Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương
Post by Sơn râu 23 Nov 2024

  1. Cuộc sống sau bức màn nhung
    Nghệ sĩ sân khấu cải lương trong nửa thế kỷ trước đã từng phải sống trong tình trạng nghèo khó, ăn quán ngủ đình.
    Trong những thập niên 60, 70, 80, một thời kỳ vàng son của cải lương, đa số nghệ sĩ đều có xe hơi, nhà cao cửa rộng, có tài xế riêng và người giúp việc trong nhà. Những đào kép dàn bao, bực trung cũng ở nhà lô, chung cư và phương tiện di chuyển thông thường là xe Honda, Vespa, Lambretta hay xe mô-tô BMW.
    Thời kỳ này, tuy trong giới nghệ sĩ vẫn có sự giàu nghèo cách biệt, đồng lương chênh lệch rất nhiều nếu so sánh giữa đào, kép chánh và kép phụ hay công nhân sân khấu, nhưng nói chung mọi nghệ sĩ vẫn được “no cơm ấm áo”, không có cảnh chạy ăn từng bữa, nay ở gầm cầu, mai lang thang không nơi trú ngụ.
    Sau 1975, một cuộc đổi đời bi thảm, mọi giá trị trên đời đều bị đánh giá lại theo quan điểm của những chủ nhân ông mới của đất nước, mọi nếp sống đều bị đảo lộn, nghệ sĩ cải lương cũng không thoát khỏi cái vòng xoáy đó của thời cuộc.
    Sự phân chia giai cấp trong giới nghệ sĩ càng lúc càng rõ nét.
    Có những nghệ sĩ được chế độ ưu đãi thì tiếp tục cuộc sống của những ông hoàng, bà chúa tân thời, tuy số người này ít, có thể đếm được trên đầu ngón tay, nhưng họ được thổi phồng lên, được quảng cáo rầm rộ, thành ra nếu khán giả không thật sự theo dõi, tìm hiểu một cách sâu xa, thì có thể lầm tưởng là sân khấu cải lương được đổi mới, hưng thịnh hơn xưa và nghệ sĩ cải lương hiện nay được sống cao sang hơn trước.
    Sự thật thì hoàn toàn khác. Người ta được biết Bạch Tuyết vẫn ở biệt thự sang trọng, xe hơi có tài xế riêng, có con đi học bên Mỹ trong 12 năm liên tục. Kim Cương cũng sang giàu, con trai học và tốt nghiệp HEC của Montréal. Hồng Nga có con ở nước Áo. Lệ Thủy có con đi học ở Úc. Các nghệ sĩ như Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Hoài Thanh, Diệp Lang, Ngọc Giàu, Hồng Nga, Minh Vương, Bảo Quốc được nhiều lần đi biểu diễn ở Úc, Pháp, Nga, và Canada.
    Lần biểu diễn ở Toronto và Montréal của Minh Vương và Bảo Quốc bị người Việt định cư Canada kịch liệt phản đối, không hát được, nhưng báo chí trong nước vẫn quảng cáo là đồng bào nước ngoài sắp hàng, dành mua vé xem hát.
    Hỏi ra những lần đi diễn ở Úc, Pháp, Nga thì phần lớn là diễn ở các quán ăn có chương trình ca nhạc, một hình thức giống quán nhậu có ca nhạc của Thanh Tú, Trang Bích Liễu hay Hoài Thanh, Đỗ Quyên. Dầu sao thì cũng được gọi là đi biểu diễn ở nước ngoài.
    Cái giàu sang của Bạch Tuyết, Kim Cương, Lệ Thủy, Hồng Nga, Minh Vương không phải do thu hoạch trong khi hành nghề cải lương, mà là do một nguồn lợi khác.
    Ở trong nước, từ những năm 1990, sân khấu cải lương đã bị sa sút trầm trọng. Nhiều đoàn tan rã. Có những đoàn chỉ còn cái tên của bảng hiệu như đoàn Thanh Nga, đoàn cải lương Sàigòn 1, đoàn Phước Chung. Nghệ sĩ Thanh Điền, Thanh Kim Huệ. Kim Tử Long, Ngọc Huyền, Ngân Huệ nếu muốn hát cải lưong thì bỏ một số vốn riêng để quy tụ đào kép, mượn bảng hiệu đoàn Saigon l để hát. Thanh Điền – Thanh Kim Huệ khi thua lỗ thì trả đoàn lại cho Sở Văn Hoá Thông Tin, quay về với cái nghề tay trái là chụp ảnh nghệ thuật để sinh sống, chờ cơ hội khác.
    Đoàn cải lương Sàigòn 2, đoàn Sàigòn 3, đoàn Huỳnh Long, Minh Tơ, Hương Mùa Thu, Kịch nói Bông Hồng, Kịch nói Kim Cương, phải chịu rã gánh.
    Phía sau cung điện vàng son
    Dịp Tết, tôi về thăm quê hương, đêm mùng 1, mùng 2, mùng 3 Tết, đêm nào tôi cũng theo các bạn đồng nghiệp ra rạp Hưng Đạo coi hát cải lương. Khán giả mỗi đêm chỉ được độ gần hai trăm người. Chỉ hơn một phần ba khán phòng dưới đất, còn từng lầu 2, lầu 3 vắng tanh.
    Tôi vô hậu trường, thăm hỏi Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn thì các bạn cho biết là đoàn kéo màn hát được là may rồi, vấn đề lương thì mấy năm nay chỉ lãnh bồi dưỡng, một số tiền tượng trưng thôi, cốt làm sao cho sân khấu cải lương được sáng đèn hàng đêm.
    Toàn thành phố Sàigòn chỉ có một rạp duy nhứt hát cải lương là rạp Hưng Đạo.

Rạp Đại Đồng quận 3 thì mấy ngày Tết có nhóm nghệ sĩ Bạch Mai, Ngọc Đáng hát Hồ Quảng. Rạp Thủ Đô, Hào Huê, công viên Đầm Sen, Hồ Kỳ Hòa có diễn trích đoạn cải lương, xen với các màn trình diễn tạp kỹ, ca tân nhạc, tấu hài, ảo thuật, xiếc…
Tôi nghĩ là nếu muốn biết cuộc sống thật sự của giới nghệ sĩ cải lương trong tình hình sân khấu sa sút như vậy thì phải tìm đến nhà của các anh chị em đó, chính mắt mình quan sát, tai nghe chính những người trong cuộc kể về mình. Như vậy, rõ ràng và thực tế, và chắc chắn là sẽ khác hơn những gì nghe được ở Hội Sân Khấu.

Xóm nghệ sĩ đình Cầu Quan.
Đình Cầu Quan, còn gọi là đình Thái Hưng, ở kế rạp hát bóng Diên Hồng (rạp Thành Xương cũ) đường Yersin, quận nhì. Nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều thế hệ nghệ sĩ mà tên tuổi bây giờ và mai sau được nhiều người ái mộ sân khấu nhắc nhở, như: Xuân Yến, Hữu Cảnh, Thanh Tòng, Thanh Loan, Trường Sơn, Công Minh, Minh Tâm trong gia đình của Bầu Thắng, Minh Tơ, Khánh Hồng, Đức Phú, Bạch Cúc, Hoàng Nuôi.. . gia đình nghệ sĩ Thành Tôn, Huỳnh Mai với các con Bạch Liên, Bạch Lê, Thanh Bạch, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc và những nghệ sĩ trẻ thế hệ thứ tư: Tú Sương, Thanh Thảo, Ngọc Trinh, Chấn Cường. ..
Tôi đến đình Cầu Quan khi lớp học ca diễn của Bạch Long đang hoạt động. Tiếng đàn, câu ca của các học viên đồng ấu làm cho tôi vô cùng xúc động, tình hình sân khấu sa sút, mất khán giả, đời sống nghệ sĩ đói nghèo, thu nhập thất thường, vậy mà cũng còn có người cho con em đi học nghề ca hát nữa kia!
Tôi ngỡ ngàng nhìn quanh mình khung cảnh quá hoang tàn, đổ nát. Trên những mảnh vụn vỡ của gạch ngói rêu phong, trong những miếng băng-rôn, những miếng tôn rỉ sét, chính là nơi nương náu của biết bao gia đình nghệ sĩ.
Chánh điện và sân đình còn lát gạch tàu khá tươm tất, ngoài ra mọi chỗ đều chấp vá, tạm bợ. Gia đình nghệ sĩ Chấn Đạt ở trên sàn sân khấu, xung quanh được che chắn bằng tất cả những gì có thể che chắn được.
Sàn bê-tông bị xói mòn theo năm tháng, tôi bước trên sàn nhà không dám mạnh chân, sợ vô ý sẽ làm vụn vỡ. Vậy mà, dưới sàn sân khấu này có những căn phòng: căn phòng dưới gầm sân khấu, chiều cao không quá một thước, chiếc xe đạp dắt vô không lọt.
Dưới gầm sân khấu đó có “căn nhà” của nghệ sĩ Trường Quang. Từ khi đoàn Minh Tơ giải tán, anh Trường Quang ở đây và chuyển nghề làm đạo cụ sân khấu. Khi cần diễn viên phụ hoặc công nhân hậu đài, anh cũng nhận làm để kiếm lương sống qua ngày. “Nhà” có 3 vách tường: một là của nhà hàng xóm, hai tường kia là của đình, phía trước trống trơn, mặc cho gió lùa mưa tạt. . .Mái là một mảnh nylon kéo dài.
Cũng trong khu nhà này, gia đình nghệ sĩ Trường Sơn trú ngụ. Trường Sơn, Thanh Loan (con gái của nghệ sĩ Minh Tơ), là cha mẹ của Trinh Trinh và Tú Sương, hai nghệ sĩ huy chương vàng Trần Hữu Trang. Hai cô gái trẻ này gắn bó với sân đình, sàn diễn và những mái nhà hết sức chênh vênh ấy từ thuở còn bập bẹ đánh vần, rồi đóng quân, chạy cờ, đóng thế nữ, kép con cho tới khi thành danh, đoạt huy chương vàng.
Dù chẳng phải là những mái nhà đúng nghĩa, nhưng dẫu sao kỷ niệm vẫn còn đầy ấp, thói ăn nếp ở đã quá thân quen. Bạch Long nói với tôi:
“Dù cháu biết là căn nhà cháu đang ngụ đây, gió lùa mưa tạt, ướt lênh láng trong ngoài, cháu vẫn không thể nào rời đây để mà kiếm nơi khác trú ngụ.”
Tôi hỏi “Tại sao?”
Bạch Long cười, cái miệng méo xệ:
“Sân khấu cải lương và tuồng cổ đang sống dở, chết dở. Kiếm cái ăn còn không đủ no, tiền đâu mà mướn một chỗ ở khác? Chỉ mướn không, cũng không có tiền. Mua nhà là chuyện chiêm bao. Mà nói thiệt với chú, cháu cũng muốn nằm chiêm bao thấy mua được nhà, nhưng trong giấc chiêm bao cũng không bao giờ thấy có tiền. Chiêm bao, cứ thấy chủ nợ rượt chạy trối chết, không chiêm bao được cái gì khác hơn là Đói với Nợ”.

Xóm Nghệ Sĩ Sân Khấu Ma.
Ở Sàigòn có 2 xóm “nghệ sĩ sân khấu ma”:
Một là ở khu mả lạng, đường Nguyễn Cư Trinh, chen lẫn trong những chòm mả, mấy mái tranh che lụp xụp, nơi đó có chỗ tạm trú của anh Tình Thiệt, xếp dàn cảnh của đoàn Thanh Nga. Có mái nhà của hề Nguyên Hạnh, diễn viên cải lương và kịch nói. Có những chỗ ở chung của các anh dàn cảnh đoàn Huỳnh Long như anh Xạc Ne, anh Sáu Chương, dàn cảnh đoàn Sàigòn 1.
Ban ngày các anh chạy xe ôm, có người làm phu khuân vác ở chợ Cầu Muối. Nếu có đoàn hát kêu thì các anh đi làm dàn cảnh ban đêm, ban ngày vẫn theo nghề tay trái.
Những ngôi nhà (nếu có thể gọi các chỗ che nylon, che mái tranh sát chòm mả là nhà) sắp bị giải tỏa. Đã có lịnh giải tỏa, nhưng các anh chưa kiếm được chỗ ở, nên dời đi loanh quanh đâu đó, yên thì lại trở về chòm mả. Xóm thứ hai của nghệ sĩ sân khấu ma là ở vùng ven đô, thuộc tổ 44, ấp Thuận Quang, phường Tân Thới Nhất, quận 12.
Khác với xóm nghệ sĩ sân khấu ma vùng mả lạng Nguyễn Cư Trinh, chật hẹp, dựa theo các mái che của các ngôi mả, xóm mả khu Thuận Quang có những ngôi nhà của các gia đình nghệ sĩ chen chúc với những ngôi mộ trắng toát, chen trong những đám cỏ dại rợn người của bãi tha ma.
Nghệ sĩ Vương Phụng đã ở đây khoảng 20 năm rồi. Sau khi đoàn Kim Chung không còn hoạt động sau năm 75, anh về đây ở, buôn bán lặt vặt kiếm sống. Nhờ quen biết với anh, một số nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn cũng xin về đây tá túc.
Hiện tại, xóm ma có 11 hộ gia đình của các nghệ sĩ Vương Phụng, Thanh Kim Hồng, Thanh Kim Của, Linh Cảnh, Bảo Trân, Ngọc Hải, Hoài Hận, Ngọc Thạch, Hoàng Liêm, Hiếu Châu. . .
Những nghệ sĩ này không còn hát hàng đêm vì các gánh hát các anh đi, đã rã. Các anh sống bằng đủ thứ nghề tay trái như chạy xe ôm, bán vé số, bán bánh trái, phu khuân vác hay làm công nhân các xí nghiệp…
Cuộc đời cứ lặng lẽ trôi đi, ngoảnh qua ngoảnh lại, tuổi đã ngoài bốn mươi. Làm nghề gì khác rồi cũng cứ nhớ sân khấu. Những khi có dịp là họ theo các đám hát chầu, hát đám hoặc tụ họp nhau đờn ca trong những đêm khuya vắng.
Một người bạn soạn giả chở tôi bằng xe Honda, tới thăm các bạn nghệ sĩ ở đình Cầu Quan, đình Cầu Muối, khu mả lạng Nguyễn Cư Trinh và khu xóm mả ở chòm mả Thuận Quang. Chúng tôi đến gầm cầu chữ Y, nơi này trước đây nghệ sĩ Văn Sa (cựu kép chánh của đoàn Kim Thoa), bà Ba Vân (vợ quái kiệt Ba Vân), vì bị lường gạt, mất nhà, phải sống dưới gầm cầu chữ Y. Bà Ba Vân đã được ở khu dưỡng lão và cũng đã chết ở nơi này.
Nghệ sĩ Văn Sa, các cô nữ diễn viên thinh sắc một thời như Thu Ba (đoàn Tiếng Chuông và Thanh Minh), Sáu Ngọc Sương, Đoàn Thiên Kim (đoàn Kim Thoa), Lệ Thắm, các trưởng đoàn hát đã giải thể: Hoàng Nở (đoàn Huỳnh Long), Thanh Hùng (đoàn Phước Chung), bầu Hiếu, soạn giả Thành Phát (Sàigòn 3), Đặng Lợi (đoàn Múa rối), Hoài Nam (họa sĩ),… đều ở nhà dưỡng lão nghệ sĩ ở đường Âu Dương Lân, Quận 8. Các anh, các cô tự an ủi mình, bây giờ không hát hò gì được vì sân khấu xuống cấp quá rồi, mình còn được ở nhà dưỡng lão, cơm có mà ăn, đau yếu đi y tế phường, chết được chôn ở nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp. Vậy là quá hạnh phúc rồi!
Họ là những Ông Hoàng, Bà Chúa, những vị tướng lãnh tài ba trên sân khấu. Đêm đêm, họ sống trong vai tuồng trong những cung đình sơn son phết vàng, thướt tha nhung lụa, một cái phất tay người người khiếp sợ, lời ca tiếng hát ru hồn biết bao khán giả…
Khi cánh màn nhung khép lại, khi tuổi đời chồng chất, họ chỉ còn lại cho mình sự nghèo đói, cô đơn và sự quên lãng của người đời.
Tôi hỏi người bạn đồng nghiệp của tôi
– Trong số các diễn viên và các anh hậu đài thất nghiệp đó, nhiều người có thể đổi nghề để kiếm cuộc sống khá hơn. Tại sao họ vẫn bám sân khấu, khi có hát, khi không?
Anh bạn của tôi nói:
– Họ mướn những căn phòng trong các hậu cứ của các đoàn hay chung cư hoặc hậu trường sân khấu, các đình mà trước đây có hợp đồng với các đoàn tuồng cổ, nếu họ không còn là nghệ sĩ nữa thì họ phải dời đi chỗ khác, mà dời đi đâu ? Tiền mướn nhà, mướn phòng không phải rẻ. Vậy nên họ vẫn mang tiếng là người của đoàn hát để có chỗ ở, khi đoàn hát có hát thì họ làm việc ban đêm, ban ngày đi bán vé số, chạy xích lô, đi xe ôm hay khuân vác ở chợ Cầu Muối. Biết làm sao bây giờ? Cơ chế thị trường mà!
Tôi nói:
– Cơ chế thị trường là cái gì? Anh nói danh từ chánh trị, tôi không hiểu. Nếu “Cơ chế thị trường” là làm lời ăn lỗ chịu, tư nhân làm chủ thì hồi đó các ông bà bầu gánh cũng làm lời ăn lỗ chịu. Sao họ làm cho sân khấu cải lương huy hoàng. Bây giờ vô tay nhà nước, sao mà tan hoang hết trơn vậy?
Anh bạn của tôi nhìn trước nhìn sau rồi nói nhỏ: “Thôi, đừng nói chuyện này nữa, được hông? Hồi đó thì chuyện tình yêu, chuyện dã sử, soạn giả nào muốn viết sao cho ăn khách được thì viết. Bây giờ: ngày 3 tháng 2 phải viết những ngày thành lập Đảng; ngày 8 tháng 3 ngày phụ nữ; ngày 30 tháng 4 ngày giải phóng; ngày 19 tháng 5 sinh nhật cụ; ngày 27 tháng 7 ngày thương binh liệt sĩ; ngày 19 tháng 8 cách mạng tháng Tám; ngày 2 tháng 9 ngày tuyên bố độc lập; ngày 23 tháng 9 Nam kỳ khởi nghĩa; ngày 1 tháng 10 kỷ niệm cách mạng Trung Hoa; ngày 17 tháng 10 kỷ niệm cách mạng Nga; ngày 19 tháng 12 kỷ niệm toàn quốc kháng chiến; rồi Tết thì viết về Tết Mậu Thân Tổng tấn công… v.v…
Vậy đó! Ở Phường, Quận, Thành Phố hay Tỉnh nào cũng phải sáng tác và biểu diễn như vậy, hỏi sao khán giả không coi nữa?”
Những cuộc gặp gỡ, những điều vô tình biết được về thực trạng sân khấu cải lương ở Việt Nam, về cuộc sống quá kham khổ và những nghề tay trái bất đắc dĩ của nghệ sĩ thất nhiệp đã làm cho tôi bất ngờ và bất nhẫn!
Đến bao giờ thì Cải Lương mới tìm lại được cái thuở hoàng kim, để nghệ sĩ trở về sân khấu, được sống đúng với nghề nghiệp và nỗi đam mê của mình?

Quán ăn Huế ở Mỹ

baotreonline.com
Huy Phương
January 22nd, 2019

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

Việt Nam có câu “ăn Bắc, mặc Kinh” khen ngợi lối ăn mặc của kinh đô Huế, nhưng thật tình chúng ta không thấy người Huế ăn mặc có gì đặc biệt, sang cả hơn vùng khác, duy chỉ có cái ăn của Huế là quá rắc rối, rình rang, phức tạp. Theo “Từ Ðiển Nhà Nguyễn” của Võ Hương An, mâm cơm của nhà Vua có đến 35 món (tam thập ngũ vị phẩm). Mặc dầu đĩa chanh, đĩa ớt cũng được kể là một món, nhưng tổng hợp thì mâm cơm vẫn còn rất nhiều món khác nhau. Gần đây trong nước, Huế đặt bày chuyện làm Vua, mặc áo bào, ăn“cơm Vua” để câu khách du lịch bằng mâm cơm vài món có trang điểm bằng những bông hoa hay trái cây tỉa hình phượng, rồng rất “phi lịch sử” và “vô văn hoá.”
Trong thời Pháp thuộc và mãi đến sau này, trước năm 1975, mâm cơm ngày kỵ (giỗ) trong gia đình người Huế vẫn còn trình bày quá nhiều món, không dưới con số 15 hoặc 20, mặc dầu một khoanh cá, mấy lát thịt heo, vài miếng chao… cũng được kể một món. Vì vậy, sau này khi vào Saigon, tôi rất lấy làm ngạc nhiên thấy gia đình ông bác họ, lưu lạc vào Nam đã lâu, ngày giỗ mẹ, trên bàn thợ bày ra, chỉ độc có mỗi món cà-ri nước dừa với mấy ổ bánh mì. Ðó là cách sống, chúng ta ăn gì thì cúng giỗ ông bà món ấy. Lối sống đơn giản của người Nam có thể thấy trong bữa cơm cũng như ngày cúng giỗ.

Ảnh hưởng từ lối ăn kiểu cách của cung đình, mà món Huế được chế biến muôn hình vạn trạng. Chỉ một nguyên liệu là bột gạo, người Huế chế biến ra “bánh ướt” (bánh cuốn) mỏng như tờ giấy, bánh bèo, bánh nậm, bánh lá, bánh khoái, bánh canh… Bột sắn (từ khoai mì) có thể làm ra bánh bột lọc (bột lọc lá hoặc bánh quai vạc (không gói lá), bánh su-sê (phu thê). Từ bột nếp có thể làm ra bánh ít, (trắng hoặc đen), bánh ram… Chỉ nội một món “bánh ướt” thôi, Huế đã có bánh ướt tôm chấy, bánh ướt thịt nướng, bánh ướt thịt heo luộc, tôm chua… Cách chế biến này có thể do các tay đầu bếp lo việc “ngự thiện” phục vụ cho cung đình tìm cách biến chế cho nhà vua hay cung tần mỹ nữ ngon miệng, nhưng cũng lẽ do Huế quá nghèo, chỉ một chút bột gạo, bột sắn mà chế ra nhiều món ăn cho đỡ ngán trong khi thịt cá không có nhiều. Trong món bánh ướt chỉ điểm một tí tôm chấy nhỏ hay bánh bèo còn thêm tí tóp mỡ. Món ăn nghèo nàn dân dã của Huế cũng thành “đặc sản” là món “Cơm Hến” nổi tiếng, chỉ có cơm nguội, nước luộc hến, nước ruốc và vài món rau cùng chút bánh tráng bóp vụn. “Cơm Âm Phủ” cũng chỉ là một loại cơm pha chế bình thường.
Huế còn có nem, tré, chả Huế, tôm chua, mắm rò là những món được xem là đặc biệt, vừa dân dã, vừa sang trọng.
Từ ngày chúng ta ra hải ngoại, ở rải rác khắp nơi, cộng đồng người Việt không còn đặc tính của từng địa phương nữa, ở đâu cũng có Nam có Bắc, cũng có Hội đồng hương Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn- Bình Ðịnh, Nha Trang- Khánh Hoà, Sa Ðéc, Cần Thơ, Vũng Tàu, Vĩnh Long, Tây Ninh, Bến Tre…Ở đâu cũng có những quán ăn phục vụ khách ăn, thường thì đủ các món của ba miền, vào đây, khách có thể gọi món hủ tiếu, đĩa cơm tấm bì chả, tô bún riêu hay tô bún thịt nướng… Cũng có những quán đặc biệt chuyên bán duy nhất một món phở của miền Bắc hay hủ tiếu hay cơm tấm của miền Nam những món đã nổi tiếng ở miền Nam một thời với cái tên đặc biệt của nó. Do đó, có những quán Phở Hiền Vương, Hủ Tiếu Thanh Xuân hay Cơm Tấm Thuận Kiều.

Trong khi Mỹ Tho nổi danh với hủ tiếu, Trảng Bàng với bánh canh, Châu Ðốc với bún mắm, Ninh Hoà với món nem, Quảng Nam với món mì, Hội An với món cao lầu… trái lại, Huế, không chỉ có độc nhất món bún bò Huế có thể sánh vai với phở, vượt xa hủ tiếu, hơn món mì Quảng, mà còn nhiều món “ăn chơi ngon hơn ăn thật.”
Do đó nhiều quán ăn Huế ra đời theo bước chân tị nạn của người Huế hay không Huế “đi mang theo quê hương!” Ðược định nghĩa quán Huế là vào đây, khách được phục vụ những món ăn đặc biệt Huế, không thể nào gọi một tô phở, một tô cháo cá, tô hủ tiếu hay một đĩa cơm tấm bì. Ngoài món bún bò Huế quen thuộc ra, những quán Huế có những món ăn nhẹ như bánh bèo (bánh bèo chén kiểu Ngự Bình hay bánh bèo dĩa kiểu Vỹ Dạ), bánh canh Nam Phổ, bánh ướt tôm chấy, bánh bột lọc, bánh nậm, bánh ram-bánh ít… Chính những món “linh tinh” này hấp dẫn khách của nhiều miền khác ghé qua những quán ăn Huế. Họ cũng mang theo nhiều địa danh của Huế hay một chút gì đó liên quan đến Huế như Hương Giang, Ngự Bình, Vỹ Dạ, Kim Long, Huế Ơi, Thành Nội…
Trong những vùng đông người Việt nhất, ở Houston- Texas có những quán ăn Huế mang tên Ðông Ba, Nam Giao, Hương Giang, Kim Châu, “Sơn Bún Bò Huế”, Ðức Chương bán chỉ một món độc nhất là bún bò Huế. Ở San José (Nam Cali) có Quán Huế 1, Quán Huế 2, Mỹ Khê, Nam Giao… nhưng “Bún Bò An Nam” lại không bán độc nhất bún bò Huế.

Anthony Bourdain: “Bún bò Huế Việt Nam là món súp ngon nhất Thế giới”.

Tại vùng Washington DC, màu sắc Huế có vẻ phai nhạt hơn nhưng món bún bò được phô trương dưới những tên quán: Phượng Hoàng Bún Bò Huế, Thanh Trang Bún Bò Huế và Saigon Café, một cái tên rất xa Huế nhưng lại bán toàn món ăn Huế của đôi vợ chồng cháu vị danh tướng Nguyễn Khoa.
Ðặc biệt ở vùng Nam Cali, hay Little Saigon, nơi có người Việt tị nạn đông nhất nước Mỹ thì những quán ăn Huế cũng hiện diện, khởi sắc và luôn luôn đắt khách, những buổi sáng cuối tuần, khách phải xếp hàng đứng đợi đến phiên người ta gọi tên mình. Chúng ta có thể kể tên những quán Huế mang địa danh của mảnh đất thần kinh như Hương Giang, Hương Vỹ, Ngự Bình, Gia Hội, Thành Nội, Vỹ Dạ, Kim Long, Nam Giao, Liên Huế, Bún Bò Huế Số 1, Huế Rendez-Vous, Huế Restaurant… và những cái tên không liên quan gì đến Huế như Quán Hỷ.
Nhiều gia đình gốc người Huế ngày nay sang Mỹ bỏ nghề cũ ở Việt Nam để theo nghề làm nem chả, làm bánh bèo, bánh nậm… “to go” đã tạo nên sự nghiệp, giàu có…
HP
Anaheim, CA

Phở Trên Đường Lưu Lạc

ongvove.wordpress.com
Huy Phương
Post on 21 Aug 2018

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

Nạc mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi, đừng nói với em câu tái giá.
Tiêu muối không đáng ngại, anh còn gân chán, thử vui cùng tớ miếng gầu dai.
(Hai câu thơ treo trong tiệm Phở Khu Eden, Virginia ngày trước)

Bây giờ nói đến Phở ta phải nói đến Việt Nam cũng như trái lại, và nghĩ đến quê hương là nghĩ đến một ngày được ăn một tô phở trên đất mẹ. Tôi cũng xin cám ơn cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã biến Phở thành một món ăn Việt Nam không còn phân ranh Nam Bắc. Cùng với cuộc vào Nam của hơn một triệu đồng bào sau khi hiệp định Genève được ký kết, Phở đã có mặt khắp Sài Gòn, khắp hang cùng ngõ hẻm và từ đó người Nam, người Hoa được thêm một món ăn tuyệt hảo hàng ngày ngoài hủ tiếu và mì.
Nói đến những bước đi lịch sử của Phở vào những năm 1954, 55 mấy ai còn nhớ đến tiệm phở Gà Trống Thiến ở đường Phan Ðình Phùng, có cô ca sĩ tóc bồng bềnh nổi danh một thời Yến Vỹ. Tiệm phở này rất nổi tiếng và ra đời đồng một thời với cà phê Gió Bắc ở phía bên kia đường Phan Ðình Phùng. Ngày ấy có tiệm Phở Turc thường quen gọi là Phở Tuyệt ở một con hẻm nhỏ chặng giữa đường Paul Blanchy và Catinat (Hai Bà Trưng và Tự Do). Sở dĩ tôi gọi lại mấy cái tên thuộc địa ấy là vì cho đến năm 1955 Sài Gòn vẫn còn tên cũ và tiệm phở tôi muốn nói đến nằm trên đường Turc. Con hẻm ngắn, bàn phở bày ra ngay giữa đường, khách ăn chen chúc, phở không ngon vì hầm nhiều củ cải và cà rốt quá nhưng có đặc điểm là tô rất lớn.
Phở Hợp Lợi, Kim Long, Tàu Bay ngự trị suốt một con đường Lý Thái Tổ những ngày đầu di cư thuở ấy. Suốt con đường Hiền Vương tiệm phở chen chúc mọc lên quãng từ Hai Bà Trưng đến Pasteur, đến nỗi một tiệm bán đồ phụ tùng xe đạp mở ra ở quãng này chỉ vài ba tháng sau đã phải dẹp tiệm. Tôi có cái dở là khi nói đến Hiền Vương tôi ít khi liên tưởng đến một ông Chúa mà hay nghĩ tới một tô phở gà có da lòng, trứng non, nước béo, hành trần. Nói đến phở Hiền Vương là phải nói đến Phở Pasteur cách nhau một góc đường. Phở Pasteur nổi danh là khu phở đêm, nơi tụ tập của các em gái vũ trường, các tay đi nhảy về khuya và một ít ca sĩ phòng trà. Phở Hiền Vương có khi mở cửa đến một hai giờ sáng. Chỗ ấy đối diện với Viện Pasteur Saigon nên sinh hoạt về đêm chẳng quấy rầy ai, chỗ đậu xe lại rộng rãi. Có thể gọi Phở Pasteur về đêm khuya là nơi có khách ăn phở ăn mặc đẹp, trang điểm nhiều nhất của Saigon thuở ấy.
Hẻm Casino ở góc đường Pasteur và Lê Lợi cũng là một khu Phở sầm uất vào thập niên 60. Ở đó tôi còn nhớ phở Ðức Vượng và Phở Minh là hai tiệm phở một đầu, một cuối hẻm luôn luôn đông khách. Sáng Chủ Nhật bát phố, ăn một bát phở hẻm Casino rồi ra ngồi uống cà phê ở Mai Hương, hoặc Givral, hoặc Brodard là thói quen của một số nhà báo, nhà thơ thuở ấy.
Phở Trần Cao Vân ở góc đường Hồng Thập Tự gần Tòa Ðại sứ Mỹ là nơi tụ tập quần hùng của Ðài Phát Thanh Quân Ðội và Cục Tâm Lý Chiến, Cục An Ninh lúc nào cũng đông nghẹt người ăn. Nghe nói sau 43 năm dâu bể, ngày nay tiệm phở và ông chủ tiệm phở Cao Vân cũng còn đó.
Phở Công Lý ở gần góc Công Lý-Yên Ðổ, vào qua một khoảng sân rộng thường là nơi gặp gỡ của giới không quân trên đường vào sân bay Tân Sơn Nhất. Còn bao nhiêu là tiệm phở không có dịp ăn hay không nhớ hết.
Ngày nay, Phở Tàu Bay ở gần góc Lý Thái Tổ và Nguyễn Tri Phương sống qua nhiều giai đoạn lịch sử, vẫn còn đấy. Ăn phở đây phải nói là rẻ, bình dân, tạm được nhưng có vẻ xô bồ, tô phở đầy tràn, bàn ghế nhầy nhụa, tường vách ám khói và chẳng bao giờ chủ nhân bận lòng phải cung cấp rau quế, ngò gai hay giá sống cho khách. Ðó là tiệm phở không rau, duy nhất ở Sài Gòn trước và sau 75.
Phở Quyền ở cổng số 2 Tổng Tham Mưu ngày trước cũng còn đó qua mấy chặng đổi đời. Vẫn còn các cô bưng phở, vẫn còn hình ảnh gia đình của ông chủ treo trên vách cạnh chiếc bàn rộng ngồi được 15, 16 người. Ðặc điểm của Phở Quyền là khách vừa ngồi vào ghế, phở đã bưng tới. Từ năm 1970 đến 1975 khách ăn buổi sáng toàn là quân nhân bộ Tổng Tham Mưu, mỗi lần đến ăn phở cứ sợ VC cho một quả claymore là tiêu mất một đại đội.
Ôi! Phở Phú Nhuận, Phở Tân Ðịnh, Phở Khánh Hội, Phở Thị Nghè, Phở Ða Kao, Phở Hàng Xanh, Phở Thanh Ða… Bao nhiêu địa danh là bao nhiêu tiệm phở, nó gợi nhớ những buổi sáng Sài Gòn bão rớt, trời lạnh se sắt … ăn một tô phở nóng, cay … Ngày nay Phở Việt Nam đã lên hàng Ðại Sứ, được bầu là món ngon hấp dẫn của toàn thế giới trong những năm gần đây, nhất là sau khi Tổng Thống một cường quốc là Ông Bill Clinton đã ngon miệng, hạ cố dùng tới hai tô phở trong thời gian viếng thăm quê nhà của chúng ta, thì Phở quả là món ăn tuyệt hảo.
Là người Việt Nam ai không một lần ăn phở và cũng đã có nhiều người ghiền phở. Có người mỗi sáng đều ăn một tô phở mà không bao giờ ngán.
Có người đã ăn phở Hiền Vương từ ngày đi học cho đến ngày làm thủ tướng, nghe nói là ông “râu kẽm”, nhớ phở như nhớ bạn hiền cũng phải nhờ người hộ tống tìm đến chén một tô. Ăn phở phải ăn tại chỗ, quan sát từ lúc trụng bánh, bỏ thịt, rải hành và chan nước dùng và tô phở được bưng đến lúc đang còn bốc hơi nóng.
Và ai còn nhớ tới tô phở gà số 1 ở Nha Trang, tô phở Bình Ðà Lạt hay ở cái quán bình dân trong bến xe thành phố này. Ðiều lạ kỳ là đi lần ra miền Trung thì tô phở càng lúc càng mất ngon, phải chăng do sự thắng thế của tô bún bò Huế.
Theo tôi có người ăn phở không dùng chanh, có người không bao giờ ăn phở với giá vì cho như vậy là phở… mất gốc, có người ăn phở mà không có hành trần là mất ngon, có người ăn phở là phải có nước béo, có người ăn phở lại phải kêu một tô nước thịt dùng thêm, có người lại đòi “tái để ngoài”. Phải chăng rắc rối chính là nghệ thuật, nhất là trong nghệ thuật ăn uống.
Ăn phở muốn đầy đủ thì phải gọi đặc biệt, hoặc thập cẩm. Có ăn đủ các loại tái, chín, nạm, gân, gầu, sụn, sách, giò… đặc biệt thêm là sữa (vú bò) và ngầu pín. Vậy lúc vào tiệm, ta nên phải gọi một tô phở như thế nào?
– “Cho tôi một tô tái gầu nạm gân hành trần, nước béo, ít bánh, không giá, tái để ngoài, tô lớn…” Nếu bạn là hầu bàn, liệu bạn có phục vụ nổi không? Và nếu dùng tiếng Việt thì theo văn phạm nên để tô lớn trước hành trần, hay nước béo sau ít bánh như cách dùng tĩnh từ trong tiếng Anh không?
Sau năm 1975, một buổi sáng “bừng bừng khí thế cách mạng” tại tiệm phở Minh hẻm Casino, một anh bạn nón cối, mang xắc-cốt, dép râu vào tiệm, đứng tần ngần ở quầy phở: – “Cho tôi một tô phở.”- “Ông dùng gì”- “Cho tôi một tô phở.”- “Xin lỗi ông dùng gì?”
Cuối cùng chủ tiệm chợt hiểu, bèn giải thích: – “Ông muốn dùng gì, phở tái, phở nạm, phở gân? Xin mời ông kiếm chỗ ngồi trước.”
Lần đầu tiên được ăn một tô phở miền Nam, anh bạn thu hết can đảm hỏi người phục vụ: – “Tôi ăn một tô nữa được không?”- “Ở miền Nam này ông có tiền, ông muốn dùng bao nhiêu cũng được!”
Phở Hà Nội có lối phở chờ, khách đứng xếp hàng ngay trước nồi nước dùng, yêu cầu tô phở theo ý muốn rồi trả tiền, khi tô phở làm xong, khách đón lấy, lấy đũa muỗng, tự bưng đi tìm chỗ ngồi. Có lẽ hiện tượng này là do tâm lý nôn nóng, chầu chực, nhiều người cho là thiếu thanh lịch trong cách dùng phở.
Trời lạnh, ăn Phở Ðà Lạt, Phở Hà Nội chắc chắn sẽ phải ngon, sao một bát phở hải ngoại hình như ta thấy thiếu một cái gì không thấy ngon? Cũng như hầu hết người Việt Nam qua Mỹ đều cho rằng ăn không thấy ngon, không thấy thèm ăn, cơm, phở, mì, cháo, món Nam, món Bắc đều không ngon.
Riêng tôi thú thật, qua đây tôi chưa được ăn một tô phở ngon. Ðó là một cách nói. Tựu trung người ta chưa phân tích được thế nào là một tô phở ngon. Hay nói ba phải một tô phở dở là một tô phở không ngon, ăn để mà ăn, ăn để mà nhớ! Phải chăng vì bánh quá cứng, khi bưng ra sợi phở còn dính cục với nhau, nước quá trong, thịt quá nhiều, lắm bột ngọt, ngọn rau quá lớn, gà không dám ăn da, nước dùng không dám thêm nước béo? Nhiều người than phiền rằng tô phở ở Mỹ quá lớn, mới gọi tô nhỏ không thôi đã thấy mệt.
Phở ngon là ăn xong một tô, phải thấy rõ những hạt tiêu dưới đáy tô vì nước đã húp cạn, người ăn còn thòm thèm mà không dám ăn tô thứ hai, vì biết sẽ mất ngon và nhất định lần sau sẽ ghé qua lại.
Phải chi cho tôi được một ngày Sài Gòn bình yên và tâm hồn tôi cũng bình yên, một ngày Sài Gòn bão rớt lạnh se sắt, buổi sáng, được ăn lại một tô phở đậm vị quê hương trước ly cà phê nóng, hăng hái đi vào một ngày trước mặt đầy ắp vui tươi và phấn chấn.

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

Những Mảnh Trăng Thu
Có hai lý do để gia đình Ông Bà Thái nhận bảo trợ cho thằng Quang. Một là từ hồi bảy mươi lăm qua đây, ông bà đã chịu ơn của Hội Nhà Thờ rất nhiều, vì thế khi được ngỏ lời bảo lãnh cho một đứa nhỏ không thân nhân, cả hai người đều đồng ý ngay. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng, đó là gia đình này có hai đứa bé, thằng Phú mười bốn và con Lan lên chín. Một đứa thì khả năng tiếng Việt còn lõm bõm được đôi câu, còn đứa kia thì gần như mù tịt, mặc dù nghe bố mẹ nói, chúng nó vẫn hiểu, dĩ nhiên chỉ là hiểu những câu đối thoại bình thường. Tình trạng này kéo dài thì nguy hiểm quá. Cho nên ông bà Thái nhận ngay với nhà thờ việc bảo lãnh một đứa con trai. Thằng Quang đã được chọn trong một danh sách dài thòng: lý do chỉ giản dị có mỗi một điểm là nó ở tuổi mười lăm. Mười lăm tuổi mà mới rời Việt Nam chưa tới hai năm, tất nhiên tiếng Việt của nó phải rành. Nó sẽ sống chung với lũ trẻ trong nhà, may ra cứu vãn được cái tình thế ngôn ngữ Việt của chúng nó càng ngày càng trở nên tồi tệ đi.
Hôm đón Quang ở phi trường, cả nhà đều hài lòng ngay. Mặt mũi Quang không đến nỗi tệ. Nó có vẻ dè dặt chứ không nhút nhát, cặp mắt to và trong sáng chứ không láo liên, trợn chừng, trợn chửng. Chỉ có nước da của nó là xấu xí. Vừa đen vừa sạm. Ông Thái giải thích nhỏ bên tai vợ:

  • Mới ở đảo qua ai cũng thế. Nắng gió ngoài biển mà.
    Bà Thái giơ vòng tay ra đón nó ở ngay cửa ra của chuyến phi cơ đến từ phương xa. Quang cũng giơ tay ra quàng lên hai bờ vai của bà mặc dù nó thấy kỳ kỳ. Cái cảnh hai bên lạ hoắc mà biểu lộ tình cảm thân thiết, coi nó khó làm sao. Rồi bà Thái dẫn Quang lại chỗ thằng Phú, con Lan đang đứng với cặp mắt mở to vì tò mò. Lan thì chỉ biết trố mắt ra nhìn. Hình như nó cảm thấy lúc này mà cất lời bằng tiếng Mỹ thì có sự gì bất ổn. Còn Phú thì nói tiếng Việt giọng khó khăn:
  • Chào anh! Chúng tôi rất vui lòng gặp anh.
    Quang nghe rồi cũng thấy bất ổn thề nào. Tiếng Việt đâu có nói thế ! Nó định đáp lời thằng Phú mà rồi óc cứ tịt mít lại. Rút cục thì nó chỉ còn biết mỉm cười. Cuộc gặp gỡ mà cả hai bên chuẩn bị, sắp xếp, tính toán từ hàng tháng trước, rút cục chỉ diễn tiến vỏn vẹn có thế. Rồi cả gia đinh kéo nhau ra xe. Ông Bà Thái ngồi phía trước. Băng ghế sau dành cho ba đứa. Quang được ngồi giữa. Phú một bên, Lan một bên. Sự sắp xếp có nhã ý của bà Thái chỉ làm khổ sở cho cả ba đứa. Con Lan cất lời nói một câu tiếng Mỹ gì đó bị bà Thái suỵt nên ngồi ngay đơ. Thắng Phú bên cạnh thì cứ nhúc nhích cái mồm và nhấp nhổm cái đít hoài, hình như nó định nói chuyện gì đó với thằng Quang nhưng loay hoay sắp xếp câu văn mãi trong đầu không xong, nên chưa dám nói ra. Quang thì như bị bó cứng trong một cái khuôn vô hình. Nó thấy ngứa ở cổ, ngứa ở lưng, nhưng cứ ngồi im thin thít không dám cựa quậy. Mà khổ nỗi, càng nhịn gãi nó càng thấy ngứa thêm. Thật là khổ sở, nhưng nó cảm thấy nếu mình giơ tay lên gãi sồn sột ngay trong cái xe mới toanh sang trọng này thì có điều gì như không được tốt đẹp lắm. Vì thế nó cố chịu đựng.
    Bây giờ nó mới thấy thèm, thấy nhớ cái bầu không khí nhởn nhơ trong trại tỵ nạn. Cái gì ở đó cũng nghèo, cũng thiếu thốn, nhưng sao thoải mái thế. Giữa trưa nắng mà bận quần sà lỏn, cởi trần trùng trục ra đánh bi ở sau những lô lều, hay chạy đuổi nhau trên bãi cát, đến chiều mát tới giờ được tắm biển, cả lũ kéo nhau ra nhảy ùm xuống, vùng vẫy trong nước, còn gì sướng bằng. Tối đến, cả bọn kéo nhau lên ngồi dựa vào vách sau của nhà thờ để nói chuyện om sòm. Chán chê thì chui vào lớp ghế gỗ ở bên trong nhà thờ quay ra ngủ. Có hôm thì chúng nó ngủ bên hông của bệnh xá hay trên bục cao của dãy văn phòng Ban Đại Diện, cũng có hôm răm ba đứa ngủ quên ngay cả trên bãi cát, dưới rặng phi lao ngoài bãi biển nữa. Đã có một thời gian dài, mọi người trong trại quên bẵng ngay sự hiện diện của chúng nó hay nói cho đúng ra, quên bẵng thân phận của chúng nó là những đứa trẻ không thân nhân, có lẽ là vì đời sống ở đây thiếu thốn quá nên ai cũng chỉ lo lấy riêng cho phần mình. Cũng có thể vì hàng ngày, có những ghe mới nhập trại, hoàn cảnh của họ ghê gớm quá, kẻ bị thương tích, người bị quăng xác xuống biển, ghe này mất tích năm bảy người, ghe kia chỉ sống sót có vài ba người, chuyện nào cũng đầy thương tâm, đầy chi tiết khủng khiếp. Như thế đâu còn ai đủ xúc động để mà nghĩ đến những đứa trẻ vất vưởng, lang thang, sống như bầy chuột trong vòng đai của một cái trại vốn đã đầy nhóc những người này. Nhưng tình hình cứ mỗi ngày một cải thiện dần đi. Trung tâm nhận trẻ không thân nhân được dựng lên. Lũ nhỏ được tập trung lại, có người săn sóc, nấu nướng cho, bữa ăn vì thế không còn cảnh no đói thất thường, đêm tối không còn đứa nào phải ngủ đường, ngủ chợ. Ấy vậy mà nhiều đứa vẫn khoái chui lỗ rào để chuồn ra ngoài chạy nhảy nhởn nhơ. Trong số đó có cả thằng Quang.
    Thằng Quang cầm đầu một nhóm bốn đứa. Cả bọn sàn sàn tuổi như nhau. Một đứa chết trọn gia đình ngay giữa biển cả. Một đứa đi với mẹ và chị cùng một con em gái. Mẹ chết vì kiệt sức. Chị bị bắt cóc đem đi biệt tích. Thằng nhỏ mới lên mười hai phải lãnh trách nhiệm trông nom đứa em gái mới lên sáu. Thằng Quang tuy thế còn là may. Bố nó hãy còn nằm ở trại cải tạo. Mẹ nó còn sống nhưng ở lại Việt Nam. Bà gửi nó đi, theo gia đình một người quen. Khi nhập trại, có ai rỉ tai khôn khéo kiểu gì đó, nói rằng đèo một đứa không có họ hàng gì cả thì sẽ khó đi định cư. Thế là Quang bị khai tách ra một “form” riêng biệt. Trước thì chỉ còn là hình thức trên giấy tờ. Sau mọi người quên nó thật. Nó nghiễm nhiên chấp nhận hoàn cảnh bơ vơ và nhập bầy với một lũ lốc nhốc vất vưởng, mỗi đứa một số phận, mỗi đứa một hoàn cảnh, trường hợp nào thì cũng bi thương như nhau cả.
    Bọn thằng Quang hay đàn đúm ở bên hông nhà thờ. Nhóm bốn đứa đeo dính lấy Quang vì nhiều lý do. Trước hết là nó lớn hơn cả bọn, nhanh nhẩu, tháo vát, và nó nhập trại lâu hơn cả lũ nên ngõ ngách, xó xỉnh nào ở đây nó cũng đều thông thuộc hết. Sau nữa là thằng Quang là một đứa có lòng. Nó thương cả bọn bạn bè cùng cảnh ngộ. Nhất là thằng Hiếu với con Hạnh. Hạnh lên sáu nhưng người ốm tong teo, mặt mũi vêu vao như kẻ thiếu thốn đủ thứ kinh niên. Cái thiếu thốn nhất là bàn tay săn sóc của mẹ và chị. Trong một sớm một chiều, nó mất cả hai thứ ấy nên người trông thất thần hẳn ra. Trước nó còn khóc đòi gặp mẹ, gặp chị. Sau thì nó biết thân, chỉ đeo dính lấy thằng anh, bắt thằng anh bế vẹo cả xương sườn. Hiếu thương nó lắm, nên dù ham chơi cách mấy cũng tha theo con nhỏ đi cùng. Xin ở đâu được cục kẹo nào, Hiếu cũng dành cho em trước. Có hai cục kẹo thì mới đến phần nó, mà ngay khi có hai cục kẹo, nhiều lúc Hiếu cũng nhường phần này cho thằng Quang. Nó muốn lấy lòng thằng Quang vì trong đám đông hỗn độn ở đây, Quang là chỗ dựa gần gũi nhất của nó. May cho nó là Quang tốt bụng. Nó quan tâm đến con Hạnh chỉ thua có hằng Hiếu mà thôi.
    Có những buổi tối, Hiếu không thấy Quang đâu. Nhưng lúc gặp lại thì thế nào trên tay Quang cũng có một món gì đó có thể là một túi nylon đựng chè hay một khoanh bánh gói trong một mảnh lá khô. Quang trao những thứ đó cho con Hạnh. Hạnh buồn ngủ cách mấy cũng tỉnh như sáo sậu ngay vì con bé thích ăn ngọt.
    Chè là món ước mơ của tất cả mọi người lúc còn lênh đênh trên biển cả. Tới được bến bờ rồi, ai có tiền cũng mua chè, nấu chè, mời nhau ăn chè. Phải vài ba tháng như thế thì mới lại sức. Đó là kể những người có tiền, có thân nhân tiếp tế. Anh em thằng Hiếu có ai quen thuộc ở đâu mà được ăn chè hằng ngày. Cho nên cả Hiếu lẫn Hạnh biến thành những đứa kinh niên thèm đồ ngọt. Trong bóng tối nhá nhem của dẫy vách nhà gỗ dựng lên bên hông nhà thờ, mấy đứa ngồi thủ thỉ truyền cho nhau những muỗng chè còn nóng hổi của thằng Quang đem lại. Quang ních no một bụng rồi nên ngồi yên ngắm cả bọn sì sụp như một ông anh cả hiền từ. Nó vui sướng trong lòng thấy cái Hạnh chu cái miệng xinh xinh ra đón những muỗng chè do thằng Hiếu bón cho nó. Ánh đèn duy nhất ở phiá cột điện phiá xa hắt lại chiếu vào đôi mắt của con bé làm cho Quang thấy những tia sáng long lanh, linh hoạt.
    Ăn chè xong, Hạnh lăn ra ngủ trên cánh tay của thằng Hiếu. Giấc ngủ bình an, vô tội. Chờ nó ngủ thật say, Hiếu mới trải rộng tấm giấy dầu ra và đặt con bé lên đó. Bây giờ nó làm công việc đó gọn ghẽ chẳng kém gì ngày trước mẹ nó, chị nó đã làm. Quang phủ lên mình con bé chiếc áo sơ-mi mỏng. Trời không lạnh nhưng đầy muỗi, nhất là vào nhưng hôm trời đứng gió.
    Cứ cái cảnh sống như thế chúng nó đã trải qua mấy mùa ở đây. Trước hết là Noël, rồi Tết Nguyên Đán, rồi Rằm tháng Bảy. Chỉ còn thiếu có một cái Tết Trung Thu là quay đủ vòng các ngày lễ lớn trong năm. Trước tết Trung Thu cả gần hai tháng, Quang đã hứa hẹn đủ thứ với những người bạn nhỏ của mình. Ở đây có sẵn nứa, sẵn dây, keo hồ không thành vấn đề, giấy bóng và giấy trang kim có thể mua ngoài chợ nhỏ ngay ngoài vòng rào ở cổng trại. Dư sức làm thành những đèn ông sao, con thỏ, máy bay, tầu bò, cá chép, thiềm thừ.
    Thằng Hiếu hỏi thiềm thừ là con gì, Quang tịt mịt không trả lời được. Thật ra nó chỉ biết làm có mỗi cái đèn ông sao. Nó chưa làm đèn con thỏ, con cá bao giờ, mặc dầu hồi trước đó khi bố nó phải đi cải tạo, mỗi mùa Trung Thu nhà nó có đủ loại đèn, toàn đồ mua ở trên phố. Ôi cha, phố xá vào dịp đó thì phải biết. Cả con đường Trương Minh Ký đỏ rực những đèn. Tiệm bánh Đông Hưng Viên ở Chợ Bến Thành chen chân không lọt. Người lớn xếp hàng mua bánh nướng bánh dẻo, trẻ con đứng ngẩn ra coi đèn, coi những con giống nặn bằng bột có đủ loại màu sắc. Trước cửa những tiệm lớn còn treo những loại đèn đặc biệt như cá hóa long, thiềm thừ vọng nguyệt, nhất là đèn kéo quân có diễn đủ thứ sự tích như Võ Tòng đả hổ, Thầy Mẫn Tử đẩy xe cho cha, Trâu xay lúa, Cọp giã gạo, cảnh nào thì người, vật cũng cử động được nhờ những bánh xe gió chạy quanh lồng đèn.

Quang đem những thứ đó ra kể cho lũ bạn nghe, bọn chúng mê tít thò lò và đứa nào cũng háo hức chờ Trung Thu. Có đứa đòi Quang gấp đèn xếp, có đứa đòi sáng chế đèn kéo quân, đèn thiềm thừ, đèn cá hóa long, Quang đang cao hứng ba hoa chích chòe nên hứa hẹn tuốt luốt, mặc dầu trong đầu nó mới chỉ hình dung ra được có mỗi một cách làm đèn ông sao. Nhưng làm được đèn ông sao thì cũng thích rồi. Nó sẽ làm đủ năm cái, cái xinh nhất dĩ nhiên là cho cái Hạnh, rồi cả bọn sẽ chơi rước đèn ở ngoài bãi biển, trăng rằm ngoài bãi biển, hẳn sẽ sáng vô cùng. Nó chỉ mới vẽ ra như thế, cả bọn đều đã thấy háo hức. Chúng nó vỗ tay hoan nghênh anh Quang hết mình. Cả cái Hạnh nữa. Con bé ngồi lọt thỏm trong vòng tay gầy như que sậy của thằng Hiếu, nhưng vẫn chẫu mặt ra ngó về phía anh Quang, đôi mắt sáng ngời vì những hình ảnh đèn xếp, đèn ngồi sao, đèn kéo quân.
Đùng một cái, chưa tới đầu tháng Tám ta, thằng Quang đã có danh sách lên đường đi định cư. Lúc nghe tên của thằng Quang được rao trên loa phóng thanh, thằng Hiếu bế em chạy bổ đi tìm. Mấy đứa gặp nhau ở sau lưng vách nhà thờ. Mồm thằng Hiếu méo sệu. Con Hạnh thì òa lên khóc. Quang cố nén xúc động nhưng nước mắt cứ chảy ròng ròng trên má. Mới quen nhau chưa đầy nửa năm, nhưng cả lũ cảm thấy thân thiết còn hơn ruột thịt. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng đầy ắp những chia sớt, san sẻ những thiếu thốn trong hoàn cảnh tất cả đề cùng bơ vơ. Lần đầu tiên Quang giang hai cánh tay ra đón lấy cái Hạnh. Hạnh cũng xà sang và ôm cứng cổ thằng Quang. Mái tóc mềm của con bé áp sát lên mặt của Quang. Những sợi tóc bây giờ cũng bị ướt đẫm nước mắt.
Hôm ra xe ca, Quang cũng bế cái Hạnh trong suốt lúc chờ xe chạy. Quang luôn mồm dặn Hiêú đủ thứ phải săn sóc bé Hạnh. Đừng cho nó ra nắng. Đừng thả nó một mình ngoài bãi biển. Đừng ngủ quên sau vách nhà thờ sợ con bé nhiễm sương. Nhớ đắp mềm hay áo cho con bé ngủ kẻo không bị muỗi. Tiền công bưng bát, rửa ly cho quán phở ở đầu lô số 10 mà Quang dành dụm được đâu hơn ba chục bạc tiền Thái, Quang dúi cả vào tay thằng Hiếu. Hiếu nắm mớ giấy bạc trong tay mà khóc ròng. Rồi xe chuyển bánh. Thằng Quang thò đầu qua cửa sổ nhìn lại thấy thằng Hiêú bế con em như con mèo tha con chuột chạy lẽo đẽo theo bên vệ đường. Hình ảnh của hai đứa chợt bị lấp đi trong đám bụi mịt mù. Trại tỵ nạn với những mái lều xiêu vẹo trong khoảnh khắc cũng bị lấp đi sau những rặng dừa xanh. Quang cảm thấy xót xa như vừa bị ai cắt lìa một phần cuộc đời của mình.
Ở trại chuyển tiếp non hai tuần thì Quang lên đường vào Mỹ. Nó tính nhẩm chỉ còn hai ngày nữa thì sẽ tới tết Trung Thu. Quang không kịp thực hiện lời hứa của mình là sẽ làm lồng đèn cho cả bọn, nhất là cái lồng đèn xinh xinh cho bé Hạnh mà con bé háo hức chờ đợi.
Ngồi trên xe từ phi trường trở về nhà Ông Bà Thái, Quang vẫn có cái cảm giác bị bó cứng bởi hai nhân vật xa lạ ngồi hai bên. Thằng Phú thì quay ra cửa sổ nhìn lơ đãng ở hai bên vệ đường. Con Lan thì lôi ở phía sau ra một con gấu bông trắng nuột và loay hoay với cái nơ ở cổ con gấu. Mọi thứ ở đây đều sang trọng quá làm Quang lại trạnh nghĩ đến hình ảnh khốn khổ của anh em thằng Hiếu. Bao giờ thì chúng nó được có người bảo lãnh? Bao giờ thì chúng nó rời xa được cái vùng đất khốn khổ thiếu thốn và tràn ngập những kỷ niệm đau thương đó.
Quang phải trấn áp tình cảm để những giọt nước mắt khỏi ứa ra, hai bên bờ mi. Nó vội nhìn ra hai bên kính xe và thấy lần đầu tiên quang cảnh nước Mỹ với những đường xá chằng chịt, với những xe cộ chạy vùn vụt. Lúc xe đi vào thành phố, mọi thứ đều to, đều sang, đều ngăn nắp, sạch sẽ. Tuy nhiên chỉ có hai hôm nữa là tới tết Trung Thu nhưng chẳng thấy đâu có dấu hiệu chuẩn bị cả.
Hình như cả thành phố không ai biết tới rằng lại có cái tết trọng đại như thế đối với những nhi đồng Việt Nam. Nói một cách văn hoa, thì những ngọn đèn Trung Thu chỉ còn hiu hắt trong trí nhớ của những đứa trẻ như Quang, như Hiếu, như Hạnh hay những em bé còn vất vưởng ở đâu đó trong các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á ….

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

Lời giới thiệu
Ở ngoài đời, tôi chưa bao giờ gặp Nhật Tiến. Điều này, nếu đối vớí cá nhân tôi có thể được xem là một sự thiệt thòi thì trái lại, đối vớí tác phẩm có khi lại là một điều hay: tôi không có cách nào khác hơn là đến với anh qua tác phẩm.
Tuy chưa được gặp anh song Nhật Tiến trong Văn Học Việt Nam thì không phải là một ai xa lạ. Sau khi bước vào văn đàn với truyện dài Những người áo trắng (1959) và nhất là Những vì sao lạc (1960) nói về những trẻ “bụi đời” có cả mười mấy, hai chục năm trước khi có từ ngữ sau này, anh đã, ở tuổi 25, đạt tới được một vinh dự không nhỏ là được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc cho hai năm 1961-1962 vì truyện Thềm Hoang do nhà xuất bản Đời Nay của Nhất Linh in ra năm 1961. Là người yêu văn học, từ đó không ai là không để ý đến những tác phẩm gần như năm nào Nhật Tiến cũng có mặt để đóng góp vào văn học miền Nam tự do.

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG VĂN HỌC CỦA NHẬT TIẾN
Người ta để ý đến anh không phải vì anh viết nhằm vào cái sôi nổi, như Chu Tử với những Loạn, Ghen, Yêu của ít năm sau đó hay Hoàng Đông Phương (tức Nguyễn Thị Hoàng) của Vòng tay học trò hoặc Lệ Hằng của những năm 70. Người ta cũng lại không để ý đến anh vì anh đi tìm cái mới như Thanh Tâm Tuyền hay thử nghiệm nhiều như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư trong thơ. Người ta tìm đọc Nhật Tiến vì anh rất “cổ điển”, cổ điển không thua gì những bậc đàn anh (và cả đàn chị) như Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh, những người đầu tiên đã nhìn ra văn tài của anh và khuyến khích anh trên con đường sự nghiệp.
Ở anh nổi bật lên những đức tính như một lòng thương xót bao la dành cho những kẻ xấu số trong xã hội, một con mắt thật tinh đời nhưng không ác ý, một trái tim ôn hòa nhưng không phải không biết phẫn nộ, một con ngườỉ thuần túy dành cho giáo dục (kể cả giáo dục có bề ngoài hình thức như ở trong học đường lẫn giáo dục tưởng như không có hình thức như báo chí, tiểu thuyết, truyền thanh, truyền hình… ).
Người ta, do đó, tìm ở Nhật Tiến một cái gì chân thật, một lương tâm xã hội đôi khi có thể xem là hơi lý tưởng quá nhưng lúc nào cũng đầy một lòng trìu mến đối vớỉ tuổi thơ (như trong Chim hót trong lồng, Chuyện bé Phượng, hay Tay Ngọc), đối với những người dân lành bị kẹt vào trong một cuộc chiến thảm khốc mà họ không có đủ trí tuệ hay hiểu biết để tách bạch, phân tích các vấn đề (điển hình như những truyện dài Giấc ngủ chập chờn hay Quê nhà yêu dấu, viết vào trong những giờ phút khốc liệt ngay theo sau trận Mậu Thân). Ở trong một khung cảnh chiến tranh mà nhiều khi ta cảm thấy như bị bẫy, không trách có người cảm thầy mình điên lên được, không trách có người điên thực sự như trong truyện ngắn “Tặng phẩm của dòng sông”, một trong những truyện ngắn hay nhất của anh và được lựa chọn vào trong tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương do nhà xuất bản Sống in ra ở Saigon năm 1973.

Ở Nhật Tiến có nhiều con người xa lạ, tưởng không bao giờ có thể gặp nhau trong một người. Từ ngày trưởng thành, là một sinh viên di cư vào Nam, anh trong căn bản là một nhà giáo. Ra đời, anh đi dạy tư ở Mỹ Tho, nơi đây anh gặp Truơng Cam Vĩnh. Đời sống tỉnh lẻ, anh không biết làm gì hơn là ngồi viết văn – trước hết là cho mình, chưa dám nói là cho ai khác vội. Rồi một cơ may (qua sự giới thiệu của anh Trương Cam Vĩnh) anh đã đến với Nhất Linh, và từ đó anh trở thành một tác giả có sách xuất bản. Hỏi anh có làm gì về văn chương trong khung cảnh học đường không? “Thưa không, tôi dạy Toán, Lý, Hóa….”
Cho đến tận những năm cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ, anh vẫn làm nghề ‘‘gõ đầu trẻ” và trong đám “trẻ” này đôi khi cũng có cả những ông bà trung niên được anh luyện thi mà nhiều người không hề bao giờ biết là anh viết văn. “Tôi không bao giờ nói về văn chương ở trong lớp cả”, anh tuyên bố.
Anh dạy từ khi mới vào đời, anh dạy từ trong thời gian dài làm báo, viết văn, anh dạy tư thêm trong lúc bị động viện, ở trong quân đội, anh dạy cả sau khi Cộng sản vào thành. Nói tóm lại, ở trong anh từ trước đến sau là một nhà giáo. Nhưng là vì anh dạy tư suốt đời nên khi Cộng sản vào, anh cũng không phải đi học tập gì nhiều. Anh chỉ phải theo có một đợt học tập ngắn ngày dành cho diện các văn nghệ sĩ (lần đó anh đi có cả Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Lệ Hằng, Nguyên Thị Hoàng v…v… bị gọi đi cùng). Và cũng vì người ta, cả xã hội chung quanh anh nhìn anh là một “ông thầy” dậy trẻ nên không ai nỡ tâm khai anh đã từng là giảng viên trong quân đội, Cục Chính Huấn. (Có ai ở trong hoàn cảnh này mới rõ được lòng yêu mến, tình bao bọc của đồng bào là quý đến chừng nào!)
Mãi đến năm 78 anh mới thôi dạy học vì trong một xã hội Cộng sản, dạy học dầu là Toán, Lý, Hóa….mà không được dạy theo ý mình, phải theo giáo án, phải theo chỉ thị, phải theo yêu cầu chính trị của Nhà nước và Đảng thì quả là hơn một cực hình. Anh chị Nhật Tiến quay ra mở quán cà phê. Ta hãy nghe Mai Thảo nói về anh trong giai đoạn này:
“Một buổi chiều Saigon, ít ngày sau khi 30 tháng tư 1975, ngồi sau chiếc xe gắn máy của Duyên Anh, cũng tác giả Ngựa Chứng Trong Sân Trường dạo quanh một vòng trên những phố phường tan hoang của thành phố vừa đổi chủ, tôi bổng nhìn thấy Nguyễn Thụy Long trên một khúc vì hè ở khu đại học Duy Tân. Long ngồi sau một cái quán lộ thiên mọc lên như nấm ở Saigon lúc đó. Tác giả Loan Mắt Nhung đang nhậu, mặt mày đỏ sậm, kính trắng dầy cộm. Và cạnh đó, là một quán hàng khác, với Nhật Tiến, Nhật Tiến không nhậu, không nhậu bao giờ, đang lụi hụi với một chậu nước và một chồng bát đũa nhớp cạnh một gốc cây.
Cái cảnh tượng đập vào mắt tôi lúc đó, về hai cái quán liền sát, cũng ở trước một vi tường thấp chạy dài, là cái cảnh tượng của một đối nghịch hoàn toàn. Mang chung sự thất thế của văn nghệ gác bút ra đường bán quán trước hoàn cảnh mới, cái quán của Nguyễn Thụy Long với những xị đế ngổn ngang trên mặt bàn và mấy người khách hàng trẻ tuổi cũng ngất ngưởng như Long, hiện rõ vẻ bụi đời anh chị. Cái quán của Nhật Tiến khác hẳn. Nó lành mạnh hơn và cũng gia đình hơn gấp bội, với những đĩa rau muống chẻ nhỏ đặt ngay ngắn, bên cạnh là một chảo mỡ sôi bắn khói bốc xanh um, chị Nhật Tiến má hồng củi lửa chiên những cái bánh tôm vàng ngậy và đứa cháu lớn, nơ cài mái tóc, váy xếp chững chạc đang phụ một tay với ông bố nhà văn.
Nhìn Long một bên, Tiến một bên, cũng đã lăn cả ra với sương nắng thời thế với gió bụi hè đường, cũng đã trở thành hai ông chủ quán tài tử bất đắc dĩ mà quán bạn là quán bạn, quán tôi là quán tôi, bạn anh chị bụi đời, tôi gia đình nghiêm chỉnh, tôi đã nhìn thấy một lần nữa, và lần đó là lần cuối cùng, điều tôi yêu thích và tự hào nhất cho văn nghệ miền Nam 20 năm, là cái trạng thái đa diện và đa dạng không bao giờ đồng dáng và đồng tính. Đó là cái thế giới văn nghệ của mỗi người một trời mình, mỗi kẻ một biển mình. Đó là vùng đất đai văn nghệ của mỗi người một non sông, mỗi người một sông núi. Cái không đồng dáng, không đồng phục nơi mỗi người trước bàn viết cũng như trong đời sống ấy, lại là điều văn nghệ miền Bắc đổ khuôn và con số thù ghét nhất. Và bởi vì thù ghét nhất nên muốn triệt hủy nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân của đại nạn đã tới với mọi ngành văn học nghệ thuật muôn nghìn hình vẻ của ta. Và đương nhiên là đại nạn ấy cũng đã đến với Nguyễn Thụy Long và Nhật Tiến.
Nhớ hôm đó, tôi và Duyên Anh đã ngưng xe lại. Đã vào ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp. Đã lên tiếng ca ngợi cái tinh thần quả cảm của gia đình Nhật Tiến, hàng ngày từ thật xa cổng xe lửa số sáu xuống, vui vẻ nhập được tức khắc vào nếp sinh hoạt mới ở quanh mình. Nhớ lời hôm đó, chúng tôi đã ăn ủng hộ Thềm Hoang Quán mỗi người một đĩa bánh tôm, rất ngon, và tôi đã hỏi đùa Nhật Tiến:

  • Rửa bát thạo ngay. Giỏi nhỉ?
    Và Nhật Tiến đã cười nụ cười bình thường, chừng mực, nụ cười hơi già trước tuổi một chút của một nhà giáo. Nhật Tiến bao giờ cũng trước hết xác nhận mình là một nhà giáo:
  • Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây
    (Trích Văn số 6, tháng 12,1982)

TỪ VĂN CHƯƠNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG
“Giỏi quỷ gì. Việc làm thì phải làm. Để cho ai đây”. Đúng là Nhật Tiến, một trăm phần trăm. Nếu anh đã không để cho việc viết văn của anh ảnh hưởng đến việc dạy học của anh trước kia thì giờ này, anh cũng lại không để cho sự thất thế của anh ảnh hưởng chút gì đến việc làm của anh – một việc làm hoàn toàn lương thiện.
Cuộc chiến trong những năm đầu 70 ngày càng vượt xa sự hiểu biết của người dân thường, ngày càng đi quá khả năng chịu đựng của ngay cả những người ý thức nhất. Nhưng trong khủng hoảng tinh thần, trong “bế tắc” đó (chữ của anh), Nhật Tiến vẫn không bỏ cuộc. Anh quay ra làm báo thiêú nhi, một việc làm mà anh đã có ít nhiều kinh nghiệm trước đó khi làm tổng thư ký tờ Đông Phương của Nguyễn Thị Vinh. Tờ báo Thiếu Nhi do nhà sách Khai Trí bảo trợ đã trở thành mối bận tâm chính của anh trong những năm từ 1971 đến khi mất miền Nam. Trong thời gian này, anh đã chuyển hướng sáng tác, đi từ truyện viết về thiếu nhi (như Chim hót trong lồng, Tay ngọc, một số truyện trong Ánh sáng công viên) hay thanh thiếu niên (Những vì sao lạc, v…v…) sang thành truyện viết cho và của thiếu nhi. Đây là những chuyện như Lá chúc thư (truyện dài, in năm 1969, trong tủ sách Vàng), Đường lên núi Thiên Mã, hay cả Thưở mơ làm văn sĩ (tuy viết dưới hình thức hồi ký).
Đều đặn, đều đặn anh sáng tác để thành một văn nghiệp khá đồ sộ: Trước 75, như vậy là anh đã có gần như mỗi năm một tác phẩm, mà nói chung, tác phẩm nào cũng viết một cách cẩn trọng. Giá như anh có ngưng ở đó thì chúng ta cũng đã có một văn nghiệp gồm 11 truyện dài, 4 tập truyện ngắn, 1 truyện thiếu nhi, 1 tập viết dưới hình thức hồi ký, 1 tập viết dưới hình thức nhật ký, và một tiểu thuyết kịch (Người kéo màn in ra năm 1962 do nhà xuất bản Huyền Trân), tức 19 tác phẩm tất cả trong một đời sáng tác là 17 năm (1959 đến 1975). Đó là chưa kể những viết lách lặt vặt bên cạnh nữa, những đóng góp trên mặt báo, những bài diễn thuyết, những khẳng định lập trường, những bài giảng dạy về chiến tranh tâm lý v…v… Tóm lại, đây không thể coi là một văn nghiệp mà ta có thể khinh thường được ở một người mà tháng 4,1975 chưa đầy 39 tuổi.
Nhưng điều làm cho ngườì ta để ý đến Nhật Tiến sau này, trong những năm gần đây lại không nhất thiết là sự nghiệp văn chương của anh. Vì trong gần 5 năm ở với Cộng sản, dĩ nhiên là anh phải “gác bút” rồi trừ khi là anh bằng lòng đi làm tay sai cho chúng – một điều chúng ta không thể nghĩ được về Nhật Tiến. Nhưng chỉ cần anh đặt chân lên đất Thái sau khi vượt biên bằng đường thủy là ta đã thấy ngòi bút của anh phục hoạt liền.
Những truyện ngắn của anh sáng tác ở trong trại sau này được tập hợp lại trong tập Tiếng Kèn (do nhà xuất bản Văn Học in năm 1982 ở Cali) vẽ lên một bức tranh vô cùng sống động về cuộc đổi đời lớn nhất của người dân Việt Nam (chứ không riêng gì của người dân miền Nam) có lẽ từ hơn một trăm năm nay. Thời Tây sang, với tất cả những cái va chạm, xung đột văn hóa giở khóc giở cười của nó, cũng không thể so sánh được với cái ngô nghê, cái ồ ạt và cái dã man của mấy chú mán ở rừng về như bộ đôi và cán bộ miền Bắc vào xâm chiếm miền Nam.
Song Nhật Tiến không để cho cái hận thù đó làm mờ đi cái đau thương trước mắt là nạn hải tặc hoành hành trong vịnh Thái Lan trong những ngày tháng anh ở trại. Với sự tiếp tay can đảm của hai nhà văn Dương Phục và Vũ Thanh Thúy, Nhật Tiến đã lên tiếng tố cáo nạn hải tặc ngay trên đất Thái, làm thành một cuộc vận động toàn thế giới (do sự tiếp sức của các báo chí Việt ngữ và cộng đồng người Việt ở hải ngoại) mà quốc tế phải để ý tới, mà Liên Hiệp Quốc phải họp hội nghị để giải quyết, buộc ngay cả chính quyền Thái phải lùng bắt một số hải tặc và đem chúng ra trước vành móng ngựa.
Tháng 9-80, sang đến Mỹ, Nhật Tiến vẫn không bỏ cuộc. Nhờ sự hiện diện của anh và của hai anh chị Dương Phục – Vũ Thanh Thủy ở miền Nam Cali, giờ này có thể đứng ra làm chứng nhân hay nhân chứng sống, phong trào chống hải tặc lên cao độ với Ủy ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (do giáo sư Nguyễn Hữu Xương cầm đầu) vận động khắp nơi trong báo chí, trên quốc hội, với lập pháp và hành pháp Mỹ, với Liên Hiệp Quốc. Những bài tố cáo của ba nhân chứng được gom lại thành một tập tài liệu mang tên Hải tặc trong vịnh Thái Lan do Ủy Ban Báo Nguy in ra năm 1981. Ngay sau đó, James Banerian đã dịch toàn tập sang tiếng Anh mang tựa đề là Pirates on the Gulf of Siam.
Việc làm này của Nhật Tiến, Dương Phục và Vũ Thanh Thủy được đến cả Coleman McCarthy trên tờ Washington Post công nhận là một công việc đầy ý nghĩa. Một số các bài xã luận đăng trên mặt các báo chí Hoa Kỳ và quốc tế cũng đã dựa phần nào vào những tiết lộ như ở trong Pirates on the Gulf of Siam.

KINH NGHIỆM Ở MỸ
Sang đến Hoa Kỳ, Nhật Tiến chấp nhận ngay cái thực tế của xứ này: Nhà văn Việt Nam không có (hay ít nhất cũng chưa có) chân đứng trong cái xã hội này. Anh vì thế nên cũng chấp nhận ngay cuộc chơi mới, lăn lộn từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, nhận đủ mọi thứ việc thượng vàng hạ cám, gì cũng làm tuốt, làm đêm làm ngày mệt nghỉ, và rồi đi học để kiếm một cái chuyên môn mà xứ này dùng được. Thế mà rồi anh vẫn viết, viết hăng say hơn bao giờ hết. Truyện của anh đăng đủ trên các mặt báo Việt ngữ ở hải ngoại, từ Ngày Nay ở Kansas City đến Đất Mới, Seattle, Washington, từ Khai Phóng và Nội San Cựu Giáo Chức ở Cali đến Chuông Saigon ở Úc Châu, từ Lửa Việt ở Canada đến Độc Lập ở Tây Đức và Quê Mẹ ở Pháp.
Mặc dầu phần lớn làm “chùa” anh vẫn không hề lấy đó làm buồn. Anh hăng say trong mọi việc, lại còn lấy đó làm như một niềm vui, một thú giải khuây cho những năm tháng âu sấu, buồn bã. Tập truyện Một thời đang qua hiện trong tay bạn đọc chính là một ghi chép trung thực của nhưng ngày tháng ấy, đặc biệt ở phần I. Sự đổi đời trong cuộc sống của người Việt hải ngoại, nhất là trong những năm đầu làm quen vớí xứ người, nó ghê quá, nó làm cho ta đôi khỉ tưởng như đến mất nhân bản tính tới độ ta chỉ còn có mộng tưởng là xem được là thật thôi (“Người làm ca đêm”).

Trong “Một ngày của nhiều người” gần như không còn ai là của riêng mình nữa. Một người sáng dậy, vừa chồm ra khỏi giường đã thấy mình trở thành một bộ phận của guồng máy xã hội; không hơn không kém một con ốc mà vì máy đã bắt đầu chạy nên mình phải theo. Thôi thì đủ thứ tính toán, “rất may là chỉ phải “để” có hai lần nhưng ngần ấy việc cũng đã tiêu đi mất của anh thời gian một phút rồi. Nếu chậm thêm 4 phút nữa thôi anh sẽ bị kẹt xe ở lối vào xa lộ…(trang 10). Thế mà trong óc lúc nào cũng còn lởn vởn những cái “bill” hàng tháng, “tiền điện thoại, tiền gas, tiền nước, tiền Tivi, tiền dàn âm thanh và những gói quà 2 pounds gửi cho gia đình ở Sài Gòn…” để rổi “đầu anh như bị xiết lại. Anh muốn ngộp thở về những ý nghĩ ấy trong đầu diễn ra rất nhanh như một dòng điện từ xẹt qua óc” (trang 11). Rồi câu chuyện đi sang những tình huống của một số người khác những tình huống không còn phân biệt được đây là câu chuyện của nhiều người khác nhau: Hải, Toản, Bình, Sảnh, Dũng…..Tại sao? Tại vì trong cái guồng máy khổng lồ đó, ta đã gần như mất hết cá tính.
Chẳng thế mà trong “Những mẩu dây leo” con người đã gần như điên, không còn biết mình điên hay người điên nữa! Ai lại ngày nào Vũ (nhân vật chính làm nhân viên an ninh trong một tòa lầu) cũng leo lên 3 tầng lầu “một ngày tám tiếng, mỗi tuần năm ngày… như con sên leo lên vách tường đã rổi bi tụt xuống. Tụt rồi lại leo lên nữa” (trang 43) để làm một công việc duy nhất là “thọc 25 cái chìa khóa khác nhau treo ở 25 nơi khác nhau vào cái hộp đen, xoay một vòng để nó in hàng ám số lên cuộn bằng giấy nằm bên trong” (trang 38). Riết rồi một hôm anh ngây người ra làm những công việc mà người ta có thể ngỡ là đã có tính cách bất bình thường, để rồi ông giám đốc phải gọi anh lên khiển trách. Anh về nhà, nằm mơ thấy một giấc mơ hãi hùng là anh đã bị sa thải vì bệnh “Mental Health” (“rối loạn thần kinh” bị), do thất nghiệp, anh không còn tiền gởi về cho gia đình, ngay cả đến một gói quà 2 pounds.
Sau đó, những chuỗi tư tưởng lớp lang bình thường vẫn “xuôi dòng” nay trở nên “lộn phèo” và “tình trạng này trước còn xảy ra thưa thớt, dần dà Vũ phát hiện được ra rằng nó đến với mình có vẻ thường xuyên hơn.” Chàng tự nhủ: “Mình phải chống trả lại chúng nó chứ. Phải chống bằng bất cứ giá nào để chứng minh với tất cẩ mọi người rằng tôi là một kẻ bình thường chứ.” (trang 46)
Song “bình thường” gì mà đến quên cả cái nheo nhóc của vợ con ở quê nhà.(quên cả những đoạn thư con gái út viết cho anh từ Sài gòn: “Hôm qua mẹ nhận được gói quà bố gửi. Hôm nay mẹ bỏ tiền mua xương phở cho cả nhà được gặm. Ngon quá bố. Lâu rồi con không được ăn thịt.”) để dám chạy thẳng lên văn phòng lão “manager” chỉ vào mặt hắn và mắng : “Tôi ghét sự nói láo của những kẻ làm việc dưới quyền của ông. Tôi ghét luôn cả những loại cây giả tạo mà ông cho trưng bầy ở mọi chỗ trong cơ quan này. Chúng nó chẳng có gì xứng đáng để khiến cho tôi phải đứng thừ người, chiêm ngưỡng so với những cây cỏ tươi tốt, đẹp đẽ ở trên quê hương của tôi. Vậy thì, những kẻ nào tố cáo tôi như vậy, chính nó mới là đứa có bệnh “mental health” đó thưa ông!” (trang 46).
Tả người mất trí đến như thế phải kể là hết cở. Nhưng hiện thực chiến tranh, những thảm họa của sự đổi đời trên quê huơng và trên quê người đã được Nhật Tiến mô tả một cách linh động, lôi cuốn đến độ khi buông sách ra ta đã phải thở phào mà thấy là mình may mắn đã không phải là người trong truyện.
Bên cạnh những truyện như vậy, ta cũng lại có một Nhật Tiến nhẹ nhàng hơn như trong truyện “Những mảnh trăng thu”, môt câu truyện khá cảm động. Tác giả tả cuộc sống của những đứa trẻ kiểu “bụi đời” ở trong trại tỵ nạn, tuy nghèo khổ nhưng vẫn còn có nhau, một tình huống khá tương phản với những trẻ em Việt Nam ở ngoại quốc, đầy đủ hơn nhưng tiếng nói thì đã chọ chọe, văn hóa thì đã xa vời với quê hương đất tổ: “Trăng thu năm đó chỉ còn hắt hiu trong trí nhớ của các em bé còn vất vưởng ở đâu đó trong các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á.” (trang 7)
Sự va chạm văn hóa còn được Nhật Tiến đem ra làm đề tài trong mấy truyện khác như ‘‘Mùa xuân của nàng” và nhất là “Bông hồng nào cho Mẹ”. Đây không phải là những đề tài chỉ có một mình Nhật Tiến nhìn ra, song phần anh bao giờ cũng có cái đậm đà, thâm trầm của riêng anh – một thứ trầm buồn mà nhiều người trong chúng ta cũng chia xẻ đứng trước những vấn đề đó. Thành ra, với Nhật Tiến, ta lại có thêm được một cách nhìn, một tiếng nói Việt Nam bên cạnh những Võ Phiến trong tiểu luận (Thư gửi bạn, Lại thư gửi bạn), những Trần Phong Vũ (xem truyện Hạt Cát trong tuyển tập Quê hương còn đó), Trần Diệu Hằng (Vũ điệu của loài công), Lê Thị Huệ (trong Bụi hồng), Nguyễn Ngọc Ngạn (trong Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn) trong tiều thuyết như một thể bao trùm cả truyện ngắn, những Cao Tần, Nguyễn Bá Trạc, Trần Mộng Tú trong thơ để bàn đến một loại đề tài tưởng như bất tận.

PHẦN “QUÊ NHÀ”
Sang phần 2 (phần “Quê nhà” đối với “Quê người” của phần 1) thì ta thấy tiếp nối một số truyện mang cái hơi còn sung sức của tập Tiếng Kèn. Thật vậy, sự thành công của tập Tiếng kèn được tiếp nối (đây bằng nhưng truyện có kịch tính cao độ như truyện” “Người tù cuối năm” “Chặng đường cuối” và nhất là “Những vết chân trâu.” Qua tất cả những thảm kịch đổi đời ở quê nhà từ ngày Cộng sản đến như một tai họa (chữ của Nguyễn Chí Thiện), Nhật Tiến như muốn nói với chúng ta là cứu cánh vẫn chỉ có thể là con người. Chính con người trong một tên thủ trưởng công an tưỡng như khát máu đã giúp hắn nhìn ra ân nhân của hắn để nói:
“Ông Định, hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông.” (trang 78).
Cũng lại chính con người, một con người rất bình thường khi nó đã tước bỏ được hết những huyền thoại nhảm nhí về nó, đã làm cho tên đại úy trong “Chặng đường cuối”, xem như bị hủ hóa. Thì ra cả một huyền thoại về cách mạng đẹp đẽ có thể bi sụp đổ như một cái nhà bằng giấy đứng trước một xã hội thực tế, lột trần như một xã hội kẻ cắp, con buôn ở một vài đô thị miền Nam. Thì ra cái “đạo đức cách mạng” của “con người mới xã hội chủ nghĩa” xem ra cũng mỏng thôi!
Còn như truyện “Những vết chân trâu” một chuyên phải nghĩ đã xảy ra ở một hợp tác xã miền Bắc, cũng như truyện “Một chuyến đi”, mô tả tất cả cái trần ai của việc xin giấy đi một chuyến tàu ra Bắc, đều nói lên cả cái bế tắc của xã hội Việt Nam ở trong tay Cộng Sản. Xin xong giấy tờ, Quý, vai chính trong “Một chuyến đi đã chợt mỉm cười tự mãn.” Để rồi Nhật Tiến phải hạ môt câu: “Có lẽ ở trên đời này chỉ có Quý là kẻ duy nhất đã có thể cười được khi nhận được tin mẹ mình đang thực sự hấp hối!” (trang 91). Đó cuộc sống nó đã đảo điên tới mức đó thì không cần phải tác giả dùng lời trực tiếp lên án chế độ nữa, những truyện của Nhất Tiến có sức thuyết phục hơn chính vì chúng chỉ tìm cách tả sự thật: sự lên án chế độ đã trở thành một kết luận đương nhiên của cuộc sống.
Hai truyện “Tay ngà” và “Chân dung người nữ diễn viên” nói về sự sa sút của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ Cộng sản. Ở đây, Nhật Tiến chỉ làm một việc là tiếp nối, mang cái nhìn sâu sắc của mình vào hoàn cảnh người đàn bà, một việc Nguyễn Du trước kia đã đặc biệt lưu ý, một việc Phạm Duy gần đây cũng làm trong nhạc của ông. Huyền thoại “Tay ngà” của Lữ về chị Thu đã bị sụp đổ sau 30 năm khi chị đưa tay ra, “hai bàn tay sần sùi nhăn nhúm và mang một vẻ chai cứng, khô queo” và giải thích: “Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ ….”(trang 66).
Trong “Chân dung người nữ diễn viên”, tuy là hoàn cảnh của người phụ nữ, song cứu cánh vẫn lại là con người. Ngày nay, chị Hồng hết được xem là minh tinh và chỉ sống bằng nghề cầy ruộng bên cạnh một anh chồng thương phế binh, song chị đã thoải mái biết bao khi bỏ được tất cả sự giả dối bao trùm đời chị khi chỉ còn phục vụ chế độ trong ngành kịch nghệ.
Trường tồn trong tất cả cuộc sống bi đát ở quê hương, nơi đó mỗi cuộc sống là một thảm kịch, chỉ có bà mẹ Việt Nam, bà mẹ muôn thưở mà ta thấy trong truyện “Cái túi bùa”.
Xem thế đủ thấy cả cái phong phú của Nhật Tiến trong Một thời đang qua.

CON ĐƯỜNG ĐÃ VẠCH
Trả lời một cuộc phỏng vấn mới đây thực hiện trên tạp chí Xác Định về cách nào anh phân biệt gỉữa con người của hành động và con người nhà văn trong anh, Nhật Tiến cho biết là theo anh, viết văn là một thứ thiên chức. Nhưng một thứ thiên chức đòi hỏi nhiều bền bỉ. Tuy anh không nói ra song ta phải hiểu là nếu không kiên trì thì thiên chức này cũng có thể mai một, cùn mòn. Do đó, nên giữa hành động và viết, anh không quên hành động (mà khi hành động anh còn hăng say hơn ai hết) nhưng đặc biệt, anh không bao giờ quên viết – chỉ trừ những trường hợp bất khả kháng như nhưng năm anh bị kẹt ở lại với Cộng sản.
Ra được đất tự do, ngay khi hãy còn một mình ở trại (Chị Nhật Tiến, tức nhà văn Đỗ Phương Khanh, và các cháu đi sau nhưng ngay từ lúc còn ở nhà đã nói với anh là “anh ra làm được gì cứ làm, cần phải nói cái gì cứ nói” đừng bận tâm về những hậu quả có thể xảy ra cho chị ở nhà) anh đã bắt ngay trở lại cái nghiệp viết văn của anh để tiếp nối cái thiên chức kia. Ở trong nhiều điều kiện vật chất có thể nói là vô cùng bất thuận lợi và bất ổn định, anh vẫn tiếp tục “ra quân”. Cứ xem những ngày tháng của các truyện đề” trong Tiếng Kèn, ta sẽ thấy rõ: tháng 12,1979 (“Buổi sáng của bé”), tháng 1, 1980 (“Tiếng kèn”, “Nồi cháo thịt”) ở trạỉ Songkhla Thái Lan, tháng 12-80 ở Portland, Oregon (“Điểm hẹn”, “Một thoáng xuân về” và “Ước vọng của bà Năm”), tháng 8,1981 (“Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ”) và tháng 12, 1981 (“Chuyến tàu cuối năm”) ở Santa Ana, California. Ta có cảm tưởng anh đang di chuyển mà cái bút, tập giấy vẫn không rời tay anh, và anh viết liên miên, viết bất chấp những điều kiện hay ngoại cảnh chung quanh.
Làm việc như vậy, chắc chắn Nhật Tìến đã phải có một niềm tin sắt đá. Bốn năm ở lại với Cộng sản, trong trường hợp Nhật Tiến, đã không phải là bốn năm sống thừa. Tuy không sáng tác, bốn năm đã thành bốn năm tích lũy ở trong nhà văn nơi anh. Nhờ đó, ngày nay ta có ở Nhật Tiến một tác giả dồi dào chất liệu cộng thêm với một ý thức chính trị thật sắc bén. Hai tập Tiếng Kèn và Một thời đang qua hay không phải vì tính cách chống cộng của chúng vì thiếu gì tác phẩm chống Cộng mà chẳng hay tí nào – nhưng là vì tính cách chân thật của chúng trong đó cái chất sống sờ sờ ra đó.
Nhật Tiến đã chứng kiến, mắt được thấy, tai được nghe, hay chính mình đã sống những kinh nghiệm đó, lại thêm được một nghệ thuật già dặn nên tập truyện tự nhiên đã trở thành một bản án chế độ Cộng sản mà khó có ngòi bút nào vượt qua được. Có thể nói, nếu Đại học máu của Hà Thúc Sinh là một bản án đanh thép nhất đối với chế độ lao tù “học tập, cải tạo” của Cộng sản thì Tiếng kèn và Một thời đang qua của Nhật Tiến là một bản án đanh thép không kém, mô tả chế độ bên ngoài lao tù ở quê nhà.

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Springfield, mồng 6 tháng 9, 1985

Máy bay khủng

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 13/10/2024 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

Như đã kể chiều qua, đến trạm không vận terminal đưa thẻ căn cước CAC ghi danh để lên máy bay. Nhưng khoảng 30 phút sau họ trả thẻ lại cho 7 kẻ xấu số trong đó có xạ thủ và nói hết chỗ. Ở đây họ hỏng cho đu càng nhe mà phải lên máy bay ngồi ghế đàng hoàng.
Tuy vậy họ thông báo tin an ủi là 3 giờ sáng quý vị hãy quay lại đây. Những ai đi hụt chuyến này sẽ được ưu tiên lên máy bay chuyến sau. Họ cho biết sẽ có mấy chiếc trực thăng đến đón và cất cánh lúc 7 giờ sáng.
Thế là thức trắng đêm. Ba giờ sáng anh sĩ quan Warent officer đưa đón lấy xe pickup chở xạ thủ và một cô Đại úy hành khách đến một nhà bàn tự phục vụ 24/7. Xạ thủ làm một hộp đựng bánh mì sandwich và lấy một lon Pepsi ra xe ngồi ăn với anh sĩ quan và cô Đại úy.
Họ đấu láo tán phét sôi nổi trong đêm khuya, mình ngồi im lặng ăn bánh mì uống nước ngọt, tự nhiên tỉnh như sáo. Trong sự tĩnh mịch của đêm đen thanh vắng, tự nhiên cảm thấy bâng khuâng nhớ bạn bè khắp nơi xa gần.
Chúa Nhật này là ngày lễ không phải làm việc, và xạ thủ có hẹn với các bạn Lê Dương Pháp sẽ gặp nhau ngồi ăn chung, tán gẫu. Nhưng phải ra đi đột xuất. Chiều qua chỉ kịp vội vàng từ giã họ trong nhà bàn, xạ thủ đưa cho nhóm Lê Dương Pháp tấm danh thiếp của mình và nói hãy liên lạc nhé. Một anh quen thân tỏ vẻ xúc động nói “Tôi sẽ viết thăm bạn”. Viết thăm bạn nghe rất là cổ điển. Những người sống với gươm dao và nỗi chết sao vẫn rất có tình?
Năm giờ rưỡi trời bắt đầu sáng. Xe buýt chở 7 người đi hụt tối hôm trước chạy ra bãi đáp trực thăng. Xạ thủ hơi thắc mắc vì thấy một chiếc xe pickup trên mui có gắn đèn màu vàng quay quay chớp tắt đậu sẵn trên đường taxi, chờ đợi cái gì đó.
Khoảng 10 phút sau một chiếc vận tải cơ C17 lù lù xuất hiện như con khủng long. Chiếc pickup có đèn hiệu từ từ lăn bánh và con khủng long C17 chầm chậm theo phía sau, tiếng động cơ của bốn máy phản lực có âm thanh cao rít buốt tai. Chà chiếc máy bay khủng này đi đâu buổi sáng sớm ta?
Chiếc pickup từ từ rẽ vào gần chỗ 7 hành khách đang đứng đợi. Phía sau đôi cánh của chiếc C17 đồ sộ rủ xuống như một con đại bàng khổng lồ. Úy trời đất ơi hỏng lẽ nó đến đón mình à. Cô Đại úy đứng bên cạnh gật đầu cười toe toét.

Chiếc C17 ngừng lại nhưng bốn máy phản lực vẫn không ngừng rít âm thanh tần số cao. Tấm bửng cửa sau của chiếc C17 hạ xuống, có ba bốn người vác ba lô đi xuống và đi thẳng vào trạm không vận.
Nhân viên phi đạo ra thủ lịnh cho 7 hành khách đi hàng một đến sau đuôi chiếc C17, và lần lượt từng người bước lên tấm bửng nhôm dùng làm đường dốc nối để các loại quân xa lên xuống máy bay. Phía trong khoang máy bay trống rỗng hỏng có hàng hóa gì trơn trọi, và rộng mênh mông có thể đủ chỗ cho hàng trăm người ngồi.
Hai bên vách máy bay có hai hàng ghế. Mỗi bên có 27 cái ghế có nịt an toàn đàng hoàng. Phía bên kia có vài nhân viên phi hành Không Quân ngồi. Phía bên này là 7 hành khách.
Máy bay cất cánh và có cảm giác là nó chỉ chạy một khoảng ngắn là rời mặt đất, chớ hỏng chạy trên phi đạo lâu bất tận như máy bay hàng không dân sự. Có thể vì nó trống rỗng hỏng có hàng hóa mà, chỉ có trần xì 7 người và chừng một chục bao hành lý. Chiếc C17 này dư sức chở được hai chiếc xe tăng loại khủng đó nhé.
Sự kiện một chiếc C17 khổng lồ và tối tân nhứt thế giới đến chở 7 hành khách đi công tác xoàng, đã chứng minh phương tiện không vận của Không Lực Hoa Kỳ ở thế thượng phong bất cứ đâu. Khi có chiến tranh, một trong những điều kiện để chiến thắng là khả năng tiếp vận hậu cần và vận tải cơ giữ nhiệm vụ then chốt đó. Lính Đức Quốc Xã trong thế chiến thứ hai chiến đấu giỏi hơn lính Mỹ, nhưng Đức thua vì tiếp vận kém và căn bịnh quan liêu cứng ngắc.

BÔNG LAU 12.10.2024

Kinh Kha thời đại

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau-thuymy,rfi
Posted on November 10, 2024

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

Mấy hôm nay tự nhiên cảm thấy đuối sức. Người cứ lờ đờ như thiếu năng lượng. Có lẽ một phần vì chỉ ăn hai bữa một ngày và ăn toàn rau đậu cá và trái cây.
Chiều qua muốn gia tăng sinh khí nên thay đổi thực đơn bằng món BBQ bò và cánh gà chiên. Ối chời, nó như ngọn đèn dầu sắp tắt bỗng cháy bùng lên mãnh liệt. Cám ơn cục thịt bò và mấy cái cánh gà kính mến.
Nơi đây bị nhiều áp lực công việc nhứt là công việc sử dụng trí tuệ. Đêm giấc ngủ không trọn ven. Ngủ vội vàng và chập chờn chờ đợi tiếng còi hụ để choàng dậy mặc áo giáp đội nón chống đạn rồi chạy mau vào hầm trước khi hỏa tiễn hay drone bay tới. Sự zui zẻ tình đồng đội và tinh thần hài hước sẽ giúp sống qua những ngày khó khăn.
Ở đây không có môi trường gái gú kiểu trẻ trâu bồ bịch cải lương. Bước ra ngoài nhiệt độ nóng 50 độ muốn nổ mẹ cái gáo dừa thì năng lượng đâu còn nữa để thả thính. Cho nên ai mà đem chuyện yêu đương trai gái với đồng đội thì xạ thủ chỉ muốn văng tục.
Nữ quân nhân Mỹ và đồng minh ở đây rất đông nhưng mình chỉ thấy họ là những bóng mờ chán phèo hỏng có gì quyến rũ, mà cũng hỏng có ai dư năng lượng để ỏng a ỏng ẹo em chả em chả.
Muốn yêu đương thì phải đến những vùng đất lãng mạn có cây cỏ xanh tươi, có những bữa cơm bình yên hỏng phải cởi áo giáp để đồ nghề lăn lóc khắp nơi. Mỗi lần đứng dậy để lấy thêm thức ăn hay rót nước là phải dòm lối đi thiệt kỹ để hỏng đạp lên súng của người khác.
Hôm qua xạ thủ sắp hàng ăn trưa. Thấy một anh lính trẻ da đen đeo khẩu súng trường M4 trước ngực. Cây súng trầy trụa và phủ đầy bụi cát sa mạc. Tự nhiên hỏng kềm hãm được sự ngưỡng mộ. Xạ thủ vỗ vai anh lính “Cây súng bạn phủ đầy bụi ngầu quá, nhìn rất đẹp (tough and pretty)”. Anh lính cười tươi sung sướng và cám ơn. Hỏng phải như quân trường táo bón thấy súng dính bụi là phạt.
Cái thú vị là được ngồi ăn một mình để chiêm ngưỡng những binh sĩ hùng dũng của đủ binh chủng Mỹ và đồng minh. Lòng mình ấm lại và hạnh phúc khi một tiểu đội Lê Dương Pháp quen mặt đi hàng một vào. Chắc họ mới đi công tác dìa. Súng HK416 nòng ngắn đeo trước ngực chĩa xuống đất và áo giáp bó chẽn gồ ghề. Vài anh gật đầu chào. Có người đi ngang cụng cùi chỏ hello. Ở đây không bắt tay kiểu cổ điển long trọng, vì hai bàn tay phải cầm đồ chơi.
Mấy bàn kia thì có toán Biệt Kích Mỹ râu xồm mặc áo thun dân sự. Dưới bụng đeo khẩu Glock19 nhỏ xíu. Ngực của họ nở nang hai bắp tay rắn chắc, cùi chỏ xăm trổ sặc sỡ, mốt thời nay mà. Ngồi trong nhà bàn ngắm hình xăm của ba quân cũng đủ thích rồi. Giống như những tác phẩm hội họa.
Bộ quân phục của binh sĩ Ba Lan rất đẹp. Sẽ có ngày làm quen người anh em Ba Lan để xin một bộ mặc chơi. Binh sĩ Hòa Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Úc, Anh Quốc v.v… Mỗi quốc gia mỗi binh chủng có quân phục khác biệt, giáp nón chống đạn đủ kiểu, và đồ chơi thì đủ loại. Mỗi bữa ăn trong nhà bàn như là những buổi trình diễn thời trang của các Kinh Kha thời đại. Họ lực lưỡng hiên ngang mà lặng lẽ, chớ hỏng lu loa ẻo lả như người thành phố.
Nhiều lần muốn chụp hình các binh sĩ kiêu hùng này nhưng không thể vì họ có thể đang thi hành những công tác bí mật. Đưa điện thoại lên chụp là có thể an ninh đến rờ gáy và hỏi chú mày làm gián điệp cho China hả hic.

BÔNG LAU 01.08.2024

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

  1. Một tập tục khó quên: ngày xuân nghệ sĩ đi xem bói
    Năm nay Tết Ất Dậu 2005, trước Tết mấy ngày, vợ tôi thấy tôi loay hoay thu thanh tiếng gà trống gáy để cho gáy vào đêm giao thừa, bèn nói:
    – Em thấy anh lẩm cẩm rồi đó. Năm nào cũng tìm cách thu thanh tiếng con thú cầm tinh của năm đó với hy vọng là được may mắn; năm nay anh thu tiếng con gà gáy vì là năm Ất Dậu, năm sau 2006 anh phải đi kiếm thu thanh tiếng con chó sủa cho hợp với năm Bính Tuất 2006, rồi lại kiếm tiếng con heo kêu ột ột cho hợp với năm Đinh Hợi 2007. Mà khi tiếng con thú cầm tinh của năm đó kêu đúng vào giờ giao thừa, có phải đó là báo hiệu cho mình biết là sẽ có một năm may mắn thuận lợi, có đúng như vậy hay không?
    Tôi mỉm cười, trả lời:
    – Nhứt định như vậy rồi. Em có còn nhớ năm Canh Tý 1960, vừa đúng vào giờ giao thừa, khi có pháo nổ thì tiếng chuột kêu rúc rích, có một con chuột chạy từ ngoài trước sân vô nhà mình… Năm đó, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga hát khai trương tuồng Tình Xuân Muôn Tuổi của mình, tiền bản quyền mình thu vô ào ào. Hỏng phải là năm Canh Tý, chuột chạy vô nhà, báo hiệu cái điềm mình được phát tài hay sao?
    Vợ tôi không tin, bèn nói:
    – Năm Canh Tý 1960, đoàn hát hát tuồng của mình nên mới có tiền vô, còn nếu như đoàn hát hát tuồng của soạn giả khác thì dầu cho có cả trăm con chuột chạy vô nhà mình, mình cũng đâu thâu được tiền gì đâu. Với lại…
    Tôi hỏi:
    – Với lại gì nữa?
    – Với lại cái năm Nhâm Tý 1972, cũng năm con chuột, anh cũng thâu thanh và cho phát thanh trong nhà tiếng chuột kêu rúc rích…rúc rích, mà năm đó đoàn hát xất bất xang bang, mình chẳng thu được tiền bản quyền mà còn bị giựt hụi gần cả triệu đồng. Vậy thì hên ở chỗ nào đâu ?
    – Thì … thì tại cái năm mùa hè đỏ lửa… năm 1972, ai làm ăn cũng thất bát, chớ đâu phải chỉ có một mình mình thôi.
    Tôi biết là tôi cãi bướng vì cái chuyện tin dị đoan chẳng qua là một cách tự kỷ ám thị, mình tạo cho mình một hy vọng, một mơ ước trong khi biết rõ là mình không có khả năng đạt được mơ ước đó. Chỉ là cầu may thôi!
    Trong cuộc sống, ai cũng mang theo hành trang mơ ước, hy vọng và niềm tin để đi vào đời. Nếu không có mơ ước, không có hy vọng, chỉ bằng vào khả năng của mình để có niềm tin thì khả năng của tôi không có nhiều, tôi tin tôi được sao? Bởi vậy nhiều khi mình không biết nên hy vọng vào đâu nên mới phải nhờ mấy ông thầy bói, bói mò để mấy ổng cho mình một chút hy vọng. Đó là tâm lý của tôi, của các bạn nghệ sĩ đồng nghiệp với tôi, vậy nên năm nào vào dịp cuối năm và đầu xuân, chúng tôi cũng rủ nhau đi lăng Ông Bà Chiểu để cúng kiến cầu phước, đi hái lộc cầu may và xin xăm, coi bói để đoán hậu vận tương lai.
    Nói tới Lăng Ông Bà Chiểu thì dân Saigon, Chợ Lớn, Gia Định ai cũng biết đó là ngôi mộ cổ, nơi an nghỉ cuối cùng của Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia Định Thành, khai quốc công thần của Thế Tổ Cao Hoàng đế Gia Long. Bên cạnh mộ Ông là mộ Bà, phu nhân quan Tả quân, bà tên tộc là Đỗ Thị Phấn.
    Tôi còn nhớ khuôn viên nơi Lăng Ông tọa lạc thật là lớn rộng, nằm giữa bốn con đường : mặt tiền hướng Nam là đường Vũ Tùng, mặt hậu hướng Bắc là đường Phan Đăng Lưu, phía trái hướng Tây là đường Đinh Tiên Hoàng, phía phải hướng Đông là đường Trịnh Hoài Đức.
    Trên cổng tam quan có đề chữ “Thượng công Miếu”, trong khuôn viên có nhiều cây cổ thụ, đặc biệt có một số cây thốt nốt trồng tự lâu đời. Phía trái là khu cổ mộ, nơi an táng hài cốt của hai ông bà Tả Quân, phía trong là đền thờ kiến trúc theo kiểu Á Đông, trên nóc có rồng chầu phụng múa, sơn son thiếp vàng. Chính điện thờ bức đồ tượng của Tả Quân, mặc đại bào triều phục, dáng người thấp nhỏ, đứng tuổi nhưng không có râu, đôi mắt sáng tinh anh. Khác với những ngôi đình thờ thần hoàng bổn cảnh ở Saigon hay các tỉnh là trong miếu thờ Tả Quân không có sắc phong của triều đình.
    Theo sử sách thì sau khi Tổng Trấn Gia Định Thành tạ thế (năm 1832) vua Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng Trấn, lập ra sáu tỉnh ở phương Nam, bổ nhiệm cho Nguyễn Văn Quế làm tỉnh trưởng Gia Định, Bạch Xuân Nguyên làm Bố chánh và Nguyễn Chương Đạt làm giám sát.
    Vừa mới nhậm chức, Bạch Xuân Nguyên phao tin là nhận mật chỉ của vua tra xét mọi việc hà lạm của cố Tổng Trấn. Bạch Xuân Nguyên tịch thu gia sản, bắt giam Lê Văn Khôi, con nuôi và cũng là cận tướng tin cẩn nhất của Lê Văn Duyệt.
    Lê Văn Khôi sau đó vượt ngục, chiêu tập những người trung thành với cố Tổng Trấn nổi loạn, chiếm cứ thành Phan An, giết cả gia đình của Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Văn Quế.
    Ba năm sau triều đình mới dẹp được loạn ngụy Khôi. Vua Minh Mạng kết tội Lê Văn Duyệt liên can với giặc, lẽ ra phải quật mồ phân thây, nhưng xét vì có công dựng nước với Tiên vương nên mới ra lệnh xiềng mả.
    Đến đời vua Tự Đức mới xóa bỏ án cũ, phá bỏ xiềng xích. Vì vậy, Thượng-công Lê Văn Duyệt không được ban sắc phong thần của triều đình như các bậc công thần khác.
    Người dân Gia Định có lòng kính yêu đối với Lê Tổng-trấn, thờ phượng người như một thượng đẳng linh thần, đặc biệt người Trung Hoa đến chiêm bái đông nhất. Họ tin tưởng sự linh hiển của Lê Thượng-công như họ đã sùng kính Quan Đế Thánh Quân của họ. Khách chiêm ngưỡng dâng cúng rất nhiều tiền bạc, của cải nên đền thờ luôn luôn được trùng tu, chăm sóc, mỗi ngày thêm bề thế nguy nga hơn.
    Đến ngày giỗ đức Lê Thượng-công (từ mùng 1 đến mùng 3 tháng 8 âm lịch), khi cúng Kỳ Yên và ba ngày Tết thì Hội Thượng-công qui tế tổ chức cúng rất trọng thể, có rước Ban hát bội tới diễn ba xuất hát San Hậu. Đó là vở tuồng mà khi còn sinh tiền Thượng-công thích nhất vì ngài coi như gởi gấm tâm tình mình qua nhân vật thái giám Tử Trình. Nghệ sĩ hát bội nào được hát “cúng Ông” rất lấy làm vinh dự nên hết sức nghiêm túc khi trình diễn. Họ tin là hát hay để “hầu Ông” là sẽ được Ông ban cho mọi điều may mắn và sẽ thành đạt hơn trong nghề hát.
    Diễn viên nào lơ là, chểnh mảng, sơ suất sẽ bị Ông quở, sau đó sẽ “xuống nghề”, “mất duyên sân khấu”.
    Nghệ sĩ cải lương không có dịp hát hầu Ông nhưng được nghỉ hát từ 25 Tết cho đến hết đêm 30 nên năm nào chúng tôi cũng rủ nhau đi cúng Ông như các khách thập phương khác để xin xăm, hái lộc hoặc bói quẻ.
    Còn nhớ đêm ba mươi Tết năm 1972 (Nhâm Tý), Kiên Giang, Hà Triều, và vài nghệ sĩ ở chung đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga đến thăm tôi, chúc Tết và ăn nhậu trong đêm trừ tịch.
    Tôi đã rời đoàn hát Thanh Minh, qua làm việc cho đoàn hát Dạ Lý Hương của Bầu Xuân; Hà Triều thì đưa tuồng hát cho đoàn Kim Chung và Kiên Giang vẫn còn làm cho đoàn Dạ Minh Châu tức là đoàn Thanh Minh 2. Tuy mỗi người ở một đoàn hát khác nhau nhưng chúng tôi vẫn thường gặp nhau và các bạn thường kéo lại nhà tôi để ăn nhậu vì vợ tôi hiếu khách và nấu mấy món đồ ăn nhậu rất ngon.
    Sau khi no nê và hơi say say, chúng tôi rủ nhau đi hái lộc và cúng Ông, xin xăm ở Lăng Ông Bà Chiểu. Ba tên soạn giả chúng tôi gởi xe vespa trong khuôn viên của các gia đình nghệ sĩ gánh hát Phước Chung ở dưới gốc cầu Bông rồi thả bộ đi về hướng Lăng Ông.
    Người đi đường và xe cộ quá đông, quá ồn ào náo nhiệt.
    Chúng tôi phải chen lấn khó nhọc lắm mới vô được trong hàng rào của Lăng Ông, vô được tới chánh điện rồi thì mồ hôi ướt áo, cả ba chúng tôi khấn nguyện và xin xăm.
    Hà Triều cầm ống xăm, lắc thật lâu, thấy không rớt ra cây xăm nào bèn thò tay rút đại một cây xăm. Kiên Giang thì lắc ống xăm quá mạnh, khi xăm rớt ra thì rớt năm bảy cây một lượt. Anh ta làm đi làm lại mấy lần đều như vậy, cuối cùng cũng lấy đại một cây xăm cho mình và lượm một cây xăm khác đưa cho tôi.
    Đến khi xin keo thì năm lần bảy lượt keo nào cũng hoặc sấp hết, hoặc ngửa hết, tôi nói:
    – Tụi bây rút đại một cây xăm thì đâu phải là Ông cho cây xâm đó nên xin keo hoài hỏng được. Bây giờ tụi mình trở vô vái lạy, xin xăm lại lần nữa thử coi sao.
    Hà Triều nói:
    – Bây giờ mà lại chen vô tới chánh điện thì cũng đủ mệt xỉu chết trước khi được Ông cho một cây xăm khác. Thôi, mình đã có lòng thành tới cúng Ông, xin xăm được thì tốt, không được thì ra về cũng yên bụng. Cứ tin là năm nay mình gặp may mắn là sẽ hên suốt năm. Mấy anh tin tôi đi, mấy lần trước đi cá ngựa, tôi xin được cây xăm thượng thượng, vậy mà con ngựa Tô Điền Sơn của tôi cứ chạy thua hoài. Thua sạch túi. Tôi bán con Tô Điền Sơn rồi, gặp Lê Khanh, tôi mượn tiền đi cá độ thử, tôi nói bữa nay hên…
    Tôi chận lại hỏi:
    – Sao mầy biết bữa đó mầy hên?
    – Thì thằng cha Lê Khanh có đời nào mà có tiền dư để cho ai mượn, vậy mà tôi hỏi một tiếng, thằng chả đưa tôi mượn năm trăm đồng, hỏng phải bữa đó tôi hên sao?
    Kiên Giang hỏi:
    – Hên sao? Hên là thua kỳ nầy, khỏi phải trả nợ cho Lê Khanh hả?
    – Bậy! Kỳ đó tôi ăn gần hai chục ngàn. Lúc đó tôi vái thầm trong bụng, vậy mà Ông độ, tôi trúng lớn. Bởi vậy, bữa nay mình cúng vái rồi, cứ yên chí ra về, nhứt định năm nay tụi mình hốt bạc ào ào cho mà coi…
    Khói nhang mù mịt tới khó thở, người đi cúng đốt giấy tiền vàng bạc, lửa cháy phừng phực, thật nóng nực, tôi bèn rủ Kiên Giang và Hà Triều đi về phía cổng hậu của Lăng Ông là ra hướng đường Phan Đăng Lưu để ra chợ Bà Chiểu. Nhưng ra tới đường, thấy dọc theo hàng rào có nhiều bàn của các ông thầy bói, Kiên Giang gợi ý là đi đến Lăng Ông, không xin xăm được thì cũng thử xem bói coi năm tới vận hạn ra sao.
    Chúng tôi tới trước bàn của một ông thầy bói có một tấm bảng lớn đề mấy chữ: Bói Quẻ Khổng Minh. Dưới hàng chữ đó có vẽ hình bùa bát quái màu đỏ và mấy chữ viết theo kiểu chữ triện: Gia Cát Võ Hầu Linh Cảm Thần Quái.
    Kiên Giang lại ngồi xuống, tôi và Hà Triều ngồi hai bên.
    Kiên Giang nói:
    -Anh Nguyễn Phương lớn tuổi nhất, anh lắc mu rùa xin quẻ trước đi.
    Tôi biểu Kiên Giang coi bói trước; Kiên Giang lại bảo Hà Triều.
    Tôi thấy ngày Tết người ta đi xin xăm bói quẻ nhiều, không muốn cản trở công việc làm ăn của ông thầy bói nên nói:
    -Được rồi. Tao coi bói trước. Nếu ổng bói trúng thì tụi bây coi sau.
    Tôi do dự một chút nhưng rồi cũng theo lời ông thấy bói, cầm cái mu rùa và bỏ vô năm đồng tiền điếu, đưa lên trán thầm khấn xin ông Khổng Minh Gia Cát báo cho biết vận hạn của tôi năm mới ra sao? Khấn vái xong, tôi lắc mu rùa lâu lâu rồi đổ năm đồng tiền xuống cái đĩa để trước mặt ông thầy bói. Tôi thấy ông sắp hàng dọc mấy đồng tiền điếu, xem kỹ rồi nói:
    – Đồng tiền thứ hai và thứ tư sấp, ba ngửa, quẻ Đắc lộc, Thượng Cát..
    Ông Thầy Bói ngồi trầm ngâm, ngó chúng tôi. Kiên Giang hỏi:
    – Đắc lộc, Thượng Cát là sao, ông thầy hỏng giải cho chúng tôi biết?
    – Năm mươi đồng một quẻ, xin quí thầy đặt tiền quẻ thì tôi mới “bàn” cho mấy thầy nghe…
    Hà Triều nói:
    -Thôi đi! Chưa bói đã thấy thua năm chục rồi, tụi mình đi…
    “Nè, mấy ông nghĩ sao nếu khán giả vô coi hát cọp?” Ông thầy bói hỏi một câu… nghe “xanh dờn”.
    “Ông có biết tụi tui là ai không mà ông nói như vậy?” Hà Triều cho là ông thầy bói ám chỉ là anh đi coi bói cọp nên gay gắt hỏi lại.
    – Đặt tiền quẻ đi, tôi không đoán trúng mấy ông là ai thì tôi không lấy tiền quẻ mà còn đãi mấy ông một chầu bia nữa. Đặt tiền quẻ đi!
    Chúng tôi thấy ông thầy bói nầy lạ hoắc và chúng tôi thì mỗi năm chỉ tới Lăng Ông có một lần vào dịp Tết. Chưa lần nào xem bói thì làm sao mà ông thầy bói nầy biết chúng tôi là ai? Hỏng lẽ tôi mới rờ cái mu rùa mà ông biết được tôi là ai sao và đoán ra những người cùng đi với tôi? Rõ ràng là thầy bói nói mò…
    – Được rồi! Năm chục thì năm chục… Tiền đây, ông nói nghe coi, chúng tôi là ai?
    Tôi để năm chục đồng tiền quẻ trên cái dĩa trước mặt ông, ông lấy tiền, xếp lại đút vô túi cẩn thận rồi cười mím chi, nói:
    – Cám ơn ông soạn giả Nguyễn Phương. Hai ông đây là soạn giả Kiên Giang và soạn giả Hà Triều. Đúng hông? Tôi bói tên ba ông đúng hông?
    Cả ba chúng tôi kinh ngạc, thầm phục ông thầy bói, chắc là ông có “nhâm độn” hay “ngải nói” chi đây. Chưa khai tên khai tuổi, vậy mà tôi mới rờ mu rùa, đặt tiền quẻ năm chục đồng là ông đã bói trúng tên chúng tôi rồi. Vậy là phen nầy chúng tôi nhờ ông bói cho biết họa phước ra sao thì cũng đáng đồng tiền lắm!
    Ông thầy bói nói tiếp:
    – Quẻ của ông Nguyễn Phương xin là quẻ Đắc Lộc, Thượng Cát:
    Cao danh cư lộc vị,
    Long diễu đắc đào sinh,
    Xuất nhập đa tài bửu,
    Cánh nghi khứ viễn hành.
    Cầu mưu toại ý hữu dinh sinh,
    Xuất lộ vinh hoa, nghi viện hành
    Gio trạch an ninh đa cát khánh
    Nhân cơ hưng vượng, vật tăng sinh.
    Giải:
    Cầu quan được địa vị, xuất hành tốt, đi xa nhiều tài lộc.
    Mưu việc thành đạt, kiện tụng nên hòa. Tìm người thì gặp, của thất lạc tìm lại được, hôn nhơn thành tựu, có thai sinh trai, gia trạch yên ổn.
    Kiên Giang lại xoa bụng tôi, tôi xô anh ra, cằn nhằn: “Làm gì xoa bụng tôi?”
    Kiên Giang cười hề hề, nói:
    – Ông thầy bói nói là có thai sinh trai, tôi rờ thử bụng anh coi anh có thai hay không vậy mà.
    Ông thầy bói nói:
    – Quẻ bói là chung cho Nam lẫn Nữ. Ông không có thai thì bà có thai. Hai ông bà già hết rồi, không thai nghén được nữa thì con dâu, con gái có thai, nghĩa là không có con thì thôi mà hễ có con thì là con trai, cháu nội trai. Thôi, các ông có vẻ không tin quẻ Khổng Minh. Vậy thì các ông viết cho tôi mỗi ông một chữ, tôi sẽ chiết tự, đoán vận mạng cho các ông.
    “Vậy thì tôi viết trước!” Kiên Giang lấy viết và giấy trên bàn của ông thầy bói, viết một chữ NỢ, rồi anh ta gạch tréo trên chữ Nợ và nói: “Tôi muốn xóa nợ. Đó ông thầy bói đi.”
    Ông thầy bói ngồi rung đùi cười ruồi, tôi hiểu ý ông ta nên nói:
    – Ông đoán đi, tôi đặt tiền quẻ luôn cho ông đoán ba chữ ký đây.
    Tôi lấy ra thêm ba tờ năm chục đồng đặt trên đĩa trước mặt, ông thầy bói lấy một trăm đồng thôi, ông trả lại cho tôi năm chục:
    – Phần của ông, tôi đã lấy lúc nãy, tôi đoán chữ ký cho ông, miễn phí. Hai ông viết luôn cho hai chữ rồi tôi đoán luôn một thể.
    Hà Triều lấy giấy viết, suy nghĩ hơi lâu để tìm một chữ gì đó để hy vọng làm khó dễ ông thầy bói nhưng rồi Hà Triều cũng viết một chữ NỢ xong khoanh tròn chữ Nợ chứ không gạch tréo như chữ Nợ của Kiên Giang. Hà Triều cười, nói: “Tôi khoanh vùng, không cho nợ nữa.”
    Đến phiên tôi, tôi gò chữ viết một chữ NỢ thật đẹp, không gạch, không khoanh tròn, không cả dấu chấm sau chữ nợ.
    Ông thầy bói cầm ba chữ Nợ, ngó ngang, ngó dọc của từng chữ, rồi lấy thước đo chiều cao của nét chữ, chiều ngang, lấy tay mằn mằn theo từng nét chữ, rất trịnh trọng.
    Tôi theo dõi và thầm nghĩ là thằng cha nầy đang tìm cách nói dóc sao cho thật hay đây.
    Hà Triều cười:
    – Ông chiết tự mà đoán trúng tương lai hậu vận của tôi, tôi xin bái ông làm sư phụ để xin theo học nghề bói toán.
    Ông thầy bói lấy ngón tay trỏ, gõ nhẹ nhẹ lên chữ Nợ có gạch tréo ngang của Kiên Giang rồi nói:
    – Ông gạch tréo để xóa chữ Nợ, ý muốn xóa nợ, hết mang nợ, nhưng theo nét chữ và cách gạch tréo của ông thì cái gạch tréo nầy là cái dấu Nhơn, y như dấu nhơn trong bốn phép tính. Vậy có nghĩa là đời của ông sẽ không bao giờ dư dã, ông sẽ nhơn lên số nợ của ông hoài cho đến ngày cuối đời. Lúc nào cũng mang nợ. Nợ sanh lời, đẻ ra nợ, hết chuyện tai nạn nầy tới chuyện trục trặc khác làm cho ông phải mang nợ và nợ, nợ sẽ nhơn lên thành nhiều nợ…
    Kiên Giang không phản đối, thở ra một hơi dài như cam chịu cái phần số long đong, nghèo mạt rệp của anh.
    Không khí của cuộc bói toán trở thành nghiêm trang, Hà Triều cũng lo lắng ra mặt, không còn có giọng cợt đùa không tin tưởng ông thầy bói như lúc nãy.
    Ông thầy bói lại lấy ngón tay trỏ khỏ khỏ lên chữ Nợ có khoanh tròn của Hà Triều, ông có vẻ do dự chưa muốn nói thật ra nhưng Hà Triều thúc dục: “Ông đoán đi, cứ nói đi, tôi không phiền giận gì nếu ông đoán là vận mạng của tôi xấu”
    – Vậy thì tôi cho ông biết là ông khoanh tròn cái chữ Nợ nầy, không phải là ông ngăn không cho cái nợ nó lan tràn ra nữa mà là chữ nợ khoanh tròn nầy báo hiệu là ông sẽ hết Nợ Văn Chương. Tôi chưa đoán được chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng ông sẽ không viết tuồng được nữa, hoặc tuồng của ông viết ra thì không được xử dụng, số mạng của những tác phẩm sau nầy của ông bị khoanh vùng rồi, và tôi nói ông đừng buồn, sanh mạng của ông cũng không thọ, có nghĩa là ông cũng hết Nợ Đời sớm hơn hai ông nầy.
    Hà Triều lúc nầy mới thật sự lo sợ, anh ta ngập ngừng hỏi: “Ông thầy coi có cách nào để giúp tôi xóa đi cái vận hạn xấu nầy không? Hay là để tôi viết chữ khác để ông thầy đoán lại, coi tôi có một cơ may nào không?”
    Ông thầy bói lắc đầu: “Mỗi người có một phần số, đâu phải muốn thay đổi là thay đổi được dễ dàng. Tôi hy vọng là tôi coi chưa tới, tôi đoán sai, không thấy được Triệt đóng ngay khung tiểu hạn của ông để mà hóa giải những tai nạn vận đen cho ông. Phải coi tử vi, đúng ngày sanh, giờ sanh thì mới dám quyết đoán.”
    Ông thầy bói lại lấy chữ Nợ của tôi gò viết chữ cho đẹp lúc nãy, ông cũng lấy ngón tay trỏ gõ gõ lên chữ Nợ, nhìn kỹ, đưa lên nghiêng qua nghiêng lại trước ánh đèn cóc mù mờ, tôi nghe tim tôi đập mạnh như bị ông thầy bói khỏ khỏ lên trái tim của tôi, tôi nói:
    – Dạ thưa thầy, thôi đi, tại tôi thấy hai anh nầy viết chữ Nợ, tôi bèn viết theo, chứ thật trong thâm tâm của tôi, tôi không hề nghĩ tới việc viết một chữ Nợ. Thầy khỏi đoán nữa…
    Ông thầy bói dường như không nghe lời nói của tôi, ông tiếp tục nói theo dòng suy tư của ông: “Viết cái chữ Nợ một cách gò gẫm như vầy, đẹp như vầy là nói lên cái số của ông còn nặng nợ văn chương, như con tằm phải trả nợ dâu, ông còn phải trả nợ văn chương cho tới quá chín mươi tuổi, ông còn nợ cháu nội, cháu ngoại, còn nặng nợ giúp đỡ bạn bè. Viết gò gẫm một chữ Nợ có nghĩa là ông tự nguyện mang cái nợ văn chương, mang cái nợ nuôi con cháu và giúp đỡ bạn bè và cái số của ông là về già ông được sung sướng, thong dong và có lẽ nhờ cái vận số của ông lúc nào cũng được may mắn, phong lưu nên ông giúp người ta một cách dễ dàng. Ống trả nợ nhưng thật ra là ông cho người ta mượn nợ kiếp nầy để kiếp sau họ trả lại cho ông.”
    Ông ta nói tốt cho tôi, trong bụng tôi cũng vui vui nhưng tôi nghĩ là vì tôi mau chóng đặt tiền quẻ, ông bói tốt cho tôi, còn Hà Triều và Kiên Giang thì cợt đùa, có vẻ không tin việc bói toán nên ông ta bày đặt chuyện, nói dọa hù cho hai anh chàng lo sợ.
    Trước khi đi chợ Bà Chiểu, tôi chợt nhớ một thắc mắc nên hỏi ông thầy bói:
    – Tại sao chúng tôi chưa nói tên tuổi của mình mà ông đoán biết trúng ngay phong phóc vậy?
    Ông thầy bói cười nói:
    – Vì các ông khi nói chuyện với nhau trước khi xem bói, người nầy gọi tên người kia. Ba cái tên Nguyễn Phương, Kiên Giang, Hà Triều thì tôi nghe các tuồng dĩa cải lương của các ông soạn, tôi nghe giới thiệu hoài, tuy tôi chưa biết mặt nhưng tôi đã nghe danh ba ông. Vậy nên khi các ông tới bói, vô tình gọi tên nhau là tôi biết, chớ có gì là lạ?
    À ra là vậy! Chúng tôi tiếp tục đi chợ Tết, mua bông mai, ít trà mứt mà trong lòng không mấy vui. Tôi được bói tốt nên an ủi hai bạn:
    – Chúng mình là soạn giả, chuyên môn đặt chuyện nói dóc thành ra tuồng tích, vậy mà nghe một ông thầy bói bói mò, lại tin tới nỗi lo sợ mất vui. Bói ra ma, quét nhà ra rác, tụi mình quên chuyện nầy đi.
    Hà Triều và Kiên Giang bỗng phá ra cười to lên, Hà Triều nói:
    – Hồi nãy có một thằng nhỏ đốt một phong pháo, quăng vô gần cái bàn của ông thầy bói. Nguyễn Phương có thấy là Kiên Giang thì chúi đầu vô né, tôi thì chới với, vói tay chụp cái bàn. Nguyễn Phương đá phong pháo ra ngoài xa, còn ông thây bói thì cầm cái đèn cóc lên vì ổng sợ ngã cái đèn, dầu chảy ra, cháy đồ nghề bói toán của ông ta. Nhớ chưa?
    – Nhớ! Rồi sao?
    – Lúc đó tôi nhanh tay chớp cuốn sách bói, ông ta không hay biết là đã mất cuốn sách kiếm cơm nầy. Qua mùng ba, mình đem lại trả cho ổng, nói là khi pháo nổ, bàn bói của ổng bị xô lệch, sách rớt xuống đất, mình lượm, coi lại thì mới biết là sách bói.. (Hà Triều đưa ra cuốn sách bói mỏng, nhỏ như loại sách bỏ túi) cuốn Bói quẻ Khổng Minh, Tết nầy tụi mình vô thăm bà Bầu Thơ trong rạp hát Thủ Đô, tôi mở một cái quán lốc cốc tử, coi bói cho Thanh Nga, cho Bà Bầu và mấy bạn nghệ sĩ chơi.
    Tôi bảo đem trả đi vì đồ nghề kiếm cơm của người ta, lấy đi rồi người ta làm sao làm ăn? Nhưng Kiên Giang nói ông ta đã thuộc nằm lòng, có sách bói hay mất sách cũng chẳng có ảnh hưởng gì hết
    Ngày mùng ba Tết năm đó, tôi vô rạp hát Thủ Đô, chúc Tết bà Bầu Thơ, thăm các bạn nghệ sĩ đoàn Dạ Minh Châu (tức Thanh Minh 2), tôi thấy Hà Triều ngồi bịt khăn đỏ ngang trán, vẽ râu ngạnh trê, Kiên Giang mặc áo thụng xanh (mượn trong đồ hát của bà giữ đồ hội của đoàn). Cả hai giả hai ông thầy bói lốc cốc tử, một cái nắp hộp phấn có dán hình một con rùa, úp trên đĩa thay cho cái mu rùa, các nghệ sĩ bu lại coi bói thiệt là vui.
    Tôi nghe Hà Triều ê a đọc lớn:
    – Quẻ của cô Thanh Nga… Phúc Lộc, Thượng Thượng:
    Phúc Lộc đắc an khang,
    Vinh hoa bảo tiến xương
    Bách sự toại tâm ý
    Thiên lý cộng hình hương.
    Gia môn an thái sinh hân khí
    Xuất ngoại kinh doanh lợi tức tăng
    Tai khứ phúc lai quang thái ánh,
    Cầu mưu tất sự vĩ cao thăng.
    Hà Triều giải nghĩa bài quẻ bói kể trên chắc là đúng theo ý của cô Thanh Nga nên tôi thấy cô gật đầu dạ, dạ, vẻ mặt rất vui.
    Nghệ sĩ Minh Điển xưa nay không tin dị đoan, thấy vui vui cũng cầm mu rùa dỏm lên xá xá, rồi xổ mấy đồng bạc cắc, thầy rùa Hà Triều xếp xếp mấy đồng sấp, ngửa, hô to:
    – Quẻ An Tĩnh, Hạ Trung.
    Nói xong, ông thầy bói dởm mở sách ra ngâm nga:
    Tâm tư đa bất định,
    Cầu mưu vị đắc thánh
    Nhẫn nại phương vi phúc
    Thủ phận miễn tại tinh
    Khuyến quân vi thiện mạc hành tà
    Vạn khoảnh tâm điền thường tự ma
    Phụ mẫu đường từ tu hiếu kính
    Chiêu nhiên thiên lý phúc nguyên ha.
    Minh Điển hỏi:
    – Ông thầy rùa giải nghĩa mấy câu chữ nho coi nói gì. Ống đọc khơi khơi như vậy thì làm sao mà tôi hiểu?
    Hà Triều nói lớn: “Thiên cơ bất khả lậu. (xong anh ta rỉ tai Minh Điển) Tôi còn không hiểu thì anh biểu tôi giải nghĩa làm sao được mà giải?”
    Bên hành lang hậu trường sân khấu trang trí đón Xuân rất đẹp, cũng có hoa mai, nhiều chậu cúc… một bàn dài để nước ngọt, rượu bia, bánh mứt và trái cây đãi khách và nghệ sĩ các đoàn khác đến chơi, không khí rất là vui; các nghệ sĩ của đoàn, ai có vai hát, tới lớp thì chạy ra sân khấu hát, ai chưa tới lớp vô chúc tết, coi bói, binh xập xám.
    Viễn Châu và Nguyễn Ang Ca tới chúc Tết bà Bầu Thơ, thấy Kiên Giang và Hà Triều hóa trang làm mấy ông thầy bói, Viễn Châu cũng cao hứng, vô bà Sáu đồ hội, mượn một áo thụng xanh, khăn đóng, ra ngồi coi bói cho nghệ sĩ.
    Nữ nghệ sĩ Lệ Thủy tới coi bói, đặt tiền quẻ đàng hoàng. Viễn Châu đốt nhang, hô úm ba la một hồi, thần bút xuống cơ cho mấy câu thơ:
    “Cô bán trầu xanh” thật dễ thương
    Giọng ca lảnh lót ngọt như đường
    Thanh thanh dáng nhỏ, người tha thướt
    Xuân đến càng thêm đượm sắc hương.
    Nữ nghệ sĩ Hồng Nga lại vái chào ông thầy bói, Kiên Giang vội nói: “Lần nầy để cho tôi bói. Hồng Nga, lại rờ cái mu…cái mu..” Kiên Giang cười tới té sặc, cà lăm không nói được.
    Hồng Nga tức: “Ông thầy nói tầm bậy, tôi cắt cái lưỡi của ông đó”.
    – Xin lỗi… Tại tụi nó chọc, tao cà lăm… tao là tía của mầy, tao nói bậy cho Tổ vật tao chết đi.
    Hồng Nga lại bụm họng Kiên Giang: “Nói chơi với ông thầy, đừng có thề, Tổ vật ông thiệt à nghen!”
    Kiên Giang viết mấy câu thơ, ngâm lớn cho mọi người nghe:
    – Hồng Nga cười cũng giỏi mà khóc cũng hay. Bi, Hài đều số một. Bộc trực, ngay thẳng, tánh tình sòng phẳng. Nhưng cũng có đôi lúc bốc đồng cũng dám giở ngón Ka ra tê giằn mặt đối phương. Vậy có thơ rằng:
    Khán giả khen em sắc vẫn tươi,
    Dạ thưa:
    Em mới quá năm mươi!
    Quà xuân xin tặng người tri kỷ,
    Nhận ở Hồng Nga một tiếng cười.
    Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc tròn như hột mít, từ ngoài chạy vô la: “Tới phiên em… Tới em…”
    Ông thầy bói Viễn Châu đọc to lên:
    – Kim Ngọc, Vàng và ngọc.
    Cuộc sống có được hai thứ đó đúng là quá lý tưởng.
    Chưa thấy mặt đã nghe tiếng cười, vậy có thơ rằng:
    Hồi Dạ Lý Hương vẫn ốm teo,
    Mai Đình cô gái ở quê nghèo
    Từ ngày đi tấu hài đây đó,
    Nặng ký nhưng mà hổng có eo!.
    Cái Tết năm Nhâm Tý đó vui thật là vui, đầu năm thì gánh hát nào cũng đông nghẹt khách, nhưng khi có chiến dịch Hạ Lào xảy ra thì cuộc sống của giới nghệ sĩ sân khấu trở nên khó khăn hơn; các gánh hát làm ăn thất bát, nghệ sĩ túng thiếu, vay nợ như chúa chổm.
    Kiên Giang thì năm nầy mắc nợ cho tới phải bán nhà, đi ở nhờ hết ở nhà của người bạn nầy rồi dời đi ở nhờ với người bạn khác.
    Hà Triều thì bặt vô âm tín, anh không viết được tuồng nào nữa. Mãi cho tới sau 1975…, đến năm 2003, anh Hà Triều cũng không có được một vở tuồng nào cho ra hồn. Phải chăng là lời bói chiết tự của ông thầy bói quá đúng?
    Mùa Xuân Ât Dậu 2005 nầy, tôi bỗng nhớ lại chuyện ngày Tết đi Lăng Ông, bói quẻ đầu xuân. Lời tiên tri của ông thầy bói ám ảnh tôi nhiều năm dài. Bây giờ tôi bỗng nhiên tin là ông ta đoán trúng, vì cho tới mãi năm 2004 vừa qua, tôi vẫn được tin của Kiên Giang là gần ba mươi năm qua, lúc nào anh ta cũng mắc nợ. Và Hà Triều thì đúng là hết nợ văn chương, hết nợ đời. Và riêng Nguyễn Phương tôi thì đã đi quá cái ngưỡng cửa tám mươi tuổi, tôi vẫn còn nặng nợ văn chương.
    Bạn bè ở Mộng Lệ An năm nay rủ tôi đi bói quẻ đầu Xuân, tôi không dám đi. Thà như không biết, thà như không nghe nói trước, vì có câu tục ngữ:
    Thừa tiền thì đem mà cho,
    Đừng có xem bói thêm lo vào mình.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

  1. Ngày xuân nói chuyện đời xưa…ngậm ngải tìm trầm
    Mùa Xuân Ất Dậu 2005, cái Tết con Gà năm nay sao mà bầu trời rơi quá nhiều tuyết. Tôi có trồng một cây mai vàng trong nhà đã tám năm rồi, năm nay cây mai trổ nhiều bông đúng vào mấy ngày Tết, trong bụng tôi chỉ vui vui một chút thôi, vì ngoài cây mai vàng với vài chục chùm bông nhỏ màu vàng chanh đó ra thì tôi nhìn quanh, tôi không thấy có một chút xíu nào hương vị Tết của mình, mặc dầu trong nhà vợ tôi cũng chưng dọn như kiểu đón Xuân ngày xưa ở quê hương.
    Không có tia nắng ấm… không có làn gió xuân se lạnh, không có tiếng chim, không pháo nổ, không có cả những em bé xúng xính trong những bộ quần áo mới, tung tăng rủ nhau đi mừng tuổi cha mẹ để hưởng một gói tiền lì xì…
    Sáng sớm ngày mùng một Tết, sau khi cúng kiếng ông bà, tôi quyết định xuất hành ngày đầu Xuân.
    Hồi xưa ở Việt Nam, Tết nào tôi cũng coi giờ, coi hướng cẩn thận mới xuất hành đầu xuân. Từ khi tôi qua định cư ở Canada tới nay, hướng xuất hành của tôi năm nào cũng là hướng tới Côte des Neiges để gặp các ông bạn già, và giờ xuất hành là tùy theo giờ của chiếc bus chạy tới trạm trước nhà của tôi. Ra đúng giờ gặp xe bus tới thì sẽ đỡ khỏi phải chịu lạnh vì đợi xe. Tôi nghiệm ra rằng hướng xuất hành và giờ xuất hành như tôi đã tuân theo cả chục năm qua là hướng tốt và giờ tốt, vì mỗi năm khi tôi xuất hành đúng giờ, đúng hướng đó thì tài lộc vô cho tôi đều đều mỗi tháng, tiền “của bề trên tỉnh bang Québec” rót hàng tháng, đúng ngày quy định giúp cho tôi được an hưởng tuổi già.
    Tôi cũng chợt nhớ ra rằng hơn 15 năm định cư, tôi không có tốn tiền cho mấy ông thầy bói để nhờ chỉ hướng và giờ xuất hành trong mấy ngày Tết.
    Ngày Tết ta ở Mộng Lệ An không có chút xíu nào hương vị của Tết Việt Nam, mặc dầu các Hội đoàn cũng có tổ chức đón xuân, có ra báo xuân và các cửa hàng thực phẩm đều có bán bánh mứt, hoa quả để dân Canadiens gốc Việt mình mua về dùng trong các cuộc lễ cúng đưa rước ông Táo, đưa rước Ông Bà trong ba ngày tết.
    Có lẽ ta chỉ cảm giác là đã tới Tết rồi khi bạn bè gặp nhau thì câu chào hỏi quen miệng là: Năm mới, chúc anh vạn sự như ý!
    Tôi đến Câu lạc bộ người Cao Niên ở Côte des Neiges uống trà đón xuân với các ông bạn già. Hôm đó tuyết rơi nhiều, hoa tuyết nặng hạt bay cuồn cuộn mù mịt cả bầu trời. Chúng tôi ngồi trong phòng sưởi ấm, nhìn qua khung cửa thấy cả một khoảng không gian màu trắng đục dật dờ lay động theo từng mảng tuyết bay.
    Một ông bạn già, hớp một ngụm trà nóng, nói :
    – Ở xứ người, trong những mùa xuân đầy tuyết giá, được ngồi chuyện trò vui vẻ với các bạn đồng hương, tôi chợt nhớ hai câu thơ:
    Hỉ đắc thiên nhai tri kỷ cộng
    Tận tâm thù đáp thánh ân triêm.
    Nguyễn Phương có biết hai câu thơ nầy ở trong bài thơ nào không? Và tác giả là ai?
    Tôi không phải là một học giả chuyên nghiên cứu thơ mà cũng không phải là một nhà chuyên sưu tầm văn học nên tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Tôi nói:
    – Có thể hiểu ý thơ, nghĩa của hai câu thơ đó chớ tôi không biết xuất xứ và tác giả. Hai câu thơ:
    “Hỉ đắc thiên nhai tri kỷ cộng
    Tận tâm thù đáp thánh ân triêm.”
    nghĩa là:
    Chân trời vui được cùng tri kỷ
    Đem hết lòng son báo thánh hoàng
    Câu dưới “Đem hết lòng son báo thánh hoàng” cho mình hiểu thơ nầy tác giả là một ông quan, trung thành với nhà Vua. Câu trên “Chân trời vui được cùng tri kỷ” thì mình có thể đoán là ông quan đó đi sứ, đến ngoại quốc, gặp lại bạn đồng hương, đồng tâm đồng chí nên mới cảm khái mà sáng tác ra hai câu thơ trên. Tôi chỉ căn cứ theo ý nghĩa của hai câu thơ mà đoán, còn muốn biết đích xác thì phải đi tra cứu nơi các sách vở xưa.
    Tôi im một chút rồi nói tiếp:
    – Mà nói thiệt, muốn tìm các điển tích văn học xưa, tôi thấy khó như chuyện ngậm ngải tìm trầm!
    Ông bạn của tôi bỗng phá ra cười:
    – Hai câu thơ kia chưa biết đích xác ai là tác giả, giờ lại thêm bốn tiếng Ngậm ngải tìm trầm! Vậy là sao? Ngậm ngải tìm trầm là sao?
    Nhân dịp xuân về, trong lòng tôi cũng hân hoan khi thấy các bạn thích nghe kể chuyện nên tôi thuật lại một chuyện đời xưa liên quan tới việc ngậm ngải tìm trầm.

Hồi năm 1963, đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga đang hát tại thành phố Nha Trang thì ở Saigon xảy ra cuộc đảo chánh ông Diệm. Tại Nha Trang ban đêm cũng có lịnh giới nghiêm. Các đơn vị Hải Quân, Trường huấn luyện Không quân ở tòa tỉnh trưởng, quân sĩ canh phòng cẩn mật, thái độ nghiêm túc, căng thẳng tưởng chừng như có thể sẽ xảy ra những cuộc chạm súng giữa phe đảo chánh và phe phản đảo chánh.
Bà Bầu Thơ biết là không thể đưa đoàn hát trở về Sàigòn trong lúc này, mà ở tại thành phố Nha Trang thì e cũng không yên nên quyết định dọn đi hát trong các quận nhỏ như ở Đồng Đế, Nha Trang Thành, quận Tuy Hòa hay Ninh Hòa, để đợi coi tình hình êm êm rồi sẽ trở về Saigon.
Lúc chúng tôi hát ở quận Ninh Hòa, một quận ly nhỏ ở ven rừng núi, dân cư thưa thớt, chúng tôi thấy dường như quân đội và dân chúng ở đây chẳng quan tâm gì đến những biến động chánh trị đang diễn ra sôi nổi ở Saigon.
Ông thiếu tá Sinh, quận trưởng Ninh Hòa, trước đây là bạn thân của hai anh Hoàng Giang và Việt Hùng. Khi đoàn Thanh Minh – Thanh Nga mới dọn đến thì ông quận trưởng đã đến rạp hát để kiếm hai anh ấy rồi mời bà Bầu Thơ, Thanh Nga, hai vợ chồng Hoàng Giang – Kim Giác, Việt Hùng – Ngọc Nuôi và một số nghệ sĩ, soạn giả đến tư dinh của ông dùng cơm.
Bữa cơm mà ông quận trưởng gọi là đạm bạc gồm có một con bê thui, nhiều thùng bia, hai chai rượu Whisky và mỗi nghệ sĩ dự tiệc được tặng một cây thuốc thơm Quân Tiếp Vụ.
Đáp lại tấm thạnh tình đó, nghệ sĩ luân phiên nhau ca nhiều bài ca vọng cổ để tặng ông bà quận trưởng và góp vui trong bữa tiệc.
Sáng hôm sau, ông quận trưởng cho hai xe jeep đến rạp, mời bà Bầu Thơ, Thanh Nga và các nghệ sĩ đi tắm suối nước nóng, một thắng cảnh nổi tiếng của Ninh Hòa. Thanh Nga, bà Bầu Thơ, Hoàng Giang – Kim Giác đi xe jeep với ông bà quận trưởng. Xe jeep thứ hai thì vợ chồng Việt Hùng- Ngọc Nuôi, Thành Được, Hữu Phước và tôi (Nguyễn Phương). Số nghệ sĩ khác, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng đi xe hơi của đoàn.
Suối nước nóng nằm trong vùng đồi núi, sâu trong rừng chồi, cách quận ly Ninh Hòa độ 15 cây số. Đi trên đường tỉnh lộ hơn 10 cây số rồi quẹo tẻ vô đường đá đỏ nhỏ, nguyên trước đây là con đường làm cho xe be kéo cây từ trong rừng ra quận. Đường vô gần tới suối nước nóng gồ ghề, nhiều hang ổ nên xe phải chạy chậm lại. Đến gần 11 giờ trưa mới tới con suối nước nóng.
Có người tới ngay cuối nguồn suối để tắm vì nơi đó nước ấm.
Có người thì tới nơi có nước suối nóng nhất, để hột gà trong một cái giỏ rồi thòng xuống nước để làm hột gà “la kót” (œuf à la coque).
Tôi, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng, Ngọc Giàu và Bích Sơn đi vô mấy ngôi nhà sàn của người dân tộc thiểu số ở ven bìa rừng, gần cuối nguồn suối để kiếm mua những vỏ quả bầu khô để kỷ niệm chuyến đi chơi trong phum sóc của người dân tộc thiểu số.
Sau đó chúng tôi cũng xuống suối tắm, trửng giỡn nô đùa như những em học sinh đi cắm trại nhân dịp nghỉ hè. Người thiểu số Rhadé thấy có nhiều người lạ ở thành phố đến tắm suối nên tới nhìn, có người mang trái gùi, trái cám, trái sim tới bán. Có một người thợ săn mang tới bán một con giộc (giống như khỉ) mà ông ta vừa bắn được. Chúng tôi thấy con giộc, hiếu kỳ bu tới xem nhưng không ai mua, chắc là không ai dám ăn. Ông quận trưởng mua con giộc, mua trái gùi và trái cám cho chúng tôi ăn thử. Trái gùi màu vàng chanh, ngọt ngọt chua chua, đi rừng nếu khát nước, hái được những trái gùi nầy để ăn giải khát thì chắc là “đã” hết biết.
Gần hai giờ chiều, ông Quận cho bày thịt heo quay, bánh mì, nước suối Vĩnh Hão mà ông đã mua sẵn, chở theo xe cho chúng tôi ăn trưa. Ông cũng không quên mang theo một thùng bia.
Trời quá nóng bức, rừng chồi lại im gió, chúng tôi lấy bánh mì thịt quay xong là chạy xuống suối ngâm mình, vừa ăn vừa tắm…
Bỗng trời sầm sập tối, mây giăng cuồn cuộn ngang trời. Bà Bầu Thơ sợ mắc trận mưa to bất ngờ, sợ Thanh Nga sẽ cảm nắng cảm lạnh thì nguy nên bà yêu cầu ông Quận Trưởng cho về Ninh Hòa liền. Mọi người thu xếp đồ đạc, dọn dẹp sạch những lon bia, chai nước suối và đem lên xe những thức ăn thừa.
Xe vừa rồ máy thì trời mưa lớn như cầm chĩnh mà đổ. Xe hơi của đoàn lại giở chứng, “đề ma rưa” (démareur) máy không nổ, xe không chạy. Nơi xe đậu là dốc núi, đường hẹp té mà lại gồ ghề, không thể đẩy xe lấy trớn cho máy bắt chạy.
Ông quận trưởng gọi ông chủ phum sóc ra, căn dặn giúp đỡ chúng tôi, xe của ông và xe jeep kia phải về quận ly sớm để cho anh em nghỉ ngơi, tối lại anh em còn phải hát.
Lượt đi thì tôi ngồi xe jeep, lượt về tôi nhường chỗ trên xe jeep cho Ngọc Giàu và Bích Sơn về trước. Tôi qua đi xe của đoàn, nên phải chờ sửa máy xe xong rồi mới có thể đi về được.
Trời mưa lớn như giông bão, gió mạnh từng luồng làm gãy đổ nhiều nhánh cây, chúng tôi không dám ngồi trên xe mà phải đội mưa chạy theo ông chủ phum về mấy ngôi nhà sàn gần bìa rừng chồi, nơi đó có ít cây cao nhánh lớn, không sợ cây ngã đè chết bất tử. Ông tài xế lái xe lớn của đoàn hát mà cái “gan” của ông ta bé tí xíu, ông ta cũng sợ bão tố bứng gốc cây rừng đè nên ông ta cũng chạy theo chúng tôi vô phum. Vậy là chiếc xe hơi của đoàn “ăn banh” (en panne) giữa rừng, tối nay chúng tôi ngủ rừng là cái chắc!
Ông chủ phum nói tiếng Việt lơ lớ nhưng tốt bụng, mọi người chúng tôi vô nhà sàn của ông, vừa vắt áo cho bớt nước mưa, ngồi vừa yên vị thì ông chủ nhà đã lấy ra một bình rượu cần cho chúng tôi mỗi người “tu” vài ngụm cho nóng người lên.
Hoa Phượng lên tiếng:
– Anh Ba, anh là trưởng lão cái bang của tụi em, đêm nay nếu phải ngủ ở lại đây thì nhờ đại ca sắp xếp dùm.
Theo lệ thường của đoàn hát, khi tới địa điểm mới, những chỗ ăn ngủ tốt thì dành ưu tiên cho ông bà bầu, cho các đào kép chánh, soạn giả rồi sau cùng mới đến các anh chị đào kép phụ, vũ nữ, vệ sĩ và các anh công nhân sân khấu. Trong chuyến xe bị kẹt phải ngủ rừng đêm nay có bốn cô vũ nữ, tỳ nữ, chúng tôi bốn soạn giả, ba anh kép phụ (Chí Hiếu, Vinh Sang và Văn Ngà) anh tài xế và hai người công nhân dàn cảnh. Nhà sàn của ông chủ phum rộng, tôi biết ý của Hoa Phượng là nhờ tôi an bài chỗ ngủ cho các cháu vũ nữ ưu tiên nên tôi quyết định sau khi ăn tối xong, các cô gái ngủ ở giữa nhà sàn, gần bếp lửa sưởi, anh em chúng tôi ai muốn thức sáng đêm nhậu rượu với ông chủ phum thì quây quần gần đó, còn ai buồn ngủ thì cứ lăn quay bên cạnh mà tự do ngáy. Tôi đưa hai tờ 500 cho ông chủ Phum nhờ mua gà nấu cháo và mua vài chai rượu đế. Ông nhận tiền, gà thì có nuôi sẵn dưới nhà sàn, rượu đế thì ông cũng có mua dự trữ trong nhà. Chúng tôi may mắn được tạm trú qua đêm trong ngôi nhà của một ông đệ tử lưu linh, vậy là tối nay chúng tôi tha hồ uống rượu để thi gan với muỗi rừng một phen. Muỗi có chích, có hút máu của tụi tôi đêm nay thì muỗi cũng phải say mà lăn quay ra đó vì trong máu của đám đệ tử lưu linh này nhất định phải có chất men đủ sức để quật ngã mấy con muỗi không biết hiếu khách như ông chủ phum.
Các cô vũ nữ và hai anh dàn cảnh xung phong làm bếp, làm gà nấu cháo, chỉ trong một thời gian ngắn là có ngay bữa ăn tối. Ăn xong, ngoài trời mưa vẫn không ngớt hạt, xe hơi của đoàn không sửa được, đêm nay chúng tôi đành ngủ trong rừng vậy. Chúng tôi ai cũng đã có trải qua một thời ăn quán ngủ đình, nên bữa nay có ngủ bờ ngủ bụi thì cũng không sao, huống chi chỗ ngủ là một ngôi nhà sàn rộng, tuy ở gần bìa rừng nhưng có lửa để sưởi ấm, có rượu đế để lai rai. Nói thiệt dẫu mà lúc đó xe hơi đã sửa chữa cho chạy được thì chúng tôi cũng không bỏ qua cuộc tiệc rượu bất ngờ và lý thú nầy. Rượu thì còn nửa bình rượu cần, rượu đế có hai chai, mồi nhậu có thịt gà xé phay, có khô trâu nướng của ông chủ nhà.
Rừng chiều, bóng tối xuống mau. Mây đen vẫn còn che kín khung trời. Mưa theo gió luồng quật phần phật cái cánh liếp của nhà sàn nơi chúng tôi đang ở.
Ông chủ phum đốt mấy cây đuốc bằng dầu chai, gắn xiêng xiêng trên bốn cây cột nhà nơi gian giữa. Ánh sáng chập chờn, chao đảo theo từng cơn gió lùa qua cánh liếp. Ông chủ phum hé cửa nhìn ra ngoài, ông nói :
– Mưa còn nhiều lắm, tới sáng chưa hết mưa đâu.
Thấy chúng tôi có vẻ không tin tài đoán thiên văn của ông, ông nói tiếp :
– Mấy con mối càng kéo từng đàn leo lên cái cột nhà kìa, mưa lớn nên nó đi trốn nước lụt đó. Mấy ông uống rượu chơi, tui đàn cho mấy ông nghe.
Ông nói xong liền với tay lấy cây đờn gáo treo trên vách mà khi vô nhà của ông, chúng tôi chưa kịp lưu ý nên không thấy và không khám phá ra ông chủ nhà cũng là một tay nghệ sĩ dân dã.
Tiếng đàn gáo kéo cung dài, nghe lê thê buồn thảm, ông chủ phum kéo đàn, đôi mắt lim dim, cái đầu ngã tới ngã lui nhè nhẹ như gởi hồn theo tiếng đàn. Chúng tôi lắng nghe như là tiếng rên than của một oan hồn nào đó nơi miền rừng sâu nước độc… Tiếng đàn nghe đơn điệu, nhại đi nhại lại mấy câu như kiểu tiếng hò nơi đồng quê rẫy bái của người Hậu Giang nhưng tiếng đờn gáo kéo nhừa nhựa, lê thê hơn, chúng tôi nghe mà cảm thấy một nỗi buồn mênh mang, xa vắng…
Bà chủ nhà và cô con gái chỉ ra chào hỏi chúng tôi khi chúng tôi mới đến nhà, sau đó thì hai người rút lui vô buồng trong nhưng đến khi nghe tiếng đàn, bà chủ và cô gái đi nhè nhẹ ra, lẳng lặng ngồi xuống cạnh ông chủ phum. Lát sau đó, cô gái khe khẽ hát theo tiếng đàn của cha, ca bằng tiếng Rhadé hay tiếng Miên, chúng tôi không hiểu nghĩa bài ca nhưng lời lẽ và giọng điệu như là lời thỏ thẻ tỉ tê của một cô gái đang tỏ tình với người yêu. Khi cô hát, đôi mắt long lanh, miệng cười chúm chím.
Kiên Giang lấy sổ tay ra hí hoáy viết. Tôi đoán là anh chàng thi sĩ ngắm nhìn đôi mắt đa tình của cô sơn nữ nên cảm hứng muốn làm thơ.
Tiếng đàn và tiếng hát chen qua cánh liếp, xông ra ngoài giữa lúc mưa gào gió thét thì liền được đáp lại bằng những tiếng réo gọi nhau ơi ới từ mấy ngôi nhà gần đó. Tôi nghe tiếng nâng cánh liếp, ánh sáng mấy cây đuốc dầu chai bập bùng chao đảo theo bóng dáng của nhiều người đang lục tục kéo tới nhà sàn của ông chủ phum. Đó là những chàng trai, những cô gái, có cả các ông già bà lão, những người ở trong phum sóc nầy. Thường khi nghe tiếng đàn của ông chủ phum, họ kéo tới để đờn ca nhảy múa cho đến khi họ mệt mỏi mòn mới chấm dứt cuộc vui để trở về nhà ngủ hầu sáng hôm sau họ lại lên nương lên rẫy hay đi săn chim bắn giộc.
Mấy người mới đến có hai tay đờn cò, một người thổi kèn bằng lá cây, một người đánh trống cơm, nhiều chàng trai và cô gái ca. Ông chủ phum nhường cây đàn gáo cho một ông bạn già, rồi vô nhà lôi ra một hũ rượu cần thiệt lớn để giữa sàn nhà để đãi khách. Cuộc vui tiếp tục, tiếng đàn rộn rã hơn trước nhưng âm điệu cũng mang một dáng vẻ xa xôi hoang vắng.
Cô con gái của ông ca, ông dịch cho chúng tôi nghe. Kiên Giang lấy sổ tay chép vội vàng:
Bởi vì em yêu anh
Nên anh yêu em mãi
Muốn tình yêu chung thủy
Em cắt tóc tặng anh.
Hỡi em yêu hiền lành
Mái tóc mềm đen nhánh
Anh mong điều may mắn
Trong chiếc kéo trên khay.
Em hãy ngồi xuống đây
Dưới tàng cây so đũa
Mái tóc em buông xõa
Thay lời em yêu anh.
Một chàng trai lực lưỡng, tiếng hát mạnh bạo nhưng âm hưởng vang xa, rất xa:
Nàng Rot giống như nguyệt thực
Đi tìm ai giữa ban ngày
Nếu anh có cánh anh bay
Tít trên tầng mây xanh thẳm
Giá như anh được bồng ẳm
Vầng trăng giữa đám mây kia
Nhưng nguyệt thực chỉ mờ mờ
Còn anh thì không có cánh.
Một anh khác vừa kéo đờn cò vừa hát, ông chủ phum vẫn làm một viên thông ngôn bất đắc dĩ :
Anh cùng em bơi thuyền Chôôk Chôôk
Nhổ thật nhiều bông súng, em ơi
Nhưng, thôi không kịp nữa rồi
Mây đen kéo tới chân trời gần lắm.
Anh coi mây mưa, anh nghe tiếng sấm
Anh phải đưa em mau mau trở về
Anh bơi thuyền lẹ hơn cơn mưa
Không cho mưa rơi trúng mình em một giọt.
Kiên Giang, Hoa Phượng, Hà Triều và tôi thưởng thức giọng ca và lắng nghe ý nghĩa từng lời từng tiếng, nhưng dường như lối hát buồn buồn đơn điệu có vẻ thiếu hấp dẫn, nên ông chủ nhà lấy trống cơm đánh bập bùng. Một anh bạn trẻ chạy xuống bếp lấy chiếc đũa cơm và cái nồi đồng lên để gõ nhịp hòa theo. Mấy tay đờn liền đổi điệu, tiếng nhạc nhanh hơn, nhún nhảy hơn, các cô gái, các chàng trai bước ra sóng đôi nhau mà nhảy điệu múa Lâm Thôn.
Các cô vũ nữ của đoàn hát chúng tôi như được gãi vào chỗ ngứa, khoái quá tủm tỉm cười, cũng bước ra nhập cuộc, nhún nhảy rập ràng theo đúng điệu Lâm Thôn.
Ông chủ nhà vừa đánh trống, vừa múa và hát:
Điệu múa Rhadé thật tưng bừng
Mời thần thánh xuống, hãy vui chung
Kom phloong phloong ơi, trroất trroất
Nào, em có bằng lòng anh không?
Anh từ xa đến, hỡi em yêu
Thấy em xinh đẹp lại diễm kiều
Anh không hề chán, không hề nản
Hãy ngã vào anh, hồn phiêu diêu
Kom phloong phloong ơi, trroất trroất
Đôi ta vừa múa lại vừa hát
Điệu vũ Rhadé thật tuyệt vời
Như niềm vui không bao giờ dứt.
Bỗng có một tiếng hú từ xa vọng lại…Vâng, đúng là có một tiếng hú thật dài hơi xen vào tiếng đờn tiếng trống bập bùng trong nhà…
Một tiếng hú giữa rừng khuya trong một đêm mưa to gió lớn, có phải chăng là câu chuyện ma hời hay con ma cà rồng là chuyện có thật như người ta thường kể xưa nay?
Không phải chỉ có một mình tôi nghe tiếng hú đó, mà tất cả mọi người đang dự cuộc vui đều nghe. Tiếng hú lại nổi lên, kéo dài ra, nghe như rất gần mà cũng có vẻ như ở một nơi nào đó xa xôi theo gió vọng về. Trong nhà mọi người liền ngưng ngay tiếng đờn tiếng trống. Nhiều người ngơ ngác nhìn nhau. Có người nói nhỏ: “Nó lại về đó. Hễ mưa to gió lớn thì nó về nó hú như vậy đó.”
Mấy người khách không mời mà tới lúc nãy, bây giờ vội vàng rút lui. Họ ra về vội vã, không kịp chào từ giã chủ nhà mà cũng chẳng nói với chúng tôi tiếng nào cả. Họ im lặng mà đi cho thật mau để trở về mấy ngôi nhà của họ.
Tiếng hú giữa rừng khuya như một luồng mưa rào quật mạnh vô người nghe đến rát cả mặt. Cuộc vui đang lúc ồn ào nhất bỗng trở lại cái cảnh im lặng một cách đáng sợ.
Mấy cô vũ nữ của đoàn thì sợ ma, họ ngồi sát vào nhau quanh ngọn lửa. Có đứa muốn khóc, có đứa nói rởn óc nổi gai cùng mình, có đứa cắn răng lại để đừng đánh bù cạp vì sợ.
Tiếng hú lại nổi lên, nghe như có như không trong cái đen thăm thẳm của núi rừng Tây Nguyên.
Chúng tôi rùng mình, lặng im nhìn nhau.
Ông chủ nhà kêu chúng tôi ngồi quanh ngọn lửa hồng, tiếp tục uống rượu cần và nghe ông kể chuyện :
– Tiếng hú đó là tiếng hú của người rừng…Người dân ở đây gọi như vậy vì chưa ai đích xác thấy được người rừng đó, nhưng cứ mỗi khi có mưa to gió lớn, rừng núi âm u thì người ta nghe tiếng hú vọng về. Khi thì nghe rất gần như ở sát bên sau nhà, khi thì nghe như xa xôi rồi vụt nghe rõ và lớn, rồi lại như nhỏ dần, chìm mất trong không gian vô tận.
Ông chủ phum kể lại: “Cha của ông hồi trước là thầy mo trong vùng, chuyên trị bịnh tà ma, bốc thuốc cho người trong phum sóc. Hồi đó có một anh thợ rừng tên Sroc Ngor, anh chuyên bắn giộc, chuyên vô rừng sâu để đi kiếm cây Quế Khâu và Trầm Hương để bán lại cho thương buôn ở Ninh Hòa hay Khánh Hòa, Nha Trang. Mỗi chuyến tìm trầm anh Sroc Ngor đều tới nhà ông thầy Mo (cha của ông chủ phum) để thỉnh ngải, ngậm trong miệng rồi mới dám đi sâu vô rừng. Những người già có gia đình sống nhiều đời ở vùng rừng núi này thường kể cho nhau nghe, là nếu đi kiếm Quế Khâu, cây Mun hay cây Giáng Hương thì không cần phải đi sâu vô trong rừng già. Còn Trầm Hương thứ cây nhỏ, giống thường thì thỉnh thoảng cũng tìm thấy được bên bờ suối hay trong rừng chồi. Muốn kiếm cây Trầm Hương lớn gốc, thứ cây có tuổi thọ cả trăm năm thì nhiều khi phải đi cả tháng vô rừng sâu, khi đi thì phải cúng vái ông thần rừng, phải ngậm ngải trong miệng để đi tìm trầm. Có được Trầm Hương hay không còn là do có phước có phần, khi nào không tìm được Trầm Hương, người tìm trầm có ngậm ngải thì sẽ nhớ con đường về. Trái lại coi thường sơn thần, coi thường các linh hồn trong rừng thẳm, không ngậm ngải tìm trầm thì sẽ quên mất con đường về. Thậm chí người tìm trầm sẽ mất hết trí nhớ, sẽ phải sống trong rừng như một người rừng thật sự. Chàng Sroc Ngor đã mất tích mấy chục năm nay nhân một chuyến đi tìm Trầm Hương mà không đi thỉnh ngải để ngậm trong miệng. Chắc là anh ta không tìm thấy con đường để trở về thôn bản, anh biến thành người rừng, quên đi tiếng nói của con người và thay vào đó là tiếng hú mỗi khi anh nhớ nhà, nhớ người thân.”
Ông bạn của tôi nãy giờ lặng yên để nghe kể chuyện, bỗng lên tiếng nói:
– Nếu người thợ săn lạc đường về, khi nghe họ lên tiếng hú thì mình phải hú đáp lại hay hè nhau mà la thật to cho họ biết hướng mà tìm về thôn bản. Tại sao mọi người lại sợ tới nỗi chỉ mới nghe tiếng hú là vội vàng im lặng rút lui về nhà, đóng cửa lại vậy?
Tôi nói:
– Tụi tui cũng hỏi như anh vậy. Ông chủ phum trả lời: “Những cây Trầm Hương cổ thụ trong rừng già rất linh thiêng, dưới gốc cây Trầm Hương luôn luôn có những bãi cây ngải rừng, thú rừng hay con người đến gần cây Trầm Hương đó thì bị đám ngải rừng đó đầu độc cho chết liền tại chỗ. Nếu là người thì người đó lập tức hóa thành con dã nhơn, lông lá đầy mình. Thợ rừng hay người dân đi đốn củi, vô phước mà gặp con dã nhơn đó thì sẽ bị nó giết, nó ăn thịt hay bắt cóc đem đi. Ông chủ phum nói là trong phum sóc của ông cũng có mấy anh trai làng bị mất tích. Cũng vào lúc mưa bão, cũng tối trời và người ta nghe được tiếng hú ma quái đó. Vậy nên từ đó về sau, không ai dám đi vô rừng già. Ba của tôi chết rồi, ổng không truyền lại cho tôi cái ngải thiêng liêng để ngậm khi vô rừng, thành ra chuyện ngậm ngải tìm trầm như là một chuyện đời xưa. Bây giờ không còn ai kiếm ra được cái thứ ngải đó nữa.”
Đêm đó không ai ngủ được. Chúng tôi cố uống cho thật nhiều rượu để say để quên, để ngủ gục xuống sàn nhà, nhưng mà dường như cái nỗi sợ sệt mông lung đã đánh bại ông thần ma men. Rượu uống vô chỉ làm cho thêm ngầy ngật, khó chịu, nôn mửa chớ không làm cho chúng tôi say quắc cần câu, nằm đường té bụi như mọi khi.
Vừa hừng sáng thì thấy xe jeep của ông quận trưởng. Ông cho chở vô hai bình accu để thay cho bình accu xe của đoàn. Anh tài xế thay xong, bấm “đề ma rưa” là máy rồ rồ liền. Mọi người vội lên xe. Tôi thay mặt anh em cám ơn ông bà chủ. Ông còn mời bữa khác anh em vô tắm suối nước nóng, ngủ đêm rồi nhậu và đàn hát chơi với bà con trong phum sóc. Chúng tôi cám ơn, đi mà không hẹn ngày trở lại vì ai nấy còn bị ám ảnh về cái tiếng hú ghê rợn trong rừng khuya.
Về tới Saigon, Hoa Phượng liền khai thác cái ý Ngậm Ngải Tìm Trầm thu nhận được trong chuyến ngủ đêm trong rừng ở suối nước nóng Ninh Hòa. Anh viết tuồng Mưa Rừng, trong tuồng có một nhân vật bị ngải làm cho điên, quên tiếng nói của con người, chỉ biết kêu hú…
Tiếng hú như tiếng hú ghê rợn mà chúng tôi đã được nghe khi ở trong nhà sàn của ông chủ phum bên bờ suối nước nóng Ninh Hòa.
Tôi viết tuồng Hai hình ảnh một cuộc đời, tôi đã về miệt Phong Điền, Kinh Xáng, Xà No để thu thập những câu hát huê tình làm những câu đối thoại giao duyên cho mối tình chớm nở của một cô gái Hậu Giang và anh chàng sinh viên Saigon khi anh về nghỉ hè nơi quê hương bên ngoại. Tôi báo cho bà Bầu Thơ biết là tôi sẽ vắng mặt trong đoàn hai tuần lễ để “Ngậm Ngải Tìm Trầm”. Và trong đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga, danh từ của các soạn giả nói đi ngậm ngải tìm trầm có nghĩa là đi sưu tầm tài liệu, “đi thực tế” như kiểu nói ngày nay.
Mỗi cốt chuyện hay, mỗi câu văn thơ, một câu hò hát huê tình thu lượm được trong những chuyến ngậm ngải tìm trầm đó, đối với chúng tôi quý như người thợ rừng tìm được cây Trầm Hương.
Mấy câu hát huê tình mà chúng tôi sưu tầm được như sau:
Gái hò:
Hò ơ… Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo,
Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em…
Chiếc ghe trước lơi mái chèo, có tiếng một người đàn ông tằng hắng lấy giọng rồi hò đáp lời của cô gái :
“Hò ơ… Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi ờ…
Hò ơ,….kẻo giông khói đèn..ờ….
kẻo giông khói đèn, bờ bụi mà tối tăm ơ…ơ…”
Cô gái lại hò chọc ghẹo người trai ở ghe trước. Nên biết là hò hát trên sông đối đáp bâng quơ chớ không phải có tình ý gì. Đường xa thăm thẳm, dưới ghe xoay trở khó khăn chật chội, hò hát để rút ngắn cơn mưa dầm, đối đáp như vậy sẽ làm dịu đi cái nắng cháy da, sẽ làm quên đi cái cơn mệt nhọc, tiếng hát hò trên sông rạch ngày xưa là tiếng nói thân thương của những vùng đồng quê bình yên trù phú.
Tiếng hò của cô gái ghe sau trong vắt và vang xa như tiếng chuông ngân:
“Hò ơ… Phụng Hoàng đậu nhánh cẩm lai ờ….ơ…
Hò hơ…. Em trách người nghĩa ờ…ơ…
em trách người nghĩa nói sai lời thề…ờ…ơ…
Hơ…Đường đi Kinh Xáng xa vời…ơ…
Hò ơ…Xin cho em gởi…ơ…ơ…
xin cho em gởi vài lời thăm vợ anh ơ… “
Tiếng chàng trai cũng trả treo không vừa:
“Hò … ơ… Vợ anh chưa cưới.., ơ… anh vừa mới hỏi mới chào…ơ…ơ.
Xin em cho biết, …ơ….
xin em cho biết chừng nào em về với anh ơ….hơ….”
Cô gái cười nắc nẻ vô tư, cô gái hò trong đêm khuya tăm tối, không ai thấy mặt ai, ghe trước ghe sau cách nhau vài sải tay, vậy mà tưởng như có tơ trời nối đỏi kéo ghe sau theo liền với ghe trước…
Cô gái lại cao giọng hò:
” Hò ơ…. Con sông bên lở bên bồi ờ….ơ…
Bên lở thì đục …ơ.., bên bồi thì trong,
Sông kia nước chảy đôi dòng,
Biết rằng bên đục, ơ…
biết rằng bên đục, bên trong bên nào?
Gặp anh, em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị Cả,… ờ…
sợ rằng chị Cả, dắt dao trong mình ơ…”
Tiếng hò bên trai an ủi vỗ về, cố lờ đi cái chuyện cô gái sợ mình là kẻ đến sau:
“Hò ơ… Tàu Tây chạy ngang cồn cát,
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga,
Anh thấy em có một mẹ già,
Anh muốn vô hoạn dưỡng, biết có là đặng không?”
Cô gái:
” Hò ơ… tôi bước xuống cầu…
bước xuống cầu, cầu trơn cầu trợt ờ….
Tôi bước xuống tàu,
tàu lắc tàu nghiêng… ờ….ơ..
Cả tiếng kêu người mở miệng cầu duyên…ờ. ..
Ra đây cho tôi thấy mặt ờ …..
cho tôi thấy mặt lạ hay quen cho tỏ tường ơ…. “
Tiếng bên đàng trai cũng hò, tưởng chừng không kể tới sự dọ dẫm của cô gái:
“Hò ơ…. Đèn tạ đăng thắp để bàn thờ…ơ…ơ..
Hễ vặn lên thì nó tỏ ờ,…
mà vặn xuống thì nó lờ…ơ….
Tôi thương ai đêm tôi đợi ngày chờ….ơ..
Xuống sông tôi hỏi cá…ơ mà lên bờ tôi hỏi chim… ơ…
Trách ai làm cho chỉ nọ xa kim… ơ..
Muổng nọ xa tiềm ơ… vắng em một bữa ơ…ờ
Vắng em một bữa,…mà anh nằm… ơ…điềm,… ờ… lại chiêm với bao… ơ….”
Và mấy câu hát huê tình này, ngày nay ít còn nghe ai hát:
“Hò ơ…ớ..
Gái chưa chồng như bông hoa lý…ờ..
Trai chưa vợ như bức tượng vẻ bìa xanh…
Nàng đành…ờ,…mà phụ mẫu không ..ơ…ờ…đành
Chớ tỷ như gáo nước…ơ..ơ…
tỷ như gáo nước tưới lửa thành sao tan ơ…ơ…
Hò ơ..ớ..ơ…
Cầu cao ngựa chạy chớ cầu gãy con ngựa nhảy tứ linh,
Anh đi đâu tăm tối một mình… ờ…
Hay là anh có ý…ơ…ờ..
hò…ơ có ý tư tình với ai… ơ… hơ..
Hò… ơ… ớ…
Anh thương em thời thương cho chắc cho chặt cho bền, ơ… hơ…
Dẫu mà có ai xe cát… ơ… hò… o… ớ, rồi đắp… ơ…nền, anh cũng mà không…ơ…
Hò ơ..ớ.. Ếch nằm bờ giếng mà ếch kêu trời… ơ..
Anh ơi, em thương anh mà thương đỡ ơ…ờ..
Thương đỡ mà vậy chớ có thương đời đặng đâu…ơ…
Ông trời ổng cao hơn cái trán,
Con trăng sáng hơn ngọn đèn,
Mà kèn kêu hơn quyển,
Mà biển rộng hơn sông
Biểu anh đừng thương trước uổng công ờ…
Để cho mà thiệt vợ thiệt chồng rồi anh sẽ thương ….
Hò… ơ….
Cây trên rừng hóa kiểng,
Cá dưới biển hóa rồng,
Con cá lòng tong giởn bóng ăn rong… ờ…
Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng ơ…
Đến đây trời khiến anh phải lòng thương em…ơ. “
Tôi nghĩ nếu như ai đó có công sức lặn lội về các nơi thôn quê hay các miệt vườn ở Hậu Giang Tiền Giang để sưu tầm các câu hát ru em, các điệu hò cấy lúa, hò giã gạo, hò chèo ghe, hát bóng rổi, các truyện thơ xưa như thơ Sáu Trọng, thơ thầy ký Chánh, truyện Chăn Cà Mun…ắt là sẽ có nhiều câu văn hay, nhiều ý tứ dồi dào mà lời văn rất bình dân nhưng không kém phần mượt mà như văn chương bác học sau nầy.
Công việc đòi hỏi sự cố gắng vô biên, phải kiên trì và phải có cả một tấm lòng mến yêu văn học bình dân, phải chịu khó chịu khổ như người ngậm ngải tìm trầm thì mới có thể khám phá dần dần cái kho tàng văn học dân gian quý báu của dân tộc Việt Nam.
Tôi là người miền Nam, chỉ biết một chút xíu về những câu ca dao, câu hò câu hát của miền Nam. Nói tới điệu hát ru của cả ba miền Bắc Trung Nam thì phải cậy trông vào sự góp công góp sức nhiệt tình của các văn nhân nghệ sĩ của cả ba miền đất nước.
Nhân ba ngày Tết, nhắc chuyện đời xưa : Ngậm Ngải Tìm Trầm để nhớ lại rằng quê hương mình có một nền văn học nghệ thuật rất là phong phú, đa dạng, lời lẽ bình dân nhưng thắm đượm một tình cảm mộc mạc, chân thành. Mỗi khi nghe lại những câu hò, những điệu hát ru em là tôi nhớ đến quê hương với những cánh đồng lúa mênh mông xanh rì với những cánh cò trắng chao nghiêng mỗi khi chiều xuống, và tiếng võng kẻo kẹt hòa theo tiếng êm êm của bà mẹ quê ru con ngủ bên hiên nhà. Và tôi bỗng nhớ 4 câu thơ của một người bạn già, ngày xưa anh ấy đã ngâm cho tôi nghe khi hai đứa tôi bơi xuồng đi tìm những câu hát ru em ở xã Phong Điền:
Cò trắng ngàn năm bay chẳng mỏi
Lưng trâu, sáo đậu ngóng mây chiều
Bếp un dệt khói đan mùng lưới
Giấc ngủ ru theo tiếng sáo diều.
Mùa Xuân Mộng Lệ An, nhìn đâu cũng thấy tuyết rơi mịt mù, nhưng rồi tôi nhìn đâu cũng thấy hiển hiện trong tâm tư sâu lắng những hình ảnh gợi nhớ quê hương.

Nhà văn hóa khinh bỉ’ và những cái mặt mo

hung-viet.org
Huy Phương
26 Tháng Chín 2016

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

Các viên chức cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam lâu lâu lại ngứa mồm phát biểu một vài câu nói ngô nghê để làm trò cười cho thiên hạ, vốn đã gần như không bao giờ cười nổi trong cái đất nước nhiễu nhương, khốn nạn này. Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, phó bí thư thành ủy kiêm chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân TPHCM, cho rằng việc bổ nhiệm “con ông, cháu cha” vào vị trí lãnh đạo, là “… hạnh phúc đối với dân tộc mình chứ sao lại nghi ngại.” Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng bào chữa cho vấn nạn tham nhũng của Việt Nam là: “Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ!” Và bây giờ đến ông Đinh Thế Huynh, hiện là ủy viên Bộ Chính Trị, thường trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, nguyên trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương, nguyên chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam, vừa dạy thiên hạ: “Phải xây dựng văn hóa khinh bỉ” khi nói đến chuyện chống tham nhũng.

Ông Đinh Thế Huynh, một ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN. (Hình minh họa: LUONG THAI LINH/AFP/Getty Images)
Nói chung văn hóa là lối sống. Theo ông Huynh thì phải tạo cho con người một lối sống biết khinh bỉ việc nhận hối lộ và đưa hối lộ thì xã hội mới hết tham nhũng. Một xã hội biết khinh bỉ điều xấu là một xã hội tốt đẹp. Ai cũng biết trộm cắp, gian xảo, bóc lột, bè cánh, là xấu, đáng khinh bỉ, cần lên án, thì những điều đó tự nhiên biến hẳn hoặc dần dà mất đi.
Nhưng nếu trong một xã hội đã tha hóa, kỷ cương đảo lộn, thằng lươn lẹo lên lương, kẻ thật thà thường thua thiệt và giá trị đạo đức không còn, những thằng đáng khinh nhất lại là những thằng cầm quyền, leo cao nhất, được thiên hạ trọng vọng; những đứa vô đạo nhất là những tên giàu có phè phỡn, cỡi lên đầu, lên cổ nhân dân, thì liệu thứ “văn hóa khinh bỉ” còn có giá trị gì?
Nhân dân có “văn hóa khinh bỉ,” nhưng nhà cầm quyền không có “văn hóa xấu hổ” thì không thể nào tiếp nhận những tác dụng từ bên ngoài, nói chung khi da mặt đã không còn cảm xúc, không biết hổ thẹn, chai lỳ, cứng ngắc như một miếng mo cau dày cứng, thì có ai khinh bỉ, nhổ nước bọt vào mặt cũng không còn tác dụng gì!
Ông Đinh Thế Huynh không cần phải lên tiếng đòi thiên hạ phải tạo áp lực mạnh mẽ với tham nhũng, bằng cách phải có “văn hóa khinh bỉ.” Ai cũng biết rằng người có quyền lực mới có thể tham nhũng, quyền lực đó từ một anh tổng bí thư đến một anh công an hạng bét đang cầm còi “tu huýt” chặn xe cộ ngoài đường vòi tiền mãi lộ, đang nắm giữ. Hiện nay, trong một đất nước toàn trị như Việt Nam, ai cũng biết từ tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng, tướng lãnh, bí thư tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban nhân tỉnh, đại biểu quốc hội…cho tới địa phương, đều là những nhân vật của đảng.
Như vậy “văn hóa khinh bỉ” hẳn không phải dành cho đảng, vì đảng đang cầm quyền mà kẻ cầm quyền mới có khả năng tham nhũng, không lẽ ông Huynh đòi đảng phải tự khinh bỉ mình. Vậy thì “văn hóa khinh bỉ” chỉ còn là một thái độ dành cho những người bị trị là… quần chúng. Đảng có quyền lực, có súng đạn, dùi cui, roi điện, có nhà tù… nhưng dân có được cái quyền sử dụng thứ văn hóa của ông Huynh đề nghị.
Là nhân vật rất cao cấp của đảng, ông Huynh hô hào phải xây dựng “văn hóa khinh bỉ” cho ai đây, đương nhiên trước hết là cho bộ máy cầm quyền của đảng, những đứa tham nhũng tày trời. Nếu ai đó biết tự khinh bỉ mình thì đã không còn đảng Cộng Sản thối nát thế kia.
Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Vinashin là điển hình cho tình trạng siêu tham nhũng ở Việt Nam, rồi tổng công ty hàng hải Việt Nam Vinalines, với ông Dương Chí Dũng. Tổng Thanh Tra Trần Văn Truyền là người đi đánh tham nhũng lại là tay đại tham nhũng nhất. Rồi số tài sản khổng lồ của hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Xuân Phúc, cựu và đương kim thủ tướng? Các bí thư tỉnh ủy, các tướng tư lệnh, mỗi người một cõi, bán đất, xẻ rừng, tiền bạc không biết để đâu cho hết. Họ có “văn hóa xấu hổ” không? Liệu thứ “văn hóa khinh bỉ” có ích lợi gì, chẳng làm cho ai sợ, cá nhân và gia đình đã có vỏ bọc chống đạn của đảng, mặt đã có mo cau che chắn, thì chúng còn sợ chi ai.
Hiến pháp là luật còn không quan trọng bằng cương lĩnh đảng, như lời ông Nguyễn Phú Trọng và toàn bộ hệ thống cai trị được đảng che chở, “còn đảng còn mình,” thì liệu cái thứ “văn hóa khinh bỉ” trừu tượng không mặt mũi, chân tay, không có súng, không có tiền lơ mơ kia thì đi đến đâu? Cái lối “văn hóa khinh bỉ” này hàng ngày xuất hiện tràn lan trên Facebook, chửi bọn tai to, mặt lớn ra rả, nhưng 40 năm năm nay, chẳng có tác dụng gì với bọn tham nhũng, mà chắc ông Đinh Thế Huynh cũng không có thời giờ dầu chỉ để lướt qua.
Không cần đến “văn hóa khinh bỉ” mà giới cầm quyền, có quyền lực, tức là có cơ hội tham nhũng trước hết phải có “văn hóa xấu hổ,” tức là biết liêm sỉ. Với vị trí hiện nay, ông Huynh trước hết nên dạy cho cán bộ đảng biết liêm sỉ, và phải biết tự khinh bỉ mình trước, trước khi đòi hỏi một thứ “văn hóa khinh bỉ” cho mọi người.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

*Phụ bản về thứ “văn hóa bất cố liêm sỉ.”
-Nhà văn Trần Tự Triển bên Trung Quốc có kể một câu chuyện về sự hổ thẹn như sau:
“Lâu Sư Đức làm tể tướng, cất nhắc cho em, một tên bất tài đi làm đô đốc vùng Đại Châu (Như trường hợp Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Giang Triệu Tài Vinh của Việt Nam). Trước khi ra đi nhậm chức, tên Lâu Tể Tướng mới hỏi em:

  • “Ta là người bất tài làm đến tể tướng, lại cất nhắc mi đi làm đô đốc một châu. Nếu có ai đem lòng khinh ghét mà chửi bới tới dòng họ ta, thì mi nghĩ sao?”
    Người em thưa:
  • “Xin anh đừng quá lo lắng, nếu có ai nhổ vào mặt em, em cũng chỉ im lặng lau đi là xong. Và như thế, chắc không phiền gì tới anh đâu, xin anh an tâm.”
    Lâu Sư Đức thất vọng, nói:
  • “Ôi! Chính vì thế mà ta mới lo. Giá mi bị ai nhổ vào mặt, cứ vui cười, để vậy cho khô đi có hơn không. Vì lau khô đi càng làm người ta thêm tức giận.”
    Người em khâm phục vì nghệ thuật hứng nước bọt, bất cố liêm sỉ của ông anh Lâu Sư Đức, bèn cúi đầu lĩnh hội lời dạy bảo, từ biệt ra đi.
    -Bên Trung Quốc cũng có thêm một chuyện bất cố liêm sỉ khác như sau: Phùng Đạo, đời Ngũ Châu đã vác cái mặt mo đi quỳ gối tại bốn nước, làm quan 10 triều vua, về sau làm tới chức tể tướng. (Y như những thủ tướng CSVN sang chầu Bắc Kinh.) Y vênh váo tự phong cho mình danh hiệu “Trường Lạc Lão” (Lão Vui Lâu). Người đời có kẻ khinh bỉ, viết hai chữ “Phùng Đạo” vào cái mo cau, đeo vào mặt một con lừa và thả đi ngoài phố. Phùng biết người ta ám chỉ mình, nhưng tảng lờ đi. Có kẻ thân cận đem chuyện ấy trình tâu lên, y bình thản mà nói rằng:
  • “Ở kinh đô này, thiếu gì có người trùng tên, chắc gì Phùng Đạo ấy là tên tôi. Cũng có thể, ai bắt được con lừa đi lạc rồi mang đi tìm chủ để trả lại cũng nên!”

(trích trong Ấm Lạnh Quê Người của Huy Phương-xb 2008, trang 100)