Obama giết Osama: 10 năm săn thủ phạm 11- 9

damau.org

Đinh Từ Thức

Post 11.09.2011

Post by Sơn râu 20 May 2025

Phần 3

Giờ khởi hành

Chủ Nhật 1 tháng Năm, 2011.

Buổi sáng tại Washington. Các giới chức Bạch Ốc hủy bỏ những cuộc gặp gỡ đã hẹn trước, mua bánh mì kẹp tại Costco, biến Phòng Tình Hình thành Phòng Chiến Tranh. Mười một giờ sáng, các cố vấn cao cấp của Obama bắt đầu tụ họp quanh chiếc bàn hội nghị lớn. Một đường giây video nối họ với Panetta ở Trụ sở Trung ương CIA, và McRaven ở Afghanistan. (Ngoài ra, còn ít nhất hai trung tâm chỉ huy nữa, một ở bên trong Ngũ Giác Đài, và một tại Đại Sứ Quán Mỹ ở Islamabad).

Thiếu tướng Marshall Webb, một phụ tá tư lệnh của JSOC ngồi tại chiếc ghế ở đầu bàn trong một văn phòng nhỏ kế cận, mở chiếc máy vi tính để đùi. Ông mở nhiều cửa sổ trên máy, nối kết ông với Bạch Ốc, và các toán chỉ huy khác. Văn phòng nơi Tướng Webb ngồi, có nguồn cung cấp video duy nhất tới Bạch Ốc, cho nơi đây thấy những gì đang diễn ra tại mục tiêu, được thu hình bởi một máy bay không người lái, không võ trang, loại RQ 170, bay cao khoảng 5 cây số trên Abbottabad. Các nhà lập kế hoạch của JSOC đã quyết định giữ bí mật ở mức cao nhất có thể được, đã chống lại việc dùng thêm máy bay chiến đấu hay thả bom để hỗ trợ. Toán người Nhái phải tự mình lo lấy mọi việc.

Trong khi ấy, Obama vẫn tới căn cứ không quân Andrews ở ngoại ô Washington chơi golf, và trở lại Bạch Ốc lúc 2 giờ chiều. Nửa giờ sau…

Tại Afghanistan, đã hơn 11 giờ đêm. Hai chiếc trực thăng Black Hawk MH 60 cất cánh từ phi trường Jalalabad, phía Đông Afghanistan, bắt đầu phi vụ bí mật hướng vào Pakistan.

Tất cả trên hai trực thăng có 23 người Nhái Hải quân, thuộc Toán Sáu (Team Six), có tên chính thức là Nhóm Phát huy Chiến tranh Đặc biệt của Hải Quân (Naval Special Warfare Development Group – DEVGRU), cùng với một người Mỹ gốc Pakistan làm thông dịch, và con quân khuyển gốc Bỉ. Một đêm không trăng, các phi công đeo kính nhìn thấu đêm, bay không đèn, qua niềm núi Pakistan. Radio được sử dụng tối thiểu; ngoài tiếng máy đã bị hãm bớt, một không khí yên lặng đáng sợ trong máy bay.

Mười lăm phút sau, các trực thăng bay xuống thấp theo thung lũng, vào không phận Pakistan, né tránh để không bị khám phá. Sáu mươi năm nay, Pakistan vẫn canh chừng nghiêm ngặt về phía láng giềng Ấn Độ ở mạn Đông, hầu như bỏ ngỏ phía Tây. Tuy nhiên, theo một gới chức quốc phòng Pakistan, sự thật không phải vậy. Pakistan không bao giờ bỏ ngỏ biên giới, thực trạng là kỹ thuật không cân xứng giữa Pakistan và Hoa Kỳ. Mỗi chiếc Black Hawk có hai phi công và phi hành đoàn thuộc Không Đoàn Đặc biệt 160, còn được gọi là “Night Stalkers” (Những kẻ rình đêm). Các trực thăng này đã được cải biến để tránh bị khám phá vì sức nóng, tiếng động, hay chuyển động; vỏ bọc là kim loại đặc biệt, và góc cạnh thay đổi để tránh radar.

Cẩn thận bớt lo

Điểm đến của nhóm người Nhái là căn nhà ở thị trấn nhỏ Abbottabad, cách biên giới Pakistan khoảng 120 dậm, ở phía Bắc thủ đô Islamabad. Abbottabad nằm dưới chân đồi của dẫy núi Pir Panjal, là nơi nghỉ mát nổi tiếng cho những người muốn tránh nắng mùa Hè. Được thành lập từ năm 1853 bởi một thiếu tá người Anh là James Abbott, thành phố này đã là nơi để thành lập Trường Võ Bị uy tín của Pakistan vào năm 1947.

Chỉ cách Trường Võ Bị dưới một dậm, có ngôi nhà lớn ba tầng, được xây cất kiên cố trên thửa đất rộng một mẫu (acre), nằm trên đường Kabul, thuộc Bilal Town, một khu gia cư của giới trung lưu. Theo thông tin CIA thu lượm được, bin Laden ẩn náu trên tầng ba ngôi nhà này.

Căn nhà nơi bin Laden trú ẩn

Bin Laden’s Compound

Theo kế hoạch, toán người Nhái sẽ được thả xuống căn nhà từ trực thăng, trấn áp đám cận vệ, hạ sát bin Laden, rồi đem tử thi về Afghanistan.

Không ảnh chụp căn nhà từ trên cao

Hai trực thăng bay qua Mohmand, là vùng thuộc về một trong 7 bộ lạc của Pakistan, bao bọc phía Bắc Peshawa, rồi tiếp tục bay về phía Đông. Người chỉ huy “Đội Hồng” là James (không phải tên thật) ngồi dưới sàn trực thăng số 2, chen chúc trong đám người Nhái, cùng với thông dịch viên Ahmed (cũng không phải tên thật), và chó Cairo. James ở lứa tuổi ngoài 30, thân hình mạnh khỏe, tuy là người Nhái, nhưng trông giống một lực sĩ ném đĩa, hơn là lực sĩ bơi lội. Đêm nay, anh mặc quần áo dã chiến lẫn với mầu sa mạc, mang súng ngắn Sig Sauer P226 có hãm thanh, cùng nhiều chất nổ, một Camel Bak để phòng khát, và thuốc tăng năng lực để chịu đựng dẻo dai. Anh cũng mang một súng ngắn nòng có hãm thanh (các người Nhái khác chọn loại súng Heckler&Koch MP7 của Đức). Trong túi áo là một bản đồ vị trí căn nhà. Trong túi khác là cuốn tập nhỏ gồm hình ảnh và mô tả ngoại hình của những người tình nghi cư ngụ tại căn nhà. Anh đội mũ có gắn máy lọc nhiễu âm.

Trong chuyến bay kéo dài 90 phút, James và đồng đội ôn lại trong đầu những gì sẽ phải làm. Chuyến bay vào Abbottabad không phải là chuyến mạo hiểm đầu tiên vào Pakistan. Toán này đã từng vào nước này hàng chục lần. Tuy nhiên, vụ Abbottabad được coi là chuyến bay sâu nhất của DEVGRU vào lãnh thổ Pakistan, nó cũng được coi là vụ tấn công quan trọng nhất nhắm vào bin Laden, kể từ cuộc tấn công vào Tora Bora cuối năm 2001. Bốn mươi lăm phút sau khi hai chiếc Black Hawk ra đi, bốn chiếc trực thăng loại Chinooks MH-47 cũng cất cánh từ cùng địa điểm ở Jalalabad. Hai trong số bốn chiếc này bay đến biên giới, đậu lại phía Afghanistan. Hai chiếc kia bay vào lãnh thổ Pakistan. Cho bốn chiếc Chinooks này đi theo, là quyết định vào phút chót, sau khi Tổng Thống Obama nói ông muốn bảo đảm là toán đặc nhiệm Hoa Kỳ có thể tự chiến đấu để ra khỏi Pakistan. Hai mươi lăm người Nhái của DEVGRU được lấy ra từ một đơn vị ở Afghanistan, ngồi trên hai chiếc Chinooks đậu bên trong biên giới – lực lượng “thần tốc” này chỉ được sử dụng nếu toán thi hành sứ mệnh gặp trở ngại bất thường. Các Chinooks thứ ba và thứ bốn, mỗi chiếc trang bị một cặp súng liên thanh M134. Cả hai theo đường bay của hai chiếc Black Hawks đã đi trước, và đậu lại trên một lòng sông cạn và rộng, vắng người ở, thuộc một thung lũng phía Bắc Pakistan. Đậu trên mặt đất, nhưng để cánh quạt vẫn quay, trong khi phi hành đoàn quan sát những đồi núi chung quanh, đề phòng trực thăng hay chiến đấu cơ của Pakistan. Một trong hai chiếc Chinook này có mang theo bình xăng phòng hờ, dự phòng các trực thăng khác cần thêm nhiên liệu.

Khoảnh khắc tựa thiên thu

Trong khi đó, hai chiếc Black Hawks mau lẹ đến Abbottabad từ phía Tây Bắc, bay khuất sau dẫy núi ở phía cực Bắc thành phố. Sau khi lượn qua lượn lại để tránh bị khám phá, hai trực thăng tới trung tâm thành phố. Mười hai ngừơi trong toán trên chiếc dẫn đầu “Helo One”, tất cả đều đeo bao tay và kính nhìn thấu đêm, sửa soạn tụt giây xuống nhà bin Laden. Họ đợi trưởng nhóm ra lệnh để thả giây. Nhưng trong khi bay qua căn nhà, quần một chỗ trên không, và bắt đầu xuống thấp để thả giây, phi công nhận thấy như không còn điều khiển chiếc Black Hawk được nữa, làm như nó sắp rớt.

Mấy phút trước 4 giờ chiều (tại Washington), Panetta báo cho những người trong Phòng Tình Hình biết các trực thăng đang tới gần Abbottabad. Obama đứng dậy, nói “Tôi phải coi vụ này”, rồi bước qua hành lang, vào văn phòng nhỏ, ngồi xuống cạnh Tướng Webb. Phó Tổng Thống Biden, Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates, và Ngoại Trưởng Hillary theo sau, cùng với tất cả những ai căn phòng nhỏ có thể chứa được.

Trên màn ảnh TV cỡ trung bình trong căn phòng, hình ảnh đen trắng không rõ nét của chiếc trực thăng số 1 “Helo One” vừa xuất hiện bên trên căn nhà, lập tức có dấu hiệu gặp rắc rối.

Tại hiện trường, khi cảm thấy trực thăng không còn điều động được như bình thường, phi công kéo cần điều khiển cánh quạt, nhưng không có dấu hiệu đáp ứng. Những tường cao quanh căn nhà và khí hậu nóng khiến chiếc Black Hawk tụt hẫng. Khi thực tập tại North Carolina, chuyện rắc rối này không sẩy ra, vì hàng rào giây thép được dùng thay cho bức tường, gió cánh quạt có thể thông qua, không bị dội ngược trở lên, gây rối loạn không khí.

Phi công không còn nghĩ tới việc thả giây, mà chú tâm vào việc làm thế nào để trực thắng rớt xuống an toàn nhất. Ông cố điều khiển cho mũi máy bay đâm đầu xuống một đám bụi đất gần chuồng nuôi gia súc, để tránh trực thăng bị lật nghiêng. Các người Nhái tự ngồi theo thế chống đỡ, trong khi cánh quạt phía đuôi quay loạn xạ, đụng vào tường cao khi trực thăng rớt xuống, một nửa nằm lơ lửng bên ngoài. Thân máy bay nằm chống vào bức tường, ở mức nghiêng 45 độ. Bò, gà, thỏ chạy tán loạn. Phi hành đoàn gửi điện cầu cứu tới mấy chiếc Chinooks đang đợi sẵn.

James và toán người Nhái trong trực thăng “Helo Two” nhìn thấy cảnh này trong khi đang quần trên góc Đông Bắc của căn nhà. Phi công thứ hai này không hiểu đồng bạn gặp nạn vì bị bắn, hay trục trặc kỹ thuật, quyết định bỏ luôn dự tính thả người trên nóc nhà. Thay vào đó, đáp ngay xuống bãi cỏ trước con đường bên kia căn nhà. Lúc này, chưa có người nào đột nhập vào bên trong căn nhà. Mark và toán của anh trong trực thăng 1 rớt tại một góc, trong khi James và toán của anh ở phía đối diện. Tất cả mới tới mục tiêu được một phút, mà kế hoạch đã gặp trở ngại.

Tại Bạch Ốc, theo dõi mọi việc qua màn ảnh TV, Obama và các giới chức thân cận cảm thấy căng thẳng, còn hơn cả coi phim Hitchcock. Thời gian chờ đợi từ khi thấy trực thăng rơi cho đến khi được nghe tin từ hiện trường, tuy chỉ là khoảnh khắc, nhưng dài tựa ngàn năm.

Giờ định mệnh

Sau vài phút, 12 người Nhái thoát hiểm từ Helo One lấy lại bình tĩnh, cho biết họ tiếp tục nhiệm vụ. Vài phút sau khi máy bay đụng đất, Mark và cả toán phóng ra từ cửa hông trực thăng. Bùn lún giầy bốt trong khi họ chạy dọc theo bức tường cao bao bọc chuồng gia cầm. Một toán ba người thuộc đơn vị phá hoại chạy lên trước, dùng chất nổ phá cửa sắt thông chuồng với bên trong khu nhà. Sau tiếng nổ lớn, cửa bật tung. Chín người Nhái chạy tới, qua lối đi dẫn tới phía sau lối vào căn nhà chính, súng hãm thanh sẵn sàng ở thế nhả đạn.

Mark lùi lại sau để thông tin qua radio với toán kia. Ở cuối lối đi, họ phá bung một cửa khóa khác, và bước vào cái sân trước nhà khách, nơi Abu al-Kuwaiti sống với vợ và bốn con.

Ba người Nhái đi trước lo việc thanh toán nhà khách, trong khi chín người còn lại phá một cửa khác để vào sân trong, ở trước nhà chính. Khi đơn vị ba người đi vòng tới góc đối diện các cửa nhà khách, họ thoáng thấy Kuwaiti chạy bên trong, báo động cho vợ và các con. Người Nhái đã nhìn thấy cảnh này đượm mầu xanh ngọc qua kính nhìn đêm. Kuwaiti mặc bộ đồ “shalwar kameez” mầu trắng (kiểu quần áo thùng thình giống như bộ bà ba của VN – quần shalwar hay salwar giống quần pajama, thường phía trên rộng và ống túm; áo kameez rộng, chùng tới đầu gối, không cài khuy phía trước hay bên hông, mà có lỗ chui cổ xẻ xuống phía ngực), lượm vội khẩu súng chạy ra ngoài, khi các người Nhái nổ súng bắn chết.

Chín người Nhái khác, kề cả Mark, họp thành ba đơn vi ba người lo thánh toán sân trong. Các người Nhái nghi rằng còn nhiều đàn ông trong nhà: Người anh/em của Kuwaiti là Abrar 33 tuổi; các con trai của bin Laden là Hamza và Khalid, và chính bản thân bin Laden. Ngay khi bước mau trên lối vào phía trước, một đơn vị người Nhái thấy Abrar vạm vỡ, để ria, mặc bộ shalwar kameez mầu kem, xuất hiện với khẩu AK-47. Hắn bị bắn vào ngực, chết cừng vợ là Bushra, không võ khí, đứng cạnh.

Bên ngoài tường cao bao quanh, thông dịch viên Ahmed đi tuần trên con đường đất trước căn nhà, giống như một cảnh sát viên thường phục của Pakistan; mặc một bộ shalwar kameez bên ngoài áo chắn đạn, anh đóng vai khá chuẩn. Anh và con Cairo cùng bốn người Nhái có nhiệm vụ canh chừng bên ngoài căn nhà, trong khi James và sáu người Nhái khác – những người đáng lẽ tụt giây xuống nóc nhà – tiến vào bên trong. Đối với toán canh chừng bên ngoài, không có chuyện gì sẩy ra trong 15 phút đầu. Chắc chắn láng giềng đã nghe tiếng trực thăng bay thấp, tiếng máy bay rớt, và thỉnh thoảng có tiếng nổ với tiếng súng tiếp theo, nhưng chẳng ai ra ngoài. Một người địa phương viết trên twitter: “Trực thăng quần trên Abbottabad vào lúc 1 giờ sáng (là chuyện ít có)”.

Cuối cùng, có vài người tò mò tới hỏi chuyện gì đang xẩy ra bên kia bức tường. Ahmed nói bằng tiếng Pashto, trong khi con Cairo gương mắt nhìn: “Về nhà đi! Đang có chiến dịch về an ninh”. Họ về nhà ngay, chẳng ai nghĩ rằng họ đã nói với một người Mỹ. Khi phóng viên tới Bilal Town mấy ngày sau, một người địa phương nói với một ký giả: “Tôi trông thấy nhiều lính phóng ra từ trực thăng và tiến về căn nhà. Một vài người nói bằng tiếng Pashto, bảo chúng tôi tắt đèn và ở trong nhà”.

Trong khi đó, James, người trưởng toán đã vượt qua một bức tường, đi qua một khoảng sân có những dàn cây leo, vượt một bức tường thứ nhì, và nhập bọn với toán người Nhái từ Helo One, họ đã vào nhà bằng tầng trệt. Chuyện gì xẩy ra kế tiếp, đã không được kể lại rõ ràng. Sau này, Panetta nói qua chương trình tin tức (NewsHour) trên PBS rằng: “Tôi có thể nói, có một khoảng thời gian chừng 20 hay 25 phút, chúng tôi không biết chắc những gì đã sẩy ra”.

Cho đến lúc này, chiến dịch đã được theo dõi bởi hàng chục giới chức quốc phòng, tình báo, và hành chánh qua video do máy bay không người lái cung cấp. Người Nhái không đeo máy quay phim gắn trên mũ như CBS đã loan tin rộng rãi. Không có ai biết trước cách bố trí bên trong ngôi nhà, và họ còn bị giao động mạnh hơn nữa, khi biết rằng họ có thể sắp kết thúc một cuộc săn bắt đắt giá nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Do đó, kết quả là, ngay cả những lời kể được ghi lại ở đây, cũng có thể thiếu rõ ràng, hoặc gây tranh cãi.

Trong khi đám con của Abrar chạy trốn, người Nhái bắt đầu thanh toán tầng một căn nhà chính, từng phòng một. Mặc dầu người Mỹ từng nghĩ rằng căn nhà có thể đặt bẫy, nhưng sự hiện diện của đám trẻ con cho thấy sự thật không phải thế. Hơn nữa, căn nhà đã bố trí đầy đủ các biện pháp đề phòng đến mức tối đa, như cửa sắt có khóa chắn chân cầu thang lên tầng hai, biến tầng một giống một cái chuồng.

Sau khi phá cửa bằng chất nổ, các người Nhái tiến lên cầu thang. Lên được nửa chừng, họ thấy Khalid, con trai 23 tuổi của bin Laden, nghển cổ ra ở một góc. Rồi anh ta xuất hiện trên đầu cầu thang với khẩu AK-47. Khalid, mặc một áo thung trắng rộng cổ, với tóc ngắn và một chòm râu, bắn xuống phía người Mỹ. (Giới chức chống khủng bố nói Khalid không võ trang, nhưng vẫn là một đe dọa thực sự đáng quan tâm). Ít nhất hai người Nhái bắn hạ Khalid. Theo một cuốn sổ tài liệu nhỏ người Nhái mang theo, có thể tới năm người đàn ông sống trong căn nhà. Ba người bây giờ đã bị giết; người thứ tư là Hamza, con của bin Laden, chưa thấy xuất hiện, và người cuối cùng là bin Laden.

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 20 May 2025

Chương 4

Bà chánh thất và cậu Hai Điền đều bực dọc khi nghe ông Chúa Hòn tuyên bố long trọng:

– Cô Huôi là nữ thần hộ mạng của ta. Từ nay về sau, cô Huôi thay mặt ta để bàn những chuyện quan trọng với Bá Vạn!

Nói xong, ông rót rượu vào hai chén nhỏ trên bàn thờ rồi đích thân đốt ba cây nhang, xá ba lần.

Khói nhang bay thơm ngào ngạt, ai nấy đều nín thinh, bực tức. Năm sáu cô tì thiếp cúi mặt, đứng ngoài thềm trông vào. Tại sao cô Huôi là kẻ đến sau mà lại được lên chức mau đến thế? Phải chăng cô dùng bùa ngải để mê hoặc ông Chúa.

Khấn vái xong, ông Chúa cắm nhang rồi day lại. Ông đã biết rằng có nhiều người bất bình nhưng chưa dám nói ra. Người phản đối đầu tiên chính là cậu Hai Điền. Bấy lâu, cậu ví mình là “đông cung thái tử”, mẹ cậu trở thành mẫu hậu. Buổi lễ hôm nay là ngày mà mẹ cậu bị truất phế, kẻ thay thế là cô gái bần hàng ở Hòn Me mới rước về.

Ông Chúa nói:

– Hôm nay ta vui, tại sao con không uống rượu?

Quả thật, chén ruợu cậu Hai Điền còn đầy. Cậu có dụng ý rõ rệt là chẳng uống một giọt nào để phản đối cha. Bà mẹ nói:

– Con nói đi. Có mẹ đây.

Cậu Hai tuy ngang ngược nhưng là đối với người khác. Hôm nay, trước mặt cha, cậu cân nhắc từng tiếng:

– Cô Huôi là người mới tới. Hơn nữa…

Chưa chi mà ông Chúa đã chận lời con:

– Mẹ con mầy làm điều xui xẻo cho ta. Hôm rày xảy ra mấy chuyện bực bội quá. Vì mẹ con mầy xui xẻo nên ta đem một cô gái còn trinh bạch, tốt phước về đây để bù lại. Hiểu chưa? Ta mà chết sớm thì chưa ắt gia tài nầy còn mãi mãi để mẹ con chúng mầy hưởng! Nghe đâu quân Lang Sa kéo binh tới Gia Định, Định Tường.

Bà chánh thất bèn cằn nhằn:

– Quân Lang Sa là chuyện ở xa. Cô Huôi là chuyện gần. Hổm rày, cô Huôi chưa ra mắt bất cứ ai trong gia đình nầy. Hôm nay cô vắng mặt, đó là điều vô phép. Ai bày chuyện đem cô Huôi về đây, tôi biết hết.

Cậu Hai Điền nói thêm:

– Bá Vạn chớ ai! Tôi biết lão già nịnh bợ ấy. Hôm nọ tôi trừng phạt một lần rồi…

Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ cứng rắn:

– Mầy câm miệng! Tao chết, mầy thay thế tao, chừng đó muốn làm gì thì làm. Nhưng tao còn sống đây, mầy nên kính nể Bá Vạn. Bá Vạn xây cất ngôi nhà nầy, từ hồi ông nội mầy còn sống. Tao đâu ngu dại gì mà nghe lời một lão già.

Nãy giờ, Bá Vạn và cô Huôi ở trong phòng bên cạnh, nghe tỏ rõ những lời qua tiếng lại bên nầy. Bá Vạn mừng thầm vì ông Chúa Hòn là người oai vệ, đủ sức trấn áp vợ con. Đột nhiên, cánh cửa hé mở. Ông Chúa Hòn bước vào nói nhanh:

– Trước là cô Huôi, kế đến là Bá Vạn qua đây.

Bá Vạn và cô Huôi đã bàn bạc từ trước là nên giữ thái độ yên lặng, nếu mẹ con cậu Hai Điền nói điều gì vô lễ thì cả hai xin từ chức, về vườn làm ăn.

Cô Huôi vào phòng lễ, cúi đầu chào bà chánh thất rồi cúi đầu ba lần trước bàn thờ. Dáng điệu khoan thai của cô, nhứt là gương mặt trầm tĩnh đã khiến bà chánh thất nể nang.

– Nữ thần hộ mạng của tôi là đây…

Ông Chúa Hòn nói gằn từng tiếng như thách đố bà chánh thất. Bà hơi lúng túng:

– Chờ xem…Còn trẻ quá vậy.

Cô Huôi nhìn thẳng vào mặt bà chánh thất:

– Tôi vào nhà nầy nào phải để giành chức vụ. Vui thì tôi ở. Buồn là tôi về. Xin ai nấy hiểu cho tôi.

Ngỡ rằng người đẹp nổi giận, ông Chúa can gián:

– Cô là người đem phước đức, giúp tôi khỏi tai nạn. Cô ở đây mãi mãi. Bá Vạn đâu?

Bá Vạn chắp tay, cúi đầu:

– Xin vâng lời ông…

Cậu Hai Điền bĩu môi. Bá Vạn nhủ thầm: ‘‘Tao cho mầy sống thêm vài ngày nữa. Rồi tới lúc mầy lạy tao, nhờ tao tha tội’’.

Ông Chúa Hòn nói:

– Bá Vạn giúp ta từ lâu, nhờ Bá Vạn mà ta gặp ông đạo Đất! Ta thưởng cho Bá Vạn một cái giường, kiểu giường mà ta nói hôm trước đó, ngồi, nằm, ăn uống trên giường. Gọn gàng, sang trọng biết bao nhiêu! Uống rượu để mừng ngày hôm nay.

Ông Chúa Hòn làm một chuyện thách đố khác là bưng hai chén rượu cúng trên bàn thờ trao cho cô Huôi và Bá Vạn. Theo lịnh ông Chúa, tất cả nâng chén dứt buổi lễ. Lẽ dĩ nhiên, bà chánh thất từ chối, cứ khoanh hai tay trước ngực. Cậu Hai Điền nói khẽ:

– Mẹ nên uống rồi lo chuyện khác, chẳng lẽ ngồi ở đây mãi!

– Chuyện gì?

– Mẹ nên uống. Con biết đầu đuôi rồi, ông đạo Đất mới là người chủ mưu. Uống cho mau, đừng để cha con nghi ngờ.

Buổi lễ chấm dứt. Bá Vạn được mời ở lại để nghe ông Chúa bàn bạc:

– Theo lời ông đạo Đất, ta nên dạo chơi nơi nào thấp, để xua đuổi những cái rủi từ trên cao. Lát nữa, ta với cô Huôi đi săn heo rừng ở Lung Tràm. Bá Vạn thấy sao?

Lung Tràm là khu rừng trầm thủy, cách xa Hòn Chông chừng một ngày đường, nơi có nhiều heo rừng. Nên bố trí khéo léo để giết ông Chúa, nhơn dịp đi săn nầy. Bá Vạn nhớ lời ông đạo Đất. Lúc nãy, ông Chúa tiết lộ danh tánh cho cậu Hai Điền nghe được. Nếu chậm thì trở tay không kịp. Cậu Hai dám cho người tới Hòn Me để hạ sát hoặc làm áp lực cho ông đạo Đất xua đuổi cô Huôi.

– Ông đi săn là tốt lắm. Theo ý tôi, ông nên đi vắng chừng mười ngày để cậu Hai và bà chánh thất bớt giận. Ông đem cô Huôi theo chớ?

– Để ở nhà sao được! Ta ở đâu thì nàng đó. Ta muốn vui say với nàng suốt ba tháng trường. Lần đầu tiên ta gặp một giai nhân tuyệt thế. Nầy Bá Vạn!

– Dạ, ông dạy gì?

– Lúc nầy, cô Huôi xứng đáng là …con chim phụng, quanh nàng, tất cả tì thiếp đều xấu xí như bầy gà. Bá Vạn theo ta không?

Vì muốn có thời giờ để gặp ông đạo Đất và bố trí cuộc mưu sát nên Bá Vạn từ chối khéo léo:

– Năm bảy ngày nữa, tôi tới Lung Tràm để gặp ông. Bây giờ, nếu tôi đi theo thì cậu Hai và bà nổi giận, cho rằng tôi theo phe cô Huôi. Ông Chúa thương giùm tôi. Hôm nọ, tôi bị cậu Hai hạ nhục một lần rồi.

– Nó là con nít, hơi đâu mà giận. Bá Vạn nói cũng phải. Ở nhà, tránh gây gổ với cậu Hai, rảnh thì dạo đó dạo đây, đốc thúc bọn tá điền. Năm nay chắc ruộng nương đều tốt. Năm ngày nữa, ta chờ ở Lung Tràm.

Bá Vạn từ giã ông Chúa Hòn, về nhà. Sáng hôm sau, bọn hộ vệ lên đường. Hai chiếc ghe đi trước, cách khoảng xa rồi mới tới ghe hầu chở ông Chúa và cô Huôi. Cậu Hai Điền có mặt tại bến, nhắn nhủ với cha:

– Ba làm cách nào đâm được con heo rừng độc giác, lấy cái nanh làm bùa đeo thì chẳng ai ám hại được. Hôm qua con săn hụt.

Ông Chúa Hòn vui mừng vì cậu con đã hết thắc mắc về vấn đề ngôi thứ:

– Con ở nhà, lo lắng công việc giùm ba.

Cậu Hai Điền cau mày:

– Con ghét công việc lặt vặt.

– Thì con tập tành cho quen. Ai tới mượn tiền, con cứ từ chối, nói rằng chờ ba về. Ai đem tiền bạc tới thì con cứ thâu. Ba biết con không ưa Bá Vạn. Con lo lắng công việc một mình, đừng gọi lão tới.

Nhưng cái nanh heo ‘‘độc giác’’ vẫn ám ảnh cậu Hai Điền. Nếu không có buổi tiệc ra mắt hồi hôm qua thì cậu đã theo dõi con heo độc giác ấy để lấy cho bằng được cái nanh quý giá, một nanh có “thần lực” bằng hai nanh. Theo sự tin tưởng của người Cao Miên ở địa phương thì con heo mài nanh có tật là luôn luôn hung hăng, sức mạnh tập trung vào chót nanh. Nanh ấy trong nhà thì kỵ lửa, chống được hoả hoạn; tiện hình ông Phật, làm phép rồi đeo vào cổ thì chủ nhân tránh được dao búa, tên đạn.

Ông Chúa Hòn mỉm cười, nói thêm:

– Chắc là ba chưa săn được con heo đó. Phải là người có tài như con thì họa chăng. Ba muốn ngao du đó đây với người đẹp.

– Năm ngày nữa, nếu ba chưa về thì con tới Lung Tràm với bọn hộ vệ. Săn không được thì dân chúng khinh thường.

Cậu Hai Điền vào nhà, đóng cửa lại mà uống rượu. Lát sau, Bá Vạn giả vờ đi ngang qua, hỏi tên hộ vệ canh phòng trước cửa:

– Cậu Hai đâu rồi?

– Dạ cậu biểu đóng cửa, chắc là đang ngủ

Như vậy có nghĩa là cậu chưa tìm ông đạo Đất để hành hung hoặc bắt buộc ông đạo xem một quẻ thứ nhì, trái hẳn quẻ thứ nhứt để truất phế cô Huôi. Như vậy, kế hoạch sẽ đổ vỡ. Ông xuống chiếc tam bản bốn chèo, không quên căn dặn tay em.

– Đem theo hai cây sào! Bữa nay, tụi bây làm việc tận tình, rồi đây có phần thưởng xứng đáng. Thừa, Thiếu! Ra khỏi chỗ nầy cho mau, kẻo cậu Hai thấy.

Thừa và Thiếu là hai anh em sanh đôi, giống nhau như khuôn đúc. Hai đứa đã theo Bá Vạn từ năm rồi, luôn luôn trung thành. Hôm nay, vì sợ bọn dọ thám của cậu Hai Điền trà trộn vào nên Bá Vạn chỉ đem hai đứa nầy mà thôi.

Đến giữa cánh đồng hoang, con rạch trở nên chật hẹp. Nước cạn dần, hai mái chèo đụng vào bờ. Thừa, Thiếu bèn rút sào, gác chèo lên mũi ghe. Bá Vạn thúc hối:

– Chống cho lẹ, tới Hòn Me để gặp ông đạo Đất!

Thừa nói nhanh:

– Chiếc tam bản lướt nghe re re…còn hơn là trâu kéo.

Bá Vạn nói:

– Tụi bay hễ rảnh là do tập dượt võ nghệ, tới lúc tụi bay ra nghề rồi đó. Tao nói cho tụi bay đề phòng. Bây giờ chỉ còn có hai đường, một là sống, hai là chết.

Thiếu nói nhanh:

– Mình theo phe cô Huôi, phải không ông?

– Chớ theo phe nào bây giờ! Vài ngày nữa, mình đi Lung Tràm thăm ông Chúa Hòn, sẵn dịp mình…ra tay. Tao nói, tụi bây dư hiểu.

Thừa là đứa khôn lanh nên đưa ra sáng kiến:

– Ông cho tôi nghỉ một ngày.

– Chi vậy?

– Để làm cây giáo đặc biệt. Lưỡi giáo là một khúc nanh heo rừng, tôi lựa cái chót nanh thiệt bén.

Bá Vạn phục thầm. Thằng Thừa tinh ranh quá. Nếu dùng cây giáo đó mà đâm ông Chúa Hòn thì làm sao phân biệt được chuyện ám sát với tai nạn lúc đi săn. Bởi vậy Bá Vạn hứa long trọng:

– Về già, anh em tụi bay trở thành sang trọng như tao. Tao với cô Huôi đâu bao giờ quên ơn kẻ giúp việc. Bữa nay, tụi bây biết tao làm chuyện gì không?

Thừa và Thiếu đều im lặng. Bá Vạn nói:

– Tao đem vàng bạc đền ơn cho ông đạo Đất. Ổng sẽ làm chủ một ngôi chùa lớn nhứt.

Đến xế trưa, chiếc tam bản đến Hòn Me. Công việc đầu tiên của Bá Vạn là gặp Tư Thính để trình bày sự việc. Đại khái, cô Huôi được giới thiệu long trọng là “nữ thần hộ mạng” trước mặt cậu Hai Điền và bà chánh thất. Họ phản đối dữ dội, nhưng nhờ sự dàn xếp khéo léo của Bá Vạn nên họ đành chịu thua. Hiện giờ, ông Chúa và cô Huôi ở trên đường về Lung Tràm để săn heo rừng.

Tư Thính chắp tay xá Bá Vạn:

– Ơn ông, tôi không bao giờ quên. Nhưng tôi thấy khó khăn quá, rủi họa hổ bất thành thì cha con tôi đều bị giết.

Bá Vạn cười dòn:

– Đây là ông Chúa Hòn ở chốn quê mùa chớ nào phải “ông vua chánh hiệu” mà chú Tư sợ bản án tru di tam tộc? Có tôi mà.

– Nhưng trước khi làm điều gì, nên hỏi ý ông đạo Đất.

– Ông đạo Đất có ở trong cốc không?

– Dạ có, để tôi đi với ông tới đó.

Bá Vạn nói khẽ rỉ vào tai Tư Thính:

– Để tôi đi một mình. Như vậy thiên hạ ít đồn đãi. Biết đâu ở chốn nầy có vài đứa do thám. Chú nên ẩn mặt vài ngày, giả vờ như lên rừng đốn củi hoặc đi thăm bà con ở Rạch Giá. Cậu Hai Điền dám cho bọn tay em đến đây gây rắc rối hoặc ám sát.

Tư Thính hơi sợ sệt cúi đầu ngỏ lời cám ơn Bá Vạn. Bá Vạn ra khỏi nhà, đi xăm xăm đến cốc.

Ông đạo Đất ngồi uống trà, chợt reo lên khi thấy Bá Vạn:

– Kính mời ông. Sự việc tới đâu rồi? Suốt đêm tôi không ngủ được. Ông tới đây thình lình, chắc là có chuyện gấp.

– Gấp lắm. Ông Chúa vô ý nhắc tên ông. Bởi vậy mẹ con cậu Hai Điền tức giận. Ông nên ẩn lánh năm, mười ngày. Bọn hộ vệ của cậu Hai dữ lắm.

Ông đạo Đất nghiêm mặt, yêu cầu Bá Vạn trình bày tình hình nội bộ gia đình của Chúa Hòn. Khi nghe nói tới tên thằng Cẩu, đứa con rơi mà ông Chúa sanh với cô Ngó, ông đạo Đất reo mừng:

– Thằng Cẩu đâu rồi? Ông tới gặp nó, dạy nó tới Lung Tràm chờ khi ông Chúa gặp nạn thì…thằng Cẩu có mặt tại chỗ. Như vậy mới lấn quyền cậu Hai Điền được!

Bá Vạn chắp tay xá ông đạo Đất:

– Quả thật ông giỏi hơn tôi. Vậy thì tôi đi gặp Mười Hấu, ông ngoại thằng Cẩu. Nó ở núi So Mo.

Ông đạo Đất trả lời:

– Đừng để trễ. Đừng khinh thường cậu Hai Điền. Bọn hộ vệ thân tín của ông đáng tin cậy không? Võ nghệ tới đâu?

Bá Vạn khoe khoang bọn thằng Thừa, thằng Thiếu và cây giáo có lưỡi nhọn làm bằng nanh heo rừng. Tuy nhiên ông đạo Đất vẫn chưa yên tâm. Xung quanh ông Chúa Hòn tại Lung Tràm, hẳn còn nhiều tên hộ vệ khác trung thành với ông Chúa và sẵn sàng theo phe cậu Hai Điền. Dưới mắt ông, kế họach chưa được khéo léo. Bá Vạn khuyên nhủ:

– Ông đạo nên tin tôi. Thằng Thừa thằng Thiếu hiểu rành về cách săn heo rừng ở vùng sình lầy. Hơn nữa, bọn hộ vệ theo phe cậu Hai sẽ bị giết một lượt. Tôi tìm cách chọc tức cậu Hai Điền, mời cậu tới để lãnh trách nhiệm mới: kế vị cho cha. Rồi thì tôi cho cậu theo cha, về chầu Diêm Chúa.

Ông đạo Đất vỗ vai Bá Vạn:

– Ông nên khéo léo, ra tay nhanh chóng, mua chuộc bọn hộ vệ. Rồi đây khi thành công, ông đừng quên tôi. Nhớ đi gặp Mười Hấu và thằng Cẩu. Lúc ông Chúa nhắm mắt, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh. Ông đi gặp may mắn!

Bá Vạn nhắc nhở lần chót:

– Ông đạo nên rời khỏi cái cốc nầy chừng năm bảy ngày. Cậu Hai Điền dám mướn người tới giết ông đó.

– Tôi lên núi, còn thiếu gì nơi ngao du. Dễ gì bọn nó đụng tới tôi.

Chiếc tam bản tiếp tục hành trình. Thừa và Thiếu vì quá hăng hái, muốn lập công nhanh chóng với Bá Vạn nên thúc giục:

– Bây giờ đi Lung Tràm! Sẵn nước lớn, tụi tôi chèo tới đỏ đèn là xong. Ghé dọc đường làm gì? Tụi tôi đủ sức chịu đói. Hễ thành công, thưởng tụi tôi món gì?

Bá Vạn cười:

– Cưới cho tụi bây mỗi đứa hai con vợ. Đừng nóng nảy, chuyện đó sẽ tới. Coi chừng bọn hộ vệ của ông Chúa.

Thừa bèn nói:

– Phần đông tụi nó đều ghét cậu Hai Điền. Đáng ngại nhứt là thằng A Mách, nó biết gồng Xiêm, gồng Chà. Nhưng cái thứ gồng đó dở lắm. Muốn giết thằng Mách, tôi bồng nó cho hai chân hỏng mặt đất rồi dùng nanh heo rừng hoặc khúc cây đâm ngược vô hậu môn. Bấy lâu nay thằng Mách phách lối, khoe rằng dao chém không đứt. Nó tưởng rằng tôi không biết chỗ nhược của nó.

Mui tam bản hóa ra chật chội, Bá Vạn nằm ngồi chẳng yên. Khí trời oi bức là một lẽ nhưng nguyên do chánh vẫn là những việc quan trọng sắp xảy ra: Giết hai cha con ông Chúa Hòn! Trong phút giây ông hơi ngao ngán, nhớ đến tuổi già chẳng còn hưởng được bao nhiêu năm nữa, làm cho dữ thì cũng nằm dưới ba tấc đất. Nhưng Bá Vạn lại tự biện hộ:

– Mấy ông Chúa Hòn trước đây có kẻ thiện kẻ ác, đời không nhắc nhở bất cứ một ai. Tai sao mình không chịu khó trong vài ngày để hưởng sung sướng trong những năm còn lại? Nếu mình rút lui, chưa ắt được yên ổn. Mối thù còn đó!

Ông Bá Vạn đưa tay lên vuốt mái tóc đã từng bị ô uế vì tô thịt và dĩa nước mắm. Ông nhớ đến cái áo dơ dáy còn xếp lại, cất kỹ trong tráp.

– Ai ở đằng sau kia? Mấy đứa hộ vệ chớ ai! Ai trong cái ghe hầu vậy ông?

Bá Vạn ra phía sau lái mà nhìn. Phản ứng đầu tiên của ông là câu hỏi nhẹ nhàng:

– Ông Chúa đi Lung Tràm theo con rạch Mù U, bọn hộ vệ đông lắm. Chiếc ghe hầu ở đằng sau dường như không có sơn son thếp vàng trên mui. Tụi bây tỏ con mắt thì coi giùm tao.

Thừa nói nhanh:

– Ghe hầu thứ thường.

Bá Vạn vẫn trầm tĩnh:

– Chẳng lẽ cậu Hai Điền theo dõi tao để rồi giết tao ở dọc đường? Nó ưa ngồi trên ghế, bắc ở giữa chiếc ghe không mui. Nếu đi săn thì nó đem theo bầy chó…

Thừa day lại, nói to:

– Lạ quá. Không có chó săn. Chẳng lẽ cậu Hai Điền?

Bá Vạn tỏ ra dè dặt. Nếu đụng độ với ghe cậu Hai trong tình thế nầy, thì ông ta chịu thất thế. Thằng Thiếu nóng nảy hơn, nói nhanh:

– Thưa ông, làm cách nào bây giờ? Tụi nó như chèo lẹ lắm rượt theo chiếc tam bản của mình!

Bá Vạn đáp:

– Đậu tam bản lại, cho tao lên bờ. Tụi bây cứ bình tĩnh. Cái gì kìa? Tụi nó múa tay múa chân, phải không?

Thằng Thừa trố mắt:

– Trước mũi ghe, cô Ngó đứng ngoắt kìa!

Nghe tên cô Ngó, Bá Vạn thờ phào khoẻ khoắn, vì cô không phải là kẻ thù. Nhưng còn mối lo khác: tại sao cô rời Hòn Chông quá hấp tấp? Hay là cậu Hai muốn ra tay trước, nắm tất cả quyền hạn tại Hòn Chông rồi tìm cách giết Bá Vạn?

Bá Vạn nói:

– Tụi bây cứ đậu tại đây.

Tam bản vừa cập sát bờ là Bá Vạn nhảy lên đứng thẳng người. Đằng kia cô Ngó cũng ra lịnh đậu ghe rồi lên bờ. Nụ cười nở trên môi cô Ngó. Thừa và Thiếu ngồi xuống, khoát nước rửa mặt.

Cô Ngó mặc bộ quần áo lụa trắng, dáng đi yểu điệu. Bá Vạn hỏi trước:

– Cô kiếm tôi? Chuyện gì quan trọng đó? Nãy giờ tôi giựt mình.

Cô Ngó đến gần Bá Vạn:

– Dạ, cậu Hai lo tập dượt mấy con chó săn. Cậu chưởi rủa vu vơ làm tôi nóng ruột quá. Chắc ông đi núi Mo So thăm ba tôi với con tôi.

Bá Vạn hơi xúc động trước vẻ đẹp tươi trẻ của cô Ngó:

– Vậy chớ đi đâu bây giờ? Tôi lo cho cô từ hồi nào tới giờ!

Cô Ngó cười tình:

– Biết lấy gì đền đáp cho xứng đáng?

Rồi liếc về phía thằng Thừa thằng Thiếu, cô hỏi khẽ:

– Hai thằng nầy tốt chớ?

– Người của tôi. Cô xuống tam bản nói chuyện cho vui, ở phía sau cứ chèo theo. Sợ gì!

– Tôi sợ lắm, sợ ông quên tôi. Từ khi cô Huôi được ông Chúa xem là “nữ thần hộ mạng”, tôi biết rằng mình hết thời rồi, chỉ còn trông cậy vào ông, miễn là thằng Cẩu được nở mày nở mặt.

Hai người xuống chiếc tam bản, ngồi gần nhau. Bá Vạn gật đầu:

– Đêm nay tại nhà cô, tôi nói nhiều chuyện hơn. Tôi quên cô hồi nào? Chẳng qua vì phận sư, vì việc lớn chưa làm xong.

Mặt trời đã lặn khi chiếc tam bản đến chân núi Mo So. Ông Mười Hấu đứng sẵn dưới bến. Chừng thấy Bá Vạn và cô Ngó trong mui, ông hơi ngạc nhiên:

– Ông Chúa đâu rồi?

Bá Vạn đáp:

– Ông Chúa lúc nầy lo ngao du.

Sự có mặt của cô Ngó trong mui tam bản khiến Mười Hấu lo nghĩ, đoán mãi không ra. Nhứt định là ở Hòn sắp thay đổi lớn. Nếu ông Chúa còn oai quyền như thuở nào thì làm sao Bá Vạn dám ngồi gần người vợ của ổng? Phải chăng Bá Vạn đang say mê nhan sắc cô Ngó, bày ra âm mưu thâm độc để chiếm riêng một cõi núi Mo So nầy? Đứng về luân lý, chuyện lân la giữa hai người không thể nào dung thứ được. Nếu ông Chúa biết thì bao nhiêu quyền hạn, lợi lộc của gia đình Mười Hấu sẽ mất. Nghĩ vậy, Mười Hấu hỏi kỹ lần thứ nhì:

– Ngó ơi! Sao con dại dột như vầy! Trước khi đi, con có xin phép ông Chúa không?

Bá Vạn lên bờ, trả lời thay cho cô Ngó:

– Chú Mười yên tâm. Tôi và cô Ngó đâu ngu dại gì làm chuyện trái với luân thường đạo lý. Vô nhà, tôi nói chuyện riêng. Đừng cho người nào lạ tới lui trước sân. Thằng Cẩu đâu rồi?

Mười Hấu đáp:

– Ông Bá nhắc tới tên thằng đó làm gì, không ai chịu nổi.

– Tôi muốn gặp thằng Cẩu.

Mười Hấu lắc đầu:

– Dạ, nó đi chơi rồi. Lát nữa, tôi kêu nó về. Chắc ông Bá chưa ăn cơm. Đêm nay ông ở đây chớ?

Bá Vạn vẫn chưa hết thắc mắc. Ông muốn gặp mặt thằng Cẩu, trước tiên là để xem tướng mạo cho biết nó có “khí tượng đế vương” hay không? Điều thứ nhì, không kém phần quan trọng hơn là dạy dỗ thằng Cẩu những lời ăn tiếng nói cho hợp với hoàn cảnh mới, khi ông Chúa Hòn vừa nhắm mắt.

Cô Ngó hỏi Bá Vạn:

– Ông tính chuyện gì thì nên làm gấp. Tôi sợ bọn cậu Hai Điền theo dõi, hạ sát mẹ con tôi. Hồi tôi ra đi, cậu Hai nằm ngủ nhưng bọn hộ vệ thì nói chuyện riêng như bí mật lắm. Mỗi đứa đều cầm mác, cầm dao mà mài cho bén.

Bá Vạn day lại:

– Chú Mười đuổi những người lạ mặt cho xa nhà nầy.

Cô Ngó trả lời thay cha:

– Má tôi mất lâu rồi, đâu còn ai trong nhà nầy. Ông Bá cứ bàn bạc.

– Tôi muốn nhờ chú Mười kiếm thằng Cẩu thiệt gấp.

Từ lâu, thỉnh thoảng về thăm nhà, cô Ngó hiểu phần nào tánh tình thằng Cẩu. Lớn lên, nó chỉ lo ăn chơi xài phí tiền bạc. Lại còn cái tật hỗn láo, cãi với ông ngoại. Cô biết thằng Cẩu đang dạo xóm để chọc gái và đá cá lia thia. Nói ra quá sớm, ông Bá Vạn sẽ thất vọng vì nếu thằng Cẩu mà lên ngôi Chúa Hòn thì sự nghiệp sẽ tan tành: hoặc là dân chúng sẽ nổi loạn, không thèm đóng một hột lúa nào cả.

Cô Ngó nói:

– Để tôi xuống nhà bếp nhờ ba tôi đi kiếm thằng Cẩu, gọi nó về đây gặp ông. Bây giờ hơi khuya, không nên là xáo động xóm giềng. Chắc ông mệt? Miễn là ăn cơm xong “mình” gặp thằng Cẩu. Nó khờ dại lắm, nhờ ông dạy dỗ.

Tiếng “mình” từ miệng cô Ngó nói ra thật là ngọt ngào và gợi tình. Làm sao Bá Vạn làm ngơ trước đóa hoa tươi trẻ ấy được? Bá Vạn lẩm bẩm một mình:

– Nếu cô Ngó và Mười Hấu đột nhiên theo phe cậu Hai Điền thì nguy cho mình. Mình nên chiều theo ý họ.

Ông xuống bến nói với thằng Thiếu:

– Mầy buồn ngủ chưa? Mầy đói bụng không?

Thiếu đáp ngay:

– Ông dạy thì tôi vâng lời. Hơi đói nhưng chịu nổi.

Bá Vạn nói khẽ:

– Mầy qua Lung Tràm rồi trở về đây cho tao biết ông Chúa với cô Huôi tới đó chưa?

Thằng Thiếu gật đầu rồi hỏi:

– Thưa ông, thì tôi mượn chiếc xuồng độc mộc của ông Mười Hấu, dùng sào mà chống tắt qua đồng cỏ. Hừng sáng, tôi về tới đây. Ông còn nhắn thêm điều gì không? Chẳng lẽ tới Lung Tràm rồi trở về thì uổng công trình của tôi quá.

Bá Vạn vỗ vai thằng Thiếu:

– Mầy coi vậy mà khôn. Tao thấy chống xuồng mệt hơn là cỡi trâu. Lát nữa tao mượn một con trâu cổ cho mày cưỡi. Nếu gặp cô Huôi, mày lại gần nhắn giùm tao. Mà thôi, chưa chi đã lộ bí mất.

Thằng Thiếu trố mắt:

– Theo tôi thì chẳng có điều gì bí mật nữa. Một là tôi sống, hai là tôi chết. Chẳng lẽ cô Huôi tìm cách hại tôi? Còn ông Chúa Hòn thì…

Bá Vạn lấy tay bụm miệng thằng Thiếu:

– Mầy đừng lớn tiếng. Ông Chúa đến Lung Tràm để chết vì ngọn giáo của mầy, tao hiểu rồi. Nếu gặp cô Huôi, mày nhắn rằng nên chờ ngày mai hoặc ngày mốt, nói vậy là cổ hiểu.

Từ nhà trên, cô Ngó bước ra sân, Bá Vạn đưa tay ngoắt rồi nói:

– Thằng Thiếu đi Lung Tràm, thằng Thừa lên sân kiếm cơm ăn rồi canh phòng rủi có kẻ lạ mặt tới đây gây chuyện. Tao ở dưới nầy tìm cách thuyết phục cô Ngó. Cô Ngó coi vậy mà không tỉnh táo.

Thằng Thừa sẵn sàng lên bờ để kiếm cơm ăn cho no lòng rồi ngủ cho khoẻ. Nó muốn cho Bá Vạn và cô Ngó bày chuyện yêu đương. Rồi đây nếu âm mưu được thành công, Bá Vạn và cô Ngó ắt nhớ công lao của nó.

Cô Ngó xuống tam bản, vào trong rồi đốt ngọn đèn sáng. Cha cô đã khuyên cô tìm cách quyến rũ Bá Vạn vì tình thế đã thay đổi. Nếu cậu Hai Điền thắng thế thì chưa ắt cô và thằng Cẩu còn sống được.

Bá Vạn vào trong mui, cười hề hề:

– Đêm nay ở dưới nầy mát mẻ nhưng …muỗi cắn.

Cô Ngó cười tủm tỉm:

– Trên nhà, có nhiều chuyện bất lợi. Ở dưới nầy, thảnh thơi hơn. Tôi giăng mùng cho ông ngủ. Hễ nực hay là muỗi vô mùng quá nhiều, tôi quạt. Tôi biết… ông Bá thương tôi nhiều nên lo cho mẹ con tôi…

Bá Vạn hiểu rằng cô Ngó đã sẵn sàng trao thân cho ông. Muốn cho đêm dài được trọn vẹn ý nghĩa, ông hỏi:

– Ăn cơm uống rượu xong, tôi nói cho cô nghe nhiều điều.

Cô Ngó hỏi:

– Điều gì? Ông nói đi rồi…em đem cơm xuống đây ăn một lượt, em còn đói hơn ông nữa đó.

Bá Vạn ôm cô Ngó vào lòng. Cô Ngó giả vờ e thẹn:

– Để em lên nhà đem cơm xuống…

Đêm sáng, trời trong, Bá Vạn mở cánh cửa nhỏ bên hông mui ghe để thưởng thức trọn vẹn cảnh đẹp bên ngoài. Cô Ngó bước thong thả lên sân, dáng đi yểu điệu lạ thường, thỉnh thoảng day lại hé miệng cười. Cá đớp bọt sát bờ, vài con hạc ăn sương bay lướt qua như xé không gian với tiếng kêu oang oác hiền lành…

Chừng nầy thằng Thiếu đang cưỡi trâu đến Lung Tràm. Trễ lắm là hừng sáng nó trở về báo tin. Bá Vạn thầm nghĩ:

– Sống lênh đênh trên chiếc ghe, giữa cảnh đồng quê mộc mạc vẫn vui thú hơn ở trong nhà. Ông Chúa Hòn là người quá khôn, biết hưởng thụ. Hồi xưa, ông đến đây để gặp cô Ngó lần đầu tiên. Ngày ấy, còn nhớ cô Ngó là gái tơ múc nước bên suối. Vật đổi sao dời, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Thằng Cẩu lớn lên, ai biết rằng nó sắp trở thành ông vua nho nhỏ trong vài ngày sắp tới.

Thấy cô Ngó trở lên, Mười Hấu khuyên răn:

– Con nên cẩn thận. Liệu Bá Vạn lật đổ ông Chúa nổi không?

Cô Ngó đáp:

– Bá Vạn là tay đầy mưu mẹo, dư sức làm. Ông Chúa đang đi săn ở Lung Tràm, bọn hộ vệ đã bị mua chuộc, chờ lịnh Bá Vạn là chúng nó giết khéo léo.

Mười Hấu đáp:

– Nhưng còn cậu Hai Điền! Làm sao thằng Cẩu tranh giành địa vị được. Cậu Hai lớn tuổi hơn, lại là con giòng chánh.

– Ông Bá Vạn nói sẽ cho cậu Hai “đi đời” dễ dàng. Thằng Cẩu đâu rồi? Phải cho nó gặp ông Bá Vạn để được chỉ dạy về lời ăn tiếng nói. Nó ham chơi quá.

Mười Hấu cau mày:

– Tánh tình thằng Cẩu, con dư biết vì con là mẹ của nó. Nó ăn chơi không ai bằng. Đã vậy mà nó còn cứng đầu cứng cổ, muốn làm gì thì làm. Hôm trước nó xách cây gài cửa để rượt ba. Mấy ông thầy ở trên núi nói rằng nó bị bùa ngải hành xác.

Cô Ngó nói khẽ:

– Ba đừng cho ông Bá Vạn biết căn bệnh của nó. Liệu ngày mai nó về đây không?

– Ba cho người đi kiếm nó rồi. Nó đang xổ cá thia thia để tuyển thứ cá nòi, cá rặc. Sáng mai, ba đi gặp nó, năn nỉ nó về đây. Con xuống ghe, kẻo ông Bá Vạn chờ. Ba hồi hộp quá…

Mâm cơm đã bưng xuống tam bản. Bá Vạn uống rượu, ăn ngon lành. Cô Ngó cầm đũa, lựa mấy miếng thịt ngon gắp để trong chén sẵn cho ông Bá Vạn. Hồi lâu, cô mới dám ngỏ lời tâm sự:

– Ông à! Em sợ điều nầy…

Bá Vạn đáp:

– Được làm vua, thua làm giặc, đó là thế gian thường tình. Nếu không xong, xứ nầy còn nhiều nơi để ta ẩn náu. Giặc Tây nghe đâu đã đánh tới Vĩnh Long, Tân An. Mình tới mấy chỗ đó là yên thân. Ông Chúa đâu có đủ binh mã mà rượt theo. Với năm ba chục lượng vàng, mình đủ sống năm mười năm.

Cô Ngó đáp:

– Em muốn nói chuyện khác. Em sợ nửa chừng ông bỏ em bơ vơ.

Bá Vạn hỏi:

– Sao vậy? Em làm cho tôi giựt mình. Tôi làm điều gì mà em nghi ngờ?

– Còn cô Huôi?

Bá Vạn cười sặc sụa:

– Cô Huôi trở thành “mẫu hậu”. Tôi ngu dại gì mà yêu cô Huôi cho nhọc thân, cho thiên hạ nghi ngờ rằng tôi tham lam.

Tôi sống với cô em như vầy là quá vui rồi. Cô em sẽ thấy đời cô Huôi là khổ, tiền bạc oai quyền rất nhiều nhưng phòng the khép kín.

Cô Ngó như chợt hiểu:

– Như vậy, ai dám nói xấu mình được! Em đâu ngờ ông tài giỏi, thấy xa hiểu rộng tới mức đó. Cô Huôi và thằng Cẩu đều là người dưng nhưng…nắm quyền vùng nầy, bởi vì ông Chúa với cậu Hai Điền đều ngộ nạn thình lình. Bà chánh thất như con rắn mất đầu…

Bá Vạn ưỡn ngực, vuốt râu:

– Bởi vì bà ta không biết dạy con. Thằng Hai Điền vô phép quá, nó hạ nhục tôi, bây giờ …trời hại nó. Cô còn nhớ không? Tôi không thèm rửa mặt, không thèm thay áo, cứ mang cái áo dính thịt kho với nước mắm mà đi ngoài đường cho thiên hạ thấy. Từ lâu rồi, thiên hạ biết thằng Hai Điền là đứa gian ác. Thằng Cẩu của em chắc hiền lành hơn.

Nghe hỏi tới đó, cô Ngó suy nghĩ, chưa dám trả lời. Cô nói lảng qua chuyện khác:

– Hồi đó, thấy ông mặc cái áo dơ, em tức giận cậu Hai nhưng biết nói sao bây giờ. Em đón ông, bữa đó em cầm bó bông sen.

– Nhớ rồi! Mấy cái bông sen… Rót rượu thêm. Đêm nay vui quá. Ở Lung Tràm, ông Chúa Hòn với cô Huôi hưởng lạc thú nào thì ở đây mình hưởng lạc thú đó. Em đem cơm ra ngoài. Buồn ngủ quá..

…Hai người nằm kề nhau, đến hừng sáng, cô Ngó thức trước. Ánh nắng chói chang bên ngoài tạt qua khe cửa mui tam bản. Bỗng dưng mà cô sợ sệt. Nếu bọn dọ thám của cậu Hai theo dõi thì chúng bắt gặp quả tang cuộc yêu đương vụng trộm nầy. Cô muốn lên nhà, để Bá Vạn ngủ dưới nầy một mình nhưng làm vậy Bá Vạn buồn, tưởng cô chỉ yêu ông ta vì quyền lợi tạm thời, vì tương lai của thằng Cẩu.

Trên bờ, có tiếng gọi:

– Ông ơi!

Thằng Thiếu nhảy gọn xuống đất, con trâu cổ đứng lóng nhóng, le lưỡi như đói khát. Cô Ngó mở cửa rồi đánh thức:

– Ông ơi, có chuyện.

Bá Vạn mở mắt, thằng Thiếu đã xuống tam bản. Bá Vạn ra lịnh cho cô Ngó:

– Cô lên nhà, để tôi bàn chuyện.

Rồi nói riêng với thằng Thiếu:

– Gặp không?

Thằng Thiếu cho biết là ông Chúa và cô Huôi đang ở Cây Gừa, một xóm phì nhiêu gần Lung Tràm. Đêm rồi ông Chúa uống rượu say mèm, gọi mấy cô gái Cao Miên trong xóm đến múa hát. Nó gặp cô Huôi, cô Huôi trả lời rằng ngày mai hoặc ngày mốt, ông Chúa mới săn heo rừng. Con heo độc giác còn lẩn trốn chưa ai gặp tung tích. Bọn hộ vệ đang dẫn bầy chó săn lùng kiếm….

– Mầy với thằng Thừa lên nhà kiếm cơm mà ăn rồi lo canh phòng xung quanh xóm nầy, đừng cho bất cứ ai lẻn vào. Tao kiếm thằng Cẩu.

Bá Vạn lên nhà. Mười Hấu đang bối rối vì thằng Cẩu chưa chịu về để trình diện với Bá Vạn. Hôm nay, có độ đá thia thia ở núi Còm. Nó lỡ ăn thua, chắc tới chiều mới về đây được.

Nói ra sự thật e Bá Vạn thất vọng. Một ông Chúa tương lai mà ham chơi, thì ai dám tin cậy, như vậy là kém xa cậu Hai Điền.

Hồi lâu, Mười Hấu mới viện được lý do:

– Thưa ông, hôm nay mời ông đi núi Còm chơi cho biết phong cảnh. Thằng Cẩu muốn về nhà gặp ông nhưng rủi quá, nó hơi bịnh.

Câu nói ấy khiến Bá Vạn lo âu. Thằng Cẩu mà mang bịnh thì công việc khó thành. Trước khi ông Chúa Hòn nhắm mắt, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh để nhận chức vị mới. Và trong khi ông Chúa hấp hối, chưa biết nên nhường cho ai thụ hưởng, Cẩu phải tỏ ra khiêm tốn, ăn nói đàng hoàng để giành được cảm tình. Bá Vạn hỏi nhanh:

– Nó đau nhiều hay ít?

Mười Hấu đáp:

– Dạ, chắc nó cảm mạo sơ sài thôi.

Ý kiến của Bá Vạn khiến Mười Hấu trút được bao nhiêu lo âu:

– Vậy thì tôi đến núi Còm gặp nó, săn sóc cho nó.

– Tôi lo sợ quá, sợ ông hiểu lầm rằng nó vô phép.

– Mình đi lập tức.

Mười Hấu xuống chiếc tam bản. Bá Vạn vào mui. Thiếu và Thừa ra sức chèo mạnh tay. Bá Vạn thấy hai bên bờ xóm nhà khá đông, nhiều người tò mò đứng nhìn, thì nói:

– Chú Mười chịu khó ngồi trước mũi tam bản. Ngoài đó nắng, nhưng nếu chú vô mui với tôi thì thiên hạ hiểu lầm.

Mười Hấu phục ngầm sự bố trí của Bá Vạn:

– Dạ, ông nói đúng. Đừng để dân chúng cho rằng ông toa rập với tôi để giành quyền với cậu Hai Điền. Con Ngó ở nhà là phải…

Tuy nhiên dân chúng cũng kéo xuống mé rạch để tỏ lòng cung kính với Bá Vạn, nếu Bá Vạn thương thì họ được vay tiền nhiều trong mùa tới. Bá Vạn đành xuất hiện từng chập, ló đầu ra khỏi cửa tam bản để chào mấy ông kỳ lão và nhận vài món quà xứng đáng như mật ong, sáp ong.

Núi Còm hiện ra với hình dáng đặc biệt như con cóc đang ngồi giữa vùng đất sình lầy. Xưa kia núi Còm là một hòn đảo giữa biển, lần hồi đất phù sa lấn vào, chôn lấp chân núi. Vách đá bị sóng đánh vào, khuyết từng mảng lớn. Xung quanh núi, còn con rạch nhỏ chảy cong queo. Bọn người săn ổ ong dường như làm việc không ngừng. Vách đá cheo leo, ấy thế mà họ buộc dây vào eo lưng, đầu dây có vòng tròn máng vào hòn đá trên cao hơn. Họ cứ di chuyển tòn teng như thế, tìm mấy ổ ong ở kẹt đá.

Bá Vạn mải mê xem, chợt nghe Mười Hấu nói:

– Thưa ông, tới rồi.

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 20 May 2025


Phần 6

Rồi ngày thăm nuôi cũng tới, tôi nhớ vào khoảng giữa năm 1977. Lần này chỉ có vợ tôi lên thăm, dắt theo hai đứa con, 4 và 3 tuổi.
Mỗi khi có đợt thăm nuôi, phương tiện vận chuyển từ Trảng Bàng, Tây Ninh đi vào các trại cải tạo ở hai huyện Tân Biên và Tân Châu được tăng cường thêm nhiều xe đò, xe tải chạy than hoặc chạy bằng xăng hay dầu cặn. Bà vợ, bà mẹ cải tạo nào may mắn kiếm được một chỗ ngồi, chỗ đứng trên các xe chạy xăng hay dầu cặn thì còn đỡ, bà nào phải đi xe than thì vào tới nơi sẽ thành “Công chúa lọ lem” (Cinderella) theo nghĩa đen, nghĩa là mặt mũi áo quần đóng một lớp bụi than đen gớm ghiếc!
Cũng may, nhà thăm nuôi của T2 chúng tôi ở gần cái giếng nước của ban chỉ huy trại, cho nên các bà các cô có thể rửa mặt trước khi vào nhà thăm nuôi chờ người thân.
Trước ngày thăm nuôi, tôi đã dự định sẽ bàn với vợ tôi về việc trốn trại về Sài Gòn, nhưng tới khi gặp nhau, nghe vợ tôi tả oán về cuộc sống khó khăn, tôi quyết định dẹp bỏ ý tưởng trốn trại.
Nguyên vợ tôi cũng chẳng đảm đang gì! Không phải tôi nói xấu vợ mà sự thực nó là như thế. Nàng vốn xuất thân dân trung lưu, cho dù gia cảnh có sa sút sau khi ông bố mất sớm, cái máu tiểu thư ít nhiều vẫn còn, bản tính lại không mấy chăm chỉ (tôi không dám viết là lười), thêm cái hậu đậu vụng về bẩm sinh nên dứt khoát không thể gọi là một người vợ đảm đang!
Đảm đang gì nổi khi mà ít lâu sau đám cưới, tôi về Sài Gòn đón nàng ra Pleiku, lúc ấy nàng mới tìm mua cuốn sách dạy cách nấu những món ăn căn bản của bà Quốc Việt!… Nhưng tôi chấp nhận tất cả chỉ vì thích lấy… vợ đẹp – ít nhất cũng là đẹp dưới mắt tôi.
Vậy mà sau năm 1975, nàng đã trở thành một “bà Tú Xương” – nuôi đủ hai con với một chồng!
Trước hết, nàng buôn bán đủ thứ tinh tinh ở cái chợ trời mới mọc lên cạnh đường rầy gần cổng xe lửa số 6. Sau khi chợ trời bị công an phường dẹp, nàng gửi con cho bà ngoại của tôi rồi cùng một cô bạn có chồng Đại úy mất tích ở Pleiku đi buôn trà ở Bảo Lộc. Buôn trà không có ăn, hai nàng chyển sang buôn cá khô, dĩ nhiên là buôn lậu, từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn!
Vợ tôi có tật say xe, say máy bay. Còn nhớ ngày ở Pleiku, hai vợ chồng được ông sếp lớn cho theo trực thăng đi chơi Đà Lạt, nàng ói tới mật xanh mật vàng khiến mọi người mất vui, vậy mà giờ này đi xe đò Sài Gòn – Phan Thiết như cơm bữa, chưa kể còn phải biết mánh mung qua mặt công an.
Nàng nói với tôi:
– Giá mà mình có chút vốn như con X, buôn thuốc tây vừa nhàn vừa có ăn lại không phải gửi con!
X là vợ một tay trung úy quen biết nhà ở Bùi Phát cũng bị đi cải tạo, nhờ nhà chồng cho mượn vốn, thêm chút lanh lợi nên chỉ cần đạp xe lui tới khu buôn bán thuốc tây lậu ở đường Nguyễn Thông mà có cuộc sống tương đối đầy đủ, thăm nuôi chồng thoải mái.
“Giá mà mình có chút vốn”! Tôi tin rằng vợ tôi thốt lên câu ấy một cách vô tình, nhưng tôi vẫn cảm thấy nhột. Nhớ lại từ ngày lấy vợ cho tới khi xảy ra cuộc đổi đời, có lẽ tôi chỉ đưa tiền lương cho vợ trong mấy tháng nàng ra Pleiku, còn lại thì giao vợ con cho bà nội bà ngoại, tiền lương không gửi về một xu, thì sau năm 1975 lấy đâu ra “vốn”?!
Thời gian này – năm 1977 – ngoài những chuyến đi “bán chính thức” của người Việt gốc Hoa, chưa có phong trào vượt biên ồ ạt cho nên nếu tôi trốn trại về để rồi phải trốn chui trốn nhủi thì chỉ thêm nặng gánh cho vợ. Vì thế, tôi quyết định dẹp bỏ ý tưởng trốn trại, chỉ biết cầu mong sao cho sớm được thả về để phụ vợ nuôi con, cho dù chưa biết sẽ phụ bằng cách nào?!

* * *
Sau đợt thăm nuôi, T2 của chúng tôi vốn trước kia vốn đã dễ thở hơn các T khác, nay có quà của gia đình mang lên càng thêm giống… ngày tết! Cho dù không “sáng sâm-banh tối sữa bò” ít ra cũng sáng cà-phê tối nồi chè.
Dĩ nhiên, không thể thiếu những buổi văn nghệ bỏ túi do “ban nhạc nhẹ” của T2 Đồng Ban trình diễn quanh đống lửa hồng. Tuy sống trong cảnh cá chậu chim lồng, ban nhạc nhẹ của chúng tôi cũng khá đầy đủ: lead guitar (Hiếu đờn), bass guitar (Hoàng sử dụng “cây đàn Tobia” của tôi), rythm guitar (tôi, hoặc một người khác), mandoline (một anh bạn trung úy bộ binh tên C). Lực lượng ca sĩ khá hùng hậu và đa dạng, trong đó được ái mộ nhất là những anh chàng hát thể loại nhạc “bình dân”, tức nhạc “lính”, nhạc “sến” – những ca khúc được tầng lớp khán giả bình dân ở miền Nam trước năm 1975 yêu chuộng.
Nguyên nhân của sự “thoái hóa thưởng ngoạn” này (tạm gọi như thế) là ở trong trại cải tạo, mọi nhu cầu của con người, từ vật chất đến tinh thần, trở nên đơn giản tới mức tối đa; bên cạnh đó không thể không nói tới sức thu hút của nhạc “lính”, nhạc “sến” – loại nhạc dễ hiểu, dễ nghe mà chỉ vào trong trại cải tạo những người khó tính mới có thời giờ, cơ hội thưởng thức.
Ngay bản thân tôi vốn là một người thích nghe nhạc cổ điển, nhạc pop, nhạc rock tây phương, mà nay khi đệm đàn cho “ca sĩ” hát nhạc lính, nhạc sến vẫn cảm thấy hứng thú hơn là đệm cho những người hát nhạc Văn Cao, Phạm Duy, Cung Tiến, Từ Công Phụng , Ngô Thụy Miên…
[Cho nên cũng là một điều dễ hiểu khi trong những năm gần đây (2010-2020), sau bốn thập niên bị chế độ CSVN ra sức xóa bỏ, nền nhạc nhạc lính, nhạc sến trước năm 1975 chẳng những đã không chết mà còn trở nên phổ biến, được yêu chuộng trên khắp mọi miền đất nước, từ trung ương tới địa phương, nơi đâu cũng tổ chức các cuộc thi hát nhạc vàng, đặc biệt Bolero]
Nhạc ngoại quốc thì có “cậu” Trân, đẹp trai con nhà giàu học… không giỏi nhưng hát những ca khúc Pháp của Christophe thật tuyệt vời, nhất là bản Maman, cậu lá-la-là-la-lá… khúc “intro” và “coda” y hệt thần tượng. Hiếu đờn thì được bản “cầu chứng” Unchained Melody của Rightous Brothers, và Hoàng bass cũng chỉ được một bản Reflections of My Life của ban Marmalade trong đó có đoạn “solo” của bass guitar để hắn show-off.
Vậy mà bên T3, anh em cải tạo còn tổ chức những buổi “văn nghệ” quy mô, xôm tụ hơn nhiều. Nguyên nhân chính, theo một số anh em T2 chui rào sang tham dự về kể lại, bên đó có nam ca sĩ Lê Xuân của Không Quân.
Tưởng ai hóa ra là ông bạn già của tôi, người cùng học Khóa 8 Căn Bản Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm 1970, cùng ở Pleiku từ năm 1969 tới năm 1972, và sau đó cùng phục vụ tại phi trường Biên Hòa cho tới ngày mất nước!
Anh tên thật là Lê Trung Xuân, dân Huế trung lưu, đi khóa hạ sĩ quan kỹ thuật Rochefort ở Pháp vào giữa thập niên 1950; sau khi về nước, anh không chịu đi học các khóa sĩ quan Không Quân ở Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang cho nên tới năm 1975 mới chỉ bò lên tới cấp trung úy.
Lê Trung Xuân có trình độ nhạc lý cao và một giọng tenor rất giống Tino Rossi, cho nên từ ngày còn phục vụ ở Bộ tư lệnh Không Quân, đã được tặng biệt hiệu “Tino Xuân”, rất được các đàn anh Không Quân thuộc thế hệ thứ nhất, trong đó có Trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh Không Quân, ái mộ.
Khi hát tại các vũ trường ở Sài Gòn, Lê Trung Xuân lấy nghệ danh “Lê Xuân”.
Thực ra với khách nhảy đầm, Lê Xuân chỉ là một ca sĩ hạng B, hát cho một vũ trường nhất định chứ không được mời “chạy show” như các ca sĩ nổi tiếng. Tại vũ trường của mình, anh là người bao dàn trong lúc chờ các ca sĩ xịn tới, hoặc hát thế nếu có người không tới, vì thế anh phải thuộc lòng nhiều ca khúc của nhiều thể điệu khác nhau để sẵn sàng “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”!
Cũng nhờ đó mà trong các buổi “văn nghệ” ở T3, anh em được nghe Lê Xuân hát mệt nghỉ. Sau này tôi nghe nói người bạn đời của anh Xuân đã mất trong thời gian anh ở Đồng Ban; không biết đó có phải là nguyên nhân khiến anh thêm say sưa hát để quên đi nỗi buồn, đồng thời đám cán bộ quản giáo trên “khung” cũng thông cảm, làm lơ cho anh hát thoải mái hay không? (khi anh hát những ca khúc mang âm hưởng opera, tiếng hát của anh vang đi khá xa).
Lê Trung Xuân là một trong những trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị hiếm hoi của quân chủng Không Quân không bị đưa ra miền Bắc; rất có thể anh chỉ khai cái gốc kỹ thuật Rochefort chứ không khai đã chuyển sang ngành Chiến Tranh Chính Trị.
Cái chết của Nguyễn Nhật Hiểu

Qua các buổi thăm nuôi, tù cải tạo không chỉ được gia đình tiếp tế thực phẩm, thuốc men mà còn cả tiền bạc để mua bán khi có cơ hội. Nhàn cư vi… cờ bạc; một số anh em mê đen đỏ trong đó Cường (đội trưởng) thường tụ tập binh xập xám vào cuối tuần, hoặc những buổi chiều rảnh rỗi. Tôi không biết thân phận “nhà nghèo” cũng nhào vô, chẳng bao lâu thì cháy túi.
Trên đây là giải trí không lành mạnh, còn giải trí lành mạnh thì đầu tiên phải nói tới đá gà.
Đá gà, ngoài Bắc gọi là chọi gà, là một trò chơi dân gian phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, riêng tại Việt Nam đã xuất hiện từ thời nhà Lý, do những quân sĩ của danh tướng Lý Thường Kiệt đem về nước sau những chuyến chinh phạt Chiêm Thành. Cả ba miền Trung Nam Bắc đều nuôi gà đá (gà chọi, gà nòi) nhưng nổi tiếng nhất là gà Bình Định ở miền Trung, gà Bến Tre, Cao Lãnh, Châu Đốc, và Bà Điểm ở trong Nam.
Tại Việt Nam, có hai trường phái đá gà: đá đòn và đá cựa. Đá đòn thiên về “võ nghệ” còn đá cựa thiên về sát phạt. Từ đầu thế kỷ thứ 20, ở miền Nam đa số là đá gà cựa.
Đá gà cựa là một hình thức so tài một mất một còn. Người ta thường gắn cựa sắt sắc như dao vào chân gà, hoặc mài chuốt cựa gà cho thật bén, biến nó thành một thứ vũ khí giết… gà. Sau một độ đá cựa, chú gà chiến bại, dù bỏ mạng nơi đấu trường hay bị trọng thương, cũng bị đem nấu cà-ri; đôi khi cả chú gà thắng độ nhưng mang quá nhiều thương tích, cũng cùng số phận.
Những ai chưa có dịp thưởng thức cà-ri gà nòi có thể sẽ nghĩ rằng thịt nó dai và hôi. Trên thực tế, cà-ri gà nòi (thường nấu với khai lang) là một món độc đáo của miền Nam mà không phải nơi đâu, lúc nào cũng có.
Năm 1968, trước khi nhập ngũ, tôi theo một tay bạn thân quê Châu Đốc đi giang hồ gần một tháng ở Sa Đéc và Châu Đốc. Hắn là cháu của chủ nhà máy chà cho nên tôi cũng được tiếp đãi như dân “cậu”. Thường thường, cứ khoảng 10, 11 giờ sáng ra trước nhà máy chà ven sông nhậu lai rai, chiều chiều xem đá gà, tối tối ăn cà-ri gà nòi nấu khoai lang.
Cho tới giờ này tôi vẫn còn nhớ mùi vị thơm ngon tuyệt vời của món cà-ri gà nòi cay nồng cùng với những miếng khoai lang ngọt bùi, mà không một món cà-ri nào khác có thể đem lại.
Sau năm 1975, ít nhất cũng là trong những năm đầu, trò chơi đá gà bị chế độ mới cấm ngặt, các “lò” gà nòi bị đóng cửa, thì những “chiến kê” vang bóng một thời đã bị đem bán để giết thịt.
Biết cải tạo sau khi thăm nuôi có tiền, lâu lâu tay cán bộ hậu cần của T2 nhân dịp ra chợ Tây Ninh hay Trảng Bàng lại mua thêm mấy con gà về bán lại cho cải tạo kiếm lời. Trong số gà này, đôi khi có cả những chú gà nòi nói trên.
Trong số tù cải tạo gốc Nam kỳ ở T2, có những anh em khá rành về đá gà, đã bỏ tiền mua những cựu “chiến kê” ấy để trước mua vui, sau… mần thịt!
Thế là ở T2 thỉnh thoảng buổi chiều lại có một trận so cựa sôi nổi, hấp dẫn. Đa số những con gà nòi này gốc Bà Điểm (Hốc Môn), một trong những địa danh nổi tiếng với những lò gà nòi đá cựa “chiến” nhất, sau một thời gian dài không thượng đài, nay chỉ cần vài lần so cựa là nhớ lại bài bản cũ.

Vì cả trại chỉ có mấy con gà nòi để anh em giải trí, cho nên dù là đá cựa, các “chủ gà” cũng chỉ cho đá để phân thắng bại chứ không đá tới một mất một còn, vì thế cũng không có vụ “đá bắt xác” như trước năm 1975.
Trong số khán giả của các trận đá gà ở T2 có cả một vài anh em từ T3 lén chui rào sang dự khán (giữa T2 và T3 không có vọng gác của vệ binh); để rồi sau đó bên T3 cũng bắt chước nuôi gà nòi để chúng đá nhau coi cho đỡ buồn.
Cuối cùng, đã có những trận đá gà cấp liên trại: anh em T3 lén đem gà sang T2 đá. Tuy nhiên thời gian này tôi cũng không còn hứng thú theo dõi các trận đá gà nữa.
Vào một buổi chiều nọ, tôi được nghe anh em kể lại trận đá “đẫm máu” vừa diễn ra giữa con gà chiến nhất của T2 và con gà lỳ nhất của T3. Con của T3 bị trúng đòn trước, cổ máu me đầm đìa nhưng vẫn nhào vào trả đòn. Sau khi bị địch thủ móc một mắt, nó vẫn tiếp tục tấn công một cách điên cuồng cho tới khi ngã gục… Con của T2 cũng bị thương khá nặng.
Hoàng (đờn bass) khi kể lại đã lắc đầu:
– ĐM ghê quá, từ nay tui hết dám coi đá gà!
Tối hôm đó, T2 có họp đội. Khoảng 7 giờ rưỡi, chúng tôi đang ngồi họp trong các dẫy nhà thì bỗng nghe một tràng AK nổ từ hướng T1.
Theo lệnh của ban chỉ huy trại từ khi mới tới Đồng Ban, khi “có biến”, tù cải tạo không được náo loạn, phải ngồi yên tại chỗ cho tới khi có lệnh của cán bộ; người nào chạy ra khỏi nhà vệ binh sẽ nổ súng!
Sau khi nghe tràng AK, chúng tôi vừa ngưng họp, đang nhìn nhau hoang mang, thì bỗng có thêm mấy phát súng nổ.
Sau đó có tiếng chó sủa lẫn tiếng người ở phía T1. Khoảng 10 phút sau, đích thân Chuẩn úy Đạt, chính trị viên T2, dẫn một toán vệ binh xuống, ra lệnh tất cả mọi người không được ra khỏi nhà, rồi cho vệ binh đứng gác phía trước.
Tới khoảng 9 giờ đêm, Chuẩn úy Đạt trở lại, tới từng đội lớn tiếng tuyên bố: một tù cải tạo chui rào trốn trại, bị vệ binh phát giác, ngoan cố không chịu đứng lại cho nên đã bị bắn chết.
Nghe tay chính trị viên nói như thế, chúng tôi thấy ngay có điều gì đó không ổn. Bởi nếu muốn trốn trại, tù cải tạo ở Đồng Ban thiếu gì cách trốn, thiếu gì lúc trốn, có bị bắt thì cũng phải sau khi đã ra khỏi trại; ai ngu dại tới mức chui rào ngay trước mắt vệ binh để bị bắn?!
Sáng ra, anh em ở dãy nhà phía trước kể lại đêm hôm qua sau khi súng nổ khoảng một tiếng đồng hồ, họ nghe nhiều tiếng chân người đi lại từ T1 tới T3, sau đó dòm qua khe cửa họ thấy mấy bóng người khiêng cái đó trên một cái võng đi về hướng T3.
Như vậy, người tù cải tạo bị bắn chết thuộc T3. Chi tiết này khiến tấn bi kịch càng trở nên khó hiểu: tại sao một tù cải tạo thuộc T3 lại băng qua T2 để tới T1 rồi bị bắn chết?
Ngay trong buổi sáng hôm đó, xác người tù cải tạo xấu số được lệnh đem chôn, và tới chiều thì ở T2 chúng tôi đã biết tên tuổi người bị bắn, cũng như nguyên nhân, chi tiết, diễn tiến cái chết của anh.
Đó là cựu Trung úy Nguyễn Nhật Hiểu, ngành Hành chánh Quân y, trước năm 1975 phục vụ tại Phòng Nhận Bệnh, Tổng Y Viện Cộng Hòa (trong hồi ức của mình khác, một tác giả ghi tên anh là “Nguyễn Hiểu”).
Hiểu chính là người đã đem con gà lỳ lợm của mình từ T3 sang T2 đá và bị vong mạng trong trận đấu vào chiều hôm trước. Sau khi đem xác gà về, Hiểu nấu một nồi cháo gà rồi chui rào băng qua T2 để sang T1 kêu người anh sang ăn chung cho vui (tôi không được biết rõ là anh ruột hay anh bà con).
Khi Hiểu vừa chui vào T1 thì bị tên vệ binh trên chòi canh phát giác, bắn một tràng AK. Hiểu chỉ bị thương, sau đó tên vệ binh tiến tới bồi thêm mấy viên nữa vào ngực!
Chi tiết này được một tù cải tạo T3 là một Thiếu úy Quân cảnh Tư pháp khẳng định.
Nguyên sáng hôm sau, khi cán bộ T3 lấy mấy tù cải tạo khiêng xác Hiểu đi chôn, anh Thiếu úy Quân cảnh Tư pháp tuy không thân với Hiểu nhưng đã tình nguyện với mục đích tìm hiểu về cái chết của người bạn tù.
Với con mắt của dân trong nghề, chỉ cần nhìn thoáng qua, anh biết ngay ngoài tràng đạn bắn từ xa, Hiểu còn bị lãnh mấy viên đạn bắn thật gần, vì vết khói ám còn trên ngực áo.
[Muốn biết một người bị bắn từ khoảng cách nào, các chuyên viên điều tra sẽ căn cứ vào loại đạn, vết đạn đi vào thân thể và trổ ra (nếu có). Tuy nhiên, trong trường hợp bị bắn thật gần (close range) chỉ cần nhìn vết khói ám trên quần áo, trên thân thể do bụi thuốc súng gây ra]
Sự khám phá vết khói ám trên ngực Hiểu đã giải thích tại sao có thêm mấy phát súng nổ sau tràng AK.
Một số anh em T2 ở dãy nhà gần hàng rào còn cho biết sau tràng AK họ nghe thấy tiếng la của Hiểu, tiếp theo mới là những “phát súng ân huệ”!
Thực ra, nếu Hiểu bị thương nặng thì trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, phương tiện cấp cứu của một trại tù cải tạo, những phát súng bồi thêm của tên vệ binh đúng là một “ân huệ”, nhưng ở đây khi anh em khiêng xác Hiểu về, cái đồng hồ trên tay anh đã biến mất!
Từ đó chúng tôi có quyền suy ra, chính cái đồng hồ Seiko 5 “hai cửa sổ không người lái” đã khiến tên vệ binh T1 nổi lòng tham và kết liễu mạng anh!…
Lẽ dĩ nhiên, sau cái chết của Nguyễn Nhật Hiểu, anh em tù cải tạo ở Đồng Ban cũng hết hứng thú đá gà!
Về phần Trung úy Vầy, người quản giáo hiền lành tốt bụng tôi đã nhắc tới ở một phần trước, không thường xuyên xuống đội của chúng tôi uống cà-phê nữa, có lẽ bầu không khí ngột ngạt sau vụ Nguyễn Nhật Hiểu bị bắn không còn thích hợp cho những buổi trò truyện thân mật giữa đôi bên. Chỉ tới trước khi đi phép về thăm gia đình ngoài Bắc, anh Vầy mới xuống chơi để báo cho chúng tôi biết. Đây là lần thứ hai kể từ ngày vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, anh được về thăm nhà.
Cũng xin bổ túc một chi tiết về gia cảnh của anh Vầy: cuối năm 1975, anh được đi phép lần đầu, về tới nơi mới biết vợ anh đã bỏ đi chung sống với một người đàn ông khác, để lại đứa con trai 6 tuổi cho bố mẹ anh nuôi. Thành thử sau khi ra ủy ban nhân dân xã ký giấy tờ ly dị, anh trở vào miền Nam ngay, trong lòng thề sẽ không bao giờ trở lại quê cũ!
Nhưng rồi nghĩ lại, thương bố mẹ già, thương đứa con có cha có mẹ mà như mồ côi, nay anh phải về.
Trước khi từ giã, anh Vầy có nói riêng với Cường rằng rất có thể khi anh trở lại trong Nam sẽ không gặp chúng tôi nữa, vì anh nghe phong phanh sắp có chuyển trại.
Nhà nhà trốn trại…

Trong khi ở T2 chúng tôi chỉ rỉ tai nhau tin “sắp chuyển trại” thì ở T3, không hiểu do nghe từ đâu, anh em tù cải tạo không chỉ đồn ầm lên sắp có chuyển trại mà còn nói rõ lần này sẽ bị đưa lên vùng cao nguyên để khai phá rừng Trường Sơn!
Tin đồn này đã khiến những anh em sẵn có ý định trốn trại tìm cách trốn càng sớm càng tốt.
Vài tuần lễ sau cái chết của Nguyễn Nhật Hiểu, ở T3 xảy ra cuộc trốn trại đầu tiên, rồi cuộc trốn trại thứ hai…
Chúng tôi còn được nghe kể (không biết có thật hay không) anh em ở T3 bàn chuyện trốn trại một cách công khai, thậm chí một số anh em thuộc binh chủng nọ còn nấu một nồi chè, họp mặt để từ giã nhau!
Một ngày nọ, sau bữa cơm chiều, Hùng sùi kéo tôi ra một góc sân, nói nhỏ:
– Anh Sáu, đêm nay tôi zulu!
Nghe Hùng tiết lộ, tôi không ngạc nhiên một chút nào bởi từ lâu tôi biết sớm muộn Hùng cũng sẽ trốn trại sang Căm-bốt. Tôi chỉ hỏi lại:
– Đi với ai?
– Anh Hạng!
Hạng là một trung úy hải quân khá chững chạc, ít nói nhưng rất có uy tín với anh em. Riêng tôi, qua những lần nói chuyện với Hạng, tôi được biết anh căm thù cộng sản tới tận xương tủy. Trước đó, anh và Hùng sùi thuộc hai nhóm (dự định trốn trại) khác nhau, nay có lẽ vì nhiều người rút lui, nhóm Hùng sùi xin nhập chung vào nhóm của anh.
Tôi ngập ngừng, tính nắm lấy tay Hùng nhưng rồi chỉ vỗ nhẹ lên vai, nói cụt ngủn:
– Thôi… đi bình an!
Trong số những anh em thiếu úy trẻ ở cùng đội, tôi thương Hùng sùi nhất. Năm 1972, vừa thi đậu Tú Tài 1, Hùng đã tình nguyện vào Thủ Đức, rồi tình nguyện về Nhảy Dù. Tới ngày trình diện học tập cải tạo, Hùng cũng chưa có một người yêu để đưa tiễn.
Hùng sùi cao ráo, không đẹp trai lắm nhưng có nét đàn ông, thêm da mặt sần sùi nên trông già dặn hơn người anh ruột cũng ở T2 nhưng khác đội: T, một Thiếu úy Không Quân lái C-130, mặt mũi trắng trẻo, trông hết sức nhà lành.
Trong khi Hùng sùi “phản động” ra mặt thì T rất an phận, rất có thể vì T đã có vợ. Hai anh em ra vẻ không thuận thảo với nhau vì tôi thấy hầu như hai người không bao giờ trò truyện. Kể cả khi được gia đình thăm nuôi, Hùng cũng ngồi với bố ở một góc nhà, T ngồi với vợ ở xa xa…
Sáng hôm sau, ban chỉ huy trại được chính thức báo cáo có năm tù cải tạo ở T2, tức nhóm của Hạng, Hùng sùi, đã trốn trại trong đêm….

* * *
Khoảng hai tuần sau, trong một lần đi chặt le về, thấy tay đội phó Sơn lồ đã… biến mất, chúng tôi đoán tới 99% hắn đã trốn trại bằng cách giả dạng thường dân đón xe ra Tây Ninh.
Hai tuần sau, vẫn không thấy Chuẩn úy Đạt, tay chính trị viên của T2, khoe “cách mạng” đã bắt được Sơn, chúng tôi tin rằng hắn đã thoát.
Cũng nên biết, theo nguyên tắc của các trại tù cải tạo, tù của trại nào trốn mà bị bắt lại, sẽ được đưa về trại đó để cảnh cáo mọi người. Trừ những trường hợp đặc biệt, chẳng hạn cướp vũ khí, tấn công, gây thương vong cho bộ đội, công an trên đường trốn trại, thì sẽ bị đưa về Bộ chỉ huy trung đoàn (L) để chờ bị xét xử – thường là xử bắn…
Tới lúc ấy, Cường mới bật mí cho tôi biết Sơn có bà con ruột thịt ở Tây Ninh, cho nên một khi trốn trại chắc chắn hắn về đó tá túc, trước khi tính bước kế tiếp.

* * *
Sơn lồ trốn trại được hơn một tuần thì Trung úy Vầy trở lại T2. Anh đưa cho Cường một gói trà Thái Nguyên và một phong bánh đậu xanh Bảo Hiên Rồng Vàng nổi tiếng của Hải Dương, nói là quà cho anh em trong nhóm.
Hôm đó, không có mặt tôi, chỉ nghe Cường kể lại khi được biết Sơn lồ đã trốn trại, anh Vầy buột miệng:
– Sao anh ấy dại dột vậy. Sắp có đợt thả đầu tiên rồi, anh ấy có tên trong danh sách ban chỉ huy trại đề nghị!
Theo những gì anh Vầy giải thích với Cường, chính sách cải tạo trong Nam hiện nay cũng giống như ở ngoài Bắc sau năm 1954, ngoại trừ những người nằm trong sổ bìa đen, tức thành phần bị xem là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ”, sẽ không có ngày về, hoặc chỉ được thả về khi gần chết, còn những người bị bắt đi cải tạo chỉ vì trước kia đã cộng tác với địch, cứ mỗi 3 năm sẽ được cứu xét và một số sẽ được thả về.
Lúc ấy, nghe Cường kể lại, tôi bán tín bán nghi, nhưng mấy tháng sau, khi chúng tôi đã được chuyển tới một trại khác, đợt thả tù đầu tiên đã diễn ra; khi ấy tôi mới biết anh Vầy nói thật.

* * *
Tới khoảng tháng 8 hay tháng 9 /1977, ở Đồng Ban có đợt chuyển trại, đúng như anh Vầy đã tiên đoán. Trên dưới 500 tù cải tạo của L2, tức là vào khoảng 1/3, được đưa tới Cây Cầy cách đó khoảng 15 cây số để “tăng gia sản xuất”.
Căn cứ vào “quá trình hoạt động” và mức độ “ác ôn” của thành phần đi Cây Cầy, chúng tôi cũng chẳng hiểu nhà cầm quyền trại đã dựa trên tiêu chuẩn nào để chọn số người này. Bởi có cả cấp trung úy lẫn thiếu úy, cả già lẫn trẻ, cả “tiến bộ” lẫn “phản động”, cả “có thân nhân cách mạng” lẫn “con bà phước”…
Trong số bạn bè hoặc người quen biết của tôi đi Cây Cầy, có Đức “cống”, Hiếu đờn, và hai Trung úy hoa tiêu trực thăng – 1 gunship, một Chinook.
Thêm một chi tiết cũng cần ghi ra, đây lần chuyển trại đầu tiên mà tù cải tạo được cho biết trước nơi mình sắp được đưa tới. Chúng tôi cho đây là một sơ sót vô tình của ban chỉ huy trại hơn là có chủ ý, bởi nó đã gây xôn xao lo lắng cho không ít anh em còn ở lại. Xôn xao lo lắng vì tin rằng sẽ bị đưa đi xa hơn, rất có thể ra tận miền Trung để khai phá rừng Trường Sơn, như anh em ở T3 đã đồn!
Vì thế, trong khi tôi và những anh em đã từng ra Phú Quốc không mấy quan tâm tới việc mình sẽ bị đưa đi đâu thì đám thiếu úy trẻ gốc Trảng Lớn xuống tinh thần ra mặt, và nhiều tay đã tính tới việc trốn trại. Dĩ nhiên là trốn vào rừng rồi đi sang Căm-bốt, bởi họ đâu có giấy tờ giả hay rành đường đi nước bước ở Tây Ninh như Sơn lồ để trốn về Sài Gòn!
Một yếu tố nữa đã khiến mấy chàng thiếu úy trẻ hăm hở bàn tính chuyện trốn trại là tin đồn “hồ hởi phấn khởi” về chuyến vượt thoát của nhóm Hạng (Hải Quân) & Hùng sùi.
Qua kinh nghiệm trong thời gian ở tù cộng sản và sau đó sống ở các trại tỵ nạn, tôi nhận thấy không nơi đâu có nhiều tin đồn thất thiệt bằng hai nơi này. Có khác nhau chăng là tin đồn ở các trại tỵ nạn may ra còn có thể kiểm chứng nhưng trong trại tù cải tạo thì vô phương.
Nào là ông Nguyễn Cao Kỳ, tướng Ngô Quang Trưởng trở về lập chiến khu để… phục quốc, nào là Liên Hiệp Quốc đang can thiệp để buộc chế độ CSVN phải thả hết tù cải tạo, nào là tất cả sĩ quan sẽ được đưa sang Mỹ, mỗi người sẽ được phát mấy chục nghìn đô-la xài chơi…
Nhưng trong khi những tin đồn thất thiệt nói trên được xem là vô hại thì tin đồn thất thiệt về thành công của những vụ trốn trại qua ngả Căm-bốt đã đem lại hậu quả vô cùng tai hại là tạo ảo tưởng cho những người muốn trốn trại bằng con đường này. Trong một kỳ tới tôi sẽ viết về những anh em trốn trại mà tôi biết chắc chắn đã bỏ mạng tại biên giới Việt – Miên.
Trở lại trại cải tạo Đồng Ban, khoảng một tháng sau khi nhóm Hạng & Hùng sùi trốn trại, có tin đồn Hạng đã tới Thái Lan và báo tin về cho gia đình! Tin đồn nói rằng sở dĩ anh em biết được là do gia đình một anh em Hải Quân viết thư thông báo – dĩ nhiên dưới một hình thức ngụy trang nào đó.
“Anh em Hải Quân” đó là ai, không một người nào biết đích xác, nhưng tin đồn thì ngày càng lan rộng, và ngày càng có thêm nhiều người trốn trại, trong đó có đám thiếu úy trẻ gốc Trảng Lớn ở T2 tôi đang đề cập tới.
Một đêm nọ, ba tù cải tạo gồm Hùng “nhô” – một thiếu úy Khóa 4 Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt mới ra trường – cùng hai chú em mặt non choẹt khác, âm thầm trốn trại. Báo hại, sáng ra Cường đội trưởng phải thân chinh ban chỉ huy trại báo cáo sự việc.
Viên thủ trưởng, Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa, liền ra lệnh cho gôm tất cả tù cải tạo còn lại vào hai dãy nhà ở gần “khung” nhất, và chỉ thị lập danh sách trực gác ban đêm: sau kẻng ngủ, từng cặp phải thay phiên nhau thức để canh chừng, đề phòng có người trốn trại.
Nhưng tới khoảng 2, 3 giờ chiều thì thấy… Hùng “nhô” và hai chú em thiếu úy mò về trại!
Thì ra đêm qua, sau khi trốn khỏi trại, ba chàng vào rừng tới chỗ chôn dấu quần áo lương thực, vừa đào lên xong thì nghe tiếng toán tuần tiễu của vệ binh T1 dắt chó đi ngang qua gần đó. Ba chàng nằm chờ cả tiếng đồng hồ, đợi toán tuần tiễu quay về mới dám ra con đường mòn để đi. Từ lúc ấy cho tới trưa hôm sau, ba chàng đã “đụng” các toán tuần tiễu thêm ít nhất hai lần nữa, cũng may mà chạy kịp vào rừng!
Cuối cùng, nhuệ khí lúc ban đầu đã biến mất. Ba chàng quyết định… quay về!
Chờ cho Hùng “nhô” và hai anh bạn định thần, Cường dắt lên ban chỉ huy trại trình diện ông thủ trưởng.
Theo lời kể lại của Cường, có lẽ Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa cũng không thể ngờ ba tay cải tạo cả gan trốn trại lại mặt búng ra sữa như thế, ông không tỏ lộ một chút giận dữ, chỉ nói:
– Thôi, trở về đội sinh hoạt bình thường với mọi người, từ nay đừng có dại dột nữa nhé!
Cũng theo Cường, sở dĩ ba tay trốn trại được khoan hồng một phần cũng vì ông Nghĩa có muốn biệt giam cũng không có chỗ nhốt, không có người canh giữ, vì lúc đó trên “khung” ai cũng bận rộn chuẩn bị chuyển trại, hòm rương, đồ đạc, nồi niêu xoong chảo ngổn ngang…
“Thầy” Sáu Lèo, quả lắc cảm xạ, và Tha La Xóm Đạo
Mấy ngày sau, thấy tay tài vụ của T2 đưa người vào tổ chăn nuôi để bán heo, chúng tôi biết ngày chuyển trại đã gần kề, anh em nào còn nuôi gà đều mang ra thịt hết, các bữa trưa bữa tối trở nên thịnh soạn hơn bao giờ hết, nhưng ăn ngon mà vẫn không vui vì nỗi lo trước mắt: sẽ bị đưa đi đâu?!
Riêng cá nhân tôi vì đã dứt khoát không trốn trại cho nên cũng chẳng mấy quan tâm tới việc mình sẽ bị đưa đi đâu; chỉ có điều ưu tư là trường hợp bị đưa ra miền Trung thì tội nghiệp cho gia đình phải vất vả khi đi thăm nuôi; khi ấy rất có thể tôi sẽ nói vợ tôi khỏi thăm nuôi, để tiền lo cho các con.
Không quan tâm nhưng thấy anh em quá lo lắng, tôi chợt nhớ tới vốn liếng cảm xạ học đã thọ giáo Thành “cận” hồi còn ở Thành Ông Năm, trong đó có mục tìm vị trí của một nơi chốn nào đó, thế là tôi quyết định… thí nghiệm!
Xin được kể sơ lại, Thành “cận”, tức Trung úy Quân vận Khương Hữu Thành, tay tổ trưởng của tôi ở Thành Ông Năm, là một nhân vật độc đáo, có một kho kiến thức rất đáng nể phục, từ âm nhạc tới ẩm thực, tây y tới đông y, trên thiên văn dưới địa lý, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí…
Khoa học huyền bí trong trường hợp của Khương Hữu Thành là Cảm xạ học (Radiesthesia) và Thông thiên học (Theosophia); anh là hội viên của Thông thiên học Việt Nam.
Thông thiên học là một học thuyết siêu hình (đạo Cao Đài của Việt Nam có những tương quan với học thuyết này), tôi hoàn toàn mù tịt cho nên xin miễn bàn.
Cảm xạ học thì hiện nay vẫn bị một số người xem là khoa học huyền bí, trong khi nhiều người khác cho là “một khoa học thực nghiệm chưa được chứng minh”, cho nên tôi cũng xin đứng vòng ngoài, và chỉ thuật lại với độc giả những gì tôi được Thành cận truyền thụ và kết quả ứng dụng.
Ngày ấy, trong những lúc rảnh rỗi tới mức nhàm chán ở Thành Ông Năm, Thành cận đã “thuyết” về cảm xạ học, kể ra một số ứng dụng của quả lắc cảm xạ, và hỏi có ai muốn thọ giáo không.
Nghe sơ qua thấy cũng… ly kỳ, tôi và hai anh bạn cùng đội tình nguyện bái sư. Tuy nhiên sau hai buổi “test” bằng cách thử cho quả lắc quay vòng, hai người kia bị Thành cận loại, chỉ mình tôi được tiếp tục thọ giáo vì có “chỉ số năng lượng (Bovis) cao” – nguyên văn lời Thành cận. Sau đó, tôi được Thành chỉ dạy cách thức sử dụng quả lắc cảm xạ cho tới khi nhuần nhuyễn, và thường xuyên ôn luyện để duy trì “chỉ số năng lượng”.
[Độc giả muốn tìm hiểu thêm về về cảm xạ học, cách sử dụng và ứng dụng quả lắc cảm xạ, có thể lên Internet, có khá nhiều trang mạng tiếng Việt viết về đề tài này]
Trở lại với T2, Đồng Ban. Trước hết tôi thực hiện một quả lắc cảm xạ hết sức đơn giản là một hòn sỏi nhỏ cỡ đốt ngón tay út, đầu to đầu nhỏ, cột vào một sợi dây dài khoảng 25 cm sao cho đầu nhỏ của hòn sỏi chỉ xuống đất, rồi lấy bốn trang giấy vở học trò ghép lại, vẽ một cảm xạ đồ hình tròn với bốn phương tám hướng, sau đó “test” để biết chắc quả lắc cảm xạ hoạt động chính xác.

Quả lắc (kim loại) và các mẫu cảm xạ đồ
Sau một đêm ngủ để giải tỏa mọi buồn bực ưu phiền, ngày hôm sau, khoảng 10 giờ sáng, tôi bày “đồ nghề” ra trên sạp ngủ, yêu cầu anh em giữ khoảnh cách ít nhất 1m50, tin hay không tin cũng xin giữ im lặng, rồi ngồi thiền.
“Thiền” với tôi không có gì cao siêu mà rất đơn giản. Nguyên từ thời trung học, theo học Nhu đạo (Judo) tại võ đường Quang Trung của Thượng tọa Thích Tâm Giác ở đường Phạm Đăng Hưng, Đakao, trước mỗi buổi học, tất cả các môn sinh, từ nhập môn cho tới huyền đai, đều phải lên phòng tập chính ngồi thiền trước khi trước về lớp của mình.

Theo sự hướng dẫn của Thầy, chúng tôi tập trung tư tưởng để đạt tới vô thức, vận dụng năng lượng của bản thân để tiếp thu những gì sẽ học hỏi. Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng rõ ràng là có hiệu quả.
Thiền xong, tôi chuẩn bị tư thế của cánh tay, bàn tay, test lại quả lắc lần cuối cùng, rồi tập trung tư tưởng, vận dụng năng lựơng trong người truyền qua bàn tay, đi qua sợi dây nối để vào quả lắc, rồi đưa ra các câu hỏi có sẵn trong đầu.
Tôi tiến hành công việc một cách từ tốn, chậm chạp, anh em rất sốt ruột nhưng không dám lên tiếng… Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, tôi cho anh em biết nếu tin vào quả lắc cảm xạ, nơi chúng tôi sẽ được đưa tới nằm về hướng đông đông bắc của Đồng Ban, khoảng cách từ 100 tới 150 cây số đường chim bay.
Nghe tôi nói, anh em bán tín bán nghi. Thực ra lúc đầu hầu như không có ai tin tưởng cả, họ vây quanh quan sát tôi sử dụng quả lắc cảm xạ chỉ vì óc tò mò, nhưng tới khi thấy quả lắc (hòn sỏi) chạy vù vù thì họ bắt đầu tin tôi có một khả năng đặc biệt nào đó. Dĩ nhiên, cũng có một số người có định kiến, hoặc không chứng kiến tận mắt mọi diễn tiến, đã cho rằng mọi người bị tôi bịp.
Cường đội trưởng cũng là một trong số những người bán tín bán nghi. Anh đề nghị tôi double-check bằng cách làm lại một lần nữa nhưng tôi từ chối. Tôi giải thích đại khái: tôi không nhận thấy bất cứ trục trặc nào trong lúc test cũng như trong tiến trình sử dụng quả lắc. Như vậy nếu kết quả không chính xác thì chỉ vì tôi đã không tập trung tư tưởng, không vận dụng năng lực đủ để truyền đạt các câu hỏi tới quả lắc.
Mà một khi đó là nguyên nhân, tôi có làm lại lần thứ hai kết quả cũng sẽ không chính xác như lần thứ nhất mà thôi; chưa kể còn sai lạc nhiều hơn bởi cơ thể lẫn tinh thần đã mệt mỏi, thiếu sáng suốt, bình tĩnh.
Nhưng tin hay không tin, một số anh em cũng đem những dữ kiện tôi cung cấp để tìm ra câu trả lời về địa điểm sẽ bị đưa tới. Theo những anh em sĩ quan bộ binh quen thuộc với bản đồ của các tỉnh miền đông Nam Bộ và cao nguyên Trung Phần, với phương hướng và khoảng cách tôi đưa ra, chúng tôi sẽ bị đưa về một trong ba tỉnh Phước Long, Quảng Đức và Lâm Đồng.
Trong số ba tỉnh nói trên, Lâm Đồng bị chúng tôi gạt bỏ ngay, bởi qua đọc các “báo Đảng” ai cũng biết những vùng đất chưa khai thác của tỉnh này đã được dành ưu tiên cho dân miền Bắc vào Nam lập nghiệp – nơi có những “vùng kinh tế mới” với nhà mái tôn, có máy phát điện để xem truyền hình!
Còn lại hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức, chúng tôi thiên về Phước Long (sau 1975 gọi là tỉnh Sông Bé ), bởi phần lớn diện tích của tỉnh đất đỏ màu mỡ này vẫn chưa được khai thác.

* * *
Hai ngày sau, đoàn molotova chở chúng tôi rời Đồng Ban. Lần đầu tiên, xe không bị bít bùng. Dĩ nhiên, đoàn xe đi về hướng nam, bởi nếu đi lên hướng bắc sẽ là biên giới Việt – Miên.
Qua thị xã Tây Ninh, tới chợ Trảng Bàng đoàn xe dừng lại khoảng nửa tiếng đồng hồ để đám cán bộ, vệ binh mua sắm.
Chiếc xe chở tôi đi phía sau, đậu cách chợ vài trăm mét, ngay ngã ba Quốc lộ 1 và con đường đá đỏ đi vào họ đạo Tha La, nơi tôi đã sống những tháng ngày thần tiên của thời niên thiếu. Dĩ vãng bấy lâu tưởng đã nhạt nhòa bỗng sống lại trong tôi… (Chú thích 1)
Còn nhớ vào đầu năm 1965 tại Sài Gòn, khi ca khúc Tha La Xóm Đạo của Dzũng Chinh được Hoàng Oanh thu đĩa, làm mưa gió trên các làn sóng điện đài phát thanh, tôi cho bạn bè biết gần 10 năm trước tôi đã từng sống ở Tha La, không một người nào tin.
Họ nói dân giá sống thứ thiệt đây mà còn không biết Tha La xóm đạo ở đâu thì làm sao một tay Bắc Kỳ di cư như tôi lại có thể đã sống ở đó?!

Nguyên vào đầu năm 1955, sau khi di cư vào Nam, tạm trú mấy tháng tại nhà một người cô (chị ông ngoại) vào Nam trước Đệ Nhị Thế Chiến nay ở Thị Nghè, gia đình tôi theo bà ngoại và mấy cậu, dì chưa lập gia đình tới họ đạo Tha La ở quận Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để lập nghiệp.
[Tới cuối thập niên 1950 hay đầu thập niên 1960, khi tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, Trảng Bàng thuộc tỉnh mới, sau 1975 trở lại thuộc Tây Ninh]
Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi được biết trước kia, vào hai năm 1954, 1955, chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đưa khoảng 40.000 đồng bào Công Giáo miền Bắc di cư tới Tây Ninh lập nghiệp, đa số tập trung ở quận Châu Thành (sau 1975 gọi là “huyện”), một số nhỏ ở Bời Lời thuộc quận Trảng Bàng, hoặc Đồng Ban và Bàu Cỏ thuộc quận Tân Châu.
Tuy nhiên vì không có kế sinh nhai, chỉ sau một thời gian ngắn, những người ở Bời Lời, Đồng Ban, Bàu Cỏ, hoặc đi nơi khác lập nghiệp, hoặc về quận Châu Thành, hợp cùng đoàn người di cư ở đây thành lập giáo xứ Cao Xá, vẫn còn hiện hữu cho tới ngày nay.
Những tài liệu trên không hề nhắc tới đoàn người lập nghiệp ở họ đạo Tha La có lẽ vì đây chỉ là một nhóm nhỏ, và về sau bỏ đi gần hết.
[Theo một tài liệu, trước năm 1975, chỉ còn bốn gia đình người Bắc di cư ở lại họ đạo Tha La]
Sở dĩ gia đình tôi lên Tha La là vì bà ngoại tôi rất thân với một vị linh mục uy tín đã trọng tuổi mà bà gọi một cách trân trọng là “Cha già cố Trực”. Khi biết ngài đang “tuyển mộ” dân Công Giáo di cư lên Trảng Bàng để lập xứ đạo, bà đưa hai người cậu, người dì út, và rủ bố mẹ tôi đi theo để ủng hộ tinh thần Cha.
Thời gian này người dì giữa của tôi vừa lập gia đình, mua nhà trong hẻm 6 đường Trương Minh Giảng (nối dài), Phú Nhuận, khuyên bà tôi ở lại Sài Gòn mua lô đất trống gần đó, xây nhà cho các cậu và dì út của tôi ở.
Bà ngoại tôi tuy góa chồng sớm (ông ngoại tôi làm Lý trưởng, hy sinh đầu năm 1954 khi bốt quốc gia bị Việt Minh tấn công) nhưng cũng còn chút của; tuy nhiên thay vì nghe lời khuyên của dì tôi, bà nhất định đi theo “Cha già cố Trực” lên Tha La. Để rồi chỉ nửa năm sau đã phải quay trở về hẻm 6 mua đất xây nhà!
Nhưng riêng gia đình tôi thì nhất quyết nhận Tha La làm quê hương thứ hai.
Lúc đó tôi mới 6, 7 tuổi, đang suốt ngày bị nhốt trên căn gác chật hẹp ở ven sông Thị Nghè bỗng được về sống ở một vùng quê rộng rãi thoải mái, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, xum xuê cây trái hoa lá, có ruộng vườn, sông suối, rừng cây, tha hồ bay nhảy, hỏi không thích sao được!
Theo ký ức của tôi, đi theo Quốc lộ 1 hướng Sài Gòn – Tây Ninh, qua chợ Trảng Bàng vài trăm mét, quẹo trái vào con đường trải đá đỏ, cứ đi thẳng về hướng tây sẽ thấy nhà thờ Tha La nằm phía bên trái.
Sau này lớn lên tôi mới biết Tha La là không chỉ là xứ đạo lâu đời và lớn nhất ở tỉnh Tây Ninh mà còn là một trong những xứ đạo nổi tiếng của miền đông Nam Bộ vào thời kháng chiến chống Pháp, được lưu danh trong văn học sử qua bài thơ Tha La Xóm Đạo của Vũ Anh Khanh. (Chú thích 2)
Đi qua nhà thờ và trường học thì tới một con dốc thoai thoải, và cuối cùng những ruộng mía lau gần bờ sông.
Cũng từ Trảng Bàng đi vào, trước khi tới nhà thờ, từ con đường đá đỏ rẽ mặt vào một con đường đất, lớn đủ để cho xe hơi chạy, sẽ tới khu định cư của người Công Giáo di cư, bề dài khoảng hơn một cây số, bề ngang vài trăm mét, được vây quanh bởi những lũy tầm vông lâu đời dày cả mấy mét.
Khu đất này không bỏ trống mà trồng xoài từ đời nào, xen lẫn là khoảng 100 căn nhà tranh vách đất dành cho dân di cư, một ngôi nhà thờ nho nhỏ mái tôn vách tôn, với một vị linh mục người Bắc di cư gọi là “cha Mỹ” kiêm đủ mọi công việc đạo đời – vừa là cha xứ vừa đại diện chính quyền.
Tôi không biết khu đất này là tài sản của họ đạo Tha La hay một đại điền chủ nào đó, chỉ biết chắc chắn không phải đất công, bởi vì vào mùa xoài, có người đưa xe bò và công nhân tới hái xoài chở đi.
Tôi vẫn còn nhớ những luật lệ bất thành văn do cha xứ phổ biến cho giáo dân trong các buổi đọc kinh ở nhà thờ, chẳng hạn chỉ được thu lượm trái cây – mít, xoài, vú sữa, điều lộn hột… – đã rụng xuống đất chứ không được leo lên cây để hái, không được bẻ măng (tre, tầm vông), thơm khóm mọc ở bất cứ nơi nào, bởi tất cả đất đai ở đây đều có chủ, không phải đất hoang…, nhất nhất đều được giáo dân tuân giữ.
Vì dân di cư ở Tha La không mấy người kiếm được công ăn việc làm, không có ruộng rẫy để canh tác, không có rừng để khai phá, khoảng nửa năm sau, khi đại diện chính phủ tới kêu gọi người tình nguyện đi Ban Mê Thuột lập “khu dinh điền”, khoảng 1/3 dân di cư đã theo mấy chiếc xe vận tải lên vùng cao nguyên.
Số còn lại cũng bỏ đi dần, cho tới lúc chỉ còn lại khoảng 10 gia đình, cha Mỹ cũng gỡ tôn nhà thờ chở đi đâu mất (chắn hẳn phải có phép của Bề Trên) thì đám Bắc Kỳ di cư còn lại được nhập vào họ đạo Tha La của dân Nam Kỳ.
Tôi được đi học ở trường tiểu học do các dì phước trông coi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được cắp sách đến trường nhưng đã biết đọc biết viết, làm toán cộng toán trừ, nhờ được mẹ dạy ở nhà từ hồi còn ở ngoài Bắc, cho nên được học lớp Tư.
Tôi học khá giỏi, trừ môn chính tả luôn luôn bị zéro (trên 10 lỗi), vì các dì phước người Nam đọc sao tôi cứ y như thế mà viết: dui dẻ, ra dô, dường tược, diếc mực, dăng minh, dâng chúng, cờ dàng…
Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi có bạn đúng nghĩa. Cũng giống như người lớn ở Tha La, đám con trẻ con Nam Kỳ ở đây không hề kỳ thị “Bắc Kỳ ăn cá rô cây”, trái lại chúng rất thích chơi với tôi, có lẽ vì tôi tháo vát, lắm trò nghịch ngợm, và nói giọng Bắc nghe “thiệt ngộ”!
Về phần tôi, nhờ theo các bạn Nam Kỳ, tôi mới có cơ hội khám phá hết vùng Tha La, với sinh hoạt đặc thù và phong cảnh độc đáo, vừa có ruộng vườn, sông suối vừa có những ngọn đồi thoai thoải, vừa có hoa màu nơi vườn tược vừa có những loài hoa dại trong rừng, nơi chúng tôi thường rủ nhau đi hái trái hồng quân (còn gọi là bồ quân, mùng quân), một loại trái chùm giống như trái nho thường mọc hoang ở miền Thượng du Bắc Việt, và Tha La, Thất Sơn (An Giang) trong Nam.

Trái hồng quân
Cũng ở Tha La, lần đầu tiên trong đời tôi có… girlfriend; hoặc nếu độc giả không tin một thằng nhóc mới 6, 7 tuổi đã biết yêu, tôi xin sửa lại cho nhẹ nhàng hơn: lần đầu tiên trong đời tôi thích một người… khác phái.
Tôi không phải văn sĩ hay chuyên gia tâm lý để có thể diễn tả, mổ xẻ, phân tích quan hệ tình cảm đặc biệt này, nhưng dứt khoát đây không chỉ là tình bạn học giữa hai đứa trẻ khác tính phái, bởi vì cùng với những nụ cười chúng tôi dành cho nhau, còn có cả… ánh mắt!
Đôi mắt to tròn và mái tóc bắt đầu dài ấy là một phần không thể xóa bỏ mỗi khi tôi nhớ về chốn thiên đường hạnh phúc thời niên thiếu!
Cùng khoảng thời gian, nhờ có chút vốn liếng chữ nghĩa, thường giúp mọi người viết đơn từ, và hay ra xã xin các tạp chí, bản tin, bích chương của chính phủ về nhà đọc và phổ biến cho mọi người, nay bố tôi được trao chức vụ Thư ký Hội đồng Xã.
Sau khi khăn gói ra Long Hoa học một khóa hành chánh, ông bê về nhà một cái máy đánh chữ cổ lỗ sĩ to gần bằng nửa cái bàn, thì gia đình coi như an cư lạc nghiệp. Thỉnh thoảng có “quan lớn” trên quận đi xe díp màu xanh lá cây (công xa) về thăm, tôi lại được dịp lên mặt với đám bạn Nam Kỳ.
Về phần mẹ tôi vốn tính tình cởi mở, dạn dĩ, đã trở nên thân thiết với các cô gái miền Nam gần nhà, được họ gọi là “chị Ba”, chiều chiều khi chuông nhà thờ đổ lại rủ nhau đi đọc kinh chiều… Từ những ngày ấy cho tới khi qua đời hơn 60 năm sau đó, mẹ tôi không bao giờ vấn tóc nữa, mà chỉ búi.
Ngoài ra, gia đình tôi còn được bà Tám Hào, góa phụ của một chủ đất giàu có ở Tha La, nhận làm con cháu. Bà Tám khi ấy đã móm xọm nhưng còn khỏe mạnh và sống một mình. Khi chia đất cho các con, bà giữ lại thửa đất có căn nhà của vợ chồng bà. Thửa đất ấy trồng toàn vú sữa – loại trái cây nổi tiếng nhất của Tha La, và mấy cây mít gần nhà trong đó có một cây mít ướt dành riêng cho bà. Bà bắt chúng tôi kêu bằng “bà nội” (ông bà nội tôi đã mất ngoài Bắc), và thương “con Ba” (mẹ tôi) tới mức nhiều khi con cháu bà phải ganh tỵ.
Bà Tám Hào chỉ có một “khuyết điểm” là đi lễ Chủ Nhật luôn luôn đứng bên ngoài chứ không chịu vào nhà thờ. Bà nói “Tao đứng ngoài để muốn dìa lúc nào thì dìa!”
Có lẽ bà hạp mẹ tôi một phần là vì cả hai đều có máu “tomboy”!
Có thể viết, nếu cuộc đời cứ thế trôi đi, tôi và thằng em trai sẽ trở thành hai chàng trai Tha La thứ thiệt.
Nhưng có lẽ chúng tôi có duyên với Tha La mà không có nợ!
Trong năm 1956, sau một loạt vi phạm Hiệp Định Genève 1954 của phía cộng sản, Tổng thống Ngô Đình Diệm chấm dứt các cuộc tiếp xúc giữa hai miền về việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước, thì đám du kích bấy lâu nay trốn tránh bên kia bờ sông Vàm Cỏ, bắt đầu mò về hoạt động trở lại. Nghe bố tôi nói chuyện với người lớn, tuy không hiểu rõ tôi cũng đoán được đám du kích này đã ám sát một số viên chức chính phủ ở địa phương.
Một đêm nọ, lực lượng Bảo An trên quận được mật báo, về Tha La vây bắt được hai tên du kích lén về thăm nhà. Cho tới sau này tôi cũng không biết đích xác về sự hăm dọa của đám Việt Cộng nằm vùng đối với các viên chức ở xã, cũng như tình trạng “xôi đậu” ở Tha La nói riêng, Trảng Bàng nói chung, chỉ biết bố tôi đã quyết định xin nghỉ việc để đưa gia đình trở lại Sài Gòn.
Chính vì tuổi niên thiếu êm đẹp của mình bị chấm dứt một cách đột ngột, phũ phàng như thế, tôi không bao giờ quên được Tha La, cho dù thời gian sống ở đó chưa đầy hai năm…

Nhà thờ Tha La trước năm 1975
Đoàn molotova chuyển bánh, tôi nhìn lại con đường đá đỏ lần cuối, nhà thờ Tha La bị những tàng cây xanh che khuất, chỉ thấy một chiếc xe bò chở đầy me xanh ra chợ. Thì ra hàng me cổ thụ bên đường phía trước nhà thờ mà ngày ấy chúng tôi thường lén cha xứ leo lên nghịch phá, nay vẫn còn đó, và trở thành một nguồn lợi, dù bé nhỏ, cho người dân vùng đất “trái ngọt cây lành” sau cuộc đổi đời.
Rồi tôi chợt bâng khuâng: không hiểu cô bé Tha La tóc dài có cặp mắt to tròn học lớp Tư ngày ấy tôi… yêu, giờ này đã mấy con?!


CHÚ THÍCH:
(1) Quốc lộ 1: Hiện nay, theo cách gọi của CSVN, Quốc lộ 1 từ Bắc vô Nam, tới Sài Gòn thì tiếp tục đi xuống miền Tây, tới tận Năm Căn, Cà Mau. Thực ra đây chỉ là một sự áp đặt mang mục đích tuyên truyền, xóa bỏ thực tế lịch sử.
Nguyên Quốc lộ 1 được xây dựng từ thời Pháp thuộc, không chỉ là con đường nối liền ba miền bắc trung nam của Việt Nam mà còn nối với cả thủ đô Nam Vang (Phnom Penh) của Căm-bốt, từ Sài Gòn đi qua Ngã Tư Bảy Hiền, Hốc Môn, Củ Chi, Trảng Bàng tới thị trấn Gò Dầu thì quẹo trái để đi sang Căm-bốt.
Còn con đường từ Sài Gòn đi miền Tây xuống tới Cà Mau được Việt Nam Cộng Hòa đặt tên Quốc lộ 4. Sau năm 1975, đoạn đường này cũng được chế độ mới gọi là Quốc lộ 1, còn con đường nối liền Sài Gòn với Căm-bốt, tức Quốc lộ 1 cũ, được gọi là Quốc lộ 22.
(2) Tha La Xóm Đạo. Mời độc giả đọc nguyên văn bài viết của tác giả Lê Thương:
Vũ Anh Khanh và Tha La Xóm Đạo
Tha La, trước năm 1975, người dân Miền Nam đã nghe tên nầy qua các bản nhạc “Tha La Xóm Đạo”, “Hận Tha La”, “Vĩnh Biệt Tha La”.
Tha La nằm trong vùng Trảng Bàng, nếu bắt đầu đi từ Sài-Gòn theo hướng Tây Bắc đến Hóc Môn rồi vượt Củ Chi và đến quận Trảng Bàng. Từ Trảng Bàng theo con đường đất đỏ mà hai bên đường là các thửa ruộng, rẫy chen lẫn với các nhà dân. Tha La chỉ là một xóm nhỏ với những mái nhà lợp tranh, lợp tôn nhưng thỉnh thoảng cũng có những nhà lợp ngói thấp thoáng sau những vườn cây ăn trái.
Nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của người Khmer, có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh nầy tồn tại cho tới ngày nay. Tha La thuộc ấp An Hội, Xã An Hòa nằm trong quận Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh và là một Xứ Đạo Thiên Chúa. Từ thời vua Minh Mạng dân theo đạo trốn chạy lánh nạn vào đây rồi khai quang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin Thiên Chúa. Trong Tha La, nơi nhộn nhịp, trù phú nhất là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần nơi thánh đường Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên, cũng có một số người theo đạo Phật, theo đạo Cao Đài hay thờ cúng tổ tiên sống ở Tha La.
Tha La là một vùng đất lành, màu mỡ do con kinh Vàm Trảng dẫn nước từ sôngVàm Cỏ Đông về tưới mát đất đai, cây trái, vườn tược nhưng sao dân cư ở trong vùng vẫn mang vẻ u hoài, hiu quạnh hay Tha La tự nó vẫn buồn muôn thuở…?
Trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, thanh niên nam nữ Tha La đã nhiệt tình tham gia phong trào kháng chiến, họ ra đi không hẹn ngày trở về và họ đã đền nợ nước trên các chiến trường lửa đạn khiến Tha La vắng bóng người, buồn cô quạnh… rồi nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần lạc bước đến Tha La đã cảm xúc tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của nam thanh nữ tú Tha La nên sáng tác bài thơ “Tha La Xóm Đạo” vào năm 1950.
“Tha La Xóm Đạo” là một bài thơ dài 97 câu, viết theo lối hợp thể, đoạn mở đầu là ngũ ngôn, rồi chuyển sang tám chữ, sau đó thành kịch thơ và kết thúc bằng hai câu thất ngôn. Lời thơ giản dị, chân thành. Nhịp điệu của bài thơ nhẹ nhàng như lời tâm tình đã làm rung động tâm hồn của nhiều độc giả. “Tha La Xóm Đạo” đã được nhạc sĩ Dũng Chinh, cũng người Phan Thiết phổ nhạc vào năm 1964. Sau đó một năm, nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên “Hận Tha La” và cũng trong năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên “Vĩnh Biệt Tha La”. Ngoài ra, soạn giả cải lương Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng của Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên “Tha La Xóm Đạo”.
Bài Thơ “Tha La Xóm Đạo”
Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.

Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh,
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng,
Đây Tha La một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành in bóng lá.
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch.
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, lòng ngẩn ngơ hiu quạnh.
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
– Kính thưa cụ vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
“Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt,
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”
Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng.
Ngày hiu quạnh. Ờ…ơ…hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ…ơ…hờ… có một đám chiên lành.
Qùy cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ…ơ…hơ, ờ…ơ…hơ… tiếng hát.
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhac.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo,
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.

(Thơ Mùa Giải Phóng – 1950)

Vũ Anh Khanh tên thật là Võ Văn Khanh, có người nói ông tên thật là Nguyễn Năm, sinh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết chuyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm những chuyện dài như “Nửa Bồ Xương Khô”, “Bạc Xíu Lìn”, “Cây Ná Trắc” và các truyện ngắn như “Ngũ Tử Tư”, “Đầm Ô Rô”, “Sông Máu”, “Bên Kia Sông”, “Một Đêm Trăng”.
Ngoài ra, ông cũng còn sáng tác thơ, nổi bật nhất là các bài “Chiến Sĩ Hành” và bài “Tha La Xóm Đạo”. Các tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị, tiêu biểu cho dòng văn chương thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp ở Miền Nam. Tuy vậy, hầu như nhiều người chỉ nhớ đến Vũ Anh Khanh qua bài thơ “Tha La Xom Đạo” hay “Hận Tha La”.
Trước năm 1945, ông vào Sài-Gòn làm báo và viết văn. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, ông cùng hoạt động với Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà…trong nhóm Văn Học Yêu Nước ở Sài-Gòn. Năm 1950, ông bị chính quyền Sài-Gòn lùng bắt, ông trốn thoát ra chiến khu.
Ngày 20-7-1954 Hiệp Định Genève được ký kết, chia cắt nước Việt Nam làm hai, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Khoảng một triệu người dân Miền Bắc ồ ạt di cư vào Miền Nam, đổi lại các cán bộ, binh sĩ của cộng sản ở Miền Nam tập kết ra Bắc, trong số nầy có Vũ Anh Khanh.
Ông ra Bắc rồi được cử đi dự Hội Nghị Các Nhà Văn Á Châu ở Tân Đề Ly, Ấn Độ. Vũ Anh Khanh có mặt trong phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với nhà văn Miền Bắc Nguyễn Công Hoan (tác giả Bước Đường Cùng, Đống Rác Cũ…). Sau khi dự Hội Nghị về, Vũ Anh Khanh được cử đi công tác ở Vĩnh Yên, một tỉnh nằm về phía Bắc của Hà Nội và nhà thơ đã sửa Lệnh Công Tác từ Vĩnh Yên thành Vĩnh Linh, một địa danh gần Sông Bến Hải vì ông đã có ý định vượt tuyến về Miền Nam tìm Tự Do.
Vũ Anh Khanh đã đến được Vĩnh Linh và thực hiện cuộc vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải nhưng ông bị công an gác ở sông Bến Hải phác giác, họ dùng nỏ và tên tẩm thuốc độc bắn chết trước khi ông đến được bờ phía Nam của Việt Nam Cộng Hòa. Sở dĩ công an Bắc Việt gác ở sông Bến Hải dùng nỏ và tên độc vì Hiệp Định Genève cấm dùng súng ở Khu Phi Quân Sự.
Vũ Anh Khanh mất tại Bến Hải năm 1956, lúc đó ông mới 30 tuổi. Xác của người bạc mệnh được vớt lên và bị vùi dập đâu đó trong Khu Phi Quân Sự mà không để lại vết tích, mồ mả gì cả!
Là một nhà văn, nhà thơ có tài lại có lòng yêu nước cao độ nhưng chính quyền Miền Bắc đã cố tình gạt bỏ tên ông trong văn học sử mà ngay cả chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam cũng đối xử tương tự với ông khi bỏ tên ông trong chương trình giáo dục phổ thông cùng cấm xuất bản và cấm lưu hành các sách của ông từ năm 1955-1975, họ xếp ông là văn, thi sĩ cộng sản!
Cả hai chính quyền Nam Bắc đều đối xử bất công với một nhà văn, nhà thơ tài hoa của nền văn học nước nhà!

Lê Thương
Richmond – Virginia – USA










Obama giết Osama: mười năm săn thủ phạm 11- 9

damau.org

Đinh Từ Thức

Post on 12.09.2011

Post by Sơn râu 20 May 2025

OsamaBinLaden

Phần 2

Người rảo bước

Tháng Tám 2010, Panetta trở lại Bạch Ốc với tin tức khá hơn. Các nhà phân tích của CIA tin rằng họ đã tìm ra liên lạc viên của bin Laden.

Phải mất cỡ bốn năm để biết tên thật liên lạc viên thân cận nhất của bin Laden. Theo tin Reuters, một nghi phạm khủng bố bị CIA giam ở Guantanamo, tên là Hassan Ghul, sau thời gian thẩm vấn lâu dài, đã cho biết liên lạc viên của bin Laden tên là Abu Ahmad al-Kuwaiti, một người đàn ông ngoài 30 tuổi.

Theo Bob Woodward (người đã phanh phui vụ Watergate khiến Tổng Thống Nixon phải từ chức), nhờ một cú điện thoại di động, CIA đã tìm ra nơi ở của bin Laden. Vào năm 2007, một hôm al-Kuwaiti nhận được một cú điện thoại qua máy di động, từ một người bạn, với những lời thăm hỏi bình thường: “– Tôi nhớ anh nhiều, bây giờ anh ở đâu, làm gì?” Kuwaiti trả lời bâng quơ: “– Tôi trở lại với người cũ”. Theo chân Kuwaiti, đã dẫn các thám tử tới căn nhà ở Abbottabad.

Kuwaiti lái một xe SUV mầu trắng với bọc bánh xe phòng hờ vẽ một con tê giác trắng. Việc theo dõi được dành cho vệ tinh, và vệ tinh do thám ghi được hình ảnh chiếc xe này ra vào một ngôi nhà lớn ở Abbottabad. Các thám tử cho rằng Kuwaiti sống tại đây, nên cho vệ tinh quan sát thường trực ngôi nhà. Đó là một ngôi nhà chính ba tầng, một nhà khách và vài căn phụ. Họ quan sát thấy những người ở trong nhà thay vì đổ rác như người khác, đã đốt rác. Căn nhà cũng không có đường giây điện thoại và Internet. Mỗi khi Kuwaiti muốn gọi điện thoại di động, thường ra khỏi nhà cả hơn trăm cây số mới lắp pin vào máy. Kuwaiti và người anh/em lui tới căn nhà này thường xuyên. Nhưng có một người đàn ông khác, sống trên tầng ba, không bao giờ rời ngôi nhà. Khi người này ra khỏi nhà, thì vẫn ở trong khu vực được che chắn bởi các bức tường cao. Một số nhà phân tích cho rằng người này là bin Laden, và gọi bằng tên là “người rảo bước” (The pacer).

Obama, dù phấn khởi, vẫn chưa chuẩn bị ra lệnh hành động bằng biện pháp quân sự. Theo John Brennan, cố vấn chống khủng bố của tổng thống, các cố vấn của Obama bắt đầu một cuộc tra vấn về những sự kiện thu được qua các cuộc thẩm vấn nghi phạm, xem có luận cứ nào phủ nhận việc bin Laden sống tại căn nhà ở Abbottabad không. Đồng thời, CIA gia tăng nỗ lực thu góp các tài liệu tình báo. Theo báo The Guardian, một bác sĩ Pakistan làm việc cho CIA đã mở một cuộc chủng ngừa ở vùng Abbottabad, để hy vọng tìm được mẫu DNA của các con bin Laden (không có ai trong ngôi nhà đã đi chủng ngừa).

Người Nhái nhảy ra

Cuối năm 2010, Obama ra lệnh cho Panetta bắt đầu thảo kế hoạch cho một cuộc đột kích bằng quân sự vào ngôi nhà. Panetta tiếp xúc với Phó Đô Đốc (đã lên Đô Đốc 4 sao từ tháng Tám 2011) Bill McRaven, Tư lệnh Bộ chỉ huy hỗn hợp các chiến dịch đặc biệt (JSOC = Joint Special Operations Command), và từng là chỉ huy trưởng của một đơn vi Navy Seal. Tháng Giêng năm 2011, McRaven cử Brian, vốn là chỉ huy phó của một đơn vị người Nhái, có tên chính thức là Naval Special Warfare Development Group – DEVGRU (Nhóm phát huy chiến tranh đặc biệt của Hải quân), thảo kế hoạch hành quân.

Tháng sau đó, Brian vào làm việc tại một văn phòng ở tầng 1 Trụ sở Trung Ương CIA, Langley, thuộc bang VA, ngoại ô Washington, DC. Brian treo kín tường bản đồ và không ảnh ngôi nhà Abbottabad. Brian và chừng nửa tá sĩ quan biệt phái từ JSOC làm việc tại trung tâm chống khủng bố của CIA, đặc trách Pakistan/Afghanistan, nhưng thực tế, họ hoạt động độc lập. Một viên chức cao cấp về chống khủng bố từng viếng nơi làm việc này, mô tả đó là một nơi bí mật phi thường, “tất cả mọi cộng việc của họ đều giữ kín”.

Liên hệ giữa các đơn vị công tác đặc biệt với CIA đã có từ thời chiến tranh Việt Nam. Nhưng làn ranh giữa hai bên đã ngày càng lu mờ, khi các giới chúc CIA và sĩ quan quân đội cùng được gửi sang Iraq và Afghanistan. Theo một giới chức Bộ Quốc Phòng: “Họ lớn lên với nhau, hoạt động chung với nhau, nói tiếng của nhau”. Giới chỉ huy cũng thay đổi lẫn nhau: Tướng David Petraeus, cựu tư lệnh tại Iraq và Afghanistan, bây giờ là Giám Đốc CIA, trong khi Giám Đốc CIA Leon Panetta trở thành Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Điệp vụ bin Laden, lập kế hoạch tại trụ sở trung ương CIA, và ra lệnh dưới tư cách CIA, nhưng thi hành bởi người Nhái của Hải Quân (Navy SEAL).

Từ ám ảnh “Móng Đại Bàng”…

Hôm 14 tháng Ba, 2011, Obama triệu tập các cố vấn an ninh quốc gia vào Phòng tình hình (Situation Room) ở Bạch Ốc, để thảo luận và lấy ý kiến trên một số chọn lựa cho vụ tấn công Abbottabad. Đa số lựa chọn giữa giải pháp một cuộc tấn công của JSOC, hay một trận oanh tạc bằng máy bay; một vài đề nghị khác, kể cả việc cộng tác với giới quân sự Pakistan. Obama chống lại việc thông báo hay làm việc chung với Pakistan. Một cố vấn của tổng thống tiết lộ: “Sự thật đã có việc không tin tưởng là Pakistan có thể giữ bí mật, dù chỉ hơn một khoảnh khác”. Cuối cuộc họp, Obama ra lệnh cho McRaven tiến hành với kế hoạch đột kích.

Brian mời James, Chỉ huy trưởng Đội Nhái Hồng (Red Squadron) của DEVGRU, và Mark, một sĩ quan ưu tú của Hải Quân, tới làm việc với ông ta tại trụ sở trung ương CIA. Họ đã mất hai tuần rưỡi để tìm ra cách đột nhập vào bên trong căn nhà ở Abbottabad. Một giải pháp là trực thăng bay tới địa điểm ngoài Abbottabad, rồi để cho toán biệt kích đột nhập thành phố bằng đưởng bộ. Giải pháp này có thể gặp nhiều rủi ro, dễ bị khám phá, và toán biệt kích có thể mỏi mệt, vì phải chạy xa để tới căn nhà. Các kế hoạch gia đã nghĩ tới việc đào hầm dẫn tới căn nhà – hay rất có thể bin Laden đã có sẵn đường hầm để thoát ra. Nhưng hình ảnh do Cơ quan Trinh sát Không địa Quốc gia (National Geospatial Intelligence Agency) cho thấy có nước tụ ở vùng này, nghĩa là căn nhà cất trên một vũng lụt, khiến việc đào hầm không thể thực hiện. Cuối cùng, mọi người đồng ý để trực thăng chở toán biệt kích thẳng tới căn nhà.

Ngày 29 tháng Ba, McRaven đem kế hoạch tới Obama. Các cố vấn quân sự của Obama đã chia rẽ. Một số ủng hộ cuộc đột kích, một số ủng hộ cuộc oanh tạc bằng máy bay, và một số người khác muốn đợi cho đến khi tin tình báo khá hơn. Robert Gates, Bộ Trưởng Quốc Phòng, là người chống đối mạnh mẽ nhất một cuộc đột kích trực thăng vận. Ông Gates nhắc cho các đồng sự nhớ lại việc ông đã từng ở trong Phòng Tình hình Bạch Ốc thời Tổng Thống Carter, khi các giới chức quân sự trình bầy kế hoạch “Móng đại bàng” (Eagle claw) vào năm 1980 về cuộc đột kích bất thành của lực lượng Delta để cứu các con tin tại Tehran. Kết quả là một đại họa, vì trực thăng đụng nhau tại sa mạc Iran, khiến tám quân nhân Hoa Kỳ thiệt mạng. Ông Gates chua cay: “Họ cũng nói đó là một kế hoạch khá tốt”. Ông Gates và Tướng James Cartwright, Phó Chủ Tịch Liên Quân, thiên về kế hoạch không tập bằng pháo đài bay B-2. Lựa chọn này tránh được rủi ro để quân Hoa Kỳ đặt chân trên lãnh thổ Pakistan. Nhưng Không Lực tính ra rằng, một chuyến bay chở 32 “bom khôn” (smart bomb), mỗi trái nặng hai ngàn cân, mới đủ sức để xâm nhập khoảng 10 mét chiều sâu, hầu có thể phá hủy mọi căn hầm, “một sức mạnh như vậy sẽ tương đương một vụ động đất”. Theo Tướng Cartwright, triển vọng san bình địa một thị trấn Pakistan khiến Obama khựng lại. Ông đã loại bỏ kế hoạch B-2, và ra lệnh cho McRaven bắt đầu tập dượt vụ đột kích.

Đến triển vọng “Giáo Hải Thần”

Brian, James, và Mark lựa chọn một toán gồm hơn hai chục người Nhái, từ “Đội Hồng” (Red Squadron), và bảo họ tới trình diện tại địa điểm là một cánh rừng rậm ở North Carolina, đề bắt đầu tập dượt vào ngày 10 tháng Tư (Red Squadron là một trong bốn squadron của DEVGRU, có tất cả khoảng 300 người). Ngoài James và Mark, không có ai trong nhóm người Nhái biết được nguồn tin tình báo của CIA và căn nhà nghi là nơi bin Laden trú ẩn. Cho đến khi một thiếu tá Hải Quân bước vào một căn phòng tại nơi huấn luyện, thấy một Tướng hai sao từ JSOC ngồi tại bàn hội nghị với Brian, James và Mark, và nhiều nhà phân tích từ CIA, chắc chắn đây không phải là cuộc huấn luyện thông thường. Vị thiếu tá hiểu ngay. Một căn nhà giống hệt nơi tình nghi bin Laden đang cư ngụ được dựng lên tại nơi luyện tập, với hàng rào giây thép thay cho bức tường cao bao bọc chung quanh căn nhà. Toán biệt kích dành ra năm ngày để thực tập. Ngày 18 tháng Tư, cả toán bay tới Nevada cho một tuần thực tập nữa. Nơi tập dượt là một rẻo sa mạc do chính quyền sở hữu, ở độ cao tương đương với vùng chung quanh Abbottabad. Một căn nhà được giả định là nơi ở của bin Laden. Nhóm phi hành lập ra đường bay giống như chuyến bay từ Jalalabad tới Abbottabad. Mỗi buổi tối, sau mặt trời lặn, cuộc tập dượt bắt đầu. Mười hai người Nhái, kể cả Mark, lên chiếc trực thăng số 1. Mười một người Nhái, kể cả James, cùng với Ahmad (thông dịch) và Cairo (quân khuyển), lên chiếc trực thăng số 2. Phi công bay trong trời tối, đến căn nhà mẫu.

Theo kế hoạch đột kích, khi tới nơi, trực thăng 1 không đáp xuống, mà giữ nguyên vị trí trên sân căn nhà, thả hai giây cho 12 người tụt xuống. Trực thăng 2 bay về phía Đông Bắc căn nhà, thả xuống thông dịch viên Ahmad, chó Cairo, cùng bốn người Nhái; nhóm này sẽ theo dõi và đối phó với tình hình bên ngoài căn nhà. Rồi trực thăng 2 bay trên căn nhà, thả James xuống mái nhà cùng sáu người Nhái còn lại. Nếu mọi sự diễn ra đúng dự trù, Ahmad, người Mỹ gốc Pakistan, nói tiếng Pakistan, sẽ không cho những láng giềng tò mò tới gần căn nhà. Bốn người Nhái, và con chó sẽ giúp anh, nếu cần. Rồi, nếu không tìm thấy bin Laden, con Cairo có thể được cho vào nhà để đánh hơi, tìm những tường giả hay cửa kín. Ahmad, vốn là nhân viên văn phòng, chưa hề có kinh nghiệm tụt từ trực thăng, đã phải học cấp tốc về kỹ thuật này.

Một chuyến bay chở đầy khách tới vào đêm 21 tháng Tư. Đô Đốc Mike Mullen, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân, cùng với Đô Đốc Eric Olson, tư lệnh Bộ chỉ huy các chiến dịch đặc biệt (Special Operations Command – SOCOM), và Phó Đô Dốc McRaven, tư lệnh JSOC, họp với nhân viên CIA trong một nhà chứa máy bay (hangar), trong khi Brian, James, Mark và các phi công trình bầy vắn tắt về kế hoạch đột kích, được gọi là “Chiến dịch Giáo Hải Thần” (Operation Neptune’s Spear).

Thiếu tin tưởng

Mặc dầu do JSOC lãnh đạo, cuộc hành quân chính thức là một sứ mạng bí mật của CIA. Tính cách bí mật cốt để Bạch Ốc che dấu vai trò của mình, nếu cần. Như một giới chức mô tả gần đây: “Nếu cuộc đột kích chẳng tóm được ai, thì cứ êm ả rút lui, chẳng ai biết”.

Sau khi nghe trình bầy về cuộc hành quân, có người hỏi: “Nếu có đám đông kéo đến quanh căn nhà, thì sao? Liệu người Nhái có chuẩn bị để bắn vào thường dân?” Olson, người từng được tặng huy chương ngôi sao bạc trong vụ trực thăng Black Hawk bị rơi ở Mogadishu, Somalia, năm 1993, lo lắng sẽ là một tai nạn chính trị, nếu một trực thăng Hoa Kỳ bị bắn rớt trong lãnh thổ Pakistan. Sau khoảng một giờ thảo luận, các sĩ quan cao cấp và các nhà phân tích tình báo trở về Washington. Hai ngày sau, toán người Nhái trở lại căn cứ của họ ở Dam Neck, Virginia.

Đêm thứ Ba, 26 tháng Tư, toán nguời Nhái lên một phi cơ Boeing C-17 Globemaster tại Naval Air Station Oceana, cạnh Dam Neck. Sau khi đáp xuống lấy thêm nhiên liệu tại Ramstein Air Base ở Đức, chiếc C-17 tiếp tục bay tới Bagram Airfield, Bắc Kabul. Toán người Nhái qua đêm tại Bagram, rồi tới Jalalabad vào thứ Tư.

Hôm đó, tại Washington, Panetta triệu tập một phiên họp trên một chục viên chức cao cấp và các nhà phân tích CIA, để thảo luận về những chuẩn bị sau cùng. Panetta hỏi từng người tham dự, yêu cầu họ nói ra cảm tưởng của mình, xem có bao nhiêu tin tưởng về việc bin Laden ở tại căn nhà tình nghi. Một giới chức chống khủng bố tham dự cuộc họp nói với tác giả bài báo trên New Yorker rằng: “Tỷ lệ thay đổi từ 45% đến 95%”. Panetta quan tâm tới sự nghi ngại của các nhà phân tích, nhưng ông ta tin rằng những tin tình báo có được tốt hơn tất cả những gì CIA thu lượm được về bin Laden, từ khi hắn ta thoát khỏi Tora Bora.

Xế chiều thứ Năm, Panetta và tất cả mọi người trong nhóm an ninh quốc gia họp với Tổng Thống. Vài đêm kế tiếp, trời sẽ không có trăng trên Abbottabad – điều kiện lý tưởng cho cuộc đột kích. Sau đó, phải chờ một tháng nữa, cho đến khi trăng khuất. Nhiều nhà phân tích từ Trung tâm Quốc gia chống khủng bố được mời phê phán về các phân tích của CIA, sự tin tưởng của họ vào nguồn tin tình báo thay đổi giữa 40 và 60%. Giám đốc Trung Tâm là Michael Leiter nói ông ta muốn đợi có thêm tin tức xác nhận về sự có mặt của bin Laden ở Abbottabad. Theo Ben Rhodes, một phó cố vấn an ninh quốc gia nói gần đây, kế hoạch càng kéo dài, càng dễ bị lộ, “khiến mọi sự sẽ đảo ngược”. Obama hoãn phiên họp sau 7 giờ chiều, nói ông sẽ suy nghĩ qua đêm.

Sáng sau, Tổng Thống họp tại Phòng bản đồ (Map Room) với Tom Donilon, cố vấn an ninh quốc gia, và Denis McDonough, một phó cố vấn, và Brennan. Obama đã quyết định để DEVGRU thi hành cuộc đột kích, và để McRaven chọn thời điểm hành sự. Lúc đó là 8 giờ 20 sáng 29 tháng Tư, 2011. Đã quá trễ để khởi sự vào đêm thứ Sáu, và sẽ có nhiều mây bao phủ vào chiều thứ Bảy. Obama dùng điện thoại liên lạc với McRaven, ông này nói cuộc đột kích sẽ diễn ra vào đêm Chủ Nhật, giờ địa phương. Obama nói với McRaven: “Chúc anh và lực lượng thành công; làm ơn cho họ biết là tôi sẽ theo dõi sát vụ này”.

Bộ Đồ Lòng

songthao.com

Post 4/2025

Post by Sơn râu 20 May 2025

Bộ đồ lòng dĩ nhiên gồm có…lòng. Nhưng lòng lại chia ra nhiều loại: lòng non, phèo, lòng già, khố linh. Khố linh là phần cuối của lòng già, ăn rất giòn, béo vì có lớp mỡ bên trong. Đó là điểm cộng của khố linh. Điểm trừ là khố linh rất hôi, có lẽ đây là lý do có chữ “khố” nằm vùng ở đây. Bàn ngang một chút: lòng còn chỉ “lòng dạ”, một từ không dính dáng chi tới chuyện ngon hay dở. Nghĩa bóng của “lòng dạ” chỉ liên quan tới con người, còn bò heo gà thì chỉ có một nghĩa. Ngoài lòng, bộ đồ lòng còn bao gồm tim, gan, bao tử, dồi trường. Dồi trường chỉ có ở heo nái. Tùy theo tuổi heo, dồi trường to hay nhỏ. Loại ngon nhất là dồi trường của heo nái đẻ hai hoặc ba lứa. Nhưng ít thực khách biết chuyện này nên cứ đòi dồi trường to, vừa đắt vừa không ngon.

Đĩa lòng heo.

Tôi thuộc loại thích ăn bộ đồ lòng nên viết tới đây đã thấy tốn nước miếng, nhưng ráng nuốt cho thông cái họng để viết tiếp. Kỳ lạ, họng cũng được coi như bộ đồ lòng. Không phải vì thịt vách ngăn cuống họng có vị giòn tan và ngọt mà vì họng được băm nhỏ làm tiết canh cho có chất sụn giòn giòn sừn sựt.

Một quán tiết canh lòng lợn tại Hà Nội ngày nay (Hình: Tiến Chỉnh, 04/2025).

Tiết canh là một món ăn chơi tuyệt diệu. Có tí đế hay whisky vào còn tuyệt diệu hơn nữa. Khi xưa, lúc còn ở Việt Nam, tôi là fan của tiết canh. Nhân tiết canh gồm bộ đồ lòng nhưng không dùng gan. Dùng hành nướng, rau mùi, húng, lá chanh, ớt, băm nhỏ và trộn lẫn với nhau. Tiết được hãm với nước mắm hoặc chanh, muối và nước đun sôi để nguội. Khi tiết canh đã đông mới cắt gan thành lát nhỏ rắc lên trên. Fan của tiết canh như tôi bây giờ nhìn tiết canh làm lơ vì cái tội của khoa học. Các chuyên viên y tế vạch tội tiết canh một cách rất tận tình. Nó gây ra bệnh giun sán, nhiễm liên cầu khuẩn lợn, gây ra ngộ độc có thể dẫn đến tử vong. Một trong những nguyên nhân là khi cắt tiết heo gà vịt người ta không phân biệt được máu đỏ và máu đen, cứ lấy tuốt. Máu đen là chất thải độc của con vật. Nghe dọa như vậy, cái miệng teo lại liền. Chẳng nên phiêu lưu rước bệnh vào người. Mấy anh tây thấy tiết canh rùng mình chạy có cờ. Mấy anh mũi lõ này mải chạy mà quên lịch sử đớp hít của chính mấy anh.

Tiết canh.

Tại Pháp cũng có món tiết canh có tên là “sanquette”. Tại các miền quê, người Pháp giết ngỗng, gan, gà, vịt, dê, cừu, thỏ bằng cách kẹp chặt hai chân sau, đập đầu, móc mắt, cắt tiết rồi cạo lông. Tôi không rõ dân Pháp làm tiết canh như thế nào, có như dân mít ta không, nhưng họ cho đó là món ăn ngon và bổ nhất trên cõi đời này. Tiết canh đã được liệt kê trong cuốn “Grand Livre de Cuisine Bistrot” của đầu bếp trứ danh Alain Ducasse.

Cảnh cắt tiết ngỗng của nông dân Pháp

Sẵn đang nói chuyện bên Tây, nói về chuyện…dồi Tây coi nó khác dồi ta ra sao. Tây có món dồi huyết (boudin noire). Không chỉ ở Pháp mà ở Ý, Thụy Sĩ, Bỉ, Anh, Tây Ban Nha, Nga, Romania đều khoái hết. Dồi chỉ nhồi toàn huyết coi bộ thiếu sáng tạo. Chưa bao giờ thử mà tôi thấy chẳng có chi hấp dẫn. Chi chứ dồi ở Việt Nam nhất định nhiều phần hấp dẫn hơn. Mỗi loại dồi có nhồi nhét những thứ khác nhau bên trong.

Dồi huyết (boudin noir) của Pháp.

Nói ra thì có nhiều người phản bác nhưng nói tới dồi không thể không nói tới chuyện dồi chó.  Sống trên đời ăn miếng dồi chó / Chết xuống âm phủ hỏi có hay không? Dân gian đã bàn tới chuyện món ăn xuyên âm dương như vậy hỏi có thể bỏ qua được không? Chắc là không! Dồi được làm bằng lòng non. Lộn trái cỗ lòng, làm thật sạch, sát muối rồi rửa kỹ cho hết mùi hôi. Nhân dồi gồm đậu phọng rang, đậu xanh đãi vỏ đồ chín giã mịn, mỡ màng tang băm nhỏ, búp dâu non thái như thái thuốc lào, hành răm thái nhỏ, tiết đọng, hạt tiêu trộn đều. Nhồi xong mang luộc hoặc hấp chín đều. Vớt ra, quấn khúc dồi đã chín vào một khúc tre, nướng trên than hoa đỏ rực tới khi vỏ dồi vàng rộm nhưng không cháy, dồi không bị nứt. Dồi ăn với nước chấm được chế riêng từ lục phủ ngũ tạng của con cầy: cuống họng, phổi, tụy, thận, thực quản, ruột già làm sạch. Xào tất cả với khế chua cho tới khi chín tới, cho thêm mẻ vào, đảo đều, nấu tiếp tới khi được thì bắc ra, cho thêm vào vài lát ớt và lá chanh. Ăn với húng chó, rau mùi già và…ba xí đế! Ngon như thế nào, phải viện tới ông nhà văn sành ăn Vũ Bằng tả tình tả cảnh. “Đã định không nói, nhưng không nói không chịu được. Ờ mà nếu ca tụng thịt cầy mà mang tiếng là thiếu văn minh thì mình cũng đành chịu cái tiếng thiếu văn minh vậy, chớ nói đến miếng ngon Hà Nội mà không nói đến thịt cầy, người ta quả là thấy thiếu thốn rất nhiều. Chỉ thiếu có một người, vũ trụ bao la hiu quạnh… huống chi lại thiếu thịt cầy thì còn vui sống làm sao? Nhắm một miếng dồi, lại đưa cay một tợp rượu, rồi khẽ lấy hai ngón tay nhón một ngọn rau húng điểm vào một vị hăng hăng, man mát cho tất cả cái bùi, cái béo, cái cay, cái mát, cái hăng quyện lấy nhau, anh sẽ nói với tôi cảm tưởng của anh ra thế nào… Quả vậy, nếu sau này, người ta chết xuống âm phủ mà không có dồi chó để ăn thì âu cũng là một mối hận thiên thu mà ta cần phải đề phòng ngay tự giờ. Óc chó có tiếng là ngon, nhưng có ý vị, càng ăn càng thấy ngon thì chính là dồi chó. Sao mà lại có những người có óc vĩ đại lại đi nghĩ ra được cách làm một cái thứ dồi ngon lạ ngon lùng đến thế, một tổ hợp tiết tấu đến như thế, hở Trời? Gắp một miếng chấm muối chanh, rồi đưa cay một hơi rượu, ta thấy tất cả tiết, sụn, lá thơm và đậu xanh ở trong miếng dồi nâng đỡ nhau, đoàn kết nhau thành một khối bất khả chia lìa, không những thấy ngon lành cho khẩu cái mà thôi, nhưng lại còn làm cho ta mát gan nở ruột vì cái đẹp tinh thần do sự nhất trí tạo thành”.

Thái bình quê lúa//Dồi chó rán nóng vừa thổi vừa ăn

Dồi chó.

Sống trên đời ăn miếng dồi chó…. – S.U.S – Intelligence …

Lòng dồi chó.

Dồi heo lại là một trường phái khác. Trường phái này mang tính chia rẽ Bắc Nam. Người Nam dùng ruột non, trừ dân Tây Ninh xé rào dùng ruột già như người Bắc. Dồi Nam được nhồi bằng thịt vai xắt hạt lựu, huyết chín, đậu xanh, hạt tiêu rang vàng đập giập, rau răm, rau húng quế xắt nhỏ. Dồi được hấp chín rồi chiên vàng. Người Bắc dùng ruột già tuốt bằng nước gạo. Nhân gồm sụn, cổ họng, mỡ sa, ba chỉ, rau răm băm nhuyễn, hành hoa xắt nhỏ, đậu xanh rang, lá xương sông, nước cốt riềng, sả, tiết đông. Dồi Bắc được luộc chứ không nướng. Dồi dùng với nước chấm gồm mắm tôm đánh sủi bọt với rượu trắng, nước cốt chanh, ớt xắt lát, chút mỡ nước và đường. Rau ăn kèm gồm húng chó, húng quế, rau thơm, rau ngò, tương tự như khi ăn tiết canh.

Tận dụng bộ đồ lòng kỹ nhất phải nói tới phá lấu. Phá lấu dùng hầu hết các phần của bộ đồ lòng. Nhắc tới phá lấu, những người thuộc thế hệ trẻ trước khi Sài Gòn đổi chủ chắc phải thở dài. Như lời một bản nhạc, “nhớ ơi là nhớ, nhớ bất tận”, nhớ nẫu lòng nẫu ruột. Nhưng phá lấu không phải là món của Sài Gòn mà là của người Triều Châu, vùng Quảng Đông bên Tàu. “Lấu” tiếng Tiều có nghĩa là ướp các gia vị cay. “Phá”  nghĩa là thịt động vật. Người Tiều thường làm phá lấu trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng. Lễ vật của những dịp này là nguyên con heo. Thường thì không dùng hết nên họ đem các bộ phận của thịt heo tẩm ướp thành phá lấu dùng lâu dài trong những ngày sau đó. Lưỡi, tai, ruột, bao tử được ướp bằng hỗn hợp quế, hồi, bát giác hồi hương, ngũ vị hương cùng một số vị thuốc bắc. Phá lấu được nấu chậm trong nhiều tiếng đồng hồ, có khi nấu cả ngày mới xong. Nồi phá lấu của người Tiều nhiều khi được để quanh năm suốt tháng trên bếp lửa, hết nước lại châm vào với nước thêm tí muối là có thể ăn dần trong cả năm. Phá lấu Quảng Đông của người Tiều du nhập vào Sài Gòn đã được thay đổi theo sở thích của người dân miền Nam Việt Nam. Tác giả An Lê đã viết trên báo Lao Động ra ngày Chủ Nhật 13/4/2025 vừa qua như sau: “Những ghi chép về nghệ thuật ẩm thực vùng Triều Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), cho chúng ta biết phá lấu thường dùng thịt gà, thịt thỏ, thịt bò, thịt heo cắt vuông rồi ướp kỹ và nấu chậm đến khi thành phẩm. Nhưng phá lấu ở Sài Gòn, rất ít dùng thịt, có chăng chỉ là phần thịt thủ của heo gồm mũi, tai, lưỡi và chủ yếu vẫn là nội tạng bò, heo. Đó là bởi phá lấu gặp thói quen thích ăn nội tạng heo và tục lệ cúng đầu heo của người Nam Bộ. Bởi ở thời kỳ đầu của vùng đất phương Nam, con trâu, con bò vẫn là “đầu cơ nghiệp” của việc nông nghiệp, thế nên, người dân chỉ thường giết heo để cúng tế và ăn thịt hơn là dùng trâu, bò. Do đó, đã có một sự chuyển biến về mặt nguyên liệu chế biến, chuyển từ các loại thịt sang nội tạng của heo, thịt đầu heo. Chỉ đến khi trâu, bò được coi như thực phẩm thông thường, người ta mới nấu phá lấu bằng nội tạng bò vì nhiều hơn, rẻ hơn nội tạng heo và gia cầm. Một hương vị chỉ có ở ẩm thực Nam Bộ cũng đã xuất hiện trong món phá lấu là nước cốt dừa, tạo ra hương vị thơm béo, ngầy ngậy rất lôi cuốn. Như thế, chúng ta đã nhìn thấy hành trình hòa hợp một phương thức nấu ăn người Tiều với nguyên liệu của bản địa để tạo nên món phá lấu Sài Gòn vô cùng đặc biệt”.

Mâm phá lấu

Những người trẻ trước năm 1975 chắc không ai không biết mâm phá lấu của ông Tàu già nằm giữa những xe gỏi đu đủ khô bò và đồ ăn vặt khác gần xe nước mía Viễn Đông. Hồi đó tôi là khách hàng thường trực nhưng chỉ nhìn thấy mâm phá lấu chứ không nhìn kỹ ông Tàu già, huống chi tên tuổi quê quán của ông. Tới bây giờ, ngàn trùng xa cách, tuổi tác không còn như xưa, tôi mới biết được “lý lịch” ông. Ông tên Lưu Đặng, người  gốc Quảng Đông sinh sống ở Campuchia. Năm 1970, Lon Nol ra lệnh “cáp duồn” người Việt, ông mới chạy qua Sài Gòn lánh nạn và mưu sinh bằng nghề gia truyền là món phá lấu khìa. Phụ ông có cô con gái nhỏ tên Lưu Kim Sanh, khoảng chục tuổi, chạy lăng xăng bán phụ với cha. Ông Lưu Đặng nay đã ra người thiên cổ, cô bé nhỏ nhít năm xưa nay thay nghề cha, vẫn ôm mâm phá lấu ngay chỗ cha cô đứng từ năm 1970 tới 1990. Xưa cũng như nay, mâm phá lấu của bà Sanh, nay đã cỡ trên 60 tuổi, gồm có lòng heo, bao tử, thú linh, dồi, phèo, gan, chả và ruột vịt. Nước chấm là tương đen. Bà Sanh hồi tưởng: ““Hồi đó 9 tuổi là tui theo ba đi bán phá lấu dạo rồi. Ổng bán từ thời còn thanh niên. Khu này thời trước 1975 là một dãy xe bán đồ ăn vặt dạo. Nào là khô bò đu đủ, phá lấu, nước mía… Có ông già kia có quán tên “Nước mía Viễn Đông”, thế là mọi người đặt tên cho dãy ăn vặt khu chợ Cũ này theo quán ổng luôn. Nghe cũng hay hay”. Có lẽ bà Sanh nhớ lộn. Xe nước mía Viễn Đông nằm một phần trong nhà là  một cơ ngơi hái ra tiền. Cách đây vài năm, tôi có gặp bà chủ của cơ ngơi này, hiện sinh sống tại Montreal, có nhắc tới những ngày bà đếm tiền tới mỏi tay.

Khu Viễn Đông trước 1975.  

Trong hồi ức của một người Sài Gòn xưa, tôi đọc được một đoạn viết như sau.  “Ngược dòng thời gian những năm 70 thế kỷ trước, nam nữ thanh niên chiều cuối tuần, dung dăng dung dẻ dạo phố Sài Gòn thế nào cũng ghé góc đường Pasteur-Lê Lợi dừng xe uống ly nước mía. Trước tiệm nước luôn có mấy mâm phá lấu lòng heo, lòng gà, lòng vịt. Mỗi miếng lòng riêng lẻ được ghim sẵn một cây tăm, ăn bao nhiêu đếm tăm tính tiền bấy nhiêu. Ăn phá lấu kiểu này là ăn kiểng, ăn làm duyên.”

Những người muôn năm cũ, dù lưu lạc tại phương trời nào, vẫn nhớ tới góc đường ăn uống huyền thoại Lê Lợi-Pasteur này. Bà Sanh kể: “Có ông khách xưa định cư ở Pháp rồi mà mỗi lần về ăn cả chục dĩa phá lấu, gần 500.000 đồng. Ổng nói đi lâu mỗi lần về là nhớ mùi ruột vịt, thèm phá lấu chấm tương đen đến ứa nước miếng. Bán cho khách vậy thấy đã lắm”.

Người đi xa đã như vậy, người còn ở lại có thể vẫn còn thấy góc đường thần thoại này nhưng không còn được cái không khí xưa. Nhà văn Đỗ Duy Ngọc, vẫn bám trụ Sài Gòn, trong cuốn “Ăn Mà Không Chơi”, đã nhớ: “Trên khay để đầy phá lấu nhiều màu, toàn những màu sẫm là lòng heo, dồi trường, tim, lưỡi, lá sách, bao tử, gan, ruột non, phèo, phổi. Nói chung là toàn bộ đồ lòng của con heo lại thêm lòng gà đầy đủ gan, tim, ruột lòng thòng xoắn xoắn. Miếng phá lấu được cắt nhỏ lủm một miếng chưa đầy miệng, cắm một cây tăm. Trên khay còn có tương đen, tương đỏ. Khách lái xe xuôi đường Pasteur, thắng xe ghé lại, thích gì ăn nấy, cây tăm khi đã bỏ miếng phá lấu vào miệng thì chú Ba Tàu lại ghim một cây tăm khác vào cổ tay của ông, có sợi cao su buộc ngang. Khách ăn xong chú Ba căn cứ vào số tăm trên tay mà tính tiền. Miếng phá lấu ở đấy bây giờ nhớ lại thấy ngon lạ lùng. Miếng lá sách có gai như miếng khăn lông nhai sần sật, miếng ruột non, ruột già beo béo, miếng gan bùi bùi, miếng lưỡi, miếng phèo hơi dai càng nhai càng ngọt mùi… Gần nửa thế kỷ rồi, nhắc lại món phá lấu ở địa chỉ ấy bỗng dưng trên đầu lưỡi phảng phất cái mùi ngũ vị hương, cái mùi húng lìu, nước tương hòa lẫn vị béo, dai, bùi của phá lấu năm xưa. Nhắc để gậm nhấm kỷ niệm của một thời chở cô bạn gái ghé vào đây, hoặc đi với mấy thằng bạn, chấm chấm, nhai nhai sao đời nghèo mà vui thế”.

Người đi xa, người ở gần, dù đã bao dâu bể, vẫn một lòng với khu Lê Lợi-Pasteur. Nỗi nhờ thành thơ. Như những vần thơ nhớ của Bác sĩ Lê Văn Lân:

Anh ơi, “Nước mía Viễn đông”

Hai ly chưa đã, mát lòng em luôn

Thêm đĩa bò bía chấm tương

Ăn kèm phá lấu, em thương anh nhiều.

04/2025

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 20 May 2025

Chương 3

Ông Tư Thính phập phồng khi hay tin Chúa Hòn sắp đến viếng nhà. Ông gọi đứa con gái thân yêu:

– Huôi ơi! Mau quét dọn nhà cửa.

Mười mấy năm trôi qua khiến Huôi trở nên mạnh khỏe, thêm tươi đẹp. Hôm nào, cô còn là đứa bé ranh mãnh nghèo nàn, suốt ngày quanh quẩn trước sân. Giờ đây, cô nổi danh là hoa khôi trong vùng, dáng điệu khoan thai. Bọn trai làng không thích cô lắm. Họ bảo rằng cô quá kiêu căng.

Ông Tư Thính đội nón lên, nói với lại:

– Lát nữa ba về. Con ở nhà, đừng đi vắng!

Đóan chừng có chuyện quan trọng sắp xảy ra, cô Huôi hỏi:

– Thưa ba, hôm nay khách nào tới nhà?

Ông Tư Thính giựt mình, kiêu hãnh vô cùng vì rõ ràng con gái ông có thiên tư, biết đóan xa, gần đúng sự việc. Phải chăng tương lai nó sẽ rạng rỡ, sau cuộc viếng thăm nầy? Ông trả lời nhanh:

– Một ông khách quan trọng.

– Nếu khách tới, con trả lời sao?

– Con chớ lo xa. Ba về bây giờ.

Lập tức, ông Tư Thính đến gặp ông đạo Đất trong thảo am. Ông đạo ung dung uống rươu. Cái tật uống rượu nầy bị dân chúng chê trách nhưng ông đạo trả lời bình thản rằng rượu do nếp sinh ra, nếp do đất sanh ra. Uống rượu thì thích hợp với ý nghĩa “Đất” do ông đề xướng.

Uống quá nhiều rượu, ông đạo Đất ngả lăn trên giường. Khi thấy Tư Thính đến, ông đạo lồm cồm ngồi dậy rót thêm rượu nữa.

– Ủa! Sao trở lại đây? Lo dọn dẹp nhà cửa cho mau. Tôi nói ông Chúa Hòn sắp tới: Đừng để trễ.

Ông Tư Thính hỏi:

– Nếu ông Chúa Hòn tới, tôi ăn nói chuyện gì cho hợp tình hợp cảnh? Chắng lẽ tôi khoe đứa con gái đẹp rồi năn nỉ ông Chúa để dâng cho ông?

Ông đạo Đất cười dòn:

– Con Huôi đã tới lúc trở thành bà Chúa rồi. Rốt cuộc tất cả mọi người đều theo cái đạo lớn, do Đất sắp đặt trước. Đất sanh ra bụi quỳnh hoa. Đất nuôi dưỡng con mãng xà vương hồi năm xưa. Ông Tư thấy tôi là thánh sống không! Mười mấy năm trước, rắn quấn con Huôi, tôi nói là điềm tốt. Bây giờ là sự việc bày ra nhãn tiền.

Ông Tư Thính vẫn thắc mắc:

– Hồi sáng, không hiểu ông già Chót nói gì với ông Chúa?

– Tôi gặp ông già Chót rồi, ổng nói chuyện bụi bông quỳnh hoa, nhờ vậy mà lát nữa ông Chúa tới. Nay mai, nếu cô Huôi trở thành bà Chúa thì nên nhớ khen thưởng ông già Chót. Ổng lên núi rồi. Ông Tư cứ trả lời bình tĩnh, rồi có quới nhơn giúp đỡ. Hàng chục người đang sẵn sàng nịnh bợ ông.

– Phải chi ông tới nhà tôi để trả lời khi ông Chúa Hòn hỏi những câu ngặt nghèo, thí dụ như tại sao bông nở mười nụ một lần.

Ông đạo Đất cau mày:.

– Tôi lại đó là hư chuyện, vì ông Chúa Hòn nghi ngờ rằng đây là viêc giả tạo, sắp đặt từ trước. Khi nào cần thì ông Chúa Hòn phải tới cái cốc nầy hoặc mời tôi. Ông cứ về. Đừng lo gì hết.

Khi về tới nhà, ông Tư Thính gặp hai người lực lưỡng đứng trước sân. Ông biết ngay đó là bọn hộ vệ, nên hỏi giả vờ:

– Chào mấy cậu! Chắc là ông Chúa Hòn…

– Phải vậy đó. Nhưng mà ông đừng lo xa.

– Ông Chúa tới, tôi phải lo rượu thịt, trà tươi để đón rước. Rủi bề gì ổng giận, năm sau cha con tôi không có đất cày cấy. Nhà nghèo, mấy cậu hiểu, châm chế giùm.

Ông Tư Thính đến sân, nhòm lại kỹ bụi quỳnh hoa. Đôi ba chục lá dài, xanh tươi như lưỡi kiếm vươn lên. Ồng đếm kỹ tất cả đúng mười nụ còn búp, nhứt định là đêm nay hoa nở rộ một lượt. Ông gọi:

– Huôi ơi! Lát nữa ông Chúa Hòn đến, con nên chào hỏi lễ phép. Ông dạy điều gì, con nên vâng lời, cúi đầu vui vẻ. Thời vận đã tới. Nhờ Trời Phật, năm nay gia đình mình gặp may mắn, ba được khỏe thân mà con thì hiển vinh.

Cô Huôi nói giọng kiêu hãnh:

– Con ăn mặc như vầy được không? Chưng diện quá mức, mặc quần áo mới thì không ích lợi gì, người ta cho rằng gia đình mình cầu cạnh.

“Đúng là, câu nói của một… bà lớn’’. Ông Tư Thính tin tưởng rằng nhan sắc đứa con gái thân yêu sẽ làm hài lòng, nếu không làm chóa mắt ông Chúa Hòn.

Ông căn dặn thêm:

– Lát nữa, con nên nói thật ít cho thiên hạ nể nang.

Cô Huôi liếc ra sân, nói khẽ với cha:

– Họ tới rồi kìa. Cha đừng lo. Con không nói bất cứ tiếng nào hết, như vậy họ mới kính trọng.

Ông Chúa Hòn lên bờ nhanh nhẹn, trong khi ông Bá Vạn chậm chạp hơn, đưa tay cho tên hộ vệ níu mạnh. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Đây hả? Bụi quỳnh hoa ở đâu? Chủ nhà là ai? Tối nay bông quỳnh hoa nở thì còn gì may mắn cho bằng.

Đứng trước thềm nhà, ông Tư Thính chắp tay, nghe rõ lời ông Chúa Hòn nhưng Tư Thính dành quyền trả lời cho bọn hộ vệ. Bá Vạn đến gần Tư Thính, nói khẽ:

– Tôi giúp ông phen nầy. Nên chiều chuộng ông Chúa Hòn bằng mọi cách. Ra sân mà nói chuyện. Hôm nay, ông Chúa vui lắm.

Tư Thính cúi đầu thật sâu:

– Mấy thuở ông tới, nhà nghèo không tiếp đãi trọng thể, xin ông tha thứ cho. Bụi bông nầy do con gái tôi trồng nở được mười nụ. Thật may mắn cho tôi, ông Chúa đến đúng lúc.

Ông Chúa Hòn liếc sơ bụi quỳnh hoa, thấy hàng chục nụ đeo lủng lẳng, từ nách lá nẩy ra: Nhưng ông muốn tò mò để hiểu việc khác:

– Hoa nở rộ như vầy, mười năm chưa ắt có một lần. Hoa do con gái chú trồng. Cô đó đâu rồi?

– Dạ, con nhà nghèo nên nãy giờ chưa dám trình diện với ông. Xin mời ông vô nhà.

Bá Vạn kéo cái ghế, phủi bụi đôi ba lần rồi kính cẩn.

– Mời ông Chúa.

Trong khi đó, Tư Thính chạy vào nhà trong. Cô Huôi vẫn bình thản lụm củi vào bếp, lo bữa cơm chiều. Tư Thính nói:

– Huôi! Ra chào ông Chúa.

Cô Huôi đáp:

– Ba ra trước, con ra sau.

Ông Chúa Hòn hơi nóng nảy nhưng còn giữ chút thể diện, ông ra lịnh cho bọn hộ vệ:

– Đem rượu với đồ ăn lên đây! Uống rượu mà xem hoa nở thì còn gì cho bằng.

Cô Huôi bước chậm rãi, ông Bá Vạn thấy trước, lấy làm đắc ý vì gương mặt cô gái trẻ nầy vừa đẹp, vừa kiêu hãnh. Nếu cô Huôi được về với ông Chúa Hòn thì Bá Vạn sẽ thêm vây cánh, ăn thua với cậu Hai Điền và bà chánh thất. Bá Vạn lên tiếng:

– Thưa ông, con gái Tư Thính đây.

Ông Chúa Hòn sửng sốt, há miệng. Dè đâu ở chốn quê mùa hẻo lánh nầy lại có người đẹp tuyệt trần vóc đáng cao ráo, nước da trắng mịn, trán cao, môi đỏ như thoa son, hai tay thật dài, gần chấm đầu gối. Ông nói:

– Tuyệt đẹp. Tên gì?

Cô Huôi liếc về phía Tư Thính:

– Thưa ba…

Tư Thính đáp:

– Thưa ông, nó tên Huôi, mười bảy tuổi, mẹ nó mất sớm. Nó trồng bụi quỳnh hoa nầy mười năm rồi, hồi nó mới được bảy tuổi. Đây là lần đầu tiên mà bụi quỳnh hoa nở.

– Lại gần đây!

Cô Huôi đến gần ông Chúa Hòn. Ông ngây ngất, dường như mùi thơm của da thịt cô gái bay ra thoang thoảng. Nếu vắng người thì ông ta đã ôm ghì miếng mồi ngon ấy vào lòng. Nhưng đây là nơi đông người, ông muốn kiên nhẫn chờ đợi. Ông muốn tìm nơi người đẹp một nguồn sinh lực mới để bù trừ vào những điều xui xẻo đã xảy ra liên tiếp.

– Đẹp lắm!

Cô Huôi hiểu ngầm rằng ông Chúa Hòn đã bị chinh phục. Cô nhìn thẳng vào ông Chúa Hòn không chớp mắt. Và ông Chúa đã cúi mặt xuống như e thẹn.

Tất cả chi tiết đều được Tư Thính và Bá Vạn thấy rõ, hiểu rõ. Như thế là họ thành công được chín phần mười.

Ông Chúa Hòn muốn thay đổi không khí nên đứng dậy:

– Ta ra xem hoa trước khi nó nở.

Rồi ông nói tiếp như yêu cầu cô Huôi:

– Ra đây cho vui. Tánh ta dễ dãi lắm.

Bá Vạn ra sân, đến gần bụi bông. Nhưng ông ta lại chạy trở vô nhà, đem cái ghế ra, để xuống:

– Xin mời ông Chúa ngồi!

Ông Chúa Hòn nào thiết gì đến bụi hoa nữa. Hình ảnh người đẹp cứ chập chờn, ông day qua day lại như sợ cô Huôi đi mất. Cô Huôi đứng yên, oai vệ vô cùng, ông Chúa nói:

– Cô gái ngồi ghế. Gái đẹp ngồi gần hoa đẹp, còn gì hơn!

Bá Vạn lại lính quýnh, chạy vô nhà đem cái ghế thứ nhì ra cho ông Chúa Hòn ngồi. Để tăng thêm phần long trọng cho buổi chiều nhiều ý nghĩa nầy, Tư Thính đi vòng ra sau hè, múc một thùng nước lạnh. Ông đem ra, để gần đứa con gái rồi nói với ông Chúa Hòn:

– Xin phép ông cho tôi tưới bụi quỳnh hoa để đêm nay nó nở đều, để nó thơm tho hơn.

Ông Chúa cười hề hề:

– Cô gái tên gì? Ta nghe tên cô là Huôi, Huôi là hoa, nói theo tiếng Triều Châu. Người đẹp tên Hoa tưới đóa hoa đẹp thì mới thích ý ta.

Lần nầy, cô Huôi vẫn im lặng, trên môi nở nụ cười kín đáo. Dụng ý của cô là dò xét cho biết ông Chúa si mê đến mức nào.

Đúng như dự đóan của cô, ông Chúa Hòn đứng dậy, đến gần thùng nước:

– Vậy thì ta tưới trước. Chắc cô gái muốn giữ lễ phép.

Hai tên hộ vệ khúm núm nâng cái thùng bằng cây và trao cho ông Chúa cái gáo dừa. Ông múc một gáo đầy, tưới ngay gốc bụi quỳnh hoa, tưới thật chậm với nụ cười tươi rói.

Nãy giờ, Tư Thính phập phồng vô cùng, lỡ con gái ông nói ra điều gì quá đáng thì tình cảm ông Chúa sẽ bị sứt mẻ. Bá Vạn tin rằng cô Huôi đã làm đẹp lòng ông Chúa, nếu cô được chọn làm vợ thứ thì rồi đây kế hoạch sẽ thành công, Bá Vạn lần lượt giết ông Chúa Hòn rồi giết cậu Hai Điện. Cô Huôi mặc nhiên là nhân vật quan trọng nhất. Bà chánh thất, mẹ ruột cậu Hai Điền là chướng ngại không đáng kể. Con chết rồi thì mẹ đâu còn thế lực. Vả lại, bọn hộ vệ chưa ắt còn trung thành với bà ta.

Bá Vạn gây cảm tình và lập công với Tư Thính:

– Chú Tư thấy chưa? Ông Chúa tưới bụi hoa, tưới chậm rãi. Lần đầu tiên trong đời, ông chịu làm công việc tầm thường đó. Tôi cầu mong cho cô Huôi gặp nhiều may mắn. Sau nầy, nếu cô Huôi trở thành người quyền thế, chú Tư đừng quên lão già Bá Vạn nầy.

Tư Thính đáp với lòng thành thật:

– Làm cha, ai không muốn cho con cái nên danh phận. Dám mong ông giúp giùm. Cháu gái còn khờ khạo lắm. Ơn ông tôi nào dám quên. Tôi chỉ muốn có ngôi nhà nhỏ, sống rảnh rang dưỡng già, khỏi vất vả cày bừa.

Như vậy là Tư Thính chẳng muốn theo đứa con gái để rút rỉa tiền bạc hoặc gia tài ông Chúa Hòn để lại, Bá Vạn thầm mừng:

– Dịp may đã đến…

Nhớ đến ông đạo Đất, người dàn cảnh tài tình của cuộc gặp gỡ nầy, Tư Thính gợi ý:

– Ông đạo Đất giúp gia đình tôi. Hồi mười năm trước ông đóan được vận mệnh con Huôi…

Bá Vạn sáng mắt lên. Đã từng phục vụ ông Chúa Hòn nhiều năm, Bá Vạn hiểu tâm lý đám bần dân. Đa số đều ham tiền bạc, ruộng đất, danh vọng trong làng xóm. Ông đạo Đất phải là kẻ ham danh vọng, ham hơn ai hết.

– Ông đạo Đất ở gần đây không? Tôi muốn tới thăm với ông Chúa Hòn.

Tư Thính chưa trả lời kịp thì giựt mình, vì ông Chúa Hòn cười lên sặc sụa:

– Mỹ nhân cứ tưới bụi hoa nầy cho nó mau nở. Tưới bằng rượu được không? Đem ra đây vài bầu ruợu quý. Ta uống cho say sưa.

Cô Huôi nâng bầu rượu, tưới xuống theo lời thỉnh cầu của ông Chúa Hòn. Ông Chúa khen ngợi:

– Bàn tay yểu điệu quá. Lát nữa, cô ăn cơm với ta. Cô chưa ăn cơm mà!

Bá Vạn đánh trúng vào tâm lý của ông Chúa Hòn:

– Nhà chật chội, xung quanh còn nhiều kẻ tò mò, nên tìm chỗ nào yên ấm hơn, theo ý tôi thì nên bày tiệc ở dưới ghe hầu!

Ông Chúa Hòn quên tất cả những xui xẻo trong mấy ngày qua, ông muốn làm lại cuộc đời mới, sống những phút tươi trẻ, cuồng bạo:

– Phải rồi. Lát nữa, cô gái xuống ghe với ta..

Cô Huôi e thẹn, từ chối nhiều lần:

– Dạ, không dám.

Tư Thính nói khẽ:

– Con nên làm vừa lòng ông Chúa. Hàng ngàn cô gái ao ước được may mắn như con, vậy mà Trời Phật không giúp họ. Nãy giờ, con nói ít là phải. Đã đến lúc con nô đùa… cho tự nhiên để trở thành bà Chúa Hòn. Không khó đâu. Ông Bá Vạn hứa giúp đỡ gia đình ta.

Ông Chúa Hòn xuống chiếc ghe hầu. Cô Huôi bước chậm rãi theo sau, trong lúc trời sụp tối. Cô đến mũi ghe, nũng nịu:

– Chờ hoa nở rồi hãy uống rượu.

– Khuya nay, hoa mới nở. Trước khi hoa nở thì cô xuống đây cho vui. Cô là đóa hoa hiếm có, một đóa trị giá bằng mười đóa.

Bọn hộ vệ đốt hai ngọn đèn sáp, bày rượu thịt ra rồi từ từ rút lui lên bờ. Chúng hiểu ngầm rằng ông Chúa Hòn muốn đùa giỡn với cô gái nõn nà. Uống rượu vào thật say, ông sẽ hóa ra con thú dữ. Nếu thấy ai thấp thoáng đứng gần, ổng trừng phạt gắt gao. Chưa chi ông đã đổ rượu vào ngực người đẹp. Cô Huôi cứ van nài:

– Lạnh lắm. Em chưa quen uống rượu.

Lập tức, ông Chúa Hòn mở cái tráp nhỏ, đem ra gói giấy đỏ. Cô Huôi trố mắt nhìn:

– Thưa ông…

– Nàng đừng ngại, đây là loại thuốc quý dành riêng cho ta với nàng. Nhân sâm, nàng xem kỹ. Nàng ngậm trong miệng, thủng thẳng hãy nhai nhỏ. Thuốc trường sinh mà. Nhờ đó mà nàng luôn luôn trẻ đẹp, thức suốt đêm không mệt, uống rượu nhiều không biết say. Đói thì ăn. Mệt thì nằm xuống…

Để cho cô Huôi được yên tâm, ông Chúa Hòn đẩy cánh cửa nhỏ bên hông chiếc ghe, gọi to.

– Bá Vạn đâu?

Bá Vạn chạy đến gần, chắp tay thưa:

– Ông Chúa dạy điều gì?

– Chừng nào hoa quỳnh gần nở hãy gọi ta. Ta đang vui dưới nầy. Bảo bọn hộ vệ đứng xa. Người đẹp còn e thẹn…

Bá Vạn và Tư Thính đứng trên sân nhìn về chiếc ghe hầu. Ông Chúa Hòn cười dòn từng chập. Tư Thính hỏi:

– Rồi con gái tôi sẽ về ở với ông Chúa? Tôi sợ nửa chừng, ông đuổi con tôi về, uổng đời con gái.

– Tôi hứa là có. Chú Tư biết không! Xưa nay ông Chúa gặp nhiều cô gái đẹp nhưng chưa bao giờ si mê như vậy. Dầu gì đi nữa ông ta cũng giữ thể diện, không muốn cho người đời hiểu rằng ông ta háo sắc. Hôm nay quả thật ông ta bị nhan sắc lôi cuốn.

Tư Thính vẫn chưa yên tâm:

– Ông Chúa tin thời vận, tin điềm may rủi hay không?

Bá Vạn hỏi:

– Ông đạo Đất mà chú nói lúc nãy ở gần hay xa?

– Gần lắm! Để tôi mời lại đây. Nhưng làm thế nào cho ông Chúa tin ông đạo Đất?

Bá Vạn cười dòn:

– Thế gian nầy, chưa ai mê tín dị đoan bằng ông Chúa Hòn. Tôi tìm cách nói khéo để ông Chúa đích thân tới gặp ông đạo Đất. Ông đạo tới đây là hư mọi việc. Chú sao khờ khạo quá!

Tư Thính chạy nhanh đến cốc, đánh thức ông đạo Đất.

– Ông ơi! Rảnh chưa? Nên thức tới khuya để chờ ông Chúa Hòn. Ông Bá Vạn đồng ý rồi. Nếu ổng chưa tới, ông ráng coi giùm một quẻ. Hôm qua, ông Chúa gặp chuyện xui xẻo như thiên hạ đồn đãi, ông nghe chớ?

– Miễu bà Chúa Xứ bị cháy. Cô gái lên xác bị trăn quấn mất xác.

Tư Thính nói khẽ:

– Lúc coi quẻ, ông cứ nói rằng… nếu ông Chúa Hòn chọn con Huôi làm thứ thất, thì tương lai ông được bảo đảm, bao nhiêu điều xui xẻo đều tan mất.

Ông đạo Đất vẫn nằm dài, nói giọng nhừa nhựa:

– Đừng lo. Tôi sẽ nói nhiều chuyện lạ lùng hơn nữa. Miễn là chú Tư làm cách nào khuyên nhủ con Huôi. Nó là gái tơ, nhiều khi bực bội khi sống với chồng già. Rồi đây, khi ông Chúa Hòn mãn phần, nó tha hồ tìm người chồng khác đẹp đẽ, trẻ trung hơn. Đẹp như nó, có thêm tiền bạc trong tay thì mặc sức lựa chọn. Miễn là nó đừng quên tôi.

Để chứng tỏ rằng mình sành tâm lý, Tư Thính chống tay nói nghiêm nghị:.

– Công việc được trôi chảy tới ngày giờ nầy là nhờ ông sắp xếp khéo léo. Con Huôi sẽ cúng cho ông một kiễng chùa tốt đẹp, sơn son thiếp vàng…

Như không màng đến lợi danh, ông đạo Đất nói qua chuyện khác:

– Con Huôi… xuống ghe ông Chúa Hòn chưa?

– Nó xuống từ nãy giờ. Chắc là ông Chúa Hòn thích ý.

– Vậy là điều may mắn. Ông Chúa ít khi nào nóng nảy như vậy. Thôi, chú Tư cứ về nhà, để mặc tôi. Lát nữa, tôi ngủ một giấc, giả vờ như bất chấp thế sự. Làm như vậy, ông Chúa mới thán phục và tin lời lôi.

Khi Tư Thính trở lại nhà thì ông Bá Vạn ngồi sẵn trước sân, nhìn kỹ bụi quỳnh hoa. Bá Vạn giựt mình day lại:

– Xong chưa? Nãy giờ tôi chờ ông. Ông coi kỹ, dường như nó gần nở rồi. Làm gì mà lâu vậy?

Sau khi nghe rõ những gì đã bàn bạc tại cốc ông đạo Đất, Bá Vạn gật gù:

– Ông đạo nầy tài tình thiệt. Chú Tư coi kỹ. So với lúc ban chiều thì mấy nụ quỳnh hoa to lớn gấp đôi. Cuống bông như kéo dài ra, mọc từ nách lá, mỗi lá dày và dài ăn rễ vào đất, giống như lá thơm, lá xương rồng. Búp hoa căng đầy, lớn bằng ngón chân cái, bốn cái lá dài màu xanh bao học chung quanh, mấy cánh hoa trắng còn gom lại, he hé.

Mấy tên hộ vệ xúm lại gần, có đứa thử đưa tay ra để rờ mó nụ hoa. Ông Bá Vạn nói gắt:

– Tụi bây muốn chết sao chớ! Quỳnh hoa nầy dành riêng cho ông Chúa thưởng thức.

Tư Thính bèn giải thích để xoa dịu lòng tự ái của bọn hộ vệ. Dầu sao đi nữa, giờ phút nầy chú là bần dân, không quyền hạn gì, trong khi bọn hộ vệ được ông Chúa Hòn tin cậy hơn:

– Quỳnh Hoa khó trồng lắm, mấy chú à.. Hễ rờ mó thì nó chai, nở không lớn, không tròn. Hôm nay ông Chúa muốn gặp chuyện hên. Rủi trong mười bông mà có một bông lép thì ổng giận.

Bá Vạn thúc giục:

– Gần nở rồi

Chú Tư Thính đáp:

– Chưa đâu, mấy lá dài màu xanh chưa hé ra thì mấy cánh trắng ở trong còn cuốn tròn. Để cho ông vui say.

Bá Vạn lầm bầm, khoát tay để ra lịnh cho bọn hộ vệ ra xa, đừng nghe lóm được cơ mưu:

– Chú Tư ơi! Bọn đàn ông mau chán bất cứ món ngon nào. Nên mời ông Chúa lên đây xem hoa nở. Rủi hoa nở quá thì sao? Ông Chúa sẽ bực tức, nhưng cô Huôi còn đó. Vì bực tức nên ổng sẽ mời cô Huôi về nhà, càng gần gũi, ổng càng thấy nhiều nét đẹp kín đáo khác.

– Vậy thì ông Bá Vạn cứ ra lịnh. Tôi nào có quyền hạn gì mà sai khiến bọn hộ vệ.

Bá Vạn nhìn xuống con rạch. Chiếc ghe hầu còn đó, ánh đèn bên trong chiếu leo lét, nước chảy hơi mạnh, chiếc ghe nghiêng qua nghiêng lại chòng chành. Cửa mui sau lái vụt mở. Ông Chúa Hòn chun ra, hát nghêu ngao không đúng bài bản nào cả:

– Anh hùng tử …ư ư…khí hùng nào tử…ử!

Bá Vạn mừng thầm vì rõ ràng ông Chúa Hòn gần đến ngày chết bất đắc kỳ tử, “cô hồn” xúi giục ông ta nhắc nhở mấy tiếng “tử” chớ gì! Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ:

– Tụi bây mời ông Chúa lên bờ, bông quỳnh hoa gần nở rồi!

– Ổng say rượu, tôi không dám mời, ông tới mời dễ hơn.

Lập tức, Bá Vạn đến bờ rạch, đứng cách xa ông Chúa Hòn chừng năm bảy bước, ấy thế mà ông Chúa như không trông thấy gì cả. Miệng ông Chúa phun phèo phèo như say rượu, buồn nôn. Ông Chúa đến lái ghe, nhổ cây sào. Lần thứ nhứt, nhổ không xong, ông hơi giận:

– Mầy là cây sào! Cây sào là…cao sầy.

Rồi ông hè hụi, khom lưng nhổ lần thứ nhì. Cây sào tuột lên. Vì dùng quá nhiều sức lực nên ông Chúa tự kềm chế không kịp, suýt té xuống rạch. Chiếc ghe lại chòng chành, suýt chìm. Từ trong mui, cô Huôi kêu la:

– Cho tôi lên bờ, dưới nầy nực lắm.

Ông Chúa Hòn đáp:

– Nực hả! Đó là vì say ruợu, say tình. Bởi vậy, ta nhổ sào, cho chiếc ghe nầy trôi tới chốn….bồng lai tiên cảnh. Bồng lai tiên cảnh giống như …tiên cảnh bồng lai, nói tới nói lui cũng vậy thôi. Phải không ái khanh! Nãy giờ ta mới đi một chặng đường, còn nhiều chặng nữa, thơm tho kỳ lạ hơn. Chưa tới tiên cảnh mà! Ừ, tiên cảnh như cảnh tiên…

Bọn hộ vệ lắc đầu vì nếu can gián thì sẽ bị ông Chúa quở mắng. Bá Vạn nhìn cô Huôi rồi làm dấu hiệu, chỉ tay về phía bụi quỳnh hoa. Trong lúc chiếc thuyền trôi nhanh về phía vàm rạch, cô Huôi nói to:

– Ông ơi! Em muốn điều nầy.

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Điều gì? Miễn là tới chốn bồng lai tiên cảnh, hôm nay ta uống rượu nhiều mà cớ sao ta không say.

Cô Huôi đáp:

– Em đưa ông tới chốn bồng lai tiên cảnh, hoa nở thơm tho, ngàn năm mới có một lần. Bụi quỳnh hoa gần nở rộ rồi.

– Em là nụ quỳnh hoa muôn màu muôn sắc…

– Nhưng bụi bông đó quý lắm, do em chăm sóc từ mấy năm nay. Ông lên bờ với em, xem hoa rồi hãy trở xuống ghe nầy. À, làm sao lên bây giờ?

Bá Vạn lên tiếng kịp thời:

– Hộ vệ đâu? Tụi bây lội xuống rạch, kéo chiếc ghe vô bờ rồi câu tay lại làm cái kiệu rước ông Chúa xem hoa.

Cô Huôi nói chêm vào:

– Ông lên trước, em lên theo ông.

Lúc ban đầu, ông Chúa Hòn ra lịnh đốt đuốc để xem hoa. Nhưng ông Bá Vạn đã nịnh bợ khéo léo khuyên bọn hộ vệ nên đốt một ngọn đuốc mà thôi. Ánh đuốc và hơi lửa có thể làm cho hoa quỳnh nở quá nhanh, mất đẹp. Ông Chúa Hòn gật gù.

– Nở nhanh thì không đẹp, phải không cô em? Sao cô em chưa trả lời! Cô em là đóa hoa nở, càng nở càng đẹp.

Hai cái ghế nhỏ được nhắc tới, sát bụi bông. Gió thổi rì rào, mấy nhánh hoa đong đưa, mỗi nụ trắng chiếu ngời như một viên bạch ngọc. Như còn quyến luyến hương vị tình yêu, ông Chúa nói:

– Đem rượu cho ta. Ta uống rượu, ngồi trên chiếc chiếu dưới đất là sung sướng rồi. Thưởng hoa mà ngồi trên cao thì không thích. Cô em rót rượu cho ta uống thêm, ngồi bên cạnh ta.

Uống xong bầu rượu, ông Chúa Hòn bèn nằm lăn. Cô Huôi cau mày, ngồi bên cạnh. Ông Chúa lẩm bẩm:

– Cô em không nằm thì ta nằm “dựa đất” một mình vậy. Chà, hoa nở đẹp quá. Mấy người thấy chưa?

Cả bọn hộ vệ đến bao vây bụi hoa. Lá quỳnh hoa nghiêng xuống từ từ, dường như trong phút giây thần diệu ấy, tất cả tinh hoa của trời đất, bao nhiêu gió trăng, bao nhiêu sương tuyết đều gom lại làm cho nụ hoa nặng thêm. Ai nấy há miệng, ngạc nhiên. Năm cánh hoa từ từ nở tung ra, mùi thơm bay ngào ngạt, cánh hoa màu trắng tuyết. Khi nở được hơn phân nửa, mấy cánh như ngừng cử động trong giây phút, để hé mấy cọng nhụy vàng. Sau phút giây ấy, mấy cánh hoa chuyển mình, nở toé ra thật nhanh, như bàn tay xoè ra.

Tất cả đều buột miệng:

– Ồ! Trời đất có nhiều chuyện lạ…

Một tên hộ vệ nói:

– Hồi nhỏ tới từng tuổi nầy, tôi mới thấy quỳnh hoa nở lần đầu tiên trong đời. Thơm quá, để tôi hửi thử!

Trong khi ấy, ông Chúa ghì mạnh cho cô Huôi nghiêng mình xuống:

– Nàng là một đóa quỳnh hoa, là mười đóa quỳnh hoa.

Bá Vạn và Tư Thính nhìn nhau. Khi hoa nở là hết chuyện mầu nhiệm rồi. Nếu không thực hiện kế hoạch thì lát nữa ông ta sẽ xuống chiếc ghe hầu để bày trò ân ái. Bởi vậy Bá Vạn nói to:

– Thằng hộ vệ kia! Đừng hỗn láo. Ai dạy mầy lại gần? Đây là điềm may mắn của riêng ông Chúa. Muốn ăn đòn sao chớ? Ai dạy mầy phạm thượng…

Ông Chúa Hòn trợn mắt:

– Cái gì vậy Bá Vạn? Đứa nào phạm thượng?

Bá Vạn day qua tên hộ vệ, nói khẽ:

– Mầy ráng chịu nhục, sau nầy tao khen thưởng.

Rồi Bá Vạn quơ tay, tát mạnh vào mặt tên hộ vệ:

– Đi chỗ khác! Mầy ở đây làm xui xẻo.

Ông Chúa Hòn vẫn còn bị ám ảnh về chuyện hai con cò trắng vào nhà và chuyện cô gái lên xác, nên quát to:

– Bá Vạn! Tha tội cho nó đi. Mười nụ hoa nở một lượt là điềm may mắn của ta!

Dịp may để Bá Vạn bắt đầu dàn một cảnh khác:

– Thưa ông, bụi hoa quý báu nầy do chú Tư Thính làm chủ. Nên hỏi chú Tư là người có may may mắn hơn thiên hạ trong xóm nầy…

– Chú Tư! Theo ý chú là ta gặp dịp hoa nở hôm nay là điềm may mắn chớ? Cơ nghiệp ta sẽ vững bền chừng mấy ngàn năm?

Tư Thính đáp:

– Thưa ông, tôi là kẻ quê mùa tới đây lập nghiệp. Hễ gặp điềm lạ thì tôi nhờ ông đạo Đất bàn giải giùm. Ông đạo là người kỳ tài.

– Đạo Đất! Cái tên nghe ngộ quá.

Rồi ông Chúa hỏi cô Huôi:

– Đạo Đất là ông đạo như thế nào vậy em?

Cô Huôi đáp:

– Dạ, ông đạo đó chẳng màng tiền bạc danh vọng gì hết, cứ nằm trên đất mà ngủ, bất chấp giường chiếu. Xưa kia mấy nhánh quỳnh hoa nầy do ổng cho, em đem về trồng.

– Vậy thì ta đến gặp ông đạo Đất. Gần hay xa? Trong vùng nầy thiếu gì nhân tài, vậy mà ta không biết. Bá Vạn tệ quá! Đưa ta tới đó. Đi bộ hay đi ghe?

Mười cây đuốc cháy sáng rực dẫn đường. Qua vài đoạn sình lầy, Tư Thính lên tiếng trước, bọn hộ vệ ngỏ ý cõng ông Chúa lên vai. Nhưng vì quá say nên ông phản đối:

– Để ta đi cực nhọc. Có cực nhọc mới được trời chứng giám, phải không Bá Vạn! Gần tới chưa cô em?

Giọng cô Huôi ngọt ngào hơn bao giờ hết. Cô hiểu dụng ý của cha và của Bá Vạn. Ông đạo Đất là người quen thân, nhứt định phen nầy sẽ giúp cô lên địa vị bà Chúa, mặc dầu cô là kẻ đến sau.

– Dạ, gần tới rồi. Dưới bóng cây. Chỗ thắp đèn lù mù đó.

Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn đáp:

– Đất thì sáng lai rai. Đó là ánh sáng ngôi sao của ta và của cô em, chớ đâu phải ánh đèn.

Nãy giờ ông đạo Đất uống trà mà chờ đợi với giấc mơ tốt đẹp. Nếu cô Huôi trở thành bà Chuá thì nhứt định ông sẽ được ngôi chùa sơn son thếp vàng. Chờ quá lâu, ông ngồi dựa lưng vào vách. Khi nghe tiếng rầm rộ và thấy ánh đuốc chập chờn từ xa, ông bèn rửa mặt, thắp bốn cây nhang ở giữa nền cốc.

Bá Vạn nói, cố ý báo tin cho ông đạo biết trước:

– Thưa ông, tới rồi!

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Sao ta chẳng thấy sư sãi nào đón tiếp?

– Dạ, ông đạo Đất chẳng bao giờ thâu nạp đệ tử, bởi vậy ổng nghèo, ai cũng khen là có đức. Chắc là ổng ngủ.

Để tăng phần huyền bí, ông đạo nằm dài trên nền đất, hai tay buông xuôi, thở đều đều. Hai cây đuốc do bọn hộ vệ mang theo được đem vào cốc. Ông đạo vẫn giả vờ ngủ, ngáy pho pho.

Ông Chúa Hòn im lặng, ngắm nhìn ông đạo Đất. Đúng là kẻ bất chấp thế sự, ngạo mạn và có nếp sống kỳ lạ. Bởi vậy khi thấy Bá Vạn nghiêng mình đánh thức thì ông Chúa ra lịnh:

– Để ổng ngủ. Thế nào ổng cũng thức.

Ông đạo Đất đã nghe và đã thấy mọi việc. Chờ khi ai nấy yên lặng, ông bèn nói khá to, như trong mơ:

– Vui rồi! Hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai.

Ông Chúa Hòn nghiêng tai như để nghe tiếng. Ông đạo Đất bèn nói vu vơ, mắt nửa mở nửa nhắm:

– Trời sáng rồi. Mặt trời mọc.

Rồi ông mở to đôi mắt, lồm cồm ngồi dậy:

– Xin chào vị quý nhơn! Xin chào ông Chúa! Nãy giờ ông đến mà tôi không thức kịp để tiếp rước.

Bá Vạn lên tiếng:

– Ông Chúa muốn xem một quẻ. Đừng để ông Chúa chờ đợi lâu. Hôm nay, ở nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa nở mười bông một lượt, ấy là điềm gì?

Ông đạo Đất chắp tay xá về bốn cây nhang mà nói:

– Tôi ăn ngay nói thẳng, rủi sơ sót điều gì, ông Chúa sẵn sàng hỉ xả không?

Ông Chúa Hòn hơi nóng ruột:

– Cứ nói, hôm nay ta vui vẻ vô cùng, muốn ban bao nhiêu tiền, ta vẫn sẵn sàng. Ta còn sống bao nhiêu năm nữa? Phong thủy vùng Hòn Chông nơi ta cư ngụ có gì thay đổi không?

Để chứng tỏ rằng mình là người làm việc cẩn thận, không nịnh bợ và có lương tâm, ông đạo Đất nói khẽ:

– Thưa ông, nên mời cô Huôi ra ngoài…

– À! Vậy mới đúng điệu. Nãy giờ tôi quên. Nơi trang nghiêm như vầy mà có đàn bà con gái tới thì mất tinh khiết. Nàng ơi! Nàng ra mà đợi ta.

Vì không hiểu rõ thủ đoạn của ông đạo Đất nên cô Huôi hơi phật ý. Bá Vạn và Tư Thính bèn khoát tay, ngầm khuyên cô đừng phản đối. Bấy giờ ông đạo Đất mở cái hộp nhỏ, đem ra một cây đèn sáp, đốt lên.

Tay ông đạo nâng cây đèn, đưa sát vào mặt ông Chúa Hòn rồi lẩm bẩm:

– Xin lỗi ông, nhiều điềm xui xẻo xảy ra…

Ông Chúa Hòn nói nhanh:

– Đúng lắm.

Ông đạo Đất nói:

– Nhưng hãy còn vài chuyện sắp tới. Điềm xui từ trên cao xảy ra, phải không?

Câu nói mơ hồ và bí hiểm ấy khiến ông Chúa Hòn day lại phía Bá Vạn. Bá Vạn phải tinh ý lắm mới giải thích được cho ăn khớp với dụng ý của ông đạo Đất:

– Thưa ông, ông đạo nói đúng.

– Cái gì mà đúng? Từ trên cao là như thế nào?

Bá Vạn đáp:

– Nên hỏi ông đạo kỹ hơn.

Ông đạo Đất lại từ chối:

– Tôi nằm một chỗ, chưa bao giờ rời khỏi cốc. Chuyện đời mơ màng quá, thấy đâu tôi nói đó, biểu tôi nói rõ thì không được. Tôi biết cái may cái rủi từ đâu. Tài tôi chỉ vậy thôi..

Ông Chúa Hòn cau mày, nhớ đến hai con cò bay đáp xuống sân rồi chạy vào nhà nên hỏi:

-Bá Vạn! Chắc là đúng. Chuyện con cò vô nhà.

Bá Vạn lấy tay che miệng:

– Ông đừng nói lớn. Ông đạo nầy giỏi thật. Cô gái lên xác miễu bà Chúa Xứ và con rắn …đều ở trên núi cao. Đúng là tai hoạ từ trên cao giáng xuống.

Ông Chúa Hòn gật đầu trong khi ông đạo Đất lim dim đôi mắt, thỉnh thoảng đưa ngọn đèn sáp lên cao quơ qua quơ lại như tìm vật gì phía bên kia nóc nhà, tận trăng sao mờ mịt. Hơi nóng của ngọn đèn khiến ông Chúa đổ mồ hôi, từng giọt chảy dài trên trán. Ấy thế mà ông vẫn không than phiền. Hồi lâu, ông hỏi:

– Tai họa từ trên cao, vậy thì làm cách nào để ngừa được? Còn bao nhiêu tai họa nữa?

Ông đạo Đất hạ ngọn đèn, lẩm bẩm:

– Còn vài chuyện vụn vặt không đáng kể. Nhưng mà xem quẻ là để tìm cách thay đổi thời thế. Thí dụ như gặp nước ngược thì ta nên chạy buồm, nếu gió thổi xuôi. Tai họa từ trên cao giáng xuống thì ta dùng cái may mắn, cái phước đức từ dưới đất nẩy lên mà sửa trị.

– Hay lắm!

Đột nhiên, ông Chúa Hòn vỗ tay bôm bốp rồi phát biểu thao thao bất tuyệt như để bộc lộ sự thông minh của mình:

– Cô Huôi, tên chữ là Hoa, một đóa hoa từ dưới đất nẩy lên. Bụi quỳnh hoa mà ta ngắm lúc nãy cũng là của đất. Dùng cái may mắn của đất để sửa cái rủi ro từ trên trời. Phải không Bá Vạn?

Ông đạo Đất hỏi:

– Cô Huôi đâu rồi?

Ông Chúa Hòn đáp:

– Ở ngoài sân, cho phép cô Huôi vô đây để xem một quẻ chớ?

– Đuổi cô Huôi ra xa đừng cho cổ rình nghe. Nầy chú Tư Thính, nếu tôi không quên thì năm xưa, hồi nhỏ cô Huôi ngồi ngoài ruộng, trên đất…

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Tư Thính mới kể lể đầu đuôi chuyện cô Huôi bị rắn quấn, lúc ngồi bên gốc cây thị, ngoài ruộng. Bao nhiêu chi tiết khiến ông Chúa Hòn hài lòng, tin tưởng vào tương lai:

– Vậy thì ta đem cô Huôi về Hòn Chông, phong cho một chức vụ đặc biệt. Ta không may mắn, cô là người may mắn, hai người mà sống gần nhau thì vạn sự như ý, lấy điều may mắn mà ngăn ngừa điều rủi. Nhưng có điều gì khác không?

– Lúc nầy ở Hòn Chông không tốt vì…Hòn Chông là nơi cao, gần trời. Nếu rảnh rang, xin ông đi du lịch đó đây, nơi đồng bằng sình lầy hoặc ra biển, nơi thấp. Tóm lại nên tránh những gì ở trên cao!

Nói dứt lời, ông đạo thổi mạnh cho đèn tắt. Ông Chúa vỗ trán, đòi uống rượu, đòi xuống chiếc ghe hầu để an ủi cô Huôi. Cô giả vờ khóc lóc:

– Nãy giờ, ai cũng được ở trong cốc, tôi có tội gì mà đuổi ra ngoài sân…

– Ta ban thưởng vàng bạc, châu báu. Nàng đừng lo. Nàng theo ta về Hòn Chông rồi vài ngày nữa thì ngao du đây đó…tránh chuyện ở…trên cao, phải không Bá Vạn?

Sau khi ông Chúa Hòn ra khỏi cốc, Bá Vạn hơi bực dọc nên tìm lý do cho ông đạo Đất đi theo đến nhà Tư Thính. Bá Vạn nói to để ông Chúa đừng nghi ngờ:

– Nên tiễn đưa tới bến, lâu lâu ông Chúa viếng thăm cốc một lần.

Ông đạo Đất chống gậy, lững thững theo sau, Bá Vạn hơi phàn nàn:

– Ông Chúa tin dị đoan. Bày cái chuyện ngao du làm chi vậy?

Ông đạo Đất dừng chân, chờ khi bọn hộ vệ và Tư Thính đi thật xa rồi mới nói:

– Ông Bá tính việc lớn, việc ấy nên xảy ra ở xa. Làm việc lớn trước mắt thiên hạ thì khó.

“Việc lớn” được Bá Vạn hiểu ngầm là ám sát ông Chúa Hòn để đưa cô Huôi và thằng Cẩu lên địa vị thay thế. Bá Vạn vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể cả, nên hỏi dò:

– Tôi định cho ổng…ăn uống.

Ông đạo Đất nói:

– Bày cho ổng đi săn heo rừng rồi xảy ra tai nạn gì đó, giữa rừng tràm sình lầy. Cậu Hai Điền thích đi săn bắn nên khi ông Chúa đòi đi săn thì cậu sẵn sàng. Hai cha con đi săn một lượt, ở nơi nào hẻo lánh. Ông có thể ra tay, miễn là mua chuộc được bọn hộ vệ.

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 20 May 2025

Phần 5

Chương 4 – Đồng Ban
Đầu năm 1977, ở Trảng Lớn có đợt chuyển trại quy mô, tôi và phần lớn bạn tù cùng L được đưa tới trại cải tạo Đồng Ban, cũng nằm trong tỉnh Tây Ninh, cách Trảng Lớn khoảng 25 cây số về hướng bắc.
Xin mở một dấu ngoặc để viết về các trại cải tạo nằm trong tỉnh Tây Ninh – tỉnh được ghi nhận có nhiều trại cải tạo, nhiều vùng kinh tế mới nhất sau năm 1975.
Tây Ninh nằm về hướng bắc tây bắc Sài Gòn, với toàn bộ biên giới phía bắc và phía tây giáp Căm-bốt. Về hành chánh, ngày nay Tây Ninh gồm thị xã Tây Ninh và 8 huyện. Nếu lấy núi Bà Đen nằm ở giữa tỉnh, cách thị xã gần 10 cây số, làm chuẩn thì hai huyện ở phía bắc là Tân Biên và Tân Châu chiếm tới phân nửa lãnh thổ.
Đây là vùng tranh chấp quyết liệt giữa hai phe quốc-cộng trong cuộc chiến trước 1975, với những mật khu khét tiếng như Dương Minh Châu, và dĩ nhiên không thể không nói tới “cục R”, cơ quan đầu não của xứ ủy Nam Bộ và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nằm ở huyện Tân Biên, sát biên giới Căm-bốt. Vì bị ăn bom B-52 thường xuyên cho nên trước năm 1975, diện tích gần 2000 cây số vuông của Tân Biên và Tân Châu hầu như không có bóng người. Nhưng sau 1975, nơi đây lại trở thành vùng đất lý tưởng (?) để thiết lập các khu kinh tế mới cho những người dân bị đuổi khỏi thành phố, các trại cải tạo cho sĩ quan miền Nam cũng như tù hình sự, và sau này, cả người vượt biên bị bắt.
Vào thời gian cao điểm, ở Tây Ninh có tới 14 ấp kinh tế mới với khoảng 50,000 dân và gần 10 trại cải tạo. Riêng trại cải tạo để nhốt các sĩ quan của chế độ cũ thì ngoài Trảng Lớn (nằm gần thị xã Tây Ninh), tôi được biết có những trại chính sau đây:
– Đồng Ban, nằm trong huyện Tân Châu, cách thị xã Tây Ninh khoảng 20 cây số về hướng bắc.
– Cà Tum (Kà Tum), cũng nằm trong huyện Tân Châu, cách Đồng Ban khoảng 15 cây số về hướng bắc, gần biên giới Việt – Miên.
– Cây Cầy và Bàu Cỏ ở huyện Tân Biên.
– Xa Mát, ở phía bắc Tân Biên, sát biên giới.

Bản đồ tỉnh Tây Ninh ngày nay. Đồng Ban nằm trên tỉnh lộ 785, khoảng giữa đường Tây Ninh – Cà Tum
Như thông lệ, những chiếc molotova chở chúng tôi vẫn bị bít bùng, nhưng vì là ban ngày, một số anh em nhìn qua khe hở đã thấy nhà cửa trong thị xã, rồi núi Bà Đen, cho biết chúng tôi đang bị đưa lên hướng bắc. Càng rời xa thị xã, đường đi càng trở nên gập nghềnh, có những lúc gặp ổ gà, chiếc molotova nặng hàng chục tấn như muốn tung lên… Bụi đất mù mịt cuốn hút vào trong xe khiến nhiều anh em ho sặc sụa.
Như vậy, đây là một trong những con tỉnh lộ chạy lên vùng biên giới Việt – Miên, suy ra chúng tôi sẽ không bị đưa đi xa lắm, bởi chẳng lẽ lại đưa tù cải tạo sang Căm-bốt?
Nhưng dù bị đưa đi đâu, một khi không đi về phương nam có nghĩa là chúng tôi sẽ không bị đưa về Sài Gòn để từ đó đi ra miền Trung, hoặc tệ hại hơn, đáp những chuyến tàu lửa thống nhất hoặc lên HQ-405, HQ-501 để ra Bắc!
Chúng tôi đoán không sai, sau khi tới một khu kinh tế mới ở Đồng Ban, đoàn xe rẽ trái, đi khoảng một cây số, vào một khu trại cải tạo bỏ trống; tôi được đưa vào T2, thuộc L2, tức liên trại cải tạo 2 ở Đồng Ban.
Khác với những trại cải tạo tôi đã ở qua, hàng rào trại ở đây khá sơ sài. Bên kia con đường mòn là nương rẫy của dân kinh tế mới, bên này là một hàng rào cao khoảng 2 mét làm bằng cây rừng cỡ 2, 3 ngón tay. Qua cái cổng có vệ binh canh gác là khu nhà của ban chỉ huy trại và đơn vị bộ đội trực thuộc, vào sâu thêm vài trăm mét là các dãy nhà dành cho tù cải tạo. Sau lưng trại là rừng già; mặt sau và hai bên hông trại cũng có hàng rào bằng cây giống hàng rào ở phía trước; mặt sau cũng có một cái cổng nhưng không có vệ binh gác.
Về “cơ ngơi” thì đang ở nhà tôn vách ván ở Trảng Lớn nay phải ở nhà tranh vách đất quả là một sự “xuống cấp”, thêm vào đó khung cảnh hoang vắng tiêu điều càng khiến lòng người thêm ngao ngán, ít nhất cũng là với những anh em tù cải tạo ở Trảng Lớn chưa từng nếm mùi Phú Quốc.
Nhưng những gì xảy ra sau đó đã cho thấy thời gian vài tháng ngắn ngủi ở Đồng Ban lại là những ngày thần tiên nhất trong cuộc đời cải tạo của những người may mắn được lọt vào L2, T2.

* * *
Trước hết nói về “khung”, tức ban chỉ huy trại, viên thủ trưởng là một tay đại úy Bắc kỳ khá lớn tuổi mà đa số chúng tôi chưa kịp biết tên thì ông ta được thuyên chuyển đi nơi khác. Hai đặc điểm nổi bật nơi viên đại úy này là ông ta có một cái răng vàng, và mỗi lần “đăng đàn” trước mấy trăm tù cải tạo, ông ta luôn luôn nhắc tới thất bại của QLVNCH trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, nơi đơn vị của ông ta đã góp phần chiến đấu. Riết rồi chúng tôi gọi ông ta là “Lam Sơn 719”.
Sau khi “Lam Sơn 719” đổi đi, viên trại phó – Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa – lên thay. Dĩ nhiên, ông Nghĩa cũng là dân Bắc kỳ răng đen mã tấu 100%, nhưng hình như đầu óc của ông ta không hề bị nhuộm đỏ, ông ta chưa bao giờ mở miệng chửi rủa “Mỹ Ngụy” hay tỏ thái độ hận thù với tù cải tạo. Tôi sẽ có nhiều cơ hội trở lại với nhân vật đặc biệt này.
Viên sĩ quan xuất hiện thường xuyên nhất là Chuẩn úy Đạt, chính trị viên của T2; dĩ nhiên cũng Bắc kỳ. Anh ta quả không hổ danh là một “chính trị viên”, đầu óc sắt máu, mở miệng ra là lên án “tội ác Mỹ – Ngụy”, hằn học ra mặt với tù cải tạo.
Chuẩn úy Đạt nuôi một con chó con mà anh ta đặt tên là “Ních-xơn” (cựu TT Mỹ Richard Nixon), người đã ra lệnh cho B-52 oanh tạc Hà Nội 12 ngày đêm vào cuối năm 1972; từ đó một số anh em đoán có lẽ vợ con hay cha mẹ anh em của anh ta đã bị chết vì bom của phi cơ Mỹ trong đợt oanh tạc này, cho nên anh ta mới hận thù tới mức ấy!
Cũng cần viết thêm là tuy chỉ mang cấp bậc chuẩn úy (leo từ hàng binh lên) nhưng vì là chính trị viên của đơn vị, tức là người thay mặt Đảng, mỗi lần đơn vị (bộ đội) học tập chính trị, tay Đạt này là người chủ trì chứ không phải “Lam Sơn 719” hay Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa!
Về phần đám vệ binh (bộ đội) có nhiệm vụ hướng dẫn, canh chừng tù cải tạo khi đi lạo động cũng đều là người miền Bắc. Vì hầu hết còn rất trẻ, mặt búng ra sữa, lại không phải thành phần “vượt Trường Sơn”, không có một chút ý niệm nào về cuộc chiến vừa qua, nên đám này cũng không có thái độ hống hách hoặc hận thù với chúng tôi. Trừ hai tay đặc biệt.
Tay thứ nhất được chúng tôi đặt biệt hiệu “Bế-bi-lắc” (sữa Babylac), mặt mũi trắng trẻo, bụ bẫm, trông khá dễ thương nếu như hắn ta đừng mở miệng “lên lớp”!
Trình độ i-tờ nhưng hắn ta lại “thuộc bài” của đám quản giáo như một con vẹt. Khi chúng tôi phải vào rừng làm công tác nặng thì còn đỡ, nhưng nếu đi cuốc rẫy thì mười lần đủ mười, hắn sẽ bắt tù cải tạo xếp hàng ngang, đứng nghe hắn “lên lớp” trước khi lao động. Nào là “nao động nà vinh quang”, nào là “các anh sĩ quan Ngụy nà thành phần ăn chên ngồi chốc, chỉ biết diệu ngon gái đẹp”, nào là “các anh phải từ bỏ cái thói chây nười, tự giác phấn đấu, tích cực nao động để trở thành người công dân nương thiện”, v.v…Thực ra, nếu những lời lẽ ấy thốt ra từ miệng một tay quản giáo, chúng tôi đã bỏ ngoài tai, nhưng đây lại là một thằng oắt con miệng còn hôi sữa cho nên chúng tôi vô cùng khó chịu!
Tay thứ hai chúng tôi lén đặt biệt hiệu là “Bia lên” bởi nhìn mặt hắn người ta sẽ liên tưởng ngay tới cái bia vẽ cái đầu “Việt Cộng đội nón cối” để tập bắn ở các quân trường!
Còn nhớ ngày ấy tại xạ trường, khi các khóa sinh tiến tới trước mỗi thềm bắn, huấn luyện viên lại hô “Bia lên!”, sau một khoảng thời gian ấn định (đủ để khóa sinh nhắm bắn) thì hô “Bia xuống!”
Nhưng tù cải tạo ghét “Bia lên” không phải vì cái bản mặt xấu xí của hắn mà vì sự hung hãn, thô lỗ cũng như cái máu điên của hắn mỗi khi dắt tù đi lao động…
Kế tiếp nói về thành phần tù cải tạo, T2 của tôi có khoảng phân nửa là trung úy, thiếu úy cùng T với tôi ở Trảng Lớn, nửa còn lại là trung úy, thiếu úy cũng từ Trảng Lớn nhưng khác T.
Tóm lại, theo cách đánh giá của “cách mạng”, tù cải tạo được đưa tới Đồng Ban thuộc hai thành phần “nhẹ tội” nhất, tức là thuộc Nhóm 3, Nhóm 4 mà tôi đã đề cập tới trong bài viết kỳ trước. Riêng ở T2, chỉ có hai trung úy Không Quân, một hoa tiêu quan sát, một hoa tiêu trực thăng; và một trung úy CTCT “trúng số” là tôi!
Ở Đồng Ban, các T được chia ra thành từng đội, mỗi đội khoảng 50 mạng; đội cũng được chia thành từng tổ nhưng thường chỉ để lãnh thực phẩm, còn lao động thì luôn luôn đi thành từng đội. Về các “chức sắc” cải tạo thì hầu hết các tay đội trưởng đều thuộc thành phần trung úy trẻ, được anh em tin tưởng, thông cảm hợp tác, chỉ trừ đội trưởng tăng gia là một tay thiếu úy già “tiến bộ” hết mình, làm ăng-ten công khai, và lẽ dĩ nhiên bị anh em ghét cay ghét đắng.
Riêng đội trưởng của tôi trong thời gian đầu cũng một ông thiếu úy già nhưng ra vẻ rất khôn ngoan, miệng lưỡi và biết điều, vừa biết cách làm hài lòng cán bộ vừa châm chước, hoặc giả bộ làm ngơ để anh em cải tạo được dễ thở.
Về bạn tù của tôi, ngoài những anh em cấp thiếu úy cùng khối ở Trảng Lớn – những người vẫn tiếp tục gọi tôi là “Anh Sáu” – trong đó có Hoàng (đờn bass), tôi còn được tái ngộ với Hiếu “đờn” của Thành Ông Năm ngày nào.
Ngoài ra, tôi còn có một số bạn tù mới, trong đó có một trung úy hoa tiêu quan sát, ba chàng thiếu úy trẻ mới tốt nghiệp Khóa 4 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt thì tan hàng, và đặc biệt là Hùng “sùi”, tay thiếu úy Nhảy dù mà hễ bước ra khỏi cửa lại đội lên đầu cái mũ bê-rê đỏ (dĩ nhiên đã tháo gỡ huy hiệu Nhảy dù).
“Không… lao động là vinh quang”
Một trong những khẩu hiệu quái đản, phi lý tới nực cười dưới chế độ cộng sản Việt Nam là “lao động là vinh quang”. Bởi nếu quả thực lao động là vinh quang thì Đảng và nhà nước đã chẳng nhốt các sĩ quan của chế độ cũ – vốn “có nhiều nợ máu với cách mạng, với nhân dân” – vào các trại cải tạo để được hưởng… vinh quang! Nhưng ngày ấy ở trong các trại cải tạo, quản giáo là cha mẹ, họ bảo “lao động là vinh quang” thì tù cải tạo cũng phải lao động cật lực để đạt cho được vinh quang ấy.
Về sau, một số cán bộ quản giáo ra vẻ hiểu biết và có lẽ cũng nhận ra tính cách “khó hiểu” của khẩu hiệu, đã “khai trí” cho chúng tôi đại khái như sau: lao động để làm ra của cải vật chất để không phải ăn bám vào xã hội, như vậy là… vinh quang!
Nhưng kể cả trường hợp chấp nhận định nghĩa ấy, tù cải tạo ở T2 nói riêng, L2 (Đồng Ban) nói chung, cũng không được hưởng một chút “vinh quang” nào!
Nguyên nhân: chúng tôi không có “cơ sở vật chất” và “tài nguyên thiên nhiên” để thực thi khẩu hiệu trên. Viết một cách cụ thể hơn, chúng tôi không có đất để canh tác, thu hoạch ngũ cốc, hoa mầu như anh em tù cải tạo ở Cây Cầy, cũng không có rừng để đốn củi làm giàu cho nhà nước (và cán bộ) như anh em ở Cà Tum.
Trước hết nói về việc không có đất canh tác. Thật ra cũng có đất đấy, nhưng là đất “chó ăn đá gà ăn sỏi”!
Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi được biết trước kia vào thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, người ta đã đưa một số đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 lên đây để khai phá, nhưng kể cả những người Bắc di cư có tiếng là cần cù, chịu thương chịu khó ấy cũng sống không nổi phải bỏ đi, trong đó có những người về định cư tại giáo xứ Cao Xá ở Châu Thành, gần thị xã Tây Ninh.
Tới khi cuộc chiến trở nên sôi động, vùng Đồng Ban hầu như không còn một người dân nào sinh sống. Khi đám tù cải tạo chúng tôi tới đây vào đầu năm 1977, có khoảng vài ngàn người dân đã… an cư (?) nhưng chưa lạc nghiệp!

Đó là những người dân Sài Gòn bị bắt đi kinh tế mới sau hai đợt đánh tư sản.

Một gia đình vừa bị cưỡng bách tới vùng kinh tế mới
Cho tới nay, những lời ông Tổng bí thư Đảng xuất thân “hoạn lợn” Đỗ Mười tuyên bố khi ban hành Quyết định “cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh”, vẫn còn khiến người dân miền Nam phải rùng mình, ớn lạnh:
“Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ… Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta… Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…”.
Thế nhưng tù cải tạo ở Đồng Ban không có ruộng để cày, để cấy lúa; trồng ngô thì không ra bắp, trồng khoai sắn thì củ chỉ bằng ngón tay! Xin được chi tiết một chút về vùng đất “chó ăn đá gà ăn sỏi” của tù cải tạo Đồng Ban. Đi từ thị xã Tây Ninh theo hướng nam – bắc, tới Đồng Ban người ta thấy đất phía bên mặt ra vẻ còn có chút màu mỡ, có lẽ vì là đất thấp và phía bên trong có một con sông.
Ngay sau 1975, hàng ngàn Việt kiều sống phía bên kia biên giới Việt – Miên, vốn theo cộng sản từ ba đời, đã được “cách mạng” đưa về định cư tại vùng đất này. Nhưng cả đến vùng đất “màu mỡ” ấy cũng chỉ trồng được khoai, sắn, (chủ yếu là khoai mì) thì nói gì tới đất ở phía bên trái dành cho dân đi kinh tế mới. Càng vào sâu, đất càng khô cằn, và tới khu vực của cải tạo thì đã trở nên cứng như đá, cứ khoảng vài mét lại có một cái gò mối. Ngay trong buổi lao động đầu tiên, khi cuốc đám đất nằm giữa khu nhà của cải tạo và ban chỉ huy trại, chúng tôi đã bị dội vì độ cứng của mặt đất.
Thấy thế, Bế-bi-lắc – tên vệ binh mặt búng ra sữa đã nói tới ở trên – lớn tiếng “lên lớp”:
– Các anh nàm chơi bời như thế nấy gì mà ăn. Phải dơ cuốc cao nên khỏi đầu thì mới gọi nà nao động tích cực chứ!”
Thấy hắn cứ lải nhải mãi, Hùng sùi – tay thiếu úy Dù đội bê-rê đỏ – vốn cao lớn khỏe mạnh, đưa cái cuốc lên khỏi đầu rồi dùng hết sức bình sinh bổ xuống một mô đất cứng như bê-tông: cái cán cuốc gẫy đôi!…
Được mấy ngày, số cuốc bị gãy cán, bị sút mối hàn đã lên tới khoảng 1/3.
Vì vào thời gian đầu tất cả tù cải tạo đều được tập trung vào công tác cuốc rẫy trồng khoai mì, số lượng cuốc không đủ cho mỗi đầu người nên nhiều khi hai người mới có một cái cuốc để thay phiên nhau. Vì thế, cứ một cái cuốc trở nên bất khiển dụng thì lại có hai tay cải tạo mất… vinh quang!
Tình hình trở nên tệ hại đến nỗi sau đó có lệnh không được phá các gò mối nữa; có lẽ đám quản giáo cũng đoán biết âm mưu cố tình phá hoại “dụng cụ sản xuất” của tù cải tạo. Về sau, một tổ rèn được thành lập, trực thuộc đội tăng gia, nhưng cũng chỉ rèn được dao để đốn cây rừng mà thôi!
Vì thế, thành quả lao động của T2 chúng tôi, từ ngày đặt chân đến cho tới khi rời Đồng Ban hơn nửa năm sau đó, chỉ là vài héc-ta khoai mì, khoai lang mà không biết sau này khi chúng tôi đi rồi, dân kinh tế mới có bõ công đào lấy củ hay không.
Bởi vì trong những lần đi chặt le ở phía bên kia đường lộ, tức phần đất dành cho thành phần Việt kiều thân cộng hồi hương, chúng tôi thấy những củ khoai lang của phần đất “màu mỡ” này mà họ thu hoạch cũng chỉ bằng ngón chân cái, và những củ khoai mì khẳng khiu xơ nhiều hơn bột, thì nói gì tới khoai sắn do cải tạo trồng ở những khu đất gò mối!
Riêng tôi bỗng nhớ tới câu thơ của Hoàng Trung Thông – Viện trưởng Viện Văn học, Hà Nội – được một văn nô của chế độ xưng tụng là “câu thơ hay nhất của một gương mặt thơ tiêu biểu có vị trí đại diện cho nền thơ cách mạng của nước Việt Nam mới”, được đám quản giáo, giáo viên nhai đi nhai lại cả nghìn lần:
Bàn tay làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm!

Tiên sư các anh, thành khoai lang khoai mì còn không xong, nói gì tới thành “cơm”!

* * *
Tới đây viết về rừng Đồng Ban, khu rừng nhiệt đới đẹp tuyệt vời nhưng lại không “làm ra tiền” cho ban chỉ huy trại nói riêng, cho chế độ nói chung. Rừng Đồng Ban vốn là rừng già với những cây cổ thụ thật lớn, xen lẫn với cây nhỏ đủ loại mọc chi chít. Về sau, khi đám cán bộ cao cấp đã biết cách khai thác “rừng vàng biển bạc” của đất nước để kiếm tiền đút túi, thì những khu rừng cổ thụ này trở nên nguồn lợi vô song, nhưng vào thời gian chúng tôi còn ở Đồng Ban thì cán bộ lớn bé chưa đủ khả năng khai thác gỗ mà chỉ biết khai thác củi. Còn nhớ trong những năm miền Nam mới được “hoàn toàn giải phóng”, chưa bao giờ thành ngữ “gạo châu củi quế” trong ngôn ngữ của người Việt lại trở nên hiện thực đến như thế: gạo thì ưu tiên xuất khẩu để trả nợ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, củi thì trở thành nguồn nhiên liệu chính yếu bởi điện bị cúp thường xuyên, dầu hôi không còn được nhập cảng, than trở thành xa xỉ phẩm. Nhưng cho dù người người buôn củi, nhà nhà buôn củi, không phải nơi nào cũng có củi để bán, và không phải ai cũng có khả năng mua, cho nên nhiều người dân Sài Gòn đã phải sử dụng bàn ghế cũ, hoặc bất cứ thứ gì có thể đốt được để nấu bếp!
Bắt mạch được nhu cầu củi ở Sài Gòn, đám lãnh đạo trung ương đã chỉ thị cho các trại cải tạo ở gần Sài Gòn mà lại có rừng để khai thác phải bắt tù cải tạo vào rừng cưa củi để làm giàu cho nhà nước và cán bộ.
Trong số các trại ở Tây Ninh thì Cà Tum – cách Đồng Ban khoảng 15 cây số về hướng bắc – với những khu rừng nằm dọc theo biên giới Việt-Miên, là nơi lý tưởng nhất để khai thác củi. Chính vì thế, trong đợt chuyển tại thứ nhất ở Long Giao (1976), trong khi những thành phần “nặng tội” bị đưa ra bắc thì thành phần “nhẹ tội” được đưa lên Cà Tum để tăng cường lực lượng lao động.
Theo những gì tôi được nghe kể lại sau này thì đơn vị “quân đội nhân dân” ở Cà Tum cũng xiết tù cải tạo không thua gì đám cai tù ở Phú Quốc trước đây.
Nguyên nhân thứ nhất vì Ca Tum nằm sát biên giới Việt – Miên, bọn họ sợ tù cải tạo trốn trại nên kiểm soát rất gắt gao. Nguyên nhân thứ hai: vì nguồn lợi do bán củi để lấy tiền bỏ túi (ngoài tiêu chuẩn phải nộp cho nhà nước), bọn họ đã bóc lột sức lạo động của tù cải tạo tới mức tối đa!
Đó cũng là những gì tôi sẽ phải trải qua khi được đưa lên Tống Lê Chân trong giai đoạn cải tạo sau cùng.
Trở lại với trại cải tạo Đồng Ban, không có đất để biến “sỏi đá thành cơm”, không có cây rừng để cưa thành củi, cuộc sống tù tội của anh em cải tạo ở T2 trở nên tà tà, thoải mái tới mức khó tin!
Tà tà bởi sau khoảng một tháng cuốc đất trồng khoai mì, công tác lao động của chúng tôi chỉ là vào rừng đốn cây về làm nhà cửa, lấy dây mây nộp cho bán bộ, tới các trảng tranh để cắt tranh, sang phía bên kia đường lộ để chặt le…
[Le: thuộc họ tre nứa, thân dẻo không có gai, chịu được nắng mưa… thường được sử dụng để làm giàn trồng dưa leo, khổ qua, mướp…, hoặc trong việc xây dựng. Rừng le thiên nhiên là một trong những nguồn lợi của Tây Ninh]
Thoải mái bởi ở T2, đa số cán bộ quản giáo trên “khung” đều dễ dãi, và ít ra cũng còn chút tình người; trừ Chuẩn úy Đạt, tay chính trị viên sắt máu đã nhắc tới ở một đoạn trên.
Đám vệ binh có nhiệm vụ đưa tù cải tạo đi lao động thì “Bế-bi-lắc” cũng bớt lên mặt “cán bộ”, còn “Bia lên” thì đã được đưa về toán gác cổng sau vụ hắn đòi bắn Hùng sùi.
Sự việc xảy ra như sau:
Hôm đó đội tôi được “Bia lên” và một tay vệ binh khác đưa ra bìa rừng phía bên ngoài cổng sau để chặt cây khai quang làm rẫy. Tới lúc nghỉ giải lao, chưa kịp ngồi nóng đít thì “Bia lên” đã ra lệnh cho mọi người đứng dậy tiếp tục lao động. Hùng “sùi” lúc đó vừa nhét bi thuốc lào vào cái điếu cày, vẫn thản nhiên ngồi tựa gốc cây, đốt thuốc và rít một hơi dài. Khi “Bia lên” tiến lại gần ra lệnh cho Hùng sùi đứng lên, chàng thiếu úy Dù vẫn tiếp tục ngồi, mắt lim dim mơ màng, khoan khoái phà khói thuốc như không cần biết đến những gì đang diễn ra quanh mình.
“Bia lên” điên tiết, vừa quát tháo sùi bọi mép vừa lên đạn khẩu AK, chĩa họng súng xuống chỗ Hùng sùi đang ngồi, dọa bắn. Anh em tù cải tạo ai nấy đều xanh mặt vì thấy hắn đã nổi điên… May mà tay vệ binh còn lại đã kịp chạy tới trước mặt hắn để ngăn cản, “Bia lên” không làm gì được bèn chĩa súng lên trời bóp cò cho hả giận!
Tiếng AK dòn dã vang vọng khắp khu rừng, nhưng sắc mặt của Hùng sùi không hề thay đổi!
Chỉ mấy phút sau, chuẩn úy Đạt từ trên “khung” chạy tới nơi hỏi đầu đuôi, cảnh cáo Hùng sùi mấy câu cho “Bia lên” hạ cơn giận giữ rồi đưa y về trại.
Chiều hôm đó, Hùng sùi phải lên “khung” viết bản tự kiểm điểm; bù lại cũng từ đó, “Bia lên” được phân công gác cổng!
Theo tôi nhận xét, sự hung hãn và máu điên của “Bia lên” là một trường hợp khá đặc biệt, bởi qua kinh nghiệm ở Phú Quốc, Đồng Ban và các trại cải tạo kế tiếp, tôi nhận ra rằng cung cách, thái độ của đám vệ binh đối với tù cải tạo chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ban chỉ huy trại, nhất là tay thủ trưởng.
Ở Đồng Ban, T2 của chúng tôi ở ngay bên cạnh T1, chỉ cách nhau một hàng rào bằng cây. Khi vào rừng lao động, hai T đều đi ra bằng cổng sau và sử dụng chung một con đường mòn dài khoảng một cây số trước khi đi vào những khu rừng khác nhau.
Có những lần hai toán lao động của hai T đi cách nhau chưa tới 100 mét, nghe tiếng quát tháo nạt nộ của đám vệ binh T1, chúng tôi thấy thương tội anh em tù bên đó quá. Sau này, khi đã được tự do đi vào khu rừng phía sau trại, chúng tôi có lần “đụng” đám vệ binh T1 dắt chó đi tuần tiễu trong rừng và suýt bị chúng bắt; từ đó về sau chúng tôi bảo nhau tránh xa khu rừng phía sau T1.
Một tên trong đám vệ binh T1 này về sau đã bắn chết một tù cải tạo!
Hỏi ra mới biết thủ trưởng của T1 là một tay cực kỳ sắt máu, mỗi lần lên lớp răn đe tù cải tạo về hậu quả của việc trốn trại, luôn luôn chỉ có một câu nghe ớn lạnh:
– Các anh nên nhớ, cách mạng đã khoan hồng tha tội chết, đưa các anh vào đây học tập cải tạo để trở thành người công dân lương thiện, nhưng nếu các anh ngoan cố chống đối, âm mưu trốn trại thì cách mạng cũng chẳng tiếc gì mấy viên đạn đâu! Đám vệ binh đã được lệnh cả rồi!
Những kế hoạch vượt thoát
Trong suốt thời gian bị tù cải tạo, có lẽ chỉ ở Suối Máu tôi không nghe anh em bàn chuyện trốn trại, bởi vì từ cuối năm 1978 Suối Máu đã được bàn giao cho công an, vô phương đào thoát, còn ở tất cả các trại khác, luôn luôn có những kế hoạch vượt thoát.
Riêng Đồng Ban có thể xem là trại cải tạo lý tưởng nhất để… trốn trại. Do địa thế, vị trí của trại Đồng Ban, có hai cách trốn trại ngược chiều nhau: băng rừng trốn sang Căm-bốt, và giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn. Trước hết viết về băng rừng trốn sang Căm-bốt. Như đã viết ở phần trên, sau lưng T1, T2, T3 của L2 là một con đường mòn dài hơn một cây số, theo hướng nam bắc. Hết con đường mòn tới ngã ba là một con đường lớn theo hướng đông tây, nhưng vì mấy chục năm không có xe cộ qua lại cho nên đã biến thành một dãy rừng chồi bất tận với một con đường mòn chạy song song ở phía bên trái.
Con đường mòn này có từ thời chưa xảy ra những đợt “cáp duồn” quy mô dưới thời Lon Nol (1970), được Việt kiều sống ở Căm-bốt sử dụng đi đi về về, nhưng tới năm 1975, sau khi CSVN cho hồi hương Việt kiều thì biên giới đóng cửa, bởi tuy cùng là anh em cộng sản “môi hở răng lạnh” nhưng nay CSVN theo Liên Xô còn Khmer Đỏ theo Trung Cộng.
Qua dò hỏi Việt kiều hồi hương trong những lần đi lao động, chúng tôi ước đoán con đường này dài khoảng từ 12 tới 15 cây số; cũng theo lời họ, gần tới biên giới có một đồn công an biên phòng.
Thời gian này (đầu năm 1977), khoảng 2 tháng sau khi tới Đồng Ban, tù cải tạo ở L2 đã được thả lỏng tới mức khó tin, nhất là T2.
Từ Thứ Hai tới Thứ Bảy, chúng tôi chỉ phải lao động một buổi, hoặc được giao khoán. Lao động một buổi gồm cuốc rẫy, làm cỏ mấy héc-ta khoai mì, đi chặt le ở phía bên kia đường lộ…; trong số các công tác này, chỉ khi đi chặt le mới có vệ binh đi theo.
Còn vào rừng lấy dây mây, cưa cây làm nhà, cắt tranh về để lợp, trét vách đất, hoặc công tác dọn dẹp trên “khung”…, đều được giao khoán, làm xong sớm nghỉ sớm.
Thời gian đầu, tất cả mọi chuyến đi lao động bằng cổng sau (vào rừng, đi cắt tranh…) đều có hai tay vệ binh đi theo canh chừng, tới bìa rừng hoặc trảng tranh, chúng tôi mới được tự do. Nhưng về sau, khi chúng tôi đã thuộc lòng đường đi nước bước, biết giới hạn khu vực dành cho cải tạo (không xa quá 3, 4 cây số) thì không còn vệ binh đi theo nữa. Lơi dụng việc được tự do, một số anh em, có hay không có ý định trốn trại, trong đó có tôi đã thử đi thêm vài cây số nữa để tìm hiểu. Tới khi tù cải tạo ở Đồng Ban được cho ăn bột mì thì, nếu muốn, chúng tôi có cả một ngày Chủ Nhật để thám hiểm lộ trình đi sang Căm-bốt.
Đầu đuôi là không hiểu vì Liên Xô viện trợ bột mì nhiều quá (?), dân Sài Gòn ăn không hết, hay vì người Việt không quen sử dụng bột mì cho bữa ăn chính mà trong mấy tháng đầu năm 1977, tù cải tạo ở Đồng Ban được (bị) cấp phát bột mì thay cho gạo và bo-bo (cao lương).
Vì hậu cần phát bột mì nhưng không phát bột nổi (men bánh), đám anh nuôi (cải tạo) đã phải nhồi bột từ tối hôm trước mà qua ngày hôm sau ổ bánh mì cho mỗi đầu người khi chưa nướng thì bằng ngón chân cái, nướng chín rồi cũng chỉ bằng quả cà dái dê (dê VN chứ không phải dê ở Úc hay Tân-tây-lan).
Cho nên vào ngày Chủ Nhật, hầu như tổ nào cũng lãnh bột sống về cùng nhau chế biến thành bánh canh, bánh bao, bánh bông-lan, bánh hấp (những miếng bột mỏng được hấp chín to bằng bàn tay)… Vì thế, không có mục lãnh cơm trưa cơm chiều, và việc điểm danh, báo cáo “quân số” hai lần trong ngày Chủ Nhật cũng được du di chỉ còn một lần vào buổi tối.
Vì thế, 7, 8 giờ sáng là “toán thám hiểm” đã có thể lên đường, muốn đi tới giờ nào thì đi, miễn sao phải trở về trại trước giờ cơm chiều.
Chuyến thám hiểm thứ nhất gồm bốn anh em tù cải tạo, trong đó có tôi và Hùng sùi. Chúng tôi đã bàn thảo với nhau trước nếu gặp các toán vệ binh đi tuần tiễu (rất hiếm vào ngày Chủ Nhật) thì sẽ nói là vào rừng kiếm dây mây về đan giỏ.
Cũng nên biết trong rừng già Đồng Ban, phía bên mặt con đường mòn đi về phía biên giới, có những gốc dây mây già rất hiếm quý, có khi leo lên tới ngọn cây cao hơn chục mét.
Sau khi đi theo con đường mòn được khoảng 3, 4 cây số, tức là tới giới hạn lao động của tù cải tạo mà không thấy một bóng người, chúng tôi dừng lại vừa ăn uống vừa bàn thảo: tiếp tục đi hay quay trở về, và nếu tiếp tục đi thì vẫn sử dụng con đường mòn hay vào trong ven rừng mà đi. Cuối cùng, cả bốn người đồng ý sẽ men theo ven rừng đi tiếp độ một cây số nữa để thăm dò.
Sau khi tiếp tục đi, chúng tôi vẫn không thấy một toán vệ binh nào trên đường mòn; và tới chiều trở về trại an toàn. Chuyến thám hiểm thứ hai có thêm mấy anh em nữa nhưng không có tôi, bởi sau khi suy nghĩ đắn đo, tôi đã dứt khoát nếu trốn tôi sẽ theo cách thứ hai: giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn.
Nguyên nhân chính khiến tôi không chọn cách thứ nhất (băng rừng trốn sang Căm-bốt) không phải vì sợ Khmer Đỏ mà sợ rừng già.
Thời gian này, đầu năm 1977, tuy CSVN và Khmer Đỏ đã ra mặt thù nghịch, và đã xảy ra những trận giao tranh nhỏ ở biên giới hai nước, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn ra sức bưng bít, vì hai nguyên nhân:
(1) Sợ bị quê mặt vì mới đây đã trải thảm đỏ đón tiếp Pol Pot, “một học trò cũ của bác Hồ”, tại Hà Nội.
(2) Sợ dân chúng hoang mang.
[Cũng có một số người đưa ra nguyên nhân thứ ba: CSVN cố tình “đợi” Khmer Đỏ vượt qua biên giới tàn sát thường dân VN để lấy cớ xâm lược Căm-bốt. Vì thế, khi bọn chúng đem quân tràn sang xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang vào ngày 18/4/1978, chiếm đóng suốt 12 ngày, tàn sát toàn bộ dân cư (3.160 người chỉ có 3 người sống sót) rồi rút về, Quân Đội Nhân Dân VN “anh hùng” mới tới nơi]
Vì thế vào thời gian này (năm 1977) tù cải tạo có ý định vượt thoát sang Căm-bốt rồi từ đó đi sang Thái-lan không một ai được biết nếu gặp Khmer Đỏ thì coi như đời tàn – bởi chúng thù ghét tất cả mọi người Việt, không cần biết thuộc phe nào, thấy là chúng bắn ngay chứ không bắt sống!
* * *
Tôi sợ rừng già Đồng Ban bởi có lần tôi đã bị lạc trong đó vì không nhớ đường ra!
Nguyên trong một buổi đi lấy mây, nghe anh em cải tạo ở T3 cho biết khu rừng phía bên mặt con đường mòn có nhiều dây mây, tôi và Hoàng (đờn bass) quyết định vào để tìm.
Đây là lần đầu tiên tôi và Hoàng đi vào khu rừng phía bên mặt con đường mòn; trước đó chúng tôi chỉ quanh quẩn ở khu rừng phía bên trái.
Càng vào sâu, tôi càng bị thu hút bởi cảnh trí đẹp lạ lùng của khu rừng mây. Những dây mây xanh ngắt mọc thành dàn trên những gốc cổ thụ cao vút, trên thân dương xỉ mọc chi chít cùng với những khóm phong lan tỏa hương thơm thoang thoảng dịu dàng.
Trong cái tĩnh lặng tuyệt đối của khu rừng, tôi như quên đi thân tù cải tạo để chỉ còn biết thưởng thức phong cảnh tuyệt đẹp và sự kỳ diệu của thiên nhiên… cho tới khi giật mình vì đã vào quá sâu, mất phương hướng.
Tôi vội vàng chặt hai gốc mây, kéo xuống được khoảng 20 mét, cuốn lại vào xỏ vào vai rồi tìm đường ra. Nhìn lên chỉ thấy lá mây, những tàng cây loáng thoáng chút nền trời xanh, không một tia nắng, tôi hoang mang, bấn loạn một hồi, sau đó cố trấn tĩnh để tìm cách thoát ra khỏi khu rừng mây.
Tôi xuất thân Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi bốn chữ “Cư An Tư Nguy” trên huy hiệu của trường đã được chế thành… “Cứ Ăn Cứ Ngủ” thì khả năng mưu sinh thoát hiểm chỉ là một số không to tướng; hơn nữa, trong những buổi thực tập di hành đêm ngày ấy ít ra chúng tôi cũng có được cái địa bàn cầm tay…
Giờ đây tôi chỉ có hai lựa chọn: đi cầu may về một hướng nào đó, hoặc trèo lên ngọn cây để tìm hướng mặt trời. Nhìn những gốc cổ thụ 2, 3 người ôm, tôi lắc đầu, quyết định… cầu may. Nếu không xong, tôi sẽ tìm cách chế ra một quả lắc cảm xạ học mà Thành cận đã truyền thụ cho ở Thành Ông Năm, để tìm phương hướng.
Tôi đoán có lẽ mình đã vào sâu khoảng 200 mét là tối đa, vì thế tôi lấy con dao đi rừng làm dấu vị trí đang đứng, rồi vừa đi vừa làm dấu trên các thân cây để nếu không tìm được đường ra thì sẽ trở lại vị trí cũ để lấy một hướng khác. Cùng lắm thì tới lần thứ tư cũng phải tìm được lối ra – tôi tự trấn an mình!
Khi đã đi được khoảng cách mà tôi ước đoán là 200 mét mà trước mặt vẫn là rừng mây đặc kín, tôi đang tính quay trở lại thì một ý tưởng ngộ nghĩnh chợt đến trong đầu: tại sao mình không thử bắt chước Tặc-dăng (Tarzan)? Rồi tôi lấy hai bàn tay bụm lại trước miệng và… hú!
Không ngờ cái trò chơi trẻ con hồi còn bé sau khi xem phim “Tặc-dăng – chúa rể rừng xanh”, mấy chục năm sau ứng dụng lại đạt kết quả tốt đẹp: sau khi hú ba lần, tôi bỗng nghe có tiếng hú vọng lại; để cho chắc ăn, tôi hú thêm một lần nữa và lại nghe tiếng hú đáp trả. Tôi định hướng rồi đi về… sinh lộ.
Khoảng 10 phút sau tôi đã ra tới bìa rừng, nơi Hoàng đang đứng đợi…

* * *
Trong khi băng rừng trốn sang Căm-bốt cần nhất là khả năng mưu sinh thoát hiểm thì giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn lại cần có sự may mắn. Chúng tôi nghĩ ra cách trốn trại này sau những lần đi chặt le ở phía bên kia đường lộ.
Từ cổng trại phía trước, đi ra khoảng một cây số thì tới đường lộ, quẹo trái đi khoảng một cây số nữa thì rẽ phải, đi qua phần đất dành cho thành phần Việt kiều thân cộng hồi hương thì tới rừng le.
Thời gian đầu, dưới sự canh chừng nghiêm ngặt, chặt chẽ của đám vệ binh, tù cải tạo tuyệt đối không được tiếp xúc với dân chúng, kể cả thành phần Việt kiều hồi hương, nhưng dần dần lệnh này được nới lỏng, cho tới lúc không còn tay vệ binh nào theo chúng tôi vào tận rừng le nữa, mà ngồi chờ ở cái quán ngoài đường lộ hoặc vào những nhà dân có con gái chưa chồng tìm cách tán tỉnh (nhưng chưa bao giờ đạt “hiệu quả”).
Dân kinh tế mới ghét bộ đội thì chẳng nói làm gì, bởi đó là điều quá dễ hiểu, nhưng cả đến Việt kiều hồi hương cũng ghét nón cối mới là chuyện lạ.
Hỏi ra mới biết đây là những người dân miền Nam trước kia từng sống chết với Mặt Trận Giải Phóng, từng làm bia đỡ đạn trong các cuộc hành quân tảo thanh của QLVNCH, từng làm dân công thồ lương tải đạn cho đoàn quân xâm lược của miền Bắc đặt căn cứ trên lãnh thổ Căm-bốt, tóm lại là có công đầu với cách mạng, vậy mà sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, hồi hương thì bị bắt định cư ở vùng đất chó ăn đá gà ăn sỏi này!
Cả một xã trải dài mấy cây số không hề có trạm xá, trường học thì nói gì tới “cửa hàng bách hóa”… Thậm chí cả đến “quyền công dân” họ cũng không được hưởng đầy đủ, không được cấp giấy phép đi ra khỏi tỉnh Tây Ninh nếu không có họ hàng thân thuộc ở nơi khác với địa chỉ rõ ràng…
Trong đám Việt kiều hồi hương ấy có một phụ nữ trên dưới 50, nghĩa là đáng tuổi mẹ của đám trung úy thiếu úy chúng tôi lúc bấy giờ. Bà ta bày trước thềm nhà mấy củ khoai mì, mớ khoai lang sống, mấy trái đu đủ xanh để bán cho tù cải tạo.
Khi không còn vệ binh đi theo canh chừng, chúng tôi thường dừng lại mua, đôi khi trò truyện và được biết bà là người cực kỳ bất mãn với chế độ. Bà có hai cô con gái chưa chồng hiện đang làm lao động ở nông trường tập thể, đôi khi hai ba tuần mới về nhà một lần. Một hôm, có lẽ vì thấy nhà cửa trống vắng, một anh bạn tù cải tạo “vô duyên” của tôi hỏi đùa sao bà không gả cho bộ đội để có cháu cho vui cửa vui nhà, lập tức mặt bà đanh lại, rồi buột miệng:
– Tui nói thiệt chớ, có con gái thà để cho chó chơi chớ không gả cho bộ đội!
Anh bạn cải tạo nín khe; riêng tôi hết sức kinh ngạc và cảm thấy bất nhẫn vô cùng. Kinh ngạc trước mức độ bất mãn tận cùng của một trong số những người dân từng được chế độ xưng tụng là “có công với cách mạng”, bất nhẫn vì thấy một bà mẹ VN phải thốt ra một câu quá đỗi thô tục!

* * *

Còn cái “quán bên đường” thì nằm ngoài đường lộ, mãi sau này chúng tôi mới biết “chủ nhân” là một cựu hạ sĩ quan Không Quân bị bắt đi kinh tế mới. Gọi là “quán” chứ thực ra đây chỉ là một cái lều tranh không vách, treo vài nải chuối, thêm mấy bịch thuốc rê, hai ba cái keo đựng đường thẻ, kẹo dừa…, được giao cho cô gái nhỡ trông coi, còn vợ chồng ông và bầy con còn lại thì phải “lao động vinh quang” ở khu rẫy sau nhà.
Qua những lần dừng chân ở quán, tìm hiểu về đường đi nước bước và phương tiện vận chuyển từ đây ra Tây Ninh, chúng tôi được biết mỗi ngày có một chuyến “xe than” chạy từ Cà Tum ra Tây Ninh hoặc Trảng Bàng, giờ giấc xe tới Đồng Ban rất thất thường, khi thì 10 giờ sáng, có lúc 12 giờ trưa, tùy theo xe có bị hư dọc đường hay không.
“Xe than” nói tới ở đây không phải là “xe vận tải chở than” mà là “xe đò chạy bằng than”, một phương tiện vận chuyển độc đáo tại miền Nam sau năm 1975. (xem Chú Thích)
Về sự hiện của công an trong vùng thì chỉ có mấy mống “bò vàng” ở trụ sở công an xã, hầu như không bao giờ xuất hiện tại vùng kinh tế mới vì ở đây làm gì có “đối tượng” để kiếm ăn. Riêng bộ đội thì ngoài đám vệ binh canh chừng tù cải tạo, họa hoằn mới có mấy tay bộ đội đào ngũ lén vào rẫy của dân để đào trộm khoai sắn.
Như vậy, anh em tù cải tạo nào muốn trốn trại về Sài Gòn, chỉ cần gia đình khi lên thăm nuôi đem theo một bộ quần áo tương đối lành lặn và một cái giấy phép đi đường (giấy giả hoặc giấy thật do công an phường bán lén với “giá phải chăng”).
Sau đó, lợi dụng lúc đi chặt le, tới khi vắng bóng bọn vệ binh thì lỉnh vào vườn mì rồi ra gần đường lộ núp, đợi xe than đi ra Tây Ninh hoặc Trảng Bàng, từ đó đi xe đò về Sài Gòn. Nếu không bị công an ở các trạm kiểm soát nghi ngờ bắt giữ, coi như thoát.
Cả hai cách trốn trại “ngược chiều” nói trên – băng rừng trốn sang Căm-bốt và giả dạng thường dân trốn về Sài Gòn – về sau đã được một số em anh tù cải tạo ở T2 thực hiện.
Lá cờ máu và tình người
Không hiểu anh em tù cải tạo gốc gác Trảng Lớn không bị ra Phú Quốc thì sao, phần tôi lần đầu tiên phải chào lá cờ đỏ sao vàng xảy ra tại Đồng Ban. Hôm đó là ngày 3/2/1977, khoảng 8 giờ sáng, tất cả tù cải tạo trong T2 được lệnh xếp hàng đi ra sân banh dự lễ kỷ niệm “ngày thành lập đảng CSVN quang vinh”.
Lúc đó tôi mới để ý tới cái cột cờ khá cao mà cán bộ trại đã bắt tù cải tạo dựng lên từ hồi nào, giờ đây đang phất phới một lá cờ đỏ sao vàng thật lớn.
Vẫn biết lá cờ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã biến mất sau khi quốc hội CSVN khai tử tổ chức bù nhìn này vào ngày 24/6/1976 – khoảng thời gian tôi đang ở Phú Quốc – nhưng từ đó tới nay, tôi chưa lần nào phải đứng nghiêm chỉnh dưới lá cờ máu của cộng sản Bắc Việt ngạo nghễ tung bay trên đầu như một sự thách thức.
Mặc cho “Lam Sơn 719” tràng giang đại hải ca tụng công sức của cái đảng chết tiệt của ông ta, tôi chỉ biết cúi đầu tủi nhục, nước mắt như muốn trào ra, nhớ lại những buổi chào cờ vàng ba sọc đỏ tại đơn vị mà Khối Chiến Tranh Chính Trị của chúng tôi chịu trách nhiệm phần nghi lễ, cứ ngỡ như mình đang trải qua một cơn ác mộng: miền Nam thân yêu đã bị mất vào tay cộng sản Bắc Việt thật rồi!
Từ buổi sáng hôm ấy, 3/2/1977, tôi mới thực sự bị dị ứng với lá cờ đỏ sao vàng – dị ứng suốt một đời. Không chỉ dị ứng mà còn bị ám ảnh cả trong giấc ngủ.
Trong Lời Nói Đầu của của thiên hồi ký này, tôi đã viết trong hơn 40 năm qua, thỉnh thoảng ban đêm tôi vẫn còn có những cơn ác mộng về ngày 30 tháng Tư 1975, về thời gian ở tù cải tạo, về chuyến vượt biển tìm tự do…
Trong những cơn ác mộng về thời gian ở tù cải tạo ấy thường bao giờ cũng có buổi chào cờ đỏ sao vàng nói trên. Chính vì thế, dù bố mẹ còn sống ở Việt Nam, sau khi vượt thoát tới bến bờ tự do, tôi đã thề sẽ không bao giờ trở lại một khi trên quê hương còn bóng cờ đỏ.

* * *

Tuy nhiên, nếu không kể buổi chào cờ đỏ sao vàng sáng 3/2/1977, thời gian nửa năm ở T2 Đồng Ban phải được xem là những ngày “thần tiên” nhất trong cuộc đời cải tạo, ít ra cũng là với những người tù cải tạo an phận như tôi. Viết một cách chi tiết thì trong khoảng hai tháng đầu, bầu không khí cũng khá ngột ngạt căng thẳng, vì sự dòm ngó, hạch sách của tay chính trị viên (Chuẩn úy Đạt), thái độ hung hăng của tay vệ binh biệt hiệu “Bia lên”, đồng thời cũng vì anh em tù cải tạo – tới từ nhiều T khác nhau ở Trảng Lớn – chưa có đủ thời gian để tìm hiểu, tin nhau, thân nhau.
Nhưng sau khi T2 có biên chế thì sinh hoạt trở nên thoái mái, bầu không khí trở nên dễ thở hơn rất nhiều.
Tôi ở đội của Cường, một trung úy Không Quân xuất thân Khóa 4/68, nguyên hoa tiêu quan sát thuộc Phi Đoàn 120 (Đà Nẵng). Gốc Nam Kỳ, con nhà giàu đẹp trai lại đi lính tàu bay, dĩ nhiên tứ đổ tường anh biết đủ, nhưng tất cả đều dừng lại ở một giới hạn nào đó, cho nên có thể gọi anh là một “tay chơi nhà lành”!
Cường ăn nói từ tốn nhỏ nhẹ nhưng có sức thuyết phục, với cả đám cán bộ trên “khung” lẫn anh em tù cải tạo, cho nên đám cán bộ không có gì phải phàn nàn mà anh em thì được thoải mái.
Thoải mái tới mức khó tin. Chẳng hạn việc được tự do vào rừng lấy dây mây, chặt cây, tìm phong lan, kiếm lá sương sâm…, hoặc đàn hát nhạc vàng thoải mái, miễn là chấm dứt khi có tiếng kẻng báo giờ đi ngủ.
Cùng thời gian, ban chỉ huy trại có thêm một cán bộ quản giáo là Trung úy Vầy, người đảm trách công tác lao động của T2. Sau này hồi tưởng lại, hình ảnh Trung úy Vầy trong đầu óc không ít anh em cùng đội với tôi là hình ảnh một “người anh bên kia chiến tuyến” hơn là một sĩ quan coi tù!
Ngay trong lần đầu tiên được tiếp xúc với Trung úy Vầy, tôi đã liên tưởng tới nam nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Trống Mái của Khái Hưng cũng có cái tên bắt đầu bằng chữ V: Vọi. Có khác chăng là anh Vầy ra vẻ nhà quê và cù lần hơn chàng Vọi trong truyện.
Anh Vầy vào khoảng 40 tuổi, tức là khôn lớn trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, cho nên dù quê mùa, ít học, cũng không đến nỗi phát âm chữ “l” thành chữ “n” như đa số đám trẻ sau này.
Có thể viết mà không sợ quá lời: trong gần 6 năm bị đi cải tạo và kể cả sau khi ra tù, tôi chưa thấy một sĩ quan miền Bắc nào hiền lành, chất phác như anh.
Nhưng hiền lành, chất phác nơi anh không có nghĩa là thiếu sự hiểu biết; chỉ có điều anh chậm chạp và ít nói, và ra vẻ anh thích nghe chúng tôi kể chuyện đường đời và cuộc sống ở miền Nam trước năm 75 hơn là nói về bản thân anh, về cuộc chiến huynh đệ tương tàn, về “thiên đường xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc…
Vào thời gian này ở T2, tù cải tạo thường chỉ còn lao động buổi sáng, cho nên cứ khoảng hai, ba giờ chiều, anh Vầy lại xuống đội tôi chơi, ngồi ở cái bàn dã chiến ngoài hàng hiên, vừa trò chuyện vừa uống cà-phê, uống trà do chúng tôi “chiêu đãi”. Đôi khi anh cũng kín đáo đóng góp một bịch cà-phê, hay trăm gram đường.
Viết về anh Vầy cũng phải đề cao công sức của Sơn “lồ”, tay đội phó tuy chỉ mang cấp bậc thiếu úy, mặt búng ra sữa nhưng sạn trong đầu lại nhiều hơn ai hết!
Sơn lồ gốc Nam kỳ, xuất thân là dân “cậu” (tía làm lớn bên Cảnh Sát Quốc Gia), ngày còn ở Trảng Lớn cũng như sau này lên Đồng Ban được gia đình gửi quà đều đều, nên được Cường (đội trưởng) trao nhiệm vụ pha cà-phê. Hết cà-phê của nhóm, Sơn vận động những anh em cải tạo khác, người góp cà-phê kẻ cho đường cát trắng để hắn chiêu đãi anh Vầy.
Khi nguồn cà-phê sắp cạn mà chưa có thăm nuôi, hoặc gia đình chưa kịp gửi quà, hắn lấy bã cà-phê “sái nhất” đem phơi khô rồi bỏ vào chảo rang lại, pha lẫn với cà-phê “gin” để đãi khách!
Sau một thời gian ngắn, anh Vầy đã coi đám tù cải tạo chúng tôi – đại đa số là trung úy thiếu úy trẻ – như những người em; và khi anh khuyên chúng tôi không nên trốn trại mà hãy cố chờ ngày về xum họp với gia đình, chúng tôi biết anh khuyên thật lòng!
Bên cạnh “quan hệ hữu nghị” với nhóm chúng tôi, việc anh Vầy về T2 còn có cái lợi chung cho anh em tù cải tạo là Chuẩn úy Đạt, tay chính trị viên sắt máu, không còn thường xuyên xuống các Đội để diệu võ dương oai, dòm ngó, hạch sách nữa, và khi vào rừng để đốn củi, chặt cây, tìm dây mây…, tức là khi đi lao động bằng cổng sau, chúng tôi được hoàn toàn “tự giác”, không còn vệ binh đi theo.
* * *
Viết ra có thể bị một số người cho là phóng đại, nhưng sự thật là vào khoảng thời gian sau này ở T2, nhân vật bị anh em cải tạo ghét nhất không phải là người bên kia chiến tuyến mà thuộc “phe ta”: Tư “răng vàng”, tay thiếu úy già giữ chức đội trưởng tăng gia.
Những tù cải tạo thuộc Đội tăng gia không ở chung với anh em trong dãy nhà của các đội mà ở riêng trong một gian nhà phía sau vườn rau, nhưng Tư răng vàng lại hay mò lên các đội, bề ngoài là quan hệ với đám bạn già nhưng thực chất là để dòm ngó, báo cáo lên khung những sinh hoạt trái với nội quy, những cá nhân thiếu tiến bộ, phát ngôn bừa bãi…, viết ngắn gọn là làm ăng-ten!
Bên cạnh việc làm ăng-ten, Tư răng vàng rất có thớ với đám cán bộ trên khung nhờ sự tận tụy, tài quán xuyến, óc phát triển của ông ta: ngoài tổ canh tác cung cấp rau xanh cho cả T2, ông ta còn lập thêm tổ chăn nuôi để nuôi heo và tổ rèn để rèn dao đi rừng.
Trong khi tổ chăn nuôi và tổ rèn chẳng ảnh hưởng gì tới anh em tù cải tạo thì tổ canh tác lại gây bất mãn trầm trọng. Nguyên nhân rất dễ hiểu: tù cải tạo chỉ được ăn rau muống “hạng nhì”, từ các luống rau bón bằng phân bắc (phân người), còn rau muống “hạng nhất”, bón bằng nước tiểu cùng với bầu, bí, mướp… thì dành riêng cho trên “khung”. Anh em cải tạo đã nhiều lần phản ảnh tình trạng bị đau bụng vì ăn rau muống mất vệ sinh nhưng cũng chẳng ăn thua gì!

(ảnh minh hoạ)
Để trả thù, vào một buổi tối không trăng sao, một anh em cải tạo nào đó đã lẻn xuống khu trồng bầu, bí, mướp của đội tăng gia, lấy con dao thật bén cắt đứt một loạt hơn một chục gốc bầu bí mướp dọc theo con đường đi ra cổng sau.
Sáng hôm sau, mặt trời lên làm héo lá, Tư răng vàng mới khám phá ra. Từ đó, ông ta không dám đi ngủ theo kẻng mà thức thật khuya để canh chừng. Và vào một buổi tối nọ, ông ta đã gặp hai người khách không mời: hai tay bộ đội đào ngũ đói quá lần mò về kiếm ăn.
Sau này, qua lời kể lại của dân chúng, chúng tôi được biết ở Đồng Ban có mấy tay bộ đội Bắc kỳ con nít ranh đào ngũ để sống giang hồ nhưng vẫn quanh quẩn trong vùng, thỉnh thoảng lẻn vào rẫy của dân để đào trộm khoai sắn.
Khi được hai tay bộ đội cho biết sự thật và năn nỉ xin cái gì bỏ bụng, Tư răng vàng nói họ ra chờ ở lò rèn cách đó khoảng 50 mét, rồi âm thầm lên “khung” báo cáo sự việc. Chuẩn úy Đạt liền dắt mấy tay vệ binh xách súng xuống nhưng hai tay bộ đội đào ngũ thấy nghe tiếng động vội vã bỏ chạy thoát thân…
Lúc đó vào khoảng 10, 11 giờ khuya, tù cải tạo đa số đã ngủ, bỗng nghe có tiếng quát tháo và mấy tràng súng AK nổ dòn dã mà không biết chuyện gì xảy ra, chỉ sợ có anh em nào trốn trại bị phát giác. Sáng hôm sau mới biết đầu đuôi sự việc.
Về sau tôi được nghe kể lại khi hai tay bộ đội đào ngũ bỏ chạy khỏi lò rèn, Chuẩn úy Đạt vừa sử dụng khẩu K-54 của y vừa ra lệnh cho đám vệ binh bắn theo, nhưng cả đám đã chếch họng súng lên cao mà bắn, bởi họ không muốn giết các cựu đồng đội.
Sau vụ nổ súng này, không nghe ai còn nói tới hai tay bộ đội đào ngũ, riêng anh em cải tạo ở T2 càng thêm ghê tởm, xa lánh Tư răng vàng…
* * *

Khoảng bốn tháng sau khi tới Đồng Ban, tù cải được gia đình thăm nuôi.
Trước đó hơn một tháng chúng tôi đã được ban chỉ huy trại chỉ thị viết thư thông báo cho gia đình. Trong thời gian hơn một tháng ấy, đã xảy ra một chuyện đáng buồn và một chuyện… khá tức cười.
Chuyện đáng buồn là cái chết lãng xẹt của X (tôi không nhớ tên), một tù cải tạo cấp trung úy thuộc T3; anh em các T khác chỉ nghe kể lại chứ không được chứng kiến tận mắt.
Nguyên vào thời gian này, bộ chỉ huy trung đoàn (L2) vừa khởi công xây dựng một “hội trường” khá lớn, lợp tranh, không có vách, để sử dụng trong những buổi học tập cho cả L.
Dĩ nhiên, cả “kiến trúc sư” lẫn nhân công đều là tù cải tạo. Để có một bề ngang hơn 20 mét, hội trường được thiết kế với hai hàng cột chính nằm phía bên trong như thường thấy trong các ngôi thánh đường cổ kính.
Thế rồi trong lúc đang dựng các khung cột + đà ngang lên, do mất thăng bằng, một khung đã bị đổ xuống, đè lên một số anh em cải tạo đang có nhiệm vụ chống khung lên, riêng X bị cái cột chính đè ngang thân người với sức nặng của cả dàn cột + đà, lục phủ ngũ tạng bị dập nát, khoảng nửa tiếng đồng hồ sau thì tắt thở.
Điều mỉa mai tới mức khôi hài là trong suốt mấy tháng sau đó, trước khi L2 chuyển trại đi nơi khác, tù cải tạo chỉ lên cái hội trường “vĩ đại” này để học tập hai buổi.
Ngồi trong hội trường, một số anh em nhìn hàng cột đường kính nửa mét đã không tiếc lời oán trách ông “kiến trúc sư” cải tạo chỉ vì muốn lập công, lấy tiếng mà người bạn tù sấu số X bị thiệt mạng!

* * *
Còn chuyện tức cười thì liên quan tới hà thủ ô. Trong một kỳ tới, tôi sẽ viết tới nơi tới chốn về “huyền thoại hà thủ ô”, còn kỳ này chỉ viết về những gì đã xảy ra cho một anh bạn tù của chúng tôi.
Nguyên sau hơn hai năm sống thiếu thốn trong các trại cải tạo, người nào cũng bị suy dinh dưỡng, tuy nhiên tùy cơ thể mỗi người mà tình trạng suy dinh dưỡng ấy được thể hiện qua những triệu chứng khác nhau: phù thũng, ghẻ chốc, mờ mắt, sưng nướu răng, bạc tóc…
Trong đội tôi, hai bạn tù bị nặng nhất đều vào tuổi trung niiên. Người thứ nhất là anh Thiên bị mờ mắt ngay từ ngày còn ở Trảng Lớn, lên Đồng Ban gần như bị mù. Có lần nói chuyện với tôi, nước mắt anh tự dưng trào ra; có lẽ anh lo sợ bị mù vĩnh viễn.
Tới khi có lệnh thăm nuôi, theo sự chỉ dẫn của một tù cải tạo dược sĩ quân y, anh Thiên đã viết thư về căn dặn vợ con cố tìm mua cho anh một hộp đa sinh tố (multivitamin) để hy vọng mắt anh sẽ bớt mờ.
Thời gian này, việc những người đi năm 1975 gửi quà về cho thân nhân trong nước còn hiếm họa, thành thử tìm mua một hộp đa sinh tố cũng không dễ dàng gì. Tìm không được, cuối cùng gia đình phải ra chợ trời mua một lọ multivitamin 100 viên của quân đội Mỹ trước đây. Vậy mà những viên đa sinh tố của “đế quốc Mỹ” đã quá hạn sử dụng cả mấy năm lại giúp anh Thiên phục hồi thị lực tới 90%!
Người thứ hai là anh Đ, một trung úy Địa phương quân có cô vợ rất trẻ. Bình thường nhìn vào đã thấy một sự thiếu cân xứng về tuổi tác, huống chi gần đây tóc anh còn bắt đầu bị bạc. Nghe nói hà thủ ô có công dụng làm tóc bạc trở thành… tóc đen, anh đã tìm hà thủ ô đào đem về nấu nước uống.
Công việc này được anh làm một cách lén lút sau khi anh em đã đi ngủ để khỏi bị cười nhạo (nhưng trên thực tế ai cũng biết, chỉ không nói ra mà thôi). Những ai từng uống thử hà thủ ô hẳn phải biết nó đắng tới mức nào, huống chi ở đây anh Đ còn theo đúng sách vở “thắt lát phơi khô, sao vàng hạ thổ, 3 chén sắc còn 8 phân” thì với cái độ đậm đặc ấy nó còn đắng tới mức nào! Nhưng nghĩ tới ngày thăm nuôi được gặp lại cô vợ trẻ, anh nhắm mắt uống!
Nhưng trời đã… phụ lòng người!
Vì sự đau khổ tận cùng về cả tinh thần lẫn thể xác mỗi khi nâng chén thuốc đắng lên uống, một vài tuần sau tóc anh Đ chẳng những đã không hết bạc mà còn bắt đầu… rụng bớt! Sau đó, nghe lời khuyên can của mọi người, anh ngưng uống hà thủ ô nhưng cũng đã quá muộn: tới ngày thăm nuôi, tóc anh chỉ còn hơn phân nửa.
Có điều an ủi là theo “báo cáo” của các anh em được thăm nuôi cùng lúc với anh Đ, cuộc hạnh ngộ giữa anh và cô vợ trẻ đã diễn ra khá tốt đẹp, nếu không muốn nói là rất tình tứ!
CHÚ THÍCH:
Xe than: Với những người sinh sau đẻ muộn như tôi, “xe than”, tức “xe đò chạy than” là một sáng kiến “khắc phục” của người dân miền Nam sau năm 1975, nhưng theo nhà văn Sơn Nam, một tay bút kỳ cựu của Nam bộ, xe than đã hiện diện từ thời Đệ nhị Thế chiến, sau khi Nhật chiếm miền Nam VN và xăng dầu trở nên khan hiếm.
Ông kể lại:
“Xe ô tô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tròn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy thì quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi “Autogène”, theo mô hình của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài Gòn.”
Tuy nhiên, qua tham khảo một số nguồn tài liệu, chúng tôi được biết sáng kiến sử dụng than củi để chạy xe đã được ứng dụng tại Âu châu từ đầu Đệ nhị Thế chiến, suy ra kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu mà Sơn Nam nhắc tới chỉ là người có công cải biến và ứng dụng tại Việt Nam.
Hiện nay, tại Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên, tức Bắc Hàn, đa số xe vận tải của các nông trường và một số xe của quân đội vẫn tiếp tục chạy bằng than.

Một trong những chiếc xe chạy bằng than đầu tiên ở Đức (1940)

Một xe vận tải chạy bằng than củi tại Bắc Hàn

Về xe đò chạy than ở miền Nam VN sau năm 1975, sau đây chúng tôi xin trích đăng một số đoạn trong hai bài viết hiện được phổ biến trên Internet.

Hoài niệm xe đò (tác giả TN):
Hình ảnh chiếc xe đò nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài Gòn tuổi trung niên trở lên đều biết rõ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe. Thường thì người ta chỉ cải tiến xe đò lỡ – tức là loại xe Renault cũ xì từ giữa thập niên 50. Tuy giới lái xe gọi đó là xe đò hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ì à ì ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở lò đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe.

Sáng tạo thời bao cấp: Xe đò chạy bằng… than!
(website hinhanhvietnam.com):
Chính sách tập trung quản lý các nguồn nhiên liệu và độc quyền xuất nhập khẩu vào tay nhà nước đã làm cho tình trạng khan hiếm xăng dầu trở nên nghiêm trọng. Từ năm 1976, một phần xe cộ bắt đầu bị xếp xó vì không có nhiên liệu hoặc không có phụ tùng thay thế.
Những nhà trí thức lúc đó đã hướng dẫn áp dụng nhiều sáng kiến trong sản xuất, phục vụ đời sống của người dân. Sáng kiến đáng chú ý nhất là việc “độ chế thành công” xe ô tô chạy bằng than củi. “Bộ phận lò hơi” của xe ô tô chạy than củi có thể sử dụng cho các loại máy bơm nước, máy tàu, máy điện…
Hãy nhìn cái thùng đặt sau xe được làm bằng sắt, có đường kính 40 đến 50cm cao bằng 2 cái thùng “phuy”, treo đứng sau đuôi xe. Tên gọi là xe hỏa tiễn, do đeo cái bình đốt than phía sau… Bên trong thùng này chứa than củi được đốt cho cháy trong điều kiện thiếu không khí để tạo ra một loại khí ga cháy được. Khí này chạy qua 1 bầu lọc thô sơ rồi được hút vào xy-lanh, sau khi xe đã nổ máy với xăng.
Từ khi bỏ than củi vô thùng, nung nóng lên cho tới lúc bốc ra khí ga mất khoảng 1 giờ.
Do than phải cháy trong điều kiện thiếu không khí nên có xu hướng tắt dần. Sau một quãng đường, anh lơ xe phải dùng một que sắt dài khều than, chọc tro… cho than cháy tiếp. Than vụn cùng tro rơi vãi dọc đường xe chạy…, ai chạy xe máy mà bị nó tặng vài cục than đỏ rực trước mặt thì …phải biết!





Cái gì Việt-Nam bố cũng rinh về

baovecovang2012.wordpress.com

thầy vẽ

Posted on Jan 25, 2013 by Lê Thy
Post by Sơn râu 19 May 2025

Khi còn trẻ, không bao giờ tôi dám nghĩ là có một ngày nào đó tôi sẽ sưu tầm cổ vật Việt Nam. Đó là một thú vui mà tôi vẫn nghĩ chỉ dành cho những tay con buôn, những gia đình giàu có, có truyền thống tự bao đời, hay chỉ về tay các chuyên viên khảo cổ của bảo tàng viện…

Trước 75 ở Sàigòn, vỏn vẹn chỉ có một lần duy nhất tôi lấy thì giờ đi thăm Viện Bảo Tàng ở vườn Tao Đàn mà trong tiềm thức của tôi chỉ còn giữ lại một nuối tiếc là ít tranh vẽ để tôi chiêm ngưỡng buổi hôm đó. Lúc ấy tôi chỉ là một anh công chức quèn của bộ Thông Tin, kiêm thêm nghề thợ vẽ, và thầy dạy vẽ cho trẻ em.

Trang Điểm
Mai Trung Thứ (1906-1980)

Di cư một mình đi theo các cha cố đạo, vào Nam năm 54, gia đình thì không còn mà tiền tài danh vọng cũng không, một xu chữ Nôm, chữ Nho, chữ Hán cũng mù tịt, thì cổ vật văn hóa của đất nước quả là quá xa tầm tay hèn mọn của tôi. Tôi chỉ biết chiêm ngưỡng và tự nhủ ‘Bốn ngàn năm Văn hiến’ của đất nước …

Đến khi đi tỵ nạn định cư tại Pháp, những năm đầu chật vật kiếm sống, gà trống nuôi con trong căn gác trọ chật hẹp của quận 5, thành phố Paris, có bao giờ tôi dám mơ tưởng đến cổ vật hay thòm thèm muốn múa cọ trên giá vẽ. Nhưng số Trời định sao thì chuyện gì phải đến sẽ đến.

« Bố ơi, tối nay mình ăn mì gói nhịn cơm nhá? » con Lan con gái tôi vừa nói vừa thở hổn hển khi trèo lên đến tầng 6 nơi người chủ cho thuê gác trọ mà ngày xưa họ dành cho người hầu, « Con tiêu bén mất tiền chợ tuần này rồi! »

Suối Tóc
Mai Trung Thứ (1906-1980)

Tôi chưa kịp hỏi han ‘tội tình’ thì nó đã gỡ gói giấy bản ra trước mặt tôi rồi nói một hơi không ngừng: « Bố ơi, đầu chợ Mouffetard có ông bán đồ cũ (brocanteur), nào là khung, tranh, bưu thiệp cổ…Con đứng mò mẫm xem bưu thiệp thời Đông Dương…thì tự nhiên đâu rớt ra hai tấm tranh này, vì nó bé như bưu thiệp vậy! Thấy con thòm thèm mà chợ sắp đóng nên ông già chịu để rẻ cho con cả cặp một trăm quan! Thế là tiêu hết tiền chợ… thôi chợ cũng đóng cả rồi…»

Lúc ấy, năm 79, chân ướt chân ráo vừa sang Pháp, một trăm quan (15$) đối với cha con tôi là to lắm. Nhưng khi thấy mắt con tôi sáng long lanh nhìn hai tấm tranh lụa lót giấy bìa, nó thủ thỉ « Bố xem có giống Mẹ không này… », con bé biết đúng điểm tâm lý của tôi, tôi không la nó được. Tôi còn nhìn mân mê hai bức tranh lụa, mỗi bức vẽ người thiếu nữ đang trang điểm thật dịu dàng duyên dáng. Lúc ấy tôi nào biết ai là tác giả của hai bức tranh. Nên giá trị của bức tranh chỉ tương xứng với cảm giác rung động, và những kỷ niệm nó gợi đến cho người thưởng thức. Tôi ngâm nga bài ‘Suối Tóc’ của Văn Phụng mà ngày xưa vợ tôi rất thích. « Để cuối tuần mình đi tìm cặp khung rồi treo lên cho đẹp. », tôi nói để nén xuống sự xúc động trong lòng tôi, nhớ người vợ hiền xấu số đã qua đời trên biển cả… Không thấy tôi cằn nhằn, con Lan thở phào nhẹ nhõm. Tối hôm ấy mì gói thú vị làm sao. Cha con tôi có ngờ đâu nó đã đánh dấu bước đầu tiên của cuộc hành trình hai cha con tôi và cổ vật Việt Nam.

Nhớ lời ông già bán đồ cũ chỉ con Lan buổi đầu « Cái gì chứ di tích của Việt Nam, người Pháp mang về nhiều lắm, muốn sưu tầm thì đi lùng bên Pháp này chẳng thiếu gì. » Rồi cứ thế, có đồng nào dành giụm, có giây phút nào rảnh rỗi, cha con tôi lại đi lùng trái phải, tỉnh nào cũng mò, chợ nào cũng lục, gặp ai cũng hỏi. Nhịn ăn, nhịn mặc thì được chứ không nhịn ‘đi mò’ được. Rồi như thể là số Trời đã định, không phải người tìm đến vật mà nhiều khi vật tìm đến người, như là cái duyên vậy. Thấm thoát hơn ba mươi năm lưu lạc nơi xứ người, cha con tôi chưa trở về nước một lần nào, nhưng tôi mong thầm đáp lại một phần nào ước mơ của con gái tôi là tạo lại nơi này hình ảnh nước nhà đã mất. Tôi thương con, biết nó nhớ nhà lắm, mà tôi nhất định không bao giờ trở về khi cộng sản còn giày phá đất nước. Thù nhà, tôi hận cộng sản từ Cải cách ruộng đất đã tàn phá làng tôi chỉ vì là làng công giáo, tôi đi di cư mà không biết cha mẹ tôi sống còn hay đã chết, đến những năm trong trại cải tạo, và sau cùng vượt biên đã tước lấy đời người vợ yêu dấu…làm sao quay gót trở về được, dù luyến tiếc quê hương tôi cũng bao lần day dứt nhớ…

Lư sắt ( ˜100 tCL )    Thanh-HóaCon Lan ăn học xong là lăn lộn đi làm bở hơi tai. Chúa thương nó làm nên nhanh chóng cho tôi bỏ nghề chạy bàn trong quán ăn Đào Viên để chỉ còn lai rai nhận việc thông dịch kiếm chút cháo. Còn để dành hết thời giờ vào « cái gì Việt-Nam bố cũng rinh về ». Những năm tháng ấy, chẳng có internet, chẳng có ebay, chỉ phải mò mẫm đọc sách về khảo cổ ở VN của Pháp, chỉ có miệng truyền miệng, rồi người này giới thiệu đến người kia, và đi mua đấu giá, hay mua chợ trời trên khắp nước Pháp. Ngay tại quán Đào Viên tôi được gặp gỡ bao người giúp đỡ móc nối, nào là Hội cựu học sinh trường Albert Sarrault Hà-Nội, nào là các văn hào, nghệ sĩ, họa sĩ, từ lớp người đi trước (khi đất nước chia đôi), đến những đồng hương tỵ nạn như tôi, và ngay cả những người chạy trốn cộng sản đi từ miền Bắc sau này!

Lư sắt (100 tCL) Thanh-Hóa

Trống đồng văn hóa Đông-Sơn    (500-100 tCL ) loại Heiger I B2 – Thanh HóaVà như thế, cha con tôi tích trữ từ từ, mua lại của ngừơi Pháp rất nhiều, của bạn bè hay người quen nhường lại cũng có. Từ hai tấm tranh lụa của bước đầu, bao nhiêu bức tranh kế tiếp, lụa, sơn dầu, vẽ mực, phấn hay sơn mài, từ đầu thế kỷ XX về sau. Lịch sử tranh họa trước thế kỷ XX tiếc thay không có gì lưu trữ lại. Nhưng ngược lại các cổ vật bằng đá, gỗ, đồng, sắt, vàng, nhũ thạch, thủy tinh, cùng các đồ đất, gốm, sứ, sành thì tôi tìm ra đủ loại từ thời Hòa Bình, Đông Sơn, Hán Việt, hay thời Sa Huỳnh, Chiêm La, từ di tích Phú Nam (còn gọi là Óc Eo) đến di tích Chàm…và qua các thời đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn…

Trống đồng văn hóa Đông-Sơn (500-100 tCL) loại Heiger I B2 – Thanh Hóa

Qua quá trình sưu tầm đồ cổ, tôi đã mãn nguyện nhận thấy sự khác biệt rõ ràng của văn hóa nguyên thủy của người Việt đối với văn hóa Hán, ngay cả dưới Bắc thuộc, thời đại Hán Việt. Tôi học hỏi được một cách thú vị qua sách vở nghiên cứu quốc tế rằng chính người Bách Việt (mà Văn Lang là mạnh nhất) đã dạy người Hán làm ruộng trồng lúa nước khi người Hán chỉ biết trồng lúa mì; rằng dưới Bắc-thuộc người Hán cướp lấy hết đồ sắt và cấm người Việt không được có đồ sắt, chứ không phải người Việt không biết làm ra sắt mà chỉ biết làm đồ đồng mà thôi… (như cái Lư sắt rất hiếm thời Đông-Sơn trễ trước Hán Việt mà tôi mua lại của một người Pháp).

Tôi không phải là khảo cổ gia, cũng chẳng phải là sử gia. Cha con tôi chỉ tình cờ lâm vào cái bệnh đam mê lưu trữ lại những di tích của đất nước, quyết không để thất lạc đi. Rồi gần đây tôi có mộng lập một Bảo Tàng Viện Cổ Vật Mỹ-Thuật Việt-Nam Tự-Do trên mạng, hầu mang lại thưởng thức cho người Việt bốn phương… Nhưng tuổi đời không cho phép nên ước muốn này sẽ chỉ là một giấc mơ chăng?

Bây giờ tôi không còn sức sưu tầm nữa, nghĩ bụng sưu tập của cha con tôi cũng đã tạm đủ, nhà thì không còn chỗ trưng mà tường thì không đủ chỗ treo. Trên năm trăm món lớn nhỏ, cồng kềnh như những trống đồng Đông-Sơn, hay nhỏ bé như hạt chuỗi thời Giao-Chỉ… Quý giá cũng có mà lượm lặt cũng có. Trên bảy mươi bức tranh, từ các bậc thầy như cụ Nguyễn Phan-Chánh (1892-1984) cho đến những họa sĩ ít được tiếng… Tất cả những gì liên hệ đến lịch sử nghệ thuật của Việt-Nam, về Việt-Nam, đối với tôi đều đáng quý. Nhưng trong cả bộ sưu tầm này, hẳn nhiên là có những thứ mà tôi yêu chuộng đặc biệt, không phải vì nó có giá trị trên thị trường mà vì nó có ý nghĩa tình cảm riêng biệt đối với tôi qua hai cơ duyên đã cho tôi tri-ngộ cùng hai họa sĩ bậc thầy đáng quý. Xin thuật lại sau đây để chia sẻ cùng người đọc.

Thiếu nữ bên hoa phù dung (1974)
Nguyễn Gia Trí (1908-1993)

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993):

Khi xưa ở Sài-gòn, tôi có nghe nói đến tên Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, ông rất nổi tiếng về sơn mài. Ông tốt nghiệp trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-Dương ở Hà-Nội. Tôi nhớ mãi lần đầu tiên được đối diện với ông ở Sài-gòn thật tình cờ. Năm ấy là năm 71. Hôm ấy, tôi đến dạy vẽ các cháu con anh bs Tuyến như những cuối tuần khác. Nhưng chưa thấy mặt học trò tôi đâu thì tôi đứng trong phòng khách đợi nên có dịp chiêm ngưỡng một bức tranh sơn dầu khá lớn (̴ 1mx1,2m kể cả khung), vẽ cảnh ‘Ba Vua đến hang lừa’ với chữ viết ‘In Excelcis Deo’ trên sơn vàng nhũ phía trên, thật là đẹp vì không giống tất cả những tranh khác tôi đã từng thấy trong sách đạo. Tôi đang đứng thơ thẩn nhìn thì có giọng người nói sau lưng tôi: « Anh cũng đến gặp anh Tuyến à?» Tôi giật mình quay lại, thấy người lớn tuổi, tôi thưa « Dạ thưa ông, đến dạy các cháu học vẽ mà chưa thấy mặt đứa nào cả, nên đứng chiêm ngưỡng bức tranh này trong khi đợi. » Ông ta cười nói « Anh thấy thế nào? Tôi vẽ cho Dinh Độc-Lập ngày xưa đấy, mà trong dinh lúc ấy có vẻ chê vì tôi vẽ kiểu mới hơi ‘déstructuré’, không ‘classique’ đủ! Bực mình quá tôi tặng luôn ông Tuyến. Chú ấy đi đâu chưa về à? ». Thấy tôi ngơ ngác, ông Trí tiếp «Tôi là Nguyễn Gia Trí, tạt sang thăm ông Tuyến trò chuyện. Anh có dịp bữa nào ghé sang xưởng sơn mài tôi nhé! » Nói thế rồi ông xoay lưng đi về. Lòng tôi bồi hồi vì tình cờ được gặp được bậc thầy. Mấy tháng sau, hỏi dò ra được địa chỉ xưởng vẽ của ông ở đường Cách Mạng, tôi đánh bạo tìm đến. Rồi từ đó, ông chỉ dạy tôi như một người thầy, cho tôi tiếp tay vào mài sơn trong nhiều tác phẩm mà ông nói là ngoại quốc họ đặt. Nhiều người phụ việc cho thầy lắm, họ chuyên tay làm cho thầy Trí từ bao giờ, tôi chỉ như một anh tập sự thỉnh thoảng đến thêm một tay mài sơn hay đập vỏ trứng…Thầy Trí vẽ nhiều tranh một lúc, vì sơn mài cứ mài đi mài lại, sơn lên lại phải đợi cho khô, không biết mấy chục lớp sơn…mỗi bức tranh phải ít nhiều trên 6 tháng đến cả năm.

Thế mà có một bức thu hút tôi lạ kỳ. Phải chăng đây lại là duyên số? Hỏi thì thầy mới giải nghĩa « Bức này là ‘Thiếu nữ bên hoa phù dung’, tôi đã vẽ một lần ở Hà-Nội năm 44, nay vẽ lại cho người bên Pháp đặt, còn gọi là ‘Jeunes filles aux hibiscus’. Hibiscus gọi là phù dung nghe hay hơn là dâm bụt! » Nói rồi thầy cười giòn tan…Năm 74, bức tranh hoàn tất, 4 biển lìa nhau, còn gọi là quadryptique, thầy gửi đi sang Pháp. Sau 75, thầy gần như không làm việc nữa vì thiếu vật liệu và sống đơn sơ cho đến khi từ trần. Tôi không được tin gì cho mãi đến năm 90 thì tôi gặp lại ls Minh (con ông Nguyễn Văn Bửu) ở quán Đào-Viên, ông trao tôi đọc quyển hồi ký của thầy, trong đó thầy thuật lại chuyện bức tranh ‘Ba Vua (1960)’ mà tôi chiêm ngưỡng ngày nào tại nhà của bs Tuyến. Trong hồi ký, thầy Trí chỉ nói là đã cho bức tranh cho một người bạn trẻ là một bác sĩ mà không nói ra tên vì sợ chính quyền cộng-sản xoi mói. Sau này, người ta đồn sai nhầm rằng bức tranh theo gia đình ông bác sĩ sang Pháp, rồi lại trở về nước và bị bán đi. (Riêng tôi thì tôi được biết là gia đình bs Tuyến đi tỵ-nạn ở Anh-quốc năm 75 tay không. Khi bộ đội vào chiếm nhà ai giữ lấy bức tranh ấy rồi bán đi, gia đình bs Tuyến, các học trò của tôi, không biết gì cả…’Miễn mấy anh bộ đội không đem ra đốt làm củi là mừng lắm rồi’ …) Cũng trong dịp gặp gỡ đó, ls Minh cũng nhường lại cho tôi hai bức phác thảo của thầy Trí mà tôi quý vô cùng. Thế rồi, một ngày đó tôi đi lùng ở Marseille qua lời giới thiệu của người quen, tôi không ngờ đã tìm lại được bức ‘Thiếu nữ bên hoa phù dung (1974)’. Ngày nay, mỗi lúc nhìn tấm sơn mài này, bao kỷ niệm với thầy Trí lại trở về với tôi. Lòng khâm mộ người thầy khả kính vẫn nguyên vẹn. Nhưng tôi chỉ biết thầy Trí qua phương diện một họa sĩ đại tài mà đời đã cho phép tôi được theo phụ trong một thời gian quá ngắn. Tôi nào ngờ đâu, tôi phải đợi đến 25 năm sau để tìm hiểu thêm về cuộc đời chính trị của một người yêu nước như thầy Trí, khi tôi đến gặp họa sĩ Võ Lăng năm 2000.

Họa sĩ Võ Lăng (1921-2005):

Từ mới lên năm, tôi bị polio nên đi tập tễnh chân cao chân thấp. Ở lại làng sẽ không lo ruộng nương được nên ông Cụ tôi xin cho tôi theo các Cha đi học ở Phát Diệm. Cho đến giờ thỉnh thoảng tôi vẫn đau nhức xương. Một hôm tôi được giới thiệu đến thăm một bác sĩ người Pháp chuyên về bệnh xương tủy. Khi tôi đến ngồi trước mặt bàn giấy của ông, tôi chỉ bị thu hút bởi một bức tranh sơn dầu treo sau lưng ông. Cảnh vẽ Venise, nhìn kỹ chữ ký là Volang, thì nghĩ có thể là người Pháp. Nhưng không hiểu tại sao, tôi lại quên cả đau mà lại hỏi ông bác sĩ về người vẽ. Ông ấy cười nói “Đồng hưong với ông đấy! Họa sĩ Võ Lăng là bệnh nhân của tôi. Tôi chữa cả cho vợ ông ta. Con gái ông ấy cũng là bác sĩ cùng khóa với tôi nhưng không cùng chuyên môn. Bên buồng bên cạnh này, tôi cho ông xem những bức tranh khác mà họa sĩ Võ Lăng vẽ cho tôi và vợ tôi! » Sau khi khám bệnh cho tôi, trò chuyện thật lâu về ông Võ Lăng, ông bác sĩ Pháp gọi điện thoại đến ông Võ Lăng để xin cho tôi được đến thăm. Khi tôi ghé lại gác vẽ (atelier) của ông Võ Lăng, ở quận 15, cuối một khu vườn thật thần tiên mà ngoài mặt đường không thể ngờ che khuất sau cánh cổng. Ngày ấy ông đã trên tám mươi nhưng còn phong độ lắm. Kể qua loa lý lịch của tôi cho ông nghe là cảm thấy gần gủi với ông ngay. Ông cho tôi xem gác vẽ của ông, cả trăm bức tranh, mà tôi chỉ mê mẩn nhìn những bức tranh vẽ về Việt-Nam lúc đầu đời của ông. Sau lần gặp gỡ này, mỗi lần ông có mặt tại Paris, là tôi lại lên hầu chuyện ông…

Ông Võ Lăng là em trai của cụ Võ Văn Hải (xưa là Chánh văn phòng của TT Ngô Đình Diệm), sinh trưởng ở Huế, sau ra Hà-Nội học trường Cao-đẳng Mỹ-thuật Đông-Dương. Theo như lời ông thuật lại

Chị Em (1936)
Trần Bình Lộc (1914-1941)

« Mình chỉ thích vẽ thôi, dạo mới ra Hà-Nội thì mình còn trẻ con quá, chẳng biết gì. Nhưng ở Hà-Nội lúc bấy giờ, các đàn anh đi trước cùng trường, nào là Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Gia Trí, Trần Bình Lộc…ai cũng có máu ‘làm cách mạng’ cả…Thời buổi ấy là như vậy. Dù họ lớn tuổi hơn tôi nhiều và đã hoạt động vào tù ra khám vì chống Tây, khi tôi hãy còn đi học. Tôi đi theo họ vì phục họ lắm. Tôi gần nhất lúc bấy giờ là với anh Trí và anh Lộc. Khi anh Lộc bị Việt-Minh giết năm 41, tội lắm mới 27 tuổi đầu, tôi ấm ức lắm vì biết anh Lộc là người yêu nước nhưng bị Việt-Minh gán tội theo Tây. Năm 43, anh Trí được thả ra khỏi tù của Pháp ở Sơn-La, cùng với các anh Nhất-Linh, Hoàng-Đạo thì năm ấy tôi còn đoạt được giải hội họa Đông Dương. Các anh lớn đều đi theo VN Quốc Dân Đảng và cứ hồi hộp sợ bị Việt-Minh thủ tiêu. Thế nên tôi chẳng vào đảng nào cả, và vì gốc Huế nên lúc bấy giờ anh Hải với tôi còn tôn trọng Bảo Hoàng. Đến 45 thì tụi Việt-Minh nó càng ngày càng giết người Quốc Dân Đảng quá thể. Anh Trí rủ tôi đi trốn sang Tàu, chẳng hiểu gì tôi cũng đi theo! Thế là hai anh em trèo đèo lội suối lên tận Lạng Sơn, kiếm đường sang Tàu, chủ đích là đi sang Hương Cảng. Đây là bức hình tôi vẽ Ải Nam-Quan nhìn từ Đồng-Đa, chú cứ cầm về làm kỷ niệm của tôi. Tôi còn nhớ khi chèo thuyền với anh Trí sang Hương Cảng, lên bờ tôi cởi áo ngoài ra cho anh Trí mặc vì trời lạnh quá mà trên người anh ấy chiếc áo sơ-mi không đủ ấm. Sang HK tôi có vẽ nhiều lắm, bán đi để kiếm ăn với các anh em lúc ấy. Đến 49 tôi sang Pháp, các anh ở lại rổi trở về nước cả… Dưới thời ông Diệm, anh Hải tôi làm chef de cabinet cho ông Cụ. Có một dạo cử tôi được đi làm tùy viên văn hoá ở Washington. Lúc ấy tôi bay nhẩy phải biết! Bạn tôi nào là Gene Kelly, Fred Astaire và Burt Lancaster…Họ có tranh của tôi nhiều lắm, Otto Preminger cũng mua tranh của tôi nữa. Sau khi Cụ Diệm bị đảo chánh, tôi năn nỉ anh Hải sang Pháp mà ông ấy không chịu. Thế mới khổ, sau 75, Việt-Cộng nó bắt anh ấy đi tù cải tạo, rồi chết trong tù…Tôi về chôn anh tôi, năm 89…Thương lắm cơ anh ơi, chúng nó trao lại xác anh tôi, người da bọc xương, trói chặt hai tay, hai chân như trói lợn, trong cái két gỗ ! Tôi khổ tâm lắm…tụi chúng nó dã man quá…Thú thực với anh, cho đến ngày giờ đó tôi mới thấm nhuần được tư tưởng đấu tranh của các đàn anh ngày xưa !…Cộng-sản còn ác hơn Tây cả vạn lần !… Bao nhiêu người chống Pháp mà chúng nó thủ tiêu hay chỉ điểm cho Pháp bắt?!? Sau đó mấy năm thì tôi nghe tin anh Trí mất! Thôi thế là tôi mất cả hai ông anh lớn rồi! »…

Một tuần trước khi ông Võ-Lăng qua đời năm 2005, ông còn ngồi tâm sự với tôi ở quán ăn Ấn-Độ bên kia đường gác vẽ. Ông ra đi lặng lẽ trong giấc ngủ…Đến phiên tôi mất đi một người anh lớn…

Ải Nam-Quan (1946)
Võ Lăng (1921-2005)

Ngày hôm nay, ngồi ôn lại những lời tri kỷ, nhìn bức tranh ‘Ải Nam-Quan (1946)’, lòng tôi quặn đau, tôi chua chát hỏi thầm: « Các anh mà biết ngày hôm nay cha con thằng Hồ Chí Minh đem cúng đất, cúng biển cho Tàu…Ải Nam-Quan không còn thuộc về nước mình nữa…các Anh ơi! »

Thầy Vẽ
22/08/11.
Mến tặng mythanh.

Obama giết Osama: 10 năm săn thủ phạm 11- 9

damau.org

Đinh Từ Thức

Post 11.09.2011

Post by Sơn râu 19 May 2025

Lời Giới Thiệu của Tác Giả:

Vụ tấn công giết gần ba ngàn người ngay trên đất Mỹ ngày 11 tháng 9, 2001 được coi quan trọng ngang tầm vụ tấn công vào Pearl Harbor cuối năm 1941. Mỹ chỉ mất gần bốn năm để tóm cổ Thủ tướng Nhật Tojo Hideki, và ba năm xét xử trước khi treo cổ ông ta. Nhưng đã mất tới mười năm để hạ sát Osama bin-Laden.

Một tuần sau vụ 11 tháng 9, tới thăm Ngũ giác đài ngày 17 tháng 9, Tổng Thống George Bush tuyên bố: “Tất cả những gì tôi có thể nói là Osama bin-Laden là nghi phạm chính”. Ông nói, “Tôi muốn công lý. Như cáo thị ở miền Tây từng niêm yết: Cần bắt, sống hay chết”.

Cuộc săn lùng thật ra đã bắt đầu trước 11 tháng 9, 2001, khi bin-Laden chính thức tuyên bố mở đầu cuộc thánh chiến chống lại Hoa Kỳ từ năm 1996. Nhưng cuộc săn bắt chỉ thực sự khẩn trương từ sau vụ 11 tháng 9.

Bài này đã được viết lại, và dịch lại, dựa theo nhiều tài liệu đã công bố trên Washington Post, New York Times, Reuters, nhất là các bài “The Hunt” trên Wasington Post ngày 6 tháng 5, 2011, của Peter Finn, Ian Shapira, và Marc Fisher, bài “Top Secret America: STEALTH MISSIONS” của Dana Priest và William M. Arkin, cũng trên Washington Post ngày 4 tháng 9, 2011, và đặc biệt là bài “Getting Bin Laden” trên tạp chí New Yorker ngày 8 tháng 8, 2011, của Nicholas Schmidle. Các tác giả bài The Hunt đã viết dựa trên các cuộc phỏng vấn trên 20 giới chức cao cấp về chính trị, quân sự và tình báo từ các chính quyền Clinton, Bush và Obama. Riêng bài báo của Schmidle đã được coi như một “coup” ngoạn mục trong làng báo, với nội dung rất phong phú, gồm những chi tiết chưa hề được tiết lộ trước đó.

Ngoài lời tuyên bố sẽ bắt bin Laden đền tội trước công lý dù sống hay chết, ông Bush còn đe dọa những ai giúp đỡ hay chứa chấp thủ phạm cũng sẽ bị trừng phạt. Chế độ Taliban của Afghanistan đã chứa chấp bin Laden, không chịu nộp trùm khủng bố này theo lời yêu cầu của Washington, nên Hoa Kỳ và đồng minh đã đổ bộ Afghanistan từ ngày 7 tháng 10, 2001.

Cùng ngày 17 tháng 9, 2001, ngoài lời tuyên bố Osama bin Laden là thủ phạm chính, Tổng thống George Bush còn chỉ thị cho CIA được quyền bắt hay giết các nghi phạm khủng bố. Cuộc đột kích hạ sát bin Laden đêm 1 tháng 5, 2011, trên căn bản pháp lý, dựa vào chỉ thị còn hiệu lực này.

Dư luận đã từng được nghe nhiều về những hành tung bí mật của CIA, và khả năng phi thường của “Người Nhái” (SEAL = Sea, Air and Land), nhưng trong mười năm qua, một cơ quan cực kỳ bí mật của Mỹ chuyên về chống khủng bố, bao trùm cả CIA và SEAL, bà Bộ Chỉ huy hỗn hợp các chiến dịch đặc biệt (JSOC = Joint Special Operations Command). Chính cơ quan này đã phụ trách việc săn bin Laden. JSOC được mô tả như môt thế lực đen, ra lệnh hành động, nhưng không thể nhìn thấy. Được thành lập vào năm 1980, khởi đầu chỉ gồm một toán nhỏ, và chuyến ra quân đầu tiên để cứu các con tin Hoa Kỳ tại Đại Sứ Quán Mỹ ở Tehran đã gặp thất bại nặng nề, vì hai trực thăng đụng nhau, chẳng cứu được ai, còn thiệt mạng tám người trong nhóm đi cứu. Nhưng trong mười năm qua, nhân số của tổ chức này đã tăng gấp mười lần, với địa bàn hoạt động và quyền hành rộng rãi, cũng như cực kỳ bí mật. Khi các thành viên của nhóm ưu tú này hạ sát bin Laden ở Pakistan vào tháng Năm vừa qua, cấp chỉ huy JSOC đã ăn mừng, không phải chỉ do sứ mạng thành công, mà còn vì rất ít người biết có tổ chức này, đặt bản doanh tại Fayetteville, NC.

Tiền mặt là vũ khí

Mỹ bắt đầu cuộc chiến Afghanistan chỉ bốn tuần sau 11 tháng 9, với rất nhiều khó khăn, vì quá xa lạ, và thiếu người thông hiểu ngôn ngữ cũng như lịch sử và phong tục tập quán Afghanistan. Nhất là tại một nơi vẫn còn trong tình trạng bộ lạc. Công tác đầu tiên là phải tìm ra những ai là tù trưởng có thế lực, gặp họ, và khi gặp, phải mang theo quà. Thông điệp đưa ra: “Chúng tôi là bạn của quý vị, là bạn của mọi người. Những ai tốt với chúng tôi, thì được nhận đô la Mỹ”.

Berntsen của CIA chỉ huy một nhóm với nhiệm vụ săn bin Laden, làm việc tại một nhà khách ở Kabul, chứa hàng triệu đô la tiền mặt, để trong những hộc bằng plastic, sẵn sàng chi bạc ngàn cho những ai đưa tin về nơi trú ẩn của bin Laden. Berntsen nói, có khi nhận được tám báo cáo cùng một lúc, cho biết bin Laden đang ở làng này, hay làng kia. Thật ra, chẳng ai biết rõ bin Laden đang ở đâu.

Sau này, theo tin mật do WikiLeaks tiết lộ, căn cứ vào lời khai của những nghi can khủng bố bị bắt, ngay sau ngày 11 tháng 9, bin Laden và nhân vật thứ nhì của Al Qaeda là Ayman al-Zawahiri vẫn đi lại bằng xe khắp Afghanistan, hành động như một nguyên thủ quốc gia lưu vong, tiếp các bộ hạ tại Afghanistan, cũng như từ ngoại quốc.

Đầu tháng 10, 2001, vào lúc Mỹ bắt đầu tấn công Afghanistan, bin Laden được một vị trưởng lão Afghanistan là Yunis Khalis mời về nương náu tại Jalalabad, gần vùng hầm hố hiểm trở Tora Bora. Khalis 82 tuổi, là một trong những nhà lãnh đạo quan trọng của Afghanistan, ông đã từng nhận được hàng chục triệu đô la võ khí do CIA cung cấp để chống Nga. Chính Khalis đã giới thiệu bin Laden với thủ lãnh Taliban là Mohammad Omar. Nhưng khi Mỹ bắt đầu tấn công Afghanistan, Khalis kêu gọi chống Mỹ.

Tới ngụ tại Jalalabad vào tháng 11, 2001, bin Laden cũng vung tiền ra cho các bộ tộc địa phương. Vô hình chung, CIA và bin Laden đã đánh nhau bằng tiền. Nhưng ngoài tiền, Mỹ còn có bom. Khi những cuộc ném bom gia tăng, bin Laden tới ẩn náu tại vùng núi hiểm trở Tora Bora. Tại đây, người của Berntsen đã kiếm ra dấu vết của bin Laden. Vào tháng 12, 2001, Mỹ sử dụng cả pháo đài bay B-52, và chiến đấu cơ F-15, mở cuộc tấn công liên tục kéo dài gần 60 giờ; ngoài ra, một trái bom khổng lồ (BLU-82), được thả xuống từ một phi cơ vận tải C-130, tàn phá một vùng rộng bằng năm sân túc cầu, giết nhiều chiến binh Qaeda, và Berntsen nghĩ rằng trong số có cả bin Laden. Nhưng sáu ngày sau, người của Berntsen nghe được tiếng bin Laden ra lệnh cho thuộc hạ của mình, qua máy radio trên người một tử sĩ Al Qaeda. Bin Laden đã chạy thoát vào sâu trong núi.

Việc hệ trọng không nên nhờ người ngoài

Trở về Kabul, Gary Berntsen đề nghị: muốn bắt bin Laden, oanh tạc bằng máy bay chưa đủ, mà cần phải có 800 biệt động quân mở cuộc lùng bắt, mới có thể thành công. Yêu cầu tấn công bằng bộ binh không được đáp ứng, vì khi đó, đã có dự tính dùng quân cho mặt trận Iraq.

Vẫn cố bám sát bin Laden, CIA đã tuyển được một người Afghanistan vào sâu trong núi, đem cho bin Laden và thuộc hạ thực phẩm và nước uống. Người này đã nhìn thấy bố con bin Laden, và trong cơn túng quẫn, bin Laden cũng không chê đồ ăn, nước uống.

Không đủ quân để tảo thanh vùng hiểm trở Tora Bora, một toán đặc nhiệm tinh nhuệ chọn lọc gồm 30 người thuộc lực lượng Delta, được trao nhiệm vụ đột kích nơi nghi là sào huyệt của bin Laden từ Pakistan, là phía sau ít được phòng thủ. Toán đặc nhệm phải mang theo bình dưỡng khí, vì phải vượt qua mỏm núi cao tới 14 ngàn bộ. Theo dự trù, cuộc đột kích này có sự phối hợp với quân của cả Pakistan và Afghanistan.

Theo lệnh trên, toán đặc nhiệm Delta ngừng tại phía biên giới thuộc Afghanistan để cho quân Afghanistan tiêu diệt bin Laden, trong khi quân Pakistan trấn giữ kín biên giới của mình. Nhưng theo vị thiếu tá chỉ huy toán đặc nhiệm (nay đã về hưu, viết sách với bút hiệu Dalton Fury), quân Afghanistan thiếu tinh nhuệ và sự hăng say chiến đấu, trong khi phía quân Pakistan đã lỗi hẹn, không có mặt. Ngày 10 tháng 12, 2001, được tin báo chỗ ở của bin Laden ở vùng Tora Bora, toán đặc nhiệm mở cuộc tấn công chớp nhoáng, nhưng khi thấy bị các đồng minh Afghanistan bỏ rơi đàng sau lằn ranh của địch quân, toán này phải ngừng tiến quân, bỏ ra hai giờ để cứu đồng đội. Cuộc tấn công bị hủy bỏ. Mùa Hè năm sau, người của Fury trở lại Tora Bora với một toán giảo nghiệm, đào 80 ngôi mộ chiến binh al-Qaeda, nhưng không tìm thấy ai mang dấu tích của bin Laden.

Toán săn bin Laden tiếp tục công tác. Tháng 12 ngăm 2002, họ mở một cuộc tấn công ban đêm vào Tora Bora, bắt được một người chăm sóc sức khỏe cho bin Laden. Người này nói bin Laden đã đi khỏi nơi này từ lâu. Kể từ đó, coi như bặt tin, trừ khi thỉnh thoảng bin Laden lại xuất hiện qua các đoạn băng video để tuyên truyền.

Theo các giới chức hàng đầu về tình báo, qua kinh nghiệm săn hụt bin Laden, Hoa Kỳ đã học được một bài học, là không nên nhờ người ngoài làm hộ chuyện quan trọng như giết bin Laden.

Mấy tháng sau Tora Bora, trong khuôn khổ chuẩn bị chiến tranh Iraq, chính quyền Bush rút bớt lực lượng đặc nhiệm và CIA từng được dùng để săn bin Laden ở Afghanistan. Ngay cả những máy bay không người lái (drones) vốn dùng để theo dõi những người qua lại ở vùng núi non hiểm trở tại Afghanistan cũng được dùng để chuẩn bị mặt trận Iraq. Trung tướng John Vines từng nói với Washington Post vào năm 2006 rằng: có lần, quân của ông chỉ còn cách nửa giờ là đuổi kịp bin Laden, ông xin máy bay không người lái theo dõi ba đường tẩu thoát. Nhưng chỉ có một máy bay sẵn sàng, những chiếc khác đã được gửi tới Iraq. Mục tiêu chạy thoát.

Bỏ đầu, tìm đuôi

Cuộc săn bin Laden không đem lại kết quả đã gây tranh cãi tại Washington, và đơn vị chuyên săn các mục tiêu quan trọng (HVT = High-Value Targets – bin Laden được coi là HVT-1) đã phải nghĩ tới cách săn theo đường lối mới: tìm đuôi để lần ra đầu. Bin Laden có thể trốn trong núi, có thể không, nhưng câu hỏi quan trọng không phải là “Bin Laden đang ở đâu?” mà là, “Bin Laden làm thế nào để thông tin?”

Kết quả thẩm vấn các nghi can khủng bố bị bắt cho biết bin Laden chỉ ra lệnh cho thuộc hạ mỗi tháng một lần, qua liên lạc viên. Điều này khiến các nhà phân tích và giới chức tình báo nhận thấy “cần phải biết rõ mạng lưới tổ chức và các liên lạc viên, để có thể tìm ra nơi trú ẩn của mục tiêu”.

Tại Bạch Ốc, do áp lực của dư luận về việc săn bin Laden quá chậm, ông Bush đã phải mở “chiến dịch Cannonball”, ra lệnh cho CIA “tràn ngập khu vực”, gia tăng nỗ lực săn đuổi tại Pakistan và Afghanistan, nhưng không đem lại kết quả nào.

Nhưng việc tìm hiểu mạng lưới tổ chức của al-Qaeda vẫn tiếp tục. Ngoài CIA, quân đội cũng tham dự cuộc săn bắt. Năm 2006, vơi tư cách chỉ huy của JSOC, Tướng McChrystal đã mở những cuộc hành quân săn bắt các lãnh tụ của al-Qaeda tại cả Iraq, Afghanistan và Yemen. Theo Tướng McChrystal “để đánh bại một mạng lưới quân địch, chúng ta cũng phải trở thành một mạng lưới”. Những tin tức tình báo được phổ biến cho mọi người tại chiến trường, thay vì chỉ gửi cho hệ thống chỉ huy. Video từ các máy bay không người lái không chỉ được gửi cho các nhà phân tích điều khiển các chuyến bay trinh sát, mà gửi cả cho các nhóm chiến đấu tại trận địa. Kết quả tăng lên rõ ràng.

Tại CIA, các nhà phân tích không chỉ tìm kiếm dấu vết nơi các hầm hố, mà còn cả trong sách vở và lời khai từ các cuộc thẩm vấn nghi phạm. Ví dụ, trong cuốn sách nổi tiếng “Growing up Bin Laden” do vợ bin Laden là Najwa và con trai là Omar viết rằng, bin-Laden đã từng có những căn nhà an toàn ở Kabul, vì ông ta nghĩ rằng Mỹ sẽ không bao giờ dội bom ở thành phố, vì sợ giết dân vô tội. Điều này khiến các nhà phân tích nghĩ rằng bin Laden có thể trốn ở thành phố.

Anh hùng thấm mệt

Cuộc săn bắt tiến triển quá chậm, trong khi áp lực của dư luận quá lớn, khiến giới hữu trách cảm thấy mệt mỏi. Một cựu viên chức từng làm việc tại Bạch Ốc thời ông Bush cho biết: “Chúng tôi đã không thể tìm thấy bin Laden sớm hơn. Bên ngoài, chúng tôi vẫn giữ vẻ khẩn trương, làm như cố gắng hết sức. Nhưng năng lực đã hao mòn. Cuộc săn bắt đã bị coi như vấn nạn hạng nhì. Hơn nữa, đó là thời gian cuộc chiến Iraq trong tình trạng tồi tệ nhất”.

Cùng với cuộc chiến Iraq, tình trạng căng thẳng với võ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, đã đoạt sự chú ý hàng đầu của dư luận. Các giới chức cao cấp của chính quyền Bush không muốn đề cập tới cuộc săn bin Laden nữa. Trong mấy năm kế tiếp, cuộc săn bắt chỉ còn nhờ vào kết quả quan sát của máy bay trinh sát không người lái. Nhưng hy vọng vẫn chỉ là hy vọng. Vào khoảng năm năm sau cuộc săn bắt, vì thiếu những tin tức khả tín về bin Laden, Bạch Ốc của ông Bush, qua các tuyên bố chính thức, đã có chiều hướng giảm thiểu vai trò quan trọng của cá nhân bin Laden, và hướng dư luận về những đe dọa khác. Đầu năm 2009, Tổng Thống Bush con chấm dứt nhiệm kỳ, ra đi tay trắng, không bắt được bin Laden, sống hay chết.

Cuộc săn Osama sang tay Obama.

Một tháng trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 2008, trong cuộc tranh luận chót với đối thủ John McCain tại Đại Học Belmont ở Nashville, một phụ nữ trong số khán thính giả hỏi ông Obama rằng, ông có theo đuổi cuộc săn bắt lãnh tụ Al Qaeda không, nếu bin Laden trong lãnh thổ Pakistan, và làm như vậy, liệu có xâm phạm lãnh thổ của đồng minh không? Ông Obama trả lời: “Nếu chúng ta thấy Osama bin Laden và chính quyền Pakistan không thể, hay không muốn bắt, thì tôi nghĩ rằng chúng ta phải hành động để bắt. Chúng ta sẽ giết bin Laden. Chúng ta sẽ đập tan Al Qaeda. Đó là ưu tiên lớn nhất cho an ninh quốc gia của chúng ta”. McCain cho đó là lời hứa hão.

Bốn tháng sau khi Obama làm chủ Bạch Ốc , Giám Đốc CIA Leon Panetta tường trình Obama về các chương trình và sáng kiến mới nhất trong cuộc săn bin Laden. Obama không mấy phấn khởi. Vào tháng Sáu, ông đã chỉ thị cho Panetta thảo ra một kế hoạch chi tiết, sử dụng mọi nỗ lực cần thiết để săn bin Laden. Obama cũng ra lệnh cho CIA tăng cường các vụ tấn công bí mật của máy bay không người lái. Trong năm đầu nhiệm kỳ Obama, các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn trong nội địa Pakistan nhiều hơn tổng số tám năm nhiệm kỳ của ông Bush. Theo tin CBS tháng 7, 2009, chính Al Qaeda cũng thừa nhận “nhiều tư lệnh can trường đã bị bắt, và nhiều cơ sở bí mật đã bị bình địa”. Nhưng bin Laden vẫn biệt tăm.

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 19 May 2025

Chương 2

Mười lăm năm trôi qua.

Ông Thân Phước từ trần. Cậu Hai Minh trở thành ông Chúa Hòn. Mấy năm liên tiếp, vườn tiêu ở Hòn Chông được mùa, cậu Hai ăn xài như nước. Bọn thương gia ở Xiêm, ở Mã Lai ra vào tấp nập. Dân chúng không gọi cậu là cậu Hai nữa. Cậu mặc áo gấm, chiếc áo truyền tử lưu tôn từ mấy đời.

Tất cả tiền bạc, sổ sách chi thu của cậu Hai đều do ông Bá Vạn nắm giữ. Ông nầy là người Triều Châu lai Việt Nam, tuổi hơn 60. Hằng ngày ông Bá Vạn tiếp xúc với bọn thương gia và bọn tá điền mướn đất trồng tiêu. Khi cần dùng tiền bạc, cậu Hai nói một tiếng là ông xuất ra.

Sự tín nhiệm to lớn ấy sở dĩ có là do lòng ngay thẳng của chính ông Bá Vạn. Lúc hấp hối, ông Thần Phước gọi cậu Hai đến mà căn dặn:

– Bá Vạn là người giúp đỡ dòng họ mình lừ lâu đời. Ba chết đi, con trở thành ông Chúa Hòn thì cứ xem ông Bá Vạn là tể tướng.

Ngày giỗ ông Thần Phước năm ấy, ông Bá Vạn quỳ bên bàn thờ. Ông Chúa Hòn – tức là cậu Hai Minh- mặc áo gấm ngồi uống rượu, bên cạnh là cậu Hai Điền, đứa con mà cậu với bà chánh thất sanh ra.

Hai Điền năm ấy được 30 tuổi, tánh tình kiêu hãnh, thích săn heo rừng và thích ra các hải đảo mà ăn uống, giữa cảnh trời nước mênh mông. Cậu ngồi im lặng, bực dọc vì nghi lễ phiền phức.

Người bày nghi lễ ấy, chính là ông Bá Vạn.

Cậu hỏi:

– Ông Bá Vạn ơi! Tới giờ chưa?

Ông Bá Vạn xem cậu Hai Điền là trẻ con nên ung dung ra trước sân xem bóng nắng. Lúc sau ông trở vô, đến trước mặt ông Chúa Hòn mà thưa:

– Đến giờ thắp nhang, thưa ông.

Ông Chúa Hòn day lại:

– Để đó cho ta…

Nhưng ông Bá Vạn đã lanh lẹn đến cạnh bàn thờ, lấy ba cây nhang thật to, loại nhang trầm hương do mấy người thương gia từ Quảng Nam đem vào dâng tặng hồi năm ngoái. Ông Bá Vạn đốt nhang, cúi đầu trao cho Chúa Hòn.

Từ lâu rồi, cậu Hai Điền không ưa ông Bá Vạn vì ông nầy quá nịnh bợ. Cậu muốn, buổi lễ nầy chấm dứt nhanh chóng để còn thời giờ lên chót hòn săn heo rừng. Bọn gia nhân cho biết rằng mấy ngày qua, dân chúng sợ hãi vì con heo rừng ‘‘độc giác’’ từ Dương Hòa chạy lạc tới, con độc giác nầy đã đánh chết hai người thợ săn. Cậu muốn giết nó để rửa hận cho những người quá cố, đồng thời cũng là để biểu dương ‘‘khí tượng’’ của một ‘‘thái tử’’ trẻ tuổi. Cậu chép miệng, quỳ xuống phía sau cha.

Ông Chúa Hòn là cậu Hai Minh cầm ba cây nhang. Mọi người đều im phăng phắc vì giờ phút hành lễ đã đến. Ông Bá Vạn bỗng nhiên lại chắp tay xá ông Chúa Hòn rồi nói:

– Thưa ông, ông là ông Chúa trong vùng rộng lớn nầy, hàng vạn người từ bao đời rồi có cơm ăn áo mặc là nhờ công đức bao la trời biển của tiên nhân để lại.

Nghe tới đó, cậu Hai Điền thêm bực tức, nhưng vì nể oai quyền của cha và muốn giữ trật tự nên đành im lặng mà chửi rủa lầm thầm.

– Tao còn nhỏ, ba tao hiền lành. Bằng không thì tao đuổi mầy từ lâu. Ai dạy mầy cái thói nịnh bợ quá mức? Già nua lụm cụm rồi mà nết na không đàng hoàng. Cái gì mà công lao trời biển? Chi cho lắm mà ruồi nó bu….

Cậu day lại phía sau, nơi hàng trăm người đang quỳ, dài ra tới ngoài sân cỏ. Đó là những bô lão đã làm tá điền cho ông Thần Phước. Cậu nhăn mặt; bịt mũi như để phản đối ngầm ông Bá Vạn.

Trước bàn thờ, ông Chúa Hòn cầm ba cây nhang đưa lên ngang trán, khấn vái rồi hỏi:

– Bá Vạn! Xong chưa? Bây giờ ta cắm nhang vào lư nhang.

Ông Bá Vạn đáp:

– Gia đình tôi hưởng bổng lộc mấy đời của tiền nhân, vậy xin ông cho phép tôi ‘‘thỉnh’’ mấy cây nhang nầy, đem cắm vào lư nhang.

Cắm xong mấy cây nhang, ông Bá Vạn đứng khoanh tay. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Lễ thành chưa?

‘‘Lễ thành’’ hoặc ‘‘lễ tất’’ là danh từ xưa, nghĩa là xong buổi lễ. Ông Bá Vạn nói, giọng run run:

– Thưa ông, bâv giờ buổi lễ mới bắt đầu.

– Ủa! Sao vậy? Thức ăn dọn lên từ nãy giờ. Chẳng lẽ ta đứng mãi mãi trước bàn thờ. Mọi khi, ta nhớ rằng người trưởng tộc như ta chỉ thắp nhang rồị… ngồi chờ cho tuần nhang cháy dứt.

Cậu Hai Điền lắng tai nghe ông Bá Vạn trả lời:

– Dạ, ông ngồi mà chứng kiến. Hôm nay, tôi có rước bọn học trò lễ ở đình Dương Hòa tới. Bọn nầy giỏi lắm, biết cách cúng kiếng theo lễ nghi… ở ngoài triều đình Huế.

Vì tò mò, vì thích được nịnh bợ nên ông Chúa Hòn gật đầu:

– Cứ gọi bọn nó vào đây cho ta xem. Cúng theo nghi lễ ở triều đình, phải lắm. Ta là Chúa Hòn. Cha ta trước kia cũng là ông chúa. Vua với chúa nào có khác gì đâu.

Ông Bá Vạn mừng rỡ vô cùng:

– Ông nói chí lý. Vua trị vì một nước. Chúa thì trị vì một vùng… giang sơn gấm vóc, như ông vua nhỏ.

Vì quỳ gối quá lâu hơi mỏi nên cậu Hai Điền cứ cựa quậy đôi chân. Cậu toan đứng dậy, chửi vào mặt Bá Vạn một câu cho hả giận, đại khái như: ‘‘Tao chán cái trò nịnh bợ’’. Nhưng ông Bá Vạn cứ trầm tĩnh, khoát tay về phía sau. Hai tên học trò lễ bước vào, mặc áo dài mầu vàng, đầu đội mão có sợi dây lòng thòng xuống nửa lưng. Hai tên gia nhân khiêng cái bàn nhỏ và cái chuông, để bên cạnh. Bá Vạn trình bày:

– Thưa ông, nếu ông cho phép thì tụi nó bắt đầu…

Tuy chưa hiểu những gì sắp xảy ra, ông Chúa Hòn vẫn gật đầu:

– Ta cho phép.

Tiếng chuông thứ nhứt gõ lên.

– ‘‘Boong…’’

Hai người học trò lên đến bàn, mỗi đứa bưng một chén cơm, nâng ngang trán rồi bước nhịp nhàng, nhún chân xuống, đá một chân rồi bước, rất chậm rãi. Hai cậu quỳ xuống, để hai chén cơm lên bàn thờ.

Ông Bá Vạn chắp tay:

– Xin ông chúa… hành lễ.

Ông Chúa Hòn trợn mắt:

– Hành… cái gì?

– Dạ, ông cầm đôi đũa nầy mà xẻ mở cơm trong chén rồi trộn lại..

Để khỏi mất thì giờ, ông Chúa Hòn làm theo lời dặn của ông Bá Vạn. Một tiếng chuông vang lên. Hai người học trò lễ nâng hai chén cơm, để trên bàn thờ bên cạnh lư nhang. Rồi lại một tiếng chuông khác, hai đứa đứng bưng hai dĩa thịt luộc quỳ xuống, ông Chúa Hòn cầm đũa trộn mấy miếng thịt…

Nghe tiếng chuông hơi nhàm ấy, cậu Hai Điền ngáp dài, lim dim đôi mắt. Chừng nghe hồi chuông liên tiếp, cậu đứng dậy trước hơn ai hết. Ông Chúa Hòn chắp tay xá bàn thờ rồi đi nhanh ra sân, mồ hôi ướt đẫm sau lưng. Ông Bá Vạn vuốt râu cười nói với hai đứa học trò lễ:

– Tụi bây làm coi được quá!

Cậu Hai bĩu môi khi chạm mặt ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn chắp tay:

– Tôi mong sau nầy được theo chân cậu. Đời tôi thọ ơn gia đình cậu quá nhiều, như ơn trời biển.

Nhịn không được nữa, cậu Hai Điền quát to:

– Già rồi mà chưa nên nết. Tao ghét mấy thằng nịnh!

Ông Bá Vạn vẫn bình tĩnh:

– Tội nghiệp tôi mà cậu Hai. Ở đây đông đảo, tôi phạm lỗi gì, xin cậu rầy la lúc về nhà. Ăn thua với người già như tôi để làm gì?

Nhanh như chớp, cậu Hai Điền bước tới chụp cái tô đựng nước mắm, ném mạnh vào mặt ông Bá Vạn. Ông nầy né tránh không kịp nên mặt mày râu ria dính nước mắm. Như chưa hả cơn giận, cậu Hai ném cái tô đựng thịt kho vào ngực ông Bá Vạn. Hai cái tô rơi xuống gạch, bể nát.

Cử tọa nhốn nháo lên. Mấy ông bô lão không muốn dính líu đến cuộc tranh chấp nầy, chạy nhanh ra sân, mỗi người đi tản mác một hướng để khỏi làm nhân chứng. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Ông Bá Vạn lấy tay vuốt mặt, trả lời:

– Thưa ông, không có gì hết.

Cậu Hai Điền hơi giựt mình, biết mình vừa làm một chuyện gây ra nhiều hậu quả tai hại. Trong khi đó, ông Bá Vạn ung dung đến bên hè, đứng lại gần lu nước, múc một gáo nhỏ rồi rửa mặt, rửa thật chậm.

Cậu Hai Điền ra khỏi cửa, đến nhà riêng ở gần phủ thờ. Đứa nữ tỳ lại gần ông Bá Vạn, nói khẽ:

– Để con về nhà, đem cái áo khác cho ông thay.

Ông Bá Vạn lắc đầu:

– Thây kệ tao!

Tên hộ vệ của ông Bá Vạn múc thêm gáo nước rồi yêu cầu:

– Ông cúi đầu xuống, tôi rửa trên tóc cho…

Vài người tò mò đứng ở góc sân nhìn cảnh tượng ấy. Tên hộ vệ quát to:

– Có gì lạ mà coi! Hồi nãy, cậu Hai say rượu. Đi chỗ khác, mấy người điếc sao chớ?

Như đau đớn tột độ, ông Bá Vạn ngồi xuống bên thềm phủ thờ. Đôi mắt ông đổ sao, lỗ tai lùng bùng. Hơn mười năm qua, chưa bao giờ ông bị hạ nhục giữa đám đông như thế. Cậu Hai Minh được dân chúng tôn là ông Chúa Hòn thì mặc nhiên ông Bá Vạn là bực tể tướng. Ông lo gìn giữ sản nghiệp cho cậu Hai, tại sao con ruột cậu Hai lại đành cư xử tàn nhẫn như thế, còn hơn là đối với bọn tôi đòi trong nhà.

Tên hộ vệ nói:

– Xin ông về, ở đây ích lợi gì!

Ngoài đường, người qua kẻ lại rộn rịp, đa số là bọn dân phu làm công trong vườn trồng hồ tiêu. Dường như ai nấy đều biết chuyện ông Bá Vạn bị tạt thịt kho và nước mắm vào đầu, vì cái tội nịnh bợ ông Chúa Hòn.

Họ liếc vào phủ thờ. Lúc ban đầu, ông Bá Vạn cúi mặt. Nhưng lát sau, ông ngẫng đầu lên:

– Ích lợi chớ. Tao ở đây cho thiên hạ thấy bằng cớ.

Nói đến đó, ông tự kềm chế lại. Tư tưởng ông đã đến lúc dứt khoát, từ nay trở đi ông có thái độ sẽ dứt khoát. Ông Chúa Hòn phải chết. Cậu Hai Điền, người thừa kế của ông Chúa Hòn, người tạt tô thịt kho và tô nước mắm, cũng phải chết. Trong phút giây, ông Bá Vạn nắm chặt hai bàn tay để tập trung sinh lực, mắt sáng lên. Tuổi ông già rồi, ông không thể chờ đợi… thời gian trả lời. Những cuộc âm mưu truất phế, tranh giành ngôi thứ trong truyện Tàu đời Đường, đời Tây Thái Hậu cứ hiện ra. Nhưng giết ông Chúa Hòn, giết cậu Hai Điền bằng cách nào cho khéo léo, cho dân chúng không phản đối? Bên cạnh ông Chúa và cậu Hai có hàng chục vệ sĩ tài ba và mạnh khỏe, ông Bá Vạn lẩm bẩm:

– Mình nên lấy độc trị độc…

Nghĩ vậy, ông đứng thẳng người, nói với tên hộ vệ:

– Đưa tao về. Mầy đi trước. Tao cứ ăn mặc dơ dáy như vầy cho thiên hạ thấy cái tội tày trời của cậu Hai Điền. Hôm nay tao xấu xí bao nhiêu thì ngày nào đó, tao sạch sẽ bấy nhiêu. Hôm nay tao khiếp nhược, ngày nào đó tao trở thành người anh hùng.

Tên hộ vệ can gián:

– Ra tới cổng rồi! Ông nên dè dặt lời nói.

Tên hộ vệ vừa sợ vừa mừng. Tài sản của ông Chúa Hòn đâu phải là ít, nào châu báu ngọc ngà, nào đất ruộng và vườn tiêu. Muốn đi tuần tra vùng đất bao la nầy, phải đi hai, ba ngày mới giáp vòng. Một khi ông Bá Vạn soán ngôi Chúa Hòn thì tên hộ vệ sẽ trở thành nhân vật quan trọng, một ông Bá Vạn thứ nhì.

Nhưng bao nhiêu nguy hiểm sẽ xẩy ra.

Ông Bá Vạn nói:

– Ai kia?

Tên hộ vệ giựt mình, nhòm qua bên kia đường. Bên quán nhỏ, cô Ngó đứng trang nghiêm, cầm trong tay năm bảy đóa hoa sen còn búp. Cô Ngó cúi đầu chào ông Bá Vạn. Đột nhiên mà ông Bá Vạn nảy ra một sáng kiến thần tình. Bấy lâu, cô Ngó được ông Chúa Hòn tưng tiu, nhưng cô buồn vì đứa con trai là thằng Ba Cẩu bị đuổi ra xa, nuôi tại nhà của ông ngoại nó là Mười Hấu ở núi Mo So. Nếu giết ông Chúa Hòn, ông Bá Vạn sẽ đưa Ba Cẩu lên thay thế, vì nó là con trai thứ nhì của ông Chúa.

Cậu trai thứ nhứt, kẻ thù của ông Bá Vạn sẽ bị giết dễ dàng. Cậu ta ưa đi săn heo rừng.

– Thời cơ đã tới!

Ông Bá Vạn mỉm cười, cúi đầu đáp lễ rồi đến bên kia đường. Cô Ngó lên tiếng trước:

– Ông Bá Vạn chưa về sao? Lễ giỗ đã tàn từ nãy giờ. Ủa! Sao lạ quá?

Rồi cô cau mày, nói khẽ với ông Bá Vạn:

– Thiên hạ tò mò.

Tên hộ vệ khoát tay. Mấy người trong quán hoảng sợ rút lui vào trong, đồng thời ông Bá Vạn và cô Ngó từ từ rảo bước. Cô Ngó giả vờ như chưa biết gì ráo nên hỏi dọ để thử phản ứng của ông Bá Vạn:

– Trên đầu ông, trên áo… còn dính cái gì?

Ông Bá Vạn muốn nhờ cô giúp một tay quan trọng trong kế hoạch truất phế sắp tới, nên trình bày vắn tắt:

– Tôi chưa dám hờn giận cậu Hai Điền. Cậu còn nhỏ mà bất chấp người có tuổi tác như tôi. Chắc cô nghe thiên hạ nói nhiều rồi.

– Tôi nghe nói nhưng chưa vội tin. Chừng gặp ông, tôi mới hiểu rằng cậu Hai cư xử quá đáng. Bởi vậy…

Ông Bá Vạn nín thinh, chờ nghe cô Ngó nói tiếp:

– Bởi vậy, tôi mừng vì thằng Cẩu, con tôi được nuôi nấng ở nơi quê mùa hẻo lánh. Nếu nó sống sung sướng như con trưởng nam thừa hưởng gia tài thì ai cấm cản nó làm chuyện phách lối.

– Cám ơn cô. Cô nghĩ tới tôi, tôi không quên ơn đó. Xin cô kín tiếng, nói chuyện lâu bất tiện.

Dứt lời, ông Bá Vạn bước chậm rãi về tư thất ở cách xa nhà ông Chúa Hòn gần mười công đất. Dọc đường, nhiều người đứng khép nép nhìn cái áo lem lấm với thái độ mỉa mai châm chọc. Mấy bệt nước mắm vẫn chưa khô. Vì bực dọc, bị hạ nhục lây nên tên hộ vệ nhiều phen nổi giận, quát mắng những kẻ tò mò. Ông Bá Vạn chỉ khuyên nhủ hắn:

– Đừng rầy rà họ. Họ được quyền chứng kiến sự nhục nhã của tao hôm nay. Chắc là họ nói lén, chê tao là thằng già nịnh bợ, khiếp nhược, hèn hạ. Dư luận thế gian, hơi đâu mà nghe. Họ ghét tao, họ khinh khi tao nhưng rồi đây họ sẽ sợ tao.

Khi đến nhà, ông Bá Vạn vào phòng cởi cái áo lem lấm hôi tanh ra. Đứa nữ tỳ đến gần, đón chiếc áo.

– Ông đưa cho con giặt sạch sẽ.

Ông Bá Vạn trợn mắt:

– Để đấy! Lấy cái tráp đằng kia cho tao. Phải để nguyên mùi vị hôi hám để sau nầy làm bằng cớ.

Rồi ông xếp cái áo thật kỹ, để gọn trong cái tráp, khóa lại:

– Tao gối đầu trên cái tráp nầy. Bây giờ, mi múc thau nước rửa đầu, chải tóc cho tao.

Lúc ngồi uống trà, ông Bá Vạn chợt thấy tên hô vệ bước vào:

– Thưa ông, ông Chúa Hòn nhắn gặp.

Ông Bá Vạn đáp:

– Tao đương buồn vì chuyện xẩy ra lúc nãy nên không tới được. Cứ trả lời như vậy. Ai tới đây nhắn tin, mời người đó vô đây.

Chừng gặp mặt đứa nữ tỳ, ông Bá Vạn nhận lời ngay, hứa đến gặp ông Chúa Hòn trong giây lát. Nữ tỳ nói khẽ:

– Thưa ông, ông Chúa Hòn đã biết cái tội vô lễ của cậu Hai. Ông hứa sẽ rầy la…

Khung cảnh vui vẻ trên giường của ông Chúa Hòn khiến ông Bá Vạn ngạc nhiên, ông Chúa cứ uống rượu, sau lưng có cô Ngó đứng quạt hầu. Cô Ngó liếc về ông Bá Vạn, gật đầu như khuyên nhủ ông đừng nóng nảy, ông Chúa Hòn reo lên:

– Bá Vạn tới rồi! Ngồi trên giường nầy cho thân mật hơn.

Giường là cái sạp đóng bằng cây cẩm lai, chân thấp, phía trên có đóng khung sơn son thếp vàng để giăng cái mùng bằng nhiễu đỏ.

Mùng đươc vén lên khéo léo. Ông Chúa Hòn vỗ vai Bá Vạn:

– Cứ ngồi. Ta mới sắm cái giường nầy, ông thấy sao?

– Dạ, đẹp lắm.

Ông Chứa Hòn ngồi ưỡn ngực, dựa hai tay trên hai cái gối vuông rồi nói chậm rãi:

– Tháng sau, ta tặng cho một cái giường như vầy. Đó là danh dự lớn của người thành công, thành danh.

– Dạ, tôi sắm một cái giường rồi.

– Nhưng chưa sơn son thếp vàng. Bấy lâu, ông giúp gia đình ta nhiều lắm mà ta chưa ban thưởng.

Câu nói ấy khiến ông Bá Vạn bớt giận phần nào. Chúa Hòn gọi ông bằng ông, đó là sự biệt đãi. Nhưng tại sao ông Chúa chưa đề cập tới chuyện cậu Hai Điền phải xin lỗi về cái tô thịt kho và cái tô nước mắm? Ông Chúa Hòn tiếp lời:

-Ta ngủ trên cái giường, viết chữ trên cái giường, uống trà trên cái giường. Nhiều người hút á phiện, đánh bài và khảy đàn trên cái giường, ngồi tại đó, nằm tại đó. Khi ta cỡi hạc qui tiên thì con cháu giành cái giường ấy mà thờ. Bởi vậy, về sau, gọi là cái giường thờ. Ta tặng cho một cái giường. Ta muốn ban thưởng bởi vì lúc nãy có điềm lạ quá.

– Dạ điềm gì?

– Hai con cò trắng từ đâu bay tới, chạy lững thững vô nhà. Theo ông thì đó là điềm lành hay điềm dữ?

Ônq Bá Vạn nghĩ kế hoạch giết hoặc truất phế ông Chúa Hòn rồi đem thằng Cẩu, con cô Ngó lên thay thế, đồng thời ông tìm cách giết luôn cậu Hai Điền để rửa hận! Dư luận sẽ tha thứ, vì chừng đó ông vẫn tiếp tục đóng vai trò quản gia cho thằng Cẩu, đứa con rơi của ông Chúa Hòn. Con cò giống như con hạc, ở đồi núi Hà Tiên làm sao con hạc sống được? Hạc vào nhà, đến tận giường ông Chúa Hòn là điềm cỡi hạc qui tiên, tức là chết. Phải chăng Trời Phật muốn giúp ông? Ông cau mày, chờ khi ông Chúa Hòn hỏi đến lần thứ ba:

– Điềm gì? Bá Vạn cứ nói thiệt?

– Dạ, sau lễ giỗ, hai con hạc vào nhà tức là vong linh tiên nhân xuống cõi trần để thăm con cái. Theo tôi hiểu đó là điềm tốt. Tiên nhân cỡi hạc xuống đây.

Ông Chúa Hòn vẫn thắc mắc:

– Đành vậy, nhưng mà ta hơi buồn. Con trưởng nam của ta thì ngỗ nghịch, thích săn heo rừng. Nó đi vắng rồi. Ta gọi ông đến để cùng nhau lên núi Đất, gần Hòn Me, nhờ thần linh chỉ dạy.

Ông Bá Vạn gật đầu:

– Bên đó, có ông đạo Đất xem quẻ giỏi lắm.

– Nhưng ông đạo Đất chỉ là người phàm. Ta muốn bà Chúa Xứ xem giùm một quẻ.

– Ông dạy thì tôi vâng lời.

Sáng hôm sau, hai chiếc ghe chở ông Chúa Hòn và bọn hộ vệ đến Hòn Me. Chuyến đi, ông Chúa Hòn qua ngang nhà Tư Thính và cô Huôi. Ông Bá Vạn nào chú ý đến gia đình đó, cứ thúc hối bọn hộ vệ chèo ghe thật nhanh đến sườn núi phía bờ biển. Hai tên hộ vệ lên trước để dọn đường. Miễu bà Chúa Xứ ở bên sườn Hòn Me, khá cao. Ông Bá Vạn nài nỉ:

– Ông Chúa ngồi đây mà chờ. Tôi cho xác bà hay trước để khỏi mất thời giờ.

Con đường quanh co, đầy sỏi gai, đôi khi phải trèo lên mấy tảng đá gồ ghề. Phải mệt nhọc lắm, ông mới đến miễu bà Chúa Xứ được. Miễu hiện ra với mái ngói đen đúa. ‘‘Xác bà’’ là cô gái chừng hai mươi tuổi, chưa chồng. Hay tin ông Chúa Hòn tới, ông lão giữ miễu hơi sợ sệt:

– Dạ, làm sao tôi đón rước được? Mọi năm cúng vía bà vào ngày mùng sáu tháng năm. Bây giờ, chỗ ngồi không sạch sẽ, trà rượu không có, tôi sợ ông Chúa Hòn phiền giận. Xin ông Bá dời lại ngày mai hoặc ngày mốt.

– Ông Chúa muốn thì đừng cãi. Dọn dẹp bàn thờ sạch sẽ, kéo ghế nào hơi lớn cho ông chúa ngồi là đủ rồi. Ông tới nhờ bà coi quẻ rồi về chớ đâu phải cúng kiếng.

Ông từ giữ miễu vẫn cau có:

– Cô Tư lên xác cuốc rẫy ở đằng kia, rủi cổ vắng nhà thì không ai thay thế được!

– Cứ gọi cô lên xác tới đây. Mua thêm nhang đèn, trà rượu. Tốn kém một, thời ông Chúa trả lại bằng mười. Già rồi mà ông còn khờ quá, đây là dịp kiếm thêm tiền để mua rượu đủ bốn, năm tháng.

Ngồi trên ghế chờ đợi hơi lâu, ông Chúa Hòn ra lịnh:

– Tụi bay đưa tao lên miễu! Nóng ruột quá.

Ồng Chúa Hòn đứng trước mũi ghe, hai tên hộ vệ bồng khéo léo đưa lên bờ. Bọn chúng muốn cõng ông lên sườn núi, ông nói to:

– Để tao đi một mình.

Một tên hộ vệ nói:

– Dạ trèo núi cực lắm, nào rắn rít, kiến vàng.

– Để tao đi một mình cho được phước.

Nhưng chưa được nửa đường, ông Chứa Hòn đành chịu thua:

– Cao quá, hễ leo tới cục đá trên kia thì tao đuối sức, rủi trợt té thì sanh bịnh. Nãy giờ, tao chứng minh lòng thành rồi. Tụi bay cõng tao lên. Cõng cho mau.

Đến trước sân miễu, ông Chúa Hòn mừng thầm vì ông Bá Vạn đứng sẵn để chào đón. Chúa Hòn hỏi:

– Xác bà tới chưa?

– Dạ, vì ông đến thình lình nên nãy giờ ông từ đi kiếm. Lát nữa về chứ gì. Mời ông ngồi nghỉ.

Ông Chúa Hòn tin rằng phen nầy xác bà sẽ đoán điềm hai con cò trắng vào nhà. Bấy lâu, ông Bá Vạn thích nịnh bợ nên căn dặn trước những gì mà xác bà phải nói cho ông hài lòng. Bá Vạn chưa tiếp xúc với xác bà. May quá.

Cô gái lên xác đã tới. Ông Chúa Hòn mừng rỡ và nói khéo với ông Bá Vạn:

– Lên xác cho mau. Hai con cò bay vô nhà tôi chắc là điều may mắn. Đừng nói cho người xác biết bất cứ chuyện gì.

Ông Bá Vạn vuốt râu cười:

– Gặp ông thì họ cứ nói dối để nịnh bợ. Bởi vậy hôm nay, ông đừng cho tiền trước. Nhang đèn, đã có ông từ giữ miễu lo rồi. Ông ngồi chờ.

Ông từ lấy miếng vải, lau chùi bàn thờ cho sạch sẽ. Trong khi đó ông Bá Vạn cố ý làm vừa lòng ông Chúa Hòn bằng cách gọi ba tên hộ vệ đến, khuyên chúng phải canh phòng bốn phía miễu, cấm ngặt không cho ai lại gần, nhứt là không cho tên hộ vệ nào khác đến tiếp xúc với cô gái lên xác, đề phòng trường hợp cô ta lên xác giả rồi nói những lời nịnh bợ.

Bọn nhạc công đã tới. Họ chắp tay chào ông Chúa Hòn rồi ngồi xuống, bắt đầu so giây đờn. Vùng nầy còn người Cao Miên nên chịu ít nhiều ảnh hưởng, tô điểm vài hương sắc kỳ lạ. Thay vì dùng kiểu trống cơm, trong ban nhạc cổ kiểu trống vỗ, hình tròn như cái gối. Thân trống làm bằng cây, mặt kia bịt miếng da dày.

Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ kiêu hãnh:

– Chú kia! Trống còn tốt không?

Anh nhạc công trả lời:

– Thưa ông, kiểu trống Miên, bịt miệng da sấu. Xin ông cho phép tôi đốt lửa.

Ông Bá Vạn nói với ông từ:

– Làm gì thì làm. Đừng thúc hối cô gái lên xác. Cứ tự nhiên như vậy, chừng nào lên cũng được.

Bếp lửa cháy bừng bừng, trước bàn thờ bà Chúa Xứ. Anh nhạc công đến gần, lăn tròn cái trống rồi hơ cho miếng da sấu được nóng, ông Bá Vạn giải thích với ông Chúa Hòn:

– Da nóng thì tiếng trống mới dòn.

Ông từ ra trước sân, cắm ba cây nhang vào cái miễu nhỏ ở gốc cây dừa, lâm râm khấn vái rồi trở vô:

– Vỗ trống lên!

Anh nhạc công bèn cởi áo ra, trợn mắt, hai bàn tay vỗ mạnh vào miếng da sấu. Anh ta ngồi xếp bằng, thân trống nằm gọn trong lòng. Tiếng ‘‘tung tung’’ vang dội. Vài người trong xóm chạy tới, muốn đến gần miễu. Bọn hộ vệ xua đuổi:

– Muốn chết sao mà lại gần! Mấy người không thấy ông Chúa Hòn ngồi đó sao?

Thời khắc cứ trôi qua, ông từ giữ miễu đến gần ông Bá Vạn mà trình bày:

– Thưa ông, người lên xác còn tắm gội sạch sẽ để hôm nay…

Ông Chúa Hòn hơi bồn chồn:

– Tắm rửa gì lâu dữ vậy? Tắm ở đâu?

Ông Bá Vạn cau mày, trong khi ông từ bối rối:

– Thưa.. ở gần bờ suối. Tắm gần đây thì sợ ô uế, bà không về nhập xác.

– Coi một lần nữa rồi cho ta biết còn bao lâu mới lên xác được! Lâu quá rồi.

Chính ông Bá Vạn cũng hơi ngạc nhiên vì sự trể nải ấy. Thật ra việc tắm gội ấy chỉ là hình thức mà thôi. Nhiều cô gái lên xác tuy gọi là ‘‘đồng trinh’’ nhưng còn gì là trinh tiết. Các cô có tình nhân trong xóm, như trong trường hợp miễu bà Chúa Xứ nầy thì chàng trai vỗ trống nọ có thể là tình nhân của cô ta. Để làm vừa lòng ông Chúa Hòn, ông từ giữ miễu bèn thắp hai ngọn đèn sáng trên bàn thờ, thắp nắm nhang cắm vào lư rồi ra phía sau miễu.

Ông Chúa Hòn vốn tin dị đoan nên vẫn cằn nhằn:

– Hai con vô nhà tôi là phụng hoàng hay là con hạc? Điềm lạ quá.

Nhớ đến hai tô thịt kho và nước mắm mà cậu Hai Điền đã tạt lên mình, ông Bá Vạn gật đầu, nói giọng trầm trầm.

– Có lẽ là chuyện lạ. ‘‘Lạ’’ nhiều khi là may mắn…

– Hộ vệ đâu? – Ông Chúa nói gắt

Hai tên võ sĩ chạy đến khoanh tay chờ lịnh. Chúa Hòn như ray rứt, khó chịu, cứ trợn mắt nhìn xung quanh rồi quát to:

– Cái gì mà vỗ trống hoài! Đừng vỗ nữa.

Đột nhiên, ông từ giữ miễu chạy tới, mặt mày tái mét:

– Chết rồi! Ông ơi! Cứu cô xác!

Ông Bá Vạn đứng dậy, hỏi kỹ:

– Cô chết rồi à? Ai giết cô?

Ông Chúa Hòn nói:

– Chỗ nào? Hộ vệ đâu, theo tao. Bọn nào dám tới đây, tụi bây canh phòng như vậy đó hả?

Bọn nhạc công hoảng sợ, đứng dậy và trong lúc mất bình tĩnh, anh chàng vỗ trống quơ tay đụng nhằm ngọn đèn trên bàn thờ. Ngọn đèn ngã xuống, lửa bắt qua mớ chân nhang. Ông Chúa Hòn chạy ra sau miễu, hơn mười tên hộ vệ bao bọc chung quanh. Việc gì đã xẩy ra? Ông Bá Vạn cố gắng chạy theo, nài nỉ ông Chúa Hòn:

– Xin ông đừng tới bờ suối. Nếu kẻ gian bắt cô gái lên xác thì tôi… xé xác bọn nó. Ra ngoài đó nguy hiểm lắm.

Nhưng ông Chúa Hòn như say máu, như sợ sệt, như bị chạm tự ái:

– Đứa nào giết cô gái lên xác là đứa đó muốn xúc phạm tới tao! Quá lộng rồi sao chớ! Điềm gì vậy?

Đến bờ suối, ông Bá Vạn đứng tần ngần, mấy tảng đá bên bờ đều ướt mem, chứng tỏ rằng cô gái lên xác đã tắm gội tại đó và đã cựa quậy chống cự. Điều ngạc nhiên là hai tên hộ vệ đã mất dạng. Ông gọi to:

– Tụi bây đâu rồi?

Từ phía bụi rậm ở ngọn suối, có tiếng trả lời:

– Cứu tôi, cứu cô gái. Mau lên đây! Con rắn to lớn lắm.

Cả bọn đến nơi, dẫn đầu là ông Bá Vạn. Ông Chúa Hòn trố mắt, mặt mày tái mét:

– Chết rồi à! Con rắn đâu?

Cô gái lên xác đã tắt thở. Rõ ràng là con rắn hoặc con trăn đến quấn cô. Cô nằm đây, thân hình co quắp, chắc là xương sống bị gãy làm đôi. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, tay cầm ngọn dao đỏ lòm, máu nhễu giọt lóng lánh ở mũi dao:

– Dạ, tụi tôi chặt được khúc đuôi con rắn…

Ông Chúa Hòn hỏi:

– Con rắn mất đuôi thì còn sống. Tụi bây không đem cái đầu rắn về cho tao thì ngày mai tao giết cả bọn!

Ông Bá Vạn van nài:

– Xin ông về nghỉ. Đây là chuyện thường lệ, rừng núi thiếu gì rắn độc, tắm ở bờ suối mà bị rắn hoặc trăn quấn, đâu có gì quan trọng…

Nhưng lời thuyết phục ấy không làm cho ông Chúa Hòn được yên tâm. Bọn hộ vệ la hoảng, đứng bao vây chung quanh:

– Cháy! Miễu bà Chúa Xứ cháy rồi!

Ông Bá Vạn ngại rằng sắp có chuyện bất lợi xảy ra nên mời ông Chúa Hòn xuống núi, về nhà lập tức. Tuy là độc tài, giàu tự tin, nhưng lần nầy ông Chúa Hòn đành ngoan ngoãn vâng lời ông Bá Vạn, để cho bọn hộ vệ cõng lên vai. Dân chúng ngơ ngác, xem việc miễu cháy là điềm ông Chúa Hòn sắp chết trong ngày rất gần.

Nằm dài trên chiếc ghe hầu, ông Chúa Hòn bắt đầu tỉnh táo khi bọn hộ vệ vừa chèo chống vừa báo cáo:

– Thưa ông, ngọn lửa đã tắt.

– Bá Vạn đâu? Ngồi gần ta cho ta vui. Tại sao ta cứ phập phồng, xung quanh ta có tiếng dậm chân rầm rập trên đất, như toán quân nào đông đảo lắm đang kéo tới? Mắt ta hơi mờ..

Bọn hộ vệ đưa chiếc ghe ra đến khoảng đồng trống, gió thổi hiu hiu. Lần hồi ông Chúa Hòn cảm thấy khoẻ khoắn, ngồi dậy dựa tay lên chiếc gối vuông:

– Dường như sắp xảy ra chuyện gì xui xẻo cho ta. Hai con cò vô nhà, rồi tới việc nầy. Cô gái lên xác nào có tội tình gì mà bỏ mạng? Ông xem sách tử vi nhiều, hãy bàn bạc thử cho ta nghe.

Tâm trí ông Bá Vạn hơi bối rối vì tình thế biến chuyển quá nhanh. Ông Chúa Hòn nếu chết bất ngờ thì cậụ Hai Điền thay thế. Cậu Hai Điền sẽ đuổi ông hoặc bày ra nhiều điều sĩ nhục khác, còn nặng nề hơn là tạt thịt kho và nước mắm.

Theo kế hoạch dự định thì ông Bá Vạn sẽ đem thằng Cẩu lên ‘‘ngôi’’ ông Chúa Hòn tương lai. Muốn sắp đặt cho ăn khớp nhịp nhàng thì cần một khoảng thời gian khá dài, ông Bá Vạn cần tiếp xúc vói Mười Hấu và thằng Cẩu. Năm nay Cẩu được 17 tuổi, chưa hiểu tánh tình ra sao. Lại còn bài toán gay go hơn. Đó là giết khéo léo cậu Hai Điền để có lý do chánh đáng mà đem thằng Cẩu lên thế.

Bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn tuy đông đảo nhưng dễ mua chuộc. Ông sẽ cho chúng nó tiền bạc, nhà cửa, đa số đều do ông tiến cử, hễ ông nói đúng lý thì chúng nó nghe ngay.

Ông Chúa Hòn chết.

Vài ngày sau là cậu Hai Điền chết.

Lập tức, thằng Cẩu được tôn làm ông Chúa Hòn.

Ba giai đoạn ấy tuy rời nhưng dính liền nhau, trong vòng ba ngày. Nếu chuẩn bị non kém, ông Bá Vạn sẽ bị giết về tay cậu Hai Điền. Bởi vậy, ông Bá Vạn nói khẽ:

– Theo tôi thì trên đời nầy có nhiều điều xui xẻo, nhưng do sự tình cờ.

– Không đâu! Phải chăng bọn nhạc công vô lễ với bà Chúa Xứ?

Ông Bá Vạn gật gù lấy lệ:

– Ông nói có lý. Bà Chúa Xứ không ưa cái trống bịt da sấu ở dưới nước. Nhưng theo ý tôi thì có lẽ cô gái lên xác đã bị ô uế, bà nổi giận. Cô ta lén lút tình tự với cậu trai nào đó nên bà Xứ phạt. Tháng sau, tôi biểu ông từ giữ miễu chọn cô gái khác trinh bạch hơn.

Đến chiều, đoàn ghe về tới Hòn Chông. Khi lên bờ, ông Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ không được đồn đãi về chuyện bất trắc đã xảy ra. Khi ông Chúa Hòn vào phòng nằm nghỉ, ông Bá Vạn về nhà riêng. Cậu Hai Điền đi săn mới về. Dưới sông, bọn thủ hạ hò hét ỏm tỏi vì uống rượu say mèm. Ông Bá Vạn ngồi trước cửa, trong bóng tối, để ngắm nghía khung cảnh.

Chiếc ghe chở cậu Hai trông thật quái dị. Trước mũi, sau lái đều có hai tên hộ vệ đứng thẳng người, cầm đuốc. Cậu Hai ngồi chễm chệ trên chiếc ghế nhỏ. Chiếc ghe lúc lắc qua lại mà cậu vẫn ngồi vững, tay nâng bầu rượu, ngực để trần.

Ổng Bá Vạn trù rủa lầm thầm:

– Nó mà làm ông Chứa Hòn thì ai mà chịu nổi! Nó bắt chước bộ điệu ông vua con, nhưng lại giống hệt một tên cường sơn thảo khấu.

Tiếng cậu Hai Điền vang lên lồng lộng:

– Con heo độc giác chưa tới số. Bữa nay, tao hơi say nên chưa giết được nó. Tao thề giết tất cả mấy con thú dữ ở Hòn Chông nầy. Tao là thần thánh, chưa bao giờ chịu thua loài súc vật. Nếu nó còn sống, đó vì là tao còn lòng nhơn đạo, phải không tụi bay?

Ban hộ vệ reo lên:

– Da, cậu nói phải!

Cậu Hai ngửa mặt nốc cạn bầu rượu, rồi quăng mạnh cái bầu lên sân nhà ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn cúi đầu chua xót, vì dường như cậu Hai Điền cố ý so sánh ông với một loài thú. Cái bầu rượu không bể, lăn tròn rồi nằm sát gốc cây xoài.

Chờ khi đoàn ghe qua khỏi, ông Bá Vạn đứng dậy đến gốc cây mà lượm cái bầu, đưa lên mũi hửi. Lát sau, ông vào nhà, để cái bầu bên cạnh cái tráp, trên đầu nằm. Trong tráp, cái áo dính thịt kho và nước mắm còn đó, chưa giặt rửa.

Một người tá điền đến chào ông Chúa Hòn để trả nợ. Ông hỏi.

– Chú ở đâu tới? Nghe thiên hạ bàn tán gì về ta không?

Người nọ đáp:

– Dạ, từ Hòn Me giữa khoảng Hòn Me, và Hòn Đất. Con không nghe chuyện gì hết.

Câu trả lời ấy khiến ông Chúa Hòn vui vẻ và tươi tỉnh thêm lên. Như vậy là uy tín của ông chưa bị giảm sút thì vận ông còn đỏ. Ông hỏi thêm.

– Tại xóm chú mày, có gì vui không?

– Dạ, dân chúng làm ăn bình thường, ruộng nương tươi tốt, ai nấy đều mang ơn ông.

– Ta muốn cái gì vui, cái gì đặc biệt kìa!

Người nọ suy nghĩ mãi, chưa đóan được sở thích của ông Chúa. Chắc là ông ta muốn tìm gái đẹp. Nếu nói ra sớm, e phạm tội vô lễ. Trong xóm, mấy ngày rày thiên hạ bàn tán xôn xao về một chuyện nhỏ. Quỳnh hoa là loại cây ít khi trổ bông, bông trổ là điều may mắn cho gia chủ. Ấy thế mà trước nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa trổ một lượt bảy nụ nhỏ, bụi hoa ấy do cô Huôi chăm sóc, tưới nước hằng ngày. Cô Huôi là hoa khôi trong vùng.

Người tá điền bèn trả lời:

– Thưa ông, có bụi quỳnh hoa trổ ra một lượt bảy cái nụ

Ồng Chúa Hòn hơi giựt mình:

– Thiệt sao? Nụ nhỏ hay nụ to? Trổ chưa? Ta xem kịp không?

– Nếu ông tới trong ngày nay thì kịp.

– Ta tới bây giờ. Đừng đón rước long trọng, ta phiền lắm. Hôm nay, ta muốn ngắm đồng quê với núi non. Nếu vui thì ta chờ xem hoa nở.

Khi người khách ra về, ông Chúa Hòn lâp tức đến nhà ông Bá Vạn. Thấy ông Chúa Hòn đến thình lình với quần áo xuề xòa, ông Bá Vạn không được yên tâm; hay là cậu Hai Điền mét thót với ông Chúa để thanh toán ông? Nhưng nụ cười hiền hòa của ông Chúa đã làm cho ông Bá Vạn vững bụng. Ông Chúa ngồi xuống rồi khoát tay về phía hai tên hộ vệ:

– Tụi bây cứ về, đừng lo cho tao. Tao ở đây chơi. Lo sửa soạn chiếc ghe, đem theo rượu. Chừng nào muốn đi thì ta ra lịnh.

Ông Bá Vạn rót nước dâng cho Chúa Hòn. Ông Chúa nói khẽ:

– Lại có điềm mới lạ, khó hiểu. Bá Vạn giải thích giùm ta.

– Ông nói thử, từ sáng đến giờ, tôi ở nhà một mình.

Giọng nói của ông Chúa Hòn trở nên rắn rỏi, lạc quan:

– Đêm nay ta đi chơi, về phía Hòn Đất.

Hòn Đất và Hòn Me là hai vị trí gần nhau, khoảng giữa là cánh đồng khá phì nhiêu, dân chúng sống bằng nghề ruộng và nắn nồi đất. Ông Bá Vạn hơi e ngại:

– Hôm qua, ông tới miễu bà Chúa Xứ gặp chuyện rắc rối. Hôm nay, tốt hơn là đi nơi khác, xa miễu. Hay là ông được tin tức gì về cô gái xác?

Ông Chúa Hòn lắc đầu:

– Cô gái lên xác đã chết, miễu bà Chúa Xứ bị cháy, đó là chuyện cũ, xui xẻo. Nhưng bù đắp lại, ta gặp chuyện may mắn hơn, ở chỗ cách đó không xa, sát chân Hòn Đất. Nầy, Bá Vạn biết bông quỳnh hoa không?

Ngón tay ông Bá Vạn chỉ ra ngoài sân. Bụi quỳnh hoa mọc xanh um, từng lá to gắn liền xuống đất, xòe ra:

– Dạ, tôi trồng từ ba năm nay mà chưa thấy trổ bông lần nào cả. Năm ngoái, hòa thượng chùa Phước Vân mời tôi xem hoa nở, hoa đẹp lắm. Hòa thượng bảo rằng nhà ai có quỳnh hoa nở là điều may mắn. Hoa trắng mà to, thơm ngát, nở lúc ban đêm, đến hừng sáng tàn rụng. Ba năm, tôi chờ đợi mãi mà chưa thấy nụ nào.

– Bá Vạn nói sao? Quỳnh hoa nở là điềm may, hiếm có?

– Dạ, ai cũng nói vậy.

– Bá Vạn thấy một bụi quỳnh hoa trổ một lượt mười nụ không? Mười nụ hoa trổ trong một đêm. Đó là điềm gì?

– Dạ, đó là đại phước cho cả vùng nầy. Có thật hay không?

– Ở Hòn Đất, mau đi với ta để xem hoa nở. Hòn Me là nơi ta gặp chuyện xui xẻo với cô gái mất xác vì rắn độc, thì Hòn Đất là nơi mà ta gặp may mắn. Đời có vậy mới vui chớ.

Lát sau, bọn hộ vệ chèo chiếc thuyền nhỏ đi trước. Ông Chúa Hòn và Bá Vạn ngồi trong chiếc thuyền to theo sau. Mặt trời vừa xế. Phía chân trời, hàng chục cụm khói bốc lên. Đó là mấy cái sân đốt nồi đất. Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn lẫm bẩm:

– Hòn Me, Hòn Đất, Hòn Chông đều là giang san của ta, phải không Bá Vạn!