Lính thú

hung-viet.org

Ngô Đình Khoa__ Tặng anh em tiểu đoàn 1/46

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Căn cứ Bleynhey mùa mưa nước nổi

Sống ở bờ cao chung với kiến vàng

Ngày nắng hạ cháy da làm lính mọi

Đêm mưa cùng đào nước ở hang

Nón sắt thay nồi thuốc bồi mồi lửa

Cơm dọn ra nửa sống nửa khê vàng

Miếng được miếng không nuốt ngày sống vội

Như nữa đây chết vội đến phiên chăng?

Ăn nghĩ tiến quân chung giờ làm một

Súng với ta thân thiết như tình

Ngụm nước mát dành hành quân rất tuyệt

Miểng giẻ khô phòng mưa súng rỉ han

Người làm giặc từ bắc phương tràn tới

Giáp trận súng tay cơm vắt muối vừng

Miệng giải phóng lưỡi điêu ngoa trăm tội

Tim óc người chất ngất những lòng căm

Đêm thức ho khan ta chờ người tới

(Nghìn đứa như ta nghĩ củng nực cười)

Người với ta bỗng một còn một mất

Súng đạn bày trò sống chết như chơi

Ta bắt được người gọi tên vô sản

Người bắt được ta gọi lính nguỵ quyền

Khi xưa sống tổ tiên chung một họ

Máu chia ngành giờ hết anh em

Ta vượt biên đến đây làm lính thú

Máu đổi xương đổi đất từng miền

Thèm ngủ thèm ăn chưa bằng được chết

Mộ đã yên giờ cỏ đã xanh lên

Hải Quân Đại uý Quoc “Mantis” Duong (gốc Việt), Phi công trực thăng MH-60R Seahawk Biệt đội 3, Phi đoàn 51 trực thăng tấn công Hải quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on December 24, 2024

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Hải Quân Đại uý Quoc “Mantis” Duong trên sàn trực thăng Khu trục hạm USS John Finn (DDG 113) ngày 14 tháng 4 năm 2023 (ảnh của dvidshub.net).

Hải Quân Đại uý Quoc “Mantis” Duong*, quê quán ở King George, Virginia, ông tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 2016. Đại uý Duong hiện là phi công trực thăng MH-60R Seahawk của Biệt đội 3, Phi đoàn 51 trực thăng tấn công Hải quân (HSM-51) trú đóng tại Căn cứ Không quân Hải quân Atsugi, Nhật Bản. Trưc thăng MH-60R Seahawk Biệt đội 3 của Đại uý Duong được biệt phái phục vụ trên Khu trục hạm USS John Finn (DDG 113), thuộc Hải đội Khu trục hạm 15 (Destroyer Squadron 15), Lực lượng đặc nhiệm 71 (Commander, Task Force 71/Destroyer Squadron 15, là lực lượng tiền phương mạnh nhất của Hải quân và là lực lượng chính trên mặt biển của Đệ Thất Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ.

HQ Đại uý** Quoc “Mantis” Duong gia nhập Hải quân là do cảm hứng từ cha ông, một Sĩ quan phi hành Hải quân đã bay nhiều giờ trong thời gian phục vụ Hải quân, những câu chuyện về những chuyên bay nhìn thấy không gian và biển cả đã truyền cảm hứng cho Đại uý Duong theo bước chân của cha ông. Tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 2016, Đại uý Duong được tuyển chọn thụ huán tại Trường huấn luyện Phi công Hải quân, sau đó ông được xuyên huấn phi cơ trưc thăng và trở thành Phi công trực thăng MH-60R Seahawk là loại trực thăng đa năng, được Hải quân Hoa Kỳ sử dụng trên các Tuần dương ham, Khu trục hạm và Hàng không mẫu hạm.

HQ Đại uý Quoc “Mantis” Duong gắn cấp bậc Trung sĩ lên cổ áo nữ Hạ sĩ Annie Simamora trên khu truc hạm USS John Finn (DDG 113) ngày 4 tháng 10 năm 2023 (ảnh của dvidshub.net).

Những thành tích của Đại uý Quoc “Mantis” Duong đạt được trong Hải quân là niềm hãnh diện khi đeo trên ngực áo chiếc cánh bay vàng (Wings of Gold) hàng ngày. Ước mơ trở thành Phi công Hải quân bắt đầu khi Đại uý Duong lên ba tuổi, và ông đã đạt được cánh bay vàng là giấc mơ thời thơ ấu của ông đã trở thành hiện thực, ông hy vọng sẽ truyền đạt lại những kiến ​​thức mà ông đã học hỏi được từ kinh nghiệm trong thời gian bay trưc thăng MH-60R Seahawk. Một trong những mục tiêu của ông là trau dồi ngành phi công Hải quân và trở thành một Phi công kinh nghiệm để hướng dẫn cho các phi công trẻ trong Phi đội của ông. Bài học lớn nhất mà Đại uý Duong học được khi phục vụ Hải quân, đó là công sức bỏ ra có kết quả với sự cố gắng và khiêm tốn, mọi thứ đều có thực hiện được. Nhờ phục vụ chăm chỉ, ông đã đạt được cánh bay vàng cùng nhiều Văn bằng và Chứng chỉ của ngành phi công hải quân.

Công việc và nhiệm vụ của ngành Phi công đầy thử thách, nhưng HQ Đại uý Quoc “Mantis” Duong không gặp khó khăn gì khi mô tả điều ông thích nhất là trở thành một Phi công Hải quân. Đại uý Duong rất thích làm việc với các Thủy thủ của Biệt đội 3, Phi đoàn 51 (HSM-51). Ông cho biết: “Mỗi ngày, họ dạy tôi đôi điều gì đó về phi cơ trực thăng từ góc nhìn của nhân viên bảo trì kinh nghiệm và điều đó khiến tôi hiểu biết thêm về chiếc trực thăng mà tôi thường bay. Tôi được truyền cảm hứng hàng ngày từ sự chăm chỉ và tận tụy của các Thủy thủ, họ giúp bảo trì và sửa chữa hai chiếc trực thăng của Biệt đội. Những chiếc trực thăng này bay được là nhờ vào công sức họ, cá nhân tôi không bao giờ coi thường điều đó mỗi khi đi bay”.

Khu Trục hạm USS John Finn USS (DDG 113) được khai triển về phía trước có mang theo Trưc thăng MH-60R Seahawk do HQ Đại uý Quoc “Mantis” Duong là Trưởng phi cơ*** (Helicopter Mission Commander), Khu Trục hạm USS John Finn USS (DDG 113) là 1 trong 9 Khu trục hạm loại Arleigh Burke-class tối tân của Lực lượng đặc nhiệm 71/Hải đội khu trục hạm 15 tại Yokosuka, Nhật Bản, là Hải đội khu trục hạm mạnh nhất của Hải quân và là lực lượng chính trên mặt biển của Đệ Thất Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ đang hoạt động yểm trợ cho khu vực biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và mở rộng, có sự góp phần của HQ Đại uý gốc Việt Quoc “Mantis” Duong.

Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *Ghi theo họ và tên từ tài liệu (họ và tên Việt Dương Quốc); HQ Đại uy=Navy Lieutenant ***Hoa tiêu chánh.

Nguồn: dvidshub.net; c7f.navy.mil.

Gọi Đơn Vị Thiết Giáp Gần Đó

By Sherman R. Batman, SFC

Bản dịch Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Trên căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) trong mùa hè 1968, có câu chuyện vui ai cũng được nghe, tin đồn trưởng toán (1-0), toán phó (1-1) toán biệt kích Illinois lấy trộm một xe tăng của lữ đoàn 10 Thiết Giáp.

        Mùa Hè năm 1968, ở một nơi rất xa trong vùng Đông Nam Á, trên mảnh đất chiến tranh miền nam Việt Nam, một toán biệt kích vừa làm xong nhiệm vụ, trở về căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) trên Kontum. Sáu ngày trong vùng rừng núi trở về, hai quân nhân Hoa Kỳ (trưởng, phó toán biệt kích) được người thông ngôn mời đến nhà ở ngoài phố Kontum ăn cơm.

        Sau khi thuyết trình về chuyến xâm nhập (nhiệm vụ cho trưởng, phó toán) cho ban tham mưu trong đơn vị, tắm rửa, thay bộ quần áo khác, hai người Hoa Kỳ đi ra bãi đậu xe, lấy chiếc xe Jeep để ra phố. Tại bãi đậu xe, họ gặp người biệt kích Nùng đã từng là một biệt kích, đã “giải ngũ” (có thể bị thương…) chào đón, trả lời là không có sẵn xe Jeep cho họ.

        Trưởng toán biệt kích Illinois, trung sĩ nhất Batman, toán phó Mike Tramel chửi thề “Cục cứt!”, rồi tự động lấy chìa khoá xe, lái một chiếc Jeep ra phố Kontum. Khi hai người lái xe ngang qua cầu (Dak Bla, cũng là tên của giòng sông), họ trông thấy một chiến xa M-48 A5 thuộc lữ đoàn 10 Thiết Giáp, đang bố trí phòng thủ, bảo vệ chiếc cầu.

        Đến nhà người thông ngôn, hai người Hoa Kỳ được đón tiếp rât nồng hậu, ăn uống thả dàn. Họ đi ra ngoài cho thoáng sau những cú 100% với mấy người bạn Việt Nam, rồi một xe Jeep của quân đội Hoa Kỳ có hai người trên xe chạy đến chỗ họ đang đứng. Cả Batman lẫn Tramel chưa gặp viên sĩ quan này lần nào.

        Một người bước xuống, đeo cấp bậc trung úy, trong bộ quần áo biệt kích “cọp vằn”, đeo súng M-16, bước lại hỏi “Ai là Batman?”. Batman xác nhận rồi hỏi “Có chuyện gì không?” Viên sĩ quan Hoa Kỳ trả lời “Anh xử dụng xe cộ của quân đội bất hợp pháp”. Hết sức ngạc nhiên, Batman hỏi một câu ngu xuẫn “Tôi… đã làm gì?”. Viên sĩ quan chỉ tay vào chiếc xe Jeep đang đậu bên kia đường “Anh lấy chiếc xe Jeep, đang đậu, không có phép và không ký giấy tờ”. Có lẽ do uống quá độ, Batman vẫn ngớ ngẩn, hỏi thêm “Giấy tờ…?”. Viên sĩ quan trả lời “Đúng, anh đã lấy trộm chiếc xe và tôi sẽ phạt anh”.

        Batman lúc đó nổi nóng, lên tiếng “Chúa Jesuit! Ông rơi xuống từ cành cây nào? Và ông ở điạ ngục nào đến đây?” Viên trung úy “hãnh diện” trả lời “Tôi là sĩ quan quân xa trong căn cứ hành quân tiền phương 2”. Batman nói “Trên căn cứ hành quân tiền phương 2, chúng tôi không có sĩ quan quân xa”. Viên trung úy chậm rãi trả lời “Tôi vừa được trung tá Smith chỉ định ngày hôm qua, và ông bạn đã lấy trộm một chiếc xe… của tôi”.

        Cả hai trưởng, phó toán biệt kích Illinois lúc đó mới rõ, Batman hỏi tiếp “Trung úy. Làm sao tôi có thể lấy trộm được một chiếc xe đã bị ăn cắp?”. Đến phiên viên sĩ quan bối rối “Anh muốn nói gì… chiếc xe đã bị ăn trộm?”.

        Đến lúc này Batman mới mỉm cười “Thưa Trung Úy! nếu chưa ai nói cho ông biết, để tôi nói cho ông nghe. Tất cả xe cộ trong bãi đậu xe ở căn cứ hành quân tiến phương 2 đều là xe ăn trộm của các đơn vị chính quy trong quân đội Hoa Kỳ… Cơ quan MACV-SOG chẳng có mẹ gì cả! Chúng ta đã lấy trộm tất cả những chiếc xe đó!”. “Anh nói chuyện vô lý! Tôi phải bắt giữ, đem anh về trại và làm lệnh phạt”. Batman tỉnh bơ “Tôi nói cho Trung Úy biết. Điều tốt nhất, ông có thể làm, lái một chiếc Jeep, để người binh sĩ Nùng lái chiếc kia, rồi cuốn gói… ra khỏi đây”. Biết đụng “găng tơ” thứ thiệt, viên trung úy cùng người biệt kích Nùng lái hai chiếc xe Jeep về căn cứ, để hai ông biệt kích Hoa Kỳ toán Illinois ở lại phố Kontum.

        Khuya hôm đó, cả hai ông biệt kích toán Illinois đã ngà ngà say mới chịu lội bộ ra về, còn xách theo chai rượu dở dang. Đến đầu cầu Dak Bla, cả hai trông thấy mấy người lính Thiết Giáp, mò lại rủ “bạn hiền” uống tiếp, tha hồ “bốc phét”. Một lúc sau mấy người lính Thiết Giáp mới biết chuyện, chiếc xe Jeep của hai ông biệt kích bị một viên trung úy “thâu hồi”. Họ tỏ vẻ bất bình “Người ta vừa mới trở về… từ cõi chết! Chơi như vậy… ai còn muốn đánh giặc!”. Và họ đồng ý chở giùm hai ông bạn biệt kích về căn cứ (cách đó không xa. Là một con đường thẳng, tôi đã từng đi bộ).

        Viên sĩ quan trung đội trưởng Thiết Giáp nói hai ông biệt kích leo lên chiếc xe Jeep (trinh sát) của họ, để đưa về, nhưng hai ông biệt kích thích “lộn xộn”, nói rằng “Khoan đã. Tôi tưởng anh em đưa chúng tôi về bằng chiếc xe tăng?” Viên sĩ quan Thiết Giáp “Cũng được. Sao không?”. Viên trung sĩ của họ cũng đồng ý. Batman thêm vào “Để cho Tramel lái xe thiết giáp”. Viên trung sĩ chắc cũng đã say, gật đầu vui vẻ.

        Rồi cả bọn leo lên chiến xa M-48, Tramel ngồi ghế tài xế, được ông bạn Thiết Giáp chỉ dẫn lái chiếc xe tăng trên quốc lộ 14 về căn cứ hành quân tiền phương 2. Đến trước cổng, Tramel bẻ cua gắt 90 độ rẽ vào cổng, người binh sĩ Nùng đang canh gác hốt hoảng kéo cổng ra nếu không chiếc xe tăng ủi xập. Tramel lái chiếc chiến xa đến ngay trước cửa phòng vị chỉ huy trưởng, rồi đậu lại.

        Trung tá Smith vừa tắm xong, đúng lúc chiếc chiến xa chạy đến, đậu ngay trước cửa, ông ta quay vào bên trong. Các tay “găng tơ” biệt kích khác bắt đầu bu lại xung quanh chiếc chiến xa M-48 vỗ tay khen ngợi Batman, Tramel “lấy trộm được một xe tăng của lữ đoàn 10 Thiết Giáp”. Lúc đó thiếu tá Smith (không liên hệ với trung tá Smith) chỉ huy phó, ở đâu bước lại nói lớn “Batman, trung tá Smith ra lệnh cho anh đem chiếc xe tăng ra khỏi căn cứ, nếu không ông ta sẽ sơn mầu đen và vẽ bảng số TN”.

        Thấy coi bộ không êm, họ lái chiếc xe tăng ra đậu trên quốc lộ 14, rôi rủ xa đội M-48 vào nhà ăn dùng bữa “cơm nóng”. Mấy ông Thiết Giáp thích quá, cả tuần lễ họ đã phải ăn đồ hộp, rồi tiếp theo họ được mời qua câu lạc bộ tiếp tục uống bia. Trước khi ra về, mấy ông Thiết Giáp còn hứa hẹn sẽ trở lại ngày hôm sau để dậy Tramel lái xe tăng cho nhuyễn.

        Sáng hôm sau, bầu trời thật đẹp, chiếc xe tăng M-48 với xa đội vẫn còn ngất ngư sau chầu bia rượu tối hôm trước đã đến căn cứ hành quân tiền phương 2. Batman và Tramel lại leo vào trong xe thiết giáp. Tramel ngồi vào ghế tài xế lái về hướng nơi đóng quân của đại đội xung kích Hatchet Force, ở đó có khoảng đất trống rộng lớn tha hồ tập lái.

        Con đường đất đỏ đi vào chỗ đóng quân của đại đội xung kích Hatchet Force rất hẹp, đủ rộng cho xe Jeep, chiếc M-48 do tài xế “biệt kích” Tramel lái cán bừa lên ràng rào concertina vào đến khu đất trống, rôi được huấn luyện xử dụng khẩu đại bác 90 ly trên chiến xa.

        Trong khi Tramel đang tập xử dụng tác xạ khẩu đại bác, vị đại đội trưởng, đại đội Hatchet Force ở đâu xuất hiện, chất vấn, các anh định làm gì ở đây… còn chiếc xe tăng kia nữa…? Batman, Tramel vội trả lời, chỉ có bãi bắn này mới trông trúng vào căn cứ đóng quân của lữ đoàn 3, sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ. Vị sĩ quan trả lời “Điều đó không giải thích được sự có mặt của hai người cùng với chiếc chiến xa”…

        Sau khi đốt cháy một ít tiền đóng thuế của người dân Hoa Kỳ, mấy người bạn Thiết Giáp “dễ thương” đưa chúng tôi trở về căn cứ hành quân tiền phương 2, rồi sau đó… họ cũng bị đổi đi nơi khác…

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 5
Nhảy núi

Bảy giờ tối, chúng tôi đang ngồi sinh hoạt kiểm điểm ở sân của khối 5 Đà Lạt, quản giáo Thành bất ngờ xuất hiện, ông ta ra dấu cho mọi người im lặng rồi nói.

-Trong khối này, có anh nào biết kẻ chữ, kẻ bảng hiệu không?

Nhanh như con sóc, một cánh tay đưa lên trời.

-Tôi biết.

Giọng quản giáo nói mà như ra lệnh.

-Anh gì mới đưa tay lên đó, đến hội trường gặp tôi ngay lập tức.

Tôi nhìn thật kỹ, người đưa tay là Sơn Fulro, hắn thản nhiên rời khỏi chỗ ngồi, đi thẳng về phía hội trường mà không nói một lời nào với khối trưởng. Lệnh của quản giáo lúc nào cũng mang đầy uy quyền đối với tù nhân, giống như là thánh chỉ của vua ban xuống, không cần biết khen thưởng hay xử phạt, tù nhân cứ nhắm mắt mà thi hành, khỏi cần phải hỏi han lôi thôi.

Tôi nghĩ thầm, không biết Sơn Fulro học được cái nghề kẻ khẩu hiệu hồi nào mà hắn khá tự tin khi xung phong đi làm, không một giây do dự.

Buổi họp kiểm điểm, bình bầu cá nhân xuất sắc thường ngày của khối, được kết thúc bằng một bài hát đầy hồ hởi phấn khởi, do hàng trăm cái miệng đói ăn của tù nhân đồng loạt cất lên. Tất cả phải rống cho thật to mới đạt yêu cầu.

Ta xuất trận trong tiếng kèn chiến thắng.
Khắp Miền Nam ngọn lửa cháy trong tim.
Đốt quân thù trong cơn bão tố.

Sau hơn nửa năm học tập cải tạo trong trại tù Sông Mao, tôi cũng như mọi người thuộc được non mười bài hát của Việt cộng, thêm một mớ chữ mới tối nghĩa mà chúng tôi phải cố nhét vào đầu và tập dùng cho quen. Chẳng hạn như một lần nọ, tôi nghe anh vệ binh dẫn chúng tôi đi lao động nói to “Các anh đi cứ linh tinh lang tang như một đàn vịt, đi cho đúng vào trọng tâm.” Sau khi được vệ binh nhắc nhở, chúng tôi đi theo thứ tự hàng một, và tin rằng đã đi đúng trọng tâm.

Khi bài hát chấm dứt, mọi người lục đục kéo nhau về phòng. Chưa đến giờ ngủ, tôi đi ra sân sau của tổ 37, ngồi dựa lưng vào tường ngắm trăng sao trên trời, nhớ đến vợ và đứa con chắc cũng vừa mới chào đời ở Đà Lạt. Dưới ánh sáng nhàn nhạt của vầng trăng vàng úa treo lơ lững giữa trời, tôi thấy Sơn Fulro đang tà tà đi đến chỗ tôi, hắn thong thả ngồi xuống bên cạnh rồi hỏi.

-Ngày mai, mày muốn lên hội trường kẻ khẩu hiệu không? Tao đã xin phép quản giáo Thành cho một thằng phụ tá, giúp tao trong công tác đó.

Tôi nói với Sơn.

-Từ nhỏ đến giờ, tao chưa bao giờ cầm đến cây cọ. Đi kẻ bảng hiệu, tao không làm được đâu.

Sơn Fulro cười.

-Mày chỉ giúp tao trải  mấy tấm vải xuống đất, căng cho thẳng, khuấy sơn cho đều, tất cả mọi việc khác tao bao hết. Công việc sẽ kéo dài vài tuần, tụi mình ngồi làm việc trong hội trường, mát mẻ nhẹ nhàng hơn là lao động cuốc đất ngoài nắng nhiều, mày còn đòi hỏi gì nữa.

Tôi hỏi Sơn.

-Tại sao mày không chọn mấy thằng trong nhóm lực sĩ của mày, mà lại kêu tao phụ giúp.

Sơn Fulro chau mày như suy nghĩ một hồi.

-Mấy thằng đó với tao tuy là đồng sàng nhưng dị mộng, tụi nó bộp chộp, nóng nảy, lúc nào cũng chỉ muốn trốn trại, trốn càng sớm càng tốt, thậm chí cướp súng AK bắn nhau với Việt cộng cũng chơi luôn. Tao không muốn như vậy mà làm việc phải cẩn thận, phải có kế hoạch đàng hoàng. Tao chấm mày vì mày tương đối hiền lành, đằm tính hơn mấy thằng hảo hán Lương Sơn Bạc bên tổ của tao.

Tôi vốn nhát gan, rất sợ khi nghe ai đó bàn đến chuyện chống đối và trốn trại, nên vội vàng gật đầu, rồi nói với Sơn.

-Gì chứ khuấy sơn cho đều thì tao làm được, tao sẽ đi kẻ khẩu hiệu với mày.

Sơn đứng lên, hắn nói to.

-Mày đồng ý rồi phải không? Vậy thì bây giờ tao phải đi gặp và thông báo với khối trưởng, kể từ ngày mai tao với mày sẽ làm công tác vẽ bảng hiệu ở hội trường, thời gian khoảng hai tuần. Sáng mai tao qua rủ mày đi làm.

Buổi sáng khi mà mọi người trong khối đều đã đi lao động ở bên ngoài, bỏ lại hai dãy phòng ngủ chìm trong im lặng, lúc bấy giờ tôi và Sơn mới thong thả đi đến hội trường. Chưa đến tám giờ, hãy còn sớm hai đứa nằm dài trên bục gỗ gác cẳng lên trời, nói chuyện ngày xưa chờ quản giáo Thành. Mãi cho đến khi mặt trời đã lên cao ngang nóc của hội trường, chiếu ánh sáng chói lòa xuống tận chỗ tôi nằm, lúc bấy giờ mới thấy quản giáo Thành đến, theo sau ông ta là hai tên bộ đội tay xách vai mang, lủng củng lỉnh kỉnh nào là vải vóc, thùng sơn, cọ vẽ. Tất cả đều hấp ta hấp tấp đi mà như bị ma đuổi. Quản giáo Thành mồ hôi nhể nhại, lấy trong xách cốt đeo bên hông tấm giấy vở học trò đưa cho Sơn Fulro rồi nói.

-Đây là những khẩu hiệu, hai anh phải khẩn trương làm cho xong trong vòng mười ngày, khi kẻ xong, tôi sẽ hướng dẫn chỗ cho các anh treo.

Nói xong quản giáo cùng hai tên cảnh vệ quay lưng bước đi, bỏ mặc hai thằng tù muốn làm gì thì làm.

Tôi và Sơn Fulro ôm cuộn vải to dài  màu vàng, nặng có thể đến hơn chục kí lô lăn dài trên mặt đất, khi thấy đã tạm đủ cho một khẩu hiệu, Sơn lấy một cây gỗ dài khoảng một sải tay đo bề rộng của sân khấu, vừa đo hắn vừa đếm thầm trong miệng rồi nói “Bảy cây rưỡi”. Sau đó hắn đo luôn bề rộng của hội trường, xong xuôi mọi chuyện Sơn lấy miếng giấy mà quản giáo Thành đưa lúc nãy, đặt lên tấm vải.

Tôi đọc được những hàng chữ.

-Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

-Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

-Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Tất cả có hơn một chục khẩu hiệu mà nội dung chỉ ca tụng lãnh tụ, nói tốt về đảng Cộng sản. Một khẩu hiệu duy nhất liên quan đến tù nhân là “Phấn đấu học tập tốt, lao động tốt”.

Tôi nói với Sơn Fulro.

-Tụi mình bắt đầu, tao quậy sơn cho đều để mày kẻ chữ, phải không?

Sơn với giọng nói rất từ tốn.

-Mày muốn thi đua giành danh hiệu lao động xuất sắc trong tuần, phải không? Nếu không thì lấy mấy lon sơn với hai cây cọ để cạnh tấm vải, tụi mình bày binh bố trận cho xôm tụ, sau đó tao với mày nằm nghỉ ngơi cho khỏe cái thân tù trước đã. Chuyện kẻ khẩu hiệu không có đi đâu mà vội, cứ thong thả, nhẫn nha mà làm.

Tôi nhìn mớ vải với hàng chục khẩu hiệu phải kẻ mà đâm ra lo lắng, chỉ sợ Sơn Fulro làm không kịp nên nhắc nhở hắn.

-Phải làm gấp đi mày, nếu không xong tao với mày coi bộ khó có đường sống với quản giáo.

Sơn trấn an tôi.

-Nói thực cho mày biết chỉ hai ngày là tao làm xong tuốt, không những xong mà còn đẹp nữa. Tuy nhiên tao muốn mỗi ngày hai đứa mình chỉ kẻ một khẩu hiệu mà thôi, làm xong sớm lại vác cuốc đi lao động chứ có được cái mẹ gì. Tin tao đi.

Sau khi ăn trưa xong, tôi và Sơn mới tà tà làm việc, đến chiều thì khẩu hiệu đầu tiên kẻ xong. Quản giáo Thành xuất hiện ở cuối hội trường, ông ta đi đến bên hai đứa tôi, đứng nhìn những chữ sơn đỏ được kẻ ngay hàng thẳng lối trên vải vàng, với đôi mắt đầy vẻ thán phục, ông ta nói.

-Bọn Ngụy các anh kể ra cũng lắm tài thật, anh học kẻ chữ ở đâu mà đẹp thế này.

Đứng lặng yên một lúc lâu, quản giáo Thành lại hỏi.

-Anh vẽ hình bác được không? Chúng tôi cần một tấm hình của bác lớn thật lớn để treo ở hội trường.

Sơn Fulro rụt rè, do dự một chút rồi hắn mới trả lời.

-Thưa anh tôi chỉ biết kẻ chữ, không biết vẽ chân dung, nếu có biết tôi cũng không dám bởi vì bọn lính Ngụy chúng tôi, không xứng đáng cầm cọ vẽ hình bác.

Quản giáo Thành nhìn Sơn Fulro ra chiều suy nghĩ điều gì đó, sau cùng ông ta nói.

-Anh nói thì tôi nghe, nhưng tôi đoán thực lòng anh không nghĩ như thế đâu. Các anh vẫn thường dè dặt khi nói chuyện với chúng tôi, nghĩ một đàng lại nói một nẻo. Tôi còn lạ gì.

Những ngày sau đó, quản giáo Thành bỏ mặc hai đứa tôi muốn làm gì thì làm, thỉnh thoảng ông ta mới ghé qua, liếc mắt nhìn cho có, hỏi vài câu bâng quơ rồi đi mất. Một vài lần ông ta đem cho tôi và Sơn Fulro vài củ khoai, lúc thì điếu thuốc Rubi quân tiếp vụ của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, gọi là bồi dưỡng cho hai ông thợ vẽ.

Tôi và Sơn Fulro lề mề lễ mễ, cà kê dê ngỗng kéo dài công việc được mười ngày. Cuối cùng Sơn cũng hoàn tất được khoảng chục khẩu hiệu chữ đỏ trên nền vải vàng. Hai đứa tôi đang tính chuyện thu dọn đồ nghề để đi về, từ xa quản giáo Thành và một tên cảnh vệ khiêng cái thang tre cũ mèm tới, ông ta nhìn những khẩu hiệu bày la liệt trên sân khấu với vẻ mặt vui vẻ.

-Hai anh treo những băng vải khẩu hiệu này lên sân khấu và chung quanh hội trường, tôi chỉ đến đâu các anh làm tới đó, hiểu không?

Tôi và Sơn Fulro vội vàng đáp.

-Thưa anh, hiểu.

Khi mà mọi chuyện đã xong xuôi, quản giáo Thành nói với chúng tôi.

-Sắp tới, các anh sẽ được đến đây để học tập.

Nghe quản giáo Thành nói, lúc bấy giờ tôi mới chợt thấy cả hội trường giống như một cái sân khấu dùng để diễn kịch, với những khẩu hiệu hai màu vàng đỏ giăng mắc khắp nơi.

Quản giáo Thành tươi cười hớn hở, rảo bước vòng quanh hội trường, ông ta vừa đi vừa ngước nhìn những tấm khẩu hiệu, miệng không ngớt lời khen ngợi Sơn Fulro và tôi. Ông ta nói.

-Tôi phải đề nghị biểu dương hai anh, không phải trước khối mà là trước toàn trại B trung úy mới được.

Hình như có sự tính toán từ trước, quản giáo Thành mở xắc cốt lấy cho tôi và Sơn Fulro mỗi đứa một tán đường và một nắm thuốc, với giọng đầy chân tình, ông ta nói.

-Thuốc lào ba số tám Cái Sắn, quý lắm đó.

Lúc này tôi mới nhìn kỹ quản giáo Thành, những lời nói của ông vừa rồi khiến tôi cảm thấy có một sự khác biệt giữa ông và những người quản giáo khác.

Cả hai đứa chưa kịp nói lời cảm ơn đã nghe quản giáo Thành nói tiếp.

-Kỳ thăm nuôi vừa qua, anh Sơn có gặp được gia đình không?

Sơn lắc đầu.

-Thưa anh, tôi còn độc thân chưa có vợ.

Quản giáo Thành nhíu mày.

-Vậy thì cha mẹ anh em, có ai đến thăm không?

Đứng lặng một hồi lâu, Sơn nói.

-Thưa anh cũng không, ba má tôi bị mất sạch vốn trong vụ mùa bắp sú tháng năm vừa qua, mấy ngàn gốc sú, đó là tất cả tài sản của ông bà đành để cho hư thúi ngoài vườn, rồi chặt bỏ. Ngày đi học tập, tôi biết ba má  tôi không có lấy một đồng trong nhà, cho nên kỳ thăm nuôi vừa qua ông bà không có đi. Tôi hiểu rõ nguyên nhân vì sao nên không lấy đó làm buồn.

Quản giáo Thành quay sang tôi.

-Còn anh Quân thế nào?

-Thưa anh, tôi được gặp mặt vợ tôi và đứa con lúc đó được khoảng bảy tháng trong bụng mẹ. Giờ này vợ tôi chắc đã sinh rồi, không biết là trai hay gái.

Quản giáo Thành đột nhiên nhỏ giọng lại chỉ vừa đủ cho hai đứa tôi nghe.

-Hai anh muốn viết thư về thăm gia đình không? Nếu muốn, cứ viết đi tôi sẽ coi kỹ nội dung rồi chuyển giùm cho. Điều quan trọng là nhớ không được cho bất cứ một ai biết chuyện này.

Ngạc nhiên quá sức, tôi và Sơn Fulro nhìn quản giáo Thành mà cứ tưởng rằng mình nghe lầm. Một ông cai tù xúi hai thằng tù lén viết thư cho gia đình, đây là chuyện vi phạm nội quy trại, chuyện mà đổ bể hai thằng tù sẽ bị cho vô nằm nghỉ mát trong thùng sắt như chơi. Thấy hai đứa tôi còn ngơ ngác như mán về thành, quản giáo Thành đến ngồi trong góc của hội trường, bên cạnh mấy thùng sơn rồi ngoắt hai đứa tôi lại.

-Tôi biết hai anh cũng như tất cả sĩ quan Ngụy trong trại này đều cẩn trọng giữ gìn, đứng trước mặt quản giáo, các anh hiền lành như một bầy cừu, gọi dạ bảo vâng, nhưng mà sau lưng thì mấy ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra, đúng như câu nói khá tục tĩu mà người Việt thường hay nói …..

Hai anh ngồi xuống đây, nghỉ giải lao một chút, hút điếu thuốc lào, uống ly nước, mọi chuyện khác mình sẽ tính sau. Đợi cho chúng tôi ngồi đâu vào đó, quản giáo Thành nói mà như phân trần.

-Ngày xưa bọn tôi mà gặp lính Ngụy là xả súng bắn ngay lập tức, bắn liên hồi như bị đồng nhập, ở đời mà, cá ăn kiến thì kiến ăn cá. Các anh cũng vậy thôi mới nhác thấy Việt cộng là M79, M16 rồi đại liên M60 nổ như điên, thậm chí còn gọi thêm đại bác 105 ly yểm trợ, tiếp theo sau là máy bay giội bom lửa, bắn rocket, làm gì để có dịp hai bên phân bua, giải bày tâm sự. Hôm nay nhân có chút thì giờ rảnh rỗi, tôi sẽ kể cho các anh nghe chuyện này, nghe xong nhớ quên luôn, coi như chưa nghe.

Được lời như cởi tấm lòng, hai thằng tù của phe thua trận, thoải mái ngồi xích lại gần đối diện với quản giáo Thành, lắng nghe một ông Việt cộng của phe thắng trận kể chuyện. Không một chút gì gọi là nôn nóng, hấp tấp, quản giáo Thành từ tốn nhét một bi thuốt lào Cái Sắn vào cái nõ của điếu cày, ông ta đánh mạnh cây diêm vào vỏ hột quẹt, một cây rồi hai cây, mãi cho đến cây thứ sáu ánh lửa mới bùng lên. Hút xong điếu thuốc lào, nhả khói bay mù trời, quản giáo Thành buông tiếng chửi thề.

-Mẹ … cái nhà máy diêm quốc doanh. Hai anh có thấy không? Có cây diêm quẹt mà làm cũng không xong, vậy mà nó đánh thắng đế quốc Mỹ, thế mới là lạ.

Tôi và Sơn Fulro mặt mày xanh lè cắt không còn hột máu, tôi chỉ muốn xin quản giáo cho tôi trở lại làm việc, ngồi đây nghe ông ta nói chuyện phản động, lành ít dữ nhiều coi bộ không khá. Hai thằng tù thì sợ nhưng quản giáo Thành vẫn tỉnh bơ, tà tà nói với Sơn Fulro.

-Anh hút một điếu cho sảng khoái tinh thần.

Được quản giáo mời thuốc thì còn gì hơn, không chần chờ, Sơn Fulro đỡ lấy cái điếu cày từ tay quản giáo rồi nói.

-Cảm ơn anh.

Quản giáo Thành ngồi dựa lưng vào cái bục gỗ, lim dim đôi mắt, rồi cất giọng đều đều.

-Hồi xưa lâu lắm rồi, cái thuở mà tôi còn ở trong rừng Trường Sơn, quanh năm suốt tháng ẩn núp trong hang động, trốn chui trốn nhủi trong rừng già, né tránh bom đạn của đế quốc Mỹ. Ngày thì đói meo vì ăn không đủ no, đêm thì gió rừng lạnh buốt mà không có áo ấm. Vậy mà bọn tôi vẫn phải vác AK, B40 đi đánh nhau với lính Ngụy, khổ cực như vậy vẫn chưa hết, còn phải chẻ dọc Trường Sơn chống Mỹ cứu nước theo lệnh của Bác và Đảng. Thôi thì muôn vàn khó khăn, nguy hiểm nói sao cho hết.

Quản giáo Thành ngưng kể chuyện ông ta hỏi Sơn Fulro và tôi.

-Mấy anh là dân Đà Lạt phải không?

Cả hai đứa cùng trả lời.

-Phải.

-Ngày xưa, các anh có biết con đường bộ đi từ Đà Lạt đến Buôn Ma Thuột không?

Sơn nhanh miệng trả lời.

-Tôi biết, nhưng mà con đường đó bỏ hoang lâu lắm rồi mà.

Quản giáo Thành gật đầu.

-Anh nói đúng đó.

Rồi với vẻ mặt đầy ngạc nhiên, quản giáo Thành gặng hỏi Sơn Fulro.

-Bộ anh có đi qua con đường đó rồi hay sao?

Sơn Fulro lúng túng ra mặt, hắn ấp a ấp úng.

-Thưa anh …không, tôi biết vì nghe người ta nói.

Quản giáo Thành tiếp tục câu chuyện.

-Từ Đà Lạt theo quốc lộ 20 xuống đến ngã ba Liên Khương rồi quẹo phải, đi thêm hơn chục cây số là tới Thanh Bình, La Ba. Tại đây đến quận Lạc Thiện của Buôn Ma Thuột chỉ còn khoảng một trăm cây số, đoạn đường này do người Pháp làm nhưng chưa hoàn tất, nó giống như là con đường mòn. Sau đó con đường này bị bỏ hoang vì bọn Ngụy các anh không có đủ lính để bảo vệ. Kể từ đó, khu vực này trở thành an toàn khu cho chúng tôi. Ở về phía tây nam của quận Lạc Thiện là một vùng đồi núi hoang vu, rộng mênh mông bát ngát, là địa bàn hoạt động của tiểu đoàn chúng tôi. Danh xưng là tiểu đoàn nhưng chỉ có khoảng trăm rưỡi người, do chuyện bổ xung quân số thường gặp nhiều khó khăn, không như một tiểu đoàn bộ binh Ngụy của các anh, quân số gấp đôi gấp ba tiểu đoàn của chúng tôi.Thường thì lính của tiểu đoàn phân tán mỏng trong những khu rừng quanh hồ Buôn Tría, nhiệm vụ là phá hoại bất cứ những gì mà các anh xây dựng được như đường xá, cầu cống, tung quân đi đánh phá, đặt mìn trên con đường đất duy nhất của quận Lạc Thiện, khiến hàng chục chiếc xe dân sự cũng như quân sự bị phá hủy, chiếc thì chổng bốn bánh lên trời, chiếc cắm đầu xuống đất, chiếc cháy đen thui. Chính cái xác của những chiếc xe này như là một lời cảnh cáo của tử thần, khiến cho không còn một chiếc xe dân sự nào dám di chuyển. Tuy nhiên, chuyện quan trọng nhất vẫn là pháo kích vào quận Lạc Thiện, pháo càng nhiều càng tốt bất kể ngày đêm, pháo để uy hiếp tinh thần của lính Ngụy. Cũng tại quận Lạc Thiện này, một trận đánh mà tôi vẫn còn nhớ mãi cho đến bây giờ, nhớ và không bao giờ quên.

Quản giáo Thành đưa tay lấy cái điếu cày, miệng hỏi.

-Các anh có biết tại sao không?

Sơn Fulro nói.

-Thưa anh, chắc lính Ngụy chúng tôi chết quá nhiều chứ gì.

Quản giáo Thành cười mà miệng ông ta méo xệch.

-Không phải như anh nghĩ đâu mà ngược lại, bọn tôi chết không biết bao nhiêu mà kể, cả tiểu đoàn nát như tương tàu. Điều quan trọng là có một chuyện lạ khác trong trận đánh đó, đã làm thay đổi cái nhìn của tôi về lính Ngụy các anh. Trước khi trận đánh xảy ra, chúng tôi có hơn hai tháng để chuẩn bị. Về phần tin tức, lính Ngụy trú đóng trong quận Lạc Thiện chỉ có một đại đội trừ, tức là khoảng năm, sáu chục tay súng, tin này do cán bộ nằm vùng cung cấp. Di chuyển trong vùng đã có giao liên, sĩ quan chúng tôi được học tập địa hình, địa thế trên sa bàn, binh sĩ được huấn luyện kỹ càng, công tác động viên tinh thần cũng đạt yêu cầu cao. Trong trận đánh đó sẽ có thêm hai tiểu đoàn cùng một đại đội đặc công phối hợp với chúng tôi để đánh vào quận Lạc Thiện vào đêm ấy. Còn chuyện tên của hai tiểu đoàn và phối hợp như thế nào thì tôi không biết. Mang tiếng là sĩ quan nhưng là sĩ quan cấp thấp, trên chỉ cho tôi biết có bấy nhiêu thôi.

Chuyện gì đến phải đến, 6 giờ chiều của một ngày cuối tháng 1 năm 1970, chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết. Sau khi cơm nước xong xuôi, súng đạn cũng như những trang bị cho trận chiến đã được chuẩn bị đầy đủ, từ buông Tría đi theo hướng Đông, dưới sự dẫn dắt của giao liên, tiểu đoàn chúng tôi xé rừng vượt suối đi mà như chạy tiến đánh quận Lạc Thiện. 12 giờ khuya, khi mà đại đội đi đầu của chúng tôi gần đến chợ Liên Sơn, còn cách mục tiêu là quận Lạc Thiện khoảng hơn ba trăm thước. Cả tiểu đoàn đang tập trung binh lính lại để tấn công thì một chuyện bất ngờ xảy ra. Tôi nói bất ngờ vì theo tin tức tình báo mới nhất của sáng ngày hôm đó, là khi đêm đến, tất cả lính Ngụy đều rút vào phòng thủ bên trong hàng rào kẽm gai của quận. Vậy mà không hiểu tại sao, đêm đó toán tiền sát của chúng tôi vướng mìn Claymore và sau đó cả một đại đội đi đầu bị đủ mọi loại đạn M16, M79 cho đến đại liên M60 của Ngụy thi nhau nhả đạn như mưa sa, bão táp. Cá nhân tôi thì tin rằng, lực lượng của Ngụy ước chừng phải hơn một đại đội đang phục kích tại chợ, mới có được hỏa lực mạnh mẽ như vậy, chỉ mới vài phút nổ súng, hơn nửa đại đội của chúng tôi đã bị loại khỏi vòng chiến. Những người còn sống sót sau đợt bắn hủy diệt, đã cố gắng cầm cự trong tuyệt vọng, bắn và không biết tại sao. Chừng hơn mười phút sau, tiếng súng AK của đại đội đi đầu hoàn toàn im lặng trong khi súng M16, M60 vẫn tiếp tục nổ giòn, tệ hơn nữa là đạn của đại bác 105 ly của Ngụy bắt đầu dồn dập chụp xuống liên tu bất tận, vào đại đội đi sau.

Quản giáo Thành ngưng nói, ông ta nhìn hai đứa tôi rồi hỏi.

-Gặp trường hợp như trên, là cấp chỉ huy thì hai anh phải làm sao?

Sơn Fulro nói.

-Đem tất cả lính của tiểu đoàn lên tiếp viện.

Riêng tôi, tôi nói với tất cả sự thật xuất phát tự đáy lòng.

-Chạy thoát thân.

Quản giáo Thành nhìn tôi cười. -Anh Quân nói đúng, không cần đợi lệnh chúng tôi quay đầu nhắm hướng cũ chạy thục mạng, chạy bất kể gai cào, cây xóc, bao nhiêu là vật dụng cứu thương như những cặp thanh tre dài từ một, hai, ba gang tay mà chúng tôi mang theo, dây thừng, móc sắt, cả súng đạn AK và B40, mạnh ai nấy vứt, vứt cho nhẹ để dễ bề thoát thân. Chúng tôi bỏ chạy trong tiếng đạn pháo 105 ly nổ rền cùng với hỏa châu sáng rực cả một góc trời, trái này chưa kịp tắt thì đã có trái khác tiếp nối. Và cuối cùng cái mà chúng tôi sợ nhất đã xuất hiện, ba hay bốn chiếc trực thăng, có thể hơn thế nữa tôi không đếm được, chúng thi nhau trút rocket xuống con đường mà chúng tôi đang tháo chạy. Mấy thằng giặc lái Ngụy các anh khôn tày trời, tụi nó bắn rocket gọn thơm như chơi thảy lỗ, chặn đầu, chặn hông, chặn đuôi khiến chúng tôi không biết đâu mà trốn. Phần tôi đang cắm đầu cắm cổ chạy, bất ngờ cả thân hình của mình bị nhấc bỗng lên trời rồi ném mạnh xuống đất, tai của tôi ù đi, mắt của tôi tối sầm lại, bỗng dưng tất cả đột nhiên chìm vào im lặng. Tôi không còn biết gì nữa.  Nằm bất tỉnh không biết bao lâu, nửa giờ, một giờ, hay hơn tôi hoàn toàn không biết cho đến khi tai tôi nghe được nhiều tiếng chân người giậm trên lá khô, rồi một giọng nói vang lên “Ông thầy, chắc bọn nó chạy mất đất rồi, chẳng còn đứa nào nữa đâu.”

Tôi mở mắt nhìn, bầu trời không còn tối đen mà đã có pha chút sang sáng mờ mờ, ở tận cuối chân trời hình như sao mai đã xuất hiện. Bất chợt tôi lại nghe một giọng nói khác vang lên “Các anh lục soát lại một lần nữa cho kỹ rồi chuẩn bị trở về.” Cùng lúc ấy tôi nghe tiếng la to “Chuẩn úy có thêm xác một thằng Việt cộng nằm đây nè.” Một tên lính Ngụy mặt mày bặm trợn nhìn sát vào mắt tôi, hắn nói với giọng đầy ngạc nhiên “Ý trời, nó còn sống, để tôi làm phước cho nó về chầu diêm vương luôn nghe chuẩn úy?” Tôi nhắm mắt lại, biết rằng cuộc đời của mình đến đây là hết, mơ mơ màng màng tôi thấy ba má của tôi, thấy hai người thân yêu mà mấy năm rồi tôi chưa được gặp. Một cú đá nhẹ vào bên hông khiến tôi mở mắt nhìn, bắt gặp gương mặt của thằng lính Ngụy trẻ măng, hắn có đôi mắt hiền như một con nai với cái lon chuẩn úy đen thui nơi cổ áo, hắn nhìn tôi nhưng lại nói “Các anh rẽ phải độ mươi thước, quay đầu rút lui theo đường cũ. Thằng Việt cộng này để tôi xử, cho nó theo Bác và Đảng của nó luôn.” Dứt lời hắn đưa ngón tay trỏ lên miệng như ra dấu, tôi không hiểu hắn muốn nói gì nhưng tôi biết, lần này cái chết mới thật sự đến, tôi nhắm mắt chờ, bỗng dưng có vật gì đó nằng nặng rớt trên người tôi, không phải một mà tới hai, đồng thời cả chục tiếng đạn M16 nổ vang bên tai của tôi. Một cảm giác dễ chịu lan khắp người, thì ra cái chết cũng êm dịu, nhẹ nhàng như mình đi vào giấc mơ, không có một chút gì gọi là nhức nhối hay đau đớn. Quanh tôi rừng xanh đã hoàn toàn chìm vào im lặng, tôi bay dật dờ trên mây, bay hoài bay mãi cho đến mấy phút sau, lý trí mới nói cho tôi biết là mày hãy còn sống. Việc làm đầu tiên là tôi đưa tay sờ nắn khắp người, mọi thứ đều có vẻ bình thường. Tôi nhéo mạnh vào tay, cái nhéo khiến tôi đau muốn chết, tôi đứng lên chỉ thấy hơi tê tê nơi chân phải, rồi nghe rõ mình nói “Không chạy đi còn đợi gì nữa.” Tôi co giò phóng nhanh về phía trước, đầu thì biểu mình chạy nhưng bắp chân phải của tôi tê dại, không chịu nhúc nhích, cả thân hình của tôi đổ dài  xuống đất hệt như một gã võ sĩ bị cú đấm nốc ao.

Quản giáo Thành ngưng nói, ông ta hỏi hai đứa tôi.

-Hai anh có biết tại sao tôi bị té không?

Son Fulro trả lời.

-Hình như chân của anh bị thương.

-Đúng rồi, chân phải của tôi bị mảnh đạn rocket nằm kẹt ở bắp chân mà tôi không biết, nếu để yên thì không sao, nhưng khi cử động mảnh đạn cắt vào dây thần kinh khiến mình bị đau buốt. Tôi té nhào là phải. Suốt hai ngày sau đó, tôi bò lết trong rừng, sống nhờ bịch gạo sấy với bi đông nước mà thằng chuẩn úy trẻ quăng lại trên người của tôi, cuối cùng tôi được mấy tay đặc công cứu, đem về đơn vị. Với thương tật nơi chân, tôi được điều qua làm việc ở hậu cần cho đến ngày giải phóng. Bấy lâu nay tôi vẫn thường lưu tâm tìm kiếm thằng chuẩn úy Ngụy đã tha chết cho tôi, không những tha mà còn cung cấp thực phẩm và nước uống. Tìm hoài nhưng chưa gặp, tôi nghĩ rằng nếu có ông chuẩn úy nào đóng ở Lạc Thiện trong thời gian đó, hy vọng sẽ tìm ra manh mối. Ngày xưa, một tên sĩ quan Ngụy đã tha chết cho tôi, hôm nay tôi muốn làm một việc gì nho nhỏ như gởi thư giùm cho hai anh để đền ơn cứu mạng, xét cho cùng tôi vẫn còn lời quá nhiều. Đúng không?

Tôi nhìn Sơn Fulro mà lòng nghi ngờ, thằng chuẩn úy trẻ mà quản giáo Thành kể, có thể là hắn lắm chứ, vì cuối năm 1969 hắn đang ở Lạc Thiện. Như đoán được ý nghĩ của tôi, Sơn Fulro nhìn tôi rồi lắc đầu như ngầm nói, đừng bao giờ nhắc chuyện xa xưa cũ.

Quản giáo Thành kết thúc câu chuyện bằng một điếu thuốc lào rồi nói.

-Công việc kẻ khẩu hiệu đã hoàn tất tốt đẹp, hai anh có thể về nghĩ ngơi chuẩn bị tinh thần, các anh sắp bước vào học tập rồi đó.

Sơn Fulro hơi ngập ngừng rồi hỏi quản giáo Thành.

-Thưa anh, có điều này tôi hơi thắc mắc, ngôn ngữ anh dùng không giống các cán bộ quản giáo khác.

Ngửa mặt nhìn trời rồi cất tiếng cười vang, quản giáo Thành nói.

-Tôi là dân Miền Nam, mười năm trước sau khi đậu xong cái bằng Trung học đệ nhất cấp, tôi nhảy núi, đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Các anh là Ngụy quân, đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, hồn ai người nấy giữ.

Trên đường về, Sơn Fulro nói với tôi.

-Mày có biết, tại sao lính của mình tiêu diệt gần như là sạch một đại đội của Việt công không? Quản giáo Thành thắc mắc cũng phải. Tất cả chỉ là một chuyện tình cờ, ngẫu nhiên, nó xảy ra đúng giờ, đúng ngày, đúng chỗ. Vào khoảng thời gian đó, tao đang đi biệt phái cho đại đội Fulro nên không biết gì hết. Khi mãn hạn trở về, tao mới được nghe kể lại tường tận chi tiết.

Sơn Fulro đi chậm lại, hắn nói.

-Chuyện như thế này, chiều ngày hôm đó, Đại đội 1 thuộc tiểu đoàn của tao sau bảy ngày hành quân, kéo về quận nghĩ ngơi, tạm đóng quân ngay chợ Liên Sơn. Tao biết quản giáo Thành không biết gì về ngôi chợ này đâu. Gọi là chợ nhưng đây là một cái chợ có thể nói là nhỏ nhất thế giới, nó nằm trên một khoảng đất trống cách quận Lạc Thiện khoảng ba trăm mét. Nền nhà của chợ hình vuông được tráng xi măng mỗi cạnh khoảng sáu mét. Trên đó người ta dựng bốn cây cột, đường kính khoảng ba mươi phân, chống đỡ cho mái chợ lợp tôn. Chợ chỉ có vậy, họp mỗi buổi sáng từ tám giờ đến mười giờ. Trong chợ có đúng bốn người bán hàng, mỗi người trải một tấm poncho của lính, trên đó một bên là rau cải mà dân địa phương trồng được như bầu bí, bên còn lại là thực phẩm khô như muối, đường, cá khô và một ít đồ gia vị. Chợ cũng có vài món đồ đắt tiền như chục gói thuốc lá, dăm ba hộp sữa đặc có đường hiệu ông Thọ. Ngôi chợ này tao đã nhiều lần ghé qua để mua thuốc lá, trong chợ lúc nào cũng vắng khách, chỉ lèo tèo dăm ba người, khách đi chợ thường là những người lính ở trong quận, thêm vài người Thượng vai mang gùi, với con chó nhỏ lẽo đẽo theo sau đi vào chợ, họ đổi rau rừng lấy muối hột, cá khô. Chợ chỉ có một vài ngày đông khách là khi lính mình lãnh lương, vào những ngày đó, chợ mới nhộn nhịp ồn ào được đôi chút.

Tôi thắc mắc hỏi Sơn Fulro.

-Mày nói không có đường bộ từ Ban Mê Thuột vào Lạc Thiện, vậy thì hàng hóa bán ở chợ do đâu mà có, nguồn cung cấp hàng từ đâu đến.

Sơn Fulro nhíu mày suy nghĩ.

-Mày hỏi cũng phải, thường thì khoảng hai cho tới ba tháng sẽ có một chuyến tiếp tế bằng đường bộ từ Ban Mê Thuột vào. Ngày tiếp tế sẽ có một cuộc hành quân khá lớn, hai đại đội Đia phương quân thuộc chi khu Lạc Thiện có nhiệm vụ dò mìn, mở đường rồi giữ an ninh từ Liên Sơn qua khỏi đèo Lak ra đến Giang Sơn. Theo chiều ngược lại, Tiểu khu Darlac cũng có hai đại đội Địa phương quân dò mìn và sau đó giữ an ninh từ phi trường Phụng Dực vào đến Giang Sơn. Thường thì khoảng mười giờ sáng, cuộc hành quân mở đường mới hoàn tất, lúc bấy giờ thì đoàn quân xa tiếp tế gồm có hàng trăm chiếc xe GMC của Bộ chỉ huy 5 tiếp vận vùng II chiến thuật, từ Tiểu khu Ban Mê Thuột mới bắt đầu lăn bánh đi vào Lạc Thiện, chở theo đầy đủ mọi nhu cầu thiết yếu như gạo, thực phẩm tươi, lương khô, súng ống đạn dược cho tất cả binh sĩ và dân chúng ở quận Lạc Thiện.

Đang nói Sơn Fulro quay qua cằn nhằn với tôi.

-Mày hỏi hơi nhiều làm tao bị phân tâm, quên đầu, quên đuôi.

Nói xong, Sơn Fulro tự gõ vào đầu của nó.

-Tao nói tới đâu rồi? À, chiều hôm đó, đại đội 1 thuộc tiểu đoàn của tao đóng quân gần chợ, trải dài theo những căn nhà của dân, nằm dọc theo con đường đất với hai điểm kích cách xa đại đội cả cây số. Ngay đêm Việt cộng đánh vào quận, họ đi theo con đường này, ngang qua điểm kích mà không biết. Nhờ sự báo động của toán kích này, mà cả đại đội súng đạn sẵn sàng chờ địch. Và như lời quản giáo Thành kể, đại đội đi đầu của Việt cộng kể như bị xóa sổ.

Tôi hỏi Sơn Fulro.

-Mày có biết ông chuẩn úy nào đã chơi đẹp, tha mạng cho quản giáo Thành không?

-Biết chớ, đó là Chuẩn úy Châu. Chính nó kể lại đầu đuôi mọi chuyện cho tao nghe, tuy nhiên Châu giấu biệt chuyện hắn tha chết cho quản giáo Thành. Chuyện này hôm nay tao mới biết, có thể hắn sợ bị hạch hỏi lôi thôi, tại sao không đem tù binh về mà tự động thả. Sau trận đánh kinh hồn với hơn bốn chục Việt cộng bỏ xác tại trận, Chuẩn úy Châu được thăng cấp thiếu úy tại mặt trận. Có điều một năm sau đó, nó chết vì bị Việt cộng bắn sẻ trong một lần dẫn đại đội hành quân mở đường ra Ban Mê Thuột. Lúc nãy xém chút nữa là tao đã nói với quản giáo Thành, thằng chuẩn úy tha chết cho ông tên là Châu và hắn đã chết rồi, nhưng tao kịp thời ngưng lại bởi vì nếu tao nói ra, thì tao phải khai luôn thời gian tao đi biệt phái cho Đại đội Fulro. Điều mà tao giấu kín không khai trong tờ khai lý lịch.

Đến đây, như chợt nhớ ra điều gì mới, Sơn Fulro cười khoái chí.

-Mày nhớ không, quản giáo Thành nói “Mấy thằng giặc lái Ngụy khôn tày trời” vì không biết nên ông ta mới nói như vậy. Thật ra theo lời kể của Chuẩn úy Châu, đêm đó chỉ có pháo binh yểm trợ là của phe mình, còn trực thăng bắn rocket cũng như C47 thả hỏa châu suốt đêm, là do ba thằng cố vấn Mỹ đi hành quân với đại đội gọi đến, chính họ điều động, hướng dẫn phi cơ đánh phá. Có điều này hơi khác thường mà tao muốn lưu ý với mày, thường thì Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hoặc Bộ Binh khi hành quân cấp tiểu đoàn, mới có cố vấn Mỹ tham dự. Chỉ riêng chi khu Lạc Thiện của tiểu khu Darlac, rất nhiều lần đại đội Địa Phương Quân đi hành quân là có khoảng ba cố vấn Mỹ đi theo. Tao không hiểu, tại sao lại có chuyện ưu tiên khác thường như vậy.

Ngay buổi tối hôm đó, tôi nằm trằn trọc đắn đo suy nghĩ suốt cả đêm, cuối cùng tôi viết cho vợ một bức thư ngắn gọn.

“Con mình là trai hay gái, anh ở trong trại học tập tốt, lao động tốt, một ngày không xa, anh sẽ được Cách mạng cho về đoàn tụ với gia đình. Anh là Nguyễn Trọng Quân.”

Tôi liều mạng đưa thư cho quản giáo Thành, rồi hồi hộp chờ đợi. Sở dĩ tôi nói liều mạng vì vẫn còn chút nghi ngờ. Việt cộng nói mười ngày là mười tháng, cũng có thể là mười năm. Tin Việt cộng khác nào binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tin vào Hiệp định Paris do chính Việt cộng ký kết, đến nỗi nước mất nhà tan phải mang thân tù tội.

Ba ngày sau, khi tôi còn đang ngồi họp tổ, quản giáo Thành đến lôi tôi ra một góc vắng rồi nói.

-Tôi đã xé bỏ thư của anh rồi, anh có biết tại sao không? Thư anh viết không có đạt yêu cầu.

Hồn vía lên mây, tôi không hiểu quản giáo Thành muốn nói gì. Tôi nhớ lại, trong thư tôi viết rất đơn giản không có gì đụng chạm đến chính trị, không nói xấu Cách mạng, tại sao lại không đạt yêu cầu.

Thấy tôi đứng đờ người ra như tượng đá, quản giáo Thành nói.

-Mới bị giam có mấy tháng mà các anh sợ bóng sợ gió, sợ chúng tôi như sợ cọp, sợ đến nỗi viết thư cho vợ mà chỉ viết có mấy chữ. Vợ mình sanh cho mình đứa con, anh cũng nên thăm hỏi sức khỏe của cô ta và nói một vài lời động viên tinh thần.

Tôi mừng như vừa thoát khỏi một đại nạn nên vội vàng nói, giọng nói lắp ba lắp bắp.

-Thưa anh…, tôi…tôi sẽ viết thêm.

Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn theo quản giáo Thành đang đi chầm chậm về phía cổng trại, bước chân của ông ta hơi khập khà khập khểnh, do bị thương tật trong một trận đánh ở Lạc Thiện với lính Việt Nam Cộng Hòa.

Bâng khuâng tôi tự hỏi mình, những việc làm đầy tình người của quản giáo Thành, có thay đổi được lòng căm thù Cộng sản trong tôi hay không? Hỏi rồi tự trả lời, dưới mắt của tôi, người lính Việt cộng với cái nón cối trên đầu, bộ đồ ka ki Nam Định, cây súng AK trên vai, đôi dép râu lẹp xẹp dưới chân, ngồi trên chiếc xe tăng T54, hình ảnh đó đại diện cho một chế độ độc tài, man rợ, bội ước. Nó đại diện cho một đội quân xâm lược, đi đánh phá gây ra không biết bao nhiêu là tang tóc đau thương cho người dân Miền Nam, kéo cả nước Việt Nam đi thụt lùi hàng thế kỷ. Ngày nào mà Việt Nam còn bị đặt dưới ách cai trị của đảng Cộng sản, ngày đó người dân Việt Nam còn phải làm nô lệ phục vụ cho những tên Cộng sản đang cầm quyền ở Hà Nội.

Hành động đầy lòng nhân từ của quản giáo Thành, tôi sẽ luôn luôn ghi nhớ trong lòng, nhưng chắc chắn không thể nào đánh đổ được thành kiến xấu xa về Việt cộng đã có từ mấy chục năm trong đầu của tôi.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 12 Mar 2025

Tập 3

Phần 4
Cắt cổ cứu người

Ba ngày Tết của tù nhân Tổng trại 8 tù binh lặng lẽ trôi qua trong u sầu, buồn bã, niềm vui khi có được cái bánh chưng, nửa chai bia, nửa chén cơm, không đủ khỏa lấp nỗi buồn thương nhớ gia đình. Suốt ba ngày Tết, đa số tù nhân thường tìm một nơi vắng vẻ, ngồi ăn miếng bánh, uống ngụm bia, yên lặng sống cho riêng mình rồi nhớ về những cái Tết đầm ấm, vui tươi, bên người thân trong quá khứ. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi ấy, mới đó đã chìm sâu vào trong trí nhớ của tù nhân.

Tối hôm qua, khi tiếng kẻng báo giờ ngủ vang lên được chừng mươi phút, một tù nhân trong khối Đà Lạt của tôi tên là Hoàng, nhà anh ta ở Đa Thiện gần Viện đại học Đà Lạt, bị bệnh về đường hô hấp thở không được, mặt mày đã bắt đầu tím xanh lại vì thiếu oxy. May mắn cho anh Hoàng, khu B trung úy của chúng tôi có Trung úy Bác sĩ Hồ, chuyên khoa tai mũi họng. Ông bác sĩ này sau khi khám bệnh, đã phát hiện ra anh Hoàng bị bệnh bạch hầu với biến chứng nặng nên gần như bị nghẹt thở. Muốn chữa bệnh chỉ có một cách duy nhất là phải giải phẫu ở cổ, đặt một ống nhựa vào khí quản để bệnh nhân tạm thời thở được, và sau đó phải đưa đi bệnh viện có đầy đủ phương tiện để tiếp tục cứu chữa. Chuyện giải phẫu phải làm gấp càng sớm càng tốt, nếu không chỉ vài giờ sau bệnh nhân sẽ bị nghẹt thở mà chết. Mặc dầu đã hơn chín giờ tối rồi nhưng khối trưởng và khối phó của khối 5 Đà Lạt, có nhiệm vụ phải báo cáo lên quản giáo về bệnh tình của tù nhân Hoàng để xin ý kiến. Từ khối 5 Đà Lạt đến chỗ quản giáo ở bao xa, tôi không biết được, thế nhưng khoảng nửa giờ sau, khi tôi mới thiu thiu ngủ, bỗng giật mình nghe giọng nói oang oang như là ra lệnh bên ngoài phòng của tôi. Với giọng nói đầy uy quyền như vậy, nếu không phải quản giáo thì còn ai vào đây nữa.

-Không có bệnh hoạn gì đâu, lâu quá mới ăn bánh chưng nên bị nghẹt ở cổ thôi. Anh khối trưởng xin ai có dầu Nhị thiên đường thoa vào là hết ngay.

Một vài tiếng động nhỏ nổi lên trong phòng khiến tôi đoán là có người đã thức dậy. Tôi không biết trại C thiếu úy và trại A đại úy, tù nhân ngủ như thế nào, nhưng trại B trung úy của tôi tất cả tù nhân được ngủ xếp cá hộp trên những tấm vỉ sắt PSP.

Trung úy Lợi giật nhẹ tay áo của tôi rồi nói nhỏ.

-Mẹ nó, ỷ là quản giáo rồi muốn nói gì thì nói sao, mấy ngàn ông quan bị giam ở đây đều ăn bánh chưng, tại sao chỉ có một ông bị nghẹn ở cổ.

Tôi cười thầm trong bóng đêm vì cái lối lý luận của Trung úy Lợi, tôi nói với hắn.

-Mày có để ý không, ông quản giáo này cũng biết dầu Nhị thiên đường, như vậy ông ta là dân Miền Nam tập kết, nếu không ông ta cũng ở trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chứ không phải chính quy Bắc Việt.

Trung úy Lợi thì thầm.

-Mày nói đúng. Cũng ngay lúc ấy, giọng nói của ông quản giáo lại vang lên.

-Anh đòi mổ ngay cần cổ rồi thọc cái ống nhựa vô để cho người bệnh thở, phải không?

Một giọng nói chắc nịch vang lên, mà tôi đoán là của Bác sĩ Hồ.

-Thưa anh đúng.

Giọng của quản giáo đầy bực tức.

-Anh định lấy con dao chặt bí ở nhà bếp để cắt cái cần cổ của người ta, rồi gọi đó là chữa bệnh. Có phải anh muốn làm như vậy không? Nếu không mổ thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Giọng nói của Bác sĩ Hồ trở nên rụt rè.

-Thưa anh, ảnh sẽ chết trong vòng hai tới ba giờ nữa.

-Làm sao anh biết được?

-Thưa quản giáo, tôi là bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.

Tới đây cả hai người đều im lặng một lúc thật lâu, sau cùng tôi nghe được giọng của quản giáo dịu xuống.

-Được rồi, các anh có thể chuẩn bị mọi việc để mổ, chuyện hơi khó đó, tôi cần phải đi xin lệnh ở trên.

Hơn nửa giờ trôi qua, tôi nằm thao thức, trằn trọc hoài không ngủ được, cuối cùng đành phải ngồi dậy nhìn qua khung cửa sổ phòng của mình. Đối diện với tổ 37 của tôi là nhà của khối trưởng, cách hai căn có một căn phòng trống, bệnh nhân Hoàng đang nằm trong căn phòng này. Trước phòng có dăm bảy người liên quan đến việc giải phẫu, đang tụ tập bàn tán, những người không có nhiệm vụ phải trở về phòng ngủ. Không một ai được đứng trước cửa phòng bệnh, vì bác sĩ cũng như bệnh nhân cần một bầu không khí thông thoáng để thở.

Tôi lò dò bò ra khỏi tấm vỉ sắt PSP, xỏ chân vô đôi guốc rồi đi đến bên cạnh anh khối trưởng xin tình nguyện làm một người sai vặt. Tôi nói với khối trưởng là mình muốn đóng góp chút công sức, nhưng thật ra tôi tình nguyện chỉ vì tò mò, muốn coi ông bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng, dùng loại vũ khí nào để đánh nhau với thần chết, giành giật lại cái mạng sống đang nằm dưới lưỡi hái của tử thần.

Thời gian chờ đợi dường như kéo dài cả thế kỷ, cho đến khi tôi thấy từ xa một người tay cầm đèn pin với ánh sáng chói lòa trong đêm, quét qua quét lại trên mặt đất. Nhìn ánh sáng di động theo bước chân đi, tôi biết là quản giáo đã trở lại, bởi vì ở trong tù chỉ có quản giáo mới có quyền dùng đèn pin. Anh khối trưởng tay nắm mấy con dao hình dạng hoàn toàn khác nhau, vì do tù nhân tự làm lấy, tay phải cầm cái ống nhựa cong cong, cáu bẩn đen sì. Tôi biết cái ống nhựa ở đâu mà có rồi, đó là cái cần điếu bát hút thuốc lào của mấy ông lực sĩ tổ 38.

Tôi điểm qua thật lẹ, thành phần tham dự ca giải phẫu gồm có, Trung úy Bác sĩ Hồ là người trực tiếp cầm dao mổ, phụ tá cho ông có một bác sĩ gây mê, ông bác sĩ này đứng một bên làm cảnh, bởi vì con dao mổ còn không có, ở đó mà đòi thuốc mê với lại thuốc tê. Cạnh đó một ông Nhảy Dù và một ông thuộc Sư đoàn 23 Bộ Binh, hai ông này trước 30 tháng 4 đều là Trung úy Đại đội trưởng, họ hét ra khói, nói ra lửa, bây giờ chắc chỉ có nhiệm vụ đứng đó kể kềm kẹp, nếu bệnh nhân vùng vẫy. Quản giáo là quan sát viên cũng là người giám sát cuộc giải phẫu, phụ tá cho ông ta có anh khối trưởng. Tôi đứng đó chờ được sai vặt. Về mặt nhân sự coi như đầy đủ. Sang phần dụng cụ giải phẫu chỉ gồm có mấy con dao, những con dao này tù nhân khi đi lao động nhặt được dây đeo súng của lính Mỹ, đem về trại tách cái nẹp sắt ra, đập thẳng rồi mài thành con dao. Hình dáng hay kích thước của con dao tùy theo sở thích của mỗi tù nhân khi chế biến. Những con dao làm theo kiểu thủ công như vậy chỉ có thể dùng để gọt vỏ trái cây, nếu đem dùng làm dụng cụ giải phẫu coi bộ hơi khó khăn cho ông bác sĩ. Tất cả mấy con dao đều được khử trùng bằng cách luộc trong nồi nước sôi, đặt ngay trong phòng giải phẫu, bên cạnh là một ngọn đèn dầu leo lét cháy. Một điều may mắn cho bệnh nhân là Trung úy Bác sĩ cũng chỉ khoảng ba mươi tuổi cho nên mắt của ông ta cũng còn sáng tỏ. Sau khi đưa mắt nhìn quanh một vòng căn phòng giải phẫu, bác sĩ bèn xin khối trưởng tăng cường thêm một cây đèn cầy nếu được. Yêu cầu của bác sĩ được khối trưởng thỏa mãn ngay lập tức.

Khi cuộc giải phẫu sắp bắt đầu, khối trưởng quay nhìn tôi rồi nói nhỏ.

-Chắc không cần thêm người đâu, anh Quân có thể về phòng ngủ, mai còn đi lao động.

Cũng khá khuya rồi, dám hơn mười một giờ như không, khi tôi về đến phòng thì mọi người đều đang say sưa trong giấc ngủ. Tôi nhẹ nhàng bò vô chỗ của mình, bò thật nhẹ cố gắng không gây lên tiếng động. Trong cái sâu thẳm của đêm dài vô tận, tôi nằm đó đầu óc cứ lởn vởn về mấy con dao mổ mà ông bác sĩ sẽ dùng để giải phẫu. Hình ảnh của một con gà bị cắt cổ với con dao cùn, người cắt cổ gà cầm con dao cưa qua, cứa lại, đẩy lên kéo xuống, còn con gà thì cố gắng vùng vẫy trong đau đớn tuyệt vọng. Vạn vật học năm đệ nhất cho tôi biết, trong cổ của con người có một mạch máu lớn dẫn lên đầu, rồi thực quản, khí quản, thanh quản, ba bốn thứ hầm bà làng cùng nằm ngay đó. Dưới ánh đèn dầu le lói sáng, bệnh nhân nằm đó không được gây mê vì không có thuốc. Con dao cùn của ông bác sĩ chỉ cần lệch đi một phân, mạng sống của bệnh nhân không biết sẽ về đâu. Tôi ôm cái mối lo của một người vô tích sự, chìm vào giấc ngủ mà lòng đầy băn khoăn, thắc mắc, rồi thương cho ông bác sĩ lẫn bệnh nhân, vì biết họ đang phải chiến đấu với tử thần.

Tiếng kẻng báo thức vang lên khi trời mới mờ sáng, chuyện tôi nghe được đầu tiên trong ngày là cuộc giải phẫu thành công mỹ mãn, anh bạn của chúng tôi đã thở được nhờ cái ống nhựa hút thuốc lào đặt xuyên qua vết mổ nơi cổ. Mọi chuyện tốt đẹp, chỉ còn chờ đưa bệnh nhân ra bệnh viện Phan Thiết để tiếp tục chữa trị. Tôi ăn sáng trong vui vẻ miệng nhai miếng bột mì luộc, uống ly nước lạnh, mà cứ tưởng như là đang ăn ổ bánh mì thịt, thưởng thức ly cà phê sữa nóng nơi quán cà phê bình dân của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu Đà Lạt. Tôi vui vì bạn mình đã thoát được lưỡi hái tử thần trong đường tơ kẽ tóc, vượt qua cuộc giải phẫu có một không hai đầy bất trắc, trong điều kiện nghiệt ngã với những dụng cụ của thời thượng cổ, khi mà con người còn ăn lông ở lổ, sống chui rúc trong hang động.

Trước sự thành công vẻ vang của cuộc giải phẫu, đám tù chúng tôi thừa thắng xông lên, không chống Mỹ cứu nước mà lại hăng hái vác cuốc sẻng đi lao động. Buổi chiều, khi đám tù nhân chúng tôi đi làm lao động về, mặt trời lúc ấy tròn như một cái mâm, đỏ ối, cũng đã mấp mé trên đầu bức tường vỉ sắt PSP đen đủi xám xì. Chưa về đến khối Đà Lạt, tôi đã nghe tin tức về bệnh nhân. Anh Hoàng không được bệnh viện Phan Thiết cho nhập viện để được chữa trị, lý do rất đơn giản vì anh là sĩ quan Ngụy, là người có tội với nhân dân, với tổ quốc và hiện đang ở tù. Tôi nhìn những vệt nắng cuối cùng của một ngày cũng vừa chìm khuất sau bức tường sắt PSP âm u lạnh lẽo, màu đen của đêm tối phủ xuống trại tù Sông Mao, kéo theo cái hy vọng mỏng manh được cứu sống của anh Hoàng. Chuyện bệnh viện Phan Thiết từ chối không cứu chữa cho anh Hoàng đã xác nhận tù nhân Ngụy không phải là người, cho nên Cách mạng không cần bận tâm. Anh Hoàng phải ở lại trong trại tù Sông Mao, phải tự lo lấy thân mình, sống hay chết không phải là trách nhiệm của ban chỉ huy trại. Trong tình huống nghiệt ngã như vậy, còn nước còn tát, để cứu chữa cho bạn mình, khối trưởng kêu gọi tù nhân trong trại B trung úy, ai có thuốc trụ sinh xin gom lại giúp cho bệnh nhân, vì nếu không có thuốc trụ sinh, vết mổ sẽ bị nhiễm trùng dẫn đến tử vong. Bên cạnh việc xin thuốc, bệnh nhân cũng cần phải ăn uống để sống, sữa với đường là hai loại thực phẩm duy nhất có thể giúp cho bệnh nhân duy trì sự sống, trong giai đoạn hậu giải phẫu. Lời kêu gọi của khối trưởng giúp đỡ bệnh nhân là chuyện hoàn toàn đúng, thế nhưng rất nhiều tù nhân đói đến rã họng, có người từ ngày vào tù cho đến ngày hôm ấy chưa biết được tán đường ngọt hay mặn, thì làm sao họ giúp được. Câu nói “hỏi nơi khố rách” không còn gì đúng hơn trong trường hợp này. Một số ít tù nhân có tiền, có thực phẩm nhưng nếu đem giúp bạn thì lại sợ bóng sợ gió, tôi nằm trong số những người đó. Khi đem mấy tán đường và năm đồng đến gặp khối trưởng, mặc dù đã phòng bị trước nhưng tôi vẫn ngạc nhiên khi anh khối trưởng trợn mắt hỏi tôi.

-Ở đâu mà Quân có nhiều tiền dữ vậy? Một đồng đã là tốt lắm rồi.

Không dám nhìn thẳng mặt anh khối trưởng, tôi lật đật nói trớ đi.

-Số tiền này của tổ 37 quyên góp được, họ nhờ tôi đem đến giúp anh Hoàng.

Một tuần lễ trôi qua, anh bạn của chúng tôi vẫn anh dũng chiến đấu chống lại tử thần, với sự giúp đỡ đầy nhiệt tình của Bác sĩ Hồ. Cho dù biết là cuộc chiến không cân sức, thế nhưng hai người vẫn cầm cự ngày đêm không biết mệt mỏi. Vì bệnh nhân không ăn được, nên bác sĩ phải kiêm luôn y tá, bởi vì chỉ có một mình ông biết cách cho bệnh nhân uống sữa mà không bị chảy lan qua vết mổ nơi cổ.

Mỗi ngày trôi qua, tình trạng sức khỏe của anh Hoàng lại giảm đi một ít, có vài lần tôi trông thấy anh ngồi trước cửa phòng với tấm thân gầy gộc chỉ còn xương bọc da, đôi mắt thất thần nhìn bâng quơ lên trời cao. Hơi thở của anh phập phồng qua cái ống nhựa, qua miếng bông băng vàng úa, giống như miếng vải mùng to bằng bàn tay che vết mổ nơi cổ. Vậy mà bốn tuần lễ đã trôi qua, bệnh nhân và bác sĩ vẫn kiên cường chiến đấu. Tôi đoán rằng, cuộc chiến sắp đến hồi kết thúc, cái chết sẽ đến với anh Hoàng trong một ngày rất gần.

Vào một buổi trưa, khi chúng tôi đang chuẩn bị lãnh cơm, một chiếc xe Pegeot 203 đi vào trại chạy thẳng đến gần khối 5 Đà Lạt của chúng tôi. Chiếc xe sơn hai màu, thân xe màu đen mui xe màu trắng ngà, tôi biết đây là chiếc xe taxi của thành phố Đà Lạt, nơi tôi sống. Chiếc xe quá quen thuộc với tôi, Đà Lạt có khoảng hai chục chiếc taxi sơn hai màu như vậy, thường đậu ở bến số 1 trước nhà hàng Chic Shanghai, và bến số 2 trước rạp cine Ngọc Hiệp để chờ khách.

Vừa thấy chiếc taxi, tôi đã có linh cảm là anh Hoàng được thả về để người nhà lo ma chay cho anh, thay vì nhốt anh chết ở trong trại. Anh Hoàng được hai người tù dìu lên xe, anh được trả tự do nhưng không một cái vẫy tay, không một lời nói từ biệt với bạn bè bởi vì thanh quản của anh đã bị nhiễm trùng quá nặng, chưa chết nhưng có thể anh đã bị câm. Khi chiếc xe taxi sơn hai màu đen, trắng ngà, khuất sau khúc quanh nơi cổng mang theo anh bạn tù người Đà Lạt của chúng tôi, lúc bấy giờ tôi mới giật mình tự hỏi. Anh Hoàng bị một thứ bệnh mà y học lúc bấy giờ có thể chữa trị dễ dàng, nhưng không may cho anh là bệnh đến không đúng lúc, không đúng chỗ khiến anh phải chết. Ngày ấy nếu bệnh viện Phan Thiết có cho anh nhập viện thì anh vẫn phải chết như thường, vì khoảng đầu năm 1976 bệnh viện Phan Thiết cũng như hàng trăm bệnh viện ở Miền Nam chỉ còn có cái vỏ bên ngoài, bao nhiêu thuốc cũng như dụng cụ y khoa đã lên xe về miền Bắc hết rồi, và điều tệ hại hơn là gần như một trăm phần trăm bác sĩ Ngụy đều đang ở trong tù. Điều hành khám bệnh trong bệnh viện chỉ là những y tá từ trong rừng Trường Sơn, họ hành sử giống như những con người sống ở trên cây, rành cách sử dụng cây xuyên tâm liên trị bá bệnh, hơn là thuốc trụ sinh và con dao mổ của y học Tây phương. Anh bạn tù của tôi có hai nơi chữa trị bệnh cho mình, thứ nhất ở trong trại tù Sông Mao có dư bác sĩ nhưng lại thiếu dụng cụ y tế và thuốc men, thứ hai bệnh viện Phan Thiết ở ngoài trại tù chỉ còn tên với cái vỏ bên ngoài, không bác sĩ không thuốc. Cả hai nơi đều dẫn đến chỗ chết, như vậy không trước thì sau, anh bạn của tôi cũng phải chết thôi.

Trại tù cải tạo Sông Mao, mười giờ đêm trong căn nhà trại gia binh cũ, bệnh nhân nằm dài trên một tấm vỉ sắt, dưới ánh sáng mù mờ của một cây đèn dầu và một cây đèn cầy, vài con dao thô sơ do tù nhân tự chế, một cái ống nhựa của bình thuốc lào. Không phương tiện khử trùng, không thuốc mê, không thuốc trụ sinh, ông bác sĩ Ngụy mổ cổ bệnh nhân, thọc cái ống nhựa vào cho bệnh nhân thở, trong nhất thời để kéo dài sự sống của bệnh nhân. Câu hỏi đặt ra là sẽ duy trì cuộc sống ấy được bao lâu? Một tháng, hai tháng, một năm, hai năm?

Ngày 27 tháng 01 năm 1973 hiệp định Paris ký kết, Việt Nam Cộng Hòa được đưa lên bàn mổ ở bên Pháp. Mực chưa khô trên bản Hiệp định ngưng chiến, Việt cộng đã tiếp tục đem quân lính và vũ khí xâm nhập Miền Nam. Trong khi đó Việt Nam Cộng Hòa mỗi ngày một cạn dần nguồn tiếp liệu, không còn đạn dược xăng dầu. Với những điều kiện khắc nghiệt như vậy, Việt Nam Cộng Hòa sống sót từ hiệp định Paris năm1973, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới chịu sụp đổ, đó phải là một phép lạ.

Chuyện về người thợ ảnh lừng danh Sài Gòn

Nguyễn Vĩnh Nguyên – 27 tháng 3, 2024

Posted on April 9, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 10 Mar 2025

Ông Đinh Tiến Mậu (Ảnh: Nguyễn Vĩnh Nguyên)

Người đàn ông tuổi ngoài tám mươi, tóc rẽ ngôi chải vuốt tươm tất, ánh mắt tinh anh, vóc người nhỏ nhắn trong bộ sơ-vin, phong thái chỉn chu lịch thiệp như một công chức thời cũ, đang ngồi pha trà đón tôi ở tầng hai của căn nhà phố, đường Nguyễn Đình Chiểu, khu chợ vườn chuối. căn nhà mặt tiền mà như thể tách biệt với thế giới bên ngoài của một Sài Gòn náo nhiệt. gian phòng nơi ông tiếp tôi gợi liên tưởng về một ốc đảo hoài niệm với những đồ vật cũ kỹ xỉn màu.

Lần nào cũng vậy, ở con người chờ đợi để được thuật chuyện ấy luôn trong cung cách nhỏ nhẹ, dung dị và từ tốn. Ông là Đinh Tiến Mậu, người được sách báo ca ngợi là nhiếp ảnh gia, nghệ sĩ nổi tiếng nhất trước 1975. Nhưng tôi lại chờ đợi ở nơi ông câu chuyện của một thợ ảnh, một danh phận bình dị như chính cốt cách của ông.

Lối đi của một thợ ảnh Sài Gòn

Cậu bé quê làng Lai Xá – ngôi làng cách Hà Nội chừng 20 cây số, được coi là cái nôi của nghề chụp ảnh ở miền Bắc – đã sống đời xê dịch từ thuở thiếu thời: Theo chân bố vào Sài Gòn từ thập niên 1930 và theo mẹ ngược ra Hà Nội học nghề làm ảnh, rồi sau đấy, lại trở vào Sài Gòn đoàn tụ gia đình bốn năm trước khi xảy ra sự kiện chia cắt Bắc Nam. Một tuổi thơ trôi nổi, hợp tan không phải vì vận nước lớn lao, mà chỉ vì gia cảnh quá nghèo. Hết lớp đệ thất, ông rời ghế nhà trường để đi phụ việc ở ảnh viện. Nghề ảnh với ông, được hiểu là một chiếc phao mang lại cơ hội mưu sinh, tìm một chỗ đứng trong đời khi con đường thăng tiến chữ nghĩa danh vọng là giấc mơ quá đỗi xa xôi.

Thời bấy giờ, cũng như nghề may, nghề vẽ biển hiệu thuê, nghề làm thợ chớp bóng trong ảnh viện nghe có vẻ nhàn nhã sạch sẽ, không phải lao động cơ bắp vã mồ hôi, nhưng cũng chẳng thể là nghề chẳng thể gọi là vinh thân. Một thợ ảnh giỏi chỉ được coi như một nghệ nhân nắm ngón nghề tân thời. Tên người chụp ảnh – dù chụp đẹp đến đâu – cũng chỉ ẩn dưới tên ảnh viện, nếu đó là ảnh viện có tiếng. Nghề cho đủ sống, nhưng xa hơn, hiếm có ai thành danh nhờ cầm máy trong hiệu ảnh.

Thời kỳ đầu, ông xin phụ việc, được sai vặt làm đủ thứ: Chấm ảnh, phòng tối, treo phông, sắp xếp đạo cụ, tạo dáng cho đến cầm máy chụp trực tiếp trong các hiệu ảnh trong những ngày tháng trôi nổi, lúc Sài Gòn khi Hà Nội. Các hiệu ảnh mà ông chịu ơn học nghề là Hợp Dung (bên bờ Hồ Gươm, Hà Nội) và Văn Vấn (Van Van Photo, ở đường Duranton nay là Bùi Thị Xuân, Sài Gòn). Nhờ phụ việc ở hai nơi này, ông trở thành một “thợ ảnh toàn khoa” với nghĩa “cái gì cũng biết”.

Giai đoạn ở Van Van Photo từ 1950-1958, Sài Gòn có những chuyển biến lớn, nhất là đợt di cư 1954 và sau đó là không khí cởi mở về văn hóa nghệ thuật. Các chuyển biến xã hội và văn hóa đã tác động ít nhiều đến bộ mặt ảnh viện, nhất là những ảnh viện chuyên nghiệp. Có thể thấy rõ nhất, những ảnh viện uy tín thì ngoài khách hàng bình dân đến chụp ảnh, còn có các ngôi sao sân khấu, minh tinh màn bạc lui tới. Ảnh viện chuyên nghiệp còn được những tòa báo đặt hàng chụp ảnh bìa, các hãng băng dĩa hát thuê chụp băng dĩa, nhà xuất bản mua ảnh in ấn nhạc tờ…

Nhưng lối vào nghề ảnh của chàng trai Sài Gòn gốc Lai Xá không vì thế mà tránh được những bước thăng trầm.

Rời Van Van Photo, Đinh Tiến Mậu cùng bạn bè mới ra nghề mở hiệu ảnh Việt Hoa ở gần chợ An Đông. Anh thợ ảnh chỉ học đến lớp đệ thất đã phải tự học tiếng Hoa để làm việc với khách hàng người Hoa, tự học tiếng Pháp để nói chuyện với khách hàng người Pháp công chức ở khu thành Ô-Ma (Camp aux Mares). Ảnh viện Việt Hoa tồn tại được hai năm thì đóng cửa, nhóm thợ ảnh mới ra nghề lại lập hiệu ảnh mới là King’s Photo tại 45 Ngô Quyền, Chợ Lớn.

Người Hoa nhiều lễ lạt quanh năm và rất thích chụp ảnh, nên ảnh viện sống được dễ dàng. Những thợ ảnh trẻ ở King’s Photo lúc bấy giờ sắm được hai chiếc máy tối tân, một là Linhof chụp nội cảnh và một là Zeiss Ikon cho ngoại cảnh. Trên bìa tờ Tiếng chuông năm 1962 ở Sài Gòn, ta bắt đầu thấy dưới các bức ảnh chân dung của minh tinh Thẩm Thúy Hằng có logo của King’s Photo. Nhiều trong số những bức ảnh đưa King’s Photo lên mặt báo lúc ấy là do anh thợ ảnh Đinh Tiến Mậu bấm máy.

“Thời ở King’s Photo, chúng tôi là nhóm thợ ảnh trẻ mới vào nghề nhưng được coi thành công ở khu Chợ Lớn. Tôi bắt đầu cộng tác với các hãng phim và làm quen với những diễn viên thời danh. Tôi mời họ về ảnh viện để chụp hình bìa cho các tờ báo, nhờ đó cái tên King’s Photo bắt đầu xuất hiện trên những báo đại chúng của Sài Gòn”, ông Mậu kể.

Thẩm Thúy Hằng qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu

Thời kỳ sôi nổi và nhiệt huyết của những chàng trai mới vào nghề ảnh cũng qua nhanh. Chỉ một thời gian ngắn, trong nhóm bạn hùn hạp mở hiệu ảnh, người thì đổi nghề mưu sinh, kẻ theo gia đình ra hải ngoại sống,… chàng trai gốc Bắc lại một lần nữa đi tìm giấc mơ làm nghề ảnh giữa Sài Gòn. Anh thợ ảnh Đinh Tiến Mậu tìm đến Phúc An – một ảnh viện khá vắng vẻ ở số 348 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), xin thuê lại.

Hữu xạ tự nhiên hương, chỉ một thời gian ngắn, khách hàng người Hoa từ khu Chợ Lớn, chợ Đũi, Bàn Cờ… kéo sang dập dìu vì thích lối chụp ảnh, cách căn chỉnh sắc độ trong kỹ thuật buồng tối của anh thợ ảnh trẻ. Phúc An từ một ảnh viện nhỏ và đìu hiu đã có thể cạnh tranh, vượt qua hai ảnh viện lớn trên con đường này là Kinh Đô và Kim Đức.

Khi thấy hiệu ảnh ăn nên làm ra, chủ cũ tìm cách tăng giá thuê nhà và chỉ sau một năm, anh thợ ảnh trẻ đã lại phải tính tới chuyện rời đi; lần này thì phải mở ảnh viện riêng để ổn định. Anh thuê căn nhà 277 Phan Đình Phùng và treo lên biển hiệu Viễn Kính Photo. Đó là năm Sài Gòn xảy ra các biến động lớn: Cao điểm của phong trào Phật giáo với sự kiện nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu cách nơi làm việc của anh thợ ảnh trẻ Đinh Tiến Mậu chừng vài trăm mét. “Tôi đi xem và nghe được cả mùi khói khi đám lửa bùng lên, nhưng tôi đã không chụp bức ảnh nào bởi tôi chỉ đơn giản hiếu kỳ như một thường dân, tôi không biết đến chuyện đại sự”, ông Mậu nhớ lại.

La Thoại Tân qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu

Và cũng năm 1963 xảy ra cuộc đảo chánh. Có thể cái đêm hai anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu phải chạy vào nhà thờ Cha Tam để ẩn mình, thì anh thợ ảnh Đinh Tiến Mậu đang đèo cô vợ trẻ Phan Kim Bình trên chiếc VeloSolex đến tiệm cơm gà Siu Siu ở khu An Đông.

Nói đúng ra, 1963 xã hội biến động nhưng lại là năm may mắn với ông Mậu: Lấy được cô vợ làm nghề kế toán viên hãng IBM và mở được một hiệu ảnh mà không lâu sau, đã làm nên tên tuổi, chỗ đứng của ông trong đời.

Ảnh viện thời hoàng kim

Viễn Kính, nghĩa là thấu kính nhìn xa. Đúng như cách đặt tên cho ảnh viện, từ 1963, người thợ ảnh Đinh Tiến Mậu đã đặt mình vào một dự phóng, viễn kiến trong sự nghiệp. Người bạn đời của ông cũng bỏ việc kế toán cho IBM để ở nhà làm sổ sách cho ảnh viện, rảnh rang thì cùng các con phụ chấm ảnh, tô màu (khi khách hàng chuộng ảnh màu). Viễn Kính Photo nhanh chóng trở thành một ảnh viện được nhiều ngôi sao Sài Gòn, từ Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Kiều Chinh, Thanh Thúy, Hà Thanh, Thái Thanh, Thanh Lan, Bạch Yến, Thanh Tuyền, Thanh Nga, Diễm Thúy, Túy Hồng,… cả những nam tài tử, ca sĩ như Duy Khánh, Hùng Cường, La Thoại Tân,… ghé qua.

Khách hàng bình dân đi qua thấy trước ảnh viện có trưng ảnh chân dung ca sĩ, tài tử thì càng thích thú, tin tưởng bước vào nhờ ông chủ bấm cho vài pose. Họ hạnh phúc khi ở góc ảnh chân dung, ảnh gia đình thật đẹp có đóng con dấu Viễn Kính. Những khi có minh tinh điện ảnh đến chụp hình, dân ở khu xóm chợ Vườn Chuối háo hức kéo nhau đến đứng chật trước ảnh viện hiếu kỳ, chờ diện kiến những thần tượng ngoài đời.

Trong căn phòng nhỏ, đồ đạc gọn gàng, nhiều vật dụng đã cũ được lưu lại: Chiếc bàn máy may, bộ ghế salon bọc da nâu đỏ, chiếc đồng hồ Carillon Romanet Morbier có con lắc mạ vàng mỗi tuần lên dây cót một lần vẫn chốc chốc đổ chuông, những hộc tủ, ghế bàn nước gỗ đã xuống màu…

Bầu không khí mà đồ vật vây quanh đã đưa tôi về một quãng thời gian khác – Sài Gòn những năm 1960-1970 – đồng thời với những bức ảnh khổ lớn ghi lại nét xuân sắc rạng ngời của những người đẹp Sài Gòn. Người đàn ông tuổi ngoài 80 thỉnh thoảng vuốt ngược mái tóc bạc trắng, rồi những ngón tay xoa nhẹ lên thái dương như thể khai thông một đoạn nghẽn ký ức nào đó trong câu chuyện thời hoàng kim giữa ông với các nhân vật bên trong những bức ảnh.

Đó là chuyện những đêm khuya, Thanh Thúy đi hát phòng trà về ghé qua rủ ông đi ăn cháo gà trước khi cô ca sĩ lẻ loi đi về căn phòng trọ ở khu miếu Tam Tông; những chuyến chụp ảnh xa với Thanh Nga ở Đà Lạt được bầu Thơ chăm sóc như con trong nhà; những chuyến ra ngoại ô chụp ảnh cho cô Thẩm Thúy Hằng bị lọt vào vòng phục kích, những cuộc gặp gỡ ấm tình thân với người nhạc sĩ tài hoa phụ trách hãng dĩa Continental Nguyễn Văn Đông… Tất cả trở về trong các buổi gặp gỡ giữa tôi với ông một cách tự nhiên, không cần những câu hỏi khơi dòng. Vậy mà tôi và các đồng nghiệp đã nói với nhau về ông rằng, với người thuần túy là một thợ ảnh, học chụp ảnh, tráng ảnh kiểu truyền ngón và không có lấy một quan niệm về cái gọi là “nghệ thuật nhiếp ảnh” nào, thì sẽ chẳng có gì để ghi lại.

Diễm Thúy qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu

Một trong những câu chuyện ông kể làm tôi ám ảnh nhất, đó là những ngày sau 1975. Cũng như những người từng làm những việc có liên quan tới sinh hoạt văn hóa trào cũ, ông mang những thư từ, hợp đồng, giấy tờ của ảnh viện ra sau hẻm, châm lửa đốt. Hiệu ảnh thì vẫn hoạt động nhưng thưa thớt dần, ông phải cộng tác với một số tờ báo thuộc thành đoàn lúc bấy giờ để mưu sinh, trong vai một phóng viên ảnh.

Có một mối day dứt với ông chủ ảnh viện Viễn Kính lúc bấy giờ mà ít ai hiểu thấu, đó là sẽ phải làm gì với hàng ngàn tấm phim của khách hàng. Bởi trước đây ông chỉ giao ảnh cho khách kèm theo con số của tấm phim, nếu khách có nhu cầu thì sẽ quay lại đọc số phim là nhân viên ảnh viện sẽ sao lục và rửa ảnh.

Có nên đốt cả kho phim hay không? – đó là câu hỏi khiến ông mất ngủ. Cuối cùng thì ông quyết định giữ lại với hy vọng sẽ có những khách hàng năm xưa một lúc nào đó sẽ đến xin lại các tấm phim chỉ để gặp lại bóng hình và kỷ niệm ngày cũ. Mười, hai mươi năm, ba mươi năm và bốn mươi năm đi qua, không ai trở lại. Những tấm phim vẫn được lưu trữ cẩn thận trong các liếp nhựa trong chiếc tủ im lìm. Đôi khi ý nghĩa của chờ đợi không phải là một cuộc gặp phía trước, mà ở chỗ bản thân sự đợi chờ.

“Có thể có người đã rời khỏi thành phố, có người đã chết trên biển, có người đã ở rất xa…”, ông nói và nhìn ra ban công, nơi những bông mai muộn lốm đốm vàng. Một buổi sáng tháng Tư, ông kể tôi nghe về người bạn thân thiết, là nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả Chiều mưa biên giới và nhiều ca khúc nổi tiếng khác. Rằng, “sau 1975, ông Đông vào trại cải tạo suốt 10 năm, từ Suối Máu đến Chí Hòa, tôi vẫn tìm cách vào ra thăm ổng.

Tam Ca Thăng Long qua ống kính của ông Đinh Tiến Mậu

Năm 1985, ông ấy đổ bệnh nặng, người ta đưa về Chợ Rẫy nằm, tôi cũng đến thăm. Còn nhớ lúc ấy tôi còn bị hạch hỏi quan hệ làm sao với ông Đông, tôi chỉ cười bảo, là bạn. Bằng hữu, cho đến bây giờ, khi ông sống đơn độc và khép kín trong căn nhà trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, khi rảnh ranh tôi lại tới thăm, hàn huyên chuyện cũ. Với tôi, đó là người bạn tốt, giàu khí chất và trí tuệ mà cuộc đời mang lại cho mình.”

Ông kể về những bạn bè ca sĩ thời cũ từ hải ngoại về cũng tìm đến thăm ảnh viện và xin xem lại những bức ảnh khổ lớn mà ông lưu trữ trong căn phòng này. Họ ngồi hàn huyên và đôi khi có những khoảng im lặng hàng giờ, chỉ để tưởng niệm một thời đại xuân sắc hoàng kim đã đi qua. Trên bức tường, Thẩm Thúy Hằng tóc vấn cao, tai đeo bông hột xoàn cỡ lớn, mắt ngọc, đôi lông mày cong được vẽ đậm, môi cười thanh tú. Ngoài nụ cười sáng từ đôi môi trái tim, thì sự quyến rũ của một mỹ nhân đã được quãng diễn trong một thế ngồi tạo dáng theo bố cục zic-zăc đường chéo khung ảnh. Dáng ngồi chia sẻ những gì ưu việt và đặc thù của chiếc áo dài chít eo, tay áo cắt theo lối trois-quatre (3/4), cổ thuyền, ngực vuốt – mà thời bấy giờ gọi là áo dài Bà Nhu.

Trong khi đó, dáng đứng, ngồi ngẫu nhiên của Hợp ca Thăng Long làm toát lên một sinh khí của văn nghệ sáng tạo tự do và phong lưu của một đời sống phóng khoáng tự do. Bức chân dung Khánh Ngọc gợi cảm, Diễm Thúy mạnh mẽ táo bạo, đầy sức sống, còn Thanh Nga thì toát lên vẻ đẹp vẻ quý phái, kinh điển… Những gì làm nên sắc vóc của văn nghệ, văn hóa một thời, làm nên vẻ đài các thanh xuân của những mỹ nhân Sài Gòn cũ đang trở về. Những ánh mắt, môi cười, dáng vẻ, khí chất đó bền lâu, chống lại mọi vết úa xước của thời gian. Phẩm cách tỏa ra từ các bức ảnh đó thuyết phục ta tin rằng, cái đẹp và sự thanh tao hãy còn hiện hữu, không thể phôi pha. Tôi nhiều lần phải đứng ở góc cao để chụp xuống các bức ảnh mà ông cẩn thận tỉ mỉ đặt để trên nền gạch bông. Bằng máy ảnh số, tôi nín thở để ghi lại các bức ảnh khổ lớn theo cách của một người tìm cách lặn sâu vào một đại dương mê hoặc, ghi lại từng chi tiết đã phủ bụi, làm sao cho không xê xích hay nghiêng đảo, làm sao cho tất cả phản chiếu những hồi quang. Những lúc đó, tôi được đắm chìm vào một không gian thuần khiết, tự do mà ảnh viện này tạo ra. Và cũng những lúc đó, tôi nhận ra sự bất lực. Cái đẹp là một điều gì không thể dò thấu.

Bên dòng chảy không ngừng

Những ngày đầu năm 2017, tôi rời tòa báo và thất nghiệp. Còn ông: Nghỉ dưỡng già. Một đã nghe gió heo may về, một thì mỏi gối chồn chân quá sớm, nhưng lại gặp nhau ở một điểm – chúng tôi lùi khỏi dòng chảy đời sống nhận nhịp xô bồ của một thành phố ngày đêm sôi động như thác lũ.

Tôi rón rén ở cửa hông của gian bếp, làm quen với ông bà và đưa ra một đề nghị xin được gặp ông mỗi tuần hai buổi sáng để nói chuyện về nghề làm thợ ảnh ở Sài Gòn ngày xưa. Ông ngó sang, tế nhị chờ nụ cười thiện cảm của người bạn đời rồi gật đầu.Và cứ như thế, suốt nửa năm, tôi đều đặn tuần hai buổi sáng mang sổ, bút, máy ảnh đến căn phòng trên lầu hai. Ông sẽ pha một ấm trà thơm và đợi. Lúc nào ở ông cũng toát ra sự thư nhàn, nhỏ nhẹ nhưng chu đáo từ cách ăn mặc đến tuân thủ giờ giấc của cuộc hẹn.

Tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên phỏng vấn ông Đinh Tiến Mậu

Điều mà tôi cảm nhận từ lần gặp đầu tiên cho đến lần gặp cuối với ông, thật nhất quán và rõ ràng, đó là trong cốt cách riêng của ông, có cung văn hóa bặt thiệp và chừng mực của người một thời. Vẫn nụ cười ấy, khi tôi trở lại và trao tặng nhân vật cuốn sách Ký ức một ảnh viện Sài Gòn – Câu chuyện Viễn Kính (Phương Nam Book & NXB Trẻ, 2017) vào cuối năm đó, ông nắm tay tôi đi trong con hẻm nắng và bảo rằng, “Mình sẽ gửi cuốn sách về bảo tàng nghề ảnh ở Lai Xá, quê hương mình.

Ở ngôi làng đó có cả một bảo tàng nghề ảnh”. Và lần sau đó trở lại, vẫn nụ cười hồn hậu ấy, người thợ ảnh nhìn tôi từ sau màn hương khói lững lờ bay. Bây giờ, câu chuyện giữa chúng tôi là một khoảng lặng im tịch mịch mãi mãi.

Ông Đinh Tiến Mậu sinh năm 1935, tại Lai Xá, Hà Đông; mất năm 2020 tại Sài Gòn. Hai năm trước đó, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, bằng hữu của ông qua đời; và hai năm sau đó, một trong những giai nhân ngày cũ, cũng là bạn già mà ông thi thoảng còn giữ liên lạc sau này, bà Thẩm Thúy Hằng cũng rời cõi tạm. Tôi vẫn nghĩ về căn phòng trên tầng hai của ảnh viện Viễn Kính, nơi người thợ ảnh già ngồi rót trà chờ tôi để kể câu chuyện dâu bể thời gian. Cạnh những tủ phim âm bản đã niêm kín những đợi chờ.

Bay Trên Đất Bắc

hoiquanphidung.com

Posted 18 Tháng Ba 2014

Lê Bá Định

Post by Sơn râu 10 Mar 2025

Tôi đã nhiều lần vượt vùng trời Bến Hải với những chuyến bay ném bom trên đất Bắc. Lần này tôi được chỉ định dẫn dắt mười hai phi cơ tiến đánh một mục tiêu xa hơn những lần trước. Đó là hai trại quân quan trọng nằm trong vùng rừng nơi phía Tây Bắc thành phố Vinh.
Tôi ghi nhớ nhiều về chuyến bay này vì là lần đầu tiên tôi điều khiển hoàn toàn một phi vụ Bắc phạt.
Những lần trước tôi chỉ hướng dẫn một phi tuần bốn phi cơ theo sự điều khiển của phi đội trưởng.
Đối với phi công khu trục, cấp trung uý dù rằng với chức vụ trưởng phòng hành quân phi đoàn, đây là một danh dự và là một hãnh diện nữa khi được lệnh đảm trách một công tác quan trọng như vậy.Suốt từ lúc được lệnh bay, xuyên qua buổi thuyết trình về phi vụ, tôi đã hỏi rất nhiều, rất kỹ lưỡng vị sĩ quan Quân Báo về các vị trí phòng không địch, cho đến khi đứng lên nhắc lại các phương thức phi hành cùng các đoản lệnh hành quân cho các chiến hữu cùng bay với tôi, tôi cảm thấy nôn nao vô cùng.
Có thể hơn thế nữa, gần như là một mối lo âu. Không thể là sự lo sợ được đối với một người trẻ tuổi như tôi, đã được rèn luyện trong cái khí thế hiệp sĩ của một phi công khu trục bao lần vùng vẫy trên vùng trời lửa đạn.
Tôi run run đếm những số giây cuối cùng cho các bạn tôi điều chỉnh giờ đúng. Nỗi lo âu ngập tràn. Khẳng định không phải là sự thiếu tự tin. Những người trẻ tuổi thường không sợ sệt trong lý tưởng mà luôn muốn chứng minh khả năng của mình trong khi bay. Khả năng của tôi đang được khảo thí. Một cuộc khảo thí quan trọng vô cùng, vì từ giờ trở đi, những quyết định của tôi, một phi công hai mươi ba tuổi, nếu sai lầm sẻ phải trả bằng giá của sinh mạng tôi và của cả mười một phi công khác mà số tuổi chỉ trên dưới hai mươi.
Tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong nghề, lần này tôi sắp sửa thêm một kinh nghiệm nữa mà mãi sau này tôi vẫn thấy thú vị vô cùng. Danh nhân nào đã nói kinh nghiệm là một ông thầy khó tính, bắt ta phải khảo thí trước khi dạy ta.
Tôi đang là thí sinh của cuộc khảo thí kỳ cục đầy hào khí này. Hình ảnh cuốn phim Le Pont de Toko Ri chợt đến bao trùm trong tôi thật rõ ràng linh hoạt như ngày nào tôi mười hai tuổi xin tiền mẹ bốn lần để xem đi xem lại phim này.
Vùng trời Đà Nẵng hôm đó thật thấp và âm u với nhiều mây xám. Đã có lác đác vài hạt mưa rơi.
Các bạn tôi lộ vẻ chán nản và nói “Chán quá! Lại phải hủy bỏ phi vụ”. Chúng tôi có những giới hạn thời tiết tối thiểu để hoạt động. Dù với lòng quả cảm chấp nhận hiểm nguy nhưng chúng tôi đều phải tôn trọng những luật lệ về an phi. Tuy nhiên tôi thản nhiên ra lệnh: “Vẫn cất cánh như đã dự trù”.
Các bạn tôi đều ngạc nhiên và cho là một quyết định khá liều lĩnh. Thật ra tôi đã quyết định ngay từ lúc rời phòng thuyết trình và thầm mong một biến chuyển thời tiết khả quan hơn. Tôi nhớ thật rõ các dữ kiện mà sĩ quan khí tượng đã cho biết. Trong trí tôi, cuốn phim Le Pont de Toko Ri đang quay chậm. Tôi ôn lại các lối lượn bay toát mồ hôi lạnh trong phim.
Có ai ngờ mười mấy năm sau tôi lại đóng vai chính của một cuốn phim oai hùng.
Thời gian trôi qua thật nhanh chóng.
Tôi tưởng chừng như mới hôm qua còn ngồi trên ghế nệm thoải mái trong rạp hát, hồi hộp theo dõi một kiệt tác của nghệ thuật thứ bảy. Để rồi hôm nay ngồi trong phòng lái chật hẹp tù túng, trước mắt là cánh quạt động cơ ào ào rung chuyển quay tròn như cơn gió lốc, như trộn lẫn định mệnh với cuộc đời…
Thế rồi phơn phớt dưới chân mây, là đà trên ngọn núi, chúng tôi đem tuyệt kỹ phi hành để khắc phục trắc trở thiên nhiên. Tôi đem hết hiểu biết kinh nghiệm để dẫn dắt mười hai cánh chim lao về Bắc.
Nhìn các bạn tôi chao đi trong mưa gió âm u, lòng tôi se lạnh. Trong gió mưa cuồng loạn các bạn hãy cố gắng lên. Chúng ta còn đến trung tâm một cơn bão khác quay cuồng hơn, đang đe doạ không riêng chúng ta mà cả hàng triệu chiến hữu đang gian khổ dập tắt cơn bão loạn này. Tôi biết trời âm u lắm, đôi cánh nặng vô cùng, các bạn hãy theo tôi đi dẹp tan cái âm u khác đã triền miên từ lâu. Theo tôi cho vững để trút cái nặng nề dưới đôi cánh, xoá tan những áp lực núi đá khác đang đè nén quê hương.
Nhìn xem kìa, bên trái hướng chín giờ, Huế cố đô thân yêu. Chân mây cao hơn đôi chút rồi. Đừng dùng máy nhiều nhé, nhớ tiết kiệm từng giọt xăng.
Chúng ta còn đi xa lắm, dù mang thêm bình xăng phụ nhưng lúc giao chiến, đôi khi chúng ta phải thả đi cho nhẹ bớt để còn mặc sức vẫy vùng. Máu của cánh chim, máu của chính mình đó các bạn.
Tôi đang cố gắng giữ hướng Bắc dù cho đôi cánh đang chao mạnh run rẩy từng cơn.
Hãy tin ở tôi, ở tuổi trẻ Việt Nam.
Quảng Trị, Đông Hà, Cửa Việt…
Các bạn thấy Cửa Việt chưa? Cố lên, hãy tra chìa khoá vào cánh cửa Việt Nam đang bị rỉ sét để mở ra cho lịch sử thôi tù túng, đóng khung.
Đừng bay quá xa về phía biển, chúng ta sắp vượt Bến Hải, vĩ tuyến đau thương. Ha ha, chiếc cầu với hai cột cờ. Chẳng có ý nghĩa gì với chúng ta.
Các bạn còn nhớ bài Địa Dư vỡ lòng ngày nào?
Nước Việt Nam trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Đâu có ai ngờ là đứt khúc nơi Bến Hải.
Bên cánh trái là giang sơn gấm vóc của giống Tiên Rồng. Dưới cánh phải là Thái Bình Dương đang dâng sóng vỗ về đất nước. Chúng ta cố bay nhanh để sớm quay về, chắp đôi cánh lại cho thanh bình mau ấp ủ quê hương…
Vĩnh Linh, Quảng Khê, Đồng Hới…
Tôi đã bay trên miền trời các địa danh đó, đã đem tử thần đến và cũng đã chạm mặt tử thần ở những nơi này. Quê hương tang tóc rối bời. Những trại quân bị tàn phá, những chiếc cầu gẫy gục, những quang cảnh tiêu điều, vết tích lưu lại những lần oanh tạc trước vẫn còn lở lói bên dưới kia.
Những ai đó còn mê ngủ hay đã kinh hoàng tỉnh giấc trong những tràng bom nổ inh tai, dưới những làn phi tiễn nhức óc? Đừng để cho ảo tưởng bao trùm, hãy lên đây cùng chúng tôi, suốt con đường từ Nam ra Bắc để nhìn rõ bức dư đồ rách nát vì đâu?
Hãy ngồi bên chúng tôi để nhìn rõ quê hương, để biết cái cảm giác của một người bay trên quê hương mà phải nghĩ đây là đất địch.
Đã bao lần tôi muốn xua đuổi ý tưởng đau lòng đó, nhưng bên những sườn núi kia, trong thung lũng nọ, trên bờ biển này, tử thần đang chực chờ lôi kéo chúng tôi bằng lưới đạn giăng trời, để rồi sau cái tan vỡ kinh hoàng của một cánh chim, Thân xác cũng tan tành đưa chúng tôi đến nơi nào không biết, nhưng chắc chắn rằng cho đến lúc đó, chúng tôi chưa tận hưởng được cái khang cường thân thể với những mạch máu căng đầy sinh lực mà cha mẹ tạo thành, chưa mãn nhãn nhìn hết cái đẹp hùng vĩ đất nưóc của tổ tiên để lại, cũng như chưa tiêu xài hết một phần tuổi trẻ của cuộc đời.
Tôi đưa cả phi đội bay thật thấp để cố tránh tầm rada địch. Trong mũ nghe chỉ còn tiếng rè rè của vô tuyến. Chúng tôi âm thầm bay, không một ai lên tiếng trong lúc này, kể cả đài kiểm báo Sơn Trà. Ngoại trừ khi tôi cần. Tôi biết rằng chúng tôi không cô đơn, vì ở nhà bao con tim đang hồi hộp đợi chờ. Chúng tôi rời phương Nam đã lâu, nơi đó bạn tôi cũng chờ đợi.

Địch? Bạn?
Tại sao lại bắt chúng tôi dùng những từ ngữ ấy?
Tại sao không xoá bỏ những chữ ấy trong tự điển, trong lòng người? Tại sao lại xem chúng ta là kẻ thù để chúng tôi trở nên những người đối địch họ vì chúng ta sắp nhận là kẻ ác của những người thiện để tiêu diệt bất cứ kẻ ác nào muốn giết người thiện.
Từng phần đất quê hương sẽ thêm một lần vỡ tung dưới làn bom nổ. Thân thể mẹ Việt Nam đang bị vi trùng đục khoét, chúng tôi xót xa phải cắt bỏ những ung nhọt đang hoành hành.
Nguyện ước bây giờ là làm sao cho Mẹ bớt đau đớn, hết rên xiết, con cháu Mẹ sớm quây quần bồi dưỡng Mẹ. Mẹ, xin Mẹ cho chúng con thêm một lần chạm vào da thịt thiêng liêng để Mẹ sớm yên lành… 
Hà Tĩnh nghèo nàn âm u kia rồi.
Vinh u buồn thảm não.
Chúng tôi cho vòng máy quay nhanh hơn bắt đầu vượt cao theo hướng Tây Bắc tràn vào.
Mây mù giăng đặc. Tôi cố lượn giữa các tầng mây, dò theo từng chi tiết trên bản đồ mà hầu như đã thuộc kỹ. Tôi không được phạm một sơ xuất nào, một lầm lỗi nào dù nhỏ đến đâu.
Tôi ra thủ lệnh cho các bạn tôi.
Loang loáng trong mây, mười hai hiệp sĩ như những cánh thiên thần đi tìm tử thần trong cái âm u của trời đất. Tôi phải tận dụng yếu tố thời tiết và bất ngờ, nếu không… nếu không thì…
Le Pont de Toko Ri ơi, sao có sự trùng hợp lạ kỳ?
Chỉ khác chăng không phải chiếc cầu mà là trại quân. Vẫn một thung lũng rợn người với ba mặt núi cao đầy lửa đạn. Vẫn một lối vào duy nhất như lùa vào tử lộ. Vẫn một lối ra hiểm trở, vách đá sừng sững chi chít cao xạ. Tôi có cảm tưởng như địch đã biết, đang mỉm cười chờ những cánh thiên thần.
Trời âm u quái đãn, bay đến đâu mới nhìn được đến đó. Tầm nhìn xa bị giới hạn tột cùng. Thoáng qua vài lỗ hổng chân mây, xa xa là Thanh Hoá.

Tám phút trước mục tiêu, tôi chợt đổi đường bay về hướng Bắc. Các bạn tôi vẫn đeo sát.
Nhạc gió quay cuồng, tiếng máy thét gào rú mạnh.
Đài kiểm báo Sơn Trà như lo lắng gọi chúng tôi cho biết đang bay lệch mục tiêu ba mươi độ và báo động phi cơ địch được nhìn thấy trong vùng hoạt động. Tôi đáp hiểu, không giải thích lối đánh của tôi.
Tôi lượn quanh trong mây đổ chập chùng, vòng sang hướng Tây mục tiêu rồi chọc thẳng về hướng Nam, tin tưởng hoàn toàn vào tấm bản đồ không ảnh.
Các bạn tôi đã sẵn sàng ở đội hình chiến đấu.
Tôi từ đầu rặng núi vượt ra từ trong mây.
Số một lao vào mục tiêu. Tốc độ tăng nhanh như vũ bão. Áp lực ép mạnh vào người. Làm sao… Làm sao ngay từ giây phút đầu… Le Pont de Toko Ri… Phải, tôi phải cố gắng làm sao cho hai trái bom đầu tiên rơi đúng ngay trên mục tiêu nằm cách nhau non một ngàn thước để đánh dấu cho các bạn tôi nhìn thấy qua đám mây mù. Tôi phải lam sao cho các phi tiễn cùng lúc ấy phá vỡ các ổ cao xạ ở vách núi trước mặt ngăn chặn lối ra duy nhất.

Hơn nữa nếu tôi xuống quá thấp để tìm sự chính xác cho làn bom và phi tiễn thì lúc vượt lên sẽ quá muộn chỉ trong vòng một giây đồng hồ tôi sẽ cùng cánh chim dán vào vách đá.
Tôi còn phải lượn lại ít lắm hai lần, trong lúc các bạn tôi đang oanh tạc, để trút số bom còn lại lên các ổ phòng không hai bên vách núi đang kẹp mục tiêu như chiếc kéo của tử thần đang chực chờ họ. Tôi còn phải nhắc nhở và theo dõi họ lúc vượt qua vách núi chắn ngang. Tất cả đều tùy thuộc vào ở lúc này.
Tôi lao xuống mục tiêu đang tỏ dần trước mặt…
Bom nổ kinh hoàng, phi tiễn xé rách vùng trời thung lũng. đạn bay loè sáng… Tôi như chết đi trong con người, đắm chìm trong chiến trận. Tôi trở thành máy móc, một công cụ khoa học, một nô lệ kỹ thuật. Phòng không địch giật mình hoạt động. Nhưng trễ quá rồi.
Thời tiết xấu đã giúp chúng tôi tận dụng yếu tố bất ngờ. Các chú không ngờ chúng tôi tiến đánh lúc trời xấu phải không? Nếu trời trong thì với lối phòng thủ chắc ăn như vậy, các chú có thể xơi tác một con ruồi bay qua. Chúng tôi cần vài giây đầu tiên thôi. Đạn phòng không đỏ rực nổ tung dày đặc khung trời.
Lúc trở vào mục tiêu lần thứ ba, có nhiều va chạm mạnh ở toàn thân phi cơ. Cánh chim lao chao… Tôi trút hết số bom vào mục tiêu đang cháy bùng vỡ toang… Tôi chợt thấy rợn người… Tôi đã xuống quá thấp và hiện ra ở cách độ 1500 bộ… Vách đá trước mắt tôi với nhiều vết đạn dài bay lên như sắp đổ ập lên tôi… Chậm quá rồi…
Tôi phải kéo thật mạnh để tung bổng lên cao. Nhưng nếu cần lái lại bị kẹt vì lý do nào đó… Nếu các định luật gia tốc và thăng tốc không còn đúng nữa ở trong trường hợp này?
Bao sức mạnh trong tôi dồn cả vào đôi tay níu kéo cần lái như chỉ một lần cuối níu kéo định mệnh, níu kéo những giây phút sau cùng của cuộc đời. Tôi cố nhấc bổng khối sắt nặng nhiều tấn đang rung mạnh lên cao… Hôm nay không có trời xanh cao đẹp, nhưng những đám mây xám ngoẹt kia giờ đây sao lại đẹp dị thường. Các bạn tôi đang tìm tôi trên vùng mây kia.
Những giây phút này chắc tôi không còn có thể đưa họ trở về phương Nam như một “đàn chim Việt”. Lòng tôi thanh thản vô cùng. Tôi nhớ rõ trước khi đi, tôi đã ra lệnh tỉ mỉ cho người phi đội phó thay tôi nếu tôi rơi rụng… Họ sẽ trở về an toàn dù có thiếu vắng tôi. Không có gì là quá đắt nếu chỉ một mình tôi phải trả giá cho phi vụ này… Trong phim Le Pont de Toko Ri có ai trở về đâu… Thế mà các bạn tôi sẽ trở về. Chắc chắn họ sẽ trở về… Chấp nhận kiếp sống mây trời là để sống hào hùng và chết oanh liệt…
Chợt một khe núi thoáng hiện bên phải hướng hai giờ. Tôi không cần thấy rõ những gì trong ấy. Bấy nhiêu đó quá đủ giúp tôi vượt khỏi bàn tay tử thần một lần nữa… Thôi tử thần, ta chào mi. Hẹn lần khác nhà.
Tôi vượt lên cao…
Các bạn tôi đang lượn vòng chờ đợi.
Chúng tôi im lặng hướng về Nam, luôn luôn ở đội hình chiến đấu để chờ đợi một cuộc săn đuổi của phi cơ địch. Nhưng rồi lại thoáng hiện chiếc cầu với hai cột cờ.
Lần này thì lại nằm bên cánh tay phải. 
Phải, trái? Ai phải, ai trái? Tôi không cần.
Chỉ biết rằng chúng tôi đang trở về toàn vẹn và bây giờ hiện bay trên Huế…
Hầu hết phi cơ bị trúng đạn, nhưng nhạc gió vẫn quay đều. Tôi báo cáo sơ lược cho đài kiểm báo và cho biết đang trên đường về.
Hoàng hôn đẹp.
Sóng biển lấp lánh ánh bạc.
Tôi gỡ nhẹ đôi găng tay để đốt một điếu thuốc nhăn nheo được vuốt thẳng.
Trời tối dần. Khi đưa điếu thuốc lên môi, tôi chợt thấy bàn tay run run… Vì sung sướng thành công hay vì những phút giây căng thẳng rợn người vừa qua còn vương vấn? Có lẽ hai thứ hoà chung.
Thuốc ngon quá.
Buổi tối, lúc đang sửa soạn cho phi vụ hôm sau, thành tích của tôi được loan truyền trên đài phát thanh Sài Gòn. Tò mò bắt sang đài Hà Nội, họ đang khoe đã hạ được năm máy bay trong số ba mươi máy bay tiến đánh lúc ban trưa ở cùng một nơi chốn và thời gian mười hai chúng tôi đã đến và trở về.
Tôi mỉm cười… 
 Lê Bá Định
Nguyệt San Lý Tưởng 1970
Chú thích:
Lê Bá Định sinh trưởng tại miền Bắc nhưng theo gia đình di cư vào Nam từ 1954.
Lê Bá Định trở thành một phi công phản lực nổi danh trong binh chủng về khả năng điều khiển khu trục lẫn khả năng viết. Lê Bá Định cũng được biết đến như một cấp chỉ huy trẻ cương trực và quả quyết khi là Trung Tá Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật.
Sau 1975, Lê Bá Định trở thành tù nhân cải tạo nhiều năm, nhưng quyết định ở lại Sài Gòn mưu sinh bằng cách kèm dạy Anh Văn.



Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 3
Bèo hợp để mà tan.

Hôm nay là 30 tháng 1 năm 1976 Tây lịch, nhằm ngày ba mươi tháng chạp năm Ất Mẹo, chỉ còn khoảng 7 giờ nữa là qua năm mới, năm Bính Thìn. Sở dĩ tôi nhớ rõ như vậy vì ở trong tù mấy ngày giáp Tết, tù nhân thường hỏi thăm khi nào đến Tết. Hỏi để biết ngày nhận được cái bánh chưng, để biết sẽ có ba ngày nghỉ lao động. Và, điều quan trọng hơn là tù nhân có thời giờ ngồi ôn lại những kỷ niệm thân yêu của ngày Tết xa xưa cũ, khi còn chung sống hạnh phúc với vợ con, cha mẹ, anh em.

Tôi gói cái bánh chưng và miếng cá khô to bằng ba ngón tay đã được nướng chín vào bao cát, tay phải nắm cổ chai bia lớn chỉ còn một nửa, tay trái túm cái bao, rồi hăng hái đi qua khối Bình Thuận tìm Long công tử. Lát nữa tôi và Long công tử cũng như tất cả mọi tù nhân ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, sẽ ăn bánh chưng, uống bia con cọp để tiễn đưa năm cũ, đón mừng năm mới.

Long công tử tiếp tôi với nụ cười thật tươi, gương mặt của hắn đã khá đầy đặn, cho tôi thấy lại hình ảnh của một chàng công tử hào hoa phong nhã ngày nào, khi tụi tôi còn là Sinh viên sĩ quan ở Trường Bộ Binh Thủ Đức. Long công tử nói oang oang như sợ tôi không nghe được.

-Chờ chút, chờ chút, tao lấy cái bánh chưng và nửa chai bia. Hay là mày cứ ra bên hông nhà bếp trước đi, tao tới liền.

Tôi đi chầm chậm qua ba căn nhà, đến căn cuối cùng là nhà bếp của khối Bình Thuận rồi quẹo phải. Ngồi dựa lưng vào bức tường hãy còn âm ấm vì phía sau bức tường là nhà bếp, tôi trải cái bao cát xuống đất, lấy món ăn thức uống để lên trên. Cũng phải hơn mười phút sau Long công tử mới đến, hắn cười thoải mái.

-Mày đợi có thấy lâu không?

Vừa dứt lời, Long công tử đặt cái bánh chưng và nửa chai bia của nó xuống, lần trong túi lấy ra một gói giấy nhỏ. Hắn vui vẻ nói với tôi.

-Đố mày biết, có cái gì trong gói này?

Tôi lắc đầu.

-Chịu thua, tao làm sao biết được. Chắc là muối ớt.

Nói xong mới biết là mình đoán sai, tôi nói luôn.

-Không thể được, bởi vì không lẽ Tết nhất đến nơi mà mày cho tao ăn bánh chưng chấm muối ớt, vô lý quá.

Long công tử cười đắc ý. -Tao cũng không biết có gì trong đó luôn. Nhưng mà chuyện như thế này, thằng Thọ cùng tổ với tao, mày không biết thằng này đâu, hai đứa tao chia nhau một chai bia, nó là dân Chợ Lầu ở bên ngoài trại tù Sông Mao nên được gia đình thăm nuôi, tiếp tế thực phẩm đầy đủ. Thọ khen tao là dân chơi, nó nói “Mày băng rừng vượt suối hơn một tháng trời, dẫn theo mấy chục con cọp mũ nâu, từ Pleiku về đến Phan Thiết an toàn.

Nếu mày đi nhanh hơn độ một tuần, có thể mày thoát được về đến Sài Gòn, không bị bắt nhốt ở lao xá Phan Thiết, và cũng không phải bị đưa ra Cà Tót để nếm mùi gian khổ đọa đày, giỡn mặt với tử thần. Tao cũng phục mày sát đất, suốt mấy tháng sống ở Cà Tót, áo quần giày dép bị tịch thu sạch sẽ, ngày ngày ăn ba hột cơm nấu bằng gạo mục, ăn lá đọt mì, tối đến chỉ có một bộ đồ bà ba đen bận trên người, ngủ chung với muỗi mòng, rắn rít, đói rét triền miên mà mày vẫn còn sống, đúng là một tay anh hùng hảo hán”.  Nói xong Thọ rót phần bia của hắn vào cái lon gô, đưa nửa phần còn lại trong chai và gói giấy này cho tao, hắn vừa đưa vừa nói, với giọng nói đầy chân tình “Tết nhất đến nơi, tặng mày chút mồi nhậu với bia cho đậm đà hương vị, chỉ tiếc là thiếu vài củ kiệu ngâm giấm nữa là đủ. Chúc mày năm mới, học tập tốt lao động tốt, giữ được mạng sống để trở về đoàn tụ với gia đình.”

Dứt lời Long công tử mở gói giấy đưa về phía tôi.

Nhìn bốn con tôm khô to bằng đầu đũa, tôi cười rồi nói với Long công tử.

-Thằng cho mày mấy con tôm khô này, coi bộ cũng chịu chơi dữ. Ở cái xứ Bình Thuận khô khan nắng hạn, quanh năm cát bụi mù trời, vậy mà cũng có khá nhiều tay anh hùng hào kiệt. Tao muốn hỏi, có bao giờ mày nghe bài thơ “Mật khu Lê Hồng Phong” chưa ? Bài thơ mới nghe qua đã thấy phảng phất nét hào phóng ngang tàng. Tác giả bài thơ này phải là một tay hào sảng, phóng khoáng có thừa.

Long công tử nói với tôi.

-Những gì thuộc về lãnh vực khoa học, tao chịu thua, tuy nhiên với văn chương thơ phú thì tao có thể góp ý, đấu hót với mày. Để tao nhớ lại coi đâu khoảng 1973, tao đã có dịp đọc bài thơ này rồi.

Mai ta đụng trận ta còn sống.
Về  ghé Sông Mao phá phách chơi.

Cái thị trấn Sông Mao nhỏ xíu này, được biết đến một phần là nhờ Sư đoàn Dã chiến, hay là Sư đoàn Sơn cước gì đó, đa phần là người Nùng, năm 1954 từ Bắc vào đóng ở đây. Sau đó đổi tên thành Sư đoàn 6 do Đại tá Vòng A Sáng làm tư lệnh. Khi sư đoàn này di chuyển xuống Vùng III, sau đó là Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh chuyển đến. Cuối cùng Việt cộng lấy hậu cứ, trại gia binh của Trung đoàn 44 làm Tổng trại 8 tù binh để nhốt tụi mình. Trong văn chương, Sông Mao được biết nhiều nhờ bài thơ mà mày vừa nhắc đến của ông thi sĩ coi trời bằng vung ở Phan Thiết. Lịch sử đã chứng minh, nhiều khi bài thơ hay có thể làm cho một địa danh lạ hoắc, một ngôi chùa tầm thường bỗng nổi tiếng như cồn, điển hình là ngôi chùa Hàn San ở bên Tàu, được vang danh thiên cổ nhờ vào bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế. Ông thi sĩ này, đổ Tiến sĩ năm 754 đời nhà Đường.

Long công tử hớp một ngụm bia, hắn bốc hai con tôm khô bỏ vô miệng vừa nhai vừa nói.

-Phần còn lại là của mày.

Nói xong, Long công tử đưa gói giấy cho tôi.

-Mỗi đứa hai con tôm coi bộ thiếu mồi rồi, nhưng mà nói cho cùng, ở tù được như vậy cũng còn phong lưu chán.

Tôi nói với Long công tử.

-Mình còn miếng cá khô nữa mà.

Long công tử nhìn xuống cái bao cát trải dưới đất, hắn vói tay cầm miếng khô.

-Vậy mà tao quên mẹ nó mất.

Miệng nói tay hắn xé miếng khô làm hai đưa lên mũi ngửi rồi giữ lại phần ít, đưa phần nhiều hơn cho tôi.

-Người ta thường nói trà dư tửu hậu, mày cứ từ từ nhậu lai rai đi, tao sẽ kể cho mày nghe về chuyện bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” Bài thơ đã đưa ngôi chùa Hàn San tầm thường, không có một chút gì đặc biệt, trở thành một trong mười ngôi chùa nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Đang thao thao bất tuyệt, Long công tử ngừng nói, hắn nhăn mặt rồi hỏi tôi.

-Mà nè, mày có biết chút gì về thơ Đường không?

Tôi vui vẻ nói.

-Mày hỏi hơi thừa, tao là sinh viên Văn Khoa năm thứ tư, đương nhiên có biết chút ít, cũng thuộc dăm ba bài thơ của Lý Bạch, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị như ai. Tao thuộc thơ Đường không phải vì thích, mà chỉ để phòng khi gặp những thằng cắc cớ như mày hỏi đến, tao còn biết đường mà trả lời.

Long công tử cười rồi nhích người ra xa, cái nhích người đầy giễu cợt giống như hắn sợ ngồi gần tôi.

-Với tao mà mày cũng nổ như lựu đạn M26, ngồi gần mày, tao sợ có ngày banh xác như không. Khi tụi mình còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức lúc đó mày mới mười chín tuổi, làm thế nào mày có thể là sinh viên năm thứ tư Đại học được. Chắc mày là thần đồng, đậu tú tài toàn phần vào năm mười lăm tuổi mà tao không biết.

Nghe Long công tử nói, tôi mới nhớ là hắn đã không biết gì về chuyện tôi học Văn Khoa ở Đà Lạt. Trong đầu của hắn, tôi vẫn là thằng Bắp cải của hơn bảy năm về trước khi tụi tôi còn ở Thủ Đức. Không có đi đâu mà vội, tôi từ tốn giải thích cho Long công tử nghe.

-Mày nói đúng, mười chín tuổi vừa đậu xong cái bằng tú tài hai, tao tình nguyện vào Trường Bộ Binh Thủ Đức mà chưa có một ngày bước chân vô đại học, chưa biết mặt mũi của nó như thế nào. Mãn khóa, khi mọi người hăng hái tươi cười vác ba lô ra đơn vị, riêng tao ôm cái mối tình tuyệt vọng với em Dung xinh đẹp đem về Trường Võ Bị Đà Lạt. Suốt hai năm sau đó tao sống như một cái xác không hồn, sống mà như đã chết rồi, sống mà không một chút hy vọng vào tương lai. Thất tình mà mày. Tao làm việc ở Trung tâm Hành quân Trường Võ Bị Đà lạt, hết ca trực có hai mươi bốn giờ nghỉ, tao dùng thời giờ này lang thang ở mấy quán cà phê, tìm quên trong tiếng nhạc lời ca, bên những giọt cà phê đắng, bên khói thuốc cay nồng. Ở đó tao mơ màng nhìn mấy cô thu ngân mà thương tiếc, nhớ hoài nhớ mãi về những ngày phép ở Sài Gòn, với mối tình mà tao cho là đi trên đường một chiều.

Long công tử cắt lời tôi.

-Tao có cảm tưởng rằng mày đã lạc đề, chuyện mày kể không có chút gì liên hệ đến việc mày học đại học. -Có chớ sao không, cứ từ từ đừng có nóng, tao mới nói rõ đầu đuôi được. Một lần nọ khi tao đang ngồi ăn sáng ở câu lạc bộ sĩ quan của trường, bàn bên cạnh tao là một ông thiếu úy và một ông chuẩn úy. Tao vừa gặm bánh mì vừa uống cà phê, tai nghe họ nói chuyện. Mày cũng đừng có vội chê là bất lịch sự khi nghe lén chuyện của người khác, tao bị nghe vì hai cái bàn kê gần nhau quá. Qua câu chuyện của họ, tao biết được cả hai ông đều tốt nghiệp Cao học, vừa đổi về làm việc ở Văn hóa vụ. Tao nghĩ thầm hèn gì cách ăn nói của họ nghe thật là chửng chạc, mạch lạc, rõ ràng, cứ như là mấy ông thầy. Cấp bậc của hai ông đều nhỏ như tao thôi, nhìn cái vỏ bên ngoài, tao giống hệt hai ông sĩ quan nọ, cũng quân phục với huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt bên tay áo trái, lon lá trên cầu vai, cũng cái mũ nồi để trên bàn, thế nhưng học thức của họ thì không nhỏ chút nào, nó cao tận mây xanh. Sự khác biệt giữa tao và hai ông sĩ quan ngồi bàn bên cạnh là cái hố sâu bằng cấp.  

Trường Võ Bị Đà Lạt là nơi long đầm hổ huyệt, đi đâu, ngồi đâu, cũng gặp những bậc trí thức khoa bảng, bằng cấp đầy người.Trước đó vào những ngày nghỉ, khi thấy tao không chịu tiếp tục việc học mà chỉ hay la cà ở những quán cà phê, ba tao nói với tao, câu nói mà tao nhớ mãi trong lòng “Ba là thợ mộc, đã từng đóng nhiều bàn ghế cho học sinh, mơ ước của ba là được ngồi trên những cái ghế đó mà không được, nay con may mắn hơn ba, có cơ hội tiến thân, con lại đi chọn mấy cái ghế trong quán cà phê”. Sau buổi ăn sáng ngày hôm ấy, tao quyết định mò lên Viện đại học Đà Lạt, ghi danh vào Văn khoa. Những năm sau đó tao vừa đi lính vừa đi học, cứ tà tà ngày này qua tháng nọ. Hết năm thứ nhất, tao bò lên năm thứ hai rồi tiếp tục bò lên năm thứ ba. Bò hoài, bò mãi, cuối cùng sau mấy năm đèn sách, học trầy vi tróc vảy, tao là sinh viên năm thứ tư, đang chuẩn bị bợ cái bằng cử nhân thì ngày 30 tháng 4 đến.

Long công tử dường như đã hiểu rõ chuyện học của tôi nhưng hắn vẫn thắc mắc.

-Viện đại học Đà Lạt nổi tiếng với phân khoa Chính trị Kinh doanh, tại sao mày không học mà lại chui đầu vô Văn khoa?

Tôi cười với Long công tử.

-Mấy ông giảng sư thỉnh giảng từ Đại học Văn khoa Sài Gòn lên, thường dễ dãi trong việc điểm danh, không phải là chín, mà là năm cũng bỏ làm mười, đừng có vắng mặt nhiều quá thì mọi chuyện coi như là êm xuôi, đó là lý do tao chọn Văn khoa.

Long công tử gật gù ra chiều thấm ý, hắn khen tôi mà như là người anh khen thằng em.

-Đang ở trong quân đội mà mày còn học thêm ở đại học, kể ra mày cũng là thằng có chí đó. Hóa ra tao với mày kẻ trước người sau cùng chung một môn phái. Vậy thì mày biết gì về bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” nói cho tao nghe coi.

Tôi không đọc nguyên tác bài thơ bằng chữ Hán, mà xuống giọng luôn một mạch bốn câu thơ đã được dịch sang tiếng Việt.

Trăng tà tiếng quạ kêu sương.
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô.
Nửa đêm ghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Long công tử đưa tay ra dấu cho tôi ngừng, rồi hỏi.

-Mày thấy bài thơ thế nào?

Tôi trả lời hắn.

-Một bài thơ bất hủ, một kiệt tác lừng danh thiên hạ, kể từ ngày bài thơ ra đời cho đến nay, trải hơn một ngàn hai trăm năm, chừng đó năm tháng qua đi cũng đủ thẩm định giá trị của bài thơ rồi. Tao nghĩ không có gì phải bàn đến.

Long công tử lắc đầu ra chiều thất vọng.

-Mày sống mà như con ngựa kéo xe, bị che mắt nên chỉ biết đi theo con đường mà người ta đã vạch sẵn,  chỉ biết đi theo những lối mòn văn chương xưa rích xưa rác, nghe người ta khen bài thơ hay, mày cũng bày đặt khen theo, không biết tự chọn lấy một con đường mới mà đi. Tao đã đọc hàng trăm bản dịch bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” hầu hết những người dịch đều không nhắc đến câu thứ ba trong nguyên tác của bài thơ chữ Hán “Cô Tô thành ngoại Hàn San tự” câu này được dịch sang tiếng Việt là “Chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô”. Một câu thơ tầm thường như vậy có gì để mà ca ngợi, phân tích, tán dương. Giống như chuyện bọn mình đang đi làm lao động khổ sai, cuốc đất trồng khoai gần Chợ Lầu trong cái nắng cháy da của Sông Mao, trưa đến mỗi thằng tù chén rưỡi cơm nguội, nửa lon nước giếng, ăn cơm mà tưởng như đang nuốt hết đắng cay của cuộc đời. Cảm thương cho thân phận tù đày tao bèn than thở bằng một câu thơ “Chợ Lầu ở ngoài trại tù Sông Mao”. Câu thứ ba của bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” và câu thơ của tao, hai câu giống nhau như đúc, mày làm ơn nói cho tao biết nó hay ở chỗ nào?

Tôi giật mình nghĩ thầm, xét cho cùng ngụy biện rồi ăn nói cộc lốc như Long công tử, đôi khi cũng có lý phần nào. Để trả lời hắn tôi nói.

-Mày diễn tả một câu thơ Đường nổi tiếng bằng những lời nói phang ngang bửa củi, cứ như là quản giáo đang lên lớp, dạy dỗ tù nhân. Tao biết nói gì với mày bây giờ.

Long công tử tu một hơi bia, đưa miếng khô cá lên miệng, hắn nói.

-Còn một điều nữa tao cũng muốn nói thêm với mày, chùa Hàn San hiện đang nằm bên trong thành Cô Tô, chứ không phải ở ngoài thành như bài thơ đã nói.

-Mày nói thì tao nghe, tại sao lại có chuyện lạ lùng như vậy? Căn cứ vào đâu mà mày nói chùa Hàn San nằm bên trong thành Cô Tô.

Long công tử nói.

-Nhà tao có tấm hình chùa Hàn San treo trên tường, diện tích của chùa khá rộng dám tới một mẫu tây như chơi. Trong sân chùa cây cỏ xanh um, quanh chùa bị bao vây bởi trùng trùng điệp điệp nhà cửa của dân, nhà này sát với nhà kia khiến tao có cảm tưởng một con kiến cũng khó mà chui qua được, nói cho dễ hiểu là chùa Hàn San tứ bề thọ địch, nằm gọn giữa thành Tô Châu, tên mới của thành Cô Tô.

Tôi hỏi.

-Có phải mày đang nói đến chuyện ngựa đá qua sông, đúng không?

Long công tử ờ …ờ…trong miệng rồi nói.

-Gần đúng như vậy, cũng là chuyện vật đổi sao dời mà thôi. Mày có biết nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi không?”.

Tôi trả lời.

-Nghĩa trang này nằm chình ình ngay trung tâm thành phố Sài Gòn, ai mà không biết.

Long công tử với giọng từ tốn kể cho tôi nghe. -Người ta nói năm 1859, chính xác hơn là 1870, nghĩa trang này được gọi là Đất Thánh Tây, nằm ở ngoại ô Sài Gòn, là nơi đồng không mông quạnh, cỏ dại mọc đầy, ngày đêm ếch nhái kêu nghe buồn đến nát ruột, đó là nơi dùng để chôn cất lính viễn chinh và thường dân Pháp. Tám, chín chục năm sau, Sài Gòn phát triển quá sức mau chóng, dân số tăng vùn vụt, nhà cửa được xây cất với tốc độ chóng mặt, Sài Gòn bành trướng gấp trăm, ngàn lần ngày xưa. Đất Thánh Tây bấy giờ hết còn ở ngoại ô, mà nó đã nằm lọt vào trung tâm thành phố Sài Gòn, rồi được đổi tên thành nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Hàn San Tự cũng biến đổi theo hình thức như vậy. Từ lúc bài thơ ra đời, cho đến tấm hình treo ở nhà tao, hơn một ngàn hai trăm năm vật đổi sao dời, biển cả còn biến thành ruộng dâu thì chuyện Hàn San Tự, từ ngoại ô thành Cô Tô trở thành trung tâm thành Tô Châu, là chuyện phải xảy ra. Cho đến hôm nay, nếu ngôi chùa này còn ở ngoại ô như câu thơ đã diễn tả, đó mới là chuyện lạ, cần phải thắc mắc.

Long công tử ngừng kể chuyện, đưa tay cầm cái bánh chưng, hắn lột lớp lá chuối bên ngoài đặt xuống cái bao cát, rồi đến lớp lá chuối bên trong, tay làm nhưng miệng lại càm ràm.

-Mày có thấy không, bánh chưng thì phải gói bằng lá dong, hạt nếp trong bánh mới xanh tươi, khi ăn mới thấm được cái mùi Tết nằm bên trong bánh. Gói bánh chưng bằng lá chuối, gói cha nó bánh tét cho được việc. Mẹ nó …

Long công tử im bặt, hình như hắn đang lúng túng trong việc lựa lời để thóa mạ. Tôi chọc quê Long công tử.

-Giờ này mà mày còn nằm mơ, nhắc đến chuyện cổ tích thời tụi mình còn ở Thủ Đức, cuối tuần diện bộ Tiểu lễ đi phép Sài Gòn, ăn uống ở những nhà hàng sang trọng. Rồi đến Tết năm đó, năm Kỷ Dậu, khóa 6/68 tụi mình đi chiến dịch một tuần, ứng chiến, giữ an ninh cho dân Sài Gòn ăn Tết. Bánh chưng, bánh tét, trái cây, người dân Sài Gòn cho bọn mình nhiều đến độ ăn mà phát ớn. Hôm qua tao nghe mấy ông Việt cộng có hứa rồi, Tết năm sau sẽ cho tù nhân ăn bánh chưng gói bằng lá dong đàng hoàng.

Long công tử cười lớn, nó nói với giọng nói tràn đầy sung sướng.

-Bắp cải ơi, so với thời còn ở Thủ Đức, hôm nay mày đã khá hơn nhiều rồi. Hồi xưa mày nói cái giọng sọc dưa như vậy, coi bộ mệt với tao, nhưng hôm nay thì…thì…

Long công tử ngập ngừng.

-Hôm nay tao cũng như mấy ngàn ông sĩ quan bị nhốt ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao này, mấy ông bên Không quân thì đúng là đại bàng gãy cánh, Hải quân như tàu mắc cạn, Nhảy dù thì bị dù đuôi nheo, Thiết giáp như cua gãy càng, Biệt động quân giống như cọp sút móng. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Mày muốn chê trách như thế nào cũng được, không ai phàn nàn gì đâu.

Long công tử cắn một miếng bánh chưng được gói bằng lá chuối rồi gật đầu.

-Cũng không tệ lắm nếu đem so với cơm hẩm gạo mục, lá khoai mì ở Cà Tót, nhưng mà thôi, tự nãy đến giờ tụi mình nói toàn chuyện tầm phào. Bây giờ tao muốn nói với mày chuyện quan trọng hơn, có an nguy đến tính mạng của tụi mình, đó là chuyện trốn trại. Tao nói, nếu có gì không đồng ý thì mày cho tao biết. Suốt mấy tháng qua, tao dành rất nhiều thì giờ để suy nghĩ và tìm cách trốn ra khỏi cái trại tù này. Như mày biết, Sông Mao là một thị trấn khá sầm uất “bên ngoài trại tù Sông Mao là Chợ Lầu”, điều này cho mình biết rõ dân chúng sống cách trại tù không xa. Chuyện leo tường, đào đường hầm trốn trại vào ban đêm là chuyện khó có thể thực hiện được vì chỉ có vài giờ trong đêm tối, làm sao mình có thể đào được đường hầm sâu ít nhất khoảng một thước, chui qua hàng rào vỉ sắt PSP mà không gây tiếng động. Nếu lỡ bị phát giác khi đào đất, sẽ bị súng đại liên hỏi thăm sức khỏe ngay lập tức, cho nên tao không chọn giải pháp leo rào hoặc đào hầm. Tao đang tính đến chuyện khi đi lao động bên ngoài, mình sẽ thừa lúc mấy tay lính gác lơ là, chuồn ngay về phía nhà dân, phóng ra quốc lộ 1, thuê Honda ôm chạy càng xa trại tù càng tốt, trước khi Việt cộng phát hiện ra là có tù trốn trại và tung người đi truy lùng. Sau đó tao với mày sẽ tìm xe ôm về Sài Gòn hay ngược ra Phan Rang. Sở dĩ mình phải dùng xe ôm là tránh bị xét giấy tờ tùy thân. Tao cũng tính đến chuyện mình có thể mua một chiếc xe đạp cà tàng, đạp về Sài Gòn tuy chậm chạp nhưng đó là cách di chuyển an toàn và chắc chắn nhất. Tụi mình có thừa tiền để làm theo cách này. Kế hoạch của tao như vậy, mày có ý kiến gì hay nói cho tao biết.

Mặt trời vừa khuất sau cái hàng rào xám xì xám xịt làm bằng những tấm vỉ sắt PSP, trong cái nhá nhem của buổi chiều cuối năm, gương mặt của Long công tử lộ vẻ bồn chồn thấy rõ. Tôi nói với nó.

-Những điều mày nói hoàn toàn hợp lý vì trốn trại như vậy vừa dễ, vừa an toàn, cơ hội thành công rất cao. Chỉ có một điều tao thấy không êm xuôi là, khối 5 Đà Lạt của tao và khối 4 Bình Thuận của mày, có bao giờ đi làm lao động chung với nhau ở ngoài đâu. Làm sao hai đứa có thể cùng trốn trại một lần được.

Long công tử cười lớn.

-Đó chính là điều mà hôm nay tao muốn bàn với mày. Cá nhân tao, bằng mọi giá phải trốn trại tìm gặp thân nhân. Dám gần cả năm rồi tao chưa được gặp vợ con, cha mẹ, không biết họ còn sống hay đã chết trong cơn biến loạn vừa qua. Tao sẽ về Sài Gòn, về lại căn biệt thự của ba má tao, với chút hy vọng là nhà cửa chưa bị Việt cộng tịch thu và ông bà vẫn còn sống ở đó.

Long công tử quay sang hỏi tôi.

-Mày có biết tại sao tao dám về lại nhà cũ không?

Tôi trả lời hắn.

-Tao không biết, bộ mày không sợ bị công an địa phương theo dõi rồi bị bắt lại sao?

Long công tử cười sảng khoái.

-Khi bị bắt giam tại lao xá Phan Thiết ngày 25 tháng 4, lúc bấy giờ Miền Nam chưa mất, tao vẫn tin tưởng rằng phe mình sẽ chống cự cho đến người lính cuối cùng, cho nên trong tờ khai lý lịch mà Cộng sản bắt làm, tao khai địa chỉ cái nhà kho của ba tao ở bên Khánh Hội, và cái địa chỉ đó tao vẫn tiếp tục dùng trong những tờ khai lý lịch sau đó, dùng cho đến bây giờ.

Đang say sưa nói chuyện, Long công tử đột nhiên hỏi nhỏ.

-Mày có biết tuần trước, một nhóm tù Fulro bị bắt nhốt ở trại của tụi mình không?

Tôi trả lời Long công tử.

-Có, tao có thấy, nhưng mà hình như cả Tổng trại 8 tù binh này đều thấy, chứ không phải một mình tao.

Long công tử với nét mặt hớn hở.

-Sau 30 tháng 4, những người Fulro đó vẫn tiếp tục chiến đấu chống Cộng sản cho đến tuần trước mới bị bắt, có nghĩa là họ đã cầm cự được hơn tám tháng rồi. Vậy thì những người Fulro chưa bị bắt họ đang ở đâu? Nếu trốn thoát được khỏi trại tù này, sau khi gặp vợ con và cha mẹ, tao sẽ nghiên cứu kỹ càng, tìm cách móc nối với những người Thượng Fulro còn ở trong rừng. Và tao sẽ vào rừng để tiếp tục chiến đấu. Đàng nào cũng chết, tao thà chết tự do ở trong rừng chứ không chịu chết một cách nhục nhã hèn hạ, như đã suýt bỏ mạng ở Cà Tót cách đây mấy tháng. Còn trường hợp, nếu không gặp được lính của mình hoặc Fulro thì với một khẩu M16 và cái địa bàn, tao sẽ tìm cách vượt biên giới, băng rừng đến Thái Lan. Mưu sinh thoát hiểm, sống trong rừng là nghề của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt. Chắc chắn tao sẽ đến được Thái Lan.

Tôi cản ngăn Long công tử.

-Đi Thái Lan làm gì? Mày đã từng du học ở Mã Lai rồi, hai nước Mã với Thái có gì khác nhau đâu. Nhập cảnh Thái Lan bất hợp pháp, không giấy tờ tùy thân, họ sẽ bỏ tù mày, sau đó sẽ gởi trả về Việt Nam giao cho Việt cộng, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa chẳng thà đừng tránh tốt hơn.

Long công tử nhìn tôi rồi thở dài ngao ngán.

-Mày đúng là một thằng khờ, nhưng mà chuyện đời mấy ai mà biết được, biết đâu nhờ cái khù khờ đó mà cuộc sống của mày cứ thuận chèo xuôi mái, trôi nhẹ nhàng trên dòng đời đầy hiểm nguy trắc trở. Mày hỏi tao, đi Thái Lan để làm gì hả? Dễ thôi, mày nhìn vào bản đồ Việt Nam đi, phía Bắc là Tàu cộng, hướng Tây là Lào cộng rồi Khờ Me đỏ. Xa hơn là Thái Lan vẫn còn tự do. Tao thà bỏ thây trong rừng núi Trường Sơn tìm đường sang Thái Lan chứ quyết không sống chung với Việt cộng, với lũ quỷ đỏ này. Còn điều này nữa, tao biết chắc rằng phi trường B52 ở U-Ta-Pao vẫn còn đó, hy vọng người Mỹ ở trong căn cứ này sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ mà họ sẽ chấp nhận tao, đón nhận một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt đã từng cộng tác với họ trong chiến tranh Việt Nam. Trong trường hợp vượt biên tới Thái Lan, tao cần vài người bạn đồng hành.

Tôi hăng hái nói với Long công tử

-Bên khối 5 Đà Lạt của tao có một thằng trung úy, là một tay hảo hán bạt mạng, hắn đã từng chung sống với Đại đội Địa Phương Quân Fulro nhiều tháng. Nếu mày muốn, tao sẽ giới thiệu nó với mày.

Long công tử cười ngất.

-Quân bắp cải ơi, chính mày vừa nói với tao là khối 5 Đà Lạt và khối 4 Bình Thuận không thể cùng đi lao động ở bên ngoài một lần, thì làm sao cùng trốn trại. Nếu được tao đã trốn chung với mày rồi, cần gì phải tìm ai.

Hình ảnh cái xác chết của người tù trốn trại lỗ chỗ vết đạn nằm dưới mấy lớp hàng rào kẽm gai, rồi cảnh hàng chục tên bộ đội với súng AK, thi nhau bắn vào người tù cải tạo trốn trại đang chạy trối chết, khiến tôi buột miệng nói với Long công tử.

-Có một điều này, tao cũng muốn nói thêm với mày, đôi khi ông trời cũng khéo sắp đặt cho tao với mày không thể trốn trại chung một lần. Trước đây, với gần bảy năm lính, cuộc sống quân ngũ của tao phẳng lặng như mặt nước hồ thu, im lặng an lành đến mức tao cứ tưởng như mình chưa đi lính. Cho nên hôm nay chỉ cần một chút sóng to gió lớn là tao sẽ bị nhận chìm ngay tức khắc. Tháng trước sau buổi thăm nuôi, mày muốn rủ tao trốn trại. Tao đã suy nghĩ rồi, nếu theo mày chắc tao không thể chịu đựng nổi gian lao, hiểm nguy cũng như khổ cực. Chỉ cần cho tao một chút hy vọng nhỏ nhoi, là sẽ còn có cơ hội gặp lại vợ con thì dù phải ở tù thêm năm, hay mười năm nữa tao cũng chịu. Hãy để tao ở lại trong trại tù này.

Long công tử gật đầu.

-Đúng, mày đi theo tao khác gì cái của nợ, làm vướng bận thêm cho tao mà thôi. Nhưng mà…

Trong bóng tối mờ mờ, gương mặt của Long công tử trở nên đăm chiêu tựa như đang suy nghĩ, phải mấy phút sau hắn mới nói nên lời.

-Có một chuyện khiến tao phải lo lắng là khi tao trốn trại rồi, mày là đứa đầu tiên sẽ bị kêu lên để điều tra, bọn Việt cộng sẽ đánh đập, đày ải, trấn lột, mày có muốn sống cũng không được mà chết cũng không xong. Chỉ còn một cách duy nhất để mày có thể sống an toàn trong trại tù này là tao với mày phải chia tay nhau, không được gặp gỡ thường xuyên như bấy lâu nay tụi mình vẫn làm. Tao cũng nghĩ đến chuyện phải làm cách nào để mọi người trong khối 4 Bình Thuận khinh bỉ, coi tao như một con chó ghẻ cần phải xa lánh. Muốn được như vậy tao chỉ còn một cách là đóng vai một thằng ăn ten. Chừng ba tháng sau, khi mọi người đã ghê tởm, khinh khi tao ra mặt, trong số đó có mày, lúc bấy giờ tao sẽ trốn trại.

Tôi nhắm mắt lại mà lòng xúc động muốn khóc, thương cái quang minh lỗi lạc của Long công tử, trước khi ra đi mà hắn còn tính chuyện an nguy cho bạn. Tôi nói.

-Mày có biết chuyện làm ăn ten dù là đóng kịch, cũng không tốt cho mày. Tại sao phải làm như vậy, hay là mày giả làm thằng ăn trộm vặt một vài tán đường, chút thuốc Lào, với cái tội này mày chỉ bị đem ra phê bình kiểm thảo và làm bản kiểm điểm trước tổ, trước khối mà thôi, không bị nhốt conex, cũng không mang tiếng phản bội anh em.

Long công tử chần chừ giây lát, chuyện này phải để tao suy nghĩ lại, nên đóng vai ăn cắp vặt hay là làm thằng ăn ten chuyên đi rình mò tố cáo anh em.

Tôi nhìn chiếc đồng hồ dạ quang đang đeo trên tay, mới đó mà đã hơn tám giờ. Ở đây cho tôi nhắc một chuyện quan trọng, có một điều khá may mắn là tất cả những tù nhân ở Trung tâm Huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến Đà Lạt, không bị tịch thu vật dụng cá nhân cho nên tôi và nhiều người tù còn giữ được đồng hồ hoặc nhẫn vàng, trong khi ở những trại khác, tù nhân bị trấn lột sạch sẽ. Đêm nay là đêm trừ tịch, không trăng không sao, bầu trời tối đen như mực, tôi ngồi gần bên Long công tử, tuy đã quen với bóng tối nhưng cũng phải khó khăn lắm mới thấy được gương mặt của hắn. Long công tử nói với tôi, giọng nói chầm chậm, trầm trầm như là của một ông già đã bước qua khỏi ngưỡng cửa tri thiên mệnh, nói lời cuối cùng khi chia tay với người bạn cố tri.

-Lẽ trời đất hợp tan, tụ tán, tao với mày may mắn được sống chung với nhau trong tù mấy tháng rồi, bèo hợp để mà tan, trăng tròn rồi lại khuyết, đừng có buồn khi phải xa nhau. Sau này, nếu còn nhớ đến tao, mày cứ coi như tao là thằng Biên, đã chết từ lâu rồi. Kể từ ngày mai, tụi mình phải tập nín thở qua sông, phải giấu kín tình cảm của mình, sống vô tri vô giác như cây cỏ đất đá. Muốn được như vậy mày nhớ đừng bao giờ qua đây tìm tao, nếu mày còn muốn sống chờ ngày trở về gặp lại vợ con và cha mẹ.

Hình bóng của một người lính cô đơn với cây súng M16 trên vai lầm lủi vượt Trường Sơn, băng ngang nước Căm Bốt với đầy mìn bẫy, lính Khờ Me đỏ tàn ác, bạo tàn, khiến tôi chạnh lòng thương cảm. Nghĩ đến giây phút phân ly, trong bóng tối của đêm giao thừa, tôi siết chặt tay Long công tử rồi nói mà nước mắt chỉ chực tuôn tràn.

-Tao sẽ cố gắng làm đúng những gì mày dặn. Nhớ giữ gìn sức khỏe.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 2
Địa Phương Quân Fulro

Tôi ngồi đó im lặng nghe Sơn kể chuyện, hắn kể hoài kể mãi vẫn không thấy nó nói gì đến chuyện, tại sao nó có cái biệt danh Sơn Fulro. Nóng lòng, tôi nhắc khéo nó.

-Chắc cuộc sống khổ cực, hành quân liên miên, dãi dầu mưa nắng, da của mày đen sạm nên mày có tên là Sơn Fulro, phải không?

Sơn cười, tiếng cười như mắc nghẹn trong cổ.

-Nếu cứ có làn da đen vì sạm nắng sẽ bị gọi là Fulro, thì lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ có hàng trăm ngàn ông lính mang tên Fulro.

Sơn lấy một cái chén, loay hoay lúi húi múc cho tôi một ít lá rừng còn nóng hổi.

-Thử đi mày, nếu không quen sẽ không ăn được đâu, rán tập đi, độn cho nó đầy cái dạ dày lép kẹp, tụi tao sống nhờ nó đó.

Tôi bưng chén lá rừng, khói còn bốc lên nghi ngút, gắp một mớ lá nhai thử. Tôi nhai hoài, nhai muốn trẹo quai hàm giống như mấy con bò nhai lại cỏ, lá rừng dai vì có nhiều xơ, vị của nó nhân nhẫn lại thoang thoảng khai mùi nước tiểu. Người ta thường nói ngậm bồ hòn làm ngọt, tôi đang ở trong trường hợp đó. Phun ra không được sợ buồn lòng bạn, tôi nhắm mắt cố nuốt thật nhanh mấy cọng lá rừng, nếu để chậm chút nữa chắc tôi phải ói ra mất.

Sơn nhìn tôi rồi nói.

-Cứ từ từ mà ăn, vừa ăn vừa nghe tao kể chuyện. Mày muốn biết tại sao tao có tên là Sơn Fulro phải không? Fulro là mấy mẫu tự đầu của năm chữ tiếng Pháp, đại khái nói về phong trào đòi tự trị của những bộ tộc thiểu số ở cao nguyên, và những sắc dân Chăm, Cam Bốt. Tao không muốn dài dòng về nguồn gốc, sự hình thành và quá trình hoạt động chiến đấu của họ. Tao nghĩ mày cũng như dân Miền Nam đều hiểu rõ về Fulro. Tao chỉ nói đến chuyện có liên quan đến tao. Tháng 2 năm 1969, sau nhiều lần thương thuyết thất bại, lực lượng Fulro đồng ý về hợp tác với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Một buổi lễ long trọng được ký kết giữa lãnh tụ Fulro và Bộ trưởng Sắc tộc Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự chứng kiến của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Theo đó với sáu ngàn người trong lực lượng Fulro, trong đó có hơn hai ngàn binh sĩ của họ, sẽ sáp nhập vào lực lượng Địa Phương Quân của mình. Dĩ nhiên họ sẽ được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi, như một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, có một chi tiết quan trọng là những binh sĩ Địa Phương Quân Fulro, sẽ được đặt dưới sự chỉ huy của sĩ quan Fulro chứ không phải sĩ quan Việt Nam.

Tôi nói với Sơn.

-Nếu vậy thì có cũng như không.

Sơn cười.

-Mày nói sai rồi, thêm bạn bớt thù mà, có còn hơn không mới đúng. Bởi vậy cho nên giữa Fulro và tao mới có một mối duyên kỳ ngộ. Vào một buổi trưa nọ, khoảng cuối năm 1969, tao đang ngồi phè cánh nhạn, nhậu lai rai ba sợi với mấy tên đệ tử. Mồi nhậu ê hề, ba con cá lóc to bằng bắp tay vừa mới câu được ở hồ Lăk đem nướng trui, một tô nước mắm với đầy đủ ớt, tỏi, chanh, đường. Nguyên một con gà luộc vàng hườm, mỡ tươm đầy da, đưa cái mỏ nhọn hoắc với đôi mắt đục ngầu nhìn tao. Một anh lính thuộc loại đệ tử ruột của thần lưu linh, hắn trịnh trọng quay cái đít con gà về phía tao rồi nói “Nhất phao câu nhì đầu cánh, ông thầy nhắp một chút rượu đưa cay, xong rồi làm một miếng phao câu, là thấy đời lên hương ngay.” Nói xong hắn từ tốn rót một ly rượu nếp than thơm lừng, đưa cho tao “Mời ông thầy uống trước”.

Sơn ngưng kể chuyện, hắn đứng lên rồi chửi thề.

-Mẹ nó, trong quân đội Miền Nam chuẩn úy Bộ binh là ông quan hạng chót, kinh nghiệm trận mạc thì không có vậy mà lúc nào đụng trận cũng thấy hắn ở hàng đầu, xung phong giết giặc phải chạy trước lính. Nếu có ông chuẩn úy nào miệng hô xung phong mà chạy sau lính, cuộc đời binh nghiệp của hắn ta kể như chấm dứt, bị đặt vô cái thế chẳng đặng đừng, cho nên có chết chuẩn úy cũng đành chết trước luôn. Đánh nhau thì như vậy, về hậu cứ uống rượu đương nhiên phải uống trước lính. Tao mới bưng ly rượu chưa kịp nhắp miếng nào, bất ngờ tên đệ tử thân tín xuất hiện phá bỉnh, báo cho tao biết phải lên trình diện Trung úy Đại đội trưởng ngay lập tức. Tên lính nói mà mặt mày hớt hơ hớt hải như chuyện trời sắp sửa sụp không bằng, miệng hắn lắp bắp “Ông thầy à, hình như ông thầy bị thuyên chuyển đi đơn vị khác”. Tao gắt với tên đệ tử “Bị cái con mẹ gì, ở đây với địa ngục có gì khác nhau đâu, đi khỏi địa ngục thì phải gọi là được mới đúng. Đợi tao uống xong ly rượu đã.” Tuy nói như vậy nhưng tao biết, chuyện gì còn có thể chần chờ được chứ gặp hung thần mà chậm trễ, ổng đì cho sói trán. Tao đặt ly rượu xuống mà như còn tiếc nuối cái gì đó, không có thì giờ suy nghĩ, tao lại bưng ly rượu lên nốc một hơi rồi co giò phóng như bay, quên mẹ nó luôn cái phao câu béo ngậy của con gà.

Tôi đùa với Sơn.

-Trời đánh tránh bữa ăn, mày cứ từ từ cưa vài ly rồi mới đi gặp Đại đội trưởng, không được hay sao?

Sơn chậm rãi nhai mớ lá rừng.

-Ngày đó, tao chưa dám giỡn mặt với sếp. Trung úy Đại đội trưởng với nét mặt nghiêm nghị, giọng nói rõ ràng là đang ban lệnh hành quân “Chuẩn úy lo sắp xếp mọi thứ, đi biệt phái cho một Đại đội Fulro, thời gian là hai tháng. Đi theo ông sẽ có một binh sĩ truyền tin, và một đệ tử lo chuyện ăn uống cho ông. Nhiệm vụ của chuẩn úy là, giúp Đại đội trưởng Đại đội Fulro theo dõi đường đi, chấm tọa độ đóng quân, điểm kích đêm cũng như tác xạ tiên liệu, xin pháo binh yểm trợ khi đụng trận. Bên đó họ cần ông, bởi vì sĩ quan Fulro không quen sử dụng địa bàn và bản đồ. Người Thượng Fulro, có thể đi trong rừng ngày này qua tháng nọ không cần bản đồ và không bao giờ bị lạc, nhưng nếu xin pháo binh yểm trợ mà không rành tọa độ, không giỏi bản đồ, sẽ bị lạc đạn như không.” Trung úy Đại đội Trưởng ngừng một lúc như đợi cho tao hiểu rõ nhiệm vụ, ông nói tiếp “Chuẩn úy có gì thắc mắc không?”. Tao hỏi ông ta “ Trung úy có thể nói cho tôi biết, tại sao lại là tôi phải đi biệt phái, trong khi đại đội của mình còn mấy sĩ quan thâm niên hơn tôi.” Trung úy Đại đội trưởng xuống giọng với tao “Bởi vì chuẩn úy là người giỏi địa bàn và bản đồ nhất, trong mấy ông sĩ quan. Hơn nữa, ông cũng vừa học xong khóa Điều chỉnh tác xạ pháo binh, cử ông đi là phải rồi.Với lại ông cũng nên biết, bồng em thì khỏi xay lúa.” Tao nói với Trung Úy Đại đội trưởng “Đánh nhau với Việt cộng tôi không sợ, vậy mà lại ớn mấy ông kẹ Fulro, mỗi khi không vừa lòng chuyện gì lại nổi loạn, trói cổ mấy thầy trò của tôi lại, đe dọa cắt cổ mổ bụng, để yêu sách với Tiểu khu.” Trung úy Đại đội trưởng an ủi tao, giọng nói yếu xìu như cái lốp xe bị xì hơi, ông nói mà như tiễn đưa tao về miền miên viễn “Chắc không sao đâu, mình cứ sống hết lòng với họ là được rồi.”

Sơn nhấc cái nồi lá rừng để xuống đất, vừa làm hắn vừa nói với tôi.

-Mày biết không, hồi đó chỉ nghĩ đến chuyện phải sống với mấy ông Fulro hai tháng, là tao sợ muốn đái trong quần.

Tôi đặt cái chén lá rừng xuống, rồi nói với Sơn.

-Tao có chút thắc mắc, mày nói với tao có hơn hai ngàn hai trăm binh sĩ Fulro về hợp tác với Việt Nam Cộng Hòa. Mày đi tăng phái cho một đại đội Fulro, vậy còn hơn hai ngàn binh sĩ Fulro nữa, họ ở đâu?

-Chuyện đó tao không biết, tao chỉ nghe nói lại thôi không tận mắt chứng kiến. Khi về hợp tác với mình, lực lượng Fulro được tái tổ chức theo kiểu mẫu của Địa Phương Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ bị chia thành bốn tiểu đoàn, một tiểu đoàn có bốn đại đội. Sau khi gởi đi thụ huấn, Địa Phương Quân Fulro được đưa về các tiểu khu ở cao nguyên Trung phần như Tiểu khu Darlac, Tiểu khu Pleiku, Tiểu khu Kontum, và Tiểu khu Tuyên Đức. Hình như mỗi tiểu khu tiếp nhận một tiểu đoàn Fulro. Khi về tiểu khu, họ bị phân tán mỏng, tùy theo tình hình địa phương mỗi quận nhận một đại đội. Quận Lạc Thiện của tao có một Đại đội Fulro về đó. Và tao lãnh nhiệm vụ đi biệt phái cho họ.

Tôi hỏi Sơn.

-Nếu vậy còn phải có chừng hai chục ông sĩ quan, đi biệt phái cho những Đại đội Fulro khác. Đúng không?

Sơn nhíu mày như cố nhớ lại chuyện xưa.

-Chuyện đó tao chịu thua, chỉ biết trường hợp của tao thôi, chuẩn úy chứ đâu phải chuẩn tướng, làm sao mà tao biết hết mọi chuyện được. Ngay buổi chiều hôm đó, khi mà lá rừng của núi đồi cao nguyên chìm trong hoang lạnh, bầu trời đầy mây xám, tao cùng hai ông đệ tử, mỗi thằng bảy ngày lương khô, ba lô súng đạn đầy đủ dẫn nhau đi biệt phái cho Đại đội Fulro, mà quân số của họ một trăm phần trăm là người Thượng. Cá nhân tao, ngoài khẩu súng ngắn colt 45 đeo xề xệ bên hông, tao thủ thêm cây súng dài M16 và mấy trái lựu đạn M26 cho chắc ăn.

Sơn im lặng một chút, rồi đột ngột hỏi tôi.

-Mày có biết tại sao tao mang hai cây súng không?

-Tại mày sợ quá chứ gì.

Sơn cười.

-Đúng một phần thôi, một phần nữa là do hồi nhỏ tao bị ảnh hưởng phim “Bảy người hiệp sĩ” của Nhật, do tài tử Toshiro Mifune thủ vai chính. Hình ảnh của ông ấy với hai thanh kiếm, một dài một ngắn, giắt ngang hông, đứng một mình trong mưa chuẩn bị đánh một trận sinh tử với lũ giặc cướp. Cái oai phong lẫm liệt của một người sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa, bảo vệ dân lành chống lại bọn thổ phỉ, đã khắc sâu vào tâm khảm của tao. Mẹ nó, phim hay đến độ nó báo hại suốt ba ngày kế đó, sáng nào tao cũng ôm cái bụng đói đi học.

Tôi thấy có cái gì đó lấn cấn nên hỏi Sơn.

-Tại sao mày không ăn sáng rồi đi học, bộ mày bị tiêu chảy hả?

Sơn giải thích.

-Không tiêu mà cũng không chảy, ba ngày nhịn ăn sáng, tao để dành được sáu đồng đủ để mua một vé cine, coi lại phim “Bảy người hiệp sĩ” thêm một lần nữa.Và tao đem theo trong đầu ông hiệp sĩ với hai thanh kiếm giắt ngang hông, cho đến khi có cơ hội là tao chơi liền hai cây súng. Mày biết không, mang tâm sự của những người đi biệt phái cho Fulro, giống như tâm sự kẻ sang Tần, tuy không nói ra nhưng tao biết cả ba thầy trò đều lạnh cẳng, cùng có một tâm trạng giống nhau, từ đây giữa chốn gió cát mịt mù, chuyện sống chết rủi may đành phó mặc cho số phận. Đại đội của tao cũng giống như đa số đại đội Địa Phương Quân trên vùng cao nguyên, tệ lắm cũng có phân nửa quân số là người Kinh, đây là yếu tố tâm lý rất quan trọng, nó giúp mình an tâm, gặp khi nguy khốn còn có chỗ mà dựa. Anh chàng truyền tin coi bộ yếu bóng vía nhất trong bọn, hình như ớn cho cái cảnh cô đơn lạc lõng giữa rừng người Thượng Fulro, bịn rịn không nỡ chia tay với đại đội cho nên cứ “Bước đi một bước, giây giây lại dừng.” Hắn ta nói với tao, giọng nói nghẹn ngào như là muốn khóc “Ông thầy ơi, nếu mà Fulro có giở quẻ, khi ông thầy chạy nhớ dẫn thằng em theo với.” Nhìn anh ta mà lòng đầy thương cảm, tao còn biết nói gì hơn là nhắc lại lời của Trung úy Đại đội trưởng “Chắc không sao đâu.”

Tôi hỏi Sơn Fulro.

-Tại sao mày không đổi anh chàng truyền tin khác, gan dạ hơn?

Sơn nhìn tôi.

-Mày ngon thì tới đó mà đổi.

Nói xong, Sơn Fulro tà tà kể tiếp.

-Tụi tao trình diện ông Đại đội trưởng Fulro, khi ông ta đang ngồi dựa lưng vào một gốc cây rừng. Vừa nhìn thấy ông, bao nhiêu lo âu phiền muộn mang nặng trong lòng vụt tan biến, trước mặt tao một người Thượng mặt mày phương phi, sáng sủa, cặp lông mày rậm đen nằm trên đôi mắt to có màu xanh lờn lợt, da vàng, mũi cao chứ không tẹt như đa số người Thượng. Tay phải của ông đại úy cầm cái kéo bé tí xíu, tay trái với tấm gương soi mặt tròn và nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay, ông ta đang ung dung nhàn nhã, tỉa bộ râu mép màu nâu đậm. Ông đại úy bận một bộ đồ rằn ri với ba cái bông mai vàng sáng chói nơi cổ áo, thêm cái tên Y Gul trên túi áo phải. Ở đại đội tác chiến, quân nhân mang lon màu đen, tao không biết tại sao ông đại úy này lại mang lon màu vàng. Từ con người của ông ta toát ra một vẻ thanh thoát, thân thiện, ông niềm nở bắt tay tao rồi nói “Chuẩn úy ngạc nhiên lắm phải không? Tôi lai Tây, đã học hết lớp đệ tứ ở trường trung học Ban Mê Thuột, ba tôi là thư ký đồn điền cao su nhưng ông ta đã về Pháp từ lâu rồi. Dăm ba năm, ông gởi cho mẹ con tôi tí tiền, mà tôi đoán là chút tình còn sót lại khi nhớ đến giọt máu rơi ở Việt Nam”. Sau cái bắt tay thân mật đầy tình người, với giọng nói cởi mở, ông cảm ơn ba đứa tao đã đến đây giúp đỡ ông. Sau đó, ông ra lệnh cho anh lính Fulro chỉ cho tụi tao chỗ nghỉ tạm qua đêm. Anh lính yên lặng dẫn tụi tao đi vòng vo, băng qua nhiều giao thông hào, hầm hố, vọng gác, cuối cùng anh ta dẫn tụi tao vào trong một cái hầm rất kiên cố được xây bằng xi măng, không có người ở, nóc hầm được bao phủ bằng nhiều lớp thân cây rừng mà chu vi của nó khoảng một vòng tay ôm, rồi đến hàng chục lớp bao cát xếp chồng lên nhau. Bên trong căn hầm chỉ có chút ánh sáng mặt trời xuyên qua khung cửa hẹp, làm cho căn phòng chìm trong bóng tối, xòe bàn tay chỉ thấy mờ mờ. Anh lính Fulro chỉ cho tụi tao cái chõng tre ở một góc của căn hầm rồi lặng lẽ bỏ đi. Sau này tao được biết, ngày xưa đây là một trong hàng chục trại nội địa  của Lực Lượng Đặc Biệt, nó nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, khác với trại Lực Lượng Đặc Biệt Biên phòng, khi Lực Lượng này rút đi, họ bàn giao căn cứ lại cho Địa Phương Quân của Tiểu khu Darlac. Tao bật cái đèn pin, quét một vòng quanh tường rồi đưa mắt quan sát khắp nơi.

Sơn ngừng nói, hắn hỏi tôi, câu hỏi không liên quan gì đến chuyện đang kể.

-Mày đã thấy con bọ cạp bao giờ chưa?

Sau một lúc suy nghĩ, tôi trả lời Sơn.

-Cách đây mấy tuần, khi đi làm lao động bên ngoài trại, lúc làm cỏ chung quanh cái hàng rào vỉ sắt PSP tao có thấy một chú bọ cạp nằm trong kẹt đá, đó là lần đầu tiên trong đời tao thấy con bọ cạp.

Sơn cười khoái chí.

-Tao cũng vậy, khi tao chiếu đèn pin lên vách tường căn hầm, một cảm giác lành lạnh rợn người chạy khắp thân mình. Từ nhỏ đến lớn, đó là lần đầu tao thấy bọ cạp, không phải một con mà mấy chục con đang bám đầy trên vách tường xi măng thô nhám. Tất cả đều nằm yên không nhúc nhích, khiến tao có cảm tưởng đó là những con bọ cạp làm bằng nhựa dẻo, mà ai đó đã dán lên vách để trang trí cho vui. Đang miên man suy nghĩ, tao tự hỏi làm sao có thể ngủ với một bức vách đầy bọ cạp như vậy? Tên đệ tử của tao đốt một cây đèn cầy, hắn gắn cây đèn lên đầu cái chõng tre đặt cách vách tường chừng hơn một gang tay rồi nói lớn “Chuẩn úy, ông có thể ngủ trên cái chõng tre này.” Tao nói với tên đệ tử, giọng nói đầy giễu cợt “Tao còn yêu đời không muốn chết vì bị bọ cạp cắn”. Tên đệ tử chỉnh tao “Bọ cạp chích chứ không có cắn, nơi đuôi của nó có một cây kim, khi chích nọc độc từ trong thân con bọ cạp theo cây kim này truyền sang sinh vật mà nó chích. Đám bọ cạp đang bám trên tường, nếu ông thầy không đụng chạm tới nó, thì sẽ không bao giờ bị chích. Tui sẽ kéo cái chõng tre cách xa tường chừng một thước là an toàn.”  Nói xong tên đệ tử cúi người, tay kéo cái chõng miệng nói như để trấn an tinh thần của tao “Ngày mai tui sẽ bắt độ chục con bọ cạp, nướng lên cho ông thầy ăn với cơm.”

Sơn đột ngột vỗ vai tôi.

-Mày nghĩ coi, chắc tên đệ tử tưởng tao là dân của những bộ tộc bán khai bên Phi Châu, cho nên nó đòi nướng bọ cạp cho tao ăn. Tuy bực trong lòng nhưng tao cũng đùa với nó “Tao không thích ăn bọ cạp nướng.” Tên đệ tử vội vàng nói không suy nghĩ “Nếu ông thầy không thích bọ cạp nướng thì tui làm bọ cạp chiên giòn, thứ này nhậu với rượu đế cũng bắt lắm đó ông thầy.” Tới đây thì tao giận thiệt nên nói “Mẹ nó, bọ cạp nướng với chiên, ăn xong để rồi lăn quay ra chết phải không?” Tối hôm đó tao nằm ngủ dưới hầm, bên cạnh bức tường đầy bọ cạp. Trong giấc ngủ chập chờn đầy ác mộng, nửa đêm tao chợt giật mình thức giấc, giữa cái vắng lặng của đêm đen sâu thẳm, tao bật cái quẹt zippo mồi thuốc, ánh lửa vàng vọt bùng cháy soi sáng một góc hầm. Tao nhìn lũ bọ cạp trên vách mà nhớ đến quán cà phê ở thành phố Ban Mê Thuột, quán có cô thu ngân đẹp như tranh vẽ, ngồi mơ màng bên dàn máy Akai M9, với cặp loa 100 watts treo trên tường phát ra những bản nhạc thời trang lãng mạn, ướt át, làm mê mẩn lòng người.

Tôi kéo Sơn ra khỏi cái thế giới đầy mơ mộng của hắn.

-Bọ cạp ăn được đó mày, mấy ngày trước tao thấy một thằng trong tổ của tao, nó chộp được con bọ cạp, nướng lên rồi xơi ngon lành.

Sơn nhìn tôi nói.

-Đồng ý là ăn được nhưng mà…

Hắn nhăn mặt rồi kể tiếp.

-Khi mà mặt trời rọi những tia nắng đầu tiên vô hầm, lúc đó ba thầy trò tụi tao đang bắt đầu ngồi thưởng thức bữa ăn sáng. Hai bịch cơm sấy lớn, một gói mì làm canh, một hộp thịt ba lát thêm ly cà phê đen. Tụi tao phải ăn thật no, nhét cho đầy bụng để có sức mà lội. Vừa dứt buổi ăn sáng, cũng là lúc ông lính Fulro dẫn đường cho tụi tao ngày hôm qua, tới kêu đi họp. Đứng trước hàng quân, tất cả mọi quân nhân đều mặc áo quần rằn ri, nên tao cứ tưởng mình đứng trước một Đại đội Biệt Động Quân. Tao không biết Tiểu khu Darlac lấy áo quần rằn ri ở đâu, để trang bị cho những ông lính Fulro này. Thêm một điều nữa khiến tao thắc mắc là, tao ước chừng có khoảng trên hai chục sĩ quan đủ các cấp từ đại úy xuống đến chuẩn úy, đang đứng trong hàng quân, trên cổ áo của họ là một rừng mai vàng nở rộ cứ như là Tết. Tao nghĩ nhiều đến cấp số sĩ quan đầy đủ của một Tiểu đoàn Biệt Động Quân, cũng chỉ đạt đến chừng đó mà thôi. Sau này tao được biết thêm, sở dĩ có nhiều sĩ quan được đồng hóa cấp bậc trong một Đại đội Địa Phương Quân Fulro, vì đó là điều kiện khi họ về hợp tác với Việt Nam Cộng Hòa, và yêu sách đó đã được chấp thuận. Đại úy Y Gul giới thiệu tao với các sĩ quan và binh sĩ trong đại đội, khi ông ngưng nói, ba đứa tao đã nghiễm nhiên trở thành binh sĩ của Đại đội Fulro.

Mỉm cười nhìn tôi, Sơn nói.

-Tới đây, mày biết tại sao tao có cái tên Sơn Fulro rồi chứ gì?

Tôi gật đầu.

-Bây giờ mới biết.

Sơn Fulro tiếp tục câu chuyện.

-Với người Thượng núi rừng là nhà, hành quân trong rừng giống như chuyện họ đang sống trong nhà. Hai tháng biệt phái, hơn một tháng rưỡi bọn tao hành quân trong rừng sâu núi thẳm, lặn lội trong dãy Trường Sơn âm u hiểm trở, nơi đó những dãy núi xếp nếp tiếp nối nhau tưởng như không bao giờ dứt. Địa bàn hoạt động của Đại đội Fulro, trải dài từ buôn Don, cho đến những dãy núi cao chập chùng chớn chở, vây quanh đỉnh Chư Yang Lăk với độ cao 1650 mét, mà người Thượng gọi là đỉnh núi nhiều mây trắng. Có lần tụi tao đã tốn gần hai ngày mới lên đến đỉnh Chư Yang Lăk, mà mục đích là lục soát vùng đặt súng cối 82 ly của Việt cộng. Mỗi người lính vai ba lô với bảy ngày lương khô, súng M16 với một cấp số đạn, lựu đạn, mìn claymore, thêm bốn bi đông nước, bám theo sườn núi dựng đứng mà leo lên, vừa leo vừa sợ nếu có Việt cộng ở trên, chỉ cần năm, sáu tên ném đá cục xuống cũng chết sạch cả đại đội, nói gì chuyện họ bắn và quăng lựu đạn xuống. Khi tao và Đại đội Fulro đến nơi Việt cộng đặt súng cối, họ đã rút đi mất từ hôm trước, dấu vết còn lại chỉ là mấy cái bếp lửa giấu kín trong hang đá, một tờ giấy vở học trò gấp làm bốn dằn dưới một hòn đá. Có một điều lạ là họ không gài mìn. Đại úy Y Gul đọc xong những gì viết trong tờ giấy, ông đưa cho tao “Chuẩn úy coi lại, tụi Việt cộng nói gì, nét sơn là ai mà thua rồi ?” Tao nhìn hàng chữ viết nguệch ngoạc trên tờ giấy, nét chữ lúc thì té bên đông, khi thì trượt bên tây mà ớn cho mấy ông Việt cộng. “Tại sao bọn ngụy tụi bây không nghe đài bbc, nét sơn đã thua rồi”. Giống như Đại úy Y Gul, tao cũng không biết nét sơn là thằng mắc dịch nào. Trao tờ giấy lại cho Đại úy Y Gul, tao tính nói với ông là tao cũng không biết, cùng lúc ấy đột nhiên một tia sáng lóe lên trong đầu, tao đoán rằng người viết dòng chữ này là một tên Việt cộng ở miền Bắc cho nên khi nói đến Tổng Thống Mỹ Nixon, hắn nói là nét sơn. Nói sao hắn viết như vậy. Tao cười với Đại úy Y Gul “Tụi nó nói Tổng Thống Mỹ Nixon đó”. Gật gù cái đầu ra chiều đắc ý, đưa tay vuốt bộ râu mép, Đại úy Y Gul nói với tao “Vậy mà tôi nghĩ không ra”.

Sơn ngưng nói, hắn nhìn quanh rồi đưa tay vơ lấy tấm ván nhỏ đậy lên nồi lá rừng. Xong xuôi hắn mới  tiếp tục kể chuyện.

-Đứng ở lưng chừng núi Chư Yang Lăk, nhìn xa hơn nữa, xa thật là xa về hướng Đông, Chư Yang Sin mới là đỉnh núi vô địch trong vùng với cao độ 2442, cao nhất vùng cực Nam của dãy Trường Sơn. Tụi tao chưa bao giờ bén mảng tới vì quá xa, ngoài tầm hoạt động của Đại đội Fulro. Khi hành quân lúc nào thầy trò tao cũng đi cùng với bộ chỉ huy đại đội, sát cánh với Đại úy Y Gul. Tao là cái máy đo tọa độ, xác định điểm đứng, điểm đóng quân đêm, tác xạ tiên liệu gởi về chi khu và cả phòng ba của tiểu khu. Một lần nọ tại điểm dừng quân, tọa độ mà tao gởi về chi khu không được Đại úy Y Gul đồng ý, ông ta cho rằng tao chấm tọa độ sai. Hai cái tú tài ban toán hạng bình thứ, những bài học địa hình ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, gần một năm kinh nghiệm lội suối băng rừng ở Lạc Thiện, làm sao tao có thể chấm tọa độ sai được. Tao yêu cầu Đại úy Y Gul hãy cùng tao kiểm soát lại tọa độ điểm nghỉ quân. Với những phương pháp cơ bản về bài học địa hình ở Thủ Đức, tao để tấm bản đồ xuống đất, đặt cái địa bàn lên trên rồi xoay tấm bản đồ, cho đến khi hướng Bắc của bản đồ trùng với mũi tên chỉ hướng Bắc của địa bàn. Sau khi đã định hướng được bản đồ, tao chỉ Đại úy Y Gul về phía hướng Đông, cách điểm đóng quân khoảng hai trăm mét là ngã ba nơi hai con suối nhỏ gặp nhau. Sĩ quan mới ra trường nhắm mắt chấm tọa độ cũng đúng, huống gì là sĩ quan có kinh nghiệm như tao. Tao gọi pháo binh ở chi khu xin một trái khói, chừng hơn năm phút sau một làn khói trắng bốc lên cao, cách xa đại đội khoảng hơn trăm thước, ngay hướng Đông. Một nụ cười tươi rói nở trên gương mặt Đại úy Y Gul, ông ta đưa ta vuốt bộ râu mép rồi nói “Chuẩn úy giỏi thiệt”.

Sơn lim dim đôi mắt, hắn nói chuyện với tôi mà như nhớ về dĩ vãng.

-Hồi đó được khen tao khoái quá chừng, quên mẹ nó hết mọi khổ cực. Những ngày sau đó Đại úy Y Gul luôn tỏ ra thân thiện với tao, khi đứng trước hàng quân ông thường gọi tao là Chuẩn úy Y Son, rồi nói rằng, ông rất bằng lòng với những gì mà tao đã giúp cho đại đội khi đi hành quân.Đại úy Y Gul còn dành nhiều ưu ái cho tụi tao, ưu ái đến độ ông muốn xin tiểu khu cho tao về làm sĩ quan cơ hữu của Đại đội Fulro do ông chỉ huy.  Cách duy nhất mà tao có thể từ chối tấm lòng yêu mến của ông Đại úy Fulro, là tao phải đưa ra một ví dụ thực tế nhất, để ông ta hiểu rõ vấn đề một cách thấu đáo. Tao nói “Đại úy thích sống nơi núi rừng, làm bạn với chim muông cây cỏ, ông ở trong rừng giống như con cá sống dưới nước. Nếu đại úy là con cá đang bơi dưới suối, tôi đem quăng ông lên bờ, ông có chịu không?” Đại úy Y Gul trả lời tao “Không được đâu.” Tao vin ngay vào câu trả lời của ông rồi nói “Tôi quen sống ở thành phố, bắt tôi bỏ vô rừng cũng giống như đem con cá vất lên bờ, nó sẽ giãy đành đạch rồi chết. Tôi đi biệt phái cho đại úy, đặt dưới quyền chỉ huy của ông, tôi là thuộc cấp của ông, quyền sinh sát nằm trong tay của ông. Đại úy bắt tôi ở lại với ông, tôi phải ở lại, cho về, tôi mới được về.” Đại úy Y Gul đưa tay vuốt bộ râu mép, gật gù “Chuẩn úy nói đúng, khi hết hạn tôi sẽ trả ông về đơn vị cũ.” Những ngày sau đó, trong những bữa ăn khi hành quân, Đại úy Y Gul thường cho tao khi thì miếng thịt heo rừng, lúc thì chút thịt nai, mà lính của ông vừa mới săn được trong rừng. Thời gian trôi mau như cánh chim bạt gió, vừa thấy đó đã mất hút ở cuối trời, ba đứa tao sống với Đại đội Địa Phương Quân Fulro mới đó mà đã được hai tháng. Ngày mà tao mãn hạn lưu đày, Đại úy Y Gul với đôi mắt ươn ướt, bắt tay tao siết mạnh rồi từ tốn nói “Người Thượng chúng tôi nói một là một, hôm nay tôi trả chuẩn úy về với đơn vị cũ của ông, đúng như tôi đã hứa trước đây”. Đại úy Y Gul nói trả nhưng giọng nói đầy bịn rịn nghe cứ như là muốn giữ tao lại. Lòng bồi hồi xúc động trước cái chân tình của Đại úy Y Gul, tao ôm chặt lấy ông rồi hỏi nhỏ “Đại úy à, ông có còn ý định giữ tôi ở lại đại đội này với ông không?” Gương mặt của Đại úy Y Gul đang buồn bã bỗng dưng vụt sáng, ông hấp tấp hỏi “Chuẩn úy chịu ở lại với tôi, có đúng không?” Tao nhìn vào đôi mắt sâu thăm thẳm của Đại úy Y Gul rồi cười thoải mái “Hai tháng nữa thôi nghe đại úy, chỉ một mình tôi thôi còn hai người lính phải được thay thế”. Và bài học quý giá nhất mà tao học được nơi núi rừng hoang dã của cao nguyên là những loại lá rừng nào ăn được, loại lá nào có thể dùng làm thuốc.

Sơn cúi đầu như nhớ về những ngày tháng cũ.

-Bây giờ thì mày hiểu tại sao mấy tháng trời ở trong trại tù Sông Mao này, tao ăn đủ mọi thứ lá rừng mà không bị đau hay ngộ độc.

Sơn ngừng nói, hắn nhíu mày như đang suy nghĩ.

-Mày còn nhớ không, hôm trước trong trại của tụi mình, khi một toán tù nhân Fulro khoảng hơn chục người nhập trại, tao nhìn họ và tin rằng, có thể họ là những binh sĩ Địa Phương Quân Fulro năm xưa. Những tù nhân Fulro này hôi hám bẩn thỉu, áo quần lôi thôi nhếch nhác, hai tay của họ bị khóa chặt trong cái còng số 8, dưới chân là một sợi xích sắt to và dài hàng chục thước cột họ lại với nhau. Tất cả cúi đầu đi chầm chậm trong im lặng, kéo lê từng bước chân mệt nhọc đến nhà giam. Cảnh đó giống hệt như những tên nô lệ của Âu châu thời Trung cổ, mày thấy tao nói có đúng không?

Tôi nói với Sơn. -Cùng một chuyện về tù Fulro nhưng đó là cách nhìn của mày, tao có cái nhìn của tao. Khi thấy đoàn tù Fulro đi qua, hàng chục người bị cột chung với nhau bằng một sợi xích sắt dài, khiến tao nhớ lại đâu khoảng năm tao còn học đệ nhất, lần đầu tiên bất ngờ nghe được bản nhạc “House of the rising Sun”, do ban nhạc The Animals trình diễn. Khi anh ca sĩ cất giọng, toàn thân tao chợt như đóng băng, lặng người đi, sửng sờ như bị hớp hồn bởi giọng ca truyền cảm đầy ma quái của anh ta. Hấp lực của nó mạnh đến độ đầu của tao muốn vỡ tung.

Khả năng Anh ngữ của tao lúc bấy giờ chỉ nghe câu được câu mất, không làm sao hiểu trọn vẹn đầy đủ lời ca của bản nhạc.  Cũng may âm nhạc thì không có biên giới, nên tao vẫn có thể cảm nhận cũng như thưởng thức được cái hay của nó. Khi đến gần cuối bản nhạc, bất chợt tao nghe được câu “wear that ball and chain” thì hình ảnh của nước Mỹ thời lập quốc, thời Nam Bắc chiến, thời chinh phục miền Tây, thời đãi cát tìm vàng của hơn vài trăm năm trước, hiện về ngay tức khắc trong tâm trí của tao. Những người nô lệ da đen, rồi những tù nhân chân mang sợi xích với trái banh bằng sắt, làm lao động khổ sai lấp sông, phá núi, làm đường xe lửa, họ chậm chạp kéo lê những bước chân nhọc nhằn mệt mỏi trong cái nắng như thiêu đốt của miền Tây nước Mỹ. Đoàn tù Fulro mà sợi xích sắt dài như vô tận cột hơn mười trái banh người, xâu thành một hàng di chuyển trước mắt tao, hình ảnh đó còn dã man tàn bạo, man rợ hơn nước Mỹ thời Nam Bắc chiến gấp ngàn lần. Cùng là thân phận tù đày, cùng chung một trại giam, nhưng những người tù Fulro bị biệt giam trong một căn nhà với sợi xích sắt to, xiềng họ lại với nhau, khi cần di chuyển hơn mười trái banh người phải cùng đi một lần. Sau đó những người tù Fulro được đưa đi đâu mất, trả tự do hay đem đi xử bắn, điều đó tao không biết được. Với Việt cộng câu nói mà ai cũng biết “Thà giết lầm hơn bỏ sót.” Quá khứ đã chứng minh, Việt cộng thà giết lầm hơn sáu ngàn thường dân ở Huế trong Tết Mậu Thân, chớ quyết không bỏ sót bất cứ một tên Ngụy quân, Ngụy quyền nào hết. Như vậy số phận của những người tù Fulro này, chắc không được sáng sủa cho lắm.

Sơn lo thu dọn mấy cái chén miệng nói với tôi, giọng nói nhỏ lại, nhỏ thật nhỏ.

-Có điều này, tao cần phải nói với mày, ngày xưa khi không biết gì về “Phong trào tự trị Fulro” tao nhìn họ với đôi mắt đầy kỳ thị. Với tao Fulro đồng nghĩa với nổi loạn, Fulro là chống đối. Sau mấy tháng sống chung với họ nơi núi rừng cao nguyên đèo heo hút gió, tao hiểu ra người Thượng Fulro yêu thiên nhiên, yêu cái hoang sơ của núi rừng Trường sơn, yêu đất đai nơi mà cha ông của họ đã sống tự ngàn xưa. Y hệt như người dân Miền Nam , từ sông Bến Hải cho đến mũi Cà Mau, họ yêu sông nước Miền Nam , yêu con sông Hàn ở Đà Nẵng, sông Côn ở Bình Định, sông Ba ở Tuy Hòa, yêu sông Cửu Long ở Nam kỳ lục tỉnh, yêu ruộng đồng, yêu mồ mả ông cha, yêu tự do. Kể từ cuối năm 1969 cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn hai ngàn binh sĩ Địa Phương Quân Fulro đã sát cánh với quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng nhau chiến đấu để bảo vệ Miền Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt. Rồi cái lệnh đầu hàng nghiệt ngã của Tổng Thống Miền Nam đã lùa sĩ quan bọn mình vô tù. Riêng binh sĩ Địa Phương Quân Fulro vẫn còn tiếp tục chiến đấu, bằng cớ là cho đến mấy hôm trước, tụi mình mới thấy hơn chục binh sĩ Fulro bị bắt vào đây. Tao tin rằng sau hơn bảy, tám tháng đánh nhau, không có tiếp tế, súng ống và đạn dược của họ đã cạn kiệt, chuyện bị bắt không chóng thì chày phải đến thôi.

Giọng nói của Sơn bỗng trở nên nghiêm trọng.

-Những gì tao vừa kể cho mày nghe về cái tên Sơn Fulro của tao, mày hãy giữ kín miệng giùm. Khi vô đây tao giấu biệt, không nói cho một ai biết về chuyện tao đã từng có thời gian sống với Fulro.

Tôi nói.

-Bên tổ 38 của mày, tụi nó vẫn thường gọi mày là Sơn Fulro mà?

Sơn cười.

-Tao nói láo với bọn nó là tao đen giống người Thượng, nên bị bạn bè đặt tên là Sơn Fulro.

-Vậy tại sao mày lại nói sự thật với tao?

Sơn hơi ngập ngừng.

-Hôm trước nói chuyện với mày, tao biết rằng mày là thằng có thể tin được.

Tôi nói với Sơn.

-Chuyện này thì tao hứa với mày, sẽ tuyệt đối giữ bí mật.

Trong ánh lửa sắp tàn, chỉ còn lại chút tro than âm ỷ cháy giữa đêm đen, Sơn với nét mặt đăm chiêu, tư lự, hắn nói mà như không muốn nói.

-Còn một điều này nữa, mấy tháng trường ở trong tù đói ăn thiếu mặc, đã nhiều lần vì quá đói tao phải tìm lá rừng mà ăn thêm. Khi cầm trong tay ba tán đường mày cho, tao cảm động đến muốn khóc, không ngờ rằng trong tận cùng của địa ngục đói khát, lại có người dám cho mình không phải một mà tới ba tán đường. Tao dự tính, đến tối sẽ cùng với hai thằng bạn trong nhóm nấu một nồi chè đậu đen, ăn cho bỏ những ngày thèm khát. Chuyện đời có mấy ai ngờ, trưa hôm đó khi gặp đoàn tù Fulro với cái sợi xích sắt dài hàng chục mét, cột họ lại thành một xâu, khiến tao nhớ lại thời mình còn ở chi khu Lạc Thiện. Nhớ lại chuyện tao với những người Thượng Fulro có một thời là chiến hữu, từng sát cánh bên nhau chống lại Cộng sản. Nghĩ đến ân tình mà ông Đại úy Fulro có cái tên là Y Gul đã dành cho tao, khi ông thân mật gọi tao là Y Son. Không một chút đắn đo, tao trở về phòng, lấy ba tán đường đem cho mấy người tù Fulro, vừa cho vừa run vì sợ bị lính gác phát hiện. Thật lòng mà nói, tao không có tốt bụng đến như thế đâu, nhưng nền giáo dục Nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa đã ăn sâu vào tiềm thức, khiến tao có hành động như vậy. Và kể từ ngày bước chân vào tù cho đến hôm nay, tao không biết cái vị ngọt của tán đường nó như thế nào, dám nó sẽ làm tê dại đầu lưỡi của mình như chơi. Phải không mày?

Đồi 52 Và Mùa Xuân Định Mệnh

dongsongcu.wordpress.com

Tác giả: Cù Lũ Nhí–Châu Nhái

Posted on February 21, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 9 Mar 2025

Ảnh minh họa

Lữ Đoàn III Nhảy Dù sau khi làm chủ tình hình trên đỉnh 1062 thì các đơn vị trực thuộc được bung rộng an ninh về hướng D1, D2, và trên những ngọn đồi chiến lược quanh vùng, quân Nhảy Dù dần dần ổn định vị trí một cách yên lành trong khi các đơn vị VC cũng rút khỏi vùng lửa đạn này êm thắm…

Buổi sáng mùa Đông 1974, Tuấn Sùi, người SQ cùng khoá 9/72 với tôi khi còn ở quân trường Thủ Đức, đang chỉ huy một Trung đội Trinh sát thuộc ĐĐ3TSND, xuống thăm tôi trên đài quan sát (ĐQS) còn mang theo chai “ông già chống gậy” (Johnnie Walker) để từ giã tôi vì ngày mai Tuấn cùng Trung đội Trinh sát sẽ xuống núi dưỡng quân ngoài Cầu Chìm, Tùng Sơn, Ái Nghĩa… Chúng tôi ngồi sau bậc đá nhâm nhi chai rượu mới vừa được trực thăng tiếp tế hôm qua, tôi cũng được Anh Sáu Lũng (TĐT/TĐ2PBND) gởi tặng cây thuốc President, anh thường khi gởi cho tôi mỗi khi anh muốn nói lời “khen thưởng” riêng cho thuộc cấp… ĐQS bây giờ cũng thoải mái hơn xưa, không còn sợ quân bắn sẻ thường xuyên rình rập như trước và có thể lai rai đốt thuốc hút mà không sợ “lủng cổ”, hút thuốc là điều tối kỵ và nghiêm cấm trên ĐQS này.

Tuấn kể cho tôi nghe huyên thuyên chuyện Trung đội Trinh sát của hắn cách đó ba tuần đã bẻ gãy cuộc tấn công của đặc công CS đang cố gắng mon men bám sát hầu tìm cách tiêu diệt ĐQS chúng tôi. Tôi cũng nhớ rất rõ giọng đanh thép của Tuấn lúc 4 giờ sáng oang oang trên tần số, điều động đàn em cẩn thận khi phát hiện đặc công CS đang bò vào và gặp ngay Trinh sát Dù nghinh đón… Trinh sát và các đơn vị Đa Năng của Nhảy Dù là các đơn vị được huấn luyện đặc biệt để diệt chốt, diệt tăng, và chống đặc công CS; đêm đó khi đặc công bò vào thì đã bị quân tiền đồn phát hiện ngay từ đầu, nhưng vẫn để cho họ ung dung như không hề có khả nghi, tôi cũng được báo cáo nên ba thầy trò chúng tôi đã bò ra các giao thông hào trên triền dốc nằm sẵn sàng chờ đợi… cho tới khi Tuấn biết họ chỉ có chừng một trung đội và hầu như tất cả đã lên hết lên trên đỉnh 1025, hướng về ĐQS. Tuấn ra lệnh khai hỏa, vừa khi tiếng nổ của quả Beta đầu tiên mà bọn đặc công ném vào các hầm trú ẩn chữ A kiên cố trống không… sau khi bị phát hiện tấn công vào chỗ không người, họ cố gắng rút về hướng yên ngựa D1, nhưng những bóng người đã hiện quá rõ dưới đường chân trời, làm mục tiêu trong tầm ngắm của các chiến binh Trinh sát Dù đang săn địch dưới giao thông hào.

Sáng hôm sau khi tôi lên 1025 gặp Tuấn đang chờ trực thăng đáp xuống để bàn giao 9 tù binh đặc công vừa bắt được đêm qua về cho Ban 2 Lữ Đoàn trong khi những toán TS khác đang đào hố chôn những xác chiến binh đặc công miền Bắc còn trẻ đến độ không ngờ, chân đất, quần tà lỏn, mình thoa đầy lọ nghẹ hóa trang đen thui… họ là những chiến binh đặc công tình nguyện để rồi “sinh Bắc tử Nam”… nhưng CS không bao giờ mang xác họ về cho gia đình, cha mẹ đâu biết con em mình nằm chết vất vưởng nơi nào đó trong rừng núi Trường Sơn.

Ngày hôm sau chúng tôi từ giã nhau, Tuấn lên đường sớm để bắt kịp chuyến trực thăng ngoài LZ (Landing Zone) dưới dãy Đông Lâm, và đó cũng là lần cuối tôi và Tuấn Sùi gặp nhau, mãi cho đến bây giờ không biết Tuấn ở đâu, tuy nhiên, trong tôi, hình ảnh của người bạn cùng khoá, chàng SQ/ĐĐ3TSND kiên cường, gan dạ và đầy bản lãnh, luôn ngự trị trong lòng tôi ở một vị thế trang trọng nhứt cho đến ngày hôm nay.

Tôi được lệnh phải ở lại chờ gặp viên SQ/PBND có biệt danh 207, để bàn giao ĐQS cho toán mới (và một Trung đội Đa năng lên bảo vệ) để thay thế cho toán chúng tôi được về dưỡng quân. Vị SQ/B3 yêu cầu tôi duyệt lại các điểm cận phòng quanh ĐQS, các vị trí phòng không của đối phương, đặc biệt là những vị trí bên kia sông Vu Gia, làng Đông Phước, và đồng thời tiếp tục quan sát các vị trí đóng quân giữa ta và địch. Suốt ngày hôm đó tôi ôm cái viễn kính lưỡng mục đi chu du khắp vùng trách nhiệm, tôi bỗng để ý dưới Đồi 52, sát bên Chi khu Thường Đức, có 3 ụ đất đỏ thật lớn vừa được đào lên đêm qua (hoặc được xe ủi đất ủi thành ụ đất lớn), tôi bốc máy gọi cho Thiếu tá Việt, Đại Cồ Việt, báo cáo tình hình và cho biết có thể địch sẽ dùng làm việc gì đó lớn lao lắm nhưng tôi không biết, mấy ĐT [đích thân] cũng chú ý những ụ đất mới, họ nói phải cần thêm “bà già” lên vùng để kiểm chứng.

Sáng sớm hôm sau “bà già” xác nhận đã có 3 con cua (tăng T54) trám qua đêm vào các ụ mà tôi vừa báo cáo hôm qua, hiện chúng đã che đậy và hoá trang như những lùm cây. Thì ra Bắc quân đã đoán được đoàn quân ND sớm muộn gì cũng sẽ dứt điểm Đồi 52 để tái chiếm quận lỵ Thường Đức. Tôi thực sự bị sốc khi biết tin này, vì từ khi ND tham chiến mặt trận Thường Đức cho đến giờ, chưa bao giờ thấy mặt T54 xuất hiện vào vùng này, bởi lẽ rừng núi trùng trùng điệp điệp về hướng tây dầy đặc làm sao xe tăng có thể vào được? Vả lại ở ĐQS tôi cũng thường theo dõi đường di chuyển của Bắc quân xuyên rừng bằng những con đường chuyển gỗ của dân theo đường xe be, giờ có lẽ xe tăng cũng dùng những con đường đó để áp sát Thường Đức từ hướng Quốc Lộ 14 (còn được gọi là Đường Mòn HCM).

Nghe được tin phối kiểm từ nhiều phía là Đồi 52 giờ có thêm 3 chiếc T54 án ngữ đón chào đoàn quân Mũ Đỏ, các đơn vị bắt đầu trang bị mạnh vũ khí chống tăng, hiện các cánh quân ND đã bao vây Chi khu Thường Đức và Đồi 52 từ nhiều phía; ĐĐ21, 22, 23, và 24 của TĐ2ND đóng dọc theo các triền đồi 126, 383, 400 ngay trên đầu Núi Đất (tên gọi khác của Đồi 52, theo tên dân địa phương); tôi cũng ghi lại những tọa độ chính xác trên bản đồ hành quân của riêng tôi, đồng thời gởi các tọa độ về trung tâm hành quân LĐ.

Ngay đêm đó, bất thần, tôi nhận được lệnh của Thiếu tá Hóa, TĐP/TĐ2PBND, điều động thầy trò 3 người chúng tôi rời bỏ vị trí ĐQS, ông nói rằng tôi sẽ được đề cử lên làm Sĩ Quan Liên Lạc (SQ/LL) cho một tiểu đoàn nào đó đang được không vận vào vùng, nhưng chính ông cũng chưa biết đích xác, và để bảo mật, chúng tôi phải rời ngay đêm nay, theo chân toán viễn thám dẫn đường, băng rừng về LZ tiếp tế trên dãy Sơn Gà, chúng tôi len lỏi trong đêm đen, một cách thật yên lặng, bám sát toán viễn thám, bằng cách nhìn theo miếng giấy bạc (bên trong mỗi bao thuốc) được dán sau ba lô của người đi trước, và chỉ được dùng bật lửa một cách giới hạn trong trường hợp bị lạc nhau quá xa… có đôi lần Hùng, người hạ sĩ mang máy PRC25 bị cần antenna vướng cây nên suýt bị rơi xuống vực, tôi phải đổi cho Trung sĩ Bé to con hơn mang thay. Toán Viễn Thám (thuộc ĐĐ3TS/LĐIIIND) chỉ có 6 người, được chỉ huy bởi một sĩ quan cấp thiếu úy làm trưởng toán, tôi cũng chưa đối diện với hắn lần nào, chỉ nói chuyện qua máy với danh xưng Thiên Long 3, và chỉ gặp viên hạ sĩ quan toán phó vào ĐQS dẫn đường cho chúng tôi lúc nửa đêm, nên cũng chẳng nhớ rõ mặt hắn. Phải công nhận rằng, các toán viễn thám Nhảy Dù hoạt động một cách độc lập, thành thạo trong khắp các ngõ ngách vùng hành quân, họ len lỏi giữa đêm đen một cách nhanh nhẹn như những bóng ma, phần vì bị giới hạn vô tuyến, chỉ liên lạc khi nào tối cần thiết, cho nên chúng tôi phải cố bám cho được họ qua những vết loang loáng phản chiếu từ miếng giấy bạc sau lưng của người đi trước; tôi là người đi đầu của toán ĐQS, phần được trang bị nhẹ nên tôi theo kịp họ dễ dàng, tuy nhiên 2 đệ tử theo sau có phần chậm chạp hơn, nhiều lúc tôi phải yêu cầu toán VT chậm lại.

Gần sáng hôm sau cả toán chúng tôi đến được LZ trên dãy Sơn Gà, ai cũng mệt nhoài sau một đêm dài di chuyển một cách căng thẳng, vừa lo lắng vừa cảnh giác cẩn thận nên cả bọn gần như không còn sức để trò chuyện, riêng tôi phải lên gặp Thiên Long 3 để cám ơn và từ giã anh ấy, tôi nhận ra anh là một huynh trưởng khoá đàn anh cách tôi mấy khoá, khi tôi về Khối Bổ Sung chờ học khoá Nhảy Dù thì anh đang chờ ra đơn vị, tuy nhiên chúng tôi không nói chuyện nhiều vì toán anh phải gấp rút trở về ngay.

Tình hình vùng 1062 bây giờ khá ổn định, nhớ lần trước khi trực thăng mới nghiêng mình thả toán chúng tôi xuống thì pháo địch cũng đã departed, chân vừa chạm đất phải phóng ngay xuống giao thông hào gồm toàn thương binh đang nằm chờ di tản… bây giờ thoải mái hơn, quân ND đã nện những cú đấm thần tốc, tái chiếm đỉnh chiến lược 1062, D1 và D2 đang đẩy Bắc quân ngược về hướng Sông Vu Gia, và nay mai, không xa, Chi khu Thường Đức sẽ là mục tiêu sắp được dứt điểm.

Ngồi trên chuyến trực thăng về dưỡng quân thật là sung sướng, sau hơn 1 tháng rưỡi bó chân trên ĐQS, liên tưởng đến nhiệm vụ mới lòng tôi cảm thấy nao nao, dù sao chức vụ SQ/LL coi như mình được đãi ngộ rồi, từ đây sẽ đi theo cấp Tiểu đoàn cùng hợp tác với vị TĐT/ND và ở BCH cấp TĐ dù sao cũng an toàn hơn SQ/TSV [tiền sát viên] ngoài tuyến đầu, vả lại sau chiến thắng đồi 383 của TĐ2ND, mọi người trong tiểu đoàn đều thừa hiểu rằng tôi đã góp phần không nhỏ.

BCH tiền phương của LĐIIIND vẫn đóng ở căn cứ Chuồng Bò, mới vừa bị đặc công CS hỏi thăm cách nay một tuần, tuy không bị thiệt hại nhiều nhưng an ninh có vẻ thắt chặt hơn, ra vào đơn vị phải qua cổng an ninh. Tôi trình diện Anh Sáu, vị TĐT/TĐ2PBND khả kính của chúng tôi, anh cho tôi biết lý do rút tôi ra khỏi ĐQS một cách gấp rút vì tình hình đang khẩn trương, LĐ đang chuẩn bị tái chiếm Quận Lỵ Thường Đức, dĩ nhiên, Đồi 52 (Núi Đất) sẽ là mục tiêu đầu tiên nằm sát phía đông của Chi khu. Anh bảo tôi rằng, tôi là người am tường địa thế của vùng hành quân, nhất là biết rõ vị trí của những con cua đang nằm chờ đợi trong hang. Thực sự, mấy ngày nay các xe tăng này chưa được khởi động, chỉ nằm đó ém quân một cách bí mật để chờ thời. Anh cũng lặp lại là tôi sẽ làm SQ/LL cho một TĐND đang được không vận vào vùng. Tôi hỏi Anh Sáu về toán mới trên ĐQS, hơi ngạc nhiên vì tôi vẫn chưa bàn giao nhiệm vụ và các vị trí cho toán mới, nhưng lệnh của TĐ bảo tôi phải rút đi rồi sẽ làm việc với họ trên tần số vô tuyến sau này khi họ đến nơi.

Không còn gì sung sướng hơn là được tự do về Cầu Chìm để được an nhàn ngồi ngắm các “kiều nữ cà phê” ngoài chợ Ái Nghĩa, cùng chai bia lạnh, dưới ánh sáng điện mờ… quên mất rằng, chúng tôi vẫn đang trong vùng hành quân và tiếng đạn ầm ĩ xa xa cách đấy không đầy 12km, là tử điạ Thường Đức và vùng núi 1062, D1, D2… vừa chôn không biết bao nhiêu chiến binh cả 2 miền Nam–Bắc…

Tôi có một người cha nuôi ngoài chợ Ái Nghĩa, gia đình ông có 2 người con, người anh trai trưởng tên Lợi, trước kia cũng là lính Nhảy Dù nhưng bị thương ngoài Quảng Trị vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972, nay đã giải ngũ và là anh kết nghĩa với tôi, cô con gái út tên Hoa, 16 tuổi, còn đi học nên mỗi lần đến nhà ít khi gặp. Khi quân ND tiến vào vùng Hiếu Đức và Đại Lộc tham chiến, trong khi chúng tôi đóng quân quanh bìa rừng chờ đợi các toán Công Binh Nhảy Dù đang ngày đêm khai phá những con đường chiến lược bên trong chân núi, tiếp cận những ngọn đồi hướng về đỉnh 1062, đồng thời làm bàn đạp cho các pháo đội kéo pháo lên đồi, áp sát các mục tiêu đã định, sẵn sàng yểm trợ cho các cánh quân Dù đang đóng quân trên các ngọn đồi bên trên. Trong khi chờ đợi các pháo đội đặt súng là thời gian thần tiên cho các SQ đề lô, được rảnh rỗi la cà khắp vùng Tùng Sơn, Ái Nghĩa, vừa được phát lương sau thời gian chuyển quân về từ Huế–Quảng Trị, người nào cũng rủng rỉnh tiền đầy túi tha hồ tiêu pha, dân chúng trong vùng bấy giờ nhiệt tình đón chào đoàn quân Mũ Đỏ, họ đến đây để chuẩn bị chiếm lại Thường Đức, dù biết rằng mai này máu của họ sẽ đổ ngập đồng, nhưng bằng mọi giá, họ sẽ tái lập an ninh cho người dân trở về quê cũ, tìm lại cuộc sống yên vui ngày nào. Trong tình quân dân cá nước, các anh tha hồ vờn gái trong các quán cà phê ngoài chợ Ái Nghĩa, còn các cô cũng dành nhiều tình cảm cho các chàng trai oai hùng đa số từ miền Nam ra.

Một buổi trưa đang ngồi nhâm nhi ly bia lạnh, Lợi đến gần mời tôi cụng ly, thấy hắn đội nón kết có bằng dù trên nón nên tôi hỏi ra lai lịch… từ đó chúng tôi thân nhau rồi kết nghĩa anh em, đôi lần Lợi dẫn tôi về nhà ăn uống, Ba của Lợi là người đàn ông goá vợ, là Thôn Trưởng ở Tùng Sơn, thấy tôi quê ở tận miền Nam xa xôi, vùng Cửu Long hiền hòa, vì nhiệm vụ làm trai thời chiến, phải ra đây để mưu cầu đem lại sự ấm êm hạnh phúc cho người bản xứ, từ đó, ông quý mến tôi như con, nên nhận tôi làm con nuôi… và cũng từ đó, mỗi khi đơn vị về dưỡng quân quanh vùng, có dịp là tôi “biến mất”… và cái tên “Châu Nhái” chết tiệt ra đời khi ông Hoá tập họp đám “cù lũ nhí” (các SQ trẻ trong TĐ) để phân chia đơn vị, ai cũng được phân công về các tiểu đoàn tác chiến chuẩn bị vào vùng hành quân, còn tôi, làm người nhái… lặn mất tiêu… ĐT Hoá từ đó gán cho tôi cái nickname này, dần dần nó ăn sâu vào lòng bạn bè cho đến bây giờ.

Tôi được mấy ngày “dưỡng quân tại chỗ”, nghĩa là hết tiền để xuôi về miền Nam thăm gia đình, nên dĩ nhiên là về nhà Lợi, cùng hắn vi vu về Hòa Khánh, Đà Nẵng, và Hội An… vui chơi cho vơi đi những nhọc nhằn trong ngày tháng ngoài vùng hành quân. Thực ra, mấy tháng nay nói là về tham chiến vùng Quảng Nam–Đà Nẵng nhưng tôi có biết thành phố là gì? Ngày đêm chỉ lo quần thảo với hiểm nguy, đối diện với tử thần trên chạm tuyến, từ hừng sáng đã thấy những bộ đồ xanh bộ đội miền Bắc bò lúp súp dưới giao thông hào, chỉ cách nhau có vài chục mét… giờ về thành phố Đà Nẵng, ban đêm vui thật là vui, người dân thành phố đâu hiểu được những nhọc nhằn của đoàn quân Mũ Đỏ nói riêng và tất cả quân đội đang ngày đêm gìn giữ ngoài biên trấn cho họ có được sự thanh bình, an vui như vậy. Nhưng thôi, đã làm trai, ai cũng có bổn phận với nước non, Nhảy Dù Cố Gắng!!!

Tối nay tôi và Lợi đi dạo dọc bờ biển, chúng tôi cũng ngà ngà sau một chầu bia, đi hóng gió mát từ biển thổi lên, quyện theo tiếng nhạc từ những nhà hàng sang trọng bên kia Kênh Phú Lộc, đang say sưa với cảnh thanh bình của Đà Nẵng về đêm, bỗng chiếc xe Quân Cảnh Hỗn Hợp (QC của QĐ I đi tuần chung với QC 204/ND) dừng lại, thấy hai chàng nhảy dù đang đi dạo, lúc đó Lợi đang mặc bộ đồ bông ND nhưng trông có vẻ lôi thôi nên họ dừng lại hỏi giấy, Lợi trình giấy giải ngũ từ SĐND (hắn vẫn được mặc đồ ND nhưng không cần phải đúng quân phong tuyệt đối vì đã giải ngũ), còn tôi có đầy đủ phép nên họ bỏ đi; nghĩ lại, dù đang trong vùng hành quân nhưng khi ra ngoài thành phố cũng phải giữ đúng tác phong.

Buổi sáng hết phép, lên trình diện các Đích Thân để nhận nhiệm vụ mới, ngồi nghe ông SQ Ban 3 thuyết trình tình hình khu vực sau 1 tuần lễ trôi qua… ĐT Việt cho biết là toàn bộ TĐ2ND đã rời vị trí chung quanh các ngọn đồi 126, 383, 400, vượt qua bên kia sông Vu Gia, đang làm nỗ lực chính, bằng mọi giá phải tiến chiếm các ngọn đồi bên trên làng Đông Phước và QL14B, đối diện Chi khu Thường Đức, hiện nơi đây đang đặt những ổ phòng không chiến lược của Bắc quân, lưới phòng không này ngày đêm khống chế các phi tuần oanh tạc mỗi khi vào vùng yểm trợ cho quân Dù, cho nên các phi công A37 thường bay từ hướng biển ngoài Hội An và Hiếu Đức dọc theo sông Vu Gia vào vùng để tránh những ổ phòng không này, sau khi đánh bom trong vùng Thường Đức xong, thay vì họ bay qua hướng 1062 để trở ra, thì họ lại đánh vòng ngược lại, bay bổng lên không về Hội An (belly up or upside down) để tránh những ổ phòng không bên trên những ngọn đồi phía sau 1062 trông thật ngoạn mục; đường bay vào và đi ra đánh bom như vậy đã né được cả hai ổ phòng không quan trọng, tuy bị giới hạn vì kém chính xác, nhưng vẫn còn hơn là không vào được, và cũng chính những ổ phòng không này là hung thần trực xạ vào các cánh quân Bộ Binh ND khi lâm chiến, những ổ phòng không 37ly liên thanh 2 nòng khi trực xạ làm thui chột ý chí chiến đấu của quân Dù… họ ngại ngần tiến quân dưới lằn đạn 37ly… nay TĐ2ND có nhiệm vụ vượt qua cầu Hà Nha để khoá họng chúng thì công cuộc tái chiếm TĐ mới dễ trong tầm tay.

TĐ6ND từ Phú Bài được không vận vào vùng Hiếu Đức, chuẩn bị thay cho TĐ3ND vừa bị rách áo vài tuần trước đây bên trên 1062 và D2, đang được về Sài Gòn dưỡng quân… LĐIIIND nay gồm các TĐ2, 5, và TĐ6ND, các cánh quân của TĐ6ND gồm các ĐĐ61, 62, 63, 64 đang rải mỏng trên Đỉnh Đông Lâm và Sơn Gà, chuẩn bị vào vùng bao quanh Thường Đức.

Hôm nay trong phòng hành quân có mặt Anh Sáu Triệu, Ông Hoá, Ông Việt, và Trung úy San, anh là vị Sĩ Quan Liên Lạc (SQ/LL) thâm niên gốc Thiếu Sinh Quân từ Lực Lượng Đặc Biệt về PB Dù, đã đi cho TĐ3ND bấy lâu nay nhưng khi TĐ3 rút ra dưỡng quân thì anh và các Sĩ Quan Tiền Sát Viên Pháo Binh (SQ/TSV/PBND còn gọi là Đề Lô) bị giữ lại, tiếp tục đi cho TĐ6ND… Thấy tôi có vẻ hơi hụt hẫng, anh Triệu dã lã rằng chính anh cũng không biết trước điều đó nên mới rút tôi từ ĐQS về gấp đề làm SQ/LL… biết nói gì đây khi tình hình đang khẩn trương và tôi không còn sự lựa chọn. Ông Triệu bảo tôi rất thành thạo tình hình chung quanh Đông Phước và Thường Đức nên cử tôi về ĐĐ61, tôi dự đoán ĐĐ61 sẽ là nỗ lực chính đánh vào Thường Đức, chắc chắn chúng tôi sẽ đối đầu với những chiếc tăng T54 đang ẩn mình trên Đồi 52 chờ chúng tôi, và còn không biết bao nhiêu chiếc nữa đang vào vùng. Tôi đứng dậy đưa tay chào anh rồi gật đầu tuân lịnh, anh cũng ái ngại bắt tay tiễn chân tôi.

Đêm đó, lịnh cấm trại 100%, cổng căn cứ Chuồng Bò khép lại, trực thăng sẽ đưa chúng tôi vào vùng đêm nay, sáng sớm ngày mai lên gặp ĐĐT/ĐĐ61ND trên đỉnh Sơn Gà, về đơn vị mới với nhiều vấn đề mới, tôi bảo Trung sĩ Bé và Hạ sĩ Hùng ra câu lạc bộ mua ít đồ cần thiết rồi đi ngủ sớm, chuẩn bị khuya đêm nay thầy trò lên đường. Lần này vào trực diện với Bắc quân trên tuyến đầu Thường Đức.

Toán chúng tôi lên trực thăng cùng với Trung úy San, hơn nửa giờ sau đã đến LZ Sơn Gà, lần này tạm yên ổn không còn bị pháo như trước, chúng tôi lên trình diện vị Thiếu tá TĐT/TĐ6ND, lần đầu tiên vào họp hành quân chung mới thấy uy danh của một vị TĐT/ND, trong căn hầm chỉ huy hành quân thật kiên cố, đã có đủ các ĐĐT và các SQ/TSV/PBND của từng ĐĐ, trước tiên, Trung úy San, SQ/LL/PBND (TĐ6ND) trình diện và giới thiệu các SQ/TSV/PBND cho các ĐĐT, sau đó viên SQ/B3 lần lượt trình bày diễn tiến sắp đến của Tiểu đoàn, chỉ rõ chi tiết bước tiến quân cho từng ĐĐ trên bản đồ hành quân, nhiệm vụ phối hợp của các SQ Đề Lô, tôi ghi lại những điều cần thiết, nhận ám danh đàm thoại, và bản đồ khu vực. Trước khi ra về Thiếu tá TĐT/TĐ6ND, Thành Thái, ban lịnh hành quân, mỗi đơn vị chuẩn bị xuất phát, ngày N và giờ G bắt đầu sẽ được thông báo sau.

ĐĐT/ĐĐ61 là Trung úy Danh, có biệt danh là Danh Con hay Danh Lùn, là một ĐĐT thân mật và cởi mở, sau buổi họp hành quân chúng tôi cùng nhau trò chuyện và đi dần xuống chân đồi bên dưới dãy Sơn Gà, băng qua khu rừng chồi hướng về đồi 383, anh đề nghị chúng tôi ở chung với BCH/ĐĐ cho dễ làm việc, HS Hùng sẽ cùng làm việc với toán nhà bếp lo việc ăn uống, TS Bé sẽ ở gần với âm thoại viên ĐĐ và chúng tôi sẽ ở chung lều với toán Quân Y, Thiếu úy Bản, SQ Trợ Y và 2 binh sĩ quân y, bên cạnh lều của BCH. Ngày đầu tiên làm việc chung rất là thân thiện, chúng tôi dần dần xưng hô rất thân mật, cởi mở, và hợp tác một cách ăn khớp với nhau.

Trời đã xế trưa, tôi bắt đầu gọi về pháo đội chuẩn bị điều chỉnh cận phòng và các điểm cần thiết, đề phòng bất trắc cho đêm nay, đồng thời gọi lên 207, ám danh của vị SQ mới lên thay thế trên ĐQS, để hỏi thăm động tĩnh đáng nghi quanh Đồi 52 và Chi khu Thường Đức, 207 cũng đã ghi nhận các vị trí T54 và cho hay chúng vẫn còn ẩn mình, nhưng hiện rất rõ dưới lưỡng kính viễn mục, tôi cũng yêu cầu 207 chấm chính xác tọa độ cấm chỉ của chúng và gởi về pháo đội để khi cần sẽ có ngay. Tôi bắt đầu đi một vòng xem tình hình chung quanh, mọi vật thật là yên tĩnh.

TĐ6ND vừa thay quân trám chỗ cho TĐ2ND cách đây vài ngày, họ cũng vừa ổn định các tuyến phòng thủ, vẫn chưa có động tĩnh gì, tôi và Danh đi qua dãy rừng chồi thưa, nơi cách đây vài tuần trước, Huyến, Hồng, Nghị, và Phúc Con la chói lói trên máy khi đánh nhau chiếm lại các ngọn đồi này. BCH/ĐĐ61 đóng trên triền đồi nhìn xuống hướng sông Vu Gia, cách đó không xa là vách đá sừng sững hiểm trở bên trên khu vực Ba Khe, điểm hội tụ của 3 con suối từ trên núi chảy xuống đồng bằng, tạo thành một khu vực đầm lầy trước khi chảy ra sông Vu Gia. Danh có vẻ tin tưởng tôi trong vị trí đề lô, khi nhìn thấy tôi chỉnh cận phòng trước khi trời tối, và vì mới được không vận vào vùng nên anh còn bỡ ngỡ với tình hình chung quanh, tôi trấn an anh, là tôi mới vừa rời ĐQS trên 1025 nên biết rất rõ đường đi nước bước trong khu vực, tôi dẫn anh ra bờ đá hướng về Đồi 52 và chỉ cho anh vị trí các chiếc xe tăng T54 đang chém vè ở đó, tôi móc bản đồ hành quân cho anh thấy khu vực Đồi 52 đã được khoanh tròn bằng bút chì mỡ màu đỏ, cùng với vị trí 3 chiếc xe tăng đã đánh dấu bằng những mũi tên…

Bây giờ là mùa Đông, cuối năm 1974, vùng rừng núi trùng trùng hiểm trở bên trên Thường Đức mưa nhiều, lạnh cắt da, chúng tôi ăn ngủ trong lều quần áo bị mưa ẩm ướt qua đêm nên lạnh lẽo vô cùng… trong lều có một chiếc băng ca, không hiểu vì sao Bản không nằm [trên] nó mà nhường cho tôi, ngủ trên băng ca im quá, cũng đỡ lạnh và khỏi bị ướt lưng nếu trời mưa lớn, tôi thấy có vài vết máu trên đó nhưng không sao, trải chiếc poncho (lightweight) quấn lại rồi cũng qua đêm.

Mấy ngày trôi qua vẫn chưa nghe động tĩnh gì, tuy nhiên bên kia sông Vu Gia, các đơn vị của TĐ2ND bắt đầu đụng nhẹ, khi tiến lên chiếm các triền đồi bên trên làng Đông Phước. Tôi bốc máy liên lạc với nhóm cù lũ nhí bên TĐ2ND để xem tình hình ra sao? Hình như Bắc quân đã dần dần rút khỏi vùng một cách êm thắm, những điểm phòng không ghi nhận trước đây giờ rút sâu về phía Tây hướng Khâm Đức và Đường Mòn HCM… có lẽ, họ bị thiệt hại nặmg và nay cố tránh chạm mặt với quân Dù.

Cuối cùng ngày N cũng đến, chiều nay được lệnh ăn sớm trước 4:00g chiều và chuẩn bị lương khô cho nhiều ngày sắp tới, thời tiết xấu mấy ngày qua, trời rét mướt không làm chùn bước, không cần nói cũng biết chúng tôi sẽ rất vất vả suốt đêm nay, giờ G đã đến, phải lên đường… Tôi qua lều Danh hỏi thăm tình hình mới biết được rằng Thành Thái đã ra lịnh cho ĐĐ64 của Thiếu úy Thóc đêm nay rời đồi 126, vượt qua yên ngựa thoai thoải một cách im lặng ém sát sườn Đồi 52 trong thế chờ, ĐĐ63 vượt qua con suối và bám sát đường thông thủy hướng lên chân đồi nằm chờ ở đó, ĐĐ62 trên đồi 400 xuống thay quân cho ĐĐ61 của chúng tôi trước 6:00g chiểu nay, đồng thời để trung đội vũ khí nặng (cối 81ly và sơn pháo 57ly) trên đỉnh yểm trợ, còn lại hướng về mục tiêu Núi Đất. Riêng ĐĐ61, đêm nay sẽ xuống núi ngay sau khi bàn giao đồi 383 cho ĐĐ62, sẽ băng rừng chồi xuống làng Phước Lộc, men theo vách đá hiểm trở khu Ba Khe để vượt qua đầm lầy Phước Lộc, dọc theo con suối Phụng Lâm đến Hà Nha, nằm đó, chuẩn bị con cái, và báo cáo về TĐ trước khi trời sáng.

Tôi ngó Danh và cười gượng, cố gắng hết sức mới không buông tiếng chửi thề. Trời ạ! Mình là Nhảy Dù chứ phải là TQLC đâu Đích Thân? Mà lội qua đầm lầy nửa đêm như thế này, tôi nói, nhưng Danh cũng đã cãi nhau với Thành Thái về việc “hiếp người quá đáng” đó rồi… lệnh là lệnh. Danh cho tôi biết thêm thông tin từ các toán Thám Báo của Chi khu Thường Đức, có rất nhiều mìn bẫy trong vùng đồng bằng do du kích CS gài lại, nên di chuyển đêm khá khó khăn, nhứt là không được đi trên bờ đê, chỉ lội dưới ruộng và đầm lầy. Tôi cười, mấy thầy trò, ngay cả tôi, đều mang boot–de–saut… Nhảy Dù mà ĐT! Danh nhìn tôi một cách đăm chiêu, cuối cùng Danh chọn cách tránh xa khu đầm lầy, sợ nước sâu làm ướt các máy truyền tin, dù sao cũng phải băng qua đầm mới về Hà Nha.

Rời 383 lúc trời tối đen như mực, chúng tôi len lỏi qua khu rừng chồi một cách nhanh nhẹn, trời cuối năm mang gió bấc về thổi lạnh từng cơn, cộng thêm trời mưa đông miền núi lất phất làm tê tái lòng người, tôi thả ống tay xuống và thụt vào bên trong poncho cho đỡ lạnh, bước theo BCH một cách lặng lẽ. Đêm nay, tất cả phải im lặng vô tuyến, Danh và tôi không ai nói một lời, mỗi người có mối suy tư riêng…

Chúng tôi đi qua đầm một cách khó khăn, đúng vào lúc nửa đêm trời lạnh buốt tâm can, nước ngập tới lưng quần cũng đủ run bần bật, nhưng vì di chuyển trong đêm đen nên mọi người đều cố gắng bắt kịp nhau (ai biểu đi lính nhảy dù, Nhảy Dù Cố Gắng!!! mà…), phần vì mệt lả nên quên đi cái lạnh cắt da bên ngoài. Chúng tôi cuối cùng cũng vượt qua đầm và đến bên bờ suối, Danh dừng lại ngoài cánh đồng cải cách bìa làng Hà Nha vài trăm mét (dân trồng cải để bán cho dịp tết sắp đến, nhưng vì chiến tranh nên họ đã di tản, bỏ lại nguyên cánh đồng cải đang độ tốt tươi). Danh bảo tôi rằng ngoài đồng sẽ không có mìn bẫy vì dân thường ra đồng đi làm hằng ngày, đợi trời rạng sáng sẽ cho em út dọn đường hướng về Đồi 52. Danh bấm máy cho Thành Thái báo cáo, tôi cũng gọi cho ông Việt biết địa điểm để cập nhật trên bản đồ, ĐĐ61 chỉ cách Đồi 52 chưa đầy 500 mét, chúng tôi mệt nhoài, cứ nằm đó chờ lịnh, tôi thiếp đi dù quần áo còn ướt đẫm.

Bé đánh thức tôi dậy và đưa ống liên hợp, Anh Sáu trên đầu dây, tôi nghe, ĐT… anh cho tôi hay các pháo đội đã sẵn sàng đợi khi nào Thành Thái phất cờ, thằng 207 nay sẽ làm mắt thần lại cho tôi, nghe quen quen ĐT… nhứt định dzớt 3 con cua càng sớm càng tốt, ĐT bảo 207 bắn cắm chỉ và khoá họng mấy con cua đó thì sẽ dễ dàng thôi ĐT, nó có tọa độ rồi, OK! Anh sẽ trực tiếp theo sát trên máy. Danh quay qua bảo tôi chuẩn bị pháo binh thì bắt đầu nghe 64 tapi, cối 81 từ hướng 383 bắt đầu nổ, Đồi 52 đã bị bao vây từ khuya đêm qua, chung quanh đồi quân ND dù thâu đêm mệt lả vẫn hò reo vang trời trong tiếng depart pháo binh rộn rã từ phía cầu Hà Nha.

Cuộc tấn công tái chiếm Đồi 52 đúng ngày 24 tết, năm Giáp Dần, đầu tháng hai, năm 1975… lúc này mùa đông nên 6 giờ sáng vẫn còn tối hù, tôi điều chỉnh bắn rải từ chân đồi dọc lên tới đỉnh để con cái 61 tiến lên, địch phản ứng dữ dội, chống trả các đợt tapi từ hướng 64, Thóc đã vang trên máy chuẩn bị xung phong, lên rồi lại bị đẩy lui, mấy chiếc T54 giờ đây xoay nòng trực xạ làm thui chột đàn chó điên đang vờn chuột trên đỉnh Đồi 52… 207 gọi bắn cắm chỉ lên Đồi 52 một cách hối hả và liên tục, đồng thời gọi cho Hồng, Huyến, và Phúc Con cố gắng khoá họng mấy dàn 37ly trên núi Đông Phước. 207 cho tôi hay mọi chuyện tiến triển tốt đẹp, trước mỗi đợt xung phong mấy con cua đều bị pháo nện tả tơi nhưng vẫn không thể làm chúng gãy càng. Tôi hỏi 207, anh đã có tọa độ cắm chỉ của đám cua, sao không dứt điểm chúng cho rồi? Tôi ở dưới triền đồi nên không tự chủ được, mọi chuyện chỉ nhờ 207… hắn cho tôi hay là các pháo đội không thể bắn thỏa mãn theo yêu cầu vì không được tiếp tế đạn đầy đủ! Trời ạ!!! Pháo binh Nhảy Dù luôn gọi bắn bằng tràng (6 quả), giờ chỉ bắn từng quả… mẹ, vậy mà cứ đòi tapi, tapi cái con mẹ… tôi chửi thề trên tần số hành quân của pháo binh, nghe tôi chửi đổng tá lả, ĐT Tuấn con nhảy vào cố gắng làm dịu tình hình, cuối cùng anh điều ông Thọ kéo các khẩu M2 lên đồi… lần nữa nằm chờ, chơi trực xạ ngay trên đầu địch.

Chiều hôm đó chúng tôi chỉ nhích lên được chừng 200 mét, địch đông như kiến, được tiếp viện đạn dược đầy đủ từ nhiều hướng phía từ sau CK/TĐ, nơi hầm hố kiên cố được để lại từ thời TĐ79/BĐQ còn trú đóng nơi đây… có thêm vài ổ phòng không 57ly mới nổi lên từ hướng Đại Lãnh, vùng núi hướng tây bên trên Thường Đức, bắn trực xạ rát quá làm quân Dù chùng chân.

Qua ngày đầu tiên các ĐĐ đã bao vây Đồi 52 bằng 3 phía, chỉ còn cách ngọn đồi vài trăm mét, không xa lắm nhưng mỗi tấc đường di chuyển đều được trả bằng máu, địch cũng không kém, trả đũa quân Dù sau mỗi đợt xung phong, họ được tiếp ứng quân và đạn dược nhanh chóng bằng đường sông Vu Gia, nên các ĐĐ bắt đầu dè dặt hơn trước. Đêm nay thế nào địch cũng sẽ phòng thủ lại kỹ hơn, mỗi phút trôi qua chậm trễ sẽ làm bất lợi cho quân Dù.

Mấy ngày hôm sau thời tiết quá xấu nên chỉ nằm im lặng chờ đợi, mưa càng lúc càng nặng hạt, làm tăng thêm khó khăn và rét mướt, khổ nỗi, nước ngập hết các giao thông hào mà ban ngày không được căng lều nên đành đội mưa chịu lạnh… Trên cao 207 quan sát kỹ hơn, theo dõi “nhứt cử nhứt động” của Bắc quân, tôi nghe 207 liên lạc với Đài Quan Sát Không Quân chuẩn bị cho Thần Phong lên vùng ngay sau khi trời quang đãng… phải vậy chứ, mình bị thời tiết khó khăn, bị giới hạn đủ điều… nên phải tính cách khác.

Sáng ngày N+5 dự báo trời quang mưa tạnh, gió thổi từ hướng biển vào lạnh tê tái. Thành Thái gọi Danh Con chuẩn bị con cái hành động cho đẹp mắt. OK! Make my day, ĐT. Tôi bò qua gần Danh, hắn chỉ tay về phía đỉnh đồi, tôi thấy cái nòng súng đầy lá ngụy trang 100ly của con cua quay qua quay lại một cách thách thức, Danh nói hôm nay mình được tăng cường thêm 1 Trung đội Đa năng để chuẩn bị dứt điểm, sẽ thanh toán ngọn đồi bằng mọi giá. Tôi hơi ái ngại vì địa thế bất lợi cho quân Dù, đang ở dưới thấp, địch thấy ta còn ta không thấy địch… Danh gợi ý tôi gọi pháo bắn cắm chỉ vào đỉnh đồi liên tục và kéo dài cho tới khi Thần Phong bao vùng, lúc đó đa năng sẽ bò lên dùng lựu đạn khói cay, lợi dụng mình đang trên gió, 61 sẽ lên dứt điểm mục tiêu dễ dàng hơn. Tôi nhìn Danh e ngại, anh nghe tôi chửi thề trên máy rồi đó, mấy hôm trước xin 20 tràng (120 quả) chỉ bắn có 12… bà mẹ, chỉ xúi mình xung phong… tôi cười, xung phong cái con… khỉ…

Trên tần số hành quân nội bộ, Bé cho tôi biết 207 đã phối hợp xong, Thiếu úy Trưng ở đài tác xạ cho hay đã sẵn sàng, tôi hỏi anh Tuấn tình hình anh Thọ chơi ngông ra sao? Anh cho tôi hay lợi dụng thời tiết xấu, anh ấy kéo pháo lên đồi ém quân nay đang nằm chờ lệnh… tôi quay qua cho Danh hay mọi chuyện đã êm xuôi. Tuy nhiên Danh cho hay, Thần Phong hôm nay không đến được, thôi được, có gì chơi nấy, Danh lầm bầm, đánh đấm cái con… kẹt…

Trung đội Đa năng cuối cùng đã đến, người nào cũng mặt mày lem luốc sình bùn, được trang bị đầy đủ XM202, M72, và đầy đủ lựu đạn cay, Thiếu úy Thời, Trung đội trưởng Đa Năng, lên gặp Danh để chuẩn bị di chuyển, tôi thực sự ngỡ ngàng khi gặp Thời ở đây, thì ra là Thái Kiêm Thời cùng khoá với tôi, cái thằng cao lêu nghêu, Thiếu Sinh Quân, ngoài Vũng Tàu, chung ĐĐ15 khi còn là SVSQ bên Thủ Đức, từ ngày ra trường đến giờ mới gặp lại nhau trên chiến trường nơi góc núi đèo heo vùng Thường Đức này, tuy nhiên, vì tình hình quá cấp bách nên hai đứa chỉ cần một cái bắt tay, không hỏi thăm nhau lâu được, rồi mỗi người trở về với công việc thực tại… cuộc phối hợp tái chiếm Đồi 52 thực sự bắt đầu.

Các pháo đội bắt đầu depart ngoài Cầu Chìm và bên kia sông khá rộn rã, các ĐĐ cũng bắt đầu tiến lên chầm chậm giữa đạn pháo, địch pháo lại liên tục… vài tiếng nổ sát hầm chỉ huy làm tôi lùng bùng lỗ tai, cầm ống liên hợp trên tay chỉ huy các trung đội phía trước, Danh bảo tôi pháo lần này có hiệu quả, Thóc bên kia báo trên máy 1 con cua đã banh càng, 2 con kia vẫn đang hung hăng trực xạ… đúng lúc đó, Thọ khai hỏa trực xạ ngay trên đầu địch, tôi nghe tiếng hò reo bên máy của Danh Con, chính xác, chính xác, hai con cua còn lại đã bị gãy càng nằm chổng gọng… tôi không biết đích xác vì sao 3 con cua bị luộc, pháo ngoài Cầu Chìm, pháo trực xạ M2 của Thọ, hay từ các M72, XM202 của Thời, nhưng sao cũng được, miễn dứt điểm chúng thì OK. Trong khi đó, các trung đội của 61 xung phong phía sau làn khói cay, Bắc quân bắt đầu bỏ chạy, rút về hướng Chi khu Thường Đức, Trung đội Đa năng đang làm chủ tình hình trên đỉnh Đồi 52.

Đang lúc tình thế phấn khởi, tôi lắng nghe 207 báo tin vui trên máy thì Danh gọi tôi, bảo Thành Thái muốn nói chuyện. Ngồi trên thành giao thông hào với tay qua cầm ống liên hợp, chưa kịp nói chuyện với Thành Thái thì một tiếng nổ át tai ngay bên hông cách tôi và Danh chừng 2 mét, đất đá bay tung toé, tôi chưa kịp phản ứng thì nghe bên hông ẩm ướt bên trong làn áo, một dòng máu thấm qua áo nghe âm ấm, trong khi Danh không hề hấn gì, Danh đưa tay chỉ vào mấy lỗ lủng bên hông cạnh sườn cho hay tôi đã bị thương. Trời đất, chưa lên tới đỉnh đồi mà bị thương cái gì? Tôi sờ vào hông rồi nói với Danh, chỉ nghe ran rát bên hông, chẳng ăn thua gì đâu, tôi tiếp tục kêu Bé báo cáo về Anh Sáu là 61 đã làm chủ tình hình trên Đồi 52, tai tôi vẫn còn nghe Anh Sáu khen làm được việc… nhưng mắt tôi bắt đầu hoa lên, mắt tôi trờn trợn dường như muốn nhắm lại, tôi sờ bên hông thấy máu ra ướt đẫm xuống thắt lưng, hình như tôi ú ớ không còn nói được nữa, nhưng tai vẫn còn nghe Danh bảo Bé chuẩn bị đưa máy cho anh, rồi bảo Bé cõng tôi về phía sau cho y tá băng bó, họ khiêng tôi trên chiếc băng ca tôi dùng làm giường ngủ mỗi đêm, có lẽ, đó là [lý do] tại sao Thiếu úy Bản không dùng nó để ngủ… 2 y tá khiêng tôi băng qua bao hầm hố về bệnh viện dã chiến hành quân đàng sau hậu cần, cách đó chừng một cây số, tai tôi vẫn còn nghe vị Bác sĩ tiền tuyến của Tiểu đoàn nói bụng tôi đã bị trương lên vì bị ứ máu bên trong thành bụng, bị xuất huyết nội, cần được cấp cứu kịp thời nếu không sẽ bị tử vong… Cuộc chiến đánh chiếm Đồi 52 đã qua nhiều ngày, thương vong quá nhiều nên tình trạng thuốc men không còn đầy đủ, trong lúc cấp cứu, tôi không được gây mê để họ bơm máu đang bị ứ đọng bên trong lòng bụng, bác sĩ thọt ống bơm trực tiếp vào lỗ bị thương để bơm máu… chính chứng xuất huyết nội làm cho tôi bị á khẩu, không thể rên la mặc dù tai vẫn còn nghe họ bàn tính cách cứu chữa, văng vẳng bên tai tiếng ì đùng vẫn còn vang lại từ mặt trận… tôi không chịu nổi cơn đau nên chìm vào cơn mê…

Tôi giựt mình khi nghe gió lạnh làm run người, tiếng trực thăng quạt xành xạch bên tai, chòng chành chuẩn bị đáp xuống Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng… Chiến trường bỏ lại sau lưng, băng ca cứu thương nhanh nhẹn đưa tôi vào phòng mổ, lần này về Duy Tân thì không còn sợ chết nữa vì đầy đủ máy móc y khoa, tôi được bác sĩ rút hết số máu còn đọng lại bên trong vòm bụng một cách dễ dàng không đau thấu xương như ngoài tiền tuyến, ông cho tôi biết đã bị gãy mấy cái xương sườn, về làm việc nhẹ và sẽ tự hồi phục dần.

Khi họ chuyển tôi ra ngoài phòng hậu giải phẫu, trong lúc tôi vẫn còn mơ mơ màng màng chưa tỉnh dậy hẳn, nằm trên giường trong khu hồi phục, tôi nghĩ lại, các bác sĩ Quân Y Nhảy Dù cấp cứu thương binh dưới lằn đạn pháo địch, chỉ cách chạm tuyến không đầy 1–2km, dù hiểm nguy chực chờ nhưng họ cứu người rất thành thạo, cứu sống bao nhiêu sinh mạng, dù đến đây khi bị thương nên tôi không nhớ mặt và tên, nhưng tôi thầm cám ơn vị Trung úy Bác sĩ, Y Sĩ Trưởng của TĐ6ND đã nhanh nhẹn cứu sống tôi dù không còn thuốc mê một cách thành thạo ngoài mặt trận. Người ta thường nói, đi lính nhảy dù dễ chết, nhưng khi bị thương thì khó mà chết, đánh nhau đàng trước, bác sĩ cấp cứu phía sau…

Lúc tôi tỉnh dậy trong bộ đồ xanh thương binh, nhìn thấy nhiều người đứng lo lắng chung quanh, Ông già nuôi, Lợi, và Hoa, đứa em gái của Lợi mới tròn 16 tuổi đứng bên khóc như mưa… mặt tôi tái xanh như tàu lá, chắc là mất máu nhiều lắm, nhưng vẫn gượng cười nhìn họ và trấn an họ là tôi hoàn toàn cảm thấy khỏe hẳn, bác sĩ nói sẽ bình phục nay mai.

Thường khi ghé nhà Lợi, tôi xem Hoa chỉ là cô bé mới lớn, đáng tuổi em mình, đang học lớp 10 ngoài Trường Trung Học Ái Nghĩa, nhí nha nhí nhảnh chào hỏi tôi mỗi khi vừa đi học về. Có khi Hoa bưng nước mời tôi uống, hình như có chút e lệ, luống cuống mỗi khi đứng trước mặt tôi… nhưng sao giờ thấy cô bé đứng khóc như mưa làm lòng tôi ngài ngại, bảo Hoa đừng khóc nữa, tôi vẫn là tôi của bao ngày…

Đó là ngày Mồng 4 Tết năm Ất Mão, nhằm ngày 14 tháng 2, năm 1975. Tôi được chuyển về Bệnh Viện Đỗ Vinh hành quân ngoài Non Nước, thời gian nằm dưỡng bịnh, tôi bàng hoàng hay tin Trung úy San vừa hy sinh đâu đó trong vùng núi gần Đại Lộc, TS Bé về ghé thăm tôi cho hay xác của anh đang chờ phi cơ về SG với gia đình, được quàn ngoài phòng Chung Sự Sư Đoàn, nhưng vì còn yếu, tôi không đủ sức đi thăm anh lần cuối… Đâu cũng là số trời, lẽ ra tôi đã thay thế chỗ của anh, để anh được về Sài Gòn dưỡng quân theo chân TĐ3ND… nhưng định mệnh nào ai biết được, số mệnh ơn trên đã dành cho mỗi chúng ta, tôi giờ đây vẫn còn nằm trong bệnh viện còn anh nằm yên nghỉ ngoài phòng Chung Sự… Vĩnh biệt Đích Thân, cố Đại úy Lý San, TĐ2PBND, SQ/LL/PBND cho TĐ6ND…

Bác sĩ Cổn vào phòng thăm bịnh nhìn tôi cười, anh rất may mắn, bị thương tuy nặng nhưng mà nhẹ, nếu không cứu kịp thời thì chắc đã ra… ma rồi.

– Anh hỏi tôi: muốn về Sài Gòn không?

– Tôi cười trả lời: dạ Đích Thân…

Tôi được theo chuyến bay C130 về nghỉ dưỡng thương ở Đỗ Vinh Sài Gòn khi mặt còn xanh như tàu lá, trên chuyến bay đi chung với những xác đồng đội được đưa về cho gia đình, phía sau phi cơ là những quan tài được chồng chất lên nhau trên những pallet nực mùi tử khí… dẫu biết rằng tương lai không xa, mình cũng sẽ nằm dưới lá quốc kỳ phủ kín đời trai như các đồng đội đang nằm đó, nhưng Nhảy Dù Cố Gắng, chuyện đâu còn có đó, tôi hân hoan về dưỡng thương trước đã… khoan nghĩ đến chuyện chết sống, âu là do trời định…

Một tháng sau tôi trở lại hành quân, Lữ Đoàn III bàn giao Thường Đức cho các đơn vị TQLC, lên tàu Hải Quân trên đường xuôi nam… đâu ai biết rằng Ban Mê Thuột đang dần dần thất thủ, Khánh Dương đang chờ LĐIIIND về làm nút chận bước tiến quân như vũ bão của bộ đội miền Bắc từ hướng Ban Mê Thuột tiến về Nha Trang… và rồi ngày 30/03/1975 tôi lại lặng người khi nghe trên tần số Thiếu úy Thái Kiêm Thời đã bị thương, được di tản ra nằm trong bóng râm trên Quốc Lộ 21 bên cạnh Buôn Ê–Thi… khi những chiếc xe tăng T54 ung dung phá tan phòng tuyến của TĐ5ND đang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, chúng cày nát những thương binh nằm trong bóng mát chờ tản thương… trong khi tôi đang di quân cách đó non cây số… Vĩnh biệt Cố Trung úy Thái Kiêm Thời, người bạn cùng khoá của tôi, làm sao tôi có thể nhìn anh lần cuối, khi LĐIIIND đang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và không được tiếp tế, làm sao còn đủ sức để ngăn đoàn xe tăng đang cày nát thân xác anh… Mẹ và vợ anh bồng con thơ đến tìm tôi tận mặt, để biết đích xác trước tin anh ngã gục trên chiến trường Khánh Dương… chỉ đúng 1 tháng nữa thôi là ngày định mệnh 30/04/1975.

Bản đồ đồi 1062 và đồi 52.

Cù Lũ Nhí, Châu Nhái

Ghi chú Cửu Long: Cù Lũ Nhí, Châu Nhái cùng khoá 9/72 Thủ Đức với tôi, tên thật là Đoàn Văn Châu. Châu Nhái đã từ giã cõi trần ngày 18 tháng 12, 2019 tại Anaheim, CA hưởng thọ 66 tuổi.