This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thiếu tá Viet Q Tran* vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ chọn đề cử thăng cấp Trung tá cho tài khoá YF28, theo thông báo từ mynavyhr.navy.mil/References/Messages (Bộ Tư lệnh nhân sự Hải quân) ngày 24 tháng 9 năm 2026. Ông hiện đang giữ chức Sĩ quan công vụ giao tế khu vực (Regional Affairs Officer (RAO)), thuộc Lực lượng Viễn chinh Thuỷ Quân Lục Chiến III, Hoa Kỳ** (III Marine Expeditionary Force) đồn trú tại Okinawa, Nhật Bản.
Sĩ quan công vụ giao tế khu vực (RAO) phụ trách các vấn đề khu vực là Sĩ quan đã hoàn thành chương trình đào tạo hậu Đại học chuyên ngành về quan hệ Quốc tế, tập trung vào các nghiên cứu khu vực phù hợp với khu vực được chỉ định, họ có nhiều kinh nghiệm tại khu vực. Sĩ quan công vụ giao tế khu vực sở hữu chuyên môn khu vực dựa trên học thuật và kinh nghi phục vụ với tư cách là Sĩ quan Chính trị-Quân sự. Sĩ quan công vụ giao tế khu vực được đào tạo không bao gồm học ngôn ngữ hoặc đi công tác ngoài khu vực. Khác với Sĩ quan ngành ngoại giao (Foreign Area Officer (FAO)) phải thông thạo một ngôn ngữ khác ngoài Anh ngữ, Sĩ quan công vụ giao tế khu vực phục vụ trong các Đơn vị đòi hỏi sự hiểu biết toàn diện về một khu vực, nhưng không yêu cầu kỹ năng ngoại ngữ, phần lớn là các Đơn vị cấp chiến lược đang hoạt động.
Thiếu tá Viet Q Tran tốt nghiệp Trường căn bản TQLC (TBS), Quantico, Virginia vào tháng 5 năm 2013 và Trường Sĩ quan OCS tại Virginia Beach, Virginia tháng 11 năm 2013. Hơn 14 năm phục vụ TQLC, Thiếu tá Viet Q Tran được chỉ định phục vụ qua các đơn vị từ tháng 1 năm 2014 đến nay được ghi nhận: Thiếu uý***, Sĩ quan Trưởng toán tại Okinawa, Nhật Bản từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 4 nqăm 2014; Đại đội phó Đại đội Tổng hành dinh tại Okinawa, Nhật Bản từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016; Sĩ quan phục vụ Phi đoàn trực thăng tấn công hạng nhẹ TQLC tại trại Camp Pendleton South, California từ tháng 2 năm 2016 đên tháng 5 năm 2017; Sĩ quan phục vụ Liên đoàn Phi cơ TQLC tại Camp Pendleton South, California từ tháng 5 năm 2017 đên tháng 2 năm 2019; Sĩ quan điều hành tại Fort George G. Meade, Maryland từ tháng 3 năm 2019 đên tháng 11 năm 2021; Đại đội phó tại Fort George G. Meade, Maryland từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022; Đại đội trưởng tại Fort George G. Meade, Maryland từ tháng 6 năm 2022 đến tháng 11 năm 2022; Và hiện nay, Sĩ quan công vụ giao tế khu vực (RAO), thuộc Lực lượng Viễn chinh Thuỷ Quân Lục Chiến III, đồn trú tại Okinawa, Nhật Bản. Thiếu tá Viet Q Tran được thăng cấp Thiếu uý năm 2012, Trung uý năm 2014, Đại uý năm 2018, Thiếu tá năm 2022.
Thiếu tá Viet Tran tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cao học Nghiên cứu An ninh Khu vực – Đông Á và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Trường Hậu Đại học Hải quân Naval Postgraduate School, tháng 6 năm 2024; Văn bằng cử nhân, Quản trị Kinh doanh và Quản lý, Trường Đại học University of Southern Maine, năm 2011; Văn bằng Cử nhân Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học University of Maine.
Thiếu tá Viet Q Tran trùng họ và tên với Trung tá Viet B. Tran, Phi công TQLC Hoa Kỳ, Ông là 1 trong 26 Thiếu tá TQLC gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng TQLC Hoa Kỳ. Sau khi được chính thức thăng cấp Trung tá***, ông sẽ là 1 trong 9 Trung tá TQLC gốc Việt đang phục vụ các ngành trong quân chủng TQLC Hoa Kỳ (không tính những vị đã thăng cấp Đại tá và một số vị đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận bao gồm: Trung tá Viet B. Tran, Phi công TQLC; Trung Tá Trong M. Do, Phi công TQLC; Trung tá Phil Duong, Phi công TQLC; Trung tá DV Pham; Trung tá MC Nguyen; Trung tá XD Dam; Trung tá TH Kieu; Trung tá David L Tran; và một số vị khác chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Viết theo tài liệu sưu lục và tham khảo, *Họ và tên từ tài liệu: Viet Q Tran. Họ và tên Việt, Trần Q Việt; **Còn được gọi là Đệ Tam Lực lượng viễn chinh TQLC, nhưng cựu Trung tá Tuan Anh Pham (Lão non Tuấn Marine), thì gọi là Quân đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ; **Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ****Hồ sơ đề cử thăng cấp sẽ được chuyển đến Quốc hội để Uỷ ban quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services) duyệt xét, một thời gian sau đó, Sĩ quan đề cử sẽ được chính thức thăng cấp.
Chúc tân Trung tá Viet Q Tran thăng tiến binh nghiệp.
Kỳ tới: Đại tá Dave Tran (gốc Việt), Sĩ quan chỉ huy chiến lược Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
Nguồn: mynavyhr.navy.mil; linkedin.com; Officer Candidates School (USMC); US Marine Corps The Basic School (TBS); ppo.marines.mil-Regional Area Officer; bienxua-Thiếu tá Viet Q Tran (gốc Việt), Sĩ quan công vụ giao tế khu vực, Lực lượng Viễn chinh Thuỷ Quân Lục Chiến III, Hoa Kỳ; Lão non Tuấn Marine-Quân số các đơn vị TQLC Hoa Kỳ.
Bà con mình chắc ai cũng biết Giải quần vợt Úc mở rộng, cái Grand Slam đầu tiên của năm 2022, sẽ bắt đầu vào ngày 17, tháng Giêng.Giải Grand Slam mở rộng chơi trên mặt sân cứng ở Melbourne rất được Djokovic ưa thích. Djokovic đã chiếm chức vô địch tới 9 lần và trong 4 năm liên tiếp gần đây trên mặt sân này.
Djokovic đã 20 lần vô địch. Nếu được cho phép thi đấu và bảo vệ thành công chức vô địch lần này, Novak Djokovic sẽ vượt qua hai đấu thủ lừng danh khác, cùng đoạt được 20 Grand Slams là Roger Federer và Rafael Nadal. Lúc đó, Djokovic sẽ trở thành tay vợt đơn nam vĩ đại nhứt trong lịch sử môn quần vợt đơn nam.
Novak Djokovic, bay suốt đêm hơn 15 ngàn cây số để đến thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Australia. Nhưng khi đáp xuống phi trường Tullamarine, vì chưa chích ngừa, Novak Djokovic bị hủy thị thực nhập cảnh. Novak Djokovic bị tạm giữ chờ trục xuất trên chuyến bay kế tiếp để rời khỏi nước Úc.
Thủ tướng Úc Scott Morrison đã chém gió: “Rules are rules” (Luật là luật). Nhưng Novak Djokovic không đồng ý: “Rules gì mà kỳ như vậy? Cấp visa, thị thực nhập cảnh cho tui vô rồi lại nhốt tui?”. Djokovic kiện chánh phủ Úc ra Toà. Và Thẩm phán Liên bang xử cho Novak Djokovic thắng kiện.
Dân Úc gốc Serbia đổ ra đường phố nhảy múa ăn mừng rồi đụng độ với cảnh sát. Bên thủ đô Belgrade của Serbia, cha, mẹ, em trai của Djokovic họp báo đánh trống thổi kèn inh ỏi, nổ như pháo Mùng Một Tết ta.
Nhưng 83% trong 60 ngàn dân Úc qua một cuộc khảo sát ý dân của NewsCorp muốn Novak Djokovic “go home”, về nhà chơi đi!
Thủ phủ Melbourne năm rồi bị nhốt trong nhà cả 112 ngày đêm ròng rã. Theo chánh phủ, đó là cái giá đáng phải trả để giữ cho nhiễm Covid ở mức thấp (?!). Hàng chục nghìn người dân Úc ở hải ngoại đã không được trở về nhà, dẫu là để được gặp người thân đang hấp hối. Ðó là một ký ức đầy đau đớn.
Ai cũng biết thuốc chích ngừa là cách duy nhứt để ngăn chặn đại dịch gây ra thảm họa nầy. Hơn 20 triệu người, 90 % dân Úc đã ngoan ngoãn tuân theo lời kêu gọi của chánh phủ để chích ngừa. Giờ thì chánh phủ lại mời một tay vợt chống chích ngừa có hạng vô chơi giải Úc mở rộng thì đâu có được. Vua Tây Ban Nha hay Nữ hoàng Anh đến đây cũng phải chích ngừa rồi mới được vô, huống gì một tay chơi quần vợt?
***
Báo chí phương Tây chơi chữ “Novak” đồng âm với “No Vaxx”; nghĩa là không chịu chích ngừa. Trong 100 cây vợt nam hàng đầu thế giới trong bảng xếp hạng của ATP (Association of Tennis Professionals), chỉ có hai người không chịu chích ngừa. Novak Djokovic là một trong hai người đó. Những tay vợt khác cảm thấy không thoải mái vì Novak Djokovic tự làm luật cho riêng mình.
Trong thời buổi nhiễu nhương, biến thể Omicron tràn lan trong bầu không khí chúng ta đang thở rất là đáng sợ. Nên thiên hạ sợ Novak Djokovic không chích ngừa luôn! Hậu quả
Hậu quả nhãn tiền, thấy liền trước mắt: Novak Djokovic trở thành cái cột thu lôi, hút sấm sét từ người dân Úc. Chánh phủ của “mông xừ” Scott Morrison lâm vào cái thế khó: “Ðói lòng ăn trái khổ qua; Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười”. Phải chi ngay từ đầu cứ thẳng mực tàu: Chưa chích ngừa là không được vào nước Úc thì đâu có chuyện lùm sùm, bể bạc tòe loe đến như vầy.
Novak Djokovic trở thành “cái gân gà”. Ăn thì không có thịt, chánh phủ Liên đảng bỏ đi thì không biết phải làm cách nào? Vì chỉ còn 5 tháng nữa là tới ngày bầu cử Liên bang Úc. Làm lạng quạng là dân Úc nó quạu, nó cho nguyên nội các về chăn vịt hết ráo thì báo.
Vậy là Bộ trưởng Di Trú Alex Hawke sai đệ tử vạch lá tìm sâu để tìm cách trục xuất Novak Djokovic về lại thủ đô Belgrade của Serbia chơi đi. Ðệ tử tìm được một con sâu róm to tổ nái, hình thù xấu xí; bèn bắt đưa lên cho ông Bộ trưởng coi. Con sâu đó là: Trong tờ đơn xin nhập cảnh có câu hỏi: “Trong 14 ngày trước khi đặt chân vào Úc có đi du lịch ở đâu không?”. Djokovic đã đánh dấu “Không”. Sự thực là bị nhiễm COVID-19 vào ngày 16 tháng 12, Djokovic không cô lập theo quy định của chánh phủ Serbia mà còn bay đi Tây Ban Nha tham gia các sự kiện một ngày sau đó. Có hình ảnh ghi lại sờ sờ trên YouTube nên Djokovic hết đường chối tội man khai với chánh phủ Úc.
Nghe đàn em báo cáo, Thủ tướng Scott Morrison xách bàn toán ra khỏ để tính lợi hại. Tiếp tục chuyện bé xé ra to hay cho nó chìm xuồng tại bến? Cuối cùng ngài Thủ tướng núp sau lưng ngài Bộ trưởng khều nhỏ: “Chơi nó đi!”. Ðược sếp bật đèn xanh, ngài Bộ trưởng Di trú lần thứ hai hủy thị thực nhập cảnh của Novak Djokovic; với lý do là để bảo vệ lợi ích của người dân Úc.
Luật sư của Novak Djokovic lại đưa chánh phủ Úc ra Tòa Liên bang.
Ba ông Tòa Liên bang phải bỏ cả ngày Chủ Nhựt nhịn uống bia, ăn thịt nướng, phải ra pháp đình mà ngồi xử kiện vì mai, thứ Hai, giải quần vợt Úc mở rộng sẽ bắt đầu.
Nếu thua kiện, Novak Djokovic sẽ bị trục xuất. Không được vác cái bản mặt mo léo hánh tới thăm mấy con “Kangaroo cái” suốt ba năm trời dài đăng đẳng thì buồn lắm đó nhe!
***
Theo lời ba hoa chích choè của cha con nhà Djokovic thì Novak khoái tự do. Tự do kiểu thân thể của tao, tao muốn làm gì thì làm. Không muốn chích ngừa là không chích. Không ai được quyền ép dầu, ép mỡ gì ráo nghe không!
Nhưng các nước Pháp, Anh và Mỹ tổ chức các Grand Slam đều yêu cầu các tay vợt phải chích ngừa mới cho tham dự giải. Vậy là Novak Djokovic tìm cách luồn lách luật. Nên có người nghĩ, ngoài cái tài đánh quần vợt ra, Novak Djokovic còn có tài hô phong hoán vũ: “Này âm binh âm tướng ơi!” để điều khiển con virus nữa. Lúc nào cần, là Djokovic kêu con virus lại cho mình nhiễm để được miễn trừ y tế, được nhập cảnh vào xứ người, cầm vợt đánh trái banh nỉ qua một cái lưới căng ở giữa sân để kiếm hàng triệu đô tiền thưởng.
Thế là chỉ trong vòng có 6 tháng mà Novak Djokovic nhiễm virus tới 2 lần. Nhiễm liên tu bất tận! Làm như con “Coronavirus” rất tha thiết yêu, không muốn rời xa Djokovic quá lâu.
Bà con nghi Novak nói dóc nên đề nghị đè chú ra lấy máu tìm kháng thể để biết lần thứ hai Novak có bị nhiễm virus thiệt hay không? Nhưng dễ gì Djokovic chịu.
***
Có người nói mọi chuyện rắc rối nầy đều do Novak Djokovic mà ra cả. Anh ta chống lại khoa học, chống lại những người coi việc chích ngừa là cách duy nhất để thoát khỏi trận đại dịch đáng nguyền rủa này.
Là một tay vợt số một thế giới ắt có rất nhiều người hâm mộ, nhưng đặt cái tôi trên hết, Novak Djokovic không quan tâm đến khán giả là người đã bỏ tiền ra để xem mình thi đấu.
Những bài học của lịch sử gần đây cho thấy rằng những người giàu có và quyền lực ngày càng có khuynh hướng bẻ cong thực tế theo ý muốn của họ.
Tất nhiên, Djokovic đã trở thành cột thu lôi cho sấm sét của người dân Australia đã bị cô lập vì đại dịch lâu nhất trên thế giới. Nếu muốn tiếp tục chơi quần vợt, Djokovic cần phải chích ngừa. Cần quyết định xem mình sẽ trở thành vận động viên quần vợt đơn nam số 1 thế giới hay tay vợt chống vaccine số 1? Không thể là được cả hai cùng một lúc.
***
Trong trận chiến về thị thực nhập cảnh với chánh phủ Úc, Novak Djokovic là người bị thiệt hại nặng nề nhứt. Novak Djokovic bị mang tiếng là một nhà vô địch thế giới về quần vợt lại là một con người dóc láo, không trung thực.
“Ðất nước của họ, luật lệ của họ!” Novak! Chích rồi chơi. Không chích không chơi. Không chích đòi chơi là không chịu chơi.
Hoạt cảnh ở bệnh viện Trung Ương bao giờ cũng chộn rộn, lắm người thất thần vào ra. Tái mặt bước vô thăm thú, mang diện mạo xanh xao khi lộn lui với đời thường. Sau chợ búa, đây là địa điểm có thể sắp lên hạng hai về mục thu hút rậm rật bà con cô bác giỏi chân thăm viếng. Vào chợ để mua nhu yếu phẩm mang về nấu nướng hòng làm êm cho vấn nạn miệng mồm, ăn ít hoặc đầy bụng đều sinh khó ở rêm mình, ngộ độc thực phẩm lại xấc bấc vác mạng qua nhà thương khẩn cầu mong gặp lương y như từ mẫu, cứ hằng tin bấy chầy mình ăn lành ở hiền khù khờ ông trời độ. Chợ và bệnh viện do vậy tứ thời bát tiết không đời nào vắng như chùa bà Đanh. Nếu có vướng chút hoài nghi thì chỉ lợn cợn một dấu hỏi: Sao lóng rày chúng sinh ưa nhập viện đông thế? Tuỳ vào nguyên cớ, đã vào đây thì buộc phải học thuộc chữ nhẫn. Đứa ruột để ngoài bụng thập tử nhất sinh cũng ôm vết thương lòng mà dòm kim đồng hồ thong thả xê dịch. Kẻ giàu sụ “có tiền mua tiên cũng được” thì sự đợi chờ đôi khi chỉ tính có ba mươi giây. Thằng trung lưu sau khi kỉnh phong bì bôi trơn, cái sự cố chờ đến phiên mất chừng hơn tiếng, chuyện nhỏ. Hạng mạt máu tuy áo quần lành lặn nhưng bốn túi đều bị thủng thì chấp nhận số kiếp. Đâu có gì phải quan hoài, ra quán uống cà phê cũng mất tiêu cả ngày trời tùng tam tụ tứ, ngày qua rất vội sốt ruột mà được ích gì? Để tiêu khiển, giúp thoát cảnh đắng miệng, cuồng chân và bó tay nên rời chỗ ngồi mà thơ thẩn đi nhìn chuyện lạ đó đây. Đi một ngày đàng học một sàng khôn là bởi thế. Mới được mở mắt, ủa té ra được làm người thì phải hứng đỡ muôn vàn khổ luỵ, đời bày cả ngàn lẻ một bệnh tình cắc cớ. Chúng sinh than: Bà nọ dính ung thư tử cung, xét nghiệm mới rõ nguồn cơn là bởi chồng bả giờ này ảnh chưa chịu cai thuốc lá. Bác sĩ bảo đừng coi thường, vợ không hút thuốc đứng gần chồng nghiện ắt bị khói huyền bay vào thân làm di hại nghiêm trọng, chết một cửa tử, hết đẻ đái.
Kết luận:
Đời là bể khổ. Khổ ở chỗ chưa ngộ ra do đâu bác sĩ lại phán lời như đinh đóng cột tựa thế. Em bị khô buồng trứng tại vì chồng em thích ăn trứng cá? Dám lắm à nghen, bị quả báo? Có chị khác đẻ một lúc tới ba em bé do bởi tật cưng chồng cứ bắt ảnh xơi nhân sâm Hàn quốc, lựa củ sâm nào đầy đủ tứ chi y như hài nhi vậy mới đúng là chính hãng made in Korea. Chồng vào khu hộ sản thăm: Hú hồn, anh mà hám ăn của lạ thì hổng chừng em đẻ ra một hơi tới ngũ long công chúa! Mặt chảy dài vò đầu bức tóc lăn tăn hoài nghi: Tổ tiên mình ăn thức chi mà đẻ tới trăm cái trứng lận? Thời ấy nào có condom và nhà nước chưa dạy chuyện kế hoạch hoá gia đình nhỉ? Căng thật! Lại đẻ ra công án: Trứng có trước hay người có trước? Trứng nọ có giống như hột dịt lộn không? Soi vào đèn dầu để biết non già, bày dĩa muối tiêu rồi tay ngắt cả nạm rau răm. Nhai rau ráu cả lông cả lá, nước ngọt lừ. Nó bổ khoẻ, nó bắt mồi tới mức nào mà có nhiều bà mẹ đã chửi đứa con bất hiếu: Đồ báo đời! Biết vậy hồi đó tao đẻ ra cái hột vịt lộn mà nhai cho sướng miệng!
Đi một vòng thế nào cũng gặp mặt người quen. Mà người nầy thì dễ đụng mặt lắm bị cô ta là y tá. Áo khoác ngoài may hai túi thật lớn nhằm chứa đủ đồ nghề lủ khủ của kẻ hành nghề y khoa. Y tá tên Hồng rất mát tay, mỗi bận đưa tay cho cô ấy lấy máu, chưa khi nào cái ống tiêm đi chệch sợi gân, máu trào vào bịch nhựa ngó xâm xoàng. Ngoài cao tay nghề Hồng còn dịu dàng khi khuyên lơn thân chủ: Lâu lâu một lần nếu muốn tính đường dài, chứ một tháng anh vào đây bán máu những ba lần thì có khi tôi gián tiếp mang tội sát nhân. Này, cho đằng ấy quả cam bồi dưỡng, soi mặt vào gương đi, mặt choắt bằng trái chanh, xanh xao vỏ vàng ra đường gió thổi dám bay. Vật giá thức gì cũng leo thang vùn vụt riêng tiền bán máu vẫn dậm chân tại chỗ, mấy năm rồi bổn cũ soạn lại khiến khổ chủ đút túi chỉ một nạm giấy nhàu lỏng le, hai tờ mặt ảnh nhìn nghiêng thêm bốn tờ bác ấy nhìn thẳng mặt tỉnh như ruồi gom lại vị chi là đủ trả tiền bát phở, ly cà phê đá và vài điếu thuốc lẻ, ấm đời đúng hai hôm.
Chào cô Hồng, dạo này cô ra sao? Nữa, lại chẳng nghe lời, cứ ngựa quen đường cũ. Vào bán máu nữa à? Không ạ, tôi bán thứ khác. Thứ gì? Nhà thương chứ đâu phải chợ trời cha nội, cứ quen thói bán buôn! Bán thận hay bán nội tạng? Í, không dám đâu. Tôi dùng sai chữ rồi, đi hiến chứ không đi bán ạ. Hiến gì thế? Có phải đằng ấy muốn hiến tinh trùng? Sao lại đỏ mặt lên. Bán máu nhiều thế mà còn đủ hồng huyết cầu để ửng lên sắc đỏ là tốt đấy! Đã điền đơn chưa? Chỗ ấy tương đối vắng, người ta giải quyết mau, trở lại đi kẻo đến phiên lại bị hụt mất. Cảm ơn cô Hồng nhé. Về chuyện gì? Vào tới chốn này may mà còn nhìn ra cô, chứ trơ trọi thân mình, chẳng ai quen biết dễ đâm ra tủi thân. Thôi đi bố, đã xông xáo đi cho tinh trùng mà lại tủi thân. Cô Hồng à, tớ hỏi ngu tí, đàn bà có cả buồng trứng trong bụng không rõ họ nhín chút ít mang đi cho? Hồng chỉ tay lên trời: Ở lầu ba có phòng khám bệnh tâm thần đấy. Giời ạ, người điên ở đâu ra mà lắm thế! Bán máu nhiều sinh dễ bị chập điện chăng?
Điện. Ai là Điện? Anh tên Điện đâu?
Tiếng gọi làm đứa ngồi ngủ gà ngủ gật trên ghế chia tay với ma đè, vụt đứng lên nhìn về nơi phát xuất hiệu lệnh. Người đàn bà trông thật béo tốt hồng hào tay nắm tờ giấy: Theo tôi. Bà dắt Điện đi qua hai lần cửa rồi đứng lại ở cánh cửa thứ ba đang đóng kín, ngoài ghim miếng giấy “Vô phận sự, miễn vào”.
Anh đến đây lần đầu, có phải không?
Đúng vậy. Lần đầu.
Do đâu mà biết ở bệnh viện ta mới mở phòng thâu nhận tinh trùng?
Nghe bạn bè kháo ở quán cà phê.
Sức khoẻ thế nào?
Trên cả tuyệt vời. Chục năm nay nào có hay biết chuyện cảm mạo nhức đầu sổ mũi. Ăn được ngủ được là tiên…
Chớ dông dài. Vậy đã tường cách thức chưa?
Xin cô làm ơn chỉ bày cho thêm thông thoáng ạ.
Được. Sau cánh cửa nầy là căn buồng hẹp. Trước thì người ta bày lắm tạp chí nhưng kết quả chẳng mấy khả quan, mất thời gian nên giờ đây anh sẽ thấy một cái màn hình mỏng treo trên vách. Có hai cái nút ghi số 1 là phim của Trung Quốc, số 2 là của Liên Xô. Có hủ nhựa để chứa tinh trùng, đồng thời tôi vừa kiểm tra xong là cuộn giấy vệ sinh vẫn còn nhiều. Quy định thời gian là nửa giờ. Có gì thắc mắc?
Không có phim của nước nhà?
Có đấy, nhưng bọn đàn ông đi hiến tinh trùng phản ảnh rằng chúng không đạt chỉ tiêu, nguội ngơ nguội ngắt. Thôi vào đi, sau anh còn khối thằng đợi đến phiên.
Điện “có phận sự” mới mở cửa phòng. Diện tích chỉ nhỉnh hơn xà lim chút tẹo. Thay vì những chấn song sắt, bức tường đối mặt được lắp ráp cái màn hình sẵn sàng phục vụ những thước phim đồi truỵ dâm ô vượt chỉ tiêu. Chúng kháo nhau, phim Trung Quốc có con bé đẹp như tài tử Củng Lợi nhưng vòng số một thấy não nề. Liên Xô thì thuở nào giờ vẫn rất bảnh, đồng hồ còn tốt hơn cả Thuỵ Sĩ cơ mà và em tài tử trong đó cứ ngỡ như tay vợt banh nỉ nổi tiếng Maria Sharapova giao hoà với Anna Kournikova đang diễn sâu trên giường thay vì trên sân tennis.
Tóc đen thì quen mắt ngó cho nên Điện nhấn nút số 2. Tóc vàng sợi nhỏ mới sướng rên mé đìu hiu chứ lỵ! Điện cởi giây thắt lưng cho cái quần rơi xuống dưới ống chân, mở nắp hủ nhựa đặt ở tư thế sẵn sàng. Người ta đã cài đặt sẵn thứ lập trình thành ra chẳng thể điều chỉnh âm thanh khuyếch đại. Nghe chúng rên e chẳng đã tai bằng lời thoại thật dâm ô, đó là lý do Điện thích xem phim nước nhà. Ui, sướng quá mạng, chơi em liền đi anh, đừng mau nóng chóng nguội nghen, đừng tuột xích giữa đường hén. Ui, mạnh nữa đi cưng…
Ngoài phòng có tiếng gõ cửa ngay sau khi đoạn phim ngưng chiếu, màn hình đen thui. Bà y tá phốp pháp xuất hiện đảo mắt thăm chừng, hai tay bà đã mang găng cao su. Sao lại thế? Bà hỏi khi trông thấy cái hủ nhựa còn trinh nguyên. Anh quan hệ, anh làm chuyện đó đã bao lâu rồi? Trên bảo dưới không nghe à?
Điện không trả lời, đưa tay chỉ vào vuông giấy có bọc nhựa đóng đinh sát bên màn hình. Giấy đỏ, chữ vàng: “Muốn hiến tinh trùng phải trung thành với Đảng”.
Điện bước ngang qua băng ghế đợi, có thằng tướng tá bặm trợn kiểu người quen lăn lộn ngoài giang hồ hỏi thăm: Mát mắt không đại ca, có dễ khóc ngoài biên ải không anh hai? Hắn cười hềnh hệch: Giải trí kiểu này thì nên xem là danh chính ngôn thuận nhỉ? Nhà nước cần đầu tư nhiều phim con heo vào mới dân giầu nước mạnh được…
Ngày Tết Nguyên Đán ở Việt Nam bao giờ cũng là ngày quan trọng nhất với “đại gia” cũng như dân nghèo khó. Dù rách quanh năm vẫn phải có một tí gì gọi là Tết cho gia đình, con cháu ấm áp vui vẻ. Dân gian có câu: “Đói ngày giỗ cha, phải lo ba ngày Tết”. Dịp này, mọi gia đình người Việt ở hải ngoại hẳn đều nhớ cái Tết quê nhà. Xin điểm lại vài phong tục ngày Tết quê hương để các bạn có dịp nhớ lại, và vài chuyện vui buồn gần đây nhất để cùng vui Xuân.
Chuẩn Bị Tết
Tết Việt Nam vào ngày 1 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Năm nay (Ất Mùi), tháng Chạp thiếu nên ngày 29 đã là 30 Tết và là ngày Chủ nhật 7 tháng 2-2016.
Dân gian quan niệm trước ngày Tết chính thức, mọi thứ đều cần chuẩn bị đầy đủ, mong khởi đầu năm mới may mắn và thành công. Do vậy, sau ngày 23 tháng Chạp là ngày đưa “Ông Táo về trời”, đến bất cứ nhà người Việt nào cũng đều thấy ngay không khí chuẩn bị Tết nhộn nhịp, tất bật. Như thông lệ, người người đều trang hoàng nhà cửa, dọn dẹp lau chùi sạch sẽ theo đúng nghĩa năm mới cái gì cũng mới. Trên tường treo những bức tranh Tết hoặc câu đối, trong nhà đặt các lọ hoa đầy màu sắc, đặc biệt nhắc đến Tết thì miền Bắc phải nhắc đến hoa Đào, miền Nam là hoa Mai, và tục lệ múa lân nhất là ở vài thành phố lớn.
Sài Gòn hàng năm đều tổ chức “đường hoa”, nhưng hai năm nay tôi không bước chân tới vì cứ nghĩ cũng vậy thôi, xem mãi chán rồi. Có khác chăng năm nay là năm con Khỉ nên chắc nhiều khỉ lắm. Vả lại mỗi lần đến đây lại nhớ về các kỷ niệm cũ với người tình, với bạn bè xưa, càng buồn thêm. Nét đặc trưng của Tết Việt Nam là mâm cỗ trên bàn thờ tối Giao Thừa. Ngoài đủ thứ bánh mứt còn mâm ngũ quả với các loại trái cây đặc trưng như mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, thơm bày lên trang trọng và đẹp mắt thể hiện mong ước về một năm mới với nhiều may mắn, tốt lành.
Ngày Tết còn có tục cúng tổ tiên, hái lộc đầu xuân, xông đất, chúc Tết, mừng tuổi. Năm 2016 là năm Bính Thân tức năm con Khỉ nên các đồng tiền in hình con vật này cũng có giá hơn. Năm nay đồng xu in hình con khỉ của Australia và tiền khỉ may mắn của Indonesia “nhập cảng” vào Việt Nam đã bán được khá nhiều.
Quà Tết Có Nhiều Loại, Nhiều “Kiểu”
Bên cạnh đó người Việt vốn xem trọng lễ nghi, nên trước Tết thường tặng nhau các món quà thể hiện sự quan tâm, lòng biết ơn, tôn kính với gia đình và bạn bè… Các đại gia đua nhau kiếm món quà Tết độc đáo tặng các nơi thường giao thiệp, nhất là các cơ quan, quan chức mà họ từng nhờ vả. Họ không ngán mua quả Phật Thủ đẹp nhất với giá khoảng 10 triệu đồng (cỡ $450 USD) và loại có giá cao như thế rất hiếm, hàng chục mẫu mới tìm được 1 quả. Các đại gia, đại quan chơi ngông còn mua chậu địa lan Trần Mộng 100 cành nở cùng lúc đúng dịp Tết với giá 70 triệu đồng (hơn $3,100 USD) trong khi có đại gia bỏ cả trăm triệu mua một cây Bạch Đào. Nhiều tay chơi quan niệm, có một gốc đào cổ thụ với dáng độc là năm mới sẽ nhiều may mắn, phát lộc, phát tài. Vì thế, dù bị “hét giá” lên tới cả trăm triệu, nhiều người vẫn sẵn sàng móc hầu bao. Một con gà Đông Tảo cũng được trả giá tới 70 triệu đồng. Thế mới là của “hiếm quý” mua sự hài lòng của các “đối tác”.
Các đại quan cũng bận rộn không kém, vừa chuẩn bị nhận quà Tết vừa phải lo chu đáo với các quan trên. Các công ty dù là vốn nhà nước hay vốn tư nhân cũng chuẩn bị một món quà Tết cho nhân viên của mình.
Tất cả là thứ luật bất thành văn và mọi nơi đều rộn ràng thực hiện tục lệ bất thành văn này. Dù công ty đang thua lỗ vẫn phải tìm cách “thưởng” nhân viên kẻo mang tiếng với các công ty bạn, chẳng khác “tự vạch áo cho người xem lưng” là công ty của mình… sắp phá sản.
Năm nay kiểu thưởng Tết ở Việt Nam có khá nhiều chuyện lạ. Sau một năm làm việc, cống hiến, người lao động nào cũng hào hứng chờ đợi thưởng Tết từ doanh nghiệp. Nhưng không ít người đã “ngậm ngùi” khi thấy phần thưởng ấy. Xin mời xem vài kiểu thưởng Tết này.
Nhận Quà Tết, Muốn Dở Khóc, Dở Cười!
Báo Giao Thông ngày 2/1 cho biết, thay vì dùng tiền mặt như thông lệ, nhiều doanh nghiệp dùng tương ớt, quần đùi… thưởng nhân viên sau một năm làm việc.
Công ty vật liệu xây dựng Thái Nguyên thưởng Tết cho nhân viên 200 viên gạch, trong khi cơ sở sản xuất nhang thắp ở Đan Phượng, Hà Nội thưởng Tết bằng 100 ngàn đồng (tức chưa được $5 USD) và… các loại nhang.
Độc đáo không kém là một công ty dệt may quận Hoàng Mai, Hà Nội thưởng Tết mỗi nhân viên 70 chiếc quần đùi. Tết này với thời tiết giá rét đặc trưng của mùa đông Hà Nội, có lẽ họ… xử dụng luân phiên hơn hai tháng sau Tết mà khỏi cần giặt giũ! Một độc giả đã viết: “Thế là “anh mặc, em mặc, con chúng ta mặc, và biết đâu… hàng xóm cũng mặc quần đùi đi chúc Tết luôn”.
Hài hước là công ty truyền thông TV thưởng 30 bịch giấy vệ sinh cho nhân viên ăn Tết. Một công ty ở Sài Gòn thưởng Tết mỗi nhân viên một thùng tương ớt, lãnh đạo thưởng lớn hơn, mỗi người hai thùng. Đúng là ăn Tết… cay hơn ớt! Không biết nên cười hay mếu!
Quần đùi, giấy vệ sinh, gạch men tuy “kỳ cục” thật nhưng vẫn dùng được hoặc đem cho thoải mái, chứ công ty chuyên sản xuất… dung dịch vệ sinh phụ nữ, bao cao su mà thưởng Tết bằng sản phẩm thì người nhận chỉ có nước vứt xó do không thể bán, bởi bán chạy thì công ty đã không “đổ” cho nhân viên.
Những Công Ty Thưởng Tết Ai Cũng Phải Thèm
Tuy nhiên bên các công ty thưởng gạch, nhang thắp, tương ớt, quần đùi, giấy vệ sinh… vẫn có công ty thưởng Tết rất lớn. Chẳng hạn một công ty tại quận Bình Tân, Sài Gòn công bố mức thưởng Tết cao đến 320 triệu đồng tức gần $15,000 USD theo báo Người Lao Động. Dù vậy chưa ăn thua gì so với mức thưởng 600 triệu đồng tức gần $27,000 USD thuộc về một doanh nghiệp tư nhân. Quả là mức thưởng Tết “khủng” ai cũng thèm. Nhưng quà thưởng Tết “khủng” này chỉ dành cho các sếp. Các ông chủ ngoài sự tôn trọng mồ hôi nước mắt của người lao động còn tỏ lộ một sự khôn ngoan khiến người làm giàu cho mình phải cố sức làm tốt hơn nữa.
Mười Năm Không Phát Hiện Tham Nhũng
Bước qua đầu năm dương lịch 2016, nghe tin “mười năm không phát hiện tham nhũng”, mấy anh dân đen mừng húm. Thế là tại Việt Nam tham nhũng chết ráo. Nhưng vừa đọc xong tin này, người dân lại thở dài bởi biết chắc tham nhũng không bao giờ hết. Nó chỉ trốn tránh tài nhất. Trốn ngay trong cơ quan nhà nước, trốn ra nước ngoài, trốn trong xó nhà bà con họ hàng nội ngoại, trốn về quê đuổi gà nhưng vẫn có hàng ngàn tỉ trong ngân hàng.
Vì thế, đọc số báo đầu tiên của năm mới, báo Người Lao Động ngày 1-1-2016, nhiều bạn ngớ người khi “vấp” phải tin từ UBND tỉnh Khánh Hòa về việc 10 năm qua tỉnh này không phát hiện cán bộ nào nhận quà.
Nghe cứ như chuyện đùa chứ ai dám nghĩ tin này được long trọng đưa ra tại hội nghị Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Luật Phòng Chống Tham Nhũng do Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức ngày 31-12 vừa qua.
Không chỉ Khánh Hòa mà cả UBND Hà Nội cũng báo cáo: “Không có cán bộ nào nhận quà sai quy định”.
Về việc cán bộ, viên chức nộp lại quà tặng, chính quyền Hà Nội thông tin: “Năm 2015, các đơn vị báo cáo không có trường hợp nào vi phạm trong nhận, tặng quà theo quyết định 64 của Thủ Tướng”. Và: “Trong nhiều năm, Hà Nội không phát hiện trường hợp nào vi phạm việc tặng và nhận quà. Tương tự, không có trường hợp nào phải xác minh, kết luận về việc kê khai tài sản thu nhập không trung thực”.
Nghe muốn phát sốt vì các báo cáo “sạch sẽ” ấy, người dân bèn phản ứng ngay trên các báo. Họ tức giận và thẳng thừng đưa ra các nhận xét sau:
Tham Nhũng Đầy Ra, Chỉ Mù Mới Không Nhìn Thấy
Bạn đọc Nguyễn Thế Tòng, một người dân Khánh Hòa, thốt lên:
“Khó tin! Chẳng biết bằng “phương pháp, nghiệp vụ” gì mà tỉnh này theo dõi được từng cán bộ để đưa ra kết luận chủ
quan như thế. Còn nếu để cán bộ tự khai thì điều này càng dị hợm hơn và một hội nghị như thế chẳng cần tổ chức để tốn tiền bạc, thời gian… và quan trọng hơn để người dân khỏi thấy bị xem thường.”
Nhiều bạn đọc phản hồi qua báo Người Lao Động là chỉ xây căn nhà cấp 4, vừa đổ đống đất, các “anh” đã tới hỏi thăm ngay. Thiếu quà khó mà yên thân. Xin phép xây dựng phải đủ kiểu “tình thương mến thương”, rồi kiểm tra các kiểu, môi trường, điện nước… “Chỉ người mù mới không thấy các chuyện như thế. Mà người mù không thấy thì cũng có thể nghe người dân ta thán hằng ngày”.
Ngay các số liệu đưa ra từ hội nghị cũng mâu thuẫn với những gì lãnh đạo tỉnh này công bố. 10 năm qua, tỉnh thực hiện gần 1.000 cuộc thanh tra, phát hiện sai phạm liên quan đến tham nhũng hơn 269 tỉ đồng và gần 670 mẫu đất các loại. 71 bị can, bị cáo tham nhũng bị xử lý… Gần đây nhất là chuyện một cán bộ Hải Quan Sài Gòn đi vắng vài ngày mà số phong bì hơn 60 cái – chưa mở – được ông gom bỏ vào túi ny-lông xách mang ra để về nhà bị các trinh sát của Cục A84 ập vào bắt giữ, cho thấy số tiền tổng cộng gần 1 tỷ đồng được các doanh nghiệp buộc phải chung chi trong 5 ngày, tương đương khoảng thời gian ông du hí bên Trung Quốc.
Tham nhũng đầy ra đó chứ có ít đâu mà đưa ra số liệu “trong sạch” thế! Ai tin được. Đầu năm đã phải nghe các “báo cáo báo cầy giả” như thế thì xui cả năm. Và một nguy cơ khác là kẻ tham nhũng sẽ xử người chống tham nhũng như đại biểu Trương Trọng Nghĩa của Sài Gòn đưa ra cảnh báo: “Người tham nhũng sẽ xử lý người chống tham nhũng chứ không phải là ngược lại…”
Rõ ràng nguy cơ nằm ở tất cả các cơ quan quyền lực Nhà Nước. Tham nhũng xảo quyệt kéo bè kết cánh bảo vệ lẫn nhau, bóp chết người dân lương thiện chống tham nhũng. Vậy ai còn dại gì chống tham nhũng nữa, bỗng dưng chui đầu vào hang hùm miệng sói.
Im lặng và chịu đựng, chịu đựng đến bao giờ?!
Vậy người Việt Nam sẽ nhìn thấy gì trong năm con Khỉ đang tới này? Chắc thấy khỉ nhiều hơn người chăng?
Huy hiệu Phòng thí nghiệm tác chiến Thủy quân Lục chiến của facebook.com/warfightinglab.
Đại tá Dave Tran* là Sĩ quan chỉ huy chiến lược Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (TQLC), ông được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc, bộ phận mô phỏng tác chiến (Wargaming), Phòng thí nghiệm tác chiến Thủy quân Lục chiến tại Quantico, Virginia hồi tháng 7 năm 2026. Ông được Hội đồng thăng cấp TQLC (U.S. Marine Corps Officer Promotion Selection Board) đề cử thăng cấp Đại tá cho tài khoá YF27, ngày 14 tháng 8 năm 2025, và đã được Uỷ ban Quân vụ Thượng viện (Senate Armed Services Committee) xác nhận bầu chọn ngày 19 tháng 9 năm 2025. Sau đó ông được chính thức thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 8 năm 2026, theo OFFICER PROMOTIONS FOR AUGUST 2026 AND PROJECTED OFFICER PROMOTIONS FOR SEPTEMBER 2026. Date Signed: 7/30/2026 – MARADMINS Number: 346/26.
Nhiệm kỳ vưa qua, ông là Sĩ quan phân tích diễn tập quân sự Liên quân của Bộ Tham mưu Liên quân tại Washington, District of Columbia, từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 7 năm 2026. Đại tá Dave Tran nguyên là Chỉ huy trưởng Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn TQLC từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023. Sau nhiệm kỳ chỉ huy Phi đoàn yểm trợ 373, ông tu nghiệp chương trình đào tạo Sĩ quan cao cấp về phát triển và phối hợp Chiến lược An ninh Quốc gia tại Trường Dwight D. Eisenhower, An ninh Quốc gia và Chiến lược Nguồn lực (Dwight D. Eisenhower School for National Security and Resource Strategy).
Trung tá Dave Tran** (hình của Hạ sĩ I Jaime Reyes, Không đoàn 3 Thuỷ quân lục chiến).
Đại tá Dave Tran mang cấp bậc Thiếu úy năm 2005, sau kht tốt nghiệp Trường Đại học California, Riverside. Năm 2006, Thiếu úy Dave Tran** thụ huấn khóa căn bản Sĩ quan TQLC và khóa Sĩ quan công binh chiến đấu TQLC. Sau khi hoàn tất các khóa học trên, Thiếu úy tran được thuyên chuyển về Phi đoàn 372 yểm trợ Không đoàn 3 TQLC tại Camp Pendleton, California làm Trung đội trưởng công binh kiêm Đại đội phó.
Năm 2007, Trung úy Dave Tran** phuc vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn 1 TQLC, ông được chỉ định làm Trung đội trưởng công binh chiến đấu trong Lực lượng đặc nhiệm Chromite (Task Force Chromite) khai triễn đến tỉnh Al Anbar, yểm trợ cho cuộc hành quân IRAQI FREEDOM.
Năm 2008, Trung úy Dave Tran trở về phục vụ tại Phi đoàn yểm trợ 372 (MWSS-372) đảm nhận nhiệm vụ Sĩ quan phụ tá Phòng hành quân, kiêm Sĩ quan hành quân Phi đoàn, và được chọn là Sĩ quan công binh xuất sắc trong năm 2008 của Liên đoàn 37 yểm trợ Không đoàn TQLC.
Năm 2009, Trung úy Dave Tran được thăng cấp Đại úy và phục vụ tại Sư đoàn 3 TQLC tại Okinawa Nhật Bản, ông được điều động đến Baghdad, Iraq chiến đấu và yểm trợ cho cuộc hành quân IRAQI FREEDOM. Sau chuyến công tác hành quân IRAQI FREEDOM, ông trở lại Sư đoàn 3 TQLC và được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng, Đại đội công binh chiến đấu (CEC), Tiểu đoàn công binh chiến đấu, Sư đoàn 3 TQLC.
Năm 2011, Đại úy Dave Tran** được giao phó nhiệm vụ Sĩ quan hành quân và giám sát TQLC trong Lực lượng đặc nhiệm hổn hợp dân sư và quân sự tại Phi Luật Tân. Lực lượng đặc nhiệm phối hợp thường mở các cuộc huấn luyện và thao dượt song phương gồm 800 binh sĩ.
Năm 2012, Đại úy Dave Tran hoàn tất khóa học tại trường Expeditionary Warfare School in Quantico, Virginia. Và phục vụ tại Liên đoàn 1 tiếp liệu (MLG) tại Camp Pendleton, California. Theo nhu cầu tại chiến trường A Phú Hãn, đơn vị ông được điều động đến căn cứ Leatherneck, tỉnh Helmand, A Phú Hãn để yểm trợ cuộc hành quân Operation ENDURING FREEDOM.
Năm 2013, Đại úy Dave Tran phục vụ tại Trung đoàn 17 tiếp liệu, ông là Sĩ quan kế hoạch hành quân kiêm Sĩ quan ban 4 (tiếp liệu), sau đó ông được thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng đại đội Alpha, kiêm Sĩ quan hành quân Tiểu đoàn 7 công binh yểm trợ.
Năm 2015, Thiếu tá Dave Tran** được chọn tu nghiệp chương trình cao cấp tại trường kỹ thuật thuộc Đại học California, Los Angeles (UCLA). Sau khi hoàn tất tu nghiêp, ông phục vụ tại Trung tâm bộ chiến của Không quân TQLC tại Twentynine Palms, California.
Năm 2019, Thiếu tá Dave Tran được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 7 công binh yểm trợ.
Năm 2020, Thiếu tá Dave Tran làm Tham mưu phó, Phòng 3, Liên đoàn 1 tiếp vận TQLC (1st Marine Logistics Group).
Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 6 năm 2023, Trung tá Dave Tran chỉ huy Phi đoàn 373 yểm trợ Không đoàn TQLC.
Từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 6 năm 2024, Trung tá Dave Tran tu nghiệp chương trình đào tạo lãnh đạo cao cấp về phát triển và tích hợp Chiến lược An ninh Quốc gia tại Trường Dwight D. Eisenhower.
Từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 7 năm 2026, Trung tá Dave Tran phục vụ tại Bộ tham mưu liên quân Hoa Kỳ (Joint Staff). Và hiện nay là Đại tá Giám đốc, bộ phận mô phỏng tác chiến (Wargaming), Phòng thí nghiệm tác chiến Thủy quân Lục chiến tại Quantico
Thiếu tá** Dave Tran “trái” trong buổi lễ đơn vị nhận giải thưởng ngày 28 tháng 8 năm 2017 (hình của Hạ sĩ I Isaac Cantrell – Marine Corps).
Đại tá Dave Tran hoàn tất văn bằng cao học khoa học kỹ thuật công chánh tại Đại học UCLA (Sustainability Innovation Grant winner, City of Los Angeles). Ngoài ra ộng còn thụ huấn và tu nghiệp nhiều khóa học quân sự chuyên môn tại các Trường Expeditionary Warfare School; Đại học California, Los Angeles (UCLA); Trường chỉ huy tham mưu TQLC (USMC Command and Staff College) và Trường Dwight Dr. Eisenhowe. Chiến lược An ninh Quốc gia.
Đại tá Dave được trao tặng các loại huy chương*** cao quý như: Huy chương Meritorious Service Medal with one gold star; huy chương Joint Service Commendation Medal; 2 huy chương Navy and Marine Corps Commendation Medal with two gold stars; Huy chương Joint Service Achievement Medal; Huy chương Navy Marine Corps Achievement Medal with one gold star và huy hiệu tuyên công Combat Action Ribbon.
Đại tá Dave Tran là 1 trong 6 Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt, danh sách 6 Đại tá TQLC Hoa Kỳ gốc Việt gồm có: Nữ Đại tá Elizabeth Pham; Đại tá Jackson T. Doan; Đại tá John T. Nguyen (hồi hưu); Nữ Đại tá Ly T. Fecteau (hồi hưu); Đại tá William H. Seely III (thăng cấp Thiếu tướng, hồi hưu hồi tháng 5 năm 2025) và Đại tá Dave Tran.
“Nhựt Bản và Nam Hàn đang trong tình trạng báo động cao sau khi Bắc Hàn đã phóng thành công một hỏa tiễn tầm xa. Cả hai nước nầy đều ngạc nhiên khi Bắc Hàn thành công… nhưng rõ ràng rằng chính Bắc Hàn còn ngạc nhiên nhiều hơn nữa”
Những show truyền hình hài hước của Hoa Kỳ thường hay đem các lãnh tụ độc tài của nhà nước Cộng sản Bắc Hàn ra mà giễu cợt!
Chẳng hạn như: “Bắc Hàn đang đe dọa chiến tranh tổng lực chống lại nước Mỹ. Họ đã leo thang chiến tranh bằng cách chụp thêm mười tấm ảnh nữa cho thấy Kim Jong-un đang nhìn qua những cái ống nhòm.”
Nghĩa là Bắc Hàn chỉ quen thói rung cây nhát khỉ để hù dọa nước Mỹ mà thôi! Tối ngày cứ lo thử nghiệm hỏa tiễn tầm xa cũng để ‘nhát’ kẻ thù hoang tưởng; nhưng nhiều lần thất bại nên mấy chú Sam cười hô hố mà rằng:Rồi: “Hôm qua, Bắc Hàn đã phóng một hỏa tiễn tầm xa. Hành động nầy nhắm hù dọa mọi người. Tuy nhiên nó đã nổ tung khi mới rời giàn phóng được một phút. Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-un tức điên lên! Về nhà, Kim Jong-un giơ cẳng ra đá một con chó chết ngắc; xong ăn thịt luôn con chó!”
Mấy Chú Sam nầy võ đoán là kỹ thuật phóng hỏa tiễn của Bắc Hàn đã dở ẹt mà dân Bắc Hàn còn đói quá không đủ ăn và lại rất thích ăn thịt cầy 7 món nữa đó.
Chú Sam nầy khinh thường, coi lãnh tụ Kim Jong-un của Bắc Hàn chỉ là đồ con nít, chuyên chọc phá và gây rắc rối cho các nước cựu thù bằng cách đề nghị rất đểu là:
“Tại sao chúng ta không giải quyết những rắc rối do Kim Jong-un gây ra bằng cách gởi tặng ông ta một tấm vé đi xem Disneyland?”
Tuy nhiên, mới đây Bắc Hàn đã phóng thành công hỏa tiễn tầm trung, bay xa tới năm trăm cây số. Và cuộc ám sát Kim Jong-nam tại Mã Lai tuần rồi chắc cũng khiến mấy Chú Sam nầy đâm ra lo ngại mà bớt chọc quê rồi cười hô hố đi chăng?!
***
Thói thường ai sanh ra trong một gia đình đang ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen thì thiên hạ cho là may mắn, sanh ra với cái muỗng bạc ngậm trong mồm. Đời sẽ sướng ơi là sướng!
Nhưng không phải luôn luôn là vậy! Nếu lỡ là con của các lãnh tụ độc tài Cộng sản. Hí kịch (kịch vui) đã biến thành bi kịch (kịch buồn).
Cuộc đời của Kim Jong-nam quả là một bi kịch vậy!
Kim Jong-nam, trưởng nam của cố lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-il và ái thiếp là diễn viên Song Hye-rim, phải sống những năm tháng ấu thơ trong bí mật, tách biệt với thế giới bên ngoài.
Lý do là bà Song Hye-rim lớn hơn ông Kim Jong-il 4 đến 5 tuổi và đã có chồng rồi, rồi mới quan hệ với ông Kim Jong-il.
Vì thế, Kim Jong-il đã giấu cha mình, là cố chủ tịch Triều Tiên Kim Il-sung chuyện ông có con với bà Song Hye-rim.
Vì Kim Jong-il đang là ứng viên hàng đầu kế nhiệm Kim Il-sung. Nếu mối quan hệ với bà Song bị bại lộ, con đường chính trị ông đang đi chắc chắn sẽ lâm vào ngõ cụt.
Thế nên, ngay từ bé, Kim Jong-nam đã bị đưa đến sống tại một địa điểm bí mật ở trung tâm Bình Nhưỡng, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Chú Sam Jay Leno, chủ xị một Show truyền hình Mỹ phát lúc 10 giờ tối mỗi đêm trên đài NBC, chọc quê Kim Jong-il nhân tiện đá xoáy luôn các vị dân cử của Quốc Hội Hoa Kỳ như vầy:
“Theo tiểu sử của Kim Jong-il cho biết ông ta là một con người bất lương hay say xỉn và rất hám gái. Thế nên nếu ông ấy là công dân Mỹ, hắn ta có thể đã đắc cử vào Quốc Hội Huê Kỳ!”
Kim Jong-nam sanh ngày 10 tháng năm 1971. Khi lên 9 tuổi, Kim Jong-nam được gửi đi học Geneva, Thụy Sĩ và sau đó là Moscow cùng mẹ suốt 10 năm.
Bà Song Hye-rim qua đời ở Moscow năm 2002, sau một thời gian chống chọi với bệnh trầm cảm.
Sau khi du học xong, Kim Jong-nam trở về Bình Nhưỡng vào cuối những năm 1980, sau đó cưới vợ, giữ một số vị trí cao cấp trong chính quyền của cha trong Cơ quan Mật vụ.
Kim Jong-nam được cho là thông minh; vì có thể nói trôi chảy tiếng Pháp và tiếng Anh, chuyên gia về máy tính nhưng lại không thực sự hứng thú lắm với chính trị.
Năm 2001, Kim Jong-nam bị bắt tại một sân bay ở Tokyo cùng hai phụ nữ và một trẻ em trong lúc đang cố gắng nhập cảnh vào Nhật Bản với tấm thông hành Cộng hòa Dominica giả để tới thăm công viên Disneyland.
Hành động bốc đồng nầy làm thân phụ ông là Kim Jong-il mất mặt và bất mãn. Kim Jong-nam bị thất sủng, bị tước quyền nối ngôi, vốn dành cho trưởng nam.
Vì sớm tiếp xúc với thế giới bên ngoài và không hài lòng trước cuộc sống bị phong tỏa, cô lập ở Bình Nhưỡng và chứng kiến hàng nghìn người dân Bắc Hàn chết vì nạn đói. Kim Jong-nam nhanh chóng thể hiện thái độ hoài nghi về hệ thống chính trị, kinh tế Bắc Hàn, muốn cải cách kinh tế theo kiểu Trung Quốc.
Còn Kim Jong-un là con trai út của Kim Jong-il và ái thiếp Ko Yong-hui.
Hai người cùng mẹ mà khác cha; nhưng chưa thực sự gặp nhau bao giờ vì tập quán của chế độ độc tài Bắc Hàn nuôi dưỡng những lãnh tụ có thể lên kế nhiệm phải riêng biệt nhau.
Kim Jong-nam cũng không tin em trai Kim Jong-un có đủ khả năng dẫn dắt Bắc Triều Tiên. Do vậy hai anh em bất hòa!
Từ năm 2000 trở đi, Kim Jong-nam thầm lặng chơi bời ở Macau, Trung Quốc! Cũng không được dự đám tang của cha mình vào năm 2011; điều đó đưa ra những tin đồn rằng ông đã bị trục xuất khỏi Bắc Hàn.
Kim Jong-nam là một tay chơi (play boy), khoái ăn nhậu , nên bụng bự, khoái đánh bài trên máy, sống tương đối xa hoa với các cặp kính thời trang và các bộ vest hàng hiệu, đắt tiền.
Kim Jong- un lên nắm quyền cai trị Bắc Hàn lúc mới lên 28 tuổi, đã sử dụng bàn tay sắt, không hề ngần ngại trong việc hành quyết các quan chức dù cấp cao nhất, thân cận nhất, nhưng bị coi là mối đe dọa trực tiếp đến quyền lực của mình!
Ngày 8, tháng 12, năm 2013, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Lao Động Triều Tiên đang họp thì quân cảnh đã tràn vào, lôi Jang Song-thaek, người dượng, chồng của cô ruột Kim Kyong-hui và là cố vấn cấp cao đem đi hành hình.
Cáo buộc Jang Song-thaek cùng bè đảng đã phản đảng, phản cách mạng, phá hoại sự thống nhất và đoàn kết trong đảng.
Ngoài ra, còn phạm tội tham nhũng, đồi trụy, chơi ma túy, gái gú và đánh bài bạc tại nước ngoài (ám chỉ tại Ma Cau, Trung Quốc nơi Kim Jong-nam đang sống lưu vong).
Thi hành án tử với dượng; giờ thì tới phiên anh cùng cha khác mẹ với mình!
Cách đây 5 năm, khi nắm được quyền lực tối thượng, Kim Jong-un đã ra lịnh cho thuộc hạ phải ám sát cho bằng được Kim Jong-nam để diệt trừ hậu họa.
Tháng Mười, năm 2012, một gián điệp Bắc Hàn bị bắt, thú nhận đã có một âm mưu dàn cảnh đụng xe ở Trung Quốc hồi năm 2010, nhắm giết chết Kim Jong-nam nhưng bất thành.
Kim Jong-nam rét quá… nên xuống nước nhỏ, gởi một bức thơ cầu khẩn đến em mình: “Xin hãy tha chết cho anh và gia đình!”
Chú Sam David Letterman, Late Night Show trên đài CBS, đã từng chọc quê Kim Jong-un; nhưng lại như một lời tiên tri ngay chóc về chuyện thanh trừng sẽ xảy ra trong nội bộ của chế độ Cộng Sản Bắc Hàn:
“Như bạn đã biết thiên hạ không thấy Kim Jong-un, nhà độc tài ác quỷ của Bắc Hàn, xuất hiện trong 6 tuần lễ lại đây. Có lẽ ông ta đang bận rộn hành quyết gia đình mình!”
Quả nhiên y như kinh, sáng thứ Hai, ngày 13, tháng Hai, Ga hàng không quốc tế số 2, phi trường quốc tế Kuala Lumpur tấp nập hành khách chờ làm thủ tục lên máy bay.
Kim Jong-nam, sau một tuần ở Malaysia chuẩn bị bay về lại Macau, với thông hành mang tên Kim Chol, sanh tại Bình Nhưỡng, vào ngày 10 tháng Sáu năm 1970
Một phụ nữ đã xịt vào mặt Kim Jong-nam một độc chất, mạnh hơn chất cyanide rất nhiều; và một phụ nữ khác từ phía sau dùng một miếng vải ép chặt vào mặt nạn nhân khoảng 10 giây đồng hồ.
Kim Jong-nam cảm thấy choáng váng, hoa mắt, không thấy đường, loạng choạng tới một quầy tiếp tân kêu cứu.
Trong phòng y tế của phi trường, ông bắt đầu lên cơn co giật. Xe cứu thương đến, nhưng Kim Jong-nam đã chết trên đường đi tới bệnh viện, bỏ lại vợ và 6 đứa con còn ở tại Ma Cau.
Bọn thủ ác theo cầu thang cuốn ra ngoài ga hàng không! Hai nữ sát thủ và bốn người đàn ông đồng bọn tách thành hai nhóm, bắt taxi về Khách sạn Empire Salak Tinggi, huyện Sepang, bang Selangor, cách thủ đô Kuala Lumpur 55 km, khoảng 40 phút xe.
Cảnh sát Malaysia, theo màn hình an ninh của phi trường ghi lại, sau đó bắt giữ được một phụ nữ mang thông hành Việt Nam tên là Đoàn Thị Hương, sinh ngày 31, tháng Năm, năm 1988 tại Nam Định, lúc 08 giờ 20 phút, giờ địa phương, thứ Tư, ngày 15, tháng Hai khi sát thủ chuẩn bị lên máy bay rời Malaysia.
Nữ sát thủ còn lại mang thông hành của Indonesia cũng bị bắt. Cuộc điều tra và truy tầm những tên sát nhân còn lại vẫn còn đang tiếp tục.
Giám đốc Cơ quan tình báo Nam Hàn cho rằng: “Việc hành thích nầy do lịnh trực tiếp từ Bình Nhưỡng!”
Quyền Tổng thống Nam Hàn Hwang Kyo-ahn, nói rằng nếu Bắc Hàn thực sự đứng sau vụ giết Kim Jong-nam, điều đó cho thấy “bản chất tàn bạo và vô nhân đạo” của chế độ Bình Nhưỡng.
Vụ Kim Jong-nam bị giết có thể là dấu hiệu hệ thống quyền lực ở Bình Nhưỡng đang gặp nguy cơ. Diệt trừ hậu hoạ: diệt mối lo về sau, mối hoạ sau này.
Tuy nhiên, đám cận thần đang có quyền lực ở Bình Nhưỡng có thể sẽ quay ra chống lại Kim Jong-un vì nay thì không ai còn cảm thấy an toàn được nữa.
Cốt nhục tương tàn, không chút xót thương. Giết anh bằng bàn tay của một nữ sát thủ mặc áo có hàng chữ LOL (Laugh Out Loud – Hãy cười lớn lên đi!).
Rồi bắn pháo bông suốt 20 phút, long trọng mừng Lễ mừng Sinh nhựt Kim Jong-il, vốn là thân phụ của cả hai người.
Thiệt là một trớ trêu của trò đời tranh bá đồ vương cực kỳ kinh tởm!
Ngọn lửa và cây kiếm, phù hiệu một ngôi trường. Quân trường đổ mồ hôi chiến trường bớt đổ máu. Si vis pacem, para bellum: Dù ta đang sống yên, vẫn lo phòng nguy biến. Đó là lý do hiện hữu ra câu thơ: Xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thơ vẽ nên một cảnh giới không thực, hoặc nó đã trôi tuột theo những trang sách xưa. Hết tráng sĩ, hết tay gươm, hết bầu rượu, hết hí lộng với bờm ngựa, thôi vó câu rầm rộ, hết trăng treo trên mái lầu, hết sông trôi màu cổ nguyệt, hết áo bào thay chiếu anh về đất. Đất ở đây nát nhừ đạn pháo, đất thực sự nguy biến và anh chỉ biết có mỗi việc là mong được sống yên. “Đừng quên cầu nguyện hôm nay bởi thượng đế sẽ chẳng quên đánh thức bạn mỗi sáng”. Giảng đường, thư viện đã đóng lại cánh cửa ngày hôm qua nhưng lời của Oswald Chambers còn dây dưa khi hôm nay anh đã khoác vào thân bộ quân phục. Giáo dục đôi khi làm cho con người trở nên mềm yếu và chẳng thực dụng khi đối mặt với cảnh giới này, cao độ 960 mét so với mặt biển. Tiểu đoàn anh nằm với gió mùa thất thường cuối tháng 3, khô cằn nắng nung thân để án binh trong giao thông hào đã hai tuần, những mộ huyệt tự đào loay hoay chật chội nhằm đón đợi và chuẩn bị đánh trả Bắc quân. Họ mang nguyên sư đoàn 320 Điện Biên nguyện đánh hết rác. Với 13 lá bài khi binh xập xám chướng, cơ bản là “Thùng thì thủ, cù lũ thì dương”. Và bộ đội sinh bắc tử nam đang được nắm giữ con bài sáng giá “cù lũ”. Nó đánh xuống chiếu bạc bằng thứ tiền tệ “tiền pháo hậu xung”. Đất động kinh từng cơn địa chấn, đất nát vụn đá tảng cỏ cây và xương thịt những đứa con trong tiểu đoàn. Sơn pháo 75 ly, cối 80 ly, hoả tiễn 122 cho tới 130 ly chuyên cần rót vãi, cực mê muội. Bụi đỏ phủ chụp xuống nón đồng, mắt đóng ghèn và tự động nước trong hố mắt ứa ra, lấm lem. Không có giải thích nào hay hơn về kiếp người bằng hình ảnh: Khi mở mắt chào đời ai trong chúng ta cũng đều cất tiếng khóc, và hạnh phúc thay khi chết đi, bạn chẳng nghe ra tiếng khóc của thân bằng quyến thuộc vây quanh.Hoả lực rát quá ông thầy, đạn dược mình đâu đủ chia đều cho bọn chúng? Cầm cự được bao lâu? Anh ngó thằng lính, một sinh linh đồng loại mà ngỡ nó tựa kẻ ngoài hành tinh, nói như tự an ủi, binh chủng Dù đang tới giải vây, tiểu đoàn 11 “Song kiếm trấn ải” đang điều quân vào trận tiền. Mặt thằng lính thôi bám bụi, tươi tỉnh khi nghe tới tên đơn vị tiếp viện. Thế còn Thuỷ quân lục chiến, họ đang ở đâu? Vốn liếng của một Trung đội trưởng như anh rất khiêm nhượng nhưng buộc phải trả lời thằng đàn em trong chừng mực: Hiện tại họ đang làm sạch, khai thông một con lộ an toàn từ Khe Sanh xuống tới thị xã Quảng Trị và họ đang chịu những tổn thất lớn. Đối phương hăm he nổ lực làm chủ cục diện, dốc hết hoả lực nhằm chiếm bằng được Quảng Trị. Rõ là nó dồn chúng ta vào thế bị động, nó khơi mào và ta chỉ có việc đáp trả theo phản ứng, nhằm ngăn cản một vết dầu loang. Chận đứng mưu đồ xâm lăng, đó là nhiệm vụ trước tiên và sau cùng của một thằng lính. Quân đội chúng ta chưa từng đơm ý tưởng lấn chiếm và giải phóng một ai, chúng ta chỉ đi lấy lại từng phần lãnh thổ bị đối phương thâu tóm. Cái gì của César thì hãy nên trả lại cho César! Mông muội và đơn giản để hiểu thế.
Khi tai nhét chật sự bung nổ thật gần của hoả tiễn, sắp sửa bị chúng làm rách màn nhĩ thì mặt trận đột ngột im hẳn tiếng đạn pháo. Thính giác chỉ còn dây dưa manh động tiếng gì nghe như côn trùng rả rích, ù ù cạc cạc; hoặc đó là lời thì thầm của thiên thần, rằng ta đã cứu chuộc ngươi ra khỏi bàn tay của quỷ dữ. Để trả lời cho phút hoang mang, tiểu đoàn trường cho hay đơn vị thiện chiến Nhảy dù đã nhập cuộc và đẩy chúng không manh giáp về lại Trường sơn, chúng ta được lệnh triệt thoái. Hãy kiểm điểm lại những tổn thất, hãy thu vén những đổ vỡ, hãy hoàn hồn để lui binh về dưỡng sức ở hậu phương. Đi ngược, xuôi Nam khoảng tám cây số đường chim bay để dừng chân nơi bộ tư lệnh tiền phương đang cắm dùi, ở đó họ sẽ tìm cho tiểu đoàn một địa bàn để khai mở ra canh bạc mới sau khi chỉnh đốn và được bổ sung thêm quân số. Xuôi Nam, hiểu đơn giản là tuổi thọ của kiếp lính được kéo dài ra. Gió lành ở đó mê man thổi, nó lấy đi giùm anh nét phong sương đang bám và nó đánh cắp vẻ dữ tợn của đứa vừa thoát rời vùng giao tranh giăng bủa máu me.
Giống nòng súng bỏng khét khi xả đạn, con người anh cần giải nhiệt bởi khí trời. Sau lưng thị xã Quảng Trị, ngọn gió Lào khắc nghiệt bị xua đuổi bằng những cơn mưa bất chợt, bằng từng luồng gió nồng muối biển chạy luông tuồng vào từ cánh tay quàng mềm mại hướng Đông. Hoà bình là một thứ gì rất thật, rất nhỏ bé, rất tầm thường, nó ẩn mình sau tiếng gà gáy, trong tiếng chim trao đổi trên mỗi cành cây. Tiếng chó sủa cách khoảng giữa trưa, những cánh diều chao đảo ngập bóng nắng và ngay cả tiếng khóc khát sữa của một hài nhi, nó vẽ ra đủ đầy một bức tranh nhốt chặt hoà bình. Anh cảm động đến độ nghe chân mỏi khi phát hiện, nhìn nhận ra cái vẻ đẹp của vùng đất im tiếng súng. Anh thèm được đắm mình vào để thụ hưởng và đôi giày saut lấm bụi đỏ của anh đặt vào hiên quán cà phê đứng neo thân bên con lộ đen màu hắc ín. Căn cứ của đồng minh không hiện diện quanh khu vực phòng thủ, nhưng ở mái tranh vách đất này có chiếc cassette đang phát giọng trầm buồn của James Taylor hát bài You’re got a freind. “Khi bạn rơi xuống bao phiền muộn thì xin hãy gọi tên tôi, tôi sẽ đến kề bên bạn…” Thật cảm động, thật chân tình và dường như nó đang gần trở thành một thứ tựa như hàng hiếm. Bạn anh có đứa chết chẳng toàn thây ngày đầu ra đơn vị, có đứa nằm trong poncho đun vào ngăn lạnh ở tổng y viện Duy Tân chờ mẹ run rẩy từ Sài-gòn ra lo hậu sự. Mẹ bảo nằm mộng nghe tiếng con gọi lên từ địa ngục môn và mẹ đang đến gần bên con hòng mang hình hài con về lại quê cũ. Có đứa xuống tóc làm thầy chùa ẩn thân nơi heo hút khản giọng đọc miết trang kinh khô lạnh A di đà. Có đứa mất dấu trần thân đi suốt 4 vùng chiến thuật mà những KBC luôn từ chối một đón nhận hoặc chuyển trao tâm thư…
Anh gọi một ly cà phê đen đá để tự trắc nghiệm lấy trí nhớ, đã mấy tháng qua anh mới uống lại thứ chất lỏng đen đúa này? Ngoài dung lượng chỉ thuần để giải khát, cà phê còn mang lại cho anh một thức tỉnh quý giá về sự so sánh, hơn ba sư đoàn thay nhau điều quân về trấn giữ vùng hoả tuyến, có ai trong số họ từng đón nhận phút thảnh thơi đầy sảng khoái này. Hãy bình tâm chiêm nghiệm nó, như hình ảnh một vị tỳ khưu đi suốt cuộc lữ với mục đích duy nhất là đào bới đời sống để giải quyết chuyện sống chết, mang sứ mệnh cởi bỏ ràng buộc cho chúng sinh. Anh là một quân nhân, bị thời cuộc vây hãm, anh cũng góp phần giải quyết sự sống chết nhưng anh chỉ là mặt sau, phần ám tối nhất mà vị tỳ khưu kia đã buông bỏ. Tâm anh vẫn thường hiện ra câu văn: Khi tôi chết đi, xin bạn đừng đến gần bên tôi, bởi khi đó tôi sẽ không tài nào với tay ra để lau khô những giọt nước mắt của bạn được.
Khi uống cạn ly cà phê đá ngon ngoài sức tưởng tượng anh mới phát hiện ra trong quán còn có một vị khách xa lạ. Quen mắt với khói bụi, với nắng nung lửa, với áo giáp nón đồng, súng đạn quân trang quân dụng, giờ đây anh không khỏi bỡ ngỡ khi nhìn thấy một suối tóc đổ xuống bên lưng một người con gái yếu mềm. Giữa heo hút cách trở chốn này, hiện thân cô nơi góc tối quả là một điều không tưởng, cô như một trái hoả châu vừa bung nở giữa đêm nồng mùi thuốc súng. Bóng tối sẽ phủ chụp nhưng đốm sáng lẻ loi kia vẫn còn ẻo lã trôi trong võng mô. Cô ngồi hướng mặt tới anh, khuôn mặt dịu hiền ấy thoáng thắp nên một nụ cười. Cô đã ngầm quan sát anh, nụ cười nọ tựu thành do bởi sự tin cậy, rằng có thể anh ta là một Thiếu uý sạch nước cản chẳng đáng ngại. Tôi thật chẳng muốn về lại nơi dưỡng quân giờ này, chúng ta nên uống thêm một thứ gì đó chăng? Anh nói trong khi đứng lên, một chiếc GMC nặng nhọc chạy ngang khiến cô gái bị phân tâm. Cô cũng đứng lên, ngó vu vơ ra ngoài khung cửa vàng nắng bụi. Theo kinh nghiệm tôi có được cô không nên ngồi gần bên cửa, lùi sát vào vách nhà, càng xa mặt đường càng tốt. Anh tự động làm người công binh vạch ra một nơi anh cho là an toàn rồi hỏi: Cô có bận rộn việc gì không?
Họ vào ngồi bên một vuông bàn khác, xa luồng sáng. Cái máy cassette đặt gần đó thôi phát ra âm thanh, nghe tiếng dép lẹt xẹt đi lại gần. Anh gọi ly cà phê khác còn cô gái gọi chai nước cam. Cô ngó cái bảng tên thêu chỉ đen may trên túi áo, nó không có dấu. Anh tên Trường, phải không? Hay tên Trương? Cô gái nói, giọng Huế, trong vắt, ngọt như một ngụm nước cam thấm đẫm trên lưỡi. Sao chỉ nhặt ra có hai thôi? Bởi vì chẳng có ai tên Trướng, và Trưởng là tên một vị tướng tư lệnh vùng 1, Thiếu uý phải biết kiêng dè và lễ độ chớ. Anh cười thích thú với lối khơi mở câu chuyện của cô ấy. Phải, tôi tên Trường bởi tôi ghét mang tên Trương “miếu ai như miếu vợ chàng Trương, ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ…” Tôi đoán không lầm cô là một học sinh? Hay sinh viên? Dạ, học sinh trường Nữ Thành nội. Có bao giờ anh đón nhận một món quà mọn được trao đi từ các “em gái hậu phương”? Có chuyện đó sao? Tại tôi sinh sau đẻ muộn chăng? Cô nữ sinh nhìn vào khuôn mặt rám nắng của người lính chỉ lớn tuổi hơn cô chừng bảy tám năm, cô nói: Khoản tháng trước trường có tổ chức một chuyến đi uỷ lạo bằng trực thăng đến các tiền đồn. Ba mươi ngày trước anh đóng quân ở đâu? Ở một nơi chẳng mấy an toàn cho trực thăng đáp xuống, thành thực để nói là sinh mạng các em học sinh ở thành phố rất lớn lao, sợ chúng tôi không đủ khả năng để bảo vệ; và như vậy thì chúng tôi nào có may mắn để nhận quà phương xa.
Cô gái vén tóc lui sau, moi trong túi quần ra một chiếc khăn tay trắng ngần được gấp làm tư, vuông vắn, cỏ vẻ mềm mại, thơm tho. Cô đặt nó trên bàn, tránh những vòng tròn ngấn nước, trước mặt anh: Tặng cho anh đó. Cô nói và cúi mặt miệng ngậm chặt cái ống hút, mực nước trong chai vơi thấp. Trước khi cầm lấy món quà bất ngờ, anh ngó qua đôi bàn tay mình rồi chà xát mười ngón lên đầu gối, chỗ ấy vốn sẵn đã ngã màu. Vải phin mỏng, may tay công phu ở bốn bề cho vải khỏi xơ và nơi góc có cánh hoa thêu bằng chỉ tím. Một góc khác là hàng chữ nhỏ: Trần Thị Vĩnh Định, 11 A Nữ Thành Nội. Vĩnh Định cho tôi à? Nếu anh không kiêng cử dị đoan về một cái khăn tay. Vĩnh Định quê ở đây? Sao anh biết? Vì chúng ta ngồi không xa một con sông có tên Thạch Hãn trôi ngang mà Vĩnh Định là một phụ lưu của con sông đó. Vì tình hình càng lúc càng mất an ninh nên Mạ em quyết định bán đi căn nhà ở ngoài này, ngày mai hai mạ con lại lục đục trở vô lại Huế. Liệu Huế có phải chịu cảnh bom rơi đạn lạc không anh? Làm sao anh biết được, bọn anh đã gắng sức lập ra một hàng rào phòng thủ nhằm bảo vệ lấy Huế của Vĩnh Định. Cấp trên bảo, hãy giữ lấy bằng bất cứ giá nào. Miền Nam mà mất Huế, đó là điều không thể xẩy ra. Cũng tựa như chiếc khăn thêu này, anh sẽ giữ nó cho tới hồi buông súng.
Họ chia tay khi trời dim bóng nắng, khi quán bắt đầu ồn ào bởi có toán lính vào gọi bia. Họ đứng tần ngần một đỗi, anh bảo là ngày mai anh chẳng thể đưa tiễn Vĩnh Định ở bến xe đò, chiếc khăn vuông vắn mãi nằm yên trong túi áo, không thể trải rộng ra, đưa lên cao vung vẫy theo đuôi chiếc xe đò vừa khuấy bụi. Vĩnh Định cúi mặt nói: Anh ráng giữ gìn. Anh nói: Yên tâm, sẽ có lúc anh đi lùng sục ở Huế để tìm cho ra nơi Vĩnh Định sống, sẽ mang theo một món quà bất ngờ… Và rồi họ chia tay, đâu lưng, đi mỗi lúc một xa trên con lộ còn lưu giữ nhiệt lượng của mặt trời. Phía tây bắc vừa chuyền gửi về cơn địa chấn.
Phối hợp cùng một đơn vị của sư đoàn 3 bộ binh, tiểu đoàn anh được lệnh mang con cái ra “thăm thú” cổ thành Quảng Tri. Càng bắc tiến càng cảm nhận cái nóng khô xô đẩy trong luồng gió ngược, táp lấy tựa một ngọn lửa. Những ngọn lá tre, những bẹ lá chuối bắt đầu vàng vọt oằn thân hứng chịu. Không còn một sinh vật nào chạy hoảng loạn trên quốc lộ 1 mỗi lúc một thu bé bề rộng. Đôi chỗ đạn pháo cắm xuống làm bung vỡ mặt lộ đổ dầu hắc trầy da tróc vảy lỗ hê lỗ hổng. Mưa xuống sẽ biến nó thành những cái giếng nước mọc cách khoảng làm nơi giải hạn cho chim chóc thú hoang về trầm mình tắm táp dạn dĩ đùa cợt.
Dừng quân khi đêm về và dàn trải đội hình bên khúc sông đầy cỏ lau, có thể đó là sông Thạch Hãn, nếu đúng thì tiểu đoàn đang ở phía tây nam Cổ thành Quảng Trị và không chừng bên kia sông đang có sự hiện diện của Bắc quân. Giữa đôi bờ gió nhẹ reo vi vu la đà trên mặt sông đen thẩm chừng kèm gửi chút mùi vị lạ. Không là hương hoa dại làm người ngầy ngật mà sự ngây dại này do mơ hồ nhận biết ấy là mùi của tử khí. AK 47 bắt đầu khai hoả từng tràng rầm rộ, vi vút và léo nhéo bay qua con sông nước thấp, vạch từng đường đạn cháy bỏng màn đêm. Bờ bên này PRC 25 cũng bắt đầu phát sóng nhằm bắt đúng tần số liên lạc cốt để báo cáo thẩm quyền chúng tôi đang nằm trong tầm nhắm của đối phương, chúng trực xạ và áng chừng khó bề mang quân sang sông. Anh nghe nhói đau ở ngực, chiếc khăn tay gấp làm tư có thêu một nụ hoa bằng chỉ màu đang bị nhuộm máu, loang dần sang Trần Thị Vĩnh Định. Một suối tóc đen trôi đổ sau lưng và mơ hồ tai anh nghe lời tình tự của James Taylor: “When you’re down and troubled, and you need some love and care; and nothing, nothing is going right. Close your eyes and think of me, and soon I will be there… You’re got a freind…”
Anh nhắm mắt lại, còn đó là nụ cười trong sáng hiền dịu. Xin em đừng gọi tên anh, bởi anh chẳng tài nào đến được bên em. Mơ tưởng về một ngày đặt chân vào kinh thành Huế dọ hỏi căn nhà có Vĩnh Định ngồi thêu thùa đã vuột mất giờ này. Giai đoạn mà chúng ta đang sống đã thật sự chẳng kiếm đâu ra một người bạn nguyện san sẻ niềm đau của chúng ta. Anh đổ người xuống bên dòng nước cạn, tiếng thằng đệ tử gào trong hoảng loạn: Ông thầy, ông thầy, Thiếu uý đừng sớm bỏ em… Nothing, nothing is going right. Lửa đã tắt và cây kiếm vừa gãy. Cư an tư nguy. Nguy khốn đang phủ chụp, chẳng có lấy chút bình an.
Hàng năm cứ đến ngày giáp Tết Âm Lịch, mọi người đều thấy các cửa hàng và sạp bán báo rực rỡ hẳn lên bởi hình bìa những tờ báo Xuân. Đủ thứ màu sắc của những tờ báo khổ lớn treo toòng teng trên các sợi dây bay phất phới, không khác gì những lồng đèn Trung Thu. Những tờ báo khổ nhỏ, hầu hết là tuần báo hoặc đặc san nằm dưới kệ hàng cũng tô điểm sặc sỡ báo hiệu mùa Xuân đang về. Mùa Xuân dường như bắt đầu từ đấy. Và mỗi nhà thường mua một tờ báo Xuân, đợi Tết trưng ra phòng khách cho vui cửa vui nhà.
Điều đó không hẳn là một tục lệ mà chỉ là thói quen, một thứ thói quen đáng yêu của hầu hết người Việt chúng ta dù bất cứ ở đâu. Nó cũng như một hình ảnh mà nhà thơ Vũ Đình Liên gợi nhắc:
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua
Hình ảnh ông đồ già có thể mất dần theo năm tháng, nhưng những tờ báo vẫn y nguyên từ thời xa xưa cho tới thời nay và có thể còn mãi mãi dù nhiều bạn đã lo rằng báo in sẽ “chết dần” bởi thời đại internet.
Nhưng internet không thể bày ra bàn, không thể trang trí cho phòng khách của ngôi nhà, không thể mang linh hồn của mùa Xuân đến từng người đọc, không thể mang hương vị ấm cúng cho cả gia đình và cũng không thể mang cả mùa Xuân tô điểm cho phố phường của bạn.
Hình bìa những tờ báo thời đó thường bao giờ cũng có những người đẹp, những giai nhân đủ loại từ ca sĩ đến tài tử màn ảnh, từ cô gái nông thôn đến thành thị uốn lượn đủ kiểu trên sạp báo còn hơn là một cuộc thi sắc đẹp. Bạn không thích thú sao? Ngắm free mà.
Và chỉ năm hết Tết đến mới có cảnh ấy.
Những thứ đó khiến tôi nhớ đến không khí làm báo Tết thời xa xưa. Hồi đó bạn làm được một tờ báo ra hàng ngày hay hàng tuần đã khó khăn rồi chứ chưa nói đến làm báo
Tết. Ngày nay làm báo chỉ cần đánh máy cho lên máy in, nó chạy rèn rẹt ra luôn ba bốn năm màu và hàng chục ngàn số trong một vài giờ, được đóng sẵn sàng đưa ra thị trường.
Ngày xưa thì khác.
Thời Đại Typo
Phải nói chính xác đó là thời đại mới ra lò của những tờ báo, thời đại in typo. Trước hết là những con chữ đúc bằng kẽm hay bằng chì, từng chữ một, mỗi chữ xếp vào một cái bát hay một ngăn dưới tay người thợ, gọi là thợ sắp chữ. Phải sắp từng chữ một và chữ in nghiêng phải được tác giả viết bài hay anh tổng thư ký tòa soạn gạch dưới bản thảo đánh máy hay viết tay hàng chữ “ital” chữ viết tắt của italic. Còn hàng chục ký hiệu như thế dành cho hàng chữ in đậm, sửa dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, thêm chữ vào dòng, bớt chữ đi. Anh thợ “cả” được gọi là chef typo chịu trách nhiệm chung cho, phải coi lại từng trang.
Muốn đưa một tấm hình vào trang báo, phải làm bản kẽm. Tôi nhớ hồi đó ở Sài Gòn có Cliché Dàu là nơi cung cấp bản kẽm cho các nhà in và các báo. Khuôn khổ bức hình ra sao để nó nằm gọn lỏn trong trang báo phải được tính toán trước hết. Đến lúc thợ lên khuôn mới đưa vào bài báo được.
Trước khi in, thợ nhà in phải làm một bản vỗ, tức là lấy tờ giấy thấm nước như loại giấy bản, đặt lên khuôn trang có dính chút mực, vỗ nhẹ để mực thấm vào giấy, gọi là morasse. Người làm việc sửa morasse được gọi là “thầy cò”. Thường phải sửa đến lần thứ hai, thứ ba. Lần cuối cùng do anh Tổng Thư Ký Tòa Soạn sửa và ký vào tờ dernière morasse, chịu trách nhiệm nếu có sai sót.
Sau thời kỳ in typo là thời kỳ “vàng son” của kỹ thuật in offset. Cả trang báo 4 màu chỉ cần đưa lên máy in 1 lần. Nhưng nói về thời kỳ này nữa thì quá dài dòng.
Xin trở về thời đại báo in typo.
Tôi Suýt Bị Tù Vì Mất Chữ “T”
Nói sơ như thế để bạn có thể hình dung ra phần đầu của công việc làm báo, và chỉ là báo thường, chưa nói đến số Tết “ly kỳ rùng rợn” hơn. Đúng là một việc bỏ ăn bỏ ngủ chứ không đùa.
Tôi từng làm báo từ anh viết bài đến anh “thầy cò” rồi nhảy lên trưởng ban biên tập và làm chủ bút báo Chiến Sĩ Cộng Hòa của Quân Đội VNCH.
Tờ báo là bán nguyệt san, mỗi kỳ 200.000 số, con số ấn hành lớn nhất vào thời đó. Báo được Bộ Quốc Phòng tài trợ và gọi đấu thầu, nhà in tư nhân đảm trách việc in ấn. Tôi là người chịu trách nhiệm sửa và ký tên vào bản dernière morasse tức bản vỗ cuối cùng. Sau này làm thêm tờ Thông Tin Chiến Sĩ ra hàng tuần nữa càng vất vả hơn mà tòa soạn chỉ vỏn vẹn chừng mười người.
Năm nào báo Chiến Sĩ Cộng Hòa cũng ra số Xuân như thường lệ. Năm đó, có lẽ là năm 1960, khi đó đại tướng Lê Văn Tỵ làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH
— đến năm 1963 mới vinh thăng thống tướng, vị thống tướng duy nhất của VNCH. Mỗi năm báo Xuân Chiến Sĩ Cộng Hòa thường đăng một Thư Chúc Tết của đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Khi báo ra chúng tôi đưa lên trình văn phòng Đại Tướng. Không hiểu sao cuối thư đó lại ký tên Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Thì ra tên của ngài bỗng mất biến đi chữ T.
Đại tá Hoàng Ngọc Tiêu tức thi sĩ Cao Tiêu, chánh văn phòng của đại tướng gọi điện thoại cho tôi nói ngay: “Phen này ông đi tù là cái chắc”. Tôi tưởng ông dỡn chơi, nhưng ông nghiêm giọng nói: “Anh cứ xem lại Thư Chúc Tết của đại tướng là biết ngay, tôi không nói nhiều”.
Tôi mở tờ báo ra xem, quả nhiên là chữ Tỵ mất biến chữ T ở trước, thành ra là Đại Tướng Lê Văn Ỵ. Tôi choáng người, cầm chắc đi tù rồi còn gì. Tôi gọi nhà in, đòi xem bản vỗ cuối cùng. May quá, bản vỗ cuối cùng còn nguyên chữ T. Đây là một lý do “giảm khinh” cho phần lớn tội của tôi. Nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính khi tờ báo đưa lên trình và gửi đi khắp các đơn vị toàn quốc. Tôi đã không kiểm tra lại.
Về phía nhà in, điều tra cũng chẳng ra, bởi khi bản vỗ đưa lên máy in vẫn còn nguyên, nhưng bởi phải xếp từng chữ nên khi bê lên bê xuống có thể rơi mất chữ T. Rơi ở đâu, khi nào hay có kẻ phá hoại không ai biết. Mà làm sao kết tội phá hoại khi không có bằng cớ chắc chắn. Thời đó, luật pháp là luật pháp rất nghiêm minh. Tôi đã chuẩn bị sẵn tư tưởng để từ giã quân ngũ hay ít ra cũng bị “hạ tầng công tác” đến một đơn vị khác, rất có thể là binh nhì vì cái tội quá nặng “bôi bẩn thanh danh Đại Tướng”.
Nhưng ông chánh văn phòng Cao Tiêu lại gọi điện thoại ngay cho tôi nói là chưa kịp trình đại tướng vì sáng đó ông bận đi dự lễ. Cao Tiêu cũng là bạn tôi nên đã hủy ngay tờ báo và nói tôi phải lấy chữ Tỵ khác đóng lên trên chữ Ỵ để ông mang vào trình.
Tôi cấp tốc làm ngay. Làm một tờ thì dễ nhưng cả 200 ngàn số đưa đến các đơn vị cũng phải làm. Thế là cả cánh thợ nhà in tư nhân và toàn phòng báo chí phải cùng làm suốt một đêm một ngày mới xong. Lúc đó tôi mới hoàn hồn. Từ đó tôi có thêm “kinh nghiệm xương máu” về nghề làm báo cũng như khi sang làm ở Đài Quân Đội. Tôi cẩn thận từng chữ, từng câu trong các bản tin.
Lại Chuyện Ở Đài Phát Thanh
Hồi đó nhiều đoàn thể, giáo phái đều có tiếng nói trên các đài phát thanh Sài Gòn cũng như Đài Quân Đội. Một lần vào năm 1970 hay 1971, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đi dự một cái lễ ở Long Xuyên do Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức. Sau đó tổ chức này có một bản tin gửi cho các báo trong nước. Đài Quân Đội cũng nhận được bản tin này. Bản tin chia làm ba hay bốn phần gì đó, cả mấy phần trên đều là lời lẽ ủng hộ chính phủ, đoạn cuối cùng có đề nghị chính phủ phát súng cho giáo phái để tự giữ gìn an ninh tổ quốc.
Tôi suy nghĩ mãi rồi bỏ đoạn cuối này, bởi phát súng cho một tổ chức chẳng khác nào một quốc gia có hai quân đội, nên tôi chỉ tóm tắt nội dung chứ không cho đọc nguyên văn, cuối cùng loan tin là những đề nghị khác sẽ được Tổng Thống và Chính Phủ cứu xét cẩn trọng.
Quả nhiên bí thư của Tổng Thống lúc đó là Hoàng Đức Nhã, được gọi là “ông trùm truyền thông” điện thoại cho tôi hỏi “Anh có cho đọc nguyên văn bản tin của Phật Giáo Hòa Hảo không?”. Tôi trả lời: “Không, tôi chỉ tóm tắt nội dung chính còn đề nghị phát súng tôi không loan, bởi vì…” Hoàng Đức Nhã ngắt lời tôi ngay: “Đúng rồi, anh làm vậy là đúng lắm”.
Từ đó tôi được nhìn bằng con mắt khác và nhận ra một kiểu hỏi “mẹo” khôn khéo của “trùm truyền thông”.
Đi Làm Phóng Sự Tết
Phòng báo chí của chúng tôi có lệ là phải đi làm phóng sự Tết ở các đơn vị từ miền Nam đến miền Trung và Cao Nguyên. Tòa soạn quá ít người nên chính tôi cũng phải làm phóng viên. Anh em đi hết, chẳng lẽ trưởng phòng ngồi nhà nên dù mới cưới vợ cũng phải bò đi làm phóng sự Tết.
Tôi nhớ năm đó, vào ngày 28 Tết có trận đá bóng giữa đội bóng của Bộ Tổng Tham Mưu với một đội bóng Peru. Thế mà tôi phải rong ruổi ra miền Trung làm phóng sự. Tôi mê đá bóng từ nhỏ nên phải mang theo cái radio transistor, để khi đi trên xe lửa vẫn nghe được anh Huyền Vũ tường thuật trận đấu cho đã ghiền.
Giao Thừa Trên Đỉnh Đèo Hải Vân
Ra đến Đà Nẵng, tôi vào chào trung tướng Đỗ Cao Trí là Tư Lệnh Phó Quân Khu 2, tôi còn một mục đích khác là lôi Thanh Nam mới bị tái ngũ đang học ở trường huấn luyện ra cùng đi. Tướng Trí ra lệnh cho Thanh Nam ra đi cùng tôi ngay hôm đó. Chúng tôi qua đèo Hải Vân vào buổi chiều sắp tàn. Thấy một tiền đồn đóng tuốt trên ngọn núi Hải Vân nằm lẫn trong mây, tôi nghĩ sinh hoạt ở đơn vị nằm cao tít tắp chín từng mây này chắc là đặc biệt nên cho xe jeep theo đường mòn leo lên đỉnh đèo.
Anh lính gác ở đồn canh cho biết đây là một trung đội Địa Phương Quân trấn giữ mỏm núi. Phía sau còn hai trung đội khác. Tôi và Thanh Nam quyết định ngay là sẽ đón Giao Thừa cùng anh em đơn vị này.
Một buổi tối khác hẳn mọi buổi tối. Chúng tôi nằm giữa những đám mây mỏng không nhìn thấy lưng đèo.
Giao thừa thật thú vị với những màn lửa trại và thi hát, thi nói chuyện vui.
Một anh tân binh nói chuyện tình yêu của chính mình rất láu cá. Anh em chất vấn tại sao mày lấy được vợ giàu và đẹp thế? Anh ta kể bị gia đình nhà vợ phản đối, hai đứa bàn nhau “ăn cơm trước kẻng”. Em bị con vợ em nó tát cho một cái nên thân, tưởng em lợi dụng nó.
Em nói chúng mình chỉ giả vờ thế thôi mà. Em cứ giả vờ thú nhận với mẹ là em có bầu rồi. Con vợ em đồng ý. Thế là nhà nó bắt phải làm đám cưới ngay. Cưới xong vài tháng thì em vào địa phương quân rồi lên đây.
Thanh Nam khoái chí bèn tặng ngay cái khăn quàng mà cô bồ là ca sĩ trẻ đẹp vừa gửi tôi mang ra tặng chàng làm quà Tết. Trong đời tôi sẽ không bao giờ có được một đêm giao thừa như thế nữa.
Làm Báo Ngoài Thì Sướng
Hồi đó tôi viết khá nhiều feuilleton cho các báo. Mỗi dịp Xuân về, chẳng cần biết các ông ở tòa soạn bận rộn ra sao, chúng tôi chỉ việc gửi bài rồi ung dung chờ lãnh tiền lương tháng 13 và dự tiệc tất niên của chủ báo. Có lẽ làm với báo Truyện Phim của ông Nguyễn Ngọc Linh khoảng những năm 1958- 1960 là khoái hơn cả. Tờ báo lớn đầu tiên về điện ảnh quốc tế và Việt Nam do anh em ông Linh sáng lập ở đường Ký Con. Tòa soạn bé tẹo nhưng rất… Ăng Lê. Chủ nhiệm ngồi một mình trong phòng kính. Bên ngoài là bàn giấy của tổng thư ký tòa soạn, hồi đó là Quốc Phong nên chúng tôi gọi là “ông Tổng Cóc”. Cạnh đó là chiếc bàn nhỏ xíu của biên tập viên Gia Tuấn đeo kính trắng, gọi là “Gia Tuấn Sì Cốp”.
Tờ báo được hầu hết bạn trẻ, học sinh, sinh viên đón đọc hàng tuần. Tất nhiên năm nào cũng có báo Xuân và đặc biệt khán giả mua báo được tặng cuốn lịch thật đẹp của hãng Paramount Pictures, in màu trên giấy couché trắng nõn với 12 tấm hình tài tử thượng thặng quốc tế như Marilyn Monroe, Ava Gardner, Audrey Hepburn, Grace Kelly… cũng nõn nà chết người. Riêng anh em cộng tác, cuối năm còn được tặng một tập báo đủ 12 tháng đóng gáy da mạ chữ vàng cẩn thận.
Sau đó là một chầu ăn uống nhảy nhót tưng bừng tại một nhà hàng lớn và tăng 2 có thể đi, có thể không, tùy thích. Tôi chưa bao giờ quên những kỷ niệm đó.
Nhật Báo Chính Luận Và Ông Chủ Nhiệm Đáng Yêu
Đó là phía tuần báo, còn phía nhật báo có tờ báo lớn là Chính Luận, do bác sĩ Đặng Văn Sung làm chủ nhiệm.
Cuối năm cũng có chầu tất niên tưng bừng nhưng ông chủ nhiệm đứng đắn nên không cho anh em “múa tay múa chân” ở vũ trường. Ông cho tổ chức đánh phé ở nhà anh thủ quỹ Lê Tâm Việt. Tôi nhớ năm đó vừa lãnh lương xong, về chơi phé với anh em trong tòa soạn.
Chẳng may thua nhẵn túi.
Tôi đứng dậy ra về thì ông chủ nhiệm hất đầu cho anh thủ quỹ Lê Tâm Việt ra lệnh “Phát cho cậu ấy lương tháng 13 đi”. Lê Tâm Việt nói em phát rồi. Bác sĩ Sung cười hiền lành “Nó thua hết rồi, lấy gì cho nó ăn Tết, phát cho cậu ấy ngay đi”. Thế là tôi lãnh thêm 1 tháng lương nữa rồi ra về, hồi đó tháng lương viết feuilleton cho báo Chính Luận tôi nhớ mang máng là 12.000 đồng VN. Bằng ấy là khoản tiền khá lớn để lại có “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh ở nhà”. Thật thú vị cho một năm mệt nhoài vì viết, nhưng hồi đó viết là viết chứ không cần lách như bây giờ.
Bạn đã thấy việc của dân làm báo hay nói chung làm truyền thông xã hội không hề dễ chút nào.
Nhưng tôi vẫn nhớ, vẫn chưa bao giờ từ bỏ được cái “nghiệp” của tôi. Tính ra bây giờ là hơn 60 năm rồi, cuộc đời tôi vẫn chẳng làm được nghề ngỗng gì ngoài viết và viết. Tết cũng chẳng bao giờ được nghỉ vì “báo bà nghỉ thì báo ông ra” nên cứ phải có đủ bài cho báo.
Năm nay cũng vậy thôi.
Nhưng đã trở thành thói quen, tôi chưa bao giờ ân hận vì cái nghề này.
Đó, nghề làm báo long đong như thế, nhưng nếu vào nghề rồi thì khó lòng dứt áo ra đi cho đành. Nó có ma lực quyến rũ đấy, các bạn ạ.
Tôi nhìn về hướng mũi tàu. Sa mù xám đục ngập phủ, ập xuống mặt nước như cố ngăn những lượn sóng ào ạt cuốn vào bờ. Từng loạt gió hâm hấp, cuốn theo các hạt nước bắn lên từ các ngọn sóng ngã đổ, vùn vụt lướt qua chiến hạm. Những vạt nước tóe lên từ bên hông tả hạm, tạt vào mặt vào mắt ran rát và cay xót. Gió va vào các bộ phận lộ thiên, phát ra những âm vang dị biệt, tạo thành một hợp âm lạ lùng đầy vẻ dọa dẫm. Chiến hạm lay lắc, từng khi hích mạnh vào cầu tàu, gây nên những cơn giật bất thường, ngầy ngật.
Từ đài chỉ huy trên chóp khối trụ tròn thiết trí ngay giữa hữu hạm, ông hạm trưởng nghiêng người nhìn dọc theo mạn tàu, kiểm soát tình trạng sẵn sàng của nhân viên trong nhiệm sở rời cầu. Ông quay sang hạm phó nói bằng giọng điềm đạm như khuôn mặt của ông:
– Biển còn động mạnh quá!
Hạm phó nhìn ông mỉm cười. Tôi thấy những tia hy vọng lung linh từ nụ cười cầu tài đó. Trong bữa cơm trưa, hạm phó đã đề nghị hoãn khởi hành đi Hoàng Sa thêm một vài ngày.Ông cho rằng việc hoán chuyển quân là việc không gấp gáp, tội gì phải oằn người vì sóng gió. Tôi biết cái lý do thầm kín mà ông không thể nêu ra. Sóng gió đối với ông là chuyện bỏ đi.Suốt hai ngày đêm từ Sài Gòn đi Đà Nẵng biển động tưng bừng, tôi gần như bỏ ăn bỏ uống nhưng ông và Hạm trưởng vẫn đều đều ngày ba bữa và vẫn hút thuốc trọn gói hai mươi bốn giờ. Đêm qua, ông khoe riêng với Tâm và tôi là mới quen được một cô nữ sinh trường Sao Mai. Chúng tôi đã trố mắt ngạc nhiên mà không mấy tin. Lẽ nào ông vẫn hào hoa khi mới bắt bảy ngày phép cưới vợ trước khi tàu khởi hành chuyến này? Giọng cà tửng quen thuộc của hạm phó:
– Hoãn thêm một ngày nữa là phải quá, thưa hạm trưởng. Một ngày rỗi rãi, hạm trưởng sẽ làm thêm được vài bài thơ tình, hạm phó sẽ hưởng thêm được những phút giây êm đềm trước khi…bó thân về với vợ!
Tôi không cười mà ngước nhìn hạm trưởng với hy vọng ông không đổi ý. Một tuần tránh cơn bão đầu mùa đủ để tôi quá chán cái thành phố xa lạ này. Những hôm trực thì tiêu khiển một ngày bằng những con bài qua các trò chơi cá nhân hoặc tập thể. Những bữa tự do thì đội mưa mà đi, la cà hết quán cà phê lại đến quán kem, nơi nào cũng nghe Hùng Cường hát Sầu Đông giữa mùa hè. Thành phố có dáng của thủ đô Sài Gòn, cũng có dòng sông êm đềm chảy ngang qua nhưng trọn một tuần gần như thiếu vắng bóng hồng. “Đà Nẵng vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai?” Lẽ ra giờ này tôi đã ngồi ở một quán kem ở đường Lê Lợi nhìn ông đi qua bà đi lại. Lẽ ra tôi đã được xem vài cuốn phim mới và lẽ ra tôi đã gặp lại… Tôi cười nhạo cho chính tôi. “Lẽ ra” cho lắm rồi cũng chẳng khác gì các lần về bến ba tháng qua, lần nào cũng phải ca bài “một trăm phần trăm em ơi giờ đây lại cấm trại rồi“! Và lần nào, người nhà của thủy thủ đoàn xuống tàu thăm nườm nượp, riêng Tuyết và Hiền đều bóng chim tăm cá. Về Sài Gòn bị cấm trại thì mong đi công tác. Đi công tác thì mong về Sài Gòn…
– Phải khởi hành thôi, hạm phó. Đại đội địa phương quân đã lên tàu. Tin khí tượng cho biết bão đã yếu dần. Phong vũ biểu đã tăng gần bình thường. Binh lính ngoài Hoàng Sa thì đang mong ngóng được về gặp lại vợ con. Họ đã quá cái hạn sáu tháng và chắc chắn là họ đang mỏi cổ ngóng trông hình dáng một con tàu. Không còn lý do gì mà không tách bến ông hạm phó thân mến ạ!
Ông đổi giọng rắn rỏi, dứt khoát:
– Tháo hết dây, trừ dây số ba.
Tôi vui sướng nghe anh vô tuyến lặp lại mệnh lệnh vào điện thoại nội bộ. Mặc cho các dây đã kéo về tàu nằm gọn vào ổ, con tàu vẫn bám chặt vào cầu. Hạm trưởng nhìn lên lá cờ để định hướng gió. Ông ban lệnh:
– Tay lái số 0. Máy tả lùi một.
Trung úy Được có trách nhiệm lặp lại lệnh hạm trưởng vào chiếc loa dẫn xuống phòng lái. Rất nhanh chóng, có tiếng hạ sĩ Thành từ phòng lái vang lên:
– Tả đã lùi một. Tay lái số không.
Sĩ quan vận chuyển đáp nhận rõ rồi lặp lại cho hạm trưởng. Ông gật đầu, hết xoay nhìn phía lái lại nhìn hướng mũi. Con tàu rùng mình rên khẻ bắt đầu chạy lùi. Tiếng điện thoại viên liên lạc sân mũi:
– Báo cáo dây số ba căng. Dây số ba rất căng.
Đúng vào lúc sợi dây duy nhất còn lại rung bần bật, bốc khói thì mũi tàu chầm chậm tách ra khỏi cầu.
Giọng trầm tĩnh của Hạm trưởng:
– Hữu tiến một. Tay lái 15 bên trái.
Nhìn vẻ mặt an nhiên ung dung của ông, tôi tự nhủ mình phải rèn luyện được như thế. Đây là lần đầu tôi được cho lên đài chỉ huy để học hỏi cách cặp và rời cầu. Ba tháng vừa qua, tôi quanh quẩn sân mũi, sân giữa, sân lái để học cách buộc dây, cách ném dây lên cầu và thu dây về tàu. Mỗi mạn tàu trung bình thường có sáu dây buộc. Phải buộc thế nào để bất kể nước lớn hay ròng, con tàu vẫn cặp sát cầu, không xê dịch và không bị căng đứt dây. Tôi đã học cách thả neo, kéo neo và cho neo vào ổ. Học cách sử dụng hệ thống điện đàm nội bộ giữa đài chỉ huy với các sân, các tổ súng, hầm máy, hầm lái tay, cửa đổ bộ…
Hôm nay là buổi nhập môn vận chuyển rời cầu trong điều kiện sóng gió chếch mũi. Mỗi khi hạm trưởng quay mặt hướng nào, tôi quay theo hướng đó. Mỗi lệnh ông ban ra tôi thầm lập lại và nghiền ngẫm. Và bây giờ mũi chiến hạm chầm chậm tách rời cầu…
Tôi nghe lệnh thật sắc của hạm trưởng hòa trong tiếng máy rầm rập, tiếng nước xoáy rào rào:
– Máy tả ngưng. Tháo dây số ba.
Một nhân viên đơn vị bờ nhanh nhẹn nâng sợi dây cuối cùng lúc này đã chùng khỏi chiếc trụ đen ngắn. Sợi dây được nhân viên sân mũi kéo về thật nhanh, kết vào ổ.
– Giải tán nhiệm sở vận chuyển. Hai máy tiến một. Tay lái bên trái 20.
Rất chậm và lầm lũi, chiến hạm hục hặc vùng vằng tiến tới theo góc bốn mươi lăm độ so với cầu tàu. Càng ra xa, con tàu càng chao đảo. Tiếng gió rít đâu đó như tiếng sáo ở cung bậc cao, hòa quyện với tiếng bầm bập từ tấm vải bố rộng lớn che kín lòng tàu và tiếng phần phật từ lá quốc kỳ ở chóp trụ sắt bên trên đài chỉ huy. Tôi ngẩng nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ mới tinh đang năng nổ phất phới tung bay và chợt thấy vui vui, hăng hái….
– Lái thẳng.
Tiếng Thành vọng lên rõ mồn một:
– Lái thẳng đường hai bảy hai.
– Hai máy tiến hai.
Tiếng leng keng báo máy đã tiến chìm trong tiếng sóng dồi gió dập ì ầm.Con tàu bất ngờ chui vào một vùng mây mù xám xịt. Vô vàn mảng nhỏ xoắn xuýt rồi tan nhanh. Người tôi nóng bừng, bứt rứt. Miệng tôi nhờn nhợn, khó chịu. Mồ hôi rịn ra ở ngực và lưng. Tôi biết là tôi đang muốn mửa. Cái khả năng chịu sóng của tôi qua mấy tháng thực tập hải nghiệp ở quân trường được ghi nhận là yếu. Trong suốt thời gian đó biển ngày nào cũng động, nhưng dù động mạnh hay nhẹ, không ngày nào tôi không ói mửa.Có hôm mửa cả mật xanh mật vàng. Tôi nhớ đã nghĩ đến chuyện đào ngũ, bỏ cuộc. Sáu chuyến công tác ngắn hạn vừa qua lúc nào biển cũng êm nên thấy đời nơi nào cũng đẹp. Giờ đây, ý nghĩ đào ngũ lảng vảng đâu đây. Tôi đặt ống dòm lên mắt, cố chú tâm quan sát. Phía trước mù mịt. Tôi chúc ống dòm xuống mặt nước. Mặt nước đục ngầu, giận dữ, lồng lộn sủi bọt. Hạm trưởng ra lệnh anh giám lộ kéo còi hải hành trong sương mù. Tiếng còi vang lên kéo dài, bị nuốt chửng vào không gian âm u rồi lại vang lên, kéo dài, đều đặn. Tôi cũng lắng nghe tiếng còi vọng đến từ đâu đó nhưng mọi phía vẫn chỉ là những âm thanh hỗn tạp, khó nghe…
Hạm trưởng ngồi vào chiếc ghế nệm bọc da dành riêng cho ông. Người ông đong đưa, đôi mắt đăm đăm nhìn xuyên qua khung trời mù mịt. Tôi đoán là ông đang ưu tư. Tôi nhớ một lời nói đùa khi học về hải hành trong sương mù. Nó không khác gì… hiệp sĩ mù nghe gió kiếm. Con tàu phải lắng nghe tiếng còi để tránh nhau. Khi “thấy” nhau thì coi như quá muộn.
Hạm phó nói lớn:
– Phòng radar báo cáo ba écho gần nhất.
Tôi nghe lệnh truyền đi và tiếng đáp nhận. Một lúc sau là tiếng báo cáo hướng và khoảng cách. Hạm phó loay hoay đo đạt, chấm tọa độ vị trí chiến hạm lên tấm hải đồ. Ông đề nghị hạm trưởng cho đổi đường.
Mũi tàu quay dần về phía hữu. Bất chợt con tàu chao đảo dữ dội. Tôi chụp lấy thành đài, bám chặt. Hạm phó buông thõng chiếc ống dòm lủng lẳng trước ngực, phóng tới ôm chiếc la bàn điện đặt trên một trụ sắt giữa đài chỉ huy. Ông nhìn vào chiếc la bàn, giọng thật sắc:
– Lái thẳng.
Tiếng vọng:
– Lái thẳng, đúng hướng bắc.
Con tàu hăm hở chúi mũi vào hết ngọn sóng bạc đầu này đến ngọn sóng khác. Tròi vẫn mịt mù. Nó không còn lắc lư mà lúc nào cũng chồm lên hụp xuống. Nước bắn tóe vào đài chỉ huy từ mọi phía. Các bộ kaki màu nước biển lấm tấm những đốm xanh thẫm. Sau hơn nửa tiếng sóng dập gió vùi, những tiếng ụa mửa bắt đầu phát ra từ lòng tàu. Chính lúc đó, hạm trưởng lại cho lệnh đổi đường:
Tiếng máy rầm rập lớn hơn như đang ráng sức đẩy con tàu nhanh hơn. Bây giờ thì khối sắt hình chữ nhật bắt đầu lăn qua lắc lại và chồm lên hụp xuống. Các sĩ quan hiện diện đều tỏ vẻ chịu đựng nhưng riêng hạm trưởng, hạm phó thì vẫn thong dong hợp tác điều khiển con tàu rời quân cảng và vịnh Sơn Trà. Mãi đến khi radar báo cáo thấy Cù lao chàm ở phía Nam Hạm trưởng mới rời khỏi ghế, bước lại bàn hải đồ. Ông gật gù tỏ vẻ hài lòng khi thấy vị trí chiến hạm nằm trên hải trình vạch sẵn. Từ điểm này đến điểm đổi đường trực chỉ Hoàng Sa chừng mười hải lý. Cũng từ điểm đó, coi như chiến hạm rời vùng cảng vịnh lắm thương thuyền. Ồng mở quyển nhật ký hải hành và ghi vài dòng tiêu lệnh. Ông hỏi hạm phó:
– Ai là sĩ quan đương phiên?
– Thưa trung úy Được.
– Ai kế?
– Thưa, Thiếu úy Tâm.
Ông quay sang tôi:
– Thiếu úy Bằng đi ca với trung úy Hào.
Ca của trung úy Hào bắt đầu tám giờ tối. Không đợi tôi đáp nhận, ông quay sang hạm phó:
– Hạm phó trách nhiệm hải hành từ giờ phút này cho đến khi tàu đổi đường tám mươi tư. Nhớ trừ độ dạt. Mình hiện còn trong vịnh, chạy máy tiến ba được rồi. Thiếu úy Bằng có thể xuống nghỉ ngơi…
Tôi hăng hái lên tiếng:
– Thưa hạm trưởng, tôi xin ở đây cho đến khi nhận phiên.
Ông gật gù:
– Còn năm tiếng nữa mới đến phiên. Mệt lắm đó. Tùy anh.
Ông xoay người bước đến cầu thang. Hạm phó hô nghiêm. Tất cả nhân viên đưa tay chào. Đợi Hạm trưởng khuất hẳn, hạm phó cười cười với Được:
– Anh hùng thấm mệt? Chưa bao giờ thấy mặt anh xanh như lần này.
Được tựa lưng vào thành đài, nhăn nhó:
– Đêm qua quần nhau tới sáng. Giờ gặp sóng gió thế này chắc…chết.
– Muốn hạm phó đi giúp ca này chăng?
Được lắc đầu:
– Rất cám ơn nhã ý nhưng tôi biết chắc hạm phó còn mệt hơn cả tôi! Mới trăng mật mà!
– Đằng nào tôi cũng phải ở đây cho đến khi đổi đường. Nếu không muốn xuống thì cứ đứng… nhắm mắt cho lại sức. Mãn phiên cùng xuống với tôi.
Nhưng Được không nhắm mắt, chốc chốc lại nâng ống dòm nhìn xuyên qua tấm kính chắn gió. Thỉnh thoảng anh loạng choạng, quơ tay lung tung để giữ thăng bằng khi con tàu nghiêng quá đà. Tôi biết là tôi chưa làm thế được. Tôi còn cần bám vào một cái gì đó mới khỏi bị ngã nhào. Tiếng gió rít veo véo, tiếng rào rào của các mảng nước bắn tung, tiếng đì đùng của các đợt sóng ngầm chặt vào lườn. Thỉnh thoảng chiến hạm va phải cơn sóng mạnh, cả thân tàu run rẩy theo tiếng răng rắc vang lên. Tất cả những âm thanh đó gợi tôi cái cảm giác bất an. Suốt mấy tháng trước, dù được đi ca chung với hạm phó, học hỏi được nhiều nhưngtôi vẫn chưa quen với những tiếng động lạ thường, những tiếng động tưởng chừng chiến hạm sắp gãy đôi…
Tiếng của hạm phó lạc vào âm thanh hỗn độn:
– Thiếu úy Bằng xuống kiểm soát việc trực radar. Đừng để nhân viên thám xuất rời mắt khỏi màn ảnh. Mọi bất thường báo cáo ngay.
Tôi đáp nhận rõ rồi xiên xẹo lần ra đầu cầu thang dẫn xuống phòng lái. Cầu thang như dài hơn, sâu hơn thường ngày. Tôi lần dò đặt chân lên từng bậc. Hai tay bám chặt thanh sắt an toàn. Con tàu chầm chậm nghiêng về bên phải rồi vặn mình nghiêng về bên trái. Tôi phải dồn toàn lực vào hai tay để bám víu mỗi khi con tàu nghiêng hết về một phía. Sự cộng hưởng tạo một sức ly tâm cực mạnh khiến tôi có thể bị bắn văng khỏi tàu. Xuống đến chân cầu thang, tôi thận trọng bước lần dò về cửa phòng lái. Cửa là một tấm sắt dềnh dàng đóng kín khi sóng to gió lớn. Cần khóa đang ở thế thẳng đứng. Muốn mở, phải vặn cho nó nằm ngang. Trời vẫn oi bức nhưng tôi cảm thấy lành lạnh, rợn người. Với mức độ chòng chành thế này, không cẩn thận chọn đúng thời điểm, cánh cửa ngàn cân có thể bật tung vào người gây thương tích nặng. Và một khi cửa đã mở mà không bước vào kịp, nó sẽ bật vụt lại, chặt gãy tay chân.
Một tay bám vào thanh an toàn, tay kia nắm cần chốt, tôi nín thở chờ đợi. Vừa khi con tàu trở về vị trí thăng bằng, tôi xoay phần tư vòng, mở vụt cánh cửa, lách vô thật lẹ. Chân vừa rút vào thì cánh cửa ập sầm lại. Tôi gài chốt mà… hú hồn. Phòng lái lờ mờ. Tôi bước đến chiếc radar đặt gần vách trong. Anh trung sĩ nhất thám xuất đưa tay chào. Tôi gật đầu, thân mật:
– Các anh đều êm cả chứ?
Anh cười:
– Cám ơn thiếu úy, tụi này cũng đỡ.
Tôi vỗ vai hạ sĩ Thành, nói đùa:
– Anh vẫn còn ôm “bánh xe nước mía”?
Anh cười thân thiện:
– Sau nhiệm sở vận chuyển là nhận luôn ca lái. Trông thiếu úy còn tỉnh táo lắm!
Tôi bước sang nhìn vào mặt kính radar hình tròn. Từ điểm trung tâm, một vệt sáng quét chầm chậm tạo nên hình ảnh hải cảng vịnh Sơn Trà. Phần sáng rực là bờ và núi. Phần nhạt hơn là biển với vài ba đốm trắng nổi bật. Anh thám xuất cho biết các đóm sáng đó là những đối vật di động, có thể là thương thuyền đang đi vào cảng. Ánh sáng khi lóe, khi lòe làm mắt và đầu tôi căng nhức. Tôi bước lui, tựa lưng vào vách. Qua lổ châu mai, mũi tàu cất lên thật cao rồi gục xuống đánh sầm. Một mảng sóng lớn tràn qua mũi như muốn nhận chìm chiến hạm. Nước tốc lên, túa ào ạt vào lòng tàu và ập vào ô kính các lỗ châu mai. Tôi nghĩ thầm, may mà tàu còn ở tiến ba, chớ tăng nữa thì coi như là đời đi đứt.
Như để thách đố, một giọng uể oải phát từ miệng loa:
– Phòng lái, hai máy tiến bốn. Lái đường 78.
Tôi cay đắng mỉm cười. Với tốc độ đường trường này, rồi mày lại thấy mật xanh mật vàng. Rồi mày sẽ còn mửa dài dài, còn khốn khổ dài dài…Tiếng lạch cạch từ cần tốc độ. Tiếng leng leng báo hiệu máy đã tăng. Con tàu vật vã, giật mình, rên rỉ. Nhìn về tả hạm qua lỗ châu mai, một khoảng không gian nhỏ bé chầm chậm chuyển từ vòm trời âm u sang vùng biển xáo động và ngược lại.Đôi lần, cả mặt hông biến thành đáy tàu một thời gian khá lâu.Những lúc đó, hai tay tôi bám chặt vào bất cứ vật gì vững chắc để chờ con tàu trở về sự nghiêng ngửa bình thường. Nhìn về trước mũi, có lúc nó cất lên thật cao rồi nghiêng mình chúc xuống trông tựa chiếc tiềm thủy đỉnh gầm gừ rẽ sóng. Những lúc đó ruột gan tôi như trào lên đè bẹp buồng phổi.
Tôi lại thấy ngột ngạt, bụng quặn lên, nước mắt ứa tràn. Đến cơn quặn đau thứ ba, tôi phóng tới chiếc sô đặt gần cửa ra vào. Chưa kịp gục mặt xuống, miệng đã há rộng. Tôi nôn thốc hết thức ăn bữa trưa. Rồi tiếp tục các chất bầy nhầy lợn cợn chừng là thức ăn chưa kịp tiêu của buổi sáng vàcủa ngày trước đó. Nước mắt tôi ràng rụa.Tôi nín thở mà vẫn ngửi được mùi tanh hôi nồng nặc. Tôi không dám đứng lên, vẫn tiếp tục ôm chiếc sô chờ tới phiên mật xanh mật vàng. Trong giây phút toát mồ hôi đó, đầu óc tôi chợt hiện ra hình ảnh câu ca dao đã được một anh thủy thủ hiệu đính nhân một lần thấy tôi ói mửa: “Hôm qua lên gác đài cao, trông cá cá lặn trông sao sao mờ, buồn trông thiếu úy ôm sô”. Tôi thấy vui vui và bỗng nghe người nhẹ đi. Một cảm giác dễ chịu lan nhanh. Theo kinh nghiệm, tôi hiểu là công tác “nuôi cá” đã tạm dứt và từ giờ có quyền chờ dịp khác. Tôi gắng gượng đứng lên, bám vào vách, hổn ha hổn hển. Đúng lúc đó tôi nghe văng vẳng giọng ca Thanh Thúy. Tôi tưởng tôi đang mê nên cố lắng tai…Giọng ca nỉ non, rõ ràng từng tiếng: “… thì dù xa xôi tôi vẫn là của người”. Tôi bậc cười thì thầm: “Cám ơn em, cho dù có em ở đây, anh cũng chẳng ăn được cái giải gì!”.
Nghe tiếng tôi cười, hạ sĩ Thành quay sang:
– Phòng vô tuyến chơi điệu lắm, thiếu úy. Những lúc sóng to, biển động, họ mở nhạc yêu cầu nghe hết xảy!
Tôi gật đầu tán đồng nhưng không dám lên tiếng. Tôi biết, nếu há miệng, tôi sẽ không nói mà là mửa tiếp. Tôi nín hơi cố ngăn một cơn nôn. Giọng ca nức nở, ngọt ngào như ru tôi vào cõi mộng. “Nhiều khi ưu tư, tựa song cửa nhỏ, nhìn ngoài mưa tuôn sao nghe lạnh vào hồn”... Tôi thấy lạnh ở thân nhưng hồn thì tan theo tiếng hát.
Tiếng còi báo đổi phiên vang lên đúng mười lăm phút trước 3 giờ. Tôi nhớ tới lời bốc đồng với hạm trưởng là ở luôn trên đài chỉ huy cho tới nhận ca 8 giờ tối mà hối hận. Tôi cảm thấy quá mệt mỏi và thèm chiếc giường êm ái của tôi.
Tiếng vọng từ đài chỉ huy:
– Mời thiếu úy Bằng lên gặp hạm phó.
Tôi nói lớn đáp nhận rồi dứt khoát bước nhanh về cánh cửa sắt. Tôi xoay cần chốt, vừa đẩy mạnh vừa kềm giữ. Cánh cửa bật tung. Tôi bước nhanh ra. Cửa tự động ập lại. Tôi xoay cần chốt khóa chặt. Gió rít từng hồi mang theo những giọt nước li ti bắn túa vào người. Tôi lại lạng quạng từng bước lên các bậc thang. Con tàu chao nghiêng, trườn tới rồi chao nghiêng, chừng như đang biểu diễn một điệu luân vũ giữa muôn ngàn hoa sóng. Chiếc mũ lưỡi trai bất ngờ rời khỏi đầu. Tôi ngoái lui. Chiếc mũ bay vụt cao, la đà rồi lại vụt cao và mất hút. Cơn ớn lạnh len dài theo xương sống. Tôi nhớ ra là đã quên cái áo mưa trong phòng lái. Tôi muốn trở lui nhưng nghĩ đến phút giây phải mở cánh cửa chết người nên đành chịu ướt, chịu lạnh bước tiếp. Hạm phó nhìn tôi cười:
– Cho cụ chạy xuống chạy lên thử xem sức cụ tới đâu! Quả là chì! Thôi, xuống nghỉ ngơi đi. Sóng gió thế này mà đòi đi ca liên tiếp chín tiếng là …thăm thẳm chiều trôi đấy!
Mệt quá, tôi không cười nỗi với lời đùa của ông. Và cũng tự lờ đi lời vừa cam kết ngon lành với hạm trưởng. Tôi bước sang bàn hải đồ mở sổ Tiêu lệnh ông ghi trước đây “Hải đạo 84. Độ dạt – 6. Hướng thật 78. Bớt gió, lái hướng 80. Áp dụng điều luật hải hành trong sương mù. Tốc độ phỏng định 10 gút. Quan sát bằng ống dòm và radar thật cẩn thận. Mọi bất thường gọi ngay hạm trưởng”. Tôi đọc lần thứ hai rồi chào từ biệt hạm phó và Tâm vừa lên nhận phiên. Có lẽ phải mất đến mười phút tôi mới lần dò tới được chiếc giường êm ấm của tôi bên dưới lòng tàu. Nhưng chỉ cần vài phút là tôi đã chìm vào giấc ngủ mê man, bỏ luôn bữa cơm tối…
Tiếng còi rền rĩ báo đổi phiên vang vang mơ hồ. Tôi muốn trở mình ngồi dậy nhưng lại chìm vào sâu vào giấc ngủ. Rồi tôi cảm giác được vai tôi bị lay động nhiều lần. Rồi âm giọng quen thuộc của trung úy Hào lọt vào tai tôi:
– Hê! Hê! Dậy đi ca chứ!
Tôi ngồi bật dậy, đong đưa chân ngoài giường cố định thần. Màn tối huyền ảo bao trùm khu buồng ngủ sĩ quan phát từ ánh đèn màu đỏ trên các vách. Sóng gió dường như tăng thêm cường độ… tiện xoáy bào. Chờ con tàu trở về thế thăng bằng, tôi nhảy phóc xuống. Giường tôi ở tầng ba, bên trên giường Tâm và Hào. Giữa cơn lắc lư thế này mà leo lên được vào giường là cả một công trình. Phía đối diện là hai giường treo của Trung úy Hải và Được. Tiếp liền là buồng ngủ riêng biệt của hạm phó có phần nhỏ hơn buồng của hạm trưởng. Cấp bậc thấp thường thiệt thòi nhiều thứ kể cả cái chỗ ngủ. Hạ sĩ quan thì giường treo bằng vải bố có lót nệm. Lính thì chỉ là giường bố và được đặt chồng chất nhiều tầng…
Tôi mang giày, nhét áo vào trong quần, ôm chiếc áo mưa rồi quờ quạng lên nhà tắm. Vài phút sau tôi lần mò đến cánh cửa sắt, thận trọng quay chốt, thận trọng đẩy mạnh và bước nhanh ra sân giám lộ. Đêm mịt mùng không một ánh đèn, chẳng như khi hải hành cận duyên trong thời tiết tốt. Mưa tạt khá mạnh.Gió vẫn rít từng cơn. Tôi khoác áo mưa, bước lên từng bậc thang. Trung úy Hào trưởng phiên đã có mặt ở đài chỉ huy nói vói xuống khi tôi vừa ngang phòng lái. Anh giao tôi trách nhiệm phòng lái, quan sát radar và kiểm soát nhân viên đương phiên. Tôi cỡi chiếc áo mưa mắc vào vách. Dưới chân tôi và quanh sàn một số nhân viên nằm la liệt. Một người đang độc quyền ôm cái sô thường được gọi mỉa mai là cái ao nuôi cá. Một phiên hải hành thường là bốn tiếng. Tất cả nhân viên được chia thành ba phiên. Trong mỗi phiên, tùy nghề nghiệp, tùy vị trí phiên trực và tùy số nhân viên hiện diện, mỗi nhân viên thường chu toàn phần nhiệm của mình từ một tiếng đến hết phiên. Phòng lái mỗi phiên có bốn hoặc năm người. Trừ anh thám xuất lãnh trọn suốt phiên quan sát radar, còn lại chia nhau lần lượt quay tay lái hoặc đẩy cần tốc độ. Lên phiên là không được lơ là. Con tàu không thể thắng như thắng… xe đạp. Muốn thắng, con tàu phải được điều khiển cho ngưng máy rồi lùi máy. Lệnh điều khiển truyền từ đài chỉ huy. Tất cả tùy thuộc vào kinh nghiệm và phản ứng của từng nhân viên. Đó chính là lý do hạm trưởng cần người thạo nghề. Tôi hỏi anh cầm lái:
– Ai đánh cần tốc độ?
– Thưa, thủy thủ Hòa.
– Thủy thủ Hòa đâu rồi?
Anh vận chuyển chỉ tay xuống sàn. Tôi đưa mũi giày hít nhẹ vào lưng người nằm sát chân tôi. Anh ngóc đầu rồi gục xuống. Tôi hét:
– Xuống hầm lái tay mà nằm!
Ba tiếng “hầm lái tay” quả là có tác dụng mạnh mẻ. Biển êm mà bị phạt xuống đó cũng đủ thấy đời khốn nạn huống hồ vớ phải cái tình trạng biển rất … khốn nạn lúc này. Anh lồm cồm quỳ một chân, chống tay lên đầu gối, gắng gượng đứng lên. Đúng lúc đó con tàu đánh sầm vào ngọn sóng lớn và anh lại từ từ rụng xuống. Tôi cũng muốn rụng theo nhưng cố lấy sức bước gần nâng cánh tay anh. Anh vẫn nằm yên, cố tình không hay biết hoặc quả tình đã mất hết tri giác. Tự dưng lòng tôi dâng lên mối cảm thương. Nếu tôi không là sĩ quan, không ôm cái mộng làm… ông Trời trên chiến hạm, chắc chắn là tôi cũng sụm như anh. Thôi thì radar vẫn còn chạy tốt và không đối vật hiển thị, một người vừa ôm tay lái vừa họa hoằn đánh cần tốc độ thì kể cũng đã quá đủ. Tôi ngầm lơ cho anh yên nghỉ! Phần tôi cũng có cái ao ước lúc này phải chi mình được… an giấc nghìn thu!
Tôi nhắm mắt, nín hơi, làm như mình đã chết và thân không còn dính dáng gì đến sóng gió loạn cuồng . Nhưng tôi vẫn tỉnh, vẫn thấy khắp người đừ mỏi và chân cứ muốn quỵ xuống. Nếu chân quỵ xuống thì tôi có khác gì anh đánh cần tốc độ? Bất chợt cái hình ảnh quỳ một chân, tay chống lên đầu gối mới rồi của anh gợi tôi liên tưởng đến buổi lễ ra trường cách đây gần bốn tháng. Buổi sáng hôm đó, tám mươi sinh viên sĩ quan của khóa tôi phải qua một phần nghi lễ trong các nghi lễ mãn khóa nhớ đời. Chúng tôi đứng thành hàng ở thế nghiêm trước sân cờ. Người điều khiển chương trình hô to:
– Sinh viên. Quỳ xuống!
Chúng tôi đồng loạt đưa chân trái tới một bước, đồng loạt quỵ đầu gối mặt xuống đất và đồng loạt đưa tay mặt lên dở chiếc mũ cát kết đặt trên đầu gối trái.
Sau khi nghe huấn lệnh và lời chúc mừng của vị Tổng tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tiếng hô lại vang lên mạnh mẽ:
– Sĩ quan. Đứng lên!
Chúng tôi nhất loạt đứng lên nhưng thay vì đội mũ và đứng nghiêm, chúng tôi dùng hết sức mình ném tung chiếc cát két. Cả đàn bướm trắng vút túa lên không trung. Không một ai quan tâm đến chúng, tất cả tìm nhau, ôm nhau mừng rơi nước mắt…
Tôi đã “đứng lên” thì giờ đây không còn lý do để “quỳ”, nhất là không thể để quỵ. Tôi bước đứng gần cần đánh tốc độ, một tay nắm chặt thanh sắt tròn gắn vòng quanh vách phòng lái. Tôi như muốn ngợp thở với cái bầu không khí hâm hấp, tanh tưởi.
Tôi hít vào, thở ra thật nhiều lần và lại nhắm mắt định thần. Tôi như thấy còn đang hưởng những ngày thật hạnh phúc ở quần đảo Hải Tặc (les Pirates) gần hai tháng trước. Đó là chuyến thứ ba của bảy chuyến công tác đầu đời thủy thủ, gồm cả chuyến này. Quần đảo nằm cách Rạch Giá chưa đầy 20 cây số, cách Hà Tiên 28và Phú quốc 40. Hải tặc là tên gọi từ cuối thế kỷ 17 vì từ thời đó quần đảo gồm 16 hòn đảo là sào huyệt của bọn hải tặc đánh cướp thương thuyền. Thật ra chỉ có sáu đảo là có thể ở được. Đến thời điểm tàu tôi công tác vùng này vào cuối mùa Xuân năm sáu ba, một trung đội biệt động quân được cho đổ bộ lên sáu đảo này không chỉ để tiêu diệt bọn cướp biển mà còn để truy lùng lũ cộng nô. Tàu tôi, trên danh nghĩa là một đơn vị tham dự, nhưng thật ra chỉ có mỗi nhiệm vụ là chở trung đội từ đảo này sang đảo khác, tựa như đưa du khách thưởng ngoạn kỳ quan giữa biển trời nên thơ. Quả là có ba đảo trông rất nên thơ và có hình dáng thật độc đáo nhìn xa từ chiến hạm. Với đảo lớn, tôi có trọn hai ngày thưởng thức những đường nét thiên nhiên lạ mắt và tận hưởng sự thanh tịnh đến lạ thường. Với đảo nhỏ cũng thảnh thơi trọn ngày câu cá và thỏa thuê qua vị ngọt của nước dừa. Suốt thời gian đó dáng vóc của Hiền, của Tuyết đôi khi hiện ra mờ nhạt rồi cũng bị tôi thẳng thừng xua đuổi…
– Thiếu úy! Có écho hướng 10 giờ, cách 22 hải lý. Écho di chuyển nhanh.
Tôi bước vội đến chiếc radar. Trên cái màn ảnh đầy chấm trắng như hạt cát phản ánh từ cái mặt biển đầy ngọn sóng đổ vỡ, một vệt trắng lớn đang di chuyển hướng về chiến hạm. Tôi bước trở lui báo cáo lên đài chỉ huy:
– Đài chỉ huy! Có écho hướng 10 giờ cách 20 hải lý. Có thể là máy bay.
– Theo dõi và báo cáo liên tục.
Tôi bảo anh thám xuất thi hành lệnh và chuyển tin lên đài chỉ huy khi hướng và khoảng cách đối vật thay đổi. Anh đánh cần tốc độ tự động đứng vào vị trí của mình. Tôi nghe tiếng xì xào vọng xuống từ đài chỉ huy. Khi báo cáo écho biến mất trên màn ảnh, tôi thấy ánh đèn pha sáng rực chiếu thẳng lên tàu. Tôi mơ hồ nghe tiếng động cơ hòa vào tiếng máy tàu rồi tan mất.
– Thiếu úy Bằng lên gặp hạm trưởng.
Vừa bước khỏi phòng lái, tôi vừa lo thầm. Không biết mình báo cáo sơ xuất gì đây. Tôi lại quên áo mưa nên bị sóng tạt lấm tấm ướt bộ ka ki hòa điệu với những giọt mồ hôi. Gió rất mạnh nhưng không đủ làm khô…
Lên đến bậc thang chót, tôi đưa tay chào:
– Thiếu úy Bằng trình diện hạm trưởng.
Ông đợi tôi bước hẳn vào đài chỉ huy mới lên tiếng:
– Vừa có một máy bay của ta bay không tuần hỏi mật hiệu. Khi nào anh trở thành trưởng phiên, nhớ sử dụng mật hiệu có ghi trong đặc lệnh truyền tin giữ trong ngăn kéo của bàn hải đồ. Trường hợp anh là trưởng phiên tối nay, trước tiên anh phải làm gì?
– Thưa nhận chuông gọi hạm trưởng.
– Trong khi chờ đợi tôi lên, anh làm gì?
– Thưa, cho tắt hết đèn.
– Rồi làm gì nữa?
Tôi cố nghĩ nhưng đầu óc trống rỗng …
Trường hợp gặp máy bay địch thì anh làm sao?
– Thưa tôi cho nhận còi nhiệm sở tác chiến.
– Làm sao anh biết máy bay địch?
Tôi lại im lặng, lúng túng. Hạm trưởng hỏi tiếp:
– Anh có học cách nhận dạng phi cơ của ta, của bạn và của địch?
– Thưa hạm trưởng chưa.
– Thế thì anh phải học từ ngày mai. Hạm phó nhớ lấy hồ sơ nhận dạng phi cơ giao cho thiếu úy Bằng.
Tôi nhìn cái dáng lù lù đứng sát thành đài được nói đến là hạm phó. Tiếng hạm trưởng lại cất lên dành cho tôi:
– Ban đêm, khi thấy đối vật di chuyển nhanh bằng radar, anh cho gọi tôi và cho darken ship là đúng rồi. Còn ban ngày, nếu anh chưa biết nhận dạng phi cơ thì cứ coi như phi cơ nào cũng là của địch. Anh gọi ngay tôi và cho chạy chữ chi. Tàu nào của chúng ta, trên nóc đài chỉ huy đều có sơn lá cờ vàng ba sọc đỏ to tổ bố. Nếu phi cơ là của phe ta, nó thấy lá cờ sẽ bay thẳng. Còn nếu là phi cơ địch có thể nó sẽ tấn công. Trường hợp bị bắn, lập tức nhận còi nhiệm sở tác chiến. Nhận còi liên tục để thúc hối nhân viên vào ổ súng cho nhanh. Lên hai máy tiến full và đổi hướng liên tục… Anh nhận rõ chưa?
– Thưa hạm trưởng rõ.
– Thôi anh trở về vị trí cũ.
Tôi chào ông và trở xuống phòng lái. Ánh sáng khi mờ khi lóe phát ra tự mặt kính radar vừa đủ để nhận dạng. Anh quay tay lái và anh đánh cần tốc độ đã thay phiên. Tôi bước qua đứng cạnh chiếc radar, hai tay dang thẳng nắm thanh sắt tròn, áp lưng vào vách.Và tôi nhắm mắt, thở dài. Sau hai năm vùi đầu, mệt xác ở quân trường, tưởng tốt nghiệp được thảnh thơi,nào ngờ còn … mệt hơn. Vừa công tác liên tục, vừa học hỏi không dứt. Vừa được chấm đậu nội dung Huần thị Điều hành Chiến hạm, vừa bàn giao xong chức Ẩm thực, thì xúc tiến thảo bản tường trình tìm hiểu cấu trúc chiến hạm. Vừa xong bản này thì lần lượt được hạm trưởng đưa thêm các quyển Hải quy và Quy luật tác chiến trên biển, trong sông. Từ ngày mai lại thêm chuyện nhận dạng phi cơ! Xem chừng không dễ! Chiếc nào chẳng có mũi, có thân, có cánh, có đuôi? Vậy khác nhau chỗ nào hả trời!
Rồi tôi bỗng lang bang nhớ đến tai nạn phi cơ giết chết ba má Tuyết. Số mệnh con người sao quá vô thường, mong manh. Là đứa con duy nhất, Tuyết đang hưởng trọn tình thương của cha mẹ, đang sống trong giàu sang ấm êm thì đột nhiên mất tất cả, thành kẻ long đong giữa chợ đời. Đúng là hồng nhan bạc mệnh. Tuyết đã ngỏ lời muốn làm vợ tôi hoặc Tâm, ai cũng được, vậy mà cả hai chúng tôi đều lơ là. Chúng tôi mê cái sắc đẹp của Tuyết nhưng cả hai đôi chân đều còn nặng bước hải hồ. Thêm vào đó tôi chưa có một đồng xu dành dụm…
Cái màn radar đột nhiên mất hình cùng lúc mọi loại đèn phụt tắt. Phòng lái chỉ còn chút phát quang lờ mờ từ bóng điện đỏ dự phòng tù mù trên vách đối diện. Anh vận chuyển la lớn:
– Báo cáo tay lái mất điện.
Anh thám xuất cũng hô to:
– Báo cáo radar mất điện.
Tiếng của trung úy Hào từ đài chỉ huy vọng xuống:
– Hai máy tiến ba. Trừ thám xuất và nhân viên đang lái, tất cả xuống ngay hầm lái tay. Báo cáo khi lái tay sẵn sàng.
Tôi dựng dậy các nhân viên đang nằm và đôn đốc họ thi hành lệnh trưởng phiên. Con tàu giảm độ nghiêng ngửa nhưng tăng cơn chồm lên hụp xuống. Tôi lại nghe lệnh truyền sắc lạnh của trung úy Hào:
– Máy tả tiến hai.
Tôi nói lớn vào miệng loa và vói tay kéo cần tốc độ phía trái lui thêm một nấc:
– Đáp nhận, tả tiến hai, hữu tiến ba.
Tiếng leng keng báo thi hành của hầm máy. Tôi lại nói vào miệng loa dẫn lên đài chỉ huy:
– Báo cáo tả tiến hai, hữu tiến ba.
– Tả tiến một, hữu tiến hai.
Tiếng rầm rừ của hai máy chánh giảm xuống. Con tàu như sựng lại. Vẫn tiếng của trung úy Hào:
– Thiếu úy Bằng lên đài chỉ huy. Tôi xuống hầm lái tay. Thi hành lệnh tôi qua điện thoại.
Khi tôi bước lên các bậc thang thì trung úy Hào đang vội bước xuống. Tôi ép người sang một bên nhường lối cho anh. Khi lên đến đài chỉ huy, tôi nghe tiếng hạm trưởng từ phía đầu cầu thang. Tôi quay lui đưa tay chào ông. Ông bảo:
– Không có radar, các anh quan sát cho kỹ!
– Thưa hạm trưởng, nhận rõ.
Tôi đeo chiếc ống dòm dành riêng cho tôi vào cổ rồi bước sang đứng sát thành đài bên trái sau khi thấy hạm trưởng bước sang thành đài bên mặt. Tôi nâng ống dòm lên mắt. Trước mặt là vùng tối đen ngòm, chốc chốc lại ánh lên màu đỏ của đèn hải hành tả hạm qua ngọn sóng tạt vào tàu. Phải quan sát chăm chú mới thấy màu xanh của đèn hữu hạm loang loáng trong màn hơi nước. Các ngọn sóng cao nghệu liên tục tạt mạnh vào mạn tả tạo thành những cơn mưa xối xả. Bầu khí quyển như thêm hâm hấp và ẩm ướt. Con tàu đang nghiêng về hữu mạn bị một bức tường sóng ập vào làm nghiêng thêm, thêm nữa. Đài chỉ huy không còn cách mặt biển bao xa. Trời ơi! Một đợt sóng lớn nữa là con tàu khó tránh khỏi lật úp. Tôi nghe ớn lạnh khắp người. Hình như cái mong manh nhất của cuộc sống đang thể hiện rõ rệt lên khối sắt đang chênh vênh giữa biển bạo tàn.
Một đợt sóng khác lại đánh sầm vào mạn tả. Tôi buông ống dòm, cả hai tay bám chặt thanh an toàn, ngực và bụng dính vào thành đài đang nằm gần ngang mặt nước xoáy cuồng, hung tợn. Tôi nín thở chờ đợi, van vái con tàu đừng chìm… Và trong lúc tuyệt vọng nhất, đài chỉ huy bất ngờ bật ngược lại. Con tàu không còn trồi lên hụp xuống. Nó chỉ còn lăn qua, lăn lại, thường là hết về bên phải. Trời ơi, tôi còn phải chịu cái sóng ngang chết người này đến bao giờ! Như để giúp cơn sợ hãi của tôi tăng đến mức tối đa, nhiều tiếng ụa mửa, rên la của binh lính đại đội địa phương quân từ lòng tàu vọng đến đài chỉ huy. Tiếng ụa mửa rên la này trước đây chỉ văng vẳng nhưng lúc này thì át hẳn hợp âm lạ thường của tiếng gió rít, của tiếng sóng dập, của tiếng hai máy tàu rầm rập tốc độ đường trường.
– Trời ơi! Trời! Trời ơi! Sao mà khốn khổ thế này hả trời! Cho tôi chết còn… sướng hơn.
Tôi đồng ý với lời rên rỉ đó. Lúc này, đúng là chết còn sướng hơn! Hay tệ nhất cũng được nằm yên trên nệm ấm!
Tiếng của điện thoại viên:
– Báo cáo hạm trưởng hầm lái tay sẵn sàng.
Hạm trưởng nhanh nhẹn bước sang, chiếu đèn pin vào chiếc la bàn từ. Tiếng của ông át cả tiếng sóng gió:
– Máy tả tiến hai. Tay lái hết bên trái.
Anh hạ sĩ quan phòng tai đứng gần miệng loa lập lại lệnh hạm trưởng xuống phòng lái:
– Máy tả tiến hai.
Điện thoại viên nói với hầm lái tay qua đường dây nội bộ:
– Tay lái hết bên trái.
Tôi nghe các tiếng báo cáo thi hành. Tôi nghe các tiếng báo hiệu đã máy tăng. Hạm trưởng vẫn đứng ôm chiếc la bàn từ, chốc chốc lại rọi sáng. Con tàu bắt đầu cỡi lên các đợt sóng. Lệnh hạm trưởng:
– Hai máy tiến ba. Tay lái mười lăm bên trái.
Lại tiếng chuyển lệnh, tiếng đáp nhận, tiếng leng keng. Hạm trưởng bảo hạm phó thay ông giữ hướng 75 của la bàn từ. Ông bước sang ngồi thỏm vào ghế, bật lữa châm thuốc. Tôi tự hứa là ba tháng nữa tôi sẽ hút khi biển động như ông.
Tôi chợt nghe giọng reo mừng rỡ của anh hạ sĩ quan:
– Báo cáo đã có điện.
Tôi quay lui. Mặt kính chiếc la bàn điện đã bật sáng. Lại tiếng của hạm trưởng:
– Hạm phó cho lái hướng cũ, tốc độ cũ.
Tiếng vọng từ phòng lái:
– Tay lái đã có điện.
– Radar hình ảnh tốt.
Hạm trưởng cho lệnh giải tán hầm lái tay rồi rời đài chỉ huy. Hạm phó nói với trung sĩ Tất phòng tai:
– Hai máy tiến bốn. Lái đường 78.
Con tàu tăng tốc độ và dần dần trở lại tình trạng trước đây là vừa lăn qua lật lại,vừa hụp vừa chồm. Tôi lại nhờn nhợn nhiều lần nhưng không mửa. Còn gì đâu mà mửa. Cả mật xanh lẫn mật vàng đã tuôn hết ra từ khuya. Dù sao, tôi cũng mừng là đã làm quen được với sự đong đưa lay lắt.
Hạm trưởng giao quyền chỉ huy cho trung úy Hào khi anh từ hầm lái tay mò lên đài chỉ huy. Ông khen ngợi trung úy Hào đã báo cáo ông kịp thời tình trạng mất điện, đã cho giảm máy đúng cách đối với sóng gió chếch mũi tả hạm. Nhưng ông thêm rằng, lần sau, phải theo dõi la bàn từ, tùy độ lệch mà điều khiển sai biệt máy đúng mức để giữ đúng đường. Nếu để tàu bị sóng gió đẩy ngang như vừa rồi, rất nguy hiểm. May là cơn bão đã qua, sóng gió đã giảm…
Tôi thầm cám ơn Trời Phật, thầm cám ơn hạm trưởng lên đúng lúc. Hạm trưởng vừa xuống khuất, Hào phóng ngay vào ghế của ông. Anh nhăn nhó:
– Tao giao ca cho mày. Xuống hầm lái tay có 10 phút mà muốn bá thở.
Tôi gật đầu và đảo mắt một vòng. Các nhân viên câm lặng hoàn toàn, trái hẳn lúc gió lặng biển êm. Ý thức trách nhiệm bắt họ đứng đó mà thật ra cũng như tôi, họ chỉ muốn nằm bẹp… Lúc này mà được nằm bẹp là “quốc sách”! Tôi không thể nằm mà đứng cũng không còn sức. Xương cốt tôi đã rã rời. Tôi bật ngang mảnh nệm tròn nhỏ gắn chặt vào thành đài và xê dịch cái bàn tọa lên đó. Đây là chiếc ghế dành cho sĩ quan đương phiên khi trời trong biển lặng, không có dấu hiệu chiến hạm thiếu an toàn. Nhưng đêm nay, với cái radar chạy tốt nhìn xuyên cả khối sương mù, với cái mặt đại dương là những ngọn núi di chuyển tiếp liền các thung lủng tử thần, chắc chắn là không có tàu đánh cá nào dám ra khơi. Vậy thì có khác chi đang hải hành giữa ban ngày trời trong bể lặng? Bất chợt nhớ ra một điều, tôi lạng quạng bước lại bàn hải đồ bật ngọn đèn nhỏ vừa đủ sáng. Tôi ngó đồng hồ. Gần mười một giờ khuya. Tôi lấy compa đo đường kính 10 hải lý rồi ghim đầu nhọn vào vị trí phỏng định lúc 10 giờ và quay đầu có viết chì gạch ngang đường hải trình. Từ vị trí phỏng định mới lúc 11 giờ đến hòn đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa dài 90 hải lý, tôi thấy đáy biển suốt chiều rộng mỗi bên hải trình hai mươi lăm dặm đều có độ sâu rất đáng kể và gần như bằng nhau. Như vậy không còn gì mà không an toàn. Tôi mạnh dạn trở lại ghế ngồi, chân đạp chắc vào một chiếc loa, mắt nhìn mông lung…
Đầu tôi như có cái gì đè nặng trĩu. Tôi nhắm mắt lại, hai tay xoa thái dương rồi mở mắt tìm trong vùng mù sương mịt mùng một hình bóng thân yêu. Tuyết hiện ra. Rồi Hiền cũng hiện ra. Ai đẹp hơn ai đây? Hiền yêu kiều và Tuyết sắc xảo. Tôi yêu ai đây? Hiền có Thanh và Tuyết có Tâm. Hiền hôn Thanh và Tuyết hôn Tâm. Tôi thở dài chán nản!
Một thủy thủ trách nhiệm quan sát đứng cạnh tôi buông xuôi ống dòm, gục mặt xuống. Tôi nghe tiếng ọc ọc từ miệng hắn. Âm thanh rên rỉ vì quá gần nên nghe càng rền rĩ, rùng rợn hơn tiếng kêu trời của những người lính địa phương. Theo đà nghiêng của con tàu, hắn nghiêng theo rồi ngã sấp. Trung sĩ Tất thản nhiên vạch áo, quẹt lửa rèn rẹt cố châm điếu thuốc. Ánh lửa giúp tôi thấy trung úy Hào đang nhìn anh mỉm cười. Mùi thuốc làm tôi thấy thèm nhưng biết rằng chưa phải lúc…
Tiếng vọng từ phòng lái:
– Đài chỉ huy! Có écho hướng 2 giờ, khoảng cách 5 hải lý.
Tôi giật mình dõi mắt về hướng báo cáo. Bầu trời vẫn mịt mùng tối đen. Tôi đứng lên, nâng cái ống dòm chầm chậm đưa qua đưa lại. Vẫn chả thấy một dấu hiệu gì. Năm hải lý là quá gần, không thể không thấy. Tiếng vọng lại vang lên, kèm theo tiếng vỗ rầm rầm vào ông loa:
– Đài chỉ huy! Đài chỉ huy!
Tôi định đáp thì đã nghe trung úy Hào lên tiếng:
– Đài chỉ huy nghe. Có việc gì thế?
– Báo cáo écho hướng 1 giờ, cách 5 hải lý.
Hảo quát to:
– Sao để gần thế này mới chịu báo cáo? Bộ ngủ hả?
– Thưa radar mới khám phá.
Hào hừ một tiếng, rời ghế hạm trưởng, đứng sát thành đài bên phải vửa quan sát vừa nói lớn:
– Báo cáo liên tục hướng và khoảng cách.
Trung sĩ Tất nhanh nhẩu nhắc lại vào miệng loa. Một lúc sau, có tiếng đáp:
– Vẫn hướng 1 giờ, 4 hải lý.
Tôi phóng qua đứng cạnh trung úy Hào, chống hai khuỷu tay lên mặt thành để giữ vững ống dòm. Mặt biển đen thẩm trở thành xam xám rồi mất hút. Tôi quét thật chậm ống dòm từ mũi tàu qua hướng ba giờ và chầm chậm quét trở lại. Tất cả 2 quan sát viên đều làm như tôi.
– Hướng 2 giờ, 3 hải lý.
Hào và tôi càng chú tâm quan sát hướng 2 giờ. Tấm màn đùng đục vẫn che kín như bưng. Hào ra lệnh:
– Trung sĩ Tất. Nhận chuông phòng hạm trưởng.
– Hướng 2 giờ 2 hải lý.
Hào la to:
– Kéo ba tiếng còi dài.
Tiếng còi lay động đêm khuya. Có tiếng la từ chuồng cu đèn giám lộ:
– Đã thấy ánh đèn hướng 2 giờ.
Hào quát:
– Đèn màu gì?
– Đèn chớp màu trắng!
– Bố khỉ. Nó đánh đèn hiệu. Giám lộ bắt xem nó nói gì.
Bây giờ bằng mắt thường tôi đã nhận được ánh chớp ngắn dài. Hào hỏi anh giám lộ:
– Nó nói gì thế?
– Dạ nó đánh bằng tiếng Mỹ.
Hào bật cười thành tiếng:
– Đồng ý là tiếng Mỹ nhưng tiếng Mỹ nói gì?
– Thưa nhanh quá bắt không kịp.
Tôi thông cảm anh giám lộ mới ra nghề lại gặp cái thời tiết thổ tả, lên tiếng:
– Anh bảo nó slow down please.
Anh giám lộ chớp đèn. Anh đánh nhanh hơn tôi tưởng. Sóng gió chỉ làm anh hốt hoảng khi nhận. Đèn từ phía ngang hông đánh trả. Tôi đã đọc được nhưng lặng thinh nhường anh giám lộ báo cáo:
– Thưa trung úy, nó hỏi which ship?
Tiếng hạm trưởng từ phía sau:
– Đánh hỏi lại nó which ship.
Anh giám lộ chưa kịp thi hành đã gục mặt ụa mửa liên hồi. Ngay khi dứt, anh lấy tay lau mặt và dùng tay kia chuyển tín hiệu. Đèn đối tác đáp trả. Tôi nhận ra chữ USN ship (US Navy ship) vừa lúc hạm trưởng lên tiếng:
– Đánh trả nó VNN ship. (tàu Hải quân Việt Nam).
– Đài chỉ huy! Hướng 3 giờ. 2 hải lý.
Lại đèn từ tàu Hải quân Mỹ. Anh giám lộ nói ngay khi tin hiệu dứt chuyển:
– Thưa hạm trưởng nó nói where are you heading for.
– Bảo nó Hoàng Sa. À không, Paracel. Papa- Alfa- Romeo- Alfa- Cierra- Echo- Lima.
Anh giám lộ lại vật lộn với sóng gió và đèn hiệu. Đèn chớp thật rõ nhưng vẫn chưa thấy được hình dạng con tàu. Thậm chí cũng không nhìn thấy hai đèn hải hành xanh đỏ.
– Đài chỉ huy! Hướng 4 giờ. Một hải lý rưởi.
– Thưa hạm trưởng nó nói best wishes to the captain and sailors.
– Trả lời nó thank you, same to you all and good night.
– Đài chỉ huy! Hướng 5 giờ, 3 hải lý.
Anh giám lộ thận trọng rời chuồng cu leo xuống đài chỉ huy. Giọng hạm trưởng thân mật:
– Khá lắm giám lộ Bảo. Cám ơn anh.
Hào rọi đèn pin vào đồng hồ. Anh bảo trung sĩ Tất:
– Anh nhận còi đổi ca.
Tiếng còi quen thuộc vang lên nghe thật dễ thương! Tôi thở phào nhẹ nhõm. Khi Tâm vừa xuất hiện nhận ca, tôi vỗ nhẹ vào vai anh rồi lặng lẽ len lén xuống phòng…
Tôi chợt thức giấc vì cảm nhận một sự êm ả bất thường. Chiến hạm không còn đong đưa, lay lắt, không còn rên rỉ vì những cú đập tàn bạo của các đợt sóng ngầm.Tôi nghe máy tàu vẫn còn chạy ở vận tốc cao nhưng dường như đang hải hành trong một vùng vịnh không sóng gió. Tôi nhìn đồng hồ: 7giờ sáng. Khuya đêm qua, khi rời đài chỉ huy, biển còn động dữ dội. Không lẽ chỉ qua một giấc nam kha mà lại êm ru bà rù? Thì cũng dễ hiểu. Giấc nam kha kéo dài suốt bảy tiếng, đủ để tàu vượt qua một đoạn đường dài, dứt bỏ vùng bão tố.
Bụng tôi chợt cồn cào, ran ran. Tôi nhớ ra là tôi đã bỏ bữa ăn tối qua, đã mửa liên tục. Tôi cũng nhớ ra nhiệm vụ chính của tôi trên chiến hạm là kiểm soát việc ăn uống của thủy thủ đoàn. Bây giờ là giờ điểm tâm. Tôi ngồi bật dậy, cảm nhận cơn mệt mỏi rã rời… Tôi rửa mặt thật chậm, tận hưởng cơn sảng khoái từ độ mát của nước. Tôi mặc bộ quân phục mới rồi bước lên nhà bếp. Hai nhân viên hỏa đầu vụ đưa tay chào. Tôi chào đáp và hỏi:
– Trung sĩ Quân đâu, anh Lâm?
– Thưa Thiếu úy, trung sĩ đang kiểm soát phòng ăn đoàn viên. Thiếu úy cần, tôi đi gọi?
Tôi nhìn nhà bếp gọn gàng, sạch sẽ:
– Thôi khỏi. Còn thức ăn sáng cho sĩ quan?
– Tôi dọn thêm món trứng chiên này là xong. Thiếu úy đã bỏ cơm chiều hôm qua…
Tôi cười gượng:
– Sáng nay chắc cũng thế.
Giọng Lâm vui vẻ:
– Biển đã yên. Ăn được rồi, thiếu úy.
Tôi lắc đầu:
– Vấn đề là ăn không vô. Thức ăn chưa qua khỏi cổ là vọt ra liền! Hy vọng bữa trưa, may ra.
– Trưa không chừng mình có vít ăn. Đảo Hoàng Sa có nhiều vít, thịt ngon hơn thịt gà.
– Vít là con gì vậy?
– Một loại rùa nhưng lớn hơn con ba ba nhiều.
Tôi cười, lắc đầu:
– Rùa rắn là không có tôi.
Tôi bước qua khung cửa vào lòng tàu. Cả đại đội địa phương quân còn say sóng nằm la liệt từ mũi tới lái. Họ như ngủ say sưa, mà thật ra họ còn mê thiếp, như tôi đêm qua. Nhiệm vụ buộc tôi phải tỉnh lại.Không bao lâu nữa họ sẽ hạnh phúc lên bờ. Còn tôi, trọn đời khó thoát khỏi biển.
Tôi trở lại phòng ăn sĩ quan, nhắp thử ly cà phê sửa. Đây là ly cà phê hằng ngày mà sao hôm nay thơm ngạt ngào, vị ngọt ngào. Tôi ăn ngon lành một miếng trứng, một mảnh bánh mì. Đúng như lời anh hỏa đầu vụ, tôi đã ăn được. Và tôi ngốn ngáo hết phần ăn sáng của tôi.
Tiếng còi đổi phiên vang lên đúng lúc tôi đặt chân lên đài chỉ huy. Tôi chào trung úy Được. Anh trước tôi hai khóa và vừa được thăng Trung úy. Anh đưa tay, thân mật:
– Biết chú mầy thường lên sớm nên tôi đang mong đây. Lái dùm tôi cho đến khi trung úy Hào lên nhận phiên. Tôi có việc xuống sớm một tý.
Không cần biết tôi bằng lòng hay không, ông tỉnh bơ rời vị trí. Tôi tưởng ông đùa vì ông thừa biết tôi chưa đủ khả năng hải hành. Theo hạm trưởng, tôi phải cần đến ba tháng đi biển nữa mới được xét định tư cách trưởng phiên. Tôi lo lắng nhìn quanh. Không bóng dáng một chiếc tàu thuyền nào. Chỉ bao la một thảm xanh lao xao, lấp lánh. Muôn ngàn tia sáng lung linh chạy dài đến tận mặt trời chưa lên cao.Gió nhẹ, mát rười rượi. Tôi hít một hơi dài, thấy an tâm và hãnh diện. Hẳn trung úy Được đã thấy tôi tận lực học hỏi như thế nào suốt thời gian qua.
Nhớ đến việc đầu tiên phải làm khi nhận trưởng phiên hải hành là xác định vị trí chiến hạm, tôi bước sang bàn hải đồ nhìn vào hải trình. Hàng chục vòng tròn nhỏ có gạch chéo cách đều nhau trên một đường kẻ kéo dài từ ngoài khơi Sơn Trà đến trung tâm quần đảo Hoàng Sa. Vòng cuối cùng với ghi chú 1100H, nằm gần một nhóm đảo trông giống như là những quả trứng lớn nhỏ nằm ngổn ngang. Tôi hiểu là còn khoảng ba tiếng nữa sẽ đến điểm đổ bộ là hòn đảo lớn nhất có tên trên hải đồ là Pattle Island. Đó chính là đảo Hoàng Sa.
Tiếng trung úy Hào từ phía sau:
– Mình đến đâu rồi, thiếu úy Bằng?
Tôi quay lại đưa tay lên chào nhưng anh chỉ cười cười đưa tay ra bắt:
– Còn sức lên nhận phiên sớm là ngon quá rồi. Cứ tưởng anh hùng đã thấm mệt!
Tôi ráng nở nụ cười:
– Thưa trung úy, theo phỏng định thì còn ba tiếng nữa là đến điểm đổ quân.
– Anh tin vào cái vị trí phỏng định là có cơ hội chẳng bao giờ thành… hạm trưởng. Trong mùa sóng gió bão bùng, vị trí phỏng định là vị trí bi quan nhất. Theo tiêu lệnh hạm trưởng, hải trình là đường 84, trừ hao độ dạt – 6 ta cho lái hướng 78. Và chúng ta đã phỏng định tốc độ là mười gút. Nghĩa là chúng ta đi theo gió chếch mũi tả hạm, hướng gió do cơn bão tạo thành Nhưng chúng ta lại ở trong mùa gió Tây Nam, nghĩa là mùa gió thường trực thổi thổi từ chếch lái phía hữu hạm tới. Còn phải tính tới dòng nước ngầm. Tóm tắt, thật sự giờ này chúng ta ở nơi nào trên biển, chỉ có Trời biết. Không chừng ta đã tạt về phía Bắc sang vùng Amphitrite Group đầy đảo ngầm hoặc tệ hại hơn là dạt về phía Nam vào vùng nước cạn North Reef với những xác tàu chìm. Nói cho cùng, gặp cái nào thì cũng thân bại danh liệt. Tốt hơn hết là bắt đầu theo dõi độ sâu.
Anh kê miệng gần chiếc loa, đổi giọng lớn hơn :
– Phòng lái, cho mở Fathometer và báo cáo chiều sâu mỗi năm phút hoặc khi có thay đổi cạn hơn. Radar! Báo cáo ngay khi phát hiện écho. Thiếu úy Bằng và các quan sát viên quan sát cẩn thận bằng ống dòm, từ hướng 10 giờ đến 2 giờ.
Hào dò nhìn lên tấm hải đồ khi nghe phòng lái báo cáo chiều sâu. Anh gật gù vói tay lấy chiếc ống dòm rồi bước sang ngồi tỉnh bơ trên chiếc ghế của hạm trưởng, tréo chân thoải mái. Anh chầm chậm quét ống dòm qua lại vùng biển xanh thẳmtrước mặt. Trung sĩ Tất, giám lộ Bảo và tôi cùng đưa ống dòm lên mắt. Vẫn chỉ là mặt biển lóng lánh, thăm thẳm, mênh mông… Con tàu thênh thang phóng tới, bọt biển tỏa hình cánh chim, đổ về phía sau thành một tràng dài trắng xóa.
Cột cờ trơ trọi cuối lái gợi tôi nhớ lá cờ trên đỉnh chót vót. Tôi bước ra phía ngoài, ngẩng mặt. Tôi nhìn trân trân. Lá cờ đã nhạt màu, phần đuôi rách te tua. Lá cờ vẫn bay phất phới nhưng uyển chuyển, nhẹ nhàng, trái hẳn hình ảnh vẫy vùng, mãnh liệt chiều qua. Tôi có cảm tưởng lá cờ cũng cùng mang sức sống như chúng tôi, cũng chịu đựng những vất vả gian nan, cũng tận hưởng những niềm vui thành đạt. Tôi bước trở lui, đứng thẳng người, quan sát cẩn thận vùng biển trước mặt theo đúng nhiệm vụ của sĩ quan đương phiên ghi trong huấn thị. Tôi đứng như thế rất lâu, đầu óc thênh thang như bầu trời không gợn chút mây…
– Báo cáo có écho hướng một giờ, khoảng cách 28 hải lý.
Tự dưng tôi thở ra nhẹ nhỏm. Hào đứng thẳng lên, chếch ống dòm về phía tay mặt. Anh chầm chậm, thật chậm quét ống dòm qua lại. Được vài phút, anh rời ghế, chạy vội xuống phòng lái. Khi trở lên, anh cười tươi tắn:
– Hải hành phỏng định mà… chính xác gớm!
Anh nhấc điện thoại:
– Thưa hạm trưởng, tôi trung úy Hào. Trình với hạm trưởng, đã thấy đảo hướng một giờ, cách 27 hải lý bằng radar. Chưa thấy bằng ống dòm.
Anh lặng thinh nhận chỉ thị một lúc, đáp nhận rõ và gác máy. Anh nhìn la bàn, ra lệnh:
– Lái đường tám mươi tư.
Hào đưa ống dòm lên mắt. Tôi bắt chước anh. Biển vẫn thăm thẳm, chập chùng đến ngầy ngật. Dường như gió đổi chiều, đưa ngược khói tàu lên tận đài chỉ huy. Mùi khói khó ngửi nhưng lại gợi tôi thèm một điếu thuốc. Tôi đã quên nó từ lúc tàu khởi hành. Tôi mở nắp túi, gắn điếu thuốc lên môi, thong thả châm lửa. Tôi nhả ngụm khói đầu tiên rồi hít một hơi dài tưởng chừng như đang hôn người yêu. Bất ngờ tôi ho sặc sụa và nghe bứt rứt khó thở. Chưa hút được. Tôi nhủ thầm, dứt khoát ném điếu thuốc. Nó nương theo gió bay thật xa rồi rơi hút vào bọt biển.
Bầu trời trong sáng, xanh ngát, không một dấu vết sa mù. Gió nhè nhẹ, mát rượi. đến từ mạn phải. Tôi hít một hơi sảng khoái và thấy lại yêu đời yêu biển…
Hạm trưởng xuất hiện ở chân cầu thang. Tôi báo cho Hào. Anh ra dấu cho nhân viên chỉnh đốn quân phục, tư thế. Tôi hô nghiêm và đưa tay chào khi ông đặt bước lên đài chỉ huy. Ông thân mật hỏi han từng người. Tôi là người cuối cùng.
– Thiếu úy Bằng trông tỉnh táo lắm. Được lắm.
Tôi chỉ biết lí nhí cám ơn. Ông chưa yên vị trên ghế thì có tiếng báo cáo:
– Đã thấy đảo hướng mười hai giờ.
Tôi chụp ống dòm. Tôi vốn nôn nao, nôn nóng muốn biết cái… dung nhan mùa hạ của cái quần đảo đã làm tôi khốn khổ, đau đớn. Phải khó khăn lắm tôi mới trông thấy một vệt đen trên đường chân trời. Vệt đen đó dần dần rõ dạng. Nó vươn cao cùng lúc lô nhô những ngọn cây. Rồi toàn bộ cái đảo thấp lè tè. Tôi cảm thấy thất vọng. Hoàng Sa là thế đó sao? Tôi quét chiếc ống dòm thành vòng 360 độ. Tất cả vẫn chỉ là mặt biển xanh thẩm mênh mông.
Hạm trưởng ra lệnh từ chiếc ghế dành riêng cho ông:
– Trung úy Hào có thể cho bớt máy.
Hào ra lệnh, không do dự:
– Hai máy tiến ba.
Sau tiếng leng keng, cường độ tiếng máy dịu hẳn đi. Tôi cũng cảm nhận được sự giảm tốc của con tàu. Sự thất vọng của tôi cũng tiêu tan. Tôi nhìn thấy thêm hai hòn đảo nữa bằng mắt thường. Tôi không ngờ trên đời lại có những hòn đảo nhỏ và thấp đến thế. Chúng chỉ vừa đủ nổi trên mặt nước. Một trông như con rùa đang bơi bập bềnh và một như chiếc tiềm thủy đỉnh đang lặng lờ trôi. Giữa cái mênh mông của sóng nước, hai hình ảnh đó trông lạ và đẹp mắt.
Cơn mỏi mệt, ngật ngừ bỗng dưng tan biến. Người tôi chợt xao xuyến, lâng lâng. Một mùi hương lạ thoang thoảng, sảng khoái. Mùi hương đã đến với tôi lần đầu khi chiến hạm hướng mũi vào sông Lòng Tào sau chuyến công tác đầu tiên. Mùi đất liền. Chỉ những ai đi biển lâu ngày mới nhận ra mùi hương tuyệt dịu đó…
Hạm trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy. Ông ra lệnh nhận còi nhiệm sở vận chuyển và cho giảm máy. Con tàu sựng lại rồi tiến thư thả trên vùng nước trong veo, phô bày đáy biển toàn cát đá trắng. Xa xa hai bên hông là những dãy san hô ngầm long lanh ánh sáng. Chẳng bao lâu hòn đảo thấp lè tè hiện ra trước mắt thường. Tôi chỉ một đóm trắng nằm ở cuối đảo, hỏi ông trung sĩ giám lộ đứng gần:
– Có cái gì màu trắng? Anh có nhận thấy không?
– Thưa thiếu úy, đó là đài khí tượng. Chúng ta có một toán khí tượng hoạt động trên đảo. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển là từ đài đó.
Tôi cười vui sướng với một khám phá mới mẻ….
Vào đúng thời điểm đã định, hạm trưởng ra lệnh thả neo. Con tàu xuôi theo gió nằm song song với hòn đảo khá lớn. Hòn đảo có những lùm cây rậm rạp sau một bãi cát vàng nhạt chạy vòng. Cuối bãi cát về phía mặt là một tòa nhà màu trắng vươn cao. Đó chính là đài khí tượng. Nổi bật trên nóc tòa nhà là lá cờ vàng ba sọc đỏ đang ngạo nghễ phất phới giữa nền trời xanh. Tôi đăm đăm nhìn lá cờ. Như một thói quen, tôi chụm hai chân đứng vào thế nghiêm, đưa bàn tay lên ngang mày.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.