úc chia làm 2 loại: Úc trắng (nếu da nó trắng). Úc đen (nếu da nó đen), tức thổ dân; mà nghe nó khoe ông cố nội nó ở cái đất nầy hơn 50 ngàn năm rồi đó nhe mấy cha! Ngoài ra, bà con mình còn nói ‘sang như Tây’ hoặc ‘đẹp như Tây’ để chỉ người có cái ‘xì tai’ (style), cách ăn mặc, hoặc cách sống được xem là hiện đại, lịch lãm và có phần ‘quốc tế’ như người phương Tây (chớ không phải chỉ riêng người Pháp)
Thuyền trên Sông Cửu Long, Cần Thơ – nguồn William Ruzin/ flickr Qua ca dao, cho chúng ta biết: “Giặc Tây đánh tới Cần Giờ. Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công”. Rồi lịch sử cho ta biết: “Giặc Tây xâm lược thành Chí Hoà (Gia Định) vào năm 1860. Giặc Tây ngoài giặc Pháp chủ yếu chỉ huy, còn có quân Tây Ban Nha nữa. Bằng chứng là trong lực lượng liên quân với Pháp trong cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858 và sau đó tại Gia Định (Sài Gòn), Đại úy Hải quân Juan Bautista Topete trong một trận đánh và sau đó qua đời vì bị thương quá nặng. Giặc Tây còn phải kể tới mấy đứa hụ hợ, chầu rìa. ké tụ, vấy máu ăn phần là: Bồ Đào Nha, Hòa Lan kể cả Đế quốc Anh. Mấy thằng Tây, tức mấy thằng da trắng mũi lõ, gồm nhiều nước xúm lại xâu xé nước ta cuối thế kỷ 19. Tương tự như đầu thế kỷ 20, nhiều cường quốc phương Tây xâu xé Trung Hoa vậy. Anh với Cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất (1839-1842) và lần thứ hai (1856-1860). Trung Hoa phải nhượng lại Hồng Kông cho Anh và mở cửa một loạt các cảng biển cho thương mại. Pháp cũng thiết lập các nhượng địa tại Quảng Châu và Thượng Hải. Nga chiếm đóng nhiều vùng đất thuộc Mãn Châu và thiết lập ảnh hưởng tại vùng biên giới phía bắc của Trung Hoa. Rồi Đức đã chiếm đóng vùng Thanh Đảo ở tỉnh Sơn Đông… Kết luận Tây chỉ chung, như là một họ như trong thực vật, Pháp là một trong số đó! ‘Tây’ không phải đơn giản là người Pháp như ông nghĩ. Nói cho ông nghe chơi cho vui! Chớ tui thừa biết chắc là ông chỉ khăng khăng Tây là Pháp. Ông bao giờ cũng trúng hết ráo! He he!
Theo tin của BBC, sau nhiều tháng tạm hoãn, chùa Liên Trì tại Sài Gòn bị chính quyền “cưỡng chế” hôm 8 Tháng Chín. Nhưng “cưỡng chế” là gì? Theo quan điểm của nhà nước Cộng Sản, cưỡng chế là một tính chất cơ bản của pháp luật. Tính chất cưỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức và phong tục. Theo Lenin thì pháp luật sẽ không còn là gì nữa “nếu không có một bộ máy có đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền có cũng như không.” “Các quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân thủ, chủ yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết và lên án của xã hội; còn quy phạm pháp luật được nhà nước bảo đảm thi hành, nếu ai không chấp hành thì nhà nước cưỡng chế thi hành.” “Sự cưỡng chế của pháp luật không phải đơn thuần nhằm mục đích trừng trị mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giáo dục người vi phạm. Sự cưỡng chế ở đây được thực hiện trên cơ sở pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành. Nhà nước XHCN không thừa nhận các hành vi bạo lực trái với pháp luật trong việc xử lý các vi phạm pháp luật.” “Tính chất cưỡng chế của pháp luật không chỉ là răn đe, ngăn chặn, trừng trị, mà còn là sự giáo dục sâu sắc đối với các chủ thể pháp luật. Bản thân quy phạm pháp luật là chuẩn mực để con người rèn luyện ý thức công dân, hình thành ý thức pháp luật, tạo ra cho mỗi công dân một khả năng tư duy pháp lý, tránh được những ngẫu nhiên, tùy tiện, coi thường pháp luật nhà nước.” Luật cưỡng chế có nói đến cưỡng chế tài sản, tiền bạc nhưng hiện nay tại Việt Nam, những vụ cưỡng chế đất là chủ yếu, vì “đất là vàng!” Chúng ta đã nghe nhiều vụ cưỡng chế (tịch thu) đất đai nổi tiếng như vụ Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng; Vương Quang Hiển ở Hà Nội; Nguyễn Thành Thiện ở Sài Gòn; Cấn Thị Thêu ở Hải Dương; hai mẹ con bà Phạm Thị Lài ở Hưng Phú, Cái Răng, Cần Thơ trần truồng chống cưỡng chế; cưỡng chế đất ở Bình Phước, dân và công an cùng đổ máu; xe ủi đất cán qua người dân chống lại cưỡng chế; Văn Giang có hàng nghìn nông dân “liều chết giữ đất cưỡng chế” đất; tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, Cộng Sản đưa ra xét xử và bỏ tù 12 người dân. Trên toàn cõi Việt Nam, có hàng trăm nghìn gia đình nông dân trắng tay vì chính quyền cưỡng chế đất đai, trở thành “dân oan,” cơm đùm gạo bới, biểu tình, khiếu nại, kêu oan, nhưng chẳng đi đến đâu trước bạo quyền với dùi cui, súng điện, chó săn… Bà Lê Hiền Đức, một người tham gia đấu tranh chống tham nhũng tại Việt Nam và được Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế trao giải Liêm Chính năm 2007, vừa qua cũng tiếp xúc với những người khiếu kiện đất đai từ các tỉnh về trung ương, đưa ra nhận xét sau khi nghiên cứu trường hợp của bà con: “Tất cả nhân dân đều bị ‘cướp’ đất, tôi không dùng từ thu hồi, vì đâu phải cho mượn mà thu hồi. Không ai được quyền dùng từ ‘giải phóng mặt bằng’ nếu đất dân không đồng ý. Dân đã kéo lên từng đoàn người thì có nghĩa quyền lợi họ giống nhau, với tinh thần đất đai họ sử dụng mấy chục năm nay và đổ ra trên đó bao nhiêu mồ hôi, nước mắt.” Như vậy ngoài lý do “giải toả mặt bằng” để dùng đất vào việc có lợi cho chính quyền, chùa Liên Trì bị cưỡng chế có thể còn do những chuyện khác. Phía Hội Đồng Liên Tôn ở Việt Nam cho rằng: “Việc giải tỏa chùa Liên Trì của nhà cầm quyền đã có dự tính từ lâu nhằm triệt hạ những cơ sở tôn giáo độc lập không chịu nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Có thể một trong những lý do khiến chính quyền tìm mọi cách cưỡng chế, giải tỏa chùa là vì lâu nay vẫn diễn ra các hoạt động ‘ngoài luồng’ như phát quà cho thương phế binh của chế độ cũ, trợ giúp dân oan mất đất hay họp mặt các cựu tù chính trị hoặc các hội đoàn xã hội dân sự.”
Tuy nhiên, phía chính quyền cũng cho hay, ngoài chùa Liên Trì còn có hai cơ sở của Công Giáo là nhà thờ Thủ Thiêm và tu viện Mến Thánh giá cũng nằm trong “diện” bị giải tỏa ở khu vực này. Sau khi chùa Liên Trì bị giải toả, cả thế giới tự do đã biểu tình, thắp nến đồng tình với sự tổn thất này và lên án chính sách đàn áp tôn giáo của Cộng Sản Việt Nam ở trong nước. Chính Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, trong phần phát biểu, bày tỏ sự phản kháng CSVN đã phá bỏ chùa Liên Trì. Hòa thượng khuyên “đồng bào Phật tử hãy giữ vững niềm tin và không sợ hãi để đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và toàn vẹn lãnh hải lãnh thổ Việt Nam.” Đó chính là cái dũng của Phật Giáo. Hình ảnh Hòa Thượng Thích Không Tánh, viện chủ chùa Liên Trì, đứng khóc trên cảnh hoang tàn, được loan truyền đi khắp thế giới, theo tôi, đó là một hình ảnh phản cảm, đem lại cho tôi chút suy nghĩ và tôi hoàn toàn không đồng ý với thái độ này. Trong thời gian này, cả chục nghìn người dân Hà Tĩnh, khí thế sôi sục đang xuống đường chống cường quyền, thì nơi này, thầy đang đứng khóc lặng lẽ một mình! Thầy có khóc than thì chúng cũng không trả lại chùa cho thầy, và nếu một khi chúng muốn giết thầy thì thầy có van xin, lạy lục chúng vẫn giết!
Hòa Thượng Thích Không Tánh đứng tại chỗ trước đây không lâu là chùa Liên Trì. (Hình: Blog anhbasam) Chủ đề bi trí dũng của Phật Giáo được rút ra từ đại hùng, đại lực, đại từ bi. Bi là sự rung động trước nỗi khổ của người khác. Đức Phật là người đã thành tựu đầy đủ công đức, đem vui, cứu khổ cho chúng sanh. Ngài đã từ bỏ hạnh phúc thế gian để tìm ra đạo giải thoát. Ngài đã từng chịu đựng nhiều gian lao, khổ ải mà không bao giờ thoái thác, lùi bước. Như vậy trong bi phải có trí, có dũng. Người Phật tử sống theo châm ngôn bi không thể thản nhiên trước nỗi khổ của người khác, kể cả loài vật. Trí là sự sáng suốt, hiểu chính xác mọi nguyên lý trong vũ trụ. Dũng là sự can đảm, tinh tấn, không yếu đuối, sợ sệt, không ngại khó khăn. Người Phật tử phải luôn kiên trì để thắng mọi thử thách, vượt qua bao chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Đời tôi, chưa bao giờ thấy cảnh tượng một ông thầy ngồi khóc, dù là trước cảnh một ngôi chùa đổ nát! Cảnh tượng đó sẽ làm cho chính quyền cảm thấy sự hả hê của một phe chiến thắng, và cho họ thấy rõ sự yếu đuối vô cùng của một “đối thủ,” người gọi là “lãnh đạo” tinh thần của hàng Phật tử. Rồi đây, ai sẽ đủ sức mạnh, tự tin và vững vàng trí tuệ để dắt đường đưa lối cho thiện nam, tín nữ. Chùa bị giật sập, chúng ta sẽ xây dựng một ngôi chùa khác, mà dù không có chùa, đạo pháp vẫn vững vàng như Thái Sơn, ngọt ngào tinh tấn như suối nguồn, cớ sao thầy lại bi luỵ như thế. Rõ ràng, mới chỉ là chuyện phá chùa, thầy đã bỏ cuộc ngay giờ phút đầu. Ngày xưa, Thái Tử Tất Đạt Đa có khả năng xây dựng hàng trăm ngôi chùa nguy nga, chạm vàng dát ngọc, và xa mã lộng lẫy cao sang, nhưng ngài đã chọn gốc cây Bồ Đề và đôi chân trần cho đến ngày tìm ra con đường giải thoát mọi khổ đau! Những giọt nước mắt chảy ra trên nền vôi vữa hoang tàn của chùa Liên Trì, nó có ý nghĩ của sự bị khuất phục, mà đáng ra hình ảnh thầy phải vươn cao, dõng dạc để nói với bạo quyền Cộng Sản, thầy vẫn còn đây, để từ đó người Phật tử còn tin tưởng hướng về thầy như một người dẫn dắt, lãnh đạo cả sự chiến đấu nữa. Điều cuối cùng, thất vọng hơn nữa, là thầy đã cho hay: “Một khi chùa Liên Trì bị phá bỏ, tôi sẽ tìm một quốc gia có tự do tôn giáo để xin tỵ nạn. Vì hòa thượng mà mất chùa thì không còn lý do gì để ở lại!” (BBC, 9 Tháng Bảy) Thưa thầy, chùa không phải là cứu cánh! Thầy còn Phật tử, còn đồng bào, còn đạo pháp. Cộng Sản rồi sẽ suy tàn, nhưng Phật Giáo và chân lý sẽ còn mãi mãi. Không phải chỉ thầy mất chùa, mà hàng triệu đồng bào đã mất nhà, mất mạng, mất tự do, mất quyền làm người. Trong tình cảnh này, vì mất chùa, thầy lại đòi ra đi, rời Việt Nam để đến một đất nước tự do (Mỹ, Úc, Canada hay Âu Châu?). Thầy là đệ tử của Hoà Thượng Thích Quảng Độ, lẽ nào thầy không noi gương ngài với một thái độ dấn thân, chứ không phải trốn tránh. Thưa thầy, Việt Nam cần thầy, thương binh VNCH ở trong nước cần thầy, ở hải ngoại này chắc chắn không cần có thêm Hòa Thượng Thích Không Tánh. Có thầy, hải ngoại sẽ có thêm được một ngôi chùa, như lời thầy phát biểu theo chân lý của thầy: “Vì hòa thượng mà mất chùa thì không còn lý do gì để ở lại!” Nhưng hải ngoại này cũng không cần có thêm một ngôi chùa nữa! Có nghìn lý do bắt thầy phải ở lại, nếu vì lý do mất chùa mà thầy ra đi, thì có khác chi: “Ta như kẻ chăn chiên quay đầu chạy Bỏ bầy chiên lại cho lũ sói rừng!” Ở hải ngoại, mỗi đêm đã có nhiều người khóc khi theo dõi tin tức ở quê nhà, đó là nỗi khốn cùng của dân tộc Việt Nam, còn ngôi “chùa của thầy” (thầy khóc cho một vật sở hữu) chỉ là một vật thể trong cái vòng quanh quẩn, “có có, không không!” Xin tiếc cho những giọt nước mắt của thầy đã rơi xuống không đúng lúc, đúng chỗ!
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi người Nam “nhận họ,” người Bắc “nhận hàng,” bao nhiêu kho đạn, lương thực, thuốc men, máy móc… được chở về Bắc để vỗ béo cho cán bộ cao cấp, kể cả 16 tấn vàng, tài sản quốc gia, bị bọn cán bộ cao cấp, mỗi người “cấu véo” một tí, thì miền Nam trở thành một bãi rác hoang tàn. Sau khi đưa vào tù quân cán chính miền Nam, đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng kinh tế mới, thì dân đen, loại không biên chế, không còn cái ăn cái mặc, đau ốm không thuốc men.
Lá cây khoai mì. (Hình minh họa: Issouf Sanogo/AFP/Getty Images)
Cái ăn đã không có, trừ gạo mục từ các mật khu mang về, bo bo, bột mì, khoai sắn nộp nghĩa vụ lẫn đất cát còn không đủ no, thì chuyện đau ốm khó khăn – khắc phục. Xuyên tâm liên là vị thuốc độc nhất toàn năng phổ biến trong quần chúng dành cho những “ông chủ” của đất nước, như Tạ Phong Tần đã viết: “… sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ai bị bệnh gì vô bệnh viện Bạc Liêu cũng đều được bác sĩ kê toa hai thứ thuốc không bao giờ thay đổi là xuyên tâm liên (viên nén) và chai xi-rô Lạc Tiên, đem về uống đến phù cả mặt mũi mà vẫn không hết ho…” Không phải chỉ có Bạc Liêu mà cả toàn quốc! Phổ biến thì súc muối hay nhỏ nước tỏi vào lỗ mũi. Trong nhà tù “cải tạo” ngoài Bắc, thì phái đoàn y sĩ từ Hà Nội về nhổ răng cho tù bằng kềm, búa, đục thợ rèn, 10 anh thì sưng mặt hết bảy. Xuyên tâm liên là thứ cây thuốc có ở phía Nam Trung Quốc. Theo tính vị ghi trong tài liệu y học dân gian Quảng Châu, thì cây “xuyên tâm liên” này có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thủng, giảm đau. Được dùng chữa vết thương, tẩm gạc đắp vết thương hoặc làm dịch nhỏ giọt rửa vết thương; chữa viêm họng, viêm phế quản, lị cấp (nước sắc xuyên tâm liên cùng với bồ công anh, sài đất…). Vào khoảng thời gian “mở cửa” khi mà Việt Cộng đã cho dân chúng nhận những thùng quà từ ngoại quốc gửi về, đặc biệt là những người vượt biên đến được Mỹ, thì hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu ra lệnh tịch thu thuốc Tylenol trong những thùng quà với lý do là có chất độc, cần phải kiểm nghiệm. Mặc dầu Tylenol đã vài lần bị thu hồi (recall) tại Mỹ, nhưng đó là một thứ thuốc bán rất chạy trên thị trường Bắc Mỹ, đứng hàng thứ ba trong các loại thuốc đau nhức. Nếu hải quan tịch thu Tylenol và thiêu hủy tại chỗ thì không nói, đằng này trong lúc thuốc men khan hiếm, thuốc này dành cho cán bộ dùng, và được tuồn ra ngoài chợ trời để bán với giá cao. Về cái ăn thì thịt là món hiếm, chỉ có trong các cửa hàng nhà nước, hay được chuyển lậu, bằng cách bó vào đùi, vào mông để qua mắt các trạm kiểm soát. Nhưng nhân dân đã có một thứ “thịt” dễ kiếm khác, đó là ngọn “lá sắn” bỏ đi, sau khi “thu hoạch” củ sắn (khoai mì) nông dân ủ thành phân xanh. Báo Nhân Dân, “Cơ Quan Trung Ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tiếng Nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân Việt Nam,” vào khoảng thời gian 1978-79 đã có những bài báo nghiên cứu để đưa đến kết luận: “Ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò,” vì lá sắn chứa rất nhiều chất protein. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ, là vì trong trại tù ở Bắc Thái, bọn tù chúng tôi đã phải tập họp ngồi nghe bọn “trật tự-thi đua” đọc đi đọc lại bài nghiên cứu khốn nạn “ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò.” Trong khi dân nếu tin chuyện đảng hướng dẫn, ăn lá sắn đến vàng da, mờ người, thì Bộ Chính Trị và các quan chức dùng sữa, thịt bò Jersy từ trại Ba Vì và sâm nhung hảo hạng. Cái này thì không phải chờ đến sau Tháng Tư, 1975, mà trước kia, Nguyễn Chí Thiện đã nói lên giữa hai màu da mặt tương phản giữa lãnh tụ phè phỡn và quần chúng tí hon, tương lai của đất nước: “Nước da hai bác mầu hồng nước da các cháu nhi đồng mầu xanh giữa hai cái mặt bành bành chiếc khăn quàng đỏ quấn quanh cổ cò!” Về sau mới biết vì sao có chuyện lá sắn có protein: Nguyên ngành chăn nuôi Bắc Việt nghiên cứu ngọn lá sắn nếu đem ủ chua vào khẩu phần vỗ béo bò thịt sẽ làm tăng lượng hấp thụ thức ăn. Trọng lượng bò được vỗ béo tăng dần theo mức bổ sung ngọn lá sắn ủ chua trong thức ăn của bò hằng ngày. Việc ủ chua lá sắn cho bò đã tiết kiệm được thức ăn. Nhân dân không được đảng xem là người mà xem như trâu bò, được dùng lá sắn thay cho cá thịt. Dân ngu thì cứ tin đảng và nhà nước tận cùng, đảng và nhà nước thì dối trá, ai chết mặc ai. Cuộc nghiên cứu của những “đỉnh cao trí tuệ” đã được đăng tải trên báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng Sản thì ai mà không dám không tin. Con bò ăn lá sắn lên cân, thì con người XHCN cũng có thể ăn lá sắn để tăng sức, con gà toi nhỏ mũi bằng nước tỏi được, thì con người XHCN có thể nhỏ mũi bằng nước tỏi để khỏi toi. Câu chuyện này làm chúng ta nhớ lại một anh hoạn lợn (thiến heo) bên Tàu, có bà vợ cứ sòn sòn đẻ năm một, cứ nghĩ là cơ phận con người cũng giống heo, cắt tử cung đi là hết đẻ. Một ngày “đẹp trời” nọ, anh trói vợ ra giữa sân, dùng đồ nghề quyết tâm làm cho vợ cai đẻ, bằng cách tìm cách cắt bỏ tử cung của vợ. Lẽ cố nhiên, bà vợ không sao tránh khỏi cái chết do tri thức của anh chồng hoạn lợn ngu dốt. Dân Việt Nam thời “cách mạng” không thiếu người chết, vì các bậc lãnh đạo quốc gia, có đầu óc và tư duy của những anh chàng “thiến heo” loại này. Thời “cách mạng” đổi đời, dân được khuyến khích đói thì ăn lá sắn, ốm đau thì đã có nước đái, nhân dân tự sản xuất, không cần phải bào chế hay “nhập khẩu!” Đó là câu chuyện “niệu liệu pháp” từ cuốn sách của Bác Sĩ F.O. Quinn (Mỹ) do nhà nước xuất bản năm 1989, trong đó đã đề cập đến “phương pháp tự chữa bệnh bằng nước tiểu đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng hiệu quả trị bệnh lại rất cao.” Thời điểm này, cuốn sách xuất bản nhằm mục đích dạy cho dân chúng biết “khắc phục” chứ không phải là một chuyện tình cờ. Sau này giới y học trong nước công nhận nội dung “niệu liệu pháp” thiếu khoa học và gây hậu quả nặng nề, một số người bệnh vì uống nước đái! Cuốn sách sau đó bị cấm lưu hành và trôi vào quên lãng. Ngày còn nhỏ, ở nhà quê, tôi cũng có nghe nước tiểu trẻ em cho đàn bà mới sinh dậy và có công dụng chữa các chứng bệnh như sốt nóng, ho ra máu, thổ huyết, hoa mắt chóng mặt, tay chân lạnh do huyết dồn lên đầu, sản hậu ứ huyết, tổn thương, huyết ứ… Nhưng không phải nước tiểu được đồn đãi “trị được bá bệnh” như “xuyên tâm liên” mà người dân khốn cùng phải làm liều. “Trong nước tiểu có hàng loạt chất độc hại như: Amoniac dùng để tẩy rửa, Creatinine làm co bắp thịt, gây chuột rút, đau đớn, Amylase gây hạ đường máu, Ure gây hôn mê, Bilirubine và chì là chất cực độc, lân dùng để bón cây, ngoài ra còn hàng ngàn loại vi trùng, nấm, virus từ nước tiểu, rồi từ hậu môn xâm nhập qua nước tiểu khi chảy xuống… Do đó, có thể nói, nước tiểu người lớn là… thuốc độc.” (VT News) Nhà văn Quang Lập (Hội Văn Nghệ Bình Thị Thiên) viết trong Blog năm 1985-86: “Vài ngày sau thằng Thịnh đưa tờ báo có bài: ‘Niệu liệu pháp phản khoa học, một trò lừa đảo!’” Cả hội mới ngớ người ra. Anh Nguyễn Khoa Điềm nói hội mình anh em dại quá toàn nghe người ta xúi bậy. Anh Vĩ nói rất hay sự tuyên truyền rỉ tai nguy hiểm thế nào, tôi đã nói rồi tiếc thay anh em trí thức cả lại không ai cảnh giác. Anh Nguyễn Quang Hà cười ha ha ha nói, tôi lừa các ông thế mà các ông cũng tin. Anh Văn Lợi nói Lập ơi tao thử trí thông minh mày, chứ đời nào tao uống. Mình cũng nói với Ngô Minh em trêu anh chứ có họa ngu mới đi uống nước đái. Ngô Minh cũng cười khe khe nói tao cũng lừa mày chứ sức mấy tao ngu!” “Vì bởi người dân ngu quá lợn…” nên mới dễ bị chúng bịp. Dân trí thức lại còn giở trò bịp nhau. Thời “giải phóng” đảng nói với dân: “Đừng ăn những gì chúng ông ăn (có đâu mà ăn) mà hãy ăn những gì chúng ông nói!”
Chương 4 Thứ Năm 27-11… Má ơi má, Con sốt ruột quá không thể chờ Chủ Nhật được nên lại viết cho má thư này. Má có biết chuyện gì xảy ra hay không? Con kể cho má nghe nhé. Sáng hôm nay Soeur Antoine, Soeur Rosetta, Soeur Félicité, và Soeur Madeleine, bốn bà dẫn hai lớp đi xuống gần Đền Hai Bà để chúng con được xem tận nơi khu tiểu công nghệ ở dưới ấy. Để hôm nào về nhà con sẽ kể cho má nghe người ta chế tạo đồ dùng như thế nào, đúc nồi này, làm khuy này, thổi chai lọ này, nhiều lắm cơ má ạ. Kỳ sau về con sẽ dẫn má đi, con chỉ cần má dẫn con đến nghĩa địa tây là con nhớ lối.. Về qua phố Gia Long, con Hương chỉ cho con một người to béo mà bảo rằng:
Ba mày đấy, gọi đi! Con ngơ ngác nhìn. Ông ấy mặc đồ nỉ xám, đi giày tây đen, nhưng không ngậm píp. Đầu thì hơi hói ra đằng sau, dáng đi gù gù một chút có phải không má. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì con cho ngay là không phải. Ba đi công tác rồi cơ mà má. Mà nếu có về thì cũng phải đi với má chứ. Cho nên con cãi lại, con bảo con Hương là mắt “cập bà lời”. Nó không chịu. Nó nhất định bảo người ấy là cái ông đã đi với má ở trên phố tuần trước. Nó nhầm hay là ba về thật hở má. Nhưng ba về sao ba không đến thăm con? Ba thì chỉ nói một câu là các soeur cho ra ngay lập tức. Cũng vì nghĩ thế nên con lại càng cho là chắc không phải. Con cãi nhau um sùm với nó, làm nó phát tức lên ứ ở cổ. Mà con thì cũng tức như nó. Con cầu mong gặp được ba một lần thì chẳng bao giờ có chuyện cãi nhau lố bịch như thế, phải không má. Tuần này con về thì má phải tả kỹ mặt ba cho con đấy nhé. Đầu này, tóc này, mắt này, răng này, và cả cách ăn mặc nữa. Có khi hai cha con gặp nhau thật mà lại không nhận ra nhau thì buồn cười lắm. Má đã viết thư cho ba chưa? Má có chuyển lời grand merci papa cho con không. Rồi con sẽ viết cho ba một lá thư để má gửi cùng. Thư con viết ngày Chủ Nhật, gửi đi ngày Thứ Hai chắc má nhận được rồi. Má có bằng lòng đón con hằng tuần không. Má có giận con không. Con lạy má, má đừng giận gì con cả, nhé má! Yêu má, yêu ba. Hạnh T.B. – Con gửi cho má bài luận tả “buổi tối trong gia đình” cho má xem nhé. Bài làm: Cả nhà ăn cơm xong từ chập tối. Mưa buổi chiều hãy còn rả rích trên những ống máng. Má sai cái ở đi đóng cửa ngoài. Khung kính ngăn không cho gió mùa đông lạnh lẽo lùa vào phòng. Nhìn ra ngoài trời chỉ thấy một màu đen vừa sâu, vừa ầm ĩ tiếng sét, tiếng cành cây rung, thỉnh thoảng có cả chớp nữa. Con mèo cũng rét và em cũng rét. Em ôm con mèo ngồi ở trên giường. Nó thì lim dim ngủ còn em thì xem báo Mickey. Hôm nay ba không hút thuốc. Ba ngồi vừa xem báo vừa ho ở trên ghế bành. Má nhìn ba, má bảo:
Ba mặc thêm áo vào. Rồi má đi mở tủ. Má lấy cái áo len màu xanh giơ lên dưới ánh đèn. Ba xua tay:
Cái áo này mặc ngứa ở cổ lắm. Nhưng má cũng cứ mặc cho ba. Má quàng cho ba thêm cái khăn quàng màu nâu bằng lụa. Thế là hết ngứa cổ. Xong xuôi, má quay lại phía giường:
Con gái thuộc bài ngày mai chưa? Em đọc cho má nghe bài morale và bài histoire. Má vừa nghe nhưng chắc má vừa nghĩ đến con chó cứ sủa mãi ở ngoài sân, nên má báo con ở ra xếp lại chỗ ngủ cho nó. Thì ra nó bị rét. Con ở bảo thế. Xong việc hỏi bài thì má hôn con gái rồi lại cho đọc tiếp tờ báo Mickey. Em hỏi ba:
Ba ơi ba, chuột cũng nói tiếng người hở ba? Ba, má cùng cười. Má trả lời:
Chứ sao? Em lại hỏi:
Sao con không nghe thấy chúng nó nói với nhau ở trong đôi giày trắng của ba? Má đáp:
Chuột nói tiếng người là chuột ở bên tây cơ. Còn ba thì đứng dậy. Ba đi mở cái ngăn tủ dưới ra xem đôi giầy trắng, đôi giầy mà ba đi vào mùa hè, ngoài phố có nắng chói. Ba bảo:
Má phải xem luôn cái tủ này mới được. Rồi ba kêu lên:
Ôi thôi, nó cắn rách cái mũi giày này rồi. Ba giơ lên cao. Không phải mũi giầy tây trắng mà là mũi giầy của má. Má tiếc ngẩn ngơ, nhưng má bảo:
Thôi chả cần, cả năm có dùng gì đến đôi giầy nhung ấy đâu. Nhưng ba hứa Chủ Nhật dẫn má đi phố, mua cho má đôi giày kiểu mới hơn. Ba bảo:
Cũng lâu lắm má không sắm sửa gì cả. Má ngồi xuống cạnh ba, vuốt ngực cho ba, rồi má nói:
Em không cần gì cả. Hai người chắc hôn nhau. Nhưng đến khi quay lại phía con gái thì nó đã nằm ngủ bên con mèo. Má lẳng lặng đi tìm chăn đắp cho cả hai đứa.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 3 Chủ Nhật 23-11…
Má ơi má, Sao lúc nãy tiễn con về trường má lại khóc. Ngày hôm nay má khóc bốn, năm lần rồi đấy. Má nhớ ba à? Ba chẳng hẹn với má đi công tác ít lâu rồi lại về, như má nhắc lại với con rồi thôi. Chỉ con là không may thôi. Nếu ba đi chậm một hôm nữa, thì con được gặp ba. Không biết ba thế nào nhỉ. Ba có béo lắm không? Da ba chắc trắng lắm, vì ở bên tây mà lị, má nhỉ. Sáu ngày vừa qua chắc má nói chuyện về con cho ba nghe nhiều lắm nhỉ. Con được nhiều bon point thế, chắc ba hãnh diện về con gái lắm. Mà ba thì thật tốt. Chưa biết con gái thế nào đã mua tặng một con búp bê thật đẹp. Nhưng sao ba vội đi thế. Đáng lẽ ba phải nhớ đề tặng con mấy chữ thì mới phải. Con ôm con búp bê vào phòng học, cả bọn cùng nhao lên. Đứa nào cũng trầm trồ má ạ. Con sẽ may áo cho nó. Thêu cho nó thật nhiều kiểu. À, má đặt tên cho nó đi. Nó cũng phải có tên chứ má. Từ nay con lại có bạn đi ngủ cùng. Con với nó sẽ đắp cùng một chăn. Không được ôm má thì ôm nó vậy. Nếu má có viết thư cho ba thì má bảo với ba rằng con gái ba thích lắm, con gái ba gửi ba mấy chữ grand merci papa. Ngày hôm nay thật là vui. Nếu có ba ở nhà thì còn vui nữa. Tuy mới “quen” ba nhưng chắc là con với ba sẽ thân nhau lắm. Tiếng ba nói lên cũng thấy âu yếm như tiếng má. Bây giờ má nằm một mình ở trong buồng, má đừng khóc, đừng buồn nữa nhé. Má chẳng dỗ con là ba sẽ về thăm luôn là gì. Má ơi, nhất định má không khóc nhé. Má khóc con khổ khổ là. Hôm nay má khóc nhiều nhất. Con thương má lắm. Đáng lẽ ra con nhất định ở lại ngủ với má tối hôm nay, sáng mai mới về cơ đấy. Nhưng vì sợ má khổ thêm nên con phải vâng lời má. Con cũng không hiểu tại sao má lại có ý định buồn cười như thế. Nếu bây giờ con còn ở nhà thì có phải con sẽ nằm bên má, gãi lưng cho má, kể chuyện nhà trường cho má nghe, má đỡ nhớ ba không? Hai mẹ con ủ lấy nhau mà ngủ có sướng hơn không? Ngày trước má chẳng nói rằng “Cứ được hai mẹ con gần nhau là mẹ chẳng cần gì nữa” là gì? À, hồi trưa má có bảo con rằng Chủ Nhật nào má đón được thì má sẽ báo trước vào hôm Thứ Bảy. Thế là thế nào hả má? Má không đón được con thường xuyên hay sao? Không, má ơi, dù thế nào má cũng phải đến với con. Dù thế nào con cũng chờ má ở ngoài ghế đá. Chủ Nhật ở đây hiu quạnh và buồn lắm. Ngoài vườn thì chỉ có sỏi trắng với lá vàng. Trên hành lang tất cả các dãy thì có những miếng đá hoa trắng, lạnh. Còn trong phòng lại càng chán. Giường nào của chúng nó cũng xếp gọn gàng. Đứa nào cũng háo hức được đi. Thế mà má lại bắt một mình con ở lại. Sao thế má? Sao thế má? Con van má, con lạy má, cho con được ra với má một tuần một lần. Con không đòi ngủ với má nữa, con sẽ về trường vào tối Chủ Nhật. Má bảo gì con cũng nghe, nhưng má phải cho con đi chơi với má, hay nằm với má buổi trưa, để được ôm lấy cổ má, được gãi lưng cho má, con thích thế, và chỉ cầu mong được như thế. Má có nghe con không, má có bằng lòng không, má có biết con khổ thế nào không, nếu con đợi mà không thấy má. Con sắp sửa khóc cho má xem đây này. Cứ nghĩ đến cái hôm phải đứng một mình ở sân sỏi, đỏ mắt lên chờ má, nhìn ai cũng không phải là má, trông ai cũng muốn người ấy là má, mà cuối cùng phải lủi thủi một mình ngồi ở ghế đá, con lại muốn phát khóc. Như thế thì má biết con gái má mong má như thế nào. Nhiều đứa, một tuần có bảy ngày, chúng nó được sống với má chúng nó cả bảy. Đằng này con có mỗi một ngày mà má lại định bỏ đi nữa hay sao? Má ơi, má. Má gật đầu nhé, má bằng lòng nhé, tuần sau con cũng sẽ chờ má, Thứ Bảy má đừng đến trường nữa. Con không nghe thấy má nhắn rằng má không tới được đâu. Con cứ chờ. Chờ cho đến khi chết rét ngoài sân thì thôi đấy má. Má cứ trông những nét chữ nhòe đi ở trang giấy này thì đủ thấy con khổ thế nào. Con không muốn khóc nhưng nước mắt cứ trào ra. Vì con nghĩ rằng má sẽ không đến đón con. Chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ khóc rồi má ạ. . Bây giờ con ôm búp bê đi ngủ đây. Trong tuần này má nhớ đặt cho nó một cái tên nhé. Nếu má có viết thư lên cho ba, thì má bảo với ba rằng con gái cũng nhớ ba. Hôm nào ba về ba đến xin phép cho con gái ba đi chơi với ba một hôm. Chắc ba ở Pháp về thì không biết các phong cảnh đẹp ở đây. Con sẽ dẫn được ba đi một mình mà không lạc đâu. Con sẽ chỉ cho ba cái chỗ mà hai mẹ con vẫn giải chiếu lên ngồi chơi và ăn cơm nắm với giò má nhỉ. Con đi ngủ đây má nhé. Bà Félicité đang đi kiểm soát kia kìa má ơi. Con cù vào nách má đấy.
“Cuối dãy Trường Sơn” Dấu binh lửa nước non như cũ, Kẻ hành nhân qua đó chạnh lòng thương. Phận trai già ruổi chiến trường. Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.” “Chinh Phụ Ngâm Khúc” (Đoàn Thị Điểm)
Rặng Trường Sơn chạy dài từ Bắc xuống Nam, như cái xương sống của nước Việt Nam. Núi Mây Tào và các ngọn núi nhỏ hơn quanh đó, là những ngọn núi cuối cùng của rặng núi nầy. Từ đó đi tuốt về phía Nam, không còn ngọn núi cao nào nữa. Về Thu Đông, đỉnh Mây Tào thường có mây bao phủ. Nên nó mới có tên là “Mây” chăng? Tuy nhiên, đối với vùng Miền Đông Nam Phần, Mây Tào có một vị trí chiến lược quan trọng. Người Sĩ Quan, cấp càng cao, càng có nhãn quan đặc biệt về vùng đất chiến lược nầy. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, miền Đông Nam phần là vùng Việt Minh hoạt động mạnh, tạo ra những trận đánh lớn. Không chỉ riêng gì mật khu Mây Tào của núi Mây Tào, mà ngay vùng Long Đất, Đất Đỏ, cũng được coi như An Toàn Khu (ATK) của bọn chúng Khu vực Mây Tào liền với khu Rừng Lá trên Quốc Lộ 1, vùng thung lũng Võ Đắt – Võ Xu về hướng Bắc, vùng Định Quán, Trị An, chiến khu D hướng Tây Bắc, và nối dài lên tận Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Việt Miên. Vùng Bình Giả, Xuyên Mộc hướng Tây Nam. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, Quân Đội VNCH từng đụng độ lớn với quân cộng sản ở Bình Giả, do đó mà cái tên Bình Giả đi vào lịch sử quân sự chống cộng của quân dân Miền Nam, và trong một câu hát của cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Quốc Lộ 20, đoạn từ ngã ba Dầu Giây trở lên Định Quán, là vùng định cư của đồng bào Miền Bắc di cư 1954, nhờ đó, quân cộng sản không thể thực hiện được một chiến thắng nào ở Định Quán, như trong cuộc chiến tranh trước. Những nhà chiến lược quân sự của Việt Nam Cộng Hòa thấy rõ tính chiến lược của vùng núi non cuối dãy Trường Sơn. Để hạn chế hoạt động quân sự của phe địch ở đây, một số Quận được nâng lên cấp Tỉnh. Quận Xuân Lộc nâng lên thành Tỉnh Lỵ của Tỉnh mới là Long Khánh. Hàm Tân thành Tỉnh Lỵ Tỉnh Bình Tuy, Bà Rịa thành Tỉnh Lỵ Tỉnh Phước Tuy. Ba Tỉnh mới nầy nằm ở chung quanh Núi Mây Tào. Cộng sản biết như thế, không những biết mà biết rất rõ, nhưng nếu muốn hoạt động quân sự ở Miền Đông Nam Phần, miền đất sinh tử để có thể giữ cho công cuộc xâm lăng Miền Nam của cộng sản Bắc Việt được tồn tại và phát triển, bọn chúng phải cố sống cố chết thành lập và xây dựng mật khu Mây Tào. Khi quân Mỹ và Đồng Minh tham chiến ở Việt Nam, quân cộng sản yếu thế, không quấy phá được ba Tỉnh mới nói trên, và cũng không dám xâm phạm Quốc Lộ 1 ở đoạn Rừng Lá. Cũng trong đoạn Rừng Lá nầy, phía Quân Đội Đồng Minh và VNCH thành lập hai vị trí quân sự quan trọng: “Căn cứ 4 và Căn cứ 5”. Hai căn cứ có bố trí súng đại bác, để yểm trợ hỏa lực cho Quân Đội ta, hoạt động ở các khu vực chung quanh. Rừng Lá, nơi Quốc Lộ 1 chạy ngang qua, là vùng Việt cộng dễ xâm nhập và phá hoại. Khúc đường có chỗ cong gần như 90 độ, hai bên đường, nhất là phía Núi Mây Tào, toàn loại Cây Cọ, có tàng lá lớn, che kín mọc đầy dẫy, quân Việt cộng thường ẩn núp, di chuyển bên dưới rất an toàn và khó bị phát hiện. Mặt đất tương đối bằng phẳng, chỉ có tre và các cây chồi hoang mọc xen lẫn, nên một số đồng bào đã vào đây khai phá để trồng lúa. Gần tới núi Mây Tào, rừng rậm, cây cao, nhiều dốc đồi, vách đá, khe nước, nên di chuyển khó khăn hơn. Sau Hiệp Định Paris 1973, lợi dụng tình hình ngưng bắn, Việt cộng gia tăng hoạt động trong toàn khu vực các Tỉnh Miền Đông Nam Phần. Khoảng đầu tháng 5 năm 1974, Việt cộng tung quân chiếm cứ đồn điền cao su nằm gần ngã ba Dầu Dây, đắp mô trên đường đèo lên Thị Trấn Bảo Lộc, cắt đứt giao thông Quốc Lộ 20. Bọn chúng chiếm đóng trên đỉnh Đèo Mẹ Bồng Con, tấn công vào các Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, đắp mô, giựt mìn phá hoại ngay trên trục lộ giao thông ở khu vực Rừng Lá, cắt đứt thông thương Quốc Lộ 1. Tất cả mọi xe cộ, nguồn cung cấp thực phẩm, rau quả, hải sản, từ Đà Lạt, Lâm Đồng, từ Bình Thuận, Phan Thiết đều bị tắc nghẽn, ứ đọng, nằm trải dài hơn hai ba cây số trên Quốc Lộ 1 trong suốt 20 ngày liền. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Mạch Văn Trường, nguyên Trung Đoàn Trường Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, từng bị trọng thương tại chiến trường An Lộc, vừa mới đáo nhậm chức Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, đã điều động các lực lượng tăng phái, bao gồm: một Tiểu Đoàn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đến tấn công, tiêu diệt và bắt sống hầu hết địch quân, chiếm lại toàn bộ các khu vực trên. Riêng tại Rừng Lá, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân cơ hữu của Tiểu Khu, suốt mấy ngày liền đã mở các cuộc hành quân giải tỏa, thông đường cho xe cộ vận chuyển qua lại được, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đến chiều tối, thì đâu lại vào đấy. Địch quân từ mật khu Mây Tào, đưa quân tràn ra đánh chiếm và đắp mô trở lại. Tiểu Đoàn Địa Phương Quân phải rút về phòng thủ, án ngữ tại mặt Bắc Căn cứ Hỏa lực 4. Trước tình hình thực tại này, không thể để Quốc Lộ 1, con đường huyết mạch bị bế tắt kéo dài thêm. Bây giờ, như đã từng xảy ra, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cuối cùng cũng phải giao phó cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận lãnh trách vụ giải tỏa, truy lùng, tiêu diệt đám giặc cộng đã và đang hoành hành tại khu Rừng Lá, mật khu Mây Tào này. Lực lượng giải tỏa gồm Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật và hai Biệt Đội 811, 814 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi là Biệt Đội Trưởng Biệt Đội 814, Trung Úy Trương Việt Lâm, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội 811. Toàn bộ từ Biên Hòa, di chuyển bằng xe GMC, đến đóng phía ngoài Phi Trường Quân Sự dã chiến Long Khánh, sát bên hông Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, đồng thời là Tòa Hành Chánh Tỉnh Long Khánh, chuẩn bị vào chiến trường. Buổi sáng ngày hôm sau, Trung Tá Vũ Xuân Thông, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật, và hai Biệt Đội Trưởng đến họp tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long Khánh cùng với Đại Tá Mạch Văn Trường, Tiểu Khu Trưởng và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Biết chắc mật khu Mây Tào là căn cứ địa của Việt cộng, nhưng không nắm rõ quân số của chúng. Trên Quốc Lộ 1, sau khi đánh chiếm Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, bọn chúng chiếm giữ đoạn đường nầy, đắp ụ, đóng chốt hai bên Quốc Lộ, giao thông hoàn toàn ngưng trệ bấy lâu nay. Sau buổi họp, Biệt Đội 814 được lệnh xuất phát. Trực Thăng thả Biệt Đội 814 xuống một vùng đất trống ở Sông Ray, Xã Xuân Tâm, cách Quốc Lộ 1 chừng 500 mét về hướng Đông Bắc. Từ đó, Biệt Đội men theo địa thế, vượt qua các đồng ruộng, ẩn mình dưới những rừng cây cọ, tiến lên phía trước, dọc hai bên Quốc Lộ 1, với một khoảng cách khá xa. Giữa trưa, gần đến vị trí địch đắp mô, thì bất ngờ, Biệt Đội bị địch pháo kích bằng súng cối, một Tiểu Đội phó tử thương và hai khinh binh của Biệt Đội bị trọng thương. Đơn vị súng cối của địch không đặt ở trên Quốc Lộ 1, mà nằm sâu bên trong Núi Mây Tào. Bọn chúng có thể đã chuẩn bị vị trí đặt súng, canh sẵn tọa độ, mục tiêu, tầm bắn dọc hai bên Quốc Lộ 1, nơi mà chúng dự đoán Quân Đội ta sẽ di chuyển, và nhất là chúng đặt được cái “đài quan sát” trên những ngọn cây cao. Với những lợi thế đó chúng tác xạ tương đối chính xác. Biệt Đội tạm thời rút lui khoảng hơn nửa cây số, ra khỏi vị trí “trận địa pháo” đã có hỏa tập tiên liệu của địch, dừng quân, đào hầm phòng thủ, nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau, Trung Tá Vũ Xuân Thông cùng hai Biệt Đội Trưởng lên Trực Thăng để bay quan sát địa thế và mục tiêu. Khi Trực Thăng bay vòng trên khu vực Núi Mây Tào, địch từ dưới bắn lên bằng súng phòng không 12.7 ly. Đây là loại vũ khí quân Việt cộng mới trang bị thêm cho lực lượng địch hoạt động tại nơi này. Trực Thăng phải bay lên cao, tránh phòng không, hướng thẳng ra Phan Thiết, rồi từ đó quay ngược trở lại tiếp tục quan sát. Mục tiêu nằm trên trục lộ chính. Máy bay có thể oanh kích tiêu diệt dễ dàng, nhưng sẽ làm hư hại nặng nề Quốc Lộ 1. Hai bên đường tuy là rừng lá, nhưng đoạn giữa hai Căn cứ 4 và Căn cứ 5, phía bên phải từ hướng Phan Thiết kể vào, có nhà dân chúng, có vườn tược. Bên phía trái cũng tương tự, nhưng thưa thớt hơn, rừng chồi và cây cọ dày đặc hơn. Với địa thế đó, rất tốt đế cho tiến quân đêm, tạo sự bất ngờ, thiếu cảnh giác của địch. Vậy là, ngay tối hôm đó, Biệt Đội tôi tiến lên. Đi đầu là Toán khinh binh tiền sát, kế tiếp đó, như chiến thuật từng áp dụng là lực lượng cấp Trung Đội, yểm trợ cho các Toán tiền sát. Song song, cũng trong thời điểm này, Biệt Đội 811 đưa các Toán Thám Sát, thâm nhập vào mật khu Mây Tào, bằng đường bộ, riêng các Trung Đội sẽ tiến sâu đến gần bìa rừng, lục soát, truy lùng địch, đồng thời cũng phục kích bắt sống bọn chúng. Tới gần sáng, Toán tiền sát đến gần các mô đất địch đắp trên lộ, báo cáo không thấy chốt, mà cũng chẳng thấy địch đâu cả. Biết chắc ban đêm bọn chúng rút về hầm trú ẩn gần đâu đây, nên Biệt Đội lợi dụng cơ hội, phục kích đón ngược chúng. Nếu ban ngày, chúng quay trở lại để đóng chốt, thế nào chúng cũng lọt vào ổ phục kích. Kế hoạch xử dụng phục kích để chống phục kích của Biệt Đội đạt kết quả tốt. Bọn chúng hoảng loạn bỏ chạy, không kịp mang theo xác chết. Tiếp tục đà chiến thắng, Biệt Đội tiến lên tấn công chốt chặn kế tiếp. Đã phòng bị trước, địch nổ súng phản công, nhưng cuối cùng cũng phải buông súng đầu hàng. Lần nầy, khác với hôm qua, bọn Việt cộng không được súng cối 61 và 82 ly của đồng bọn bắn yểm trợ. Do đó, kết quả thảm bại chua cay, phải bỏ xác, tháo chạy và qui hàng. Tại sao chúng không được súng cối yểm trợ như ngày hôm qua, một chiến thuật mà chúng đẩy lùi được đơn vị đã tấn công chúng trước chúng tôi? Bởi vì cuộc hành quân của Biệt Đội 811. Khi Biệt Đội 814 chúng tôi đang phá chốt trên Quốc Lộ 1, thì các Toán Thám Sát Biệt Đội 811 khám phá một căn cứ của địch nằm khuất bên trong rặng Núi Mây Tào. Các phi tuần F.5E đã được gọi đến để ném bom phá hủy. Đồng thời, Biệt Đội 811, trong lúc truy lùng địch dọc theo mặt Bắc chân núi Mây Tào đã tấn công tiêu diệt hai tổ súng cối yểm trợ hỏa lực của Việt cộng, phát hiện tịch thu một hầm vũ khí và lương thực cùng các rẫy canh tác trồng trọt, đặc biệt địch trồng rất nhiều lúa và ngô trong khu vực này. Đó là lý do tại sao Biệt Đội 814 đã đánh bại các chốt địch trên Quốc Lộ 1 quá dễ dàng. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đã gây nhiều bất ngờ cho địch quân. Chưa khi nào Việt cộng bị tấn công đêm hay bị phục kích ngược trở lại. Bọn địch cũng không bao giờ ngờ, các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù dám thâm nhập vào sâu trong mật khu an toàn của chúng, để khám phá kho tàng, căn cứ, địa đạo, hay mở các cuộc hành quân truy lùng, tấn công vào các đơn vị hỏa lực yểm trợ của chúng đóng ẩn dấu, che khuất dưới những tàng cây, hốc đá, sát tận chân núi, để bọn chúng cuối cùng cũng phải “bỏ của chạy lấy người.” Việt cộng chắc chắn phải thấy một điều: Mật khu Mây Tào không còn là vùng “Bất Khả Xâm Phạm” đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. * “Chiến Sĩ Xuất Sắc” Trong quãng đường binh nghiệp mà tôi đã đi qua, là một chiến sĩ 81.BCD, tôi chỉ biết xông pha ngoài mặt trận, trên các chiến trường lửa đạn hay trong các mật khu của giặc cộng với đầy rẩy mọi bất trắc hiểm nguy chực chờ. Thế nhưng, tôi vẫn không sờn lòng nản chí. Tôi chiến đấu cùng đồng đội để tiêu diệt giặc thù cộng sản, để bảo vệ Tổ Quốc, Quê Hương và Đồng Bào, đó là một bổn phận, một sứ mệnh thiêng liêng, cao cả mà tôi phải hiến dâng và tuân hành. Từ những mật khu bất khả xâm phạm của địch, đến các trận địa chiến khốc liệt, tang thương, đã cướp đi qúa nhiều đồng đội, chiến hữu của tôi, họ đã can trường chiến đấu, hy sinh cả tuổi trẻ và mạng sống để Tổ Quốc được tồn vong, để ghi vào lịch sử những chiến tích lẫy lừng cho đơn vị.
Chiến Sĩ xuất sắc
Xác thân và công lao của họ đã cho tôi được nhận lảnh vinh hạnh lớn lao hôm nay, ngay tại mặt trận Rừng Lá – Mật khu Mây Tào, tôi đã được Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng đề cử là một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, để về Thủ Đô Sài Gòn tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6 năm 1974. Sau đó tháp tùng cùng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật, du hành thăm viếng Nước Trung Hoa Dân Quốc (Đảo Đài Loan) trong một tuần lễ. Cũng trong Ngày Đại Lễ này, tôi đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban thưởng Ưu Dũng Bội Tinh, một Huy Chương cao quí, chỉ dành cho các Chiến Sĩ Xuất Sắc, các Anh Hùng diệt cộng của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Buổi ân thưởng huy chương danh dự này, đã được cử hành trọng thể ngay tại Phòng Khánh Tiết Dinh Độc Lập. Đó là niềm hãnh diện và là một vinh dự lớn lao, ghi đậm dấu ấn trong suốt đời Binh Nghiệp của tôi.
“Bất khả xâm phạm” Nếu tính theo đường thẳng thì Chiến khu D cách Sài Gòn khoảng 60 cây số, ngó xuống Biên Hòa khoảng 30 cây số, thì phi trường Biên Hòa là mục tiêu pháo kích của Việt cộng hằng đêm. Hiệp định hòa bình Paris ký kết đã được một năm, nhưng hai tiếng “hòa bình” trong hiệp định chỉ là cái bình phong để Việt cộng gây… chiến tranh. Do đó, mức độ Việt cộng pháo kích phi trường Biên Hòa càng lúc càng gia tăng, khiến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III trở nên “nóng máy”. Không thể để bọn chúng quá tự tung tự tác, đám Việt cộng này phải đánh nó tới tận cùng sào huyệt, phải nắm thế chủ động trên chiến trường, nghĩa là Biệt Cách Nh ảy Dù phải vào Chiến khu D “nắm đầu bọn ngoan cố”. Áp lực của địch vào Biên Hòa, Sài Gòn là từ Chiến Khu D. Nó không ở đâu xa mà ngay bên cạnh Trị An. Phía Đông là Định Quán trên Quốc Lộ 20, đường đi Đà Lạt, kế là Võ Xu. Phía Nam là Quốc Lộ 1, đoạn Biên Hòa – Long Khánh. Phía Tây Bắc là Đồng Xoài, kéo dài lên tới Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Xứ Chùa Tháp, có Snoul là nơi từng diễn ra trận đánh lớn khi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tràn qua Miên năm 1970. Phía Tây là Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương, có Quốc Lộ 22 đường đi Tây Ninh… Căn cứ Hành Quân của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đóng ở Suối Máu, sát nách phi trường Biên Hòa, đã mấy lần nếm trải những trận pháo 122 ly xuất phát từ trong vùng chiến khu này. Đại Úy Lưu Huyên, Đại Đội Trưởng Đại Đội Thám Sát, đã vĩnh viễn giã từ vũ khí do bởi những quả đạn pháo của bọn chúng, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vô cùng thương tiếc vì đã mất đi một Chiến Sĩ diệt cộng tài ba. Nếu không đi tìm diệt chúng, biết đâu sẽ còn nhiều Chiến Hữu của đơn vị cũng sẽ hy sinh. Thế là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không thể chần chờ. Hai Biệt Đội 811 và 812, được chuyển vận đến Chi Khu Công Thanh, từ đó vượt qua sông Đồng Nai vào Xã Thái Hưng, Quận Tân Uyên, đây là khu định cư của người Miền Bắc di cư, họ là thành trì chống cộng một mất một còn. Nơi này có ngọn núi Bà Cẩm, cao khoảng 200 mét, được dùng để đặt các trạm thông tin, liên lạc. Xã Thái Hưng nằm về hướng Nam của Chiến khu D, bọn Việt cộng cũng thường về đây phá rối, nên Tiểu Khu Biên Hòa đã điều một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến an ninh phòng thủ. Từ xuất phát này, Biệt Đội 811 và 812 đã mở các cuộc hành quân lục soát, truy lùng về hướng Bắc, dọc theo con Sông Bé, phát hiện các dàn phóng hỏa tiễn làm bằng cây rừng, một vài căn cứ trú phòng bỏ hoang của chúng, đồng thời tổ chức phục kích bắt sống được một số cán bộ địch quân mang về khai thác. Cũng trong thời gian này, Bộ Chỉ Huy Hành Quân đã thả các toán Thám Sát vào hoạt động sâu trong chiến khu D, ở hướng chính Bắc Thị Xã Định Quán. Đã mấy ngày trôi qua, các Toán Thám Sát di chuyển theo lộ trình từ mạn Bắc xuôi về Tây Nam, hay từ Đông sang Tây, cũng chỉ phát hiện các hầm hố, địa đạo, các khu canh tác đã bị bỏ hoang. Có thể Việt cộng đã di dời quân về hướng Tây Bắc Thị xã Phước Long, hay Đông Bắc Thị Xã Ban Mê Thuộc? Thế nhưng, quả thật là bất ngờ, vào sáng ngày thứ tư, Chuẩn Úy Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát, chuyển công điện, báo cáo về Trung Tâm Hành Quân, là Toán đã khám phá ra một kho vũ khí của Việt cộng. Tôi không rõ kế hoạch hành quân của Toán Chuẩn Úy Vinh như thế nào, chỉ biết đây là một trong hai Toán có nhiệm vụ nhảy vào lòng địch ngay tại chiến khu D. Nhưng khi Toán của Chuẩn Úy Vinh, tình cờ phát hiện ra kho vũ khí địch, thì trong Biệt Đội Thám Sát, nỗi lên một giai thoại khá kỳ thú về Chuẩn Úy Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát này. Khi Toán Chuẩn Úy Vinh nhận lệnh hành quân, thâm nhập vào chiến khu D, đây cũng là sào huyệt “bất khả xâm phạm” của Việt cộng. Các Toán Trưởng khác đã cười thầm: “Thằng nầy bị đì!”. Thật ra, Chuẩn Úy Vinh chẳng có “quậy phá” gì đâu, ngoài việc, cũng như các Toán Trưởng khác vậy thôi. Khi “vô sự” thì rủ nhau ra Biên Hòa đánh bi-da, xem chiếu bóng hay nhậu nhẹt chơi. Khổ cho anh chàng Chuẩn úy Vinh trẻ tuổi, có một “em gái hậu phương” nào đó ở Hố Nai, hễ mỗi lần anh đứng lên từ giã, thì cô nàng mè nheo, thút thít…khóc: “Anh đi em buồn lắm!” vân vân và vân vân… Thế rồi, trước sau gì anh chàng Vinh cũng phải “giã từ em yêu” nhưng hơi trễ. Tuy không bị phạt, nhưng mỗi lần trễ, không lý cấp chỉ huy không “xài xể” vài ba câu. Việc anh ta lần nầy có bị “đì” vì cái tội trễ phép hay không, chỉ là câu nói bông đùa. Không như trước kia, mỗi Toán có 2 “người bạn đồng minh”, bây giờ thì chỉ 6 người, toàn là người Việt. Toán Chuẩn Úy Vinh, trong một chiều khuất nắng, được Trực Thăng thả xuống ở một bãi trống trong rặng núi Tà Lài, về hướng Đông của Chiến Khu D. Ba ngày đi từ Đông sang Tây, chẳng thấy động tỉnh gì. Chiều lại, Toán leo lên một ngọn đồi, cây rừng rậm rạp, địa thế thuận lợi để đóng quân qua đêm. Sáng hôm sau, thức dậy sớm, lợi dụng trời còn mờ hơi sương, Toán chuẩn bị ăn sáng. Lương thực Toán mang theo thường là cá, thịt hộp và gạo sấy. Phải có chút nước sôi để đổ vào gạo sấy hay hâm nóng hộp cá, thịt. Lửa, thì sử dụng loại “xăng đặc”, một cục to bằng nửa hộp quẹt, bọc hàn kín bởi một loại bao giấy bạc không thấm nước. Xé bao nylon, mở gói giấy bạc và châm lửa. Nhưng đâu có đơn giản, dễ dàng vậy. Ngọn lửa xăng đặc màu xanh lè, địch dễ nhận biết. Phải đào một cái hố nhỏ, để cục xăng đặc vào đáy hố, đốt lửa, để lon thiếc lên ngọn lửa. Khi lửa vừa tắt thì nước sôi, thịt cá cũng nóng. Xong, tất cả “rác rưởi” cho xuống hố, lấp đất, phủ lá khô lên trên, tránh không cho địch phát hiện. Trước khi lên đường, để thanh toán ba cái thứ thừa thải đang chất chứa trong người, Chuẩn Úy Vinh đi lần theo đỉnh đồi, chừng ba bốn thước, đến cạnh một bụi cây hoang mọc sát một hốc đá, vừa ngồi xuống, dùng dao đào hố, thì Chuẩn Úy Vinh bất ngờ nhìn thấy bên trái hốc đá là một cửa hang, tò mò bước vào, Chuẩn Úy Vinh vô cùng bàng hoàng, sửng sốt, miệng há hốc khi nhìn thấy bên trong chứa đầy dẫy, ngổn ngang các loại vũ khí. Vinh tức tốc quay trở lại Toán và báo cáo khẩn cấp về Trung Tâm Hành Quân. Đại Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, với kinh nghiệm dày dặn, từng trải trên khắp các chiến trường trận địa, không tin chỉ có một căn hầm, mà còn nhiều căn hầm khác nữa. Đây phải là nơi chúng chôn dấu vũ khí, hỏa tiễn để pháo kích Phi Trường Biên Hòa. Đại Tá chỉ thị Toán 6 mở rộng vòng đai, lục soát chung quanh đỉnh đồi. Và đúng như tiên đoán của Đại Tá Phan văn Huấn, Toán đã tìm thấy thêm một cửa hầm khác, rồi lại thêm hai ba cửa hầm khác nữa. Vừa phát hiện thêm, Chuẩn Úy Vinh vừa vui mừng báo cáo về cho Trung tâm Hành Quân: “Cả một đồi toàn hầm vũ khí”, đến nỗi bao gạo sấy của Vinh, vẫn còn nguyên trong túi quần bên hông. Anh đã quên… ăn sáng mất rồi. Hai Phi Đội Trực Thăng UH.1B được cấp tốc tăng cường. Hai Biệt Đội 813 do Đại Úy Nguyễn văn Hải chỉ huy và Biệt Đội 814 do tôi chỉ huy, được lệnh lên đường khai thác mục tiêu. Bãi đổ quân hai Biệt Đội 813 và 814 là một trảng trống nằm về hướng Tây, cách ngọn đồi của Chuẩn Úy Vinh khoảng chừng nửa cây số. Theo lệnh hành quân, hai Biệt Đội chia làm hai cánh cùng băng rừng tiến về hướng đồi có kho vũ khí. Biệt Đội 813 lên đến đỉnh đồi sẽ dàn quân trải rộng phòng thủ mặt Tây Nam và Tây Bắc. Biệt Đội 814, sau khi bắt tay với Toán 6 của Chuẩn Úy Vinh, sẽ bố trí ba Trung Đội giữ mặt Đông Bắc và Đông Nam, còn một Trung Đội phối hợp với Toán để kiểm định lại tất cả các hầm vũ khí. Toàn bộ ngọn đồi là những hầm vũ khí, đạn dược. Mỗi hầm sâu cỡ 2 mét, rộng 3 hoặc 4 mét, trên phủ một lớp nylon và cây lá khá kỹ để che dấu ngụy trang. Nếu không biết đây là nơi địch chôn dấu vũ khí và quyết tâm đi tìm, chắc cũng khó mà phát hiện ra các hầm nầy. Trong thời gian phòng thủ, chờ đợi các Phi Đội Trực Thăng đến để chuyển vận Chiến lợi phẩm. Khoảng quá trưa, một tiếng nổ kinh hoàng long trời lở đất vang lên, một tiếng nổ lớn tôi chưa từng bao giờ nghe đến như vậy, chấn động, vang dội cả khu rừng. Đất đá, cây cối bay tung lên trời và rơi rớt lã chã khắp khu đồi, một cánh tay và một vài mảnh thịt rớt xuống nằm ngay bên cạnh hố phòng thủ của tôi… Phản ứng cố hữu của một đơn vị trưởng tác chiến, tôi truyền lệnh cho các Trung Đội trong tư thế sẵn sàng đối phó, đề phòng địch sẽ tiếp tục pháo kích và tấn công. Sau nửa giờ trôi qua, chẳng có biến cố gì tiếp diễn, trong lòng tôi hơi hoảng hốt đôi chút, nhưng định thần lại được ngay. Tôi đi về hướng đã phát ra tiếng nổ, một khoảnh đất rộng bằng nửa sân bóng chuyền bày ra giữa khu rừng, bên trong la liệt xen lẫn cành cây, thùng ống và những mảnh thịt tươi dính đầy đất máu. Vào lúc đó Đại Úy Hải cũng xuất hiện để xem xét hiện trường. Cuối cùng Đại Úy Hải và tôi cùng có chung một kết luận: nguyên do vụ nổ là do sự vô ý. Một vài Quân Nhân trong đó có Trung Sĩ Khưu Công Qúi Trung Đội Phó, Hạ Sĩ I Phiêu âm thoại viên, thuộc Biệt Đội 814, Thượng sĩ Khẩn, Ban 2, và hai Binh Sĩ thuộc Biệt Đội 813, trong niềm phấn chấn cao độ, đã đến các căn hầm chụp hình lưu giữ tư liệu, họ đã vô tình, trèo lên đứng trên các thùng chứa chất nổ, khiến chúng bị kích nhiệt, gây nổ tung cả căn hầm. Tất cả họ đã bị thiệt mạng, xác thân bị tan tành từng mảnh, thật vô cùng thương tâm và oan uổng. Trước sự kiện thảm khốc này. Lo ngại Việt cộng khi biết được kho vũ khí đã bị khám phá sẽ tập trung binh lực để tấn công các Biệt Đội. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã trực tiếp bay lên vùng, để điều động hai Biệt Đội vừa phòng thủ vừa chuyển tải gấp rút tất cả chiến lợi phẩm này ra bãi để trực thăng, bốc về Căn cứ Hành Quân. Không thể nào chuyển hết số lượng vũ khí nầy bằng trực thăng UH.1B. Số vũ khí tìm thấy là những loại vũ khí nặng bao gồm: súng Phòng Không 12 ly 7, Đại Liên, Trung Liên, vô số vũ khí cá nhân B-40, B-41, AK, CKC, mìn bẫy, đạn dược, khí tài v.v…Đại Tá Huấn phải nhu cầu Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, điều động thêm các Phi Đội Trực Thăng Shinook đến tăng cường, và mãi cho đến tối trời mới chuyển về hết được tất cả. Khi chiếc Shinook cuối cùng cất cánh an toàn. Lệnh của Đại Tá Huấn là hai Biệt Đội phải cấp tốc triệt thoái về Định Quán, nằm ở hướng Đông Nam khoảng trên 10 cây số. Toàn khu đồi giờ này đã tối hẳn. Con đường rừng mịt mù âm u, ngửa bàn tay cũng không còn thấy rõ. Bấy giờ, phải di chuyển giữa rừng già trong đêm tăm tối, điều tôi lo lắng nhứt là sợ có anh em binh sĩ không theo kịp, sẽ đi lạc phương hướng. Kinh nghiệm đi rừng trong suốt hai năm là Toán Trưởng Thám Sát Delta, cho tôi một sáng kiến: các cành cây khô mục, rơi rụng trong rừng lâu ngày, thường tỏa ra ánh sáng lân tinh vào ban đêm, vậy đây là một giải pháp quá tuyệt vời, đem áp dụng vào lúc này thì thật đúng là “ăn mày mà gặp chiếu manh”. Tôi ban lệnh cho toàn Binh Sĩ, bốc lấy những cây mục ấy, bỏ lên trên nắp ba lô của mình. Người đi sau cứ theo ánh sáng ấy của người đi trước mà nối đuôi nhau, để tránh khỏi bị lạc đường. Nhờ cách đó, Biệt Đội di hành trong rừng rậm hiểm hóc, leo đồi, vượt suối suốt đêm, trong khoảng hơn ba giờ đồng hồ, quân số Biệt Đội vẫn đầy đủ, không một ai thất lạc cả. Ra khỏi rừng, Biệt Đội phải lội qua một vùng đầm lầy, nước lấp xấp tới bụng, lau sậy mọc chằng chịt, phải vạch lối mà đi. Không xem Bản Đồ kịp và cũng không cần thiết, tôi đoán chừng đây là vùng Thác Trị An. Tiếp tục di chuyển, khi trời hừng sáng, Biệt Đội ra tới các khu đồi trồng chuối, đu đủ cách Quốc Lộ 20 chừng 500 mét. Đây là khu vực canh tác của đồng bào Định Quán, lẫn lộn giữa dân cư địa phương và người Bắc di cư. Tôi cho lệnh dừng quân quanh một đồi trồng chuối. Cũng không bao lâu sau đó, Biệt Đội 813 của Đại Úy Nguyễn Văn Hải cũng vừa đến và bố trí trong một ngọn đồi trồng đu đủ kế cận. Cả hai Biệt Đội đều được lệnh chờ đoàn xe GMC của đơn vị đến đón trở về lại căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa. Hai ba ngày sau, cũng ngay tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III, cùng một phái đoàn Sĩ Quan cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu đã đến chủ tọa và tham dự Lễ gắn huy chương và đặc cách cấp bậc cho các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ hữu công của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trong dịp này Đại Úy Hải và tôi cũng được tuyên dương công trạng trước Quân Đoàn, đích thân Trung Tướng Tư Lệnh gắn Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng lên trên ngực áo chúng tôi. Sau đó Trung Tướng Tư Lệnh và Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã cắt băng khai mạc khu triển lãm hàng ngàn vũ khí chiến lợi phẩm đủ loại của Việt cộng do Liên Đoàn tịch thu được, lớn nhất từ trước tới nay. Đài Truyền Hình số 9, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, các Phóng viên Báo chí của Tuần, Nhật Báo Diều Hâu, Tiền Tuyến, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Sóng Thần, Tia Sáng, Trắng Đen, đã đến quan sát, quay phim, chụp hình, phỏng vấn Chuẩn Úy Vinh, các Toán Viên Toán 6 Thám Sát, Đại Tá Phan Văn Huấn, Đại Úy Hải và tôi. Cuộc triển lãm Chiến lợi phẩm kéo dài trong suốt một Tuần Lễ. Các đơn vị bạn thuộc các Quân Binh chủng trú đóng tại Biệt Khu Thủ Đô, tại Quân Đoàn III, Quân Khu III đều đến tham dự và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trước khám phá kho vũ khí của giặc cộng có một không hai này. Dù thế nào chăng nữa chiến công nầy của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, dù không bẻ gảy ý đồ của địch cũng sẽ làm chậm trễ mưu đồ của chúng.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 2 Thứ Hai, 17-11… Má ơi, Con viết cái thư này vào giờ làm bài buổi tối đây má ạ. Sáng hôm nay khi trở về trường, con Hương nó bảo rằng nó gặp má ở trên phố Hàng Gai. Má đi với một người đàn ông to béo ngậm píp, phải không má. Mà hai người lại khoác tay nhau. Ai thế má? Có phải ba, mà thỉnh thoảng má vẫn nhắc rằng ba ở bên Pháp phải không? Hương hỏi rằng:
Có phải ba mày đấy không? Con chưa biết mặt ba thế nào nhưng con cũng đáp:
Phải rồi, ba tao đấy. Nhưng nó lại hỏi:
Sao ba má mày không đến đón mày ra? Con không biết đáp thế nào mà chỉ tự nhiên nước mắt chạy vòng quanh. Lúc ấy vào giờ ra chơi. Mọi khi thì con chơi nhảy dây, nhưng hôm nay con chán quá. Con ra đứng ở một gốc cây. Soeur Félicité lại hỏi con rằng:
Sao con khóc? Con trả lời rằng con nhớ má. Bà ấy beo vào tai mà chế giễu con không bằng những đứa lên sáu, lên bảy. Nhưng bà ấy không hiểu được tại sao con lại buồn như thế. Con nghĩ đến má, đến người đàn ông to béo. Cả đến giờ ngủ trưa con không ngủ được. Con Hương nó nói với con rằng:
Ba má mày ghét mày rồi. Có ghét thì mới không cho mày đi chơi phố chứ. Con nghĩ cũng đúng. Nhưng con làm gì mà má ghét con nhỉ. Con không tin như thế. Má yêu con, bao giờ má cũng yêu con, má chẳng nói với con luôn như thế là gì. Phải không má? Bà Félicité biết con buồn, nên giờ ra chơi buổi chiều bà bắt con chơi trò bịt mắt bắt dê với lũ bạn. Chúng nó hò hét om sòm làm con cũng vui lây. Nhưng chỉ vui một tí thôi má à. Con còn giận má vì má đi chơi mà không đến đón con đi. Má coi ông ấy hơn con. Chắc ở nhà má cũng chẳng nhớ gì đến con đấy nhỉ. Nhưng con thì lúc nào cũng nghĩ đến má. Buổi tối ăn cơm ở dưới phòng, có món đậu phụ kho, làm con nghĩ đến bữa cơm ăn với má tuần trước ở nhà. Nhưng má làm ngon hơn và không mặn như ở đây. Hôm ấy má rán đậu ở bếp cồn, má mặc áo len màu xanh nhạt, má buộc túm mái tóc má bằng cái khăn tay của con. Con ngồi xem má ở trên ghế. Hai mẹ con nói chuyện về cái phim vui cười xem hồi sáng, má có nhớ không. Nhưng hôm ấy má cũng không nhắc gì đến ba cả. Nếu ba có ở Pháp về, thì ba cũng phải gửi thư về báo tin cho má chứ. Hay là ông ấy không phải ba. Hay là ông ấy đi cùng đường với má, mà con Hương trông lầm. Hay là ông ấy là thầy giáo cũ của má, bây giờ má mới gặp lại. Con cho như thế là đúng nhất. Vì Ma soeur Lucie cũng mới kể cho con nghe một chuyện về thầy cũ như thế này: ông Carnot làm đến chức đại tướng một hôm đi xe ngựa về làng cũ. Có bao nhiêu là lính đi dẹp dường hộ vệ. Hai bên đường cũng có nhiều người tụ tập đón mừng. Hôm ấy cũng có một ông cụ già đi xem. Lúc xe đại tướng đi qua thì lính cản đường làm cho ông cụ bị ngã. Ông Carnot trông thấy vội vàng xuống xe, chạy lại đỡ ông cụ lên và nói:
Thưa thầy, con đây, con là Carnot mà ngày xưa nhiều phen làm thầy mệt trí. Bây giờ có được ngày hôm nay là nhờ được lòng tận tâm dạy dỗ của thầy. Rồi ông ta không đi xe ngựa nữa. Ông xuống xe, đi bộ dìu thầy mình về đến tận trường làng, với một cử chỉ thật là kính trọng. Đáng phục thay đại tướng Carnot. Câu chuyện Ma soeur kể lại làm cho con nhớ đến ông đi với má. Ông ấy có già không hở má? Ngày xưa ông ấy dạy má lớp mấy? Nếu phải là má gặp thầy thì má không vào đón con hôm nay cũng phải. Con không giận má nữa đâu. Con không bắt đền má. Con xin lỗi má. Chắc buổi sáng nay má phải dẫn ông đi xem vườn cây, chắc máù lại cho cả ông xem cái ông Tầu bói chim lần nào con chim cũng rút đúng một quân bài đã đánh dấu phải không má? Viết cho má đến đây thì con hết buồn rồi. Con lại yêu má rồi. Con muốn hôn má. Giá má mà ở đây bây giờ thì con sẽ sà vào lòng má, ngửi cái mùi thơm thơm ở cổ má, còn nhổ cả lông nách cho má mà không đòi tiền của má đâu. À má ạ, con Phụng bạn con thật là không bao giờ sung sướng. Một tuần ở đây đã buồn, khi về nhà nó thì lại buồn hơn. Má nó bắt chia bài suốt ngày Chủ Nhật. Nó oán má nó ghê lắm. Nó gọi má nó là mụ già. Nó gọi ba nó là lão nghiện oặt sà lai. Lão hay túm lấy áo nó lại, bắt nó móc túi lấy ra những đồng bạc tiền hồ mà lúc chia bài, người ta cho nó. Nghe kể chuyện con lấy làm hãnh diện về má. Má không bao giờ như thế cả. Chủ Nhật nào má cũng chỉ chơi với một mình con. Má dẫn đi ăn phở, rồi đi xem chớp bóng. Buổi trưa hai mẹ con nằm thủ thỉ với nhau đến tận chiều. Má thật đáng yêu. Con yêu má vô cùng. Con kể cho nó nghe, nó cũng thích. Cũng vì thế con lại làm nó ghét má nó thêm. Nó lầu bầu luôn mồm: “Mụ già, mụ già… “. Những tiếng nghe mà tởm, má nhỉ. Con thì con hứa rằng dù má thế nào con cũng không bao giờ gọi má như thế. Nếu má muốn đánh bài thì con cũng thích mà chia cho má. Chia suốt ngày, suốt đêm cũng được. Miễn là con được gần má. Cứ gần má cũng đủ sướng mê đi rồi. Bây giờ thì má đang làm gì ở nhà hả má? Má thêu áo gối hay là đọc sách. Còn con thì sắp đi ngủ đây. Con sẽ nằm trong chăn mànghĩ đến má. Hễ má thấy sốt ruột là đúng đấy má ạ. Con lạy giời đêm nay lại nằm mơ thấy má. Má cũng cầu như thế đi thì thế nào cũng được, má ạ. Con hôn lên mắt, lên môi và lên cổ má thật nhiều đấy má.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.