Ếch ngồi đáy giếng

Hồi ký của Chim Việt
TiVi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 1 Feb 2025

Chỉ có 4 chữ “Ếch ngồi đáy giếng” mà khi tôi còn đi học chữ Nho, thầy tôi đã bỏ ra 3 kỳ giảng luận với các môn đệ của ông. Ông là người xứ Huế, sống lâu năm tại làng tôi (Thới Thuận) về nghề Đông Y không biết từ hồi nào, lớn lên tôi đã biết ông có vợ có con ở đây. Một nếp sống thanh đạm của một ông có Tú Tài Hán học thật trầm lặng mà lòng nhân từ của ông thân hào nhân sĩ đều kính nể. Chỉ có người đồng nghiệp đồng hương với ông là thường hay kiếm những sơ hở của một ông thầy thuốc Đông y mà dèm xiểm về cá nhân của ông.
Ông là một nhà nho học lối sống mực thước không như lối sống bừa bãi của họ như uống rượu say sưa ca hát ngoài đường và cờ bạc. Ông củng có cờ bạc nhưng mỗi năm chỉ đánh với những người từ ngoài Trung vào đây bán dây dừa đệm buồm. Mấy ông ghe bầu, thú tiêu khiển giải trí ăn tiền đó là môn Đổ Tam Hường.

Hình như người miền Trung nào củng mê môn Đổ Tam Hường? bộ Tam Hường của ông thầy Huế bằng ngà, một bộ 6 ông Trạng, mỗi trạng là 32 Hường, một mặt Tử là một Hường. 6 người ngồi chung quanh để cái tô Ông Rồng ở chính giữa. Đổ bằng 6 hột lúc lắc, mỗi người nắm trọn 6 hột đổ xuống tô nếu rớt hột ra ngoài củng không được đổ lại chờ cho tới quận khác.
Người dự chơi môn này phải biết chữ Nho và củng phải lanh mắt, hột đổ xuống tô phải lấy con mắt binh cho lẹ vì như đổ xí ngầu lắc chỉ có 3 hột, nhưng đổ Tam Hường tới 6 hột mà lại hiện ra nhiều thứ. Thú nhứt ăn trọn sòng, đổ 6 hột cùng một mặt, kêu là Lục Phú, thứ nhì đổ 5 hột giống nhau là Trạng nhưng còn một mặt làm chứng như mặt lẻ, đó là mặt Nhì thì người sau cùng đổ Trạng mặt Tam lấy lại. Nhưng mặt này ăn phân nửa Trạng là 16 Hường.
Phần Sòng 3 mặt giống nhau, xí ngầu lắc hai nhì, hai xa, hai tứ, hai ngầu, hai lắc. Sung 1,2,3,4,5,6 con Mèo, hai nhất, hai nhì, hai xa.
Tứ Hường là Trạng Non, còn trạng cáp nửa, cho nên khi đổ thì tất cả đều hồi hộp ngó vô tô kiểu, chờ cho hột ngưng thì phải biết binh cho lẹ. Người Bắc mê Tổ Tôm, người Nam mê bài Tứ Sắc, người Trung mê Tam Hường. Sống chung đụng trong một xã hội quá nhỏ hẹp như miền duyên hải này. Nhưng môn giải trí bình dân nó cách biệt ông thầy Huế với dân địa phương chỉ có mỗi một môn đổ Tam Hường, ông kể cho các môn sinh nghe câu chuyện về giai thoại trong văn chương mà trong thời đại nào củng có.
Một huyện kia mới đổi lại ông huyện có tiếng là người hay chữ, lại trấn nhậm xứ này củng là nơi sản xuất ra nhiều nhân tài. Sau khi nhậm chức một thời gian, ông tân quan huyện mới để trước nha môn hai câu liểng như sau: “Minh nguyệt sơn đầu tiếu
Hoàng khuyển ngoạ hoa âm”
Khi hai câu liểng đó được đưa ra đón chào dân địa phương hàng ngày qua lại nhất là đám nho sinh đi học khi đi qua trước cổng nha môn, thấy câu liểng của quan huyện có tiếng là hay chữ vậy mà viết hai câu liểng trước nha môn đó trật lất….
Trong đám nho sinh đó có tên Lục Tặc cái tên nói lên được tính tình của anh. Anh ta nhất định phải sữa lại câu liễng củng như anh tính sửa lưng ông huyện thật dốt nát này. Một bữa nọ anh lấy viết và mực ghé vô trước nha môn sửa mỗi câu một chữ:
*Câu “Minh nguyệt sơn đầu tiếu” anh sửa lại chữ “Chiếu”
*Câu “Hoàng khuyển ngoạ hoa âm” anh sửa lại “thực hoa âm”

Vì cái nghĩa câu “Minh nguyệt sơn đầu tiếu” là trăng sáng trên không rọi xuống là Chiếu, dùng chữ tiếu thì trật vì tiếu là cười. Còn câu “Hoàng khuyển ngọa hoa âm” là con chó không thể nằm trong nhuỵ hoa nên sửa lại chữ “thực hoa âm” (con chó nó ăn hoa). Anh cảm nghĩ một ông huyện nổi tiếng là hay chữ dán hai câu liểng trước cửa nha môn để chào khách địa phương mà bị một anh học trò sửa lại thì có lẽ thẹn lắm…
Anh lính lệ vào báo cho quan huyện hay có một học trò đi qua lại hàng ngày, hiện anh ta đã lấy viết mực sửa lại hai câu liễng ngoài nha môn.
Quan huyện thấy học trò mà dám sửa hai câu liễng đó thật là vô phép và ông củng viết lại hai câu liễng y như trước. Đám học trò đi qua lại thấy sao quan huyện này chỉ có một câu liễng bị sửa rồi mà không có câu nào khác hay hơn để thay thế. Rồi anh Lục Tặc lại lấy viêt mực sửa lại hai chữ như lần trước. Nhưng lần này thì anh bị lính lệ bắt cho quan huyện trị tội.
-Anh kia, anh ăn học đã tới đâu mà sao dám tự ý xóa chữ trên câu liễng trước cửa nha môn như thế?
-Ở đây ai củng đồn ngài là một người hay chữ vậy mà ngài để hai câu liễng như thế trước cổng. Ai họ củng cho là sai, đừng nói chi tới tôi củng là người có ăn học.
_Anh còn phải đi học, phải thi đậu mới được ra làm quan như tôi đây. Anh đi học mà không biết chữ Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, tội anh không thể tha thứ được vì anh không biết tới Tiên học Lễ, hậu học Văn.
Thưa quan huyện thánh nhân có chữ Nhất tự lục nghĩa, một chữ có tới sáu nghĩa làm sao chứng minh là chữ đó nó trúng theo nguyên văn, tinh thần câu liễng?
Anh học trò Lục Tặc bị đưa đi quản thúc ở một hải đảo xa nhà. Tại hải đảo đó anh không bị lao động như những phạm nhân khác, chỉ ăn rồi học, học rồi lại ăn. Nhưng anh củng nhớ nhà nơi mà từ nhỏ tới lớn chưa từng ra khỏi luỹ tre xanh. Sống nhàn nhã như vậy để giải trí anh thường đi ra ngoài đi xóm trên rời đi xóm dưới, tìm hiểu đời sống dân địa phương ở hải đảo này. Một đêm anh đi dọc ngoài đồng gần những ngọn đồi một âm thanh lạ tai hình như có nhiều tiếng cười từ xa vọng lại. Anh đi tới gần chổ phát ra tiếng cười ấy, không phải dưới đất mà là từ trên trời, anh sợ hãi vội chạy trở về nhà trọ.

Anh nói với người nhà anh vừa đi tới một nơi ngoài xa kia có nhiều ma quỉ hiện về trêu chọc khách đi đêm. Người nhà cho anh biết không phải là ma quỉ gì hết, đó là giống chim chuyên bay đi đêm, mà tiếng nó gọi đàn nghe như là tiếng cười của con người. Giống chim đó dân địa phương ở đây đặt tên là chim Minh Nguyệt. Anh thư sinh Lục Tặc khi nghe người dân địa phương cho biết cái giống chim lạ đời này tiếng kêu gọi đàn như tiếng cười của con người. Anh thư sinh nhớ lại cái câu liễng trước “Minh Nguyệt không trung tiếu”
Anh vội vã viết một lá đơn gửi về cho quan huyện thú tội ngu dốt của mình, khi ra tới đây mới biết trên thế gian này có con chim Minh Nguyệt. Nhưng anh củng chưa được lịnh ân xá cho về nhà, anh còn phải đi ở một nơi khác một nơi đồng bằng dân cư sống về nghề trồng rẫy. Tại đây củng như ngoài hải đảo vẫn ăn rồi học.
Vùng đất rẫy bao la này đa số nông dân họ trồng cây bí rợ. Các loại cây hoa màu không thứ nào được nhiều bông lai loại bông lớn. Bí rợ ăn được, bông bí ăn được, ngọn bí ăn được.
“Mẹ mong gả thiếp về vườn.
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”

Trong ruột bông bí rợ nó có cái nhuỵ cao lên, lại tiết ra một chất nước ngọt như là mật ong khi ăn phải bẻ làm hai ngắt bỏ cái nhuỵ vì khi nấu nó có chất đắng đồng thời củng kiểm soát trong ruột bông bí đó thường có con sâu chuyên sống nhờ chất nước ngọt của bông bí rợ. Con sâu này điểm đặc biệt của nó là có 2 con mắt, 4 chân và có cái đuôi dài ra mà dân địa phương đặt tên nó là con sâu Chó Vàng. Khi anh thư sinh nghe dân địa phương nói con sâu Chó Vàng nằm trong ruột bông bí rợ. Nhớ đến câu liễng của ông quan huyện nọ: “Hoàng khuyển ngọa hoa âm” Từ nhỏ tới lớn anh chỉ lẩn quẩn trong làng rồi ngâm nga trong sách thánh hiền chưa từng đi xa vì ngoài tầm mắt anh không biết bao nhiêu là chuyện lạ: Ếch ngồi đáy giếng, thấy bao nhiêu trời?
Nếu trước kia mà quan huyện cho anh biết là vùng nào đó có con chim Minh Nguyệt và củng vùng nào đó củng có con sâu Chó Vàng thì nhất định là anh thư sinh Lục Tặc cho là quan huyện nói khoác. Vì anh đã làu thông Ngũ Thư, Tứ Kinh và Tam Tự Kinh. Cho nên anh mới dám nói nhất tự lục nghĩa, mỗi chữ có 6 nghĩa vậy mà anh không thấy câu chữ nào tối nghĩa như vậy. Nếu anh dám nói với quan huyện là Nhất tự lục nghĩa… thì quan huyện củng xài lại Mạ nhơn Giáo nhơn? cho nên bài học mà quan huyện sở tại tặng cho anh thư sinh Lục Tặc một thời gian dài quản thúc cho hai nơi. Cho anh đụng với thực tế anh phải ghi nhớ mãi không bao giờ quên…
Đặc biệt năm rồi có Mục sư Phan thanh Bình từ Hoa Kỳ qua. Phái đoàn Hội thánh Kew (Melbourne) 15 người có 3 Mục sư. Tôi đi trong phái đoàn đó, ban thanh niên đi từ mấy ngày trước. Phái đoàn đi xe bus xuyên tiểu bang lối 7 giờ sáng tại city. Lối 10 giờ đêm thì tới Sydney tất cả hành khách đều xuốngxe bus vì xe này sẽ chở hành khách trở về Melbourne. Rồi xe bus khác lại bến chở hành khách tiếp tục đi Brisbane. Phái đoàn đi dự đại hội không có lên xe bus đó. Vô phòng giấy khiếu nại thì họ nói chiều mai mới có chuyến khác để chở phái đoàn đi Brisbane và nhân viên đóng cửa về nhà ăn lễ Giáng Sinh vì đã gần 12 giờ. Rồi tới Giáng Sinh thanh niên nam nữ Úc Đại Lợi đi cùng đường vui vẽ ca hát. Trong khi đó 15 người ngồi đứng không yên, không biết nhân viên Hội thánh lấy vé cách nào mà tới đây (Sydney) đứng coi thiên hạ đón mừng lễ Giáng Sinh mà mình thì bơ vơ lóng nhóng. May sao trong đoàn có anh Lưu Tinh có người bạn ở khu Cabramatta rồi khó khăn lắm mới đi tới 5/128 John Street vì Taxi họ củng nghỉ chạy.
Một căn phòng nhỏ mà củng đủ chứa 15 người khách tình cờ này. Rồi củng bày thức ăn đem theo ăn (Reveilion) đúng 3 giờ sáng. Một cái Giáng Sinh nhớ mãi không quên này. Theo đúng chương trình này thì ngày 25 là tới địa điểm núi Tamborine nhưng ngày đó cả đoàn bị kẹt lại khu Cabramatta Sydney.Cho nên các đại biểu đều chờ tới 12 giờ trưa mới khai mạc Hội Bối Linh mà chương trình nghi thức khai mạc Hội Đồng đúng 10 giờ. Vì khi tới Brisbane chổ địa điểm hẹn xe bus Hội thánh chờ phái đoàn Melbourne gần cả tiếng đồng hồ mới tới WEC Conference Centre.
Theo ông tài xế vui tính cho biết vùng núi non này là trước kia để huấn luyện binh sĩ Úc Đại Lợi qua tham chiến tại Việt Nam. Thật là phong cảnh núi non hùng vĩ tôi nghĩ nếu vùng này mà được dàn cảnh để quay phim chưởng thì không nơi nào bằng. Ngày 28/12/1987 lễ bế mạc đại hội Bổi Linh kỳ 3 lúc 12 giờ trưa. Ban tổ chức đại hội có tổ chức đi du ngoạn, ngắm cảnh, tắm biển. Mà địa điểm là bải Cát Vàng (Gold Coast) từ 1 giờ đến 5 giờ chiều Trong khi chờ đợi xe bus lên chở phái đoàn đi du ngoạn, bửa nay tôi mới đi khỏi nhà hội, nơi chót núi Tamborine tại đây có một trạm Rada mà củng là đường cùng từ dưới lên tới đây. Tôi tạm cho nó là chót núi Ma Thiên Lãnh.

Trong lúc thả hồn mộng trong cảnh đẹp tuyệt vời này tôi nghe có tiếng cười từ phiá trên không. Ban đầu tôi cho là các người đi dự đại hội này trèo lên cây cười. Nhưng tôi nhìn lên thì không thấy ai hết, mà chỉ thấy một bầy chim, nghe kỹ lại thì bầy chim này nó cười. Tôi liền chạy vô nhà hội kêu mấy người bạn ra đây nghe chim lạ nó cười và ông Mục sư Nguyễn Cao Lễ nói đó là con chim người Úc kêu là chim Kookaburra. Cuộc đi du ngoạn thăm thắng cảnh, đi tắm biển Bãi Cát Vàng một bờ biển đẹp nhất trong các bờ biển ở Úc châu. Vì vậy mà luôn trên biển vô số thanh niên trai thanh gái lịch có chổ để phô mông ngực, tôi củng chen lấn thay đồ để xuống Bãi vàng này nhúng nước với người ta đâu có dịp nào đi xa hơn 2 ngàn cây số để mà tắm biển và du lịch vùng nắng ấm này. Suốt buổi đi du ngoạn này trong s9ầu óc tôi không quên con chim Minh Nguyệt (tên Việt nam) Kookaburra (tên Úc). Một tiềm thức xa xưa sống lại mạnh mẽ trong tôi. Vì thưở còn đi học chữ Nho nghe ông thầy kể chuyện Minh Nguyệt không trung tiếu. Trí óc non nớt… tôi cho là một giai thoại văn chương mà thôi. Vậy mà cho tới tuổi quá Đáo Tuế mới biết câu chuyện này có thật. Khi vượt biên qua tới đảo Pulau Bidong, tôi được phái đoàn Úc Đại Lợi nhận theo diện đoàn tụ gia đình. Rời đảo bằng tàu cao Uỷ chở đoàn người tỵ nạn lồi hơn 1 giờ là tới tỉnh duyên hải Trengganu cách lối 100 cây số có trạm y tế Barang.

Nghỉ đêm tại đó, sáng tinh sương điểm danh lên xe bus mỗi người được phát một phần ăn dọc đường về Sungai Bisi ngoài thủ đô Kuala Lumpur.
Xa lộ dọc theo bờ biển tay mặt là nhà nông dân Mã Lai cất dưới mấy đám dừa toàn là nhà sàn một sự lạ mắt người tỵ nạn, mình ở nhà trệt họ lại ở nhà sàn giàu nghèo gì củng như vậy. Phía tay trái là mé biển, nhiều loại cây trầm thuỷ củng như các bờ biển bên mình cây Giá, cây Đà, cây Vẹt, cây Đước, cây Mắm. Sống dọc theo mé biển các loại cây này củng bị sóng biển đánh tơi bời vậy mà củng tốt tươi từng đám chạy dài theo xa lộ.
Nam kỳ ở quận Cái Mơn có nhiều loại cây ăn trái như Chôm Chôm, Măng Cụt, Vú Sữa và Sầu Riêng. Đó là những loại cây mà trước kia của cụ Trương Vĩnh Ký khi cụ đi du học trường đạo La Mã ở Penang (Malaysia) Cụ đem những giống cây ăn trái ngon lành đó về xứ mình trồng. Đầu tiên là quận Cái Mơn tỉnh Bến Tre rồi được trồng khắp Nam Việt. Còn các laọi cây trầm thuỷ đứng dài theo bờ biển Mã Lai cùng loại với những cây đứng dài theo bờ biển bên mình. Đành rằng những hột gống cây trầm thuỷ này nó có thể trôi theo sông biển đánh đi một nơi vô tận. Tháng này không tới bờ thì tháng khác nó có thể trôi lình bình trên mặt biển lâu ngày cho tới khi nào được nằm trên mặt đất.
Theo luật hoá sanh nó sẽ đâm chồi mọc lên thành cây sinh con đẻ cháu kể như nhập tịch? Như vậy hột giống này những loại cây trầm thuỷ này nước nào có trước? nước Mã Lai hay là nước Việt Nam? Còn loại chim trời Minh Nguyệt và Kookaburra. Không thể như câu chuyện thần thoại mà nó bay ngang qua một đại dương? Câu chuyện thầy tôi kể cho các môn sinh nghe “Ếch ngồi đáy giếng” cách đây gần 50 năm mà câu chuyện về giai thoại văn chương này củng có trước lối 10 năm kể như củng tới 60 năm.
Sau năm 1975 mới có đoàn người tỵ nạn Việt Nam tới nước Úc châu. Như vậy chắc chắn là đoàn người tỵ nạn này củng không ai đem được con chim Minh Nguyệt theo.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply