Kinh Tạ Ơn của một người bội bạc

hung-viet.org
Huy Phương
24 Tháng Mười Một 2015

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

(Hình minh họa: Rahman Roslan/Getty Images)

Tạ ơn mẹ đã đẻ đau mang nặng
Suốt đời con vẫn bên ướt mẹ nằm
Nước mắt mẹ nay vẫn còn xuôi chảy
Con vô ơn, tính những tháng cùng năm.

Tạ ơn cha đã cày sâu cuốc bẫm
Cho tuổi thơ con được bát cơm đầy
Nuôi con, cha muốn điều nhân nghĩa
Mà đời nay nhốn nháo biết sao đây.

Tạ ơn thầy đã cho con chữ viết
Lúc vỡ lòng những tiếng đọc a,b
Giữa chợ đời lố lăng con uốn bút
Trả cho xong nợ rượu thịt bạn bè.

Tạ ơn em cho đời anh bóng mát
Với tình yêu thường mộng mị thần tiên
Mà lòng anh còn sân si bạc bẽo
Chỉ cho em toàn những nỗi ưu phiền.

Tạ ơn mày, người bạn thời thơ ấu
Vẫn theo nhau thuở bắt dế ngoài đồng
Tao lớn lên thường mấy khi ngó lại
Có gặp thời cũng làm lạ quay lưng.

Tạ ơn bạn, người một thời chiến hữu
Ta bên nhau trong trận mạc mỗi ngày
Một miếng lương khô, một bình nước suối
Tôi bỏ đi lúc lửa cháy thành vây.

Tạ ơn anh, người bạn tù khốn khổ
Đã cho tôi hơi ấm chiếc lưng gầy
Đêm Hoàng Liên Sơn mùa Đông buốt giá
Tôi sợ lòng tôi nay đã đổi thay.

Tạ ơn chị, người thuyền nhân tủi nhục
Vùi tấm thân xuống đáy biển oan khiên
Tôi là kẻ chưa một lần say sóng
Vẫn vô tâm không một thoáng ưu phiền.

Tạ ơn em đọa đày trong trại cấm
Chết không lui vẫn tranh đấu kiên cường
Tôi dửng dưng như con người ngoại cuộc
Toan xênh xang chuyện y cẩm hồi hương.

Tạ ơn cháu đã lầm sinh chế độ
Đành đem thân kiếm cách sống qua ngày
Tôi như tên lái buôn vừa trúng mánh
Còn biết gì nhân nghĩa một đêm say.

Xin tạ ơn những người vì vận nước
Suốt một đời đày đọa dưới cùm gông
Tôi phàm phu như người quên đọc sách
Còn biết gì hổ thẹn lúc soi gương.

Tạ ơn tổ tiên đào kinh đắp lũy
Dựng giang sơn có liệt nữ anh hùng
Tôi thế hệ sau coi thường việc nước
Miễn sao đời có áo mũ xênh xang.

Tạ ơn tiền nhân, trống đồng Ngọc Lũ
Mái đình làng bay bướm nét hoa văn
Tôi như ngọn lá đầu cành xa gốc
Đâu như chim còn nhớ đậu cành Nam.

Tôi đấm ngực: Tôi là người có tội
Nghĩ phận mình đâu dám ngẩng nhìn ai
Đau lòng những lúc trước đèn đối diện
Hổ thẹn đêm về ngắm bóng trăng soi.

Huy Phương

*(Chúc thư của một người lính chết già)

Đi Mỹ hỏng cần visa

dongsongcu.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 05/10/2023

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

Trời mưa gió tầm tã nhưng những công dân của xứ thiên đường xã hội chủ nghĩa quang vinh vẫn kiên trì xếp hàng, để đu càng đến một quốc gia ác ôn đang giãy chết.
Không riêng gì những người xếp hàng trật tự để đu càng hợp pháp ở Việt Nam. Dọc biên giới Hoa Kỳ – Mexico mỗi ngày có khoảng 10 ngàn người ùa vào nước giãy chết.
Họ bất chấp một xứ sở hỏng bình yên xả súng liên miên người chết lăn chiêng, để được định cư.

Từ khi Tổng Thống Joe Biden lên cầm quyền, biên giới giãy chết mở toang ; và đã có khoảng 6 triệu người nhập cư lậu, nhiều hơn dân số của Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan v.v…Họ thuộc đủ loại quốc tịch trên thế giới. Gồm có Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi, Trung Đông, Nga, China, kể cả khủng bố trộm cướp hiếp dâm, đều được nhập nội.

Dân nhập cư lậu chỉ cần lội qua con sông hẹp là đến bến bờ “tự do”. Họ sẽ được cảnh sát biên phòng Mỹ chở về nơi tạm trú làm thủ tục rồi thả muốn đi đâu thì đi. Họ hy zọng sau một số năm sống trên nước giãy chết, sẽ được một Tổng Thống Mỹ ân xá và ban cho họ thẻ xanh rồi quốc tịch giãy chết, để đi đâu cũng được kiêng nể.

Công dân thiên đường quang vinh thay vì làm biếng đứng dưới mưa chờ đợi ngày này qua ngày khác đợi phỏng vấn, còn bị mấy đứa sứ quán ôn dịch hỏi vặn vẹo mắc mệt. Có thể đốt giai đoạn bằng cách mua vé máy bay đi Mexico rồi lội qua con sông là đến Mỹ Đế ác ôn liền, mà hỏng cần visa.

BÔNG LAU 05.10.2023

“Dĩ độc trị độc”

dongsongcu.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 26/06/2023 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

Hôm qua viết bài “Mạc Tư Khoa Báo Động” và có đoạn viết như sau “Đây không phải là một cơ cấu quân sự của một quốc gia pháp quyền, mà là một nồi cháo heo có những đảng cướp ra sức tàn sát nhau để tranh dành thế lực.”
Quả không sai, vì Soái ca Yevgeny Prigozhin không phải là một người đi làm cách mạng lật đổ một bạo quyền để mang công bằng và lẽ phải cho xã hội Nga. Prigozhin chỉ muốn đầu lâu của Bộ Trưởng Quốc Phòng Sergei Shoigu vì tư thù và mâu thuẫn đã có từ lâu. Yevgeny Prigozhin chưa bao giờ đòi lật đổ bạo chúa Vladimir Putin.
Hai mươi lăm ngàn quân thiện chiến của Yevgeny Prigozhin, nếu không có không quân và pháo binh nặng yểm trợ thì khó chiến thắng nếu Điện Cẩm Linh không tự nó sụp đổ. Và đã có dấu hiệu sụp đổ khi binh sĩ Nga từ chối giao tranh và nhiều người đã bỏ ngũ để gia nhập tổ chức đánh thuê Wagner. Và có rất đông dân chúng Nga vì quá chán ghét đế chế Vladimir Putin nên đã tràn ra đường ủng hộ đảng cướp Wagner.
Nhưng Vladimir Putin là trùm KGB và với bản chất gian hùng lưu manh, hắn đã hứa hẹn “tha thứ” không truy tố Yevgeny Prigozhin nếu ngừng tiến quân, và đồng ý để Soái ca này đi lưu vong ở Belarues. Chúng ta sẽ không ngạc nhiên vì một ngày ảm đạm nào đó nghe tin Yevgeny Prigozhin nhảy lầu quyên sinh hay bị ngộ độc từ giã cuộc đời thô bạo này.
Chỉ tội cho một số binh sĩ Nga vì cả tin nên bỏ ngũ gia nhập Wagner trong 24 tiếng đồng hồ qua. Có thể thân nhân của họ sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa. Và nếu Yevgeny Prigozhin thiệt sự đi lưu vong thì mấy chục ngàn lính đánh thuê tinh nhuệ vốn không có lý tưởng mà chỉ tuân lịnh tuyệt đối Lãnh chúa Yevgeny Prigozhin vì được trả lương hậu hĩnh, sẽ bị bỏ rơi như những con chó ghẻ.
Chúng ta đừng quên lính đánh thuê Wagner rất tàn bạo. Họ đã từng tra tấn và xử tử tù binh Ukraine và trong một đoạn phim không biết thực hư thế nào, cho thấy lính đánh thuê dùng búa đập vào đầu để xử tử một đồng đội can tội đào ngũ và cướp bóc. Cách xử tử này đâu thua gì thời Trung Cổ.
Trong cuộc chiến ở Ukraine, Yevgeny Prigozhin đã tuyển mộ tội phạm và lùa họ đi đầu làm bia cho xạ thủ Ukraine thực tập tác xạ. Sau đó mới tung lính đánh thuê Wagner tinh nhuệ vào trận địa.
Nhiều người Nga vốn có truyền thống ngưỡng mộ bàn tay sắt độc tài, và vì quá chán ghét Vladimir Putin nên ùa ra đường bắt tay Prigozhin như một vị anh hùng cứu tinh. Nhưng thử hỏi một con người có một quá trình phạm pháp trộm cắp sẽ dẫn nước Nga về đâu nếu lên nắm chính quyền. Theo tài liệu thì Yevgeny Prigozhin có những thành tích oai hùng như sau:
Trong thời Liên Xô, khi Prigozhin 18 tuổi (1979) bị bắt quả tang ăn cắp nên bị án treo. Hai năm sau 1981, Prigozhin lại bị bắt vì tội cướp có võ trang, lừa đảo, lôi kéo thanh thiếu niên vào băng đảng, và cướp một chung cư cao cấp. Hắn bị kết án 12 năm tù và sau khi ở tù 9 năm hắn được ân xá.
Sau khi ra tù năm 1990 Prigozhin đi bán xúc xích với mẹ và cha ghẻ ở chợ trời Apraksin Dvor – Leningrad. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 Prigozhin lao vào kinh doanh mở quán ăn và càng ngày càng thành công, phát triển thành hệ thống kinh doanh quy mô.
Prigozhin nhận được nhiều hợp đồng cung cấp thức ăn cho công sở và trường học Liên Bang Nga. Sau đó là Điện Cẩm Linh. Đặc biệt trúng thầu 1,2 tỉ đô la cung cấp thức ăn cho binh lính Nga.
Năm 2001 Prigozhin nhận lãnh phục vụ thức ăn riêng cho nhà độc tài Vladimir Putin và hắn trở thành bạn thiết với Bạo Chúa.
Năm 2018 hắn bị tòa án Hoa Kỳ kết án lừa đảo. Sau đó FBI công bố lịnh bắt Prigozhin về tội xen vào bầu cử ở Mỹ. Trong những năm gần đây Prigozhin phát triển kinh doanh lớn mạnh qua các lãnh vực khai thác dầu lửa ở Trung Đông và buôn bán kim cương ở Phi Châu. Prigozhin trở thành triệu phú và là một công cụ đắc lực để bành trướng tham vọng bá chủ của Vladimir Putin, qua các hoạt động quân sự của Wagner ở Trung Đông và Phi Châu.
Năm 2018, lính đánh thuê Wagner của Prigozhin tấn công một tiền đồn của Biệt Kích Mỹ ở Bắc Syria. Hoa Kỳ phản công làm hàng trăm lính đánh thuê Wagner bỏ xác tại trận địa.
Một số người ví von sự bạo loạn của Yevgeny Prigozhin như là “gậy ông đập lưng ông”, “dĩ độc trị độc”, hay kiểu Cộng Sản là “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.
Dĩ nhiên các đảng cướp quánh nhau và chết bớt cho thế giới này nhờ. Tuy nhiên hãy cảnh giác, đừng mơ mộng nhiều một đám cướp này đi “giải phóng” một hệ thống kềm kẹp của một đảng cướp khác đang cầm quyền để có một xã hội tốt đẹp hơn.

BÔNG LAU 25.06.2023

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

  1. Một đoạn coi như đoạn kết
    Cuộc đời không cho phép tôi nằm mãi ở Nhà Hát Tây làm văn nghệ dấn thân chống Cộng để ăn cơm đĩa ghi sổ mà viễn mơ Sang Độc. Tôi rất ghét cuộc đời. Nó cắm chông dưới cằm và dưới mũi tôi. Gọi là râu và ria. Râu ria cứng ngắc, lởm chởm. Râu ria báo hiệu cho một sự ra đi. Ra đi gấp kẻo sửa soạn bắt chước Vũ Hoàng Chương mà than thở: Ba mươi năm trên vai mà trống không bình sinh. Lý Thông đã tốt nghiệp… Đại học Cán Bộ Chống Cộng. Chàng cóc cần tôi nữa. Chàng đã lên đường với cái ống loa làm sáng tỏ quốc sách chống Cộng. Bà chủ câu lạc bộ bỗng hết… quen tôi. Và con gái của bà, dù mắt toét, răng vồ, nước da mốc thếch như trăn gió, vẩn không dể bị sang độc bởi thi văn Sang Độc mà cho tôi ghi sổ ăn chịu.Cụ Phan Thanh Giản xưa “giã vợ đi làm quan”, tôi nay “giã người yêu đi kiếm cơm áo” Nhân có thằng bạn rủ lên rừng lập đảng chống chí sĩ Ngô đình Diệm, tôi đang bị bà Cả Đọi đe dạo, bèn cảm khái ngâm vang hai câu thơ: Ai trước biên thùy riêng một cỏi. Mình nay sông núi nặng hai vai và bèn nhận lời. Tôi ra đi, hát nhái lời nhạc bản Hải Quân Việt Nam của Văn Cao: Ra đi không mang va ly, mồm hút thuốc lá Mic mốc, chân đi xăng đan cao su diện áo sờn vai… Tôi đi làm cách mạng…trời ạ! Tôi đi âm thầm, bí mật y hệt một hiệp sĩ. Đám môn đệ của tôi sẽ đinh ninh là tôi và em Ngọc đã trốn lên rừng tập đóng ci nê ma với chúa mọi. Còn em Ngọc, thấy tôi tuyệt tích, chắc em sẽ khóc sưng mắt, khóc xuýt mù nếu chị Phượng không chợt nhớ ra phương thuốc bất hủ là mua cho em một đồng bạc kẹo kéo.
    Đôi mắt kẻm nhẻm kèm nhèm.
    Ăn đồng kẹo kéo sáng như đèn ô tô.
    Tôi lẩm nhẩm đọc bài Thôi nàng ở lại của Nguyễn Bính rồi đáp xích lô máy ra bến xe đò cao nguyên. Ở trên rừng, tôi vẫn theo dõi báo chí. Tôi ngạc nhiên khi thấy những bài thơ tình Sang Độc và Hoài Hương, đòi lấp dòng sông Bến Hải của tôi xuất hiện thường xuyên trên những phụ trang văn nghệ của các nhật báo, ký bút hiệu Mộng Trinh, Thu Tâm và Cung thị Ngọc. Rồi một hôm, cùng bài thơ đòi lấp dòng sông Bến Hải đang trên ba tờ báo, ký ba bút hiệu Mộng Trinh, Thu Tâm và Cung thị Ngọc. Hai môn đệ Thạch Sanh và Vạn Lịch đã hại đời tư của tôi. Ba nữ sĩ Mộng Trinh, Thu Tâm và Cung thị Ngọc bị ba tờ báo mà các nàng cộng tác nặng lời trách móc. Tôi hết hy vọng hát câu: Chờ anh em nhé, giết xong Diệm anh về… Hẳn em Ngọc đã nghi ngờ tôi phản bội em, phát thơ Sang Độc vung vít và yêu đương vung vít, và Mộng Trinh thì chán ghét Vạn Lịch, Thu Tâm ghê tởm Thạch Sanh. Chúng nó còn các em bán quýt, bán thuốc lá lẽ, bán hột vịt lộn để tìm nỗi an ủi. Chứ tôi, trên rừng hiu quạnh chỉ có các nàng mọi ! Tôi giận Thạch Sanh, Vạn Lịch. Giận chán chê, tôi mới vỡ lẽ và khám phá một điều tối quan trọng: Trái tình đắng hơn trái bồ hòn. Tôi hiểu em Ngọc không yêu tôi. Em khôn quá xá. Em khích lệ tôi viết đoản thiên tiểu thuyết, tùy bút, thơ Sang Độc để tặng em, để em làm của riêng và em cười khúc khích. Các em khôn quá xá. Con gái là chúa khôn. Hèn chi em cứ hẹn và luôn luôn thất hẹn.
    Mùa hè năm sau, tôi thất thểu ở rừng về, gặp em Ngọc đi với chị Phượng trên hè phố. Tôi không dũng một tí nào, dù tôi đã là chiến sĩ cách mạng! Dũng được Nhất Linh mô tả thật đẹp. Tóc lộng gió, chàng ngạo ngễ bước trong đám nhân gian ngớ ngẩn. Và túi chàng còn tí tiền còm, còn vợ chống ông giáo Thảo chờ đợi chàng tới ăn cơm, hút thuốc lá và tạo cơ hội để chàng gặp Loan. Tôi ấy à, tóc dài muốn chui vào lỗ tai, quần áo lôi thôi, bụng lép kẹp và ví cũng lép kẹp. Tôi đi giữa hoàng hôn.Vâng, tôi đi giữa hoàng hôn. Em Ngọc nhìn thấy tôi, nhận ra tôi, em bĩu môi kéo tay chị rẽ sang một con phố khác. Tôi đứng lặng, trông theo. Tôi là Trương Chì đây, nàng hết nghe tiếng hát của tôi rồi.Pauvre*Trương Chi! Bạn hãy dời khỏi dinh quan thừa tướng, hãy quên Mỵ Nương đi và xuống thuyền mục, chèo lẹ, quăng lưới rách mà bắt tôm cá. Bạn chớ dại dột nhảy tòm xuống sông tự tử. Cuộc đời phải thế mới là cuộc đời, rất cuộc đời, bạn ạ!
    Tôi đi kiếm ba môn đệ. Thạch Sanh là người tôi gặp trước tiên. Nó vồn vã lôi tôi vào một quán kem, hỏi thăm và trách móc:
  • “Ông” tuyệt tích với mục đích gì? “Ông” ra đi không lời từ biệt. Chứ “ông” về có tính ở lại không?
  • Tao đi làm cách mạng.
  • Eo ơi “ông” làm cách mạng à? Tại sao “ông” không rủ tôi đi với. à, ông có mang theo em Ngọc không?
    Tôi lắc đầu:
  • Làm cách mạng là phục vụ quê hương, tổ quốc.Cần phải cho de người yêu. Ngay vợ mình mà mình cũng đành cho phép đi lấy chồng khác để rảnh rang yêu lý tưởng cách mạng nữa là. Cách mạng ghê lắm, quyến rũ lắm…
    Tôi làm bộ thở dài :
  • Em Ngọc đã khăn gói quả mướp theo tao lên chiến khu, nửa đường tao đuổi em về Sài gòn. Tao quên em rồi. Còn mày?
    Thạch Sanh kể lể:
  • Em Tâm viết thư chửi tôi ăn cắp thơ của người khác làm thơ mình. Em Trinh của thằng Nhân cũng chửi nó. Thằng Nhân chán đời vùi đầu học hành. Nó vừa đậu tú tài nhất. Tôi cũng đậu rồi. Nhờ em xỉ vả, tôi tự ái và đâm ra biết làm thơ. Tôi tán được nhiều em khác.
    Tôi hỏi:
  • Còn em bán quýt?
    Thạch Sanh cười:
  • Nàng đi định cư ở Cái Sắn rồi.
    Nó nhả khói thuốc:
  • Mình đã lớn, “ông” ạ! Chỗ tôi đứng chờ các em ở cổng trường bây giờ là chổ tụi lỏi vừa lớn.
    Bỗng nó than thở:
  • Chỉ tội nghiệp thằng Thủy!
    Tôi ngạc nhiên:
  • Sao?
    Thạch Sanh ngó tôi:
  • “Ông” hại nó. Theo kế của ông, nó thi hành. Kết quả gặp phú lích. Hiệp sĩ Thủy bị em Hoà thưa luôn. Thế là Lục Vân Tiên và Phong Lai cùng bị nằm bót một đêm.
    Tôi phá ra cười. Cười sặc khói thuốc. Tạm biệt Thạch Sanh. Và xét rằng không nên kiếm Vạn Lịch, Đỗ Quyên làm gì. Thi nhóm Sang Độc đã giải tán. Tình yêu như cơm nếp nát. Cách mạng như cơm nguội chang nước dưa khú. Tôi cần lên đồn điền Hớn Quản. Nhưng trước khi đi, vào một buổi chiều, tôi thong thả tới ngôi trường cũ, ngôi trường con gái, ngôi trường nằm bên đường Le Grand de la Liraye đã đổi thành đường Phan Thanh Giản. Không chờ đôi một tà áo nào cả mà đóng vai trò quan sát viên. Tôi thấy buổi chiều vàng của tôi. Dưới những gốc cây quanh trường, không còn tôi, không còn Nhân, còn Quỳnh, còn Thủy nữa mà chỉ còn những hình ảnh của tuổi vừa lớn của chúng tôi. Những người đang đứng dưới những gốc cây trước và gần ngôi trường con gái đều là những người tuổi vừa lớn, vừa biết đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư. Họ đứng đó. Khói thuốc vàng ngón tay. Hồn thả trông mộng, mộng lẩn vào thơ. Không có thực tại ở thời gian và không gian này. Đừng cấm họ mơ mộng. Họ sẽ trở về thực tại khi hành lý đầu đời đã no tròn kỹ niệm. Họ ngớ ngẩn, khù khờ, lố bịch chẳng ra cái thể thống gì cả. Bởi vì, họ vừa lớn; Họ đem sự ngớ ngẩn, lố bịch vào tình yêu, tình yêu rất thơ và rất buồn cười. Tôi thương họ, tôi yêu thương tuổi trẻ biết mộng mơ. Thiếu mộng mơ tuổi trẻ sẽ tàn nhẫn lắm. Gốc cây kia, tôi đã đứng. Chẳng có gì làm cho tôi phải xấu hổ. Niềm vui nhẹ nhàng và nỗi buồn man mác. Tình yêu học trò là tình yêu phù du, là những cơn mưa bóng mây; là một kỹ niệm buồn cười đáng ghi nhớ.
    Cơn mưa đã tạnh. Trời lại xanh như trời đã xanh. Tôi vào đời với gói hành lý bọc kín bằng một tà áo tiểu thư. Tà áo mãi mãi thơm như tuổi trẻ và tình yêu.

(18 / 10 / 71)

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
Post by Sơn râu 20 Nov 2024

  1. Chương 12
    Nàng đã đến và như lần trước, nàng không thèm bước vào căn nhà nghệ sĩ của tôi, chỉ luống cuống mở cặp sách lôi ra một phong thư dày cộm đưa cho tôi rồi về ngay. Trên đường về nhớ đầy. Tôi tưởng tượng vậy. Nàng ác quá. Con gái phần đông đều ác. Họ bắt con trai leo lên mộng tưởng và bất thình lình chặt gốc. Và những thằng con trai giàu mộng tưởng đã ngã đau. Thế là mất cây đàn. Đàn ơi, tan nát tim ta nhiều rồi… Nàng đâu cần biết, để chuẩn bị đón nàng, cây đàn của tôi đã nằm trong tủ hiệu cầm đồ bình dân. Chương trình học tập của quý môn đệ Quỳnh, Nhân, Thủy Cũng đành… tạm gác. Tôi nghĩ, có lẽ chỉ muốn đi qua đời tôi chớ không muốn đi vào đời tôi. Hoặc nàng muốn đóng vai trò của Châu long khích lệ Lưu Bình sáng tác văn nghệ. Để ngày kia, Lưu Bình lãnh giải truyện ngắn Tiếng Chuông, Lưu Bình mới lăn kềnh xuống đất, vỡ lẽ Châu Long là vợ của bạn Dương Lễ? Tôi nổi giận. Đang cơn tức giận, thi sĩ Thạch Sanh ” vén” cửa bước vào cười toe toét:
  • Nàng gớm căn nhà nghệ sĩ hả, “ông”?
    Tôi nghiến răng ken két:
  • Chúng mày hại tao?
    Môn đệ Thạch Sanh ngơ ngác:
  • Tôi đã làm gì?
    Môn đệ Nguyễn Xuân Nhân, bút hiệu Vạn Lịch cũng lù đù dẫn xác vô. Tôi cần nói về ” sự tích ” bút hiệu của môn đệ của tôi. Thằng này, thuở ấu thơ, bà nội nó hay đọc truyện “Đồng tiền Vạn Lịch”:
    Đồng tiền Vạn Lịch
    Anh thích bốn chữ vàng
    Công anh dan díu với nàng đã lâu
    Bây giờ nàng lấy chồng đâu
    Nàng cho anh gửi trăm cau nghìn vàng
    Trăm cau để trả ơn nàng
    Còn nghìn vàng đốt giải oan lời thề
    Nó mê anh thuyền chài thất tình và cao thượng này. Lớn lên, đi tìm tình yêu, xuýt bị ăn đòn, Nguyễn Xuân Nhân bèn học làm thơ và lấy bút hiệu Vạn Lịch. Còn Lê Như Quỳnh thì tưởng mình có tài khẩy đàn như Thạch Sanh:
    Đàn kêu tích tịch tình tang
    Ai đem công chúa dưới hang lên lầu
    Đàn kêu tích tịch tình tang
    Sao mày phản bạn hở thằng Lý Thông.
    Nó ký tên Thạch Sanh, bút hiệu dưới những bài thơ Sang Độc của tôi. Đỗ Trọng Thủy xí bút hiệu Đỗ Quyên, ý giả chàng đã ví chàng giống con cuốc kêu rỉ rả lời yêu đến tóe máu cổ mà em Hòa vẫn cứ quay nhìn chàng, nhổ nước miếng khinh bỉ. Cuộc đời văn nghệ Sang Độc của tôi có khá đông môn đệ. Các môn đệ đã lần lượt phản bội tôi chẳng khác gì Lý Thông phản bội Thạch Sanh. Thầy tướng bảo cung nô bộc của tôi quá xấu. Thí dụ anh thi sĩ thời danh mang cái bút hiệu của một ngôi chùa: Thi sĩ Phổ đà. Lúc này anh Phổ Đà nhận mình là một vì sao. Anh đã đi ngâm thơ khắp nước. Nghe nói, anh sắp sang nước Lèo phát huy nền thi ca vừa ngâm vừa nhìn thiên hạ ăn thịt bò bảy món. Mười năm trước, tôi sống khốn khổ trên căn gác xép ở ngoại ô Hòa Hưng, anh thường đội mưa tắm nắng tới nhờ tôi nhuận sắc những bài thơ siêu Sang Độc của anh. Anh đã quên chuyện đó. Khi người ta nổi danh, người ta thường giả vờ quên dĩ vãng, quên cái cốt khỉ của mình. Thấy tôi làm nghề bán thuốc lá lẽ, thi sĩ Phổ Đà vác mặt lên. Ra cái điều ta là thi sĩ siêu Sang Độc. Đời đã có thi sĩ Nguyễn Cao Kỳ, thi sĩ Phổ Đà, tưởng không nên có thi sĩ Trương Chi. Do đó, những pho thơ Sang Độc của tôi đành đem bán ký cho Ba tàu đem về gói mắm, muối, tiêu, hành, tỏi… Tôi không dám xuất bản nên không được coi là thi sĩ!
    Thi sĩ Vạn Lịch đổ dầu vào lửa:
  • “Ông” làm ăn ra sao mà vừa đến, nàng đã phú lĩnh?
    Tôi gắt:
  • Tại chúng mày!
    Thi sĩ Đỗ Quyên xồng xộc vô, chưa hiểu ất giáp chi cả, khen nhặng:
  • Nàng đẹp thật “Ông”tài ghê. Em Hòa của tôi chỉ đẹp bằng một phần ba nàng thôi mà tôi tán mãi vẩn không nổi.
    Thạch Sanh kê Đỗ Quyên:
  • Im mồm mày đi, “ông” ấy đang cáu sườn.
    Đỗ Quyên hỏi:
  • Sao vậy ông?
    Tôi đáp:
  • Nàng biết chúng mày nấp quanh quẩn đây để thực tập nên nàng giận, nàng về…
    Vạn Lịch thở dài:
  • Uổng quá!
    Vạn Lịch,Thạch Sanh, Lý Thông đều là những thi sĩ thuộc loại… tiểu học ái tình. Nghĩa là, chúng nó mới đủ khả năng nói chuyện với các em bán quýt, bán hột vịt lộn, các em sẩm Chợ Lớn bán bia “bốc”. Chứ chưa có “thớ” nói chuyện với các em nữ sinh trung học. Bởi vậy, nhận dịp em Ngọc lên Nhà Hát Tây thăm tôi, tôi đã tổ chức buổi thực tập nói chuyện với người yêu cấp trung học ái tình. Tôi ra lệnh cho mỗi đứa nấp bên tường giấy nghe ngóng. Mỗi đứa được phép dùng kim gút chọc thủng hai cái lỗ để nhòm vào mà quan sát. Rất tiếc cho chúng nó và cho cả tôi, tình yêu gặp trục trặc kỹ thuật, sư phụ và môn đệ đành… cãi nhau.
  • Chúng mày ngu hơn chó. Thằng Thủy biết nàng đẹp hẳn mày đã nhìn nàng như thằng ăn mày nhìn đĩa cơm sườn nướng. Tao nghe rõ thằng Quỳnh hát câu Ta ước mơ từ nay thôi đói, em đến chơi cam vài ba gói và cho nhiều kẹo. Thằng Nhân thì ong ỏng câu Tình tôi đây người ơi… Nàng sợ quá phải về vội. Chúng mày hại tao.
    Tôi giơ hai tay lên cao:
  • Than ôi, tắm rửa, đánh răng, chải đầu, thay quần áo bằng vô ích.
    Tôi vớ hộp kem Colgate định đập nát. Lại nín.Môn đệ bấm nhau, chuồn ra ngoài. Tôi cởi phăng bộ mồi, hiện nguyên hình lốt thi sĩ Trương Chi với áo thung, quần xà lỏn, nằm dài trên ghế bố, đọc thư tình trên giấy nháp. Nàng đã viết cho tôi bảy bức thư… rưỡi.
    Những giòng chữ của nàng, giống những cơn mưa tưới xuống cơn đại hạn tức giận của tôi. Tôi bỗng yêu nàng, yêu quên đói rách, yêu có thể vùng dậy sáng tác mười bài thơ chống Cộng trị giá hai trăm bạc, trả bằng cơm đĩa, phở, cà phê! Bởi vì nàng bảo, hôm qua không có giờ “pẹc ma năng” và nhằm hôm thi lục cá nguyệt. Nàng dặn tôi chiều nay tời trường đón nàng.
    Buổi chiều tôi lại đến cổng trường. Vẫn khờ khạo, vụng dại và lo lắng như lần đầu đứng trước cổng một ngôi trường con gái. Ba môn đệ tình yêu của tôi đã tới trước tôi. Mỗi đứa chiếm một gốc cây. Và những gốc cây quanh trường con gái là điểm tựa tình yêu của những cậu trai vừa lớn. Tôi yêu những gốc cây quanh trường con gái. Hy sinh cho tình yêu thơ mộng phải là bờ cỏ quanh gốc cây. Cỏ không mọc nổi. Cỏ chết đi vì những bước chân chờ đợi. Quỳnh đã giết chết bao nhiêu cỏ. Nhân đã chết bao nhiêu cỏ. Thủy đã chết bao nhiêu cỏ. Bao nhiêu cậu trai vừa lớn thuở tôi vừa lớn đã giết chết bao nhiêu cỏ.
    Cây cỏ ngày xưa cũng là cây cỏ mơ mộng. Những ngọn cỏ ngậm đầy thương yêu. Những thân cây khắc đầy tên những người yêu nhau. Cỏ cây ngày xưa là cỏ cây tình sử. Thơ mộng thôi thúc con người hướng thượng. Thơ mộng dìu con người vào thiên thai. Và thiên thai ấy không cho phép con người nghĩ nhảm, làm bậy. Hàng cây bên đường xưa đã ủ rũ. Bờ cỏ bên đường xưa đã héo hắt. Cây chờ phu lục lộ đốn ngã. cỏ chờ phu lục lộ lát gạch đè lên. Thành phố hết cây cỏ. Quanh những ngôi trường con gái sẽ hết cây cỏ. Lấy gì cho cậu trai vừa lớn làm điểm tựa tình yêu ? Lấy gì cho cậu trai vừa lớn đúng núp che giấu sự vụng về, khờ khạo? Lấy gì cho cậu trai vừa lớn khắc tên người yêu? Lấy gì cho cậu trai vừa lớn tâm sự? Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ. Cây cỏ quanh những ngôi trường con gái, bây giờ, buồn tênh. Ngày nào đó tuổi trẻ phải hú hồn Thơ Mộng trở về. Bởi vì, mất Thơ Mộng tuổi trẻ đâm ra tàn bạo, chai lì. Tâm hồn cằn cỗi, không thoát lên, bay cao bắt với Cái Đẹp lơ lửng trên trời.
    Nhân đứng núp dưới gốc kia. Nó đang mơ mộng. Mộng rướn chân cao, ngước mắt, ngơ ngẩn trông vời một tà áo, một màu áo. Và, chỉ cần một nụ cười tặng nó, dù là nụ cười làm duyên qua đường, Nhân đã có thể ăn thêm được ba bát cơm, học thuộc lòng bài vạn vật dài lê thê và thức khuya hơn một chút, tập làm thơ ký tên Vạn Lịch. Quỳnh đứng núp dưới gốc cây kia. Nó đang mơ mộng. Mơ mộng tìm thấy tà áo vừa ý nó để thẩy bức thư tình… “tiền chế”! Nó mơ mộng cô nữ sinh Trưng Vương sẽ đón nhận thư tình một cách hồn nhiên, giản dị như cô con gái bà hàng quýt, Còn Thủy, Thủy chỉ mơ mộng, buổi chiều nào đó trong suốt những buổi chiều của đời nó, em Hòa không quay lại, nhìn nó, bĩu môi và nhổ bọt xua đuổi. Quỳnh, Nhân, Thủy đều mơ mộng có một người yêu như tôi. Có một người yêu để chơi ú tim tình ái, để viết và đọc thư tình trên giấy nháp, để hẹn hò, để… ăn thịt thỏ tình yêu và để kiểm soát xem gia tài mình còn món gì mà tiệm cầm đồ bình dân không từ chối cấp phát biên lai. Những cậu trai bằng tuổi tôi đứng đông đầy dưới những gốc cây. Họ đang mơ mộng. Họ đang chờ đón những giọt kỹ niệm nhỏ xuống quãng đời tươi sáng. Đứng làm gì thế, hỡi người bạn trẻ? Vô tích sự đâu,nếu một mai có lần ta nhìn lại đời ta.
    Cổng trường đã mở. Đàn bướm nữ sinh ùa ra. Tôi liệng vội điếu thuốc Ruby Queen hút dở, hồi hộp trông chờ. Luôn luôn hồi hộp. Những cậu trai ” đồng chí ” Của tôi đã lần lượt rời gốc cây. Họ mở những cuộc hành quân thẽo. Đêm nay vô số kẽ thức khuya hay cảm sốt. Những tấm gương sẽ muốn nứt vỡ vì họ soi kỹ quá. Đẹp giai lắm rồi, cậu ạ! Mái tóc bồng bềnh rất…. nghệ sĩ! Đôi mắt ngập khói hương mơ mộng. Và đôi tay không thừa. Nếu cảm thấy nó thừa, chiều mai nhớ đưa về đàng sau, cấu véo mông mình thật đau cho tăng phần can đảm, cậu nhé ! Những kẻ đã yêu nhau bao giờ cũng… thong thả. Em Ngọc thong thả – không chầm chậm chứ – dắt xe ra sau cùng. Tôi cũng thong thã gốc cây sau cùng. nàng dắt xe về lối yêu quen thuộc. Tôi lẽo đẽo theo, cách cả chục thước. Yêu nhau mà vẫn ngượng ngùng như chưa hề yêu. Đó là tình yêu thơ mộng. Đến ngã tư tạm biệt, nàng dừng lại chờ tôi. Tôi bước nhanh hơn. Hai trái tim đập nhanh. Môn đệ của tôi mà trông thấy cảnh này, chắc chắn, chúng nó sẽ bỏ rơi tôi. Nàng giả vờ mở cặp sách trao cho tôi một phong thư. Rồi nói nhỏ:”Mai nhé”! Mai nhé! Mai nhé!
    Nàng lên xe đạp vội. Tôi đúng ngẩn ngơ. Mai nhé! Mai anh cầm nốt bộ đồ mồi cho tiệm cầm đồ bình dân, sửa soạn “nghi lễ ” đón em. Em lên thăm anh một phút, thẩy phong thư dầy cộm rồi chuồn lẹ và hẹn: “Chiều nhé”! Chiều anh cuốc bộ đến trường, đứng chờ em tê cả chân, gặp em, em lại hẹn: “Mai nhé”! Em hành hạ anh làm gì? hay em muốn huấn luyện cho anh trở thành một cu ly đồn điền cao su? Tôi chưa được nói câu “Anh yêu em” với Ngọc và nghe Ngọc trả lời “Em yêu anh”. Chúng tôi chỉ mới viết những lời yêu. Và nhìn thấy mình yêu nhau ở mắt. Tôi vẩn ước ao được cầm tay Ngọc, được hôn lên tóc nàng, hôn lên má nàng, hôn lên môi nàng. Cảm giác sau lần hôn người yêu hẳn là tuyệt vời. Nó ngon như tháng giêng. Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
    Nghĩ tới ba môn đệ, tôi lững thững trở về. Vừa đi vừa hát bản Phố buồn của Phạm Duy. Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen. Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm… Tôi kiếm hàng bánh mì, mua một khúc dài, ghé vào công viên ghế đá ngồi gặm. Gần tám giờ tối tôi mới đáp theo tiếng gọi chiêu hồi, tung cánh chim tìm về tổ Nhà hát Tây. Ba môn đệ đã tề tựu. Thạch sanh hỏi:
  • Vui không “ông”?
    Tôi cười:
  • Hẹn hò là phải vui. Tao và em chở nhau ra bờ sông, vừa mút cà rem cây vừa bàn chuyện tương lai hai đứa.
    Vạn Lịch hỏi:
  • “Ông” có than van chuyện cầm cây cho ” Bờ rô căng tơ “không?
    Tôi đáp:
  • Không. Tao kể chuyện tình Roméo và Juliette.
    Thạch Sanh hỏi:
  • Nàng ăn cà rem cây chắc môi nàng ngọt, ” ông ” uống được mất lít hương tình?
  • Vừa gặp môi nàng là tao muốn ói! Mày biết sao không? Nàng mút cà rem sầu riêng! Mà tao kỵ sầu riêng.Tôi xoa tay:
  • Có lẽ tao sắp xa chúng mày rồi!
    Đỗ Quyên ngạc nhiên:
  • Bố nàng bắt nàng phải lấy một thằng răng vồ, mũi hếch làm chồng. Nàng quyết định bỏ nhà trốn theo tao. Hai đứa tao sẽ lên rừng kiếm cũi. tao làm Tặc Giăng, nàng làm Nữ Chúa Rừng Xanh.
    Ba Môn đệ cười ngây ngất. Vạn Lịch nói:
  • “Ông” khôi hài ghê!
    Tôi lãng chuyện để khỏi diễn tiếp cái trò nói phét:
  • Tình hình hôm nay ra sao?
    Vạn Lịch báo cáo:
  • Tôi thành công tám mươi phần trăm. Tên em là Trinh, hai má lũm đồng tiền.
    Tôi hỏi:
  • Đồng tiền Vạn Lịch?
    Vạn Lịch liếm môi:
  • Đồng trinh… Bảo Đại! Nàng vui vẻ nhận thư tôi, hẹn chiều mai đi chơi với tôi. Tôi mạn phép ” ông ” tặng nàng tập thơ Sang Độc 1 của ông và ký tên thi sĩ Vạn Lịch.
    Thạch Sanh báo cáo:
  • Tôi ăn chắc rồi. Em tên là Tâm ở Bàn cờ. Tôi “lăng xê”cho nàng cái “lét” nàng chụp liền. Trong cái “lét” tôi cũng mạn phép ông chép năm bài thơ của ông ký tên bút hiệu Thạch Sanh tặng nàng làm lễ ra mắt.
    Tôi hỏi:
  • Nàng có hẹn hò gì không?
  • Nàng bảo mai tôi phải mờ nàng đi ăn kem. Có lẽ, tôi vác vài chục cuốn sách đem bán cho… vỉa hè.
    Đỗ Quyên báo cáo:
  • Em Hòa hôm nay nghỉ học. Ông giúp tôi một kế mọn được chăng?
    Tôi gật gù:
  • Rồi, tao hiến kế mọn đây. Mày quen thân với Marcel Hiền, Quế cao chớ?
  • Quen thân.
  • Chiều mai mày rủ hai thằng vai u thịt bắp ấy đi đón em Hòa với mày. Mày chỉ em cho hai đứa. Còn mày, mày núp một chỗ. Để hai thằng theo nàng chọc phá nàng, chèn ép xe nàng. Mày xuất hiện can thiệp. Marcel Hiền và Quế cao sẽ gây sự. Mày xăn tay áo cho em Hòa biết tay mày là khúc củi mục. Rồi mày đấm Marcel Hiền, đá Quế cao. Hai đứa chịu khó ăn đòn của mày. Chúng nó sợ mày quá, chuồn nhanh. Mày sửa lại áo, đến trước em Hòa, hơi cúi đầu: “Thưa cô nương, xin cô nương hãy ban cho kẽ hèn này một bãi nước bọt”! Tao tin chắc em Hòa sẽ cảm động mà rằng: “Cám ơn tráng sĩ Lục vạn tiên, không có tráng sĩ, Nguyệt Nga này đã bị nguy khốn bởi bọn cướp Phong Lai. Nhà thiếp ở… ngã Ba Ông Tạ, không có chó dữ nhưng có ông bố nghiêm khắc, nếu tráng sĩ muốn, xin mời theo thiếp”. Thế là ăn chắc nhé!
    Đỗ Quyên hớn hở:
  • Hay quá, hay quá “Hảo kế, hảo kế”! Tôi sẽ thi hành.
    Buổi tổng kết tình hình mỗi đêm chấm dứt. Tôi cười thầm và chửi thầm: Bố hai anh Thạch Sanh, Vạn Lịch, hai anh nói phét như… sư phụ hai anh. Chỉ riêng Đỗ Quyên là thành thật. Tôi hạ lệnh tắt đèn ngủ. Đêm ấy, tôi không chiêm bao thấy người yêu mà chỉ thấy cái tương lai đói rách.

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

  1. Chương 11
    Vũ Khắc Niệm đã bỏ căn nhà nghệ sĩ. Nó bảo ở đây bừa bãi, học hành không được, tối ngày chỉ nghe chuyện thi ca tình yêu Sang Độc chán mớ đời. Thực tình nó bỏ đi vì nó… Vô duyên, chẳng em nào mê, lại lười tán gái và thiếu hẳn cái năng khiếu thi ca Sang Độc. Đặng Xuân Côn cũng đã bỏ đi. Nó viện lý do không thể chung sống với bọn ve sầu đàng điếm. Cu cậu đã học đòi yêu, đã nhảy lên xe ô tô buýt xanh thẽo một em và nhảy xuống vội vàng té trầy đầu gối, rách quần, chàng cảm thấy yêu vất vả, khổ cực quá, chàng bèn về Khánh Hội, đêm đêm ngủ dưới tàu. Nhà nghệ sĩ chỉ còn Quỳnh, Nhân, Thủy và tôi. Kinh tế bị đe dọa. Có lẽ tôi đành lãnh bánh mì lên, chấm đường mà ăn. Và làm thơ Sang Độc. May ghê, đúng lúc cơm áo sửa soạn dìu tôi về đời sống thật của một dân tứ cố vô thân thì bạn vàng Bùi Chu của tôi, Lý thông xuất hiện. Nó đang theo học khóa huấn luyện cán bộ thông tin mở tại Khám Lớn. Nó tìm tôi cầu cứu. Chả là con ông cụ ba hoa chích chòe về văn nghệ với các em đồng khóa lại dại dột xung phong nhận chức trưởng ban báo chí, mỗi tuần “xuất bản” một tờ bích báo. Lý Thông đi tìm bạn bè Hà Nội ngày xưa. Nó gặp tôi hỏi:
  • Dạo này mày làm nghề gì?
    Tôi kiêu hãnh: Nghệ sĩ lang bang.
  • Bỏ học à?
  • Tiền đâu mà học? Tao viết văn làm thơ kiếm ăn lai rai?
    Lý Thông sướng quá:
  • Mày biết viết văn, làm thơ?
    Tôi nói:
  • Bộ mày quên hồi ở căn gác số 13 đường Ngô Thời Nhiệm, Hà Nội mày đã hì hục chép thơ tao vì nghĩ là thơ Xuân Diệu?
    Nó cười:
  • Ừ nhỉ!
    Và đề nghị:
  • Tao đang cần ít thơ, tùy bút, truyện ngắn chống Cộng và thương nhớ đất Bắc, hận thù Bến Hải, mày giúp tao một tay được không?
    Tôi hỏi:
  • Nhuận bút?
    Nó nhún vai:
  • Tao trả hậu hỉnh. Mỗi bài thơ hai chịch, mỗi cái tùy bút năm chịch. Với điều kiện…
  • Gì?
  • Ký tên tao.
  • Đồng ý.
    Tôi tính nhẩm mười bài thơ là hai trăm, mười cái tùy bút là năm trăm. Một tháng có bảy trăm thì sống phong lưu quá.
  • Bao giờ đưa tiền?
  • Có bài là có tiền. Đưa bài nào tao phát tiền bài ấy. Mà mày làm thử một bài chống cộng tao coi có đúng lập trường không đã.
    Tôi bảo Lý Thông đi chơi, nửa tiếng sau trở lại. Nó cho tôi gói Ruby Queen. Tôi nghĩ tới Ngọc, tới tình yêu, ngồi làm thơ chống Cộng. Tôi chống Cộng vì tình yêu. Đây là bài thơ chống Cộng “ê săng chi ông”:
    Việt Cộng kia hỡi mày có hay
    Liên Xô Trung Quốc là nơi mày
    Cớ sao mày hại nòi Bách Việt
    Có ngày sẽ bị chém đầu bay

Ta ở miền Nam sướng thấy mồ
Xích lô, thổ mộ rồi ô tô
Lại còn thủ tướng Ngô Đình Diệm
Dân chủ cờ vàng chói tự do

Mày theo lão Mác với thằng Mao
Đấu tố lu bù khổ biết bao
Liềm búa mày vung đầu rụng xuống
Mai này mày sẽ biết tay tao

Ông về giải phóng lại quê hương
Năm cửa ô xưa rộn phố phường
Em gái đừng theo quân Việt Cộng
Chờ anh sẽ nối lại tình thương

Bến Hải sông kia chớ có sầu
Chớ buồn ủ rủ giống cây cau
Anh đang đào đất san bằng đó
Đứa nào nói phét chết không đầu.
Bài thơ chống Cộng của thi nhóm Sang Độc đầy những lửa hờn và lửa hờn. hai câu đầu “ảnh hưởng” Hàn thuyên rất nặng. Ngạc ngư kia hỡi mày có hay. Biển đông vùng vẫy là nơi mày. Hàn Thuyên, người sử dụng chữ Nôm đầu tiên ở nước ta, đã mở đầu bài văn tế đuổi cá sấu ra biển đông anh dũng thế đó. Cộng sản nào khác cá sấu. Hai đưá cùng hung ác và khóc lóc giả vờ điệu nghệ. Tôi bằng lòng bài thơ chống Cộng “kiễu mẫu” hy vọng có giá trị hai chục đồng bạc. Nửa giờ sau Lý thông trở lại. Tôi đưa “sáng tác” của tôi cho nó duyệt. Lý Thông khen nhặng vì ngầu. Vậy là tôi không lo sợ bà Cả Đọi hỏi thăm sức khỏe.
Tôi viết tùy bút, truyện ngắn hận thù dòng sông Bến Hải nặng nề. Ký tên Lý Thông. Chẳng ai ngờ khuynh hướng Sang Độc còn tiếp tay cho nền chống Cộng, tố Cộng ở xứ này.
Trong trại huấn luyện cán bộ thông tin có câu lạc bộ. Lý Thông dẫn tôi vô, giới thiệu với chủ thầu và tôi được cấp cuốn sổ… ăn chịu. Cuối tháng Lý Thông lãnh lương sẽ thanh toán. Nhờ đó, dạ dày tôi đỡ lép kẹp. Hoan hô khóa huấn luyện cán bộ thông tin. Tôi muốn khóa huấn luyện dài muôn năm để tôi được coi Cộng Sản là kẻ thù truyền kiếp, làm thơ, viết văn chống cộng đến hơi thở cuối cùng. Để được tự do với khuynh hướng Sang Độc, khuynh hướng văn nghệ không nằm trong nền văn nghệ chỉ huy, dù đã làm rung động các em bán quýt, bán thuốc lá, bán thịt bò khô… Lý Thông có vẽ hãnh diện về những bài thơ ký tên nó. Giám đốc khóa huấn luyện khen ngợi tài ba của nó. Tổng trưởng Trần Chánh Thành đòi dịch thơ chống Cộng của Lý thông sang ba mươi bảy thứ tiếng Ma rốc. Nó tán được khối nữ cán bộ. Giám đốc nhờ nó viết diễn văn và kiến nghị. Nó lại nhờ tôi. Và tôi bèn tăng giá cả.
Lý thông đã giúp tôi sống đời nghệ sĩ, một cuộc đời đói rách, bệ rạc, chuyên mua chịu và ăn ghi sổ. Thỉnh thoảng còn quỵt nợ nữa. Tôi không cần tiền của Đặng Xuân Côn hay tiền lãnh ” mandat ” của anh Vũ Khắc Niệm. Chúng nó tếch rồi. Bây giờ, tôi đích thực là lãnh tụ khuynh hướng Sang Độc với ba môn đệ xuýt xoa tài năng của tôi suốt ngày. Căn nhà nghệ sĩ, lúc này, nghệ ssĩ nhất thế giới. Màn giăng không thèm cuốn lên hay tháo ra. Cứ để đó, tôi chui vào ngủ, sáng chui ra. Cái màn màu trắng đã ngã màu cháo lòng. Chỗ nào rách, tôi lấy giấy dán lên. Thành ra cái màn đã là một bức tranh lập thể. Muỗi không thể lọt vô nhưng gián đói bò lên gặm cơm. Lại càng đẹp! Những cái chăn mới ngoạn mục. Chải đầu xong, lau tay và lượt nhớp” bi ăng tin” vào đó. Giày dơ cũng dùng chăn mà lau. Những mái tóc đáng kể là ngọan mục. Vì chống đối nước và xà phòng, hễ gặp vài giọt nước mưa, đầu ngứa tưng bừng. Bốn nghệ sĩ ngồi gãi y hệt bồn con bú dù. Nghệ sĩ nào khác bú dù: Thế mà những cô, cậu vừa lớn cứ mơ đời nghệ sĩ! Thi sĩ Thạch Sanh Lê Như Quỳnh bỏ cái “dịch vụ” quét nhà. Chàng bảo nhà đầy rác, đầy tàn thuốc lá mới… nghệ sĩ! Quả là nghệ sĩ. Bởi vì, thơ văn Sang Độc không thể sáng tác nổi nếu ta ở những nơi nhà cao, cửa rộng.
Căn nhà, mỗi khi có dịp hồi tưởng, tôi đã giật mình, kinh hãi. Nhưng người yêu của tôi, em Ngọc yêu dấu, đã không kinh hãi, đã không nghĩ rằng đó là trại hủi. Hoặc nàng muốn làm Mộng Cầm và tưởng tôi là Hàn mặc tử ? Nàng đã báo tin chiều nay trốn học lên thăm tôi. Một cô học trò dám trốn học vì người yêu thì tình yêu không… Sang Độc tí ti ông lão nào. Tin người yêu “kinh lý” trại hủi khiến tôi lo sốt vó. Hộp kem đánh răng Colgate đã hết từ lâu. Những hàm răng nghệ sĩ phản kháng… thuốc đánh răng. Chắc chắn, chúng nó nặng khuynh hướng Sang Độc! Ngồi cạnh người yêu, nói những lời yêu không thể để cho mùi hôi ở miệng có những chiếc răng vàng khè… “na tuya ren” được. Thi sĩ Lý Thông lại không chịu chi tiền mặt. Nó chỉ trả giá thơ bằng phở, hủ tiếu, cà phê, thuốc lá và cơm đĩa. Nó gài tôi vào cái thế tầm trả nợ dâu, hay nợ áo cơm phải trả đến… thơ chống Cộng. May quá Đặng Xuân Côn để lại cây lục huyền cầm. Nền cầm đồ bình dân hồi ấy rất phát đạt. Trong ví của tôi đã có ít nhất ba cái biên lai của “rô căng tơ. Một cái đồng hồ Movado, một cái bút máy Parker 51 và một cái áo len Hồng kông. Đó là những Kinh Kha ra đi không thèm trở về. Tiền đâu mà chuộc? Tiệm cầm đồ bình dân của tôi có một em khá xinh. Tôi đã thẩy bốn bài thơ Sang Độc diễn tả đôi tay ngà ngọc em những lúc dở quần “xa teng” của chị em lao động ngắm nghía và đánh giá trị. Có lẽ em thấy thơ Sang Độc không hấp dẫn bằng quần “xa teng” nên em không xúc động. Thơ văn Sang Độc, do đó, chỉ phục vụ các em bán quýt, bán thuốc lá lẻ chứ không thể phục vụ giai cấp bốc lột bần cố nông. Hoặc tôi thiếu cái may mắn của đồ đệ Thạch Sanh?
Tôi gọi Thạch Sanh, bàn chuyện đón tiếp người yêu của tôi:

  • Chiều nay, em Ngọc lên đây. Mày phải giúp tao tổ chức cuộc đón tiếp nàng để rút tỉa kinh nghiệm cho chính mày.
    Thạch Sanh hỏi:
  • ” Ông ” tính nhờ tôi việc gì?
  • Mày chịu khó vác cây đàn đi cầm cho tao?
  • Rồi lấy đàn đâu ông khẩy?
  • Tao khẩy đàn mồm! Nhạc sĩ Canh Thân mê Cô hàng cà phê đến nỗi phải than thở Anh còn có mỗi cây đàn, Anh đem bán nốt để theo cô hàng cà phê thì sao. tao rất tiếc…
  • Tiếc gì?
  • Tiếc là hồi còn ở nhà tao không ăn vòi ông bà bô gắn cho tao vài chiếc răng vàng.
  • Để làm chi?
  • Để tao bẻ ra đem bán. Tao cần cắt tóc, gội đầu và đánh răng. Thuốc đánh răng hết mẹ nó rồi. Miệng hôi mà hôn em là tình yêu phượng hoàng biến thành tình yêu cú mèo?
  • “Ông” biết hôn à?
  • Ừ.
  • Hôn ra sao?
  • Tao uống hương tình trên môi em.
    Câu này tôi ” thuổng ” của anh chàng Stewwart Granger trong phim Scaramouche nói với người yêu. Thực tình, tôi chưa hề được cầm tay Ngọc. Nhưng một trăm anh học đói yêu thì y rằng một trăm anh nói phét. Môn đệ Thạch Sanh phục sư phụ Trương Chi sát đất.
  • “Ông” dạy tôi hôn với nhé!
  • Mày phải… hôn thử một em ấm ớ trước khi hôn người yêu.
  • Yên chí, đã có em… bán quýt!
    Và Quỳnh hăng hái ôm cây lục huyền cầm đến “Bờ rô căng tơ”. Nó trở về với cái biên lai và hai trăm bạc. Cây đàn mua bốn trăm rưởi, cầm được trần xì hai trăm. Tôi đã sử dụng hai trăm đó như một chị nhà quê mang quan tiền đi chợ:
    Một quan tiền tốt mang đi
    Nàng mua những gì mà tính chẳng ra
    Thoạt tiên mua ba đồng gà
    Đồng rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu…
    Và tôi tiêu như vậy
    Hai con bò thả chơi rôi
    Cúp tóc hai chịch, ” phích xông ” mười tì
    Còn bớp bảy biết mua gì
    Hộp kem Colgatte vất đi khoản còm
    Năm tì ăn trái chôm chôm
    Xi rô đá nhận mất hơn năm đồng
    Ruby hương dịu thơm nồng
    Mua liền hai gói cõi lòng hơi đau
    Một đồng mua mấy miếng cau
    Chà răng cho thật trắng phau tuyệt vời
    Viễn Đông nước mía cam tươi
    Hai ly đã xén mất mười đồng nhôm
    Cây đàn cầm có hai trăm
    Vì tình nên phải Bình Dân Cầm Đồ
    Vậy là toi cả hai bò.
    Một nhà nghệ sĩ vừa viễn mơ vừa dấn thân như tôi, một lãnh tụ của thi nhóm Sang Độc (thơ là nghề chính, văn thì lai rai ba sợi thôi) được diển tả như cậu bé “học giỏi” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu : Một cậu bé đầu bù tóc rối, mặt mũi nhem nhuốc, tay chân dơ bẩn. Có người hỏi ” Học trò sao mà dơ bẩn thế? Cậu bé đáp lại rằng: “Học giỏi thì hơn, ở sạch ích gì!” Nếu có người nào hỏi tôi: “Nghệ sĩ sao mà dơ thế? Tôi sẽ đáp rằng: “Thơ Sang Độc hay là đủ rồi, ở sạch làm quái gì nhỉ!” Tôi hãnh diện về những “pho” nặng khuynh hướng Sang độc. Chưa hề thấy một trường thơ; một thi phái nào có thể dùng thơ của mình để mua chịu quýt, câu thuốc lẽ và ăn phở, uống cà phê biên sổ. Như thi sĩ Đỗ Trọng Thủy, trong thi nhóm Sang Độc, còn dùng thơ của mình để phá hoại kinh tế Ba tàu, chấn hưng kinh tế dân tộc. Chàng đã gây cảm tình với mấy cô sẩm bán bia “bốc” dọc đường Nguyễn Trải. Chàng cũng uống chịu. Uống độ vài trăm bạc, chàng bèn “vỗ cánh bay đi ” sang quán bia khác cách quán bia quen thuộc cả mấy trăm thước. Tiếp tục gây cảm tình, uống chịu rồi quỵt. Gọi là phá hoại kinh tế Ba tàu hạ tầng cơ sở. Khuynh hướng Sang Độc thừa khả năng ăn quỵt nhưng vẫn thiếu khả năng sửa sang hình thức cha đẻ của nó. Bởi vậy, cây lục huyền cầm đành lên tiếng tơ não nuột Biệt ly nhớ nhung từ đây mà nằm trong tủ hiệu cầm đồ bình dân.
    Nhờ có cây đàn, nhờ có nền cầm đồ bình dân nên tôi có một “hình thức” không Sang Độc. Hình thức không Sang Độc phủ ngoài nội dung Sang Độc. Rất đông nghệ sĩ Việt Nam đã là khách hàng quen thuộc của các tiệm cầm đồ bình dân. Văn hoá xứ ta chưa khá, vì thế. Vì Phủ quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa hôm nay và Văn Hoá Vụ ngày xưa không phải là nơi nghệ sĩ có thể đem đồng hồ bút máy, đàn sáo, kèn trống và quần “xa teng” của vợ cầm cố để lấy tiền chi vặt mà phục vụ văn hóa dân tộc. Tôi ước ao, thuở nào đó, người lãnh đạo văn hóa dân tộc tôi xuất thân từ ngành cầm đồ bình dân thì cái áo thung ngã màu cháo lòng của nghệ sĩ sáng tác cũng mang một giá trị thiêng liêng như tác phẫm của họ. Bây giờ, tôi nói về tôi, về thi sĩ Trương Chi, trưởng thi nhóm Sang Độc, xuýt giải nghệ… nghệ sĩ đi làm cu ly đồn điền cao su nếu không được bạn vàng Lý Thông đặt mua thơ văn chống Cộng. Tôi đã đánh răng lu bù. Đánh răng giả nợ những hôm thiếu thuốc đanh răng. Trong cái ” hóa đơn ” tiêu tiền của tôi, tôi quên tính gói kẹo chewing- gum. Tôi định bụng, trước giờ gặp gỡ người yêu, sẽ nhóp nhép nhai kẹo cho miệng nó tăng thêm mùi thơm! Thuở ấy, kỹ nghệ hớt tóc
    (tương tự kỹ nghệ lạnh là sửa máy lạnh, tủ lạnh) chưa sáng chế bộ môn ép, sấy. Và mái tóc “à la mode” nhất của đàn ông vẫn là mái tóc cánh phượng bóng nhẫy “brillantine” Tôi có mái tóc y hệt mái tóc Rudolf Valentino, tài tử phim câm quốc tế. Mái tóc của tôi, cứ một tuần lễ, phải bón cả hộp ” brillantine” nhãn hiệu The evening in Shanghai, thứ “brillantine” nghệ sĩ nhất, nghĩa là rẻ tiền nhất. Hãy tưởng tượng một mái tóc mà loài chấy không thể sinh sống và gặp mưa, hất đầu một cái, nước văng đi hết. Đó là mái tóc váy lĩnh. Mái tóc của tôi đó. Đỏm dáng ra phết, chứ bộ. Nghệ sĩ mà em. Bằng mái tóc ấy, hàm răng trắng ởn và bằng bộ quần áo đã giặt tốn nữa cục xà phòng, đến hì hục đốt than bàn ủi, ủi lượt là, tôi sửa soạn chờ đợi người em gái văn nghệ di cư từ xóm “Vẹc”. Em sẽ đi qua đống rác vĩ đại bên kia cầu Eyriaud des Vergnes và tới thăm anh ở Nhà Hát Tây.
    Em sắp đến. Em thơ của thi sĩ Trương Chi sắp đến như em thơ của thi sĩHuy Cận đã đến. Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong. Hôm xưa em đến mắt như lòng. Lạy trời, mắt em đừng viền vải tây điều, em nhé!

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

  1. Chuyện dị đoan trong giới nghệ sĩ cải lương
    Chúng ta đang ở vào những năm đầu của thế kỷ 21, thời đại của nguyên tử, thời đại của Tin Học, vậy mà tôi nhắc lại những chuyện dị đoan trong giới sân khấu cải lương, chắc có bạn sẽ mỉm cười, cho là người già lẩm cẩm.
    Ở cái xứ Canada tuyết lạnh tình nồng này, cả tháng trời liên tục dò tin trên internet, chưa chắc có ai kiếm ra được một cái tin về ma quái, về những chuyện hồn ma báo oán hay tin trời đánh một đứa con bất hiếu nào đó như mấy chục năm xưa ở quê nhà, nhất là ở đồng quê, người ta thường có những tin tức giựt gân như vậy và người ta tin đó là những chuyện huyền bí có thật, có người còn quả quyết là chính mắt họ đã từng chứng kiến.
    Những chuyện tôi sắp kể ra đây, riêng cá nhân tôi và những bạn bè trang lứa với tôi, nhất là những người cùng ở chung một gánh hát, cùng chứng kiến hoặc cùng biết sự việc xảy ra, chúng tôi tin là có thật, nhưng lâu nay tôi không dám nói ra, chỉ vì tôi không biết lý giải theo khoa học, sợ các bạn chê cười là tôi dị đoan, chê tôi là người xưa, cổ lỗ sĩ.
    Nhưng giữ mãi trong lòng cái chuyện mà tôi không tự giải thích được thì coi như phải chịu dốt suốt đời, chịu ấm ức mãi, thôi thì cứ nói ra, để giải tỏa ẩn ức của mình vậy.

Chuyện Tổ Nghiệp sân khấu.
Bất cứ nghệ sĩ cải lương, soạn giả hay công nhân sân khấu, bầu bì hay chủ nợ các gánh hát, những ai đã ăn cơm cải lương đều tin tưởng là có Tổ Nghiệp cải lương.
Khi ra ngoại quốc (vượt biên hay đi diện đoàn tụ gia đình, hay đi hát có hợp đồng hoặc hát chui nhân dịp du lịch thăm thân nhân ở ngoại quốc) người nghệ sĩ cũng nhớ lễ cúng giỗ Tổ Nghiệp, đúng ngày theo truyền thống.
Gần đây xem phim vidéo Paris By Night, quay cảnh đằng sau sân khấu, tôi thấy các ca sĩ Tân Nhạc trẻ cũng thắp nhang vái Tổ, chấp tay xá Tổ Nghiệp trước khi bước ra sân khấu, tôi thật sự xúc động trước hình ảnh thân thương đó. Các bạn nghệ sĩ trẻ, có người được sanh ra và lớn lên ở nước ngoài, có bạn khi xuất ngoại thì còn rất nhỏ, vậy mà khi hành nghề ca hát, vẫn giữ tập tục xưa của cha mẹ, thật là đáng mến đáng yêu, đặc biệt đáng ca ngợi các bậc cha mẹ nghệ sĩ đã truyền đạt lại niềm tin Tổ Nghiệp cho con cái nghệ sĩ của mình.
Giai thoại về vị Tổ Sư của nghề hát thì rất nhiều. Ngành Hát Bội thì có giai thoại là hồi xưa, có ba ông hoàng trẻ tuổi trốn theo gánh hát, mải mê xem hát đến ngã bịnh, chết trong gánh hát. Ban hát cho rằng ba ông Hoàng rất linh thiêng nên lập trang thờ và gọi trại đi là ông Làng để tránh phạm thượng. Trong giới hát bội gọi là Tam Vị Thánh Sư.
Đối với ông Làng (Tam Vị Thánh Sư), người hát bội xem là Tổ Nghiệp, rất kính trọng và thân thiết. Hễ diễn tuồng có lớp sanh đẻ, người ta bồng ra sân khấu một ông Tổ để đóng vai hài nhi; xong lớp hát, ông Làng được cung kính đặt lại vào trang thờ. Người diễn viên khi bồng Tổ ra hát hay khi đặt trả lại trang thờ đều không quên chắp tay xá Tổ. Còn nhiều giai thoại khác về Tổ Nghiệp nghề hát, nhưng trong giới nghệ sĩ Cải Lương, Tổ Nghiệp cải lương là người đầu tiên có công khai sáng nghề nghiệp, truyền nghề cho nhiều người trở thành nghệ nhân, lập thành Ban, thành Đoàn, đặt thành quy củ, nề nếp, kỹ thuật để nghề nghiệp được phát triển thêm lên.
Thờ cúng Tổ Nghiệp sân khấu là một hành động của nghệ sĩ biết ơn công khai sáng, đồng thời cũng biểu lộ lòng tin, khẩn cầu xin Tổ bảo hộ cho nghề nghiệp của mình.
Lý thì là như vậy nhưng lòng tin của nghệ sĩ đối với Tổ Nghiệp như tin một vị Thánh Sư, có phép thần thông, có quyền lực ban phước và trừng phạt những kẻ nào phạm lỗi, dối gian, lừa đảo bạn bè đồng nghiệp.
Vì sự tin tưởng đó, diễn viên nào trước khi bước ra sân khấu hát mà quên xá xá hướng về bàn thờ Tổ thì coi như sẽ quên tuồng, hay hát vô duyên khiến cho khán giả không thích, khán giả đuổi vô.
Có những diễn viên ngoài đời không đẹp, ca hát bình thường, vậy mà khi bước ra sân khấu hát thì trở nên đẹp đẽ muôn phần, làm say mê khán giả. Mỗi một cái liếc mắt, một nụ cười, một tiếng hát cũng đủ làm cho khán giả xiêu hồn lạc phách. Người ta nói cô đào đó hay anh kép đó được “Tổ Đãi”.
Để chứng minh sự thành thật của mình, người ta hay thề: “Nếu tôi gian dối thì cho Tổ vặn họng” hay là “Nếu tôi hại anh hay lấy cắp của anh hì cho Tổ móc nhãn tôi hay Tổ lấy nghề của tôi đi “.
Luôn luôn lời thề đó được người khác tin là người dám thề như vậy, quả là thành thật, là kẻ vô tội, vì người nào đã theo nghề hát rồi thì luôn luôn tin là Tổ Nghiệp linh ứng, không bao giờ dám thề ẩu.
Năm 1948, khi tôi mới bước chân theo ghe hát thì tôi được nghe nhiều anh em trong đoàn Tiếng Chuông kể những mẩu chuyện về sự linh thiêng của Tổ Sân Khấu. Nhập gia tùy tục, tôi cũng tin như anh em đã tin, ngoài ra tôi chưa có một ấn tượng nào rõ ràng về sự linh hiển mà anh em trong đoàn hát thường nhắc.
Cho đến một ngày mà tôi theo đoàn hát Việt Kịch Năm Châu, năm 1952…
Đoàn Việt kịch Năm Châu tập xong tuồng mới: tuồng “Tây Thi, Gái Nước Việt”, hát khai trương tại rạp Nguyễn Văn Hảo, đông nghẹt khán giả suốt một tuần lễ liên tục.
So với các rạp hát ở Sàigòn và Chợ Lớn, Gia Định lúc bấy giờ, Nguyễn Văn Hảo xứng danh là Hàng Không Mẫu Hạm, riêng ở lầu nhì và từng trệt đã có đến 900 vé thượng hạng, hạng nhứt và hạng nhì. Lầu ba trung bình mỗi đêm bán được từ hai đến ba trăm vé hạng ba.
Mấy tuần lễ sau, cũng hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt ở rạp Đông Vũ Đài trong khu Đại Thế Giới Chợ Lớn, hát ở rạp Thuận Thành Tân Định, rạp Đại Đồng Gia Định, dù hát ở bất cứ rạp hát nào, với vở tuồng Tây Thi Gái Nước Việt, Đoàn Việt Kịch Năm Châu cũng đều đông nghẹt khán giả.
Nhưng khi dọn lên hát ở rạp hát Thủ Dầu Một thì khán giả đến xem đêm đầu chưa tới một phần ba rạp. Đó là hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt, một vở hát đang ăn khách nhứt của Đoàn, được báo chí khen ngợi.
Ban Giám Đốc đoàn, anh Năm Châu, Tám Kiết, Kim Cúc, Kim Lan, chị Hai Nữ họp bàn nên ở tiếp tục hát hay phải dọn đi rạp khác.
Mọi người trong đoàn cũng xôn xao bàn tán. Á Tường, một người Hoa đàn Piano trong dàn nhạc Tây của đoàn nói: “Hà, cái lầy ông Tổ đi theo chơi với mấy con Tầm dồi! “
Tôi biết anh Tường nói “Tầm” tức là mấy con “đầm”, nên ngăn lại: “Đừng nói tầm bậy! Nị coi chừng ông Bầu nghe được, ổng đuổi Nị đó. Đầm ở đâu mà ông Tổ theo chớ?”
“Hà, Cái lầy Nị ngó lên nóc rạp coi, có hai con Tầm tẹp thật là tẹp đó. Ngộ còn muốn có một con làm vợ mà hỏng lược đó!”
Á Tường kéo tôi ra khỏi rạp hát, chỉ lên nóc rạp, hai bên nóc có hai bức tượng bằng ciment, tạc hai cô đầm mặc áo trễ xuống, lòi ngực thật là hấp dẫn. Hình hai bức tượng nữ ôm đàn Luth và đàn Harpe, được ánh sáng trời chiều chiếu vào, lung linh như người sống thật. Hai bức tượng nữ đẹp thiệt, tôi theo đoàn hát tới hát ở rạp Thủ Dầu Một nhiều lần, chưa lần nào chú ý nhìn lên nóc rạp nên không thấy.
Tôi thầm nghĩ: “Á Tường muốn có một cô vợ đầm đẹp như vậy cũng là chuyện phải thôi. Người nắn tượng nhứt định phải chọn một người mẫu thật đẹp…”
Tôi đang lan man nghĩ vơ vẩn thì anh Tám Kiết tới cho biết anh Năm Châu định tối mai sẽ đổi tuồng, nếu mà vắng khách nữa thì “dời bến”, chạy đi chỗ khác. Đêm nay cũng hát ế. Lãnh lương đờ-mi, mặt mày đào kép méo xẹo, nhăn nhó. Ba bữa lương đờ-mi rồi, vãn hát tối nay, tẩm khậu sẽ phát cho mỗi người một thẻ đường và một tô cháo trắng. Đêm nay mọi người đi ngủ sớm, không ồn ào nhậu nhẹt như mấy tuần hát thành công ở rạp Nguyễn Văn Hảo. Nhạc sĩ tân và cổ nhạc được chia cho chỗ ngủ dưới khán phòng sát sân khấu, chúng tôi dồn ghế khán giả lại, che chắn thành một ô vuông rộng, bên trong đặt mấy dãy ghế bố.
Tôi ngủ gần Á Tường và anh Hoàng Việt (đờn contre basse).
Ngoài ngọn đèn cóc trên bàn thờ Tổ, trên sân khấu chỉ thắp sáng một bóng đèn 40 watts, trước cửa rạp có một ngọn đèn 60 watts, vì vậy chỗ ngủ của chúng tôi chỉ hơi sáng lờ mờ.
Tôi không ngủ được, Á Tường ngủ ngáy như người ta cưa gỗ…rồ rẹt…rồ rẹt hoài, lâu lâu như nuốt cái gì trong họng, nghe “ót” một tiếng thật lớn.
Hoàng Việt ngồi dậy, mở rương kiếm bông gòn nhét lỗ tai, anh thấy tôi còn trăn trở, bèn rủ tôi ra trước rạp, kiếm rượu đế với khô cá khoai, lai rai cho tới khi nào thật mòn mỏi rồi sẽ ngủ, chớ không tài nào ngủ được với tiếng ngáy của Á Tường.
Chưa kịp đi thì nghe tiếng ú ớ như bị nghẹt họng, tôi thấy Á Tường vùng vẫy, hai tay ôm cổ như muốn gỡ cái gì vô hình đang thắt họng anh ta. Mấy anh tân, cổ nhạc nằm gần đó cũng giựt mình thức dậy. Chúng tôi lay gọi, kêu réo ba hồn bảy vía của Á Tường.
Anh ta mở mắt trừng trừng nhìn mọi người, tỉnh dậy, rồi nhảy xuống ghế bố, miệng lắp bắp:
“Chết ngộ dồi.. . Chết ngộ dồi. .. Nó đè ngộ, nó úp.. .úp cái vú lạnh ngắt của nó vô miệng ngộ, nghẹt thở chịu hông nổi. .. nó nói ngộ muôn lấy nó làm vợ, nó đòi ngủ với ngộ…”
Hoàng Việt cười:
“Có quỷ mới chịu làm vợ của nị… Làm được bao nhiêu tiền là thua xì phé với số đề hết, có con nào dám tới tò te với nị đâu!”
“Hà! Con quỷ thiệt a! Con quỷ ở trên nóc rạp đó. Hồi chiều ngộ nói chơi, muốn có con vợ đẹp như nó. Tối, nó xuống đè ngộ đó”. A Tường nói và chỉ lên nóc rạp.
Chúng tôi rùng mình, không ai dám nói chơi thêm tiếng nào cả.
Dân chúng quanh rạp Thủ Dầu Một nói là những đêm mưa gió, không trăng sao, họ thấy mấy con đầm bằng ciment trên nóc rạp hiện ra, đờn nghe tăng tăng, có khi nó hát như tiếng hú… Họ đốt nhang, cúng vái hoài nên nó không làm hại ai, chỉ hiện lên đờn ca thôi. Chúng tôi không tin, tuy nhiên không cãi lại vì không muốn mích lòng khán giả. Bây giờ người trong đoàn nói có quỷ từ trên nóc rạp xuống, nửa tin, nửa ngờ, nhưng không ai dám nói là mình không tin.
Tôi xúi Á Tường: “Nị đốt nhang ra lạy mấy bả, xin tha cho cái tội nói bậy hồi chiều. Nếu không, nị đi đâu, mấy bả theo tới đó thì coi như nị tàn cuộc đời”
Hoàng Việt nói: “Nị lạy mấy bả trước rồi mới lạy ông Tổ sau, ông Tổ vặn họng nị đó.”
Á Tường: “Hà! Lạy ai trước cũng vậy mà. Đi… đi lạy ông Tổ, xin mấy cây nhang luôn”.
Á Tường leo lên sân khấu, tôi và Hoàng Việt đi theo. Bàn thờ Tổ đặt sau bức phông trắng, hậu trường sân khấu. Lúc đó đã gần ba giờ khuya. Khi vô tới nơi, tôi thấy anh Năm Châu, anh Tám Kiết và chị Hai Nữ đang thắp nhang vái lạy trước bàn thờ Tổ.
Đây là chuyện bất thường vì không phải đúng ngày giỗ Tổ, đêm khuya không có ai đến cúng vái như vậy.
Anh Tám Kiết thấy chúng tôi tới, hỏi: “Bộ mấy anh cũng thấy hả?”
Tôi ngạc nhiên: “Anh Tám hỏi chúng tôi thấy cái gì?”
Á Tường mau miệng: “Há! Ngộ thấy mấy bà quỷ đè ngộ”
Anh Năm bực mình: “Á Tường lúc nào cũng nói tầm bậy, tầm bạ. Hỏi nị có thấy ông Tổ hông?”
Á Tường: “Ngộ vô kiếm ông Tổ đây. Hồi chiều ngộ nói chơi, ông Tổ theo mấy cô Tầm trên nóc rạp rồi nên mình hát ế hoài. Hồi nãy, ngộ ngủ, bị mấy bà Tầm đè”.
Anh Năm Châu,Tám Kiết và chị Hai Nữ, ba người trao đổi nhau bằng ánh mắt, khiến cho chúng tôi tin là có chuyện gì đây. Anh Tám Kiết không muốn cho chúng tôi đoán mò lôi thôi nên mau miệng nói: “Tôi với Chị Hai Nữ nằm chiêm bao, thấy giống nhau nên kêu anh Năm dậy nói cho ảnh biết”
Chị Hai Nữ:
– Tôi thấy ông Tổ nói: “Tụi bây hát ế vì mấy con quỷ ở trên nóc rạp cản không cho khán giả vô coi hát. Tụi bây dọn đi chỗ khác hát hay là làm cách gì đuổi mấy con quỷ đó đi thì hát mới được”.
Anh Năm Châu:
– Bởi vậy, chúng tôi mới thắp nhang cám ơn Tổ Nghiệp đã báo mộng. Á Tường nói thấy mấy con đầm đó thì đúng là có người khuất mặt khuất mày phá mình rồi. Thôi, anh em đi ngủ đi, rồi mai sẽ tính.
Chúng tôi đốt nhang, xá ba xá, cắm vào lư hương trên bàn Tổ, rồi kéo nhau đi về chỗ của mình.
Đêm đó chúng tôi không ai ngủ được. Gần sáng có tiếng chạy rầm rầm trên sân khấu như tiếng vó ngựa. Giựt mình dậy thì thấy một con nai thiệt lớn đang đi loanh quanh trên sân khấu. Bà đồ hội đuổi, nó nhảy xuống khán phòng, bương chạy xô ngã nhiều hàng ghế trong rạp. Con nai đó là thú nuôi của ông chủ rạp, đêm đêm sau khi vãn hát, nó hay leo lên sân khấu, chạy rầm rầm, không cho ai ngủ yên.
Những ai ở Thủ Dầu Một trong những thập niên 1950 chắc còn nhớ, thuở đó có 3 con nai được nuôi trong thành phố. Một con nai của ông chủ rạp hát là ông Hiếu, nuôi sau rạp. Con nai này quen chỗ đông người, thường đi lảng vảng ngoài đường, vô rạp hát, vãn hát thì leo lên sân khấu. Các nghệ sĩ thường cho nó ăn chuối, có khi chia phần cơm của mình cho nó ăn.
Một con nai nữa là của ông Hương Hào Ty, một nhà giàu có ở Thủ Dầu Một. Ông Hào Ty có một khoảnh vườn rộng, làm thành một cái sở thú nhỏ, trong đó có nuôi con trăn thật lớn, chim trĩ gà rừng, gấu con và một con nai. Các đoàn hát lên hát ở Thủ Dầu Một thường mời ông bà Hào Ty coi hát, dành cho ghế danh dự nên được ông Hào Ty mời lại nhà, đãi đằng đáp lễ và cho vô coi sở thú nhỏ của ông.
Còn một con nai nữa, người nuôi đem bán lại cho ông bà Châu Văn Bê, lúc đó là chủ tiệm Nhựt Hưng, tiệm vàng và tiệm cầm đồ trong thị trấn. Ông Bê muốn nuôi nhưng bận việc kinh doanh, thành ra sau đó trả lại cho người chủ cũ.
Khi chúng tôi tìm đến ông Hiếu, chủ rạp hát để nói chuyện về hai bức tượng đặt trên nóc rạp thì ông Hiếu nói ổng có biết là quỷ nhập vô hai tượng đó. Ông nuôi con nai trong rạp là để trấn áp không cho quỷ vô rạp phá, vì có lý lẽ đó nên mới xin phép ông Tỉnh trưởng cho nuôi một con thú rừng trong thành phố.
Ống nói thêm:
– Đây là đất của Bà Thiên Hậu mà hai con quỷ còn dám ở đó thì biết là nó cũng thần thông quảng đại lắm. Tôi muốn “thỉnh họ” đi chỗ khác nhưng pháp sư ở đây chạy mặt hết trơn. Tôi đành để vậy đó.
Hồi xưa, người mình nhẹ dạ, dễ tin; họ tin là thần tiên, ma quỷ và con người có thể chung sống hòa bình với nhau trong một thành phố nhỏ. Vậy nên ở Thủ Dầu Một, hàng năm đúng vào ngày rằm tháng giêng, hàng trăm ngàn người dân của tỉnh này và các tỉnh lân cận, cả dân của Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định cũng đổ xô về Thủ để làm lễ cúng vía Bà Thiên Hậu.
Lễ diễn ra hai ngày, 14 và rằm 15, mỗi người đi lễ vía Bà cầm một cây nhang dài cả thước, có những cây nhang thật lớn, nhuộm đỏ có in hàng chữ Tàu bằng nhũ vàng.
Phải cần nhang lớn và dài như vậy vì người ta theo kiệu rước Bà, đúng giờ chiều ngày rằm tháng giêng, lễ rước Bà đi dạo phố, khởi hành từ chùa Bà đi quanh chợ Thủ, rồi qua chùa Ông, qua chùa Linh Không Đàm, rồi đi ngang chùa Thuận Thiên, xong quay trở về chùa Bà.
Con đường đi dạo phố của Bà chỉ như vậy, không dài lắm nhưng kiệu rước sắc phong của Bà phải đi từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya mới trở về đến chùa Bà.
Người dự lễ trùng trùng, điệp điệp. . .Ta cứ tưởng tượng, hàng bốn, năm trăm ngàn người, mỗi người đốt lên một cây nhang lớn, bốn năm trăm ngàn cây nhang đốt một lượt, khói hương có thể kết thành một đám mây, bay cao lên đến thiên đình. Hương trầm thơm nức mũi, tiếng niệm Nam Mô, tiếng kêu gọi nhau ơi ới, tiếng tu hít của cả ngàn trật tự viên thổi, dàn xếp một con đường cho kiệu Bà đi, tiếng trống chiêng của đoàn rồng (hai con huỳnh long và thanh long) tiếng trống múa lân của 5 con lân ngũ sắc, cộng với tiếng đàn, tiếng trống, tiếng chập chỏa của tám dàn bát cấu nghe thật là đinh tai điếc óc, bở vía kinh hồn.
Tám người mặc áo mão Kim Đồng, Tám Ngọc Nữ.
Hai ông địa, ba ông Phước, Lộc, Thọ. Hai chục người đi cà khêu, mặc quần áo đỏ, nẹp vàng, có chữ “Chốt” (lính) trên ngực hộ vệ quanh kiệu có sắc phong của Bà.
Dẫn đầu đoàn diễn hành là bàn để lư hương Bà với hơn chục người trật tự dội kết xanh bảo vệ, đề phòng dân đi cúng, nhào tới giựt ba cây nhang trên lư hương của Bà, vì họ cho là được cây nhang đó, được tro nhang đó là có thể trị bách bệnh.
Cuộc lễ vía Bà Thiên Hậu khí thế ngất trời.
Chùa Ông với ngựa Xích Thố trấn trước cửa cũng linh thiêng không kém.
Chùa Linh Không Đàm cũng có con Thần mã Bạch Long Cu được dân chúng tin tưởng, tới vái lạy, vuốt đuôi ngựa, sờ đùi ngựa rồi chà lên đầu mình để cầu phước.
Sở dĩ tôi nhắc tới lễ viá Bà Thiên Hậu và các sự linh ứng của bốn ngôi chùa lớn ở Thủ Dầu Một là để chỉ rõ rằng hai con Đầm quỷ ngự trị trên nóc rạp hát Thủ Dầu Một chắc cũng biết phép thần thông biến hóa, mới có thể ngự trị trên nóc rạp hát lâu như vậy mà không bị trục xuất đi nơi khác.
Ông Hiếu chủ rạp thì tự mình không dám làm gì động tới việc trục xuất hai con quỷ đó, nhưng ông không ngăn cản nếu như đoàn hát dám làm.
Anh Năm Châu tính dời đi rạp khác để hát. Tám Kiết, nguyên là học sinh trường Bá Nghệ, anh thường nói sắt thép cứng là vậy, nhưng anh đốt nung cho đỏ rồi thì dùng búa mà đập cũng đập dẹp được. Anh không chịu thua, anh dẫn anh Tường đi theo làm thông ngôn, tới chùa Ông để hỏi. Tôi, anh Hai kèn saxo, Hoàng Việt, ba người chúng tôi cùng đi theo.
Ông Từ chùa Ông cho biết:
“Hồi đó ngựa Xích Thố của Ông Quan Đế Thánh Quân để trước chùa, bị kẻ xấu dùng sơn đen quét lên mình, lên đầu đen thui. Đêm đêm ông nghe tiếng ngựa hí dữ dội và tiếng vó ngựa dậm trên nóc chùa nghe rầm rầm như là ngựa Xích Thố giận dữ.
Ông đốt đèn ra xem xét, phát hiện dấu sơn đen trên mình ngựa. Ông nói với Ban Trị Sự chùa, họ chịu làm lễ cúng và xuất tiền mua sơn, sơn lại màu Xích Thố như cũ. Từ đó hết nghe tiếng ngựa hí và tiếng vó ngựa dậm trên nóc chùa.”
Ông Từ nói thử sơn đen hình hai con đầm trên nóc rạp, con quỷ về nhận không ra hình dáng cũ của nó hay là nó thấy xấu quá, có thể nó sẽ bỏ đi nơi khác.
Anh Tám Kiết về nói cho anh Năm Châu biết lời của ông Từ chùa Ông như vậy.
Anh Năm Châu làm lơ, nói:
– Tùy dượng, dượng dám làm thì dám chịu.
Tám Kiết nói với ông Hiếu chủ rạp, ông Hiếu nói:
– Tôi đi Sàigòn vài bữa, anh muốn làm gì đó làm, coi như tôi không hay không biết gì hết.
Nói rồi ổng bỏ đi Sàigòn liền.
Nói thiệt trong bụng tụi tui cũng sợ, nhưng anh Tám Kiết dám đứng mũi chịu sào thì tụi tui cũng muốn làm tới, thử coi câu chuyện sẽ ra sao?
Sáng bữa đó, Tám Kiết cho xe đi quảng cáo hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt, quảng cáo luôn trưa có cúng Tổ và đờn ca tài tử tại rạp, mời dân chúng tới xem tự do.
Anh Tám Kiết cho họa sĩ Quyền dùng thang leo lên bôi dầu hắc lem luốc lên mặt hai hình nhơn, anh Gia lên bắt loa sắt ngay chỗ hai cây đờn và anh Tám đèn lên quấn hai giây bóng đèn màu quanh hai hình nhơn, để đèn cháy chớp tắt như đèn Noël.
Trong khi các anh thay đổi hình dạng hai con đầm ciment trên nóc rạp thì trước cửa, nghệ sĩ ca vọng cổ, hát trích đoạn cải lương cho bà con coi miễn phí.
Người dân trong khu phố tới xem, khách mua bán ở chợ cũng tới xem và họ vô mua giấy để tối xem hát. Chuyện không ngờ đã xảy ra, mới gần năm giờ chiều vé hát đêm đó đã bán hết sạch.
Từ đó đến cuối tuần, đêm nào cũng bán vé complet, anh em trong đoàn phấn khởi.
Ông chủ rạp đi Sàigòn về, kêu Bầu Năm Châu ở hát thêm một tuần lễ, ông chỉ lấy phân nửa tiền rạp mỗi xuất hát, gọi là tưởng thưởng anh em trong đoàn đã giúp cho ông làm hồi sinh lại rạp hát của ông.
Mấy mươi năm sau, chúng tôi vẫn hay nhắc lại câu chuyện của hai con đầm quỷ trên nóc rạp Thủ Dầu Một. Không ai hiểu là có quả thật có hai con quỷ đó không? Không ai biết là có phải vì sơn mặt mày nó khác đi là nó không về nhập vô tượng đó? Hay vì đoàn khéo quảng cáo tuồng mà hát đắt khách ở những ngày sau?.
Chỉ biết một điều là sau đoàn Việt Kịch Năm Châu, ca đoàn hát khác tới rạp Thủ Dầu Một hát cũng được đông khách, khác hẳn với trước kia. Và ông Hiếu chủ rạp đã cho chở con Nai vô rừng phóng thích, cho thú rừng trở về rừng vì ông Hiếu nói không cần dùng Nai để trấn ếm tà ma nào nữa.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 20 Nov 2024

  1. Nhân vật “hề” trên sân khấu cải lương
    Hát bội và hát cải lương là hai loại hình nghệ thuật sân khấu gần gũi nhau, có nhiều ảnh hưởng tác động lẫn nhau nên tôi nghĩ khi bàn về nhân vật Hề trên sân khấu cải lương, cũng cần nói phớt qua về nhân vật Hề trên sân khấu hát bội.
    Năm 1955, tôi là soạn giả của đoàn cải lương Thanh Minh, đoàn nầy diễn thường trực tại rạp Thành Xương, đường Yersin. Bên hông rạp Thành Xương là đình Cầu Quan, nơi đoàn hát bội Bầu Thắng hát thường trực, do đó tôi có nhiều dịp xem hát bội và làm quen với các anh Minh Tơ (cha của nghệ sĩ Thanh Tòng), anh Thành Tôn (cha của Nghệ sĩ Bạch Lê) và nhiều diễn viên thời danh ngành hát bội.
    Qua anh Thành Tôn, tôi có nhiều dịp đến Hội Khuyến Lệ Cổ Ca, được trò chuyện và học hỏi với nhà nghiên cứu sân khấu tuồng cổ là ông đốc phủ Đỗ Văn Rỡ và đệ tử của ông là nghệ sĩ kiêm soạn giả Đinh Bằng Phi.
    Theo học giả Đỗ Văn Rỡ, tuồng hát bội có thể phân loại như sau.
    – TUỒNG THẦY, còn gọi là tuồng cổ có các vở: Sơn Hậu, Tam Nữ Đồ Vương, Giác Oan, Dương Chấn Tử, Đào Phi Phụng, Lý Phụng Đình, Hồ Thạch Phủ…
    – TUỒNG CUNG ĐÌNH có các vở do các quan lại triều Nguyễn sáng tác: Võ Nguyên Long, Đảng Khấu Chí, Vạn Bảo Trình Tường, Quần Phong Hiến Thụy…
    – TUỒNG VĂN THÂN do các văn thân sáng tác khoảng cuối thế kỷ 19 như các vở: Kim Thạch Kỳ Duyên, Hộ Sinh Đàn, Phong Ba Đình…
    – TUỒNG PHO là những vở được sáng tác dựa theo các pho truyện của Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Tiết Nhơn Quí chinh đông, Tiết Đinh San chinh tây. . .Mỗi pho gồm nhiều vở nối tiếp, diễn liên tục hàng chục đêm không hết. Như pho Tam Quốc Chí có các vở:
    – 1# Hội Bàn Đào Lưu Quan Trương kết nghĩa.
    – 2# Tam Anh Chiến Lữ Bố.
    – 3# Phụng Nghi Đình,
    – 4# Quan Công đấp đập bắt Bàng Đức.
    – 5# Quan Công Thất Thủ Hạ Bì.
    – 6# Quan Công phò Nhị Tẩu
    – 7# Trương Phi thủ Cổ Thành.
    – 8# Tào Tháo thất Xích Bích…
    – TUỒNG ĐỒ là loại tuồng hài hước, châm biếm do dân gian sáng tác và diễn ở làng xã mỗi khi có hội hè. Thường thì không thấy nhắc đến tên soạn giả, vì đó là sự góp nhặt qua nhiều bài hát vè, qua nhiều câu chuyện vui rồi dần dần được chỉnh đốn thành một vở hát như các tuồng đồ còn lưu truyên hiện nay là vở Nghêu Sò Ốc Hến, Trương Đồ Nhục, Trần Bồ ….
    Nhân vật trong tuồng đồ thường có địa vị xã hội từ quan huyện trở xuống, các thầy thư lại, lý xã, các ông sư, thầy bói thầy cúng, các bà vợ đánh ghen, các vai cường hào ác bá…
    Nhân vật trong các vở Tuồng Thầy, Tuồng Cung Đình, Tuồng Pho đều là những nhân vật phong kiến, vua quan. Nội dung các loại tuồng nầy có thể tóm tắt như sau:
    “VUA BĂNG, NINH TIẾM, BÀ THỨ LÊN CHÙA,
    “CHÉM NỊNH, ĐỊNH ĐÔ, TÔN VUƠNG, TỨC VỊ.”
    Chuyện xảy ra trong đời sống cung đình, có khi ở biên ải hoặc tư dinh các quan văn tướng võ. Thỉnh thoảng có nơi rừng núi, chùa chiền hoặc quán xá bên đường chạy loạn hoặc khi phục nghiệp. Do nội dung xoay quanh chuyện tranh đoạt và bảo vệ ngôi vua, soạn giả tuồng hát bội ngày xưa thường là các danh nho, các quan chức triều đình theo quan điểm trung với vua, giữ phong cách nhà nho Khổng Mạnh, chiếu lệch không ngồi, nói năng đi đứng chững chạc mới ra người quân tử, do đó các soạn giả tuồng cổ thời đó đã không sáng tạo ra những nhân vật Hề trong tác phẩm của mình.
    Trong những thập niên 1920, 1930, 1940… những vở tuồng hát bội hát nhơn các dịp cúng đình, cúng kỳ yên, cúng Cá Ông …không có nhân vật Hề.
    Đi xem hát bội, người ta thích các lớp tuồng bi hùng như lớp Đổng Kim Lân và Khương Linh Tá vào ngục cứu mẹ con thứ phi Phượng Cơ, bị Tạ Ôn Đình phát hiện đuổi theo. Linh Tá đoạn hậu cho Kim Lân đưa thứ phi thoát nạn. Linh Tá bị Ôn Đình chém đầu. Linh Tá bị chém đứt đầu nhưng vẫn đứng lên, xách đầu mình chạy theo Kim Lân, dẫn bạn đi đường tắt qua hẻm núi để cứu thoát thứ phi.
    Sau những lớp tuồng hùng tráng hay bi thiết, để thay đổi “không khí” cho bớt căng thẳng, một hay hai vai hề xuất hiện, bằng tài năng riêng, anh xử dụng ngôn ngữ, đối thoại, hành động và cử chỉ tạo ra những tràng cười cho cả rạp. Những lớp diễn nầy không liên quan tới nội dung tuồng đang diễn chỉ cốt tạo ra tiếng cười cho khán giả, giúp cho người xem trở lại trạng thái bình thường trước khi xem tiếp những xung đột khốc liệt khác sẽ xảy ra trên sân khấu.
    Có vài lớp hề Diễn Ngoài Màn mà đến nay tôi còn nhớ, xin thuật lại để các bạn hình dung được lối diễn hề của hát bội xưa. (do hề Thiệu Của và nữ nghệ sĩ Mộng Lành đoàn hát bội Bầu Thắng diễn):
    Lão Trượng (hề Thiệu Của)
    Ớ…ớ cô lái đò ơi …..
    Bao giờ bến mới gặp đò
    Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau ?
    Tiên Bửu (đào Mộng Lành) (nói hướng về phía khán giả)
    Ôi! trời ơi! Lời tục có nói: Ra đường gặp gái là xui, bữa nay mình gặp cái ông già tuổi Mùi, hỏng biết có phải là quá xui hông đây?
    (nói với lão trượng)
    Ớ…ông già ơi, ông già…
    Chồng con chi nữa ngầy ngà
    Vai mang chuỗi hột áo dà đi tu.
    Lão trượng (đáp) …
    Tu đâu cho bằng tu đây,
    Tu chùa một cột, đá xây hai hòn.
    Tiên Bửu:
    ……..Thân tôi khác thể chuông vàng,
    Ở trong thành nội một ngàn quân canh.
    Lão Trượng: (đáp)
    ……..Thân qua như thể cái dùi,
    Có lệnh chỉ phán , giờ mùi giọng chuông.
    Tiên Bửu:
    …….. Thân tôi khác thể giường ngà,
    Thân ông chiếu rách, người mà ngồi trên.
    Lão Trượng: (đáp)
    ……..Nhờ trời thiên hạ đứng lên,
    Gió xuôi thổi chiếu phủ trên giường ngà.
    Tiên Bửu: (nói hướng về phía khán giả)
    Ơ cái ông già dê đạo lộ, mình nói khó cách chi, ổng cũng đáp nghe xuôi rót….ờ…ờ …mình cứ chê ổng già, coi ổng nói ra làm sao.
    Bớ ông già ơi…
    Ông già, tôi không muốn ông đâu,
    Ông đừng cắc cớ cạo râu đau hàm.
    Lão Trượng: (đáp)
    Bớ cô lái đò ơi…
    Ơ…Ơ….con tôm, con tép nó còn có râu,
    Cớ chi em bậu câu mâu sự đời?
    Tiên Bửu
    ……..Ớ ông ơi …
    Ông già kia hởi ông già,
    Cái răng ông rụng, tôi mà thèm đâu.
    Lão Trượng (đáp)
    ……..Ơ bậu ơi…Thời nghĩ lại đó mà coi…
    Thương nhau vì đậm vì đầy,
    Cắn rứt chi đó mà nài hàm răng?
    Khán giả cười nghiêng ngả dù họ đã xem các lớp hài nầy quá nhiều lần, thậm chí có người thuộc cả lời thoại, diễn viên xướng, họ cũng xướng theo. Giữa khán giả và diễn viên dường như không còn khoảng cách nữa. Dứt lớp hài diễn ngoài màn nầ y, khán giả lại nghiêm chỉnh xem tiếp các lớp tuồng chính của đêm hát đó.
    Theo lời nghệ sĩ Thành Tôn, khoảng nửa thập niên 1930, hát bội mất dần khán giả vì nghệ thuật hát cải lương phát triển. Bên hát bội có tuồng nào thì bên hát cải lương cũng có tuồng đó.
    Ví đụ các tuồng: San Hậu, Phụng Nghi Đình, Võ Tòng Sát tẩu, Phụng Kiều Lý Đáng…bên hát cải lương: y quan, tranh cảnh đều rất đẹp, lại có ca cổ nhạc, có các vai hề sáng tác theo từng cốt truyện tuồng khiến cho đêm diễn tạo được sức hấp dẫn; khán giả được nghe mùi mẫn các bài ca cổ nhạc, được cười thỏa thích với các vai hề, được vui buồn theo số phận nhân vật tuồng mà đa số tuồng cải lương đều có cốt truyện eo le, gay cấn.
    Bầu gánh hát bội Phước Long Ban là thân phụ của nghệ sĩ Thành Tôn, sau khi xem hát cải lương ở rạp Thầy Năm Tú ở MỹTho (1935), bèn lấy các điểm hay học hỏi được bên hát cải lương về áp dụng cho ban hát bội của mình. Phước Long Ban là gánh hát bội đầu tiên lấy bảng hiệu “Hát Bội Pha Cải Lương”, hát có tranh cảnh, y trang đẹp như các đoàn cải lương, thay cho cách dàn cảnh tượng trưng, ước lệ của lối hát bội chánh cống; dàn nhạc gánh Phước Long Ban, ngoài các lối hát Nam, hát khách, xướng… có dùng một số bài bản cải lương như xang xừ líu, khốc hoàng thiên, ngũ điểm bài tạ.. . nhưng thay vì chỉ đàn bằng các thứ đàn như cải lương (kìm, cò, gáo) ông Bầu cho thêm bộ gõ như mõ, sanh tiền, trống và đồng lố, gõ nhịp theo câu đờn. Bản ca của sân khấu cải lương tuồng cổ vì có mang âm hưởng nhạc của các tuồng Tàu.
    Dàn nhạc dùng kiểu nầy hướng dần lối hát bội pha cải lương sang địa hạt cải lương Hồ Quảng sau khi thêm một số các bản nhạc Đài Loan.
    Về nhân vật Hề thì đoàn Phước Long Ban cũng bỏ hẳn lối Hề Diễu Ngoài Màn, mà mướn soạn giả sáng tác thêm một số nhân vật Hề dính ít nhiều tới cốt chuyện tuồng.
    Đó là các vai thể nữ (nữ hề theo hầu Hoa Mộc Lan) các vai hề đồng, công tử bột, chủ quán, thầy pháp, thầy bói, thầy cúng, các ông sãi mầm dựa theo nguyên tắc cấu tạo lớp hài của kịch Tây Phương và cải lương thường xử dụng. Những nhân vật hài có tính cách mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm, mâu thuẫn trong chức vị và đời sống thường ngày và các diễn viên hề sẽ dùng biệt tài về cách biểu diễn hình thể, nói năng có duyên và ngôn ngữ hài để làm nổi bật cái mâu thuẫn cố che đậy kia để làm bật lên những tràng cười cho khán giả. Sư ông ăn chay niệm phật luôn mồm mà dê gái suồng sã rồi trở lại bộ mặt giả đạo đức (vai Cổ Ngu trong tuồng San Hậu), quan huyện miệng nói thanh liêm mà ăn hối lộ (tuồng Thất Hiền Huyến), quan huyện và thầy đề lại oai quyền húng hiếp dân mà lại quá sợ vợ (tuồng Nghêu Sò Ốc Hến), tên tướng dốt hay nói chữ Mạnh Lương trong tuồng Mộc Quế Anh)
    Trong thời kỳ khởi đầu lối Hát bội pha cải lương, có một bài hát diễu của anh chủ quán bên vệ đường trong vỡ “Võ Tòng Sát Tẩu”, xin nhắc ra đây, xem như tài liệu ghi nhận sự làm sai lạc lối hát bội truyền thống.
    Chủ quán ca: (ngũ điểm bài tạ)
    Bên Tàu là ngộ bên Tàu,
    Bên Tàu là ngộ mới qua,
    Qua Nam Việt bán buôn làm giàu,
    Ngày trước ngộ có cây đòn gánh,
    Chè lỗ, ngộ đi bán mì khô.
    Đủ dư xực, có đâu dư xài?
    Đủ xài là mấy năm nay,
    Ở Nam Việt nổi danh ngộ làm giàu.
    Giàu có thiếu chi mèo chó!
    Giàu có biết mấy là cô ……
    (còn một câu,tôi quên …. )
    Sau Phước Long Ban, các ban hát bội khác cũng noi theo, cố sao cho ban hát của mình cũng có được một danh hề. Tôi còn nhớ được một số danh hề mà tôi có dịp làm quen:
    – Gánh Thành Hưng Ban của Bầu Ban có Hề Bảy Bông;
    – Gánh Quốc Bửu Ban của Bầu Hiền (Sa Đéc) có Hề Ba Trăm;
    – Gánh Tấn Thành Ban của Bầu Cung (Cầu Muối) có Hề Ba Mách;
    – Gánh Vĩnh Xuân Ban của Bầu Thắng (đình Cầu Quan) có Hề Thiệu Của, sau đó có thêm Hề Châu Kỷ.
    – Các gánh Công Thành, Nghĩa Hiệp, Phước Thành có các anh: Hề Tám Cảnh, Hề Hai Thu, Hề Sấu Hoa, Hề Sáu Nha.
    Các danh hài hát bội nêu trên đã tạo không khí tươi vui, tưng bừng rộn rã cho lớp diễn, gây những tràng cười vỡ rạp. Tuy nhiên họ chỉ hát trong những xuất hát ở rạp với lối diễn hát bội pha cải lương. Khi đoàn hát chầu, hát cúng đình, cúng Ông. .. thì đoàn hát hát đúng theo truyền thống hát bội, không dùng các bài bản cải lương và hề trong tuồng như vừa mới kể. Lớp Hề Ngoài Màn lại được đem ra dùng trong những trường hợp này.
    Nghệ thuật Hát Bội là nghệ thuật tượng trưng, ước lệ nên nhân vật Hề chỉ được xây dựng và biểu diễn hạn chế trong một khuôn khổ nhứt định.
    Trái lại nghệ thuật sân khấu cải lương sanh sau đẻ muộn, thừa hưởng được kinh nghiệm của hát bội, của Hí khúc và Kinh kịch Trung Quốc, của Hài kịch và Bi kịch Pháp, Anh, và cả của nghệ thuật điện ảnh nên nhân vật Hề trên sân khấu cải lương thật là phong phú, đa dạng. Có thể mượn một câu nói khái quát: “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” để nói về tình trạng lạm phát vua hề, trạng hề, danh hề, quái kiệt, nữ quái hề, nhất là hề quậy trên sân khấu tấu hài, vidéo hài trong thời kỳ “mở cửa”, “tiếp thị kinh tế thị trường” như hiện nay.
    Trong những thập niên 1920, 1930, 1940… Hề trên sân khấu cải lương tạo những trận cười nhẹ nhàng, ý nhị, trào lộng bằng cách châm biếm những thói hư tật xấu của một số tầng lớp nào đó trong xã hội như: các ông bà nhà quê lên tỉnh, các ông nhà giàu hống hách, dốt hay nói chữ, ông Hội đồng dê mà sợ vợ, thầy pháp trị bịnh tà ma, dối thế gạt dân… và thủ pháp diễu hề chính yếu là dựa vào nội dung kịch bản, về diễu hình thể thì nói giọng cà lăm, hoặc hơi nhừa nhựa, quần áo mặc xốc xếch, ống cao ống thấp. . . ngoài ra cũng có lối diễu có trí tuệ hơn thể hiện được tính cách hài của nhân vật. Có thể kể bốn diễn viên hài tiêu biểu của thời kỳ này: Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Củi, Hề Ba Vân.
    Hề Tư Xe là cha của Hề Vui (đoàn cải lương Sài gòn 3) và là ông nội của nữ diễn viên kịch nói và điện ảnh Kim Xuân.
    Hề Tư Xe ốm, cao lêu nghêu, có tài bắt chước giọng nói của người khác, bắt chước tiếng chim tiếng thú. Anh đã diễn tả xuất thần một thằng Út ngẩn ngơ khờ dại (vai Lôi Nhược trong tuồng cải lương San Hậu) lấp ba lấp bấp bên bà chị Tam cung Nguyệt Kiểu rất là buồn cười và dễ thương, nhất là khi anh cà lăm ca vọng cổ, cứ tưởng sẽ ca rớt nhịp khi mà còn vài chữ chót, anh cà mà cà mập, lắp ba lắp bắp, khán giả lo cho anh thì anh đã nhào phóc vô, xuống đúng nhịp song lang. Khán giả thở phào nhẹ nhỏm, Tư Xe cũng vuốt cổ vuốt ngực như vừa mới hết ngộp hơi, mắt nheo nheo với khán giả, vừa cám ơn vừa tự hào mới thoát nạn, khán giả khoái quá vỗ tay ào ào.
    Hề Tư Xe còn có giọng ca tốt, ca sĩ nổi tiếng trong hãng Asia của thầy Năm Mạnh. Anh đóng vai Tống Thái Tổ trong bộ dĩa “Trảm Trịnh Ân”, vai Trụ Vương trong bộ đĩa “Mổ tim Tỷ Can”.
    Ca vọng cổ cà lăm không phải dễ, ai yếu nhịp, khó mà ca hay. Thời đó có ca sĩ Hồng Châu ca hài hước trong bộ dĩa “Cộp… cộp, bonjour thầy Ba” của hãng đĩa Asia.
    Hề Lập trong tuồng “Lý Chơn Tâm cỡi củi” cũng dùng thủ pháp nói chuyện và ca cà lăm, thủ vai anh chàng tiều phu trên rừng, tình cờ cứu nàng công chúa đang bị bọn gian thần truy sát. Anh đỡ công chúa ngồi trước trên bó củi, anh ngồi phía sau, hô câu thần chú để bó củi bay lên…kẻ thù đã đuổi tới trước mặt, vừa đánh vừa đâm. Lý Chơn Tâm vừa đỡ vừa hô câu thần chú, nhưng anh cứ cà lăm…hô ..hô hoài mà hỏng nói được tiếng “bay”.
    Công chúa lo sợ, ôm anh cứng ngắc, thúc dục: “Nhà ngươi hô cái gì, hô đại đi…”
    Lý Chơn Tâm cũng còn cà lăm, (có lẽ vì được người đẹp ôm cứng, khoái quá chưa muốn bay đi) bỗng anh bị kẻ thù đánh một gậy lên lưng quá đau, anh thét lớn: “Ấy da… Bay!..
    Bên trong các anh dàn cảnh kéo giây bay, giựt mình vì tiếng thét của anh, ra sức kéo thật mạnh. Hề Lập và công chúa bay cái rẹt, bó củi dưới chân chưa kịp kẹp chặt, rớt xuống nghe cái rầm…bọn gian thần giựt mình nhảy nai, có kẻ la…trời sập … trời sập…bỗng thấy Lý Chơn Tâm chạy ra, ôm bó củi, vừa chạy vô buồng vừa nói: “Bó củi thần, phải lấy để lát nữa bay chớ…”
    Màn hạ nhanh, khán giả xì xào cười nói, hỏng biết bó củi thần rớt khi nảy là hữu ý hay do tai nạn nghề nghiệp. Tuy nhiên vì tạo được cái cười bất ngờ đó mà các lần diễn sau, ở lớp cứu công chúa, bó củi luôn luôn để rớt xuống và Hề Lập chạy bộ ra lượm lại, ôm bó củi chạy vô mới bỏ màn.
    Hề Tám Củi tên thật Triệu An, nổi danh một lượt với các anh Năm Châu,Tám Danh, Ba Du, TưXe, Hai Giỏi, Tư Mẹo.
    Hề Tám Củi nhỏ con, hơi hô, mỏ nhọn, nói cười liếng thoáng.
    Anh cũng có biệt tài bắt chước giọng nói của người khác, khi anh nhái theo giọng Tiều, giọng Quảng, giọng Miên thì khó mà phân biệt với người dân chánh gốc nước đó.
    Nhớ về anh, tôi không quên được lần đoàn Phát Thanh hát ở rạp Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho, lúc đó gánh Phát Thanh hát nhiều loại tuồng của soạn giả Mộng Vân, nhưng do người mua giàn hát yêu cầu hát tuồng Tàu “Âm Dương Trận” bầu Tỷ còn do dự chưa dám nhận, Tám Củi xúi nhận ngay vì tiền bán giàn khá cao.
    Bầu Tỷ biết Tám Củi từng hát qua tuồng nầy nên giao anh trách nhiệm làm biện tuồng, phân vai và nói lớp hát cương. Tám Củi và anh Tám Đèn nhận trước một số tiền coi như lương đúp (lương đôi). Anh Tám Đèn liền đi mua pháo, vấn thành những hột nổ có pha khói màu và bố trí trên sân khấu, sát dàn đèn ngoài và rải rác khắp sân khấu, để khi phá âm dương trận, anh nhấn nút điện là pháo nổ, tăng thêm phần gay cấn và hồi hộp cho màn kết thúc này. Và để tự thưởng công, anh mua nửa lít đế Gò Đen và vài con khô sặc để lai rai khi vản hát.
    Anh Tám Củi đi đánh số đề thua cháy túi. Cũng cần biết Tám Củi ghiền rượu, đêm nào trước xuất hát cũng phải nhậu ít ra nửa xị mới có hứng. Đêm đó, Tám Củi thủ vai Phùng Mậu, vâng lịnh nguyên soái, dùng phép độn thổ vô dinh công chúa Ngại Ngân Bình để ăn cắp bảo bối đi phá trận.
    Tám Củi gần tới lớp ra tuồng mà có vẻ như chẳng quan tâm, anh nhìn lom lom chai rượu đế của Tám Đèn, liếm mép liếm môi…
    Tám Đèn thấy vậy nói: “Củi, tới lớp của mầy kia”.
    Tám Củi phóng tới, chớp chai rượu của Tám Đèn rồi chạy ào ra sân khấu, vừa đi ngã tới ngã lui, vừa uống rượu, hát:
    Vạn hộc tình hoài nhược khát,
    Tam canh hạo nguyệt đương đầu,
    Chi cho bằng… Mượn tửu binh đả phá thành sầu
    Vầy một tiệc ngỏ khuây bụng tưởng.. ·
    Hát xong anh cầm chai rượu, tu một hơi dài. Tám Đèn bên trong nhắc nhỏ:
    “Chừa cho tao với, cái thằng ông nội”…
    Tám Củi cố uống, lải nhải hát:
    “Nguyên soái hạ lịnh cho ta dùng phép độn thổ vô tư phòng của công chúa Ngại Ngân Bình để đánh cắp bảo bối hầu đi phá Âm Dương trận. Bây giờ rượu đã cạn… âu là ta niệm chú, thi triển riến phép mầu… Ám ma ni bát di hồng… hô biến!”
    Anh dậm chân xuống sàn sân khấu một cái mạnh.
    Theo lẽ thường khi niệm chú xong, có hiệu dậm chân thì anh Tám Đèn cúp điện, đèn tắt, Tám Củi chạy núp vô cánh gà là coi như đã độn thổ. Lần nầy tức vì Tám Củi lấy chai rượu của mình, Tám Đèn không thèm tắt đèn, Tám Củi thấy còn đèn sáng, không chạy vô buồng được, tưởng Tám Đèn quên lớp tuồng, bèn hô thần chú, dậm chân độn thổ nữa.
    Tám Đèn vẫn trơ trơ, cười trừ.
    Tám Củi lính quýnh phải cương: “Chỗ nầy là ván…(anh dậm chân chỗ khác) chỗ nầy là cây… Ta say quá quên câu thần chú độn mộc… nếu không độn được, âu là ta chạy bộ..”
    Anh chưa kịp chạy, Tám Đèn bật hết các công tắc điện, pháo và khói màu nổ liên tiếp quanh Tám Củi, khiến cho anh ta nhảy cà tưng như khỉ mắc phong, cái áo cháy xém, mặt mày khói pháo khói màu làm bỏng rát, túng quá anh nhào đại xuống phía khán phòng, té chúi nhủi vô mình một bà khá sang trọng.
    Tám Củi quýnh quá, sợ bị la, bèn hét lớn: Má ơi, cứu con ….
    Khán giả cười vỡ rạp khi thấy Tám Củi nhảy nai, té lên té xuống, rồi lọt xuống khán phòng. Ông Bầu Tỷ cũng hết hồn, tưởng xảy ra tai nạn, tới xin lỗi vị khán giả nọ.
    Bà cười: “Chú Phùng Mậu lộn đường rồi, tư phòng của công chúa ở trên kia kia “.
    Khán giả vỗ tay hoan nghinh bà khán giả rộng lượng.
    Lớp sau Phùng Mậu không niệm chú độn thổ nữa, mà anh niệm hết câu Ám ma ni bát di hồng, thay vì anh hô biến, anh nói thôi khỏi độn, để đi bộ, chắc ăn hơn, rồi anh chạy vô buồng.
    Hề Ba Vân thì có nhiều nét đặc sắc hơn, anh được giới báo chí kịch trường và khán giả ái mộ tặng cho danh hiệu Quái Kiệt trong làng diễu hài. Thực sự anh Ba Vân không chỉ là một diễn viên giỏi về Hài mà còn là một nghệ sĩ tài năng bậc nhất của cải lương. Những vai để đời của anh không phải chỉ là những vai Hài mà còn là những vai chính diện trong các bi kịch hoặc bi hùng kịch như vai Phê (tuồng Khi người điên biết yêu) vai Dũng ghiền (tuồng Vó ngựa truy phong) vai Ngũ Tử Tư (tuồng Tây Thi gái nước Việt), vai Tám Khoẻ (Người ven đô).
    Mặc dù các nhân vật kịch đó đã được các tác giả chăm sóc kỹ về mặt tâm lý, tính cách, ngôn ngữ, nhưng phải nhận rằng nhờ có diễn xuất tài tình của Quái Kiệt Ba Vân mới làm cho các nhân vật đó có một sức sống mạnh, có tính cách thuyết phục, khiến cho khán giả không thể nào quên.
    Đã có nhiều tài danh sân khấu cải lương khác đã thử diễn qua các nhân vật kể trên nhưng không có ai hát hay hơn hoặc bằng anh Ba Vân.
    Mỗi khi nhắc tới các vai kịch như Phê, vai Dũng ghiền, vai Ngũ Tử Tư, bắt buộc dân ái mộ cải lương phải nghĩ tới tài nghệ đặc biệt của Quái kiệt Ba Vân.
    Anh Ba Vân nghiên cứu nhân vật rất kỹ, từ ngoại hình đến tính cách nhân vật, cả đến nội tâm nhân vật, anh cũng phân tích chi li với tác giả để nắm bắt được những điểm cốt lỏi cần thể hiện ra bằng ngôn ngữ hoăc bằng lối diễn hình thể.
    Thủ vai Phê (Khi người điên biết yêu) anh đã theo dỏi quan sát một người điên suốt ngày, rồi anh lên bệnh viện tâm thần Biên Hòa nghiên cứu từng điệu bộ, từng cử chỉ rồi về nhà đứng trước kiếng, tự biểu diễn một mình. Đó chỉ là ngoại hình, anh lại nghiên cứu về nguyên nhân và tâm trạng người điên như người điên bẩm sinh thể hiện ra sao? người điên vì tình ra sao? người điên uất ức vì thời cuộc thể hiện ra sao?
    Đi từ sự nghiên cứu sâu tâm trạng nhân vật, anh Ba Vân tìm ra cách diễn sao cho lột tả đúng tính cách nhân vật nên ở anh không có sự trùng lắp trong diễn xuất, không có sự cẩu thả gượng ép, bê nguyên xi các vai diễn thành công ở vở tuồng nầy áp dụng qua tuồng khác như một số diễn viên đã làm.
    Theo Ba Vân trong “Kể chuyện cải lương” thì “BẤT NGỜ” là một thủ pháp gây cười.
    Anh nói: “Tôi đã nghiên cứu logic của sự nghịch lý được thể hiện qua cách nói, điệu bộ, sắc diện để gây cho khán giả những bất ngờ thú vị. Đóng Hài là phải gây được tiếng cười mà thành công thật sự lại là Dư Âm sau tiếng cười. Phải diễu thế nào cho khán giả càng suy nghĩ càng tức cười mà về nhà nhớ lại vẫn còn cười.”
    Bốn diễn viên Hài tiền phong giờ đã ra người thiên cổ, nhưng mỗi khi nhắc tới các danh hài cải lương, nhắc tới các vở tuồng nổi danh thời trước, bốn tài năng Hề Tư Xe, Hề Lập, Hề Tám Củi, Quái Kiệt Ba Vân như những tên khắc trên bảng vàng chói lọi của lịch sử cải lương miền Nam.

Chuyện tình buồn

Lê Hồng Minh
Posted on August 31, 2024 by Lê Thy
(nguồn: phamtinanninh.com)

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

Trước tiên xin được nói ngay: người thiếu nữ trong tấm hình đăng kèm bài này, đó chính là chị Nguyễn Thị Túy thời trẻ, nguyên mẫu của nhân vật “em” trong ca khúc “Chuyện tình buồn” (nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Phạm Văn Bình). Hình này do chị Túy gởi cho mình!
Mọi người đã quá biết “Chuyện tình buồn” là một trong những bản nhạc tình rất hay và cực kỳ lãng mạn của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Câu chuyện trong bài thơ hay bài hát đều kể về một thanh niên có gia đình theo đạo Phật, đem lòng yêu một cô gái rất đẹp theo đạo Công giáo. Hồi đó, những câu chuyện như thế này là không hề thiếu, và chắc chắn là luôn gặp phải trắc trở vì bị cả hai gia đình, thậm chí cả dòng họ ngăn cấm tới cùng!
Tôi được nghe ca khúc này lần đầu quãng những năm 1984–1985, khi vừa mới lớn. Từ đó đến cách đây 1 năm (năm 2023), vì nhiều lý do, có lúc tôi quên khuấy khúc ca mà mình đã từng thích ấy, hoặc cũng “5 thì 10 họa” mới có dịp nghe lai bản nhạc này. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ trong vòng 1 năm trở lại đây thôi, đã có quá nhiều điều, nếu nói là tình cờ ngẫu nhiên cũng được, mà nói là nhân duyên cũng đúng, đã đến với tôi, xoay quanh “Chuyện tình buồn”.
Ngày 1/4/2023, cách đây chẵn chòi 1 năm, tôi về vùng Cù Bị (Đồng Nai) nơi có nhiều cánh rừng cao su bạt ngàn chơi, dừng xe máy chụp cái hình đăng Facebook. Lát sau thấy cậu bạn thời niên thiếu bình luận vui “Anh một đời rong ruổi”. Chuyện tưởng tới đó rồi thôi, ai dè lại là khởi nguồn của nhiều điều kỳ lạ.
Tới ngày 4/4/2023, tôi đọc được một bài viết trên Facebook có thêm nhiều thông tin về những người có liên quan tới nhạc phẩm này. Ngứa nghề, nên tôi có viết “Chuyện tình buồn 5 năm rồi không gặp”, ban đầu đăng báo… Facebook, sau được tờ saigonnhonews bên Hoa Kỳ đăng lại.
Ngày 5/4/2023, tài khoản “Tuy Nguyen” liên lạc, lúc đó mình mới biết đó là chị Nguyễn Thị Túy – nguyên mẫu trong “Chuyện tình buồn” quá nổi tiếng, khi chị nhắn “Chị đọc bài viết của em, chị có cảm tưởng như em đang ở trong nhà chị hoặc nhà anh Bình. Em thân với anh Bình hay sao?” Chị Túy tưởng mình là người cùng thời, hoặc bà con, thậm chí có thể là người quen thân gia đình anh Bình, song thật sự không phải vậy. Tôi chỉ là kẻ hậu sinh, mọi thông tin để viết nên bài ấy, lớp tôi lục tìm tư liệu, lớp tôi hỏi thêm những người cùng thời với anh Bình, chị Túy, mà biên ra thôi.
Và kể từ đó, tôi và chị Túy, từ 2 người cách xa về tuổi tác, chẳng hề quen biết và cũng ở xa nhau đến nửa vòng trái đất, đã trở nên thân quen, thường hay hỏi thăm nhau.
Tới hôm nay, 1/4/2024, đúng 1 năm sau ngày “Chuyện tình buồn” được gợi nhớ lại, tình cờ chị Túy lại gọi điện từ Hoa Kỳ về nói chuyện với tôi!
Chị Túy kể, anh Phạm Văn Bình và chị có nhà ở chung trong một con hẻm trên đường Phan Bội Châu, thị trấn Đông Hà. Chị Túy có người anh trai là bạn cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Nhiều lần gặp gỡ, nói chuyện, lại thấy người thiếu nữ này quá đẹp, học hành đàng hoàng (chị Túy không học ở Đông Hà mà học ở Huế), lại dễ nhìn, nên Phạm Văn Bình ưng quá ưng mà đem lòng yêu đương. Khi họ yêu nhau, có người ở Đông Hà ngày ấy nói rằng đôi trẻ quấn quýt không rời.
Đến giờ cũng không có nhiều người biết câu chuyện tình của thi sĩ Phạm Văn Bình và người thiếu nữ trong ca khúc “Chuyện tình buồn” này chớm nở từ lúc nào, nhưng lúc họ chia tay, có lẽ vào quãng giữa thập niên 60 của thế kỷ XX! Cũng có người phỏng đoán rằng năm 1963 anh Phạm Văn Bình 23 tuổi và chị Tuý mới 16 tuổi nên cũng có thể họ đã yêu nhau trong khoảng thời gian này.
Nhưng tôn giáo đã khiến họ phải xa nhau. Không lấy được anh Bình, lúc đó chị Túy đứng trước sự “tấn công dữ dội” của nhiều chàng trai, trong đó có một anh liên hồi hối thúc quá dữ dù khi ấy chị còn đi học và chỉ mới cỡ 18 tuổi, như chị nói “hồi đó chị nhác học và chỉ ưa đi chơi”. Lấy chồng xong đẻ con tới tới, nên tấm hình mà mọi người vừa xem, lúc đó đã “tay bế tay bồng” rồi. Phạm Văn Bình sau này gặp lại người yêu cũ đã viết “Anh một đời rong ruổi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Trong câu chuyện, chị Túy cho rằng “Chuyện tình buồn” không còn là thân phận đau thương của riêng chị, mà cũng là câu chuyện của rất nhiều người con gái sống trong thời chiến tranh ly loạn.
Chị Túy kể rằng ngày trước nhà chị ở Huế, ngay cổng trước của trường Thiên Hựu (nay là đường Nguyễn Huệ chạy ngang trước Trường Đại học Tổng hợp Huế). Vì chiến tranh mà chị và gia đình bên chồng đã từng ở rất nhiều nơi, từ Huế vô Dĩ An, ra Nha Trang, lại vô Bình Tuy. Chị vẫn còn nhắc về vùng Quảng Biên, Trà Cổ, Trảng Bom, Cù Bị, Ngãi Giao… mà ngày ấy chị có nhiều người quen ở đó, cũng như từng qua lại nhiều lần. Sau 1975, chị chuyển vô vùng Bàu Cá (Long Khánh) có được hơn mẫu đất của mẹ chồng cho nên trồng mít, rồi hái mít, và đi bán mít trần ai lai khổ. Sau đó chị lên Sài Gòn ở, và năm 2006 qua Hoa Kỳ định cư với mấy người con. Và trùng hợp thay, thi sĩ Phạm Văn Bình cũng định cư ở đây, nhưng ông đã mất hồi năm 2018 rồi.
Giai nhân Nguyễn Thị Túy ngày nào còn nhắc về “một thời của những chàng trai đang lứa tuổi tràn đầy nhựa sống yêu đương, phải xếp bút nghiên, từ giã người yêu, lên đường chinh chiến, rồi có khi phải trở về trong chiếc poncho im lặng”.
Nhớ lại, hầu như những người yêu nhau trong thời buổi chinh chiến ấy đều dường như tìm thấy hình ảnh của chính mình trong bài thơ. Lứa thanh niên ở nông thôn hay đô thị, ngồi trên giảng đường hay mưu sinh ngoài đường phố, trong đó nhiều nhất có lẽ là những chàng trai lính chiến, đều có thể “hát nghêu ngao” ít nhất vài câu của bản nhạc “Chuyện tình buồn” này, và không thiếu người xem như chính câu chuyện tình éo le đó là của chính mình vậy!
“Chuyện tình buồn” từ khi xuất hiện và đến tận bây giờ, hơn 50 năm đã qua, luôn được xem là một nhạc khúc không chỉ buồn, mà còn quá buồn cho một chuyện tình dang dở. Câu chuyện tình yêu đượm buồn của thời tuổi trẻ nhưng lại mang nhớ thương ray rứt mãi hoài, và có gì đau thương hơn khi người mà ta yêu thương nhất năm xưa, nay đã là góa phụ bồng con ngồi bên song cửa mà buồn…
Chiến tranh không chừa ra điều gì, nó mang lại bao nỗi đau thương, mất mát và nghịch cảnh đến rất, rất nhiều gia đình. Rất nhiều những goá phụ trạc tuổi như chị Túy còn đang xuân mà một nách mấy người con, là chuyện thường tình.
Bất chợt, tôi nhớ đến bà ngoại của các con tôi cũng vậy, có lẽ cùng lứa tuổi với chị Túy, cũng cùng cảnh ngộ một nách 2 con thơ lại còn mang bầu đứa thứ 3 lúc còn son trẻ khi ông ngoại các cháu tử trận tại chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971. Khi đó “bà cụ thân sinh” của 2 con tôi mới chỉ là bào thai nơi người thiếu phụ quê Cồn Hến ở Huế. Bà ngoại mấy cháu lúc đó chưa qua tuổi 30 mà chịu ở vậy nuôi 3 đứa con đến giờ. Ôi trời ơi chiến tranh: lắm khổ đau, nhiều mất mát và dư thừa nghịch cảnh!
Chiều thu năm nào đó chiếu xuống nơi xóm đạo an lành, theo đó là ánh thu buồn hắt hiu khi chuông nơi giáo đường năm ấy ngân nga. Thời gian vài ba năm cứ ngỡ là lâu, ai dè nay gặp lại thì tưởng chừng như mới vừa hôm qua.
Sau tất cả, chuyện tình giữa chàng trai và giai nhân ấy không thành, chàng trai cứ ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận chi hết. Mà trên đời ni không hề thiếu những chàng trai gặp cảnh ấy, và cũng chấp nhận vậy.
Ôi câu chuyện cả bên trong lẫn bên ngoài của bài ca ấy sao buồn quá, nó cứ đeo đuổi và vẫn ở mãi trong ký ức chúng ta, từ lần đầu tiên nghe bản ấy, tới tận bây giờ, mà chắc cũng sẽ mãi về sau!
Bữa nay lại miên man với “Chuyện tình buồn”, trong đầu cứ dồn dập với bao kỷ niệm chôn kín, dường như đã lãng quên…!

Lê Hồng Minh

Chim bay về núi

phamtinanninh.com
Phạm Tín An Ninh
Post on July 25, 2013
(thay vòng hoa tiễn biệt Hải-Âu Phan Công Minh)

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

Buổi chiều, mùa hè Bắc Âu thường có những ngày mưa, ảm đạm. Tôi nhận được tin từ Nationwide Viet Radio (NVR) Hoa Thịnh Đốn, báo tin Phan Công Minh vừa mới ra đi, trước đó chừng một tiếng đồng hồ. Lòng tôi chùng xuống, điều mất mát lớn lao ấy đã cho tôi cái cảm giác trống rỗng, mọi thứ chung quanh bỗng dưng đều trở thành vô nghĩa. Ngoài trời dường như gió đã ngưng thổi, một cơn mưa hạ vừa đổ xuống những hàng thông đứng lặng yên như chịu tang. Cơn mưa rào, đến ào ào nhưng dứt sớm. Đứng trên bao lơn nhìn ra phía trước. Cả một vùng không gian tĩnh lặng. Trước mắt tôi chỉ còn một điểm cử động duy nhất: cánh chim. Cánh hải âu lẻ loi, thư thả, nhịp đôi cánh bay về hướng núi rừng mờ xa phía trước, rồi từ từ mất hút giữa không trung. Bất chợt, tôi hình dùng đến Phan Công Minh, một cánh chim Hải Âu (*) vừa bay ngược v ề núi rừng thay vì ra biển.
Đầu mùa đông năm ngoái, khi vừa sang Cali thăm mấy cô con gái và trốn cái lạnh Bắc Âu, nghe tin Minh bị ung thư gan, trong thời kỳ hóa trị, tôi gọi hỏi thăm. Minh sụt cân, chỉ còn khoảng 30 kg. Vậy mà vẫn vui cười sốt sắng:
-Nếu dưới đó anh em gặp nhau, có gì vui, hú một tiếng em sẽ bay xuống ngay.
Tôi cười:
-Minh còn yếu, cần giữ gìn sức khỏe.
Minh bình thản và lễ phép như bản tính ngày nào:
-Em đã qua bao nhiêu năm lăn lộn ngoài chiến trường. Cái chết như đến bất cứ lúc nào. Sống được tới bây giờ là số mạng đã lớn lắm, nên em chẳng màn đến chuyện tử sinh.
Chúng tôi, đám bạn bè cùng đơn vị thường xuyên gọi cho Minh, gởi cho Minh những bài thuốc dân gian về trị bệnh ung thư. Minh cho biết đã dùng lá đu đủ và thấy hiệu quả, nhưng lúc trồi lúc sụt. Có lúc yếu quá, Minh không dùng điện thoại được, nhưng bảo cháu Mẫn, trưởng nam thương quí, gọi chúng tôi, cho biết tình hình. Khỏe lại một chút, Minh lại bắt đầu gởi email thăm hỏi, chuyển những tin tức về các cuộc đấu tranh của những người trẻ ở quê nhà, và tâm sự bao điều với anh em. Hai tuần sau lại im lặng. Một thứ im lặng đáng sợ, như ngày xưa, Minh dắt toán viễn thám nhảy vào vùng địch. “Im lặng vô tuyến” là dấu hiệu địch đang ở rất gần, nguy hiểm. Bỗng mới đây, cháu Mẫn gọi báo:
-Ba cháu đã yếu lắm, chắc không còn nhiều thời gian. Các chú, bác sắp xếp có thể lên gặp ba cháu lần cuối cùng!
Lúc nhận được tin này, vợ chồng tôi đang ở thăm hai người bạn tù tại thành phố Bruxelles, Vương Quốc Bỉ. Tôi điện thoại cho anh Ngô Văn Xuân, ông anh cả khả kính và hết lòng của đơn vị, cùng Mai Xuân Bê, người bạn thân cùng quê, cùng trường thời trung học và cùng đơn vị sau này, thúc dục đi thăm Minh. Tin tức được nhanh chóng chuyển đi đến rất nhiều anh em khác, Nhưng tất cả quyết định không đi nữa, vì Minh đã quá yếu và gia đình đang bận rộn chuẩn bị hậu sự cho Minh. Sự có mặt của bạn bè anh em trong lúc này chỉ gây thêm phiền toái cho gia đình, vợ con Minh. Rồi cũng chỉ ba hôm sau, mọi sự đã kết thúc. Phan Công Minh đã thực sự nhắm mắt, sau khi nhắn nhủ với vợ con và nhắn gởi lời vĩnh biệt anh em, đồng đội cũ. Yêu cầu duy nhất của Minh là muốn bạn bè ở Cali gởi lên một lá cờ VNCH để vợ con phủ trên di thể và hỏa táng theo Minh.
Sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết. Trước khi bước chân vào quân trường Thủ Đức, Minh là một học sinh ưu tú của trường trung học Phan Bội Châu. Tốt nghiệp Khóa 27 Thủ Đức, Minh xin được về phục vụ tại Trung Đoàn 44BB, lúc ấy bản doanh đặt tại trại Lý Thường Kiệt Sông Mao, cách Phan Thiết khoảng 60 cây số về hướng Bắc.
Tình nguyện vào Đại Đội 44 Trinh Sát, vào thời kỳ đơn vị này đang nổi danh, tạo nhiều chiến thắng vẻ vang, dưới sự chỉ huy của Trung úy Trần Công Lâm.

Sau khi tốt nghiệp Khóa Viễn Thám tại TTHL/BĐQ Dục Mỹ, Minh về đơn vị nắm trung đội Viễn Thám. Với khả năng bén nhạy và tính gan dạ liều lĩnh, Minh tiếp tục tạo nhiều chiến công, và được cân nhắc lên làm Đại Đội Phó Tác chiến (khi ấy có Đại Đội Phó CTCT do Th/úy Nguyễn văn Lễ, tốt nghiệp Khóa1/ ĐH CTCT đảm trách). Cùng với trung úy Trần Công Lâm, một đàn anh, xuất thân Khóa 18 Thủ Đức, một đại đội trưởng “ngoại hạng”, đại đội phó Phan Công Minh liên tục tạo thêm nhiều chiến thắng lấy lừng. Chiến lợi phẩm của ĐĐ 44 Trinh Sát đã đưa Trung Đoàn 44 trở thành đơn vị xuất sắc nhất của Quân Đoàn II trong suốt mấy năm liền. Minh đựợc thăng cấp đặc cách và nhận rất nhiều huy chương tưởng thưởng.
Đầu tháng 2/1972, toàn bộ Trung Đoàn di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí của Đơn vị 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và giải toả một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, dọc theo đèo An Khê trên QL 19, bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hảm.
Đến nơi đúng vào chiều mồng một Tết, Đại Đội 44 Trinh Sát được chỉ địch làm lực lượng chính đánh vào sau lưng địch. Chỉ trong hai hôm, tất cả các căn cứ Đại Hàn đều được giải tỏa. Đại Tường Cao Văn Viên, Tổng TMT, và Đại Tướng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh Đại Hàn tại VN bay lên An Khê để mừng chiến thắng và ngợi khen các đơn vị tham chiến, đặc biệt là Đại Đội 44 Trinh Sát.
Ngày 24/4/72, căn cứ Tân Cảnh thất thủ khi Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 22BB bị địch quân tràn ngập và vị Tư Lệnh, Đại Tá Lê Đức Đạt đã vùi thây nơi chiến địa. Ngày 13/5 toàn bộ Trung Đoàn 44BB có lênh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum và ngay sau đó đã liên tiếp tạo nhiểu chiền thắng lẫy lừng giữ vững được Kontum trong suốt mùa hè đỏ lửa. Trung Đoàn 44BB trở thành một trong những đơn vị thiện chiến nhất của QLVNCH trong năm 1972 khói lửa. (theo bản xếp hạng của Bộ TTM)
Đại úy Trần Công Lâm được điều sang làm Tiểu Đoàn trưởng TĐ3/44, bàn giao Đại Đội 44 TS lại cho trung úy Phan Công Minh, người đại đội phó mà anh rất tin tưởng quí mến. Với một chiến trường cam go, mà lực lượng địch gồm những Sư Đoàn Thép 320, Sư Đoàn 2 Sao Vàng, lúc nào cũng có nhiều ưu thế hơn ta từ quân số đến vũ khí, chiến xa, Đại Đội 44 TS dưới tài chỉ huy của Phan Công Minh đã chứng minh rất hùng hồn về khả năng của chính mình cũng như của đơn vị bách chiến bách thắng này.
Đặc biệt, Minh đã chỉ huy Đại Đội đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một đơn vị BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trân và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chiến khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.
Sau khi xuất viện, Minh được điều động về làm Tiểu Đoàn Phó 3/44 cho Trần Công Lâm. Hai anh em từng sống chết bên nhau ở ĐĐ44TS bây giờ gặp lại nhau ở cấp chỉ huy của một tiểu đoàn thiện chiến. Nhưng “trong chinh chiến có mấy người trở lại”, tháng 12/1973, người “hùng” vang danh một thời Trần Công Lâm đã anh dũng hy sinh trên đỉnh núi Ngok Wang đìu hiu gíó hú. Minh tạm thời XLTV Tiểu Đoàn. Hai tháng sau, Sư Đoàn bổ nhậm một vị thiếu tá từ trung đoàn khác sang làm tiểu đoàn trưởng, nhưng không bao lâu, anh ta bất ngờ được thuyên chuyển đi nơi khác, Tiểu Đoàn Phó Minh lại lên thay, Quyền Tiểu Đoàn Trưởng, tiếp tục chỉ huy đơn vị. Chiến trường ngày càng ác liệt hơn sau khi Hiệp Định Paris vừa ký chưa ráo mực. Bọn CS tráo trở ngang nhiên vi phạm trước sự bất lực của Hoa Kỳ và các quốc gia ký tên trong bản hiệp định bất công, ngu xuẩn. Minh bị thương trong một trận chiến đẫm máu. Sau khi xuất viện, được người anh cả trung đoàn, Trung tá Ngô văn Xuân, người luôn thương yêu quí mến Minh, kéo về làm Trưởng Ban 3 (Hành Quân) cho Trung Đoàn.
Giữa tháng 3/75, thành phố Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Trung Đoàn từ Hàm Rồng – Pleiku, lần lượt được trực thăng vận khẩn cấp xuống Phước An trong kế hoạch tái chiếm thành phố này. Minh theo BCH Trung Đoàn trong đợt đầu tiên. Khi cuộc đổ quân chưa hoàn tất thì Pleiku và Kontum có lệnh di tản. Hơn một nửa đơn vị còn kẹt lại ở Pleiku phải triệt thoái theo con đường “tử lộ” 7.B. Hai tiểu đoàn gần như bị xóa sổ và hai người bạn tiểu đoàn trưởng đã tự sát không để lọt vào tay giặc.
Khi đại quân với cả trung đoàn xe tăng của Cộng quân từ Ban Mê Thuột tràn xuống Phước An theo QL 21, ông Tân Tư Lệnh SĐ23B mới nhận chức, vừa cất cánh khỏi ngọn đồi Chu Cúc sau một cái bắt tay đầu tiên vội vã với vị Trung Đoàn Trưởng, Cộng quân bao vây và tràn ngập nơi BCH Trung Đoàn được bảo vể chỉ một đại đội trinh sát đang tạm đóng quân chờ lệnh. Với khả năng và kinh nghiệm điều quân cùng sự gan dạ can trường trong bao nhiêu năm binh nghiệp, vị Trung Đoàn trưởng và anh Trưởng Ban 3 chỉ còn khả năng tìm một lối thoát khỏi vòng vây, bảo toàn cho binh sĩ dưới quyền. Đó cũng là thời điểm kết thúc oan nghiệt cho số phận một Trung Đoàn BB thiện chiến và của hai vị Sĩ quan chỉ huy bách chiến bách thắng, chưa hề nghĩ có một ngày phải đành buông súng.
Sang Mỹ theo diện HO, Minh cùng gia đình sống âm thầm ở một thành phố ngoại ô New York, nơi có bãi biển rất đẹp, để mỗi chiều Minh ngồi nhìn ra biến khơi mà tưởng nhớ tới quê nhà, hình dung tới bao nhiêu khuôn mặt anh em đống đội cũ, kẻ chết, người sống, đang trôi dạt muôn phương, nhưng tất cả đều đã từng cùng Minh anh dũng xông pha chiến trận, từng vui đùa yêu thương trên nỗi chết. Minh từng ước ao trở thành cánh chim Hải Âu, bay ra biển khơi tìm về các chiến trường xưa, nghe lại tiếng hò reo chiến thằng của những anh em đồng đội cũ.
Mỗi lần có tin bạn bè ở xa tới, gặp mặt nhau ở một nơi nào đó trên nước Mỹ là Minh đều có mặt. Vẫn trầm ngâm, ít nói, uống rượu không biết say, và luôn kính trên nhường dưới, biết anh biết em như thuở còn trong lính.
Sang Mỹ, Minh làm hai job, thời gian còn lại chưa đủ cho một cơn say, nhiều đêm thức trắng như thuở ngồi trong rừng suốt đêm chờ địch. Lo lắng, sắp xếp cho vợ con có đời sống, học hành ổn định xong, cũng là lúc Minh phải chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Và vẫn sống vui vẻ thanh thản cho đến giờ phút từ biệt thế gian này.
Trước khi nhắm mắt, Minh đã cố gắng nở một nụ cười, khi nghĩ là mình sắp trở về chiến trường xưa, gặp lại bao nhiếu bạn bè đồng đội đã hy sinh trong những năm tháng bên nhau cùng chiến đấu.
Từ đây, đám bạn bè còn lại, mỗi lần gặp nhau, dù rượu XO cũng sẽ trở nên nhạt thếch và những nụ cười sẽ không tròn, bởi thiếu Phan Công Minh, một đồng đội, một người bạn, một người anh em mà hai chữ yêu thương, ngưỡng mộ, dường như vẫn chưa đủ để diễn đạt hết lòng mình.
Tạm biệt, và hẹn gặp Minh ở một nơi an bình vĩnh cửu. Không còn có chiến trường, tiếng súng, và không có hận thù giữa những con người.

Phạm Tín An Ninh
London 21/7/2013
(*) ghi chú: Hải-Âu là danh xưng của Trung Đoàn 44BB