This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cách đây mấy hôm mình đón coi Tổng Thống (TT) Trump đọc diễn văn trước lưỡng đảng ở Quốc Hội.
Đang chăm chú nghe, đến đoạn ông Trump nói chính phủ Hoa Kỳ đã tìm ra sự gian lận ở cơ quan lo về an sinh xã hội. Có mấy chục triệu người (không nhớ con số chính xác) trên 100 tuổi vẫn còn nhận tiền trợ cấp chính phủ. Có mấy triệu trên 160 tuổi, có một người 300 tuổi v.v… Tổng Thống Trump mỉa mai người dân Mỹ sống lâu vì khỏe mạnh, và nhiều người cười rộ thích chí. Có lẽ đây là báo cáo của ông Elon Musk.
Xạ thủ đã không cười rộ mà im lặng tắt TV rồi đi ngủ để lấy sức đi cày sáng hôm sau kiếm cơm. Mình không thể tiêu hóa các lời kết án mà không có bằng chứng. Hy zọng Tổng Thống Trump sớm công bố chi tiết các khám phá bằng các bản sao copy hồ sơ gian lận cho lưỡng đảng Quốc Hội duyệt xét, và đề cử một ủy ban độc lập điều tra và truy tố để coi ai là thủ phạm. Khi đó xạ thủ sẽ tin và chân thành cám ơn Tổng Thống.
Mình nói rất nhiều lần trên Facebook rồi. Xạ thủ không phải là tín đồ của thuyết âm mưu. Cho dù thuyết đó đến từ đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ.
Hiện nay quân đội và nhân viên Liên Bang ngấm ngầm bất mãn nhưng không nói ra. Nhiều người trước đây đã ủng hộ bầu cho TT Trump. Hình ảnh ông Elon Musk cầm cưa máy múa may đòi cắt bỏ bộ máy chính quyền làm nhiều người bị phản cảm. Làm bộ máy rườm rà quan lại của chính quyền nhỏ hơn và hiệu năng hơn là cần thiết. Nhưng ông Elon Musk không làm điều đó mà đang phá hủy một cơ cấu phục vụ cho quốc gia và cho người dân Mỹ.
Mấy hôm nay báo chí loan tin rầm rộ là đang có sự chống đối nảy lửa của các Bộ Trưởng với ông Elon Musk. Đặc biệt là lời qua tiếng lại của Ngoại trưởng Marco Rubio với Elon Musk. Nghe nói TT Trump binh vực Ngoại trưởng Rubio, nhưng khi họp báo bị ký giả đặt câu hỏi về sự xung đột cãi vã thì TT Trump phủ nhận nói hỏng có choảng nhau (clashed) gì ráo.
Bản chất của Ngoại trưởng Marco Rubio là không cuồng chủ thuyết MAGA. Ông Rubio có một quá trình chống Nga, vì quê hương của ông là Cuba đã bị cộng sản Liên Xô giúp Fidel Castro nhuộm đỏ hòn đảo xinh đẹp này. Ông là gốc tị nạn cộng sản như bao con dân Việt Nam Cộng Hòa khác, nên ông theo chủ thuyết Reagan là Hoa Kỳ phải bung ra giúp các dân tộc bất hạnh đấu tranh chống cộng sản và độc tài. Ngoại trưởng Marco Rubio cũng đã từng nhiệt tình ủng hộ Ukraine chiến đấu chống Nga.
Nhưng sau vụ TT Volodymyr Zelensky cãi vã ở Tòa Bạch Ốc mấy tuần trước, Rubio thay đổi thái độ, lạnh lùng nói như cái máy lên án TT Zelensky, làm nhiều người trước đây ngưỡng mộ ông nay thất vọng và ngao ngán. Và không ai biết bên trong nội các của TT Donald Trump có những bất hòa như thế nào.
Có thể ông Rubio phải đóng kịch nói hùa theo để khỏi bị sa thải như trường hợp Ngoại trưởng Rex Tillerson (2017-2018) dưới nhiệm kỳ 1 của TT Trump. Ngoại trưởng Rex Tillerson được TT Trump bổ nhiệm, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau ông bị cô lập. Ngoại trưởng Rex Tillerson có phát biểu nói TT Trump “dốt”. Sau đó ông đã bị cách chức đuổi về vườn.
Ngoại trưởng Marco Rubio chỉ mới nhậm chức mới hơn một tháng nên chưa muốn nổ sảng để bị đuổi như ông Rex Tillerson chăng? Rex Tillerson là một Hướng Đạo Sinh có bằng Eagle Scout cao quý nhứt, nên là con người khẳng khái danh dự. Còn Ngoại trưởng Marco Rubio là một thượng nghị sĩ, là một cựu ứng viên Tổng Thống có nhiều kinh nghiệm thương đau với cựu ứng cử viên TT Donald Trump nên ông khôn hơn, biết luồn lách để sống sót.
Nên khi báo chí loan tin Ngoại trưởng Rubio nổ lớn với ông Elon Musk là điều dễ hiểu thôi. Marco Rubio là Ngoại Trưởng Hoa Kỳ có nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ ngoại giao với thế giới. Nhiệm vụ này mâu thuẫn, đi ngược lại chủ thuyết MAGA là co cụm bỏ mặc thế giới bỏ rơi đồng minh của mình.
USAID là cơ quan chi nhánh của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. USAID có hàng ngàn chương trình viện trợ cho nhiều quốc gia nghèo trên thế giới. Ngày xưa thời Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người vẫn còn nhớ những bao “gạo Mỹ” viện trợ có dấu hai bàn tay bắt nhau của cơ quan USAID. Nhiều nhân viên USAID đi vào các vùng quê miền Nam để giúp đỡ nông dân Việt Nam. Có một số nhân viên USAID bị Vi Xi bắt vì tưởng lầm là CIA. USAID là hình ảnh nhân đạo độ lượng và hào hiệp của người Mỹ, nhưng MAGA không chấp nhận những điều đó và dùng những dữ kiện tiêu cực riêng rẽ để triệt hạ USAID.
Ngoại trưởng Marco Rubio có lẽ đã không vui, nhưng nhẫn nhục nhìn USAID bốc hơi dưới bàn tay sát thủ của Elon Musk. Nhưng hiện nay nhiều Bộ trưởng đã bắt đầu phản công chống lại ông Elon Musk. Họ chống vì nhân viên liên bang bị khủng bố mất tinh thần mất sự hăng say để phục vụ quốc gia. Họ chống vì quần chúng Mỹ bắt đầu phẫn nộ vì hệ thống chính quyền liên bang tê liệt không phục vụ họ hữu hiệu như lúc trước.
Sean Duffy là Bộ Trưởng Giao Thông được TT Trump đề cử. Sean Duffy từng là dân biểu Cộng Hòa ở Wisconsin và cũng từng giữ chức Luật sư chính phủ của hệ thống Liên Bang.
Bộ trưởng Sean Duffy tức giận phản đối khi Elon Musk tìm cách sa thải nhân viên của FAA (Cơ quan Hàng không Liên Bang – Federal Aviation Administration) của mình. Sean Duffy nói “Tôi đang có nhiều tai nạn máy bay, thì giờ họ muốn sa thải nhân viên đài không lưu”. Thì ra chính Elon Musk đã đưa tin vịt cho TT Trump là FAA có nhiều người da màu. Nhân cơ hội một chiếc trực thăng Black Hawk đụng vào chiếc máy bay hàng không của American Airline ở Washington DC làm tất cả mọi người tử nạn. Khi đó TT Trump có tuyên bố tào lao và đổ thừa cho FAA và muốn tế thần cơ quan này.
Mình không biết các cơ quan liên bang khác như thế nào mà ông Elon Musk muốn tiêu diệt. Nhưng chắc chắn FAA là một cơ quan rất hữu ích cho quốc gia. Bởi vì xạ thủ là một phi công.
Những khi đi bay bất cứ lúc nào, 24/7 cho dù thời tiết xấu mây mù bão tố. Mình luôn luôn có một bản ghi các tần số của ATC (air traffic control – đài không lưu) cột chặt nơi đùi, và một cái đèn pin ánh sáng đỏ gắn trên đầu để đọc các tần số. Khi bay đơn độc trong không gian mờ mịt đêm khuya, chỉ cần bấm nút máy vô tuyến gọi đài không lưu là ngay tức khắc nghe một nhân viên không lưu trả lời làm mình cảm thấy an lòng. Xạ thủ nhờ họ theo dõi máy bay mình trên màn ảnh radar, nhờ họ coi phía trước có mây mù hay không và độ dày của lớp mây v.v… (phi cụ hiện nay tối tân hơn, phi công có thể thấy chi tiết của mây trên màn ảnh của máy bay).
Có một lần đáp xuống một phi trường lúc tối khuya và hấp tấp phải cất cánh đi liền nên quên báo cáo cho ATC là đã đáp ở phi trường đó. Đài không lưu khi không nghe báo cáo nên họ đã gọi điện thoại tới phi trường đó hỏi quý vị có thấy chiếc máy bay số ### đã đáp ở đó chưa. Phi trường xác nhận có thấy chiếc ### đáp nhưng xin đi ngay chớ hỏng vào phi cảng. Nếu phi trường đó nói hỏng thấy chiếc ### nào tới đây cả thì ngay lập tức ATC sẽ báo động và bắt đầu một cuộc tìm kiếm chiếc ### đã mất tích trên tuyến bay đó.
Nhân viên đài không lưu làm việc cẩn thận như thế đó. Qua tần số vô tuyến xạ thủ nghe họ nói tiếng Anh lưu loát không nói ngọng như một số người thiểu số. Cho nên chụp mũ nói FAA không có khả năng vì thuê người da màu là thuyết âm mưu đầy kỳ thị và ác ý.
FAA điều hành các đài không lưu trên khắp lục địa Hoa Kỳ để giữ an toàn cho các máy bay và hành khách. Huấn luyện đào tạo nhân viên đài không lưu không dễ và đòi hỏi thời gian. Sa thải họ thì lấy đâu ra người để thay thế ngay được. Mỗi nhân viên ATC phải theo dõi hướng dẫn cả chục chiếc máy bay. Giờ nếu đuổi việc họ thì những nhân viên còn lại sẽ phải theo dõi mấy chục chiếc máy bay thì tai nạn sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Chỉ có đám cuồng MAGA mới lú lẫn làm chuyện tào lao này.
FAA không những chỉ có đài không lưu. Máy bay mỗi năm định kỳ phải có chuyên viên cơ khí FAA khám xét mở tung máy bay ra để thay thế các bộ phận cũ. Nhiều khi thấy còn mới nhưng hết hạn thì phải thay, nếu hỏng thay thì sẽ không được cấp giấy phép bay.
Phi công thì định kỳ 6 tháng, một năm, tùy loại phi công, phải đi khám sức khỏe với một bác sĩ của FAA để coi còn đủ tiêu chuẩn bay hay không. Xạ thủ đi Trung Đông về mắt nhìn xa vẫn tốt nhưng nhìn gần (cận thị) thì có vẻ hơi suy giảm, có lẽ vì thức khuya chong mắt nhìn vào màn ảnh computer nhiều quá. Đi khám bác sĩ FAA thì không đọc được các hàng chữ chút xíu như hột cát, nên cha bác sĩ FAA đuổi về, nói đi khám mắt đeo kiếng quay trở lại khám. Nếu đọc được và qua được các mục khác thì mới cho giấy phép bay. Còn giờ thì chỉ được làm hành khách mà thôi.
Đó là về phi hành (FAA). Còn tàu thủy, xe lửa, xe cộ trên đường xá nữa. Bộ Giao Thông lo về hàng ngàn vấn đề của giao thông ở lục địa Hoa Kỳ. Và đó chỉ là một Bộ tương đối nhỏ, không nổi tiếng và mạnh như Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Cái đám điên khùng MAGA nhào vô tàn sát vì nghĩ rằng sẽ tiết kiệm được một số tiền. Nhưng trên đường dài dân Mỹ sẽ thấy họ sẽ không được bảo vệ nữa.
Tương tự trong cộng đồng thế giới, nước Mỹ sẽ đơn độc một mình không có đồng minh nhảy vào giúp quánh tiêu diệt khủng bố. Các nơi du lịch sẽ đóng cửa vì nhân viên bảo vệ công viên quốc gia đã bị sa thải. Cựu chiến binh trở về thương tật và tuổi già sẽ không được giúp, vì hàng ngàn nhân viên Bộ Cựu Chiến Binh đã bị sa thải.
TT Trump và Elon Musk là tỉ phú, là nhà kinh doanh mua bán địa ốc và chế tạo hỏa tiễn xe hơi v.v…Họ có thể thành công trong lãnh vực kiếm tiền, nhưng họ sống trong ốc đảo tiện nghi và chưa có kinh nghiệm, hay đúng ra là chưa hiểu yếu tố con người bằng các ông Bộ trưởng – vốn là những nhà lập pháp phải thường nghe các nguyện vọng của người dân, và điều quan trọng là họ hiểu luật và Hiến Pháp Hoa Kỳ hơn.
Bởi vậy không lạ khi thấy các ông Bộ Trưởng chống đối một nhân vật chưa có kinh nghiệm điều hành quốc gia là gì, mà đứng cầm cưa máy múa may đòi hủy diệt hệ thống liên bang đã được xây dựng trăm năm nay. Hiện tượng chống đối này là điều lạc quan, vì một số Bộ Trưởng dù là Cộng Hòa do TT Trump tiến cử, nhưng họ đã không mù lòa a dua bầy đàn nâng bi hùa theo một chính sách cực đoan tào lao. Xin nghiêng mình chào kính sự liêm sỉ của các quý vị ấy.
Sau hơn một năm học tập cải tạo tại Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, tôi được Cộng Sản cho về đoàn tụ với gia đình, kèm theo cái án quản chế một năm ghi ở cuối tờ giấy phóng thích.Với cái án này, cuộc sống hàng ngày của tôi bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định, nó chật hẹp, tù túng đến nghẹt thở, nhiều lúc tôi có cảm tưởng như mình đang bị bó tay, cột chân rồi nhốt trong một cái cũi. Suốt mấy tuần lễ đầu tôi sống loay hoay trong cái vòng lẩn quẩn, với số tiền mà vợ tôi đang có trong tay, thừa sức bảo đảm cho gia đình tôi có một cuộc sống an nhàn, mà không cần phải làm gì cả. Tuy nhiên theo lý thuyết của Cộng Sản, Xã Hội Chủ Nghĩa là một xã hội không có chuyện ngồi mát ăn bát vàng, những gia đình nào không trực tiếp lao động sản xuất đều bị đưa đi tái định cư tại vùng kinh tế mới. Ba chữ kinh tế mới là một cách nói để lừa dân, mà thực chất là chính sách đem con bỏ chợ của Cộng Sản, quăng người ta vào những nơi rừng thiêng nước độc, rồi bỏ mặc trong đó. Người dân nếu có bị đói rét, bệnh tật hay đau yếu, thì phải gắng mà tự lo liệu lấy thân, không phải là chuyện của nhà nước.
Muốn được sống tại thành phố, tôi chỉ còn một con đường duy nhất là ngày ngày phải đi lao động sản xuất lại mảnh vườn của mình ở Đa Thiện. Vào khoảng cuối năm 1976, tôi nghe phong phanh đâu đó, người dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa được chia ra làm 13 hay 16 bậc. Sĩ quan Ngụy cải tạo trở về chưa có quyền công dân nên không có tên trong bản phân chia giai cấp nói trên.
Biết mình hết đường vùng vẫy, tôi sống im lặng nhẫn nhục cho qua ngày đoạn tháng, sống như một cái bóng mờ, đứng bên lề xã hội, cho dù đó là một cái xã hội man rợ của thời trung cổ. Tôi sống mà lúc nào cũng phải tuân theo đúng mọi luật lệ khắt khe, nghiệt ngã, của công an khu vực và sự kềm kẹp vô lý của bộ ba tổ trưởng dân phố, tổ phó, tổ phó an ninh.
Mới có hơn một năm sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi thấy được một điều, tất cả mọi người từ dân đen cho đến ông Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản, Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, tất cả đều phải mang mặt nạ. Có hàng trăm loại mặt nạ khác nhau, Ngài Tổng Bí Thư chẳng hạn, ông là người buôn dân hại nước nhưng khi xuất hiện trước công chúng, ông ta mang cái mặt nạ “Thanh liêm đạo đức”. Ngài Thủ Tướng lẳng lặng bán nước cho Tàu cộng, nhưng khi nói chuyện với mọi người, Ngài mang cái mặt nạ “Vì dân vì nước.” Ở một đất nước mà chính quyền cai trị dân dựa trên căn bản lừa dối, người dân của nước đó muốn sống còn, họ phải ăn gian nói dối với chính quyền thôi. Theo gương các vị lãnh tụ, cá nhân tôi ngay cửa ra vào nhà, tôi treo một cái bị rồi tưởng tượng trong đó có một mớ mặt nạ. Khi bước chân ra khỏi nhà, tôi đeo cái bị vào cổ rồi tự hỏi mình “Hôm nay mình đi đâu? Gặp ai? Làm gì?” Nếu đi gặp bà tổ trưởng, tôi đeo cái mặt nạ “Quỵ lụy xin xỏ”. Nếu đi gặp công an khu vực, công an phường, tôi đeo cái mặt nạ “Gọi dạ bảo vâng”. Bài học quý giá ở trong tù cải tạo còn đó, nhiều vị sĩ quan tánh tình cương trực, thẳng thắn, nhất định không chịu khuất phục trước sự tuyên truyền dối trá, lừa đảo của Việt Cộng, không chịu đeo mặt nạ. Họ đã chống đối, phản kháng, tìm cách vượt ngục, hình phạt dành cho họ là bỏ đói, hành hạ tra tấn dã man cho đến chết và sau đó là một phát súng ân huệ.
Một ngày trong đời sống quản chế của tôi xem ra chẳng có gì đáng nói, nó đều đặn, trầm lặng, như tiếng nước suối chảy róc rách trên nguồn. Sau một ngày tiếp xúc với xã hội bên ngoài, khi về đến nhà tôi cất mấy cái mặt nạ vào túi, treo lên cây đinh nơi cửa để ngày mai dùng lại.
Ở trong nhà với cha mẹ, vợ con, anh em, tôi không đeo mặt nạ, lúc bấy giờ tôi mới trở lại chính là tôi. Buổi sáng thức dậy, tôi rủng ra rủng rỉnh ngồi ăn sáng với vợ, chơi đùa với con. Thức ăn sáng của chúng tôi thường thì có bánh mì thịt hoặc trứng ốp la, khi thì bún bò do vợ tôi nấu, sau đó tôi ung dung nhấp từng ngụm cà phê sữa béo ngọt, thơm lừng. Sau bữa ăn sáng đầy đủ chất dinh dưỡng, tôi mang cái mặt nạ vào rồi đi qua gõ cửa nhà bà tổ trưởng, xin chữ ký cho phép đi làm lao động ở vườn rau tại Đa Thiện. Nhìn cái bản mặt đầy đau khổ của tôi, bà tổ trưởng vui vẻ ký vào sổ như là đã ban phát ân huệ cho một tên tiện dân nghèo đói, khốn khó.
8 giờ sáng, tôi đi ra Đa Thiện làm vườn, làm lao động để tạo ra của cải vật chất theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng và nhà nước. Chiếc xe Honda mà tôi mua đâu khoảng năm 1973 hãy còn khá mới, được lau chùi sạch sẽ để ở nhà làm cảnh. Sĩ quan Ngụy vừa mới ở tù về, đang bị quản chế mà cỡi Honda đi làm vườn, khác nào cái gai nhọn đâm vô mắt tên công an khu vực. Để được an thân, tôi chọn cách dùng chiếc xe đạp cà tàng đi làm và coi đó là phương tiện di chuyển hợp lý nhất.
Từ nhà tôi tới vườn, đường dài khoảng chừng 4 cây số, tôi vừa đạp xe vừa mơ màng nghĩ đến một ngày nào đó vượt biên thành công đến được nước Mỹ. Mơ mơ mộng mộng tôi đã đạp xe đến vườn lúc nào không hay. Tại vườn, việc đầu tiên là tôi đi tìm ông tổ phó an ninh để xin chữ ký là đã đến nơi làm việc. Lúc này nắng đã lên khá cao, tỏa ánh sáng chói lòa xuống cả một vùng thung lũng đầy những vườn rau xanh ngắt. Mọi người dân làm vườn ở đây đều thức dậy từ tờ mờ sáng, đã tưới tắm xong xuôi khu vườn của họ. Riêng tôi cho tới lúc này, mới từ tốn quay cái máy bơm nước chạy bằng dầu cặn hiệu Yanmar, tưới nước cho mấy ngàn cây bắp sú của mình. Vì tưới nước trái giờ như vậy nên rau tôi trồng không được xanh tươi, tốt đẹp, như những vườn rau chung quanh. Hàng ngày tôi chỉ làm có mỗi một việc là tưới cây, những chuyện nặng nhọc khác như cuốc lật đất, bón phân cá, dọn cỏ, xịt thuốc trừ sâu, Cúc đã thuê người chăm lo.
Trưa đến, tôi đi vào trong căn nhà nhỏ với diện tích chừng 20 mét vuông, căn nhà này Cúc thuê người dựng tạm lên ở cuối vườn, gần cái máy bơm nước, dùng để nghỉ ngơi và có chỗ ăn trưa. Sau khi rửa tay chân sạch sẽ, tôi soạn cái gà men cơm để lên bàn, Cúc đã làm sẵn cho tôi cơm canh, thịt cá, thức ăn phải nói là quá dư thừa cho một người. Tôi cắm cái bếp điện hâm nóng thức ăn. Bị ám ảnh suốt cả năm với cái đói ở trong tù, tôi xới một chén cơm trắng đầy vun, gắp miếng thịt kho trứng béo ngậy, rồi nhai chầm chậm. Tôi nhai hoài nhai mãi mà không nuốt được miếng cơm vì hình ảnh đói khát của Sơn Fulro, Trung úy Lợi và những người bạn tù cứ lẩn quẩn trong đầu, khiến tôi thấy mình như mắc nghẹn trong cổ. Cuối cùng tôi phải húp một miếng canh, nước canh cuốn trôi đi hình ảnh trại tù cải tạo, với những đói khát, nhọc nhằn mất hút trong trí nhớ. Xong bữa ăn trưa, tôi nấu nước sôi pha một ly trà, thong thả thưởng thức cái hương vị đậm đà của trà cũng như cái hậu ngòn ngọt của nó, rồi đánh một giấc thoải mái cho đến 2 hay 3 giờ chiều. Giờ này là giờ tôi phải đi tìm ông tổ phó an ninh để xin chữ ký. Để trễ hơn lỡ ông ta bận việc đi đâu mất, mình phải đợi tới khuya. Nói như vậy chứ nếu có việc, ông tổ phó thường ký cho tôi một lần hai chữ ký. Buổi chiều khi về đến nhà, tôi lại lò dò qua nhà bà tổ trưởng xin chữ ký và báo cáo mọi việc tôi đã làm trong ngày. Chuyện sau cùng là tôi kiểm soát lại, mình đã xin đầy đủ bốn chữ ký hay chưa. Những công việc này, tôi lập đi lập lại hàng ngày đều đặn như tiếng kêu tíc tắc, êm ái, của một cái đồng hồ Thụy Sĩ.
Một tuần làm việc qua đi, cuối tuần tôi lại chuẩn bị sẵn sàng một gà men cơm, trong đó cơm thì ít nhưng khoai mì và bo bo thì nhiều, cộng thêm một gói muối đậu, một chai nước lạnh, đi làm lao động không công, góp sức xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, theo lệnh của công an khu vực và tổ trưởng dân phố. Cách vài tuần lại có một lần đi làm lao động xa nhà, dưới sự hướng dẫn của cán bộ Phường, tôi cùng tất cả sĩ quan Ngụy đang bị quản chế tại thành phố Đà Lạt, khăn gói quả mướp, gạo, mắm, muối, lội bộ vào khu kinh tế mới Tà Nung cách Đà Lạt khoảng hơn 10 cây số đường rừng. Tại đây, suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật, chúng tôi khai hoang, phát cỏ, trồng khoai lang và khoai mì. Sĩ quan Ngụy bị quản chế như chúng tôi, mang cơm nhà đi lao động sản xuất, đến khi thu hoạch mùa màng sẽ do nhà nước quản lý, đó là chân lý của Xã Hội Chủ Nghĩa và chân lý đó không bao giờ thay đổi.
Tôi thi hành lệnh quản chế nghiêm chỉnh, không một chút sai sót với hy vọng sẽ được giải chế, chấm dứt chuyện một ngày phải lặn lội đi xin cho đủ bốn chữ ký. Và điều quan trọng nhất mà tôi mong đợi là khi được giải chế, mình có thể lên Phường, xin công an tờ giấy phép đi ra khỏi tỉnh. Tuy nhiên, nếu xin phép đi xuống những thành phố ở vùng duyên hải, chuyện cấp phép sẽ khó khăn hơn nhiều. Lý do thì mọi người đều hiểu rõ.
Một năm trôi qua lẹ như cái chớp mắt, mới đó mà đã đến ngày tôi được giải chế. Tối hôm ấy, tôi ăn mặc chỉnh tề đứng trước mặt mấy chục gia đình trong tổ dân phố, trên bục cao là bàn chủ tọa đoàn gồm có công an khu vực, bộ ba tam đầu chế, thư ký. Sau khi ho nhẹ vài tiếng để lấy giọng, tôi đọc to tờ tổng kết thành tích lao động cùng những công tác Xã Hội Chủ Nghĩa, mà tôi đã làm trong suốt một năm vừa qua. Khi tôi vừa dứt lời, mọi người trong tổ dân phố xì xào bàn tán xôn xao, một vài giọng nói vang lên “Cho giải chế là phải, hành hạ người ta cả năm cũng đủ rồi”.
Tôi chưa kịp vui mừng, đã thấy tên công an khu vực đứng lên, hắn đưa tay ra dấu cho mọi người hãy giữ im lặng. Tên công an đảo mắt nhìn quanh, khi thấy mọi người đều đồng lòng ủng hộ thằng sĩ quan Ngụy ác ôn, gương mặt của hắn bỗng trở nên lầm lì. Giận cá chém thớt, tên công an khu vực bèn ưu ái tặng thêm cho tôi một năm quản chế nữa, lý do hắn ta đưa ra rất giản dị “Một năm qua, đương sự tuy có chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị của nhà nước, lao động tốt nhưng về mặt tư tưởng thì không có chút tiến bộ nào. Bác Hồ có nói, Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng ta cần người hồng hơn chuyên”.
Khi nghe tên công an tuyên bố như trên, tôi tự phản tỉnh, phân tích phần nội tâm của mình. Cho đến ngày hôm nay, tôi chỉ mới sống dưới chế độ cai trị của Cộng Sản được hơn hai năm, trong đó có một năm hai tháng là ở tù cải tạo, một năm quản chế tại địa phương. Với một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy, đầu óc của tôi chưa kịp thấm nhuần tư tưởng cũng như đạo đức cách mạng, thì làm sao tôi có thể chấp nhận ngày 30 tháng tư, là ngày giải phóng. Với tôi cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, 30 tháng tư là ngày Đảng Cộng Sản đã dùng bạo lực để cướp Miền Nam Việt Nam, đặt cả nước Việt Nam dưới sự cai trị độc tài của một cái đảng không khác gì bọn thổ phỉ. Vì suy nghĩ như vậy nên tôi phải công nhận rằng, tên công an khu vực nói đúng một trăm phần trăm tư tưởng trong đầu của tôi. Hơn ai hết, tên công an này biết rõ tôi và mọi người dân đều mặc áo giấy, mang mặt nạ, chuyện lột mặt nạ của tôi, quá dễ dàng đối với hắn. Tâm phục khẩu phục, tôi vui vẻ ôm thêm một năm quản chế nữa.
Biết tôi không được giải chế, gương mặt của Cúc buồn thấy rõ rồi nói với tôi.
-Anh à, họ cứ cột chân của anh như vậy thì làm sao mình có thể về Sài Gòn, tìm đường vượt biên. Hôm qua em nghe đài BBC, có một gia đình gồm mười tám người đi trên một chiếc ghe nhỏ, vượt biển đến Úc Châu xin tỵ nạn chính trị.
Tôi an ủi Cúc.
-Hãy gắng chờ đi em, hy vọng năm tới anh sẽ được giải chế, lúc bấy giờ mình hãy tính.
Cúc bàn với tôi.
-Em đang tính chuyện sẽ dùng tiền lo lót, để tên công an khu vực giải chế cho anh. Không biết em tính như vậy có được không?
Tôi hăng hái trả lời Cúc.
-Được quá đi chớ, nhưng mà mình phải tuyệt đối cẩn thận, đừng có để chuyện tiền mất tật mang thì không tốt chút nào.
Chần chừ một lúc, Cúc cho tôi biết kế hoạch mà chúng tôi phải làm trong những ngày sắp tới. Trước hết, phải tăng phần lo lót quà tặng cho bộ ba tam đầu chế, sau đó mình sẽ gặp riêng tên công an khu vực, giúi cho hắn một cái đồng hồ hoặc một cái radio với điều kiện là năm tới, hắn phải đồng ý giải chế cho anh.
Sợ tôi không hiểu hết ý của mình, Cúc nói.
-Thực ra tên công an khu vực muốn bao nhiêu tiền, mình đều có thể cho nó được. Vì việc giải chế cho một sĩ quan Ngụy, tất cả đều do công an khu vực quyết định, nhưng nếu mình đưa quá nhiều tiền, hắn sẽ đâm ra ngờ vực, tìm hiểu về nguồn tài chánh của mình.
Tôi góp ý với Cúc.
-Em nói đúng, suốt năm qua cứ một, hai tuần, anh đưa cho tên công an khu vực một gói thuốc lá, đút lót kiểu như vậy đúng là không đủ nhét kẽ răng của con cọp, của một tên công an khu vực, có toàn quyền sinh sát trong tay. Đúng không?
Cúc gật đầu.
-Đúng vậy tụi mình ngu thiệt. Nếu mình lo lót nhiều từ năm ngoái, biết đâu anh đã được giải chế rồi.
Không được giải chế, tôi lại tà tà đạp xe đi làm vườn mà thực chất là đi xin chữ ký, chứng minh mình có làm việc. Xét ra việc tôi bị quản chế, không ít thì nhiều cũng giúp cho bà tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh cũng như tên công an khu vực, có thêm chút bận rộn, thêm công ăn việc làm.
Khoảng một tháng sau đó, theo đúng kế hoạch, vào một buổi tối nhân dịp tên công an khu vực đi thăm hỏi người dân trong tổ dân phố, mà thực chất là đi kiểm soát an ninh, tôi trịnh trọng mời hắn nán lại nhà một chút, uống ly trà rồi hãy về.
Thấy tên công an chừng như vẫn còn do dự, tôi vội nói.
-Thưa anh, vợ chồng tôi có chút quà mọn tặng anh, để cảm ơn lòng tốt mà anh đã dành cho gia đình chúng tôi.
Nghe tôi nói, tên công an đặt cái sắc cốt lên chiếc ghế sofa sau đó y khoan thai ngồi xuống.
-Có chuyện gì anh cứ nói đi.
Tôi thong thả rót nước trà vào ly, đợi cho hắn uống một hơi rồi mới nói.
-Chẳng giấu gì anh, vợ chồng tôi mang ơn anh rất nhiều, không biết lấy gì mà đền đáp.
Vừa nói tôi vừa lấy gói quà nhỏ, đựng cái đồng hồ Seiko 5 đưa cho anh ta.
-Chút quà mọn xin anh vui lòng nhận cho, tiện thể lần tới xin anh nới tay “giơ cao đánh khẽ” giúp cho tôi được giải chế.
Liếc mắt nhìn quanh, khi không thấy ai, tên công an khu vực lẹ làng nhét cái hộp quà vào sắc cốt rồi hấp tấp ra về.
Những tuần lễ sau đó, khi tôi đọc kiểm điểm hàng tuần trước tổ dân phố, thái độ của tên công an khu vực hoàn toàn đổi khác. Hắn khen ngợi tôi hết lời, nào là có tiến bộ nhanh chóng về mặt tư tưởng, đáng được biểu dương trước tổ, sau đó hắn khuyên mọi người hãy coi tôi như là một tấm gương trong việc lao động sản xuất.
Con đường giải chế của tôi đã được khai thông, tôi chỉ còn chờ kết quả.
Đã hơn 9 giờ sáng rồi, lúc bấy giờ tôi mới đi qua nhà bà tổ trưởng, tay ôm cuốn sổ “nhật ký đời tôi” mà trong người hãy còn bần thần ngầy ngật vì men rượu.
Vừa thấy tôi bà tổ trưởng đã cao giọng dạy dỗ.
-Sao hôm nay cậu đi làm trễ quá vậy?
Tôi nói với bà tổ trưởng mà cứ như là cuội nói.
-Thưa bà, tối hôm qua nhà còn mấy củ khoai đã bị thiu, nghĩ đến công lao khó nhọc của nhân dân khi trồng được củ khoai, vất đi thì tiếc cho nên tôi ăn hết luôn, ăn sạch sẽ. Sau đó suốt đêm tôi bị đi tiêu chảy liên tục cả chục lần, cho đến bây giờ mới tạm bớt. Tôi qua đây xin phép bà cho nghỉ ở nhà, mai hay mốt hết bịnh tôi sẽ đi làm lại.
Bà tổ trưởng nói với giọng lạnh lùng.
-Muốn nghỉ bệnh, phải có giấy chứng nhận của phòng y tế khu phố. Cậu đem cuốn sổ sinh hoạt của cậu lên phòng y tế ở đầu đường Phan đình Phùng, xin xác nhận đau ốm rồi đem về đây, tôi sẽ cho phép cậu nghỉ dưỡng bệnh.
Tôi vâng vâng dạ dạ rồi quay người đi. Khi đi được một đoạn khá xa, biết là bà tổ trưởng không nghe gì được, lúc bấy giờ tôi mới dám buông tiếng chửi thề cho đỡ tức.
-Mẹ bố, cái thời chết giẫm.
Tôi đạp xe đến phòng y tế của Phường, trước năm 75 đây là phòng mạch tư của một bác sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Trong phòng có hai người đàn bà bận áo choàng trắng đang làm việc. Tôi lấy số thứ tự rồi ra ngồi ngoài sân chờ đợi đến phiên mình.
Hai giờ sau, tôi được kêu vào phòng để khám bịnh. Người đàn bà trẻ mà tôi đoán là bác sĩ, đưa cho tôi tấm giấy màu vàng úa, loại giấy được tái sinh không biết là lần thứ mấy. Bà ta nói.
-Ông điền tên họ, ngày sinh tháng đẻ, nghề nghiệp và địa chỉ.
Tôi vâng dạ, mau lẹ điền giấy tờ.
Người đàn bà đọc tờ giấy rồi hỏi, câu hỏi xưa như trái đất mà nhiều người đã hỏi tôi.
-Sĩ quan Ngụy còn đang học tập cải tạo ở đâu tận Miền Bắc, tại sao ông được về sớm như vậy.
Tôi ngần ngừ một chút rồi mới nói, giọng nói nửa đùa nửa thật.
-Thưa cô, có thể là tôi có bà con theo Cách mạng.
Người đàn bà nhẹ giọng.
-Tôi là y tá Ngụy, được nhà nước lưu dung cho ở lại làm việc, lát nữa ông sẽ được bác sĩ khám bịnh.
Cô y tá nhìn vào phòng trong rồi nói.
-Nghe nói bà bác sĩ học nghề băng bó vết thương cho bịnh nhân trong mật khu, sau hơn chục năm hành nghề chăm sóc thương binh ngoài mặt trận, bà được cho lên làm bác sĩ, còn phần ngoại hình của bà thì… Tôi nói trước để cho ông biết mà chuẩn bị tinh thần.
Đúng như cô y tá lưu ý, tôi không dám nói gì về bề ngoài của bà bác sĩ, vì sợ không một ai tin những gì mà tôi nói về bà ta.
Bà bác sĩ, chỉ tôi ngồi xuống cái ghế rồi hỏi.
-Đau gì?
-Thưa bác sĩ, tôi bị đau bụng tiêu chảy.
Bà bác sĩ nhăn mặt.
-Iả chảy thì nói là ỉa chảy, ở đó mà tiêu với không tiêu. Bị hồi nào?
-Thưa bác sĩ, từ tối hôm qua.
-Đi ỉa nhiều không?
-Dạ thưa hơn mười lần.
-Cứt lỏng phải không?
-Dạ phải.
Tôi trả lời mà trong lòng nghĩ thầm, tiêu chảy mà cứt đặc sao được.
Bà bác sĩ gắn dây ống nghe vào hai tai, tay cầm cái mặt nghe hình tròn úp vào ngực của tôi, sau khi di chuyển vài lần, đầu nghiêng qua nghiêng lại, bà nói.
-Bịnh nhẹ thôi, không có gì phải lo. Hôm qua ăn rau sống tưới phân bắc mà không chịu rửa cho sạch chứ gì?
-Dạ, sao bác sĩ biết?
-Tôi là bác sĩ nên phải biết. Hồi còn ở trong mật khu tôi chữa bịnh này rất thường. Nhà ông có trồng ổi không?
Tôi nghe nhưng không hiểu, tại sao bà bác sĩ lại hỏi như vậy.
-Thưa bác sĩ, không có.
-Đi tìm nhà nào có trồng cây ổi, xin một mớ lá, nấu lên rồi uống sẽ cầm được ỉa chảy.
Từ đầu đến giờ, tôi đóng kịch là một bịnh nhân bị tiêu chảy, nên giả vờ lo lắng hỏi.
-Thưa bác sĩ, có cần sắc ba chén còn tám phân hay không?
Bà bác sĩ nói.
-Cái này là thuốc Nam, thuốc gia truyền từ ông bà để lại, đâu có phải là thuốc Bắc mà phải sắc cho cạn.
-Xin bác sĩ cho tôi một cái toa, để mua thuốc chữa bịnh ỉa chảy.
-Làm gì có nhà thuốc tây mà mua, uống nước lá ổi là được rồi.
Tôi cảm ơn bà bác sĩ, rồi đưa cuốn sổ sinh hoạt hàng ngày của tôi cho bà.
-Nhờ bác sĩ ký vào đây, cho tôi được nghỉ phép vài ngày, đợi khi hết bịnh tôi sẽ đi làm việc lại.
Bà bác sĩ cầm cuốn sổ lật qua rồi lật lại, sau một hồi cố gắng rặn được vài chữ “Sổ sinh hoạt”. Bà chắt lưỡi.
-Chuyện giấy tờ đem ra ngoài, con y tá nó làm cho.
Tôi cầm cuốn sổ, cảm ơn bà bác sĩ rồi đi ra, bên tai còn nghe tiếng càu nhàu “Cái lũ Ngụy này, đứa nào cũng mắc cái bịnh cảm ơn”.
Trên đường về nhà, tôi vừa đạp xe vừa nghĩ đến chuyện phải sống suốt đời trong một xã hội, khi đau ốm đến bệnh viện được một bà bác sĩ chưa chắc đã học xong bậc tiểu học, miệng nhai trầu, tai đeo ống nghe, khám cho bịnh nhân. Cũng trong lúc đó có hàng trăm, hàng ngàn ông bác sĩ tốt nghiệp Y khoa đại học bị lùa vô những cái nhà tù tận trong rừng sâu núi thẳm gọi là trại cải tạo, sáng trưa chiều tối đốn tre, chặt củi, cuốc đất trồng khoai. Tự nhiên, tôi có cảm tưởng là mình đang bị ỉa chảy trong quần.
Liên tiếp ba ngày, tôi nằm nghỉ thoải mái ở trong nhà. Buổi sáng tôi ngồi trên sân thượng ăn sáng với vợ con, uống cà phê, nhìn đỉnh núi Lâm Viên mù mờ trong sương mà lòng thảnh thơi nhẹ nhõm. Được sống sung sướng, bỗng dưng tôi nhớ đến bạn bè, nhớ Long công tử, Nhân đầu bạc, không biết giờ này tụi nó ở đâu.
Hai giờ chiều, tôi ôm cuốn sổ sinh hoạt hàng ngày đi qua nhà bà tổ trưởng.
-Thưa bà, bịnh của tôi đã thuyên giảm khá nhiều, ngày mai tôi sẽ đi làm, còn lại buổi chiều hôm nay xin bà cho tôi được đi ciné.
Phải mất một lúc chần chờ, lưỡng lự, bà tổ trưởng mới gật đầu. Với giọng nói của một con vẹt Cách mạng 30, bà ta lên giọng dạy dỗ.
-Sĩ quan Ngụy như cậu phải coi phim “Thép đã tôi thế đấy” của Liên Xô, đang chiếu ở rạp ciné Hòa Bình. Coi để biết con người Cộng Sản “Ba veo cót sa gin” đã được tôi luyện như thế nào, lấy đó mà làm gương.
Tôi cảm ơn bà tổ trưởng đã chỉ dạy. Ở trong tù, tôi đã được cán bộ quản giáo ca ngợi về cái tên Ba veo này nhiều rồi, nghe nhiều đến độ bị iả chảy luôn.
Sau khi nói với vợ là mình sẽ đi thăm má của một người bạn, tôi thả bộ dọc theo con dốc Minh Mạng lên khu Hòa Bình. Thay vì mua vé vào coi ciné, coi phim anh “Ba veo cót sa gin” ngu xuẩn nào đó của Liên Xô, có đầu mà không có óc, một anh Việt Nam lấy thân mình chèn pháo, thì anh Liên Xô lại chui đầu vào lò lửa Cộng Sản để tôi luyện cho thành thép. Tôi quẹo qua đường Hàm Nghi, đi quá nhà thờ Tin Lành một đoạn khá xa, tìm tới căn nhà của Nhân đầu bạc, nằm phía bên trái thấp hơn mặt đường một chút.
Dễ chừng cả chục năm rồi tôi mới gặp lại má của Nhân, bà cụ già đi thấy rõ trong bộ bà ba rộng thùng thình, bạc màu thời gian. Nhìn tôi một hồi lâu, bà hỏi.
-Có phải con là thằng cục bột không?
Tôi quá mừng vì bà còn nhận ra tôi.
-Dạ thưa bác đúng, con là thằng cục bột đây.
Nói xong, tôi cầm tay bà.
-Bác có khỏe không?
-Mày nhìn bác là biết rồi, khỏe sao được khi thằng Nhân còn ở tù mãi tận đâu đâu. Nó về là bác khỏe ngay.
Tôi mau mắn hỏi bà.
-Nhân học tập cải tạo ở đâu vậy bác? Theo con biết, sĩ quan Ngụy ở mấy tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy, đều bị lùa vô trại tù Sông Mao. Ở đó con tìm hoài mà không thấy Nhân, nên cứ nghĩ là nó đã đi Mỹ vào tháng tư năm bảy lăm rồi.
Má của Nhân thở dài.
-Đi đâu mà đi, được đi Mỹ đã là phước, thằng Nhân còn đang học tập cải tạo. Mà nè, ở Đà Lạt này bác chưa thấy một ông sĩ quan nào đi tù được thả về. Sao con về sớm vậy?
Tôi không biết phải trả lời như thế nào về câu hỏi của bà, chục người gặp tôi thì cả chục đều hỏi như vậy. Không muốn giải thích dài dòng về chuyện này, tôi đưa tay gãi đầu.
-Thưa bác, khó mà biết được mấy ông Việt Cộng dựa theo tiêu chuẩn nào để thả người. Theo sự suy đoán của con thì những sĩ quan được cho về sớm, đa số thuộc thành phần có bà con theo mấy ổng. Và những ông sĩ quan ngày trước khi còn là lính Việt Nam Cộng Hòa không liên quan đến ngành Chiến Tranh Chính Trị, Tình báo, Quân báo…Đại khái là như vậy. Có thể con là lính văn phòng, làm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, nên được cho về sớm.
Tôi ngưng nói, nhìn má của Nhân một lúc rồi mới hỏi.
-Thưa bác, hôm nay con đến đây trước là thăm bác, sau đó là hỏi về tình trạng của Nhân.
Má của Nhân đầu bạc với nét mặt rầu rầu.
-Chuyện có hơi dài dòng, con vô nhà ngồi uống miếng nước, từ từ bác sẽ kể cho con nghe rõ ràng mọi chuyện.
Tôi theo chân má của Nhân đi vào nhà, nhìn dáng người ốm yếu của bà đi xiên qua xẹo lại như muốn té, tôi đỡ lấy cánh tay của bà rồi giữ chặt. Cánh tay của bà chỉ có xương là xương, tự nhiên trong lòng tôi bỗng xót xa, thương cho hoàn cảnh neo đơn của một bà mẹ già, sống một mình trong căn nhà khá là to lớn mòn mỏi đợi chờ con.
Ngồi xuống ghế sofa nơi phòng khách, chỉ chiếc ghế bên cạnh, ra dấu cho tôi ngồi xuống, má của Nhân rót cho tôi ly nước lọc rồi từ tốn nói.
-Đầu tháng tư năm ngoái, khi người dân Đà Lạt ùn ùn kéo nhau di tản về Sài Gòn, thành phố Đà Lạt như là cái thành phố ma. Bác ở lại đây, lý do khiến bác không đi là vì không bà con, không thân nhân ở Sài Gòn, hơn nữa gia tài của bác như là nhà cửa với bao nhiêu là hàng hóa, vải vóc, một đời tốn công xây dựng, bỏ đi không đành. Một tháng sau, khi mà loa phát thanh của Việt Cộng loan báo là Sài Gòn đã đầu hàng, bác rất vui mừng vì tin rằng hết chiến tranh rồi, mẹ con sẽ được đoàn tụ.
Má của Nhân đầu bạc ngưng nói, bà thong thả nhấp một hớp nước rồi than thở.
-Bác chờ đợi với hy vọng chỉ năm mười ngày nữa, sẽ gặp lại thằng Nhân con của bác. Bác chờ một tháng, hai tháng, rồi ba tháng, hy vọng gặp lại con của mình cứ như ngọn đèn dầu mỗi ngày một cạn, nhiều lúc bác tưởng như hy vọng đã tắt mất. Trong những lúc tuyệt vọng, bác tự lừa dối mình, tự an ủi mình, chắc thằng Nhân đã đi Mỹ rồi, và vì hai nước cách xa ngàn dặm lại là kẻ thù của nhau, nên nó chưa viết thư cho bác được. Bác biết rõ thằng Nhân tuy cứng đầu, nghịch ngợm, ưa phá phách nhưng nó là một đứa con có hiếu. Nếu không đi Mỹ thì nó đã về lại Đà Lạt để gặp mẹ của nó rồi. Khi mà sự chờ đợi của bác đã đến chỗ tuyệt vọng thì bác nhận được tin của thằng Nhân, do một cô gái đưa tới.
Má của Nhân làm một cử chỉ như mệt mỏi.
-Chuyện nói ra đây bác còn không tin, thì làm sao con tin cho được. Phải không? Một buổi chiều nọ, đâu khoảng giữa tháng chín năm ngoái, lúc bác đang còn ăn dở bữa cơm thì có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ nhè nhẹ, rụt rè, gõ cửa mà như không dám gõ. Bác lớn tiếng hỏi “Ai đó?” Một giọng nói dịu dàng trả lời “Thưa bác, con” Khi cánh cửa được mở ra, trước mặt bác là một con bé mặt mày sáng sủa xinh xắn, trông thật dễ thương, trên tay cầm một bức thư “Thưa, bác có phải là mẹ của anh Nhân không? Anh Nhân nói con đưa bức thư này cho bác”.
Đang kể chuyện xưa, đôi mắt của má Nhân đầu bạc chợt sáng rực lên, bà tươi cười nói với tôi.
-Con có biết không, bác như người sắp chết đuối mà chụp được cái phao. Có thư của thằng Nhân, có nghĩa là nó còn sống. Không câu nệ, bác nắm tay con bé lôi tuốt vô nhà. Vì quá nóng lòng cho nên bác vừa đi vừa hỏi con bé về tin tức của thằng Nhân. Trái với cái hấp tấp của bác muốn biết mọi chuyện ngay lập tức, con bé rụt rè đưa bức thư. Không thể nói gì hơn, bác ngồi xuống ghế sofa.
Má của Nhân đưa tay vỗ vào thành ghế.
-Bác ngồi xuống cái ghế này nè, rồi mới từ từ đọc thư của thằng Nhân. Bức thư viết ngày hai bốn tháng sáu năm bảy lăm. Thư viết ngắn gọn, hình như được viết trong úc vội vàng. Trong thư nó hỏi thăm sức khỏe của bác, và nói rằng nó phải đi trình diện học tập mười ngày tại Sài Gòn. Nhân cũng nhắn với bác một điều quan trọng, người con gái cầm bức thư này là vợ của nó. Đọc xong bức thư, tâm trạng của bác lúc bấy giờ rối bời như mớ bòng bong. Mừng vì có được đứa con dâu, buồn vì không biết thằng con đang học tập cải tạo ở đâu. Bác nhìn lên, con bé vẫn còn đứng đó, lúc này bác mới nhớ ra là mình thật là vô ý, quên nói cho con bé ngồi.
Tôi đang chăm chú nghe má của Nhân đầu bạc nói chuyện, bất chợt có tiếng mở cửa rồi một người con gái xuất hiện với cái bị giấy trên tay.
-Má nè, con mua cho má…
Tôi nhìn người con gái với cái nhìn đầy ngạc nhiên, cô bạn cùng lớp với tôi tên Vân trên Viện Đại Học, là người con gái mà má Nhân đang nói đến. Quá vui mừng vì biết Nhân đã lấy Vân, tôi nói.
-Chào chị Vân.
Khi thấy tôi, với đôi mắt tròn xoe đầy kinh ngạc, Vân hỏi.
-Anh Quân tới đây hồi nào?
Hỏi để mà hỏi, không đợi tôi trả lời, Vân quay sang má của Nhân.
-Má cũng biết anh Quân nữa sao? Có tin tức của anh Nhân hả Má?
Má của Nhân nói với Vân.
-Cái thằng cục bột này là bạn của thằng Nhân từ hồi nhỏ, nó mới học tập cải tạo về, đến đây thăm má, tiện thể nó hỏi thăm tin tức của thằng Nhân. Ủa… mà tụi bây cũng biết nhau nữa sao?
Vân nhanh nhẩu trả lời.
-Dạ, tụi con học cùng lớp ở Viện Đại Học Đà Lạt. Đâu khoảng cuối năm bảy hai, con và anh Quân tình cờ gặp anh Nhân ở cà phê Hạnh Tâm.
Với gương mặt đầy bẽn lẽn, Vân nói với má Nhân.
-Lần đầu tiên gặp chồng con, má biết không, con thương ảnh liền.
Má của Nhân với nụ cười đầy vẻ thích thú.
-Cái thằng đó có gì mà con thương, nó chỉ được cái lông bông lêu bêu là giỏi.
Vân cười.
-Tại má không để ý, bụt chùa nhà không thiêng, nên má mới nói như vậy. Một ông trung úy Thủy Quân Lục Chiến với gương mặt dày dạn nắng mưa, lại thêm cái tính khí hào hùng, coi trời bằng vung. Bị thương nơi chân, anh Nhân không nói mình bị thương mà xắn cái ống quần rằn ri lên, chỉ vào vết thương còn quấn băng trắng rồi nói “Cổ Thành Quảng Trị”. Cái hành động đem nguyên một ngôi thành cổ đặt lên vết thương của mình, dưới mắt của con, nếu đem so với người hùng Từ Hải, thì chưa biết ai mới là anh hùng.
Má của Nhân ngắt lời Vân.
-Mày chỉ được cái mê chồng, trước mặt khách mà cứ bô bô cái miệng. Má đang nói cho thằng Quân nghe về chuyện con với chồng con ở Sài Gòn, sau đó chỉ một mình con về đây. Con hãy kể cho Quân nghe về chuyện chồng của con đi học tập như thế nào. Má đâu có biết nhiều về Sài Gòn, sợ nói không được rõ ràng.
Vân ngồi xuống bên cạnh má của Nhân, nắm tay bà rồi bắt đầu câu chuyện.
-Vào khoảng hai mươi tám tháng tư, năm bảy lăm, anh Nhân tới sạp vải của dì Yến trong chợ Bến Thành tìm em với bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến, súng đạn đầy người. Tụi em mới nói với nhau được vài câu thì hai người lính của anh Nhân từ ngoài chạy vào “Ông thầy, mình phải đi gấp, đại bàng cần gặp ông, xe jeep đang đợi bên ngoài”. Em chỉ kịp đưa cho anh Nhân địa chỉ của nhà dì Yến ở Sài Gòn, với lời nhắn “Em đợi anh ở nhà dì”. Ba giờ chiều ngày ba mươi tháng tư, anh Nhân tới nhà dì Yến tìm em. Trên người anh chỉ mặc có cái áo may ô màu nhà binh và một cái quần dài rằn ri của Thủy Quân Lục Chiến, tệ hơn nữa là đi chân đất, không có lấy đôi dép mà mang. Em phải lấy bộ đồ dân sự của ông dượng đưa cho anh Nhân mặc tạm.
Má của Nhân hỏi.
-Tại sao thằng Nhân phải ăn mặc như vậy?
Vân trả lời.
-Má ở Đà Lạt nên không biết đâu, đang đánh nhau bỗng dưng nghe lệnh của Tổng Thống kêu gọi trên đài phát thanh, quân nhân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hãy buông súng đầu hàng, chờ bàn giao. Sau đó là hình ảnh thê thảm của Sài Gòn với một đạo quân rã ngũ, súng đạn quần áo lính vứt lăn lóc đầy đường, trong khi dân chúng kẻ xuôi người ngược, chạy mà không biết chạy đi đâu. Ba mươi tháng tư, Sài Gòn hổn loạn như vậy đó.
Vân quay qua nói với tôi.
-Mấy ngày sau đó, em chở anh Nhân đi đăng ký theo lệnh của chính quyền mới. Anh Nhân đi vào Trường trung học Gia Long ở đường Phan Thanh Giản, chừng một giờ sau đi ra với tấm giấy to bằng bàn tay chứng nhận đã trình diện, được cho về địa phương chờ lệnh mới. Anh Nhân không muốn về Đà Lạt, với lý luận là ở Sài Gòn xô bồ phức tạp, dầu gì cũng dễ thở hơn cái xứ Đà Lạt nhỏ bé. Lính Thủy Quân Lục Chiến như anh khó mà an thân với đám du kích địa phương, đám Việt Cộng nằm vùng. Mấy ngày sau đó, tụi em tổ chức đám cưới mà chủ hôn là dì Yến, quan khách là mấy người hàng xóm của dì.
Vân quay người ôm má của Nhân.
-Tụi con lấy nhau mà không hỏi ý kiến của má, vì tình hình lúc bấy giờ không cho phép. Ngày hai mươi bốn tháng sáu năm bảy lăm, anh Nhân theo lệnh gọi trình diện học tập mười ngày. Trước khi đi anh viết một bức thư gởi cho má, xin má tha lỗi cũng như xin má nhận con là con dâu.
Tôi hỏi Vân.
-Từ năm ngoái tới giờ, chị có nhận tin tức gì của Nhân không?
Vân suy nghĩ một lúc rồi mới trả lời.
-Tháng ba vừa rồi, em và má có đi thăm nuôi anh Nhân ở Long Khánh, trong lần thăm nuôi đó, anh Nhân cho biết là ngay đêm trình diện ở Trường nữ trung học Gia Long, anh cùng các bạn tù bị đưa lên Trảng Lớn, nhốt ở đó đâu hơn ba tháng, sau đó được chuyển trại về Long Khánh và ở trại đó cho đến khi được thăm nuôi. Sau lần em và má gặp anh Nhân ở Long Khánh cho đến bây giờ thì hoàn toàn bặt tin, không biết anh Nhân còn ở đó hay đã chuyển đi trại tù khác rồi.
Thấy không còn gì phải nói, tôi xin phép má của Nhân đầu bạc và Vân rồi ra về. Tiễn tôi ra cửa, cả hai người đứng nhìn theo mà không chịu vào nhà. Hình ảnh của hai người đàn bà, một già một trẻ tựa cửa, một trông ngóng con, một chờ đợi chồng đang học tập cải tạo không biết khi nào mới về, trông thật não lòng.
Buổi chiều mùa thu Đà Lạt mang chút gió vàng lành lạnh, mây xám giăng mờ khắp nẻo, tôi đi trong tiếng chuông thu không từ chùa Linh Sơn nương theo gió vang vọng đến bên tai. Tiếng chuông trầm trầm lắng đọng nghe sao mà rầu đến não ruột. Đột nhiên bài hát “Lối về đất mẹ” mà tôi đã được nghe một nam ca sĩ nổi danh gốc ở Quảng Trị, hát bài này nhiều lần trong quá khứ “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử, vợ trông chồng lên núi Vọng Phu ..”. Câu hát với lối chơi chữ nghe như câu ca dao nhẹ nhàng, êm đềm, thêm giọng ca trầm ấm của ông ca sĩ nghe sao mà buồn thấm thía, thấm tận đến xương tủy.
Người áo lam xoay mình bỏ chân xuống khỏi tảng đá đứng lên, người áo gụ thong thả bỏ những quân cờ vào trong chiếc túi vải, nét mặt thản nhiên:
– Sao hôm nay không thấy Nguyễn lão lên núi hay là hai vị đã dời khỏi. Tin của Vương tiên sinh cũng không thấy.
– Tôi nghe tin Vương tiên sinh đã vào kinh, đức vua giáng chỉ đòi vào, không biết việc chi, có thể Vương tiền sinh sẽ được giao phó một trọng trách, trong triều đang thiếu người. Nhưng tôi chắc Vương tiên sinh không nhận.
– Đây đâu phải là lần đầu, nhưng sợ lần này tiên sinh không thoái thác được nữa, như Nguyễn lão đó, bao nhiêu lần cáo bệnh, nhận rồi thôi mà nào đức vua có cho. Trông bề mặt thì tưởng chiêu hiền đãi sĩ lắm nhưng chính là muốn tránh, sợ một mưu đồ gì, ai chẳng biết trước đây Nguyễn lão đã từng chiêu binh mãi mã quy tụ anh hùng.
Người áo gụ bỏ chiếc túi vào trong một cái túi lớn đeo lên vai đứng lên chậm chạp. Người áo lam cầm chiếc gậy trúc chỉ về phía mặt trời lặn:
– Cảnh thật kỳ thú, tạo vật muôn hình ngàn vẻ, bao nhiêu buổi chiều đứng trên núi này nhìn cảnh vật tôi chưa thấy cảnh trời hôm nào giống hôm nào; mỗi lúc một khác, biến chuyển khôn cùng, không họa sĩ nào có thể làm được công việc ấy. Ông thấy không, núi tím, mây đỏ, sương chiều nhuộm hồng lên cảnh vật…
– Thôi mình xuống núi, trời cũng sắp tối, có lẽ ông lên đây cũng chưa lâu, gần hai mươi năm nay rồi tôi không lạ với cảnh đó nữa, lúc ông còn ở ngoài Sơn Nam Hạ tôi đã nói với ông đó, quanh quẩn ở dưới đó với những bụi bặm đâu phải là một cuộc đời đáng sống, trời đất dành cho ta bao nhiêu lạc thú mà chỉ tại ta không biết hưởng mà thôi, lên đây rồi tôi có bao giờ muốn trở xuống nữa đâu. Chỉ tội cho Vương tiên sinh muốn ở đây cũng không được, không vâng chỉ vào triều thì gia đình không yên, tôi chắc có đứa nào nó lại bẩm tấu gì đó, tôi sợ một hôm nào họ lại tìm mình, tôi không để cho họ tìm được, tôi đi luôn là hết, ý ông thế nào?
– Ông thì có thể đi luôn nhưng Vương tiên sinh không thể làm vậy, đâu phải chỉ một thân một mình như ông, Vương tiên sinh còn mẹ già, em dại. Làm sao để bỏ đi trong hoàn cảnh đó, rồi những người thân ấy có được yên thân hay không? Hôm trước đây Vương tiên sinh có thở dài với tôi: đâu phải ai cũng có thể lựa chọn sống được hoàn toàn theo ý mình.
Hai người lửng thửng xuống núi, giọng người ảo lam trầm mặc:
– Thiên lý ly gia lữ mộng tri,
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn
Triều vân danh lợi nhãn tiền phi 1
. ………
Cảnh hoàng hôn đượm một vẻ gì huyền bí, những ngọn núi thẫm, những lùm cây mờ mờ trong ánh sáng yếu ớt của những tia nắng cuối cùng còn sót lại. Mặt trời đỏ ối chỉ còn lại một chút leo trên viền một ngọn núi xa ở đó màu trời như một miếng huyết tươi. Trong con đường xuống núi nhỏ hẹp, những ghềnh đá cheo leo, những tàn cây che rậm rạp, hai bóng người mờ mờ lúc ẩn lúc hiện như bóng những đạo sĩ trên con đường tới một cõi bồng lai.
Trong không khí im lặng chỉ chốc chốc một vài tiếng chim rừng rời rạc vang lên tưởng như chốn rừng núi này đã xa rời hẳn với cuộc đời. Có lúc ngưới áo lam ghé lại trong giây lát bên những khóm hoa rừng, những loài hoa lạ không tên gọi như để thưởng thức hương thơm ngọt ngào hoang dã của nó, có lúc tiếng ngâm thơ sang sảng vang lên trong không khí tịch mịch cô liêu. Hai người xuống hết con đường núi, họ lẫn hẳn vào trong khu rừng cây và sau đó họ tới một con suối nhỏ, cả hai người không nói với nhau nhưng cùng dừng lại, họ cởi bỏ quần áo rồi lội xuống dòng suối mà tắm trước khi qua bên kia trên con đường trở về. Người áo lam nói:
– Chúng ta ghé lại nhà Nguyễn lão chơi, câu thơ hôm trước đây mà Nguyễn lão nói với tôi quả là nó không được chỉnh, thực nó vẫn còn bịn rịn với đời sống nhiều quá, mình vẫn có ý chạy khỏi đời sống chứ chưa phải là người vượt thoát ra khỏi nó. Ý của Nguyễn lão khiến tôi nhận ra tôi rõ hơn.
– Tôi cũng muốn ghé lại nghe tin của Vương tiên sinh. Biết đâu chúng ta không gặp một số cố nhân. Mấy hôm nay không gặp Nguyễn lão có khi một tri âm nào mới tới với những canh rượu không tàn cũng nên.
Hai bóng người bắt đầu đi vào giữa những ruộng rẫy rồi tới một khu trại với những cây lớn vây quanh, trong một căn nhà nhỏ cùng với những căn nhà khác vây lấy nhau hai người đã nhìn thấy ánh lửa.
Người áo gụ nói:
– Đúng là Nguyễn lão có tri kỷ.
Người áo lam mỉm cười:
– Chúng ta lại được một chầu rượu túy lúy.
Hai người vượt qua cửa tre vào trong sân nhà. Nơi hiên rộng của nhà khách, trên một chiếc chõng tre có ba người đang ngồi bên một mâm rượu. Tiếng Nguyễn lão vang lên.
– Hay quá, không ngờ lại có tri âm đến nữa.
– Nghe thiên hạ đồn nơi đây có những người đang mưu đồ nên ghé lại…
Những tiếng cười hòa lẫn với nhau:
– Chúng tôi đang mưu đồ xem làm cách nào mà thanh toán được hết những bình rượu cúc từ miền ngoài gửi vào đây.
Sau khi chào hỏi, giới thiệu, phân ngôi chủ khách cả năm người ngồi xuống tiếp tục cuộc rượu, Nguyễn lão nói:
– Hai bạn tôi đây đều từ ngoài trấn Sơn vào. Cao huynh trước làm giáo thọ, còn Đặng huynh lấy chuyện phiêu lưu thiên hạ làm thú. Cả hai nghe nói vùng Hồng Lĩnh có lắm cảnh đẹp nên vào chơi cho biết nước non mình. Hai huynh vừa ở trên núi xuống?
– Vâng, sao mấy hôm không thấy Nguyễn lão lên núi.
– Chiều nay chúng tôi tới bờ suối rồi trở về.
– Có tin gì của Vương tiên sinh không ạ?
– Không, tôi nghe nói Vương tiên sinh đã vào đến Kinh bình yên, chắc phen này Vương tiên sinh phải nhận công việc gì đó do đức vua giao phó. Không nhận cũng không được dù đó chỉ là một hư vị. Quả đức vua chưa tin những kẻ sĩ đàng ngoài, đã như thế thì công việc triều chính còn nhiều nghi kỵ lắm.
Người họ Cao bỏ ly rượu xuống nói:
– Làm thế nào được trong lúc triều đình biết rằng kẻ Đàng Ngoài còn tưởng nhớ nhà Lê và không phục tòng triều đình như đức vua mong muốn. Bao nhiêu dấy loạn từ bấy đến nay…
Người họ Đặng nói:
– Chúng ta để ý đến chuyện đó làm gì cho mất cả vui trong một bữa rượu hiếm có như thế này.
Người áo gụ nói:
– Núi rừng mỗi lúc một thưa bạn, có lẽ tới lúc cả một vùng cây cỏ đáng yêu, núi non hùng vĩ chỉ còn một mình tôi thơ thẩn chẳng còn bạn để chơi một ván cờ, nghe một khúc hát…
Người họ Đặng cướp lời:
– Huynh đừng lo, nếu không còn ai đệ xin được ở đây làm bạn cùng huynh, chỉ sợ huynh không chịu thôi.
– Sao lại không?
Nguyễn lão như chợt nhớ điều gì, liền hỏi:
– Hôm nay hai vị có thấy ai lên núi không?
Người áo gụ nói:
– Có, giữa lúc tôi lên núi thì gặp một người trung niên cùng lên, người đó cúi đầu chào tôi, tôi đáp lễ, tôi cố moi óc xem đã gặp bao giờ không nhưng tuyệt nhiên không nhớ chút gì, chừng như một người ở xa mới tới, không phải người trong vùng này. Khi tôi bắt đầu leo con đường núi thì thấy hắn đi xuống, hắn cúi chào tôi, tôi ngạc nhiên vì đang mãi nghĩ, tôi thấy hắn mỉm cười kín đáo. Hắn mặc một chiếc áo màu lam như của tôi nhưng hai vai đã bạc, hắn đeo một cái túi lớn, trông hắn khoảng ba mươi gì đó.
– Chính là người chúng tôi đã gặp, chúng tôi gặp bên bờ suối, lúc chúng tôi tới nơi thì hắn đang ngồi trên một tảng đá, hai chân bỏ xuống nước nghịch ngợm một cách thích thủ, mới đầu tôi tưởng bác tiều phu, nhưng nhìn lại tôi thấy không phải là người tiều phu tôi vẫn gặp, hắn không mang đồ nghề của một người đốn củi trong rừng, trông hắn như một thư sinh.
Người họ Cao nhăn mày rồi nói với một giọng cứng:
– Một thư sinh! Nói một thư sinh thì không đúng, tôi trông đó là một tráng sĩ, đúng là một tráng sĩ đã từng trải gió sương, từng quen với gian nguy hiểm nghèo, trông mặt ấy tôi thấy không phải là một thư sinh mặt trắng chỉ vùi đầu vào đèn sách, nhai đi nhai lại những tiếng chi hồ giả dã. Không, hắn không thể là một thư sinh.
Người áo lam chăm chú nhìn người họ Cao, nét mặt, khóe nhìn, đôi mắt xếch, vầng trán rộng những nếp nhăn, tiếng nói đanh thép:
– Nhưng chắc chắn là một người có học.
– Vâng, một người có học và đã vượt ra khỏi những gì ở nơi trường ốc lúng túng ngượng ngập. Hắn có cái dáng dấp của một người đã lớn, đã vượt ra, đã vùng vẫy, đã nghĩ và biết mình đang sống như thế nào, đang đi tới đâu, đang muốn gì. Hắn có cái vững chãi tự tin, có cái nền nếp phóng khoáng. Trông hắn còn trẻ nhưng đã già trước tuổi, đó là những người thuộc hạng khiến ta không biết rõ được tuổi thật của hắn…
Người họ Cao trầm xuống trong dáng suy nghĩ. Người áo gụ nói:
– Trông hắn cũng tiên phong đạo cốt lắm đấy chứ, tôi thấy dáng hắn đi như một đạo sĩ thân thiết với thiên nhiên, cái vẻ thong dong của hắn tưởng như một kẻ đã thoát khỏi tất cả, đã quên đời, tôi nghĩ hắn là một đồ đệ của Trang Lão đi trốn đời.
Người họ Đặng cướp lời vẻ hồ nghi.
– Trông hắn còn trẻ như vậy mà đã chán đời sao?
– Chán đời đâu phải dành riêng cho những người già, mà sao lại gọi là chán đời được. Chán đời tức là còn ham đời mà ham không được, phải nói là hắn thoát khỏi, hắn vượt ra được. Ngay cho đến Trang Lão cũng chẳng ai là chán đời cả, họ vui sống…
Người họ Cao nhìn Nguyễn lão:
– Từ nãy tới giờ chúng ta chưa thấy Nguyễn lão nói gì về người này, chẳng hay theo Nguyễn lão thì hắn là người ra sao?
Từ đầu tới giờ Nguyễn lão thu mình ngồi dựa lưng vào trong vách nhà lắng nghe câu chuyện giữa mọi người, Nguyễn lão với lấy ly rượu hớp một chút, nhìn người họ Cao:
– Như tôi đã nói, tôi gặp hắn ngồi bên bờ suối, thấy tôi hắn vội vã đứng dậy cúi chào, lúc đó chúng tôi sắp xuống suối tắm, quần áo không được chỉnh tề, tôi nói xin lỗi tráng sĩ, chúng tôi tưởng nơi này là giang sơn của những người như chúng tôi, không ngờ lại gặp khách nơi đây xin thứ lỗi cho. Hắn nói xin lão trượng thứ lỗi, lão trượng cứ tự nhiên. Tôi nói chúng ta cùng xuống tắm, dòng suối này tốt lắm, ngày nào chúng tôi cũng tới đây tắm. Hắn nghe nói thì thích lắm, hắn cởi quần áo rồi lao mình xuống dòng nước, hắn vùng vẫy với vẻ thỏa thích trong khi chúng tòi tắm một cách im lặng. Hắn nói đã tắm nhiều dòng suối mà chưa thấy con suối nào có nước trong mát như ở đây, có lúc hắn bơi lên tận mãi phía trên, có lúc hắn lặn xuống mất tăm rất lâu. Tôi trông hắn không khác chi tôi hồi nhỏ tuổi nô đùa cùng với những mục đồng.
Hắn nói hắn đã đi nhiều mà chưa thấy đâu núi non hùng vĩ như ở đây, mắt hắn có lúc sáng lên có lúc sẫm lại bất chợt, tiếng cười có lúc vang lên hồn nhiên trong sáng, có lúc tôi chỉ thấy hắn nhếch miệng trễ biếng mệt nhọc vẻ ngạo mạn khinh đời. Tôi định hỏi xem hắn ở đâu tới, tới đây làm gì và sau đó đi đâu, nhưng hắn không lúc nào ngừng lại, không lúc nào để cho người khác có cơ hội hỏi hắn.
Người áo lam nói:
– Trông hắn tôi nghĩ hắn phải là con một gia đình có nền nếp, có học chữ thánh hiền nhưng chắc không yên với những gì hắn có nên lấy phiêu lưu làm thú, lấy núi non làm bạn. Giữa thời buổi nhiễu nhương này những kẻ có học lựa chọn con đường ấy không ít. Nhưng dù vậy trong lòng hắn vẫn không hết suy tư lo nghĩ…
Người họ Đặng giọng mỉa mai:
– Biết đâu đó chỉ là một kẻ thất chí trên đường công danh sự nghiệp đi tìm sự lãng quên, hay một kẻ đã ngày đêm vùi mình vào những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, cho tới một lúc không tìm thấy gì nữa trong chốn bùn nhơ… Trước đây tôi ra Thăng Long, trông cảnh tượng mà buồn, nơi ngàn năm văn vật nay còn đâu nữa, chừng như những tao nhân mặc khách, những kẻ sĩ nền nếp không còn nữa mà chỉ còn lại những con nhà hư hỏng, hoặc là những con nhà khoa bảng đã suy tàn không giữ được gia phong, hoặc là con những kẻ buôn bán quê mùa, cũng đi học đấy nhưng không biết thế nào là đạo thánh hiền nữa, chúng ăn chơi trác táng biến nơi cố đô thành một nơi du hí… Nhìn cảnh đó tôi không khỏi đau lòng… Tôi nghĩ hắn là một kẻ trong đám đó, một hôm nào nhìn thấy mình, muốn làm một cái gì, nhưng hắn hiểu rằng hắn chỉ là một hạt cát, hắn không thể trở lại đời sống mà hắn đã chán ngán, nhưng hắn cũng bất lực, và không làm gì khác hơn là khăn gói lên vai…
Nguyễn lão nói:
– Hắn là người đàng ngoài, nhưng hắn khăn gói lên vai để làm gì, mà tại sao hắn tới đây?
– Hắn đi đây đi đó cho nguôi ngoa.
– Tôi không tin thế. Lúc hắn lấy quần áo sang bên suối tôi thấy như có một cây gươm bỏ trong một cái bao, tôi hỏi chừng như tiên sinh biết thổi ống tiêu, hắn nhìn tôi dò xét rồi nói tôi không biết thổi ống tiêu, chắc tiên sinh thích âm nhạc lắm, tôi chỉ vào bao của hắn nói, tại tôi trông cái kia như ống tiêu nên hỏi, hắn cười kín đáo không trả lời. Biết đâu hắn lại không đến đây trong mưu đồ nào đó, tôi không thấy ở hắn một dấu hiệu gì rằng hắn là một kẻ trốn đời, một kẻ phiêu, du, một kẻ đã không còn cho mình ở lại với đời sống nữa.
– Biết đâu hắn không là quân đạo tặc, hắn trốn đến đây để thoát khỏi sự lùng bắt của quan quân, thiếu gì những kẻ bất lương cùng đường vào núi tìm nơi ẩn dật chờ thời, nếp áo đạo sĩ nhiều khi chỉ để che đi cái tướng ăn cướp của họ.
– Tôi tin hắn không thể thuộc hạng người đỏ. Vả tình cảnh xã hội mình, những kẻ ăn cướp ban ngày, thiếu gì, chúng nó ăn trộm, lấy của giết người ngay giữa chợ mà nào có ai dám động đến, trong tình cảnh như thế thì cần gì phải trốn cho mất công. Bọn ăn cướp sống sung sướng đã quen hắn không làm ăn được ở nơi này thì tới nơi khác làm ăn chứ đời nào lại vào chốn thâm sơn cùng cốc thế này làm gì, hắn vào để ăn cướp bọn mình, hay ngoạm đá mà sống. Trông phong thái hắn không phải là quân trộm cướp được.
– Như vậy tức Cao huynh nghĩ hắn vào đây để mưu đồ việc lớn chăng? Hắn mưu đồ việc lớn mà sao chỉ có một mình, muốn mưu đồ việc lớn không thể một mình hắn mà làm được, có chăng nữa thì hắn cũng chỉ là một kẻ thất chí đi nuôi dưỡng lòng tự ái của hắn. Vả muốn mưu đồ việc lớn phải là kẻ hành động giữa chốn đông người…
Nguyễn lão thấy không khí trong tiệc rượu đã có phần căng thẳng mất vui về câu chuyện người lạ, mỗi người một ý chẳng ai chịu ai là đúng:
– Xin các vị hãy cạn chén, câu chuyện đó nào đáng gì mà lại để cho mất vui. Có thể hắn là một kẻ chán đời, một người thất chí, một kẻ có chi lớn, một tên trộm cướp, một kẻ thoát tục và biết đâu hắn chẳng hề ở trong những trường hợp đó? Hắn chỉ là một người bình thường chẳng hạn, chỉ hắn là biết hắn, mình bàn luận làm gì cho nhọc công. Có điều chúng ta biết chắc rằng hẳn đã vào núi, đã gặp chúng ta…
Nguyễn lão ngừng lại và kêu gia nhân mang thêm rượu, bốn người khách đều im lặng. Chủ nhân nói:
– Chắc giờ này hắn vẫn còn trong núi, giá có hắn ở đây cùng uống rượu với bọn mình thì hẳn là vui. Trong đó bây giờ sương đã xuống, gió đã lạnh…
Hai người bạn ôm chầm lấy nhau không thốt được lời nào, mãi sau Phạm Thái mới cầm lấy tay người bạn trẻ mời ngồi xuống ghế đối diện với mình.
– Đệ ở đâu mà lại lạc tới đây? Thật còn gì vui bằng được uống với nhau một bữa rượu cho thật say, đã bao nhiêu ngày trời ta chỉ uống một mình, nói một mình, vui một mình. – Nhân mới tới vùng Dục Thủy này có chút việc, nghe thiên hạ đồn về một tay cuồng sỹ không lúc nào hết say, hai chân lảo đảo với bình rượu trên vai hát vui giữa chợ búa thì đệ nghĩ ngay đó là huynh nên tới tìm, quả không có sai. Mà huynh không sợ cho thân mình sao?
– Sợ gì?
– Quan quân.
Phạm Thái cười ngặt nghẽo vẻ khoái trá:
– Ai mà còn để ý gì tới tên cuồng sỹ không lúc nào ngớt cơn say, đâu còn là Phạm Thái hay Phổ-Chiêu Thiền Sư nữa mà quan quân phải nhọc lòng, ta nay chỉ là một thằng say giữa chợ, một tên Chiêu Lỳ mà thôi, đệ khỏi phải lo, chúng ta cứ say đi, quên hết mọi chuyện trên trần gian này.
Phạm Thái bưng bát rượu lớn uống một hơi, bỏ bát xuống lấy tay áo quệt ngang qua miệng rồi sang sảng ngâm lên:
– Sống ở dương gian đánh chén nhè
Chết về âm phủ cắp kè kè
Diêm vương phán hỏi rằng chi đó. Be!
Người bạn đưa mắt nhìn chứng quanh tửu quán với vẻ lo âu. Trong quán rượu vắng vẻ, mãi nơi cuối nhà có hai ông già đang nhấm nháp ly rượu nhỏ và nói chuyện thầm thì, người chủ quán tự lự mãi nơi chiếc ghế để gần cửa vào nhà trong. Buổi chiều chạng vạng đang xuống trên dòng sông trước mặt, những cơn gió nhẹ làm lay động cành cây thấp la đà ngoài hiên quán. Buổi chiều làm cảnh vật bên kia dòng sông đượm vẻ quạnh hiu, những ngọn đồi nối nhau tới mãi khu rừng cây nhòa đi mãi ở phía xa, sau nó là những ngọn núi xanh đen. Con ngựa buộc ngoài góc cây lớn đứng im vẻ mệt nhọc. Tiếng Phạm Thái:
– Sao đệ có thấy là hay tuyệt không?
Người bạn trẻ mỉm cười:
– Có thực huynh đã quên hẳn những ngày cũ?
– Quên! Sao lại quên. Vua Ngô có ba mươi sáu tàn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì. Đệ có thấy vậy không. Bao nhiêu chuyện đó đều như một giấc chiêm bao. Quên những ngày cũ thì không. Nào khi theo nghiêm phụ trong công cuộc khôi phục nhà Lê, khi ẩn ở Tiêu Sơn, khi lên Lạng Sơn với Trương đăng Thụ, khi xuống Thanh Nê, tôi không hề quên, nhưng bây giờ thời gian đã đổi khác, tôi không còn thấy những lý do của ngày cũ nữa, bao nhiêu biến động từ bấy đến nay chắc đệ cũng biết.
Phạm Thái trầm hẳn xuống như hồi tưởng lại những chuyện đã xảy ra, những trôi nổi, vùng vẫy, những gian nguy hiểm nghèo, những hào hùng phấn khởi bên những đồng chí đầy tâm huyết không chùn bước trước gian nan. Người bạn trẻ tư lự nhìn vầng trán rộng, đôi mắt cương nghị đầy sức mạnh của Phạm Thái, vẫn là con người ngày nào, tiếng nói sang sảng, tiếng cười ngạo nghễ như giữa chốn không người, nhưng hôm nay con người hăng hái ngày cũ đã trầm xuống ưu tư, đã trầm xuống chín chắn, đã trầm xuống thu mình lại trong một cách thế khác hẳn.
Hơn ba mươi tuổi mà những nếp nhăn trên vầng trán đã chồng chất xô trũng đôi mắt sâu xuống những bóng tối, nước da đen nắng gió, trong giọng nói đã nhuốm một vẻ gì buông trôi phó mặc nhưng vẫn không dấu được chua chát, đắng cay; những chua chát đắng cay của một người đã thất bại, bỏ cuộc, lựa chọn một cách thế khác nhưng vẫn hoài tưởng những ngày đã qua? Quên những ngày cũ thì không, đúng thế, làm sao người ta quên những gì người ta đã sống, say mê với nó?
– Dời khỏi Lạng Sơn không được lâu đệ nghe tin Thanh Xuyên Hầu qua đời lòng những băn khoăn không biết hiền huynh đã tới đâu. Quả thật trời không giúp chúng ta. Sao Thanh Xuyên Hầu lại qua đời một cách dễ dàng như thế. Tôi bồn chồn không yên tâm. Đệ dời Thăng Long xuống Thanh Nê thì đám táng đã xong, hiền huynh cũng đã dời khỏi đó, hỏi tin không biết đi đâu. Đệ lại trở về Sơn Trấn nghe ngóng tin tức, cũng có lúc xuống Thăng Long, qua Kinh Bắc nhưng tuyệt nhiên không được tin tức gì. Đệ vẫn tự hỏi: “Hay huynh đã dời khỏi con đường mà ngày trước huynh đã nói với đệ?”
– Không, cho tới bây giờ con đường tôi đi vẫn không thay đổi, có chăng là nó ở một chặng đường khác. Lúc gặp đệ là lúc tôi đang đau buồn vì cái chết của người anh cả. Tôi đã nhìn thấy cái đầu của Nguyễn Đoàn bị chém lìa khỏi cổ, như nghiêm phụ tôi khi xưa đã bị chết. Ai còn là người mà không căm gan tím mật vì những cảnh đau thương. Hai cái tang chồng chất. Ngày mai mình mơ tưởng vẫn còn mờ mịt, nhưng tôi không nản trước những chông gai, vẫn muốn phóng mình lên, trước là trả cái ơn nhà Lê đã bao nhiêu năm đãi ngộ sủng ái cha chú mình, bỗng lộc trong bao nhiêu năm mình đã được hưởng, sau là trả thù cho cha, trả thù cho bạn, rốt là mong mở ra một triều đại mới, khôi phục lại một đời sống thái bình thịnh trị. Con đường ấy không phải của riêng tôi, đó là con đường của những ai đã chịu ơn nhà Lê, những ai học chữ thánh hiền, chôn chặt trong lòng sáu chữ: trung thần bất sự nhị quân…
Phải rồi, không có một ai còn bầu máu nóng trong người mà không theo con đường hành động đó. Chúng ta đều mong muốn khôi phục lại nhà Lê như thuở ban đầu…
Phạm Thái ngừng lại, giót thêm rượu, dáng ngồi đã có vẻ ngả nghiêng, trong giọng nói ngùi ngùi hoài tưởng.
– Chúng ta đã gặp nhau và nói với nhau những điều ấy, tôi nhớ những điều ấy, những điều như khắc trên đá không bao giờ phai và chỉ mất đi khi thân này tan vào cỏ cây, thấm vào lòng đất nhưng hồn vẫn mang nặng. Chúng ta cũng nói đến tình cảnh những kẻ sỹ đã ăn lộc nhà Lê, những kẻ vẫn tự nhận mình là trung thần có học và hành động như phường hèn nhát, tham sinh úy tử, chúng ta đã nói đến cảnh suy tàn của rừng Nho một thời tao loạn, kỷ cương rã tan. Nhớ lại ngày nào tôi ngang qua Thăng Long được đọc bài Tụng Tây hồ phú của Chương Lĩnh Hầu Hữu Hộ Lượng mà máu dồn lên mặt rồi cầm bút mà thảo bài Chiến tụng, Chương Lĩnh Hầu chỉ là bằng chứng cho một lớp nho thần lấy chữ tùy thời làm cách xử thế. Không, không thể như thế được… Chắc đệ còn nhớ bài phú ấy?
Người bạn trẻ tươi cười:
– Quên gì được, đệ còn nhớ cả lời tiểu dẫn: « Năm Canh thân mùa hạ, ta đến chơi với bạn ở Tràng An nghe bạn ngâm bài Tụng Tây Hồ Phú. Hỏi ai làm bài ấy mà hay thế. Bạn rằng: Chương Lĩnh Hầu Hữu Hộ Lượng làm ra – Ta rằng: Chao ôi! Hữu Hộ Lượng à! Xưa kia hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm ngụy, lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt! Ghét đứa nịnh làm sao!…”
Phạm Thái tư lự lắng nghe tưởng như sống lại những ngày nào trong quá khứ. Những ngày lang thang trong Kinh thành ngắm nhìn những đổi dời, những suy tàn khắc khoải, đau lòng trước những đổi thay, những kẻ xưa kia làm tôi nhà Lê nay đã làm tôi cho Tây Sơn không chút ngượng ngùng, một ít người còn giữ cho mình một chút trong sạch thì ẩn dật vì thấy mình bất lực trong cuộc mưu đồ khôi phục lại giang sơn cũ. Với bao nhiêu năm yên bình sống trong nhung lụa, trọng vọng, kẻ sỹ đã đánh mất đi cái hào khí của những kẻ giúp vua dựng nước, còn chăng những kẻ chỉ biết xướng vịnh, lấy việc đẽo gọt câu thơ bài phú làm chính; cái học từ chương đã đưa đến một triều đình những kẻ bất tài vô tướng, khi hữu sự chỉ biết khoanh tay đứng nhìn, may ra thốt được vài lời ta thán, chỉ ta thán mà không bao giờ hành động, đó là thực chất của người có học những thời suy vong, những suy vong kéo theo cả nền tảng một xã hội.
Xã hội không suy vong sao được khi những hướng dẫn tinh thần không còn nữa, khi ngọn đuốc tinh thần không còn cháy sáng rỡ ràng những giá trị cần bảo vệ, những giá trị cần duy trì, và những tiến bộ thiết thân…
– Những vụ nổi lên phất cao ngọn cờ phục hưng cô đơn nghiêng ngả trong một xã hội ngơ ngác… Tôi hiểu vì sao nghiêm phụ thất bại, tôi hiểu vì sao Nguyễn Đoàn đã thất bại. Những kẻ tiên phong không còn tin tưởng sắt đá vào con đường của mình, không mang được tin tưởng tới với dân chúng đã chán ngán một trật tự tàn tệ vì chính ngay những kẻ trực tiếp cai trị họ không đóng được vai trò cha mẹ dân, không còn kẻ thực học, hành động nghiêm chỉnh với nghĩa sách, không tìm thấy ý nghĩa linh động biến hóa của phép tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Thời của Thầy Khổng không phải là thời chúng ta đang sống, điều này chắc hiền đệ cũng hiểu. Kẻ sỹ đâu phải chỉ thuộc tứ thư ngũ kinh, thông thạo những luật tắc của thơ phú, lấy việc trau chuốt cốt cách làm chính? Kẻ có học là để hành động không nhầm lẫn. Bao nhiêu nổi dậy đã thất bại, một số kẻ tòng vong ôm lấy khối cô trung làm chiếc mộc che thân, còn lại những những kẻ khiếp nhược, tùy thời lấy an thân làm trọng… Trong hoàn cảnh đó làm sao cho những kẻ có chút tâm huyết không khỏi đau lòng. Tôi hiểu hiền đệ…
Men rượu đã làm người bạn trẻ thấy mạch máu mình nóng lên, chàng đứng dậy bỏ chiếc áo ngoài rũ mạnh, bụi đường bay tung, Phạm Thái trật bỏ khăn vắt lên vai, vẫn đôi vai gầy yếu nhỏ bé, vẫn búi tóc nhưng chừng như đã có sợi hoa râm, Phạm Thái kêu chủ nhân lấy thêm rượu nữa:
– Nguyễn Đoàn mất đi nhưng tôi vẫn tin tưởng mình sẽ còn cơ hội để bắt đầu lại như tôi đã nói với hiền đệ khi chia tay. Đất Lạng có thể làm chốn khởi quân tốt, tôi liên lạc với những hào kiệt trong thiên hạ, giao du với những kẻ tâm huyết lo toan mưu sự, nhưng mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, bao nhiêu dự định đều phải bỏ dở, tôi xuống Thanh Nê ẩn náu, lấy việc dạy học làm vui để che mắt thế gian trong khi chờ đợi, rồi sau lên Tiêu Sơn với những người bạn…
– Những công việc ở Tiêu Sơn ra sao mà hiền huynh lại dời khỏi nó. Lúc nghe thanh thế đệ đã sửa soạn hành lý cùng với những bạn hữu để lên đường thì nghe tin triều đình đã dẹp tan…
– Dẹp tan, người ta nói sai, có gì để dẹp ở đó ngoài một nơi thờ tự. Có chăng là những hiệp sĩ ẩn hiện trong vùng Tiêu Sơn đã làm cho quan quân phải một phen khổ sở lo âu, mất ăn mất ngủ. Chúng tôi muốn làm một cái gì nhưng không thành, nương náu nơi cửa thiền, mượn áo của kẻ xuất gia mà hành động khiến tôi vẫn lấy làm áy náy. Tại sao mình không thể hành động một cách quang minh chính trực. Chỉ mượn cửa Thiền làm nơi nương náu thì được chứ dùng nó làm nơi hùng cứ thì không. Vì dùng nó thì chính công việc của mình đã mất đi một phần chính nghĩa. Trong thời gian này tôi đã có thời gian để suy ngẫm, học đạo của Thích Ca, tôi cũng đã có lúc say mê nó. Tôi hiểu phần nào cái lẽ vô thường của kiếp sống. Đạo Thích Ca trong cùng độ là con đường giải thoát. Khi còn trẻ tôi không chối được những trách nhiệm tôi phải gánh vác và khi đó tôi nghe theo một lời kêu gọi… Tôi đã hành động không ngại gian nguy, không sờn lòng, không nản chí, hàng ngũ mỗi lúc một mạnh, nhưng tôi vẫn chưa thấy ngày mai tôi mơ ước. Trong những lúc lắng mình xuống, nhìn lại đoạn đường đã qua tôi thấy mình đã đánh mất đi cả tuổi trẻ của mình. Tôi chưa đủ ba mươi tuổi để lập thân, chưa tránh được cho mình khỏi bị mê hoặc chứ nói gì đến tri thiên mệnh… Xuống Thanh Nê tôi đắm mình lại đó, phải rồi, tôi chưa được sống như đáng ra tôi phải được sống, có khi chính cả hiền đệ nữa, chúng ta chưa được sống đầy đủ. Đằng nào thì Tất Đạt Đa cũng hiểu thế nào là đời sống gia đình, biết thế nào là vinh hoa phú quý, thấy thế nào sinh, bệnh, lão, tử…
Phạm Thái nói như không muốn dừng lại, những bát rượu liên tiếp cạn, men rượu mỗi lúc làm tăng thêm vẻ ngất ngưởng coi thường đời sống.
– Tôi không còn nhớ rõ tại sao mình đã hành động như thế, và tại sao đó lại là một câu chuyện bi thảm… Cái gì cũng dở dang, nửa đường… Có phải tôi ngả lòng, hay bản chất tôi chỉ là tên lãng tử?
– Đệ có được đọc bài Sơ Kính Tân Trang, đệ ngạc nhiên lắm, có người đọc xong nói với đệ chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt mỹ nhân.
Phạm Thái cười ngất:
– Quả chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt mỹ nhân. Nhưng có lẽ cũng không hẳn là vậy. Chắc đệ cũng có lúc khinh tôi, và hỏi tại sao tôi lại dời khỏi con đường hành động? Không một kẻ nào sinh ra chỉ để hành động hay tự bắt mình phải đi mãi trên một con đường hẹp, phải chết sống với một điều đã có sẵn, nếu hắn chấp nhận vậy thì còn gì là đời sống nữa. Điều quan trọng là đời sống của hắn, hắn sống sao cho có một đời sống đáng sống. Hắn không thể dừng lại ở chỗ trống không, hắn phải tiếp tục tìm kiếm, tìm kiếm cho tới lúc hắn không còn sức tìm kiếm gì nữa. Tôi hành động, vùng vẫy vì khi đó tôi thấy hành động vùng vẫy là ý nghĩa cuộc sống. Tôi yêu say đắm không còn muốn vùng vẫy vì lúc đó tôi thấy hành động vô nghĩa… Và bây giờ tôi thấy làm một kẻ giang hồ với túi thơ bầu rượu là đáng nhất thì tôi chọn. Có thể một lúc nào đó tôi không còn thấy nó có ý nghĩa như hiện nay. Tôi trung thành với tôi, trong cuộc hành trình đó tôi không thấy gì là vô lý cả…
– Huynh ân hận về những ngày vùng vẫy sao?
– Không, tôi không hề ân hận, nhưng tôi biết hoàn cảnh đã đổi thay. Nhà Lê đã hết. Chúng ta không nên níu nó lại nữa. Bánh xe chuyển, chúng ta không nên ngăn nó lại một cách vô ích. Đó là điều khiến tôi dời khỏi con đường hành động. Và tất nhiên tôi muốn thu xếp cho tôi một đời sống nhỏ bé riêng tư… Nhưng tôi đã thất bại, Quỳnh Như đã chết. Phải rồi, Quỳnh Như đã chết, nhưng hình ảnh nàng còn sống trong lòng tôi… Tôi vẫn không quên những ngày đầm ấm ở Thanh Nê, những giây phút đắm say tưởng như kéo dài muôn ngàn năm… Chắc hiền đệ đã thất vọng vì tôi?
– Từ bấy đến nay, những điều hiền huynh nói với đệ buổi chia tay vẫn không phai nhòa. Hiền huynh thử nghĩ lại xem, chúng ta có thể ngồi yên, ngao du sơn thủy mà nhìn ngắm đời sống? Đệ vẫn thấy phải hành động. Đệ tới đây tìm hiền huynh cũng không ngoài mục đích ấy.
– Rất đa tạ hiền đệ đã dành cho tôi nhiều cảm tình, nhưng tôi đã nghĩ kỹ rồi… Lúc còn cặm cụi với sách đèn, khi nhìn cơ đồ nhà Lê sụp đổ, thế nước ngả nghiêng, rồi khi dấn mình vào hành động, lúc nương mình nơi cửa Thiền, khi… Tôi đã không lúc nào ngừng nghỉ đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. Phải sống. Sống không phải là nương theo những điều đã được định sẵn. Sống là tìm kiếm, lựa chọn, đương đầu… Hơn ba mươi tuổi trong đời mình tôi chưa hề ân hận, hối tiếc… Nếu đệ thấy những điều đệ vừa nói là ý nghĩa đời sống của đệ thì đệ cử sống với nó. Còn tôi, tôi đã chọn cho tôi, như hiền đệ thấy: túi thơ, bầu rượu, trăng, nước, trời mây, sông biển… Tôi đã căm hờn, uất hận, đã vùng vẫy, đã đau buồn, đã yêu, đã vui chơi thỏa thích, bây giờ cỏ cây là bạn… rồi một hôm nào lạc chân không bao giờ trở lại nữa… Thôi nói gì tới những chuyện đó nữa, còn rượu đây chúng ta hãy cùng say… Cuộc đời có khác chi một giấc chiêm bao…
Sáng mờ sương hôm sau, khi ra khỏi cơn say và thức dậy Phạm Thái không còn thấy người bạn trẻ, chỉ còn lại ngoài sân dấu chân ngựa đi về hướng mặt trời mọc…
Trong cuộc hành quân phối hợp tái chiếm Quảng Trị này, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng từ Quân Khu IV ra thay thế Trung-tướng Hoàng Xuân Lãm trực tiếp chỉ huy, soạn thảo kế hoạch hành quân cùng Chuẩn-tướng Bùi Thế Lân, Tư lệnh Sư-đoàn TQLC và các cấp chỉ huy khác của các Binh chủng trong QLVNCH…Trong buổi họp tham mưu đầu tiên của Thiết-đoàn 20CX, tân Thiết-đoàn trưởng Trung-tá Nguyễn Văn Tá, ưu tiên thành lập lại Chi-đoàn 1/20 CX do Đại-úy Đặng Hữu Xứng làm Chi-đoàn trưởng, rồi mới đến Chi-đoàn 2/20 CX của tôi, cuối cùng là Chi-đoàn 3/20 CX do Đại-úy Đoàn Chí Sanh chịu trách nhiệm.
Sau buổi họp, Trung-tá Thiết-đoàn trưởng nói riêng cho tôi biết, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng không đồng ý để một Trung-úy làm Chi-đoàn trưởng chiến xa M48A3, nên tôi vẫn tiếp tục tái chỉnh trang Chi-đoàn, cho đến khi có người khác đến thay. Tái trang bị và huấn luyện xong, các đơn vị Nhảy dù, TQLC, BĐQ, ĐPQ cùng Chi-đoàn 1/20 CX, Chi-đoàn M113 Thiết Kỵ, xuất quân qua cầu phao sông Mỹ Chánh, cầu này đã bị Công Binh ta giật sập sau khi thành lập phòng tuyến, tiến lên tái chiếm Quảng Trị. Chi-đoàn 2/20 CX bắt đầu nhận xe và những binh sĩ của Chi-đoàn vừa trở về lại đơn vị, Thiếu-úy Bùi Thám, Thiếu-úy Nguyễn văn Quảng, Thiếu-úy Nguyễn văn Thuận làm Chi-đội trưởng và Trung-sĩ nhất Phan Ngọc Tuấn làm Hạ-sĩ quan ban 3 cho Chi-đoàn. Sau khi trang bị xong, Chi-đoàn lấy biểu xích số 0 cho đại bác, thực tập lại tác xạ, thao dợt hành quân dã trại tại phía tây căn cứ Dạ Lê, Huế. Trong lúc Chi-đoàn thực tập tác xạ ngoài bãi bắn, trực thăng của Trung-tướng Ngô Quang Trưởng cùng một Tướng Cố-vấn Mỹ đáp xuống xem xét. Sau khi trình diện và trả lời nhiều câu hỏi, tôi được chỉ thị lên chiến xa cùng Tướng Trưởng và Tướng Mỹ xem tôi bắn di động. Tôi cho nổ máy xe bắt đầu di chuyển rồi làm đủ mọi thao tác như ra lệnh nạp đạn, hướng súng về mục tiêu và đo tầm xa, đột nhiên trời đổ cơn mưa rào trắng xóa không còn nhìn thấy gì nữa, tôi ước chừng mà bắn đại vì đạn đã lên nòng, theo đúng chiến thuật là phải bắn trước không cho địch quân trở tay kịp. Thật kỳ lạ, vừa bắn xong thì trời cũng bắt đầu tạnh, bầu trời quang đãng trở lại và Tướng Trưởng nói với tôi một câu “không được chính xác lắm”. Vì có tướng Mỹ ở đó nên nên tôi trả lời bằng tiếng Mỹ thay vì tiếng Việt” Trời mưa nhiều quá nên tôi không thấy được mục tiêu thưa Trung-tướng” (It rain too much so I can not see the target, Sir). Chúng tôi xuống xe và chào tiễn hai người lên trực thăng rồi tiếp tục huấn luyện. Khi Chi-đoàn 1/20 CX cùng các đơn vị tham chiến đã chiếm xong quận Hải Lăng, Chi-đoàn 2/20 CX cũng đã sẵn sàng. Đến ngày lên đường vẫn chưa thấy ai đến thay thế cả, tôi hướng dẫn Chi-đoàn qua sông Mỹ Chánh, phối hợp hành quân cùng với đơn vị Dù, giữ vùng núi phía Tây quận Hải Lăng, bên trái Quốc lộ 1, ngăn không cho VC chận đường tiếp tế của ta. Với tình hình hiện tại, tôi không dùng chiến thuật chiếm giữ cao điểm nữa, khi di chuyển hay đóng quân đều dựa theo triền đồi, các cao điểm đều dành cho đơn vị Dù đảm nhận. Tiến quân đến đâu thì địch quân pháo theo đến đó. Vì có kinh nghiệm bị AT3 phá vỡ̃ phòng tuyến Đông Hà – Ái Tử nên khi tiến quân, Chi-đoàn đều dựa theo triền đồi. Nhờ thế mà pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly của VC bay qua đầu, rớt trên triền đồi kế bên không hề hấn gì đến Chi-đoàn. Thấy dùng pháo không có kết quả, chúng cho chôn mìn chống chiến xa khắp nơi theo trục tiến quân làm hai xe cán mìn đứt xích. Để tránh mìn, tôi ra lệnh Chi-đoàn tiến theo đường xích của xe trước. Chi-đoàn 1/20 CX cùng Tiểu-đoàn 11 Dù của Thiếu-tá Lê Văn Mể tiếp tục tiến đánh chiếm La Vang và Chi-khu Mai Lĩnh. Trong trận này Trung-úy Hoàng Ngọc Hùng khóa 22B, Võ Bị Đại-đội trưởng 112 Dù đã tử trận và Chuẩn-úy Bùi Quốc Thái, Chi-đội phó 3/1 CX của Thiếu-úy Đặng Văn Quang bị phỏng nặng, vì trúng hỏa tiễn điều khiển AT3. Nhất quyết phải tiến chiếm cho bằng được đến cầu Quảng Trị, Chi-đội 3/1CX của Thiếu-úy Đặng Văn Quang, phối hợp cùng 2 Đại-đội của Tiểu-đoàn 9 TQLC, lợi dụng thời tiết sương mù buổi sáng, đã chớp nhoáng đánh chiếm lại bệnh viện Quảng Trị và trường Trung học Bồ Đề một cách dễ dàng. Thế là đoạn đường trên QL1 từ Hồ Đắc Hanh đến cầu QT đã được khai thông. Chi-đoàn 1/20 CX bàn giao lại địa bàn trên cho Chi-đoàn 2/20 CX về căn cứ Hòa Mỹ, quận Phong Điền, để tu bổ, bảo trì và dưỡng quân. Bấy giờ Chi-đoàn 2/20 CX vừa tăng phái cho Dù vừa tăng phái cho TQLC. Chi-đội Thiếu-úy Bùi Thám đi với Tiểu-đoàn 5 Dù của Thiếu-tá Bùi Quyền, chiếm giữ bên trái Quốc lộ 1, tiến về Động Ông Đô. Chi-đội Thiếu-úy Nguyễn văn Thuận giữ bệnh viện QT, Chi-đội Thiếu-úy Nguyễn văn Quảng đóng dọc theo bờ sông Thạch Hãn cùng với Tiểu-đoàn 9 TQLC, đánh chiếm từng căn nhà tiến về trung tâm thành phố.
Ảnh minh hoạ
Chi-đoàn 3/20 CX cũng đã thao dợt xong, xuất quân đi với Tiểu-đoàn 11 Dù, đánh chiếm doanh trại Tích Tường (hậu cứ Thiết-đoàn 11 cũ) và các vùng lân cận. Vì lý do sức khỏe, Đại-úy Đoàn Chí Sanh rời Chi-đoàn 3/20 CX, Thiếu-tá Trương Quang Thương ra thay, rồi giao lại cho Đại-úy Lê Bá Nam từ Thiết-đoàn 7 thuyên chuyển qua, giữ chức vụ Chi-đoàn trưởng 3/20 CX tại mặt trận La Vang – Tích Tường. Bấy giờ Chi-đoàn 2/20 CX tăng phái hẳn cho TQLC, Chi-đội của Thiếu-úy Bùi Thám rời Tiểu-đoàn 5 Dù, tăng phái cho Tiểu-đoàn 6 TQLC (Thần Ứng) của Thiếu tá Đổ Hữu Tùng, từ bến xe đò hướng Nam Quảng Trị, tiến đến Cổ Thành Đinh Công Tráng. Các chiến sĩ TQLC phối hợp cùng chiến xa, đánh chiếm từng căn nhà, tiến dần đến Cổ Thành. Đến giữa tháng 8/72 TQLC đã tiến gần đến trung tâm thành phố. Bộ Chỉ huy Tiểu-đoàn 8 TQLC ( Ó Biển ) của Thiếu-tá Nguyễn Văn Phán và Chi-đoàn 2/20 CX của tôi, đóng trên đồi thông bên trái Quốc lộ 1 gần ngã ba Long Hưng. Khi hai chiếc chiến xa M48A3 của Thiếu-úy Thuận giữ bệnh viện Quảng Trị, chạy trên quốc lộ 1 về chỗ của tôi, để nhận tiếp tế thì bị VC phục kích trên QL1 bắn B40 trượt bên hông trên dàn xích, nên không thủng vào trong. Tôi đến gặp Thiếu-tá Phán, để biết ai giữ đoạn đường trên, mà xe mình về bị bắn. Ngồi nghe máy cùng Thiếu-tá Phán hỏi Lữ-đoàn, để xác định đơn vị nào chịu trách nhiệm giữ khu vực đó. Tôi xin phép nhắc lại một đoạn đối thoại giữa Đại-tá Nguyễn Thế Lương, Lữ-đoàn trưởng 369 TQLC và Thiếu-tá Hồ Quang Lịch, nghe cũng vui vui, nên đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi:
– Lịch à! Bộ em sống với VC hả Lịch?
Thiếu-tá Lịch đáp:
– Dạ! Đâu có anh, em bàn giao lại cho ĐPQ rồi mà.
Đại-tá Lương nói tiếp:
– Vậy em biết phải làm như thế nào rồi chứ.
Thiếu-tá Lịch trả lời:
– Dạ, anh để em lo.
Nghe vậy tôi nói với Thiếu-tá Phán:
– Anh cho một Đại-đội giữ hai bên hông xe, tôi sẽ đánh lấy lại đoạn đường đó, xe của Chi-đoàn tôi bị bắn mà.
Chỉ còn lại Phân-đội chỉ huy, nên tôi lên chiến xa, phối hợp đi cùng một Trung-đội bảo vệ tiến ra đường. Vừa đến khúc quẹo hướng về cầu Quảng Trị, thấy rất nhiều toán VC đang đứng bên ngoài canh gác, chạy đi núp sau các đống gạch do các nhà bị sập cách xe tôi hơn 100m, tôi dừng xe và nhắm vào chỗ chúng núp đầu tiên khai hỏa , bụi cát bay mịt mù, đống gạch vẫn trơ trơ, phát đạn thứ hai điều chỉnh nổ chậm, vẫn không hề hấn gì, tôi đổi qua đạn chống chiến xa. “Đùng” không có cát bụi văng ra, chỉ thấy lửa phụt ra phía sau đống gạch, tên VC còn sống sót phóng ra ngoài bỏ chạy. Biết chỉ có đạn chống chiến xa mới trị nổi những đống gạch đá, cứ thế tôi bắn từ chỗ VC núp nầy đến chỗ núp khác, cuối cùng chúng tôi cũng giải tỏa lại được đoạn đường đó, không có một tổn thất nào, lại còn thu được nhiều chiến lợi phẩm.
Ảnh minh hoạ
Đầu tháng 9/1972 vào một buổi trưa trời nắng nóng, tôi ngồi trong xe M113, cửa sau mở, không hiểu vì sao, nhưng có lẽ vì tôi còn nặng nợ với núi sông, nên khiến tôi cầm áo giáp lên che ngực khi nghe hai tiếng đề-ba (départ) “cạch, cạch” của súng cối 82 ly. Một trái nổ trên mô đất phía sau, cách xe chừng một thước, vì quá gần nên mảnh đạn tạt lên chưa cao, chỉ từ áo giáp trở xuống, nhiều mảnh ghim vào chân, đùi, mông, một mảnh xuyên qua áo giáp vào gần tới phổi, tuy các vết thương không nặng lắm, nhưng cũng phải rời mặt trận về bệnh viện Nguyễn Tri Phương (Huế). Thiếu-tá Trương Quang Thương ra thay tôi, tiếp tục cùng TQLC tiến chiếm Cổ Thành. Tại bệnh viện sau kiểm tra băng bó các vết thương, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng đã đến tại giường bệnh hỏi thăm sức khỏe, tình hình chiến sự tại Quảng Trị. Ông hỏi tôi
– TQLC chiến đấu như thế nào?
Tôi trả lời:
– Các đơn vị TQLC đánh được lắm
Trung-tướng Trưởng mỉm cười bắt tay tôi ra về. Hôm sau Thiếu-tá Hoàng Kiều, Thiết-đoàn phó 20CX đến thăm, tôi kể lại những gì Trung-tướng Trưởng đã hỏi, Thiếu-tá Hoàng Kiều nói:
– Bộ mày không biết ổng thuộc Binh chủng Nhảy Dù hay sao, mày lại khen TQLC!
Tôi trả lời:
– Em đâu có đánh chung cùng Nhảy Dù đâu mà em nói
Khi vết thương đã lành, tôi trở lại đơn vị thì Tiểu-đoàn 6 TQLC Thần Ứng đã cắm cờ trên Cổ Thành Quảng Trị và bắt được nhiều tù binh VC vào ngày 16/9/1972.
Cuộc chiến tạm yên và mùa hè năm đó đã trở thành một trong ba sự kiện quan trọng của quân lực VNCH và Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã đặt tên cho 3 trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972:
• Bình Long Anh Dũng
• Kontum Kiêu Hùng
• Trị Thiên Vùng Dậy
Đó là tất cả diễn tiến của mùa hè 1972, một mùa hè rực lửa tại Quảng Trị mà tôi đã tham dự, chứng kiến trong đời quân ngũ. Còn mặt trận phía Tây Huế, các chiến sĩ Sư-đoàn 1 BB và Thiết-đoàn 7 KB cũng đã đánh chiếm lại được căn cứ Bastongne. Tuy chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, nhưng cũng nói lên được sự kiên cường, dũng cảm của những người lính VNCH.
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước …
Sau khi xuất viện và nghỉ phép tôi trở lại đơn vị thì cuộc chiến đã không còn ác liệt, chỉ còn những trận đánh lẻ tẻ ở Bích La thôn, và các thôn dọc theo sông Thạch Hãn. Thành phố Quảng Trị bây giờ là một thành phố hoang tàn đổ nát, không còn những quán càfê nhạc, phố xá vắng hẳn những tà áo dài màu trắng tinh khôi của nữ sinh trường Trung học Nguyễn Hoàng, trường Bồ Đề, líu lo như chim sau giờ tan học. Nhớ những dãy nhà khang trang trên đường Trần Hưng Đạo, trên đường Quang Trung và nhớ nhiều lắm những kỷ niệm ngày xưa, nhất là khi vừa đặt chân lên thị xã Đông Hà năm 1968 cùng các bạn đi chơi loanh quanh trong chợ, vừa đi vừa mút nước đá nhận, trong khí trời nóng bức bởi những cơn gió Lào khô khốc, tai nghe các cô em bán hàng cười ríu rít, nói một tràng mà mình cứ tưởng như mình là người ngoại quốc. Ôi! Đông Hà, Ôi! Quảng Trị của ta ngày xưa, nay chỉ còn lại trong ký ức. Buồn, buồn lắm!
Trở về lại thực tại, ba Chi-đoàn thay phiên nhau tăng phái cho Nhảy Dù trên đồi núi phía Tây và TQLC tại các làng xã phía đông như Hội Yên, Gia Đẳng, Mỹ Thủy… Ngày 25/1/73 quân ta được lệnh phải tái chiếm lại Cửa Việt, đã bị VC chiếm giữ khi quân ta rút khỏi Quảng Trị, trước ngày ký hiệp định Paris 28/1/1973, gồm các đơn vị Lữ-đoàn 147 TQLC, Chi-đoàn 1/20 CX, Chi-đoàn 3/20 CX, Chi-đoàn 2/17 Thiết Kỵ, Chi-đoàn 2/20 CX trừ bị tại quận Hải Lăng. Quân ta đã chiếm lại cách Cửa Việt chừng 100m, cắm cờ VNCH trên vùng đất đã lấy lại được, trước giờ 8 giờ sáng ngày 28/1/1973 như theo hiệp định Paris. Nhưng VC đã bất chấp hiệp định đình chiến, vài ngày sau đó đã tấn công và đẩy lui quân ta chiếm lại Cửa Việt.
Yên bình trở lại, nhiệm vụ các Chi-đoàn vẫn thay phiên tăng phái cho Dù và TQLC. Tại Mỹ Thủy tôi thường đến Trung tâm hành quân của Thiết-đoàn 18 Kỵ-binh để nghe Đại-úy Nguyễn Tẩn, Ban 3 Thiết-đoàn, thuyết trình về tình hình trong vùng và huấn luyện Nhị thức Bộ binh – Thiết Giáp cho TQLC. Một hôm đang huấn luyện, Trung-tướng Ngô Quang Trưởng cùng Thiếu-tá Hoàng Kiều Thiết-đoàn phó, đáp trực thăng xuống để thị sát. Trong lúc Trung-tướng đang trò chuyện, một binh sĩ TQLC đang thực tập xoay nòng súng đại bác về phía Trung-tướng, tôi hét lớn ra lệnh quay súng về hướng khác, Trung-tướng cười, trò chuyện một lúc, hai người lên trực thăng ra về. Qua hôm sau Thiếu-tá Kiều đến động viên đơn vị và nói cùng tôi:
– Chỉ có mày Trung-tướng mới cười mà thôi.
Không hiểu tại sao tôi được Trung-tướng chiếu cố, quan tâm đến ba lần, có lẽ vì không yên tâm để tôi đảm nhiệm chức vụ Chi-đoàn trưởng chiến xa M48A3 chăng? Đến tháng 6/1974 tôi bàn giao đơn vị lại cho Đại-úy Phan Thanh Tùng lên đường đi học khóa Trung cấp Thiết Giáp. Mãn khóa học, trở lại đơn vị làm trưởng ban truyền tin của Thiết-đoàn. Đầu năm 1975 Chi-đoàn 2/20 CX của Đại-úy Tùng, đánh tan Đại-đội VC tại xã Triều Dương, Vĩnh Nậy bắt sống nhiều tù binh. Đây là chiến thắng cuối cùng của Thiết-đoàn 20 CX trước khi tan hàng.
Khi Trung-tá Phan Công Tuấn, Thiết-đoàn trưởng 20 CX cùng các đơn vị TQLC trấn giữ vùng hỏa tuyến được lệnh rút bỏ Quảng Trị về Đà Nẳng vào tháng 3/1975, rồi bỏ Quân Khu I và Quân khu II một cách tức tưởi, đau đớn để cho quân đội Bắc Việt chiếm đóng dễ dàng. Đau lòng thay cho những chiến sĩ VNCH đã hy sinh xương máu để bảo vệ quê hương yêu dấu.
Tháng Ba năm 1975
Thiết-đoàn 20 CX đang đóng quân tại Phong Điền, tỉnh Quảng Trị, Trung-tá Phan Công Tuấn, Thiết-đoàn Trưởng, được lệnh đưa Thiết-đoàn rút về Đà Nẳng. Thiếu-tá Minh Thiết-đoàn phó, cùng tôi là Trưởng ban Truyền tin, phụ trách phá kho đạn tại Phong Lộc rồi mới đi sau. Xong việc chúng tôi về Huế. Đến cầu Bạch Hổ, được lệnh dừng lại chờ nhận tiếp tế. Thiếu-tá Minh về nhà, còn tôi ở lại cùng vài anh em binh sĩ. Đến trưa hôm sau, được lệnh chạy về cửa biển Thuận An. Đến nơi thấy tất cả chiến xa M48A3 và M113 đậu tại căn cứ Hải quân, nhưng vắng hoe không còn ai cả. Cuối cùng chúng tôi lục lạo trong căn cứ, tìm thấy một máy đuôi tôm còn xử dụng được, lấy những thùng xăng trống và đà gỗ, kết làm bè để về Đà Nẳng. Đang lay hoay làm bè thì Trung-sĩ Nguyễn Điền, Trưởng xa, thuộc Chi-đoàn 2/20 CX đi đến cùng vợ đang mang bầu. Tôi hỏi:
– Sao em còn ở đây?
Điền trả lời:
– Em về nhà đưa vợ cùng đi luôn.
Chưa ra đến cửa biển thì bị pháo, nhưng đạn chỉ rơi rớt chung quanh. Vừa lúc đó một chiếc LCM (loại tàu chở quân đỗ bộ) chạy đến, cho chúng tôi lên rồi chạy về Đà Nẳng. Lên bờ, anh em binh sĩ có gia đình đều đi hết, chỉ có tôi là người miền Nam, nên lang thang không biết đi đâu. Thấy trong thành phố dân chúng nhốn nháo, tôi rất hoang mang, cuối cùng quyết định qua bãi biển Sơn Trà, hy vọng sẽ có tàu Hải Quân để về Saigon. Đêm đó căn cứ Hải Quân bị pháo dữ dội, đến sáng tôi chưa biết đi đâu. Thời may có một Chi-đội M 113 từ trong căn cứ đi ra. Họ đưa tôi đến Non Nước, để bảo vệ Bộ Tư lệnh TQLC. Đến đây tôi gặp Chi-đoàn 3/20 CX M48 do Thiếu-tá Đặng Hữu Xứng chỉ huy, cũng đang bố trí tại đó. Ngồi bàn về tình hình đen tối hiện tại. Đến trưa thì có một chiến hạm đến đậu ngoài xa, cách bờ chừng 200m. Anh Xứng dục tôi lội ra tàu mau lên, còn ảnh thì ở lại để lo cho gia đình. Tôi cởi giày, lấy thùng đạn làm phao rồi bơi ra tàu. Một lát Trung-úy Bùi Thám lên tàu cùng vài binh sĩ nữa. Vớt thêm chừng 200 binh sĩ TQLC, tàu ra khơi chở chúng tôi về Cam Ranh. Lên bờ đi chân không trên cát nóng không chịu nổi, phải dùng quần bó hai bàn chân để đi. Ra Quốc lộ 1, đón xe lam về Phan Rang, đến các làng chài hy vọng mua vé ghe đi về Vũng Tàu, nhưng không có ghe nào đi vì biển động. Về lại Nha Trang, thấy lộn xộn quá đành phải trở lại Phan Rang chờ ghe. Chờ một hai ngày vẫn không thấy hy vọng gì, nên đi ra Quốc lộ, mong đón được xe đò. May sao có chiếc xe hàng chở gia đình, cho tôi và Tr/úy Bùi Thám quá giang. Về đến Bình Tuy thì dừng lại vì phía trước quân ta đang chiến đấu với VC. Tôi và Thám đi về hướng biển, đến làng đánh cá mua được vé về Long Hải. Lên bờ Quân Cảnh cho biết, Thiết Giáp đang tập trung tại căn cứ Long Bình. Hai anh em về nhà tôi, nghỉ một đêm cho lại sức rồi đến Long Bình trình diện. Anh em Thiết Giáp từ Quân khu I và II về đây rất đông. Chưa có nhiệm vụ gì, nên chúng tôi sáng đến, chiều về nhà, thỉnh thoảng chúng tôi qua hậu cứ Sư-đoàn 18 ăn trưa.
Vào khoảng giữa tháng 4/75, tôi được lệnh của Đại-tá Nguyễn Xuân Hường, Tư Lệnh Lữ-đoàn 1 KB, thành lập lại Chi-đoàn 2/11 Thiết Kỵ trực thuộc Quân Đoàn III, có nhiệm vụ phòng thủ Biên Hòa. Ban ngày bố trí tại núi Bửu Long, đêm giữ phi trường Biên Hòa. Ngày 26/4/75 Quân Đoàn chỉ thị cho tôi dẫn Chi-đoàn ra Bà Rịa, tăng phái cho TQLC. Vừa đến ngã ba Long Bình hướng về Bà Rịa, dân chúng chạy loạn cho hay, quân ta đang đánh nhau với VC tại Long Thành. Tôi gọi máy cho Quân Đoàn xin chỉ thị, được lệnh quay về tăng phái cho Tiểu-đoàn 7 Dù của Thiếu-tá Nguyễn Lô đang giữ Biên Hòa. Sau đó được lệnh cho hai Chi-đội, tăng phái cho Tiểu-đoàn 5 Dù của Thiếu-tá Võ Trọng Em giữ cầu Biên Hòa, còn tôi và thành phần còn lại cùng Tiểu-đoàn 7 giữ phi trường. Đêm 29/4 với hai cây đại bác 106 ly không giật, Chi-đội của Trung-úy Nguyễn Văn Hiệp Chi-đoàn phó, đã bắn hạ hai chiến xa địch bên kia sông Đồng Nai. Đây là chiến tích cuối cùng của Chi-đoàn 2/11 Thiết Kỵ.
Sáng ngày 30/4/75, Tiểu-đoàn 7 Dù cùng Chi-đoàn trừ của tôi, rút từ Biên Hòa về đến Hàng Xanh, thì nghe lệnh buông súng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Vận nước đến đây là hết, chia tay nhau mổi người đi một nẻo, không chỉ riêng tôi mà hầu như tất cả những người dân miền Nam đều hoang mang, chưa biết ngày mai sẽ ra sao đây!
Tháng Tư nghiêng ngã Sơn Hà
Triệu người khóc hận can qua ngất trời
Tờ lịch rơi những đầy vơi
Lật trang sử mới? Ngàn đời không quên
(Thơ: Như Thương
Chủ đề: Quê Hương và Quốc Hận
Đời Tù: Buồn – Vui – Khổ Ải
Cùng với những chiến hữu, tôi đi trình diện vào sáng ngày 23/6/75. Sau khi từ giã vợ con đi đến trường Trung học Lê Văn Duyệt tại Gia Định, để “học tập 10 ngày” như thông cáo của Ủy ban quân quản Saigon-Gia Định. Anh em đến trình diện mỗi lúc một đông. Đến tối ngày hôm sau, tất cả được đưa đến trại tập trung tại Long Giao, “để tạo điều kiện cho việc học tập cải tạo mau sớm trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa” như bọn quân quản VC thông báo. Trại Long Giao thật rộng lớn, chia ra nhiều khu bằng kẽm gai, mỗi khu có khoảng bốn năm nhà tiền chế, tôi ở khu nhà gần cổng trại. Mỗi nhà là một đội khoảng 50 người, chia thành bốn tổ nằm ngủ dưới đất. Ngày ngày chúng tôi chờ đợi được “học tập” cho xong, để về với gia đình. Thế nhưng đã một tháng qua, mà không thấy động tĩnh gì, bấy giờ mới biết mình bị bọn VC lừa, đang bị giam lỏng trở thành tù cải tạo.
Một buỗi sáng như thường lệ, chúng tôi được tập họp đưa đến hội trường khai giảng lớp học. Bài học đầu tiên về lịch sử, chúng tôi đã học từ khi còn bé là nước Việt Nam có 4.000 ngàn năm văn hiến, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà mau. Bài học thứ hai là kê khai lý lịch “ba đời” và tội lỗi của mình. Khoảng ba tháng sau chúng tôi được viết thư về thăm gia đình, báo tin cho phép gởi quà mỗi người 3kg. Tôi vừa mừng nhưng cũng vừa lo, thế này thì có lẽ còn lâu mới về, theo như tiêu chuẩn đánh giá của khẩu hiệu ” học tập tốt – lao động tốt “. Để giết thời giờ cũng như cho qua ngày, chúng tôi tìm bất cứ thứ gì, có thể làm thành những vật kỷ niệm, cho ngày mai nếu được thả. Bạn Trương Kim Anh nhận công việc đào giếng, cho khu vực chỗ chúng tôi ở. Một hôm đang đào bỗng anh bị co rút bắp thịt chân gần như bại liệt, đi đứng khó khăn, đây là tai nạn đầu tiên trong tù, hiện nay anh đang ở San Jose California. Thời tiết bắt đầu lạnh, tôi tìm những bao cát bằng vải giặt sạch, may thành áo ấm, chuẩn bị cho một cuộc hành trình có thể là dài hạn.
Bỗng một hôm cả trại được tin sẽ xét xử một người, đó là Đại-úy Lê Đức Thịnh phòng Quân Báo, can tội lén lút gửi thư liên lạc với gia đình, tìm cách trốn trại chống đối, đánh phá cách mạng. Tòa tuyên án “Tử hình”. Đây có thể là vụ án đầu tiên, anh Thịnh là con cờ thí để răn đe mọi người. Đến khoảng tháng 6/1976, anh em chúng tôi bị đưa ra Miền Bắc bằng tàu Sông Hương, cập bến Hải Phòng rồi cùng các anh em lên xe lửa. Chia ra từng nhóm chen chúc nhau trong những toa chở hàng, chở súc vật đến Yên Bái. Dọc đường bị dân chúng chửi rủa, ném đá, nhưng vẫn phải thản nhiên mà chịu đựng …Rồi từng tốp 30 người, lên xe Molotova chạy lòng vòng trong núi, đưa đến một nơi có chừng vài chục nóc nhà. Xuống xe tập trung lại, được vài anh bộ đội còn trẻ, dẫn đi theo con đường đất rộng chừng 2 mét dưới chân núi. Đi khoảng chừng hai cây số, thì đến mấy dãy nhà mái lợp bằng tre nứa, chưa có vách, ở gần một hồ nước rộng lớn. Đến khi có khoảng chừng 200 người, bọn quản giáo VC cho biết đây là trại 7. Họ chia nhóm chúng tôi thành nhiều đội, mỗi đội ở một nhà. Sau vài ngày nghỉ ngơi, đội tôi chia thành 4 tổ, mỗi tổ 12 người và tự bầu lên đội trưởng, tổ trưởng. Bây giờ chúng tôi phải lao động khổ sai như đi lấy gỗ, lấy nứa, lấy luồng (một loại tre, thân to đường kính gần 2 tấc, dài trên 12 thước.) đóng gạch, làm đường, trồng sắn (khoai mì ), bắp.v.v.. Những ngày đầu cả trại được phân công mỗi đội đi lấy cây để dựng cột, nứa thì chặt khúc dài khoảng 5 tấc đập dẹp, kết thành tấm dài độ 6 tấc để lợp mái, làm vách, luồng phải dài hơn 12m để làm đòn dong… Nghĩa là dựng trại, làm sạp nằm, làm hàng rào bao chung quanh, chỉ chừa một cửa ra vào mà thôi. Nhà của cán bộ ở trên đồi cao hơn cách xa trại chừng 20m.
Dần dần chúng tôi biết trại 7 thuộc Liên trại 4, xã Cẫm Nhân, cạnh hồ Thác Bà, tỉnh Hoàng Liên Sơn nhờ hàng tháng trại chọn ra một tổ, đi ra hợp tác xã ở Cẫm Nhân để lãnh lương thực. Các trại khác cũng đến, gặp nhau tôi hỏi thăm, mới biết Liên trại 4 có 9 trại. Thời gian ở đây có nhiều anh em đã nằm xuống vì bệnh, vì kiệt sức hoặc bị tai nạn như anh Nguyễn văn Cử trại 7 bị chết đuối sau khi lấy xong nứa ở voi đất giữa hồ vì không muốn đi về vòng theo núi nên bơi tắt ngang qua hồ Thác Bà để về trại…Tôi cũng có nghe nhiều anh em ở trại khác vì kiếm thực phẩm ăn bị trúng độc chết.
Vài tháng sau đội tôi được chọn đi làm gạch, tách ra khỏi trại 7 ở riêng biệt. Tổ tôi thì đóng gạch, còn các tổ khác đi rừng lấy củi về đốt lò nung gạch. Anh em đi lấy củi dài một thước chỉ tiêu 3 người một thước khối/ngày. Tuy có vất vả nhưng có cơ hội cải thiện (tìm thức ăn). Một buổi tối cả đội bị tập trung ngoài sân để đấu tố anh Dương Viết Đang về tội âm mưu “ám sát cán bộ” do bọn “ăng-ten” báo cáo. Bốn đêm liên tiếp phát biểu, tra hỏi mà không truy ra được chứng cứ nào để buộc tội nên quản giáo tên Xe đành cảnh cáo toàn đội. Rồi lại xảy ra thêm một chuyện nữa trên cây gỗ chặt đem về có khắc hai chữ “Nợ Máu” khiến cho đội lại một phen điêu đứng, nhưng vẫn không tìm ra thủ phạm. (Mãi đến khi định cư tại Mỹ anh Phạm Hoàng mới tiết lộ là do chính mình khắc) Đến khi gạch ra lò, cả đội phải gánh gạch về trại 7 để chuyển đi nơi khác. Chỉ tiêu mỗi người là 20 viên trên đoạn đường dài lên dốc, xuống dốc gần hai cây số, một ngày bốn lượt đi về. Một lần vì mệt quá, anh Vĩnh Tham bảo tôi dừng lại để nghỉ chân. Tôi nói cán bộ Hậu khó lắm, không ngờ cán bộ Hậu đi phía sau nghe được, bèn cho cả tổ dừng lại lên lớp một hồi rồi hỏi trước kia tôi làm gì, tôi trả lời là đi đánh giặc, cán bộ Hậu giận dữ nói “bọn bây mới là giặc, là lính đánh thuê, là tay sai của Mỹ…” Tôi cắn răng, hai bàn tay nắm chặt, tức muốn chết mà vẫn cố nén trong lòng. Lên mặt kẻ cả dạy đời một chập rồi ra lệnh cho tiếp tục đi. Chiều về khi hết giờ làm, cán bộ Hậu dẫn tôi vào lò gạch cùng 3 cán bộ khác là Dương, Tiến và Nhâm cùng đánh. Tôi đành phải cố che phần ngực để tránh bị nội thương. Đến lúc chúng cảm thấy hả giận mới dừng tay cho ra về mà trong lòng tôi đầy uất hận. Người kế tiếp tôi là anh Phạm Đức Phong (biệt danh u dương phong) về tội mà cán bộ cho là “lười lao động”, anh hiện đang ở San Jose California. Một hôm sau buổi ăn tối, anh Nguyễn văn Đại và anh Nguyễn Minh Nhựt lăn lộn kêu đau bụng. Hỏi ra thì mới biết hai anh ăn một trái tựa như trái măng cụt. Biết bị trúng độc, anh em lấy đọt rau lang đâm lấy nước cho uống mới cứu được.
Khi làm đủ chỉ tiêu gạch cho trại, đội tôi được chuyển ra xã Cẩm Nhân làm đường đi cho xã. Lúc mới đến thì dân chúng nơi này (phần đông là người Dao, người Tày, còn người kinh thì ít hơn) rất ghét chúng tôi, vì được tuyên truyền cho rằng chúng tôi là bọn ác ôn, không nên đến gần hoặc nói chuyện. Dần dần thấy chúng tôi không giống như những gì đã được tuyên truyền trước kia, nên đã thay đổi thái độ, thường hay lén lút giúp đỡ chúng tôi như để nước chè (trà), khoai lang, sắn ở bên đường. Một hôm tôi đang chặt nứa trên núi thì gặp một cô gái nhìn rất dễ thương người dân tộc đang đi lấy măng tre gần đó, tự nhiên tôi thấy có chút rung động nên sửa lời bài “Còn Một Chút Gì Để Nhớ “ thơ Vũ Hữu Định, nhạc Phạm Duy, bản nhạc tôi rất ưa thích rồi cất tiếng nghêu ngao vài câu : “Em Cẩm Nhân má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông, nên tóc em ướt và mắt em ướt nên em mềm như mây chiều trong “…Liếc thấy cô gái bẽn lẻn, hồng hồng đôi má thêm xinh xinh làm sao, lòng tôi cảm thấy vui vui, vì cũng còn chút gì để nhớ tại xã Cẩm Nhân này.
Một lần kia cùng vài anh em lên rừng bẻ măng cho đội bồ̀i dưỡng, chúng tôi gặp cả một đồi ớt trái chín đỏ, tôi cùng nhiều anh em khác hái đầy cả túi xách và pha trò, “ớt là gia vị mà nay trở thành thực phẩm “. Thường thì mỗi khi đi lao động về tôi hay đi ngang xóm nhà dân để nhổ những cây ngò gai, hái rau kinh giới ven bờ các lạch nước đem về ăn, gặp một anh người Tầy cho biết chúng tôi sắp chuyển trại. Về rỉ tai cho anh em nghe thì đúng như vậy, vài hôm sau đội chúng tôi được chuyển đến trại 4, để chuẩn bị cùng các anh em trại khác ra đi.
Chúng tôi được đưa về trại giam Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú do công an quản thúc. Đến đây chúng tôi mới biết chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa bùng nổ. Vĩnh Quang có hai trại là A và B. Chúng tôi ở trại A. Tại đây có ba dãy nhà hình chữ U xây tường lợp ngói, bao quanh bằng tường gạch cao chừng 4m, chứa 15 đội, tôi ở đội 15. Thời gian sau tôi mới biết tại đây cũng có Đại-tá Lý Bá Phẩm, Tỉnh Trưởng Khánh Hòa (Nha Trang) và nhiều anh em trở về từ tàu Việt Nam Thương Tín. Trong số đó có anh Vũ Toàn trong ban đại diện đòi giải quyết nguyện vọng trở về lại VN.
Cũng như tất cả những trại giam khác, sáng họ mở khóa cửa phòng điểm danh, xong cho chúng tôi ra ngoài trại đi lao động. Tối vào phòng, khóa cửa lại bên ngoài. Các cán bộ công an thay nhau đi tuần tra vòng vòng bên ngoài. Lâu dần rồi cũng quen, không còn ai bận tâm nghĩ đến ngày về.
Đội 15 chúng tôi phụ trách trồng trọt, cày ruộng, đi làm thông tầm, sáng đi, chiều mới về trại, nên việc cải thiện nấu nướng cũng dễ dàng và thoải mái hơn. Thực phẩm tươi sống thiên nhiên rất nhiều mùa nào cũng có. Mùa cày thì ăn nhái, đến mùa gặt lúa thì ăn con muỗm (giống như cào cào, châu chấu), nướng mùi thơm như tôm nướng nhưng cũng phải bắt lén lút, đào vét mương thì ăn cá v.v… Tôi ở tổ cày ruộng nên thường hay bắt những con cá bảy chầu (một loại cá lia thia) về nuôi chơi cho đỡ buồn vào những ngày nghỉ cuối tuần. Một hôm tình cờ tôi gặp lại anh Trần Hữu Thành, Thiết-đoàn trưởng Thiết-đoàn 9 Kỵ-binh qua đội tôi tìm người quen. Ngồi nhắc lại những kỷ niệm ngày trước lúc anh còn ở Thiết-đoàn 11 Kỵ-binh xiết bao ngậm ngùi. Từ đó hai anh em có gì cũng chia sớt cùng nhau, cho đến ngày chuyển trại mỗi người mỗi ngã. Có một chuyện tình rất cảm động là cô giáo Tha dạy học trường làng, thường đi ngang qua đội 15 và đội 7 cũng làm thông tầm rồi gặp anh Trạch. Tình yêu vốn không biên giới, đã nảy nở giữa cô giáo và người tù không bản án.
Như những trại giam khác, tiêu chuẩn ăn vẫn là khoai lang, khoai mì. Các dịp lễ lớn mới được một chén cơm, một miếng thịt heo bằng hai ngón tay. Vào dịp Tết thì mỗi người được hai cái bánh chưng, su hào và rau cải do đội rau xanh cung cấp. Tuy đội chúng tôi đi làm thông tầm có cải thiện thêm chút ít chất đạm, nhưng cơ thể vẫn thiếu dinh dưỡng, vẫn đòi hỏi. Vì ăn không được no, thèm đủ thứ nên mỗi tối trước khi ngủ chúng tôi đứa nào cũng chiên, xào, nấu những món ăn có thể ngày xưa là đạm bạc mà lúc này lại là “cao lương mỹ vị” để cùng nhau ăn hàm thụ, cho đã cái bụng lép xẹp. Đêm nào cũng nấu món này món kia, riết rồi ăn tưởng tượng hoài cũng chán, nên cũng có lúc thay đổi khẩu vị, bằng cách lén lút hát khe khẽ cho nhau nghe, những bài nhạc lính như “Anh không chết đâu em, Người ở lại Charlie, Rừng lá thấp, Trên bốn vùng chiến thuật…v.v. “Không ngờ lúc chúng tôi đang hát thì anh công an đi tuần tra nghe được, lại hưởng ứng bảo chúng tôi hát bài “Xuân này con không về ” vì anh rất thích bài này.
Đôi lúc chúng tôi kể cho nhau nghe một thời oanh liệt, những trận chiến có lúc thắng lúc thua, mà có thua thì vẫn thua trong danh dự. Cũng có lúc mừng vì thoát chết trong gang tấc, cho là nhờ phước đức ông bà, mục đích là để bớt suy nghĩ về ngày mai mù mịt của mình.
Anh Đặng Vũ Chương kể tại mặt trận An Lộc năm 1972, Tiểu-đoàn 3 của Thiếu-tá Nguyễn Phúc Sông Hương, thuộc Trung-đoàn 48 của Đại-tá Trần Bá Thành, Sư-đoàn 18 BB do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, tái chiếm lại Đồi Gió khó khăn như thế nào.
Thích nhất là nghe anh Phan Cảnh Cho (ND), kể những trận đánh ở Hạ Lào năm 1971, vượt thoát khỏi vòng vây VC trong đêm tối, hay Đại-úy Nguyễn Văn Đương chiến đấu anh dũng và dành riêng cho mình viên đạn cuối cùng. Đại-tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ-đoàn Trưởng Lữ-đoàn 3 Dù, bị bắt tại Căn Cứ Hỏa Lực 31 sau khi bị VC tràn ngập.
Tiếp lời của Cho, tôi kể Chi-đoàn 1/11 Chiến Xa đi giải tỏa đồi 30, căn cứ hỏa lực của Dù, Chi-đội của Thiếu-úy Đáng trở về an toàn, và trên đường triệt thoái tôi cùng anh em Nhảy Dù (ND), bắn ngăn chận các đợt xung phong truy kích của VC bằng đạn chài, Binh nhất Bùi Rọ ngồi cạnh tôi trên chiến xa M41 bắn M79, bị tử thương và Trung-úy Cái Hữu Côn, Đại-đội trưởng 83 Dù tăng phái cho Chi-đoàn 1/11 chiến xa cũng hy sinh. Biết không thể rút theo Quốc Lộ 9 vì VC đóng chốt trên các đỉnh núi, hay ở các con suối cắt ngang qua đường, Đại-tá Nguyễn Trọng Luật Lữ-đoàn Trưởng Lữ-đoàn 1 KB, hướng dẫn đoàn xe Thiết Giáp cùng Tiểu-đoàn 8 ND rút theo đường mòn, vượt sông Tchepon về Lao Bảo an toàn.
Anh Cho kể tiếp mặt trận Kontum năm 72, Lữ-đoàn 2 Dù vất vả chiến đấu, trước trận địa pháo và xung phong của địch tại căn cứ Charlie, Trung-tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu-đoàn trưởng Tiểu-đoàn 11 Dù, đã tử trận vì trúng pháo 130 ly, Trung-úy Nguyễn Văn Thinh, Đại-đội trưởng 111 tử trận, Đại-đội 114 của anh Cho bị VC tràn ngập, anh Hoàng Ngọc Hùng khóa 22B Võ Bị Đại-đội trưởng 112 cùng anh Cho bị bắt rồi cả hai trốn thoát vài ngày sau đó.
Tôi nói tiếp cũng tại mặt trận Tân Cảnh, Đại-úy Trần Châu Giang khóa 22B Võ Bị, Chi-đoàn trưởng Chi-đoàn Bạch Mã 1/14 chiến xa M41, cũng bị bắt làm tù binh và được trao trả năm 73.
Anh Dương Viết Đang lái máy bay L19 thám sát vùng hỏa tuyến kể, khi bay quan sát thấy xe ủi đất của VC làm đường hầm hố ra sao, còn anh Phan Công Ý thì thường ngâm bài thơ “Hổ nhớ rừng” cho chúng tôi nghe, như để nói lên tâm tư của mình v.v.
Nói chung thì thằng nào cũng có những chiến tích hào hùng hay bi thương để kể, những nỗi buồn khi có một chiến hữu đã hy sinh, những chuyện tình lãng mạn.v.v…
Nhiều đứa ngồi nghe nói sao cứ kể toàn chuyện thua không vậy, anh Cho nói thắng thì đâu có gì để nói, thua mới có chuyện như vượt thoát để kể chư. Rồi anh cười xòa nói nhỏ, trước là tưởng niệm các anh em đã hy sinh, sau là để bọn công an đi tuần không làm khó dễ tụi mình.
Có những lúc tôi chỉ im lặng để nghe, để buồn cho những gì mình đã trải qua. Tụi nó đòi hỏi phải kể tiếp thì tôi cũng kể, mà kể thì cũng chỉ kể những mẫu chuyện vui vui, những khi được về ngồi ăn uống, nghe nhạc tại Quảng Trị, còn những chuyện buồn khác ở vùng địa đầu giới tuyến như Chuẩn úy Nguyễn văn Chiến Chi-đội phó, Chi-đội 2/2/11 Thiết Kỵ của tôi, đã hy sinh và nhiều bạn cùng khóa như Đỗ Đình Du và Võ Văn Kiệt bị thương tại Gio Linh phải giải ngũ , tôi dấu kín vì càng nhắc càng thêm buồn. Riết rồi cũng không còn chuyện gì để kể nên cũng phải thuật lại các trận đánh mình đã trải qua tại Gio Linh, tại Trung Lương, tại căn cứ Carroll, bắn hạ chiến xa địch, tái chiếm Cổ Thành v.v… Vậy là tụi nó chuyền miệng từ thằng này sang thằng khác cho nên cứ phải kể đi kể lại hoài theo yêu cầu vào cuối tuần vì tụi nó cho đó là chuyện đáng xấu hổ chưa từng thấy trong cuộc chiến như tại căn cứ Carroll (tức căn cứ Tâm Lâm) . Mọi điều thắc mắc, nghi vấn về chuyện căn cứ Carroll thất thủ thì tôi để cho tụi nó tự suy luận, đánh giá. Tôi không có ý kiến mặc dù tôi là nhân chứng sống.
Đến khi trại cho viết thư báo cùng gia đình được phép thăm nuôi, thì toàn trại đều phấn khởi. Cuộc sống trong trại nhộn nhịp hơn, vui vẻ hơn. Đến Tết nguyên đán năm 1981, trại A và B được phép tổ chức văn nghệ ngoài trời. Anh Vũ Cao Hiến khóa 24 Võ Bị lên hát một bài mà anh em ai cũng mũi lòng: “Chờ anh em nhé… dù tháng năm kéo dài ngày về… dù nắng mưa cách trở đường về… thì vẫn chờ anh đợi anh em nhé…” Khoảng giữa năm 1980 chúng tôi được trại cho phép gửi thơ, báo tin cùng gia đình được phép gởi quà mỗi gói 5kg và thăm nuôi. Vợ cùng đứa con trai cũng cố gắng lặn lội ra thăm tôi được một lần vào năm 1981 sau bao nhiêu năm xa cách, dù chỉ có một tiếng đồng hồ bên nhau nhưng cũng đủ thỏa lòng mong nhớ. Trước khi chia tay vợ tôi cũng theo yêu cầu của trại “phải động viên tôi” ráng nói lớn, như cố tình sợ anh cán bộ ngồi đó không nghe một câu mà chúng tôi đã từng nghe đi nghe lại suốt mấy năm qua: “anh cố gắng học tập cải tạo tốt, để sớm được nhà nước khoan hồng, tha về sum họp với gia đình”.
Những tin tức gia đình mang đến như sắp được tha về đoàn tụ, như Mỹ điều đình mua anh em cải tạo mỗi người 2.000 đôla. v.v. Tuy không biết thật hư như thế nào, nhưng cũng mang đến cho anh em nhiều hy vọng. Cũng có vài đợt tha về một số rất ít, cũng làm anh em càng hy vọng cho mình hơn. Cuối tuần anh em có quà thường nấu ăn, anh Điển hái lá giang về cho hai anh Tuấn và Soạn nấu với mì gói cùng ăn với nhau. Không ngờ anh Điển hái nhầm lá ngón, một loại lá độc mà không biết. Anh Điển bận đánh mạc chược, nên anh Soạn và anh Tuấn ăn trước thì bị trúng độc, anh Soạn chết còn anh Tuấn được cứu sống. Cả trại thầm cầu nguyện cho linh hồn anh sớm được siêu thoát.
Một buổi sáng anh trật tự trại đi thông báo, tất cả tập họp giữa sân để trại trưởng nói chuyện. Cả trại bàn tán xôn xao, cuối cùng được biết là…. chuyển trại về Nam, tuy chưa biết về đâu, nhưng mừng trước cái đã. Sau khi đọc tên ra đi, một số gần 100 người còn ở lại, đội 15 có tôi, Đang và vài người nữa. Tất cả dồn lại ở hai phòng. Hai ngày sau tù hình sự được đưa về trám các phòng còn lại. Thì ra tôi và anh Đang ở lại canh tác cho xong vụ mùa. Trong số những người còn ở lại gồm chung cả trại A và B, nên đêm đêm chúng tôi ngồi nghe anh Hiến hát những bản tình ca buồn, chia ly, trắc trở như:
Trách Người Đi:
“Sương lam tuôn rơi hắt hiu trên hàng thông xám reo vi vu, khiến xui bao nhiêu nhớ nhung tràn lòng ước mơ, người đi phương xa đâu ngờ, miền quê ai đang mong chờ, đau đớn xót thầm từ ngày biệt ly…”
Hẹn Hò:
“Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu, một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chảy phương nào, trời thì mưa rơi mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau, người thì hẹn nhau sang sông mong cho chóng tạnh mùa ngâu, cuộc đời làm đôi bên yêu nhau cách một biển sâu, hẹn hò tàn thu sang xuân bên nhau biết thuở ban đầu…”
Rồi đến bài Động hoa vàng:
“…Chim ơi chết dưới cội hoa, tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà, mai ta chết dưới cội đào, khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu…”
Chúng tôi ngồi nghe mà mỗi người mang trong lòng một tâm sự riêng. Rồi vụ mùa cũng xong, chúng tôi được đưa lên xe Molotova chuyển đi không biết đến nơi nào. Vì là một sự kiện quan trọng, nên tôi nhớ mãi . Chúng tôi được chuyển đi, hai người chung một cái còng trên mấy chiếc xe Molotova. Xe chạy, chạy mãi qua một thành phố cũng nhộn nhịp, lại thêm một sự kiện nữa làm chúng tôi ngỡ ngàng là dân chúng hoan hô chúc mừng, quăng bánh và trái cây lên cho chúng tôi. Nhiều người chạy xe Honda theo hỏi chúng tôi có thân nhân ở đây hay không, để báo tin dùm cho, thật là cảm động. Tôi nhớ lại ngày trước lúc đến miền Bắc thì bị ném đá, ngày nay thì được ném thức ăn, đúng là vật đổi sao dời! Qua cơn xúc động bồi hồi, xe tiếp tục đi đến trại giam rộng lớn đẹp đẽ khang trang, đó là trại Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh.
Xuống xe tập họp điểm danh, nhìn quanh tôi thấy trên bảng liệt kê danh sách các mặt hàng được mua có cả các loại rượu, ai cũng thắc mắc rằng trại tù mà sao lại được mua đủ thứ ? Buổi tối đầu tiên nhiều người được mua và ăn uống thả dàn, vì nhờ các người ở trước đưa tiền cho cán bộ mua dùm. Sáng hôm sau trong khi tập họp, thấy cán bộ đến đưa cho anh trực trại ghi tên và nhận tiền những ai mua thịt heo, và nhiều thứ khác.
Tôi và Đang có tên về phân trại C đảm nhiệm cày cho vụ mùa Đông Xuân. Mùa đông năm nầy sao mà lạnh dữ quá, ốc bươu nổi đầy trên mặt ao, tôi cũng rán chịu lạnh lội xuống vớt để chiều về ăn. Xuân lại về, anh em trong trại rộn ràng chuẩn bị, tôi bán bộ đồ của vợ gởi cho, để cùng anh Đang mua thịt, bánh, mứt cùng nhau ăn Tết lớn. Qua Tết âm lịch năm 1983, tôi và Đang cùng nhiều người khác được thả. Trước khi rời trại, chúng tôi được ở lại tại trại chính, tức trại A vài ngày chờ làm thủ tục. Tôi đi lòng vòng qua các phòng, gặp nhiều cấp chỉ huy trong Binh chủng Thiết Giáp của tôi như Đại-tá Trần Tín, Trung-tá Bùi Thế Dung…và được biết có nhiều chính khách lãnh đạo khác trong chính quyền VNCH, cũng bị giam giữ tại đây. Trò chuyện một lúc tôi mới biết, đây là trại mẫu dành cho những quan khách nước ngoài đến tham quan, nên mới được ưu đãi như vậy.
Mỗi người được cấp giấy ra trại và 13 đồng để đi đường. Sau đó được cán bộ trại đưa chúng tôi đến ga Hàng Cỏ. Tất cả ngồi chung một toa riêng biệt, có người xuống dọc đường, còn tôi về đến ga cầu Bình Lợi. Về đến nhà ai cũng mừng rơi nước mắt, hai đứa con trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, lạ lẫm. Thằng con trai nay đã lên mười, đứa con gái vừa lên tám. Ngồi ôm hôn hai đứa mà lòng bồi hồi xúc động, vợ tôi lại khóc nói không nên lời. Đêm đến nằm bên nhau kể lể, tâm sự nói hoài cũng không hết, về những khó khăn từ khi tôi ra đi, cứ thổn thức cứ khóc thút thít hoài.
Được thả thì vui với vợ con, nhưng lại có những khó khăn khác như bị “quản chế ” và tìm việc làm. Cha mẹ cũng khó khăn không giúp gì được, cũng may nhờ đứa em gái xin cho vào làm ở cơ sở tư nhân nhỏ, sản xuất nhựa nylon tái sinh. Nhiều anh em khác không được may mắn như vậy, chạy đôn chạy đáo kiếm cơm hàng ngày, làm đủ mọi công việc. Nhờ còn bằng lái trước 75, tôi lái xe tải chở hàng cho cơ sở khô bò Tuyền Ký, cho đến ngày nộp hồ sơ xin định cư tại Mỹ theo diện HO 23. Vì còn mảnh đạn gần phổi nên phải ở lại thêm 6 tháng để uống thuốc.
Lời Cuối:
Chúng ta ai cũng có nhiều kỷ niệm buồn vui lẫn lộn, những kỷ niệm trong thời còn thơ ấu, thời còn học sinh, một thời làm lính chiến, một thời đi tù cải tạo. Nhiều lắm, làm sao mà kể cho hết. Cho nên có những chuyện mà mình muốn quên, nhưng không bao giờ quên được, nó cứ quay đi quay lại, không phải do ta, mà là tại tác động từ bên ngoài, khiến ta không thể bôi xóa được nhất là khi gặp lại các anh em cùng sống chung trong trại cải tạo.
Khi định cư tại Mỹ, gặp lại các bạn tù Đội 15 Vĩnh Quang tại Westminster, Orange County, California. Những chuyện kể lúc còn ở trong trại Vĩnh Quang cũng được yêu cầu kể lại trong những lúc uống café, hay trong những buổi họp mặt cùng với những người bạn mới, họ cũng muốn nghe về chuyện căn cứ Carroll đầu hàng giặc cộng. Cho nên muốn quên đi mà không thể nào quên. Nhân Đại Hội Thiết Giáp Toàn Thế Giới được tổ chức vào ngày 25 và 26 tháng 6 năm 2023 tại Little Saigon. Tôi viết lại khúc đời chiến đấu và tù tội để lại cho thế hệ sau biết được những vinh quang, gian khổ và cay đắng của một thế hệ được sinh ra và đã trưởng thành trong khói lửa với nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân trong ba tín niệm:
Nghe danh anh đã lâu, cũng đã từng gặp anh một lần ở New Orleans ngay sau khi cơn bão Katrina không thể bứng anh ra khỏi vùng đất cái nôi nhạc Jazz này, nhưng lúc ấy có lẽ vì đang là người nổi tiếng, bạn bè vây quanh, nên anh chẳng nhớ tôi là ai, một gã trời ơi nào từ tận Bắc Âu đến chào, bắt tay và xin chụp với anh một tấm hình.
Quan Dương- PTAN- TS Lê Xuân Nhị
(New Orleans 2008)
Bị tù đày khốn khổ hơn tám năm. Ra tù lại càng đau lòng hơn khi thấy vợ con nheo nhóc, và cả miền Nam như trong địa ngục, tôi có cảm giác lạc loài ngay trên chính quê hương mình, nên cùng vợ con và một số bạn tù tổ chức vượt biên. Nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc NaUy cứu vớt trên biển Đông, trước khi cơn bão lớn ập xuống. Với ân tình này, chúng tôi chọn đất nước Bắc Âu xa xăm băng giá nhưng đầy ắp tình người này để gởi phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con. Sau khi tạm ổn định đời sống và việc học hành cho các con, tôi bắt đầu hồi tưởng quá khứ, tìm đọc những tác phẩm, bài viết của những người đi trước, đặc biêt những tác giả gốc lính và tất nhiên viết về lính, đời lính, với những thăng trầm, vinh nhục cùng những hệ lụy đớn đau sau ngày tan đàn xẻ nghé.
Trong một vài tác giả yêu thích, tôi đặc biệt say mê những câu chuyện của một nhà văn có cái bút danh khá dài, luôn đi cùng tên họ trong khai sanh, Trường Sơn Lê Xuân Nhị, bởi phong cách viết rất “lính” của anh. Bộc trực, khí khái, máu lửa, lãng mạn, và phảng phất chất phong trần, ba gai của lính, nhưng lại đầy ắp nhân bản, nghĩa tình. Đọc một bài viết của anh, có khi đang cười khoái chí, nhưng ngay sau đó lại nhạt nhòa nước mắt! Đặc biệt hầu hết trong những câu chuyện đều có bóng dáng của những địa danh quen thuộc một thời mà đơn vị tôi từng có mặt trong nhiều cuộc hành quân, và tất nhiên có những đồng đội, huynh đệ của tôi đã nằm lại vĩnh viện tại các nơi này: Dak Song, Dak Pét, Pleime, Bu Prang, Quảng Đức, An Khê, Chư Pao, Hàm Rồng, Kontum, Dakto, Tân Cảnh. Vì vậy càng đọc tôi lại càng thấy gần gũi với anh hơn.
Đọc tiểu sử tác giả, biết anh sinh ra và lớn lên ở thành phố Ban Mê Thuột, nơi đại đơn vị của tôi đặt bản doanh, nên khi ấy dù có phải hành quân xa ở đâu, thi thoảng bọn tôi cũng ghé về đây nhìn “Bụi Mù Trời” để thấy đời “Buồn Muôn Thuở”. Anh là phi công của Phi đoàn Quan Sát 114, thuộc Sư Đoàn 2 KQ, đồn trú tại phi trường Nha Trang, một thành phố an bình thơ mộng nằm bên bờ biển xanh gió reo song vỗ, nhưng hằng ngày vẫn bay yểm trợ cho đơn vị tôi trong các cuộc hành quân trên khắp Vùng 2, đặc biệt tại chiến trường khốc liệt Kontum trong những năm 1972-1973 ngập tràn khói lửa. Lúc ấy có lẽ anh cũng vừa mới ra trường để bắt đầu cuộc đời bay bổng. Và trong giai đoạn này, chắc chắn mỗi ngày anh đều phải bay trên đầu giặc, trước cả một rừng hỏa tiễn phòng không tối tân, ác liệt của kẻ thù.
Ngày 24.4.1972, ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 22.BB tại Tân Cảnh bị Công quân tràn ngập, Đại Tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh hào hùng đã từ chối lời mời lên trực thăng để vượt thoát cùng với cố vấn Mỹ, ở lại cùng chiến đấu và hy sinh với quân sĩ dưới quyến, Sư Đoàn 23.BB (-) của chúng tôi từ Ban Mê Thuột nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên Kontum để kịp ngăn chặn hơn ba sư đoàn của Mặt Trận B3 do Tướng CS Hoàng Minh Thảo chỉ huy, tràn xuống chiếm Kontum nhằm làm bàn đạp uy hiếp Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn II. Riêng đơn vị tôi, Trung Đoàn 44BB, đã có mặt tại An Khê từ đầu năm 1972, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của BTL Quân Đoàn, để thay thế một lữ đoàn thuộc SĐ101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước, đảm trách một vùng hành quân thay cho Sư Đoàn 22BB đã di chuyển lên mặt trận Tân Cảnh, và làm lực lượng trừ bị cho Quân Đoàn. Ngày 14.5,1972 chúng tôi nhận lệnh rời An Khê di chuyển đến phi trường Cù Hanh, Pleiku để được không vận lên Kontum, tái hợp với Sư Đoàn. Khi các phi cơ C-130 chuyển quân đáp xuống phi trường Kontum lúc nửa đêm, thành phố tối đen và đang bị pháo kích dữ dội, vài phi cơ tại phi trường bị trúng đạn còn đang nghi ngút khói, chúng tôi nhận lệnh tức tốc lên đảm trách tuyền Tây Bắc, cách trung tâm thành phố khoảng 7 cây số, thay cho một Liên Đoàn BĐQ cùng một đơn vị của Tiểu khu Kontum.
Đào hầm hố, củng cố hệ thống thủ chưa xong thì khoảng 5 giờ sáng, Sư Đoàn 320 CS tung hai trung đoàn bộ chiến 48 và 64 được dẫn đầu bởi một tiểu đoàn xe tăng T-54, tấn công vào phòng tuyến. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh từ vùng Duyên Hải vừa mới đến, đã đánh tan bọn chúng bằng một trận hào hùng. Bắn cháy 7 xe tăng T-54 và bắt sống một chiếc, khoảng 100 xác bỏ lại, số còn lại bỏ chạy tháo lui, bị các chiến đấu cơ của Sư Đoàn 6 KQ truy kích, tiêu diệt. Sau đó chỉ 10 ngày. chúng tăng cường thêm Sư Đoàn 2 và một sư đoàn tân lập (sau này là F-10) xâm nhập từ Lào mở cuộc tấn công vào thành phố. Và lần này, chúng cũng lại đụng độ với lực lương Trung Đoàn 44 chúng tôi mới vừa rời tuyến Tây Bắc về phòng thủ vòng đai thành phố, theo kế hoạch hoán đổi dưỡng quân. Cuộc chiến lần này cũng ác liệt không kém, khi đich lợi dụng sự phòng thủ sơ hở của lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu, đã đưa cả một lực lượng đặc công và xe tăng đánh vào Bênh Viện 2 Dã Chiến, chỉ cách TTHQ của BCH Trung Đoàn 44 một hàng rào phòng thủ. Quân Đoàn đã điều động tối đa các phi đoàn Quan Sát yểm trợ cho trận chiến này. Chúng tôi lại tao nên chiến thắng vẻ vang, thêm 8 tăng T-54 và T-59 bị bắn cháy kể cả tên chỉ huy, và một số địch buông súng đầu hàng, xin được hồi chánh. Mọi ý đồ của địch đã bị bẻ gãy.
Tôi vẫn còn nhớ, trong một trận chiến khá ác liệt, Cộng quân tung cả một trung đoàn nhằm tiêu diệt một đơn vị của chúng tôi. Trong thời khắc nguy khốn nhất, tôi nghe tiếng gọi trên tần số Không Lục:
– Ninh Kiều, Sao Mai 09 gọi!
– Ninh Kiều nghe bạn 5/5!
– Bạn lệnh cho đứa con của bạn cho tôi xin một nàng Thúy Kiều, màu áo gì cũng được (1)
– Nhận 5! Màu tím!
– Tôi đang ở trên đầu đứa con của bạn. Bọn vịt con rất đông, một số đang bao vây, một số khác đang tiến gần đến vị trí con của bạn. Tôi đã gọi 2 phi tuần yểm trợ cho bạn, đang trên đường đến mục tiêu! (2)
– Đã nhận ra bạn. Một đứa con khác của tôi đang ở hướng 10 giờ của bạn. Phòng không chung quanh rất nhiều, bạn cẩn thận. Tôi sẽ bảo các đứa con liên lạc trực tiếp với bạn để tránh ngộ nhận.
– Yên chí! tôi đ… sợ bọn vịt con này! Tôi sẽ ở chơi với các đứa con của bạn cho tới khi nào hết nước, và sẽ gọi Sao Mai kế tiếp lên vùng ngay. (3)
Hai phi tuần AD-6 đánh theo hướng dẫn của Sao Mai 09, khi người phi công tài hoa này đã bắn hai quả đạn khói chính xác ở hai địa điểm khác nhau, làm địch không kịp trở tay, nên bị thương vong nặng nề, phải bỏ chạy. Anh gọi tiếp 2 phi tuần khác, túc trực tại phi trường Pleiku, bay lên truy kích tiêu diệt cả hai tiểu đoàn địch.
Từ Trung Tâm Không Trợ Sư Đoàn, ông tư lệnh theo dõi và lên tiếng ca ngợi:
– Tuyệt vời lắm Sao Mai 09. Sẽ có thuởng cho bạn!
Tiếng la hét, chửi thề trong nỗi vui mừng của chàng phi công trẻ lại vang lên trên tần số Không Lục, chẳng cần biết người đang đối thoại với mình là ông tướng một sao, tư lệnh chiến trường! Trong không khí căn thẳng, ngột ngạt chúng tôi cũng phải phì cười!
Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 114 khi ấy là Thiếu Tá Nguyễn Xuân Tám, bạn cùng khóa 17 Võ Bị với anh Trung Đoàn Phó nổi tiếng với danh hiệu Bá Hòa (sau đó là Trung Đoàn Trưởng) của tôi. Hỏi ra mới biết Sao Mai 09 hôm ấy là một ông Thiếu úy trẻ măng, gốc Ban Mê Thuột, nơi đặt bản doanh của đại đơn vị chúng tôi. Chúng tôi còn được biết thêm là ông “quan một” Không Quân này vốn con nhà “quí tộc”, bởi ông cụ từng là dân biểu thời Đệ 1 Công Hòa, nhưng vì đã trót sinh ra bất phùng thời, và lớn lên ngay giữa một thành phố lính, ngày nghe tiếng súng, đêm thì cả bầu trời thắp sáng hỏa châu và nhà nào cũng vang vang những khúc ca tình lính, nên chàng trai vừa có tâm hồn nghệ sĩ lại vừa có máu giang hồ tráng sĩ, mới tròn 18 tuổi đã tình nguyện “ đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai”(?)
Chàng là một phi công có tài, ra trường chưa nhuốm mùi sương gió, mà bay bổng thì không hề thua ai. Nhưng có lẽ vì quên mất mấy câu trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du “chữ tài liền với chữ tai một vần”, nên mỗi lần hứng chí là lén xách máy bay ra nhào lộn biều diễn đủ kiểu ngoạn mục, nhưng ngoài sách vở và phi lệnh, khi ngứa mắt bọn VC dưới đất thì nhào xuống trêu chọc, rồi bắn quả roket rất chính xác chỉ điểm cho khu trục oanh kích, mà chẳng cần biết SA-7 hay phòng không bọn nó giấu ở đâu. Vì vậy các đơn vị bộ binh thì “mê” anh ta, nhưng ông Phi Đoàn Trưởng 114 thì rất nhức đầu, nên mấy lần đã phải lái xe gởi anh ta vào đồn Quân Cảnh nghỉ mát, nhưng rồi lại đích thân đón chàng ta ra sớm và xé mấy tờ lệnh phạt đã ký sẵn để trên bàn.
Coi bộ chẳng biết sợ trời đất là gì, nhưng chàng ta có trái tim nhân hậu, hết lòng với Tổ Quốc và chí tình, yêu thương đồng đội chiến đấu dưới cánh máy bay của mình. Một lần bay thám sát, yểm trơ cho một đơn vị Địa phương quân bị Cộng quân tràn ngập tại một tiền đồn ở Cao nguyên, vị đồn trưởng yêu cầu cho đánh bom ngay trên đầu mình để tiêu diệt địch, anh đã bật khóc khi gọi oanh tạc cơ và cúi đầu, nghiêng cánh chào vĩnh biệt những người đồng đội kiêu hùng trong hai hàng nước mắt!
Một lần tăng phái cho Quảng Đức, trong một ngày nghỉ, không tới phiên mình, nhưng anh đã gật đầu nhận lời bay cùng với một sĩ quan Biệt Kích để đi tìm, hướng dẫn, yểm trợ cho một toán Lôi Hổ bị Cộng quân truy đuổi trong rừng. Biết nếu có qua được nguy hiểm thì chắc chắn cũng sẽ bị phạt, nhưng chàng ta lại mãn nguyện khi đã hoàn thành một sứ mạng cần thiết để cứu nguy đồng đội. Và đúng là anh bị ông Phi Đoàn Trưởng gọi về trình diện. Ông bảo “tôi bắt buộc phải phạt anh, nhưng tôi rất phục anh, bởi vì nếu trường hợp là tôi, tôi cũng sẽ làm như thế!”. Thật đúng với tinh thần Không Quân: “Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè!”
Một hôm, nghe tin bào đệ của anh tử trận tại phía Bắc Võ Định Kontum, chúng tôi rất đỗi bất ngờ và đau đớn, vì người em trai của anh lại là một HSQ rất gan dạ thuộc đơn vị chúng tôi: TS1 Lê Xuân Bích. Anh thuộc toán thám báo, đã ngã xuống trong một cuộc đột kích rất hào hùng vào vị trí của một đơn vị địch. Sau này tôi trách anh ta, sao không nói trước với chúng tôi một tiếng. Vả lại ông sếp của anh lại là bạn cùng khóa với ông Trung Đoàn Trưởng của tôi. Chuyện dễ thôi mà! Anh buồn lắm, khi bị ông già giận bảo “mày bay bổng cả ngày, chỉ có mỗi thằng em mà không lo cho nó.” Nhưng rồi anh lại hạ giọng “Tính của tớ khó nói lời nhờ vả lắm, hơn nữa trót sinh ra thời chinh chiến thì chuyện sống chết cũng là lẽ thường tinh!”
Nói thế, chứ chúng tôi biết là trong lòng anh đang có một vết thương không bao giờ lành được, nhất là đứa em trai có đầy ắp những kỷ niệm tuổi thơ với anh, đã nằm lại đâu đó trong núi rừng xa tít mịt mờ, nhưng trong trái tim anh luôn có một nấm mồ đẹp đẽ nhất dành cho thằng em thương quý của mình.
Mùa Hè 2021, tôi đến tham dự một buổi ra mắt sách của người bạn, Nhà văn/Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh, từng là Đại Đội Trưởng Trinh Sát nổi tiếng của của Sư Đoàn 22 BB, được tổ chức tại Nam California. Khi nghe người MC giới thiệu tên tôi, một vị khách mời từ hàng ghế đầu bước xuống phía dưới bắt tay tôi và giới thiệu mình là Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Tôi bất ngờ nhưng nhận ra anh ngay, và ngạc nhiên vì thấy anh khá tiều tụy với cái đầu cạo trọc. Tôi cảm động khi anh tỏ ra rất thân tình và hẹn phải sớm gặp nhau để cùng nhậu một chầu mừng cuộc trùng phùng cho kịp trước khi anh phải bỏ lại bạn bè. Thấy tôi tròn mắt, anh cười, bảo “ung thư tới thời kỳ cuối!”
Cũng như ngày xưa, khi bay trên đầu địch, trước những họng súng phòng không dày đặc, anh vẫn đùa cợt tỉnh bơ. Chưa kịp hẹn nhau, thì hai ngày sau, bất ngờ có anh Huỳnh Văn Phú, nhà văn rất dễ thương của TQLC, ghé Bolsa thăm tôi cùng một số bạn bè. Tôi hú một số anh em thân tình cùng anh Phú và báo cho Trường Sơn Lê Xuân Nhị, hẹn gặp tại một quán ăn ở Fountain Valley. Chưa lái xe được, nên bà xã đưa chàng ta đến, xách theo hai chai Red Wine và một chai XO. Đứng nghiêm đưa tay lên chào mọi người, tự xưng mình là thằng út. Trong số các ông anh hôm ấy có Trung tá Võ Ý, nhà thơ Bắc Đẩu của Không quân, cựu Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn Quan Sát 118, Pleiku, là bạn cùng Khóa, thân thiết với anh Phi Đoàn Trưởng 114 Sao Mai của Trường Sơn Lê Xuân Nhị.
Vậy rồi, đột nhiên bạn ta khỏe ra. Lại hú bạn bè đến uống rượu tiêu sầu và bù khú chuyện ngày xưa. Gặp anh, tôi cười bảo, ngày xưa SA-7, 12 ly 7 phòng không dày đặc mà bạn chẳng coi ra chi, huống hồ bây giờ mấy cái con vi khuẩn tí ti, thì có sá gì với bạn phải không? Cứ uống và vui lên đi, chiều hôm tối rồi! Anh ta cười tít cả mắt. Cứ vài hôm là anh hú bạn bè, tụ tập ở nhà anh, một phòng rộng lớn phía sau, trong khu Anaheim. Bà xã anh chiêu đãi nhiều món ăn ngon, còn rượu thì đủ thứ. Anh ôm vai người này, bắt tay người khác, như sợ thời gian với bạn bè chẳng còn lại bao nhiêu. Ai cũng yêu quí, xem anh như anh em, một người bạn dễ thương, khí khái, nghĩa tình.
(Bạn bè khắp nơi đến thăm anh.
Trong này có KQ Võ Ý, KQ Phạm Tương Như, ND Út Bạch Lan – BCD Phạm Châu Tài, LLĐB Mai Bá Trác– QB Trạch Gầm
Điều làm tôi cảm động hơn, là ngay giữa tư gia, anh trịnh trọng trưng lá hiệu kỳ lớn của Sư Đoàn 23 BB. Đơn vị mà tôi đã hơn 10 năm phục vụ, và có biết bao đồng đội hy sinh, còn anh thì suốt cả một thời làm phi công, đã luôn ở trên vùng trời để yểm trợ chúng tôi. Và đặc biệt nhất là bào đệ của anh, TS1 Lê Xuân Bích, người em yêu quý mà anh cùng có nhiều kỷ niệm tuổi thơ, đã hào hùng nằm xuống vào mùa Hè 1972 tại chiến trường Kontum, máu hồng tô thắm cho lá hiệu kỳ này.
Phạm Tín An Ninh – Trường Sơn Lê Xuân Nhị (2022)
Mới đây, bệnh lại tái phát, anh buồn lắm khi không thể đến chung vui buổi tiệc họp mặt “Đời Ghét… Đời Thương” của người bạn làm thơ thân thiết Trạch Gầm. Thiếu anh, rượu XO không còn hương vị nồng nàn và dư âm của những bản nhạc lính dù được hát bởi chính các nàng ca sĩ của lính một thời, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan cũng chưa đủ làm ấm lòng bè bạn.
Xin được cám ơn và ca ngợi anh, một người lính, một phi công trẻ hào hùng, một nhà văn, một người cầm bút khí khái, nghĩa tình, bạn bè ai cũng yêu thương, mến mộ. Cầu chúc sức khỏe anh ngày một tốt hơn để chia sẻ kỷ niệm, yêu thương cùng bạn bè và ý nghĩa cuộc đời bay bổng, thăng trầm cùng với tha nhân.
Biến cố Ba mươi tháng Tư 1975 là một cuộc trần ai, Lật bánh tráng. Một này lật úp trọn vẹn. Một kia lật ngửa, trần trụi, phô bày toàn thể cái Không-thể-giấu-giếm, của nó.
Có người nói rằng, “Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt, kẻ thắng người thua đều là kẻ bại trận.” Nói vậy e không đúng lúc, ra cái điều ngụy quân tử; nhất là câu phát ngôn ấy của người bên “Hốt hết nhà cửa tiền vàng của người thua trận; đốt trụi sách vở; lùa người đưa vào trại tù; triệt tiêu cái tình huynh đệ Bắc-Nam; không một tỏ ra cao thượng nào tìm thấy, nơi kẻ gọi rằng chiến thắng.”
Một cuộc thắng thông qua thuần vũ lực, không có lương tri nhân nghĩa nào có quyền chen vô can ngăn được; chỉ bằng áp đảo, xua cả thiếu niên ra trận, lót đường trùng trùng xương cốt xuôi dãy Trường Sơn; không thể ngay tức thì, ngày hôm trước xưng anh hùng, cờ xí mừng đại chiến thắng, chiều hôm sau nhún mình, trở bộ quân tử tàu, nói ngược lại mình cũng là kẻ bại trận; dù là câu nói ví von, hay ẩn dụ.
Một cuộc xương máu hai mươi năm, “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / vùi con đỏ xuống hầm sâu tai vạ” [*] không thể phán một câu là xong nợ, huề trất. Như cá độ bóng đá, tao với mày bắt tay, ra quán nhậu mần vài chai bia corona.
Ngay đó, chỗ “Tình nghĩa Bắc Nam”, lại một cuộc thua trận. Cũng chẳng thể nói càn, “Đù má, Tao thua hồi nào?” Nhận mình bại trận, cũng là một sòng phẳng, lương thiện; để rồi, sau đó, càng thương yêu nhau hơn, đùm bọc nhau, cùng chung chia nỗi đau định mệnh, cùng nhau tìm con đường Phục quốc.
Bất cứ một sự biện hộ nào, khi một vị Tổng thống đương nhiệm tuyên bố đầu hàng, bàn giao chính quyền cho kẻ thù địch, bằng văn bản, qua lệnh truyền trên đài phát thanh quốc gia rõ ràng, là thua.
Một trận sống mái đã minh định.
Chỉ duy một điều: Thời gian là quan tòa phán xét, Cái-này-sẽ-còn, Cái-kia-phải-mất-đi.
2.
Sau khi chiếm gọn Miền Nam, khi đã xếp một phần vũ khi vào kho, xe tăng không còn phải ra trận; nhìn lên trời xanh thấy con cò bay thay máy bay Mỹ, thấy bờ giậu quê có cái hoa đỏ thắm tươi, không phải máu vết thương người, là lúc thần hồn đã tỉnh tại đôi khi. Thể thái bão hòa này là một báo hiệu mới. Nó xua đuổi một tổng thể đến chỗ rùng mình, cần thiết một Thành-tâm-Nhìn-lại. Khi bước đi giữa Sàigòn, thấy rõ Miền Nam trước mắt, mới chợt tỉnh. Ngồi cùng nhau Đo-Đếm lại đời mình.
“Đếm, là diệu tưởng; đo, là nghi tâm.” [2]
Cuộc Đo Đếm này không ngắn ngủi. Nó dài suốt nhiều thập kỷ về sau, khi tương tàn tạm nguôi ngoai. Dài, cái hữu hình, đo đếm được bằng gang tay, tấc thước, số lượng; cả đến cái dài thăm thẳm, của tấc lòng, cái bi kịch làm một con người, một thời.
Cầm cái chân gỗ tra vào chỗ đầu gối, cầm con mắt nhựa ấn vào chỗ cái lỗ mắt trống hoác con mắt thịt nay không còn, mới là lúc ngậm ngùi. Ngậm ngùi nhìn lại. Thổn thức biết ra. Hòn bom trái đạn không là “món” duy nhất giải quyết mọi sự đời. Hãy còn những giải pháp nhân nghĩa, hòa bình, để thống nhất đất nước. Một ít “nhân dân” khác, sâu sắc hơn, đã chạm một thức tỉnh, một tâm linh nhắc nhở, “Chừng bao nhiêu năm qua, mình đã giết lầm một con người. Người đó e là chính mình.”
Những “quả tim thép” đã bắt đầu nhũn ra. Những “cá thể” vô danh trong một tập thể bấy nay, bỗng tự tách riêng/mỗi, để hiểu rằng, “Dù muộn màng, trễ nãi, mình phải cố, “Sống sao cho ra kiếp sống một con người.”
Bằng lòng một con người tầm thường, như cỏ lau trong bờ lau, như lá trong triệu lá của rừng. Là, sống cùng vợ con. Lo sao cho gia đình nhỏ bé đủ cơm ăn áo mặc, con cái được giáo dục đầy đủ, cái thường nhật là hạnh phúc, niềm vui, sự an toàn; tôn trọng, thương yêu lẫn nhau. Mỗi con người phải hiểu trách nhiệm và quyền lợi của giới hạn riêng/ mỗi.
Bấy nay chúng ta “say” bởi một loại thuốc an-thần-tư-tưởng. Bị đẩy tới chỗ mù lòa trong tư thế chọn lựa.
Trong một thực tế hối hả, đần độn, có không ít chúng ta, mỗi con người, một thời, đã trỗi dậy những giấc mơ. Mơ, và Mong. Mơ làm anh hùng, và mong được chết anh hùng. Muốn được tôn vinh, ta phải là một khối gỗ lấp cái lỗ châu mai, là một khối đá nằm chặn khẩu pháo không bị trượt ngược xuống sườn đồi; mơ nóng sốt, cao trào, mơ cực kỳ “phấn khởi.” Xương máu cha mẹ cho ta tựa gỗ rừng, xăng nhớt.
3.
Ra đi từ một thôn làng Xứ Bắc quạnh quẽ, đường quê bụi mù, buồn hiu vì cây cành trơ trụi què quặt bởi bom đạn Mỹ; mái tranh quê chỉ còn những mẹ già, những người vợ vắng chồng, những con thơ năm năm, mười năm mong ngóng cha từ chiến trường Miền Nam trở lại; biết bao thương yêu; biết bao nước mắt không ranh giới giữa tạm biệt với vĩnh biệt, buổi tiễn đưa.
Hôm nay bước đi trên đất Miền Nam. Đúng là, “Bước đi một bước day day lại dừng.” [3]
Lạ lùng, bước đi trên đất quân thù, mà luôn khắc khoải. Một ánh lửa từ đường hầm lương tri soi tỏ. Cần thiết phải bình tâm so sánh Cái-Đang-nhìn-thấy-thực-tế trên đất quân thù Miền-Nam-hôm-nay, và/với, Cái-chân-dung-Miền-Nam đã được vẽ ra, được truyền bá, trước đây, trên xứ Bắc.
Mối hận thù ngút ngàn khói lửa đã dần dà chuyển sang một tâm thức rõ/khác. Tạ ơn đời, đây là lúc cho tôi xa khuất một quá-khứ-nhiễm-độc, để cần thiết hòa mình với Những-tháng-ngày-sẽ-tới. Chạm mặt Miền Nam là chạm mặt một đầu đời. Một bình minh mới cho cuộc Phục sinh, Tái dựng.
Một nhà văn trẻ [4] trong đoàn quân xâm lược Miền Nam, năm 1975 anh vừa ngoài hai mươi tuổi, đã nói thật lòng qua một bài viết có tựa đề, “Sàigòn đã giải phóng tôi.” Chỗ tài tình của anh là anh viết về những sự việc nhỏ nhoi, cây viết bút bi, chuyến xe đò từ miền Nam lần đầu tiên chạy ra xứ Bắc, cái cảm giác đầu tiên, cực là bỡ ngỡ khi nhìn thấy Sàigòn, lúc gặp gỡ con người Miền Nam ấm áp tình người.
Một nhà văn nữ [5], trong đoàn quân thắng trận, đã ngồi gục xuống ngay lề đường Sàigòn, và, bật khóc. Một buổi sáng của 1975. Một buổi sáng của Sàigòn rực màu đỏ, đỏ khắp phố phường cờ. Sàigòn hóa đỏ phều phào, như đang bị cắt tiết.
Chị nức nở khóc. Trái tim chị tan nát, vì bị đánh lừa, bàng hoàng nhận ra một sự thật, “Miền Nam không là cái hình hài tan nát khốn cùng dưới gót dày quân xâm lược. Sàigòn không đói ăn, người Miền Bắc phải mang theo từng lon gạo vào Nam tiếp cứu. Miền Nam không là nơi chốn chán đời sa đọa; trai trẻ mười thằng chín thằng xì ke ma túy; gái tơ mười đứa, may ra còn một đứa không mần đĩ. Cái biểu trưng cao khiết nhất của Sàigòn, là chị nhìn thấy những sách vở, những văn minh văn hóa, tư tưởng nhân loại được tự do in ấn, tự do phổ biến.”
Đi qua những ngày hòa bình đầy trắc ẩn, qua một bài viết, chị nhắc lại hoàn cảnh Trường Sơn. Đoàn nữ binh của chị, không kể đến những thiếu thốn khổ đau, cái ác độc là nhiều ngày liền không nước tắm, thậm chí không giọt nước rửa ráy. “Cả một núi rừng thối mùi máu kinh nguyệt.”
Tôi nghe tôi hiểu. Chị đã đi chung nắng với Sàigòn.
Tôi nghe vi vu cái Lẽ Thường, nó báo rằng:
Máu nào cũng là máu thôi.
Máu của người.
Máu cờ.
Máu của lịch sử kinh qua.
Nhất thiết phải cần một cuộc tắm gội.
4.
Vì dồn toàn lực, nhân tài vật, cho cuộc chiến. Xua đi. Và, xua tất cả. Ta-cùng-đi. Miền Bắc đã trở nên một khoảng trống số phận. Cảnh vật tiêu sơ, xã hội con người bần cùng cạn kiệt nguồn sống; tranh nhau từng một nửa bước trước cửa hàng lương thực; không còn ai có thể mang an ủi tới cùng ai. Hạnh phúc xiết bao khi cha vào Nam trở về, cho con cái một cây viết bút bi, một tập vở giấy trắng tinh, từ bao nhiêu năm chúng chưa hề thấy. Tặng cho mẹ một chiếc áo ấm, tặng vợ một nồi cơm điện. Vui xiết bao khi cả nhà ngồi quanh nhau một chiếc quạt máy hiệu Sony, quay vù vù êm dịu.
Những vật dụng tầm thường ấy, buổi đầu rải rác xuất hiện đôi nơi trên xứ Bắc, đã mở ra một cuộc Trở-giấc. Một thức tỉnh mờ sương, còn phảng phất, chen lấn những gì không có thật trong giấc mơ vừa tàn, đêm qua.
Tiếng xe gắn máy, từ-Sàigòn-vừa-ra-tới, ai-đã-mang-về, vừa thoáng qua trên quãng phố khuya lạnh căm, nơi bấy nay chỉ thỉnh thoảng một chiếc Volga của một vị ủy viên lạnh lùng chạy vút qua. Đêm Thủ đô, cuộc chiến đã ngừng nhưng ám ảnh của tang thương hoạn nạn còn dài dặc, mông lung trong tiếng gió khuya. Lịch sử chuyển mình, từ ánh lửa hồng đêm đầu tiên khởi chiến chống Pháp; từ những chiều hoang tàn một khu phố nằm dưới làn bom B52 Mỹ, tro khói chiều, lửa cháy qua đêm. Đêm nay, 1975, một đêm mùa đông Hà Nội, bỗng ai đó mở nghe một bài nhạc của một nhạc sĩ Miền Nam Cộng Hòa. Tiếng hát ngọt ngào tha thiết, lời ca lạ lẫm, nhưng tâm sự chan hòa; rộng trải tự do, thăm thẳm tình người; chừng bao la một thổn thức cháy lòng.
Những động tĩnh đầu tiên ấy, bỗng trở nên những tín hiệu nhiệm mầu, báo tin rằng “Ở đâu đó có một Miền Cứu rỗi!”
Lần lượt một người, rồi người người vào Nam. Thấy tận mắt, sờ tận tay. Của cải mang về. Người có bà con trong Nam thì được nhiều quà biếu, những đồng hồ, radio, cassette, áo quần, giày dép, thức ăn đồ hộp, mền mùng, cả xe gắn máy, tủ lạnh, ti vi. Món gì ngoài ấy chúng tôi cũng thiếu cả.
Người Miền Nam, cái thần hồn thì nát tan vì cú knock out bại trận, nhưng cái tình người thì mở rộng chia sẻ giúp người. Bác Tám hưu trí, anh Sáu cán bộ giờ đây khòm lưng chống gậy chờ hui nhị tì, hẳn còn nhớ những ngày Miền Nam sau tháng Tư, 1975 năm ấy.
Sàigòn, và khắp các phố thị Miền Nam, là tràn ngập chợ trời. Hè phố, hàng hiên, bãi cỏ công viên đều biến ra chợ trời. Để Ông Trời chứng giám. Bày bán hàng vạn thứ, giá rẻ mạt. Bán tống tháo. Bỏ của chạy lấy người. Bán vét sạch trong nhà, từ bộ áo vét tới bộ lư đồng trên bàn thờ, kiếm chút tiền mua khoai gạo sống qua ngày. Chợ trời, có mặt đủ thứ/loại hàng, thượng vàng hạ cám; từ cái máy xay tiêu, cái lò nướng thịt chỗ bếp, đến những dàn máy hát tân tiến nhất vừa mới nhập nội đầu năm 1975; vô vàn những món quý giá, từ lâu vốn nằm trong những gia đình quyền quý, nay ra hè phố công viên; những bộ trường kỷ danh mộc cẩn xa cừ Nhị thập tứ hiếu; những món đồ cổ đời nhà Tống nhà Thanh, hàng Nội phủ; cả những tác phẩm nghệ thuật, những vật dụng, kỷ niệm, có từ thời Tây thuộc thế kỷ thứ mười chín trên đất Nam Kỳ…
Tha hồ lấy không. Tha hồ mua sắm.
5.
Nếp sống văn minh văn hóa, đời sống giàu sang thân thiện của người Miền Nam, ắt phải có một tầm ảnh hưởng đối với những ai đang trong những số phận đen tối, không may.
Con đường “dẫn độ” một người từ buổi nan nguy nghèo khó tới chỗ được “ngự” an toàn trong một ngôi biệt thự sang trọng, cũng lắm điều thú vị, đáng tỉ tê. Đây là cái tiến trình cần phải có của nhu cầu sống, nhưng xem ra khá hài hước.
Khi đói cơm, chỉ cần ăn để sao cho đầy bụng. Có khi đứng, khi bò lom khom, bốc mà ăn. Khi đã no, thì ăn làm sao cho Đủ. Bột, đạm, đường, rau xanh, vitamin, sao cho đề huề âm dương. Đủ rồi, ăn sao cho Sang. Chén đũa nĩa, khăn bàn, phòng ăn, sao là thẩm mỹ, bình hoa trên bàn, bức tranh trên bờ tường, nhạc trám cái lỗ tai.
Sang rồi, phải ăn sao cho Đẹp. Ngồi chùm hum mà “tranh thủ đớp” là không được. Ngồi vào bàn, đôi mắt cứ chăm chăm món thịt cá, để “cải thiện” thì quê lắm. Sang, đẹp, là biết cách cụng ly, biết nhắm loại rượu nào, nụ cười trên môi nhiều hơn tay “triển khai gắp.” Mồm nhai ít hơn, để lưỡi thanh thản những câu chuyện trò thi vị. Rồi thì phải kiếm chác chút đỉnh kiến thức, để nói về nhạc Beethoven, triết lý Jean Paul Sartre.
Dần dà những gì có hơi hám Sàigòn, cửa tiệm, quán ăn, mang tên Sàigòn, các đoàn hát từ Sàigòn ra, là ăn khách. Những hàng hóa từ trong Nam mang về, là sắc màu, “hoành tráng”, “chất lượng cao”, tiêu biểu cho văn minh, hiện đại. Bánh mì, áo dài, cà phê, tranh ảnh. tiểu thuyết, ca nhạc, cách đi, dáng đứng, mốt thời trang, màu sơn, cách thiết trí trong nhà, phòng ngủ có chân dung các nghệ sĩ “tư bản”, cách chơi hoa kiểng, chim chóc, vv và vv…
Có những cái xem như lỗi thời tại Miền Nam, nay nó vì thời thế, được mang “ra ngoải”, bỗng trở nên là một thứ mới mẻ, thời thượng.
Ngay dòng nhạc boléro, nó được sáng tác từ những nhạc sĩ tài hoa, tiêu biểu là Trần Thiện Thanh, nhưng tại Miền Nam nó đã trót mang cái tên “nhạc máy nước”, “nhạc sến.” Hôm nay nó sống lại mãnh liệt, là tiếng nói tâm tình thật lòng, là ngôn ngữ thời đại, nó được đón nhận, rất mực hân hoan thưởng ngoạn khắp Miền Bắc.
Những ca sĩ Miền Nam, rất đáng yêu quý, thuộc hàng lão ông lão bà; nay đã “yêu kiều”, từ hải ngoại trở về cất tiếng hát. Giá vé cao ngất lưng trời; “người xem tớ cũng xem”, dù ca sĩ Chế Linh thân yêu đứng tít mù xa trên sân khấu, như …chai coca cola.
Tiến trình này là một đảo ngược, mang tính hài hước, tiêu phí sự truy tìm quá khứ. Những cái đáng “khuất mặt” hôm nay trở ra sáng trưng, có đầy đủ yếu tính để chinh phục các thành phần cần thiết “mong được đồng hóa.”
6.
“Bị Miền Nam đồng hóa ngược!” Đây là cuộc dâu bể tự phát; rất đương nhiên phải xảy ra. Sự tự thân thay đổi, tự thấy ra cái nhu cầu mình cần thiết phải đi theo, ấy thôi. Cũng là một hảo ý, tỏ rõ tiến bộ đi tìm một đời sống hạnh phúc, thân thiện, văn minh hơn.
Biết làm sao được, những gì, dù tối thiểu, về vật chất lẫn tinh thần, chúng tôi cần, Miền Nam đều có cả. Lại mới mẻ, gọn nhẹ, hiện đại, hữu dụng, ngoài cả ước mơ chúng tôi cần có. Nguồn cung cấp từ Miền Nam cho chúng tôi lại cái giá quá hời, vì chúng tôi “Kẻ Bề trên.”
Về chỗ văn hóa văn minh, chỗ tâm linh tín ngưỡng, cái đạo lý làm người, chúng tôi cũng thấy ngay. Trong gia đình “bọn ngụy quân ngụy quyền”, con trẻ rất hiền hòa lễ phép dễ dạy, ông bà được kính trọng nuôi dưỡng tận tình; đường phố “bị đế quốc Mỹ chiếm đóng ấy” người người nhường nhau từng lối đi, dừng xe mình để xe tang ưu tiên đi qua; làm những điều rất ư “phí phạm” như dừng lại, gỡ nón, nghiêng người chào vĩnh biệt kẻ nằm trong áo quan. Xã hội của bọn “bại trận” ấy có một nền tự do rộng rãi, một nền giáo dục rất nhân bản, một nền công lý phân minh giữa tư pháp và hành pháp.
Thiệt là rồi đời. Tự thuở nào không biết, nhìn lại nhà cửa, phương tiện đi lại, mọi sinh hoạt xã hội, từ cách trang trí trong nhà, quần áo mặc trên người, đường phố, quán xá, tới bữa ni, tức là bây chừ, chúng tôi y chang Miền Nam. Hà Nội hôm nay lột xác phần nào, để sao cho giống một Sàigòn trước 1975. Tới nay, Sàigòn vẫn Sàigòn. Sàigòn bị Hà-Nội-hóa là chuyện chưa hề xảy ra.
Bốn mươi lăm năm trôi qua, cuộc Miền-Nam-hóa, tự-đồng-hóa đang là một lan rộng, toàn thể, không thể kiểm soát được. Không thể đảo ngược, vì nó là một nhu cầu “sống còn” của đời sống mỗi con người. Đây là một diễn biến có thực tế minh biện.
Nền kinh tế chỉ huy đã sụp đổ, thay là kinh tế thị trường Miền Nam vốn có từ trước. Hệ thống Hợp tác xã tan rã, trả quyền sinh hoạt, làm ăn cho tư nhân. Văn hóa Miền Nam được dần dà phục hồi. Những gì bị đả phá đánh đổ trước kia nay được truy phục, tôn vinh. Những danh nhân văn hóa, nhà yêu nước, trước kia bị bôi vôi hạ nhục, gọi là bán nước hại dân, nay được trân trọng phục hồi danh dự. Phần lớn tác phẩm trước kia được liệt vào danh sách tiêu hủy, nay được lần lượt trân trọng in lại. Người đọc đã buông bỏ, xa lìa những “loài” văn chương nghệ thuật minh họa, nịnh bợ. Tiếng hát át tiếng bom đã là những tiếng-thét-một-thời, nay đã có dòng suối mát âm nhạc lời ca, từ Miền Nam phong tỏa. Nữ sinh đi học bận áo dài, ta nhớ thuở nữ sinh Đồng Khánh, Trưng Vương một thời Cộng Hòa. Học trò biết vòng tay kính trọng thầy cô, không xưng “tôi” gọi thầy cô là “anh chị.” Trong nhà có cái bàn thờ ông bà tổ tiên, không phải dẹp đi, thòi ra cái chân-dung-râu-ria. Đám cưới, đôi nam nữ biết lạy bái tạ ơn ông bà [Lễ gia tiên], không phải tuyên thệ chỗ “hôn trường”, rồi ôm nhau cà rỡn…. Nói túm cái vành đai, tất cả lề thói, tập tục, phong hóa, tương tác xã hội, sinh hoạt đời thường, có từ thời Cộng Hòa, nay được tôn trọng, và lưu giữ; cả Miền Bắc đã phục hồi mọi sự.
7.
Rõ ràng là như thế, hơn bốn thập kỷ trôi qua, có sự thể trái cựa, Kẻ chiếm đóng bị bên bị trị đồng hóa ngược một cách triệt để.
Một kết luận đã có bấy nay, “1975 Miền Bắc thắng Miền Nam bằng súng đạn, hôm nay Miền Nam thắng ngược lại một cách toàn diện, qua con đường văn hóa, đạo lý.”
Tôi tôn trọng mọi nhận định, phát biểu.
Riêng tôi, tôi không nghĩ như thế. Ngoài cái cách tiếp cận Miền Nam thô bạo, ăn cướp cạn theo cái thế của bọn chiến thắng, hãy còn một đại bộ phận khác, chúng ta phải có một cái nhìn công bình hơn.
Đó là một đại bộ phận quần chúng Miền Bắc, rất đáng trân trọng và thương yêu, họ là nhân danh chiến thắng, nhưng cũng chính là nạn nhân. Chính họ, sau 1975, đã mau chóng và sòng phẳng, chuyển đổi tâm thức, một thái độ trực diện với hiện tình Miền Nam, để tự nâng cao đời sống của mình; tự thoát ra nghèo khó kiệt quệ, tự bức thoát khỏi những lạc hậu, tối tăm, lừa mị bấy nay, để đến chỗ hạnh phúc hơn, tiếp cận cái văn hóa văn minh, trở về với nguồn đạo lý, phẩm giá giống nòi vốn có; tiến trình ấy là một Con-Đường-ánh-sáng.
Nếu cứ cho rằng sự đồng hóa ngược này là một trận thắng, theo tôi, Miền Nam không cần Cuộc thắng trận này. Miền Nam, tấm gương soi. Soi cái mặt của mình. Thấy chỗ nào không sạch thì mau chóng rửa. Cái mũi cong queo thì đi Mỹ viện. Cái da thâm đen thì cần mỹ phẩm. Chuyện của người, không phải nhiệm vụ của gương.
Miền Nam không ra công đổ mồ hôi, mưu cầu Cuộc thắng trận này. Đó là một diễn trình tự nhiên, ai đó muốn hướng thượng thì bước chân vào. Lòng người rộng thoáng. Mừng, khi một ai đó có một đời sống hạnh phúc, khi cả nước đã quân bình, nhịp điệu hài hòa Bắc Nam.
Chuyện ác quỷ còn chờn vờn, chỗ thượng tầng của Hôm nay, là việc của tương lai, lịch sử sẽ tính sổ.
Tôi và Cúc đứng nép vào một bên cửa, tiễn đưa ông Năm bánh xèo ra về. Chờ cho đến khi thân hình khá to lớn của ông ta mất hút trong bóng đêm dày đặc, lúc bấy giờ hai đứa mới đóng cửa trở vào nhà.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn neon, nhìn gương mặt của Cúc tươi cười hớn hở, tôi ngạc nhiên hỏi:
-Vừa bị ép buộc ký giấy tờ bán căn biệt thự nguy nga đồ sộ, tọa lạc trên một lô đất rộng cả mẫu mà không có được đồng xu hay cắc bạc nào, sao em lại vui quá như vậy.
Cúc chậm rãi hỏi tôi.
-Nếu anh phải chọn giữa chuyện Việt Cộng bắt em bỏ tù mà không cho biết đến khi nào mới thả, và chuyện họ lấy căn nhà mà mình đang ở, thì anh sẽ chọn điều nào?
Tôi hiểu Cúc muốn nói gì rồi nên đáp.
-Dĩ nhiên là phải lấy của che thân, cúng cho họ căn nhà.
Cúc ôm chặt lấy tôi.
-Em cũng vậy thôi, bỏ căn biệt thự để có anh là chuyện em phải làm.
Đang nói chuyện, Cúc chợt nhỏ giọng lại như muốn tâm sự với tôi.
Advertisement
-Anh biết không, suốt mấy ngày qua em sống trong lo âu, sợ hãi, vì tin rằng chuyện anh khai gian lý lịch trong trại cải tạo, trước sau gì cũng bị Cộng Sản phát hiện. Lúc bấy giờ họ sẽ bắt anh bỏ tù lại, lần này sẽ không có ngày về.
Tôi nhắc Cúc.
-Mới mấy ngày trước đây em khẳng định với anh là, Việt Cộng đã không cho người đi xác minh lời khai của anh trong trại tù cải tạo nên mới thả anh về. Tại sao hôm nay, em lại nói khác đi như vậy. Em có tự mâu thuẫn với mình hay không?
Cúc với nụ cười rạng rỡ trên môi.
-Trước đây em chỉ muốn anh được an lòng, nên em tự lừa dối mình mà nói với anh như vậy. Hôm nay, sau khi nghe ông Năm đồng ý đánh đổi tự do của anh để lấy căn biệt thự, em mới biết chắc một điều, tạm thời anh đã thoát khỏi cái tội man khai lý lịch. Em mừng là vì vậy.
Ngập ngừng một chút, Cúc nói tiếp.
-Anh thử nghĩ coi, sau tháng 4 năm 75, mấy chục tòa nhà cao tầng của ba ở Sài Gòn đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam ăn cướp giữa ban ngày. Còn căn biệt thự ở đường Công Lý, nơi mà anh với em đang ở cũng bị họ đem cả chục chiếc xe tăng, trên đó có hàng trăm bộ đội Cộng Sản trang bị súng AK, B40, tràn vô nhà mình đuổi anh và em ra khỏi nhà. Chuyện này chính anh đã chứng kiến. Mất chừng đó nhà cửa, em không một chút tiếc thương thì sá gì căn biệt thự ở Đà Lạt. Hơn nữa, năm ngoái khi anh và em về tới Đà Lạt, em vẫn đinh ninh rằng ngôi biệt thự này đã bị Cộng Sản lấy mất rồi.
Vui vì thấy vợ thương yêu và lo lắng cho mình, tôi đi tới cái tủ rượu nằm khuất sau một bức tường nơi phòng khách, chọn một chai. Ba tôi không phải là đệ tử của thần lưu linh, thế nhưng cái tủ rượu của ông phải nói là thuộc vào hạng hiếm có ở Việt Nam. Tủ được đóng bằng loại gỗ tốt, to lớn, bề thế, đứng choán cả một góc phòng, bên trong với hàng trăm chai rượu quý của những hãng sản xuất rượu nổi danh trên thế giới. Dân nghiện chỉ cần nhìn thấy cái tủ rượu của nhà tôi, sẽ nghĩ ngay ba tôi là một tay uống rượu như hũ chìm.
Sở dĩ có chuyện ngược đời như vậy, vì thực ra cái tủ rượu của nhà tôi là do bác Bảy, ông ba vợ của tôi đưa từ Sài Gòn lên. Bác Bảy muốn có riêng một tủ rượu để ở nhà ba tôi, phòng khi ông lên Đà Lạt thăm người bạn cố tri cũng là ông sui, bác có sẵn rượu để uống. Đầu dây mối nhợ là như vậy.
Đưa chai Johnnie Walker nhãn đen lên cao, tôi nói.
-Tối nay vợ chồng mình, mỗi đứa phải cưa dăm ba ly mừng ngày vui.
Cúc nhìn tôi với đôi mắt đầy vẻ ngạc nhiên.
-Chưa bao giờ em thấy anh chạm tay vào ly rượu, nói gì đến chuyện uống vài ly.
Tôi cười vui vẻ.
-Ngày xưa, lần đầu tiên đưa em về Sài Gòn gặp bác Bảy, trong bữa cơm tối, ông bắt anh phải uống rượu với ông.
Cúc chỉnh tôi.
-Anh phải gọi là ba, không còn là bác Bảy nữa đâu.
Tôi gật đầu nói lia lịa.
-Phải, phải… ba. Tối hôm đó anh uống với ba vài ly Martell, ngồi nghe ông tâm sự. Cũng nhờ uống chút rượu mạnh, máu trong người của anh hình như luân lưu mau hơn, nên anh đánh một giấc ngon lành cho đến sáng. Hôm nay, anh cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhõm trong lòng, nhất là thấy em sung sướng như vậy nên anh muốn uống chút rượu mừng.
Cúc gật đầu tỏ vẻ đồng ý.
-Nhà không có gì làm mồi nhậu, hay là để em vô nhà bếp rang một ít đậu phụng.
Chưa dứt lời, Cúc đã lấy chai Johnnie Walker trên tay tôi đặt vào tủ, rồi đưa cho tôi chai Martell Cordon Bleu.
-Uống thứ này đằm hơn anh à, không có bị xóc như Johnnie Walker.
Tôi tròn mắt ngó vợ.
-Thiệt không? Sao em biết? Đừng có nói mò nghe.
Cúc từ tốn giải thích.
-Chuyện có hơi dài, em sẽ cố gắng nói gọn lại cho anh nghe. Như anh đã biết, ba của em là một ông già nhà quê, thuở nhỏ vì nhà nghèo, không được học hành nên phải đi chăn trâu, chăn bò, kiếm sống. Từ bé cho đến lúc bước chân vào Sài Gòn, ba của em có biết uống rượu bao giờ đâu. Đến khi gặp ông ngoại, ba mới tập tành chuyện rượu chè. Dĩ nhiên lúc đó ông chỉ uống toàn là rượu đế Việt Nam. Sau này khi giàu có lên rồi, vì công việc thường hay đi đây đi đó, giao thiệp với nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội, lúc bấy giờ ông mới uống rượu ngoại quốc. Chuyện đời, “Phú quý sinh lễ nghĩa” ba quay sang uống những loại rượu quý hiếm. Ở đây có một chuyện trở ngại là ba đọc tiếng Việt còn vấp váp nói gì đến chuyện tiếng Anh, tiếng Tây.
Tôi cướp lời Cúc.
-Như vậy thì làm sao ba biết phân biệt được các chai rượu danh tiếng trên thế giới.
Cúc trả lời tôi.
-Em chớ còn ai nữa, lúc bấy giờ em đang học đệ nhị, đệ nhất bậc trung học. Vì muốn giúp ba nên em phải coi những cuốn sách chuyên nói về rượu, tìm tòi nghiên cứu những loại rượu ngọai quốc nào ngon, loại nào quý hiếm, em sẽ đặt mua. Em mua đủ loại rượu cho ba, từ Whiskey của Mỹ qua Whisky của Scottland, của Ireland rồi Martell của Pháp.
Đang nói Cúc đột ngột dừng ngang.
-Đố anh biết cái hầm rượu của ba ở căn nhà đường Công Lý, có bao nhiêu chai?
-Cũng cả trăm chai, như cái tủ rượu này.
Cúc cười ra vẻ thích thú.
-Nó gấp mười lần đó anh.
Tôi than.
-Như vậy, ba uống cho tới khi nào mới hết.
-Anh hơi đâu mà lo cho mệt, ba uống rượu bằng con mắt. Chính em nhìn cái hầm rượu của ba, chưa uống mà đã say rồi.
Như chợt nhớ ra điều gì, Cúc hỏi tôi.
-Ngày xưa ở Trường Võ Bị Đà Lạt, lương trung úy độc thân của anh, bao nhiêu một tháng?
Tôi trả lời Cúc.
-Hơn hai mươi lăm ngàn một chút.
-Chưa đủ để ba mua một chai rượu.
Hình như tôi đã nghe câu nói này ở đâu đó trong quá khứ. Sau một hồi suy nghĩ, tôi chợt nhớ ra rồi cười thích thú.
-Đúng là cha nào con nấy. Em có biết, ba đã từng nói với anh “Lương tháng của con, không đủ cho con Cúc mua một bộ đồ.”
Cúc hỏi tôi.
-Ba nói với anh như vậy sao?
-Đúng.
-Vậy mà em cứ tưởng ông không biết gì về em. Mà thôi để em kể tiếp cho anh nghe, trong hầm rượu của nhà có rất nhiều rượu quý nhưng ba chỉ thích Marttell Cordon Bleu. Đây là loại rượu được làm bằng nho, trồng ở vùng Cognac của Pháp, đóng trong những thùng gỗ Sồi rồi ủ ít nhất là hai, ba năm. Vì vậy loại rượu này nó thơm mùi đặc biệt của gỗ Sồi, không lẫn vào đâu được.
Tôi lắc đầu.
-Nghe em nói, anh cứ như vịt nghe sấm.
Cúc đưa tay chận miệng tôi.
-Nếu không biết, thì anh hãy cố nghe cho hết câu chuyện. Hồi đó em vẫn thường uống rượu với ba, mua rượu cho ba, nên em rất rành, loại rượu nào ngon, loại nào quý, loại nào đắt, loại nào rẻ. Còn ba gọi em là con gái rượu của ông, hiểu theo cả hai nghĩa, là con gái cưng và con gái chuyên lo việc mua rượu ngon cho ba. Giờ thì anh đã hiểu rõ, tại sao em rất sành sỏi về các loại rượu. Anh cứ yên tâm, đem rượu lên sân thượng trước đi, em phải dặn dò chị Hai coi con rồi sẽ lên sau.
Đặt chai rượu và hai cái ly thủy tinh trong suốt xuống cái bàn gỗ trên sân thượng, tôi ngẩng mặt nhìn trời, trăng đêm nay đã khá tròn, chắc còn vài ngày nữa là đến rằm tháng Tám. Trong cái im vắng sâu thẳm của đêm dài, tôi rót rượu vào hai cái ly, mùi thơm của loại rượu được sản xuất tại Pháp thoảng trong không khí, xông thẳng vào mũi. Chưa uống giọt rượu nào mà tôi đã cảm thấy lòng lâng lâng nhẹ nhõm. Tôi nâng ly ực một hơi, một dòng nước lành lạnh chảy tràn qua cổ họng, theo sau là một luồng hơi ấm lan tỏa khắp người. Cùng lúc ấy, Cúc xuất hiện nơi cuối sân, tay bưng một cái tô mà tôi đoán là đậu phụng rang, tay kia xách một chai nước khoáng hiệu Perrier. Đi đến ngồi bên tôi, Cúc nói.
-Ba vẫn thường uống rượu mạnh pha với Perrier.
Tôi nói.
-Anh hoàn toàn mù tịt về rượu, em nói cách pha chế rượu với anh, khác nào đàn khảy tai trâu.
Cúc nâng chai Perrier rót vào hai ly rượu, bưng lên lắc nhẹ rồi thản nhiên uống một hơi.
Tôi nhắc chừng Cúc.
-Em uống từ từ, vừa vừa thôi, không khéo lại say bây giờ.
Cúc trấn an tôi.
-Anh đừng có lo, ngày xưa lúc chưa giận ba, thỉnh thoảng em vẫn thường cụng ly với ông, cha con mà như là bạn, cũng chén thù chén tạc, cho nên tửu lượng của em cũng thuộc hạng kha khá.
Tôi thố lộ tâm tình với Cúc.
-Chuyện mà em thường uống rượu với ba, anh hoàn toàn không biết. Nếu như vậy, không chừng em uống rượu còn khá hơn anh.
Nói xong, tôi cụng ly với Cúc rồi hớp một ngụm. Chỉ một vài phút sau, hơi ấm của rượu chừng như đã luân lưu khá mau trong cơ thể. Rượu vào lời ra, tôi nói với Cúc, câu nói nghe qua tưởng như vô thưởng vô phạt. Tôi không ngờ, với Cúc câu nói lại quan trọng vô cùng.
-Không biết, giờ này ba ở đâu? Đang làm gì?
Cúc nhìn tôi với ánh mắt buồn như muốn khóc.
-Có chuyện này em muốn nói với anh, tháng ba năm bảy lăm, khi theo anh tới phi trường Cam Ly để về Sài Gòn, trên chiếc phi cơ C130 do anh Ly bạn của anh lái. Vừa về đến nhà, gặp ba chưa kịp chào hỏi ông đã giận dữ mắng cho em một trận nên thân. Sau đó ba nói với em, nguyên văn như thế này “Tại sao con đi về chỉ một mình, mà không lôi đầu cái thằng ngu đó về đây cho ba. Có cơ hội đi Mỹ với vợ lại không chịu, cứ khư khư ôm cái Trường Võ Bị đó mà làm gì. Đã vậy lại còn bày đặt nói chuyện đào ngũ với không đào ngũ.”
Cúc ngưng nói, uống một ngụm rượu.
-Em biết vì giận nên ba mới nói như vậy, chứ thật lòng ông rất thương anh. Anh có biết vì sao em dám nói như vậy không?
Tôi trả lời Cúc.
-Quả thật, anh không biết.
Cúc nhỏ giọng.
-Sau khi la em xong, ba đi tới đi lui trong phòng khách mà như là gà mắc đẻ, gương mặt đầy vẻ bực tức, miệng thì lẩm bẩm những gì em không rõ. Cuối cùng, ông nhắc điện thoại hấp ta hấp tấp quay số. Sau chừng mười phút chuyện trò ba cúp máy, quay sang nói vói em “Ba vừa điện thoại tới nhà riêng của ông Đại tá, bạn ba, ông này là Tham Mưu Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, với ý định nhờ ông ấy can thiệp cho thằng chồng ngu dốt, đần độn của con, được đi phép về Sài Gòn một cách hợp pháp. Tiếc rằng ông ấy đã thuyên chuyển đi đơn vị khác rồi, nên không giúp gì được.” Nói xong ba đưa hai tay lên trời, nhìn em với đôi mắt đầy tuyệt vọng “Sức người có hạn, ba chỉ lo được đến đó mà thôi.”
Nghe Cúc kể lại chuyện xưa, tự dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng, thương ông ba vợ của mình quá chừng, rồi buột miệng nói.
-Tội nghiệp cho ba.
Cúc ngồi xích lại gần, rồi tựa đầu lên vai của tôi, trong ánh trăng mờ mờ lành lạnh của đêm đen, bất chợt tôi cảm được từng giọt, rồi từng giọt nước mắt âm ấm của Cúc rơi nhẹ trên vai, chen lẩn với giọng nói ngập ngừng thổn thức.
-Em nhớ ba quá anh à.
Tôi ôm chặt lấy Cúc như muốn truyền chút hơi ấm cho nàng.
-Anh cũng vậy.
Nói xong tôi đưa tay tìm ly rượu.
-Anh đã vô tình chạm vào nỗi buồn của em, tụi mình uống cạn ly này đi, biết đâu nhờ hơi rượu sẽ làm giảm bớt đi cái buồn mà em đang mang nặng trong lòng.
Cúc gật đầu.
Tôi và Cúc uống cạn ly đầy rồi rót đầy ly cạn. Tôi tưởng rằng uống rượu để tiêu sầu, ai ngờ cạn ly Cognac, mối sầu đầy thêm. Xong ly thứ hai, đến ly thứ ba, nhìn lại đêm hãy còn dài, chai rượu mới vơi đi một nửa mà tôi đã thấy trời đất như quay cuồng, lảo đảo, choáng váng mặt mày. Không biết bằng cách nào, tôi đã mò về đến phòng ngủ của mình, đánh một giấc cò bay thẳng cánh cho đến khi mặt trời đã lên khá cao, tôi mới giật mình thức giấc.
Tôi dẫn Cúc lang thang quanh khu phố Hòa Bình, ngắm phố phường, tận hưởng chút không khí tự do của ngày xưa còn rơi rớt lại đâu đây.
Khi tôi và Cúc về đến nhà nắng chiều cũng sắp tắt, một việc mà tôi không bao giờ ngờ tới đã xảy ra. Ông Năm bánh xèo đang ngồi chễm chệ trong phòng khách của nhà tôi, miệng phì phèo điếu thuốc lá. Không phải một mình tôi, mà tôi biết cả Cúc cũng xanh mặt. Tôi nói với mình, cho dù chuyện có nguy hiểm đến đâu, cũng phải bình tĩnh mà đối phó, không được sợ hãi. Tôi đưa mắt nhìn quanh, chỉ có một mình ông Năm, không có bất cứ tên công an nào đi theo, có nghĩa là ông đến nhà tôi không phải với ý định bắt người. Và chuyện tôi khai gian ở trại cải tạo, ông Năm vẫn chưa biết.
Lấy hết can đảm, giống như một tay võ sĩ thét lên tiếng Kiai, trước khi nhảy vào tử chiến với địch quân, tôi nói lớn với mục đích là đánh tan nỗi sợ hãi trong lòng của mình.
-Chào ông Năm, ông khỏe không?
Ông Năm tươi cười nhìn tôi.
-Chúc mừng trung úy đã được cho về.
Tôi nghe chữ trung úy từ miệng ông Năm, mà cảm thấy không được yên tâm cho lắm.
-Thưa ông Năm, xin ông đừng gọi tôi là trung úy, có được không?
Ông Năm không trả lời tôi mà nói với Cúc, giọng nói giống như ông ta là chủ nhà.
-Cô ngồi xuống đây, tôi có chuyện muốn nói với cô và cậu Quân. Mà nè, ba má chồng cô có nhà không?
Cúc nói nhỏ.
-Ba má tôi thường hay đi chùa, chắc không có ở nhà đâu. Hơn nữa , tôi và chồng tôi đi làm vườn trồng bắp sú tại Đa Thiện mới trở về, nên không biết.
Ông Năm nói.
-Tôi thấy trong nhà chỉ có một chị gái đang bồng em bé, ngoài ra chẳng có ai.
Thấy mọi chuyện có vẻ êm xuôi, tôi nói với ông Năm.
-Thưa, ông ghé nhà có chuyện gì không?
Ông Năm gật gù cái đầu với mớ tóc muối tiêu lòa xòa trên trán.
-Có chớ, chuyện khá hay nên tôi mới ghé đây, mà trong nhà có chỗ nào yên tĩnh, riêng tư để nói chuyện không? Ngồi ở đây,“tai vách mạch dừng”, không tốt.
Cúc tần ngần một chút rồi nói.
-Thưa ông, trên sân thượng êm vắng, có thể nói chuyện được.
-Thế thì tốt, nào chúng ta đi lên.
Nghe câu nói của ông Năm, tôi cứ tưởng mình đang nói chuyện với một tay cán bộ từ miền Bắc vào, chứ không phải một cán bộ nằm vùng.
Ngồi dựa ngửa vào cái ghế trên sân thượng, ông Năm hỏi Cúc.
-Nhà có cà phê không?
-Dạ có.
-Cho tôi một ly cà phê sữa nóng, ít sữa thôi.
Quay sang tôi, ông mời.
-Cậu Quân uống một ly cho vui, lâu lắm rồi kể từ ngày tôi tặng cậu tấm hình, cho đến hôm nay mới có dịp tâm sự cùng cậu.
Thực lòng mà nói, càng nói chuyện với ông Năm tôi càng sợ, không biết ông ta đang có âm mưu gì để hại mình đây. Nhưng mà chuyện hại người cũng không đúng, vì ông chỉ cần chụp cho tôi cái mũ, thằng Ngụy phản động, một tờ truyền đơn viết tay nhét vào kẹt cửa nhà tôi, với nội dung chống phá Cách mạng là ông có thể đem xử bắn tôi rồi, cần gì phải bày mưu tính kế làm gì cho mệt thân. Đàng này ông Năm nói chuyện với tôi, giống như hai người quen biết nhau lâu ngày mới gặp.
Tôi nói với Cúc.
-Tiện thể, cho anh một ly cà phê sữa luôn.
Khi Cúc đã khuất sau cánh cửa.
Ông Năm ngửa mặt nhìn trời rồi nói.
-Trong trại cải tạo, cậu Quân sống như thế nào?
-Thưa ông, mọi chuyện đều tốt đẹp.
-Cứ nói thật đi, không cần gì phải che giấu.
Tôi hơi e ngại nên rụt rè.
-Thưa ông, có hơi đói, thèm ăn.
-Chuyện ấy thì tôi biết, còn gì nữa không?
-Thưa, mọi chuyện đều bình thường.
Sau đó tôi kể thêm cho ông Năm nghe mấy ngày cuối cùng trong trại cải tạo, hơn ba trăm người sống cách ly trước khi về, được cho ăn uống đàng hoàng đầy đủ.
Ông Năm nói với tôi.
-Tôi nói như thế này thì cậu hiểu ngay, ví dụ có ba ngàn tù cải tạo, nuôi ăn mỗi ngày mất hết ba ngàn đồng, như vậy một ngày tốn một đồng cho một tù nhân. Ba trăm người sắp được thả về, ăn một ngày ba đồng, có nghĩa là hết chín trăm đồng. Số tiền còn lại là hai ngàn mốt, đem chia đều cho hai ngàn bảy trăm người. Tiền ăn của mỗi người chỉ còn lại chừng tám chục xu mỗi ngày. Người này no thì người khác phải đói, chuyện chỉ có vậy.
Cúc bưng lên một cái khay với hai ly cà phê, đặt xuống trước mặt ông Năm rồi xin phép đi xuống nhà, ông Năm khoát tay.
-Cô phải ngồi lại đây, tôi có chút chuyện muốn nói với hai người.
Cúc ngồi xuống bên cạnh tôi, dáng như chờ đợi.
Ông Năm với giọng cởi mở.
-Cậu Quân sinh ở Đà Lạt?
-Dạ phải.
-Tôi cũng vậy, nhưng tuổi của tôi hơn cậu nhiều. Tôi sinh cùng năm với nhà máy đèn Đà Lạt, nói như vậy là cậu biết rồi chứ gì?
-Dạ biết, một ngàn chín trăm hai mươi tám.
-Đúng, đó là năm vừa xây xong nhà máy đèn mới, còn cái cũ đã có từ chục năm trước rồi. Khi tôi được mười tuổi, thành phố Đà Lạt lúc bấy giờ hãy còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, đứng một ngày mới thấy một chiếc xe hơi chạy qua, vậy mà đã có rất nhiều công trình xây cất đồ sộ vào thời đó, những công trình này kéo dài năm, bảy năm mới xong. Một Dinh tỉnh trưởng trên đỉnh đồi cao cách chợ Đà Lạt vài trăm mét, khách sạn Palace, Lycée Yersin, Nhà Thủy Tạ, Nhà thờ con gà. Chỉ riêng năm một nghìn chín trăm ba mươi tám, chợ Đà Lạt và Nhà ga xe lửa được khánh thành.
Ông Năm ngưng nói, uống một ngụm cà phê rồi hỏi Cúc.
-Quá bảy giờ rồi, khách đến nhà mà cô không mời ăn tối hay sao?
Gương mặt Cúc lộ vẻ bối rối thấy rõ.
-Thưa ông, nhà chỉ có cơm độn bắp với cá kho. Chỉ sợ ông chê nên không dám.
Ông Năm chắt lưỡi.
-Gì cũng được mà. Có ăn là tốt rồi.
Cúc đứng lên rồi nói.
-Xin ông đợi cho một chút, tôi sẽ đem cơm lên đây ngay.
Ông Năm tươi cười.
-Cô cứ từ từ, không có gì gấp.
Quay sang tôi, ông Năm tiếp.
-Cậu Quân có biết Ga xe lửa Đà Lạt, do ai xây cất không?
-Hình như do một kiến trúc sư người Pháp thì phải.
Ông Năm gật gù.
-Kể ra, cậu cũng khá rành về Đà Lạt, nhưng mà Kiến trúc sư Paul Moncet chỉ là người vẽ kiểu, nhà thầu xây dựng ga Đà Lạt là ông Võ Đình Dung. Ông này có cái ga ra và miếng đất rộng đến cả chục ngàn mét vuông, nằm giáp ba mặt đường, Phan Đình Phùng, Hải Thượng và Hai Bà Trưng, chưa kể hàng chục căn nhà ở khu phố Hòa Bình.
Ông Năm ngưng câu chuyện, thong thả mồi một điếu thuốc rồi mới nói tiếp.
-Còn ngôi chợ Đà Lạt, được gọi là chợ Cây, vì vật liệu xây cất chợ toàn bằng cây. Hình như năm một ngàn chín trăm ba mươi mốt ngôi chợ này bị cháy, năm đó tôi mới có ba tuổi nên chưa biết gì. Mấy năm sau người Pháp mới cho xây lại ngôi chợ bằng xi măng. Chợ tuy không to lớn bề thế như Ga xe lửa Đà Lạt, nhưng nó có nhiều điểm độc đáo riêng của nó. Cậu sanh đẻ ở đây, chắc cậu biết chớ.
-Thưa ông Năm, vào khoảng năm 1958, lúc đó tôi được chín, mười tuổi khi có dịp vào trong chợ, tôi thường say mê nhìn lên trần. Trên đó có hàng chục cây đà khổng lồ cong vòng hình bán nguyệt, nối từ hông trái sang hông phải, đỡ lấy mái chợ, làm cho không gian trong chợ trở nên rộng rãi thoáng mát. Thuở ấy với một trí óc non nớt, tôi không hiểu bằng cách nào, con người có thể làm được những chuyện kinh khủng như vậy.
Không quan tâm tới những gì tôi nói, ông Năm hỏi.
-Cậu có nhìn thấy cái huy hiệu hình tròn trước chợ, với đôi trai gái người Lạch và hàng chữ La Tinh không?
-Thưa ông Năm, không những thấy mà tôi còn biết được ý nghĩa của mấy chữ La Tinh đó, nó được dịch sang tiếng Việt là “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe, hay mát lạnh.”
Ông Năm hỏi gặng.
-Cậu chỉ thấy vậy thôi sao?
-Dạ chỉ biết có vậy.
-Cậu thử lấy năm chữ đầu của mấy chữ La Tinh đó ghép lại, có phải là chữ DA LAT hay không?
Quá bất ngờ và thích thú về chuyện ông Năm nói, tôi vỗ tay vào đùi cái đốp.
-Ông Năm nè, vậy mà mấy chục năm rồi tôi có mắt mà như mù, chỉ vì mãi tìm hiểu ý nghĩa của mấy chữ La Tinh mà quên mất chuyện người Pháp chơi chữ.
Nhìn tôi với đôi mắt dò xét, ông Năm nói.
-Nếu vậy tôi còn có chuyện này để hỏi. Cậu có biết tên cũ của nhà hàng Thủy Tạ là gì không?
Tôi nhanh nhẩu.
-Thưa ông, La Grenouillère.
-Tai sao là tên đó, mà không phải là một cái tên khác?
Tôi hơi ngập ngừng một chút rồi mới trả lời.
-Thưa ông Năm, hồi còn học ở trung học, Pháp văn là sinh ngữ phụ của tôi, cho nên tôi không rành tiếng Pháp cho lắm. Theo tôi được biết La Grenouillère là hồ ếch, hầm ếch hay là cái đầm ếch gì đó, mà cũng có thể Nhà Thủy Tạ giống như cái hàm ếch, cho nên người ta đặt tên là La Grenouillère.
Ông Năm lim dim đôi mắt.
-Tụi Pháp nó sâu sắc lắm, không có hời hợt như vậy đâu. Hồi xưa lâu lắm rồi, một ông thầy người Pháp của tôi kể lại rằng, vào thập niên 1860, trên sông Seine về phía tây của Paris khoảng chừng hơn mười cây số, có một cái nhà hàng nổi, một câu lạc bộ thể thao tên là La Grenouillère . Đây là nơi tụ họp của những người giàu có thuộc giai cấp trung lưu của Paris thời bấy giờ. Những người này thường đến câu lạc bộ này để chèo thuyền, bơi lội, và coi đó là thánh địa của họ. Cùng khoảng thời gian trên vào năm 1869, có hai họa sĩ lừng danh của Pháp là Claude Monet và Pierre Auguste Renoir, hai ông họa sĩ này mỗi ông vẽ một bức tranh về nhà hàng nổi La Grenouillère, những bức họa này còn lưu lại cho đến bây giờ. Sáu, bảy chục năm sau, một trong số con cháu của những người trong câu lạc bộ đó đặt chân đến Đà Lạt. Khi xây xong một nơi để chèo thuyền và bơi lội trên Hồ Xuân Hương, vì nhớ về Paris, nhớ quê hương mến yêu của cha ông họ, nay đã nghìn trùng xa cách nên mới lấy tên của nhà hàng nổi, câu lạc bộ thể thao đó, đặt tên cho nhà hàng Thủy Tạ ở Đà Lạt, và cái tên La Grenouillère ra đời từ đó.
Nghe ông Năm kể chuyện, tự nhiên tôi nổi gai ốc cùng mình, bấy lâu nay tôi cứ nghĩ ông ta là một tên Việt cộng thất học nằm vùng, chỉ biết đổ bánh xèo kiếm sống. Nào ngờ khi nghe ông phát âm chữ La Grenouillère đúng giọng Pháp, rồi đến tên của các họa sĩ mà tôi chưa hề biết, tôi đâm ra sợ ông ta hơn. Tôi đang đối diện với một nhân vật kỳ bí, ông ta có thể biết rành rẽ về tôi, trong khi tôi hoàn toàn mù tịt không biết gì về ông ta.
Thấy tôi ngồi im, ông Năm tiếp.
-Cậu ngạc nhiên lắm phải không? Tôi học Trường Lycée Yersin từ cái thuở còn sơ khai, được vài năm thì bị đuổi vì tội đánh lộn với lũ Tây con, và cái tội nặng nhất là chửi lộn với mấy ông thầy giáo người Pháp, mấy ông luôn chứ không phải một ông đâu. Thời bấy giờ mà bỏ học, chống Pháp, đứng bên lề của xã hội, tôi dễ dàng trở thành người của Việt Minh.
Cúc bưng lên một mâm cơm, đặt xuống bàn rồi nói.
-Tôi phải nấu cơm trắng cho ông ăn, ai lại mời khách cơm độn bao giờ.
Nghe Cúc nói, tôi biết vợ mình không nói thật. Vợ chồng tôi ngồi đối diện với ông Năm để trò chuyện.
Ông Năm lên tiếng.
-Lúc nãy, tôi chưa nói đến chuyện xây cất Nha địa dư, cũng như Dinh một, Dinh hai, Dinh ba. Nhà thầu xây dựng Nha địa dư là ông Nguyễn Văn Tiếng. Người dân Đà Lạt gọi ông ta là Xu Tiếng, theo tôi nghĩ, chữ xu lẽ ra phải viết là su mới đúng, vì trước đó ông là giám thị một công trường xây dựng. Chữ su bắt nguồn từ chữ Surveillant trong tiếng Pháp. Năm 1943 ông Xu Tiếng hoàn tất công trình xây cất Nha địa dư. Năm 1948 ông mở xưởng cưa Thiện Nghĩa ở gần ngã ba chùa Linh Sơn.
Vừa nói ông Năm vừa vói tay cầm cái muỗng nhựa, xới cơm vào chén.
-Cậu nghe tôi nói vắn tắt về Nha địa dư như vậy, có đúng không?
Tôi nói.
-Thưa ông Năm, những gì ông nói về hai nhà thầu khoán lừng danh của Đà Lạt là ông Võ Đình Dung người thầu xây cất Nhà ga xe lửa, và ông Nguyễn Văn Tiếng là nhà thầu xây dựng Nha địa dư, đều đúng hết, chỉ thiếu sót một chút, mà chút xíu đó lại là rất quan trọng.
Ông Năm hất hàm.
-Tôi nói thiếu cái gì?
-Thưa ông, cả hai người mà ông vừa nói đến đều giàu có, và tấm lòng nhân hậu, thương người nghèo khổ của họ thì không một người dân Đà Lạt nào mà không biết.
Ông Năm ngồi im lặng một lúc.
-Cậu có biết tại sao hôm nay, tôi lại kể cho cậu nghe về những công trình xây cất mà người Pháp để lại ở Đà Lạt không?
-Không, thưa ông.
Ông Năm lấy giọng.
-Cậu Quân và cô hãy nghe cho kỹ, những công trình vĩ đại nói trên, mỗi cái đều có một sắc thái đặc biệt của nó, và hiện tại thì tất cả đã được tiếp quản, đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Người ta thường nói “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Tôi là thổ công của Đà Lạt này, khó có ai rành rẽ về đất đai, nhà cửa, ở đây bằng tôi.
Đang nói chuyện, bất chợt ông Năm nhìn thẳng vào mắt Cúc rồi nói với giọng nhẹ hơn.
-Cô Cúc nè, cô có biết căn biệt thự đồ sộ của cô, với diện tích đất lên đến cả mẫu tây nằm ở đường Nguyễn Tri Phương vẫn còn nguyên không?
Cúc nói.
-Thưa ông, tôi tưởng nhà nước đã tịch thu căn nhà đó của tôi từ lâu rồi.
-Chưa đâu, và đó là lý do mà hôm nay tôi nói chuyện với cô cậu. Thay vì ký giấy tờ giao căn biệt thự nói trên cho nhà nước, tôi muốn cô và cậu ký giấy bán căn nhà đó cho tôi. Thực sự cô và cậu chỉ ký vào giấy tờ bán nhà mà thôi, còn tên người mua và ngày tháng mua bán, tôi sẽ điền vào sau.
Cúc với giọng cứng rắn.
-Nếu nhà nước muốn tịch thu thì cứ làm, nhưng biểu chúng tôi ký vào giấy tờ thì tôi không ký.
Ông Năm vẫn dịu dàng.
-Nếu cô nói vậy thì tôi cần phải hỏi chồng cô vài câu.
Đưa mắt nhìn tôi ông Năm nói, giọng nói mạnh và chắc.
-Cậu Quân à, tôi không phải là “Bí thư tỉnh ủy” như cậu đã khai trong trại cải tạo đâu.
Khi nghe ông Năm nhắc đến bốn chữ này, hình ảnh trại tù cải tạo với hàng rào vỉ sắt PSP xám xịt bao quanh, khiến tôi chết lặng đi vài giây, cùng lúc ấy tôi cảm nhận được từng giọt máu lành lạnh chạy khắp cả thân mình. Cả một thế giới trước mặt tôi bỗng dưng sụp đổ tan tành. Tôi sợ đến nỗi tưởng mình chết ngồi trên ghế.
Ông Năm nói.
-Hãy bình tĩnh, không có gì mà cậu phải sợ đến xanh cả mặt. Tôi tuy không phải là Bí thư tỉnh ủy nhưng tôi đã xác nhận, tôi là cậu của Trung úy Nguyễn Trọng Quân. Không biết cậu còn nhớ không, khi được thả về, tên của cậu nằm trong danh sách bổ túc, đó là do sự bảo lãnh của tôi. Người làm Cách mạng mà có liên hệ với sĩ quan Ngụy khác nào dây với hủi, tôi đã chịu hy sinh giúp cậu, thì phải có gì đền bù cho tôi chớ.
Quay sang nhìn Cúc, ông Năm nói.
-Người ta thường nói “Bánh ít đi, bánh quy lại”. Tôi đã tặng cô một cái bánh ít, giờ thì tôi đang đợi cái bánh quy của cô đây…
Cúc với giọng nói run run.
-Ông Năm đưa giấy tờ đây, tôi xin ký vào ngay.
-Không chỉ một mình cô đâu, phải cả hai người mới được.
Nói xong, ông Năm lấy trong xách cốp một mớ giấy tờ trao cho Cúc. Việc làm này của ông Năm, cho tôi biết ông đã sắp xếp mọi chuyện từ lâu.
Trong khi tôi và Cúc chăm chú ký vào giấy tờ mua bán nhà, ông Năm vui vẻ ăn cơm, ông nói mà miệng còn đầy cơm.
-Chỉ có cơm với cá kho, nhưng mà đây là bữa ăn có thể nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ sau ngày giải phóng. Cảm ơn cô cậu.
Cẩn thận xếp giấy tờ vào xách cốp, trước khi ra về, ông Năm nói mà như tâm sự với tôi và Cúc.
-Cô với cậu đều là người có chút học thức, tôi nói ít hai người phải hiểu nhiều. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của tôi, giống như một trái chanh đã bị vắt hết nước, giai đoạn sắp tới là họ sẽ vất chúng tôi vô thùng rác. Cúc cung tận tụy như chúng tôi còn bị bạc đãi, cậu đã có một thời từng cầm súng chống lại họ, mối huyết hải thâm thù này, đời nào họ chịu bỏ qua. Cô với cậu hãy liệu mà xa chạy cao bay, tìm con đường sống trong cái chết, biết đâu sẽ thoát nạn. Sĩ quan Ngụy như cậu, không thể nào sống chung với Cộng sản được đâu.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.