This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Con gà này được tôi ghi hình sáng nay. Nó sẽ nằm trong bộ nhớ của chiếc điện thoại thông minh. Gần Tết, trời âm u, lạnh. Nó ngoan ngoãn cho tôi ôm vào lòng.
Tôi đi ra đường bắt xe ôm. Cuối năm âm lịch mọi người vui chuyện chặt chém, tha hồ hét giá. Không trông rõ mặt, chỉ nghe được giọng nói của anh xe thồ: Vui Xuân đi mà, hào sảng chút xíu cho em út nhờ.
Cái lưng áo căng phồng gió, con gà chen vào giữa xong đến tôi ngồi đằng sau. Xe chạy qua đường Lê Lợi, gà ngoái đầu nhìn về bia Quốc Học cục tác tiếng nhỏ. Họ đang thi công làm mới, cạo sạch sẽ bao di tích văn hoá tự ngàn xưa. Vì quyền lực, họ đã từng hạ chôn ngôi trường Đồng Khánh. Làm người có ăn học ở Huế rất khổ cực. Răng bì được gà? Gà mái còn biết xoè cánh che chắn bảo vệ con, gà trống còn biết gáy. Và chúng luôn nằm trên bàn thờ cho người được chu toàn tươm tất buổi kỵ giỗ. Xe thả tôi xuống trước căn hộ mới màu vôi, cờ xí đỏ rực tuồng chuẩn bị nghênh xuân còn đảng còn mình. Mắt con gà chớp lia chớp lịa khi tôi mang nó đi qua cánh cổng hẹp. Anh tôi làm ở tổ hợp chuyên hạ heo bò, cao tay nghề trong lò sát sinh cho biết: Mình quen miệng cứ nói ngu như bò là sai, bò thông minh lắm nghe, nó biết sắp tới số nên hai mắt nó đẫm lệ. Mỗi ngày tao ngó bò khóc cả mấy chục bận. Anh kết luận: Tao mới là đứa ngu như bò!
Vì có hẹn trước nên gia chủ chưa xuất hành. Ông bảo một cậu thanh niên ôm con gà lui nhốt chuồng sau. Ông ngồi trên chiếc ghế gỗ láng bóng có chạm trổ hình long phụng và tôi đứng co thân không xa bực thềm. Không nhiều thời gian đâu nhé, hôm nay tôi còn phải tiếp lắm phái đoàn. Mẹ nó chứ, cuối năm cơ quan nào cũng có khối việc cần phải thanh lý. Tôi trao cho ông cái phong bì. Tôi từng bợn lòng: Tại sao xứ mình không ai nghĩ tới việc thay đổi kích cỡ cái bao lì xì màu đỏ quen mắt kia? Nhỏ quá mà, gánh sao nỗi nhũng chuyện hệ trọng khẩn thiết. Không xứng tầm thời đại khi mang ra mừng tuổi.
Được rồi, cứ yên tâm, tôi sẽ ưu tiên giải quyết những vướng mắc. Nhân dịp xuân về đã có lắm kẻ được đoàn tụ cùng gia đình theo chính sách khoan hồng. Sang năm mới cậu ấy sẽ chóng về thôi. Vậy đi nhé. Tôi mát tay như nào thì ai cũng đều tường, chuyện gỡ tội cứu người chưa từng bị mang điều tiếng, nôm na là vui xuân không quên nhiệm vụ.
Đôi chân tôi tự nhiên nghe mỏi, tuy vậy tôi quyết định lội bộ thay vì tốn tiền bắt xe ôm. Túi quần tôi còn dấu tận đáy hơn 80K, tôi cần ăn thứ gì giá bèo để lót lòng, cần uống ly cà phê, cần đốt cháy ba điếu thuốc. Anh tôi bị bắt đã gần năm, anh đúng là ngu như bò, bày đặt xuống đường biểu tình bọn Trung quốc xâm lược. Căn nhà của ba mạ để lại cho hai anh em đã bán, chiếc xe gắn máy của tôi đã mang đi luộc từ hai ngày trước, thậm chí cả phận gà nhỏ mọn ưa bới đất vườn hoang cũng bị lôi cổ trao tay cho người ta có thứ đánh chén liên hoan mừng xuân. Người ta sẵn lòng ăn không từ một thứ gì và tôi sẵn lòng làm đủ thứ hòng cứu chuộc lỗi lầm anh mang.
Tôi thua con bò. Tôi sắp chết mà hai mắt không chảy được một giọt mặn. Gió từ sông Hương thổi lên muốn cắt mặt. Tết nay tôi chẳng biết đào đâu ra tiền để làm một mâm cỗ đạm bạc dành cúng ba mạ tôi. Hai oan hồn vô phước chết trong mùa xuân con khỉ xa xưa. Co ro dáng bộ hành lầm lũi đi, xiêu lạc hồn ma bóng quế.
Tổng cộng đã hơn 80 mùa xuân đi qua trong cuộc đời tôi. Nhưng 12 mùa xuân trong những cái được gọi là “trại cải tạo” là những mùa xuân đáng nhớ nhất.
Từ Nam chí Bắc, từ Sơn La, Vĩnh Phú đến Hàm Tân, mùa xuân nào đến cũng mang đầy dấu tích buồn như những vết sẹo trong tận cùng tâm khảm, đến nỗi đến bây giờ có đêm còn nằm mơ thấy mình đang bị đày đọa trong lao tù khiếp đảm ấy. Giật mình tỉnh dậy mừng như khi vừa được thả từ trại tù ra.
Tuy nhiên, con người thật lạ, sống lâu trong tù rồi cũng… quen. Đó là bản năng sinh tồn hay con người phải thích ứng với từng hoàn cảnh để sống, dù để sống cho qua ngày chờ đợi một cái gì sẽ đến. Nhưng cái gì sẽ đến ở trong một thứ tù đày không có án, không có thời hạn là điều đáng sợ hơn nữa. Tù cải tạo làm gì có thời hạn. Thích bắt thì bắt, thích thả thì thả, người ra trước, kẻ ra sau, chẳng bao giờ biết lý do, tất cả chỉ là suy đoán.
Tôi đã sống như thế suốt 12 năm.
Khoảng 8-9 năm, khi đã là “tù cũ”, có lẽ tụi cai ngục cũng “xuê xoa” cho đôi phần, không còn xiết chặt cùm kẹp như mấy năm đầu. Tôi bị đưa từ các trại tù miền Bắc vào miền Nam, bởi hồi đó miền Bắc dân đói quá thiếu mọi thứ thực phẩm kể cả ngô khoai sắn, không thể nuôi thêm tù. Chúng tôi bị cùm hai tay suốt ba ngày hai đêm trên xe. Khi vào đến trại Hàm Tân mới được tháo cùm.
Tôi nhớ hôm đó là ngày 19-5-1978 và biết đó là ngày “sinh nhật Bác” vì xe chạy qua mấy con đường có dăng mấy khẩu hiệu đỏ chót “Nhiệt liệt chào mừng sinh nhật Bác”. Một sự trùng hợp khá thú vị, được trở lại miền Nam cũng như sống lại vậy. Không nhớ sao được.
Gặp Lại Người Bạn Cũ
Thật ra chế độ tù “cải tạo” từ Bắc chí Nam chẳng có gì khác nhau. Đi lao động mệt phờ phạc và tối tối lại ngồi kiểm điểm – chúng tôi gọi là “ngồi đồng” – cho đến khi mệt rũ, chẳng còn nghĩ được gì ngoài việc lăn ra ngủ. Có lẽ đây cũng là một “đòn” kìm hãm mọi suy tư của bọn tù được gọi là trí thức.
Chế độ ăn khá hơn ngoài Bắc một chút, nếu ở Sơn La – Vĩnh Phú, trước khi đi làm buổi sáng chỉ có một củ khoai nhỏ như ba ngón tay thì ở miền Nam được ăn một bát nhỏ bắp nấu hoặc bát bo bo.
Nhà văn Đặng Trần Huân thường có cái muỗng nhỏ xíu bằng nhựa, thứ đồ chơi của trẻ con, cứ nhấm nháp từ từ cho đến hết buổi sáng. Ông truyền “bí kíp” rằng ăn như thế có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, quên cảm giác đói đi. Tôi không biết có bao nhiêu “tín đồ” tin theo bí kíp này, riêng tôi theo không nổi, vì đói quá, không nhịn được, ăn luôn một lèo, chỉ ba phút là hết nhẵn nên anh em có câu nói cửa miệng là “ăn rồi cứ tưởng là mình chưa ăn”.
Tôi ở trại này chẳng nhớ bao lâu thì bỗng một ngày năm 1985, thấy mấy anh cai tù đưa một đoàn tù từ nơi khác đến. Đám tù này còn rách rưới, gầy còm xanh xao hơn chúng tôi nhiều. Tôi là tù cũ nên tiến lại gần khi tù mới vừa được ngồi xuống bên hàng rào. Lúc đó tôi mới biết đó là những người bạn tù ở các trại Pleiku, Kontum và ở những trại nổi tiếng “ác ôn” nhất như Gia Trung, Bù Gia Mập… Tôi nhận ra trong đó có nhiều văn nghệ sĩ đã từng là bạn khi tôi còn viết báo và làm trong các đài phát thanh ở Sài Gòn.
Người đầu tiên tôi gặp là Thái Thủy với cặp kính cận mất gọng, chỉ có hai chiếc dây vải buộc vào mắt kính.
Câu đầu tiên tôi hỏi là “đói không?”. Thái Thủy chỉ gật. Thế là tôi tức tốc chạy về phòng lấy một ít mì sợi của tôi và Nguyễn Gia Quyết để chung trong một thùng sắt mang chia cho Thái Thủy. Hồi đó chúng tôi ở trại này gần Sài Gòn, đã được “thăm nuôi” vài tháng một lần nên cuộc sống cũng tạm dễ chịu. Sau đó tôi mới gặp lại một loạt những Nguyễn Sĩ Tế, Mặc Thu, Nguyễn Viết Khánh, Thảo Trường, Trần Dạ Từ. Ông nào cũng đói trơ xương.
Mấy hôm sau, trại cho bán thịt heo, tôi chỉ còn tiền mua đúng một kí lô mang cho Trần Dạ Từ, nhưng ông này lại bảo “tớ còn chịu đựng được, ông đưa cho ông Nguyễn Sĩ Tế đi”. Thế là tôi lại phải tìm cách gặp Nguyễn Sĩ Tế. Mỗi người ở một buồng giam khác nhau.
Cuộc sống cứ thế trôi đi, anh em gặp nhau mỗi buổi sáng thường chỉ biết nhìn nhau.
Con Gà Mất Tích
Đến khi tôi được coi tủ sách – gọi là thư viện – của trại. Tôi ở trong một căn nhà tranh nhỏ nằm ngay lối cổng trại ra vào. Bữa đó là Chủ Nhật, Trần Dạ Từ nhờ tôi mua một con gà của một anh cũng là tù nhưng được gọi là “trại viên tự giác” ở ngoài trại. Anh ta làm thợ mộc nên nuôi thêm mấy con gà, con vịt để ăn và thỉnh thoảng bán lấy tiền mua thuốc hút. Tôi đích thân mang con gà vào trại đưa cho Trần Dạ Từ.
Buổi chiều Trần Dạ Từ chạy kiếm tôi kêu toáng lên: “Con gà của tôi mất rồi ông ơi, nó giẫy giụa làm tuột dây cột chân rồi chạy mất. Tôi đi tìm hoài không có”.
Tôi chẳng biết làm gì hơn, nhưng bỗng nảy ra một “sáng kiến” là đợi hoàng hôn khi gà lên chuồng, con gà có thể tìm về chuồng cũ, tôi sẽ ra hỏi chủ của nó xem.
Trần Dạ Từ đành phải về ngồi chờ.
Tối đó, chờ giờ điểm danh xong, tôi bò ra ngoài gặp anh chủ gà. Anh ta là người ngay thẳng nên đưa tôi ra chuồng gà, chỉ có chừng chục con. Không thấy con gà mái buổi trưa đã bán đâu. Chắc nó lưu lạc trong trại tù mênh mông, không tìm được đường về chuồng cũ hoặc có anh nào tóm được nó rồi. Hôm sau cũng không tìm thấy con gà. Thế là Trần Dạ Từ đành nhịn ăn thịt gà.
Còn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh có tuổi nên được giao cho chức “trực buồng”, không phải xếp hàng đi lao động, chỉ ở buồng dọn dẹp vệ sinh cho đội. Các ông Mặc Thu, Nguyễn Sĩ Tế, Thảo Trường vẫn phải đi làm như mọi người khác.
Mặc Thu “Xỉn”
Có lần con ông Mặc Thu lên thăm, mang theo thức ăn và cả đồ nhắm cùng rượu ngon cho bố. Mặc Thu cao hứng đánh chén tì tì. Đến khi vào trại, đi xiêu vẹo, chân nam đá chân chiêu, mồm sặc mùi rượu. Tay trưởng trại, ở ngay phòng trực trước cổng trại, gọi Mặc Thu vào. Lúc đó Mặc Thu còn sặc mùi rượu, nói năng lè nhè lung tung nên buổi chiều bị nhốt ngay vào nhà lao, cùm hai chân.
Nhà lao bằng tranh nhỏ xíu nằm gần phía sau trại chỉ có một lối nhỏ dẫn vào. Hằng ngày mấy tay gọi là “thi đua” trong trại phải mang cơm đưa vào cái ô cửa nhỏ, đồng thời lấy bô vệ sinh của anh tù ra ngoài mang đi đổ.
Tôi phải nói mãi với tay thi đua để mang thêm cho ông ấy ít cơm và thức ăn. Vài ngày sau Mặc Thu được thả, nếu để ông nằm trong nhà lao kiểu ấy, có thể chết bất cứ lúc nào. Từ đó mỗi lần bọn cán bộ trại có tổ chức đám cưới, liên hoan, lễ Tết thường bắt mấy anh tù có tài vặt đến trang trí hội trường. Tôi lôi Mặc Thu lên ngồi vẽ, cắt dán đủ thứ. Ông rất có tài vẽ vời và cắt dán khiến mấy anh “cán” rất mê. Từ đó ông dễ thở hơn nhiều.
Khi được thả, tôi thường đến thăm Mặc Thu.
Những năm sau này đã rời nhà tù, ông bà Mặc Thu được con gái lớn bảo lãnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Nhưng ông bà đông con, một số con cháu không thể cùng đi. Vậy là cả ông lẫn bà đã trở lại Sài Gòn vào những ngày cuối đời.
Khi sắp mất, Mặc Thu bắt con trai gọi tôi đến. Gặp nhau lúc đó, có lẽ ông biết chắc sắp vĩnh viễn ra đi nên nắm tay tôi bùi ngùi nói lời từ biệt: “Không thể quên cậu và anh em trong tù được”.
Quả nhiên đêm hôm đó ông ra đi mãi mãi.
Ăn Tết Trên Chiếu Rách
Đúng là không thể quên. Một buổi chiều cuối năm 1986, trại tù tổ chức cho trại viên trình diễn văn nghệ. Họ giao cho tôi tổ chức ban hợp ca. Tôi lôi tuốt mấy văn nghệ sĩ vào ban văn nghệ. Thảo Trường khỏi “đi rừng”, ngồi ở buồng viết kịch. Một bạn tù đội mộc tự chế được một cây violon. Nguyễn Sĩ Tế được tặng cây violon cà cộ này, mang kéo cho ban nhạc. Trần Dạ Từ biến thành nhạc trưởng bất đắc dĩ, lo bắt giọng cầm nhịp. Mặc Thu râu dài đóng vai đạo diễn.
Trưởng trại tù sau đó mang ra phê phán “toàn những ông trốn việc quan đi ở chùa. Nhạc sĩ gì mà chơi đàn cò cử, hát cứ như làm hề”.
Tôi biết lão nói đúng nhưng cãi cối rằng anh em như thế là làm hết sức rồi nên thưởng mới đúng. Đề nghị được mấy tay đội trưởng vỗ tay tán thành. Thế là cả ban nhạc được nghỉ thêm vài ngày sau Tết. Tết đó, tôi để dành phần quà thăm nuôi của tôi và Nguyễn Gia Quyết làm bữa cơm “thịnh soạn” mời mấy anh em lên ăn trưa, có rượu trắng đàng hoàng. Buổi họp mặt đông đủ chẳng thiếu ông nào. Địa điểm tôi nhờ chỗ bên bệnh xá vắng người. Bàn tiệc là chiếc chiếu rách trải trên chiếc giường tre.
Vậy mà chén chú chén anh, đấu hót cũng xôm trò. Khi tàn tiệc, Mặc Thu lại lảo đảo đi ngật ngưỡng giữa trưa nắng trong sân trại. Cũng may tên lính gác trại tù nhìn thấy nhưng là ngày Tết nên nó tha, không nói gì. Hôm sau nó vào gặp tôi kể công về sự “nhân từ” đó. Tôi đành phải đi xin một con gà cho nó mới yên.
Thời kỳ đó ông nào cũng trên 10 năm tù cả rồi nên không khí bớt ngột ngạt hơn.
Tháng 9-1987, chúng tôi mới được tha về, riêng Thảo Trường phải nằm lại trong tù thêm mấy năm nữa cho đủ 17 năm. Như tôi đã viết trong một bút ký, khi ra tù, chúng tôi được chở trên xe từ trại Hàm Tân về hội trường trại giam Chí Hòa.
Tôi mạn phép xin nhắc lại đoạn bút ký đó:
“Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là buổi chiều tháng 9-1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới thoát khỏi cánh cửa sắt Chí Hòa.
Ngay cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, để chứng tỏ cái “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những kẻ may mắn không chết trong ngục tù. Lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ.
Thấy sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn vào đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người tò mò nhìn “cảnh lạ.” Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Đến đường
Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn mình với vẻ xa lạ, xót thương?
Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, rủ tôi ghé qua đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây.
Tôi chọn quán phở sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà tôi cùng bạn bè vẫn đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu anh về đoàn tụ với gia đình, chứ tôi vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì lúc đó tôi chưa biết sẽ sống ra sao giữa thành phố này”.
Tưởng Nhớ
Vậy mà tôi vẫn phải sống như thế đến hôm nay.
Các bạn tôi đều đã rời xa, người còn kẻ mất, đôi khi chẳng biết tin gì về nhau. Nhưng kỷ niệm vẫn đầy ắp trong tôi. Đêm cuối năm Ất Mùi 2016 này, cứ chớp mắt là thấy hình ảnh từng người xuất hiện.
Thảo Trường luôn tưng tửng, ngang ngang, như bất cần đời. Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh lúc nào cũng thanh thản chẳng thèm nghĩ gì đến thân phận tù đầy. Mặc Thu có chùm râu tơ, luôn thích vuốt khi “đối ẩm” với trà, rượu cùng những việc vẽ vời lặt vặt cho “lãng quên đời”. Nguyễn Sỹ Tế rất kiệm lời, vẫn nét mặt trang nghiêm của những “thầy đồ”. Trong trại tù, có lúc ông Tế nằm cạnh Trần Dạ Từ. Mỗi lần Nhã Ca lên thăm nuôi, Từ rủ mấy anh em bù khú. Có lần tôi nhập bọn, ông Tế còn mang cây violon do bạn tù tự chế ra biểu diễn nhạc cổ điển Tây phương. Sau màn nghiêm chỉnh thưởng thức, chúng tôi cùng cười vui nghe Trần Dạ Từ nói nhờ chiều nào anh cũng được ông Tế bắt nghe Schubert bằng cái đàn lạc giọng này mà thừa sức lao động.
Trong các bà thăm nuôi ngày đó, Nhã Ca là dân cùng nghề văn, cũng từng đi tù rồi nuôi tù nên quen biết mọi người. Tôi nhớ chuyện kiếp trước, một sáng mùa xuân nào đó thời đầu 1960, khi có dịp ra Huế, tôi đã cùng Thanh Nam lái xe đến gặp Nhã Ca và Từ ở ngôi nhà khu Bến Ngự. Thanh Nam đã ra đi từ lâu. Thái Thủy cũng vậy. Ba tên bạn thân của Sài Gòn ngày nào, nay chỉ còn mình tôi.
Mới đó đã 30 năm, từ ngày chia với Thái Thủy gói mì khi đoàn tù tả tơi từ Gia Trung chuyển trại về Hàm Tân. Cũng mới đó thôi, khi Trần Dạ Từ – Nhã Ca ghé thăm từ biệt tôi để rời xa, nay đã hơn một góc thế kỷ. Bây giờ, trong đám bạn tù nhà văn, Mặc Thu, Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sĩ Tế, Thái Thủy, Thảo Trường đều đã ra đi, chỉ còn lại Trần Dạ Từ và tôi.
Đêm cuối năm, mỗi chớp mắt lại thấy một người, một thời. Đúng như thơ Tản Đà: Thời gian ngựa chạy…
Vù một cái, tôi thấy mình nhận lời chúc xa xôi của Từ cho “Bát Tuần Thượng Thọ”.
Tết này, dù không thắp hương cho bạn đã vĩnh viễn ra đi, nhưng tự đáy lòng tôi vẫn có hương khói tưởng nhớ từng người bạn thuở trong tù. Nhận lời Từ hỏi thăm mừng thọ 80, tôi viết bài này để cùng bạn tưởng nhớ.
Ước gì lại có cái Tết được hội ngộ cùng các bạn dù chỉ trên một chiếc giường tre, nhưng không phải là trong trại tù mà là ở một khung trời tự do đầy nắng vàng.
Không có gì bịn rịn nhưng cũng mãi đến hơn 7 giờ sáng tôi mới rời được cô gái. Rất may, khi về đến tàu, tôi vẫn còn vài phút để thay vào bộ quân phục trước giờ điểm danh. Tôi cùng trung úy Hải lên lòng tàu đứng đối diện hàng quân. Ông quản nội trưởng báo cáo quân số hiện diện, số người vắng mặt có lý do. Trung úy Hải chìa tay ra thay cho lời bàn giao phiên trực. Tôi chào trước khi nắm bắt như một biểu lộ tiếp nhận trách nhiệm.
Phần vụ của sĩ quan trực là giải quyết các sự việc xảy ra bất thường trong ngày và khẩn thiết trong đêm, vì vậy khó mà biết trước ngày đó sĩ quan trực khỏe hay mệt. Nhưng hôm nay tôi biết trước là tôi sẽ có một ngày rất mệt. Suốt tối qua tôi đã nổ lực vượt bực, chỉ còn hy vọng đủ sức cho công việc bình thường. Phải làm thêm việc bất thường với khẩn thiết thì khó mà kham nổi cho đến giờ… leo lên giường.
Tôi cố giữ bước đi tự nhiên vào nhà bếp xem qua việc dọn dẹp chùi rửa. Trở ra lòng tàu, tôi “làm một vòng” từ lái ra mũi, quan sát việc làm từng nhân viên. Công việc thì vẫn như lệ thường khi tàu về bến: Tu bổ súng, gõ sét, sơn lót, làm vệ sinh… Gần chín giờ tôi leo lên hạm kiều chờ đón hạm trưởng về tàu. Chào đón xong, tôi theo ông xuống phòng làm việc để tề tựu cùng các sĩ quan khác báo cáo nhật vụ và nhận chỉ thị mới. Thật là may, không có việc đặc biệt cho tôi. Càng may mắn hơn là đêm qua ông không làm thơ, hay có mà ông quên đọc. Nghe ông bàn công việc tôi đã cứ phải chống mi mắt lên. Ông mà đọc thêm thơ nữa thì chắc chắn tôi không thể tránh khỏi thất lễ với ông.
Thông thường, có hai nơi cần sự hiện diện của sĩ quan trực. Đó là hạm kiều và phòng làm việc. Nhưng hôm nay tôi muốn lánh xa phòng làm việc. Ông hạm trưởng vừa bước vào buồng riêng là tôi đứng lên ngay. Tôi mà tiếp tục ngồi thì đố khỏi tiếng ngáy sẽ phát ra trước khi tròn một phút. Tôi lên đứng cạnh hạm kiều. Đây là nơi thích hợp nhất cho sĩ quan trực,vừa có thể kiểm soát bao quát việc làm, vừa có người trò chuyện, lại vừa có thể tiễn hạm trưởng rời tàu bất kỳ giờ phút nào. Chào tiễn hạm trưởng cũng là phần nhiệm của sĩ quan trực có ghi trong huấn thị điều hành. Vì vậy sơ sót có thể lãnh củ. Việc đón hạm trưởng “về tàu” tương đối dễ hơn là việc tiễn ông “rời tàu”. Khi ông đến, vừa lúc ông quẹo chiếc Vespa vào cầu tàu, người hạ sĩ quan hoặc nhân viên trực hạm kiều nhấc ngay ống liên hợp thông báo qua hệ thống phóng thanh: “Hạm trưởng sắp về tàu”. Sĩ quan trực, dù đang ở nơi nào, cũng nghe được và có đủ thì giờ có mặt chào ông. Nhưng khi ông rời tàu, sĩ quan trực có nghe lời thông báo thì cũng đành chào thua! Ông lên hạm kiều, không thấy sĩ quan trực, ông vẫn rời tàu. Hạ sĩ quan trực thay mặt chào tiễn ông. Khi ông hạ sĩ quan trực cầm được máy để thông báo thì có nghĩa Hạm trưởng đã rời tàu, khuất dạng. Thành thử để chắc ăn, sĩ quan trực thường lảng vảng ở hạm kiều khi cờ hạm trưởng còn bay phất phới. Với Hạm trưởng dễ tánh, sĩ quan trực chỉ bị cảnh cáo. Với vị thích nguyên tắc, quân kỷ được áp dụng.
Tôi đang đứng nói ba điều bốn chuyện với nhân viên trực thì hạm trưởng xuất hiện. Tôi chào tiễn chân ông và ghi vào sổ hạm kiều: “1100H: Hạm trưởng rời tàu, liên lạc Hải quân công xưởng”. Ghi xong, tôi lại vào nhà bếp coi qua việc nấu nướng rồi đến phòng ăn đoàn viên kiểm soát mức độ sạch sẽ. Sau đó lại trở ra lòng tàu làm nhiệm vụ sĩ quan trực. Đúng ngọ, anh chiêu đãi viên mời tôi xuống dùng cơm. Tôi quá rã rời, chỉ muốn nằm ngủ nhưng thấy hạm phó và Tâm có vẻ đang chờ nên tôi miễn cưỡng vào ngồi. Hào nói ngay:
– Từ sáng đến giờ hạm phó cứ mong đến giờ ăn để được nghe báo cáo kết quả … ủi bãi!
Tâm cũng hí hửng ra mặt:
– Tôi cũng thế! Ông Bằng ơi, bãi thế nào?
Hỏi gì mà cắt cớ! Ba cái vụ này làm sao mà tả! Phải tự ủi bãi mà khám phá chứ! Nhưng chợt hai câu thơ hiện cùng một lúc. Tôi tuôn ra luôn không chọn lựa:
– Cỏ non xanh rợn chân trời. Và cỏ gà lún phún leo quanh mép!
Tâm cười ngất:
– Hấp dẫn thật!
Hào trố mắt, phản đối:
– Hấp dẫn cái con khỉ! Khó hiểu thì có. Không thể “xanh rợn” mà lại “lún phún”!
Tôi cười, cơn buồn ngủ tiêu tan:
– Hạm phó thay chữ “xanh rợn” bằng chữ “cỏ non” xem sao!
– Cỏ non, lún phún! A, hấp dẫn thiệt chứ! Còn việc… an toàn?
– Phải đợi vài bữa không… uống cà phê đen đái ra cà phê sữa, mới biết!
Giọng Hào nôn nóng:
– Tối nay tôi có ý định đến đó. Nhờ cụ mô tả … nội vụ rõ hơn!
Hào dùng từ “cụ” của ông phó Đắc thay vì dùng “anh” với tôi như trước đây. Tôi cảm nhận cái thân tình Hào dành cho nhưng tôi nghĩ không nên nói hết “nội vụ” diễn ra suốt hôm qua. Dù “đối tác” không dặn dò gì nhưng tôi vẫn nghĩ đó là những thố lộ riêng tư cần giữ kín.
– Sao? Bắt đầu đi chứ!
Tôi chầm chậm kể lại mọi chuyện từ lúc tôi “đột nhập” ngôi biệt thự cho đến khi về, trừ phần hẹn nhau buổi tối. Tâm có lúc vổ bàn khoái chí, có lúc cười rộ, có lúc mặt nghệch ra. Hào thỉnh thoảng chỉ mỉm cười. Tôi vừa kể dứt là hạm phó phán ngay:
– Có thể là “em mới”. Mới từ quê lên chứ nữ sinh cái quái gì! Mánh lới của bà chủ để lấy cao giá thôi.
Tôi định phản đối nhưng biết là mình khó thuyết phục. Phần có thể thuyết phục được lại nằm ở phần qua đêm. Đêm qua nàng thổ lộ đó là lần đầu nàng đến ngôi biệt thự và gặp tôi là người đầu tiên. Bà chủ đã “dặn dò” các tình huống xấu mà nàng có thể gặp phải ở mỗi người khách và dạy luôn cách ứng xử. Trong mọi trường hợp nàng có quyền… chạy làng! Nàng gặp tôi trong bao nỗi lo âu. Nhưng buổi đầu của nàng đã diễn ra ngoài mong ước. Theo dạy dỗ, nàng phải cưỡng lại mê đắm nhưng nàng không thể không buông xuôi… Cũng vì vậy nàng muốn tặng không cho tôi một đêm để đền ơn. Và giữa những yêu đương cuồng nhiệt, nàng thố lộ về gia cảnh của mình. Nàng kể một cách tự nhiên như tôi đã là người thân thương nhất đời nàng.
Vài tháng trước nàng gặp hai cái rủi gần như đồng thời. Đầu tiên, nàng bị người tình sinh viên bỏ rơi. Kế đến ba nàng bị bắt trong đêm chính quyền bố ráp chùa Xá Lợi và đến nay vẫn chưa thấy về. Mẹ thì không việc làm và ba đứa em thì còn đi học. Nàng thì không còn trinh trắng nhưng tương lai thì thênh thang. Cho nên nàng không thấy con đường nào thuận lợi hơn con đường nàng chọn. Nó giúp nàng vừa có tiền vừa có thì giờ tiếp tục y khoa. Nàng hy vọng cha được thả sớm để nàng quay về cuộc sống bình thường. Tôi im lặng nghe, sự im lặng chìm lắng đến độ nàng ngờ là tôi không tin. Thế là nàng cho tôi xem thẻ sinh viên. Tấm thẻ cho thấy nàng thực sự đang theo học y khoa năm thứ nhất. Tôi nổi máu anh hùng móc bóp chia hai số tiền tôi đang có nhưng nàng quyết liệt từ chối. Nàng bảo lấy làm gì cho tôi phải túng thiếu mà nàng cũng không sao thoát khỏi con đường định mệnh. Nàng nói thời trung học nàng rất mê truyện Kiều và tin rằng vì nàng không đẹp nên kiếp đoạn trường sẽ chẳng bao lâu. Tôi bảo tôi tin cơn hoạn nạn của nàng sẽ chóng qua nhưng lại chỉ dám nghĩ thầm là nàng còn “sắc sảo” hơn cả Kiều.
Giọng Hào nóng nảy:
– Nếu tối nay tôi đến, muốn gặp cô đó, hỏi tên gì?
Tôi moi óc. Bà chủ không giới thiệu. Nàng cũng chẳng bao giờ xưng tên. Tôi còn nhớ tên trong thẻ sinh viên là Lưu Ngọc Anh nhưng chắc chắn nàng không dùng tên thật để “hành nghề”. Tôi nói:
– Tôi quên hỏi. Hạm phó cứ bảo bà chủ cho gặp cô hôm qua giới thiệu cho Vĩnh Bằng. Bà có hỏi thêm Vĩnh Bằng là ai thì bảo là bạn của Vĩnh Tường Hải quân.
– Còn nhiều cô khác?
– Có thể lắm. Riêng trên lầu đã thấy bốn cửa buồng. Chỗ này vắng vẻ, yên tịnh và chơi đẹp. Hạm phó không thích cô này bà chủ thay cô khác. Riêng cá nhân tôi, khi đến, ngay phút đầu tôi đã chọn bà chủ nhưng bà cứ nhất định… bán cái!
– Bà chủ ngon lắm hả!
– Hơn cả ngon, rất tuyệt! Nhưng có vẻ như chỉ “dành riêng” cho cựu hạm phó!
Hào cười hỉ hả:
– Cựu hạm phó lấy vợ thì có tân hạm phó độc thân. Hạm phó nào cũng ngon như nhau thôi!
Chúng tôi cùng cười vang. Tôi cầm đũa gắp miếng rau muống xào. Hương vị nhạt phèo gợi tôi thèm hương vị tô phở ban sáng trước khi chia tay. Và đồng thời gợi nhớ thân thể thơm tho của nàng…
Sau cơm tối, từ 8 giờ, tôi ngủ vùi cho tới giờ cơm trưa kế tiếp. Bàn ăn hiện diện đủ năm sĩ quan là Hào, Hải, Được, Tâm và tôi. Hào kể chuyện hôm qua đến “chỗ quen biết”. Cả bốn bàn qua tán lại, nói cười vang rân. Khi biết Hào gặp một cô gái khác, tôi không còn quan tâm lắng nghe. Người còn nhiều mỏi mệt, tôi lặng thinh nhai và nuốt. Nhưng đầu thì tính toán hướng xuất hành. Hạm trưởng tiếp tục thông cảm cho chia phân đội đi bờ. Tôi lại được tự do nửa ngày với trọn một đêm. Tôi sẽ làm gì cho hết quãng thời gian quý báu từ giờ phút này? Trở lại “chỗ quen biết” và gặp lại Lưu Ngọc Anh? Hay đòi cho được … bà chủ? Không, tôi không còn thấy hứng thú. Trở lại không chỉ phí phạm thêm nhân lực mà còn phí phạm thêm cả tài lực! Bà chủ vẫn còn đó, dăm ba bữa tính tới! Hay đi ăn kem, uống cà phê? Rồi về tàu ngủ tiếp? Không tệ!
Tâm đột ngột quay sang tôi:
– Tuyết nói mày đến chơi. Tối nay!
– Tối nay? Tối nay là thứ năm, đâu phải thứ ba!
Tâm hất mặt:
– Dành riêng cho mày!
Tôi nhìn Tâm không chớp mắt. Gương mặt Tâm tươi vui, không nét biểu lộ trêu chọc hay đùa cợt. Anh cười hồn nhiên:
– Ê, tao vô tội! Tuyết không thấy mày, yêu cầu tao nhắn mày. Và tao làm theo. Chấm hết!
– Mày không nói là tao không muốn gặp lại nàng?
– Hoàn toàn không!
Tôi khoát tay, ậm ừ:
– Mà có nói hay không, cũng vậy thôi. Tao đã nói không đến là không đến!
Tâm nhìn đĩa thức ăn:
– Tại sao mày không đích thân nói với Tuyết, tối nay?
Tâm nói đúng. Tại sao tôi không nói thẳng lời chia tay với Tuyết như đã nói với Hiền? Tâm đã thổ lộ ý muốn cưới Tuyết. Tuyết không che dấu tình yêu của nàng dành cho tôi. Tại sao tôi không có lời dứt khoát để Tuyết khỏi phải ray rứt làm người phụ bạc? Tại sao không minh bạch một lần với sự hiện diện của cả ba? Tôi nói:
– Tao đến với điều kiện là mày cùng đi.
– Tao nghĩ là mày nên đến một mình.
– Tuyết có nói rõ ràng là chỉ muốn gặp riêng tao?
– Không! Tuyết chỉ nói nếu mày có thể đi được, tối nay. Tuyết sẽ chờ.
– Vậy thì mày phải đi với tao. Tao muốn nói lời dứt khoát với Tuyết trước mặt mày.
– Để làm gì? Cũng chả giúp ích được gì! Hôm kia tao có gợi ý muốn cưới Tuyết thì nàng bảo rất cám ơn. Nàng đã hết còn ao ước được làm vợ hoặc tao hoặc mày. Người đẹp chỉ còn muốn được làm bạn cả hai.
Tôi không ngăn được tiếng cười. Thói thường, khi không còn yêu một người nào đó, người ta chuyển thành bạn. Đàng này Tuyết yêu cùng lúc cả hai và cùng lúc chuyển cả hai thành bạn. Một điều bất bình thường. Tâm bịa chuyện để đùa cho vui chăng? Nhưng Tâm không có cái tài này. Và nếu thật vậy thì có gì phải gấp gáp. Tình bạn chớ có phải tình yêu đâu mà cần liền tối nay. Hơn nữa, nếu quả thật Tuyết muốn coi tôi như bạn thì tôi lại càng không nên đến. Tôi biết chắc rằng khi gần Tuyết, gần mùi hương da thịt từng đã dính vào tế bào của tôi, tôi không tài nào đáp ứng bằng tình bạn.
Tình bạn! Tình bạn! Cái từ gợi tôi một tình bạn chân thành. Một tình bạn mà lâu nay tôi bỏ quên. Tệ hại hơn, tôi cũng… bỏ quên cả ba mẹ người bạn đó mà lúc nào cũng dành cho tôi đầy thương yêu chăm sóc. Phải rồi, thay vì đến Tuyết, thay vì ra quán cà phê, tôi nên dành một buổi để trở về mái nhà xưa. Ngẫm nghĩ, tôi ngạc nhiên biết bao khi thấy cái ý muốn về lại nhà Dũng không mảy may bị thúc đẩy bởi lòng nhớ thương Hiền. Tôi vui mừng đã không nghĩ tới Hiền trong mấy ngày qua. Nhưng khi nói với Tâm, tôi mượn Hiền như một cái cớ chính đáng:
– Tao nhất định không đến nhà Tuyết tối nay chỉ vì tình bạn. Mày có đồng ý với tao là thăm bạn không quan trọng bằng thăm người yêu? Vậy tao lấy làm tiếc mà nói rằng, trọn buổi chiều và tối nay tao sẽ dành cho Hiền. Tối nay mày hãy đến với Tuyết và nói dùm rằng tao sẽ gặp người bạn mới vào một ngày khác.
Tôi nhấn chuông nhà Hiền. Nhà Hiền trước đây từng cũng là nhà tôi, nơi tôi trọ học. Vậy mà giờ đây trở về căn nhà xưa tôi lại băn khoăn hồi hộp. Tôi mong người mở cửa không phải là Hiền. Nếu là Hiền, có thể tôi không ngăn được ước muốn ôm lấy nàng. Người ra mở cửa là mẹ Hiền. Vừa thấy tôi bà mừng rỡ mà trách móc:
– Sao lâu quá con không về? Cứ vài ngày là Dũng hỏi thăm con có về không. Còn Hiền thì giận con từ ngày nó nấu cơm rồi chờ con mãi. Tôi nói lấp liếm:
– Con cũng muốn về nhưng bữa đó tàu đi công tác bất thường. Rồi lại bị cấm trại liên miên. Con cũng nhớ hai bác lắm.
Bà thở dài:
– Thời cuộc lộn xộn quá. Vào chùa nghe sư giảng thì thấy chính quyền không thỏa mãn yêu sách của Phật giáo. Về nhà nghe radio thì ông Diệm bảo là ông đã thỏa mãn cho Phật giáo treo cờ. Nhưng các Thầy là người tu hành, bác tin ở các Thầy.
Tôi không nắm vững tình hình nên chỉ biết lặng thinh. Bà cụ tiếp:
– Thằng Dũng đang đi biểu tình. Hiền thì chở ba nó đi bác sĩ.
– Thưa bác trai đau gì thế, thưa bác?
– Ông ấy kêu đau ở ngực, khó thở, ho nhiều. Con ở lại ăn tối nghe.
Tôi liếm môi ra vẻ thèm thuồng:
– Con rất nhớ các món bác nấu.
Bà bảo:
– Con lên lầu nghỉ đi. Trông con gầy và đen nhiều.
Tôi lột giày đi thẳng đến thang lầu được nối kết góc vuông bằng các đoạn nghiêng tựa sát bốn vách của một hình khối thẳng đứng. Đỉnh của khối nằm trên sân thượng được che mưa bằng một mái mica trong suốt. Khối vuông chia mỗi tầng tòa nhà thành hai phần. Phần trước rộng gấp đôi phần sau và mỗi phần nối nhau bằng một hành lang. Tầng trệt, phía trước là phòng khách và phòng ăn, phía sau là nhà bếp.
Màu xanh nhạt bóng láng của các miếng gạch xôn xao khi tôi bước như chạy lên sân thượng. Từng hai dành cho ba mẹ Hiền. Phần trước là nơi ông bà thù tiếp bạn bè. Phần sau là buồng ngủ. Tầng ba, Hiền chiếm phần sau. Một cửa sổ khá lớn được mở ra nhận ánh sáng ban ngày từ khối vuông hình trụ. Nhưng dù ngày hay đêm -nhờ ánh đèn- từ sân thượng nhìn xuống tôi có thể bắt gặp nàng đang học bài hay đang âu yếm với Thanh. Phần trước dành cho Dũng nhưng Dũng thường lên sân thượng học bài với tôi và có khi ngủ lại. Toàn bộ sân thượng là giang sơn riêng của tôi. Ngay giữa là căn nhà tiền chế đủ rộng cho một bộ phản đôi và một bàn học cho bốn người.
Tôi bước vào thế giới học trò của tôi ngày nào. Chiếc chiếu vàng úa nhưng sạch sẽ. Hai chiếc gối có bao trắng kẻ ô nâu chữ nhật. Bàn viết của tôi vẫn y nguyên sách vở cũ trừ quyển tiểu thuyết Z 28 đang mở đôi để úp là mới lạ.
Tôi ngồi lên bộ phản. Mãi đến bây giờ tôi mới để ý đến độ cứng của nó sau khi quen với chiếc giường nệm êm ái dưới tàu. Như có một lực nào đó kéo tôi nằm xuống. Lưng tôi lấn cấn khó chịu. Mình chọn Hải quân xem ra rất hợp lý hợp tình và đúng lúc. Nếu tiếp tục ở đây học, cho tới hôm nay tôi vẫn ngủ trên bộ phản gỗ cứng như sắt này và tôi vẫn chưa nghề chưa nghiệp. Bây giờ tôi đã là một thiếu úy Hải quân, không chỉ là một người chịu đựng được sóng gió mà còn có khả năng đưa con tàu vượt qua sóng gió. Tôi cũng đã một lần vào sinh ra tử mà cái chết đúng là nhẹ tựa lông hồng. Tôi hãnh diện thấy tôi lớn hơn, dày dạn hơn hẳn Dũng và Thanh. Tôi mỉm cười và chìm vào giấc ngủ.
– Hê Bằng, đi đâu biệt tích?
Tiếng Dũng vang lên, mừng rở. Tôi ngồi bật dậy. Chúng tôi ôm choàng lấy nhau. Dũng buông tôi ra, lắc đầu nói:
– Mày xuống tàu như mang theo cái êm ả của Sài Gòn. Ngày nào cũng rầm rộ biểu tình, ngày nào cũng dùi cui vung xích chó. Tao mới về từ chùa Xá Lợi. Cảnh sát dã chiến vẫn vây kín chùa. Nhưng họ sẽ không bao giờ ngăn được các cuộc biểu tình, không bao giờ chận được các Thầy tự thiêu. Tổng số các Thầy tự thiêu đã lên cả chục rồi mày biết không?
Tôi biết có những vụ tự thiêu nhưng không ngờ là nhiều như vậy. Tôi lặng thinh và Dũng lại tiếp:
– Các trường đại học và trung học đều bãi khóa. Các giáo sư từ chức. Vậy mà ông Diệm vẫn dửng dưng, tiếp tục cho đàn áp, bắt bớ, giết hại. Mấy lần tao suýt bị bắt. Mà mày đi tàu thì biết cái gì! Suốt ngày chỉ biết trời trăng mây nước…
Tôi phản đối:
– Dù không theo sát nhưng có biết vụ lộn xộn này.
Dũng cao giọng:
– Ai bảo đây là vụ lộn xộn? Mày nhìn sự việc thế nào mà ăn nói lơ mơ vậy?
Trước đây thỉnh thoảng tôi và Dũng vẫn tranh luận về bất cứ vấn đề gì không cùng một ý. Tranh luận có khi dữ dội cho đến khi vấn đề được sáng tỏ hoặc sau khi nhiều góc cạnh được xét tới mà chưa hề đi đến giận nhau. Tôi nói:
– Tao dùng cái từ lộn xộn là ý thế này. Tuần đầu tháng năm, Huế biểu tình đòi ông Diệm hủy bỏ lịnh cấm treo cờ Phật giáo. Một biến cố xảy ra làm nhiều người chết. Phật giáo bảo chính quyền bắn vào đám đông. Chính quyền bảo Việt cộng ném lựu đạn gây chia rẽ. Thế rồi tháng sáu biểu tình lan đến Sài Gòn và càng lan rộng sau vụ tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức. Chính quyền bảo đã cho treo cờ. Phật giáo bảo nói vậy mà không phải vậy. Tháng bảy dùi cui giải tán biểu tình. Tháng tám, tháng chín thêm nhiều nhà sư tự thiêu. Chùa chiền bị lục soát, sư sãi bị bắt giam. Học sinh, sinh viên bãi khóa. Hàng loạt giáo sư từ chức. Tháng mười, cảnh sát bắn chết một nữ sinh dự biểu tình ở chợ Bến Thành. Và thêm một nhà sư tự thiệu cũng tại nơi này. Thời cuộc tùm lum như vậy không gọi lộn xộn thì gọi là gì?
Tiếng Dũng bực bội:
– Phải dùng từ nghiêm túc cho một chuyện nghiêm trọng. Đây là cuộc đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo, chống bắt bớ, bắn giết sư sãi của chính quyền. Một việc làm chính đáng chớ không phải một vụ lộn xộn.
Tôi thành thật:
– Tao nghe nói Phật giáo bị Cộng sản giật dây.
– Thì luận điệu của chính quyền. Họ chỉ muốn viện cớ tiêu diệt Phật giáo.
– Tiêu diệt Phật giáo? Để làm gì?
Dũng tỏ ra thêm bực bội, to tiếng:
– Mày chả biết gì hết! Ông Diệm theo đạo Thiên Chúa và muốn đạo này trở thành quốc giáo. Vì vậy phải tiêu diệt Phật giáo.
Tôi mới nghe lần đầu. Tôi hỏi Dũng tin này xuất phát từ đâu. Dũng bảo ai cũng biết… trừ tôi. Tôi bảo khó tin và cũng khó hiểu. Dũng bảo tôi bênh chính quyền. Tôi khẳng định:
– Dân mình có đến chín mươi phần trăm không theo Phật giáo thì cũng theo Hòa Hảo, Cao Đài và đạo thờ cúng tổ tiên. Ông Diệm có gan trời cũng không dám đưa đạo Thiên Chúa lên quốc giáo.
Bị cấm bàn chính trị dưới tàu, tôi nhân dịp này khích tướng cho Dũng huỵch tẹt để hiểu thêm tình hình. Chúng tôi còn lời qua tiếng lại thì Hiền xuất hiện. Tôi nói với Dũng quả tình là tôi không theo sát thời cuộc vì công tác liên miên. Nhưng bất kể ai đúng ai sai tôi cũng mong… vụ lộn xộn này sớm chấm dứt. Dũng đưa nắm tay lên trước mặt tôi rồi cười khì xuống lầu.
Hiền đứng yên ở đầu cầu thang, khoanh tay nghinh tôi. Cặp mắt mí đôi mở to trên khuôn mặt sáng rỡ dỗi hờn. Hiền có vẻ gầy hơn trong chiếc pullover tay ngắn và chiếc quần jean bó sát. Tôi nói khẻ:
– Chào Hiền.
Hiền thong thả tiến đến tôi, hôn nhẹ vào má tôi và cất giọng êm đềm:
– Mừng anh trở về. Hiền luôn luôn tin là anh sẽ trở về.
Tôi không muốn vướng sâu vào những lời kế tiếp có thể là đầy tình cảm. Tôi hỏi:
– Nghe Hiền đưa bác đi bác sĩ, kết quả ra sao?
– Cảm thường thôi anh ạ. Hú vía!
– Để anh xuống chào bác.
– Hiền thấy mẹ đang nấu các món anh thích. Anh ở lại qua đêm nghe? Khuya khuya Hiền sẽ hát tặng anh những bản nhạc anh thích. Vắng anh, Hiền thường hát gửi theo mây gió tới anh. Anh Dũng khen Hiền hát bản Tình Nhớ hay hơn cả…
– Thanh là người đàn?
Hiền giẫy nẩy:
– Thanh! Lúc nào cũng Thanh! Phải chi anh hiểu cho rằng Hiền đã học được bài học đắng cay về cái cách trả thù ngu dại của mình. Và Hiền đã chấm dứt việc lợi dụng anh Thanh. Anh Dũng đàn cho Hiền hát.
Tôi không ngăn được lời xỉa xói:
– Chấm dứt bằng cách nào? Đang nồng nàn mà cúp ngang xương dễ dàng vậy được sao?
– Hiền nói là Hiền bận học thi, Hiền nói là Hiền bận nhớ anh…
Tôi kêu lên:
– Đừng làm thế, Hiền. Coi chừng lại phải học thêm bài học đắng cay. Cái kiểu chọc anh cho tức để anh gần Hiền và rồi chọc cho Thanh giận để Thanh xa Hiền đều đưa đến kết quả trái ngược. Thanh lại càng muốn gần Hiền cũng như anh càng muốn xa Hiền! Hãy thật lòng với nhau…
– Hiền lập lại lời đã nói. Rất thật lòng: Hiền yêu anh!
Tôi xua tay:
– Gần nửa năm xa Hiền, thoạt đầu anh nhớ da diết nhưng rồi cũng quên dần. Hôm nay anh trở về như là một người thân trong gia đình. Hãy coi anh là … anh!
– Hiền hứa sẽ chuộc sai lầm của mình. Hiền sẽ không còn làm anh khổ! Hiền sẽ mang hạnh phúc đến cho anh.
Tôi nhìn ánh mặt trời tỏa sáng sau một tòa nhà vươn cao:
– Như đã có lần anh nói, anh không thể vui khi thấy Thanh buồn khổ. Anh từng trải qua buồn khổ…
Hiền nhăn mặt:
– Còn Hiền buồn khổ thì anh thấy vui?
– Hiện tại lòng anh thấy rất bình yên và anh muốn được mãi như vậy!
– Hay là anh đang yêu ai khác? Sáu tháng qua anh ghé bao nhiêu bến bao nhiêu bờ! Dễ gì Hiền được cái hân hạnh anh dùng toàn thời gian đó để nhớ Hiền như Hiền nhớ anh!
Tôi cười buồn:
– Đúng ra anh đã dùng toàn thời gian đó để tập… quên Hiền. Và anh đã thành công.
Hiền vồ lấy tôi, hôn vào môi tôi. Tôi đẩy Hiền ra nhưng nhỏ nhẹ nói:
– Hiền ẩu quá! Dũng có thể thấy.
– Anh Dũng biết Hiền yêu anh. Ba mẹ biết Hiền yêu anh. Tất cả hài lòng khi thấy em chọn anh…
Tôi lững thững bước lại cầu thang rồi ngoái lại nói:
Con bò đang được làm lễ quy y – nguồn thuvienhoasen.org
Tui nhớ đâu hồi tháng Sáu năm 2015, báo chí quốc doanh CS có chạy một cái tin nghe rất tếu. Lái dắt con bò đi lò mổ. Qua một ngôi chùa ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, con bò mỏi cẳng không thèm đi nữa. Sư quốc doanh trụ trì thấy vậy nghĩ kiếp trước con bò nầy có thể là người. Sư ông bèn dắt con bò vào sân chùa cho nó ăn lá so đũa rồi làm lễ để nó quy y!
Tui cứ tưởng tin chó cán xe, chuyện tiếu lâm thời CS, đọc chơi rồi bỏ. Ai dè mới đây tại Tân Ðề Li bên Ấn Ðộ cũng có câu chuyện về bò na ná như vậy. Nó làm tui phải ‘cười bò’
Bà con mình ai cũng biết đạo Hindu xuất phát từ Ấn Ðộ từ hàng ngàn năm trước. Tín đồ Hindu tin tưởng vào việc đầu thai và sự hoàn thiện phải qua nhiều đời. Có tới 80% dân Ấn Ðộ tức hơn 1.1 tỉ người theo đạo Hindu. Chính vì vậy, có người gọi Hindu là Ấn Ðộ giáo. Trong đạo Hindu, con bò cho sữa, cung cấp phân bón và chất đốt. Con bò là biểu tượng của sự giàu có, sức mạnh và tình mẫu tử. Con bò là hiện thân những phẩm chất thiêng liêng của lòng trắc ẩn, vị tha. Con bò được coi là linh thiêng, được tôn kính. Những ai tôn trọng, chăm sóc bò sẽ được may mắn và thịnh vượng.
May mắn thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Ấn Ðộ Hindu! Xấu hổ thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Việt Nam; vì thường bị chúng chửi là đồ ngu như bò. Ðau đớn thay cho ai kiếp sau đầu thai làm con bò ở nước Úc; vì bị làm món ‘beef steak’ ăn với ‘tomatoes, salad’ chấm muối tiêu.
Ở một xã hội văn minh, người dân muốn theo đạo nào thì theo; chánh quyền không được cấm. Tuy nhiên, tã xài cho con nít và chánh trị gia luôn có cùng một điểm chung là phải thay hoài. Vì các chánh trị gia theo chủ nghĩa dân túy mị dân hay lợi dụng sự cuồng tín để thủ lợi cho cá nhân mình.
Mấy chánh trị gia Cà ri chà láu cá nầy la làng ỏm tỏi: “Trước sự xâm lấn của văn hóa phương Tây, truyền thống của Ấn Ðộ theo thời gian gần như đang trên bờ tuyệt chủng. Thế nên, Bộ Thủy sản, Chăn nuôi và Sản xuất sữa của Ấn Ðộ đã kêu gọi người dân Ấn thay vì kỷ niệm Valentine’s Day hằng năm của Phương Tây thì nên thay bằng: “Cow Hug Day!”, ‘Ngày Ôm bò” của Ấn Ðộ.
‘Cow’ là con bò cái. ‘Bull’ là con bò mộng, bò đực. Mấy Chú Bảy Cà ri nầy chỉ dám xúi dân Ấn ôm con bò cái, con ‘cow’, thôi nhe! Không dám xúi mấy em ôm con bò đực, con ‘bull’. Vì sợ mới xáng lại tính ôm ôm coi chừng con ‘bull’ nầy nó gắn cho em mầy đôi cánh bay tuốt lên trời xanh. Bộ hổng thấy phần số của đấu sĩ bò tót Tây Ban Nha chuyên nghiệp hay sao? Họ không dám ôm bò âu yếm. Chỉ dứ dứ tấm vải đỏ. Giỡn chút chơi mà nó quạu, nó húc một phát lòi ruột; phải đi chầu ông bà, ông vải.
Có người nghĩ dân Ấn tới hơn 1 tỉ 4. Nhiều quá tất nhiên có người thông minh như: Kamala Harris, Phó Tổng thống Hoa Kỳ, Rishi Sunak, Thủ tướng Vương quốc Anh, Sundar Pichai, sếp sòng Google cũng mặc sarong, ăn cà ri. Chớ đâu phải tưng tửng như chánh phủ Ấn Ðộ đâu nè?
Dẫu vậy, thính mũi hơi tiền, một công ty sữa của Ấn Ðộ đã giới thiệu ‘liệu pháp ôm ấp bò’ tại trang trại ở ngoại ô thành phố Hyderabad cách Tân Ðề Li (New Delhi) khoảng (1,538.3 km) về hướng Nam
“Theo nhu cầu của công chúng, chúng tôi đã có khoảng 100 khách hàng và hiện chúng tôi đang mong đợi nhu cầu sẽ tăng lên.” Xong, công ty nầy dụ dân Ấn bằng cách nói: “Chú Sam cũng chơi ‘ngu’ như vậy” (?!) . “Ở Mỹ, ‘liệu pháp ôm ấp bò’ đã trở thành một mốt thời thượng. Người ta phải trả tới 200 đô la để được ôm ấp và âu yếm một con bò. Ðó là một biện pháp chăm sóc sức khỏe”. Nhưng mấy chú Kangaroo của Úc lên tiếng “I can you”. Ðừng có nghe lời xúi dại đi vô ruộng ôm con bò cái vào Valentine’s Day. Vì những con bò bị ôm bất tử sẽ sợ hãi rồi trở nên hung dữ ai biết đường đâu mà rờ? Chó là thú cưng quen với việc người ta vuốt ve. Nhưng bò không phải là chó. Ôm bò coi chừng nó húc vào mông.
nguồn mithilatoday.com
Còn nhứt định muốn ôm con bò cái vào lòng nhân Ngày lễ tình nhân, các chuyên gia có bằng cấp đầy mình về hành vi của động vật khuyên: “Nên tiếp cận những con vật một cách dịu dàng từ từ, tránh đột ngột. Vì làm bất ngờ, con bò tưởng bị sách nhiễu về tình dục nó đá một cái là không còn một cái răng mà ăn cà ri bánh mì!”
Rồi một chú Bảy cà ri dê chê chánh phủ Ấn Ðộ huỡn quá nên đi làm chuyện ruồi bu, chuyện trời ơi đất hỡi. “Vài tháng trước, hàng ngàn con bò bị bịnh lở mồm long móng, xác chết nằm la liệt ngoài đường mà không có ai chăm sóc cho chúng? Giờ thì mấy ông nội con nít lại xúi đi ôm bò vào Ngày lễ Tình nhân?
Tui cũng thấy làm lạ thiệt! Nằm gác chưn lên trán, tui ráng mà tìm hiểu tại sao ngày 14 tháng 2 không ôm con vợ hoặc con bồ mà lại đi ôm con bò cái? Chắc ẩn ý của Thủ tướng Narendra Modi là muốn cho Ấn Ðộ không bị bùng nổ về dân số tạo thành nạn nhân mãn hay chăng? Ðẻ nhiều quá nuôi sao xuể?
Phản ứng lại với đề nghị vừa lạ, vừa vui nầy người xài mạng xã hội trên toàn thế giới đăng những lời chọc quê cũng vui không kém! Họ chế giễu Bộ Thủy sản, Chăn nuôi và Sản xuất sữa của Ấn Ðộ. Thiên hạ nói hành động ‘tưng tửng’ nầy là một cái quái thai của một nền chính trị dân tộc chủ nghĩa của người Hindu.
Thiết nghĩ, trước khi xúi dân, mấy chánh trị gia cà ri nị nên làm gương, ôm con bò cái trước đi. Ôm xong mà còn hàm răng để ăn bốc cà ri bánh mì thì dân Ấn mới tin. Thủ tướng Narendra Modi bị thiên hạ thọc lét nhột quá nên đã hủy bỏ “Cow Hug Day”. Thiệt là tiếc quá!
1. – Cô đưa tay ra. Nam tả nữ hữu, bàn tay phải ấy.
Mộng nghe lời. Như số đông, Mộng thuận tay phải, thử nắm bút tay trái chữ viết xuống xấu tệ nét run như gà bới. Con dao gọt hoa quả cũng vậy, láng cháng sẽ khiến cho mấy ngón ở tay phải đổ máu. Mộng không rõ cớ sao vận mệnh con người lại chỉ định riêng lối: Con trai nằm ở bàn tay trái mà ẩn khuất lại bày ra trên bàn tay phải của con gái, đàn bà, phụ nữ. Có gì khác nhau giữa trái, phải?
Thầy bói là một gã trung niên, dĩ nhiên hai con mắt còn lành lặn, long lanh soi mói là đằng khác. Nếu mù, gã đã chẳng hành nghề việc xem chỉ tay. Tay gã nóng khi mân mê trăn trở bàn tay Mộng, cầm lên đưa gần mắt rồi đặt lại xuống bàn. Bàn nhỏ, trải tấm khăn đỏ chỉ bày ra một bộ bài tây có 52 lá cơ rô chuồn bích đã chất chồng dồn xếp lại nguyên trạng. Không hiểu do đâu Mộng mọc lên cái ý nghĩ, rằng nếu chia bài ra sát phạt xì-lát, cát-tê, xì-phé, xập xám chướng… ắt Mộng sẽ sớm cháy túi trước gã thầy bói. Đứng ngoài mép bàn là cái ly đựng gạo dùng để cắm nhang, nãy giờ cây nhang thắp từ phút trước đang cháy ngún gần hết chiều dài nó mang, cà kê dê ngỗng gì thì cũng sẽ đến hồi chung cuộc.
– Cô sở hữu một bàn tay đẹp, dầy dặn, tròn đầy, nói chung là tốt tướng. Bao đường chỉ chằng chéo đều rõ ràng minh bạch. Đường giao cắt này đâm lên gò vệ nữ cho tôi thấy số cô luôn gặp may mắn mặc dù đường tình duyên thường bị đứt đoạn. Quá khứ, cô từng chịu hai lần đổ vỡ, nếu tôi đoán không lầm; nhưng chẳng sao cả bởi hậu vận của cô rất tốt. Sau này cô sẽ có lắm con, tạm gọi là vượng phu ích tử.
Cũng bằng tay phải, Mộng dùng nó để trao những tờ giấy bạc đến tay người không đủ tài sức huyền nhiệm để nhìn thấy bao bí mật của Mộng. Từng đi chùa cúng vong, nữ thí chủ Mộng luôn thành tâm nguyện cầu đặt tiền vào thùng phước sương nhưng Mộng chẳng mấy tin vào sự độ trì chứng giám của các vị thần linh khuất mặt. Mộng cũng nghi ngờ việc gieo ác thì gặp quả báo nhãn tiền, đứa giết người không gớm tay vẫn sống hùng sống mạnh và chúng đã là một bộ phận không nhỏ nhởn nhơ giữa cuộc sống này. Chúng vào chùa thắp nhang và tâm hồn nghe thanh thản khi nghe câu “vất đao xuống có thể thành Phật”. Chưa thấy biến chuyển thì lại nắm đao lên, tay vấy máu chỉ là bởi hoàn cảnh buộc phải thế. Không có cách chọn lựa.
Mộng đi ra, chẳng gửi tiếng chào đến gã thầy bói. Người đàn ông ngồi vắt chân chữ ngũ trên chiếc xe máy liền sửa thế, khởi động máy nổ chạy lại gần:
– Thấy sao? Người ta đồn thổi có đúng với tài nghệ không?
– Thì có cái đúng có cái sai. Điều mà em không thích là ổng mân mê sờ soạn bàn tay em quá lâu, không chịu buông tha. Xem chỉ tay thôi mà! Làm gì như kiểu muốn bào mòn da tay người ta luôn vậy đó!
Người đàn ông thôi hỏi han. Ông quành xe trở lại thành phố.
2. Đến một lúc nào đó, rồi hắn cũng có được vợ. Vợ biểu hắn thề nguyền một dạ không đổi chuyện yêu thương. Hắn thề, kiểu như nói láo cho bà vật. Kiểu nói sai thì trời đánh thánh đâm, kiểu phụ tình thì ra đường bị xe cán dẹp lép như con tép. Vợ dán kín môi hắn bằng một nụ hôn mê man, cướp mất dưỡng khí, hài lòng không ưa nghe thêm viễn cảnh bi thương nào khác.
Vợ cấn thai, chuyển bụng. Ì ạch lặt lè vô thấu nhà thương máu chảy luôn tuồn giữa hai chân. Cửa mình ù lì không chịu mở rộng thêm, đỏ mặt tía tai bặm môi nín thở rặn hụt hơi vẫn cứ trơ trơ mắt thị. Họ quyết định ngăn tiếng rên la nọ bằng cách mổ bụng hòng cứu hài nhi tím tái bèo nhèo khỏi chết ngạt. Đứa bé cao số đó không phải là con hắn. Mất đến mấy phút mới khóc oe oe chào cuộc đời buồn nhiều hơn vui. Cha mày họ gì thế hử? Mày mang cùng họ với tao thì có ô kê không nè? Địt mẹ mày nhé. Má mày chết đi sống lại vì mày đấy, ông tướng ạ!
Sau này nghe vợ kể, thật thà khai báo rằng tuổi thơ cô chẳng mấy khi được ấm êm, sở dĩ bố mẹ cô mãi cơm không lành canh chẳng ngọt đơn giản là vì cô không phải con ruột của bố, mẹ cô âm thầm đi làm cuộc cách mạng bản thân dấm dúi với một gã làm chung trong cơ quan.
Hắn dắt bố vợ ra quán rượu khi trong túi dư bạc thừa tiền. Đồng bệnh tương lân sương sương giải sầu rượu vào mà lời không ra. Hai mặt trời cùng thắp đỏ chẳng màng thế sự vây quanh kể cả những ánh mắt nhìn đểu, tì tì cứ ly này sang ly khác. Vô đi bố, hồi nào cho chó ăn chè mới hạ hồi phân giải. Mầy nói phải, chuyện gì cũng còn có đó, bởi chăng hai ta nào phải là Tào Tháo để đởm lược lộng ngôn: Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta!
Bên ngoài quán nhậu bình dân chạng vạng lần khân liếm tới bậc thềm u muội, nhọ mặt người trông nhau không rõ hình tướng thoạt gần thoạt xa. Bố vợ hắn hất mặt lên ngọn đèn đường vừa cháy đỏ:
– Quái, chúng đang bận việc gì mà chẳng bỏ thời giờ chạy ra réo chúng ta về xơi cơm nhỉ? Chúng đi lâu thì mình sốt cả ruột mà đến phiên mình giận lẫy bỏ ra ngoài nầy thì chúng cứ mặc xác. Mẹ nó chứ, mấy thằng láng giềng vai u thịt bắp khiến mình đâm mất thế giá hẳn. Này, mày có thông hiểu câu ngạn ngữ “ngựa quen đường cũ” là gì không?
Thấy thằng con rể ngậm câm, ông bố lè nhè vào khoảng trống: Thằng Mạnh Tử bên Tầu từng nói mà chẳng ai nghe “yêu thì xác nhận rằng yêu, không yêu thì cứ nói thẳng là không yêu, như thế mới đích thực là yêu”.
3. – Buông em ra cho em về kẻo muộn mất.
– Vì hoạ sĩ, có thể anh hơi bị méo mó, ngay phút đầu anh nhìn nhận ra ngay là em có đôi bàn tay quá đẹp.
– Anh không phải là người đầu tiên đâu nhé, em từng nghe gã thầy bói mân mê ca tụng.
– Bao giờ thì em chịu khoả thân làm người mẫu?
– Hồi nào anh minh hoạ trình bày bìa và hoàn tất bốn cái phụ bản cho tập thơ em rồi hẳn tính.
Người đàn bà nhìn ra song cửa vừa mở hé, xong lại đảo mắt tới chiếc áo mưa móc gần cửa chính, thì thầm:
– Không, của Trần Huyền Trân. Hai câu này mới là của Hoài Khanh:
“Mai kia đốm lửa tan rồi Về trong gió bụi nhớ thời vong lưu”.
– Liệu tập thơ em in ra có người tìm mua không?
– Nào có hề gì. Đôi lúc niềm vui đâu có ai ban cho, phải tự mình tìm kiếm lấy. Tranh anh góp chung với thi tập em khổ công làm, kỷ niệm ấy không khiến anh vui sao?
– Vui, đáng yêu, đáng nhớ. Nhưng em phải lường trước một chuyện, đó là thứ niềm vui quá lộ liễu, sợ thọ chẳng được lâu.
– Vì sao?
– Vì ác khẩu, vì tiếng ong ve. Vì sự thật vốn là sắc xám.
– Lỗ Tấn nói, phải không?
– Không. Mệnh đề sau là của ông André Gide. Hạnh phúc có khi là một kho báu, chúng ta nên đào chôn thu cất nó ở nơi thật kín đáo. Lạy bà tôi ở bụi này thì niềm vui của đôi ta bị soán đoạt mất. Trước khi chúng giũ áo đoạn lìa ta, anh muốn hối hả vẽ cho em một bức khoả thân là vì vậy. Một người có đôi bàn tay đẹp, người đó hẳn còn phát tiết tinh hoa ra ở những khu vực khác.
– “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách” nhưng cơn mưa đang trút nước ngoài kia e xúi em nán lại bên anh dài lâu. Bóng tối nhiều thế kia thì làm sao anh vẽ được?
– Khéo lo! Anh có ba cây đèn đặt ở chỗ đáng đặt nhằm làm tương phản sắc độ giữa ánh sáng và bóng tối. Em nằm nghiêng thân trên giường, tấm chăn mỏng đắp ơ hờ từ mông xuống giữa hai đùi…
Câu nói không đi hết đường vì người nói vừa nhìn ra tấm thân trắng đục màu sữa từ tốn leo lên giường. Không riêng đôi bàn tay suông dài, toàn bộ nhúm tóc người mẫu cũng thuộc dạng đẹp ngất ngây.
Nằm đây ủ mộng cho tròn Chăn đơn gối lệch hao mòn màu xưa.
Người tự nhận là hoạ sĩ đọc lên câu thơ của tác giả Lệ Mộng đang trần như nhộng. Một con ngài cựa mình thành bướm, một con ve sầu lột vỏ thoát xác, hoá thân nào cũng khiến gã xúc động. Không bấn loạn phút ban đầu, nghệ thuật tạo hình làm sao hiện hữu?
4. – Má bận công chuyện, má giao con trách nhiệm xuống thu tiền nhà. Khoai Lang nói sau khi gõ cửa. Chú có đó không?
Cửa mở, đủ rộng để đứa con trai chừng mười hai tuổi lách thân vào. Bà Tám từng vui miệng giới thiệu “cục cưng” cho kẻ đến mướn thuê phòng: Thời mang thai nó gặp khó khăn nên tui chỉ biết ăn khoai, âu cũng nên vin vào tay chân cứng cáp nó mà nhớ lại thời hột gạo phải cắn làm đôi. Cứng cáp dường nào thì chưa có cơ hội chứng minh, nhưng mặt mày thằng Khoai Lang coi bộ lanh lợi, sẵn sàng đại diện cho bà Tám làm hậu phương vững chắc để đối phó những việc linh tinh, ví như đi đòi nợ.
Khoai Lang nhìn những tấm tranh treo chật vách. Tĩnh vật, phong cảnh, người ngợm, xanh xanh đỏ đỏ làm hấp lực dẫn dắt đôi chân Khoai Lang đi thăm thú nhìn ngang liếc dọc.
– Chú là hoạ sĩ à? Đơn thân trong phòng luôn khoá cửa, không ra ngoài tìm công ăn việc làm, chẳng có ai lại mua tranh, chú sống bằng cách gì?
– Hỏi má xem, có bao giờ chú thiếu tiền nhà đâu, bất quá chỉ trả muộn một đôi hôm. Uy tín quá đi chứ.
– Má nói chú thiệt lạ đời, lủi thủi mình ên như một chiếc bóng. Má thích chú ở chỗ đó, không tùng tam tụ tứ, không nhậu nhẹt, không ti-vi, không giàn máy nhạc, suốt ngày nghe êm ru bà rù. Í, ngay cả bếp lò cũng hổng thấy, chú ăn uống kiểu gì đây?
– Khoai Lang nhiều chuyện ghê nơi. Nghe câu này chưa? “Quân tử thực bất cầu no”. Má cũng có khi làm quân tử, cứ nhai khoai lang riết. Hề hề, chú ra đầu đường ăn cơm bụi, hoặc kẹt quá thì thổi harmonica cũng ô kê.
– Thổi harmonica là sao?
– Là gặm khúc bánh mì, chút tương ớt chút xì dầu là đủ để phát tiếng hít hà. Không biết hồi đó má của Khoai Lang có hít hà khi cắn lựu đạn?
– Cớ gì mà kêu là cắn lựu đạn? Sao chú ưa đổ tiếng ác cho má vậy?
– Thì hình dáng mấy củ khoai hổng giống quả cà na lựu đạn sao? Nè, tiền đây, Khoai Lang đếm lại dùm cái, chừng nào đủ số viết cho chú cái biên nhận. Mình cá mè một lứa, xếp chung là dạng người lắm tình cảm, nhưng tình cảm cũng phải có giấy xác nhận giữa đôi đàng cho thêm phần vững chắc khỏi sanh hậu sự lôi thôi.
5. Bà Tám phân bua cùng bà con lối xóm: Tui ra ngoài chợ, đến khi về mới hay cớ sự. Nghe thằng Khoai Lang kể có hai ông một già một trẻ chạy xe máy vô sân đập cửa phòng trọ rồi vây lại hỏi chuyện anh hoạ sĩ. Ông trẻ gọi ông già bằng bố, mặt ông nào ông nấy đỏ lừ xem chừng khí thế hung hăng ngó rất căng. Rồi sao nữa mày?
Khoai Lang tiếp lời: Họ to tiếng với nhau, hai người khách không mời đòi bồi thường thiệt hại tới mười triệu đồng. Ông trẻ tuổi đội nón bảo vệ nên không thấy sừng mọc ở đâu cả, mặc dù ổng nói bị vợ cắm sừng trên đầu. Ổng chỉ mặt chú hoạ sĩ nói thằng chả là tác giả giọt máu vô thừa nhận khiến ổng tự nhiên hành xác phải nuôi con mọn. Mười triệu là giá mềm, nếu nhắm hổng đủ sở hụi để thanh toán thì ổng chở cục thịt ngu ngoe tới dụt vô phòng, đến khi ấy mới biết thế nào là lễ độ. Nhắm mình ên nuôi con mọn có ổn không, bớ thằng tía chạy làng?
Chòm xóm hết ngó bà Tám tới nghía thằng Khoai Lang, có cô gái đại diện đám “dư luận viên” chõ mỏ vô: Hai má con này ghiền phim nhiều tập của Hàn quốc Trung quốc hay sao á, ưa lê thê trên từng cây số chả biết ngã ngũ như nào!
Khoai Lang lớn tiếng: Trong khi hai người trung niên lời qua tiếng lại thì ông già chạy tuốt vô phòng lôi từ đâu ra bức tranh vẽ một bà ở truồng nằm hở hang bức xúc. Ông già la: Tang chứng vật chứng rõ ràng, mày vẽ xuất thần quá mà, nhìn là biết con Mộng ngay. Riêng mình nó chứ còn ai trồng khoai đất này? Ổng hỏi người con rể: Mày làm chồng nó vậy chớ có khi nao đã nhìn rõ ngọn ngành thông thoáng như thế nầy chưa? Mang về nhà mà treo mà thưởng ngoạn kẻo phí của giời con ạ! Chúng ta sẽ gọi xe ba gác để khuân hết toàn bộ tranh ảnh đồi truỵ kia làm vật thế chân, gia hạn trong hai hôm phải kiếm ra mười triệu chúng ta mới trả lại thành quả công sức lao động của nó.
Giọng cô gái hồi nãy lại cất lên: Chuyện nhạt như nước ốc, chưa thấy có cảnh đánh ghen nào mà hiền lành đến thế, chí ít ở hiện trường phải dây chút máu đổ thịt rơi chớ. Tiếng một cậu thanh niên chận ngang: Người ta đàn ông với nhau thì xử sự phải theo cách của nam nhi chi chí, hồi nào có mặt đàn bà xía vô mới làm cho rách việc ra, xé áo lột quần cắt tóc tung nắm ớt bột vào mặt rồi la chết con đĩ mẹ mày chưa, đồ đi giựt chồng thiên hạ. Bà chị thấy tui nói có đúng không?
6. Thìn học trên tôi một lớp. Ra trường trước tôi một năm. Thìn thích giang hồ, xuôi nam, rộng cẳng đi đây đó để mở rộng tầm nhìn, học hỏi. Tóm lại, ngoài chất nghệ sĩ phong sương lăn lóc gió bụi, Thìn còn cao tay nghề hơn đám bạn cũ mãi loay hoay tìm đủ mọi cách mưu sinh, cuồng chân không thoát khỏi địa phận chôn nhau cắt rốn, sống thấp hèn chẳng đơm nổi một mộng ước nào, an phận thủ thường, sợ sóng gió.
Bữa ấy mưa đổ mù trời, tưởng đi mất đất bất ngờ Thìn năm xưa hiện về tìm đúng nhà hỏi thăm tôi, hình hài ướt như chuột lột. Thìn cho hay làm chuyến tàu quy cố hương vừa từ nhà ga bắt xe ôm về. Thìn có bà chị ruột định cư ở Mỹ, mượn tên và địa chỉ tôi để đón nhận một món tiền “cứu đói” từ phương xa lá lành đùm lá rách. Chậm lắm là ngày mai. Thìn nói: Tôi hết đường binh, đành réo người cật ruột xa xôi hơn cả một đại dương sóng lớn.
Tôi cùng Thìn đội mưa đi tìm một quán vắng kiếm thức dằn bụng. Tuy không uống bia rượu, Thìn đổ dốc ra hết những chén đắng. Đại loại Thìn đang là đứa trốn chạy tai ương, chưa tìm ra một giải pháp vẹn toàn hòng tìm nhặt chút an ổn, vật chất lẫn tinh thần. Quá tàn tệ! Thìn chấm câu. Tôi tìm cho Thìn một nhà nghỉ giá bèo đặng ngủ qua đêm, một giấc tiều tuỵ. Rồi tạm chia tay, tin vào số đô-la đầy hứa hẹn, thứ ánh sáng thắp lung linh nằm cuối đường hầm.
Hôm sau, khoảng mười giờ sáng có người đến gõ cửa, gọi tên tôi. Đưa giấy tờ chứng minh để ký nhận một phong thư hào sảng nhét đủ trong đó 500 Mỹ kim. Tôi chạy tới nhà nghỉ, dừng xe ngang phố đèn đỏ để kịp thấy bắt mắt tranh minh hoạ ngoài bìa một tập thơ của tác giả mang tên lạ: Lệ Mộng. Thìn là người hoạ sĩ trình bày bìa cho thi tập “Đổ Cạn Tin Yêu”. Tôi bỏ ra 85.000 và cầm lên săm soi nét vẽ tài hoa của Thìn. Nói theo kiểu thường tình: Hiểu ở mặt nào đó Lệ Mộng và Thìn chính là đồng tác giả, là bố mẹ đẻ ra đứa con tinh thần gần 200 trang mong manh èo uột.
Chúng tôi ngồi uống cà phê trước sân ga. Ở đó, không mấy lâu tai sẽ nghe vang vọng những hồi còi khi tàu chuyển bánh. Trời quang mây tạnh, Thìn nheo mắt nhìn màu nắng rơi từng đốm trên chùm lá me: Tôi lại xuôi nam, số tiền 500 đô này tôi sẽ trao tận tay nhà thơ, tôi không muốn người ta nghĩ xấu về tôi. Ít ra tôi cũng là một người cha đàng hoàng, dẫu không danh chính ngôn thuận.
Tay bắt mà mặt không mừng. Nhà ga muôn đời là sân khấu xúi người ta đóng tuồng xa nhau. Đợi bóng Thìn khuất lấp biệt dạng, tôi mở tập thơ ra:
Đừng bắt em trở dáng nằm Ngoài kia sương lạnh trăng rằm bỏ đi.
Thơ của Lệ Mộng. Thơ của người đàn bà ngoại tình lén đi ăn nằm với bạn tôi, thằng hoạ sĩ nghèo. Nghèo mà ham!
Tàu Thống Nhất rùng rùng chuyển động. Không một bàn tay vẫy cho kẻ quay lưng, không một khăn tay vày vò vừa chặm xong nước mắt, bởi đời sống này đã quen thuộc, đã chai mặt với những biệt ly.
Huy hiệu Truyền tin Lục quân Hoa Ky của en.wikipedia.org
Thiếu tá Long Trinh là Sĩ quan Truyền tin Lục quân Hoa Kỳ hiện địch, ông được chứng nhận an ninh cấp Tối mật/Thông tin Nhạy cảm được Phân loại (TS/SCI). Trong Quân đội Hoa Kỳ, chứng nhận TS/SCI là cấp độ thẩm quyền an ninh quốc gia cao nhất, bắt buộc đối với việc giải quyết các thông tin tình báo, hoạt động giám sát và các chiến dịch quân sự mang tính trọng yếu. Thiếu tá Long Trinh có năng lực lãnh đạo chỉ huy với 14 năm kinh nghiệm qua các vai trò phát triển, vận hành, quản lý thiết bị truyền tin liên lạc kỹ thuật và quản lý nhân sự. Ông sở hữu chuyên môn sâu rộng trong việc nâng cao hiệu suất, giải quyết vấn đề và thể hiện năng lực chỉ huy xuất sắc. Thiếu tá Long Trinh đang thụ huấn khoá Sĩ quan tu nghiệp tại Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Nhiệm kỳ vưa qua, ông phục vụ trong Bộ Tư lệnh Không gian Hoa Kỳ (USSPACECOM) tại Colorado Springs, Colorado, ông giữ chức Phó phòng J65/7, sau đó ông được bổ nhiệm chức Sĩ quan điều hành từ tháng 1 năm 2023 đến 5 tháng năm 2024.
Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) toạ lạc tại Fort Leavenworth, Kansas. Trường được thành lập vào năm 1881 với tên gọi Trường ứng dụng Bộ binh và Kỵ binh tại Fort Leavenworth, Kansas, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu (CGSC) phát triển để đáp ứng nhu cầu giáo dục và tác chiến của Quân đội Hoa Kỳ. Thông qua các khóa học nghiêm ngặt và chương trình phát triển lãnh đạo, Trường đã đào tạo ra những Sĩ quan có năng lực lãnh đạo cao, quyết đoán và linh hoạt. Trường giáo dục, huấn luyện và phát triển các nhà lãnh đạo cho các hoạt động đa lãnh vực (MDO) và các hoạt động liên hợp toàn lãnh vực (JADO) trong môi trường tác chiến liên hợp, liên ngành, liên Chính phủ và đa Quốc gia (JIIM); và thúc đẩy nghệ thuật và khoa học của Nghề nghiệp Quân sự để hỗ trợ các yêu cầu tác chiến của Quân đội. Tầm nhìn của Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân là hiện đại hóa giáo dục lãnh đạo tổ chức bằng các công nghệ học tập tiên tiến và các phương pháp giảng dạy đổi mới để tạo điều kiện cho sự chuyển đổi liên tục trong toàn Quân đội, phát triển các nhà lãnh đạo có phẩm chất, những người phát huy ưu thế nhận thức trước các mối đe dọa thích ứng, và cung cấp khả năng tác chiến quyết định cho các Bộ Tư lệnh/Bộ Chỉ huy Quân đội và Lực lượng Liên hợp.
Huy hiệu Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ của en.wikipedia.org.
Thiếu tá Long Trinh thụ huấn Chương trình huấn luyện Sinh viên Sĩ quan Lục quân trừ bị (Army ROTC) tai Trường Đại học Tiểu bang San Francisco (San Francisco State University), và tốt nghiệp năm 2010. Nhiệm vụ đầu tiên của một Sỉ quan Lục quân trẻ, Thiếu uý Long Trinh được chỉ định làm Sĩ quan chuyên viên điều hành mạng, Bộ Tư lệnh Phòng thủ hoả tiễn và Không gian, Lục quân Hoa Kỳ (ATCOM) từ tháng 1/2012 – tháng 7/2013.
Các nhiệm vụ tiếp theo từ tháng 11 năm 2013 đến nay, ông được chỉ định/bổ nhiệm phục vụ tai các đơn vị bao gồm: Sĩ quan điều hành Đại đội B, Tiểu đoàn Truyền tin 442, Lữ đoàn Truyền tin, hỗ trợ đắc lực cho Đại đội trưởng trong việc bảo đảm công tác tiếp liệu, bảo trì và hành chánh của Đại đội luôn đạt kêt quả xuất sắc.từ tháng 11/2013 đến tháng 1/2014; Sĩ quan Đại đội Truyền tin liên lạc Nhảy dù, trực tiếp yểm trợ Lữ đoàn 1, Sư đoàn 82 Nhảy dù từ tháng 2/2014 đến Tháng 6/2014; Trung đội trưởng, Trung đội Mạng Liên hợp (JNN), trực tiếp yểm trợ Lữ đoàn 1. Sư đoàn Dù số 82, bảo đảm các hệ thống truyền tin liên lạc quan trọng từ tháng 6/2014 đến tháng 11/2015; Sĩ quan Truyền tin Tiểu đoàn, Liên đoàn 3 Lực lượng Đặc biệt, đổ bộ đường không, đảm nhiệm vị trí Sĩ quan Truyền tin Tiểu đoàn thuộc Lực lượng Đặc nhiệm phụ trách khu vực tác chiến của Bộ Tư lệnh Trung tâm Hoa Kỳ (CENTCOM).từ tháng 11/2015 đến tháng 6/2016; Sĩ quan Phân đội trường, đảm nhiệm chỉ huy Phân đội Truyền tin (SIGDET) thuộc Tiểu đoàn Lực lượng đặc biệt, hoạt động trong khu vực trách nhiệm (AOR) của Bộ Tư lệnh Tác chiến Đặc biệt Tiền phương – Tây Bắc Phi châu (SOCFWD-NWA) từ tháng 6/2016 đến tháng 3/2017; Sĩ quan Chuyên viên Mạng, Sư đoàn 63 sẵn sàng chiến đấu, Lực lượng trừ bị Lục quân Hoa Kỳ, chịu trách nhiệm vận hành các chương trình và quy trình ngân sách liên quan đến công tác quản lý hồ sơ, hoạt động bưu chính, in ấn, các ấn phẩm và biểu mẫu v.v… từ tháng 3/2017 đến tháng 12/2017; Sĩ quan huấn luyện, Bộ Tư lệnh yểm trợ Quân khu 79 (79th TSC), theo dõi các chương trình huấn luyện của các đơn vị thuộc mô hình sẵn sàng vững chắc (Sustainable Readiness Model) từ tháng 1/2018 đến tháng 7/2018; Đại đội trưởng, Đại đội Truyền tin (S6) thuộc Tiểu đoàn 307 Công binh Nhảy dù, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 82 Nhảy dù từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018; Sĩ quan Truyền tin Tiểu đoàn thuộc Tiểu đoàn Trinh sát Kỵ binh 5-73 (5-73 CAV), Lữ đoàn 3, Sư đoàn 82 Nhảy dù tại Fayetteville, North Carolina từ tháng 12/2018 đến tháng 6/2020; Đại đội trưởng, Lữ đoàn 4, yểm trợ Lực lượng an ninh tại Colorado Springs, Colorado.
Từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 5 năm 2024, Phó phòng J65/7, sau đó Thiếu tá Long Trinh được bổ nhiệm chức Sĩ quan điều hành Bộ Tư lệnh Không gian Hoa Kỳ (United States Space Command) tại Colorado Springs, Colorado; và hiện nay, thụ huấn khoá Sĩ quan tu nghiệp tại Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College).
Thiếu tá Long Trinh hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cao học Nghệ thuật và Khoa học Tác chiến Quân sự, Trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) năm 2015; Văn bằng Cử nhân Tâm lý học, Trường Đại học Tiểu bang San Francisco năm 2010; Văn bằng Cao đẳng Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Cao đẳng cơ sở Santa Rosa 9 (Santa Rosa Junior College), năm 2008.
Thiếu tá Long Trinh là 1 trong hơn 150 Thiếu tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt (không tính nhiều vị đã hồi hưu) đang phục vụ trong các binh chủng của Quân chủng Lục quân Hoa Kỳ, một số nam, nữ Thiếu tá được ghi nhận gồm có: Thiếu tá Perry Pham (gốc Việt), Trưởng phòng phối hợp Lực lượng quân sự, Trung tâm huấn luyện tác chiến Lục quân Hoa Kỳ’Thiếu tá Nathan Nguyen, Phó phòng Truyền tin, Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị; Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Tai Nguyen, Sĩ quan Chương trình trao đổi quân sự Mỹ-Úc; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều nam, nữ Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Long Trinh và ThanhLong J, Trinh. Họ và Tên Việt Trịnh Thanh Long.
Kỳ tới: Đại Tá Jackson T. Đoan (gốc Việt), Sĩ quan cao cấp Phụ tá điều hành cho Tư lệnh phó, phụ trách các Căn cứ và tiếp vận Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Nhận được tin buồn Phan Lạc Phúc, tức Ký Giả Lô Răng, nguyên trung tá Quân Lực VNCH, chủ bút nhật báo Tiền Tuyến, qua đời lúc 1 giờ 32 trưa Thứ Năm, ngày 28-4-2016 tại Sydney, Úc Châu, hưởng thọ 88 tuổi.
Tôi quen Phan Lạc Phúc từ năm 1956 khi làm chung tại Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH. Hồi đó anh là đại úy và có thời làm Trưởng Ban Báo Chí. Tôi làm dưới quyền anh nhưng anh vẫn xem tôi là bạn, dù tôi ít tuổi hơn và mới là anh trung úy trẻ. Nhà anh ở ngay chợ An Đông, bà vợ là con một ông chủ tiệm vàng ở Quy Nhơn nên vào Sài Gòn cũng mở tiệm vàng.
Tôi mới từ Nha Trang đổi vào Sài Gòn, ở nhờ nhà bà dì, em của mẹ tôi. Anh có chiếc xe Fiat thường đến đón tôi cùng đi làm. Mỗi buổi chiều chúng tôi thường chơi bóng chuyền ngay trước cửa Phòng 5. Anh cao ráo bảnh trai, đứng trên lưới đập bóng khá hay. Tôi là người nâng bóng.
Tuy chân anh bị thương hơi tập tễnh, nếu không chú ý thường không thấy.
Sau này có lúc anh làm Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi nhớ mãi hôm vào nhà đại tá Vũ Quang, anh được tặng một trái đào. Anh để dành mang về tặng cho mẹ tôi. Anh nói “nhìn bà cụ nhà ông tôi nhớ hình ảnh bà mẹ tôi”.
Thỉnh thoảng nhà tôi có tổ chức vài món ăn đặc biệt truyền thống miền Bắc xưa mà ngày nay hầu như “mất tích”, không có bất cứ cửa hàng nào bán và cũng rất ít nhà nào làm được vì sự nhiêu khê của nó và những công thức gia truyền – như phải chọn con cá chép hay cá mè ra sao mới làm được món gỏi cá, hoặc phải chọn thứ rau muống nào, nhúng nước sôi bao lâu mới làm được món nộm rau muống. Chưa kể các món phụ gia rất lủng củng như giềng mẻ, muối mè, 7 loại rau đi kèm. Lần nào cũng có những người bạn của gia đình tôi như các anh Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Phan Lạc Phúc, Thanh Nam.
Sau đó anh Phan Lạc Phúc làm Trưởng Phòng Chiến Tranh Chính Trị Quân Đoàn 3 đóng tại Biên Hòa, rồi về Trường Cao Đẳng Quốc Phòng. Năm 1969 tôi về phụ trách Đài Phát Thanh Quân Đội, anh về làm chủ bút nhật báo Tiền Tuyến của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Chủ nhiệm lúc đó là anh Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân và anh Phúc viết bài hàng ngày cho mục Tạp Ghi ký tên Ký Giả Lô Răng được rất nhiều độc giả yêu thích.
Từ đó chúng tôi gọi anh là “ông Lô Răng”.
Khi tôi lập gia đình, cần sang một cái nhà với giá 8 triệu đồng. Tôi không đủ tiền, xoay xở mãi cũng chỉ được một nửa. Ngồi nói chuyện ở Point de Blagueur tục gọi là “Mỏm Đấu Láo” bên bờ sông Sài Gòn, anh nói cho tôi mượn một nửa số tiền sang nhà. Nhờ thế tôi mới có căn nhà ở cư xá Chu Mạnh Trinh gần nhà Phạm Duy cùng nữ ca sĩ Thái Hằng.
Ở Tù, Nghe Phan Lạc Phúc Kể Chuyện Kim Dung
Sau tháng 4-1975, anh kẹt lại như tôi và cùng vào trại tù Long Giao rồi cùng đi chuyến tàu thủy “lịch sử” từ Nam ra Bắc, suốt 3 ngày đêm nằm dưới hầm tàu nơi dành chuyên chở súc vật. Đúng là cảnh “cơm đưa xuống, phân đưa lên” nói trắng ra là khi đến giờ cơm, bọn cai tù mắc rổ cơm vào dây thừng thòng xuống, chúng tôi đại tiểu tiện ngay tại chỗ nên lại phải thu gom phân vào bao đưa lên cho chúng mang đi đổ.
Ra đến Vĩnh Phú, Phan Lạc Phúc nằm cùng phòng với tôi, cùng đi “nao động” phờ phạc và cùng ăn bo bo thay cơm.
Ngày Chủ Nhật nghỉ không được ăn sáng, chúng tôi đói meo, ngồi thừ nhìn nhau mãi cũng chán nên làm quân bài mạt chược bằng gỗ đánh với nhau cho quên đói. “Ông Lô Răng” là tay mạt chược khá cao.
Tôi nhớ có lần một bạn nhắc về kỷ niệm ngày xưa khi còn trong quân đội, Phan Lạc Phúc hét lên: “Thôi xin ông, đừng bao giờ nhắc chuyện xưa nữa, buồn lắm rồi”. Từ đó chúng tôi rất thận trọng khi nhắc chuyện xưa với ông. Có những đêm buồn và lạnh, chúng tôi nằm xúm lại bên nhau nghe kể chuyện cổ tích hoặc chuyện Tây chuyện Tàu.
Phan Lạc Phúc có tài kể chuyện kiếm hiệp, những bộ truyện của Kim Dung ông nhớ rất rõ, một trí nhớ có thể gọi là siêu phàm. Ông nhớ từng thế võ của từng nhân vật, những cuộc giao đấu “thần sầu” của “võ lâm ngũ bá.” Anh em nằm nghe đêm này qua đêm khác vẫn chưa hết pho truyện Kim Dung – Phan Lạc Phúc.
Sau đó chúng tôi bị đày lên Sơn La cùng Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ và Thục Vũ chết ở bệnh xá trại tù này. Chính Phan Lạc Phúc báo tin cho tôi khi cùng làm ở vườn rau sát bên bệnh xá.
Đám Tang Nhạc Sĩ Thục Vũ
Một buổi chiều khi hoàng hôn gần xuống, đồi núi Sơn La bắt đầu có sương mù. Chúng tôi cùng đứng lặng nhìn sang bên kia bờ ao có mấy anh lính vác súng AK đi đầu, theo sau là mấy anh tù khiêng chiếc quan tài đi trên con đường mòn vòng theo dẫy núi cao rồi mất hút sau khúc quanh con đường mòn nhỏ xíu.
Đó là đám ma nhạc sĩ Thục Vũ.
Nước mắt chảy dài, Phan Lạc Phúc quay mặt vào trong lấy tay áo sờn rách che giấu nỗi đau buồn tức tủi. Hôm sau chúng tôi mới biết phần mộ Thục Vũ nằm trên sườn đồi cô quạnh lối đi vào thị xã Sơn La.
Sau đó Phan Lạc Phúc chuyển vào trại tù Thanh Hoá, tôi không còn gặp anh nữa.
Hơn mười hai năm sau, từ nhà tù cải tạo được thả về, tôi chẳng biết anh ở đâu. Cuối cùng, tôi được tin anh đi định cư ở Úc.
Khi tôi cộng tác với nhật báo Chiêu Dương và tuần báo Văn Nghệ Úc của Nhất Giang và Vi Túy, thỉnh thoảng anh Phúc đến tòa soạn thăm anh em.
Nhất Giang thường móc điện thoại gọi cho tôi ở Sài Gòn nói chuyện với Phan Lạc Phúc. Lúc đó chúng tôi mới biết về cuộc sống hiện tại của nhau. Anh cho tôi số điện thoại ở nhà nhưng anh nói hàng ngày phải vào bệnh viện thăm bà xã nên khó gặp anh ở nhà.
Tôi không nhớ rõ từng chi tiết và ngày tháng ở đây, có thể có sai sót. Nhưng tôi cần phải nói rõ lúc nào tôi cũng coi anh như đàn anh tôi về mọi mặt.
Chiều ngày 17-4-2016, Sài Gòn nóng như chảo lửa. Bất ngờ tôi nhận được thư Huy Phương từ Mỹ. Thư cho biết anh gọi điện thoại cho tôi nhưng không gặp nên gửi cho tôi tin buồn về Phan Lạc Phúc đang hôn mê trên giường bệnh. Vi Túy từ Úc cũng gửi cho tôi tin này.
Bây giờ, mọi chuyện đã qua, nhưng tôi chắc trong số bạn đọc còn rất nhiều vị biết đến tên ký giả Lô Răng và những bài viết của ông. Và sau đây là một bài viết của Ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc, bài Nhớ Phạm Đình Chương. Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc và Phan Lạc Phúc cùng là học trò trường Bưởi, Hà Nội từ đầu thập niên 1940. Ngày 22-8-1991, Phạm Đình Chương từ trần tại Quận Cam, California.
Từ Úc, Phan Lạc Phúc đã viết bài về người bạn cũ ngay khi nhận được tin buồn. Dù đã đọc rồi nhưng khi đọc lại tôi vẫn cảm thấy bồi hồi nhớ về những kỷ niệm của hơn nửa thế kỷ đã đi qua nên xin được gửi tới bạn.
Nhớ Phạm Đình Chương
Chuông điện thoại réo lên trong đêm khuya.
Một cú phone từ bên kia Thái Bình Dương, từ Mỹ báo tin: “Phạm Đình Chương đã mất rồi, Hoài Bắc không còn nữa”. Tôi đặt phone xuống mà thấy đêm khuya thêm vắng lặng mênh mông. Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm. Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Hoài Bắc Phạm Đình Chương. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt. Tôi đi cải tạo 10 năm, rồi sống nín thở trên 6 năm, vừa mới lặn ngòi ngoi nước sang được đến đây thì bạn đã đi vào tịch mịch. Bạn ta, Phạm Đình Chương đã đi thật rồi. Một người viết ca khúc tầm cỡ của Việt Nam đã mất, ngôi sao bản mệnh của Ban Hợp Ca Thăng Long đã tắt.
Tôi chơi với Phạm Đình Chương đã lâu, vào khoảng năm 1942-1943, hồi tụi tôi vừa mới lớn lên. “Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy. Làm học trò mắt sáng với môi tươi”. Tôi biết Chương trong ngày hội học sinh Trường Bưởi, trong những buổi cắm trại ở chùa Trầm, chùa Thày, Tây Phương, Hoàng Xá.
Ngày ấy, chúng tôi say mê hát “Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm”, “Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi”, và Chương đã là một tay đàn giọng hát khá nổi của học sinh Hà Nội. Nhưng mà Chương có hai người anh nổi tiếng: anh Phạm Đình Sĩ, một cây “kịch”, và anh Phạm Đình Viêm, một cây “tenor”. Chương còn có một người chị trứ danh, chị Thái Hằng, hoa hậu “bất thành văn” của suốt một miền Bạch Mai – Phố Huế. Còn người em út của Chương, Thái Thanh thì lúc ấy Thái Thanh còn nhỏ, đang còn học tiểu học, còn là một nụ hoa. Phải đợi đến thập niên 50, bông hoa Thái Thanh mới bắt đầu rực rỡ và tiếng hát Thái Thanh mới được lên ngôi.
Hà Nội ngày ấy tuy được mệnh danh là Hà Thành hoa lệ hay là Hà Nội của ba mươi sáu phố phường nhưng thực chất nó là tỉnh nhỏ – người ta biết nhau cả, trực tiếp hay gián tiếp. Và tỉnh nhỏ nó còn có tục lệ riêng của nó. Thế hệ tiền bối ở Hà Nội có tiêu chuẩn “phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Thời tụi tôi thì cái standard về một đấng trượng phu nó nôm na và thực tiễn hơn “Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu”. Phạm Đình Chương xét ra hội đủ những điều kiện ấy: Học trò Trường Bưởi, người cao ráo sạch sẽ lại là cậu út trong một gia đình nổi tiếng. Lại còn đàn ngọt, hát hay, còn là ca trưởng của học sinh trong những dịp hội hè, cắm trại. Trong con mắt tôi, một anh học trò nhà quê ra tỉnh học, từ thời áo dài mũ trắng thì Phạm Đình Chương tư cách quá.
Thời ấy, Nhật đã vào Đông Dương. Thế Chiến II đang hồi quyết liệt, bom Mỹ dội xuống đùng đùng. Các thành phố phải “phòng thủ thụ động”, các trường học phải đi xa hoặc dời về miền quê. Đang học mà có còi báo động là nghỉ; học trò kéo nhau ra các khu cây cối um tùm, hoặc bờ đầm, bờ sông tạm lánh. Đây là dịp tốt cho một số công tử Hà Nội, trong đó có Chương, về thăm quê cho biết sự tình. Về quê thì tiện cho tôi quá, tôi có nhiều trò: lội sông, câu cá, bắn chim. Hoặc là sẵn xe đạp, tụi tôi rủ nhau đi cắm trại ở những thắng cảnh gần Hà Nội như chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá.
Những thắng cảnh này đều nằm trong vùng quê tôi, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nên tôi thuộc nằm lòng. Đến chùa Tây Phương thăm ông Phật nhịn ăn mà mặc, ông nhịn mặc mà ăn, ông Phật tai dài đến gối. Đến động Hoàng Xá, tôi biết nhũ đá nào kêu thanh, nhũ đá nào kêu đục, bắn một phát súng cao su lên vòm đá là dơi bay tán loạn một vùng. Đến chùa Thày, Sài Sơn, thăm chùa Cả dưới chân, chợ Trời trên đỉnh núi rồi thăm hang Cắc Cớ nơi có dấu chân ông Từ Đạo Hạnh còn in. “Hội Chùa Thày vui thay Cắc Cớ. Trai không vợ nhớ hội Chùa Thày. Gái không chồng nhớ ngày mà đi”.
Chương ơi, Chương còn nhớ ngày hội về quê mình không?
Còn nhớ con đê Hạ Hiệp không?
Mới đó mà đã 50 năm rồi, đã nửa thế kỷ qua rồi.
Chương có nhớ cũng không thể nào về thăm được nữa. Bạn ta đã thành người thiên cổ mất rồi.
Phạm Đình Chương rất yêu miền Quốc Oai, Sơn Tây, vì không những nó là một miền thắng tích mà nơi đó còn là quê ngoại của Chương. Bà thân của Chương ở Hạ Hiệp, cách làng tôi chừng hai vạt cánh đồng. Chương tự nhận là người Sơn Tây và trong những năm đó Chương về thăm quê ngoại rất thường. Anh công tử Hà Nội và anh học trò nhà quê càng có dịp gần gũi nhau hơn.
Khi mùa Xuân cạn ngày, hội hè đã vãn, những cây gạo miền Bương Cấn tưng bừng nở đỏ cũng là lúc chim tu hú lảnh lót gọi hè về trong rặng vải bên sông. “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc”, con sông này ngoài mùa ngâu nước lũ, còn quanh năm nước chảy lặng lờ. Học trò tụi tôi lại đạp xe qua sông về rặng vải, vừa tránh bom rơi đạn lạc ở thành phố, vừa cắm trại, vừa ôn thi.
Đến năm 1945, thanh niên như Chương và tôi không còn đầu óc nào mà học hành thi cử nữa. Bao nhiêu vấn đề trọng đại ập đến trong đời: hàng vạn, hàng triệu người chết đói.
Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3. Chính phủ Việt Nam đầu tiên ra đời. Thế chiến II kết liễu, Đức-Ý-Nhật đầu hàng. Quân Tàu Tưởng kéo sang. Chiến Khu Việt Minh. Đổi đời. Cách Mạng Tháng 8. Quân đội Pháp trở về, thanh niên đua nhau đi dạy bình dân học vụ, đi khất thực, đi biểu tình. Chúng tôi say mê hát Lên Đường, lao đầu vào cuộc chơi mới không kém phần lãng mạn: đòi độc lập cho đất nước. Chúng tôi là Tự Vệ Thành Hà Nội. Chúng tôi là Trung Đoàn Thủ Đô. Như lớp lớp thanh niên cùng lứa, Phạm Đình Chương và tôi khoác ba lô lên đường kháng chiến.
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. (Quang Dũng)
Những năm đầu kháng chiến 1948-1949-1950, có các thị trấn mọc lên vội vã. Khu 10 Việt Bắc có thị trấn Cây Đa Nước Chảy; Liên khu 3 có Đồng Quan, Cống Thần, Chợ Đại; vào Khu 4 Thanh Hóa có chợ Rừng Thông. Đây là nơi dân tản cư tứ xứ kéo về sinh hoạt, đổi trao, mua bán, tạo thành những Hà Nội nhỏ. Mấy anh lính cậu ngày nào bây giờ sốt rét, xanh rớt như tàu lá, mắt trợn trừng, tóc rụng nhưng đêm đêm vẫn cứ mơ về Hà Nội. Và được dịp là phải về thăm các thị trấn mới này cho đỡ nhớ…
Đầu mùa đông 1948, tôi khoác ba lô, đổ bộ lên Chợ Đại tìm ít thuốc nivaquine chống sốt rét. Trời mưa nhớp nháp, những căn nhà tranh lụp sụp kéo dài. Chợt ở đầu đường, hiện ra một quán nước thanh bai, lịch sự mang một cái tên khá là kiểu cách Quán Thăng Long.
Trên vách quán treo song song mấy cây đàn nguyệt và một cây thập lục. Ở dưới, bên khay trà tỏa khói có hai vị trưởng thượng đang ngồi đối ẩm. Hai vị này tôi biết: Ông thân của Phạm Đình Chương và cụ N.T. Đức, một danh cầm của toàn miền Bắc. Loạn ly, binh lửa mà hai vị tri âm, tri kỷ vẫn nhàn nhã phong lưu. Chiến tranh ở chỗ nào khác chứ ở đây, Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội là vẫn cứ phải đường hoàng, cốt cách. Cốt cách như chị Thái Hằng đang ngồi trước quầy hàng, đi tản cư vẫn mang nguyên chiếc kiềng chạm bằng bạc của một thời khuê các, như Thái Thanh, cô em nhỏ mới bắt đầu thiếu nữ đang nghiêm chỉnh ngồi đan.Người vui nhất khi tôi được gặp là bà thân của Chương. Bà hỏi thăm “quê mình bây giờ Tây nó đánh đến đâu rồi”. Bà cho biết anh Phạm Đình Sĩ có lẽ kẹt, chưa có tin tức gì. Anh Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) còn đang đi ban kịch Giải Phóng, chuyên hát bài “con vỏi con voi” và “con mèo trèo cây cau” nhạc hài hước của Nguyễn Xuân Khoát. Còn Phạm Đình Chương thì công tác ở Liên khu 3, chuyên về sáng tác ca khúc. Bà khoe là Chương mới được giải thưởng về “bài hát gì mà có con cò bay lả bay la”. À ra thế, bạn ta anh công tử Hà Nội đang đưa ca dao vào nhạc mới. Chương, Chương, có phải cánh cò ấy là cánh cò bay qua rặng vải triền sông Đáy? Còn cánh đồng nào rào rạt lúa thơm mềm có phải là cánh đồng Bương Cấn khi chúng ta “Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng”.
Tôi nhớ mãi lời bà thân của Chương khi đưa cho tôi gói thuốc đựng chừng 10 viên nivaquine: “Giữ lấy mà dùng. Dạng các cậu không được phát thuốc này đâu”.
Đúng thế, dạng “tạch, tạch, sè” – tiểu tư sản – như Chương và tôi dù sốt rét vàng người, rụng tóc cũng chỉ được phát thuốc ký ninh pha loãng là cùng. Nivaquine thuốc mới, công hiệu, đắt tiền chỉ đủ dùng cho “tổ chức” mà thôi. Thực tế nó là như vậy nên ngoài một số anh em đã “áo bào thay chiếu…”, còn đa số dân tạch tạch sè là kẻ trước người sau “dinh tê” về Hà Nội. Những va chạm với thực tế làm cho giấc mơ tuổi trẻ lụi tàn, cuộc chơi lãng mạn đầu đời đã thành nỗi đam mê vô ích. Tôi về cuối năm 49, còn Chương và gia đình hồi cư năm 51. Gia đình Chương kỳ này có thêm một nhân vật lừng danh: Phạm Duy. Năm 1949, chiến tranh lan đến vùng Chợ Đại và quán Thăng Long phải dời vào Khu 4, vùng trấn nhậm của viên tướng Mạnh Thường Quân Nguyễn Sơn. Ở đây Thái Hằng trở thành bà Phạm Duy, Thái Thanh vừa lớn để bước chân vào làng ca nhạc. Cả gia đình Chương phục vụ trong phòng văn nghệ của một đại đoàn. Quán Thăng Long không còn nữa nhưng tiền thân của ban Hợp Ca Thăng Long đã được định hình. Tôi không còn nhớ rõ gia đình Phạm Đình Chương về trước hay sau cái chết của viên tướng đầy huyền thoại Nguyễn Sơn. Chỉ biết ban Thăng Long vào thành nhưng không ở lại Hà Nội mà vô thẳng miền Nam lập nghiệp.
Năm 1952 tôi cũng vào Nam, học nghề lính tại trường Thủ Đức. Những ngày cuối tuần ra Sài Gòn chơi, thấy đầu đường góc phố chỗ nào cũng có biểu ngữ, bích chương, quảng cáo Ban Hợp Ca Thăng Long. Báo hàng tuần, hằng ngày đều đăng hình ảnh, lịch trình diễn của Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, Phạm Duy. Ban Hợp Ca Thăng Long đang rực sáng, những thành viên của nó đang được mến yêu. Người Sài Gòn vốn bộc trực “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét” mà đã yêu thì yêu hết mình. Chương trình Ban Thăng Long trên đài phát thanh rất được lắng nghe, trình diễn của Ban Thăng Long lại càng ăn khách. Người ta mua “giấy” vào xem thật đông, vỗ tay thật nhiều nhưng còn chưa “đã”. Buổi trình diễn xong rồi, người ái mộ còn ở lại để tìm cách đến thật gần, nhìn thật kỹ hay nếu có thể bắt cái tay, đụng cái chân vào nghệ sĩ, tài tử thần tượng của mình. Người miền Nam ái mộ ồn ào như thế, dễ thương như thế.
Trước sự tán thưởng nồng nhiệt ấy, tôi có lúc tự hỏi: “Vì sao mà trong thời gian chưa đầy hai năm, Ban Hợp Ca Thăng Long lại lẫy lừng đến vậy?”
Tôi vốn dốt về nhạc lý, thẩm âm cũng tầm thường nên không dám đưa ra ý kiến có tính kỹ thuật nào. Bằng vào cảm quan dân dã của mình tôi nhận thấy thực chất của Ban Hợp Ca Thăng Long nằm trong một chữ vui. Vui rộn ràng khi nghe tiếng hát chen tiếng ngựa hí, Ngựa Phi Đường Xa; vui lâng lâng khi nhìn cánh cò bay lả bay la trên đồng lúa chín vàng, Được Mùa; vui đầm ấm khi nghe tiếng hò dô vang trên sóng nước, Tiếng Dân Chài; vui thấm thía nghẹn ngào khi người mẹ già cầm ly rượu uống mừng người con cả vừa mới trở về, Ly Rượu Mừng. Cái vui của nhiều cung bậc, cái vui đã được cách điệu nên dễ dàng thấm đượm lòng người. Đồng bào miền Nam xưa nay thừa thãi điệu buồn nên trong cái vô thức tập thể thiếu một niềm vui khỏe mạnh. Ban Hợp Ca Thăng Long phần nào đã đáp ứng niềm khao khát đó. Ấy là chưa kể đến một yếu tố đầy cảm tính rất phù hợp với miền Nam: Tất cả thành viên ban hợp ca đều là anh em trong một nhà. Một gia đình tài hoa quá. Một sự kết hợp đẹp đẽ quá. Nhất là sau đó ít lâu, ban hợp ca Thăng Long lại có thêm một thành viên mới: Khánh Ngọc, một bông hoa hương sắc của miền Nam. Hoài Bắc –Khánh Ngọc, một lứa đôi nghệ thuật. Ban Hợp Ca Thăng Long càng thêm sung sức.
Nhưng phải đợi đến đầu năm 1954, Ban Hợp Ca Thăng Long mới lên đỉnh cao thành tựu. Năm ấy ban hợp ca cùng với “quái kiệt” Trần Văn Trạch, thành lập ban Gió Nam ra công diễn ở Hà Nội. Lúc ấy tôi đang là thương binh nằm nhà thương Võ Tánh. Nghe báo chí Hà Nội tán thưởng Nam Phong chi huân hề – Ngọn gió Nam mát lành thay. Nghe dân Hà Nội xôn xao hâm mộ quá, tôi sốt ruột phải trốn nhà thương một buổi ra xem Gió Nam trình diễn.
Nhưng ra chậm hết vé mất rồi. Nhà Hát Lớn Hà Nội không còn chỗ. Tôi đứng ngoài nghe tiếng vỗ tay dồn dập từng hồi như sấm mà ruột nóng như lửa đốt. May quá gặp Ngọc Chả Cá, một cây công tử Càn Long Hà Nội, tôi mới được vào – Bây giờ bạn ở đâu hở Ngọc?
Người Hà Nội xưa nay khụng khiệng, ít khi nào nồng nhiệt thế đâu. Nhưng lần này, người Hà Nội bị Ban Hợp Ca Thăng Long chinh phục hoàn toàn. Trước đó tân nhạc ở Hà Nội chỉ là một bà con nghèo trước cải lương, tuồng kịch… chỉ đảm nhiệm được vai trò phụ diễn trước khi mở màn hoặc giữa hai lớp kịch mà thôi. Bây giờ Ban Hợp Ca Thăng Long với một chuỗi ngôi sao nhạc mới đã chiếm lĩnh sân khấu suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Khán giả Hà Nội được thưởng thức một chương trình nhạc mới tân kỳ sinh động tràn đầy dân tộc tính. Đây là một bước trưởng thành của tân nhạc và trở nên khuôn mẫu cho những đại nhạc hội sau này. Buổi trình diễn vừa kết thúc, toàn ban Gió Nam ra chào khán giả. Đèn rực sáng. Những bó hoa trao cho các nghệ sĩ tài năng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương giơ cao bó hoa vẫy vẫy, nụ cười rộng mở. Chương không thể nào biết trong số khán giả vô danh ấy, có một người bạn cũ của Chương đang vỗ tay kịch liệt.
Thập niên 50 là thời kỳ rực rỡ nhất của Ban Hợp Ca Thăng Long. Thời gian này cũng là lúc Phạm Đình Chương sáng tác đều đặn nhất. Những bài ca chủ lực của Ban Hợp Ca Thăng Long như Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ly Rượu Mừng… đều xuất hiện ở giai đoạn này. Không biết tôi có chủ quan không khi nghĩ Phạm Đình Chương giai đoạn này vẫn mang dáng vẻ một anh học trò mới lớn, tâm hồn trong sáng như gương, con người, thiên nhiên đều là bè bạn. Ngựa phi đường xa thế nào cũng tới, leo núi mệt nhọc rồi cũng đến nơi, đồng ruộng đầy lúa thơm mềm, con sông thì đầy trăng và đầy cá. Thế vẫn chưa hết, Chương còn rót một ly rượu mừng, mừng khắp nhân gian. Hãy lắng nghe đi, có nụ cười đâu đó, khi nhẹ nhàng phảng phất, khi trào lên như tiếng reo vui.
Cũng có lúc Phạm Đình Chương nhắc đến điệu buồn; “giọt lệ rưng rưng chờ mong bóng con” của người mẹ già, hay nỗi khổ của đồng bào miền đất cày lên sỏi đá: “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi Mùa đông thiếu áo…”
Nhưng liều lượng của điệu buồn trong nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ này rất ít so với niềm vui ào ạt, chỉ như một đối điểm – contrepoint –, chỉ như màu đen làm nổi lên sắc trắng mà thôi. Mà điệu buồn cũng được nhắc đến bằng tấm lòng nhân ái, tâm hồn Chương là vậy, mở ra, hướng ngoại, trong sáng vui tươi. Chương không phải người hướng nội, đi tìm thú đau thương trong những kiểm tra, tự vấn nơi mình. Đó là thực chất nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ đầu, cũng là đặc điểm của Ban Hợp Ca Thăng Long…
Giai đoạn sáng tác thứ hai của Phạm Đình Chương bắt đầu từ một kỷ niệm buồn: Ngày Khánh Ngọc rời xa vào cuối thập niên 50. Sau đó Phạm Duy, Thái Hằng cũng tìm về hướng khác. Ngôi biệt thự ấm cúng đường Bà Huyện Thanh Quan không người ở. Hoài Bắc, Thái Thanh và gia đình dọn về căn nhà nhỏ đường Võ Tánh – Frères Louis cũ. Chính tại ngôi nhà này, tôi thường đến bầu bạn với Phạm Đình Chương cùng Thanh Nam, Mai Thảo. Tụi tôi đến “hầu bài” bà thân của Chương để được ăn những bữa cơm nhớ mãi: canh cua rau đay, cà pháo, đậu rán… Lúc này, hình như Chương muốn ra khỏi vùng hào quang sáng chói của một ca sĩ thời danh để được sống bình thường nếu không muốn nói là ẩn dật. Đang ăn diện kiểu cách, Chương ăn vận xuề xòa, đi dép không quai lẹt xẹt, chiếc xe hơi dài thòng Studebaker đã được bán đi. Nụ cười kiểu “jeune premier” đã tắt và đặc biệt Chương để hàm râu mép chàm ràm, rậm rịt. Lúc này, tụi tôi có một tên mới để gọi Chương: Râu Kẽm. Râu Kẽm đang phóng túng hình hài, ít ăn ít nói hẳn đi, mà có nói cũng thường hừ một tiếng giọng mũi. Một nhát chém hư vô đã làm thay đổi Phạm Đình Chương.
Ban Hợp Ca Thăng Long phân liệt như thế tưởng đã rã đám. Nhưng đầu những năm 60, Ban Thăng Long gượng dậy với Hoài Trung – Hoài Bắc – Thái Thanh. Ban Thăng Long sống lại kỳ này, tuy vẫn được tán thưởng nhưng chỉ là cái bóng của chính mình. Phạm Duy đã mang nguồn âm sắc lung linh và trầm lắng của dân tộc đi xa, còn tiếng reo vui chan hòa và
nhân ái của Phạm Đình Chương không còn xuất hiện. Thời kỳ này Ban Hợp Ca Thăng Long có trình làng một tác phẩm rất được hoan nghênh, bài Ô Mê Ly. Nhưng bài hát vui tươi này không phải của Chương mà của một tài danh khác: Văn Phụng.
Thời kỳ hướng ngoại, tâm hồn sáng tác rõ như gương, tha nhân và ngoại giới đều là bè bạn của Chương khép lại rồi. Tiếng cười đã tắt. Thời kỳ này là của đau thương và tiếng khóc. Nhưng khóc than rên rỉ không phải nghề của chàng. Như đã nói, Chương không là người hướng nội, gặm nhấm đau thương làm thứ giải sầu. Nỗi đau có sẵn và Chương muốn giữ một mình nhưng lời oán hận thì không. Cho nên các khúc bi ca sau này như Nửa Hồn Thương Đau, Người Đi Qua Đời Tôi, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Chương đều mượn lời của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn… Chương làm công việc phổ thơ, qua lời của người để phần nào nói lên tâm sự của mình. Những ca khúc này có vị trí riêng, rất được yêu thích qua giọng hát Thái Thanh, nhưng đối với Chương nó vẫn như một sự “chẳng đặng đừng”. Về bề ngoài, hai giai đoạn sáng tác của Chương đối nghịch nhau nhưng nhìn chung nó vẫn thống nhất trong tâm hồn nhân ái của tác giả.
Nói cho ngay từ thập niên 60 trở đi, việc ca hát đối với Chương cũng là một sự “chẳng đặng đừng”. Thì cũng phải có công ăn việc làm như người ta, ngay việc trông coi phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng, Chương cũng làm chơi chơi, cho có. Nhưng chính cái vẻ chơi chơi, phóng khoáng ấy lại hợp với khung cảnh Đêm Màu Hồng. Đây là một phòng trà gợi nhớ. Nhớ về những bài hát xa xưa, về một thuở mộng mơ đã tắt, về một khung cảnh Việt Nam đã xa, về một Ban Hợp Ca Thăng Long đã tàn. Phạm Đình Chương đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly cùng người mộ điệu hoặc lên sân khấu giới thiệu một bài hát vừa được yêu cầu. Cái giọng có hơi rượu cùng nụ cười nhếch mép đã tạo nên không khí Đêm Màu Hồng vì phần lớn khách đến đây đều là thân hữu. Chúng tôi, những buổi phùng trường tác hí là vào khoảng 9, 10 giờ đêm lại tà tà kéo đến Đêm Màu Hồng. Bạn bè có chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng. Khẩu vị như thế nào chủ quán biết rồi. Vũ Khắc Khoan thì Con Thuyền Không Bến, lúc nào cao hứng lại còn phi lên sân khấu mà ngâm “Hồ Trường, hồ trường ta biết rót về đâu”. Thanh Tâm Tuyền thì Mộng Dưới Hoa. Thanh Nam thì Cô Láng Giềng. Hôm nào có mặt tôi, Thái Thanh lại hỏi: “Biệt Ly hay Buồn Tàn Thu đây ông?” Có bữa Râu Kẽm cảm khái quá liền ôm đàn guitare mà hát một mình – ít khi lắm – hát tiếng Tây “Un jour si tu m’abandonnes. Ngày nào, nếu em bỏ ta”. Có khi vui anh vui em, Chương bỏ luôn phòng trà cùng Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo kéo lên “Quang Minh Đỉnh”.
Trong những năm Đêm Màu Hồng tôi thường cố giữ một nền nếp. Cứ đêm 30 Tết gần Giao Thừa là tôi thường kiếm một bó hoa hồng đến Đêm Màu Hồng tặng Thái Thanh. Cô em nhỏ ngày nào đi kháng chiến bây giờ trở thành tiếng hát vượt thời gian. Có lần tôi nhận được cặp bánh chưng của bà thân Chương và Thái Thanh gửi cho. Tôi cầm cặp bánh mà tưởng như vừa nhận món quà Tết từ quê hương Phủ Quốc gửi vào.
Những lúc ấy, năm mới sắp sang, năm cũ sắp hết mà tôi vẫn thấy Hoài Bắc, Mai Thảo ngồi từ từ uống rượu, uống cho say, uống cho quên, uống không không mệt mỏi. Tôi chợt nhớ một câu của Mai Thảo “Chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu”.
Buổi cuối cùng tôi gặp Phạm Đình Chương đâu vào khoảng tháng 5-1975 khi “đứt phim” chừng hơn 1 tháng. Gặp nhau tại nhà Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định, có cả Mai Thảo nữa. Mai Thảo mang thêm một chai rượu vang còn sót lại. Các bạn có ý tiễn đưa tôi và Thanh Tâm Tuyền sắp sửa đi cải tạo.
Bữa rượu im ắng thê lương.
Rồi Chương và tôi đạp xe ra về trước.
Đạp toát mồ hôi đến quãng Trần Quốc Toản thì mỗi đứa mỗi đường. Chương ngừng lại và tôi cũng ngừng theo. Chương nắm lấy tay tôi vẻ bùi ngùi mà nói: “Đi nhé”. Tụi tôi xưa nay ít có cái trò nắm tay, nắm chân như vậy, nhìn nhau một cái là đủ rồi.
Chừng như Chương thương cảm cho số phận tôi trước việc đi cải tạo, một chuyến đi không biết bao giờ về. Nhưng bây giờ, 16 năm sau, tôi đã đi cải tạo về rồi, Chương lại làm một chuyến đi không bao giờ trở lại.
Đi nhé! Ngàn năm vĩnh biệt Phạm Đình Chương. (Phan Lạc Phúc – tháng 8-1991)
Tôi gọi điện thoại cho hạm trưởng theo tiêu lệnh của ông rồi đo hướng ba đối vật cố định, kẻ thành giao điểm vị trí chiến hạm. Tôi mở quyển Nhật ký hải hành, ghi chép:” 0730 H: Vị trí: Vĩ độ…N. Kinh độ… E. Hướng lái 240. Hai máy tiến 4. Biển động nhẹ. Gió nhẹ.Trời trong. Báo hạm trưởng tàu sắp ngang hải đăng Vũng Tàu“. Tôi gấp quyển sổ, bỏ vào ngăn kéo dưới bàn hải đồ rồi leo ngồi trên chiếc bệ vành tròn của thành đài chỉ huy, chân đạp lên mảnh sắt nhỏ dùng làm mặt ghế cho sĩ quan đương phiên. Đây là một vị thế thiếu an toàn khi biển động nhưng trong những ngày trời trong bể lặng, ở vị trí này, tôi vừa hưởng thụ được những đợt gió mát lành lại vừa có thể quan sát khắp vùng biển bao la. Rồi khi xoay người vào ở thế thoải mái, mắt tôi không bỏ sót nhất cử nhất động của các nhân viên mà không biểu lộ mình không tin tưởng họ.
Tôi đã chính thức trở thành sĩ quan trưởng phiên khởi từ chuyến công tác này. Ông hạm phó Trần Vĩnh Đắc bất ngờ rời tàu để đảm trách chức Hạm trưởng một tuần duyên hạm. Công điện từ Phòng nhân viên vẫn theo ưu tiên … thông lệ: “thi hành ngay khi nhận”. Hào được nâng lên chức hạm phó kiêm nhiệm sĩ quan Hải hành- Chiến tranh chính trị. Trung úy Được lên sĩ quan đệ tam đảm trách An ninh- Truyền tin.Tâm lãnh Trọng pháo. Riêng phần tôi thì khá ôm đồm. Ngoài cái chức cũ Ẩm thực, tôi lãnh thêm Trưởng ban Chuyển vận- Đổ bộ và Trưởng phiên hải hành. Đây là chức vụ lẽ ra tháng tới tôi mới được cứu xét.
Trong năm ngày đêm của chuyến đi này, có đến bảy lần tôi thay hạm trưởng một mình chỉ huy chiến hạm. Không phải nói, dĩ nhiên là tôi rất lo ngại, nhất là về đêm. Dù mưa gió hay không, trong cái tối mịt mùng đe dọa, lòng tôi không sao ngưng thấp thỏm nghi ngờ chiến hạm sắp tông phải ghe thuyền hoặc đang chệch hướng vào vùng nước cạn đá ngầm. Có những khi thấy ánh đèn xanh hoặc đỏ xa xa là cứ phập phồng trong việc áp dụng nguyên tắc tránh đụng nhau “xanh đối xanh, đỏ đối đỏ”. Xanh là biểu hiệu mạn hữu, đỏ là mạn tả của một loại tàu thuyền lớn đủ để không còn được coi là ghe. Một lần khác cùng lúc tôi thấy đối vật có cả đèn đỏ lẫn đèn xanh, có nghĩa là hai tàu đang chạy ngược chiều trên cùng thủy trình. Vậy vận chuyển thế nào cho “xanh đối xanh, đỏ đối đỏ? Lần đó tôi đã có phần lúng túng khi vận dụng bài học và trí phán đoán để đưa ra quyết định đổi hướng. Kết quả là… thật may, chiếc thương thuyền khổng lồ kia chỉ suýt cắt đứt ngang hông chiến hạm! Tôi mừng là mỗi ngày trôi qua là một ngày tôi thấy bĩnh tĩnh hơn, tự tin hơn.
Hạm trưởng lên đài chỉ huy theo sau là hạm phó Hào, thiếu úy Tâm. Tôi giao phiên từ 8 đến 12 cho Tâm và thấy nhẹ người khi trách nhiệm trưởng phiên chấm dứt. Tuy vậy, dù thèm ly cà phê, dù đói, tôi vẫn đứng nấn ná để thưởng thức cái quãng thời gian con tàu đi vào cửa sông, bỏ lại đàng sau những lớp sóng bạc đầu lúc nào cũng bủa vây chiến hạm. Hiện thời con tàu bị sóng đẩy từ sau lái trong vùng nước không sâu nên chỉ lướt tới êm ru như chiếc xe đò một mình trên xa lộ Biên Hòa. Ngõ nào cũng tới Sài Gòn. Giang lộ đang đưa tôi về với những quán kem có người đẹp ngồi quày, với những góc phốcó lắm ông đi qua bà đi lại. Tôi đã gạt bỏ tên Hiền và Tuyết khỏi Sài Gòn yêu dấu của tôi…
Hạm trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy, cho lệnh đổi đường hướng vào vịnh. Tâm cười toe toét được thoát gánh nặng sau mới chỉ nửa giờ lên phiên. Anh trở thành sĩ quan quan sát và kiểm soát. Hạm trưởng quay sang tôi, giọng vui vẻ:
– Khi anh ra đi, chưa đến với em môi sóng đã cười. Bây giờ anh trở về, môi sóng cũng đuổi theo. Còn đòi hỏi gì hơn cho cuộc đời thủy thủ, phải không thiếu úy Bằng?
Tôi không biết trả lời sao, đành nở nụ cười vô tội vạ. Ông hứng khởi tiếp:
– Đêm qua tôi mới làm được một bài thơ, anh nghe thử: “Em về biển hé môi cười. Gió lên vang động, khắp trời mây bay. Giao thừa dường thể hôm nay. Hồn tôi rào rực: Tết đầy trong tim“. (thơ Hữu Phương)
Tôi bật thành lời trước khi nhận biết đó là lời khen thiếu nghiêm túc:
– Bốn câu hay quá, thưa hạm trưởng. “Tết đầy tim” là một ý lạ mà súc tích, vừa diễn đạt được sự rộn rã của con tim như tiếng pháo, vừa cho thấy được sự hân hoan gặp lại em như gặp… tiền lì xì!
Tâm che miệng cười, các nhân viên thản nhiên vờ như không nghe thấy. Ông cũng mỉm môi cất giọng cợt đùa:
– Cựu hạm phó ra đi nhưng để lại một đệ tử chân truyền! Nhận xét nhạy bén và sắc sảo!
Tôi mừng húm khi thấy ông không giận mà còn… hân hoan. Tuy vậy tôi cũng tự nhủ là mình phải ăn nói thận trọng hơn. Vì vậy khi ông đọc các đoạn kế tiếp tôi chỉ gật gù khen hay! Đúng ra, nếu tôi thật sự là đệ tử chân truyền, tôi phải có một phát biểu kết thúc, tương tự như một lần hạm phó Đắc nghe hạm trưởng đọc dứt một bài thơ
“Thưa hạm trưởng, nghe thơ hạm trưởng mà hứng khởi muốn bắt chước. Tiếc là tôi thiếu thi từ nên đành phải viết các mẫu tự cho vào nón rồi bắt thăm ráp lại. Không chừng nhờ thế mà thành bài thơ hay không kém bài này!”
Ông hạm trưởng nhìn về phía mũi khi nhân viên báo cáo có thương thuyền đi ra ngược chiều. Tôi nhìn vào cửa sông. Nó còn xa tít mù, chỉ có vệt khói nhả ra thành một áng mây xám xịt. Hướng mắt về xa khơi tả hạm, đường giao tiếp giữa biển và trời mỗi lúc một mỏng dần cây cối để chỉ còn là một đường chân trời mong manh. Mặt biển đục ngầu sủi bọt, rải rác những chiếc ghe câu. Bên hữu hạm thì sắc nét hơn nhiều. Một nửa mặt trời còn thẩm đỏ nằm vắt bên trên đường viền của dãy núi lưng chừng vài ngôi nhà mái đỏ và vút cao ngọn hải đăng sơn trắng. Bên dưới là hình dáng phố xá hàng quán phơi bày, thậm chí thấy cả màu xanh vàng đỏ trắng của các cây dù cắm trên Bãi Trước. Ba chiếc thương thuyền bề thế có màu thân tàu khác nhau, chiếc đen, chiếc đỏ, chiếc đọt chuối đang buông neo xa cách như màu sơn của chúng. Trừ vài nét giống nhau là cùng có thượng tầng sơn trắng, cùng có những trụ cột to lớn hoặc đứng thẳng hoặc nghiêng nghiêng, chúng khác nhau về hình dạng như để phân loại chở dầu hay chở hàng…
Trước đây, có lần thấy các thương thuyền buông neo phơi mình thảnh thơi nhàn hạ, tôi cất tiếng so đo với hạm phó Đắc là đời thủy thủ thương thuyền xem ra … ngon cơm hơn đời thủy thủ chiến thuyền. Hạm phó Đắc nghiêm túc giải thích rằng trông có vẻ là vậy chớ neo một ngày là mệt một ngày.Mệt vì nhân viên bị tù túng và chậm trễ ngày về. Thủ tục hải quan buộc họ phải chờ hoa tiêu Việt Nam hướng dẫn vào thương cảng Sài Gòn. Còn so về gian khổ sóng gió thì thủy thủ tàu nào chẳng là… thủy thủ? Mà kể ngon cơm thì chiến thuyền với súng đạn đầy mình phải ngon hơn thương thuyền trên dzăng dưới dzế!
Cuộc đời thủy thủ của tôi tính đến hôm nay vừa được hơn năm tháng với mười hai chuyến đi. Chuyến đi Hoàng Sa dài nhất, lâu nhất và sóng gió nhất cho tôi cái kinh nghiệm về tính bạo tàn của biển cả. Chuyến đi nguy hiểm nhất là cuộc chuyển quân từ Năm Căn về Đại Ngãi, cho tôi cái tiên nghiệm về làn ranh sống chết trong chiến tranh. Trong chuyến này, cái chết mà tôi thấy kề cận nhất là khoảng không gian và thời gian đi vào và trở ra trên sông Bồ Đề nhưng lại bình an với chỉ vài tiếng súng lẻ tẻ làm trầy sơn vỏ chiến hạm. Trái lại, tại hai địa điểm ủi bãi trông an toàn trên bờ sông gần cửa Tranh Đề thì bị bắn khá nhiều. Chiến hạm bị thương một, tiểu đoàn bộ binh đổ bộ bị ba. Một bộ binh chết trên đường tản thương bằng trực thăng. Đáp lại, tiểu đoàn giết 15 địch, bắt sống năm và kịp thời giải tỏa hoàn toàn áp lực địch muốn tràn ngập hai tiền đồn án ngữ ven sông.
Còn những chuyến công tác khác ngắn hạn hơn, ít sóng gió hơn, thường là phối hợp hành quân với các tiểu khu ven biển, tiếp tế đạn dược và triệt thối phế liệu cho các Quân đoàn, Hải khu. Bốn chuyến sau cùng biển khá động nhưng chưa đủ mức làm tôi nôn thốc nôn tháo. Biển có tệ nhất tôi cũng ăn được một bữa cho trọn ngày và còn cảm nhận được cái truyền cảm từ giọng ca Thanh Thúy nức nở, qua lời nhạc Trúc Phương nghẹn ngào vẳng đưa từ phòng lái…
Con tàu lần lượt vượt qua các chiếc phao định lối thủy trình. Hạm trưởng ra lệnh lái tàu qua khoảng trống hẹp giữa hai hàng đáy để nhường thủy đạo sâu nhất cho chiếc tàu buôn dềnh dàng. Khi nó lướt ngang qua chúng tôi, tôi thấy từ trên cao, nhiều bàn tay vẩy chào và môi mấp máy như lời cám ơn. Chúng tôi vẩy chào đáp lễ. Rồi tôi thấy một phần chân vịt của tàu buôn quay chầm chậm trên mặt nước. Xem ra nó không có nhiều hàng mang theo chuyến trở về.
Mặt trời đã vượt ngọn hải đăng, treo trơ vơ trên nền xanh dịu, phất phơ mây trắng. Cái dáng phố đã mờ nhạt. Hình ảnh ba chiếc thương thuyền buông neo đã nhỏ lại nhưng các ngọn sóng cao vẫn xủi đầy bọt đuổi theo chiến hạm. Tôi vươn vai hít sâu một làn gió thơm mát và thấy sảng khoái…
Hạm trưởng và hạm phó cất tiếng cười vang sau câu chuyện gì đó do hạm trưởng kể. Ông thường kể chuyện tiếu lâm về thời gian một năm tu nghiệp ở Mỹ. Tôi cũng có nhiều chuyện tiếu lâm trong thời gian một tháng thực tập trên Đệ thất Hạm đội nhưng còn ngại ngùng. Ngộ nhỡ mình kể chuyện cười mà không ai cười…
Tâm bước sang đứng cạnh tôi, tựa lưng vào thành bên trái đài chỉ huy. Tôi nhìn theo hướng anh đặt ống dòm. Chếch bên tả hạm là hàng lớp đáy cá chăng ngang. Cửa sông hẹp lại, bờ đất rõ dần. Nhưng cũng cần nửa tiếng để con tàu giả từ biển cả.
Quay nhìn phía lái, con sông chia ba phần rõ rệt. Ở giữa khuấy động và hai bên sóng dạt đều. Hương rừng thoang thoảng từ các vòm tràm đước dọc hai bên bờ. Một chiếc ghe vừa vượt mũi tàu qua bờ bên trái. Cô gái ngưng tay chèo, hướng mặt về con tàu đang chạy ngang qua. Và cô ngước mặt nhìn lên đài chỉ huy. Bắt gặp các cặp ống dòm đang chỉa thẳng vào mình, cô gái cúi mặt, đưa tay nghiêng chiếc nón lá như muốn che dấu cả thân người. Mấy câu của bài thơ rất được ưa thích của Trần Quang Long phát xuất từ Quốc Học Huế bất chợt hiện ra: “Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón. Trời mùa thu mây che có nắng đâu. Nắng sẽ làm phai má tóc xanh màu. Và làm khô làn môi em dịu ướt. Còn tia mắt anh, có sao đâu mà em cúi đầu từ khước?” Vì trời đang chang chang nắng nên tôi biết mình chỉ tưởng tượng. Tuy nhiên mấy câu thơ đã đưa vào tâm tư tôi một bóng hình tưởng là mờ nhạt. Tôi có tệ lắm không khi suốt sáu tháng qua không viết cho nàng lấy một dòng!
Hôm đó, lần đầu tôi được ra phố Nha Trang sau hơn một năm về Sài Gòn và sau ba tháng quân trường. Trong sự háo hức gặp lại Tuyết, tôi đã ngẩn ngơ khi người chủ mới của ngôi nhà khăng khăng cho biết Tuyết không để lại địa chỉ chuyển tiếp thư từ. Tôi thất vọng nhưng không mất hy vọng, chắc rằng Tuyết còn quanh quẩn đâu đây, ở nhà người thân nào đó. Mỗi cuối tuần tôi cứ lang thang qua lại nhiều lần con đường nhà nàng và phố Độc Lập đông người. Một hôm, tôi mừng rơn khi bắt gặp một dáng đi quen thuộc phía trước. Cái mái tóc thề óng ả buông ngang vai đó. Cái dáng đi hơi hấp tấp mà uyển chuyển của ngày nào. Tôi bước vội đến gần cất tiếng reo vui:
– Tuyết!
Cô gái sựng người, quay lui. Đôi mắt mở to vừa ngỡ ngàng vừa phiền trách đủ cho tôi thấy tôi nhầm trước khi cô xoay người bước tiếp. Tôi quýnh quáng bước theo, miệng thì rối rít xin lỗi mà mắt thì không chịu buông tha cái dáng người. “Nhà không xa sao em bỗng nhanh chân. Sao loanh quanh chẳng chịu chọn đường gần!” Cô gái vào nhà đóng cửa, cài then. Tôi thu hết can đảm đưa tay nhấn chuông. May quá, bộ quân phục trắng chững chạc tạo uy tín cho tôi được ba nàng cho phép vào nhà. Từ đó cuối tuần tôi ghé nhà nàng để ngồi nhâm nhi trà ngon, để nghe ba nàng vốn là cựu dân biểu luận bàn thế sự và để len lén thu hình ảnh khuôn mặt hài hòa kiêu sa. Và khuôn mặt đó đã xua tan khuôn mặt tươi vui hiền hậu của Tuyết. Thêm một trớ trêu, nàng tên Hồng nhưng không với Tuyết cùng nòi tình đồng điệu. Tuyết chiều tôi đi bất cứ nơi nào tôi thích. Còn với Hồng, tôi có rủ đi đâu nàng cũng nhất mực chối từ. Tuần nào nàng cũng lặng lẽ lo châm trà, thỉnh thoảng tặng tôi nụ cười bằng ánh mắt cho đến khi tôi từ giã. Chỉ thế thôi mà nàng giữ được chân tôi và chính nhờ vậy mà tôi nắm rất vững tình hình thời sự thế giới trong suốt hai năm thụ huấn. Nếu có thiếu sót thì chắc chắn chỉ thua có… ba nàng! Nghĩ đến Hồng, tôi bỗng tha thiết nhớ nàng. Đến bao giờ tàu mới có dịp ghé lại Nha Trang? Và đến bao giờ tôi mới khỏi lu bu để rảnh rang tâm trí thảo một tình thư!
Tâm bỏ ống dòm treo ngang ngực, nghiêng mặt nói nhỏ:
– Lúc ăn sáng, hạm trưởng thông báo có công điện cấm trại 100% và ông chỉ thị hạm phó chia nhân viên ra thành hai phân đội, mỗi phân đội đi bờ một ngày. Sau hai ngày đó, tùy tình hình, ông tính tiếp. Tao đã nài nỉ ỉ ôi với Hào cho tao và mày vào phân đội đi bờ hôm nay vì hôm nay là thứ ba.
Còn đang mơ màng bóng dáng Hồng, tôi theo không kịp hàm ý của Tâm. Thứ ba hay cuối tuần thì có ăn nhậu gì đến cấm trại. Cấm trại thì ngày nào tôi cũng ôm lấy con tàu, còn tệ hơn đi biển. Đi biển thì biết chắc rằng mình đã thực sự xa Sài Gòn! Tâm tiếp:
– Thứ ba, Tuyết đợi chúng mình.
Thấy cơ hội đã đến, tôi nói:
– Mày chịu khó đi một mình. Tao phải đến nhà Hiền. Hôm trước Hiền xuống tàu mời tao đến nhà ăn cơm mà từ đó đến nay tao chưa đến.
Tâm trố mắt nhìn tôi:
– Chưa đến? Lần về bến vừa rồi, mày đã chẳng bảo là không thể đến Tuyết vì phải đến nhà Hiền ăn cơm tối?
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi dứt khoát:
– Tâm nè! Tao muốn nói với mày điều này từ lâu, từ sau lần mày đưa tao đến nhà Tuyết. Lẽ ra tao từ chối ngay hôm đó nhưng tao cũng có phần tò mò muốn nhìn lại Tuyết. Tao đã gặp và không còn gì thắc mắc. Vì vậy tao quyết định không đến nữa. Đó là lý do lâu nay tao tìm cách từ chối khi mày rủ rê.
Tâm đăm đăm nhìn tôi:
– Đi thẳng vào vấn đề. Mày biết tao ghét quanh co. Mày giận gì tao chăng?
Thấy Tâm tỏ vẻ bực bội, tôi cười:
– Tuyệt không! Vấn đề là mỗi tuần, vào ngày Thứ ba Tuyết dành riêng cho mày. Rõ ràng là vậy. Rõ ràng việc hẹn hò đó có trước khi tao xuất hiện. Và tao không muốn làm kẻ không được mời! Và tao phải biết tự xử cho phải đạo!
Giọng Tâm đều đều:
– Sẽ không có một ngày khác riêng cho mày. Tuyết làm việc sáu ngày một tuần, chỉ nghỉ ngày thứ ba. Sáng thứ ba ngủ dậy trễ. Sau đó giặt giũ, đi chợ. Tao không… phiền về sự có mặt của mày. Trái lại, vui hơn…
– Mày thì vui nhưng còn Tuyết?
– Tuyết yêu mày, tất nhiên càng vui! Hay là mày không muốn tao đi cùng?
Tôi thấy không cần phải mất thì giờ chiêm nghiệm về tấm lòng vị tha của Tâm. Tôi đã từng “phá đám” một lần và Tâm rộng lượng xem như không có. Nay tôi nên dứt khoát để Tuyết…dứt khoát chọn Tâm. Tôi nói:
– Mày cũng thấy đấy, tao đang yêu Hiền. Nghe mày xúi dại mò đến nhà Tuyết, lỡ Hiền biết được, tao chỉ còn nước khóc! Vậy, từ nay mày nên chấm dứt rủ rê! Cứ đến Thứ ba, khi về bến, mày đi đường mày, tao theo lối tao. Vả lại, hai đứa đeo đuổi một đứa, hoặc là chẳng ai được cái giải gì, hoặc là cả hai cùng ăn cái giải rút!
– Nhưng Tuyết nó yêu mày!
– Khó mà biết Tuyết đang yêu mày hay yêu tao nhưng theo ý Tuyết lần gặp rồi, là Tuyết sẽ yêu người nào cưới Tuyết làm vợ. Tuyết cho thấy đã quá mệt mỏi với cuộc sống độc thân và đang rất cần một người chồng, rất cần một mái ấm gia đình. Mày ra trường trước tao. Có lẽ mày sẵn sàng tạo cho nàng một mái ấm.
– Nói thật là khi gặp lại Tuyết, tao đã có cái ý cưới Tuyết. Nhưng khi gặp lại mày, tao bỏ cái ý định đó. Thiếu gì đứa để cưới, việc gì phải cưới cái đứa bạn mình yêu hay yêu bạn mình!
Tôi nói một cách mạnh dạn, dứt khoát:
– Tao nói lại: Tao không còn yêu Tuyết.
Thấy Tâm nhìn tỏ vẻ ngờ vực, tôi bồi thêm một điều mà gần đây không còn đúng sự thật:
– Tao xác nhận một lần nữa là tao không còn yêu Tuyết. Bây giờ tao đang túi bụi bận rộn khổ sở vì Hiền…
– Nếu mày nói chắc như vậy thì tao xét lại! Tao cũng quá mệt mỏi với việc ăn ngủ triền miên trên tàu. Có một tổ ấm thực sự vẫn… ấm hơn!
Tâm vừa cười vừa nhìn con tàu không giảm tốc độ lượn vòng theo một khúc quanh khá gắt. Sóng dồn dập vỗ ven bờ khi phần lái tàu tạt sang gần sát hàng cây. Tôi nghĩ hạm trưởng hẳn đang nôn nóng về với gia đình. Tôi liếc nhìn ông, bắt gặp đôi mắt ông đang chiếu tướng vào mái tóc bờm xờm của tôi. Vài lần trong các bữa ăn, ông hạm trưởng cũng đã nhìn tóc tôi. Rất may cho đời tôi là có được một ông hạm trưởng với tâm hồn một nhà thơ. Tóc ông thường để dài chỉ vừa quá mức ấn định của một quân nhân. Còn tóc tôi thì đáng lẽ đã phải được hớt từ tháng trước. Tôi không cố tình nhưng quả là việc đưa tôi lên hai chức vụ cùng lúc làm tôi quên săn sóc bản thân mình. Rồi tàu đi công tác, tôi lại mãi mê bến lạ bờ xa. Cái nhìn của ông lần này khá nghiêm khắc như một nhắc nhở cuối cùng. Tôi không còn cách nào hơn là đi tìm nhân viên hớt tóc để kịp cho ông thấy trước khi ông rời tàu là tôi đã tiếp nhận cái nhìn của ông rõ ràng như cảm nhận thơ ông.
Mặc xong bộ tiểu lễ tôi leo lên tả hạm đứng dàn chào cùng toàn thể thủy thủ đoàn. Chiến hạm vừa qua khỏi thương cảng, bắt đầu tiến về cột cờ Thủ Ngữ. Tiếng còi từ đài chỉ huy ré lên một hồi dài. Chúng tôi đồng loạt đưa tay chào thủ đô Sài Gòn yêu dấu. Con đường Nguyễn Huệ nhộn nhịp, lao xao tận tòa Đô chính. Tượng đài Hai bà Trưng bất kể tiếng xì xầm vẫn là hình tượng nhắc nhở công đức tiền nhân. Bộ tư lệnh Hải quân uy nghiêm với sân cờ thiết trí bốn khẩu súng đồng trấn thủ và tận đỉnh cao đang phất phới lá đại kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Những đôi nhân tình thì thầm trên ghế đá công viên mang thêm vẻ mộng mơ cho các biệt thự sang đẹp bên kia đường Bạch Đằng. Hai hàng cây chạy dọc đại lộ Cường Để tỏa cành thành hình cánh cung hun hút. Tất cả như còn mang nguyên vẹn hình ảnh của ngày đi. Chiến hạm tiến thẳng vào Thị Nghè rồi quay đầu cặp vào các ponton cầu R.
Nửa giờ sau, trong bộ thường phục trẻ trung, tôi và Tâm rời tầu. Hạm phó Hào vừa tiễn chân hạm trưởng, còn đứng ở hạm kiều. Thấy chúng tôi, ông nói đùa:
– Nè, hai cậu nhớ làm bản tường trình thám sát bãi ủi đấy nhé!
Tôi cười gật đầu. Chúng tôi nhịp bước kiểu nhà binh qua khỏi cổng sở Hàng Hà. Trong khi đứng chờ taxi, Tâm lại rủ tôi đến nhà Tuyết và tôi lại nói dối là phải đến nhà Hiền. Khi taxi đến, Tâm nhường tôi đi trước. Mãi tới khi tài xế lên tiếng hỏi, tôi mới e dè nói số nhà và tên con đường tận ngả tư Bình Hòa. Đây là một căn biệt thự khang trang, biệt lập, “chỗ quen biết” của cựu hạm phó.
Càng có thời gian gần ông, tôi càng khám phá ra con người tài hoa đa năng đa diện của ông. Ngoài cái nét điển trai trời cho, cái tài “hải nghiệp” thiên phú, ông còn có nhiều “biệt nghệ” đáng nể. Ông đàn giỏi, hát hay. Ông khiêu vũ tuyệt vời.Ông ăn nói hấp dẫn. Ông nhắm vào người đẹp nào, kể cả người đẹp xướng ngôn, là người đó hân hoan cặp kè với ông. Và một người đẹp thường được ông đề cập như một giai nhân hiếm và quý vừa trở thành vợ ông vài tháng trước. Cả thủy thủ đoàn được ông mời dự dạ tiệc tổ chức ở nhà hàng Caravelle. Quả là đúng lời ông: phu nhân là cô đầm chính gốc vô cùng xinh đẹp, con một ông Tây có thớ của tòa đại sứ “Phú Lãng Xa”.
Bên cạnh “biệt nghệ”, ông cựu còn có cả một “biệt khu” mà ông dấu kín, chỉ trước khi giả từ cô đơn một thời gian ngắn ông mới “bàn giao” cho Hào. Theo ông cựu, biệt khu còn là mật khu, “người thường” không vào được. Muốn vào, khách phải được tiến cử và phải hội đủ hai thứ hào: hào hoa và hào sảng. Nhờ cái tên của mình, Hào đương nhiên được chọn. Nhưng trái với ông cựu có tính e dè thuộc cấp cười chê, ông tân xem việc “lăng nhăng” là chuyện thường tình. Ông bảo rằng đến Tú Xương mà còn thà bỏ rượu bỏ trà chứ nhất định không từ cái lăng nhăng đàn bà! Cho nên khi ông cựu rời tàu, ông tân rỉ tai cho từng sĩ quan cả mật khu lẫn mật khẩu. Từ ngày được bàn giao “chỗ quen biết”, Hào rất muốn thăm dân cho biết sự tình nhưng lòng vẫn phập phòng cho dù ông cựu bảo đảm là bãi ủi trăm phần trăm an toàn. Chính bản thân ông chưa bao giờ bị… bể ống khói! Hào xúi tôi lần về bến này tôi thử… thăm dò thủy đạo xem sao. Tôi mùng húm. Anh có ngờ đâu rằng đó là “mật khu” tôi đang cần và còn cần dài dài. Cho dù anh có đòi hối lộ bia và hột vịt lộn như anh từng chung cho Tâm thì tôi cũng đành thỏa mãn.
Ra khỏi taxi, tôi nhìn cái biển số gắn ở cổng rồi đặt ngón tay lên núm chuông. Tôi ấn hai lần, ngưng lại rồi ấn tiếp hai lần. Mật hiệu dễ nhớ này đúng là của phó Đắc: Còi nhịp đôi là nhiệm sở tác chiến trên tàu. Tôi nghe giọng đàn bà phát ra từ chiếc loa nhỏ dấu kín trên núm chuông:
– Ai đó?
– Lê Vĩnh Tường.
Tôi cười thầm khi chợt nhớ đến ông phủ Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương. Ông cựu phó Lê Vĩnh Đắc quả là tay đáo để. Hết dùng còi tác chiến làm mật hiệu đến việc chọn cái tên giả cũng cắc cớ.
– Tường nào?
Giọng đàn bà mang vẻ ngờ vực. Hạm phó Đắc khoe là “chỗ quen biết”, đâu lẽ chủ nhân lại cần thêm chi tiết. Nhưng đã lỡ, tôi đành nói khẻ vào loa:
– Tường Hải quân.
Dù nói khẻ, tôi vẫn thấy ngượng. Đây đâu phải chỗ thích hợp để dùng tên binh chủng của mình làm…chuyện tào lao. Nhưng chừng như nếu không dùng đến cái từ đó thì khó có đủ mã lực để đẩy khung sắt nặng nề.
– Vào đi anh Tường. Anh tới đúng lúc. Em có quà đặc biệt cho anh!
Tôi vừa lách người vào là cánh cổng khép chặt lại. Trên con đường sỏi đá dẫn vào ngôi biệt thự vắng lặng, tôi rút điếu thuốc gắn lên môi và châm lửa. Cái không gian tĩnh mịch gợi tôi thèm hơi khói hơn là để trấn áp nhịp đập tăng dần của trái tim. Cửa chính đóng kín. Tôi lại nhấn chuông. Nắm tròn của khóa cửa chầm chậm xoay. Khi cửa mở rộng, tôi nhìn sững người đàn bà hấp dẫn tuổi chưa quá bốn mươi. Những đường nét nẩy nở mà thanh tú. Nụ cười vụt tắt thay cho tia mắt ngạc nhiên. Người đàn bà trách nhẹ:
– Sao lại mạo danh anh Tường. Lần sau đừng làm thế!
Tôi cười, tình thật:
– Sợ nói tên lạ, chị không cho vào.
– Cứ nói là bạn anh Tường Hải quân. Hoặc nói tên anh. Anh tên gì?
Bị hỏi bất ngờ tôi vọt miệng nhanh hơn tôi kịp nghĩ ra một tên giả:
– Bằng! Lê Vĩnh Bằng.
– Em của anh Tường?
– Không, trùng họ!
– Anh uống gì? Rượu, nước ngọt, cà phê?
– Chị cho một ly cà phê đen, nóng.
Người đàn bà bước nhịp nhàng đến chiếc bàn đủ loại ly tách. Tôi nhìn theo, nhủ thầm cần gì chọn ai khác. Một khối ngọc ngà kia rồi. Đến khi chị trao ly cà phê, tôi nói nửa đùa nửa thật:
– Chị khoe có quà đặc biệt cho anh Tường. Tôi đang thay mặt ảnh. Vậy chị cứ tự nhiên đưa cái đặc biệt… của chị cho tôi xem!
Người đàn bà nguýt dài:
– Ấm ớ vừa thôi nghe! Giỡn mặt là đến sao về vậy đó!
Nghe giọng kém vui, tôi hiểu là tôi đã đùa quá trớn cho lần đầu. Nhưng cần gìphải giữ kẽ ở chốn… lầu xanh, tôi nói chầm chậm:
– Hãy coi tôi như anh Tường, tôi được cái đặc biệt của chị thì chị cũng được… tiền đặc biệt.
Chị ngắm nghía tôi một lúc rồi nhoẻn miệng cười:
– Đúng là Hải quân, lỳ lợm như nhau. Thôi được, ngồi chờ một chút!
Tôi ngồi lên bộ sa lông êm ái, móc túi quần lôi ra gói thuốc lá. Tôi dụi tắt điếu đang hút và châm lửa điếu thứ hai. Nhân đặt gói thuốc lên bàn, tôi cầm tờ nhật báo lướt nhanh các tựa. Toàn tin tức bố ráp chùa chiền, bắt bớ chư tăng, biểu tình rầm rộ. Đàn áp thẳng tay. Những tin tức đáng buồn đó không thích hợp tâm trạng háo hức của tôi lúc này. Tôi vừa đọc lơ mơ vừa trách mình sao không nói thẳng là chọn… bà chủ để khỏi phải đợi chờ lâu lắc. Tôi ngước lên, hy vọng thấy người đàn bà hấp dẫn ngay trước mặt nhưng thay vào đó là một cô gái trẻ trung, tươi tắn đến không ngờ. Cô mặc nguyên bộ quần áo dài trắng mang dáng dấp nữ sinh. Cô nói, e ấp:
– Chào anh! Hân hạnh được biết anh.
Tôi đáp, có phần do dự:
– Chào cô. Vui được gặp cô.
Nói vậy mà không phải vậy. Tôi không vui. Các nơi bình dân khác cũng hay chơi cái trò “nữ sinh” này. Thì đàng nào cũng may mặc, tại sao không may mặc theo kiểu nữ sinh cho thêm phần… tâm lý! Đang ngỡ ngàng, tôi bị thêm một cú bồi bằng giọng của một tay chơi sành sỏi:
– Phải anh là lính, mời anh lên lầu!
Tôi nhìn gói Pall Mall nằm trên bàn. Cô vừa nói đùa mà cũng nói thiệt. Tuy vậy tôi vẫn ngồi yên ngắm nàng đang bước về phía thang lầu. Sao kỳ vậy? Ngay chính ở những ổ chuyên nghiệp, người ta cũng chưa hối thúc khách hàng như vậy. Gọi là biệt khu mà tôi chưa kịp nhấp một ngụm cà phê, chưa kịp rít vài ba hơi thuốc.
Thấy tôi vẫn ngồi yên, người đàn bà quyến rũ lên tiếng:
– Nhiều người tới đây sợ gặp người quen nên thường rút ngay vào buồng riêng. Như anh Tường chẳng hạn. Lỗi tại tôi dặn cô ấy chớ không phải do ý cô ấy. Chú em cứ mang theo cà phê, thuốc lá. Vào buồng, cứ nhởn nhơ. Giờ giấc thoải mái nhưng phải… lương thiện. Một nói một, hai nói hai. Không hài lòng cô này, tôi đổi ngay cô khác.
Tôi rùn vai, cầm ly cà phê, nhặt gói thuốc lá. Tôi đến đây là để thỏa mãn một nhu cầu. Ai chẳng được. Có điều xem ra không như… quảng cáo. Nhưng thôi lỡ rồi, đang nóng sốt, chẳng lẽ bỏ về. Tôi dứt khoát bước theo cô gái. Tiếng bà chủ lại cất cao từ phía sau:
– Khoan đã! Chú em tới lần đầu, cần nói rõ ràng về giá cả.
Tôi dừng ở bực thang lầu, quay lại. Bà chủ lên giọng đàn chị:
– Mỗi lần “đi” là một ngàn. Cứ thế mà tùy sức. Cả sức người lẫn sức của! Tôi không cần cái gọi là tiền đặc biệt chú em muốn dành cho tôi. Ngược lại, tôi giảm giá đặc biệt cho chú em như giá đặc biệt cho anh Tường. Giá bình thường là một ngàn. Giảm cho chú em hai trăm!
Tôi mỉm cười, bắt đầu thực sự thích thú vị chủ nhà. Bà ăn nói cũng… tiếu lâm đấy chứ! Tôi định đùa: “Với cô gái, giá tám trăm vẫn còn mắc. Nhưng với chị, chị khỏi bớt tôi cũng đi” nhưng tôi kềm lại được. Tôi ỡm ờ:
– Tôi cũng xin hỏi trước cho rõ ràng: Chị bớt như vậy là cho một lần “đi” hay lần nào cũng được bớt?
Bà chủ cười, nói như thách đố:
– Càng “đi” càng bớt!
Tôi bắt trớn bồi thêm:
– Nói thì nhớ nghe! Lần tới sẽ…”đi” chị.
Chị xụ mặt xuống, đe dọa:
– Tôi kêu chồng tôi là anh hết “đi” đó!
Tôi vọt theo cô gái lên lầu. Căn phòng rộng rãi, sạch sẽ, giường đôi, drap và bao gối trắng tinh. Có phòng tắm riêng cửa đang mở rộng phô bày bồn rửa mặt và búp sen kiểu hiện đại. Tôi khen thầm tiền nào của nấy. Nhưng quan trọng hơn hết, cái của trước mặt là đắt tiền nhất lại chưa rõ có thật đáng tiền. Biểu hiệu đầu tiên xem ra có phần khích lệ. Không như các cô khác làm nghề này, vào buồng là cởi quần cởi áo, vừa kích thích vừa thúc hối để được thêm giờ thêm khách, cô gái ngồi lên mép giường, cúi mặt lặng thinh. Tôi bước đến nâng nàng đứng lên, nhìn sâu vào mắt nàng. Nàng nhắm mắt tránh né. Kích thích từ đôi mắt đẹp, đôi môi tươi, thân thể thon nhã mà nở nang, tôi bắt đầu hôn lên môi lên cổ… Nàng đứng yên và từ tốn hưởng ứng. Rồi tôi từ từ lột nàng quần ngoài quần trong, rồi áo ngoài áo trong. Nàng yêu cầu tôi tắt đèn. Tôi hăm hở nhưng nàng dịu dàng. Tôi nôn nả mà nàng từ tốn.
Bằng vào những cử động xoay trở, bằng vào những vẻ e thẹn cố che dấu, tôi tin là nàng vào nghề chưa bao lâu. Nàng gần như không có một chút kinh nghiệm đàn ông. Nàng chỉ biết thụ động, bảo sao làm vậy hoặc xin khéo léo chối từ. Nhưng rõ ràng nàng như cục nam châm có cực âm cực mạnh đến độ biến tôi thành cực dương ngay phút đầu. Tôi nồng nàn ôm ấp nhưng nhẹ nhàng nâng niu. Nàng nhiệt cuồng bám víu mà ngượng ngùng hưởng ứng. Rồi đến một lúc chính nàng vô cùng hăm hở. Chính lúc đó tôi nghe giọng nàng thảng thốt: “Chắc em có mang với anh quá!” Tôi trấn an nàng trong cơn thúc hối: “Đừng nói khùng!” …
Nàng chạy ngay vào buồng tắm khi tôi lật ngang, nằm ngửa thở dốc. Tôi vói tay rút một điếu thuốc, bật lửa. Khói bay lên cây quạt trần bất động giao phần việc cho cái máy lạnh tỏa hơi vừa đủ mát. Rồi tôi bỗng thoáng nhớ rằng tôi đã nói câu trên một lần, đâu đó…Đúng rồi, tôi đã có nói từ thuở học trò. Đêm vĩnh viễn rời xa ngôi trường vì hết lớp, tôi rủ Tuyết lang thang xuống bãi biển. Bãi biển vắng, chúng tôi mắc sức hôn hít nâng niu. Chợt Tuyết xô tôi ra hốt hoảng: “Anh! Em sợ có mang”. Tôi cười ngất: “Đừng nói khùng. Chỉ ôm ấp … sơ sơ thì có mang có miết gì được!”. “Nhưng mạ nói trai gái gần nhau là có mang”. Tuyết của tôi ngày xưa dại khờ, ngu ngơ thế đó. Còn Tuyết bây giờ, xem ra chững chạc, rành đời. Và hiện giờ, Tuyết và Tâm có đang làm những gì tôi đã làm với cô gái này?
Tôi nghe tiếng nước xối xả trong nhà tắm và nghe cảm giác buồn buồn. Bỗng dưng tôi buông tiếng thở dài. Cô gái này, biết đâu đã gặp một vấn nạn còn đau thương hơn cả trường hợp của Tuyết? Một tai nạn xảy ra và Tuyết mất tất cả, khiến cuộc đời trâm anh phải lận đận lao đao. Cái kiểu cách của cô gái này xem ra cũng từ một gia đình nề nếp. Tôi thoáng thấy dáng nàng bước khỏi buồng tắm đi về phía cửa. Căn phòng bật sáng choang. Cô gái vẩy tay chào, hiện trở lại bộ cánh nữ sinh e ấp. Tôi hối hả nói:
– Khoan đã! Anh muốn gần em thêm vài phút…
Cô cười buồn:
– Để làm gì? Anh muốn mất thêm tám trăm?
Tôi bật cười:
– Anh sẵn sàng mất sạch túi!
Nàng bước đến ngồi lên giường, cúi hôn vào môi tôi thật lâu. Rồi nàng đứng lên, nói bằng giọng luyến tiếc mà dứt khoát:
– Em rất tiếc là không thể. Nếu anh có thực ý, xin trở lại ngày mai cũng giờ này…
Tôi thở dài thườn thượt:
– Ngày mai anh bị trực.
– Thì ngày mốt!
– Ngày mốt anh bị cấm trại.
Cô gái vạch cổ tay nhìn đồng hồ:
– Anh có mười lăm phút.
– Anh muốn suốt đêm…
Nàng nhìn sững:
– Đừng đùa anh. Đây là ngày đầu của em mà ở đây cũng không chứa kháchqua đêm!
– Thì đi nơi khác.
– Bố ráp khắp nơi. Đi đâu!
– Chỉ bố ráp ở chùa. Phòng ngủ, miễn.
Nàng lại cúi xuống hôn tôi thắm thiết, thì thào:
– Có lẽ em bắt đầu yêu anh. Em ra về trước. Anh đừng nói gì với bà chủ. Bây giờ, là ba giờ. Gặp em ở rạp Rex lúc 7 giờ.
Tôi ôm chặt nàng, nói khẻ:
– Lâu quá!
– Tội nghiệp em mà! Đúng 7 giờ…
– Em tên gì?
– Gặp lại, em sẽ nói tên thực.
Chúng tôi hôn thêm nụ hôn tạm biệt đắm say. Trong lúc hôn, tôi đưa tay vói lấy cái bóp trong túi quần vứt ở góc giường. Tôi kéo ra tờ hai trăm. Khi nàng nhả tôi ra, tôi nói:
– Lúc nãy bà chủ có giảm giá do quen biết. Anh tặng lại em…
Cô gái cúi nhìn hai trăm rồi trừng mắt:
– Em không lấy! Và cả đêm nay cũng không…
Nàng đi thẳng ra cửa, không ngoái lại. Đợi cửa đóng hẳn, tôi phóng vào nhà tắm, tẩy rửa thật sạch. Dù có lời “bảo đảm”, tôi vẫn cẩn tắc vô ưu, thà phòng bệnh hơn trị bệnh. Lau mình khô, tôi quấn chiếc khăn tắm màu trắng mềm mại quanh người bước ra ngồi lên chiếc ghế nệm nhỏ cạnh chiếc tủ đầu giường. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn quanh căn phòng. Tường và trần đều sơn màu trắng tinh khiết. Và một khung tranh khá lớn trên vách đối diện vách kê giường đôi. Bức tranh trông quen quá. Không phải tranh, chỉ là hình chụp bức tranh. Bức Starry Night của Vincent Van Gogh. À há, bà chủ còn là một tay… bí ẩn đáng tìm hiểu đây! Tôi uống cạn ly cà phê mà tôi biết đêm nay tôi cần nó.
Tôi mặc lại áo quần, nhặt cái bóp lăn lóc trên giường cầm luôn trong tay đi xuống thang lầu. Tôi đếm đủ tám trăm đưa bà chủ. Chị không được vui:
– Sao về nhanh vậy? Nếu không hài lòng, tôi kêu cô khác?
– Cám ơn chị, quá hài lòng! Nhưng chắc hài lòng hơn nếu… là chị!
– Nham nhở! Về đi! Bữa khác tới nghe!
– Nếu chị hứa dắt tôi vào… buồng giải thích cái đẹp của bức tranh…
Chị xua tay như đuổi tà ma:
– Cút đi cha nội non! Dai như đỉa đói!
Tôi cười bước nhanh ra cổng. Dừng lại đốt điếu thuốc, tôi quyết định: “Chỗ quen biết” của Vĩnh Tường nhứt định phải thành “chỗ quen biết” của Vĩnh Bằng”. Khi đứng đón taxi, tôi phân vân không biết về đâu. Tôi còn đến ba tiếng thênh thang mới tới giờ hẹn. Tôi bỗng nhớ Hiền da diết. Cái cớ rất hấp dẫn để tôi đến gặp nàng mà không thẹn với lòng là lâu rồi tôi chưa gặp… anh nàng. Nhưng khi lên taxi, tôi lại bảo đưa đến nhà Tuyết. Đến nhà Tuyết, tôi không cần lý do. Tôi chưa có lời vĩnh biệt Tuyết. Tôi chỉ muốn biết khi tôi nhấn chuông, thời gian sẽ mất bao lâu cho cửa nhà Tuyết rộng mở. Ơ hay! Mày đang ghen hả Bằng?
Và bất ngờ trong một phút giây sáng suốt nhất tôi nhận ra rằng tôi còn có một người đẹp chờ tôi ở Rex. Xem phim là đam mê của tôi. Rex là rạp tôi ưa thích. Và cũng lâu rồi chưa trở lại nơi này. Sao tôi lại dại dột không chui vào chốn ưa thích để thỏa mãn nỗi đam mê mà khi trở ra đã thấy nàng đang đứng đợi? Và là của riêng tôi suốt đêm.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.