Thiếu tá Binh Truong, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ, Không quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com/

Nguyễn Quân

Posted on August 18, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 20 Aug 2026

Huy hiệu Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ của flightlineinsignia.com

Thiếu tá Binh Truong** được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ vào tháng 5 năm 2025. Phi đoàn 860 thuộc Không đoàn 60 không vận, Không quân Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Không quân Travis, California, Phi đoàn 860 chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành cho 296 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên bảo trì hỗ trợ cho 13 chiếc phi cơ vận tải C-17 Globemaster III. Phi đoàn 860 có nhiệm vụ kiểm tra, bảo trì, sửa chữa, cất cánh và hạ cánh tất cả các phi cơ được giao. Các thành viên của phi đoàn thực hiện các nhiệm vụ cơ động toàn cầu nhanh chóng 24 giờ/ngày, 7ngày/tuần, bao gồm các nhiệm vụ hỗ trợ chiến đấu như: Sơ tán y tế hàng không, cứu trợ nhân đạo và không vận ứng phó khẩn cấp. Phi đoàn bảo đảm phi cơ, nhân lực và thiết bị sẵn sàng cho việc khai triển trên toàn thế giới để hỗ trợ sứ mạng và nhiệm vụ không vận toàn cầu của Bộ Tư lệnh Không vận, Không quân Hoa Kỳ.

Thiếu tá Binh Truong tốt nghiệp Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (ROTC program) tại Đại học Tiểu bang San José (San José State University) với Văn bằng Cử nhân quản lý và vận hành hàng không, năm 2014. Sau khi gia nhập Không quân, Thiếu tá Binh trương được chỉ định và bổ nhiệm phục vụ tại các đơn vị bảo trì phi cơ được ghi nhân qua các thời gian: Thiếu uý, Sĩ quan phụ trách bảo trì phi cơ C-17, Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016; Nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý được chỉ định làm Trưởng phi hành đoàn bảo trì phi cơ thuộc Phi đoàn 60, bảo trì phi cơ tại căn cứ Không quân Travis; tiếp theo, ông được chỉ định làm Sĩ quan phụ trách bảo trì phi cơ KC-10 thuộc Phi đoàn 660 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis; Sau đò, ông được điều động làm Sĩ quan phụ trách bảo trì phi cơ thuộc Phi đoàn 5 vận tải hàng không viễn chinh hoạt động tại Kuwait.

Đại tá Sergio Anaya, Chỉ huy trưởng Không đoàn 62 không vận và Đại úy* Binh Truong, Trưởng ban chiến thuật thuộc Liên đoàn 62 bảo trì phi cơ, đang bốc thăm trúng thưởng trong buổi dạ hội Không quân tại Trung tâm Tacoma, Washington, ngày 16 tháng 9 năm 2023. Buổi dạ hội thường niên kỷ niệm ngày thành lập Không quân nhắc nhở về di sản và niềm tự hào trong truyền thống Không quân Hoa Kỳ (hình của Hạ sĩ Không quân Megan Geiger, dvidshub.net).

Từ tháng 11 năm 2017 đến nay, Thiếu tá Binh Trương được chỉ định và bổ nhiệm lần lượt phục vụ tai các đơn vị bao gồm: Sĩ quan phụ trách Đơn vị bảo trì phi cơ KC-10 thuộc Phi đoàn 660 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis; Sĩ quan điều hành Liên đoàn 60 bảo trì phi cơ tại căn cứ không quân Travis; Sĩ quan Cố vấn bảo trì phi cơ PSAB, Sư đoàn Không quân, Phái bộ huấn luyện quân sự Hoa Kỳ tại Vương quốc Ả Rập Xê Út; Sĩ quan phụ trách Đơn vị bảo trì phi cơ Silver, Phi đoàn 62 bảo trì phi cơ tại căn cứ liên hợp Lewis–Mc; Giám đốc điều hành Phi đoàn vận tải hàng không 62 tại căn cứ Liên hợp Lewis-McChord, WA; Giám đốc diều hành Phi đoàn 62 bảo trì phi cơ tại căn cứ Liên hợp Lewis-McChord; Sĩ quan, Trưởng ban chiến thuật Liên đoàn 62 bảo trì phi cơ tại căn cứ Liên hợp Lewis-McChord; Giám đốc điều hành Phi đoàn 60 bảo trì phi cơ tại căn cứ Không quân Travis; Từ tháng 5 năm 2025, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 860 bảo trì phi cơ thuộc Không đoàn 60 không vận tại căn cứ Không quân Travis, California.

Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân ngoài Thiếu tá Binh Truong, còn có hơn 160 vị (không tính những vị được thăng cấp Trung tá và đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit; Thiếu tá Khoa Huỳnh, Phi công thử nghiệm; Thiếu tá Allan Pham, Phi công phi cơ C-130J; Thiếu tá Khiem Nguyen, Nha sĩ phi hành; Thiếu tá Chau Tran, Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base; Thiếu tá Vu Q. Nguyen, Trưởng ban nhạc Không quân Vệ binh Quốc gia vùng bờ biến Tây, Quần đảo Channel, Port Hueneme, California; Thiếu tá Dalton Nguyen, Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force); Thiếu tá Eric Phạm thăng, Sĩ quan huấn luyện Phi công phản lực 14 Quốc Gia Liên hợp NATO; Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh, Sĩ quan phi hành; Nũ Thiếu tá Ashleigh Nguyen, Luật sư Quân pháp Không quân; Nữ Thiếu tá Lynn Nguyen, Điều dưởng phi hành, Phi đoàn 18 Quân y; Nữ Thiếu tá Tina Nguyen, Bác sĩ phi hành Không đoàn 104; Nữ Thiếu tá Thoa Phạm, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 49 chẩn đoán và trị liệu; Nữ Thiếu tá Anh Ison, Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân y; Nữ Thiếu tá Jessica Pham; Nữ Thiếu tá Fiona M. Pham; Nữ Thiếu tá Linda Kim Nguyen; nữ Thiếu tá Caroline H. Nguyen; Nữ Thiếu tá Cecilia T. Nguyen; Nữ Thiếu tá Thuy Trang Thu Lam; Nữ Thiếu ta Diana P. T. Le; Nữ Thiếu tá BaoHan Huynh; Nữ Thiếu tá Augustine D. Tran; Nữ Thiếu tá Lyndney U. Vu, và còn rất nhiều nam, nữ Thiếu tá Không quân gốc Việt chưa cập nhật hết được.

Chú thích: *Ghi theo thời gian mang cấp bậc; **Họ và tên Việt, Trương T Bình.

Nguồn: linkedin.com; amc.af.mil; dvidshub.net; congress.gov

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Cổ thi có câu: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu – Xưa nay danh tướng như người đẹp, chẳng mấy khi ai thấy bạc đầu!” Người đẹp thì chết yểu, danh tướng không bao giờ sống tới tuổi già. Đôi khi chúng ta còn thấy người đẹp còn có thể trở thành lão bà, nhưng đã gọi là danh tướng thật sự thì mấy người được sống lâu.

Là người lính ở miền Nam, chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cái chết của danh tướng: Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Đỗ Cao Trí đều tử nạn trực thăng lúc rất còn trẻ. Nguyễn Văn Hiếu chết gục trên bàn làm việc lúc chưa thi thố hết tài năng cho đất nước. Dù là danh tướng hay không nhưng tiết tháo như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai đều đã chết cho tròn nghĩa khí. Chưa thấy ai đầu bạc. Đọc những trang sử hào hùng của nước Việt, lòng chúng ta không khỏi bồi hồi xúc cảm thương xót những liệt sĩ anh hùng, đồng thời con dân nước Việt cũng ngẩng đầu hãnh diện vì những trang sử oanh liệt. Năm 1801, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng vây thành Qui Nhơn. Lương thực súng đạn trong thành đã cạn, quan Trấn Thủ là Võ Tánh cho người mang thư ra cho Tướng Trần Quang Diệu nói rằng:”Phận sự ta làm chủ tướng, thì dành chết ở dưới cờ, còn các tướng sĩ không có tội gì thì không nên giết hại.” Đoạn sai quân sĩ lấy rơm chất dưới lầu bát giác, đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp Trấn Ngô Tòng Châu cũng uống thuốc độc tự tử theo.

Sau hòa ước năm Nhâm Tuất (1882) triều đình Việt Nam nhường đứt ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Sau khi Ông Phan Thanh Giản đi sứ xin chuộc lại ba tỉnh này không thành, quân Pháp lại tiến đánh để thôn tính ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Biết thế chống đỡ không nỗi, ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử. Tháng 10 năm Quí Dậu (1873), quân Pháp đánh thành Hà Nội, chỉ non một giờ thành đã tan, con của Tướng Nguyễn Tri Phương là Phò Mã Nguyễn Lâm trúng đạn chết,

Nguyễn Tri Phương bị thương nặng bị quân Pháp bắt đem xuống tàu, ông nghĩ tới nỗi nhục, nhịn ăn, xé băng bó mà chết.

Trong trận đánh thành Hà Nội lần thứ hai (1893), quân Pháp vây thành, chỉ sau ba giờ tấn công, thành vỡ, Hoàng Diệu là Tướng giữ thành, thành mất, tướng tự ải mà chết theo thành như truyền thống thủy quân, tàu chìm, hạm trưởng phải chết theo tàu .. Ông Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam Sử Lược” đã viết những dòng sau đây về Tướng Nguyễn Tri Phương, cũng là lời nói chung về tiết tháo của các Tướng đã thà chịu chết chứ không chịu nhục: “Ông Nguyễn Tri Phương làm quan từ đời vua Thánh Tổ (Minh Mệnh), trải qua ba triều, mà nhà vẫn thanh bạch, chỉ đem trí lự mà lo việc nước, chớ không thiết của cải. Nhưng chẳng may khi quốc bộ gian nan, ông phải đem thân hiến cho nước, thành ra cả nhà cha con, anh em đều mất vì việc nước. Thật là một nhà trung liệt xưa nay ít có vậy.”

Đã là danh tướng, tiếng tốt để đến đời sau, thì phải có tiết tháo, trong sạch. Quan niệm xưa là “ơn vua, lộc nước”, khi cần đền đáp phải xả thân. Đời này phải là món nợ đối với quốc gia và cả với những thuộc cấp, những “vạn cốt khô” để cho tướng được “công thành.”

Những nhà vua yêu nước, bất khuất trong lịch sử thì chúng ta có vua Hàm Nghi bị đày sang Algérie, vua Thành Thái và vua Duy Tân bị đày sang đảo Reunion. Lịch sử đời sau chúng ta không thiếu anh hùng, như trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã viết: “Nước Nam không thiếu hào kiệt … .”. Chết dưới cờ chúng ta có những liệt sĩ đã làm nể mặt quân thù.

Người ta nói rằng số tướng lãnh của miền Nam tự sát khi thất trận lần này còn cao hơn tất cả các nước bị thất trận trong Đệ Nhị Thế chiến gộp lại. Khi người lính miền Nam thất trận vào tù, chỉ còn biết lấy phẩm cách của mình để trả lời cho sự trả thù, dày đạp của kẻ chiến thắng, thì cái chết của những tướng lãnh trên đây đã “rửa mặt” cho cả miền Nam thất trận. Có đâu như Tướng quân của tôi, khi thấy tình hình không cứu vãn nỗi, ông lên trực thăng bay về Cần Thơ không một lời từ giã, để đơn vị lại cho ông Đại Tá Chỉ Huy Phó, dở khóc dở cười khi địch quân tiến vào. Ông Tá chỉ huy trực tiếp của tôi thì lặn mất từ mấy ngày hôm trước, nằm một nơi nào đó ở Tân sơn Nhất, lâu lâu ông gọi về dặn tôi coi đơn vị, xong mấy công việc ở Tổng Cục, ông sẽ về.

Sau này vỡ lẽ ra thì ông đã cao bay xa chạy sau lần điện thoại nhắn nhe. Thà các ông cứ nói thật, cho đơn vị tan hàng để bảo toàn mạng sống và của cải cho thuộc cấp, hoặc ở lại với anh em dù là để cuối cùng đầu hàng đi nữa. Đằng này các vị đi hàng hai, nếu tình hình đảo ngược, chưa chừng còn được gắn thêm lon.

Sau nhiều năm một chén bo bo, một thìa nước muối, “chém tre đẳn gỗ trên ngàn”, bàn tay tôi đã bại xuội chắc không còn nhấc lên nổi để mừng các đàn anh của tôi ngày tha hương ngộ cố tri. Tôi thật lòng không mong gặp lại Tướng Quân của tôi ở một Sở Xã Hội nào đó trên đất Hoa Kỳ đang điền đơn để xin lãnh tiền … già.

Miền Nam chúng ta có đủ 152 vị Tướng Quân (*), đếm được bao nhiêu danh tướng. Nên nghĩ mà thương cho những người trung liệt.

(*) Danh sách trong phụ bản của cuốn “Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu” đã xuất bản.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ngày thứ hai của cuộc chiến, ngày 9 tháng 12 năm 1941, chúng tôi phải đương đầu với những trận đánh tồi tệ nhứt, những trận mưa bão. Chúng xém gây thiệt hại trầm trọng cho các đơn vị không quân của chúng tôi. Rạng sáng chúng tôi quay lại Lữ Tống. Thời tiết xấu đến mức các oanh tạc cơ Betty phải nằm lại mặt đất. Giông bão cũng quần nát Phi Luật Tân như trên đảo Ðài Loan. Ðến chiều, chúng tôi chỉ phá hủy được vài chiếc phi cơ Mỹ trên phi đạo. Trên đường về một trận mưa lớn phá vỡ đội hình của hợp đoàn khu trục. Những cú đấm của thiên lôi mạnh không thể tưởng; chưa bao giờ tôi hứng chịu sấm sét khủng khiếp như thế và ngay cả sau này cũng vậy. Từng khối mây đen cuộn lấy chúng tôi và nhấn dìm xuống sát mặt đại dương. Sau cùng chúng tôi đành phân tán thành từng phi đội nhẹ ba chiếc một và tự túc bay về Ðài Nam riêng rẽ. May mắn thay, không một phi công mất tích.

Ngày thứ ba của cuộc chiến, một ngày tôi không bao giờ quên. Ðó là ngày tôi bắn rơi oanh tạc cơ B17 đầu tiên, và cũng là pháo đài bay đầu tiên của Mỹ rớt trong phi vụ chiến đấu. Sau chiến tranh, tôi biết được viên phi công của chiếc oanh tạc cơ này là Ðại úy Colin Purdie Kelly Jr, một anh hùng của Không quân Mỹ.

Vào ngày hôm đó, 10 tháng 12 năm 1941, chúng tôi bay che cho một đoàn công-voa Nhựt chuyển quân đổ bộ lên Vigan, phía Tây Bắc Manila 400 cây số, bao gồm tuần dương hạm nhẹ Nagara 4,000 tấn và 6 khu trục hạm hộ tống 4 dương vận hạm (Sau này chúng tôi được biết người Mỹ sai lầm khi cho rằng đoàn công-voa này bao gồm thiết giáp hạm Haruna 29,000 tấn, 6 tuần dương hạm, 10 khu trục hạm và 15 đến 20 vận tải hạm).

Trong khi bay bao che ở cao độ 18,000 bộ (5,500m), tôi nhận thấy có 3 tia nước bắn lên gần đoàn công-voa. Thật ra đây là 3 cột nước do 3 trái bom gây ra, nhưng vì bay quá cao nên chúng tôi không nhìn thấy rõ. (Không chiếc tàu nào trúng bom, nhưng theo phía Mỹ thì chiếc thiết giáp hạm “tưởng tượng” bị trúng bom trực tiếp, và chìm lĩm, chỉ còn thấy khói và dầu trên mặt nước). Mặc dù được các chiến đấu cơ Nhựt bao che kỹ lưỡng như vậy, đối phương vẫn tấn công được. Ðiều này khiến tất cả chúng tôi đều bực tức. Ngay cả bóng dáng oanh tạc cơ địch, chúng tôi vẫn không nhìn thấy.

Một vài giây sau khi nhìn ngang liếc dọc, tôi thấy một chiếc B17 lẻ loi, bay cách 6,000 bộ (1,800m) bên trên chúng tôi, trực chỉ về hướng Nam. Tôi báo động cho các phi công đồng đội và đảo mắt tìm kiếm phi cơ khác của địch, vì chúng tôi chưa từng nghe nói một oanh tạc cơ lâm trận mà không có chiến đấu cơ hộ tống bao giờ. Nhưng không ngờ việc này thật sự xảy ra. Chiếc B17 này đã thực hiện phi vụ tấn công đơn độc. Chắc chắn viên phi công có thừa can đảm.

Chiến đấu cơ dẫn đầu của chúng tôi báo hiệu truy đuổi, chỉ để lại ba chiếc phía sau bao che cho đoàn tàu chuyển vận. Chớp mắt, chúng tôi đuổi kịp chiếc B17 và còn cách phi trường Clark khoảng 50 dặm (80km), chúng tôi dàn đội hình khai hoả. Ngay lúc đó, 3 chiếc Zéro khác đột nhiên xuất hiện và lướt ngang đường bay của chiếc B17. Ðây là 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng (Kaohsiung) tham dự cuộc tấn công phi trường Nichols Field vào sáng sớm này. Cả 3 cùng khai hoả, nhưng chiếc oanh tạc cơ vẫn lướt đi an toàn.

Bảy chiến đấu cơ chúng tôi nhập với 3 chiến đấu cơ của phi đoàn Cao Hùng. Mười chiến đấu cơ khó có thể tạo ra một cuộc tấn công nhịp nhàng. Ðể tránh né hoặc bắn lầm lẫn nhau, thay vì tấn công một lượt, chúng tôi bay thành hàng dọc chiếc này khai hoả rồi vung ra ngoài để nhường cho chiếc kế tiếp. Chúng tôi sửng sốt, vì không một viên đạn đại liên hoặc đại bác nào trúng chiếc oanh tạc cơ.

Ðây là lần đầu tiên chúng tôi chạm trán một chiếc B17, và kích thước bất thường cũng như tốc độ mau lẹ lạ lùng của nó làm cho chúng tôi ước lượng sai tầm súng. May mắn, xạ thủ địch cũng tệ không kém.

Sau đó, tôi nhận thấy chúng tôi đang ở trên phi trường Clark. Chắc chắn viên phi công B17 đã gọi chiến đấu cơ Mỹ giúp đỡ. Chúng tôi phải ra tay nhanh chóng. Tôi quyết định đánh cận tập từ phía sau. Tôi lướt đến trong khi các họng súng của chiếc oanh tạc cơ rực lửa nhưng không trúng tôi. Tôi lướt thêm nữa và khai hoả. Những mảnh kim khí bay tung ra từ cánh phải của chiếc B17. Tôi lạng ra và chiếc Zéro từ phía sau tôi xông tới, rót thêm một loạt đạn vô đối thủ. Tuy nhiên khi chiếc Zéro khác nối đuôi theo, thì phi cơ địch chúi mũi cố đáp xuống phi trường Clark với đôi cánh đã lệch hẳn. Tôi chúi theo sau chiếc pháo đài bay què quặt, giữ khoảng cách nhiều trăm thước, và chụp hình với chiếc máy ảnh Leica. Lúc cách mặt đất khoảng 7,000 bộ (2,000m), 3 người nhảy dù ra khỏi phi cơ, và chiếc B17 biến mất vào một đám mây. Về sau, chúng tôi nghe người Mỹ loan tin các phi công Nhựt đã bắn mấy người nhảy dù ra khỏi máy bay. Tin này chỉ có tánh cách tuyên truyền. Tôi là phi công duy nhứt bay gần chiếc oanh tạc cơ lúc đó và tôi không hề bắn ra một viên đạn nào cả. Vật duy nhứt mà tôi bấm là chiếc máy chụp hình Leica của mình. Không một phi công Nhựt nào khác nhìn thấy chiếc B17 rơi, vì vậy, “chiến công” bị phủ nhận vào thời gian đó.

Xế trưa hôm đó, trở về Ðài Loan, chúng tôi nhận thấy cánh của 2 chiến đấu cơ Zéro đầy vết đạn do các xạ thủ chiếc B17 gây ra. Và mười ba năm sau này, tôi có dịp gặp Ðại tá Frank Allen Kurtz chỉ huy Không đoàn 463 Hoa Kỳ ở Ðông Kinh, ông ta đã nói với tôi:

“Ngày Colin bị bắn rơi, tôi đang ở trên đài kiểm soát của phi trường Clark. Tôi nhìn thấy phi cơ của ông ta bay đến và anh đang bay bên phải, phía trên, trong lúc ông ta cố đáp xuống. Ba chiếc dù rơi xuyên qua mây mù, tôi thấy hình như ở cao độ 800 thước. Rồi năm cây dù nữa bung ra. Colin, dĩ nhiên, không kịp thoát khỏi phi cơ.”

Chiều tối hôm đó, tôi nhận nhiều lá thư gửi từ Nhựt Bản và một gói quà nhỏ của Fujiko. Nàng gửi cho tôi một dải lụa thêu một ngàn mũi chỉ đỏ và muốn tôi quấn quanh thắt lưng. Là tấm bùa hộ mệnh truyền thống của phụ nữ Nhựt Bản gửi cho chồng, cha, anh em ruột hay con trai, nhằm gìn giữ người thân của mình trước mũi tên hòn đạn. Lá thư của Fujiko viết: “Hôm nay, gia đình em biết tin xứ sở của chúng ta đã khai chiến với Hoa Kỳ và Anh. Gia đình em chỉ biết khẩn cầu cho chiến thắng sau cùng của tổ quốc và sinh mệnh của anh được bảo toàn. Hatsuyo-san, em họ của anh và cả em, chúng em cùng đứng ở góc phố nhiều giờ mỗi ngày, trong suốt một tuần lễ, để xin 998 phụ nữ qua đường mỗi người một mũi kim thêu cho anh, trên khăn lụa này. Chúng em hy vọng là anh sẽ chấp thuận thắt tấm lụa ấy quanh lưng anh, vì chúng em ước nguyện tấm lụa này che chắn cho anh trước lằn đạn của quân thù…”

Một cách thành thực, không nhiều phi công Nhựt tin vào phẩm hạnh của bùa hộ mệnh nhưng tôi ý thức công sức lớn lao của Fujiko và cô em họ Hatsuyo của mình đã kiên nhẫn đứng trong buốt giá nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày ở góc đường để xin cho tôi từng mũi thêu. Vì vậy tôi lập tức thực hiện ý nguyện của họ; quấn tấm lụa quanh thắt lưng mình. Cánh thư chân thành của Fujiko còn làm tôi suy nghĩ; lần đầu tiên tôi xem những phi công địch mà tôi đã bắn hạ là những con người giống mình. Cho đến khi ấy họ chỉ là những khách thể xa xôi mà tôi không màng đến. Cảm giác mình đã thờ ơ với đồng loại gây u sầu. Nhưng biết sao hơn, trong chiến tranh trên không trung cũng như trên mặt đất, phải giết để không bị giết.

Chúng tôi tiếp tục các phi xuất tấn kích từ Ðài Loan đến Phi Luật Tân trong mười ngày kế tiếp. Sau đó nhận lịnh thuyên chuyển đến căn cứ Jolo ở quần đảo Sulu, nằm giữa Mindanao và Bornéo, cách phi trường Ðài Nam 1,200 dặm (2,200km) đường chim bay. Ngày 30 tháng 12, tôi cất cánh vào lúc 9 giờ sáng với 26 chiến đấu cơ Zéro khác, bay không ngừng nghỉ đến nhiệm sở mới. Nơi đây mạng lịnh đang chờ sẵn, và chúng tôi thực hiện một phi vụ 270 dặm (500km) xa hơn về phía Nam đến Tarakan, nằm cuối bờ biển phía Ðông Bornéo. Phi vụ không xảy ra điều gì quan trọng, chúng tôi không gặp một phi cơ địch nào.

Phản công chính thức của đối phương đối với các đơn vị chúng tôi được tung ra lần đầu tiên là vào tháng Giêng. Gần nửa đêm, một oanh tạc cơ B17 đơn độc bất ngờ oanh tạc Tarakan. Một dây bom rơi xuống những doanh trại của công binh kiến tạo tại đây, sát hại hơn 100 người cùng gây bị thương cho nhiều người khác, và nhiều toà nhà sụp đổ.

Không một chiếc Zéro nào có thể cất cánh kịp thời, bởi vì phi trường Tarakan là một trong những phi trường xấu nhứt của quần đảo phía Ðông xứ Nam-Dương (Indonesia). Ngay cả trong những hoạt động ban ngày, chúng tôi phải cất cánh và đáp xuống trên phi đạo ngập bùn. Thời gian chúng tôi ở đây, hai chiếc Zéro hư hại do phi đạo gây ra.

Bị oanh tạc, chỉ huy trưởng căn cứ Tarakan phẫn nộ, ra lịnh cho tôi và trung sĩ Kuniyoshi Tanaka cất cánh để bay tuần tiễu bên trên phi trường. Tanaka từng bắn hạ 12 phi cơ địch ở Trung Hoa, và 8 chiếc khác trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

Bay đêm rất nguy hiểm và khó khăn, vì trong thời gian đó chiến đấu cơ Zéro chưa được trang bị cơ phận bay đêm, cả tôi lẫn Tanaka không biết phải làm gì nếu bị tấn công trước. May cho chúng tôi, và cho căn cứ, chúng tôi không bị phá rầy trở lại.

Vào ngày 21 tháng 1-1942, một đoàn công-voa của chúng tôi rời cảng Tarakan mang quân đổ bộ lên Balikpapan ở phía Nam Bornéo cách 900 cây số. Bộ chỉ huy tối cao Hoàng gia ra lịnh cho phi đoàn chúng tôi cung cấp không yểm, nhưng chúng tôi chỉ có thể thực hiện một cuộc tuần thám trên đoàn công-voa mà thôi.

Thay vì được cung cấp một số lượng chiến đấu cơ to tát theo nhu cầu sử dụng của chúng tôi, vào những tháng đầu năm 1942, chúng tôi chỉ có trong tay không hơn 70 chiếc Zéro cho toàn thể khu vực Ðông Nam-Dương rộng lớn. Và các chiến đấu cơ còn cần phải bảo trì, sửa chữa sau mỗi 150 giờ bay, do đó chỉ còn trung bình 30 chiếc khả dụng.

Giữa tháng Giêng, oanh tạc cơ B17 bắt đầu được đưa đến căn cứ Malang của đối phương ở Java, và tung ra các cuộc tấn công sơ khởi nhắm vào lực lượng trên bộ của chúng tôi ở Phi Luật Tân và Ðông Nam-Dương. Các pháo đài bay này có đường kính hoạt động 3200 cây số làm bộ binh Nhựt điêu đứng, nhưng vì con số ít ỏi nên không thể ngăn nổi các cuộc hành quân của chúng tôi.

Vào mùa Xuân 1942 những oanh tạc cơ B17 loại mới, với các pháo tháp đại liên 12 ly 7 nòng đôi phía sau đuôi, xuất hiện trên chiến trường. Chúng tôi sớm tìm ra yếu điểm của loại phi cơ này để tấn công.

Chiều ngày 24 tháng Giêng, Tanaka trở về phi trường với hai đồng đội sau một cuộc tuần thám ở Kalikpapan. Cả ba phi công đều kiệt sức, tuy không ai bị thương. Tanaka báo cáo đã đụng độ với 8 pháo đài bay B17 vào buổi sáng và cuộc tấn công của hắn không có kết quả. Tanaka cho biết có nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của hắn trúng vào thân phi cơ địch rõ ràng, nhưng chiếc oanh tạc cơ không rơi. Hắn có vẻ chán nản: “Mấy chiếc oanh tạc cơ khốn nạn này thật khó ăn khi chúng bay theo đội hình phòng vệ.” Chúng tôi hiểu một hợp đoàn B17 mà mỗi chiếc trang bị 12 đại liên là cả một tấm lưới đạn khủng khiếp. Tanaka tiếp tục kể việc hắn đã tấn công khiến cho các oanh tạc cơ địch thả bom không chính xác xuống đoàn công-voa phía dưới. Chỉ có một chiếc tàu dầu khổng lồ trúng bom và, khi hắn rời Balikpapan để quay về, lửa vẫn còn bốc cháy dữ dội.

Ngày hôm sau, tôi lại thực hiện cuộc tuần thám ở Balikpapan với một phi cơ khác do trung sĩ Sadao Uehara lái. Cả 2 chiếc Zéro của chúng tôi là tất cả những gì còn khiển dụng mà căn cứ Tarakan có thể tung ra giúp đoàn công-voa, các chiến đấu cơ khác đều đã được cắt đặt nhiệm vụ riêng. Biết Tanaka chạm địch ở cao độ 20,000 bộ (6000m), chúng tôi bay cao hơn hắn 2,000 bộ (600m). Nhìn xuống dưới, chiếc tàu dầu trúng bom ngày hôm trước vẫn còn bốc cháy như một cây đuốc.

Khoảng 10 giờ, nhiều chấm đen nhỏ xuất hiện trên nền trời, tiến đến Java. Các chấm đen lớn mau dần cho đến khi hai nhóm phi cơ, mỗi nhóm 4 chiếc hiện ra rõ ràng. Các pháo đài bay, bay sát cánh nhau, giống như Tanaka đã mô tả ngày hôm qua. Nhóm phi cơ sau bay cao hơn nhóm dẫn đầu, và khi chúng tôi lướt đến, nhóm thứ hai bay sát vào nhau hơn, lập thành một Box phòng vệ.

Tám chiếc B17 bay ngang phía dưới tôi nửa dặm. Tôi lộn lại, với Uehara theo sát bên cánh, và chúi xuống tấn công. Ðịch vẫn còn nằm ngoài tầm súng nhưng tôi cũng quất một quả đại bác khi lướt qua. Tôi nhìn thấy những trái bom từ bụng oanh tạc cơ rơi xuống đoàn công-voa phía dưới. Tôi lộn nhào nhiều vòng, lướt thẳng lên, và nhìn thấy những cột nước tung cao. Không trái bom nào trúng mục tiêu. Bầu trời trong sáng. Tôi quày phi cơ lại, cách 500 thước bên trên nhóm oanh tạc cơ bay phía sau, và chúi xuống hết tốc lực với mọi loại súng đều khai hoả. Vô hiệu. Quanh tôi hầu như không nơi nào là không có bóng dáng phi cơ địch. Tôi chúi xuống trót lọt và bắt đầu vượt lên để chúi xuống tấn công nữa.

Chúi xuống, lộn nhiều vòng, tập trung hoả lực vào một oanh tạc cơ. Lần này tôi túm được đối thủ. Tôi thấy những viên đạn nổ bùng, những đốm đỏ và đen túa dọc theo thân phi cơ địch. Chắc chắn nó sẽ rớt ngay lập tức. Nhưng không có gì xảy ra. Không có lửa, không có khói… Chiếc B17 vẫn tiếp tục bay trong đội hình.

Tôi đảo vòng vượt lên và lộn lại tấn công hiệp thứ ba. Lần này tôi nhắm chiếc oanh tạc cơ trúng đạn của tôi khi nãy. Tôi nhìn thấy những viên đạn phát nổ và những mảnh kim khí túa ra từ cánh và thân phi cơ địch. Tôi lướt ngang qua, bung một vòng thật rộng, quày trở lại và vượt lên cao.

Chiếc B17 vẫn còn trong đội hình. Không lửa, không khói. Mỗi lần tôi chúi xuống tấn công, mọi khẩu súng của địch thủ đều khai hoả dữ dội, nhưng cũng may đội hình chặt chẽ đã giới hạn hoả lực địch rất nhiều. Chiếc Zéro của tôi nguyên vẹn. Tôi lại tấn công thêm hai lần nữa với sự hỗ trợ của Uehara, và mỗi lần chúng tôi đều nhìn thấy đạn đại liên và đại bác của mình nện vào thân phi cơ địch, nhưng không thấm tháp gì hết. Vỏ chiếc B17 bọc thép!

Chúng tôi vừa hoàn tất đợt tấn công thứ sáu, tám oanh tạc cơ địch tẻ ra làm hai, một đảo qua trái, một đảo qua phải. Tôi gia tăng hết tốc lực đuổi theo nhóm có chiếc B17 bị hư hại và tụt hẳn lại phía sau ba chiếc kia. Với tốc lực tối đa, tôi lướt đến trong khoảng 50 thước, và bóp mạnh cò súng. Bao nhiêu đạn đại bác 20 ly và đại liên 7 ly 7 cuối cùng tôi đều rót hết vào đối thủ què quặt. Một bụm khói đen bốc lên, chiếc oanh tạc cơ chúi mũi xuống và biến mất trong đám mây phía dưới.

Trở về Tarakan, tôi báo cáo chi tiết phi vụ cho thượng cấp của tôi là Trung úy Singo. Các phi công khác bu quanh để nghe tôi kể lại quang cảnh của trận đụng độ và tất cả đều cho rằng tôi trở về được là một phép lạ, sau khi phải đối đầu với hoả lực tập trung của 8 pháo đài bay. Nhân viên dưới mặt đất chỉ tìm thấy ba lỗ đạn gần đầu cánh chiếc chiến đấu cơ của tôi. Hai ngày sau, một phi cơ thám thính Nhựt báo cáo có một chiếc B17 đã vỡ tan khi cố đáp xuống một hòn đảo nhỏ nằm gần Balikpapan và Surabaya.

Hồn ai trong gió

dongsongcu.wordpress.com

Chu Lynh

Posted on August 18, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ.
Nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào.

Kẻ tha hương không đủ thì giờ và tâm trí trong ngày trở về để đi suốt chiều dài đất nước như ước vọng cuối đời: tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, nhìn lại ngôi trường xưa với những giấc mộng vàng thời niên thiếu, ghé thăm núi Ngự quấn khăn tang hay nhìn dòng Hương Giang khóc sướt mướt của những ngày chiến chinh máu lửa. Nỗi tự tình về quê hương đành nén lại trong lòng, bởi ngổn ngang bao điều thúc bách. Ô hay, đau thương từ quá khứ như còn đâu đây, thoảng trên con hẻm về khuya khua đôi nạng gỗ hay bên túp lều không đủ che nắng trú mưa. Và hơn hết mọi nẻo đường đất nước, một mảnh đất không xa phố thị bao nhiêu, nhưng xa hẳn thế giới đua chen, cần được những bước chân ghé thăm và những nén nhang lòng thắp lên.

Sau hơn một giờ, chiếc Taxi mới thoát ra khỏi Sài Gòn. Xe đi vào xa lộ Biên Hòa, bỏ lại sau lưng một Thành phố đầy khói và bụi. Hầu như mọi con đường đều chật ních xe hai bánh. Dòng xe cộ trên xa lộ thi nhau lao đi, như thể bị thúc đẩy bởi một lực vô hình phía sau. Nhà cửa ngoại ô cùng chung số phận với phố xá Sài Gòn, đua nhau mọc lên, phô trương hình dáng, khoe khoang mặt tiền tựa cô gái quê thích trang điểm, tạo nên một cảnh trí mất cân đối giữa những căn nhà lụp xụp và quán xá lấn chiếm bất cứ khoảng trống nào. Dân cư chia nhau những không gian nhỏ để tồn tại, còn lại là những tòa nhà bề thế hay những căn nhà sang trọng, nhắc nhở sự xuất hiện của những chủ nhân mới.

Không thể nhận ra con đường dẫn vào Nghĩa trang, tôi bảo anh tài xế trẻ tắp vào một quán nước. Bà chủ quán đứng tuổi chăm chú nhìn tôi.

– Ông hỏi Nghĩa trang Thành phố thì bên kia đường, còn Nghĩa trang Quân đội cũ thì đi tới ngã ba đằng kia.

Trước đây mỗi lần đi ngang khu vực nầy, tôi thường lái xe chậm lại để dán mắt vào kiến trúc quy mô và Nghệ thuật của Nghĩa trang, và khi nhìn tác phẩm Thương Tiếc, lúc nào tôi cũng thấy bức tượng người lính sống động. Người lính ngồi lặng lẽ bên đường như một nhân chứng âm thầm của cuộc chiến. Trong tư thế nuối tiếc đồng đội, anh như còn muốn nhắc nhở khách đi đường về một thế giới thầm lặng khuất sau ngọn đồi. Nhưng nay tác phẩm đầy huyền thoại đã biến mất không một dấu tích để lại. Tôi nghe nói, người Cộng sản đã đổ hận thù lên cả người lính bằng đồng, một tác phẩm điêu khắc hiếm có, bằng cách đập phá bệ tượng, giật sập và kéo lê bức tượng qua nhiều nơi.

Toàn cảnh đã đổi thay. Con đường dẫn vào Nghĩa trang bị che khuất bởi hai dãy nhà mới cất, chỉ còn vài cây bạch đàn không biết sống sót từ ngày cũ hay ai đã trồng lên sau này. Khi chiếc xe chầm chậm đi vào con đường nhựa và bắt đầu lên dốc, thì khung cảnh quen thuộc bất ngờ hiện ra trước mắt tôi: Cổng Tam Quan và Ðền Tử Sĩ. Tôi nói với tài xế chạy thật chậm để thích thú thu vào ống kính con đường uy nghi thẳng tắp dẫn lên ngôi đền. Từ Cổng Tam Quan, hai con đường hai bên ôm lấy ngọn đồi theo mô hình con ong mà ngày xưa nhà thiết kế đã chọn lựa.

Con ong không thờ hai chúa, người lính chỉ chết cho một ngọn cờ.

Hai hàng chữ hai bên cổng đã tróc sơn, nhìn thật rõ mới đọc được: Vì Nước Hy Sinh – Vì Dân Chiến Ðấu. Tôi bước lên từng bậc thang phủ đầy rêu phong, mà tưởng như đi giữa những cặp mắt thật xa xưa mà rất gần gũi đang nhìn tôi. Tôi đang gặp lại những Đồng đội của mình. Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, Nghĩa Trang Của Những Người Lính Ðã Chết Cho Quê Hương Việt Nam.

Tôi sắp bước lên những bậc thang cuối cùng để đặt chân vào Ðền Tử Sĩ, ngự trên đỉnh đồi, ngày nào là nơi tôn nghiêm vị Nguyên thủ Quốc gia thường đến hành lễ trong các dịp lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Lễ Vu Lan, ngày Quân Lực, ngày Quốc Khánh.

Tôi ngẩn ngơ trước cảnh trời đất êm ả của buổi chiều lộng gió, chưa kịp đưa máy quay lên, bỗng từ trong một góc đền hai con chó nhảy ra sủa vang. Hai con chó đã báo động. Năm bảy người bật dậy khỏi nền nhà. Họ đứng hàng ngang trước mặt tôi, nhìn vào máy ảnh và máy quay phim lỉnh kỉnh trên vai tôi. Tôi nói với họ tôi từ xa đến, muốn thăm lại ngôi mộ người bạn ở nghĩa trang nầy nhưng không thể tìm ra vị trí và mong họ giúp đỡ. Toán lính cho biết toàn khu vực nghĩa trang do bộ đội quản lý, không cho phép người ngoài vào, không được chụp hình quay phim. Khu vực nầy không có mồ mả.

Tôi cứ hỏi tới, làm thế nào tìm được ngôi mộ người bạn để cắm vài nén nhang. Thấy tôi tha thiết, một anh lính nói giọng Nam chỉ phần đất phía sau ngọn đồi.

– Chú vào đó, cứ hỏi khu vực mồ mả là người ta chỉ cho.

– Cám ơn cháu nhiều lắm.

Tôi chào toán lính, rồi bước nhanh xuống những bậc thang, e ngại họ có thể đổi ý tịch thu máy ảnh và máy quay phim. Tôi đến đây không có những thông tin chính xác về hiện tình nghĩa trang, ngoài những nguồn tin ít ỏi từ bạn bè. Tuy vậy toán lính đâu biết rằng, tôi đã quay xong khung cảnh mặt tiền nghĩa trang, chỉ còn cảnh mấy người lính ăn mặc lếch thếch nằm ngủ la liệt trên nền xi măng là tôi chưa thu vào ống kính.

Từ trên cao nhìn bao quát cảnh trí chung quanh ngọn đồi, tôi hiểu tại sao người cộng sản muốn xóa đi một di tích lịch sử đã in đậm dấu ấn trong lòng mọi người. Ở hải ngoại, người Việt đã hay tin chính quyền cộng sản sẽ giao nghĩa trang cho một công ty ngoại quốc để khai thác du lịch. Cho đến nay, chẳng hiểu vì sao họ chưa cày nát nghĩa trang này như đã làm ớ các nơi khác. Chung quanh Ðài Liệt Sĩ, người ta trồng bạch đàn, nhưng rừng bạch đàn không lớn nổi, sống thoi thóp giữa lớp cỏ ngập cả sườn đồi.

Con đường đất nhựa chấm dứt khi chiếc xe rẻ bên trái, chuyển qua đường đất bụi lồi lõm dường như từ lâu không được sửa chữa. Bên phải là bức tường mỏng dang dở bám đầy bụi ngăn cách nghĩa trang với bên ngoài. Những xưởng làm gạch ngói kéo dài mấy trăm thước, vào lúc nầy không thấy cảnh hoạt động tấp nập. Chiếc xe lướt qua một bức tượng Phật Bà bên phải.

Thấy một quán nhỏ bên đường, tôi ngừng lại hỏi. Tôi gặp ngay anh trưởng toán bảo vệ nghĩa trang. Anh ta hỏi tôi tên họ thân nhân, mất năm nào để dễ tìm kiếm. Tôi muốn nói, tôi đến đây không phải để thăm một người, mà thăm toàn nghĩa trang. Nhưng tôi đã có một tên người chết bịa ra lúc ngồi trên xe.

– Nguyễn Quốc Việt, chết khoảng năm 70 hay 71 gì đó.

– Nếu vậy, chú sẽ rất khó tìm. Ở đây chúng tôi quản lý trên mười ngàn ngôi mộ, người ta tìm mộ theo lô năm chết.

– Tôi hy vọng nhớ địa điểm, vì trước đây tôi có đến một lần. Anh ráng giúp tôi, người chết sẽ nhớ anh, người sống sẽ không quên ơn anh.

Anh chần chừ một lát rồi nói :

– Chú chờ cháu lấy xe gắn máy. Ở đây quy định xe hơi không được vào.

Tôi gặp may, nhưng không dám lộ niềm vui ra mặt. Tôi để gia đình ngồi tại quán nước, lén nhét máy ảnh vào túi Jacket. Khi chiếc xe gắn máy chạy vào Trung tâm Nghĩa trang, tôi bảo anh dừng lại. Khuất sau những dãy nhà cửa và xưởng gạch ngoài kia, nghĩa trang như một thế giới lạc lõng nằm trong quên lãng. Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, sẽ trở thành Nghĩa Trang Quốc Gia như kế hoạch của chính phủ trước đây, vẫn còn đó nhưng khắp nơi đều một cảnh hoang tàn làm se thắt lòng người viễn xứ.

Rừng bia mộ mênh mông nằm xen lẫn với cỏ cây um tùm, phân chia từng lô bởi những con đường đất. Nghĩa trang quá rộng lớn, tầm nhìn của tôi không thể thu hết toàn cảnh. Dân cư và các lò gạch đã lấn chiếm sát vòng đai nghĩa trang. Rải rác đó đây là những ụ đất, những hố sâu, những cây cao su mới trồng lẫn trong những đám cỏ đuôi chồn mọc cao. Một số ngôi mộ đã được dọn sạch sẽ, còn lại là những mồ hoang ngập trong cỏ dại không nhang không khói, có lẽ ba mươi năm nay, chưa một ai đến viếng. Ðã có những con người từ tâm đến đây sửa sang, nhưng vẫn chưa làm nghĩa trang bớt hoang phế.

Tôi có cảm tưởng nghĩa trang đã bị lấy đi một lớp đất, để lộ những tấm đan trồi cao trên mặt đất. Có vẻ như người ta sắp làm một cái gì trên mảnh đất nầy. Hầu hết những ống cống trên đường bị lấy đi không được lấp đất lại, tựa như dấu đùn của thú rừng ăn đêm. Nhiều tấm bia bị đập bể. Có những phần mộ bị dời khỏi vị trí. Một sự phá hoại quy mô đầy tính thù hận. Ðột nhiên, đôi mắt tôi rưng rưng niềm phẫn uất.

Người cộng sản đang tìm mọi cách chiêu dụ người Việt hải ngoại về xây dựng đất nước, mời mọc đầu tư, cổ xúy hòa giải, vậy mà họ đang trút hận thù lên cả những kẻ đã nằm xuống. Người chết đã không được yên ổn dưới lòng đất. Nghĩa tử là nghĩa tận. Mồ mả các chiến binh cộng sản khắp nơi được sơn phết cẩn thận, mồ mả nơi đây bị dày xéo thật tàn nhẫn. Người cán binh cộng sản, người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, họ là ai? Tất thảy họ là những người con dân Việt bất hạnh, là nạn nhân của một chủ thuyết điên cuồng, phải được chia sẻ từng mảnh đất chôn cất, chia sẻ từng nén nhang và cả lời nguyện cầu được bình an dưới lòng đất hay nơi một thế giới nào đó không binh đao và oán thù.

Làm thế nào tìm ra lô đất chôn theo năm, nói gì tìm ra tên người thân khi lạc vào đây? Tôi đến gần anh bảo vệ và dúi vào tay anh một số tiền :

– Anh nói đúng, có lẻ tôi cần phải đến đây ba bốn ngày liên tiếp mới mong tìm được mộ người bạn tôi.

Rất tiếc, chỉ còn vài ngày nữa là tôi rời khỏi nơi nầy. Vậy anh cho tôi thắp hết bó nhang cho những ngôi mộ trong khu vực nầy. Ðó là cách tôi gởi lòng thành của mình cho người bạn và luôn thể đến những người khuất mặt ở đây.

– Vâng… chú làm thế cũng được.

– Cám ơn anh đã giúp tôi tận tình. Có lẽ không bao giờ tôi có dịp đến Nghĩa trang lần nữa. Mong anh cho tôi chụp vài tấm hình kỷ niệm.

– Chú đã biết rồi đó. Họ cấm chụp hình. Nhưng cháu sẽ canh chừng cho chú.

Trước khi đưa máy hình cho anh bảo vệ, tôi chụp ngay vài tấm toàn cảnh nghĩa trang, nằm dưới ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài với Vành Khăn Tang quấn quanh xa xa. Tôi nghe nói, công trình ngôi tháp xây gần xong thì miền Nam mất. Tọa lạc trên một ngọn đồi, thêm mấy cần thu lôi làm tăng thêm chiều cao, nổi bật trên rừng mộ bia, ngôi tháp dũng mãnh cao trên bốn mươi thước như thách thức thời gian, như đang chứng tỏ với con người sự hiện hữu của một thế giới vô hình.

Kiến trúc uy nghi nầy làm tôi liên tưởng đến bao nhiêu người đã bỏ tim óc và sức lực vào việc xây dựng công trình lịch sử lớn lao nầy, để hơn ba mươi năm trôi qua, ngôi tháp vẫn còn đứng vững và tiềm tàng uy lực khó hiểu, đã làm chùng lại mọi mưu toan xóa bỏ nghĩa trang. Thấp thoáng vài bóng người trong khuôn viên ngôi tháp. Tôi ao ước được vào bên trong để nhìn công trình dang dở với thanh kiếm khổng lồ cắm xuống mặt đất và vành khăn tang rộng lớn quấn quanh ngôi tháp, nhưng không nghĩ ra cách nào, vì anh bảo vệ lắc đầu từ chối.

Trong cơn gió vi vu xô dạt hàng cây bạch đàn, tôi đến từng ngôi mộ, cắm từng nén nhang vào những tấm đan xiêu vẹo, đối diện với từng hình ảnh, tên họ, đơn vị, ngày sinh, ngày mất. Dù không còn ngay ngắn vị trí, những tấm đan vẫn còn nguyên vẹn. Anh bảo vệ có vẻ quen thuộc với máy chụp hình, bấm máy kịp thời mỗi lần tôi di chuyển qua từng ngôi mộ. Hình như anh đã thông cảm việc làm của tôi nên sau đó sẵn sàng dẫn tôi đi qua các khu vực khác.

Anh cho biết, có những gia đình đã đến đưa tiền nhờ bảo vệ dọn dẹp phần mộ thân nhân của họ. Hàng năm có một số Thương phế binh và cựu Quân nhân sống ở các khu vực lân cận thường đến đây vào dịp Tết để tảo mộ. Còn lại những ngôi mộ khác không ai chăm sóc, ẩn sâu dưới lớp cỏ rậm, bia mộ như cố vươn lên nhắn gởi một lời ghé thăm.

Bó nhang trong tay đã hết sạch. Anh bảo vệ cho biết các khu vực khác cũng tình trạng tương tự, nghĩa là có những ngôi mộ đã được chăm sóc xen lẫn với những ngôi mộ ngập cỏ. Tôi muốn đi xa hơn, nhưng anh ta bảo, không nên đến gần toán bộ đội đóng rải rác quanh nghĩa trang. Ðành nhủ với lòng mình, dù sao tôi đã thăm lại được Nghĩa trang, một việc hằng ấp ủ trước đây. Tôi lại ngồi sau chiếc xe gắn máy lao đi trên những đoạn đường bụi đỏ, chạy quanh một vòng qua các con đường bị đào xới, để ngậm ngùi thấy mọi nơi của nghĩa trang đều hoang tàn giống nhau.

Ra khỏi bức tường thành hoen ố, tôi trở lại quán nước. Tôi chưa kịp nói chuyện với gia đình về những bức ảnh vừa chụp được, thì anh tài xế nói nhỏ bên tai nên cho thêm tiền người bảo vệ để được quay phim. Tôi kéo anh bảo vệ ngồi riêng một bàn. Tôi đưa cho anh thêm một số tiền Việt và ngỏ ý muốn trở lại quay vài đoạn phim. Anh ta không phản đối nhưng khuyến cáo không nên đi quá xa khu vực ấn định. Uống chưa xong ly nước, chúng tôi trở lại nghĩa trang.

Chiều xuống, nghĩa trang không một bóng người, chỉ nghe tiếng chim kêu áo não trên một cành cây gần đó và tiếng đa đa khàn khàn từ những lùm cây trên sườn đồi khiến cảnh chiều thêm quạnh hiu. Xa xa, một làn khói xám xịt lên cao từ một lò gạch, uốn éo theo chiều gió, ngập ngừng không biết tan về đâu. Những bia mộ như hớn hở đi vào ống kính, cả cỏ dại cũng lắc lư nhảy múa hưởng ứng công việc của tôi.

Tôi cẩn thận thu cận cảnh vài tấm bia. Khi quay ống kính về phía ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài sừng sững trước mặt, tôi thực sự xúc động, cảm thấy mọi thứ trong nghĩa trang đều sống động như đang đồng cảm với tôi về cuộc viếng thăm bất ngờ nầy. Nhìn rõ những hình ảnh trên màn hình, tôi bỗng rùng mình. Nghĩa trang đang thở từ lòng đất. Từng tấm bia lướt qua trong máy đang gởi lời chào thân ái. Tôi tin những cặp mắt vô hình đang đồng loạt nhìn tôi. Phải chăng đây là khoảnh khắc giao cảm hiếm có với những người lính vô danh ngày xưa đã hy sinh mạng sống của mình, ngày nay họ đã trở thành những anh hùng trong lòng dân tộc.

Advertisement

Ðâu đây như có tiếng chân đều nhịp của những tháng ngày thao trường đổ mồ hôi để chiến trường bớt đổ máu. Chúng ta đang sống lại trong hàng ngũ? Những ngày xưa thân ái, anh đã gởi lại nơi đây. Anh về qua xóm nhỏ, tình quê hương đậm đà. Anh về thủ đô, lòng em rộn rã.

Những địa danh bỗng hiện ra, những trận đánh như còn sôi động đâu đây. Máu ai nhuộm thấm ngọn đồi chiến lược ? Bàn tay nào giương cao lá cờ tung bay trên Cổ thành? Anh đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình để bảo vệ mảnh đất miền Nam. Thế rồi anh ngã xuống, thế rồi tôi buông súng. Anh cô đơn nơi hoang địa, tôi lầm lũi cảnh tha hương.

Bao nhiêu năm chiến tranh, chỉ có một ngày đáng nhớ. Chỉ có một ngày đáng nhớ, nhưng không thể viết hết thành lời. Không thể viết hết thành lời, bởi vì thảm kịch phân ly đã vượt khỏi biển khơi.

Người nằm đó không buồn lên tiếng. Những kẻ bạc mệnh đã hiến cho lịch sử những giọt máu đào quý giá. Một thế giới câm lặng nhưng lại cho ta bao điều suy nghĩ về sinh ký tử quy của con người, về tình tự dân tộc muôn thuở của quê hương. Thế mà con người lại đem về những chủ thuyết xa lạ để sát hại ngay chính đồng bào mình. Thế giới vô sản được hô hào đoàn kết lại để chết cho một số người. Sự dối trá và tàn ác được vinh danh như một tiêu chuẩn của đạo đức.

Ôi quê hương, ta không dám hồi tưởng lại quá khứ, e không còn nước mắt để khóc cho những đau thương của dân tộc. Ta chưa dám mơ một ngày mai rạng rỡ, khi vẫn còn những ngày hôm nay đen tối.

Kẻ nơi cõi âm, người còn dương thế, không còn khoác chiến y, nhưng nỗi lòng về đất nước vẫn còn trong mạch sống. Mạch sống vẫn còn tuôn chảy, dù những năm tháng cuối đời có thể đếm được rồi, bởi mạch sống vẫn trung thành với quá khứ, vẫn lan rộng ra như một dòng nước thủy chung cho thế hệ mai ngày.

Lịch sử đang phơi bày trước mắt, không cầu kỳ hay bóp méo, như dấu tích đập phá trên bia mộ cùng khắp nghĩa trang, như ngôi tháp Nghĩa Dũng Ðài hùng vĩ đứng giữa trời kia, như ngôi Ðền Tử Sĩ chứng nhân trên đồi cao, như bầu trời lồng lộng, như cỏ cây đang lay động theo nhịp thở của anh từ lòng đất.

Anh nằm đó, nghìn thu giấc ngủ, nhưng sao trong gió ta nghe có tiếng thì thào.

Ðột nhiên, trời tối sầm lại. Giờ của hoàng hôn đã vãn. Mặt trời đã thu về những ánh tà dương lộng lẫy, để lại một vùng ánh sáng yếu ớt sau ngọn đồi. Tiếng sấm xa xa dội lại vu vơ. Những đám mây đen ùn ùn kéo tới. Mặt trời thực sự biến mất.

Nhưng dấu hiệu báo cơn mưa chỉ diễn ra trong chốc lát, có lẻ mưa một nơi nào đó. Trời mây trở lại yên tĩnh, trống trải, hoang vu. Những con chim én như những nốt nhạc lẻ loi trên mấy hàng dây điện, bỗng vụt bay lên không. Chúng chao lượn vài vòng rồi rủ nhau bay về bên kia nghĩa trang, lúc nầy trông như bức tường thành ngăn cách hai thế giới. Một cõi âm đấy bí ẩn và một cõi trần u uất sắp vùi vào bóng tối của đêm đen gần kề.

Ngôi Ðền Tử Sĩ, ngọn tháp Nghĩa Dũng Ðài, Vành Khăn Tang, rừng bia mộ, những con đường đất đỏ còn đó. Nghĩa trang vẫn còn đó, dù trong hoang tàn.

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống, nhưng mãi mãi vẫn sống trong tim những người Việt Nam hằng yêu thương đất nước và giống nòi.

Virginia
Chu Lynh

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?14793

Sài Gòn-Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Nhiều người đã biết Trần Thiện Thanh có hai tên: một tên thật cho sáng tác nhạc và một biệt danh Nhật Trường là ca sĩ khi đứng trên sân khấu. Bạn bè thường gọi anh là Nhật Trường, chứ ít ai gọi tên “cúng cơm”.

Trong số ca khúc của anh có Chân Trời Tím, anh làm ngay sau khi đọc truyện dài đó của tôi. Tôi nhớ không lầm thì người đầu tiên hát bài này là nữ danh ca Minh Hiếu và đó cũng là ca khúc thành công nhất của cô. Tôi cũng nhớ rất rõ là hồi đó, những năm 1966-1967, mỗi khi tôi đi cùng các bạn lên vũ trường Paramount hoặc Ðại Nam của ông chủ Tú Vopco thì Minh Hiếu thường hát bài này. Nhật Trường còn cẩn thận ghi thêm cả một đoạn tôi đề ngay trang đầu cuốn Chân Trời Tím và Minh Hiếu không bao giờ quên đọc lại giữa ca khúc như lời nhắn gửi cho cuộc tình không bao giờ đến đích:

“Anh yêu những chân trời tím; màu tím thắm thiết của yêu thương, của hai đứa chúng mình đi vào tình yêu, đi vào kỷ niệm. Anh sẽ đưa em tới đó, anh sẽ sống bên em như màu tím và chân trời, nhưng anh biết không bao giờ chúng mình tới đó”.

Nghe như tiếng thở dài của những người yêu nhau nhưng lại biết tất cả chỉ là vô vọng. Họ gặp nhau quá muộn hoặc… có hàng ngàn lý do để không bao giờ được ở bên nhau. Một thời bản nhạc đó đã vẫy vùng trong làng ca nhạc của miền Nam Việt Nam. Nhưng có nhiều người hỏi tại sao một bản nhạc hay như thế lại không phải là nhạc chính cho phim. Vì Trần Thiện Thanh không bán ca khúc cho hãng phim hay vì một lý do nào khác?

Chuyện Tréo Ngoe

Khi Trần Thiện Thanh cho trình làng bản nhạc đó thì chưa bao giờ chúng tôi nghĩ đến chuyện làm phim Chân Trời Tím. Một hai năm sau, hãng phim Liên Ảnh mới được tổng giám đốc Quốc Phong tập hợp lại để làm phim. Bản nhạc của Trần Thiện Thanh ra đời từ mấy năm nên đã thành cũ. Trong khi Liên Ảnh có tới 7 ông chủ hãng, mỗi người một ý, nhiều ông muốn có một bản nhạc mới cho cuốn phim CinemaScope đầu tiên ở Việt Nam. Vì thế họ quyết định nhờ Phạm Ðình Chương làm nhạc chính cho phim. Bởi vậy mới có chuyện tréo ngoe là bản nhạc Chân Trời Tím không phải là nhạc chính cho phim, thay vào đó là Nửa Hồn Thương Đau của Phạm Ðình Chương với câu mở đầu “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt, chỉ thấy lòng nhớ thương chất ngất…”

Tôi cho rằng Hoài Bắc cũng gửi tâm sự thật sâu kín nhất của mình vào ca khúc đó.

Với tôi, cả hai bản nhạc đều có giá trị rất riêng nhưng cùng một tâm sự và đều xứng đáng là nhạc chính của phim. Tuy nhiên, nếu tôi có toàn quyền chọn ca khúc cho phim thì tôi chọn Chân Trời Tím của Trần Thiện Thanh và người trình bày ca khúc là Minh Hiếu. Bởi dù sao bản nhạc đó cũng đánh dấu thời kỳ ra mắt của cuốn truyện đã góp phần vào việc làm cho cuốn truyện được nhiều người biết đến và nhắc đến hơn. Nhưng tôi không có quyền hành gì trong việc lựa chọn này. Tất nhiên nói thế không phải không thích nhạc Phạm Ðình Chương mà thật ra tôi “mê” nhạc của Chương hơn cả nhiều ca khúc tiền chiến khác. Trong đó tôi mê bài anh phổ nhạc thơ Ðinh Hùng: “Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng. Tóc xanh ủ bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

Còn nhạc Trần Thiện Thanh tôi lại thích Khi Người Yêu Tôi Khóc. Lần đầu nghe bản nhạc này xong, tôi gặp Nhật Trường bèn gật gù ngay: “Bản nhạc của ông làm tôi buồn suốt buổi tối hôm qua đấy”. Nhật Trường thủ thỉ: “Tôi còn buồn hơn ông”. Suy nghĩ một chút, anh “tổng kết” những cuộc tình: “Cái số tôi cứ đụng yêu là muộn ông ạ”. Tôi “triết lý vụn”: “Yêu muộn cũng có cái thú của yêu muộn chứ, ông tưởng cứ yêu sớm là hạnh phúc cả hay sao”. Nhật Trường nhún vai: “Nhưng dù sao cũng đỡ vất vả, chứ tôi thấy cái thân tôi mỗi lần hẹn hò là một lần phải bày binh bố trận như sắp ra chiến trường. Chiến thuật chiến lược phải tinh thông. Hồi hộp lắm”. Tôi hiểu Nhật Trường muốn ám chỉ điều gì. Tôi nháy mắt móc lò: “Suy cho cùng thì đôi khi chính anh cứ tìm lối đoạn trường mà đi”. Còn tôi, tôi thích phóng xe giữa xa lộ. Vì thế nên có ông bảo tôi “nhiều tàu”, chứ nếu các ông ấy cứ đàng hoàng dắt tay nhau đi giữa phố, phóng xe ra xa lộ cho mọi người cùng nhìn giữa thanh thiên bạch nhật, đừng có “múa võ trong bóng đêm” hay nói như nhà văn Tạ Quang Khôi là những anh chuyên đi “lái ké”, chưa biết chừng có ông còn “nhiều tàu” gấp hai tôi.

Sự Cảm Thông

Khi tôi về làm tại Ðài Phát thanh Quân Ðội, Nhật Trường làm tại Phòng Văn Nghệ Cục Tâm Lý Chiến. Tôi gặp anh để ngỏ ý xin anh về ban nhạc của Ðài Phát Thanh cho đúng với khả năng của anh, nhưng anh từ chối với lý do “làm ở phòng Văn Nghệ dễ chịu hơn, giờ giấc không trói buộc”. Sau đó anh nhỏ nhẹ nói tiếp: “Thật ra ông mới về nên chưa biết chứ ở bên Ðài nhiều chuyện phức tạp lắm. Mà tôi thì không muốn dây dưa, không muốn cạnh tranh với ai cả”.

Tôi thông cảm ngay bởi hồi đó Phòng Văn Nghệ của Cục Tâm Lý Chiến chiếm một gian nhỏ sát với Ðài Quân Ðội. Công việc của nhân viên có phần nhàn nhã hơn, không cứng nhắc và đôi khi xô bồ tấp nập như không khí hàng ngày của đài phát thanh. Tuy vậy tôi và Nhật Trường vẫn có nhiều dịp gặp nhau. Mỗi khi anh có một bản nhạc nào mới, anh thường sang khoe với tôi và tôi cũng có nhiều vấn đề về nhạc của Ðài cần có ý kiến của anh. Dù không hay đi ăn, đi chơi với nhau, nhưng tình cảm vẫn gần gụi.

Tôi nhớ vào một đêm rằm Trung Thu, xe tôi bị hư, Nhật Trường phải trực ngoài cổng cơ quan nên tôi mượn xe anh đi. Giữa đường, xe cũng hư nốt. Thế là nguyên một đêm Trung Thu tôi phải sửa luôn một lúc hai cái xe.

Một Người Thầm Lặng

Có một thời kỳ Nhật Trường “được” biệt phái lên Quân Đoàn 2 ở Pleiku. Anh lẳng lặng đi không nói với ai nửa lời dù biết “đi là chết ở trong lòng một ít”. Khi tôi biết thì mọi chuyện đã muộn. Đến nay tôi vẫn còn ân hận vì điều này. Nhưng bản tính Nhật Trường là như thế. Anh không bao giờ nhờ vả ai, không cần ai giúp mình bất kể về phương diện nào.

Khi tôi ở “trại cải tạo” ra, năm 1987, Nhật Trường vẫn ở Sài Gòn. Anh nhắn vài người bạn và cho tôi số điện thoại nhà anh. Hồi đó dân Sài Gòn có điện thoại là bảnh rồi. Tôi điện thoại cho Nhật Trường. Anh cho biết đang ở bên Bến Phạm Thế Hiển và ngỏ ý đón tôi sang chơi. Nhưng tôi quá bận rộn vì mưu sinh nên chưa có thì giờ sang chơi với anh được. Lần thứ hai anh nói: “Tôi nhớ Chân Trời Tím lắm”. Chúng tôi cùng hiểu anh nhớ những gì, không hẳn là chỉ có thế, còn cả một quãng đời chúng tôi sống cùng nhau. Lần sau cùng anh điện thoại cho tôi, không nói là mình đi Mỹ, chỉ có vẻ ngập ngừng rồi bùi ngùi: “Có lẽ còn lâu tôi mới gặp được ông, tôi về quê sống ông ạ”. Tôi hỏi lại: “Nghe nói ông sống dễ chịu lắm mà”. Nhật Trường buồn bã: “Chỉ là cái bề ngoài thôi, bây giờ thì chịu hết nổi rồi. Tôi về quê cho khỏe, ông cứ biết thế thôi”.

Ừ thì biết thế, anh em lúc này mỗi người một hoàn cảnh riêng, làm sao biết đằng sau cuộc sống là những gì. Song tôi vẫn nghĩ là anh về Phan Thiết vì từ lâu tôi nghe nói “quê hương bản quán” của anh là xứ sản xuất ra nước mắm nổi tiếng này. Phải một thời gian sau tôi mới biết là anh đi Mỹ.

Bẵng đi một thời gian dài, tôi không được tin tức của Nhật Trường và trong những CD “nhạc hải ngoại” bày bán ở Việt Nam cũng ít thấy anh xuất hiện.

Nay thì được tin anh đã vĩnh viễn ra đi. Tin buồn ấy đến với tôi quá muộn và cũng chưa có gì là chắc chắn.

Tôi điện thoại hỏi Trần Thiện Hiệp đang ở Thủ Ðức. Từ lâu tôi cứ yên trí Hiệp là anh ruột của Trần Thiện Thanh.

Hiệp xác nhận tin đó và cho biết thêm ngày 19-5 ở Mỹ mới làm lễ hỏa thiêu rồi sẽ đưa tro cốt về Lâm Ðồng. Khi tôi viết bài này, ngày 22-5, Trần Thiện Thanh vẫn chưa trở lại với quê hương. Lúc này tôi mới biết thêm Hiệp chỉ là anh em thúc bá của Nhật Trường.

Hiện bà mẹ Trần Thiện Thanh đã ngoài 80, vẫn còn sống ở Lâm Ðồng bên cạnh nhà cô em gái anh là Như Thủy. Căn nhà đó do chính Nhật Trường làm ra từ thời xưa, đối diện với sở Nông Lâm Súc ngay đại lộ. Họ hàng nhà Trần Thiện hiện đã tề tựu đông đủ để chờ đón người con trở về đất mẹ.

Trần Thiện Hiệp kể lại về người em của mình: “Nó đào hoa từ nhỏ đấy, ông ạ. Ngày xưa tôi với nó sống chung và học chung. Nhưng nó chỉ mê đàn địch suốt ngày. Ðến nỗi ông chú tôi nện nó một trận vỡ bung cả cái thùng đàn guitar. Sau này, anh em mỗi người một chí hướng, nhưng rồi cũng gặp nhau ở cái duyên thơ nhạc. Nó phổ nhạc bài thơ “độc hành” của tôi và làm trong cassette đầu tiên khi đặt chân đến đất Mỹ. Gần đây nghe tin nó bệnh nhưng không ngờ nó “đi” nhanh thế”.

Chúng tôi cùng bùi ngùi nhớ hình ảnh một nghệ sĩ hiền hậu, có cuộc sống gần như lặng lẽ, nhưng có những đợt sóng ngầm và đời sống nội tâm khá dữ dội. Tôi nghĩ đến bà mẹ già giờ này vẫn mong ngóng đón đưa con trở về, ngoan ngoãn, yên lặng, nằm lại trong vòng tay mẹ như tuổi ấu thơ, không bao giờ đi nữa.

(Sài Gòn 22-5-2005)

Chiếc bánh và người lính trận

Đoàn Xuân Thu

Posted on July 13, 2025 by dongsongcu

Postr by Sơn râu 19 Aug 2026

Kỷ niệm 50 năm Sài Gòn lọt vào tay Cộng Sản (1975-2025)

Đoàn Xuân Thu – 9 tháng 7, 2025

Hình minh họa: ĐT)

Chiếc bánh nhỏ và người lính già: Một chuyện tình người giữa thời buổi bạc màu.

“Hẹn mai gặp lại.” Câu nói tưởng đơn giản, nhưng là cả một bài học nhân sinh: Giữa thời buổi lọc lừa, chỉ cần một chút tình người cũng đủ cứu một linh hồn.

Người lính già ấy không cần lời xưng tụng. Ông không cần biểu ngữ, không cần rải hoa đón chào. Điều ông cần là một chỗ đứng nhỏ trong trái tim người đời, để biết mình vẫn còn hiện hữu. Sáu năm trời, ông sống trong im lặng giữa những bận rộn của một nước Mỹ quay cuồng với điện thoại thông minh, xe tự lái và mạng xã hội, nơi mà nỗi buồn của một người cựu chiến binh không còn ai nghe nữa.

Có lẽ ông đã chết. Không phải vì đói. Mà vì không ai nhớ đến ông. Cho đến một ngày, cô thợ làm bánh trẻ tuổi ấy đã lặng lẽ bước qua đường, tay cầm một chiếc bánh mì mới ra lò, trao cho ông, và một câu: “Hẹn mai gặp lại.”

Câu đó không phải là một phép màu. Nhưng trong khoảnh khắc đó, nó là lý do duy nhất khiến ông dừng lại, chưa gieo mình khỏi cầu, chưa rút súng kê vào đầu trong bóng tối.

Có biết bao cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam đã rơi vào tình cảnh tương tự. Họ không chết vì chiến trận, mà chết vì bị quên lãng trong hòa bình. Bao nhiêu người mang vết thương vô hình trong tâm khảm, khó lành hơn cả cụt tay hay mù mắt. Những tiếng trực thăng đêm, tiếng nổ đì đùng, những người bạn ngã xuống ngay bên cạnh, tất cả vẫn nằm đó, trong trí nhớ không chịu nguôi.

Đáng lý họ phải được vinh danh như những người đã đứng lên vì lý tưởng chống cộng sản, bảo vệ một quốc gia tự do tên là Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng không. Khi nước Mỹ rút khỏi Sài Gòn, mọi thứ bị bôi đen là “cuộc chiến vô nghĩa.” Họ bị cười chê, bị xem là thất bại, là biểu tượng của một chính sách sai lầm.

Trong khi đó, kẻ chiến thắng chế độ Cộng sản miền Bắc lại tự phong mình là “giải phóng quân,” che giấu đi vô vàn tội ác sau lá cờ máu. Họ “giải phóng” bằng cách đày hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, trí thức miền Nam vào trại cải tạo. “Giải phóng” bằng cách bắt dân lên vùng kinh tế mới, để lại những khu phố ma trống rỗng. “Giải phóng” bằng việc biến cả một đất nước văn minh thành một trại lính, nơi mà lời ca tụng lãnh tụ quan trọng hơn cả bữa cơm no.

Và suốt nửa thế kỷ sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, họ vẫn không một lần nhận lỗi. Không một lời xin lỗi cho hàng triệu người đã chết trên Biển Đông, trong trại tù cải tạo, hoặc trong các cuộc thanh trừng chính trị bằng lý lịch địch ta.

Tệ hơn nữa, họ lại ra sức tuyên truyền trong nước và ngoài nước rằng: chiến thắng đó là chính nghĩa. Là “khúc khải hoàn ca” của dân tộc. Họ viết lại lịch sử, nhồi sọ cả một thế hệ rằng miền Nam là tay sai, là phản động, là cần bị tiêu diệt.

Nhưng sự thật không thể bị chôn vùi mãi mãi.

Và điều cảm động hơn cả là: ông không hề đơn độc.

Không phải tất cà mọi người đã bỏ quên ông.

Sự thật sống trong ký ức của những người như Emily, tuy không có mặt trên chiến trường, nhưng bằng tình thương vô vụ lợi, đã cứu lấy một mảnh hồn từng bị rách nát bởi chiến tranh. Sự thật sống trong ánh mắt cay xè của Thượng Sĩ Daniel Reid, khi ông ngồi giữa dàn lính danh dự, chậm rãi nhấp tách cà phê, nghe bản nhạc cưới vang lên trong lễ đường như một điệu khúc phục sinh cho chính đời mình.

Sự thật sống trong tiếng vỗ tay đứng dậy của những người có mặt hôm ấy, những người nhận ra rằng: dù có ai quên đi người lính, nhưng chúng ta thì không.

Năm mươi năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ, có những người Việt vẫn phải sống lưu vong, không phải vì hết yêu quê hương, mà vì quê hương không còn nhận ra họ. Có những người lính VNCH đã ngã xuống, không có mộ bia. Có những người còn sống thì nghèo túng, tật nguyền, bị gọi là “ngụy quân, ngụy quyền.”

Và trong khi đó, các thế hệ mới lớn lên tại Việt Nam thì chỉ được dạy rằng: Cộng sản là chân lý, là anh hùng, là vinh quang.

Chúng ta viết bài này không phải để khơi lại hận thù.

Chúng ta viết để không quên.

Để ghi nhớ rằng giữa một thế giới đầy dối trá, vẫn còn có Emily. Vẫn còn có những chiếc bánh mì âm thầm được trao đi như ánh lửa nhỏ trong đêm đen.

Và còn có những người lính như Daniel Reid – người đã từng chực ngã xuống, nhưng rồi lại đứng lên, chỉ vì ai đó nói với ông những tiếng giản dị: “Hẹn mai lại gặp.”

Chúng tôi không biết Emily hôm nay ra sao. Có thể cô đang ở một nơi yên ả nào đó, tiếp tục nướng bánh mỗi sáng. Có thể ông Daniel Reid đã rời thế giới này. Nhưng chắc chắn, cái khoảnh khắc giản dị giữa cô và ông sẽ sống mãi, như một chứng từ rằng: Tình người thật sự có thể cứu rỗi thế gian.

Và cũng là một lời nhắc: Tội ác chiến tranh của CS Bắc Việt không bao giờ nên được tôn vinh bằng diễu binh và biểu ngữ. Nó phải được họ ghi nhớ bằng nước mắt, sám hối ăn năn, và sự thật.

(Melbourne)

Chia tay

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/01/2018 
Post by Sơn râu 19 Aug 2026

Montreal snow scene
Darlene Young

Sáng nay trời ửng chút nắng. Nhiệt độ leo lên được con số 3, độ C. Nàng Bạch Tuyết mới làm tình làm tội phủ ngập người mà giờ này lại cựa mình, bắt đầu tan chảy, tựa niềm vui hiếm thấy, chẳng mấy khi gặp. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Câu này đúng mấy phần, sai bao dặm? Chớ thắc mắc. Chỉ nên tin vào thống kê người ta cất công nghiên cứu: Ngoại cảnh u sầu ám nặng trong mùa đông đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ con người, dẫn tới số tử vong cao nhất so với ba mùa Xuân Hạ Thu còn lại trong năm. Nôm na, qua khỏi mùa Đông thì trên các mặt báo sẽ thưa bớt những ô phân ưu chia buồn bao kẻ bạc mệnh nhác chơi với cuộc lữ. Và mùa đông chốn này, eo ơi nó lê thê kéo dài, giết người không gươm đao bằng cái miên man nọ. Đứng tuổi mới dạ cảm hoài kiểu ấy, chứ thanh niên trai tráng lại phán: Chỉ teo bu-gi chút đỉnh. Chuyện nhỏ! Già cả đâm bất tiện các thứ. Nó teo lại là chết chắc đấy con ạ!
Trời ấm, phải tận dụng màu vàng eo xèo của nắng yếu, tôi cầm đùi lẻ chống cây ba-toong đi bộ ra đầu đường gió nhẹ mơn man. Chim bồ câu tụ bầy trên mái giáo đường đứng gật gù rỉa lông thì thầm bao cung bậc đầy trắc ẩn. Điều này đồng nghĩa là chưa đúng ngọ, tháp chuông gắn phía sau nhà thờ sẽ đổ nhịp lúc 12 giờ trưa. Chim chóc cũng biết hưởng thụ giây phút thanh nhàn trong yên ả. Chúng sẽ bay đến nơi khác trước khi hồi chuông đổ tràn ra điệp trùng tiếng kinh cong. Tôi chưa từng xét nghiệm lòng mình về phản ứng khi nghe chuông giáo đường mãi tạo sóng. Tôi chỉ nghe bất an khi cúi đầu hứng chịu tiếng mõ cùng những đoạn kinh khó hiểu rót vào tai. Và hương hoa, và nhang đèn, và hương khói… Một thứ buồn vào hồn không tên!

Quán cà phê quen thuộc bữa nay có thay đổi cách trưng bày làm như mùa xuân đang ngấp nghé bên ngoài hàng hiên. Chỉ chút nắng tạo ra vệt vàng tấp vào cửa kính cũng đủ đóng khung bức tranh trông sinh động. Tấm bảng gỗ thường viết phấn màu quảng cáo món đặc biệt trong ngày cũng như kê khai một loạt thức uống đã được thay bằng hàng chữ huê dạng: “BOOK, the only thing you can buy that makes you RICHER”. Ủa, giờ này mới biết là sách chứ không phải vé số. Vậy mà bấy lâu cứ đè vé số cá cược may rủi với thần tài đỏ đen, mấy tiền cũng hết răng chưa mua được tiên? Giàu và nghèo, hoá ra không nằm riêng ở khoảng số tiền anh đang sở hữu được. Một ông homeless râu ria ra rậm rạp ngồi trụ ở góc đường đang hí hoáy làm thơ bỏ quên thế sự sầu não thì không hẳn đích thực là kẻ vô sản nghèo rớt mồng tơi đâu nhé, bởi đơn giản đứa tiền rừng bạc biển chưa chắc đã rung động con tim để tạo ra vẻ đẹp, dẫu phù du.

Khi tôi gọi xong ly cà phê và chọn được cái bàn có hai ghế trống thì bạn tới. Bạn tôi nằm trong danh sách những người thôi lao động ở trường đời, ăn tiền già, ăn hưu non hoặc hưởng một thứ trợ cấp nào đó từ chính phủ quan tâm đoái hoài chi viện. Tiền bạc rủng rỉnh tuy chẳng dư thừa nhưng thời gian thì giàu sụ chẳng biết cách tiêu cho hết. Rất đại gia. Đó là những ca sĩ nghiệp dư chỉ biết hát có đôi bài tủ, đại loại: Ôi, ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu… Hoặc: Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Rất thân bại danh liệt.

Ông có thấy tấm bảng dựng ở cạnh cửa không? Bạn hỏi. Tôi khuấy ly cà phê đen, chậm rãi: Do đâu mà chúng đổi menu lạ thường vậy không biết! Những cuốn sách long bìa tróc gáy bám bụi dựng sát vách kia thuần chỉ là món dùng để trang trí. Người bạn cởi bớt áo xống móc ở lưng ghế: Chừng nào ông tính in một cuốn sách? Tôi ngó vào mặt kính cận mờ đục hơi ẩm nơi gương mặt người đặt câu hỏi để nhớ lại những dự tính chẳng mấy thiết tha. Hình như đêm tụ họp ăn tất niên cùng nhau, tôi lỡ vung vít: Sang năm mới tôi sẽ thực hiện hai điều có hơi lạc hậu, một là tự mở cho mình trang facebook, hai là in một tập truyện ngắn. Thầm thà thậm thụt kiểu nói trước bước không rời. Ngó trước trông sau, nghiệm thấy chẳng mấy vui. Bất ổn và bất khả. Chắc phải về cố quận để hỏi cho ra lẽ: Hồ hởi phấn khởi nghĩa là gì? Rất hoang mang!

Người bạn tháo hai con mắt xuống để lau cho trong trẻo, hai mắt còn lại tuồng như chưa hề ngủ tròn giấc. Khi lấy cặp kính cận ra, gương mặt bạn lộ rõ những tàn phai ghi dấu, tựa một trang lưu bút đã chịu qua nhiều giở lật. Ngày xưa bố mình tuy nghèo nhưng ông luôn hào sảng chuyện mua sách cho con cái. Bố mình bảo, sách là người bạn chung tình không hề phản bội. Anh mình thì ví von: Đàn bà giống như một cuốn sách mà chúng ta khó đọc xong. Bạn thôi nói khi mang lại vật bảo vệ cửa sổ tâm hồn. Tôi bắt gặp một dung mạo quen thuộc cũ. Tôi kể cho người bạn nghe một mẩu chuyện hài với tựa đề “Sách, đôi khi không tốt”, có anh chàng nọ rất yêu hoa, bỏ tiền mua bao kỳ hoa dị thảo mang về trồng vun xới làm khu vườn trông lung linh huyền ảo. Ngày kia, đi làm về mặt anh biến sắc khi nhìn ra sự trơ trụi xác xơ của khu vườn trong khi vợ anh thì đang nghiền ngẫm cuốn sách Nghệ Thuật Cắm Hoa. Người bạn cười thành tiếng: Vậy thì đã có thêm người đồng ý rằng đàn bà là một cuốn bí kíp hóc hiểm.

Tôi nói e là vậy, vì những cuốn truyện nhiều tình tiết mãi lôi cuốn đều chứa đựng đôi ba hình ảnh của quý vị nữ lưu. Thi ca cũng thế, riêng khoảng diện mạo và thể hình của “nàng” cũng khiến anh hồn xiêu phách lạc, ca ngợi đủ mọi ngôn từ. Món phở nổi đình nổi đám hơn cơm là có nguyên cớ bên trong. Người bạn cho hay mấy năm qua để dành được một ít tiền đặng về thăm nhà trong nay mai. Xa quê hương thì lúc nào cũng nhớ mẹ hiền, bạn bổ túc thêm, và nếu về êm xuôi mình sẽ quyết dùng văn hoá phong bì để được đi vào tù thăm thú phạm nhân Nguyễn Hoàng Tâm. Rất ấn tượng tay này, chỉ mới có 30, tuổi trẻ tài cao mình ên đi xe máy vào Thành nội Huế, cướp ngân hàng BIDV gần cửa Đông Ba lấy đi 800 triệu đồng chỉ trong vòng 12 giây. Ung dung ra nổ máy xe chạy thoát trong lúc nhân viên bảo vệ chưa kịp phản ứng. Tuyệt! Đạo diễn phim hình sự cũng chả dám viết ra được một kịch bản thần sầu như rứa. Ôi chao, con cái nhà ai mà giỏi dang rứa bây! Rất đáng ngưỡng mộ.

Cà phê chỗ này uống được quá đi chứ? Nhâm nhi gần hết ly mà sao giọng người bạn nghẹn như chưa thông cần cổ: Sáng nay mình xem tin tức phát sóng trên đài VTV: Ở Việt Nam vừa phát hiện ra đường dây buôn người. Người được mua đứt với giá từ 300 đến 500 triệu. Mua xong mang về phân loại: Bắt mắt thì thời gian đầu cho làm gái mại dâm, thời gian sau đem bán cho bọn đang cần vợ. Xấu xí thì chuyển đến trại chuyên mổ lấy nội tạng. Mua nhanh bán chạy đắt như tôm tươi là các trẻ sơ sinh…

Có hoang đường không? Những cuốn sách fiction cũ mốc dựng chật một góc kia có tác giả nào viết được một tình huống ấy? Mạng người sao rẻ rúng, sao túng quẫn, sao nằm mơ cũng chẳng ngờ tới nhường kia? Vậy thì khi anh cướp ngân hàng được tới những 800 triệu, buồn tình anh có thể mua luôn hai bà vợ một lúc nhỉ? Biết xài sao cho hết! Vào lúc 30 tuổi, thời đó chúng mình có làm được gì đâu. Sao đẳng cấp bằng! “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương mà thấm béo gì. Tình huống căng hơn nhiều. Kể làm răng cho hết. Cháu con nó hoàn cảnh lắm cụ ạ! Nhưng an ủi một điều, chúng nó chưa đánh mất nhân tính, chúng bổn thiện, chúng biết hổ ngươi khác xa thời buổi đương đại này.

Tôi hỏi: Vậy thì bạn còn giữ nguyên tính bổn thiện không. Mang thứ hành trang ấy về không chừng mà thua thiệt đấy. Sách xưa có dạy “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trước đây bạn mắng những thằng Việt kiều sao giờ này lại giở thói sáng nắng chiều mưa tiền hậu bất nhất. Người bạn ngồi rụt cổ: Thôi mà, chớ gắp lửa bỏ tay người, cho em nhờ tí! Hãy xem như mình đang âm mưu viết nên một cuốn tiểu thuyết và về lại chốn cũ là cách đi thực tế. Va chạm, chung đụng, thu gom tư liệu làm giàu vốn sống. Mình tin là sẽ hấp dẫn hơn chuyện Liêu Trai Chí Dị.

Tôi ngó người vừa đơm mộng ước để tự nhủ lòng, cho hắn bon bon chạy mà chớ thọc gậy bánh xe. Ừ, chúc ông thuận buồm xuôi gió. Ông nên tự tạo ra niềm tin, chớ sờn lòng. Kiểu như cách tuyên bố của ông phó chủ tịch quận 1 Sài Gòn: “Không lấy lại được vỉa hè tôi sẽ cởi áo từ quan”. Nghĩa là sao? Nghĩa là không viết được cuốn tiểu thuyết hiện thực huyền ảo kia tớ sẽ thôi làm nhà văn. Tôi gợi ý cho bạn một cái nhan truyện nhé: Đi Xe Có Còi Hụ.

Chuyện nhạt dần, cà phê cũng đã cạn. Một cuốn sách mỏng đã đọc hết chữ cuối. Ngồi trong quán lâu cũng đâm áy náy, nên giã từ trả chỗ trống cho người ta tiếp khách mần ăn. Khi mặc lại áo ấm, người bạn cho hay sẽ ghé thăm các chùa chiền khắp ba miền cho mãn nhãn, ở Hà Nội họ vừa mở khoá bồi dưỡng cho sư sãi và ni cô biết cách tránh thai, cách tính chu kỳ kinh nguyệt và cách sử dụng condom. Muốn ghi danh học lên tiến sĩ về đạo pháp bạn phải thi đỗ môn lý luận triết thuyết Mác-Lê. Mình sẽ đi thăm thượng toạ Thích Chân Quang, người vừa tạo sóng: “Theo lịch sử không chối cãi được, Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… mà Lý Thường Kiệt mang quân đánh là hỗn”. Lạ thật, sao những tin tức rậm rật kiểu đó mà tôi lại chẳng hay biết cà? Tại vì ông cứ bình chân như vại chốn đây, còn mình sắp lên đường nên cần phải bỏ công tìm hiểu đôi chút. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Phải chăng chính Phật là người nói ra câu đó?

Xô cửa bước ra đường, tôi nói cùng bạn: Tôi cũng hồ nghi chẳng nhớ ai viết ra câu: Khi bọn học trò lớn dần, viết chì được thay bằng viết mực, chỉ để giải thích là bây giờ khó mà tẩy xoá những lỗi lầm. Hơi lạnh còn ẩn chứa trong gió, dù heo may rợn cảm. Về Việt Nam, chẳng biết mình có mắc phải lầm lỗi? Điều ấy chỉ có lương tâm ông hay biết, nhưng viết được một cuốn sách sau chuyến đi là cả một điều đáng xiển dương. Chừng nào chính thức khởi hành? Cuối tuần, chủ nhật tới. Bà vợ cũ vẫn còn ở Nha Trang? Không, nhà dưới đó đã bán vì giá quá hời, bả hiện ở Đà Lạt và trùng hợp làm sao bả có chân trong hội văn nghệ Lâm Đồng. Có nghĩa là khi ông xuống tới phi trường Liên Khương sẽ gặp lại người xưa đứng đợi? Mình không rõ, bà ấy từng gửi email: “Nếu bạn yêu ai mà kẻ đó không yêu lại bạn, nó giống như bạn ra phi trường để chờ một chiếc tàu thuỷ”.

Hai đứa đi ngược hướng nhau. Thôi, bai nhé. Thượng lộ bình an. Còn sớm tôi rảo tới gian hàng bán đồ cũ. Việt Nam gọi là đồ hàng bành, hoặc Sida. Đã xi-đa mà còn xông pha hiến máu. Bên đó bị nhiễm vi-rút chơi chữ, hăng làm thơ đến nỗi bị vợ bỏ mà cũng không nhụt khí. Buồn đến khó chuồn, chán hơn sứt trán. Quá ngao ngán, không cách chi ta thán.

Siêng tay lục soạn một hồi, tôi mua được cuốn “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh” của nhà văn nữ Francoise Sagan với giá 50 xu. “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide”. Một chút mặt trời vừa bỏ đi, trời xám, ẩm lạnh, nhức xương ở chân bước về nhà, gồng mình đợi trận tuyết khác kéo về. Không một chút mặt trời trong băng giá.

Hồ Đình Nghiêm

Tháng Tư nhớ bạn

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

April 19, 2019 

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

(đặc biệt tặng các bạn Khóa 18 Thủ Đức)

Trước những ngày Tháng Tư buồn, tôi lại nhận thêm một tin buồn: Đồng môn Võ Văn Khoa vừa vĩnh viễn ra đi. Với tôi, anh Khoa không những là bạn cùng Khóa 18 Thủ Đức mà sau này, vì gốc giáo chức, nên theo nhu cầu của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, anh được biệt phái về dạy ở trường Võ Tánh Nha Trang, ngôi trường trung học nổi tiếng ở quê tôi mà trước kia tôi đã từng theo học. Do đó chúng tôi nặng thêm mối thâm tình. Ngay từ những ngày còn trẻ, anh đã nghiên cứu, tu tập và viết nhiều sách về Thiền Học, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Anh sống thanh đạm, chân thành, đạo hạnh, luôn hết lòng giúp đỡ tha nhân. Sau khi sang Mỹ một thời gian, anh trút bỏ mọi phiền não thế gian, xuất gia đi tu, trở thành Thiền Sư Di Như nổi tiếng của một Thiền Viện ở Las Vegas, do chính anh sáng lập và giảng dạy. Nhờ vào trình độ và đức độ, anh đã quy tụ đông đảo môn đệ.  Vì vậy trên trang cáo phó được viết: “Sư Thầy Di Như Võ Văn Khoa viên tịch.”

Tuy biệt phái về làm nghề dạy học, nhưng trong hồ sơ lý lịch, anh vẫn còn mang cấp bậc đại úy và phục vụ nhiều năm trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, từng đóng góp cho việc hình thành và giảng dạy cho Trường Đại Học CTCT Đà Lạt, nên sau khi Cộng Sản chiếm Nha Trang, đầu tháng 4/75, anh bị tù đày nhiều năm. Ra tù, anh trở về Nha Trang, làm nghề sửa xe đạp ở một góc đường, ngay phía sau ngôi trường cũ mà anh từng dạy học. Thời buổi ấy gần như gia tài mỗi người chỉ còn mỗi chiếc xe đạp. Cùng cảnh thất cơ lỡ vận, nên anh thường nhắn các cựu giáo chức đồng nghiệp và học sinh của mình, khi nào xe bị hư, cứ mang đến để anh sửa miễn phí.

Tang lễ được tăng đoàn tổ chức rất trang trọng tại Peek Funeral Home, Westminster, California. Số người đến viếng và tiễn đưa anh khá đông. Ngoài một số giáo chức đồng nghiệp, những cựu đồng môn Khóa 18 Thủ Đức, số đông đảo còn lại là những đồng đạo của anh. Chúng tôi được sự đón tiếp nồng hậu của gia đình và đặc biệt của tăng đoàn, mà hầu hết là những học trò, môn đệ của anh. Nhìn cung cách của họ, chúng tôi hiểu được lòng tôn kính và hết mực tiếc thương mà họ dành cho vị Sư Thầy của mình. Cùng với những đồng môn Khóa 18 Thủ Đức, đứng trước linh cữu, đưa tay lên chào vĩnh biệt anh, bỗng tôi thấy lòng mình chùng xuống, bâng khuâng. Cả buổi trưa hôm ấy, tôi mênh mang nhớ tới bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ. Hình dung từng khuôn mặt của những thằng bạn thân thiết đã hy sinh trên các chiến trường, hay chết đau đớn tức tưởi trong các trại tù, và một số đông đã phải bỏ quê ra đi, đang sống lặng lẽ đâu đó trên xứ người, mỗi người mỗi cảnh, nhưng có cùng một nỗi đau chung, khi giấc mơ trở về lại trên quê hương ngày một héo hắt, mỏi mòn. Có thằng đã tự vẫn.

Ký ức bắt đầu đưa tôi trở về ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, nơi từng tọa lạc một quân trường nổi tiếng đã có mặt từ những năm đầu thập niên 1950, đào tạo hầu hết những sĩ quan trừ bị, có rất nhiều vị đã trở thành những tướng lãnh lẫm liệt một thời, có vị đã tuẫn tiết vào giờ thứ 25 để giữ tròn tiết tháo: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ…

Khóa 18 chúng tôi ra trường ngày 18.3.1965 với 1219 tân sĩ quan, vốn xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, và được phân phối về đủ các quân, binh chủng, các ngành chuyên môn, các quân trường, đặc biệt còn được biệt phái về một số cơ quan hành chánh, các cấp bộ, nha, sở. Hôm nay, trong những đồng môn Khóa 18 đến tiễn biệt anh Võ Văn Khoa, tôi được gặp lại một số anh em thân quen, từng phục vụ ở những đơn vị khác nhau như thế. Anh Nguyễn Văn Lân: trước khi nhập ngũ là giáo sư của một Collège Français, ra trường về làm việc ở Bộ Ngoại Giao; bạn Đào Minh Hùng: Thiếu Tá của Liên Đoàn 81 BCND, một đơn vị nổi danh ở các chiến trường đẫm máu nhất; bạn Nguyễn Nhật Minh: Thiếu Tá Trưởng Ty ANQĐ Lâm Đồng; bạn Vũ Ngọc Bích: Thiếu Tá của Cục Mãi Dịch, các anh Nguyễn Ngọc Kỳ, Bùi Trọng Nghĩa, Nguyễn Thế Hùng: CTCT, bạn Lê Trường Xuân: Biệt Động Quân, Nguyễn Thanh Thế, Trần Minh: Bộ Binh, Đỗ Văn Đạt: HCTC, và đặc biệt có bốn người bạn cùng Trung đội 14/ Đại đội 4 SVSQ với tôi: anh Nguyễn Xuân Hồng: giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội, về sau trở thành Mục Sư Tin Lành và phục vụ tại Nha Tuyên Úy; Phạm Duy Cường: CTCT, Nguyễn Văn Long: Thiết Giáp và Nguyễn Hồng Tâm: SĐ5BB, người trẻ tuổi nhất của Đại Đội 4.

 Gặp lại nhau, cũng là dịp để điểm danh, xem ai còn ai mất, cùng ngậm ngùi cho phần số của mỗi người.

Riêng Đại Đội 4 và Trung Đội 14 SVSQ của chúng tôi cũng có nhiều điều đặc biệt khó quên. (Đại Đội 4 là hậu thân của Đại Đội 10 trong giai đoạn 1.) Cán bộ đại đội trưởng là Trung úy Phan Tấn Mỹ, tốt nghiệp Khóa 13 Võ Bị Đà Lạt, từ binh chủng TQLC thuyên chuyển về Trường, sau khi mãn một khóa học ở Hoa Kỳ. Ông là nhà thơ được nhiều người biết đến dưới bút hiệu Ý Yên (cũng là tên của quê hương ông ở miền Bắc). Ông có cung cách và tâm hồn của một thi sĩ hơn là một ông quan nhà binh. Biết SVSQ nào làm thơ, ông thường gọi lên văn phòng đại đội uống trà bàn chuyện thơ văn. Đi bộ cùng SVSQ ra bãi tập, thỉnh thoảng ông hứng chí đọc lên mấy câu thơ ông vừa nghĩ ra hay sáng tác. Chẳng bao giờ phạt ai và mỗi khi có SVSQ nào bị Quân Cảnh 301 bắt, ông liền chạy đến nhận về. Trung đội trưởng Trung đội 14 của bọn tôi là Thiếu úy Trần Bá Linh, Khóa 12 Thủ Đức. Ông là bào đệ của Thiếu tướng Trần Bá Di, rất thẳng thắn, kiệm lời, có thái độ bất cần, chẳng biết “ngán” ai, nên bọn tôi cũng dễ thở mà cũng có lắm khi hồi họp, lo âu.

(cùng với một số bạn thuộc Trung Đội 14/4 SVSQ)

Ba tuần trước ngày mãn khóa, một số trong đại đội đã biết mình được bổ nhậm hay biệt phái về đơn vị, cơ quan nào. Đặc biệt có hai đồng môn đầu tiên nhận lệnh về Trường Võ Bị Đà Lạt làm giáo sư Văn Hóa Vụ. Hai anh lại là bạn đồng nghiệp trước khi nhập ngũ, là giáo sư ở Đại Học Khoa Học. Trong cuộc thực tập cuối khóa, hành quân cấp đại đội suốt ba ngày đêm ở một bãi tập bên bờ sông Đồng Nai, khi diễn tập bài đại đội tấn công đêm lên đồi, một trong hai anh bị một quả đạn (chiếu sáng) súng cối 60 ly không nổ rơi trúng, ghim sâu vào lưng, làm tử thương tại chỗ. Tôi là một trong số những đồng môn được chỉ định về Tổng Y Viên Cộng Hòa, luân phiên đứng gác bên quan tài anh ba ngày trong “Nhà Vĩnh Biệt”, chứng kiến nỗi đau buồn, than khóc thống thiết của gia đình, đặc biệt vị hôn thê của anh, và nghe lời chia buồn, tiễn biệt của đồng nghiệp bạn bè và những sinh viên từng học với anh. Trong các bài điếu văn, ai cũng ca ngợi và thương tiếc anh, một vị giáo sư tài ba đức độ. Tôi ngậm ngùi, tiếc cho một người có tài mà yểu mệnh. Và đó là người bạn đồng môn, cùng khóa của tôi đã hy sinh đầu tiên, trước ngày tốt nghiệp. Người còn lại, anh Phùng Văn Bộ, ngay sau khi dự đám tang đưa tiễn bạn mình và lễ mãn khóa, đã một mình cô đơn lên trình diện Trường Võ Bị. (Cũng có thể có vài anh ở đại đội khác cùng được bổ nhậm về Trường Võ Bị mà tôi không biết.)

Một đồng môn khác cũng đã âm thầm chia tay trong trường hợp không vui. Khi cuộc hành quân thực tập chưa kết thúc, anh được gọi tên, lên xe về trình diện Trung tá Đào Duy Ân, Tham Mưu Trưởng. Ngày mãn khóa, anh không có mặt. Chúng tôi rất buồn và ngạc nhiên khi biết người bạn đồng môn hiền lành, dễ mến này đã bị đưa ra đơn vị với cấp bậc binh nhì. Năm 1973, trong một lần đến QYV Nguyễn Huệ, Nha Trang thăm một sĩ quan cùng đơn vị bị thương nặng đang điều trị ở đây, bất ngờ tôi gặp lại anh, khi ấy anh là y tá với cấp bậc Hạ sĩ 1. Hai thằng nhìn nhau, bắt tay rồi ôm lấy nhau trong sự ngỡ ngàng. Anh vẫn sống độc thân trong căn phòng nhỏ thuê ở gần QYV. Buổi chiều, tôi lái xe đưa anh về căn phòng trọ này để anh thay áo quần dân sự, sau đó chúng tôi ra một cái quán bên bờ biển uống rượu tâm tình, nhưng tôi ngại không dám hỏi lý do vì sao anh bị ra trường non với cấp bậc binh nhì như thế. Ăn uống xong, thay vì về nhà, anh nhờ tôi đưa anh đến một ngôi trường gần đó. Anh dạy Anh văn cho một lớp đêm ở đây. Lúc còn trong quân trường, anh nằm giường kế bên tôi, là người gốc Quảng Bình, một con chiên ngoan đạo, rất tư cách, vui vẻ hiền lành, mọi người đều quí mến, nên lúc anh gặp tai ương, dù không biết lý do gì, ai cũng ngạc nhiên và tội nghiệp anh.

Người tử trận đầu tiên của Trung Đội 14 chúng tôi là bạn Dương Văn Chánh. Chánh là một trong số rất ít được chọn về Binh Chủng Nhảy Dù. Có lẽ vì Chánh là em vợ của Tướng Trương Quang Ân, lúc ấy đang là Trung Tá, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 ND. Sau khi tốt nghiệp khóa Căn Bản Nhảy Dù, Chánh được bổ sung cho Tiểu Đoàn 7 ND và bị thương ngay trong trận đánh đầu tiên, trận Đồng Xoài, vào cuối tháng 6.1965. Một trận chiến đẫm máu khi lần đầu tiên Cộng quân đã sử dụng một lực lượng đến cấp sư đoàn. Sau khi xuật viện, đến tháng 12. 1965, anh lại bị tử thương cùng 80 đồng đội thuộc Đại Đội 72 ND, khi chiếc C-123B của Không Lực Hoa Kỳ chuyên chở đơn vị Nhảy Dù của anh đến khu vực hành quân, bị rơi trên một đỉnh núi, ở vùng Tây Bắc Tuy Hòa (Phú Yên). Trước khi nhập ngũ, Chánh học ở Luật Khoa. Da đen, giọng khàn khàn, ít nói, trông tướng tá hơi “ngầu”, nhưng rất hiền hậu, dễ thương.

Dù là sĩ quan trừ bị, nhưng Khóa 18 của chúng tôi đã đóng góp rất nhiều chiến công và xương máu cho cuộc chiến bất hạnh này. Bạn bè tôi không chỉ đã hy sinh trên chiến trường, mà còn chết oan khiên trong các trại tù man rợ của Cộng Sản, và có người đã chết trên xứ người bởi vì hệ lụy từ cuộc chiến bất hạnh, mà “bên thắng cuộc” lại là bọn người gian ác bị mê hoặc bởi một chủ thuyết man rợ.

 Tôi nhớ tới Trần Công Lâm,  một thằng bạn cùng Trung Đội 14, nó nằm giường trên, tôi giường dưới, nên hai thằng trở thành đôi bạn thân thiết nhất. Quê ở tận Nha Trang, nên những ngày cuối tuần về phép, tôi thường theo về nhà nó ở khu Bình Triệu, cùng đi chơi với cô vị hôn thê, sau này là vợ của nó. Lâm có ông anh là thượng sĩ, nhân viên Phòng Nhất của Bộ Tư Lênh Lực Lượng Đặc Biệt đồn trú tại Nha Trang, ngay trên quê tôi. Nó bảo đã nói chuyện với ông anh và ông cam kết là hai thằng bọn tôi sẽ được chọn về binh chủng này trước ngày mãn khóa. Thấy tôi có vẻ hoài nghi, nó bảo, dù chỉ mang cấp bậc thượng sĩ, nhưng ông anh khá thân thiết và là cánh tay mặt của ông trưởng phòng, nên chuyện chọn hai thằng về LLĐB chỉ là chuyện nhỏ. Thực tình, lúc ấy bọn tôi cũng không am hiểu mấy về binh chủng này, chỉ thấy bộ đồng phục rằn ri, cái bê-rê màu xanh và huy hiệu con cọp nhảy qua cánh dù, trông rất oai phong, nên thích vậy thôi.

Gần ngày mãn khóa, tôi đã thấy trên tủ áo của nó có cả bộ quân phục và bê-rê xanh LLĐB. Nhưng khi ra hội trường để được gọi về các binh chủng, cả hai thằng đều không có tên. Giờ chót chỉ còn chỗ ở các Sư Đoàn Bộ Binh. Tôi bảo nó theo tôi về Sư Đoàn 23, vì quê tôi nằm trong vùng hoạt động của đại đơn vị này. Lần này thì Lâm theo tôi, bỏ Sài gòn ra tận núi rừng miền Trung xa tít. (Sau này nó cho biết, đúng thời gian chọn tân sĩ quan về binh chủng thì ông anh của nó chẳng may bị tai nạn phải vào quân y viện, nên hai thằng bọn tôi bị lọt sổ.) Ngoài Trần Công Lâm ra tôi còn rủ thêm Nguyễn Văn Túc. Túc không cùng Đại Đội nhưng là  bạn học cùng lớp Đệ Nhất C với tôi lúc trước ở trường Võ Tánh, và trước khi vào lính hai thằng rủ nhau về quê tôi dạy ở một trường trung học tư thục đệ nhất cấp vừa mới mở, mà ông hiệu trưởng là bạn của cha tôi.

Khi ra đơn vị, theo yêu cầu của chúng tôi, cả ba thằng được bổ nhậm về cùng một tiểu đoàn. Lâm về Đại Đội 1, Túc về Đại Đội 2, còn tôi về Đại Đội 3. Khi ấy, tiểu đoàn tôi có lẽ là một tiểu đoàn đánh đấm có hạng, nên được chọn làm đơn vị lưu động, có trách nhiệm tiếp ứng cho cả Khu 23 Chiến Thuật. Vì vậy có khi buổi sáng còn ở núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều đã có mặt ở vùng biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Về đơn vị đã hơn ba năm mà bọn tôi chưa hề biết hậu cứ tiểu đoàn nằm ở đâu trên Ban Mê Thuột. Thời gian ấy chiến trường chưa sôi động lắm, chúng tôi chỉ thường đụng độ với các đơn vị địa phương của địch. Chỉ có ở Quảng Đức và Phú Yên thỉnh thoảng có sự xuất hiện của lực lượng chính quy mới xâm nhập từ miền Bắc. Làm trung đội trưởng hơn hai năm, đánh đấm vài trận, được mấy cái huy chương, thì cả ba thằng lần lượt được lên nắm đại đội. Sau đó tôi được ông tiểu đoàn trưởng kéo về làm Ban 3, còn Lâm về làm Đai Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy kiêm Trưởng ban Truyền Tin, thay cho người tiền nhiệm thuyên chuyển đi nơi khác. Lúc ấy, Lâm hiền lành như con gái, mấy lần ông tiểu đoàn trưởng bảo Lâm: “cậu ra trường hơn hai năm rồi mà trông cứ như một thư sinh, làm sao lính nó ngán được!” Có lẽ với lý do này, nên ông gởi Lâm theo học Khóa Rừng Núi Sình Lầy rồi sau này lại học thêm khóa Viễn Thám. Riêng Túc, sau khi lên trung úy một thời gian, đang là một đại đội trưởng có hạng thì được lệnh giải ngũ vì cận thị quá nặng. Túc được nhận vào làm tại Nha Bưu Điện và được sang Singapore học một khóa khóa chuyên môn để về dạy ở Trường Bưu Điện Sài gòn.

Cùng lúc tôi được chuyển về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn thì Trần Công Lâm nhận lệnh theo học Khóa Căn Bản Truyền Tin tại Vũng Tàu. Nhưng chưa tới ngày mãn khóa tôi đã thấy Lâm về lại đơn vị. Trước khi trình diện ông trung đoàn trưởng, Lâm khoe “thành tích”với tôi:

    -Học và làm cái nghề Truyền Tin này coi bộ nhức đầu quá, nên tao nản, cứ dù về nhà thăm vợ và thằng cu mới sinh, nên bị ông chỉ huy trưởng Trường  ký cho mười ngày trọng cấm và trả về đơn vị. Mày trình với ông trung đoàn trưởng cho tao ra tiểu đoàn khác, về lại tiểu đoàn cũ khó làm việc!.

Lâm về Tiểu Đoàn 4 làm đại đội trưởng một thời gian. Khi anh đại đội trưởng ĐĐ Trinh Sát có lệnh thuyên chuyển đi đơn vị mới, tôi tìm gặp Lâm:

– Mày có muốn về nắm Đại Đội Trinh Sát không, tao sẽ “nổ”với ông trung đoàn trưởng, vì mày có bằng RNSL và cả bằng Viễn Thám. Về Trinh Sát có cơ hội thi thố tài năng, thử lửa ra sao, để không ai còn dám gọi mầy là “Lâm Con Gái” nữa!

 Lâm vỗ vai tôi cười khoái chí.

Không ngờ, chỉ sau một thời gian, Trần Công Lâm trở thành một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh của cả Quân Đoàn. Bây giờ, chuyện xông pha trận mạc đối với Lâm còn dễ hơn chuyện dắt đào đi chơi ngoài phố. Nơi nào không giải quyết được chiến trường, Lâm tình nguyện nhảy vào, và lúc nào cũng xuống mục tiêu trước tiên với một toán Viễn Thám. Một lần, một tiểu đoàn trực thuộc cùng chi đoàn TQV và pháo đội PB 105 ly tăng phái, di chuyển đến vùng hành quân, bị một lực lượng Cộng quân hùng hậu đào giao thông hào, ngụy trang hai bên đường phục kích. Đơn vị phản công kịp thời, các sĩ quan Kỵ Binh dạn dày kinh nghiệm, cho thiết vận xa M 113 vừa tác xạ vừa cày nát đè bẹp các giao thông hào của địch, lực lượng Bộ Binh bung ra, vừa bảo vệ Pháo Binh vừa đánh cận chiến và tung lựu đạn xuống phòng tuyến địch, Pháo Binh hạ nòng trực xạ vào các cao điểm nghi ngờ địch tập trung. Địch chết khá nhiều, một số bị ta bắt sống, Khai thác cấp thời, biết được vị trí bộ chỉ huy của địch nằm cách nơi chạm súng khoảng hơn hai cây số, và chỉ được bảo vệ bằng một đại đội với quân số chưa tới 50 người. Đại Đội Trinh Sát của Lâm đang ứng chiến bên cạnh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, được trực thăng Hoa Kỳ bốc thả xuống ngay sát bên hông địch, sau một tràng TOT của Pháo Binh cùng với sự yễm trợ của bốn chiếc Cobra, địch không ngóc đầu lên được. Với hỏa lực phi pháo và lối đánh thần tốc của Lâm, địch không kịp trở tay, cả bộ chỉ huy địch đều bị giết và một số bị bắt sống, trong đó có tên chính ủy và cả tên trung đoàn trưởng, ta tịch thu nhiều tài liệu quan trọng cùng mấy triệu đồng tiền VNCH (toàn giấy 1.000 mới toanh đựng trong các thùng gỗ), nhưng khi giao cho Ty Ngân Khố giám định, hóa ra đều là tiền giả được in từ Trung Cộng.

Một lần khác, được tin tình báo cho biết, một đơn vị địch vừa mới xâm nhập vào vùng núi giữa ranh giới ba tỉnh Lâm Đồng – Ninh Thuận – Bình Thuận, Lâm tình nguyện dắt một toán viễn thám, được cải trang thành những bộ đội VC mang theo AK-47 và B- 40 (chiến lợi phẩm tịch thu của địch) xâm nhập. Một tiểu đoàn được lệnh ứng chiến, cùng với Đại Đội Trinh Sát (-) của Lâm, do anh đại đội phó chỉ huy, để khi nào nhận hiệu lệnh của Lâm sẽ nhảy vào tiếp ứng. Nhưng đến khuya, Lâm cùng toán viễn thám trở ra an toàn, còn bắt theo ba tên địch, trong đó có môt phụ nữ. Sau khi khai thác, biết chính xác địa điểm ém quân của địch, Lâm báo về TTHQ, chúng tôi liên lạc cố vấn Mỹ xin mấy phi tuần cất cánh từ Căn cứ Cam Ranh đến đánh bom ngay khuya hôm ấy. Sau đó cũng chính Lâm, chỉ huy Đại Đội Trinh Sát nhảy vào kiểm soát chiến trường và truy kích địch. Đơn vị lại tạo thêm một chiến thắng lớn, gần cả trăm xác địch bỏ lại, rất nhiều vũ khí các loại bị ta tịch thu, trên mười tên bị thương bị ta bắt.

Lâm ngày một đam mê chiến trận. Chiến trường như là những tảng nam châm cực mạnh cuốn hút lấy Lâm. Đại đội nghỉ vài hôm là Lâm xin đi hành quân. Hành quân mà chưa đụng địch, Lâm không về và đề nghị tái tiếp tế để bốc đi nơi khác. Thuộc cấp cũng mệt vì Lâm, nhưng tất cả đều nể phục Lâm. Chính Lâm đã biến Đại Đội Trinh Sát này trở thành đơn vị thiện chiến, lừng lẫy một thời.

Khi một lực lượng chiến xa Hoa Kỳ đến hoạt động trong Mật Khu Lê Hồng Phong, một mật khu có địa thế khá rộng lớn và hiểm trở của Cộng quân tại Bình Thuận, đã xin đích danh Đại Đội Trinh Sát của Lâm biệt phái để phối họp, tùng thiết. Vị chỉ huy lực lượng chiến xa này đã hết lòng ca ngợi Lâm và đề nghị ân thưởng huy chương Hoa Kỳ cho Lâm.

Trong hơn ba năm làm đại đội trưởng, Đại Đội Trinh Sát của Lâm đã tạo rất nhiều chiến thắng, mà tổn thất rất ít. Số vũ khí và tù binh thu bắt được còn hơn cả số lượng chiến lợi phẩm và tù binh của các tiểu đoàn trực thuộc. Lâm trở thành người hùng của Sư Đoàn, được thăng cấp đại úy tại mặt trận, tưởng thưởng khoảng 4, 5 ADBT với  nhành dương liễu và nhiều ADBT với ngôi sao vàng, bạc, 1 huy chương của Hoa Kỳ, 1 của Đại Hàn và tất nhiên có cả Chiến Thương Bội Tinh. Qua bao nhiêu lần thoat chết trong đường tơ kẻ tóc, Lâm khoe với tôi là nhờ đạn tránh nó. Mùa Hè 1972, Lâm ra nắm Tiểu Đoàn 3/44, đơn vị đầu đời của Lâm và tôi. Lâm đã góp rất nhiều chiến công để có được một “Kontum Kiêu Hùng.” Tháng 6/ 1973, Lâm được chọn làm“chiến sĩ xuất sắc của Quân Đoàn” để về dự tiệc khao quân trong Dinh Độc Lập nhân ngày Quân Lực 19.6, nhưng chưa đến ngày đi thì tử trận. Lâm đã hy sinh tại phía Bắc Kontum, khi cùng toán thám báo đi thám sát địa thế đóng quân trên một cao điểm. Do một thằng em vướng phải mìn Claymore của một đơn vị bạn triệt thoái trước đây, không kịp thu hồi. Thằng em thì chỉ bị thương mà ông thầy thì lãnh đủ. Cái chết thật xót xa, đáng tiếc đối với một người từng tạo nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, và biết bao lần vào sinh ra tử như Lâm.

Ngày Lâm chết, tôi không có mặt ở đơn vị, vì đang nghỉ phép đặc biệt ở Nha Trang. Tôi ghé vào Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, tìm Nguyễn Tấn Hưng, một người bạn cùng khóa, cùng Trung Đội 14 SVSQ, rất thân thiết với Lâm và tôi, được bổ nhậm về quân trường này, và khi ấy đang là Trưởng Phòng Điều Hành. Hưng đón tôi vào văn phòng rồi đóng cửa lại. Hai thằng ôm mặt khóc.

Tôi nhớ tới một người bạn cùng khóa khác, Phù Văn Vũ, cũng về Sư Đoàn 23, cùng trung đoàn nhưng ở tiểu đoàn khác. Thỉnh thoảng, những ngày nghỉ quân, chúng tôi gặp nhau, rủ đi uống rượu. Sau khi lên trung úy, và bị thương trong một trận đánh ở Lâm Đồng, Vũ được theo học một khóa CTCT ở Sài gòn. Mãn khóa được về Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn làm Sĩ quan Tâm Lý Chiến. Vũ có nét lai Tây, cao lớn, thuộc hàng “bô” trai, tính tình vui vẻ dễ thương, nên ai cũng quí. Và cũng là một cao thủ “nhậu”. Trong những cuộc so tài uống rượu, Vũ luôn chiếm giải quán quân. Lúc ấy trong toán cố vấn Mỹ có Thiếu Tá Davis rất chịu chơi, cung cấp đủ thứ whisky, nên rượu không bao giờ cạn. Là dân Sài gòn chính hiệu, gia đình mấy đời ở gần khu cầu chữ Y, thỉnh thoảng chị Vũ dắt con ra thăm và làm nhiều món ngon cho chồng đãi bạn bè. Chị vừa đẹp vừa hiền lành bặt thiệp, nên ai cũng quí. Lúc ấy vợ chồng có hai đứa con, một gái một trai, khoảng 8, 7 tuổi, xinh xắn, lễ phép, dễ thương. Lên đại úy một thời gian, Vũ xin ra tiểu đoàn để giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Mấy tháng sau đi học Bô Binh Cao Cấp rồi thuyên chuyển về Vùng 3. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ đó.

Sau tháng 4/ 75, khi có thông báo của Cộng sản (Ủy Ban Quân Quản Sài gòn) kêu gọi đi “trình diện học tập cải tạo”, tôi đến địa điểm Trường Đại Học Kiến Trúc. Khi xếp hàng chờ ghi danh làm thủ tục, thấy phía đằng trước có một người chống hai cái nạng gỗ. Khi anh ta quay mặt lại, tôi nhận ra Phù Văn Vũ. Trong cảnh sa cơ cá chậu chim lồng này mà gặp được một người bạn thân thì mừng vui lắm. Hai thằng dặn nhau phải luôn đi chung. Đặc biệt Vũ rất cần tôi phụ giúp băng bó, chữa trị vết thương. Bọn tôi bị đưa tới trại tù An Dưỡng (Biên Hòa), may mắn ở cùng một nhà, một tổ. Vết thương khá lớn ở chân phải của Vũ vẫn còn mưng mủ, tôi trở thành “y tá” riêng cho Vũ, rửa vết thương và băng bó mỗi ngày. Theo lời Vũ kể, vào cuối tháng 3/75, lúc ấy đang làm tiểu đoàn trưởng thuộc Sư Đoàn 25 BB, Vũ bị thương nặng ở đầu gối chân phải do đạn pháo của địch. Ngày 1 tháng 5, đang điều trị ở TYV Cộng Hòa thì bị VC đuổi ra. Về nhà may mà bà xã săn sóc thuốc men chu đáo nên mới khá được như hôm nay.

Vì phải chống nạng, nên Vũ không phải đi lao động, (khi ấy bọn tôi phải đi tháo gở kẽm gai và mìn trong hàng rào phi trường Biên Hòa), chỉ ở nhà quét dọn nhà ở, nhà bếp và hội trường. Không đủ thuốc men, nên vết thương kéo dài, cho mãi đến tháng 6.1976, khi lên tàu sông Hương ra Bắc, vẫn chưa lành hẵn.

Khi xuống tàu để lên bến Hải Phòng, thấy tôi đi chung và xách ba lô cho Vũ, một tên bộ đội kéo tách chúng tôi ra, giữ Vũ lại và bảo tôi phải đi xuống trước, mặc dù tôi đã năn nỉ xin được đi chung để giúp đỡ Vũ trong tình trạng vết thương chưa lành và đi đứng khó khăn, nhưng hắn không cho mà còn nạt nộ.

Tôi bị đưa về Trại 3 (Hang Dơi) nằm cực bắc Yên Bái thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn lúc ấy. Sau một thời gian, trong một lần đi xuống kho tổng trại ở Nghĩa Lộ để vác gạo về cho trại, thấy một người chống nạng, chăn bầy bò bên đường, tôi nhận ra Vũ với đôi chân thấp cao, khập khiễng. Bất ngờ gặp lại nhau, cả hai thằng đều mừng mà ứa nước mắt. Vũ cho biết đang ở Trại 8, và vì phải chống nạng nên được cho chăn bò của trại. Khi tên vệ binh thúc tôi phải đi, Vũ kịp đưa cho tôi một gói nhỏ. Tôi bỏ nhanh vào túi áo. Khi dừng lại nghỉ trưa trên ngọn đèo cao, mở ra tôi thấy một cái bánh nướng làm bằng bột sắn (khoai mì), tôi vừa ăn vừa lau nước mắt.

Trại 3 của tôi cách Trại 8 của Vũ khoảng hơn hai mươi cây số, đặc biệt phải đi qua một cái đèo rất cao. Mỗi lần đi vác gạo, bọn tù chúng tôi khốn khổ bởi cái đèo này. Không biết tên gì, nhưng bọn tôi gọi đó là “Đèo Bá Thở.” Ba tháng sau, trong chuyến đi vác gạo kế tiếp, tôi lại được gặp Vũ, lần này thì cả hai thằng mừng rỡ, nhưng đứng cách nhau khá xa, chỉ kịp gọi tên và vẫy tay chào. Rồi ba tháng sau nữa, cũng trong một chuyến đi lấy gạo, khi gần đến khu Trại 8, thấy bầy bò từ xa, tôi háo hức để được gặp lại Vũ, nhưng khi người chăn bò đưa tay chào các bạn tù, tôi ngạc nhiên vì không phải Vũ, mà lại là một người khác, khá già, râu tóc bạc phơ. Anh cho biết là Vũ đã chết trước đó hơn một tháng, do bệnh kiết lỵ mà không có thuốc chữa. Tôi bỗng thấy đau nhói trong lòng, và bâng khuâng nghĩ tới vợ con Vũ, bởi lúc ngồi trên tàu Sông Hương ra Bắc, Vũ đã buồn bã nói với tôi, các con còn quá nhỏ, ngày Vũ đi vào tù, nhà không còn tiền và cũng chẳng có tài sản gì đáng giá, rồi không biết vợ con sẽ phải sống ra sao. Khi ấy tôi chỉ còn biết lấy hoàn cảnh tương tự của chính mình để an ủi Vũ.

Một hôm vào khoảng đầu năm 2007, trong một dịp sang Cali, tôi bất ngờ gặp lại một người bạn tù khá thân. Anh đang hợp tác trong tổ chức nhân đạo của cựu tù Thiếu Tá Nguyễn Đạc Thành, nhằm tìm kiếm mồ mả, hài cốt của những anh em chết ở các trại tù miền Bắc. Tôi hỏi ngay đến Phù Văn Vũ, và quá đỗi ngạc nhiên khi anh bạn cho biết đã tìm ra được mộ của Vũ và cũng đã liên lạc với vợ con Vũ để về Việt Nam bốc mộ. Anh bạn còn cho tôi xem tập hồ sơ, có cả hình ảnh của Vũ lúc còn trong quân ngũ, và hình của ngôi mộ hoang phế trong núi rừng Việt Bắc với tấm bia xám xịt còn lờ mờ mấy chữ: Phù Văn Vũ chết ngày 23.8.1977 (chỉ sau một năm chuyển ra Bắc). Vợ con Vũ đã may mắn được sang định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO và đang sinh sống ở Tiểu Bang N. Carolina. Trong hồ sơ có ghi số điện thoại con trai lớn của Vũ. Tôi liên lạc hỏi thăm và nói chuyện mấy lần. Sau đó, vì chị Vũ không được khỏe, nên cháu Nguyễn Ngọc Thị Hương, cô con dâu trưởng của Vũ đã theo tổ chức này về VN phối họp cùng cô con gái lớn của Vũ (còn ở lại VN) bốc mộ Vũ vào ngày 26.2.2007 và mang tro cốt về cải táng tại Hoa Kỳ.

Tôi nhớ tới Trần Ngọc Thăng, thằng bạn cùng Khóa 18 khác và cũng là bạn học cùng truờng ở Nha Trang lúc trước. Ra trường, Thăng tình nguyện về Biệt Động Quân.  Khoảng ba năm sau tôi bất ngờ gặp nó mang ba lô về trình diện trung đoàn tôi tại Sông Mao. Đúng lúc các đơn vị đang nghỉ dưỡng quân, tôi gọi tất cả đám bạn cùng Khóa 18 về Câu Lạc Bộ đón mừng nó. Khi ấy cả bọn tôi đều đã lên trung úy, chỉ duy nhất có Thăng còn mang thiếu úy. Hỏi ra mới biết chàng ta từ quân lao mới chuyển ra Đơn Vị 2 Quản Trị và được bổ sung về đơn vị tôi.Thăng bảo, mới vừa lên làm đại đội trưởng BĐQ thì đụng độ với ông tiểu đoàn phó khi ông chửi thề và tát tai một anh chuẩn úy mới ra trường, trung đội trưởng của Thăng. Đang cãi nhau thì bất ngờ bị ông đá thúc vào ống chân thách thức, nên sẵn súng trên tay Thăng bắn một phát vào bàn chân ông. Bị 30 ngày trọng cấm và ra Tòa Án Quân Sự lãnh tám tháng tù. Không biết có phải vì lý do này mà suốt thời gian ở đơn vị, ngoài những bạn cùng khóa, Thăng không chơi với ai. Tình nguyện về làm đại đội phó Trinh Sát. Hơn một năm sau được thăng cấp trung úy, Thăng xin ra nắm đại đội ở Tiểu Đoàn 2. Đầu năm 1973, khi đang làm tiểu đoàn phó TĐ3 cho Trần Công Lâm, Thăng được bổ nhậm làm tiểu đoàn trưởng TĐ 2/44 trong một trường hợp khá đặc biệt. Thời gian còn làm đại đội trưởng, hành quân ở khu vực Di Linh – Đức Trọng, Thăng quen biết một nữ sinh sắc tộc Thái Trắng, khá xinh, nhưng mãi đến đầu năm 1974 hai người mới làm đám cưới và một đứa con trai ra đời trong những ngày cuối tháng Tư buồn. Trong lúcThăng bị tù ngoài Bắc, ở nhà vợ Thăng treo cổ tự vẫn, đứa con trai được giao lại cho bà nội nuôi nấng. Theo người nhà kể lại, khi chết, vợ Thăng mặc chiếc áo dài trắng thuở còn đi học và có để lại một lá thư, nhưng bị công an tịch thu nên không ai biết vợ Thăng đã viết những gì trong đó. Ra tù vài năm, Thăng đưa mẹ, hai cô em gái và đứa con trai vượt biển. Đến Mỹ, định cư ở San Jose, Thăng nhờ mẹ chăm sóc đứa con thơ để vừa đi làm vừa đi học. Mỗi lần nói chuyện trong điện thoại, tôi đều ca ngợi Thăng có chí, nó cười bảo: “tao vùi đầu vào sách vở là chỉ để được quên, không muốn có chút thì giờ nào để phải hồi tưởng hay suy nghĩ điều gì”. Cuối cùng nó cũng lấy được bằng Cao HọcTâm Lý (Master of Psychology) và tìm được việc làm lương cao, ổn định. Bạn bè ai cũng khen và mừng cho nó. Bao nhiêu tình thương Thăng dồn hết cho mẹ và đứa con trai. Nó bảo mẹ nó đã một đời tão tần nuôi nấng cưu mang mấy anh em nó từ lúc còn tấm bé, di cư từ Bắc vào Nam năm 1954. Do lời khuyên nhủ của mẹ, Thăng tục huyền. Cô vợ nhỏ hơn nó khá nhiều tuổi, quen nhau lúc cả hai cùng là sinh viên ở một trường đại học Mỹ, cũng là ái nữ của một cựu thiếu tá ở Sư Đoàn 7 BB. Vẫn cái tính như ngày xưa, Thăng sống khép kín, ít giao tiếp với bạn bè, nhưng với vợ chồng tôi, Thăng luôn dành một tình cảm đặc biệt. Mỗi lần sang Mỹ, chúng tôi đều ghé lại thăm, và vợ chồng Thăng luôn giữ lại nhà vài hôm. Vợ Thăng cũng rất hiền lành, vui vẻ và hiếu khách. Đầu năm 2007, mẹ già ngã bệnh, vợ chồng Thăng đã hết lòng lo chữa chạy, nhưng vì tuổi già sức yếu, không chống chọi nổi bệnh tình, bà đã quy tiên. Biết Thăng rất đau lòng, từ Bắc Âu tôi bay sang với Thăng, và chạnh lòng khi nhìn thấy Thăng tiều tụy, chán chường. Trong dịp này, tôi lại biết thêm một nỗi buồn khác, cũng rất to lớn của Thăng. Đứa con trai duy nhất mà Thăng hết mực cưng chiều yêu quý, như muốn làm vui lòng người vợ bất hạnh ở dưới suối vàng, đã bỏ học và có con với một cô bạn gái cùng lớp trong high school, khi cả hai còn ở tuổi vị thành niên. Thăng giấu tôi chuyện này. Chỉ thỉnh thoảng than với tôi là không còn thiết tha gì nữa và hối tiếc là ngày xưa không được chết trên chiến trường. Tôi vừa an ủi vừa đùa, bảo Thăng đã học nhiều năm về Tâm Lý, sao không “lấy sở tồn ra làm sở dụng.”

Bỗng một hôm được tin Thăng chết. Chết một cách đau đớn. Thăng dối vợ, bảo đi thuê hộ khách sạn cho một người bạn từ tiểu bang khác tới. Nhưng thực ra Thăng đi thuê phòng trong một khách sạn nhỏ ở gần nhà, rồi ở đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, sau khi viết mấy lá thư để lại trên bàn. Tôi nhận được lá thư Thăng viết cho tôi, do Cảnh sát giao lại. Nét chữ ngay ngắn, đẹp đẽ, chứng tỏ Thăng rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình:

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với núi rừng thuở trước. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, những thằng bạn thân thiết, đã từng sống chết với nhau. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không đựợc chết một cách oai hùng ở chiến trường nhưng thằng Lâm, thằng Bê, anh Tài, anh Đức…”

Đọc xong, thấy đau đớn trong lòng tựa hồ như đang có nhiều vết chém, vậy mà không hiểu vì sao tôi không khóc được.

Tháng Tư này, nhân dịp tiễn đưa đồng môn Võ Văn Khoa về miền miên viễn, nhớ tới bạn bè, bỗng tôi nghĩ thật nhiều đến ba cái chết của ba người bạn cùng khóa, cùng một đơn vị, và một thời rất thân thiết. Ba cái chết trong ba thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Một thằng đánh giặc nổi danh rồi chết tại chiến trường, một thằng luôn yêu đời, vui vẻ hiền lành bị chết trong tù với đôi chân tàn phế, và một thằng từng ngang dọc một thời, sống bất cần, ba chìm bảy nổi, vượt thoát thành công, đỗ đạt trên xứ người, cuối cùng bắn vào đầu mình tự vẫn. Ba cái chết khác nhau, nhưng chỉ có một nguyên nhân duy nhất: hậu quả của một cuộc chiến bất hạnh, và chúng tôi lại là những chiến binh bất hạnh nhất.

Trong nỗi xót xa, tôi thầm cầu mong không còn phải chứng kiến những tranh chấp, bất đồng , hơn thua giữa những người anh em từng một thời xuất thân  từ một mái quân trường hay cùng chiến đấu, sống chết bên nhau trên các chiến trường lửa đạn. Chẳng lẽ cả một đời binh nghiệp, cuối cùng chúng ta chẳng còn giữ lại được điều gì, ngay cả cái tình đồng môn, huynh đệ? Tôi cũng thật đau lòng khi biết có những người đã vội quên mình từng một thời là lính, sống thản nhiên vô tâm trước nỗi đau của quê hương đất nước, và quên cả món nợ máu xương mà mình chưa trả được một chút gì cho đồng đội anh em.

Tôi bỗng chạnh lòng khi nhớ tới một đoạn đã đọc được từ khá lâu trong“Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh”, tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Erich Maria Remarque: “… Rồi mọi người sẽ không hiểu được chúng tôi…Chúng tôi sẽ trở thành một thứ thừa thãi ngay cả đối với chính mình, chúng tôi sẽ ngày càng già đi, một số có thể hội nhập được với cuộc sống mới, một số khác sẽ nhẫn nhục mà sống, và hầu hết là sống trong nỗi bàng hoàng đau đớn. Ngày tháng sẽ trôi đi và cuối cùng chúng tôi sẽ rơi vào tàn lụi”.

Không! Chúng tôi, dù là những người lính trừ bị, nhưng đã hiến cả đời mình cho quân đội, cho Tổ Quốc, luôn ngẩng cao đầu hãnh diện đã góp phần bảo vệ quê hương và phát huy giá trị tự do nhân bản. Chúng tôi đã từng sống chết hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.

Cuộc chiến bất hạnh khi người bạn đồng minh đành đoạn quay lưng, để phải kết thúc trong đớn đau, tức tưởi: “phía man rợ đã thắng”, lời của chính bà Dương Thu Hương, một nhà văn, một cán binh Cộng sản đã từng xác tín. Và một chế độ được dựng lên bởi một đảng cướp man rợ, độc tài, sống hèn mạt, phè phỡn trên nỗi thống khổ oán than của dân tộc cùng sự điêu linh của đất nước, sẽ không thể tồn tại lâu dài. Lịch sử dân tộc nhất định sẽ có ngày viết lại những chiến công vinh quang hiển hách, và cả những hy sinh, đau đớn, khổ nhục mà thế hệ chúng tôi đã từng đạt được, trải qua, trong một giai đoạn bất hạnh và đau thương nhất của dân tộc.

(tháng Tư 2019)
Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 19 Aug 2026

“Ôi! Huynh Đệ Chi Binh là cái gì đó anh Hai ơi?”

(Nhạc sĩ Lê Minh Bằng)

Nhớ ngày xưa trong thời kỳ chiến tranh, quân sĩ ngoài mặt trận, sống chết bên nhau từng giây phút cam go. Lúc ấy chỉ có súng đạn và đối phương, không có thành phố, không có thân nhân, vợ con họ hàng, quan cũng như quân, cái chết cận kề, cùng vào sinh ra tử nên cuộc sống khắng khít với nhau biết bao nhiêu.

Người ta dùng thành ngữ “huynh đệ chi binh” để nói tới mối tình anh em thiêng liêng trong đời sống quân ngũ ngoài mặt trận. Quân sĩ chia nhau từng ngụm nước, từng miếng lương khô, chia sẻ với nhau từng bức thư nhà, kể cho nhau nghe những tình cảm che kín tận đáy lòng. Họ là anh em, không có gì để dấu nhau, không có của cải nào để làm sở hữu cho riêng mình. Những lúc hiểm nguy, họ sẵn sàng hy sinh cả thân xác mình để bảo vệ cho bạn, vì đã là huynh đệ chi binh, bạn bè cũng không từ nan phải chết cho họ.

Nhất là đối với cấp chỉ huy, thì những chiến công, những thành tích của họ chính là do các binh sĩ dưới quyền làm nên. Một sĩ quan mới ra trường, đến với đơn vị hành quân tác chiến, bao nhiêu năm, leo lên đến cấp tá, rồi cấp tướng đã chứng kiến qua nhiều đoạn đường trải đầy xương máu của đồng đội. Người xưa đã nói: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!” vì khi một cấp bậc được gắn lên cổ áo hay một huy chương được trao tặng, điều đó đã được hình thành, xây dựng bởi bao nhiêu cái chết của thuộc cấp họ, bởi bao nhiêu vành khăn tang được vội vã quấn trên đầu của thân nhân đồng đội.

Nhưng mấy ai nhớ tới những điều đó, tướng lãnh thì đời sống xa hoa, lên xe xuống ngựa, binh sĩ thì sống chật vật nghèo nàn, thiếu thốn tiện nghi trong trại gia binh. Khoảng cách giữa những ngươi chỉ huy và thuộc cấp vẫn là một khoảng cách quá xa, thành ra đôi khi những khẩu hiệu vẫn chỉ là những khẩu hiệu, phù phiếm không hơn không kém. Những ông tướng vào bếp binh sĩ nếm thử một muỗng canh “đại dương” cũng chỉ là một hình thức “mị hoặc” để tuyên truyền, trong khi chính bà tướng đã đi hàng ngang với các nhà thầu cơm lính tại quân trường để ăn chặn trên mỗi bữa ăn vốn đã nghèo nàn của binh sĩ. Khi nhà thầu lương thực tặng bà tướng một triệu đồng có nghĩa là chúng đã đồng lõa cắt nửa phần cơm trong nhà ăn của những người vốn đã cơ cực, đói khổ.

Người viết bài này còn nhớ trong cuộc hành quân thực tập cuối khóa 16 SQTB Thủ Đức giữa năm 1963, ông Chỉ Huy Trưởng buổi chiều có theo giám sát cuộc hành quân của chúng tôi, nhưng theo ông là một đoàn xe và cả một tiểu đội lính để dựng lều, có “xi tẹc” nước cho ông tắm, có cả tủ nước đá lớn và nhiều chai rượu mạnh.

Một điều gây ấn tượng mạnh, giờ này, bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn còn nhìn thấy như ngay trước mắt tôi, đó là tai nạn sau buổi thực tập tác xạ súng cối 60 ly của Đại đội I chúng tôi tại quân trường. Sau giờ học, SVSQ được lệnh đi lượm các vỏ đạn để thu vào một đống. Một bạn đã vô ý ném vào một viên đạn lép 60 ly vào đống vỏ đạn. Một tiếng nổ kinh hồn đã giết mất sáu bạn trong đại đội chúng tôi và hai huấn luyện viên vũ khí, vì lúc ấy tất cả đều đứng quanh đó để chuẩn bị tập họp về trường. Đại đội trở về doanh trại với một tâm trạng buồn rầu và tang tóc. Phía trong cổng số 6 (cổng sau ngõ ra Tăng Nhơn Phú), ông Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi là Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám đang cầm can chỉ huy chờ chúng tôi bên cạnh chiếc xe Hoa Kỳ có gắn bảng sao của ông và đứng gần ông là một người lính cầm trong tay một ly rượu còn sóng sánh vàng với những viên đá cục và tay kia một chai rượu whisky sẵn sàng chờ lệnh chủ. Ngày đó chúng tôi và bạn bè chưa biết là sẽ phải chết vì những viên tướng như thế kia và đó chỉ mới là cái ấn tượng sơ khởi ở một nơi gọi là quân trường, chưa phải là ngoài đơn vị tác chiến. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tướng tá phần lớn có phương tiện trong tay hoặc có quyền lực để tìm phương tiện ra đi, hoặc được Mỹ bốc đi cả gia đình, kể cả con cháu, người ăn kẻ ở trong nhà và mang theo đủ của cải, tiền bạc. Những người còn ở lại là ai, thương binh què quặt lê la kiếm sống trên đường phố hoặc trong thôn xóm nghèo nàn, chiến hữu xếp hàng trình diện để vào trại tập trung ba năm, sáu năm, chín năm hay mười hai năm. Qua đây chưa thấy đàn anh nào có lòng thành, ý tốt nghĩ tới những người đã bỏ xương máu để gầy dựng nên binh nghiệp, gắn lên cổ áo mình đôi ba sao, để đứng ra tìm cách giúp đỡ cho đàn em bất hạnh ở quê nhà. Chỉ thấy đàn anh hội hè, gởi về quê hương những danh từ không thể làm no bao tử hay ấm được tấm thân. Ngày nay ở Hoa Kỳ, từ Pháp, Úc, Canada … nếu không có những anh em cấp nhỏ đã đồng lao cộng khổ, cũng như đồng bào qua đây còn ghi nhớ công ơn người chiến sĩ đã xả thân cho miền Nam Việt Nam, thì anh em thương binh, các bà quả phụ từ hai ba mươi năm nay đã không có được chút quà đắp đổi cho những ngày tháng bất hạnh còn lại của đời mình. Thực tình người viết bài này cũng mong có vị cựu tướng anh minh nào có thể “hỏi” được cả Mỹ và “xin” được cả chính quyền Cộng Sản để kiếm được một ngân khoản lo cho các thương phế binh VNCH. Nhưng nếu có được thì tiền cũng không ai đem về phát cho không, mà phải lập ra trường dạy nghề, hướng nghiệp. Đến lúc này thì cũng đã quá muộn, ba mươi năm qua, thương phế binh nay đã già yếu, chỉ chờ ngày chết. Người quân tử biết cẩn trọng lời nói, xin các đàn anh chớ có đem nỗi khốn khổ của thuộc cấp ngày xưa mà lót đường danh vọng một lần nữa.

Xin hãy làm một việc nhỏ như một người bình thường, mỗi năm giúp cho một vài hoàn cảnh thương phế binh để bớt nỗi nhọc nhằn cho họ và đem lại niềm vui ấm áp của tình huynh đệ chi binh mà ngày xưa chúng ta vẫn thường nghe nói tới hằng ngày.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 18 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Vào ngày 2 tháng 12-1941, Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara, Tư lịnh Không Hạm đội XI, lần đầu tiên gởi các phi công thám thính đến quần đảo Phi Luật Tân. Ngày 4 và 5, các phi cơ này trở lại một lần nữa để chụp hình 2 phi trường Clark Air Base và Iba Airfield cùng những nơi đồn trú quan trọng khác gần Manila, từ độ cao 20,000 bộ (6,000ma). Các không ảnh đã cho chúng tôi nhìn thấy rõ ràng tại phi trường Clark AB có 32 oanh tạc cơ B17, 3 phi cơ hạng trung và 71 phi cơ nhỏ. Theo xét đoán của Hải quân, địch có khoảng 300 máy bay quân sự đủ loại ở Lữ Tống (Luzon), là đảo chính. Sau này chúng tôi khám phá ra số phi cơ thiệt nhiều gấp đôi con số kể trên. Không phải chỉ chúng tôi độc quyền thực hiện các phi vụ do thám. Nhiều thám thính cơ Catalina PBY-5A của Hoa Kỳ cũng thỉnh thoảng được nhìn thấy trên không phận Ðài Loan. Loại thủy phi cơ hai máy này xuất hiện vào những ngày mây sà thấp, bay chậm ở độ cao 1,500 bộ (450m), nhởn nhơ chụp hình các nơi đồn trú và dãy phi cơ đậu trên mặt đất của chúng tôi. Các phi công Mỹ gây xiết bao kinh ngạc. Với những thân tàu chậm chạp và cũ kỹ, coi rất dễ ăn vậy mà chúng tôi không tóm được một chiếc Catalina nào. Mỗi lần có báo động, hàng chục phi công nhảy xổ lên không, nhưng mấy chiếc Catalina chui vô trong mây dày và biến mất tiêu. Với những không ảnh chụp ở một độ thấp như vầy, phải nói rằng người Mỹ có trong tay mọi thứ mà họ muốn biết về các đơn vị không quân Nhựt Bản.

Khi chúng tôi đến Ðài Nam để gia nhập vào Tân Hạm đội XI, chúng tôi phải trải qua một giai đoạn huấn luyện mới không ngưng nghỉ. Từ bình minh cho đến tối mù, 7 ngày một tuần, bất chấp mọi thời tiết, chúng tôi tham dự các chuyến bay huấn luyện để cải tiến các phi vụ hộ tống, phi vụ đột kích, phi vụ có đội hình đông đảo v.v.

Kế hoạch tấn công Phi Luật Tân nguyên thủy đòi hỏi phải sử dụng 3 hàng không mẫu hạm để mang chiến đấu cơ Zéro đến gần các hòn đảo của địch. Ðó là 3 hàng không mẫu hạm Ryujo (Long Phi) 11,700 tấn, Zuiho (Thụy Phụng) 13,950 tấn là một tàu tiếp tế cho tiềm thủy đĩnh được tân cải, và Taiho (Ðại Phụng) 20,000 tấn là tàu buôn cải tiến. Về mặt lý thuyết 3 hàng không mẫu hạm nhẹ này có khả năng chở đến 90 chiến đấu cơ, nhưng khả năng thực sự chỉ khoảng 50 phi cơ và con số này còn phải giảm xuống vào những ngày giông gió.

Phó Ðô đốc Tsukahara nhận thấy ba chiếc tàu này hầu như không đáp ứng các dự tính của ông. Tuy nhiên, nếu chiếc Zéro có thể bay thẳng một mạch từ Ðài Loan đến Phi và trở về không ngưng nghỉ, thì bấy giờ sẽ không cần đến hàng không mẫu hạm nữa. Nhưng các phụ tá của Tsukahara không tin một chiến đấu cơ một máy có thể thực hiện nổi nhiệm vụ có tầm xa như vậy. Clark Air Base cách căn cứ chúng tôi 450 hải lý (835km), và phi trường Nichols Field, một mục tiêu quan trọng khác gần Manila, cách 500 hải lý (930km). Ðiều đó có nghĩa là phải bay suốt từ 1,000 (1,850km) đến 1,200 dặm biển (2,200 km). Từ trước đến nay chưa có khu trục cơ nào thực hiện được những phi vụ xa như vậy bao giờ. Những cuộc thảo luận ồn ào xảy ra không dứt giữa Bộ Tham mưu Không quân… Chỉ có một cách duy nhứt để xác định vấn đề.

Từ đó về sau, chúng tôi bay ngày lẫn đêm để đo lường tầm hoạt động của chiến đấu cơ Zéro. Nếu là phi vụ đơn độc, loại khu trục Zéro có thể duy trì trên không tối đa 6 đến 7 giờ. Chúng tôi kéo dài thêm thời gian này ra từ 10 đến 12 giờ và thực hiện trong đội hình đông đúc. Riêng tôi lập thành tích trong việc hạ thấp mức tiêu thụ xăng xuống không quá 17 ga-lông (khoảng 68 lít) một giờ; trung bình các phi công giảm mức tiêu thụ xăng từ 35 ga-lông (140 lít) xuống còn 18 ga-lông (72 lít). Thông thường, một chiếc Zéro mang 182 ga-lông xăng. Ðể duy trì, ở cao độ 12,000 bộ (3,600m) chúng tôi chỉ bay với tốc lực khoảng 200 cây số giờ. Tốc lực đầy đủ bình thường của một chiếc Zéro là 500 km, và trong tình trạng khẩn cấp ngắn ngủi có thể lên đến tối đa 650 cây số giờ. Nhiều phương pháp tiết kiệm nhiên liệu có tánh cách kỹ thuật khác cũng được thực hiện.

Các phương pháp mới này đã nới rộng tầm hoạt động của chiếc Zéro một cách đáng kể. Các vị chỉ huy đã báo cáo những tin tức đầy lạc quan lên Phó Ðô đốc Tsukahara, và dẫn đến việc xoá bỏ 3 hàng không mẫu hạm nhỏ trong kế hoạch tấn công Phi Luật Tân của ông. Hai chiếc được điều về Nhựt Bản và một chiếc di chuyển đến yểm trợ cho các cuộc hành quân của chúng tôi ở Palau, phía Tây Thái Bình Dương gần quần đảo Carolina giáp ranh Nam-Dương. Do đó, Không Hạm đội XI trở thành một không hạm đội không có một tàu chiến nào cả.

Chúng tôi tò mò tìm hiểu sự chống trả sẽ gặp từ phía người Mỹ. Chúng tôi hiểu biết rất ít về các loại phi cơ và tài ba của phi công Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ phỏng đoán sẽ đối đầu với những phi công có nhiều khả năng hơn những phi công địch mà chúng tôi đã đối đầu ở Trung Hoa.

Không ai tỏ vẻ nghi ngờ về sự khôn ngoan trong việc phát động chiến tranh của Nhựt Bản. Chúng tôi, tất cả hạ sĩ quan đã được huấn luyện để chỉ biết nhắm mắt tuân lịnh. Khi được lịnh bay và đánh, chúng tôi thi hành.

Lúc hai giờ sáng ngày 8 tháng 12 năm 1941, một liên lạc viên chạy vô chỗ trú ngụ của chúng tôi ở Ðài Nam, đánh thức nhóm phi công chúng tôi dậy. Ðã đến ngày N, là ngày khai chiến theo như chúng tôi biết. Các phi công ngồi dậy lặng lẽ mặc quần áo và từng tốp nhỏ bước ra sân. Ðêm trong lành, thanh vắng với những vì sao chiếu lấp lánh khắp không trung. Yên tĩnh của đêm bị phá vỡ bởi tiếng giày trận của chúng tôi khua vang trên nền đá và tiếng nói thì thào của các phi công lúc bước ra phi đạo. Ðại úy Masahisa Saito, chỉ huy trưởng phi đoàn cho biết chúng tôi sẽ cất cánh lúc 4 giờ và ông thuyết trình về những chi tiết liên quan đến phi vụ tấn công vào phi trường Mỹ ở Phi Luật Tân. Sau đó chúng tôi chờ đợi. Binh sĩ chạy việc mang điểm tâm đến tận chỗ chúng tôi ngồi bên cạnh phi cơ nằm sẵn trên phi đạo. Khoảng 3 giờ sáng, sương mù bắt đầu sà thấp xuống, một hiện tượng hiếm thấy trong khu vực bán nhiệt đới. Vào lúc 4 giờ, sương mù trở nên dày đặc. Không thể nào nhìn thấy hơn năm thước. Chiếc loa trên đài kiểm soát không lưu vang vang: “Cất cánh hoãn vô hạn định!”

Nỗi bồn chồn của chúng tôi càng lúc càng gia tăng khi màn đêm loãng dần. Trong không khí là một dải sương mù dày của những ý nghĩ. Chúng tôi nhìn đồng hồ luôn, chửi rủa sương mù thậm tệ. Ba tiếng đồng hồ trôi qua trong tình trạng này, và sương mù đã không tan mà còn dày hơn. Bỗng nhiên loa phóng thanh lại vang tiếng: “Chú ý! Chú ý! Ðây là công bố quan trọng..” Các phi công chăm chú lắng nghe. “Vào lúc 6 giờ sáng nay, một lực lượng đặc nhiệm Nhựt Bản đã thành công khi tung ra cuộc tấn công hủy diệt bất thần các lực lượng Mỹ trên quần đảo Hạ Uy Di.” (Do lệch múi giờ, là mùng 7 tại Pearl Harbor nhưng là sáng mùng 8 ở Ðài Loan).

Tiếng hò reo dữ dội trổi lên trong màn đêm. Các phi công nhảy múa vỗ đấm lưng nhau thùm thụp. Nỗi vui mừng không trọn vẹn. Ða số phi công chúng tôi đều chửi thề vì bị đóng đinh trên mặt đất trong khi đồng đội đang nghiền nát kẻ thù. Bay và bắn. Ðã là phương châm của phi công Nhựt.

Cuộc tấn công vừa công bố làm cho chúng tôi thêm suy nghĩ. Người Mỹ hiện thời đã báo động và cảnh giác, khó thể tin rằng họ không gom góp hết sức mạnh để chờ chúng tôi ở Phi Luật Tân. Căng thẳng gia tăng khi buổi sáng ló dạng. Sương mù đã phá hỏng kế hoạch của chúng tôi, sẽ cho phép người Mỹ tung phi cơ của họ từ Lữ Tống đến vồ số phi cơ hiện còn nằm trên mặt đất của chúng tôi ngay khi sương mù vừa tan. Chúng tôi chuẩn bị chống trả. Các xạ thủ phòng không ghìm súng, và mọi người vểnh tai ngóng tiếng oanh tạc cơ địch bay đến.

Lạ lùng thay, cuộc tấn công không xảy ra! Lúc 9 giờ sáng, sương mù bắt đầu tan và âm thanh vui mừng từ chiếc loa phóng thanh báo cho chúng tôi biết sẽ cất cánh trong vòng 1 giờ nữa. Tất cả các phi công chiến đấu cơ và oanh tạc cơ đều leo lên phi cơ của mình mà không đợi nhận lịnh thêm.

Ðúng 10 giờ, đèn báo hiệu lấp loáng xuyên qua màn sương mù mong manh. Hết chiếc oanh tạc cơ này đến chiếc oanh tạc cơ khác lần lượt cất cánh. Một, hai, ba, rồi sáu chiếc đã ở trên không trung. Chiếc thứ bảy đang chạy trên phi đạo và khi cách điểm khởi hành khoảng 500 thước bỗng nhiên bộ phận hạ cánh bên phải sụm xuống. Với một tiếng rít kéo dài khủng khiếp, chiếc phi cơ trườn bụng trên đường băng, lửa bao phủ toàn thân. Trong ánh lửa chập chờn, chúng tôi nhìn thấy phi hành đoàn nhảy ra, chạy cuống cuồng khỏi chiếc phi cơ. Kế đó, một tiếng nổ dữ dội phát ra rung rinh cả phi trường. Bom chất trên phi cơ nổ tung. Không một người nào trong phi hành đoàn sống sót.

Những mảnh vụn được dọn dẹp hối hả. Không đầy 15 phút sau, oanh tạc cơ kế đó được lịnh xuất phát. Ðến 10 giờ 45 phút, tất cả phi cơ đều ở trên không: 53 oanh tạc cơ Betty và 45 chiến đấu cơ Zéro. Chiến đấu cơ chia làm 2 nhóm, một nhóm hộ tống các oanh tạc cơ, một nhóm bay phía trước để nghinh chiến. Tôi chắc chắn, sau khi cuộc tấn công trì hoãn quá lâu, kẻ thù đang chờ đợi chúng tôi với tất cả sức lực của họ. Tôi bay trong đợt thứ năm và đội hình chúng tôi nâng cao lên 19,000 bộ (5,800m).

Ngay khi vượt qua mũi cực nam của đảo Ðài Loan, tôi nhìn thấy 9 oanh tạc cơ bay thẳng về phía hòn đảo. Hiển nhiên, chúng đang trên đường tấn công căn cứ của chúng tôi. Chín phi công, trong đó có tôi, trước khi cất cánh đã được lịnh chống trả bất kỳ phi cơ nào của địch phát hiện trên phi trình đến Lữ Tống, trong khi các phi công khác cứ tiếp tục bay như kế hoạch đã định.

Chúng tôi tách khỏi đội hình chính và bổ nhào xuống các oanh tạc cơ địch. Trong hai giây, tôi đã nằm trong vị trí khai hoả, và áp sát vào nhằm tỉa chiếc oanh tạc cơ dẫn đầu. Sắp sửa ấn cò súng, tôi nhận ra đây là các oanh tạc cơ của Lục Quân Nhựt Bản! Tôi lắc cánh để báo hiệu cho các chiến đấu cơ khác. Tôi chửi thề. Văng tục! Không một vị nào ở Bộ Tư lệnh Lục Quân trong khu vực thèm để ý đến việc phối hợp với các phi vụ của Hải quân. Bọn ngu đần ngồi trong mấy chiếc máy bay này đang thực hiện một phi vụ huấn luyện thường lệ!

Chúng tôi kết hợp vào đội hình lúc bay qua nhóm đảo Batan, nằm giữa đường Ðài Loan và Lữ Tống. Các đảo này do quân nhảy dù Nhựt vừa chiếm đóng, nhằm để đón nhận một phi cơ nào đó của chúng tôi bắt buộc phải đáp xuống trên đường từ Phi trở về. Và rồi quần đảo Phi hiện ra trong tầm mắt, một màu xanh lá cây sậm nổi bật giữa màu xanh lơ của đại dương. Bờ biển trải dài phía dưới, ngoạn mục và hiền hoà. Không một chiếc phi cơ địch nào xuất hiện trên bầu trời. Bấy giờ chúng tôi đã bỏ đảo Hải Nam lại sau lưng, và vào lúc 1 giờ 35, chúng tôi trực chỉ US Clark Air Base.

Quang cảnh trước mắt không thể nào tin nổi. Thay vì đụng đầu với một bầy chiến đấu cơ đông như ruồi, bu lấy chúng tôi, chúng tôi nhìn xuống và thấy khoảng 60 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch đang nằm xếp hàng dọc theo phi đạo như một đàn vịt. Chúng tôi khó có thể hiểu được thái độ của đối phương. Trân Châu Cảng vừa bị tấn công cách đây 5 giờ, chắc chắn họ đã nhận được tin tức và lẽ ra họ phải đề phòng một cuộc tấn công khác nhằm vào phi trường lớn nhất này. Chúng tôi vẫn không tin rằng người Mỹ không tung chiến đấu cơ lên để nghênh cản chúng tôi. Cuối cùng, sau nhiều lần đảo quanh, tôi phát hiện 5 chiến đấu cơ địch đang bay trên cao độ khoảng 15,000 bộ (4,500m) phía bên trên chúng tôi khoảng 7,000 bộ (2000m). Tức khắc, chúng tôi nhả thùng xăng phụ và chuẩn bị hoả lực. Tuy nhiên, phi công địch từ chối tấn công và vẫn giữ độ cao như cũ. Thật lạ lùng. 5 chiến đấu cơ Mỹ bay vòng quanh trên cao độ 15,000 bộ trong lúc chúng tôi bay vòng quanh phía dưới. Chúng tôi vẫn chưa có lệnh tấn công vì phải chờ các oanh tạc cơ của chúng tôi đến.

Lúc 1 giờ 45, từ phía Bắc, 27 oanh tạc cơ Mitsubishi G4M Betty cùng các chiến đấu cơ Zéro hộ tống lướt thẳng đến mục tiêu dội bom. Cuộc oanh tạc hoàn hảo. Dây bom rời khỏi bụng phi cơ, rải lên mục tiêu thật chính xác, sự chính xác mà tôi chưa từng thấy trong suốt cuộc chiến. Cả căn cứ không quân địch như bật tung với chuỗi tiếng nổ. Mảnh của phi cơ, nhà chứa phi cơ và các cơ sở khác bay tứ phía. Những cột lửa và khói vĩ đại cuồn cuộn bốc lên.

Nhiệm vụ hoàn tất, các oanh tạc cơ đảo cánh và bắt đầu bay trở về. Chúng tôi bay theo để hộ tống khoảng mười phút rồi quay lại phi trường Clark đang bao trùm trong khói lửa. Chúng tôi bay vòng ở độ cao 13,000 bộ (4000m), vẫn không gặp sự chống đối nào, và nhận lịnh xạ kích. Với hai đồng đội hai bên cánh, tôi chúi thẳng xuống mặt đất, mục tiêu được chọn là hai oanh tạc cơ B17 còn nguyên vẹn trên sân bay. Tất cả 3 chiến đấu cơ cùng khai hoả cùng lúc vào hai chiếc phi cơ khổng lồ này, sà thấp sát mặt đất rồi lướt thẳng lên.

Năm chiến đấu cơ địch nhảy bổ vào chúng tôi. Ðó là loại Curtiss P40 Warhawk mà tôi chưa từng đụng độ bao giờ. Tôi cho phi cơ rớt theo hình trôn ốc rồi xoáy vượt lên thình lình, thoát khỏi tay kẻ thù. 5 phi cơ địch phân tán tức khắc. 4 chiếc chui vào các cột khói đen bốc lên từ mặt đất và biến mất. Chiếc thứ năm xoáy trôn ốc lạng về phía trái, một lỗi lầm. Nếu bay theo đồng bọn, nó đã có thể thoát thân an toàn. Lập tức, tôi vung ngang và lướt thẳng đứng lên chiếc P40 từ phía dưới. Phi cơ địch lấy thăng bằng và bắt đầu vượt lên cao, bụng phơi bày sáng lóa trước mắt tôi, cách 200 thước. Một loạt đạn đại liên và đại bác xuyên qua buồng lái, thổi bay mái che của chiếc phi cơ. Nó lảo đảo trong không khí, rồi rớt chúi đâm đầu xuống đất. Ðó là nạn nhân thứ ba của tôi, và cũng là phi cơ Hoa Kỳ đầu tiên bị bắn rơi trên không trung Phi Luật Tân.

Sau đó, tôi không đụng đầu một đối thủ nào nữa, nhưng tôi nhìn thấy những đồng đội khác đang quần thảo với một nhóm phi cơ địch. Chiều hôm đó, chúng tôi trở lại Ðài Nam với báo cáo: 9 phi cơ Mỹ bị bắn rơi, 35 chiếc bị hủy diệt trên mặt đất. Súng cao xạ của phi trường Clark hạ một chiếc Zéro và 4 chiếc khác rớt trên đường về, nhưng không một chiếc nào bị hạ trong không chiến.