Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 21 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

Những Mảnh Trăng Thu
Có hai lý do để gia đình Ông Bà Thái nhận bảo trợ cho thằng Quang. Một là từ hồi bảy mươi lăm qua đây, ông bà đã chịu ơn của Hội Nhà Thờ rất nhiều, vì thế khi được ngỏ lời bảo lãnh cho một đứa nhỏ không thân nhân, cả hai người đều đồng ý ngay. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng, đó là gia đình này có hai đứa bé, thằng Phú mười bốn và con Lan lên chín. Một đứa thì khả năng tiếng Việt còn lõm bõm được đôi câu, còn đứa kia thì gần như mù tịt, mặc dù nghe bố mẹ nói, chúng nó vẫn hiểu, dĩ nhiên chỉ là hiểu những câu đối thoại bình thường. Tình trạng này kéo dài thì nguy hiểm quá. Cho nên ông bà Thái nhận ngay với nhà thờ việc bảo lãnh một đứa con trai. Thằng Quang đã được chọn trong một danh sách dài thòng: lý do chỉ giản dị có mỗi một điểm là nó ở tuổi mười lăm. Mười lăm tuổi mà mới rời Việt Nam chưa tới hai năm, tất nhiên tiếng Việt của nó phải rành. Nó sẽ sống chung với lũ trẻ trong nhà, may ra cứu vãn được cái tình thế ngôn ngữ Việt của chúng nó càng ngày càng trở nên tồi tệ đi.
Hôm đón Quang ở phi trường, cả nhà đều hài lòng ngay. Mặt mũi Quang không đến nỗi tệ. Nó có vẻ dè dặt chứ không nhút nhát, cặp mắt to và trong sáng chứ không láo liên, trợn chừng, trợn chửng. Chỉ có nước da của nó là xấu xí. Vừa đen vừa sạm. Ông Thái giải thích nhỏ bên tai vợ:

  • Mới ở đảo qua ai cũng thế. Nắng gió ngoài biển mà.
    Bà Thái giơ vòng tay ra đón nó ở ngay cửa ra của chuyến phi cơ đến từ phương xa. Quang cũng giơ tay ra quàng lên hai bờ vai của bà mặc dù nó thấy kỳ kỳ. Cái cảnh hai bên lạ hoắc mà biểu lộ tình cảm thân thiết, coi nó khó làm sao. Rồi bà Thái dẫn Quang lại chỗ thằng Phú, con Lan đang đứng với cặp mắt mở to vì tò mò. Lan thì chỉ biết trố mắt ra nhìn. Hình như nó cảm thấy lúc này mà cất lời bằng tiếng Mỹ thì có sự gì bất ổn. Còn Phú thì nói tiếng Việt giọng khó khăn:
  • Chào anh! Chúng tôi rất vui lòng gặp anh.
    Quang nghe rồi cũng thấy bất ổn thề nào. Tiếng Việt đâu có nói thế ! Nó định đáp lời thằng Phú mà rồi óc cứ tịt mít lại. Rút cục thì nó chỉ còn biết mỉm cười. Cuộc gặp gỡ mà cả hai bên chuẩn bị, sắp xếp, tính toán từ hàng tháng trước, rút cục chỉ diễn tiến vỏn vẹn có thế. Rồi cả gia đinh kéo nhau ra xe. Ông Bà Thái ngồi phía trước. Băng ghế sau dành cho ba đứa. Quang được ngồi giữa. Phú một bên, Lan một bên. Sự sắp xếp có nhã ý của bà Thái chỉ làm khổ sở cho cả ba đứa. Con Lan cất lời nói một câu tiếng Mỹ gì đó bị bà Thái suỵt nên ngồi ngay đơ. Thắng Phú bên cạnh thì cứ nhúc nhích cái mồm và nhấp nhổm cái đít hoài, hình như nó định nói chuyện gì đó với thằng Quang nhưng loay hoay sắp xếp câu văn mãi trong đầu không xong, nên chưa dám nói ra. Quang thì như bị bó cứng trong một cái khuôn vô hình. Nó thấy ngứa ở cổ, ngứa ở lưng, nhưng cứ ngồi im thin thít không dám cựa quậy. Mà khổ nỗi, càng nhịn gãi nó càng thấy ngứa thêm. Thật là khổ sở, nhưng nó cảm thấy nếu mình giơ tay lên gãi sồn sột ngay trong cái xe mới toanh sang trọng này thì có điều gì như không được tốt đẹp lắm. Vì thế nó cố chịu đựng.
    Bây giờ nó mới thấy thèm, thấy nhớ cái bầu không khí nhởn nhơ trong trại tỵ nạn. Cái gì ở đó cũng nghèo, cũng thiếu thốn, nhưng sao thoải mái thế. Giữa trưa nắng mà bận quần sà lỏn, cởi trần trùng trục ra đánh bi ở sau những lô lều, hay chạy đuổi nhau trên bãi cát, đến chiều mát tới giờ được tắm biển, cả lũ kéo nhau ra nhảy ùm xuống, vùng vẫy trong nước, còn gì sướng bằng. Tối đến, cả bọn kéo nhau lên ngồi dựa vào vách sau của nhà thờ để nói chuyện om sòm. Chán chê thì chui vào lớp ghế gỗ ở bên trong nhà thờ quay ra ngủ. Có hôm thì chúng nó ngủ bên hông của bệnh xá hay trên bục cao của dãy văn phòng Ban Đại Diện, cũng có hôm răm ba đứa ngủ quên ngay cả trên bãi cát, dưới rặng phi lao ngoài bãi biển nữa. Đã có một thời gian dài, mọi người trong trại quên bẵng ngay sự hiện diện của chúng nó hay nói cho đúng ra, quên bẵng thân phận của chúng nó là những đứa trẻ không thân nhân, có lẽ là vì đời sống ở đây thiếu thốn quá nên ai cũng chỉ lo lấy riêng cho phần mình. Cũng có thể vì hàng ngày, có những ghe mới nhập trại, hoàn cảnh của họ ghê gớm quá, kẻ bị thương tích, người bị quăng xác xuống biển, ghe này mất tích năm bảy người, ghe kia chỉ sống sót có vài ba người, chuyện nào cũng đầy thương tâm, đầy chi tiết khủng khiếp. Như thế đâu còn ai đủ xúc động để mà nghĩ đến những đứa trẻ vất vưởng, lang thang, sống như bầy chuột trong vòng đai của một cái trại vốn đã đầy nhóc những người này. Nhưng tình hình cứ mỗi ngày một cải thiện dần đi. Trung tâm nhận trẻ không thân nhân được dựng lên. Lũ nhỏ được tập trung lại, có người săn sóc, nấu nướng cho, bữa ăn vì thế không còn cảnh no đói thất thường, đêm tối không còn đứa nào phải ngủ đường, ngủ chợ. Ấy vậy mà nhiều đứa vẫn khoái chui lỗ rào để chuồn ra ngoài chạy nhảy nhởn nhơ. Trong số đó có cả thằng Quang.
    Thằng Quang cầm đầu một nhóm bốn đứa. Cả bọn sàn sàn tuổi như nhau. Một đứa chết trọn gia đình ngay giữa biển cả. Một đứa đi với mẹ và chị cùng một con em gái. Mẹ chết vì kiệt sức. Chị bị bắt cóc đem đi biệt tích. Thằng nhỏ mới lên mười hai phải lãnh trách nhiệm trông nom đứa em gái mới lên sáu. Thằng Quang tuy thế còn là may. Bố nó hãy còn nằm ở trại cải tạo. Mẹ nó còn sống nhưng ở lại Việt Nam. Bà gửi nó đi, theo gia đình một người quen. Khi nhập trại, có ai rỉ tai khôn khéo kiểu gì đó, nói rằng đèo một đứa không có họ hàng gì cả thì sẽ khó đi định cư. Thế là Quang bị khai tách ra một “form” riêng biệt. Trước thì chỉ còn là hình thức trên giấy tờ. Sau mọi người quên nó thật. Nó nghiễm nhiên chấp nhận hoàn cảnh bơ vơ và nhập bầy với một lũ lốc nhốc vất vưởng, mỗi đứa một số phận, mỗi đứa một hoàn cảnh, trường hợp nào thì cũng bi thương như nhau cả.
    Bọn thằng Quang hay đàn đúm ở bên hông nhà thờ. Nhóm bốn đứa đeo dính lấy Quang vì nhiều lý do. Trước hết là nó lớn hơn cả bọn, nhanh nhẩu, tháo vát, và nó nhập trại lâu hơn cả lũ nên ngõ ngách, xó xỉnh nào ở đây nó cũng đều thông thuộc hết. Sau nữa là thằng Quang là một đứa có lòng. Nó thương cả bọn bạn bè cùng cảnh ngộ. Nhất là thằng Hiếu với con Hạnh. Hạnh lên sáu nhưng người ốm tong teo, mặt mũi vêu vao như kẻ thiếu thốn đủ thứ kinh niên. Cái thiếu thốn nhất là bàn tay săn sóc của mẹ và chị. Trong một sớm một chiều, nó mất cả hai thứ ấy nên người trông thất thần hẳn ra. Trước nó còn khóc đòi gặp mẹ, gặp chị. Sau thì nó biết thân, chỉ đeo dính lấy thằng anh, bắt thằng anh bế vẹo cả xương sườn. Hiếu thương nó lắm, nên dù ham chơi cách mấy cũng tha theo con nhỏ đi cùng. Xin ở đâu được cục kẹo nào, Hiếu cũng dành cho em trước. Có hai cục kẹo thì mới đến phần nó, mà ngay khi có hai cục kẹo, nhiều lúc Hiếu cũng nhường phần này cho thằng Quang. Nó muốn lấy lòng thằng Quang vì trong đám đông hỗn độn ở đây, Quang là chỗ dựa gần gũi nhất của nó. May cho nó là Quang tốt bụng. Nó quan tâm đến con Hạnh chỉ thua có hằng Hiếu mà thôi.
    Có những buổi tối, Hiếu không thấy Quang đâu. Nhưng lúc gặp lại thì thế nào trên tay Quang cũng có một món gì đó có thể là một túi nylon đựng chè hay một khoanh bánh gói trong một mảnh lá khô. Quang trao những thứ đó cho con Hạnh. Hạnh buồn ngủ cách mấy cũng tỉnh như sáo sậu ngay vì con bé thích ăn ngọt.
    Chè là món ước mơ của tất cả mọi người lúc còn lênh đênh trên biển cả. Tới được bến bờ rồi, ai có tiền cũng mua chè, nấu chè, mời nhau ăn chè. Phải vài ba tháng như thế thì mới lại sức. Đó là kể những người có tiền, có thân nhân tiếp tế. Anh em thằng Hiếu có ai quen thuộc ở đâu mà được ăn chè hằng ngày. Cho nên cả Hiếu lẫn Hạnh biến thành những đứa kinh niên thèm đồ ngọt. Trong bóng tối nhá nhem của dẫy vách nhà gỗ dựng lên bên hông nhà thờ, mấy đứa ngồi thủ thỉ truyền cho nhau những muỗng chè còn nóng hổi của thằng Quang đem lại. Quang ních no một bụng rồi nên ngồi yên ngắm cả bọn sì sụp như một ông anh cả hiền từ. Nó vui sướng trong lòng thấy cái Hạnh chu cái miệng xinh xinh ra đón những muỗng chè do thằng Hiếu bón cho nó. Ánh đèn duy nhất ở phiá cột điện phiá xa hắt lại chiếu vào đôi mắt của con bé làm cho Quang thấy những tia sáng long lanh, linh hoạt.
    Ăn chè xong, Hạnh lăn ra ngủ trên cánh tay của thằng Hiếu. Giấc ngủ bình an, vô tội. Chờ nó ngủ thật say, Hiếu mới trải rộng tấm giấy dầu ra và đặt con bé lên đó. Bây giờ nó làm công việc đó gọn ghẽ chẳng kém gì ngày trước mẹ nó, chị nó đã làm. Quang phủ lên mình con bé chiếc áo sơ-mi mỏng. Trời không lạnh nhưng đầy muỗi, nhất là vào nhưng hôm trời đứng gió.
    Cứ cái cảnh sống như thế chúng nó đã trải qua mấy mùa ở đây. Trước hết là Noël, rồi Tết Nguyên Đán, rồi Rằm tháng Bảy. Chỉ còn thiếu có một cái Tết Trung Thu là quay đủ vòng các ngày lễ lớn trong năm. Trước tết Trung Thu cả gần hai tháng, Quang đã hứa hẹn đủ thứ với những người bạn nhỏ của mình. Ở đây có sẵn nứa, sẵn dây, keo hồ không thành vấn đề, giấy bóng và giấy trang kim có thể mua ngoài chợ nhỏ ngay ngoài vòng rào ở cổng trại. Dư sức làm thành những đèn ông sao, con thỏ, máy bay, tầu bò, cá chép, thiềm thừ.
    Thằng Hiếu hỏi thiềm thừ là con gì, Quang tịt mịt không trả lời được. Thật ra nó chỉ biết làm có mỗi cái đèn ông sao. Nó chưa làm đèn con thỏ, con cá bao giờ, mặc dầu hồi trước đó khi bố nó phải đi cải tạo, mỗi mùa Trung Thu nhà nó có đủ loại đèn, toàn đồ mua ở trên phố. Ôi cha, phố xá vào dịp đó thì phải biết. Cả con đường Trương Minh Ký đỏ rực những đèn. Tiệm bánh Đông Hưng Viên ở Chợ Bến Thành chen chân không lọt. Người lớn xếp hàng mua bánh nướng bánh dẻo, trẻ con đứng ngẩn ra coi đèn, coi những con giống nặn bằng bột có đủ loại màu sắc. Trước cửa những tiệm lớn còn treo những loại đèn đặc biệt như cá hóa long, thiềm thừ vọng nguyệt, nhất là đèn kéo quân có diễn đủ thứ sự tích như Võ Tòng đả hổ, Thầy Mẫn Tử đẩy xe cho cha, Trâu xay lúa, Cọp giã gạo, cảnh nào thì người, vật cũng cử động được nhờ những bánh xe gió chạy quanh lồng đèn.

Quang đem những thứ đó ra kể cho lũ bạn nghe, bọn chúng mê tít thò lò và đứa nào cũng háo hức chờ Trung Thu. Có đứa đòi Quang gấp đèn xếp, có đứa đòi sáng chế đèn kéo quân, đèn thiềm thừ, đèn cá hóa long, Quang đang cao hứng ba hoa chích chòe nên hứa hẹn tuốt luốt, mặc dầu trong đầu nó mới chỉ hình dung ra được có mỗi một cách làm đèn ông sao. Nhưng làm được đèn ông sao thì cũng thích rồi. Nó sẽ làm đủ năm cái, cái xinh nhất dĩ nhiên là cho cái Hạnh, rồi cả bọn sẽ chơi rước đèn ở ngoài bãi biển, trăng rằm ngoài bãi biển, hẳn sẽ sáng vô cùng. Nó chỉ mới vẽ ra như thế, cả bọn đều đã thấy háo hức. Chúng nó vỗ tay hoan nghênh anh Quang hết mình. Cả cái Hạnh nữa. Con bé ngồi lọt thỏm trong vòng tay gầy như que sậy của thằng Hiếu, nhưng vẫn chẫu mặt ra ngó về phía anh Quang, đôi mắt sáng ngời vì những hình ảnh đèn xếp, đèn ngồi sao, đèn kéo quân.
Đùng một cái, chưa tới đầu tháng Tám ta, thằng Quang đã có danh sách lên đường đi định cư. Lúc nghe tên của thằng Quang được rao trên loa phóng thanh, thằng Hiếu bế em chạy bổ đi tìm. Mấy đứa gặp nhau ở sau lưng vách nhà thờ. Mồm thằng Hiếu méo sệu. Con Hạnh thì òa lên khóc. Quang cố nén xúc động nhưng nước mắt cứ chảy ròng ròng trên má. Mới quen nhau chưa đầy nửa năm, nhưng cả lũ cảm thấy thân thiết còn hơn ruột thịt. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng đầy ắp những chia sớt, san sẻ những thiếu thốn trong hoàn cảnh tất cả đề cùng bơ vơ. Lần đầu tiên Quang giang hai cánh tay ra đón lấy cái Hạnh. Hạnh cũng xà sang và ôm cứng cổ thằng Quang. Mái tóc mềm của con bé áp sát lên mặt của Quang. Những sợi tóc bây giờ cũng bị ướt đẫm nước mắt.
Hôm ra xe ca, Quang cũng bế cái Hạnh trong suốt lúc chờ xe chạy. Quang luôn mồm dặn Hiêú đủ thứ phải săn sóc bé Hạnh. Đừng cho nó ra nắng. Đừng thả nó một mình ngoài bãi biển. Đừng ngủ quên sau vách nhà thờ sợ con bé nhiễm sương. Nhớ đắp mềm hay áo cho con bé ngủ kẻo không bị muỗi. Tiền công bưng bát, rửa ly cho quán phở ở đầu lô số 10 mà Quang dành dụm được đâu hơn ba chục bạc tiền Thái, Quang dúi cả vào tay thằng Hiếu. Hiếu nắm mớ giấy bạc trong tay mà khóc ròng. Rồi xe chuyển bánh. Thằng Quang thò đầu qua cửa sổ nhìn lại thấy thằng Hiêú bế con em như con mèo tha con chuột chạy lẽo đẽo theo bên vệ đường. Hình ảnh của hai đứa chợt bị lấp đi trong đám bụi mịt mù. Trại tỵ nạn với những mái lều xiêu vẹo trong khoảnh khắc cũng bị lấp đi sau những rặng dừa xanh. Quang cảm thấy xót xa như vừa bị ai cắt lìa một phần cuộc đời của mình.
Ở trại chuyển tiếp non hai tuần thì Quang lên đường vào Mỹ. Nó tính nhẩm chỉ còn hai ngày nữa thì sẽ tới tết Trung Thu. Quang không kịp thực hiện lời hứa của mình là sẽ làm lồng đèn cho cả bọn, nhất là cái lồng đèn xinh xinh cho bé Hạnh mà con bé háo hức chờ đợi.
Ngồi trên xe từ phi trường trở về nhà Ông Bà Thái, Quang vẫn có cái cảm giác bị bó cứng bởi hai nhân vật xa lạ ngồi hai bên. Thằng Phú thì quay ra cửa sổ nhìn lơ đãng ở hai bên vệ đường. Con Lan thì lôi ở phía sau ra một con gấu bông trắng nuột và loay hoay với cái nơ ở cổ con gấu. Mọi thứ ở đây đều sang trọng quá làm Quang lại trạnh nghĩ đến hình ảnh khốn khổ của anh em thằng Hiếu. Bao giờ thì chúng nó được có người bảo lãnh? Bao giờ thì chúng nó rời xa được cái vùng đất khốn khổ thiếu thốn và tràn ngập những kỷ niệm đau thương đó.
Quang phải trấn áp tình cảm để những giọt nước mắt khỏi ứa ra, hai bên bờ mi. Nó vội nhìn ra hai bên kính xe và thấy lần đầu tiên quang cảnh nước Mỹ với những đường xá chằng chịt, với những xe cộ chạy vùn vụt. Lúc xe đi vào thành phố, mọi thứ đều to, đều sang, đều ngăn nắp, sạch sẽ. Tuy nhiên chỉ có hai hôm nữa là tới tết Trung Thu nhưng chẳng thấy đâu có dấu hiệu chuẩn bị cả.
Hình như cả thành phố không ai biết tới rằng lại có cái tết trọng đại như thế đối với những nhi đồng Việt Nam. Nói một cách văn hoa, thì những ngọn đèn Trung Thu chỉ còn hiu hắt trong trí nhớ của những đứa trẻ như Quang, như Hiếu, như Hạnh hay những em bé còn vất vưởng ở đâu đó trong các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á ….


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply