Bối 1

Hồi ký của Chim Việt
Tivi Tuần San Úc Châu

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Nghe vẽ nghe ve
Nghe vè đi bối
Trời chưa kịp tối
Núp dựa bóng bần
Coi ghe nào gần
Lấy lá cây che phủ
Chờ cho họ ngủ
Bối lại lấy đồ
Thức dậy mà hò
Xô ra mà chạy
Bớ làng xóm. Bối…bớ làng xóm…Bối
Nếu trên bờ thì nghề đó kêu là ăn trộm hay dân đạo tặc (bần cùng sinh đạo tặc) lại củng có có tên là đạo chích (chó người đạo chích sủa vua Nghiêu) còn dưới sông ăn trộm thì kêu là Bối. Bửu bối là vật quý của thầy tặng cho các trò tu tiên là phép khi hạ san để phòng thân ra phò vua giúp nước, đâu có cho kẻ gian trong giới giang hồ. Vậy mà trong đám thảo khấu sông hồ này lại có tên hoa mỹ như vậy?

Các ghe thương hồ thưở xưa tất cả xuôi ngược đều chèo suốt ngày có khi suốt đêm, mái chèo khuấy nước làm động cơ. Vì vậy mà khi mái chèo được gát lên be ghe, tất cả trong ghe đều mỏi mệt chìm đắm trong giấc ngủ đó là giờ thuận tiện cho đám Bối làm ăn.
Chúng sẽ lén bò qua ghe lấy đồ và vật, nhưng không c1o gì đáng đồng tiền thì họ lấy chèo, bánh lái. Ghe nếu không có hai thứ này thì như bị chết máy giữa đường sẽ làm trễ nải công việc bán buôn sở hụi hàng ngày bị kéo dài ra… rồi sẽ có người bơi xuồng tới họ làm môi giới cho chủ ghe đi chuộc lại vì họ thấy mấy món đồ đó nó trôi giữa sông nên họ vớt lên đem về nơi nào đó!
Khắp vùng Tiền Giang chổ nào củng có Bối, nhưng tiến tăm nhất chỉ có đám Bối Ba Cụm. Sào huyệt đám Bối ba Cụm này nằm trong rạch tên Ba Cụm. Rạch này lối gần ngã ba Giao Hoà đầu con kinh An Hoà phía dưới làng Phú An Hoà trên con sông Cửu Long thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhưng các chi nhánh đặt nhiều nơi từ Vàm Bà Rãi xuống tới cù lao Ngũ Hiệp, cù lao Thới Sơn, cù lao Rồng là vùng trên. Còn vùng phía dưới từ vùng Bình Đại lên Lộc Thuận, Vang Quới, Phú Thuận, Long Phụng vàm Giao Hoà thuộc về tụ điểm Ba Cụm.
Từ đầu con kinh Kỳ Hôn vô ngã ba Ông Văn, kinh Chợ Gạo, Bình Phục Nhất, Bình Phục Nhì tới đầu kinh Nước Mặn và chợ Dinh lại thuộc về tụ điểm ngã ba Ông Văn. (chợ Dinh làng Đồng Sơn quận Cần Giuộc Chợ Lớn). Dân đi Bối có nhiều hình thức để nghi trang: xuồng đi bám vàm, xuồng đi câu tôm cá, xuồng bơi đi chợ…trong đó chỉ có xuồng đi bám vàm là nguy hiểm nhất. Đêm khuya canh vắng, một giọng hò huê tình:
Hò ơ… đèn cầu tàu ngọn xanh ngọn đỏ, đèn chợ Mỹ ngọn tỏ ngọn lu.. anh về học lấy chữ Nhu (Nho).. chín trăng em đợi..hò ơi.. mười thu em củng chờ..
Hò..ơ..Mỹ Tho nước ngọt gió hiền…tàu xuôi Nam Hải ngược miền Nam Vang…thương hồ chiếc dọc chiếc ngang ..tiếng rao lãnh lót..hò..ơ..nhịp nhàng chèo khua, cháo gà, cháo vịt, cà phê, nước ngọt, nhậu lai rai đây.

Tiếng cô thiếu nữ rao nghe thanh tao, Bối cặp theo ghe thương hồ đậu nghỉ củng không phải chỉ đi bám vàm còn chuyên nghề đấm bóp và xa hơn nửa nếu chịu xong giá cả đôi bên thoả thuận. Khi anh lái buôn tỉnh giấc Vu Sơn người bạn một đêm đâu mất và cả tiền bạc cùng những đồ đạc quý củng mất luôn! Có khi người bạn một đêm vẫn còn nằm bên cạnh mà đồ vẫn bị mất như thường, vì khi mỏi mệt cùng người đẹp trong giấc mộng chung tình chính tay người đẹp đó sẽ lén chuyển đồ vật cho đồng bọn Bối xuống gần ghe hay là bỏ đại những quần áo xuống dưới mặt nước, nước trôi xuống có người chờ đợi vớt lên về xài.
Vì ghe thương hồ nội trong mui là phòng khách, phòng ăn và luôn cả phòng ngủ của chủ ghe. Tất cả bạn trạo phu ban đêm thì ngủ ngoài rồi tự do ai muốn bắt cặp thì bỏ tiền ra bắt cặp. Mỗi xuồng vàm từ hai cô cho tới ba cô, cặp mối xong thì bò qua ghe, vì vậy mà luôn bị thế nội ứng, ngoại hiệp! Thật tụi nó tài tình như có bửu bối? Có lẽ vì vậy mà họ bỏ chữ Bửu chỉ xài một tiếng Bối để đặt tên?

Mấy anh lái buôn hảo ngọt bị mấy em đoạt mất hồ bao đều có một sách khi về tới nhà báo cáo cho vợ con, chuyến này bị Bối xông thuốc mê tụi nó bơi xuồng ngang qua ghe mình nghe tiếng ngủ ngáy đều đều thì tụi nó xông thuốc mê trong ghe không ai hay hết.
Lệ cúng Kỳ Yên làng Thới Thuận ngày 16 tháng 6 âm lịch. Đi coi hát đình tụi tôi ngán nhất ông Từ ngồi gần sân khấu còn lấn qua lấn lại dành chổ làm cho đào kép trên sân khấu hát không được, mà phía dưới khan giả coi củng không được. Vậy mà khi nghe tiếng nói ông Từ tới đó thì tất cả đám nhỏ đều ngồi xuống lặng thinh. Ông cầm cây roi tre dài, áo dài đen đội khăn đống đàng hoàng, hai vạt áo dài cột lại cho gọn, ông đi tuần tra cho nam ra nam nữ ra nữ không cho hai phái đụng gần nhau. Mấy đứa con nít con hương chức hội tề, ông có quyền bổ roi tre trên đầu nếu không chịu ngồi xuống, còn đánh lộn thì ông xách hai tay hai đứa đuổi ra khỏi đình giữ trật tự cho chầu hát.
Ngày mùng 1 đầu tháng, ngày rằm nửa tháng sau khi dứt ba hồi trống nhóm tại công sở Thới Thuận, các hương chức hội tề lần lượt vô công sở nhóm đặng bàn về việc quan, việc làng. Ông Từ củng áo dài khăn đen vô công sở lãnh nhang đèn về đình. Bà Từ mỗi buổi sáng đầu đội cái sàng hai tay bưng hai thúng đựng trầu cau vô chợ bán. Nếp sống trầm lặng của ông bà Từ trái hẳn với nếp sống đua chen của dân ngoài xóm đình này. Làng cất cho ông bà căn nhà nhỏ giữa khoản đất trong đình với làng. Ông bà chết được làng chôn cất và bài vị người tiên vãng sau hậu đình. Như vậy làng này ông bà không có ai là thân nhân hết. Khi về nhà thấy trên lư hương bàn thờ có miếng giấy màu đỏ đó là của ban khánh tiết gởi tới báo tin cho các nhạc sanh và lễ sanh tới kỳ ra tập dượt lễ nhạc ngoài đình.
Ăn cơm chiều xong đám con cháu trong ban du nghệ lần lượt ra đình dưới sự chứng kiến của Hương Lễ, Hương Nhạc, hai bô môn này phải cho hiệp nhất, phải cho ăn rập và nghiêm trang khi tế thần. Sau giờ tập xong các đám tập sanh lễ nhạc lần lượt ra về. Thường thường tôi ở lại trò chuyện với ông Từ:
_Ở đây ông có bà con với ai không ông Từ?
_Tao ở xứ lạ lại đây không có bà con với ai hết.
_Xứ ông ở đâu vậy ông Từ?
_Củng ở chung một quận An Hoà trên kia.
_Trên kia là trên nào vậy ông Từ?
_Thằng này thiệt tò mò, tao ở trên Ba Cụm.
_Phải ở chổ đó họ kêu là Bối Ba Cụm không ông Từ?
_Thì vậy chớ sao mày?
_Cái đó là cái gì mà họ kêu là Bối Ba Cụm?
_Bối là ban đêm đi ăn cắp đồ dưới ghe, củng như ăn trộm ăn cắp đồ trên bờ vậy.
_Sao không kêu ăn trộm cho dễ hiểu mà bày đặt kêu Bối?
_Thằng này hỏi riết làm tao không biết đường mà trả lời, ông cười.
_Hồi ở trên ông có đi Bối không ông Từ?
_Có chớ sao không mày, tao là dân chuyên môn mà.
_Dân chuyên môn mà sao ông lại xuống đây làm ông Từ đốt nhang cho thần?
_Thôi để bữa nào rãnh tao nói cho mày nghe, bây giờ khuya rồi.
Rồi một đêm, một già một trẻ dưới ngọn đèn leo lét, ông Từ mới bắt đầu tâm sự với tôi. Ông kể lại một thời lừng danh tại tổng hành dinh của bọn thảo khấu sông hồ Ba Cụm. Năm đó tao đi bán bí rợ trên Cầu Ông Lãnh khi buôn bán xong chờ chủ vựa trả tiền, mấy đứa bạn thì đi coi Sở thú, đứa thì vô coi Chợ Lớn Mới Bình Tây. Tao củng thả lần ra chợ Thầy Gòn coi họ buôn bán. Tao đi dài theo con đường gì đó bỗng có người trong nhà hàng ra mời tao vô nhà hàng uống cà phê chơi. Thầy đó bận đồ tây mà lạ hoắc, tao không biết là ai, nhưng tao cũng vô nhà hàng theo thầy đó. Trong nhà hàng củng có hai thầy bận đồ tây bắt tay tao và mời tao ngồi.

_Anh còn nhớ tôi không?
_Tao hết hồn tưởng đâu là gặp lính kín.
_Dạ tôi không nhớ gặp thầy ở đâu và hồi nào.
_Năm ngoái tôi gặp anh trong ngã ba Ông Văn chợ Gạo, ghe tôi đậu ngủ tại Binh Phục Nhì bị đám đệ tử anh lấy mất bánh lái, tôi đi chuộc lại đó.
_Xin lỗi, vì nhiều người quá nên tôi không nhớ hết.
_Khi ghe anh lên bán bí rợ thì đám em út của tôi ở Cầu Muối có cho hay tụi tôi đợi cho anh buôn bán xong mới đón anh làm quen và mời anh lại nhà tụi tôi chơi và bàn nhiều công chuyện làm ăn với anh.
Ai củng bận đồ tây chỉ có mình tao bận đồ bà ba xập xệ, ngôi chung trên xe chạy vòng vo tam quốc. Họ chỉ chổ này họ chỉ chổ kia tao đâu có nhớ cho hết vì mình ở dưới nhà quê lên Thầy Gòn. Xe tới nhà họ thì có mấy người đàn bà chạy ra mừng, nhà họ coi sang trọng lắm, đem rượu tây ra uống nói chuyện chơi. Khởi đầu họ nói, trên này tụi tôi danh tiếng là Bối Ba Cụm nên phục tài mấy đệ tử của anh, vậy bây giờ anh đừng sợ và nghi ngờ gì hết nhé. Tụi tôi đây củng đồng nghiệp với anh. Tao nghe họ nói tao hết hồn, mình nghèo mới đi ăn trộm, còn họ sao giàu như vậy mà củng đi ăn trộm như mình? Họ mời tao vô phòng kín cho thấy nào là mặt nạ, dao găm, củ chì thung lại có súng nửa. Như vậy là chánh ăn cướp chớ đâu phải là Bối như tao. Bây giờ họ mới nói thiệt với tao, họ muốn cùng tao hiệp lại làm ăn một chuyến lớn, kết quả còn hơn tao đi Bối ba năm. Nếu như tao bằng lòng thì họ thảo luôn kế hoạch tại đây, còn như dụ dự thì họ đưa tao về ghe dưới Cầu Ông Lãnh.

Ba Cụm

Chim Việt
Tivi Tuần San Úc châu

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Sau năm đình chiến năm 1954 hiệp định Geneve, tình hình an ninh lập lại, nhân dân miền Nam được hưởng lại cảnh hoà bình. Tình cờ tôi gặp lại người bạn đồng hương anh Bảy Lâu, người bạn học trò khi còn ngồi lớp đồng ấu (Enfantaire) cho tới cùng nhau thi đậu bẳng cấp Tiểu học lớp Sơ Đẳng (Elementaire).
Anh Bảy Lâu là đứa con út trong một gia đình có tới 5 chị gái, nên khi sanh tới anh là trai ba má anh cho anh xấu háy? nên trên đầu anh có chừa ba vá, đặc biệt là sau ót anh, vì để vá nên có cái đuôi rùa dài xuống sau lưng. Thời kỳ lên tới lớp Dự Bị (Preparatoire) tuổi học trò cỡ đó lớn hơn lớp nhỏ Đồng Ấu, nhưng lại nhỏ hơn lớp Sơ Đẳng. Đầu hớt trọc (Carre) áo thung quần xà lỏn lớp mà người ta cho là nhứt quỷ, nhì ma, thứ ba học trò.
Cách phía sau công sở Thới Thuận một cái sân rộng lớn, chung quanh có trồng cây cao bóng mát, trường học trên một nền cao gần bìa rừng. Lúc chạy dỡn trước sân trường khi cao hứng đồng ca bài Mạnh Lệ Quân, bắt chước trong dĩa hát của thầy Năm Tú tại Mỹ Tho dĩa Pathe, Phono nghe chơi…Buổi sớm mơi con ra kinh thành dạo chơi…Con mới tới nơi, ông liền đánh con…Nhờ con chạy mới còn đây mẹ…Ca xong câu này thì cùng nhau rượt bắt Lý Đạo Tông (anh Bảy lâu) khi bắt được Lý Đạo Tông rồi, thì hai đứa ôm chặt hai tay, rồi mỗi đứa trong bọn vuốt sau đuôi rùa anh cái nhẹ … rồi cười…anh củng cười theo…
Trong truyện Thuyết Đường có ông Lý Đạo Tông đi dạo ngoài thành, có đám con cháu dòng họ Tiết, đè ông xuống đứa nhổ râu, đứa nhổ tóc, sau đám này bị bắt về tội toàn gia chu lục. Nhưng khi tới tôi vuốt đám tóc đuôi rùa đó, tôi không nói vuốt tóc Lý Đạo Tông mà tôi nói giựt chóp mao con Hồ Lôi Báo (củng trong truyện Thuyết Đường, có ông tướng Thượng Sư Đồ có con ngựa thần trên đầu có chòm lông, khi giữa trận tiền gặp nguy Thượng Sư Đồ nắm chóp mao con Hồ Lôi Báo giựt mạnh tức thời nó hét lên một tiếng tất cả con ngựa bên địch đều quỵ xuống. Nhưng đời của con ngựa này chỉ hét có 3 lần. Cho nên anh Bảy Lâu thấy tôi vuốt đuôi rùa của anh mà nói Hồ Lôi Báo thì anh không hét lên như ngựa thần mà anh về thưa thầy. Cho nên thay vì đám ngựa bị cóng giò thì đám học trò bị quỳ mỏi gối…
Những truyện vui thưở học trò tụi tôi còn nhiều thứ nửa. Khi cùng thi đậu bằng Tiểu học, anh có đủ phương tiện lên học trường Mỹ Tho, còn tôi không đủ phương tiện đi học xa nhà nên ở nhà làm công tử!
Đám học trò đó lớn lên kẻ ngược xuôi, người ngang dọc lập thân. Hôm nay tình cờ gặp lại tiệm cà phê Nam Sơn một tiệc này không đủ cho đôi bạn đồng hương bấy lâu xa cách hàn huyên cho phỉ dạ. Bảy Lâu nhất định mời tôi lên nhà anh ở chơi vài ngày. Nhà anh trên vùng Xoài Hột, không biết anh định cư lập nghiệp đây hồi nào, nhà 3 căn lợp ngói trong một khu vườn đầy cây ăn trái nằm cạnh con rạch Xoài Hột. Trong nhà đầy đủ tiện nghi, tủ cẩn, salon, đi văng gõ, dưới nhà cầu mé rạch có hai chiếc ghe chở trái cây đi bán.
Anh kêu vợ con ra giới thiệu tôi là bạn đồng hương, dân tài tử, giờ là thợ may đồ Tây, trước kia là dân công tử tại làng. Hôm nay nhà anh Bảy Lâu dưới bếp lăng xăng phụ nữ nấu ăn, trên nhà thì trai tráng lo dọn dẹp bàn ghế mượn.
_Bữa nay nhà anh có đám cúng gì mà lối xóm lại phụ giúp đông đảo vậy?
_Nay là ngày lễ Thanh Minh, củng là tới phiên tôi tổ chức.Mỗi năm tại đây đều luân phiên tổ chức lễ cúng Thanh Minh tập thể. Ban khánh tiết vùng này mỗi năm có tổ chức lễ Thanh Minh, năm nay tới phiên tôi được tổ chức, nên gặp anh là một dịp may, mời anh lên chung vui quen biết được một lễ Thanh Minh duy nhất tại vùng này.

Khi con heo quay về tới nhà tất cả lối xóm ăn mặc chỉnh tề đồng đi ra ngoài mé sông Cửu Long cạnh đường lội xe đi Rạch Gầm. Khi đoàn đi tới một nghĩa trang nằm phía ngoài bờ sông Cửu Long tất cả đều vô đó… và tiệc cúng bằng con heo quay, che xôi, hoa quả, bày ra giữa đám mả trong nghĩa trang, nơi đây được dọn dẹp sạch sẽ cỏ cây, đường xá ngay thẳng từng hàng. Khi khởi sự cúng anh Bảy Lâu đưa cho tôi một bó nhang đã đốt anh nhờ tôi là người khách lạ mới tới dự lễ này, mỗi cái mả cắm một cây nhang. Mỗi cái mả đều có làm dấu một cây thánh giá sơn trắng. Nhưng có một điều làm tôi ngạc nhiên tại sao cả mấy chục cái mả mà tôi đi cắm nhang, trên cây thánh giá lại không ghi tên người nằm dưới mộ? sau đám cúng Thanh Minh, về nhà anh Bảy Lâu bày ra làm tiệc chung cùng nhau ăn uống chuyện trò thân mật. Giờ đây tôi mới biệt được cái tiểu sử nghĩa trang mới làm lễ cúng Thanh Minh, nó được mang nhiều cái duy nhất.
*Một nghĩa trang duy nhất tại xứ Nam kỳ
*Duy nhất… có cắm bia mà không có tên người nằm dưới mộ
*Duy nhất…không có thân nhân tảo mộ hằng năm.
*Duy nhất, già trẻ, trai gái, giàu nghèo đều cùng chết một đêm.
*Duy nhất được dân vùng Xoài Hột luân phiên cúng Thanh Minh tập thể.
Cái nghĩa trang mang nhiều duy nhất đó là nạn nhân của chiếc tàu đò đưa khách trên con đường Sài Gòn-Trà Vinh chiếc tàu đò đưa khách đó có tên là Đồng Sanh! Mỉa may thay nó mang tên Đồng Sanh .. mà lại là Đồng Tử? Chiếc tàu đò này nó bị chìm khi từ trên Vàm Kỳ Hôn chạy xuống gần tới Vàm Giao Hoà nhằm con nước lớn có nhiều ngọn sóng thần từ cửa Tiểu và cửa Đại tạo nên giới thương hồ gọi là ngã ba Tam Điền.
Trước đó không lâu củng có chiếc tàu hiệu Quay Lợi (Hoai Lợi) củng chạy con đường này nhưng chiếc tàu này khi bị sóng đánh gần chìm nhờ tài công tỉnh trí, cho tàu chạy đại vô bờ vì vậy mà không bị thiệt hại về nhân mạng bao nhiêu. Tối lại khi lối xóm dọn dẹp xong ra về, anh Bảy Lâu cùng tôi ra sau phía vườn có cất cái nhà để chứa trái cây mới hái từ chung quanh vườn đem vô đây mới lựa tuyển thứ tốt vô bội chở đi. Hơn mười mấy năm hai đứa trong ban tài tử bỏ túi Thới Thuận mới gặp lại đàn ca, anh cây Guitar, tôi cây Kìm, cố ôn lại những bài bản trước kia rồi thâu lượm nhưng bài bản ngày nay.
Giờ phút này tôi vẫn còn bị cái nghĩa địa Đồng Sanh ám ảnh, sau khi chiếc tàu đò chạy đường Sài Gòn – Trà Vinh chìm. Thời gian sau vùng cù lao An Hoà, có một bài ca vọng cổ Tàu Đồng Sanh chìm vào Giao Hoà. Bài ca này tôi không có học vì nó buồn quá. Nhưng có nhiều người họ ca nên tôi củng thuộc được nửa bài vọng cổ đó. Bảy Lâu đờn, tôi ca:
_Ôi cuộc đời thật là tang thương biến đổi.
_Kiếp nhân sinh dường như trong giấc mộng hoàng lương.
_Từ Sài Gòn ra Kỳ Hơn tới Giao Hoà tôi vẫn vui cười có ngờ đâu là
_Tới sông Cửu Long giang chổ người ta gọi là Tam Điền
_Thình lình phong ba dội thổi, phần bọn học trò chạy qua lại, làm cho tàu nọ phải nghiêng.
_Than ôi ngọn sóng thần nó vừa chụp qua ngọn thứ nhì
_Lần lần tàu kia riễu hạ tiếng cha khóc con kêu bên tai nghe thảm thiết bi ai.
_May sao tôi tỉnh mới cởi giày lột áo phóng đại ra ngoài
_Tôi ôm được cái phao mà phú cho ngọn song thuỷ triều
_Khi tỉnh lại thấy chung quanh mình tôi lao nhau lố nhố kẻ lo hơ lửa người lại cho uống nước gừng. Theo như nạn nhân còn sống sót nạn tàu chìm này. Nguyên vì cuối năm học trò các nơi như Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh về nghỉ Tết Nguyên Đán. Những chuyến tàu gần Tết củng nhận chở hàng hoá về bán Tết cho nhiều cùng với đám học trò mất bình tĩnh khi thấy ngọn sóng thần đánh vô thân tàu rồi sợ nên chạy qua chạy lại vì tàu chở hàng hoá quá khẳm nên chìm luôn.
Giữa đêm khuya sóng lớn mênh mông, không biết bên nào là bờ cho nên trọn đám hành khách tàu Đồng Sanh chết chìm gần hết. Nhà cầm quyền thời đó mới vớt những thây ma trên song Cửu Long từ Vàm Giao Hoà tới Thị xã Mỹ Tho đem lên chôn chung trên Vàm Xoài Hột rồi xác tàu Đồng Sanh củng kéo bỏ gần Vàm Xoài Hột. Thân nhân nạn nhân đâu biết tin tức gì về vụ tàu chìm, vì thời đó hệ thống thông tin không đủ, như báo chí và đài phát thanh trong dân chúng hằng ngày như ngày nay. Khi thấy đã tết mà không thấy họ về tới nhà mới biệt đã bị tai nạn đó. Sự cố gắng của chính quyền thời đó nội lo chôn cất gần cả trăm thây ma là cả vấn đề khó khăn rồi. Nhưng lý lịch nạn nhân nếu có thì củng bị ngâm nước mấy ngày, giấy mực thời đó mà bị mấy ngày ngâm nước củng không sao coi được cho rõ ràng. Cho nên những nấm mộ vô danh tại nghĩa trang Đồng Sanh đó, không có tên họ là gì hết, chỉ chôn riêng một bên nam, một bên nữ.
Cho tới ngày nay ghe thương hồ đi dưới sông củng thấy mà trên đường lộ đá khỏi cầu sắt Xoài Hột đi ngang qua củng thấy, một nghĩa trang duy nhất của xứ Nam kỳ. Trong khi đó trên Sài Gòn trước kia kêu đất thánh Tây hay đất thánh Mayer vì nó toạ lạc ở góc đường Paul-Blanchy-Mayer, sau này kêu là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, có lẽ nghĩa trang đó có hơn cả trăm năm nay. Nay thì nó không còn, nó bị bọn VC sang bằng làm vườn trẻ!!
Đêm khuya giữa khu vườn thanh tịnh, tôi nghe tiếng đờn Guitar của anh Bảy Lâu thật điêu luyện còn tiếng đờn của tôi thì từ hôi nào cho tới giờ vẫn vậy. Tôi mới biết, từ khi lập gia đình mà anh Bảy Lâu vẫn có thời giờ vô chợ Vĩnh Kim học thêm nhiều bài bản cổ nhạc với các danh sư trong đó. Giờ thì nghỉ đờn, để hai đứa bắt đầu tâm sự cuộc đời mấy năm qua. Tôi mới tâm sự đời của tôi trước cho anh nghe:

Sau khi thi đậu với anh, anh thì lên đây học thêm, còn tôi thì ở lại cùng nếp sống lêu lỏng vui chơi như ngày nào. Nhưng biến cố lớn là tôi đã nặng lời nguyền với một thôn nữ, cái cô đi học mà có mang theo gói cơm, tan học mấy cô cùng chung lại ăn cơm phía sau nhà công sở đó, nhưng cô ấy chỉ học tới lớp dự bị thì thôi. Gia đình cô và gia đình tôi cùng chung một nghề: buôn bán tôm khô. Khi đi tới hôn nhân thì bị trở ngại là không hợp tuổi, kẻ Dần, người Hợi. Rồi bị cái vụ đờn ca tài tử này, ông Mười Thao điền chủ ở quận An Hoá là bà con với gia đình tôi, nhân dịp con gái ông thi đậu bằng cấp gì đó nên ông ăn mừng, tổ chức tiệc vui, có tổ chức đàn ca tài tử trên làng Song Phước xuống, ban tài tử dưới Thới Thuận lên.
Đó là tiệc mừng chị V. thi đậu mà sau đó ông Mười sẽ cho đi Pháp học (Sau này là nữ luật sư Nguyễn Thị V. con ông Mười An Hoá). Đám tài tử trên Song Phước là nơi quê hương nghệ sĩ Tư Chơi tức Huỳnh Thu Trung. Trong đêm hoà đờn giao nghĩa hai làng chung một quận An Hoá, củng là đêm tôi bị gia đình bí mật giới thiệu với gia đình một thiếu nữ ở làng Song Phước. Thiếu nữ đó biết mặt tôi, mà tôi không biết cô đó, mà lại là người vợ tương lai. Cho tới khi bên gái theo lời mời của gia đình tôi xuống Thới Thuận thăm xã giao đặng chot ôi biết mặt vì tôi không chịu đi coi vợ! Công chuyện nhà tôi, tôi không biết gì hết vậy mà nàng lại biết. Rồi một đêm dài hò hẹn nhau lần chót để giã từ ai đi đường nấy. Chớ chi đêm đó nàng khóc lóc thở than cho duyên nợ thì không đến nổi. Đằng này nàng lại an ủi khuyên tôi nên nghe theo gia đình mà kết duyên với người từ trên Song Phước, mặt hoa da phấn mới xứng đôi với tôi. Nàng chấp nhận hy sinh mối tình đầu, kể như có một đời chồng rồi. Lại còn tặng tôi một kỷ vật nếu cần thì bán xài vì biết tôi là thuộc hạng tiền phát gạo đong! Tôi gây tội lỗi với nàng quá đỗi nàng chưa về làm dâu mà tôi đã làm rễ, củng vì bên trong cạnh tranh thương mại, một áp lực đầy quyền lực, chúng tôi đành ân hận mà chia tay nhau. Sẳn có chất nghệ sĩ lãng mạn trong tâm hồn, tôi sống trong hạnh phúc với duyên mới, mà thấy nàng đau khổ vì tôi, tuổi trẻ bồng bột rồi một đêm tôi trốn gia đình đi tìm người dì có tiệm masy tận trong tỉnh Sóc Trăng và ở đó hoc thi công thành thợ may ngày nay như anh biết.
Giờ tới phiên anh Bảy Lâu tâm sự, sau khi thi đậu cùng khoá với anh tôi được người cô bà con vùng này nuôi cho ăn đi học, hoc tiếp bằng sơ học. Cô tôi là bà Hương Sư Tồn, cô có hai người con gái có chồng trong Thục Nhiêu và Nhị Quý. Ông Hương Sư chết, cô tôi mươn cặp vợ chồng nông dân ở năm, chồng làm vườn, vợ lo cơm nước cho cô tôi, phía cuối vườn cất cái nhà cho cặp vợ chồng này ở, đặng ban đêm canh chừng những kẻ phá phách vô phá cây trái.
Từ khi ông Hương Sư Tồn chết, cô tôi tu tại gia, mỗi đêm có tụng một thời kinh tới khuya. Bổn phận tôi thì lo nấu nước pha trà khi có khách, khi cô buồn tôi đọc thơ, đọc chuyện cho cô nghe. Mỗi sáng đi học tôi xách theo một gà mên cơm, khi xuống đến chợ thì tôi gởi xe đạp và cơm cho hãng cà rem cây, tôi lãnh một thùng cà rem cây đem vô trường chờ giờ ra chơi đặng bán, tan học lại hãng cà rem cây ăn cơm và tới giờ củng đem theo một thùng cà rem cây vô trường bán buổi chiều.
Ngày thứ Năm và Chủ Nhật, tôi lãnh sổ sách đàng công sở đem về làm phụ với ông Biện làng. Tôi kiếm được một chút tiền nhờ hai công việc này, vì ngồi ở lớp Court Superieu, tôi cần một số tiền để mua sách và sắm quần áo đồng phục theo nhà trường. Gia đình cô tôi khá giả, nhưng cô nuôi tôi là một điều quý, gia đình tôi đâu có khả năng cho tôi lên Mỹ tho học thêm, lấy bằng cấp Sơ Học đặng làm thầy?
Anh có nhớ năm mình đi thi có mười bốn trò, có bốn trò gái mà chỉ rớt hai trò trai, vậy mà trong tám trò đậu bằng Tiểu Học mà chỉ có mình tôi được lên Mỹ Tho vô học trường College, còn lại có lẽ lo cưới vợ rồi làm Làng. Trong trường tới giờ moral, thầy thường đem tôi ra làm đề tài để khuyến khích các bạn đồng lớp và thường ví với Trần Minh khố chuối. Vì vậy trong lớp tôi tuy là một đứa học trò nghèo nhưng vẫn được các bạn trai gái con nhà giàu kết bạn, có những cuộc lễ họ mời tôi về nhà chơi.
Rồi với một vốn liếng có sẳn về cổ nhạc trước ở dưới mình, nay lên đây mỗi khi có đám tiệc, có hoạ đờn ca cổ nhạc họ mời tôi tới dự. Trong Tứ Hữu: Cầm, Kỳ, Thi Hoạ không có môn nào xã giao bén nhậy bằng Cầm và Kỳ…Một chiều mưa gió có hai nhà sư ghé nhà bà Hương Sư xin nghỉ một đêm vì lỡ đường đi xuống chùa Vình Tràng, lúc đó chỉ đi xe ngựa, mà ngựa khi chiều cho ăn, thì có bao xe bao nhiêu chủ xe củng không đi được vì sợ bị đứt ruột.
Bà Hương Sư vội vã dọn cơm chay đãi khách lỡ đường mà lại là Sư. Tối lại, như thường lệ tôi nấu nước pha trà cho bà cô tôi tụng kinh. Một điều tôi thấy lạ.. Tại sao nhà sư lại nhà một tín nữ có tu, đáng lẽ khi tín nữ chủ gia tụng kinh thì hai nhà sư đó củng phải ra quỳ ngay bàn thờ Phật, hay là cùng chủ nhà thay phiên tụng kinh?
Sự tò mò tôi mới lần tới kẻ vách dòm lén vô phòng riêng, thấy hai ông sư không nằm nghỉ mà hình như đang bàn tán, rầm rì bí mật. Tới khi họ soạn gói đồ ra, tôi thấy không phải là kinh sách gì trong đó. Tôi mới bắt đầu đau bụng tôi la lớn lên, vợ chồng người làm vườn nghe tôi la mới chạy lên phụ với cô tôi cạo gió thoa dầu, nhưng khi đụng tới mình tôi thì tôi la làng… tôi lăn lộn như người gần chết tới, lối xóm nghe nhà bà Hương Sư có tiếng ồn ào, họ thắp đuốc lại củng không ai dám đụng tới mình tôi… tôi vẫn la làng…
Nghe thấy động tỉnh ông Chánh Hương Quản mới đem tuần lại nhà bà cô tôi , tới khi thầy được mặt ông Hương Quản M. Ông lại gần hỏi thăm , tôi mới ôm ông kéo xuống sát mặt tôi, nói nhỏ… ông vô trong phòng khách … bắt mấy ông thầy chùa…
Thiên hạ lối xóm tới đông nghẹt như vậy mà hai ông sư vẫn ở trong phòng , khi ông Hương Quản M. xô cửa bước vô cùng đám tuần bắt khoá tay…chừng đó tôi mới chạy vô biểu dân tuần xét gói hành lý của hai ông thầy chùa, thì thấy có con dao găm và một xâu chìa khoá đủ thứ để mở tủ sắt… Hai tên đầu trộm đôi cướp liền bị giải xuống Mỹ Tho. Kể từ ngày đó về sau, địa vị tôi đối với gia đình cô tôi đổi khác và củng đổi khác với làng này, chưa có đứa nào cỡ tuổi tôi mà khôn như người lớn?
Nhưng tôi củng không tiếp tục học đặng thi bằng Sơ Học, vì một phần phải lo công chuyện nhà cho cô tôi, và một phần lớn là tôi chỉ thích đi học đờn ca tài tử mà thôi! Rồi cô tôi lo vợ cho, gia đình bên vợ là hai anh em song sinh, ông già vợ tôi là vai em lại là dân cờ bạc, chuyên về đá gà nòi. Anh củng biết là bộ sách tướng về gà nòi của ông Lê Văn Duyệt là phát xuất ở đây, vì vùng này là quê hương ông.

Còn người bác vợ thì mê về võ nghệ, bắn cung. Thừa hưởng phụ ân không biết được bao nhiêu, nhưng người bác vợ đi làm ăn xa đem về cho ông già vợ tôi một số tiền lớn tạo thêm gia sản có ba mẫu vườn. Nhưng ông già vợ tôi lập tại đây một trường gà thật lớn, tới mùa các nơi quy tụ về đây kêu là trường gà Xoài Hột. Sau khi uỷ quyền cho người em, ông bác vợ lên đường phiêu lưu với một người con gái có hai giòng máu, mà người ta thường kêu là Xẩm Lai. Khi lập trường đá gà nòi tại đây, ba vợ anh ta đã bán hết hai mẫu vườn, nay chỉ còn lại một mẫu mà vợ chồng anh hưởng phần hương hoả. Năm độc lập 1945 ba vợ anh bị việt Minh xử tử về tội cờ bạc, má vợ anh rầu buồn củng chết theo chồng. Nay tuy là thừa hưởng của này của người bác vợ mà anh chưa từng thấy mặt người hào hiệp đó lần nào!.
**
Từ khi chiếc tàu Đồng Sanh chìm, một thời gian sau có một người triệu phú tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Văn Kiệu mở lại chạy con đường này bằng loại tàu chạy bằng dầu Mazout, tàu lớn máy vững vàng không như loại tàu chạy bằng củi trước kia, chiếc khởi hành từ Sài Gòn, chiếc khởi hành từ Trà Vinh. Bến tàu Nguyễn Văn Kiệu nằm ngoài sông Sài Gòn, ngoài cột cờ Thủ Ngữ. Ông Nguyễn Văn Kiệu là anh ông Nguyễn Văn Hảo (rạp Nguyễn Văn Hảo). Tại bến Sài Gòn khởi hành vào lối 7 giờ tối, hồi đó vào giờ này ra bến tàu khi súp lê 3, tàu mở đõi, trên cầu người đua tiển người đi… dưới tàu vẫy tay, vẫy khăn, kẻ ở lại châu thành, người về lục tỉnh.
Tàu Nguyễn Văn Kiệu chạy xuống chun qua cầu Tân Thuận, chạy vô bến đò Long Kiên, chạy ngang qua sở rác đô thành. Khi tàu chạy qua đây hành khách bị một nùi khó thở, vì ngoài mé sông có mấy cái bồn lớn chứa toàn là phân người trong đô thành đem đổ vô đây, rồi từ đây họ đem qua khỏi cầu Rạch Ông mới đổ ra nền xi măng phơi từng miếng cho thật khô gói kín để bán cho nhà vườn.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Post on 5 Nov 2014

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

  1. Phần 6
    Chiến khu “Ba Lòng”
    (Xâm nhập)

“Đường đi khó, không khó…”
Bài học mạo hiểm ấy ám ảnh tôi không ít kể từ khi Ông Thầy dạy Việt Văn giảng bài học đó năm tôi học lớp Đệ Tứ, tại trường Bồ Đề, Huế.
Thật vậy, ra trường tôi đã chọn Nhảy Dù. Vậy mà thấy ông Đại Úy Lực Lượng Đặc Biệt trông ngon lành quá, tôi lại chọn đơn vị ấy. Từ ngày về Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, cùng phối hợp hành quân với các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta, tôi lại muốn chuyển qua Delta. Là người tháo vát, năng động, mà lại còn ưa thích mạo hiểm, tôi nghĩ ý định này thật quá phù hợp.
Hành quân với Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, thông thường mỗi cánh quân là cấp Đại Đội. Khi tấn công vào các mục tiêu, Đại Đội mới phân ra cấp Trung Đội để đảm trách vùng trách nhiệm nào đó. Không mấy khi hành quân cấp Tiểu Đội. Ngoại trừ trong biến cố Tết Mậu Thân, tại mặt trận Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị.
Nhảy Toán Delta thì khác, mà lại khác hẳn.
Mỗi Toán Delta chỉ có sáu “ngoe”, tiếng tôi thường nói đùa. Đó cũng là hình ảnh ngo ngoe mấy cái cẳng chân của con cua hay con kiến, con nhện. Sáu người trong Toán, hoạt động hổ tương cùng với nhau: thâm nhập, di chuyển, yểm trợ, cứu cấp khi có biến cố hữu sự, canh gác, đóng quân, phục kích và triệt xuất v.v… nhưng mỗi cá nhân là một sở trường chuyên môn, đã được huấn luyện thuần thục, để dễ dàng thực hiện mọi công tác, nhiệm vụ được giao phó.…
Tất cả là một sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, hoàn chỉnh. Không có một sự phối hợp nào hoàn hảo hơn, chẳng qua là vì tính mạng. Tính mạng của mỗi người dính chặt với tính mạng của cả sáu người, kể cả 2 anh chàng Mẽo kềnh càng. Mỗi Toán 6 người, Toán nào cũng có 2 chàng là “Biệt Cách Mỹ” (Special Force).
Tôi làm Trưởng Toán 3 Delta. Lệnh lạc trong Toán phải thi hành nghiêm chỉnh, kể cả 2 anh bạn Đồng Minh. Tôi ra lệnh sao, họ làm y vậy.
Hành quân có 2 anh bạn Mỹ có nhiều cái lợi, nhất là mặt yểm trợ, cần thiết để tải thương, rút lui, oanh tạc địch, phá hủy mục tiêu: kho tàng, căn cứ địa..v..v… Họ gọi máy bay tới là có ngay. Nhưng anh nào cũng to lớn dềnh dàng, nên di chuyển trong rừng khó khăn, khó che dấu, dễ bị địch phát hiện. Khi nổ súng họ hay la to, bất lợi. Âm thanh có thể làm cho địch dễ suy đoán “phe ta” đông hay ít. Thỉnh thoảng tôi lưu ý về cá tính nầy, mấy “ổng” nói “OK! OK!” rồi nhe bộ răng trắng ra cười trừ, nhất là mấy anh đen, mặt thì đen mà răng lại trắng nhởn. Tuy nhiên về cá tính tinh thần họ không thua kém gì đồng đội đồng bào của tôi. Không những nhiệt tình mà tận tình với mọi người trong Toán.
Toán 3 Thám Sát của tôi nhận lệnh hành quân, địa điểm nhảy Toán là Mật khu Ba Lòng.
Mật khu Ba Lòng nằm về hướng Tây Nam của Tỉnh Quảng Trị. Hình như tôi nhớ không lầm Ba Lòng, nằm thu gọn giữa hai con sông Thạch Hãn và Đa-Krong, giao nhau ở hướng Tây Tây Nam của Xã Bông-Kho, hướng Tây Tây Bắc là Quốc Lộ số 9. Mật khu Ba Lòng trải dài từ hướng Tây Bắc xuống hướng Đông Nam. Ba Lòng! Sông cạn sâu như thế nào mà gọi là Ba Lòng, một tên gọi nôm na cụ thể hay có ý nghĩa gì khác?
Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Ba Lòng là một Quận thuộc Tỉnh Quảng Trị. Sau năm 1960, thực hiện ý đồ “chiếu cố miền Nam”, tức là đưa quân xâm lược Miền Nam Việt Nam, Ba Lòng trở thành một trở ngại chiến lược trên con đường xâm nhập vào Nam của Cọng sản Bắc Việt. Vì vậy, Việt cọng cố nhổ cho được khúc xương Ba Lòng nầy. Bấy giờ, sau khi chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa sụp đổ, tình hình chính trị tại Saigon bất ổn, lợi dụng cơ hội đó, Việt cọng tấn công dữ dội vào Quận Ba Lòng, khiến Quận phải di tản, rồi xóa sổ, xem như giao Quận miền núi nầy cho Cộng sản tự do hoạt động. Phía Chính Quyền Miền Nam, chỉ còn giữ được Quận Hương Hóa, nhờ Quận nằm hai bên Quốc Lộ 9, con đường chiến lược, chúng ta không thể bỏ đi được.
Toàn bộ Trung Tâm Hành Quân Delta được bốc từ Nha Trang ra Phi Trường Ái Tử (Đông Hà). Từ đó, di chuyển lên Quận Hương Hóa ở phía Cùa, hay còn gọi là Tân Sở, căn cứ kháng chiến của Vua Hàm Nghi ngày trước, khi Nhà Vua chuẩn bị chống nhau với Pháp, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài…
Tin tức từ Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cho biết có nhiều dấu hiệu hoạt động của Việt cộng trong khu vực mật khu Ba Lòng, Khe Sanh, Lao Bảo. Quân Đoàn cần biết đích xác đơn vị, quân số, mục đích của địch ở các vùng này. Đây là những khu vực chuyển quân, khí tài, lương thực của địch cho chiến trường miền Nam của chúng. Dĩ nhiên là trên đường mòn Hồ Chí Minh. Con đường nầy gặp khó khăn khi chúng phải vượt qua Quốc Lộ 9, là con đường nối từ Đông Hà, qua Cam Lộ, Khe Sanh, Lao Bảo, Pha-Lan, Chépone và chấm dứt ở Savanakhet.
Địch không có cách nào khác, dù sinh tử, Việt cọng phải cố sống cố chết vượt qua đường số 9 để vào chiến trường Miền Nam.
Nhận lệnh từ Trung Tâm Hành Quân xong, cầm trong tay tấm bản đồ, tôi lên trực thăng bay một vòng, quan sát để chọn bãi xâm nhập và triệt xuất trong khu vực Ba Lòng, nơi Toán sẽ hoạt động.
Chiều hôm sau, Toán 3 tôi trở lại Trung Tâm Hành Quân, trong một cái nhà tăng bằng vải dầu, dựng trên một khu đồi trọc, trong phạm vi Chi Khu Hương Hóa. Trước mặt là Trung Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, Trưởng phòng 2, Trưởng phòng 3, và các Toán viên, tôi trình bày kế hoạch hành quân với đầy đủ các chi tiết diễn tiến, thâm nhập, lộ trình, đối phó, mật lệnh, liên lạc, triệt xuất v.v… theo đúng chỉ thị đã được đề ra trong Lệnh Hành Quân và từ Đơn Vị Trưởng. Để thi hành nhiệm vụ, sau khi Toán được Trực Thăng UH.1B thả xuống bãi ở phía Nam vùng hành quân, Toán di chuyển thám sát về hướng Bắc, xong chuyển hướng Tây Bắc, trong chu vi 5 x 10 cây số mỗi bề của vùng mà Toán 3 đảm nhận.
Chỉ Huy Trưởng, các Trưởng Phòng đặt cho tôi một số câu hỏi, để nắm chắc mọi tình huống xảy ra mà Toán 3 có thể ứng phó được v.v…
Buổi trình bày kế hoạch chấm dứt, Toán 3 trở về nghỉ ngơi, kiểm soát lại lương thực, vũ khí, đạn dược để chuẩn bị lên đường ngay chiều tối hôm nay.
Nhu cầu thám sát trong rừng phía Tây của Tỉnh Quảng Trị, không chỉ một mình Toán của tôi đảm nhiệm. Khu vực núi non trùng điệp bên nầy Trường Sơn, bên kia là lãnh thổ Lào, sẽ có các Toán Thám Sát Delta khác nữa, hoạt động ở một số khu vực như: Lao Bảo, Làng Vây, Khe Sanh, với những nhiệm vụ nguy hiểm và hấp dẫn hơn, đó là phục kích bắt sống các cán bộ Việt cọng, không được gây thương vong, để mang về khai thác tin tức. Chúng sẽ cho những tin tức nóng hổi và hấp dẫn về tình hình địch hiện tại, hay địch sẽ thực hiện trong thời gian tới.
Những Toán Thám Sát Delta được giao nhiệm vụ bắt sống địch quân, sau khi phục kích tóm được một tên Việt cọng nào, thì ngay tức khắc, Toán sẽ được trực thăng nhanh chóng vào vùng bốc đưa trở về căn cứ hành quân. Thời gian hoạt động các Toán Thám Sát, vẫn luôn là 7 ngày, nhưng có thể kéo dài hơn hay thu ngắn, tất cả tùy thuộc vào tình hình trận địa, chạm địch, thương vong hay bắt được tù binh.
Với đầy đủ súng đạn, khí tài cần thiết và 7 ngày lương khô, ngay trong chiều nay, Toán tôi được đổ xuống bãi đáp mà tôi đã chọn. Thời điểm đổ quân phải là lúc chiều tàn, khi sương lên nhiều và màn đêm đang từ từ phủ xuống, thời gian đó địch khó quan sát, và theo dõi. Bên cạnh đó, lại có mấy Trực Thăng khác đáp nghi trang thêm một vài nơi, khiến địch, dù có nghi ngờ, cũng không thể phát hiện được nơi chúng tôi đổ bãi.
Đổ bộ xuống bãi, Toán cấp tốc di chuyển theo phương hướng, lộ trình đã được trình bày kế hoạch. Toán tuyệt đối không bao giờ di chuyển trên các con đường mòn, vì để lại nhiều dấu vết, rất dễ bị phục kích và gặp phải nhiều mìn, bẫy. Rừng nhiệt đới, cây rừng to cao, tàng che kín trời. Mặt đất rậm rạp, cây nhỏ, cây mây, cây cọ, cây nứa, che kín, mịt mùng rất khó di chuyển. Toán len lỏi, chậm rãi, vạch lá, men theo sườn rừng, từng bước, từng bước để tránh gây tiếng động.
Sau khi rời xa vị trí xâm nhập, Toán dừng lại tìm chỗ nghỉ quân bên một gốc cổ thụ. Toán bố trí thành một vòng tròn, đầu hướng vào gốc cây, phòng khi đêm tối, bị địch bất ngờ tấn công, thì Toán sẽ phản ứng nhanh chóng về phía trước mà không tác xạ lầm nhau.
Tờ mờ sáng hôm sau, Toán tiếp tục vạch rừng theo hướng đã định mà đi. Cũng chẳng phát hiện được gì. Gần xế chiều, khi đổ xuống một triền núi, thì Toán gặp một con đường mòn chạy từ Tây sang Đông. Dấu tích để lại trên đường cho thấy địch đã có xử dụng. Men theo con đường mòn về hướng Đông, dĩ nhiên vẫn phải đi trong rừng, thêm một đoạn khá dài nữa, Toán lại gặp một con đường mòn lớn rộng khoảng 2 mét, chạy từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam cặp theo sông Đa-Krông. Trên đường cũng thấy dấu tích cũ của xe hơi, hình như đã lâu bọn địch không còn đi trên con đường nầy. Vậy thì chúng xử dụng đường nào? Đường nầy sát biên giới Lào Việt. Hay chúng vạch một đường mới bên phía Lào, khi thấy con đường bên phía nầy đã bị lộ, bị máy bay oanh kích nhiều lần?
Báo cáo mọi phát hiện về Bộ Chỉ Huy, Toán được lệnh tiếp tục di chuyển theo hướng đường mòn nhỏ đi về hướng Đông Đông Bắc. Khu vực hoạt động của Toán, trên phóng đồ hành quân là ở mạn Nam Ba Lòng. Chuyển theo hướng mới, nhìn trên tọa độ bản dồ, Toán tiến gần đến thượng nguồn sông Thạch Hãn và xa hơn là các Thôn Hải Lệ, Tân Lệ và Như Lệ.
Đêm đó, Toán dừng trú quân giữa rừng, lại quay vòng tròn, chia nhau ngủ và canh chờ địch. Sáng dậy, không thấy mặt trời, nhưng hướng Đông trời sáng hơn, chúng tôi lại đi theo hướng cũ . Khoảng trưa, Toán nghe tiếng người nói lao xao, nhưng không rõ âm thanh từng tiếng để biết họ nói gì. Tuy vậy, chúng tôi cũng đoán được đó là tiếng Bắc. Vậy là rõ, Bộ đội Cọng sản miền Bắc xâm lược. Toán dừng lại, núp kín trong rừng, im lặng tuyệt đối, nghe ngóng và quan sát. Không thấy được địch, chỉ nghe tiếng nói của nhiều người, phỏng chừng ít nhất là cấp Trung Đội đến Đại Đội. Tôi vội chuyển công điện báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Lệnh truyền cho Toán bám sát theo dõi địch quân.
Toán lại lên đường, di chuyển theo hướng đi của bọn chúng, đến gần chiều, nắng chưa tắt hẳn, thì Toán thấy địch đang đóng quân giữa rừng. Bọn chúng đang chuẩn bị ăn uống, tôi ngửi được mùi củi cháy. Quan sát kỹ hơn nữa qua ống nhòm, họ có làm bếp. Bếp của họ, có lò nấu đắp kín đất, có ba bốn ống khói mở ra như hình nan quạt. Đầu mỗi nan quạt, khói đang bay lên, nhẹ và loảng. Cách làm bếp như thế nầy là chia khói ra nhiều ngã, làm cho khói loảng đi, tan trong sương, trong không khí, Máy Bay Trinh Sát của ta khó phát hiện được. Đây đúng là một căn cứ tập trung quân của địch.
Tôi khẩn cấp báo cáo tình hình và tọa độ chính xác của địch về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Ngay sau đó, chúng tôi được lệnh rút xa ra khỏi vị trí địch ít nhất là 1/2 cây số. Trực Thăng và Chiến Đấu Cơ sẽ tới oanh kích địch.
Nửa giờ sau, Toán tôi nghe rõ từng loạt đạn rocket bắn ra từ các trực thăng võ trang, rồi tiếp sau không lâu là những tiếng nổ kinh hoàng do các oanh tạc cơ Skyraider thả bom xuống đầu giặc. Trước bom rơi đạn nổ như vậy, tôi nghĩ khó hy vọng còn một tên Việt cọng nào sống sót. Và đúng như tiên đoán, sáng ngày hôm sau Toán tôi được lệnh trở vào vùng địch đóng quân để quan sát và báo cáo kết quả.
Thật là thảm khốc, cả một khoảng rừng trở thành bình địa, một vài nơi lửa còn bốc cháy âm ỉ, xác địch đếm được khoảng 15 tên, nằm chết ngổn ngang bên những bếp lửa, dưới những gốc cây hay rãi rác trong những hố sâu do bom cày xới. Có thể một số đã chạy thoát vì các dấu vết và các vật dụng rơi rớt của chúng đã để lại trên các lối mòn dẫn vào các hốc núi hay đổ xuống các bờ suối ven rừng.
Trưa hôm đó, Toán được phi cơ quan sát L.19 bay lên vùng liên lạc, Toán đã sử dụng pano, kính chiếu để phi cơ xác định tọa độ và hướng dẫn đi đến bãi triệt xuất.
Theo hướng máy bay chỉ điểm, Toán đến một bãi tranh trống nằm trên sườn núi, chung quanh dày đặc rừng cây bao phủ. Toán bố trí đội hình và chờ đợi. Và chỉ một khoảng thời gian ngắn sau, một trực thăng UH.1B được sự yểm trợ của hai trực thăng võ trang khác đáp xuống chính xác giữa khoảng trống bãi tranh để bốc Toán đưa trở về lại Căn Cứ Hành Quân, chấm dứt 7 ngày hoạt động trong rừng sâu của Mật khu Ba Lòng.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 4 Nov 2014

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

  1. Phần 5
    Đồng Xoài

“Em hỏi anh bao giờ trở lại.
Xin trả lời mai mốt anh về
Anh trở về…
có thể bằng chiến thắng Pleime
hay Đức Cơ, Đồng Xoài – Bình Giả”
(Linh Phương)
Trận Đồng Xoài xảy ra vào tháng 6 năm 1965, với rất nhiều thương vong cho cả hai bên hay chỉ về phía Quân Đội VNCH mà thôi, tôi không biết rõ. Tôi cũng không quan tâm về việc người ta phê phán các ông Tướng lo họp hành đảo chánh, làm chính trị, không phản ứng kịp nên trận Đồng Xoài mới có kết quả đau thương như thế.

Vào khoảng trung tuần tháng 5 năm 1968, theo nhu cầu của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù, được điều động đến Thị Xã Đồng Xoài để tổ chức hành quân truy tìm, phát hiện mọi hoạt động của các đơn vị địch vùng ngoại vi của Thị Xã Đồng Xoài. Tên địa danh này thì tôi đã nghe, nhưng Đồng Xoài nằm ở đâu? Dấu hỏi đó không rời trí tôi.
Nhìn vào bản đồ, từ Thành Phố Bình Dương, Thủ Dầu Một theo Quốc Lộ 13 đi về hướng Bắc, khi gần đến thị trấn Chơn Thành sẽ là chỗ gặp nhau của Quốc Lộ 13 và 14. Quốc Lộ 13, tiếp tục theo hướng Bắc, ngang qua Thị Trấn Chơn Thành, rồi đến Thị Xã Bình Long và xa nữa là Lộc Ninh. Quốc Lộ 14 đi về hướng Đông Đông Bắc, qua Cầu Suối Ngang, rồi đến Thị Xã Đồng Xoài. Từ Thị Xã Đồng Xoài về hướng Tây Bắc là Thị Xã Bình Long, hướng Đông Bắc là Thị Xã Phước Long. Hai bên Quốc Lộ là những khu rừng dày đặc bao phủ. Bao nhiêu xương máu đổ ra nơi nầy? Thế hệ sau, người đời sau có ai khi đi qua nơi nầy sẽ thấy “Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương! ”
Tôi không thể quên Bình Long, nơi tôi đã tham dự một trận đánh “long trời lở đất”, nhưng điều tôi vẫn nhớ hoài là Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù, nơi tôi đã góp công xây dựng, chiến hữu của tôi vẫn còn nằm lại đó.
Nhìn chung, trong cả hai trận chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), và lần thứ hai (1960-75), miền Đông Nam phần là một chiến trường đẫm máu vì vùng nầy bao gồm: Bình Long, Phước Long, Phước Thành (một tỉnh đã bãi bỏ) có một vị trí chiến lược quan trọng. Vùng nầy cách Sài Gòn không xa, khoảng 100 cây số, tiếp cận với biên giới Việt Miên là con đường xâm nhập bộ đội và vũ khí của cộng sản từ xứ Chùa Tháp qua Việt Nam. Ngay sát trên biên giới nầy là mật khu Bùi Gia Mập.
Vì tính cách chiến lược đó, khoảng đầu năm 1965, một Căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt: Trại Đồng Xoài được thiết lập ở đây. Đây là một nút chặn quan trọng, có nhiệm vụ phát hiện hoạt động của cọng quân. Từ Đồng Xoài, chúng sẽ tấn công Bình Long? Sẽ tấn công Phước Long? Sẽ tiến xuống Trị An? Từ nơi nầy, chúng vượt qua Rừng Lá. Ngay phía Đông Rừng Lá là mật khu Mây Tàu, vùng Xuân Lộc, Long Giao, Phước Tuy, Đất Đỏ, có yên được không?
Quân Đoàn III, với ba Sư Đoàn 5, 18 và 25, không đủ sức “bao giàn” một vùng đất rộng lớn nầy, rừng núi trùng điệp bao phủ. Đằng sau nó, là vùng tiếp vận của ông Hoàng Xứ Miên.

Mặc dù, ngay từ đầu, Việt cộng phá rối, pháo kích, tấn công, cố nhổ cho được Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, nhưng căn cứ này vẫn đứng vững. Đồng Xoài đóng một vai trò quan trọng trong trận chiến giải tỏa An Lộc, tồn tại đến tháng 4/ 1975.
Việt cộng thường chuyển quân, xuất phát từ Cambodia theo Tỉnh Lộ 748 ngang qua Bù Đốp và Tỉnh Lộ 741 ngang qua Bùi Gia Mập để vào lập căn cứ địa trong Khu Tam Giác của ba Thị Xã: Phước Long, Bình Long và Đồng Xoài. Bọn chúng thường tránh đụng độ với bất cứ đơn vị Quân Đội VNCH nào hoạt động ở đây. Về mặt chiến thuật, không lợi ích cho chúng, dù có thắng lợi chăng nữa. Bọn chúng dùng nơi đây để tăng gia sản xuất, ém quân, điều nghiên chiến trường và đắp mô trên các trục lộ để khủng bố, sát hại đồng bào, cùng ngăn chận sự chuyển vận binh sĩ của các đơn vị trú đóng tại địa phương.
Bốn Đại Đội 1, 2, 3 và 4 của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Hành Quân Delta được C.130 của Quân Đội Hoa Kỳ chuyển vận đến Đồng Xoài. Từ căn cứ hành quân đóng cạnh một bìa rừng bên trái Quốc Lộ 13 và Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, các Toán Thám Sát Delta được Trực Thăng UH.1B bốc thả vào hoạt động trong khu vực nằm giữa ba Thị Xã này.
Khi các Toán Thám Sát Delta phát hiện các khu vực trồng sắn, bắp ở dưới các trũng đồi chạy dọc theo các con suối, và một khu nhà ở, nhà kho, thì Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã đưa Đại Đội 1 và 2 nhảy vào khai thác mục tiêu. Ở đây, Việt cộng đã dựng lên những ngôi nhà dưỡng quân, nuôi quân để chuẩn bị cho chiến trường ở Bình Long, Lộc Ninh hay Phước Long v.v… Bên cạnh các trại dưỡng quân là các nhà kho chứa ngô, khoai, sắn và phần nhiều là gạo. Gạo của Tàu cộng. Và dọc theo vài đường mòn lớn, cứ khoảng vài ba cây số đường rừng thì có một ụ muối, tựa như những gò mối, được lợp và bao phủ chung quanh bằng một loại lá giống như lá cây cọ, gọi là “Lá Trống Quân” để ngụy trang và che mưa rất kín đáo.
Quân Việt cộng ở đây là thành phần thương binh, có nhiệm vụ dưỡng thương và tăng gia sản xuất, cùng một số liên lạc viên trên đường đi đã dừng lại nghỉ quân, bọn chúng cố gắng phản công, bảo vệ kho tàng, nhưng làm sao có thể chống trả lại Biệt Cách Dù?
Ngoài một số tên bỏ mạng bị thương và bị bắt, số còn lại rút về hướng Tây trong vùng rừng núi Long Tân, Phú Riềng.

(Delta Lê Đắc Lực & Phan Anh)

Nhìn những “tên lính sữa” mới thôi bú mẹ, tôi thấy xúc động. Hỡi các Bà Mẹ phía Bắc vĩ tuyến 17, các Mẹ có đau lòng chăng khi những đứa con chưa đủ lớn, đã bị bọn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ đưa vào miền Nam làm bia đỡ đạn. Không ít những tên bị bắt là thương binh loại nhẹ. Còn những tên bất khiển dụng thì ở đâu? Chỉ một viên đạn AK, bọn lãnh đạo cọng sản bớt đi những vướng bận chiến trường. Tàn bạo như thế là cùng!!!.
Khoảng hai tuần sau đó, Đại Đội 3 và 4 đổ quân xuống mạn Bắc Thị Xã Đồng Xoài, kế cận khu Lương Võ, cũng phát hiện một căn cứ địa có hầm trú ẩn và trạm xá. Tấn công vào đây, sát hại 10 tên địch, và hướng dẫn phi cơ oanh kích, hủy diệt toàn bộ căn cứ này.
Trong thời gian hành quân tại Thị Xã Đồng Xoài, sau lần cùng Đại Đội 4 nhảy vào khai thác mục tiêu, tôi tình nguyện về Trung Tâm Hành Quân Delta do Thiếu Tá Phan Văn Huấn là Chỉ Huy Trưởng. Tại nơi đây, tôi nhảy “thử gió” cùng Toán 1 Thám Sát Delta, Toán Trưởng là Thiếu Úy Phạm Phan Anh, bạn cùng Khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với tôi.
Nhảy thử gió là chuyến thâm nhập Toán lần đầu tiên khi về phục vụ Trung Tâm Hành Quân Delta. Sĩ Quan mới về đơn vị sẽ đi theo thực tập (học nghề) với một cựu Toán Trưởng từng trải. Toán gồm 6 người, 02 là quân nhân Hoa Kỳ và 04 là Việt Nam. Thời gian hoạt động là 7 ngày, nhưng cũng tùy theo nhu cầu, nhiệm vụ, thời gian hoạt động cũng có thể rút ngắn hay gia tăng.
Thông thường chuyến thâm nhập thử gió may ít rủi nhiều, nên trước khi Toán lên đường xâm nhập, thường được các đồng đội tiễn ra tận trực thăng, xiết chặt tay cùng với lời nhắn nhủ rất kinh dị mà chân tình: “Đi nhớ trở về nghe mày!” và tiếp nối là những vẫy tay từ giã, hoặc cũng có thể là vĩnh biệt, cho đến khi trực thăng mất hút trong không gian mờ nhạt của trời chiều.
Sau lần thử gió, tôi đảm nhận Trưởng Toán 3 Thám Sát Delta, và cũng từ đó, trên bước đường quân hành vạn nẽo qua các chức vụ, tôi đã thâm nhập vào các Mật Khu của giặc cọng khắp 03 Vùng Chiến Thuật I, II, III như: Khe Sanh, Ba Lòng, Ashau, Khâm Đức, Ba Tơ, An Lão, Dakto, Tam Biên, Đồng Bò, Tô Hạp, Mõm Chó (Krek), Mây Tào, Đồng Xoài và Chiến Khu D, và cũng đã lập được ít nhiều chiến tích cho Đơn Vị.
Về sau, khi trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù (Ngày 01 Tháng 8 Năm 1970), sau khi Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, như là một truyền thống cố hữu, bất cứ một Sĩ Quan trong Liên Đoàn, được Đại Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, cất nhắc đảm nhận chức vụ Biệt Đội Trưởng, ngoài các chiến công, thì phải, đã, từng đảm nhận các chức vụ Trưởng Toán Thám Sát, Trung Đội Trưởng, Đại Đội Phó, Biệt Đội Phó các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù. Và cũng xuất phát từ truyền thống này mà hiệu năng tác chiến của Liên Đoàn được nâng cao, mang lại nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng, tạo nên uy danh cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong Quân Sử Quân Lực VNCH và lưu truyền cho hậu thế.

31 phút – tiểu thuyết trường thiên – trích đoạn tập 3 (1970-1975)

damau.org
Lê Thị Thấm Vân
Post on 5.08.2024

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Việt Cộng, hai chữ mà GI Mỹ ở Việt Nam nghe là khiếp sợ. Vi xi là Việt cộng. Việt cộng là vc. Vc là Victor Charlie. Người miền Nam gọi ai theo cộng sản là Việt Cộng. Người Mỹ gọi ai theo cộng sản là Charlie cho gọn, chẳng cần phân biệt Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng hay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chi cho rườm rà. Ai không theo Việt Nam Cộng Hoà là đội cho cái mũ Việt Cộng, vi xi. Quốc gia – cộng sản phải luôn phân biệt rạch ròi. Không ai được đứng chàng hảng, hàng hai, hoặc chân Nam chân Bắc. Vào đầu năm sáu mươi, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được thành lập với mục đích che mắt quốc tế. Phất cao lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh công khai kêu gọi các lực lượng nhân dân miền Nam tập hợp để tổ chức hoạt động đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao để hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ. Đảng kêu gọi toàn dân và toàn quân thực hiện bằng mọi giá phải giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và đưa lại sự thống nhất đất nước. Dân miền nam từ trí thức giáo sư đại học, dân biểu trong chính quyền đến ông xích lô đầu ngõ mù chữ, đàn bà bụng mang dạ chửa, bầy con nheo nhóc trong nhà không đủ gạo cho bữa cơm chiều cũng được kêu gọi tham gia vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nó là một tổ chức thân cộng trá hình, có liên hệ mật thiết với nhà nước Cộng sản miền Bắc, tìm mọi cách cấu kết, thu hút các nhà hoạt động, các thành phần miền Nam theo cánh tả, chống đối đế quốc Mỹ xâm lăng, chống đối chính sách Diệm, chống đối chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Tất cả được gom vào cái rọ của Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Dân chúng gọi quân đội miền Bắc là lính Bắc Việt hoặc lính Cộng Sản chính quy, còn quân đội Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là lính Việt Cộng.
Từ ngày anh về làm cho xếp lớn Mỹ, thỉnh thoảng anh đọc tin hay dịch các tài liệu, biết được nhiều chuyện bí mật, thâm cung bí sử thì tối về anh thường kể lại cho tôi nghe. Có những câu chuyện nghe xong tôi chỉ khẽ mỉm cười chua chát, nhưng cũng có những câu chuyện nghe xong toàn thân tôi tê cứng lại. Như câu chuyện bà má miền quê, thuộc gia đình Việt Cộng nằm vùng với nhiều năm trung kiên hoạt động bí mật với cách mạng. Nhà bà thường nuôi giấu hàng chục cán bộ cách mạng miền Bắc và cán bộ du kích ẩn náu, ăn ở dưới căn hầm đào trong sân vườn. Trong nhà bà quanh năm chứa gạo, dầu lửa, muối đường để tiếp tế cho bộ đội ở trên núi. Ngay lúc này đây, lính Mỹ và lính Cộng Hoà đang lùng sục những người theo cộng sản để thực hiện biện pháp tiêu diệt. Nhưng người dân nơi đây, điển hình là bà, vẫn một lòng yêu tổ quốc. Một tấc không đi, một ly không dời để củng cố và xây dựng cái làng cách mạng nổi tiếng kháng chiến chống Mỹ. Bà (buộc) phải bóp mũi giết đứa con mười tám tháng tuổi của bà để cứu năm mạng người của cách mạng thuộc đảng Cộng Sản Việt Nam, của xã hội chủ nghĩa. Một cán bộ cao cấp và bốn cán bộ du kích hiện đang có mặt trong căn hầm trốn bom đạn ở sau vườn nhà bà. Một là đứa bé chết hai là tất cả mọi người đều chết! Tên cán bộ cao cấp lên tiếng, giọng đanh thép. Bà bóp mũi thằng bé hay để chúng tôi cắt thanh quản thằng bé. Một cán bộ du kích lên tiếng tiếp. Giọng cán bộ cao cấp mang âm hưởng miền Bắc. Giọng cán bộ du kích mang âm hưởng miền Nam. Thằng con mười tám tháng tuổi của bà đang bị nóng sốt vì mọc răng, đi tiêu chảy nên nó cứ giãy giụa gào thét. Nướu của thằng bé bị phồng rộp, lở loét. Nó vừa đau vừa đói khát. Nếu để tiếng gào thét của đứa bé từ trong căn hầm vọng ra thì tính mạng của cán bộ cao cấp và mấy tên du kích sẽ bị lính Mỹ, lính Cộng Hoà đang đi tuần trong xóm, rình phục trong sân vườn biết được sẽ quăng trái lựu đạn, cả bọn tan xương nát thịt trong tích tắc. Tay cán bộ cao cấp ra lệnh phải giết thằng bé trước khi tiếng gào thét đớn đau của nó làm lộ căn hầm. Rất có thể địch quân sẽ xông vào phá hầm, bắt sống cả bọn, sau đó chắc chắn tay cán bộ cao cấp và bốn tên du kích sẽ bị tra tấn nhục hình, ở tù mọt gông. Tay cán bộ cao cấp ra lệnh bà phải thể hiện lòng yêu nước bằng cách đành hy sinh thằng con mười tám tháng tuổi của bà để bảo toàn tính mạng cho sáu người, gồm cả bà. Bà phải chọn. Con của bà hay tổ quốc ta? Một câu hỏi dành cho bà nặng hơn quả địa cầu.
Bà cố lờ đi như không nghe mệnh lệnh từ ông cán bộ cao cấp. Bà chần chừ bằng cách cố nhét đầu vú bà vào miệng thằng con. Ban đầu nó nhai, nghiến, đau mấy bà cũng cắn răng chịu đựng. Núm vú bà tươm máu vì răng của thằng con. Nhưng chỉ lát sau thằng bé lại nhả đầu vú bà ra rồi lại gào khóc. Bà vội nhét ngón tay trỏ vào họng thằng bé cho nó nhai, cắn, nghiến, nghiền. Nhưng cũng chỉ được một lát nó lại nhả ra, gào thét, giãy giụa. Không thể được. Không đời nào. Thằng bé là con của bà. Bà đã banh da xẻ thịt đẻ ra nó. Cách mạng có đẻ nó ra đâu! Cắt thanh quản thì nó sẽ bị chết hoặc bị câm suốt đời còn lại. Không được. Nó không thể là thằng bé câm. Một đứa con tật nguyền. Nó không khóc được. Không cười được. Không nói được. Không ăn được… Nó sẽ bị coi như cái thây người sống. Bà đã đẻ ra nó. Nó là bà và bà là nó. Nó chết là bà chết. Nó sống là bà sống. Cách mạng là ai, là gì. Mả cha bọn cách mạng tụi bay! Con cặc, đụ má tụi bay! Để má con tao được yên. Cách mạng tụi bay đi chỗ khác! Bà phải ẵm thằng con bà ra khỏi cái hầm này ngay tức khắc. Ngay bây giờ. Cả hai má con mình cùng sống cùng chết con hén. Nhưng làm sao ra khỏi được cái hầm này đây. Bà phải bước qua mấy cái thân người vững chắc như đồng đúc của cách mạng tay đang lăm lăm cầm súng đứng chặn ở cánh cửa hầm. Bọn chúng muốn bà là bà má anh hùng cách mạng. Cách mạng muốn bà chết để cách mạng được sống. Cách mạng sống thì dân tộc trường tồn, tổ quốc quang vinh. Kệ xác chúng bay. Tao đéo cần cách mạng, dân tộc, tổ quốc nữa. Tụi bay không bằng cái lồn què của tao trong giờ khắc sinh tử này. Chỉ có thằng con tao là cuộc sống đích thực của tao. Nó nhập vào bà thành một. Má và con là một phải vậy không con? Má con mình cùng một nhịp thở cùng dòng máu luân lưu. Một tên du kích lấy báng súng đánh khẽ vào vai bà, lay thức bà tỉnh dậy. Hắn nhắc nhở bà là má của cách mạng. Bà phải nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ lực lượng cách mạng. Hàng chữ nổi bật in sâu trong tâm trí bà lâu nay bỗng dưng rực sáng: không gì quý hơn độc lập – tự do. Vì tổ quốc, vì đảng bà phải hy sinh đứa con để khỏi tiếp tục nghe tiếng nó gào khóc. Bọn Mỹ hoặc địch quân ném lựu đạn xuống hầm thì cả bảy mạng người tan xương nát thịt. Bà như người mất trí, mất chính mình do mọi ánh mắt thôi miên của cả đám cách mạng ngồi trước mặt điều khiển. Làm sao bà và con bà bước qua khỏi từng con người đằng đằng sát khi tầm cao cách mạng đó được. Bà hoàn toàn bất lực. Nhưng, không được, tình mẫu tử trong bà bùng cháy dữ dội, đốt sạch dòng chữ không gì quý hơn độc lập – tự do. Bà phải bảo vệ mạng sống con bà như bà từng quyết định sinh nó ra với cuộc đời này, trong đất nước khốn nạn này. Con bà có tội tình gì đâu. Ừ, chính bà. Bà đã đẻ nó ra. Nó gọi bà là má. Má ơi … má à… bà cúi xuống mặt con nhỏ giọng ầu ơ… lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào… Bà phải có trách nhiệm cứu mạng sống nó. Bà phải đưa thân gánh cái khổ nạn cho thằng con. Nó hoàn toàn vô tội. Chính bà là kẻ có tội. Tâm trí bà lại bấn loạn. Giết nó cũng là một cách giải thoát cho nó, để khỏi bị kẻ khác ra tay giết nó hoặc nếu nó sống sót thì sẽ bị người đời gọi nó là thằng câm, tha hồ hà hiếp nó. Con chết là coi như má chết theo con. Cả hai má con mình cùng được giải thoát, con há! Mấy báng súng dựng đứng của bốn tên du kích cùng ánh mắt diều hâu điều khiển ra lệnh của tên cán bộ cao cấp càng làm tâm trí bà bấn loạn, không còn biết mình là ai, phải làm gì ngay trong giây phút này, trong căn hầm chính bà từng cố công dốc lòng phụ cha bà đào bới. Bỗng trong tích tắc, bà đưa tay lên mũi thằng con mà ngỡ là mũi của tên cán bộ cao cấp, lấy hết sức bình sinh, bà bóp chặt mũi thằng con cho nó tắt thở. Có phải bà đành hy sinh con mình để cứu cán bộ cao cấp và du kích trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc? Bà là một người đàn bà bình thường như bao người đàn bà khác trong làng, trong đất nước chiến tranh này, nhưng giờ bà phải có một quyết định phi thường vì bà là bà má của cách mạng, vì tổ quốc Việt Nam. Bà sinh ra trong gia đình có sẵn tinh thần ‘quyết tử để tổ quốc quyết sinh’, kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm, luôn sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân vì đại cuộc. Gia đình bà, nhiều người đã trở thành liệt sĩ. Ông nội bị địch phục kích giờ vẫn chưa tìm được hài cốt. Cha bà đã bị địch bắt, tra khảo nhiều lần vì tiếp tay cho cách mạng. Chồng bà và anh trai bà cũng đã lên núi tham gia cách mạng. Sự hy sinh của những người thân ruột thịt không làm bà nhụt chí. Trái lại, hun đúc tinh thần quả cảm kiên trung với cách mạng, với đảng. Giờ thì đứa con trai mười tám tháng tuổi của bà phải hy sinh vì cách mạng, vì đảng. Đứa bé bị chính má nó, người đẻ ra nó bóp mũi cho tắt thở, với mệnh lệnh của cán bộ cao cấp qua ánh mắt và giọng nói thôi miên, buộc bà phải thi hành, không cho bà sự chọn lựa. Bà được sự trợ giúp của mấy cánh tay du kích hiện đang có mặt. Kẻ nắm chặt tay thằng bé, kẻ nắm chặt chân thằng bé cho má của nó thi hành nhiệm vụ.
Thằng bé ra sức giãy giụa trong tám cánh tay của bốn tên du kích. Kẻ nắm tay người giữ chân thằng bé. Cuối cùng thằng bé gục ngã ngay trước mắt tên cán bộ cao cấp. Thằng con tắt thở. Thằng con mười tám tháng tuổi đã hy sinh vì cách mạng. Và chỉ trong tích tắc, bà thấy rõ tuần tự từng khuôn mặt. Đầu tiên ông nội, rồi cha bà, chồng bà và anh trai bà. Từng khuôn mặt đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa bi phẫn, uất hận. Cuối cùng còn lại là khuôn mặt hư ảo của ai đó với nụ cười mãn nguyện trên đôi môi. Đôi môi đã từng hô hào kháng chiến chống Mỹ. Đọc tuyên ngôn không có gì quý hơn độc lập, tự do. Bà ngã vật xuống và ngất đi trên ngực thằng con mười tám tháng tuổi đang còn nóng hổi nhưng tim đã ngưng đập. Tay cán bộ cao cấp nhìn bà rồi khẽ nói, giọng không còn đanh thép, giờ đây thay mặt đảng và nhà nước, tôi gọi bà là Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Bà có công lớn với cách mạng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng và nhà nước sẽ ghi công bà đã tiếp tay cho Cộng Sản để giải phóng miền Nam. Sự hy sinh của bà dành cho tổ quốc thật là vô bờ bến.
Tôi quay sang hỏi anh, tại sao tay cán bộ cao cấp không ra lệnh cho một trong bốn tên chiến sĩ du kích dùng vũ lực trói bà mẹ lại, sau đó tay cán bộ tự tay giết chết đứa nhỏ. Cán bộ muốn đứa bé chết mình sống thì phải gánh phần nặng nề nhất cho nhân dân chứ? Tại sao ra lệnh bà mẹ giết đứa con của mình. Cán bộ dám theo đảng, theo cộng sản, theo chế độ, quyết đưa dân tộc tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa thì phải thực hành chức năng của của một đảng viên chứ. Dám làm dám chơi nhưng không dám chịu là sao hả anh?
Động vào cái bản năng sinh tồn thì chẳng ai quan tâm đến mạng sống người khác, huống chi kẻ tự đeo trên mình cái chủ nghĩa anh hùng dân tộc. Anh nói. Buộc giết con của mình để người khác sống có lẽ chỉ xảy ra trong chiến tranh. Mà khốn nạn là chiến tranh lại đang xảy ra trên đất nước này. Ờ. Tôi tiếp lời anh. Trên cái đất nước mà em đã đẻ con bé mun của chúng mình ra với thế gian này.

Mịt mờ dấu chân quen

damau.org
Hoàng Chính
Post on 18 Apr 2024

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Không chờ nàng nói hết câu, hắn quay ngoắt đi, xô cửa phóng ra ngoài. Qua khe cửa hở người đàn bà thấy một vùng tuyết trắng mịt mù. Chưa bao giờ hắn vội vã như thế. Hắn thọc chân vào đôi giầy vải, nhào ra hiên nhà, và lao vào vùng trắng đục cơn bão tuyết hôm qua bỏ lại.
Người đàn bà nuốt cục giận nhám nhúa và dầy cộm xuống bao tử. Dám bỏ đi khi người ta đang nói chuyện phải trái xem có được không. Cãi không lại rồi bỏ đi như vậy đó. Có người đàn ông nào lại yếu đuối như hắn không. Trước kia nàng với hắn đều ngang ngửa trong những trận cãi vã. Ấy là thời kỳ vầng trăng mật rất tròn. Rồi đến một thời kỳ cãi không lại nàng, hắn buột miệng lớn tiếng chửi thề như tên khủng bố ném ra trái lựu đạn cuối cùng trước khi xuôi tay đầu hàng. Ấy là thời vầng trăng đã khuyết. Rồi lúc gần đây hắn không cãi nữa. Bởi cãi không lại nàng nên hắn luôn làm ra vẻ toan nói gì đó nhưng rồi im lặng. Như thể thuần phục, hay chống đối ngấm ngầm. Phải như vậy chứ. Nàng nghĩ thà như vậy còn hơn là ném ra trái lựu đạn cuối cùng để sát thương đối thủ còn mình may ra thì sống sót. Cư xử như vậy là hèn. Hôm nay hắn không ném lựu đạn mà xô cửa bỏ đi. Vậy là hắn đã xuống cấp, từ hèn đến nhát. Hèn với nhát thì có khác gì nhau. Không nhìn nhận lập luận của đối phương, cũng không đưa ra lý lẽ để tự bào chữa mà lại tung cửa bỏ đi như thế không hèn nhát thì là gì. Mà hắn đi đâu giữa vùng trắng lòa con mắt của tuyết mùa đông như thế này? Hắn đi đâu? Ô, mà hắn cũng không khoác lên người chiếc áo mùa đông dày cộm nàng mua tặng hắn thời mới lấy nhau hơn mười năm trước. Hắn mặc vỏn vẹn chiếc áo sơ mi đứt cúc và cái quần chạy bộ mỏng tanh. Mấy thứ ấy đâu phải quần áo mùa đông. Hắn cũng không đi giầy tuyết mà dám đâm đầu ra ngoài như thế. Hắn điên rồi, hắn làm nàng phát điên theo lên mất.
Đi đâu vậy? Người đàn bà gào lên với cánh cửa khép kín. Hơi lạnh lùa vào căn phòng lúc hắn tông cửa ra ngoài vẫn còn lởn vờn trong không khí. Anh ơi. Nàng hét lên. Lạnh thế này ra ngoài không mặc áo ấm làm sao chịu nổi. Nàng đứng bật dậy, đẩy cửa ngóng cổ ra ngoài. Cái lạnh hỗn xược ôm chầm lấy nàng. Nàng rùng mình.
Cánh đồng cỏ trước nhà trắng xóa một màu và chói lòa ánh nắng đến nhức con mắt. Nàng ngểnh cổ ra ngoài khung cửa, nhìn qua phải, không thấy ai, nhìn qua trái, không một bóng người. Nàng nhìn những dấu chân người đào sâu trong tuyết rải đều theo nhau phía trước. Những dấu chân xa dần tới cuối tầm mắt. Đi đâu vậy hả trời! Trước nhà họ là cánh đồng, mùa hạ cỏ mướt xanh xa tít tắp cho tới khi viền bờ một khu rừng thưa dành cho những con sóc nâu, những con thỏ xám, những con cáo vàng sinh sống. Và thỉnh thoảng thiên hạ kéo nhau đến đó cắm trại. Sau cơn bão tuyết đêm qua, chỉ còn mênh mông một cánh đồng tuyết trắng. Hắn đi về phía ấy để làm gì? Đâu có ai sống trong khu rừng hoang vu ấy. Hay là hắn hẹn hò với con nào? Kẻ nào đó gào lên trong trí tưởng người đàn bà. Trời tuyết như thế này, đứa nào dám chờ hắn trong chốn mịt mù ấy chứ. Anh ơi! Người đàn bà hét lên dù biết hắn không nghe được. Hắn có ở quanh đây đâu để mà nghe cho được.
Cái lạnh cứa vào da như mũi dao nhọn. Nàng rùng mình khép cửa lại. Cái ông này! Nàng lẩm bẩm trong miệng. Đi đâu ra ngoài ấy vậy chớ. Lạnh chết cho mà coi.
Người đàn bà quơ tay khoác vội chiếc áo lông dày cộm. Nàng trùm cái mũ len lên đầu. Nàng thọc chân vào đôi giầy mùa đông. Nàng nhìn vội bóng mình trong tấm gương dài treo bên khung cửa. Giống con gấu trắng vùng Bắc Cực, nàng thầm nghĩ. Không kịp thoa chút son lên môi như thường làm mỗi khi bước ra cửa, nàng vơ vội chùm chìa khóa. Vớt vội chiếc áo khoác mùa đông của hắn. Chiếc áo dày nặng trĩu một cánh tay. Làm gì mà phải bỏ đi cực khổ đến như thế. Vợ chồng có gì thì nói với nhau, mắc mớ gì phải nhào ra ngoài trời tuyết lạnh băng như vậy. Khùng quá trời quá đất! Nàng lẩm bẩm, tay vặn mấy lần vẫn không khóa được cánh cửa. Những ngón tay vụng về vì lạnh, vì cơn giận đang quấn quýu, hay vì nỗi lo âu, sự thương cảm đang dần sôi sục trong lòng nàng cũng không biết nữa.
Người đàn bà bước vội xuống khoảng sân hẹp, băng nhanh qua lối mòn cho người đi bộ trước nhà, lảo đảo lao vào cánh đồng tuyết trắng. Cái lạnh sỗ sàng ôm cứng lấy nàng. Hai hàm răng gõ vào nhau lụp cụp. Nàng hì hạch rút từng bước chân lún sâu dưới tuyết. Nàng đi song song với dấu chân của chồng nàng. Trời tuyết đẹp thế này, phải như đừng gây gổ, hai người bước sóng đôi, tay trong tay, kể cho nhau nghe những câu chuyện lặt vặt của đời sống, hạnh phúc biết chừng nào. Việc gì phải cãi vã, việc gì phải hơn thua. Trong cuộc sống lứa đôi, không thể có một người thắng một kẻ thua, bởi có một người thua là cả hai cùng thảm bại. Người ta đã dạy nàng như thế cái hôm hai đứa ngoan ngoãn ngồi nghe chị chuyên viên tâm lý tư vấn chuyện lứa đôi.
Cái lạnh bắt đầu len lỏi qua cổ áo, luồn vào vai, vào lưng, vào ngực. Nàng co người, rùng mình đuổi bớt cái lạnh ấy ra. Anh ơi, đi đâu vậy? Nàng nghe mình thì thầm. Trong lúc chân vẫn vất vả vạch những dấu giầy trên tuyết song song với dấu chân của chồng. Như thể hai người bước sóng đôi buổi sáng mùa đông, sau cơn cơn bão tuyết, hệt đôi tình nhân thời son trẻ rủ nhau băng qua cánh đồng tuyết để tìm một khoảnh khắc tĩnh lặng đến rợn người của chốn bình yên. Chỉ khác là lúc này hai đứa không dạo bước với nhau cùng thời khắc dù những dấu chân vẫn đang sóng đôi trên tuyết trắng.
Mỗi bước đi là một nỗ lực rút bàn chân lên khỏi mặt tuyết dày. Nàng bắt đầu thở hì hạch. Mắt vẫn dán vào những dấu chân của chồng hằn sâu trên tuyết. Hắn đi đâu thế này? Mà hắn mạnh mẽ đến không ngờ. Trời lạnh tám độ âm sau cơn bão tuyết. Áo quần phong phanh, chân đi giầy vải mà hắn lội được trong tuyết xa đến thế này thì quả thật dũng cảm. Nàng thì hai đầu gối đã bắt đầu run vì mỏi. Cánh đồng tuyết phẳng lặng trinh nguyên chỉ có duy nhất những dấu chân của hắn. Và bây giờ thêm dấu chân của nàng. Dấu bước sóng đôi nhưng chân chẳng đồng hành.
Đến khoảng giữa cánh đồng, nàng đoán vậy vì quanh nàng trắng toát một màu chói chang, những dấu chân cho thấy hắn vẫn rong ruổi đều bước. Khoảng cách những dấu chân vẫn đều nhau. Chắc hắn phải điềm tĩnh ghê lắm mới vẽ được những nhịp đều của bước chân như thế. Không vội vã, không hấp tấp cũng không thảnh thơi như kẻ đi dạo. Nàng nheo mắt cho bớt chói. Những dấu chân thẳng hàng của hắn làm nàng chóng mặt. Chiếc áo mùa đông của hắn trĩu nặng làm nhói đau cánh tay nàng. Và bỗng dưng cơn giận xoáy lên hùa với cái lạnh quấn lấy nàng. Mới sáng sớm đã hành người ta như vậy đó. Tình nghĩa vợ chồng là vậy đó sao? Có gì hổng ưng ý thì nói cho nhau nghe. Vợ nói thì chồng biết lắng nghe mới đáng là đàn ông chớ, mắc mớ gì bỏ đi như vậy, nhất là lại đang giữa mùa đông. Nàng ngoái cổ lại nhìn về phía căn nhà của hai người. Cũng xa lắm rồi, chắc cũng đến giữa cánh đồng rồi. Đầu kia là cánh rừng. Những cành tuyết đan rối vào nhau. Nàng cúi đầu nhìn xoáy những dấu chân của hắn trên tuyết. Nàng muốn chì chiết, dày vò những dấu chân ấy. Những dấu chân làm khổ nàng. Hắn nỡ lòng nào đày đọa nàng như thế này chứ. Nàng, người đàn bà lấp ló khung cửa bốn mươi của thời gian nhưng vẫn mãi chân yếu tay mềm như văn chương thường phác họa.
Chợt dấu chân hắn dừng lại ở đó. Nàng sững người, ngơ ngác nhìn quanh. Dấu chân hắn lún sâu trên tuyết đến đó là hết. Khoảng mênh mông trước mặt lấp lánh phẳng lì. Hắn biến đi đâu? Không có bất kỳ dấu vết nào khác trên mặt tuyết. Mũi giầy của những dấu chân vẫn hướng về phía trước. Không có dấu chân nào xoay ngang hay đổi hướng. Nàng xoay người nhìn lại phía sau. Hàng dấu chân của hắn vẫn còn nguyên đấy. Phải, trái, phải, trái. Đều đặn, đúng hướng, cho tới khi bỗng dưng không còn nữa. Nàng ngơ ngẩn ngước nhìn bầu trời xanh biếc trên cao. Mắc mớ gì mà tui nhìn trời vậy nè? Nàng đay nghiến mình. Nhưng không nhìn lên trời thì còn đâu nữa để nhìn. Bốn phía không dấu vết gì khác ngoài những dấu chân thẳng hàng của hắn. Tim nàng thắt lại trong lồng ngực. Hắn biến đi đâu hở trời. Anh ơi. Nàng gào lên. Âm thanh tan loãng vào không khí. Hai cánh tay nàng rã rời như sắp rụng. Nàng nhìn lại phía sau. Hai hàng dấu chân sóng đôi. Bên trái là hàng dấu chân hắn, bên phải là những dấu chân nàng. Nàng quay lại phía trước. Mặt tuyết trinh nguyên phẳng lặng một màu chói lòa con mắt. Hắn dừng lại ở đây, như nàng đang chết đứng tại chỗ này. Nhưng nàng sẽ phải quay trở lại, về căn nhà ấm cúng của hai người. Còn hắn. Không có dấu chân quay về. Hắn đi đâu? Anh đi đâu mất tiêu vậy, hả trời!
Người đàn bà buông chiếc áo dày cộm của hắn xuống tuyết. Chiếc áo nằm rũ trên tuyết như hình hài kẻ thần dân phủ phục trước gã phán quan cay nghiệt. Nàng ngồi thụp xuống, cuống cuồng vung tay đào xới chỗ dấu chân cuối cùng của hắn. Đào bới như điên dại. Như thể nàng nghĩ hắn độn thổ ngay chỗ này. Anh ơi. Đi đâu, về với em, có gì thì nói cho nhau nghe mà. Giả như em nói có sai đi nữa thì anh cũng phải nhường em chứ. Mắc mới gì phải bỏ đi như vậy. Nàng rên rỉ. Những móng tay dài bới tung mặt tuyết, chạm tới lớp cỏ dày. Tuyết vung vãi chung quanh. Người đàn bà dừng lại, đưa bàn tay lên sát mặt, rên rỉ. Anh ơi, anh làm gẫy móng tay em rồi. Tại anh đó. Anh ơi, anh ở đâu? Nàng bật khóc tức tưởi. Về nhà đi mà. Em hứa hổng la anh là đồ vô dụng nữa đâu, em cũng hứa hổng kêu anh đi đâu thì đi cho khuất mắt nữa đâu…
Chủ Nhật 04/02/2024

Bông hồng cài áo

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on January 29, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

Chỉ còn mười mấy phút nữa là giao thừa ở Việt Nam. Xạ thủ viết vội đôi dòng chúc Tết các bạn xa gần một năm mới hạnh phúc và bình yên nhe.
Hai tấm hình bông hoa màu trắng và đỏ này hỏng biết có phải là bông hồng không? Nhưng chụp cách đây một tuần ở một đồn Cảnh Sát người Kurd ở Bắc Trung Đông.
Mình lái xe qua đồn thấy đẹp nên ngừng xe xin anh cảnh sát đang chùi rửa xe được phép chụp. Anh zui zẻ đồng ý và nói xì xì xồ gì mình chả hiểu, nhưng đoán là OK chụp sẽ hỏng bị còng tay á.

Chụp rồi nhủ thầm sẽ để dành đến đêm giao thừa ở Việt Nam sẽ đăng lên để chào mừng ngày Tết dân tộc.
Hiện nay xạ thủ đã rời Bắc Trung Đông và hiện đang ở Kuwait. Rất tiếc hành lý đã bị thất lạc hết trong một chuyến bay đêm trên máy bay C130 cách đây 3 ngày. Có lẽ họ thả hành lý mình xuống lộn khi ghé một căn cứ trên đường đi Kuwait. Hành lý còn lại chỉ là một cái ba lô đựng 2 cái laptop thôi.
Ba hôm nay mặc nguyên bộ đồ trên người nên hơi khó chịu. Mình đón giao thừa ở Trung Đông khi hành lý thất lạc, hết chỉ còn mấy bông hồng Trung Đông trắng đỏ này nằm trong bộ nhớ laptop.
Màu đỏ là màu của tình yêu. Màu trắng là tượng trưng cho sự trong sạch thủy chung phải hong các bạn?

BÔNG LAU 28.01.2025

Nguồn: https://thuymyrfi.blogspot.com/2025/01/bong-lau-bong-hong-cai-ao.html

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 2 Nov 2014

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

  1. Phần 4
    Mậu Thân Đợt 2

“Chợ Cây Quéo & Chợ Cây Thị”
“Thị ơi, rụng xuống bị bà,
Bà đem bà ngửi, chớ bà không ăn”

Quả tình tôi quen với Saigon là quen với Mai Hương, Kim Sơn trên đường Lê Lợi, với La Pagode trên đường Nguyễn Huệ, còn với những cái tên nôm na như Chợ Cây Quéo, Chợ Cây Thị ở Gia Định, Gò Vấp thì tôi mù tịt. Cây Thị thì còn biết, trong truyện cổ tích Tấm Cám, còn Cây Quéo là “cây ra răng?”. Tôi hỏi đùa. Không biết thì bây giờ phải biết, mà biết thật kỹ nữa. Sinh mạng của tôi, sinh mạng của binh lính tôi, tùy thuộc vào cái biết ấy. Có lẽ ngày xưa vùng nầy là đất hoang, có nhiều nghĩa địa nhỏ, và một vài Ông Thầy “tránh miền trần tục đến tu đây”. Đến tu nơi đây, nên phải dựng Chùa. Vùng nầy có mấy Ngôi Chùa.
Vì chiến tranh, đồng bào tập trung về đây mà sống, được an toàn hơn. Sau 1954, đồng bào miền Bắc di cư vào rất đông, vùng đồng hoang nầy được biến thành khu nhà ở, chen chúc bên cạnh các mồ mả, trở thành khu bình dân, lao động, nhà tôn, vách lá, nhiều hơn vách gạch.
Việt cộng chia thành từng tổ nhỏ, ba bốn tên, núp trong nhà dân, núp sau các ngôi mộ xây, hay các bia mộ. Vũ khí của chúng là AK.47, CKC, Trung, Đại Liên, B-40, B-41, khá mạnh. Chúng là một bộ phận, cấp Tiểu Đoàn của Trung Đoàn Đồng Nai.
Các đơn vị của Quân Lực VNCH tấn công Trung Đoàn nầy nhiều trận, nhưng chúng vẫn còn mạnh. Lần nầy, đợt 2, Trung Đoàn Đồng Nai có nhiệm vụ tiến chiếm vùng nầy để làm bàn đạp uy hiếp Quận Gò Vấp, tiến lên đường Võ Di Nguy nồi dài, tấn công vào cổng sau Bộ Tổng Tham Mưu, địa điểm sân “Gôn” cũ, Phi Trường Tân Sơn Nhất hay mục tiêu của chúng có thể Cổng số 2 Bộ Tổng Tham Mưu trên đường Võ Tánh (cũ). Tuy nhiên, tới đây thì chúng bị khựng lại, không tiến thêm được nữa, đang bị Quân Đội của ta bao vây.
Con đường xâm nhập của chúng là từ An-Phú Đông qua ngã Bình Lợi, không đi qua Xóm Mới, Ngã Năm Chuồng Chó hay Ngã Ba Chú Ía, những nơi chúng đã thất bại trong đợt 1.
Có hai cái khó khăn cho Quân Đội VNCH khi tái chiếm khu vực nầy:
1)-Chỉ có một số đồng bào chạy thoát, một số bị chúng giữ
lại, làm bia đỡ đạn. Điều nầy là sở trường vô nhân đạo, tàn ác của cộng sản.
2)-Tránh tối đa việc tác xạ vũ khí nặng, làm hư hại nhà cửa của dân. Đó là lệnh của Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô.
Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù dưới quyền Chỉ Huy của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nhã, đánh nhau với giặc cộng hơn hai tuần nay ở Ngã Ba Cây Quéo này. Tới hôm nay Tiểu Đoàn được lệnh bàn giao chiến trường cho Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Không phải ai đánh giỏi hơn ai, nhưng vấn đề chính yếu là chiến thuật. Với hai khó khăn nêu dẫn ở trên, các đơn vị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân không thể tấn công Việt cộng bằng một lực lượng lớn, qui mô và hùng mạnh.
Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù sở trường đánh giặc bằng du kích chiến, bằng những Toán nhỏ 6 người. Các Đại Đội cũng được sử dụng đánh cấp Tiểu Đội hay Tiểu Đội cọng, có nghĩa là quân số nhiều hơn cấp Tiểu Đội một chút.
Chiến thuật trên, đã được Thiếu Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta và Thiếu Tá Trần Phương Quế vừa thay thế Đại Úy Phan Văn Khánh trong chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Sau khi bay thám sát vùng trách nhiệm trở về, các vị phổ biến, căn dặn kỹ càng trước khi chúng tôi khởi sự xuất phát từ Ngã Ba Võ Tánh, Ngô Tùng Châu (tên cũ), tiến dần tới ngã ba vô Chợ Cây Quéo, bên trái đường Ngô Tùng Châu, rồi tuần tự nhận bàn giao phòng tuyến từ Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù.
Bàn giao xong, chờ màn đêm sập xuống, các Toán Thám Sát Delta, các Tiểu Đội khinh binh lặng lẽ khai triển đội hình, tiến lên theo hướng vùng đã được phân định.

(Một góc đường gần Ngả ba Cây Quéo)

Việt cộng từ trong bắn ra từng loạt đạn AK, CKC cầm chừng, các Toán Thám Sát Delta, theo dõi, quan sát hướng chúng tác xạ, từ từ mò mẫm tiến gần chỗ chúng ẩn núp, tung lựu đạn tiêu diệt. Riêng các vị trí đặt Đại và Trung Liên của chúng, các Tiểu Đội, Trung Đội Biệt Cách Dù sau khi xác định chính xác tọa độ mục tiêu, đã gọi điện báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn để xin yểm trợ hỏa lực. Trung Úy Trần Duy Bình, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 là “thiên tài súng cối 60 ly”. Được các Toán Thám Sát Delta cung cấp tọa độ vị trí địch, Trung Úy Bình điều chỉnh hướng, tầm bắn và tác xạ chính xác mười quả y chục, đó là nhận xét của hầu hết các Sĩ Quan về tài thiện xạ của ông. Nhờ vậy mà các Đại Đội Biệt Cách Dù xông lên chiếm lại lần lượt các vùng cư dân đã bị Việt cộng chiếm đóng trước đây, đẩy lùi bọn chúng ra khỏi vùng Ngã Ba Cây Quéo. Các trận đụng độ này gây trọng thương cho Chuẩn Úy Trần Anh Phong, Trung Đội Trưởng và 12 Hạ sĩ quan, Binh sĩ. Việt cộng mất dần trận địa, cuối cùng “chém vè” rút quân, băng qua khu dân cư gần Xóm Gà (Ngã Ba Ngô Tùng Châu – Lê Quang Định) về nhập chung với Trung Đoàn Phú Lợi để cố thủ tại khu vực ngã ba Chợ Cây Thị.

Thừa thắng xông lên!
Sau khi tạm thời nghỉ dưỡng quân và trang bị các loại súng XM.16, M.79, Đại Liên 60 cùng đạn dược tại Bệnh Viện Ung Thư, Gia Định, hôm sau Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 được lệnh đến thay Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Hoàng Tích Thông chỉ huy, ở vùng Ngã Ba Cây Thị. Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến rút ra làm phòng tuyến án ngữ chận hậu.
Tại mặt trận Ngã Ba Cây Thị, Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù trong đó có Trung Đội 3 Đại Đội 1 do tôi chỉ huy chiến đấu rất khó khăn, cam go, vất vả hơn. Việt cộng tập trung toàn bộ lực lượng của hai Trung Đoàn quyết một mất một còn. Trong khu vực nghĩa địa, trong các Chùa chiền, chúng đào giao thông hào, hầm hố, đắp các công sự ở các góc vườn, các ngã tư đường để chận đường tiến công của ta. Các Toán Thám Sát Delta, các Đại Đội Biệt Cách Dù cũng từng bước từng bước tiêu diệt các chốt chặn bằng lựu đạn, bằng kỷ năng tác xạ súng cối điêu luyện của Trung Úy Trần Duy Bình. Rốt cuộc, trước lối đánh đêm “xuất quỷ nhập thần” này, kèm theo ban ngày có các Chiến Xa M.113 và Trực Thăng Gunshift ồ ạt truy kích, để rồi sau suốt một ngày quần thảo, Việt cộng tháo chạy, rút lui về hướng Cầu Bình Lợi, tìm đường trở lại An Phú Đông. Quá xui xẻo cho chúng, chúng gặp ngay Tiểu Đoàn TQLC đang chờ sẵn. Toàn bộ 200 tên giặc cộng không đường thoát, phải buông súng đầu hàng, khoảng 100 tên bỏ xác rải rác trong cả hai khu vực Cây Quéo và Cây Thị. Bên Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù có hơn 20 binh sĩ bị thương và một Sĩ Quan: Thiếu Úy Trần Phụng Tiễn, Khóa 22A Võ Bị Đà Lạt, Trung Đội Trưởng, Đại Đội 2 tử thương vì hỏa tiễn B.40 của địch.
Tên Thượng Tá Hoàng Văn Xướng, chỉ huy mặt trận này, giả dạng thường dân trà trộn trong quần chúng để đào thoát bị nhận diện, bắt sống tại chỗ.
Cũng trong thời gian này, một đơn vị Biệt Động Quân tiến đánh một ổ đặc công đang chiếm giữ phía đầu Cầu Băng-Ky trên Quốc Lộ 1 cũ, đường lên Thủ Đức và hạ sát toàn bộ 8 tên.
Sau hơn tuần lễ, nhờ áp dụng chiến thuật đánh đêm theo lệnh của Thiếu Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta, mà các Toán Thám Sát Delta và các Đại Đội 91 Biệt Cách Dù đã nhanh chóng giải tỏa áp lực địch và tái chiếm toàn diện Ngã Ba Cây Quéo và Cây Thị, xóa sổ hoàn toàn Trung Đoàn Đồng Nai và Trung Đoàn Phú Lợi.

(Nghĩa Trang & Đài Tưởng Niệm Đồng Bào bị
Việt cộng sát hại trong Tết Mậu Thân tại Nha Trang)

Sau hơn tuần lễ, nhờ áp dụng chiến thuật đánh đêm theo lệnh của Thiếu Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta, mà các Toán Thám Sát Delta và các Đại Đội 91 Biệt Cách Dù đã nhanh chóng giải tỏa áp lực địch và tái chiếm toàn diện Ngã Ba Cây Quéo và Cây Thị, xóa sổ hoàn toàn Trung Đoàn Đồng Nai và Trung Đoàn Phú Lợi.
Đây là một chiến công hiển hách, vang dội làm nức danh Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Đồng Bào đứng chật dọc theo hai bên đường để chào đón, hoan nghênh đoàn quân chiến thắng Biệt Cách Dù trên đường lui binh để tiếp tục nhận lãnh nhiệm vụ mới ở khu vực Bình Hưng Hòa, Bà Điểm.
“Đường trường xa, ta quyết đi cho đến cùng … ….hai…ba……..”

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Post on 1 Nov 2014
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 30 Jan 2025

  1. Phần 3
    Mật Khu A-Shau
  • Mật Khu A-Shau
    “Ả Sầu?” hay “Hổ huyệt?”
    “Bất nhập hổ huyệt
    An đắc hổ tử.”
    *
    Đại Úy Phan Văn Khánh, Tiểu Đoàn Trưởng (thay thế Thiếu Tá Lê Như Tú đã bị tử thương trong biến cố Tết Mậu Thân) sau khi bay một vòng ở Trường Sơn để thám sát chọn bãi đổ quân, trở về đã họp tất cả các Đại Đội Trưởng 1, 2 và 3 để phổ biến kế hoạch hành quân. Ngày hôm sau, hai Phi Đội Trực Thăng UH.1B của Hoa Kỳ lần lượt chuyển đổ ba Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào bãi đáp tại mật khu Ashau.
    Ngồi trên Trực Thăng, nhìn núi rừng trùng điệp, tôi bỗng miên mang nhớ đến những thằng bạn cũ hồi còn đi học. Phải chi có tụi nó cùng ở đây để được ngắm nhìn cái vẻ đẹp của Quê Hương. Đẹp từ màu xanh của cây rừng, từ những đám sương mù trắng đục bay là là bên sườn núi, đẹp từ những bãi rừng tranh vàng mượt, sóng sánh theo từng cơn gió thổi qua.

Đoàn Trực Thăng đảo nửa vòng rồi tuần tự đáp nhanh xuống một bãi tranh trống, cách con đường khoảng 500 mét về hướng Nam. Tôi vội vàng ra lệnh: “Go, Go, Go!”. Tất cả Binh Sĩ lao ra khỏi Trực Thăng, ôm chặt súng phóng thẳng vào sát bìa rừng, bố trí phòng thủ để cho cuộc đổ quân tiếp tục. Thượng Sĩ già người Nùng Nồng A Si, Trung Đội Phó đi kiểm điểm tuyến phòng thủ của binh lính xong báo cáo đủ với tôi. Tôi cho lệnh Trung Đội nằm yên tại vị trí, chú ý quan sát, lắng nghe mọi động tĩnh chung quanh.
Theo lệnh hành quân đã được ban hành, nhiệm vụ của Đai Đội 1, 2, 3 là tổ chức phục kích đoàn xe Molotova của địch, sẽ từ phía Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh đi vào phía lãnh thổ của ta, băng ngang qua thung lũng Ashau, và sẽ di chuyển ra đến gần Lăng Minh Mạng để tiếp vận cho chiến trường Huế. Đoàn xe được một Toán Thám Sát Delta phát hiện, đồng thời cũng được giải đoán qua không ảnh do phòng Quân Báo Quân Đoàn I cung cấp.
Cuộc đổ quân hoàn tất. Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng qua máy PRC.25 lệnh cho các Đại Đội di chuyển thành ba cánh, tiến sâu lên hướng Bắc, tiếp cận đường mòn, cùng phối hợp chặt chẽ với nhau, dàn rộng đội hình, tổ chức phục kích, theo thứ tự Đại Đội 3, Đại Đội 2 và Đại Đội 1 nằm cuối cùng. Sau khi bố trí, giữ im lặng vô tuyến chờ lệnh khai hỏa tấn công.
(Đường mòn HCM trong Mật khu Ashau sau khi bị B.52 dội bom)
Rừng nhiệt đới, cây đại thụ cao ngất, ít nhất cũng hai ba tầng lá ở trên, phi cơ rất khó nhìn thấy. Trên mặt đất, không phải chỉ có một đường mòn mà hai ba đường mòn nhỏ kế cận nhau. Xe địch di chuyển đã nhiều, trên mặt đường trải dày đất đá hay các phên tre lót đường để tránh lầy còn hằn in dấu các vết xe lăn. Hai bên lối mòn, các loại cây thấp vẫn um tùm, xen lẫn với dây leo, dây mây chằng chịt, khó di chuyển. Trung Đội tôi được lệnh trải rộng phục kích dọc theo đường mòn, trong những lùm cây rậm rạp đó, địch không tài nào phát hiện được!
Có tiếng máy “Đại Bàng” truyền lệnh cho biết: “Đoàn xe địch đang di chuyển gần đến chúng ta, có khoảng tám chiếc”. Đúng như tin tức của các Toán Thám Sát Delta cung cấp và giải đoán của Trung Tâm Không Ảnh Quân Đoàn I. Trong phạm vi phòng tuyến phục kích của ba Đại Đội, kéo dài khoảng chừng ba đến bốn trăm mét, khi toàn bộ đoàn xe đã vào trọn tuyến phục kích, các Đại Đội phải dồn hết hỏa lực, tấn công tiêu diệt tất cả, khi nghe phát lệnh khai hỏa.
Địch có vẻ chủ quan, ngồi vắt vẻo trên thành xe, chẳng quan sát, đề phòng gì cả. Tôi nghĩ thầm: “Bọn chúng nó lầm tưởng rằng đây là vùng cấm địa của chúng, quân lính Miền Nam chẳng ai dám vào đây chăng?”

(Đoàn xe Molotova 8 chiếc do Thám Sát Delta phát hiện, đã bị Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù phục kích thiêu hủy toàn bộ tại thung lũng Ashau)

Trời bắt đầu tối dần, đoàn Molotova đang từ từ lọt hết vào đúng vị trí phục kích, sau khi Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Phan Văn Khánh, phát lệnh khai hỏa. Các Đại Đội đồng lọat nổ súng, kèm theo tiếng hô xung phong ầm ĩ vang rền cả một góc trời, phá tan cái âm u, trừ tịch của khu rừng. Trung Đội tôi cùng lúc tác xạ xối xả, nào Đại Liên, Trung Liên, Garant, Carbine, bắn liên tục như pháo Giao Thừa vào chiếc xe chạy dẫn đầu, làm nó nằm im, lửa bừng cháy bao trùm cả chiếc xe. Tiếng la hét hỗn loạn chen lẫn với tiếng súng nổ phản công của bọn cộng phỉ, tiếng đì đùm của mìn pháo trên các xe kế tiếp đang bốc cháy, tạo nên một âm thanh rùng rợn và hỗn độn. Vài tên địch rơi xầm xuống đất, nằm bất động tại chỗ “chắc không sống nỗi”, tôi chợt nghĩ như thế. Lựu đạn quăng tới tấp, những chiếc Molotova nối đuôi, cùng chịu chung số phận, cũng đã bị các Trung Đội của các Đại Đội 3, 2, 1 xơi tái, hạ gục, hết chiếc nầy đến chiếc khác, lửa hừng hực lan rộng dọc theo con đường, lửa khói bốc cao dữ dội, làm rực sáng và nóng bức cả một khu vực trong rừng đêm.
Sáng hôm sau, kiểm điểm tổng quát trận địa: Bên địch tám chiếc Molotova bị bắn cháy cùng với rất nhiều vũ khí, đạn dược, chiếc chạy dẫn đầu chứa đầy lương thực gạo, muối, lương khô và quân trang quân dụng của bọn chúng cũng bị thiêu rụi hầu hết.
Lục soát dọc theo khu vực đã tìm thấy 20 xác Cộng phỉ nằm ngỗn ngang dọc hai bên sườn núi, bên ta Đại Đội Trưởng Đại Đội 3 Trung Úy Huỳnh Văn Thanh đã bị bắn một viên đạn AK, còn ghim trong lồng ngực đã được bốc khẩn cấp đến Bệnh Viện Dã Chiến Hoa Kỳ giải phẫu. Trung Đội Trưởng Chuẩn Úy Nguyễn Hiền, Thiếu Úy Trương Út và một số Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ các Đại Đội 1, 2, 3 bị trúng thương, tất cả đều đã được trực thăng vận chuyển về hậu trạm chữa trị.
Báo cáo tổng kết tình hình chiến trận cho Đại Bàng xong, các Đại Đội được lệnh nhanh chóng rút quân về lại bãi đáp để triệt xuất, đề phòng địch quân ẩn trú quanh đây chắc không phải là ít, chúng sẽ tập trung lực lượng phản kích.
Trên Trực Thăng đang bay về lại Căn cứ Hành quân Phú Bài. Thắng trận, tôi vừa vui vừa ngậm ngùi. Tôi không ưa sự chém giết. Đó là bản tính tôi. Tinh thần của một Phật Tử, truyền thống của dân tộc còn nặng trong tâm tư tôi. Tôi không biện minh. Đó chỉ là một điều tất nhiên mãi mãi tồn tại trong con người của tôi.
A Shau là tiếng Thượng, tiếng của dân tộc Vân Kiều hay Stiêng?. Ả Sầu là tiếng A Shau được Việt hóa! Ả là “cô ả”, là “cô nàng” nào đó. Có cô ả nào sầu vì thương những người lính xông pha núi rừng như chúng tôi trong trận đánh vừa qua??? Tôi thầm nghĩ:
Đời còn có người thương thì đời còn vui chán!
Thế nhưng “Nam nhi cổ lai chinh chiến hề”.
Không bao lâu sau đó. Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù, trong đó có Đại Đội 1 chúng tôi do Đại Úy Bùi Cao Thăng chỉ huy, lại lần nữa nhảy vào Mật khu Ashau lần thứ hai.
Trong trận chiến này Tiểu Đoàn đã quần thảo suốt hai ngày đêm với một Trung Đoàn chính qui của cộng quân. Đại Đội 1 trong chiều tối đầu tiên đã bị địch tấn công, vây hãm bất ngờ trên đường di chuyển. Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 Thiếu Úy Đặng Thiện Chẩn, Khóa 22A Võ Bị Đà Lạt đã bị tử thương bởi đạn B.40, Hạ Sĩ I Dục mang máy truyền tin cũng cùng chung số phận, còn tôi bị một mảnh vỏ đạn súng cối cắt vào bắp chân trái. Nhưng không vì thế mà làm sút giảm sức kháng cự, chống trả của đơn vi. Trung Úy Nguyễn Ích Đoan, Đại Đôi Phó đã tả xông hữu đột, sát cánh cùng tôi điều động binh sĩ phản công, chận đứng các đợt xung phong biển người của địch quân. Cuối cùng cũng nhờ được sự tiếp ứng kịp thời của các Đại Đội 2, 4 và 5 cùng sự oanh kích chính xác của các chiến đấu cơ A.37 cộng quân đã phải tháo chạy, bỏ lại hơn 30 xác chết, lăn lóc nhầy nhụa bên những chiếc hố đào vội vã, thoai thoải quanh dốc đồi.
Cuộc đời của một con người đều có số phận. Trong cuộc chiến tranh, đối diện với đầu tên mũi đạn, thập tử nhất sinh, biết ai còn ai mất.
Và với riêng tôi, trong trận chiến này, đây là lần đầu tiên tôi được nhận lảnh một “Chiến thương Bội tinh” và một Anh Dũng Bội tinh ngôi sao đồng.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net
Lê Đắc Lực
Posted on 1 Nov 2014

Post by Sơn râu 29 Jan 2025

  1. Phần 2
    Mậu Thân Đợt 1

    “Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui,
    Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi…”
    “Chuyện một chiếc cầu đã gãy”
    (Trầm Tử Thiêng)
  2. Giải tỏa Đài Phát Thanh Nha Trang và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận.
    Tết Mậu Thân (1968), tôi không về phép ở Huế thăm gia đình, đang ở với đơn vị tại Nha Trang. Tôi ra trường chưa được một năm; một năm là thời hạn để thăng Thiếu Úy; còn mang lon Chuẩn uý, “lon” trẻ nhất Quân Đội Việt Nam Cọng Hòa, câu tôi thường nói đùa. Vả lại, tuổi tôi lúc ấy mới quá 20, cũng còn là sĩ quan trẻ. Tôi đang làm Trung Đội Trưởng Trung Đội 3 thuộc Đại Đội 1. Không về phép thì tôi… đi chơi.
    Không có lệnh cắm trại hay báo động gì cả. Những ai trong đơn vị có nhiệm vụ trực gác thì cứ… “ở nhà”. Tôi rủ Thiếu Úy Nguyễn Ích Đoan, Thiếu Úy Đặng Thiện Chẩn phóng xe Honda đi uống càfé, nghe nhạc, một cái “gout” của đám sĩ quan trẻ của chúng tôi thời kỳ ấy.
    Chúng tôi đang ngồi trong Quán Bar số 5, kế bờ biển Nha Trang, uống càfé vừa nghe nhạc, mắt thì nhìn ra ngoài biển khơi. Đêm ba mươi, không trăng, biển đen một màu buồn thăm thẳm.
    Tới nửa đêm, ngay giờ Giao Thừa, pháo nổ ran tứ phía. Nghe pháo, mọi người ai cũng vui, đón mừng một Năm mới. Lòng tôi rạo rực như ngày nào của tuổi ấu thơ. Tuy nhiên, tôi nghe tiếng pháo nổ hơi lạ, không phải là tiếng đì đùng như tôi đã từng nghe. Pháo nổ hơi lâu, có ai đó trong quán nhận xét:
    – “Năm nay pháo nổ dữ, không chừng làm ăn khá!”
    Anh ta vừa dứt câu thì tôi thấy trên đường trước Quán Bar, đồng bào xôn xao, chạy lui chạy tới. Có tiếng la to: “Việt cộng tấn công!”
    Nghe thế, tôi đứng lên đi ra đường thăm dò. Đồng Bào bây giờ chạy dáo dác đã đông lắm. Có tiếng la, tiếng khóc. Tôi bực mình, nói thầm: “Mấy thằng Việt cộng chó đẻ thật! Ngày vui của dân chúng mà nó cũng không tha. Tổ Quốc đã không yên với chúng. Tổ Tiên cũng không yên với chúng.”
    Lúc đó, Đoan và Chẩn cũng rời quán ra đứng bên tôi hốt hoảng nói: – “Trở về Doanh Trại gấp! Về gấp!!!”
    Mặc dù chưa có lệnh báo động, nhưng vì linh tính và trực giác của những người lính tác chiến, chúng tôi vội vã lên xe phóng nhanh. Huấn thị là mệnh lệnh chung, bất di bất dịch của Đơn Vị Trưởng đã được ban hành. Quân Nhân thuộc cấp phải tuyệt đối tuân hành: Phải tự động trở về ngay doanh trại mỗi khi có biến động xảy ra chung quanh khu vực đơn vị trú phòng.
    Trở lại đơn vị, tôi thấy hầu hết quân nhân các cấp tề tựu đông đủ. Trung Úy Nguyễn Thanh Liêm, Đại Đội Trưởng ra lệnh cho các Trung Đội Trưởng kiểm điểm quân số, báo cáo binh lính đã về đầy đủ chưa? Tôi tập họp, điểm danh, không thiếu một ai. Tôi đoán biết với tình hình bất ổn này, Đại Đội phải ứng chiến hành quân, tôi ra lệnh Trung Đội Phó Nồng A Si cho anh em chuẩn bị nón sắt, vũ khí, và kiểm soát đạn dược. Và đúng như dự đoán, lệnh cấm trại, túc trực chuẩn bị tác chiến được ban hành khẩn cấp trong toàn bộ các đơn vị trú đóng tại Thị Xã Nha Trang.
    Khoảng 3 giờ sáng, Đại Đội Trưởng Liêm báo cho biết: Việt cộng đã đánh chiếm Đài Phát Thanh Nha Trang và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận. Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta có lệnh tái chiếm, ưu tiên là Đài Phát Thanh, không cho địch dùng đài để tuyên truyền. Cũng may, mặc dù chiếm được Đài Phát Thanh, nhưng, “mấy thằng mọi” nầy chẳng biết gì về máy móc để mở ra mà dùng. Nhưng lỡ mà chúng nó chộp được một kỹ thuật viên nào đó của đài, dí súng vào đầu anh ta, buộc anh ta mở đài cho bọn chúng nói thì “mệt cầm canh” chớ chẳng chơi. Vì vậy, khi Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, được tăng cường cho Trung Tâm Hành Quân Delta đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phan Văn Huấn. Sau khi được Thiếu Tá Huấn phân phối nhiệm vụ và khu vực trách nhiệm, Đại Đội 1 khai triển đội hình, di hành tiếp cận Đài Phát Thanh, cách doanh trại chúng tôi khoảng chừng cây số, theo đội hình hàng dọc, len lỏi hai bên phố và khu nhà dân chúng, cố tránh không để địch phát hiện.
    Trên đường không một bóng người. Dân chúng phần đông trốn hết ở trong nhà, đóng cửa, tắt đèn, im thin thít. Vậy là một Giao Thừa đầy súng đạn, làm mất đi niềm vui sum họp mọi gia đình trong Lễ Tết Nguyên Đán năm nay. Bỗng tôi tự nhủ thầm: “Yên tâm đi! Bà con ơi! Tôi đang trên đường đến tiêu diệt chúng nó đây!” Rồi tôi lại chợt nghĩ tới Thành Phố Huế của tôi: “Không biết bây giờ ngoài nớ ra răng? Có bị cùng chung tình cảnh như Nha Trang bây giờ không?” Và một câu thơ, câu hò nào đó mà thầy giáo đã đọc cho nghe từ thuở thiếu thời: “Quê hương chừng lạnh lắm! “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa Đông thiếu áo, lụt thời thiếu ăn”. Tôi nghĩ tới cái lạnh của Huế. Tôi đâu có ngờ Huế của tôi cũng chết chóc và tang thương như tôi biết sau nầy.
    Đài Phát Thanh nằm trên đường Phước Hải phía bên trái, trước mặt bên kia đường là bức tường thành cao, kiên cố của Quân Lao Nha Trang. Con đường này chạy dài đâm ngang đường rầy xe lửa, đường Nhà Thờ và ngang qua trước mặt Đồn Quân Cảnh và Quân Vụ Thị Trấn Nha Trang, rồi tiếp giáp đoạn cuối đường Độc Lập hướng đi lên Diên Khánh. Phía sau lưng Đài Phát Thanh là một vùng trũng, ruộng và sình lầy, chạy kéo dài tới vùng núi mật khu Đồng Bò.
    Quân cộng sản đã chiếm hết toàn bộ Đài Phát Thanh, cả Trung Tâm chính và các Trạm Phát Tuyến phụ nằm chung quanh, nhưng chúng vẫn chưa xử dụng đài để phát thanh được.
    Trung Tâm Hành Quân Delta và Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, được Thiếu Tá Phan Văn Huấn chia làm 2 mặt tấn công vào Đài Phát Thanh. Từ phía trái của Đài, Đại Đội Trưởng Liêm đưa Trung Đội 1 của Thiếu Úy Đoan và Trung Đội 2 của Thiều Úy Chẩn, tiến sâu theo đường Phước Hải len qua trong một số nhà dân để bám sát tường thành Đài Phát Thanh, Trung Đội 3 do tôi chỉ huy cùng Trung Đội 4 của Chuẩn Úy Tài, men theo các bờ ruộng, bò sát lên theo hướng Đông Bắc để tiếp cận hàng rào và bức tường đàng sau Đài.
    Về mặt địa hình, chúng tôi gặp phải những khó khăn, nhất là hàng rào quanh Đài Phát Thanh, ngoài hai ba lớp rào kẽm gai là một bờ tường cao. Việt cộng núp ở phía trong các cao điểm của trụ sở và các lô cốt kiên cố có sẵn trong Đài để quan sát và bắn vào chúng tôi. Trong khi chúng tôi thì quá trống trải, chỉ nhờ vào bóng đêm và sử dụng các bờ ruộng để che chắn.
    Đại Đội 1 Biệt Cách Dù “quờn” với bọn chúng tới trời sáng. Bây giờ thì dễ quan sát hơn. Ngoài những lợi thế như đã kể trên, bọn Việt cọng còn núp trên các vọng gác tác xạ Trung Liên nồi và B.40, gây trọng thương nhiều Binh Sĩ trong đó có Chuẩn Úy Tài Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, Thượng Sĩ Hoàng Thường Vụ, và 4 Binh Sĩ tử thương. Mãi đến gần trưa, Tiểu Đội vũ khí nặng đã sử dụng một lượng khối chất nổ để phá vỡ bức tường thành, các Trung Đội dùng Súng Cối, Súng Phóng Lựu, Garant, Carbin và Trung Liên Bar FM, tác xạ vào các công sự, các ổ kháng cự của địch. Sau đó các Trung Đội, từ hai hướng đã đồng loạt khai hỏa xung phong chiếm lại hầu hết các Trụ sở, Văn phòng trong khu vực phía Nam của Đài, có 6 tên Việt cộng buông súng đầu hàng, một số tháo chạy về hướng mật khu Đồng Bò, nhưng đã bị bắn chết trên đồng ruộng khô, cách bờ rào phía sau Đài Phát Thanh chừng 50 mét. Trong lúc đó các Toán Thám Sát Delta đã sử dụng sở trường, thâm nhập từ hướng Tây Bắc men theo tường sau của Quân Lao và nhà cửa của dân chúng để bò lên tiêu diệt các ổ kháng cự nằm trong các Trạm Phát Tuyến phụ, hai tên xạ thủ buông súng đầu hàng. Và ổ kháng cự ngoan cố cuối cùng của Việt cọng ở trụ sở Trung Tâm Phát Thanh chính cũng đã bị cácToán Thám Sát Delta triệt hạ, bắt sống thêm bốn tên khác. Đến khoảng 3 giờ chiều, Thám Sát Delta và Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Phan Văn Huấn, đã hoàn toàn lấy lại Đài Phát Thanh. Chương trình phát thanh tái hoạt động sau đó không lâu, để đồng bào được yên lòng.
    Nằm trong thời điểm này, các Đại đội 2, 3, 4, 5 của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù cũng đang tấn công vào Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận đóng ở cuối đường Độc Lập, bên trái hướng Đông Đông Bắc là Chợ Đầm và khu dân cư Phương Sài, bên phải hướng Đông Đông Nam giáp Tiểu Khu Khánh Hòa, và đàng sau chính Đông là biển Nha Trang.

Thiếu Tá Lê Như Tú, Tiểu Đoàn Trưởng đã lệnh cho Trung Úy Bùi Ngọc Bích, Đại Đội Trưởng, đưa Đại Đội 5 đến giải tỏa áp lực địch ở Khu Mã Vòng, và kế đến là Tòa Án Nha Trang. Nhưng khi tiến đánh khu vực Tòa Án, vì tường thành ở đây cao và vững chắc, địch ở bên trong có lợi thế, nên đã chống cự mãnh liệt, gây thương tích nặng cho Trung Úy Bùi Ngọc Bích. Sau đó Đại Đội 4 do Trung Úy Nguyễn Văn Tùng chỉ huy được điều động đến thay thế đã thanh toán xong mục tiêu. Tờ mờ sáng Mồng 1 Tết, Thiếu Tá Lê Như Tú đưa Đại Đội 4 phối hợp với Đại Đội 3 do Trung Úy Trần Hoạt Thành chỉ huy làm nỗ lực chính, tấn công vào mặt cổng chính diện của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, Đại Đội 2 của Trung Úy Trần Duy Bình, yểm trợ hỏa lực và Đại Đội 5 làm lực lượng trừ bị, án ngữ mặt Tiểu Khu Khánh Hòa. Cuối cùng sau một ngày giao tranh khốc liệt, Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã tái chiếm Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, tiêu diệt 50 tên giặc cộng, 30 tên bị trọng thương và bị bắt sống. Riêng bên Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù cũng bị tổn thất nặng nề. Thiếu Tá Lê Như Tú, Tiểu Đoàn Trưởng, bị trọng thương phải đưa đến Quân Y Viện Nguyễn Huệ cứu cấp, sau một tháng chữa trị Thiếu Tá Lê Như Tú đã vĩnh viễn ra đi, Trung Úy Nguyễn Văn Tùng Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 đã bị tử thương, Đại Úy Tiểu Đoàn Phó Nguyễn Quang Vinh, Trung Úy Trần Hoạt Thành, Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, Trung Úy Nguyễn Văn Giỏi, Đại Đội Phó Đại Đội 2 và hơn 30 Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ đã bị thương nặng. Tuy nhiên, đánh đổi lại Thành Phố Nha Trang đã hoàn toàn an bình, mọi sinh hoạt đã trở lại bình thường như trước đây.
2.Truy kích địch tại “Mật khu Đồng Bò”
Việt cộng rút chạy rồi, chúng tôi phải truy kích, phải tiêu diệt sạch bọn chúng, để cho đồng bào được yên. Chúng không thể chạy ra biển, cũng không thể ra Bắc hay vào Nam. Chỉ có một con đường: mật khu Đồng Bò nằm phía Tây Nha Trang, cách khoảng 5 cây số, tính theo đường chim bay.
Thật ra, đây không phải là một mật khu theo ý nghĩa thông thường, mặc dù nơi nầy cây cối rậm rạp, núi cao, vách đá, di chuyển rất khó khăn. Đây là nơi Việt cộng tập trung ém quân sau khi chúng chuyển quân từ các khu vực Suối Dầu ven Thị Trấn Thành (Diên Khánh) vào mật khu Tô Hạp (mật khu Tô Hạp nằm trong dãy núi chạy dọc theo bên phải Quốc Lộ 1 hướng vào Nha Trang, nối liền với mật khu Đồng Bò). Chưa bao giờ bọn Việt cộng đụng độ với các Toán Thám Sát Delta hay các Đại Đội Biệt Cách Dù ở mật khu nầy. Bọn chúng biết thân, không chống nỗi khi Quân Đội ta phản công vào đây bằng hỏa tập phi pháo, nên chúng không đóng quân ở đây, mà chỉ tận dụng núi non hiểm trở để chôn dấu vũ khí, nghỉ chân hay thỉnh thoảng thiết lập những dàn phóng hỏa tiễn có định giờ để pháo vào Phi Trường, các căn cứ Quân Sự của ta sau khi bọn chúng đã cao bay xa chạy mà thôi.
Trong các cuộc hành quân truy lùng địch cấp Đại Đội, hay nhảy Toán Thám sát Delta, tôi đã vào ra mật khu Đồng Bò không ít năm hay sáu lần, mỗi lần một tuần lễ. Băng rừng, leo núi dãi dầu, đầm đìa mồ hôi, mà chẳng thấy mặt mũi chúng nó ở đâu hết.
Tuy vậy, sau khi Việt cộng tấn công vào Đài Phát Thanh và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận thất bại, bọn chúng đã rút về ẩn náu trong mật khu Đồng Bò. Khi Đại Đội chúng tôi nhảy vào truy kích đã chạm trán đám tàn quân này, đồng thời phát hiện trong một hốc đá, được lót bằng nhiều lá cây rừng, một số tên bị thương tích được bọn chúng mang về đây băng bó. Ngay ngày hôm đó, các thương binh Việt cộng đã được Trực Thăng chúng ta đến bốc đưa về chữa trị tại Quân Y Viện Nguyễn Huệ và tất cả về sau đều tự nguyện hồi chánh trở về với chính nghĩa Quốc Gia.
Nghỉ ngơi, dưỡng quân khoảng chừng hơn nửa tháng, Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Hành Quân Delta được không vận ra Phi Trường Phú Bài, Huế.
Lại được về quê, nhưng có chắc gặp được Mẹ mình hay không nữa? Tôi ra đi đã hơn hai năm rồi. Hẳn nhiên không mấy ai khi ăn trái chuối “ba hương” mà không nhớ đến Người Mẹ thân yêu của mình!!