Hoài niệm cư xá

baotreonline.com
Tim Nguyễn
Post on December 2nd, 2022

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Cư xá Thanh Đa, một trong những cư xá đầu tiên được xây nhiều tầng (Ảnh: Internet)

Xưa, có một người đàn ông đã nói với con mình rằng: “Nếu về Sài Gòn mà được ở cư xá là coi như cuộc sống văn hoá của gia đình sẽ có được cái nếp thị dân đáng hãnh diện”.
Ðó là câu nói của một tác giả viết trong một tờ báo từ khá lâu và tôi nhớ đến giờ. Nỗi tiếc nuối khi nhìn lại các khu nhà cư xá ngày trước, nay đã biến dạng và cách sống của con người ở đó cũng thay đổi mất rồi. Trước đây tôi có viết một bài Hẻm của phố nói về cảm nhận sự êm đềm của những con phố nhỏ trong các hẻm phố thực chất là những con đường nội bộ của khu cư xá ngày trước ra sao còn lẩn khuất đâu đó trong trí nhớ. Và tôi cũng từng được ở hai lần tại hai khu cư xá khác nhau trong một thời gian ngắn.
Năm 1968, ba tôi bốc thăm mua được ngôi nhà tại khu cư xá Phú Lâm B quận 6 (do số nhà cung cấp ra thì ít mà nhu cầu nhà ở của quân nhân tại Biệt khu Thủ đô thì nhiều, nên đơn vị tổ chức bốc thăm cho công bằng). Phải nói chuyện mua được ngôi nhà là một niềm vui lớn với gia đình tôi thuở ấy, vì phải ở thuê trong căn nhà nhỏ tại quận 10. Ðể mua được nhà, người mua phải thuộc thành phần gia đình bị giải toả, nạn nhân hoả hoạn, công chức, quân nhân người có nhà tại chỗ bị giải toả để xây dựng cư xá (ngày nay gọi là tái định cư).
Gia Cư Liêm Giá Cuộc (GCLGC) quy định người mua nhà trong khu cư xá trả ngay 1/4 số tiền căn nhà và số tiền còn lại sẽ trả góp hằng tháng trong tám năm. Ngôi nhà có giá 25,000 đồng nhưng ba tôi quyết định dùng số tiền trong sổ tiết kiệm trả dứt, mặc dù lãi suất của GCLGC có thấp hơn ngân hàng. Tôi là đứa con đầu tiên theo ba tôi đi nhận nhà. Cư xá Phú Lâm B tại quận 6, được xem là một quận nội đô Sài Gòn thời gian đó còn vắng lặng không khác gì một làng quê ở ngoại ô. Ðể đến được nhà phải đi ngang qua khu An dưỡng địa đầy mồ mả và lò thiêu vươn cao ống khói u ám dưới nền trời ảm đạm. Ði theo con đường vắng có đoạn tráng nhựa, có đoạn còn đất đỏ đầy ổ gà. Hai bên xen kẽ nhà cửa và ao rau muống, sen súng hoang sơ.

Một ngôi nhà trong cư xá Bắc Hà xây dựng giữa thập niên 1950 (Ảnh Internet)
Khu cư xá Phú Lâm B là một dãy những lô nhà trệt mái ngói đỏ thiết kế giống nhau rộng 4m x 20m có hành lang nhỏ thông ánh sáng vào gian bếp ở cuối nhà. Sân trước rộng 2m xây bao có lan can và một cửa rào bằng gỗ đủ rộng cho một người dẫn xe Honda vào nhà. Ðường sá nội bộ khá rộng tráng nhựa. Căn nhà ba tôi mua nằm ở cuối dãy, ngay con đường dẫn ra một cái bàu sen lớn, phía bên kia là Ðài Ra-đa Phú Lâm.
Ba tôi mua nhà mới nhưng không dọn về ở vì nói là quận 6 nhưng quang cảnh chung quanh còn trống vắng thưa thớt dân cư không tiện việc học hành của con cái. Ngay trong khu cư xá tối đến cũng sáng vài ánh đèn vàng vọt. Ba tôi cho người bạn cùng đơn vị ở thuê với giá rẻ. Nhưng thỉnh thoảng trong năm, đôi lần ba tôi dẫn tôi về thăm nhà và ngủ lại một hai đêm. Cảm nhận của một đứa trẻ như tôi lúc đó buồn chán lắm, nếu không bỏ thời gian cuốc bộ ra bàu sen ngồi dưới bóng cây trứng cá xem mấy người dân câu cá. Ngôi nhà cư xá chỉ là ngôi nhà ở như căn nhà nhỏ ở quận 10, không có tiếng la ó đám trẻ vui đùa, không có mấy hàng quà vặt của mấy bà bán trong xóm nhỏ.
Vào khoảng thời gian này dân chúng Sài Gòn đã quen thuộc với hai từ cư xá. Trước đó chừng 10 năm, dân cư đô thành tăng nhanh do chiến tranh bắt đầu lan rộng. Từ các tỉnh dân nhập cư đổ dồn về Sài Gòn mua đất cất nhà, thuê nhà. Ngành xây cất nhà cửa cũng bắt đầu phát triển. Những khu cư xá ở nội đô tương đối khá quy cũ, nhà hầu hết cất trệt, mái ngói, có sân, hàng rào riêng và đường sá sạch sẽ. Giá một ngôi nhà bình dân chừng 20,000 đồng. Trong khi nhà có kiến trúc thẩm mỹ, sang trọng, mặt tiền tô đá rửa, cửa kiếng song sắt giá lên đến 250,000 đồng. Giữa thập niên 1950, hối đoái 1 USD bằng 35 đồng VNCH. Ðầu thập niên 1960, hối đoái chính thức 1 USD ăn 73.5 đồng VNCH (thị trường tự do khoảng 130-180 đồng VNCH); lương giáo chức lúc đó khoảng 3,000-4,000 đồng/tháng. Ðể mua được một căn nhà cư xá xem ra không khó lắm. Chính vì thế, nhiều khu cư xá mọc khắp nơi làm bộ mặt khu dân cư đô thị thay da đổi thịt.

Cư xá Phú Lâm B nhìn trên cao từ phía đài ra đa Phú Lâm (Internet)
Nhiều người Sài Gòn còn nhớ đến cư xá Duy Tân, Tự Do, Ðô Thành, Chí Hoà, Phú Thọ, Lê Ðại Hành, Lữ Gia, Bắc Hải, Kiến Thiết hay phía giáp ranh quận 3 bên Phú Nhuận, có cư xá Chu Mạnh Trinh mà hầu hết các bài viết về cư xá đều nhắc đến nhờ một số nghệ sĩ cải lương và tân nhạc nổi tiếng dọn về sống ở đây. Thực ra đây là một khu cư xá dành cho viên chức ngân hàng Ðông Dương xây dựng trước năm 1945. Tuy vậy có nhiều người trong ngành mua rồi bán lại hoặc cho thuê.
Trong Hồi ký của ca sĩ Julie Quang, bà từng hoài niệm về khu cư xá này. “Nếu các con cháu nghệ sĩ Năm Châu và Kim Cúc dùng bộ ván làm sân khấu cải lương tập diễn thì bên hàng xóm vài năm sau cái cư xá im ỉm thường nghe tiếng đàn trống điện, giọng hát của Duy Quang, Thái Hiền, Julie Quang tập dượt cho những sáng tác mới. Trong cư xá yên ắng buổi sáng như ban trưa nắng len vào từng góc khuất. Ðầu ngõ, nơi mặt tiền đường có gia đình nhạc sĩ Song Ngọc, ông sang băng nhạc. Vào bên trong ngõ có gia đình nhạc sĩ Tuấn Khanh tự ca sĩ Trần Ngọc cũng sang băng nhạc”.
Cuộc sống của thị dân trong cư xá có lúc thật yên ắng, không có tiếng trẻ con quậy phá chơi đùa như ở các ngõ xóm lao động bình dân. Một cảm giác thật dễ chịu mỗi khi đi làm về. Căn gia cư nơi tôi dọn về ở trong thời gian mới bước chân vào đời, không phải là một khu cư xá mà chỉ là hai dãy cư xá có chừng hơn hai mươi căn, trước đây là của một ông giám đốc văn phòng thừa phát lại đã di tản ra nước ngoài. Mỗi căn rộng 4m x 20m có một lầu đúc, mái ngói. Cấu trúc các căn nhà đều giống nhau nằm trong một con hẻm rộng ngó thẳng ra chợ Thái Bình khi đó còn thuộc quận 2, được xây dựng năm 1950.

Cư xá Chu Mạnh Trinh nơi nhiều nghệ sĩ tìm đến cư trú (Ảnh: Internet)
Mấy năm đầu sau 1975, lối sống của người dân hầu hết ở các khu cư xá không mấy thay đổi cho dù đời sống còn rất nhiều khó khăn. Nếp sống của thị dân trong các cư xá vẫn còn giữ những chuẩn mực. Ðường sá sạch sẽ, bên hông hàng ba nhà nào cũng trồng một hai cây cảnh hay giàn bông giấy trổ màu tươi tắn. Có nhà trồng cây lý trái toả mùi hương thơm ngát. Ðó là căn nhà của một ông kỹ sư công chánh, bà vợ là giáo sư dạy tiếng Anh. Hai ông bà có hai đứa con nhỏ và đứa cháu gái tuổi đôi mươi ở quê lên phụ ông bà chăm sóc em nhỏ. Căn nhà tôi ở sát bên, có gốc mai cổ thụ ở góc sân, mỗi năm Tết đến ra bông vàng rực làm ông bà rất thích. Vợ chồng ông mua căn nhà từ năm 1970 với giá 500,000 đồng.
Ðối diện nhà tôi là nhà ông sĩ quan bác sĩ quân y, không thấy ông ở nhà (chắc là đi học cải tạo) và cũng ít thấy người nhà hay các con ông đi học hay đi đâu đó về. Lúc nào cửa cái cũng đóng im lìm. Nhưng mỗi chiều tối là nghe tiếng đàn piano réo rắt vang lên. Ông bà kỹ sư và tôi rất thích nghe mỗi khi ông kêu tôi sang nhà ngồi ngoài sân dưới tàn cây mận uống trà ăn bánh ít do đứa cháu gái làm. Ông kỹ sư bảo tiếng đàn là của cô con gái lớn của ông bác sĩ quân y. Không biết bánh ít của cô cháu ngon hay tiếng đàn dương cầm của cô láng giềng làm tôi mê hoặc mà cuối tuần nào ông kỹ sư không mời thì tôi cũng kiếm cớ mon men qua tìm, ông chẳng thấy phiền hà gì và cũng rất vui khi có được người bạn trẻ.
Ðó chỉ là một góc nhỏ sinh hoạt của một vài gia đình thị dân sống ở cư xá. Và hình ảnh này cũng là cách cư xử rất nhân văn ở nhiều khu cư xá khác khắp Sài Gòn. Một kiểu sinh hoạt giao tiếp nhẹ nhàng, quan tâm đến những người láng giềng mới đến.
TN

Ếch ngồi đáy giếng

Hồi ký của Chim Việt
TiVi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Chỉ có 4 chữ “Ếch ngồi đáy giếng” mà khi tôi còn đi học chữ Nho, thầy tôi đã bỏ ra 3 kỳ giảng luận với các môn đệ của ông. Ông là người xứ Huế, sống lâu năm tại làng tôi (Thới Thuận) về nghề Đông Y không biết từ hồi nào, lớn lên tôi đã biết ông có vợ có con ở đây. Một nếp sống thanh đạm của một ông có Tú Tài Hán học thật trầm lặng mà lòng nhân từ của ông thân hào nhân sĩ đều kính nể. Chỉ có người đồng nghiệp đồng hương với ông là thường hay kiếm những sơ hở của một ông thầy thuốc Đông y mà dèm xiểm về cá nhân của ông.
Ông là một nhà nho học lối sống mực thước không như lối sống bừa bãi của họ như uống rượu say sưa ca hát ngoài đường và cờ bạc. Ông củng có cờ bạc nhưng mỗi năm chỉ đánh với những người từ ngoài Trung vào đây bán dây dừa đệm buồm. Mấy ông ghe bầu, thú tiêu khiển giải trí ăn tiền đó là môn Đổ Tam Hường.

Hình như người miền Trung nào củng mê môn Đổ Tam Hường? bộ Tam Hường của ông thầy Huế bằng ngà, một bộ 6 ông Trạng, mỗi trạng là 32 Hường, một mặt Tử là một Hường. 6 người ngồi chung quanh để cái tô Ông Rồng ở chính giữa. Đổ bằng 6 hột lúc lắc, mỗi người nắm trọn 6 hột đổ xuống tô nếu rớt hột ra ngoài củng không được đổ lại chờ cho tới quận khác.
Người dự chơi môn này phải biết chữ Nho và củng phải lanh mắt, hột đổ xuống tô phải lấy con mắt binh cho lẹ vì như đổ xí ngầu lắc chỉ có 3 hột, nhưng đổ Tam Hường tới 6 hột mà lại hiện ra nhiều thứ. Thú nhứt ăn trọn sòng, đổ 6 hột cùng một mặt, kêu là Lục Phú, thứ nhì đổ 5 hột giống nhau là Trạng nhưng còn một mặt làm chứng như mặt lẻ, đó là mặt Nhì thì người sau cùng đổ Trạng mặt Tam lấy lại. Nhưng mặt này ăn phân nửa Trạng là 16 Hường.
Phần Sòng 3 mặt giống nhau, xí ngầu lắc hai nhì, hai xa, hai tứ, hai ngầu, hai lắc. Sung 1,2,3,4,5,6 con Mèo, hai nhất, hai nhì, hai xa.
Tứ Hường là Trạng Non, còn trạng cáp nửa, cho nên khi đổ thì tất cả đều hồi hộp ngó vô tô kiểu, chờ cho hột ngưng thì phải biết binh cho lẹ. Người Bắc mê Tổ Tôm, người Nam mê bài Tứ Sắc, người Trung mê Tam Hường. Sống chung đụng trong một xã hội quá nhỏ hẹp như miền duyên hải này. Nhưng môn giải trí bình dân nó cách biệt ông thầy Huế với dân địa phương chỉ có mỗi một môn đổ Tam Hường, ông kể cho các môn sinh nghe câu chuyện về giai thoại trong văn chương mà trong thời đại nào củng có.
Một huyện kia mới đổi lại ông huyện có tiếng là người hay chữ, lại trấn nhậm xứ này củng là nơi sản xuất ra nhiều nhân tài. Sau khi nhậm chức một thời gian, ông tân quan huyện mới để trước nha môn hai câu liểng như sau: “Minh nguyệt sơn đầu tiếu
Hoàng khuyển ngoạ hoa âm”
Khi hai câu liểng đó được đưa ra đón chào dân địa phương hàng ngày qua lại nhất là đám nho sinh đi học khi đi qua trước cổng nha môn, thấy câu liểng của quan huyện có tiếng là hay chữ vậy mà viết hai câu liểng trước nha môn đó trật lất….
Trong đám nho sinh đó có tên Lục Tặc cái tên nói lên được tính tình của anh. Anh ta nhất định phải sữa lại câu liễng củng như anh tính sửa lưng ông huyện thật dốt nát này. Một bữa nọ anh lấy viết và mực ghé vô trước nha môn sửa mỗi câu một chữ:
*Câu “Minh nguyệt sơn đầu tiếu” anh sửa lại chữ “Chiếu”
*Câu “Hoàng khuyển ngoạ hoa âm” anh sửa lại “thực hoa âm”

Vì cái nghĩa câu “Minh nguyệt sơn đầu tiếu” là trăng sáng trên không rọi xuống là Chiếu, dùng chữ tiếu thì trật vì tiếu là cười. Còn câu “Hoàng khuyển ngọa hoa âm” là con chó không thể nằm trong nhuỵ hoa nên sửa lại chữ “thực hoa âm” (con chó nó ăn hoa). Anh cảm nghĩ một ông huyện nổi tiếng là hay chữ dán hai câu liểng trước cửa nha môn để chào khách địa phương mà bị một anh học trò sửa lại thì có lẽ thẹn lắm…
Anh lính lệ vào báo cho quan huyện hay có một học trò đi qua lại hàng ngày, hiện anh ta đã lấy viết mực sửa lại hai câu liễng ngoài nha môn.
Quan huyện thấy học trò mà dám sửa hai câu liễng đó thật là vô phép và ông củng viết lại hai câu liễng y như trước. Đám học trò đi qua lại thấy sao quan huyện này chỉ có một câu liễng bị sửa rồi mà không có câu nào khác hay hơn để thay thế. Rồi anh Lục Tặc lại lấy viêt mực sửa lại hai chữ như lần trước. Nhưng lần này thì anh bị lính lệ bắt cho quan huyện trị tội.
-Anh kia, anh ăn học đã tới đâu mà sao dám tự ý xóa chữ trên câu liễng trước cửa nha môn như thế?
-Ở đây ai củng đồn ngài là một người hay chữ vậy mà ngài để hai câu liễng như thế trước cổng. Ai họ củng cho là sai, đừng nói chi tới tôi củng là người có ăn học.
_Anh còn phải đi học, phải thi đậu mới được ra làm quan như tôi đây. Anh đi học mà không biết chữ Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, tội anh không thể tha thứ được vì anh không biết tới Tiên học Lễ, hậu học Văn.
Thưa quan huyện thánh nhân có chữ Nhất tự lục nghĩa, một chữ có tới sáu nghĩa làm sao chứng minh là chữ đó nó trúng theo nguyên văn, tinh thần câu liễng?
Anh học trò Lục Tặc bị đưa đi quản thúc ở một hải đảo xa nhà. Tại hải đảo đó anh không bị lao động như những phạm nhân khác, chỉ ăn rồi học, học rồi lại ăn. Nhưng anh củng nhớ nhà nơi mà từ nhỏ tới lớn chưa từng ra khỏi luỹ tre xanh. Sống nhàn nhã như vậy để giải trí anh thường đi ra ngoài đi xóm trên rời đi xóm dưới, tìm hiểu đời sống dân địa phương ở hải đảo này. Một đêm anh đi dọc ngoài đồng gần những ngọn đồi một âm thanh lạ tai hình như có nhiều tiếng cười từ xa vọng lại. Anh đi tới gần chổ phát ra tiếng cười ấy, không phải dưới đất mà là từ trên trời, anh sợ hãi vội chạy trở về nhà trọ.

Anh nói với người nhà anh vừa đi tới một nơi ngoài xa kia có nhiều ma quỉ hiện về trêu chọc khách đi đêm. Người nhà cho anh biết không phải là ma quỉ gì hết, đó là giống chim chuyên bay đi đêm, mà tiếng nó gọi đàn nghe như là tiếng cười của con người. Giống chim đó dân địa phương ở đây đặt tên là chim Minh Nguyệt. Anh thư sinh Lục Tặc khi nghe người dân địa phương cho biết cái giống chim lạ đời này tiếng kêu gọi đàn như tiếng cười của con người. Anh thư sinh nhớ lại cái câu liễng trước “Minh Nguyệt không trung tiếu”
Anh vội vã viết một lá đơn gửi về cho quan huyện thú tội ngu dốt của mình, khi ra tới đây mới biết trên thế gian này có con chim Minh Nguyệt. Nhưng anh củng chưa được lịnh ân xá cho về nhà, anh còn phải đi ở một nơi khác một nơi đồng bằng dân cư sống về nghề trồng rẫy. Tại đây củng như ngoài hải đảo vẫn ăn rồi học.
Vùng đất rẫy bao la này đa số nông dân họ trồng cây bí rợ. Các loại cây hoa màu không thứ nào được nhiều bông lai loại bông lớn. Bí rợ ăn được, bông bí ăn được, ngọn bí ăn được.
“Mẹ mong gả thiếp về vườn.
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”

Trong ruột bông bí rợ nó có cái nhuỵ cao lên, lại tiết ra một chất nước ngọt như là mật ong khi ăn phải bẻ làm hai ngắt bỏ cái nhuỵ vì khi nấu nó có chất đắng đồng thời củng kiểm soát trong ruột bông bí đó thường có con sâu chuyên sống nhờ chất nước ngọt của bông bí rợ. Con sâu này điểm đặc biệt của nó là có 2 con mắt, 4 chân và có cái đuôi dài ra mà dân địa phương đặt tên nó là con sâu Chó Vàng. Khi anh thư sinh nghe dân địa phương nói con sâu Chó Vàng nằm trong ruột bông bí rợ. Nhớ đến câu liễng của ông quan huyện nọ: “Hoàng khuyển ngọa hoa âm” Từ nhỏ tới lớn anh chỉ lẩn quẩn trong làng rồi ngâm nga trong sách thánh hiền chưa từng đi xa vì ngoài tầm mắt anh không biết bao nhiêu là chuyện lạ: Ếch ngồi đáy giếng, thấy bao nhiêu trời?
Nếu trước kia mà quan huyện cho anh biết là vùng nào đó có con chim Minh Nguyệt và củng vùng nào đó củng có con sâu Chó Vàng thì nhất định là anh thư sinh Lục Tặc cho là quan huyện nói khoác. Vì anh đã làu thông Ngũ Thư, Tứ Kinh và Tam Tự Kinh. Cho nên anh mới dám nói nhất tự lục nghĩa, mỗi chữ có 6 nghĩa vậy mà anh không thấy câu chữ nào tối nghĩa như vậy. Nếu anh dám nói với quan huyện là Nhất tự lục nghĩa… thì quan huyện củng xài lại Mạ nhơn Giáo nhơn? cho nên bài học mà quan huyện sở tại tặng cho anh thư sinh Lục Tặc một thời gian dài quản thúc cho hai nơi. Cho anh đụng với thực tế anh phải ghi nhớ mãi không bao giờ quên…
Đặc biệt năm rồi có Mục sư Phan thanh Bình từ Hoa Kỳ qua. Phái đoàn Hội thánh Kew (Melbourne) 15 người có 3 Mục sư. Tôi đi trong phái đoàn đó, ban thanh niên đi từ mấy ngày trước. Phái đoàn đi xe bus xuyên tiểu bang lối 7 giờ sáng tại city. Lối 10 giờ đêm thì tới Sydney tất cả hành khách đều xuốngxe bus vì xe này sẽ chở hành khách trở về Melbourne. Rồi xe bus khác lại bến chở hành khách tiếp tục đi Brisbane. Phái đoàn đi dự đại hội không có lên xe bus đó. Vô phòng giấy khiếu nại thì họ nói chiều mai mới có chuyến khác để chở phái đoàn đi Brisbane và nhân viên đóng cửa về nhà ăn lễ Giáng Sinh vì đã gần 12 giờ. Rồi tới Giáng Sinh thanh niên nam nữ Úc Đại Lợi đi cùng đường vui vẽ ca hát. Trong khi đó 15 người ngồi đứng không yên, không biết nhân viên Hội thánh lấy vé cách nào mà tới đây (Sydney) đứng coi thiên hạ đón mừng lễ Giáng Sinh mà mình thì bơ vơ lóng nhóng. May sao trong đoàn có anh Lưu Tinh có người bạn ở khu Cabramatta rồi khó khăn lắm mới đi tới 5/128 John Street vì Taxi họ củng nghỉ chạy.
Một căn phòng nhỏ mà củng đủ chứa 15 người khách tình cờ này. Rồi củng bày thức ăn đem theo ăn (Reveilion) đúng 3 giờ sáng. Một cái Giáng Sinh nhớ mãi không quên này. Theo đúng chương trình này thì ngày 25 là tới địa điểm núi Tamborine nhưng ngày đó cả đoàn bị kẹt lại khu Cabramatta Sydney.Cho nên các đại biểu đều chờ tới 12 giờ trưa mới khai mạc Hội Bối Linh mà chương trình nghi thức khai mạc Hội Đồng đúng 10 giờ. Vì khi tới Brisbane chổ địa điểm hẹn xe bus Hội thánh chờ phái đoàn Melbourne gần cả tiếng đồng hồ mới tới WEC Conference Centre.
Theo ông tài xế vui tính cho biết vùng núi non này là trước kia để huấn luyện binh sĩ Úc Đại Lợi qua tham chiến tại Việt Nam. Thật là phong cảnh núi non hùng vĩ tôi nghĩ nếu vùng này mà được dàn cảnh để quay phim chưởng thì không nơi nào bằng. Ngày 28/12/1987 lễ bế mạc đại hội Bổi Linh kỳ 3 lúc 12 giờ trưa. Ban tổ chức đại hội có tổ chức đi du ngoạn, ngắm cảnh, tắm biển. Mà địa điểm là bải Cát Vàng (Gold Coast) từ 1 giờ đến 5 giờ chiều Trong khi chờ đợi xe bus lên chở phái đoàn đi du ngoạn, bửa nay tôi mới đi khỏi nhà hội, nơi chót núi Tamborine tại đây có một trạm Rada mà củng là đường cùng từ dưới lên tới đây. Tôi tạm cho nó là chót núi Ma Thiên Lãnh.

Trong lúc thả hồn mộng trong cảnh đẹp tuyệt vời này tôi nghe có tiếng cười từ phiá trên không. Ban đầu tôi cho là các người đi dự đại hội này trèo lên cây cười. Nhưng tôi nhìn lên thì không thấy ai hết, mà chỉ thấy một bầy chim, nghe kỹ lại thì bầy chim này nó cười. Tôi liền chạy vô nhà hội kêu mấy người bạn ra đây nghe chim lạ nó cười và ông Mục sư Nguyễn Cao Lễ nói đó là con chim người Úc kêu là chim Kookaburra. Cuộc đi du ngoạn thăm thắng cảnh, đi tắm biển Bãi Cát Vàng một bờ biển đẹp nhất trong các bờ biển ở Úc châu. Vì vậy mà luôn trên biển vô số thanh niên trai thanh gái lịch có chổ để phô mông ngực, tôi củng chen lấn thay đồ để xuống Bãi vàng này nhúng nước với người ta đâu có dịp nào đi xa hơn 2 ngàn cây số để mà tắm biển và du lịch vùng nắng ấm này. Suốt buổi đi du ngoạn này trong s9ầu óc tôi không quên con chim Minh Nguyệt (tên Việt nam) Kookaburra (tên Úc). Một tiềm thức xa xưa sống lại mạnh mẽ trong tôi. Vì thưở còn đi học chữ Nho nghe ông thầy kể chuyện Minh Nguyệt không trung tiếu. Trí óc non nớt… tôi cho là một giai thoại văn chương mà thôi. Vậy mà cho tới tuổi quá Đáo Tuế mới biết câu chuyện này có thật. Khi vượt biên qua tới đảo Pulau Bidong, tôi được phái đoàn Úc Đại Lợi nhận theo diện đoàn tụ gia đình. Rời đảo bằng tàu cao Uỷ chở đoàn người tỵ nạn lồi hơn 1 giờ là tới tỉnh duyên hải Trengganu cách lối 100 cây số có trạm y tế Barang.

Nghỉ đêm tại đó, sáng tinh sương điểm danh lên xe bus mỗi người được phát một phần ăn dọc đường về Sungai Bisi ngoài thủ đô Kuala Lumpur.
Xa lộ dọc theo bờ biển tay mặt là nhà nông dân Mã Lai cất dưới mấy đám dừa toàn là nhà sàn một sự lạ mắt người tỵ nạn, mình ở nhà trệt họ lại ở nhà sàn giàu nghèo gì củng như vậy. Phía tay trái là mé biển, nhiều loại cây trầm thuỷ củng như các bờ biển bên mình cây Giá, cây Đà, cây Vẹt, cây Đước, cây Mắm. Sống dọc theo mé biển các loại cây này củng bị sóng biển đánh tơi bời vậy mà củng tốt tươi từng đám chạy dài theo xa lộ.
Nam kỳ ở quận Cái Mơn có nhiều loại cây ăn trái như Chôm Chôm, Măng Cụt, Vú Sữa và Sầu Riêng. Đó là những loại cây mà trước kia của cụ Trương Vĩnh Ký khi cụ đi du học trường đạo La Mã ở Penang (Malaysia) Cụ đem những giống cây ăn trái ngon lành đó về xứ mình trồng. Đầu tiên là quận Cái Mơn tỉnh Bến Tre rồi được trồng khắp Nam Việt. Còn các laọi cây trầm thuỷ đứng dài theo bờ biển Mã Lai cùng loại với những cây đứng dài theo bờ biển bên mình. Đành rằng những hột gống cây trầm thuỷ này nó có thể trôi theo sông biển đánh đi một nơi vô tận. Tháng này không tới bờ thì tháng khác nó có thể trôi lình bình trên mặt biển lâu ngày cho tới khi nào được nằm trên mặt đất.
Theo luật hoá sanh nó sẽ đâm chồi mọc lên thành cây sinh con đẻ cháu kể như nhập tịch? Như vậy hột giống này những loại cây trầm thuỷ này nước nào có trước? nước Mã Lai hay là nước Việt Nam? Còn loại chim trời Minh Nguyệt và Kookaburra. Không thể như câu chuyện thần thoại mà nó bay ngang qua một đại dương? Câu chuyện thầy tôi kể cho các môn sinh nghe “Ếch ngồi đáy giếng” cách đây gần 50 năm mà câu chuyện về giai thoại văn chương này củng có trước lối 10 năm kể như củng tới 60 năm.
Sau năm 1975 mới có đoàn người tỵ nạn Việt Nam tới nước Úc châu. Như vậy chắc chắn là đoàn người tỵ nạn này củng không ai đem được con chim Minh Nguyệt theo.

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực
Posted on 10 Nov 2014

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

  1. An Lộc Địa

Đại Đội 3 Biệt Cách Dù reo mừng chiến thắng trên chiến xa địch bị bắn cháy

“Bình Long Anh Dũng!”
“An Lộc địa sử lưu chiến tích
Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân”

1)- “Nhị thức Bộ binh, Thiết giáp”
Với ý đồ cưỡng chiếm Miền Nam của tập đoàn cộngsản Hà Nội. Mùa Hè năm 1972 cộng sản Bắc Việt đưa hai Binh Đoàn, đồng lúc tấn công Tây Nguyên (Kontum) và Khu Phi Quân Sự (Vùng Giới Tuyến). Trước tình thế này, Bộ Tổng Tham Mưu đã phải xử dụng đến lực lượng tổng trừ bị: Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến cho hai chiến trường này.
Bất ngờ, tại Quân Khu III, trong đêm 06 tháng 4 năm 1972, từ bên kia biên giới Campuchia, một Binh Đoàn 50 ngàn quân Việt cọng, bao gồm: 4 Sư Độ Binh, 1 Trung Đoàn Chiến Xa, 1 Trung Đoàn Pháo và Phòng Không hiện đại, bất thần tấn công cường tập, tràn ngập Quận Lỵ Lộc Ninh do Trung Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh trấn giữ.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh gom tất cả các lực lượng cơ hữu còn lại là Trung Đoàn 7 và 8 Bộ Binh, tăng cường thêm Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân lập tuyến phòng thủ mới tại Thị Xã An Lộc để ngăn chận địch.
Ngày 13 tháng 4 năm 1972, Việt cộngxiết chặt vòng vây, bắt đầu tấn công bộ chiến với nhị thức bộ binh và chiến xa vào An Lộc. Lực lượng phòng thủ tại đây đã quyết chiến, chống trả mãnh liệt, tổn thất nặng nề, không phận đã bị địch quân khống chế, trực thăng tiếp tế và tản thương không thể vào An Lộc được, tình thế vô cùng nguy nan.
Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Bộ Tổng Tham Mưu nhận định tình hình, cần phải tăng cường gấp cho lực lượng phòng thủ, nếu chậm trể thì An Lộc sẽ thất thủ, và nếu tiền đồn An Lộc lọt vào tay địch thì hai tiếng đồng hồ sau đó chiến xa địch sẽ tới Bình Dương và Thủ Đô Sài Gòn sẽ bị đe dọa. Bộ Tổng Tham Mưu cuối cùng quyết định tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào tiếp viện.
Trong thời gian này tôi đang theo học Khóa Đại Đội Trưởng tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, thì được tin trong ngày 16 tháng 4, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã nhảy vào tiếp viện, tăng cường cho mặt trận An Lộc và đã bắt tay được với các lực lượng bạn cố thủ, đang trong tình huống hết sức nguy ngập, các tuyến phòng thủ đang bị “thủng” dần.

Sơ Đồ Chiến Trường An Lộc
Theo tin tình báo cho biết, Việt cộngđã cố tình tung 4 Sư Đoàn 5, 7, 9 và Sư Đoàn Bình Long, ngoài ra còn tăng cường một Trung Đoàn Đặc Công, hai Trung Đoàn Pháo và Phòng Không, hai Trung Đoàn Xe Tăng, đây là lần đầu tiên chúng xử dụng xe tăng trên chiến trường Miền Nam, cố chiếm An Lộc trong vòng 5 đến 10 ngày, để ra mắt cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của chúng.
Vừa suy tư về tin tức nóng bỏng này, vừa lo âu cho đơn vị của mình tham gia trận đánh đang xảy ra ác liệt, tôi nôn nóng, băn khoăn vô cùng…Cũng may, một tháng qua mau thì mãn khóa, tôi vội vàng về trình diện Bộ Chỉ Huy hậu cứ đơn vị tại Ngã tư An Sương, Hốc Môn. Toàn bộ các Đại Đội Biệt Cách Dù đã vào chiến trường đã nửa tháng nay rồi, mà không có tôi cùng chiến đấu, cùng chia sẻ gian khổ, nguy nan cùng đồng đội. Yên lòng sao được.
Tôi cùng Thượng sĩ Phạm Văn Cứ cũng vừa đi tập huấn Taekondo trở về, nhận lệnh vào chiến trường ngay ngày hôm sau. Xe Jeep của Liên Đoàn đưa chúng tôi đến Lai Khê nơi Bản Doanh của Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, từ đó Trực Thăng UH.1B đã bốc thả chúng tôi xuống bên ngoài Thị Xã, vùng Xa Cam. Để tránh phòng không của địch, bây giờ chúng sử dụng cao xạ 37 ly (đạn nổ lần hai sau khi trúng mục tiêu), không còn dùng 12.7 như trước kia, Phi Công Việt Nam phải bay thật thấp, sát ngọn cây. Vừa tới bãi đáp ngay giữa Quốc Lộ 13, chúng tôi nhảy liền xuống, cả hai men theo rừng cao su tìm đường vào Đơn Vị, đang trú đóng ở giữa lòng Thành Phố. Lúc ấy trời vừa quá trưa.
Trên đường tiến vào Thành Phố Bình Long, nhà cửa cây cối điêu tàn, xơ xác, một vài nơi lác đác những cột cháy đen còn đang bốc khói. Rãi rác xác địch nằm ngổn ngang, những khuôn mặt măng sữa, chừng độ 14, 15 tuổi. Vượt qua tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 của Đại Tá Mạch Văn Trường, rồi băng qua Công Viên Hoàng Hôn, chúng tôi đã đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn đóng tại một căn phố lầu, bên cạnh Cửa Hàng Tân Hoài Sương, trên Khu Phố đối diện Khu Chợ Bình Long.
Trình diện Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng xong, tôi nhận lệnh làm phụ tá Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Đại Đội Trưởng là Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, đang phòng thủ hướng Đông Đông Bắc, bên trái trục lộ chính Quốc Lộ 13, cửa ngõ Thành Phố, hướng đi Lộc Ninh. Bấy giờ thì Lộc Ninh đã bị Việt cộngchiếm giữ mất rồi.
Bọn giặc cộng không thể tiên liệu được là đơn vị Biệt Cách Dù đã nhảy vào Thị Xã An Lộc và đang mở các cuộc đột kích sở trường, thiện chiến để dành lại các phần đất đã lọt vào tay chúng.

Thị Xã An Lộc trở thành bình địa
Các Đại Đội Biệt Cách Dù, phòng ngự ba hướng chính của Thành Phố. Đại Đội 1 giữ hướng Đông Đông Bắc, Đại Đội 3 và 4 bố trí quân dọc theo Khu Nhà Thờ ở hướng Tây và Tây Bắc, Đại Đội 2 là lực lương trừ bị, rải quân phòng thủ ở khu vực chợ về hướng Nam cùng các dãy lầu phố kế cận Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn.
Tình hình bấy giờ là quân Việt cộngvẫn còn chiếm giữ một số khu vực trong Thành Phố. Chúng đặt chốt trên các đường chính, trong các cao ốc còn sót lại ở hướng Đông Bắc và Tây Bắc, phân chia từng Tổ 3 người để bắn sẻ, hay tác xạ B.40, B.41 ngăn chận các cuộc chuyển quân, tấn công của các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Mặc dù các khu vực hướng Bắc đã lần lượt tái chiếm, nhưng lực lượng địch tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến vẫn cố thủ, chúng dùng đại bác 57 và 75 trực xạ, nhưng cuối cùng với sự yểm trợ hỏa lực của Không Quân Hoa Kỳ và kỷ năng tác xạ súng cối 81 ly chính xác, hiệu quả của Trung Úy Cao Kỳ Sơn và Trung Sĩ Đỗ Đức Thịnh, cùng với lối tác chiến chuyên nghiệp, gan dạ, Biệt Cách Dù đã tiêu diệt toàn bộ bọn chúng ngay trong chiều ngày 18.4.1972. Tuy nhiên Biệt Cách Dù cũng đã phải ngậm ngùi trước sự hy sinh của Chuẩn Úy Nguyễn Quang Khánh và một số đồng đội.
Một phần lớn dân chúng đã thoát ra khỏi Thành Phố, theo QL.13 chạy về hướng Saigon, nhưng đồng bào bị Việt cộng pháo kích sát hại, một số bị chận lại ở Chơn Thành không cho chạy nữa. Đồng bào chết giữa lửa đạn hay sao? cộngsản không quan tâm. Không lý chúng làm Lễ ra mắt “Chính Phủ ma” ở một “Thành Phố ma”, Thành Phố không còn dân, dân chúng đã bỏ chạy hay sao?
Ngày 19 tháng 4 năm 1972, Việt cộngbắt đầu mở cuộc tấn công mới, với ý muốn dứt điểm Thành Phố, kết thúc trận đánh, thực hiện tham vọng giải phóng toàn bộ Thị Xà An Lộc. Chúng đưa Trung Đoàn 141, Trung Đoàn 275 với Đặc công và Chiến xa T.54 yểm trợ tấn công Đồi Gió, chúng áp dụng chiến thuật biển người, nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn văn Đĩnh chỉ huy, ngoài ra chúng còn pháo kích dồn dập vào ngay Thị Xã và sau đó ào ạt tấn công từ hai hướng Tây và Tây Bắc, nhưng chúng cũng đã bị các Chiến Sĩ 81 Biệt Cách Dù Đại Đội 3, Đại Đội 4 và các Đại Đội Biệt Động Quân phản công triệt hạ nhiều địch quân, thiêu hủy một số chiến xa, gây thảm bại cho bọn chúng.
Chiến xa địch bị bắn cháy khắp các ngã đường
Đến Ngày 4 tháng 5, một lực lượng địch, không rõ quân số, lợi dụng đêm tối, tấn công vào phòng tuyến của Đại Đội 3 và 4 hầu mong dành lại những khu vực đã bị Biệt Cách Dù tấn chiếm. Suốt một đêm giao tranh, chúng đã bỏ lại nhiều xác chết nằm vương vãi bên ngoài giao thông hào. Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Đại Úy Đào Minh Hùng, bị trọng thương và sau đó không lâu Đại Đội Phó Trung Úy Nguyễn Khoát Hải, bị mãnh đạn súng cối trúng vào mắt, Trung Tá Phan Văn Huấn đã đưa tôi về đảm nhận chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Dù.
Quân cộngsản áp dụng đúng chiến thuật của Napoléon: “tiền pháo hậu xung”. Trong nửa đêm ngày 10, rạng sáng ngày 11 tháng 5 năm 1972, bọn chúng rót xuống Thành Phố 8 ngàn quả đạn pháo. Với hỏa lực đó không những Thành Phố An Lộc nhỏ xíu thành bình địa, mà tất cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị tiêu diệt. Không một sức đối kháng nào có thể tồn tại.
Mặc dù địch đã pháo xối xả, ác liệt vào Thành Phố chỉ trên 1 cây số vuông, nhằm hủy diệt hoàn toàn binh lực của chúng ta, nhưng bọn chúng đã hoài công, chẳng mang lại được kết qủa hay tổn thất gì đáng kể.
Các lực lượng cố thủ và tăng cường giải tỏa Thị Xã Bình Long, không phòng thủ tập trung trong một khu vực tại trung tâm Thành Phố, mà đóng rãi rác trên một chu vi rộng lớn, với các công sự, hầm hố kiên cố, vững chắc; hơn nửa lực lượng địch và ta lúc đó cũng đang bố trí cận kề, nên địch không thể liều lĩnh hỏa tập để sát thương, gây tổn thất nặng nề luôn cho bọn chúng.

Dứt các đợt pháo, theo hướng dẫn của của du kích địa phương, có cả đặc công và bộ binh tùng thiết, theo đúng chiến thuật “nhị thức bộ binh, thiết giáp”, khoảng hơn 20 xe tăng T.54 của địch tiến vào Thành Phố, theo ba hướng khác nhau. Hướng phòng thủ của các Đại Đội Biệt Cách Dù đã tiên đoán và sẵn sàng chờ địch. Bộ binh, đặc công Việt cộngtiến song song theo xe tăng, chúng vừa đi vừa bắn phá dữ dội.
Bấy giờ, về phía các Đại Đội Biệt Cách Dù phòng ngự, mìn chống tăng thiếu hụt. Một số lớn đã được sử dụng trong các trận đánh trước, công việc tiếp liệu chưa cung ứng kịp. Vả lại, loại mìn chống tăng hiện có, sức công phá còn yếu, chưa đủ để phá hủy toàn bộ xe tăng địch. Trung Tá Phan Văn Huấn đã sáng chế ra một loại mìn chống tăng “thần kỳ”.
Theo lệnh của Ông, các Đại Đội đã xử dụng đạn đại bác 105 ly hay 155 ly không nổ, đút vào đầu viên đạn một thỏi chất nổ TNT, gắn ngòi nổ mìn Claymore vào đấy, xong đặt mìn trên các con đường trước tuyến phòng thủ, chờ xe tăng địch tới đúng vị trí, bấm vào “con cóc”. Sức công phá của loại mìn chống chiến xa tự chế nầy đạt hiệu quả tối đa. Không những xe tăng bất động, bị cháy, mà bộ binh tùng thiết cũng gánh chung số phận và trên đường tạo ra một hố sâu rộng lớn đã làm cản trở đường chuyển vận của các xe tăng bọn chúng.
Nhờ vào sáng kiến này mà hơn 10 chiến xa T.54 của địch đã bị các đơn vị Biệt Cách Dù phá hủy, số chiến xa còn lại đã bị các đơn vị Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Trung Đoàn 8 Bộ Binh, và Địa Phương Quân tác xạ tiêu hủy bằng hỏa tiễn M.72 và XM.202, thây địch chết, bị thương nằm ngổn ngang, la liệt bên các xe tăng địch, trên khắp các ngã đường trong Thị Xã Bình Long, An Lộc.
Trên hướng phòng ngự của Đại Đôi 2, hai chiếc T.54 trúng mìn tan xác tại chỗ, hai chiếc còn lại đằng sau, quay mũi xe bỏ chạy lạc hướng, cũng đã bị các đơn vị Bộ Binh của Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 triệt hạ. Trước thất bại này, khả năng chiến đấu của chúng không còn, các chiến sĩ Biệt Cách dù đã leo lên đứng trên chiến hào, trên các xe tăng địch hoan hô chiến thắng của mình vang dội cả một vùng trời mù mịt khói lửa, đạn bom.

Đại Đội 3 Biệt Cách Dù reo mừng chiến thắng
trên chiến xa địch bị bắn cháy

  1. Đuổi chuột…
    (Đánh chiếm từng nhà)
    Địch sau các cuộc tấn công qui mô, áp đảo, chúng không còn khả năng tấn công lớn nữa, vì thế các Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù được lệnh “đuổi chuột từng nhà”, quét sạch địch khỏi Thành Phố. Việt cộngtháo lui, đang ẩn núp trong các nhà dân bỏ hoang, chúng chiếm cứ một vài cao điểm để bắn sẻ vào binh lính chúng ta. Ngoài ra, không ít cán binh Việt cọng, sau khi đơn vị chúng bị đánh tan tác, bị đánh đuổi ra khỏi Thành Phố, chúng bị kẹt lại nên cũng lẩn trốn trong nhà dân, chưa biết cách tấn thối như thế nào. Tuy nhiên, vũ khí chúng vẫn còn trong tay, còn có thể gây nguy hiểm cho binh sĩ của chúng ta.
    Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn lệnh cho các Đại Đội Trưởng phải nhanh chóng trừ khử toàn bộ bọn chúng. Sở trường chuyên nghiệp của Biệt Cách Dù bắt đầu đem ra tái sử dụng. Các Toán, chờ trời vừa sụp tối là triển khai đội hình, “đục tường” tiến từ nhà nầy qua nhà khác, tiêu diệt địch từng tên một bằng vũ khí cá nhân là dao găm, lựu đạn. Trong trường hợp nầy, lựu đạn là loại vũ khí đắc dụng nhất, “đục tường” chỉ là một cách nói. Việt cộngbắn phá Thành Phố một cách bừa bãi, không phân biệt mục tiêu quân sự hay nhà ở của dân chúng, nên hầu hết nhà cửa đều bị sập hoặc hư nát. Nhờ vậy, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù đã lợi dụng những bức tường nứt đổ, những vách tôn, vách lá rách nát, để tiến từ nhà nầy qua nhà khác. Lần hồi, nội vi Thành Phố không còn bóng dáng địch. Chúng chỉ còn cầm cự vòng ngoài, thỉnh thoảng pháo kích đạn cối vu vơ vào Thành Phố để cầm chừng.
    Mục tiêu còn lại cuối cùng là Đồi Đồng Long. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công tái chiếm Đồi Đồn Long, trong lúc khai triển đội hình khi đến gần chân đồi với đầy dẫy cây rừng hoang dại, các Chiến Sĩ Đại Đội 2 Biệt Cách Dù đã phát hiện một căn hầm, nằm khuất lấp dưới những tấm ván gỗ và những cỏ cây xác xơ vì bom đạn,. Các Binh sĩ áp sát đến miệng hầm, họ nghe vài ba tiếng động sột soạt nhỏ phát ra từ bên trong. Rất thận trọng, họ chưa vội nổ súng hay tung lựu đạn mà chỉ phát lời kêu gọi đầu hàng, đồng thời cấp báo ngay về Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn ra lệnh Đại Úy Sơn cho Binh sĩ quan sát kỹ càng, có thể là địch quân mà cũng có thể là đồng bào, nhưng bất kể họ là ai, với hơn hai tháng chiến trận xảy ra nơi đây, không lương thực, nước uống, thì đâu còn sức đề kháng để chống cự, phải tìm mọi cách đưa họ ra khỏi căn hầm đó. Và thật không thể tưởng tượng được, chỉ vài ba phút sau đó, có hai em bé gái khoảng chừng 6, 7 tuổi bò ra, trên người chỉ còn những mảnh vải rách nát, tả tơi che thân, đất bùn, ghét bẩn bám đen xì trên thân thể khô cằn, còm cỏi, chỉ còn da bọc xương, hai mắt sâu hoắm trên một khuôn mặt hốc hác, ngây dại, thờ thẩn, giọng nói khàn đục, thiểu não, nhìn hai bé chẳng khác gì hai bộ xương biết đi, thật quá đổi thương tâm, đau lòng, không ai có thể cầm được nước mắt.
    Trung Tá Chỉ Huy Trưởng đã mang hai bé về Bộ Chỉ Huy Hành Quân và giao cho Ban Quân Y của Bác Sĩ Nguyễn Thành Châu khám nghiệm, chữa trị, chăm sóc cho đến khi hai bé tạm bình phục và hai bé đã kể lại mọi sự việc như sau: “Hai cháu tên là Hà Thị Loan và Hà Thị Nở, con của Trung Sĩ Hà Văn Hiến, phục vụ tại Tiểu Khu. Khi Việt cộng tấn công, pháo kích vào An Lộc, Mẹ cỏng em trai 4 tuổi và đắt hai cháu chạy giặc, thì bất ngờ Mẹ bị trúng đạn pháo chết ngay tại chổ, em trai bị thương nặng ở chân. Chúng cháu liền cỏng em trai chạy xuống ẩn trú trong một cái hầm kế cận chân đồi Đồng Long, trong đêm hôm đó em trai cháu chết, quá khó khăn để chôn cất, nên chúng cháu để xác em trai nằm bên cạnh cho đến thối rửa chỉ còn bộ xương. Chúng cháu trốn ở đó suốt hơn hai tháng, lúc đầu may nhờ có một số cơm gạo sấy của ai bỏ lại đã ăn dần, về sau ăn sống luôn mấy con gà con lạc mẹ đang trốn chung trong hầm. Cạn kiệt lương thực, đói quá ban đêm khi không còn nghe tiếng đạn pháo kích, thì mò ra khỏi hầm kiếm rau cỏ mà ăn. May nhờ đến ngày hôm nay được các bác tìm thấy mà cứu sống các cháu.
    Trong năm 1973, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã đưa hai cháu Loan và Nở lên Đài Truyền Hình Sài Gòn, để kể lại bao nổi gian khổ, đói khát hãi hùng, kinh hoàng trong hơn hai tháng ẩn trốn ở An Lộc. Đến năm 1974, hai cháu đã được một người Mỹ nhận làm con nuôi, và hiện nay đang định cư tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
  2. Tái Chiếm Đồi Đồng Long.
    Đến ngày 12 tháng 6 năm 1972. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được lệnh tái chiếm Đồi Đồng Long. Đây là một trận đánh sinh tử, quyết liệt cuối cùng mà Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã được cấp trên tin tưởng giao phó. Vận mạng của An Lộc cũng sẽ tùy thuộc vào sự thành bại trong trận huyết chiến này.
    Đích thân Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã điều động Đại Đội 2 và Đại Đội 3 chia làm hai cánh, Đại Đội 3 do Đại Úy Phạm Châu Tài chỉ huy, sẽ tiến quân từ hướng Đông và Đại Đội 2 do Đại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, phối hợp cùng hai Toán Thám Sát do Thiếu Úy Lê Văn Lợi chỉ huy, sẽ tiến quân từ hướng Nam, tất cả lợi dụng vào nửa đêm trời tối, âm thầm, kín đáo bò sát lên đỉnh đồi, nằm ém quân tại chỗ, đợi cho đến khi trời vừa hừng sáng, sau khẩu lệnh xung phong của Đại Úy Sơn, tất cả đã đồng loạt nổ súng xối xả, tấn công vào các pháo tháp, hầm trú ẩn của địch quân, bọn địch dù đông, công sự phòng thủ vững chắc, nhưng quá bất ngờ, không kịp trở tay trước lối đánh thần tốc, táo bạo của Biệt Cách Dù, nên một số đã bị sát hại, số còn lại vừa định thần đã phản ứng chống trả, nhưng không ngăn cản được quyết tâm tái chiếm đồi Đồng Long của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, cuối cùng chúng cũng đã bị tiêu diệt, hay đã phải buông súng đầu hàng.
    Hai Toán Thám Sát đã không chậm trễ, khai triển đội hình công hãm và thanh toán cứ điểm cuối cùng của địch trên chóp đỉnh, bốn tên địch quân ngoan cố cầm cự trong tuyệt vọng, để rồi phải phơi thây thảm khốc. Thiếu Úy Lợi và các Toán viên đã mừng rơi nước mắt, cùng cầm Quốc Kỳ Việt Nam CộngHòa cắm xuống ngay trên đỉnh Đồi Đồng Long.
    Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ lại bắt đầu ngạo nghễ tung bay trước gió, giữa bầu trời một màu trong xanh pha trộn những tia sáng rực rỡ của ánh bình minh, đánh dấu cho một ngày mới, một ngày mà An Lộc, Bình Long đã sạch bóng quân thù, một ngày mà Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III đã ra tuyên bố: “Thành Phố Bình Long, An Lộc đã hoàn toàn được giải tỏa”.
    Trước chiến thắng vang dội, hiển hách của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh khi đến thị sát chiến trường An Lộc, đã thừa lệnh Tổng Thống và Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, gắn cấp bậc Đại Tá đặc cách tại mặt trận cho Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Cùng lúc đó, Tướng tử thủ Lê Văn Hưng đã không tiếc lời khen ngợi và hầu hết các đơn vị tham chiến tại Bình Long đều vui mừng, bày tỏ lòng cảm phục đối với các Chiến sĩ 81 Biệt Cách Dù đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt quân thù, dành lại những phần đất đã lọt vào tay bọn chúng.
  3. Nghĩa Trang
    Dĩ nhiên, trong một trận đánh dữ dội nhất nhì trong Lịch sử Chiến tranh Đông Dương, Việt cộng tung hết lực lượng sẵn có ở miền Đông Nam Bộ và các Sư Đoàn thiện chiến của chúng từ Miền Bắc xâm nhập vào chiến trường An Lộc. Bên phía Chính Quyền và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa quyết tử chiến, giữ không cho giặc chiếm một tất đất nào, nên đã đưa vào mặt trận những Đơn vị Quân Đội nổi danh, thiện chiến, thì sự hy sinh, tổn thất của hầu hết các đơn vị này không phải là ít, trong đó có Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của chúng tôi.

Với các Chiến Sĩ tử vong tại mặt trận, ban ngày chết bất cứ ở đâu, thì ban đêm đều được đồng đội mang về tập trung chôn cất ở khu đất cạnh Chợ An Lộc, như nghiêm lệnh của Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn. Không thể chôn cất ở một địa điểm nào xa Thành Phố vì tình hình chiến sự bấy giờ không cho phép, Liên Đoàn sử dụng khu đất trống phía trước Chợ An Lộc để an táng những Chiến Sĩ Biệt Cách Dù đã nằm xuống. Việc chôn cất khẩn cấp, giữa lúc giao tranh vẫn đang còn tiếp diễn, dù vậy chúng tôi thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Mộ có hàng lối, có đắp nấm và có bia gỗ khắc tạm tên tuổi, v.v…
Về sau này, đích thân tôi được Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn chỉ thị phác thảo họa đồ, điều động một Toán 4 binh sĩ, gồm có Hạ sĩ Sang, Hạ sĩ Trúc (Đại Đội 4), Hạ sĩ 1 Diệp, Binh 1 Ngà (Đại Đội 1) bắt tay vào sửa sang 68 phần mộ, dựng các bia đá có khắc ghi đầy đủ Danh Tánh, Cấp Bậc, Ngày Tháng tử trận và xây dựng khuôn viên bao quanh Nghĩa Trang, mặt chính diện ghi khắc hai câu thơ:“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” và dựng lập một Đài Tử Sĩ “Tổ Quốc Tri Ơn” bằng gạch, tô ciment, cao 10 ft, bên dưới bệ khắc nổi hai câu thơ:
“An Lộc Địa sử lưu chiến tích.
Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân”
Vật liệu cần thiết cho công việc nầy là xi măng, gạch cát phần lớn là do các Hiệu Buôn trong khu vực Liên Đoàn phòng thủ ủng hộ. Tôi phải kể đến sự đóng góp cao quí của cửa hiệu Tân Hoài Sương đã hết lòng hỗ trợ. Ngoài ra, chúng tôi sử dụng một số xi măng của các Cửa Hiệu đã bị đạn pháo kích của Việt cộngtàn phá, chủ nhân đã di tản.
Về sau chính quyền Tỉnh, theo sự đề nghị của Trung Tá Huấn, đã đền bù cho chủ nhân các thương hiệu nầy, theo chính sách gọi là “bồi thường chiến tranh” của Bộ Xã Hội, Chính Phủ VNCH.

Về hai câu đối ghi ở Đài Tử Sĩ Tổ Quốc Tri Ơn, phát xuất từ hai Câu Thơ của Cô Giáo Pha dạy ở Trường Tiểu Học Thị Xã Bình Long. Cô Pha trúng đạn pháo kích bị thương ở chân, không di chuyển được. Biệt Cách Dù đưa Cô về Trạm Xá Dã Chiến ở cạnh Bộ Chỉ Huy chăm sóc. Khi thương tích đã bớt, đi lại được bằng đôi nạng gỗ do các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù tự chế, hằng ngày cô nhìn qua cửa sổ, thấy chúng tôi dưới làn mưa đạn, mịt mù khói lửa đang cặm cụi chôn cất, đắp mộ, dựng bia cho các đồng đội đã hy sinh. Xúc cảm trước những tử vong cao cả này và với lòng cảm mến, đội ơn sâu xa của một người dân với Quân Đội VNCH nói chung và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù nói riêng, cô đã sáng tác hai câu thơ:
“An Lộc Địa Sử lưu chiến tích,
Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân”
Khi tình hình Thị Xã tạm yên. Vào ngày 7 tháng 7 năm 1972, trong chuyến viếng thăm chiến trường An Lộc, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tổng Trưởng Dân Vận Hoàng Đức Nhã và Tướng tử thủ Lê Văn Hưng đã đến kính cẩn quỳ lạy, niệm hương cầu nguyện và rơi nước mắt trước Đài Tử Sĩ của Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù.
Sau sự kiện này, Thị Xã An Lộc đã hoàn toàn nằm trong vòng kiểm soát của Quân Lực Việt Nam CộngHòa.
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù chúng tôi sau 68 ngày chiến đấu đã hy sinh 68 Chiến sĩ và hơn 300 Quân Nhân bị thương tích. Đến ngày 24 tháng 6 năm 1972, Liên Đoàn được lệnh rút khỏi An Lộc, về nghỉ dưỡng quân 2 ngày tại Bộ Chỉ Huy đơn vị ở ngã tư An Sương để bổ sung quân số, trang bị lại đầy đủ vũ khí, quân trang, quân dụng, và 48 tiếng đồng hồ sau đó, ngày 28 tháng 6 năm 1972 lại khăn gói lên đường ra Vùng I hỏa tuyến để tham gia tái chiếm Cổ Thành, Quảng Trị.
Hết “Bình Long Anh Dũng”, bây giờ là “Trị Thiên Vùng Dậy”.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 8 Nov 2014

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

  1. Phần 9
    Chiến trường Tam Biên

Sẵn sàng lâm trận

“mong manh cánh lan rừng xanh
bên thác uốn quanh”
“Chiều lên Bản Thượng”

Đâu phải lần nầy đơn vị tôi mới lên rừng. Dù ở Tiểu Đoàn hay Thám Sát Delta, “lên rừng” là những cuộc hành quân thông thường và sở trường của chúng tôi. Ba Lòng, A-Shau, An Lão, Dakto… nơi nào không là núi rừng? Chỉ có thời gian Tết Năm Mậu Thân mới đánh nhau với địch ở Thành Phố Nha Trang, Gia Định, Saigon.Địch ở trên rừng, chúng tôi lên rừng, địch về thành phố, chúng tôi về thành phố. Nơi nào có địch, cấp trên điều là chúng tôi tới.
Phía Tây Quê Hương Việt Nam, núi rừng xanh ngắt trùng điệp, nhìn màu xanh Quê Hương, vừa thấy đẹp, vừa thấy buồn, vừa thấy thương…
Chuyến đi nầy thì thấy thương hơn, lên tới vùng Tây Bắc Kontum, qua khỏi những cái tên mà người Thành Phố đã nghe tới nhiều, nhưng vẫn còn thấy lạ lẫm: Dakto, Dak-Bla, Ban-Het, Tân Cảnh, Tu-Morông, hay các Trại Lực Lượng Đặc Biệt Polei-Kleng, Plei-Djereng kế cận vùng Tam Biên. Tam Biên là khu vực giáp ranh của ba biên giới: Việt, Miên, Lào.
Vào khoảng tháng 2 năm 1971, gần tới Tết con Heo, năm Hợi. Trước ý đồ xảo trá của bọn giặc cộng, chúng muốn tái diễn cái trò lấn đất dành dân, nên đã chuyển quân tràn qua biên giới ngỏ hầu mở ra các cuộc tấn công xâm chiếm Thị Xã Kontum hay một vài Quận Lỵ lân cận để làm áp lực trong cuộc Hội Đàm 4 bên tại Paris.
Việt cộng đã đưa quân theo con đường mòn Hồ Chí Minh, từ Lào, từ Cambodia qua ẩn trú sát nách biên giới trong vùng rừng rú lãnh thổ trách nhiệm của Quân Đoàn II. Để xác định chính xác về đơn vị, cấp số và vùng trú quân của lực lượng địch, ngỏ hầu lập kế hoạch tấn công, tiêu diệt hay phòng thủ. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đã trình xin Bộ Tổng Tham Mưu đưa Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tăng phái cho Sư Đoàn 22 Bộ Binh để hành quân thám sát kiểm chứng, xác minh.
Toàn bộ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được không vận đến Phi Trường Kontum, và lập căn cứ Hành Quân ở mạn Tây sát bên hông Phi Đạo. Vào những ngày cận Tết, Kontum trời se lạnh, thỉnh thoảng có những trận mưa rào, làm cho những chiến binh đang buồn vì phải xa Sài Gòn như chúng tôi lại càng buồn hơn. Từ căn cứ hành quân, lội bộ gần cả cây số mới tới khu phố Hàng Keo, nằm cạnh bờ sông Dak-Bla, để uống một ly cà-phê đen nóng và nghe vài ba bản nhạc giải khuây, ngoài ra chẳng có gì làm vui trên cái xứ cao nguyên hẻo lánh này.

Phi Trường Kontum
Đêm Giao Thừa, nằm trải dài trên chiếc ghế bố, thỉnh thoảng tôi nghe từng tràng đạn pháo nổ dòn bên tai, ngoài trời thì liên tục được thắp sáng bởi những trái hỏa châu, đầu óc tôi cứ bị đè nặng trong không khí chiến tranh. Chẳng biết đến bao giờ Đất Nước tôi mới không còn bom rơi đạn nổ. Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Sáng vừa thức dậy, Thượng Sĩ Mai Xuân Hùng, Thường Vụ Đại Đội, báo tin cho hay hôm nay sẽ có Biệt Đoàn 5 Văn Nghệ Trung Ương ở Sài Gòn lên trình diễn ủy lạo. Tin thật vui mà lại quá buồn cười. Đơn vị tôi đóng ở ngã tư An Sương, Hốc Môn, Sài Gòn. Biệt Đoàn 5 Văn Nghệ Trung Ương cũng ở Sài Gòn, sao không cho nghe hát ở dưới đó mà kéo nhau lên rừng, bên hát, bên nghe?
Mấy ngày qua, một hai Toán Thám Sát đã xâm nhập hoạt động trong các vùng gần Tam Biên, nằm về hướng Tây Nam Dakto, cách
Trại Polei-Kleng về hướng Tây Bắc khoảng 20 cây số. Các Đại Đội thì đang túc trực ứng chiến tại căn cứ Hành Quân.
Tối lại, ngoài các Sĩ Quan, Binh Sĩ trực hành quân và canh gác, bốn Đại Đội tập trung ngồi phía trước cái sân khấu dã chiến, được kê cao bằng những tấm palette nhôm của Quân Đội Mỹ, đặt trên các thùng “phuy” chứa đầy nước, phía sau là căn lều bạt để các Ca Nghệ Sĩ làm chỗ trang điểm, thay đổi y phục. Ban Nhạc đánh trống thổi kèn trên ấy, Ca Sĩ hát trên ấy, chúng tôi ngồi dưới đất, ngưỡng cổ hào hứng vừa nghe vừa nhìn.
Các Ca Sĩ lần lượt xuất hiện: Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm, Phương Dung, Thanh Mai, Chế Linh, Hùng Cường, Duy Khánh v.v… Các Nữ Ca Sĩ cũng mặc đồ trận, quần áo rằn ri Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Biệt Cách Dù. Mà có gì lạ đâu, các Cô là Binh 1, Hạ Sĩ danh dự của các Quân Binh Chủng mà. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương cũng là Hạ Sĩ danh dự đấy. Nghe giới thiệu lon lá như thế, chúng tôi rất vui và vỗ tay hoan hô liên tục, không dứt.
Duy Khánh xuất hiện trên sân khấu. Rất ít người Huế không biết Duy Khánh. Chúng tôi thì rành sáu câu bởi vì khó có ai hát hay hơn Duy Khánh với bài “Xuân nầy con không về!”
Hồi chưa nhập ngũ, gần Tết, tôi cũng bắt chước Duy Khánh: “Con biết bây giờ Mẹ chờ em trông, nhưng nếu con về bạn bè thương mong”. Ông Anh con ông cậu tôi, giáo sư, nghe tôi hát, phán một câu: “Thằng ni bất hiếu. Cha mẹ phải hơn bạn bè chớ !”.
Có lẽ ông Anh tôi ngoài tuổi nhập ngũ, chưa từng đi lính, nên không rõ tình Đồng Đội như thế nào. Sinh ra ta là Cha Mẹ, cứu mạng ta giữa chiến trường là Đồng Đội. Chưa từng đi đánh giặc, chưa từng gặp gian nguy, thập phần sinh tử nên khó biết cái tình Đồng Đội ấy thiêng liêng, cao quí như thế nào. Càng xông pha trận mạc, vào sinh ra tử, tôi hiểu tâm trạng người lính trong bài hát hơn Ông Anh của tôi.
Sau đêm trình diễn, Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương trở về Sài Gòn ngay sáng hôm sau. Chúng tôi đón Xuân không có “thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ”, thiếu cả tiếng pháo đì đùng. Vì Tết Mậu Thân mà bây giờ có lệnh cấm pháo. Đồng bào cũng nản “quân giải phóng” nên không ai còn muốn đốt pháo làm chi để Việt cộng lợi dụng vào Thành Phố mà giết Đồng Bào.
Ba ngày Tết lặng lẽ trôi qua. Buổi sáng Mồng 4, Trung Úy Thứ, Sĩ Quan phụ tá Ban 3 Hành Quân thông báo: Đại Đội 4 có lệnh chuẩn bị hành quân.
Toán 5 Thám Sát Delta, đã chuyển công điện báo cáo là vừa khám phá trên đường mòn Hồ Chí Minh, ở gần ngã ba biên giới, ban đêm có nhiều đoàn xe Molotova và bộ đội Việt cộng từ Lào và Cambodia di chuyển về hướng Đông Đông Nam, trên phần lãnh thổ của Nước ta, dẫn đến gần các căn cứ 5 và 6 trong vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 22 trú đóng tại Tân Cảnh.
Theo yêu cầu của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù có nhiệm vụ tổ chức phục kích tiêu diệt đoàn xe, bắt sống tù binh để khai thác tin tức.
Đại Đội 4 Biệt Cách Dù được giao trách vụ này. Đại Đội Trưởng là Đại Úy Đào Minh Hùng, còn tôi là Đại Đội Phó.
Chiều hôm sau, Đại Đội được trực thăng vận vào vùng hành quân. Bãi đổ bộ nằm ở hướng Nam khu vực Tam Biên, cách đường biên giới Cambodia về hướng Tây chừng 1 km. Hai Trung Đội 3 và 4 do tôi chỉ huy được đổ xuống trước để an ninh bãi, không lâu sau đó là Ban Chỉ Huy Đại Đội và hai Trung Đội 1 và 2. Đại Đội di chuyển chừng cây số thì trời bắt đầu tối nên dừng quân nghỉ đêm.
Sáng dậy, Đại Đội chia ra hai cánh quân, tiến song hành về hướng Đông Bắc để tiếp cận con đường mòn do Toán 5 Thám Sát phát hiện. Nơi đây chắc hẳn là chốn an toàn của địch, vì trên đường di chuyển Đại Đội đã nhìn thấy có rất nhiều đường dây điện thoại của chúng giăng đầy chằng chịt dọc theo các cành cây, thỉnh thoảng bắt gặp những căn lều trại và bếp núc đã bị bỏ hoang bên những khe suối, dưới những cụm rừng âm u, hoang lạnh.
Đi gần nửa ngày đường, vừa tiếp cận con đường mòn, đang dàn quân bố trí, thì Tổ khinh binh tiền đạo trông thấy một tốp bộ đội Việt cộng đang di chuyển ngược hướng, nên đã nổ súng tác xạ. Bọn địch dạt qua mé rừng bên phải phản công mãnh liệt, nhưng cuối cùng bọn chúng tháo chạy, để lại 5 xác chết tại hiện trường. Có thể đây cũng là đám tiền sát viên của chúng.
Sợ lộ mục tiêu sau khi chạm địch, Đại Úy Hùng cho lệnh Đại Đội di chuyển lên hướng Bắc chừng 500 mét thì dừng lại. Sau khi quan sát địa thế, Đại Đội dàn trải đội hình dọc theo con đường mòn chạy từ Tây sang Đông. Tôi ra lệnh Thiếu Úy Nguyễn Kim Long Trung Đội Trưởng Trung Đội 3 đưa 2 khinh binh bò ra giữa mặt đường để chôn các trái mìn chống chiến xa M.15 dưới các vết xe lăn cũ.
Màn đêm xuống dần, rừng êm ắng, lặng yên và mù mịt tối. Tất cả Binh sĩ ghìm súng nằm chờ đợi. Ở một vài khoảng trống trong khu vực, thỉnh thoảng được những trái hỏa châu trên bầu trời tỏa sáng lờ mờ rồi dần dần tối hẳn.
Ba tiếng đồng hồ đã trôi qua, không một động tĩnh, nhưng không vì thế làm nản lòng các chiến sĩ Đại Đội 4 Biệt Cách Dù, tất cả vẫn ghìm súng trong tư thế sẵn sàng đối phó với địch quân.
Tôi nhìn đồng hồ, đã 12 giờ 30 khuya, vừa định lấy bi đông uống một ngụm nước cho tỉnh táo, thì ầm, ầm, ầm, những tiếng nổ vang dội và chuyển động cả một khu rừng. Ba chiếc xe Molotova của địch đã bị trúng mìn, nằm lật nghiêng, choáng hết cả mặt đường. Tiếng la hét của đám Việt cộng, tiếng súng Đại liên, XM.16, M.79, xen lẫn tiếng đạn AK.47, CKC đã làm cho sự tịch mịch của khu rừng trở nên náo động, ầm ĩ.
Đêm trôi qua rất nhanh. Trời vừa hừng sáng, sau khi kiểm chứng và báo cáo kết quả tổn thất của địch bao gồm: 15 cán binh cộng sản bị sát hại, 3 xe molotova và rất nhiều quân dụng, lương thực đã bị phá hủy hoàn toàn, phía ta 5 chiến sĩ bị thương, trong đó có tôi bị một mãnh tạc đạn cắt vào cổ tay và 1 Hạ Sĩ Quan tử thương về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Đại Đội khởi sự di chuyển trở lại hướng Tây Nam, vừa băng ngược qua con đường mòn, di chuyển lên hướng ngọn đồi trước mặt để đến bãi triệt xuất, thì bất ngờ đạn địch từ trên bắn xuống xối xả, nhưng may nhờ sườn đồi có nhiều đá tảng và cây rừng lớn che chắn, nên chỉ làm bị thương 2 Hạ Sĩ Quan Tiểu Đội Trưởng và 5 Binh Sĩ.
Đại Đội ở vị thế bất lợi hơn địch, Việt cộng ở trên cao. Đại Đội tấn công lên đồi nhiều đợt mà không lên được, hao hụt không ít. Chuẩn Úy Lương Hữu Yên, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, đã bị tử thương, xác còn nằm trên sườn đồi, và không lâu sau đó Chuẩn Úy Trần Thanh Đồng đang tiến quân lên đỉnh đồi ở cánh phải, thì cũng cùng chung số phận, tôi đã hai lần điều động binh sĩ cố bò lên lấy xác, nhưng vì bị hỏa lực địch bắn càng quét dữ dội, nên không thể, Đại Úy Hùng bảo tôi báo cáo tình hình chạm địch và tổn thất về Bộ Chỉ Huy, đồng thời khẩn cấp xin máy bay oanh kích đến dội bom vào vị trí địch ở trên đồi cao.
Tiếng động Trực Thăng bay vòng trên khu vực, qua máy truyền tin PRC.25, tôi nghe rõ tiếng Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, đang liên lạc hướng dẫn các Phi Tuần Skyraider, A.37, trên đường bay đến để oanh kích chính xác vào tọa độ mục tiêu của địch.
Sau các Phi tuần oanh tạc thì Phi Đội Trực Thăng võ trang xuất hiện, bay vòng quanh, bắn xối xả, liên hồi xuống trên đầu địch. Vừa chấm dứt các đợt oanh kích, tác xạ, hai cánh quân hai mặt của Đại Đội, theo lệnh của Đại Úy Hùng, đã đồng loạt xung phong, tràn lên chiếm lĩnh đỉnh đồi. Xác Chuẩn Úy Yên và một số Binh sĩ đã được Thiếu Úy Long đưa một Tiểu Đội khiêng vác mang theo. Riêng thi thể Chuẩn Úy Đồng, vì nằm gần vị trí địch, nên đã không còn tìm thấy xác sau khi các chiến đấu cơ đã dội bom yểm trợ khốc liệt.
Quân địch hoàn toàn tan rã, bỏ thây rãi rác chung quanh đồi, 20 xác đếm được, còn một số “chém vè” cao bay xa chạy, tịch thu rất nhiều loại vũ khí, máy móc và quân dụng.
Vậy rồi, ngay chiều hôm đó, Đại Đội vừa tải thương vừa di chuyển đến bãi triệt xuất. Tới điểm hẹn, chờ không bao lâu thì một Đoàn Trực Thăng đáp xuống thấp. Từng Trung Đội đưa xác tử sĩ và thương binh lên trước, xong thay nhau nhảy lên các chiếc kế tiếp. Lần lượt Đại Đội đã được bốc đưa về lại Căn Cứ Hành Quân ở Phi Trường Kontum.
Cách hành quân của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù thường như thế. Thả các Toán Thám Sát vào các mật khu của địch, thông thường là ở những vùng dọc theo biên giới, núi non hiểm trở, ngoài tầm tác xạ, yểm trợ của Pháo Binh, để khám phá các căn cứ, kho tàng, địa đạo và lực lượng của Việt cộng. Nhưng, nếu cần thiết thanh toán mục tiêu, hành quân tiêu diệt, phục kích, thì các Đại Đội xung kích sẽ đảm nhận trách nhiệm.
Đây cũng là một trong hai cuộc phục kích hiếm hoi trong lòng địch, nơi các mật khu bất khả xâm phạm của bọn chúng, trước đây vào năm 1968 tại thung lũng Ashau, mà chỉ có lực lượng duy nhất là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù mới có thể lập nên thành tích, công trạng lịch sử này.
Kontum là đây! Tam Biên là đây!
Lòng chúng tôi vui. Và trong niềm vui trở về, tôi bỗng nhớ một bài hát: “Đường lên núi rừng! Sao hãi hùng”.
Hãi hùng là tự người khác đem đến cho ta, từ con người, không phải từ thiên nhiên.
Người yêu Quê Hương thì không thấy Quê Hương mình hãi hùng bao giờ!

Tiến vào trận địa

Tha phương cầu thực

hung-viet.org
Huy Phương / VOA
13 Tháng Sáu 2017

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Người ta định nghĩa “tha phương cầu thực” là đi nơi khác (ngoài quê hương) để kiếm ăn (mưu sinh!) Sau tháng 4-1975, chính quyến mới ở Việt Nam thường cho những người bỏ nước ra đi, đến một quốc gia khác sinh sống là để kiếm “bơ thừa sữa cặn,” vì miếng cơm manh áo, là những người “ tha phương cầu thực.”
Không ai hãnh diện phải bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả tổ tiên để di cư sang xứ khác vì cơm áo. Một đất nước vì chính kiến khiến người ta phải bỏ nước ra đi, một đất nước không giữ chân được người dân làm ăn sinh sống trên quê hương mình mà phải bỏ xứ kiếm ăn, là một đất nước có những nhà lãnh đạo tồi.
Thử nhìn lại đất nước chúng ta ngày hôm nay, một xứ nông nghiệp mà lâm vào tình cảnh, đến mùa lúa, không có người canh tác. Hầu hết nông dân đều đã bỏ xứ ra đi tìm nơi khác, nghề khác để làm ăn. Chính quyền trước cảnh đất ruộng bỏ hoang đã hứa sẽ cung cấp giống lúa tốt, chịu mặn, nhưng con số nông dân chịu một nắng hai sương cấy cày không còn lại bao nhiêu. Ông Đặng Thanh Quang, phó chủ tịch huyện Trần Đề, Sóc Trăng kêu gọi cha mẹ, vợ con những người bỏ xứ hãy vận động họ quay về làm đất cho kịp vụ lúa mới…
Hồi tháng 9-2016, Ngân Hàng Thế Giới (WB) công bố bản “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016,” cho thấy, cơn sốt nông dân bỏ ruộng đồng, từ nông thôn ra thành thị giờ đã trở nên trầm trọng. Không chỉ nông dân ở miền Bắc, miền Trung là những nơi khí hậu không thuận lợi cho nông nghiệp, mà còn cả nông dân từ đồng bằng sông Cửu Long, nơi từ xưa được gọi là vựa lúa Đông Nam Á.
Theo cuộc tổng điều tra dân số của VN, từ năm 2009-2014, mặc dầu có 97,000 người từ nơi khác đến đồng bằng Cửu Long, nhưng từ 1984-89 đã có 92,000 người, năm 1994-99 có 230,000 người, năm 2004-2009 có 733,000 người, năm 2009-2014 có 544,909 bỏ vựa lúa Cửu Long để đi xứ khác mưu sinh, kiếm ăn. Tính ra trong vòng 30 năm, hơn 1 triệu rưỡi người đã bỏ xứ sở của mình, một nơi có tiếng là mảnh đất mầu mỡ, trù phú nhất Việt Nam để đi tha phương cầu thực. Trong mười tháng đầu năm 2016, tại Cà Mau có 26,000 bỏ xứ đi nơi khác làm thuê, Kiên Giang con số này là 20,000, Sóc Trăng là 10,000 người.
Đó là chuyện những nông dân của khu vực đồng nằng sông Cửu Long, còn ngư dân vùng biển của quê hương lại lâm vào cảnh tệ hại hơn. Họ không còn đánh bắt được trong vùng biển quê hương, một phần biển đã nhiễm độc, một phần ra khơi thì bị tàu lạ (Trung Cộng) xua đuổi đánh dập, bắt bớ, nên đành phải làm những ngư dân đánh cá bất hợp pháp trong vùng biển của các nước láng giềng.

Từ tháng 1-2013 đến tháng 3- 2017, đã có 134 tàu với hơn 1,000 ngư dân của tỉnh Bà Rịa (Xuyên Mộc – Long Điền) bị nước ngoài bắt giữ do xâm phạm vùng biển đánh bắt hải sản trái phép; trong đó, 132 tàu với 997 ngư dân bị Indonesia bắt giữ; hai tàu khác do Malaysia bắt giữ. Malaysia tố cáo lãnh hải của họ bị các tàu cá Việt Nam xâm phạm nhiều nhất. Dựa trên số liệu các vụ bắt giữ của nhà chức trách Malaysia trên Biển Đông, Bộ trưởng đặc trách an ninh quốc gia Shahidan Kassim ngày 8/4 cho hay trong tổng số 273 vụ bắt giữ từ năm 2010 tới tháng 2 năm nay, các tàu cá Việt Nam chiếm phần lớn. Gần đây, ngư dân Việt Nam lại lân la đến Papua New Guinea và vùng biển Úc Châu để bắt trộm hải sâm, một số đã bị bắt tù và phạt tiền, khiến đại diện Bộ Nông Nghiệp Việt Nam phải sang Port Moresby, thủ đô của PNG để ký cam kết hứa ngăn chận ngư dân xứ mình đến trộm hải sâm ở đây nữa!

Các ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ trong các cuộc tuần tra ngày 10/3 và 11/3. (Ảnh: NST). Ảnh chụp màn hình trang web vnexpress.net

Biển Đông bị Trung Cộng khống chế, ngư dân Việt phải tha phương vào vùng biển cá nước khác kiếm ăn, lớp bị bắt, lớp bị giết, lớp bị săn đuổi, lớp bị bắn chìm.
Ngư dân miền Trung vốn tay chài tay lưới, sống với nghề biển lâu năm, nay trở thành công nhân “xuất khẩu” bất đắc dĩ, nôm na là bỏ nghề, lưu lạc đi làm thuê xứ người.
Xã Cương Gián (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) 20 năm trước, khi chưa có phong trào ra nước ngoài làm thuê (xuất khẩu lao động) thì xã này cũng như hầu hết đất ven biển miền Trung khác, lam lũ quanh năm, nhưng không đủ ăn, đói nghèo, cơ cực. Ngày nay nhờ đám tha phương cầu thực, làm thuê tận Nam Hàn, đường làng sạch sẽ, nhà cửa cất lên san sát, khang trang không thua gì nơi phố thị.
Chúng ta cứ tưởng tượng một xã ven biển, tính tới tháng 3-2016, đã có tới gần 2.700 người đang đi làm thuê ở Nam Hàn, Nhật Bản, Úc, Đài Loan…làng xóm mới được “đỏ da thắm thịt” như hôm nay!
Cũng như thế, Cương Gián, xã Đô Thành (huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) giàu có bậc nhất xứ Nghệ nhờ nguồn thu từ tha phương. Xã hiện có khoảng 2.000 người đi làm ăn ở các nước như Nam Hàn, Đức, Nga, Thái Lan, Lào… Nhờ nguồn ngoại tệ gửi về từ nước ngoài mà đến nay, xã có trên 1.000 nhà dân xây nhà lầu trị giá cả triệu đô la, trong đó có nhiều gia đình có xe hơi.
Hiện nay nhà nước có chính sách đào tạo cho ngư dân trong độ tuổi từ 18 đến 35, để đưa sang Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc làm thuê. Nhưng muốn đi sang các nước này, phải tốn kém một khoản chi phí khá lớn, số ngư dân không có tiền chạy “xuất khẩu” đã tìm cách trốn qua Tàu, làm thuê, như làm bánh kẹo, ở các nhà máy chế biến nhựa, nông sản và một số công trình xây dựng khu vực biên giới Việt Hoa.
Ở trong nước thì dân vào đến tận miền Nam, Vũng Tàu, Biên Hoà để làm ăn, vào biển Ninh Chữ để làm thuê, ai thuê gì làm nấy.
Với những ngư dân Quảng Bình nói riêng và miền Trung nói chung, một khi biển chết, tương lai chết dần chết mòn theo, kéo theo nhiều nhóm ngành nghề khác đành phải ly hương kiếm ăn. Từ sau Tết, mỗi ngày hàng nghìn người dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình làm thủ tục đi du lịch nước ngoài như Lào, Thái Lan, nhưng thực tế là đi tìm kế sinh nhai. Đây là khu vực giáp với các tỉnh miền Trung, chỉ cần đi xe hơi hơn nửa ngày trời là sang đến Lào và qua sông Mekong làm thủ tục nhập cảnh là được vào đất Thái Lan.
Ngày nay số người cầu thực ở Lào không ít, người sang Lào làm ăn cho biết: “Đi làm ở Lào, Thái là được gần nhà hơn, thủ tục không rắc rối, không tốn tiền vé máy bay!” Sở lao động Thương binh Nghệ An cho biết, lượng người làm hộ chiếu, giấy thông hành tăng đột biến, vào những ngày cao điểm có thể tới 1,200-1,300 người một này.
Một điều xót xa là ngày càng có nhiều học sinh ở các xã Lộc Sơn và Lộc Bổn (huyện Phú Lộc-Thừa Thiên) bỏ học để theo người thân sang Lào làm thuê, mà nhà trường và chính quyền không thể ngăn chặn… Nhiều năm trở lại đây, năm nào trường cũng có 30-40 học sinh bỏ học khiến cho các lớp học ngày càng trống vắng, số học sinh toàn trường giảm đáng kể.
Tỉnh Kiên Giang thì số nông dân rời quê đi làm ăn ngoài tỉnh tăng khá nhiều, chủ yếu do mất mùa bởi hạn hán và nước ngập mặn thời gian qua. Tại huyện An Biên, năm 2015, cả huyện có khoảng 6.000 lao động đi làm ngoài, trong 4 tháng đầu năm nay con số này đã tăng lên 1.400 người. Dân phải rời quê kéo cả nhà đi Saigon, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, thậm chí lên tận Tây nguyên làm thuê kiếm sống!
“Tha phương cầu thực” trở thành phổ biến vì những gia đình có thành viên tha phương thấy mình ra khỏi được cảnh bần cùng, đói rách.
Khổ một nỗi, đất nước nghèo đến nỗi người Việt Nam phải đi móc túi tha phương tận bên đất Nhật, bên Thái Lan.
Việt Nam thích làm cường quốc, thì lần này được gọi là cường quốc “tha phương cầu thực,” quốc sách là bỏ làng làm thuê, ở mướn lần hồi kiếm ăn.

Huy Phương – VOA

Những nỗi chia lìa

hung-viet.org
Huy Phương
02 Tháng Mười Một 2015

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Làm nghề truyền thông, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được điện thư của những người không quen biết ở nhiều nơi. Ngoài những chuyện trao đổi ý kiến, khen ngợi hay chê trách, nhiều lúc tôi lâm vào tình trạng khó xử về những lá thư nhờ tôi một vài việc nhỏ, mà tôi không làm được hay chần chờ không biết giải quyết, trả lời ra sao?
Những bức thư này mang những hoàn cảnh khá giống nhau: “Tìm cha.” Không phải như những đứa con lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ mang về quê cha, nhưng không biết cha là ai, tác giả những bức thư mà tôi nhận được biết rất rõ về cha mình, qua lời kể của mẹ. Ngày chiến tranh chấm dứt, các em còn quá nhỏ, bây giờ 40 năm trôi qua, các em đã trưởng thành, có gia đình, nhưng có mẹ mà không có cha, các em có nhu cầu đi tìm lại người cha của mình với những lời gọi buồn thảm:

  • “Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu?”
  • “Ba cháu tên là Nguyễn Văn Ba, cấp bậc trung úy thuộc Tiểu Khu Long An. Tháng Tư, 1975, trong cơn hỗn loạn, ba cháu xuống tàu đi Mỹ, từ ấy đến nay không có tin tức gì về với gia đình. Mẹ cháu đem con về nương náu bên ngoại, nhẫn nhục nuôi con, mong chờ tin cha, nhưng tin cha biền biệt. Nghe nói cha cháu hiện ở California, mong bác rộng lòng nhắn tin, tìm giúp ba cháu. Cháu và gia đình không quên ơn bác.” (Nguyễn Thị Hoài) *
  • “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cháu đang còn ở trong bụng mẹ. Ba cháu là lính không quân, di tản trước khi Sài Gòn mất. Từ đó đến nay, mẹ cháu nói không có tin tức gì của ba cháu. Bà ẩn nhẫn sinh và nuôi con, lập gia đình với một người đàn ông khác và sinh ra những đứa con khác cha với cháu. Ông dượng sau này rất yêu thương cháu và rất thông cảm với hoàn cảnh của mẹ con cháu. Cháu lớn lên, hiện nay đã có gia đình và sinh hai con.
    Cháu biết chuyện xưa qua lời kể của bà ngoại lúc cháu sắp đi lấy chồng. Mẹ cháu không bao giờ nhắc chuyện cũ, nhưng trong thâm tâm, cháu vẫn tha thiết muốn biết cha cháu là ai, không phải để nhờ cậy gì nhưng, ít ra cho lòng cháu khỏi ray rứt.” (Phan Thị Hoàng Oanh) *
    Bức thư kèm theo chi tiết, tên tuổi, trú quán ngày trước của người đàn bà mang thai ở lại và tên của của người cha không bao giờ biết mặt của người con gái gửi thư.
    Trong cơn hỗn loạn của Sài Gòn vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi nghe Cộng Quân sắp vào, phản ứng bình thường là ai cũng mong tìm đường ra đi lánh nạn, và không ai nghĩ đến ngày một, ngày hai mình sẽ trở về, không ai có thể hứa hẹn với những người thân yêu ngày tái ngộ là bao lâu. Họ để tất cả dĩ vãng lại sau lưng, tất bật làm lại cuộc đời trên quê hương mới, học hành hay làm lụng vất vả để sống còn. Ngày tháng trôi qua, những bản tin từ quê nhà mỗi ngày mỗi xấu đi, và nỗi sum họp hay trở về hầu như tan biến. Có những người chung thủy, sắt son nhưng cũng có những người yếu đuối, buông xuôi trong dòng đời xô đẩy, và thời gian không dừng lại để chờ đợi ai. Những người bạn của tôi đã có công ăn việc làm, lập gia đình mới, sinh con đẻ cháu, những đứa con ra đời nơi đây đã thành đạt, dưới một mái nhà hạnh phúc.
    Tôi nghĩ là họ không bao giờ quên chuyện cũ, nhưng đã không một lần nói ra thì không bao giờ có cơ hội nói lại. Nếu đây hẳn không là một điều tội lỗi thì họ cũng có những giấc ngủ không yên, một nỗi lo sợ ám ảnh trong suốt cuộc đời còn lại, một thứ hạnh phúc mong manh, không an toàn.
    Ở trường hợp này, có thể nào tôi đi tìm họ, người sĩ quan hay người lính không quân đã bỏ lại những đứa con hay cái bào thai trong bụng người yêu, để nói với những người này những sự thật mà không bao giờ họ muốn nghe hay sợ hãi nếu phải nghe.
    Tôi không sống qua những khoảnh khắc của đời họ, với những định mệnh bất ngờ và lo toan của riêng mỗi người. Tôi cũng không muốn đem lại một thảm họa cho những người bạn này, mà hạnh phúc họ đã vun xới trong vài chục năm qua, bỗng nhiên đổ vỡ.
    Nếu bạn là họ, giờ đây bạn phải cư xử như thế nào.
    Nếu bạn là người phụ trách phân xử trong hội đồng gia tộc, trong họ hàng hay đang là người phụ trách “Gỡ Rối Tơ Lòng,” “Giải Đáp Tâm Tình,” cho một đại nhật báo có uy tín nhất, hay bạn là bà Tùng Long ngày xưa, hay là quý bà Phillips của Dear Abby để cho tôi xin một lời khuyên, một lời khuyên tốt đẹp của đôi bề, không làm tổn thương hạnh phúc của một ai.
    Tôi sẽ nói gì với những đứa con đi tìm cha đã viết thư cho tôi.
    Cứ xem như cha cháu không còn nữa. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều gia đình hy vọng hay tưởng chồng mình đã lên được một con tàu nào đó để ra đi và mỗi ngày họ hy vọng có một tin tức hay một lá thư trở về. Nhưng sự thật, trên con đường vượt thoát, trong bom đạn, họ đã nằm lại trên một mảnh đất quê hương hay một bờ biển nào đó. Đó là trường hợp một quân nhân của Sư Đoàn 1, gia đình tưởng đã lên một con tàu nào đó ở Thuận An để ra đi, nhưng cuối cùng, 30 năm sau, người ta tìm thấy xương cốt của ông trên bãi biển An Dương cùng với đồng đội của mình.
    Hay là tôi sẽ nói sự thật, là cha cháu còn sống, nhưng ông đã có một mái ấm gia đình khác, giàu có, thành đạt nhưng có thể không hạnh phúc, nếu mỗi khi ông nghĩ đến mối tình xưa và giọt máu của mình không biết giờ này ra sao, sống chết, phiêu bạt nơi nào? Nếu nói đến một người đang ray rứt khổ đau, thì người đó chính là ông, người cha mà con đang tìm kiếm, chứ không phải đó là mẹ của con hay chính là con.
    Rồi ra, khi lớn lên, va chạm với những nghịch cảnh của cuộc đời, thấu hiểu số mệnh, con sẽ hiểu.
    Chúng ta lên án ai bây giờ? Một người đàn ông phụ bạc hay là một người đàn bà không có lòng rộng lượng.
    Chúng ta lên án chiến tranh, có hàng triệu nạn nhân, trong đó có mẹ, có cha cháu, và hiện nay là cháu.
    Ở những đất nước bình an trên thế giới, không bao giờ nghe tiếng đạn bom, ít xảy ra những cuộc đổ vỡ, chia lìa, chết chóc như quê hương của chúng ta. Mang số phận Việt Nam, ở đó, đã có bao nhiêu nấm mồ chôn vội, bao nhiêu vành khăn tang, bao nhiêu nạng chống, bao nhiêu đứa trẻ không cha, và những người quả phụ, mất chồng khi chưa qua tuổi đôi mươi.
    Nếu đêm nay cháu không ngủ, thao thức nghĩ đến một người cha không bao giờ biết, không bao giờ gặp, thì người cha ấy chắc cũng không tròn giấc, có khi lòng như lửa đốt, trên chăn êm, nệm ấm mà nghĩ như trên gai nhọn hằng đêm.
    Có thể câu chuyện mà cháu nhờ đến tôi, tôi không bao giờ giúp cháu được.
    Dù xót xa, tôi nghĩ rồi ra cháu sẽ hiểu, sẽ tha thứ và sẽ quên.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

(*) Tên, tuổi, thông tin của những người trong cuộc đã được thay đổi.

Bối 3

Hồi ký Chim Việt

TiVi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

_Ông củng đi buôn trên Cầu Ông Lãnh mới gặp họ hay gặp họ ở đâu?
_Sau chuyến đi làm ăn với họ ngoài Bà Rịa tiền bạc có dư dã nhiều đâu còn đi buôn chi cho cực nhọc có lổ có lời. Tao bắt đầu lo tới tương lai nghĩa là muốn cải tả quy chánh. Đem tiền về cho than nhân ruột thị mua vườn, mua cây ván cất nhà đặng giải nghệ cưới vợ sống cuộc đời lương thiện làm ăn. Chuyến đi đó tao mướn hai thằng bạn thằng thì ở bên Châu Bình quận Bảo Lộc bên Bến Tre thằng đó khá có tiền thì lo cưới vợ, chỉ có dư được chuyến đi với tao ngoài ra tiền bán mỗi chuyến là 6 đồng tao tặng thêm cho nó 100 đồng. Tao dấu nó nói là chuyến đó đánh bài với mấy lái dưa trên đảo Long Sơn nhờ có đám điếm ở Sài Gòn ra nó vẫn tin như vậy. Còn thằng kia thì nó ở bên Giao Long có tiền lo đi sắm đồ đạc và đánh me của sòng me Hương Quản B bên đó. Luôn mấy cái từ dưới Bình Đại, Lộc Thuận lên trên rạch Miễu xuống cái nào củng đổ, tay em vùng này ai củng trúng làm cho phách cái về tay không, vậy mà thằng đi bán cho tao nó không ăn như người ta, nó thua. Vùng này từ nhỏ tới lớn ai củng biết mặt nó là thằng chuyên làm ruộng và đi bạn mướn. Sao tự nhiên lại có tiền sắm quần áo, lại có tiền để đi đánh me? Như vậy số tiền của nó đâu phải làm ăn lương thiện, không ăn trộm thì củng đi ăn cướp, cho nên lúc đó mà cở nhỏ như mày mà cầm tờ giấy 20 đồng thì sẽ bị lính kín bắt liền.

Cho nên một bửa cái bên chợ An Hoá qua củng bị đổ luôn tay em, ai củng trúng mà thằng bạn tao lại thua nửa nên khi móc tiền ra đât nó nói lầm thầm: “đụ mẹ tiền ngoài Bà Rịa xui quá… tiếng chửi thề và nói tiền ngoài Bà Rịa xui quá lọt qua tai lính kín của quận Năm. Rồi thằng bạn tao sau mấy ngày liền bị bắt giam trong khám An Hoá.
Hay tin nó bị bắt giam ở An Hoá, sợ nó khai lung tung làm nguy hiểm cả chum liên hệ với nó tao mới lên Sài Gòn mặc đồ theo dân anh chị vùng Cầu Muối. Tao mặc áo Bành Tô thả luôn 6 nút. Thật quả như vậy khi tao vô tiệm cà phê ngồi kêu ly Phế nại chưa uống hết ly thì có người lại hỏi đại ca hay nhị ca?
_Đại ca hay nhị ca củng được khẩn cấp lắm huynh.
Tao với anh này lên xe kéo chạy môt hồi tới đường La Pheo. Chổ này tao có đi vài lần dân lục tỉnh lên buôn bán thì thằng nào củng phải lại đây với đám em út có phấn son theo Châu thành. Anh này dắt tao vô ngồi trên bộ salon hút thuốc chờ đợi gặp nhị ca. Hút hết phân nửa điếu thuốc thơm thì có người mời đưa tao vô phòng. Bước vô tao thấy giữa bộ ván gõ có mâm hút á phiện và có mấy người mặc áo thun lá đang nằm hút á phiện. Thấy tao vô họ ngồi dậy hỏi liền:
_Bạn ở vùng nào?
_Dạ em ở vùng Ba Cụm
_Chuyện gì nói mau cho rõ ràng.
_Thằng đi bạn với tôi nó bị lính kín ở quận Năm An Hoá bắt.
_Bắt đã mấy ngày, hiện giam tại dâu, còn bên An Hoá hay bị giải Mỹ Tho?
_Hôm qua em hỏi thăm thì nó còn bị giam tại An Hoá nên em đi liền
_Tối nay anh nghỉ đâu, có chổ nghỉ hay không?
_Dạ em ra ga xe lửa Mỹ mướn phòng ngủ rồi sáng về sớm.
_Em cầm 5 đồng về xe, để vụ đó trên này lo, em yên chí và kể như bị bể, em nên tìm chổ lánh mặt một thời gian lâu chừng nào tốt chừng đó nghe không?
Khi về tới nhà lo chuẩn bị đi lánh mặt nhưng chờ cho thằng bạn của tao được thả rồi tao mới đi. Vài ngày sau nghe tin nó được thả về, hú hồn!
_Anh đó được thả rồi ông tính đi đâu lánh mặt?
_Từ khi mắt thấy đám này có tổ chức đàng hoàng và tử tế đúngnhư lời họ hứa (nếu ai bị bắt thì họ hối lộ cho thả ra) thiệt quả như vậy. Nghề võ thì tao đã biết nhiều nhưng dân du côn phải là có gồng, nên tao tính đi qua Trà Vinh học gồng.
Hằng năm tới ngày 16/6 âm lịch là ngày lễ Kỳ Yên làng Thái Thuận. Trong đoàn đi nghinh sắc thần theo cổ lệ trang nghiêm và trật tự chỉ có hình ảnh ông Từ là oai nghi hơn hết. Đi đầu là viên chức vác cây Đại kỳ nền đỏ có 4 chữ: Phong Đều Vũ Thuận chung quanh viền màu đen, kế đó ông Từ đầu đội nón gổ, mặc võ

phục triều đình mang gươm chân vấn xà cạp chân mang giày ba ta. Tay cầm trống lệnh, cái trống tròn bằng cái đĩa bàn, có cái cán, ông đánh tong tong tong… kế đến 3 tiếng chiên rồi đến 3 tiếng trống chầu thùng thùng thùng…Sau đó là đến 4 kép, 4 đào trang điểm như khi ra sân khấu kế đến là 3 cặp trò lễ, đầu đội mão Tú Tài áo thụng màu vân củng mang hia. Đến 4 viên chức khiêng long đỉnh sơn son phết vàng sắc thần trên đó, đến chánh bái, phó bái và Quận trưởng cai tổng Hoà Thịnh cùng các hội tề tân cựu cùng đi với than hào nhân sĩ trong làng.

Mỗi năm chỉ có một lần mà ông Từ vẫn đi rập rang theo tiếng Bác Câu. Hình ảnh người lính tiền phương tiền hô, hậu ủng. Ông Từ đốt nhang cho đình thần, làng xã họ cấp lương cho ông. Ông củng đốt nhang cho làng Ông Nam Hải, toàn ấp Thới An này chuyên sống về nghề Hạ Bạc, nghề này họ tôn ông Nam Hải làm thần hộ mạng cho nên mỗi gia đình luân phiên nhau đem tôm cá, bất kể giờ giấc biếu cho ông bà ăn lấy thảo.
Thôn quê mỗi làng đều chọn nơi thanh tịnh khu biệt lập làm Đình Thần. Đình Thần làng Thới Thuận nằm cạnh hương lộ, một đám cây dước mịt mù mới tới mấy hàng cây dương và mấy cây me cổ thụ. Ngoài là bìa rừng rậm về đêm le lói ánh đèn, có tiếng đọc thơ, đọc truyện, đó là giờ giải trí của gia đình ông Từ, môt người mà tôi chỉ biết có phân nửa cuộc đời, khi ông còn tham gia một thời với đám Bối Ba Cụm. Không biết vì hoàn cảnh nào mà ông ở đây, nhận chức ông Từ cho đình thần. Môt cuộc đời đây ngang dọc từng theo đám đầu trộm đuôi cướp mà trong cuốn Việt Nam tự điển của ông Lê Văn Đức quyển Thượng trang 129…Bối làm ăn theo rạch Ba Cụm…?

Bối 2

Hồi ký Chim Việt

Tivi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Rồi ông chịu hợp tác làm ăn với họ không ông Từ?
_Chịu chớ sao không, vì trong bụng tao hồ nghi đám này là đám anh hùng Hiệp Liệt trong bộ tiểu thuyết “Châu về Hiệp Phố” quá.
_Mày có coi bộ tiểu thuyết đó không?
_Dạ cháu nghe nói bộ tiểu thuyết đó hay lắm, nhưng ở nhà cấm không cho coi tiểu thuyết. Chỉ cho đọc truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Phong Thần, Ngũ Hồ Bình Tây, Tiết Nhân Quí Chính Đông, truyện Tây Du, thơ Phạm Công Cúc Hoa, thơ Sáu Trọng, thơ Cậu Hai Miêng.
_Mày coi mấy thứ đó nói toàn là chuyện đánh Nam dẹp Bắc, đứa nịnh hại đứa trung, người tôi trung bị hoạn nạn đã đời rồi thì đâu vô đó. Ân báo ân, oán báo oán, chuyện nào củng như vậy hết nhất là bộ truyện Phong Thần. Còn mày coi bộ truyện Tam Quốc Chí người anh hùng như Tào Tháo thì bị khi dễ, còn như Quan Công là tay điếm đàng thì lại cho hiển thánh!
_Trời ơi, ở đây họ thờ ông Quan Công nhiều lắm.
_Bởi vì họ dốt nên thấy mấy người Các chú họ thờ nên mình củng bắt chước họ mà thờ, mình người An Nam không thờ anh hùng người An Nam mà đi thờ người bên Tàu!
_Mày có đọc truyện Tam Quốc mày biết tại sao trong đời chiến Tam Quốc chỉ có một cây Thanh Long Đao?
_Dạ ông thợ rèn Lữ gì đó rèn cho ông Quan Công mới có một cây rồi vì đứng gần coi ông Quan Công múa thử nên bị tai nạn rủi ro là ông Quan Công vớt một phát đứt đầu, cho nên chỉ có một cây Thanh Long Đao mà thôi.
_Mày nhớ giỏi, sự thật thì không phải bị tai nạn rủi ro mà là có ý vì Quan Công múa thử cây đao thật vừa tay quá, nếu để cho anh thợ rèn này còn sống thì trong đời Tam Quốc y rèn cho biết bao nhiêu cây đao như vậy thì hết giá trị cây đao này, chi bằng giết anh ta chết thì đâu còn ai mà rèn được cây đao thứ nhì. Rồi Quan Công chết về tay ai giết?

Dạ ông bị phục kích chết vì không chịu đi về tiểu lộ có tin cho hay đi đại lộ về thì sẽ bị phục kích, mà người phục kích đó là Lữ Mông. _Mày biết Lữ Mông là con ai không? _Dạ cháu quên không biết là con ai. Lữ Mông là con anh thợ rèn người rèn cây Thanh Long Đao, khi Quan Công phục chết anh thợ rèn thì vợ anh ta đang có bầu. Sauk hi mẹ nó sanh ra, nuôi nó lớn khôn và cho nó biết người đã giết cha nó là Quan Công, nên nó quyết báo thù cho cha nó.
_Còn đoạn quá ngũ quan trãm lục tướng?
_Dạ ông Quan Công hay tin anh muốn đi thăm mà mấy lần vô xin phép ông Tào Tháo đều lánh mặt nên ông phò nhị tẩu trốn đi. Vì không có lịnh tiển nên các cửa ải không cho ông ra khỏi ải vì bị cản trở nên ông đi qua 5 ải giết chết hết 6 tướng giữ ải của Tào Tháo.
_Mày coi trong truyện gì đó, có hai ông Bá Di và Thúc Tề giận không ở vào nhà Châu, lên núi Thú Dương ở không thèm ăn gạo của nhà Châu, nghĩ thẹn nên nhịn đói mà chết như vậy mới ngon. Còn Quan Công khi phò nhị tẩu, tạm trú nơi núi Thổ Sơn, thiếu thốn cực khổ quá nên mới đua điều kiện, mà về ở với Tào Tháo. Gặp tay Tào Tháo là người mến tài, tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến, người ta đối đãi như vậy mà khi ra đi lại còn giết hết 6 tướng?
_Rồi trận Huê Dung Đạo?
_Trận đó Tào Tháo thất trận chạy tới ngõ hẹp Huê Dung, thì bị ông Quan Công đón bắt được.
_Rồi sao nữa?
_Dạ rồi bị Tào Tháo khóc kể lể, nên bây giờ hể ai năn nỉ kể lể, thì họ nói sao thằng này lại kể lể như Tào Tháo. Cho nên ông Quan Công thấy vậy thương tha cho Tào Tháo chạy về nhà.
-Đó mày thấy không bị mang nặng án kẻ thù nên vì lẽ đó mà dám bắt giặc, tha giặc theo luật nhà binh thì bị tội tử hình. Đừng nói chi khi ra đi còn có làm tờ cam kết với Khổng Minh. Nội mày thấy bao nhiêu đó, thì cái lý lịch của Quan Công toàn là mâu thuẫn với hai câu thơ liễng thờ:
Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiêng.

Mày có học chữ Nho, mày thấy có trung chổ nào mà nghĩa chổ nào? Nói ra thì mất lòng sự tự do tín ngưỡng, nên ai muốn thờ ai thì thờ. Ông nói người An Nam thờ anh hùng người An Nam là ai?
Thằng có ăn học mà sao ngu quá, hiện giờ tao với mày nói chuyện ở đâu đây? _Dạ ở hậu đình chớ đâu. Đình là để thờ thần, ông thần này là anh hùng người An Nam, mày thấy tới lễ cúng cầu an cho bá tánh cúng con heo tuyền, tiền vãng con heo tuyền sắc 100 kg cái đầu heo đó đem kiến người thừa hưởng tiền Hiền, còn cái nọng thì đem kiến cho người thừa hưởng hậu Hiền.Người thừa hưởng tiền hậu Hiền là chú Bảy Nhỏ trong ấp Thới Lợi họ Ngô. Người thừa hưởng tiền Hiền là thân nhân họ có công lặn lội từ đây ra tới Đế kinh thỉnh được sắc thần do nơi vua ban đem về tại làng Thới Thuận. Hàng năm tới ngày giỗ là ngày 16/6 âm lịch cũng là ngày cầu an cho bá tánh. Ngày giỗ của vị anh hùng có công phò vua giúp nước đã tử trận. Mày không nghe có câu: “Sống làm tướng chí bền ngọc thạch, chết làm thần danh tạc đá vàng” là vậy đó. Còn người được hưởng Hậu Tiền là người thợ mộc chánh, đứng ra chỉ huy cất cái đình này. Mày thấy cái đình này có hơn trăm năm, mà mấy ông thợ mộc đời nay còn phải phục từ miệng kèo, miệng cột.
_Sao cháu thấy nghinh Sắc thần vô đình mà không có cúng ông thần trước mà lại cúng ông Tiền Vãng trước?
_Tiền Vãng là chết trước, những người chết trước trong ban Du Nghệ như ông cố mày, ông ngoại mày, ba mày hay ai là người trong ban khánh tiết hay hương chức hội tề. Trước sau củng vậy luôn luôn đám Hậu Tân phải nhớ ơn họ và khi có những lễ cúng tuy là người khuất mặt mà vẫn nhớ tới như họ vẫn luôn có mặt tại đây với người còn sanh tiền.
_Vậy cháu biết rồi giờ ông nói tới vụ bọn cướp Hiệp Liệt đi.

_Khi họ nghe tao chịu hợp tác làm ăn với họ, thì họ mời tao ở lại đêm, ăn cơm và đi coi hát cải lương. Họ đua cho tao một bộ đồ tây mặc vô đi coi hát. Bây giờ nhớ lại cái xe của bọn cướp là kiểu điếu xì gà màu đỏ mà hiệu Đờ La Hay. Ăn cơm xong họ chở tao ra chợ Bến Thành đường gì đó rạp gì có tên như là Modern (đường D’Espagne). Họ với tao là ba người, một người lại mua giấy thấy giá thượng hạng $1.20 hạng nhất $1.00.00 hạng nhì. $0.60 hạng ba, hạng cá kèo $0.30 đứng. Tao với người đi chung đứng ngoài, chỉ có một người lại chổ bán giấy. Anh ta đứng đó xin tấm gờ-ram coi, trong khi đó thì gần tới giờ mở màn nên khán giả chen lại mua giấy. Anh ta đứng coi một hồi thì chỉ cho họ ghi 3 cái giấy thượng hạng là $3.60. Khi người bán giấy đưa ra thì người đó biểu thối lại tiền. Người bán giấy nói:
_Thầy chưa đưa tiền mà đòi thối à?
_Tôi đưa cho anh tấm giấy con công anh coi lại trong tủ anh coi có hay không?
Người bán giấy thấy người đó mặc đồ Tây Tussoir, mang kiếng gọng vàng coi bộ dân sang quá nên đành thối lại $1.40. Tao được chứng kiến từ đầu tới cuối, đi coi hát ba vé thượng hạng đã không mất tiền mà còn thêm được $1.40 bỏ túi, tao bái phục bọn này!

Ngồi
trong rạp hát thấy chung quanh toàn là người ăn mặc bảnh bao, phụ nữ thì dồi phấn thoa son, xức dầu thơm nực nồng. Thanh niên thì ăn mặc đồ Tây lịch sự, ai nấy vui vẽ chuyện trò so sánh lại thấy mình thua họ xa quá!! Vì vậy trên sân khấu đào kép ca hát còn tao ngồi suy nghĩ lung tung nên không thưởng thức được đêm hát cho trọn. Coi có hai màn thì họ kêu nhỏ ra ngoài chơi và họ đưa tao ra ngoài Lăng Tô hứng gió, xe đâu môt chổ thanh vắng, bây giờ họ mới thảo kế hoạch với tao: họ đưa cho tao $100.00 với số tiền này tới ngày đó tháng đó, giờ đó phải có mặt tại núi Nứa thuộc tỉnh Bà Rịa giả làm lái buôn.
Trong ghe toàn là người trong đảng, tuyệt đối giữ bí mật không cho tụi bạn biết gì hết. Họ đưa cho tao 4 tấm giấy quánh ($20) 4 tấm giấy con công ($5) đưa tiền lẽ xài không ai nghi ngờ. Khi ra tới chợ Bà Rịa, thì đậu ở đó lên mua cá thịt tất cả thực phẩm, rượu trà bánh đều đủ rồi chèo ra núi Nứa. Ra đó coi đám dưa hấu nào đỏ rồi gánh lần lần xuống ghe, ghe đậu gần đường đi lại chợ Long Sơn. Họ căn dặn thật kỹ rồi đưa tiền và chở tao về ghe Cầu Ông Lãnh.
Lấy tiền rồi ông có đi ra chổ nào đó ông Từ? Đi chớ sao không, đi cho biết đá biết vàng. Chuyến đi buôn đó vốn lời không tới $50 mà họ dám đưa tao tới $100 mà không sợ mất thì đúng là dân anh hùng rồi còn gì nửa? Khi nhận tiền tao hứa là bằng cách nào miễn sao ghe tao ra tới núi Nứa đậu ở đó đúng ngày là được. Vì từ kinh nước Mặn, tao lên quận Cần Giuộc lên tới ngả ba cây Khò ra Phú Xuân (Nhà Bè) ngang Bình Khánh ra ngã Đường Tranh vô tới Vũng Vàng đi ngang qua quận Long Điền lên đó đi chợ mua thực phẩm xuống ghe ăn rồi đi ra Hộ Bài, đi ngang qua Rừng Sát, chèo trong mấy rạch nhỏ ra núi Nứa đâu đó cho đúng ngày giờ đã hẹn. Họ không cho tao đi lung tung trong rừng như vậy vì ngày đó họ có cho người canh tại chợ Bà Rịa coi tao nhận tiền mà có ra đó không? thành ra ghe tao đi vòng vo mới tới cầu sắt chợ Bà Rịa (sau chợ Bà Rịa dời vô ngã ba đường đi Long Thành) Khi đúng lời hẹn ghe tao đâu tại chợ Bà Rịa mua nào cá, nào thịt, nào rượu trà xong mới chèo ra núi Nứa.
Tỉnh Bà Rịa có đủ Cửu Long và Thập Phước. Cửu Long là 9 chổ có địa danh mang chữ Long: Long Hải, Long Điền, Long Kiên, Long Thành, Long Hoà, Long Hậu, Long Phú, Long Quới, Long Sơn (núi Nứa).
Thập Phước là 10 chổ có địa danh mang tên đầu là Phước: Phước Lễ, Phước Tỉnh, Phước Lý, Phước Tuy, Phước Hoà, Phước Hưng, Phước Lợi, Phước Bình, Phước Lâm và Phước Bửu (Cù My). Tại chân núi Nứa là đảo Long Sơn có một cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu đạo này kêu là ông Đạo Trần.

_Dạ có tiếng tù và thổi ở xóm ngoài.
_Tiếng tù và của anh Lái Chiến mà lại có 3 cái thổi lên một lượt.
_Vậy là bửa nay ghe đáy của ông Quản Hộ trúng cá Mùa?
_Tao phải lấy cá về cúng Lệnh Ông Nam Hải, mày về bửa nào nói thêm.
_Xứ tôi, làng Thới Thuận một tục lệ được duy trì qua nhiều thế hệ của ngư dân chuyên đóng đáy hàng khơi (đáy rạo). Hàng đáy nào mà trong vùng biển đó đóng được con cá Mùa loại cá như cá Thu mà không phải là cá Thu. Loại cá này theo truyền thuyết của các bậc tiền bối ngư phủ là loại cá mà ông Nam Hải thích nhất. Nếu chỉ được vài con thì lái và bạn cúng ngoài biển cho cá lạc bầy. Còn như đóng được cả bầy lối vài chục con thì ghe phải về sớm hơn ông lái lên nhà cho chủ hay, chiều biển này mình trúng được cá Mùa.
Chủ nhà bày hương án ra giữa trời để 10 con cá Mùa lên mâm, khi nhang đèn đốt lên kế đó là thổi tù và lối xóm nghe có 3 giọng tù và khác nhau là biết ghe biển đó trúng cá Mùa, nếu trúng ít thì chỉ thổi một cái mà thôi. Cho nên ông Từ giữ phần hương khói cho làng ông Nam Hải thay mặt cho vạn lạch làng Thới Thuận khi nghe có tiếng tù và vào nửa đêm phải thân hành ra chổ trúng cá Mùa nhận 3 con đem về làng để sống như vậy cúng. Còn phần chủ ghe đáy khi cúng xong lâp tức cho gia nhân đem những con cá quý đó đi biếu những thân nhân gần nhất như sui gia chẳng hạn. Thành ra tôi chỉ nghe tới loại cá quý đó mà chưa bao giờ được ăn cả.

Tại chân núi Nứa là làng Long Sơn có môt cảnh chùa mà không phải là chùa Phật. Có một tu sĩ cầm đầu mối đạo này mà họ kêu là ông Trần. Người thì cho là ông họ Trần, người thì nói ông chỉ ở trần quanh năm không bận áo. Toàn đảo Long Sơn này đều theo đạo ông Trần, đàn ông củng để tóc và bới đầu như đàn bà ở xa thấy họ mặc quần lãnh đen áo túi trắng bới đầu tóc thì đàn ông lẫn đàn bà đều giống nhau. Mỗi năm tới kỳ đại lễ Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 âm lịch khách thập phương đi tới cúng tấp nập, gần chợ Long Sơn có cất cái tổ đình thật lớn để cho khách thập phương tới ở tạm nơi đó. Còn dân địa phương gần tới ngày lễ lớn thì họ tự động gánh củi đem rau cải và những thức ăn chay đem tới chùa.
Các đệ tử ông đạo Trần phần nhiều là dân Sài Gòn, toàn là dân giàu có, phu nhân các bác sĩ, kỹ sư, thương gia… không biết khi họ nghe ông đạo Trần thuyết pháp như thế nào mà các đệ tử của ông đem tới dâng hiện kim hơn hiện vật?
Đúng ngày giờ hẹn họ xuống ghe đưa cho tao gói quần áo biểu mặc vô đi theo họ, đó là bộ đồ khăn đen và áo dài. Tao đi theo họ lên chùa cúng Ngọ.
Giờ này là giờ Tịnh của ông đạo Trần không ai được phép lai vãng chổ cấm phòng, trong đó chỉ có mình ông ngồi tịnh. Tao đi theo người đàn bà này tới bàn này đốt nhang, đi tới bàn kia đốt nhang lạy. Khi đi tới cánh cửa phòng cấm là phòng riêng ông đạo Trần họ gõ 4 tiếng. Cửa mở thì có hai người bạn cùng trong phòng đi ra trao cho tao môt bao và một bó nhang đốt cháy- đỡ bao đó lên vai tao vác đi, tay cầm bó nhang. Cả bọn đồng đi ra khỏi chùa, đi xuống ghe tao đậu kế đường đi, họ ra lịnh chèo mau theo hướng họ chỉ. Ghe chèo đi lẩn quẩn trong những đám cây Đước, cây Mắm cho tới khi có chiếc ca nô đậu thì họ và tao leo qua ca nô chạy đi một nơi cách đó thật xa và lủi vô bụi rậm. bấy giờ thì họ mới đổ bao đồ ra thì toàn là giấy bạc… Họ đếm thật kỹ và chia ra làm 5 phần, tao hỏi sao có 4 mà chia tới 5?
Họ nói chia dư ra làm 1 phần cho họ giữ phòng khi trong bọn có bị lính bắt thì họ lấy số tiền đó lo đi hối lộ cho mình khỏi bị ở tù. Chia phần của tao thì có bỏ chung vô cái gói căn dặn trong đó có bảng chỉ dẫn bằng chữ quốc ngữ, không được cho ai biết tới gói đồ đó. Họ đưa tao lại ghe, còn họ thì lên chiếc ca nô, họ nói nhỏ với tao là vừa rồi mình ăn cướp tiền của ông đạo Trần. Phải hơn 5 tiếng đồng hồ nửa thì các đệ tử của ông mới hay, hiện ông bị trói miệng và củng bị bịt kín ngồi trong phòng riêng của ông, khi đám đệ tử của ông hay được thì họ lùng kiếm chung quanh đây mà giờ đó thì mình đã có mặt tại Sài Gòn.
_Họ chia cho ông một phần bao nhiêu vậy ông Từ?
_Một phần của tao được một ngàn sáu trăm đồng… ghê chưa? tao cho hai đứa bạn giả đó mỗi đứa một trăm nó mừng gần chết vì tụi nó chỉ thấy bạc lẽ, chưa bao giờ thấy bạc trăm.
_Còn cái gói họ đưa cho ông là cái gì mà bí mật dữ vậy?

Khi về tới nhà được an toàn chôn cất số tiền ra nhiều chổ bí mật xong xuôi cả tháng tao mới hoàn hồn vì những thủ đoạn tổ chức đi ăn hàng của đám đó làm cho tao sống lại với bọn cướp Hiệp Liệt. Lần đầu họ diễn trước mặt tao vụ đi coi hát cải lương, mua giấy đã không trả tiền mà còn biểu thối lại. Sau này tao mới nhớ lại là khi người đó đứng gần chổ bán giấy, xin tấm “program” coi. Sự thật là đứng chờ có người mua giấy đưa vô tấm giấy 5 đồng hay là 20 đồng để trong hộc tủ. Nhưng phải ăn bận cho thật sang và tự nhiên như lúc đánh phé vậy. Cái gói đồ là họ chấp nhận tao vô môt đảng với họ, gồm có cái áo Bành Tô, cái nón tây Singapore, sợi dây nịt da bản lớn, một quần lãnh đen lưng vận, một áo thung tơ hiệu 3 tiền điếu một đôi giày Tàu và cái ống điếu bằng ngà. Bản chỉ dẫn bằng chữ Quốc ngữ như sau: Kiểu ăn mặc như đám du côn Cầu Muối dưới mang đôi giày tàu, mặc quần lãnh đen lưng vận mà không vận vì có sợi dây nịt da lớn bản nên lưng quần phải thả lỏng bàn. Trên mặc áo thung tơ, ngoài bận áo Bành Tô nút chuối. Công dụng của cái nón Singapore là bên trong có chất cao su thật cứng, không phải như loại nón Tây làm ở Sài Gòn bằng cây mốp mềm xèo. Cho nên dân du côn thường đội nón đó khi bị dao chém. trên đầu không bị thương nặng. Sợi dây nịt da thứ lớn củng thật cứng khi bị đâm củng không tới lòi ruột. Và điểm đặc biệt này là tối quan trọng của một đảng cần biết ám hiệu. Vô sự thảnh thơi đi chơi thì mặc áo Bành Tô gài đủ 3 nút dưới. Muốn gặp mặt đại ca và nhị ca thì chỉ gài một nút vô mấy tiệm cà phê sẽ có người liên lạc cho gặp mặt đại ca muốn bàn tính việc gì. Còn cầu cứu cấp tốc thì thả luôn 6 nút như báo động vậy. Củng ăn mặc đồng phục như vậy đó mà thấy người nào hớt tóc kiểu Bum-bê vén qua hai mép tai thì mình phải chào, không chắp tay thưa mà chỉ gật đầu hay nháy mắt là đủ. Vì trong giới anh chị du côn người nào để tóc theo kiểu như Nguyễn An Ninh là thuộc về thứ dữ nên lưu ý tới kiểu hớt tóc dài vén qua hai mép tai. Áo Bành Tô là kiểu áo ra sao?

_Mày thấy khi ông Quận An Hoá xuống thăm làng với thầy thông dây thép, ông Chủ Sự Kiểm Lâm, mấy ông đó mặc đồ Ô Hoe, trước ngực bật ra có thắt “cà ra quách”. Còn áo Bành Tô là kiểu áo của mấy ông lính đồn, có cổ cao lên trước gài một hàng nút, kiểu đó người Pháp kêu là “fermée”, mà không biết sao mình phổ thông kêu là áo Bành Tô, tao củng không hiểu nửa.
_Mày thấy cách tổ chức của người có ăn học nó khác xa với dân nhà quê như tụi tao, mãn đời đi rình mò chờ cho người ta ngủ mới ăn cắp đồ mà đáng giá có bao nhiêu tiền, mà khi bị bắt củng bị ở tù.
-Sau này có lần nào ông gặp lại mấy người mà ông cho là đám cướp Hiệp Liệt lần nào hay không?
_Tao có gặp họ hai lần.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 7 Nov 2014

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

  1. Phần 8
    Mật khu An Lão
    (Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 BCD chờ máy bay ở Phi Trường Nha Trang để đi Hành Quân ở mật khu An Lão)

“Tiếng già nhưng núi vẫn là non”
(Chơi núi An Lão Nguyễn Khuyến)

Khoảng tháng 9 năm 1969, các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta được đưa từ Nha Trang ra Phi Trường Đệ Đức. Đây là Phi Trường dã chiến của Quân Đội Hoa Kỳ. Đang mang các trang bị cá nhân vào lều bạt thì tôi đã nghe Thiếu Úy Thạch Thon, Trưởng Toán 6 Thám Sát rỉ tai: “kỳ nầy sẽ hoạt động vùng Mật Khu An Lão, theo nhu cầu của Quân Đoàn II”.
Mật khu An Lão là chỗ nào?
Nhớ mang máng hồi còn học Trung Học, Ông Thầy dạy Việt Văn có giảng bài “Chơi Núi An Lão” của Nguyễn Khuyến, bọn học sinh chúng tôi gọi đùa tác giả là Ông già gân, bởi vì câu cuối bài thơ là: “Dẫu già mà đã hơn ta chửa? Chống gậy lên non bước chẳng chồn”. An Lão của Nguyễn Khuyến ở đâu ngoài Bắc, còn An Lão ở đây là An Lão Bình Định. Dĩ nhiên, Ông Lão còn chịu chơi, huống chi bọn tôi còn trẻ, sá chi cái An Lão nầy.
Nhưng trước sau gì cũng phải xem lại Bản Đồ một chút cho chắc ăn. Thói quen của những người Chỉ Huy là ưa xem Bản Đồ, mà phải xem kỹ Bản Đồ Quân Sự. Binh thư dạy rồi: “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”. Xem Bản Đồ để biết địa lợi, khai thác địa lợi là điều cần thiết của cấp Chỉ Huy.
Hôm sau, vào Trung Tâm Hành Quân, nhìn vào tấm Bản Đồ trải rộng trên cái giá gỗ, tôi quan sát thấy mật khu An Lão nằm về hướng Tây của Thị Trấn An Lão, Hưng Long và Xuân Phong, cách ngăn bởi một con suối chạy từ hướng Bắc đổ ra biển ở miệt Xã Hoài Hương, thuộc Quận An Nhơn. Đây là các Thị Trấn nhỏ miền thượng du Tỉnh Bình Định. Đường bộ vào đây nối liền từ Quốc Lộ 1 bằng Tỉnh Lộ 629 tại Thị Xã Bồng Sơn. Địch thường đưa quân từ mật khu An Lão để bao vây tấn công vào các Thị Trấn nầy rất gắt gao, có lẽ chúng muốn nhổ sạch hết toàn bộ mà không nhổ được.
Hướng Tây Bắc mật khu An Lão là Quận Ba Tơ, nơi đây cũng có một Trại Ba Tơ của Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt đồn trú. Quận Ba Tơ nằm về hướng Tây Tây Nam Thị Trấn Đức Phổ thuộc Tỉnh Quảng Ngãi. Về hướng Tây Tây Nam An Lão là Tỉnh Kontum. Hướng chính Nam là Quốc Lộ 19, con đường nối liền Qui Nhơn – Pleiku, có Đèo An Khê là nơi từ cuộc chiến tranh trước, Việt Minh đánh Tây nhiều trận xiểng liểng. Trong thời điểm này tại An Khê, Việt cộng chưa làm được gì suy suyển phe ta. Hướng Đông Nam là Quận Hoài Nhơn có hai Thị Trấn Bồng Sơn và Tam Quan nằm trên Quốc Lộ 1. Tam Quan gần Sa Huỳnh thuộc Tỉnh Quảng Ngãi.
Về hướng Tây Tây Bắc Kontum, tôi thấy địa danh Attapeu một cao nguyên của Nam Lào, và vùng Tam Biên: Việt Miên Lào. Đích thị là chúng nó đây rồi. Đường mòn Hồ Chí Minh đưa Việt cọng đến cao nguyên nầy của Xứ Lèo. Từ đó chúng đổ xuống hướng Đông là vào mật khu Đỗ Xá, phía Tây Quảng Ngãi và hướng Đông Nam vào Tân Cảnh, Dakto. Hồi học lớp Đệ Tứ tôi có nghe Ông Thầy dạy Địa Lý nói tới Mọi Đá Vách ở vùng nầy, được Ông Quan Nguyễn Thân cho ăn đường phèn mà tưởng là đá, nên xin hàng. Mấy năm nay không nghe nói gì tới tình hình chiến sự ở Đỗ Xá. Về phía Nam Đỗ Xá là mật khu An Lão.
Căn cứ trên Bản Đồ cho thấy, mật khu An Lão là một vị trí chiến lược quan trọng.

Chúng có thể rút về phía Tam Biên, nếu bị tấn công dữ dội. Chúng có thể uy hiếp Kontum hay Quốc Lộ 14 nối Kontum và Pleiku, uy hiếp An Khê, gây áp lực trên Quốc Lộ 19, hoặc tấn công Sa Huỳnh, cắt đứt Quốc Lộ 1. Quân Đoàn II quan tâm vào vùng nầy là chí lý, chí lý vô cùng.
Tôi rời khỏi Trung Tâm Hành Quân, ngẫm nghĩ càng thấy cái vô cùng chí lý của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.
Và rồi, một cuộc hành trình vào mật khu Việt cộng khá hào hứng, và cũng không thiếu nguy hiểm, đổi mạng như chơi. Nghĩ tới đó, tôi không sợ mà lại tự cười thầm tự tin.
Theo đúng thủ tục thường lệ, sau khi Toán nhận lệnh, tôi cầm tấm Bản Đồ đã được khoanh vùng hoạt động, leo lên Trực Thăng đi bay để quan sát khu vực và tìm chọn bãi đáp cho Toán. Hôm sau, mọi chuẩn bị lương khô, súng đạn, thuốc men đã hoàn tất đầy đủ, trước khi lên đường Toán đã đến Trung Tâm Hành Quân để trình bày kế hoạch trước Chỉ Huy Trưởng và các Trưởng Ban 2, Ban 3. Dĩ nhiên, ngoài bốn chinh nhân da vàng mũi tẹt còn có hai bạn đồng minh chổng mỏ ngồi nghe, bên cạnh có Thông Dịch Viên cùng ngồi với họ.
Một số Toán Thám Sát Delta của Thiếu Úy Cao Kỳ Sơn, Trần Bá Lễ, Phan Anh đã vào trận mấy hôm nay rồi. Toán tôi đang chuẩn bị tiếp nối.
Trực Thăng đưa Toán thâm nhập vào mạn Nam, trong vùng trách nhiệm ở mật khu An Lão vào khoảng xế chiều Toán di chuyển về hướng Tây Bắc chừng tiếng đồng hồ thì dừng lại bố trí nghỉ qua đêm. Địa thế ở đây thật hiểm trở, rừng rậm xen lẫn vách đá cheo leo cao nghệu. Di chuyển phải hết sức thận trọng, dò dẫm từng bước, lần theo các bậc đá, vịn vào các thân cây non hay kéo đẩy giúp nhau mới đi được. Một ngày, hai ngày chầm chậm, lặng lẽ trôi qua, Toán chưa tìm thấy hay phát hiện được gì cả về mọi họat động của địch..
Rạng sáng hai hôm sau, Toán tiếp tục di chuyển theo hướng Tây Bắc, cũng đi thật chậm, chú ý quan sát kỹ các dấu vết trên lộ trình, qua từng đồi cây, con suối.
Có một điều Toán tin chắc là Quân Đội VNCH chưa từng vào mật khu nầy hành quân, thành ra Việt cọng thường huyên hoang, tự phụ, cho rằng mật khu An Lão là vùng bất khả xâm phạm và cũng chính vì thế mà tình báo của ta không nắm rõ tình hình quân số, đơn vị địch hoạt động trong mật khu này. Do vậy mà hôm nay mới có sự hiện diện của các Toán Thám Sát Delta.
Gần cuối ngày, khi Toán đang đi lần xuống một trũng rừng thì Toán đã phát hiện hai con đường mòn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Những con đường mòn còn tươi rói, có nghĩa là địch đang sử dụng. Toán men theo một trong hai con đường mòn, sau đó không lâu, thì lại thấy một con đường lớn, có dấu vết chạy của xe Molotova.
Tôi suy nghĩ không ít về những con đường xe nầy. Xe về tới đây là coi như đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, nó đâu còn chỉ di chuyển trên vùng biên giới Việt – Lào. Từ chỗ có đường xe nầy tính ra tới bờ biển chưa tới 25 dặm. Bọn chúng lộng hành đến thế hay sao?
Sau khi báo cáo cấp tốc mọi chi tiết về Trung Tâm Hành Quân, Toán được lệnh dừng chân qua đêm, chọn chỗ an toàn, kín đáo, trong tầm quan sát để theo dõi mọi hoạt động địch.
Có lẽ Trung Tâm Hành Quân đã thu thập một số tin tức do các Toán Thám Sát Delta hoạt động trong các khu vực kế cận gởi về, phối kiểm và đúc kết đã xác định được lực lượng địch quân ở đây không phải là ít. Vì vậy, rạng sáng hôm sau, Toán nhận được công điện phải bám sát đường mòn, tìm chỗ thuận lợi tổ chức phục kích bắt sống tù binh để khai thác tin tức, nhất là danh tánh, quân số và các kho tàng, căn cứ địa của bọn chúng…
Nhận lệnh xong, xem Bản Đồ, đối chiếu thực địa, tôi bàn thảo sơ lược kế hoạch phục kích cùng hai bạn Đồng Minh. Có ba điểm căn bản: – Phải là con đường địch đang xử dụng. – Vị trí phục kích thuận lợi, có hiệu quả, dễ dàng bắt sống được địch. – Cuối cùng, khi nổ súng rồi là coi như Toán đã bị lộ, phải rút nhanh. Cần biết rõ con đường rút và bãi triệt xuất, nơi trực thăng sẽ đón Toán.
Khu nầy là rừng già, phục kích trong rừng già thì tốt, nhưng khi nổ súng rồi, phải triệt thoái nhanh tới chỗ khoảng trống, bãi tranh để trực thăng có thể đáp xuống bốc về dễ dàng.
Toán chọn lựa địa điểm phục kích gần một con suối. Bên kia con suối, hướng chính Đông, cách khoảng 200 đến 300 mét, tính theo đường chim bay có một hai khoảng trống, có thể là đồi tranh hay rẫy bỏ hoang của người Thượng. Các bộ lạc ở đây thuộc giống người H’rê, sống đời sống du canh, phá rừng làm rẫy, một vài mùa lại bỏ đi nơi khác. Đoạn đường di chuyển từ nơi phục kích đến đó không xa lắm, kịp cho Toán bôn tập tới đó. Nắm chắc địa thế, lập xong kế hoạch phục kích, và rút lui, tôi báo cáo tất cả cho Trung Tâm Hành Quân để theo dõi và yểm trợ khi cần.
Toán nằm trải dài chừng 50 mét, dọc theo đường mòn, núp sau các tảng đá, gò mối, gốc cây rừng, cách khoảng năm mét, đạn đã lên nòng, tất cả hướng mắt về trước mặt, đúng tầm sát thương của vũ khí.
Chờ địch chừng 2 giờ đồng hồ thì chúng xuất hiện, ngang nhiên đi trên con đường mòn. Đi đầu là một Toán khoảng mười tên, cứ mỗi hai tên gồng gánh một bao gì đó gói trong tấm bạt dầu, chúng tôi
không rõ là hàng gì, có thể lương thực hay vũ khí, đạn dược? Gánh hàng không nặng lắm vì chúng vừa đi vừa nói chuyện. Có thể chúng rất chủ quan, coi như đây là vùng đất thánh của chúng, như chưa từng bị tấn công, phục kích bao giờ.
Khi chúng vừa tới ngay tầm xạ kích của Toán thì bỗng dừng lại. Tôi nghĩ thầm: “Ồ! không lý mình hên vậy?” Và, chỉ mới dự định cho nổ súng thì thấy có một tên phía sau đang khó nhọc đi tới. Tôi cười thầm trong trí: “một con vịt đẹt”, tiếng gọi đùa như khi tôi còn sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử hay Hướng Đạo, mỗi khi đi Cắm Trại, thường gọi những người đi chậm, lẹt đẹt phía sau. Vậy thì không phải chúng nghỉ mệt mà chỉ dừng lại chờ tên đi sau.
Chờ con vịt đẹt tới gần bọn chúng, Toán bắt đầu khai hỏa. Bốn cây XM.16, hai cây XM.18 nổ ran. Bốn tên gục tại chỗ, mấy tên khác vừa nổ súng phản công vừa lủi vô rừng chạy mất. Con vịt đẹt quay đầu tháo lui, nhưng không kịp rồi! Hai ông bạn đồng minh đã nhanh chóng xông ra, vật cổ, đè “con vịt đẹt” xuống, còng tay, kéo nó đứng lên chạy lẩn vào rừng để cùng theo Toán rút lui về hướng đã định.
Khoảng nửa giờ sau, khi Toán đi quá nửa con đường đến bãi triệt xuất, thì nghe có nhiều tiếng súng nổ ở chỗ Toán đã phục kích. Tôi yên tâm. Bấy giờ phía trên đầu Toán, chiếc L.19 hướng dẫn chúng tôi tới Bãi, và 4 chiếc Trực Thăng UH.1B đang vần vũ. Thông lệ thì luôn có một chiếc CNC của Chỉ Huy Trưởng, hai chiếc Gunship bao vùng, yểm trợ, sẵn sàng xạ kích bằng Hỏa tiễn, Đại liên để an toàn bãi và một chiếc có nhiệm vụ bốc Toán.
Toán đến bãi an toàn, không phải chờ đợi, một chiếc Trực Thăng sà xuống đón Toán trở về.
Đẩy tên tù binh đang bị trói nằm xuống sàn, chúng tôi ngồi dựa lưng vào nhau, muốn cười mà không cười nỗi. Mệt quá!
Về đến căn cứ Hành Quân, giao xong tù binh cho Ban 2 để tạm thời khai thác, trước khi chuyển đến Trung Tâm Thẩm Vấn Tù Binh của Quân Đoàn II, tôi đi thẳng xuống căn lều Câu Lạc Bộ để kiếm món gì ăn và uống một lon RootBeer cho đã thèm, vì mấy ngày nay chỉ dùng toàn lương khô, nước lạnh. Chán chết được.
Ngày hôm sau, Trung Tâm Hành Quân Ban 2 cho biết tên tù binh do Toán bắt được là Bí Thư Huyện Ủy Huyện Xuân Phong, vừa đi B trên đường trở về. Y khai, hiện có 2 Tiểu Đoàn của Công Trường 7 đang ẩn trú tại mật khu An Lão, và trong tương lai Công Trường 9 từ Dakto, Tân Cảnh cũng sẽ di chuyển về đây để lập mặt trận tấn công các Thị Trấn Tam Quan, Bồng Sơn, Đức Phổ.
Dĩ nhiên, trước mọi tin tức nóng hổi đã được cung cấp thì đã có cấp trên lo liệu. Còn tôi sau khi hoàn thành “mission imposible” ngày ngày đón xe Lam ra Quán tranh, ở đầu Thị Trấn Bồng Sơn trên Quốc Lộ 1 để uống cà phê, nghe nhạc. Cà phê ở đây uống cũng tạm, còn nhạc thì máy móc ở các Quán quê nầy chỉ nghe cho nó vui vui, đỡ buồn, đâu có thể đòi hỏi âm thanh phải như ở Nha Trang, Saigon.
Nếu không có nhu cầu Toán 3 nhảy vào một khu vực khác thêm lần nữa, thì chờ khoảng hơn tuần lễ, khi các Toán Thám Sát Delta, hiện đang hoạt động ở những vùng kế cận, rút ra hết, thì Trung Tâm Hành Quân Delta sẽ cuốn gói trở về lại Nha Trang, chấm dứt những ngày thâm nhập, phục kích, bắt sống địch, triệt xuất đem về khai thác tin tức… như trong phim ciné…

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 6 Nov 2014

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

  1. Phần 7
    Đức Cơ. “Đường đi chưa dứt”

“…Trời thấp thật buồn,
Anh khách lạ. Đi lên đi xuống…”
“Còn chút gì để nhớ”
Hướng Đông Đông Bắc Đức Cơ là Pleiku, khoảng cách chừng 60 cây số, tính theo đường chim bay. Hướng Bắc Đức Cơ khoảng 30 cây số là Trại Lực Lượng Đặc Biệt Plei-Djereng.
Toán 3 Thám Sát của tôi nhận nhiệm vụ xâm nhập hoạt động trong vùng dọc theo biên giới Miên Việt này. Đây là khu vực Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II quan tâm, và có nhu cầu nắm vững tình hình địch trong vùng lãnh thổ của Quân Đoàn.
Sau các trận đánh năm Mậu Thân, quân Cọng sản bị thương vong quá lớn, gần 60 ngàn, gồm binh lính, cán bộ. Bây giờ, mùa Hè năm 1969, quân Cọng sản đang bổ sung, tái trang bị, chuẩn bị cho một chiến dịch mới, có thể là Thu Đông 1969 – 1970.
Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta cùng Toán B.52 cố vấn Lực Lượng Đặc Biệt và Phi Đội 281 Trực Thăng Hoa Kỳ, được đưa tới Pleiku. Bộ Chỉ Huy đóng bên ngoài khu vực phi trường Pleiku, trên một bãi đổ Trực Thăng, cách Biển Hồ về hướng Bắc 9 cây số.
Bây giờ không có thì giờ để đi thăm cái thành phố nhỏ, dù chỉ “đi dăm phút đã về chốn cũ”. Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng, cùng các Trưởng Ban 2, Ban 3 đã đi bay tìm hiểu thực địa. Ngày hôm sau, các Toán Trưởng Delta được gọi lên Trung Tâm Hành Quân, để nghe thuyết trình về tình hình địch, bạn và nhận lãnh sứ mệnh, tức là nhận vùng trách nhiệm của mình.
Khu vực Toán 3 nằm sát cạnh biên giới, có thể “vượt biên” nếu cần, dù bất hợp pháp vì vi phạm lãnh thổ nước bạn. Việc ấy không cần quan tâm. Chính Phủ Miên dung dưỡng Việt cọng, để địch dùng lãnh thổ Miên xâm nhập Miền Nam Việt Nam thì sao?
Cũng như thông lệ, sau khi nhận lệnh và phóng đồ Hành Quân xong, tôi lên trực thăng đi quan sát vùng hoạt động. Vùng nầy, việc đổ quân không khó, không phải vì thiên nhiên mà nhờ nhân tạo. Rất nhiều hố bom B-52, bom Napan và rãi rác các vùng cây trơ trụi vì thuốc khai quang, nên việc chọn bãi xâm nhập và triệt xuất chẳng mấy khó khăn…
Buổi chiều, cả Toán 3 lên Trung Tâm Hành Quân trình bày kế hoạch, nhận thêm các chỉ thị, hiệu lệnh và đặc lệnh truyền tin. Đặc lệnh thay đổi mỗi ngày nhằm bảo mật và dự phòng các trở ngại, bất trắc, nếu có v.v…
Trời tuy đã về chiều, nhưng ánh tà dương vẫn còn tỏ sáng, chiếc trực thăng UH-1B chở Toán hạ thấp trên mép bãi hố bom B.52 giữa rừng già. Nhanh như những con sóc, từ hai bên cửa, hai ông bạn Mỹ và bốn chúng tôi nhảy xuống lẩn khuất vào rừng. Máy bay lên cao, không một dấu vết còn lại, địch không thể ngờ.
Nhìn trên bản đồ, từ bãi đổ quân đến biên giới Việt Miên khoảng 2 cây số. Toán đi về hướng Tây. Núi rừng cao nguyên giống nhau, khe suối sâu, sườn núi dựng đứng. Toán cứ phải len lỏi giữa cây rừng mà đi. Đêm đó, Toán dừng chân nghỉ đêm trong một hốc núi đá, bên phần đất Nước ta.
Tờ mờ sáng, Toán thức dậy sớm, tiếp tục di chuyển về hướng Tây. Chưa được bao lâu là vào lãnh thổ Ông Hoàng Xứ Chùa Tháp.
Đi thêm một quãng, lội qua con suối cạn, Toán dừng lại lót dạ, hai bạn đồng minh trèo vượt qua mấy rừng cây, dốc núi coi bộ đã thấm mệt, ngồi bệt xuống đám lá khô, tựa lưng vào các gốc cây, mở bình đông uống nước ừng ực, mặt mũi dầm dề mồ hôi.
Đã hai ngày trôi qua, Toán đi dọc theo biên giới về hướng Bắc 360 độ, đúng theo lộ trình qui định suốt cả ngày, vượt qua hơn 2 cây số đường rừng, không phát hiện được gì. Trời càng về chiều, trong rừng càng tối om, Toán tìm chỗ kín đáo, đóng quân, một đêm nữa lại trôi đi…
Qua ngày mai, theo lệnh truyền đạt của Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Toán đi về hướng Đông, trở lại phần đất của nước ta. Vùng trên này, núi cao, rừng rậm hơn, lại gặp phải cơn mưa dông đổ xuống dài giờ, nên đường dốc, ướt, đã khó trèo lại càng khó hơn, thêm phần bị đám vắt tung hoành, cứ đeo bám lên tay, đầu, cổ, phải lấy thuốc bôi để trừ khử bọn chúng, nên quãng đường đi cũng chỉ mới vượt qua biên giới chừng trên một cây số thì trời đã tối, Toán rẽ vào một đám rừng âm u, bố trí dừng quân qua đêm.
Sáng kế tiếp, trên lãnh thổ nước ta. Toán vẫn di chuyển theo hướng Đông. Chừng hai giờ sau, vừa đổ xuống một trũng rừng, lội qua một con suối, nước chảy róc rách, Toán đi xuôi theo dòng nước khoảng 200 mét, thì trông thấy một căn cứ địch, nằm gọn lỏn trong một rừng cây cao, cũng không cách xa bờ suối.
Căn cứ là mấy ngôi nhà dài, bọn Việt cọng thường gọi là “lán trại”. Nhà lợp lá, dưới những tàng cây lớn và cao, máy bay trinh sát khó phát hiện. Tiến đến gần hơn, quan sát kỹ địch tình như thế nào?
Té ra, căn cứ đã bị bỏ hoang!
Tại sao địch bỏ hoang?
Tôi tự hỏi.
Bị ta phát hiện hay nhu cầu không còn nữa. Tết Mậu Thân, chết biết bao nhiêu mạng, lán trại cho ai ở nữa? Nhìn qua phía trái, tôi chợt thấy có mấy ngôi mộ, chôn cất sơ sài trên con đường từ căn cứ đi xuống hướng suối.
Chuyện mồ mả trong rừng không lạ gì với tôi. Nhưng mấy trận đụng độ gần đây, bắt một số tù binh địch, chúng tôi thấy lính tráng Cọng sản còn con nít quá, nghĩa là chúng chưa tới 18 tuổi. Tuổi chúng 15, 16 là nhiều. Nghe lời khai của chúng tôi thấy tội nghiệp hơn là tức giận.
Hao hụt quá lớn ở chiến trường Miền Nam, Cọng sản phải tăng quân nhưng hạ tuổi. Trước Mậu Thân, thanh niên miền Bắc đủ 18 tuổi mới bị bắt thi hành cái gọi là “nghĩa vụ quân sự”. Gọi là nghĩa vụ nhưng lại bắt buộc thi hành. Sau Tết Mậu Thân, để đủ quân số chi viện cho Miền Nam, “đảng và nhà nước” Cọng sản Hà Nội phải “vay tuổi thanh niên”. Vay 2 tuổi, (tức 16 tuổi là đủ để thi hành “nghĩa vụ”), có nơi vay 3 tuổi (tức là mới 15 tuổi).
Đã vay thì phải trả. Đảng và Nhà Nước vay thì bao giờ trả? Hay vay mà không trả! Trả bằng gì? Chữ nghĩa Cộng sản hay thật. Nói càng hay thì lường gạt càng dễ.
Trên đường rút lui xa căn cứ, tôi cứ vẩn vơ suy nghĩ về mấy tên lính con nít cọng sản xâm nhập nầy. Biết đâu những ngôi mộ kia là nơi bỏ xác của những thằng lính con nít ấy.
“Mẹ già lên núi, tìm xương con mình!” Đúng là Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn chẳng biết gì cả, ngồi ở thành phố mà nói mò. Đây là Vùng Tam Biên, Mẹ già lên tới Pleiku, Kontum thì Mẹ không còn hơi mà đi nữa, làm sao tới được chỗ hùm beo nầy. Con của Mẹ chết ở đó thì nằm lại đó, nơi khỉ ho cò gáy này muôn đời đó Mẹ ơi!!!
Toán vẫn hướng Đông thẳng tiến! Chưa tới một cây số, lại gặp đường mòn, không phải một đường mòn từ Đông sang Tây mà còn có một con đường mòn khác, bắt đầu từ con đường mòn nầy đi lên hướng Bắc, hướng Trại Lực Lượng Đặc Biệt Plei-Djereng.
Tới quá trưa, đang mò ra quan sát đường mòn, thì súng nổ. Địch bên kia đường trông thấy chúng tôi nên chúng nổ súng. May mắn không ai bị thương tích gì, Toán nhanh chóng rút vào sâu trong rừng ẩn núp nghe ngóng. Một lúc lâu, không thấy động tỉnh gì, Toán đi chếch lên hướng Bắc một khoảng xa, xong lần ra lại con đường mòn thì rõ mồn một, các dấu vết xe hơi, dấu chân người di chuyển còn hằn rõ nét trên mặt đường. Toán cấp báo về Trung Tâm Hành Quân và nhận được lệnh tiếp tục theo dõi.
Đêm ấy lại ngủ trong rừng già.
Con đường mòn chạy từ Nam lên Bắc, Toán lần theo hướng Bắc mà đi. Mới vừa cho Toán dừng lại, mở tấm bản đồ để xác định tọa độ điểm đứng, thì bất thần tao ngộ chiến một lần nữa. Địch từ trên dốc cao đang đi xuống, không ngờ lại đi ngay vào chỗ Toán dừng quân. Không chần chờ, hai ông Mỹ theo phản ứng tự nhiên hô to:
“Beaucoup vi-xi” và bắn xối xả, một hai tên địch ngã xuống, đám còn lại tản ra núp vào các gốc cây, gò mối, chống trả lại.
Quân số địch phỏng chừng một Trung Đội. Phía chúng tôi có sáu người, Hạ Sĩ Bông Toán viên vừa bị trúng thương ở cổ tay, nhưng vẫn còn chiến đấu được.
Địch không ngưng tiếng súng, vừa bắn, vừa hô bằng giọng Bắc kỳ: “Hàng sống, chống chết. Hàng sống chống chết”. Tôi nghĩ thầm: “Đ. mẹ! chống chết, hàng cũng chết”.
Trước tình thế này, Toán theo ám lệnh của tôi, tuần tự tháo lui, leo lên một đồi thấp kế cận bố trí ẩn núp, án binh bất động, đồng thời cùng hai bạn Mỹ, liên lạc về BCH/ Hành Quân để báo cáo sự tình và xin không yểm. Trên bầu trời, không bao lâu sau đó, đã thấy hai trực thăng UH.1B vần vũ. Trung Tâm Hành Quân nắm rõ được tình hình. Qua máy truyền tin, Trung Tá Phan Văn Huấn, lệnh cho Toán chiếu kính và pano để xác định vị trí, rồi hướng dẫn Toán phải nhanh chóng triệt thối về hướng Đông Đông Bắc, khoảng 200 mét, ở đó có một bãi tranh, nằm yên đó, chờ để triệt xuất.

(Triệt xuất các Toán Thám Sát Delta)
Toán đi được một chặng đường thì thấy hai chiếc Trực Thăng Gunship bay đến, đảo vòng vòng rồi thay nhau xả súng liên tục, dữ dội từng tràng đạn đại liên xuống vị trí Toán chạm địch vừa qua.
Gunship vừa đi thì một phi tuần Skyraider lại xà xuống oanh kích, từng khối lửa bùng lên, sáng rực cả trời chiều. Chắc hẳn là chẳng còn một mống vẹm nào có thể sống sót được.
Chiếc Trực Thăng UH.1B tròng trành đôi ba lần, rồi đáp xuống bãi tranh. Toán ùa ra, lao nhanh lên phi cơ. Chiếc trực thăng cất cánh bay vút lên trời cao, xa dần, xa dần hướng mặt trời lặn, còn le lói vài tia sáng yếu ớt, đang từ từ mờ nhạt trong buổi chiều tà.
Trên đường về, đúng là vui như Tết. Hai lần “tao ngộ” mà chúng tôi vẫn bình an!
Cảm ơn Trời Phật!