This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sau ngày tìm được hồ sơ quân dịch của cha trong National Archives, Emily thay đổi.
Không phải chỉ vì tập hồ sơ.
Mà vì lần đầu tiên… Cô biết người cha hiền lành, suốt đời chỉ cặm cụi đi làm, từng có một tuổi trẻ rực lửa.
Một buổi sáng tháng Sáu. Emily gõ cửa phòng cha.
— Ba…
Advertisement
— Ừ?
— Cuối tuần này… ba có đi Ngày Quân Lực 19 tháng 6 không?
Người cha ngẩng lên. Đôi mắt ông đầy ngạc nhiên. Mấy chục năm nay… Ông vẫn đi.
Nhưng luôn đi một mình.
Ông khẽ gật đầu.
— Có.
Emily cười.
— Cho con đi với.
Ông tưởng mình nghe lầm.
— Con… đi thật sao?
— Dạ.
Sáng hôm ấy. Emily bước xuống cầu thang. Cha sững người. Con gái ông… Đang mặc áo dài trắng.
Advertisement
Chiếc áo dài ngày xưa mẹ mua. Bao lần bảo mặc, nó đều lắc đầu.
Hôm nay… Nó tự mặc. Emily hơi ngượng.
— Ba…
Con mặc vậy… có kỳ không?
Ông nhìn con thật lâu.
Khóe mắt đỏ lên.
— Đẹp lắm.
Đẹp như mẹ con ngày xưa.
Đến nơi.
Lá cờ vàng tung bay. Tiếng quân nhạc đang tập dợt vang lên. Những mái đầu bạc đứng đó đây…
Có người chống gậy.
Có người ngồi xe lăn.
Trên ngực áo, đầy huy chương.
Advertisement
Emily bỗng thấy tim mình nghẹn lại. Đây không phải những “ông già” như cô từng nghĩ. Đây là những chàng trai của năm mười chín, hai mươi tuổi…
Chỉ là thời gian đã bạc tóc họ.
Một bác cựu quân nhân bước đến. Nhìn Emily rồi cười.
— Cháu là con ông phải không?
Emily gật đầu.
— Dạ.
Người lính già quay sang cha cô.
— Mày giỏi.
Nuôi được con như vậy là thắng rồi.
Hai ông già ôm nhau. Không ai nói gì thêm. Chỉ vỗ vai.
Như năm mươi năm trước.
Buổi lễ bắt đầu.
Advertisement
Người điều khiển chương trình xướng danh từng quân binh chủng.
Không quân.
Hải quân.
Thủy quân Lục chiến.
Biệt Động Quân.
Nha Kỹ Thuật.
Mỗi lần một quân kỳ đi ngang. Những người lính già đều đứng dậy. Emily cũng đứng theo.
Lần đầu tiên… Cô đứng nghiêm vì lịch sử của chính gia đình mình.
Sau buổi lễ. Một bác lớn tuổi lấy từ túi áo ra chiếc huy hiệu cũ. Đã trầy xước. Đã phai màu.
Bác nói:
— Cái này ngày xưa của đơn vị ba cháu. Bác giữ mấy chục năm.
Advertisement
Hôm nay… Cho cháu.
Emily cầm chiếc huy hiệu bằng hai tay. Như cầm một báu vật. Cô quay sang cha.
Run run cài chiếc huy hiệu lên ngực áo ông. Hai bàn tay cô vụng về. Cài mãi không được.
Người cha chỉ mỉm cười.
Đứng yên. Để con gái cài giúp.
Khi chiếc huy hiệu nằm ngay ngắn trên ngực áo… Emily bất ngờ ôm lấy cha.
Giữa hàng trăm người.
Giữa những lá cờ đang bay.
Cô nghẹn ngào:
— Ba… Con xin lỗi.
Ông vuốt tóc con.
— Xin lỗi gì vậy con?
Advertisement
Emily khóc.
— Hồi nhỏ… con ghét áo dài.
Con ghét nhạc lính. Con nghĩ ba cứ sống với quá khứ… Con không hiểu…
Người cha lắc đầu.
— Không sao.
Ba chưa bao giờ buồn. Ba chỉ chờ… Một ngày con tự hiểu.
Emily ngước lên. Nước mắt chảy dài.
— Ba… Con hãnh diện vì ba.
Chỉ một câu nói. Người cựu quân nhân từng đi qua chiến tranh.
Từng sống sót sau trại cải tạo.
Từng cắn răng làm đủ nghề nơi đất khách. Đã không khóc khi mất quê hương.
Không khóc khi đói.
Advertisement
Không khóc khi bị giam cầm.
Hôm ấy… Ông khóc.
Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống hai má nhăn nheo.
Chiều xuống. Hai cha con ra về. Emily nắm tay cha. Như ngày xưa… Chỉ khác là lần này, người dẫn đường không còn là cha nữa. Mà là cô con gái. Bước thật chậm. Để cha đi bên cạnh.
Trong ánh nắng cuối ngày.
Người cha mỉm cười. Ông biết… Có thể mình đã mất quê hương. Nhưng không mất tương lai.
Bởi hôm nay… Con gái ông đã tìm thấy cội nguồn. Và từ nay, câu chuyện của người cha sẽ không kết thúc cùng thế hệ ông. Nó sẽ được kể tiếp…
Bằng chính tiếng nói của đứa con gái sinh ra trên đất Mỹ.
Tôi trở về nhà như là một sự điếm nhục cho gia đình tôi cũng như cho làng nước. Gặp nhiều vấn đề rắc rối, sự nghèo đói của gia đình tôi càng lúc càng trầm trọng. Má tôi và người anh lớn cắm cúi trên thửa đất nhỏ từ bình minh cho đến hoàng hôn. Cả hai người và ba chị gái của tôi, ăn mặc quần áo tả tơi. Mái tranh, nơi tôi đã lớn lên, tiêu điều dột nát. Mọi người trong làng đã hân hoan đặt hết tin tưởng vào chuyến đi Ðông Kinh của tôi, họ chờ đợi chia sẻ sự thành công của tôi. Bây giờ, mặc dù tôi làm cho họ thất vọng, nhưng không ai buông thẳng một lời trách cứ nào. Tuy nhiên trong đôi mắt họ có bóng dáng của sự xấu hổ và họ thường quay mặt để tránh làm tôi bối rối. Bởi thái độ này mà tôi không dám đi lại trong làng. Tôi không thể nào chịu đựng nổi sự trách mắng lặng lẽ của họ. Mong muốn chạy trốn khỏi nơi tủi hổ này trở thành mong muốn mãnh liệt trong tôi. Bấy giờ tôi nhớ lại tấm yết thị to tướng ở nhà ga Saga kêu gọi thanh niên tình nguyện gia nhập vào hải quân. Ðầu quân hình như là lối thoát duy nhứt cho một kẻ sống trong tình trạng khổ sở. Má tôi, từng chịu đựng sự vắng mặt của tôi trong mấy năm, đã than khóc trước quyết định ra đi một lần nữa của tôi. Nhưng bà không còn cách chọn nào khác.
Ngày 31 tháng 5 năm 1933, tôi đầu quân ở căn cứ hải quân Sasebo, và trở thành một thủy thủ 16 tuổi cấp bậc Thủy binh hạng IV (Yontosuihei). Căn cứ này cách phía Ðông nhà tôi 50 dặm. Tôi bắt đầu một đời sống mới của một thứ kỷ luật sắt, của một sự cứng rắn vượt xa cả những cơn ác mộng kinh hoàng nhất trong cuộc đời tôi. Và chính nhờ vào tâm niệm Bushido mà tôi đã tồn tại.
Chắc chắn rằng độc giả xứ ngoài sẽ khó tán thành thứ kỷ luật thép mà tôi phải chịu đựng trong Hải Quân. Các hạ sĩ quan không ngần ngại trong việc đánh đập tàn nhẫn tân binh mà họ thấy cần trừng phạt. Trong trường hợp tôi phạm kỷ luật hoặc lỗi lầm trong huấn luyện, đêm đến một hạ sĩ quan lôi đầu tôi ra khỏi giường hét lên: “Chống tay vô tường! Cúi gập xuống, tân binh Sakai! Tôi làm việc này không phải oán ghét anh, nhưng vì thương anh, muốn anh trở thành một thủy thủ giỏi! Cúi xuống!”.
Và hắn vung cây gậy thật dài đập xuống mông tôi. Ðau đớn khủng khiếp, và mạnh mẽ không thể tưởng. Không có cách nào khác hơn là nghiến răng để khỏi bật tiếng kêu la. Nhiều khi tôi bị đánh tới 40 gậy. Thường thường tôi ngất xỉu. Tuy nhiên hình phạt không thể bỏ qua vì lý do bất tỉnh. Viên hạ sĩ quan sẽ dội một thùng nước lạnh lên thân xác mềm nhũn của tôi, dựng tôi dậy, và tiếp tục áp dụng “kỷ luật”. Một tân binh phạm lỗi, tất cả 50 tân binh khác đều bị đánh. Do đó, mỗi tân binh đều tìm hết cách ngăn chặn đồng đội phạm lỗi. Mỗi lần bị đánh, chúng tôi không thể nằm ngửa trên giường. Hơn nữa, chúng tôi không được phép buông lời than oán, ngay cả một tiếng kêu trong đau đớn của mình. Ðể cho một người rên rỉ khóc than vì đau đớn hoặc tủi thân, mọi người sẽ bị đá hoặc lôi cổ ra khỏi giường để lãnh hình phạt.
Lẽ dĩ nhiên sự đối xử như vậy làm cho chúng tôi oán ghét bọn hạ sĩ quan. Bọn này đa số đều 30 tuổi, và hình như không được lên cấp trong suốt cuộc đời binh nghiệp của họ. Ám ảnh quan trọng nhứt của họ là tìm cách khủng bố tân binh. Chúng tôi coi hạng người này như những con thú bạo dâm hèn hạ nhứt. Trong vòng 6 tháng, công việc huấn luyện khắc nghiệt đã biến chúng tôi thành bầy gia súc. Chúng tôi không bao giờ dám hó hé trước các mạng lịnh đưa ra, không dám tỏ ý nghi ngờ cấp trên. Chúng tôi không dám làm bất cứ cái gì khác hơn là thi hành lập tức mệnh lệnh của thượng cấp. Chúng tôi vâng lời như những người máy.
Công việc huấn luyện tan thành một khối lờ mờ sự tập dượt, học hỏi, và tập dượt, của những cây gậy vung lên liên hồi, của những chiếc mông ê ẩm luôn luôn, của thịt da bầm giập và mặt mày nhăn nhó khi ngồi xuống. Khi hoàn tất khóa huấn luyện tân binh, tôi không còn là một chàng thanh niên hăng hái và đầy nhiệt tâm như lúc rời khỏi ngôi làng nhỏ bé đi học tại Ðông Kinh nhiều năm trước đây. Ðường học vấn thất bại, sự tủi hổ của gia đình và kỷ luật huấn luyện, tất cả hợp lại đè bẹp tôi, tánh tự tôn tự đại của tôi bị hạ sát ván. Nhưng không bao giờ, trong suốt thời gian huấn luyện cũng như sau này, nỗi phẫn nộ sâu xa về sự tàn ác của bọn hạ sĩ quan giảm bớt trong tôi. Ra trường tôi được chỉ định làm thủy thủ tập sự trên thiết giáp hạm Kirishima. Tôi đã nghĩ, sau thời gian huấn luyện, sự đối xử tàn nhẫn sẽ giảm bớt đi. Nhưng không, và có thể nói tôi còn bị đối xử tệ hơn trước đây. Cách tốt nhất mà tôi phải làm: vượt khỏi số kiếp của một tên thủy thủ hèn mọn này. Mỗi ngày tôi không được rảnh rang tới một tiếng đồng hồ, nhưng tôi cũng đã sử dụng thời gian này học hỏi thêm. Mục đích của tôi là xin theo học khóa huấn luyện đặc biệt của Hải Quân. Như vậy, một anh lính tình nguyện mới có thể hoàn tất về kỹ thuật và chuyên môn, đủ điều kiện để thăng chức.
Năm 1935, tôi đậu kỳ thi tuyển vô trường huấn luyện tác xạ hải pháo của hải quân. Sáu tháng sau, tôi lên Thủy binh cấp I (Ittosuihei), và được chỉ định nhiệm vụ trên biển trở lại, lần này trên thiết giáp hạm Haruna, phụ trách một trong những pháo tháp 356 ly. Tình trạng của tôi khá hơn, sau nhiều tháng lênh đênh trên chiến hạm Haruna, tôi đã trở thành hạ sĩ quan với cấp bậc Hạ sĩ (Santoheiso).
Tháng Sáu, trời mùa Ðông Melbourne xuống tới 5 độ C. Lạnh quéo râu mà con vợ lại vắng nhà. (‘Em yêu’ đã bay về Việt Nam sửa sắc đẹp: chẻ cằm, nâng mũi, gắn mụt ruồi duyên… rồi trồng răng giả).
Tui đang lui cui bưng con gà nấu cháo ra, đặt lên dĩa, để lên bàn, đốt nhang, rót bia vào ly, lâm râm khấn vái, để mời Ba về ăn giỗ Má cho vui thì có tiếng khỏ cửa cóc cóc. Hơi ngạc nhiên! Vì ở cái xứ Úc nầy ít khi có cái chuyện khách tới nhà mà không thèm điện thoại báo trước cho gia chủ.
Mở cửa thì thấy anh bạn thân cười hí hí, nói: “Tớ ghé nhà cậu, ăn cháo gà đi bộ đây!” “Ủa mình nín khe hổng mời ai hết ráo sao thằng chả biết mà đến vậy ta?
Tỉnh bơ như người Hà Nội 75, để thùng bia nặng trịch trên vai xuống, ảnh xăm xăm vô bếp, bỏ bia vào tủ để cho nó kịp lạnh.
Tên của anh bạn nầy hồi cha sanh mẹ đẻ là: Nguyễn văn Tép. Ảnh nói hồi tớ mới sanh ra nhằm nạn đói năm Ất Dậu 1945. Ðói là vì Phát xít Nhựt Bổn nó bắt đồng bào mình phải nhổ lúa bỏ đi, trồng cây đay cho nó sản xuất quân trang, quân phục.
Hậu quả là dân không đủ gạo mà ăn, đói chết như rạ. Thiệt là tội nghiệp!
Vì vậy trong bụng mẹ, tớ đã suy dinh dưỡng. Ðẻ ra, tớ nhỏ xíu con hè chưa tới 2 kí lô gram. Nên Thầy, U tớ mới đặt tên tớ là: Tép!
Nhưng khi vượt thoát gông cùm Cộng Sản chạy qua được tới Melbourne, nước Úc nầy đây, tớ nghĩ tên Tép coi bộ hổng có ‘oai’. Nên tớ lựa cái tên lớn hơn con Tép một chút là con Tôm.
Phần tớ đọc truyện trinh thám rất nhiều, nên tớ lấy tên là Sherlock Tôm. Tên na ná Sherlock Holmes để ‘boss’ Úc dễ kêu, dễ sai, dễ biểu.
Với cậu, người Việt Nam mình, thì cậu gọi tớ Tép hoặc Tôm gì cũng được!
Nghe ảnh từ bỏ tên Tép, cái tên cha sanh mẹ đẻ của mình cho, tui cũng hơi quạu vì nghĩ rằng thằng cha Mít nầy tham đó, bỏ đăng; thấy trăng quên đèn! Ðồ mất gốc.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại tui cũng thông cảm cho bạn hiền. Vì mặc cảm nhỏ con, vì tên Tép, Úc khó đọc, khó xin làm cu li cho Úc. Ăn tiền thất nghiệp không có dư cắc nào để em yêu đi ‘shop’ em giận bỏ theo thằng khác thì tối lạnh teo bu gi biết nhờ ai mà sưởi ấm đời ta?
Anh Sherlock Tôm rót bia ra ly cho người viết. “Cụng một cái cho đã!”
Uống bia bằng ly mới có vẻ quý tộc, anh nói, còn uống bằng lon sao tui hổng chịu chú mầy ơi! Trông có vẻ lè phè làm biếng sao đâu! Mình bây giờ là “Việt Kiều’ rồi mà! Hí hí!
Anh Tôm rất dễ thương là khi anh nói đố ông nào chen ngang vô được. Nên mỗi lần nhậu với ảnh là người viết lễ phép ngồi nghe; mặc dầu đôi khi cũng ngứa miệng quá trời!
Thần tượng, thầy của Sherlock Tôm là Sherlock Holmes vốn nổi tiếng nhờ trí thông minh, quan sát tinh tường, suy luận hợp lý. Sherlock Holmes gặp Bác Sĩ Watson, căn cứ vào chiếc giày bên trái của bạn mình có vết xước. Ai làm?
Sherlock Holme bèn suy luận: Rõ ràng vết xước đó do một người bất cẩn khi lau bùn chiếc giày. Làm bác sĩ không thể là người bất cẩn cho được. Vì bất cẩn sẽ làm chết bịnh nhân. Vợ lau giày cho chồng ư? Chuyện đó chờ tới Tết Công Gô. Người lau giày chỉ có thể là người hầu gái của bác sĩ Watson.
Kết luận trúng ngay chóc. Giỏi thiệt! Nhưng Sherlock Holmes giỏi chưa bằng Sherlock Tôm, ‘Made in Việt Nam’ nầy đâu!
Ðể chứng minh mình không bố láo, tớ Sherlock Tôm, sẽ truy tìm “Ngày xưa Hoàng Thị’ Em là ai? Là ai?
Cho cậu phải ngả nón cúi đầu khâm phục Sherlock Holmes. Lim dim đôi mắt hí, nghe hết bài “Ngày xưa Hoàng Thị’ của Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư do em vợ Phạm Duy là Thái Thanh hát.
Mấy chục giây sau, Sherlock Tôm mới mở mắt ra mà bừng tỉnh nói: Ca từ thì ông thi sĩ là người Bắc. Viết trong Nam thì ổng phải là Bắc Kỳ di cư 54. Thơ tình những năm cuối 50 ắt ổng phải sanh khoảng độ năm 1940.
Là mối tình học trò, nhà thơ nhát hít, hổng dám hó hé gì hết, chỉ lẳng lặng bám đuôi em. Nhà thơ và người thơ ít nhứt phải học lớp đệ tam. Còn đệ tứ trở xuống mà đã yêu đương nhăng nhít thì là con nít quỷ! Trộng trộng một chút mới biết thơ thẩn trông vời áo tiểu thư chớ?
Em tan trường về? Dám kêu bằng em nghĩa là ổng lớn tuổi hơn. Lớn tuổi hơn, học cùng lớp, lại học trường tư là ổng học dở!
Trường công lập thời đó phải thi tuyển rất gay go, nam nữ học riêng. Nam sinh là Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trần Lục. Còn nữ sinh: là Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt.
Ðúng vậy! Ông Phạm Thiên Thư học trường Văn Lang ở Tân Ðịnh! Còn con ghệ làm chàng mê đắm là Hoàng Thị Ngọ. Tên Ngọ, sanh năm Nhâm Ngọ, năm 1942.
Chỉ dựa vào ca từ của một bài nhạc phổ thơ, Sherlock Tôm đã dùng tam đoạn luận đoán cái nào cũng trúng hết trơn! Thiệt là tâm phục và khẩu phục!
Nghe khen khoái quá, nên Thám tử Sherlock Tôm “nổ’ thêm: Nhà thơ và người thơ ‘áo tà nguyệt bạch’ nầy không lấy nhau vì thường thường mấy đứa con gái coi mấy thằng con trai học cùng chung lớp với mình là con nít. Mấy em kêu mình bằng ‘thằng’ không hà. Kêu bằng ‘thằng’ thì cách chi mà yêu cho được hả?
Thứ hai là muốn người ta mà người ta không muốn nên mới vác bộ giò đi xuống đi lên. Ði hoài mòn giày, mòn dép nên mới có bài thơ trải lòng tâm sự tình đơn phương tha thiết để ra khỏi nỗi buồn u uất! Ðường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn; lấy nhau không được thương hoài ngàn năm là vậy! Chớ còn về với nhau thì hôn nhân sẽ ‘bóp cổ’ tình yêu lè lưỡi ra mà chết ngắc!
Ðể chấm dứt bữa cháo gà đi bộ nầy, tui bèn đem cái thắc mắc giữ trong lòng chiều giờ ra hỏi: “Anh Sherlock Tôm à! Sao bữa nay anh biết nhà tui có cháo gà mà lại gà đi bộ, để anh vác càng tôm đến ăn nhậu vậy? Anh trả lời: “Tại anh nấu ngon quá, thơm bay qua tới tận nhà tui! Giỡn chơi thôi! Chớ dựa vào tam đoạn luận thì dễ ợt: Anh chánh gốc là người Việt, mà bữa nay là ngày đám giỗ bác gái thì theo truyền thống của dân mình đám giỗ là phải cúng gà đi bộ chớ không cúng vịt.
Gà công nghiệp nuôi nhốt trong chuồng của Úc bở rệp, nước không, dở òm, ai ăn?
Giống mấy ‘cha’ Việt Nam khác, chỉ biết ăn thôi chả biết gì! Chị vắng nhà, tài làm bếp của anh tới nấu cháo là hết mức rồi!”
“Còn tại sao tớ biết ngay chóc bữa nay mà tớ vác càng tôm tới nhà cậu để ăn chực?” “Chẳng qua tớ có cuốn sổ bộ đời. Ðám giỗ tớ ghi ngày âm (lịch). Còn đám Sinh nhựt tớ ghi ngày dương (lịch). Dẫu năm ngoái được mời nhưng năm nay không ai kêu tui đó, tớ cũng vác càng tôm tới nhậu.
Cháy nhà không tiếc; vì nhà có bảo hiểm. Nhưng lỡ cháy cuốn sổ nầy là tớ tự vận chết theo!
Bái Sherlock Tôm như Lưu Bị ‘bái’ Khổng Minh, để đáp lễ, cuối tuần rồi tui khệ nệ vác thùng bia đến khỏ cửa nhà Sherlock Tôm.
“Tui ghé nhà anh, ăn cháo ‘gà đi bộ’ đây!” “Ủa! Sao mà cậu biết?”
“Dễ ợt! Dù anh xưng là Tôm hay Tép gì đi chăng nữa, anh cũng là người Việt gốc Mít, từng đường trường xa con chó nó tha con mèo. Từ binh nhì, chưa tới hai năm, mà anh đã mang cánh gà chiên bơ trên tay áo trận.
Dù trả súng đạn nầy khi sạch nợ sông núi rồi, bữa nay 19 tháng Sáu ngày Quân lực VNCH với chiến tích lẫy lừng đó thì dễ gì anh quên? Rồi chị nhà bay về Việt Nam xăm môi, cắt mắt, cấy lông mày. Cu ky ở nhà, dở ẹc giống như tui, anh chỉ biết nấu cháo ‘gà đi bộ’ là hết mức phải không anh Tôm; í quên anh Tép?
lão vào nhà thương rồi ra khu kia vực nọ người ma mặt lờn sáu dây bốn sợi níu đờn ghi ta ghì tớ ngậm hờn ngũ cung lão điên vận sự kiết hung cà na tuy lạnh đụng chung kẻ lành phương này tử tế thập thành rộng lòng gia hạn phép dành tháng năm trở trời khó ở vào nằm năm sao khách sạn chả nhằm nhò chi không nghe ra tiếng bấc chì đi tàu suốt hở? lão thì chậm chân bệnh tình tha thứ xác thân lá phong đỏ thắm lần khân vui cành lão chẳng có gì để dành mang đi trả nợ ơn thành người điên
đất lành chim đậu đương nhiên đâu như chốn cũ trường thiên đoạn trường bây giờ có chết cũng tường linh hồn lạc lối bỏ đường lộn lui lão thua chúng bạn tìm vui việt kiều du lịch chột đui đã từng riêng mình ên lão tự mừng giữ thân thanh tịnh quên rừng rú xưa bạn chửi đồ điên dạ thưa tôi ca-na-điên đủ vừa thiệt hơn từng qua sông rộng mừng rơn ao nhà vẫn đục thuốc lờn bó tay
ngày mai xuất viện thời may theo toa bác sĩ mới hay thọ tường tránh đàn bà ngủ riêng giường đêm hai ngày một cột rường bền lâu hồi nào bên đó bò trâu theo nhau xuống lỗ vuốt râu lão về.
Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới – thành phố Pleiku.
Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.
Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.
Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm…Chúng tôi tìm đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi khi không còn bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.
Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không còn nữa, người ta đã giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.
Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh. Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn tốt bụng, sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.
Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào đó. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làngTân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất. Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.
– Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.
Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh. Điều cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh nghèo nàn của gia đình anh, một trung tá phi công của QLVNCH.
– Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà tham quan. Phải không?
Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật mình. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.
– Không, bọn tôi tìm thăm người quen, nhưng không gặp.
– Ở khu vực nào, có nhớ địa chỉ không? Tôi sẽ tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.
Tôi mỉm cười:
– Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.
Chị chủ quán khựng lại chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nhìn tôi ngạc nhiên:
– Sao lại phải ở trong nghĩa trang?
– Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bã trả lời.
– Vậy chắc các anh đây là lính Cộng hòa mình? thuộc đơn vị nào?
Nghe mấy chữ “lính Cộng hòa mình” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện:
– Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.
– À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát?
– Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn. Một người trong chúng tôi trả lời.
Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:
– Em có mấy người bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.
Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự.
Thì ra chị là bạn gái của anh Bình, trung sĩ Bình, ở đại đội trinh sát của đại úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là trung úy đại đội phó. Anh Bình thường theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.
Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với lính.
Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói một mình:
– Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện
Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc: Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn 320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm nổ lực chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để có thể dùng những khẩu M 72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đã dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh bởi bị chính mìn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đã nằm xuống dọn đường cho đơn vị mình cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch. Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chin khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã cùng đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liểu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.
– Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không?
Câu hỏi của chị đã cắt mất dòng hồi tưởng của tôi. Tôi lên tiếng trả lời chị:
– Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.
Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc.
– Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.
Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.
Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo. Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.
Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài:
– Tham nhũng bây giờ còn tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước.
Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.
Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.
Đúng vào sáng 30 tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải tỏa, QL 19 đã khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa thiết lâp lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ. An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như phải xóa sổ.
Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.
Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.
Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được lần lượt không vận vào ban đêm bằng C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.
Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa phía trước.
Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng. Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang, lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao, nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của anh) cũng vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân ông, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.
Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của BTL/SĐ23BB, đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đã xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đã gắn lon Tướng cho đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.
Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ con anh đã sang Pháp, nhưng chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi – người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về -, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh thì đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được – dù chỉ một phần nhỏ nào – món nợ máu xương cho họ.
Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.
Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh Bình, mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi có lẽ ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà mãi mãi vẫn còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu bè bạn, anh em – những người đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.
Đức Khổng tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẩy đàn cầm vừa đi vừa hát. Đức Khổng tử hỏi: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ như thế?”
Ông Vinh Khải Kỳ nói: “Trời sinh muôn vật, loài người quí nhất mà ta được làm người. Trong loài người đàn ông quí hơn đàn bà mà ta được làm đàn ông. Người ta sinh ra có đui què, non yểu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi. Đó là ba điều đáng vui, có gì mà phải lo buồn”.
Đó là chuyện xưa bên Tàu. Chuyện nay bên Mỹ thì tôi vừa nhận được một thiệp Giáng Sinh, xin lược ghi lại vài câu hay hay để trình các bạn:
– Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, quần áo mặc trên người, một mái nhà để nương náu và một nơi để nghỉ ngơi, bạn đã giàu có hơn 75% dân số trên quả đất này.
– Nếu bạn có tiền gởi trong ngân hàng, để trong ví và tiền lẻ rải rác đâu đó trong nhà, bạn đã ở trong 8% những người giàu có trên địa cầu này.
– Nếu sáng nay thức dậy, bạn thấy khỏe mạnh hơn là đau ốm, bạn đã có phước hơn cả một triệu người sẽ không sống qua tuần lễ này.
– Nếu bạn chưa bao giờ trải qua cơn dần vặt của đói khát, nguy hiểm của chiến tranh, lẻ loi vì tù đày hay đau
đớn vì bởi tra tấn, bạn là người có phước hơn 500 triệu người trên hành tinh này.
– Nếu bạn có thể đi đến nơi thờ phượng theo tôn giáo của bạn mà không sợ bị sách nhiễu, bắt bớ, nhục hình hay thậm chí bị mất mạng thì bạn đã có phước hơn 3 tỉ người trên thế giới này.
– Nếu song thân của bạn còn sống và còn ở với nhau, trường hợp này rất hiếm hoi ngay tại nước Mỹ này.
– Nếu bạn có thể đọc những dòng chữ này, bạn hạnh phúc hơn hai tỉ người khác mù chữ trên quả đất này.
Và trong kinh Phật, chúng ta cũng đọc được những câu như sau:
“Hạnh phúc thay, ta sống không hận thù giữa đám người thù hận.
– Hạnh phúc thay, ta sống mạnh khỏe giữa những người đau yếu.
– Hạnh phúc thay, ta sống không khao khát (dục lạc) giữa những người khao khát.”
Con người ta thường lạc quan hơn là bi quan: hy vọng trúng số độc đắc hơn là nghĩ mình sẽ chết chiều nay (số
người chết vì tai nạn, bệnh tật trong ba ngày chờ xổ số ở Cali là hằng nghìn trong khi người trúng số độc đắc chỉ là một, hoặc đôi khi không có người nào).
Tuy vậy khi nhìn lại mình, hầu hết đều cho mình là khổ nhiều hơn là hạnh phúc. Chúng ta thường than cuộc
đời buồn chán phải uống rượu, hút thuốc hay đánh bạc để giải sầu. Nào chuyện làm ăn khó khăn, nhà cửa bề bộn, chủ sở càu nhàu, gia đình xào xáo, mới bị ticket, con hư, bạn bè không tốt, trời hôm nay lạnh quá, kẹt xe trên xa lộ, bill ngập đầu …
Trời ơi, sao bao nhiêu chuyện khổ sở thế này? Tôi là người khổ nhất trên thế giới này … Bạn coi, có ai khổ hơn bạn.
tôi không?
Thật tình, các bạn, những người hôm nay giở trang báo này ra, tình cờ ghé thăm mục “Tạp Ghi” của chúng tôi, dù bạn đang ngồi trong xe, đứng ngoài đường, nơi chỗ làm việc, hay nằm nhà thì bạn là những người hạnh phúc nhất. Hạnh phúc vì những điều chúng tôi mạn phép ghi lại ở trên: mạnh khoẻ, mắt còn rõ và đọc được sách báo, có cơm ăn, có xe đi- không thì cũng có tiền lên xe bus, có một mái nhà hay có thêm một hai người thân để tối nay có thể về nghỉ ngơi- sum họp, trong ví chắc chắn là có tiền- không nhiều thì ít, ăn được bát phở còn thấy ngon miệng, không bị ai hăm dọa, mắng nhiếc, đánh đập …
Ôi, quá sung sướng, hạnh phúc được làm người như bạn.
Hiện nay chúng ta không làm ruộng mà có đủ cơm ăn, hơn hẳn những nông dân chân lấm tay bùn ở Việt Nam. Chúng ta không phải là phu mỏ mà có than đốt mùa đông, hơn cả triệu phu mỏ nghèo đói bất hạnh ở Trung Quốc. Chúng ta không dệt vải mà có áo quần mặc ấm; hơn cả trăm nghìn công nhân ngành dệt khốn khổ ở Bắc Hàn. Vậy mà cứ tới mùa Giáng Sinh vẫn có người đi theo Chúa khóc lóc, lải nhải:
“Chúa ơi! Chúa ơi! Người ta lại bỏ con rồi, Chúa ơi!”
Chúa bỗng quay lại nói với người ấy rằng: “Con nhìn thế giới này chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo, tai ương,
chết chóc, thù hận … Con có biết con là người hạnh phúc nhất không. Hiện nay trên trái đất này có 800 triệu người bị vợ hay bạn gái đánh đập, mắng nhiếc hay khinh bạc mà không thể dứt ra, riêng con lại được nàng bỏ đi thì còn than vãn nỗi gì? Nỗi khổ của con có đáng thá gì mà phải kể. Thôi về đi, chớ có theo ta mà rên rỉ mãi!”
Hy vọng đến đây, bạn có thể nở một nụ cười. Thêm một điều chứng minh rằng bạn đang hạnh phúc. Rồi ra bạn sẽ thấy được niềm hạnh phúc của mình và xin nhắc nhở với mọi người là chúng ta đang sống trong hạnh phúc mà chúng ta không hề hay biết. Cũng xin bạn san sẻ hạnh phúc ấy với những người chung quanh bạn.
Đại tá John T. Nguyễn, thủy quân lục chiến trừ bị (ảnh của hạ sĩ I Danny Nateras, MARFORPAC).
Đại tá John T. Nguyễn được thăng cấp đại tá thủy quân lục chiến (TQLC) trừ bị Hoa Kỹ vào tháng 10 năm 2017. Ông là một trong ba sĩ quan gốc Việt mang cấp đại tá TQLC, trước ông có đại tá* William H. Seely III ( nay là thiếu tướng chỉ huy trưởng trường đại học tham mưu liên quân ) và sau ông là đại tá Jackson T. Đòan, trưởng phòng G-35, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương. Đại tá John T. Nguyễn được bổ nhiệm làm phụ tá trừ bị, đặc trách hệ thống truyền tin cho tham mưu trưởng bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương. Một sự trùng hơp đặc biệt là cả 2 vị đại tá gốc Việt John T. Nguyễn và Jackson T. Đòan cùng phục vụ tại bộ tham mưu, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ.
Đại tá John T. Nguyễn sinh năm 1973 tại Sài gòn, ông và gia đình rời Sài gòn vào cuối tháng 4 năm 1975 di tản đến trại tỵ nạn Camp Pendleton Hoa Kỳ. Sau đó gia đình ông định cư tại Southern California. Cũng từ trại tỵ nạn Camp Pendleton, là nơi gia đình ông được các quân nhân TQLC Hoa Kỳ giúp đỡ trong những ngày đầu tạm trú, những hình ảnh đẹp từ Camp Pendleton đã ghi lại trong ký ức của ông cho đến khi trưởng thành, ông gia nhập TQLC và trở thành một sỉ quan.
Binh nghiệp:
Thiếu úy John T. Nguyễn gia nhập TQLC năm 1996, sau khi thụ huấn và tốt nghiệp chương trình quân sự tại đại học California, Los Angeles. Sau đó ông theo thụ huấn các khóa căn bản sĩ quan TQLC và khóa sĩ quan truyền tin TQLC. Sau khi hoàn tất các khóa học, thiếu úy Nguyễn được lệnh thuyên chuyển đến đại đội truyền tin, tiểu đoàn tổng hành dinh sư đoàn 3 TQLC tại Okinawa Nhật Bản. Tại đây thiếu úy Nguyễn là trung đội trưởng truyền tin và kiêm nhiệm trung đội trưởng dữ liệu.
Năm 1998, trung úy Nguyễn là sĩ quan quản lý hệ thống thông tin cho đơn vị 12 TQLC tại San Diego, California.
Năm 2001, đại úy Nguyễn thuyên chuyển sang phục vụ trong lực lượng TQLC trừ bị. Từ năm 2001 đến năm 2003, ông là sĩ quan truyền tin tại phi đoàn 6 yểm trợ không vụ (MASS-6) tại Miramar, California.
Năm 2003, ông là sĩ quan xử lý thường vụ một ban trong phi đoàn 48 truyền tin, không đoàn 4 TQLC. Trong thời gian nầy đơn vị truyền tin của ông tham dự chiến đấu yểm trợ cho cuộc hành quân Enduring Freedom. Sau cuộc hành quân trở về, đại úy Nguyễn được bổ nhiệm chức vụ phân đội trưởng trong phi đoàn 48 truyền tin, tại Miramar, California.
Năm 2004, đại úy Nguyễn là sĩ quan dữ liệu truyền tin yểm trợ cho cuộc hành quân Iraqi Freedom 2-2 tại Al Taqqadum, Iraq.
Năm 2006, thiếu tá Nguyễn được thuyên chuyển đến đại đội 3 liên lạc yểm trợ hải pháo làm trung đội trưởng, trung đội chỉ huy kiêm sĩ quan truyền tin. Trong thời gian nầy, ông đã tham dự liên lạc yểm trợ hải pháo trong các cuộc thao dợt hành quân hỗn hợp Ulchi Focus Lens, Talisman Sabre và Cobra Gold.
Năm 2008, Thiếu tá Nguyễn được bổ nhiệm làm chỉ huy phó, đơn vị truyền tin chiến lược, yểm trợ cho lực lượng an ninh quốc tế của khối NATO A Phú Hãn, tại tỉnh Kabul.
Năm 2010, thiếu tá Nguyễn được thuyên chuyển đến đơn vị II MEF IMA tại Okinawa, Nhật Bản, tại đây ông làm trưởng ban 6 và được thăng cấp trung tá vào năm 2011.
Trung tá* John T. Nguyễn, chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin, không đoàn 4 TQLC trừ bị (ảnh của MWCS-48)
Đến tháng 1 năm 2011, trung tá Nguyễn được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin, không đoàn 4 TQLC trừ bị (tương đương với tiểu đoàn truyền tin bộ binh TQLC, nhưng danh xưng của không quân TQLC gọi là Phi đoàn/Squadron).
Sau nhiệm kỳ 14 tháng làm chỉ huy trưởng phi đoàn 48 truyền tin, trung tá John T Nguyễn đã hoàn thành nhiệm vụ và bàn giao đơn vị cho nữ trung tá* Valerie A. Jackson vào năm 2013 ( nay là đại tá tham mưu phó lực lượng TQLC trừ bị). Sau đó ông nhận nhiệm vụ khác phục vụ trong TQLC trừ bị.
Từ tháng 5 năm 2017, đại tá John T. Nguyễn phục vụ tại quân đoàn III TQLC ( III Marine Expeditionary Force ), và hiện nay là phụ tá trừ bị đặc trách về hệ thống tuyền tin cho tham mưu trưởng bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps Forces Pacific).
Hoạt động trong lãnh vực chuyên môn kỷ thuật tin học (dân sự):
Ngoài hoạt động trong TQLC trừ bị Đại tá John T. Nguyễn còn hoạt động trong lãnh vực chuyên môn kỷ thuật tin học và dữ liệu (dân sự), ông đã từng đảm nhận vai trò giám đốc tại các công ty như: Catalyst Solutions, LLC Greater San Diego Area Information Technology and Services; HP Enterprise Services; EDS, an HP company và Electronic Data Systems và hiện nay ông là chủ tịch công ty Innovatus Technology Consulting.
Học vấn:
Đại tá John T. Nguyễn hoàn tất văn bằng cử nhân khoa học toán tại đại học California, Los Angeles và văn bằng cao học khoa học về hệ thống thông tin điện toán tại đại học Phoenix. Ngoài ra ông còn thụ huấn và tốt nghiệp tại các trường quân sự chiến tranh thủy bộ, khóa nhảy dù và trường chỉ huy tham mưu.
Thăng thưởng:
Đại tá John T. Nguyễn được thăng cấp thiếu úy năm 1996, trung úy năm 1998, đại úy năm 2001, thiếu tá năm 2006, trung tá năm 2011 và được thăng cấp đại tá vào tháng 10 năm 2017.
Sau hơn 25 năm phục vụ TQLC, Đại tá John T. Nguyễn được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Huy chương Joint Commendation Medal, huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal (with two gold stars), huy chương Navy and Marine Corps Achievement Medal and the Navy/Marine Corps và một số huy chương cao quý khác**.
Sĩ quan gốc Việt TQLC:
Theo các tài liệu thu thập được thì sĩ quan TQLC gốc Việt không nhiều như sĩ quan gốc Việt khác phục trong các quân chủng không quân, hải quân và lục quân. Sĩ quan gốc Việt đang phục vụ trong quân chủng TQLC hiện nay gồm có ( không tính sĩ quan cấp trung/thiếu úy ) : 1 Thiếu tướng, 2 đại tá, 7 trung tá ( không tính 3 vị đã hồi hưu ), 26 thiếu tá và trên 40 đại úy.
Nguyễn Quân
*Ghi theo thời giang mang cấp bậc; **ghi theo tài liệu thăng thưởng huy chương khi còn mang cấp trung tá.
Nguồn tài liệu: U.S. Marine Corps Forces, Pacific; Congress.gov; marines.mil/News/Messages/MARADMINS; Navy Personnel Command; Marine Wing Communications Squadron 48; History of MWCS-48; LinkedIn; Bienxua-15 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá năm 2017; dongsongcu-Đại tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ gốc Việt John T. Nguyễn.
Trên hòn đảo chánh Kyushu (Cửu Châu) ở cực Nam Nhật Bản, thành phố Saga nhỏ bé nằm giữa lộ trình đưa đến hai trung tâm quan trọng, mà những năm gần đây đã trở thành quen thuộc đối với hàng nhiều ngàn người Mỹ. Ở Sasebo có căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ với hầu hết hạm đội đã tham dự vào cuộc chiến Triều Tiên, và từ các phi trường ở Ashiya, chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Mỹ cất cánh bay ngang qua eo biển nhỏ hẹp Tsushima (Ðối Mã) để tấn công quân Trung Cộng và Bắc Hàn.
Các cuộc viễn chinh xuyên eo biển Tsushima không phải mới mẻ gì đối với thành phố Saga. Tổ tiên của chúng tôi đã từng có chân trong lực lượng Nhật Bản, phát xuất từ Saga, xâm chiếm Triều Tiên vào năm 1592. Hình ảnh của cuộc xung đột mới ở Triều Tiên không phải là không có trước đây. Cuộc chiến Nhật Bản – Triều Tiên thời Trung Cổ, năm 1597, đã bị đẩy vào nước bí sau khi triều đình nhà Minh tung lực lượng Trung Hoa vào Triều Tiên, giống như hành động của Trung Cộng ở cuộc chiến hiện đại.
Như vậy, giòng họ của tôi có một nguồn gốc binh nghiệp, và trải qua nhiều năm, tổ tiên của tôi đã trung thành phục vụ lãnh chúa Saga cho đến kỳ Trung Ương Tập Quyền vào thế kỷ XIX, tất cả lãnh chúa đều quy về tay Thiên Hoàng. Trong thời phong kiến, dân chúng Nhật Bản chia ra làm bốn giai cấp, giòng họ tôi được hưởng đặc quyền của giai cấp cầm quyền, đó là giai cấp Samurai. Sống cách biệt hẳn với các giai cấp khác, giới Samurai kiêu hãnh không quan tâm đến các vấn đề riêng tư, họ tận tụy với công việc điều hành chánh quyền địa phương, và luôn luôn chuẩn bị các biến cố đòi hỏi lòng dũng cảm chiến đấu của họ. Vị lãnh chúa sẽ đảm bảo đời sống của các Samurai, họ không cần chú ý đến gia sản hoặc lợi lộc nào khác.
Việc phế bỏ các giai cấp vào thế kỷ XIX như một cú đấm chí tử nện vào giới Samurai đầy kiêu hãnh. Chỉ một cú đấm, tất cả những đặc quyền trước đây của họ đều bay hết, và họ bắt buộc phải chuyển sang nghề buôn bán, hay nghề nông. Họ không thể nào thích nghi với đời sống mới. Có lẽ vì vậy mà hầu hết Samurai trở nên nghèo khốn, cố gắng tìm miếng ăn bằng những nghề lao động ti tiện nhứt, hoặc quần quật suốt ngày trên mảnh đất nhỏ bé của họ. Ðời sống của ông nội tôi không hơn gì các bạn hữu của ông. Khi rời nghiệp võ, ông được cấp cho một nông trại nhỏ. Ở đó, ông đã quần quật sống một cách thống khổ, và ở đó vào ngày 26 tháng 8 năm 1916, tôi chào đời. Ba tôi có 4 trai, 3 gái, tôi thứ ba.
Mỉa may thay, tôi lại bước trên con đường gần gũi với con đường mà ông nội tôi đã đi qua. Khi Nhật Bản đầu hàng Ðồng Minh tháng 8 năm 1945, tôi là phi công dẫn đầu các phi công hạ trên 10 phi cơ địch còn sống sót của xứ sở tôi. Tôi đã chánh thức đốn ngã 64 phi cơ địch trong các trận không chiến. Tuy nhiên, với sự kết thúc của chiến tranh, tôi bị sa thải khỏi Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản và bị cấm nhận bất kỳ công việc nào của chính phủ. Không một xu dính túi, không nghề không nghiệp, tôi không thể tìm được một việc làm thích hợp trong một thế giới mà tất cả đều đổ nát quanh tôi. Giống như ông nội của tôi, tôi đã sống bằng sức lao động chân tay, nhọc nhằn không kể xiết. Nhiều năm phấn đấu gay go, tôi tìm cách dành dụm đủ số tiền để mở một nhà in nhỏ và lấy đó làm sinh kế…
Công việc trồng trọt nhọc nhằn trên mảnh đất nhỏ bé của gia đình oằn xuống đôi vai của má tôi, người đã bỏ cả một đời cho 7 đứa con. Khi tôi lên 7, gánh nặng trên vai má tôi oằn thêm, vì người trở thành góa phụ. Những gì mà tôi nhớ về má tôi vào thời gian đó là hình ảnh một người đàn bà cần cù làm việc, còng lưng hết giờ này sang giờ khác trên thửa đất dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, với đứa con gái nhỏ nhất đai trên lưng.
Người đàn bà ấy, không bao giờ tôi nghe hở môi than thở một lời. Bà là một trong những người can đảm nhứt mà tôi chưa từng thấy, một mẫu người vợ Samurai, kiêu hãnh và cứng rắn, nhưng không phải là không có một trái tim biết xúc động.
Thỉnh thoảng tôi bị bọn học sinh lớn tuổi đánh đập, tôi khóc sướt mướt trở về nhà. Những giọt nước mắt của tôi không làm má tôi động lòng, người còn nhíu mày và gay gắt nói: “Con không biết xấu hổ à! Ðừng quên con là con trai của một Samurai, con không được quyền khóc.”
Lúc còn theo học trường tiểu học trong làng, tôi chăm chỉ học hành và luôn đứng đầu lớp trong suốt 6 năm. Nhưng con đường học vấn xa hơn nữa của tôi quá mù mịt. Ðiều quan trọng là nếu muốn học cao hơn nữa, gia đình học sinh phải đài thọ tiền bạc. Dĩ nhiên, điều này quá khả năng đối với gia đình tôi, vì chỉ lo ăn, lo mặc cũng vẫn chưa đủ. Tuy nhiên, bất ngờ người chú bà con xa của tôi ở Ðông Kinh đề nghị lo liệu hết mọi khoản học phí của tôi. Gia đình tôi đã chấp nhận lòng tốt này không một chút đắn đo. Chú tôi là một viên chức có địa vị ở Bộ Thông Tin, và đề nghị của ông: ngoài việc nuôi ăn học còn nhận tôi làm con nuôi. Chúng tôi tiếp đón dịp may này với lòng biết ơn.
Khắp nước Nhật, lãnh địa phong kiến Saga là một trong những lãnh địa nghèo nhất. Trải qua nhiều thế hệ, giai cấp Samurai ở Saga đã sống một đời sống khắc khổ, và nổi tiếng nhờ kỷ luật bản thân nghiêm ngặt của họ. Saga là tỉnh lỵ duy nhứt xem Bushido, tức tâm niệm của giới Samurai, như là một giáo lý. Một trong những câu chánh yếu của tâm niệm này: “Samurai đã sống một đời sống như vậy, hắn luôn luôn chuẩn bị để chết.”
Trong những năm chiến tranh, những tâm niệm Bushido đã trở thành sách giáo khoa cho tất cả học đường Nhật Bản. Chúng đã thấm nhập vào tôi, và giúp tôi rất nhiều trong đời sống lúc còn đi học, cũng như những năm chiến đấu sau này.
Mọi thứ ở Ðông Kinh đều làm tôi ngơ ngác. Tôi chưa bao giờ biết qua một thành phố lớn nào hơn Saga, với 50,000 dân cư của nó. Sự ồn ào náo nhiệt ở thủ đô Nhật Bản khó có thể tưởng tượng nổi. Với tiếng động ầm ĩ suốt ngày, những tòa nhà vĩ đại và mọi hoạt động khác, có thể nói nơi đây là một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Tôi cũng nhận thấy Ðông Kinh vào năm 1929 là một nơi chốn ganh đua trên mọi lĩnh vực, không chỉ các học sinh đã ra trường ganh đua một cách gay go để tìm chỗ làm, nhưng ngay cả các học sinh nhỏ cũng ganh đua ráo riết để giành giựt cho được một chỗ ngồi trong mấy học đường danh tiếng.
Những tưởng những gì tôi đã đạt được ở thôn quê đã là giỏi giang và dư sức có được chỗ học. Tôi tin vào sự phi thường của mình trong tư cách là một học sinh dẫn đầu lớp trong suốt cả 6 năm ở bậc tiểu học. Nhưng ở đây, tôi không bao giờ đối đầu nổi với các học sinh cặm cụi đèn sách ngày đêm, luôn luôn rình mò để đánh bại các bạn đồng lớp của mình. Các trường trung học chọn lọc ở Ðông Kinh đều tuyển chọn những học sinh xuất sắc của các trường tiểu học. Hơn nữa cứ 30 học sinh dự tuyển chỉ chọn 1 học sinh là cùng.
Ðó là điều không thể nào ngờ đối với một đứa trẻ nhà quê như tôi. Không khí náo loạn và xa lạ này đã khiến tôi ngơ ngác. Không hy vọng vô học trong các học đường danh tiếng, tôi đành ghi tên vô trường Aoyama Gakuin, do các nhà truyền giáo Hoa Kỳ thiết lập nhiều năm trước đó. Mặc dù trường này không nổi danh bằng các trường khác, nhưng nó cũng có chút ít tiếng tăm. Ðời sống của tôi trong gia đình người chú rất dễ chịu. Mặc dù chú tôi nghiêm khắc, ít chú ý đến con cái, nhưng mợ tôi và mấy đứa em bà con của tôi tỏ ra tử tế và thân mật. Trong không khí vui vẻ này, tôi lại bắt đầu những ngày của một học sinh trung học, với lòng đầy nhiệt thành và tham vọng. Tôi nhứt quyết phải luôn luôn đứng đầu lớp.
Không đầy một tháng sau, giấc mộng của tôi tan biến. Hy vọng dẫn đầu lớp như trước kia của tôi đã vỡ thành từng mảnh. Việc này hiển nhiên không chỉ do lỗi mấy ông thầy trường làng của tôi mà cũng do chính tôi nữa. Tôi nhận thấy có nhiều học sinh chưa bao giờ đứng đầu lớp hồi còn ở tiểu học lại học giỏi hơn tôi khi lên bậc trung học. Ðiều này khó tin, nhưng là sự thật. Bởi lẽ họ biết nhiều thứ mà tôi không biết cho dù tôi cố học ngày học đêm, tôi cũng không thể nào tiến bộ mau lẹ hơn họ được.
Kỳ thi đệ nhứt lục cá nguyệt chấm dứt vào tháng bảy. Hạng trung bình trong kết quả học của tôi khiến chú tôi thất vọng não nề, và gây nhiều chán nản, tôi biết sở dĩ chú tôi đài thọ tất cả tiền bạc ăn học cho tôi vì ông cảm thấy tôi là một đứa trẻ đầy hứa hẹn, có thể luôn luôn đứng đầu lớp. Sự bất mãn của ông không thể nào không nhìn thấy. Do đó, thời gian nghỉ hè, tôi cắm đầu cắm cổ lo học. Trong khi các bạn đồng lớp vui chơi, tôi miệt mài đèn sách, quyết định lấp đầy khoảng trống học vấn của mình. Nhưng niên học bắt đầu vào tháng Chín đã chứng minh các nỗ lực của tôi là vô ích. Tôi không đạt được một tiến bộ nào.
Việc học hành gặp hết thất bại này đến thất bại khác đã làm cho tôi tuyệt vọng cùng cực. Không những các môn học của tôi chỉ đứng trung bình trong lớp, mà ngay cả những môn thể thao tôi cũng thua sút mọi người. Rõ ràng có nhiều học sinh trưởng thành nhanh nhẩu, hoạt bát hơn tôi. Thay vì tiếp tục cố gắng để vượt qua các bạn đồng học xuất sắc trong lớp, tôi làm bạn với một số học sinh kém cỏi. Tôi cầm đầu bọn này, và sau đó tôi bắt đầu khai chiến với các học sinh lớn tuổi. Không ngày nào tôi không tìm cách đánh nhau với họ. Hầu như mỗi đêm tôi đều về nhà với mình mẩy bầm giập. Tuy nhiên, tôi đã giấu kín những cuộc phiêu lưu này một cách kín đáo. Cú đấm đầu tiên giáng xuống vào cuối niên học của tôi. Một bức thư của thầy học thông báo cho chú tôi biết tôi là một “học sinh cần phải lưu tâm”. Ðiều tốt nhất mà tôi có thể làm là bỏ qua những trận đấm đá không quan trọng, nhưng tôi không bỏ qua những phương cách chứng tỏ rằng tôi là một học sinh “tốt hơn” các học sinh lớn tuổi. Vì vậy, những bức thư của thầy dạy tôi tiếp tục bay về nhà nườm nượp, và cuối cùng, chú tôi được mời đến trường để nghe báo cáo trực tiếp về hành vi xấu xa của tôi.
Tôi chấm dứt niên học thứ nhì hầu như ở cuối danh sách. Như vậy, đối với chú tôi cũng đã quá nhiều rồi. Những bài “lên lớp” của ông càng lúc càng gia tăng thịnh nộ, và bây giờ quyết định của ông là không cho tôi ở Ðông Kinh nữa. Lời nói sau cùng của chú tôi: “Saburo, chú chán rầy la cháu rồi và chú thấy không thể làm gì khác hơn, có lẽ chú đã sai khi không kèm cặp cháu nhưng dù gì đi nữa, thì vẫn giống như chú đã khiến cho một người con của giòng họ Sakai đầy kiêu hãnh đi vào con đường quấy. Cháu nên trở về Saga.” Không biết làm sao hơn. Tôi không thốt ra một lời bào chữa nào, vì những điều chú tôi nói đều đúng sự thật. Tôi nhận tất cả phần lỗi về tôi. Nhưng tôi không để lộ vẻ gì gọi là tủi hổ khi phải trở về Saga. Tôi quyết định giấu kín nỗi lo lắng, nhứt là với con gái của chú tôi, Hatsuyo, cô em họ mà tôi rất yêu mến. Tôi lên đường, như là một chuyến về thăm gia đình ở Kyushu.
Tuy nhiên, đêm đó, khi xe lửa rời nhà ga Trung Ương Ðông Kinh trực chỉ 800 dặm đến Saga, tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi đã làm cho gia đình tôi thất vọng, và tôi cảm thấy sợ hãi khi phải trở về nhà.
Melbourne Cup là cuộc đua ngựa. Trường đua Flemington, đầu đường Balarat ngó qua dòng sông Maribyrnong lặng lờ xuôi chảy! Mỗi năm Melbourne Cup được tổ chức vào ngày thứ Ba đầu tiên của tháng Mười Một. Năm nay, Melbourne Cup rơi vào ngày mùng 3, tháng Mười Một năm 2020.
Bà con Úc, tay làm hàm nhai, được nghỉ. Phải cho dân nghỉ vì cuộc đua nầy làm ngưng trệ cả nước Úc. Bắt nó đi làm thì nó cũng khai bịnh, trước sau cũng phải cho nó nghỉ. Nghỉ có giấy bác sĩ thì trả tiền. Hổng có giấy bác sĩ chứng nhận nhức đầu sổ mũi (coi chừng con Covid-19) thì xù. Chủ thợ làm được gì nhau? Nghỉ để cắm đầu vô đánh cá ngựa (thua cho chết tía mầy luôn!).
Tuy nhiên, năm nay vì đại dịch Covid-19, Melbourne Cup không có khán giả. Vì người dân phải tuân theo lịnh cách ly của chánh phủ tiểu bang Victoria. Trường đua Flemington vắng như chùa Bà Ðanh. Chỉ có những cánh hồng đong đưa theo gió. Nhưng cuộc đua vẫn được tiến hành để phục vụ dân cá cược.
Cuộc đua nửa chừng thì buồn thay con ngựa “Anthony Van Dyck” đang đua nước rút thì sựng lại vì bị gãy giò. Con ngựa đã từng mang niềm hào hứng, nỗi hồi hộp cho dân cá cược, chỉ vì gãy có một giò mà bị chích một mũi để an nghỉ giấc ngàn thu.
Nước mắt khóc thương con ngựa xấu số chưa kịp khô thì mấy thằng Úc đã quên mất cái nỗi buồn rầu (đúng là dân bội bạc). Tay cầm lon beer; mắt chăm chăm nhìn lên màn ảnh truyền hình theo dõi cuộc đua khác hào hứng cũng không kém. Cuộc đua này cũng xảy ra ngày mùng Ba, tháng Mười Một, nhưng ở bên Mỹ, cách tui cả một biển Thái Bình.
Cuộc đua này cũng quyết liệt, cũng không kém phần sôi nổi và hào hứng là cuộc đua tranh giành chức Tổng thống Hoa Kỳ.
“Chuyện của Mỹ có liên quan gì tới Úc đâu nè?”, thằng bạn nhậu hỏi tui một câu ngây thơ như vậy. “Sao không? Bộ chú mầy không biết là Ðế quốc Mỹ là siêu cường duy nhứt còn lại trên thế giới hay sao? Khi nước Mỹ sổ mũi là cả thế giới nhức đầu!”.
Thế nên các chánh trị gia Úc theo dõi đàn anh Mỹ của mình sát sao lắm! Theo dõi để mà đón gió, để mà dựa hơi trên con đường làm chánh trị. Bầu cử chưa có kết quả chánh thức thì Thủ tướng Úc hoặc lãnh tụ đối lập nín khe hè. Ðợi rõ ràng ông nào lên ngôi cửu ngũ thì mình gọi điện chúc mừng. Chúc mừng sảng, chúc mừng trật thì ông đắc cử thiệt ông để bụng, ổng giận mình thì khó cho việc bang giao quốc tế sau nầy.
Vậy mà, Thủ tướng Janez Jansa của nước Slovenia, quê của Melania, chưa gì hết đã nhanh nhẩu chúc mừng thằng rể Donald Trump đã chiến thắng rõ ràng; trong khi dân Mỹ vẫn còn ấm ớ hội tề chưa biết. Nịnh thì từ từ mà nịnh, cũng đâu có muộn?
Mấy chánh trị gia lá mặt lá trái xưa giờ là vậy đó. Còn dân Úc nó đâu có huỡn mà chúc mừng sảng như vậy. Nó chỉ theo dõi bầu cử để mà cá cược như cá đua ngựa đấy thôi. Vì dân Úc là dân có màu cờ bạc thuộc hạng nhứt, nhì trên thế giới. Cái gì nhúc nhích, bò được, chạy được như chó hoặc rùa, nó đều cho đua để cá cược hết ráo. Nhưng tiền đánh cá chắc phải chào thua một ông anh ở xứ Anh Cát Lợi. Ông nội con nít nầy dám cá cược tới năm triệu bảng Anh, bắt ông Trump sẽ thắng.
Ô hô ai tai! Ðêm bầu cử, hãng Sportsbet cho cái tỉ lệ ăn thua: Ai theo Biden, cá 1 đô ăn được có 22 xu. Trong khi theo Trump, cá một đô ăn tới 3 đô 33 xu.
Dẫu sao, tui xin chúc ông may mắn. Bằng không, tui sẽ đến thăm ông ở gầm cầu Westminster bắc qua sông Thames ở thủ đô London, nước Anh nhe .
TranhBảo Huân
***
Từ hồi lập quốc tới giờ, cuộc bầu cử Tổng thống của Mỹ không giống ai và cũng không ai giống. Nó rối rắm, rắc rối và lôi thôi lắm! Vì kết quả ai thắng, ai thua không dựa vào số phiếu phổ thông nhiều hay ít mà lại căn cứ vào phiếu đại cử tri của từng tiểu bang. Ông D. Trump giành được ít nhứt là 270 trên 538 phiếu đại cử tri thì tiếp tục ở thêm 4 năm nữa. Nếu không đủ số phiếu trên thì dọn ra để ông Tổng thống Mỹ thứ 46 dọn vào.
Bà con mình ai cũng biết màu Xanh, đảng Dân Chủ hoặc màu Ðỏ thuộc đảng Cộng Hòa. Cử tri tiểu bang Texas xưa giờ rất trung kiên với màu đỏ. Từ đời ông nội tới tía tui rồi tới tui đều bỏ phiếu cho ông do màu Ðỏ đưa ra.
Tuy nhiên cũng có các tiểu bang miền Trung Tây nước Mỹ khoái đong đưa, đu qua, đu lại. Kỳ nầy bỏ cho màu đỏ; kỳ tới lại bỏ cho màu xanh. Chính vì mấy em vô thủy, vô chung,õng ẹo như Thúy Kiều, “đưa người cửa trước rước người cửa sau”; nên hai ứng cử viên nầy phải nườm nượp bay tới ve vãn, o bế để mấy em bỏ phiếu cho anh.
Ông Joe Biden đã từng hy vọng có một chiến thắng long trời lở đất. Quánh một cú là hạ đo ván, làm Donald Trump ngã cái ạch xuống sàn võ đài, nằm ngay đơ cán cuốc. Nhưng điều đó đã không có xảy ra.
Ðêm bầu cử, trời quá nửa đêm về sáng, dân Mỹ vẫn chưa biết được ai thắng ai thua? Vì chưa có ai đoạt được 270 phiếu đại cử tri.
Sợ người ủng hộ mình ngáp lên ngáp xuống, ngáp muốn sái quai hàm rồi trật cần cổ luôn nên ông Joe Biden xuất hiện cười mỉm chi, tay giơ nắm đấm, nhắn nhủ rằng:“Xin quý vị giữ vững niềm tin. Chúng ta trên đường chiến thắng! Hãy kiên nhẫn đợi đến lá phiếu cuối cùng được kiểm.”
Tới phiên ông Donald Trump tuyên bố thắng lớn; đòi ngưng không kiểm hàng triệu phiếu mà cử tri gởi bằng thơ trước ngày bầu cử. Tui ăn rồi, kiểm chi nữa? Kiểm nữa lỡ tui thua sao? Nếu không làm theo ý ông là ông sẽ đi thưa Tối Cao Pháp Viện.
Vụ kiện thưa tới 9 Tòa quan lớn nầy chỉ là một vở tuồng cũ, hát từ năm 2000, về phiếu bầu của tiểu bang Florida. Chỉ khác biệt có 537 phiếu mà George W. Bush lên làm Tổng thống Mỹ tới 8 năm. Còn Al Gore về nhà bị vợ bỏ. Hu hu!
Chính vì rắc rối lôi thôi như vậy cho nên đến cuối tuần nầy hoặc có thể lâu hơn bà con bên Mỹ mới biết được hai ông già nầy, một ông 74, một ông 78 ai sẽ vô nhà dưỡng lão?
***
Hồi tranh cử thì các chánh trị gia cứ cho dân uống nước đường, ăn bánh vẽ. Ăn nói gió đưa ngọt ngào như Sở Khanh. Nó nói dóc; ai biểu nghe theo thì ráng chịu!
Người dân thì một lần bất tín, vạn lần họ bất tin. Nên một chiều nọ, một chiếc xe buýt chở các chánh trị gia chạy trên con đường quê. Ðột nhiên, chiếc xe buýt chệch khỏi đường và đâm cái rầm vào một gốc cây. Thấy tai nạn xảy ra, ông làm ruộng liền chạy đến coi. Sau đó ông lấy cái xẻng đào một cái hố và chôn cất tất cả các chánh khách.-
Vài ngày sau, viên cảnh sát trưởng địa phương đi tuần tra, nhìn thấy chiếc xe buýt bị móp đầu, bể kiếng nằm chỏng chơ giữa ruộng bèn hỏi: “Họ đã chết hết chưa?”
“Chà!” Ông già trầm ngâm đáp” “Một số chánh trị gia nói rằng họ chưa chết. Nhưng thầy đội biết các chánh trị gia là vua nói dối. Họ nói họ chưa chết nhưng tui đâu có ngu đâu mà tin; nên tui chôn hết ráo rồi ạ!”.
Tôi không biết làm thơ. Có viết được một đôi bài đăng báo, chị tôi đọc thấy và bảo “cái này mà gọi là thơ ư?”. Ai chỉ trích thì bụng tôi không vui nhưng khi nghe chị tôi nói, tôi buộc phải đưa tay ra sờ sau ót. Chị tôi đọc nhiều sách, yêu thơ rất mực và có một trí nhớ đáng nể. (Chị từng phê bình là văn viết của tôi có nhiều điển tích bị trích dẫn sai, liền mang sách ra đọc rõ ngọn ngành; nói có sách, mách có chứng, hết đường chối cãi). Thời nữ sinh, chị chép tay nhiều bài thơ tiền chiến trong một tập giấy xanh, lên tới hai ba cuốn, nâng niu. Chị gieo cho trí óc dại khờ tôi dạo nọ một hoài nghi: Có phải thơ là món cần thiết?
Người ta sống thở có cần tới thơ không? Cần Thơ cũng là tên gọi một thành phố mà ngày đó tôi chưa có cơ may ghé thăm qua. Khi bị đẩy ra khỏi nước, đôi khi an lành ngồi trên cuộc đất này đâm nhớ quàng xiên về chốn xưa. Ai đâu ngờ được sự vận hành của cuộc bể dâu, giá mà ngày cũ được rộng cẳng xuôi Nam, thăm thú, nhìn ngó cho thoả biết bao thành phố “gấm vóc” thì khi đã già đầu, tiếc nuối đi kèm với hối hận có vơi bớt phân nao?
Sau 1975, nhà thơ Bùi Giáng có làm ra bốn câu (viết theo trí nhớ):
“Tôi gọi Cần Thơ là cần thở Cần Thơ ơi cần thở đến bao giờ? Tôi gọi Bình Dương là bình dưỡng Dượng dì ơi có thương nhớ con không?”
Vào năm 1965 an lành, tại một ngôi trường Trung học ở Cần Thơ, có một nữ sinh học lớp đệ Nhị, mang tên Lý Thị Kim Xương đã viết nên một bài thơ. Từ một cô gái (17, 18 tuổi) ẩn mặt, bài thơ “Thư Cho Anh” đã mang chị Lý Thị Kim Xương thoát khỏi Cần Thơ, vang danh ra chốn xa, kể cả hải ngoại giờ này. Tôi xin mượn nguồn từ nhà văn Trần Hoài Thư để chép lại bài thơ ấy, ra đây, chỉ thế tấm gương tự soi vào mặt mình: Học lớp đệ Nhị (lớp 11, sẽ thi Tú tài Một) tôi vẫn còn là thằng học sinh ngây thơ, nhút nhát, yêu chùng thương vụng chẳng dám biểu lộ, hổ ngươi chịu kém anh thua chị cả đoạn đường dài. Theo cảm nhận riêng tôi, bài thơ này quá tuyệt, có muốn nói khác cũng thừa bởi tự thân bài thơ mang thứ giá trị mà qua thời gian, mãi còn đó là nụ tường vi chưa phai nhạt hương mùi:
THƯ CHO ANH
anh nghĩ gì khi người ta nói yêu em? khi trời mưa người ta đưa em đến trường người ta bảo người ta thường hay khóc vì em nhìn người ta quá dửng dưng
chủ nhật người ta đi xem lễ anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em? người ta đọc kinh khe khẽ em nghe người ta đọc tên em
mai nhớ về thăm em nghe anh! cho người ta hiểu em không sống một mình nếu người ta yêu thì phải yêu hai đứa (yêu em và yêu anh)
người ta yêu em anh có buồn không? nhỡ một mai em gọi người ta bằng chồng anh có còn yêu em không nhỉ? (chết! người ta đang nhìn em ngoài song).
LÝ THỊ KIM XƯƠNG
Bài thơ ra đời năm 1965. Nếu vậy thì tác giả giờ này đã là tuổi hạc, tóc bạc phôi pha. Giáng Sinh vừa rồi tôi không đọc-kinh-khe-khẽ nhưng tôi có đọc tên Lý Thị Kim Xương. Tôi nghĩ, bạn làm thơ, nếu hay một vài, hậu thế sẽ có người mang ra đọc thầm. Tôi không rõ Lý Thị Kim Xương là tên thật, hay đó chỉ là bút hiệu của tác giả, dẫu sao tôi có cảm tình với danh xưng khác lạ kia.
Kim Xương sáng tác có nhiều không? Chị ra sao giờ này? Chị vẫn ngụ ở Cần Thơ? “Nếu người ta đọc tên Xương khe khẽ chị có buồn không?”.
Cần thơ? Thế kỷ trước, khi báo giấy còn sống hùng sống mạnh, người ta rất cần đến thơ. Một bài thơ là thứ xét thấy “hợp lý” nhất dùng để “điền vào khoảng trống” một trang báo. Người ta tính toán độ dài có ở câu chữ hòng “ăn” với chỗ trống kia mà chẳng thiết tới nội dung thơ ấy muốn diễn đạt về điều gì. Rẻ rúng. Tuỳ tiện. Coi thường, vô tội vạ.
Thế kỷ này, hôm nay, khi nhà nhà đều hứng thú với thế giới ảo, ai ai cũng có facebook, người ta có còn cần thơ hay chúng sinh cần thở? Ai đó đã chụp lại một vuông giấy mà bề mặt ghi ra thứ nội dung “đáng sợ” rồi post lên (nguyên văn): “Thằng Nguyễn Văn Mít. Nếu mày không trả nợ. Tụi tao sẽ tag thơ vô phây búc của mày”. Trong cõi hỗn mang đó, rõ ràng thơ đã trở thành một thứ vũ khí lợi hại mang ra để đe nẹt, cảnh báo, dằn mặt con nợ. Hơn cả thư rơi, thư nặc danh, black mail, thơ nào khác gì đao, kiếm, a-xít, kim tiêm có nhiễm bệnh sida? Không phải vô tình, Bùi Chí Vinh từng viết nên:
“Mới đầu ta định làm thơ Sau cùng nghĩ lại giặt đồ hay hơn”.
Lao động tay chân có khi mà thiết thực, “hay hơn” ngồi động não dệt nên vần điệu. Để thu hút số đông, giờ này người làm thơ “chịu khó” lùng sục trên mạng cố tìm lấy được một tấm ảnh “mát mẻ”, chụp hình một cô bé phơi bày da thịt hở hang xem đó là thứ phụ kiện cần thiết, minh hoạ, cộng hưởng với tấc lòng của thi nhơn.
Một quan chức có quyền thế ở Việt Nam phán: “Thơ trên phây búc toàn cả thơ rác”. Lời ông ta đã gây ra sự phẫn nộ lây lan trong cộng đồng nhiễu nhương ấy mặc dù ở Việt Nam người ta vẫn truyền khẩu câu:
Gặp nhau tay bắt mặt mừng Rượu chè thì được nhớ đừng tặng thơ.
Chao ôi, nghe luống những ngậm ngùi! Giá mà có ai rộng lượng tặng tôi một bài thơ tựa như “Thư Cho Anh” của Lý Thị Kim Xương thì thằng tôi sẽ bỏ thói rượu chè, sẽ trân quý thơ, xem món quà nọ là vô giá, sống bỏ bụng chết mang theo. Ở phương Tây nói chung, tất cả những người sinh hoạt trong lãnh vực sáng tác nghệ thuật đều có chung một nhận định, rằng nên sắp hạng thi ca là thứ đứng hàng đầu. Ví dụ như lời tâm sự của nhà văn William Faulkner: “Tôi là một thi sĩ thất bại. Có thể là các tiểu thuyết gia đầu tiên đều muốn làm thơ, thấy rằng mình không làm được rồi mới thử viết truyện ngắn, là món khó khăn đứng sau thơ. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, rốt cuộc họ mới quay ra viết tiểu thuyết”.
Tuổi học trò đã vuột trôi, đến tuổi nhi nhĩ thuận tôi cũng chẳng làm được một bài thơ cho ra hồn. Tôi nghĩ đến chị tôi, về lời cảnh báo không sai trật mà chị từng nhận xét, ngầm khuyên nhủ tôi đừng làm thơ nữa. Tôi cũng nhớ tới ông Mao Trạch Đông: Các đồng chí cứ ca ngợi chế độ cho nhiều vào, thế nào trong hằng hà ức triệu các sáng tác kia cũng nhặt ra được một bài thơ hay, chí ít.
Năm mới, nhà nước phía bên kia biển sẽ ban hành luật an ninh mạng. Nó thành lập để thế cho một cái còng, một gọng kìm hầu siết chặt, ngăn ngừa những lời lẽ phản động, bêu rếu nói xấu chế độ. Nếu nó hoá thân là một cái chổi thì nó không tài nào quét sạch “thơ rác”. Biết đâu, khi bà con chí thú tạo ra rác, bà con quên đi phần nào thứ hiện thực trái ngang đang diễn ra thường nhật chứa lắm thương đau. Xã hội nhờ “rác” mà làm nguội, tạm lắng bớt những oan ức, thôi diễn ra cảnh xuống đường biểu tình ra yêu sách dân chủ này nọ. Hãy để bà con vùi đầu sống trong thế giới ảo, nơi họ được làm vua không ngai.
Người ta yêu thơ anh có buồn không? Nhỡ một mai người ta xem Thơ là thứ cần thở Bình Dương thiếu dưỡng khí thơ bỏ trốn Em thôi làm thơ anh mừng vui chăng? Chủ nhật người ta đi xem lễ Nghe tiếng nguyện cầu đất nước bình yên.
Thức trên gọi là tức cảnh sinh tình, mang thơ Lý Thị Kim Xương ra nhào nặn lại. Điều này chẳng hay ho gì, bạn chớ nên làm loài ốc mượn hồn. Bạn nên tự tạo ra được một cái vỏ bọc, chữ dùng trong nước kêu bằng “gây được thương hiệu riêng”. Tôi yêu hai câu của Hồ Dzếnh, bởi trước sau, nó luôn hợp với tâm cảm tôi mang:
Mộng tàn nước chảy mây trôi Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.