Chim Hót Trong Lồng

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 8 Nov 2024

HUYỀN TRÂN xuất bản 1966
truyện viết theo thể Nhật ký
(đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)

  1. Chương 9
    Thứ Tư, 14 tháng 1…
    Má yêu quý,
    Tuần vừa rồi vì bận má không vào, nên chị Hai xin phép Ma soeur dẫn con đi lễ nhà thờ. Đến chín giờ thì hai chị em con vào ăn bánh cuốn. Bánh cuốn nóng ngon lắm má ạ. Kỳ sau mình đừng đi ăn phở nữa. Con dẫn má đến đấy cho má ăn thử mà xem. Con định dẫn chị Hai về thăm nhà cho chị ấy biết, nhưng sợ má giận, con lại thôi. Con vẫn nhớ lời má dặn rằng nếu má không đến đón thì không được tự tiện về nhà. Đi ở ngoài phố con chỉ toàn nghĩ đến má và kể chuyện về má. Không biết vào giờ ấy má làm gì, đi đâu.
    Sao sở của má lắm việc thế. Chủ Nhật cũng bắt người ta làm việc. Bận sau má làm cố ngày Thứ Bảy để Chủ Nhật dẫn con gái má đi chơi, má nhé. Ngoài phố hôm nay vui lắm. Trời không mưa nhưng có nhiều mây. Cây cối trụi hết lá nom đẹp như bức tranh má treo ở nha. Đường Nhà Thờ đông ghê lắm má ạ. Con bận váy vàng, áo len xanh, đi đôi dép đỏ mà má mới mua. Con cũng quàng phu-la ở ngực nữa, má đừng lo. Sáng nay trước khi đi, con cũng uống dầu cá rồi. Con cũng bế cả Gigi đi theo nữa. Chị Hai hỏi má đi làm gì, con đáp rằng:
  • Má giữ chức giao dịch ở sở Import-Export bán đồ thêu ra ngoại quốc.
    Đúng không má? Con đố má tại sao con biết nào? Con không đoán được đâu. Nhưng con đã hỏi Ma soeur Félicité hôm Thứ Bảy vừa rồi đấy. Hôm ấy sau giờ cầu kinh buổi tối, con chạy lên tìm bà hỏi rằng:
  • Thưa Ma soeur, Ma soeur bảo cho con biết điếm là gì?
    Bà ấy ngạc nhiên lắm, vội kéo con vào phòng hỏi nhỏ:
  • Ai dạy con thế?
    Con vội vàng đáp:
  • Thưa Ma soeur má con làm ở sở điếm mà con không biết điếm là gì.
    Bà ấy vội vàng trả lời:
  • À, thế à, sở điếm là sở xuất cảng những hàng thêu ra ngoại quốc. Nhưng người ta không gọi là điếm đâu. Tiếng ấy nhà quê lắm. Con phải nói là Import-Export thì mới đúng.
    Rồi bà ấy bắt con nhắc lại hai chữ Import-Export đến hàng chục lần. Cả đến tối hôm qua cũng hỏi lại con nữa. Có thế mà má cũng giấu con. Sau này nếu con lớn lên con cũng làm điếm như má, cũng cho Gigi đi học như má cho con đi học. Khi ấy thì con kiếm được tiền rồi, má không phải vất vả nữa. Má chỉ ở nhà đọc sách thôi. Chủ Nhật ba mẹ con lại dẫn nhau đi nhặt búp đa ở trên đường ngoại ô má nhỉ. Con sẽ cố học để được như thế. Mà đấy má xem, trong livret tháng nào con cũng nhất đấy nhé.
    Buổi chiều hôm Chủ Nhật vì con không ra ngoài nên Ma soeur Lucie gọi lên văn phòng cộng sổ chi tiêu. Đến ba giờ xong thì con và bà ấy ngồi vơi nhau ở bên kính cửa trông ra vườn. Cảnh vật buồn ghê má ạ. Con càng thêm nhớ má. Con lại khóc đấy. Nhưng soeur Lucie lau nước mắt cho con và bảo con gái lớn khôngđược khóc. Rồi bà ấy lên đánh đàn piano cho con nghe. Âm nhạc thật là đẹp và cao quí.
    Tiếng đàn thánh thót ở trong phòng, đi ra ngoài cửa sổ, rung rung ở trên kính cửa. Con ước ao cũng chơi đàn được như bà ấy. Con sẽ đánh cho má và Gigi nghe vào những hôm buồn như thế này hoặc những đêm trời có trăng sáng. Má sẽ hát má nhé. Má hát bài Ce n’est qu’un au revoir mọi khi. Còn Gigi thì ngồi ở bên cạnh bản nhạc. Nó chỉ được nghe và vỗ tay thôi.
    Tối Thứ Hai con định viết thư cho má nhưng bị hỏng điện nên tất cả phải đi ngủ sớm. Con nằm mơ thấy má bận quần áo trắng toát, đầu đeo vòng hoa trắng đi thướt tha ở trên đỉnh ngọn đồi có nhiều cây xanh. Phía đằng xa là một cái gác chuông nhà thờ có những thằng bé đang đứng rung chuông. Rồi một lát má vẫy chúng nó. Chúng nó cười với má rồi leo qua cửa sổ nhà thờ mà chạy về phía má. Má giang hai tay ra đón cái bọn cũng bận toàn quần áo trắng. Rồi chúng nó họp thành một đoàn vừa đi vừa hát. Má đánh đàn piano cho chúng nó theo nhịp. Má không đi về phía trường con mà lại đi ra đằng xa. Con và Gigi gọi má mà má không nghe thấy.
    Gigi khóc, con cũng khóc theo. Cả hai chị em ngồi lủng lẳng ở trên cành cây bàng rụng lá trong sân trường. Chưa lần nào chúng con trèo cao đến như thế…
    Tỉnh dậy con khóc mãi. Má đừng bỏ con và Gigi nhé má.
    Nay mai con học đàn rồi cũng đánh đàn cho má nghe. Chúng con cùng yêu má. Yêu má nhất ở trên đời.

Cắn má một cái.
Hạnh và Gigi

Ảnh xưa – ngày lễ

baotreonline.com
Đinh Yên Thảo
Post on November 25th, 2022

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

Now and then: tác giả và con gái – ảnh tư liệu của tác giả
Tôi phải phục anh bạn tôi là họa sĩ Ðinh Trường Chinh, thứ nam của họa sĩ Ðinh Cường. Hầu như anh lưu giữ không chỉ nhiều tấm ảnh cha mẹ, gia đình mình từ vài chục năm trước, lúc anh em anh còn bé tí mà cả những tấm ảnh quý hiếm với nhiều văn nghệ sĩ lừng danh một thời của miền Nam trước năm 1975. Thỉnh thoảng, nhân dịp nào đó, anh lại đưa lên trang facebook của mình vài tấm. Có lẽ vì cha anh là một họa sĩ nổi tiếng và có mối quảng giao thân tình với những người cùng giới nên chụp chung khá nhiều. Và điều đáng nói là đi qua bao thăng trầm, đổi dời, gia đình anh vẫn giữ lại được những tấm ảnh quý giá như vậy quả là điều không nhiều người làm được. Như với riêng tôi.
Thú thật khi tìm lại những tấm ảnh gia đình mình thuở thiếu thời, dường như tôi không còn giữ được bao nhiêu tấm. Tấm ảnh xưa và quý giá nhất có lẽ là tấm ảnh tôi được mẹ bế trên tay, chắc đoán khoảng đâu chưa tròn một tuổi. Tôi giữ trong điện thoại, thỉnh thoảng mang xem lại dù mẹ tôi còn khoẻ. Không có tấm ảnh đầy đủ cả gia đình nào khác, lúc tôi vài ba tuổi. Ảnh bạn bè thiếu thời càng không có. Chỉ còn vài tấm lúc lên trung học, nhưng có được cũng nhờ những bạn cũ gởi cho chứ không phải mình có và giữ lại.
Mà không chỉ riêng tôi. Hồi năm trước, khi thực hiện một cuộc trò chuyện cuối năm với một vài văn nghệ sĩ, có cả nhà thơ Trần Mộng Tú. Khi tôi hỏi xin chị tấm ảnh để đưa lên mặt báo, chị bảo cứ tìm trên mạng vì chị cũng không có nhiều. Cuối cùng cũng chọn được một tấm nhưng ảnh trên mạng độ nét không cao, in ra dễ nhòe. Vậy là phải phiền chị liên lạc và xin lại một nhà văn khác, người đã chụp tấm ảnh đó cho chị và còn lưu lại ảnh gốc.
Ảnh của mình đã vậy huống hồ người khác và những tấm ảnh của một thời xa xưa nào đó, vài chục năm trước chắc còn hiếm hơn.
Có lẽ một phần vì thuở xưa không phải gia đình nào cũng có máy ảnh hay có nhiều dịp để chụp ảnh. Có không ít gia đình còn phải đốt bỏ nhiều tấm ảnh quý giá của gia đình khi có cha anh, người thân mang quân phục vì thời cuộc chuyển thay. Nếu có hay còn thì trải qua vài cuộc ly loạn rồi ly hương cũng chẳng còn hay mang theo. Gia đình tôi cũng chẳng ngoại lệ.

Tác giả và mẹ lúc thiếu thời- ảnh tư liệu của tác giả
Như nhiều người khác, trước đây tôi vốn ít chụp ảnh dù khi sang đến Mỹ cũng sắm ngay máy chụp ảnh rồi dùng những điện thoại đa năng có thể chụp ảnh từ khá sớm. Vậy mà vẫn ít chụp, ngại ngần chụp chung trong những dịp lẽ ra cần lưu lại vài tấm ảnh kỷ niệm cho mình, với người thân hay bạn bè, những văn nghệ sĩ có dịp gặp gỡ. Nên lúc cần, tìm lại ảnh những ngày đầu trên xứ người cũng không nhiều, chỉ một số tấm có được trong những dịp cưới hỏi trong gia đình. Muốn tìm lại ảnh bạn bè, người quen xưa cũng không có mấy tấm.
Thói quen này chỉ thay đổi khi tôi có con nhỏ cho đến bây giờ. Dù cũng chỉ chụp trong gia đình, lưu giữ lại kỷ niệm trong những chuyến đi xa. Ðể tránh bị mất hình ảnh giữ lại trong điện thoại hay máy điện toán như khá nhiều ảnh đã thất lạc khi đổi điện thoại hay máy bị hư, tôi còn in ra cả cuốn album ảnh về chuyến đi.
Ðể làm gì vậy?
Bạn hay tôi không chụp và giữ ảnh cho mình. Chúng ta giữ lại cho con cháu, cho thế hệ sau. Thời gian đi nhanh hơn bất cứ ai tưởng. Cứ nhìn những đứa con nhỏ ngày nào, bây giờ đã khác rất nhiều. Có em đã lớn thổi, trưởng thành, vào đại học hay lập gia đình. Thỉnh thoảng nhìn lại những album gia đình này, bạn sẽ không ngờ thời gian trôi nhanh đến như vậy. Ảnh gia đình là cả một kỷ niệm và yêu thương mà mỗi gia đình đã gắn bó, đã cùng bên nhau trong từng sự kiện gia đình hay những chuyến đi xa.
Nhìn lại những hình ảnh cũ cũng không chỉ để nhìn lại mình như thế nào về mặt thể lý, khuôn mặt vóc dáng trong quá khứ. Mà chúng nhắc ta về cảm xúc, một giai đoạn, chặng đời đã sống. Về những người đã gặp, trong gia đình hay bằng hữu, cho đến dăm người nào đó trong một dịp tình cờ. Chúng là một cỗ máy thời gian đúng nghĩa.
Ảnh cũ là sự trân trọng những nỗ lực hay cột mốc quan trọng của những thành viên gia đình như lễ tốt nghiệp, vinh danh, dịp cưới hỏi, kỷ niệm ngày thành hôn… Ðó là những tư liệu sống thực của mỗi gia đình mà không ai khác lưu giữ ngoài chính mỗi gia đình.

Họa sĩ Đinh Trường Chinh, Nhạc sĩ Hoàng Đình Bình, tác giả và người bạn thân thuở nhỏ Lưu Đức Liên- ảnh tư liệu của tác giả
Và như một sự thực không tránh khỏi của đời sống, không ai biết được tấm ảnh chụp chung với người thân yêu hay bạn bè nào đó là lần cuối cùng đã hiện diện trong đời với nhau. Xem lại các tấm ảnh ghi lại những khuôn mặt thân yêu từng ở bên cạnh cuộc đời của mỗi người và nay không còn nữa có một ý nghĩa to lớn, khi nó giúp làm vơi đi khoảng trống của những mất mát, chia phôi.
Trẻ nhỏ không muốn chụp ảnh và chúng ta quá bận rộn để làm hay nghĩ về nó là điều quan trọng trong gia đình. Dù thời đại hiện nay, đây là điều đơn giản và vô cùng tiện lợi với những chiếc điện thoại quá tân tiến luôn có sẵn trên tay.
Mỗi năm hay đôi ba năm có được những tấm ảnh chân dung gia đình càng tốt. Không thực hiện được thì cũng chẳng cần những tấm ảnh quá trịnh trọng, khi mọi người phải ở đúng vào vị trí, nhất là với trẻ nhỏ. Mà chỉ dăm tấm ảnh bất ngờ và tự nhiên trong một khung cảnh ấm cúng mùa lễ cũng đủ ghi lại những khoảnh khắc quý báu của gia đình.
Các em nhỏ dù không hề muốn chụp ảnh nhưng hầu hết các em đều vô cùng thích thú khi xem lại ảnh của mình trong một dịp tình cờ, nhất là khi càng trưởng thành. Một khi các em có gia đình riêng, thì những tấm ảnh đó càng trở nên vô giá khi con cháu, các thế hệ tiếp nối xem lại ông bà, cha mẹ, những người thân thiết gần gũi trong gia đình như thế nào. Nó tạo niềm hãnh diện và gắn bó với gia đình, nhìn nhận lại nguồn cội và di sản của gia đình mình.
Chắc chắn bạn cũng đã có những tấm ảnh gia đình quý giá theo thời gian. Nhưng tích góp thêm vào bộ ảnh gia đình này cần được thực hiện theo thời gian, theo từng chặng đường, sự kiện của gia đình. Với chiếc điện thoại đa năng không thua kém bất cứ một máy ảnh chuyên nghiệp nào như nói trên, vấn đề còn lại là bạn nhìn nhận sự quan trọng và cần thiết như thế nào chứ không phải sự tùy hứng. Nếu chưa có thì có thể bắt đầu từ ngay mùa lễ này.
Chúc bạn những ngày lễ đầm ấm trong gia đình và có những tấm ảnh thật đẹp.
Mùa lễ Tạ Ơn 2022
ĐYT

Vĩnh biệt Francoise Hardy!

baotreonline.com
Đào Duy Hòa
August 24th, 2024

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

Giới trẻ Sài Gòn thập niên 1960 hầu hết đều hâm mộ Francoise Hardy, nhạc sĩ, ca sĩ, người vừa viết nhạc, lời và thể hiện ca khúc Tous les garcons et les filles. Ca khúc này được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt tựa đề Những nụ tình xanh, và nữ ca sĩ Thanh Lan thể hiện rất thành công tại Sài Gòn vào thời kỳ đó.
Françoise Hardy hát tiếng Pháp, tiếng Anh, Đức và Ý. Bà đã thu âm gần 500 bài hát trong hơn 60 năm sự nghiệp cầm ca. Bà hát nhiều thể loại âm nhạc như ballad, pop, rock và thậm chí cả soul. Sau thời gian dài suy yếu vì bệnh, Françoise Hardy, nữ hoàng của bài hit Tous les garcons et les filles, đã vĩnh biệt cõi trần vào thứ Ba, ngày 11 tháng 6 năm 2024, ở tuổi 80!
Sinh ngày 17 tháng 1 năm 1944 tại Paris, Françoise Hardy lớn lên ở quận 9 Paris với mẹ là Madeleine Hardy, nhân viên kế toán, và một em gái kém cô một tuổi rưỡi. Bà rất ít liên lạc với cha mình, người xuất thân từ một gia đình tư sản ở Blois. Sau khi chia tay với vợ, ông kết hôn với một người phụ nữ khác. Nhút nhát và thiếu tự tin, cô gái trẻ Françoise đã tìm đến âm nhạc và theo học guitar. Đam mê ca hát, Françoise ghi danh vào học 2 năm tại nhạc viện Petit Conservatoire de la chanson de Mireille.
Năm 1962, Françoise Hardy đánh dấu năm tròn 18 tuổi của mình bằng ca khúc Tous les garçons et les filles do bà viết nhạc, lời và thể hiện. Ngay lập tức, ca khúc này đã trở thành một bài hit và thu hút sự quan tâm của giới báo chí. Bản ballad buồn này kể về nỗi thất vọng của những người trẻ cô đơn và lẻ loi, đã mang đến một màu sắc khác cho làn sóng yéyé lúc đó đang lan rộng khắp nước Pháp. Sự thành công của Françoise Hardy được tờ Paris Match đưa tin trên trang nhất càng làm rạng danh nữ nghệ sĩ trẻ tuổi này.
Cuối năm 1963, bài hát Tous les garçons et les filles, đạt một triệu đĩa bán ra và vượt biên giới ra ngoại quốc. Françoise Hardy đã phát hành một số album và đĩa đơn đều đứng đầu bảng xếp hạng và gặt hái nhiều thành công nối tiếp nhau: Le temps de l’amour (được nhạc sĩ Trường Kỳ dịch sang lời Việt tựa đề Mùa tình yêu), L’amour d’un garcon (Tình yêu của một chàng trai), Je veux qu’il revienne (Tôi muốn anh quay lại), Mon amour la rose (Bông hồng bạn tôi), Dis-lui non (Nói với anh là không)… Đồng hành với nhiếp ảnh gia Jean- Marie Périer, bà cũng trở thành một biểu tượng thời trang khi mặc trên sân khấu những bộ y phục của các nhà thiết kế thời trang danh tiếng như Paco Rabanne, Yves Saint Laurent và Courrèges.
Năm 1967, bà yêu Jacques Dutronc và sinh ra một con trai, Thomas, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1973. Năm 1969, bà trở lại thành công với ca khúc Comment te dire adieu? (Sao đành vĩnh biệt?). Ca khúc này, do Serge Gainsbourg đặt tựa, lại gặt hái thêm một thành công khác. Khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, bà quyết định dừng lại và không lên sân khấu nữa, để dành thời gian cho gia đình. Trong lúc rảnh rỗi, bà cũng cống hiến hết mình trong lĩnh vực chiêm tinh học, niềm đam mê khác của bà. Bà đã xuất bản một số tác phẩm về chủ đề này và thậm chí còn tổ chức các chương trình chiêm tinh trên đài phát thanh RMC từ năm 1974 đến năm 1982, sau đó là trên đài phát thanh RFM.
Tuy nhiên, nữ ca sĩ đã không từ bỏ âm nhạc. Năm 1973, bà cùng với Michel Berger sáng tác và thu âm ca khúc Personal Message (Lời nhắn gởi). Bà đã phát hành một số album thành công trước khi tuyên bố vào năm 1988 rằng Décalages sẽ là tác phẩm cuối cùng của mình. Trong vài tuần, album đã đạt đĩa vàng. Trong khi tiếp tục viết nhạc cho các ca sĩ khác thể hiện như Julien Clerc, Patrick Juvet, Viktor Lazlo, Jean-Pierre Mader và Guesch Patti, bà đã xuất bản cuốn tự truyện của mình vào năm 2007, Le Désespoir des singes (Thất vọng của đàn khỉ). Đây là một trong những cuốn sách đứng đầu về doanh thu thời đó. Năm 2012, nữ ca sĩ kỷ niệm 50 năm sự nghiệp với album L’amour fou (Tình yêu điên loạn).

Francoise Hardy và Jacques Dutronc trong một show truyền hình năm 1980.
Bên cạnh những thành công, Françoise Hardy cũng gặp vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe. Sau khi chống chọi với căn bệnh ung thư hệ bạch huyết được chẩn đoán vào năm 2015, sau đó là ung thư vòm họng, bà đã được điều trị vào năm 2018 và chịu nhiều tác dụng phụ. “Liệu pháp X quang và liệu pháp miễn dịch sau đó đã gây ra những tác dụng phụ tàn khốc khiến cuộc đời tôi bị hủy hoại từ 2 năm qua và khiến tôi ngày càng suy yếu”, bà tâm sự vào tháng 6 năm 2021.

“Một căn bệnh, khi không thể cứu chữa, làm cho người bệnh đau khổ về thể xác và tinh thần.Điều này là hoàn toàn vô ích. Tôi đã là người ủng hộ cái chết êm dịu trong một thời gian rất dài. Và tôi cảm thấy bị xúc phạm mỗi khi các bác sĩ hoặc những bậc cha mẹ bất hạnh rơi vào những tình huống bất lực vì luật lệ hành chánh vô nhân đạo của chính quyền và xã hội”, bà giải thích trên Le Parisien năm 2018.
Trong những năm cuối đời, lời nói đùa của người thân không còn khiến bà vui cười nữa, vì căn bệnh đã làm cơ thể bà biến dạng đến mức không thể chống chọi được. “Tôi và chồng tôi, Jacques Dutronc, ngày càng già và xấu đi,” bà bộc bạch trên Paris Match. Bà cầu mong mình ra đi trước, vì nếu ngược lại sẽ vượt quá sức chịu đựng của bà. Trong ca khúc “Rendez-vous dans une autre vie” (Hẹn lại kiếp sau), hát năm 2012, dường như bà muốn khép lại mối tình lãng mạn kỳ lạ của hai người. Bà đã không tìm được tình yêu tuyệt đối hằng mơ ước, nhưng tất cả hy vọng không lạc mất. Hẹn gặp lại ở kiếp sau / Ở nơi này hay cõi khác / Để chúng ta yêu nhau nhiều hơn trọn vẹn hơn kiếp này… Lời ca khúc “Rendez-vous dans une autre vie” (Hẹn lại kiếp sau) tựa như lời nhắn nhủ của bà trước chuyến đi xa…

Mưa Đêm

hopluu.net
Khánh Trường
1 Tháng Bảy 2017

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

Tranh Khánh Trường

Con đĩ tru tréo,
“Đụ má tao tởm mày lắm rồi. Bắt đầu từ bây giờ, mạnh đứa nào đứa đó tự lo lấy thân, mày đừng báo cô tao nữa, hãy để cho tao yên. Đụ má, một năm nay vì mày mà tao thân tàn ma dại, mày thấy không?”
Tôi định nhào tới táng cho con đĩ một bạt tai nhưng kịp dằn lại. Tôi biết, nếu làm dữ con đĩ dám tống tôi ra khỏi chỗ này thật chứ chẳng chơi. Tôi cố nuốt cơn giận cho trôi tuột xuống bụng. Mặc mẹ nó, nhịn một chút chẳng chết ai. Nó nóng, nó chửi rủa lằng nhằng thế thôi, rốt cuộc đâu lại vào đó. Đây đâu phải lần đầu tiên con đĩ dở giọng với tôi!
Con đĩ dở giọng kể từ lúc nó biết tôi đã hết thời.
Phải, quả thật tôi đã hết thời. Ngày trước tôi thuộc hạng có máu mặt, tuy chẳng lon lá chức phận, nhưng bộ đồ rằn ri cũng tạo được cho tôi cái uy tín đáng kể với bọn du đãng cao bồi đâm cha giết chú quanh vùng này. Bây giờ, thời thế có khác, thằng đàn em hạng bét vẫn được quyền lên mặt với tôi. Đâu còn lưỡi lê lựu đạn hay đồng đội chiến hữu để hù dọa ai? Mà đánh nhau ngang ngửa tay đôi thì sức lực tôi nào có bao lăm. Tre già măng mọc, sóng sau đè sóng trước, quy luật bất biến của tạo hóa mà. Lại thêm cái lý lịch “thuộc thành phần bất hảo” tuy mơ hồ vẫn có thể rơi xuống đầu bất cứ lúc nào đã khiến tôi co rúm lại, sống nhẫn nhục cho qua ngày đoạn tháng.
Vậy mà vẫn không yên. Con đĩ thấy tôi nhịn, làm tới. Ban đầu còn chút kiêng kị, chỉ lèo nhèo rủa chó mắng mèo, dần dà được đằng chân lân đằng đầu, trở nên hỗn hào thô tục, bây giờ thì dưới mắt nó, tôi thật không đáng nửa đồng xu, nó có thể đốp chát bất cứ lúc nào, ở đâu, bất cứ vì lý do gì, hay có khi chẳng cần lý do, muốn chửi, là chửi. Chửi tắt bếp, chửi tàn nhẫn vô nhân đạo.
Nhưng khốn nạn cho tôi, và cả cho nó, hình như có một sợi dây oan nghiệt nào đó của định mệnh trói chặt chúng tôi vào nhau. Bỏ nó, dĩ nhiên tôi chẳng thể. Bỏ nó, tôi sống cách nào đây? Phần con đĩ, tuy chẳng coi tôi ra gì, nhưng hễ cứ mỗi lần rủa xả cho đã cái lỗ miệng xong, một hai giờ sau, có khi vài mươi phút sau, nó lại làm lành, lại vuốt ve vỗ về, lại xin lỗi xin phải, và lại lôi tôi lên giường, cùng nhau hùng hục hành lạc. Càng chửi nhiều bao nhiêu, càng thắm thiết dữ dội bấy nhiêu, làm như miệng trên sướng thì miệng dưới phải được chia phần. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng tương quan giữa chúng tôi là tương quan của hai con thú, sướng khổ bằng bản năng, hoàn toàn vắng bóng cái nghĩa tình phải trái giữa một con người với một con người.

Con đĩ tiếp tục tru tréo. Tôi nằm ngửa nhìn trân trối những lưới nhện giăng ngang dọc trên mái chòi, không nói năng một lời. Con đĩ được thể sầm sập bước ra bước vào, mặt mày đỏ gấc, hai mắt long sòng sọc. Nó nhìn tôi khinh miệt, giọng càng lúc càng chanh chua,
“Đụ má, nếu mày còn chút liêm sỉ hãy xéo ngay, cút ngay cho khuất mắt. Cứ nhìn thấy mặt mày là tao muốn ói mửa, muốn té cứt vãi đái vì tởm. Đồ thứ đàn ông bẩn thỉu đê tiện, thứ chó dại mèo hoang chết toi chết dịch.”
Tôi kéo tấm chăn vàng ố phủ kín đầu, cố gắng giả đui giả điếc. Con đĩ thình thịch bước nhanh lại phía tôi, giật mạnh tấm chăn ra khỏi người tôi, hai tay chống lên mạng sườn, chân dạng ra, răng nghiến ken két,
“Đụ má, mày có nghe tao nói không? Đừng có mặt trơ mày tráo. Đụ má, đứng dậy ngay, và cút. Đụ má, mày còn lì lợm tao kêu công an còng cổ bây giờ. Đụ má đồ ma cô dơ dáng dại hình, đồ đội quần đàn bà. Đụ má, cứ nhìn mày là tao sôi gan…”
Nó xổ tiếng Đức như máy, phây phây đè bà già tôi ra cưỡng hiếp dã man tàn khốc. Tôi quắc mắt, quay mặt nhìn trừng trừng con đĩ. Sự chịu đựng đã đến mức chót, máu du côn trong người nguội lạnh hơn một năm nay bắt đầu sôi sục trở lại, khiến hai bàn tay tôi run bắn. Tôi nhắm nghiền mắt, lắc lắc đầu. Giết nó đi, nhào tới bóp cổ cho nó nghẹn thở chết tốt đi. Tiếng rít từ đâu đó vang vang phủ dụ. Tôi chồm dậy, bật ra khỏi giường, đứng lên. Có lẽ trong đôi mắt tôi có một cái gì rất man rợ thú vật. Con đĩ hơi dội, hai tay từ từ buông thõng. Tôi vẫn nhìn con đĩ trừng trừng, năm giây, mười giây.
Giết nó đi, nhào vô bóp cổ cho nó nghẹt họng chết tốt đi. Tôi bước tới, con đĩ thối lui. Tôi bước thêm một bước, lưng con đĩ đã sát vách. Không quá nửa sải, cái cần cổ gầy nhom, đen đủi kia sẽ nằm gọn giữa mười ngón tay. Con đĩ sẽ quẫy đạp, dẫy dụa, cào cấu, hai mắt sẽ trợn trừng trắng tròng, cái miệng hôi thối sẽ há hốc, chiếc lưỡi sẽ thè lè dài ngoằng. Nhưng để làm gì, có giải quyết được vấn đề không? Thêm mười giây nữa. Cơn giận trong tôi giảm dần cường độ. Tôi thả người lại xuống giường, ôm đầu, bỗng nhiên nước mắt tôi trào ra. Tôi khóc, tức tưởi, uất nghẹn, đau đớn. Hai bàn tay run bần bật trong đám tóc rối, thái dương giật giật liên hồi. Một nỗi tủi nhục ê chề lan rộng, chiếm ngự trọn vẹn trái tim làm nhịp thở tôi hổn hển khò khè.
Con đĩ hẳn nhiên thừa khôn ngoan để dừng lại chỗ nên dừng. Con chó sắp lên cơn điên, chọc thêm, không toi mạng cũng cầm chắc thương tích cùng mình. Nó hừ một tiếng vớt vát, quày quả quay lưng đi nhanh ra cửa. Cánh cửa đóng mạnh sau lưng nó làm căn chòi rung rinh.
Tôi vẫn ngồi ôm đầu. Chẳng biết bao lâu, cho đến khi nghe tiếng mưa rơi rào rào trên mái tôn, tôi ngẩng mặt nhìn qua khung cửa sổ không chấn song thì đêm đã đến từ bao giờ. Dưới ánh sáng vàng ỏng của ngọn đèn đường bên kia hương lộ, mưa nối đuôi nhau từ mái chòi rơi xuống, sáng lấp lánh như những sợi chỉ bằng kim nhũ. Mù mù trong màn mưa, tàn cây trứng cá chỗ góc trái miếng sân con vật vờ nghiêng ngả. Xa hơn, rặng tre phát ra tiếng kêu kèn kẹt như tiếng nghiến răng. Trong chòi tối thui tối mò. Tôi đứng dậy tìm bao diêm đốt ngọn đèn dầu. Ánh sáng quá yếu không làm cho căn chòi bớt vẻ lạnh lẽo. Đâu đó từ góc chòi, chỗ dẫn xuống chái sau, tiếng dế ri rỉ cất lên, hòa cùng tiếng mưa tạo thành một điệp khúc lê thê bất tận. Tôi trở lại giường ngả người nằm xuống. Đầu váng, mắt hoa, lòng nặng trĩu đau đớn. Nước mắt ướt nhớp nháp hai bên má, tôi chẳng buồn lau.
Đêm dần chuyển sang khuya. Mưa vẫn chưa có một dấu hiệu nào chứng tỏ sẽ ngớt. Gió chợt đổi chiều, lùa thốc vào làm ngọn đèn dầu lao chao muốn tắt. Tôi ra kéo tấm bạt nhà binh che kín cửa sổ, gió lạnh làm tôi rùng mình liên tiếp. Khi trở lại giường, tôi chợt nhảy nhỏm vì đạp phải một vật gì mềm mềm di động dưới chân. Chưa kịp hoàn hồn thì một cảm giác đau buốt như có một mũi nhọn đâm xuyên qua bàn chân. Tôi bật ngửa, hét lớn và ngã vật ra, đầu va vào gờ tấm “đanh” ximăng – tấm “đanh” tôi nạy được trên nắm mộ ngoài bãi tha ma – kê trên mấy viên táplô làm bàn. Mắt tôi nổ đom đóm.
Đau buốt, những lóng xương hình như đã dập nát. Tôi nhìn xuống, bắp chân đang chuyển màu, tím sẫm. Cơn nhức nhối lan khắp châu thân. Chân trái tê liệt hẳn, không thể nhúc nhích. Tôi rên rỉ bò trên nền đất lạnh lẽo, cố lết ra cửa, cánh cửa bằng tôn cũ bị gió đập mở bung.
Con rắn biến mất từ lâu. Tôi biết mình vừa bị rắn cắn. Căn chòi bọn tôi đang trú nằm cuối bãi tha ma, chỗ tiếp giáp với cánh đồng rộng trồng rau cải nực nồng mùi phân người. Căn chòi trước kia có lẽ là một cái chuồng trâu bỏ hoang. Sau ngày biến động, khu nhà thổ bị ruồng bố, bọn tôi dẫn nhau ra đây, góp nhặt được mấy tấm tôn cũ, mớ ván thùng cùng ít tre trúc, gỗ tạp sửa sang lại, tuy có rộng và kín đáo hơn đôi chút nhưng vẻ hoang vu vẫn nguyên trạng. Căn chòi phía trước nhìn qua hãng nước tương quốc doanh bên kia hương lộ, phía sau dựa lưng bãi tha ma, bên trái là lũy tre dày kín, bên phải là cánh đồng. Suốt một năm không buồn dọn dẹp, cỏ dại lau lách từ bãi tha ma, từ rặng tre tiến công vào sát vách chòi. Mùa đông, côn trùng, muỗi mòng, giun dế, dơi chuột, ếch nhái, và dĩ nhiên cả rắn rít bò vào chòi tìm chỗ trú.
Tôi đã định sẽ bỏ ra một vài ngày khai quang khu đất chung quanh, nhưng sự chán nản, ê chề cộng thêm cảnh sống địa ngục giữa hai đứa đã khiến tôi không buồn động đậy tay chân, suốt ngày chỉ nằm dài trên chiếc giường tre ọp ẹp, và chỉ rời khỏi giường những lúc thật cần thiết như bài tiết, ăn uống hoặc ra ngồi ngoài chái trước, trên chiếc băng ghế xiêu vẹo, vừa chờ con đĩ tiếp xong khách vừa canh chừng công an. Có đêm, ngồi co ro trong giá buốt, vểnh tai nghe ngóng tiếng cười rúc rích của con đĩ, tiếng thở hổn hển của bọn khách mua hoa, tiếng giường chiếu sột soạt cót két từ trong chòi phát ra, tôi lơ mơ nửa tỉnh nửa ngủ, chợt giật mình rút vội chân lên ghế, một cảm giác trơn nhờn trườn qua bàn chân, tôi hoảng hốt cúi nhìn, một con rắn to có khi bằng bắp tay dài ngoằng uốn éo lủi nhanh về phía rặng tre. Cảnh này vẫn thường xảy ra, ban đầu, tôi sợ điếng hồn, nhưng dần dà cũng quen. Người với thú sống chung đề huề. Gần như có một thỏa ước ngầm, nếu không ai xâm phạm ai, không ai rắp tâm làm hại ai thì nền hòa bình sẽ được duy trì vững bền.
Hôm nay tôi không vô ý đạp lên mình con rắn, chắc chắn sự cố đâu có xảy đến. Tôi tự nguyền rủa mình đã quá bất cẩn. Nhưng mọi chuyện đều do con đĩ mà ra. Nó làm đầu óc tôi căng thẳng, lú lẫn, không còn quan tâm được đến bất cứ chuyện gì. Bỗng nhiên tôi thèm giết con đĩ hết sức. Đồ chó má thối tha bẩn thỉu. Tại sao cho đến ngày hôm nay tôi vẫn còn sống với nó, tại sao tôi vẫn nhận chịu bao nhiêu nhục nhã đổ xuống đầu mà không vùng lên phản kháng? Trời ơi. Nếu giết được con đĩ, lòng tôi chắc nhẹ nhàng phải biết. Nếu giết được con đĩ. Phải tìm cách giết được nó. Sự căm thù của tôi dành cho con đĩ tăng theo cấp số nhân, tỷ lệ thuận với nỗi tủi nhục phải hứng chịu triền miên, bây giờ đã lên đến mức cực cùng.
Đời tôi từng căm thù nhiều thứ, nhiều người, nhưng hình như đây là lần thứ ba lòng căm thù muốn biến thành hành động sát nhân. Lần đầu, hồi lên mười hai, tôi bị một thằng điên đá cho một quả suýt tắt thở, cục máu bầm nó tặng tôi mãi ba tháng sau vẫn còn mờ mờ trên ngực. Tuy nhiên lần đó tôi đã có cơ hội trả thù đích đáng. Bấy giờ cha tôi làm nghề gò hàn, sát vách là cửa tiệm của ông, ban đêm thường chỉ khép chiếu lệ bằng một líp tre thay cửa. Chiếu lệ, vì cửa tiệm chỉ là cái chái hiên được làm rộng thêm, vách ngăn sơ sài ngang thắt lưng, người lớn có thể dễ dàng bước qua, hơn nữa, chẳng có đồ vật gì quý giá khả dĩ sợ bị mất cắp ngoài vài miếng tôn cũ, vài ống sắt đựng đạn đại bác dùng để gò gàu, thùng hay máng xối, xô đựng rác, bếp dầu hôi.
Thằng điên ban ngày lang thang khắp nơi tìm cái ăn, đêm thường lẻn vào cửa tiệm ngủ. Cha tôi biết nhưng làm ngơ, mặc nhiên chấp nhận cho thằng điên trọ nhờ, ông còn ưu ái dành riêng cho nó một manh chiếu rách, một tấm chăn cũ. Hôm nào nó về sớm, tôi thường ra cửa tiệm tìm cách phá phách chọc ghẹo, hoặc lấy cây chọc vào người, hoặc dùng ống đu đủ thổi nước xà phòng vào lỗ mũi, hoặc khoa học hơn, pha nước đường đổ vòng quanh chỗ nó thường nằm, chiêu dụ lũ kiến tụ lại, báo hại thằng điên suốt đêm đối phó với lũ kiến, không cách chi chợp mắt được. Thằng này thuộc loại điên hiền, phá cách nào nó cũng chỉ toét miệng cười hoặc lèo nhèo hú hét ngu xuẩn, tuyệt không bao giờ biết phản ứng đối phó. Vì vậy, tôi được thể làm tới, cố moi óc tìm ra những cách chọc ghẹo mới, đôi khi rất tàn nhẫn, chẳng hạn có nhiều lần đợi nó ngủ say, tôi lén gắp than đỏ bỏ vào tay, vào ngực, rồi cười rũ khi thấy nó bị phỏng nhảy dựng, hay ăn cắp ớt bột của bà già đổ vào chiếc miệng há hốc đang phì phò ngáy, làm nó lăn lộn ho sặc ho sụa, nước mũi nước dãi nhem nhuốc bẩn thỉu. Tôi còn sáng tạo ra trò gậy ông đập lưng ông rất “thông minh” như sau, biết thằng điên khi nằm xuống là ngủ ngay, lại ngủ mê mệt, đại bác có bắn bên tai cũng chẳng làm nó động đậy, tôi bèn dùng sợi dây gai thật chắc, một đầu cột cục đá, đầu kia thắt thòng lọng tròng vào bê bi đương sự. Xong đặt cục đá lên ngực. Sáng ra thằng điên thức dậy thấy cục đá, lập tức hung hăng cầm ném mạnh, cục đá bay vèo, kéo căng sợi dây gai, vòng thòng lọng siết mạnh. Tôi nằm trong giường, úp mặt xuống gối, cố nín để đừng hộc lên cười khi nghe tiếng thằng điên la hét đau đớn ngoài cửa tiệm.
Nhưng đi đêm dĩ nhiên có ngày gặp ma. Một lần, nửa khuya mót đái tôi trở dậy ra ngoài, chợt trong trí lóe lên một trò hay, tôi leo đứng phía trên đầu thằng điên, chỗ cục đe lớn, vạch quần tè xuống mặt nó. Choàng tỉnh, nó vùng dậy hoảng hốt, tôi đang thích thú cười sằng sặc thì thằng điên phóng lên, tống thẳng nguyên gót chân vào ngực tôi. Văng bắn ra sau, tôi nằm sóng soài trên nền đất, hai mắt trợn trừng, bọt mép sùi ra, nghẹn thở. Thằng điên lầu bầu chửi thề bước ra ngoài đi biệt. Tôi nằm quằn quại dễ chừng có đến nửa tiếng đồng hồ mới đủ sức gượng dậy bò vào nhà.
Suốt một tuần tôi dấu ông già bà già, vừa tự chống chọi với cơn đau vừa nghĩ kế trả thù. Và tôi đã tìm ra cách. Một đêm nhắm chừng giờ thằng điên sắp trở về, tôi mò ra cửa tiệm lấy hũ átxít của cha tôi dùng để rà quanh mối ghép trước khi hàn, bắc ghế leo lên đặt vắt vẻo trên gờ líp cửa. Tôi tính toán cẩn thận, thằng điên chỉ cần đẩy nhẹ líp cửa để lách mình vào, chém chết hũ átxít cũng sẽ rơi ngay xuống mặt mũi thân thể nó. Quả nhiên, tính toán của tôi chính xác trăm phần trăm. Nằm trong nhà, tôi nghe tiêng hét chói lói của thằng điên. Khi theo ông già bà già ra xem sự thể thế nào, tôi đã vô cùng hả hê nhìn thấy nó đang dẫy dụa trên nền đất, y như tôi đã dẫy dụa một tuần trước, nhưng hậu quả kinh khủng hơn nhiều. Hai tháng sau ngày được chở vào nhà thương, tôi gặp lại thằng điên với khuôn mặt hoàn toàn biến dạng, đó là khuôn mặt của một con quỷ. Dĩ nhiên chẳng ai ngờ được tác phẩm rùng rợn kia là hậu quả đòn trả thù của tôi.
Lần thứ hai ý muốn giết người cũng đã đến với tôi sau khi nhận đúng năm mươi roi điện và ba ngày chuồng cọp của tên đại úy đại đội trưởng, chỉ vì tội đã trễ phép non nửa tháng. Bao nhiêu lần đứng trước tấm gương lớn, nhìn những vết roi tươm máu ngang dọc khắp lưng và hai mông đít, tôi đã nhen nhóm trong lòng niềm căm hận sâu sắc. Lần này tuy không hại được địch thủ tới nơi tới chốn, nhưng đòn thù của tôi cũng rất cay độc và dai dẳng. Sau ngày bị đòn, tôi nỗ lực đóng vai một tên lính gương mẫu, và cố gắng xin xỏ bợ đỡ để trở thành tà lọt cho tên đại úy. Ba tháng theo đuổi kế hoạch kiên trì, tôi thành công. Dưới mắt tên đại úy, tôi, thằng tà lọt tận tụy hết mình, hệt như một con chó trung thành mù quáng với chủ. Từ cái ăn, cái ngủ đến quần áo giày nón cà phê thuốc lá… Bao giờ tôi cũng đón gió rất chính xác và hăm hở phục vụ trên mức tiêu chuẩn đòi hỏi. Tên đại úy hả hê ra mặt. Dĩ nhiên, sự tận tụy cúc cung của tôi đã phải trả một giá khá đắt cho chính bản thân. Bạn bè đồng đội nhìn tôi khinh bỉ, dưới mắt chúng nó, tôi là tên nịnh bợ hèn hạ mất hết nhân cách làm người. Chúng nó tránh tôi như tránh hủi. Mặc kệ, tôi bất cần, tự an ủi, cứu cánh biện minh cho phương tiện. Làm sao chúng biết được niềm sung sướng hả hê tôi đang có được? Quả vậy, còn sung sướng nào hơn khi mỗi ngày hai bữa cơm, do chính tay tôi nấu nướng hầu hạ, tên đại úy đã táp ngon lành phần ăn thơm tho béo bổ, phần ăn đã được tôi trộn thêm vào mỗi lần một ít cứt của chính tôi?
Tôi tiếp tục lết ra phía cửa. Bây giở cảm giác tê liệt đã lan đến hạ bộ, chân phải cũng không còn cử động được nữa. Mưa bên ngoài chưa ngớt. Tôi muốn hét lớn cầu cứu, nhưng tiếng hét không thể phát ra, chỉ khò khè như tiếng trâu thở. Đờm dãi trào lên chận ngang cổ họng, hai mắt như có một màn sương mù kéo ngang, chiếc lưỡi cứng đơ trong hố miệng.
Một cơn gió lùa thốc, cánh cửa đập mạnh vào vách đánh sầm làm căn chòi oằn mình muốn bật khỏi nền đất. Tôi lạnh, càng lúc càng lạnh, hai hàm răng va vào nhau lập cập, da mặt cứng tê sắp thành đá. Tôi chõi tay nhổm người định lùi vào trong tránh gió, nhưng chỉ mới ngóc đầu gượng dậy, hai cánh tay đã run bắn. Tôi lại ngã vật ra sau, đầu lại va xuống nền đất. Vết thương bị động. Tôi rên lên đau đớn.
Cánh cửa lại bật tung dội bùng bùng vào vách. Tôi giật thót người và run rẩy, tê cóng. Mưa trở nên dữ dội, cảnh vật bên ngoài hoàn toàn nhòa nhạt, chỉ thấy đặc một màu trắng xóa lấp lánh kim nhũ từ chái hiên phủ xuống không ngớt. Gió cũng mạnh hơn, mái tôn rung bần bật. Nếu gió vẫn tăng cường độ, tôi nghĩ không sớm thì muộn mấy lá tôn được ghim hờ bằng những cây đinh lỏng lẻo sẽ bị gió cuốn bay biến ra cánh đồng. Gió từng cơn, luồn vào đầu mấy cây tre làm sà ngang trên mái phát ra tiếng vi vu.
Âm thanh nghe rất quen, hình như âm thanh này tôi đã từng nghe. Phải rồi, tiếng sáo của thằng bạn đồng ngũ…
Tiếng sáo như một dãi lụa mềm, bềnh bồng loang rộng phủ trùm trên ngọn đồi và vùng đất rộng đã được khai quang làm nơi đóng quân. Tôi đốt điếu thuốc Bastos quân tiếp vụ, ngửa mặt nhìn vầng ráng đỏ sắp chuyển sang màu nâu sau dãy núi phía xa, chập chùng lam sẫm. Trên nóc hầm cá nhân dọc tuyến phòng thủ, bóng hai chúng tôi in đậm giữa nền xanh cây rừng trùng điệp. Thằng bạn tiếp tục thổi nốt bản nhạc dang dở. Âm thanh u huyền dằng dặc lan xa. Hắn chấm dứt bản nhạc bằng một nốt ngân dài. Cây sáo trúc rời khỏi môi, thằng bạn vói tay lấy bao thuốc, hắn thả khói lên không trung, giọng buồn buồn,
“Tao nhớ nhà quá.”
“Nhớ nhà hay nhớ con đào mía ghim của mày?”
“Cả hai, mẹ tao, con nhỏ.”
“Nó vẫn ra rít với mày chứ? Hay lại chập chờn với thằng ma cô nào rồi.”
“Đụ mẹ ra rít hay chập chờn thì cũng còn hơn xa con đĩ ngựa của mày.”
Tôi bật cười thích thú. Thằng khốn nạn coi bộ bị chạm nọc. Tôi biết con nhỏ này. Nó thuộc loại dâm tổ, thèm trai như ngựa cái rượng đực. Mấy lần tôi và thằng khốn nạn theo dõi, bắt tại trận con nhỏ đang du dương với kép mới ngoài công viên hay trong rạp chiếu bóng. Thằng khốn ghen lồng lộn, báo hại tôi vì tình huynh đệ chi binh phải đánh nhau chí chát với địch. Mà con nhỏ cũng khôn ác. Kép mới nó chọn rặt giống nhà binh, cũng rằn ri vằn vện ngang ngửa bọn tôi, cho nên dù thắng hay thua thì tình trạng cũng chẳng lấy gì làm khả quan. Vì vậy đòn cuối cùng của thằng khốn bao giờ cũng là màn con cá sống vì nước. Rốt cuộc, dường như chúng nó có với nhau một thỏa ước ngầm, thằng khốn đi hành quân, con nhỏ tha hồ tìm người chọi. Thằng khốn về hậu cứ, làm ơn dành cho hắn quyền ưu tiên một.
Tôi lên lớp với thằng khốn nạn,
“Đụ mẹ, tao không nói với mày chuyện hơn thua. Lính tráng sống nay chết mai, hơn thua đếch gì chuyện nhảm nhí đó. Biết chừng đâu lát nữa đây một trái 122 rớt ngay hầm, mày tao bị giã như giã giò, còn hơn thua với ai? Tao chỉ thấy mày quá ngu. Yêu đương làm con mẹ gì cho nó khổ tấm thân. Người ta nói lấy đĩ làm vợ, ai nói lấy vợ làm đĩ bao giờ. Tao sòng phẳng minh bạch, tao cần cái lỗ của con nhỏ, con nhỏ cần một thằng mặt rằn để hù dọa bọn tú bà ma cô. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Nhẹ nhàng thơ thới biết chừng nào. Yêu đương quái gì để cứ dài mặt rầu rĩ nhớ thương. Tao hỏi thật, mày có dám bê con nhỏ về làm vợ? Nếu dám, tao đéo có ý kiến, ngu, ráng chịu. Nếu không, lần này về hậu cứ hãy theo tao. Mày trông cũng bảnh bao trượng phu đấy, bảo đảm sẽ có khối con chịu nhận mày làm chồng. Cuối cùng, cái mày cần là cái lỗ để thọc ra thọc vào cho ấm lòng chiến sĩ phải không? Yên trí lớn, để tao lo.”
Tôi chưa kịp lo cho thằng khốn nạn một cái lỗ thì chiều hai mươi chín tháng Tư, đơn vị vượt qua cầu xa lộ để vào thành phố, thằng khốn bị mảnh đạn xơi tái mất một chân. Nghe đâu hắn chỉ nằm ở bệnh viện Cộng Hòa được hai ngày, rồi bị đuổi ra ngoài, chẳng hiểu sống chết thế nào.
Riêng tôi, sáng ba mươi tháng Tư đơn vị tan hàng, tôi cởi bỏ bộ quân phục, nhủi vào động nằm với con đĩ. Lúc ông tân tổng thống lên đài ra lệnh cho binh sĩ bỏ súng quy hàng, tôi đang hùng hục mê tơi trên bụng con đĩ, sau khi đã nốc nửa lít rượu đế cộng với ngổn ngang rựa mận chả chìa lá mơ củ riềng cùng với đám chiến hữu ở một quán thịt cầy gần khu nhà thổ. Chẳng hiểu tại cái lệnh đầu hàng chó chết nó làm tư tưởng tôi phân tán hay tại nửa lít rượu mà cuốn băng ghi âm những lời vàng ngọc của ông tân tổng thống được phát lại đến lần thứ tư tôi vẫn chưa ra. Con đĩ càu nhàu,
“Uống cho cố vào, lâu như quỷ.”
Tôi cười hềnh hệch,
“Anh có thằng bạn mỗi ngày làm hai ve Tam Tinh Hải Cẩu Bổ Thận Hoàn nhưng chưa lên ngựa đã gục ngã sa trường. Vớ được giống tốt như anh, em tu bảy kiếp đó em ơi.”
Con đĩ sừng sộ,
“Thôi đi cha, bộ tui mình đồng da sắt, không biết đau biết rát chắc?”
Tôi chẳng thèm trả lời, tiếp tục lên xuống nhịp nhàng.
Bỗng cánh cửa gỗ mở tung. Một đám năm bảy thằng đàn ông lớn có nhỏ có, dao súng lăm lăm, trên cánh tay, miếng băng đỏ cột vòng. Mặt mày tên nào cũng đằng đằng sát khí. Tôi chưa kịp phản ứng thì thằng đi đầu đã nhào đến túm tóc tôi lôi dậy:
“Đụ mẹ, cách mạng thành công rồi mà mày còn tiếp tục dâm dục sa đọa thế này hả thằng khốn nạn? Đụ mẹ, ngữ này đem bắn bỏ là vừa.”
Tôi sợ điếng người, đứng như trời trồng, không nhớ ra mình đang trần truồng như nhộng. Con đĩ cũng hốt hoảng không kém, nó nhảy vội xuống giường, lập cập túm đống quần áo định lủi ra phía sau. Thằng đi đầu hét lớn,
“Đụ mẹ con kia đứng yên, định trốn hả? Tao bắn vỡ đầu bây giờ.”
“Anh… cho em mặc quần áo…” Con đĩ lắp bắp.
“Đụ mẹ, không mặc gì hết, đứng yên.”

Tôi nhìn thằng đi đầu. À, cũng chẳng ai xa lạ. Thằng này từng đóng mặt rô ở xóm dưới. Tôi hơi yên tâm, xuống nước,
“Bạn dzàng, anh em cả mà…”
Thằng khốn quắc mắt,
“Đụ mẹ ai bạn bè với mày?”
“Bộ bạn quên tui rồi sao?”
“Đụ mẹ, im ngay…”
Bất ngờ, hắn trở ngược báng súng tống thật lực vào ngực tôi. Không kịp chuẩn bị, tôi lãnh trọn đế súng, ngã bật ra sau, đầu va vào vách tường…
Tôi nhỏm người ôm chặt đầu. Cảm giác đau buốt dội vào óc. Tôi rên rỉ như một con vật bị thắt cổ. Nhìn xuống bắp chân trái, bắp chân sưng vù đã đổi sang màu đen bầm. Cảm giác tê liệt giờ đang bò dần đến thắt lưng. Khát, khát quá. Tôi ngóng ra ngoài, mưa vẫn tầm tã. Tiếng ếch nhái râm ran hòa cùng tiếng mưa xối xả sầm sập trên mái tôn. Tôi hình dung cái chết đang đến gần, bỗng nhiên tôi hoảng sợ. Ý muốn bóp nghẹt họng con đĩ không còn tồn tại trong tôi. Hơn bao giờ hết, tôi mong con đĩ trở về. Nó phải trở về để cứu tôi, nếu không, tôi sẽ chết.
Sẽ chết… Ý nghĩ sẽ chết khiến tôi điếng hồn. Tôi hiểu hơn ai hết cảnh sống địa ngục giữa hai đứa, tôi hiểu hơn ai hết những đau đớn nhục nhã không cùng đang bám riết theo tôi không rời hết ngày này qua ngày khác. Đã bao nhiêu lần tôi thầm mong một biến cố nào đó sẽ đến với tôi, và lôi tôi ra khỏi đời sống, nghĩa là tôi sẽ từ giã cõi đời khốn nạn này, nhưng bây giờ, trước cái chết sắp đến gần, sắp nhãn tiền, tôi bỗng sợ, sợ quá. Con đĩ bao giờ mới trở về? Bình thường, sau một trận rủa xả tận tình, hoặc tôi bỏ ra bãi tha ma tìm ngôi nhà mồ nào đó ngủ một giấc đợi con đĩ nguôi giận, hoặc con đĩ ra khỏi chòi lòng vòng phố xá cho khuây khỏa rồi cũng bò về một hai giờ sau. Tôi hiểu, cũng như tôi, con đĩ chẳng còn nơi nào để la cà. Thứ cặn bã mạt hạng như bọn tôi, còn chơi được với ai? Còn sống được với ai? Con đĩ từ hai năm nay trở nên rạc rài thân tàn ma dại. Vốn xấu, càng xấu đau xấu đớn, người ngợm toát ra mùi hôi thối muốn lộn mửa, bởi con nhỏ bệnh tật cùng mình, lại lười tắm hơn hủi. Thuốc men không có, ăn uống kham khổ bữa đói bữa no, con đĩ xuống dốc nhanh chóng. Tôi cũng nào hơn gì, khắp người, vảy cá nổi lên sần sùi, háng lở loét tươm chảy nước vàng tanh tưởi. Tôi biết mình đang mang trong người căn bệnh bất trị, căn bệnh không biết do ai. Có thể do tôi, hậu quả những năm lính tráng sống bạt mạng giang hồ, cũng có thể từ con đĩ truyền sang, thứ điếm thối như nó, làm sao có được khách sộp, chỉ rặt toàn bọn ăn xin bụi đời đầu đường xó chợ, không bệnh tật sao được.
Con đĩ bao giờ mới về? Trời đang mưa lớn thế kia, con đĩ làm thế nào về? Nếu nó đi suốt đêm, nếu nó bắt được mối ngủ đêm, nếu xe bộ đội cán nó dập đầu? Cũng dám lắm chứ! Suốt ngày nay hai đứa nào đã có một hột cơm bỏ bụng, chính đó là nguyên nhân con đĩ dở chứng với tôi. Đói, mệt, mưa tầm tã, con đĩ đi đứng lạng quạng dám đâm đầu vào xe lắm chứ! Tôi cố hết sức bò ra khỏi cửa. Có cách gì đến được hương lộ thì mới hy vọng gặp người lạ cầu cứu nhờ đưa tới nhà thương. Nhưng bán thân đã bất toại, hai tay tôi lại quá yếu, không cách nào lê nổi tâm thân, dù chỉ một hai thước. Tôi tuyệt vọng gục xuống. Cơn đau lại dội lên như muốn vỡ tung đầu óc.
Đành chịu chết sao? Tôi lầm thầm cầu trời khấn Phật mong sao cho con đĩ xuất hiện.
Mưa vẫn tầm tã. Ngọn đèn hình như sắp cạn dầu, chỉ còn leo lét một đốm lửa đỏ cạch. Căn chòi đang chìm dần vào màn đêm đặc quánh. Tôi run bần bật. Bây giờ tiến không tiến được, lui cũng chẳng xong. Tôi nằm cứng đơ như một khúc cây. Tôi hiểu mình sẽ chỉ còn cầm cự giỏi lắm một vài tiếng đồng hồ nữa là cùng. Con đĩ. Con đĩ. Trời ơi, sao nó không trở lại? Nó định đi luôn thật chăng? Tôi biết con đĩ tuy thế vẫn còn nợ nần với tôi, sẽ chẳng thể bỏ tôi. Nếu bỏ, đã bỏ rồi. Nó cũng như tôi, cô đơn, buồn tủi, khổ đau. Hai đứa không bám vào nhau còn biết bám vào ai. Tôi làm nó khổ, điều này hẳn đúng, nhưng ít ra, trong cuộc sống chó má này, tôi dẫu sao vẫn còn là một đối tượng để cho nó trút hết mọi phẫn hận căm thù. Mất tôi, nó biết đổ sự phẫn hận căm thù vào đâu?
Thật ra, công bình nhận xét, một phần lớn duyên cớ suy sụp của hai đứa đều bắt nguồn từ tôi. Tôi, thằng đàn ông hèn yếu vô tài bất tướng. Đổi đời, ba mươi triệu con người đổi đời, nào phải chỉ riêng tôi? Sao họ vẫn sống, vẫn vượt qua. Còn tôi, ngày ngày quẩn quanh trong căn chòi mục, trên chiếc giường chiếu chăn ẩm mốc, bỏ mặc con đĩ với lũ khách tìm hoa, bán trôn nuôi miệng, nuôi cả cái thằng tôi dơ dáng dại hình này. Một năm nay tôi chỉ biết chửi trời chửi đất, chửi cuộc đời khắt khe cay nghiệt, chửi phần số hẩm hiu bất hạnh, và không ngừng xây đắp những giấc mơ giàu sang phú quí của các ông hoàng bà chúa, những giấc mơ được tôi tô vẽ, vun bồi đến độ thuộc lòng từng chi tiết, đến độ trở thành mối ám ảnh thường trực trong mọi sinh hoạt đi đứng nằm ngồi ăn ngủ, đến độ có lúc tôi không còn phân biệt được đâu là biên giới giữa mộng và thực.
Gió lại thốc vào. Luồng gió quá mạnh. Cánh cửa bỗng bật tung, ngã sầm lên người. Tôi dẫy dụa tuyệt vọng, cánh cửa quá nặng so với sức lực tôi hiện tại, miếng tôn chỗ phần trên cánh cửa bung ra, cứa ngay cổ, tôi muốn rướn người thoát ra nhưng chỉ nhúc nhích được cái đầu chút đỉnh, càng đau thêm. Màn sương trắng chờn vờn ngang mắt, tôi biết mình sắp ngất. Thêm một luồng gió nữa thốc vào, cánh cửa chồm lên phập phồng, miếng tôn cứa ngọt chỗ yết hầu. Miếng tôn tiếp tục kéo cưa theo từng luồng gió thốc. Tôi chẳng biết mình có hét được tiếng nào trước khi chìm vào hôn mê?

Con đĩ cùng thằng ăn mày vượt qua miếng sân con nhão sình. Dù đã tạnh, nhưng suốt ba ngày qua, mưa dai dẳng không ngớt, miếng sân đã trở nên lầy lội như đất ruộng. Cây trứng cá chỗ góc trái mái chòi tả tơi lá cành. Con đĩ vén cao ống quần lội qua vũng nước đọng trước cửa chòi, thằng ăn mày theo sau, cái chân cụt thò ra ngoài chiếc quần đùi nhàu nát rách bươm, cây sáo trúc – cái cần câu cơm của thằng ăn mày – đeo bên vai lủng lẳng. Hắn chống nạng đứng bên kia vũng nước, lầu bầu văng tục,
“Đụ mẹ, nhà cửa chó gì như chuồng trâu thế này.”
“Ông ngon lắm hả. Ít ra tui còn có cái chuồng rúc ra rúc vào, không phải ngủ chợ ngủ đình như ông.”
Thằng ăn mày cười,
“Ê, đừng có lên mặt em Hai. Không giải phóng, giờ này ít nhất anh đã bắt được cái trung sĩ. Ngữ em, ngày xưa cho không anh chẳng thèm cởi đâu nghe.”
Con đĩ quay lại sừng sộ,
“Đụ má, câm mẹ cái mồm lại, vào nhanh giùm tui nhờ. Công an biết ăn cứt cả lũ bây giờ.”
“Sợ quái gì em Hai, cùi còn sợ lở sao?”
Thằng ăn mày nhìn một vòng từ rặng tre rậm rạp gai góc đến bãi tha ma nhấp nhô mồ mả cây cỏ hoang vu, tiếp,
“Em dám ở một mình chỗ âm khí nặng nề này à?”
“Ở với ai kệ mẹ tui. Có đi vào không thì nói?”
“Nếu em Hai chưa có thằng nào làm gạt đờ co, anh đây cũng chẳng hẹp lòng.”
Thằng ăn mày vừa cười vừa khập khiễng lội vào vũng sình.
Con đĩ ném cho thằng ăn mày một cái nguýt dài rồi quày quả đi nhanh qua chái hiên.
Khi nó dợm chân định bước vô cửa, chợt thối lui nhìn trừng trừng. Trên nền đất, xác tôi nằm co quắp thâm tím, sình chương như một trái bóng khổng lồ căng cứng. Chung quanh ruồi nhặng quần đảo vo vo. Con đĩ đứng chết trân. Tôi dương đôi mắt trắng dã, trợn trừng nhìn nó, miệng há hốc, chiếc lưỡi thè ra dài ngoằng, chỗ yết hầu, cạnh sắc của miếng tôn ngập sâu, lầy nhầy một vết cắt toang hoác, dòng máu ứa ra, chảy xuống, đọng vũng trên nền đất. Dòng máu đã khô đen. Cánh tay tôi chợt động đậy, cái đầu cũng lúc lắc như xua đuổi không cho con đĩ bước vào. Con đĩ khiếp vía dội lui, vừa hét chói lói bớ người ta bớ người ta vừa chạy thục mạng qua vũng nước, tông vào thằng ăn mày. Cả hai ngã lăn quay, bùn nước văng tung tóe. Con đĩ vùng dậy, tiếp tục hét và chạy cuống về hướng bãi tha ma. Đàn chuột nghe tiếng hét của con đĩ, chí chóe chui ra từ dưới thân tôi, chạy tán loạn khắp căn lều, lủi nhanh vào chân vách. Nếu con đĩ biết ra rằng cánh tay động đậy, cái đầu lúc lắc của tôi là do đàn chuột đạo diễn thì có lẽ đã không hoảng loạn chạy bán sống bán chết thế kia.
Thằng ăn mày dĩ nhiên chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra trong chòi, hắn lồm cồm ngồi dậy, bò lổm ngổm trên vũng sình quờ quạng tìm đôi nạng gỗ và ông sáo trúc, miệng ngoạc ra kêu với theo con đĩ,
“Huệ… Huệ… Huệ…”
Nhưng con đĩ đã mất biến giữa đám mồ mả nhấp nhô.
KHÁNH TRƯỜNG

Sương đẫm vai hè

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted 07/08/2013

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

Khi anh nhìn thấy những gương mặt quen ngồi quanh bàn tròn, một ý nghĩ kỳ cục chợt hiện: Anh là đảng viên cuối cùng tới dự một cuộc họp kín. Một thứ đảng không giống ai, mỗi đảng viên thủ đắc riêng mình một thứ vũ khí chôn sâu trong lòng, dấu ở nhà, nằm chực ở computer và xuất dương thì mang khẩu súng gắn cửa miệng, để ngấc tự động, bắn ra những hòn đạn vô thưởng vô phạt cày xéo lùng bùng vào đêm thứ bảy, loang lỗ khuya chủ nhật, làm nguôi ngoai những cuối tuần tẻ nhạt.
Quán ăn rất đông chật ồn ào ở tầng trệt, bước xuống những bậc cấp hình vụ lại bày ra khung cảnh đối nghịch, tịch lặng như tờ. Điều này biện minh do đâu anh tưởng tới một phiên họp kín. Thực sự thì tất thảy những người ngồi kia đều chủ trương: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Vả, súng không gắn bộ phận hãm thanh thì bạn tha hồ lia cho sướng, khỏi làm phiền “giấc ngủ” hàng xóm. Mà giả có bọn thực khách xi lô xi la ngồi bàn kề cận nhỡ hứng đạn lạc thì cũng đâu có chết thằng Tây nào mà sợ. Nhất trí như vậy nhé! Hoan hô tự do. Đả đảo tự do ngôn luận bị kềm kẹp, bịt mồm, xài đạn giả, khóa nòng.
Nói họp chi bộ là một kiểu nổ khác. Nghe hội họp thêm oải, bỏ đi tám. Ừa, gặp mặt, chọc quê, cười đùa, thông tin thời sự, thời tiết, bệnh tật và buồn miệng thì nói toàn cả chuyện viễn vông, bên Mỹ bên Tây bên Tàu bên Ả Rập bên Trung Đông, những râu ria có bạc có rụng có sức mẻ cũng không hề ảnh hưởng tới mình. Nói cho xôm tụ, nghe ra thức thời. Chấm câu bằng lời Mao Tôn Cương: Mẹ rượt, sao bọn chúng chơi kiểu cọ gì đi ngược với chiều hướng văn minh nhân loại! Phá hoại môi trường, hít thở độc tố.
Lạ, bàn tròn này, chốn đây, qui tụ toàn công dân lao động chữ nghĩa mà chả có ai tơ tưởng, sôi nổi nói về một cuốn sách dự trù sẽ in. Buồn năm phút hay sầu miên viễn? Thời buổi oái ăm, mấy trăm trang sách chào đời mà làm như thể đẻ ra một cái gì gần với lạc hậu, khó chấp nhận. Hỏi anh Đ. Chịu, tui biết diết gì đây! Bình điện hết xẹt ra lửa. Than thở mà thần sắc chẳng chịu úa sầu mảy may. Con tằm mà không nhả ra tơ, coi đặng chăng!
Sao tới trễ vậy? Ồ, lo đi tậu chai bia, sao quanh đây chẳng thấy tiệm tạp hóa nào cả, chui đầu vô cây xăng mới ngó ra. Cà chớn, rượu chát đầy bàn sao hổng uống, ỏng eo bày trò la-de. He he. Cười trừ. Và nghĩ bụng, có người khoái B-40, có kẻ chịu đèn AK-47, có đứa ưa ôm M-16, có thằng nựng nịu M-79. Uống bia thì xem như dắt bụng khẩu Colt 45, càm ràm chi rứa! Gọn nhẹ, sức mọn chớ vác nặng.
Rồi, cụng ly. Chúc sức khỏe. Còn nhìn ra nhau là còn chút vui rơi rớt. Nhìn quanh, không còn một mái đầu xanh. Thất thập thì dứt khoát phải gôm tẩy cái đuôi cổ lai hy đi. Có người nói, giờ này thọ tới trăm tuổi là chuyện thường ngày ở huyện. Cái vấn nạn đáng bàn cãi là tuổi ấy còn nhá Viagra không? Hay cụ bà lại chê bai? Ngày xưa tớ chăm lội bộ Trường sơn thì giờ đây cây gậy phải hư hao trầy trụa chứ lị. Đầu gối anh còn chảy máu mà, sao em lơ là không ngó thấy để mắng oan!
Làm cái này đi, đầu bếp ở đây biết trò củi lửa nêm nếm mặn mòi. Gắp, nhai, nuốt. Uống, đưa cay. Xuống thực quản xong thì uốn lưỡi đẻ ra hậu sự: Ông A tiểu đường, ông B tiền liệt tuyến, ông C viêm gan, ông D cao huyết áp, ông Đ xương cột sống. Haizz, đọc báo nói cái đó độc, cái kia hóa chất, cái nọ tẩy rửa, cái này ngâm tẩm. Nói chung là đụng đâu hiểm nguy nấy, mặt trận thường trực căng thẳng. Tuyệt thực có trường thọ không đây! Đề tài dĩ thực vi tiên được buông màn bằng chuyện kể về cái chết mới đây của một thân hữu. Lạ lắm cơ, nó kiêng đủ trò, đỏ da thắm thịt, phương phi thần sắc, tiên phong đạo cốt, trí dũng song toàn… Rứa thì đau răng mà chết? Bị xe đụng. Xời, dậy mà cũng ngôn! Vô đi, vô đi. Bia rượu đưa lên loảng xoảng nghe như ai gọi tên đồng chí Va-nhau-lốp-cốp tận bên Liên-xô.
Mặt bắt đầu đỏ, những hồng vệ binh can trường hổng thèm ngó đồng hồ. Chi bộ đảng trăm khi tụ họp đều không thấy bóng dáng nữ đảng viên. Tất cả đều được vén khéo thu dấu bởi kinh nghiệm cho hay bọn đàn ông thường đáng yêu ở chỗ ăn tục nói phét, có mặt đồng chí gái thì rách việc, vụ việc đâm nghiêm trọng và không khéo thì tình hình ăn nhậu biến chuyển sang lãnh vực phê bình kiểm thảo, rút ưu khuyết điểm rồi đề ra một chân dung gia đình tiên tiến lấy đó làm mẫu mực noi gương. Nhờ trời, tiếng là ăn chùng ăn vụng nhưng tất thảy đại trượng phu quây quần quanh bàn đều đởm lược khẳng định chủ trương: “Còn Vợ Còn Mình”. Nói láo xe cán.
Anh nói, Trần Tế Xương e là người đầu tiên chứng minh cho châm ngôn bốn chữ vàng còn-vợ-còn-mình, hai câu cuối trong bài thơ Mất Ô:
Chỉn e rày gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình.
Có người rùn vai, mình không xác quyết nhưng cái air này xem chừng là dành riêng cho bồ nhí. Cầm dù che mưa đi ăn phở rồi lộn hồn lộn vía làm mất dù chăng? Cha chả, bộ không sợ vợ đứng án ở cửa: Rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt! Thời ấy, xem chừng không mấy ai sợ vợ đâu nhỉ? Phụ nữ đa phần đều nhịn nhục trong câm tiếng, không bình đẳng như hôm nay. Tỉ như hai vợ chồng bất hòa, to tiếng với nhau: “Anh không thấy sao, suốt ba tháng nay đi đâu tôi cũng chỉ biết mặc mỗi chiếc áo này. Còn tôi thì sao, cô không thấy à, ròng rã bốn năm năm nay đi đâu tôi cũng chỉ có độc một mình cô bên lưng!” Ối giời, đó cũng là thứ than thân trách phận đấy mà. Cái khiến chúng ta mãi loay hoay là làm sao xoay chuyển nó với tất cả những lạc quan. Trong đời sống buồn hiu mà tự cù lét để phát sinh giọng cười hẳn không quý báu lắm ru!
Rượu vào lời ra, người xưa thậm chí lý. Lời ra có thể tạo ngộ nhận, có thể nhạy cảm hiểu lầm. Vô ngôn thì vô úy. Ngậm miệng ăn tiền. Biết là thế nhưng mà cũng oan ôi ông địa, thử tưởng tượng xem, bàn bốn năm người ai cũng nạp rượu mà ai cũng câm như thóc thì ngó không đặng, mất sướng, như thể băng đảng kém hạnh phúc nhất trần ai đang ngồi ôm thương đau mặc niệm. Phải rôm rả đi chứ, không chèo cổ thì cải lương, không xuống sáu câu thì rock ’n roll các thứ. Bọn tôi thảy hát vọng cổ Thành Được, riêng ông thì chơi nhạc kích động Hùng Cường Mai Lệ Huyền. Mai này bọn tôi dô diện dưỡng lão, ông nhớ giỏi chơn lợi thăm nghen. Có người cao tuổi nói với anh. Cũng là dạng bông đùa mà nghe váng vất tiếng thở dài. Một, phát hiện nắng quái chiều tà đang đổ rát lưng. Hai, ta sẽ cô đơn gửi thân vào chốn quạnh quẽ. Ba, nhà ngươi có bạc tình lẫn trốn xa mặt cách lòng. Ngang đây thì đẻ ra “công án”, khi anh mình ên ngồi dưỡng thần trong cái viện quái quỉ đó, ngó quanh ắt tủi thân mà ngâm hai câu của Hoàng Cầm:
“Tiểu đội ta những ai còn, ai mất?
Không ai còn ai mất, chỉ chết cả mà thôi”.
Ui chao, tất cả đang ngồi chung chuyến xe đò “về miền quá khứ”. Xe đổ đèo và dứt khoát xe sẽ hỏng con heo dầu, xe đứt thắng rồi rơi xuống “giữa triền hạn reo”. Thần chết ngó xuống cười gằn, định luật tự nhiên đó con ạ. Ngay bản thân ta cũng phải đi đầu thai bộn lần, chứ có bất tử đâu con. Bọn bây chuyên viết văn làm thơ thuộc thành phần ruột để ngoài da lý lịch tốt. Để tao xổ số xem lô an ủi thuộc phần về ai. Thế nào là an ủi, thưa ngài? An ủi là tai qua nạn khỏi, lóp ngóp bò dậy, chịu thương tật 75 phần trăm. Ngài ạ, xin mở rộng lòng từ bi bọp cò cho tôi phát súng ân huệ. Chứ sống kiểu đó thì chán như con gián, đau đớn hơn cả “sống đây mà xem như chết rồi”. Bậy nà, người ta đột quỵ, tai biến mạch máu não ngồi xe lăn hà rầm nào có ai than van. Tim còn đập hôm nào là mừng vui cho hôm ấy. Nói nghe đặng không? Không, trăm lần không, vạn lần không? Đại đội trưởng của tui, ông Bùi Giáng từng nói trong bài Kính Tặng Thần Chết, như sau:
Đi vào đất một phen này đất đá
Nham thạch ôi mày có giống tao không
Vào giấc ngủ thiên thu sầu băng giá
(Rét căm căm đau đớn chắc vô cùng
Và có lẽ đoạn trường ghê gớm lắm)
Đất đen ôi tao chẳng muốn đi vào
Tao muốn sống suốt bình sinh vạn đại
Ở cõi trần vĩnh viễn trận du ngao
Nếu có thể chết thử chơi một chút
Rồi trùng sinh ăn phở khắp phố phường
Đừng vĩnh viễn chết chán chường lắm ạ
(Cũng có thể chết chơi một tuần lễ
Nhưng dĩ nhiên ăn một trận Bún Bò
Và Hủ Tiếu thật no nê rồi hãy
Ấy nhưng mà Thần Chết hỡi tuy nhiên) *
Cuộc họp tàn, ra đường va trán nóng vào gió hè rát mặt. Những ông Quan Công mặt đỏ lưu lạc không Lưu Bị chẳng Tào Tháo đứng ngó mông muội.
Người Laval, kẻ Brossard. Người ngoại biên kẻ trung tâm, đông nam tây bắc tứ tung bát giác. Sao rãi đầy trời những viên kim cương bất hoại chợt tỏ chợt mờ, trăng lưỡi liềm nhạt nhòa dung mạo vô duyên. Ở cố quận giờ này rậm rật cuộc tồn sinh đúng ngọ, lòn lách đương cự với vạn điều vô minh.
Chia tay nhỉ? Độ cồn tồn đọng hay đã vơi theo khom lưng giải thủy? Lái xe về chốn dung thân có quàng xiên làm bà xã không hài lòng hay an toàn xa lộ? He he, có hề chi vàng một chút rong rêu. Sao, ngày mai thế nào nhể? E phải nên phiêu bồng vào quán Phở, Bún bò, Hủ tiếu làm một trận thiết như thân. Chí lý thay, để mai hậu khỏi “tuy nhiên” hối hận “ấy nhưng mà”.
Về ngủ nghê hay chong đèn mần thơ? Sao biết được, cũng tùy tình hình. Nghiệm lại, chẳng có phút giây nào an hưởng hạnh phúc trong tịch lặng cho bằng được ngồi đối mặt với trang giấy trắng, hoặc một vuông hình chói chang của máy tính. Một ký gửi chẳng mong cầu gặt hái ra điều gì to tát, một tâm sự bâng quơ. Mai sau còn lại chút gì, ấy là khu vực nhu mì của em.
Anh lội bộ về chỗ trọ, không thích quá giang vì muốn hưởng thụ điếu thuốc vừa thắp đỏ. Muốn rảo cẳng trên phố khuya vì nhát thấy sương rơi loáng đẫm lá cành. Ở giấc sâu, đêm thường có những biểu tỏ dịu dàng riêng cho đứa lẻ loi mà ướt át của sương mềm nương vai là một bằng chứng, vỗ về. Xin được sáng suốt để còn tưởng tới một điều gì huyền nhiệm lẫn trốn khuất tất. Viết là cách thắp đuốc đi kiếm tìm khu vực nhu mì Em mãi án che.
Hồ Đình Nghiêm
(*) trích thơ Bùi Giáng từ cuốn Đười Ươi Chân Kinh.

Sống, chết

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted on 8/12/2013
Post by Sơn râu 7 Nov 2024

Tranh biếm hoạ này tôi chụp lại từ báo Métro Montréal, xuất bản hàng ngày với số lượng lớn, phát không, để lan tràn ngay mỗi lối ra vào tàu điện ngầm.
Chụp lại, vì tôi bị nó quyến rũ ngay phút đầu nhìn thấy. Và ý nghĩ thì mọc lên ngay ở phút thứ hai: Phải trụ ở một trong bốn quốc gia còn thờ phượng Cộng sản chủ nghĩa, người ta mới có ý tưởng để vẽ lên được chủ đề tựa thế. Tôi xem chú thích dưới bức biếm hoạ: tác giả Ares, ở Cuba. Hèn gì. Thảo nào. À, ra thế.
Một thời điểm nào đó, vào thập niên 80, có người đã kể cho tôi nghe về một bức biếm hoạ mà không nói rõ nguồn gốc. Tranh vẽ chân dung hai vị lãnh tụ. Fidel Castro thì ghi ở dưới: CUBA. Chú thích dưới hình Hồ Chí Minh là hai chữ: CU CON. Chúng sinh phản động có quyền “xâm phạm chủ quyền” tác giả để tuỳ nghi vẽ rắn thêm chân, đại loại như Cu cậu: Kim Jong-il. Cu chú: Mao chủ tiệm.
Thời bé, nghe Mạ tôi hay nói: Cú dòm nhà bệnh! Nghe mà không đòi giải thích, tự hiểu đó là cụm chữ chẳng tốt lành dành cho hạng người có tâm địa ám muội, bất chính. Bây giờ đã lớn tuổi, xem tranh biếm hoạ này cũng ngầm hiểu lấy mà không đưa ra lời bình phẩm. Chỉ biết nó “ấn tượng”, nó “hơi bị choáng”. Nét vẽ chuyên nghiệp, chẳng hề do một tay mơ “ngoại đạo” dựng nên hình khối. Con chim đen ấy là quạ (?) chứ không là cú, cái mõ được cách điệu dài nhọn tựa loài kên kên. Thay vì gục đầu rỉa rói trên thi thể rách bươm của con mồi xấu số, nó đậu xuống trang báo và cái mõ lập tức biến dạng thành hình thù một cây kéo. Chú ý tới dụng tâm của hoạ sĩ: hai tròng mắt con quạ trắng dã. Một sự vô cảm? Một con số không? Một sự mù loà? Hay một đầu óc đã bị tẩy não? Tớ sẽ cắt xẻo cho tới hồi nào nó sạch trắng mặt chữ, đằng ấy liệu thần hồn, phải co quắp lại, chớ ngu ngoe.
Xem tranh, lại tự hỏi, khi nhà nước sẵn lòng bỏ hết công sức để mài bén dao kéo đem treo trên đầu những tiếng nói trung thực, liệu nhà nước ấy có sản sinh ra một đội ngũ gọi là nhà văn? Nếu còn sót chút lương tâm, rất đỗi yếu mềm, anh buông bỏ cây bút, anh đạp xe ôm cho khoẻ trí. Bằng không, anh vẫn đổ mồ hôi lao động chữ, anh nhắm mắt “an tâm” đi dưới sự dẫn dắt của mông muội, ngược ngạo, lừa bịp, vô nhân tính. Hoặc giả anh cực thân lòn lách, nói cạnh nói xéo, nói bóng nói gió và như thế, thường chẳng mang lại kết quả giá trị nào. Lươn lẹo là thứ mà nhà văn tối kị, đúng vậy chăng?
Con dao, cây kéo, kể cả còng số 8 (đều là chất kim loại lạnh giá) luôn tạo thành nỗi ám ảnh và nếu có cơ may anh nhìn ra bức biếm hoạ này, anh chợt sững sốt: Ủa, “đồng chí” Ares này là ai mà đởm lược thế nhỉ? Ừ, thì Cuba ắt phải hơn Cu con!
Cu cậu Kim Jong-un vừa ra lệnh xử bắn bọn người phản động dám lén xem phim phía bên Nam Hàn. Nghe sởn tóc gáy. (Gà cùng một mẹ phải hoài giết nhau). Dĩ nhiên người Bắc Hàn e chưa hề được nhạc Trịnh Công Sơn rót vào tai: “Ta là ai mà yêu quá đời này…” Chao ôi cuộc đời, chao ôi những phần số bất hạnh chào đời lầm than dưới những vì sao xã hội chủ nghĩa!
Nhân cái chết của ông Mandela, mới đây tôi đọc phải một bài viết trên trang mạng ở trong nước: “Trước, chúng tôi cắm cúi chỉ biết duy một người vĩ đại. Nay, nhờ vào đường dẫn thông thoáng của internet, những tên tuổi như Gandhi, Mandela, Lý Quang Diệu… lần lượt hiện ra. Ôi, Bác tôi có là cái gì đâu!”
Người viết ấy- luôn bị luỹ tre làng bưng bít- thế nào cũng nhờ vào internet để biết thêm một sự thật đau lòng khác: Việt-nam bị thế giới điểm mặt, sắp thứ hạng 172 trong 179 đất nước mà quyền tự do ngôn luận luôn bị trấn áp, đe nẹt, bịt mồm khoá mõm.
Trong một bài viết, mới đây cô Phạm Thanh Nghiên cho hay, ngày 25 tháng 11 vừa qua, điện thoại di động của cô và người mẹ đột ngột bị cắt. Khi hỏi phía cung cấp dịch vụ điện thoại, họ không ngần ngại thừa nhận chính an ninh đã ra lệnh cắt. Cô đưa ra dấu hỏi đầy “bức xúc” đẫm chất bi thương: “Chúng ta nên làm gì khi nhân quyền chúng ta bị xâm phạm? Im lặng? Chấp nhận? Quy hàng? Tự vẫn?”
Chao ôi, ở những vùng trời khác, bồ câu bay lượn đầy trên các công viên phơi phới cỏ mượt, thân thiện đậu xuống vai người chẳng ái ngại. Nếu có vẽ tranh, người ta vẽ chim chóc toàn cả sơn ca, chào mào, hoàng yến… những giống chim luôn rộng lòng rót xuống đời không mỏi mệt những cung bậc thanh cao, trao vào tâm người làm giàu thêm những cảm xúc, hướng thiện. Tuyệt đối không có mặt của diều hâu, cú vọ, quạ đen. Nếu có, thì chúng đã bị nhồi bông, hàng nhái, chưng trong các gian hàng triển lãm về giống loài lông vũ có cánh, biết bay. Chúng tượng trưng cho cái xấu, điềm chẳng lành và người có văn hoá thì luôn tuyên chiến, đoạn tuyệt sự xấu xa.
Tác giả bức biếm hoạ ký tên Ares, người xứ Cuba. Có chút giây mơ rễ má khiến tôi liên tưởng, nhớ ra dung mạo “nghệ sĩ” của Che Guevara. Râu quay nón, luôn đội mũ béret, và chẳng quên câu nói nổi tiếng của người làm cách mạng: “Live your life as though you were already dead”.
Những người thân tôi quen còn thúc thủ ở trong nước thì nói kiểu khác:
“Sống đây mà xem như chết rồi!”
Hồ Đình Nghiêm

Tình câm

hsdoduyngoc.blogspot.com
Đỗ Duy Ngọc tháng 7 – 19, 2022

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

Hắn và cô ấy học cùng trường, hắn trên cô ấy hình như ba lớp. Từ nhà hắn đến trường, đi nửa đường là nhà cô ấy nên thường gặp nhau. Hồi đó học trò thường đi bộ, một số bạn bè đã có xe gắn máy nhưng bố hắn không cho đi xe sợ nguy hiểm, chỉ thỉnh thoảng rảnh rỗi bố hắn chở hắn đến trường, nhưng chỉ năm thì mười hoạ. Thường thường gặp nhau trên đường, hôm thì hắn đi trước, cô ấy đi sau. Những khi như vậy hắn thường đi qua bên kia đường, đi chậm lại cho nàng đi trước rồi băng lại qua đường đi sau lưng nàng một quãng. Hôm nào ngẫu nhiên đi sau, hắn cứ tà tà lẽo đẽo đằng sau, cách hơn mười thước. Hắn khoái đi sau lưng cô ấy để được ngắm những bước chân đi, nhìn gót chân hồng hồng trong đôi guốc mộc, nhìn dáng đi chậm rãi có vẻ đoan trang, thuỳ mị, con gái thời đó được dạy thế, nhìn suối tóc dài đen mướt buông thả ngang lưng với tà áo trắng. Chỉ thế thôi mà lòng rộn rã. Con đường đi qua nhưng hàng phượng đỏ, thuở ấy con đường này đầy phượng. Mùa nắng, hoa phượng đỏ rực dưới bước chân nàng. Trên cao những chùm hoa phượng đỏ rực rỡ trên nền trời xanh. Một cơn gió thoảng qua, nhiều cánh hoa như những giọt máu bay trong gió. Ôi cái thời thật hồn nhiên và lãng mạn. Cô ấy có biết hắn theo không, hắn nghĩ là có biết bởi cũng có nhiều lần cô ấy quay nhìn lại, đôi mắt tròn xoe như có nụ cười. Và hắn làm thơ, viết bao nhiêu là bài thơ về mối tình một chiều đang ươm mầm và lên lá trong lòng cậu học trò lớp đệ tam. Ngày nắng hay ngày mưa, hắn vẫn như cái đuôi suốt đoạn đường đến trường lúc đi cũng như khi về. Con đường đấy có một nhà thờ, thỉnh thoảng giấc trưa đi học về có tiếng chuông ngân nga, mỗi chiều có tiếng kinh cầu. Hắn có viết một bài thơ có tiếng chuông ngân và lời kinh cầu đó.
Hình ảnh ấy kéo dài suốt hai năm mà cũng chẳng có gì thay đổi. Vẫn cô nàng đằng trước và hắn phía sau suốt hai niên học. Hắn học nhảy, năm đệ tam hắn đã thi thí sinh tự do tú tài một bằng cách mua một học bạ lớp đệ nhị của một trường tư thục. Bởi thế năm đang học đệ nhị hắn đã chuẩn bị thi tú tài hai. Đời học sinh của hắn không học lớp đệ nhất ở trường chính thức.
Vừa đậu tú tài hai chuẩn bị ra Huế hoặc vào Sài Gòn học đại học, hắn gom tiền in ba trăm tập thơ, toàn thơ tình viết cho cô ấy, viết về một mối tình câm lặng suốt hai năm, viết về những nỗi buồn không nói được, về những tâm trạng của thằng con trai mới lớn si tình. Trước ngày bay vào Sài Gòn, hắn gói mười tập thơ bằng tờ giấy hoa rất đẹp gởi đến địa chỉ nhà nàng rồi bay mất. Để lại thành phố nhỏ đó một mối tình si, mối tình của tuổi mới lớn nhiều ký ức nhưng không có kỷ niệm.
Hắn không chấp nhận ngành học mà bố hắn yêu cầu nên ở đất Sài Gòn, hắn thuộc diện sinh viên mồ côi, tức là không có trợ cấp của gia đình. Hắn làm đủ việc để kiếm tiền đi học, công việc cuốn hắn đi. Cơm ăn, áo mặc, tiền cours, tiền sách báo, tiền học thêm ngoại ngữ khiến hắn không còn thì giờ để nghĩ ngợi nhiều. Thế nhưng nhiều đêm, thỉnh thoảng ôm đàn dưới trăng, hắn lại nhớ về cô ấy, nhớ thế thôi chứ cũng chẳng biết làm gì. Có lần ghé ký túc xá sinh viên Trường Kỹ sư Phú Thọ, hắn bắt gặp ai đó viết bài thơ của hắn trên tường ở đầu giường. Hắn vui vì cũng có người thích những bài thơ vụng dại một thời của hắn.
Rồi hắn được một cái học bổng đi học xa, bốn năm xa tít mù khơi cũng khiến hắn phai mờ mối tình câm của thuở học trò. Trở về, hắn làm công chức, ngày hai buổi đón xe đến sở làm, rồi về. Hắn vẫn là thằng đàn ông nhạt thếch không biết ăn chơi, nhảy nhót như những bạn cùng sở. Hắn lại không rượu bia, cà phê lê la hàng quán. Cuộc sống của hắn nhàn nhạt ngoài mấy cuốn sách hắn ngấu nghiến hàng đêm và tiếng đàn nỉ non những đêm trăng.
Rồi biến cố lịch sử ào ạt ập tới, cuộc sống mới lắm đổi thay, hắn thất nghiệp vì không đi trình diện sở làm cũ. Hắn lại sống lây lất và cũng đến lúc hắn lập gia đình, vợ hắn là người Sài Gòn. Cuộc đời hắn lại qua một trang mới. Hắn xin đi dạy học, lúc ấy nhu cầu giáo viên rất cần nên hắn được nhận rất dễ dàng nhưng vì lý lịch xấu quá hắn được đưa về một trường xa tít mù ở ngoại thành.
Một lần, lúc hắn đang đứng lớp, có người báo tin vợ hắn lâm bệnh, phải đưa vào nhà thương. Hắn lật đật chạy về vào bệnh viện thăm vợ. Hắn tình cờ gặp cô ấy, người con gái ngày xưa đó trong phòng của bệnh nhân. Cô ấy muôi mẹ bệnh, giường mẹ cô cách giường vợ hắn hai dãy. Cô nhìn hắn với đôi mắt ngạc nhiên tựa hình dấu hỏi. Vẫn đôi mắt đen với rèm mi cong ấy. Hắn nhìn cô ngỡ ngàng, định mở lời hỏi thăm mà không dám mở lời bởi vợ hắn ghen ghê lắm. Đành thôi. Ở lại một đêm với vợ, thỉnh thoảng liếc nhìn qua giường bên kia, không biết cô ấy đang nghĩ gì về cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên này.
Khi trời chưa sáng, hắn lật đật ra bến xe để đến trường dạy học và vợ hắn sẽ được xuất viện trưa nay. Hắn cứ ân hận mãi về việc không có một lời thăm hỏi sau một thời gian khá dài mới được gặp lại.
Dạy được đôi năm, biết hoàn cảnh khó khăn của gia đình hắn, hắn cũng được cấp nhà ở thành phố, một căn nhà nhỏ đủ cho một cặp vợ chồng với một con tá túc. Nhận ngôi nhà trống chẳng có vật dụng gì, hắn xuống phố gần nhà kiếm bộ bàn ghế rẻ tiền làm bàn ăn cũng là nơi làm việc và tiếp khách. Hồi đó ai cũng nghèo, làm nghề thầy giáo lại càng nghèo nên cứ đi loanh quanh mà vẫn chưa tìm được bộ bàn ghế nào vừa ý và hợp với số tiền trong túi. Cuối cùng, có một tiệm đầu phố gần dốc cầu hắn thoáng thấy một bộ bàn ghế bằng gỗ tạp, chắc là giá không đắt lắm. Hắn ghé vào, tiệm lổn ngổn những tủ bàn gỗ mộc nhưng chẳng thấy ai đứng bán. Chỉ có một cô bé khoảng năm sáu tuổi đang ngồi chơi đồ hàng. Cô bé thấy có khách bèn ngừng chơi nói vọng vào trong: Mẹ ơi! Có khách mua hàng nè. Một người đàn bà xuất hiện, vừa nhìn hắn đã nhìn ra là cô ấy dù thời gian đã làm nhan sắc của nàng có chút đổi thay. Cô ấy cũng ngạc nhiên khi thấy hắn, một thoáng nhận ra nhau. Hắn chưa kịp mở lời thì nàng đã nói vọng vào trong: Anh ơi! Anh bạn ngày xưa làm thơ tặng em nè. Hắn vừa nghe đến đó cảm thấy quê xệ quá nên liền vọt lẹ, lúng túng nên đạp mấy cái xe cà tàng không chịu nổ, hắn chèo hai chân đẩy vội xe đi, đường hơi xuống dốc nên hắn lật đật gài số, xe nổ hắn rú xe chạy một mạch.
Nhà hắn cách nhà cô ấy chỉ một con đường và một chiếc cầu. Hắn thường đi qua đó nhưng chẳng có chi để ghé vào cho đến mấy năm sau, người ta trùng tu lại cây cầu, tiệm đồ gỗ của nàng đóng cửa, không biết dọn về đâu?
Gần ba chục năm sau, trong một buổi họp mặt sinh viên của trường đại học cũ, hắn ngồi cạnh một anh bạn. Thời sinh viên la cà hành lang, biết nhau chứ không thân. Hai thằng nói qua nói lại, hoá ra cũng là bạn của nhiều người bạn chung. Nhắc nhiều chuyện ngày xưa nên cũng cảm thấy thân tình như tìm được một người bạn cũ. Hẹn hôm nào uống cà phê nói tiếp.
Sáng hôm sau hắn đi ăn sáng ở cơm tấm Nguyễn Phi Khanh, lại gặp anh bạn ấy cũng ăn sáng ở đấy. Lại tám chuyện cùng nhau và bạn rủ về quán gần nhà uống cà phê. Quán nằm ngay sau lưng nhà cô ấy. Nói năm điều bốn chuyện, hết chuyện trường xưa bạn cũ lại chuyên chính trị, thời sự. Cuối cùng, như thói quen của những người già, hỏi thăm gia đình, con cái của nhau. Anh bạn hắn chỉ ngôi nhà của cô ấy và bảo nhà tôi đấy, vợ người cùng quê Đà Nẵng với ông và có hai con đã lớn. Hắn chột dạ, thấy mẹ rồi, thì ra tay này là chồng của cô ấy. Sao trái đất bé quá vậy ta?
Hắn định bảo hắn có quen biết cô vợ. Nhưng nghĩ chẳng nên nói mà chi. Hay là thằng này nghe vợ kể tên hắn rồi nên làm thân để điều tra chi đây? Câm là hay nhất. Từ lần đó hắn cũng không gặp lại người bạn này.
Thời gian lẹ quá, bỗng chốc mới đó mà đã quá tuồi bảy mươi. Vợ hắn mất đã được mấy năm. Hắn lại cơm hàng cháo chợ. Suốt ngày lang thang quán xá. Hắn phát hiện có một quán cơm ngon, vệ sinh mà giá phải chăng nên trưa, chiều đều đến ăn ở đấy. Quán nằm đối diện căn nhà của cô ấy phía bên kia đường. Đôi khi ăn cơm, hắn thường nhìn qua, căn nhà cứ mãi đóng cửa im ỉm. Hắn đợi một hôm nào đó nhìn thấy nàng, hắn sẽ mạnh dạn đi qua mở một lời chào. Nhưng chờ mãi cũng chẳng thấy. Suốt hơn năm mươi năm biết nhau, hắn chưa được một lời với người hắn đã từng có thời yêu say đắm. Giờ hắn đã là ông nội, cô ấy cũng đã là bà ngoại. Sao cuộc đời không cho hắn gặp lại chỉ một lần nữa thôi để hắn ngỏ được một lời, để thấy được một nụ cười dù biết nụ cười bây giờ đã móm mém rồi.
Chiều nay, như mọi buổi chiều, hắn ngồi ăn cơm quán. Trời mưa lớn, hắn nhìn qua căn nhà trong màn mưa. Căn nhà vẫn đóng cửa im ỉm, chẳng thấy bóng ai.
19.7.2022
DODUYNGOC

Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

  1. Chương 2
    Tiếng còi tập họp ré lên làm Phượng vùng chạy, bỗng nó nghe thấy có đứa gọi tên nó ở phía nhà ngang. Nó vội ngừng lại. Nó nom thấy con Dung đang giơ tay lên vẫy. Phượng ngần ngại nửa muốn chạy, nửa muốn ở lại. Đối với nó, con Dung là đứa đáng nghi ngờ nhất. Đầu óc Dung lúc nào cũng sẵn sàng nẩy ra một ý kiến tinh nghịch tai tác. Hình như nó sinh ra để làm khổ người khác, và nó lấy làm sung sướng được thấy người ta bị hại như thế. Dung lớn hơn Phượng một tuổi, tức là mười một. Tóc nó mượt óng ả, da trắng ngần, cặp môi đỏ và mỏng quẹt. Bọn chị Quỳnh, chị Giang thường bảo tính nó gian giảo vì nó hay nhìn trộm rồi ngó xuống đất. So với lũ trẻ, Dung là đứa khôn ngoan nhất. Nó biết nịnh các soeur khi cần nịnh, biết nhường nhịn lũ trẻ khi cần thiết phải nhường, nếu làm lợi và vui cho nó thì dù có phải tàn nhẫn để đánh đổi lấy, nó cũng không từ. Cũng vì thế, nó là đứa đầu tiên của cả bọn trong các cuộc cãi vã, những vụ tranh giành, hoặc trong cả những tai nạn sứt gối, trầy da vẫn thường xảy ra cơm bữa giữa bầy trẻ mồ côi sàn sàn tuổi.
    Trong tất cả mọi ngõ ngách của viện cô nhi, không chỗ nào là con Dung không biết đến. Theo ý nó, chỉ có phần cái trán của các bà soeur là bí hiểm nhất. Một lần nó nói:
  • Không biết các bà soeur có tóc hay không có tóc?
    Con Hằng nói:
  • Tao chắc là trọc lông lốc bình vôi.
  • Sao mày biết?
  • Bởi vì trọc tếu cho nên các bà mới phải đội mũ.
    Con Nguyệt đáp:
  • Tao thì tao cho rằng các bà ấy cũng có tóc như mình. Nhưng các bà ấy bôi thuốc cho nó tịt lại.
  • Eo ơi! Nếu thế thì đầu của các ma soeur chắc là đầy những sẹo là sẹo.
    Con Dung nói:
  • Chúng mày việc gì phải cãi nhau lôi thôi. Tao sẽ có cách tìm ra điều ấy.
    Rồi không biết nó “tìm” bằng cách nào mà một hôm nó tuyên bố:
  • Tao nom thấy rồi! Tóc của các bà ấy ngắn như bờm ngựa và đỏ lòm như tóc dạ xoa. Có như thế mới phải đội mũ suốt ngày chứ?
    Cả bọn nhao nhao lên bàn tán. Chúng nó bắt con Dung kể lại những điều mà Dung đã chứng kiến. Lập tức con Dung bịa ngay một câu chuyện tràng giang đại hải, kể từ lúc các bà Phước đi tu thì tóc đen thế nào, đến lúc « cấm phòng » uống thuốc tiên để được lên thiên đàng thế nào, rồi nó kết luận:
  • Thuốc tiên của các bà ấy đã làm cho mái tóc ngắn đi và đỏ ra như tóc quỷ. Đó là tóc của những người nhà giời. Những kẻ sống ở trên thiên đàng.
    Con Bích lè lưỡi:
  • Thế thì tao thèm vào. Tao không thích lên thiên đàng.
    Con Rô – giét cãi:
  • Người ta có thể lên thiên đàng được mà không cần uống thuốc. Ma soeur đã nói thế.
    Con Dung gân cổ lên nói:
  • Kẻ đó là mày chăng?
    Bích rích lên cười rồi nói thật nhanh:
  • Không phải là tao mà chắc cũng không phải những đứa nói khoác như mày.

Nói xong Bích vùng lên chạy làm mặt con Dung đỏ rần lên vì tức. Nó cảm như mình vừa bị cắn trộm. Hai bàn tay nó nắm lại, hàm răng rít lên, chân nó dậm thình thịch lên mặt cát, rồi nó hét về phía con Bích đang chạy:

  • Đồ chết tiệt, quỷ sứ rút lưỡi mày ra!
    Tuy vậy những lời nói của Dung cũng khiến cho nhiều đứa khác tin tưởng. Ngày hôm sau chúng nó nhìn lên đầu các bà Soeur bằng những con mắt lấm lét. Chúng nó tưởng tượng ở đằng sau lớp mấn trắng đội trên vầng trán trắng ngời ấy là cả một mớ râu ngô đỏ lòm, xoắn tít lại. Câu chuyện đó một hôm có đứa tâng công đi mách lại với bà Hạnh. Lập tức sau giờ học, con Dung bị lôi lên phòng giấy trước những bộ mặt giận dữ của các bà.
    Bà Hạnh nói:
  • Đồ dơ dáy! Bay nói chuyện gì mà dơ dáy vậy?
    Con Dung liến thoắng:
  • Thưa ma soeur, con có nói chuyện gì đâu, ma soeur đừng nghe chúng nó. Chúng nó là những đứa đặt điều.
    Bà Nhân nói:
  • Đừng chối nữa. Mẹ biết hết cả rồi.
    Con Dung hỏi lại:
  • Thưa mẹ, mẹ biết cái gì cơ?
    Bà Nhân quát bằng giọng giận dữ:
  • Còn chuyện gì. Câu chuyện…. chuyện cái tóc ấy.
    Dung sờ lên tóc ngơ ngác:
  • Thưa mẹ tóc con làm sao?
    Bà Hạnh không thể chịu hơn được nữa. Bà xô lại phía nó và tát nó một cái thật mạnh. Con Dung òa lên khóc. Tiếng khóc của nó nghe còn đau đớn hơn là sự đau đớn mà nó phải chịu. Bà Cécile nhăn mặt nhìn vào cái miệng gang ra của nó, bà nom thấy cả cái đầu thực quản và chiếc lưỡi gà ở trong đó rung rung. Rồi bà quay đi sau khi nhún vai một cái để biểu lộ một sự ngạc nhiên rõ rệt:
  • Sao lại có thể có đứa như thế được!
    Nhưng bà phước Hạnh thì nổi giận thực sự. Bà hét lên một tiếng còn to hơn tiếng hét của con Dung:
  • Im! Im mồm!
    Con Dung hốt hoảng nín bặt ngay tức khắc. Nó có cảm tưởng như mình đã đụng phải một đối thủ đáng gờm. Quả nhiên bà Hạnh mặt xám ngắt lại, bà nhìn vào mặt nó bằng đôi mắt đỏ ngầu khiến nó sợ hãi. Nó vội khoanh tay liến láu:
  • Thưa mẹ, con xin mẹ tha lỗi. Con hứa! Con chừa!
    Nghe nó nói, bà Hòa khinh bỉ bỏ ngoắt đi. Bà Cécile nhún vai thêm một cái nữa. Còn bà Phước Nhân thì lọm khọm như vẫn còn chưa hết cái vẻ ngẩn ngơ sau tiếng hét bất thình lình của bà Hạnh. Riêng bà Phước Hạnh thì xách vai áo của nó lên, lôi ra khỏi phòng:
  • Đồ dơ dáy! Còn như thế nữa thì ta sẽ cho biết thế nào là kỷ luật.
    Nói rồi bà đẩy nó xuống sân sỏi và quay quắt trở về. Mặt con Dung tươi ngay lên. Nó không ngờ hình phạt giáng xuống nó lại nhẹ nhàng hơn là nó tưởng.
    Nó sung sướng co chân chực chạy thì bà Félicité đã hiện ra ở cánh cửa bên kia và vẫy nó lên thềm. Mặt nó vụt cau lại. Đối với sự dịu dàng của bà ta, Dung rất coi thường. Nó biểu lộ sự coi thường bằng cái nhìn hỗn xược. Và nó đứng nguyên một chỗ khiến bà Félicité phải nhẹ nhàng đi xuống. Bà nhìn nó bằng cặp mắt bồ câu dịu dàng như tỏ ra hòa hoãn với nó. Bà nói:
  • Nào, Dung kể cho ma soeur nghe những gì đã xảy ra nào?
    Con Dung đáp:
  • Không có gì xảy ra hết cả.
  • Ồ! Như vậy không đúng. Bởi vì các soeur không làm điều gì mà không suy nghĩ cả, có phải thế không?
  • Thưa ma soeur phải!
  • Vậy trước khi làm điều gì con có suy nghĩ như các ma soeur không?
  • Thưa ma soeur nghĩ cái gì cơ?
  • Nghĩ rằng mình làm trái hay phải, có hại đến quyền lợi của người khác không?
  • Thưa ma soeur, thế thì con có nghĩ.
  • Nghĩ rồi sao con còn làm những điều khiến phiền lòng các soeur. Con phải….
    Dung tru tréo lên:
  • Con không làm gì hết, chúng nó là đồ quỷ sứ. Chúa sẽ trừng phạt tội ăn gian nói dối của chúng nó. Ai mà tin chúng nó thì cũng có tội như chúng nó vậy.
    Bà Félicité đứng sững người lại. Bà ngơ ngác nhìn con bé ranh con đã dám thốt ra những lời quá ư hỗn sược như vậy. Khuôn mặt dịu dàng của bà thoáng lộ một sự thất vọng sâu xa. Bà khẽ lắc đầu và giơ tay ra hiệu cho nó trở về phòng. Con Dung không cảm ơn và cũng không chào một tiếng. Nó vùng lên chạy. Nó muốn dùng mấy ngón tay của nó cấu thịt đứa nào đi hớt lẻo về chuyện những bộ tóc râu ngô của các bà Phước.

Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 7 Nov 2024

NGÀY NAY xuất bản 1964

Chương 1
Lũ trẻ truyền bóng ở đằng xa. Tiếng hò hét và cười đùa của chúng nghe vẳng lại chỗ Phượng và Hà đang thủ thỉ nói chuyện với nhau. Tay Phượng cầm một cái que kem ngắn. Nó vạch lên mặt cát mịn và ẩm những nét nguệch ngoạc và nói:
Về sau lớn tao thích làm thợ vẽ. Tao sẽ vẽ hai cây sấu ở ngoài cổng vào mùa này không có hoa, không có lá, nom như những cái cuống chổi trên nền trời.
Hà nói:
Mày vẽ cả tao nữa chứ?
Phượng gật đầu:
Đứt đuôi đi rồi! Tao sẽ vẽ mày ngồi trên ghế đá, mặc quần trắng, áo cánh trắng.
Hà ngắt lời:- Tao thích mặc váy đầm đỏ, chân đi giầy, còn đầu thì thắt nơ.
Ừ! Tao sẽ vẽ mày mặc áo đầm đỏ, đi giầy đỏ, đầu thắt nơ màu trắng có điểm kim tuyến vàng.- Tay tao ôm một con búp bê nhắm mắt, mở mắt được.
Được lắm chứ. Búp bê của mày to bằng người thật. Nó cũng mặc váy đầm như mày, nhưng màu bleu nhạt mày có chịu không?
Hà gật lấy gật để. Mặt nó hớn hở như đã được cầm con búp bê đẹp đẽ ấy ở trong tay.
Một lát nó nói:
Thế còn mày ngồi ở đâu?
Phượng nhìn ra phía cổng cao vòi vọi có những dóng sắt xám xịt loang lổ lớp sơn màu lá cây sậm. Nó đáp một cách lơ đãng:
Tao đấy à…. ừ nhỉ, tao đứng ở đâu?
Hà bàn:
Hay là mày đứng ở bên cạnh tao. Hai đứa cầm chung nhau con búp bê của chúng mình.
Phải đấy. Tao sẽ đứng ở bên cạnh mày. Tay tao cầm một bó hoa màu tím. Hoa gì màu tím nhỉ.
Hà suy nghĩ rồi đáp:
Chắc là hoa nhài!
Phượng chun ngay mũi lại:
Mốc xì ! Hoa nhài hôm nọ chị Giang nói rằng cho vào nước đường có thể uống được mà không chết người. Nó màu trắng cô ạ.
Vậy thì hoa gì màu tím mới được chứ?
Hoa pensée, hoa mõm chó, tao sẽ cầm một bó hoa pensée có buộc một giải lụa màu vàng, nom phải biết!
Vậy bao giờ thì mày có thể vẽ được?
Chắc là còn lâu. Bây giờ ma soeur mới bắt đầu dạy tao vẽ cái ấm giỏ.
Một con chim màu xanh biếc, có mỏ vàng liệng ngang xuống cụm hoa bên bể nước rồi bay lên một cành bàng gần đấy. Hà bỏ chỗ đứng chạy vụt theo nhìn. Hai bàn chân nhỏ xíu của nó in những nốt xinh xắn trên mặt cát. Phượng không chạy theo nhưng xoa bàn tay trên những nét nguệch ngoạc mà nó vừa vẽ. Đầu nó còn vấn vương cái hình ảnh lộng lẫy mà nó tưởng tượng khi nãy. Đứng ở đó, Phượng có thể nhìn bao quát được tất cả Viện Cô Nhi với những nếp nhà quét vôi trắng có mái ngói ngả màu rêu xám.
Những khung cửa sổ sơn nâu mở ra trước lối đi trải đá vụn trắng . Ở hai bên lề, có những cụm hoa cúc nở vàng, những bụi hồng dại có hoa màu hồng nhạt hoặc thảm cỏ tóc tiên xanh điểm từng bông hồng màu đỏ tía. Bên kia dẫy nhà thấp là một vườn cây rậm rạp. Những ngọn sấu mọc vươn lên cao, vào mùa hạ, hoa nở trắng xóa rơi rắc trên mặt cỏ, vào mùa thu để lại những cành trơ trọi in trên nền mây xám vẩn đục. Trèo lên ghế đá bằng xi măng ở sân sỏi, Phượng còn có thể nhìn thấy hết cả bốn nếp tường vuông vắn, cao quá đầu người, bao bọc Viện Cô Nhi.
Vào buổi sáng, lúc mặt trời mới mọc, các tia nắng đầu tiên chiếu lên những mảnh chai cắm tua tủa trên mặt tường, nom lấp loáng rực rỡ như những hòn ngọc sáng chói đủ mầu. Ở rải rác chung quanh sân, có những cây bàng với thân to lớn sần sùi chìa ra từng cành thẳng tắp. Đến mùa lá úa, những chiếc lá ngả mầu đỏ tía đan vào nhau chi chít tạo thành một cái tán sặc sỡ xòe ra trên nền trời trong xanh. Thỉnh thoảng một ngọn gió nhẹ nhàng thổi qua lại bứt đi một vài chiếc khô queo, bay chấp chới trong khoảng không rồi nằm phơi trên nệm cỏ.
Đối với Phượng, khung cảnh ấy thật là quen thuộc, cũng như nó đã quen thuộc với hầu hết các bộ mặt của các bà phước mà đứng đầu cai quản tất cả là bà phước Nhân già lọm khọm với dáng đi nặng nề và chậm chạp. Khuôn mặt của bà lúc nào cũng đỏ như gấc chín với vầng trán thật cao có nhiều nếp nhăn, hai bên gò má hơi hóp lại, chiếc mũi gồ lên đỡ hững hờ cặp kính lão cũ kỹ đặt trước hai con mắt sâu lờ đờ. Với hình dáng xấu xì và già nua như vậy, bà phước Nhân có vẻ như một người dữ tướng. Tuy vậy, bà lại là người rất ít khi nói to hoặc la hét. Thường thường để biểu lộ sự giận dữ, khuôn mặt của bà đã đỏ càng đỏ thêm, hai con mắt như sâu thêm, cặp môi mỏng và rộng run lên bần bật. Sau đó bà phải làm ra một cử chỉ cố gắng là khẽ đặt bàn tay xương xẩu lên vai bà phước Hạnh như để bầy tỏ cho bà Hạnh thấy rõ sự giận dữ của mình. Lập tức bà Hạnh cũng nổi cơn giận dữ bằng, hoặc lớn hơn (càng hơn bao nhiêu bà Nhân càng nguôi đi bấy nhiêu). Sau đó bà Hạnh sẽ quát lên một cách hằn học bằng một câu nói cửa miệng bà:
Đồ dơ dáy! Mày chơi cái trò gì dơ dáy đến vậy chứ
Lập tức đứa trẻ dù có nhận lỗi của mình hay không cũng phải vội khoanh tay lễ phép:
Thưa mẹ, con xin mẹ tha lỗi. Con hứa con chừa.
Bà phước Nhân rất lấy làm bằng lòng về câu nói đó, khuôn mặt của bà bớt đỏ lại, làn môi bớt run đi hơn. Bà tuyên bố bằng một giọng êm ái và bình tĩnh:
Đã biết lỗi thì tha, nhưng cũng phải phạt để làm gương.
Rồi bà hỏi một soeur đứng bên cạnh:
Soeur có việc gì cho nó làm không?
Nếu là bà Hạnh thì bà thường nói đại khái:
Thưa mẹ, có thể cho nó nhịn món tráng miệng hôm nay. Bên nhà chung mới cho một sọt dứa.
Đứa phạm lỗi thất vọng về cái hình phạt truất phần ăn ấy. Nhưng dầu sau nó cũng lí nhí cảm ơn các bà trước khi đứng tủi thân một chỗ vắng. Đối với chúng nó, sự phạt ăn là một hình phạt đáng ghét nhất, bởi vì sự không được ăn sẽ không khổ sở bằng những cử chỉ chế giễu của bọn đang nhồm nhoàm miếng dứa.
Bọn trẻ sau khi được chia phần bao giờ cũng lảng tuốt ra xa vừa ăn vừa nhìn lại. Một vài đứa cắn xong một miếng, lại múa cái tay ra đằng trước mặt, bằng vành môi, bằng những cái tóp tép trong miệng như để cho đứa bị phạt thấy rằng miếng dứa là miếng ngon nhất trên đời.
Nhưng thường thường thì bao giờ cũng có sự đổi chác xảy ra:
Tao đổi cho mày lấy cái ngòi bút, chịu không?
Hoặc:
Cho tao cóp bài tính đố thì tao cho cắn một miếng.
Tất nhiên, chả đứa nào trong bọn lại không hy sinh một cái ngòi bút, một cái ảnh tô màu, hoặc cho cóp một bài tính để được cắn một miếng cho biết nùi, và nhất là để chứng tỏ rằng mình cũng được ăn dứa như mọi người khác.
Ở trong viện này, mỗi một bà phước ưa thích một hình phạt riêng. Bà phước Hạnh thích trừng phạt bằng truất đi phần tráng miệng hay một món đặc biệt trong những thức ăn hằng ngày. Bà Hòa lại thích xách tai của bọn chúng nó lên, xoắn đi một vòng và chấm dứt bằng một cái giựt mạnh sang phía bề ngang. Hình phạt này cũng công hiệu lắm, bởi vì bọn trẻ không đứa nào có thể chịu nổi quá hai cái xoắn ấy mà không trào nước mắt. Có lẽ chỉ có bà Cécile là chúng nó thích nhất, bởi vì bao giờ bà cũng tỏ thái độ của mình bằng một cái nhún vai với hai bàn tay xòe ra phía trước mặt, như biểu lộ sự ngạc nhiên một cách rõ rệt:
Tại sao lại có thể đến thế được nhỉ!
Sự ngạc nhiên của bà càng lớn lao bao nhiêu thì cái nhún vai của bà càng có vẻ sững sốt bấy nhiêu.
Riêng bà Félicité thì thân mật với bọn chúng nó hơn. Bà thường kéo chúng nó vào lòng và dịu dàng hỏi:
Con có thấy con làm như vậy là trái không? Một người xứng đáng không ai xử sự như vậy cả.
Bà có vẻ muốn coi chúng nó là lũ lớn tuổi biết suy nghĩ và lý luận như bà. Nhưng thường thường thì bao giờ bà cũng bị thất vọng. Bởi vì vừa thoát khỏi vòng tay êm ái của bà, bọn chúng nó lại có thể chơi những trò chơi tai quái hơn, hỗn hào hơn là cái hỗn chúng nó vừa phạm cách đó mấy phút.