Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

  1. Những Mẩu Dây Leo
    Từ con lộ chính mang tên đường Prospect phía Nam, qua một cột trụ điện thì có lối rẽ vào khu vực đậu xe được bao quanh bằng những luống dầy đặc dây leo Ivy tứ thời xanh mượt, nhưng không bao giờ có hoa. Ở bãi đậu xe lại có một con đường trải sỏi rộng rãi dẫn vào bên trái của tòa building ba tầng lầu. Đằng sau tòa building là một dẫy nhà kho. Phía sau dẫy nhà kho là một khoảng dài có hàng rào kẽm gai ngăn thưa thớt giữa cơ sở thương mại này với cái xa lộ suốt ngày có xe cộ chạy qua như một dòng nước chảy liên tu bất tận. Đó là sở làm của Vũ.
    Hôm đến nhận công việc, một người Mễ nay sắp nghỉ và Vũ sẽ thế chân, đã giơ cánh tay khoác một cử chỉ bao quát bốn bề chung quanh và nói bằng một giọng Anh ngữ hơi khó nghe:
  • Không có nhiều gì đâu. Tôi sẽ chỉ cho anh đủ mọi thứ.
    Nói rồi anh ta săm săm kéo Vũ vô một bàn giấy nhỏ kê thêm ở sát góc tường ngay gần chỗ cầu thang lối dẫn lên các tầng lầu. Rồi anh ta nói lia chia mà Vũ cố gắng lắm cũng chỉ lõm bõm hiểu câu được câu chăng. Đại khái là phải đi rảo vòng quanh cơ sở mỗi giờ một lần, từ parking lot cho đến hàng rào kẽm gai, từ tòa building cho đến dẫy nhà kho, từ lầu trên cho xuống tới lầu dưới và phải ghi báo cáo vào cái bản in sẵn gọi là “daily activity report.”Cuối cùng anh ta trao cho Vũ một cái hộp đen sì có quai xách, trên có gắn một mặt đồng hồ gọi là cái round clock và nói:
  • Ở đây có tất cả hai mươi lăm cánh cửa có gắn 25 chìa khóa khác nhau của cái ‘‘round clock’’ này. Mỗi giờ anh phải đi tới mỗi cửa, lấy chìa ở đó tra vào ổ round clock rồi xoay một vòng. Nó sẽ in số của nó vào cái tape bên trong. Phải đi cho đủ hai mươi lăm cái chìa ở các cửa, bỏ sót là không được đâu. Sáng nào manager cũng mở ra, chỉ cần coi cái tape ghi như thế nào là nó biết anh có làm việc hay không.
    Sau đó, anh ta lôi tuồn tuột Vũ đi qua hai mươi lăm cánh cửa trong số cả trăm cánh cửa chằng chịt ở trong cơ sở này. Vũ bồng bềnh như ở trên mây. Có tàỉ thánh chỉ trong mấy phút mà người ta có thể nhớ hết được vị trí của hai mươi lăm cái chìa khóa treo lủng lẳng ở hai mươi lăm nơi khác nhau, từ lầu trên xuống sân sau để mỗi giờ lấy chìa tra vào ổ cái hộp đen kỳ cục này xoay nó một vòng cho nó in hàng ám số lên cuộn băng giấy nằm bên trong.
    Cuộn băng cũng chạy theo với trục kim đồng hồ. Lố giờ nào, sót cái chìa khóa nào, tự nó có thể tố cáo ra hết! Đúng là cái xứ văn minh kỹ thuật, xài rất ít người, nhưng lại có thể kiểm soát tối đa. Vũ có ác cảm ngay với cái hộp đen mà anh chàng Mễ kia gọi nó là cái “round clock” kể từ giây phút đó.
    Màn bàn giao công tác kể như tạm xong, anh Mễ có vẻ hí hởn như một con chim đang được tháo cũi xổ lồng. Hẳn anh ta vừa kiếm được cái job thơm hơn. Hẳn vĩnh viễn từ nay anh sẽ không còn là kẻ nô lệ cho cái hộp đen vô tri cục mịch lạnh lùng và vô tình cảm này.
    Bây giờ thì Vũ treo cái hộp lên chiếc đinh đóng ở ngay trên mé tường kế chỗ Vũ ngồi. Tại vị trí đó, nom nó đúng là một cái đồng hồ như tên gọi của nó, nhưng là một cái đồng hồ kỳ cục ở chỗ ngay chính giữa nó lại có một cái ổ sâu hoẳm, chỗ mà Vũ sẽ phải tra những chiếc chìa khóa, mỗi chiếc vừa to, vừa nặng không nhỏ hơn một ngón tay út của một con người. Lúc này thì Vũ có thể nghe thấy tiếng tích tắc của nó phát ra, như hơi thở điều hòa của một sinh vật, loài sinh vật được sinh ra ở trên cõi đời này để chỉ làm có mỗi một công việc là KIỂM SOÁT và TỐ CÁO kẻ khác.
    Nó làm cho Vũ liên tưởng ngay đến những khuôn mặt đáng ghét của những anh công an khu vực ở quê nhà, hễ bọn chúng đã bước qua ngưỡng cửa rồi thì mọi ngõ ngách, ngọn nguồn trong nhà đều bị những cặp mắt soi mói, tọc mạch ghi gói hết.Vũ nhớ lại một lần, có hôm một anh công an ghé vô, chưa kịp chào hỏi thì anh ta đã kêu lên:
  • Ủa! Cái kệ gỗ mọi khi ở đây, anh chị đem đi đâu rồi!
    Vũ ngạc nhiên nhìn về phía góc tường. Quả nhiên cái kệ gỗ mọi khi vẫn để những món đồ linh tinh nay đã bị rời đi từ lúc nào mà chính Vũ cũng không hay. Vừa may lúc đó vợ Vũ đã chạy ra trả lời đon đả:
  • Bán rồi anh ơi! Hết tiền, hết gạo thì phải bán. Của trong nhà cứ đội nón ra đi đó!
    Vũ nhìn vợ như trách móc, chẳng phải vì nàng tự tiện quyết định để lại món này, bán đi món kia, nhưng là vì nàng bán đi rồi mà chẳng thèm thông báo qua cho Vũ biết!
    Những kỷ niệm như thế vẫn lổn nhổn đầy rẫy trong đầu Vũ như những hạt sạn dù rằng chàng đã vượt biên được qua tới đây. Mấy năm qua rồi mà trí nhớ của chàng vẫn còn in nguyên những ấn tượng cũ, giống như những tâm hồn đã bị bầm giập, chỉ một thoáng xao động là cũng đủ đem lại một cơn đau đớn thảng thốt xót xa.
    Đó cũng là những lý do mà Vũ có ác cảm ngay với cái hộp đồng hồ đen đang yên nguyên tự tại trên tường với những tiếng tích tắc đều hòa. Vũ tránh không nhìn tới nó nhưng vẫn có cảm giác kể từ nay nó bắt đầu đè nặng lên tâm hồn mệt mỏi của mình.
    Chàng lại bàn giấy và kéo ghế ngốì phịch xuống. Trước mặt chàng là một xấp giấy in sẵn để bên cạnh một cây viết được cột bằng một sợi dây xích nhỏ. Lại một hình ảnh trói buộc làm Vũ thêm khó chịu. Bất giác chàng nhớ đến bộ đồng phục mình đang mặc trên người. Cái quần quá rộng. Cái ống quá dài. Nhất là cái thắt lưng đen to bản thật không tương xứng chút nào với con người vừa nhỏ thó, vừa gầy gò yếu đuối như chàng. Hôm đầu tiên đóng bộ này trên mình, Vũ soi mặt trong gương. Rõ ra là một sự tương phản gay gắt giữa bộ quần áo có chức năng bảo vệ hùng dũng với khuôn mặt có làn da xám như mầu chì và nhăn nhúm ở mọi chỗ của chàng.
    Vũ nhớ lại lời khuyên chí tình của một vị worker:
  • Ăn cho nhiều vào, ngủ cho đẫy giấc di. Béo khỏe ra ngay thì kiếm việc mới dễ. Ông mà cứ giữ cái vẻ mặt rầu rầu thế này, thì có gõ bao nhiêu cửa cũng thế thôi.
    Ai mà chả biết! Ở cái xứ này tuổi trẻ có lợi thế kiếm việc hơn ông già, bà già. Kẻ nhanh nhẹn hoạt bát dễ có cảm tình hơn những thứ u sầu, ủ dột mới nhác thấy đã lây ngay bệnh chán đời. Nhưng ăn cho nhiều, ngủ cho đẫy giấc để “béo, khỏe ra ngay” là một chuyện không dễ gì làm được. Không phải Vũ chê gì đồ ăn xứ Mỹ, nhưng hễ cứ mỗi lần Vũ giơ lên gặm một cái đùi gà dù là đùi gà để cả lố trong gói ướp lạnh, bán rẻ rề các chợ Mỹ, thì chàng lại nhớ đến dòng chữ đứa con gái út viết trong thư gửi qua cho mình: “Hôm qua nhận được gói quà của bố gửi, hôm nay mẹ bỏ tiền ra mua xương phở cho cả nhà được gặm. Ngon lắm bố. Lâu lắm rồi, con không được ăn thịt “.
    Hôm đầu tiên vừa ăn tối, vừa đọc thư, tới chỗ đó, Vũ liệng ngay cái đùi gà đang gặm và bỏ lên giường nằm đắp chăn khóc rấm rứt.
    Giấc ngủ của Vũ vì thế vẫn tràn đầy mộng mị và chàng hay choàng dậy thảng thốt vào lúc nửa đêm. Mấy năm rồi mà chàng vẫn còn cảm giác mình tỉnh giấc trên chiếc phản gỗ trong căn phòng nhỏ nơi quê nhà. Chàng tưởng rằng sẽ cảm thấy được hơi hướng ấm áp của vợ mình ở ngay bên cạnh hay nghe thấy tiếng nói mê ú ớ của con bé Út ở chiếc giường nhỏ kê phiá cuối phòng. Những lúc tỉnh trí lại, Vũ chỉ thấy mình đang bị giam hãm bởi một khoảng sâu mênh mang, vô tận, bốn bề lạnh lẽo, cái lạnh lẽo sâu buốt như những mũi kim gắn ngay ở giữa trái tim của mình. Rồi cơn mất ngủ kéo đến, lâu ngày nó làm cho da mặt của Vũ nhão ra, nhăn nhúm lại, cặp mắt hõm sâu, mỗi ngày một thêm bạc nhược, thẫn thờ. Tuổi chàng mới bốn mươi mà trông đã như ngoài năm mươi.
    Hậu quả là chẳng nơi nào nhận cho chàng làm việc, trừ loại công việc mà mới nghe tưởng như một sự trái khoáy, rỡn đùa: nhân viên an ninh- bảo vệ, tiếng Mỹ gọi là Security Guard.
    Cái dáng dấp chậm chạp, ủ rũ ấy, cái khuôn mặt khắc khổ, u sầu ấy coi vậy mà được dễ dàng chấp nhận hơn những thanh niên trai trẻ tràn đầy sức sống hoạt bát và sinh động. Lý do là các ông trẻ dễ nản, dễ chán và thường hay bốc đồng vô trách nhiệm. Điều này thật tối kỵ đối với ngành an ninh bảo vệ, không phải là thứ an ninh bảo vệ cần đeo súng đứng gác ở các nhà băng, nhưng là thứ an ninh chỉ cần còn đủ sức khỏe lê hết cánh cửa này đến cánh cửa kia để xoay những cái ổ khóa cứ mỗi giờ một lần.
    Văn phòng nhân viên của cơ sở Certified Protection Service bắt Vũ ký lia chia đủ thứ giấy tờ, từ giấy cam kết đối vớí nhiệm vụ cho tới giấy mượn đồng phục, từ đơn xin nhập học cho tới giấy lãnh các sách vở, tài liệu chỉ dẫn. Trong vòng không đầy năm phút, nghiễm nhiên Vũ được trở thành một thứ guard chính hiệu, hạnh kiểm tốt, lại tốt nghiệp khóa học 6 tháng về an ninh bảo vệ với số điểm tối đa 100 trên 100. Đó là điều kiện bắt buộc theo luật của tiểu bang đối với chức vụ mà dù muốn dù không thì cũng là loại được trao cho quyền hạn bắt giữ kẻ bất lương, gọi là có “power to arrest”.
    Bây giờ thì họ đẩy Vũ tới đây, trong vòng rào của một hãng tư, có những luống dây leo Ivy xanh rì, có một bãi đậu xe rộng mênh mông bát ngát, một tòa building ba tầng lầu và một dãy nhà kho chằng chịt ngõ ngách.
    Trước khi giã từ Vũ, anh chàng Mễ còn dặn vớt:
    — Hai mươi lăm cái chìa khóa đó nhé. Nhớ đừng có quên cái nào.
    Cuộc truyền nghề diễn ra trong vòng không tới nửa tiếng. Bây giờ thì đầu óc của Vũ lộn phèo chẳng còn nhớ được vị trí cánh cửa nào có gắn sợi dây xích đeo lủng lẳng cái chìa khóa cần xoay cho cái hộp đen “round clock” hay cánh cửa nào chỉ cần kiểm soát sơ qua mà không có gắn sợi xích có chìa.
    Rồi Vũ khởi sự làm công tác thực sự về ngành an ninh bảo vệ đầu đời của mình. Chàng đeo cái hộp đen lên vai. Nó không nặng lắm nhưng nó gây cho Vũ một cái cảm giác mình có bạn đồng hành, đúng hơn một loại công an áp tải không bao giờ biết mệt mỏi hay lơ đễnh.
    Phòng ốc của Mỹ coi bề ngoài thì có vẻ ngăn nắp, gọn ghẽ nhưng vô đến bên trong rồi mới thấy nó chằng chịt, ngăn chỗ này, chia khu vực chỗ kia, cửa này bít không xài, cửa kia coi như một cái ngách vậy mà là chỗ nhân viên ra vô thường xuyên. Tủ, kệ, hồ sơ chất cao như núi, bàn ghế nhiều cái không xài tới hay còn chờ chỉnh trang, sửa chữa nằm choán chỗ ở nhiều nơi, đã thế lại còn có những kiện hàng mới tới, kiện hàng đang khui, nằm chen chúc với chỗ này là dẫy bình cà phê hâm suốt ngày, chỗ kia là máy bấm kim, máy cắt bìa, máy xê-rốc. Đó là chưa kể tới những dàn máy computer, cái thì in ra giấy, cái thì chớp xanh chớp đỏ trên màn ảnh, còn máy chữ tự động thì vô thiên lủng. Vũ nhìn cứ hoa cả mắt, chẳng còn nhớ đâu là cánh cửa mà mình đã đi qua, đã xoay ổ khóa, cửa nào còn sót lại chưa đi, cửa nào là lối ra, cửa nào là lối đi sâu thêm vào, cứ cái điệu này thì đến suốt ngày loay hoay với những cái ổ khóa chớ chẳng phải nói nghe ngon ơ có hai mươi lăm cái chìa chỉ cần xoay có mỗi một giờ một lần.
    Nhưng rút cục rồi thì Vũ cũng lần ra hết thẩy, Chàng chơi cái trò chia vòng đi tuần của mình ra làm nhiều cái mốc nhỏ cho dễ nhớ, mỗi mốc nhỏ đánh dấu bằng một hình ảnh, thí dụ như đi qua cái bàn hẹp trên có bầy một lũ vỏ sò của bà Mỹ già hay sưu tập những thứ lẩm cẩm là chàng đã xoay đủ 5 vòng khóa đầu tiên. Rồi đi tới một vách tường trên có ghim ảnh ba bốn cầu thủ nổi tiếng về football là Vũ biết mình phải vòng sang tay trái. Chàng sẽ gặp một cánh cửa bằng tôn gần bị che lấp bằng một dẫy tủ hồ sơ vĩ đại. Có một cái chìa khóa nằm ở đó, nó mang số Z7. Từ cái chìa khóa Z7 chàng sẽ phải tới cái chìa khóa L15 ở đằng sau bàn giấy của một cô Mỹ mập như một con voi; giỏ rác ở dưới chân cô ta chứa toàn một loại đồ ăn, đồ uống để “diet”. Sau cái chìa L15 thì sẽ đến cái chìa R9, lắm lúc Vũ bực bội chửi thề rằng sao nó không để theo thứ tự cho người ta dễ nhớ. Vì nhớ không được nên vũ đã xoay một cái chìa tới hai lần, ba lần mà cứ tưởng rằng nó là cái chìa chưa được xoay tới. Rồi chàng đâm ra oán cái đổng hồ hộp đen. Phải chi không có nó thì muốn chìa nào xoay hay không xoay thì cũng mặc xác nó. Nhưng nếu được như vậy thì đã chẳng phải nói và Vũ đã chẳng phải đánh vật với những màn đếm nhẩm, tính toán là lầm nhầm như một kẻ tội đồ vừa đi vừa đọc kinh cầu nguyện. Cái Z7 rồi đến cái L15, sau cái L15 thì phải tới R9, lắm lúc Vũ bực bội chửi thề rằng sao nó không để theo thứ tự cho người ta dễ nhớ. Vì nhớ không được nên vũ đã xoay một cái chìa tới hai lần, ba lần mà cứ tưởng rằng nó là cái chìa chưa được xoay tới. Rồi chàng đâm ra oán cái đổng hồ hộp đen. Phải chi không có nó thì muốn chìa nào xoay hay không xoay thì cũng mặc xác nó. Nhưng nếu được như vậy thì đã chẳng phải nói và Vũ đã chẳng phải đánh vật với những màn đếm nhẩm, tính toán là lầm nhầm như một kẻ tội đồ vừa đi vừa đọc kinh cầu nguyện. Cái Z7 rồi đến cái L15, sau cái L15 thì phải tới R9, không gặp cái R9 là mình đi lộn, khi đi lộn thì ra ở cửa này, vào ở cửa kia, phải gặp cái bàn để linh tinh đủ loại vỏ nghêu, sỏ ốc, hến, vân vân…..
    Những ngày đầu tiên ở đây, Vũ làm việc phờ phạc. Khởi sự đi từ lúc đầu giờ, leo hết được ba dãy lầu và một dẫy nhà kho, xoay đủ hai mươi lăm cái chìa khóa Vũ đã tiêu mất bốn mươi lăm phút đồng hồ. Ngồi thở dốc được mười lăm phút thì lại tới đầu giờ kế tiếp và lại leo lên cầu thang của building ba tầng lầu. Lắm lúc Vũ tự vì mình như một con sên bò lên vách tường. Leo lên cho đã rồi bị tụt xuống. Tụt xuống rồi lại leo lên nữa. Một ngày tám tiếng, mỗi tuần năm ngày, có hai ngày được nghỉ thì lại không phải là thứ Bảy hay Chủ Nhật. Thứ Bảy, Chủ Nhật hay cả ngày lễ nữa là ngày không thể xin nghỉ được đối với người làm nghề security. Bởi vì ngày nghỉ thiên hạ về hết thì còn ai trông coi phòng ốc nếu không là những anh bảo vệ.
    Vào những hôm đó, sở làm vắng hoe không có một mống, tuy nhiên không phải vì thế mà Vũ bớt đi được một chút xiú công việc nào. Cái hộp đen đồng hồ quái ác vẫn lủng lẳng treo trên vách tường. Nó sẵn sàng tố cáo nếu như Vũ lười đi tua một lần hay nhảy cóc không xoay đủ hai mươi lăm vòng chìa khóa. Quyền năng của văn minh, kỹ thuật thế mới biết là ghê gớm.
    Lần đầu, đối với Vũ không còn là công việc phải nhớ vị trí của từng chiếc chìa khóa nữa mà là sự chạy đua với thời gian của mỗi một lần gọi là clock round. Lúc trước, hết một vòng Vũ phải dành tới bốn mươi lăm phút. Dần dà chàng rút xuống còn có nửa giờ, rồi hai mươi lăm phút và chàng đang cố đạt tới kỷ lục hai mươi phút.
    Chàng tự tiêu khiển với chính minh bằng cuộc chạy đua này với cây kim trên mặt đồng hồ của cái hộp đen. Bây giờ thì những ngón tay của Vũ đã đạt được tới mức độ chính xác hết chổ chê, dù cái chìa có treo ở đầu trên vách, bằng sợi xích ngắn hay dài, ở chỗ có thuận tay hay trái tay thì Vũ cũng chỉ cần với một cái là đã đặt đúng cái đầu chìa vào ổ khóa trên đồng hồ. Rồi chàng cũng chỉ cần xoay nó với một tốc độ vừa phảỉ không mạnh quá mà cũng không nhẹ quá. Sẽ có một tiếng “cốc” vang lên, trái với hồi đầu luôn luôn Vũ phải xoay cái chià tới hai lần để cho nó chắc ăn là hàng ám số trên chìa đã in được lên băng giấy. Vũ chưa từng được thấy cuộn băng khi được mở ra kiểm soát hằng ngày sẽ ra sao, nhưng chàng tin chắc trong phần việc của chàng, những chữ số sẽ rất đẹp. Không đậm mực quá, cũng không lợt quá do bàn tay “xoay chìa khóa” một cách thiện nghệ của mình.
    Mọi thủ tục chàng đã hoàn tất trong vòng hai mươi phút cho mỗi giờ phải đi tua. Nói cho chính xác ra là phải mất hai mươi phút và ba mươi giây. Thêm mười phút nữa để ngồi thượt ra, thở dốc, chờ tim bớt đập mạnh và hoàn tất thủ tục báo cáo trên tờ report từng giờ với vỏn vẹn một hàng chữ: “Clock round — All secure”. Còn có dữ kiện gì phải báo cáo thêm đối với loại công tác buồn nản này. Một nửa giờ còn lại, Vũ không biết làm gì hơn là ngồi khoanh tay hút thuốc tại bàn giấy của mình.
    Hồi mới đến, nói cho ngay chàng còn có thể coi sách hay đọc báo. Nhưng rồi sau một đợt “cải tiến” lề lối làm việc cho tăng uy tín của sở bảo vệ, ngay chỗ chàng ngồi có thêm một cái bảng hiệu mới “Cấm đọc sách báo trong giờ làm việc” Thế là mọi thứ bị tém dẹp hết. Vũ trở nên ngồi hêu ra trong mỗi nửa giờ của tám tiếng trong ngày. Chàng bắt đầu chán cái thứ chạy đua với thời giờ và khỏi sự la cà ở hành lang này hay tầng lầu kia.
    Chàng có dư thì giờ để so sánh màu xanh của lá chậu cây này với màu xanh của lá chậu cây kia, toàn là những loại cây Vũ chẳng bao giờ thấy ở quê nhà, đặt rải rác ở cầu thang, ở dọc lối đi, được nuôi sống không phải vì đất mà chỉ là những mớ bùi nhùi tẩm hóa chất. Có lần Vũ tò mò tới sờ mó từng sớ lá, từng vẩy thân cây xem nó là đồ thật hay đổ giả. Vậy mà Vũ cũng không thể kết luận được chắc chắn rằng cây nào thật, cây nào giả. Cái xứ Mỹ này có lắm cái thật kỳ. Chỉ thiếu điều là chàng phải bẻ ngay ra một cánh và ngửi tận mùi để phân biệt thì họa may ra mới có thể biết chắc được.
    Nhưng chưa bao giờ Vũ làm chuyện ấy cả. Chàng chỉ đứng trước bồn cây một cách tần ngần và đôi khi cử chỉ này của chàng bị một vài nhân viên bắt gặp. Họ đã ngó chàng vóỉ cặp mắt lạ kỳ như đang đối diện với một tên mất trí, hay ít ra là một kẻ bất bình thường. Không mất bình thường sao được khi mà có một kẻ không biết làm gì khác hơn là đứng ngây người ra để ngắm một chậu cây chỉ có toàn lá xanh mà không có lấy một bông hoa. “Lá xanh thì có gì lạ để mà ngắm nghía hay sờ mó kia chứ.”
    Điều này, đối với Vũ, thoạt tiên chàng tưởng là chuyện không có gì đáng phải quan tâm. Mỹ quốc là một xứ tự do, dĩ nhiên là sự tự do không xâm nhập đến quyền lợi hay những điều riêng tư của kẻ khác. Đứng ngẩn người để ngó một chậu cây xem nó là thứ giả hay thứ thiệt, nếu có giơ bàn tay xương xẩu ra rờ mó một cánh lá, một khúc cành thì cây cối đâu có biết phiền hà gì mà đáng phải lưu tâm.
    Vậy mà Vũ đã vi phạm phải một lỗi lầm trầm trọng trong cuộc đời đi làm sở Mỹ của mình.
    Có một hôm, chàng bị gọi về sở làm, trình diện ông manager. Ông ta hỏi chàng đủ thứ về lãnh vực sức khỏe của mình, đặc biệt là câu hỏi “Có bao giờ anh phải đi bác sĩ về bệnh Mental Health không?”.
    Dĩ nhiên là Vũ phủ nhận tất cả những luận điệu chụp mũ đó. Đồng ý là chàng có nhiều tâm sự buồn chán, xa quê, nhớ vợ, thương con, nhưng chưa bao giờ Vũ cảm thấy quẫn trí. Quẫn trí sao được khi vợ con chàng hàng tháng vẫn hằng ngóng đợi chàng gửi về chia sẻ từng gói quà nhỏ nhặt trong vòng 2 pounds “Hôm nay mẹ bỏ tiền mua xương phở cho cả nhà được gặm. Ngon lắm bố. Lâu lắm con không được ăn thịt.”
    Đó là lý do tình cảm quan trọng nhất bắt buộc chàng phải đứng dậy, phấn đấu với mọi nỗi mệt mỏi, chán chường để chen chân lấy một chỗ đứng trong cái xã hội xa lạ, lạnh lùng này. Đó cũng là lý do mà dù tâm trạng của Vũ ê chề chua xót nhưng chàng cũng vẫn cứ phải gân cổ lên cãi:
  • Tôi rất khỏe mạnh. Tôi rất yêu đời. Đời sống này quá tốt đẹp, có điều gì khiến tôi phải rơi vào tình trạng ‘‘Mental Health” đâu.
    Viên manager nhìn chàng thêm một lần nữa để đánh giá con người của chàng rồi buông sõng một câu:
  • Vậy thì từ nay đừng có đứng ngẩn người trước những chậu cây nữa. Có người complain anh về chuyện đó đó!
    À! Thì ra người ta tưởng Vũ điên, hay có dấu hiệu của kẻ đang đi đến chỗ mất trí.Từ hôm đó, chàng đi qua những chậu cây mà không dám liếc nhìn. Chàng có cảm giác như lúc nào cũng có hàng chục cặp mắt ở chung quanh, bên trái, bên phải, đằng trước, đằng sau, sẵn sàng bắt được chàng trong tư thế quả tang “biểu lộ một sự mất quân bình về tâm trí”.
    Nỗi ám ảnh này cứ ngày một gia tăng dần rồi tệ đến nỗi ngay khi chàng cô đơn lủi thủi trong căn phòng chật hẹp của riêng mình, chàng cũng có cảm giác như mình đang bị bao vây, theo dõi. Có đêm Vũ choàng thức giấc, chàng vừa mơ thấy một giấc mơ hãi hùng, ở đó chàng bị sa thải vì bệnh “Mental Health” , chàng thất nghiệp, chàng không còn tiền gửi về cho gia đình ngay cả đến gói quà 2 pounds. Hình ảnh của bé Út nhạt nhòa chen lấn với những khúc xương phở, những bát bo bo và chiếc đồng hồ đen mà ngày ngày chàng vẫn đeo lủng lẳng trên vai.
    Giấc mơ không phải chỉ thoáng qua dễ dàng. Nó thực sự gây cho chàng nhiều nỗi rối rắm trong đầu. Nó xen vào những ý nghĩ thứ tự lớp lang theo một chuỗi tư tưởng xuôi dòng nào đó và làm cho tất cả những thứ tự này trở’nên lộn phèo. Tình trạng này trước còn xẩy ra thưa thớt, dần dà Vũ phát hiện được ra rằng nó đến với mình có vẻ thường xuyên hơn. Như một con kiến đang bò trên sợi dây chỉ căng thẳng bắt chợt đụng phải cái nút buộc, con kiến bò quanh bò quẩn, có lúc lộn đường bò ngược lại. Nếu đem ví chàng với con kiến, thì tình trạng này cứ ngày một nhiều hơn. Nó vây quanh lấy ý nghĩ chàng và lại còn cho chàng cái cảm giác của một con thú bị săn đuổi.
    Chàng tự nhủ “mình phải chống trả lại chúng nó chứ. Phải chống bằng bất cứ giá nào để chứng minh với tất cả mọi người rằng tôi là một kẻ bình thường chứ”. Ý nghĩ chống trả nung nấu trong đầu óc của Vũ sâu đậm đến độ nó làm cho vẻ mặt của chàng nhiều lúc trở nên dữ tợn hơn. Bây giờ chàng không còn nhìn mọi nhân viên làm việc ở đây như những kẻ bình thường nữa. Bình thường sao được một khi trong số đó, đã có kẻ tố cáo với sở của chàng là chàng có dấu hiệu của sự bị mental health. Có lúc chàng lẩn thẩn ngồi ôn lại cuộc gặp gỡ giữa mình với lão manager ở sở bảo vệ. Chàng lấy làm tiếc rằng mình đã nói quá ít để biện minh cho chính mình. Đáng lẽ chàng phải nhồi vào đầu óc lão cái ấn tượng mạnh mẽ hơn rằng chàng vẫn còn mạnh khỏe. Bởi vì nếu chưa đủ mạnh, có thể sẽ lại có thể bị mất việc. Ý nghĩ bị sa thải thôi thúc Vũ ngày một cấp bách hơn. Đến độ, có một hôm, Vũ bỏ giở lần đi tua của mình, xông về phía văn phòng của lão manager thuộc cơ sở mà chàng có nhiệm vụ bảo vệ, nhào vô bất châp cả việc gõ cửa một cách lịch sự,và chàng chỉ vào mặt lão ta, nói một cách hằn học:
  • Tôi ghét sự nói láo của những kẻ làm việc dưới quyền của ông. Tôi ghét luôn cả những loại cây giả tạo mà ông cho trưng bầy ở mọi chỗ trong cơ sở này. Chúng nó chẳng có gì xứng đáng để khiến cho tôi phải đứng thừ người, chiêm ngưỡng so với những cây cỏ tươi tốt, đẹp đẽ ở trên quê hương của tôi. Vậy thì, những kẻ nào tố cáo tôi như vậy, chính nó mới là đứa có bệnh “mental health” đó thưa ông!”

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

  1. Mùa Xuân Của Nàng
    Có một anh nào đó trong sở làm nói rằng hễ nàng hiện diện ở đâu thì ở đó có mùa xuân. Rõ ra là một lời tán khéo, kiểu cách. Tuy nhiên trên một vài phương diện nào đó, lời tâng bốc này chẳng phải quá đáng. Nàng rực rỡ thật. Đó không phải là loại sắc đẹp rực rỡ phô bầy một cách lộ liễu, trọn vẹn nhưng thiếu chiều sâu của một tâm hồn như Sally, như Risher, như Correa những người đẹp đang làm ở đây chẳng hạn. Nàng có trang điểm gì đâu mà vẫn rực rỡ? Nàng có phô bày ồn ào gì đâu những mẩu son môi, những bút chì kẻ mí mắt, những loại phấn xanh, phấn hồng mà nước da của nàng vẫn trắng như nõn tuyết, vành môi của nàng vẫn ửng mầu hoa đào, đôi mắt của nàng vẫn lúc nào cũng như ướt át, mơ màng và sâu thẳm. Ngày xưa, mẹ có lần nói lên với bố rằng con bé sợ rằng sau này có số khổ, đôi mắt của nó lúc nào cũng như nhìn qua một màng lệ.
    Phần số xấu tốt thế nào chưa rõ, nhưng đôi mắt của nàng thật đã có đầy vẻ quyến rũ. Nó làm cho John đã phải chết sững lại ngay hôm đầu tiên đối diện với nàng khi nàng tới đây nhận việc. John ngồi ở sau chiếc bàn giấy thật lớn. Sau lưng chàng là một khung cửa kính chói lòa nhìn xuống nguyên một giải thung lũng bát ngát ở bên kia thành phố. Phòng làm việc của John có salon, có tủ sách, có ti vi, lại đặt nguyên cả một cái ống nhòm có càng ba chân để lúc rỗi rãi có thể đứng ngắm hay quan sát mọi vật ở cách xa hàng dặm nữa. Rõ ra là một xếp lớn. Nhưng John thì lại quá trẻ khi được đặt trong cương vị này. Phó Giám Đốc điều hành của một công ty lớn chứ đâu phải chuyện chơi.
    Tuy nhiên chỗ làm việc của các nhân viên dưới quyền thì lại là một cái gì tương phản so với quang cảnh xa hoa trong phòng của John. Căn lầu chót của tòa building ba tầng lầu chỗ nàng làm việc này, nhìn bên ngoài thì có vẻ đồ sộ, nhưng bên trong đã bị chia cắt thành hàng trăm căn phòng nhỏ hẹp, cái nào cái nấy trông như những cái chuồng chim hướng ra một dãy hành lang chỉ vừa đủ hai người đi lọt. Phải mất một thời gian khá lâu nàng mới định rõ được vị trí của từng nơi, của từng phòng làm việc của những người có công tác liên hệ.
    Nàng rất ít có dịp la cà ở mọi nơi. Khu vực di chuyển của nàng chỉ là từ phòng làm việc đi xuống mail room chỗ đặt máy photocopy để làm những bản sao, giờ nghỉ thì ghé xuống kitchen ngồi ăn trưa quanh những chiếc bàn tròn và sau đó trở về khu vực của riêng nàng, một cái phòng hẹp mỗi bề không quá hai thước, phía trước có cửa ra vào, phiá sau là khuôn cửa sổ cũng nhìn ra thung lũng trải dài dưới tầm mắt.
    Nàng rất ưa thích chỗ này, bởi qua khung cửa kính phía bên trái của nàng, nàng cũng có thể nhìn xuống được vùng thung lũng ở bên kia thành phố. Nó gợi lại cho nàng hình ảnh của những khu đồi thấp tràn đầy cỏ xanh ở quê nhà. Mỗi khi mùa xuân đến thì nền cỏ trở thành một cái thảm mịn màng, xanh biếc, trổ ra muôn ngàn sắc hoa rực rỡ. Hồi chưa sang đây, lúc còn nhởn nhơ dậy thì, nàng đã chạy nhảy nô đùa trên nhưng đồi cỏ ấy. Cuộc đời đổi thay mau chóng thật. Mùa xuân hằng năm vẫn đúng hẹn trở về phô bày tất cả dáng dấp, nhịp điệu tuần hoàn cũ, nhưng nàng thì đã ngồi ở đây, cô đơn như một con mèo nhỏ, lòng mênh mang, chất chứa một nỗi buồn đầy ắp những kỷ niệm vàng son đã trôi vào quá khứ.
    Điều này lắm lúc làm nàng ngồỉ thừ người ra. Nàng quên xấp hồ sơ trước mặt. Nàng quên những hàng số chi chít ghi trong biểu đồ. Nàng không nhớ tới cả những kỳ hẹn phải hoàn tất công việc mà bên khu vực Marketing đã ghi trên một mẩu giấy nhỏ gắn ở ngoài bìa mỗi hồ sơ. Và có khi cơn thẫn thờ của nàng bị bà già Debbie Melinda bắt gặp.
    Trong cả sở ở đây, chỉ có bà này là có ác cảm nhất với nàng. Nguyên do sâu xa là bà ta có cô con gái muốn ngấp nghé trờ thành bà John. Đã nhiều lần John có ghé thăm nhà bà. John và Suzane đã có dịp gặp gỡ nhau, đưa nhau đi ăn tối, nhảy nhót.
    Mọí sự êm đẹp cho tới khi nàng tới nhận việc. Bà Debbie cảm thấy ngay nổi bất ổn sẽ xảy ra cho con gái của mình. Bà trút cái tội này lên đầu có mỗi một mình nàng mặc dầu nàng đã hết sức ý tứ để không tạo nên bất cứ một sự hiểu lầm nào cho cả John lẫn bà Debbie. Ấy vậy mà bà già vẫn tìm đủ mọi cách để kèn cựa. Thí dụ như chuyện ở đây có một cái thang máy di chuyển từ lầu một lên lầu ba. Nhân viên được khuyến cáo nên sử dụng cầu thang thường để tiết kiệm năng lượng. Ngay ở đầu mỗi hành lang đều có một cái bảng màu xanh chữ trắng ai cũng nhìn thấy “Please Use Stairs”. Một lần vô tình nàng đã sử dụng thang máy để đi xuống lầu. Bà Debbie trông thấy liền chỉnh ngay:
  • Cô thấy rõ cái bảng gắn ở cạnh cầu thang chứ?
    Nàng sượng sùng nói ‘sorry’ và từ đó nàng ghét luôn cả cái cầu thang máy. Đời sống nó nhỏ mọn như thế đủ để làm cho nàng phải mệt mỏi. Cũng may là công việc ở đây thường xuyên là ngập đầu. Nó lôi cuốn nàng đi, khỏa lấp cho nàng những ngày giờ trống rỗng. Nó không bắt nàng phải suy tưởng lôi thôi phức tạp, ràng buộc giữa sự kiện này với sự kiện kia, khiến nàng phải vùng vẫy, phải cố gắng mới thoát ra được. Trên một phương diện nào đó, rõ ràng nàng đang chối bỏ chính mình.
    Có lúc nàng tự nghĩ, rút cục lại thì mình là cái gì trong đời sống này? Một con ốc trong cả guồng máy xã hội ư? Chuyện tầm phào, bởi nếu nàng có văng ra, có biến đi thì có cả trăm ngàn con ốc khác sẵn sàng được thay thế và xã hội chẳng mảy may sứt mẻ gì. Đó là những nỗi thắc mắc khi nàng mon men lại gần bên rìa của sự kiện đi tìm một lẽ sống. Nhiều năm ở đây nàng đã cố gắng tô điểm cho cuộc đời của mình thêm những hương vị đáng sống, nhưng càng cựa quậy bao nhiêu nàng lại càng chỉ thấy những nhạt nhẽo bấy nhiêu.
    Tuy nhiên nàng không tuyệt vọng đến độ giấu sẵn trên đầu giường một tube thuốc ngủ để lúc nào hứng lên thì uống. Nàng mường tượng như mình vẫn đang chờ đợi một cái gì đến. Một tình yêu. Một hôn nhân. Một cơn mất trí. Hay một cuộc tự sát. Tất cả đều có thể cơ hội xảy ra, không nhất thiết cứ phải là cái này hay cái kia. Có điều là nàng đã nghĩ rằng cái nào xảy tới thì cũng thế. Nàng không lo sợ, vui mừng hay ngạc, nhiên. Và trong tâm trạng ngày tháng đợi chờ, nàng chỉ muốn được yên thân. Nàng tự nghĩ giá mà John bớt đi sự săn sóc đặc biệt dành cho nàng. Giá mà nàng có một gã đàn ông nào đó lui tới thăm hỏi để nàng có thể giới thiệu với tất cả mọi người ở đây là boyfriend của tôi, hay tốt nữa thì đây là chồng tôi, thì có lẽ mọi sự sẽ ổn thỏa đâu vào đó ngay.
    Khổ một nỗi nàng không thể kiếm được ra ai trong vai trò đó. Hoàng thì cao ráo, lịch sự, nhưng trẻ quá. Đối với anh ta, nàng cứ có cảm giác một bà chị hơn là muốn trở thành một ngưỏi tình. Văn thì diêm rúa quá, sự diêm rúa mang cái vẻ đàng điếm hơn là đem lại cho nàng sự tin cậy, nể phục. Được nhất thì chỉ có Thái. Thái già dặn, từng trải, có lòng, nhưng anh chàng này lại quá nhiều mặc cảm hoài vọng với quá khứ. Hình như dù là sau tám năm lưu lạc, anh ta vẫn không quên được thời kỳ vàng son của mình. Tệ hơn thế, đáng lẽ phải quên đi, phải nhận thức rõ rệt hoàn cảnh mỗi, điều kiện mới để biết mình đang ở đâu, cần phải làm gì để tạo cơ hội mà ngoi lên thì anh ta lại chỉ biết kể lể về những hào quang cũ. Cho nên sau một vài lần gặp gỡ trong lúc Thái thao thao nói về mình thì đầu óc của nàng bay bổng tận đâu đâu, nàng nhớ đến giải thung lũng với những cụm hoa màu vàng chói in trên nền cỏ xanh, nàng nghỉ đến chiếc xe hơi của mình chắc là trục trặc bình điện sao đó mà sáng nay đề năm, sáu lần mới nổ máy, nàng nghĩ tới cả cái bill điện thoại tháng này không biết nàng liệng nó đi đâu mà tối hôm trước khi đem cuốn check ra định ký trả nhưng tìm không thấy. Những cuộc đi chơi với nhau như thế thật rất là “boring”. Chưa lấy nhau đã vậy, nếu ván đã đóng thuyền rồi, thì không biết còn “boring” tới đâu. Giữa hôn nhân và một liều thuốc ngủ khoảng cách đâu có xa.
    Rút cục lại, trong những cuộc kiểm điểm tình cảm của mình, nàng vẫn không thoát được những kỷ niệm về Sơn. Càng thiếu Sơn, mất Sơn, nàng càng cảm thấy Sơn chiếm quá nhiều chỗ trong tâm hồn của nàng. Hôm đưa nàng xuống bến tàu, Sơn hối hả quay xe lại và nói:
  • Anh chỉ đi mười lăm phút là quay lại. Còn phải đón thêm thằng Khang nữa. Nó đang chờ!
    Mười lăm phút hò hẹn của Sơn dài bằng cả cuộc đời cô đơn, mòn mỏi của nàng. Trong giây phút cuối, Sơn bận đồ quân phục xốc xếch đầy bụi đường. Mái tóc bồng bềnh có những sợi xòa xuống vầng trán phẳng. Trông chàng rất mệt mỏi, nhưng đôi mắt vẫn đầy vẻ đam mê, linh hoạt.
    Thời gian cấp bách quá đến độ Sơn không kịp ôm hôn cả nàng để nàng có dịp ôm lấy mái tóc dầy và ấm áp của chàng. Suốt tám năm lưu lạc, nàng không nguôi cái ước muốn được lùa bàn tay búp măng thuôn và dài của mình vào những sợi tóc bồng bềnh nghệ sĩ của Sơn. Ba năm trước, một cánh thư hiếm hoi, ngắn ngủi vượt qua đủ mọi cửa ải khó khăn, nghìn trùng đã tới được tay nàng. Sơn báo tin “tóc của anh bây giờ rụng hết rồi”. Nàng chới với như một cánh chim bị trúng đạn. Vốn liếng kỷ niệm chỉ còn chừng đó để nâng niu phút chốc sụp đổ. Nàng đâm ra sợ hãi nhận được những tin tức ở quê nhà. Thời gian đầu còn nóng nẩy, chờ đợi, còn viết những trang thư dài tràng giang đại hải về nhà để kể lể những nỗi nhớ thương. Nhưng rồi tình cảm bồng bột ấy ngày một lắng xuống.
    Khi người ta bất lực không làm được gì thì thái độ chọn lựa thường là trốn tránh. Nàng vừa trốn tránh tất cả những gì liên hệ đến Sơn vừa tự nguyền rủa chính mình. Mà rút cục, nàng có thoát được đâu. Nàng có thể không viết thư cho chàng. Nàng có thể không nhờ người dò la, hỏi thăm tin tức của chàng. Nàng có thể nhận nguyên phong thư gửi từ Việt Nam qua nhưng không bóc nó, giấu nó ở phía sau tập album để ở đầu giường của nàng mà có khi vài ba tháng sau lúc không còn công việc gì để làm nữa, để giết những thì giờ trống rỗng của mình nữa, nàng mới tình cờ lật album ra thấy nó và xé ra đọc. Nàng thấy mình có lý khi cho rằng tất cả mọi chuyện đang xảy ra ở Việt Nam bây giờ đều không cần thời gian tính. Năm ngoái. Năm nay. Và cả năm tới nữa thì đời sống tối tăm, thiếu thốn, khổ nhục ở đó vẫn sẽ cứ là tối tăm, thiếu thốn, khổ nhục. Chưa đọc thư đã biết trong thư nói gì rồi thì đâu còn gì hứng thú để mà chờ đợi.
    Nhưng dù vậy thì vẫn có một điều nàng không thể làm được, không thể thoát ra được. Đó là sự ngự trị của Sơn, không ồn ào thương nhớ, không đau đớn thổn thức đến nghẹn ngào, nhưng nó tiềm ẩn ở đâu đó trong tận đáy tâm hồn của nàng. Sơn có thể trách cứ nàng (nếu như chàng còn sống ở đâu đó trong vòng rào một trại cải tạo) vì nàng đã không tìm cách liên lạc, thư từ. Nhưng Sơn không thể biết được rằng nàng vẫn đi vào giấc ngủ trong ý nghĩ được lùa bàn tay vào sâu trong mái tóc bồng bềnh của chàng.
    Mái tóc ngày xưa. Hai chữ ngày xưa sao nghe không còn dư âm ngọt ngào của những chuyện cổ tích thuở thiếu thời nữa mà đầy rẫy những đắng cay, những đêm trằn trọc, thao thức, những ngày dài trống rỗng, buồn nản, cô đơn đến độ có thể uống một liều thuốc tự tử ngay lập tức được.
    Lắm lúc nàng tự nghĩ không hiểu tại sao mình lại cứ phải kéo dài cuộc sống vô vị, buồn chán thế này. Nàng mới gần ba mươi tuổi mà như người đã biết trước, biết hết tất cả những gì xảy ra trong cuộc hành trinh sắp tới. Thế thì cuộc đời này còn có cái gì thi vị nữa để mà sống. Như một truyện trinh thám chưa đọc hết cuốn sách đã biết cái hồi kết cục của nó rồi. Còn gì thê thảm hơn trong đời sống của một con người mà ngày này qua ngày khác không có điều gì để chờ đợi cả. Nàng rơi đúng vào cái tâm trạng đó. Nàng nhận biết nó. Nàng thấy rõ những hậu quả tai hại của nó. Nàng đã từng vùng vẫy để thoát ra. Nhưng Hoàng thì quá trẻ. Văn thì diêm rúa đến độ có vẻ điếm đàng. Thái thì ngụp lội trong hào quang đã tắt của mình. Nàng còn phải làm bao nhiêu cuộc trắc nghiệm khác nữa để cuối cùng hẳn rồi cũng lại thấy rằng chẳng ai thay thế được hình ảnh của Sơn, ngay cả chính Sơn bây giờ cũng còn chưa chắc nữa là!
    Trên một phương diện nào đó, đây là lúc rất thuận lợi để cho John có thể chinh phục được nàng. John là một biểu tượng cho một cái gì hoàn toàn mới mẻ. Nó hoàn toàn tách lìa với dĩ vãng của nàng. Nó không có điều kiện để tạo cơ hội cho nàng phải vướng víu đến những ràng buộc xưa cũ. Nói chung nó đưa nàng tới một ngã rẽ khác,chỉ có trước mặt mà không có đằng sau lưng. Chỉ có hiện tại, mà không có quá khứ. Còn tương lai thì là một điều gì quá xa lạ trí óc của nàng dù phong phú cũng không thể hình dung nổi ra thế nào.
    Và John đang cố gắng làm điều đó. Sáng mồng một tết, nàng vẫn tới sở làm. Nàng thấy trên bàn giấy đã có sẵn một lẵng hoa tuyệt đẹp. Tất cả đều là hồng nhung, loại hồng có cánh nhỏ, sậm màu, rất nhã, rất tiệp với những chiếc lá non xanh biếc nổi bật trển chiếc lẵng hoa sơn màu ánh bạc với một giải lụa trắng thắt nơ hồng. Trong lẵng hoa còn cài một cánh thiệp. Trong cánh thiệp có hàng chữ do chính John viết tay vào: “Happy your New Year”, kèm theo một dòng chữ Việt bỏ dấu một cách hết sức dại khờ “Chúc mùng nam mợi”.
    Không biết ai đã mách nước cho anh chàng si tình này, Nhưng mầy mò để viết ra được câu tiếng Việt ấy kể là anh ta đã dụng công. Điều này đã khiến cho nàng nhen nhúm một nỗi lo sợ vẩn vơ. Lý do là nàng muốn yên ổn. Một lẵng hoa và một lời chúc tụng bất thường thế này hẳn sẽ là đầu mối của những cơn xáo trộn. Nàng muốn giữa John và nàng cứ giữ được một khoảng cách lịch sự hàng ngày. Đụng đầu nhau ở trong hành lang hẹp, bao giờ John cũng lùi bước, nép qua một bên theo một lối kiểu cách, còn nàng thì cảm ơn bằng một nụ cười không cố tình làm tăng thêm vẻ quyến rũ.
    Được cái John là một người thuộc loại trí thức. Chàng không có cái cung cách ồn ào, ngáo ngổ như đa số những anh đàn ông khác ở đây. Chàng cũng đủ tế nhị để đo lường được mức độ có thể tiến tới. Chàng chưa bao giờ có một kinh nghiệm giao tế nào với những phụ nữ Đông Phương. Với chàng, họ luôn luôn như bao trùm bởi một vòm hào quang bí mật. Ngọt ngào. Hấp dẫn. Thu hút. Nhưng khó hiểu một cách đáng sợ. Tuy nhiên năm mới là một cơ hội để John có thể sáp lại nàng gần hơn. Chàng đã chuẩn bị đủ thứ lý do để nói với nàng, dĩ nhiên là bằng Anh ngữ. Chàng hạn như:
  • Hôm nay cô sẽ tớí chùa chứ? Cô sẽ tham dự những “trò vui” trong cuộc họp mặt của cộng đồng Việt Nam chứ? Cô có chuẩn bị những “loại bánh Việt Nam cổ truyền không?” New Year của xứ cô thì có những meaning gì?
    Cuối cùng hẳn John sẽ yêu cầu nàng hướng dẫn đi coi đủ mọi thứ để biết rõ hơn về cái Tết Nguyên Đán của người Việt Nam.
    John tính toán không sai đâu. Nàng sẽ chẳng có lý do gì để từ chối lời yêu cầu ấy nếu nó được yêu cầu. Dù là năm mới, nàng đâu có ai để chờ đợi, để hẹn hò, căn phòng của nàng lúc nào cũng trống trải, cũng cô đơn. Nỗi trống trải, cô đơn càng tăng hơn khi nàng nghĩ rằng hôm nay là năm mới, là mồng một Tết. Chợ phiên năm nay sẽ khai mạc vào tối thứ sáu. Tối mở đầu cho một week end thật dài đối với những người không biết sử dụng thì giờ làm gì cho hết ngày. Như nàng chả hạn.
    Nhưng ở đời hình như cái gì cũng có định mệnh. Khi định mệnh đã an bài thì có tính toán chu đáo cách mấy, sai lạc vẫn hoàn sai lạc.
    Cho nên trước khi John thu xếp xong công việc để tìm tới chào nàng thì Suzane đã mò tới. Cô ta tới một cách rất tự nhiên, không ước hẹn, không tính toán. Và đây là lần đầu tiên nàng được gặp người thiếu nữ này. Trước hết là tiếng cười của Suzane vọng sang từ phòng bà Debbie làm nàng chú ý. Âm thanh hồn nhiên, rộn rã, nó làm người nghe ấm áp mà không bị chói tai. Đến lúc nàng quay ra nhìn và bắt gặp Suzane bước ra ngoài hành lang thì nàng đã dành hoàn toàn cảm tình cho ngườì thiếu nữ đó.
    Suzane trẻ và đẹp. Vẻ đẹp của một thiếu nữ vừa đến thì mang nhiều nét thơ ngây của tuổi học trò còn cắp sách đi học. Chính sự thơ ngây hồn nhiên này đem lại cho cô ta vẻ rạng rỡ. Cô ta nhoẻn một nụ cười tươi tắn khi hai người nhìn thấy nhau. Thì ra Suzane không có thành kiến hay ấn tượng gì với nàng cả. Nàng đứng dậy di ra khỏi phòng và đứng trò chuyện với Suzane. Nàng thấy rõ tuy Suzane vẫn đối đáp với mình nhưng thực sự ánh mắt của cô bé vẫn hướng về phía căn phòng làm việc của John như một sự mong ngóng, chờ đợi. Hình như John đã bước ra nhưng thấy hai người nên lại đi lui vào. Chỉ có nàng là hiểu được tâm trạng John lúc này. Anh chàng đã tặng hoa, đã tự tay viết thiệp mừng. Mọi sự sẽ không dừng lại ở đó. Lát nữa đây, gần hết giờ làm việc, chàng sẽ qua tìm gặp nàng. Biết đâu là chàng sẽ tìm cách trò chuyện cà kê thêm. Biết đâu là chàng sẽ đề nghị một cuộc hò hẹn, ăn uống hay đi chơi nào đó nhân dịp năm mới của nàng.
    Nàng quay lại ngắm nghía Suzane một lần nữa. Cô bé nhí nhảnh hồn nhiên tệ. Nó xinh đấy chứ! Nó xứng đáng vớí John đấy chứ! Và chăng bản tính kiêu kỳ của nàng không cho phép nàng đặt một cô bé như Suzane vào hàng đối thủ. Còn đối với John thì tuy cũng tội nghiệp thật, nhưng bất quá thì cũng chỉ như nàng từ chối thêm một cánh cửa, như những cánh cửa đã từng mở ra bởi Văn, bởi Hoàng hay Thái. Nàng nghĩ vậy rồi quay về phòng làm việc của mình. Nàng nhấc điện thoại lên, gọi về sở của Thái:
  • Năm mới chúc anh Thái mọi sự như ý.
    Tiếng Thái ròn rã ở đầu dây:
  • Tôi cũng chúc cô y như vậy.
  • Tối nay anh có đi chợ phiên không?
  • Có chứ!
  • Vậy anh qua sở đón tôi đi cùng với nhé!
    Thái ngạc nhiên:
  • Ủa, ở sở cô đi thẳng chợ phiên à? Còn sớm mà!
  • Xe tôi hư! Tôi muốn anh ghé sở tôi vào lúc 5 giờ.
  • Được rồi sẵn sàng! Để ngày mai tôi sẽ bảo thắng Phú tới coi cái xe của cô. Nó là trung sĩ ngày xưa dưới quyền của tôi….
    Nàng hơi nhăn mặt lại và giơ tay che lấy mặt ống nghe. Hình như Thái còn léo nhéo cái gì đó. Lại chuyện nhà banh của Thái ngày xưa, có nhiều quân dưới trướng, quyền hành hét ra lửa, vân vân….
    Bỗng dưng nàng thấy mệt mỏi khi nghĩ đến cuộc đi chơi sắp tới với Thái của mình. Cái số của nàng hay nhỉ, cứ như là luôn luôn biết trước cái gì sắp sửa xảy ra. Như một dân nghiền truyện kinh dị, mới đọc vài trang đã biết rõ hồi kết cuộc rồi. Nhưng nàng cũng nén được nỗi mệt mỏi của mình. Nàng còn nguyên một buổi tối đi chơi với Thái để gậm nhấm nỗi mệt mỏi đó.
    Bây giờ thì nàng còn phải bận tâm tìm lời từ chối đối vối John. Thật ra cũng dễ thôi. Lát nữa, khi Thái tới sở, nàng sẽ nói nhỏ với John:
  • Đây là boyfriend của tôi!

California, tháng 12,1983

Buồn vui đời nghệ sỹ

vietmessenger.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

  1. Lời Bạt
    Xin được chia sớt Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ
    cùng Soạn Giả Nguyễn Phương
    (Hồ Trường An)

Hồ Trường An
Tôi chỉ là một ký giả kịch ảnh tân nhạc tài tử, tuổi nghề bắt đầu từ năm 1971 cho tới năm 1973. Nhưng từ 11 tuổi, tôi đã theo dõi sinh hoạt của giới nghệ sĩ sân khấu, tân nhạc, và nhất là điện ảnh thuộc cây nhà lá vườn rồi. Cho nên khi còn đeo đuổi việc học hành, mỗi ngày tôi có dịp đến phòng Thông Tin tỉnh nhà (tỉnh Vĩnh Long) theo dõi trang kịch trường, tân nhạc đăng trên hàng chục tờ nhật báo để bồi bổ kiến thức của mình. Và khi bước vào đời lính, nhờ làm việc trong ban ThôngTin Báo Chí, thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu 3, tôi cũng được tiếp tục theo dõi sinh hoạt các bộ môn trình diễn trên sân khấu đăng trên hằng chục tờ nhật báo.
Ngành ca kịch cải lương đã thu hút tâm hồn tôi vào lứa tuổi hoa niên, kéo lôi giấc mơ hoa mộng ảo của tôi trải dài hơn nửa thế kỷ. Và cho mãi tới nay, niềm say mê ngưỡng mộ của tôi đối với bộ môn nghệ thuật trình diễn ấy vẫn còn chưa phai nhạt lu mờ.
Dĩ nhiên tôi vẫn biết soạn giả Nguyễn Phương.
Nguyễn Phương là một soạn giả cùng một thế hệ với cặp soạn giả Hà Triều & Hoa Phượng, cặp soạn giả Thiếu Linh & Thành Phát, cặp soạn giả Bạch Diệp & Mình Nguyên, soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà, soạn giả Mộc Linh, soạn giả Lê Khanh, soạn giả Thu An, soạn giả Quy Sắc, soạn giả Điêu Huyền… Lúc đó những soạn giả nổi danh từ thuở tiền chiến như Năm Châu, Năm Nở, Tư Trang, Giáo Út, Duy Lân… đã thấm mệt. Lớp soạn giả Vạn Lý, Viễn Châu, Vân Sinh, Trần văn May, Ba Khuê, Mộng Vân tuy vẫn còn phong độ, nhưng trừ hai anh Vạn Lý và Viễn Châu ra, tất cả lại hình như hơi thiếu thiếu cái không khí mới mẻ, thấm nhuần chất văn chương và thần trí sáng tạo khi họ soạn bất cứ vở tuồng nào. Câu đối thoại của các nhân vật không bày tỏ một quan niệm sống; chúng đơn giản đến độ trơn tuột. Cho nên Nguyễn Phương với lớp soạn giả cùng thế hệ và cùng trang lứa với anh có thể đem lại cho sân khấu cải lương đôi chút sinh khí ở những câu đối thoại rất luyện đạt tình người, ở cách dàn dựng diễn biến và sắp xếp tình tiết công phu hơn.
Ở đây, tôi không cần phải nói về sự nghiệp soạn tuồng và cái tuyệt đỉnh danh vọng của Nguyễn Phương trong giới ca kịch cải lương nói chung, trong giới soạn tuồng nói riêng. Từ năm 1948, anh lao vào cuộc lưu diễn qua các đoàn ca kịch Ánh Sáng, Tiếng Chuông, Việt Kịch Năm Châu cho tới ngày miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm thì cũng đã được một phần tư thế kỷ rồi. Ai trót mê ca kịch cải lương mà không biết anh? Đã vậy anh còn viết kịch bản (scénario) cho nhiều cuốn phim hài hước nổi danh. Anh là một nghệ sĩ lớn, dù tôi có tán mỹ ngợi ca anh cũng bằng thừa.
Ở đây, tôi xin đề cập tới hai quyển nửa biên khảo nửa hồi ký của anh là “Ngũ Đại Gia Của Sân Khấu Cải Lương” và “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”. Anh không có ý định viết về lịch sử của ngành ca kịch cải lương. Anh chỉ viết những biến cố trong giới ca kịch mà anh đã trải qua, những nhân vật trong giới cải lương mà anh tiếp xúc. Đôi lúc anh cũng xen vào đó những điều mà bạn bè anh kể lại, song ít thôi. Thế có nghĩa là anh viết sách bằng nhiều kinh nghiệm sống thực chứ không thuần túy bằng tài liệu. Tài liệu thì khô khan, còn kinh nghiệm sống thực mới tươi rói, mới sống động, dễ lôi cuốn độc giả từ trang đầu tới trang cuối quyển sách.
Đọc quyển “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”, tôi bàng hoàng khi nghe Nguyễn Phương nhắc lại các nghệ sĩ Thanh Cao, Tuấn Sĩ, Văn Sa, Kim Anh, Ngọc An, Nguyệt Yến…
Làm sao chúng ta lại quên được Kim Anh hát 20 câu Vọng Cổ trong cặp dĩa “Phàn Lê Huê” của hãng Asia bằng giọng thổ khao khao trầm thống?
Làm sao chúng ta lại quên được Ngọc An với dáng dấp cao sang và đẹp sáng mát như vầng trăng rằm qua các đoàn Tiếng Chuông, Hương Hoa, Ngọc An & Bích Sơn, Thanh Hương & Hùng Minh?
Làm sao chúng ta quên mất Nguyệt Yến trong vở tuồng “Nữ Thần Trong Động Lửa” và là đào chánh của gánh Phát Thanh?
Làm sao chúng ta quên được nghệ sĩ Văn Sa, kép nhì rất hùng dũng bên cạnh kép chánh tao nhã Năm Phồi trong gánh Phát Thanh?
Ôi, nếu không có Nguyễn Phương thì họ sẽ lặn sâu trong niềm quên lãng tận dưới đáy tiềm thức của lớp khán giả từ lục tuần trở lên, trong đó có tôi đây.
Nguyễn Phương không phải là nhà kể chuyện (chroniqueur) thuần túy. Chúng ta có thể cười phơi phới qua các giai thoại về cuộc đời về nghề nghiệp của Tám Vân, Trường Xuân, Thanh Việt, Hùng Cường, Hồng Nga cùng ông bầu Cang, ông bầu Tám Kiết. Chúng ta còn được nghe anh kể chuyện anh đi coi vợ bị bên đàng gái chê vì họ lầm tưởng anh theo gánh cải lương của danh sĩ Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh; nghe anh kể quãng thời gian anh theo gánh Ánh Sáng, Tiếng Chuông, Việt Kịch Năm Châu trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh.
Ở đây, chúng ta mới rõ thân phận của giới cải lương trong thời chiến, họ bị chèn ép, giam giữ, húng hiếp bởi những lãnh chúa dùng tôn giáo để hùng cứ một phương trời, một vùng bao la trên đất nước Nam Kỳ trong thời khói lửa. Chúng ta có thể chạnh niềm trắc ẩn xót xa trước cảnh ngộ của nghệ sĩ sân khấu sau cuộc đổi đời qua chương “Nữ Nghệ Sĩ Diệu Hiền Trong Biển Lửa” và qua chương “Cuộc Sống Sau Bức Màn Nhung”. Thế có nghĩa là Nguyễn Phương đâu phải bắt chúng ta nghe anh kể những chuyện suông đuột và rỗng tuếch để cười sặc sụa rồi lòng rổn rang, trí óc bình thản. Anh chọc cho chúng ta cười để rồi chúng ta ray rứt trước bao cảnh ngộ thương tâm, để chúng ta suy nghĩ về cuộc đời dâu bể, thế sự vô thường. Anh bông phèo giễu cợt qua lối kể chuyện rất điềm đạm, không tía lia hời hợt, nhưng câu chuyện do anh kể vẫn mặn nồng. Chúng ta vẫn được anh chỉ vẽ qua các tập tuồng của các diễn viên hát bội, của các diễn viên cải lương. Anh còn chú trọng tới phần kiến thức nghề nghiệp để độc giả lãnh hội nhiều điều bổ ích về ca kịch cải lương, một bộ môn nghệ thuật cao quý của dân tộc. Do đó chúng ta biết tại sao nghệ sĩ Tám Danh thành công qua vai Hà Công Yên nghiện ngập trong vở “Tứ Đổ Tường”, vì sao Quái kiệt Ba Vân thành công trong vai anh chàng Phê điên loạn trong vở “Người Điên Khi Biết Yêu”. Đó chẳng qua là ông Tám Danh phải đến tiệm hút mà thời Pháp thuộc gọi là công quản nha phiến (R.O/ Regis d’Opium) và ông Ba Vân đến dưỡng trí viện Biên Hòa, kẻ quan sát bợm ghiền, người học lóm cử chỉ và thần sắc của người điên. Rồi qua chương “Nghệ Sĩ Phượng Mai”, chúng ta mới rõ vì sao nữ nghệ sĩ này thành công trên sân khấu Hồ Quảng và trong phạm vi hát tân nhạc. Đó có phải chăng ngoài năng khiếu thiên bẩm còn có tấm lòng tươi son bền sắt với nghề nghiệp, sự cầu tiến và sự tinh luyện tài năng của mình không nhàm mỏi?
Và còn nghệ sĩ Văn Ngà nữa chớ. Anh là kép phụ đòan Thanh Minh Thanh Nga. Nhưng mà, tuy là kép phụ nhưng cùng với Minh Điển, Chí Hiếu, Vinh Sang nếu anh không là nghệ sĩ lớn thì cũng là nghệ sĩ tài nghệ điêu luyện không kém các kép phụ bên gánh Việt Kịch Năm Châu như Ba Sanh, Hoàng Kinh, Văn Lắm (nam), Hai Nữ, Kim Đặng, Tố Nữ (nữ). Văn Ngà vốn là dân Bắc Ninh, cách phát âm trong giọng nói anh phảng phất cách phát âm giọng Bắc Ninh. Anh theo gánh miền Nam, hát cải lương miền Nam nên anh muốn cách phát âm của anh phải đặc sệt cách phát âm của miền Nam. Soạn giả Nguyễn Phương bắt anh đọc nhiều lần bài vè “Gái Lỡ Thời” bằng lối phát âm miền Nam cho tới thuần thục nhu nhuyễn mới thôi. Và nhờ đó, Văn Ngà bỏ được cách phát âm miền Bắc khi đóng tuồng trên sân khấu.
Ở chương “Người Trồng Cây Si Gia Long” nhắc lại thưở Nguyễn Phương si tình cô nữ sinh trường Gia Long. Cuộc tình chẳng ra cái ra nước gì cả. Sau đó, anh theo cộng tác các gánh hát bị các cô đào đặt cho cái hỗn danh Si Gia Long.
Rồi một hôm, đoàn Tiếng Chuông mà anh đang cộng tác đến điễn ở Cần Giờ. Ông Chấp sự trong Hội Đồng Xã vốn không rành truyện Tàu nên muốn đoàn diễn tuồng “Gia Long Tẩu Quốc”. Nghe nói trong gánh có chàng Si Gia Long nên ông nhờ chàng soạn tuồng có cái tựa và cái chủ đề nầy. Ông Ách Một, trưởng đồn lính bạc-ti-dăng cũng đốc xúi cây si như vậy. Nhưng…“Dạ, mang tiếng si Gia Long mà hỏng biết gì về lịch sử Gia Long hết, cái nầy người ta nghe người ta cười tôi. Còn cái tuồng mà quan lớn vẽ ra đó, dạ khó lắm. Tuồng Tàu, tuồng Tây mình có viết sai thì dân coi hát cũng bỏ qua cho, sai là sai cái sử của thằng Tây, thằng Tàu không quan trọng gì tới người Việt mình. Còn như sử Việt Nam mà mình viết sai thì a… thì…Dạ bẩm quan, kỳ nầy về Saigon, tôi nhứt định sẽ nghiên cứu sử Việt Nam, tôi sẽ viết những tuồng sử Việt Nam cho đàng hoàng. Còn kỳ nầy, thì xin quan tha cho.”
Ông Chấp sự cười hề hà: “Thôi, thử bụng mấy chú thôi! Được rồi. Chuyện cả ngàn năm của người Tàu, mấy chú rành ông này mặt mày ra sao, tánh tình như thế nào, chuyện tình yêu gì của họ, mấy chú rành rẽ quá. Vậy thì mấy chú cũng nên rán mà hiểu chút đỉnh lịch sử của nước mình. Dân mình biết rành chuyện Tàu vì mấy chú hát tuồng Tàu. Nếu mấy chú hát tuồng sử Việt thì dân mình cũng hiểu chuyện sử của mình. Phải vậy không?”.
Thật là một bài học chẳng những thấm thía cho tác giả mà còn cho các văn nghệ sĩ của các bộ môn nghệ thuật sáng tác khác.
Ở chương “Hát Chầu Nhân Lễ Hội Kỳ Yên”, Nguyễn Phương gây một cái “choc” mạnh vào ấn tượng người đọc. Chuyện kể: vào dịp Tết Canh Thìn (năm 2000), tác giả cùng anh Đinh Bằng Phi, học giả môn hát bội ra cùng nhóm nghệ sĩ ra Vũng Tàu để xem hát bội vào dịp Lễ Hội Kỳ Yên. Ông Hai Chấp sự mà dân địa phương gọi là ông Hai Điểm giữ phần cầm chầu. Ông đề nghị với Đinh học giả nên bỏ lớp Tôn Vương trong tuồng “San Hậu”. Lý do của ông như sau:
…Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có ngày quân tham ác, kẻ cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái Tự Do hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương… mà cũng chẳng biết bao giờ có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy tôi muốn xuất hát ‘San Hậu” thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…
Hôm tuồng trình diễn tại đình Thắng Tam, ông Hai Điểm cầm chầu. Tới lớp Tôn Vương ông đánh dằn mạnh vào trống, rồi quăng dùi trống và bỏ đi. Hôm sau, ông chết vì chứng thổ huyết trầm trọng. Xem tới chương này, đố ai mà không bần thần suy nghĩ? Và cảm giác sần sượng cứ bám riết vào tim óc chúng ta chắc chắn cũng khá lâu, có phải?
Chương lảng vảng bóng u linh là chương “Chuyện Dị Đoan Trong Giới Nghệ Sĩ Cải Lương”.Chuyện kể rằng: hai bức tượng phụ nữ Pháp trên nóc rạp Thủ Dầu Một bị ma nữ dựa vào để khuấy phá nghệ sĩ trong gánh hát Việt Kịch Năm Châu vào lúc họ ngủ. Chúng còn cản trở khán giả không đến xem đông đúc tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” vốn là tuồng hốt bạc của đoàn… Ông Tám Kiết phải lấy sơn đen bôi lên tượng thì khán giả tới ùn ùn mua vé xem tuồng “Tây Thi Gái Nước Việt” được trình diễn lại. Rồi trong thời gian còn trụ diễn ở Thủ Dầu Một, nghệ sĩ và công nhân được yên ổn cho tới ngày họ dọn đi lưu diễn ở địa danh khác. Bút giả nghĩ rằng đây chưa hẳn là chuyện hoang đường. Khoa học huyền bí chưa đủ khả năng giải thích hiện tượng kỳ quái này nên kẻ hồ đồ cho là điều mê tín dị đoan. Nhưng sự thực là đâu, khi nó nằm ngoài vòng hiểu biết của nhân loại? Lại nữa, trong chương “Ngày Xuân Nghệ Sĩ Đi Xem Bói”‘, chúng ta phải tự hỏi vì sao thầy bói quẻ Khổng Minh ở Lăng Ông Bà Chiểu lại đoán trúng vận mệnh tương lai của ba soạn giả Hà Triều, Nguyễn Phương và Kiên Giang Hà Huy Hà không sai một mảy lông sợi tóc? Nếu không dựa vào chuyện thần linh ma quỷ trong cõi âm hồn thì làm sao chúng ta giải thích cho trôi được, hả các bạn?
Chương “Ngậm Ngải Tìm Trầm” là chương tác giả cùng nhóm nghệ sĩ công nhân đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi trình diễn ở Ninh Hòa sau cuộc đảo chánh lật đổ chánh thể Đệ nhứt Cộng Hòa. Trong thời gian còn trụ diễn ở đây, đoàn hát nhân một ngày thong thả đi tắm suối nước nóng thì gặp mưa bão. Nguyễn Phương, Kiên Giang Hà Huy Hà, Hà Triều, Phượng và ba nghệ sĩ Chí Hiếu, Văn Ngà, Vinh Sang cùng 4 cô nữ vũ công không về được thành phố đành ngủ đêm trong gian nhà sàn của ông chủ phum. Nửa đêm, trong cơn mưa gió có tiếng hú ghê rợn của ngưòi rừng. Ông phum cho mọi người khách biết đó là người đi tìm trầm hương mà quên ngậm ngải nên bị sơn thần và ma rừng làm mất trí nhớ và tiếng nói nên lạc đường về buôn bản. Đương sự lại ăn nhằm thứ ngải linh mọc xung quanh gốc trầm nên biến thành người rừng. Nghe câu chuyện kể, Hà Triều và Hoa Phượng sanh cảm hứng nên khi về Sài Gòn, cả hai cùng chung soạn tuồng “Mưa Rừng” trong đó có nhân vật điên (trưởng nam ông chủ đồn điền) vì ăn nhằm ngải độc.
Đây là một câu chuyện lý thú không thua chuyện đường rừng của Tchya hoặc của Lan Khai vào thời tiền chiến.
Đọc quyển sách của Nguyễn Phương viết về kỷ niệm quãng đời anh tham gia sinh hoạt của sân khấu, chúng ta có cảm tưởng như đọc văn chương của Sơn Nam. Chúng ta phải suy nghĩ triền miên theo hành trình cây bút của anh. Chúng ta yêu cái cao quý của giới sàn gỗ màn nhung đã đành, chúng ta còn bắt gặp cái thối nát trong thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. Có cái khía cạnh tiêu cực của thời cuộc ấy, tác giả mới làm hiển lộ niềm gắn bó của kẻ sống đời gạo chợ nước sông, của kẻ ăn cơm quán ngủ đình hà rầm để đem tất cả tài hoa của mình cống hiến cho khách thưởng ngoạn. Trong giới ca kịch cải lương vẫn có người tốt kẻ xấu. Nhưng Nguyễn Phương chỉ nhìn cái tốt của họ bằng tấm lòng nhân hậu và bằng cặp mắt bao dung. Đối với anh, chỉ có tấm lòng yêu nghệ thuật và sự nghiệp lẫy lừng của họ mới đáng để anh đưa vào tác phẩm của mình. Không bao giờ anh phanh phui chuyện thay vợ đổi chồng hoặc sự tương tranh bất chính và hèn mạt của họ.
Đọc “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ”, chúng ta gặp được nhiều cái để học hỏi: yêu bộ môn ca kịch cải lương vốn là tinh hoa lưu truyền của dân tộc, biết tha thứ những cá tính không đẹp và đời tư đồi trụy của một vài nghệ sĩ để giữ mỹ cảm cho khán giả và khách ái mộ tài năng của họ được nguyên vẹn và tốt đẹp, trước sao sau vậy.
Ông Chấp sự ở Cần Giờ trong chương “Người Si Gia Long” không đáng để chúng ta suy tư về tâm hồn ái quốc rất đơn sơ mộc mạc của những kẻ chất phác ở một địa danh khiêm tốn tại miền duyên hải hay sao? Còn ông Hai Điểm trong chương “Hát Chầu Nhân Lễ Hội Kỳ Yên” không đáng để cho tấm lòng chúng ta nức nở trước một nhân vật ái quốc qua một khía cạnh quá đặc biệt. Nó không biến chương sách này thành một truyện ngắn có giá cao độ để chúng ta xếp vào nền văn chương hải ngoại hay sao?
Cho nên “Buồn Vui Đời Nghệ Sĩ” là một tác phẩm nhuần thấm tình người, tình nước, tình yêu nghệ thuật, ngoài những giai thoại lý thú lấp lánh ánh sáng lạc quan luôn cả những vận sự cười ra nước mắt.

Cổ Nguyệt Đường,
mùa Hè năm 2005

Buồn vui đời nghệ sỹ

vietmessenger.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

  1. Hát chầu nhân lễ hội Kỳ Yên
    Năm 2000, tôi về thăm quê hương, tôi muốn gặp lại những người bạn đồng nghiệp để tìm hiểu cuộc sống của các bạn cũ có khấm khá hơn trước không, và cũng để coi nghệ thuật sân khấu cải lương và hát bội sau một phần tư thế kỷ đổi đời, có thay đổi gì hay không?
    Vì là dịp Tết nên các rạp ở Sàigòn có các đoàn hát cải lương, không khí cũng khá rộn rịp. Có một chuyện lạ là ngày Tết bây giờ, các đoàn hát không còn giữ lệ kiêng cữ như ngày trước. Hồi đó, tuồng hát trong những ngày Tết phải là tuồng vui, kết cuộc có hậu, sum họp, hạnh phúc. Các đoàn hát và khán giả rất kỵ các vở tuồng có chết chóc, chia ly và những màn lớp đau thương mà diễn viên ca, diễn lâm ly để “lấy nước mắt” của khán giả. Tại rạp Hưng Đạo, đoàn cải lương Trần Hữu Trang hát tuồng Tần Nương Thất, sau đó nối tiếp các tuồng Đèn Đêm Nhỏ Lệ và Nước Mắt Kẻ Sang Tần.
    Tuy xa quê hương đã lâu nhưng những tập tục cải lương có lẽ đã ăn sâu trong huyết quản của tôi nên tôi nhứt định không đi coi các tuồng hát có cốt chuyện và cái tựa “không hên” như kể trên. Thời may tôi gặp anh Đinh Bằng Phi, cô Kim Thanh, Ngọc Dung, Ngọc Đáng và anh Xuân Quan (các nghệ sĩ hát bội tài danh) rủ tôi đi Vũng Tàu, đến đình Thắng Tam, coi hát bội nhân dịp Lễ Hội Kỳ Yên.
    Vũng Tàu ngày Tết cũng quá đông du khách vì bây giờ đường giao thông mở rộng, lại có tàu cao tốc, người Sàigòn đi Vũng Tàu sáng sớm, chiều tà là có thể trở về Sàigòn. Nhưng ngày Tết, không tiếng pháo, không có cái không khí Tết như ngày trước. Chỗ nào cũng treo cờ, bắt buộc treo trước mỗi nhà, mỗi tiệm, và không biết cơ man nào là biểu ngữ và cờ, tôi có cảm giác là cuộc lễ gì đó chớ không phải là ngày Tết. Cô Ngọc Đáng nhìn nét mặt của tôi, đoán ra là tôi không vui trước cái không khí Tết nầy, cô nói:
    – Chú biết hông, bữa nay là Tết nhưng là cái Tết 25 năm sau cái năm 75, nên người ta tổ chức như vậy đó. Mấy năm trước, Tết ở Vũng Tàu buồn lắm, không pháo, chợ Tết bán èo uột bánh mứt, vài chục chậu hoa cúc, hoa vạn thọ rồi tan chợ. Tết mà không có pháo giống như ăn mắm kho mà không có rau, không ớt, không có thịt ba rọi, không tôm, không cá!
    Tôi phì cười, nghĩ là cái con nhỏ nầy cũng quên tuốt các món ăn ngày Tết, bánh tét thịt kho tàu, dưa giá cá kho….Anh Đinh Bằng Phi cắt đứt dòng suy nghĩ lang bang của tôi bằng một câu nói với giọng thật là buồn: “Tôi sợ chầu hát năm nay có sự cố”.
    Sự cố?… Sự cố gì? Gánh hát đã dọn tới trước hai bữa, đã bông rạp, dựng cảnh xong xuôi. Khi đoàn hát tới, Ban Trị Sự của Đình tổ chức rước Trang Ông trọng thể, đúng với tập tục xưa nay mỗi khi Đình tổ chức cúng và hát bội trong cuộc lễ hội Kỳ Yên. Diễn viên cũng là những diễn viên thượng thặng của ngành Hát Bội hiện nay.
    Anh Đinh Bằng Phi, một diễn viên, kiêm tác giả, kiêm đạo diễn và cũng là một nhà nghiên cứu nghệ thuật hát bội, chỉ có đứng sau nhà nghiên cứu đốc phủ Đỗ Văn Rỡ thôi, anh Đinh Bằng Phi là một diễn viên tài ba, khi anh thủ diễn vai Quan Công trong tuồng Quan Công Đơn Đao Phó Hội thì khán giả trầm trồ khen anh như ngày xưa người ta đã trầm trồ khen anh Minh Tơ trong vai nầy. Lần nầy hát ba thứ San Hậu, anh Đinh Bằng Phi sẽ thủ vai Phàn Định Công. Khán giả chỉ nghe giới thiệu tên Đinh Bằng Phi và vai Phàn Định Công là đã nô nức rủ nhau đến đình Thắng Tam để coi anh hát.
    Còn các vai nữ thì sao?. Trước hết cần kể đến tên đào Ngọc Đáng. Trước năm 1975, Ngọc Đáng được khán giả ái mộ tặng cho danh hiệu là một trong ngũ nữ tướng của sân khấu tuồng cổ:
    – Xuân Yến,
    – Thanh Loan,
    – Thanh Thế,
    – Bạch Lê,
    – và Ngọc Đáng.
    Ngọc Đáng là con nhà nòi, cha mẹ của cô là đôi nghệ sĩ tài danh Tư Minh và Ngọc Xứng trên sân khấu tuồng Tàu Phụng Hảo. Năm 13 tuổi Ngọc Đáng đã nổi danh trên sân khấu Kim Mai – Thanh Bình. Lúc đoàn nầy hát trên sân khấu đình Cầu Muối thì khán giả đến xem Ngọc Đáng trong các vai Mạnh Lệ Quân, Bàng Quí Phi, Lý Thần Phi, Tiêu Anh Phụng, Lưu Kim Đính. Khán giả ái mộ Ngọc Đáng đến mức là đêm nào không có Ngọc Đáng hát là khán giả ồn ào phản đối, trả vé đòi tiền lại, có khi còn muốn xông lên sân khấu xé phông, màn. Bầu Gánh phải cho khiêng Ngọc Đáng trên ghế bố ra sân khấu, chứng tỏ là cô đau thật, không thể hát thì khán giả mới yên. Hôm sau họ mang cam, hột gà, thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, đủ thứ thuốc trị bịnh tới cho Ngọc Đáng. Cô phải tiếp xúc, cám ơn không ngớt lời và chờ cho khán giả ái mộ ra về, cô dẹp hết các thứ thuốc đó qua một bên vì sợ thuốc nầy kỵ với thuốc kia, mà không nhận thuốc của khán giả mang tới cho thì sợ khán giả giận. Sau 75, Ngọc Đáng là đào chánh đoàn Minh Giang – Khánh Hồng. Cô cũng từng là đào chánh đoàn Minh Tơ, đoàn Huỳnh Long, đoàn Sàigòn 1, cùng với Bạch Mai đào luyện các diễn viên trẻ. Ngọc Đáng lần nầy thủ vai Đổng Mẫu trong vở San Hậu thứ ba.
    Đào Kim Thanh, một nữ diễn viên xuất sắc mà giới phê bình sân khấu thường ví cô như cô Năm Đồ tái sinh. Kim Thanh cũng thuộc về con nhà nòi. Cha cô là nhạc sĩ Văn Long, chuyên đánh trống trong dàn nhạc hát bội của đoàn hát bội Vĩnh Xuân Ban, rồi sau thành đoàn Minh Tơ, đoàn Hồ Quảng Minh Tơ; mẹ cô là nữ nghệ sĩ Kim Bông. Ông Cố của Kim Thanh là ông Bầu Tân, ông Nội là kép hát bội tên Hai Bảng và bà nội là đào Kim Nương.
    Kim Thanh được sanh ra và lớn lên ngay trong đoàn hát Vĩnh Xuân Ban – Minh Tơ tại đình Cầu Quan nên ngay khi còn thơ ấu, đêm ngày nghe tiếng đờn giọng hát, lên sáu, lên bảy đã theo học hát lớp đồng ấu Minh Tơ nên về phương diện ca, diễn, Kim Thanh được sự chân truyền của minh sư Minh Tơ và được chính cha mẹ cô chỉ dạy thêm. Khi nhận huy chương vàng giải hội diễn hát bội toàn quốc, Kim Thanh đã cho biết chính tiếng trống của cha cô đã giúp cho cô thành đạt trong vũ đạo trên sân khấu. Ký giả báo Sân Khấu yêu cầu cô giải thích rõ hơn, cô nói:
    “Hồi nhỏ, tôi thường theo Ba tôi, ngồi trong cánh gà coi hát, tôi nghe tiếng trống của ba tôi đánh thiệt là hay, tôi định hỏi ổng vài câu, khi nhìn lại, tôi thấy ba tôi vừa đánh trống vừa nhìn chăm bẳm ra sân khấu. Ba tôi làm việc rất căng thẳng suốt buổi diễn, tai nghe, mắt nhìn, chăm bẳm theo dõi từng diễn biến: người bước ra, kẻ bước vô, từng động tác, chấm dứt lời ca… mọi thứ đều phải qua tay đánh trống của Ba tôi. Ba tôi cầm hai chiếc roi trống, thoăn thoắt trên mặt trống chiến, khi đánh vào giữa, lúc lại ra sát vành ngoài, rồi điểm mỏ, gõ dăm, tiếng đục, tiếng trong. Với biệt tài điêu luyện, Ba tôi đã gây không khí cho từng lớp diễn, cho từng diễn viên, từng điệu hát bằng tiếng trống để cùng dàn nhạc đi vào những tấu khúc hùng tráng hay bi cảm. Khi tôi diễn vai Bàng Quí Phi, lúc chạy gối xin tội với vua Tống thì chính là tiếng trống giúp tôi chạy gối nhuyễn hơn, khi thủ vai Lưu Kim Đính sát tứ môn, đến cửa thành thứ tư, con tuấn mã kiệt sức chết thì tiếng trống vuốt nhẹ và rung đều, khiến cho tôi cảm giác đôi chân run rẩy của con tuấn mã bị kiệt sức, vậy nên tôi mới thật sự xúc động mà diễn lớp đó thật hay…”
    Đó, Kim Thanh nức tiếng nữ diễn viên thinh sắc lưỡng toàn, lần nầy thủ diễn vai Tạ Nguyệt Kiểu thì bảo đảm khó có ai diễn hay hơn được.
    Còn Xuân Quan, anh kép trẻ nổi danh trong vai Triệu Tử Long trong tuồng Triệu Tử Long Nhập Cam Lộ Tự, cũng là một kép hát bội tài ba. Năm 1972, mới 11 tuổi, Trần Văn Quan, sau nầy lấy nghệ danh là Xuân Quan đã được Giám Đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn, đặc cách thu nhận em là học viên chánh thức trong phân khoa Hát Bội mà không cần qua khóa thi tuyển sinh. Nguyên do là khi hát chầu ở Lăng Ông Bà Chiểu, vì thiếu một vai quân báo, em Quan là khán giả nhí, tình nguyện ra làm vai quân báo và đã được anh Thành Tôn dạy từng câu báo trong đêm diễn chầu đó. Em thông minh, sáng dạ, học mau thuộc và dạn sân khấu nên tuy là thế vai bất ngờ mà em Quan đã diễn rất xuất sắc. Sau nầy chỉ mới hai năm học nghệ trong trường, Xuân Quan đã thủ diễn nhiều vai kép võ mặt trắng rất hay. Xuân Quan thành danh từ năm 1980, được nghệ nhân Công Chấn thương tài, gả cho con gái là nữ diễn viên tài sắc tên Thanh Trang. Xuân Quan lần nầy thủ vai Khương Linh Tá.
    Và Ngọc Dung, nữ diễn viên hai lần được huy chương hội diễn hát bội ở Bình Định và Sàigòn, Ngọc Dung sẽ thủ vai Phàn Phụng Cơ…
    Điểm qua tài năng của các ngôi sao sân khấu hát bội trong lần hát chầu nầy để thấy rằng “sự cố ” mà anh Đinh Bằng Phi lo sợ không phải là do diễn viên không đủ tài đảm đương các xuất hát chầu nầy, mà là do người của địa phương Vũng Tàu. Khi đi tàu cao tốc ra đây, anh nghe phong phanh là trong Quí Tế cúng đình lần nầy, ông Chấp sự Hai Điểm là người chầu trong các xuất hát. Anh Đinh Bằng Phi biết tôi đã mười mấy năm xa quê hương nên có lẽ không hiểu những phiền toái giữa người cầm chầu và diễn viên hát chầu, anh giải bày nỗi lo lắng của anh. Tôi trấn an anh rằng dù người cầm chầu khó tánh tới mức nào, ắt là cũng khó lòng bắt bẻ nghệ thuật ca diễn của các nghệ sĩ có tay nghề bậc thầy các anh, các cô đây. Tôi mời các bạn ra bãi sau dùng cơm rồi trở lại võ ca, nơi đoàn hát đang chờ. Kim Thanh đề nghị ăn cơm gần đình vì quanh chỗ làm lễ hội Kỳ Yên có rất nhiều hàng quán, đông vui hơn ở bãi sau.
    Đình Thắng Tam được trang trí lộng lẫy, nơi đây “người ta” cho gìn giữ cái “không khí” cúng đình ngày xưa nên tha cho cái rừng cờ và biểu ngữ như ở bãi trước và nơi phố, chợ. Đình được sơn son, phết vàng, các câu liễn trên các cột đình cũng được tô vẽ như mới. Bên trong bàn thờ khói hương nghi ngút. Nhiều người dân địa phương đã vào thắp nhang lễ bái.
    Đến tối, khi lễ cúng Kỳ Yên bắt đầu thì chỉ có Ban Quí Tế, mặc áo thụng xanh, đầu chít khăn đóng mới được thắp nhang, cúng Thần, làm lễ khai chầu.
    Quanh đình, hàng quán mọc san sát như hội chợ, vừa là dịp Tết, vừa lễ hội cúng đình nên ngoài những hàng bán nhang đèn, vàng mã, còn có nhiều quán cơm chay, mặn, có nơi bán nước giải khát, có cả những quán bán trái cây, nhiều nhứt là nhãn, đặc sản nổi tiếng của Vũng Tàu. Tôi mua một kí nhãn rồi kéo vô quán cơm có một tấm bảng quảng cáo: “Rừng Cá, Núi Tôm”, mọi người đều “bắt mắt” vì tấm quảng cáo kỳ khôi nầy. Người ta thường nói Rừng cây, Núi đá, còn cá thì biển cá thì cá mới có nước để mà lội mà sống, chớ cá lên rừng thì chết khô ngay, sống gì nổi.
    Các cô đã đói, vào quán là gọi cơm phần, nhưng tôi ngăn lại, đã ra tới biển thì ăn cua, ghẹ, sò, ốc trước rồi mới tính cơm, cá sau, vô quán Rừng Cá Núi Tôm mà ăn cơm phần thì quê chết. Chủ quán biết mặt các nghệ sĩ như Ngọc Đáng, Kim Thanh, Ngọc Dung, Xuân Quan nên tiếp đãi vui vẻ, nồng hậu. Ghẹ, cua được luộc tức tốc, bia Tiger cũng được khui ra…Ngọc Đáng nhìn tôi cười cười, tôi ngơ ngác, hỏi: “Bộ có gì không ổn sao?” Ngọc Đáng nói:
    – Nhìn bộ dạng của chú, người ta biết là Việt Kiều mới về nước lần đầu nên mới mắc bẫy vì cái tấm quảng cáo Rừng Cá Núi Tôm đó. Nói chú đừng giận con! Người ta đi biển, ăn cua, ghẹ, đồ hải sản là ra bãi sau, các quán Thùy Vân, quán Thùy Trang của Bà Ba Lệ, vân vân…vừa ăn hải sản khoái khẩu, vừa nhậu ruợu bia ngoại hạng, hóng gió biển, nhìn sóng ào ạt xô đuổi nhau chạy vô bờ, lại được xem trai xinh gái lịch trong những bộ quần áo tắm thời trang, chớ ai đi đến đình Thần mà ăn hải sản?.
    Tôi biết mình hố rồi, nhưng không sao, nay mai còn ở Vũng Tàu, ra bãi sau, bãi trước hay đi vòng núi lớn, núi nhỏ gì rồi cũng sẽ tuần tự nhi tiến mà. Chúng tôi chưa hết chai bia đầu tiên thì anh Năm Nhi, kép hát trong đoàn đến, nói ông Hai Chấp sự mời anh Đinh Bằng Phi đến bàn việc quan trọng. Anh ĐBP nói với tôi: “Sự cố mà tôi nói là đây rồi. Anh Nguyễn Phương đi với tôi nhe. Các cô ở lại dùng cơm rồi vô đình nghỉ, tối hát. Khi nào diễn chầu xong xuôi, chúng ta sẽ ở thêm hai ngày, đi tắm biển, dạo núi rồi về Sàigòn”.
    Tôi kêu Xuân Quan ra riêng, đưa cho 100 đô, nhờ Xuân Quan thay mặt tôi khoản đãi các cô ăn uống thoải mái. Chúng tôi vô đình thì được người trong đình mời ra xe ngựa đã chuẩn bị sẵn, đưa chúng tôi ra bãi sau, nơi nhà riêng của ông Hai Chấp sự.
    Đinh Bằng Phi cho tôi biết ông Hai Chấp sự tên thật là Sáu Quắn, trước kia là kép hát bội, con cháu của bà Ba Ngoạn, tay nghề rất giỏi nhưng nhà giàu, về Vũng Tàu kế nghiệp ông cha làm chủ ghe cá và một hãng làm khô, mắm, chủ quán nhậu nổi tiếng. Vì vậy ông không theo ghe hát nữa và vì là con nhà giàu, tánh hào phóng, được coi là nhân sĩ ở địa phương nên được bầu vô Ban Quí Tế, Ban Trị Sự Đình. Hễ khi có cúng đình, xây chầu hát bội thì ông cầm chầu và hát hay cỡ nào cũng chỉ thưởng cho đào kép hai cái đánh “thùng” thôi chớ không hơn, mà đánh nghe nhỏ rí nên người ta tặng ông danh là Hai Điểm. Tới quán nhậu của ông, người ta kêu ông là Sáu Quắn, tới lễ cúng Kỳ Yên thì người ta gọi ông là ông Điểm!
    Chúng tôi đã đến nhà Hai Điểm, một villa nhỏ ở Hàng Dương, mặt tiền hướng ra biển. Ông Hai Chấp sự đang ngồi bên một cái bàn đá cẩm thạch, đặt trước sân, trước mặt có bình trà. Ông có vẻ đăm chiêu, suy nghĩ điều gì lung lắm. Nhìn bộ dạng của ông, tôi và Đinh Bằng Phi trao nhau một cái nhìn ngầm than với nhau: ” Chỉ ngó cái bộ mặt cau có của ông nầy cũng đủ biết là sự đời đang rắc rối đây.”
    Ông Hai Điểm thấy chúng tôi, tươi cười, mời ngồi, mời uống trà rồi vô câu chuyện ngay:
    – Tôi chờ các anh đã lâu. Mình ngồi đây uống trà, bàn chuyện, Trẻ nhỏ lo cơm nước xong thì mình vừa ăn vừa tiếp tục câu chuyện. Vậy có gì phiền hai anh không?
    Đinh Bằng Phi nóng ruột muốn biết vì chuyện gì mà ông có vẻ trịnh trọng như vậy? Tôi nói ngay, tôi cũng là một nghệ sĩ nhưng đi định cư ở Canada lâu quá rồi, nhớ quê hương, nhớ gánh hát và không khí cúng đình ngày xưa nên theo gánh hát ra Vũng Tàu, nếu là chuyện nội bộ của Ban Trị Sự Đình và đoàn hát, tôi xin ra trước sân nhà, ngắm bãi biển cho hai anh bàn chuyện thoải mái hơn. Hai Điểm nói không cần, vì anh ở nước ngoài, còn nhớ quê hương, nhớ nghiệp Tổ thì ngồi đây bàn chuyện cũng hay lắm chớ.
    Và sau đây là câu chuyện mà Đinh Bằng Phi có dự cảm là “sự cố” buổi hát chầu 25 năm sau cái năm 75 đổi đời:
    Ông Hai Điểm:
    – Lần nầy các anh hát chầu mấy thứ?
    – Thì hát San Hậu, ba thứ như Ban Trị Sự đã bàn với chúng tôi.
    – Ba thứ, có nghĩa là San Hậu thứ ba, có lễ Tôn Vương, Phong Soái.
    – Dạ, đúng vậy, mình không thể hát thiếu. Với lại lễ Tôn Vương, Phong Soái thì mới kết thúc tuồng, vừa xôm, vừa có hậu. Khán giả khoái nhứt là cái Lễ Tôn Vương nầy.
    – Tôi mời anh ra riêng đây là để bàn với anh: hát San Hậu Thứ Ba mà không có Lễ Tôn Vương.
    Anh Đinh Bằng Phi ngỡ là lâu quá ông Hai Điểm không theo gánh hát, quên tuồng tích nên nhắc lại, tuồng San Hậu thứ ba có 4 lớp hát rất hay như:
    – Lớp bà Nguyệt Kiểu xuống tóc đi tu giữa một đám em họ Tạ gian thần cướp ngôi vua Tề, một người chị trung chính, vứt bỏ phú quí vô chùa nương cửa Phật để rồi phải sa vào tay lũ ác tăng.
    – Trận chiến giữa Tạ Ôn Đình và tướng trẻ Phàn Diệm và bị thua Phàn Diệm.
    – Lớp treo Đổng Mẫu buộc Kim Lân qui hàng.
    – Kết thúc có hậu, bà Nguyệt Kiểu tự trói mình, đề nghị Tề Ấu quân giao bà cho họ Tạ để đổi lấy bà Đổng Mẫu. Sau đó quân tướng thành San Hậu đánh thắng họ Tạ, chém chết Tạ Ôn Đình, đưa Ấu quân lên ngôi tức vị. Đó là làm lễ Tôn Vương, Phong tướng.
    Ông Hai Điểm để cho Đinh Bằng Phi kể chuyện tuồng, rồi mới từ tốn nói:
    “Chuyện tuồng thì là vậy. Hồi xưa, tôi theo nghiệp Tổ, tôi cũng nghĩ là sân khấu và cuộc đời giống nhau. Kẻ gian ác tham lam, có lúc đắc thời nhưng tàn cuộc thì bao giờ cũng bị quả báo. Gian thần soán ngôi đoạt vị thì thế nào cũng bị tướng trung và minh quân hồi trào phục nghiệp, bắt đem chém đầu hay xử lăng trì. Rồi thì làm lễ Tôn Vương, phong soái. Đó, hai anh nhìn ra biển mà coi, sóng trắng xóa tung tăng xô nhau vô tư đùa giỡn, nhưng dưới lòng biển, ngoài khơi ngàn trùng xa cách đó, có cả triệu người vùi thây mất xác… Nếu linh hồn oan ức của họ còn lởn vởn đâu đó thì nhứt định là họ mong có một ngày quân tham ác, cướp ngôi đoạt vị phải bị trừng trị, rồi thì có lễ Tôn Vương cho người dân sống thoải mái TỰ DO hơn. Vậy mà 25 năm qua rồi, chưa có lễ Tôn Vương…mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới có lễ Tôn Vương thật sự. Vậy nên tôi muốn xuất hát San Hậu thứ ba không có lễ Tôn Vương để cho thánh thần và dân tới coi hát nhớ là chưa có lễ Tôn Vương, bọn gian thần Tạ Thiên Lăng, Tạ Ôn Đình vẫn còn đó…”
    Đinh Bằng Phi ngồi gãi đầu, gãi tai, kêu khổ, kêu khó:
    – Ông không bị ai ràng buộc, muốn làm sao cũng được, tụi tui khó à nghen. Mà nói cho cùng, hồi xưa đất nước mình lọt vô tay quân Pháp, vua Annam bị đày đi Phi Châu thì hát bội tuồng San Hậu cũng có lễ Tôn Vương kia mà…
    – Hồi đó tụi Tây cho dân mình ăn bánh vẽ, nên hát bội nó khuyến khích mình hát lớp Tôn Vương. Bây giờ hỏng lẽ mình ru ngủ bà con mình bằng cái lớp Tôn Vương giả tạo đó sao?
    Tôi nghĩ là ông Hai Điểm có cái lý của ổng, mà đoàn hát bội thì có cái hoàn cảnh bất khả kháng của đoàn, thôi thì cứ ăn cơm, no bụng rồi mới tính tới.
    Bữa đó ăn cơm nhà của ông Hai Điểm cũng có cá, có tôm, nấu ăn rất ngon, nhưng Đinh Bằng Phi như ngồi nuốt từng cục đá, nghẹn cổ họng, nuốt không trôi. Ông Hai Điểm nói cho Đinh Bằng Phi và tôi yên tâm:
    – Mà nói cho hai anh nghe vậy thôi. Hát xướng là phận sự của các anh, còn cầm chầu là quyền thưởng phạt do tôi. Tối nay mình gặp lại nhau. Nói thiệt, tôi đau dạ dày, nghĩ ngợi lung tung càng đau nhiều hơn, tôi muốn quên hết, quên cái sân khấu và sự đời, quên luôn cái lớp tuồng soán ngôi và giết phản thần, Tôn Vương…Phải, quên hết đi, để mà ăn một bữa cơm ngon lành.
    Đêm hát thứ ba ở Đình Thắng Tam làm cho tôi nhớ đời.
    Ông Hai Chấp sự trong hai đêm trước cầm chầu , đánh trống chầu thưởng giọng hát, điệu bộ của các diễn viên thiệt là hào phóng, đánh trống thật lớn, chụp tay đè mặt trống vừa phải, anh em có lỡ hát cương cũng không bị gõ dăm trống. Tôi và Đinh Bằng Phi rất cảm kích ông. Ông dám đem tâm sự thầm kín ra nói với mình và thông cảm hoàn cảnh của anh em để tránh cho anh em gặp rắc rối.
    Ngoài sân khấu Tạ Ôn Đình đã bị chém đầu, trống chiến đánh dồn dập, sắp tới lễ Tôn Vương, Ấu quân hát :
    Bá quan, truyền văn võ bá quan.
    Nhập triều nội tôn vương tức vị.
    Xuân Quan (vai Phàn Diệm) nhập triều nội Tôn Vương tức vị.
    Đến lớp hát nầy thì trống đổ, các tướng trung theo ngôi thứ, múa giáp bước vô triều, chót hết Ấu Vương ra…Tôi thở ra một hơi khoan khoái, không còn bị ám ảnh về câu chuyện không cho hát lớp Tôn Vương, bỗng tôi nghe một tiếng “Thùng” thật lớn, rồi tiếng trống tắt nghẹn ngay vì bị bịt mặt trống. Ông Hai Điểm đánh trống thật mạnh, bịt mặt trống xong quăng đôi dùi trống lên sân khấu, vẻ mặt giận dữ, bỏ ra khỏi đình ngay tức khắc. Thông thường khi ông Chấp sự cầm chầu quăng dùi trống là để trừng phạt toàn Ban đã hát bậy, làm ô uế khán trường, nhục mạ, xúc phạm linh thần. Trên sân khấu toàn Ban ngơ ngác. Khán giả cũng ngơ ngác. Đoàn bỏ màn hát, chấm dứt tuồng không có lớp Tôn Vương. Không ai hiểu lý do vì sao mà ông Chấp sự quăng dùi trống phạt toàn Ban, chỉ có Đinh Bằng Phi là ngầm hiểu vì sao tới lớp Tôn Vương lại xảy ra “sự cố”.
    Mặc cho anh em bàn tán, mặc cho khán giả phàn nàn, chúng tôi chạy đuổi theo ông Hai Điểm: Ông thổ huyết trầm trọng sau cái đêm ngăn không cho hát lớp Tôn Vương. Cả đoàn hát đi tiễn linh hồn người quá cố, anh em có người dị đoan cho là ông Hai Điểm cầm chầu, thưởng phạt sai nên Thần Hoàng Bổn Cảnh trừng phạt. Tôi hiểu là ông bị đau dạ dày tới mức trầm trọng.
    Cái đêm cầm chầu sau cuối cuộc đời của ông, ông đã đánh trống và quăng roi trống một cách hào hùng và thổ huyết vì quá xúc động.
    Ngày nay, sau cái chết của ông Hai Điểm ở Vũng Tàu trong cái lễ cúng Hội Kỳ Yên đó, tôi mới nghiệm ra rằng Cuộc Đời và Sân Khấu không giống nhau. Những kẻ gian ác còn giàu sang phây phây ra đó, những kẻ có lòng trung chính, thật thà cứ phải chịu gian nan. Bao giờ mà Ông Trời, Thượng Đế làm soạn giả, soạn tuồng thì hy vọng ổng viết việc thưởng phạt công minh và cho mau lẹ một chút, để người hàm oan thấy lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không lọt, ân oán phân minh.

Chiếc bàn tròn khăn trắng với chiếc ghế úp

baotreonline.com
Đinh Yên Thảo
November 4th, 2021
Post by Sơn râu 23 Nov 2024

Hàng trăm quân nhân gốc Việt còn đang hiện dịch hay đã xuất ngũ trong hầu hết các binh chủng quân lực Hoa Kỳ và gia đình đã về Dallas để cùng tham dự cuộc họp mặt lần đầu tiên được tổ chức tại khu vực Dallas, Texas. Đây là những thành viên của Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt VAUSA (Vietnamese American Uniformed Services Association) được thành lập từ năm 2007, quy tụ trên một ngàn hội viên đang phục vụ hay sinh sống khắp nước Mỹ và một phần của thế giới.

Chiếc bàn tiệc dành cho các chiến hữu đã hy sinh. Photo: Tony Long
Quan khách tham dự đêm Gala 2021 mang chủ đề Chinh Phục Biên Giới Mới (Conquering The New Frontiers) của VAUSA được tổ chức tại khách sạn Marriott khu vực Las Colinas vào tối Thứ Bảy ngày 30 tháng 10 năm 2021 vừa qua có lẽ đã chia sẻ chung niềm xúc động lẫn tự hào khi nhìn thấy một giới trẻ gốc Việt không chỉ thăng tiến vượt bậc trong quân lực Hoa Kỳ, mà còn thay mặt cộng đồng gốc Việt báo đáp xứng đáng cho quốc gia thứ nhì của mình.

Thiếu Tướng Châu Lập Thể Flora trao hoa cho gia đình Quân Nhân. Photo: tony Long
Và không chỉ bởi với sự hiện diện của những vị tướng gốc Việt như Lương Xuân Việt và Châu Lập Thể với vài chục năm quân ngũ mà hàng chục sĩ quan cấp tá trẻ tuổi vẫn đang phục vụ và hứa hẹn nhiều sự thăng tiến trong tương lai. Họ khiêm cung, thân thiện và vui vẻ, dù đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong quân lực Hoa Kỳ. Mà còn những nghi thức cầu nguyện, nâng ly chúc mừng, những chia sẻ tâm tình trong hành trình và lý tưởng phục vụ quốc gia của người lính gốc Việt. Là nghi thức chia tay đồng đội xuất ngũ…

Toán Quân Kỳ Photo: tony Long
Nhưng điều gây nỗi xúc động lớn nhất có lẽ không riêng tôi và lần đầu tiên được biết đến và tham dự. Ðó là nghi thức trang trọng khi bày chiếc bàn phủ khăn trắng với một chiếc ghế úp dành cho những đồng đội, mà những người lính gọi họ là “huynh đệ” của mình đã bị bắt làm tù binh hay mất tích trong chiến tranh (POW/MIA) đã vắng mặt trong bữa ăn hay tiệc Gala như vậy. Lời dẫn giải của người sĩ quan mang đến cho vài trăm quan khách tham dự hiểu hơn về nghi thức đầy ý nghĩa và tình huynh đệ của người lính ra sao.

Nghi thức pha rượu tượng trưng cho tình đoàn kết. Photo: tony Long
Ðó là chiếc bàn tròn tượng trưng cho sự quan tâm và khắc ghi mãi mãi đến những đồng đội đã nằm xuống hay mất tích. Khăn màu trắng là sự tinh khiết cho ý chí của họ đã đáp lời sông núi. Một đóa hồng đỏ tượng trưng cho máu người lính đã đổ xuống và để nhắc nhở người thân, đồng đội về niềm hy vọng ngày trở về của những người đã mất tích hay đang là tù binh. Bình hoa gắn thêm chiếc nơ nhỏ là sự cam kết, là quyết tâm tìm kiếm hay giải cứu đồng đội. Một lát chanh mỏng nói về số phận cay đắng của họ và dăm hạt muối là những giọt lệ của người thân yêu, gia đình đang ngóng trông. Chiếc khăn ăn màu đen tượng trưng cho tình trạng cô đơn, thiếu thốn và nghiệt ngã số phận của họ. Chiếc ly úp xuống vì họ không may mắn có mặt để cụng ly cùng chúng ta trong bữa tiệc. Ngọn nến thắp sáng niềm hy vọng, cho ánh sáng soi đường họ trở về. Và cuối cùng, là một và chỉ một chiếc ghế úp lại, tượng trưng cho mỗi và tất cả đồng đội đã bị vắng mặt như vậy, nó sẽ ở đó và sẽ luôn dành cho đến ngày họ bình an trở về. Bởi họ là huynh đệ, là những người sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Thiếu Tướng Châu Lập Thể và Đại Tá MiMi Phan (hàng trươc) đặt vòng hoa tại Tượng đài chiến sĩ ở Arlington sáng ngày 30/11/2021 Photo: Tony Long
Tôi cảm động và cảm thấy may mắn khi được nghe và biết đến nghi thức này của những người lính Mỹ về tình đồng đội và sự hy sinh cao cả của họ. Về những người lính Mỹ gốc Việt nói riêng đã nằm xuống. Ðể biết tri ân người lính và cảm tạ về những gì mà họ đã hy sinh và phục vụ để những người dân như chúng ta được an bình thụ hưởng.

Mọi người thưởng thức bữa ăn tối thịnh soạn của khách sạn Marriott. Photo: Tony Long
Có lẽ không chỉ trong tháng 11 có ngày lễ Tạ Ơn đang đến, mà nó là điều sẽ còn ở lại trong đời sống của riêng tôi và mỗi chúng ta trong mọi ngày.

Chụp hình kỷ niệm Đại Hội Toàn Quốc Quân Nhân Hoa Kỳ Gốc Việt 2021. Photo: Tony Long
ĐYT

Hòa hợp hòa giải

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau-thuymyrfi
Posted on 22/05/2023

Post by Sơn râu 23 Nov 2024

…Ngoài trời nắng ấm và cây cối xanh tươi. Hãy tận hưởng từng giây phút bình yên đang đi qua vì ngày mai hỏng biết sẽ ra sao.
Lái xe tới thăm khu thương xá Eden của cộng đồng người Việt tị nạn ở tiểu bang Virginia. Bước vào một tiệm phở quen thuộc mười mấy năm qua. Tiệm phở này ngày xưa có tên là “Phở Xe Lửa”. Của một bác người Bắc 54, trước kia làm luật sư ở Sài Gòn. Sau 30-04-75 ổng qua Mỹ tị nạn và mở tiệm phở này. Trong tiệm của bác có một tủ sách khổng lồ trưng bày đủ loại sách tiếng Việt như một biểu tượng văn hóa Việt Nam.
Tiệm phở của ổng khá đông khách. Những khi có dịp về chơi chàng xạ thủ nhí ngày ấy thường kéo ghế ngồi một mình trong góc ăn phở và vểnh tai thỏ lắng nghe mấy ông tiền bối cao thủ của miền Nam ngày xưa quây quần ngồi đánh cờ tướng, hay kể những câu chuyện sôi nổi của quê hương ngày nào.
Tiệm phở Xe Lửa sau đó bán lại cho một người chủ trẻ người miền Nam. Tiệm của anh ấy mới đầu ế tưởng sập tiệm rồi vì khách của ông luật sư người Bắc hỏng tới nữa. Nhưng tên xạ thủ nhí vẫn tiếp tục tới như con ngựa quen đường cũ. Thấy phở vẫn ngon. Có lẽ hỏng có khả năng nhận xét một tô phở ngon hay dở. Dễ nuôi mà ha ha.
Cách trang trí của tiệm phở đổi chủ này mới đầu trống rỗng nghèo nàn thấy mà thương. Khi ấy khách chỉ lèo tèo có mấy người. Tủ sách và bàn cờ tướng của mấy lão tiền bối Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa. Một biểu tượng thân thương đã đi vào quên lãng. Mấy năm trước hỏi thăm thì được biết ông luật sư người Bắc sau khi bán tiệm phở để về hưu. Rồi ông lâm trọng bịnh và qua đời.

Giờ đây tiệm phở này như hồi sinh như một phép lạ với một hình ảnh khác. Tiệm được trang trí tân thời, thẩm mỹ sạch sẽ, và bán thêm nhiều món ăn Việt Nam khác. Khách đa số là người trẻ gốc Mỹ trắng, châu Mỹ La Tinh, và thế hệ người Việt trẻ lớn lên ở Mỹ.
Chiều thứ Bảy, xạ thủ đẩy cửa bước vào tiệm phở xưa. Ba giờ chiều nên tiệm chỉ có vài thực khách Mỹ trắng. Họ nói rất nhỏ chỉ đủ nghe và nhường không gian yên tĩnh cho tiếng nhạc hòa tấu của đờn piano réo rắt dìu dặt êm dịu. Nhưng xạ thủ vẫn nhớ cách đây mười mấy năm, ở ngay đây là âm vang tiếng cười rổn rảng thống khoái của thế hệ trước. Giờ đây họ đã yên nghỉ nơi chốn vô hình.
Phở Xe Lửa ngày xưa chỉ có phở bò. Còn phở tiệm đầu thai này có thêm phở gà nên xạ thủ rất thích. Họ có làm phở gà trắng và đen nên mình gọi trộn cả hai thứ luôn. Khi ăn vào hỏng thấy khác nhau gì ráo trọi, chỉ màu sắc là đẹp thôi.
Không nhớ lần cuối được ăn phở là khi nào. Tối thiểu cũng là 6 tháng rồi vì công việc bận rộn miệt mài. Đâu có thời gian nhởn nhơ tung tăng đi xực phở như hôm nay.
Ăn xong đi bộ qua tiệm Hương Bình mua mấy cái gỏi cuốn và một cái bánh chưng nhỏ đem về cất trong tủ lạnh để dành bữa khác đói thì ăn. Tiệm Hương Bình hình như của người Huế nên họ làm đồ ăn miền Trung rất ngon. Đặc biệt bánh nậm chấm nước mắm hết sẩy. Chỉ phiền là lá chuối lột mệt nghỉ cho tới khi thấy lát bánh nậm mỏng dánh bên trong thì hai tay mỏi vì phải lột lá chuối lâu quá hu hu.
Trước khi ra về, lấy điện thoại ra chụp hai cái cột cờ Mỹ – Việt có tháp đồng hồ phía sau là biểu tượng của chợ Bến Thành Sài Gòn thân yêu.
Người Việt khi bỏ nước ra đi năm 1975 họ đã qua giai đoạn sống chết đau thương mất mát kinh hoàng. Giờ đây họ đã an cư lạc nghiệp ở một quê hương mới. Có thể họ không có những món ăn và cuộc sống đậm đà tình bà con láng giềng như hồi còn ở quê nhà, vì người tị nạn sống phân tán và địa lý xa xôi cách trở. Nhưng sự tự do đang có mới là điều đáng trân trọng.
Một số nhà “trí thức” gốc Cộng Sản vẫn rêu rao chiêu bài “hòa hợp hòa giải dân tộc”, “xóa bỏ hận thù” bla bla bla. Giai đoạn đó đã đi qua lâu rồi, cơ hội đó không còn nữa. Hãy để yên cho chúng tui sống theo cách của chúng tui. Quý zị sống theo cách của quý zị. Vì hỏng còn gì để hòa hợp hòa giải nữa cả.
Khi nào cảm thấy thèm vài món ăn Việt Nam hay thèm được nói vài câu tiếng Việt thì lái xe tới Thương xá Eden này là đủ. Nhiều người Bắc 54 ở miền Nam sau biến cố 30-4-75 vẫn chưa muốn đặt chưn về đất Bắc thì sao. Người Cộng Sản hãy cố gắng hòa hợp hòa giải với chính đồng bào của họ trong nước trước đi, trước khi họ mơ tưởng tới làm hòa với người tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài.

BÔNG LAU 21.05.2023

Hạnh phúc

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau-thuymyrfi
Posted on 09/09/2024

Post by Sơn râu 23 Nov 2024

Những dòng hồi ký viết mấy tháng qua là nét chấm phá của một bức tranh muôn màu phức tạp, của một người đang góp phần chống khủng bố, kẻ thù của xã hội văn minh.
Từ những lăng kiếng ảm đạm miêu tả con chuột bị bịnh mà tác giả phải tự tay lau chùi làm vệ sinh, đến con chó hoang lang thang trong doanh trại, rồi những đêm không ngủ cô đơn buồn bực nhớ nhung đời sống thành phố và những người thân yêu nơi ấy.
Lăng kiếng màu hồng “vinh quang” và “hào hùng” của người viễn chinh là những chuyến bay đêm vào vùng được coi là nguy hiểm nhứt của Trung Đông.
Đêm qua tim đập rộn ràng háo hức khi đứng sắp hàng. Có hai hàng, một hàng dẫn đến chiếc Black Hawk, một hàng đến Chinook. Xạ thủ may mắn đứng hàng đầu. Một nhân viên phi đạo đưa nắm tay lên và hạ xuống thủ lịnh lên đường.
Xạ thủ mang ba lô áo giáp cồng kềnh, một tay kéo bao hành lý lúp xúp cúi người chạy đến chiếc Chinook có cánh quạt đang quay tít và động cơ nổ ì ầm. Nắm tay đưa lên, hàng người ngừng lại. Xạ thủ đại liên đeo kiếng hồng ngoại tuyến ra dấu sẵn sàng, thủ lịnh ban ra, mình lại chạy lúp xúp đến tấm bửng sau đuôi chiếc Chinook. Hơi phản lực từ động cơ trực thăng thổi vào mặt nóng rát, đã quá là đã. Phía sau toán lính súng đạn rầm rập chạy theo.
Vào ngồi xuống băng ghế của chiếc Chinook, nhìn qua hàng ghế đối diện và trong ánh sáng xanh mờ ảo tỏa xuống từ trần trực thăng. Mình thấy một toán biệt kích râu xồm mặc đồ dân sự, nhưng cầm súng M4/MK18 gắn ống hãm thanh. Các biệt kích này đều đội nón chống đạn loại xịn và máy hồng ngoại tuyến kéo xuống mắt, vì mình thấy ánh sáng xanh phản chiếu nơi mắt họ. Họ ngồi lầm lì im lặng như những thần chết đang đi tìm khách hàng.
Mình dự tính lấy điện thoại ra tự chụp mình làm kỷ niệm, nhưng thấy toán biệt kích ngồi trước mặt ngầu quá nên hết dám lóc chóc quay qua quay lại như cậu con nít thích trò chơi bắn nhau bằng súng nhựa. Minh ngồi im nhìn họ và trong lòng trào dâng sự ngưỡng mộ. Mình chỉ đến đó một thời gian ngắn rồi trở về đời sống thành phố, nhưng các Biệt Kích này sẽ ở đó rất lâu để tiêu diệt những tên khủng bố bằng những phát đạn chính xác của họ.
Hai chiếc trực thăng lầm lì bay sát mặt đất trong đêm khuya. Phi công và xạ thủ đại liên đều mang máy hồng ngoại tuyến. Sau khoảng một giờ bay và lúc 2 giờ sáng, thì nghe động cơ trực thăng rung lên và cánh quạt chém gió kêu phành phạch lớn, xạ thủ biết ngay phi công đang kéo mũi máy bay lên và hạ cần cao độ để hãm tốc độ và chuẩn bị đáp vì mình cũng là phi công trực thăng.

Nhìn ra ngoài ô cửa sổ thấy mặt đất mờ mờ vì sao trời rất sáng. Thấy bụi mù bốc lên rồi ập vào lòng trực thăng qua cửa hậu phía sau luôn mở rộng. Bụi mù bên ngoài và trong khoang máy bay. Trời nóng, xạ thủ quên hỏng đeo khăn quàng nên không có gì để bịt mắt và mũi. Cong người chịu trận hít bụi Trung Đông vào phổi, cảm thấy có vị ngọt ngọt khét khét của đất. Mình lo ngại phi công sẽ không thấy đường để đáp. Nhưng bánh xe trực thăng chạm mạnh xuống bãi đáp. OK hỏng bồng tưng lên là giỏi rồi.
Xạ thủ đại liên lấy điện thoại bấm tên bãi đáp lên màn hình. Mình gật đầu OK rồi anh ấy chỉ vào mấy bóng đen lù lù phía xa hỏng biết xe hơi hay thiết giáp, rồi biểu mình chày vào đó. Khi chạy đến đó thì thấy một người lính Mỹ mặc đồ rằn ri. Ảnh hỏi mình đơn vị tổ chức nào và đến đây bao lâu. Xạ thủ trả lời. Anh ta chỉ chiếc xe pickup Toyota rồi biểu chất hành lý lên rồi đợi ảnh chút xíu. Anh nói lớn rổn rảng và cười ha hả luôn miệng. Trời, người gì mà zui tánh và thân thiện zậy nè. Phút tao ngộ đầu tiên ở vùng chiến trận mà thấy thích rồi là điềm tốt lành.
Mình được đưa về Trung Tâm Hành Quân để nghe thuyết trình luật lệ sống ở tiền đồn này. Chi tiết không được kể lại, nhưng có thể nói căn cứ này bị pháo kích thường xuyên và bị địch tấn công từ bên ngoài hàng rào phòng thủ.

Ở nhà xạ thủ có thói quen ngày tắm 3 lần. Trước khi đi làm, đi làm dìa, và trước khi lên giường ngủ. Nhưng ở đây bước ra ngoài lều là giày bước lên lớp bụi nhuyển như bột mì làm bốc bụi mù mịt dính vào quần áo. Nên đêm qua mệt quá chỉ kịp lấy nước lau mặc qua loa rồi nhảy lên ghế bố ngủ mà không cần tắm rửa sạch bụi bặm trên người. Và ngủ rất say hơn ở nhà tắm 3 lần một ngày.
Buổi sáng đi lang thang trong căn cứ thấy rất ít người. Lâu lâu có một vài chiếc xe đi ngang tung bụi mù. Sau tay lái có anh lính đưa tay vẫy chào. Có người dừng lại hỏi đi đâu ảnh cho quá giang. Ôi đời sống tiền đồn trước mũi súng quân thù sao mà thân thiết tình anh em. Họ dễ thương hơn xa đám sĩ quan và lính bị táo bón trầm trọng ở các Bộ Chỉ Huy.
Xạ thủ cảm thấy rất mãn nguyện và hạnh phúc được công tác nơi đây, để sống cùng với những người đang xả thân cho nền an ninh của thế giới. Khi nào các bạn ngồi bên nhau cụng ly zui chơi mà hỏng lo sợ bị đặt bom hay bắt cóc làm con tin, hay bị cứa cổ. Thì hãy nhớ trong đám bụi mù Trung Đông có những người Mỹ và đồng minh của họ đang túc trực đêm ngày ở đó, vì cuộc sống thanh bình của các bạn.

BÔNG LAU 06.09.2024

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 23 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

  1. Người Làm Ca Đêm
    Thật khó mà có thể dìễn tả được cái mùi nồng nồng đặc biệt tiết ra từ những khu văn phòng trong sở Mỹ.
    Chỉ biết rằng khi ông Thái mở cửa chính của toà building ba tầng lầu để bước vô thì cái mùi đó sộc lên, tràn ngập khứu giác của ông, tràn ngập tâm hồn của ông, báo hiệu rằng ông đã khởi sự làm việc ở đây, trong cái xã hội đầy phức tạp có muôn ngàn điều xa lạ và khó làm quen này.
    Nó tạo cho ông cái cảm giác lo sợ rằng chỉ một chút sơ sẩy là ông sẽ bị hất văng ra như một cái đinh ốc bám không chặt, buông ra khỏi guồng máy khổng lồ và bị nó nghiền nát. Ông Thái biết rõ điều đó. Ông cố thận trọng tối đa để có thể bám chặt vị trí của mình, mặc dầu trong vùng sâu thẳm ý nghĩ của ông, ông vẫn có cảm giác bấp bênh như thể bao giờ và mãi mãi ông cũng vẫn chỉ là kẻ yếu đuối, rụt rè, sợ hãi đang đi trên một sợi dây mỏng manh căng ngang một cái hố thẳm.
    Ông cố không suy nghĩ vẩn vơ gì khi khởi sự bước qua cánh cửa chính của toà building ba tầng lầu. Ông tạm quên đi những dĩ vãng, tạm quên những u sầu dằn vặt, tạm quên những người thân yêu đang ở quê nhà nhưng vẫn ngự trị trọn vẹn trong lòng ông. Ông bắt đầu phải làm việc.
    Công việc khởi đầu là ông phải đánh vật với cái ổ máy báo động tự động gắn ở mé góc tường, gần sát với cánh cửa chính ra vô. Ôi sao mà nó lôi thôi quá ! Mặc dầu trước đó ông đã có tới hai tuần lễ để làm quen kể từ hôm hãng này gắn cái hệ thống báo động. Nhưng mỗi lần ông đối diện với nó là một lần ông cảm thấy hồi hộp, bất an. Nó có một tấm bảng trên mang nhiều hàng nút và những cái bóng đèn nhỏ xíu. Bên cạnh đó là một cái khung mang đầy đủ những lời chỉ dẫn thiết yếu kèm theo những mũi tên sơn trắng ngang dọc chẳng biết để làm gì.
    Nhưng ông đâu có cần hiểu biết tất cả khả năng của cái máy phức tạp đó. Ông chỉ cần nhớ những lời họ căn dặn cho riêng mình. Trước hết, muốn vô toà nhà ông phải có chìa khoá riêng để mở cái cửa chính. Lọt vô rồi, ông sẽ có ba mươi giây đồng hồ để “bịt mồm” cái máy lại bằng cách nhấn ba con mã số, một chữ STATUS và một chữ OFF. Không làm đủ ngần ấy động tác, toàn bộ các chuông gắn đầy dẫy trong toà building đồ sộ này sẽ réo ầm lên.
    Nhưng chưa hết! Đó mới chỉ là xong thủ tục hợp cách để thể lọt vô toà building. Ông lại còn phải vào cái “code” của nó nữa để đưa cái máy trở về tình trạng sẵn sàng hoạt động thường trực như trước. Lần này ông lại phải chờ thêm ba mươi giây đồng hồ nữa mới thi hành được động tác thứ hai (ông chưa bao giờ dám thử xem rằng nếu làm sớm hơn hoặc trễ hơn thì điều gì sẽ xảy ra?). Ông giơ tay lên để coi chiếc đồng hồ nhẩy từng con số, tính từng giây như những thể thao gia bấm giờ cho cuộc đua. Rồi tới đúng lúc qui định, ông phải nhấn trở lại cái nút STATUS một lần nữa, kèm thêm bấm một hơi năm con mã số khác mà ông phải thuộc nằm lòng, rồi cuối cùng, nhấn thêm cái nút ON nữa mới thật sự là hoàn tất. Một cái bóng đèn xanh biếc như bích ngọc sẽ bật sáng lên báo cho ông biết là mọi thủ tục đã xong và ông có quyền thong thả leo thang máy lên tận lầu ba là nơi của ông sẽ làm việc.
    Mà nào có phải đây là chốn “thâm cung bí sử” gì cho cam. Nó chỉ là những dẫy hành lang hun hút bất tận, hai bên là những căn phòng nhỏ, có chỗ thì im ỉm cửa đóng, then cài, có chỗ thì mở toang ra, ngó vào bên trong chỉ thấy những tủ sách, những kệ hồ sơ, những xấp giấy đục lỗ, những cái giá để chồng chất những cuốn băng từ và những dàn máy computer nhấp nháy những ánh đèn có cái xanh, có cái đỏ, có cái vàng vàng da cam.
    Nhiệm vụ của ông Thái cũng chẳng có gì ghê gớm. Ông làm công cho một hãng thầu chuyên lo việc quét dọn bên trong các hãng xưởng, các xí nghiệp, có một cái tên tắt là KBMC mà chả bao giờ ông nhớ nổi hay chẳng cần cố gắng để nhớ nó là Kramer Building Maintenance Company. Hãng thầu quét dọn của ông có cả trăm nhân viên. Đông nhất là Mễ. Rồi Đại Hàn, Phi Luật Tân, El Salvador, Cuba và dĩ nhiên có cả Việt Nam nữa.
    Ông gặp những người đồng nghiệp Việt Nam đâu chỉ một hai lần khi lui tới văn phòng chính của hãng tọa lạc ở đường số 7. Bây giờ họ còn làm hay đã đổi qua nghề khác, ông không hay biết. Bởi vì ông đuợc phân phối tới một toán gồm năm nguời thì bốn kẻ kia đã là dân Mễ rồi. Họ gửi ông tới đây, cái hãng có toà building ba tầng lầu và một cái cửa chính ra vô có gắn hệ thống báo động tự động. Bọn Mễ dành cho ông quản trị nguyên khu lầu ba, phần còn lại gồm hai lầu dưới và một dãy nhà ngang thì họ chia với nhau. Thế là giang sơn có một mình ông một cõi. Ông tới bằng chìa khoá riêng, leo lên lầu ba bằng cái thang máy và lầm lì dọn dẹp ở đó vào quãng nửa khuya, cái giờ mà chẳng còn nhân viên nào lưu lại làm việc cả.
    Hồi trước thì sở này còn có một anh gác dan, bận đồng phục của security guard vẫn hay ngồi ngủ gật ở sau chiếc bàn giấy nhỏ trên có đặt một máy thu thanh hãy còn đang được vặn nhạc um sùm. Nhưng từ khi hãng đặt hệ thống báo động thì anh guard được cho về vườn. Sự vắng mặt của anh ta gieo vào tâm hồn ông Thái một khoảng trống lớn. Ông không còn đuợc nghe tiếng nhạc, tuy không phải để thưởng thức mà là để tạo cái cảm giác quanh ông còn có sinh hoạt của con nguời. Những hôm ông tới làm việc trước bọn Mễ ở lầu dưới thì toàn bộ khu vực quanh đó chỉ có mỗi một mình ông.
    Đi trong những dẫy hành lang tối hun hút, ông có cái cảm giác như mình đang là con dế lầm lũi mầy mò trong những cái hang hốc của đáy sâu trong lòng một hầm mộ tối. Có lúc ông thấy nguời mình chợt rợn lên. Cả một tầng lầu bừng sáng trưng như ban ngày, mặc dầu chỉ là thứ ánh sáng mang lại một sự im lặng mênh mông. Ông chỉ nghe thấy tiếng động do chính cử chỉ của mình phát ra. Một tiếng kẹt cửa. Một tiếng gót giầy khua trên nền đá nhẵn bóng. Tiếng của cái thùng nhựa tròn đựng rác đặt trên bốn cái xe lăn lọc cọc. Và cả tiếng những cái hộp xà bông nước, những cuộn giấy vệ sinh, những cái cán chổi, những cái xô nhựa móc tòn ten chung quanh vành đai thùng va vào nhau thành những tiếng lạch xạch theo nhịp bước của ông. Rõ ràng là những âm thanh không mang tính chất của tiếng người.
    Tinh thần của ông Thái nhiều lúc yếu ớt đến độ sợ sệt ngay đến cả những thứ tiếng động đó do chính mình gây ra. Ông hay dáo dác nhìn trước nhìn sau. Tim ông trở lên hôi hộp vì lâu lâu ông thấy nó thắt lại. Ông sợ sự mênh mông. Ông sợ những hành lang hun hút dẫn vào những căn phòng im vắng, không người. Ông chợt muốn thét to lên, gọi tên thằng Quý, con Thư và cả tên bà Thái, vợ ông nữa. Nhưng đó chỉ là những cơn xúc động đầy tính chất ảo giác.
    Thằng Quý giờ này đã nằm yên dưới đáy biển sâu. Con Thư, bà Thái thì vẫn còn ở xa lắc bên kia bờ đại dương, nơi quê nhà. Kỷ niệm như những nhát dao băm vằm lên tâm hồn cứ ngày một yếu ớt của ông. Nó làm cho ông nhiều lúc trở thành lẩn thẩn, miệng lầu bầu những gì mà chính ông cũng không nhận ra. Rất may là quanh ông không có ai dòm ngó ông cả. Như vua một cõi, ông lê cái chổi đi như một cái bóng vất vưởng qua hết dãy hành lang này tới hành lang khác. Ông có cả một đêm dài để hoàn tất một nhiệm vụ chỉ cần ba, bốn tiếng đồng hồ của mình. Ông cũng không cần trở về sớm làm chi. Có ai chờ đợi ông lúc trở về từ hơn hai năm nay đâu? Cho nên ông tự cho phép mình la cà ở phòng này, phòng kia, tự do nhìn ngắm những đồ vật xung quanh như thể một lão canh nghĩa địa đi lang thang nhìn ngắm những mộ chí thuộc phần vụ cai quản của mình.
    Trong phạm vi sinh hoạt hàng ngày, xã hội Mỹ đối với ông hoàn toàn xa lạ và cách biệt. Ông chẳng quen ai, chẳng trò chuyện được với ai, thậm chí đi mua hàng ở các chợ Mỹ ông cũng chỉ lẳng lăng đặt đồ lên quầy, lẳng lặng trả tiền theo con số hiện trên máy tính và âm thầm đi ra. So với nhiều đồng bào khác cũng đi định cư ở đây, ông chỉ như con kiến bò trên vành đĩa ở vòng ngoài. Tuy nhiên, ở đây, trong cái tầng lầu ba mênh mông im vắng này, ông lại có cơ hội thọc sâu được vào đời tư của nhiều nguời Mỹ.
    Mỗi bàn giấy của họ là một thế giới riêng của từng người, bởi vì ngoài những đống giấy tờ ngổn ngang, họ còn bầy đủ thứ riêng tư theo sở thích. Nhìn cái giỏ rác của bà Suzanne, cái tên mà ông đọc đuợc trên tấm bảng đặt ở trước bàn giấy, ông biết được rằng bà này quá mập vì bên trong toàn vỏ đồ uống có chữ diet. Trong giỏ giấy của cô Julie thì đầy vỏ giấy kẹo và những mảnh giấy chắc là thư tình viết nửa đoạn thì xé bỏ. Có lá thư chỉ ghi đuợc đúng một chữ My Darling thì đã bị ném sọt rác. Hẳn vào lúc này cô ta bối rối lắm. Trên vách đằng sau lưng cô Carolyn Johnson thì đầy hình tài tử. Ít lắm thì cô này cũng mê một lúc cả đến bốn năm nguời. Có chàng là ca sĩ, có chàng là tài tử, có cả mấy chàng cầu thủ môn football nữa. Những bà già hơn thì trưng hình của mình chụp chung với con gái, con trai bầy bên cạnh hình chó, hình mèo. Nhiều ông thích du lịch, phiêu lưu thì căng trên vách đủ loại tranh của Nhật, của Hồng Kông, những tấm thảm Ả Rập hay những bộ sưu tập con ốc, con sò. Thật là cả một xã hội tâm tình kiểu Mỹ được bầy biện ra ở đây mà đêm nào ông Thái cũng đuợc trực diện với nó, ngắm nghía nó và nếu muốn ông cũng có thể sờ mó được nó nữa.
    Thường thường thì ông chấm dứt công việc dọn dẹp vào lúc ba giờ sáng. Bọn Mễ ở từng dưới tuy đến sau ông nhưng cũng đã dời đi từ lúc nào. Bốn bề quanh ông vẫn chỉ là một khoảng trống mênh mông, im vắng.
    Bấy giờ là lúc ông có thể rút từ trong bọc riêng của mình ra một cái bi-đông nhựa nhỏ bên trong chứa lưng lưng loại rượu giống như rượu đế mà ông vẫn mua ở chợ Tầu. Ông không phải là dân nghiền nặng đến độ quá chén. Mỗi lần xong việc, ông chỉ ngửa cổ tu năm ba ngụm để thấy mình ngà ngà, để thấy cơn sầu tủi nguôi ngoai đi và ông có thể nổi hứng ư ử cất giọng hát những bài lộn xộn chẳng đầu, chẳng đuôi. Chán rồi ông nói chuyện một mình. Ông nói với con Thư. Ông nói với thằng Quý. Ông làm như ông đang ở căn nhà nhỏ trên đường Bà Quẹo, phía trước có cây trứng cá xoè cái tán sum suê ra tận con đường nhỏ có tráng xi măng. Bên kia chòm xóm là khu nhà thờ vào buổi chiều có tiếng chuông ngân nga trong gió mát. Thằng Quý hồi đó còn mải chơi, chạy đầu làng cuối xóm, mỗi lần thò mặt về, ông bắt gặp là ông mắng phủ đầu:
  • Tổ cha mầy, mầy đi đâu mà tao không thấy mặt, Quý!
    Lối mắng đó quen thuộc đến nỗi thằng Quý không buồn trả lời. Nó chỉ nhìn ông len lén rồi lách qua chỗ ông đứng, chạy tọt vô nhà trong. Ông cũng quen thuộc với câu mắng đó nữa. Bây giờ trong men ngà ngà có lúc ông cũng lèm bèm một mình:
  • Tổ cha mày, mày đi đâu mà tao không thấy mặt, Quý!
    Chỉ có khác một điều là bây giờ lèm bèm xong ông bưng mặt khóc. Ông còn đủ sáng suốt để biết rõ Quý hiện đang nằm dưới lòng biển sâu.
    Có hôm nhớ nhà quá, ông nổi hứng ra ngồi dựa lưng ở vách tường cạnh cửa thang máy, kê cuốn tập lên đùi để viết thư về thăm con Thư và bà Thái. Đầu óc ông đầy ắp những xúc động. Ông muốn kể cho bà Thái, con Thư về đời sống ở bên này, đời sống của ông, công việc hàng ngày với cái building ba tầng lầu có những dãy hành lang tối hun hút.
    Nhưng chẳng bao giờ ông kể đuợc trọn vẹn những chi tiết như thế trong thư. Trang giấy trước mặt ông, dù ông có loay hoay thì cũng chỉ nguệch ngoạc được vài ba dòng chữ. Bởi vì viết được vài câu ông lại nghĩ miên man, ông hình dung ra căn nhà cũ ở trong xóm nhỏ, bóng dáng bà Thái ra vào và cử chỉ nhí nhảnh, hồn nhiên của con Thư. Những điều đó nói ra thì vô nghĩa nhưng nó đã làm ông thừ nguời ra. Ông quên mất mình hiện đang ở đâu, làm gì. Trí nhớ bồng bềnh của ông có khi tạo cho ông cái cảm giác mình đang nằm trên chiếc chõng tre kê ở dưới tàng cây trứng cá, bên kia là nhà thờ. Vào buổi chiều có những hồi chuông rung trong gió mát. Thế là ông thiu thiu ngủ. Giấc ngủ của ông đầy mộng mị, thảng thốt và nhờ thế không bao giờ ông kéo đuợc một giấc dài. Vậy cũng là may cho ông, bởi vì khi mở mắt ra, ông nhận ngay ra rằng mình vẫn đang còn ở trên lầu ba của toà building nơi ông làm việc đêm qua.
    Trời mới hưng hửng sáng, thứ ánh sáng nhờ nhờ xuyên qua những tấm kính cửa không đủ soi sáng những dãy hành lang khúc khuỷu và chỉ phơi bày ra ở bên ngoài những chòm cây mờ mờ ẩn mình sau những làn sương in những bóng đèn đường mang màu vàng đục, úa.
    Ông hốt hoảng đứng dậy và vội vã như một kẻ chạy trốn. Ông rất sợ bình minh: ánh sáng của bình minh sẽ chói loà và phô bầy ra trước mắt ông tất cả những điều xa lạ, khó quen thuộc của cái xã hội đầy xa lạ này.
    Phạm vi sinh hoạt của ông đến buổi bình minh là chấm dứt giới hạn của nó. Trả lại tầng lầu này, những tủ hồ sơ này, những bàn giấy, giỏ rác này và những hình ảnh con trai, con gái, con chó, con mèo, những tấm thảm thêu, những con ốc, con sò và cả những bức thư tình bị xé nửa chừng cho những nguời xa lạ như Julie, Suzanne, Johnson hay Cathy nào đó.
    Ông sẽ chỉ quay lại chốn này vào ban đêm. Bóng tối che đi tất cả mọi thực tại và đấy mới đích thực là giang sơn của ông. Giống như những con dế chỉ quen lầm lũi bò sâu dưới lòng mộ tối.

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 23 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

  1. Một Ngày Của Nhiều Người
    Chuông đồng hồ tự động đánh thức Hải bừng dậy vào lúc 6 giờ. Như một cái máy chính xác, anh mở choàng mắt ra và cắt đứt lìa ngay với giấc mơ hình như hết sức êm đềm, hết sức yêu thương mà anh đang trải qua trong giấc ngủ. Anh chỉ lưu luyến gợi nhớ đến nó trong vòng mười lăm giây (nhưng trí óc tỉnh táo của anh không cho phép anh thấy được điều gì trong giấc mơ cả, ngoại trừ cái cảm giác hết sức êm đềm, hết sức yêu thương), và anh đã tung chăn bật dậy.
    Trời còn tối mò nhưng anh không cần bật đèn cũng quơ được đôi dép, tìm được lối đi đến phòng tắm. Anh đã quá quen thuộc với căn phòng gần hình vuông, có một cái giường nệm hai lớp, có một ngăn sách nhỏ ở đầu giường, có một giàn dụng cụ âm thanh với những băng nhạc, đĩa hát kê bên cạnh cái ti vi màu và bừa bãi chung quanh là một số tạp chí, sách báo, những bộ quần áo hoặc chưa giặt, hoặc đang xài vùi rải rác trên lớp thảm êm và mịn như nhung. Cũng nên kể thêm một cái bàn nhỏ để ngồi viết, chung quanh bừa bãi những phong bì, những tờ quảng cáo, những tờ biên nhận của những món lặt vặt mua sắm và cả những cái bill trả tiền gas, tiền điện thoại, tiền mua trả góp giàn âm thanh, cái máy truyền hình và cả chiếc xe hơi anh đang xài. Gọi là bàn viết nhưng anh chỉ sử dụng vào việc viết lách có đúng một việc ký tên trên những tấm chi phiếu. Dĩ nhiên anh còn nhiều việc phải làm nữa, như việc viết thư về Sài Gòn thăm cha mẹ già, trả lời thư cho một người bạn vừa ở trại tỵ nạn qua định cư ở một tiểu bang miền Đông Bắc, và kể cả ý định anh thấy cần phải viết một lá thư phàn nàn về thái độ ấu trĩ của một bài báo nào đó, đăng trên một tờ báo nào đó trong tháng vừa qua.
    Những công việc ấy kể như đã gần ngập đầu, anh tự hứa sẽ giải quyết nó dần dần, mặc dầu anh chưa có thì giờ để thực hiện lời hứa đó và mỗi ngày trôi qua, một cảm giác bứt rứt lại tăng thêm lên trong đầu óc lúc não cũng căng thẳng của anh. Rất may là anh cũng chỉ để cho mình bứt rứt trong khoảng mười lăm giây đồng hồ. Anh còn phải dành đầu óc cho những việc cấp bách hơn. Nhào vô phòng rửa mặt năm phút, tắm dưới vòi nước nóng mười phút, bận bộ quần áo ba phút, và đến khi anh đánh được cái xe ra đến đường phố thì đồng hồ đã chỉ đúng sáu giờ hai mươi phút rồi. Anh còn mười bảy phút nửa để vượt qua hai đường phố vào xa lộ 22 West, chuyển qua xa lộ 57 North, rồi ra exit ở một đường phố có tới hai cái đèn đỏ ở ngã tư trước khi chui vào khu vực đậu xe ở sở làm. Anh sẽ phải bấm cái thẻ tính giờ tại cái máy tự động vào lúc bảy giờ thiếu mười lăm.

° ° °

Hôm nay, trên cái thẻ tính giờ hiện ra con số sáu giờ bốn mươi sáu phút. Như vậy là trễ mất một phút. Toàn hơi nhen nhúm một sự bực bội. Trên khoảng đường ngắn ngủi đi vội vã qua một dẫy hành lang còn đèn sáng để tới chỗ làm việc, anh duyệt nhanh lại công việc đã làm từ sáng để truy ra nguyên do sự chậm trễ một phút này của mình.
Đồng hồ đánh thức anh dậy lúc 6 giờ, anh không bịn rịn gì với giấc ngủ. Đánh răng, rửa mặt, tắm dưới vòi nước nóng, thay quần áo và nhào xuống garage để đánh xe ra đường. Anh chợt phát giác ra chỗ trục trặc trong cái thời khóa biểu của mình. Hôm nay cái xe nổ máy hơi khó. Nó kêu ủng oảng và xịt khói mịt mù. Rồi chết máy. Rồi chết máy tiếp diễn. Rất may chỉ phải “đề máy” lại có hai lần và nhồi nhiều gas để cho nó chóng nóng máy. Nhưng ngần ấy việc cũng đủ tiêu đi mất của anh thời gian một phút rồi. Nếu chậm thêm bốn phút nữa thôi anh sẽ bị kẹt xe ở lối vào xa lộ và ở mấy cái đèn đỏ trên đường rẽ vào sở làm. Ạnh nghĩ đến chuyện phải tune-up cái xe. Sợ sẽ còn phải hơn thế nữa. Người chủ garage quen thuộc đã từng nói với anh cả hai tháng nay rằng cái xe của anh phải rebuild. Anh nghĩ đến số tiền phải chi ra. Anh nghĩ đến những cái bill hàng tháng. Tiền điện thoại, tiền gas, tiền nước, tiền tivi, tiền dàn âm thanh, và những gói quà 2 pounds gửi về cho gia đình ở Sàigòn. Đầu óc của anh như bị xiết lại. Anh muốn ngộp thở về những ý nghĩ ấy ở trong đầu, diễn ra rất nhanh như một giòng điện tử xẹt qua óc trong thời gian vừa đủ để anh bước vội vã qua dẫy hành lang còn đèn sáng để tới chỗ làm việc. Tất nhiên trong lúc đầu óc căng thẳng như thế anh chẳng chú ý gì đến ai. Hình như có ai đó kêu tên anh. Hình như có ai đó đi ngược chiều gật đầu, nhìn anh cười cười. Anh như một kẻ sắp chết đuối giữa một con sông đầy những ngọn sóng. Mỗi ngọn sóng là một ý nghĩ một công việc, một chi tiết của đời sống, một nỗi ray rứt về sự toan tính định làm một việc nhưng chưa làm….
Nhưng dù sao thì anh cũng vẫn phải tỉnh táo. Và anh đã rất tỉnh táo. Anh cắt đứt sự lo lắng bận tâm một cách rất mau chóng khi ngồi vào bàn làm việc. Anh biết ở phía sau lưng của anh, lui về phía cửa ra vào ở góc phòng, có một kẻ đang lom lom quan sát anh từng cử chỉ từng điệu bộ. Mụ Jeannie, “lít” (leader) của anh đó. Mụ này rất khó chịu, soi mói, xét nét mọi người từng cử chỉ từng việc làm. Chỉ cần anh quay lại cười cười, trả lời một câu hỏi nào đó của đồng nghiệp ngồi ở dẫy sau lưng anh, hỏi vọng sang là mụ ta đã sẵn sàng tiến tới bên cạnh anh với một vẻ mặt khó chịu. Rồi trên “lít” còn có supervisor, trên supervisor còn có manager, trên manager còn có director. Cả một hệ thống nó cưỡng ép anh bắt làm đủ 8 giờ vàng ngọc tính cả vào hai lần nghỉ, mỗi lần 10 phút để xả gân cốt, uống cà phê, và 30 phút để ăn bữa trưa một cách vội vã với mấy mảnh sandwiches, một khúc thịt dồi và một trái táo.
Nghĩ đến thời gian một ngày còn đằng đẵng trước mặt, anh muốn mệt xỉu. Nhưng kinh nghiệm cho biết ngay lúc bắt đầu làm thì đừng vội nghỉ đến giờ về. Phải quên nó đi. Cũng như đầu tuần vào ngày thứ Hai thì đừng vương vấn gì đến những chuyện cuối tuần vào vì nó còn xa vời. Càng trông đợi, nó càng gây cho mình nỗi mệt mỏi chán chường. Hãy gồng mình cho đến ngày thứ Tư trong tuần. Thứ Tư mà nghĩ đến ngày thứ Năm thì rất thoải mái vì hôm đó là ngày phát paycheck cho những người làm ca chiều. Lãnh xong paycheck thì ngày thứ Sáu còn lại chỉ là chuyện nhẹ tênh vì những ngày cuối tuần đang mỉm cười đón chào. Thank God It’s Friday, cám ơn Thượng Đế đã tới ngày thứ Sáu. Ngày của thả câu sắp kéo lên một con cá bự.
Trong một tuần lễ ngày thứ Sáu là ngày có nhiều ý nghĩa nhất đối với những kẻ lao động triền miên như Toàn. Anh không chỉ đi làm mà lại còn đi học thêm. Sau cuộc đổi đời ở quê nhà, bị ném từ vị trí của một Chủ sự phòng dưới tay có hàng chục nhân viên xuống cái chỗ thấp kém nhất chịu sự kiểm soát của một mụ “lít’ vô học, anh quyết phải ngoi lên. Anh sẽ phải đi từ assembler lên technician, từ technician lên engineer, anh quyết sẽ có ngày quay trở lại điều khiển “chúng nó”, rầy la “chúng nó” như những ngày dài thăm thẳm hiện nay “chúng nó” đang xét nét anh, soi mói anh, dằn vặt anh từ một nụ cười, từ một câu nói, từ một lần nếu đi trễ một phút giống như cái trễ ngày hôm nay. Ít ra những ý nghĩ lạc quan ấy cũng đủ cho anh cảm thấy qua được thì giờ cho tới lúc tan sở.

° ° °

Khi tới giờ tan sở Bình bao giờ cũng là người phóng ra ngoài hành lang trước tiên. Anh chỉ có trước mặt ba phút để tới khu vực đậu xe, hai phút để lái được cái xe ra khỏi cổng, ba phút nữa để tới được lối vào xa lộ nếu như anh không bị kẹt ở cái bảng stop, mất quyền ưu tiên trước cả một dòng xe nhiều khi tưởng như bất tận qua lại ở cả hai, bên tay trái lẫn tay mặt. Nhiều hôm kẹt cũng ở đó, anh ước gì mình là Thị Trưởng Thành Phố, Thống Đốc Tiểu Bang, Tổng Thống Hoa Kỳ để gắn cho cái chỗ chờ xe đó một cái đèn xanh đèn đỏ. Có đèn thì đông xe cách mấy anh cũng chỉ phải chờ 48 giây là thoát ra được đường cái. Không có đèn, lắm khi anh đã phải tiêu vô ích ở đó đến năm, bảy phút, có lúc sốt ruột quá, anh đã nhào càn ra khỏi lằn xe , và dĩ nhiên là anh phải lãnh những tiếng còi xe, những cặp mắt hằn học. Rất may là ở chỗ đó ít có mặt cảnh sát, và dĩ nhiên nếu cảnh sát có mặt thì dù nóng lòng cách mấy anh cũng tỏ ra (và ai cũng tỏ ra) là người lái xe hiền như bụt.
Vào được xa lộ rồi thì anh chỉ còn hai mươi phút nữa để băng qua hai cái xa lộ, ba đường phố chính, một đường phố phụ, một khu rộng bát ngát đậu kín mít những xe hơi của các sinh viên đã đến trước anh, tìm được chỗ đậu và chạy tất tưởi thông qua bốn dẫy hành lang mới vào tới lớp học. Bao giờ thì anh cũng trễ ít nhất là năm phút. Anh len lén như một kẻ phạm tội luồn qua mấy dẫy ghế để vào chỗ ngồi. May mà anh đã nói lót trước với những ông thầy, bà thầy.
Tôi đi làm full-time, đi học full-time, xin cảm thông những lần đi trễ. Cái đó thì cảm thông được, nhưng đối với những homework thì không có ngoại lệ, đã nhiều khi Bình ví homework như nhưng cái đầu của Phạm Nhan trong chuyện dã sử. Chặt đầu này mọc đầu khác. Mới góp xong bài này đã nợ thầy giáo bài khác. Suốt đời đi học là một chuỗi dài lo toan trả nợ những bài homework. Nó ám ảnh anh trong lúc anh trệu trạo nuốt mấy lát sandwiches, một khúc dồi, hay ngoạm vội vã một quả táo cho qua bữa trưa thông lệ.
Tuy nhiên bầu không khí trong lớp học vẫn là những giờ vui tươi, thoải mái nhất trong ngày. Nó làm cho anh quên những nỗi lo toan hằng ngày. Ba tháng nay chưa viết thư về Sài Gòn thăm gia đình, món nợ đó nằm sẵn trong đầu óc của anh sẵn sàng lúc nào cũng nhắc anh như lương tâm sẵn sàng lên án một tội ác. Được cái là không tháng nào anh lơ là chuyện gửi quà về cho gia đình. Món quà kể như là trọn vẹn tình nghĩa nếu như anh kèm vô đó một lá thư thăm hỏi. Anh biết rõ điều đó mà không cách nào thực hiện được. Làm sao người nhà thông cảm được với anh rằng trong hoàn cảnh của anh hiện nay, gửi quà thì dễ nhưng viết được một lá thư thì khó. Riết rồi anh đâm sợ hãi khi có ai nhắc đến chuyện thứ từ. Anh sợ luôn cả những lúc mắt nhìn thấy một con tem, môt cái phong bì, hay một cái xe sơn hai màu xanh, trắng chạy lũn cũn trong đường phố của những người đi phát thư. Đã có lúc anh nảy ra sáng kiên, nếu một mai thất nghiệp, anh ra mở một văn phòng viết thư giùm thiên hạ. Anh tưởng tượng rằng với mỗi thân chủ của anh, anh sẽ mở một hồ sơ, trong kê-khai đầy đủ tình trạng gia đình, tên tuổi mỗi người cả hai bên nội ngoại, một vài đặc tính của mỗi người và những chi tiết sinh hoạt chính yếu của họ. Với ngần ấy dữ kiện, anh có thể sẽ viết dùm cho thân chủ một cái thư lâm ly. Như ông bác bây giờ ra sao, có còn lên những cơn suyễn kéo dài suốt cả mùa đông như năm ngoái, hay bà dì lúc này thế nào, cái nhọt ở lưng đã tuyệt nọc chưa hay là trị dứt chỗ này nó lại chạy ra chỗ khác. Rõ ra một thằng cháu hiêú đễ lúc nào cũng quan tâm đến cả họ hàng nội ngoại. Lá thư sẽ đánh máy sạch sẽ, thân chủ chỉ cần “ký” một cái là sẽ sẵn sàng được gửi đi, nhưng nếu cần anh cũng có thể ký thay cho thân chủ bằng một kiểu chữ ký mới sau khi xếp đặt một màn thông báo về nhà rằng “ở Mỹ mọi sự đều phải phân minh, rõ ràng, kể cả việc ký tên cũng phải gồm đầy đủ tên họ, chữ lót chứ không phải nguệch ngoạc loằng ngoằng như ở nhà.”
Một dịch vụ như thế sẽ giải tỏa cho nhiều người những cơn ác mộng về chuyện nợ nần thư từ. Nó cũng giống như sáng kiến của nhiều ngân hàng hiện nay nhận lãnh dịch vụ ký check thanh toán đủ mọi thứ bill cho thân chủ để ” mọi người được sống trong cái cảm giác thoải mái là sống trong xã hội Mỹ mà không hề vướng vấn nợ nần”, nhưng với một điều kiện là chớ có để mất job. Mất job là mọi sự sẽ đi đoong hết, kể cả cái xe đang xài cũng dọa bị kéo đi.

° ° °

Ở lớp học tan ra, không cần nhìn đồng hồ, Sảnh cũng biết lúc đó là mười giờ thiếu mười. Anh không còn phải chạy như lúc đã chạy từ nhà đến sở làm hay từ sở làm đến trường học. Bây giờ là cái phút mà anh đã chấm dứt một ngày lao động. Chân tay anh bải hoải. Đầu óc anh rã rời. Anh như người hết hơi đến độ chẳng còn đủ sinh lực để hưởng thụ cái thú xoa tay rũ bỏ một ngày phải chạy đua với thời gian. Anh không còn đi nữa mà như muốn lết qua những dẫy hành lang của trường đại học cộng đồng. Đèn ở đó sáng choang nhưng anh chỉ thấy mọi người qua lại như những cái bóng. Anh chẳng buồn nhìn ai, thấy ai. Anh cũng mang máng thấy như có kẻ nào vừa đi ngang qua mặt, mỉm cười chào. Buổi sáng anh không đáp lại vì vội vã. Buổi tối thì lại vì quá mệt mỏi. Anh biết thiên hạ đã chửi mình là một thứ khùng, một loại sống mất quân bình đến nỗi quên cả những phép lịch sự tối thiểu.
Thời gian, công việc ở sở, công việc ở trường gò anh lại như một cái vỏ ốc và anh đã bó tròn mình trong cái vỏ ốc đó. Quê hương là cái gì xa thẳm hết sức nhạt nhòa, mỗi tháng chỉ hiện hữu bên anh qua hình ảnh của một vài gói quà, mỗi gói cân nặng vừa đúng hai pounds. Bạn bè thì lẩn khuất đâu đó trong trí nhớ’, lâu lâu tình bạn trỗi dậy qua những cuộc điện đàm. Anh bận rộn đến nỗi không có cả một hình ảnh lộng lẫy nào đó để tôn thờ. Ngày xưa khi còn ở quê nhà, anh đã lao vào tình yêu với hết cả sự mù quáng của tuổi trẻ. Bây giờ thì tình yêu được đem lên bàn cân để, tính toán. Anh đã cảm thấy ngay (rất nhạy bén!) rằng yêu nhau thì phải gặp gỡ, phải hẹn hò, phải mất công dỗ dành, dàn xếp những chuyện tình cảm vụn vặt, lỉnh kỉnh và dĩ nhiên là phải tốn tiền. Làm gì trên đời này lại có thể có những cuộc tình không tốn kém dù chỉ là tiền đi ăn tại một nhà hàng, đi nghe nhạc ở một quán cà phê hoặc điện thoại com-măng một tiệm bán hoa để gửi đến nhà người yêu một bó hoa nồng nàn trong một dịp đặc biệt nào đó.
Trong hoàn cảnh hiện nay, anh biết là mình không đủ điều kiện để chu toàn những công việc đó. Điều đáng buồn cho anh là cái hoàn cảnh hiện nay ấy đã kéo dài tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, đã đủ thời gian chín mùi để cho mấy cô sinh viên VN trẻ trong trường buông một câu kết luận “thằng ấy khùng” và gán cho anh cái danh hiệu “thằng Sảnh khùng”.

° ° °

Khi Dũng lái xe về đến nhà, lên mở cửa phòng, bật đèn sáng thì bao giờ đồng hồ cũng chỉ mười giờ hai mươi. Anh ném chồng sách xuống một góc nhà rồi tiến lại dàn âm thanh để vặn lên một đĩa hát. Âm thanh thánh thót từ tiếng dương cầm trong một bản nhạc cổ điển làm đầu óc của anh dịu lại. Cả một ngày dài, suốt từ 6 giờ sáng cho đến bây giờ, anh mới có cảm giác lúc này là của riêng anh. Anh có quyền nằm vật ngay trên giường đệm, hai chân ghếch lên thành ghế, anh có quyền nhắm mắt lại không phải để ngủ mà để nghiền ngẫm cái cơn thú vị đang ùa đến sau một ngày dài mệt mỏi.
Anh có quyền ngáp thật dài, há mồm thật to, điều mà anh không được quyền làm ở sở, dưới cặp mắt soi mói của lão “lit” già thỉnh thoảng hay xuất hiện ở khung cửa sổ xế chỗ anh làm việc và nhìn anh chầm chập như muốn soi mói, tìm tòi ở những hành động của anh một vài cử chỉ lỗi lầm. Những phút đó anh rất thèm ngáp. Cơn “buồn ngáp” có lúc thôi thúc anh nổ bùng không chỉ chống lại lão già, nhưng là chống lại cả cái đời sống tôi mọi này, cái xã hội máy móc này và cả cái cuộc đời lưu vong bận rộn này. Nhưng bao giờ thì anh cũng nén được cơn bùng nổ bất trắc của mình. Mắt của anh chỉ đỏ ngầu lên. Những giọt nước mắt ứa ra mấp mé bờ mi, nhìn qua đó anh thấy hình ảnh của lão lít già nhòe nhoẹt ra nom giống như một hình nhân bằng đất thó bị nhão nhoẹt dưới sự tàn phá của một trận mưa.
Tuy nhiên sự thú vị chỉ có thể kéo dài tối đa cho đến mười giờ bốn lăm là cùng. Anh còn phải nhỏm dậy đun cho mình một ấm nước sôi đủ pha một bình cà phê và một tô mì gói. Trong lúc đun nước, anh vào phòng tắm để xối mình dưới vòi nước nóng. Rồi thay quần áo ngủ. Rồi ăn mì. Uống cà phê. Xong xuôi bắt đầu mở sách vở ra làm homework. Bài làm dù ngắn dù dài, dù khó, dù dễ bao giờ anh cũng buộc phải đứng dậy tắt đèn đi ngủ vào lúc đồng hồ chỉ mười một giờ ba mươi. Nếu không, ngày mai anh không thể dậy nổi lúc 6 giờ, xách xe ra cửa lúc 6 giờ hai mươi tám phút để có mặt được ở sở vào lúc bảy giờ thiếu mười lăm.
Thường thường thì anh không thể đặt mình lên giường lúc mười một giờ ba mươi mà ngủ ngay được lúc đó. Tùy theo mức độ mệt mỏi của từng ngày, anh có thể sẽ thao thức thêm tám phút, mười phút hoặc tối đa mười hai phút, đó là lúc anh để cho đầu óc tự do thả hồn về quê nhà ở đó có cha mẹ già, có những đứa em nhỏ, có những bạn bè thân quen đang kéo dài một kiếp sống đọa đầy, thiếu thốn từng một bữa ăn no, một bộ quần áo lành lặn hay từng một giây phút được tự do nói gì thì nói, đi đâu thì đi, không phải băn khoăn gì tới chuyện bắt bớ tù đầy.
Anh hay đi vào giấc ngủ bằng những hình ảnh của các người thân quen sơ xác, tiều tụy đó. Lòng thương yêu của anh đối với họ dâng lên xót xa, mặc dầu chính anh, buổi sáng vô rửa mặt, soi gương anh cũng đã tiều tụy, xác sơ từ lúc nào mà chính anh không nhận ra.

Santa Ana tháng 11,1982

Buồn vui đời nghệ sỹ

vietmessenger.com
Nguyễn Phương
Post by Sơn râu 23 Nov 2024

  1. Nữ nghệ sĩ Phượng Mai: 40 năm hát Hồ Quảng
    Trong lịch sử Sân Khấu Việt Nam, ngành nghệ thuật Hát Bội và Cải Lương có một thời gian dài hoạt động, có nhiều nghệ nhân tài danh, nhiều soạn giả xuất sắc, nhiều vở tuồng đã đi vào lòng khán giả nên các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật và báo chí kịch trường có viết bài phê bình, giới thiệu, tổng kết, nâng lên thành lý luận nghệ thuật Hát Bội và nghệ thuật Cải Lương. Có một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu, con đẻ trực tiếp của nghệ thuật Hát Bội và Cải Lương phối hợp tạo nên, từ hơn bốn mươi năm nay được khán, thính giả say mê, ủng hộ, nhưng không được công nhận là một loại hình nghệ thuật đứng đắn: Đó là nghệ thuật Hát Hồ Quảng.
    Hát Hồ Quảng còn được gọi là Cải Lương Hồ Quảng được khai sanh trong trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào và hình thức ca, diễn của Hồ Quảng ra sao mà bị một số công luận chống đối? (Tôi chỉ nói có sự chống dối của một số nghệ sĩ hay các nhà nghiên cứu thuần túy về nghệ thuật hát bội truyền thống nhưng về phía dân chúng bình dân và khán giả thì sự thích thú có lẽ không kém so với nghệ thuật hát cải lương).
    Còn nhớ năm 1948, tôi được mời cộng tác với anh Thành Tôn, anh Hữu Thoại và chú Sáu Vững, chép ra các vở tuồng hát bội do các anh ấy hát, để có kịch bản văn học nạp cho Đài Phát Thanh Sàigòn kiểm duyệt, dùng cho các buổi diễn hát bội thu thanh của Ban hát bội Vân Hạc, chú Sáu Vững, trưởng Ban Vân Hạc có nói với anh Thành Tôn:“Mầy hát sao mà tao thấy Tiều Quảng quá. E khán giả không thích “.
    Anh Thành Tôn là người luôn luôn muốn canh tân nghệ thuật hát bội vì anh thấy nếu giữ nghệ thuật hát bội thuần túy như xưa, sẽ mất hết khán giả. Vì vậy anh đi coi hát Tiều, hát Quảng rồi học lóm những cái hay của hát Tiều và hát Quảng, đem áp dụng cho hát bội pha cải lương do anh và một số nghê sĩ hát bội ở Tấn Thành Ban đề xướng.
    Anh nói
    “Tôi học các gánh hát Tiều, hát Quảng là học cái nghê thuật tạo hình, diễn xuất, vũ đạo. Về y phục, cảnh trí, cách ca hát canh tân là để cho khán giả dễ hiểu. Người ta coi hát mà không hiểu mình hát gì thì họ sẽ không coi nữa.”
    Hồi xưa, sân khấu hát bội của ta và sân khấu hát Tiều có nhiều điểm giống nhau: Trang trí sân khấu ước lệ, có màn trướng thêu rồng phụng, ngăn cách nơi biểu diễn với chỗ sắm tuồng, bàn ghế đơn sơ, y phục không loè loẹt, mang râu bít miệng. Phong cách biểu diễn tượng trưngười: đi ngựa bằng cách múa roi, lên xe giữa hai tấm vải vẽ hình bánh xe, nhảy lên ghế là thăng thiên, chui xuống bàn là độn thổ…
    Trong những thập niên 1930, 1940, 1950, 1960 nhiều đoàn hát Quảng từ Quảng Châu, Thượng Hải, Hương Cản sang biểu diễn ở Chợ Lớn và các tỉnh có nhiều Hoa kiều, sân khấu màu sắc lộng lẫy, trang phục sang trọng rực rỡ, tranh cảnh thay đổi từng lớp, từng hồi, coi rất bắt mắt. Dàn nhạc có trống kèn, chập chỏa, đồng lố, hầu củn nên rất xôm, hấp dẫn. Khán giả Hoa, Việt đều thích coi hát Quảng vì trang phục đẹp, lối hát lôi cuốn, điệu múa rất huê dạng.
    Các đoàn Bầu Thắng, Tấn Thành ban Bầu Cung (Sàigòn), Bầu Luông (Vĩnh Long), Bầu Bòn (Cần Thơ), Bầu Hiền (Sa Đéc) là những đoàn đi tiên phong trong việc canh tân hoá hát bội, đổi bảng hiệu thành đoàn Hát Bội Pha Cải Lương.
    Họ vào Chợ Lớn đặt may y phục theo lối hát Quảng, có thêu kim kim tuyến, mắt gà, mua sắm mũ mão Thượng Hải, Hồng Kông.
    Trang trí phong cảnh như đền vua, vườn hoa thật là tráng lệ, giống như các đoàn hát Thượng Hải.
    Hàm râu bít miệng được thay thế bằng những hàm râu liên tu, 5 chòm, 3 chòm để khán giả thấy miệng diễn viên khi ca, hát.
    Dàn nhạc cũng được mô phỏng theo nhạc Quảng.
    Về sân khấu có một nguyên lý mà người theo nghề hát phải tuân thủ theo: Khi chất liệu dùng trên sân khấu thay đổi thì nghệ thuật sân khấu ca, ngâm, diễn xuất, trang trí cũng bị ảnh hưởng mà phải thay đổi theo cho phù hợp.
    Ngày xưa, may áo giáp hát bội bằng vải bố, vải viền màu bằng vải ta, vải tám, đóng ngọc lộ bằng thiếc, bộ áo giáp cồng kềnh, thô cứng nên kép võ cũng phải dùng điệu múa thô cứng, động tác mạnh bạo.
    Khi các đoàn hát bội của ta mua trang phục của các đoàn hát Quảng ở Hồng Kông, Thượng Hải qua Sàigòn hát, các bộ giáp may bằng hàng tơ lụa, viền bằng chỉ kim tuyến, thêu mắt gà, vừa rực rỡ sáng chói, vừa có màu sắc hài hòa, diễn viên ta mặc áo giáp hay mảng bào tơ lụa, vải mềm tha thướt tự nhiên giáng đi điệu múa của diễn viên cũng phải tha thướt dịu mềm.
    Về nhạc cũng vậy, khi có trống, bạt, chập chỏa, đồng lố và kèn lá của dàn nhạc Quảng vô sân khấu thì vũ đạo hát bội phải theo trình thức của hát Quảng thì mới phù hợp. Hát Bội tuy mang danh nghĩa là pha cải lương nhưng trong các thập niên 1940, 1950, vì hát phần lớn là tuồng theo tích truyện Tàu, nên dù muốn hay không cũng bị lai theo hát Tiều và hát Quảng.
    Một số diễn viên lớn tuổi, cao tay nghề không chịu theo lối hát “Lai Căng” này, cho là hát Tiều Quảng, làm mất giá trị nghề nghiệp truyền thống. Nhóm này có các nghệ nhân tên tuổi như Tám Tri, Mười Hiếu, Biện Dực, Tám Văn, Mười Sự, Chín Luông, Chín Tài, Minh Biện, Tám Hiển, Năm Còn…
    Danh từ hát Tiều, hát Quảng là để chỉ lối hát lai căng do xuất xứ này. Thành ngữ trong giới cải lương, hát bội: Nói Tiều, nói Quảng là nói bậy nói bạ.
    Những nghệ nhân hát bội giỏi múa Quảng, áp dụng một số vũ đạo Quảng vào tuồng ta và làm thành căn bản cho vũ đạo hát Hồ Quảng là các anh Thành Tôn, Hai Thắng, Mười Vàng, Minh Tơ, Khánh Hồng, Công Chấn, Công Minh…
    Năm 1960, một số phim ảnh Hồng Kông, Đài Loan du nhập, loại sân khấu kinh kịch của Tàu được đưa vào điện ảnh với những vở tuồng trữ tình do các tài tử trứ danh Lý Lệ Hoa, Lâm Đại, Nghiêm Tuấn, La Duy, Lăng Ba, Lạc Đế, đã chinh phục khán giả Việt, Hoa bằng những bài hát du dương tươi mát, có nhạc khí cổ truyền hòa điệu, hợp với cảm quan của người Việt Nam và người Á Đông nói chung.
    Lập tức các nghệ sĩ hát cải lương pha Quảng đua nhau học hát, rước thầy Tàu dạy ca các bản nhạc Đài Loan.
    Người có công lớn nhất trong việc đưa các bản nhạc Đài Loan vô làm thành điệu ca Hồ Quảng, theo tôi biết đó là nhạc sĩ Đức Phú.
    Đức Phú là em ruột của Minh Tơ. Anh giỏi về tuồng cổ, hát bội pha Quảng và giỏi về đàn Piano, guitare tân nhạc. Khi tôi quen biết anh là lúc anh làm nhạc trưởng vũ trường Kim Sơn, gần đình Cầu Quan. Thời gian này anh chung sống vợ chồng với danh ca Hồng Loan, ca sĩ các vũ trường Kim Sơn, Paramount, Arc en Ciel.
    Đức Phú ghi âm các bản nhạc Đài Loan trong các film Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Thanh Xà Bạch Xà, Hoa Mộc Lan Tùng Chinh rồi viết lời Việt, dùng trong tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài do anh sáng tác và dàn dựng trên sân khấu Minh Tơ.
    Có hai nhạc công Tàu: Há Thầu và Chú Long, viết nhạc Hồ Quảng (tức là nhạc trong phim Đài Loan) cho đoàn cải lương Hồ Quảng Huỳnh Long-Bạch Mai.
    Há Thầu đặt tên các bản nhạc Hồ Quảng đó là Bài Ly Hận, Xáng Xáng Lu, Chiêu Quân Hội, Phụng Hoàng San, Hoàng Mai 5, Hoàng Mai 15…(không rõ là do ngẫu hứng hay Há Thầu dịch từ bài Đài Loan ra các tựa bài ca Hồ Quảng kể trên). Há Thầu tên thật là gì không ai biết, chỉ biết gọi anh là Há Thầu. Há Thầu là đầu bự, có nghĩa là người thông minh.
    Các tuồng Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Hoa Mộc Lan Tùng Chinh, Tra án Quách Hoè, Na Tra Đại Náo Long Cung, Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê, Thanh Xà Bạch Xà lần lượt ra mắt khán giả. Vẫn ca cải lương, múa bộ Quảng, nay thêm ca nhạc Đài Loan, mặc đồ Quảng Đông, loại hình nghệ thuật này nghiễm nhiên thành danh: Cải Lương Hồ Quảng.
    Các đoàn Thanh Minh, Huỳnh Long – Bạch Mai, Minh Tơ, Khánh Hồng, Phụng Hảo đều có tuồng cải lương Hồ Quảng hát ở các rạp hát, đài Phát Thanh và sau 1965 ở Đài Truyền Hình.
    Các ngôi sao trẻ chuyên hát Hồ Quảng có Thanh Nga, Bạch Mai, Ngọc Đáng, Thanh Bạch, Bạch Lê, Thanh Tòng, Thanh Thế, Bửu Truyện, Mộng Lành, Thanh Loan, Trường Sơn, Bo Bo Hoàng, Mỹ Tuyết, Kim Ngà, Kim Thanh, Hữu Lợi, Đức Lợi, Đức Phú, Vũ Đức…
    Thần đồng – Phượng Mai, 7 tuổi nổi danh Tiểu Lăng Ba.

Nữ nghệ sĩ Phượng Mai, sanh ngày 29 /10/1956, con của một gia đình đông con. Cha mẹ của Phượng Mai có tất cả 13 người con mà Phượng Mai là con gái thứ 7, vì nhà nghèo, không thể nuôi một đàn con đông như vậy nên cha mẹ của Phượng Mai cho cô làm con nuôi của bà cô ngoại là nữ nghệ sĩ tiền phong Cao Long Ngà.
Gia đình của Phượng Mai bên nội, ngoại đều là những nghệ sĩ nổi đanh trong sân khấu tuồng cổ. Phượng Mai thuộc về thế hệ thứ 5 trong gia đình nghệ sĩ này. Ông Ngoại là nghệ sĩ tài danh Cao Tùng Châu, bầu gánh hát bội Phước Tường. Nữ nghệ sĩ Cao Long Ngà, em gái của ông Cao Tùng Châu là một diễn viên hát bội tài danh được Hội Khuyến Lệ Cổ Ca liệt vào danh sách Ngũ Trân Châu của ngành hát bội, gồm có các viên ngọc quí Cô Năm Nhỏ, Năm Đồ, Cao Long Ngà, Năm Sa Đéc và Ba Út
Tuy vai vế của nghệ sĩ Cao Long Ngà ngang hàng với bà nội, bà ngoại của Phượng Mai, nhưng bà cho Phượng Mai gọi bà bằng Má và gọi chồng bà, ông Sáu Xường bằng Cha. (Sáu Xường là cầu thủ nổi danh của đội banh Etoile Gia Định, cùng với thủ môn Tịnh, đấu ngang ngửa với đội banh Hương Cảng mà trung phong Lý Huệ Đường của đội banh quốc Tế này đã thán phục hậu vệ Xường và thủ môn Tịnh của Việt Nam).
Ông cậu của Phượng Mai là em vợ của ông bầu Nguyễn Phước Cương, cha ruột của nữ nghệ sĩ Kim Cương; do quan hệ gia đình nên lúc Phượng Mai được 5 tuổi, Kim Cương đã đưa Phượng Mai đi đóng phim, một vai con trong phim Ảo Ảnh của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.
Phượng Mai hát vai con trong vở “Thiếu Phụ Nam Xương” trong Ban kịch Kim Cương, diễn mỗi sáng chúa nhựt tại rạp Thanh Bình Sàigòn. Cô còn được Kim Cương tập cho các vai đào con trong các vở kịch :Tôi Là Mẹ, Cuối Đường Hạnh Phúc, Sắc Hoa Màu Nhớ.
Neoài việc đớng phim, đóng kich, hàng đêm Phượng Mai đều theo bà mẹ nuôi (Cao Long Ngà) đến rạp hát, xem bà hát nên từ nhỏ đến lớn, tiếng đàn, giọng ca, trống, phách và các điệu múa hát của các nghệ sĩ trên sân khấu tiêm nhiễm vào tiềm thức nên Phượng Mai tuy không chánh thức được truyền nghề, cô vẫn múa hát rất có duyên.
Phượng Mai học trường tiểu học Phan Văn Trị, ngang rạp hát bóng Đại Nam đường Trần Hưng Đạo.
Trong những năm 1960, 1961, rạp hát bóng Đại Nam chiếu phim Đài Loan Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Thanh Xà Bạch Xà, nhân viên gác cửa rạp chiếu bóng quen biết các nghệ sĩ đoàn hát Bầu Thắng và Bầu Cung nên cho các nghệ sĩ vào xem hát bóng mà khỏi mua vé. Phượng Mai nhân đó được xem phim Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài. Cô mê hai diễn viên tài danh Trung Quốc: Lăng Ba và Lạc Đế trong hai vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài nên trốn học, xem liền cả tuần lễ, nhập tâm học cách ca cách diễn của hai diễn viên tài danh Đài Loan đó.
Nhà trường gởi thơ cho bà Cao Long Ngà, báo tin Phượng Mai thường trốn học, bà giận lắm, bắt Phượng Mai cúi xuống cho bà đánh, răn dạy. Phượng Mai mới bị một roi, mếu máo khóc, nói:
“Má ơi, đừng đánh con đau. Để con hát bội làm đào má coi.”
Bà Cao Long Ngà và ông Sáu Xường tức cười, nói:
– Được! Má không đánh nữa, con nói làm đào, hát cho má coi, không hát được thì ăn năm roi về tội nói láo đó.
Phượng Mai dạ một tiếng thật lớn rồi chạy kiếm tấm khăn lông, choàng vào vai, cầm cây quạt, múa, ca, diễn lớp Lương Sơn Bá gặp Chúc Anh Đài lần đầu tiên gặp nhau nơi trường đình. Cô đóng cả hai vai và nhại ca theo tiếng Tàu trong phim (dĩ nhiên là không thật đúng), nhưng nghe ra tiếng Tàu và điệu hát Đài Loan, điệu hát đang rất thịnh hành trong giới ca cổ.
Bà Cao Long Ngà sửng sốt, gọi chồng:
– Anh Sáu! Con Mai nó hát giống Lăng Ba quá.
Ông Sáu cũng mừng, bảo bà đi vô Chợ Lớn đặt may cho Phượng Mai mấy bộ đồ Tàu để Phượng Mai thủ diễn hai vai Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài vì nét diễn, giọng ca, cách hát của Phượng Mai rất giống Lăng Ba và Lạc Đế, hai danh tài phim ảnh Đài Loan.
Giỗ Tổ năm đó, bà Cao Long Ngà dẫn Phượng Mai tới nhà Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ đường Cô Bắc, cho Phượng Mai lạy Tổ và hát vai Lương Sơn Bá nơi trường đình để hầu Tổ. Các nghệ sĩ tiền phong, các ký giả kịch trường đều khen hay, khen giống Lăng Ba. Ký giả Nguyễn Ang Ca tặng cho Phượng Mai danh hiệu “Thần đồng Tiểu Lăng Ba”.
Mới 7 tuổi, Phượng Mai nổi đanh thần đồng Tiểu Lăng Ba, cô đã hát trong các xuất Đại Nhạc Hội trong hai vai của Lăng Ba và Lạc Đế và được khán giả hoan nghinh nhiệt liệt.

Phượng Mai, Ngọc Bất Trác, bất Thành Khí, 7 năm rèn luyện nghiệp Tổ:
Cha nuôi của Phượng Mai, ông Sáu Xường, cầu thủ bóng đá, phó Hội trưởng Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ (vì ông cũng là kép hát bội lừng danh) muốn đào luyện cho Phượng Mai trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp nên ngăn cấm không cho Phượng Mai đi học lóm như trước nay vì học lóm rất dễ “hư nghề “.
Ông nói : “Phượng Mai là viên ngọc quí chưa được dũa mài, nếu để tự phát sẽ không có giá trị lớn mà phải nhờ những tay thợ chuyên môn dũa mài, đào luyện một cách quy mô và căn bản”.
Ông gởi Phượng Mai vào học lớp Đồng Ấu Minh Tơ, do chính danh sư Minh Tơ dạy ca, hát, múa theo đúng căn bản của ngành hát Bội. Về cổ nhạc cải lương, học với nhạc sĩ Tư Tần, nhạc trưởng dàn nhạc cổ Minh Tơ. Học tân nhạc với nhạc sĩ Bảo Thu. Học múa lân với nghệ sĩ Mười Vàng, Học ca Hồ Quảng với nhạc sĩ Há Thầu Chợ Lớn. Học tổng hợp, (tức diễn một vai tuồng đã được định hình trên sân khấu như vai Lữ Bố, vai Điêu Thuyền, vai Lưu Kim Đính…v.v…) thì học trực tiếp với nữ nghệ sĩ Phùng Há. Học các vai đào trong tuồng Biến Báo Phu Cừu, học vai Giả Thị trong tuồng Hoàng Phi Hổ Quy Châu thì học nơi bà Cao Long Ngà và bà Năm Đồ. Ngoài ra, Phượng Mai vẫn phải tiếp tục học văn hóa ở trường Tiểu học Phan Văn Trị.
Trong thời gian học nghệ, nếu có biểu diễn ở các Đại Nhạc Hội thì Phượng Mai diễn những trích đoạn học được nơi danh sư kể trên, coi như làm bài kiểm hay học ôn.
7 năm khổ luyện, mỗi năm học nghệ, Phượng Mai đều những thành tựu xuất sắc.
Năm 9 tuổi, Phượng Mai đã nổi tiếng với Vũ Đức ở nhóm Đồng Ấu Minh Tơ qua nhiều vở tuồng như Na Tra, Ngũ Biến, Hoa Mộc Lan, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài…
Năm 1970, Phượng Mai 14 tuổi đã vững vàng trong các vai đào chánh ở Ban Cải Lương Hoa Thế Hệ, Phụng Hảo và nhiều Ban kịch, cải lương trên Đài Truyền Hình, đóng cặp với Thanh Tòng, La Thoại Tân, Vũ Đức, Thanh Bạch, Đức Lợi, Hùng Cường…
Các chương trình cải lương Hồ Quảng có Phượng Mai làm đào chánh, được Đài Truyền Hình phát đi vào các tối thứ bảy, thu hút đông đảo khán giả ở Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định và các vùng phụ cận.
Thời gian này, tôi vừa là soạn giả thường trực của đoàn Dạ Lý Hương, vừa là chuyên viên phụ trách phòng thu âm của hãng đĩa Capitol và phòng chuyển âm phim của hãng phim Mỹ Ánh của ông Trương Dĩ Nhiên ở gần chợ Hòa Bình, Chợ Lớn. Anh của ông Trương Dĩ Nhiên là ông Trương Dĩ Đại, bang trưởng Bang Triều Châu, Giám Đốc Tài Chánh của bệnh viện An Bình. Ông Trương Dĩ Đại muốn khuếch trương hoạt động của đoàn hát Tiều mà ông là Mạnh Thường Quân chi tiền nhiều nhất nên nhờ tôi kiếm nghệ sĩ có tay nghề hướng dẫn cho các bạn hát Tiều nghiệp dư đó.
Tôi giới thiệu Phượng Mai và phải bỏ ra mấy ngày thuyết phục các nghệ sĩ đoàn hát Tiều : Lâm Gia Ngọc, Đào Chí Hoa, Liên Cẩm Hồng, Dương Bội Thuyên cùng với Phượng Mai canh tân lối hát Tiều, bớt động tác ước lệ, hát vẫn là giọng Tiều, bài hát Tiều, y phục và vũ đạo canh tân, múa gần như loại hát Quảng là sở trường của Phượng Mai.
Tôi soạn vở Dương Gia Tướng, nghệ nhân người Triều, ông Huỳnh Khắc Minh dịch lại thành tiếng Tiều, thêm bài ca và Phượng Mai trở thành Đạo diễn, dạy cho các nghệ nhân nghiệp dư hát vở tuồng Dương Gia Tướng.
Hai nhạc sĩ sư phụ của Phượng Mai là Há Thầu và Chú Long cũng được mời đến chỉ dạy ca. Năm đó đoàn hát Tiều hát trên sân khấu ngoài trời ở chùa ông, đường Cây Mai (rue des Marins cũ), đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính hát ở sân Tinh Võ, hát ba đêm liên tục.
Đêm đầu đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính thu hút đông khách, nhưng gần 12 giờ khuya thì khán giả tràn qua chùa ông xem đoàn hát Tiều. Với y trang phong cảnh lạ hơn các năm trước, lối hát cũng hay hơn, vũ đạo, các màn đấu võ thì tuyệt vời.
Phượng Mai chỉ xuất hiện trong vai Dương Tôn Bảo đánh thương, đánh kiếm, màn ca hát có lời thì cô Lâm Gia Ngọc đóng. Vì vóc dáng giống nhau. y phục giống nhau, vũ đạo cùng học một lò với nhau nên hai người thủ một vai mà khán giả không biết.
Hai đêm sau, khán giả kéo gần hết qua xem đoàn hát Tiều của nhà thương An Bình.
Đoàn hát Quảng của nhà thương Sùng Chính không có khán giả, phải ngưng hát.
Năm đó nhờ có Phượng Mai mà Ban hát Tiều thắng cuộc.
Ông Trương Dĩ Đại rất hài lòng, ông lì xì cho tôi, Phượng Mai, Chú Long và Há Thầu một phong bì khá nặng.
15 tuổi, Phượng Mai ký contrat hát chánh cho đoàn Hà Triều – Hoa Phượng, lưu diễn miền Trung 6 tháng. Sau đó cô ký hợp đồng hát cho đoàn Dạ Lý Hương Bầu Xuân, hát chung với Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm…,
Lại thêm một giai thoại về tài năng thiên phú của Phượng Mai:
Đầu năm 1974, nhân dịp Tết Giáp Dần, thành phố Chợ Lớn được dịp tiếp một đoàn Kinh Kịch Đài Loan sang trình diễn một tháng. Đây là một đoàn Kịch lớn của nhà nước Trung Hoa Dân Quốc, thuộc trường sân khấu Phục Hưng tại Đài Bắc (Quốc Lập Phục Hưng hý kịch thực nghiệm học hiệu).
Đoàn diễn tại rạp Đại Quang đường Tổng Đốc Phương, với một chương trình kịch mục như: Phụng Nghi Đình, Tình Trung Báo Quốc (Nhạc Phi), Hoa Mộc Lan, Trương Phi Thủ Cổ Thành… và các nghệ sĩ Vương Phục Dung (vai Điêu Thuyền, Bạch Xà Nương, Dương Qui Phi), Trình Yên Linh (Kép chánh vai Lữ Bố), Lý Kim Đường (vai lão)…
Đoàn đã thành công tốt đẹp qua diễn xuất điêu luyện của dàn nghệ sĩ trẻ đẹp, những màn vũ thuật đẹp mắt, những điệu múa truyền thống hấp dẫn.
Các Bang Trưởng Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ, Hiệp hội Hoa Kiều Tương Tế, Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ Việt Nam, Hội Khuyến Lệ Cổ Ca và nhiều nghệ sĩ tài danh Việt, Hoa, tổ chức khoản đãi các nghệ nhân Trung Hoa Dân Quốc tại nhà hàng Đồng Khánh. Trong buổi tiệc, các nghệ sĩ Đài Loan hát tặng vài bài ca cho các ông Bang Trưởng, diễn một vài trích đoạn tuồng tặng cho các nghệ sĩ Việt Nam và có đoàn lân của Hội Sân Tinh Võ múa khai mạc dạ tiệc.
Đoàn Lân múa điệu “Lân Mẫu Sinh Lân Nhi”, nhưng vào giờ chót người múa vai lân con đau bụng, không múa được. Trưởng đoàn Lân lên micro cáo lỗi, nhưng bà Bảy Phùng Há biểu Phượng Mai lên múa lân con giúp cho đoàn bạn.
Bà Cao Long Ngà thấy Phượng Mai còn do dự, bèn ra hiệu cho Phượng Mai và Kim Thanh nhận lời đề nghị của bà Bảy Phùng Há.
Phượng Mai và Kim Thanh (diễn viên đoàn hát bội bầu Cung, Cầu Muối) mặc áo dài Việt Nam nên cột hai vạt trước sau lại, mượn đôi giày bố thay cho giày cao gót, hai cô diễn viên trẻ, Phượng Mai thủ đầu lân, Kim Thanh dũ đuôi, cả hai cô cùng với đoàn lân sân Tinh Võ múa tiếp vũ khúc Lân Mẫu Sinh Lân Nhi.
Phải nói là lân con do Phượng Mai và Kim Thanh múa còn hay hơn lân râu bạc của sân Tinh Võ. Cả hai diễn viên trẻ tài danh này là học trò của ông Mười Vàng, tổ sư đoàn múa lân râu đen Cầu Muối. Tết nào đoàn lân Cầu Muối cũng được các tiệm, quán ở Sàigòn, Chợ Lớn mời đến múa khai trương cửa hiệu hoặc chúc thọ cho người già trong gia đình.
Phượng Mai và Kim Thanh múa đến đoạn Sư Tử Hí Cầu, ông Mười Vàng lại đánh trống, các nhạc sĩ Tấn Thành Ban đánh chập chỏa.
Trống thúc từng cơn, khi thì rụp rụp nhịp thật nhẹ, lân con gậm trái cầu, dùng chân đùa giỡn, trái cầu văng xa, trống đánh thúc, lân như bừng tỉnh, cất cao đầu múa rồi lăn vòng, chụp, gậm trái cầu thật đẹp.
Tất cả học sinh trường Quốc Lập Phục Hưng Hý kịch Đài Bắc đồng loạt đứng lên vỗ tay hoan hô. Đội Tinh Võ để đầu lân xuống đất, ngẩn ngơ nhìn lân con Phượng Mai và Kim Thanh lạy tạ sự tán thưởng của đoàn bạn. Ông chủ nhà hàng Đồng Khánh lấy hai lượng vàng, gói trong giấy đỏ, cột chung với một cây cải sà lách, cho người đứng trên ghế, giương cao lên thưởng cho lân con.
Trống múa lân lại nổi lên rộn rã, lân con Phượng Mai và Kim Thanh múa điệu múa vui tươi, hí hửng, vờn cây cải, múa thêm một chập rồi gậm cây cải lẫn hai lượng vàng. Theo tiếng trống đánh thúc, lân con lạy tạ ông chủ Đồng Khánh, xong lân con quay lại lay tạ lân mẹ của Đội sân Tinh Võ. Điều không ai nghĩ tới là lân con nhã hai lượng vàng trong gói giấy đỏ trước mặt lân mẹ Tinh Võ. lấy chân khều khều đầu lân mẹ, vờn vờn trước lân mẹ khiến cho đội Tinh Võ phải cầm đầu lân lên múa tiếp với lân con sau khi nuốt bao lì xì. Lúc này thì ngoài tiếng vỗ tay như sấm còn nhiều tiếng Tàu hô lớn, hoan hô hành động quá đẹp của lân con Phượng Mai và Kim Thanh.
Dứt điệu múa. đội trưởng đội Tinh Võ trả hai lượng vàng cho Phượng Mai, nhưng Phượng Mai không nhận và nói ông chủ tặng thưởng chung cho đoàn lân Tinh Võ mà cô chỉ là lân con của Tinh Võ. Nhờ sự tinh tế khéo léo của Phượng Mai mà Đoàn lân Tinh Võ không bị mất mặt.
Trưởng đoàn kịch Đài Bắc cũng là hiệu trưởng trường Quốc Lập Phục Hưng Hý Khúc và cô đào chánh Vương Phục Linh mời Phượng Mai và Kim Thanh ngồi chung bàn trò chuyện. Khách nói tiếng Quan Thoại nên cuộc mạn đàm phải qua thông dịch viên. Sau đó theo yêu cầu của đoàn khách, Phượng Mai và Kim Thanh diễn hai trích đoạn tại sân khấu Đồng Khánh: “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” và “Lữ Bố thất Bạch Mã Thành”.
Phượng Mai Lữ Bố, Kim Thanh Điêu Thuyền. Phượng Mai trong vai Lữ Bố khi tròng ghẹo Điêu Thuyền tại Phụng Nghi Đình thì tình tứ hết chỗ nói. Khi giả biệt Điêu Thuyền lúc thất trận ở Bạch Mã Thành thì vừa oai dũng lồng lộn lên như con sư tử bị thương, vừa bi lụy phải xa rời người ngọc trước khi chết, Phượng Mai không hổ danh là cao đồ của các danh sư Phùng Há, Cao Long Ngà, Minh Tơ, Mười Vàng, đã làm cho các sinh viên trường kịch nghệ Đài Bắc thán phục sát đất.
Ông Trưởng Đoàn kịch Đài Bắc đề nghị nếu Phượng Mai và Kim Thanh đồng ý, họ sẽ nhờ Đại Sứ quán Trung Hoa Dân Quốc đạt thư mời và xin mọi thủ tục xuất, nhập cảnh cho Phượng Mai và Kim Thanh đi Đài Bắc, biểu diễn ở trường sân khấu Đài Bắc và một số nơi ở Đài Trung, Đài Nam, coi như là một cuộc giao lưu văn hóa giữa hai nước.
Phượng Mai và Kim Thanh rất vui mừng vì được dịp xuất ngoại học tập, nhưng có lẽ vì tình hình chiến sự ở Việt Nam, Phượng Mai và Kim Thanh không được phép xuất ngoại đi Đài Bắc.
Sau năm 1975, Phượng Mai hát vai đào chánh ở Đoàn Minh Tơ với Thanh Tòng qua các tuồng Dưới Cờ Tây Sơn, Xuân Về Trên Đỉnh Mã Phi, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài.
Năm 1977 hát trên sân khấu Huỳnh Long với Thanh Bạch và Đức Lợi qua các tuồng Con Tấm Con Cám, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Về Đất Kinh Châu, Đường về núi Lam…
Đầu năm 1979, hát cho đoàn Dạ Lý Hương Sông Bé thay vai Mộng Tuyền trong tuồng Bao Công Xử Án Trần Thế Mỹ.
Cuối năm 1979, Phượng Mai theo chồng định cư ở Tây Đức trong 15 năm.
Năm 1982 bà Cao Long Ngà, bà cô mà cũng là má nuôi của Phượng Mai mất. Cô không về thọ tang được, chỉ biết hướng về Việt Nam van vái, và đến chùa cầu siêu cho vong hồn bà được siêu thăng.
Từ năm 1994, gia đình đổ vỡ, cô sang qua California định cư, sống với hai con. Ở hải ngoại suốt 19 năm, Phượng Mai vẫn sống bằng nghề hát vì cô giỏi về mọi mặt. Trong lãnh vực Tân nhạc, cô được các trung tâm băng nhạc lớn mời thu thanh thu hình (Thúy Nga, Làng Văn) được mời đi show tân nhạc, cải lương và Hồ Quảng, hát chung với Hương Lan các vở tuồng:
– Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài,
– Cho Trọn Cuộc Tình,
– Tấm Lòng Của Biển,
– Áo Cưới Trước Cổng Chùa,
– Khi Hoa Anh Đào Nở,
– Người Đẹp Bạch Hoa Thôn,
– Hoa Đồng Cỏ Nội,
– Dương Quí Phi…

Từ năm 1991, Phượng Mai có về Việt Nam thực hiện băng Hồ Quảng, kỷ niệm 40 năm hát Hồ Quảng, đóng chung với các diễn viên Vũ Linh, Thanh Hằng, Kim Tử Long, Chí Linh, Minh Vương, Thanh Sang, Tuấn Châu.
Trong những năm 77, 78, tôi cùng ở chung đoàn Huỳnh Long với Phượng Mai. Trước đó cũng từng cộng tác trong đoàn Dạ Lý Hương và các chương trình cải lương Đài Truyền Hình, nên hiểu biết khá nhiều về khả năng nghệ thuật và tánh tình của Phượng Mai.
Số đông nghệ sĩ tuồng cổ (hát bội, hát bội pha cải lương, Hồ Quảng) thường giỏi về vũ đạo mà yếu về ca, hơi khàn hoặc tiếng hát rè rè, riêng Phượng Mai là cô đào hiếm hoi hội đủ hai yếu tố : ca và diễn xuất sắc.
Giọng Phượng Mai ấm áp, ngọt ngào, truyền cảm, có hơi thổ như giọng ca của Thanh Nga, Mỹ Châu. Phượng Mai ca nhạc theo điệu cải lương rất chuẩn mực, đúng bài bản, điệu, theo đúng chân truyền, ca Hồ Quảng cũng rất hay, rõ lời.
Phượng Mai diễn xuất đằm thắm, tinh tế, biết tiết chế hành động tối đa để các động tác vũ đạo dịu dàng, nhuần nhuyễn. Trong vai Văn cũng như vai Võ, Phượng Mai đều có bước đi, vung tay đẹp, đúng cách, chỉ cần nhìn từng bước điệu bộ của Phượng Mai, người xem khẳng định đây là nghệ sĩ nhà nghề.
Còn nhớ khi độc diễn màn cuối của vở Chúc Anh Đài than khóc trước mộ của Lương Sơn Bá, Phượng Mai đã diễn xuất thần, kết hợp nhuần nhuyễn giữa vũ đạo đẹp mắt, giọng ca điêu luyện và nét mặt bi thương, trong lớp diễn này, Phượng Mai chứng tỏ khả năng khắc họa hình tượng nghệ thuật cho nhân vật mà cô thủ diễn, có thể dùng làm mẫu mực cho các thế hệ đàn em học theo kỹ thuật ca diễn đó. Trước Phượng Mai, một thời đã có Bo Bo Hoàng diễn xuất thần trong vai Chúc Anh Đài, cùng với Đức Phú trong vai Lương Sơn Bá.
Bo Bo Hoàng được khán giả ái mộ một thời gian dài, nhưng từ khi có Phượng Mai xuất hiện, Phượng Mai trẻ đẹp hơn, ca múa đều tươi mát hơn nên phải nói là Phượng Mai kế thừa, thay thế Bo Bo Hoàng trong vai Chúc Anh Đài mà đến nay vẫn chưa có nữ nghệ sĩ trẻ nào có thể thay thế được Phượng Mai.
Chỉ tiếc một điều, hiện nay hoàn cảnh đất nước không được như trước 75, nhiều tài năng nghệ thuật sân khấu không có môi trường thuận lợi để hành nghề, để cống hiến những tác phẩm sân khấu nhiều hơn nữa cho khán giả thưởng thức. Có nhiều nghệ sĩ bỏ nghề. Phượng Mai còn sống được bằng nghề ca hát cũng là điều quý hiếm. Mong rằng Phượng Mai có cơ hội và phương tiện để truyền dạy lại cho các nghệ sĩ đàn em những gì cô đã học được và đã phát triển đến mức mẫu mực như hiện nay.