Có những điều khó quên

hung-viet.org

Huy Phương

10 Tháng Hai 2014

Post by Sơn râu 16 Mar 2025

Trong đời sống của chúng ta có những chuyện xảy ra đã lâu, từ vài ba mươi năm qua, những vẫn lẩn khuất đâu đó trong tiềm thức, để một lúc nào đó gợi lại trong trí nhớ hay hiện ra trong giấc mộng. Chúng ta thường không nhớ đến những ngày hạnh phúc, những niềm vui mà những đau khổ, phiền muộn, đắng cay trong đời sống vẫn còn theo đuổi chúng ta cho đến tận cuối cuộc đời.

Đêm hôm qua trong giấc mơ vào lúc gần sáng, tôi thấy tôi đang ở trong nhà tù cộng sản với niềm vô vọng không biết ngày nào mới được thả về.

Cảnh trại tù cải tạo ở Việt Nam trong phim “Vượt Sóng” của đạo diễn Hàm Trần. (Hình chụp qua YouTube)

Thức giấc, giữa không khí yên lặng và an lạc giữa gia đình, ở một xứ tự do, cách xa cái trại tù năm xưa hàng nghìn dặm, đáng lẽ tôi phải thấy mừng vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng, mà trái lại cái cảm giác buồn bã từ đó cứ vương vấn trong lòng tôi cho đến lúc trời bừng sáng. Tôi, một người tù lưu lạc xứ người như trăm nghìn người bạn tù khác, chắc hẳn không thể nào thoát ra nổi những ám ảnh như thế trong nhiều năm hay suốt cả cuộc đời mình.

Có điều là sau bao nhiêu năm tù đày và cả cái đất nước tôi đã sống nhiều năm khi ra tù đã mang lại cho tôi nỗi ghê sợ và căm ghét chế độ cộng sản như thế nào, nhưng nếu nói tìm lại một khuôn mặt quản giáo coi tù hay vệ binh nào đã để lại cái ấn tượng khổ đau cho tôi trong suốt những năm tù, thì tôi không tìm ra. Tôi biết họ là những con người cộng sản, xem chúng tôi là kẻ thù, sẵn sàng trấn áp, đe dọa, thậm chí muốn giết chúng tôi, nếu có dịp, vì họ đứng về phía bên kia chiến tuyến, được huấn luyện và tẩy não cho rằng chúng tôi là kẻ thù của họ. Họ là một đám đông như đám đông của chúng tôi, sẵn sàng bắn vào nhau không thương tiếc ở ngoài trận địa, và bây giờ chúng tôi là những người thất trận, phải chịu sự giày xéo, trả thù của những người thắng trận man rợ.

Có điều tôi thấy rằng, những viên đạn bắn thẳng ngoài mặt trận hay cả những hỏa tiễn, đạn đại bác nổ chụp lên đầu quả không nguy hiểm và đau đớn như một lát dao găm đâm vào hông trong tư thế rất gần, hay một viên đạn bắn từ sau lưng của những người không phải là thù mà mang danh nghĩa là bạn, nói rõ, mỹ miều hơn là với danh xưng chiến hữu, đồng đội.

Trong những tháng đầu tiên ở trại tập trung, một ông sĩ quan cùng ngành, cùng đơn vị với tôi, vì nghĩ rằng mình là gia đình “cách mạng,” vì ông có một người chị dâu là đại sứ của “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” tại Tiệp Khắc nên đã sẵn sàng làm mật báo viên báo cáo lên quản giáo những tư tưởng, hàng động của anh em trong đội. Vào những ngày cuối năm 1975, chưa có chuyện trốn trại, chưa có âm mưu bạo loạn trong nhà tù, nên những chuyện báo cáo chỉ mơ hồ về tư tưởng “không an tâm,” “lơ là lao động,” hay “nhớ nhà.” Chính những buổi lên lớp, qua lời răn đe của quản giáo, chúng tôi biết rõ những cai tù này đã được ai báo cáo. Những lúc nằm gần nhau, cám cảnh xót xa đời tù “một lứa,” với một thằng bạn ngang cấp bậc, cùng chung một đơn vị, còn gì để giấu nhau!

Ra đến đất Bắc, trong thời gian tù miền Nam được các đơn vị quân đội Bắc Việt quản chế, cuộc sống tuy kham khổ nhưng chưa bị đày đọa, gông cùm, sắt máu như khi các trại tù binh miền Nam được chuyển qua cho Bộ Nội Vụ, sau này gọi là Bộ Công An. Dạ dày người tù càng teo tắt thì trí óc càng bị căng thẳng vì những buổi “ngồi đồng” nội bộ, dưới sự giám sát ẩn mặt của những quản giáo, và chủ trì bởi những đội trưởng tín cẩn được cắt đặt bởi cai tù. Chúng tôi đấu tố nhau thẳng tay nhau, anh này lười lao động, người kia lề mề, phát ngôn bừa bãi. Cả một đám “chiến hữu” hầm hè, tưởng như có thể ăn tươi nuốt sống nhau vì một vài lạng sắn ngô để lấy phần từ người khác 13 lạng dồn sang cho anh kia lao động xuất sắc được 17 lạng. Đội trưởng và phó đội trưởng kế hoạch, một anh ngồi mát, một anh cầm thước đi đo đạc, xem đồng đội ngày xưa như những người tù thực sự và họ đang là người coi tù. Quản giáo, vệ binh, không cần phải ra tay khống chế tù nhân phải làm đạt chỉ tiêu, nạt nộ hay hăm dọa, thay vào đó đã có đội trưởng, đội phó, thi đua làm thay cho cai tù.

Những người này trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, là chiến hữu, đồng đội, sau ngày thất trận cũng mang thân phận những người tù lưu xứ, cùng xuống tàu Sông Hương ra Bắc, tối cũng phải bị lùa vào “chuồng,” nhưng được đặc ân khỏi cầm cuốc cầm rựa, mang ảo tưởng “lao động tốt,” có công với “Cách Mạng” hẳn “được về đoàn tụ với gia đình sớm” như câu kinh nhật tụng mà cai tù ra rả bên tai chúng tôi mỗi ngày. Về sau, khi người tù sắp chết đói thì Cộng Sản ban phát chính sách cho gửi quà, người tù bình thường được một phiếu quà, nhưng bị đội trưởng báo cáo, người tù sẽ mất phiếu quà và đương nhiên những phiếu quà này được chuyển sang cho những người có công “khuyển mã.”

Hơn 35 năm trôi qua, tôi chưa quên được hình ảnh người đội trưởng, một đại úy cùng ngành phục vụ tại trường CTCT Đà Lạt, đã từ chối không cho tôi khai bệnh, mặc dù suốt đêm qua, tôi đã kiệt lực, sốt vì đuối sức. Đội phó kế hoạch, là người đi đo đạc, tiếp thu “thành quả lao động” của người tù (hay bạn tù), một cựu đại úy Hải Quân, thì chiều hôm qua đã “nặng mặt” với tôi, vì hố sắn đào không sâu, chưa đạt chỉ tiêu và anh cho biết những kết quả này sẽ được báo cáo lên trưởng trại. Mỗi hố sắn phải có mỗi chiều 8 tấc, sâu 6 tấc. Đào hố xong, phải ủ phân xanh xuống và sau đó mới gài hòm sắn lên. Đất xung quanh trại tù Bắc Thái là đất đồi đầy sỏi đá, một nhát cuốc bổ xuống, chạm phải một viên đá, cuốc bật nẩy lên, toàn thân ốm yếu của người tù rung động như bị điện giật, thân thể như tê dại. Người tù đi từ Hoàng Liên Sơn về Bắc Thái, sau bốn năm, đã bắt đầu trơ xương vì đói và làm việc quá sức. Chính vì chế độ hà khắc này, mà một số đội trưởng, thi đua, được thêm quyền lực hay họ nghĩ là được trao quyền lực.

Tôi đã đau lòng chứng kiến ít nhất là hai lần, một ở Bắc Thái và một ở Nghệ Tĩnh, một đội trưởng, cựu trung tá, đá vào bụng một người bạn đại úy phường trưởng, vì cho rằng anh này mang một giỏ khoai không đầy, trước sự chứng kiến im lặng, thỏa thuê của người quản giáo có mặt. Một đội trưởng, thiếu tá tiểu đoàn trưởng khác, đã đánh vào mặt một đồng đội, đồng cấp bậc ngày xưa của mình với lý do là anh này đã “cuốc dối” nghĩa là cuốc lát này lấp lên chỗ đất chưa cuốc. Chính người đội trưởng mẫn cán này cũng đã ra lệnh cho tôi hoàn thành những vồng khoai chưa xong, khi đã có lệnh “thu dụng cụ” (nghĩa là xong buổi lao động) trong khi cả đội đang tập họp chờ đi xuống suối tắm táp, vì làm chưa xong thì chưa được nghỉ! Mỉa mai thay, chính người vệ binh lại ra lệnh cho tôi: “Anh kia, nghỉ đi, vào tập họp!”

Chính vì cái ảo tưởng rồ dại làm tốt được về, mà ở trại tù Bắc Thái, một sĩ quan cao cấp BĐQ đã phải tự vẫn vì không chịu nổi cảnh áp bức, chì chiết của người đội trưởng. Dù họ có sám hối, ăn năn thì những vết dơ đó trong hàng ngũ của chúng ta cũng không bao giờ gột rửa được.

Trong cuốn hồi ký tù “cải tạo” Trại Đá Bàn của Nguyễn Thanh Ty, tác giả đã kể lại câu chuyện có hai người tù trốn chạy, vệ binh chạy bắn theo nhưng vụng về không trúng. Một người tù, “bạn của chúng ta,” hiến kế, bèn la lên: “Quỳ xuống! Dùng thế bắn quỳ!” Kết quả là người tù chạy trốn bị bắn chết. Tôi không biết về sau, “người hiến kế” có được kẻ thù thưởng một lạng thịt tươi nào không, nhưng nếu anh còn chút lương tri của con người, hẳn những giọt máu của đồng đội này sẽ ám ảnh anh suốt đời.

Cũng như Bùi Đình Thi ở trại tù Nam Hà, những cựu sĩ quan đã có tội hành hạ anh em chiến hữu trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản, cuối cùng cũng “lọt lưới” lên máy bay đến Mỹ tị nạn cùng với chúng ta.

Có một điều, chống kẻ thù trước mặt thì dễ, nhưng cảnh giác với bạn bè sau lưng khó hơn. Có khi họ chung một màu áo, một tổ chức, và thường là “đồng” như đồng bào, đồng hương, đồng chí… và có lẽ chúng ta cũng chưa quên bài học đồng minh.

Nhiều lúc vô tình, tôi gặp những anh “đội trưởng” đâm vào lưng chiến hữu mà tôi đã kể ở trên, ở một quán cà phê đông người nào đó ở trên đất Mỹ. Phần đông, hình như họ đã quên những gì họ đã làm hay họ giả vờ quên, nhưng với tôi thì không, tôi không bao giờ quên họ, mặc dù thường tôi vẫn bào chữa cho họ, cho rằng chẳng qua vì họ quá yếu đuối. Cả một quá khứ đau đớn hiện ra với tất cả tên tuổi và hình ảnh của những nạn nhân là những bạn tù của tôi. Có lẽ đó là một khuyết điểm của cá nhân tôi, nhưng ở đời, “tiết trực” thì dễ nhưng “tâm hư” mới là khó. Người ta nói nhiều điều có thể tha thứ, nhưng không thể quên.

Nếu quên được thì tôi đã không bao giờ có những giấc mơ thấy mình đang còn ở trong trại tù, như cơn ác mộng đêm qua.

Huy Phương

Chuyến tàu đời

hung-viet.org

7 Tháng Tư 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Mar 2025

Thời gian còn ở bậc tiểu học, chúng tôi đã thuộc lòng bài “Những Chuyến Tàu” của thi sĩ Tế Hanh và dù ngây thơ chưa biết gì về cuộc sống, cũng vướng víu theo cảm xúc của người thi sĩ này để “tôi thấy tôi thương những chuyến tàu,” và bỗng dưng tâm hồn bị những “nỗi đau xa” ám ảnh.

Lớn lên được biết thêm người ta ví cuộc đời này như một chuyến tàu chạy trên đường sắt, và như mỗi giai đoạn của cuộc đời, con tàu sẽ dừng lại ở mỗi sân ga, mà trên chuyến tàu này, nỗi buồn thường nhiều hơn chuyện vui.

Một này nào đó khi chúng ta sinh ra đời, cất tiếng khóc đầu tiên, như người bước lên một toa tàu đang dừng lại ga. Lên tàu, chúng ta gặp được nhiều người đã có mặt sẵn, trong gia đình đó là mẹ cha, các anh chị ra đời trước, hay bà con, lối xóm bạn bè. Trên toa tàu có những người ruột thịt thân quen, bạn bè cùng trang lứa, nhưng cũng có những người xa lạ, cùng đi chung một đoạn đường. Họ có chung với chúng ta một không gian là toa tàu đang chạy và thời gian là đoạn đường giữa nhà ga này đến nhà ga kế tiếp.

Rồi con tàu rời sân ga ra đi, chạy qua những nhịp cầu, những bến nước, những cánh đồng, qua những ngày mưa nắng, như những niềm vui, nỗi buồn trong từng giai đoạn cuộc sống. Lúc con tàu đừng lại một ga khác, trong gia đình chúng ta có thêm những đứa em, trong trường học chúng ta có thêm bạn bè và trong cuộc đời có thêm một người yêu mến thề nguyện, hứa đi chung với chúng ta suốt trong cuộc hành trình. Đó là những cuộc gặp gỡ tình cờ của định mệnh, trong toa tàu có thêm một người và một gia đình khác, có khi xa lạ chưa hề quen biết bước lên, trở thành người bạn đồng hành của chúng ta. Đó là người vợ hay người chồng mà chúng ta hứa kết hợp trọn đời, nhưng có một điều mà chúng ta khó biết trước, là rồi ra, cả hai người đều không thể nào cùng xuống một sân ga.

Cũng có người xem cuộc hành trình là một gánh nặng, cũng có người xem đó là cuộc rong chơi. Cũng có người mới gặp gỡ trong giây lát rồi, bỗng dưng ra đi biền biệt, như người khách đi tàu xuống một sân ga nào đó mà chúng ta không hề hay biết.

Có ai đi một chuyến tàu dài ngày mà không có một người bạn đồng hành để chuyện trò hay một người để cho chúng ta ngưỡng phục và yêu mến, và mỗi người trong chúng ta ai cũng phải có một người bạn như thế. Họ có thể đi với chúng ta qua nhiều ga, hay bất chợt xuống một ga nào đó để lại những niềm luyến tiếc cho riêng chúng ta, mà cho cả những người hiện diện trong toa tàu. Chúng ta cũng vậy, làm thế nào để khi chúng ta xuống một ga nào đó trên đường tàu mà không ai tiễn chúng ta bằng những chiếc dép hay bằng những lời nguyền rủa ném theo.

Chuyến tàu đời là chuyến tàu đi một chiều không có lần trở lại. Những nhà ga chúng ta đã ghé qua, dù vui buồn cũng chỉ một lần, khi con tàu đã kéo còi đi về phía trước, không bao giờ để cho chúng ta có cơ hội trở lại những nhà ga cũ, nói ví von là chúng ta không thể nào tắm lại trong dòng sông xưa. Đó là những nhà ga của tuổi thơ dịu dàng, đó cũng có thể là những nhà ga của muộn phiền đau đớn, đó có thể là những nhà ga đem lại cho chúng ta niềm vui hạnh ngộ mà cũng là những nhà ga của xót xa cách biệt mà chúng ta đã để lại ở đó những người thân yêu, mà giờ đây vui buồn “chở mấy toa đầy nặng khổ đau.” Con tàu đời đã dừng lại hàng trăm nhà ga, mỗi nơi ghi nhận thêm những nỗi chia xa. Những người khách mới lên tàu thì xa lạ, chúng ta chưa hề quen biết, nhưng bạn bè và những người thân yêu của chúng ta lại lần lượt từ giã chúng ta, xuống ga. Có những buổi sáng mai thức giấc mới thấy trong toa vắng bóng một người quen, vì đêm qua, họ đã xuống tàu, mà trong cơn say ngủ chúng ta không hề hay biết.

Tuổi già rồi sẽ đến như con tàu sẽ dừng lại ở những nhà ga cuối cùng nào đó của riêng ta. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray mỗi lúc mỗi nặng nề, làn khói tàu theo gió vật vã, phì phào như nghẹn ngào hơi thở và tiếng còi tàu rền rĩ vang xa. Bạn bè mỗi lúc rời toa tàu càng đông, mới hôm qua cười cười nói nói đó, hôm nay đã khuất dạng, tan biến trong không gian, ẩn hiện trong niềm nhớ, nỗi quên của mọi người. Và con tàu vẫn hăm hở, băng băng, vô tư nuốt quãng đường dài, hết ga này rồi đến ga kia, từ một ga nhỏ heo hút, tăm tối ở một ven rừng nào đó, rồi đến ga lớn trong vùng đô thị đầy ánh sáng, và… ga nào là ga cuối cùng của tôi?

Mọi người, không trừ ai, trước hay sau đều phải xuống ga.

Tiếng còi tàu đã cất lên, con tàu giảm tốc độ, thở những hơi thở dài, chậm rãi vào ga.

Nào, có ai dưới ga kia, chờ đợi tôi. Nào có ai trên toa tàu này đưa tiễn, bịn rịn cầm lấy tay tôi hay không? Tôi sắp xuống ga rồi, quy luật của chuyến tàu là chỉ có thể xuống một mình và không thể mang một thứ hành lý nào theo.

Xin vẫy tay chào người ở lại, và xin bạn bè, thân thuộc, quen biết hay xa lạ, xuống ở những ga sau.

Biết đâu, ở một nơi nào đó, chúng ta sẽ gặp lại nhau!

Huy Phương

Bài tháng Tư

hung-viet.org

16 Tháng Tư 2012

Thơ Huy Phương

Post by Sơn râu 16 Mar 2025

Lũ chúng ta, ván cờ dở cuộc

Tướng bỏ thành, phá tượng, buông xe

Ta thân tốt chân trời góc bể

Nỗi qua sông chẳng hẹn ngày về.

Thuở đứt gánh tóc còn xanh mướt

Giờ nhìn nhau, bạc trắng phơ phơ

Hai mươi năm đốt đời trai trẻ

Buổi sa cơ, lỡ một thế cờ.

Mỗi nghìn đêm còn đau giấc mộng

Mỗi sáng nhìn đất nước khuất xa

Thân tráng sĩ – sức tàn lực kiệt

Mộng thời trai như bóng mây qua.

Những hố bom ngày xưa đã lấp

Biển muôn trùng xanh những nương dâu

Chiến trường xưa đã mờ dấu tích

Sao lòng ta nặng vết hằn đau.

Người lính già tuổi chiều bóng xế

Chẳng còn xưa, chẳng có mai sau

Những tháng ngày sầu niềm đất khách

Vết thương lành, vết sẹo còn đau.

Ôi tháng tư, đốt lò hương cũ

Khóc người xưa, nhỏ lệ cho ta

Người đã khuất – còn nguyên khí phách

Ta sống còn – tháng đoạn, ngày qua.

Huy Phương 4/04

Runway 33 at Reagan-National Airport

dongsongcu.wordpress.com

Herky460

Posted on February 19, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 15 Mar 2025

Ảnh minh hoạ của aol.com

Về vụ tai nạn Phi-cơ đã xãy ra tại Phi-trường Reagan-National tuần qua, có liên quan đến Phi-đạo 33.

Nay tôi xin post lại bài viết của tôi về phi-dạo 33 mà cá nhân tôi đã đáp 34 năm trước (Phần thứ 2 của bài viết này)

(Nguyên bản bài viết bài này, tôi viết bằng Anh ngữ cho các bạn trẻ thuộc thế hệ tỵ nạn thứ hai hiện đang bay cho các hảng hang-không dân sự trên đất Mỹ này. Bài này do AI dịch ra tiếng Việt.)

***

Một số bạn đã hỏi tôi trong cuộc đời làm phi-công, có bao giờ tôi đã từng đáp lần nào tệ hại nhứt chưa ? Dĩ nhiên là phải có chớ sao không!

Hôm nay, ngày 24 tháng 1 năm 2006 khi tôi viết bài này, đánh dấu 35 năm kể từ ngày lần đầu tiên tôi thực hiện một cú hạ rất tệ hại khi bắt đầu vào nghiêp lái máy bay vận tải trong Không- Quân Việt-Nam Cộng-Hòa

Tháng 1 năm 1971. Khi tôi mới trở về từ Mỹ sau 1 năm đào tạo để trở thành một phi-công vận tải. Bộ tư-lệnh Không-Quân Việt-Nam Cộng-hòa (VNAF) đã ngay lập tức gởi nhóm của chúng tôi gồm 8 Trưởng-phi-cơ và 8 hoa-tiêu-phó đến căn cứ không quân Phang-Rang để bắt đầu thực tập những phi vụ hành quân nội địa (in-Country Training), chung với các Pilot của Không-quân Hoa Kỳ trên vận tải cơ C-123K mà Không-quân Việt-Nam Cộng-Hòa sẽ được bàn giao lại vào tháng 4/1971 qua chương trình Việt-Nam-hóa.

Sơ lượt về Vận-tải-cơ C123K: Loại phi-cơ cánh quạt 2 động cơ có gắn thêm hai máy phải lực nhỏ bên ngoài máy nổ. Trọng lượng cất cánh tối đa của máy bay này là 60.000LBS, với 2 động cơ cánh quạt dùng xăng quân đội loại 115/145 Octane, 16 xi-lanh, R2800 và 2 động cơ phản lực nhỏ (J-85 với sức đẩy là 2.850 lbs), tương tự như loại máy phản-lực được sử dụng trên phản- lực oanh tạc A-37, nhưng được thiết kế lại để cũng dùng chung nhiên liệu 115/145 . Hai động cơ phản lực nhỏ được sử dụng để hỗ trợ cho khoảng cách cất cánh ngắn hơn và đạt được cao độ cao nhanh hơn trong thời gian rất ngắn để tránh hỏa lực dưới đất. Chúng cũng được sử dụng như một lực đẩy thay thế nếu động cơ cánh quạt bị ngưng hoạt động. C-123K cồng kềnh và xấu xí, nhưng rất phù hợp với các phi đạo ngắn trong chiến tranh Việt Nam (2,000 feet). 8 vị Trưởng- phi-cơ này đều mang cấp bậc Trung-úy tất cả đều có kinh nghiệm trên phi-cơ C-47 và AC-47. Đối với phần còn lại của chúng tôi 8 hoa-tiêu-phó (Co-pilot), đều hoàn toàn là những “em mới” với tổng số giờ bay khoảng 200+ giờ sau 1 năm huấn luyện tại Mỹ.

Ảnh minh hoạ của wikimedia.org

Tôi được chỉ định bay cùng Trung-úy Minh (“Minh Điên” khóa 65A chung khóa với Trần-thế-Vinh và Lý-Tống) và Huấn luyện viên Hoa Kỳ của chúng tôi là Đại úy John Mastronardi. Chúng tôi thay phiên bay trên mỗi chuyến bay. Trung-úy Minh trưởng-phi-cơ ngồi ghế trái và ghế phải là huấn-luyện-viên Đại-úy Mastronardi. Khi đến lượt của tôi, tôi ngồi ở ghế bên phải và thực hiện nhiệm vụ của một hoa-tiêu-phó (co-pilot). Trong suốt quá trình huấn luyện bay, tôi đã nhiều lần đáp rất ngon lành, điều này tạo ra một mức độ tin tưởng cho Đại-úy Mastronardi.

Một ngày đẹp trời của chiều chủ nhật, ngày 24 tháng 1 năm 1971 (thời giang này, một số bạn chưa được sinh ra hoặc còn rất trẻ …), chúng tôi có nhiệm vụ chở 60 đầu đạn 175 ly cho pháo binh Hoa kỳ, từ Căn cứ Không-quân Biên-hòa để tái cung cấp một căn cứ hỏa lực của Mỹ nằm về phía bắc tỉnh Phước-Long gần biên giới Campuchia. Vì phi-vụ chuyên chở nguyên liệu nổ cao, (Hi-explosive) nên phi-cơ phải di chuyển (taxi) vào khu vực gọi là “Hot cargo”/ khu hàng hóa hoặc khu vực chứa chất nổ được cách ly, để có khoảng cách an toàn cho phi-trường. Đây là chặng thứ 3 trong ngày và chúng tôi phải đáp xuống một phi-đạo đất ngắn ở trên sườn đồi nhỏ hẻo lánh gần biên giới Miên-Việt có tên là “Djamap dirt-strip” (Bùi gia Mập). Phi-đạo bằng đất này chỉ có thể được sử dụng tốt trong mùa khô. Phi-đạo nằm theo hướng 03/21 và dài khoảng 3.000 bộ, nằm chơ vơ trên đỉnh đồi ở độ cao 1.620 bộ cách mặt biển, và chúng tôi chỉ có thể hạ cánh hướng phi đạo 03 vì cuối đầu phi-đạo 03 là triền núi nên phải quay lại và cất cánh hướng phi đạo 21. Phi-hành-đoàn trên loại máy bay này bao gồm 4 gười: Trưởng-phi-cơ, hoa-tiêu-phó, cơ-phi và áp tải. Đối với chuyến bay huấn luyện này, gồm 1 huấn-luyện-viên + 1 cơ-phi và 1 áp tải người Mỹ , cùng chúng tôi 4 Phi-hành-đoàn học viên Việt Nam tạo thành một phi-hành-đoàn tổng cộng 7 người. Sau khi 80 đầu đạn được chuyển lên phi-cơ, chúng tôi được gom lại để nghe vị trưởng-phi-cơ thuyết trình về an-phi trước mỗi lần cất cánh. Đối với hoạt động bay đường đáp sân ngắn này theo sách vở, với tư cách là phi công phụ, tôi không được phép hạ cánh trên bất kỳ phi đạo nào ngắn hơn 3.000 feet. Trung úy Minh đáng lẽ sẽ bay chuyến bay này, nhưng huấn luyện viên Mastronardi giữ tôi ngồi ghế phải, và nói nè Thiếu úy Khiêm, tôi nghỉ you có đủ khả năng để đáp ở phi-trường Djamap.!

Là một phi công trẻ không có nhiều kinh nghiệm bay, tôi không biết sự khác biệt giữa việc đáp ở phi-đạo dài hay ngắn. Tất cả những gì tôi từng làm là chỉ hạ cánh trên một phi đạo xuất hiện trước mặt tôi mà thôi. Vì là bay vào vùng nguy hiểm (Hot), để tránh bị bắn, chúng tôi không thể vào và hạ cánh bình thường như như bất kỳ phi trường nào khác. Chúng tôi vào vùng thật cao trên phi trường này và bay xoắn ốc xuống thấp cho đến khoảng 2.000 bộ (nghĩa là chỉ khoảng 400 bộ cách mặt đất), khi còn cách 1 dặm ở cuối ph-đạo 03, tôi hạ cánh cản tối đa(Full Flaps) cắm đầu vào cuối phi-đạo 03, xử dụng công xuất của hai máy cánh quạt trung bình để khi duy trì một tốc độ bay lúc cận tiến là 78 Knots trong suốt giai đoạn cuối. Tôi đã rất phấn khích khi thực hiện kiểu tiếp cận này và duy trì chính xác 78 Knots trên mặt đồng hồ tốc độ đúng như sách vở. Trên hệ thống interphone , tôi nghe Đại-úy Mastronardi nói : quá đẹp Khiêm!. Về mặt chiến thuật, chúng tôi gọi loại hạ cánh này là thủ tục hạ cánh có tên là “Assault landing” được sử dụng ở bất kỳ phi trường vùng nguy hiểm nào, với cách tiếp cận cuối cùng cao hơn cách đáp thông thường. Tôi đã thực hành kiểu đáp tiếp cận (assault landing) này nhiều lần trên các phi đạo dài trong quá trình huấn luyện ban đầu của tôi ở Mỹ (tại căn cứ không quân Lockboune, Columbus Ohio từ tháng 11 năm 1970).

Nếu là dân bay, một số bạn đã biết, nếu bạn vào cận tiến (final approach) tốc độ và góc độ hoàn hảo, bạn sẽ đáp hoàn hảo. Nhưng đã không xảy ra trong trường hợp này! Khi máy bay còn khoảng 20 feet trên mặt phi đạo, vì không có kinh nghiệm nên tôi đã cúp ga thật nhanh! Điều này gây ra một tỷ lệ sink (chìm) quá mức cho cách hạ cánh này. Tôi chỉ nghe Đại úy Mastronardi hét lên trong hệ thống liên lạc: No Khiêm! Quá trể, máy bay chạm xuống rất mạnh nhưng vì không có kinh nghiệm tôi vẫn không biết chuyện gì đã xảy ra. Khung phòng nơi chứa bánh đáp bên trái bị bể , bể luôn bên trong thân phi-cơ nên kéo theo đất màu đỏ trên mặt phi đạo bắn thẳng vào phòng lái (C-123k quân sự không có cửa phòng lái). Tụi tôi không thể nhìn thấy bất cứ cái gì trước mặt, ngoại trừ một ánh sáng mờ màu cam của đèn Anti-skid (Đèn báo chống trượt) phát sáng trong bụi đỏ dầy đặc bên trong phòng lái. Phi-cơ lúc đó đã chuyển hướng về phía bên trái, sắp sửa văng xuống triền núi ! Đạ-úy Mastronardi nhanh chóng dùng xoải ngược (revert) của động cơ bên phải, đưa máy bay trở vào phi-đạo với 2/3 phần còn lại của phi đạo đất đỏ này. Động cơ bên trái bị chạm đất khi bánh xe bên trái sụp xuống vì máy bay nghiêng sang trái và điều đó khiến cánh quạt bên trái đụng vào gò đất phía trái phi đạo , uốn cong 3 đầu cánh quạt,động cơ bên trái tắt ngay tức khắc. Động cơ phản lực bên trái cũng bị hư do đất cát đã chui vào đó, nhưng nó tự động tắt khi động cơ cánh quạt được cho vào xoải ngượt (Reverted).

Tất cả chúng tôi đã chui ra khỏi máy bay an toàn, riêng Đại-úy Mastronardi và tôi từ trên phòng lái chui ra trông giống như 2 thằng mọi da đỏ vì tóc tai mặt mũi và bộ đồ bay của chúng tôi từ đầu tới chân đều phủ đầy bụi đỏ. Nếu lúc đó Đại-úy Mastronardi không nhanh chóng đưa máy bay dừng lại, toàn bộ máy bay có thể đã văng ra cỏ và chạy khỏi dải đất rơi vài trăm thước và nổ tung bên dưới sườn đồi! Thì tụi tôi xem như đã tiêu diêu nơi miền cực lạc rồi! (Chúng tôi đang mang 60 đầu đạn pháo binh 175 ly trong khoang chở hang hóa như tôi đã đề cập trong phần trước.). Do đó tôi sẽ không còn ngồi đây để mà viết lại câu chuyện này. (Tui nổ có ba tăng mà!)

Sau tai nạn đó, Đại úy Mastronardi không còn làm huấn luyện viên cho Phi công VNAF, tuy nhiên ông vẫn làm huấn luyện viên cho các Phi công Mỹ mới đến VN sau đó. Trên báo cáo an phi (safety report), Đại-úy Mastronardi đã khai rằng rằng ông đã hạ cánh tại Djamap dirt-Strip và chịu trách nhiệm 100%. Về tai nạn này.

Tháng 4/1975, tôi đến Mỹ như bao nhiêu người người tỵ nạn khác cùng với vợ và 2 con của tôi (con gái tôi 2 tuổi và trai 5 tháng tuổi). Sau khi ra khỏi trại tỵ nạn tại Camp Pendleton. Gia đình tôi tạm thời định cư tại thành phố Al Cajon phía đông San Diego. Captain Mastronardi không biết bằng cách nào đó đã tìm được địa chỉ của tôi và gửi cho tôi một ngân phiếu 500$! Tôi đã bị sốc, bạn có biết 500 đô la trị giá bao nhiêu trong năm 1975 không? (Lúc đó bạn có thể thuê một một phi-cơ 1 động cơ với giá 9 đô la và chi 6 đô la cho 1 huấn luyện viên!).

Tôi biết rằng ông ta chỉ là một cơ-phi trên Boeing 727 cho Delta Airlines không quá 3 năm và ổng không được trả nhiều tiền khi bắt đầu với bất kỳ hãng hàng không nào.( Khi tôi mới vào Airline bên Mỹ này tôi cũng phải làm cơ-phi trên Boeing-727 4 năm) Khi ông gửi cho tôi 500 đô la, nó đã làm tôi quá xúc động, sao tình Thầy trò nắn ngủi mà lại sâu đậm quá như vầy!. Sau đó ông nói với tôi rằng ông phải làm cơ-phi cho Delta Airlines trên Boeing 727 trong 10 năm trước khi ông có thể được nâng cấp lên ghế Co-Pilot. Vào giữa năm 80 khi ông nghe tôi được mướn vào Hãng hàng không Piedmont, (sau này sáp nhập với US-Airways và bây giờ là American Airlines) và chỉ 4 năm sau tôi leo lên ghế co-pilot, ổng nói không thể tin vào điều đó. Ổng nói rằng tôi sẽ ngồi ghế cơ-phi ít nhất 5 năm nữa. Ngành hàng không đã thay đổi và tôi may mắn được nâng cấp nhanh như vậy. Captain Mastronardi đã nghỉ hưu năm 2002 là Captain trên loại Phi-cơ L-1011. Gia đình ông sống ở Atlanta và chúng tôi vẫn giữ liên lạc thường xuyên với nhau. (Ông mất năm 2016, hưởng thọ 74 tuổi, trước khi ông mất ông có nói người con gái lớn tên Lia gọi cho tôi biết, khi tôi gọi lại thì vợ là bà Jean nói Jack đã hôn mê cách đây 1 giờ !!!)

Sau tai nạn trong quá trình huấn luyện cho đến khi tôi được chuyển qua C-130A vào tháng 12 năm 1972, tôi chưa đáp lần nào tệ lậu trên C-123K hoặc C-130A. Nhưng hầu như tất cả những cái đáp, đã đáp rất êm như đáp trên lụa!!?? (cho phép tôi tự quảng cáo (Nổ) về bản thân mình; tự khen ngợi bản than để tự làm cho tôi thỏa mãn cái “Tôi” bự chảng của mình..Mèo khen mèo dài đuôi . OK không quý đọc giả khó tính!).

******

Phần trên là chiện đời xưa, còn chiện đời nay sau 29 năm bay ở xứ Mỹ dãy chết này, từ lái máy bay nhỏ đến máy bay phản lực lớn tôi đã từng đáp lần nào thiệt là tệ hại chưa? Câu trả lời là Có chớ sao không có. (Thành thật khai báo sau đây.)

Ngày 30 tháng 1 năm 1991 (hai mươi năm sau lần đáp ở Djamap) Tôi đang bay trên chiếc Boeing 737-400, sau khi rời Raleigh NC, chúng tôi bay đến phi trường Washington-National (lúc đó phi- trường này chưa đổi tên thành phi-trường Ronald-Reagan). Thời tiết ngày hôm đó thật lý tưởng để đi bay. Tụi tôi bay đến từ phía nam của phi đạo 36.(Bây giờ là phi-đạo 01, vì từ trường của trái đất thay đổi) Khoảng 5 dặm từ cuối phi đạo 36, đài kiểm soát không lưu cho tụi tôi đáp thẳng vào phi-đạo 36, đồng thời họ cũng cho chiếc DC-9 của hảng North-West cất cánh. Nhưng không biết lý do gì khiến chiếc DC-9 phải hủy bỏ cất cánh (Abord-Takeoff), đài Kiểm soát không lưu chỉ thị cho DC-9 rời phi-đạo ngay đường di chuyển trước mặt nhưng chiếc DC-9 đã chạy lố, khiến chúng tôi phải chuẩn bị làm lại vòng bay khác (go around). Tụi tôi vẫn còn cách phi đạo 36 khoảng 3 dặm. Đài kiểm soát không lưu hỏi tụi tôi rằng liệu chúng tôi có chấp nhận bay qua vòng qua bên phải và đáp ở phi-đạo 33 được không thay vì phải làm vòng bay khác.? Phi-đạo 33 ngắn hơn nhưng vẫn xử dụng an toàn cho 737 (Thông thường phi đạo này chỉ dùng cho các loại comuter phi-cơ hành khách loại nhỏ.) Chúng tôi chấp nhận dùng phi đạo 33 và với bánh đáp và cánh cản (Flaps) vẫn còn, tôi quẹo qua phải trên sông Potomac về phía đông, sau đó tôi quẹo trái hướng tây bắc để chỉnh cho ngay vào phi đạo 33. Tôi chưa bao giờ hạ cánh trên phi đạo này lần nào. Với phi đạo ngắn hơn và con sông Potomac ở đầu này , đầu kia là tòa nhà Lầu năm góc (Pentagon) nằm ở cuối đầu kia không xa, nếu phải làm vòng bay khác (go around) cho phi-đạo 33 này có phần nghiêm ngặt và khó khăn hơn cho phi đạo 36 hay 18.

Tôi cảm thấy như mình sắp hạ cánh trên một Hàng không mẫu hạm. Với bánh đáp và cánh cản tối hạ đa (Full Flaps) tôi cố gắn giữ tốc độ như computer trên phi cơ đưa ra, tôi đã cố gắng chạm bánh vào con số của phi-đạo này, chỉ cách cuối đầu phi-đạo 500 feet thay vì chạm bánh trên vạch trắng lớn 1.000 feet như bình thường. Vì cánh cản đã ra tối đa (Full Flaps) nên tốc độ cận tiến thấp hơn bình thường và tôi đã tập trung vào con số 33 đến nỗi tôi để tốc độ cận tiến giảm mất 5 knots dưới mức mục tiêu mà tôi không biết. Với 87 hành khách ngồi trên chiếc 737-400 phi- cơ đã rớt thẳng xuống mặt phi đạo ngay trên con số 33: 2 bánh xe chính và bánh mũi chạm xuống cùng một lúc, giống như một máy bay phản lực của Hải quân hạ cánh trên boong của Hàng không mẫu hạm vậy!!. Thông thường khi bạn hạ cánh một chiếc máy bay phản lực lớn và nặng trên một cú chạm mạnh với 2 bánh chính và bánh xe mũi vẫn còn trên không, ngồi trong buồng lái bạn cảm thấy chỉ là chạm bánh hơi nặng thôi. Nhưng khi cả 3 bánh cùng chạm đất cùng một lúc như thế này, tôi cảm thấy đây là một cú đáp quá mạnh cho hành khách. Tôi rất bối rối và cảm thấy xấu hổ tột cùng. Đây là lần duy nhất tôi nhớ rằng tôi đã thực hiện một cái hạ cánh quá tồi tệ nhứt trong suốt sự nghiệp làm phi-công hàng không dân sự tại xứ dãy chết này. (Đó cũng là lần duy nhất tôi ghi vào sổ giờ bay cá nhân của mình bằng mực đỏ RED. (Very Bad Landing, phải từ chức hãng hàng không và gia nhập Hải quân, nếu họ chịu nhân tui!?). Sau khi hạ cánh, tụi tôi không nói gì với nhau cả.

Tôi bước ra khỏi chỗ ngồi và đứng trước cửa phòng lái để chào lời tạm biệt và cảm ơn hành khách như thường lệ, một số hành khách mỉm cười với tôi, những người khác ném cho tôi một cái nhìn bẩn thỉu nghiêm khắc (Stern and dirty look!). Có người hỏi tôi: Hồi nãy ai đáp dậy? Tôi không nói tiếng nào nhưng chỉ ngón tay cái ngược ra sau lưng, chỉ vô phòng lái cho thằng pilot Mỹ còn đang ngồi trong đó!!!!

Đây là một số câu chiện ngắn về cuộc đời bay bổng mà tôi muốn chia sẻ với quý bạn trên diễn đàn này. Tôi chưa bao giờ kể những câu chuyện này với bất cứ ai, kể cả các thành viên trong gia đình tôi hoặc đăng trên trang web của VNAF.

Tôi mong ước rằng tất cả các bạn là một thế hệ trẻ sẽ đạt được mục tiêu của mình trong ngành hàng không và trở thành những phi-công hàng không lái những chiếc máy bay phản lực lớn và hiện đại và có một tương lai tươi sáng .

Chúc các bạn vui vẻ với nghiêp bay.

Captain Pham.

US Airways/American Airlines

Dayton Ohio Jan. 2006

(Tôi official retired from American Airline cuối tháng 12/2006 sau 20 năm bay cho hảng này, trước đó bay Boeing 727 cho hảng UPS 3 năm, 6 năm bay cho hảng nhỏ 2 động cơ.)

Bổ túc bài viết lần trước. (Những Cú đáp tệ hại nhứt trong đời tôi!) (Hard Landing)

Tôi không tính viết phần này vì kỳ đó sợ bị quê!

Chẳng là sau khi mọi việc coi như tạm yên thì có một ông lính Mỹ lấy máy polaroid chụp cho tôi 2 tấm hình mà tôi đã post ở phần trên, sau khi tôi đã phủi tất cả bụi và đất đỏ trên đầu cổ quần áo. Hồi đó mới có 23 tuổi nên xem còn trẻ như con nít. Tụi tôi phải đứng chờ C-7 Caribu của Army từ Biên hoà bay lên đón về Tân Sơn nhứt.

Captain Mastronardi dặn tụi tôi đừng khai báo gì hết, để ông sẽ làm tường trình. Khi C-7 đến rước phi hành đoàn của họ chỉ có 3 người. Tụi tôi 7 mạng leo lên C-7 khi 2 máy vẫn còn nổ. Sau khi cất cánh C-7 không bay về Sàigòn liền mà bay vòng xoắc ốc trong phạm vi phi trường để lấy cao độ. Trong khi C-7 lấy cao độ tôi lủi thủi một mình đi ra phía sau, ai cũng ngồi gần đằng trước phần tôi đứng phía sau nhìn xuống chiếc C-123K nằm lẽ loi trên phi-đạo đất đỏ, lòng tôi nhói lên và tôi đã khóc như một đứa con nít bị ai giựt mất đồ chơi… Captain Mastronardi nhìn thấy tôi khóc, ổng chạy xuống vỗ về: Khiêm! Everything will be all right, don’t feel bad!

Nửa giờ sau tụi tôi đến TSN. Chuyện đầu tiên là xe van màu xanh của USAF đến chở tụi tôi đến bệnh xá KQ Mỹ để lấy máu (xem có tên nào say rượu hay có cần sa ma túy trong máu không. Đó là chuyện thông thường của KQ làm mỗi khi có tai nạn) sau đó được cho về nhà, đi xe ôm về nhà mà lòng tôi buồn rười rượi. Về đến nhà ba má tôi hỏi ủa sao con đang học ngoài Phan rang mà bửa nay lại về nhà, ừ mà đầu cổ quần áo con sao dơ quá vậy? Tôi chỉ nói bửa nay tụi con đáp ở phi trường bằng đất đỏ chớ tôi không dám nói tại con mới đập tàu bay.!

Sáng hôm sau trở lên Phi trường TSN được C-130E của USAF chở ra lại Phan rang và vào ngay văn phòng an-phi để được các (flight safety officer) sỹ quan an-phi Mỹ phỏng vấn.

Ngày sau tụi tôi vẫn tiếp tục đi bay hành quân huấn luyện như thường lệ, nhưng bay với Thầy mới là Thiếu-tá Kongkling, ông này dân Texas ở San Antonio nên nói giọng cao bồi Texas đăc sệt.

Tháng sau tất cả đều xong khoá huấn luyện về lại Sàigòn để bay C-123K của VNAF tất cả phi-cơ đều đã được sơn cờ và phù hiệu của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Với số hiệu từ HA đến HP thuộc phi-đoàn 421 đầu tiên, vị chi là 16 chiếc lúc ban đầu, nhưng các Trưởng phi cơ người Mỹ vẫn bay kèm tụi tôi thêm một tháng nửa rồi khi các phi-công các khoá sau lần lượt từ Phan Rang về, tụi tôi đươc thả bay solo không còn pilot Mỹ đi theo kèm nửa.

Kỷ niệm lần đâu tiên khi 2 chiếc C-123K của KQ Việt Nam sơn cờ Việt Nam và phù hiệu mới tinh ra đáp ngoài Đà Nẵng. Lúc đó tụi tôi bên Mỹ mới về được mấy tháng nên vẫn còn thư sinh trắng trẻo (và đẹp trai nửa!!!??)

Hai Thiếu-úy co-pilot bước vô trạm hàng không lần đầu ai cũng dòm ngó nên tụi tôi hãnh diện lắm…lần đầu tiên được bước vào trạm hàng không Đà Nẵng… Nhưng đi được một khoảng lại nghe mấy bà già trầu ngồi tụm ba tụm bốn nói giọng Nam và chút nửa sẽ là hành khách đi về Sài gòn trên chuyến bay của tụi tôi. Nghe mấy bả nói với nhau: chèn đét ơi bộ Không Quân hết người rồi sao mà bắt mấy thằng con nít này lái máy bai !!! (Nguyên văn… Nhớ tới già…là nhớ tới bây giờ đó, vì bây giờ tụi tôi đều đã là ông Nội ông Ngoại và đã 7 bó + rồi còn gì …)

* cái này là extra. Sáng sớm hôm nay nhận được e-mail của một bà chị quen bên Houston. Sau khi bả đoc bài này bả viết cho tôi như sau: Nghe cậu chở đạn hồi xưa nên giờ cậu nổ nghe đinh tai nhức óc luôn, không thua gì mấy ông lính pháo-binh hồi đó!. Mà cậu cũng nên đổi họ Đổ thì nghe oai phong vô cùng… 2 lần đáp thiệt hãi hùng thất sắc vậy mà còn dám chỉ tay “đổ” tội cho 2 “thằng Mỹ” bạn vàng nửa!

Tui đọc mà cười muốn rụng răng luôn!

Những oan hồn vất vưởng

dongsongcu.wordpress.com

Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn

Posted on March 11, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 15 Mar 2025

Vài hàng phi lộ       

Có lẽ khi nói đến hiện tượng ma quái, những người có niềm tin tuyệt đối vào khoa học thực nghiệm sẽ cho đó là chuyện hoang đường không có thật, một tưởng tượng phản lại khoa học. Nhưng vẫn có những người có trình độ khoa học, rất thông thái, không phải là dạng người dễ dàng tin điều gì mà họ không cảm nhận được một cách chính xác, phải chấp nhận có những hiện tượng mơ hồ bước ra khỏi giải thích của khoa học.

Những hiện tượng này không có nhiều nhưng vẫn làm cho người ta không thể giải thích nó trong khoa học. Ngay như đức Khổng Tử – một nhà hiền triết tuyệt đỉnh của Đông phương, khi được hỏi đến hiện tượng ma quái, đã không đề cập đến tin hay không tin mà chỉ khuyên người ta nên đứng xa, tỏ lòng kính ngưỡng.

Rồi ở Mỹ, quốc gia của vật chất, văn minh khoa học nhưng chưa có ai giải thích thỏa mãn những căn nhà hoang phế, không ai dám đến cư ngụ, vì có ma. Hiện tượng này không thể là một trò bịa đặt vì nó xẩy ra cho bất cứ ai cư ngụ. Hay ở một đoạn đường vào ban đêm, nhiều người bị hỏng xe, rồi một ông linh mục hiện ra giúp đỡ. Đó chính là người đã bị chết vì tai nạn giao thông trên đoạn đường này hàng chục năm về trước.

Cá nhân tôi học hành, làm việc và sống hơn 40 năm trời ở quốc gia tân tiến, tinh thần khoa học đã thấm sâu vào trí não, không cho phép tôi tin vào chuyện ma quỷ hiện hình, bùa phép, nhưng một lần nào đó chính tôi đã gặp hay nghe từ những người mà tôi biết, họ cũng không tin hiện tượng ma quái, nhưng rồi cũng như tôi, phải ngẩn ngơ không hiểu.

Trong bài viết tìm vui này tôi tìm cách nối kết những hiện tượng mà chính cá nhân tôi cảm nhận cùng với những lời kể của người khác, những người mà tôi không có lý do gì để nghĩ họ thêu dệt. Rồi từ những sự kiện đó nhờ văn chương, chữ nghĩa tôi đem nó vào một câu truyện tạo ra một niềm vui, giải trí cho người đọc. Ai muốn tin để cho lòng mình có tí chút lơ lửng với tưởng tượng mà tìm một khoảng khắc nhấn mình trong mộng ảo, đó không phải là một thích thú lắm sao! Ngược lại, ai mỉm cười mà phủi nhẹ bàn tay, coi là một chuyện hoang đường vớ vẩn của một người dùng cái ướt át của văn chương để ma mị nhân gian thì cũng có gì đâu mà kẻ viết này phải bực bội, chán chường!

Nhưng dù thế nào, tin hay không tin thì cuộc sống của nhân gian vẫn chuyển động “không có mợ thì chợ vẫn đông.” Không có kẻ múa bút văn chương kể lể chuyện tầm phào này thì cuộc đời vẫn đầy rẫy nụ cười trong vui tươi nhưng cũng chẳng thiếu những bóng dáng khốn khổ, lầm than. Đời là thế, toàn chứa những âm vang của một vở kịch bi hài.

***

Trong thời gian sống và học tại Nhật bản, tôi có hai người bạn đã ghi sâu vào trí nhớ và cảm xúc của tôi, người bạn đầu tiên là người Nhật, tên là Shotaro là con trai duy nhất của một gia đình có 4 anh chị em. Trên anh ta là người chị gái đã có gia đình sống riêng biệt, dưới là 2 cô em gái là sinh viên ngành sư phạm. Gia đình Shotaro khá giàu có, thuộc thành phần thế lực từ ngày xưa, bố của Shotaro là luật sư của toà án tỉnh, một người cha rất nghiêm khắc với con cái. Trong Thế Chiến Thứ II, ông là một sĩ quan ngành quân pháp của Nhật ở Đại Hàn. Chiến tranh chấm dứt, ông bị Nga Xô cầm tù và đem sang Siberia lao động nhiều năm để xây dựng đường xe hỏa Viễn Đông, chính vì vậy ông rất ghét thù Nga Xô và Đại Hàn.

Mẹ của Shotaro trái lại rất cởi mở, rất thương và chiều các con. Bà thường dấu chồng cung ứng tiền bạc và che chở cho các con mỗi khi bị bố mắng chửi. Với tôi bà cũng rất ân cần, mỗi khi Shotaro rủ tôi đến nhà chơi, bà luôn giữ lại ăn cơm. Để tránh ánh mắt nghiêm nghị của chồng, bà và mấy cô em gái thường bầy riêng cho chúng tôi mâm cơm khác trên lầu, phòng riêng của Shotaro. Đã thế lúc ra về tôi còn được bà nhét cho một bịch nào là bánh ngọt, trái cây.

Nhiều lần bất chợt gặp tôi lang thang trên phố hay ở siêu thị, bà kéo tôi vào quán ramen (tương tự món hủ tíu mì, rất thông dụng ở Nhật) bắt tôi ăn, bà chỉ ngồi nhìn hay nói chuyện về các con của bà, hay hỏi vu vơ về gia đình tôi ở Việt Nam. Lòng tốt và hình ảnh của bà đôi khi đã làm tôi cảm động rướm nước mắt, kéo tôi về quá khứ với người mẹ kính yêu của mình. Thời đó gia đình tôi quá nghèo, mẹ tôi đã phải tần tảo bán hàng rong để nuôi anh em chúng tôi ăn học, thấy tôi đói, mẹ dẫn tôi vào tiệm ăn phở, cũng như bà, me tôi cũng chỉ ngồi nhìn, không ăn. Mãi sau này lớn khôn, nhớ lại tôi mới biết mẹ không ăn chỉ vì quá nghèo không dám bỏ tiền cho cả hai mẹ con. Sau này khi khôn lớn, ra đời, có điều kiện về vật chất thì mẹ đã ra người thiên cổ!

Nhà của Shotaro ở trong tỉnh, không quá xa căn nhà trọ của tôi. Có lẽ vì ông bố quá khắt khe nên Shotaro không thích ở nhà, thường đến phòng trọ của tôi chơi, anh thường mang bánh trái, hay 5, 6 lon bia và vài món ăn để nhâm nhi nói chuyện hay xem TV. Chính vì vậy Shotaro cũng trở nên một thành viên rất thân tình với nhóm bạn cùng đại học của tôi. Vào những ngày nghỉ lễ hay cuối tuần, nhất là gặp những ngày hè nóng bức, Shotaro thường mang xe của gia đình chất đầy đồ ăn, nước uống chở tôi và nhóm bạn đến một thị xã cũng không xa thành phố, địa phương có bãi biển khá đẹp. Trong nhóm bạn có gia đình của một người sống ở đó, vì thế mỗi lần đi chơi như vậy, chúng tôi lại được gia đình bạn mời đến nhà ăn uống. Những lần đi chơi như vậy, chúng tôi thường về lại thành phố rất khuya.

Không biết, có phải vì sự đưa đẩy kỳ lạ của định mệnh hay không, vào một buổi sáng cuối tuần nắng nóng, Shotaro mang xe đến chở chúng tôi đi tắm biển. Suốt ngày vẫy vùng với sóng biển, buổi chiều, thay vì theo người bạn địa phương đến nhà anh ta ăn cơm tối như mọi lần, Shotaro đề nghị mời bạn bè đến một quán ăn cá sống (sashimi) không xa bãi tắm. Dĩ nhiên là cả nhóm vui mừng đồng ý vì chẳng ai trong chúng tôi là người không khoái khẩu với món ăn truyền thống, độc đáo này của Nhật Bản.

Rồi cũng trong cuộc đi ăn uống đó, một sự việc xẩy ra đã làm cho chúng tôi ngạc nhiên và nó cũng khởi đầu cho sự bi đát đến với gia đình Shotaro. Đó là một quán ăn khá bình dân ở miền quê, vỏn vẹn với 4 cái bàn ăn ngắn chân xếp trên nền nhà sàn lót chiếu, quán chỉ có 2 người phụ nữ phục dịch. Trong đó một người là một cô gái Đại Hàn. Trung thực mà nhận xét, tất cả nhóm bạn của tôi trừ Shotaro đều thấy cô gái hầu bàn này chẳng có gì để nói là đẹp, nếu không muốn nói là dưới mức trung bình. Trừ làn da rất trắng, nhưng cái trắng hơi thô, không mịn màng như da của các cô gái Nhật Bản. Khuôn mặt bầu bĩnh lại thêm cặp mắt một mí càng làm cho mặt cô ta có vẻ tròn hơn. Tuy nhiên phải công nhận cô gái có nụ cười rất duyên dáng, giọng nói ngọt ngào âm điệu rất nhu hoà pha cái nhí nhảnh dễ thương khiến người nghe phải cảm mến cô ta.

Ngay khi cả nhóm vừa bước qua ngưỡng cửa quán, cô gái tiếp đón niềm nở cúi đầu, nói vài câu chiêu khách rất ngọt ngào, lịch sự rồi dẫn cả chúng tôi đến 2 cái bàn trống. Shataro đưa mắt nhìn cô ta rất lạ lùng, anh ta như bị cuốn hút lạ kỳ bởi cô gái Đại Hàn, suốt bữa ăn, anh ta bắt chuyện với cô gái nhiều nhất. Chúng tôi cũng cảm thấy kỳ lạ, thỉnh thoảng chúng tôi lại đùa giỡn vun vào tình thân của họ với những câu chọc ghẹo mà còn giới thiệu tánh tình gia thế của Shotaro cho cô gái nghe.

Sau bữa ăn, chúng tôi nghĩ chẳng có gì để nói nữa bởi vì chỉ là chuyện thoáng qua, đùa giỡn bên đường mà thôi. Nhưng bỗng một hôm Shotaro đến nhà tôi chơi, anh không đến một mình mà kéo theo cô gái phục vụ quán ăn, gốc Đại Hàn. Sau một lúc ngạc nhiên và hỏi han, tôi được biết là sau lần gặp mặt đó, Shotaro nhiều lần một mình đến quán ăn và những cuộc quen biết đã tăng tiến để họ thành một cặp tình nhân. Gygong – tên cô gái, có ông nội là công nhân nhà máy đến Nhật Bản từ thời Nhật chiếm đóng, rồi khi chiến tranh chấm dứt, gia đình họ ở lại Nhật. Dù đã ba đời sống và làm việc, hấp thụ trọn vẹn văn hoá, lối sống của người Nhật, nhưng toàn thể gia đình cô ta vẫn chưa được vào quốc tịch, đời sống của gia đình cô ta vẫn thuộc giới nghèo thấp trong xã hội Nhật.

Từ đó, thỉnh thoảng Shotaro vẫn mang Gygong theo trong những cuộc gặp mặt, đi chơi của chúng tôi. Gygong nghiễm nhiên gần gũi và thành người bạn mới của nhóm. Nhiều lần cô ta cũng đến phòng trọ của tôi nấu cơm Đại Hàn cho chúng tôi thưởng thức. Những cuộc đi chơi xa hay lê la ở những quán bar, uống rượu trên trung tâm thành phố, Shotaro vẫn mang cô ta đi theo, họ đúng nghĩa là một cặp tình nhân đang thời khắng khít.

Nhưng mọi người đều biết là cuộc tình này đã bị toàn thể gia đình Shotaro phản đối. Đặc biệt với ông bố, ông ta tìm đủ mọi cách ngăn cản chia rẽ Shotaro và Gygong. Ngay cả việc ông đã bỏ công việc và cùng với vài người bạn có chức vị của địa phương nơi gia đình Gygong sinh sống, trực tiếp đến gặp Gygong, dùng lời lẽ nửa khuyên răn, nửa đe doạ yêu cầu Gygong hãy chấm dứt, đừng mơ tưởng hão huyền mà thương yêu con trai của ông. Ông chẳng ngại ngần cho biết không bao giờ có chuyện ông chấp nhận cô ta là con dâu. Nhưng tất cả những cố gắng của bố mẹ và gia đình cũng chẳng thay đổi khác được, Shotaro vẫn tìm đến với Gygong, anh ta tìm đủ mọi cách hẹn hò, ngay cả việc học hành cũng bị sao lãng, Shotaro rất thường vắng nhà mà còn dẫn Gygong đi du lịch nhiều khi 3,4 ngày mà không nói cho gia đình biết. Thấy sự quyết liệt của Shotaro, bà mẹ và các chị em gái cảm thấy không thể làm khác được nên họ đã có phần nào cảm thông và che chở cho Shotaro mỗi khi bị ông bố mắng chửi. Căn nhà trọ của tôi đã dần dần biến thành nơi gặp gỡ, truyền tin giữa bà mẹ và các em gái của Shotaro với anh ta mỗi khi có gây gỗ với ông bố và anh ta bỏ nhà ra đi. Tôi cũng chẳng biết làm gì hơn là đóng vai trò trung gian chuyển tin tức, tiền bạc, vật dụng cho Shotaro và Gygong.

Cuộc tình yêu sóng gió đó vẫn tiếp tục, cường độ gió bão không có dấu hiệu suy giảm đã khoảng gần một năm đi qua. Shotaro gần như điên cuồng mỗi khi gặp mẹ hay các em kể lể về những cơn nóng giận, đe dọa của ông bố. Đã vài lần tôi phải tế nhị bỏ đi chỉ vì không muốn nhìn cảnh bà mẹ đẫm nước mắt, rấm rức ôm lấy con trai năn nỉ hãy chịu nhường nhịn bố tí chút để trở về với gia đình.

Bất thình lình một hôm, tôi được cô em gái của Shotaro khóc nức nở điện thoại cho biết Shotaro đã thắt cổ tự vận ngay trong căn phòng riêng trên lầu, nơi tôi và vài người bạn khác đã quá quen thuộc vì những bữa cơm ngon lành do bà mẹ và các cô em khoản đãi mỗi khi chúng tôi đến chơi. Phải nói là cú điện thoại buồn đau, ngỡ ngàng đó đã làm lũ bạn chúng tôi bàng hoàng, mắt tôi hoa lên, đôi chân của tôi gần như không còn đứng vững, muốn qụy xuống nền lan can, nơi có máy điện thoại chung cho cả dẫy nhà trọ.

Tôi và vài người bạn trong nhóm trong đó có cả Tari người bạn rất thân của tôi và Shotaro, người Thái Lan, cũng là sinh viên đến Nhật Bản du học như tôi, một người bạn không bao giờ quên mà tôi sẽ nói trong phần cuối câu truyện này.

Chúng tôi đến tham dự đám táng của Shotaro từ đầu đến cuối, lúc xác được làm lễ bỏ vào quan tài cho đến khi đem đến một ngôi chùa Thần đạo để hỏa táng. Tôi cùng với vài người thân và toàn thể gia đình được hân hạnh cầm chiếc kẹp mạ bạc gắp những khúc xương trắng chưa tan thành bột, bỏ vào chiếc hũ bằng sành rồi làm lễ chuyển đến nơi thờ phượng của gia đình.

Cô em gái của Shotaro cho biết, buổi tối trước khi tự tử, Shotaro có một cuộc cãi vã rất lớn tiếng với ông bố. Gia đình can ngăn nhưng cũng chẳng đến đâu, nên mọi người chán nản bỏ đi ngủ. Có lẽ khoảng giữa đêm, Shotaro đi vào phòng ngủ, mọi người nghĩ rằng chuyện cãi vã được tạm yên. Nhưng sáng hôm sau thấy đã muộn mà con chưa dậy, bà mẹ lên gọi mới biết rằng Shotaro đã treo cổ lên chiếc xà ngang của căn phòng. Trên bàn chỉ có một tờ giấy ghi vỏn vẹn vài câu đại ý than trách tánh tình cố chấp, độc tài và thiếu cảm thông của bố, Shotaro kết án bố không biết gì về tình yêu, chỉ khăng khăng dựa vào lý trí và nhất là mang thành kiến sai lầm thù ghét người Đại Hàn để rồi ngăn cản tình cảm của con. Shotaro không nói gì về mẹ, bà chị và các em trong lá thư tuyệt mệnh.

Shotaro chết được khoảng một tuần lễ, chúng tôi lại được một tin buồn từ gia đình người bạn ở thị xã ven biển, nơi mà Shotaro gặp và yêu Gygong. Gia đình người bạn cho biết Gygong cũng vừa nhẩy xuống biển tự tử, nơi mà Shotaro vẫn hẹn cô ta ra đó để tâm tình. Mấy ngày sau người ta mới tìm thấy xác Gygong nổi lên, táp vào một làng chài lưới cách đó không xa. Chúng tôi đến quá muộn khi đám táng của Gygong hoàn tất, gia đình cô ta cho chúng tôi biết, trước khi chết vài ngày, Gygong nói với mọi người là trong một giấc mơ, Shotaro hiện về, hẹn cô ta đến bãi biển nơi mà hai người từng hò hẹn ngày trước. Rồi Gygong đã y lời đến đó vào ban đêm, khi trở về nhà, cô cho gia đình biết đã thực sự gặp lại hồn ma của Shotaro nơi hò hẹn. Mọi người cũng tưởng rằng Gygong mê sảng mà nói vu vơ, nhưng hôm sau Gygong im lặng bỏ nhà ra đi, buổi tối vẫn không thấy về, gia đình tưởng cô buồn vì cái chết của Shotaro mà bỏ lên tỉnh thăm viếng bạn bè như trước kia. Nhưng hôm sau lúc thu dọn phòng, cha mẹ Gygong tìm thấy một lá thư của Gygong nhét dưới khay đựng tách uống trà. Đại khái xin lỗi gia đình vì quyết định tìm chết của mình, cô cho biết đã gặp gỡ hồn ma của Shotaro trong đêm ra biển vừa qua, hai người đã hẹn gặp lại nhau trong thế giới bên kia.

Sau cái chết của Shotaro và Gygong, tôi và nhóm bạn gần như bị mất cân bằng vì sự việc xẩy ra quá bàng hoàng, ngoài sức tưởng tượng. Chúng tôi chẳng còn thích thú gì để ăn nhậu hay rủ nhau đi quán bar, vũ trường như trước nữa. Tuy vậy căn nhà trọ của tôi vẫn là nơi chúng tôi tụ họp, nhưng không trong bầu không khí vui nhộn, đầy tiếng cười đùa như ngày trước, thay vào đó là sự thê lương, buồn bã luôn luôn phủ trùm. Không gian và vật thể kéo trí nhớ chúng tôi về với cuộc tình bi đát của họ. Với ấm trà xanh, vài chiếc bánh ngọt chúng tôi thường ngồi với nhau, kể lể về những lần gặp gỡ, vui đùa và nhắc lại lòng tốt, yêu thích bạn bè của cặp tình nhân khắng khít đa tình nhưng bất hạnh đó mà lòng chúng tôi buồn rười rượi.

Đôi lần tôi cũng gặp gỡ bà mẹ và các cô em của Shotaro trên đường phố, hay thỉnh thoảng tôi cũng tạt vào thăm họ, thắp vài nén hương trước bàn thờ chung của gia đình, nơi đó có tấm ảnh của Shotaro lồng kính. Không khí thê lương bao trùm cả căn nhà khá rộng rãi, sang trọng cùng vớí những khuôn mặt u buồn, nét đau khổ hiển hiện trong ánh mắt, trong dáng đi của mọi người trong gia đình của Shotaro. Nhất là bà mẹ, chỉ vài tuần lễ sau ngày Shotaro chết, bà như bị già đi 10, 15 tuổi. Bước chân của bà chậm rãi yếu đuối như bị đè nặng bởi tấm thân, làm cho lưng bà bị còng hẳn xuống. Gặp tôi bà mất hẳn đi nét vui mừng trước kia, mỗi khi tôi nói lời từ giã, bà lại nắm lấy tay tôi năn nỉ tôi ở lại với bà thêm chút nữa để bà nhìn tôi mà nhớ đến đứa con trai yêu quí duy nhất của bà. Bà đưa cho tôi xem vài cuốn album chụp con trai của bà, từ lúc ấu thơ đến ngày nó chỉnh tề trong bộ veston trong chiếc khuôn hình để trước chiếc quan tài sơn đen đính vào đó những hoa văn mạ vàng! Có lần bà đưa mắt nhìn tôi rất kỹ, như muốn tìm một cái gì đó trên con người tôi để giúp bà tưởng nhớ về đứa con trai, rồi miệng nói bâng quơ như tự nói cho bà nghe:

– Con ơi, con sẽ chẳng bao giờ trở về với mẹ nữa, đứa con trai duy nhất, đáng thương của mẹ ơi. Chỉ vì ba của con đã quá khắt khe, quá cường điệu trong tình cảm để rồi ba con đã không hiểu được tình yêu kiên cường của con, làm con phải buồn đau mà tìm đến cái chết. Con ra đi để tìm được cái ước muốn siêu linh phải không con, đứa con yêu của mẹ? Nhưng con ơi, mẹ có tội tình gì mà con nỡ bắt mẹ phải buồn đau vì mất con thế hả, Shotaro?!

Rồi vào ngày lễ 49 ngày, tôi được gia đình Shotaro mời đến, lần đó tôi gặp ông bố. Nhìn ông, tôi không thể nào tưởng được ông đã suy sụp đến mức kinh khủng như vậy. Chỉ mới đúng 7 tuần lễ sau ngày Shotaro, con trai của ông chết, ông khác lạ đến nỗi tôi không thể tin vào nhãn quan của mình. Đôi xương gò má của ông nổi cao hẳn lên, mầu da mặt tái xanh như thiếu máu. Ông mất đi hoàn toàn vẻ phương phi, cương nghị của một người cha trí thức rất tự tin trước đây. Ánh mắt ông lờ đờ như một người mệt mỏi đang ngái ngủ, tôi nhìn thấy rất rõ sự buồn thảm hoà trộn với lòng ân hận đang dầy vò tâm tư ông.

Sau khi vị chủ lễ trong giáo phái thần đạo làm xong những thủ tục cúng lễ, mọi người ngồi quây quần quanh mấy chiếc bàn uống trà. Ông bố Shotaro đến gần tôi cúi đầu chào rất sâu, nói với tôi vài lời cám ơn đã là bạn chí thiết của con ông khi sống và là người vẫn nhớ đến nó khi nó đã vĩnh viễn ra đi. Chờ cho tôi cúi đầu trả lễ nói vài câu đáp từ trong khuôn phép của Nhật Bản, rồi ông nắm nhẹ bàn tay tôi, đưa cặp mắt rất buồn đẫm lệ nhìn tôi, ông nói như than van:

-Bác ân hận quá! Một sự khắt khe đầy ngu ngốc! Bác đã không thể ngờ được thằng Shotaro nó lại dại dột và liều lĩnh như thế. Nhưng bây giờ tất cả đã chấm dứt và quá muộn rồi! Đau khổ của bác hôm nay vẫn còn quá nhẹ so với lỗi lầm mà chính bác đã gây ra.

Nghe ông nói, đôi mắt tôi cũng nhoà lệ, lòng tôi như trĩu nặng vì cảm thương nỗi đau buồn, ân hận to lớn đang dằn vặt trong lòng ông. Đúng như ông nói, tất cả đã muộn màng, cái sai lầm của ông không thể sửa chữa được nữa. Sự đầy đoạ vì hối hận sẽ kéo dài suốt những năm tháng còn lại trong đời ông.

Cũng trong lần lễ 49 ngày, tôi được bà chị cả kín đáo cho biết, rất nhiều đêm, mọi người trong gia đình đều nghe thấy những tiếng khóc than, cãi vã, to tiếng từ trong phòng của Shotaro vang ra, tiếng vang giống như tiếng Shotaro từng cãi vã với ông bố trước kia. Tôi nghe bà chị kể, dù không nói ra nhưng trong lòng tôi nghĩ chỉ là sự tưởng tượng, có lẽ vì quá buồn đau với cái chết của Shotaro nên mọi người đã bị hoang mang mà tưởng tượng ra mà thôi.

Sau đó khoảng hơn một năm, tôi lại được cô em của Shotaro báo tin ông bố bị bệnh nặng phải nghỉ việc làm, đi cấp cứu tại bệnh viện tỉnh. Tôi chưa kịp đi thăm vì bận rộn với thi cử thì được tin ông mất. Cũng chẳng lâu hơn 2 tháng tôi lại ngỡ ngàng nghe tin bà mẹ của Shotaro cũng ra đi. Với những tin buồn dồn dập, ngoàì sự tưởng tượng đó đã làm tôi và nhóm bạn bàng hoàng. Chỉ chưa đầy 6 tháng trời mà 3 người trong gia đình Shotaro đã nối tiếp ra đi.

Sau ngày bà mẹ của shotaro chết, tôi chẳng có lý do gì để đến thăm gia đình Shotaro nữa. Rồi qua người bạn, tôi được biết 2 cô em gái đã cho mướn căn nhà và đã dọn đi chỗ khác. Một lần tôi có dịp đi qua, căn nhà của Shotaro, đã được đổi chủ và nó đã cải tạo thành một tiệm bán quần áo ở tầng trệt. Trên lầu vẫn vậy, không thay đổi, đó là căn phòng riêng của Shotaro ngày xưa có khung cửa sổ mở vào phía sân vườn bên cạnh vẫn y nguyên.

Rồi không lâu sau đó tôi tốt nghiệp và rời tỉnh đó lên Tokyo sinh sống. Khoảng 4 năm sau vợ chồng tôi có dịp trở về chốn xưa. Chúng tôi muốn đến chào gia đình người chị của Shotaro nhưng không có địa chỉ. Chúng tôi tạt vào căn nhà của Shotaro ngày xưa, nghĩ rằng người chủ thuê nhà, bán quần áo sẽ biết gia đình bà chị. Nhưng người cư ngụ cho biết căn nhà đã được họ mua từ lâu, nó không còn là tiệm bán quần áo nữa mà là một tiệm bán dụng cụ văn phòng. Người chủ còn cho tôi biết căn nhà đã được thay đổi chủ nhiều lần nhưng chẳng ai ở đó được lâu hơn 1 năm, người nào cũng nói là nhà có ma! Đã thế việc buôn bán luôn luôn thua lỗ.  Chính ông, dù đã có hàng chục cửa tiệm bán văn phòng phẩm trong toàn quốc, bất cứ chỗ nào khi ông mở ra cũng có lợi nhuận chỉ riêng nơi đây là ông thất bại.

Còn về vấn đề nhà có ma, ban đầu ông hoàn toàn không tin, cho rằng là chuyện tưởng tượng, nhưng khi mua lại căn nhà để mở chi nhánh, mới tin là thật. Hiện nay căn phòng trên lầu vẫn để trống, 2 người nhân viên của ông không một ai dám ngủ qua đêm trên căn phòng đó chứ đừng nói dọn đến ở luôn, dù không phải trả tiền thuê nhà.

Hai nhân viên một trai, một gái vẫn còn trẻ tuổi cho biết, khi mới đến, họ nghe hàng xóm nói căn nhà có ma, nhất là căn phòng trên lầu, đã có nhiều người lên đó ngủ bị ma dựng dậy, bóp cổ đuổi họ ra khỏi phòng. Hai nhân viên không tin mà còn mong mỏi được gặp ma một lần xem sao. Ngay đêm hôm mới vào làm việc, người thanh niên ở lại với ý định ngủ lại qua đêm, sau khi ra tiệm ăn bữa cơm tối, anh xách chậu đi tắm công cộng rồi trở về nhà trải tấm nệm ngủ (người Nhật bản ngủ trên nền nhà lót chiếu) lên sàn nhà nằm dỗ giấc ngủ. Khoảng giữ đêm, anh thấy có bàn tay xương xẩu, móng tay dài và sắc bấu vai anh ta rất mạnh. Anh thức dậy nhìn thấy một con ma đàn ông mặc quần áo lụng thụng mầu trắng đục đang để tay lên vai anh ta, miệng nhe hàm răng nhọn như răng chó sói nhìn anh ta cười. Người nhân viên sợ đến run người, chưa nói được gì thì con ma bỏ bàn tay ra khỏi vai anh ta rồi nó cầm lấy cái thảm ngủ kéo rất mạnh. Chiếc thảm ngủ kéo luôn tấm thân của anh ta ở trên lướt đến đụng vào cái cột ở góc phòng, đau qua anh ta hét lên, con ma nhìn anh cười ra vẻ chế nhạo rồi biến mất.

Ngày hôm sau anh kể cho cô gái đồng nghiệp nghe, anh cũng không quên cho cô ấy xem vết sưng trên đầu khi đụng vào cột nhà. Cô gái đồng nghiệp không những không tin mà còn chế nhạo anh ta nhát nhúa và tưởng tượng quá mà sinh ra mộng du. Cô nói, ngay đêm đó sẽ ngủ lại để chứng minh lời giải thích của mình. Nhưng ngay buổi trưa, sau khi ăn xong hộp cơm (bento), cô lên trên phòng nằm nghỉ ngơi. Đúng lúc cô liu diu, chưa thực sự đi vào giấc ngủ, con ma hiện ra, cũng áo trắng đục, cũng những ngón tay móng sắc nhọn, xương xẩu, chẳng nói chẳng rằng, con ma giơ thẳng tay tát cho cô một cái như búa bổ vào mặt. Lúc này thì cô tin có ma và quá sợ rồi, miệng lắp bắp không nói, không la được một câu, nằm gục xuống nền chiếu run như cầy sấy. Con ma giơ tay định tát thêm cho cô một cái nữa. Đúng lúc đó người bạn thanh niên ở dưới nhà nghe thấy tiếng động mạnh, đoán là có chuyện lộn xộn cho cô gái trên lầu anh bỏ cửa hàng chạy vội lên lầu miệng vừa la hét vừa hỏi cô gái. Không biết có phải vì tiếng la hét của anh thanh niên làm cho con ma sợ mà biến mất hay không, nhưng nhờ đó mà cô gái thoát nạn. Từ đó 2 người không dám bén mảng lên trên lầu, nhất là vào căn phòng lúc ban đêm nữa.

Nghe ông chủ tiệm nói, tôi nhớ lại lời bà chị gái của Shotaro đã nói với tôi về tiếng khóc than, tiếng la hét cãi nhau của Shotaro vọng ra hàng đêm. Tôi cảm thấy ơn ớn, tin rằng trong cái thế giới được cấu tạo bởi vật chất có trọng lượng này vẫn có cái gì đó bước ra khỏi cái chân lý của khoa học hữu hình để vào cái mông lung, khó hiểu của thế giới siêu linh, đó là thế giới của ma quái.

Những hiện tượng tôi vừa kể về Shotaro, chỉ là những chuyện tôi nghe từ người khác kể, nhưng những sự kiện mà tôi kể sau đây về ngườì bạn thứ hai của tôi ở Nhật Bản, là những hiện tượng chính cá nhân tôi đã gặp.

***

(Hình minh họa: introspectivedsgn/Pexels)

Người bạn thứ hai, tên là Tari, sinh viên gốc Thái Lan, du học sinh như tôi, chúng tôi quen nhau khi cùng học khóa Nhật Ngữ tại đại học Osaka, nhưng anh học trên tôi một khóa. Qua lời tâm sự tôi biết gia đình anh ta cũng không khá gỉả lắm, một gia đình theo Phật giáo rất thuần thành ở Bangkok và có 2 người em ruột là sư coi sóc một ngôi chùa Phật giáo ở miền Bắc Thái Lan. Chúng tôi rất thân nhau, có lẽ vì hoàn cảnh cùng ra đi từ nước nhược tiểu, lại gần nhau về văn hoá lịch sử của nhóm quốc gia thuộc khối Đông Nam Á châu. Tari cũng rất thân với Shotaro và đã nhiều lần cùng với tôi đến nhà Shotaro ăn cơm và ngủ lại. Gần như bất cứ cuộc đi chơi nào của nhóm bạn như tắm biển, khiêu vũ, uống rượu tại các quán bar, có tôi và Shotaro là chắc chắn có Tari.

Tari nấu ăn rất giỏi, rất thích nấu cho bạn bè ăn, phòng trọ của tôi khá rộng, gần đại học rất tiện lợi cho việc nấu ăn, nên Tari có nhiều dịp để trổ tài cho bạn bè thưởng thức. Nhất là vào những ngày nghỉ cuối tuần hay dịp nghỉ hè, nghỉ xuân, gần như ngày nào chúng tôi cũng được Tari khoản đãi những món ăn độc đáo của quê hương anh ta.

Đại học của tôi có một cái hồ bơi khá lớn. Dù ở miền nam Nhật Bản, khí hậu khá ấm áp nhưng chỉ duy nhất vào mùa hè (khoảng tháng 6 đến tháng 9), nhà trường mới bơm nước cho sinh viên vào tắm mà thôi. Mặc dầu mở cửa tự do cho sinh viên vào tắm nhưng cũng chẳng có mấy người ham thích, thỉnh thoảng mới có 3, 4 sinh viên đến tắm hay đùa giỡn với nhau. Lý do rất dễ hiểu, Nhật Bản có quá nhiều bờ biển, chỉ cần đi 5,10 phút xe đạp hay một cuốc xe bus là có thể đến bãi biển rộng rãi lại gần gũi với thiên nhiên, cần gì vào hồ tắm cho chật chội. Mỗi khi đi chơi về khuya hay ăn nhậu nhem nhuốc, không muốn tốn tiền đi tắm công cộng, chúng tôi chạy vào hồ nhẩy xuống vùng vẫy một hồi cho sạch sẽ rồi về nhà. Nhất là vào những tháng hè oi bức muốn giải cái nóng bức, chúng tôi cũng thường rủ nhau vào đó bơi lội đến chiều tối mới về. Thật ra đến đó bơi lội chỉ là cái cớ mà thôi, mục đích vẫn là khỏi tốn tiền vì tắm công cộng lại có chỗ trải khăn trên bờ đá ven hồ nằm phơi nắng và nói chuyện tầm phào với nhau.

Hôm đó, ngày giữa tuần của đầu tháng 7, vào khoảng 6 hay 7 giờ tối, mặt trời vẫn còn rạng rỡ trên lùm cây. Suốt cả ngày mệt đờ trong phòng thí nghiệm, tôi thu gom sách vở, dụng cụ rồi ra về, lững thững ra khỏi cổng trường, ngắm nghía những bông hoa dại xen kẽ, len lỏi từ những lùm cây bên con đường dẫn về nhà trọ. Thình lình tôi thấy Tari, anh ta cũng có vẻ nhàn nhã đi ngược lại từ hướng đối diện, nó chẳng có gì lạ lùng, vì tôi và anh ta gặp nhau rất thường. Ngay từ xa, nhìn thấy Tari tôi nở nụ cười thân thiện ra vẻ sung sướng gặp anh ta, nhưng lần này tôi có cảm tưởng Tari có cái gì khang khác. Anh ta nhìn tôi mà đôi mắt như mơ màng, không chú ý, nét mặt như có gì u ám khó hiểu, mất hẳn đi vẻ vồn vã, vui mừng cố hữu mỗi khi chúng tôi gặp dù ở sân trường hay bất cứ đâu. Mặc dù có tí lạ lùng với sự khác thường, nhưng tôi cũng chẳng để tâm, khi đến gần Tari tôi hất đầu thân thiện hỏi:

-Tari, có gì lạ không? đi đâu vậy, nếu thích đến chỗ tôi uống cà phê.

Tari nhìn tôi, dáng điệu có vẻ gì khó hiểu, ánh mắt anh ta rất kỳ lạ, như mơ màng không chú ý đến lời chào hỏi của tôi. Linh cảm cho tôi biết anh ta đang có gì không bình thường, không vui nên mất đi vẻ vồn vã thường nhật mỗi khi chúng tôi gặp nhau. Với tí chút ngạc nhiên nhưng chỉ thoáng qua, tôi nghĩ anh không vui vì việc gì đó trong trường học hay từ gia đình bên Thái lan gửi sang. Đến sát bên đưa tay vỗ nhẹ vào vai Tari, tôi an ủi:

-Thôi dẹp chuyện buồn đi, tí nữa nhớ đến phòng tôi nhe.

Tari nhíu cặp mắt nhìn tôi khó hiểu với một chút im lặng rồi anh ta nói với tôi gần như không mang theo một tí cảm xúc, âm thanh không phải buồn chán mà nó có cảm giác lạnh lùng, vô cảm:

-Anh về nhà cất cặp sách đi rồi ra hồ bơi gặp tôi nhe!

Nói xong Tari lách sang một bên bước qua mặt tôi, không thèm ngoái lại và đi thẳng. Tôi ngẩn ngơ nhìn theo anh ta với cảm gíác khó hiểu vì sự lạnh lùng khác thường của anh ta. Nhưng tôi tự nói với mình, có gì quan trọng đâu mà phải chú ý đến anh ta quá mức, rồi tôi bình thản, thủng thẳng đi về nhà trọ. Mở cửa bước vào căn phòng, tôi bỏ chiếc cặp sách vở vào một góc phòng, vươn vai nằm ngửa, dạng chân ngay trên nền chiếu hướng mắt nhìn lên trần nhà suy nghĩ vẩn vơ. Vẻ lạ lùng của Tari trở lại trong trí nhớ, cho tôi cảm giác khó hiểu bởi vì chưa bao giờ tôi thấy Tari có hành động và thái độ kỳ lạ đó với tôi như vậy . Với sự thắc mắc về thái độ khác thường của Tari làm tôi suy nghĩ, tôi muốn ra hồ bơi để gặp và hỏi cho rõ nguyên nhân. Nghĩ như vậy, tôi thu dọn tí chút cho gọn ghẽ căn phòng rồi định mở cửa ra khỏi phòng. Đúng lúc đó một người bạn Nhật đến tìm tôi. Tôi cho người bạn biết là Tari đang hẹn và chờ tôi ở hồ bơi rồi rủ anh bạn cũng đi theo tôi bởi vì anh ta cũng là bạn trong nhóm và biết rất kỹ về Tari.

Hai chúng tôi đến hồ bơi, một sự kiện kinh hoàng làm cho hai chúng tôi không thể tin được, khi thấy xác Tari đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước giữa hồ. Tôi không thể nhầm lẫn được dù cái xác chỉ mặc quần tắm, úp mặt xuống nước đang bập bồng nổi giữa mặt hồ. Tôi và anh bạn sợ quá, luống cuống moột hồi, anh bạn đang định cởi quần áo nhẩy xuống hồ. Nhưng ngay lúc đó hình ảnh gặp Tari kỳ lạ vừa mới đây, cách nhau chỉ khoảng hơn 30 phút đã làm tôi lạ lùng, khó hiểu. Đưa tay ngăn người bạn lại, tôi nói với anh là chỉ với khoảng thời gian ngắn đó, Tari không có thể về nhà, thay quần áo và cũng không thể đến hồ bơi nhanh như vậy được. Đã thế tôi còn thấy anh đi về hướng đối diện, rời xa cổng truờng, làm sao có chuyện anh ta trở lại trường và đến hồ bơi nhanh như thế. Người bạn nghe tôi nói, bỏ ý định xuống cứu Tari nữa, anh chạy đến cái hộp đìện thoại công cộng không xa gọi báo tin cho cảnh sát.

Khoảng 10 phút sau, xe cảnh sát cùng với xe cứu thương đến vớt xác Tari và chở đến bệnh viện để khám nghiệm, điều tra. Tôi và anh bạn Nhật dù là kẻ báo tin nhưng vẫn bị cảnh sát rất lịch sự kéo lên xe với lý do cần nhân chứng. Nhưng trong mắt họ tràn đầy sự nghi ngờ chúng tôi liên quan đến cái chết của Tari. Họ chở chúng tôi về trung tâm, cả đêm hôm đó tôi và anh bạn bị hỏi đi hỏi lại rất kỹ, nhất là khi tôi khai đã chính mắt nhìn thấy Tari chỉ không hơn 30 phút trước khi thấy Tari chết trong hồ bơi. Tất cả mọi người cũng đồng ý với tôi có sự vô lý với khoảng thời gian để Tari về nhà rồi hẹn gặp tôi ở hồ bơi. Cũng chính sự vô lý đó, cảnh sát đã nhìn tôi với ánh mắt không bình thường, đầy vẻ nghi ngờ. Chúng tôi cũng phải nói với cảnh sát về tất cả bạn bè, người quen biết có liên hệ đến tôi và Tari. Cuộc điều tra, hỏi han chúng tôi kéo dài cho mãi gần sáng chúng tôi mới được thả về, bụng đói meo vì chưa ai ăn cơm tối.

Gần trưa hôm sau, khi tôi đang lờ đờ làm việc trong phòng thí nghiệm thì 2 người cảnh sát đến, họ kéo tôi đến một phòng riêng biệt. Họ cho tôi biết xác Tari đã được khám nghiệm, kết quả cho biết anh ta đã chết từ tối hôm kia nghĩa là trước một ngày lúc tôi và người bạn tìm thấy anh ta nổi lên trong hồ bơi. Họ lại xoắn vào hỏi tôi có chắc chắn tôi đã gặp anh ta trên đường đi hay không, họ yêu cầu tôi mô tả rất kỹ dáng điệu, hình dạng của Tari, người mà tôi đã gặp trên đường về nhà. Họ không tin tôi đã gặp Tari mà gặp một người nào khác rồi vì mệt mỏi sau giờ làm việc cho nên tôi đã nhìn gà hoá quốc!

Khổ thật! Tôi nói với họ tất cả và rất chính xác, tôi còn cho họ biết dù trong bóng tối tôi cũng nhận rõ Tari được vì tôi đã gặp anh, thân cận anh nhiều năm rồi, không có chuyện tôi lầm lẫn. Hai người cảnh sát im lặng đầy vẻ nghi ngờ khi nghe tôi nói, lúc chia tay họ còn cười chế nhạo tôi bằng câu đùa giỡn:

-Không lẽ ông nhìn thấy ma? Xin ông cố gắng nhớ lại rất kỹ, bất cứ khi nào nhớ thêm được điều gì mới, báo cho chúng tôi biết.

Tôi cũng chẳng cần đính chính với họ, bởi vì với họ đúng là chuyện hoang đường, nếu cố nói với họ, có lẽ tôi sẽ biến thành một tên u mê, nhiều tưởng tượng. Ngay như người bạn đi với tôi ra hồ bơi thấy xác Tari, anh ta cũng có tí nghi ngờ về sự chính xác của nhãn quan của tôi, anh ta không nói ra, sợ làm buồn tôi đó mà thôi. Dù vậy nhưng trong lòng tôi đã dấy lên sự sợ hãi, có cái gì đó mù mờ của ma quái, bóng tối ban đêm đã làm cho tôi có cảm giác ghê ghê khi phải đi ra ngoài một mình. Tôi chợt nhớ Tari theo Phật giáo như tôi, sự cúng bái vẫn là điều mà cha mẹ tôi vẫn làm mỗi khi có giỗ kỵ. Nghĩ như vậy, ngay hôm sau, thứ bẩy tôi lấy xe bus đến một tiệm tạp hoá của người Tầu trong tỉnh, mua một bó hương vài xấp giấy tiền âm phủ cùng vài thứ lỉnh kỉnh như bố mẹ tôi thường làm trong những lần cúng vái. Rồi ngay buổi chiều hôm đó, tôi rủ thêm 2 người bạn Nhật, cùng với tôi đến hồ bơi. Với một đĩa ngũ quả, vài chiếc bánh đậu xanh cùng với bó giấy tiền, một cây nến, tôi đốt tất cả bó hương, đem cắm khắp mọi nơi quanh hồ bơi rồi kính cẩn quỳ lạy, miệng lầm bầm lời cám ơn Tari về tình thân thương, chân thành của một người bạn mà anh đã dành cho tôi lúc còn sống. Tôi chúc linh hồn anh sớm siêu thoát về cõi yên bình thanh thản. Hai người bạn Nhật im lặng nhìn tôi, tôn trọng sự thành kính của tôi trong lúc quỳ lạy khấn vái. Sau cùng họ cũng kính cẩn chắp tay vái theo tôi vài cái. Chờ cho những cây hương đã tàn, chúng tôi đem giấy tiền ra đốt, rồi ngồi ăn trái cây, nói chuyện khá lâu trên bờ hồ bơi, nói chuyện về cái chết kỳ lạ của Tari trước khi ra về.

Chiều tối hôm sau, chủ nhật, tôi ngồi buồn bã trong căn phòng trọ, đưa mắt bâng quơ nhìn qua khung cửa sổ theo dõi vài con chim sẻ chuyền nhẩy trên mái nhà bên cạnh. Tôi nhớ đến Tari, đến những người bạn thân thiết trong đời tôi đã ra đi vĩnh viễn, mỗi người đến với tôi trong một hoàn cảnh khác nhau, rồi một đưa đẩy nào đó, họ vĩnh viễn xa rời để lại trong ký ức buồn bã của tôi những hoài niệm về họ. Trong nỗi buồn nhớ thương bạn bè đó, tôi chẳng thèm bật đèn dù bên ngoài trời đang mưa và tối đen như mực. Vài tiếng gõ cửa đã kéo tôi ra khỏi nỗi suy tư không vui đó, uể oải tôi đứng lên mở cửa. Hai người bạn Nhật hôm qua đứng trước khung cửa căn phòng, họ nhìn tôi với một tí lạ lùng vì thấy tôi đang thờ thẫn ngồi trong bóng đêm với vẻ buồn bã. Sau câu hỏi han, biết tôi chưa ăn cơm tối nên rủ tôi lên phố đến một nhà hàng đặc sản mà nhóm bạn chúng tôi vẫn thường làm nơi tổ chức sinh nhật của mọi người trong nhóm.

Chúng tôi vào quán ăn, dĩ nhiên được tiếp đón rất ân cần của người chủ nhà hàng quen biết. Sau khi gọi người phục vụ đem món ăn, lại gặp lúc quán thưa khách, người chủ quán đem lon bia ghé ngồi xuống cùng trò chuyện với chúng tôi. Sau một lúc đề cập về vài vụ lộn xộn chính trị trong quốc hội đang làm ồn ào trên báo chí, người chủ quán, thình lình nhớ ra chuyện gì, ông vỗ nhẹ lên vai một người bạn của tôi và hỏi:

-Các ông còn nhớ thằng Tari người Thái Lan không? Mới tối hôm qua nó đến đây ăn uống khướt mướt đến khuya mới chịu về.

Cả ba chúng tôi ngẩn ngơ, nhìn vẻ bình thản, tự nhiên của ông ta, không ai nghĩ ông ta đang đùa giỡn. Chau mắt nhìn nhau ra vẻ không hiểu nhưng chúng tôi chưa kịp nói gì thì ông ta tiếp:

-Kỳ lắm, lúc hắn ra về được một lúc thì đến giờ tiệm đóng cửa, nhưng một điều rất lạ lùng mà chính tôi cũng không biết thật hay gỉả. Lúc kiểm điểm lại tiền trong hộp, tôi thấy mấy tờ giấy bổi mầu đỏ, hình vẽ loằn ngoằn như lá bùa vậy, chưa bao giờ tôi nhìn thấy và tại sao nó lại có trong hộp thu tiền của tôi.

Nói xong ông ta đứng dậy với tay lên cái kệ trên góc nhà, đưa cho chúng tôi vài tờ giấy bổi mầu đỏ có những hình vẽ, như ông ta đã mô tả. Nó cũng đúng là những tờ giấy tiền âm phủ mà tôi đã mua ở tiệm tạp hoá của người Tầu vào buổi gần trưa ngày hôm qua. Cũng ngay buổi chiều hôm qua, tôi và 2 người bạn đến cúng vái ở hồ bơi nhưng tất cả những tờ giấy tiền âm phủ đó đã được đốt không một tờ nào sai sót. Tari cũng đã chết được 4 ngày thì làm sao ngày hôm qua hắn đến đây uống rượu được! Một sự hoang đường hay sự trông lầm của ông chủ quán hay sao?

Nhưng sự thật rành rành ra trước mắt không những của chính tôi mà còn của 2 người bạn Nhật nữa. Hai người bạn Nhật giương mắt nhìn tôi rồi lại nhìn vào mấy tờ tiền âm phủ, cả hai ngẩn ngơ không nói được câu nào và hình như thân mình họ cũng hơi run run vì sợ hãi. Còn tôi cũng chẳng khá gì hơn, chẳng còn nghi ngờ gì nữa, một sự thật quá hiển nhiên. Tari đã chết nhưng anh hiện về gặp tôi trên đường đi, mách bảo tôi đến hồ bơi để thấy xác của anh, cũng chính Tari hiện về đến quán này ăn uống no say rồi dùng tiền âm phủ mà tôi và 2 người bạn Nhật cúng và đốt cho anh để trả tiền ăn nhậu cho người chủ quán.

Cuối cùng lấy lại được bình thản, tôi kể cho ông chủ quán nghe rất kỹ về cái chết của Tari và những sự kiện ma quái đã xẩy ra vừa qua. Ông chủ quán nghe tôi kể xong, cũng phát run lên vì sợ.

Khoảng hơn một tuần lễ sau, cơ quan điều tra cho biết Tari bị vọp bẻ khi bơi ở hồ nước mà chết đuối, hoàn toàn không phải tự vẫn và dĩ nhiên sự vô can của tôi cũng được xác nhận. Rồi sau đó khoảng một tuần lễ bố mẹ và vợ chồng người em của Tari sang Nhật, họ cho biết sẽ nhờ chùa Phật giáo ở Nhật lo việc ma chay rồi hoả thiêu ở Nhật. Vì phong tục hay vì niềm tin nào đó họ cho biết hũ tro cốt của Tari sẽ để ở chùa Nhật đủ 3 năm, sau đó mới làm lễ gửi về Thái Lan.

Sau đó hơn 3 tháng trời, chẳng có gì xẩy ra, cuộc sống và học của tôi đã trở lại bình thường. Cái chết của Tari hình như cũng bị lãng quên hay ít nhất nhóm bạn chúng tôi cũng chẳng còn ai nhắc tới chuyện buồn bã đó nữa.

Một hôm, người bạn có nhã ý mời chúng tôi đến tham dự lễ cưới của người em trai của anh ta, tổ chức vào ngày chủ nhật. Người bạn này có gia đình sống ở thị xã nhỏ ven biển  nơi mà Shotaro lúc còn sống thường lái xe chở chúng tôi đến đó tắm biển, ăn uống vào những ngày hè nóng bức, là nơi Shotaro quen và yêu Gygong cô gái Đại Hàn, cuộc tình lãng mạn, sâu đắm nhưng chứa đầy bi thương đó đã mở đầu cho bao nhiêu bi đát dồn dập đổ đến cho gia đình Shotaro. Dù một người bạn có xe ô tô, nhưng chúng tôi quyết định đi xe bus vì biết chắc chắn việc uống sẽ có uống rượu, không tiện cho việc lái xe mà lại còn bị mất vui nữa.

Đúng như vậy, đám cưới khởi đầu từ buổi trưa, kéo đến khỏang 9 giờ tối mới xong. Chúng tôi từ giã gia đình người bạn rồi thủng thẳng đi ra đường liên tỉnh chờ xe bus để trở về lại thành phố. Trong lúc đang đứng chờ xe, bất thình lình có một chiếc xe microbus tư nhân chạy chầm chậm rồi dừng xe ngay trước mặt chúng tôi. Trên xe có 3 người, một thanh niên cầm lái, ngồi bên cạnh là một cô gái và một thanh niên khác ngồi trên chiếc ghế dài ở phía sau. Xe vừa dừng lại, người thanh niên ở phiá sau đưa tay kéo cánh cửa bên hông ra, nhìn chúng tôi rất thân thiện như có vẻ quen thuộc, anh ta nói:

-Chào tất cả mọi người.

Chẳng cần nhìn vẻ lạ lùng của chúng tôi, anh ta vui vẻ nói tiếp:

-Lên xe đi. Các anh quên chúng tôi rồi sao?

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, nghĩ rằng đây chắc là bạn của ai đó trong nhóm, nhưng tất cả đều ngơ ngác đưa mắt cho nhau như dò hỏi. Người thanh niên, vẫn cười thân thiện, anh ta nói tiếp:

-Không phải là Viên san đó sao? (San, trong tiếng Nhật có nghĩa như Mister của Anh ngữ)

Rồi anh ta nói ra tất cả tên từng người của chúng tôi một cách rất thân thìện, không những thế anh ta còn nói đến những đặc điểm của từng người nữa. Chẳng hạn với tôi anh nói tên khu nhà tôi ở, là sinh viên Việt Nam đến đây du học đã nhiều năm… Sau vài câu trao đổi sơ sài, thấy chúng tôi còn thắc mắc anh ta giải thích:

-Chúng tôi là người cùng học đại học với các anh, nhưng vì khác phân khoa nên các anh không quen biết đó mà thôi.

Với lời giải thích quá hợp lý đó, chúng tôi chẳng có lý do gì để không lên xe anh ta cả. Vào trong xe cả ba người bọn họ nói chuyện rất cởi mở thân tình với với chúng tôi, điều làm chúng tôi rất ngạc nhiên là cả ba người hình như biết rất rõ về chúng tôi, từ chỗ ở, đến ngành học và đôi khi họ còn nói đến cá tánh từng người của chúng tôi nữa. Trong khi đó chúng tôi hoàn toàn mù tịt về họ. Rồi khi xe vào thành phố, họ hỏi chúng tôi muốn đi đâu, họ sẽ chở đến tận nơi, chúng tôi đưa mắt nhìn nhau ra vẻ ngại ngần không muốn làm phiền họ quá nhiều mà chỉ nhờ họ chở cả nhóm đến nhà tôi. Chúng tôi chưa kịp nói rõ đường đi cho họ, thì người lái xe đã mỉm cười quay lại đằng sau nói:

-Nhà Viên san, tôi biết rất rõ, ở gần cổng đại học phải không? Được rồi tôi sẽ chở các anh đến đó.

Phải nói không riêng gì tôi mà những người bạn của tôi cũng ngạc nhiên vì không thể hiểu được tại sao họ biết rất rõ về chỗ ở của tôi như vậy. Chiếc xe chạy bon bon, không một tí gì lạ lùng đường xá, họ chạy đến nhà trọ của tôi rất trơn tru, thành thạo như đến chính nhà của họ vậy. Chiếc xe chạy chầm chậm dừng sát vào hàng hiên căn nhà trọ, chúng tôi tự mở cửa xe bước ra khỏi xe, không quên nói lời cám ơn. Không những thế, chúng tôi còn vỗ nhẹ vào vai của hai người thanh niên, tỏ ra cảm động với thân tình của họ. Rồi cả bọn chúng tôi bước xuống khỏi xe, khi chiếc cửa bên hông chưa đóng, chúng tôi đều đưa mắt nhìn vào ba người trên xe để từ giã họ thêm lần nữa trước khi chiếc xe chuyển bánh. Nhưng ngay lúc đó, tất cả chúng tôi đều rợn da gà, chết đứng, một tia điện rất lạnh chạy suốt xương sống, toàn thân chúng tôi run lên vì sợ hãi khi nhìn vào ba người trên xe, họ đang nhìn chúng tôi mỉm cười. Hai người ngồi phía trước là Shotaro trên vị trí người lái xe, khuôn mặt anh ta xanh mướt, hơi sưng to, đúng là khuôn mặt của người bị chết vì thắt cổ. Ngồi bên cạnh không ai khác là Gygong, thiếu nữ Đại Hàn, người yêu tuyệt vời muôn thủa của Shotaro, làn da cô ta trắng đục, mái tóc ướt lẹp nhẹp lòa xòa che phủ lấy khuôn mặt tròn bầu bĩnh, hiện diện như một người bị chết trôi. Còn người ngồi phía sau, người ngồi sát bên chúng tôi trong suốt cuốc xe, nước da ngăm ngăm đen, bụng xình to, mái tóc ngắn lưa thưa không đủ dài để xõa xuống cái trán hơi thấp, quần áo ướt sũng như một người vừa chui lên từ hồ nước lên, đúng là Tari, người bạn mới chết đuối trong hồ bơi của đại học hơn 3 tháng trước. Cũng là người đã làm tôi bực mình, khốn khổ với cơ quan điều tra về cái chết của anh và cũng chính là người đã dùng tiền âm phủ trả tiền uống rượu chpo người chủ quán nhật trên thành phố. Trong khi chúng tôi sợ đến nỗi muốn xỉu, đứng không vững thì ba hồn ma nhìn chúng tôi mỉm cười khi chiếc xe từ từ lăn bánh dù cửa kéo bên hông xe vẫn chưa đóng lại.

Chuyện hồn ma của 3 người bạn hiện hình trêu chọc chúng tôi đã được khá nhiều sinh viên và dân cư chung quanh nhà trọ của tôi nói đến. Nhưng hình như mọi người vẫn có tí nghi ngờ, có người nói chúng tôi cố ý thêu dệt chuyện ma quái cho vui. Nhưng nghĩ kỹ, sự nghi ngờ của họ cũng có lý mà thôi, vì sau đó khá lâu mà mọi chuyện lại im rơ, bình thản chẳng thấy dấu vết gì của ma quái như chúng tôi kể với họ cả.

Căn nhà trọ của tôi khá xa trạm xe bus, từ trạm xe đến nhà trọ cũng khỏang gần 1 cây số, phải đi qua những con đường nhỏ, dù hai bên đuờng nhà cửa san sát nhau, khu vực không hoạt động thương mại nên cũng khá vắng vẻ, yên tĩnh. Nhất là về ban đêm khu vực rất im ắng, lâu lâu mới một vài người hay vài chiếc xe đi qua. Một hôm tôi có việc đi xa, nên về nhà rất khuya, đang lầm lũi đi trên những đoạn đường vắng lặng hướng về nhà trọ. Không hiểu sao, tôi có linh cảm như thoáng nghe tiếng chân hay thoáng nhìn thấy bóng của ai đang đi theo phía sau tôi. Mỗi khi đi chậm lại hay để ý lắng tai nghe, tôi có cảm tưởng người đi đằng sau tôi họ cũng biết và họ cũng dừng lại! Đã mấy lần tôi cố ý bất chợt quay nhanh lại phía sau, nhưng cũng chỉ là bóng tối, cái bóng tối có vẻ như không bình thường, đang che dấu cái gì đó làm cho tôi có cảm giác sờ sợ. Nhưng cuối cùng tôi cũng về đến gần nhà trọ, cảm thấy yên lòng hơn nên tôi mạnh bạo đứng hẳn lại trước căn nhà trọ, quay nhìn rất kỹ về phía sau, trong bóng tối, hình như tôi thoáng nhìn thấy một bóng trắng lung linh thập thò từ góc đường xa xa. Tôi để mắt nhìn rất kỹ, nhưng cũng chẳng có gì ngoài ánh đèn loe loét của đèn đường, yên tâm tôi nghĩ rằng đó chỉ là sự lay động của tàng cây dưới ánh đèn đường mù mờ đã làm cho tôi ngộ nhận mà thôi.

Yên lòng tôi leo lên cầu thang mở cửa vào căn phòng trọ, bỏ chiếc cặp lên cái bàn thấp chân ở góc phòng, sau khi đánh răng rửa mặt, thay quần áo xong. Tôi sửa soạn kéo chiếc đệm ngủ ra, trải trên nền chiếu, thình lình ngay lúc đó có vài tiếng gõ cửa rất nhẹ, nhưng tôi cũng cảm nhận được rất rõ âm thanh từ cánh cửa của chính phòng mình vọng vào. Tôi nghĩ chắc lại một ai đó, cùng sống trong dẫy nhà trọ thiếu thốn cái gì cần thiết hay có vấn đề gì khó khăn nên làm phiền mình đây, với chút bực bội, không vui tôi không mở cửa nhưng cất tiếng hỏi:

-Ai đấy?

Tiếng gõ cửa im lại tí chút, như biết tôi không mở cửa, tiếng gõ lại tiếp tục nhưng to hơn, chẳng cần dấu sự bực mình, tôi gắt lên to hơn:

-Về đi, đêm khuya rồi, xin đừng làm phiền tôi nữa!

Nói xong tôi nghĩ là quá đủ để kẻ làm phiền mình thông hiểu và chấm dứt, nhưng ngược lại, tiếng gõ cửa như muốn trêu tức tôi, nó mạnh hơn, dồn dập hơn. Đã đến lúc tôi không còn lịch sự được, bực bội đứng dậy bước ra gần cánh cửa phòng, đưa tay vặn chiếc móc cửa nhưng chỉ hé mở, đủ để nhìn xem ai là kẻ đáng ghét làm phiền minh giữ đêm khuya, cũng sẵn sàng đóng ập cửa khi cần thiết. Nhưng bên ngoài cánh cửa, hoàn toàn im lặng và trống trơn, ngạc nhiên rồi với tí lưỡng lự, tôi mở to cánh cửa, ngoái đầu ra bên ngoài. Chẳng có ai dưới ánh đèn khá sáng của dẫy hành lang. Bóng đêm vẫn tịch mịch, không có dấu vết gì chứng tỏ là có người vừa làm phiền hay chọc phá mình, bực bội tôi đóng cánh cửa rồi quay vào.

Nhưng ngay khi quay mặt vào phía trong căn phòng, mặt tôi tái xanh, khắp thân mình nổi gai ốc kèm theo cảm giác lạnh buốt chạy dọc theo xương sống. Đôi chân tôi run lập cập làm cho tôi không đứng vững, phải ngồi bệt xuống nền nhà, trước mặt tôi, ngồi ngay giữa căn phòng, chỗ mà tôi còn để vương vãi chiếc đệm ngủ, Tari đang ngồi, hướng đôi mắt buồn buồn nhưng có gì xoi mói đang nhìn tôi. Sợ hãi bao phủ lấy tôi, làm cho tôi chỉ giương mắt nhìn anh, không nói gì, thật ra dù có muốn nói nhưng chiếc lưỡi và hàm răng của tôi đã cứng đơ, chúng không còn làm theo ý muốn của tôi nữa. Hình như nhìn thấy nỗi sợ hãi của tôi, hồn ma Tari nói trong vô cảm:

-Tôi đến nhờ anh giúp tôi một việc đây, tại sao anh sợ tôi đến thế?

Có lẽ lời nói của hồn ma đã giúp tôi tí chút bình tĩnh, tôi cố gắng phát âm:

-Ta..Ta.. ri..Tari, sao…sao anh cứ…cứ…theo về…về gâ…gây… rắc ..rắc… rôí… cho tôi…tôi… mãi… thế…?

Tôi muốn nói nhiều hơn, nói đến tình thân lâu dài, chân thành của tôi và anh ta vừa qua, mong anh ta đừng gây phiền nhiễu cho tôi nữa. Nhưng làm sao tôi có thể nói được khi thân thể tôi vẫn còn run, chiếc lưỡi vẫn cứng đơ!

Hồn ma Tari lắc nhẹ đầu có vẻ như không vui với lời trách cứ của tôi, rồi chẳng cần chú ý đến cảm giác sợ hãi của tôi hồn ma nói tiếp:

-Tôi hiện về đây, nhờ anh liên hệ với gia đình tôi hãy mau chóng đem hũ tro cốt của tôi về Thái Lan, tôi không muốn làm con ma vất vưởng nơi xứ người xa xôi buồn tẻ này nữa. Xin anh hãy vì tình thân của chúng ta mà cố gắng giúp tôi càng mau càng tốt.

Nói xong, hồn ma như cảm nhận ý của mình đã được tôi đã thông hiểu, hồn ma hơi lắc nhẹ, mù mờ như làn mây rồi dần dần biến mất. Tôi cũng dần dần trở lại bình tĩnh nhưng vẫn ngồi im lặng trên sàn nhà đưa ánh mắt chưa hết bàng hoàng hướng về chỗ ngồi của hồn ma với một tâm trạng buồn vui khó tả.

Rồi mấy ngày sau khi đã lấy lại được cân bằng, nhìn lại chính mình với nỗi buồn xa xứ, với biết bao nhiêu thiếu thốn của tình quê hương. Cảm nhận được rằng chỉ nơi đó, quê hương mình mới tìm thấy ánh mắt thân cận của đồng bào, thân quen và cả những món ăn quen thuộc… và cũng chỉ nơi đó chất chứa những hoài niệm cuộc đời từ trẻ thơ cho đến lúc trưởng thành của mình mà thôi. Từ cái cảm giác đó, tôi đã nhìn thấy rất rõ nỗi buồn của hồn ma Tari và hiểu rằng dù người ta chết đi vẫn cần có những ước mơ, những kỷ niệm… mang theo.

Với tâm trạng cảm thông đó, hôm sau tôi đến văn phòng đại học hỏi số điện thoại của gia đình Tari rồi tôi nhờ một gia đình Thái Lan định cư ở Nhật nhờ họ điện thoại trực tiếp với gia đình Tari, kể cho họ nghe rất kỹ về Tari và những chuyện xẩy ra sau khi anh ta bị tai nạn ở hồ bơi mà chết cho họ hiểu rõ vấn đề . Rồi tôi nhờ họ dùng ngôn ngữ quê hương của chính họ nói rất rõ với gia đình Tari vể ước muốn của anh ta muốn được trở về Thái Lan, quê hương của anh càng sớm càng tốt.

Chẳng lâu sau đó tôi đã được gia đình Tari đến thăm, họ cám ơn tôi về những gì tôi đã làm cho Tari cũng như tình bạn sâu đậm giữa tôi và anh. Họ cũng cho biết đang làm thủ tục để mang hũ cốt của Tari về Thái Lan như Tari mong muốn.

Cũng từ đó và có lẽ mãi mãi về sau tôi và nhóm bạn chẳng có dịp để gặp lại hồn ma của Tari nữa. Chúng tôi đoán rằng linh hồn anh đang ở quê hương mình, yên bình ở nơi anh sinh ra mang đầy kỷ niệm.

(Những sự kiện “MA” trong truyện theo lời kể của nhiều người trong gia đình một người bạn và chứng nhiệm của chính tác giả.)

“Hỡi người anh yêu chưa trọn thề ước…”

hon-viet.co.uk

Cù Mai Công

Post by Sơn râu 15 Mar 2025

“Những ai đã chết vì sông núi

Sẽ sống muôn đời với núi sông”

(Xin nói rõ: Tôi không là sử gia và không đủ tư cách làm chuyện này. Với tôi, chiến tranh dù bất kỳ lý do gì, luôn đồng nghĩa với ly tán và chưa bao giờ là niềm vui và hạnh phúc với bất kỳ bên nào. Bài này chỉ là vài chuyện tình buồn ở Ông Tạ, “chỗ cùng nguyên” rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè).

Sau tết Tân Hợi năm 1971, Chiến dịch Lam Sơn 719 (năm 1971 + đường số 9 Nam Lào) của Quân lực VNCH nổ ra, vượt biên giới Việt – Lào, tấn công vùng hậu cứ của Quân Giải phóng trên Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào với nhiều quân binh chủng tham gia: Nhảy dù, Biệt động quân, Thủy quân lục chiến, Không quân…

Cuộc chiến này rất khốc liệt, thương vong nặng nề cả hai bên. Ngày 23-2, chiến sự ác liệt nổ ra ở đồi 31 Hạ Lào. 18g30 chiều 25-2, Quân Giải phóng tràn ngập, chiếm lĩnh đồi 31.

Hầu hết tướng lĩnh, sĩ quan Nhảy dù đóng quân hoặc có nhà ở vùng Ông Tạ, trong đó có đại úy dù Nguyễn Văn Đương, nhà trong một hẻm cụt, gọi là hẻm Phông Tên Bốn Vòi (do trước hẻm xưa có trụ nước cứu hỏa bốn vòi) trên đường Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám), sát trại tiểu đoàn dù Nguyễn Trung Hiếu (nay là Siêu thị điện máy Chợ Lớn, đối diện công viên Lê Thị Riêng). Hẻm này nhìn sang bên kia là đường Bắc Hải.

Ngày 25-2-1971, đại úy Nguyễn Văn Đương, nhân vật sau này được viết trong nhạc phẩm “Anh không chết đâu anh” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tử trận cùng nhiều chiến hữu. Đại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Nhảy dù Nguyễn Văn Thọ cùng toàn bộ 46 người trong Ban tham mưu lữ đoàn và binh lính, sĩ quan sĩ dưới quyền, bị bắt làm tù binh.

Tập sách của đại úy pháo binh Nhảy dù Đào Văn Thương về những tù binh Nhảy dù bị Quân Giải phóng bắt sau khi Đồi 31 Hạ Lào thất thủ ngày 25-2-1971 được đặt lên bàn thờ gia tộc, trong đó có di ảnh trung úy pháo binh Lý Văn Quân – Ảnh gia đình

Trong đó, có một sĩ quan dù bị bắt và chết sau đó vài ngày: Lý Văn Quân, trung úy phó ban 3, phụ tá cho đại úy Đào Văn Thương – Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 3 Nhảy dù; chung hầm với Bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 Nhảy dù mà đại tá Thọ là chỉ huy trưởng.

Di ảnh trung úy pháo binh Lý Văn Quân, con trai trung tá Nhảy dù Lý Văn Quảng, chỉ huy trưởng Căn cứ Nhảy dù Hoàng Hoa Thám – Ảnh gia đình

Anh Quân là con trai thứ ba (theo cách tính của người Bắc) của trung tá dù – võ sĩ Lý Văn Quảng, chỉ huy trưởng Căn cứ Nhảy dù Hoàng Hoa Thám (khu ngã tư Bảy Hiền – nay là đường và chợ Hoàng Hoa Thám – Ông Tạ 3 đã viết). Bố anh Bắc 54 Hòa Bình, mẹ Bắc 54 Hà Nội. Nhà anh đối diện nhà trung tá Nhảy dù Nguyễn Đình Bảo “Người ở lại Charlie”, một năm sau (1972) cũng tử trận ở đồi Charlie (Kon Tum). Cha làm Chỉ huy trưởng Căn cứ Nhảy dù Hoàng Hoa Thám, có lẽ anh dễ dàng làm “lính kiểng” (không ra trận). Nhưng cả anh và bố anh đã không làm điều đó, nhất là anh, sau khi đậu Tú tài 1 xong, tình nguyện đi học sĩ quan Thủ Đức ngay và gia nhập binh chủng Nhảy dù.

Thiếu tá Lý Văn Quảng, chỉ huy trưởng Căn cứ Nhảy dù Hoàng Hoa Thám gắn huy chương cho con trai mình Lý Văn Quân – Ảnh gia đình

Sau tết Tân Hợi 1971 vài ngày, anh Quân lên đường ra mặt trận. Trước khi đi, anh Quân tâm sự với anh cả mình là anh Quang: “Lần này, chắc em sẽ không về!”. Đúng như linh tính của mình, trung úy Quân tử trận đúng năm tuổi của mình (anh sinh năm Đinh Hợi 1947), thân xác vẫn còn đâu đó trên đất Hạ Lào.

Anh Quân thẳng tính, khá nóng nảy, bất cần đời nhưng lại rất thương gia đình, bênh em, bảo vệ lính dưới quyền. Có lần về phép, nghe em trai mình bị con một vị sĩ quan cấp tá gần nhà ăn hiếp, anh dẫn em sang nhà ông tá đó “hỏi cho ra lẽ”. Thằng nhỏ con ông tá kia lỉnh đâu mất tiêu.

Anh thương mẹ nhất. Tháng lương lính đầu tiên anh mang hết về đưa mẹ.

Mỗi lần anh Quân đi trận là mẹ anh, một phụ nữ gốc Hà Nội, biết tính con liều lĩnh, [bà] như ngồi trên lửa, lui tới chỗ này chỗ kia để hỏi thăm tin tức về con. Lần này than ôi, con bà không nghe thông tin gì khi đồng đội của con kẻ mất, người bị bắt làm tù binh.

Người mẹ gục xuống, khóc ngất khi nghe tin anh bị bắt cùng đại tá Thọ – lữ đoàn trưởng, trung tá Châu – tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Pháo binh dù, thiếu tá Đức… Ba anh dù là chỉ huy trưởng Căn cứ Nhảy dù Hoàng Hoa Thám cũng mù mờ vì hầu hết sĩ quan, binh lính Lữ đoàn 3 Nhảy dù trên đồi 31 đều tử trận hoặc bị bắt…

Bé Lý Văn Quân ngồi cao nhất khi chơi đùa cùng anh em mình ở Nha Trang năm 1955, sau khi gia đình di cư vào Nam năm 1954 – Ảnh gia đình

Sau một thời gian, theo nhiều nguồn tin, từ các anh bạn đồng đội Nhảy Dù trở về từ chiến sự đồi 31 kể lại: Khi bị bắt, anh Quân phản ứng cách hành xử của “bên thắng cuộc”, đòi được cư xử đúng quy ước quốc tế đối với tù binh chiến tranh, cấp sĩ quan.

Chiến sự đang nóng bỏng, yêu cầu ấy khó được đáp ứng. Anh bỏ trốn hai lần và bị “xử lý” khi những người dẫn giải tù binh của Quân Giải phóng lúc bắt anh lại đã bị anh chống cự. Theo đại úy Đào Văn Thương (hiện bên Mỹ), những cán binh dẫn giải anh ra Bắc cho biết: “Thằng đó dữ lắm, nó giấu con dao cắt dây dù trong giày bốt”.

Anh Quân nằm xuống, không một vòng hoa vinh danh, không một đám tang buồn nho nhỏ, không được “vinh thăng” cố đại úy; văn thư hành chánh chỉ ghi vắn tắt: “Mất tích trận”.

Anh nằm xuống năm 24 tuổi, chưa lập gia đình. Gần chục năm sau, bố mẹ anh mới biết con trai mình đã bén duyên với một cô gái và có một con gái. Người yêu anh là cháu, đồng thời là con nuôi của thiếu tướng Phạm văn Đỗng, Bắc 54 Hà Nội, cựu Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định, kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô.

Hơn 50 năm rồi, hình ảnh của anh vẫn lặng lẽ bên hình ảnh bố mình trên bàn thờ bên Mỹ cùng các tập Ông Tạ… Người yêu, vợ anh vẫn một thân một mình, lặng lẽ, buồn tủi nuôi con gái anh khôn lớn cho tới hôm nay.

Con gái anh mở mắt chào đời vài tháng sau khi ba mình ra đi. Nhưng sau đó một năm, Nguyễn Bảo Tuấn, đứa con đại tá Nguyễn Đình Bảo, nhà xưa đối diện nhà anh cũng mất cha khi mới vài tháng tuổi. Mẹ anh, phu nhân “Người ở lại Charlie” cũng ở vậy nuôi con khôn lớn, thành đạt: Đứa lớn là bác sĩ nhi, đứa kế làm Lãnh sự quán Anh, đứa út xưa với “tấm khăn sô trên vầng trán đứa bé thơ” nay cũng là kiến trúc sư, giảng viên kiến trúc một trường đại học. Bà hiện 80 tuổi, vẫn ở khu Nghĩa Hòa vùng Ông Tạ.

Hơn 50 năm đã qua. Cả ba người vợ lính Nhảy dù thời chiến ở “chỗ cùng nguyên” rạch Nhiêu Lộc – khu Bắc Hải, vùng Ông Tạ vẫn ở vậy thờ chồng, nuôi con. Nỗi buồn, nỗi đau chiến tranh vẫn còn đây cùng bao người ở lại – với kỷ niệm, lời nhắn nhủ ngày chia tay không thể nào quên…

“Còn đây đêm cuối cùng

Ngại khơi nước mắt, nhạt nhòa môi em…

(Hàng hàng lớp lớp – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông)

Cù Mai Công

Một số hình ảnh và chú thích của tác giả :

Anh Lý Văn Quyến, em trai anh Lý Văn Quân gắn huy hiệu cảnh sát Mỹ cho con trai mình, Lý Huy Lý – Ảnh gia đình

Anh Lý Văn Quân bế em út Lý Văn Quyến khi ở ngôi nhà vùng Ông Tạ – Ảnh gia đình

63 năm sau, em Lý Văn Quyến ôm tập sách, trong đó có viết về anh trai mình, trung úy Lý Văn Quân trong chiến dịch Lam Sơn 719 – Ảnh gia đình

Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa khấn vái vong linh chồng và cha trên đỉnh đồi 31, Hạ Lào năm 2016. Dịp này, hai mẹ con cũng kính cẩn thắp nhang cho tử sĩ. liệt sĩ cả hai bên trên chiến địa xưa – Ảnh Việt Hùng

Bà quả phụ Nguyễn Đình Bảo và ba con bên chân dung chồng, trung tá Nhảy dù Nguyễn Đình Bảo trước Tòa Đô chánh sau khi chồng tử trận năm 1972 – Ảnh gia đình

KTV nha khoa Lý Văn Quyến và bác sĩ nhi Nguyễn Bảo Tường, trưởng nam của đại tá Nguyễn Đình Bảo “Người ở lại Charlie” ở Nam California, Mỹ. Xưa nhà hai anh đối diện nhau, hàng xóm của nhau – Ảnh gia đình

KTS Nguyễn Bảo Tuấn, con út của đại tá Nguyễn Đình Bảo “Người ở lại Charlie” và tôi (nhà báo Cù Mai Công)– Ảnh Hân Lê

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 15 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 7
Nông trường bông vải Sông Lũy

Tôi ngủ một giấc ngon lành cho đến 9 giờ sáng. Tối hôm qua, nhờ ăn tô cơm trên đầy hơn dưới nên đến giờ này tôi vẫn chưa thấy đói. Mãi cho đến gần 10 giờ, gã bộ đội mới đến, ông ta đặt cái điếu cày lên bàn rồi đưa cho tôi hai cái bao cát còn khá tốt. Với tù nhân, bao cát là một tài sản quý hiếm, gã bộ đội cho tôi một lần hai cái bao cát, quả là một chuyện lạ. Bấy lâu nay tôi mong có một cái bao như vậy để cho Sơn Fulro may quần đùi bận đi lao động, nếu chốc nữa Sơn Fulro nhận được hai cái bao này chắc nó mừng lắm. Một cái quần may bằng vải bao cát, có tệ lắm cũng dùng được một năm mới rách. Qua hành động này, tôi vội vàng xét đoán, nhìn gương mặt của gã bộ đội tuy có vẻ dữ dằn thật nhưng biết đâu hắn là một người đầy lòng nhân hậu. Chưa kịp mừng, tôi đã nghe gã bộ đội nói.

-Cái xách tay của anh, tôi phải giữ lại để làm vật chứng trình lên trên, anh tạm dùng mấy cái bao cát này để đựng vật dụng cá nhân.

Tôi chợt hiểu thâm ý của gã bộ đội, vui vẻ nhận lấy cái bao với lý do thật giản dị “Của đi thay người”, tiền bạc và những vật dụng quý giá tôi còn không tiếc, thì sá gì cái xách tay rẻ tiền này.

Gã bộ đội nhìn tôi rồi nói, giọng nói nghe thật êm tai.

-Anh xếp mùng mền cho vào bao, tôi sẽ điều người đưa anh về lại trại.

Dứt lời gã đi ra cửa, vừa đi vừa nói to.

-Cái anh gì đó, nhớ phấn đấu học tập tốt, lao động tốt, nghe chưa?

Tôi về đến trại đúng vào giờ ăn trưa, nếu về trễ chút nữa chắc tôi phải nhịn đói. Tôi nhìn lại chỗ nằm của mình mà lòng buồn rười rượi, cái bao ny lông đựng chút thực phẩm khô của tôi không còn nữa. Hôm qua tôi cứ nghĩ là gã bộ đội chỉ khám xét cái xách tay của tôi thôi, không ngờ có chút thực phẩm vụn vặt như đường với đậu mà tôi dè sẻn dành dụm chỉ còn khoảng năm bảy kí lô cũng bị tước đoạt luôn. Nhìn lại, gia tài vốn liếng của tôi bây giờ chỉ còn có một cái mùng, một cái mền, mà lòng phân vân tự hỏi, không biết mình đã đi xuống ở tầng thứ mấy của địa ngục.

Trung úy Lợi đến bên tôi hỏi nhỏ.

-Mày làm gì mà đứng ngẩn ngơ như ốc mượn hồn vậy? Hôm qua nghe mày bị dẫn lên Ban chỉ huy trại, mấy đứa tao lo gần chết, không biết có chuyện gì không.

Tôi cười.

-Có chớ, mày còn nhớ Long công tử không?

-Tại sao không, nó trốn trại nên mày bị liên lụy chứ gì?

Tôi mừng quá sức hỏi dồn.

-Nó trốn trại bằng cách nào? Có thoát không?

Trung úy Lợi ngập ngừng.

-Tao chỉ nghe tin đồn từ khối Bình Thuận là lợi dụng lúc đi lao động ở bên ngoài, Long công tử trốn mất, đến chiều khi điểm danh vào trại mới biết thiếu hắn. Hơn hai ngày mà không bắt lại được, chắc giờ này Long công tử đã ở Sài Gòn rồi.

Tôi hỏi Lợi.

-Sao mày biết hắn ở Sài Gòn?

-Tao đoán như vậy vì tất cả sĩ quan bên khối Bình Thuận đều là dân Phan Thiết, chỉ có một mình Long công tử là người Sài Gòn nên hắn có biệt danh là Long Sài Gòn. Nó không về Sài Gòn thì đi đâu? Mà nè sao mặt của mày bầm tím vậy?

Tôi vạch áo chỉ thêm vào những vết bầm trên người rồi nói với Lợi.

-Mẹ nó… hôm qua mấy thằng Việt cộng dợt tao một trận nên thân, thừa sống thiếu chết, nhưng mà số tao còn hên, tiền hung hậu kiết nên mọi chuyện đều tốt đẹp, chỉ có ê ẩm, bầm giập trong người chút đỉnh.

Trung úy Lợi nói với tôi.

-Từ ngày vào trại tới hôm nay, tao chưa bao giờ thấy Việt cộng đánh tù, tại sao tụi nó đánh mày?

Tôi trả lời Lợi.

-Trước mặt mọi người thì như vậy, nhưng khi vô phòng hỏi cung, chỉ có tù và cai tù, tụi nó đánh tù không đẹp không ăn tiền. Nếu có dịp được gọi đi làm việc, mày sẽ được thưởng thức mấy món ăn chơi này.

Sau trận đòn ở Bộ chỉ huy trại, thời vàng son của tôi thật sự chấm dứt. Tôi trở thành con người khác, con người chuyên chính vô sản, không một xu dính túi, không một cục đường để khi đói ăn cho đỡ thèm. Tôi và Lợi đói mờ mắt, ngày ngày hai thằng lê tấm thân ốm đói đi lao động.

Được chừng hơn một tuần lễ, đâu khoảng gần giữa tháng 6, sau bữa cơm chiều, tất cả tù nhân trại B trung úy, được lệnh tập họp tại hội trường để nghe biên chế. Hình như Việt cộng dùng từ ngữ này với ý nghĩa là, sắp xếp lại thành phần nhân sự hay là chuyển trại, tôi không hiểu rõ. Một danh sách tù nhân cải tạo dài lê thê, được một anh quản giáo đứng trên bục gỗ đọc thật to và rõ ràng.

-Ba trăm người có tên sau đây, ngày mai sẽ không đi lao động, ở tại trại để nghe lệnh mới.

Gần bảy trăm ông trung úy ngụy ngồi dưới đất, im phăng phắc lắng nghe. Danh sách đã đọc được vài chục người, trong đó chỉ toàn là khối trưởng, tổ trưởng, những người có thân nhân làm Cách mạng. Mọi người đều ngầm hiểu rằng, số phận của mình, đi hay ở, thả hay nhốt đều nằm trong lần thay đổi này. Căn cứ theo đó, ba trăm người có tên trong danh sách này, tương lai sẽ sáng sủa hơn những người khác. Tôi nghe đọc tên mà nhớ lại chuyện đọc kết quả của những kỳ thi Tú tài I và II ngày xưa. Hồi đó tên của những thí sinh trúng tuyển, sẽ được đọc trên đài phát thanh Đà Lạt. Chuyện hồi hộp là số báo danh của mình, được đọc trước tên theo số thứ tự từ nhỏ đến lớn. Ví dụ như: Số Báo danh 273, Trần văn A Thứ. Số Báo danh 274, Nguyễn văn B Bình thứ. Và tiếp theo đó nếu xướng ngôn viên đọc Số Báo danh 278, Đinh văn C Bình thứ, thì có nghĩa là ba thí sinh mang số báo danh 275, 276, 277 rớt. Hôm nay, tôi ngồi cả nửa giờ để nghe danh sách biên chế, phải hết sức chú tâm, không được xao lảng bởi vì tên của mình có thể được đọc bất cứ lúc nào, không theo một quy luật gì hết. Cho đến khi anh quản giáo đọc xong bảng danh sách biên chế, tên tôi vẫn còn ở tận đâu dưới địa ngục. Buổi tối tôi đi ngủ mang theo trong lòng một nỗi buồn nhè nhẹ và tin rằng mấy trăm người không có tên chuyển trại cũng sẽ mang tâm trạng giống tôi. Ngày mai bảy trăm trung úy sẽ còn lại khoảng bốn trăm ở trong trại này. Tôi nằm trằn trọc, trăn trở với cảnh kẻ ở người đi cho đến khuya mới chợp mắt được.

Tôi thức dậy, khi nghe tiếng kẻng báo thức vang lên gần căn nhà của khối trưởng. Lúc chúng tôi đang sẵn sàng chuẩn bị tập thể dục tập thể mười lăm phút, thì nghe anh khối phó yêu cầu mọi người im lặng để nghe bản bổ xung biên chế. Giọng của khối phó vang vang trong bầu không khí tĩnh lặng của buổi sáng.

-Mười bảy anh có tên sau đây, lát nữa sẽ không đi lao động, nhập chung với ba trăm người có tên trong danh sách ngày hôm qua, chuẩn bị chuyển trại. Số một Trần văn Danh, số hai Nguyễn trọng Quân…

Đang lơ mơ, bất chợt nghe tên mình được đọc trong danh sách chuyển trại bổ túc, tôi lặng người đi vì sung sướng, chuyện mà tôi hoàn toàn không ngờ đã xảy ra, giống như một phép lạ. Tai của tôi ù đi không còn nghe tên của mười lăm người còn lại. Cùng lúc ấy một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, khiến tôi suy nghĩ thật nhiều về danh sách bổ túc này. Tôi tự hỏi, có phải trong bản tự khai sau cùng của tôi nộp cho gã bộ đội ở Ban chỉ huy trại, thân nhân Cách mạng của tôi là ông Năm bánh xèo, có cái tên là Trần Chiến Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt, đã được mấy ông trên Ban chỉ huy điều chỉnh xong, cho nên tôi được chuyển trại trong danh sách bổ túc. Nếu đúng như vậy, cái tội khai gian của tôi không chóng thì chày cũng sẽ lộ, khi mà Việt cộng cho người lên Đà Lạt xác minh ông cậu Việt cộng Trần Chiến của tôi. Trời Sông Mao buổi sáng mát lạnh, vậy mà mồ hôi trên trán của tôi đã tuôn ra mỗi lúc một nhiều. Tôi than thầm, tiền của Việt cộng vốn đã không có giá trị, không hiểu tại sao tôi lại ngu xuẩn đến độ tin dùng, mà lại dùng tiền giả mới khốn nạn cho đời mình.

Khi mọi người đã đi lao động, ba trăm mười bảy người được chuyển trại, lúc bấy giờ mới khăn gói lên đường. Tôi nhìn vài người bạn tù đang tay xách, nách mang giống như cảnh mấy chú Ba mua ve chai của vài chục năm về trước, với gánh ve chai chất đầy vật dụng phế thải, rảo bước khắp phố phường tìm mua phế liệu. Hôm nay bọn tù cải tạo chúng tôi, khi chuyển đến chỗ ở mới cũng gồng gánh như mấy chú Ba nhưng lại mang theo những vật dụng còn tệ hơn đồ phế thải, dăm ba miếng vải rách, cái bao cát lủng nhiều lỗ cột túm một đầu, không biết đựng những gì bên trong, cái lon gô nho nhỏ móp méo cháy đen vì khói, thùng đựng nước làm bằng tôn lợp nhà rỉ sét. Tài sản của tôi còn thê thảm hơn nhiều, sau vụ bị điều tra và đổi chát với gã bộ đội trên Bộ chỉ huy, bây giờ tôi chỉ còn lại một cái mùng, một cái mền đựng trong hai bao cát cột dính lại với nhau bằng một sợi dây.Tôi vắt hai cái bao lên vai, theo đám tù nhân đi ra cổng trại. Ngoảnh mặt nhìn lại trại tù, nơi tôi đã ở gần một năm mà thương cho Trung úy Lợi và Sơn Fulro, cả hai đều không được chuyển trại lần này. Chúng tôi được đưa đến một khu rừng thưa, nằm gần Sông Lũy cách trại tù Sông Mao khoảng chừng 10 cây số, nơi đây không nhà, không cửa, không dân cư, không đường sá, hoang vu vắng lặng. Bị đưa đến một nơi hoang dã nhưng không một ai thắc mắc, bởi vì mọi người đều hiểu rõ thân phận tù đày của mình. Một anh bạn tù là dân Phan Thiết, đứng nhìn quanh một hồi rồi nói.

-Ở đằng xa kia là Lương Sơn.

Tôi nghe để mà nghe nhưng hoàn toàn mù tịt không biết mình đang ở đâu. Cán bộ quản giáo chia chúng tôi ra làm ba khối: khối một lo chuyện đốn cây, khối hai lo việc dựng nhà , khối ba cắt và gánh tranh lợp mái nhà. Nguyên cả buổi chiều hôm ấy, chúng tôi được khối trưởng và tổ trưởng phân chia công tác cho hai tuần sắp tới. Tối đến mọi người ngủ ngay tại chỗ, trong cảnh màn trời, chiếu đất. Một vài người gom một ít lá khô, lót xuống đất làm chiếu nằm cho đỡ lạnh. Giữa khuya tôi chợt tỉnh giấc, con trăng mười sáu tròn như một cái dĩa, chiếu ánh sáng vàng nhạt xuyên qua kẽ lá, cả một khu rừng chìm trong không gian lung linh mờ ảo, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mộng. Bọn tù chúng tôi thường gọi những ông Việt cộng canh gác tù là bộ đội, cảnh vệ, bảo vệ hay vệ binh, thứ gì cũng được, không một ai thắc mắc, miễn sao khi nói lên mọi người đều biết đó là lính Việt cộng canh giữ tù. Hơn ba trăm tù nhân nằm la liệt giữa rừng, nhìn quanh tôi, không một cọng kẽm gai làm hàng rào, không một người lính canh. không khối trưởng, không tổ trưởng điểm danh, không ai thắc mắc đến mình, đây là cơ hội tốt nhất cho bất cứ tù nhân nào muốn trốn trại. Biết như  vậy nhưng không một ai dại dột trốn trại vào lúc này, vì mọi người đều biết rằng mình là thành phần tốt, đã được chọn lựa, sàng lọc kỹ càng, và ngày về không còn bao xa.

Ngày đầu tiên đi gánh tranh, bảy giờ sáng gần một trăm tù nhân do hai vệ binh canh gác dẫn đường. Mỗi tù nhân tự mình đốn một khúc cây rừng to bằng cổ tay, hai đầu được vót nhọn dài hơn một sải tay, dùng làm đòn gánh. Chúng tôi di chuyển trong khu rừng thưa độ hơn bốn cây số, dọc theo con Sông Lũy với đội hình hàng một, người này cách người kia từ năm tới mười mét. Đến một khúc sông cạn, mực nước chỉ tới thắt lưng, đáy sông chỉ toàn cát và cát, chúng tôi vượt qua sông, đi thêm một đoạn khoảng một cây số là đến Quốc lộ 1. Từ đây chúng tôi rẽ phải, đi cặp theo lề quốc lộ một đoạn chừng ba cây số hướng về phía thành phố Phan Thiết. Sau đó băng ngang quốc lộ, rồi theo con đường mòn nhỏ, đi thêm khoảng sáu cây số nữa đến một cái trảng trống. Trước mắt tôi nguyên cả một ngọn đồi cỏ tranh xanh mướt hiện ra. Những thảm cỏ tranh theo từng cơn gió nhẹ nghiêng qua rồi ngả lại, giống như chúng đang rượt bắt đùa giỡn với nhau. Tôi biết mình đã tới nơi sau khi vượt qua một chặng đường dài ước chừng mười lăm cây số. Một anh bạn nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói “Lội bộ bốn tiếng đồng hồ rồi đó quý vị”. Cỏ tranh đã sẵn sàng do nhóm cắt tranh đến đây từ hôm qua, chúng tôi chỉ có việc cột lại thành bó. Mỗi bó tranh to khoảng một vòng tay ôm, xỏ cây đòn qua hai bó tranh rồi gánh về. Cũng may là gánh tranh không nặng lắm, vừa sức với đám tù ốm đói, cho nên chúng tôi không một ai kêu ca phàn nàn gì cả, trên đoạn đường dài mười lăm cây số trở về trại. Những ngày kế tiếp, hình như dân chúng biết tù cải tạo hay đi gánh tranh, ngang qua đoạn đường trên Quốc lộ 1. Thỉnh thoảng bọn tù chúng tôi lại nhặt được khi thì xâu bánh ú, lúc thì nải chuối sứ, cục đường, củ khoai, trái bắp từ trên  những chiếc xe đò chạy từ Phan Rang ra Phan Thiết, Sài Gòn liệng xuống. Tuy không nhiều nhưng những món thực phẩm phụ trội trời cho được tù nhân chia nhau, người củ khoai, kẻ trái bắp. Chút thực phẩm dôi ra như vậy, tính thêm cho phần ăn hôm đó của tù, đã vượt chỉ tiêu, quá tiêu chuẩn rồi. Sau một năm ăn uống thiếu thốn, bao tử của người tù đã tự động điều chỉnh, thu nhỏ lại để thích ứng với hoàn cảnh, nếu tù nhân bất ngờ ăn quá nhiều thực phẩm cho một bữa ăn, họ có thể bị trúng thực hay bội thực. Một anh bạn tù, sau hai ngày gánh tranh đi trên con đường xuyên Việt này, khi thì lượm được củ khoai, lúc thì trái chuối do dân chúng từ xe đò ném xuống bèn nảy ra quyết định đổi tên Quốc lộ 1, với lý luận rất đơn giản, anh ta nói .

-Các bạn thử tưởng tượng cái cảnh một tù nhân di chuyển hàng chục cây số, mỏi mệt khờ người, đói rã ruột vớ được trái chuối thơm lừng, chỉ mới ngửi mùi thôi đã thấy sung sướng tràn đầy hạnh phúc. Quý vị còn chần chờ gì nữa mà không gọi con đường này là “Quốc lộ huy hoàng”.

Riêng cá nhân tôi, một lần tôi lượm được cái bánh ú, lần khác được ổ bánh mì nhỏ, dài cỡ gang tay, tuy có hơi mềm nhưng khi ăn thì vừa thơm vừa ngọt, có thể tại cả năm rồi mới được ăn khúc bánh mì đúng nghĩa nên tôi mới có cảm giác như vậy. Nội quy của trại là cấm tù nhân liên hệ với dân chúng, nhưng bọn tôi cả trăm người đi gánh tranh mà chỉ có hai cảnh vệ đi canh giữ, chúng tôi biết chẳng có anh cảnh vệ nào đi theo 30 cây số để giữ chúng tôi. Không chừng họ đã tìm một gốc cây hoặc vào nhà dân ngủ một giấc, chờ đến chiều theo chúng tôi về trại. Họ cũng biết rằng, chúng tôi là những tù nhân sắp được thả về nên không một ai muốn trốn trại cả, dại gì mà trốn, trong khi chỉ cần đợi một thời gian ngắn nữa sẽ được cầm giấy phóng thích mà ra về. Trong hai tuần lễ đi gánh tranh, có một chuyện mà tôi nhớ mãi không bao giờ quên, là khi tôi và hai người bạn tù băng qua “Quốc lộ huy hoàng” theo con đường mòn đi đến đồi tranh, lúc bấy giờ mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng gay gắt xuống đỉnh đầu, mồ hôi đã bắt đầu thấm ướt áo. Từ xa chúng tôi thấy một căn nhà gạch sạch sẽ, khang trang, nằm bên tay phải của đường mòn, cả ba bàn với nhau vào xin ly nước lạnh. Một bé gái khoảng chừng 8 tuổi, dẫn chúng tôi ra sau nhà, chỉ vào cái lu nước trong góc bếp. Khi cả ba đứa đang bu quanh cái lu để uống nước, bất ngờ có giọng nói của một người đàn bà vang lên.

-Các ông ở đâu đến? Tại sao ngang nhiên vào nhà tôi uống nước? Không ai bảo ai cả ba cùng quay lại, trước mặt chúng tôi là một người đàn bà, ước chừng trên năm mươi tuổi một chút với mái tóc muối tiêu, trong bộ bà ba nâu đã bạc màu. Nhìn đôi mắt đầy ngạc nhiên của bà, tôi vội trả lời.

-Thưa bác, tụi con có xin phép cô bé này và được dẫn ra đây để uống nước.

Có thể người đàn bà thấy tụi tôi ăn mặc không giống ai, dơ dáy bẩn thỉu lại thêm chuyện mỗi người vác theo một cây gậy vót nhọn, cho nên bà ta hỏi chúng tôi với một giọng nói như là đe dọa.

-Các ông là ai? Đi đâu mà mang theo gậy gộc như thế này? Tôi kêu công an bây giờ.

Qua cách hỏi, tôi biết là bọn tôi sẽ bị rắc rối to nếu ăn nói không được rõ ràng. Tôi nhỏ giọng.

-Thưa bác, tụi con là tù cải tạo ở Sông Mao, đi gánh tranh về làm nhà, vì khát quá nên vào đây xin nước uống. Tụi con có làm điều gì không phải, xin bác tha tội cho.

Ánh mắt người đàn bà bỗng dịu lại.

-Tù cải tạo?

-Dạ phải.

-Vậy mà tôi cứ nghĩ là các ông muốn vào cướp nhà tôi. Nếu cướp vào đây thì họ đã chọn lầm chỗ vì đồ đạc trong nhà tôi đã bán sạch sẽ rồi. Các ông thử nhìn xem, bàn ghế, giường tủ, có còn cái nào đâu.

Người đàn bà miệng nói, tay ngoắt con bé lại.

-Trong nhà chỉ có tôi và nó, “Cháu bà nội, tội bà ngoại” ba nó cũng đang cải tạo ở ngoài Bắc, mai mốt thằng rể của tôi được tha, nó lại dẫn con bé về nội. Nói thì nói vậy chớ tôi ngờ rằng, đã ra tới Bắc thì làm gì có đường về, phải không các anh?

Nói xong bà nhìn chúng tôi.

-Như mấy anh đây còn có hy vọng.

Tôi để ý thấy người đàn bà đã đổi cách xưng hô, bà không gọi chúng tôi bằng ông mà gọi chúng tôi bằng anh, nghe bớt xa lạ đi nhiều. Thấy tình hình đã êm xuôi vì gặp được phe mình, tôi bạo dạn hỏi.

-Thưa bác, anh con rể của bác mang cấp bậc gì mà phải ra Bắc.

-Tôi nhớ, in hình như là thiếu tá thì phải.

-Bác có ra thăm nuôi anh ấy chưa?

-Tôi chỉ nghe nói là nó bị đưa ra Bắc, còn chuyện ở trại tù nào thì tôi cũng không biết, nói  gì đến chuyện thăm nuôi.

Tôi nhìn con bé có gương mặt buồn buồn, rồi hỏi.

-Thưa bác, mẹ của cháu đâu rồi?

-Con gái tôi đã mất cũng được nửa năm rồi, tội nghiệp cháu tôi, mới có mấy tuổi đã mồ côi mẹ, còn cha thì có cũng như không, ông bà nội thì già yếu ở mãi tận đâu ngoài Quảng Trị, mất liên lạc từ tháng 4 năm 75, chỉ có tôi là ngoại của nó nên phải đem cháu về đây nuôi thôi.

Nói đến đây người đàn bà đi lại góc bếp, bưng một cái nồi đến đặt trước mặt chúng tôi.

-Nhà chẳng có gì, còn chút cơm nguội, các anh có đói thì cứ tự nhiên ăn.

Anh bạn tôi mở nắp vung, nhìn vào bên trong rồi đề nghị.

-Không còn nhiều cơm lắm đâu, mỗi đứa được chỉ non một chén, lúc này hãy còn sớm, tụi mình chia làm ba phần, bỏ vào lon gô cơm trưa riêng của mỗi đứa, sau đó ai muốn ăn lúc nào thì tùy ý.

Từ nãy đến giờ con bé không nói gì chỉ đưa mắt nhìn chúng tôi, bất chợt nó lên tiếng.

-Sao bà ngoại đem phần cơm của mình cho mấy ổng vậy? Chiều nay mình lấy gì ăn?

Người đàn bà vuốt tóc con bé, nhỏ nhẹ nói.

-Bà sẽ nấu cơm mới cho con ăn.

Sau khi nhận phần cơm của mình xong. Tôi nhìn những hột cơm còn sót lại bám quanh nồi, tiếc của trời, tôi nhấc cái nồi cơm lên, nói với người đàn bà.

-Thưa bác, để con rửa nồi cho.

Người đàn bà nói.

-Không cần đâu, anh cứ để đó, lát nữa tôi sẽ rửa sau.

Đến đây, tôi đành phải nói với bà.

-Thưa thật với bác, khi rửa nồi, con sẽ chắt nước, lóng cặn, có thêm được muỗng cơm.

Người đàn bà nhìn tôi múc nước rửa nồi, bà đưa tay lên giụi mắt.

-Đói lắm hả con?

Nói xong bà đi lại góc bếp, bưng đến một cái nồi nhỏ. Bà gắp cho mỗi đứa một con cá nục kho to bằng hai ngón tay, cho vào từng lon gô rồi nói.

-Phần còn lại của bà cháu tôi.

Sau khi nói lời cảm ơn và cúi chào người đàn bà, cả ba đứa rút lui mà lòng đầy vui mừng hớn hở, biết rằng sẽ có được một bữa cơm trưa chắc chắn là no nê và ngon miệng. Khi đã ra đến cổng tôi ngoái đầu nhìn lại, người đàn bà đứng trước nhà, tay vịn vào khung cửa, khiến tôi nhớ lại, ngày xưa khi tiễn tôi lên đường nhập ngũ, má tôi cũng đã làm y như vậy.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 15 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 6
Thằng Bờm có cái quạt mo
.

Đúng như lời quản giáo Thành nói với tôi và Sơn Fulro ở hội trường. Ba ngày sau, toàn trại B trung úy được tập họp theo từng khối để nghe thông báo quan trọng. Anh quản giáo với vẻ mặt nghiêm nghị nói.

-Tôi xin báo cáo với các anh một tin đầy hồ hởi phấn khởi, về lịch trình học tập trong hơn hai tháng sắp tới.

Đây là một tin vui khiến mọi người nghe qua đều hớn hở ra mặt, vì nghĩ rằng có học thì sẽ có thả về. Những chữ mới của Việt cộng, như hồ hởi phấn khởi, bọn tù chúng tôi lúc mới nghe lần đầu đều bị dị ứng như phong ngứa nổi lên khắp người. Một anh bạn tính tình xuề xòa nói nhỏ với bạn bè.

-Nghe riết rồi cũng quen thôi mà. Bọn mình đang ở trong rọ, đi với ma thì cứ hồ hởi phấn khởi mặc cái áo giấy. Đợi khi có cơ hội mình cởi bỏ, vứt đi mấy hồi.

Buổi học đầu tiên được tổ chức thật là hoành tráng, hội trường với biểu ngữ do Sơn Fulro và tôi làm được treo cùng khắp, khoảng bảy trăm tù trung úy Ngụy xếp hàng ngay ngắn trong hội trường, khối nào theo khối nấy. Tất cả đều đứng im phăng phắc để chào đón phái đoàn mà tôi đoán là ban giảng huấn.

Sau khi giới thiệu tên của mấy giảng viên và quản giáo. Chỗ này tôi muốn giải thích thêm một chút, tên và việc làm của mấy ông Việt cộng nghe cứ từa tựa như chuyện Phong thần của Tàu. Không Bế văn Đàn lấy thân làm giá súng, thì cũng Phan đình Giót đem thân mình lấp lỗ châu mai, không Lê văn Tám làm ngọn đuốc sống đốt cây xăng của Pháp, thì cũng như Nguyễn thành Trung, ông này làm gì tôi không biết. Những việc làm của họ cũng như những cái tên như vậy, bọn Ngụy chúng tôi nghe xong cứ coi như nghe chú cuội kể chuyện.

Trên bục gỗ một ông Việt cộng tựa như là có cấp bậc cao nhất trong ban giảng huấn, tách khỏi hàng tiến về phía trước, trịnh trọng nói.

-Hôm nay các anh thực sự bắt đầu bước vào học tập để trở thành con người mới, con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Chương trình học gồm có mười bài, mỗi bài sẽ học trong một tuần, bài thứ nhất “Đế quốc Mỹ xâm lược, tên sen đầm quốc tế”, và những tuần lễ kế tiếp sẽ có thêm chín bài nữa. Mỗi bài học các anh sẽ được nghe giảng ở hội trường một ngày, sau đó có hai ngày ở tại tổ viết bài thu hoạch và tự kiểm điểm liên hệ tội lỗi của mình với bài học, ba ngày cuối là tuần tự từng cá nhân đọc bản kiểm điểm của mình trước tổ. Mọi người trong tổ có bổn phận giúp cho người đọc thấu hiểu rõ ràng tội lỗi của mình. Các anh cũng có bổn phận phải vạch rõ những sai trái của bạn mình trong thời gian làm lính Ngụy, đã theo lệnh của đế quốc Mỹ chống lại nhân dân, phản bội Tổ quốc. Tôi cùng những ông trung úy Ngụy ngồi trong hội trường, nghe ông cán bộ Việt cộng nói việc chúng tôi cầm súng chống lại đảng Cộng sản cướp nước là “Phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân” nghe cứ ngang như cua. Với tôi, chuyện hai thằng ăn cướp đánh nhau, được làm vua thua phải ở tù điều đó hoàn toàn đúng, thế nhưng chúng tôi là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để bảo vệ quê hương, chống lại cái đảng cướp tên là Cộng sản, câu nói trên không thể áp dụng cho chúng tôi được. Đảng Cộng sản chụp cho chúng tôi cái mũ phản quốc thì đó là hành động của kẻ vừa đánh trống vừa ăn cướp.

Biết như vậy nhưng chúng tôi không thể phản đối, vì họng súng AK lúc nào cũng chỉa thẳng vào đầu của chúng tôi. Bao lâu, người dân còn oằn mình mang gông vào cổ thì chuyện bóp méo sự thật, bẽ cong chân lý, vẫn còn trơ ra đó.

5 giờ chiều, một ngày nghe giảng ở hội trường chấm dứt, bọn tù chúng tôi lục đục kéo nhau về.

Sang đến ngày học tập thứ hai và thứ ba, chúng tôi được tự do ngồi ngay tại phòng ngủ của mình, khai lại lý lịch ba đời cùng mọi tội lỗi từ lúc bắt đầu cầm súng của đế quốc Mỹ chống phá Cách mạng, cho đến ngày 30 tháng 4. Bọn tù nhân chúng tôi được Cách mạng phát giấy bút và mực cửu long, ngòi bút là ngòi lá tre hay ngòi bắp chuối, mà cách đây khoảng hai chục năm tụi tôi dùng khi còn học lớp năm hoặc lớp tư ở bậc tiểu học. Những ngòi bút ấy tưởng đã biến mất hoặc nằm trong viện bảo tàng, bây giờ không biết tại sao Cách mạng vẫn còn dùng và cấp phát cho chúng tôi. Tôi lặng người nhìn cái ngòi bút lá tre mà lòng đầy thương cảm, nhớ lại cái thuở xa xưa, nhớ ngày đầu tiên cắp sách đến trường rồi bất giác đọc “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều” chưa kịp đọc tiếp thì đã nghe nhiều người trong tổ nối theo “và trên không có những đám mây bàng bạc…” Vì mơ màng như vậy nên khi Việt cộng cho hai ngày để khai lý lịch và tội lỗi, mới nghe qua tưởng là dễ dàng, ngon ăn, thế nhưng khi bắt đầu viết mới thấy khó khăn

Những năm mà chiến tranh Việt Nam leo thang đến tột đỉnh, mùa hè đỏ lửa năm 1972 với những trận đánh hủy diệt kinh hoàng ở An Lộc, Bình Long, Pleiku, Kontum rồi cổ thành Quảng Trị. Với bảy năm lính, tôi chỉ ở một đơn vị và may mắn là lính văn phòng chưa một lần cầm súng bắn nhau với Việt cộng. Cái may mắn này giúp tôi an tâm rất nhiều. Trong khi tôi ung dung nhàn nhã khai báo tội lỗi, thì mấy ông bạn cùng tổ của tôi ở những đơn vị tác chiến phải ngồi cắn bút nhớ lại những chi tiết vụn vặt, nhỏ nhặt, từ ngày vào lính cho đến khi vào tù, đã phục vụ bao nhiêu đơn vị, đụng trận với Việt cộng bao nhiêu lần, tại đâu, có bao nhiêu Việt cộng chết và bị thương.Tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ họ phải ghi vào bản kiểm điểm, và coi đó là phần tội lỗi của mình, khi đã xong phần viết, tiếp đến ba ngày cuối cùng mỗi người có nửa giờ đứng đọc bản thu hoạch của mình trước tổ, và nửa giờ để mọi người góp ý, xây dựng, bổ túc phần thiếu sót dưới sự kiểm soát của quản giáo.

Người đầu tiên đọc kiểm điểm là một trung úy đại đội trưởng thuộc sư đoàn 23, anh ta cầm tờ giấy từ tốn đọc to phần lý lịch, rồi bài học đế quốc Mỹ xâm lược, sau cùng là phần liên hệ tội lỗi của mình. Anh ta đọc kiểm điểm và được mọi người trong tổ giúp đỡ, bài của anh được toàn tổ thông qua với sự đồng ý của quản giáo. Lý do bài viết nhận tội, anh đã khai rõ đụng trận với chiến sĩ Cách mạng mấy chục lần, cùng con số thương vong của cán binh Cộng sản trong những trận ấy.

Người kế tiếp là tôi, sở dĩ tôi được đọc thứ hai, là vì căn cứ theo chỗ ngủ xếp cá hộp trên những tấm vỉ sắt PSP, tính từ cửa trước đi vào. Tờ kiểm điểm của tôi khá đơn giản so với anh bạn đọc trước, trong phần liên hệ tội lỗi tôi ghi ngắn gọn. “Từ ngày ra trường tháng 3 năm 1969, cho đến 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị của tôi là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì là lính văn phòng nên tôi chưa bao giờ bắn một viên đạn, ngoại trừ khi tập bắn ở Quân trường Quang Trung và Trường Bộ Binh Thủ Đức. Chuyện bắn giết chiến sĩ Cách mạng, tôi không có tham dự thậm chí chưa bao giờ thấy mặt chiến sĩ Cách mạng luôn.” Đọc xong tôi đứng chờ đợi phần giúp đỡ của toàn tổ. Trong lòng tôi tin tưởng mình hoàn toàn vô tội, và bài kiểm điểm sẽ được mọi người đồng ý cho qua vì chuyện quá rõ ràng. Đúng như tôi dự đoán, mọi người trong tổ đều đồng ý cho thông qua. Tôi chưa kịp mừng thì quản giáo đã vội lên tiếng.

-Anh Nguyễn trọng Quân chưa thông suốt chủ trương và đường lối của Đảng và nhà nước ta. Một ngày đi lính cho Ngụy, là đã mang tội với nhân dân với Cách mạng rồi. Anh Quân ở trong quân đội Ngụy bảy năm, mang hàm trung úy, lãnh không biết bao nhiêu là bổng lộc của Ngụy quyền. Anh có biết tiền mà bọn Ngụy phát cho anh, ở đâu mà có không? Đó là tiền mà bọn lãnh đạo của Ngụy đã bán đất đai của ông cha để lại cho đế quốc Mỹ, ăn cướp tiền thuế của nhân dân, đem chia cho Ngụy quân các anh.

Tôi nghe quản giáo nói mà chết điếng trong lòng, dù biết rằng, những lời nói của ông ta chỉ là những lời xảo ngôn, thế nhưng bên cạnh những lời nói đó có kèm theo cái án học tập cải tạo mút mùa. Nếu muốn sống để trở về, tôi phải im lặng chấp nhận cái chân lý của kẻ thắng trận.

Thấy tôi đứng im lặng, quản giáo nói tiếp.

-Tội lỗi của anh là đã tiếp tay với bọn lãnh đạo của Ngụy đánh phá Cách mạng, cản bước tiến xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa của Việt Nam, bọn Ngụy các anh đã kéo nước Việt Nam đi thụt lùi hàng thế kỷ. Và còn nhiều tội lỗi nữa mà anh phải tự suy nghĩ. Phải tự nhận biết những sai lầm của mình mới mong học tập tiến bộ được. Tội của Ngụy quân các anh cho dù có lấy trúc ở Nam Sơn cũng ghi không hết tội, lấy nước biển Đông Hải rửa cũng không sạch mùi. Tối nay sau giờ họp tổ, anh ra nhà sau viết lại bản thu hoạch, phải thành khẩn khai báo mọi tội lỗi của mình cho đến khi đạt yêu cầu của Cách mạng đề ra mới thôi. Bản thu hoạch của anh sẽ được đọc sau cùng.

Dứt lời, ông quản giáo nhìn anh tổ trưởng rồi ra lệnh.

-Anh có thể cho tiếp tục buổi sinh hoạt.

Tôi ngồi nghe những anh bạn kế tiếp đọc bản kiểm điểm mà lòng đầy lo âu, không biết phải nhận tội như thế nào mới gọi là đạt yêu cầu. Theo lời quản giáo thì một ngày bận áo lính Ngụy, là đã mang tội với Tổ quốc rồi. Thôi thì cố gắng nghe những anh bạn được thông qua, mình ráng cóp cho giống họ là được. Suốt mười tuần lễ học tập, mỗi bài có một sức ép khác nhau, đè nặng lên đầu tù nhân. Sức ép ngày một tăng, cho đến khi tù nhân có cảm tưởng rằng mình đã thật sự gây nên tội lỗi với nhân dân, với Tổ quốc. Thấy được lỗi lầm rồi ghi vào bản tự khai, đó là mục đích yêu cầu mà tù nhân phải nhớ rõ.

Mười tuần lễ học tập rồi cũng qua đi, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ là khoảng đầu tháng sáu của năm 1976, còn vài tuần lễ nữa là tôi đã ở tù được một năm. Sau đợt học tập, cuộc sống của tù nhân bắt đầu trở lại với những sinh hoạt bình thường, sáng vác cuốc đi tối vác về, cuốc nhiều hay ít, trưa đến cũng chỉ chén rưỡi cơm mà thôi.

Khi lao động ở bên ngoài trại, thường thì mỗi khối có bốn vệ binh đi theo canh gác, những người vệ binh này luôn giữ khoảng cách an toàn rất xa, không để cho tù nhân dễ dàng cướp súng, nhưng lại rất gần trong tầm của súng AK. Buổi trưa, khi tôi đang ngồi thưởng thức nắm cơm nguội, từ xa hai anh vệ binh đi về phía chúng tôi, họ hỏi hết người này đến người nọ rồi theo hướng chỉ dẫn của một anh bạn tù, cả hai đi thẳng đến trước mặt tôi. Một trong hai người nhìn vào tờ giấy đang cầm trên tay rồi hỏi.

-Anh là Nguyễn trọng Quân phải không?

Tôi linh cảm có chuyện không hay, nhưng không kịp có thì giờ suy nghĩ, vội vàng trả lời.

-Phải.

Anh vệ binh đưa tay ra dấu.

-Anh theo chúng tôi.

Tôi nhét vội chút cơm còn lại vô miệng, vừa nhai vừa đứng lên đi theo hai anh vệ binh. Họ dẫn tôi đi quanh co, tạt ngang, chẻ dọc, cuối cùng hướng về doanh trại của bộ đội, bên ngoài của trại tù, tôi hoàn toàn không biết gì huống chi đi vào doanh trại của họ. Từ đây thêm khoảng 5 phút lội bộ, chúng tôi đến một khu nhà nằm cách khá xa doanh trại, hai người vệ binh dẫn tôi vào một căn nhà gỗ mái lợp tôn trông cũng khá khang trang, rồi đóng cửa lại. Vừa mới ở ngoài nắng, bị đưa vào một nơi không có ánh sáng, mắt của tôi chưa quen với bóng tối, phải chừng vài phút sau tôi mới tạm thấy rõ mọi nơi. Căn phòng trống rỗng chỉ có một cái bàn và hai cái ghế, nơi góc phòng có một cái chõng tre, giữa phòng hai ông bộ đội đang ngồi hút thuốc lào. Một ông nhìn tôi rồi hỏi với giọng chắc nịch đầy uy quyền.

-Nguyễn trọng Quân phải không?

Tôi hơi chột dạ vội vàng trả lời.

-Thưa phải.

Giọng nói của ông ta gắt lên.

-Mày quen thế nào với thằng Long?

Tôi nghĩ ngay đến Long công tử, và tin rằng bạn mình đã trốn trại nên nói.

-Thưa, anh muốn nói đến Long công tử, phải không?

Tôi vừa dứt lời thì ba, bốn cái đấm liên tục nện vào đầu, mặt, mũi của tôi rồi thì đá đạp liên hồi, tôi té lăn quay, nằm dài dưới đất, tiếp theo là vài cái giậm mạnh lên mình, tôi mơ hồ nghe tiếng chửi thề.

-Mẹ bố mày, tao đâu có hỏi thằng công tử nào đâu mà mày nói công với tử.

Dứt lời, hắn tiếp thêm mấy cú đá vô ba sườn của tôi như muốn trút tất cả giận dữ lên người tôi. Nắm cơm tôi vừa ăn lúc nãy ộc ra khỏi miệng, tạo thành một vũng nhỏ bầy nhầy trên mặt đất, với những hạt cơm chưa được tiêu hóa trộn lẩn với chút nước sền sệt màu vàng, một mùi chua lợm giọng bốc lên. Sức chịu đựng của tôi đến đây là hết, tôi sợ đến vãi đái trong quần, nên tìm cách nói thế nào cho họ đừng đánh. Chút lý trí mù mờ trong đầu nói với tôi, chỉ có một cách là nói láo. Trước khi ngất đi hình ảnh ông bán bánh xèo vụt hiện về trong đầu, tôi cố sức thều thào nói.

-Đừng đánh nữa, tôi là con cháu gia đình Cách mạng. Cậu của tôi hiện là…

Tôi hơi ngập ngừng vì không biết chức vụ của ông Năm bánh xèo, cuối cùng tôi nói đại.

-Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt.

Dứt lời tôi mê đi không còn biết gì nữa. Không biết tôi đã thiếp đi bao lâu, khi tỉnh dậy, mọi người đã đi đâu hết rồi, chỉ còn một người bộ đội đang ngồi bó gối nơi ghế, tay ôm lấy chân, tay gõ nhẹ lên mặt bàn, miệng hát nho nhỏ “Cùng mắc võng trên rừng Trường sơn”.

Thấy tôi cựa quậy, mở mắt nhìn, ông ta hỏi.

-Lúc nãy mày nói cái gì?

Tôi cố nhớ lại tất cả diễn tiến trước khi bị bất tỉnh. Phải rồi nếu muốn không bị đánh, phải nói láo, trót phóng lao thì phải theo lao, tôi mạnh dạn nói.

-Thưa anh, cậu tôi hiện là Bí thư tỉnh ủy Đà Lạt.

Gã bộ đội đổi thái độ, hỏi lại với giọng bớt vẻ cộc cằn.

-Anh nói gì? Cậu anh là bí thư tỉnh ủy?

-Thưa phải.

-Tên ông ấy là gì?

-Thưa anh, tên là Trần Chiến.

Gã bộ đội nhìn vào tờ giấy để trên bàn.

-Anh khai láo với tôi, phải không? Có thân nhân theo Cách mạng, tại sao trước đây anh không khai trong tờ khai lý lịch. Lúc bấy giờ tự nhiên đầu óc tôi sáng suốt một cách lạ lùng, tôi thản nhiên nói.

-Thưa anh, tôi là trung úy Ngụy quân, tôi sợ rằng khai ra sẽ liên lụy đến sự nghiệp Cách mạng của cậu tôi.

Cuộc đối thoại bây giờ đã trở nên nhẹ nhàng, gã bộ đội nói, giọng nói nhỏ lại.

-Anh quen thế nào với trung úy Long, người Sài Gòn ở khối Bình Thuận.

Tôi trả lời anh ta.

-Thưa anh, tụi tôi là bạn cùng chung một khóa sĩ quan ở Trường Bộ BinhThủ Đức.

-Một khóa có nhiều người, tại sao anh lại quen với hắn?

-Tại vì, chúng tôi cùng chung một trung đội, giường ngủ của tôi và Long kế nhau.

Gã bộ đội đưa tay gãi cằm, mắt nhìn lên trời.

-Thân nhỉ, thế thì anh có biết nhà hắn ở Khánh Hội  không?

Tới đây tôi đã đoán ra mọi chuyện. Long công tử đã trốn trại thành công, cho nên gã cán bộ Việt cộng muốn khai thác thêm nơi tôi về tin tức của Long công tử. Trong lòng mừng cho bạn, tôi nói.

-Tôi chỉ quen Long ở quân trường, không biết nhà của nó ở đâu. Tôi chỉ nhớ, ngày xưa Long có nói với tôi là nhà nó ở Khánh Hội.

Gã bộ đội nói.

-Chuyện tên Long, tôi tạm tin lời anh, còn chuyện cậu của anh là bí thư tỉnh ủy, tôi sẽ cho người lên Đà Lạt xác minh lại, hiện tại anh có gì chứng minh cho lời khai của mình không?

Tôi nói không suy nghĩ.

-Tôi có tấm hình mà tôi chụp chung với ông cậu của tôi, để trong xách tay ở bên trại.

Vừa nghe tôi nó xong, gã bộ đội đứng lên rồi nói.

-Được rồi anh nghỉ đi.

Dứt lời, gã biến mất sau cánh cửa gỗ duy nhất trong phòng. Còn lại một mình, lúc này tôi mới thấy đau nhức cả thân mình, toàn thân của tôi chỗ nào cũng ê ẩm, đụng tới đâu, đau tới đó. Tôi đưa tay sờ nắn khắp mọi nơi với hy vọng là không bị gãy xương, chuyện gì chứ gãy xương ở trong tù thì chỉ có chết. Sau một hồi xoa bóp, cử động chân tay, tất cả đều hoạt động bình thường. Trong lòng mừng thầm, tôi nhắm mắt rồi ngủ quên luôn.

Mãi cho đến khi tôi thức giấc, ngọn đèn điện vàng hoe treo giữa phòng đã bật sáng tự lúc nào, tỏa chút ánh sáng mù mờ yếu ớt lên khắp căn phòng.Tôi biết bây giờ là từ khoảng 7 giờ cho tới 10 giờ đêm, vì đây là giờ mà máy phát điện riêng của trại tù Sông Mao chạy. Trong cái im vắng của đêm đen, tôi chợt nghe vài tiếng động vang lên, rồi cánh cửa của căn phòng bỗng mở rộng, gã bộ đội bước vào, một tay cầm đèn pin, tay kia nắm cái xách tay của tôi, hắn thong thả để xuống bàn rồi nói.

-Cái xách tay này của anh, phải không?

Tôi gật đầu.

-Thưa phải.

Gã bộ đội lục trong xách, lấy ra tấm hình mà tôi chụp chung với ông bánh xèo đưa lên. Gã nhìn tấm hình rồi nói.

-Tấm hình màu này cậu cháu nhà anh chụp ở đâu mà đẹp thế, nhất là anh mặc bộ đồ vàng của Ngụy, trông cứ như là ông tướng.

Vì muốn lấy lòng gã bộ đội, tôi tiếp lời.

-Thưa anh, tướng cướp thì có.

Gã bộ đội lật ra mặt sau tấm hình, lẩm bẩm đọc.

-Trần Chiến.

Quay nhìn tôi, ông ta hất hàm.

-Cậu của anh tên là Trần Chiến?

-Dạ phải.

Nói xong tôi mới nhớ lại tấm hình được tôi kẹp vào giữa xấp tiền đô la và tiền mới, thêm cái “đồng hồ hai cửa sổ”, tất cả được gói gọn trong một bao ni lông, nhét ở đáy của túi xách. Gã bộ đội ngồi chống tay lên cằm, vẻ mặt đăm chiêu tư lự.

-Theo tin tức tình báo mà chúng tôi được biết, trước khi bọn Mỹ Ngụy tháo chạy, tình báo CIA của Mỹ có gài lại một số mật báo viên, bọn người phản quốc này làm việc cho CIA được trả lương bằng tiền mới của nhà nước ta, thậm chí còn có cả đô la nữa. Chúng tôi đang điều tra trong trại tù này, nếu tìm ra bọn tình báo làm cho đế quốc Mỹ, hắn sẽ bị Cách mạng thẳng tay trừng trị, khó lòng mà thoát khỏi cái án tử hình.

Nghe gã bộ đội nói tôi chợt hiểu ra, và một nỗi lo sợ bỗng đâu ập đến, càng nghe gã nói mồ hôi của tôi càng đổ ra mỗi lúc một nhiều. Cái án tử hình khiến tôi cảm thấy lạnh cả người. Trên đời không có cái ngu nào giống cái ngu nào. Ngay từ đầu, nếu tôi nói có liên hệ với Long thì mọi chuyện đã êm xuôi.Vì khi Long công tử trốn trại, tôi chỉ bị nhốt conex vài tuần, còn nếu nặng lắm cũng chỉ vài tháng. Khi khai láo là tôi có ông cậu là bí thư tỉnh ủy, tôi quên mất số tiền năm trăm đô la cùng với mấy trăm tiền mới, để chung với tấm hình. Giờ đây số tiền đó là chứng cớ để buộc tội tôi có làm việc cho CIA. Thú thật tôi chỉ muốn van xin gã bộ đội cho tôi khai báo lại cho đúng. Nhưng mà nghĩ cho cùng, nếu khai đúng nguồn gốc của số tiền đô la lại liên hệ tới vợ tôi ở Đà Lạt. Khi nhớ đến vợ, bỗng dưng hai hàng nước mắt của tôi đua nhau lăn dài trên má. Thấy tôi khóc, gã bộ đội đẩy nhẹ cái xách tay về phía tôi. Ông ta nói với giọng nói chắc nịch.

-Anh hãy nghe cho kỹ, tôi đã kiểm soát trong xách tay của anh, chỉ thấy một cái mùng, một cái mền vải mỏng nhẹ và một tấm hình, ngoài những thứ đó ra, không có gì khác, không tiền, không đô la, không đồng hồ. Đúng không?

Nghe gã bộ đội nói mà tôi mừng như vừa chết đi sống lại, người cứ nhẹ như đang đi trên mây. Bị tuyên án tử hình rồi lại được cho trắng án, còn gì mừng hơn. Phải rồi, tôi không có gì cả, không có gì hết cả.

Tôi nói to.

-Thưa cán bộ, trong xách tay của tôi chỉ có một cái mền, một cái mùng, ngoài những thứ đó ra không có gì khác.

Gã bộ đội đưa cho tôi một xấp giấy, với giọng nói hết sức là hiền từ.

-Anh ngồi viết bản tự khai, nhớ viết cho đúng những gì anh vừa nói, vì đây là bằng chứng xác nhận là anh vô tội. Khi xong, anh ký vào và đưa cho tôi.

Tôi run tay nhận xấp giấy với cây bút và bắt đầu viết, gã bộ đội mở cửa đi ra ngoài. Nửa giờ sau, khi tôi viết xong bản tự khai, gã bộ đội cũng trở lại với một tô cơm đầy vun có ngọn. Sau khi đọc xong tờ tự khai của tôi, một nụ cười tươi tắn nở trên môi gã bộ đội.

-Anh đói lắm rồi phải không? Ăn cơm đi, trong cơm có cả cá kho nữa đấy, tối nay anh ngủ tại đây trên cái chõng tre ở góc phòng, ngày mai tôi sẽ cho người đưa anh về trại.

Gần một năm rồi, hôm nay tôi mới được thoải mái ăn một tô cơm đầy vun như ngọn núi. Tôi ăn cơm nhưng mắt liếc nhìn gã bộ đội với gương mặt sáng rỡ, tươi rói, giống hệt như cái lão phú ông trong chuyện thằng bờm, với cái triết lý hiện thực chủ nghĩa mà lòng đầy sung sướng. Đang ở tù mới thoát khỏi án tử hình, lại được ung dung ngồi thưởng thức một tô cơm to bự với cá kho thì còn gì hạnh phúc hơn. Thì ra cái triết lý đơn sơ giản dị như vậy, cho đến hôm nay tôi mới thấm nhuần. Tôi và một miếng cơm đầy miệng, gắp thêm miếng cá nho  nhỏ, rồi chầm chậm nhai, vừa nhai vừa thưởng thức vị ngọt của cơm trắng trộn với chút mằn mặn của cá kho, thêm mùi thơm của nước mắm, của cá, mà cả năm rồi tôi chưa được ngửi. Hạnh phúc là đây, cần gì phải đi tìm ở đâu xa xôi cho mệt. Tôi nhìn gã bộ đội một lần nữa, rồi nghĩ đến câu cuối của bài đồng dao mà trẻ con vẫn thường hay hát khi chơi đùa trên hè phố “Phú ông xin đổi nắm xôi, bờm cười”. Người đời vẫn thường hay thắc mắc về tiếng cười của thằng bờm. Riêng tôi, tôi tin rằng đó là nụ cười vui vẻ chấp thuận, chứ không phải cái cười chê õng chê eo vì một sự trao đổi bất tương xứng.

Mỹ giải cứu tàu hàng Israel bị Houthi bắt cóc

thuymyrfi.blogspot.com

lundi 27 novembre 2023

Lê Xuân Nghĩa

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Bộ Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ vừa công bố chi tiết cuộc giải cứu tàu hàng Central Park.

Một nhóm phiến quân vũ trang Houthi gồm 5 tên đã bắt cóc tàu chở hàng có liên quan đến Israel. Tuy nhiên, toàn bộ thủy thủ đoàn đã kịp thời sơ tán vào “phòng an toàn” của con tàu và phát tín hiệu cầu cứu. Thủy thủ đoàn có cả người Việt Nam.

Lúc này, tàu USS Mason (DDG 87) Hải quân Mỹ, cùng với các tàu đồng minh từ lực lượng đặc nhiệm chống cướp biển của liên minh (TF151) nhận được tín hiệu đã lập tức tiến hành chiến dịch giải cứu, với sự phối hợp của Hải quân Nhật Bản đang có mặt gần vị trí con tàu. Tại đó cũng có mặt hai tàu của Hải quân Trung Quốc. Nhưng họ không có phản ứng gì

Các phiến quân sau một hồi tìm cách phá cửa “phòng an toàn” nhằm bắt giữ thủy thủ đoàn nhưng không thành công. Cùng lúc đó phát hiện Hải quân Hoa Kỳ truy đuổi nên đã xuống xuồng cao tốc để thoát thân.

Hải quân Hoa Kỳ đã cử lực lượng đặc nhiệm với sự hỗ trợ của trực thăng tiếp tục truy đuổi và nổ súng cảnh cáo. Cuối cùng, 5 phiến quân cướp tàu đã đầu hàng và bị bắt giữ khi chỉ cách bờ biển Yemen chừng 60 km.

Thủy thủ đoàn và con tàu Central Park hiện đã an toàn. Toàn bộ chiến dịch hoàn thành ngay trong ngày 26/11.

LÊ XUÂN NGHĨA 27.11.2023

Lính thú

hung-viet.org

Ngô Đình Khoa__ Tặng anh em tiểu đoàn 1/46

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Căn cứ Bleynhey mùa mưa nước nổi

Sống ở bờ cao chung với kiến vàng

Ngày nắng hạ cháy da làm lính mọi

Đêm mưa cùng đào nước ở hang

Nón sắt thay nồi thuốc bồi mồi lửa

Cơm dọn ra nửa sống nửa khê vàng

Miếng được miếng không nuốt ngày sống vội

Như nữa đây chết vội đến phiên chăng?

Ăn nghĩ tiến quân chung giờ làm một

Súng với ta thân thiết như tình

Ngụm nước mát dành hành quân rất tuyệt

Miểng giẻ khô phòng mưa súng rỉ han

Người làm giặc từ bắc phương tràn tới

Giáp trận súng tay cơm vắt muối vừng

Miệng giải phóng lưỡi điêu ngoa trăm tội

Tim óc người chất ngất những lòng căm

Đêm thức ho khan ta chờ người tới

(Nghìn đứa như ta nghĩ củng nực cười)

Người với ta bỗng một còn một mất

Súng đạn bày trò sống chết như chơi

Ta bắt được người gọi tên vô sản

Người bắt được ta gọi lính nguỵ quyền

Khi xưa sống tổ tiên chung một họ

Máu chia ngành giờ hết anh em

Ta vượt biên đến đây làm lính thú

Máu đổi xương đổi đất từng miền

Thèm ngủ thèm ăn chưa bằng được chết

Mộ đã yên giờ cỏ đã xanh lên