vietmessneger.com
Sơn Nam
Kỷ Nguyên xuất bản 1969
Post by Sơn râu 19 May 2025

Chương 2
Mười lăm năm trôi qua.
Ông Thân Phước từ trần. Cậu Hai Minh trở thành ông Chúa Hòn. Mấy năm liên tiếp, vườn tiêu ở Hòn Chông được mùa, cậu Hai ăn xài như nước. Bọn thương gia ở Xiêm, ở Mã Lai ra vào tấp nập. Dân chúng không gọi cậu là cậu Hai nữa. Cậu mặc áo gấm, chiếc áo truyền tử lưu tôn từ mấy đời.
Tất cả tiền bạc, sổ sách chi thu của cậu Hai đều do ông Bá Vạn nắm giữ. Ông nầy là người Triều Châu lai Việt Nam, tuổi hơn 60. Hằng ngày ông Bá Vạn tiếp xúc với bọn thương gia và bọn tá điền mướn đất trồng tiêu. Khi cần dùng tiền bạc, cậu Hai nói một tiếng là ông xuất ra.
Sự tín nhiệm to lớn ấy sở dĩ có là do lòng ngay thẳng của chính ông Bá Vạn. Lúc hấp hối, ông Thần Phước gọi cậu Hai đến mà căn dặn:
– Bá Vạn là người giúp đỡ dòng họ mình lừ lâu đời. Ba chết đi, con trở thành ông Chúa Hòn thì cứ xem ông Bá Vạn là tể tướng.
Ngày giỗ ông Thần Phước năm ấy, ông Bá Vạn quỳ bên bàn thờ. Ông Chúa Hòn – tức là cậu Hai Minh- mặc áo gấm ngồi uống rượu, bên cạnh là cậu Hai Điền, đứa con mà cậu với bà chánh thất sanh ra.
Hai Điền năm ấy được 30 tuổi, tánh tình kiêu hãnh, thích săn heo rừng và thích ra các hải đảo mà ăn uống, giữa cảnh trời nước mênh mông. Cậu ngồi im lặng, bực dọc vì nghi lễ phiền phức.
Người bày nghi lễ ấy, chính là ông Bá Vạn.
Cậu hỏi:
– Ông Bá Vạn ơi! Tới giờ chưa?
Ông Bá Vạn xem cậu Hai Điền là trẻ con nên ung dung ra trước sân xem bóng nắng. Lúc sau ông trở vô, đến trước mặt ông Chúa Hòn mà thưa:
– Đến giờ thắp nhang, thưa ông.
Ông Chúa Hòn day lại:
– Để đó cho ta…
Nhưng ông Bá Vạn đã lanh lẹn đến cạnh bàn thờ, lấy ba cây nhang thật to, loại nhang trầm hương do mấy người thương gia từ Quảng Nam đem vào dâng tặng hồi năm ngoái. Ông Bá Vạn đốt nhang, cúi đầu trao cho Chúa Hòn.
Từ lâu rồi, cậu Hai Điền không ưa ông Bá Vạn vì ông nầy quá nịnh bợ. Cậu muốn, buổi lễ nầy chấm dứt nhanh chóng để còn thời giờ lên chót hòn săn heo rừng. Bọn gia nhân cho biết rằng mấy ngày qua, dân chúng sợ hãi vì con heo rừng ‘‘độc giác’’ từ Dương Hòa chạy lạc tới, con độc giác nầy đã đánh chết hai người thợ săn. Cậu muốn giết nó để rửa hận cho những người quá cố, đồng thời cũng là để biểu dương ‘‘khí tượng’’ của một ‘‘thái tử’’ trẻ tuổi. Cậu chép miệng, quỳ xuống phía sau cha.
Ông Chúa Hòn là cậu Hai Minh cầm ba cây nhang. Mọi người đều im phăng phắc vì giờ phút hành lễ đã đến. Ông Bá Vạn bỗng nhiên lại chắp tay xá ông Chúa Hòn rồi nói:
– Thưa ông, ông là ông Chúa trong vùng rộng lớn nầy, hàng vạn người từ bao đời rồi có cơm ăn áo mặc là nhờ công đức bao la trời biển của tiên nhân để lại.
Nghe tới đó, cậu Hai Điền thêm bực tức, nhưng vì nể oai quyền của cha và muốn giữ trật tự nên đành im lặng mà chửi rủa lầm thầm.
– Tao còn nhỏ, ba tao hiền lành. Bằng không thì tao đuổi mầy từ lâu. Ai dạy mầy cái thói nịnh bợ quá mức? Già nua lụm cụm rồi mà nết na không đàng hoàng. Cái gì mà công lao trời biển? Chi cho lắm mà ruồi nó bu….
Cậu day lại phía sau, nơi hàng trăm người đang quỳ, dài ra tới ngoài sân cỏ. Đó là những bô lão đã làm tá điền cho ông Thần Phước. Cậu nhăn mặt; bịt mũi như để phản đối ngầm ông Bá Vạn.
Trước bàn thờ, ông Chúa Hòn cầm ba cây nhang đưa lên ngang trán, khấn vái rồi hỏi:
– Bá Vạn! Xong chưa? Bây giờ ta cắm nhang vào lư nhang.
Ông Bá Vạn đáp:
– Gia đình tôi hưởng bổng lộc mấy đời của tiền nhân, vậy xin ông cho phép tôi ‘‘thỉnh’’ mấy cây nhang nầy, đem cắm vào lư nhang.
Cắm xong mấy cây nhang, ông Bá Vạn đứng khoanh tay. Ông Chúa Hòn hỏi:
– Lễ thành chưa?
‘‘Lễ thành’’ hoặc ‘‘lễ tất’’ là danh từ xưa, nghĩa là xong buổi lễ. Ông Bá Vạn nói, giọng run run:
– Thưa ông, bâv giờ buổi lễ mới bắt đầu.
– Ủa! Sao vậy? Thức ăn dọn lên từ nãy giờ. Chẳng lẽ ta đứng mãi mãi trước bàn thờ. Mọi khi, ta nhớ rằng người trưởng tộc như ta chỉ thắp nhang rồị… ngồi chờ cho tuần nhang cháy dứt.
Cậu Hai Điền lắng tai nghe ông Bá Vạn trả lời:
– Dạ, ông ngồi mà chứng kiến. Hôm nay, tôi có rước bọn học trò lễ ở đình Dương Hòa tới. Bọn nầy giỏi lắm, biết cách cúng kiếng theo lễ nghi… ở ngoài triều đình Huế.
Vì tò mò, vì thích được nịnh bợ nên ông Chúa Hòn gật đầu:
– Cứ gọi bọn nó vào đây cho ta xem. Cúng theo nghi lễ ở triều đình, phải lắm. Ta là Chúa Hòn. Cha ta trước kia cũng là ông chúa. Vua với chúa nào có khác gì đâu.
Ông Bá Vạn mừng rỡ vô cùng:
– Ông nói chí lý. Vua trị vì một nước. Chúa thì trị vì một vùng… giang sơn gấm vóc, như ông vua nhỏ.
Vì quỳ gối quá lâu hơi mỏi nên cậu Hai Điền cứ cựa quậy đôi chân. Cậu toan đứng dậy, chửi vào mặt Bá Vạn một câu cho hả giận, đại khái như: ‘‘Tao chán cái trò nịnh bợ’’. Nhưng ông Bá Vạn cứ trầm tĩnh, khoát tay về phía sau. Hai tên học trò lễ bước vào, mặc áo dài mầu vàng, đầu đội mão có sợi dây lòng thòng xuống nửa lưng. Hai tên gia nhân khiêng cái bàn nhỏ và cái chuông, để bên cạnh. Bá Vạn trình bày:
– Thưa ông, nếu ông cho phép thì tụi nó bắt đầu…
Tuy chưa hiểu những gì sắp xảy ra, ông Chúa Hòn vẫn gật đầu:
– Ta cho phép.
Tiếng chuông thứ nhứt gõ lên.
– ‘‘Boong…’’
Hai người học trò lên đến bàn, mỗi đứa bưng một chén cơm, nâng ngang trán rồi bước nhịp nhàng, nhún chân xuống, đá một chân rồi bước, rất chậm rãi. Hai cậu quỳ xuống, để hai chén cơm lên bàn thờ.
Ông Bá Vạn chắp tay:
– Xin ông chúa… hành lễ.
Ông Chúa Hòn trợn mắt:
– Hành… cái gì?
– Dạ, ông cầm đôi đũa nầy mà xẻ mở cơm trong chén rồi trộn lại..
Để khỏi mất thì giờ, ông Chúa Hòn làm theo lời dặn của ông Bá Vạn. Một tiếng chuông vang lên. Hai người học trò lễ nâng hai chén cơm, để trên bàn thờ bên cạnh lư nhang. Rồi lại một tiếng chuông khác, hai đứa đứng bưng hai dĩa thịt luộc quỳ xuống, ông Chúa Hòn cầm đũa trộn mấy miếng thịt…
Nghe tiếng chuông hơi nhàm ấy, cậu Hai Điền ngáp dài, lim dim đôi mắt. Chừng nghe hồi chuông liên tiếp, cậu đứng dậy trước hơn ai hết. Ông Chúa Hòn chắp tay xá bàn thờ rồi đi nhanh ra sân, mồ hôi ướt đẫm sau lưng. Ông Bá Vạn vuốt râu cười nói với hai đứa học trò lễ:
– Tụi bây làm coi được quá!
Cậu Hai bĩu môi khi chạm mặt ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn chắp tay:
– Tôi mong sau nầy được theo chân cậu. Đời tôi thọ ơn gia đình cậu quá nhiều, như ơn trời biển.
Nhịn không được nữa, cậu Hai Điền quát to:
– Già rồi mà chưa nên nết. Tao ghét mấy thằng nịnh!
Ông Bá Vạn vẫn bình tĩnh:
– Tội nghiệp tôi mà cậu Hai. Ở đây đông đảo, tôi phạm lỗi gì, xin cậu rầy la lúc về nhà. Ăn thua với người già như tôi để làm gì?
Nhanh như chớp, cậu Hai Điền bước tới chụp cái tô đựng nước mắm, ném mạnh vào mặt ông Bá Vạn. Ông nầy né tránh không kịp nên mặt mày râu ria dính nước mắm. Như chưa hả cơn giận, cậu Hai ném cái tô đựng thịt kho vào ngực ông Bá Vạn. Hai cái tô rơi xuống gạch, bể nát.
Cử tọa nhốn nháo lên. Mấy ông bô lão không muốn dính líu đến cuộc tranh chấp nầy, chạy nhanh ra sân, mỗi người đi tản mác một hướng để khỏi làm nhân chứng. Ông Chúa Hòn hỏi:
– Chuyện gì vậy?
Ông Bá Vạn lấy tay vuốt mặt, trả lời:
– Thưa ông, không có gì hết.
Cậu Hai Điền hơi giựt mình, biết mình vừa làm một chuyện gây ra nhiều hậu quả tai hại. Trong khi đó, ông Bá Vạn ung dung đến bên hè, đứng lại gần lu nước, múc một gáo nhỏ rồi rửa mặt, rửa thật chậm.
Cậu Hai Điền ra khỏi cửa, đến nhà riêng ở gần phủ thờ. Đứa nữ tỳ lại gần ông Bá Vạn, nói khẽ:
– Để con về nhà, đem cái áo khác cho ông thay.
Ông Bá Vạn lắc đầu:
– Thây kệ tao!
Tên hộ vệ của ông Bá Vạn múc thêm gáo nước rồi yêu cầu:
– Ông cúi đầu xuống, tôi rửa trên tóc cho…
Vài người tò mò đứng ở góc sân nhìn cảnh tượng ấy. Tên hộ vệ quát to:
– Có gì lạ mà coi! Hồi nãy, cậu Hai say rượu. Đi chỗ khác, mấy người điếc sao chớ?
Như đau đớn tột độ, ông Bá Vạn ngồi xuống bên thềm phủ thờ. Đôi mắt ông đổ sao, lỗ tai lùng bùng. Hơn mười năm qua, chưa bao giờ ông bị hạ nhục giữa đám đông như thế. Cậu Hai Minh được dân chúng tôn là ông Chúa Hòn thì mặc nhiên ông Bá Vạn là bực tể tướng. Ông lo gìn giữ sản nghiệp cho cậu Hai, tại sao con ruột cậu Hai lại đành cư xử tàn nhẫn như thế, còn hơn là đối với bọn tôi đòi trong nhà.
Tên hộ vệ nói:
– Xin ông về, ở đây ích lợi gì!
Ngoài đường, người qua kẻ lại rộn rịp, đa số là bọn dân phu làm công trong vườn trồng hồ tiêu. Dường như ai nấy đều biết chuyện ông Bá Vạn bị tạt thịt kho và nước mắm vào đầu, vì cái tội nịnh bợ ông Chúa Hòn.
Họ liếc vào phủ thờ. Lúc ban đầu, ông Bá Vạn cúi mặt. Nhưng lát sau, ông ngẫng đầu lên:
– Ích lợi chớ. Tao ở đây cho thiên hạ thấy bằng cớ.
Nói đến đó, ông tự kềm chế lại. Tư tưởng ông đã đến lúc dứt khoát, từ nay trở đi ông có thái độ sẽ dứt khoát. Ông Chúa Hòn phải chết. Cậu Hai Điền, người thừa kế của ông Chúa Hòn, người tạt tô thịt kho và tô nước mắm, cũng phải chết. Trong phút giây, ông Bá Vạn nắm chặt hai bàn tay để tập trung sinh lực, mắt sáng lên. Tuổi ông già rồi, ông không thể chờ đợi… thời gian trả lời. Những cuộc âm mưu truất phế, tranh giành ngôi thứ trong truyện Tàu đời Đường, đời Tây Thái Hậu cứ hiện ra. Nhưng giết ông Chúa Hòn, giết cậu Hai Điền bằng cách nào cho khéo léo, cho dân chúng không phản đối? Bên cạnh ông Chúa và cậu Hai có hàng chục vệ sĩ tài ba và mạnh khỏe, ông Bá Vạn lẩm bẩm:
– Mình nên lấy độc trị độc…
Nghĩ vậy, ông đứng thẳng người, nói với tên hộ vệ:
– Đưa tao về. Mầy đi trước. Tao cứ ăn mặc dơ dáy như vầy cho thiên hạ thấy cái tội tày trời của cậu Hai Điền. Hôm nay tao xấu xí bao nhiêu thì ngày nào đó, tao sạch sẽ bấy nhiêu. Hôm nay tao khiếp nhược, ngày nào đó tao trở thành người anh hùng.
Tên hộ vệ can gián:
– Ra tới cổng rồi! Ông nên dè dặt lời nói.
Tên hộ vệ vừa sợ vừa mừng. Tài sản của ông Chúa Hòn đâu phải là ít, nào châu báu ngọc ngà, nào đất ruộng và vườn tiêu. Muốn đi tuần tra vùng đất bao la nầy, phải đi hai, ba ngày mới giáp vòng. Một khi ông Bá Vạn soán ngôi Chúa Hòn thì tên hộ vệ sẽ trở thành nhân vật quan trọng, một ông Bá Vạn thứ nhì.
Nhưng bao nhiêu nguy hiểm sẽ xẩy ra.
Ông Bá Vạn nói:
– Ai kia?
Tên hộ vệ giựt mình, nhòm qua bên kia đường. Bên quán nhỏ, cô Ngó đứng trang nghiêm, cầm trong tay năm bảy đóa hoa sen còn búp. Cô Ngó cúi đầu chào ông Bá Vạn. Đột nhiên mà ông Bá Vạn nảy ra một sáng kiến thần tình. Bấy lâu, cô Ngó được ông Chúa Hòn tưng tiu, nhưng cô buồn vì đứa con trai là thằng Ba Cẩu bị đuổi ra xa, nuôi tại nhà của ông ngoại nó là Mười Hấu ở núi Mo So. Nếu giết ông Chúa Hòn, ông Bá Vạn sẽ đưa Ba Cẩu lên thay thế, vì nó là con trai thứ nhì của ông Chúa.
Cậu trai thứ nhứt, kẻ thù của ông Bá Vạn sẽ bị giết dễ dàng. Cậu ta ưa đi săn heo rừng.
– Thời cơ đã tới!
Ông Bá Vạn mỉm cười, cúi đầu đáp lễ rồi đến bên kia đường. Cô Ngó lên tiếng trước:
– Ông Bá Vạn chưa về sao? Lễ giỗ đã tàn từ nãy giờ. Ủa! Sao lạ quá?
Rồi cô cau mày, nói khẽ với ông Bá Vạn:
– Thiên hạ tò mò.
Tên hộ vệ khoát tay. Mấy người trong quán hoảng sợ rút lui vào trong, đồng thời ông Bá Vạn và cô Ngó từ từ rảo bước. Cô Ngó giả vờ như chưa biết gì ráo nên hỏi dọ để thử phản ứng của ông Bá Vạn:
– Trên đầu ông, trên áo… còn dính cái gì?
Ông Bá Vạn muốn nhờ cô giúp một tay quan trọng trong kế hoạch truất phế sắp tới, nên trình bày vắn tắt:
– Tôi chưa dám hờn giận cậu Hai Điền. Cậu còn nhỏ mà bất chấp người có tuổi tác như tôi. Chắc cô nghe thiên hạ nói nhiều rồi.
– Tôi nghe nói nhưng chưa vội tin. Chừng gặp ông, tôi mới hiểu rằng cậu Hai cư xử quá đáng. Bởi vậy…
Ông Bá Vạn nín thinh, chờ nghe cô Ngó nói tiếp:
– Bởi vậy, tôi mừng vì thằng Cẩu, con tôi được nuôi nấng ở nơi quê mùa hẻo lánh. Nếu nó sống sung sướng như con trưởng nam thừa hưởng gia tài thì ai cấm cản nó làm chuyện phách lối.
– Cám ơn cô. Cô nghĩ tới tôi, tôi không quên ơn đó. Xin cô kín tiếng, nói chuyện lâu bất tiện.
Dứt lời, ông Bá Vạn bước chậm rãi về tư thất ở cách xa nhà ông Chúa Hòn gần mười công đất. Dọc đường, nhiều người đứng khép nép nhìn cái áo lem lấm với thái độ mỉa mai châm chọc. Mấy bệt nước mắm vẫn chưa khô. Vì bực dọc, bị hạ nhục lây nên tên hộ vệ nhiều phen nổi giận, quát mắng những kẻ tò mò. Ông Bá Vạn chỉ khuyên nhủ hắn:
– Đừng rầy rà họ. Họ được quyền chứng kiến sự nhục nhã của tao hôm nay. Chắc là họ nói lén, chê tao là thằng già nịnh bợ, khiếp nhược, hèn hạ. Dư luận thế gian, hơi đâu mà nghe. Họ ghét tao, họ khinh khi tao nhưng rồi đây họ sẽ sợ tao.
Khi đến nhà, ông Bá Vạn vào phòng cởi cái áo lem lấm hôi tanh ra. Đứa nữ tỳ đến gần, đón chiếc áo.
– Ông đưa cho con giặt sạch sẽ.
Ông Bá Vạn trợn mắt:
– Để đấy! Lấy cái tráp đằng kia cho tao. Phải để nguyên mùi vị hôi hám để sau nầy làm bằng cớ.
Rồi ông xếp cái áo thật kỹ, để gọn trong cái tráp, khóa lại:
– Tao gối đầu trên cái tráp nầy. Bây giờ, mi múc thau nước rửa đầu, chải tóc cho tao.
Lúc ngồi uống trà, ông Bá Vạn chợt thấy tên hô vệ bước vào:
– Thưa ông, ông Chúa Hòn nhắn gặp.
Ông Bá Vạn đáp:
– Tao đương buồn vì chuyện xẩy ra lúc nãy nên không tới được. Cứ trả lời như vậy. Ai tới đây nhắn tin, mời người đó vô đây.
Chừng gặp mặt đứa nữ tỳ, ông Bá Vạn nhận lời ngay, hứa đến gặp ông Chúa Hòn trong giây lát. Nữ tỳ nói khẽ:
– Thưa ông, ông Chúa Hòn đã biết cái tội vô lễ của cậu Hai. Ông hứa sẽ rầy la…
Khung cảnh vui vẻ trên giường của ông Chúa Hòn khiến ông Bá Vạn ngạc nhiên, ông Chúa cứ uống rượu, sau lưng có cô Ngó đứng quạt hầu. Cô Ngó liếc về ông Bá Vạn, gật đầu như khuyên nhủ ông đừng nóng nảy, ông Chúa Hòn reo lên:
– Bá Vạn tới rồi! Ngồi trên giường nầy cho thân mật hơn.
Giường là cái sạp đóng bằng cây cẩm lai, chân thấp, phía trên có đóng khung sơn son thếp vàng để giăng cái mùng bằng nhiễu đỏ.
Mùng đươc vén lên khéo léo. Ông Chúa Hòn vỗ vai Bá Vạn:
– Cứ ngồi. Ta mới sắm cái giường nầy, ông thấy sao?
– Dạ, đẹp lắm.
Ông Chứa Hòn ngồi ưỡn ngực, dựa hai tay trên hai cái gối vuông rồi nói chậm rãi:
– Tháng sau, ta tặng cho một cái giường như vầy. Đó là danh dự lớn của người thành công, thành danh.
– Dạ, tôi sắm một cái giường rồi.
– Nhưng chưa sơn son thếp vàng. Bấy lâu, ông giúp gia đình ta nhiều lắm mà ta chưa ban thưởng.
Câu nói ấy khiến ông Bá Vạn bớt giận phần nào. Chúa Hòn gọi ông bằng ông, đó là sự biệt đãi. Nhưng tại sao ông Chúa chưa đề cập tới chuyện cậu Hai Điền phải xin lỗi về cái tô thịt kho và cái tô nước mắm? Ông Chúa Hòn tiếp lời:
-Ta ngủ trên cái giường, viết chữ trên cái giường, uống trà trên cái giường. Nhiều người hút á phiện, đánh bài và khảy đàn trên cái giường, ngồi tại đó, nằm tại đó. Khi ta cỡi hạc qui tiên thì con cháu giành cái giường ấy mà thờ. Bởi vậy, về sau, gọi là cái giường thờ. Ta tặng cho một cái giường. Ta muốn ban thưởng bởi vì lúc nãy có điềm lạ quá.
– Dạ điềm gì?
– Hai con cò trắng từ đâu bay tới, chạy lững thững vô nhà. Theo ông thì đó là điềm lành hay điềm dữ?
Ônq Bá Vạn nghĩ kế hoạch giết hoặc truất phế ông Chúa Hòn rồi đem thằng Cẩu, con cô Ngó lên thay thế, đồng thời ông tìm cách giết luôn cậu Hai Điền để rửa hận! Dư luận sẽ tha thứ, vì chừng đó ông vẫn tiếp tục đóng vai trò quản gia cho thằng Cẩu, đứa con rơi của ông Chúa Hòn. Con cò giống như con hạc, ở đồi núi Hà Tiên làm sao con hạc sống được? Hạc vào nhà, đến tận giường ông Chúa Hòn là điềm cỡi hạc qui tiên, tức là chết. Phải chăng Trời Phật muốn giúp ông? Ông cau mày, chờ khi ông Chúa Hòn hỏi đến lần thứ ba:
– Điềm gì? Bá Vạn cứ nói thiệt?
– Dạ, sau lễ giỗ, hai con hạc vào nhà tức là vong linh tiên nhân xuống cõi trần để thăm con cái. Theo tôi hiểu đó là điềm tốt. Tiên nhân cỡi hạc xuống đây.
Ông Chúa Hòn vẫn thắc mắc:
– Đành vậy, nhưng mà ta hơi buồn. Con trưởng nam của ta thì ngỗ nghịch, thích săn heo rừng. Nó đi vắng rồi. Ta gọi ông đến để cùng nhau lên núi Đất, gần Hòn Me, nhờ thần linh chỉ dạy.
Ông Bá Vạn gật đầu:
– Bên đó, có ông đạo Đất xem quẻ giỏi lắm.
– Nhưng ông đạo Đất chỉ là người phàm. Ta muốn bà Chúa Xứ xem giùm một quẻ.
– Ông dạy thì tôi vâng lời.
Sáng hôm sau, hai chiếc ghe chở ông Chúa Hòn và bọn hộ vệ đến Hòn Me. Chuyến đi, ông Chúa Hòn qua ngang nhà Tư Thính và cô Huôi. Ông Bá Vạn nào chú ý đến gia đình đó, cứ thúc hối bọn hộ vệ chèo ghe thật nhanh đến sườn núi phía bờ biển. Hai tên hộ vệ lên trước để dọn đường. Miễu bà Chúa Xứ ở bên sườn Hòn Me, khá cao. Ông Bá Vạn nài nỉ:
– Ông Chúa ngồi đây mà chờ. Tôi cho xác bà hay trước để khỏi mất thời giờ.
Con đường quanh co, đầy sỏi gai, đôi khi phải trèo lên mấy tảng đá gồ ghề. Phải mệt nhọc lắm, ông mới đến miễu bà Chúa Xứ được. Miễu hiện ra với mái ngói đen đúa. ‘‘Xác bà’’ là cô gái chừng hai mươi tuổi, chưa chồng. Hay tin ông Chúa Hòn tới, ông lão giữ miễu hơi sợ sệt:
– Dạ, làm sao tôi đón rước được? Mọi năm cúng vía bà vào ngày mùng sáu tháng năm. Bây giờ, chỗ ngồi không sạch sẽ, trà rượu không có, tôi sợ ông Chúa Hòn phiền giận. Xin ông Bá dời lại ngày mai hoặc ngày mốt.
– Ông Chúa muốn thì đừng cãi. Dọn dẹp bàn thờ sạch sẽ, kéo ghế nào hơi lớn cho ông chúa ngồi là đủ rồi. Ông tới nhờ bà coi quẻ rồi về chớ đâu phải cúng kiếng.
Ông từ giữ miễu vẫn cau có:
– Cô Tư lên xác cuốc rẫy ở đằng kia, rủi cổ vắng nhà thì không ai thay thế được!
– Cứ gọi cô lên xác tới đây. Mua thêm nhang đèn, trà rượu. Tốn kém một, thời ông Chúa trả lại bằng mười. Già rồi mà ông còn khờ quá, đây là dịp kiếm thêm tiền để mua rượu đủ bốn, năm tháng.
Ngồi trên ghế chờ đợi hơi lâu, ông Chúa Hòn ra lịnh:
– Tụi bay đưa tao lên miễu! Nóng ruột quá.
Ồng Chúa Hòn đứng trước mũi ghe, hai tên hộ vệ bồng khéo léo đưa lên bờ. Bọn chúng muốn cõng ông lên sườn núi, ông nói to:
– Để tao đi một mình.
Một tên hộ vệ nói:
– Dạ trèo núi cực lắm, nào rắn rít, kiến vàng.
– Để tao đi một mình cho được phước.
Nhưng chưa được nửa đường, ông Chứa Hòn đành chịu thua:
– Cao quá, hễ leo tới cục đá trên kia thì tao đuối sức, rủi trợt té thì sanh bịnh. Nãy giờ, tao chứng minh lòng thành rồi. Tụi bay cõng tao lên. Cõng cho mau.
Đến trước sân miễu, ông Chúa Hòn mừng thầm vì ông Bá Vạn đứng sẵn để chào đón. Chúa Hòn hỏi:
– Xác bà tới chưa?
– Dạ, vì ông đến thình lình nên nãy giờ ông từ đi kiếm. Lát nữa về chứ gì. Mời ông ngồi nghỉ.
Ông Chúa Hòn tin rằng phen nầy xác bà sẽ đoán điềm hai con cò trắng vào nhà. Bấy lâu, ông Bá Vạn thích nịnh bợ nên căn dặn trước những gì mà xác bà phải nói cho ông hài lòng. Bá Vạn chưa tiếp xúc với xác bà. May quá.
Cô gái lên xác đã tới. Ông Chúa Hòn mừng rỡ và nói khéo với ông Bá Vạn:
– Lên xác cho mau. Hai con cò bay vô nhà tôi chắc là điều may mắn. Đừng nói cho người xác biết bất cứ chuyện gì.
Ông Bá Vạn vuốt râu cười:
– Gặp ông thì họ cứ nói dối để nịnh bợ. Bởi vậy hôm nay, ông đừng cho tiền trước. Nhang đèn, đã có ông từ giữ miễu lo rồi. Ông ngồi chờ.
Ông từ lấy miếng vải, lau chùi bàn thờ cho sạch sẽ. Trong khi đó ông Bá Vạn cố ý làm vừa lòng ông Chúa Hòn bằng cách gọi ba tên hộ vệ đến, khuyên chúng phải canh phòng bốn phía miễu, cấm ngặt không cho ai lại gần, nhứt là không cho tên hộ vệ nào khác đến tiếp xúc với cô gái lên xác, đề phòng trường hợp cô ta lên xác giả rồi nói những lời nịnh bợ.
Bọn nhạc công đã tới. Họ chắp tay chào ông Chúa Hòn rồi ngồi xuống, bắt đầu so giây đờn. Vùng nầy còn người Cao Miên nên chịu ít nhiều ảnh hưởng, tô điểm vài hương sắc kỳ lạ. Thay vì dùng kiểu trống cơm, trong ban nhạc cổ kiểu trống vỗ, hình tròn như cái gối. Thân trống làm bằng cây, mặt kia bịt miếng da dày.
Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ kiêu hãnh:
– Chú kia! Trống còn tốt không?
Anh nhạc công trả lời:
– Thưa ông, kiểu trống Miên, bịt miệng da sấu. Xin ông cho phép tôi đốt lửa.
Ông Bá Vạn nói với ông từ:
– Làm gì thì làm. Đừng thúc hối cô gái lên xác. Cứ tự nhiên như vậy, chừng nào lên cũng được.
Bếp lửa cháy bừng bừng, trước bàn thờ bà Chúa Xứ. Anh nhạc công đến gần, lăn tròn cái trống rồi hơ cho miếng da sấu được nóng, ông Bá Vạn giải thích với ông Chúa Hòn:
– Da nóng thì tiếng trống mới dòn.
Ông từ ra trước sân, cắm ba cây nhang vào cái miễu nhỏ ở gốc cây dừa, lâm râm khấn vái rồi trở vô:
– Vỗ trống lên!
Anh nhạc công bèn cởi áo ra, trợn mắt, hai bàn tay vỗ mạnh vào miếng da sấu. Anh ta ngồi xếp bằng, thân trống nằm gọn trong lòng. Tiếng ‘‘tung tung’’ vang dội. Vài người trong xóm chạy tới, muốn đến gần miễu. Bọn hộ vệ xua đuổi:
– Muốn chết sao mà lại gần! Mấy người không thấy ông Chúa Hòn ngồi đó sao?
Thời khắc cứ trôi qua, ông từ giữ miễu đến gần ông Bá Vạn mà trình bày:
– Thưa ông, người lên xác còn tắm gội sạch sẽ để hôm nay…
Ông Chúa Hòn hơi bồn chồn:
– Tắm rửa gì lâu dữ vậy? Tắm ở đâu?
Ông Bá Vạn cau mày, trong khi ông từ bối rối:
– Thưa.. ở gần bờ suối. Tắm gần đây thì sợ ô uế, bà không về nhập xác.
– Coi một lần nữa rồi cho ta biết còn bao lâu mới lên xác được! Lâu quá rồi.
Chính ông Bá Vạn cũng hơi ngạc nhiên vì sự trể nải ấy. Thật ra việc tắm gội ấy chỉ là hình thức mà thôi. Nhiều cô gái lên xác tuy gọi là ‘‘đồng trinh’’ nhưng còn gì là trinh tiết. Các cô có tình nhân trong xóm, như trong trường hợp miễu bà Chúa Xứ nầy thì chàng trai vỗ trống nọ có thể là tình nhân của cô ta. Để làm vừa lòng ông Chúa Hòn, ông từ giữ miễu bèn thắp hai ngọn đèn sáng trên bàn thờ, thắp nắm nhang cắm vào lư rồi ra phía sau miễu.
Ông Chúa Hòn vốn tin dị đoan nên vẫn cằn nhằn:
– Hai con vô nhà tôi là phụng hoàng hay là con hạc? Điềm lạ quá.
Nhớ đến hai tô thịt kho và nước mắm mà cậu Hai Điền đã tạt lên mình, ông Bá Vạn gật đầu, nói giọng trầm trầm.
– Có lẽ là chuyện lạ. ‘‘Lạ’’ nhiều khi là may mắn…
– Hộ vệ đâu? – Ông Chúa nói gắt
Hai tên võ sĩ chạy đến khoanh tay chờ lịnh. Chúa Hòn như ray rứt, khó chịu, cứ trợn mắt nhìn xung quanh rồi quát to:
– Cái gì mà vỗ trống hoài! Đừng vỗ nữa.
Đột nhiên, ông từ giữ miễu chạy tới, mặt mày tái mét:
– Chết rồi! Ông ơi! Cứu cô xác!
Ông Bá Vạn đứng dậy, hỏi kỹ:
– Cô chết rồi à? Ai giết cô?
Ông Chúa Hòn nói:
– Chỗ nào? Hộ vệ đâu, theo tao. Bọn nào dám tới đây, tụi bây canh phòng như vậy đó hả?
Bọn nhạc công hoảng sợ, đứng dậy và trong lúc mất bình tĩnh, anh chàng vỗ trống quơ tay đụng nhằm ngọn đèn trên bàn thờ. Ngọn đèn ngã xuống, lửa bắt qua mớ chân nhang. Ông Chúa Hòn chạy ra sau miễu, hơn mười tên hộ vệ bao bọc chung quanh. Việc gì đã xẩy ra? Ông Bá Vạn cố gắng chạy theo, nài nỉ ông Chúa Hòn:
– Xin ông đừng tới bờ suối. Nếu kẻ gian bắt cô gái lên xác thì tôi… xé xác bọn nó. Ra ngoài đó nguy hiểm lắm.
Nhưng ông Chúa Hòn như say máu, như sợ sệt, như bị chạm tự ái:
– Đứa nào giết cô gái lên xác là đứa đó muốn xúc phạm tới tao! Quá lộng rồi sao chớ! Điềm gì vậy?
Đến bờ suối, ông Bá Vạn đứng tần ngần, mấy tảng đá bên bờ đều ướt mem, chứng tỏ rằng cô gái lên xác đã tắm gội tại đó và đã cựa quậy chống cự. Điều ngạc nhiên là hai tên hộ vệ đã mất dạng. Ông gọi to:
– Tụi bây đâu rồi?
Từ phía bụi rậm ở ngọn suối, có tiếng trả lời:
– Cứu tôi, cứu cô gái. Mau lên đây! Con rắn to lớn lắm.
Cả bọn đến nơi, dẫn đầu là ông Bá Vạn. Ông Chúa Hòn trố mắt, mặt mày tái mét:
– Chết rồi à! Con rắn đâu?
Cô gái lên xác đã tắt thở. Rõ ràng là con rắn hoặc con trăn đến quấn cô. Cô nằm đây, thân hình co quắp, chắc là xương sống bị gãy làm đôi. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, tay cầm ngọn dao đỏ lòm, máu nhễu giọt lóng lánh ở mũi dao:
– Dạ, tụi tôi chặt được khúc đuôi con rắn…
Ông Chúa Hòn hỏi:
– Con rắn mất đuôi thì còn sống. Tụi bây không đem cái đầu rắn về cho tao thì ngày mai tao giết cả bọn!
Ông Bá Vạn van nài:
– Xin ông về nghỉ. Đây là chuyện thường lệ, rừng núi thiếu gì rắn độc, tắm ở bờ suối mà bị rắn hoặc trăn quấn, đâu có gì quan trọng…
Nhưng lời thuyết phục ấy không làm cho ông Chúa Hòn được yên tâm. Bọn hộ vệ la hoảng, đứng bao vây chung quanh:
– Cháy! Miễu bà Chúa Xứ cháy rồi!
Ông Bá Vạn ngại rằng sắp có chuyện bất lợi xảy ra nên mời ông Chúa Hòn xuống núi, về nhà lập tức. Tuy là độc tài, giàu tự tin, nhưng lần nầy ông Chúa Hòn đành ngoan ngoãn vâng lời ông Bá Vạn, để cho bọn hộ vệ cõng lên vai. Dân chúng ngơ ngác, xem việc miễu cháy là điềm ông Chúa Hòn sắp chết trong ngày rất gần.
Nằm dài trên chiếc ghe hầu, ông Chúa Hòn bắt đầu tỉnh táo khi bọn hộ vệ vừa chèo chống vừa báo cáo:
– Thưa ông, ngọn lửa đã tắt.
– Bá Vạn đâu? Ngồi gần ta cho ta vui. Tại sao ta cứ phập phồng, xung quanh ta có tiếng dậm chân rầm rập trên đất, như toán quân nào đông đảo lắm đang kéo tới? Mắt ta hơi mờ..
Bọn hộ vệ đưa chiếc ghe ra đến khoảng đồng trống, gió thổi hiu hiu. Lần hồi ông Chúa Hòn cảm thấy khoẻ khoắn, ngồi dậy dựa tay lên chiếc gối vuông:
– Dường như sắp xảy ra chuyện gì xui xẻo cho ta. Hai con cò vô nhà, rồi tới việc nầy. Cô gái lên xác nào có tội tình gì mà bỏ mạng? Ông xem sách tử vi nhiều, hãy bàn bạc thử cho ta nghe.
Tâm trí ông Bá Vạn hơi bối rối vì tình thế biến chuyển quá nhanh. Ông Chúa Hòn nếu chết bất ngờ thì cậụ Hai Điền thay thế. Cậu Hai Điền sẽ đuổi ông hoặc bày ra nhiều điều sĩ nhục khác, còn nặng nề hơn là tạt thịt kho và nước mắm.
Theo kế hoạch dự định thì ông Bá Vạn sẽ đem thằng Cẩu lên ‘‘ngôi’’ ông Chúa Hòn tương lai. Muốn sắp đặt cho ăn khớp nhịp nhàng thì cần một khoảng thời gian khá dài, ông Bá Vạn cần tiếp xúc vói Mười Hấu và thằng Cẩu. Năm nay Cẩu được 17 tuổi, chưa hiểu tánh tình ra sao. Lại còn bài toán gay go hơn. Đó là giết khéo léo cậu Hai Điền để có lý do chánh đáng mà đem thằng Cẩu lên thế.
Bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn tuy đông đảo nhưng dễ mua chuộc. Ông sẽ cho chúng nó tiền bạc, nhà cửa, đa số đều do ông tiến cử, hễ ông nói đúng lý thì chúng nó nghe ngay.
Ông Chúa Hòn chết.
Vài ngày sau là cậu Hai Điền chết.
Lập tức, thằng Cẩu được tôn làm ông Chúa Hòn.
Ba giai đoạn ấy tuy rời nhưng dính liền nhau, trong vòng ba ngày. Nếu chuẩn bị non kém, ông Bá Vạn sẽ bị giết về tay cậu Hai Điền. Bởi vậy, ông Bá Vạn nói khẽ:
– Theo tôi thì trên đời nầy có nhiều điều xui xẻo, nhưng do sự tình cờ.
– Không đâu! Phải chăng bọn nhạc công vô lễ với bà Chúa Xứ?
Ông Bá Vạn gật gù lấy lệ:
– Ông nói có lý. Bà Chúa Xứ không ưa cái trống bịt da sấu ở dưới nước. Nhưng theo ý tôi thì có lẽ cô gái lên xác đã bị ô uế, bà nổi giận. Cô ta lén lút tình tự với cậu trai nào đó nên bà Xứ phạt. Tháng sau, tôi biểu ông từ giữ miễu chọn cô gái khác trinh bạch hơn.
Đến chiều, đoàn ghe về tới Hòn Chông. Khi lên bờ, ông Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ không được đồn đãi về chuyện bất trắc đã xảy ra. Khi ông Chúa Hòn vào phòng nằm nghỉ, ông Bá Vạn về nhà riêng. Cậu Hai Điền đi săn mới về. Dưới sông, bọn thủ hạ hò hét ỏm tỏi vì uống rượu say mèm. Ông Bá Vạn ngồi trước cửa, trong bóng tối, để ngắm nghía khung cảnh.
Chiếc ghe chở cậu Hai trông thật quái dị. Trước mũi, sau lái đều có hai tên hộ vệ đứng thẳng người, cầm đuốc. Cậu Hai ngồi chễm chệ trên chiếc ghế nhỏ. Chiếc ghe lúc lắc qua lại mà cậu vẫn ngồi vững, tay nâng bầu rượu, ngực để trần.
Ổng Bá Vạn trù rủa lầm thầm:
– Nó mà làm ông Chứa Hòn thì ai mà chịu nổi! Nó bắt chước bộ điệu ông vua con, nhưng lại giống hệt một tên cường sơn thảo khấu.
Tiếng cậu Hai Điền vang lên lồng lộng:
– Con heo độc giác chưa tới số. Bữa nay, tao hơi say nên chưa giết được nó. Tao thề giết tất cả mấy con thú dữ ở Hòn Chông nầy. Tao là thần thánh, chưa bao giờ chịu thua loài súc vật. Nếu nó còn sống, đó vì là tao còn lòng nhơn đạo, phải không tụi bay?
Ban hộ vệ reo lên:
– Da, cậu nói phải!
Cậu Hai ngửa mặt nốc cạn bầu rượu, rồi quăng mạnh cái bầu lên sân nhà ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn cúi đầu chua xót, vì dường như cậu Hai Điền cố ý so sánh ông với một loài thú. Cái bầu rượu không bể, lăn tròn rồi nằm sát gốc cây xoài.
Chờ khi đoàn ghe qua khỏi, ông Bá Vạn đứng dậy đến gốc cây mà lượm cái bầu, đưa lên mũi hửi. Lát sau, ông vào nhà, để cái bầu bên cạnh cái tráp, trên đầu nằm. Trong tráp, cái áo dính thịt kho và nước mắm còn đó, chưa giặt rửa.
Một người tá điền đến chào ông Chúa Hòn để trả nợ. Ông hỏi.
– Chú ở đâu tới? Nghe thiên hạ bàn tán gì về ta không?
Người nọ đáp:
– Dạ, từ Hòn Me giữa khoảng Hòn Me, và Hòn Đất. Con không nghe chuyện gì hết.
Câu trả lời ấy khiến ông Chúa Hòn vui vẻ và tươi tỉnh thêm lên. Như vậy là uy tín của ông chưa bị giảm sút thì vận ông còn đỏ. Ông hỏi thêm.
– Tại xóm chú mày, có gì vui không?
– Dạ, dân chúng làm ăn bình thường, ruộng nương tươi tốt, ai nấy đều mang ơn ông.
– Ta muốn cái gì vui, cái gì đặc biệt kìa!
Người nọ suy nghĩ mãi, chưa đóan được sở thích của ông Chúa. Chắc là ông ta muốn tìm gái đẹp. Nếu nói ra sớm, e phạm tội vô lễ. Trong xóm, mấy ngày rày thiên hạ bàn tán xôn xao về một chuyện nhỏ. Quỳnh hoa là loại cây ít khi trổ bông, bông trổ là điều may mắn cho gia chủ. Ấy thế mà trước nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa trổ một lượt bảy nụ nhỏ, bụi hoa ấy do cô Huôi chăm sóc, tưới nước hằng ngày. Cô Huôi là hoa khôi trong vùng.
Người tá điền bèn trả lời:
– Thưa ông, có bụi quỳnh hoa trổ ra một lượt bảy cái nụ
Ồng Chúa Hòn hơi giựt mình:
– Thiệt sao? Nụ nhỏ hay nụ to? Trổ chưa? Ta xem kịp không?
– Nếu ông tới trong ngày nay thì kịp.
– Ta tới bây giờ. Đừng đón rước long trọng, ta phiền lắm. Hôm nay, ta muốn ngắm đồng quê với núi non. Nếu vui thì ta chờ xem hoa nở.
Khi người khách ra về, ông Chúa Hòn lâp tức đến nhà ông Bá Vạn. Thấy ông Chúa Hòn đến thình lình với quần áo xuề xòa, ông Bá Vạn không được yên tâm; hay là cậu Hai Điền mét thót với ông Chúa để thanh toán ông? Nhưng nụ cười hiền hòa của ông Chúa đã làm cho ông Bá Vạn vững bụng. Ông Chúa ngồi xuống rồi khoát tay về phía hai tên hộ vệ:
– Tụi bây cứ về, đừng lo cho tao. Tao ở đây chơi. Lo sửa soạn chiếc ghe, đem theo rượu. Chừng nào muốn đi thì ta ra lịnh.
Ông Bá Vạn rót nước dâng cho Chúa Hòn. Ông Chúa nói khẽ:
– Lại có điềm mới lạ, khó hiểu. Bá Vạn giải thích giùm ta.
– Ông nói thử, từ sáng đến giờ, tôi ở nhà một mình.
Giọng nói của ông Chúa Hòn trở nên rắn rỏi, lạc quan:
– Đêm nay ta đi chơi, về phía Hòn Đất.
Hòn Đất và Hòn Me là hai vị trí gần nhau, khoảng giữa là cánh đồng khá phì nhiêu, dân chúng sống bằng nghề ruộng và nắn nồi đất. Ông Bá Vạn hơi e ngại:
– Hôm qua, ông tới miễu bà Chúa Xứ gặp chuyện rắc rối. Hôm nay, tốt hơn là đi nơi khác, xa miễu. Hay là ông được tin tức gì về cô gái xác?
Ông Chúa Hòn lắc đầu:
– Cô gái lên xác đã chết, miễu bà Chúa Xứ bị cháy, đó là chuyện cũ, xui xẻo. Nhưng bù đắp lại, ta gặp chuyện may mắn hơn, ở chỗ cách đó không xa, sát chân Hòn Đất. Nầy, Bá Vạn biết bông quỳnh hoa không?
Ngón tay ông Bá Vạn chỉ ra ngoài sân. Bụi quỳnh hoa mọc xanh um, từng lá to gắn liền xuống đất, xòe ra:
– Dạ, tôi trồng từ ba năm nay mà chưa thấy trổ bông lần nào cả. Năm ngoái, hòa thượng chùa Phước Vân mời tôi xem hoa nở, hoa đẹp lắm. Hòa thượng bảo rằng nhà ai có quỳnh hoa nở là điều may mắn. Hoa trắng mà to, thơm ngát, nở lúc ban đêm, đến hừng sáng tàn rụng. Ba năm, tôi chờ đợi mãi mà chưa thấy nụ nào.
– Bá Vạn nói sao? Quỳnh hoa nở là điềm may, hiếm có?
– Dạ, ai cũng nói vậy.
– Bá Vạn thấy một bụi quỳnh hoa trổ một lượt mười nụ không? Mười nụ hoa trổ trong một đêm. Đó là điềm gì?
– Dạ, đó là đại phước cho cả vùng nầy. Có thật hay không?
– Ở Hòn Đất, mau đi với ta để xem hoa nở. Hòn Me là nơi ta gặp chuyện xui xẻo với cô gái mất xác vì rắn độc, thì Hòn Đất là nơi mà ta gặp may mắn. Đời có vậy mới vui chớ.
Lát sau, bọn hộ vệ chèo chiếc thuyền nhỏ đi trước. Ông Chúa Hòn và Bá Vạn ngồi trong chiếc thuyền to theo sau. Mặt trời vừa xế. Phía chân trời, hàng chục cụm khói bốc lên. Đó là mấy cái sân đốt nồi đất. Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn lẫm bẩm:
– Hòn Me, Hòn Đất, Hòn Chông đều là giang san của ta, phải không Bá Vạn!
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.