This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Phía mặt sau chợ An Đông thập niên 1960 (nguồn: Manhhaiflickr)
Chợ An Đông và khu chung cư bao quanh được xây cất vào năm 1954. Đa phần người mua nhà là dân di cư miền Bắc, theo hợp đồng thời hạn 20 năm. Có nghĩa là đến năm 1974, chủ nhà hết quyền sở hữu.
Chung cư An Đông
Năm 1977 tôi có dịp ghé qua chợ An Đông vài lần. Nhà thằng bạn học nằm ngay góc tầng trệt của khu chung cư phía cửa sau chợ trên đường Yết Kiêu. Bên kia đường là hồ bơi An Đông không còn hoạt động. Toàn bộ khu vực này nằm ở giữa hai đại lộ Hùng Vương có con đường sắt chạy song song ở phía bắc và đại lộ Hồng Bàng ở phía nam; tiếp giáp 2 mạn đông, tây là hai con đường nhỏ Yết Kiêu và Nguyễn Duy Dương. Chung cư An Đông gồm 4 khu 3 tầng, mỗi khu hình chữ L, bao bọc lấy chợ nằm ở chính giữa, tổng cộng gồm khoảng 4, 5 trăm đơn vị gia cư.
Có được một chỗ ở ngon lành và phía trước hành lang trở thành cái vựa bán trứng gà trứng vịt của gia đình trong thời buổi kinh tế khó khăn, vậy mà thằng bạn lại than ngắn thở dài: “sống ở đây ồn ào lại còn chật chội”. Nhà ngay chợ búa không ồn mới lạ. Hồi trước đám anh em còn nhỏ, chẳng ai thèm để ý đến chuyện nhà cửa chật chội, nằm sắp lớp cá mòi ngủ chung mùng thấy thật là vui. Khi đó, gia đình bạn buôn bán thêm nhiều mặt hàng. Nghe bạn kể cá khô treo lủng lẳng đầy nhà, trứng chứa từng sọt cần xé to nhỏ đủ loại, nhất là trứng muối bọc tro đen thui bán chạy lắm. Người Hoa khoái ăn trứng muối còn người Việt thích trứng lạt, thành ra mặt hàng này lúc nào cũng đông khách. “Hồi đầu năm 1975, ông bà già gom góp vàng định mua thêm căn chung cư kế bên, nhưng giấy tờ nhà có tranh chấp do vợ chồng ly hôn nên chuyện bất thành. Thế là cái gác lửng phải phân chia thành giường tầng 3 góc mới đủ chỗ ngủ cho đám con đông nhà chật”.
Bạn kể: “Chuyện mua nhà đang bị tranh chấp làm thủ tục thật nhiêu khê. Nhưng đây đâu phải là lần đầu. Năm 1974, một vụ kiện giữa chủ mấy trăm căn nhà ở chung cư An Đông với chủ đầu tư bất động sản Huỳnh Siêu (nghe đâu là con cháu của dòng họ Hui Bon Hoa đang quản lý cả mấy chục ngàn nhà ở và chung cư ở Sài Gòn Chợ Lớn), làm tốn giấy mực báo chí. Lý do là theo khế ước mua bán, ông Huỳnh Siêu thu hồi những căn nhà có hợp đồng thuê mướn dài hạn trong 20 năm. Chung cư An Đông và cũng nhiều chung cư khác ở Chợ Lớn có 2 dạng khế ước. Một mua đứt, hai thuê dài hạn và tái ký hợp đồng sau khi hết hạn. Vụ kiện tụng kéo dài đến năm 1975 thì đứt bóng”.
Thật ra, vào thời gian sau 1975, có vài người kêu bán mấy căn nhà quanh chợ nhưng gia đình ngại mua vì chỉ giao giấy tờ viết tay. Nhà lúc ấy rẻ rề vì mấy nhà đó dường như có kế hoạch vượt biên. Mua rồi sau này lỡ không làm được giấy chủ quyền thì kẹt.
Trở lại chuyện nhà của thằng bạn. Không biết hồi đó chính quyền nghĩ sao lại cho phép cất chung cư có diện tích như cái hộp quẹt. Chắc người ta nghĩ “ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu”. Nhà rộng lắm thì có thêm gác lửng. Gia đình nào cũng đông con, sống chật chội, vậy mà mấy nhà tầng trên còn phải dắt chiếc xe đạp, đẩy xe gắn máy lên tận tới lầu 3. Mỗi lần lên xuống thật phiền phức. Khách đến nhà chơi phải tìm chỗ gởi xe, rồi len lỏi giữa rừng thúng mẹt bán buôn né bên này đụng bên kia mới đến được nhà. Nhà tầng dưới của thằng bạn, phía trước Ba nó gắn thêm cái trụ sắt để khách mua hàng hay khách đến nhà dùng dây xích khoá chiếc xe gắn máy hay chiếc xe đạp vào cây cột. Trong lúc ngồi nói chuyện bù khú với nhau ở góc gác lửng, thỉnh thoảng nó đứng dậy, nhìn chồm qua ngó xuống cửa sổ trước hiên nhà xem con ngựa sắt của tôi còn đứng yên ở đó không. Bạn cảnh giác, có khoá vẫn mất như thường, ở đây trộm đạo như rươi.
Phái đoàn của chính phủ, phó TT. Nguyễn Cao Kỳ đi thăm chợ An Đông (Nguồn: Manhhaiflickr)
Chợ An Đông
Tôi thì chẳng màng đến chuyện chiếc xe đạp có thể “bốc hơi” trong giây lát. Nhà nằm ngay vị trí góc đường nhìn qua lam gió thấy rõ khối kiến trúc tiền chế của ngôi chợ đổ bóng lên dãy sạp bán gà vịt cá mắm phủ đầy dù vải đủ màu trông như một bức tranh lập thể, góc cạnh sáng tối dưới bóng nắng bật lên thật là sinh động. Hầu như từ thời điểm đầu thập niên 1950, kiểu kiến trúc chợ búa bước sang một hình thái mới, không còn kiểu cách cầu kỳ của kiến trúc Châu Âu hay phảng phất đường nét Á Ðông kết hợp nữa. Kiểu xây dựng tiền chế thi công nhanh, dễ tháo dỡ và không làm ảnh hưởng tới những công trình lân cận.
Chợ Hoà Hưng nơi tôi cư ngụ cũng vậy, có thiết kế khung sườn tương tự. Chỉ có điều, chợ An Ðông là một khối hình chữ nhật nhìn thoạt trông rộng hơn ngôi chợ nơi tôi ở. Tôi nghĩ còn vài ba ngôi chợ nữa có kiểu dáng thiết kế tiền chế như thế này đâu đó trên đất Sài Gòn. Kiến trúc chợ kiểu này được xây dựng một loạt nhiều nơi để đáp ứng nhanh nhu cầu chợ búa của dân chúng thành phố trong thời kỳ phát triển dân cư di tản từ thôn quê lên thị thành sinh sống, cộng thêm gần triệu người Bắc di cư vào Nam chọn nơi trú ngụ Sài Gòn là điểm đến chính. Theo thống kê dân số năm 1945 Sài Gòn có khoảng nửa triệu người nhưng 10 năm sau đó, con số này tăng lên gần hai triệu.
Bạn kể chuyện gia đình. Bố là người Hà Nội gốc theo gia đình di cư vào Nam ban đầu ở tạm gần khu trường đua Phú Thọ, làm công giao nước đá cây cho ông ngoại khi đó có tiệm tạp hoá bán đủ thứ ở đầu hẻm đường Nguyễn Duy Dương bên kia chợ An Ðông. Thấy anh thanh niên điềm đạm, hiền hậu lại siêng năng nên ông ngoại ưng thuận gả cho người con gái lớn ham thích buôn bán ở chợ. Hai người ra riêng sắm căn nhà tầng dưới làm chỗ mua bán. Hồi trước 1954, chung cư này xây xong chỉ có một số ít người Việt gốc Hoa đến đây mua tầng dưới để ở và làm ăn buôn bán. Nhà chung cư giá rẻ nhưng không hấp dẫn cư dân đến định cư vì ai đời xây chung cư lại bao quanh một cái chợ giáp mặt bốn hướng. Ồn ào, ngõ ngách chật hẹp ra vô khó khăn. Chợ An Ðông xưa kia còn chưa xây mới nhưng lúc đó đã được dân chúng xem là một trong các ngôi chợ sầm uất nhất thuộc khu vực Chợ Lớn, có đường xe lửa đi Mỹ Tho, xe điện ngược ra Sài Gòn.
Khu chợ An Đông lộ thiên phía giáp với các chung cư (Nguồn: Manhhaiflickr)
Khu “giao thoa” của người Hoa và người Việt
Người Việt về đây cư ngụ nhiều lắm, sống xen kẽ với người Hoa vì vùng này dễ làm ăn mua bán. Người Hoa đa phần là người cố cựu sống rải rác không tập trung như tại trung tâm Ðồng Khánh vào thuở Sài Gòn – Chợ Lớn còn là hai thủ phủ riêng biệt. Mãi đến đầu thập niên 1930, hai thành phố mới sát nhập làm một. Khu vực An Ðông được xem như khu giáp ranh giữa hai thành phố, dân cư từ các tỉnh đổ về định cư ngày càng nhiều và sau đó người Bắc di cư vào Nam tìm đến. Vào khoảng thời gian này, khu vực quanh Chợ An Ðông vẫn còn lưa thưa ao trũng, mồ mả vô chủ rải rác đó đây.
Góc bán gà vịt bên hông chợ (Nguồn: Internet)
Ông Ngoại thằng bạn tuy là người Hoa Chợ Lớn cố cựu 3 đời nhưng nói tiếng Việt sành sỏi nên Mẹ của nó cũng nói tiếng Việt ngon ơ đâu có thua gì người cha. Thằng bạn kể chuyện hồi nhỏ, mấy đứa đánh giày không biết từ đâu kéo cả đám sang khu chung cư Mỹ thuê ngay góc hồ bơi làm ăn. “Tụi nó thường chọc ghẹo mấy đứa nhỏ con người Hoa sống quanh khu chợ. Có lần tao nói tụi bây đừng ỷ đông ăn hiếp con nít. Tụi nó giả giọng “tào lao” chửi bới đòi đánh chết cha tao (chắc thấy cái mặt của tao giống Ba Tàu). “Tả lị sị, hằm tắc xả, xả cái lỗ mũi”. Tao tức quá vung chân đạp trúng một thằng té sấp, ai ngờ cái lỗ mũi của nó ăn trầu. Tao bỏ chạy, lủi tuốt vào chợ, tụi nó ví theo nhưng làm sao nắm được cái chân của dân chợ chính cống”.
Nói chuyện khơi khơi một hồi cũng chán, thằng bạn đứng dậy bảo ra quán Siu Siu kiếm cái gì lót bụng. Ngồi ở đây vừa ngộp vừa nóng chảy mỡ. Trong khi chờ thưởng thức đĩa cơm gà ngon cỡ nào mà mấy ông lớn tuổi xóm tôi thường hay ca tụng mỗi khi đi chợ An Ðông. Thằng bạn chỉ ông già người Hoa đầu tóc bạc trắng rối bời, quần áo lấm lem bùn đất, đứng tựa vách tường miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. “Ông từng là chủ quán cơm gà Siu Siu”. Chuyện đánh tư sản mấy năm trước, ông mất 3 căn nhà lầu mở quán cơm gà trên đường Nguyễn Duy Dương. Sau đó theo tàu vượt biên. Tàu bị đắm, tất cả mọi người trong chuyến đi đều chết hết. Riêng ông ôm miếng ván trôi dạt vào bờ. Bị bắt, trả về nhốt ở quận 5. Một thời gian sau, ông được tha. Và cũng từ đó, ông trở nên điên điên khùng khùng. Còn cái quán mình đang ngồi là của người bà con xa của ông Siu Siu.
Bìa tạp chí LIFE ngày 8, tháng 11 năm 1968 với hàng chữ nhỏ “Nguyen Thi Tron, 12, caught in the war, watches her new wooden leg being made” (Larry Burrows–LIFE Magazine
Larry Burrows là một phóng viên nhiếp ảnh của tạp chí LIFE dày dạn kinh nghiệm trong cuộc chiến Việt Nam. Ông đã bắt đầu có mặt và làm việc trên xứ sở này kể từ năm 1962. Ông đi theo các đơn vị quân đội Hoa Kỳ trong các cuộc hành quân trực thăng vận để ghi nhận hình ảnh phóng sự sốt dẻo cho tạp chí LIFE. Ông từng chứng kiến những trận đánh dữ dội kinh hoàng, những hành động dũng cảm, những giây phút tuyệt vọng. Mặc dù phần lớn những bức ảnh hay nhất của ông được chụp tại chiến trường, nhưng điều làm cho ông bị ám ảnh nhất chính là những chấn thương mà người dân Việt Nam vô tội phải đành gánh chịu trong im lặng bởi hậu quả chiến tranh. Từ đó, ông đem lòng thương cảm họ. Một trong số những nạn nhân chiến tranh ông tình cờ gặp là cô bé tên Nguyễn thị Tròn 12 tuổi. Đó quả là định mệnh. Ông Burrows kể rằng trong suốt thời gian 6 năm ở Sài Gòn, ông thả bộ qua các đường phố không biết bao nhiêu lần. Thế rồi năm 1968, một hôm khi đi bộ ngang khuôn viên Hội Hồng Thập Tự, ông nhìn thấy hai đứa bé chơi xích đu, một đứa ngồi, một đứa đẩy. Đi gần lại bên ngoài hàng rào, ông nhìn kỹ hơn thì thấy hai thân hình bé nhỏ lắc lư, nhưng cả hai đứa đều bị cụt mất một chân, và đứa đứng đẩy chiếc xích đu là Tròn. Tròn bị cụt chân phải chỉ mấy tháng trước đó vào tháng 10 năm 1967. Cô bé quê có tính tò mò Nguyễn thị Tròn đội nón lá rời nhà đi lang thang vào rừng kiếm củi, một vùng thuộc mật khu Dương Minh Châu của Việt Cộng và được quy định là vùng oanh kích tự do. Một trực thăng võ trang của quân đội Mỹ bay ngang, xạ thủ đại liên trông thấy chiếc nón lá di động liền lia ngay một tràng. Tròn bị trúng đạn ở chân phải dưới đầu gối, phải cưa.
Tự nhận mình là người có bản tính phiêu lưu mạo hiểm, Larry Burrows quan niệm việc Hoa Kỳ hỗ trợ cho Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống cộng sản miền Bắc là hợp đạo đức. Cách làm việc tỉ mỉ cẩn trọng yêu nghề của ông đã ghi lại được những bức ảnh gây ấn tượng chấn động của cuộc chiến. Nhưng Burrows cũng biết toàn bộ câu chuyện về cuộc chiến kinh hoàng đó không thể được tìm thấy trong một hố cá nhân sũng nước đỏ quạch của miền cao nguyên trong mùa mưa, và hàng trăm trận giao tranh khiêm tốn diễn ra lẻ tẻ và hàng ngàn nạn nhân khốn khổ. Đứa bé cụt chân hồn nhiên vui đùa kia gợi cho ông một sự chú ý đặc biệt. Ông muốn biết câu chuyện. Thế là ông cùng với người thông dịch vào gặp Tròn để hỏi chuyện. Nghe Tròn kể xong, Burrows tỏ vẻ xúc động. Ông nghĩ nếu ông có thể diễn đạt được sự mất mát đau khổ qua đôi mắt của Tròn thì điều đó cũng nói lên những mất mát to lớn của người dân Việt Nam phải chịu trong 25 năm qua. Khoảng một tháng sau, phóng viên nhiếp ảnh 41 tuổi Larry Burrows tìm đường đến ấp An Điền nghèo xơ xác thuộc quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách khoảng 40km về phía bắc của Sài Gòn. Và thế là một tình bạn không tưởng bắt đầu giữa một trong những phóng viên từng trải nhất trong cuộc chiến Việt Nam và một đứa trẻ bị thương tật vì chiến tranh.
Kể từ đó, Larry Burrows đến thăm gia đình Tròn nhiều lần trong năm 1968, theo dõi và ghi chép lại từng bước và từng giai đoạn phục hồi chức năng của Tròn: lắp chân giả sơ khởi, tập đi bộ và tập cưỡi xe đạp, trở lại trường học và làm việc phụ giúp cha mẹ, lựa rau bên cạnh căn chòi xiêu vẹo của gia đình được dựng tạm bợ bằng những tấm nhôm hay ván mỏng, những tấm bìa giấy cứng, và mái tôn.
Phóng sự bằng hình của Larry Burrows in trong số tạp chí LIFE đó dài hơn 12 trang với lời chú thích của chính ông. Với tấm hình chụp lúc Tròn được đo cái chân cụt để làm khuôn chân giả, Larry viết lời chú thích: “Thử chiếc chân gỗ lần đầu tiên, Tròn tỏ vẻ sợ. Em dựa đầu vào một cây cột khi người thợ tạo một cái chân gỗ cho em và ngồi xuống để người thợ đặt một khuôn thạch cao vào cái chân cụt của em. Xong Tròn chống đôi nạng đứng lên và cố giữ thăng bằng; em cắn môi dưới lại để lấy can đảm khi phải rời đôi nạng để đi với cái chân giả lần đầu. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc đó. Những giọt nước mắt lăn ra trên má tôi; tôi chớp nhanh để khỏi bỏ lỡ dịp nhìn thấy niềm vui và sự phấn khích của em.”
Có rất nhiều hình ảnh trong Chiến tranh Việt Nam gây được tác động mạnh. Một trong những hình có ảnh hưởng lâu dài nhất được công nhận trên toàn cầu trong thế kỷ 20 là tấm ảnh phóng viên Nick Út chụp bé Phan Thị Kim Phúc 9 tuổi chạy khỏa thân trên quốc lộ 1 ở Trảng Bàng vì bị phỏng bởi bom napalm. Tấm ảnh lịch sử này đã mang lại cho Nick Út giải thưởng Pulitzer năm 1972. Nơi Tròn bị trúng đạn khi đi mót củi cũng chỉ cách nơi Kim Phúc bị phỏng bom không đầy mười dặm. Kim Phúc được cả thế giới chú ý và biết đến. May mắn hơn, vào năm 1992, Kim Phúc và chồng được bảo lãnh tị nạn chính trị ở Canada, trở thành một người mẹ, một đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc và một nhà hoạt động nêu bật cảnh ngộ của những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Trong khi đó, Nguyễn thị Tròn, đứa bé gái trong những bức ảnh của Larry Burrows thì số phận ra sao? Để trả lời cho câu hỏi này, ký giả Gary Michael Jones của báo TIME lên đường đi Việt Nam tìm Nguyễn thị Tròn.
Nguyễn Thị Tròn đang dùng chiếc máy may mới, món quà quý giá do phóng viên nhiếp ảnh tạp chí LIFE Larry Burrows tặng năm 1969. (Larry Burrows—The LIFE Picture Collection/Getty images)
Gary kể, một hôm, từ Sài Gòn anh thuê xe đi về hướng đông bắc, ba giờ lái xe ngang qua Củ Chi, nơi có mạng lưới ngầm các đường hầm ẩn dùng làm căn cứ hoạt động của du kích Việt Cộng trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Lộ trình cũng ngang qua một bệnh viện của quân đội Hoa Kỳ, nơi mà Tròn được đưa đến cứu chữa sau khi em bị bắn gãy chân. Điểm đến của Gary là xã Suối Đá thuộc huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới phía nam của Campuchia. Vùng đất ở đây khô cằn cháy nắng, bằng phẳng và là vùng quê nông thôn trồng cao su, mía, đậu phộng, bắp, v.v. Rời quốc lộ 1, xe chạy khoảng một km xuống một con đường nện đất đỏ là đến nơi Tròn cư ngụ, một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, gạch và bê tông. Ngôi nhà ở vừa là một quán chạp phô nhỏ với hàng hóa thưa thớt chất trên kệ gồm một số bánh kẹo, khoai tây chiên, các loại thuốc căn bản, văn phòng phẩm và nhu yếu phẩm hàng ngày. Ngoài việc trông coi tiệm hàng xén, Tròn còn may vá, một công việc dính liền với cuộc đời. Có lẽ Tròn không muốn quên kỷ niệm với vị ân nhân mà Tròn luôn yêu kính tên Larry Burrows, người đã mua và đem đến tận nhà tặng cho Tròn một chiếc máy may đạp chân hiệu Singer năm 1968. Chiếc máy may đó Tròn dùng cho đến khi không còn có thể tìm đâu ra phụ tùng thay thế nữa vì nó đã bị ngưng sản xuất. Chiếc máy may mà Tròn dùng hiện giờ là loại mới, chạy bằng điện, được đặt ngay sau tấm cửa liếp hướng ra mặt đường.
Tròn, cô bé 12 tuổi có hình trên bìa tạp chí LIFE năm xưa bây giờ đã là một phụ nữ luống tuổi với tia nhìn vời vợi xa xăm như hồi tưởng dĩ vãng. Bà ngồi ở một cái bàn làm bằng xi măng phía trước tiệm dưới bóng râm của một cây đa. Từ các nhánh cây đa vọng xuống tiếng gọi hè của những con ve sầu, trong khi dưới gốc cây, mấy con gà bươi loanh quanh các rễ bò ngoằn nghèo nổi u trên nền đất, làm cho nền nhà thấm nước vào mỗi mùa mưa. Ở tuổi 62, Tròn có dáng vóc thon thả, mái tóc đen lượn sóng của bà chỉ chớm điểm bạc, được buộc thành đuôi ngựa. Bà mặc quần ống rộng màu đen và áo cánh ngắn tay in hoa, một loại y phục rất thực dụng và phổ thông của phụ nữ miền quê Việt Nam. Không lập gia đình, bà sống với Chi, cô cháu gái 30 tuổi năng động có gương mặt và nụ cười tỏa sáng dưới chiếc nón lá. Chi là người đã vui vẻ chào và đãi khách đến viếng thăm bằng nước dừa tươi mát lạnh. Tròn nhẫn nại kể cho khách nghe chuyện đời mình. Thuở nhỏ, Tròn sống với cha mẹ, một người chị, một người em gái và một đứa em trai trong khu Tam Giác Sắt, một phạm vi rộng 120 dặm vuông được biết đến trong cuộc chiến là một mật khu an toàn của Việt Cộng. Cách Sài Gòn khoảng 25 dặm về phía bắc, vị trí chiến lược quan trọng của khu Tam Giác Sắt khiến cho nơi đây thường xảy ra nhiều trận đánh,hậu quả là các thôn xóm dân cư bị phá hủy. Gia đình Tròn phải di tản đến xã An Điền, gần một căn cứ quân sự thuộc quân đội quốc gia tại Lai Khê và cũng là tổng hành dinh của Sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ. Bằng một giọng nói trầm thấp như thầm thì và bằng những cử chỉ chậm chạp như đo lường tính toán, Tròn kể: “Gia đình tôi rất nghèo. Mỗi ngày cha tôi đi rừng kiếm củi để bán trong làng. Mẹ tôi thì làm thuê, bất cứ ai thuê làm việc gì thì mẹ tôi làm việc ấy. Chúng tôi sống qua ngày. Mặc dù các làng trong khu vực nằm dưới sự kiểm soát của phe Quốc Gia vào ban ngày, tình hình kém an ninh sau khi trời tối vì Việt Cộng di chuyển xâm nhập trà trộn trong dân, dễ gây ra sự nhầm lẫn. Trong vùng đó có hai khu vực. Khu giải phóng thuộc về Cộng Sản, khu Quốc Gia, do Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. Người dân phân chia theo hai phe. Một ngày nọ, lính Quốc Gia cho biết chúng tôi có thể đi vào vùng giải phóng để gặp người thân. Thế là tôi cùng hai đứa bạn vào rừng kiếm củi. Một đứa bạn đi xe đạp, tôi và đứa kia lót tót chạy theo sau. Vừa đi được một lúc thì tôi nghe tiếng một bà nào đó la ‘Trực thăng tới! Chạy mau đi!’ Thế là chúng tôi chạy quay trở lại. Đang chạy định kiếm gốc cây để núp thì tôi bị bắn trúng chân nên quỵ xuống. Một đứa bạn bị bắn trúng bụng, nhưng sau đó cũng được bệnh viện Mỹ chữa lành.” Tạp chí LIFE có tường thuật rằng lúc đó có một người đàn ông đang gom chất củi lên một chiếc xe bò thì bị trúng đạn bắn từ trực thăng và đã chết. Trong khi mẹ của Tròn là cụ bà Nguyễn thị Xuân 87 tuổi nằm đong đưa trên chiếc võng giăng gần đó, Tròn tiếp tục kể: “Lúc đầu tôi không cảm giác đau, chỉ cảm giác cái chân bị tê. Do sống trong vùng xôi đậu bị Việt Cộng tuyên truyền là người Mỹ tàn ác lắm, tôi cố đứng lên để chạy tiếp nhưng không được. Chân tôi lặc lìa không cử động được nữa rồi. Tôi sợ quá nên kêu ‘Má ơi Má’ và khóc òa lên. Trực thăng Mỹ có lẽ biết là họ đã bắn lầm cho nên họ đáp xuống đất, bồng chúng tôi lên trực thăng và chở tới bệnh viện. Tới lúc đó tôi mới cảm thấy đau, đau lắm. Tôi không biết làm sao cho hết đau nên tôi đá vào người lính Mỹ đang chăm sóc tôi.” Hay tin, mẹ Tròn vội vã chạy đến khu cấm tìm con, thấy vết máu khô nên biết rằng đám trẻ bị bắn, biết đâu đã chết. Bà đến căn cứ quân đội Hoa Kỳ, nói chuyện với người thông dịch ở đó để xin giúp bà tìm con. Khuôn mặt da nhăn nheo của bà Xuân, mẹ Tròn, trở nên sống động khi kể chuyện, trong khi Tròn lắng nghe và rưng rưng nước mắt rồi quay mặt đi để che giấu nỗi buồn. Bà Xuân kể: “Họ (nhân viên trong căn cứ Mỹ ở Lai Khê) gọi hỏi khắp nơi thuộc căn cứ mà không tìm thấy tên con tôi. Nhưng họ nói có một bệnh viện mà họ chưa kiểm tra tại Củ Chi, bệnh viện quân đội Mỹ.” Tròn kể, cố gắng nhớ lại những sự việc đã xảy ra đúng 50 năm trước: “Ở đó, tôi chỉ có một mình. Nhiều người đến hỏi tôi là ai, tới khu vực đó để làm gì. Tôi cố gắng trả lời dù tôi rất đau. Tôi chỉ muốn cơn đau chấm dứt ngay đi, nhưng họ cứ thẩm vấn tôi.” Sau đó, khi tỉnh dậy trên giường bệnh và thấy khúc chân phải của mình đã biến đâu mất, Tròn khóc sướt mướt. Cụ Xuân nói: “Nó buồn lắm, tuyệt vọng, cứ khóc hoài. Nó nói thân phận nó nghèo hèn mà lại cụt chân thì cuộc đời tương lai sẽ ra sao. Tôi dỗ dành an ủi nó, hứa sẽ luôn luôn ở bên cạnh lo lắng cho nó.”
Nguyễn Thị Tròn ngồi trước máy may trong tiệm bán hàng xén nhỏ của mình ở xã Suối Đá thuộc huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh năm 2017. (Gary Michael Jones)
Gary Jones kể: “Tròn lấy đưa cho chúng tôi xem một số những bức ảnh trong bài phóng sự của Larry Burrows đăng trên tạp chí LIFE. Trong số đó có một tấm cho thấy Tròn đang đùa vui với đám bạn, Tròn đóng vai trò của một người hề để che giấu nỗi buồn. Tấm hình có lời chú thích, ‘Cũng như đất nước của em, khi chiến tranh đã kết thúc, Tròn không bao giờ còn giống như trước nữa. Em phải cố làm những điều tốt nhất với thân thể khuyết tật của em. Ngay cả khi em chơi nhảy cò cò và bị mất thăng bằng té ngã, em cũng biến nó thành một trò đùa giễu cợt.’ Nhưng Tròn không thể đóng kịch mãi để lừa gạt chính mình nên đôi khi Tròn để cho nỗi buồn xuất hiện như một lối thoát tự nhiên của cảm xúc. Tròn nói: “Tôi sẽ ở với mẹ tôi cho đến ngày bà qua đời. Tôi chỉ có một chân. Tôi không thể làm gì hơn.” Khuyết tật, Tròn không dám nghĩ đến chuyện lập gia đình, có chồng, có con. Mặc dù Tròn gọi Larry Burrows là người cha Mỹ kính yêu (với những trẻ em Việt Nam chưa hiểu biết xa xôi, tất cả người da trắng đơn giản đều được xem là người Mỹ), nhưng Burrows là người Anh, chào đời ở London vào năm 1926 với cái tên chính thức ghi trong giấy khai sinh là Henry (“Harry”) Frank Leslie Burrows. Harry rời trường lúc 16 tuổi để theo đuổi niềm đam mê nhiếp ảnh. Sau khi làm việc trong phòng tối cho tòa soạn báo Daily Express và công ty nhiếp ảnh Keystone, Harry gia nhập văn phòng tạp chí LIFE ở London với tư cách là một cậu bé để sai vặt kiêm người học việc. Burrows được mọi người gọi là Larry để tránh nhầm lẫn với một người khác tên Harry trong văn phòng. Thế là kể từ đó, Burrows đi vào con đường sự nghiệp với tên Larry Burrows.
Ngày càng thành thạo với chiếc máy ảnh cùng với tính mạo hiểm, Larry Burrows hăng hái đi chụp ảnh mọi thứ mọi nơi, từ cuộc khủng hoảng kinh đào Suez, theo chụp mọi sinh hoạt của minh tinh màn bạc Pháp Brigitte Bardot khi Bardot sang thăm London, theo sát Ernest Hemingway trong chuyến đi Tây Ban Nha tham dự những người đấu bò vĩ đại nhất. Và năm 1962, Burrows đặt chân đến Sài Gòn. Mặc dù văn phòng tạp chí LIFE đặt trụ sở ở Hồng Kông thường cử các phóng viên nhiếp ảnh đi công tác luân phiên ở nhiều nơi khác nhau, bao gồm cả Thế vận hội Tokyo 1964, nhưng Larry Burrows đã trao con tim của mình cho Việt Nam mất rồi.
Cao, gầy, với mái tóc sẫm màu và cặp kính dày (bị quân đội Anh chê vì thị lực kém), ông trông một phần giống thần tượng điện ảnh Hollywood, một phần giống người khùng vì luôn luôn thích mày mò táy máy với đủ loại máy ảnh. Tuy là một người cô độc, nhưng với tuổi đời từng trải, danh tiếng về sự gan dạ liều lĩnh, phong thái lịch lãm, Larry Burrows trở thành một vai trò người cha đối với các nhiếp ảnh gia trẻ tuổi làm việc chung trên chiến trường Việt Nam.
Tròn nói gặp gỡ và quen biết ông Burrows là khoảnh khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của Tròn. Ông đã thu xếp thời gian bận rộn để đến thăm Tròn mỗi tháng hoặc hai tháng. Với nét u sầu tan biến trên khuôn mặt, Tròn nói: “Ngay bây giờ, tôi vẫn có thể nhìn thấy hình ảnh của ông hiện ra rất rõ trong tâm trí tôi. Mỗi khi gặp tôi, ông mừng rỡ gọi tên tôi và bắt tay tôi. Tôi nhớ ông mặc loại áo khoác đặc biệtvới nhiều túi mà các phóng viên hay mặc. Tôi còn nhớ ông có mấy cái áo như vậy lận. Ông nói chuyện rất vui, luôn pha trò cho tôi cười và quên buồn. Lần nào đến thăm, ông cũng mang quà cho tôi và gia đình cha mẹ tôi. Nhận thấy gia đình tôi nghèo ở căn chòi xập xệ quá, ông mua vật liệu để xây dựng lại, mua tôn để sửa mái nhà bị dột.”
Larry Burrows có một đứa con gái tên Deborah, cũng bằng tuổi Tròn. Có lẽ khi nghĩ đến con đang sống đầy đủ trên một đất nước an bình, ông cảm thương cho hoàn cảnh của Tròn hơn nên ông giúp đỡ. Ông tiếp tục giữ sự liên lạc và giúp đỡ gia đình Tròn cho đến năm 1971 thì bặt tin luôn. Năm sau, vì công ăn việc làm, cha mẹ Tròn di chuyển cả gia đình về ấp Suối Đá thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Trên đường di chuyển, lính của trạm kiểm soát nghi chiếc máy may mà ông Burrows tặng cho Tròn là hàng ăn cắp và dọa tịch thu. Mẹ của Tròn phải lên Sài Gòn tìm đến văn phòng của tạp chí LIFE để định gặp ông Burrows và nhờ ông chứng nhận chủ quyền của chiếc máy may. Nhưng nhân viên ở đó báo tin cho bà biết là ông đã tử nạn máy bay.
Chiếc trực thăng chở một số các phóng viên nhiếp ảnh đến mặt trận Hạ Lào trong cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 đã trúng đạn Cộng quân và rớt ngày 10 tháng 2 năm 1971. Larry Burrows, 44 tuổi, tử nạn cùng với các phóng viên quốc tế khác là Henri Huet của AP (Associated Press), Kent Potter của UPI (United Press International) và Keisaburo Shimamoto, một phóng viên cộng tác tự do cho báo Newsweek.
Hai năm sau khi người cha tinh thần mất, đến lượt người cha ruột của Tròn cũng qua đời sau một cơn bạo bịnh mà không có tiền chữa trị. Tròn đưa những ngón tay rờ hai tấm ảnh bọc nhựa của hai người cha kính yêu của mình. Hai hàng nước mắt tuôn rơi trên gương mặt buồn thảm, Tròn nghẹn ngào: “Tại sao họ phải chết?”
Tóc em dài sợi nhớ Tình em như hơi sương Yêu em người có biết Rồi ra cũng đoạn trường?
NĐP
Khi người đàn ông trở lại chốn này, hơn một năm trời đã trôi qua. Sẽ không có ai tiếp đón anh ở phi cảng, điều này hiển nhiên rồi. Không ai biết anh đến đây, mà cũng chẳng có ai để anh thông báo! Thực ra thì có một người, nhưng đã lâu rồi anh không còn liên lạc nữa. Bây giờ là cuối mùa Xuân ở đây. Lần trước anh đến vào cuối mùa Đông, trời gây gây lạnh, nhưng trong lòng thì ấm áp. Cho đến bây giờ anh vẫn còn thắc mắc không hiểu tại làm sao lúc đó anh lại không nhìn thấy cô trong đám người đứng ngồi lố nhố chờ đón thân nhân bạn bè của mình. Anh đã đứng lớ ngớ một lúc, không biết sẽ phải làm gì cho đến khi hai bàn tay mát lạnh bịt lấy đôi mắt anh từ phía sau và thân hình mềm mại của cô áp sát vào lưng anh cùng với tiếng thì thào bên tai, ” Em nhớ anh quá chừng!” Sẽ không có bàn tay ngày nào, giọng nói ngày nào, cơ thể mềm mại ngày nào vây phủ lấy anh ở trạm vãng lai hôm nay. Anh ngồi trong lòng chiếc taxi màu trắng có những đường viền màu xanh lá cây sặc sỡ nhìn ra ngoài. Lần trước cô đưa anh ra khỏi phi trường cũng bằng con đường này. Đó là lần đầu tiên anh ngồi ở chiếc ghế bên trái đàng trước mà không phải cầm lái. Ở đây, tay lái nằm phía bên phải, và đơn vị đo tốc độ không tính bằng dặm mà bằng cây số giờ. Xe chạy khá nhanh trên con đường hẹp hai chiều, và ở nhiều giao lộ, những ” bùng binh” hình tròn nhỏ xíu thay thế cho hệ thống đèn xanh đỏ. Anh còn nhớ hồi đó cô vừa lái xe vừa luôn miệng giải thích cho anh cảnh vật bên đường. Căn nhà có cấu trúc giống như chiếc dĩa bay mà chiếc taxi vừa bỏ lại đàng sau cũng có trong câu chuyện của cô, anh còn nhớ như in! Có điều gì liên quan đến cô mà anh quên được đâu! Chiếc taxi dừng lại ở khu phố Bankstown. Anh tìm thấy tiệm phở không chút khó khăn. Lần trước hai người đã ghé vào đây trên đường từ phi trường về căn apartment khiêm tốn của cô. Cô đã cười ngắt nghẻo khi anh than phiền tô phở nhỏ gì mà … to quá vậy! Vậy mà hai người đã trở lại tiệm phở này mấy lần. Lần sau cùng là buổi sáng cô đưa anh ra phi trường để về lại nơi anh đã đến. Anh chọn chiếc bàn nhỏ ở gần cửa sổ, ngồi quay mặt ra đường, gọi một tô phở và chén nước tiết. Tô phở nhỏ … vẫn to tướng như ngày nào đang tỏa mùi thơm. Anh cúi xuống, hít vào thực mạnh. Làn hơi nước từ tô phở bám vào cặp mắt kiếng, làm thành màn sương mù khiến anh không còn nhìn thấy gì hết. Anh cứ để yên như thế, chờ đợi làn hơi nước chậm chạp tan đi, và mong muốn một điều vô cùng kỳ diệu sẽ xày đến! Biết đâu cô sẽ hiện ra trước mặt anh, mái tóc dài phủ bờ vai, nghiêng người về phía trước vắt chanh vào tô phở của anh, môi cong cong nụ cười vẫn làm anh xao xuyến! Khung kiếng cửa sổ trước mặt trống trơn, và anh một mình với những cọng phở buồn thiu! Anh lang thang ở khu Darling Harbor gần hết buổi chiều. Từ chỗ anh ngồi với ly cà phê latte thơm lừng ở chiếc bàn đặt ngoài sân quán cà phê của bến cảng, anh có thể nhìn thấy tấm biển quảng cáo của rạp chiếu bóng IMAX trên đó hàng chữ xanh đỏ ” màn ảnh ba chiều lớn nhất thế giới” chớp tắt liên hồi. Trước mặt anh là con vịnh nhỏ xíu màu xanh lơ, bao bọc bởi những tòa nhà cao, những chiếc cầu, và những con đường đầy bóng cây. Phía bên trái, cùng dãy với tiệm cà phê anh đang ngồi, là khu thương xá dành cho du khách, nơi lần trước anh đã cùng cô la cà chọn lựa những món đồ nho nhỏ mang dấu ấn nghệ thuật của sắc dân Aborigine. Và đàng kia là chiếc tàu thủy được cải biến thành nhà hàng nổi, nằm khiêm nhường bên dưới chiếc cầu rộng dành cho người đi bộ bắc ngang con vịnh. Cao hơn nữa là chặng đường rầy mảnh mai dành cho những chuyến monorail vẽ một đường thanh thoát lên toàn cảnh. Hôm đó trời mưa lất phất khi hai người leo lên chiếc monorail đi một vòng thành phố. Những con đường, những hàng cây, những tòa nhà chạy giật lùi về phía sau, và cô quay mặt thẹn thùng khi ống kính của chiếc máy thu hình trên tay anh rời khung cửa kiếng bám đầy những hạt mưa để hướng về phía cô. Trời đã về chiều khi anh bước ra khỏi quán cà phê lộ thiên trên bờ con vịnh nhỏ. Anh dự định sẽ thả bộ về khu trung tâm thành phố. Trước hết anh sẽ vào thương xá Center Point, lang thang ở khu bán thức ăn, hít thở lại mùi thơm của các món ăn mang hương vị đặc thù của những vùng đất xa xăm trên thế giới, từ Cận Đông, từ châu Mỹ La Tinh, từ châu Aạu, châu Á. Có thể anh sẽ ăn một chút gì đó, một ổ bánh mì với miếng thịt muối hồng hào và những thanh dưa chuột tươi mát. Nếu có cô cùng đi, chắc anh sẽ chọn cho cô món bánh mì kẹp thịt cừu thái mỏng mà cô rất ưa thích, và anh sẽ đưa cô đến một chiếc bàn trống gần đó, vừa gặm bánh mì vừa nghe cô nói huyên thiên. Sau đó anh sẽ đến cái góc phố đối diện trạm xe lửa Saint James, hy vọng anh chàng nghệ sĩ rong với chiếc saxo bóng loáng vẫn còn hành nghề ở đó. Lần trước anh và cô đã dừng lại ở đây, và anh đã làm cô tròn mắt thán phục khi tờ giấy bạc màu xanh từ bàn tay anh chao đảo trong không khí và rơi gọn gàng trong chiếa hộp vuông chứa đầy những đồng tiền kim loại óng ánh màu bạc. Và cái flash trên chiếc máy ảnh trong tay cô lóe lên bắt lấy nụ cười rạng rỡ của anh và anh chàng thổi kèn rong. Và những thanh âm hân hoan của một bản nhạc Nam Mỹ quen thuộc để tiễn chân anh và ” cô vợ xinh đẹp” lúc hai người băng qua đường hướng về phía trạm xe lửa. Người thổi kèn rong đã không còn ở đó. Anh đứng ngơ ngác ở góc phố rộn rịp người qua kẻ lại, buồn rầu nhìn cái hành lang hun hút dẫn vào trạm xe lửa Saint James ở bên kia đường. Anh chẳng nên vào đó làm gì. Anh sẽ lạc lối mất thôi! Tốt hơn anh nên đón chuyến xe buýt ở một trạm gần đó. Anh có thể hỏi người ta để biết chắc là mình đi đúng lộ trình và đến nơi kịp lúc. Ít nhất cũng phải mất khoảng nửa tiếng để anh tới được địa điểm hành lễ. Anh phải có mặt ở buổi lễ quan trọng đêm nay, như đã hứa. Một lời hứa đã cũ, đã không còn cần thiết cho bất cứ ai, ngoại trừ chính anh. Anh cần một lý do cho chuyến viễn du, không phải vậy hay sao? Anh vỗ vỗ vào túi quần bên trái, yên tâm nhận ra chiếc ống dòm Bushnell nhỏ xíu vẫn nằm cồm cộm ở đó. Cô đến đây từ sớm, lúc khuôn viên trường Đại Học còn thưa người. Cô đi lãnh bộ lễ phục ra trường rồi lang thang trong khuôn viên Đại Học, ngắm nghía khu mặt tiền ngôi trường cổ kính màu gạch rêu phong và khu thư viện với lối kiến trúc mới mẻ. Ngày mai nơi này sẽ trở thành kỷ niệm. Sẽ có những kỷ niệm mà cô muốn ôm ấp mãi. Có những kỷ niệm mà cô muốn quên đi. Và có những điều tưởng chừng như đã quên đi. Một chút nữa đây cô sẽ khoác lên người bộ lễ phục màu đen rộng thùng thình, sẽ gắn lên đầu chiếc nón vuông vức có sợi tua vàng óng ánh, sẽ ngồi vào hàng ghế dành cho đám sinh viên tốt nghiệp, hồi hộp chờ nghe tên mình được xướng lên trong những chiếc loa phóng thanh đặt chung quanh cái sảnh đường mênh mông của viện Đại Học. Rồi cô sẽ lính quýnh trên những bậc tam cấp để bước vào vùng ánh sáng chói chang, nơi các chức sắc của viện trong bộ lễ phục rườm rà và trang trọng đang chờ đợi. Những chiếc máy quay phim, những ống kính máy chụp hình sẽ hướng về phía cô, và những tia chớp từ những ngọn flash sẽ lóe lên. Và những tiếng vỗ tay, những tiếng huýt sáo vang lên từ những hàng ghế dưới khu khán giả sẽ làm bước chân cô vướng víu trên đường trở lại chỗ ngồi. Và trong tay cô là tờ giấy chi chít những con dấu xanh đỏ và những chữ ký ngoẳn ngoèo, bằng chứng của một thành tựu. Khi buổi lễ kết thúc, cô theo chân mọi người trong gia đình len lỏi qua vòm cổng hình cung bước ra ngoài chiếc sân cỏ mênh mông ở mặt tiền của ngôi trường. Ở đó, đám sinh viên mới ra trường và thân nhân của họ đang tụm năm tụm ba trò chuyệạn vang rân. AÔnh đèn flash từ những chiếc máy chụp hình lóe lên liên tục. Cô đưa tay sửa lại sợi tua vàng trên chiếc nón vuông rồi đứng sát vào người bạn trai của mình, cười thật duyên dáng vào ống kính chiếc máy chụp hình trên tay người anh của cô. AÔnh đèn flash lại lóe lên như một tia chớp rực rỡ, làm rực sáng khuôn mặt tươi cười của hai người. Cô cười thẹn thùng khi bà chị dâu lớn tiếng khen hai người trông thật đẹp đôi! Bỗng dưng, nụ cười trên môi cô vụt tắt. Người cô lạnh toát, đôi mắt mở to quay lại thật nhanh nhìn qua vai người bạn trai tìm kiếm. Có ai đó vừa gọi tên cô. Tiếng gọi dịu dàng, tha thiết, và … vô cùng thân quen! Một anh chàng cao lớn đứng án ngữ tầm mắt làm cô chẳng nhìn thấy gì phía đàng sau anh ta. Chắc mình nghe lầm, cô nghĩ thầm. Không có ai biết được cái tên này của cô, ngoại trừ một người. Mà người ấy thì không có ở đây. Nhất đinh không! Người bạn trai nắm chặt bàn tay run rẩy của cô, hỏi với vẻ quan tâm, ” Em có sao không? Chắc em mệt lắm rồi, hay là mình về đi thôi.” Cô quay lại nhìn anh, cố làm ra vẻ bình thản, trả lời, ” Em không sao.” Và để chứng minh, cô tặng anh một nụ cười thật tươi! Cả nhà kéo nhau ra về. Còn phải kéo đến nhà ông anh lớn để dự buổi tiệc do anh ấy khoản đãi cô em gái cưng vừa mới tiểu đăng khoa nữa chứ. Trên đường ra bãi đậu xe, cô trở nên trầm lặng hẳn đi. Cô biết rõ cái tiếng gọi mà cô vừa nghe chỉ là một ảo giác. Nhưng tại sao nó lại đến với cô ngay vào lúc này, khi mà mọi việc đều như hoàn hảo? Cô vừa tốt nghiệp từ một trường Đại Học danh tiếng nhất nước, cô có một người bạn trai được lòng tất cả mọi thành viên của gia đình, và mọi người, kể cả chính cô, đều vô cùng yên tâm về một tương lai đầy hứa hẹn đang chờ đón cô. Vậy mà chỉ cần một thanh âm đến từ một nơi chốn rất mơ hồ đã dậy lên trong cô niềm xao xuyến. Nỗi bất an đã như con gấu ngoan ngoãn thu móng vuốt trong giấc Đông miên dằng dặc chợt cựa mình thức giấc. Cô lại xoay qua cười duyên với người bạn trai, cố dìm xuống cái cảm giác nhoi nhói đang dâng lên trong lòng. Toa tàu khá vắng vẻ. Cô ngồi cạnh cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Cô lên tàu ở Canleyvale thay vì Cabramatta, mặc dù trước đó cô đã lang thang ở khu phố Việt Nam này khá lâu. Ở đây vắng hơn, dễ tìm chỗ đậu xe, cô tự bào chữa. Năm ngoái cô cũng lên tàu tại trạm này, cùng với anh ấy! Hai người đã chọn ngồi ở chiếc băng ghế cạnh cửa sổ như nơi cô đang ngồi bây giờ. Anh hỏi cô đủ thứ chuyện, từ những ngôi nhà gạch màu đỏ đang chạy giật lùi về phía sau cho đến những địa danh mà anh mới nghe thấy lần đầu. Cô tựa đầu lên vai anh suốt cuộc hành trình, thỉnh thoảng cười khúc khích vì những nhận xét ngộ nghĩnh của anh về người ngợm cảnh vật của thành phố cô đang cư ngụ. Cô nhớ rất rõ cái cảm giác êm đềm khi má cô tựa trên bờ vai anh ấm áp, chiếc hôn nhẹ nhàng trên tóc, và bàn tay anh dịu dàng bóp khẽ cánh tay cô. Đêm qua cô nằm thao thức thật lâu trên giường. Buổi tiệc mừng cô ở nhà người anh cả thật vui, cô đã cười nói thật nhiều. Nhưng nỗi bất an vẫn theo đuổi, rình rập cô suốt buổi, và theo cô vào giường ngủ. Rồi bỗng dưng cô chợt hiểu ra! Anh đã có lần hứa sẽ đến chung vui cùng cô ngày cô ra trường. ” Anh sẽ đến, ngay cả chỉ để trốn vào một góc khuất tối tăm nào đó nhìn trộm nhỏ đang hân hoan bước lên khán đài nhận văn bằng, nhỏ dễ thương của anh!” ” Bởi vì anh muốn nhìn tận mắt xem nhỏ giống .. cái gì trong bộ áo thụng đen và chiếc nón vuông vức đó!” Anh cười ha hả tiếp lời. Cô cũng cười, không hề thắc mắc về cái lý do tại sao mà anh sẽ phải trốn vào một góc để nhìn trộm cô. Chắc anh sẽ làm vậy nếu anh đã đến dự cuộc lễ đêm qua. Nhưng anh đã không đến, cô biết chắc. Anh còn đến để làm gì nữa chứ? Cái tiếng gọi ” nhỏ dễ thương” vang lên bên tai cô hồi đêm qua chỉ là tiếng kêu thảng thốt của một ước vọng thầm kín mà cô đã cố chôn vùi trong những tháng ngày qua, từ lúc anh và cô chia tay. Nhất định là vậy. Cô ra khỏi nhà ga Circular Quay, bước chậm rãi trên lề đường rộng thênh thang rồi rẽ trái. Cô đã dự định đi lại con đường mà anh và cô đã đi qua lần trước, dừng lại ở những nơi họ đã dừng lại, và sống thêm một lần nữa cái quá khứ tưởng đã vùi sâu cùng ngày tháng. Rồi sẽ rũ bỏ hết, trở về với những gì cô đang nắm chắc trong tay. Chân cô chùng lại trước tiệm ăn mang bảng hiệu Oyster Bar. Chiếc bàn nhỏ hình tròn cạnh mé nước còn trống. Ở đó người ta có thể nhìn thấy rất rõ nhịp cầu vòng cung màu đen của Harbor Bridge bắc ngang cửa vịnh. Và những chiếc tàu chở du khách tham quan những vùng biển lân cận ra vào tấp nập. Và anh thì cứ khen lấy khen để món nghêu xào thịt bầm cô gọi. Anh vốn khéo nịnh mà! Cô không dừng lâu ở Opera House, cái hí viện nổi tiếng thế giới nhờ vào lối kiến trúc rất lạ mắt. Cô sẽ trở lại khu này trên đường về. Cô muốn ghé thăm Botanic Garden nằm đối diện khu nhà hát. Ở đó, anh và cô đã ngồi bên nhau thực lâu trên bãi cỏ xanh, dưới bóng mát của tàng cây xum xuê, ngắm những bông hoa tím lay động trong gió chiều. Xa hơn nữa dưới kia là mặt biển loáng nắng, những chiếc thuyền buồm căng gió, và anh với giấc mơ thảo khấu. Cô đã cười ngất khi anh bảo anh muốn cướp chiếc thuyến buồm, kéo lên lá cờ sọ người xương chéo vào bắt cóc ” nhỏ dễ thương.” ” Để làm chi vậy?” Cô hỏi. ” Thì để tấn phong nhỏ làm … nữ tặc chớ chi!” Có khi đó cũng là một giải pháp, cô đã nghĩ. Không có ai trong gia đình cô hài lòng với mối quan hệ tình cảm giữa cô và anh. Không ai tin rằng anh có thể mang đến cho cô hạnh phúc. Nhưng cô thì lại cảm thấy hạnh phúc quá đỗi. Nhất là những lúc được bên nhau như thế. Những giây phút vô cùng hiếm hoi. Anh chẳng bao giờ ở được lâu với cô. Những hệ lụy từ quá khứ cứ bám lấy anh như những sợi xích oan nghiệt, kéo giật lấy anh ra khỏi tay cô. Nếu anh có thể trở thành tên cướp biển, cướp lấy cô đưa cô đến một nơi chốn xa xôi nào đó ở cùng trời cuối đất, cắt đứt với mọi ràng buộc trói trăn thì hay biết chừng nào! Cô đứng dậy. Cặp chim nhỏ màu đen vẫn kiếm ăn gần đó giương mát nhìn cô kêu líu ríu rồi vỗ cánh bay lên tàng cây bên cạnh. Cô nhìn theo, bắt gặp cái tháp tròn màu vàng kim lấp ló phía trên những tàng lá xanh ngắt. Đó là tháp Center Point. Cô đã đưa anh đến đó một lần. Và tiếc mãi đã không thể cùng anh ngắm toàn cảnh thành phố từ trên cao. Zero visibility, cô gái ở quầy vé giải thích. Hôm đó trời mưa khá lớn, và sương mù đã bao phủ khu trung tâm của thành phố. Ông trời biết mình sắp phải chia tay nên nhỏ lệ đó, anh khôi hài. Ngày hôm sau anh sẽ rời thành phố để trở vdà với công việc của anh. Và cô thì chỉ còn được gần anh có một đêm nữa, rồi không biết bao giờ mới gặp lại. Không bao giờ, cô nghĩ thầm. Sau cuộc chia tay đầy nước mắt ở phi trường ngày hôm sau, họ đã chia tay một lần nữa, vĩnh viễn. Trong bức thư gởi cho cô không lâu sau đó, anh nói về cái tâm hồn ” mong manh như sợi tơ trời” của cô, ” run rẫy không ngưng nghỉ vì những cơn gió không đâu,” mãi ray rứt với những ” băn khoăn không duyên cớ ” khiến anh cảm thấy mình vô cùng khổ sở vì ” rõ ràng tình yêu anh dành cho nhỏ đã không có đủ tính thuyết phục để giúp nhỏ vững tin ở tương lai của chúng ta.” Anh nói về tính kiêu ngạo đáng ghét của chính mình mà anh đã sử dụng như là một thứ vũ khí hiệu nghiệm để chống chỏi với những bất trắc của đời sống nay đã ” méo mó, biến dạng đến độ không còn nhận ra được” chỉ vì cái cảm giác bất lực trước những dằn vặt mà cô đã phải gánh chịu bấy lâu nay. Anh ” hào phóng” nhận lãnh mọi ” sai lầm” trong mối quan hệ giữa hai người, và anh mong cô tha thứ. ” Anh thực lòng muốn mang đến cho em niềm vui, và anh đã thất bại,” anh kết luận. Không có câu nào nhắc đến lời hứa sẽ đến dự buổi lễ ra trường của cô vào cuối năm tới! Cơn giận tưởng đã lắng xuống từ lâu bỗng lại dâng lên cứ như cô mới vừa nhận được bức thư của anh ngày hôm qua. Anh thực là độc ác! Thuở yêu anh, cô như con chim non mới cất cánh lần đầu đã rơi ngay vào cơn bão tố! Mối tình của cô và anh đã chịu sóng gió ngay từ buổi đầu, và chỉ để cho nó có cơ may sống sót, cô đã chịu đựng rất nhiều phiền não. Cô mãi lo sợ về cái chung cuộc buồn thảm của cuộc tình mà cô đã hân hoan bước vào với trái tim say đắm. Cô chỉ cảm thấy vừng tâm khi có anh bên cạnh, mà anh thì họa hoằn mới đến cùng cô. Lẽ nào anh không biết cô luôn xem anh là chỗ dựa tinh thần của cô hay sao? Đâu rồi sự từng trải, cảm thông và độ lượng mà cô vẫn kỳ vọng ở anh? Và nếu anh đã yêu cô nhiều như anh đã nói thì tại sao cái tính ” tự phụ đáng ghét” của anh vẫn còn đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống của anh như vậy? Cô chưa hề nói gì với anh về những suy nghĩ của mình sau đó. Cô lặng lẽ quay về với trường lớp, với nỗi buồn không muốn chia sẻ cùng ai. Và cô thấy mình lớn ra cùng với nỗi giận hờn ngày mỗi nhạt đi. Cô không còn là cô gái yếu đuối mãi lo sợỳ những điều không đâu, mãi chịu thiệt thòi vì nỗi e ngại sẽ làm buồn lòng người khác. Trong số những người vẫn đeo đuổi mình, cô đã bình tĩnh chọn lấy một. Và cô đã cảm thấy yên tâm với cuộc tình mới, nếu có thể gọi đó là một cuộc tình! Chắc anh sẽ không đồng ý, tình yêu khác hôn nhân có mỗi một điều, khả năng lựa chọn, anh vẫn thường tuyên bố. Mặc kệ anh với cái tính kiêu ngạo đáng ghét của anh! Vậy mà mỗi buổi sáng cô đối diện tấm gương soi chải tóc, những sợi tóc cứ dài mãi ra như một ước hẹn đã trễ tràng. Em có còn nuôi tóc, cho người dài ước mơ? ” Em sẽ nuôi tóc dài cho đến khi nào em hết thương anh,” cô nhớ mình đã trả lời anh như vậy. Cho đến mới đây, cô vẫn nghĩ chỉ vì mái tóc dài thích hợp với khuôn mặt của cô hơn. Cô bước xuống con dốc nhỏ dẫn ra khỏi khu công viên. Trước mặt cô là con đường nhỏ chạy dọc theo bờ vịnh. Cô đứng tựa vào bức tường xi măng thấp ngăn con đường và bờ nước, nhìn về phía hí viện. Mặt trời đã xuống thấp, trông như cái dĩa tròn chói lọi gắn trên nóc tòa nhà có những chiếc mái hình vỏ sò úp lại. Cơn gió chiều lành lạnh từ ngoài vịnh thổi vào làm bay tung những sợi tóc dài. Cô đưa tay vuốt tóc, nghĩ thầm ngày mai mình sẽ đi cắt tóc. Cắt thật ngắn. Và trút bỏ hết. Sẽ chỉ còn lại nỗi bình an tìm thấy được sau bao ngày tháng. Cô bước những bước chậm rãi hướng về phía trạm xe lửa Circular Quay. Những đứa bé mặc đồng phục đã thôi đùa giỡn ồn ào trên bãi cỏ phía trước Botanic Garden. Cô băng ngang qua mặt người thổi kèn dạo, chiếc kèn đồng sáng loáng lấp lánh trong hoàng hôn, Tiếng kèn bỗng trỗi lên, rộn ràng âm hưởng vùng Nam Mỹ. Cô dừng bước, quan sát người thổi kèn, và chợt nhớ ra đã từng gặp ông ta ở một góc phố cạnh khu thương xá David Jones. Lúc đó ông đã thổi tặng cô bản nhạc này vào lúc cô sửa soạn băng qua đường để vào trạm xe lửa Saint James. Hôm ấy cô không đi một mình như hiện giờ. Cô bước đến gần, định bụng sẽ bỏ vào chiếc hộp giấy mấy đồng tiền lẻ sau khi bản nhạc chấm dứt. Dù sao ông cũng đã có lần khen cô xinh đẹp! Đúng vào lúc cô đang lúi húi mở chiếc xách tay tìm tiền lẻ, tờ giấy bạc màu xanh lá cây hiện ra trước mắt cô, chao đảo trong không khí, rồi đậu xuống nhẹ nhàng trên những đồng xu màu bạc trong chiếc hộp giấy hình vuông như trò quỷ thuật! Trong một vài giây, người cô như đóng băng. Cuối cùng rồi cô cũng xoay người lại được. Anh đứng im sững trước mặt cô, khuôn mặt tiều tụy và nụ cười hân hoan pha chút bối rối. Cũng phải một thế kỷ trôi qua trước khi cô nhìn thấy cánh tay mặt của anh đưa ra phía trước trong một động tác chậm chạp nhưng dứt khoát, bàn tay mở rộng mời mọc. Cô đứng chết trân,run rẩy như chiếc lá trước gió, đầu óc rối tung, miệng há ra như con cá ngộp nước đang cố ngoi lên hớp không khí. Trong đôi tai lùng bùng của cô lại vang lên tiếng gọi dịu dàng cái tên đêm qua, cái tên chỉ có mỗi hai người biết. Người thổi kèn rong nín thở chờ đợi. Những âm thanh hoặc rộn rã hân hoan hoặc u buồn thất vọng sắp phát ra từ chiếc kèn đồng sẽ được quyết định bởi cô gái Đông phương tóc dài như giòng suối đen tuyền và bờ vai run rẩy đang đứng quay lưng lại phía ông. Ông khẽ xoay chiếc kèn đồng trong tay, ngửa người về phía sau trong tư thế chuẩn bị. Giọt nắng cuối cùng của buổi chiều rơi xuống trên vành loa tròn bóng loáng của chiếc kèn đồng, phản chiếu lên đôi mắt của người khách phương xa, làm sáng lên một trời nhớ thương khắc khoải.
Bữa ăn sáng của chúng tôi chấm đứt, khi mặt trời đã lên cao. Cúc nói.
-Bây giờ em sẽ đưa anh đi trình diện bà tổ trưởng dân phố.
Tôi cười đùa.
-Em dùng chữ làm anh nhớ lại chuyện ngày xưa, khi mới tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó về trình diện Trung tá trưởng phòng nhân viên Trường Võ Bị Đà Lạt.
Cúc chậm rãi nói.
-Giải phóng rồi, hiện tại giai cấp nông dân, công nhân, đang làm chủ đất nước. Tin em đi, ông Trung tá Ngụy Trưởng phòng của anh, cho dù trước kia có tốt nghiệp Cao học hay Tiến sĩ ở Hoa Kỳ, hôm nay nếu học tập tốt, được thả về sớm, cũng phải chịu sự giám sát của bà tổ trưởng dân phố, phải trình diện bà ta như thường.
Nhà bà tổ trưởng cách nhà tôi có mấy căn, mới đi ba bước đã tới. Bà tổ trưởng đang ngồi vo gạo, khi thấy tôi và Cúc, bà nói.
-Cô cậu ngồi chơi, chờ tôi bắt nồi cơm lên bếp, chỉ chút xíu thôi.
Nói xong bà ngoắt một đứa bé, hình như là con của bà tới gần, nói nhỏ vào tai nó. Đứa bé gật đầu rồi quay lưng đi.
Một chút xíu của bà tổ trưởng, vậy mà cũng hơn mười lăm phút dài cổ chờ đợi của tôi. Hình như muốn chứng tỏ mình là nhân vật quan trọng, nên bà tổ trưởng cứ nhẫn nha vo gạo, từ tốn chẻ một đống củi đủ dùng cho vài ngày, nhen bếp lửa, chậm rãi bắt nồi cơm lên. Xong xuôi mọi việc bà mới quay sang nói chuyện với chúng tôi. Cũng cùng lúc ấy hai người đàn bà lạ mặt bước vào. Thấy họ, bà tổ trưởng vội giới thiệu với tôi.
-Đây là bà tổ phó và bà tổ phó an ninh.
Theo sự giải thích của bà tổ trưởng, tôi biết thêm về nhiệm vụ và trách nhiệm của từng người. Công việc của bà tổ phó an ninh coi vậy mà quan trọng nhất, bà ta phải tốn nhiều công sức truy tìm và phát hiện những phần tử phản động, chống đối Cách mạng, còn chưa ra đầu thú. Sĩ quan Ngụy như tôi, sau khi được trả tự do về lại địa phương, sẽ do bà tổ phó an ninh quản lý. Đến đây, bà tổ phó an ninh mới lên tiếng với tôi.
-Trong thời gian quản chế tại địa phương, cậu phải tuân hành theo tất cả những điều lệ mà ở trên đưa xuống. Cậu phải có một cuốn tập khoảng một trăm trang để ghi chép những công việc làm từng ngày, mỗi buổi sáng vào lúc bảy giờ, đem tập vở qua nhà tổ trưởng xin chữ ký đi làm lao động. Khi đến nơi làm, phải xin chữ ký của tổ trưởng nơi đó, lúc về phải có chữ ký cho phép về. Khi đến nhà phải đem sổ qua tổ trưởng ký xác nhận đã trở về. Nói một cách gọn gàng dễ hiểu, là một ngày cậu cần ký vào sổ bốn lần. Một tuần, cậu phải viết bản tự khai, nói rõ ràng là đã làm gì trong tuần, cuối tuần đọc bản kiểm điểm trước tổ dân phố, sau đó đem nộp cho công an khu vực. Một tháng một lần, trình diện và đọc bản kiểm điểm với công an khu vực.
Cuối cùng bà tổ phó an ninh hỏi tôi, giọng nói như là mẹ dạy con.
-Cậu đã nhớ rõ chưa?
Tôi lật đật đáp.
-Thưa bà rõ.
Sau khi đã lên lớp, dạy dỗ tôi đủ mọi điều, cả ba bà sếp đều hứa là sẽ hết lòng giúp đỡ tôi trong thời gian quản chế.
Dĩ nhiên tôi phải cảm ơn tấm lòng tốt của ba người, xin hứa sẽ thi hành đúng mọi lời chỉ dạy.
Xong chuyện ra mắt bộ ba tam đầu chế, Cúc dẫn tôi đi trình diện công an khu vực ở phường. Gã công an khu vực của tôi, mặt mày non choẹt, trong bộ quân phục màu vàng pha chút hồng nhạt, dạy cho tôi một mớ luật lệ mà tôi phải tuân thủ trong thời gian bị quản chế. Sau nhiều lần vặn hỏi, biết tôi đã thông suốt mọi chuyện, gã công an khu vực nói.
-Còn nữa, ngoài việc phải chấp hành tốt mọi quy định khi bị quản chế, anh còn có bổn phận phải báo cáo với chính quyền Cách mạng, khi biết được những ai còn lẩn trốn, chưa chịu trình diện học tập, hoặc những tổ chức phản động của Ngụy còn cài lại. Nhớ chưa?
Tôi lẹ lẹ nói.
-Nhớ.
Hình như thấy tôi thuộc dạng dễ dạy, gã công an khu vực bèn phán một câu đầy ân huệ.
-Buổi làm việc hôm nay đến đây đã tạm đủ, cho phép anh về nhà nghỉ ngơi.
Bước chân ra khỏi phường, tôi biết rằng mình đã hoàn tất mọi thủ tục của một sĩ quan Ngụy bị quản chế, sau khi học tập cải tạo được thả về.
Trong lòng nhẹ nhàng, thoải mái, tôi cười với Cúc.
-Quán cà phê của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu, có còn không em?
-Vẫn còn, mà anh hỏi làm gì vậy?
-Tụi mình tới đó làm một ly cà phê để nhớ lại những ngày xưa yêu dấu, nhớ ngày đầu tiên anh dẫn đào đi cà phê.
Cúc cười với vẻ mặt tràn đầy sung sướng.
-Kể ra ngày xưa em cũng khá là dễ tính, vô quán cà phê với kép mà ngồi ghế đẩu, uống cà phê trong cái ly xây chừng, gặm bánh mì. Thực lòng mà nói, với khung cảnh quá bình dân của quán tuy có hơi xa lạ với em, nhưng mà… nhưng mà… em nhớ hoài.
Khi thấy tôi chị Huệ cười, vẫn là nụ cười của ngày xưa đầy vui vẻ, thân thiện.
-Trung úy mới học tập về. Ủa mà sao về sớm dữ vậy. Chưa thấy ai được thả hết mà.
Tôi than với chị Huệ.
-Bộ chị muốn em ở tù mút chỉ cần câu máy hay sao. Mà nè, chị đừng có gọi em là trung úy, tụi nó bỏ tù em nữa bây giờ.
Tôi quay sang Cúc, miệng nói với chị Huệ.
-Đây là vợ em, chị nhớ Cúc không?
Chị Huệ lắc đầu, nói mà như ghẹo Cúc.
-Mấy cô khác thì tôi nhớ.
Tôi nói với chị Huệ.
-Em được thả về mới có ba ngày, người đầu tiên mà em đến thăm là chị, nói như vậy để chị biết là em quý chị như thế nào.
Vừa dứt lời, không để cho chị Huệ nói lên ý kiến của chị, tôi vội tiếp.
-Cho em hai ly cà phê sữa nóng, thêm một cái hộp quẹt.
-Hút thuốc hả?
-Dạ không, để chị đốt nhà em luôn cho tiện đó mà.
Quán của chị Huệ bàn ghế thấp lè tè, ghế đẩu nhỏ xíu, cà phê túi vải. Quán cà phê bình dân đến mức khó có cái quán nào bình dân hơn. Tôi hỏi chị Huệ.
-Sao vắng khách quá vậy chị?
-Trưa rồi nên ít người uống cà phê, hơn nữa…thời buổi khó khăn, kiếm được đồng tiền cũng hơi khó.
Tôi và Cúc chọn một cái bàn bên ngoài quán, nhìn ra đường Phan Bội Châu. Đường phố vắng hoe, người đâu không thấy, chỉ thấy dăm ba chiếc lá vàng khô không biết từ đâu lạc lõng tới đây. Mấy chiếc lá theo từng cơn gió nhẹ, đuổi nhau chạy trên lề đường phát ra tiếng kêu xào xạc nho nhỏ, tựa như tiếng thở dài buồn bã của buổi trưa hè Đà Lạt. Tôi ngồi đó mà lòng chừng như trống rỗng, đưa mắt nhìn về hướng khu Hòa Bình. Một người đàn bà quần áo lam lũ đang đi về phía chúng tôi, theo sau là người đàn ông áo vá vai, quần sờn rách, chân mang dép râu, vai gánh hai cái bao may bằng vải xám, cột túm miệng.
Tôi nói với Cúc.
-Giải phóng rồi vợ lên làm chủ, anh chồng coi bộ hơi mệt.
Cúc nhìn họ một lúc rồi nói.
-Không phải là vợ chồng đâu, ông đi sau là người gánh thuê. Mấy tháng gần đây, em biết dưới chợ có một chỗ xay bắp thành bột, những người gánh thuê thường đứng ở đó, họ gánh bột bắp về nhà cho những ai mướn họ.
Tôi thắc mắc hỏi Cúc.
-Nếu không có xăng để chạy Honda thì dùng xe đạp để thồ cũng được vậy, tại sao phải gánh.
Cúc nói mà như than giùm cho họ.
-Anh tưởng xe đạp rẻ lắm sao, thời buổi này người dân cơm không có ăn, áo không có mặc, lấy tiền đâu ra mà mua xe đạp.
Khi hai người nọ đi qua trước quán, tôi nhìn người đàn ông đang còng lưng gánh hai cái bị, trong đó có thể là bột bắp. Nhìn gương mặt thông thái của ông ta với cặp kính cận, thêm thân hình dong dỏng cao, một tia chớp chợt lóe sáng trong đầu của tôi. Bỗng dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, cả một quá khứ xa xưa tưởng chừng đã chìm sâu vào dĩ vãng, nay đột nhiên lũ lượt kéo về. Đúng là thầy Hạnh của tôi rồi. Năm tôi học đệ lục, thầy dạy Anh văn cho lớp tôi. Năm tôi học đệ nhất ông là thầy dạy Anh văn của tôi thêm một năm nữa. Cuối năm đó, tôi đậu tú tài hai, tuy đã đậu phần thi viết nhưng vẫn còn một cửa ải chót cùng phải vượt qua, đó là phần thi vấn đáp môn Anh văn.
Thầy Hạnh là giáo sư trực tiếp khảo bài tôi. Sau chừng dăm ba phút đọc một đoạn văn mà thầy chỉ định trong sách, tiếp theo đó là phần hạch hỏi bằng tiếng Anh, cuối cùng thầy nhỏ giọng chỉ đủ cho tôi nghe hai chữ “Very good”. Hai chữ này gián tiếp nói cho tôi biết là mình đã đậu. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp thầy.
-Anh làm gì mà ngồi thừ người ra vậy?
Giọng nói của Cúc kéo tôi về với thực tại. Tôi nói với Cúc, giọng không được vui.
-Em biết người đàn ông gánh thuê đó là ai không?
-Ai vậy anh?
-Thầy dạy Anh văn của anh, thời anh còn học Trung học Trần Hưng Đạo. Ông đã từng du học ở Anh mấy năm, không biết tại sao lại ra nông nỗi này.
Cúc nói.
-Anh ở tù hơn một năm, trong thời gian đó có nhiều đổi thay ở bên ngoài mà anh không biết. Bây giờ ở Việt Nam người ta học tiếng Liên Xô, tiếng Tàu, Anh ngữ là ngôn ngữ chết. Những bậc trí thức khoa bảng đã từng du học bên Anh, bên Mỹ, đều bị liệt vào thành phần do CIA Mỹ gài lại. Thân phận của họ cũng giống như sĩ quan Ngụy, còn được nhà nước cho đi gánh thuê, vác mướn như thầy của anh, là may mắn lắm rồi.
Cúc nhìn quanh rồi nhắc tôi.
-Uống cà phê đi anh, mình còn phải đi về. Em biết anh muốn gì rồi, mai em sẽ có cách giúp cho thầy của anh.
Tôi hơi ngạc nhiên.
-Anh có cảm tưởng là em đi guốc trong bụng anh.
Cúc mỉm cười.
-Nhìn gương mặt buồn buồn của anh khi nói về ông thầy là em biết rồi.
-Anh muốn giúp thầy anh chút tiền.
-Đừng có hành động điên rồ, ông ấy dám đem thân làm thuê, gánh mướn, thì ông cũng dám cho anh vài cái bạt tai. Anh không nhớ câu “Sĩ khả lục, bất khả nhục” hay sao.
Cúc trả tiền cà phê rồi nắm tay tôi kéo đi.
-Ngày mai tụi mình xuống chợ, chỗ máy xay bắp gặp thầy. Anh cứ yên tâm, chỉ cần nói cho em biết thầy của anh tên gì, mọi chuyện còn lại để em lo.
Tôi bưng ly cà phê nốc một hơi. Mới ở tù ra, cà phê sữa túi vải vẫn còn thơm lừng, ngọt lịm.
Trước khi rời khỏi quán, tôi nói to với chị Huệ, tiếng nói xuất phát tự đáy lòng.
-Cà phê ngon quá sá. Một ngày sống trong xã hội dân sự, trôi qua trong an lành.
Buổi sáng, tôi và Cúc ở nhà ăn sáng cho đến gần tám giờ mới xong, sau đó tôi đi qua nhà bà tổ trưởng đưa cuốn sổ “nhật ký đời tôi” dày một trăm trang cho bà tổ trưởng, xin phép bà cho đi làm lao động. Khi có chữ ký rồi, tôi và Cúc dẫn chiếc xe đạp của thằng Tý ra khỏi nhà. Hôm nay tôi chở vợ đi làm vườn ở ngoài Đa Thiện. Trước khi đi, với tính lo xa, tôi hỏi Cúc.
-Để con ở nhà với chị Hai có sao không? Anh thực lòng không an tâm chút nào.
Cúc trấn an tôi.
-Anh đừng quá lo lắng, chị Hai là người rất cẩn thận, chị chăm sóc con bé còn tốt hơn em nữa. Hôm nay mình chỉ ra thăm vườn để cho anh biết mặt ông tổ trưởng và tổ phó an ninh là sếp mới của anh, nơi anh làm lao động. Còn tất cả mọi chuyện ngoài vườn đã có người lo hết rồi. Mai mốt anh ra vườn, chỉ cốt để lấy chữ ký của hai ông sếp mà thôi.
Tôi đạp xe chở Cúc dọc theo đường Phan Đình Phùng, đến ngã ba chùa, chúng tôi đẩy xe lên con dốc dài và cao cho đến tận cổng trường Bùi Thị Xuân. Bắt đầu từ đây là xuống dốc cho đến ngã năm Viện đại học. Xe đang chạy ngon trớn, bất ngờ Cúc vỗ nhẹ vào lưng tôi.
-Tụi mình đi làm vườn chớ không phải đi học đâu, anh nhớ rẽ trái theo hướng Đa Thiện, rồi chạy thêm khoảng hơn một cây số, bên phải có con đường đất, xuống dốc khoảng một cây số nữa là tới vườn của mình.
Tôi đứng nhìn mảnh vườn mà lòng ngao ngán, cỏ dại mọc đầy lối đi giữa hai luống rau, có nơi cỏ còn tốt hơn cây bắp sú. Gì chớ chuyện làm cỏ là nghề của tù cải tạo, với hơn một năm kinh nghiệm trong nghề, tôi hăng hái nói với Cúc.
-Kể từ ngày mai, anh sẽ bắt đầu dọn sạch cỏ trong vườn.
Cúc nhỏ nhẹ nói với tôi.
-Anh à, mục đích của mình là trốn chạy, mục tiêu của mình nằm bên kia bờ Thái Bình Dương. Mảnh vườn này chỉ là tấm bình phong che chở cho gia đình mình trong cơn bão dữ mà thôi. Cỏ dại nhiều hay ít không thành vấn đề.
-Em nói đúng, nhưng mà đã ra đến đây rồi thì em cũng để cho anh lăn lóc bụi đời với cây cỏ cho có vẻ nông dân chút xíu.
-Theo em nghĩ thì anh nên tìm một anh thợ máy, chuyên về động cơ nổ để học nghề. Nay mai giữa trùng dương bao la bát ngát, con tàu chở mình có bị trục trặc về máy móc, mình còn biết đường mà xoay xở.
Tôi đồng ý với Cúc, không nói thêm gì nữa.
Cúc dẫn tôi tới nhà của ông tổ phó an ninh để xin chữ ký vào sổ nhật ký của tôi. Vừa gặp ông ta, Cúc vội nói.
-Ngày mai, nhờ ông làm bớt cỏ trong vườn giúp tôi, tiền đổi công, vần công bao nhiêu cứ cho tôi biết, tôi sẽ trả đầy đủ.
Nghe Cúc nói chuyện, tôi cười thầm trong bụng, đã gọi là đổi công mà trả bằng tiền, thì ra trong Xã Hội Chủ Nghĩa người ta luồn lách, tránh chữ làm thuê, cuốc mướn.
Ông tổ phó an ninh tươi cười nói với Cúc.
-Cô khỏi lo, tôi sẽ dọn cỏ sạch sẽ.
Cúc chỉ tôi rồi nói.
-Xin giới thiệu với ông tổ phó an ninh, đây là chồng của tôi học tập cải tạo vừa được nhà nước cho về, hiện còn đang bị quản chế. Sau này, mọi thứ giấy tờ chứng thực của chồng tôi khi đi làm vườn ở đây, xin ông tổ phó giúp đỡ cho.
-Cô yên chí, có qua có lại, tôi sẽ hết lòng giúp cô.
Thấy ông tổ phó cũng thuộc hạng dễ tính, tôi lên tiếng.
-Thưa ông tổ phó, ở Đa Thiện ông có biết trung úy Ngụy tên Hoàng, đi học tập cải tạo và được nhà nước khoan hồng cho về cách đây mấy tháng trước không?
-Có phải cái ông bị cắt cổ, thọc cái ống nhựa vô để thở, đúng không?
Tôi mừng rỡ.
-Dạ đúng rồi.
Giống như bị chạm trúng chỗ ngứa, ông tổ phó an ninh xổ ra một tràng.
-Kể ra mấy tay bác sĩ Ngụy cũng giỏi thiệt, ở trong tù không có dụng cụ, không thuốc men, mà dám làm chuyện động trời như vậy, tôi cũng xin cúi đầu bái phục. Mà cậu hỏi ông Hoàng làm gì?
Sợ ông tổ phó an ninh nghi ngờ, hai tên tù Ngụy khi được thả về là tìm cách liên lạc móc nối với nhau để chống đối Cách mạng, tôi mau lẹ phân trần.
-Thưa ông, ngày xưa tôi học ngang lớp với anh Hoàng ở trường trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Tôi chỉ muốn thăm anh ấy thôi.
-Vậy hả, tôi là tổ phó an ninh, tất cả dân ở Đa Thiện này, từ làng trên cho tới xóm dưới, đều như nằm trong lòng tay của tôi. Muốn tới nhà anh Hoàng phải không? Cậu trở ngược ra đường cái, quẹo phải đi thêm một đỗi nữa tới con đường đất. Hỏi nhà anh Hoàng thì ai cũng biết.
Gặp lại anh Hoàng mà lòng không được vui, tôi biết mặc dù được gia đình chăm sóc đầy đủ suốt mấy tháng trường, nhưng sắc diện của anh vẫn vậy, vẫn ốm như ngày còn ở trong tù. Cái khác biệt duy nhất là vết mổ nơi cổ nay đã liền da, một vết sẹo không được đẹp cho mấy nằm ngay nơi cổ.
Tôi hỏi anh Hoàng.
-Khỏe không bạn?
Anh nhìn tôi với đôi mắt buồn bã, rồi quay người vào trong nhà. Anh dùng tay phải làm dấu hiệu như đang viết, thì ra anh Hoàng đã bị câm và cũng có thể điếc, sau lần giải phẩu cổ ở trong tù và không được chuyển đến bịnh viện cứu chữa. Vợ anh Hoàng, tôi đoán vậy, đem đến cho anh một tờ giấy và cây bút. Sau một hồi hí hoáy viết, anh Hoàng trao tờ giấy cho tôi. Nhìn nét chữ nguệch ngoạc không được ngay hàng thẳng lối. Tôi biết, anh bạn tôi tệ lắm cũng có hai cái bằng tú tài, không thể nào lại viết chữ như gà bươi, quạ mổ, trừ trường hợp anh bị khủng hoảng tâm lý, gây chấn động đến tinh thần. Sau và phút bút đàm với anh Hoàng, tôi cáo biệt ra về, không quên viết xuống tờ giấy mấy chữ sáo rỗng “Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe”. Tôi nói sáo rỗng vì biết rằng anh sẽ không còn sống được bao lâu nữa mà vẫn viết “chúc anh mạnh khỏe”. Thực vậy, chỉ vài tháng sau đó, tôi nhận được tin anh Hoàng đã từ giã cõi đời. Tôi biết anh ra đi trong sự đau đớn xót thương vô bờ bến của vợ con.
Trên đường về, khi Cúc đang dẫn chiếc xe đạp lên dốc, tôi lấy tờ bút đàm với anh Hoàng ra, xé bỏ những câu thăm hỏi, chuyện trò. Riêng có một hàng chữ tôi bắt buộc phải nuốt luôn vào bụng, bởi vì với hàng chữ này, tôi và anh Hoàng sẽ bị bắt vô tù cải tạo lại, thậm chí còn có thể xử bắn vì cái tội chống phá Cách mạng. Cúc thấy tôi nuốt mảnh giấy bèn hỏi.
-Tại sao anh phải nuốt tờ giấy vậy?
Tôi vói tay dẫn xe cho Cúc.
-Em muốn biết phải không? Nghe xong đừng có sợ, mấy chữ mà anh nuốt vào bụng là “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”. Chuyện gì khác thì anh không rõ nhưng anh biết chắc một điều, anh Hoàng là một người can đảm có thừa, cương nghị và cứng rắn như một thỏi sắt.
-Tại sao anh nói vậy?
-Em nghĩ như thế nào, nếu tấm giấy đó lọt vào tay mấy tên Công An Cộng sản
Cúc với vẻ mặt lo âu.
-Anh đừng nói với em những chuyện như vậy nữa, em sợ lắm. Bây giờ mình có chuyện khác quan trọng không kém, cần phải làm.
-Chuyện gì vậy em?
-Gần một giờ rồi, anh chở em xuống chợ ăn trưa, lâu lâu mình ăn cơm bình dân một bữa, được không?
Tôi gật đầu.
-Được quá đi chớ, gì chớ chở vợ đi ăn thì anh đồng ý cả hai tay.
Tôi và Cúc mỗi người ngồi trên một cái đòn bé tí xíu, bên cạnh gánh cơm bên hông chợ.
Cúc nói với tôi.
-Sau giải phóng, nhiều gánh hàng rong xuất hiện khắp nơi, nhất là ở quanh chợ, mình ăn cơm nghe anh.
Tôi nói nhỏ vào tai Cúc mà trong lòng đầy hãnh diện.
-Em nên nhớ hơn một năm trường ở trong tù, mỗi bữa ăn của anh chỉ là một chén rưỡi cơm, ăn với muối. Giờ đây nếu được ăn cơm chan nước mắm đã là hạnh phúc lắm rồi.
Chị bán cơm đưa cho Cúc và tôi mỗi người một dĩa cơm tấm. Mới nhìn dĩa cơm tôi đã nuốt nước miếng ừng ực, cơm trắng với bốn năm lát dưa leo rải đều trên mặt, một ít bì xắt sợi nhỏ, thêm một miếng thịt heo nướng cỡ hai ngón tay, đặc biệt là chén nước mắm ngọt với những miếng ớt mong mỏng, đỏ tươi. Tôi ăn cơm mà không thấy ngon, vì đầu óc cứ lởn vởn hình ảnh mấy người bạn tù ốm đói. Cơm nước xong xuôi, sau khi trả tiền Cúc chỉ cho tôi người đàn ông với cặp kính cận trên mặt, đang đứng lớ ngớ bên kia đường, trước chỗ máy xay bắp.
-Phải thầy của anh đó không?
Tôi gật đầu.
Cúc hỏi.
-Thầy tên gì?
-Hạnh.
Cúc dặn tôi.
-Anh đi theo em, nhớ đừng nói gì hết.
Tôi lại gật đầu.
Cúc dẫn xe đạp, đi đến bên người đàn ông.
-Thưa thầy, có phải thầy là thầy Hạnh, ngày xưa dạy Anh văn ở trường Trung học Trần Hưng Đạo không?
Vẻ lúng túng hiện rõ trên khuôn mặt già nua, khắc khổ, sau một thoáng do dự, thầy nói.
-Dạ phải, tại sao cô biết tên tôi?
Cúc nói liền.
-Có một anh học trò cũ của thầy, nhờ con trao lại cho thầy chiếc xe đạp này, tuy nó hơi cũ, trầy xước tróc sơn nhưng đây là chiếc xe hiệu Peugeot của Pháp. Nó bền chắc và đắt giá gấp chục lần chiếc xe đạp sản xuất trong nước. Nếu thầy dùng chiếc xe này mà thồ hàng trăm kí gạo, con bảo đảm với thầy muôn đời không sợ hư.
Thầy Hạnh nhìn chiếc xe đạp với cặp mắt sáng rỡ sau cặp kính cận. Đưa tay sờ nắn cái tay lái, lắc qua, lắc lại, một lúc sau thầy nói.
-Tôi biết đây là một chiếc xe đạp tốt, tôi thích nó lắm, nhưng mà, thưa cô… tôi không dám nhận đâu.
Cúc hỏi với giọng đầy vẻ ngạc nhiên.
-Thầy có thể nói cho con biết, nguyên nhân tại sao thầy lại không nhận chiếc xe.
Thầy Hạnh vẫn với giọng nói điềm đạm.
-Chiếc xe quý giá như thế này mà đem cho tôi, cậu học trò của tôi lấy gì mà đi. Hơn nữa, nếu muốn cho tôi, cậu ấy phải có mặt để nhận lời cảm ơn của tôi chứ. Không có cậu học trò, chủ nhân của chiếc xe, tôi không nhận đâu.
Tôi đã đứng yên khá lâu, nghe đầy đủ những lời đối thoại giữa Cúc và thầy Hạnh. Biết không thể nào trốn được nữa, tôi bước lên.
-Thưa thầy con là Quân, học trò của thầy từ lúc con còn học đệ lục. Năm con thi tú tài hai, thầy là người trực tiếp khảo hạch thí sinh về phần thi vấn đáp môn Anh văn. Hôm qua, tình cờ thấy thầy gánh hai cái bị bột khá nặng, sẵn nhà còn dư chiếc xe đạp, vợ chồng con bàn với nhau đem tặng thầy. Hy vọng chiếc xe này sẽ giúp thầy bớt phần nào gian nan, khổ cực.
Thầy Hạnh nói.
-Từ đầu tôi đã ngờ cậu chính là người muốn cho tôi chiếc xe, nhưng tại sau cậu lại giấu mặt.
-Thưa thầy, con nói nếu có gì không phải xin thầy tha thứ. Con sợ thầy mắc cỡ với học trò cũ, khi phải đi làm những việc thấp hèn, nặng nhọc bằng tay chân để mưu sinh.
Thầy Hạnh cười, nụ cười đầy kiêu hãnh.
-Tôi có thừa can đảm đem thân làm thuê gánh mướn, kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, mà không một chút hổ thẹn với lương tâm. Miễn sao đồng tiền mà tôi kiếm được phải trong sạch là tôi làm. Cậu còn thắc mắc gì về chuyện này nữa không?
Tôi đưa chiếc xe đạp cho thầy Hạnh.
-Thưa thầy con đã hiểu rõ lòng của thầy, bây giờ chắc thầy chịu nhận chiếc xe này rồi phải không?
Thầy Hạnh không nói gì, chỉ gật đầu.
Cúc lấy tờ hóa đơn mua xe đạp trong xách tay, trao cho thầy.
-Đây là giấy tờ xe, xin thầy giữ lấy.
Tôi và Cúc chào thầy rồi ra về. Trên đường đi tôi nắm tay Cúc mà lòng sung sướng, nghĩ về chị Huệ, một người bán cà phê túi vải tuy nghèo nhưng hiền từ, thật thà, một ông trung úy Ngụy tên Hoàng cho đến lúc sắp chết vẫn cố viết xuống giấy mấy chữ “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm”, một ông thầy dạy Anh văn, từng du học bên Anh, đã hiên ngang gánh thuê vác mướn để kiếm tiền mưu sinh. Những người này đã đại diện cho một nền Văn hóa Nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa. Tháng 4 năm 1975, Cộng sản cướp được miền Nam. Với sự suy nghĩ thiển cận của những người quen sống ở trên cây, lấy cuộc sống hái lượm làm nền tảng, chỉ thấy được giá trị của cuộc sống vật chất như đất đai, nhà cửa, xe cộ, nên họ chỉ lo chở về miền Bắc nào là xe hơi, Honda hai bánh, ti vi, tủ lạnh, quạt máy, mà quên đi khía cạnh tinh thần, quên mất cái gia tài đồ sộ và quý giá nhất của Việt Nam Cộng Hòa là nền Văn hóa Nhân bản. Việc làm này không chóng thì chầy sẽ đưa Đảng Cộng sản Việt Nam và bè lũ tay sai của họ đến chỗ diệt vong.
Con người đã có mặt trên trái đất hàng triệu năm, dân tộc Việt Nam với bề dày của bốn ngàn năm văn hiến, so với một trăm năm hay hơn thế nữa dưới ách đô hộ của Cộng sản, thì khoảng thời gian này chỉ là một giấc ngủ đầy ác mộng mà thôi.
Sáng tinh mơ tôi giật mình thức giấc, không phải vì tiếng kẻng khủng bố man rợ, gõ liên hồi như muốn chọc thủng lỗ tai của tù nhân, mà là tiếng khóc của con. Tôi đưa tay qua bên cạnh, không tìm thấy vợ. Đang bối rối, không biết làm sao dỗ cho con bé ngủ tiếp, tôi đã thấy Cúc xuất hiện nơi cửa với chai sữa trên tay. Chỉ một thoáng sau, Cúc đã gọn gàng và lanh lẹ vừa cho con bú vừa nói với tôi.
-Gần tám giờ rồi, bên ngoài trời khá đẹp lại có nắng ấm, lát nữa mình ăn sáng trên sân thượng, uống cà phê ngắm cảnh Đà Lạt, tiện thể cho con phơi nắng luôn.
-Em muốn sao cũng được, mới mấy ngày trước, anh chỉ mơ một chén cơm đầy mà không được. Hôm nay có diễm phúc ngồi bên vợ con, uống cà phê ăn sáng, anh không dám đòi hỏi gì hơn đâu.
Sở dĩ tôi nói với Cúc như vậy, bởi vì tôi không tin được rằng, chỉ cần một bước, người ta có thể từ địa ngục lên đến thiên đàng. Ở trong tù tôi đã nhiều lần nằm mơ, thấy mình được về xum họp với vợ con, để rồi khi tỉnh giấc lại bàng hoàng tiếc nuối. Đối với tôi “Những gì tốt lành quá sức tưởng tượng, thường chỉ có trong mộng mà thôi”. Tôi hỏi Cúc.
-Anh đang nằm mơ phải không em?
Cúc cho con bú, miệng nói với tôi.
-Không có đâu, nhưng anh phải mau mau đi rửa mặt, chị Hai sắp mang thức ăn sáng lên rồi đó.
-Đồng ý, em bồng con lên sân thượng trước đi, anh sẽ lên liền lập tức.
Miệng thì nói vậy nhưng phải mười phút sau tôi mới lên đến sân thượng. Cúc đang ngồi mơ màng nhìn về phía Bắc, nơi có đỉnh núi Bà mù mờ trong mây, con bé nằm trong cái giường nhỏ xíu bên cạnh. Nhìn vào cái bàn trống, nghĩ đến chuyện ăn sáng, không biết tại sao tôi lại nhớ đến quán cà phê chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Tôi vịn hai tay vào hai vai của Cúc.
-Ước gì mình có hai khúc bánh mì chả và hai ly cà phê nóng, thì còn gì tuyệt diệu hơn.
Có thể vì quá vui, Cúc vòng hai tay, cúi đầu trịnh trọng như đang đóng phim Tàu.
-Bẩm hoàng thượng, ở trong tù cải tạo, mỗi buổi sáng hoàng thượng ăn gì thần thiếp không biết. Riêng ở trong nhà này, ngài khỏi cần ao ước làm gì cho mệt, thần thiếp đã dặn chị Hai làm theo ý của hoàng thượng rồi.
Tôi ngạc nhiên hỏi Cúc.
-Sao em biết anh muốn ăn bánh mì chả.
Cúc nhắc tôi.
-Lần đầu tiên gặp anh, tụi mình ăn sáng ở quán cà phê chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Anh có nhớ là anh đã gọi cho em món gì không?
Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời.
-Có.
Cúc nói tiếp.
-Sau đó anh bỏ em ngồi một mình trong quán, chuyện đó khiến em nhớ suốt đời. Khi anh rời khỏi quán, vì tò mò em hỏi chị Huệ và biết được thói quen của anh khi tới quán.
Tôi không ngờ những chuyện nhỏ nhặt ngày xưa của mình, Cúc lại nhớ kỹ như vậy. Muốn Cúc hiểu rõ mình hơn, tôi nói.
-Hồi đó, anh thường ăn bánh mì chả vì nó rẻ, vừa với túi tiền của mình. Nếu được chọn lựa, dại gì anh không lấy tô phở tái, chín, nạm, gầu, gân, nóng hổi, thơm ngon đầy chất bổ dưỡng.
Chị Hai bưng hai phần ăn sáng đến, đặt lên bàn rồi nói.
-Tôi bồng em bé xuống nhà chơi với ông bà.
Cúc vội vàng lên tiếng.
-Chị xuống ăn sáng với ba má tôi đi, để em bé đó, tôi muốn cho nó tắm nắng chút xíu.
Hai đứa tôi ngồi thưởng thức ly cà phê sữa nóng, thơm lừng. Trong cái không gian bao la tĩnh mịch, với bầu không khí mát mẻ trong lành, Cúc với giọng nói tràn đầy hạnh phúc.
-Theo em biết, có thể có đến bảy, tám chục ngàn sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa đi tù cải tạo, tất cả đều bặt âm vô tín. Em không bao giờ ngờ, anh lại được phóng thích sớm như vậy. Anh biết có bao nhiêu người về cùng một lượt với anh không? Và tại sao anh lại được thả?
Lúng túng một chút, tôi nói.
-Chuyện anh được về có chút nghi vấn, mà chính anh cũng không biết thì làm sao anh nói cho em hiểu được.
Nói xong tôi ngồi thừ người suy nghĩ một hồi lâu, sau cùng tôi nói với Cúc.
-Anh sẽ kể lại cho em nghe thật chi ly, rành rọt từng chi tiết nhỏ, từ ngày đầu tiên, khi anh bắt đầu trình diện học tập cải tạo cho đến ngày về. Hy vọng với cái nhìn khách quan, em có thể giải thích chuyện tại sao anh được thả về sớm như vậy.
Tôi hớp một ngụm cà phê, cắn một miếng bánh mì, rồi bắt đầu câu chuyện.
-Anh gặp ông Năm bánh xèo tại Ủy ban Quân quản thành phố Đà Lạt, ông ta ngồi ngay trong văn phòng tiếp nhận sĩ quan Ngụy đi trình diện học tập cải tạo. Tên của ông Năm là Trần Chiến….., ông ta cho anh tấm hình màu chụp anh với ông ấy trước năm 1975 ….
Cúc ngồi đối diện với tôi, hai tay chống cằm, chăm chú lắng nghe.
Khi tôi kể đến đoạn, gã bộ đội tất lấy cả tiền bạc và năm trăm đô la cùng với cái đồng hồ của tôi. Cúc la lên.
-Sao kỳ vậy, em còn nhớ, em nhét dưới đáy lon gô đựng thịt ruốc đúng một ngàn đô la lận mà.
Tôi lật đật tiếp lời Cúc.
-Đúng, đúng, một ngàn đô, nhưng trước đó anh quên kể cho em nghe, là anh đã chia cho Long công tử bạn của anh năm trăm đô, anh chỉ còn giữ năm trăm thôi…..
Sau khi đã nghe đầy đủ, trọn vẹn câu chuyện ở trong tù mà tôi kể. Cúc ngồi thừ người ra như suy nghĩ, cuối cùng nàng nói.
-Em có thể đoan chắc một trăm phần trăm, anh được thả về là do báo cáo của tên Việt cộng đã đánh anh ở ban chỉ huy trại. Sau khi đã lấy hết tiền và được anh ký giấy xác nhận vật dụng của anh chỉ có một cái mền và một cái mùng. Nó đã báo cáo anh có ông cậu là Bí thư tỉnh ủy, giống như anh đã khai trong bản tự khai lý lịch. Hồ sơ của anh đã được thông qua mà không cần xác minh. Vì nếu tụi nó trực tiếp hỏi ông Năm bánh xèo, câu trả lời của ông ta sẽ là “không”. Như vậy lòi ra chuyện anh khai gian lý lịch, với cái tội đó anh sẽ là người cuối cùng bước chân ra khỏi trại tù, nói gì đến chuyện được về sớm.Và vì hồ sơ của anh tới chậm, nên tên của anh nằm trong danh sách bổ túc, gồm có mười bảy người.
Cúc ngồi trầm ngâm một lúc, hình như thấy tôi vẫn còn lo lắng, nàng trấn an tôi.
-Anh yên tâm, chuyện gì qua, nó đã qua rồi. Không có lý do gì thả anh về xong, tụi Việt cộng mới đi làm chuyện xác minh giấy tờ, để rồi sau đó lại cho người đi bắt anh trở lại.
Nghe Cúc lý luận mạch lạc, vững chắc, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng. Chuyện đơn giản như một với một là hai, vậy mà cả tuần rồi tôi không hiểu, cứ thắc mắc hoài.
Trong lòng thanh thản, tôi hớp một ngụm cà phê, rồi giục Cúc.
-Em ăn đi, còn chờ gì nữa.
Cúc cầm miếng bánh mì lên rồi nói với tôi.
-Chuyện ở trong tù của anh, em đã hiểu khá rõ. Bây giờ đến chuyện ở bên ngoài, có nhiều việc mà anh cần phải biết. Trước hết em sẽ nói về số tiền mình hiện có, nếu không nắm chắc chuyện tài chánh trong nhà, anh lại dè sẻn, tiết kiệm không đúng chỗ. Giống như ngày đi học tập, khi biết anh chỉ đem theo có hai ngàn tiền Việt Nam Cộng Hòa, chuyện đó khiến em lo lắng cho đến khi được thăm nuôi, đưa được tiền cho anh, em mới yên tâm. Hiện tại tiền bạc mình không thiếu, số vàng và đô la em hiện giữ, gia đình mình tiêu xài vài chục năm không hết, chưa kể túi hột xoàn mà em cất trong xách tay, mỗi hột trị giá vài chục cây vàng. Tuy vậy chuyện quan trọng nhất vẫn là trương mục ngân hàng ở ngoại quốc đứng tên em. Chuyện này chỉ có em và anh biết thôi. Và, mục đích cuối cùng của mình là phải tìm cách đặt chân đến bến bờ tự do.
Nghe Cúc nói mà tôi bần thần cả người. Tôi biết trước giải phóng gia đình Cúc giàu có nức tiếng ở Sài Gòn, điều tôi không ngờ mức độ giàu của vợ mình lại kinh khủng như vậy, thảo nào, khi tôi còn ở trong tù Cúc gởi cho tôi một ngàn đô la mà coi nhẹ như hột bụi.
Thấy tôi ngồi im lặng, Cúc nói tiếp.
-Chuyện tiền bạc anh đã hiểu rõ, bây giờ em nói đến cuộc sống hiện tại. Anh đi tù được vài tháng, em đã mua một miếng đất trồng bắp sú ở Đa Thiện, mua đất để khai báo với Việt cộng là mình có đất sản xuất, nếu không sẽ bị lùa đi kinh tế mới. Miếng đất nằm cách Viện đại học Đà Lạt của mình khoảng hơn một cây số, có diện tích là ba ngàn mét vuông, người dân ở Đa Thiện gọi là ba sào. Chủ đất phải bán bớt vì miếng đất của ông ta lớn hơn một mẫu. Có lẽ ông ta sợ chuyện cải cách rộng đất ở ngoài Bắc lại tái diễn ở Miền Nam, cũng có thể ông ta sợ nay mai đất đai sẽ phải vô hợp tác xã nông nghiệp, cho nên ông ta bán bớt đi, kiếm chút tiền dằn túi cho chắc, chỉ chừa lại đúng một mẫu đất cho cả gia đình ông ta. Giấy tờ bán đất em đã đem ra cho cái đám quan chức, gọi là chính quyền Cách mạng ở Đa Thiện chứng thực và hoàn toàn hợp lệ. Nhờ miếng đất đó, mà gia đình mình không thuộc diện phải đi kinh tế mới. Anh biết không, Tà Nung là vùng kinh tế mới của Đà Lạt, nó nằm sâu trong núi, cách phi trường Cam Ly khoảng mười cây số đường rừng. Hình như Việt cộng còn lập thêm vùng kinh tế thứ hai ở Đinh Văn, nằm cách Thanh Bình, La Ba, đâu khoảng hai chục cây số nữa, trên đường đi Ban Mê Thuột. Chuyện này em không rõ lắm, chỉ nghe đồn thôi.
Nghe đến đây, tôi có chút thắc mắc nên hỏi Cúc.
-Lúc đó em đang có bầu, làm thế nào em có thể chu toàn mọi công việc, nhất là việc trồng trọt bắp sú, cần người phụ giúp.
-Anh nói đúng, em cần người giúp, đúng ra là em cần một người thân tín, có thể tin cậy được. Người đầu tiên em nghĩ đến là chị Hai. Ngày xưa, tuy chị là người giúp việc trong nhà, nhưng em coi như chị bởi vì chị là người thật thà, trung hậu, lại tứ cố vô thân. Ngày mà anh đưa em từ Đà Lạt về Sài Gòn bằng phi cơ C130 ở phi trường Cam Ly, khi biết cả nhà sẽ đi Mỹ, em cho chị Hai một số tiền, đủ mua một căn nhà bên Tân Định theo ý của chị. Khi mua miếng đất ở Đa Thiện xong, em về Sài Gòn, đưa chị Hai lên sống với gia đình mình.
Tôi ngắt lời Cúc.
-Dù có chị Hai giúp, em làm sao có thể cáng đáng công việc của một người nông dân?
Cúc cười vui vẻ.
-Chỗ này em muốn nói cho anh rõ, tuy mang tiếng là người làm vườn trồng bắp sú, nhưng hầu như tất cả mọi việc nặng nhọc như xới đất, lên luống, làm cỏ, bón phân, tưới nước, em đều mướn người phụ giúp. Sau năm 1975, khi anh đã đi học tập rồi, toàn bộ những gia đình nông dân trồng rau cải ở Đà Lạt, đều phải sống bám vào mảnh đất của họ. Nếu không tiếp tục làm vườn, họ sẽ bị chết đói. Nhà nước Việt cộng kiểm soát hầu hết những gì liên quan đến việc sản xuất rau cải. Họ bán cho nông dân một số lượng nhỏ phân bón, xăng dầu, chỉ bằng một phần ba nhu cầu nông dân cần dùng. Người dân khi làm vườn, họ phải mua thêm hai phần ba hạt giống, phân xác cá mòi, phân hóa học, thuốc trừ sâu, xăng dầu chạy máy tưới cây với giá chợ đen. Sau ba, bốn tháng làm việc đầu tắt mặt tối, đến mùa thu hoạch, ông nhà nước nhảy vô thu mua tất cả nông sản của nông dân với giá rẻ mạt. Nông dân bị chèn ép dã man tàn bạo như vậy, thiếu ăn, thiếu mặc là chuyện không thể tránh được. Đói thì đầu gối phải bò, người nông dân đành đi làm thuê, cuốc mướn, tìm thêm chút thu nhập để sống qua ngày. Em đã mướn họ làm, và trả công cho họ cao hơn những nơi khác.
Tôi hỏi.
-Làm như vậy em không sợ bị phường khóm cho mình là địa chủ, cường hào ác bá, bóc lột sức lao động của người dân hay sao?
-Anh đừng lo quá như vậy, chính ông tổ trưởng và tổ phó trong tổ sản xuất của vườn mình ở Đa Thiện, vẫn thường vui vẻ xin làm mướn cho mình với danh nghĩa là vần công, đổi công. Người dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa dùng mấy chữ này để thay thế cho chữ làm mướn. Giống như những người dân ở Đa Thiện, em cũng làm vườn nhưng không cần tiền, em làm vườn với mục đích khác. Trồng trọt như vậy, lỗ lã là cái chắc rồi, tuy nhiên sau những vụ mùa, mình khai với tổ dân phố đã bán cho Nông hội của nhà nước, lúc thì mười tấn, khi thì mười lăm tấn bắp sú, chuyện này đủ bảo đảm cho gia đình mình không bị ép phải đi kinh tế mới.
Cúc ngưng nói chuyện, đưa tay nựng con, thấy vậy tôi bồng con lên định hun vào đôi má phúng phính của nó, con bé hé mở mắt nhìn tôi vài giây rồi khóc ré lên. Cúc vội vàng ôm lấy con rồi nói.
-Cái ông này mặt mày dữ quá, làm con sợ phải không?
Dứt lời Cúc quay sang tôi.
-Thấy anh lạ nên con nó khóc. Hôm qua gặp anh em còn không nhận ra. Em nói như vậy để cho anh biết rằng chỉ hơn một năm ở tù, gương mặt của anh đã biến đổi nhiều như thế nào.
Tôi nói với Cúc.
-Hình dáng của anh có thay đổi, xấu xí đến đâu anh cũng không quan tâm. Chuyện anh muốn nói là sự đổi thay của xã hội Việt Nam dưới sự cai trị của Cộng sản. Tù nhân trong tù, phần thể xác thì bị hành hạ, ngày ngày phải đi làm lao động khổ sai, cơm không đủ ăn, áo không có mà mặc, còn phần tinh thần thì bị gán cho hai chữ Ngụy quân, có tội với nhân dân, phản bội Tổ Quốc, sống dưới sự kiểm soát của quản giáo và vệ binh. Chuyện tưởng chỉ có trong tù, nào ngờ người dân sống ngoài trại tù cũng khổ như vậy, cũng tối ngày đầu tắt mặt tối, lam lũ kiếm miếng ăn, rau cải trồng được thì bị nhà nước thu mua. Đời sống tinh thần thì bị tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh cùng công an khu vực áp bức, đè nén, nay bắt đi thủy lợi, mai cướp nhà đuổi đi kinh tế mới. Xét như vậy thì người dân sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa có khác gì ở trong tù đâu.
Cúc tiếp lời tôi.
-Có khác mà anh không thấy thôi, nhà tù dùng để nhốt dân, nó to lớn hơn cái tù giam sĩ quan Ngụy. Nói một cách đơn giản nó là cái nhà tù bao trùm lên tất cả dải đất hình chữ S. Khác nhau là ở chỗ đó.
Tôi hớp một ngụm cà phê rồi nói tiếp với Cúc.
-Em nói đúng, mục đích cuối cùng của mình là phải đem con lánh xa Cộng sản, tránh xa cái Xã Hội Chủ Nghĩa man rợ này, càng sớm càng tốt. Nhưng mà hiện tại cả gia đình mình kẹt trên cái đỉnh núi này, làm sao trốn được.
Đầu tuần này, Đại tướng Colin Powell, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ thời tổng thống George W. Bush đã qua đời vì những biến chứng từ Covid dù ông đã chích ngừa, hưởng thọ 84 tuổi. Là con trai của một gia đình di dân từ Jamaica, Powell trở thành một đại tướng 4 sao trong quân lực Hoa Kỳ và trở thành Ngoại trưởng là một thành công tột bực. Chuyên mục tuần này xin giới thiệu sơ lược cùng các bạn về cuộc đời và sự nghiệp của tướng Powell trước sự ra đi của ông.
Trong cuốn sách “Tiểu sử và những cuộc phỏng vấn Colin Powell, tướng Powell kể lại rằng, “Khoảng sáu tháng sau khi vào đại học tôi khám phá được điều mà tôi thích, đó là ROTC, Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Trừ bị trong quân đội. Và tôi không chỉ thích nó, mà tôi còn khá giỏi. Ðó là điều các bạn thực sự phải tìm kiếm trong cuộc đời mình, điều gì đó mà các bạn thích và nghĩ rằng mình giỏi. Nếu các bạn có thể kết hợp hai điều đó lại với nhau, thì bạn đang đi đúng hướng và chỉ cần dồn sức cho nó”. Ðó là điều mà Powell đã làm và theo đuổi để từ một Thiếu Úy Trung Ðội trưởng sau khi tốt nghiệp đại học New York và các khóa huấn luyện quân sự, ông đã trở thành một trong những người Mỹ gốc Phi đạt đến cấp bậc cao nhất trong quân đội lẫn trong chính phủ.
Tướng Powell sinh năm 1937 tại New York trong một gia đình di dân lao động từ Jamaica. Cha ông là một nhân viên giao nhận hàng hóa và mẹ là thợ may, những người có nguồn gốc là Châu Phi lẫn Tô Cách Lan (Scotland).Tốt nghiệp đại học năm 1958, ông đã đi theo con đường quân nghiệp trong suốt 35 năm như nói trên.
Tiểu đoàn trưởng QLVNCH, Đại úy Võ Công Hiếu và cố vấn Mỹ Colin Powell thăm những đứa trẻ của một buôn làng ở Thung lũng A Shau năm 1963. Courtesy Colin Powell
Sau những lần đồn trú trong và ngoài nước, năm 1962 tướng Powell là một trong số 16 ngàn cố vấn Hoa Kỳ được Tổng Thống Kennedy cử sang Việt Nam để giúp chính phủ miền Nam Việt Nam, cũng cùng lúc ông lập gia đình với bà Alma Vivian Johnson, người vợ đã chung sống với ông gần tròn 60 năm qua. Một năm sau, năm 1963, Powell bị thương do dính bẫy chông trong một cuộc hành quân tại biên giới Việt Nam và Lào. Năm 1968, ông lại được thuyên chuyển sang chiến trường Việt Nam lần thứ nhì với cấp bậc đã là Thiếu Tá trong nhiệm vụ điều tra vụ thảm sát Mỹ Lai mà ông đã bác bỏ các cáo buộc lên lực lượng quân đội Mỹ và báo cáo rằng mối quan hệ giữa lính Mỹ và người dân Việt Nam là tốt đẹp. Tuy nhiên trong chuyến phục vụ lần thứ nhì tại Việt Nam, Powell cũng lại bị thương trong một vụ rơi trực thăng và giải cứu 3 đồng đội mình ra khỏi chiếc trực thăng đang bốc cháy. Ông đã nhận được 11 huân chương chiến công trong hai lần phục vụ tại chiến trường Việt Nam.
Trong chuyến công tác Việt Nam lần thứ hai, Thiếu tá Colin Powell sau một vụ tai nạn trực thăng vào tháng 11 năm 1968. Courtesy Colin Powell
Sau khi trở lại Mỹ, Powell đã tham gia các khóa học dân sự và huấn luyện quân sự cho con đường thăng tiến sự nghiệp của mình. Năm 1971, ông tốt nghiệp cao học quản trị thương mại MBA tại George Washington University, được nhận vào chương trình huấn luyện lãnh đạo của Bạch Ốc trong hai năm 1972-1973 và được thuyên chuyển sang Nam Hàn. Trở về Mỹ và làm việc tại Ngũ Giác Ðài, ông tiếp tục tham gia khóa huấn luyện tại Học Viện Quân Sự trong khoảng thời gian 1975-1976, một kế hoạch huấn luyện những sĩ quan cao cấp cho quân đội Hoa Kỳ trong tương lai. Ðược thăng cấp Thiếu tướng, ông trở thành phụ tá quân sự cao cấp cho Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan.
Tướng Colin Powell và Norman Schwarzkopf tại một cuộc họp báo trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. (Wikimedia Commons)
Năm 1987, Powell trở thành một cố vấn an ninh quốc gia và đảm nhiệm trong suốt nhiệm kỳ của Tổng Thống Reagan. Ông là người được xem là chịu trách nhiệm các vấn đề chung và chính sách của TT Reagan với tổng thống Liên Xô lúc bấy giờ là Gorbachev. Năm 1989, sau khi Tổng Thống George H. W. Bush đắc cử, ông được vinh thăng Ðại tướng và bổ nhiệm ông làm Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân lúc 52 tuổi. Ðây là chức vụ quân sự cao nhất trong Bộ Quốc phòng và tướng Powell là sĩ quan người Mỹ gốc Phi đầu tiên và trẻ tuổi nhất từng đảm nhiệm chức vụ này. Tướng Powell đã trở thành một nhân vật quốc gia và tâm điểm trong cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất qua các chiến dịch Lá chắn Sa mạc (Desert Shield) và Bão táp Sa mạc (Desert Storm) tại Iraq. Với tư cách là nhà chiến lược quân sự chính, ông đã phát triển “Học thuyết Powell”, một chiến thuật quân sự chủ trương là sử dụng lực lượng áp đảo để tối đa hóa sự thành công và giảm thiểu thương vong. Tướng Powell xuất ngũ năm 1993, sau vài tháng tiếp tục là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân sau khi Tổng Thống Bill Clinton đắc cử.
Ngoại trưởng Colin Powell tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc – nguồn The Intercept.com
Năm 2000, tướng Powell gia nhập chính trường khi Tổng thống George W. Bush bổ nhiệm ông làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ và được Thượng viện Hoa Kỳ chuẩn thuận tuyệt đối. Vào thời điểm đó, đây cũng là chức vụ cao nhất mà một người Mỹ gốc Phi từng nắm giữ trong chính phủ dân sự tại Mỹ. Trong nhiệm kỳ của mình, dù không còn trong quân đội nhưng với vai trò Ngoại trưởng, Powell đã bị xem là chịu một phần trách nhiệm trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhì vào Iraq năm 2003 vì tin vào các tin tức tình báo thiếu chính xác, dù thoạt đầu ông hoài nghi về cuộc tấn công Iraq và lật đổ Saddam Hussein của Tổng thống Bush là giải pháp tốt nhất.
Là một người Cộng Hòa ôn hòa và những năm cuối đời đối diện với ung thư, ông xem mình như một người độc lập. Tướng Colin Powell được sự ủng hộ từ cả hai đảng chính trị tại Mỹ nhờ sự tận tụy phục vụ quốc gia cùng quan điểm ôn hòa, đặt lợi ích quốc gia lên cao nhất. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên truyền hình hồi đầu năm nay, ông bảo rằng, “Tôi chỉ là một công dân bỏ phiếu cho người Cộng Hòa, cho người Dân Chủ. Trong suốt cả sự nghiệp và ngay cả lúc này, tôi chỉ nhìn đến quốc gia của tôi chứ không quan tâm đến vấn đề đảng phái”.
Hàng trăm quân nhân gốc Việt còn đang hiện dịch hay đã xuất ngũ trong hầu hết các binh chủng quân lực Hoa Kỳ và gia đình đã về Dallas để cùng tham dự cuộc họp mặt lần đầu tiên được tổ chức tại khu vực Dallas, Texas. Đây là những thành viên của Hội Quân Nhân Mỹ gốc Việt VAUSA (Vietnamese American Uniformed Services Association) được thành lập từ năm 2007, quy tụ trên một ngàn hội viên đang phục vụ hay sinh sống khắp nước Mỹ và một phần của thế giới.
Chiếc bàn tiệc dành cho các chiến hữu đã hy sinh. Photo: Tony Long
Quan khách tham dự đêm Gala 2021 mang chủ đề Chinh Phục Biên Giới Mới (Conquering The New Frontiers) của VAUSA được tổ chức tại khách sạn Marriott khu vực Las Colinas vào tối Thứ Bảy ngày 30 tháng 10 năm 2021 vừa qua có lẽ đã chia sẻ chung niềm xúc động lẫn tự hào khi nhìn thấy một giới trẻ gốc Việt không chỉ thăng tiến vượt bậc trong quân lực Hoa Kỳ, mà còn thay mặt cộng đồng gốc Việt báo đáp xứng đáng cho quốc gia thứ nhì của mình.
Thiếu Tướng Châu Lập Thể Flora trao hoa cho gia đình Quân Nhân. Photo: tony Long
Và không chỉ bởi với sự hiện diện của những vị tướng gốc Việt như Lương Xuân Việt và Châu Lập Thể với vài chục năm quân ngũ mà hàng chục sĩ quan cấp tá trẻ tuổi vẫn đang phục vụ và hứa hẹn nhiều sự thăng tiến trong tương lai. Họ khiêm cung, thân thiện và vui vẻ, dù đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong quân lực Hoa Kỳ. Mà còn những nghi thức cầu nguyện, nâng ly chúc mừng, những chia sẻ tâm tình trong hành trình và lý tưởng phục vụ quốc gia của người lính gốc Việt. Là nghi thức chia tay đồng đội xuất ngũ…
Toán Quân Kỳ Photo: Tony Long
Nhưng điều gây nỗi xúc động lớn nhất có lẽ không riêng tôi và lần đầu tiên được biết đến và tham dự. Ðó là nghi thức trang trọng khi bày chiếc bàn phủ khăn trắng với một chiếc ghế úp dành cho những đồng đội, mà những người lính gọi họ là “huynh đệ” của mình đã bị bắt làm tù binh hay mất tích trong chiến tranh (POW/MIA) đã vắng mặt trong bữa ăn hay tiệc Gala như vậy. Lời dẫn giải của người sĩ quan mang đến cho vài trăm quan khách tham dự hiểu hơn về nghi thức đầy ý nghĩa và tình huynh đệ của người lính ra sao.
Nghi thức pha rượu tượng trưng cho tình đoàn kết. Photo: tony Long
Ðó là chiếc bàn tròn tượng trưng cho sự quan tâm và khắc ghi mãi mãi đến những đồng đội đã nằm xuống hay mất tích. Khăn màu trắng là sự tinh khiết cho ý chí của họ đã đáp lời sông núi. Một đóa hồng đỏ tượng trưng cho máu người lính đã đổ xuống và để nhắc nhở người thân, đồng đội về niềm hy vọng ngày trở về của những người đã mất tích hay đang là tù binh. Bình hoa gắn thêm chiếc nơ nhỏ là sự cam kết, là quyết tâm tìm kiếm hay giải cứu đồng đội. Một lát chanh mỏng nói về số phận cay đắng của họ và dăm hạt muối là những giọt lệ của người thân yêu, gia đình đang ngóng trông. Chiếc khăn ăn màu đen tượng trưng cho tình trạng cô đơn, thiếu thốn và nghiệt ngã số phận của họ. Chiếc ly úp xuống vì họ không may mắn có mặt để cụng ly cùng chúng ta trong bữa tiệc. Ngọn nến thắp sáng niềm hy vọng, cho ánh sáng soi đường họ trở về. Và cuối cùng, là một và chỉ một chiếc ghế úp lại, tượng trưng cho mỗi và tất cả đồng đội đã bị vắng mặt như vậy, nó sẽ ở đó và sẽ luôn dành cho đến ngày họ bình an trở về. Bởi họ là huynh đệ, là những người sẽ không bao giờ bị quên lãng.
Thiếu Tướng Châu Lập Thể và Đại Tá MiMi Phan (hàng trươc) đặt vòng hoa tại Tượng đài chiến sĩ ở Arlington sáng ngày 30/11/2021 Photo: Tony Long
Tôi cảm động và cảm thấy may mắn khi được nghe và biết đến nghi thức này của những người lính Mỹ về tình đồng đội và sự hy sinh cao cả của họ. Về những người lính Mỹ gốc Việt nói riêng đã nằm xuống. Ðể biết tri ân người lính và cảm tạ về những gì mà họ đã hy sinh và phục vụ để những người dân như chúng ta được an bình thụ hưởng.
Mọi người thưởng thức bữa ăn tối thịnh soạn của khách sạn Marriott. Photo: Tony Long
Có lẽ không chỉ trong tháng 11 có ngày lễ Tạ Ơn đang đến, mà nó là điều sẽ còn ở lại trong đời sống của riêng tôi và mỗi chúng ta trong mọi ngày.
Chụp hình kỷ niệm Đại Hội Toàn Quốc Quân Nhân Hoa Kỳ Gốc Việt 2021. Photo: Tony Long
Alain Delon đón sinh nhật thứ 20 của mình trong tù. Tại Sài Gòn. Bốn năm phục vụ trong Hải quân Pháp tại Đông Dương, chính xác hơn là tại Việt Nam, ông ở tù hết 11 tháng trong vài vụ vô kỷ luật khác nhau.
Đây là thời gian ông bắt đầu chiêm nghiệm và làm lại cuộc đời để trở thành một trong những nam tài tử Pháp nổi tiếng nhất thế giới.
Sinh năm 1935 tại ngoại ô Paris, năm lên 4 tuổi, cha mẹ ông ly dị và ông được một gia đình nhận làm con nuôi. Đây là vết sẹo tuổi thơ đầu tiên của Alain Delon. Để rồi sau này được luân phiên về lại với cha và mẹ ruột đã lập gia đình riêng, Alain Delon lớn lên trong sự ngỗ nghịch, nổi loạn vì thiếu sự chăm sóc và yêu thương của cha mẹ từ nhỏ.
Alain Delon tại Sài Gòn vào khoảng năm 1954-1955 và bích chương quảng cáo phim của ông chiếu tại rạp Rex Sài Gòn vào năm 1974.
Đánh lộn, trốn học, trộm cắp, bia rượu, thậm chí cả băng đảng… đó là tuổi thiếu niên của Alain Delon. Năm 17 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ và được đưa sang Việt Nam. Ông tham dự trận Điện Biên Phủ và sau đó được đưa về đóng tại Sài Gòn, cho đến ngày bị tù và trục xuất khỏi quân ngũ, về lại Pháp.
Alain Delon trong phim Lost Command về Điện Biên Phủ
Đẹp trai, nam tính cộng thêm kinh nghiệm băng đảng lẫn súng đạn, quân đội, Alain Delon được mệnh danh là “Brigitte Bardot cánh đàn ông”, vì Brigitte Bardot lớn hơn ông một tuổi và đã nổi tiếng là một nữ minh tinh quyến rũ nhất của Pháp khi Alain Delon bước vào làng điện ảnh.
Alain Delon, biểu tượng sex và ngôi sao lớn của Điện ảnh Pháp. nguồn ansa
Bộ phim đầu tiên của Alain Delon là một phim về băng đảng ông được tham gia vào năm 1957 và bắt đầu dẫn ông vào sự nghiệp điện ảnh. Câu chuyện còn lại là gần cả trăm phim lớn nhỏ, đưa tên tuổi ông trở thành một biểu tượng lừng lẫy của điện ảnh Pháp và vượt ra khỏi biên giới nước Pháp từ thập niên 60s. Khán giả yêu thích Alain Delon không chỉ vì nét điển trai của ông mà phong thái lịch lãm, sức cuốn hút đầy ma lực qua những vai diễn của ông.
Dalida và Alain Delon trong album Paroles, Paroles
Báo chí thế giới tuần rồi đăng tin Alain Delon vừa qua đời ở tuổi 88 sau vài năm bệnh tật. Ngôi sao điện ảnh thế giới cuối cùng đã giã từ người hâm mộ, để lại vô số vai diễn và những bộ phim để đời của ông.
Ông Alain Delon nhận giải Cành Cọ Vàng danh dự ở tuổi 83, tại Liên hoan phim Cannes 2019. Ảnh: Reuters
Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron viết phân ưu trên mạng Twitter cũ ngay sau khi nhận được tin ông qua đời rằng, “Alain Delon đã đóng những vai diễn “huyền thoại” và khiến cả thế giới phải mơ ước. Phim tình cảm, phim đại chúng cho đến phim điệp viên, Alain còn hơn cả một ngôi sao điện ảnh mà ông còn là một tượng đài của nước Pháp”. Còn Brigitte Bardot thì viết rằng, “sự ra đi của Alain Delon là khoảng trống lớn mà không có gì và không ai có thể thay thế”.
Câu chuyện của Alain Delon đã có thể khác đi nhưng những thay đổi ở tuổi 20 đã đưa ông trở thành một tên tuổi thế giới, đặc biệt là với người hâm mộ điện ảnh Việt Nam của một thời quá vãng.
Đại sứ Ukraine tại Pháp Vadym Omelchenko trao tặng nam tài tử người Pháp Alain Delon Huân chương Công trạng vì Ukraine.nguồn odessa journal.com
Đêm đầu tiên sau khi ra khỏi tù, tôi đi lang thang ở bến xe đò Phan Rang, đi để hít thở bầu không khí tự do, hết rồi chuyện phải ngồi họp tổ nghe đọc kiểm điểm, không cần phải đi ngủ sớm lấy sức mai còn đi làm lao động, muốn làm gì cũng được, muốn đi đâu cũng xong. Hôm qua còn ở trong tù, hôm nay đã thong dong ở bên ngoài, tự do đến với mình quá bất ngờ, khiến tôi cứ ngỡ là mình đang sống trong mơ, đi mà cứ tưởng như chân không chạm đất. Loanh quanh một hồi, tôi đưa mắt nhìn quanh rồi dừng lại nơi cái vỉa hè rộng khoảng một thước, bên hông một căn nhà. Đây đúng là một chỗ ngủ lý tưởng, quá sức rộng rãi, sạch sẽ, đối với một tù nhân vốn ăn chay nằm đất đã quen. Không một chút chần chừ, tôi quăng hai cái bao xuống đất làm gối, nằm gác chân lên cẳng, thong thả ngắm bầu trời Phan Rang đang từ từ tối dần.
Lơ tơ mơ một lúc, tôi cũng chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết. Giữa khuya trong bầu không khí im vắng của bến xe, tôi chợt giật mình tỉnh giấc, một nửa mảnh trăng vàng lấp ló sau mái hiên nhà, chiếu ánh sáng vàng nhạt vào chỗ tôi nằm. Tiếng của một con muỗi đói kêu vo ve bên tai, khiến tôi nhớ đến cái đêm tôi và Cúc ngủ ở bậc cấp của một căn nhà, nơi bến xe Pétrus Ký ở Sài Gòn. Đêm nay cũng ăn bờ ngủ bụi, nhưng cái khác biệt là tôi ngủ một mình, không phải thức quạt muỗi cho vợ. Một cơn gió đêm mang theo chút hơi lạnh khiến tôi rùng mình, rồi vội vàng lôi cái mền ra khỏi bao cát đắp qua người, chụp cái mùng lên đầu, tiếp tục giấc ngủ dở dang.
Buổi sáng, tôi thức dậy khi trời đã sáng tỏ, không có tiếng kẻng ma quái đàn áp cái lỗ tai của mình, không cần phải nhai vội miếng bột mì luộc rồi đi lao động. Tôi nằm phè cánh nhạn, nhìn mây trôi lờ lửng mà cảm thấy đã đời quá chừng. Cho đến khi có vài chiếc xe đò chạy vào bến, lúc bấy giờ tôi mới chịu cuốn mùng mền, nhét vào hai cái bao cát khoát lên vai rồi đi về phía cầu tiêu công cộng của bến xe. Mở vòi nước, đưa tay hứng lấy một vốc rửa mặt, sau khi đã giải quyết mọi vấn đề vệ sinh, tôi trở lại cái băng ghế gỗ hôm qua, mò trong bao cát lấy ra cái bánh ú. Tôi tà tà thưởng thức buổi ăn sáng, mắt ngắm nhìn sinh hoạt nhộn nhịp của bến xe, cuộc sống người dân sau hơn một năm giải phóng chừng như chậm hơn xưa nhiều. Mặt trời lên khá cao, chiếc xe đò cà tàng chở tôi lên Đà Lạt mới bắt đầu rời bến. Tiếng máy xe gầm gừ như nghẹt thở, phun ra từng cụm khói đen ngòm, xe chạy một cách mệt nhọc trên con đường lỗ chỗ ổ gà. Đến đèo Ngoạn Mục, lúc này chiếc xe không chạy nữa mà là bò, nó bò chậm đến độ một ông già ngồi trong xe hỏi anh tài xế.
-Có cần tụi tôi xuống đẩy phụ không?
Anh tài xế quay nhìn hành khách ngồi trong xe với nụ cười méo xệch. Anh ta nói.
-Bà con thông cảm, bọn Ngụy chạy đi, tụi nó bỏ xe lại nhưng quên để lại phụ tùng thay thế. Xe hư chúng tôi phải khắc phục, nhặt nhạnh chắp vá, lượm chỗ này đắp chỗ khác, xe còn chạy được là may lắm rồi, vài tháng nữa chắc là phải đi bộ thôi.
Ba giờ chiều xe đến Đà Lạt, cập bến nơi cây xăng gần ấp Ánh Sáng, tôi khoát hai cái bao cát lên vai, bước vội về nhà. Khi ngang qua khu Hòa Bình, tôi chợt thấy cái vắng vẻ, buồn thảm của Đà Lạt. Thành phố nơi tôi ở mới có hơn một năm mà nó đã già đi thấy rõ, hầu hết những tiệm buôn chung quanh khu Hòa Bình đều đóng cửa, một vài chiếc xe hơi, dăm ba chiếc xe gắn máy di chuyển trên đường phố, lác đác vài người dân áo quần lam lũ, họ đi trong im lặng như những bóng ma. Hóa ra cuộc sống của người dân Đà Lạt, sau hơn một năm giải phóng nếu đem so sánh với tù cải tạo, có khá hơn thì cũng một chín, một mười mà thôi.
Tôi men theo hè phố, đi xuống hết con dốc Minh Mạng, tên mới là Trương Công Định, căn nhà của ba tôi đã hiện ra. Đứng trước nhà, định đưa tay gõ cửa, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy cửa hé mở, không có khóa. Vì muốn tạo một chút vui mừng bất ngờ cho mọi người nhất là Cúc, tôi đẩy cửa bước vào. Người đầu tiên tôi gặp là chị Hai, ngồi bên một cái nia với mớ gạo trải đều ở bên trên, tôi không biết chị đang nhặt thóc hay sạn. Chị Hai ngẩn mặt, mở to mắt nhìn chằm chặp lấy tôi, rồi hỏi với giọng lạnh lùng.
-Ông tìm ai?
Tôi nói.
-Chị Hai quên tôi rồi sao? Tôi là Quân, chồng của Cúc.
Sau một thoáng sửng sờ, chị kêu to.
-Cô ơi….cô.
Tiếng nói của Cúc vọng lên từ nhà bếp.
-Chị làm gì mà la như cháy nhà vậy.
Cùng lúc ấy Cúc xuất hiện nơi cánh cửa ngăn nhà bếp với phòng khách, tay bưng một cái dĩa. Cúc nhìn tôi với ánh mắt xa lạ rồi nói với chị Hai.
-Chị xúc cho ông ấy chén gạo, nhớ cho ông ta thêm mấy đồng bạc lẻ nữa.
Quá ngạc nhiên vì thái độ kỳ lạ của vợ, chưa kịp tìm hiểu tại sao, tôi đã nghe tiếng vỡ tan tành của cái dĩa khi chạm nền nhà, âm thanh của nó vang vọng khắp căn phòng. Cùng lúc ấy Cúc chạy nhanh đến ôm lấy tôi.
-Anh phải không? Thoạt nhìn em cứ tưởng là người… người..
Tôi tiếp lời vợ.
-Ăn xin phải không?
Cúc gật đầu, vòng tay từ từ xiết chặt lấy tôi, trong khi nước mắt của nàng đã bắt đầu tuôn tràn, Cúc khóc ngon lành, khóc say sưa. Tiếng khóc nức nở nghẹn ngào của Cúc mỗi lúc một lớn hơn, làm tôi nhớ lại chuyện năm xưa. Hồi đó tại căn nhà có hai cây vú sữa ở đường Nguyễn Minh Chiếu Sài Gòn, Dung đã ôm tôi khóc ngon lành khi nói đến cái chết của Biên. Một cảm giác sợ hãi, lạnh buốt, chạy dọc theo sống lưng, rồi lan tỏa khắp thân mình, tôi hỏi Cúc, giọng nói không được bình tỉnh cho lắm.
-Ba hay má mất rồi phải không?
Cúc lắc đầu, cái lắc đầu khiến tôi sợ hơn nên vội hỏi.
-Hay là, con của mình đã chết rồi?
Cúc lại tiếp tục lắc đầu.
-Anh đừng có nói bậy.
Lo âu, sợ hãi đã bớt đi nhiều tôi mừng thầm trong bụng, hỏi tiếp.
-Còn thằng Tý với con Quyên?
Cúc khóc nhỏ lại.
-Tụi nó đi họp đoàn thể gì đó, chưa về.
Đến đây tôi đã hoàn toàn yên tâm. Đưa tay nâng cằm của Cúc lên, nói nhỏ.
-Anh về, lẽ ra em phải mừng, tại sao lại khóc? Em làm anh sợ mất hồn.
Cúc nói với tôi, giọng đầy nước mắt.
-Tội nghiệp cho anh quá chừng, nhìn anh tiều tụy, bệ rạc, giống hệt như mấy người vô gia cư thường hay lang thang ngoài chợ. Bất ngờ thấy chồng mình thân tàn ma dại như vậy, không khóc sao được. Ở trong đó khổ lắm phải không anh?
Tôi đùa với Cúc.
-Cũng không khổ lắm đâu, sức người có thể chịu được.
-Đói lắm phải không?
Tôi trả lời.
-Cũng có đói, nhưng mà sức người có thể chịu được.
Cúc vùng vằng, trong khi nước mắt vẫn lưng tròng.
-Anh nói chuyện cứ như là đùa giỡn, nếu không khổ cực, không đói khát, tại sao anh ốm đi nhiều như vậy, lại nữa quần áo lành lặn đâu hết rồi mà anh ăn bận cứ như…như..
Tôi nói.
-Ăn mày phải không? Anh giống ai thì em cứ nói, đừng có ngại. Em biết không, gần ba tháng rồi anh chỉ có một bộ đồ duy nhất mặc trên người. Mỗi tuần một lần khi đi tắm ở Sông Lũy, anh giặt quần áo xong vắt cho khô rồi bận lại, giặt riết bộ đồ mòn đi, mõng dánh như tờ giấy quyến, chạm mạnh tay nó có thể rách toạc ra lúc nào không biết.
Cúc nhìn xuống chân của tôi rồi hỏi.
-Anh mang cái gì vậy? Trông giống như cục gạch.
Tôi khoe với Cúc.
-Đây là đôi guốc gỗ do anh tự đóng lấy đó em, nó bền hết biết, anh mang cả mấy tháng rồi mà chưa hư.
Cúc lại hỏi tôi.
-Kỳ thăm nuôi em có đem khá nhiều thực phẩm cũng như tiền bạc cho anh, chừng đó không đủ để anh dùng hay sao? Còn quần áo của anh đâu hết rồi, tại sao anh chỉ còn một bộ đồ bận trên người?
Tôi vuốt tóc vợ rồi nói.
-Khi nào rảnh rỗi, có nhiều thì giờ anh sẽ kể cho em nghe chuyện ở trong tù. Bây giờ anh đói lắm rồi, nhà còn cơm nguội không? Cho anh một chén rưỡi.
Cúc thắc mắc hỏi tôi.
-Tại sao phải một chén rưỡi? -Đó là tiêu chuẩn một bữa ăn cho tù cải tạo, anh ăn như vậy cả năm rồi nên quen miệng mà nói vậy thôi.
Dứt lời, tôi cười đùa với Cúc.
-Nếu nhà có dư cơm thì cho anh hai chén cũng được.
Cúc nói.
-Nhà hết cơm nguội rồi, anh đợi chị Hai nấu cơm nóng cho anh ăn, được không? Chỉ đợi một chút thôi mà cưng.
Tôi than với Cúc.
-Chiều hôm qua, anh ăn một cái bánh ú nhỏ hơn cái nắm tay, sáng nay cũng ăn một cái bánh ú nữa, rồi nhịn đói đến bây giờ. Em coi trong nhà có củ khoai hay trái bắp nào không, anh phải ăn liền lập tức mới được. Nếu không có gì bỏ bụng, anh sẽ bị xỉu vì đói.
Thấy tôi đòi ăn mà như sắp chết đến nơi, Cúc nói với chị Hai.
-Chị chạy qua tiệm ăn trước nhà, mua cho cậu tô mì hoành thánh.
-Xã Hội Chủ Nghĩa cả năm rồi, tiệm ăn còn được buôn bán hay sao? Gạo đâu mà nấu cơm? Ai có tiền mà ăn?
Cúc giải thích.
-Gạo chợ đen, mì chợ đen, thịt chợ đen, thứ gì cũng chợ đen, chủ tiệm ăn chỉ muốn bán cầm chừng, sống tạm qua ngày. Chờ đợi coi tình hình biến chuyển như thế nào.
Nói đến đây Cúc chợt nhăn mặt, đưa tay lên giả bộ như bịt mũi.
-Em nói anh đừng có giận, áo quần của anh bốc mùi hôi quá sức. Trong khi chờ đợi mì, anh đi tắm rồi thay quần áo sạch sẽ. Sau đó mình lên lầu thăm con.
-Đi liền, anh muốn gặp con ngay bây giờ. Em biết không suốt thời gian ở trong tù, lúc nào anh cũng mơ ước được thấy mặt con, chỉ mong được ôm nó vào lòng. Mà nè con mình là trai hay gái.
-Con gái, nhưng anh phải đi tắm trước đã.
Nói xong Cúc nhìn tôi, hỏi tiếp.
-Anh mang cái gì trong hai cái bao cát vậy?
-Một cái mùng và một cái mền.
-Có gì quan trọng trong bao cát không?
-Không, chỉ có tờ giấy phóng thích của Tổng trại 8 tù binh là quan trọng, cái bằng tốt nghiệp này anh cất rất kỹ trong túi quần.
Cúc nói với tôi.
-Như vậy thì dễ dàng rồi, quần áo, guốc dép, mùng mền của anh, tất cả em sẽ dồn vô một cái bao rồi đem đi đốt.
Tôi than thở với Cúc.
-Phí của trời, biết vậy mấy hôm trước anh chịu hy sinh cho muỗi chích một hai đêm, đem mùng mền này cho bạn tù của anh. Trong đó thiếu thốn đủ mọi thứ, vớ được cái mền chắc họ mừng lắm.
Cúc giục tôi.
-Anh đi tắm đi, tắm xong xuống ăn mì là vừa.
Sau khi trút bỏ bụi tù, tôi ngồi vào bàn ăn.
Cúc đến ngồi đối diện với tôi, tay bồng con, chăm chú nhìn tôi ăn mì.
-Anh à, chỉ nên ăn một tô mì thôi, nếu anh ăn nhiều quá, bao tử chưa quen với thịt mỡ, có thể bị trúng thực.
Tôi gật đầu đồng ý rồi nói sang chuyện khác.
-Anh muốn bồng con một chút, sau đó mới ăn mì.
Tôi đọc được cái vui sướng trong đôi mắt của Cúc.
-Ăn cho xong rồi anh muốn bồng con bao lâu cũng được.
Tôi vừa chậm rãi thưởng thức tô mì, vừa nghe vợ nói về chuyện tôi sẽ phải làm gì trong những ngày sắp tới.
-Ngày mai em sẽ dẫn anh qua gặp tổ trưởng dân phố, tổ phó và tổ phó an ninh, cả ba người này đều là đàn bà. Anh có biết không, bà tổ trưởng trước ngày giải phóng là nội trợ, bà tổ phó là thợ may, bà tổ phó an ninh bán cá. Nhiệm vụ của ba bà là lo tất cả mọi chuyện trong tổ dân phố của mình, trông coi chừng ba chục gia đình. Họ thay mặt cho nhà nước, truyền lệnh xuống cho dân như họp hội hàng tuần, đốc thúc dân đi làm thủy lợi, làm lao động Xã Hội Chủ Nghĩa, vận động dân đi vùng kinh tế mới. Phụ tá của ba bà có một ông thư ký của tổ, đặc biệt ông thư ký của tổ mình trước năm 75, có bằng Cao học làm phụ khảo ở trên Viện đại học Đà Lạt.
Nói đến đây Cúc cười.
-Đất nước ta đang xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, bằng Cao học của Ngụy không có giá trị, họ cho ông ta làm thư ký như một đặc ân, vì làm thư ký tổ dân phố sẽ được miễn công tác xã hội.
Tôi hỏi Cúc.
-Ông thư ký của tổ mình tên là Tú, phải không?
-Sao anh biết
-Tốt nghiệp Cao học rồi ở lại làm phụ khảo, trên Viện chỉ có một người, thằng đó học trung học với anh. Đậu tú tài hai, nó tiếp tục lên đại học vì được hoãn dịch với lý do gia cảnh. Sau sáu năm dùi mài kinh sử, hè năm 1973 nó xong Cao học, rồi ở lại Viện đại học làm phụ khảo.
Cúc nghe tôi nói xong, mới tiếp tục câu chuyện.
-Gia đình mình cũng như tất cả mọi người trong tổ, đều phải chịu sự giám sát chặt chẽ của bốn người đó.
Nói xong Cúc hấp tấp.
-Quên đi chớ, còn ông công an khu vực nữa, như vậy là năm người tất cả.
Tôi lấy tờ giấy phóng thích của Tổng trại 8 tù binh, để lên bàn rồi nói với Cúc.
-Câu chót trong tờ giấy này có ghi, anh sẽ bị quản chế , bị giám sát tại địa phương trong thời hạn là một năm. Sau đó có được giải chế hay không còn tùy nhiều điều kiện.
Cúc trấn an tôi.
-Anh đừng có lo, tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh, em lo lót hết rồi. Lễ lạc, Tết nhất, em đều kín đáo quà cáp, biếu xén riêng cho họ. Ba người đều vui vẻ nhận quà. Và với gia đình mình, họ làm việc với một mắt nhắm, một mắt mở. Riêng ông thư ký thì giả câm, giả điếc, cố gắng tìm đường sống trong chỗ chết. Ông này mình khỏi cần lo, vì ông ta là thiên lôi trời sai đâu đánh đó. Chỉ còn gã công an khu vực mới chuyển đến là em chưa biếu xén gì cho hắn. Lúc nãy em đã dặn chị Hai mua vài cây thuốc lá rồi, thuốc Mỹ thì không còn, nên phải mua thuốc Sài Gòn Giải phóng, đây là thuốc lá đắt tiền nhất, để sẵn đó. Khi gã công an khu vực đến dò xét nhà mình, với lý do là thăm hỏi bà con, anh hãy kín đáo đưa cho hắn một cây thuốc lá. Chỉ lần đầu tiên ra mắt hắn thôi, những lần sau cho hắn một, hai gói là được rồi.
Bị ám ảnh trong tù, tôi lo lắng hỏi Cúc.
-Nếu hắn không nhận, lại bắt bỏ tù anh thì sao?
Cúc trấn an tôi.
-Anh như con chim bị tên, mới thấy cành cây cong đã sợ rồi. Trước mặt mọi người, gã công an nào cũng cố chứng tỏ mình là người đứng đắn, trong sạch, sống đạo đức theo gương Bác Hồ, nhưng sau lưng, bác cháu nhà nó hút thuốc lá ngoại quốc, ăn tạp như heo.
Thấy tôi đã ăn xong, Cúc đứng lên đưa con cho tôi bồng, rồi nói.
-Mọi chuyện ứng xử, khi phải sống trong một tổ dân phố dưới chế độ cai trị của Cộng sản, anh đã hiểu sơ qua rồi. Giờ thì anh thoải mái chơi với con, em phụ chị Hai nấu cơm.
Tôi ghẹo Cúc.
-Con gái rượu của ông trùm nhà cửa Sài Gòn mà cũng biết nấu ăn sao? Anh tưởng em chỉ biết nấu chút xôi hay chén cháo thôi.
-Anh đừng có coi thường em, mỗi lần từ Đà Lạt về Sài Gòn thăm nhà, ba chỉ thích em nấu cơm cho ổng ăn thôi.
Buổi tối cả nhà ăn cơm tối trên lầu hai. Nhìn cha mẹ, vợ con cùng hai đứa em xum họp đầy đủ quanh bàn ăn, thừa lúc mọi người đều ăn uống ngon lành, cười nói huyên thuyên, tôi hỏi Cúc.
-Tại sao mình không ăn cơm ở nhà bếp mà phải dọn lên lầu.
Cúc từ tốn nói cho tôi nghe.
-Sau khi anh đi tù cải tạo, ở Đà Lạt, nhà của dân ban ngày không được khóa cửa vì tổ trưởng, tổ phó và công an khu vực, có thể ghé thăm bất cứ lúc nào mà không cần phải gõ cửa. Họ thản nhiên mở nắp nồi cơm, coi mình có ăn độn hay không, dở nắp nồi khác xem ăn thịt hay cá, nhiều hay ít. Gặp hôm nhà nào ăn cơm không độn, sẽ được tổ trưởng khen “Hôm nay nhà mình chắc có cúng giỗ hay sao mà nấu toàn cơm trắng thế này”. Chủ nhà nghe lời khen, sẽ tự biết đó là một lời cảnh cáo của tổ trưởng “Tôi biết rồi đó, liệu mà giữ hồn”.
Hôm nay nhà mình có đủ thịt gà, thịt heo, tôm cá, nên em phải dọn lên đây để tránh họ dòm ngó.
Tôi nói.
-Mình quen với họ mà.
Cúc nhắc tôi.
-Em nói đối với nhà mình, họ nhắm một mắt, mở một mắt, nhưng phần mình cũng phải kín đáo một chút, đừng lộ liễu quá khiến họ khó làm việc.
Ba tôi khen Cúc.
-Vợ con nó nói đúng đó, mình phải cẩn thận thì tốt hơn.
Má tôi là người vui nhất trong nhà, bà nói.
-Từ lúc con đi học tập, ngày nào má cũng đọc kinh, cầu xin Trời Phật phù hộ cho con mau được trở về. Hôm nay lời cầu xin của má đã ứng nghiệm, sáng mai má sẽ mua nhang đèn, hoa quả, xuống chùa Sư Nữ cúng tạ ơn. Con có muốn đi với má không?
Tôi phải giải thích cho bà hiểu.
-Con đang bị quản chế, đi đâu dù xa hay gần đều phải xin phép tổ trưởng và công an khu vực. Hơn nữa, ngày mai con phải lên trình diện công an khu vực, làm mọi thủ tục của một tù cải tạo bị quản chế.
Thằng Tý với con Quyên, ngồi dựa ngửa ra ghế than trời.
-No quá chị ơi, ước gì ngày nào cũng được ăn như vậy.
Bữa cơm đoàn tụ chấm dứt trong bầu không khí vui tươi, thoải mái. Tôi thấy được sự sung sướng hiện lên rõ rệt trên nét mặt của tất cả mọi người trong gia đình. Từ đầu bữa ăn cho đến giờ chị Hai chỉ im lặng ăn cơm, bất ngờ chị nhìn tôi rồi hỏi.
-Ngày mai cậu muốn ăn gì? Nói trước để tôi còn lo đi chợ.
Tôi cố tình đùa với chị.
-Không cần gì đâu, ở trong tù tôi ăn cơm với muối quen rồi, chị cho tôi một chén rưỡi cơm nguội là đủ rồi.
Chị Hai cười vui vẻ.
-Cơm thì chừng đó thôi nhưng phải có thêm con gà quay nữa phải không?
Cúc tiếp lời chị Hai.
-Chị nhớ mua hai con gà thì mới đủ cho cả nhà ăn.
Cơm nước xong xuôi, mọi người đều trở về phòng riêng của mình, tôi và Cúc bồng con đi lên lầu ba, đến chân cầu thang tôi nói với Cúc.
-Để anh cõng em lên lầu.
Cúc cảnh báo tôi.
-Nói nhỏ một chút, ba má la cho coi. Bây giờ anh bồng con giùm, em phải đi pha sữa cho nó, sau đó còn phải qua nhà bà tổ trưởng, khai báo chuyện anh mới được Cách mạng khoan hồng cho về đoàn tụ với gia đình. Nếu không khai báo, tối nay công an khu vực xét nhà, thấy anh cư ngụ bất hợp pháp, họ lại bắt anh bỏ tù nữa bây giờ.
Tôi bồng con đi lên lầu, chân bước mà bên tai vẫn còn nghe văng vẳng tiếng nói của ông Thiếu tá trưởng trại cải tạo. “Về trình diện địa phương, họ nói gì kệ họ, chớ có cãi lại, nó sẽ bỏ tù các anh đó.”
Tháng sáu, Việt Nam đã vào mùa mưa, khu rừng Sông Lũy nơi chúng tôi đang ở, cứ năm ba ngày lại bị một trận mưa lớn. Nhà ở đang được tù nhân làm dở dang, chỉ có hai căn của cán bộ quản giáo và vệ binh là đã làm xong. Riêng phần tù nhân thì đầu đội trời, chân đạp đất, một miếng ny lông nhỏ để che thân cũng không có, nói gì đến áo mưa. Mấy trăm thằng tù ướt như chuột, lạnh run người, suốt đêm ngủ ngồi chỉ mong sao cho trời mau sáng, kiếm chút ánh mặt trời mà sưởi ấm.
Hai tuần lễ sống trong cảnh màn trời chiếu đất rồi cũng qua mau, cuối cùng nhà ở cũng hoàn tất, tù nhân nằm ngủ xếp cá hộp, mỗi người có khoảng sáu tấc bề ngang, không chật mà cũng không rộng, điều sung sướng nhất của tù nhân là từ nay không còn lo cái cảnh phải ngồi bó gối suốt đêm, nghe mưa rơi mà nhớ nhà, để rồi chợt thấy sao nước mưa lại có vị mặn. Khi chỗ ở đã ổn định, tất cả tù nhân được nhận công tác mới, trồng bông vải ở nông trường Sông Lũy nằm cách xa chỗ tù nhân đang ở khoảng ba cây số. Nông trường là một khu đất hình chữ nhật khá bằng phẳng, rộng mênh mông bát ngát, diện tích có đến vài trăm mẫu như không, bề ngang của nó ước chừng non một cây số, bề dài khoảng hai cây. Tôi nghĩ trong đầu, hôm nào có dịp tôi sẽ đi đếm bước chân để đo thử. Khu đất đã được xe máy cày ủi sơ qua, cho nên vẫn còn nhiều chỗ chưa được hoàn tất. Với một số nhân lực khổng lồ, hơn ba trăm tù nhân kẻ xúc người đào, sau gần một tuần mới dọn xong cỏ rác. Khi đất đã sẵn sàng, tiếp theo là việc gieo hột bông vải. Một người tù đi trước, dùng cuốc đào một cái lỗ nhỏ, tù nhân đi sau vai mang một cái bị đựng hột giống, thả vào đó chừng hai tới ba hột bông rồi dùng chân lấp lại. Chuyện đơn giản như vậy nhưng tù nhân cũng được học tập cách trồng bông vải hết nửa ngày. Gieo hạt xong là đến chuyện đi khắp nông trường, chỗ nào bị úng thủy thì phải khai mương thoát nước. Đất hoang gặp mưa nhiều, cỏ dại mọc mạnh hơn cây bông vải, tù nhân lại vác cuốc đi dọn cỏ. Chỉ tội cho tù nhân là những cây cuốc do lò rèn của tù nhân tự chế còn vụng về, thô sơ nên lưỡi cuốc không được bén cho lắm, cuốc đổ mồ hôi mà cỏ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Hai tuần sau đó, cây bông vải đã mọc cao hơn mặt đất chừng một gang tay. Bất ngờ có lệnh cho tù nhân tập họp để nghe quản giáo nói chuyện. Mặt của anh quản giáo đỏ kè như người say rượu, anh ta nói với giọng nói đầy giận dữ, tưởng chừng như muốn ăn tươi nuốt sống được cái đám tù nhân khó dạy này.
-Các anh là thành phần có tội với nhân dân, với Tổ quốc, thay vì đem xử bắn, Cách mạng đã cho các anh cơ hội học tập cải tạo để trở thành con người mới, con người Xã Hội Chủ Nghĩa. Nuôi các anh tốn không biết bao nhiêu là cơm gạo. Hôm nay cho các anh đi làm lao động, đóng góp công sức xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, thì các anh lại trở thành những kẻ phá hoại.
Tù nhân ngồi im phăng phắc nghe quản giáo nói chuyện mà không hiểu tại sao ông ta lại giận quá sức như vậy. Nhìn những gương mặt ngơ ngác của tù nhân, anh quản giáo nói tiếp.
-Đã cho các anh học tập cách gieo hột giống rồi, mỗi lỗ chỉ bỏ vào hai tới ba hột, vậy mà có rất nhiều lỗ mọc lên đến năm sáu chục cây bông vải. Chúng tôi đang điều tra, tìm cho ra những kẻ phá hoại này. Bây giờ các anh phải ra nông trường. Đi kiểm soát lại những lỗ nào có quá nhiều cây, các anh phải nhổ bỏ chỉ chừa lại đúng ba cây mà thôi.
Tôi nhìn gương mặt của anh quản giáo rồi nghĩ thầm. Tưởng chuyện gì quan trọng như là tù nhân cướp súng trốn trại, bắn nhau với bộ đội, hoặc tệ lắm là chửi rủa, chống đối Cách mạng nên quản giáo tức giận cũng phải. Đàng này tù chỉ làm hao hụt một mớ hột giống bông vải, chuyện nhỏ chút xíu mà cũng um xùm. Theo lệnh quản giáo, ba trăm tù nhân đi ra nông trường, chỉ một thoáng là mọi việc đã làm đúng theo ý ông ta.
Liên tiếp mấy tuần sau đó, bất kể nắng mưa, tù nhân đi nông trường chỉ làm cỏ và rải phân. Cây bông vải được chăm sóc cẩn thận, lại thêm mưa thuận gió hòa nên lớn nhanh như thổi. Mỗi lần ra nông trường là mỗi lần thấy đổi khác, màu xanh của cây bông vải giờ đây đã phủ kín khắp vài trăm mẫu đất. Công việc đang tiến triển tốt đẹp, ngày 29 tháng 8 tù nhân lại nhận được lệnh chuyển trại. Đang giữa mùa mưa, nghe chuyện đổi chỗ ở, mọi người đều nản chí và tin rằng chuyện ở nông trường Sông Lũy đã xong, bây giờ sẽ đi đến một nông trường khác, lại tiếp tục chặt cây, đốn nứa, cắt tranh làm nhà, lại phá rừng để trồng trọt. Nội cái chuyện làm nhà để ở trong mùa mưa cũng khiến tù nhân xuống tinh thần, nói gì đến chuyện lao động sản xuất. Nhưng mà lệnh là lệnh, đám tù nhân lại lo thu dọn đồ đạt rồi tay xách nách mang, gồng gánh dẫn nhau di chuyển đến chỗ ở mới. Cho đến chiều ngày hôm ấy, tù nhân được đưa đến gần trại tù cũ ở Sông Mao, cái trại tù đặc biệt có hàng rào vỉ sắt PSP bao quanh, chúng tôi được ở trong một căn nhà tiền chế rộng mênh mông giống như Đại giảng đường của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Căn nhà nằm bên ngoài hàng rào vỉ sắt PSP, cách biệt hoàn toàn với trại tù cũ. Tôi không biết ngày xưa Trung đoàn 44 của Sư đoàn 23 Bộ binh, dùng căn nhà tiền chế này để làm gì, rạp hát chiếu phim cho lính coi? Hơn ba trăm tù binh ở trong căn nhà tiền chế mà chỉ chiếm có gần phân nửa diện tích, phần còn lại bỏ trống không. Tối đến chúng tôi ngủ trên sàn xi măng, trên trần nhà bốn ngọn đèn nê ông sáng chói, mỗi ngọn cách nhau độ chục thước. Hơn một năm rồi, khi mặt trời lặn là chúng tôi bắt đầu sống trong bóng tối, riết rồi thành quen, hôm nay là lần đầu tiên tôi thấy lại ánh đèn nê ông, dù chỉ có bốn ngọn đèn trong một căn phòng rộng lớn, nhưng sao tôi vẫn thấy sáng choang, thấy từng vết trầy xướt trên cột nhà, từng cái lỗ thủng trên vách, từng hàng chữ nho nhỏ viết bậy trên tường. Mười giờ đêm, máy đèn ngưng chạy cả căn phòng chìm trong bóng tối, tôi nằm yên không ngủ được, băn khoăn, thắc mắc, không hiểu tại sao họ không đưa chúng tôi đến một khu rừng khác mà lại đem chúng tôi về đây để làm gì? Tôi mở mắt nhìn lên trần, nghĩ về vợ con, cha mẹ, mấy đứa em cho đến khi tiếng ngáy của anh bạn tù bên cạnh vang lên đều đều, cũng là lúc tôi chìm vào giấc ngủ. Buổi sáng tôi thức dậy khi tiếng kẻng từ trại tù cũ, cách xa khoảng vài trăm mét vang vọng đến, vì cách nhau khá xa nên tiếng kẻng chỉ vừa đủ nghe, không man rợ, không hung tợn như khi mình ngủ gần bên nó. Trưa đến một ông Việt cộng lạ mặt xuất hiện, ông ta tự giới thiệu.
-Tôi tên là Tâm, có nhiệm vụ nuôi ăn các anh, yêu cầu tất cả hãy theo tôi.
Nói xong, ông ta dẫn tù nhân đi qua một căn nhà tiền chế nhỏ và cũ kỹ hơn căn nhà mà chúng tôi đang ở. Vừa bước chân vào phòng, không ai bảo ai, mọi người đều khựng lại vài giây rồi mới tiếp tục cất bước. Trước mặt của tôi là hai dãy bàn dài, trên đó chén đũa đã sẵn sàng, cứ bốn cái chén lại có thêm một cái dĩa nhỏ đựng bốn cục kẹo và bốn điếu thuốc lá. Cách dọn bàn ăn giống hệt như ngày xưa khi tôi còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, KBC 4100. Cái khác biệt duy nhất là dĩa kẹo thay cho bình trà đá. Thời đó sinh viên sĩ quan chúng tôi gọi đùa với tính cách giễu cợt, KBC bốn thằng một ca rê, hay là KBC bốn thằng một mâm cũng được. Hiện tại chúng tôi là tù nhân chứ đâu phải là sinh viên sĩ quan, cả năm rồi tù nhân ngồi bệt dưới đất mà ăn cơm, có bao giờ thấy bàn ghế đâu. Hôm nay nếu ăn cơm mà ngồi vào bàn, tôi nghĩ rằng tất cả bọn tù chúng tôi đều tưởng rằng mình nằm mơ.
Ông Tâm nói với chúng tôi.
-Kể từ hôm nay, khi đến giờ ăn, các anh sẽ được thông báo qua đây để dùng cơm.
Nói xong, thấy mọi người cứ đứng yên như ông phỗng đá, ông ta thúc giục.
-Các anh cứ tự nhiên, bốn người ngồi vào một mâm, lát nữa cơm và thức ăn sẽ được mang lên.
Cai tù mà bưng cơm cho tù nhân thì bố ai mà dám tin, một vài anh tù nhè nhẹ ngồi vào bàn, rồi thì tất cả mọi người lần lượt làm theo. Thừa lúc mọi người ồn ào lo chọn chỗ, một anh bạn tù ngồi đối diện với tôi nói nhỏ với anh bạn đội nón xanh, ngồi kế bên tôi.
-Tao cá với mày, lát nữa sẽ có phái đoàn báo chí ngoại quốc từ Âu châu đến thăm viếng và phỏng vấn tụi mình.
Ông bạn đội nón xanh hỏi lại.
-Sao mày biết?
-Việt cộng làm việc gì cũng có tính toán cả rồi, sở dĩ tụi mình được đem ra đóng phim, vì hầu hết hơn ba trăm tù nhân ở đây không nhiều thì ít đều có liên quan đến gia đình Cách mạng. Nếu không liên quan thì cũng thuộc thành phần gọi là dễ dạy bảo, không chống đối. Mày thấy tao nói có đúng không?
Trước cái lối lý luận chặt chẽ, chắc như đinh đóng cột, anh bạn tù đội nón xanh gật đầu.
-Đồng ý.
Cơm được dọn lên, thức ăn gồm có một tô canh và một dĩa cá kho, tù nhân sau khi ăn chén rưỡi cơm, chút cơm dư lại được chia đều cho mọi người. Đây là một bữa ăn mà tôi cho là khá thịnh soạn và trang trọng nhất, kể từ ngày bước chân vào tù. Thịnh soạn vì tô canh rau muống nấu với tôm khô, dĩa cá kho với hai con cá mòi to bằng bàn tay thơm lừng như mời gọi, trang trọng vì có đủ bàn ghế. Cơm nước xong xuôi, tù nhân thong thả thưởng thức chút ngọt của cục kẹo, rồi ung dung hút một điếu thuốc, thả khói bay đầy phòng.
Cách chỗ tôi ngồi vài bước, một giọng nói nghe cứ như đùa vang lên.
-Tù cải tạo mà ngày nào cũng ăn uống như thế này, chắc tao phải xin học lâu thêm chút nữa.
Một anh bạn có máu khôi hài nói nhỏ.
-Sau bữa cơm ân huệ, quá sức là đầy đủ, tao đã sẵn sàng ra pháp trường.
Anh bạn có cái nón xanh ngồi kế bên tôi, hỏi người tù đối diện.
-Mày nói có phái đoàn ngoại quốc đến viếng thăm, sao giờ này chưa thấy.
Anh bạn ngồi đối diện với tôi gằn giọng.
-Mày cứ đợi đó đi, có thể chiều nay hay ngày mai không chừng.
Ba ngày trôi qua trong yến tiệc linh đình mà không có phái đoàn nào tới thăm cả, trưa ngày 1 tháng 9, chúng tôi được tập họp để nghe quản giáo nói chuyện.
Anh quản giáo với gương mặt vui vẻ, tươi cười nói.
-Ngày mai ba trăm mười bảy anh đang ở trại này sẽ được cho về đoàn tụ với gia đình. Lát nữa các anh sẽ được lãnh giấy ra trại cũng như gạo và tiền xe đi đường.
Một tù nhân giơ tay lên trời.
-Thưa anh tôi xin được hỏi.
Quản giáo chỉ anh ta.
-Hỏi gì?
-Thưa anh, lãnh giấy tờ xong, đi về liền được không?
Quản giáo cười thoải mái.
-Trong giấy tờ đề ngày 2 tháng 9, anh nào đi ra trước là phạm tội trốn trại, hình phạt như thế nào thì các anh đã biết rồi. Gắng thêm chút nữa đi, các anh đã về tới đích rồi mà.
Một tù nhân khác nói to.
-Thưa anh.
Quản giáo nói.
-Anh hỏi gì?
-Thưa anh, qua khỏi mười hai giờ khuya là đã qua ngày hai tháng chín rồi. Lúc đó, tôi đi ra khỏi trại được không?
-Theo nguyên tắc thì được, nhưng mà ban đêm lính canh thấy anh đi gần hàng rào, họ sẽ bắn ngay. Anh muốn đi thì cứ đi.
Tôi được lãnh khoảng 4 kí gạo và 12 đồng, đó là thực phẩm và tiền xe cho mấy ngày đi đường về lại quê cũ. Ngồi một mình trong góc phòng, nghĩ đến chuyện ngày mai tôi sẽ được thả ra khỏi tù, rồi nhớ lại những bữa ăn huy hoàng trong mấy ngày qua, đột nhiên hình ảnh Trung úy Lợi và Sơn Fulro đói ăn thiếu mặc, hiện ra rõ mồn một trong đầu. Cảm thông được hoàn cảnh khốn khó của bạn, tôi muốn tìm cách nào để có thể chia sẻ chút thực phẩm và tiền bạc cho hai người bạn của mình. Suy nghĩ hoài, cuối cùng tôi cũng tìm được cách giúp Sơn Fulro và Lợi. Thường thì khoảng 5 giờ chiều là tù nhân đi lao động ngoài trại trở về, mới 4 giờ rưỡi tôi đã ôm 4 kí gạo đựng trong hai cái bao cát nhỏ, lấy sẵn 6 đồng để một bên túi áo đi đến gần cổng trại B trung úy rồi ngồi đợi . Cẩn thận hơn, tôi ngồi cách xa cổng khoảng hai trăm mét. Sở dĩ tôi đưa cho Sơn Fulro và Trung úy Lợi 4 kí gạo với 6 đồng, chỉ giữ lại cho mình 6 đồng vì tôi biết, khi ra khỏi trại tôi còn có thể xoay sở được. Trong khi Sơn Fulro và Trung úy Lợi còn ở lại trong trại tù, giống như bị trói tay, bịt mắt, cột chân, không cách gì kiếm được một hột gạo, nói gì đến chén cơm. Mới chừng hút xong điếu thuốc, tôi đã thấy đoàn tù trở về. Sơn Fulro không cần tìm cũng thấy vì hắn là thằng cao nhất trong hàng. Nhìn trước nhìn sau không thấy cảnh vệ, tôi nhập vô đoàn, đi chầm chậm chờ khi Sơn Fulro đến gần, tôi lẹ làng trao gạo và tiền cho hắn, rồi nói.
-Của mày và Trung úy Lợi.
Nói xong, tôi tách đoàn đi về phía căn nhà tiền chế mà không kịp nghe Sơn nói gì hết. Trong lòng vui mừng vì liều mạng làm được một công việc khá nguy hiểm và đã thành công, tôi vừa đi vừa huýt sáo bản nhạc.
Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…
Tối hôm 1 tháng 9, đám tù chúng tôi đi ngủ sớm, lấy sức để ngày mai ra về. Không biết hôm nay là ngày mấy của âm lịch mà bầu trời tối mò, đầy mây đen, trăng sao lặn đâu mất, thỉnh thoảng lại có vài tia chớp xé toạc màn đêm, liền sau đó là nhiều tiếng sấm vang dội ở cuối chân trời. Khoảng ba bốn giờ sáng, một trận mưa lớn đổ xuống, kéo dài cho đến khi trời sáng tỏ mà cơn mưa vẫn chưa chịu dứt. Mấy trăm tù nhân đã sẵn sàng ra về, nhưng vì mưa quá lớn nên đành ở trong nhà để núp mưa. Họ nhìn nhau như dò hỏi, rồi lại chờ. Khi cơn mưa vừa tạm ngớt hột, một vài người đội mưa hùng dũng dứt khoát ra đi, nhiều người vì quá nóng lòng nên cũng vội vàng đi theo. Tôi và một số người chờ thêm khoảng nửa giờ nữa thì cơn mưa gần như tạnh hẳn, lúc bấy giờ bọn tôi mới ra về. Cái cổng chúng tôi đi ra không có bảo vệ canh giữ, nhưng hôm nay đã thấy ông Thiếu tá trưởng trại đứng đó tự bao giờ. Điểm đặc biệt là ông Thiếu tá này lai Tây, đó là điều duy nhất tôi biết về ông ta. Ông thiếu tá vui cười bắt tay từng người tù và nhắc đi nhắc lại chỉ một câu nói.
-Hãy quên hết những gì các anh đã học được trong trại, về trình diện địa phương, mấy ông chủ tịch xã ấp hay công an phường, nói gì thì kệ họ, nhớ vâng dạ, chớ có cãi lại nó sẽ bỏ tù các anh đó.
Tôi là thằng chót cùng bước ra khỏi trại, tai vẫn còn nghe ông Thiếu tá trưởng trại nhắc lại câu nói trên. Đó là câu nói duy nhất có giá trị, mà tôi đã học được trong hơn một năm hai tháng học tập cải tạo, ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao.
Tin hay không, khi tôi bước ra khỏi cổng trại tù, không thấy bóng dáng một người tù cải tạo nào cả, họ biến mất, biến sạch sẽ không để lại một chút dấu vết gì. Một mình đứng giữa trời đất bao la, tôi nhìn quanh không biết đường nào mà đi. Trước mặt tôi độ trăm thước, dưới một gốc cây được che bởi một miếng ny lông màu xanh đậm to thật to, vài người dân địa phương ngồi vây quanh một cái bàn. Khi tới gần, tôi tò mò muốn biết họ đang ăn cái gì. Cơm tấm? mì quảng? bún bò? Mỗi người một tô vừa ăn vừa húp xì xụp. Tôi biết trong túi của tôi còn 6 đồng, đó là những đồng tiền mà tôi sẽ dùng để đi xe đò về Đà Lạt. Thấy tôi, người đàn bà bán hàng mời.
-Ăn bún cá đi cậu.
Vừa nói xong, bà liền nói tiếp.
-Ủa, mà cậu là tù cải tạo mới được thả về, phải không?
Tôi nói.
-Dạ phải.
Bà bán bún nói mà như quở tôi.
-Lúc nãy, trời hãy còn mưa mà người ta đã đi mất đất rồi, tại sao giờ này cậu mới ra?
Tôi đang lúng túng chưa biết trả lời như thế nào, bà bán bún lại nói.
-Ngồi xuống ăn đi, tù ăn khỏi trả tiền.
Nói xong bà ta lanh lẹ làm một tô bún, khói còn bốc lên nghi ngút, đưa cho tôi.
-Ăn đi, ăn cho no rồi đi về, mà nhà của cậu ở đâu?
-Thưa bà, Đà Lạt.
-Khá xa đó, phải tốn hai ngày xe, từ đây đến Phan Rang ngủ lại một đêm, ngày hôm sau mới đi từ Phan Rang lên Đà Lạt.
Thấy tôi chăm chú lắng nghe với nét mặt lo âu, bà bán bún nói tiếp.
-Cậu yên tâm, lát nữa thằng con tui đem bún tới đây, tôi sẽ biểu nó chở cậu ra bến xe đò ở Chợ Lầu. Từ đây đến đó gần năm cây số chớ không ít đâu.
Tôi cảm ơn bà bán bún rồi bắt đầu ăn. Cọng bún mềm và dai, miếng cá ngọt, chả cá giòn, nước lèo béo ngậy, ớt cay, rau sống thơm, chỉ một thoáng là tôi ăn hết tô bún, bưng cái tô húp sạch không còn một giọt nước. Bụng hãy còn đói, muốn ăn thêm tô nữa nhưng ngượng trong lòng không dám hỏi. Tôi nói dối với bà bán bún.
-Ở tù nhịn ăn quen rồi, mới ăn có tô bún của dì mà đã thấy no cành hông. Cảm ơn dì.
Tôi được chở đến bến xe đò đi Phan Rang, bến xe vắng hoe như chùa bà Đanh, chỉ còn duy nhất một chiếc xe khách Renault Goelette cà tàng sắp sửa chạy, hình như chiếc xe này được nhập cảng vào Việt Nam từ thời Đệ nhất Cộng hòa. Sở dĩ tôi biết rõ hiệu xe là Renault Goelette vì ở Đà Lạt, người ta dùng loại xe này để chở khách từ chợ Đà Lạt đến Chi Lăng. Bến xe Chi Lăng nằm gần cổng Lý Thường Kiệt của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Ngày xưa, thỉnh thoảng tôi vẫn đi làm bằng loại xe đò này.
Anh lơ xe cỡ chừng mười tám tuổi, nhìn tôi từ đầu đến chân như đánh giá khách hàng, rồi hỏi với giọng cộc lốc.
-Có tiền không?
Tôi nhanh nhẹn trả lời.
-Có.
-Ngồi trên mui, chịu không?
-Chịu.
-Sáu đồng.
Tôi nghe mà muốn lùng bùng hai cái lỗ tai, rồi than thành tiếng.
-Sáu đồng, như vậy tôi đâu còn đủ tiền đi Đà Lạt.
Vừa than xong tôi nói với anh lơ xe.
-Ba đồng được không?
Anh lơ xe cười sằng sặc rồi lớn tiếng.
-Giỡn hoài cha nội, từ đây đến Phan Rang mà trả ba đồng, chỉ vừa đủ tiền đóng hụi chết cho công an, chạy với giá đó bọn tôi chỉ có nước húp cháo rùa.
Một ông khách ngồi trên xe, nghe anh lơ to tiếng bèn nói.
-Lấy ba đồng của anh ấy đi, tôi sẽ bù thêm ba đồng còn thiếu cho.
Tôi leo lên mui xe, ngồi chung với mấy con heo con cùng với bầy gà vịt bị nhốt trong mấy cái giỏ tre, rồi tự an ủi mình “Tù với heo gà vịt cũng như nhau thôi mà”, miễn sao đi tới nơi về tới chốn là được rồi. Xe chạy được một lúc bỗng nhiên ngừng lại, giọng anh lơ xe gọi tôi.
-Cái ông gì ngồi trên mui xe đó, có phải là tù cải tạo mới được thả ra sáng nay không?
Tôi nói.
-Phải.
-Vậy mà sao ông không nói, may nhờ có ông khách đây nhắc tụi tôi mới biết, xuống đây ngồi đi.
Tôi đặt chân lên cái thang bằng sắt, được hàn vào ở cuối xe bên trái, bám theo đó mà xuống. Anh lơ xe nhường cho tôi chỗ ngồi của anh ta ở cuối băng ghế, còn anh ta đứng nơi bậc cấp bằng gỗ, một tay bám lấy cái thang, một tay đập ầm ầm vào thân xe, miệng la to như cháy nhà.
-Tới luôn bác tài.
Chiếc xe từ từ lăn bánh, bò chầm chậm về phía trước. Anh lơ xe hỏi nhỏ tôi, giọng tò mò nhưng đầy thân mật.
-Cấp bậc?
-Trung úy.
-Đơn vị?
-Trường Võ Bị Đà Lạt.
Anh lơ xe xuýt xoa.
-Sĩ quan Đà Lạt, ngầu dữ há. Ở trong tù chắc trung úy chịu nhiều cực khổ cũng như đói rét phải không?
Nghe anh lơ xe hỏi, đột nhiên tôi nhớ đến người đàn bà đã cho tôi chén cơm với con cá nục. Hôm nay tôi được thả về, trong khi ông thiếu tá con rể của bà hãy còn ở tận Miền Bắc, nghìn trùng xa cách. Không biết sao, tự nhiên tôi quay nhìn về hướng Sông Mao mà nước mắt lưng tròng.
Anh lơ xe ghé miệng vào sát tai tôi, anh ta nói mà như là tâm sự với người bạn hiền.
-Sao trung úy khóc vậy?
Tôi nói.
-Ở trong tù đói liên miên, mấy tháng trước khi đi gánh tranh ở Lương Sơn, tôi được một người đàn bà cho chén cơm, chuyện đó khiến tôi chợt nhớ đến “bát cơm Phiếu mẫu”. Không biết bao giờ mới gặp lại bà ta để đền ơn, tôi khóc vì thương cho hoàn cảnh của bà.
Xe đến Phan Rang, anh lơ xe kín đáo đưa lại cho tôi ba đồng, thêm hai cái bánh ú, rồi nói.
-Húp cháo rùa thì cũng chịu thôi, nỡ lòng nào mà lấy tiền của tù cải tạo.
Tôi nghe anh lơ xe nói, mà cứ ngỡ như là nghe một tay anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc nào đó, đã đầu thai lầm thế kỷ, lầm luôn đất nước.
Vừa bước xuống xe tôi chạy vội đến phòng vé, mua một vé xe đi Đà Lạt vào sáng hôm sau. Xong xuôi mọi chuyện, tôi nhìn quanh tìm chỗ ngủ. Ngủ bờ, ngủ bụi, ngủ ngoài rừng, ngủ dưới mưa cả tuần lễ tôi còn chưa sợ, sá gì một chỗ ngủ nơi bến xe, giờ đây mùng mền đã có sẵn, một mái hiên nhà cũng đã tốt lắm rồi, lo làm gì cho mệt thân. Tôi ngồi xuống một cái băng ghế gỗ cũ kỹ, ọp ẹp, như muốn sụm xuống bất cứ lúc nào. Bụng đã bắt đầu xót, tôi lột cái bánh ú ăn cho đỡ đói, cái còn lại để dành ngày mai. Vừa ăn tôi vừa nhìn lên bầu trời hiu quạnh, từ xa tôi thấy một người đàn ông đang thong thả đi đến chỗ tôi ngồi. Khi ông ta đến gần, tôi mới nhận ra đó là người đàn ông đã trả cho tôi ba đồng tiền xe lúc sáng. Ông ta cười với tôi, nụ cười hiền hòa như muốn bắt chuyện.
Tôi tìm ông mãi mà không thấy, nào ngờ ông lại ngồi ở đây.
-Thưa có việc gì không?
-Chẳng có việc gì quan trọng, tôi chỉ muốn hỏi, ông có muốn nghe anh lơ xe nói gì về ông không?
Ai lại không tò mò, đương nhiên là tôi muốn nghe người khác nói gì về mình. Tôi trả lời.
-Dạ muốn lắm chứ. Anh ấy nói gì vậy?
Người đàn ông tằng hắng lấy giọng.
-Chuyện như thế này, anh lơ xe tâm sự với tôi “Bác à, tội nghiệp cho cái anh chàng trung úy ở tù vừa mới được thả về, chắc là do bị hành hạ, đánh đập, bỏ đói nên chưa đến ba mươi tuổi mà đã lẫn rồi. Tôi dám nói với bác như vậy vì lúc ngồi trên xe, tôi thấy anh trung úy cứ nhìn về hướng Sông Mao mà khóc. Anh ta nói là thương nhớ cái bà kiểu mẫu nào đó đã cho anh bát cơm”. Cuối cùng anh lơ xe nói với tôi mà như là có ý trách trung úy “Được thả về, vợ con, cha mẹ, anh em, không thương nhớ mà lại đi khóc thương một bà phiếu mẫu đã cho mình bát cơm. Người như vậy phải nói là lẫn rồi, nếu ổng không lẫn hả, tui thề sẽ bỏ nghề làm lơ xe đò cho mà coi”.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.