Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 19 May 2025

Phần 4

Chương 3 – Trảng Lớn

Từ Vũng Tàu, chiếc dương vận hạm HQ-501 đưa chúng tôi về Tân Cảng. Sau này tôi được biết từ Tân Cảng, đoàn tù đã được hai đoàn xe molotova bít bùng chở đi hai hướng khác nhau: một chạy về hướng đông, lên trại tù Long Giao ở Xuân Lộc, một – trên đó có tôi – chạy lên hướng bắc, trở lại “đường xưa lối cũ”, nhưng tới Hốc Môn không quẹo vào Thành Ông Năm mà chạy thẳng lên Trảng Lớn ở tỉnh Tây Ninh.
Cũng mãi sau này tôi mới biết ngày ấy khi được đưa lên Trảng Lớn là tôi đã “trúng số” lần thứ hai trong cuộc đời cải tạo (xin được giải thích ở một phần sau).
Mặc dù không có những số liệu chính thức để so sánh, tôi tin rằng vào khoảng giữa năm 1976 ở miền Nam, sau khi tù cải tạo ở liên trại Long Giao (Xuân Lộc) bị phân tán, kẻ ra bắc, người đi những trại khác ở trong nam, thì Trảng Lớn là trại tù cải tạo lớn nhất, bởi vì ở đây có tới 5 “L”.
Vào thời gian các trại cải tạo mà tôi đã sống qua còn nằm dưới quyền sinh sát của Quân Đội Nhân Dân, đơn vị cấp cao nhất được gọi là “Đoàn”, tương đương sư đoàn, đôi khi được viết tắt là “E”. Mỗi đoàn có một “hòm thư” với bốn con số, tương tự KBC (khu bưu chính) của QLVNCH trước kia, chẳng hạn Trảng Lớn là “Hòm thư 7595”. Trong những năm sau này, nhiều bà vợ sĩ quan ở Sài Gòn chỉ cần dòm bốn con số ấy là có thể đoán biết chồng mình đang bị cải tạo ở nơi chốn nào!
Dưới “Đoàn” là “L”, tức trung đoàn, dưới L là “T” (tiểu đoàn), mỗi T gồm nhiều đội, hoặc khối, và sau cùng là tổ, từ 10 tới 15 người.
Cũng có những trại không chia thành “đội”, “khối” và thay vào đó là “nhà” (như ở Phú Quốc, Suối Máu…), hoặc “lán” (như ở Long Giao).
Sở dĩ Trảng Lớn có sức chứa tới cả chục nghìn tù cải tạo vì trước kia nơi đây là một căn cứ lớn của quân đội Hoa Kỳ, nằm về phía tây nam thành phố Tây Ninh, có cả một phi trường bằng vỉ sắt cho C-130 lên xuống. Sau khi Hoa Kỳ rút quân, căn cứ Trảng Lớn trở thành Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB của QLVNCH.
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, căn cứ Trảng Lớn trở thành một trại tù khổng lồ, tổng số tù cải tạo tại đây có lúc lên tới 13.000 người (con số của CSVN).
Tùy theo sự phân phối, có những T được ở trong những dãy nhà có sẵn và còn tương đối lành lặn, có những T phải ở trong những dãy nhà từng bị dân chúng làm thịt chỉ còn lại cái mái, hoặc khung sườn, nay được tu bổ, lại có những T ở những dãy nhà “mới tinh” do chính tù cải tạo dựng lên bằng vật liệu thu nhặt được trong căn cứ. Tôi nằm trong toán khoảng trên dưới 100 người được đưa vào một T ở phía trong cùng với những dãy nhà mới, nơi đã có vài trăm anh em tù cải tạo ở từ trước.
Cảm tưởng đầu tiên của tôi khi bước vào cổng hoàn toàn trái ngược với cái lần bước vào cổng trại ở Phú Quốc hơn nửa năm về trước, cũng là trại tù cải tạo mà sao ở đây không có vẻ hắc ám một chút nào cả. Có lẽ một phần vì chúng tôi được đưa tới Trảng Lớn giữa thanh thiên bạch nhật (khoảng 10, 11 giờ sáng) cho nên không có cảm giác lo sợ, hãi hùng như cái đêm bước vào cổng chằng chịt kẽm gai dưới ánh đèn pha đầy hăm dọa ở Phú Quốc. Nhưng quan trọng hơn cả chính là sự khác biệt về con người và cảnh vật.
Về con người của “phe địch”, từ lúc chúng tôi bước vào cổng trại, đã không còn đám vệ binh súng AK kè kè áp giải mà chỉ còn mấy tay quản giáo hướng dẫn chúng tôi vào sân, đọc tên từng người để giao cho các tay khối trưởng (tù cải tạo), không hề có một màn lên lớp hay khám xét vật tùy thân.
Về con người của “phe ta” thì tù cải tạo ở Trảng Lớn ai nấy đều tươi tỉnh, sạch sẽ, tươm tất, trắng trẻo, tuy không thể gọi là béo tốt nhưng cũng không có ai gầy dơ xương như đám tù Phú Quốc thảm não, hốc hác, đen đủi, xấu xa, bẩn thỉu…
Thành thử so sánh về cả mặt thể xác lẫn tinh thần, giữa đám tù cải tạo vừa từ “địa ngục” Phú Quốc về với tù cải tạo may mắn được ở “thiên đường” Trảng Lớn từ đầu mùa, có một sự tương phản tới mức phi lý!
Chính một anh bạn Thiếu úy sau khi trở nên thân thiết với tôi đã nhận xét: “Mấy cha ở Phú Quốc về trông khủng khiếp dễ sợ!”
Tính cách khủng khiếp ấy được thể hiện rõ rệt nhất nơi những anh em trước kia ở Trảng Lớn bị đưa đi Phú Quốc, rồi từ địa ngục Phú Quốc nay lại được đưa về thiên đường Trảng Lớn!
Có thể một số độc giả ngạc nhiên, thắc mắc trước việc bị đưa đi rồi lại được đưa về chốn cũ. Xin được giải thích hơi dài dòng như sau.
Sau 30-4-1975, các sĩ quan miền Nam trình diện học tập cải tạo ở Sài Gòn – Gia Định bị Ủy Ban Quân Quản thành Hồ phân loại thành bốn nhóm theo mức độ “ác ôn” và “nợ máu” với nhân dân, với cách mạng.

– Nhóm 1: gồm các sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên, bị liệt vào thành phần “ngụy quân cấp cao cực kỳ ác ôn”, là đối tượng bắt buộc phải đưa ra các trại cải tạo ở miền bắc.
[Trên thực tế, vì các trại ngoài bắc không đủ sức chứa, hoặc vì nguyên nhân nào đó, một số sĩ quan cấp Tá đã không bị đưa ra bắc]
– Nhóm 2: cấp trung úy của các binh chủng “thứ dữ” Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, và hai ngành An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị, là thành phần “ngụy quân cực kỳ ác ôn, có nhiều nợ máu”, là đối tượng ưu tiên 2 (sau Nhóm 1) bị đưa ra các trại cải tạo ở miền bắc.
– Nhóm 3: từ cấp trung úy trở xuống của hai quân chủng Không Quân, Hải Quân và các binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh, và thiếu úy Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt và hai ngành An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị là “thành phần cực kỳ ác ôn”, học tập cải tạo ở trong Nam.
– Nhóm 4: từ cấp trung úy trở xuống của các binh chủng Bộ Binh, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân, là “thành phần ác ôn”, học tập cải tạo ở trong nam.
Riêng cấp đại úy nếu thuộc các binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, hai ngành An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị thì bị xếp vào Nhóm 1 (bắt buộc phải đưa ra bắc), số đại úy còn lại được xếp vào Nhóm 2, tức là đối tượng ưu tiên 2 đưa ra bắc.
Cuối tháng 1 năm 1976, khi có yêu cầu đưa tù cải tạo ra Phú Quốc, trung ương đã ra chỉ thị lấy Nhóm 3, tức cấp thiếu úy Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị và trung úy, thiếu úy Không Quân, Hải Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, là “thành phần cực kỳ ác ôn”.
Vì thế tại Trảng Lớn, một số trung úy (theo tôi nhớ, không có thiếu úy) thuộc Nhóm 3 đã bị đưa ra Phú Quốc.
[Còn những người thuộc Nhóm 2 – tức trung úy Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị – thì ở lại chờ đi bắc]
Tuy nhiên trên thực tế, như một số anh em bị đi cải tạo có thể còn nhớ, chính sách, lệnh lạc của trung ương đưa xuống đôi khi được các trại thi hành một cách khá tùy tiện.
Chẳng hạn cùng thời gian nói trên ở Thành Ông Năm, bản thân tôi là một Trung úy Chiến Tranh Chính Trị, thuộc Nhóm 2, đáng lẽ phải ở lại chờ ngày bị đưa ra bắc (đợt 1) thì lại được đưa ra Phú Quốc cùng với Nhóm 3.
Ngược lại, anh chàng thiếu úy “babilac” An Đình Phương cùng tổ với tôi, vốn thuộc Nhóm 4 (nhẹ tội nhất) cũng bị đưa ra Phú Quốc, tức là đang từ thành phần “ác ôn” được nâng lên “cực kỳ ác ôn”!


* * *


Trở lại với thành phần trung úy ở Trảng Lớn bị đưa ra Phú Quốc rồi lại được đưa về Trảng Lớn, trong số này có những người được phân phối về “đơn vị” cũ, tức cái T mà họ đã ở trước khi bị đưa ra Phú Quốc!
Tôi tin rằng đây chỉ là một sự vô tình chứ không có sắp xếp của “cấp trên”. Nhưng cho dù chỉ là vô tình, việc những “thây ma biết đi” trở về chốn xưa đã có tác dụng mạnh mẽ trong việc răn đe đám cải tạo ở Trảng Lớn hơn bất cứ lời hăm dọa nào của cán bộ quản giáo!
Đó cũng là nguyên nhân chính đưa tới việc những anh em từ Phú Quốc về Trảng Lớn bị cô lập, xa lánh trong một tập thể lẽ ra phải đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau!
Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu về cuộc sống ở “thiên đường” Trảng Lớn từ đầu mùa cải tạo, tôi cũng thông cảm phần nào với những anh em cải tạo “nhẹ tội” ấy.
Cũng cần nhấn mạnh, ở Trảng Lớn có 5 “L” khác nhau, cách áp dụng, thi hành “chính sách đối với ngụy quân” cũng có thể khác nhau, cho nên những gì tôi viết ra sau đây có thể chỉ chính xác với các T trong L của tôi mà thôi.
T tôi ở gồm ba, bốn dãy nhà mới, tuy xây dựng vá víu bằng đủ thứ vật liệu thu nhặt được – tôn cũ, ba-lết, vỉ sắt lỗ (PSP) của phi trường dã chiến, cột đèn bằng gỗ thông của Mỹ để lại… – nhưng cũng khá thoáng mát, sạch sẽ, với hai, ba hàng sạp gỗ, mỗi người được một khoảng giang sơn vừa đủ để trải cái chiếu đơn.
Bên ngoài các dãy nhà là một sân bóng chuyền và khu nhà bếp, cái giếng, chung quanh là các giàn bầu, mướp, một cái ao nhỏ để lấy nước tưới hoa màu, xa hơn là các luống rau muống.
Không hiểu vào thời gian đầu, sau 10 bài học chính trị, tù cải tạo cấp trung úy thiếu úy ở T này có phải tham gia lao động nặng hay không, chỉ biết từ khi có tù Phú Quốc về, ngoài các tổ chuyên môn như tổ nhà bếp (anh nuôi), tổ mộc, tổ rèn, tổ chăn nuôi…, anh em còn lại thỉnh thoảng mới bị bắt đi cắt tranh ngoài vòng đai căn cứ, còn thường nhật thì chỉ phải ra vườn, vừa chăm sóc mấy luống rau vừa tán dóc, đợi hết giờ lao động.
Vì không có nhiều đất, mỗi tổ chỉ có một luống rau muống dăm bảy mét vuông cho nên chỉ cần 30 phút làm cỏ, tưới nước là xong công tác, nhưng không được trở vào trong nhà.
Ở Trảng Lớn, ít nhất cũng là T của tôi, không có mục “cải thiện” (trồng, hoặc kiếm rau cỏ để ăn thêm) bởi không có đất và nhất là lệnh cấm lửa tuyệt đối, không được có bất cứ một ngọn lửa, hòn than nào bên ngoài nhà bếp…
Ăn cơm trưa xong, ngủ một giấc, rồi hoặc ra sân chơi bóng chuyền, hoặc đánh cờ tướng, hoặc tụ tập đàn địch (nhạc cách mạng, dĩ nhiên), tán dóc, hoặc thơ thẩn hóng mát ngoài vườn rau…
Sau bữa cơm chiều, ra giếng tắm rửa, họp tổ, rồi đi ngủ.
Thành thử, nói theo cách nói của người cộng sản, anh em tù cải tạo ở Trảng Lớn đã không có nhiều cơ hội, phương tiện để thực thi khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”!
Bên cạnh đó không thể không nói tới sự nhân đạo (?) của nhà cầm quyền trại ở Trảng Lớn trong việc cho phép tù cải tạo viết thư và nhận quà của gia đình.
Trong khi đám tù Phú Quốc gốc Thành Ông Năm chúng tôi mới chỉ được viết một lá thư và nhận một gói quà nửa ký ở Thành Ông Năm, và trong 6 tháng ở Phú Quốc chỉ được viết và nhận một lá thư duy nhất, thì tù cải tạo ở Trảng Lớn được viết thư mỗi tháng một lần, và nhận quà của gia đình đều đều.
Vẫn biết thư viết về và thư gửi đi đều phải theo một khuôn mẫu nhất định – thư về thì báo cho gia đình biết mình vẫn khỏe mạnh, được “cách mạng” nuôi ăn đầy đủ, chăm sóc tử tế, và khuyên gia đình chấp hành nghiêm chỉnh chính sách đường lối của nhà nước, thư đi thì “động viên” chồng con cố gắng học tập tiến bộ để sớm trở về đoàn tụ với gia đình, góp phần xây dựng đất nước – nhưng ít ra cả người viết lẫn người nhận cũng được chút yên tâm, an ủi khi được đọc những dòng chữ của người thân, không cần biết nội dung thư viết những gì!
Trong khi những lá thư chứa đựng giá trị tinh thần thì các gói quà thể hiện giá trị vật chất. Những gói quà ấy, cùng với may mắn nếu gặp cán bộ tài vụ, hậu cần dễ dãi có thể gửi tiền (cộng thêm chút thù lao) nhờ họ mua giúp thứ này thứ khác ngoài chợ, đã khiến Trảng Lớn trở thành một “thiên đường cải tạo” đúng nghĩa.
Bên cạnh đó, đám cán bộ quản giáo ở Trảng Lớn, ít nhất cũng là ở T của tôi, rất ít khi vào các khối để diệu võ dương oai, hoặc dòm ngó, hạch sách. Trong mấy tháng ở Trảng Lớn, tôi chỉ biết tên một cán bộ duy nhất là Thiếu úy Mai, quản giáo của khối tôi.
Theo sự suy diễn của tôi, rất có thể vì sau giai đoạn học tập chính trị, Trảng Lớn chỉ còn là một trại tạm giam tù cải tạo, chờ đưa đi các nơi để lao động sản xuất, cho nên đám cán bộ quản giáo ở đây cũng tà tà!
Những nguyên nhân khách quan nói trên đã khiến đa số anh em tù cải tạo ở Trảng Lớn cố gắng “nín thở qua sông”, thậm chí có những người còn tìm mọi cách chứng tỏ mình đã “tiến bộ”, với hy vọng sớm được “cách mạng khoan hồng” cho về xum họp với gia đình!
Sau này, một số anh em ở Trảng Lớn liên tục từ đầu mùa kể với tôi rằng trước khi đám tù cải tạo ở Phú Quốc về, họ đã được quản giáo lên lớp phải cảnh giác khi quan hệ, bởi đây là những thành phần đã trải qua giai đoạn lao động, không nhận thức được “lao động là vinh quang” nên có thể “mang tư tưởng bất mãn, đầu óc phản động, phát ngôn bừa bãi”.Thành thật mà nói, đám quản giáo nhận xét cũng không sai mấy. Chính vì thế, tù Phú Quốc về Trảng Lớn thường bị đa số anh em trong khối nhìn với cặp mắt e dè, hạn chế quan hệ, ít nhất cũng là trong thời gian một vài tháng đầu.
Trong đám tù Phú Quốc bị anh em tìm cách “né” ấy, tôi đứng đầu sổ vì hai nguyên nhân: (1) trung úy ngành Chiến Tranh Chính Trị, (2) chúa phát ngôn bừa bãi, mỉa mai châm chọc cách mạng.
Tôi không biết trong đám tù Phú Quốc về đất liền có bao nhiêu trung úy CTCT được đưa lên Trảng Lớn, chỉ biết trong T này có một mình tôi.
Như đã viết ở trên, cấp trung úy của hai ngành CTCT, An Ninh Tình Báo, và các binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt được xếp vào Nhóm 2, tức là thành phần “ngụy quân cực kỳ ác ôn, có nhiều nợ máu”, là đối tượng ưu tiên 2 đưa ra các trại cải tạo ở miền bắc, chỉ đứng sau Nhóm 1.
Đầu năm 1976, khi có lệnh của trung ương đưa một số tù cải tạo thuộc Nhóm 3, tức cấp trung úy, thiếu úy Không Quân, Hải Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh ra Phú Quốc, chẳng hiểu đám cán bộ Đoàn 775 ở Thành Ông Năm làm ăn ra sao mà lại đưa cả một số trung úy CTCT – trong đó có tôi và Trần Ngọc Tự, vốn thuộc Nhóm 2 – ra Phú Quốc, trong khi đáng lẽ chúng tôi phải ở lại để lên Long Giao rồi sau đó đa số bị đưa ra bắc, như trường hợp của Nguyễn Văn Chúc, Khóa 2 Đại Học CTCT, bạn cùng tổ với tôi và Tự ở Thành Ông Năm.
Lúc bị gọi tên ở Thành Ông Năm, tôi và Tự ở khác toán, ra tới Phú Quốc lại ở khác trại, không hề biết tin tức của nhau cho nên cả hai thằng, thằng nào cũng tưởng chỉ có một mình mình số “ăn mày” nên mới bị đày ra đảo. Sau này mới biết khi quân Khmer Đỏ đánh đảo Thổ Châu, tù cải tạo ở Phú Quốc được đưa về đất liền, Tự đi Long Giao (để từ đó đi bắc với Nguyễn Văn Chúc), còn tôi đi Trảng Lớn thì cái số của tôi không “ăn mày” một chút nào cả, mà việc bị đưa ra Phú Quốc rồi sau đó lại được đưa về Trảng Lớn quả là chuyện “Tái ông thất mã”!

* * *


Trong hoàn cảnh bị anh em cải tạo “nhà lành” ở Trảng Lớn xa lánh, đám tù cải tạo gốc Phú Quốc chúng tôi chỉ biết tìm tới với nhau, sống thu mình như một sắc dân thiểu số. Riêng tôi, bạn tù từ Phú Quốc nay ở chung khối chỉ có hai người: An Đình Phương, chàng thiếu úy trẻ cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm trước đây, và Nguyễn ĐS, tay trung úy Nha Quân Pháp cũng cùng tổ với tôi và An Đình Phương ở Thành Ông Năm nhưng ra Phú Quốc ở khác trại.
Tôi vốn thân với An Đình Phương hơn Nguyễn ĐS, nhưng sau khi về Trảng Lớn, thay vì hồi phục, Phương ngày càng thêm suy sụp, cả về tinh thần lẫn thể xác, cứ nằm một chỗ và rất ít nói, cho nên tôi cũng không có hứng gần gũi, trò truyện. Về sau, tôi cứ ân hận mãi vì sự lơ là của mình…
Về phần Đức (Cống), tay Trung úy Pháo Binh bạn học cũ của tôi ở cùng trại Phú Quốc thì nay ở khối bên cạnh; thỉnh thoảng tôi lại xé rào (vi phạm nội quy) lẻn sang tán dóc, từ đó mới gặp được một vài tay hoa tiêu quan sát và trực thăng cấp trung úy.
Sau vài lần sang khối của Đức, tôi nhận ra bầu không khí ở đây khác hẳn khối của tôi: mọi người có vẻ thoải mái, không e dè nghi kỵ nhau, và nhất là “phát ngôn linh tinh” (chữ của quản giáo), châm biếm cách mạng một cách thoải mái!
Nguyên nhân chính đưa tới sự khác biệt này là thành phần tù cải tạo: khối của Đức đa số là đám trung úy trẻ, nhiều tay là dân tác chiến, điếc không sợ súng, trong khi khối của tôi đa số là thiếu úy trẻ nhưng lại do mấy ông thiếu úy già làm khối trưởng, tổ trưởng nên không khí rất ngột ngạt, khó thở!
Tôi không vơ đũa cả nắm nhưng “kinh nghiệm xương máu” trong những năm tháng cải tạo đã cho tôi thấy nhiều sĩ quan lớn tuổi, từ những ông thiếu úy xuất thân hàng binh sĩ ở Trảng Lớn cho tới các ông thiếu tá không phải dân tác chiến (không phải ra bắc) ở Suối Máu, thường có thái độ an phận, nhẫn nhục, cố gắng “nín thở qua sông” chờ ngày về xum họp với con cháu.
Nhưng nếu chỉ có thế cũng chẳng có gì đáng trách, đàng này một số ông thiếu úy già giữ chức khối trưởng, tổ trưởng ở Trảng Lớn đã ra sức lấy điểm cách mạng và đì đám cải tạo tối đa.
Ở Trảng Lớn vào thời gian này hầu như không có lao động nặng, cho nên “đì” ở đây chỉ là bắt ra vườn nhổ cỏ tưới rau đúng giờ giấc, lao động tích cực (!) và – quan trọng hơn – bị kiểm điểm trong các buổi họp tổ mỗi tối về hành động, lời ăn tiếng nói.
Tổ của tôi chỉ có một mình tôi cấp bậc trung úy, còn lại toàn là thiếu úy, tất cả đều còn trẻ trừ ông tổ trưởng, Thiếu úy T, đã có cháu nội cháu ngoại, được xem là người bị ghét thứ nhì trong khối, chỉ sau ông thiếu úy già khối trưởng!
Tới mức một tay thiếu úy trẻ trong tổ đã hăm dọa khi nào được thả sẽ tìm tới tận nhà ông Thiếu úy T để “hỏi thăm sức khỏe”.
Về phần tôi, chẳng phải tôi ngon lành hơn ai, mà có lẽ do cái “máu Phú Quốc”, trong các buổi họp tổ tôi đã thẳng thừng phê bình ông tổ trưởng về cung cách, thái độ đối với anh em trong tổ.
Để thủ thân, và cũng vì đôi khi có cán bộ quản giáo đứng phía sau theo dõi diễn tiến buổi họp, tôi thường sử dụng tối đa “từ cách mạng”, mở miệng ra là ca tụng chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng và nhà nước, quyết tâm học tập tiến bộ để trở thành người công dân lương thiện, góp phần xây dựng đất nước…, nhưng tất cả những gì tôi trình bày đều có mục đích quy kết ông thiếu úy tổ trưởng vào các “tội” quan liêu hống hách, trù dập, khủng bố tinh thần, khiến anh em hoang mang, không tin tưởng vào đường lối chính sách của cách mạng, và nhất là luôn luôn lo sợ bị tổ trưởng, khối trưởng báo cáo những tiêu cực của mình trong quá trình học tập cải tạo…
Mười lần như một, tôi đều mượn “lời vàng ngọc” của quản giáo để đi tới kết luận “các cải tạo viên phải giúp đỡ lẫn nhau cùng học tập tiến bộ chứ không chỉ tiến bộ một mình”!
Thành thật mà nói, khi tấn công Thiếu úy T, tôi cũng không được “lương thiện” cho lắm, mà có lúc cưỡng từ đoạt lý, có lúc cố tình chụp mũ, không ngoài mục đích hạ ông tổ trưởng.
Kết quả tốt đẹp không ngờ!… Bị cô lập, Thiếu úy T dần dần cảm thấy thấm và thay đổi quá sự mong đợi của mọi người. Ông không chỉ ngưng đì anh em mà còn trở nên hòa nhã, hiền lành, và – khó tin nhưng có thật – ông tìm cách thân thiện, gần gũi với tôi.
Dĩ nhiên, tôi cũng chẳng hẹp hòi gì, và cuối cùng tôi trở thành… tri kỷ để nghe ông tâm sự: đường đời, binh nghiệp, chuyện gia đình, đủ thứ chuyện, và thường được ông ưu ái mời vấn một điếu thuốc rê sau bữa cơm chiều… Một ngày nọ, ông nói với tôi:
– Tao thề với mày, tao chưa hề báo cáo một thằng nào trong tổ cả!
Tôi tin lời ông, và cảm thấy hơi ân hận vì trước đây đã “chơi” ông quá đáng. Qua kinh nghiệm này, từ đó về sau, tôi đã phải cẩn trọng, đắn đo hơn trong việc quy kết người này người kia làm tay sai, làm ăng-ten để hại anh em bạn tù. Bởi rất có thể họ xun xoe lấy điểm đám cán bộ chỉ vì chết nhát và an phận chứ không đến nỗi phản bội, đâm sau lưng anh em!
“Sáu Lèo về làng”
Tới đây xin viết về biểu hiệu “Sáu Lèo”.
Mọi sự bắt đầu từ cây đàn ghi-ta đóng ở Thành Ông Năm mà tôi đem về từ Phú Quốc. Vào thời điểm chúng tôi về Trảng Lớn, anh em tù cải tạo ở đây đã có thì giờ và phương tiện đóng những cây đàn ghi-ta gần giống như đàn thật, thùng đàn cũng có eo hình số 8, mặt đàn bằng ván ép đánh vẹc-ni, bộ khóa lên dây đàn bằng kim loại và dây đàn o-ri-gin do thân nhân gửi vào…
Vì thế, họ đặt cho cây đàn thô lậu, thùng đàn hình quan tài của tôi một cái tên vừa mỉa mai vừa khôi hài nhưng khá chính xác: cây đàn Tô-bia. “Tobia” nguyên là tên một nhà hòm nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975.
Nhưng cũng nhờ cây đàn Tô-bia mà tôi có cơ hội quan hệ với đám “văn nghệ sĩ” trong khối, và sau này nó đã trở nên đắc dụng khi trở thành cây đàn bass (bass guitar) của ban nhạc.
Số là Hoàng, một tay thiếu úy trước kia chơi bass trong một ban nhạc trẻ, đã khám phá ra ưu điểm cộng hưởng (acoustic resonance) của cây đàn Tô-bia và đề nghị tôi trao cho hắn sử dụng làm đàn bass.
Thời gian này, ít nhất cũng là ở Trảng Lớn, tù cải tạo chưa ai dám chơi nhạc vàng mà thường chỉ hòa tấu một vài bản “nhạc cách mạng” để che mắt quản giáo, còn phần lớn là chơi nhạc ngoại quốc không lời, trong đó có hai bản của “các nước xã hội chủ nghĩa anh em” là Guantanamera (tôi đã viết trong một kỳ trước) và Tình Ca Du Mục. (xem Phụ Lục)

* * *


Khoảng hai tháng sau ngày tù cải tạo Phú Quốc về Trảng Lớn, sự nghi kỵ, chia rẽ giữa dân Phú Quốc và dân Trảng Lớn đã giảm bớt khá nhiều. Riêng tôi còn có điểm với ông thiếu úy già khối trưởng nhờ mấy bài thơ con cóc ca tụng cách mạng được đưa lên “báo tường” của khối, cũng là tờ báo tường duy nhất của cả T.
Tôi biết ngày ấy có khá nhiều anh em tù cải tạo bất mãn vì cho rằng tôi là một thằng lấy điểm cách mạng; thậm chí gần 10 năm sau ở Úc, vẫn còn một anh bạn tù Trảng Lớn gốc Võ Bị Đà Lạt nghĩ như thế!
Thực ra, thâm ý của tôi khi đề cao những thành tích ba xạo (du kích dùng cung nỏ bắn rớt trực thăng…), những chuyện tề thiên (MiG đậu trên mây phục kích B-52…), những khoa trương lố bịch… qua những bài thơ con cóc tận dụng tối đa “từ cách mạng” ấy là để khôi hài, mỉa mai, châm biếm.
Tuy nhiên, trong khi hết lời ca tụng “cách mạng”, ra sức đả phá “đế quốc Mỹ”, tôi cũng tự đặt ra cho mình một giới hạn: không bao giờ nhục mạ “phe ta”, hoặc sử dụng mấy chữ “ngụy quân, ngụy quyền”!
Chính nhờ tài thơ văn (tạm gọi như thế), tôi được ông thiếu úy khối trưởng giao trách nhiệm thực hiện một vài tiết mục văn nghệ để tham gia cuộc thi đua mừng lễ “quốc khánh 2 tháng 9”.
Sau khi hội ý với nhau, anh em trong ban văn nghệ quyết định sẽ trình diễn hai tiết mục: một màn vũ và một vở kịch ngắn. Màn vũ do Th, một chàng thiếu úy CTCT tài hoa, “chủ bút” tờ báo tường của khối, đảm trách, còn vở kịch ngắn do tôi thực hiện.
Màn vũ do bốn “nữ vũ công” biểu diễn với nhạc nền là một ca khúc cách mạng. Để tạo sự bất ngờ cho khán giả, kể cả anh em trong khối, tiết mục này đã được giữ bí mật tối đa.
Còn vở kịch ngắn của tôi có tựa đề “Sáu Lèo về làng” do tôi thủ vai chính, nội dung kể về nhân vật Sáu Lèo, một tay thiếu úy đi cải tạo được thả về, bị dân quân xã bắt giữ vì nghi ngờ trốn trại, sau khi chứng minh mình đã học tập tiến bộ và được trả quyền công dân, đã được cả thôn đón mừng, trong đó có cô thôn nữ đã đợi chờ chàng từ bao năm…
Cốt truyện tầm thường, tẻ nhạt ấy được tôi thể hiện dưới hình thức hài kịch qua những màn đối thoại sặc mùi tuyên truyền khẩu hiệu, sử dụng từ cách mạng tối đa, và cường điệu tới mức phi lý, chẳng hạn cảnh ông bố vợ tương lai quê mùa, thất học lại có khả năng chất vấn Sáu Lèo về 10 bài học chính trị, ăn nói lưu loát còn hơn đám giáo viên thứ thiệt, hoặc cảnh bà mẹ của Sáu Lèo đòi nắn “chim” của thằng con trai độc nhất xem nó có bị “teo” (vì bị cách mạng cho uống thuốc teo) như tin đồn thất thiệt hay không…
Gần tới ngày trình diễn, tôi và Th quyết định gộp màn vũ và vở kịch thành một tiết mục duy nhất.
Buổi tối 1 tháng 9, 1976, dãy nhà của khối chúng tôi – vốn là dãy nhà rộng lớn nhất và có ba mặt sân – được gỡ bớt sạp ngủ lấy để chỗ dựng một sân khấu dã chiến và xếp một hàng ghế cho tay thủ trưởng và đám cán bộ quản giáo ngồi; các tấm vách, nếu có, đều được tháo gỡ để “khán giả” có thể theo dõi từ ngoài sân.
Tôi còn nhớ màn trình diễn của khối tôi là tiết mục thứ nhì; và đã được đại đa số khán giả tiên đoán sẽ đoạt giải nhất, mặc dù còn tới hai khối chưa trình diễn!
Ngay sau khi “mở màn”, khán giả đã vô cùng thích thú với màn vũ hấp dẫn của bốn cô “thôn nữ”!

Chính tôi cũng phải ngạc nhiên và phục anh bạn trẻ Th sát đất. Chẳng hiểu bằng cách nào đó, chỉ với bốn cái nón lá, Th đã biến bốn đực rựa thành bốn cô gái sexy – ngực tấn công mông phòng thủ – ưỡn ẹo một cách đầy khiêu khích, khiến đám khán giả tù cải tạo huýt gió um sùm!
Rồi tới màn đối đáp giữa Sáu Lèo và ông nhạc tương lai. Trong khi ông lão nông dân quê mùa ấy thao thao bất tuyệt về đường lối chính sách của cách mạng, về cuộc sống hạnh phúc ấm no dưới chế độ mới, “nhà nào cũng có đài, đổng, đạp…”, về viễn ảnh tươi sáng “mỗi nhà sẽ làm chủ một chiếc ô-tô như lời đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã tuyên bố”…, thì gã Sáu Lèo lại (cố tình) ấp a ấp úng, sử dụng từ cách mạng trật duột, tạo ra một sự tương phản nực cười…
Vừa làm trò hề diễu cợt cách mạng trên sân khấu, tôi vừa liếc mắt xuống quan sát, thấy đám cán bộ quản giáo cũng cười thoải mái, riêng viên Thượng úy thủ trưởng ra vẻ nghiêm chỉnh hơn, thỉnh thoảng mới nhếch mép.
Về phần ông thiếu úy già khối trưởng, thấy màn kịch được khán giả hoan hô nồng nhiệt, đã tin chắc màn thi đua của khối mình sẽ đoạt giải.
Ngày hôm sau, 2 tháng 9, trại mổ heo mừng ngày lễ lớn, mỗi khối được phân phối vài ký thịt để tù cải tạo ăn lấy hương lấy hoa. Ông khối trưởng dẫn các “anh nuôi” (tổ nhà bếp) đi mổ heo và lãnh thịt, khi trở về mặt mày không lấy gì làm hồ hởi phấn khởi cho lắm, hỏi ra mới biết “giải văn nghệ 2 tháng 9” đã về tay khối khác!
Mấy bữa sau, khi đi giao ban về (giao ban: gặp cán bộ để báo cáo và nhận chỉ thị), ông khối trưởng kể với tôi rằng trong lúc chỉ có hai người với nhau, ông nêu thắc mắc với Thiếu úy Mai, cán bộ quản giáo của khối, tại sao màn trình diễn của khối mình được hoan hô nhiều nhất mà lại không đọat giải, viên quản giáo trả lời:
– Các anh xỏ xiên châm biếm cách mạng, thủ trưởng chưa hỏi tội là còn may cho các anh đấy!
Dĩ nhiên, trong bụng thì khoái chí cười thầm nhưng ngoài miệng tôi ra sức phủ nhận cáo buộc này, nói với ông khối trưởng rằng chắc có tay nào ở khối khác “thoọc” đây!
Miệng thì nói thế nhưng trong lòng tôi cũng hơi lo, chuẩn bị tinh thần để nếu bị ban chỉ huy trại gọi lên “làm việc” thì đã có sẵn bài bản để chống đỡ.
Bài bản ấy tôi đã sử dụng một lần ở Phú Quốc và tỏ ra rất hiệu quả!

* * *


Ngày ấy, trong một buổi công tác sản xuất, làm cỏ đám rẫy trồng bắp phía sau dãy nhà của ban chỉ huy trại, tới giờ giải lao, Thiếu úy Tuấn, một trong những cán bộ quản giáo của khu trung úy thiếu úy, tới gần và nói nho nhỏ đủ để một mình tôi nghe: anh ta yêu cầu tôi vào lúc 3 giờ chiều ra ban chỉ huy trại để “làm việc” với cán bộ.
Tôi biết ngay có chuyện chẳng lành. Bởi vì một tù cải tạo mà được gọi lên “làm việc” thì một là được lọt vào mắt xanh của cán bộ trại để giao nhiệm vụ theo dõi, báo cáo những anh em “kém tiến bộ”, gọi nôm na là làm “ăng-ten”, hai là bản thân người đó bị ăng-ten báo cáo, nay bị kêu lên “kiểm điểm”.
Ngay từ ngày còn ở Thành Ông Năm tôi đã có tiếng là hay phát ngôn bừa bãi, châm biếm cách mạng, mà nếu tới tai cán bộ có thể bị gán cho cái mác “phản động”. Không biết bao lần Trần Ngọc Tự đã khuyên tôi thế này thế khác, nhưng tôi vẫn chứng nào tật nấy. Nay bị gọi lên “làm việc” thì chắc chắn là để bị kiểm điểm chứ không phải được lọt vào mắt xanh của cán bộ!
Quả thật không sai! Buổi chiều hôm ấy tại ban chỉ huy trại, tôi đã bị tay Thiếu úy Tuấn phủ đầu bằng cách kể ra một lô tội, nào là “xuyên tạc đường lối chính sách của đảng và nhà nước, nói xấu chế độ”, nào là “đã không chịu ăn năn hối cải còn tuyên truyền, xúi dục, khích động người khác chống lại cách mạng …”, rồi anh ta kết luận với một giọng đầy hăm dọa:
“Trước kia các anh có cả triệu quân, có đế quốc Mỹ đứng sau lưng mà vẫn thua cách mạng, giờ này không hiểu các anh còn mơ tưởng cái gì… Sĩ quan chiến tranh chính trị các anh là công cụ tuyên truyền của Mỹ Ngụy, đầu óc các anh đã bị chúng nhồi nhét tư tưởng phản động, khổng thể một sớm một chiều gột rửa, nhưng Đảng và nhà nước luôn luôn kiên trì, sẽ tiếp tục cải tạo các anh…, 5 năm, 10 năm, 15 năm…, cho tới khi nào các anh giác ngộ cách mạng, không còn tư tưởng chống đối nữa mới thôi…”
Nghe viên quản giáo hài tội, tôi biết có chối cũng vô ích, bèn nhìn nhận tất cả, nhưng thay vì xuất phát từ đầu óc phản động, tôi đổ tội cho bản tính khôi hài diễu cợt của mình. Để có thêm sức thuyết phục, tôi còn kể ra những vụ “rắc rối” với các cấp chỉ huy của tôi trong quân đội trước năm 1975, cũng chỉ vì cái tật châm biếm, phát ngôn bừa bãi của mình…
Chính vì tôi không chối cãi quanh co mà “nhận tội” cái một, viên thiếu úy quản giáo có vẻ hơi cụt hứng; anh ta cảnh cáo tôi thêm vài câu nữa rồi bắt viết tờ kiểm điểm, cam kết “không phát ngôn linh tinh, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy trại, cố gắng học tập cải tạo, lao động tốt để trở thành người tiến bộ”, nếu tái phạm sẽ chịu mọi biện pháp kỷ luật…
Trở lại trại cải tạo Trảng Lớn, sau một tuần chờ đợi mà không thấy quản giáo gọi lên “làm việc”, tôi biết mình đã thoát nạn. Và để đề phòng việc bị ăng-ten báo cáo, tôi tự nhủ từ nay phải cố gắng giữ mồm giữ miệng.
Nhưng những anh em quen biết đâu có thấu hiểu sự tình, trong khi tôi cố tránh nhắc lại vở kịch “Sáu Lèo về làng” thì họ hầu như đã quên hẳn cái tên cúng cơm của tôi để chỉ còn gọi là “Sáu Lèo”, riêng đám thiếu úy trẻ thì cứ một điều “anh Sáu”, hai điều “anh Sáu”!
Sau này khi cả tôi và Trần Ngọc Tự đã ra tù, tôi càng thấy mình may mắn hơn khi được biết ngày ấy, ông bạn quý hóa của tôi sau khi về Long Giao đã bị đưa ra bắc cũng chỉ vì cái tội xỏ xiên cách mạng trong chương trình văn nghệ “mừng xuân thống nhất” vào dịp Tết năm đó.

* * *


Gần cuối năm 1976, tù cải tạo ở Trảng Lớn được thăm nuôi lần đầu tiên. Tôi được mẹ và bà xã lên thăm.
Lúc này đám tù Phú Quốc chúng tôi sau mấy tháng được “bồi dưỡng” (dù chỉ là ăn độn rau) và không phải lao động khổ sai, đã phương phi béo tốt trắng trẻo hẳn ra; có lần đám anh nuôi đem cái cân gạo về khối, tôi đu lên để cân thử thì thấy cũng được khoảng 53, 54 ký, tương đương với trước năm 1975!
Thực ra cái “béo tốt” nhờ ăn độn rau chỉ là “phồn vinh giả tạo”, “người khổng lồ chân đất sét” (từ của CSVN), nhưng đa số thân nhân lên thăm nuôi đâu có biết điều đó.
Thấy mẹ tôi tươi cười nắn nắn cánh tay của tôi vì thấy thằng trưởng nam cũng có da có thịt chứ không đến nỗi nào, tay Thiếu úy Mai đang đi tới đi lui trong phòng thăm nuôi liền dừng lại, hỏi mẹ tôi với giọng cởi mở:
– Sao, bác thấy cách mạng nuôi anh ấy thế nào?
– Cám ơn các anh, trông nó khỏe mạnh như vầy tôi cũng yên tâm. Chỉ mong sao nó sớm được về lo làm ăn nuôi vợ con…
– Bác cứ yên chí, khi nào anh ấy học tập tiến bộ thì cách mạng sẽ cho về thôi… Nói cho ngay thì anh Thiện đây các mặt đều tốt cả, chỉ phải cái tội lúc nào cũng đeo kính và hay châm biếm cách mạng thôi!
Sau đó, tay quản giáo còn ân cần hỏi chuyện mẹ tôi và vợ tôi về công việc làm ăn sinh sống một hồi rồi mới bỏ đi.
Nhận tiện cũng xin viết đôi dòng về sự dị ứng của đám cộng sản Bắc Việt trước những người tù cải tạo đeo kính cận thị. Có lẽ bọn họ cho rằng đeo kính là biểu hiện của giai cấp trí thức tiểu tư sản – giai cấp mà họ thường cay cú miệt thị “trí thức như các anh mà không giác ngộ cách mạng thì không giá trị bằng cục phân!”
Vì thế, để tránh bị nghe bọn họ xỉa xói, mỗi khi đi lao động, ra tới nơi chúng tôi thường cất cặp mắt kính vào trong túi áo để được yên thân.
Về thái độ tử tế của viên Thiếu úy Mai, dĩ nhiên phải có nguyên nhân của nó.
Nguyên anh ta là một người vừa đầu có sạn vừa có khả năng tiếp thu nhanh, nói nôm na là láu cá. Chỉ một thời gian ngắn sau khi cấp trung úy thiếu úy bị đi học tập cải tạo, anh ta đã biết cách mánh mung, làm tiền các gia đình có chồng con bị nhốt ở Trảng Lớn với những lời hứa hẹn hão huyền.
Sau khi tỏ thái độ cởi mở thân thiện với gia đình tôi, anh ta chỉ bỏ đi sau khi biết mẹ tôi ở tận Trảng Bom còn vợ tôi thì buôn bán ngoài chợ trời, ăn nhờ ở đậu bà ngoại ở Sài Gòn, không biết bị bắt đi kinh tế mới lúc nào, thì vàng bạc đâu mà đút lót chạy chọt!
[Mấy năm sau, khi đã về Suối Máu, tôi được một bạn tù gốc Trảng Lớn cho biết Thiếu úy Mai đã bị bắt sau khi các vụ anh ta lấy vàng của gia đình cải tạo (với lời hứa lo cho về sớm!) bị đổ bể]
Sau khi Thiếu úy Mai bỏ đi, mẹ tôi nhìn tôi cười tủm tỉm:
– Làm sao mà anh ta lại bảo là “cậu cả” châm biếm cách mạng?
Mẹ tôi chỉ hỏi cho có, chứ bà đi guốc trong bụng tôi. Thành thử tôi cũng chỉ tủm tỉm cười chứ không trả lời.
[Khi nào có dịp, tôi sẽ viết về mẹ tôi, một phụ nữ không được ăn học nhiều nhưng lập trường quốc gia và thành tích chống cộng vượt xa gã trưởng nam trung úy CTCT của bà]

* * *


Nếu không kể một hai tháng đầu bị anh em Trảng Lớn “kỳ thị”, với riêng tôi, thời gian nửa năm ở đây phải được xem là “những ngày nghỉ mát” trong cuộc đời cải tạo.
Nhưng bên cạnh đó, thời gian ở Trảng Lớn cũng để lại hai kỷ niệm buồn: hai người bạn trẻ của tôi, một bị cưa chân một về bên kia thế giới.
Người bị cưa chân là Sơn, một thiếu úy trẻ cùng đơn vị Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân (Biên hòa). Trước năm 1975 tôi không biết Sơn vì có tới cả trăm sĩ quan các cấp trong một đại đơn vị tương đương cấp Sư Đoàn, nhưng Sơn thì biết tôi bởi tôi là một trong hai sĩ quan có nhiệm vụ thuyết trình trong các buổi học tập CTCT.
Sơn gốc Nam kỳ, vui vẻ, lanh lẹ, hoạt bát, ở Trảng Lớn từ đầu mùa, thích chơi bóng chuyền chứ không đàn địch cho nên không ở trong nhóm bạn thân của tôi; tuy nhiên, vì là hai tù cải tạo duy nhất trong khối trước kia ở cùng đơn vị, chúng tôi thường trò truyện, hỏi han nhau, nhắc nhớ những kỷ niệm xưa…
Khoảng hơn một tháng sau khi tù cải tạo Phú Quốc được đưa về Trảng Lớn, trong một lần đi lao động hiếm hoi, tổ của Sơn được phân công cắt tranh ngoài vòng đai căn cứ. Mới khoảng 11 giờ, toán cắt tranh đã về trại, khá sớm hơn thường lệ.
Nghe tiếng anh em xôn xao, tôi tiến lại nghe thì được biết trong lúc cắt tranh, Sơn đạp trúng mìn, bị thương và được anh em khiêng tới bệnh xá.
Kinh nghiệm ở Phú Quốc cho tôi biết Sơn đạp phải mìn cóc, chứ nếu đạp phải “ba râu” thì đã tan xác rồi!
Như vậy chắc chắn Sơn sẽ bị cưa chân phía trên mắt cá. Nghĩ tới cảnh Sơn trở về trên đôi nạng gỗ, lòng tôi chùng xuống. Tôi và một vài anh em cùng tổ với Sơn xin lên bệnh xá thăm nhưng không được phép.
Cùng khoảng thời gian, An Đình Phương, chàng thiếu úy trẻ ở cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm trước đây, cùng ra Phú Quốc rồi về Trảng Lớn, đã kiệt lực, đi đứng phải vịn cột, hầu như không ăn uống gì nữa, nên được ban chỉ huy trại cho khiêng lên bệnh xá.
Trước khi Phương được đưa đi, tôi tiến tới bên cạnh cầm tay anh nói mấy lời khích lệ, nhưng Phương không còn đủ sức để trả lời, chỉ ngước mắt nhìn tôi – cái nhìn xa vắng lạ thường khiến tôi liên tưởng tới những điều tệ hại nhất.
Thật vậy, đó là lần cuối cùng chúng tôi nhìn thấy nhau bởi chỉ khoảng hai tuần sau, An Đình Phương đã vĩnh viễn ra đi tại bệnh xá.
Theo “tiêu chuẩn” quy định, tù cải tạo chết sẽ được bó chiếu chôn chứ không có hòm, nhưng vì anh em trong khối ra sức năn nỉ và cũng vì thời gian này tay Thiếu úy Mai đang tìm cách “thân thiện có ý đồ” với tù cải tạo trong khối, nên anh em trong tổ mộc được phép tự kiếm vật liệu để đóng một cái hòm cho An Đình Phương.
Nhưng kiếm đâu ra vật liệu? Cuối cùng anh em quyết định gỡ mấy miếng gỗ tương đối lành lặn nhất trên sạp ngủ. Kết quả, An Đình Phương cũng có được một cái hòm, cho dù vá víu và lũng nhiều lỗ thì cũng được tiếng là chết chôn có hòm chứ không phải chôn bó chiếu!
Nguyễn ĐS, trung úy Nha Quân Pháp cùng tổ với tôi và An Đình Phương ở Thành Ông Năm trước đây, là một trong những anh em được lên bệnh xá đưa Phương đi chôn.
Theo lời kể lại của Nguyễn ĐS, trước khi Phương được bỏ vào hòm, tay Thiếu úy Mai nói anh em tháo gỡ tư trang vàng bạc trên người chết để lập biên bản sau này giao lại cho gia đình, anh em đã chỉ gỡ cái đồng hồ đeo tay và sợi dây chuyền trên cổ, còn cái nhẫn cưới thì để Phương mang theo xuống mồ.

* * *


Khoảng một tháng sau, Sơn được đưa về khối. Tôi không dám ra sân đón Sơn bởi tôi sợ phải đối diện với hình ảnh “người về nay đã cụt chân” và cũng vì không biết phải nói gì với Sơn.
Đợi anh em dãn bớt, tôi mới tới chỗ Sơn nằm và giật mình khựng lại khi thấy anh bị cưa chân ở tận bên trên đầu gối.
Nguyên sau Sơn khi đạp phải mìn và được đưa tới bệnh xá, y sĩ (bộ đội) tiến hành cưa chân ở phía trên mắt cá. Cưa “sống” chứ không có thuốc mê, thuốc tê gì cả!
Trước đây khi còn ở Thành Ông Năm, tôi đã nghe kể một vị đại úy chui rào vượt thoát bị bắn trọng thương, đã được mổ “sống” tại bệnh xá. Có thể vì ở bệnh xá Thành Ông Năm không có thuốc mê, thuốc tê, cũng có thể vì vị đại úy bị bắn trong lúc “trốn trại” cho nên không được đối xử như tù cải tạo bình thường.
Nhưng cưa “sống” thì không ai có thể tưởng tượng nổi. Nghe Sơn kể lại việc anh bị cột cứng vào cái giường sắt để y sĩ cưa chân, tôi rùng mình!
Nhưng Sơn không chỉ bị cưa một lần!…
Cưa xong, vì không có trụ sinh, vết thương làm độc, cuối cùng lại phải cưa lần thứ hai, bên trên đầu gối; và lần này nếu lại bị làm độc nữa thì… theo ông bà! Cũng may, Sơn chưa tới số!
Nghe Sơn kể lại những diễn tiến kinh hoàng ấy một cách bình thản, tôi phục anh vô cùng.
Càng cảm phục hơn khi sau đó anh đã hòa nhập trở lại cuộc sống thường nhật trong khối, không một chút mặc cảm, không một lời oán trách số phận, chưa kể nhiều khi còn đem cái chân cụt của mình ra làm đề tài khôi hài!
Thực ra, ngay sau khi bị cưa chân, Sơn đã không muốn sống nữa, nhưng nhớ tới vợ con, anh quyết định phải sống, cho dù sống thừa, để mong có ngày được nhìn lại những người thân yêu. Nhưng tới khi bình phục, anh lại không chấp nhận sống thừa, mà thách thức số phận, ngẩng đầu ngạo nghễ với cao xanh…
Những diễn tiến lạc quan ấy đã khiến tôi được an ủi rất nhiều, và cảm thấy hoàn toàn yên tâm khi chúng tôi chia tay nhau vào cuối năm.
Để rồi trong những năm tháng cải tạo tiếp theo đó, mỗi khi đau khổ, tuyệt vọng, kể cả cái lần tử thần đã lảng vảng bên cạnh giường ở Sông Bé, tôi lại nhớ tới tấm gương phấn đấu của Sơn để có thêm sức mạnh.


PHỤ LỤC:
Tình Ca Du Mục

Tình Ca Du Mục là tựa đề phiên bản lời Việt của ca khúc Dorogoj Dlinnoyu (Con đường dài hun hút) của Nga. Trước khi ca khúc này trở nên nổi tiếng quốc tế vào năm 1968 qua phiên bản lời Anh Those Were The Days, đa số người cầm bút lẫn người thưởng thức đều cho đây là một bài hát dân gian Nga của một tác giả khuyết danh. Chỉ sau khi bức màn sắt được hé mở, các nhạc sử gia mới chứng minh được đây là một sáng tác của nhạc sĩ Boris Fomin với lời hát của thi sĩ Konstantin Podrevskii.
Có thể so sánh Boris Fomin (1900–1948) với Văn Cao của VN, có khác chăng là đoạn kết của nhà nhạc sĩ Nga bi thảm hơn nhiều: sau khi bị Đảng gạt sang bên lề, bạn bè xa lánh, Boris Fomin sống trong cô đơn đói khổ, và chết vì bệnh lao phổi vào tuổi 48!
Dorogoj Dlinnoyu được Boris Fomin viết vào khoảng năm 1917, 1918, với lời hát do chính ông đặt, nội dung nuối tiếc những ngày tháng cũ. Bản này được ông đề tặng cô bạn học Mania Nebolsina, sau trở thành người bạn đời của ông…
Nếu không kể lời hát mà chỉ xét về phần nhạc, Dorogoj Dlinnoyu có giai điệu và nhịp nhảy tương tự một vũ điệu hoang dại của dân du mục (gypsy) sống ở Nga.
Tới năm 1924, thi sĩ Konstantin Podrevskyi (1888-1930) đã dựa vào ý tưởng trong nguyên tác của Boris Fomin để đặt lời hát mới, phong phú và có giá trị văn chương cao hơn, cũng là lời hát được sử dụng hiện nay. Lời hát (mới) của Dorogoj Dlinnoyu diễn tả nỗi tiếc nhớ tuổi thanh xuân của một người khi nhìn về quá khứ.
Năm 1925, Dorogoj Dlinnoyu được thu đĩa lần đầu tiên, và sau đó theo đoàn lưu dân (những người chạy trốn chế độ cộng sản) ra nước ngoài. Với những con người phải biệt xứ ấy, lời hát của ca khúc hoài niệm quá khứ tươi đẹp này càng thêm thấm thía.
Trong khi đó tại Liên Xô, trong “cuộc đại khủng bố văn hóa” năm 1929, Dorogoj Dlinnoyu cùng một loạt bài tình ca của Boris Fomin đã bị cấm vì bị liệt vào hàng tác phẩm “phản cách mạng”!
Riêng thi sĩ Konstantin Podrevskyi, tác giả lời hát, thì ngoài việc toàn bộ các tác phẩm thi, văn, dịch thuật của ông bị cấm, còn bị khép vào tội trốn thuế, gia sản bị tịch thu; ông bị khủng hoảng tinh thần và chết vì trầm cảm vào tháng 2-1930.
Về phần Boris Fomin, tới khi xảy ra cuộc “chiến tranh vệ quốc” (Đệ Nhị Thế Chiến), đã được chế độ cộng sản “trọng dụng” để sáng tác những vở ca nhạc kịnh “yêu nước”, nhưng Dorogoj Dlinnoyu thì vẫn bị cấm hát. Vì thế, theo thời gian, ca khúc này cùng với tên tuổi tác giả đã chìm vào quên lãng.
[Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Boris Fomin bị thất sủng và qua đời năm 1948]
Trong khi tại hải ngoại, người Nga lưu vong cũng chẳng mấy ai biết, hoặc nhớ tên tác giả, cho nên về sau hầu như mọi người đều tin rằng Dorogoj Dlinnoyu là một ca khúc dân gian Nga của một tác giả khuyết danh.
Thời gian dần trôi, gần nửa thế kỷ sau, năm 1968, Dorogoj Dlinnoyu bỗng vụt nổi tiếng quốc tế, với lời hát bằng tiếng Anh, có tựa đề Those Were The Days, qua sự trình bày của nữ ca sĩ Tô-cách-lan Mary Hopkin.
Tác giả lời Anh Those Were The Days là nam ca nhạc sĩ du ca Eugene Raskin (1909-2004).
Eugene Raskin, thường được người Mỹ gọi tắt là “Gene Raskin”, có nguồn gốc di dân Nga, ra chào đời tại Nữu Ước. Ông tốt nghiệp ngành kiến trúc tại Đại học Columbia University rồi giảng dạy bán thời tại trường này trong suốt 40 năm (1936-1976). Song song, ông còn là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia, và ca nhạc sĩ du ca.
Sau khi được nghe bản Dorogoj Dlinnoyu lần đầu tiên vào cuối thập niên 1950 trong cuốn phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov) do hãng MGM của Mỹ thực hiện, Gene Raskin đã có ý định gửi gấm tâm tình của mình vào dòng nhạc.
Nguyên từ ngày còn là sinh viên, Gene Raskin thường lui tới quán rượu White Horse ở khu Greenwich Village, một địa danh có thể so sánh với “con đường Duy Tân, cây dài bóng mát” của Sài Gòn trước năm 1975.
Trong suốt 3, 4 chục năm lui tới quán này, Gene Raskin đã chứng kiến bao thế hệ sinh viên đến rồi đi, bỏ lại sau lưng biết bao kỷ niệm, để rồi một ngày nào đó có dịp trở lại chốn xưa, bỗng thấy quá khứ hiện về, nhìn lại mình: tuổi đời chồng chất bao nhọc nhằn, đắng cay mà tâm hồn thì vẫn ngây dại. Bởi trong tim, khát vọng của tuổi thanh xuân, ước mơ của một thời hoa mộng, vẫn mãi mãi còn đó.
Gene Raskin viết lời hát của Those Were The Days vào năm 1962, và cùng cô vợ Francesca thu đĩa; tuy nhiên vì “Gene & Francesca” chỉ là một đôi song ca tài tử cho nên Those Were The Days cũng chỉ được biết tới trong khuôn viên đại học và giới hát du ca ở Mỹ.
Phải đợi tới năm 1968, sau khi được Mary Hopkin, một “mầm non” gốc Tô-cách-lan do Paul McCartney (của ban The Beatles) khám phá, thu đĩa, Those Were The Days mới thực sự nổi tiếng quốc tế và làm mưa gió trên các bảng xếp hạng khắp năm châu.


Those Were The Days
(1)
Once upon a time there was a tavern
Where we used to raise a glass or two
Remember how we laughed away the hours
And dreamed of all the great things we would do
REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
For we were young and sure to have our way.
La la la la…

(2)
Then the busy years went rushing by us
We lost our starry notions on the way
If by chance I’d see you in the tavern
We’d smile at one another and we’d say

REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
Those were the days, oh yes those were the days
La la la la…

(3)
Just tonight I stood before the tavern
Nothing seemed the way it used to be
In the glass I saw a strange reflection
Was that lonely woman really me

REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
Those were the days, oh yes those were the days
La la la la…

(4)
Through the door there came familiar laughter
I saw your face and heard you call my name
Oh my friend we’re older but no wiser
For in our hearts the dreams are still the same

REFRAIN:
Those were the days my friend
We thought they’d never end
We’d sing and dance forever and a day
We’d live the life we choose
We’d fight and never lose
Those were the days, oh yes those were the days
La la la la…


Chỉ sau khi Those Were The Days trở nên nổi tiếng quốc tế, lệnh cấm Dorogoj Dlinnoyu tại Liên Xô mới được dần dần nới lỏng.
Riêng tại miền nam Việt Nam trước năm 1975, Those Were The Days được giới trẻ yêu nhạc ngoại quốc biết tới qua làn sóng điện các đài phát thanh và đài truyền hình của Quân đội Hoa Kỳ.
Sau năm 1975, khi tất cả mọi ca khúc của miền Nam cũng như của các nước tư bản, không cần biết có lời hát bằng tiếng Việt hay tiếng ngoại quốc, bị chế độ mới cấm hát, một tác giả (khuyết danh) biết được gốc gác Nga của Those Were The Days, đã đặt lời Việt với tựa đề Tình Ca Du Mục và ghi chú “dân ca Nga” để hợp thức hóa một ca khúc “tư bản phương Tây” do Mary Hopkin thu đĩa vốn đã được giới trẻ miền Nam yêu chuộng từ năm 1968.
Sau đó, trước sự phổ biến của Tình Ca Du Mục , các nhà làm văn hóa ở miền Bắc mới đưa Dorogoj Dlinnoyu vào danh sách những ca khúc nổi tiếng của Nga (hiện đang đứng hạng 10 trong Top 10).

GHI CHÚ: Một số người trong nước tin rằng “tác giả khuyết danh” của Tình Ca Du Mục chính là ca nhạc sĩ du ca Trần Tiến, người đã soạn lời Việt cho ca khúc Pháp Donna Donna của Claude François. Tuy nhiên vì trong danh sách chính thức các ca khúc do ông đặt lời Việt không hề có Dorogoj Dlinnoyu, chúng tôi tạm thời ghi “khuyết danh”.

* Tài liệu tham khảo: Những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt – HOÀI NAM, t-van.net

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 18 May 2025

Chương 1

HÀ TIÊN LÀ TỈNH XA XUÔI NHỨT của miền Nam thời xưa cũng như thời nay nếu ta lấy Huế hoặc Saigon làm tiêu chuẩn. Khác với vùng sình lầy mũi Cà Mau, Hà Tiên có khung cảnh khá ngoạn mục, trong đất liền là đồi núi trùng điệp, ngoài biển là năm bảy chu4c hải đảo lớn nhỏ, Hà Tiên còn là nơi ‘‘ba biên giới’’: Việt Nam, Cao Miên và vượt qua eo biển là đến Thái Lan. Mỗi ngọn đồi, mỗi hải đảo đều có một ông Chúa hay bà Chúa thống trị, khi chết, các ông bà này được tôn thờ trong miếu nhỏ, giống như trường hợp mấy ông Thành Hoàng. Lẽ dĩ nhiên các ông bà đều là người phàm mắt thịt, nhờ mưu mô, nhờ tài kinh doanh mà gây được thế lực với đám dân chúng ở xung quanh. Vài ông bà Chúa nếu còn sống đến năm nay chỉ độ non trăm tuổi, bởi vậy thành tích của họ còn được nhắc nhở tỉ mỉ với bao nhiêu tánh tốt và thói xấu.

Chúng tôi xin thuật lại những giai đoạn gay cấn và thơ mộng nhứt của bà chúa hòn Me, một ngọn đồi nhỏ dính vào đất liền sát mé biển phía Bắc chợ Rạch Giá. Trước kia, bà là con gái một nông dân nghèo tên là Tư Thính, có lẽ họ Huỳnh; Tư Thính cất căn nhà nhỏ ở chân đồi, giữa tư bề rừng rậm. Như đã nói, hòn Me xưa kia là hải đảo, đất phù sa lấn ra biển, nối hòn vào đất liền. Vùng chung quanh hòn quá ẩm thấp chịu ảnh hưởng nước mặn ngoài biển tràn vào nên cây cối mọc xơ rơ. Hằng năm, Tư Thính cày chừng một mẫu ruộng, kiếm chút ít lúa gạo đủ ăn trong gia đình.

Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng.

– Ngày mai, cho con ra ruộng nghe ba!

Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng, vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái dĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Chú từ chối khéo léo:

– Con ở nhà, ra ruộng nắng lắm.

Nhưng bé Huôi vịn vai chú, nói thật nhanh:

– Ngoài ruộng có cây thị, bóng mát.

Nghe qua, chú Tư Thính giựt mình. Đành rằng đến tám chín tuổi thì đứa bé có chút ít trí khôn, ghi nhớ những gì mà người lớn thường nói nhiều lần. Tại sao bé Huôi biết ở ngoài ruộng có một cây thị, cây ấy to lắm, ở xa nhà, bé Huôi chưa ra tới đó lần nào? Hồi năm ngoái trái thị sai quằn, chú với tay hái năm sáu trái đem về nhà cho bé Huôi, trái thị mầu vàng da láng tỏa ra mùi thơm kỳ diệu mà nhiều người cho rằng có thể quyến rủ ma quỉ hoặc thần thánh.

Chú Tư Thính hơi e ngại:

– Mùa nầy thị chưa có trái. Ra đó, làm sao con ngủ trưa?

Bé Huôi nói rành rọt như người lớn.

– Con đội nón, ngồi dựa vô gốc cây.

Vì không muốn quở mắng vô lý đứa con thân yêu, Tư Thính tìm cách từ chối:

– Bữa nào rảnh, ba cho con ra ruộng. Ngoài đó muỗi mòng, đủ thứ kiến lửa, kiến vàng. Lâu lâu, vài con rắn bò ra…

Bé Huôi cười dòn:

– Con đâu sợ rắn. Ba hứa lâu rồi. Ngày mai, con ra ruộng mới được. Ba không bồng con thì con đi một mình.

Gương mặt bé Huôi lúc bấy giờ trông thật dễ thương, mà cũng dễ sợ. Mắt nó sáng lên, hai tròng mắt đen lánh, hàm răng đều đặn, chói màu trắng ngà.

Tư Thính ngỡ rằng người khuất mặt đã thúc giục bé Huôi nói những câu quá khôn ngoan, dành riêng cho mấy đứa bé ít lắm là mười bốn, mười lăm tuổi. Chú đốt đèn lên. Bé Huôi nghiêm nét mặt, đôi môi ửng đỏ như tô son. Chú Tư Thính nhìn kỹ đứa con gái rồi tự trấn an: “Lớn lên, nó xinh đẹp nhứt làng nầy. Con nít khôn trước tuổi là sự thường”.

Bé Huôi ngáp dài:

– Con muốn đi ngủ, sáng mai con ra ngoài gốc cây thị để coi ba cày ruộng. Ngoài đó vui lắm.

Hôm sau, Tư Thính cố ý thức thật trể. Chú vác cày trên vai, cho đôi trâu đi trước, bé Huôi lững thững theo sau, đến gốc cây thị, nó ngồi xuống. Mặt trời lên cao, chưa chi, chú đã đổ mồ hôi lưng, bao nhiêu ý nghĩ đen tối hồi chiều hôm qua đều tan biến. Chú được yên tâm vì bé Huôi đã dựa lưng vào gốc cây thị. Nó nằm yên, như đã ngủ. Đôi trâu đi tới rồi đi lui, được ba rồi đến bốn, năm, sáu, bảy luống cày.

Trong khi đó, từ dưới hang sâu bên gốc cây thị, một con rắn hổ to tướng bò lên. Rắn quấn mình chung quanh bụng bé Huôi, quấn một vòng, hai vòng, ba vòng rồi đến bốn vòng. Sau rốt, rắn ngẫng cổ lên, cao khỏi đầu bé Huôi.

Rắn quơ đầu, hất mạnh cái nón lá trên đầu con bé rồi nghiêng cổ tới, im lìm.

Đột nhiên Tư Thính giựt mình. Đôi trâu đứng lại, không chịu bước tới. Chú quơ roi quất mạnh:

– Xe! Pháo!

Hai con trâu Xe và Pháo rống lên quậy chân sau xuống bùn. Cả hai day mặt về phía Tư Thính, mắt trợn tròn như giận dữ. Tư Thính hỏi:

– Điên rồi sao chớ? Cái gì?

Nhưng đôi trâu dường như nhìn xéo về gốc cây thị. Tư Thính chợt nhớ tới bé Huôi. Chú trố mắt:

– Trời ơi! Rắn quấn con tôi!

Rồi bỏ đôi trâu, chú cố gắng chạy đến gò đất. Chú lê lết như có sức mạnh nào níu đôi chân trở lại. Bé Huôi vẫn ngồi yên, con rắn hổ quá to, nào kém gì con trăn. Kỳ dị nhứt là cái đầu rắn, cái đầu vươn lên nghiêng tới như cố ý che nắng cho bé Huôi. Vì sợ con rắn nọ siết chặt khiến bé Huôi nghẹt thở hoặc gãy xương ngực, chú đành liều bước đến gần với dụng ý xua đuổi con rắn, nếu cần, chú sẵn sàng chịu chết thay con.

Con rắn nọ day mỏ về phía Tư Thính. Dưới ánh nắng tỏ rõ buổi trưa, chú thấy nó trợn mắt, mớ vảy lấp lánh như hàng trăm miếng kiếng màu xanh đậm.

Nó hạ cái đầu xuống rồi từ từ tháo ra. Trong lúc ấy, Bé Huôi vẫn ngồi xếp bằng, xuôi tay. Khi rắn tháo mình đến vòng chót, Tư Thính chẳng còn kiên nhẫn được nữa. Chú la lớn:

– Con ơi, chạy cho mau!

Nhưng Tư Thính không đủ can đảm và không còn đường nào để chạy. Nhanh như cơn gió lốc, con rắn to tướng nó phóng ngang mặt chú, như để chận đường. Chú té quị xuống bùn rồi lồm cồm đứng dậy, vuốt mặt. Bé Huôi từ từ cựa quậy:

– Ba! Sao ba té?

Chú mừng quýnh vì đứa con thân yêu vẫn mạnh khỏe và tỉnh táo. Để vững bụng hơn, chú hỏi đôi ba lượt:

– Con! Biết ba đây là ai không?

Tay chú véo mạnh vào lưng bé Huôi, miệng nói lia lia:

– Con có đau không? Con thức hay ngủ?

Bé từ từ đứng dậy, đôi môi đỏ thắm hé nụ cười:

– Ba nói, con tức cười quá…

Nhưng Tư Thính cứ tiếp tục mở nút áo đứa con gái, xem kỹ làn da. Bấy lâu chú nghe đồn đãi rằng rắn hổ có hơi độc từ trong miệng phun ra.

Bé Huôi nói:

– Đói bụng rồi, về nhà ba nấu cơm cho con ăn nghe ba.

Lập lức chú cõng đứa bé sau lưng, bước nhanh về căn chòi, hai con trâu rống lên, kéo mạnh cái cày vô chủ.

Mâm cơm dọn ra, chú ăn sơ sài vài miếng rồi tháo ách cho đôi trâu vào chuồng. Con rắn to tướng ấy là điềm lạ, chưa biết lành dữ thế nào. Chú muốn gặp ông đạo Đất ở trong cốc phía Đông hòn Me để nhờ giải đáp.

Bé Huôi lại đòi ngủ. Chú khuyên lơn:

– Con đi xóm với ba, nghe con?

– Con muốn ở nhà.

– Rủi con rắn tới đây thì ai cứu con? Ba cõng trên vai, con cứ ngủ. Phải con ở nhà thì nãy giờ ba cày xong công ruộng rồi. Từ rày về sau, con đừng đòi ra gốc cây thị nữa.

Bé Huôi trả lời:

– Hồi nãy đâu phải con rắn!

Cốc của ông đạo Đất hiện ra. Đó là cái chòi nhỏ bé lợp bằng tranh. Theo chữ nho, cốc là hang đá. Vùng Hòn Me thiếu những hang đá thiên nhiên. Đá xanh mọc nhô ra từng tảng lớn chỉ vừa cho đôi người ngồi núp mưa nắng mà thôi. Mùa mưa đến, nước chảy tuôn tràn, thỉnh thoảng mấy tảng đá sụp xuống, mang theo mấy giề đất sỏi. Mấy ông lên non tầm đạo vì không tìm được cái hang thiên tạo nên cất tạm căn chòi nhỏ bằng cây. Gọi cốc cho có vẻ huyền bí của một đạo sĩ tu tiên.

Ông đạo Đất gây được khá nhiều uy tín nhờ tài trị bịnh. Bất cứ bịnh nhân nào đến, ông cũng hốt cho một mớ đất để làm thuốc: bỏ cục đất trong một cái túi nhỏ, đeo dưới ngực để trị bịnh tà ma, đem cục đất nướng cho dòn rồi tán nhỏ, uống với nước nóng để trị bịnh ăn uống khó tiêu, đau bao tử. Gặp trường hợp trặc chân gãy tay, ông đạo vẫn dùng đất sét mà bó rịt vết thương.

Tư Thính giữ thái độ im lặng kính cẩn khi đến cốc. Ông đạo nằm dài trên nền đất, không trải chiếu đắp mền gì cả. Khi Tư Thính lên tiếng:

– Kinh chào thầy….

Ông đạo vẫn lim dim, hồi lâu mới chịu gật đầu. Bé Huôi nói khá to, phá rối sư yên tĩnh:

– Ở đây buồn quá, ba ơi! Con muốn về nhà.

Ông đạo Đất lồm cồm ngồi dậy, nhìn bé Huôi. Tư Thính bèn lên tiếng như để biện hộ cho đứa con:

– Nó còn nhỏ, thầy tha thứ cho. Mấy ngày rày nó nói bậy bạ, lại xảy ra vài điều lạ. Bởi vậy tôi tới đây nhờ thầy giúp giùm.

Sau khi sờ tay lên trán bé Huôi, ông Đạo nói:

– Cháu nó vui chơi nhưng mà cặp mắt hơi khác thường.

Không đợi Tư Thính trả lời, ông Đạo nói giọng bí mật:

– Chắc là vừa xẩy ra chuyện gì xúc phạm tới…đất!

‘‘Xúc phạm tới đất’’ là lời nói mà ông Đạo thốt ra trước tiên, khi gặp bất cứ bệnh nhân nào. Vì quá tin tưởng nên ai nấy đều nhìn nhận rằng ông nói đúng: đau bụng, trúng thực đều do sự ăn uống, thức ăn vẫn là cơm gạo, thịt cá, những món từ đất mọc lên, hoặc đứng trên đất, cảm mạo là do hơi đất ẩm ướt gây ra…

Tư Thính nói:

– Thầy ở trong cốc mà nói chuyện ngoài đời quá đúng. Vậy thì điềm lúc nãy tốt hay xấu đối với gia đình tôi? Con gái tôi sau nầy ra sao?

– Điềm gì? Cứ nói đầu đuôi tự sự. Tôi thấy nó… ngồi trên đất, thiệt là lạ lùng, chú nói trước, tôi nói sau.

– Dạ, nó ngồi trên mô đất cao, ỏ gốc cây thị ngoài ruộng. Tôi lo cày nên không chú ý, dè đâu…

Thế là Tư Thính thuật lại tất cả chi tiết với sự tưởng tượng khá dồi dào của chú. Chú cho rằng con rắn nọ to bằng cây cột nhà, vảy lấp lánh ngũ sắc, khi biến mất thì gió thổi rung chuyển mấy gốc cây cổ thụ. Lúc rắn quấn vào bé Huôi, gió như ngừng thổi, chim trên trời như ngừng bay và hai con trâu như chết đứng trên mặt đất.

Ông đạo Đất chắp tay xá bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc rồi nói:

– Mô Phật! Cháu bé ngồi trên đất gặp con rắn hổ đất. Tất cả đều là đất. Nhưng con rắn hổ đất to lớn ấy là thuộc vào loại phi thường, tên nó là gì chú biết không?

Tư Thính chắp tay thưa:

– Dạ… chắc là mãng xà vương!

Ông đạo lắc đầu:

– Đó là con rồng đất! Trên mặt đất nầy nó là vua. Vua của đất phù hộ, chầu chực cháu bé chẳng khác nào con rồng vàng chầu chực ông vua ở chốn đế đô. Rồng đất là vua của đất. Rồng đến tìm cháu bé, đó là điềm mai sau có ông vua ông chúa nào đó đến ra mắt. Rồng quấn chung quanh cháu bé để che chở phò hộ, đó là sau nầy cháu bé trở thành một bà hoàng, bà chúa. Chú nên vui mừng đi, ráng chịu cực chừng năm bảy năm nữa.

Tư Thính chắp tay lạy ông đạo Đất:

– Thiệt vậy hả ông? Trời Phật giúp tôi, làm sao tôi tạ ơn? Dè đâu con tôi tốt phước như vậy? Ông vua nào, ông chúa nào tới đây cưới con tôi?

– Ông chúa hòn hoặc ông chúa đảo, hoặc ông chúa tàu, tàu buôn Hải Nam. Tôi chưa biết rõ. Mai chiều, chú đưa cháu bé trở lại.

Nghĩ một lát, ông đạo hỏi:

– Cháu tên gì, năm nay mấy tuổi?

Bé Huôi cất tiếng sỗ sàng:

– Tên Huôi. Hỏi bao nhiêu tuổi để làm gì? Bộ tôi ngu dại phải không? Nãy giờ, tôi đâu làm điều gì sai quấy với thầy.

Ông đạo càng tin tưởng nơi tài đoán điềm giải mộng của mình. Lập tức ông khều Tư Thính ra sân mà nói khẽ:

– Thấy chưa? Nó là đứa khôn trước tuổi, ăn nói lanh lợi đâu thua gì người hai ba chục tuổi. Chú nên nuôi dưỡng tử tế. Nó có trí khôn, có nhan sắc. Tôi xem không lầm đâu. Năm bảy chục năm, con Rồng đất mới xuất hiện một lần. Rồng đất mà phò hộ che nắng che mưa cho con Huôi thì phải biết.

Tư Thính chắp tay xá ông đạo;

– Cám ơn ông, về sau nầy nếu may ra con tôi nên danh nên phận thì tôi chẳng bao giờ dám quên ơn lớn.

– Kìa!

Ngón tay ông đạo Đất chỉ ra ngoài sân. Lần nầy chú Tư Thính không khỏi kinh ngạc vì bé Huôi đứng xớ rớ bên bụi cây quỳnh hoa. Nó nâng niu từng lá dài rồi đột nhiên nói to:

– Cây gì mà trồng hoài không trổ bông?

Ông đạo giải thích:

– Cháu ơi! Nhiều khi đôi ba năm nó mới trổ một lần.

– Ông cho cháu vài lá, đem về trồng vài tháng thì nó trổ hàng chục cái bông cho ông coi.

Để chiều theo ý bé Huôi và để biết thêm về tương lai của đứa con gái kỳ lạ nọ, ông đạo Đất hái một lá dài trao cho Tư Thính.

Hai cha con lững thững về nhà theo con đường mòn sình lầy. Tư Thính nghe tim đập mạnh trong lồng ngực. Chú muốn kêu to:

– Con tôi trở thành bà chúa! Thiệt vậy sao? Trời đất xui khiến hay ma quỷ xúi giục? Nhiều đứa bé khôn ngoan nhưng chết yểu hoặc là trở thành điên khùng, lên đồng lên bóng.

Chú nắm tay con. Căn chòi hiện ra. Trong phút giây chú ngỡ là cung vàng điện ngọc. Chắc còn nhiều năm nữa bé Huôi mới trở thành bà chúa. Chừng đó chú già nua rồi. Chú chỉ muốn có căn nhà cao ráo để dưỡng già…

Hòn Chông là dẫy đồi thấp, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chài lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi to nhứt vẫn là nghề trồng tiêu (hồ tiêu). Với mười lăm hay hai chục dây chăm bón kỹ lưỡng là một gia đình sống dễ dàng. Bao nhiêu đất tốt để trồng tiêu đều thuộc về ông Thần Phước cai quản, vì là người Triều Châu lai Cao Miên rồi lai Việt Nam nên tên ông được đọc là Xìn Phóc.

Mấy người kỳ lão ở địa phương, nhứt là người tá điền, đều kiêng nể, gọi ông là ông Chúa Hòn, ông vua nho nhỏ giàu có và sang trọng nhứt của vùng Hòn Chông. Với số vốn tích trữ từ mấy đời trước, ông thuê nhân công để khai thác mấy ngọn đồi ở vùng kế cận: núi Còm, núi Mo So.

Khi bán hồ tiêu cho bọn thương gia Mã Lai, ông chỉ lấy vàng, không dùng hình thức tiền bạc nào khác. Bọn gia nhân đồn đãi ông dùng số vàng ấy để trấn ếm một vài “linh huyệt” trên Hòn Chông, nơi có phủ thờ của tiên nhân – một người từ Triều Châu qua lập nghiệp ở Hà Tiên, theo chân họ Mạc vào thế kỷ thứ XVIII.

Năm được 86 tuổi, ông Thần Phước giao cho đứa con trai đầu lòng là cậu Hai Minh cai quản tài sản. Cậu Hai chưa được bốn mươi tuổi nhưng đã có một vợ chánh và hàng chục tì thiếp. Ở vùng hẻo lánh, thú vui duy nhất của cậu Hai vẫn là uống rượu và tìm gái đẹp. Vợ chánh sanh đứa con trai duy nhất là cậu Hai Điền. Ăn ở với khá đông tì thiếp từ mười năm qua, cậu Hai Minh không hài lòng cho lắm, vì chẳng nàng nào sanh được con trai.

Một buổi chiều, cậu Hai Minh ra lịnh cho gia nhân:

– Đưa tao qua núi Mo So.

Bọn gia nhân dạ rân lên, đem chiếu bông trải xuống chiếc ghe mui vuông sơn son thếp vàng. Bấy giờ là mùa hạn, sông rạch đều cạn ráo. Bọn gia nhân buộc bốn sợi dây luộc trước mũi và sau lái ghe, mỗi sợi dây chắc chắn ấy nối liền vào một con trâu đực to tướng, gọi là trâu cổ.

Đáy sông quá cạn phơi lớp bùn sình. Ấy thế, mà chiếc ghe vẫn lướt nhanh. Bốn đứa bé mặc áo xanh cỡi trên lưng trâu, quất roi thật mạnh.

Cậu Hai Minh nằm dài, dựa tay vào cái gối thêu:

– Chừng nầy, ở núi Mo So…mình làm cái gì cho vui?

Hai Ú trả lời:

– Dạ, chừng nầy con gái trong xóm tới bờ mới gánh nước và tắm…

– Hay quá!

Vừa cười, cậu Hai vừa vỗ tay lia lịa. Lát sau, cậu gật đầu nhòm Hai Ú:

– Mầy giỏi quá. Mầy chưa dở lần nào hết. Lát nữa tao tới đó bất ngờ. Mầy làm thế nào cho mấy cô gái cứ gánh nước tự nhiên, đừng chào đón.

– Thưa cậu, vậy thì tôi phải đi trước mới được.

– Họ biết trước thì mất vui. Phải tình cờ mới vui.

Hai Ú chắp tay thưa:

– Dạ, đón rước long trọng là chuyện dễ, đón rước tự nhiên là chuyện khó, cần sắp đặt trước. Không khéo mấy cô gái e lệ rồi hoảng chạy thì sao? Cậu cứ tin lời tôi.

Lập tức, Hai Ú đến trước mũi ghe, nhảy lên bờ rất nhẹ nhàng. Anh ta giành lấy một con trâu cổ, cởi sợi dây ra rồi quất mạnh cho trâu chạy nhanh đến núi Mo So. Vì chỉ có ba con trâu kéo nên chiếc ghe tiến chậm. Cậu Hai khen ngợi:

– Thằng Ú giỏi quá, nó biết lo trước lo sau. À! Cái gì mà chộn rộn ở chân núi?

Bọn gia nhân phía sau reo lên:

– Cậu Hai ơi, họ đốt đuốc…

Xóm nhỏ ở chân núi Mo So hiện ra, náo nhiệt như buổi chợ phiên. Khi đến chân núi, cậu Hai Minh gặp ngay Hai Ú. Anh ta cầm bó đuốc đứng sẵn:

– Thưa cậu, mời cậu đến bờ suối…

– Ủa! Tại sao xóm giềng im lặng quá vậy?

– Dạ, tôi ra lịnh cho ai nấy đóng cửa lại ngủ sớm để một mình cậu tới bờ suối, mặc tình nói chuyện với các cô. Tôi đã khuyên các cô cứ gánh nước tự nhiên. Các cô cười giỡn kìa! Cậu nghe không?

Trong phút giây, cậu Hai ngỡ mình sống trong khung cảnh thần tiên nơi thượng giới. Ánh đuốc rọi chập chờn vào vách đá hai bên con đường dốc.

Đêm mười bốn, trăng khá sáng tỏ.

Lúc cao hứng, cậu Hai Minh ra lịnh:

– Hai Ú cứ đi trước, thật xa. Tao đi dưới bóng trăng vui hơn. Cần gì qua bên Tàu mới hưởng được vui thú.

Nhưng Hai Ú như còn ngập ngừng. Anh ta khoát tay đôi ba lần như làm dấu hiệu riêng với người phía sau. Cậu Hai Minh chẳng mảy may chú ý đến chi tiết đó, cứ hỏi đồn dập:

– Tới chưa? Chà! Mấy cô cười nghe dòn quá. Còn ở phía sau, ai mà đông dữ vậy?

Hai Ú đáp:

– Cậu coi thử! Đó là mấy người khiêng rượu cho cậu uống.

– Thằng nầy giỏi thiệt.

Thật ra Hai Ú đã dàn cảnh khéo léo từ lúc nãy với Mười Hấu – người có khá nhiều quyền thế ở vùng núi Mo So. Mười Hấu rất tinh thông võ nghệ, con gái ông ta thuộc vào hàng đẹp nhứt trong vùng. Khi gặp Mười Hấu, Hai Ú đưa ra ý kiến:

– Ông Mười muốn làm giàu không? Đây là dịp may hiếm có. Cậu Hai Minh tới để tìm gái đẹp. Nếu ông Mười vui lòng, làm thế nào cho cậu Hai được thỏa mãn thì…

Mười Hấu nhớ đến đứa con gái tên là Ngó:

– Con gái tôi chắc hạp nhãn với cậu Hai Minh.

Hai Ú đáp:

– Cậu Hai chỉ thích như vậy thôi! Ông Xìn Phóc già khú rồi. Bây giờ, cậu Hai Minh là ông Chúa Hòn chớ còn ai đâu xa lạ.

Ngọn suối ở núi Mo So quá nhỏ hẹp. So với vùng cao nguvên thì đó là nơi dơ bẩn kém thơ mộng, nhưng ở chốn sình lầy nước mặn đồng chua thì quả là mạch nước tiên ngọt ngào và tinh khiết. Hai Ú dừng lại báo tin trước:

– Mấy cô nên vui vẻ… bởi vì cậu Hai thương mấy cô, chịu khó lặn lội tới đây. Cậu tới kìa. Đừng làm cho cậu giận. Ngày mai các cô sẽ được ban thưởng, mỗi cô ít nhất được một lượng vàng. Đó là chưa nói sau nầy hễ túng thiếu tiền bạc thì các cô tới gặp tôi, tôi nói giùm một tiếng với cậu Hai là xong.

Câu Hai Minh cười dòn:

– A ha ha! Đêm nay là đêm vui sướng nhất của đời tôi! Mấy cô cứ tự nhién, đẹp quá. Hai Ú đâu rồi? Đốt thêm vài ngọn đuốc.

Mười Hấu và đứa gia nhân để cần xé đựng hàng chục hũ rượu trên tảng đá rồi nói nhanh:

– Thưa cậu, tôi có đuốc…

Cậu Hai vỗ vai Mười Hấu:

– Chú ở đâu? Tôi nhớ gặp mặt vài lần rồi. Đuốc ở đâu? Đốt lên.

Ba ngọn đuốc cháy chập chờn. Trong đám thôn nữ rõ ràng cô Ngó là hoa khôi.

Nàng mặc áo ngắn tay, đứng bỡ ngỡ trong dòng suối, nước ngập lên tận gối. Ánh sáng chói chang làm nàng giựt mình:

– Ai làm chi vậy? Chỗ này… của người ta gánh nước.

Mười Hấu hơi e ngại, nói khéo cho con nghe:

– Ngó ơi! Cậu Hai tới thăm là vinh hạnh cho con. Con cứ vui cười.

Cậu Hai Minh hơi xúc động. Mấy tháng qua, cậu chỉ lân la với mấy nàng hầu thiếp ở trong phòng kín đáo, toàn là những cô gái ăn mặc sạch sẽ và ốm yếu mảnh khảnh. Cô Ngó đúng là một pho tượng, căng đầy nhựa sống. Cậu Hai cầm ngọn đuốc, đến gần. Cô lính quýnh, bước ra giữa dòng. Cậu vói tới, nắm tay cô mà kéo lại:

– Lên bờ cho vui. Tôi đã nói là cứ tự nhiên. Tôi tới đây để tìm cái… tự nhiên mà.

Cô Ngó mỉm cười, để lộ hai hàm răng đều đặn:

– Dạ, mắc cỡ lắm, cậu Hai! Mình mẩy ướt mem như vầy khó coi quá, thành ra vô lễ với cậu.

Hai Ú nói:

– Cô Ngó cứ lên bờ, ngồi bên tảng đá để nghe cậu Hai dạy việc.

Cậu Hai dìu người đẹp lên bờ, Mười Hấu bèn đem bầu rượu trao tận tay:

– Xin mời cậu…

– Ngon lắm! Ngon Iắm. Tôi uống rượu một mình coi sao được? Xưa nay vua đâu uống ruợu một mình. Vua uống thì các quan đại thần và hoàng hậu đều uống. Đem rượu ra, uống không hết thì đổ bỏ xuống dòng suối tiên nầy.

Hai ba cô gái gánh nước đứng gần cô Ngó cũng hưởng được chút ân huệ, nhưng làm sao các cô nuốt được thứ rượu đế quá cay, quá nồng! Hai Ú nhắc nhở từng chập:

– Cứ uống. Uống không nổi thì cứ làm bộ đưa lên môi.

Bầu rượu được cậu Hai đưa sát môi cô Ngó. Cô nhăn mặt liếc qua Mười Hấu như để hỏi ý kiến. Mười Hấu nói:

– Uống đi con. Cậu Hai đoái tưởng tới con đó.

Cậu Hai lim dim đôi mắt, một tay vuốt mái tóc người đẹp, một tay nghiêng bầu rượu. Rượu đổ tràn xuống ngực người đẹp. Cậu đưa tay ra phía sau:

– Rượu nữa! Rượu nữa! Cô tên gì? Uống rượu không được thì chắc là tắm bằng rượu được…

Cô Ngó ôm ngực van nài:

– Lạnh lắm… Cho tôi về.

– Tôi cho cô về… chiếc ghe của tôi. Hai Ú đâu rồi? Sửa soạn về. Nãy giờ tao cũng hơi lạnh. Muỗi cắn quá. Xứ nầy nhiều muỗi. Bây giờ cô Ngó cầm đuốc dẫn đường cho tôi xuống bến.

Hai Ú đi sát bên cô Ngó mà nói khẽ:

– Nên hầu hạ khéo léo cho cậu Hai vui. Tài sản của ông Chúa Hòn để lại cho cậu Hai, nghĩa là để cho cô. Cậu Hai nhiều khi khờ dại, cô nên hy sinh để cho cha mẹ và chòm xóm được nhờ.

Dân chúng hai bên đường ngồi nép mình bên cánh cửa mà trông ra. Họ vừa mừng vừa sợ. Nếu cô Ngó được cậu Hai đem về Hòn Chông làm tì thiếp thì cha cô là Mười Hấu trở nên hách dịch, ai chịu cho nổi.

Cô Ngó vào nhà, thay quần áo mới, trong khi cậu Hai Minh nằm trên ghe, thúc hối từng chập:

– Trốn rồi sao chớ! Muỗi cắn chết. Tụi bây lo cho tao chớ. Tao hơi mệt rồi đó. Đắp mền cho tao. Con nhỏ đó sao chưa xuống đây quạt muỗi cho tao!

Lát sau, chiếc ghe hầu trở về Hòn Chông, bốn con trâu kéo hì hục. Tội nghiệp cho mấy thằng bé cỡi trâu. Chúng nó ngủ gục từng chập, bị Hai Ú chửi rủa không ngớt mồm.

Cô Ngó ngồi bên gối của cậu Hai, cầm cây quạt lông mà phe phẩy, cậu Hai khen ngợi từng chập:

– Giỏi quá, khỏe quá! Quạt mạnh tay cho muỗi bay bớt thì ta mới ngủ được. Về Hòn Chông ít muỗi mòng hơn. Mỗi ngày, cô em cứ ở không mà quạt cho ta ngủ, khỏi gánh nước.

Cậu Hai Minh đến Hòn Chông vào lúc hừng sáng. Hai Ú cõng cậu lên nhà. Cô Ngó hơi sợ vì lần đầu tiên trong đời, cô bước vào căn nhà sang trọng, đúng ra là ba bốn căn nhà cất chung trong vòng rào kiên cố.

Năm sau cô Ngó hạ sanh một đứa con trai. Mấy nàng tì thiếp khác lấy làm bất mãn và ganh tị. Bà chánh thất lo ngại hơn ai cả, vì đứa bé nọ có thể tranh giành gia tài và ngôi vị với đứa con của bà. Bà đến gặp cậu Hai để cằn nhằn:

– Ông làm như vầy còn gì thể diện!

Cậu Hai đáp:

– Tôi là… ông Chúa Hòn. Ba tôi đã trao quyền hạn cho tôi. Hằng ngày, nếu không đùa giỡn thì tôi làm gì bây giờ? Tôi thích đi đó đi đây, lâu lâu uống rượu say một lần.

Bà chánh thất nói khẽ:

– Con Ngó là đứa mà tôi không ưa. Nó làm mất thể diện dòng họ.

– Trời ơi! Bà đừng vu cáo mà tội nghiệp nó. Nó là gái quê, là tì thiếp, hằng đêm cầm quạt đuổi muỗi cho tôi ngủ. Nhờ nó mà bà được rảnh rang, vả lại, hễ gặp bà là nó chắp tay xá…

– Nó sanh đứa con trai. Nó là con của thằng Mười Hấu quê mùa dốt nát ở núi Mo So. Mười Hấu trở thành… cha vợ của ông Chúa Hòn, thiên hạ đàm tiếu nhiều lắm rồi.

Cậu Hai bị chạm tự ái nên quát to:

– Bà đừng nói vậy. Muốn tôi đuổi con Ngó sao? Tôi chưa đuổi nó được trong năm nay, nhưng tôi hứa là vài năm nữa nó không còn ở nhà nầy.

– Nhưng thằng con của con Ngó! Nay mai nó tranh quyền hạn với con tôi thì sao? Ông nên suy nghĩ lại…

Câu nói ấy khiến cậu Hai Minh bâng khuâng. Lập tức, ông vào phòng riêng nằm dài, vỗ trán cho bớt nhức đầu. Nãy giờ, cô Ngó đã nghe ngóng được câu chuyện. Chờ khi cậu Hai ngồi dậy uống chén trà, cô mới than thở;

– Tội nghiệp em, nếu ở đây hoài, chắc có ngày em chết vì bà lớn. Tốt hơn, ông cho em bồng con về núi Mo So để rồi xin vô chùa, đi tu.

– Đâu được!

Đôi mắt đen huyền và làn da trắng mịn của cô Ngó khiến cậu Hai ngây ngất. Cậu vuốt ve cô nhưng cô ngồi lui ra, cầm cây quạt mà phe phẩy, cánh tay với tới. Những cảnh ghen tương giận hờn và tranh chấp quyền lợi đã xảy ra quá nhiều lần, nào riêng gì trong năm nay. Tin rằng thời gian trôi qua thì mọi việc đều tự dàn xếp êm thấm, cậu Hai uống thêm vài chén rượu rồi ngủ khò. Cô Ngó ngưng tay, không quạt nữa. Đến trưa, khi cậu mở mắt thức dậy thì cô lanh tay cầm cây quạt đứng thẳng người phía sau lưng. Đột nhiên cô buông tay. Cây quạt rơi xuống nền gạch, cán bằng ngà gây tiếng động vừa khô khan, vừa tức tối.

Cậu day lại.

Cô Ngó giả vờ như giựt mình, vội cúi mình lượm cây quạt đem lên, xem kỹ rồi run rẩy đến quì bên cạnh cậu Hai:

– Ông tha cho tôi. Cán quạt nứt bể rồi. Cây quạt nầy quý giá lắm.

Nói xong, nàng ngả người, quơ tay lên trời, kêu lên ú ớ mấy tiếng rồi nằm dài trên gạch. Cậu Hai đứng dậy quì bên cạnh đỡ nàng lên:

– Em! Sao vậy? Tôi ở đây thì em cứ ở đây. Tôi chưa nói điều gì mất lòng em mà. Làm vậy tôi buồn…

Cô mở mắt ra, nói khẽ:

– Em chưa đủ sức để hầu hạ ông, ông nên tìm người khác. Em đâu dám hờn giận ai. Chẳng qua là em thức quá nhiều. Nãy giờ, em đứng mà quạt không nghỉ tay. Mấy ngón tay tê cóng, phần thì hồi sáng đến giờ em chưa rảnh để ăn món gì ráo…

Lần đầu tiên trong đời, cậu Hai để rơi hai giọt nước mắt. Suốt đêm rồi, Ngó ngồi ngoài mùng mà quạt cho cậu được mát mẻ, đến canh ba, khi giật mình thức dậy, cậu vẫn thấy cô ngồi lì một chỗ, bảo đi ngủ thì cô trả lời rằng còn đủ sức quạt hầu. Rồi đến trưa nay, cô Ngó lại đứng quạt. Đúng là một cực hình mà cô chịu đựng không một lời than thở.

Cậu Hai nói:

– Mệt thì em lên giường tôi.

Cô Ngó lắc đầu:

– Em đâu dám. Rủị bà chánh thất bắt gặp, chắc em bị giết…

– Tôi gọi đứa khác vô đây để em nghỉ tay. Từ rày về sau, em khỏi làm công việc cực nhọc nầy.

– Thôi, cho em về mà nuôi con. Nó là con trai, em thương nó lắm.

Hai tiếng ‘‘con trai’’ khiến cậu Hai thêm kiêu hãnh. Đây là đứa con trai thứ nhì của cậu, phải nuôi nó bằng được để dự phòng trường hợp đứa con trai của bà vợ lớn chết thình lình. Cậu đáp:

– Em ở đây. Người chánh thất giận vì em có con trai, tôi biết. Bây giờ, em tìm cách gởi đứa con đó đi xa, đặt tên xấu xí. Hễ mang tên xấu thì làm sao nó trở về đây chia gia tài được?

Thế là hôm sau, mọi sự thắc mắc trong gia đình cậu Hai Minh đều được giải quyết êm ái. Đứa con mới sanh phải mang tên là thằng Cẩu – nghĩa là con chó. Mười Hấu được mời đến Hòn Chông để lãnh đứa cháu ngoại đem về, nuôi tại núi Mo So. Cậu Hai ban cho Mười Hấu mười lượng vàng. Cô Ngó bị đày xuống nhà bếp, lo cơm nước cho cậu Hai.

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 18 May 2025

Phần 3

Chương 2 – Phú Quốc
Khi trời đã sáng tỏ, chiếc tàu há mồm chở tù cải tạo ra tới Vũng Tàu. Chúng tôi biết được nhờ những anh em tù xin phép lên thành tàu để đi tiểu tiện nhìn thấy Núi Lớn.
Cũng xin có đôi dòng về chiếc tàu há mồm mà sau đó chúng tôi được biết trước kia chính là Hải vận hạm HQ-405 “Tiền Giang” của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Chiếc HQ-405 nguyên là tàu đổ bộ LSM-313 của Hải Quân Hoa Kỳ, thuộc loại LSM 1-class.

Mô hình một chiếc LSM (hình: Internet)
LSM là viết tắt của “Landing Ship Medium”, là loại tàu đổ bộ hạng trung, còn “1-class” để chỉ những chiếc LSM đợt 1, được đóng từ tháng 5-1944 tới tháng 5-1945, mang phiên hiệu từ LSM-1 tới LSM-500, để sử dụng trong các cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên Âu châu, Thái Bình Dương trong Đệ Nhị Thế Chiến, và sau này trong Chiến tranh Triều Tiên.
Tới đầu thập niên 1960, những chiếc LSM 1-class còn lại của Hoa Kỳ hoặc bị phế thải, hoặc được viện trợ cho các nước đồng minh “nghèo”. Chiếc LSM-313 được viện trợ cho VNCH năm 1962, trở thành Hải vận hạm HQ-405 “Tiền Giang”.
Theo thông số kỹ thuật, chiếc LSM dài hơn 62 mét, rộng trên 10 mét, trọng tải 755 tấn, có khả năng chở 3 chiến xa hạng nặng, hoặc 5 chiến xa hạng trung, hay 6 xe lội nước, cùng với 50-60 binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến, vận tốc tối đa 22 km/h.
Tàu chỉ có một lớp sàn duy nhất ở dưới lòng tàu, phía trên có thể căng bạt che mưa nắng, như trong trường hợp chiếc HQ-405 khi chở chúng tôi, hai bên là thành tàu, phía trên có lối đi lại.
Ngồi dưới sàn nhìn lên, tôi thấy có khoảng một chục tên bộ đội cầm AK canh gác, theo dõi đoàn tù ở phía dưới. Tới khoảng gần trưa, bỗng thấy có hai người mặc quân phục Hải Quân VNCH, tuy không đầy đủ, thấp thoáng trên boong phía trước, một vài anh em bạn tù là sĩ quan Hải Quân làm bộ xin phép đi tiểu, lén hỏi chuyện thì được biết đó là những hạ sĩ quan, binh sĩ được chế độ mới lưu dụng, và qua đó chúng tôi mới biết đây là chiếc HQ-405.

Hải vận hạm HQ-405 “Tiền Giang” (hình chụp trước 1975)
Khi tàu bắt đầu ra khơi, tôi suy nghĩ nát óc nhưng cũng không thể đoán bọn cộng sản sẽ đem mấy trăm tù cải tạo này đi về đâu. Thời gian này, chúng tôi hoàn toàn chưa có một ý niệm nào về hệ thống các trại cải tạo của CSVN sau năm 1975, mà chỉ biết một địa danh duy nhất là Thành Ông Năm.
Rồi một nỗi lo sợ chợt thoáng qua trong đầu: hay là họ đem chúng tôi ra biển để thủ tiêu, quăng xác xuống biển cho cá mập ăn?! Sau này, có dịp tâm sự với nhau, tôi được biết vào lúc ấy cũng có khá nhiều anh em có cùng nỗi lo sợ như tôi…
Khi tàu bắt đầu lấy hướng nam thì biển trở nên thật xấu, chiếc HQ-405 trọng tải chỉ có vài trăm tấn nên lúc thì ngả nghiêng như muốn lật ngang, lúc nhồi lên chúi xuống theo từng đợt sóng, khiến đa số anh em tù cải tạo bị “ngất ngư con tàu đi”, ói mửa, nằm một đống… Riêng tôi không hề hấn gì; bởi xưa nay tôi không hề bị say xe hay say máy bay. Còn nhớ trước năm 1975, mỗi lần về Phước Long (Sông Bé) thăm nhà, quá giang C-7A Caribou mà gặp thời tiết xấu, trong lúc nhiều hành khách khác tả tơi thì tôi vẫn tỉnh bơ…
Xế chiều, chiếc HQ-405 vẫn tiếp tục trực chỉ hướng nam, một anh bạn Hải Quân ngồi gần tôi nhẩm tính rồi đoán mò rằng có thể chúng tôi bị đưa ra đảo Côn Sơn. Nghe cũng có lý, bởi trước 1975 Côn Sơn cũng là nơi VNCH nhốt tù.
Nhưng đợi mãi vẫn chẳng thấy tàu cập Côn Sơn, và sau khi trời tối mịt thì anh bạn Hải Quân cũng chịu thua, có muốn nhìn sao trời để đoán phương hướng cũng không được vì vướng cái bạt che ở phía trên.
Tới khoảng 10 giờ đêm, tàu mới cập bến và… há mồm. Chúng tôi được lệnh xếp hàng một lên bờ, đám cán bộ chờ sẵn đếm tù rồi phân ra từng toán 50 người, mỗi toán đi theo hai tay cán bộ, có bộ đội súng ống đi kèm.
Đi được vài chục mét, một người trong đoàn tù buột miệng:
– An Thới!
Một người khác hỏi lại:
– Ở đâu vậy?
– Đảo Phú Quốc… – rồi anh hạ giọng, ngậm ngùi – Hồi đó, đây là căn cứ hải quân của mình, có thời gian tôi đóng ở đây.
Sau khoảng một tiếng đồng hồ cuốc bộ, toán của tôi và mấy toán đi sau được lệnh dừng lại trước một cái cổng chằng chịt kẽm gai.
Rồi chúng tôi lần lượt bước vào dưới ánh đèn pha sáng rực và trước những cặp mắt đầy hận thù của cán bộ và bộ đội cộng sản Bắc Việt. Khi tôi đi ngang, thấy cây đàn trên vai, một tay cán bộ cười nhạt:
– Hừm, đem theo cả đàn nữa cơ à! Còn yêu đời thế nhỉ!
Nghe hắn nói, tôi lạnh người, mặc dù chưa biết tương lai của mình sẽ đen tối tới mức nào!
Khi tất cả đã vào bên trong trại, chúng tôi được lệnh ngồi xuống cái sân cát phía trước hội trường, rồi từng toán 50 người được lần lượt đưa vào những căn nhà tôn khung sắt, vách cũng bằng tôn, nền đất, mỗi bên vách có ba, bốn cửa sổ và ở hai đầu nhà có hai cửa ra vào.

Một trại tù ở Phú Quốc (hình chụp trước 1975)
Về sau chúng tôi được biết đây một trong mấy chục trại để giam giữ tù binh cộng sản trước năm 1973, do các đơn vị Quân Cảnh quản trị. Trại tôi ở có khoảng 15 căn nhà, một hội trường và một nhà bếp. Nằm đối diện với trại tù, phía bên kia đường là doanh trại của đơn vị coi tù.
Ngày trước, mỗi căn nhà chỉ chứa 25 tù binh cộng sản, mỗi người được một cái giường sắt; nay dồn 50 người vào thì không đủ chỗ trải chiếu (chiếu cá nhân được phát ở Thành Ông Năm), các mép chiếu phải gối đầu lên nhau, và mọi người phải nằm ngủ ngược đầu với hai người bên cạnh, bởi nếu tất cả nằm xuôi, vai người này sẽ đụng vai người kia.Nhưng trong đêm đầu tiên thì vì ai cũng mệt lả, chỉ cần được đặt lưng xuống nền nhà, nên chúng tôi nằm lộn xộn, chen chúc như hộp cá mòi.
Sáng hôm sau, thức dậy mới biết đám trung úy, thiếu úy chúng tôi không phải những tù nhân đầu tiên của trại tù này mà trước đó đã có các hạ sĩ quan Cảnh Sát Đặc Biệt.
Được biết ngày ấy, chỉ vài tuần lễ sau khi trình diện “học tập cải tạo”, thành phần này đã được đưa ra Phú Quốc. Riêng trong trại của chúng tôi, họ chiếm khoảng 1/3 tổng số tù cải tạo.
Nhận xét đầu tiên của tôi là các ông hạ sĩ quan này trông hết sức thảm não, người nào cũng đen đủi, gầy còm, ánh mắt lờ đờ như không còn sinh khí…
Khoảng 8 giờ sáng, đám sĩ quan cán bộ quản giáo đi vào từng nhà, “lên lớp” theo bài bản như con vẹt độ khoảng 15 phút rồi kêu gọi xem có ai tình nguyện làm “nhà trưởng”, không có người tình nguyện thì dòm mặt chỉ định. Nhà trưởng có nhiệm vụ nhận lệnh từ cán bộ để truyền đạt tới anh em tù cải tạo, và “phản ảnh” mọi sinh hoạt của nhà lên cán bộ.
Sau đó, chúng tôi được lệnh lên hội trường để “gửi” tư trang vàng bạc và học tập Nội quy trại.
“Tư trang vàng bạc” ở đây được họ định nghĩa là tất cả những thứ gì có thể tháo rời khỏi người (trừ nhẫn cưới), chẳng hạn đồng hồ, dây chuyền, lắc vàng (nhưng trên thực tế chẳng có ai dại dột tới mức đi cải tạo mà còn đeo lắc).
Tay cán bộ quản giáo giải thích: “Cách mạng chỉ giữ cho các anh, khi nào các anh được tha về, cách mạng sẽ giao lại!”
Sau này, khi đã trải qua dăm bảy trại, tôi được biết không phải trại nào cũng bắt tù cải tạo “gửi” tư trang vàng bạc, nhưng một khi bắt gửi thì từ Nam chí Bắc đều có cùng một thủ tục… quái đản: tù cải tạo giao tư trang vàng bạc cho cán bộ giữ, thay vì được cán bộ cấp biên nhận thì người đó lại phải ký vào cuốn sổ của cán bộ!
Xong thủ tục gửi tư trang vàng bạc, chúng tôi được học tập về nội quy của trại. Nhận xét một cách chung chung thì nội quy của trại cải tạo nào (thuộc trung ương chứ không phải địa phương) cũng giống nhau, có khác chăng chỉ là những chi tiết, chẳng hạn tuy ở cùng trại nhưng đám sĩ quan chúng tôi và các hạ sĩ quan cảnh sát tuyệt đối không được quan hệ với nhau, hoặc ban đêm cần “đi thăm lăng Bác” (ở gần hàng rào phía sau của trại) thì khi còn cách dãy cầu tiêu khoảng 10 mét, phải đứng lại, lớn tiếng xin phép tay bộ đội trên vọng gác, khi nào y trả lời mới được đi tiếp.
Về cung cách đối xử với tù cải tạo thì đám cán bộ quản giáo ở Phú Quốc lạnh lùng hơn các đồng nghiệp của họ ở Thành Ông Năm rất nhiều; đám vệ binh (bộ đội) thì lúc nào cũng đằng đằng sát khí, hận thù ra mặt.
Lúc đầu tôi cứ nghĩ vì ở Thành Ông Năm, chúng tôi chỉ là các cải tạo viên được học tập chính trị, còn ra Phú Quốc, chúng tôi là tù lao động khổ sai nên chính sách đối xử đương nhiên phải khắt khe hơn, sau này mới biết chỉ vì chúng tôi có “nợ máu” với đám bộ đội Phú Quốc.

* * *
Nguyên đơn vị coi tù cải tạo ở Phú Quốc trực thuộc một sư đoàn đóng ở Kiên Giang, trước kia là một trong những đơn vị chính quy Bắc Việt vượt vùng phi quân sự đánh chiếm Quảng Trị trong mùa Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, đã bị Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, và phi pháo của VNCH đánh cho tanh banh.
Một tay cán bộ quản giáo ngày trước thuộc đơn vị pháo, có lần đã kể lại với chúng tôi về món nợ máu ấy như sau:
Trước khi vượt tuyến đánh chiếm Quảng Trị, đơn vị của anh ta được tăng cường những khẩu súng cối 82 ly mới tinh, nhưng chưa vào tới Đông Hà thì đã bị TQLC tiêu diệt hơn phân nửa phải rút tàn quân về Bắc, nhiều khẩu cối 82 ly mới bắn được vài viên đạn đã bị bỏ lại trận địa!
Sau khi rút quân về để bổ xung lực lượng, đơn vị pháo của anh ta lại được lệnh vào Quảng Trị, và lần này, trong lúc đang vượt sông Thạch Hãn thì trở thành những mục tiêu “ngon lành” cho phi cơ của Không Lực VNCH, mười phần thì tới sáu, bảy bỏ mạng trên dòng sông oan nghiệt.
[Sau này ra hải ngoại, được đọc trên Internet hồi ký chiến trường của một cấp chỉ huy CS Bắc Việt, tôi thấy khá giống lời kể của tay cán bộ quản giáo ở Phú Quốc. Điều đáng chú ý là cả hai đều phải nhìn nhận “lính dù và lính thủy đánh bộ của miền Nam đánh rất dữ tợn”]
* * *

Nhưng ít ra chúng tôi cũng được hưởng một tuần lễ “huy hoàng”, ăn Tết ta xong mới bắt đầu những tháng ngày khổ sai cơ cực.
Trước hết nói về ẩm thực: lần đầu tiên kể từ ngày trình diện học tập cải tạo, chúng tôi được ăn cá tươi, không phải chỉ ăn lấy hương lấy hoa như ở Thành Ông Năm mà ăn thỏa thích. Bữa cơm đầu tiên, cứ 10 tù cải tạo được một thau cơm và một thau cá, mà cá thì nhiều hơn cơm. Chuyện khó tin nhưng có thật!
Thấy đám “ma mới” chúng tôi ra vẻ “hồ hởi phấn khởi”, một ông hạ sĩ quan cảnh sát nói:
– Rồi mấy ông thầy sẽ ngán cá thèm cơm cho mà xem!
Nhưng lúc ấy, đám trung úy, thiếu úy chúng tôi không bao giờ có thể tưởng tượng việc này sẽ xảy ra trong tương lai. Bởi chúng tôi chỉ thèm “chất đạm” (protein).
Muốn biết chúng tôi thèm chất đạm tới mức nào phải trở lại với “chế độ ăn uống” ở Thành Ông Năm.
Không hiểu ngày ấy Đoàn 775 họ kiếm đâu ra gạo mà tù cải tạo chưa bao giờ thiếu cơm ăn, ít nhất cũng là cho tới tháng 1-1976, khi chúng tôi bị đưa ra Phú Quốc. Nhưng thức ăn thì có vấn đề. Trong mấy tháng đầu, mỗi tổ 10 người chỉ được một thau nước muối lõng bõng mấy miếng thịt heo bằng đầu ngón tay, hoặc vài con cá khô chất lượng cũng tương đương loại cá khô mà trước năm 1975 người ta lấy nấu cám heo; thỉnh thoảng có thêm một thau canh rau muống hoặc củ cải trắng nấu với muối.
Vài tháng sau, có lẽ do bắt mánh được với những tay bỏ mối đậu hũ ở chợ Hốc Môn, đám cán bộ hậu cần của khu trung úy, thiếu úy (không biết ở các khu khác thì sao) đã chỉ còn cho tù cải tạo ăn một món duy nhất: đậu hũ; một tháng may ra được ăn thịt, cá (ăn lấy hương lấy hoa) một, hai lần.
Nhưng tệ hại nhất phải là thời gian khoảng hơn một tháng sau cùng (ở Thành Ông Năm), không hiểu vì đám cán bộ hậu cần tẩu tán muối để bán cho dân hay vì một nguyên nhân khó hiểu nào đó mà lượng muối cung cấp cho cải tạo bị cắt bớt dần, cho tới khi hầu như chỉ còn là con số không!
Có sống trong cảnh này, người ta mới thấy được tầm quan trọng số một của muối trong lĩnh vực ẩm thực; không có muối không ai có thể nuốt được cơm. Một vài anh em từng đọc, hoặc nghe kể về cách làm muối của người Thượng ở vùng cao nguyên, cho biết cứ đốt cỏ tranh, ngâm than trong chậu nước, muối sẽ kết tụ ở dưới đáy. Nhưng ở trong Thành Ông Năm làm gì có nhiều cỏ tranh như ở các thảo nguyên hay nương rẫy để thử bắt chước người Thượng!
Trong hoàn cảnh ấy, tôi bỗng nhớ lại hồi học Vạn Vật lớp Đệ Nhất ban A có nói tới việc “tinh bột tạo ra đường”, theo đó nhai cơm trắng, nhai bánh mì một lúc sẽ thấy vị ngọt. Vậy nay không có muối ta ăn cơm với… đường! Tôi và một vài anh em cùng tổ nhai thử thì quả thật một lúc sau có vị ngọt, nhưng nó vẫn lạt lẽo thế nào ấy vì không có vị mặn. Rốt cuộc cũng chẳng có ai hưởng ứng!
Trong khi đó, một số anh em thấy cơm thừa nhiều quá, đổ đi mang tội bèn đem phơi khô. Đám cán bộ quản giáo thấy thế liền ra lệnh cấm, vì sợ tù cải tạo tích trữ lương khô để trốn trại!
Hậu quả, mỗi ngày chỉ tính đội của tôi thôi, đã phải đổ xuống hố rác mấy thau cơm trắng!…
Đang từ phải ăn cơm với đậu hũ lạt, nay ra Phú Quốc cứ 10 người được một thau cá kho (cá ngừ, hoặc cá nục, cá bạc má) thì còn gì sung sướng cho bằng!…
Rồi để chuẩn bị đón xuân (mà nhà nhạc sĩ Văn Cao cảm khái ca tụng là “Mùa Xuân Đầu Tiên” trong ca khúc cuối cùng của ông), mỗi tù cải tạo được nhà cầm quyền trại ưu ái phát cho hai gói thuốc thơm đầu lọc “Sài Gòn Giải Phóng”, nguyên là hiệu “Président” của nhà máy thuốc lá MIC trước kia…
Trong những ngày còn được “tự do chơi bời” ấy, tôi thường mò sang các nhà bên cạnh để xem có ai quen thì gặp An Đình Phương, chàng thiếu úy trẻ ở cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm, và đáng nói hơn cả là được gặp lại “Đức Cống”, Trung úy Pháo Binh, tay bạn học điếc không sợ súng từ năm Đệ Tam, cùng ở Phường 13 Phú Nhuận với tôi.
Còn về anh em ở cùng nhà thì tôi trở nên thân thiết với anh bạn Vương ĐT nằm bên cạnh, một phần vì anh gốc Nam Kỳ, lè phè, dễ tính, một phần vì anh cùng học Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang với hai thằng bạn lớp Đệ Nhị ban B của tôi trước kia, đều mang tên Phước: Huỳnh Hữu Phước, tức “Phước cao”, và Nguyễn Hữu Phước, tức “Phước đen”.
Người thứ hai là một ông anh Bắc Kỳ khá lớn tuổi hơn tôi, tên Thịnh, biệt hiệu “Thịnh thuốc lào”. Anh là người tù cải tạo đầu tiên hút thuốc lào mà tôi được biết. Ở Thành Ông Năm, anh chế một cái điếu cày bằng ống nhôm trái sáng và mang theo ra Phú Quốc cùng với một ít thuốc lào mà gia đình gửi theo gói quà nửa ký đầu tiên. Cứ sau mỗi bữa ăn, anh cho tôi nửa “bi”; nửa bi thôi nhưng cũng đủ tê mê, rần rần đến tận từng đầu ngón tay!
“Quần đảo ngục tù”

Sau Tết ta, với đám trung úy, thiếu úy vừa từ đất liền ra, kiếp tù khổ sai Phú Quốc mới thực sự bắt đầu.
Năm giờ sáng (nếu tôi nhớ không lầm), kẻng báo thức. Xếp hàng đi cầu tiêu, ra giếng rửa mặt, xuống nhà bếp lãnh mỗi người một ca nước đun sôi thay cho bữa ăn sáng…
Sáu giờ rưỡi, tập họp tại sân cát trước hội trường nghe cán bộ phân công lao động trong ngày.
Từ lúc chúng tôi ra Phú Quốc cho tới khi trở về đất liền, trại tôi có ba loại công tác lao động chính: (1) sản xuất, (2) xây dựng (3) cưa gỗ, đốn củi.
– Sản xuất là phá rẫy, cuốc đất, đào mương, trồng trọt, tưới nước, làm cỏ khu nương rẫy của trại.
– Xây dựng là dựng nhà, cắt tranh để lợp nhà, làm vách…
– Cưa gỗ, đốn củi là vào rừng cưa gỗ để bán cho dân làm lò than, hoặc đốn cây đưa về trại làm củi.
Tùy theo sự phân công của cán bộ quản giáo, công tác có thể thay đổi mỗi ngày.

* * *
Trước hết nói về sản xuất, đây là công việc nhẹ nhất; sau khi được phân công, toán này chỉ cần theo quản giáo băng qua đường lộ, đi bộ khoảng nửa cây số là tới khu rẫy phía sau dãy nhà của ban chỉ huy trại, chạy dài về hướng bờ biển phía tây của đảo.
Tuy là công tác nhẹ nhất nhưng lại gây khó chịu, bực bội, nhục nhã nhất, vì ngoài mấy tay cán bộ quản giáo còn có đám vệ binh (bộ đội) vắt mũi chưa sạch, ti toe diệu võ dương oai, thay phiên nhau “lên lớp” đám tù cải tạo với những bài bản giống hệt nhau, nào là “nao động nà vinh quang”, nào là “trước đây các anh chây nười, chỉ biết rượu ngon gái đẹp, nay phải học tập nao động để trở thành người hữu ích cho xã hội”, v.v…
Rất nhiều lần tôi đã nóng mặt khi thấy những tên oắt con này xỉ vả, nhục mạ mấy ông trung úy, thiếu úy già đáng tuổi bố của chúng, chỉ vì khi cuốc đất, họ không đủ sức dơ cái cuốc lên đủ cao theo yêu cầu!
Bên cạnh đó, khác với những trại chúng tôi ở sau này, nơi toán sản xuất thường lén đem về trại vài củ khoai, một nắm rau dại, mấy trái ớt, ít lá sương sâm…, ở Phú Quốc cấm ngặt đem bất cứ thứ gì vào trại, không cần biết ăn được hay không ăn được!
Nếu nghi ngờ, mấy tên bộ đội gác cổng còn bắt tù cải tạo cởi áo để chúng khám xét.
Nhưng dù sao chăng nữa, anh em nào ở trại tôi cũng đều mong muốn được phân công sản xuất, lý do chính là vì không phải đi bộ hàng chục cây số như toán cưa cây, đốn củi.

* * *
Tiếp theo, viết về toán “xây dựng”. Theo lời viên trại trưởng (có thể đương sự chỉ khoác lác) thì “trong tương lai, các anh sẽ góp phần vào kế hoạch biến Phú Quốc thành một trung tâm kinh tế hàng đầu của tỉnh Kiên Giang”, vì thế một số tù cải tạo nguyên là sĩ quan Công Binh đã được lựa chọn để làm nòng cốt.
Rất tiếc, cho tới khi chúng tôi được đưa về đất liền, “kế hoạch chiến lược” ấy vẫn chưa được khởi sự, cho nên nhiệm vụ chính của toán xây dựng chỉ là làm nhà, sửa nhà, cắt tranh để lợp nhà, che vách…
“Nhà” nói tới ở đây chủ yếu là những căn nhà trong các trại tù đã bị dân chúng vào làm thịt sau khi “đất nước được hoàn toàn giải phóng”.
Cũng xin viết sơ về vị trí khu trại tù cải tạo Phú Quốc, tức các trại giam tù binh cộng sản trước năm 1973. Từ An Thới ở cực nam đi về hướng bắc khoảng 2, 3 cây số thì tới các trại tù nằm ở phía bên mặt đường lộ. Qua khỏi khu vực trại tù khoảng 1, 2 cây số mới tới khu vực có dân cư thuộc xã Dương Tơ.
Sau Hiệp Định Paris 1973, tù binh cộng sản được trao trả thì các trại tù này bỏ trống nhưng vẫn có một đơn vị quân đội VNCH canh giữ. Sau 30 tháng 4, 1975, thừa nước đục thả câu, dân chúng tràn vào các trại tù gỡ tôn đem về. Tới khi bộ đội cộng sản tiếp thu khu vực này thì có tới phân nửa các trại tù ở phía bắc (gần khu dân cư) đã bị tanh banh, các dẫy nhà chỉ còn lại khung sắt, thỉnh thoảng mới còn cái mái tôn.
Vì thế đám tù cải tạo trung úy, thiếu úy chúng tôi phải dọn dẹp, sửa sang những chỗ bị phá hoại, và cắt tranh về lợp mái và làm vách che.
Qua tin tức nghe lóm từ đám cán bộ quản giáo, chúng tôi được biết khoảng giữa năm 1976, những trại tù này sẽ bắt đầu tiếp nhận tù cải tạo cấp đại úy và cấp tá từ đất liền. Khi ấy, Phú Quốc không chỉ trở thành trại tù cải tạo “kiểu mẫu” mà còn là trại tù lớn nhất nước.
* * *
Một buổi xế chiều, tôi đang cùng với toán sản xuất đắp luống trồng khoai ngoài rẫy của trại thì nghe một tiếng nổ thật lớn ở hướng đông, và thấy khói đen bốc lên bên ngoài hàng rào phía sau các trại tù. Anh em ai cũng hoang mang, nhưng không thể đoán biết chuyện gì đã xảy ra; một vài anh em là dân tác chiến cho biết tiếng nổ lớn như thế chắc chắn không phải lựu đạn mà là mìn!
Qua ngày hôm sau, nhờ những anh em đi rừng (toán đốn củi) thu thập tin tức về kể lại, chúng tôi được biết chiều hôm trước anh em của trại bên cạnh đang cắt tranh thì đạp phải một trái “mìn ba râu”, một người chết nát xác, ba người bị thương nặng.
Lần đầu tiên nghe tin tù cải tạo thiệt mạng trong lúc lao động, chúng tôi vô cùng xôn xao, ngậm ngùi, và lo sợ cho bản thân mình. Tối về, một số anh em hiểu biết ít nhiều về mìn bẫy, đã cảnh giác anh em bạn tù trong trường hợp phải đi cắt tranh.
Theo những anh em này, trước năm 1975, phía ngoài hàng rào một số căn cứ quân sự của VNCH và đồng minh thường gài mìn chống người (anti-personnel mines) để đề phòng VC xâm nhập căn cứ, và trong trường hợp của trại tù phiến cộng Phú Quốc, còn để ngăn ngừa tù binh trốn trại.
Mìn chống người của Mỹ gồm hai loại chính: “mìn ba râu” và “mìn cóc”.
Mìn ba râu có tên này là vì nó có ba sợi râu như ba cây đinh ở phía trên, đạp phải một trong ba sợi râu này thì trái mìn sẽ bay lên khoảng 1 m và khối thuốc nổ khoảng 1kg sẽ phóng ra hàng ngàn miểng thép. Còn mìn cóc chỉ lớn hơn hộp thịt ba lát (ration C) một chút, chứa khoảng 100g thuốc nổ, người nào đạp phải, nếu miểng không trúng chỗ hiểm ở vùng hạ thân thì thường chỉ bị nát một bàn chân, phải cưa phía trên mắt cá.
Mấy ngày sau, trại tôi có một toán bị phân công đi cắt tranh; trong toán này có một trong những anh em hiểu biết về mìn bẫy đã nhắc tới ở trên. Ra tới khu cắt tranh, cán bộ quản giáo ra lệnh cho mọi người tiến hành cắt tranh, mỗi người phải đủ hai bó “chất lượng” để gánh về.
Anh tù cải tạo “chuyên gia về mìn” tình nguyện đứng ra điều động công việc. Theo sự hướng dẫn, sắp xếp của anh, tất cả anh em tù cải tạo dàn thành hàng ngang, không ai đi trước không ai đi sau, mỗi người cách nhau khoảng 3m để lỡ đạp phải mìn ba râu thì cũng chỉ một mình người đó thiệt mạng.
Thật may mắn đã không có anh em nào của trại tôi đạp phải mìn, bởi vì sau nhiều năm đất cát bị nước mưa soi mòn, hầu hết những trái mìn này đã bị trồi lên, nếu chú ý có thể nhìn thấy. Ai thấy một trái mìn thì phải hô lên cho các anh em khác biết, và lấy một nhánh cây cắm ngay bên cạnh để đánh dấu.
Khoảng nửa tháng sau, khi tôi và anh em cùng nhà bị phân công đi cắt tranh lần đầu thì chỉ cần đi theo những con đường mòn quanh co nằm giữa những trái mìn đã được đánh dấu, để tới khu cỏ tranh ở xa hơn mà anh em tin là không có mìn. Nhưng nói gì thì nói, chúng tôi vẫn “rét”, khi cắt tranh chân nhích từng bước, mắt láo liên, và chắc hẳn ngoài tôi ra còn có nhiều anh em khác cũng thầm cầu nguyện khấn vái, xin Ơn Trên, ông bà phù hộ…
Cho tới khi chúng tôi bị đưa về đất liền, đã có thêm mấy trái mìn nữa nổ nhưng đều ở các trại khác, và vì liên lạc khó khăn, chúng tôi cũng không biết đích xác có thêm bao nhiêu anh em bị thiệt mạng, bao nhiêu anh em bị cưa chân.

* * *
Cuối cùng viết về công tác cưa gỗ, đốn củi – công việc được xem là “khổ sai” đúng nghĩa.
Thực ra, nhiều người dân lúc ấy vì sinh kế cũng phải lao động cực khổ như chúng tôi, hoặc có thể hơn, nhưng ít ra họ cũng được ăn no, hoặc có đói thì cũng không đến nỗi đói như chúng tôi.
Có thể viết, kể cả thời gian sau này bị cho ăn bo bo, ăn bắp khô, khoai mì phơi khô, chưa bao giờ chúng tôi đói cho bằng thời gian ăn cơm gạo trắng ở Phú Quốc!
Ở một đoạn trên, tôi có kể khi thấy đám trung úy, thiếu úy tỏ ra “hồ hởi phấn khởi” trước những “thau” cá cho một tổ 10 người, một ông hạ sĩ quan cảnh sát đã nói “Rồi mấy ông thầy sẽ ngán cá thèm cơm cho mà xem!”
Lúc ấy, vì quá thèm “chất đạm” sau mấy tháng ăn cơm với đậu hũ lạt, chúng tôi đã không hưởn để tâm tới câu nói của ông. Chỉ tới khi ăn Tết ta xong và phải lao động nặng, chúng tôi mới bắt đầu thấm.
Trước hết nói về tiêu chuẩn gạo dưới chế độ cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ, tôi nhớ đại khái (theo lời đám cán bộ) tùy theo mức độ nặng nhẹ của công việc mà công nhân viên chức, sĩ quan, bộ đội được hưởng từ mức cao nhất là 21 ký xuống tới thấp nhất là 13 ký một tháng. Tù cải tạo dĩ nhiên hưởng mức thấp nhất.
Tuy nhiên, dù chỉ có 13 ký, trong thời gian sống ở Thành Ông Năm, không phải lao động nặng, chúng tôi cũng đủ ăn – mỗi ngày hai bữa, mỗi bữa gần ba chén cơm.
Nhưng ra Phú Quốc, lúc ban đầu mỗi bữa chưa được hai chén, về sau chỉ còn hơn một chén. Thoạt tiên chúng tôi nghi đám cán bộ hậu cần ăn bớt gạo của cải tạo để đem bán cho dân, sau này mới biết nếu có thì cũng chỉ là nguyên nhân phụ, còn nguyên nhân chính là gạo (viện trợ của Trung Cộng) quá cũ đã bị mục, hoặc bị mọt ăn.
Một bao tạ trước kia 100 ký nay chỉ còn 70, 80 ký (nhưng cán bộ hậu cần vẫn tính 100 ký), đem về trại vo hai nước chỉ 50, 60 ký, tới khi phát cơm, mỗi thau chỉ được hơn 10 chén cơm cho 10 đầu người!
Những ngày tháng cuối cùng ở Thành Ông Năm, chúng tôi đau khổ vì thiếu muối, tới khi ra Phú Quốc chúng tôi không chỉ đau khổ mà còn kiệt lực vì thiếu tinh bột.
Chuyện bên lề tôi kể lại dưới đây, đa số độc giả có thể cho là được thêu dệt với mục đích châm biếm, chỉ có những anh em tù cải tạo từng ở Phú Quốc mới tin là có thật, bởi nó xảy ra trước mắt anh em.
Đó là chuyện “ruồi cũng cần tinh bột”!
Ở Phú Quốc có rất nhiều ruồi; điều này cũng dễ hiểu bởi Phú Quốc nổi tiếng với nghề làm nước mắm. Thành thử mỗi khi chúng tôi lãnh cơm, cá để chia nhau, đám ruồi bu theo đen kịt.
Khổ nỗi cái việc chia chác cũng khá mất thì giờ. Để cho công bằng, tránh việc so bì, kèn cựa nhau đưa tới mất đoàn kết, anh em phải thay phiên nhau làm công việc này, một người phụ trách chia cơm, một người phụ trách chia cá (và thêm một người chia canh, trong trường hợp có thêm món rau muống, bí đỏ, củ cải trắng…).
Dĩ nhiên, khi tới phiên mình ai cũng cố gắng chia sao cho thật đều, thêm chén này bớt chén kia… trước sự tấn công như vũ bão của bầy ruồi. Nhưng lạ một điều, đa số những con ruồi này chỉ bu thau cơm chứ không thèm bu thau cá, khiến “Thịnh thuốc lào” có lần đã buột miệng chửi thề với giọng Bắc kỳ… đểu:
– Địt mẹ, cả đến ruồi dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cũng thèm tinh bột!
Cũng may cho anh, lúc đó trong nhà của chúng tôi không có (hoặc chưa có) ăng-ten!

* * *
Đói như thế nhưng khi bị phân công, chúng tôi vẫn phải đi bộ 9, 10 cây số để cưa gỗ, đốn củi. Về sau rút kinh nghiệm, một số anh em đã nhịn phần cơm chiều, nhất là những bữa có thêm món canh, để dành chén cơm nguội sáng hôm sau lót dạ trước khi đi lao động.
Cũng xin có đôi dòng về lộ trình cưa gỗ, đốn củi ở Phú Quốc.
Từ hướng nam (An Thới) đi lên hướng bắc, qua khỏi khu vực trại tù thì tới một ngã ba, rẽ trái là đường đi ra bờ biển phía tây của đảo, đi thẳng là đường đi Dương Tơ, và cũng là đường đi Dương Đông, thị xã của Phú Quốc.
Trước khi tới Dương Tơ, có một lối rẽ vào con đường đất phía bên tay mặt, sau khi băng qua nhiều nương rẫy tới một sườn núi, là nơi toán cưa gỗ, đốn củi thỉnh thoảng phải thi hành những chuyến công tác đặc biệt: tìm và đào hà thủ ô về nộp cho cán bộ.
Khi bị phân công đi đốn củi, tới ngã ba, chúng tôi rẽ trái, đi thêm khoảng 2, 3 cây số thì tới một khu rừng thấp, có chỗ ngập nước, và đi vào phía bên trong để đốn củi. Cảnh sắc thiên nhiên ở đây đẹp tuyệt vời, đủ mọi loài kỳ hoa dị thảo, những cánh bướm muôn màu, tiếng chim hót líu lo… Nhưng chúng tôi không có thì giờ để thưởng thức cảnh vật, bởi phải lo cưa củi vác về cho kịp giờ cơm trưa.
Củi nói tới ở đây thường được cưa từ những cây gỗ lớn đã bị người dân khai thác từ đời nào, họ chỉ lấy thân cây, để lại ngọn và cành, chúng tôi cưa thành từng khúc để vác về làm củi cho nhà bếp; thỉnh thoảng cũng bắt gặp một vài đống củi đã cưa sẵn, dài khoảng hơn 1 mét, đường kính cỡ 30-40 cm, có lẽ do dân chúng khai thác trước kia rồi bỏ lại, nay trở thành củi “chùa”.
Nhưng trong khi không mất công cưa, những khúc củi này thường quá nặng, một người vác không nổi, hai người khiêng thì lại quá ngắn, cho nên anh em nào cũng chê, trừ một vài tay “lao động gương mẫu”.
Trên nguyên tắc, theo chỉ thị của trại thì không có quy định về kích thước của mỗi khúc củi, mà do chúng tôi “tự giác” tùy theo sức lực của từng cá nhân. Thế nhưng trên thực tế, khi anh em tù vác, khiêng củi ra tới mép rừng, đều bị tay cán bộ quản giáo đánh giá “chất lượng”, nhỏ quá (theo con mắt của y) cũng không được, củi mục cũng không được, thế là phải quay trở vào để kiếm khúc khác, cho tới khi nào tất cả mọi người “đạt tiêu chuẩn” thì cả toán mới được đi về.
Việc này tự nó đã gây mất đoàn kết trong nội bộ tù cải tạo: một số anh em “lè phè” vác khúc củi nhỏ tới mức chính chúng tôi cũng thấy coi không được một chút nào, thế là cả toán lại phải ngồi chờ trong khi ai cũng đói bụng, cũng muốn về sớm. Lại có một vài anh em “tự giác” quá mức, tức những tay “lao động gương mẫu” đã nhắc tới ở trên; họ vác những khúc củi “chùa” lớn gấp hai, gấp ba khúc củi của những anh em khác, nên được tay cán bộ quản giáo “biểu dương” và lấy đó làm chỉ tiêu để mọi người tuân theo!
Người “nổi tiếng” nhất, bị anh em ghét nhất trong số “lao động gương mẫu” nói trên là Trung úy Nguyễn TM, Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Anh có một thân hình lực sĩ, mỗi lần nhìn anh vác khúc củi chần dần tôi lại liên tưởng tới pho tượng thần Atlas trong huyền thoại Hy-lạp vác vũ trụ trên vai!
Sở dĩ tôi nhắc tên anh trong số những tay “lao động gương mẫu” là vì sau này ở những trại kế tiếp, có thời gian ăn chung với nhau, tôi mới nhận ra anh là một người tính tình rộng lượng, kiến thức hơn người, tinh thần quốc gia, tinh thần chống cộng cao hơn ai hết, chỉ phải mỗi cái tội “tự giác” lao động từ bằng cho tới hơn chỉ tiêu đưa ra!
Tuy nhiên, đó là về sau này, còn lúc ở Phú Quốc, tuy không ghét Nguyễn TM như đa số anh em khác, mỉa mai gọi anh là Pavel – nhân vật chính trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” của Liên-Xô – tôi cũng không có cảm tình với anh.
Vác khúc củi lớn gấp hai, gấp ba khúc củi của những anh em khác chưa đủ, Nguyễn TM và mấy tay “lao động gương mẫu” còn đi nhanh, và đi một lèo về trại chứ không xin cán bộ cho nghỉ dọc đường.
Mỗi khi có anh em nào thực sự kiệt sức, chẳng hạn anh bạn Thiếu úy An Đình Phương yếu ớt cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm, tôi hoặc một anh em nào đó phải gắng sức vượt lên, nói cho Nguyễn TM biết có anh em sắp gục, anh mới chịu dừng chân xin cán bộ cho nghỉ dăm ba phút…
Thường thường, khi chúng tôi vác củi về tới trại thì mọi người đang chuẩn bị tập họp ngoài sân cát trước hội trường để lãnh cơm trưa, dưới sự giám sát của một tay quản giáo. Đặc biệt, cứ mỗi lần tới phiên tay quản giáo người Quảng Bình (tôi quên mất tên) thì chúng tôi lại được hắn lên lớp về cách ăn uống sao cho “có văn hóa”, khi lãnh cơm không được chen lấn giành giật…
Mười lần y như một, hắn đứng trên một khúc gỗ cao, mở đầu bằng một câu duy nhất:
– Các anh chú ý nghe tôi nói này, miếng ăn là miếng nhục, vì thế các anh phải…
Đứng dưới trời nắng chang chang, người mệt lả, bụng trống rỗng, nghe tay quản giáo lên lớp một cách mất dạy như thế, chúng tôi vừa giận sôi gan vừa tủi nhục. Về sau, chúng tôi nghĩ ra được một cách “trả đũa”: khi hắn nói tới chữ “nhục” thì cả bọn chúng tôi đồng loạt nói chữ “thịt” vừa đủ để nghe với nhau.
So với muôn vàn tủi nhục đắng cay trong các trại cải tạo, câu chuyện “miếng ăn là miếng nhục (thịt)” chỉ là chuyện nhỏ, nhưng không hiểu sao riêng tôi lại nhớ suốt đời.

* * *
Khi được phân công đi cưa gỗ, chúng tôi phải đi bộ xa hơn khi đi đốn củi, nhưng lại “nhẹ tội” hơn vì không phải vác về trại.
Theo lộ trình kể trên, chúng tôi đi qua xã Dương Tơ, tới chân núi để cưa gỗ. Sau khi hạ cây xuống, chúng tôi phải cưa thành từng khúc dài khoảng 1 m, rồi xếp thành từng đống vuông vức để tính thành mét khối, khi nào đủ chỉ tiêu mới được quản giáo dắt về trại.
Nghe nói, gỗ này sẽ được bán cho người dân làm lò than (?)
Chính qua những lần đầu tiên đi cưa gỗ, khi đi ngang xã Dương Tơ, chúng tôi mới trải nghiệm thực tế hoàn hoàn trái ngược với những gì đám giáo viên và quản giáo đã nhai đi nhai lại hàng trăm lần, theo đó, một trong những nguyên nhân chúng tôi “được cách mạng đưa đi học tập cải tạo” là vì đám “ngụy quân” chúng tôi bị dân chúng căm thù tận xương tuỷ, để chúng tôi ở ngoài xã hội rất có thể sẽ bị họ xin tí huyết!
Trong lần đi cắt gỗ đầu tiên, khi chúng tôi đi ngang qua khu dân cư, một số người dân đứng trước nhà đưa tay vẫy chào, có người còn nói những lời khích lệ, đồng thời có mấy trẻ em bán bánh kẹo, đường, thuốc hút chạy tới chào hàng nhưng bị đám vệ binh xách súng chạy tới ngăn cản, không cho tới gần đoàn tù cải tạo.
Nhưng những gì xảy ra khi chúng tôi trở về mới thực sự khiến chúng tôi cảm động: lần này không chỉ có vài trẻ em mà có tới hàng chục, trong đó những em đã khá lớn, bất thần từ hai bên đường xông vào đoàn tù, dúi những bịch kẹo, những túi thuốc rê vào tay chúng tôi, miệng nói “Cho các chú đó, không lấy tiền đâu”…
Đám quản giáo và vệ binh không kịp trở tay, tới lúc đuổi được các em đi chỗ khác thì một số tù cải tạo đã nhận được quà và đút vào túi. Tôi được một bịch kẹo dừa.
Nhưng những gì xảy ra sau đó cho thấy người dân miền Nam – ở đây thu hẹp là tù cải tạo và người dân Phú Quốc – vẫn phải “thua” đám cộng sản Bắc Việt!
Khi chúng tôi về tới trại, xếp hàng một đợi vệ binh mở cổng, tên quản giáo tiến lên đứng chắn trước cổng, cao giọng tuyên bố:
– Anh nào dấu trong người những thứ dân chúng đưa cho, phải tự giác lấy ra ngay để nộp cho trại. Dân chúng họ đang căm thù các anh, lỡ họ bỏ thuốc độc, các anh ăn vào, chết thì cách mạng trả lời ra sao với gia đình các anh… Nào, lấy ra hết… Anh nào ngoan cố sẽ bị kỷ luật!
“Bị kỷ luật” ở Phú Quốc có nghĩa là “bị biệt giam”. Nghe thế, chúng tôi biết không còn lựa chọn nào khác. Tôi lấy bịch kẹo dừa ra nộp mà cảm thấy xót xa, cho dù nó có thể không ngon bằng kẹo dừa Bến Tre thì cũng là tấm lòng của người dân miền Nam đối với những người lính cũ của họ!
Rút kinh nghiệm, qua ngày hôm sau ban chỉ huy trại đã tăng cường lực lượng vệ binh tới mức tối đa. Khi một vài em bé cố len lỏi đến gần, chúng tôi cám ơn, và tóm tắt cho các em biết những gì đã xảy ra, đừng tốn công tốn của vô ích…
Bỗng một phụ nữ đứng trước nhà lớn tiếng chửi:
– Mẹ, mấy ổng có làm gì mà hành hạ mấy ổng dữ vậy!
Nhân tiện, cũng xin kể thêm lần tôi và vài anh em may mắn được hưởng “lộc đám cưới” của dân.
Nguyên trong một lần đi đốn củi ở địa điểm đã nói tới ở trên (rẽ trái tại ngã ba), sau khi vào rừng, mấy anh em chúng tôi nổi hứng đi xa hơn về hướng tây để thám hiểm, khi vác củi trở ra đường lộ để đi về chỗ tập họp thì gặp một xe đò nhỏ chở một đám cưới chạy ngược chiều, xe chật kín nên nhiều người ngồi ở cả trên mui xe. Thấy chúng tôi, cả xe vẫy tay chào. Khi xe đã chạy qua được một đoạn, bỗng nghe tiếng mấy người ngồi trên mui xe gọi rồi ném xuống một gói bánh kẹo và hai bao thuốc lá. Thật bất ngờ, chúng tôi chỉ kịp đưa tay lên vẫy chào… Lẽ dĩ nhiên, thuốc lá chúng tôi dấu trong túi, còn bánh kẹo thì phải kín đáo thanh toán trước khi về tới trại.

* * *

Sau gần nửa năm thiếu ăn và lao động khổ sai ở Phú Quốc, đa số anh em tù cải tạo chúng tôi đã kiệt quệ, thể xác cũng như tinh thần.
Giờ đây, trông chúng tôi cũng giống y như mấy ông hạ sĩ quan mà trước kia tôi đã từng nhận xét “thảm não, đen đủi, gầy còm, ánh mắt lờ đờ như không còn sinh khí…”
Về thể xác, tôi không biết mặt mũi mình lúc đó hốc hác tới mức nào (bởi vì có bao giờ soi gương) nhưng chỉ cần nhìn khuôn mặt Nguyễn TM và An Đình Phương cũng đủ để tôi suy ra.
Một cách ngắn gọn, có thể viết khuôn mặt hai người lúc ấy trông giống khuôn mặt những người mắc bệnh biếng ăn (anorexia): hai mắt hõm sâu, hai má tóp lại, hai hàm răng nhô ra…, trông giống như cái đầu lâu bọc da.
Điểm khác nhau duy nhất giữa hai người là trong khi ánh mắt của Nguyễn TM vẫn còn tinh anh thì của An Đình Phương lờ đờ mệt mỏi, như thể không còn sinh khí.
Lần đầu tiên kể từ ngày bị bắt đi cải tạo, trong đầu tôi hiện ra câu hỏi: liệu anh em cải tạo chúng tôi rồi đây sẽ có người gục chết như những người dân Nga xấu số trong cuốn “Quần đảo Ngục tù” của Aleksandr Solzhenitsyn hay không?
Nếu câu trả lời là có, tôi sợ rằng An Đình Phương sẽ là một trong những người đầu tiên. Ngày ấy, chưa xảy ra cái chết của Karen Carpenter (1950 – 1983) trong đôi song ca anh em ruột Carpenters cho nên người ta chưa biết gì về bệnh biếng ăn; bệnh trầm cảm cũng chưa có trong sách vở, nhưng cứ mỗi lần nhìn An Đình Phương, tôi lại linh cảm tới chuyện không hay!
Về tinh thần, đa số anh em chúng tôi đã đánh mất nụ cười, đã quên rằng trên đời còn có những niềm vui.
Trong một kỳ trước, tôi viết:
“Nếu ở Sài Gòn, mỗi ngày Trịnh Công Sơn dễ dàng CHỌN một niềm vui tưởng tượng, thì trong Thành Ông Năm anh em tù cải tạo chúng tôi phải cố TÌM một nguồn vui có thật.”
Nhưng ở Phú Quốc thì “nguồn vui có thật” không có đã đành mà “niềm vui tưởng tượng” cũng không thể tìm được. Bởi chúng tôi đã chán nản, tuyệt vọng!
Thực ra, đôi khi vẫn có những tiếng cười nổi lên đấy, nhưng không phải tiếng cười thoải mái, thích thú, mà là tiếng cười châm biếm, cay đắng, chịu đựng.
Trong tình thế tuyệt vọng ấy, có tin đồn một số anh em Hải Quân đã bắt liên lạc được với thuộc cấp cũ hiện sinh sống ở Phú Quốc để nghiên cứu kế hoạch vượt thoát. Bằng đường biển, dĩ nhiên.
Tôi so sánh vị trí của đảo Phú Quốc với những gì trong cuốn truyện “Người tù khổ sai” (Papillon) và tin rằng một cuộc vượt thoát từ Phú Quốc sang vịnh Thái-lan ra vẻ thuận lợi hơn nhiều.

* * *
Nhưng tới khi những anh em Hải Quân nói trên đã có kế hoạch vượt thoát, và chúng tôi đang chuẩn bị chào đón các đàn anh cấp đại úy và cấp tá từ đất liền ra địa ngục Phú Quốc, thì xảy ra một biến cố khiến kế hoạch vượt thoát phải hủy bỏ, đồng thời CSVN cũng phải tạm ngưng kế hoạch “biến Phú Quốc thành một trung tâm kinh tế hàng đầu của tỉnh Kiên Giang”, đó là việc quân Khờ-me Đỏ lại tiến đánh đảo Thổ Châu.
Đảo Thổ Châu nằm về hướng tây tây nam Phú Quốc, cách xa bờ biển Căm-bốt cả trăm cây số mà Khờ-me Đỏ còn dám đánh, thì nói gì tới Phú Quốc, chỉ cách Krong Kampot có 25 cây số, trong khi xa Hà Tiên gần gấp năm lần!…
Và một khi chúng đánh Phú Quốc thì rất có thể mấy ngàn tù cải tạo sẽ nhân sẽ lúc rối loạn mà trốn trại hay nổi loạn. Vì thế, ngay sau khi được tin cấp báo, nhà cầm quyền cộng sản trung ương đã ra chỉ thị phải đưa tù cải tạo ở Phú Quốc về đất liền trong thời hạn ngắn nhất!
Tất cả những tin tức, diễn tiến nói trên về sau chúng tôi mới được biết, còn ngày ấy chúng tôi chỉ biết đùng một cái, có lệnh chuyển trại cho nên ai nấy đều hoang mang.
Buổi sáng hôm ấy, toàn bộ đám sĩ quan trong trại sau khi xếp hàng ngoài sân đã được thông báo hôm nay không có công tác, rồi vào hội trường nghe Ban chỉ huy trại thông báo lệnh sẵn sàng chuyển trại.
Sau phần thông báo tới phần kêu gọi tù cải tạo tình nguyện đi theo “khung” (tức đơn vị coi tù) về Kiên Giang.
Đứng trước hai lựa chọn, một là phó mình cho số mệnh, trung ương muốn đưa đi đâu thì đưa, hai là theo “khung” về Kiên Giang để tiếp tục nằm dưới quyền sinh sát của họ, tuyệt đại đa số sĩ quan cải tạo đã chấp nhận thà đánh bạc với số mệnh còn hơn tiếp tục sống dưới bàn tay của đám hung thần!
Cuối cùng, ban chỉ huy trại đã giải quyết bằng cách căn cứ vào bản tự khai “lý lịch trích ngang”, những ai sinh quán ở Vùng 4 (đồng bằng sông Cửu Long) bắt buộc phải đi theo họ!
[Những gì sẽ xảy ra cho những anh em “xấu số” này là chuyện khó tin nhưng có thật, tôi sẽ kể trong một kỳ tới]
* * *
Ngay buổi chiều hôm đó, những người đã “gửi” tư trang vàng bạc cho cách mạng “giữ” được hoàn trả trong một cái bao nylon có ghi tên họ. Trong số những anh em tôi quen biết chỉ có một người bị thất thoát: gửi sợi dây chuyền với cây thánh giá nay chỉ còn sợi dây chuyền, nhưng anh không muốn khiếu nại vì sợ… bị bắt ở lại để chờ giải quyết!
Ngày hôm sau, đám sĩ quan chúng tôi được lệnh ăn cơm chiều sớm hơn thường lệ, rồi điểm danh và rời trại vào khoảng 6 giờ chiều. Ra khỏi trại, chân bước về phương nam (An Thới), bỗng dưng tôi cảm thấy hơi choáng váng, không phải vì yếu mệt mà vì tôi như đang ở trong một giấc mơ… Định thần lại, tôi biết mình không mơ, mà tôi thật sự đang bỏ địa ngục Phú Quốc lại sau lưng…
Tới An Thới, chúng tôi thấy một chiếc tàu há mồm đã chờ sẵn, nhưng lớn hơn chiếc HQ-405 nhiều, đó chiếc dương vận hạm HQ-501 Đà Nẵng (sau này CSVN trong khi vẫn giữ phiên hiệu HQ-501, đã đổi tên thành Trần Khánh Dư, vốn trước kia là tên chiếc khu trục hạm HQ-4 của Hải Quân VNCH).

Chiếc HQ-501 trước kia là tàu đổ bộ USS Maricopa County, LST-938 của Hải Quân Hoa Kỳ.
LST là viết tắt của “Landing Ship, Tank”, loại tàu đổ bộ hạng nặng, trọng tải hơn 4000 tấn, phía dưới là hầm chứa chiến xa, phía trên là boong tàu để chở binh sĩ, có khả năng tiếp nhận phi cơ trực thăng.
Thấy chiếc dương vận hạm, anh em tù cải tạo gốc Hải Quân cho chúng tôi biết với trọng tải gần gấp 6 lần chiếc hải vận hạm HQ-405, chiếc HQ-501 bất chấp sóng to gió lớn, chạy rất đầm, rất êm.
Thế nhưng thay vì lên boong tàu, đoàn tù cải tạo lại được lệnh đi xuống hầm chứa chiến xa, cả ngàn người ngồi chen chúc nhau. Khi tàu kéo tấm bửng lên và đóng hai cánh cửa ở mũi tàu lại thì hầm tàu trở thành một cái hộp kín mít, với chút ánh đèn điện vàng khè.
Không khí dưới hầm càng lúc càng trở nên nóng bức và khó thở. Tàu chạy được hơn một tiếng đồng hồ thì ai nấy mồ hôi đầm đìa, phải cởi hết quần áo trừ cái quần xà-lỏn.
Khác với chuyến đi ra Phú Quốc trên chiếc HQ-405, tù cải tạo ngồi dưới sàn, phía trên là bộ đội canh gác, được nhìn thấy chút trời xanh, được hít thở không khí trong lành, trong chuyến trở về, ngồi dưới cái hầm kín mít của chiếc HQ-501, chúng tôi hoàn toàn bị cô lập, với thiên nhiên, với con người, anh em nào mắc tiểu tới mức không thể nín được, đã phải “xả nước” vào thành tàu.
Mấy anh em gốc Hải Quân chỉ cho chúng tôi thấy mấy cái quạt hút thật lớn ở phía trên nhưng không có cái nào chạy, không hiểu đã bị hư hết hay chỉ vì đám cán bộ cộng sản muốn hành hạ tối đa những kẻ thù bị sa cơ thất thế?!
Tới quá nửa đêm, một vài anh em không còn có thể chịu đựng được tình trạng ngộp thở nữa, hay viết một cách khoa học hơn, tình trạng thiếu oxy đã khiến não bộ con người không thể hoạt động bình thường, bắt đầu chửi rủa “Việt Cộng”. Cho tới nay, tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh một người bạn tù trần trùng trục, đứng ưỡn người nhìn lên boong tàu, vừa vỗ hai tay vào ngực mình vừa hét lớn:
– ĐM Việt Cộng! Tụi mày có ngon cứ bắn tao đi, tao chết sướng hơn… ĐM tụi bay…
Anh cứ lập đi lập lại câu chửi ấy nhưng không thấy bất cứ phản ứng nào từ phía quân thù, mặc dù, theo sự quan sát của tôi, luôn luôn có mấy tên vệ binh canh chừng sau mấy cái khung sắt ở hai bên thành tàu.
Trong những điều kiện tồi tệ cùng cực, dĩ nhiên không một anh em tù cải tạo nào có thể ngủ. Nhưng thật tình mà nói, có người nào ngủ hay có người nào chết, tôi cũng không thể biết bởi vì đa số đều nằm bất động như nhau!…
Khoảng trưa ngày hôm sau, chiếc HQ-501 thả neo, mở hai cánh cửa trước mũi, hạ bửng để tù cải tạo có thể ra phía trước tiểu tiện, và tôi lại nhìn thấy Núi Lớn: Vũng Tàu!









Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 18 May 2025

15. Quanh co quần đảo/Cuối/

Trong cuộc đời tù đày có hình thức di chuyển nào phóng khoáng cho bằng được đi riêng rẽ, có hộ tống đặc biệt? Nhiều thằng Zek từng đi đảo hay đính chính từ đảo này sang đảo khác gần như du khách đi tự do, nhưng dù sao vẫn tối thiểu số. Riêng phần tôi trước sau được 3 lần hộ tống đặc biệt. 
Phải là giới chức cao cấp mới có quyền chỉ định một vụ hộ tống đặc biệt. Xin đừng lầm với lệnh trưng tập đặc biệt. Đi trưng tập vẫn phải sinh hoạt chung một xe với đám đông, chịu chung luật đính chính như mọi người. Đến nơi mới được tách riêng để đãi ngộ đặc biệt, trong lúc di chuyển vẫn có thể gặp nhiều chuyện. 
Thí dụ như kỹ sư Ans Bernsthein đang nằm trong một trại Cải tạo mạn Bắc bị trưng tập đặc biệt xuống miền Nam sông Volga gia nhập phái đoàn Canh nông. Đi dọc đường cũng phải nghiến răng chịu đựng mọi sự hành hạ cực khổ, lính hộ tống chửi mắng đánh đập, chó bẹc-giê táp như ai! Xuống ga xép Zenzevatka bỗng có một ông giám thị ra đón, không xách súng mà còn tiếp đón lịch sự. Hắn vừa che miệng ngáp vừa nói: 
“Bây giờ tối rồi. Khuya nay ông ở tạm nhà tôi. Ông có thể đi dạo chơi quanh quanh ngoài phố sáng mai tôi sẽ đưa vô Trại.” 
Chao ôi, “ông có thể đi dạo chơi quanh quanh ngoài phố”. Còn gì sung sướng, bất ngờ bằng! Lãnh án đi đày 10 năm, cuộc đời kể như bỏ, suốt ngày chen chúc như chó trong toa xe tù Stolypin, sáng mai sẽ lại nhập Trại, ai dám ước ao đi dạo chơi quanh quanh? Ans Bernsthein hồi hộp bước ra ngoài mảnh vườn nho nhỏ xếp ga, lắng nghe đàn gà về chuồng kêu ríu rít, đứng ngó mấy bà bạn hàng nhà quê thu dọn những hũ bơ, những trái dưa còn ế mang về nhà. Hắn ngơ ngẩn thử cất bước coi sao, một bước, hai bước, ba bước, Hắn bước đi tới bước thứ 5 mới dám tin là không bị lính gác kêu giật ngược: “Ê thường kia, đứng lại!”. Mừng mừng tủi tủi Ans Bernsthein đưa tay sờ từng nhánh xương rồng ngoài hàng rào. 
Đi hộ tống đặc biệt là đặc biệt ngay từ đầu. Khỏi đi toa Stolypin, khỏi bẻ quặt tay sau lưng, khỏi ngồi bệt xuống đất đếm đầu, khỏi lột truồng ra xét. Lính hộ tống coi bộ nể vì, thân thiện. Có bắt buộc phải cảnh cáo theo thủ tục áp tải cũng chỉ nhẹ nhàng: 
“Ông bạn đừng chạy hoảng nghe? Buộc lòng tụi tôi phải nổ đấy! Tụi tôi thằng nào trong túi chẳng có súng sáu lên đạn sẵn? Tụi tôi phải dặn hờ trước vậy để ông bạn đi đứng cho tử tế, tự nhiên, đừng để bà con thấy đang bị áp giải.” 
Tôi đã được đãi ngộ tốt như thế đó! Vậy thì gây rối làm chi cho sứt mẻ mối liên hệ lưỡng lự giữa nhà nước và công dân? 
Phải nói là cuộc đời tù tội của tôi “lên hương” sau bữa ra sắp hàng trong toán thợ mộc. Coi, mới làm thợ có ít ngày mấy ngón tay quen cầm bào đục đã muốn co quắp, duỗi ra thấy ngượng nghịu rồi! Gã cặp rằng ban mộc kéo tôi sang một bên rỉ tai: “Anh bạn, in hình có lệnh của Bộ trưởng Nội vụ thì phải.” 
Tôi choáng người: Lệnh gì đây? Lúc tan hàng mấy gã Công vụ, có vai vế nhà lao bèn bu lấy tôi. Kẻ thì: “Chắc anh bị một củ nữa quá” nhưng mấy người khác nhất định: “Trả lại tự do”. Có lệnh Bộ trưởng Nội vụ, đồng chí Kruglov đâu phải chuyện chơi? Ngay tôi cũng chẳng biết mịnh sắp bị chồng thêm án, hay phóng thích nữa! Tôi quên khuấy vụ phái đoàn Trung ương tới Trại cỡ nửa năm trước chỉ thị lập hồ sơ kiểm tra. (Hồi đó chiến tranh vừa dứt, con dân quần đảo có lệnh kiểm tra hết. Trại nào cũng có chỉ thị xúc tiến gấp, nhưng đã hoàn thành thế nào được?) 
Hình như trong bảng lược giải cá nhân của từng thằng Zek mục quan trọng nhất là “nghề nghiệp, chuyên môn”. Thằng nào chẳng tính toán trong đầu, xét coi nghề gì có giá nhất trong Quần đảo là tương đại vào? Nào thợ hớt tóc, thợ may, thủ kho, thợ làm bánh, Riêng tôi, sau khi nhíu mày suy nghĩ một chút, thản nhiên điền vô ô trống: Vật lý nguyên tử. Sự thực tôi có nghề này bao giờ! Mớ kiến thức nguyên tử loanh quanh “những điều nghe thấy” ở Đại học từ thời tiền chiến. Tối đa trong đầu tôi cũng chỉ có năm bảy ký hiệu nguyên tử vớ vẩn, mấy phương trình loạc choạc. Nhưng tôi cứ khai bừa vật lý học nguyên tử, vì năm ấy mới là 1946 còn cần ban nguyên tử quá mà. Vả lại tôi có đặt nặng vấn đề kiểm tra lý lịch, hồ sơ quần đảo đâu? Tôi khai nghề nghiệp rồi quên liền. 
Bọn Zek tụi tôi thằng nào chẳng tin là giữa quần đảo ngục tù có những hòn đảo biệt lập vô cùng sung sướng? Chẳng hiểu những hòn đảo thần tiên đó có thực không hay chỉ là, những thiên đường trong huyền thoại. Đó là một sự thực chưa kiểm chứng nhưng cũng chưa bị ai cải chính bao giờ. Nó kín lắm, bí mật lắm. Có ai biết nó nằm đâu? Mà có biết, có ở cũng chẳng tiết lộ! Nội khoản thực phẩm ở đó cũng thiên đường. Sữa tươi, mật ngọt ê hề. Hột gà, kem tươi làm chuẩn. Chỗ ở sạch sẽ, thảnh thơi, ấm áp là cái chắc. Chẳng phải làm gì mệt nhọc. Chỉ hướng đầu óc về sự tìm tòi, phát minh – tất cả đều mật tối mật. 
Những lần di chuyển đặc biệt đó tôi có cảm giác lâng lâng rõ ràng mình phải là người cõi khác mà người trần mắt thịt làm sao nhận ra. Bọn họ thấy sao nổi nhưng mình, nhìn thấy hết, biết hết! Thực vậy, tôi như chìm đắm vào một biển cả tự do ở sân ga có dịp chen vai thích cánh với những người là người, thấy tấm bảng kế bên dù chẳng liên quan gì cũng cứ ngẩn ngơ ngó. Ngồi dựa lưng trên băng xe toa hành khách, tai tôi lắng nghe những mẩu chuyện vô nghĩa, vô duyên. Nào chuyện thằng chồng vũ phu, gã sở khanh bỏ nhà. Nào chuyện nàng dâu, chuyện mẹ chồng. Những đứa ở công ốc xài điện câu trộm ở hành lang mà bước vô nhà không thèm chùi chân. Những chuyện vu vơ ở sở ấy sở nọ. Có thằng có chỗ làm ngon hơn nhiều mà phân vân không muốn dọn nhà. Nồi niêu soong chảo bao nhiêu thứ bộ mỗi lúc dọn dễ lắm sao? 
Những mẩu chuyện dấm dớ lọt vào tai tôi hết. Nghe chịu không nổi, đúng là chuyện của những người trần mắt thịt, những đứa u mê bưng kín mắt, miệt mài chẳng biết gì hết. Sống như vậy mà tưởng đã là sống thiệt sao, hỡi ơi! Phải như thế này, phải như tôi mới gọi là sống. 
Giữa bọn họ và tôi là cả một vực thẳm. Ngồi gần nhau trong gang tấc nhưng tuyệt nhiên không thể hoà đồng, không thể đụng chạm, cười khóc cùng. Xét ra cùng ngồi đây nhưng tôi chỉ là một hồn ma, bọn họ là người, bọn họ có thực thể! 
Làm sao có thể truyền cảm với họ, cho họ biết họ thấy…? Bằng cách giao cảm, bằng huyễn ảnh, một giấc mơ chăng? Họ là người, đồng loại, đồng bào tôi đấy! Họ đang sống đấy! Này giữa đêm đen âm u, lặng ngắt những cánh cửa khám tử tù bật mở, có những con người bị nắm đâu, xách đi bắn bỏ. Giữa giây phút này, cũng đang ngồi xe lửa như thế này ở một đoạn đường nào đó, có những con người nuốt trộng mẩu cá khô, lưỡi rát bỏng thè ra liếm đôi môi khô. Có những con người cũng ngồi xe lửa giờ này đang ước gì được duỗi chân một lát cho sướng, đi cần được một cái cho thoả thuê. Này ở Orotukan đó, có những con người phải đợi hè về, cắm cúi đào lớp đất sâu 1 mét lúc ấy vừa rã băng mới chôn được những xác khô, những con người vừa ra đi trong mùa băng giá. Này phải chi được sống tự do để ngước nhìn trời xanh nắng chiếu, để uống một miếng nước hoặc được duỗi chân ra, đi lại không bị áp giải. 
Như vậy đó, chùi chân hay không chùi chân có nghĩa gì? Chuyện mẹ chồng, chuyện nàng dâu là cái gì? Mà sống trên đời này để làm cái gì đã nào? Mấy người muốn nghe không? Tôi sẽ kể ngay bây giờ. 
Tôi kể chớ. Tôi muốn nói đừng cắm cúi chạy theo tiền tài danh vọng. Bao nhiêu tâm sức trong mấy chục năm trời chỉ cần một đêm là mất sạch. Sao không vượt ra, đứng trên hẳn cuộc đời này, để hoạ không sợ, phúc chẳng màng? Xét cho cùng hoạ hay phúc thì cũng như nhau. Chẳng hoạ mãi bao giờ cũng như phúc chẳng thừa đến tràn trề. Cuộc đời nếu lạnh không chết cóng, bụng không biết đến đói khát là đủ. Chân tay còn nguyên vẹn, cử động và đi đứng được, lưng chưa gãy gập và mắt còn sáng tai còn tỏ là đủ. Không ao ước, không thèm thuồng để tự hành hạ mình. Hãy dụi mắt và làm mới con tim: trên đời này còn gì quý bằng những người có tình cảm với mình, chỉ mong cho mình khá? Với những người ấy đừng giận dữ, trách móc, làm buồn họ. Biết đâu chừng vừa sanh sự với nhau, là mình bị bắt và cử chỉ cuối cùng của mình sẽ vươn vấn họ suốt đời? 
Tôi muốn nhắn nhủ với họ như vậy nếu 2 ông hộ tống không gõ gõ báng súng sáu nhét trong túi. Tôi nhớ ra ngay nên ngồi yên lặng, ngồi đàng hoàng như hai người bạn đồng hành hai bên. 
Tôi đưa tay chùi mồ hôi trán, nhắm mắt lại rồi mở ra. Vẫn lù lù trước một mặt bọn người không bị áp giải. Không thấy lính canh. Tôi thấy tối đêm rồi nằm xà lim, đêm mai vẫn xà lim. Có bóng người lù lù, nhưng chỉ là gã soát vé đi kiểm soát. “Có chứ. Vé tôi đây.” 
Toa xe hôm ấy đông. Nhưng đông khách chớ không đông người nằm chui gầm ghế, người ngồi bó gối dưới sàn, người choán đường đi. Hai ông hộ tống dặn tôi ngồi đứng tự nhiên như mọi người. Tôi tự nhiên chớ sao? Rất tự nhiên tôi đứng bật dậy, mau mắn chạy tới chiếm chiếc ghế trống ngay sát cửa sổ. Tôi ngồi vào chỗ. Mấy ghế bên cạnh có người cả rồi. Hai ông hộ tống ngồi nguyên chỗ cũ, những cặp mắt âu yếm không rời tôi. 
Đến ga Perebory bỗng có một ghế trống trước mặt. Một ông hộ tống nhấp nhổm tính sáng choán chỗ nhưng không kịp. Nhanh như cắt một kẻ lạ mặt đã ào vô ngồi. Khuôn mặt hắn no tròn, áo khoác da cừu, khăn choàng cổ cũng lông cừu. Hắn còn xách theo chiếc rương gỗ, giản dị nhưng chắc chắn: đúng là sản phẩm của quần đảo! 
Có một chỗ ngồi rồi, hắn thở phào sung sướng. Đèn ca-bin sáng mờ mờ, mặt hắn đỏ rừng. Chắc lên xe vội vã lắm, lại nhậu khá say. Quả nhiên hắn lôi đâu ra một chai la-ve, giơ lên cho tôi coi và thân mật mời: “Có la-ve đây, làm một ly không, đồng chí?” 
Làm gì tôi chẳng biết hai ông bạn hộ tống ngồi ghế bên kia đang khó chịu dữ? Tôi đâu được phép uống rượu, bất cứ một thứ rượu gì. Nhưng họ lại căn dặn “phải xử sự, đi đứng sao cho thật tự nhiên” mà. Vậy tôi phải tự nhiên. Rượu có người mời, từ chối sao tiện? Tôi bèn gật đầu: “La-ve hả? Được lắm chớ.” 
(Chao ôi, la-ve! Cả một bài thơ tuyệt tác. Từ 3 năm nay tôi đâu có diễm phúc tợp một ngụm la-ve. Trời ơi, vô xà lim ngày mai tôi có quyền khoe ầm lên: “La-ve hả? Hôm qua vừa uống xong!”) 
Hắn rót ra một ly mời tôi. Tôi cầm lấy, làm một hơi dài, khoan khoái đến rùng mình! Lúc bấy giờ đã tối hẳn, trong toa xe đâu có đèn điện. Bao nhiêu năm chiến tranh mà. Chỉ có một mẩu đèn cầy nho nhỏ đặt trong cây đèn cổ lỗ treo ở cửa: mỗi ca-bin có hai hàng ghế ngồi châu đầu mà 4 ca-bin mới chia nhau một cây đèn cầy. Cho nên hắn ngồi ghế đối diện mà mặt mũi ra sao tôi chỉ thấy mờ mờ. Nếu tôi nói chuyện nho nhỏ đủ nghe thì ông bạn hộ tống muốn nghe lén cũng không nổi vì tiếng bánh xe nghiến xuống đường rầy rầm rập. Ông bạn la-ve coi bộ dễ tính quá, tôi đã tính chuyện nhờ vả. Trong túi tôi có sẵn 1 bưu thiếp, ghi sẵn địa chỉ gia đình. Nhờ hắn bỏ thùng thư giùm chắc được. Hắn làm gì chẳng hiểu hoàn cảnh tù tội, coi cái rương gỗ kia là biết liền. Chưa kịp mở lời hắn đã xuề xoà cho biết: 
“Gớm, hồi này khó khăn quá! Mãi mới có cái giấy đi phép thường niên. Mà hai năm chưa biết đến nghỉ phép là gì đấy! Thật không có ngành nào khổ sở khó khăn bằng!” 
“Ngành nào mà ghê thế?” 
“Ủa, không biết hả? Tôi An ninh Quân đội, MVD mà. Dân cầu vai xanh mà. Thấy cầu vai xanh bao giờ chưa?” 
Chết cha! Giản dị vậy mà tôi không đoán ra, Ga Perebory là trạm chánh đi vô Trại Vologag mà. Thấy chiếc rương đặc biệt quần đảo là tôi phải hiểu nó ở đâu ra, chủ nó thuộc hạng người nào rồi. Kỳ lạ, ca-bin xe một thằng Zek hai ông MVD hộ tống đã là nhiều. Giờ lại có thêm một MVD nữa. Quanh đây dám có một ông thứ tư và toa này cũng dám có một thằng đang được hộ tống như tôi. 
Ông bạn MVD đi nghỉ phép cứ cằn nhằn, phàn nàn luôn miệng. Cơ quan sao khó quá, hai năm trời mới biết đến tấm giấy nghỉ phép! Tự nhiên tôi thấy cần phải xỏ vô người khi không lãnh 10 năm chẳng về phép một lần thì không biết còn khổ đến chừng nào?. 
Nghe tôi đụng đến địa hạt cấm kỵ hắn vội nín khe. Mãi đến sáng hôm sau cũng không nói thêm một câu. Nãy giờ đèn mập mờ chắc hắn yên chí tôi cũng lính tráng gì đây, sơ-mi nhà binh, áo nửa nhà binh nửa dân sự mà. Nhưng thực sự tôi là cái gì thì biết đâu đấy. Dám Công an nhân dân lắm. Hay nhân viên Nội An đi truy nã bọn đào tẩu không chừng. Toa xe này là thứ đặc biệt, đâu phải ai lên ngồi cũng được. Có mặt tôi sờ sờ mà hắn dám chỉ trích, phàn nàn Cơ quanthì…. 
Lúc bấy giờ đèn cầy vừa tàn, bấc đèn còn cháy vớt. Trên ngăn để hành lý trống trơn có gã trẻ tuổi nằm từ hồi nào. Nghe bà con trò chuyện hắn cũng lên tiếng góp, vui vẻ kể chuyện chiến trường, những mẩu chuyện chẳng đặc sắc gì nhưng không có trong sách báo. Hắn ở một đơn vị Công binh chiến trường nên mắt thấy tai nghe những gì kể lại trung thực, không đánh bóng, không tô vẽ. Vì là chuyện thực nên bà con nghe chăm chú lắm. 
Phần tôi thiếu gì chuyện hay, chuyện lạ. Tôi cũng muốn kể lắm chớ. Nhưng thôi, nhắc làm chi những chuyện đã qua hẳn rồi. Đồng ý 4 năm chiến đấu thật nhưng tất cả đã tan biến hẳn. Ngay tôi cũng không ngờ có những chuyện như vậy đã xảy ra. Không muốn nhớ nữa. Hai năm quần đảo đã bôi xoá sạch, nào ký ức Chúa Trời, nào tình đồng đội tiền tuyến. Có còn gì đâu? 
Thì ra nằm Trại Cải tạo 2 năm vừa có dịp ở mấy giờ giữa khối người tự do tôi đã cảm thấy lạc lõng, câm nín. Muốn nói nhưng không nên lời, tay như bị trói buộc. Đây không phải đất sống của tôi nữa rồi. Tôi muốn trở về, trở về đất cũ, về quê hương tôi nơi Trại Cải tạo! 
Sáng ra tôi cố tình để quên tấm bưu thiếp ở ngăn hành lý bên trên. Thế nào chẳng có nhân viên Hoả xa lên quét dọn toa xe hàng ngày? Một mụ lao công nào đó chắc chắn sẽ lượm được nó và nếu còn là người, còn có lương tâm mụ sẽ nhặt lên, bỏ giùm vô thùng thư. 
Xe lửa dừng. Chúng tôi ra ga, ga miền Bắc Mạc Tư Khoa chớ xa lạ gì. Hai ông hộ tống đâu có biết đường phố thủ đô. Tôi lại phải làm hướng đạo. Đi, tụi mình đi xe điện hạng B. Xe điện thì bến xe ở chỗ giữa Công viên kia. Giờ này buổi sáng là giờ đi làm chuyến xe nào chẳng đông? Một ông hộ tống vội bước lên, tới cạnh mụ lái xe điện chìa tấm thẻ hành sự MVD ra. Chúng tôi lên toa xe trên, nghiễm nhiên có quyền đứng sừng sững làm như nghị viên thành phố vậy. Lại khỏi móc tui mua giấy xe nữa! Toa xe này có phải ai muốn lên cũng được đâu. Già cả, què cụt cũng phải xuống toa dưới, ráng mà chen chúc. 
Sắp tới ga xe điện Novoslobodskaya, chúng tôi chuẩn bị xuống. Quả thực đây là lần đầu tiên tôi được quan sát khám Butyrki từ phía ngoài. (Còn nằm khám này thì đã nằm đúng 4 lần, nhắm mắt cũng vẽ được bản đồ đầy đủ chi tiết!) 
Chao, không ngờ Byturki đồ sộ đến thế! Nó chiếm trọn hai khu phố liền, vách cao sừng sững. Cửa lớn đây kia, phải nói là thấy cánh cửa thép của nó kéo vẹt sang một bên là dân Mạc Tư Khoa nhiều anh rét! Nhưng tôi thì dễ quá: Rời bỏ vỉa hè tự do bên ngoài, tôi đi thẳng vô chòi canh trấn trước cửa lớn thản nhiên như đi về nhà mình vậy. Này phần ngoài cùng, mấy cánh cửa lớn gỗ chạm kia tôi còn lạ gì. Sau đó hẳn là mục kê khai và kiểm soát lý lịch. Ai chẳng phải quay mặt vô vách nghe câu hỏi quen thuộc: “Tên gì, họ gì, tên lót, năm sinh…” 
Tên tôi ư? Tôi là Hồn đi hoang ngoài vũ trụ. Xác thân bị buộc chặt rồi nhưng hồn thì bay bổng vô phương cầm giữ. 
Tôi biết chứ. Vô đây là thân xác sắp trải qua một đợt thủ tục nhập môn thường lệ, đúng thứ tự. Nào phòng tạm giam, nào khám xét, nào biên nhận vật dụng ký kho, rồi ghi danh vô sổ cái, rồi tắm người, rang quần áo. 
Xong ngần ấy cửa ải là vô tới xà lim. Căn phòng lớn, trần cánh cung, 2 đầu vòm cao tuốt (xà lim Byturki mà). Thế nào chẳng có hai cánh cửa mở rộng, một dãy dài bàn, hộc tủ, Đám người trong đó mặt nào chẳng khôn ngoan, săn đón, thân thiện? Có thằng mới vô thế nào chẳng có vụ tay bắt mặt mừng, giới thiệu hỏi han, rồi chuyện qua chuyện lại dứt không ra, quên cả buồn ngủ. 
Mấy chén, bát được phân phát. Chiếc nào chẳng dánh dấu rành rành BU-TYUR như nhau? Ra điều vật dụng sở hữu của BUtyrskaya TYURma, tức Khám đường Byturki, nhưng riêng với chúng tôi lại là Trung tâm săn sóc sức khoẻ đệ nhất hạng. Nó nằm sờ sờ ngay giữa lòng thủ đô mà tiếc thay mấy ông lớn bệ vệ, thừa mỡ không để ý. Muốn bớt đi ít nhiều ký mỡ dư họ bày đặt đi tới Kislovodsk để uốn mình đúng một tháng trời theo phương pháp khắc khổ: Ngày ngày đi bộ đường rừng, chống tay nâng lên hạ xuống tập cốt cho đổ mồ hôi. May ra bớt được từ hai tới ba kí lô mỡ tối đa. Phải chi vô Trung tâm săn sóc Byturki thì xong ngay! Chẳng cần tập luyện theo phương pháp gì, chỉ ngồi một chỗ và trong vỏn vẹn một tuần lễ là vị nào cam đoan cũng mất được 8 kí lô thịt sắp lên. 
Đó là phương pháp điều trị Byturki, từng thử thách đã nhiều và chưa bao giờ thất bại.°

Một trong những sự thực anh học được trong tù là thế giới quá nhỏ hẹp, nỏ hẹp quả. Quần đảo ngục tù thuộc hệ thống Gulag trải rộng khắp Liên bang Xô Viết thực nhưng thưa dân hơn nhiều, làm sao bằng nổi? Dân quần đảo được bao nhiêu? Chẳng ai biết con số chắc chắn nhưng cam đoan không lúc nào dưới 12 triệu con người, xét vì một kẻ về với đất là một kẻ sẽ được Bộ Máy đưa vô trạm ngay tức khắc 1. Trong 12 triệu tù thì tù chính trị tối đa chỉ chiếm một nửa tức 6 triệu người. 
6 triệu con người bị giam vì chính trị! Thụy Điển, Hy Lạp dân số cũng chỉ ngần ấy là cùng. Lạ một điều dân quần đảo đông thế mà thiếu gì người biết nhau. Nói tên ra là nhận quen liền. Chẳng hạn như trong xà lim khám tạm dọc đường, anh vừa đặt chân vô thì sau một hồi thăm hỏi gần xa kể như chắc chắn sẽ lòi ra một kẻ từng quen biết một vài bạn anh. 
Trường hợp Alexander D. mới lạ lùng. Nhốt cát-xô trên một năm, sau khi đi Sukhanovka bị đồng chí Ryumin đích thân tra tấn, nằm nhà thương ra, mới được tống vô loa Lubyanka. Vậy mà vừa vô xà lim, cho biết tên họ đã có một người chạy tới thân mật vỗ vai: 
“Chà, nghe đại danh đã lâu bây giờ mới gặp mặt.” 
Người lạ mặt vồn vã hỏi thăm và xưng danh F.. Với quá nhiều kinh nghiệm ở tù, Alexander thấy tốt hơn là né trước: 
“Ô hay, ông bạn là ai? Tôi nhớ chưa được gặp.” 
“Đúng chưa gặp! Nhưng quen thì có thể nói lâu rồi. Từ ngày…” 
“Ủa, từ ngày nào?” 
“Từ ngày tôi còn tự do, đọc báo thấy tên ông bạn! Alexander D. công dân Mỹ phải không? Ông bạn là người Mỹ hồi đó báo chí tư bản phản động cứ vu cáo bị Nga bắt cóc làm thông tấn xã Tass phải cải chánh mãi. Có phải Alexander D. đó không?” 
“Đúng là tôi!” 
Tôi chịu những lần có thêm một dân cũ nhập xà lim. Phải là dân cũ, những tay từng tù ngục quen, chớ chẳng phải một tay mơ vừa bị nắm cổ lần đầu, vô xà lim là rầu rĩ, xuống tinh thần chán chết! Chính tôi cũng còn khoái giây phút đầu tiên gia nhập xà lim mà. (Cũng may, nhờ Trời tôi không bị thêm lần nào nữa!) Miệng tươi cười, tay đưa lên chào chung: “À, anh em nhà cả!” 
Lần này tôi cũng cười cởi mở và chào như thường lệ, quăng ba lô ra sàn và có lời thăm hỏi: “Thế nào, các anh em? Một năm nay mới trở lại, Byturki có gì thay đổi, có gì lạ?” 
Thế là trò chuyện trao đổi. Có một tay xưng tên Suvorov, 58 tuổi. Nhìn qua thì gã có gì đặc biệt đâu? Để ý nhìn một hồi cũng vẫn không ra. Hắn nói từng nằm Krasnoyarsk, chung xà lim với Matkhotkin. 
“Ủa, Matkhotkin! Phi công chuyên bay đường Bắc cực?” 
“Đúng! Tên hắn được…” 
“… được đặt cho một hòn đảo trong Vịnh Taimyr. Cũng bị điều 58, khoản 10 đấy. Sau bị đưa đi Dudinka.” 
“Đúng rồi! Sao anh bạn biết?” 
Tuyệt quá! Vậy là lại biết thêm được ít chi tiết liên quan đến một nhân vật đặc biệt mà tôi chỉ nghe tên, chưa hề thấy mặt. Có lẽ không bao giờ! Nhưng cuộc đời của phi hành gia Matkhotkin thì tôi nghe kể đã nhiều. Bản án, đi đày của hắn là bản án một phần tư, tức ¼ thế kỷ, tức 25 năm, nhưng hòn đảo Matkhotkin chẳng thể vì vậy mà đổi tên được! Nó có trên bản đồ thế giới công nhận chớ đâu phải bản đồ của riêng quần đảo. 
Dĩ nhiên bị đi đày Matkhotkin cũng được hưởng chế độ Sharashka và lãnh công tác chuyên môn ở Bolshino. Nhưng bị kẹt giữ một đám kỹ sư hàng không, lại không được phép bay thì phi hành gia Matkhotkin sung sướng sao được? Hắn được tách ra, gia nhập nhóm Taganrog và bị kiểm soát gắt gao. Ở Rybinsk, tôi nghe nói hắn cố xin phép được bay thám hiểm ở miền Bắc cực. Sau nghe nói hắn được phép bay. Dĩ nhiên tôi đâu cần biết tin tức Matkhotkin làm chi, nhưng nghe lời là nhớ hết! Mười hôm sau tình cờ đi tắm cùng ca với một gã tên R. nghe đâu nằm bệnh xá Byturki đã nửa năm và sửa soạn đi Rybinsk. Không quen biết R. nhưng tôi sẵn sàng kể chuyện nên chỉ 3 hôm sau anh em ở Rybinsk chắc chắn sẽ hay tin Matkhokin đi Dudinka cũng như tôi đã về nằm Byturki rồi. Ở một cấm địa như Rybinsk còn nghe tin tức ở đâu nếu không có hệ thống truyền tin đặc biệt giữa bọn Zek? Có người đi về, có người kể người nhớ là đi đày xa xôi tới đâu cũng biết hết tin tức. 
Trong xà lim có một gã đẹp trai đeo kính gọng sừng và ưa đi quanh quẩn trong phòng nghêu ngao một bài ca Schbert bằng một giọng thổ dễ thương: “Và tuổi trẻ một lần nữa đè nặng lên tôi. Con đường đến huyệt còn xa biết mấy”. À, tôi nhớ ra rồi: gã đúng là Sergei Romanovich Tsaraphin! 
“Này ông bạn, Ông bạn ở ngành Sinh vật học phải không? Ở Bá Linh, không chịu hồi hương chớ gì?” 
“Ủa, sao biết?” 
“Biết chứ! Trái đất này nhỏ quá mà! Năm 1946 tôi từng gặp Nikolai Vladimirovich Timofeyev Ressovsky…”

Trong phút chốc những gì đã xảy ra năm 1946 hiện rành rành trước mắt tôi. Cũng khám Bykurki. Xà lim Byturki tương đối đỡ khổ nhưng riêng xà lim 75 mà tôi bị tống vô năm đó quả là hách nhất trong cuộc đời tù tội của tôi. Lúc bây giờ là tháng 7, tôi được “triệu” từ Trại về theo lệnh của đồng chí Bộ trưởng Nội vụ. Đến Byturki vào buổi trưa, cũng qua ngần ấy thủ tục “nhập môn” nhưng 11 giờ sau mới hoàn tất chỉ vì tù quá đông. Tôi vô xà lim là, vừa đúng 3 giờ sáng. 
Xà lim 75 có 2 vòm cao thì 2 ngọn đèn chiếu sáng quắc, người nằm xép lớp như cá mòi, mồ hôi nhễ nhại, hơi thở nặng nhọc vì hầm quá! Có hai cánh cửa sổ thì “đậy nút” kỹ cả hai, không khí không vào lọt nổi. Nóng quá, người nằm ngủ thiêm thiếp, nhưng đàn muỗi đói lại hoạt động hơn bao giờ hết: Tiếng muỗi bay vo ve nghe đến sợ! Nhiều người lấy khăn tay đắp kín mặt để trốn muỗi mà cũng để che bớt ánh sáng ngủ cho dễ. Có dễ đến 80 người căn phòng cổ lệ chỉ chứa 25 là tối đa. 
Thảo nào hơi người hầm hập đến như vậy! Xà lim nóng bức cỡ này thì người cũng dám chín nhừ nói gì đến những thứ ăn có thể thiu thối được. Bằng cớ là từ phía trong góc kẹt hơi cầu tiêu – phân cộng nước tiểu cộng đủ thứ uế tạp – xông ra nồng nặc, gắt gao. Nhìn chung quanh chỗ nào cũng người nằm ngổn ngang: 12 giờ đồng hồ liền chưa được nghỉ ngơi tôi đã thấm mệt cùng cực mà chưa tìm thấy một chỗ trống khả dĩ ngã lưng đỡ được. Nhưng kinh nghiệm nằm xà lim quá nhiều, không lẽ tôi không thu xếp được một khoảng trống, để khỏi phải đứng sừng sững hay ngồi co ro đợi giờ điểm danh sáng. 
May quá, có rồi! Xà lim Byturki nào chẳng có một cái bàn gỗ vừa dùng làm bàn vừa làm tủ đựng đồ? Nó nằm đây kia, ai đã di chuyển tuốt vo góc kẹt cầu tiêu. Dọn dẹp qua một chút, rồi đẩy nó qua một bên là tôi “xoay sở” được một diện tích vừa đủ ngả lưng! Dĩ nhiên nằm kế cầu tiêu chẳng thơm tho sạch sẽ gì nhưng trong phòng này mọi chỗ khác cũng chẳng hơn bao nhiêu. Chỉ phiền là nằm choán đường đi, ai muốn đi cầu là phải bước ngang người tôi. Khó chịu thực, nhưng giờ này bà con còn lo ngủ bằng chết! 
Chợp mắt chưa được bao lâu đã nghe khẩu lệnh: “Hết giới nghiêm! Thức dậy hết.” Cả xà lim khởi sự đụng đậy, dọn dẹp. Chiếc bàn được đẩy trả về vị trí cũ là giữa hai cửa sổ. 
Bà con lúc bấy giờ mới nhận diện “người mới”. Vài kẻ may mắn chạy tới thăm hỏi mà cũng để đánh giá tôi, dân mới hay Zek thâm niên. Chỉ trao đổi nhau vài ba câu chuyện là tôi đã phân tích xong: Xà lim này gồm 2 thành phần rõ! Một là đám dân mới đang chờ đợi đi trại Cải tạo lần thứ nhất. Hai là những tay Zek thâm niên đang luân lạc trong quần đảo được gọi về để chuẩn bị chia đi các trung tâm kỹ thuật để phục vụ nhà nước bằng khả năng chuyên môn. Lớp thứ hai rõ ràng toàn chuyên viên: Không Vật lý cũng Hoá học gia, không giáo sư Toán cũng kỹ sư hoạ kiểu, Biết vậy là tôi vững tinh thần chán! Ít nhất cũng không bị đồng chí Bộ trưởng kéo đầu về Byturki để dộng thêm bản án nữa. 
Đúng lúc đó có một gã trung niên, vóc người to lớn nhưng gầy trơ xương, sống mũi cao bước lại gần tôi bắt chuyện. Hắn nghiêm nghị nói: 
“Xin tự giới thiệu với ông bạn, Tôi là Giáo sư Timofeyev Ressovsky, đương kim Chủ tịch Hiệp hội Khoa học và Kỹ thuật của Xà lim 75 này. Hiệp hội chúng tôi theo thông lệ sáng sáng sinh hoạt nội bộ sau cử phát bánh, địa điểm là dưới chỗ cánh cửa sổ. Ông bạn có đề tài hay ho gì thuyết trình xin cứ việc tự tiện. Có thể cho biết qua chủ đề chăng?” 
Vẻ mặt, cung cách của Timofeyev Ressovsky cũng như danh xưng của Hiệp hội “đặc biệt” làm tôi chới với. Vả lại giữa lúc nóng bức thế này tôi lại kềnh càng “đóng” nguyên bộ đồ Bắc cực thì không lúng túng sao được? Mấy ngón tay tôi còn co quắp vì lạnh, bàn tay còn nứt nẻ nhiều chỗ mà. 
Ra mấy chữ Vật lý nguyên tử mà tôi quẹt bậy vô ô trống “Nghề nghiệp, chuyên môn” trên tấm thẻ kiểm tra hồi đó không ngờ có ép phê thế đấy! Chỉ vì nó hay nhờ có nó mà tôi có mặt được ở xà lim 75 này, với danh nghĩa ghê gớm của một, nhà bác học nguyên tử! 
Thôi thì đã lỡ “đi lạc” vào lãnh vực khoa học nguyên tử tôi đành phải sắm vai trò, bác học Vật lý chớ sao? Nếu Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật xà lim 75 đã hạ cối mời đăng đàn thuyết trình một đề tài nằm trong phạm vi chuyên môn của mình là Vật lý nguyên tử thì tôi đành thuyết trình chớ sao? Nhưng tôi sẽ thuyết cái gì? Chủ đề nào? 
Lúng túng một lúc cũng phải có chủ đề thiệt. Chẳng là mới đây hồi còn nằm Trại, tình cờ tôi vớ được một tập sách nho nhỏ không hiểu từ đâu lọt vô. Tôi giữ lấy đọc trong hai đêm liền Bản Phúc trình Smyth, tài liệu chính thức của Bộ Quốc phòng Mỹ, phổ biến về trái bom nguyên tử đầu tiên. Hình như tập tài liệu mới được công bố vào mùa Xuân 1946. Đối với các hội viên của Hiệp hội thì đây nhất định phải là một đề tài mới, chưa ai được coi. Mang ra làm chủ đề thuyết trình để ra mắt anh em thì tuyệt vời! 
Quả nhiên về sau cử phát bánh mì sáng hôm đó, toàn thể hội viên (cỡ 10 mạng chứ mấy) hân hoan nhóm họp ở dưới khung cửa sổ bên trái xà lim 75 để nghe tôi “thuyết” chủ đề nòng cốt: Về trái bom A thứ nhất. Khỏi nói là tôi được chấp nhận làm hội viên thực thụ tức thì! Phúc trình Smyth dù sao tôi cũng còn nhớ và lỡ có quên ít chi tiết và chỉ hiểu lõm bõm một số chi tiết khác cũng chẳng sao. Đã có “đồng nghiệp” Timofeyev Ressovsky – nhân danh Chủ tịch Hiệp hội – đứng bên sẵn sàng bổ túc. Cũng nên ghi nhận là ông Chủ tịch đã nằm khám một năm và hoàn toàn mù tịt về bom nguyên tử. Vả lại tôi còn một vỏ bao thuốc lá và giấu được một mẩu viết chì. Tôi cứ việc thuyết, “đồng nghiệp” Nikolai Vladimirovich sẵn sàng dùng chúng thay bảng để rẽ ra 5, 7 cái đồ hình đồ biểu, để nối lời tôi giải thích tận đường những chi tiết kỹ thuật cần bổ túc. Phải nói là Nicolai đã trình bày và thuyết minh cụ thể và rành rẽ với một niềm tự tin, như chính hắn là một trong nhóm bác học Vật lý đã đẻ ra trái bom Alamos vậy!°

“Chủ tịch” Timofeyev Ressovsky là một mẫu người đặc biệt. Ngành chuyên môn của hắn là Sinh vật học và có thể coi như một trong những chuyên viên về truyền giống cừ nhất thế giới (ngay khi Timofeyev bị nhà nước Xô Viết cầm tù rồi, đồng nghiệp Zhebrak còn dám viết trên một tờ báo Gia Nã Đại, đặt Timofeyev lên trên bác học số 1 Lysenko. Vì cho rằng “Timofeyev mới đích thực nhà sinh vật học lớn nhất Nga Xô Viết, không phải Lysenko” nên năm 1948 chính Zhebrak cũng bị thanh trừng. Ngoài ra, nhiều sách giáo khoa Nga cũng ghi danh Timofeyev như một nhà Sinh vật học lớn của thời đại). 
Gặp Timofeyev Ressovsky, tôi có cảm tưởng cả con người hắn ta là tổng hợp của mọi thứ khoa học, quan điểm khoa học của hắn ôm đồm quá nhiều bộ môn chớ không chuyên biệt như các thế hệ khoa học gia sau này. 
Sự hăng say hiểu biết khoa học của Timofeyev dễ nể ở chỗ hắn vẫn ham hoạt động, sau một thời gian điều tra dài bị bỏ đói bỏ khát! Xét về gốc gác thì phía ngoại Timofeyev thuộc dòng giống đang suy tàn Kaluga ở vùng đồng bằng sông Ressa, phía nội là hậu duệ của Stepan Razin với dòng máu chắc nịch. Càng cứng đầu thì Timofeyev càng bị điều tra viên nặng tay, do đó hắn “lãnh đủ” hơn chúng tôi nhiều. 
Cuộc đời Timofeyev Ressovsky có thể gọi là lên hương kể từ 1922 khi nhà bác học Vogt gốc Đức (sáng lập viên Viện Não học Mạc Tư Khoa) yêu cầu chính quyền Xô Viết cử hai khoa học gia trẻ, lỗi lạc sang Đức để học tập dưới sự hướng dẫn của ông ta: Timofeyev đã được chọn cùng Tsarapkin. Hai mầm non bác học Nga được cử sang Bá Linh tu nghiệp, thời hạn công tác không hạn định. 
Do đó, sau khi tạo nhiều công trình khoa học đáng kể dưới sự hướng dẫn của Vogt, cả Timofeyev lẫn Tsarapkin đều không chịu về nước khi bị chính phủ Xô Viết triệu hồi năm 1937. 
Cả hai cùng gạt bỏ vấn đề chính trị và nhấn mạnh vì tinh thần phục vụ khoa học, họ không thể hồi hương để bỏ dở một công trình khảo cứu dài hạn theo đuổi từ 15 năm cũng như bỏ rơi đám hậu sinh đang được họ hướng dẫn trực tiếp. Dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu là không chịu để nhà nước lợi dụng danh nghĩa bác học vào công tác tuyên truyền trên đầu hai người từ đó, dù họ ở lại Bá Linh chỉ để phục vụ khoa học thuần túy và vẫn tự coi như công dân Nga thành tâm yên nước. 
Năm 1945 Hồng quân tiến chiếm vùng Buch (ngoại ô Đông Bắc Bá Linh) nơi Timofeyev Ressovsky có một cơ sở thí nghiệm Sinh vật học đồ sộ. Chính hắn ta đã đưa cả Viện ra đón mừng hoan hô đoàn quân giải phóng tiếp xúc tốt đẹp cũng như được hứa hẹn Viện sẽ được duy trì, vẫn đặt dưới quyền của Timofeyev Ressovsky. 
Bỗng một hôm có phái đoàn thanh tra Xô Viết ghé thăm và ra lệnh: “Cơ sở này phải gỡ ra, đóng thùng gởi về Mạc Tư Khoa!”. Ngạc nhiên quá, Timofeyev cực lực phản động: “Đâu được. Đây là một Viện Thí nghiệm Sinh vật học, phải bao nhiêu năm mới dựng lên nổi. Sinh vật di chuyển sao được?”. Phái đoàn làm bộ ngạc nhiên: “Ủa, không được hả?”. Ngay sau đó Timofeyev và Tsarapkin bị bắt và dẫn giải về Mạc Tư Khoa. Cả hai cùng ngây thơ, cứ tưởng không có họ Viện Nghiên cứu Thí nghiệm Sinh vật chắc chắn không hoạt động được. Viện không hoạt động thì Viện đóng cửa, Đảng và nhà nước không quan tâm. Nằm trong Lubyanka hai nhà bác học lãnh 10 năm tù và riêng ông Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật nằm Byturki vẫn vững tin không làm gì sai lầm. 
Riêng phần tôi dù nằm chung xà lim 75 vẫn lấy làm sung sướng. Như nhà hiền triết Epicurus từng nói, ai từng trải qua một loạt những bất mãn trong đời thì có sống vô vị cũng tự lấy làm thoả nguyện chán. Ở trại tưởng như vĩnh viễn, ngày ngày cong lưng lao động 10 giờ đồng hồ dầm mưa dãi nắng và đói lạnh thì còn gì hạnh phúc bằng nằm duỗi dài ngủ cho hết ngày, khỏi phải làm mà ngày ngày 500 gam bánh mì 2 dĩa súp nóng khi lòng trâu lòng bò khi thì thịt cá voi!
Nằm ngủ thì xà lim đông nghẹt, còn chỗ nào khá hơn gầm sàn? Chỗ này quá thấp, có ai nghĩ tới ngủ chui ngủ rúc thế này? Muốn vô dĩ nhiên phải chui luồn thảy cái áo vô nhờ đứa nằm trước trải ra giùm rồi nằm sấp từ ngoài trườn mình vô! Nền xà lim tráng hắc ín dơ dáy, gầm sàn một tháng quét một lần chứa biết bao nhiêu bụi bậm rác rưởi, vụn bánh, thức ăn từ sàn trên rớt xuống. Như vậy một ngày chỉ được đi rửa chân tay đúng một lần, không có xà bông! 
Ngủ chui rúc, khốn khổ như vậy vẫn còn sướng. Miễn cứ úp mặt xuống, ngủ được lúc nào là đỡ phải hành hạ con tim lúc ấy, ngày tháng rồi cũng qua mau. Ngoài đời hoạt động liên miên thì ngủ 8 giờ một ngày cũng phí thì giờ nhưng trong xà lim còn thiếu thốn trăm bề, tuyệt vô hy vọng thì ước gì ngủ nổi 14 tiếng! 
Nằm xà lim 2 tháng tôi ngủ liên miên, ngủ bù lại hai năm trời thiếu ngủ. Đổi chỗ liên tiếp, từ gầm sàn lên sàn trên gần cửa sổ, từ sàn xuống nền nhà, Tôi còn ngủ nữa nếu không tham gia sinh hoạt với các anh em. Buổi sáng họp Hiệp hội, chơi cờ, đọc sách, những cuốn sách truyền tay nhau đọc, chẳng bao giờ ế khách. Còn giờ đi dạo ngoài trời, một ngày 20 phút chớ đâu phải ít, mưa to gió lớn cũng đi. 
Sung sướng nhất là những buổi trò chuyện với anh em. Có Andreyevich Semyonov, một trong những cha đẻ của đập nước và nhà máy thủy điện Dnieper, kỹ sư Karpov cựu tù binh, Có Viktor Kangan, nhà Vật lý học khôn ngoan, có Voloda Klempner nhạc sĩ, Có gã tiều phu và thợ săn ở Vyatka, thâm trầm như mặt hồ. Có giáo sĩ Yevgeny Ivanovich Divnich phái Chính thống, không lo giảng đạo mà động nói là vác biện chứng ra hạ hắn tơi bời nhưng một năm tù đã mở mắt tôi nhiều thứ, hết dám mạnh miệng nói bướng, cái gì cũng: “Nói láo! Tư bản bịa đặt trắng trợn!”. Bây giờ chỉ vì thấy nhiều nên lập trường của tôi đâm yếu hẳn lúc nào không hay. 
Xà lim còn nhiều bạn bè nữa chớ? Năm ấy mới là năm thứ hai, các đợt tù binh từ Âu Châu hồi hương tiếp tục vô khám, cùng các kiều bào hải ngoại từ Âu Châu về, từ Mãn châu sang. Nhờ bọn họ mới biết tình hình bên ngoài, tin tức những người quen biết. Do đó tôi mới hay tin Đại tá Yasevich đã bị xử bắn. 
Chao ôi, thế giới nhỏ hẹp, quanh đi quẩn lại tôi lại gặp ông già Đức ngày nào mà tôi nhất định bắt vác va-li. Hồi đó ông ta bệ vệ lịch sự biết mấy, giờ đây ốm đau coi như xác chết. Thấy tôi làm gì ông ta chẳng nhận ra? Ông ngó tôi cười coi bộ thú vị: “Không ngờ ta lại gặp nhau đây!”. Dĩ nhiên không chấp trách cái vụ bắt làm phu khuân vác ở mặt trận Đông Phổ. Ông ta lãnh án 10 năm song chắc chẳng sống nổi hết án. Ngoài ông ta, xà lim 75 cũng còn một dân Đức còn trẻ, lớn con, suốt ngày lì lì (hắn có biết một tiếng Nga nào đâu). Khốn nạn, trên người hắn có còn một cái gì là Đức? Bao nhiêu thứ không dính vào người thì bọn kên kên đã lột bằng hết, chỉ vứt lại cho bộ quần áo trận hạng bét. Hỏi ra hắn là một phi công lỗi lạc của Đức, từng tham chiến quá nhiều. Lần thứ nhất xung phong vào trận chiến giữa Bolivia và Paraquay, lần thứ hai đánh Tây Ban Nha, lần thứ ba đánh Balan, lần thứ tu đánh Ăng-lê, lần thứ năm sang Cyprus và lần thứ sáu chống Nga. Là phi công ưu tú của Đức thì đương nhiên hắn không chừa bắn phá, sát hại cả đàn bà con nít do đó phải là “phạm nhân trước chiến tranh”, lãnh án đi đày cộng thêm năm an trí. 
Trong xà lim cũng phải có tay dù tù tội vẫn trung kiên với nhà nước (như ông Công tố Kretov) để lớn họng chửi: 
“Bọn chó chết phản cách mạng tụi bây phải nắm đầu bằng hết là đúng quá còn gì? Thân xác tụi bây lịch sử sẽ nghiền nát làm phân bón!” 
Ức quá nhiều thằng nạt lại: 
“Còn mày nữa, chính thân xác mày cũng đến phân bón chớ hơn chó gì.” 
“Tao khác. Tao đâu có phản cách mạng. Tao oan, nhà nước chắc chắn-sẽ xét lại…” 
Thế là cả xà lim ồ lên một loạt chửi rủa để một gã tóc muối tiêu vốn là giáo sư Nga ngữ được dịp đứng phắt trên bục, xoạc chân giang tay ra làm như Đấng Christ: “Này, các con cái của ta, hãy thương yêu, hoà thuận cùng nhau, các con!” 
Đấng “Cứu thế” vừa rao giảng là cả xà lim lại quay sang phía hắn ó ré om sòm. Một thằng hét lớn: 
“Con cái mày ở rừng Bryansk kìa! Tụi tao cóc con cái thằng nào hết. Tụi tao là con cái quần đảo!” 
Hết cơm chiều là giờ cho ra ngoài làm vệ sinh rồi bóng đêm xuống ngoài khung cửa sổ hũ nút, mấy bóng điện trơ trụi trên trần nhà bật sáng. Xà lim có lệ ngày gây gổ, cãi nhau chán, nhưng đêm về lại thân thiết như không có gì xảy ra! Từ chiều tối trở đi là hết gây lộn, tranh luận om sòm. Không trình diễn ca nhạc giúp vui thì kể chuyện đời cho nhau nghe. Chuyện nước ngoài là đề tài anh em hoan nghênh nhất va cũng là sở trường của Timofeyev Ressovsky: Hắn kể hết tối này sang tối khác về các nước Ý, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển. Bà con ở hải ngoại về thì kể chuyện nước Pháp, các xứ Balkoas, hết chuyện kiến trúc sư đại tài Le Corbusier đến chuyện tổ chức xã hội của loài ong, hay Gogol và tác phẩm. 
Buổi tối là lúc tiêu thụ nhiều thuốc lá nhất. Chỗ nào cũng có khói, khói bốc nghi ngút che kín như lớp sương mù. Khói phát sặc sụa vì không có lối thoát: Có hai cánh cửa sổ thì “đậy nút” kín cả hai còn gì? 
Lúc bấy giờ mới đến mục Thơ: Kostya, Kiula, một gã bằng tuổi tôi, mặt tròn cặp mắt xanh biếc hăng hái “đăng đàn” bằng cách nhảy lên trên bàn ngâm nga những bài thơ hắn vừa sáng tác trong tù 2. Giọng ngâm thơ của Kostya xúc động làm sao! Những bài thơ mang tựa đề Giỏ thăm nuôi đầu tiên, Bài thơ gửi vợ, Thơ cho con. Những bài thơ làm trong tù, đọc trong xà lim cho anh em nghe và do chính tác giả trình bày thì còn ai để ý nghe giọng ngâm của hắn cao hay thấp, thơ sai luật hay thất vận. Những bài thơ mang dòng máu của mọi con tim chất chứa nước mắt của những người vợ, nên nghe Kostya ngâm thơ cả xà lim khóc rưng rưng. 
Dĩ nhiên nằm xà lim 75 tôi cũng sáng tác ít bài thơ tù, cũng ngâm lớn những vần thơ Yesenin, những vần thơ không được chấp nhận nhưng chưa đến nỗi bị cấm phổ biến thời tiền chiến. Làm sao tôi quên nổi ánh mắt ngưỡng mộ, gần như ngơ ngẩn thất thần của chú Bubnov ngước lên, đeo dính từng vần. Bubnov cũng là tù binh Đức hồi hương sau khi bỏ học xung phong làm nghĩa vụ quân sự. Chao ôi, tuổi hắn còn quá trẻ lại không có ngành chuyên môn, đang nằm đây để chờ ngày đi nếm mùi trại Cải tạo thì chắc chắn sẽ bỏ thây ở quần đảo! Quần đảo đâu phải đất sống của tuổi trẻ hồn nhiên, trong sạch. Tôi nhìn Bubnov từ khuôn mặt, từ ánh mắt và không khỏi có cảm tưởng lớp tuổi này đang sa dần vào cõi chết vô phương cứu gỡ. Với bọn họ, xà lim 75 bất quá chỉ là một trạm dọc đường, một chỗ trú chân tạm để có dịp mở mắt nhìn đời, nhìn vào cả một thế giới đẹp xưa nay chưa hề thấy. Một niềm vui ngắn ngủi, dở dang vừa chớm biết là bước dần vào cõi chết. 
Khuya dần, cánh cửa nhỏ bật mở để ông giám thị chõ miệng vô hét: “Giờ ngủ”. Chao ôi, chính tôi cũng chưa bao giờ được sống những ngày trọn vẹn có ý nghĩa, những ngày chứa chan tình cảm như những ngày sống chung với anh em trong xà lim 75 mùa hè năm ấy! Kể cả những ngày trước chiến tranh và còn tự do, ngày ngày còn cắp sách đi đến hai trường Đại học vừa dạy học tư gia để kiếm sống và đêm về còn mài miệt viết không biết mỏi.

Còn Tsarapkin thì tình cờ tôi đã được nghe tin hắn qua một nhân vật đặc biệt, một chú bé vừa vặn 16 tuổi đầu mà mang bản án 5 năm, về tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Tôi vừa nhắc nhẹ đến tên Deul thì Tsarapkin vội vã hỏi: 
“Ủa, anh bạn cũng biết chú Deul? Nó cùng chuyến xe với tụi tôi, đi đày Karaganda.” 
“Tôi còn nghe anh bạn được đề bạt công tác đặc biệt, phụ tá chuyên viên phòng thí nghiệm, phải không? Còn Timofeyev Ressovsky thì cứ bị đi công tác không chuyên môn hoài hoài.” 
“Đúng thế! Chỉ vì vậy mà kiệt sức, đuối dần. Bữa lên xe Stolypin đưa về Byturki này thì Timofeyev chỉ còn là một cái xác không hồn. Được gởi vô bệnh viện tức thời và được Đặc ban số 4 chiếu cố, săn sóc kỹ lắm 3. Thực đơn bổ béo, có cả kem tươi và rượu chát kia mà. Nhưng theo ý tôi có chăm sóc đến mấy chưa chắc hắn đã đứng dậy nổi!” 
“Dĩ nhiên Đặc ban 4 cũng phải vời tới anh bạn chớ?” 
“Đúng vậy. Sau 6 tháng nằm Karaganda, đặc ban có cho gọi tụi tôi lên để hỏi ý kiến liệu có thể khởi sự dựng lại Viện Khảo cứu Sinh vật học trên quê cha đất tổ.” 
“Vậy thì anh bạn đồng ý là cái chắc?” 
“Còn hỏi! Đã đến lúc tụi tôi nhận ra mình tinh lầm hồi đó. Vả lại họ đã tháo gỡ trọn cơ sở của Viện, đóng thùng gởi về đây không thiếu một món, khỏi cần đến tụi tôi.” 
“Ra MVD cũng phục vụ khoa học ghê gớm nhỉ! Nhưng bỏ chuyện đó đi. Bây giờ anh bạn cho nghe tiếp Schubert đi…” 
Không cần đợi tôi giục đến lượt thứ hai, Tsarapkin nhẹ nhàng cất tiếng ca một khúc của Schubert, bằng tiếng Đức. Vừa hát hắn vừa rầu rĩ ngước nhìn khung cửa sổ. Thấp thoáng phản chiếu trên cặp mắt kín của hắn là hình ảnh đặc biệt của khuôn cửa sổ Byturki: Phía dưới “đóng nút” bít bùng, phía trên trống trải.

°

Văn hào Tolstoi cho rằng chớ nên bắt tù đi lễ nhà thờ. Mấy thánh đường trong nhà giam nhỏ hẹp bỏ hết càng dư chỗ nhốt thêm ít tù. Chỉ việc cải sửa lại một chút cho thích hợp với công việc mới là xong! Riêng khám Byturki dẹp nhà thờ là có chỗ giam 2 ngàn tù. Tính trung bình một mạng vô nằm lại hai tuần lẽ thì một năm ít nhất cũng có tới 50 ngàn người vô xà lim mới, gốc nhà thờ cũ. 
Vì vô Byturki 4, 5 lần quá quen rồi, biết nằm xà lim nào là tôi khỏi chần chờ, đi phăng tới, đi nhanh hơn ông giám thị, khỏi cần đợi tù thúc hối. 
Tôi rảo bước về xà lim như một con ngựa đánh hơi ra ruộng lúa, khỏi cần đợi roi vụt, nhiều khi không buồn nhìn cả ngôi thánh đường vuông vắn sừng sững phía trên là toà lầu bát giác. Nó khác các khu Byturki ở chỗ cửa sổ không có “nút đậy” bít bùng mà chỉ đóng ván sơ sài, tạm bợ để khám tạm nhốt tù vừa thành án. Năm 1945 tôi đã được dịp nằm xà lim lầu 2 thánh đường cũ, sau khi Hội đồng An ninh tuyên án. Trên lầu bát giác xà lim tụi tôi chiếm trọn góc Đông Nam. 
Vì là khám tạm nên ở khu thánh đường mọi tiện nghi đều thua sút: Chúng tôi chỉ là con nuôi chớ chẳng phải con đẻ Byturki! Hai trăm người chen chúc nhau, không phương tiện giải trí (sách, bàn cờ) ngay mấy cái chén, muỗng sứt mẻ, nham nhở cũng thâu lại sau bữa ăn. Lỡ kêu tên ra xe đi đày không trả lại nhà tù thì sao? Kẹt nhất là thời gian thành án chuẩn bị đi đày gia đình lại hay cố gắng lần chót để gởi vô giỏ đồ thăm nuôi, phần nhiều là thực phẩm dự trữ được như mật ong, đường, sữa, thịt sấy. Không chén muỗng, bình đựng, ca nước thì lấy gì đựng đồ? Chỉ được phép gởi những món đồ bằng nhựa dẻo nhưng nhà tù không chỉ dẫn, gia đình không biết, bao nhiêu món đồ nhôm, sứ, thủy tinh đều bị trả lại hết. Trong khi đó người nằm xà lim tha hồ rên than: Bao nhiêu món ăn quý đáng lẽ để dành ăn dần được phải ngấu nghiến nuốt hết, nếu không bốc được bằng tay, túm vào mùi xoa, vạt áo hay dựng trong lòng nón! Giữa thủ đô Mạc Tư Khoa mà phải trữ thức ăn ban khai như vậy đã đau lòng. Các thầy chú giám thị còn hối thúc trút đồ như điên, làm như sợ trễ giờ xe! Có vậy họ mới bỏ liếm láp chỗ bắt buộc phải để dư lại chớ. 
Nằm xà lim thánh đường cái gì cũng có tính cách tạm thời, vì thực tế đây chỉ là một trạm dừng của những món hàng được gởi đi quần đảo. Chừng Krasnaya Presnya có chỗ trống là hàng háo sẽ được đưa đi tức thời. Tuy nhiên các con nuôi Byturki lại hơn con đẻ ở một “ưu đãi” duy nhất: Mỗi ngày có quyền thưởng thức ba tua cháo nóng, trà nóng, dù phải cử người đích thân xuống nhà bếp! Chẳng là các khu khác đều có thang máy, riêng khu Thánh đường 3 tầng lầu leo thang muốn đứt hơi cho nên các thầy chú dành cho tù quyền lo liệu lấy. Khiêng những vò lớn, nặng từ nhà bếp qua một cái sân rộng, leo 3 tầng lầu xét ra chẳng phải công tác nhẹ nhàng nhưng anh em nằm xà lim Thánh đường chẳng nề hà bao giờ, dù hầu hết đều yếu đau, mất sức. Vừa có đồ ăn nón vừa có dịp đi ra ngoài trời nghênh nóng cho đỡ buồn. 
Ngoài tính cách tạm bợ, xà lim thánh đường Byturki còn có tác dụng chuẩn bị tù vừa thành án, sửa soạn họ cho thích ưng với môi trường mới là khám tạm dọc đường và trại Cải tạo sau này. Nằm đây tù có dịp tự điều chỉnh con người để nhận ra rằng bản án vừa giáng xuống là bản án thật, chẳng trò chơi chút nào, và thân phận thằng tù nó đau khổ, nhục nhã cũng đành phải chấp nhận. Trong cuộc đời tù tội muốn đạt tới mức đó chẳng phải dễ! 
Đời sống tạm bợ ở đây còn nổi bật ở những di chuyển thường trực, tù đến tù đi hoài hoài bất kể ngày đêm, gần như lúc nào cũng có người đi lại ngoài hành lang và ở lối đi trong xà lim. Kết quả là luôn luôn có những mặt mới. Ở xà lim điều tra, tù giam gần nhau lâu ngày hoá quen thuộc, thân thiết như gia đình nhưng ở khu Thánh đường ít ai nằm cạnh ai đến quá 3 ngày. Tình cờ gặp một nhân vật là phải săn đón, hỏi chuyện ngay. Chần chờ là nhiều khi không bao giờ còn cơ hội gặp gỡ nữa. 
Tôi đã bỏ lỡ dịp tìm hiểu một nhân vật đặc biệt là thợ máy xe hơi Melvedev. Vừa gặp hắn tôi đã nhớ ngay ra vụ Hoàng đế Mikhail! Hắn cũng bị kẹt vì tòng phạm, một trong những người đầu tiên được nghe đọc bản “Tuyên cáo” của Hoàng đế mà không đi tố cáo. Tuy nhiên Melvedev chỉ bị một bản án nhẹ hều là 3 năm. Bản án quá nhẹ vì đụng điều 58 Hình Luật mà lại bị 5 năm còn kể như bản án con nít mà? Có lẽ nhà nước nhận thấy Hoàng đế Mikhail bất quá chỉ là một thằng điên nên mấy gã tòng phạm chỉ bị “giơ cao đánh khẽ” bề nào cũng thành phần lao động! Chưa kịp hỏi thêm Melvedev thì hắn đã bị kêu xách đồ đi. Trường hợp hắn có lẽ được trả lại tự do cũng nên vì năm ấy có tin Stalin xuống lệnh ân xá. 
Nằm cạnh tôi có ông già Schutzbunder người Áo bị kêu đi lẹ. Khốn nạn, dưới chế độ vô sản Xô Viết thì dân Áo lạc hậu đã có giá sẵn. Tối thiểu là 10 năm lao động cải tạo mà hầu hét chưa ở hết án đã bỏ thây trong quần đảo. 
Sau đó có một gã trẻ tuổi tóc đen láng, mắt lớn hiền dịu như mắt đàn bà, nhưng phải cái mũi quá lớn làm khuôn mặt mất cân xứng, trông như hình diễu vậy! Ngày đầu tiên gã nằm suốt ngày cạnh tôi, không hé răng. Ngày thứ hai mới xích lại gần để trút bầu tâm sự. Gã thủ thỉ: “Anh bạn thử đoán tôi là người nước nào?”. Tiếng Nga gã nói làu làu nhưng nghe kỹ mới biết có đá chút giọng ngoại quốc. Vậy chắc hẳn gã ở miền sơn cước hay dân Armenia? Gã cười bảo: 
“Anh bạn thấy chưa? Tôi giả làm dân miền Nam nước Nga thì ăn chắc! Chẳng ai ngờ thằng Yasha này. Tôi đi thâu nguyệt liễm cho Nghiệp đoàn và thấy mặt tôi là thiên hạ cười bò ra hết.” 
Đúng vậy, tôi ngó lại và thấy gã đúng là một thằng hề, trời sinh ra để làm hề! Người lùn một mẩu, cái mũi khổng lồ làm lệch cả mặt và miệng lúc nào cũng cười toe toét. Lúc ấy gã đột nhiên không cười nữa. Khuôn mặt đanh hẳn lại, cặp mắt nheo lại, gã ngó đăm đăm làm tôi giật bắn mình. Gã gằn giọng: 
“Anh bạn biết không? Tôi người Lỗ. Tôi là sĩ quan Quân báo Bộ Tổng Tham mưu, Trung úy ladimirescu!” 
Chà, vụ này kỳ quặc! Thứ gián điệp giả hay bị kết tội làm gián điệp thì tôi đã gặp cả trăm, nhưng thứ thiệt thì chưa bao giờ. Gián điệp thứ thiệt đâu phải dễ. Có dễ gì gặp được. 
Nhưng Vladimirescu không những là gián điệp thứ thiệt mà còn được đào tạo để làm gián điệp, vô trường hẳn hoi từ năm lên 6 tuổi! Gia đình gã gốc quý phái, từ năm lên 3 đã quyết định chọn cho con binh nghiệp kia mà? Ở trường gián điệp trực thuộc Bổng Tham mưu Lỗ, Vladimirescu đã chọn địa bàn hoạt động sở trường là Liên Xô, một “đất làm ăn” vô cùng khó khăn vì phản gián đặt tai mặt khắp chỗ, hoạt động gắt gao và không người nào tin người nào cả! 
Vì được đào luyện đặc biệt nhằm đối tượng Liên Xô xương xẩu nên gã đã hoạt động đắc lực ở Nikolayev nhiều năm trước chiến tranh và trong những công tác đạt được có thể kể vụ sắp đặt cho quân Lỗ tiến chiếm nguyên vẹn một xưởng đóng tàu. Sau đó Vladimirescu hết công tác ở Stalingrad đến Urals và dưới lốt đại diện Nghiệp đoàn gã đi thâu nguyệt liễm, ra vô tự do nhiều công xưởng và thực hiện nhiều cú táo bạo. Gã lấy làm hãnh diện về một cú lớn ở hậu cứ Liên Xô do sự điều động của một sĩ quan Quân đội báo Đức chịu trách nhiệm vùng Mạc Tư Khoa. Thông thường gián điệp hoạt động ở hậu tuyến địch ngoài phần “nghề nghiệp phổ thông” còn phải được huấn luyện chu đáo một ngành phá hoại đặc biệt. Vladimirescu chọn ngành phá hoại dù, nghĩa là chuyên môn cắt đứt phần nào dây bên trong của một chiếc dù. Gã được gởi đến Podolsk, nơi đây gián điệp Đức đã có tay trong làm đốc canh, hướng dẫn gã vào một kho chứa dù lớn, đã xếp và kiểm soát rồi. 
Vladimirescu đã lọt được vào kho dù Podolsk 8 giờ đồng hồ liền. Gã bắc thang trèo lên những đống dù sắp ngay hàng, giở ra từng chiếc nhưng không làm mất dấu để mở phía trong, dùng một thứ kéo đặc biệt cắt đứt 4 phần 5 sợi dây chính. Vì được chừa lại 1/5 nên dù cũng mở như thường, nhưng sẽ đứt ở lưng chừng. Gã đã ôm ấp công tác lớn từ bao lâu nên trong 8 giờ đã thanh toán được không dưới 2.000 chiếc dù. (Mắt gã sáng lên: “Một mình tôi từng tiêu diệt gọn một Sư đoàn Dù, nghe cha.”) 
Theo lời gã thì sa vào tay An ninh Xô Viết nằm Byturki 8 tháng Vladimirescu nhất định không chịu cung khai. Hỏi gã có bị tra tấn không thì gã lắc đầu: “Đời nào!”. (Thì ra chỉ đồng bào mới bị tra tấn! Đập chết đồng bào để cho bọn ngoại quốc ngán luôn, chớ gián điệp ngoại quốc bắt được là cả một kho vàng. Còn dùng để trao đổi “tù binh” được mà.) 
Sau đó để thuyết phục Vladimirescu, Sở Phản gián Xô Viết đưa cho coi tờ báo đăng tin Lỗ đã đầu hàng. “Biết gì khai đi, còn giữ bí mật tổ chức làm gì?”. Gã nín thinh. Thời buổi này làm giả một tờ báo để đánh lừa đâu có khó? Gã vẫn không chịu công khai, dù được dí tận mắt bản nhật lệnh của Bộ Tổng tham mưu Lỗ, chiếu văn kiện đầu hàng ra lệnh cho các sĩ quan an ninh, các gián điệp phải chấm dứt hoạt động và đầu hàng. Nhật lệnh cũng có thể ngụy tạo lắm chớ. Vladimirescu chỉ chịu cung khai hết khi được đem đối chứng với cấp trên trực tiếp của gã ở Bộ Tổng Tham mưu Lỗ. Lúc bấy giờ có lệnh trực tiếp, gã mới làm tờ khai công tác đầy đủ, không giấu giếm bất cứ một chi tiết nào. 
Do đó gã kể như chấm dứt sứ mạng chỉ còn nằm chờ ngày xử án và chẳng ngần ngại cho cả tôi biết phần nào sự thực. 
“Nhưng tôi chẳng bị ra Toà xét xử, chẳng thấy tuyên án gì hết! Nghề gián điệp là thế. Có chuyên môn thì còn sử dụng được.” 
“Anh bạn còn tính hành nghề nữa?” “Chớ sao? Gián điệp thì đến chết cũng vẫn là gián điệp.” 

“Nhưng anh bạn quên là đã tiết lộ công tác với tôi, anh bạn cháy rồi mà? Mình có thể còn gặp gỡ sau này.” 
“Ở đây là khác! Còn sau này, ở ngoài đời, giả thử tụi mình gặp nhau anh bạn không nhận ra tôi thì còn sống. Nhận ra là bắt buộc tôi phải thủ tiêu anh bạn gấp, hoặc kiềm chế buộc phải đi với tụi tôi.” 
Tôi ngó qua gã. Vladimirescu thản nhiên như không có chuyện, không muốn làm mất lòng thằng bạn đồng xà lim là tôi, dù phải khẳng định: “Tôi bắt buộc phải thủ tiêu anh bạn gấp!”. Nét mặt gã trơ trơ, tuyệt nhiên không xúc động hay lên mặt. Gã chấp nhận vụ thủ tiêu một cách giản dị, coi chuyện ắt phải xảy ra, không cần thắc mắc. Tôi chắc chắn gã thủ tiêu tôi dễ như chơi, hắn bỏ hay cắt cổ người thực sự chẳng phải vấn đề với gã. 
Týp người đặc biệt Vladimirescu đâu có phải dễ gặp. Tôi nhớ trong 11 năm tù đày chỉ được biết một mình gã là trường hợp duy nhất một gián điệp phe địch sa cơ. Đâu phải Cơ quan của ta đã vồ được thiếu gì gián điệp nhà nghề, cho đi tù vô khối như báo chí vẫn nhồi sọ lớp trẻ? Sự thực não nề là chỉ cần đưa mắt nhìn quanh xà lim Thánh đường Byturki cũng thấy rõ là ngược lại, đám thanh thiếu niên mới thực sự là “hàng hoá” chính của Cơ quan! Chiến tranh chấm dứt rồi, đâu cần đến chiến sĩ nữa. Nhà nước tha hồ quơ vô bất chiến sĩ thằng nào! Nghe nói khoảng 1944-1945 trong xà lim Lubyanka nằm lểu nghểu đảng viên “Đảng Dân chủ”, một đảng có quy chế đàng hoàng mà riêng đảng viên có chứng minh thư bị bắt hồi đó cũng tới 50 mạng. Lớn tuổi nhất nghe đâu là gã “Tổng thư ký” lúc bấy giờ mới học lớp 10 một trường Trung học Mạc Tư Khoa. 
Năm 1945 thành phần sinh viên nằm khám khá người nhiều, ai để ý làm chi? Riêng tôi gặp hoài lớp người trẻ tuổi, dù chính tôi cũng chẳng già gì! Sự đó làm tôi ngao ngán! Thằng bạn cùng chung vụ với tôi cũng như lớp người đồng tuổi, tụi tôi đã trải 4 năm chiến tranh trong khi ở hậu phương lớp trẻ lớn lên. Những năm còn học đại học chúng tôi có cái vinh dự lớp người tiền phong, thông minh nhất nước, nhất thế giới luôn. Giờ đây lớp người trẻ tuổi bỗng xuất hiện bên cạnh tụi tôi – tuổi trẻ cao ngạo, những khuôn mặt nhợt nhạt trong ngục tù đã vượt qua tụi tôi hồi nào không hay. Họ mới là những người tiền phong, tụi tôi sẵn sàng nhường chỗ. Bây giờ chính họ mới là những người đam mê học hỏi cũng như tranh luận. Họ đã tự chọn lấy một con đường đi xứng đáng và không hề thắc mắc hay hối tiếc đã chọn lầm. Chỉ nghĩ đến những con người đầy nhiệt tình, thông minh giờ đây bị đày đoạ trong ngục tù tôi cũng đủ rởn gai ốc. 
Có những khuôn mặt trẻ kiêu hãnh, hốc hác vì tù ngục bắt gặp trong Byturki khiến tôi phải nổi da gà. Làm sao quên nổi những con người như Boris Gammenov? Một tháng trước tôi phải xuống một xà lim bán bệnh xá. Vừa bước vô, chưa nhìn ra một chỗ nào nằm tạm được bỗng đụng đầu một thân hình thất thểu, trời mùa Hè mà run rẩy khoác tấm áo dạ nhà binh cũ mèm, thủng không biết bao nhiêu lỗ! Khuôn mặt xanh xao, tái mét, nhưng nét thông minh Do Thái vẫn không thể nhầm lẫn được. Boris Gammerov đấy! 
Sao trên đời lại có thể có một thằng ham tranh luận đến sỗ sàng như vậy? Mới trao đổi dăm câu chuyện, biết tên tuổi nhau là sẵn sàng cãi chính trị được rồi! Chuyện qua chuyện lại với tình hình thế giới, chuyện Tổng thống Rosevelt, không hiểu sao tôi chợt nhớ một câu kinh cầu nguyện của cố Tổng thống Mỹ mà các báo Nga vừa đăng, kèm theo một câu phê bình chủ quan: 
“Ôi chao, đúng là đạo đức giả!” 
Có vậy thôi. Vậy mà Boris nhăn mặt, trề môi, hỏi vặn lại: 
“Ủa, đạo đức giả là thế nào? Theo anh, cứ lãnh tụ lớn là không thể cầu nguyện, không thể tin tưởng Thượng Đế sao?”
Tôi thật không ngờ! Thế hệ sanh năm 1923 mà còn những thằng “duy tâm” cỡ này? Đáng lẽ tôi phải mạnh dạn đáp lời Boris ngay nhưng ở tù lâu đâm rụt rè, vả lại tôi chợt nhận ra bên trong con người chúng ta vẫn bàng bạc một cảm giác trong sạch, thanh cao, đứng hẳn ra ngoài mọi xác tín. Rõ ràng lời phê bình tôi vừa thốt ra chẳng phát xuất từ sự tin tưởng của mình mà do từ ngoài cấy vào. Đúng rồi, chính vì lẽ đó tôi không dám trả lời thẳng câu hỏi mà chất vấn ngược lại Boris: 
“Bộ anh tin tưởng Thượng Đế chắc?” 
“Lẽ cố nhiên.” 
Hắn đáp thật bình thản. Lẽ cố nhiên, lẽ cố nhiên. Đoàn Thanh niên Cộng sản đã nắm được hết, nhưng với điều kiện Công an Mật vụ phải đi kèm kìa! 
Boriss Gammerov là chiến sĩ chớ. Hắn còn là trung sĩ xuất sắc, trẻ măng trong một đơn vị lừng danh chết bỏ là đơn vị chống chiến xa. Hắn mang chiến thương ở phổi không lành nổi và thêm chứng lao phổi luôn nên được giải ngũ vì lý do sức khoẻ. Cởi bộ áo lính là trở lại ngưỡng cửa đại học ngay, Boris ghi danh ban Sinh vật, đại học đường Mạc Tư Khoa. Lập tức hắn bị giằng xé bởi một con người chiến sĩ từng phục vụ và một con người sinh viên khao khát sống và không điên đầu chút nào! 
Thế là chẳng ai rủ ai, chẳng có lệnh nào, một nhóm sinh viên cũng hình thành, quy tụ những thành phần có tư tưởng và thắc mắc về tương lai. Lập nhóm thì qua mặt sao nổi cặp mắt soi bói xưa nay của Cơ quan? Lập tức ba thằng trong nhóm được tuyển lựa để tống vào khám. 
(Năm 1937 thân phụ Gammerov đã bỏ mạng trong ngục thì giờ đây có hắn nối dõi. Hình như giữa lúc bị tra khảo Boris đã ung dung ngâm mấy bài thơ của hắn cho ông điều tra viên nghe chơi. Tôi hối tiếc không nhớ nổi một bài nào để cho in dưới hàng chữ này. Biết tìm đâu cho ra bây giờ?) 
Cũng là tình cờ trong vòng ít tháng tôi đã được gặp cả 3 người trong nhóm sinh viên này, sau Boriss Gammerov. Người thứ nhất là Vyacheslav Di, cũng ở xà lim Byturki. Sinh viên tranh đấu và bị bắt thì bao giờ chẳng có một cậu Vyacheslav? Hoạt động hăng tinh thần sắt đá lắm nhưng lọt vô phòng điều tra là mềm xèo tức thì! do đó cái phải lãnh bản án nhi đồng 5 năm và cậu Vyacherlav còn tin rằng trước sau ông bố thế lực cũng gỡ ra được. 
Cũng ở Byturki nhưng lúc đổi qua xà lim Thánh đường tôi mới gặp Georgi Ingal, già dặn, lớn tuổi nhất trong nhóm. Ở tuổi Georgi mà đã được đề bạt ra tranh cử một chân trong Hội Nhà văn Liên Xô là quá sớm và quá bảnh. Hắn viết thật mạnh dạn, bút pháp thật bén và xung sát. Phải chi đừng có “đi sai đường lối” thì văn nghiệp thanh công bảo đảm: Georgi Ingal gần hoàn thành một tiểu thuyết về Debussy kia mà. Dù có thành công sớm và tương lai tràn đầy hứa hẹn hắn cũng không chịu câm nín. Nhân dịp đưa đám ông thầy Yuri Tynyanov, học trò Geogri Ingal không ngần ngại đọc điếu văn, tố cáo Tynyanov là nạn nhân của một vụ thanh trừng, dù biết rằng nói ra là đi đày chắc! Hắn lãnh 8 năm. 
Tình cờ Gammerov cũng qua xà lim Thánh đường nên trước khi đi Krasnaya Presnya, tôi có dịp nhận định lập trường cả hai người. Phải nhìn nhận đó là cả một sự khó khăn đối với tôi vì hồi đó tôi còn mắc chứng bệnh chung của thời đại là không dám chấp nhận bất cứ một sự kiện gì mới, không dám thẩm định bất cứ một tư tưởng nào mới. Phải đợi coi nó bị Đảng dán nhãn hiệu nào rút ra từ đống nhãn hiệu cũ rích đã. Phải đợi coi nó bị liệt vào hạng “sản phẩm sao chép vụng về của tư bản thối nát”, hay “đề cao tư tưởng đồi trụy của bọn trí thức lạc hậu” cái đã! 
Tôi nhớ trong cuộc thảo luận Ingal và Gammerov tuyệt không đả kích Marx nhưng Tolstoi thì bị họ quay tơi bời, từ địa hạt tôn giáo trở đi. Chẳng hạn Tolstoi chối bỏ Giáo Hội? Tại sao ông ta không nhìn Giáo Hội ở vai trò tổ chức và siêu linh? Bài bác Kinh Thánh? Há chẳng biết khoa học tân tiến đâu có phủ nhận Thánh Kinh, kể cả đoạn mở đầu giải thích về nguồn gốc địa cầu? Tolstoi bác bỏ cơ chế nhà nước? Nhưng không nhà nước, hỗn loạn thì sao? Tolstoi chủ trương hồn thể hợp nhất trong đời sống con người, nhưng có cách nào đánh đồng thiên tài và khả năng? Khốn nạn, ông đại văn hào còn chối bỏ cả tư tưởng “nhân vật lịch sử vạn năng” mà chính Stalin là một điển hình cụ thể! 4Không còn gì mâu thuẫn bằng! 
Ngày đó Ingal và Gammerov đã ngâm thơ cho tôi nghe và yêu cầu tôi ngâm đáp lễ, nhưng tôi đâu đã có bài nào. Họ nói chuyện tiểu thuyết, bốc Pasternak lên tận mây xanh. Riêng tôi mới đọc qua cuốn Chị tôi nhưng không thú. Nó có giá trị nhưng quá cao, không thích hợp với đại chúng. Nghe mấy câu thơ của Trung úy Shmidt đọc trước toà, tôi lại cảm động và thấy đúng tâm sự quá chừng: 
Ba mươi năm ròng nuôi dưỡng 
Tình yêu đất nước quê hương 
Thà chết không đòi ân xá 
Van xin chúng bay tình thương. 
Đó cũng là bài thơ đồng điệu của Gammerov và Ingal: Chúng tao đâu thèm xin khoan hồng. Tù cứ tù, chúng tao hân hạnh nằm tù, chớ có chết hụt trong tù đâu mà sợ? (Chao ôi, có thằng nào nằm tù không đau khổ, chết dần chết mòn?). Mới có mấy tháng Ingal được tin mất vợ. Con vợ trẻ đã chính thức từ bỏ thằng chồng phản động! Cũng may là Gammerov hăng say làm cách mạng, chưa có người yêu!). Có nằm xà lim mới thấy Chân lý sụp đổ và khắc khoải, khao khát tự do, thương cho thân phận con người: Những thân hình nằm la liệt, chui rúc đây kia không phải con người, không phải đồng bào ta sao? 
“Con đường chúng ta đã đi ngang. Không cần xin bọn hay tha thứ.” 
Những người trẻ nằm xà lim vì chính trị năm ấy dĩ nhiên không thuộc đám đông bình thường mà họ đã tiến xa hơn hẳn một khoảng cách. Đám đông những người trẻ tuổi còn đang dối diện một tương lai phân hoá đến ngỡ ngàng mất hướng, chán nản, chấp nhận một cuộc sống dễ dàng. Có lẽ phải đôi lúc bấy giờ họ mới khởi sự lại cuộc hành trình gian khổ vươn lên tới đỉnh hai mươi năm nữa chắc? Nhóm người trẻ tuổi nằm tù năm 1945 quả đã nhảy vọt qua được hố sâu thụ động, ù lì để ngửng đầu lên ngạo nghễ, đối diện với cái chết. 
Nằm xà lim Thánh đường khám Byturki những con người trẻ tuổi vừa lãnh án, bị cô lập tất cả để sửa soạn lên đường đi đày đã làm một bài ca để cùng vụng về cất tiếng trước buổi hoàng hôn: 
Ngày ba lần xuống khiêng cháo nóng; 
Đêm đêm ta hát ta ca, 
Lấy sợi chỉ cây kim lén lút, 
Ta khâu vá hành trang đi đày. 
Ta còn thiết gì thân ta, 
Đặt chữ ký cho xong việc, 
Đợi đi đày Tây Bá Lợi Á 
Biết có ngày nào trở lại. 
Tiếng hát đi đầy của những người trẻ tuổi! Bây giờ tôi mới được nghe vì có bao giờ dám ngờ? Những lúc chúng tôi gian khổ ngoài chiến trường, chân lội xình bì bõm, núp mình xuống hố tránh đạn hay bắc ống nhòm nhìn sang trận tuyến địch thì ở quê nhà một lớp người trẻ tuổi đang lớn lên, bắt đầu xông xáo. Lớp người đó gan dạ cất bước về một ngả khác, một ngả mà chúng tôi không đủ tư cách, không dám xông xáo tới! Thế hệ mới đâu có như chúng tôi hồi đó? 
Thế hệ chúng tôi ở mặt trận về, những kẻ giã từ vũ khí ngực lủng lẳng huy chương và lấy làm vinh hạnh kể lại những mẩu chuyện chiến trường. Lớp người trẻ tuổi ngó chúng tôi lắc đầu thương hại: “Một đám ngu ngốc!” 
Tháng 11-1974

——————————–

1Căn cứ theo tài liệu Nicolaivsky và Dallin (khuynh hướng Dân xã thì tổng số tù đi đày các trại Cải tạo Liên Xô đã từ 15 tới 20 triệu).
2Sau khi tự do, nhiều lần tôi thư từ thăm hỏi Kostya Kiulanhg đều biệt vô âm tín. Tuyệt nhiên không có tin tức gì nên tôi chắc hắn không còn trên dương thế.
3Trong hệ thống tổ chức của MVD có một Ủy ban đặc biệt mệnh danh “Đặc ban số 4” chuyên trách sử dụng tù vào những công tác khoa học, thí nghiệm.
4Trước khi và trong những ngày tù đày, tôi vẫn nghĩ là chính con người vạn năng của Stalin đã dẫn đất nước Nga vào khúc quanh lịch sử tai hại. Đột nhiên và âm thầm lãnh tụ từ trần nhưng con thuyền quốc gia có thấy rẽ ngoặt sang ngã khác đâu? Dấu tích cá nhân Stalin lưu lại trong những công trình lịch sử chỉ thấy một sự nghi kỵ ngu muội, một chính sách độc tài và thần tượng hoá cá nhân. Chỉ còn ngần ấy thứ, ngoài ra Stalin hoàn toàn theo đúng đường lối truyền thống, đúng từng bước từng khúc quanh một!

Hứa

songthao.com

Post by Sơn râu 17 May 2025

Ông Tom Cook, cư dân tại tiểu bang Wisconsin, đã trúng lô độc đắc Powerball 22 triệu ngày 10/6 vừa qua. Chuyện này không thành tin. Xổ số mở hàng ngày, có người trúng tới cả trăm triệu. Ông Cook trúng 22 triệu thì ăn thua chi. Nhưng chuyện thành tin nóng khi ông chia đôi số tiền này với ông bạn Joe Feeney trong khi ông Feeney chẳng góp tiền mua chung tấm vé số. Tất cả chỉ vì một lời hứa. Năm 1992, hai ông bạn chí thân này bắt tay với nhau và hứa nếu một trong hai người trúng số Powerball thì sẽ chia cho người kia một nửa. Chuyện như đùa mà nay thành thật. Thực ra ông Cook có thể làm lơ một cách dễ dàng. Vì ông Feeney chẳng còn nhớ tới chuyện cũ xì từ 28 năm trước. Khi được ông Cook điện thoại báo tin, ông Feeney tưởng bạn giỡn. “Ông ấy gọi tôi và tôi trả lời ‘ông có giỡn với tôi không vậy?’”. Trả lời báo chí, ông Cook nói: “Lời hứa là lời hứa. Đã nói thì phải giữ lời”. Hai ông dắt tay nhau đi lãnh tiền trúng số. Họ chọn cách lãnh trọn gói một lần. Mỗi ông được 11 triệu đô. Sau khi trừ tiền thuế, mỗi người bỏ túi được 5 triệu 700 ngàn. Cũng đỡ cho hai ông già. Ông Feeney đã nghỉ hưu trước đó. Ông Cook cũng nghỉ sau khi trúng số.

Vợ chồng ông Tom Cook và vợ chồng ông Joe Feeney lãnh tiền.

Chuyện giữ lời hứa của ông Tom Cook là chuyện đáng phục. Thời buổi này mà còn một ông quân tử tàu như vậy khá hiếm. Có tìm ở bên tàu ngày nay chắc cũng không có. Nhưng chuyện tôi kể dưới đây li kỳ hơn nhiều.

Phil Seymour là một Trung Sĩ thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 1 của Hoa Kỳ, đóng ở Đà Nẵng. Anh qua Việt Nam vào tháng 12 năm 1966. Đơn vị của anh đóng quân tại một hòn đảo nhỏ gần Hội An. Họ thường vào chơi nơi phố thị này. Khi đi chơi, anh luôn mang theo chú chó cưng được gài sau ba lô. Tên chú chó này là Boot, được anh giải cứu trong một cuộc hành quân trong rừng. Khi đó Boot còn chưa dứt sữa mẹ. Mỗi khi từ thuyền vào đất liền, các anh lính GI này thường được một đám con nít đứng đón để xin kẹo, bánh, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì các anh lính trẻ này phân phát đầy đủ cho đám trẻ. Trong đám trẻ có một đứa tên Cam (có thể là Cầm hay Cẩm) luôn mặc bộ đồ ngủ màu xanh, đi chân đất. Cam không nhao nhao như đám con nít chung quanh mà luôn luôn đứng ở phía sau, cam phận.

Phil và Cam năm 1967

Lúc đầu Phil và bạn bè tưởng Cam nhút nhát, nhưng không phải. Em không xin mà luôn mang theo dừa, chuối, chanh để trao đổi. Đám lính Mỹ rất thích đứa bé…sòng phẳng này. Lúc đó Cam chỉ khoảng 9 tuổi. Có lần em mang một trái chuối tặng cho Phil. Phil rất cảm động. Khi anh được đi Thái Lan nghỉ phép, anh hỏi Cam muốn gì anh sẽ mua cho. Cam chẳng biết Thái Lan là cái xứ mô tê nào, tiếng Anh lại ba xí ba tú, cậu bé chỉ vào chiếc đồng hồ Phil đeo trên tay. Phil gật đầu.

Qua Thái Lan, Phil mải vui với các cô gái dễ dãi, với rượu nồng thịt béo, quên mất tiêu lời hứa mua chiếc đồng hồ cho Cam. Trở lại Hội An, Cam chạy ùa ra đón Phil với hy vọng có chiếc đồng hồ. Phil đành xin lỗi và hứa sẽ mua cho Cam sau. Nhưng đời lính chẳng biết mai này sẽ ra sao. Đơn vị của Phil phải rời Hội An ra vùng phi quân sự ngay sau đó. Đầu năm 1968, Phil được trở về Mỹ. Về nhà, anh vẫn khó chịu vì không thực hiện được lời hứa với cậu bé nghèo nơi đất khổ. Lời hứa vẫn canh cánh bên lòng trong khi anh nghĩ chắc tới chết cũng không thực hiện được.

Anh tại ngũ thêm 27 năm. Chịu khó học lấy được bằng Master về luật, Phil trở thành luật sư của bộ Quốc Phòng. Năm 1995, ông nghỉ hưu.

Ông thường cùng một nhóm bạn đi du lịch khắp nơi. Năm 2007, nhóm du lịch này dự tính tham gia một tour tới vùng Đông Nam Á, có ghé Hội An. Vợ ông, bà Lynne, thúc giục ông phải tham dự chuyến này để trở lại Hội An, tìm gặp Cam, thực hiện lời hứa từ bốn chục năm trước. Phil đồng ý tuy trong thâm tâm ông nghĩ chuyện tìm lại Cam như chuyện mò kim đáy biển. Tuy vậy, ông vẫn mua sẵn môt chiếc đồng hồ.

Tới Đà Nẵng, hướng dẫn viên của đoàn du lịch là một người Hà Nội nhưng quen biết nhiều người ở Hội An. Anh chàng này hứa sẽ liên lạc tìm Cam giùm ông. May là ông Phil còn giữ và mang theo trong người được mấy tấm hình chụp với Cam ngày xưa. Anh hướng dẫn viên cầm tấm hình đi hỏi thăm. Anh gần như trúng số khi gặp được một người em của Cam. Chỉ cần một cú điện thoại, Cam chạy vội tới khách sạn. Lúc này Cam không còn là một đứa trẻ 9 tuổi mà là một bác thợ mộc 49 tuổi. Anh hướng dẫn viên hỏi Cam có biết ông Mỹ này không. Cam nhận ra Phil liền. “Ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Anh hướng dẫn viên hỏi thêm anh có còn nhớ lời hứa năm xưa không, Cam trả lời liền: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng ổng không hiểu nên không mua đồng hồ cho tui thôi”. Ông Phil nói với Cam là không có sự hiểu lầm nào cả mà chỉ có sự thất hứa. Ông đeo chiếc đồng hồ cho Cam rồi hai người ôm nhau. Cam cảm động đến rơi nước mắt. Hôm sau, Cam mời vợ chồng ông Phil và anh hướng dẫn viên tới nhà dùng cơm. Bữa ăn do vợ của Cam là Nở và con gái 28 tuổi tên Vy của Cam nấu nướng. Vy mới lập gia đình. Được hỏi về ước muốn của Vy, cô chỉ ước được học Đại học như bốn người em trai. Là phận gái nên Vy không được học hành như các em. Vợ chồng Phil không ngần ngại chu cấp cho Vy vào Sài Gòn học Đại học. Cô đã đậu bằng Cử nhân vào năm 2012.

40 năm trước, 40 năm sau

Lynne và Vy, con gái Cam

Quá vui mừng, vợ chồng Phil đã qua Sài Gòn dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam vào Sài Gòn. Đó là lần đầu tiên vợ chồng Cam được đi máy bay! Anh không quên mang theo một số đồ ăn quê mùa Hội An để mở tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Vợ chồng Phil mừng Vy một cái microwave. Hiện Vy vẫn làm việc tại Sài Gòn và thường điện thoại liên lạc với vợ chồng Phil.

Nói về ly kỳ thì chuyện giữ lời hứa của anh GI Phil ăn đứt chuyện chia đôi tấm vé số của ông Cook. Nhưng chuyện giữ lời hứa thì không có thể so sánh hơn kém. Chuyện nào cũng quý cả.

Họ là những quân tử thứ thiệt, thuộc loại hiếm trên trái đất này. Lời hứa của họ như đinh đóng cột. Từ ngàn xưa người ta đã xưng tụng bằng những câu đã biến thành những bài học mà muốn thành  người tử tế phải noi theo. Nhất nặc thiên kim, lời hứa giá ngàn vàng. Nhất ngôn cửu đỉnh, lời nói có sức nặng tựa chín chiếc đỉnh. Quân tử nhất ngôn, người quân tử chỉ nói một lời. Dân gian cũng có những câu như: Một lời nói dối, sám hối bảy ngày. Hoặc: Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.

Hứa trong thương trường trở thành chữ tín. Buôn bán với nhau người ta rất trọng chữ tín. Đã nói là phải giữ lời. Không lươn lẹo, không gian dối.

Tôi có chút kinh nghiệm về chữ tín này. Với một ông Tàu. Tàu Đài Loan. Khoảng chục năm trước, tôi được một anh bạn văn giới thiệu in sách ở Đài Loan. Vừa rẻ vừa đẹp. Anh cho tôi số điện thoại của nhà in bên đó. Tôi liên lạc và đồng ý giá cả. Ông nói tôi gửi bản lay-out bìa và ruột sách qua. Tôi hỏi chuyện đặt tiền cọc. Ông nói không cần, khi nào in xong lấy luôn một lúc. Tôi chưa bao giờ gặp ông. Hai người không biết tính tình và tư cách của nhau. Khi sách in xong, ông báo cho tôi biết. Tôi hỏi cách trả tiền. Ông gạt đi. Chừng nào ông gửi sách đã. Rồi ông gửi sách, gửi qua internet cho tôi đầy đủ giấy tờ để tôi có thể lãnh sách khi hàng tới Montreal. Sách gửi đường thủy thường mất cả tháng. Nhận được giấy tờ, tôi lại hỏi chuyện trả tiền. Ông bảo chừng nào tôi cầm được sách trên tay thì ông mới hoàn tất trách nhiệm, lúc đó ông mới nhận tiền. Dĩ nhiên tôi thuộc loại…quân tử nên rất sòng phẳng. Sau một vài lần in sách, tôi mới hỏi ông lỡ có người nhận sách rồi quên trả tiền thì sao. Ông cười hề hề: không có đâu!

Ông này có lẽ là con cháu thương nhân Thái Lâm đời nhà Thanh bên Tàu. Tôi có lần lân la hỏi họ của ông thì ông không phải họ Thái. Nhưng cần chi, họ gì cũng được, miễn là biết giữ chữ tín. Ông Thái Lâm quê ở Tô Châu là người rất trọng lời hứa và giữ chữ tín. Có một người bạn đem đến nhà gửi ông cả ngàn lượng vàng mà không cần bất kỳ giấy tờ chứng nhận nào. Ít lâu sau, người bạn lâm bệnh và qua đời. Ông Thái Lâm gọi người con của bạn tới nhận lại vàng. Anh con này không dám nhận vì cha anh không nói chi chuyện này và cũng không đưa cho anh bất cứ thứ giấy tờ chi.

Anh nói với ông Thái Lâm: “Làm sao có chuyện kỳ cục như thế này được. Cha tôi gửi một số vàng lớn như vậy mà không có một chứng nhận nào sao? Vả lại, khi sanh tiền, ông không nói chi với tôi chuyện này nên tôi không dám nhận”. Thái Lâm nghe xong, vừa cười vừa nói: “Biên lai nằm trong tâm ta chứ không nằm trên giấy. Đó là vì cha của con hiểu được ta nên mới không nói cho con về chuyện này!”.

Chuyện nghe ra như chuyện quốc văn giáo khoa thư, chỉ nằm trong sách giảng dạy ở nhà trường. Ngoài đời, người ta hứa và nuốt lời hứa như ăn chè đường. Quân tử nhất ngôn là quân tử dại / Quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn. Nhan nhản quanh chúng ta đầy rẫy những quân tử khôn. Cứ hứa vung vít, sù mấy hồi! Y như “Con ma nhà họ Hứa”!

“Con ma nhà họ Hứa” là tiếng người ta thường dùng ngày nay để chỉ những người thất hứa. Nhiều người, nhất là các bạn trẻ, không biết từ đâu ra cụm từ gợi hình này. “Con Ma Nhà Họ Hứa” là tên một cuốn phim của đạo diễn Lê Hoàng Hoa, sản xuất vào những năm 1972-1973 tại Sài Gòn. Chuyện phim kinh dị này lấy bối cảnh ngôi nhà của chú Hỏa, tên đầy đủ là Hứa Bổn Hỏa, một người Hoa sang Việt Nam làm nghề buôn bán ve chai. Do tính cần cù ông đã trở thành một phú ông nức tiếng giầu có. Như vậy họ Hứa này là họ từ Trung Hoa di cư sang Việt Nam. Nhưng trớ trêu thay là ở Việt Nam cũng có họ Hứa. Và họ đã động lòng khi tên họ của dòng họ này được dùng để chỉ một tính cách bất minh. Ông Hứa Thu Huyền đã viết một bài thanh minh thanh nga cho dòng họ. Tôi xin trích một đoạn như sau: “Xin các vị hãy nhớ rằng, họ Hứa là dòng họ xuất hiện sớm ở Việt Nam, có đóng góp xứng đáng trong lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Tất cả con cháu họ Hứa đều có truyền thống yêu nước bất khuất và từ gia đình có nền nếp gia phong, hiếu nghĩa, cần cù lao động… Chúng tôi không chấp nhận bất kỳ sự xúc phạm nào đối với dòng họ của mình. Chúng tôi kịch liệt phản đối những tư duy mang tính ám chỉ, kỳ thị, cho dù là vô tình hay hữu ý. Hiện nay, các thành viên thuộc họ Hứa Việt Nam đã có mặt và sinh sống trên mọi miền của đất nước, suốt từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi đến miền ngược và cả ở các nước trên thế giới. Với sự kết nối, đoàn kết, tạo sức mạnh dòng tộc, hướng về cội nguồn, duy trì và phát huy những truyền thống tốt đẹp, tinh hoa của dòng họ, phụng sự tổ tiên… họ Hứa Việt Nam sẽ luôn tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống và chăm lo cho các thế hệ con cháu mai sau. Những giá trị tinh thần truyền thống mà dòng họ Hứa đang gây dựng chắc chắn sẽ được phát huy, góp phần tạo nền tảng tinh thần cho đời sống xã hội”.

Chúng ta quen miệng, coi câu nói như giỡn chơi, nhưng chuyện giỡn đã làm mất vui cả môt dòng họ. Bỏ được thói quen này đi là việc nên làm. Có làm được hay không lại là chuyện khác. Tôi vẫn nghe, vẫn đọc được trên các phương tiện truyền thông cụm từ này được các nhà truyền thông dùng như một sự “thông minh” mang chút nghịch ngợm.  Chuyện này rất không vừa lòng ông Hứa Thu Huyền và các thành viên dòng họ Hứa. Nhưng muốn sửa đổi một thói quen cũng cần thời gian.

Thất hứa là chuyện xảy ra lu bù trong cuộc sống của chúng ta. Thành phần nghề nghiệp nào cũng có thể góp phần vào chuyện…ma mãnh này. Nhưng hầu như mọi người đều đồng ý với nhau: các chính khách là tổ sư thất hứa. Trước các cuộc bầu cử, chúng ta được các ứng cử viên cho ăn bánh vẽ tới no nê. Hứa đủ thứ nhưng khi đã ngự được vào chiếc ghế quyền uy, mọi lời hứa đều như nước đổ đầu vịt. Trơn tuồn tuột! Lá phiếu đã bỏ vào thùng phiếu, gạo đã trở thành cơm, chúng ta chỉ biết trơ mắt ếch nhìn các chính khách múa may quay cuồng, quên đi những lời hứa thời tranh cử.

Nhân dân thường là một đám đông ô hợp, bất lực. Nhưng tại Mễ Tây Cơ, nhân dân là một sức mạnh. Chính khách nào thất hứa coi như lãnh đủ.

Tháng 10 năm 2019, ông Thị Trường thành phố Las Margaritas, tiểu bang Chiapas, nằm ở miền Nam Mễ Tây Cơ, đã thất hứa sau khi đắc cử. Theo tường thuật của báo El Heraldo de Mexico thì một nhóm người trang bị gậy và đá đã bắt cóc ông Thị trưởng Jorge Luis Hernandez khi ông này đang ngồi làm việc tại văn phòng. Họ trói ông, cột vào phía sau một xe tải và kéo lê trên đường. Tội của ông là đã nuốt lời hứa, không thực hiện được những lời hứa hẹn khi tranh cử trong đó có việc tái thiết một con đường và cung cấp điện nước cho người dân. Cảnh sát đã giải cứu được ông ngay sau đó. Thương tích của ông không trầm trọng lắm.

Thị trưởng bị trói và kéo lê trên đường vì thất hứa – Ảnh 1.

Người biểu tình đã dùng gậy và đá để bắt cóc thị trưởng Jorge Luis Escandon Hernandez khỏi văn phòng. Hình: My News Ghana

Trước đó, tháng 8 năm 2019, tại thành phố San Andrés Puerto Rico, cũng thuộc tiểu bang Chiapas ở Mễ Tây Cơ, hai chính trị gia thất hứa cũng đã bị dân chúng hài tội. Họ không cột vào xe tải kéo lê trên đường phố nhưng bắt ông Thị Trưởng Javier Jimenez và một quan chúc khác tên Luis Ton phải mặc váy đàn bà đi diễu hành trên đường phố. Mặc váy đàn bà là một hình thức bị sỉ nhục. Tờ báo địa phương El Diario de Mexico cho biết hai ông này hứa khi tranh cử là sẽ dùng số tiền 158 ngàn đô để cải thiện hệ thống cung cấp nước cho thành phố. Khi đắc cử, họ đã xù lời hứa này. Hai ông “quân tử khôn” này đã phải thi hành hình phạt diễu phố trong bốn ngày liền. Dân chúng đứng hai bên đường giơ biểu ngữ và la ó khi họ đi ngang qua!

Thị trưởng Mexico bị ép mặc váy phụ nữ diễu phố vì thất hứa với dân – 1

Thị Trưởng Javier Jimenez và một viên chức khác bị bắt mặc váy đầm diễu phố.

Chuyện chỉ mới xảy ra tại Mễ Tây Cơ, không biết dân chúng các nơi khác có học hỏi được những chiêu thức này không. Nếu họ biết bắt chước nhau, các…con ma nhà họ Hứa phải dè chừng. Vinh quang sẽ có khổ nhục đính kèm!

07/2020

Tiền Đồn

Thế Uyên
Post by Sơn râu 17 May 2025

Phần 6.

Vũ tháo nốt đầu võng thứ hai, vo tròn tất cả nhét vào túi đeo lưng. Toán lính đã thu xếp xong trong những tiếng thì thào thật khẽ. Chàng đeo túi lên lưng, ngồi xuống thềm đất, lật ngửa mũ úp mặt vào châm thuốc. Ra tiến lại:

“Đi hướng nào, chuẩn uý?”

“Cho anh em ra sát lộ đợi tôi”.

Những người lính bước khẽ men sát vách tường, cố ẩn mình dưới khoảng bóng tối ngắn do mái hiên tạo ra. Chái nhà bắt đầu hoang vắng, hiệu thính viên ngồi xổm cạnh mái, nhẫn nại chờ đợi, hai cánh tay đặt trên đầu gối duỗi thẳng xuôi về phía trước. Hai người lính gác giặc phía sau xuất hiện, lần mò kiếm túi đeo lưng dựng ở một góc cột. Vũ nghiêng người về hiệu thính viên:

“Báo cho họ biết mình bắt đầu di chuyển. Sẽ băng qua lộ”.

Chàng đứng dậy, mở bi-đông đưa lên miệng uống một ngụm dài. Mặt lộ như không có một hạt bụi, chàng quỳ lên lắng nghe và quan sát một lần chót: Không có gì ngoài các ngôi chùa tối đen, ánh trăng và cây cỏ. Chàng vẫy tay, tiểu đội 1 chồm lên, các khối đen lăn khuất bên kia bờ đất. Hoàn toàn im lìm ngoài một phảng phất âm thanh địch đào đường thật xa. Chàng vẫy tay, tiểu đội còn lại leo vội lên mặt lộ, chạy lao người về trước. Khi tới gần sát lề đường bên kia, một luồng gió đêm ướp mùi đồng nội ào tới làm chàng dừng lại trong một khoảnh khắc, hít một hơi dài. Cơn buồn ngủ day dứt từ khi trời bắt đầu tối tan biến hẳn, chàng thoải mái và gần như vui vẻ khi cho quân đi sâu vào trong xã. Men theo bóng tối của mái hiên, của rặng cây, của bờ rào, đôi lúc xoạc chân bước qua một hàng rào quá cao, đôi khi dừng lại đứng im hay phân tán vào bờ bụi khi có tiếng động bất thường. Bóng tối, kiếm bóng tối, men theo bóng tối, chàng cố gắng giữ cho toán quân đừng quá xa đừng quá gần con lộ mặt nhựa thẫm màu. Tiếng cuốc bổ vào mặt đường cứng bắt đầu nghe rõ từng nhát, rồi tiếng người nói lao xao. Chàng giơ tay, toán quân đứng sững, tản mát vào các vũng tối chung quanh, khẩu trung liên thò một cái mũi ra ánh trăng rồi biến đi ngay. Trên lộ, đám người hỗn độn lập lờ đang như những con kiến đen bu quanh một cái mô đắp ngang đã cao gần đầu gối. Chàng ngồi dựa vào một thân cây, muốn mỉm cười khi thấy đã ước tính đúng: địch không đặt một tổ báo động nào phía này. Ra bò tới sát cạnh:

“Tụi chúng làm ăn hung quá ta! Kêu pháo binh thụt cho chúng mấy trái cho chừa đi. Bọn mình được phép mà…”

Vũ ngần ngại. Có quá nhiều đàn bà trong đám người kia. Nhưng Ra có lý của hắn, bắn vài trái đạn nổ vào đúng cái đám đen đang lúi húi kia, có thể cả chục người dân tan xác nhưng có lợi từ đó về sau, dân sẽ có cớ để từ chối với các cán bộ ẩn hiện về đêm. Dân sẽ có thể nói: “Đắp mô! Lính nguỵ chúng gọi phi pháo túi bụi ngay!”. Một tiếng đàn bà cất lên cao vút, chàng lắng nghe nhưng không hiểu rõ câu nói, nhưng chú tâm ấy làm chàng hết ngần ngừ: Chàng sẽ không gọi pháo binh dù để chỉ bắn trái khói hay chiếu sáng doạ nạt, cũng không gọi 81 của đồn. Chàng quyết định ngắn ngủi, sẽ bò lại thực gần, lựa cho được vài tên cán bộ cho một băng, kèm vài trái lựu đạn ném xa xa, rồi rút.

Đám đông người quần áo đen sẽ cuống quít chạy ùa tứ phía, những con kiến đen bu quanh miếng đường bị bất chợt lay động bởi một ngón tay của chàng hồi nhỏ. Vũ chợt nhận ra mình đang mỉm cười với một hình ảnh cũ và hình như thích thú với dự định sẽ làm. Ra trườn như một con thằn lằn không đuôi đầu ngóc lên khỏi bụi cây thấp ven con đường đất nhỏ. Cái đầu đội mũ sắt tròn nhô lên, cứng ngắc. Hắn sẽ trở lại đây bây giờ, hắn sẽ góp ý kiến và chàng chờ đợi cái giọng thì thào quen thuộc trong bao đêm. Ý thức phải chờ đợi làm bàn tay tự động đưa lên túi áo lấy thuốc. Chàng ngồi bệt xuống cỏ hai đầu gối giữ chiếc mũ, đưa bàn tay có bật lửa vào trong, bậm chặt môi kê đầu điếu thuốc lên vành bật lửa, mắt theo dõi một đường cuốc sáng loáng trên mặt lộ. Ánh lửa vụt loé lên đồng thời với tiếng ma sát bị chìm trong tiếng cuốc va mặt nhựa. Chàng hút mạnh vài hơi liền, nhìn vệt đỏ từ một góc lan dần đầu điếu thuốc trong lòng chiếc mũ. Giọng thì thào quen thuộc đã cất lên:

“Chỉ có bốn tên mang cạc-bin hay Mas 36 quanh chỗ đắp mô. Xa hơn chung quanh thì không biết, chuẩn uý tính sao?”

Chàng im lặng cúi đầu vào lòng mũ, hút một hơi dài. Khi hắn hỏi tính sao là hắn sắp đề nghị, chàng chờ đợi.

“Đừng gọi pháo binh, chuẩn uý. Lỡ gặp phải gà chết nó câu đúng một trái nổ vào giữa cái đám kia, chết cả đống! Rồi mai dân kéo lên quận mít-tinh tùm lum thì mình kẹt”.

“Anh quên Tư tưởng Kinh kỳ cho phép bắn”.

“Phép hay không phép cũng thế thôi. Cứ có mít-tinh khiếu nại là chuẩn uý lãnh củ. Lúc đó chẳng ông nào nhận đã ra cái lệnh đó đâu… Khẩu lệnh mà, lấy gì làm bằng…”

Chàng lại cúi đầu vào trong mũ, hút một hơi dài và một lần nữa chờ đợi cái giọng thì thào cũ kỹ.

“Tôi ở quân đội gần mười lăm năm rồi, chuẩn uý”.

Giọng nói nhỏ hơn trước nhưng không chứa đựng một mỉa mai hay chua xót. Nó chỉ là nhận định một sự kiện… thế thôi, kinh nghiệm hơn của mười năm quân ngũ. Chàng lẳng lặng đưa cả mũ lẫn điếu thuốc bên trong sang phía cái đầu tròn của con thằn lằn không đuôi. Mùi thuốc bốc lên, chàng cúi xuống toan nói nhưng vội ngừng khi bàn tay người hạ sĩ quan đập vội lên mũi giày. Một tiếng người đi nhẹ chân, chàng không kịp làm gì hơn là cầm khẩu súng lên, bóng người đã hiện ra ngay khúc quanh của con đường. Vòm lá cây che khuất ánh trăng làm chàng không nhìn thấy gì hơn là hình dạng một người mặc đồ đen, chàng tính toán rất nhanh, ngồi im phải ngồi im cho các đường nét lẫn vào bụi cây thấp chung quanh, hắn sẽ không thấy hắn sẽ đi qua. Nhưng bóng đen đã ngập ngừng dừng lại mặt hướng về phía trước có quãng đường không lá cây đầy ánh trăng. Hắn định làm gì đây, hắn biết rồi chăng, mũi súng đã hướng đúng chiều và ngón tay đặt hơi nặng lên cò. Bóng đen đứng hẳn lại quay về phía chàng, ngón tay toan siết cò vội vụt buông ra khi thấy bóng đen không vũ khí và hai bàn tay vừa lần xuống cạp quần vừa tiến lại. Con thằn lằn không đuôi bung người lên chụp lấy bóng đen vào lúc chàng nhận ra đó là một người đàn bà. Vài tiếng kêu ú ớ lọt qua kẽ ngón tay Ra úp chặt, nhưng hai bàn chân vung lên đập thình thịch xuống đất. Chàng rút vội lưỡi lê, nhào nắm đè lên hai đùi, ép chặt cứng xuống đất, một khoảng trắng nhỏ thoáng chiếu rõ đôi mắt sợ hãi. Lưỡi lê mài sáng đưa lên trước đôi mắt mở lớn, người đàn bà vụt ngưng kháng cự. Giọng Ra nghe rõ từng tiếng:

“Nằm im nghe không… Chúng tôi chỉ giữ chị tới sáng mai là cùng cho khỏi lộ vị trí. Bảo im là im, bảo gì làm nấy sẽ được về với chồng con. Số chị xui, đi tiểu không đúng chỗ… Năm! Kiếm cái dây mày”.

Hai binh sĩ đã trườn người tới. Chàng ngồi dậy đút lưỡi lê vào bao, một bên tay còn hằn cảm giác êm của chiếc đùi rộng ấm. Các tiếng động trên phía lộ vẫn nguyên vẹn, đàn kiến đen vẫn tiếp tục bu quanh miếng mồi, chàng yên tâm đặt súng dựa vào một bên vai, tìm cách châm điếu thuốc mới. Một mùi khai nồng thoáng bốc lên đồng thời với ý thức một cảm giác ẩm ướt giữa một kẽ tay. Chàng tự dưng muốn ớn khi Ra trườn trở lại vị trí cũ, làu nhàu nho nhỏ:

“Mụ ta sợ quá đái đầm đìa cả ra… Khai quá sức! Chuẩn uý cho mồi điếu thuốc…”

Chàng chậm rãi chùi tay vào quần, xoay người lại. Người đàn bà hai tay kéo lên trên đầu đã bị trói xong, miệng bịt ngang bằng một chiếc khăn thẫm màu, chiếc quần vì vùng vẫy đã tụt trệ dưới rốn. Chàng ngắm khoảng da thịt để hở bồng bềnh trắng nhờ nhờ, và khi bắt gặp thân thể mình đang chịu tác động rõ rệt về tình dục, chàng toan quay đi. Nhưng một khoảng đen thẫm vuông vắn nằm áp cạnh sườn người đàn bà làm chàng chú ý và gọi Ra khe khẽ:

“Anh ra lấy cái túi kia. Coi có cái gì mà mụ ta cất kỹ quá”.

Người đàn bà vùng vẫy cố kháng cự nhưng một lưỡi lê đã giơ lên khua ngang đe doạ. Chiếc túi trút ra có một xấp giấy. Vũ cầm lên mở ra, lựa một khoảng trăng lớn lọt qua lá cây, đọc vội vàng những hàng chữ. Chàng đặt xấp giấy xuống cỏ, một cán bộ giao liên địch, chàng đã xét đoán lầm, không phải một người dân đi đào đường muốn đi cầu tình cờ tạt vào đây. Ra thì thào:

“Cái gì, chuẩn uý?”

“Một cán bộ giao liên”.

“À! Thảo nào nó kháng cự hung quá”.

“Anh hỏi nó xem tụi chủ lực đang ở đâu. May ra nó biết”.

“Phải hù nó mới được, chuẩn uý! Thứ này thứ dữ mà”.

“Cũng được…”

Câu trả lời sau cùng hạ thấp xuống miễn cưỡng. Chàng không ưa chứng kiến cảnh hù nó mới được, cái mà khi còn học trong quân trường, huấn luyện viên gọi là thẩm vấn tù binh tại chiến trường. Chàng biết như thế sau một lần thấy một tù binh không chịu khai bị bắt ngồi trên một vũng nước đã nẩy bắn người ngã ngửa ra phía sau khi một binh sĩ dí sợi dây điện có nối với một máy truyền tin. Luồng điện quá yếu không tạo một hậu quả gì hơn là một hoảng sợ cho một kẻ đang hoang mang sau khi đã chiến đấu, bị bắt và lo âu cho thân phận mình nằm trong chờ đợi nhiều bất trắc. Hù cho nó sợ, chàng không ưa chứng kiến và thường đi chỗ khác ngồi hút thuốc. Một cần thiết khó chịu như nhu cầu bài tiết nôn nao trong người. Nhưng bây giờ chàng không thể lảng tránh, đây không phải là sân đồn yên ổn có góc cho chàng ngồi hút thuốc. Không thể quay mặt đi khỏi vệt nhờ nhờ trắng và bồng bềnh khuất vào mép quần, không thể từ chối vai trò của mình bởi vì chính chàng đã tham dự vào việc bắt trói kẻ địch đồng thời là sinh vật cái có khoảng da thịt muốn loang trắng thêm trong bóng tối dưới lớp lá cây. Chiếc khăn bịt miệng bị giật tung sang một bên, một loáng lưỡi lê giơ lên, chậm chạp đặt nằm ngang tầm chiếc cổ người đàn bà hai tay bị trói kéo ngược lên phía trên.

“Nói đi! Đại đội của tên Hải hiện ở đâu? Muốn nói hay là muốn cắt tiết!”

Người cán bộ im lặng, chàng nhìn về phía lộ, đàn kiến đen cần cù, chàng cúi xuống lòng mũ hút một hơi thuốc.

“Nói mau! Tưởng bọn tui giỡn hả? Dân biệt kích đây, biệt kích không có hỏi tới câu thứ ba!”

Năm móc túi giơ lên trước mặt người cán bộ địch chiếc phù hiệu thêu hình chiếc sọ người hai xương trắng trên nền đen, phù hiệu hắn xin từ một toán biệt kích đã có lần tới giải vây cho đại đội chàng bằng một mũi dùi tiến quân có những ngôi nhà tranh bị đốt cháy.

“Nói mau! Không nói hả! Năm, mổ bụng nó ra mày”.

Mũi lưỡi lê nhọn thôi hướng vào cổ, quay chúc xuống lách dưới vải. Người cán bộ thốt kêu tiếng nhỏ nghẹn tắc dưới bàn tay Ra vụt úp lên miệng, chiếc áo đã bị rách đứt hết cúc, màu trắng vải vụt trải rộng như chói sáng.

“Hỏi lần chót, đại đội tên Hải hiện ở đâu? Còn bướng hả? Năm!”

Ngọn lưỡi lê lướt xuống phía dưới đe doạ. Người cán bộ giao liên hốt hoảng gật gật đầu. Ra cúi đầu xuống gần sát miệng người đàn bà thì thào liên tiếp. Vũ duỗi thẳng hai chân xua đuổi cảm giác gây gấy khó chịu dọc sống lưng, cảm giác của một âm thanh do lưỡi dao sắc cạo mạnh vào ống nứa xanh, của ước muốn như một sợ hãi đầu lưỡi lê sẽ chúc xuống thật sự xuyên qua lớp vải.

“Chuẩn uý! Nó bảo đại đội tên Hải đóng bên kia lộ cách chỗ đào đường chừng ba trăm thước”.

“Đóng thế nào? Định làm gì?”

“Nó không biết bởi vì được phép ghé qua thăm nhà từ chập tối. Rồi từ nhà đi liên lạc thẳng tới đây. Nó nói…”

Chàng chợt nhận rõ một bàn tay, không, nhiều bàn tay đang bò, những con vật đen thẫm bám trên ngực người đàn bà. Viên hạ sĩ quan ngừng thì thào, người đàn bà nằm im chịu đựng, không một cử động, không một âm thanh phản kháng. Cảm giác gây gấy lại xuất hiện, Ra im lặng chờ đợi, các con vật đen di chuyển mau hơn, vội vã. Chàng ngập ngừng, đó là một kẻ địch, đêm tối và tiếng súng, đêm tối hoả châu và những giọt mồ hôi những bất trắc của nỗi chết. Những con vật đen vụt ngưng di chuyển, những cái đầu binh sĩ hướng về chàng chờ đợi. Giới hạn chót đã đến, chàng biết rõ như thế, chàng chỉ cần ngồi im thêm một phút nữa, những bản năng sẽ được tung ra quanh khoảng ẩm ướt nước tiểu với chàng ngồi đó chứng kiến để rồi tan cuộc, họ cũng như chàng không còn gì hơn là nỗi tuyệt vọng với chính mình và một đam mê vớt vát với đời sống của những người lính.

Chàng chống báng súng quỳ một chân lên, các con vật đen biến mất. Chàng nói chậm chạp :

“Anh Ra mặc lại quần áo cho bả tử tế. Bịt miệng cho khỏi kêu rồi cho nằm sau bờ rào. Bảo đừng có chú nào lộn xộn nữa”.

Người hạ sĩ quan quỳ lên theo, hình như mỉm cười trước khi di chuyển thi hành lệnh. Chàng hiểu nụ cười phỏng đoán ấy. Chàng đã ra lệnh thừa, bây giờ không thể còn có lộn xộn nào nữa. Giới hạn chót chàng đã không vượt qua, người chỉ huy đã dừng lại bên tiền đồn của tuyệt vọng, tất cả sẽ dừng lại, chàng đã ngăn chặn mình ở lại bên này biên giới, một cưỡng ép tự ý không đạo lý trên thế gian nào hiện diện. Chàng trở lại ngồi vị trí cũ nhìn về phía lộ, đám người vẫn bao quanh mô đất đã cao hơn đầu gối. Khi đưa tay lên túi móc bao thuốc, chàng bắt đầu lại nghe thấy tiếng cuốc xẻng trộn vài tiếng nói và một con chó sủa ở một nơi xa phía sau. Khói thuốc toả trong miệng khô cứng, bàn tay kéo bi-đông thật nhẹ khỏi bao vải, dòng nước mát bám vào thành thực quản êm dịu, vài giọt chảy ra ngoài dọc cổ rồi mất hút ở một khoảng nào trên ngực. Chàng thoải mái nói nhỏ khi Ra và hiệu thính viên chúi đầu lại gần:

“Tôi sẽ đi với thằng Năm và Sao bò lại sát chỗ tụi nó đang đào. Sẽ tìm cách hạ vài tên kích rồi ném một lựu đạn cho dân sợ chạy. Anh cho cả trung đội dàn theo đường mương kia. Nếu tên Hải đóng đúng chỗ mụ cán bộ nói, chúng sẽ nhào sang làm mồi cho trung liên. Để kéo trung liên như thường lệ, khẩu của thằng Bảy để hẳn lên gốc cây dừa yểm trợ cho tôi rút”.

Không gian vụt tối hẳn đi, chàng ngừng nói nhìn lên, đám mây bay ngang mặt trăng có những viền một thứ màu xám trong. Chàng cúi đầu xuống nói với hiệu thính viên :

“Khi nghe thấy tiếng lựu đạn tôi ném, gọi về đồn báo cáo mình kích tụi đắp mả Hồ Chí Minh. Chỉ xin pháo binh bắn bên kia lộ một trăm khi nào anh thấy tụi nó tràn sang cả đại đội…”

Ra giọng lo ngại:

“Sao chuẩn uý không xin pháo binh ngay khi chúng nó bắt đầu xuất hiện? Đợi biết rõ là C. của chủ lực, đâu còn kịp”.

Chàng im lặng đưa chiếc mũ lên tận ngang mặt hút thuốc, Ra nhìn sang bên kia lộ, hắn hiểu chưa, những ngôi nhà tranh san sát nhiều lớp đến tận bìa rừng cao-su, Ra quay đầu lại không nói gì, hắn đã hiểu rồi, mọi sự phải là như thế, không còn cách nào hơn. Những người dân chỉ có thể chết trong lương tâm thanh thản của hắn, của chàng, của những người lính nằm từng vũng đen dưới ánh trăng nếu xác họ sẽ lẫn với xác địch. Còn chàng, hình như hắn vừa thở dài chịu đựng, còn những người lính của chàng có chết, bao giờ cũng là chết trong lương tâm thanh thản của mọi người, tất cả mọi người. Hai binh sĩ được chỉ định đi cùng đã tháo túi đeo lưng, bỏ mũ sắt, cài lựu đạn lên túi áo. Khi gỡ túi đeo lưng đưa cho hiệu thính viên, chàng cúi xuống, như một an ủi, nói thêm vào tai người phụ tá:

“Nếu không chặn nổi tụi chúng, anh cho trung đội phân tán vào các ruộng mía đợi sáng rút về đồn”.

“Còn ông Hy?”

“Ai biết được đại đội đóng chỗ nào lúc này”.

Chàng quỳ lên, cài hẳn lựu đạn vào phía sau lưng cho khỏi vướng khi bò.

“Chuẩn uý…”

“Cái gì nữa, anh Ra?”

Người hạ sĩ quan vụt im bặt, cúi mặt xuống. Chàng chợt hiểu, hắn không còn gì để nói thêm về chiến trận, hắn chỉ còn điều để nói riêng với chàng như những người lính nói với bạn thân nhất của mình, những lời giản dị như chúc mày may mắn, gặp hên nghe mày, liệu mà giữ nguyên bộ đồ nghề về cho vợ nó mừng nghe… Nhưng hắn không thể dùng những câu như thế, chàng đã giữ thái độ quá tách biệt từ quá lâu rồi và bây giờ thì đã quá muộn. Chàng để bàn tay lên vai Ra, hắn ngẩng đầu lên những nét mặt hiện rõ dưới ánh trăng, chàng toan nói một điều gì để hắn hiểu thứ tình tựa như lòng biết ơn và lưu luyến nho nhỏ, nhưng sau cùng chàng chỉ hỏi một câu trước khi lom khom cùng hai người lính băng qua con đường đất:

“Trăng còn ba tiếng nữa lặn phải không?…”

° ° °

Người đàn ông làm việc hối hả, lưng bị ép mạnh vào một nếp gấp của chiếu đau tê dần, chị toan nói toan di chuyển người sang phía bên nhưng những cử động bấu víu cương quyết của Hải là mọi ý định mềm rũ xuống, vô dụng. Chỉ còn cách chịu đựng, tiếp tục chịu đựng. Một giọt nước đọng kẽ mắt từ lúc nào bây giờ vì một cử động mạnh của người đàn ông, bật tung từ má chảy buồn buồn xuống thái dương. Hải thở hổn hển ngay sát cạnh làm những sợi tóc rung động phá vỡ giọt nước li ti bám vào vành tai, chị chợt nhận đồng thời cảm giác giọt nước vỡ tan và cơn khóc đã ngừng. Nỗi tuyệt vọng có từ lúc hoả châu bùng sáng không còn nữa, Hải đó rồi, Hải như bóng đêm, là bóng đêm đã tới và chị chẳng còn có thể làm gì hơn là theo đà đẩy mà nằm ngửa chịu đựng. Chị chậm chạp mở mắt, một chiếc lá nào đó theo gió lay động cho mặt trăng thấp thoáng trên kia. Hắn vội vã hơn, thế là sắp xong rồi. Chị toan nói, mong hắn nói nhưng không gian vẫn chỉ là tiếng gió và tiếng lá khô lạo xạo vỡ nát thêm dưới chiếu, chị muốn nghe cái gì khác hơn là tiếng thở mỗi lúc thêm đứt quãng. Mong ước đến tuyệt vọng, nhưng hắn không cần nói, Ba có nói, có hỏi han trong lúc… nhưng Ba là chồng, Ba có thương có yêu. Nhưng Ba đâu rồi, Ba ở đâu? Ý nghĩ rằng Ba đang hì hục đào đường, lưng trán đùi mồ hôi ướt bám dưới ánh trăng ngoài kia làm chị nghẹn ngào, muốn vùng lên. Nhưng Hải đã đến cực điểm, Hải không còn là gì hơn một áp lực tua tủa dồn chị xuống vết chiếu hằn đau cứng, hắn là một con vật dằng dai ngấu nghiến miếng mồi để không cần nói không cần phải thốt ra tiếng kêu, bất cứ tiếng kêu loại nào để chị bớt niềm tủi thân. Chị bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ, giọt nước bám vào mi làm nhòe méo mó và rung rinh mặt trăng bên trên kia, sau lớp lá. Hải rũ liệt khoảnh khắc, lăn sang một bên ngồi dậy. Hắn không nói và chị tiếp tục để nước ứa ra làm mờ mắt mình. Hắn im lặng, hắn đang lục túi áo kiếm thuốc lá, chị không cần ngó cũng biết hắn sắp hút thuốc, đàn ông nào cũng đến thế, đàn ông nào cũng là mùi thuốc bốc lên khét lẹt, đàn ông nào cũng đến thế, cũng đến chỉ là cái thân thể uể oải dựa tường, dựa vách dựa cột dựa thành đất lạnh của chiếc hầm. Bây giờ chị hiểu thật rõ tại sao sau ngày bị Tây cưỡng, má hay khóc một mình với những giọt nước rớt trên tro nóng trong bếp. Cái hành động ấy chẳng nghĩa chi hết cho thân thể, một vài gáo nước là không còn dấu vết. Nhưng còn bên trong thì đầy thương tích, người đàn bà là đàn bà cho một người đàn ông, như thế mới thấy được là chính mình.

Tiếng trẻ khóc làm chị bừng tỉnh, toan ngồi dậy. Không phải tiếng thằng Bé. Người đàn ông giơ chân cản, chị gạt sang một bên:

“Để tui vô! Bấy nhiêu chưa đủ…”

“Đã ăn nhằm vào đâu”.

Tiếng nói của người đàn ông làm chị vụt tìm lại sức lực. Hắn đã nói, hắn không còn là khối đen tua tủa, không còn là tiếng thở hổn hển làm rũ liệt tan tành ý muốn chống cự. Bây giờ hắn là Hải, chính Hải. Chị không còn sợ hãi nhưng tự hỏi còn có thể làm được chi nữa không hay là để rồi và những lúc vắng người ngồi khóc cho nước mắt rớt trên tro tạo những tiếng xèo an ủi sau cùng. Bây giờ chị thấy ngại ngùng cho cả việc thực hiện dự định đã có lúc ngồi trên thềm hiên: cùng Ba lên tỉnh hay cùng Ba vượt sông vào sâu bên kia đều đòi hỏi những nỗ lực những cố gắng mà chị thấy không còn hy vọng có được. Thôi đành để chìm luôn, thôi thì Tía và quyền lực ban ngày phá ụ san đường mồ hôi chảy ròng dưới nắng, thôi thì Hải và vùng thầm lặng đe doạ tua tủa đau cứng người những giọt mồ hôi dán vào da đào đường đắp mộ ban đêm…

° ° °

Vũ ngừng bò, lật nghiêng người thò tay vào túi quần lấy bật lửa bỏ vào túi áo cho khỏi vướng. Con lộ đã gần lắm rồi, tiếng cuốc nghe rõ từng nhát tách biệt. Chàng nhô đầu thật chậm khỏi bờ ruộng, đám kiến đen đã trở thành đám người hỗn độn làm việc với những vết sáng loang loáng của kim khí mài phản chiếu ánh trăng. Một vài câu nói đứt khúc tung tới, chàng quan sát tìm kiếm những du kích nhưng những cử động nhoà tất cả vào một khối đen hỗn độn, quều quào. Ánh trăng yếu đi, chàng ngẩng lên, đám mây xám đang bay tới che dần mặt trăng, chàng ước chừng chiều dài và tốc độ bay của đám mây rồi nhắm mắt lại, đếm thì thầm như bao đêm nằm thao thức trên chiếc võng treo dưới hàng hiên, trong rừng, bờ bụi, tẩn mẩn tính thời gian che khuất mặt trăng của từng đám mây lớn nhỏ. Chàng tiếp tục đếm, năm sáu, bảy, nên mua vải màu gì làm quà cho Bích ngày mai, ni-lông không nhàu nhưng bây giờ ít người mặc, tám chín, mười, đàn bà kỳ cục chỉ thích theo mốt, mười một mười hai mười ba, còn đẹp hay xấu không quan hệ, mười bốn mười lăm, xuống xe đi mua liền cho có vẻ quà, mười sáu mười bảy, đàn bà thích nhận quà dù là của chồng, mười tám mười chín hai mươi, đám mây chắc qua rồi, chàng mở mắt từ từ. Một kẻ cầm súng đứng bên này lộ, một người nữa đứng trên mặt đường đang đốc thúc đám dân này làm việc, một kẻ nữa đang vén quần đái trên bờ ruộng. Tên thứ tư đâu, tên du kích thứ tư đâu… Chàng cố quan sát, cố tìm. Hay Ra đã nhìn lầm một người dân nào. Chàng quay đầu lại, phía sau toàn ruộng phẳng và bờ cây gần nhất cũng tít phía xa. Nếu cần phải rút, chỉ còn cách chạy ngược trở lại con đường đất cũ, ven xã. Chàng thở dài trước khi trườn sang bên trái thì thào vào tai một người lính đi cùng:

“Hai anh cố hạ hai tên đứng phía này… Kia kìa, một đứa đứng gác gần phía này, một đứa vừa đi tiểu xong đang ngồi xuống hút thuốc đó, chếch ngay bên phải cái cây, thấy chưa? Còn tên đang thúc dân, để tôi lại gần thanh toán. Nhớ chỉ nhắm sẵn thôi, khi nào thấy tôi bắn hãy bắn. Hết kẹp là rút thật mau, đừng đợi tôi”.

Chàng lăn tròn người sang phía bên kia bờ ruộng, mùi rạ ẩm bốc lên thấp thoáng mùi bùn và mùi cỏ. Phải bò thật chậm, chúng có thể nhìn ra từ khoảng cách này, mắt chúng quen bóng tối. Một cục đất nào đó bị cùi chỏ chạm lăn đi mấy vòng, chàng bất động nín thở. Trên lộ, các hoạt động vẫn bình thường, chàng nghe rõ từng câu nói của đám đông nhưng không hiểu nghĩa, từ đây tới lộ còn hơn trăm thước, không hy vọng gì bắn trúng trong thứ ánh sáng này. Liệu còn có thể lại gần hơn nữa không, chàng ngần ngại nhìn khoảng trống trước mặt, nhìn đám đông. Hình như tên du kích vừa lớn tiếng, chàng vội lắng nghe nhưng không kịp. Những mẩu âm thanh bẻ vụn vì gió không sao chắp nối được trong trí. Chàng tự dưng thực sự muốn giết tên du kích, muốn như một ao ước, một nhu cầu không thực hiện ngay sẽ làm ray rứt khó chịu. Trăng hoàn toàn ra khỏi mây, chiếu sáng trước mặt một khoảng trũng có bụi cây nhỏ thấp chơ vơ. Chàng trườn thật từ từ, súng để ngang trên hai cánh tay, một đầu gối một cùi chỏ đưa lên, những âm thanh sột soạt khe khẽ dưới người, một đầu gối đưa lên nữa, mong chỗ trũng đừng có nước, nếu không… Gần lộ lắm rồi, chàng vòng tay ra phía sau lấy lựu đạn, vành chỗ trũng đã hiện rõ, tên du kích đã để lộ chiếc bao đựng đạn phồng căng nơi thắt lưng. Hắn không nghi ngờ, hắn khinh địch, nếu không đã phải nhìn ra. Chàng khẽ để thân hình tụt theo thành dốc chỗ trũng, mùi cỏ ẩm ướt bốc lên sực nức. Không có nước, may quá không có nước ở dưới… Mồ hôi đẫm đùi kéo vải quần dán vào da, chỗ nào cũng mồ hôi nhưng bây giờ chàng mới nhận thấy chúng. Áp sát người vào bờ cỏ, chàng nhận thấy tên du kích đang cúi xuống chỉ trỏ. Ở khoảng cách này, hắn sẽ chết chắc chắn. Không thể thoát được, không thể thoát nổi. Chàng đặt quả lựu đạn xuống, ngoáy mạnh trôn vào cỏ cho khỏi lăn, mở nút bao vải kéo bi-đông ra thật khẽ. Liệu chúng đã nghi ngờ gì chưa, tiếng nút nhựa xoay khẽ, chàng đưa bi-đông lên, thò lưỡi vào miệng bình dẫn nước vào miệng. Những giọt nước mát mẻ và một thoáng gió hạ thấp làm se mồ hôi thành những điểm lành lạnh. Mùi cỏ ngái ẩm ướt mỗi lúc thêm dày đặc làm ý chí nhão nát buông thả tứ chi, tâm hồn vào giấc ngủ. Chỗ trũng trở thành ấm cúng quen thuộc nhanh chóng và mùi cỏ như rủ rê vào một vùng an toàn. Mi mắt hơn cụp xuống, chàng nhận biết cái cử động nhỏ bé ấy của thân thể. Mình mệt rồi, mình mệt mất rồi, mùi cỏ quá dễ chịu, quá êm đềm. Nhưng còn nhiều việc phải làm, nhiều việc phải làm…

Chàng đặt trái lựu đạn đứng thẳng bên trái bụi cây. Tên Năm hẳn đã đưa nòng súng theo từng di chuyển của gã du kích phía trái, nhưng hắn và Sao đều mang tiểu liên khó chính xác ngay từ những viên đạn đầu với khoảng cách ấy. Chàng quyết định sẽ ném lựu đạn vào phía đó ngay sát lộ, vừa không chết dân vừa hạ tên du kích. Ném bằng tay trái để có đủ năm giây cho tay phải bắn hạ tên chỉ huy trên lộ. Năm giây là đủ ngắm và bóp cò, chàng thì thào ý nghĩ của mình như để tự nhắc nhở. Năm giây trước khi mọi sự tan hoang với tiếng lựu đạn. Chàng cố suy nghĩ, cố ước tính xem cái gì sẽ xảy ra sau khi bóp cò và đàn kiến chạy tứ tung. Hy đóng đâu, gần phía đồn hay xa hơn, cách lộ ba trăm hay năm trăm, đại đội tên Hải hiện làm gì, rình mò nơi đâu, chàng không biết những điều ấy, không thể biết gì thêm, hiệu thính viên có nhận thêm tin tức cũng đến thế thôi bởi vì chỗ trũng là không gian cách biệt, khoảnh khắc an bình giả tạo mà chiều dài chiều ngắn tuỳ thuộc chính mình, chàng ngẩng đầu lên nhìn bao quát tìm một đám mây thấp, nó kia rồi, không lớn lắm, đang bay lừ lừ. Lớn chừng đó đủ rồi, đủ che khuất ánh trăng cho chàng chạy ngược trở lại chỗ trung đội nằm trong ven con đường đất. Đám mây gần hơn rồi, gần hơn nữa rồi, một thoáng mỏng đã đi ngang phía dưới mặt trăng. Chàng đặt khẩu súng nằm dài trên cỏ, rút chốt an toàn lựu đạn, mắt theo dõi hình dáng người du kích trên lộ. Hắn đang đi dọc mô đất, trà trộn vào dân, làm sao bắn được, trăng sắp bị che khuất, ra đi mày ra khỏi đám dân đi mày, đám mấy sắp tới ra đi mày… Hắn đứng lại, làm gì thế này, được rồi đó, đi nhanh lên chút nữa, còn ba người dân nữa, còn hai người… Chàng đột nhiên nghe rõ một tiếng cười, một câu nói: “Ba! Mần đi cho rồi còn về… mần vợ”. Bóng đen tên Ba quay đầu văng tục, chàng nheo mắt cố tìm đường ngắm đúng, đầu ruồi lờ mờ làm mỏi mắt nhưng mũi súng đã vào giữa bụng tên du kích. Bây giờ chỉ còn chờ đám mây, nó còn bao nhiêu đường phải đi tới trăng, bàn tay phải đã hơi cứng lại vì ghì chặt đúng vị trí, mây tới chưa… Không gian vụt u ám, chàng ném lựu đạn không nhìn theo nó đi tới đâu, cúi vội xuống cầm súng. Trước khi bóp cò một thời gian vô nghĩa, chàng thoáng nhận ra người dân tên Ba lao người vào đánh một kẻ kế bên làm che khuất tên du kích. Nhưng ngón tay đã bóp cò, Ba lảo đảo, chàng rủa một tiếng quỳ lên, tên du kích nghiêng người về phía trước lấy đà chạy, chạy đâu, chàng bóp cò liên tiếp, chạy đâu cho kịp mày… Tiếng lựu đạn nổ vang dội, chạy đâu nổi, chàng bóp cò, cái gã Ba nào đó đã đổ xuống, tên du kích gắng gượng ôm bụng, lắc lư cố bước, ngã chúi xuống. Trước khi xoay người nhảy ra khỏi chỗ trũng, chàng còn kịp thấy hắn đổ sấp xuống lộ và những người dân nhốn nháo. Đàn kiến đen, chàng co chân nhảy qua một bờ ruộng, đúng đàn kiến bị ngón tay chọc vào mồi đang xôn xao, con đường đất kia rồi…

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 17 May 2025

Phần 2

Sau khi xảy ra vụ vượt thoát không thành của hai Đại úy, bầu không khí trong trại cải tạo Thành Ông Năm trở nên ngột ngạt, khó thở hơn trước rất nhiều; phần vì những biện pháp gắt gao của ban chỉ huy trại, phần vì sự căng thẳng, lo âu tuyệt vọng nơi anh em cải tạo. Như sau này tôi đã nghiệm ra, trong hoàn cảnh ấy buông xuôi là tự đưa mình xuống hố thẳm. Trong thời gian hơn 5 năm cải tạo, ngoài những bạn tù chết vì tai nạn, vì bệnh tật, vì bị bắn…, tôi còn chứng kiến một số anh em tự tử, và ít nhất một người chết vì kiệt lực do hậu quả của trầm cảm.
Riêng tôi, tôi không dám nghĩ rằng mình vượt qua được là nhờ bản thân sẵn có sức mạnh tinh thần hơn người, mà chỉ vì tôi may mắn tìm được niềm tin vào tôn giáo; hay viết cho chính xác hơn, tôi đã tìm lại được niềm tin ấy. Viết là “tìm lại” bởi vì tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo, từ ngày trưởng thành cho tới khi đi tù cải tạo, hầu như tôi đã quên mất mình là một “con chiên” của Chúa. Nếu tôi có đi lễ nhà thờ vào mỗi Chủ Nhật thì cũng chỉ do thói quen, hoặc bị bà ngoại, và sau này là bà vợ yêu quý bắt phải đi mà thôi…Nguyên vào năm 1958, tôi đang học lớp Nhất (Grade 6) thì bố tôi tình nguyện lên lập tỉnh mới Phước Long (nay là Sông Bé), trước kia là vùng Bà Rá rừng thiêng nước độc, nơi người Pháp đày tù khổ sai, phục vụ tại Ty Công Chánh, đem theo cả gia đình trừ thằng trưởng nam, là tôi, ở lại Sài Gòn với bà ngoại để học hành với người cậu út cho có bạn.
Vào thời gian người dì út chưa đi lấy chồng và người cậu áp út chưa vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thì tôi và người cậu út còn tương đối “vào khuôn vào khổ”, nhưng sau khi hai chúng tôi được “độc lập tự do” thì bà ngoại chỉ còn “hư vị”: thằng con út và thằng cháu ngoại có đi lễ Chủ Nhật hay không, đi lễ có vào nhà thờ hay đứng bên ngoài hút thuốc đấu láo, bà không thể biết. Công tâm nhận xét thì tôi vẫn “tin đạo” chỉ không “giữ đạo”; nghĩa là tin Chúa nhưng không tuân giữ những “lề luật của Hội Thánh”. Một trong những bằng chứng về việc tôi “tin đạo” là mỗi khi gặp hoạn nạn, hoặc lâm vào một hoàn cảnh khó khăn nào đó, tôi thường cầu cứu Đức Mẹ Maria và các vị Thánh có tiếng linh thiêng. Cho tới nay, tôi vẫn tin rằng một tay lêu lổng như tôi mà học xong bậc trung học, một phần cũng là nhờ sự phù hộ của Thánh Mác-tin. (Chú thích 1)
Nguyên sau khi lên bậc trung học, tôi chỉ học chung với người cậu út ba năm Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ tại một trường tư thục nọ, và tới cuối năm Đệ Ngũ bị trường cảnh cáo sẽ không được cấp học bạ nếu không chịu đóng học phí hai tháng còn thiếu. Tiền bạc bố mẹ gửi về thì đã xài hết, lại không dám thú thật với bà ngoại, tôi quyết định xù đóng học phí và sang năm lên Đệ Tứ sẽ đi học trường khác.
 Vì được “độc lập tự do”, không có sự hướng dẫn của người lớn, tôi nào biết phải có đủ học bạ của bốn lớp Thất, Lục, Ngũ, Tứ thì mới được trường đứng ra làm hồ sơ thi Trung Học. Hậu quả là tôi phải nộp đơn thi tự do! Tuy nhiên, ngoài việc phải đạp xe sang tận đường Võ Di Nguy, quận Tân Bình (tôi quên mất tên trường) để thi, tôi chẳng có gì phải lo lắng, bởi tôi tin mình dư sức qua cầu! Đa số thí sinh thi tự do là quân nhân, công chức. Khi thi môn Toán, tôi làm xong rồi giúp anh quân nhân ngồi bên cạnh làm xong bài toán mà vẫn còn dư giờ! Năm ấy tôi đậu Bình Thứ!
Ngựa quen đường cũ, qua năm Đệ Tam, tôi theo mấy tên bạn lang thang học “tài tử” ở khu vực các trường Quốc Tuấn, Trường Sơn, Thượng Hiền, Văn Học. Gọi là học “tài tử” bởi đa số học sinh tới đây chỉ vì ái mộ các nhà văn nhà thơ kiêm giáo sư (Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền…), học một vài tháng rồi dông, hoặc đóng học phí để “học thử”, hoặc để có cơ hội làm quen với những bóng hồng có tiếng “chịu chơi”…
Thành thử tiền ăn học bố mẹ gửi, tôi cúng cho mấy xe bánh cuốn trước trường Quốc Tuấn nhiều hơn là đóng học phí cho Văn Học, Trường Sơn, Thượng Hiền… Tới năm Đệ Nhị, sau khi các trường đã khai giảng, tôi mới quyết định tu thân, trở về trường cũ học lớp Đệ Nhị ban B thì mới biết mình bị mất căn bản hai môn Lượng giác và Hóa học của lớp Đệ Tam. Đúng ra tôi có thể chuyển sang ban A (khoa học) nhưng vì đám bạn cũ thằng nào cũng học ban B (toán), chê ban A là của “con gái” cho nên tôi cũng tự ái ở lại ban B.
Không có chứng chỉ Đệ Tam, khi thi Tú Tài 1, tôi lại phải nộp đơn thi tự do, từ Phú Nhuận lên tận Bác Ái Học Viện ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn để thi. Nghe bà ngoại thường ca tụng Thánh Mác-tin ở nhà thờ Ba Chuông rất linh thiêng, tới ngày thi, tôi thức dậy sớm, tới nhà thờ vào quỳ trước tượng Thánh cầu nguyện sao cho đề thi Toán năm nay đừng có bài toán Lượng giác!

Nhà Thờ Ba Chuông, đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận
Khấn Thánh Mác-tin chưa đủ, tôi còn ra trước tượng Đức Mẹ Maria ở ngoài sân nhà thờ dưới gốc cây ngọc lan cổ thụ để cầu xin Đức Mẹ phù hộ! Tới lúc vào phòng thi, đọc đề thi môn Toán tôi… tái mặt, rụng rời tay chân: một bài toán Lượng giác! Chỉ trả lời các câu hỏi và bỏ không làm bài toán thì điểm môn Toán của tôi chắc chắn sẽ dưới 10/20, chưa kể trường hợp tệ hại các câu hỏi môn Vật lý không trả lời đúng hết… Tương lai “rớt tú tài anh đi trung sĩ” cầm chắc trong tay! Thế nhưng… tôi lại đậu trong khi cô bạn “Marguerite” PTHL khả ái, học trò cưng của vị Linh mục Hiệu trưởng, lãnh phần thưởng hạng nhất các lớp Đệ Nhị toàn trường, lại rớt một cách đau đớn!
Ngày ấy, và cho tới nay, tôi vẫn tin rằng chính Thánh Mác-tin đã phù hộ cho tôi được… đậu vớt!
Lên Đệ Nhất, biết thân biết phận, tôi dẹp tự ái nam nhi để học ban A. Chỉ tới khi ấy tôi mới thấy trước kia mình “ngu ơi là ngu” khi chọn ban B, bởi học ban A vừa không bị nhức đầu vì môn toán vừa có nhiều nữ sinh học chung, đa số là các cô chiêu ôm mộng trở thành dược sĩ, bác sĩ!
Với trí nhớ tốt (gần như thuộc lòng cuốn Vạn Vật của Đỗ Danh Tẩm) và khả năng sinh ngữ, tôi đậu Tú Tài 2 một cách dễ dàng! Để rồi từ đó, tôi cũng quên luôn Đức Mẹ Maria, quên Thánh Mác-tin, quên mình là một “con chiên Chúa”!
Chỉ tới sau khi vào trại cải tạo Thành Ông Năm, đối diện với tương lai mờ mịt, tôi mới cảm nhận được sự cần thiết của đức tin. Thực ra, vào thời gian đầu, đức tin của tôi mang tính cách “vụ lợi” rõ rệt: cầu xin Chúa cho mình được mọi sự an lành, được sớm về xum họp với vợ con… Nhưng dần dần về sau, đức tin ấy đã trở thành nơi nương tựa, nguồn an ủi trong bước đường cùng, còn tương lai ra sao, sống chết lúc nào, tôi phó mặc cho Chúa.Sau này, nhìn lại quãng đời đã qua, tôi cứ băn khoăn tự hỏi: nếu cộng sản không chiếm miền Nam, nếu tôi không bị bắt đi cải tạo, nếu tôi không phải liều chết vượt biển, liệu “đứa con hoang đàng” này có bao giờ trở lại với Chúa hay không?!
Nhưng đức tin chỉ đến… ban đêm, khi đặt lưng xuống dỗ giấc ngủ, còn ban ngày, tôi phải tìm mọi cách để quên đi thân phận cá chậu chim lồng. Có vào tù mới thấm thía câu “nhất nhật tại tù, tam thu tại ngoại”.
Sau này, khi bị bắt lao động khổ sai ở những trại cải tạo đúng nghĩa “lao cải”, chúng tôi mới nuối tiếc những ngày “nghỉ mát” ở Thành Ông Năm, nhưng khi còn ở đó, chúng tôi lại cảm thấy vô cùng nhàm chán vì không biết làm gì để giết thì giờ trong cái diện tích vài trăm mét vuông của đội mình. Thành thử thỉnh thoảng “được” cán bộ bắt đi dọn dẹp các nhà kho, các khu đậu xe cơ giới bị dân chúng tràn vào hôi của trước đây, ai nấy đều mừng rỡ, như thể được xuất ngoại!
Mỗi ngày, công việc bắt buộc của chúng tôi chỉ là tập thể dục vào lúc 6 giờ sáng, nghe đọc sách, báo “cách mạng”, và họp tổ để kiểm điểm vào buổi tối. Nhắc tới tập thể dục ở Thành Ông Năm tôi lại nhớ tới “Bài quyền số 1” của Trần Ngọc Tự. Sau khi xảy ra vụ trốn trại của hai đại úy, vào lúc 6 giờ sáng mỗi ngày, chúng tôi phải ra sân điểm danh và tập thể dục. Trong buổi tập đầu tiên, tay đội trưởng (cải tạo) hỏi có ai biết cách thức tập thể dục thì tình nguyện lên hướng dẫn anh em. Trần Ngọc Tự xung phong, và thay vì “chim bay cò bay” như hồi còn ở bậc tiểu học, hắn hướng dẫn anh em… múa võ, mà những ai từng học Thái Cực Đạo đều biết đó là “bài quyền số 1”.
Nguyên trước năm 1975, Tự phục vụ trong Đoàn Công tác Chính Huấn BTL/KQ do Thiếu tá “võ sư” Trần Như Đẩu làm Trưởng Đoàn. Ông Đẩu từng giữ chức Giám đốc Võ Đường Thần Phong Tân sơn Nhất trước khi đi bay lại (PĐ-211 trực thăng), nay trở về Tân Sơn Nhất, ông tiếp tục dạy võ, Tự theo ông học Thái Cực Đạo là vì thế. Không biết ngày ấy Tự lấy được đai màu gì, chỉ biết khi hướng dẫn anh em cải tạo ở Thành Ông Năm, ra vẻ đương sự cũng có bài bản lắm. Về phần anh em cải tạo, trừ mấy ông sĩ quan đã lớn tuổi, đều tỏ ra thích thú trước phương cách tập thể dục mới lạ này. Nhưng chỉ được vài ngày, tay quản giáo đội xuống quan sát buổi tập thể dục, thấy cả trăm tù cải tạo tay thì đi quyền, miệng thì “hự hự” có vẻ… hung hãn quá, bèn ra lệnh ngưng tập. Hắn lên lớp:
“Giờ này mà các anh còn tập võ à?… Tập để đánh cách mạng à?!”
Qua sáng hôm sau, hắn đưa một tay bộ đội ra vẻ “vận động viên” xuống biểu diễn các “bài thể dục tay không” số 1, số 2… để tù cải tạo tập theo, và ghi nhớ…
Về mục nghe đọc sách báo thì tùy hứng của tay cán bộ quản giáo, chúng tôi được nghe đọc tin tức trên hai tờ Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng hoặc truyện cách mạng, trong đó có Thép Đã Tôi Thế Đấy của Liên Xô, cuốn truyện đã đầu độc nhồi sọ biết bao thế hệ trẻ, mà có lẽ không một tù cải tạo nào không bị nghe đi nghe lại dăm bảy lần!Nhưng tẻ nhạt, vô vị, nhàm chán nhất phải là các buổi họp tổ vào buổi tối. Các tổ sẽ lần lượt được tay quản giáo xuống chủ trì, lải nhải về chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng, động viên tù cải tạo chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại, xây dựng quyết tâm học tập tốt, cải tạo tốt để trở thành “người công dân lương thiện”, v.v…

* Những niềm vui…

Ngày cộng sản mới chiếm Sài Gòn, nhạc Trịnh Cộng Sơn bị cấm. Nhà nhạc sĩ liền lấy điểm chế độ mới với ca khúc Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, ca khúc đã khiến người yêu nhạc họ Trịnh trước năm 1975 phải thất vọng não nề. Thất vọng bởi theo lời hát của Trịnh Công Sơn, dưới chế độ mới này có quá nhiều “niềm vui” không thể cùng một lúc hưởng hết cho nên mỗi ngày chỉ chọn một!
Nhưng sau này có thì giờ nghiên cứu kỹ lời hát, tôi, và không ít người khác, tin rằng trong khi tựa đề ca khúc là một sự ca tụng cuộc sống mới thì nội dung lại là một sự chửi cha chế độ, bởi vì những “niềm vui” mà tác giả chọn đều là những niềm vui không hề có dưới một chế độ độc tài cộng sản: bông hoa – nụ cười – đường đến anh em bạn bè – thảm lá me vàng – đón tiếng chân em về…
Về sau, chính Trịnh Công Sơn cũng đã gián tiếp xác nhận dưới chế độ CSVN không hề có “nụ cười” và “sự tử tế”.
Nguyên sau chuyến xuất ngoại đầu tiên, thăm Gia-nã-đại (Khánh Ly từ Hoa Kỳ bay sang hội ngộ), trở về Việt Nam, Trịnh Công Sơn viết bút ký về chuyến đi. Nhưng bút ký của một nhạc sĩ nổi tiếng thay vì được đăng trên các tờ báo, các tạp chí văn hóa nghệ thuật chuyên ngành, hoặc ít ra cũng là tờ Tuổi Trẻ – vốn được “người Sài Gòn cũ” đánh giá cao – thì lại được đăng trên một tờ báo của chị em: tờ Phụ Nữ thành Hồ!
Nhưng cũng chỉ đăng được hai kỳ thì bị dẹp, bởi những đoạn viết “thật thà” của họ Trịnh về thành phố Montréal của một chế độ tư bản, chẳng hạn “nơi mà ra đường phố chỉ thấy nụ cười, và sự tử tế giữa người với người…”
Nếu ở Sài Gòn, mỗi ngày Trịnh Công Sơn dễ dàng CHỌN một niềm vui tưởng tượng, thì trong Thành Ông Năm anh em tù cải tạo chúng tôi phải cố TÌM một nguồn vui có thật. Căn nhà của tổ tôi may mắn có một dàn đậu ván xanh tốt ở phía trước, mà tôi gọi đùa là “dàn thiên lý” (đã xa tít mù khơi), thêm mấy bụi ớt xum xuê nên khung cảnh khá… hữu tình, một số anh em ở các tổ lân cận thường lui tới đánh cờ tướng hoặc tán dóc. Tôi là một “ngôi sao” trong đám tán dóc nhờ tài phét lác và óc tiếu lâm.
Tôi không dám tự khen mà chính bà ngoại tôi đã phải nhìn nhận tôi được ông trời phú cho một trí nhớ hơn người, nhớ cả những chuyện ở quê xưa Nam Định khi tôi mới lên 3 lên 4!
Thêm vào đó, tôi có thú đọc sách, ham mê tìm hiểu, đặc biệt về môn thế giới sử, cho nên tôi có một mớ kiến thức tổng quát rất đáng nể, cho dù chỉ có bề rộng chứ không có chiều sâu (nhưng mấy ai biết tẩy!). Tôi lại có tài phịa – phịa đúng theo nguyên tắc “thất thực tam hư” của La Quán Trung, tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa – cho nên chuyện tôi kể vừa hấp dẫn vừa có sức thuyết phục. Chẳng hạn chuyện tình tay ba giữa Nữ hoàng Ai-cập Cleopatra, Julius Caesar và Tướng Mark Antony của La-mã đã trở thành một cuốn… dâm thư, hoặc tình sử Trần Khắc Chung – Trần Huyền Trân – Chế Mân được chế thành một pho truyện kiếm hiệp phiêu lưu gián điệp kỳ tình ma quái… Nhưng óc tiếu lâm khôi hài của tôi thì không do bẩm sinh mà vì hoàn cảnh: hơn bất cứ nơi chốn nào khác, trong tù cười là thuốc bổ, còn khôi hài được là còn tinh thần, còn ý chí, còn hy vọng.
[Về sau, ở một vài trại cải tạo khác, óc tiếu lâm khôi hài của tôi đã bị một số anh em bạn tù “tiến bộ” suy diễn là “châm chọc, đả phá cách mạng” và báo cáo với cán bộ quản giáo, khiến tôi cũng đôi phen xính vính. Nhưng “ở hiền gặp lành – người gian mắc nạn”, một số anh em “tiến bộ” đó còn ở tù… lâu hơn tôi!]

Tới đây xin điểm qua một số anh em bạn tù gần gũi, thân thiết với tôi ở Thành Ông Năm, hoặc sau này ra tù vẫn còn liên lạc với nhau.
Trước hết nói về những người cùng tổ thì sau Trần Ngọc Tự phải kể tới Khương Hữu Thành, tay tổ trưởng có biệt hiệu “Thành cận”, nguyên Trung úy Tiểu Đoàn 18 Quân Vận, SĐ18BB. Thành là người miền Nam, cháu của Phó Đề đốc Hải Quân Khương Hữu Bá, một tay “bách nghệ tinh”, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, có một kho kiến thức rất đáng nể phục và đa tài, từ âm nhạc (chơi ghi-ta classique) tới ẩm thực, từ tây y tới đông y, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí… Sau này ra tù gặp lại nhau ở Sài Gòn, cũng chính Thành cận đã chỉ bọn tôi cách làm xà bông bột sao cho có nhiều bọt để dụ bán cho mấy bà ngoài chợ trời. Nhưng cái hữu dụng nhất tôi học được nơi Thành cận trong tù là cách sử dụng quả lắc cảm xạ học. (Tôi sẽ trở lại với quả lắc này ở một phần sau).
Kế tới là Nguyễn Văn Chúc, Trung úy Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, cũng là một tay ghi-ta classique như Thành cận, cùng trạc tuổi và cùng ở khu ngã tư Trương Minh Ký & Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận, với tôi và Trần Ngọc Tự. Chúc và tôi biết nhau ngoài đời nhưng không thân. Nguyên ông cụ thân sinh của Chúc là chủ tiệm sắt Thăng Long ở Cổng xe lửa số 6, anh trai lớn của Chúc là Đại tá Nguyễn Hữu Toán (Khóa 1 Nam Định), có thời làm Tư lệnh SĐ25BB, sau cùng giữ chức Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ, còn người anh giữa của Chúc chơi với người cậu áp út của tôi (Khóa 21 VBQG), cả hai đã đền nợ nước. Năm 1970, chúng tôi gặp lại nhau tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, nơi tôi, Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông theo học Khóa 8 Sĩ Quan Căn Bản còn Chúc học Khóa 2 Sinh Viên Sĩ Quan, giữ chức Nhạc trưởng của khóa. Sau này tôi mới biết Chúc cũng làm thơ, chỉ thi thoảng nhưng rất có hồn.
Người thứ ba là Nguyễn ĐS, Trung úy, lớn tuổi hơn tôi, đã có Cử nhân Luật. Anh cao ráo, hơi hói đầu, tóc dài, đeo kính cận trông giống John Lennon của ban Beatles, tính tình hiền lành, ít nói; là một điển hình của “Bắc kỳ” trí thức trung lưu nền nếp, nói tiếng Pháp rất “chuẩn”, đối tượng đấu láo về đề tài ca nhạc, phim ảnh ngoại quốc của tôi. Sau khi cộng sản vào Sài Gòn, gia đình ép anh lấy vợ; vừa xong tuần trăng mật là đi tù cải tạo.
Người thứ tư là An Đình Phương, một Thiếu úy cũng gốc Bắc kỳ trung lưu, mặt trông còn trẻ như học sinh trung học, ăn nói nhỏ nhẹ, yếu đuối như con gái; tương tự trường hợp Nguyễn ĐS, sau khi cộng sản chiếm Sài Gòn, gia đình An Đình Phương cũng vội vã hỏi vợ cho con trai trước khi bị đi trình diện học tập cải tạo.
Chẳng hiểu Phương “có tội với cách mạng” như thế nào mà tôi bị đày đi trại nào Phương cũng bị đày theo, nhưng Phương chỉ đi được một phần ba đường!
Về những anh em khác tổ, tôi thân nhất với Hiếu “đờn” (không nhớ họ) ở tổ kế bên, cấp bậc Trung úy, một tay đàn ghi–ta chuyên nghiệp, trước kia chơi cho các vũ trường ở Sài Gòn. Chỉ ít lâu sau khi vào Thành Ông Năm, tôi được biết Hiếu đờn chính là “sư phụ” của một tay bạn khá thân của tôi thời trung học, đi theo Hiếu để thọ giáo và thực tập. Hiếu đờn và tôi có cái thú ngồi dưới “dàn thiên lý”, hắn đờn bằng miệng (và hai bàn tay làm bộ như đang sử dụng một cây ghi-ta tưởng tượng) để đố tôi tên bản nhạc, thường là những bản jazz ngoại quốc ít người biết tới. Một ngày nọ, tôi còn nhớ vào thời gian sau khi tù cải tạo ở Thành Ông Năm nhận gói quà nửa ký đầu tiên từ gia đình (giữa tháng 11 – đầu tháng 12 dương lịch?), cả bọn đang phì phèo những điếu thuốc “Sài Gòn Giải Phóng” thơm lừng, Phạm Khắc Khiêm, một Trung úy Hải quân ở cùng tổ với Hiếu, cao hứng tuyên bố hắn sẽ đóng một cây đàn ghi-ta để Hiếu khỏi phải đàn bằng miệng nữa.
Phạm Khắc Khiêm, tức “Khiêm hớt tóc”, trước kia giữ chức vụ Trưởng Xưởng Ụ Nề thuộc Hải Quân Công Xưởng, là một “handyman” siêu đẳng; vào tù hắn kiêm đủ thứ nghề: hớt tóc, thợ mộc, thợ may (may quần đùi bằng vải bao cát), gò thùng, thau chậu, nồi niêu xoong chảo, thiết kế và sản xuất dép râu “cao cấp”…
Hiếu đờn không mấy tin tưởng vào khả năng đóng đàn của Khiêm nhưng Thành cận thì hưởng ứng ngay. Thế là hai tay “handyman” bắt đầu tìm kiếm, gom góp thu nhặt vật liệu, hoặc nhờ những anh em được đi dọn dẹp các nơi…Hai tuần sau, cây đàn ghi-ta – rất có thể là cây đàn đầu tiên đóng trong trại cải tạo – được trình làng. Thùng đàn đóng bằng ván ép, cần đàn và bộ khóa lên dây đàn đẽo bằng gỗ, ngăn phím làm bằng lõi đồng của dây điện, dây đàn làm bằng các sợi thép lấy trong ruột dây điện thoại: dây “Mí” thì một sợi, dây “Si” hai sợi xoắn lại, dây “Sol” ba sợi, v.v…
Đặc biệt thùng đàn có hình thù giống kiểu quan tài hình lục giác của người tây phương, ở giữa lớn hai đầu nhỏ lại. (Chú thích 2)

(Ảnh trên Internet, chỉ có tính cách minh họa thùng đàn và cần đàn của cây ghi-ta Thành Ông Năm)
Đàn đóng xong, cũng phải mất mấy ngày để Hiếu đờn chơi “test” cho Thành cận điều chỉnh vị trí các ngăn phím cho tương đối chính xác. Xong xuôi, một buổi “trình diễn độc tấu ghi-ta” đã được tổ chức dưới “dàn thiên lý” vào sau giờ cơm chiều và trước kẻng ngủ. Dĩ nhiên, Hiếu đờn là người đàn nhiều nhất và được “ái mộ” nhất, bởi hắn có khả năng đàn từ nhạc thời trang tới nhạc jazz, nhạc rock…, còn Thành cận chỉ phụ diễn với một vài bản classique. Riêng tôi chuyên về hòa âm, còn trình diễn thì không dám múa rìu qua mắt thợ.
“Buổi trình diễn” live thu hút được mấy chục khán giả cùng đội, và trong số những anh em bạn tù tới từ căn nhà gần cầu tiêu, tức là khá xa tổ của tôi, có Xuân Điềm, một nhạc sĩ chuyên chơi đàn mandoline, và ngay trong buổi tối hôm đó, anh đã quyết định sẽ thực hiện một cây banjo cho riêng mình. Xuân Điềm, tên họ đầy đủ là Lê Xuân Điềm, cũng là một người tôi biết trước năm 1975. Gặp lại anh, một thời hoa mộng như sống lại trong tôi…
Ngày ấy, khoảng năm 1964, 1965, Xuân Điềm là nhạc sĩ chơi đàn mandoline trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, thường tới Trường Mù La-san ở đường Nguyễn Thông để hướng dẫn các em trong ban nhạc của trường, nơi mandoline là nhạc cụ chính.  Viết rằng tôi chỉ “biết” Xuân Điềm là vì ngày ấy tôi tới Trường Mù La-san với mục đích chính là ngắm các người đẹp, chứ không phải để giao kết với anh.
Nguyên TH, một người cậu họ cùng lứa tuổi với tôi là bạn thân của anh Xuân Điềm. TH khoe với tôi rằng khi tới Trường Mù La-san, chàng thường gặp các “em” mầm non trong Ban Việt Nhi và lò đào tạo ca sĩ Nguyễn Đức, tới tập dợt chung với ban nhạc của trường. Thế là tôi đi theo TH. Tại Trường Mù La-san, ngoài anh Xuân Điềm, thỉnh thoảng tôi còn được hân hạnh gặp một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Lê Thương, người đã tận tụy công sức hướng dẫn học sinh của trường.
Nhưng như đã viết, mục tiêu chính của tôi là các mầm non ca sĩ trong lò Nguyễn Đức – những cô bé đang từ giã tuổi ô mai để bước vào tuổi dậy thì. Giờ này, hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ mái tóc và những nét cao sang dung dị của Phương Hoài Tâm, nhan sắc mặn mà và những đường cong phát triển trước tuổi của Phương Hồng Hạnh, cái mũi hếch đáng yêu của Phương Hồng Quế…
Nhưng vào cái thời hoa mộng xa xưa ấy, bọn con trai chúng tôi chỉ đứng xa xa chiêm ngưỡng chứ chẳng tay nào có can đảm tới gần để làm quen. Bởi vì các “em” luôn luôn được mẹ đưa đón, và canh phòng cẩn mật!
Lẽ dĩ nhiên, khi các mầm non ấy thành danh và thành người lớn, tôi cũng không còn đủ hứng thú để lui tới Trường Mù La-san nữa.
Đường đời muôn lối, lẽ ra tôi đã quên hẳn Xuân Điềm nếu như không gặp Xuân Lạ, em trai của anh, cùng theo học Khóa 8 Sĩ quan Căn bản tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt năm 1970.
Nguyên sau khi nhập ngũ, về phục trong ngành Chiến Tranh Chính Trị của quân chủng Không Quân, tới năm 1970, tôi từ Pleiku về trình diện BTL/KQ để ra Đà Lạt theo học Khóa CTCT nói trên. Cùng trong nhóm gần 20 sĩ quan Không Quân cấp bậc từ Chuẩn úy tới Trung úy, có Trần Ngọc Tự và Phan Lạc Giang Đông thuộc Bộ Tư Lệnh KQ.
[Theo lời Trần Ngọc Tự, lẽ ra còn có cả đàn anh nhà văn Dương Hùng Cường, tức nhà báo Dê Húc Càn, nhưng vào giờ chót đàn anh xin hoãn để ở nhà tập tành làm tài tử xi-nê, đóng trong phim Người Tình Không Chân Dung]
Ba anh em chúng tôi đều tham gia Ban Báo Chí và Ban Văn Nghệ của khóa học. Qua sinh hoạt trong Ban Văn Nghệ, tôi quen thân Thiếu úy Lê Xuân Lạ, Sĩ quan CTCT thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh; từ đó tôi mới biết Xuân Lạ là em trai của Xuân Điềm.
Tuy là hai anh em ruột, nhưng hai người khác nhau hoàn toàn, về cả ngoại hình, diện mạo lẫn tính tình. Xuân Điềm người tầm thước, vạm vỡ, trông giống như một “võ sĩ” Tây Sơn, Bình Định (quê quán của hai anh em) hơn là một “nhạc sĩ” trong Ban đại hòa tấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Xuân Lạ trái lại dáng dấp thư sinh, cao ráo, và… đẹp trai hơn.
Về tính tình, trong khi Xuân Điềm vui vẻ, hay đùa, dễ hòa đồng thì tính Xuân Lạ hơi… lạ. Cùng ở cái tuổi chưa “tam thập nhi lập”, trong khi đám sĩ quan trẻ độc thân chúng tôi đùa nghịch, ồn ào, quậy phá khắp nơi thì Xuân Lạ cứ như một vị thầy tu trẻ, nét mặt luôn đăm chiêu như suy tư điều gì, khi cần phải mở miệng thì ăn nói nhỏ nhẹ như con gái. Với bạn bè cùng lứa tuổi, Xuân Lạ xưng hô “mình” và “bạn”, nghe càng thiếu chí khí nam nhi. Nghề của Xuân Lạ là vĩ cầm; anh hát cũng rất hay, đặc biệt bản Mùa Thu Chết, nhưng ít khi chịu hát. Gần cuối khóa học, anh em trong khóa phối hợp với Cơ Sở Nhân Văn Đà Lạt tổ chức một buổi thơ nhạc tại Trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Phan Lạc Giang Đông và Trần Ngọc Tự ngâm thơ, anh Hậu (tôi không nhớ đầy đủ tên họ) hát du ca, tôi đứng sau cánh gà để… cổ vũ tinh thần.
Xuân Lạ xuất hiện gần cuối chương trình, dĩ nhiên để độc tấu vĩ cầm. Anh vừa đàn xong, chúng tôi đứng phía trong xúi anh hát bản Mùa Thu Chết. Anh ngập ngừng một chút rồi hát với tất cả say mê, như thể gửi hồn mình vào mùa thu đang về trên thành phố sương mù. Không ngờ tiết mục ngoài chương trình ấy lại được hoan hô nhiều nhất, mà đại đa số khán giả ái mộ là các cô nữ sinh. Lúc ấy, tôi ước gì mình là Xuân Lạ!
Sau khi mãn khóa và trước khi trở về đơn vị ở tận Pleiku, tôi chỉ gặp lại Xuân Lạ một lần duy nhất ở quán cà-phê Hồng cuối đường Pasteur, nơi tụ tập quen thuộc của anh em báo chí, văn nghệ. Chỉ một lần nhưng không bao giờ quên nhau! Cuối năm 1971, tôi đi phép về Sài Gòn, tìm tới quán thì được anh em cho biết Xuân Lạ (khi ấy mang cấp bậc Trung úy và vẫn còn độc thân) đã đền nợ nước tại chiến trường Snoul ở tận bên kia biên giới Việt – Miên. Anh em ai cũng ngậm ngùi tiếc thương một người bạn trẻ tài hoa mệnh yểu.
Vì những kỷ niệm với Xuân Lạ ở Đà Lạt, vào Thành Ông Năm, tôi trở nên thân thiết với Xuân Điềm, nhất là sau khi anh thực hiện cây banjo.

Sau này ra hải ngoại, trong những buổi trình diễn của cá nhân hoặc cùng với Ban Tù Ca Xuân Điềm, anh luôn luôn xuất hiện với cây banjo làm trong trại cải tạo. Tuy nhiên đây không phải cây đàn đầu tiên anh làm ở Thành Ông Năm, vì khi ấy thiếu vật liệu, anh đã phải sử dụng một cái vỏ hộp lọc gió (air-filter) của xe hơi (chôm từ bãi đậu xe) để làm thùng đàn, và một cái đĩa nhôm mỏng (chôm từ nhà bếp) làm mặt thùng đàn; cần đàn và bộ khóa lên dây đàn đẽo bằng gỗ tương tự cây ghi-ta của chúng tôi!
Sau khi anh Xuân Điềm đóng xong cây đàn banjo, thỉnh thoảng chúng tôi lại tổ chức một buổi “hòa tấu dưới dàn thiên lý”, luôn luôn diễn ra vào ban ngày (matinée) bởi tổ của anh Xuân Điềm nằm khá xa, buổi tối không thể “quan hệ” với những tổ khác. Ngày ấy, đầu mùa cải tạo, chưa có ai sáng tác “tù ca”, nhạc vàng thì tuyệt đối bị cấm, cho nên chúng tôi chỉ dám chơi một số bản nhạc ngoại quốc không lời, trong đó có một bản được gọi là “của các nước xã hội chủ nghĩa anh em” để trình diễn mỗi khi có cán bộ quản giáo lảng vảng, đó là bản Guantanamera (Chú thích 3….)
Cây banjo do anh Xuân Điềm độc quyền sử dụng, bởi chúng tôi mù tịt, còn cây ghi-ta thì cho cả nhóm. Hiếu là người đàn nhiều nhất, kế tới là Khương Hữu Thành rồi mới tới tôi, còn Chúc rất ít đàn, phần vì bản tính trầm lặng, phần vì hắn khó tính, chê đàn “dổm”! Những lần hiếm hoi được nghe Chúc đàn, tôi nhận ra hai bản classique quen thuộc: Fur Elise và Amour Interdits. Một buổi tối nọ, gần tới Lễ Giáng Sinh, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe Chúc đàn một đoạn trong Kinh Hòa Bình, vốn là một bản thánh ca nổi tiếng của người Công Giáo Việt Nam, nguyên là lời kinh do Thánh Phan-xi-cô (St Francis of Assisi) đặt, được đức Tổng Giám mục Huế Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền dịch sang lời Việt, do Linh mục Kim Long phổ nhạc.
Ngạc nhiên vì tôi biết gia đình Chúc theo đạo Phật. Sau này, Chúc giải thích với tôi: từ trước năm 1975, anh đã luôn luôn xúc động trước lời hát, và rung động trước nét nhạc của bản thánh ca đầy vị tha, tình người, và hy vọng này, nhất là khi được được trình bày dưới hình thức đại hợp xướng. Tới đây thì tôi hiểu, bởi Chúc đã từng điều khiển ban hợp xướng của Đại Học Chiến Tranh Chính Trị ngày nào.
Gần tới dịp kỷ niệm “Ngày toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), chúng tôi được viên thủ trưởng “lên lớp” về ý nghĩa của ngày này, và phải bầu ra một “quản ca” để đặc trách việc tập cho anh em hát mấy “bài hát cách mạng”, trong đó có Giải Phóng Miền Nam của Lưu Hữu Phước và Chiến Sĩ Việt Nam của Văn Cao.
Tạm dẹp ý thức hệ sang một bên để chỉ xét về khía cạnh nghệ thuật, tôi phải nhìn nhận Chiến Sĩ Việt Nam là một ca khúc hay, cả về giai điệu lẫn ca từ: Bao chiến sĩ anh hùng… Lạnh lùng vung gươm ra sa trường… Quân xung phong nước non đang chờ…
Nhưng bản Giải Phóng Miền Nam, tức “quốc ca” của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, lại là một trong những hành khúc dở nhất của phe cộng sản. Không phải tài nghệ của Lưu Hữu Phước thua kém Văn Cao tới mức ấy (nên nhớ bản Tiếng Gọi Thanh Niên sau trở thành quốc ca VNCH là một sáng tác của Lưu Hữu Phước) mà theo tôi, vì hai nguyên nhân sau đây:
(1) Sau hơn 15 năm đi theo “cách mạng”, óc sáng tạo của Lưu Hữu Phước đã cùn lụt.
(2) Ai cũng biết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, thành lập năm 1961, chỉ là công cụ của Đảng CSVN (ngày ấy núp dưới danh xưng Đảng Lao Động) trong công cuộc xâm lược miền Nam, tức là bù nhìn, thì việc sáng tác “quốc ca” cho cái tổ chức bù nhìn ấy cũng chẳng vinh hạnh, hứng thú gì. Có lẽ vì vậy mà khi sáng tác bản này, Lưu Hữu Phước đã lấy một bút hiệu lạ hoắc: Huỳnh Minh Siêng!
Giai điệu của bản này, được viết theo cung Mi thứ, cho dù hát nhanh tới đâu cũng không mạnh mẽ, thành thử kể cả cao điểm là cái điệp khúc “Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng, vùng lên xông pha vượt qua bão bùng…” cũng không tạo được hùng khí. Mỗi lần cả đội bị bắt ngồi ngoài sân vừa vỗ tay vừa hát bản Giải Phóng Miền Nam, tôi vừa chán ngán vừa thương tội cho đám “phỏng giái”, hy sinh biết bao xương máu mà cả đến bản “quốc ca” cũng không ra hồn!
[Tới tháng 7/1976, sau khi tập đoàn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ vào Sài Gòn tiến hành thống nhất hai miền, khai tử hai tổ chức bù nhìn Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của Nguyễn Hữu Thọ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam VN của Huỳnh Tấn Phát, ca khúc Giải Phóng Miền Nam của “Huỳnh Minh Siêng” cũng chìm vào quên lãng!]
Tối 24/12/1975, chúng tôi lại bị lùa ra ngồi ngoài sân hát nhạc “cách mạng” thay cho các ca khúc về Giáng Sinh. Viên thủ trưởng tuyên bố:
“Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của các công dân, nhưng hiện nay các anh là cải tạo viên, chưa có quyền công dân nên không được hưởng quyền tự do ấy. Khi nào các anh học tập tiến bộ, được cách mạng trả về với gia đình, các anh sẽ được tự do theo đạo của các anh, không ai ngăn cấm cả”.
Đêm hôm ấy, trước khi đi ngủ, tôi cầm cây ghi-ta khẽ gảy bốn nốt đầu trong ca khúc Giáng Sinh bất hủ: Silent Night – Đêm Thánh Vô Cùng.
Chiều ngày 23/1/1976, gần tới Tết ta, toàn khu Trung úy Thiếu úy bỗng có lệnh tập họp khẩn cấp ngoài sân. Nhìn mấy tay cán bộ lạ mặt đeo xắc-cốt (sacoche, còn gọi là xà-cột) cùng với một dàn quản giáo và bộ đội hùng hậu chưa từng thấy, chúng tôi có linh cảm một diễn biến quan trọng sắp xảy ra. Một tay cán bộ bắt đầu đọc tên những người được chuyển trại, ra khỏi hàng đứng riêng thành từng toán. Tổ tôi có tôi, Trần Ngọc Tự, Nguyễn ĐS, An Đình Phương… Tôi và Tự khác toán.
Sau đó tất cả được lệnh giải tán, những người có tên trong danh sách chuyển trại có 10 phút để thu xếp quần áo, vật dụng cá nhân rồi trở ra sân để điểm danh theo từng toán.
Khi đã sẵn sàng, tôi chợt nhớ tới cây đàn ghi-ta; nhìn anh em, tôi nói:
– Tao mang theo cây đàn!
Sau này hồi tưởng lại, tôi cũng chẳng hiểu tại sao ngày ấy tôi đã không góp một chút công sức nào trong việc đóng đàn, tài đàn cũng chẳng bằng ai, mà lại đòi lấy cây đàn?!
Nhưng anh em ở lại không ai phản đối. Họ muốn chiều lòng kẻ ra đi. Bởi vì mặc dù khi ấy không ai biết người đi sẽ đi về phương trời nào, và số phận kẻ ở lại sẽ ra sao, nhưng theo tâm lý thông thường, người ở lại bao giờ cũng lo âu, ái ngại cho kẻ phải ra đi. Đoàn xe molotova bít bùng chở chúng tôi tới Tân Cảng Sài Gòn. Chúng tôi được lệnh ngồi chờ trên xe cả tiếng đồng hồ, trong lòng hồi hộp, hoang mang không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Một người lạc quan tếu:
– Chắc trong thành phố không có chỗ chứa, mình ngủ đêm ở Tân Cảng để sáng mai làm lễ mãn khóa!
Không một ai lên tiếng hưởng ứng!
Rồi chúng tôi cũng đươc lệnh xuống xe từng người một, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bộ đội với súng AK lăm lăm trên tay, xếp hàng một đi xuống một cái “tàu há mồm”.
Khi bước chân lên cái bửng ở đầu tàu, tôi bỗng rùng mình như thể bị khí lạnh của cái bửng sắt truyền lên người, cùng với mùi rỉ sét hôi hám của con tàu cũ kỹ.
Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được đi tàu há mồm (tàu đổ bộ). Lần thứ nhất khi di cư vào Nam năm 1954, được tàu há mồm chở từ bờ biển ở Hải Phòng ra tàu lớn đậu ngoài khơi. Ngày ấy còn bé chưa đủ trí khôn, theo bố mẹ lên tàu mà không hiểu mình đi đâu; hơn 21 năm sau cũng lên tàu há mồm mà không biết mình sẽ được đưa tới chốn nào?!
Lên tàu, mỗi tù cải tạo được phát một ổ bánh mì dài khoảng 2 gang tay, rồi ngồi chen chúc dưới sàn tàu. Chúng tôi được lệnh giữ im lặng tuyệt đối. Từ hai bên thành tàu phía trên, lâu lâu lại có ánh đèn pin quét xuống.Quá nửa đêm, tàu rời bến. Mặc dù không có chỗ nằm, phải ngồi tựa lưng nhau, nhưng vì quá mệt mỏi, sau đó một số anh em, trong đó có tôi, cũng ngủ thiếp đi, chập chờn trong những cơn ác mộng.

CHÚ THÍCH:

(1) Thánh Mác-tin: Martin de Porres Velázquez (1579 – 1639), ra chào đời tại of Lima, Peru, là một tu sĩ Dòng Đa Minh (Dominican Order), được phong Thánh năm 1962.

Là con ngoại hôn của Don Juan de Porres, một nhà quý tộc Tây-ban-nha, và Ana Velázquez, một cựu nô lệ da đen lai da đỏ Nam Mỹ, Martin và người em gái Juana không giống cha mà giống mẹ (da đen) cho nên sau khi Juana ra đời, ông ta đã bỏ rơi cả ba mẹ con.Nhà nghèo, Martin chỉ được đi học 2 năm, lớn lên làm người sai vặt của một vị bác sĩ; tới năm 15 tuổi xin vào Dòng Đa Minh, làm người giúp việc (servant).
Theo luật lệ ở Peru ngày ấy, người da đen và thổ dân da đỏ không được phép trở thành một tu sĩ thực thụ (full members of religious orders), tuy nhiên vì thấy Martin là một người đạo đức và có chí đi tu, tới năm 1603, vị Bề Trên tu viện đã phá lệ để cho chàng thanh niên 24 tuổi được vào “Dòng Ba Đa Minh” (Third Order of Saint Dominic).
Mười năm sau, Martin chính thức trở thành một tu sĩ Dòng Đa Minh nhưng suốt đời chỉ làm một thầy dòng (brother) chứ không được làm linh mục (priest). Thầy Martin phục vụ tại bệnh viện “thí” của nhà Dòng trong cương vị một y công (health worker), đôi khi kiêm cả đầu bếp, lao công quét dọn. Nhân đức và tinh thần hy sinh phục vụ của Thầy đã thu phục được nhiều nhà quý tộc và tài phiệt, dẫn đưa tới việc bảo trợ xây dựng một viện mồ côi và một bệnh viện nhi đồng theo mong ước của Thầy. Thầy Martin qua đời vào tuổi 59. Theo lời kể lại, ngay từ khi còn sống, Thầy đã làm nhiều phép lạ nhưng có khi chính Thầy cũng không biết. Sau khi qua đời, Thầy làm vô số phép lạ để ban ơn cho các đối tượng nghèo hèn, bị xã hội bạc đãi.
Năm 1837, gần hai thế kỷ sau khi qua đời, Thầy Martin de Porres mới được Đức Giáo Hoàng Gregorio XVI phong Chân Phước (Blessed), và phải đợi thêm 125 năm (1962), Ngài mới được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô XXIII – vị “giáo hoàng của người nghèo” – phong Thánh (Saint), và được ghi nhận là vị Thánh “da đen” đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo. Thời gian Chân Phước Martin de Porres được phong thánh (1962) cũng là lúc Dòng Đa Minh Việt Nam khánh thành Nhà Thờ Ba Chuông ở đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận, và các Cha đã ra sức quảng bá lòng sùng mộ vị Thánh da đen này. Nếu chỉ căn cứ vào con số “plaque” CẢM TẠ của người được ban ơn, Thánh Martin de Porres có lẽ là vị thánh Công giáo linh thiêng nhất tại miền Nam VN trước năm 1975.
(2) Thùng đàn hình quan tài. Từ lâu (không biết từ bao giờ) đã có đàn ukulele (đàn ghi-ta nhỏ có 4 dây của đảo Hawaii) với thùng đàn hình dạng chiếc quan tài (coffin shape ukulele) ngược chiều. Lợi ích chính là kiểu thùng đàn này dễ đóng hơn là thùng đàn hình số 8. Đặc tính của thùng đàn hình quan tài là có độ âm vang (resonance) thấp, vì thế kiểu đàn này thường được sử dụng để “vê” (rung: tremolo). Ngoài ra, còn có kiểu đàn ukulele nhỏ hơn với thùng đàn hình quan tài xuôi chiều, có quãng âm vực cao, gọi là “ukulele soprano”.
Còn đàn ghi-ta thùng (acoustic guitar) có thùng đàn hình quan tài thì cực kỳ hiếm. Hiện nay trên Internet chỉ có hình chụp một cây duy nhất, do một người nào đó tự đóng lấy rồi bỏ lại khi dọn nhà, giống hệt thùng đàn chúng tôi đóng trong Thành Ông Năm.
Về đàn ghi-ta do các hãng sản xuất, chỉ có đàn guitar điện (hoặc đàn bass điện) mới có mặt đàn (chứ không phải thùng đàn) hình quan tài, thường chỉ có các ca nhạc sĩ, ban nhạc rock “nặng” (hard rock, heavy metal) sử dụng để trông cho thêm “ngầu”, chẳng hạn kiểu “Epiphone Graveyard Disciple” của hãng đàn Gibson, muốn mua phải đặt riêng.

Ukulele soprano

“Epiphone Graveyard Disciple” guitar
(3) Guantanamera là một ca khúc của Cuba được người cộng sản nhận vơ là một “bài hát cách mạng”. Trên thực tế, đây chỉ đơn thuần là một ca khúc về tình quê hương mà người yêu nhạc ngoại quốc ở miền Nam VN trước năm 1975 hầu như ai cũng biết.
Guantanamera tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là “người phụ nữ/cô gái ở vùng Guantanamo”.
Tương tự trường hợp bản La Bamba của Mễ-tây-cơ, giai điệu của bản Guantanamera nguyên là một giai điệu dân gian mà không ai biết tác giả. Khoảng năm 1928/1929, ca nhạc sĩ Cuba nổi tiếng José Fernandez (1908 – 1979) đã khai triển giai điệu này thành một nhạc khúc để làm nhạc hiệu cho chương trình phát thanh của ông, đồng thời đặt lời hát với tựa đề Guajira Guantanamera (guajira: miền quê), nội dung kể về chuyện tình của tác giả với một thôn nữ ở vùng Guantanamo, sau này phụ tình ông.
Vì là người có công hoàn chỉnh giai điệu này và là người đầu tiên phổ biến dưới hình thức một nhạc khúc, José Fernandez đã được nhiều người ghi là “tác giả” (composer).
Về sau, ca khúc Guajira Guantanamera được đặt thêm nhiều lời hát khác với tựa đề ngắn gọn Guantanamera, trong đó có phiên bản sử dụng bốn đoạn thơ của thi sĩ Cuba José Marti làm lời hát trong các phiên khúc.
José Marti (1853 – 1895) là một nhà thơ ái quốc, được xem là “linh hồn” của cuộc cách mạng của các dân tộc Mỹ la-tinh chống lại mẫu quốc Tây-ban-nha.
Tới đầu thập niên 1960, sau khi Fidel Castro và phe cách mạng (cộng sản) chiếm được chính quyền ở Cuba, họ đã ra sức phổ biến phiên bản của José Marti, không chỉ vì ông là một nhà ái quốc mà còn vì tựa đề Guantanamera của ca khúc nhắc mọi người nhớ tới việc “đế quốc Mỹ” đang chiếm đóng một phần lãnh thổ Cuba là Vịnh Guantanamo (theo Hiệp ước năm 1898 ký với Tây-ban-nha, và Hiệp ước năm 1903 ký với Cuba).
Vì thế Guantanamera đã được nam ca sĩ dân ca Mỹ nổi tiếng thân cộng Pete Seeger (1919-2014) ra sức phổ biến tại Hoa Kỳ. Giữa năm 1963, Pete Seeger trình diễn live ca khúc Guantanamera tại đại hí viện Carnegie Hall và đưa vào album We Shall Overcome của ông; tiếp theo là hai ca nhạc sĩ phản chiến Bob Dylan và Joan Baez.
Tới năm 1966, ban hợp ca Mỹ Sandpipers thu đĩa Guantanamera dưới hình thức một ca khúc phổ thông (pop) và đã lên tới No.3 trên bảng xếp hạng Easy Listening, và No.9 trên bảng Billboard Hot 100 (tính tất cả mọi thể loại).
Từ đó Guantanamera trở thành một ca khúc Mỹ la-tinh được ưa chuộng khắp năm châu, trong đó có miền Nam VN, được nhiều ban nhạc, ca sĩ nổi tiếng thu đĩa, trong số đó có Julio Iglesias, Celia Cruz, Bobby Darin, Joe Dassin, José Feliciano, Trini Lopez, La Lupe, Nana Mouskouri, Gloria Estefan, Los Lobos…
Sau khi CSBV chiếm miền Nam VN năm 1975, đám cán bộ văn hóa miền Bắc đã vô cùng “hồ hởi phấn khởi” trước việc dân chúng miền Nam sống dưới sự kìm kẹp của Mỹ – Ngụy bao năm, nay được nghe “nhạc cách mạng của các nước xã hội chủ nghĩa anh em” là yêu thích ngay!
Họ đâu có biết người Sài Gòn đã thưởng thức Guantanamera của Cuba, Those Were The Days (Dorogoi Dlinnoyu / Tình Ca Du Mục) của Nga từ bảy đời tám kiếp rồi!
Sau đây là bản dịch Anh ngữ (https://lyricstranslate.com) 3 phiên khúc bằng lời thơ của José Marti, trong đó có thấy chút “sắt máu” nào của cách mạng đâu?!

Guantanamera
Chorus:
Guantanamera, guajira guantanamera
Guantanamera, guajira, guantanamera

(1)
I am a truthful man; I come from where the palm tree grows,
I am a truehearted man who comes from where the palm trees grow,
Before I lay down my life, I long to coin the verses of my soul

Chorus

(2)
I plant a snowy rose in January and July,
I grow a snowy rose in January and July,
For the open-hearted friend who puts a helping hand in mine

Chorus
(3)
The words that I write are radiant crimson and emerald bright,
The poems that I write are radiant crimson and emerald bright,
My verses are a wounded deer seeking shelter in the mountain height.


Chorus

Quần đảo ngục tù

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Ngọc Thứ Lang, Ngọc Tú

Post by Sơn râu 17 May 2025

14. Công voa đi đảo

Toa xe Stolypin chen chúc, xe bít bùng ngột thở, khám tạm bồn chồn khó sống, sao bằng vứt bỏ hết ngần ấy giai đoạn để lên toa xe chở súc vật, thẳng đường vào Trại cho rồi. Tù vừa đỡ mệt mà tiện việc nhà nước biết mấy, thằng nào thành án là đưa đi đày một mạch. Đỡ tốn chỗ xe lửa, khỏi cần xe bít bùng đưa đón, đỡ phải tổ chức khám tạm tốn bao nhiêu nhân viên! Bộ máy Cải tạo hẳn nhận ra ngay điều đó nên tù đi đảo tổ chức thành từng đoàn: Đi xe lửa thì từng đoàn dài toa chở súc vật, đi đường thủy từng đoàn tàu. Không có đường hoả xa, đường sông thì đoàn tù lũ lượt đi bộ. (Không lẽ đưa tù đi đày mà phải bắt ngựa, bắt lạc đà lao động?) 
Phải nói ngay không gì thuận tiện bằng loại toa xe chở súc vật. Bao nhiêu tù chở cũng hết, một vài chuyến là xong. Cả triệu nông dân từng đi toa súc vật những năm 1929-1931. Lêningrad tản cư cũng xe súc vật. Những năm 1930 trở đi ngày nào từ Mạc Tư Khoa chẳng có một chuyến xe lửa đầy nhóc tù trên những toa súc vật. Những năm 1930 trở đi ngày nào từ Mạc Tư Khoa chẳng có một chuyến xe lửa đầy nhóc trên những toa súc vật chở đi Sovetskaya Gavan, đi Vanino. Chẳng bao lâu nghẹt quần đảo Kolyma! Các tỉnh đều chở thẳng tới Kolyma, dù không đi hàng ngày. 
Năm 1941 cũng những toa súc vật dời trọn xứ Cộng hoà sông Volga (thân Đức) sang miền Kazakhstan hoang vu, mở màn cho những đợt di dân tập thể. Kế đó những con cưng của Tổ quốc, cả trai lẫn gái dám xuất ngoại sang Đức, Tiệp, Áo hay mon men gần biên giới là bị quơ lên xe súc vật, tống đi Trại hết, cũng như các đợt bị điều 58 vô trại đặc biệt năm 1949. 
Xe Stolypin còn phải theo thời khắc biểu nhà ga. Xe súc vật là khỏi. Miễn có một ông tướng ký tên vô là cho đi đầy nhóc một chuyến, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào. Khỏi cần có sẵn trại giam! Một chuyến xe lửa chở súc vật dài dằng dặc đi đến đâu là một Trại Cải tạo có thể mọc lên tức khắc, dù giữa rừng sâu, đồng cỏ hay hoang đảo. 
Có phải bất cứ toa súc vật nào cũng chở tù được đâu! Ít nhất cũng phải cải sửa lại, nhưng cải sửa đây không phải là vừa chở than chở đá vôi dơ dáy mà phải quét lò than! Tù đi đày đâu cần lò sưởi, nấu ăn dọc đường cho phiền phức? Vả lại chỉ đi trên dưới 1 ngày thì đói lạnh đến mấy cũng dư sức chống cự! Công tác cải sửa chỉ nhằm kiểm soát kỹ từng mánh ván ở nóc toa, sàn toa và hai bên vách toa xem có đủ chắc chắn, kiên cố không. Có lỗ hổng, cây ván yếu là đóng cứng lại, mấy lỗ thủng hơi nhỏ đóng bít hết. Cả toa xe chỉ có quyền có 1 lỗ hổng nho nhỏ đục ở sàn toa để làm ống cống, có bao lưới sắt và đóng đinh chắc. 
Quan trọng nhất là vấn đề canh giữ. Toa nào cũng phải làm chòi canh ở ngoài để lính hộ tống ôm súng máy ngồi gác, phải có mấy bực thang lên nóc, phải có vị trí đặt đèn pha cực mạnh, có điện thường trực. Phải có một mớ gậy dài để gõ gõ nóc tua, gần toa kiểm soát mỗi trạm xe ngừng. Bắt buộc phải có một vài toa xe hành khách đầy đủ tiện nghi cho Sĩ quan An ninh đi theo xe và đoàn hộ tống. Sau khi đã cải sửa chu tất, mỗi toa sự vật kín bưng (bên trong là tù) còn phải vẽ phấn cho rõ ở thành toa: Dụng Cụ Đặc Biệt hoặc là Cấm Mở. Hàng dễ hư hao. 
Xét ra công tác chuẩn bị đoàn xe chỉ là thứ yếu, không quan trọng bằng phương pháp tống tù lên xe mà cán bộ và lính đi hộ tống phải học tập chu đáo, nhằm 2 mục tiêu rõ rệt: 
Giữ bí mật, không cho dân chúng dòm ngó. 
Khủng bố tối đa tinh thần bọn tù. 
Mỗi chuyến xe súc vật chở ít nhất 1 ngàn tù, chia đều 25 toa, nhét người lên tuần tự, cũng lâu chớ đâu phải một toa xe Stolypin? Vẫn biết ngày nào giờ nào chẳng có người bị bắt nhưng quang cảnh cả ngàn tù bị áp giải lên xe lửa đưa đi đày chẳng đẹp đẽ gì! Năm 1938 ở Orel có một nhà nào không có người bị bắt, trước cửa khám lúc nào chẳng đen nghẹt đàn bà khóc lóc, chờ đợi? Tuy nhiên những cảnh đưa người đi đày rùng rợn không để lọt vào mắt các công dân Xô Viết tự do, nhất là đám thanh thiếu niên hy vọng của tương lai! Do đó, tù ở khám ra ga bắt buộc phải đi đêm, đi bộ từng đoàn lầm lũi. 
Dù tổ chức kín tới đâu cũng chẳng thoát khỏi cặp mắt những bà mẹ có con bị bắt, những người vợ lo lắng chờ tin chồng. Chập tối là họ bảo nhau chạy ra ga, thấy chiếc xe nào có vẻ chở tù là áp tới. Họ đến từng toa, hỏi vọng lên: “Có ai tên, không?” hoặc “Toa này có ai tên, không?”. Cứ thế họ chạy len lỏi từ toa đầu đến toa cuối, Thỉnh thoảng từ bên trong toa bít bùng có tiếng reo: “Mình đấy hả? Tôi đây nè” hay “Con đây, con đây má”. Lâu lâu mới có vụ: “Chị, đấy hả? Anh ấy đi chuyến này đó nghe? Ráng tìm ở mấy toa khác coi” hay một giọng ồn ồn cuống quít: “Tôi là… đây! Vợ tôi thế nào cũng ra ga đón bữa nay. Cô bác làm ơn kêu nó giùm”. 
Hoạt cảnh trên giờ đây đâu còn nữa? Không thể chấp nhận được, nên có lệnh tổ chức nghiêm ngặt này. Mỗi chuyến xe chở tù ở ga nào là phải có một hàng rào chó bẹc-giê vây quanh. Muốn luồn lọt tới gần toa xe không sao thoát. 
Cho dù lên xe ban đêm còn có lợi là sử dụng được ép phê khủng bố của đèn pha. Đám tù ngồi ngay hàng, run rẩy luôn luôn bị đèn pha chiếu tới kiểm soát. Có tiếng hô là đứng bật dậy, luồng pha đèn rọi tới đúng chỗ. “Năm thằng hàng đầu đứng lên. Nào, chạy ra xe”. Luồng ánh sáng chói chang dõi theo, sáng trưng như trên sân khấu cùng làm 5 thằng tù chạy cuống quít, bước thấp bước cao đụng nhau, chỉ sợ té. Đâu có thời gian ngó quanh, suy nghĩ? Vấp té là có chầu đèn pha tốp lại, bao nhiêu cái miệng la lối, bao nhiêu mõm chó trận nhau nhau rồi gót giày, báng súng sẽ giáng xuống như mưa! Sự thực đâu phải vì sợ chậm trễ hết giờ mà lính hộ tống bắt tù phải chạy như ma đuổi (bắt tập họp ngồi cũng đủ, đâu phải ngồi bệt xuống đất, hay bắt quỳ gối xếp hàng như ở khám Orel?). Cũng như đèn pha, chó bẹc-giê, mũi súng chĩa lăm lăm, hối thúc chỉ là một mánh lới đặc biệt hữu hiệu của kỹ thuật khủng bố và kiểm soát tù. Xét về tâm lý thì thằng tù lúc nào cũng phải đặt trong tình trạng phải tuân lệnh, hối hả cắm đầu tuân lệnh (không chỉ có răng chó và báng súng) đến độ lúc nào cũng hốt hoảng, không dám nghĩ đến đào tẩu. Tù bị hối thúc khủng bố liên miên ắt sẽ nhận không ra nổi hay quên bẵng mất một lần di chuyển là một cơ hội tốt để chạy trốn. Ít ra vách xe, sàn xe cũng còn dễ thoát hơn mấy lần vách đá nhà giam chớ? 
Đề phòng bị tù chạy bậy, khám đường còn được lệnh trước khi cho tù ra ga lên xe đi đày còn phải kiếm đủ mọi cách quần cho chúng đừ người, chỉ còn vừa đủ sức để ngồi nghỉ trước khi “Năm thằng hàng đầu đứng dậy!”. Lên xe ban đêm nhưng ngay từ sáng sớm tù đã bị kêu điểm danh tập hợp ở một khu riêng. Suốt ngày hôm đó liên miên những thủ tục cưỡng bách. Bao nhiêu lần kêu tên, đếm đầu, sắp hàng? Hớt tóc tắm gội tập thể. Quần áo cho lên lò rang khô. Mệt mỏi nhất là nạn xét người, xét hành lý. Dĩ nhiên nhân viên khám đường trước khi cho tù tập hợp điểm danh đi đày đã khám xét quá kỹ rồi, nhưng đợt khám xét của lính hộ tống mới đáng kể. Họ chịu trách nhiệm khi đi đường, họ phải dành quyền khám xét tối hậu để phòng ngừa mọi bất trắc chớ? Về vụ này đã có thể thức và chỉ thị của nhà binh rõ rệt. 
Tù đi đày không có quyền giữ bất cứ một món gì có thể sử dụng vào việc đào thoát – vật sắt bén có thể cưa cắt được là tịch thu. Những chất bột rời rạc như bột, đường, cà phê, muối, trà, thuốc lá cũng tịch thu hết. “Để tụi bay thình lình thảy vào mắt lính hộ tống, rồi nhảy chắc?”. Bất cứ một vật dụng gì có chiều dài như dây thừng, dây cột đồ, vải rút, dây lưng có thể dùng để “vượt ngục” cũng tịch thu luôn. (Lệnh tịch thu quái ác này không chừa cả sợi dây da cột chiếc chân giả của một thằng tù làm nó phải cởi chân ra, vác chân lên vai và di chuyển bằng cách lò cò nhảy từng bước, với thằng bạn đi bên ghé vai đỡ! (Hơn nữa, tất cả những đồ vậy quý giá chẳng hạn như chiếc va-li cũng bị củ soát kỹ. Không được xách theo người mà phải nạp trình để tập trung vào một chỗ, đến nơi trả lại.) 
Chỉ thị Trung ương dù sao cũng là lý thuyết. Thực tế là các toán hộ tống Vologda hay Kuibyshev có toàn quyền sinh sát với tù nên mới có mục tiêu thứ 3 trong công tác đưa tù lên xe súc vật, được hiểu ngầm là “tài sản của bọn phản động, phản Cách mạng là tài sản chung của nhân dân xứng đáng (như giám thị, lính hộ tống) có quyền chia chác. 
Đó là một điều không cần phải nói ra vì thân phận thằng tù sinh mạng giữa không xong thì sao giữ nổi chút đỉnh tài sản dính theo người? Chống cự sao nổi chính những người có quyền hành hạ, bắt ngồi bắt quỳ hay lột trần truồng? Một khi bị lột truồng ra rồi thì thằng tù dĩ nhiên phải thuộc vào một giai cấp khác, ở dưới hẳn giai cấp đang mặc quần áo, sai bảo, nộ nạt, hành hạ nó. 
Thông thường lính hộ tống xét tù theo thể thức sau đây, áp dụng ở khám Kuibyshev mùa hè năm 1949. Đám tù cởi trần truồng ngồi bệt thành hàng lối, lính chĩa súng quay chung quanh. Gọi tên thằng nào thì thằng ấy đứng dậy, tay xách quần áo, tay xách đồ. Lính hộ tống luôn miệng nộ nạt, xô đẩy, hối thúc, nghĩa là rõ ràng làm dữ xử mạnh, tuyệt không có cử chỉ lời nói bình thường để thằng tù hốt hoảng, sợ hải tưởng đâu sắp bị dẫn đi xử bắn chớ không phải đi đày! Bản thân bị dày vò, vùi dập thì còn tiếc gì mấy món đồ riêng? Gói bị mở banh, va-li quăng quật và dốc ngược lên cho tất cả những vật bên trong tung tóe ra đất. Những thứ vặt vãnh như ví da, hộp thuốc, bị quăng ngay vào một cái thùng rỗng (không biên nhận, không ghi dấu cá nhân và quăng bừa vào một chỗ hở hang – không két sắt, không hộc tủ – như điệu này thì dĩ nhiên chẳng có vấn đề trả lại! Dĩ nhiên khi nạp thằng tù nào chẳng biết trước vậy?). 
Mớ quần áo được rờ nắn kỹ sau đó và khi xét xong thì thằng tù trần truồng chỉ còn nước quơ vội những manh quần tấm áo vứt bừa bãi, túm gọn vào một bó. Có tấm mền bọc lại thì gọn quá! Còn đôi bốt lên bên trong hả? Để lại đi, quăng vào đống cạc táp, va-li da và ký tên vô sổ lẹ lẹ (quái gở ở chỗ nạp đôi bốt không được cấp biên nhận (sau này xuất trình lấy lại!) còn phải ký tên vô tờ khai là đã nạp rồi). 
Chập tối trước khi tù được áp giải ra ga mới khỏi sự chia chác tiếng phản động: Ưu tiên là lính hộ tống mỗi ông lựa vài món. Cặp da, bốt da, hộp thuốc lá được chiếu cố trước. Rồi đến lượt các thầy chú giám thị. Thậm chí đến Công vụ và mấy người anh em cũng có phần chia kia mà.°

Muốn được lên toa súc vật là phải qua ngần ấy thể thức và, mất mát. Đặt chân lên sàn xe là nhẹ hẳn người, dù biết rằng sắp chịu đói chịu rét lại sắp phải mắc kẹt giữa các đồng chí hộ tống và những người anh em kên kên. Bộ xe chở súc vật cũng có kên kên lẫn lộn. Sao không? Đó là truyền thống. Họ chiếm chỗ nào còn biết trước nữa! Mùa hè gần chỗ cửa thông hơi và trọn ngăn trên, nếu có. Mùa đông nếu may mắn có cái lò than thì chắc chắn mấy người anh emsẽ vây quanh lò. 
Ông bạn dân chơi Minayev từng thổ lộ trong lá thư gởi về toà báo Literaturnaya Gazetta cho tôi đề ngày 29 tháng 11 năm 1963 đại khái như sau. Năm 1949 trời lạnh quá, đi từ khám Voronezh tới trại Kotlas mất mấy ngày liền mà cả toa xe chỉ được phát 3 thùng than. Dân chơi chiếm trọn lò than còn lạnh quá, thấy thằng chính trị nào có tấm áo lạnh còn tốt là lột và lột đến cả mấy đôi vớ không tha. Phát thức ăn dĩ nhiên người anh em lãnh phát nên cho cái gì được cái nấy. Chỉ bánh khô, cá khô là nhường cho chính trị chia nhau (họ chán chê mấy món này!), còn cháo nóng súp nóng không cho phép rớ tới. Phản đối, khiếu nại làm gì, khi sự bóc lột, cưỡng đoạt có thể diễn ra trắng trợn như trường hợp ông bạn người Estonia có một chiếc răng vàng còn bị vài người anh em đè ngửa ra sàn xe. Không sẵn kềm nhổ thì ghè bật ra bằng búa! 
Những chuyến đi xa không gì sung sướng cho bằng được lính hộ tống phát đồ ăn nóng tận toa, dù chỉ là cháo. Cả đoàn xe chở rặt tù nên trưởng xa có quyền tới chỗ hẻo lánh ra lệnh tốp để phát cháo. Chỉ phiền phức nước uống quá hiếm, lấy đâu ra nước rửa? Sẵn thùng than đấy, đổ đại cháo vô: Những thằng bao chót sẽ nuốt cháo và than lẫn lộn. Bù lại với số tô nhà nước phát không đủ (thông thường 1 toa xe 40 mạng chỉ có 25 tô là nhiều) thì những thằng bao chót có hy vọng phần cháo nhiều hơn, đặc hơn chút đỉnh. Lãnh đợt đầu chắc chắn cháo hay súp ngũ cốc cũng phải loãng hơn, dù có kêu nài: “Quậy lên cho đều giùm!”. Cũng ít hơn vì, lỡ xúc quá tay thiếu phần những người ăn sau thì sao? Có điều lãnh trước hay lãnh sau cũng phải nhắm mắt lùa cho lẹ vì vừa cầm tô cháo lên đã bị hối thúc tíu tít: “Lẹ lẹ cho rồi! Còn trên 20 toa xe, chớ hầu hạ riêng mấy người mà rề rề?”. 
Đi xe súc vật thì ăn thiếu, nước uống hạn chế mà có chết cóng hay bị lột trần cũng thây kệ. May ra ban ngày gật gù ngủ đỡ được một vài chập: Lính ngồi đầy nóc toa, chòi canh nhìn lại phía sau thì không lẽ phá vách nhảy ngang được hay đục sàn chui xuống đường sắt? Đêm đến là khổ vì nạn củ soát. Thỉnh thoảng trưởng xa cho lệnh tốp, bật pha sáng trưng để lính vác gậy đi từng toa, gõ rầm rầm trên nóc, gầm sàn, vách toa coi có chỗ nào đang bị cưa lên không. Xen kẽ là những vụ xét phía trong toa và đếm đầu đặc biệt. Cửa toa bật mở thình lình, đèn pha rọi vô. Toán lính xách đèn dí sát vào những chỗ “khả nghi”, mấy bọc đồ nhét ở thành xe bị hất văng đi. Toa xe được chia hai. Theo khẩu lệnh “Dồn một bên” tù phải dồn nhấp nháy sang một bên để củ soát bên trống, và ngược lại. Ngái ngủ chậm chân là bị sút bằng bốt da! Tiếp đó mới đếm đầu. Một, hai, ba, toán củ soát đêm có lệ đếm bằng gậy. Thay vì lệnh miệng, mỗi cây gậy vụt xuống hay tạt ngang trúng thằng tù nào là “đếm” xong thằng đó, phải nhảy tạt qua bên trống cho nhanh, nếu không muốn bị “đếm” thêm, bất kể đầu mình hay chân tay. Chừng đếm hết 40 mạng, đèn pha rọi tua chót không còn gì khả nghi nữa thì cửa sắt đóng rầm rầm. Toán củ soát bước sang toa bên là có quyền ngủ tiếp, cho tới lần sau xe ngưng thình lình và tù bị dựng dậy in hệt! 
(Xét cho cùng lính hộ tống có củ soát tàn nhẫn vậy cũng chẳng phải thừa. Tù chính trị đào tẩu đâu chưa thấy nhưng vách toa cưa sẵn lâu lâu vẫn phát giác còn vi phạm luật hộ tống thì quá thường, chẳng hạn như giấu giếm vũ khí bén nhọn. Dù cố tình lờ đi cũng chịu không nổi: mới tối hôm trước năm ba thằng dân chơi còn râu ria xồm xoàm sáng hôm sau đứa nào cũng mày râu nhẵn nhụi! Vậy là ít chúng cũng dấu vài con dao cạo râu, thứ cấm kỹ nhất của nhà tù. Bắt buộc phải đếm đầu bằng gậy, lục soát đến bằng lòi ra tang vật. Cưỡng bách nạp thì nạp, có sao đâu?)

Đi toa xe súc vật còn khác bất cứ chuyến xe lửa đường trường nào ở điểm chỉ biết có lên xe, còn lúc nào xuống, xuống ở đâu thì kể như mù tịt. Không biết có xuống nổi không là thường! Như chuyến xe lửa chở đầy nhóc tù từ các khám Lêningrad tới trại Solikamsk năm 1942. Lúc có lệnh xuống xe có thấy toa nào cục cựa? Mở cửa toa mới giật mình hãi hùng: Những xác chết khô đét nằm còng queo đầy sàn, nhiều hơn người sống! Chừng khuân xuống xếp đầy nghẹt một sân ga xác tù chết khô. Những năm 1944-1945-1946 về mùa Đông có những chuyến xe tù từ những vùng mới “giải phóng” ngược đường về Bắc. Dân làm Hoả xa hay sinh sống gần nhà ga còn lạ gì: Chuyến xe nào chẳng dành riêng 1, 2 toa sau cùng để chất xác? Các toa trên phát giác ra xác nào là đợi đến trạm ngừng dồn cả xuống “toa đặc biệt”. Xe lửa chạy đường trường, dù mưa lạnh cũng không thể để người sống nằm chung với xác chết! Lâu lâu mới có nạn người sống người chết lẫn lộn, khó phân biệt. Phải đợi đến lúc mở cửa toa ra, thằng nào không động đậy mới chắc chắn chết rồi. 
Không gì kinh hoàng cho bằng phải đi đày giữa mùa Đông giá rét. Nhà nước chỉ sợ mất tù chớ ăn nhằm gì những thằng tù chết cóng? Lính đi hộ tống là để canh giữ, khủng bố cho tù khỏi trốn, chớ đâu phải để xúc than, khiêng than phân phối cho 25 cái lò? Do đó tù thiếu than sưởi chết lạnh quá dễ! Ngược lại mùa hè là chui đầu vào lò, một cái lò sắt có 4 lỗ thông hơi thì bít hết 2, để chịu đựng hơi nóng nung nấu và rên rỉ vì thiếu nước uống. Mùa Đông thiếu than dễ chết cóng thế nào thì mùa Hè cũng dám khát nước gần chết như vậy, rút cục cũng khổ sở như nhau. 
Tương đối chỉ đi về tháng 4 và tháng 9 còn đỡ khổ. Tuy nhiên nếu đoàn xe lửa lết cà rịch cà tang cỡ 3 tháng mới xong chuyến, như đi từ Lêningrad sang Hải Sâm Uy năm 1939 thì hết lựa chọn! Những công voa tù đường trường còn thêm nạn học tập chính trị dọc đường điên đầu. Lính hộ tống phải nhồi sọ để giữ vững lập trường tư tưởng đã đành, chính những thằng tù đi đày vẫn phải “theo dõi” thường xuyên. Phụ trách việc học tập là Bố Già tức cán bộ An ninh ngồi toa xe riêng. Chính Bố Già lãnh trách nhiệm phân phối tù từng toa, cắt đặt “trưởng phòng” chính thức và gài ngầm mật báo viên để làm tai mắt cho An ninh ở mỗi toa. 
Dọc đường Sĩ quan An ninh sẽ triệu tập “trưởng phòng” và chỉ điểm viên đến toa riêng để cho chỉ thị và thu thấp báo cáo mật. Mỗi chuyến xe là phải có một vài hồ sơ kết thúc. Có tư tưởng lạ, chống đối là ị đưa xuống toa an ninh khai thác gấp và đến nơi chắc chắn sẽ lãnh thêm ít năm trong bản án đi đày. 
Đi công voa súc vật cực khổ là thế – cực khổ đến suốt đời khó quên – nhưng vẫn còn được đi một mạch, đỡ phải chờ chực hay đổi xe đổi tàu. Miễn là đi một mạch. Miễn tới được là mừng, tâm lý chung mấy người đi đày là vậy. Làm như ở trại Cải tạo Sĩ quan An ninh nhiều hơn, điểm chỉ viên tử tế hơn và tuyết cũng đỡ lạnh hơn ở học đường. Tới Trại là đỡ phải đi nữa. 
(Phải đi nữa thì chắc chết! Đi nữa là, đi sâu thêm vào những vùng hoang vu, đi thứ xe cổ lỗ chạy đường sắt nhỏ hay những toa hàng hoá không mui, không vách. Ngồi sàn xe trống trơn như vậy, tù dễ trốn quá nên lính hộ tống càng có quyền canh gác gắt gao: tất cả phải nằm thu vào một đống, lấy tấm vải bạt lớn trùm kín lên! Nghẹt thở lắm nhưng có vải bạt trùm còn hơn ngồi trơ vơ trên sàn xe, đầu đội trời suốt một ngày như bọn Olenyev. Mặc cho tuyết tháng 10 sa xuống lạnh ngắt, cả bọn ngồi sát vào nhau đợi đầu máy kéo đi! Đầu máy không thấy chỉ có mưa xuống. Nước mưa thấm vào áo quần ít lâu và lạnh đóng băng cứng luôn. 
Ở những đoạn đường sắt hiểm trở bắt buộc phải có những toa có đóng vách gô sơ sài. Xe lửa cố bò chậm lặc lè còn lắc lư, lảo đảo và thỉnh thoảng giật tung người. Vách xe bắt đầu rên kẽo kẹt, những khúc quanh gắt xe lắc mạnh và tù bị hất văng xuống đường rầy dễ như chơi! 
Từ Dudinka đi vô các mỏ cỡ 100 cây số là thấy địa ngục. Vậy mà người anh em blatnye vẫn sung sướng như thường: Họ tranh chui hết vào giữa toa, tha hồ lấy hơi của mấy thằng chính trị bao quanh sưởi ấm lại khỏi sợ lọt đường rầy oan! Khổ nhất là lúc xuống xe. Nhìn quanh chỉ thấy trắng xoá những tuyết (1939). Nhà cửa có đâu? Có mấy cái hang, lỗ vừa đục trong sườn núi tuyết thì bọn đến trước đã chiếm sạch. Khỏi phải đào hàng mất công. Hãy cất lều vải ở đỡ. Đi đày Bắc cực là phải làm mỏ kia mà?) 
Ôi thảm thương cho những thằng đi đày Yertsovo tháng Hai 1938. Nửa đêm có lệnh xuống xe, mấy đống lửa đốt lên ở ven đường sắt. Đếm đầu tập họp rồi đếm đầu nữa! Giữa bãi tuyết mênh mông thời khoá biểu tụt xuống 32 độ dưới số không. Công voa này toàn những thằng ở Donbas chở lên, phần đông bị tống giam lúc mùa hè nên quần áo mong manh, giày vớ thiếu thốn. Có thằng đi dép và mặc đồ nghỉ mát! Thấy lửa là mừng quá, toan bu tới sưởi nhưng lính gác đuổi lập tức. Đốt lửa để lấy ánh sáng kiểm soát cho dễ chớ đâu phải để mấy thằng phản động sưởi ấm? 
Giữa đêm lạnh, đồng trống, 32 độ dưới không độ thì mấy ngón tay chịu sao nổi? Chúng cứng ngắc, mất cảm giác tức khắc. Tuyết chui vào giày và nằm nguyên chỗ, không chịu tan. Khẩu lệnh phát ra nghiêm khắc: “Nghe đây. Vào hàng cấp kỳ. Đi lệch sang phải sang trái một bước là bắn bỏ, không cảnh cáo. Đi thẳng tới!” 
Đoàn công voa người chầm chậm chuyển động. Mấy con bẹc-giê trận lồng lên như muốn bứt xích. Dẫn đầu là mấy ông hộ tống mặc áo da cừu kín bưng. Đám tù phong phanh áo mùa hè, cắm cúi bước trên cánh đồng ngập tuyết, giữa đêm đen tuyệt không chút ánh sáng. Mấy cây phong khô khốc đứng sững, gió thổi lúc nào cũng có thể gãy. Những bước chân lún sâu vào tuyết, mỗi lần nhắc lên là cả một khó khăn vì xương cốt, bắp thịt gần như chết cóng, không chịu tuân lệnh. Mới tới đã vậy còn lao động ngoài mỏ thì sống sót sao nổi? 
Tháng Giêng năm 1945: Hồng quân giải phóng thủ đô Ba Lan. Hồng quân cắt ngang Đống Phổ! Ở tuốt vùng Pechora, tù đi đày xuống công voa chỉ thấy mênh mông một màu tuyết trắng. Xế chiều rồi. Ngồi sụp xuống ven đường rầy, thành hàng 6 người một điểm danh, đếm đi đếm lại. Đồng tuyết Bắc cực khỏi có đường đi, kể cả đường tắt. Đoàn tù phải băng đồng, vượt 6, 7 cây số vất vả. Xưa nay có ai đặt chân đến đây? Đa số tù gốc Moldavia yếu chịu lạnh, chỉ đi giày da là cùng, lội lóp ngóp giữa đồng tuyết. Chậm chân một chút là bị đàn chó bẹc-giê đoạn hậu táp vào đít vào gót chân và vào gáy. Chó trận có huấn luyện mà. Hàng tù đi chót hết cuống cuồng té xiêu vẹo, thảm hại nhất là linh mục trẻ Viktor Shipovalnikov đã bết còn phải ghé vai đỡ đàn anh tóc bạc Fyodor Florya! 
Bước thấp bước cao đi mãi cũng phải đến. Đến Trại là có chầu tắm nước nóng: Cởi quần áo ở một ca-bin, chạy tồng ngồng một khoảng sân tuyết mới được tắm ở ca-bin kế lên. Tắm xong là trời sập tối mới hay tin động trời: Trại vừa lập, chưa đủ chỗ chứa. Không thể nhét thêm mạng nào! Không thể đội trời đạp tuyết suốt đêm đành phải tập họp bù lại, bắt ngồi sắp hàng 6, đếm đầu vài lần và ra lệnh về công voa ngủ đỡ! Lại mò mẫm, dắt díu nhau lội 7 ca bãi tuyết trong bóng đêm. Tới công voa, trèo lên xe là kiệt sức. Cửa mở banh, than sưởi hết nhẵn đoàn tù co ro ngồi áp nhau chịu cóng qua đêm. Sáng dậy phát bánh khô cá khô, muốn uống nước thì vốc tuyết cạp, rồi lếch thếch vô Trại. 
Cũng may có sẵn một Trại. Không đủ chỗ thì cất thêm ít căn nhân công quá thừa chỉ một ngày…. 
Đi công voa chở súc vật còn dám kẹt cảnh xuống xe giữa đồng trống mênh mông, một miền Taiga chưa hề thấy dấu chân người. Tận cùng của đường rầy có thể là khởi điểm của một trại Cải tạo mới toanh. Chỉ cần một tấm bằng gỗ đóng lên một gốc cây phong, mang 3 chữ tắt OLP là đủ 1. Một tuần lễ bánh khô, cá khô, trộn bột với mấy cụm tuyết là hình thành xong cơ sở gốc. 
Trại Cải tạo mọc lên nhanh và bắt rễ nhanh lắm: Chỉ 2 tuần lễ là tổ chức đâu ra đấy, có bếp nấu đồ ăn nóng, nếu không bát đĩa cũng có một chậu lớn chung cho một tổ 6 người. Chưa bàn ghế nên giờ ăn tổ có lệ đóng vây quanh chậu rồi chia phiên ra: 2 người bưng chậu 1 tay và bốc đồ ăn 1 tay, chỉ 4 người có quyền sử dụng cả 2 tay. 
Thông lệ tù mới tới sẽ được chia toán gấp. Bao giờ toán trưởng cũng phải là một dân kỳ cựu để cầm đầu toán mới ép vào kỷ luật, chỉ bảo mánh lới và bóc lột luôn thể! Việc lập toán không thể trì hoãn vì ngay sáng hôm sau đã phải công tác lao động. Hồi chuồng Cải tạo gióng lên là bắt tay vào việc cấp kỳ vì Chuông không chờ đợi ai. Đây là chế độ Xô Viết mới, tù đi Cải tạo yếu tố thời gian là quý, chớ chẳng phải ngục khổ sai đầy ải con người như Akutui dưới thời Nga hoàng mà tù mới đến phải được nghỉ ngơi 3 ngày rồi mới cắt cử công việc (như đã ghi trong Hồi ký của tù già Yukabovich!).

Như đã nói trại Cải tạo mọc nhanh, bắt rễ nhanh lắm nên quần đảo mỗi ngày một phồn thịnh, mỗi ngày mỗi đặt nhiều thiết lộ mới ở nhiều nơi mới đây chở tù đến còn phải dùng đường thủy, trên những giang thuyền cổ lỗ đặc biệt Nga. Loại thuyền này chở được đến 100 người, tù phải ra sức chèo lấy. Cũng có trường hợp đi thuyền chài. Đặc biệt hơn cả là những chiếc thuyền lớn kiểu xà lan phẳng đáy, chở tù đến Vorkutlag hay Ust-Usa. Dân quần đảo kỳ cựu làm sao quên nổi những xà lan chấy, rận nhung nhúc như dòi này? Rận chấy phá đến nỗi bò lổm ngổm đầy thuyền, lính hộ tống phải cho tù đi từng mạng lên trên mui chải, rũ chúng xuống sông! Có những chuyến chở tù không đi đâu xa mà loanh quanh mất đến 10 ngày, vì xà lan đâu phải chỉ sử dụng duy nhất vào việc đưa tù đi đày? Ghé bên này, nằm đợi bến khác chán chê vì nơi đây cũng đặt cả hệ thống khám tạm nho nhỏ dựng trên nhà sàn hay căng lều sát bờ sông. Phải đi vòng vo, lâu lắt các toán hộ tống mới đủ thời giờ và điều kiện lột những thằng Zek! 
Dân sinh sống ở 3 dòng Dvina, Ob và Yenisei làm sao quên những công voa xà lan đầy nhóc tù – nhộn nhịp nhất là đợt thanh trừng Kulak. Ba dòng sông cùng chảy ngược lên biển Bắc, phải có những xà lan khổng lồ đi thành công voa mới chuyên chở kịp cả rừng người đi Cải tạo! Tù nằm dưới lòng xà lan chen chúc như cua cá xếp lớp. Lòng xà lan sâu như giếng, có sức chở tối đa. Lính gác ngồi tuốt trên “lồng cu” chĩa súng xuống. Có xà lan lộ thiên, thỉnh thoảng mới có chiếc được phủ tấm bạt khổng lồ. Để che cho khuất, để chắn cho tù khỏi trốn chớ chẳng phải che mưa che nắng, vì đã bị liệng xà ngầu xuống lòng xà lan là phải chịu thân phận ngoi ngóp, lúc nhúc của mớ cá mớ cua. Ngay ân sủng cũng vứt xuống cái gì thì chia nhau cái đó, không có thì đành chịu. Kulak mà. Khi di chuyển đã vậy, ngay trong trại cũng không có vấn đề dự trữ thực phẩm cho bọn phản động. Giữa miền Taiga hoang vu phải ráng xoay sở lấy bằng cách tranh sống với thiên nhiên! Khỏi nói đợt đi đày Kulak chỉ là một hình thức tiêu diệt dần dà, có hệ thống. 
Cho đến 1940 vẫn còn những công voa xà lan trên sông Dvina (mạn Bắc) và sông Vychegda, theo lời nhân chứng Olenyev. Dưới lòng cà lan tù thì đủ chỗ đứng mà không phải chỉ đi một vài ngày. Đi đái đã có những bồn nhỏ chuyền tay nhau và trút qua mấy lỗ thông hơi xuống sông, nhưng đi cầu thì không có cách nào khác hơn là bậy ra đũng quần! 
Trên sông Yenisei việc chở tù bằng công voa xà lan tiến hành thường xuyên trong mấy chục năm liền. Vì vậy khám Krasnoyarsk mãi đến thập niên 1930 còn những bến tàu lộ thiên ở ven sông để tập trung tù nhân chở tàu. Thời gian chờ tàu chỉ mất 1, 2 ngày nhưng thời tiết Tây Bá Lợi Á độc địa chết người chớ không dễ dàng như năm 1897 Lênin xuống tàu đi St Nicholas đi đày! Kiểu xà lan chở tù phổ thông nhất trên sông Yenisei là thứ sâu thăm thẳm 3 tầng với một cầu thang sắt là chỗ lên xuống và lấy ánh sáng duy nhất. Lính hộ tống chia nhau 1 ca-bin nhỏ ở trên boong và thông thường chỉ đi lại bên trên canh gác, miễn sao tù không lao đầu xuống sông trốn là được. Họ không cần biết những gì xảy ra ở 3 tầng dưới nên chẳng tội vạ gì lần mò xuống cho dơ dáy người, dù có người rên la gần chết. (Có tủ thuốc cứu thương để cấp cứu dọc đường đâu.) 
Hai đợt 1937-1938 và 1944-1945 xà lan tù hoạt động nhiều nhất. Dù chia 3 tầng nhưng chẳng sàn nào có quyền đốt đèn, hoàn toàn trông vào lỗ hổng cầu thang sắt và mấy lỗ thông hơi nho nhỏ ở bên vách. Nếu đủ chỗ thì tù chia nhau nằm thành hai hàng ngang, đầu quay vào vách xà lim chừa lối đi nhỏ ở giữa 2 rừng chân cẳng. Mỗi sàn có một thùng cầu duy nhất đặt ở cuối phòng. (Vậy đã là văn minh chán!). Muốn đi là phải lên lỏi giữa hai hàng chân. Khổ sở nhất là những lúc cầu đầy ắp phải khiêng lên boong trút xuống sông bằng ngả cầu thang duy nhất. Khỏi nói là không có cách nào ngăn ngừa phân văng tùm lum, dính lép nhép và ngập ngụa từ sàn trên tha hồ chảy xuống sàn dưới (phần vì làm biếng, phần vì khiêng lên xuống quá khó khăn nên cầu chỉ được đổ khi không chịu đựng thêm nổi!). 
Khiêng cơm khiêng cháo xuống cũng chỉ một ngả cầu thang này. Phân đổ ra sàn người nằm ráng chịu cũng quen nhưng mỗi sàn một thùng cháo hay súp chia nhau không thể chấp nhận rơi vãi. Do đó chỉ lúc mấy thằng bạn ẩm thực lo thả thùng xuống mới được quyền sử dụng ánh đèn. Giờ đây có thể có đèn điện, những năm đó chỉ có cây đèn Batdầu hôi xách tay le lói ánh sáng. 
Di chuyển tù bằng xà lan dĩ nhiên được nhiều và thuận tiện nhưng không thể nhanh được. Đi Dudinka dám mất trọn 1 tháng như không (bây giờ chỉ 1 tuần). Nào gặp bãi cát, nào nước lớn nước ròng, biết bao nhiêu trở ngại sông nước không thể dự phòng? Chậm trễ chỉ chết thằng tù vì hành trình trễ một ngày là khẩu phần cúp 1 ngày. Nhiều chuyến tù bị nhịn ngang năm ba ngày thông! 
Nhưng dĩ nhiên những thằng tù đói chẳng phải anh em blatnye. Tôi không nói ra nhưng bạn đọc thông minh hẳn biết trước, xà lan cũng đầy dẫy kên kên vậy, chuyến nào chẳng có? Dĩ nhiên chỗ thường lệ của họ phải là sàn trên cùng, ở sát chỗ cầu thang sắt để hưởng ưu tiên ánh sáng, khí trời và đặc quyền ghê gớm là phân chia thực phẩm. Có thiếu bánh phát đến mấy bữa dân chơi cũng chẳng vì vậy chịu nhịn đói bao giờ! Đi xà lan chậm rề rề, buồn bực biết mấy, nên để đốt thì giờ các người anh em ưa giở mấy cỗ bài ra tiêu khiển. Họ quây quần đánh bài cho đỡ buồn, không có bài sẵn thì chế tạo ra vài ba cỗ cũng dễ dàng. Blatnye mà. Đó là một sự kiện mà Shalamov tả vô cùng linh hoạt trong thiên hồi ký Vài nét phóng hoạ về giới giang hồ. 
Đừng hỏi người anh em lấy tiền đâu ra đánh bài tiêu khiển! Có đồ là có cách bán có tiền, mà đồ thì 3 sàn tàu thiếu gì mòng. Có mòng thì kể như dân chơi có quyền lột công khai. Được bao nhiêu đồ đã có lính hộ tống phụ trách “tiêu thụ” mỗi lần xà lim ghé ngang một bến. Chớ còn ai làm công việc này nỗi, tù đâu có quyền lên bờ? Chỉ có một cách này người anh em mới có quyền tụ họp nhau để giải trí ngày này sang ngày khác. Thua qua, ăn lại cũng chỉ bấy nhiêu tiền, giữa bọn họ với nhau. 
Nhưng không lẽ con mòng lúc nào cũng xuôi tay chịu chấp nhận lột? Họ cũng chống đối lại chớ. Vụ chống đối đáng kể nhất đã xảy ra trong chiếc xà lan lớn, thứ xà lan đi biển, giữa khoảng đường từ Hải Sâm Uy ngược ra Sakhalin. 
Điều đáng kể nhất là 7 thằng chính trị trong tay không có 1 tấc sắt nhưng nhất định không chịu thua kên kên, dù chuyến này họ không dưới 80 thằng mặt rằn! 
Với ngần ấy mặt rằn thì con mòng cả xà lan đã phải nạp đồ ngay từ khi tàu chưa rời bên, nghĩa là xà lan còn đậu trong kho số 3/10 cảng Hải Sâm Uy. Dân chơi đã phân công lột nhẵn nhụi tất cả những gì lột được. Dĩ nhiên kỹ thuật khám xét của họ còn cao hơn thầy chú một bậc vì sinh hoạt cùng một chỗ với nhau. Khó giấu giếm lắm nhưng thực tế là có xét là phải có cách nào lục lọi ra bằng hết! Biết vậy nên họ phải đợi tàu chạy đã, thỉnh thoảng sẽ có kế hoạch buộc phải lòi ra. 
Thế rồi có giọng rao: “Có thuốc rê ngon đấy nghe? Bà con ai có tiền có quyền bỏ ra”. Con mòng Grachev rơi vào bẫy cấp kỳ. Moi mãi trong cùng chiếc gi-lê nhồi bông mới lòi ra 3 đồng rúp! Người anh em Tatarin vừa thấy 3 đồng bạc là xông tới nạt nộ tính cướp: 
“ĐM, thằng này! Tiền đóng thuế nói không có. Bây giờ nghe thuốc rê mới chịu lòi ra. Đưa đây mày!” 
Có kẻ đứng bên chặn hắn lại. Đó là Trung sĩ 1 Pavel. Như thường lệ Tatarin đưa 2 ngón tay ra, doạ làm chữ “V” nghĩa là móc mắt thằng cứng đầu nhưng bị Pavel cho đo ván tức thời. Hai ba chục dân chơi bèn nhảy xổ tới can thiệp, tính đập hội đồng, trừng trị thằng chó chết có tiền và thằng trung sĩ muốn làm anh hùng. Nhưng ngay sau đó Grachev và Pavel chịu đầu hàng. Cứ đánh. Lập tức bên “chính trị” có thêm 5 thằng nữa nhào vô. Biết chúng đông hơn và thằng có dấu dao nhưng nhóm 7 thằng nhất định chống cự. Tưởng sao! Mới trao đổi ít đòn quần đảo là cả đám giang hồ rút lui lẹ lẹ. Thì ra blatnye là như vậy! Xưa nay bắt nạ được ai là làm bộ hùng hổ như sắp giết người đến nơi. Chỉ cậy số đông làm bừa, chớ thực sự các người anh em ngán chơi dữ hơn ai hết. Và hèn hạ cũng hơn ai. Già dái non hột vốn là bản chất kên kên mà. 
Vả lại họ không tốp cũng không được. Lính canh sẽ tuột thang xuống can thiệp cấp kỳ, đời nào cho phép ‘đánh lớn” ở chiến trường sát chân thang. Có khi thầy chú đã hờm sẵn để chờ giải tán đúng lúc! Tuy nhiên kên kên chẳng bao giờ chịu rút lui mất mát. Họ phải thòng một câu: “Cứ để chúng mày đấy! Đi tàu đi xe làm không tiện, chớ đến Trại thì làm thịt chúng mày quăng sọt rác mấy hồi!”. 
Câu thòng chỉ đúng một nửa. Quả thực 80 anh chị mặt rằn chuyến xà lan đó đã bàn tính nhau có kế hoạch “nắm vững” Trại Aleksandrovsk, đảo mới trong hệ thống quần đảo Sakhalin để có đất làm ăn, phỗng tay trên những đồng nghiệp dân chơi khác. Đi đày phải có đất để cai trị mới mong sống sót về được chớ. Đổ bộ lên Aleksandrovsk nhóm 7 thằng điều 58 cứng đầu vẫn có ý chờ đợi ngày bị “làm thịt quăng sọt rác”. Rút cục êm xuôi, chẳng có gì xảy ra! Đám 80 mặt rằn còn lòng dạ nào giải quyết “món nợ cũ” trên xà lan? Chính họ còn điêu đứng sợ sống không nổi khi phát giác ra rằng đảo Aleksandrovsk đã có sẵn “người cai trị” rồi. Cũng dân chơi nhưng ít ra cũng sạch hơn chút đỉnh và không thuộc phe nhóm họ!

Lớp đi đày Kolyma sau này không đi thuyền, xà lan mà đi tàu biển đàng hoàng. Tàu lớn hơn thì nhiều tệ nạn hơn chớ bản chất vẫn là một. Lớp người ra Kolyma trên mấy chiếc tàu biển ọp ẹp lạ thay giờ này vẫn còn một số sống sót! Mùa Xuân năm 1938 chiếc tàu phá băng Krasin dẫn đầu, kéo theo một lô chở tàu tù. Tàu biển hồi đó cũng 3 tầng nhưng mỗi tầng đều có ổ ngủ 2 ngăn trên dưới, có vài ngọn đèn le lói. Mỗi tàu chứa nổi 3, 4 ngàn tù. Mỗi ngày tù được chia phiên từng toán lên boong trên đi hứng gió và cho bớt cuồng cẳng. Ra Kolyma mất trên 1 tuần đường biển nên bánh mì mang ra từ Hải Sâm Uy đi thường mốc meo, khẩu phần hàng ngày đang trên dưới nửa ký bỗng rút đi 1 phần 3 là thường. Có cá khô, có thức nước uống lờ lợ, nhưng ăn nhằm gì. Ăn uống vô bao nhiêu say sóng mửa trả sàn tàu bằng hết. Chỉ tổ dơ dáy, ngập ngụa thêm! 
Chở tù bằng tàu lớn thỉnh thoảng cũng có chuyện chớ. Có lần suýt có gay cấn ngoại giao, như lần đoàn tàu chạy ngang eo biển La Pérouse, chạy sát mấy hòn đảo của Nhật. Đúng đặc điểm lập tức mấy ổ đại liên trên vọng gác được tháo xuống, giấu biệt. Lính hộ tống đổi thường phục, bao nhiêu cửa xuống boong dưới đều khoá cứng. Nếu có chuyện bất trắc xảy ra tàu nào cũng sẵn hồ sơ hải hành và văn kiện lập từ trước, để chứng minh tàu của hãng thầu chở nhân công ra công trường xây cất Kolyma. Tuyệt đối không có vụ lính áo giải đi tù đày. Mấy chiếc tàu tuần Nhật cũng sinh nghi nhưng chỉ chạy vòng vo, chạy bám theo. Cũng năm 1938 ở địa điểm hiểm này có chuyện lộn xộn trên tàu Dzhurma. Một bọn dân chơi bẻ khoá lọt vô một kho thực phẩm trên tàu cướp đồ và gây hoả hoạn. Lửa bắt cháy, khói xông mù mịt. Đám tàu tuần Nhật vây quanh đánh điện om sòm, đề nghị lên tàu chữa cháy giùm. Thuyền trưởng tàu Dzhurma đã từ chối thẳng còn không chịu mở cửa boong và cửa xuống kho hàng. Những người bị kẹt dưới kho chết ngộp vì khói nằm co quắp. Sau khi chạy khỏi eo biển, thuyền trưởng điềm nhiên ra lệnh thảy xác chết xuống biển. Kho thực phẩm trên tàu cháy rụi nhưng cái gì còn xài được vẫn chất lên đảo cho tù ăn sau 2. 
Đoàn công voa tàu biển chở tù tới hải phận đảo Magadan thì lâm nạn. Kẹt băng cứng cả đám, ngay chiếc Krasin có bộ phận chuyên phá băng đi dẫn đầu cũng kẹt luôn! Thời tiết Bắc cực mùa này còn quá sớm, băng đã tan hết đâu mà đòi hải hành? Dù nhà nước Xô Viết có nôn nóng gởi “nhân công” ra Kolyma khai thác mỏ cũng chẳng chống lại nổi trời! 
Đợt tới ngày 2 tháng 5 vẫn chưa thấy hy vọng băng rã, đoàn tù được lệnh đổ bộ đại lên Magadan. Cũng may mà nhìn thấy nó dể dắt díu nhau vượt một cánh đồng băng mênh mông tìm đường vào bến tàu trên đảo. Chao ôi, họ run rẩy ngắm cơ sở đảo Magadan và càng thêm cám cảnh: Ngoài một toà nhà đá 2 tầng Dalstroi chỉ thấy lơ thơ vài căn chòi gỗ cũ mèm. Không cây, không bờ bụi, không cỏ và một bóng chim cũng không luôn! Ngoài băng tuyết trắng xoá chỉ còn đồi đá trọc mấp mô. 
Vậy mà đúng lớp lang vở kịch soạn sẵn, từ toà Dalstroi tiến ra nguyên một giàn nhạc long trọng dàn chào. Nhạc chơi hết quân hành hùng hồn đến luân vũ quay cuồng để gọi là chào đón “những con dân Xô Viết lầm lỡ được nhà nước cho đi cải tạo để có dịp tự cải hoá bằng lao động sản xuất”. (Dân Nga không phải đón mừng những bộ xương khô được chở tới lót nền cho đảo vàng Kolyma!). Thảm thương thay cho đám người dở sống dở chết từ Mạc Tư Khoa lê tấm thân tàn ra đây đứng lóng ngóng một dãy dài nghe bà con trên đảo trổi nhạc đón mừng! Còn gì thương tâm cho bằng thảm cảnh những thằng tù chính trị – chiếc tàu thứ nhất nhè đổ bộ toàn tù chính trị, không lẫn một dân chơi nào – thằng lành cõng thằng sống dở, chết dở, đứng co ro ngơ ngác ngó giàn nhạc Dalstroi? Nhiều người phải cõng thực sự vì tê bại trầm trọng quá đứng sao nổi cũng như không còn chân thì đứng cách nào? (Què cụt năm 1938 cũng đi đày Kolyma thiếu gì). 
Sau phút đón mừng lâm ly đó, những gì sẽ xảy ra? Có gì đâu? Sự thực cũng có nhưng cam đoan tôi viết ra là nhàm chán cùng cực, bạn đọc không buồn coi chắc chắn. Đại khái là sau khi trình diện làm thủ tục xong thì lên xe cam nhông đi cả trăm cây số, xuống đi bộ thêm ít chục cây nữa là vừa đến trại mới. Nhập trại là lãnh công tác tức khắc? Ngủ sẽ ngủ lều vải. Ăn thì cá khô, bánh khô và uống thì cả núi tuyết đấy! Trại mới mà. 
Nếu muốn có chút chi tiết thì có thể kể thêm vô mục khám sức khoẻ trong nhà lều Magadan, cởi trần truồng ra coi qua tiêu chuẩn người ngợm có thích ứng với công tác không mà kết quả chẳng thằng tù nào không thích ứng hết! Sau đó đến mục tắm tập thể và xét vì tắm là phải trần truồng nên những thứ gì không dính vào da là phải gởi nhà kho để cán bộ phụ trách “định liệu”. 
Phải nói là cú “định liệu” đợt tù đầu tiên mùa Xuân năm 1938 cán bộ phụ trách tiếp nhận Magadan đã trúng mối lớn! Nội khoản áo quần, giày dép của 1 chuyến tù cũng cả núi những áo vét da, áo khoác da cừu nguyên tấm Romanov, com-lê đen dạ thế chiến, áo lạnh dài tay, áo mặc nhà bằng nhung nõn, bốt da láng, bốt da bên trong lót nhung tơ, (đã nói đợt đầu toàn tù chính trị, không có dân chơi lẫn lộn vô mà). Xét về phương diện biết ăn sung mặc sướng thì đám tù Kolyma đầu Xuân 1938 có lẽ vô địch Liên bang Xô Viết. Họ đâu phải bần cố nông phản động hay Kulak? Tất cả từng là con cưng của chế độ, thành phần có gốc Đảng bự. Nào chủ bút, chủ nhiệm báo, Nào giám đốc xí nghiệp, công ty quốc doanh. Nào bí thư Đảng ủy Tỉnh, Miền, giáo sư Kinh tế, Chính trị. 
Trong đám gốc bự biết ăn xài, chưng diện đó có một vị chợt lên tiếng thắc mắc: “Này, mấy món đồ của tụi mình để lại đây ai coi nhỉ? Tắm xong thì,”. Hắn lập tức bị cán bộ phụ trách chỉnh: “Cứ vất đại ra đấy, ai mà thèm!”. Cán bộ hướng dẫn tắm còn bất mãn: “Đi tắm, đi mau! Ở đấy mà thắc mắc!” 
Mọi người bèn tồng ngồng bíu ríu đi tắm. Tắm xong thì hết thắc mắc đồ đạc, quần áo còn mất! Vì lúc được hướng dẫn trở ra đi một ngả khác, chớ đâu có trở lại nhà kho. Kế bên là phòng phát đồ. Dĩ nhiên là đồ nhà tù đúng tiêu chuẩn: Quần áo bà ba vải đen, sơ mi lao động, áo vét nhồi bông gòn (kiểu đi đày và không có túi). Mỗi kẻ còn được phát một đôi giày tứ thời da heo! 
Cái vụ đổi đồ nhà tù này đâu phải chuyện chơi. Mặc nó vô là thôi, tống tiễn cả một thời quá khứ! Nào địa vị, nào chức tước ngày xưa liệng bỏ cái một. Hét dám ho he chắc! 
Lúc bấy giờ họ xớn xác: “Ủa, đồ đạc..quần áo chúng tôi đâu cả?”. Có kẻ còn la lớn lên nữa, nhưng làm sao át nổi tiếng quát rất hách của sếp cán bộ: 
“Toàn thể nghe đây, Những thứ đó, ở nhà tụi bay! Yên lặng hết, ở Trại là không có cái gì hết, khỏi đồ đạc, quần áo! Ở Trại chỉ có một thứ là Cộng sản chủ nghĩa, hiểu chưa? Vào hàng gấp, Toán trưởng chuẩn bị. Đi đầu, bước! ” 
“À, ở Trại chẳng có gì hết. Chỉ có Cộng sản chủ nghĩa! Nếu chỉ có thế thì hết dám hó hé. Bề nào cũng là con cưng của Đảng, từng hiến dân cả đời cho chủ nghĩa. Còn phản đối cái gì?” 

Nếu công voa có xe lửa, tàu biển thì dưới chế độ Xô Viết xe bò hay đi bộ cũng thành công voa vậy chớ. Dĩ nhiên không hiền lành như Tolstoi tả trong cuốn Hồi sinh, “rồi một ngày nắng ráo đoàn tù được lính áp giải từ khám ra ga!”. 
Tù giam trong khám Minusinsk năm 1940 cũng được đi chân vậy. Có điều trọn một năm họ bị giam cứng trong cát-xô, xà lim, có biết đi là gì đâu. Đến thở và nhìn còn muốn quên luôn! Đột nhiên họ bị đẩy ra sân bắt sắp hàng và ra lệnh: “Đi! Đi một mạch tới Abakan, có 24 cây số đường đất mà 12 người ngã lăn ra chết dọc đường!” 
Tính ra đến 500 mét mới có một mạng lăn ra chết – vì cuồng cẳng – đi hết nổi – đã lấy gì làm nhiều? Đâu có đáng đề tài sáng tác lớn. Một chương truyện cũng phí đi! Thì ra sống ở trong nghĩa địa con người ta cạn hết nước mắt là phải. 
Công voa tù đi chân đất mới thực sự là thủy tổ của mọi thứ công voa. Chẳng qua thời buổi văn minh cơ khí sử dụng được bất cứ một phương tiện vận chuyển gì là người ta từ bỏ nó vậy thôi. Chẳng đặng đừng mới xài lại lỗi chăn người, đại khái như hồi Lêningrad bị bao vây phải đưa tù đi một khoảng đường dài trước khi nhét lên toa súc vật. Hồi đó chỉ tù đàn bà mới được phép đi gần tù binh Đức, mấy thằng tù lớ quớ tới gần là có lưỡi lê xua qua ngay (bộ xáp tới gần để cướp giật đồ ăn sao?). Nhưng đàn ông đàn bà bình đẳng ở chỗ mạng nào té gục, không gượng dậy nổi để bắt kịp theo đoàn là được lượm cấp kỳ để thảy lên chiếc cam nhông tà tà chạy đoạn hậu. Sống hay chết chưa cần biết. Hãy cứ thảy lên, giày dép tịch thu lại. 
Công voa tù áp giải đường trường cho tới thập niên 1930 còn thiếu gì? Ngày nào chẳng có một đoàn từ khám tạm Kotlas đi Trại Ust-Vym đường xa 300 cây số? Tới trại Chibyu còn 480 cây số, đi 100 người một lượt. Mãi 1938 còn trọn công voa đàn bà trên các đoạn đường này. Trung bình mỗi ngay công voa người bò được cỡ 25 cây số chớ mấy?
Thông thường công voa người bao giờ chẳng có chó trận mở đường và báng súng đoạn hậu. Đi đường xa, nghỉ lại dọc đường là phải xách theo nồi niêu soong chảo và thực phẩm. Sẽ có vài cái xe bò đi sau gánh đỡ những khoản này, không khác gì thế kỷ trước! Dọc đường đã có những trạm nghỉ tạm, nhà cửa của bọn Kulak bị đi đày bỏ lại thiếu gì. Có điều chỉ còn khung nhà, bao nhiêu cửa cũng bị thổi bay từ lâu. Ngược lại, thực phẩm dọc đường là mối lo chính. Nhà tù có bây giờ chịu phát thừa đồ ăn? Có trục trặc dọc đường đành chịu: Khẩu phần 2 ngày chia cho 3, hay 5 cũng xong. Thiếu thốn là thường trực, thỉnh thoảng mới phải nhịn khô. 
Năm 1940 đoàn công voa của Oleyev ở xà lan lên là được áp tải bộ băng ngang đồng hoang. Không có đồ ăn “đi” cùng cả đoàn đành nhịn. Bốn bên đồng trống, cỏ không mọc nổi thì biết xoay sở cái gì lót bụng? Đến nước sình nước phèn cũng lâu lâu mới có một vùng. Vốc lên uống cho đỡ khát thì cũng lâu lâu mới có một vũng. Vốc lên uống cho đỡ khát thì cả đoàn mắc chứng bệnh kiết lỵ nặng. Thằng nào ngã gục sang bên lề ráng chịu, chẳng ai buồn bận tâm (đồng hoang Taiga mà). Lâu lâu mới có một thằng gục được biết đến: Đó là lúc con chó trận nhào theo và lát sau thấy phất phơ vài mảnh giẻ rách nơi chiếc mõm tổ bố của con bẹc-giê. 
Đấy là tình trạng đoàn công voa người đi tới Chybyu. Bọn di Izhma tương đối còn dễ chịu hơn: Cũng là Taiga nhưng nơi đây thỉnh thoảng còn bắt gặp một vũng nước, một cái đìa có cá. Còn gì sung sướng hơn cho những thằng tù chết đói? Những chiếc quần được cởi ra làm lưới và bắt được con cá nào là ăn sống con đó. 
(Chính ở giữa vùng Taiga hoang vu, rùng rợn mỗi khi áp giải tù băng ngang, các cán bộ ưa giơ tay chỉ trỏ: “Đây là địa điểm mấy anh sắp phải khởi công làm đường sắt, từ Kotlas đi Vorkuta này…”) 
Vùng phía Bắc nội địa Nga công voa người vẫn là căn bản cho đến khi bọn Zek đắp xong đường xe, đường sắt và xuất hiện những toa chở súc vật màu đỏ, cả một cố vấn đặc biệt chỉ chở tù đi đày. Những vùng còn công voa người đi dài dài dĩ nhiên phải có quy luật, chỉ thị rành rẽ. Từ Knyazh Pogost đi Veslyana chẳng hạn, lúc băng ngang Taiga có thằng tù nằm gục, đi hết nổi thì phải làm người dừng lại chỉ để chờ một mạng tù ngất ngư? Hay một thằng tù gục té bắt một lính hộ tống ở lại chờ? Lấy đâu ra lính cho đủ? Vậy nên thằng nào nằm gục lính cũng chỉ dừng lại một lát. Cả đoàn cứ đi, lát sau lính thế nào chẳng bắt kịp? Hắn làm xong công việc rồi! 
Đoạn đường đi đày Karabas-Spassk áp giải đi tù chân tiện lợi quá: Có 35 cây số đi nội một ngay là vừa đẹp. Nhà tù tính toán vậy nhưng thực tế tù đi đày có bao giờ khoẻ mạnh? Một ngàn thằng run rẩy, lết từng bước té lên té xuống lại là vấn đề khác! Ngã gục ngay giữa hàng hoặc bết bát lọt xuống sau chót, lẽo đẽo một hồi rồi nằm luôn để có ai thèm để ý? Còn bực bội là khác. Những thằng mệt đứt hơi chết không sợ, chúng còn cầu! Nhưng gậy đập lại ngán vô cùng, kinh nghiệm mà. Do đó cứ múa gậy loạn đã là chẳng thằng nào dám thụt lại. Thế là có lệ lính đi hộ tống xa bằng tiểu liên (cỡ 50 mét, chạy là bắn bỏ (và lính đi áp giải gần, không cần võ khí gì ngoài gậy. Chậm chân là vụt bất kể đầu, mình, Sắp đặt vậy còn công voa người nào chậm trễ?) 
Xét ra Lãnh tụ tiên liệu trúng phóc! Tù đi đầy chỉ có thể giác ngộ bằng đòn. Đi bết bát là no đòn nên những thằng tưởng sắp đứt hơi gục đến nơi cũng đi phom phom và cũng vẫn tới đích như thường. Trừ trường hợp đập đến mấy nó cũng nằm lì một đống chịu trận vì thực sự không lết nổi được nữa thì đã có xe ngựa, xe bò đi đoạn hậu lãnh lượm lên. Với những thằng làm biếng cố chịu đòn để được liệng lên xe lại khác. Sẽ có hình, nhưng thực tế chẳng mấy khi xảy ra xét vì chịu nổi đòn đâu phải dễ? Đi đày còn đòi xe? Xe đâu ra, ngựa đâu! Ngựa không phải tốn lúa sao? 
1948, 1950 còn thấy lác đác công voa người nhưng khoảng 1920 thịnh hành nhất. Tôi không sao quên nổi hồi còn bé tí thấy những đoàn tù lặc lè đi dọc các đường phố Rostov. Có một khẩu lệnh thật tức cười nên tôi nhớ mãi: “Tụi bay đi lộn xộn là nổ súng khỏi cảnh cáo!”. Khốn nạn, thời ấy lính giải tù đi chỉ có gươm chớ lấy đâu ra súng mà nổ? Tuy nhiên có thằng nào đi lệch lạc, trật ra ngoài hàng lối là bị nạt: “Đi ngay vô, không chém cổ giờ!”. Với tâm hồn thơ dại ngày đó, tôi chỉ nghe nồ đã ớn: nổ súng, chém cổ. Nghe thấy ghê, một nhát gươm vung dám một cái đầu rụng lắm! 
Ôi, quên làm sao nổi cảnh tượng thê thảm, não nề của toán tù già áp giải ngang Nizhini Novgorod tháng 2 năm 1936! Toàn những ông già miệt quê, những lão nông râu dài sinh sống miền bên kai sông Volga! Những con người cổ lỗ của một nước Nga xa xưa, quần áo mặc vải thô nhà dệt, không chấp nhận giày dép loẹt quẹt kéo lê những đôi guốc vòng quai vải dày cộm. Cả một nước Nga cổ lỗ đang chìm vào quên lãng. Đoàn tù già đang băng qua ngã tư thì từ đằng xa 3 chiếc xe hơi vùn vụt phóng tới cúp Công voa người lọm khọm dừng lại ngó đồng chí Chủ tịch Kalinin băng ngang cùng 2 xe hộ tống. Dĩ nhiên đồng chí chủ tịch chẳng thèm để ý.

Bạn đọc theo dõi tới đây, thì xin mời khẽ nhắm mắt. Có tiếng bánh xe sắt nghiến rầm rầm trên đường rầy: toa xe Stolypin đó. Âm thanh kéo dài ra là công voa chở súc vật, Phút nào cũng có. Ngày nầy sang ngày khác rầm rầm quanh năm! Bạn có nghe rì rào tiếng sóng vỗ mạn thuyền? Công voa xà lan đưa tù đi dài dài. Có tiếng động cơ rít róng: xe bít bùng đi vồ người, lượm người. Khốn nạn người bị bắt, tống giam và đưa đi đày thì nước này ngày nào, giờ nào chẳng có? 
Bạn lắng nghe nữa đi. Thấy rầm rì, ào ào như ong vỡ tổ còn gì khác hơn là âm thanh đặc biệt của những xà lim nhét tù chật cứng? Có tiếng la chói lói, tiếng khóc rú lên. Tiếng người, bị cướp đoạt, hãm hiếp, chịu đựng tra tấn thừa sống thiếu chết. 
Chắc bạn còn lạ gì mọi phương pháp di chuyển tù, biết bao nhiêu thứ công voa đi đày nhưng thảy đều giống nhau ở một điểm: Chúng vô nhân tính? Cũng như hệ thống khám tạm dọc đường thì thiếu gì hình thức, nào tiếp nhận nào đính chính nhưng có một nơi nào không đốn mạt? Có nhà tù TỐT bao giờ! 
Đau khổ là con người ta ráng sống vì hy vọng, biết đâu chừng chỗ sắp tới không đỡ khổ? Cũng dám có một Trại Cải tạo không đến nỗi nào chớ? Không có chuyện hão huyền đó đâu! Trại khốn khổ, tệ hại hơn nhiều…

——————————–

1OLP là chữ viết tắt của Otdelny Lagerny Punkt: Cơ sở Trại Cải tạo Đặc biệt.
2Nào phải chỉ riêng vụ tàu Dzhurma? Mấy chục năm sau, các tàu Xô Viết lâm nạn giữa đại dương – dù không chở tù, không giấu giếm điều gì – cũng chối bỏ mọi đề nghị tiếp cứu của các tàu bạn ở chung quanh. Thà làm mồi cho cá mập chớ không thể “tiết lộ bí mật” hay để lộ những sơ hở kỹ thuật gây ra tai nạn. Đó là vấn đề Quốc thể!

Tranh sơn mài huy hoàng một thuở

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on August 19th, 2023

Post by Sơn râu 16 May 2025

Bên dòng Cửu Long – Khoảng 1950. Sơn mài. 61x126cm. Sưu tập Ngô Kim Khôi – nguồn manhhaiflickr  

Từ thập niên 1930 đến 1970, là thời kỳ tranh sơn mài chiếm lĩnh thị hiếu của nhiều người yêu mến tranh nghệ thuật trang trí trong nhà. Từ tranh bảng gỗ cho đến sơn mài trang trí đồ nội thất cao cấp. Và rồi, tự dưng loại hình nghệ thuật này bắt đầu lung lay nhường chỗ cho loại hình sơn mài mang tính mỹ nghệ thị trường hơn.

Có vẻ khái niệm này mang tính phân hạng tranh sơn mài nghệ thuật và sơn mài mỹ nghệ. Nghệ thuật đòi hỏi sản phẩm tranh làm ra trau chuốt từng chi tiết theo lớp lang, phối màu và nguyên liệu sơn (xưa dùng sơn ta trích từ nhựa cây sơn có nhiều ở miền Bắc, ngày nay gần như không còn) cũng như kỹ thuật mài, đánh bóng làm cho bức tranh có giá trị về mặt nghệ thuật cùng công sức lao động của người hoạ sĩ đặt hết tâm hồn của mình vào bức tranh đó. Do vậy, giá trị của sơn mài nghệ thuật lúc nào cũng cao và tất nhiên giá trị đó không thể đáp ứng hoàn toàn được thị hiếu và túi tiền của người bỏ ra mua tranh.

Sơn mài mỹ nghệ thích hợp với một phần đại chúng, dĩ nhiên giá trị nó thấp hơn. Tuy vậy, đó không phải là một sản phẩm kém phẩm chất mà nguyên liệu chế tác sơn mài sau này được công nghệ hoá, nhất là nguyên liệu sơn (sau này nhiều nghệ nhân dùng sơn lacquer của Nhật) để tiết kiệm được nhiều công đoạn hoàn thành một tác phẩm. Ðương nhiên giá trị nó phù hợp với đa số người yêu mến loại hình sơn mài mong muốn có được một bức tranh trang trí trong nhà hoặc làm món quà tặng lưu niệm (sau này, sơn mài mỹ nghệ lại phân ra từng hạng: cao cấp, trung bình và bình dân để đáp ứng nhu cầu tài chánh của mọi người, nói chung là tiền nào của đó).

Tôi nhớ năm mười hai tuổi, tôi đã biết tới hai chữ sơn mài. Biết đây là biết tên của loại hình tranh mà ba tôi đặt hàng chú Năm Thành ở xóm trên thực hiện bộ tranh Bắc Trung Nam để tặng cho vị cố vấn Mỹ làm kỷ niệm nhân chuyện ông về nước. Bộ tranh ba tấm mang ba biểu tượng của ba miền: phong cảnh Hồ Gươm, Chùa Thiên Mụ và Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt. Sau này đi làm báo, tôi biết rõ hơn về tranh nghệ thuật truyền thống này nhờ nhiều lần đi Tương Bình Hiệp thực hiện những bài phóng sự về làng nghề sơn mài nổi tiếng tại Bình Dương.

Ông Nguyễn Thành Lễ (Ảnh: Internet)

Ðến đây, tôi xin lan man đôi chút nguyên do tôi bắt đầu biết đến tranh sơn mài. Năm đó, vài tháng trước khi Hội nghị Paris đình chiến tạm thời hai miền. Trong bữa cơm chiều, nghe ba nói với má tôi rằng, viên sĩ quan cố vấn phòng An ninh quân đội đề nghị ba tôi và những thành viên gia đình di tản cùng với đoàn sĩ quan về Mỹ, ông đặc biệt muốn gia đình ba tôi theo ông về Hawaii quê nhà của ông, ở đó thanh bình, dễ sống, khí hậu ôn hoà. Ông cho ba tôi một tháng để suy tính có quyết định đi hay không để ông thu xếp.

Cuối cùng, ba tôi quyết định ở lại vì ông nội còn đó, nhà cửa còn đó, không biết cuộc sống xứ người ra sao và có thể là ba tôi yêu mến quê nhà không chừng nên không dễ dứt bỏ ra đi. Ðiều này tôi chỉ đoán mò khi tôi ở tuổi trưởng thành nhớ đến bộ tranh sơn mài Bắc Trung Nam đề tài đặt hàng của ba tôi với chú Năm Thành. Chuyện ba tôi quen biết chú Năm cũng là chuyện tình cờ. Nhà tôi ở xóm dưới, chú Năm ở xóm trên nhưng số nhà lại trùng nhau khiến thư từ thường xuyên bị lẫn lộn. Không có cách thay đổi được số nhà, ba tôi tìm đến nhà chú Năm đề nghị hễ có thư của nhà tôi thì đem vào giùm, còn nhà tôi nhận được thư nhà chú Năm thì mang ra giùm. Thế là ba tôi và chú Năm quen nhau. Tôi nhớ có lần ba tôi gọi chú là hoạ sĩ nhưng chú xua tay nói: “Tôi có học hành hoạ sĩ gì đâu, làm gia công sơn mài cho hãng sơn mài Thành Lễ ở Bình Dương, sẵn nhận làm tranh ngoài giờ kiếm thêm tiền chợ”.

Chú Năm khiêm tốn nói vậy, chứ hồi ba và tôi ra nhà chú nhận bộ tranh sơn mài, ba tôi thì xem ngắm bộ tranh đem tặng trước khi đóng gói, còn tôi thì nhìn ngắm hai bức tranh phong cảnh làng quê bến nước trang trí trong nhà chú. Hai bức tranh treo đối xứng trên vách tường phòng khách nhỏ, màu nâu đất làm chủ đạo lót nền cho màu vàng nhũ của ruộng lúa chìm trong ánh hoàng hôn, xa xa những cách chim chấp chới. Hai bức tranh trông hài hoà, còn đẹp như thế nào thì một đứa trẻ con như tôi làm sao hiểu được. Có lẽ, màu sắc phối hợp của hai bức tranh treo trong nhà chú, ảnh hưởng đến sở thích màu sắc của tôi khi sau này tôi chọn mua bộ tranh sơn mài ba tấm khổ lớn tại một cửa hàng đồ cũ. Bộ tranh có ký tên hẳn hoi và ghi năm sáng tác 1964.

Thái tử Sihanouk, vương quốc Cambodia thăm Công ty Thành Lễ vào đầu thập niên 1960 và xem họa sĩ Ba Tuyền vẽ tranh sơn mài. Góc trái là họa sĩ Lưu Đình Khải, hiệu trưởng trường Mỹ thuật Gia Định.

Tính ra, khi tôi mua bộ tranh sơn mài này đã có ba mươi năm tuổi. Nền sơn còn y nguyên, các lớp sơn nhũ không bạc màu. Tôi không rõ hoạ sĩ Nguyễn Văn Hải xuất thân từ đâu. Nhưng sau đó vài năm, một lần ghé lại cửa hàng đồ cũ tôi mua bộ tranh này thì chính người chủ cửa hàng hỏi tôi có muốn bán lại bộ tranh hồi trước tôi mua không với giá cao gấp năm sáu lần. Tranh sơn mài trước 1975, vào thập niên 1990 bắt đầu được săn lùng, kể cả bàn ghế tủ khảm tranh sơn mài đều được rao bán với giá cao ngất ngưởng, nhất là những sản phẩm sơn mài của công ty Thành Lễ.

Thành Lễ hồi trước 1975 đã nổi tiếng tại Sài Gòn và Bình Dương, nói đến sơn mài là hầu hết người ta nhắc đến Thành Lễ. Họa sĩ Nguyễn Thành Lễ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Thủ Dầu Một khoảng năm 1940 chuyên về ngành sơn mài và chạm trổ. Ngay sau khi ra trường, ông cùng họa sĩ Trương Văn Thanh hợp tác lập nên xưởng sơn mài “Thanh & Lễ”. Ðến năm 1960, Nguyễn Thành Lễ tách riêng ra lập xưởng sơn mài Thành Lễ tại Thủ Dầu Một gồm 12 họa sĩ, 2 nghệ nhân vẽ kiểu, 20 người mộc, 60 người chuyên về sơn, 4 thợ chạm, 1 thợ cẩn xà cừ. Sau đó hai năm, ông Nguyễn Thành Lễ mở rộng quy mô sản xuất và thành lập công ty chuyên sản xuất và kinh doanh tranh sơn mài, thảm len, đồ nội thất khảm tranh sơn mài, đồ mỹ nghệ cao cấp, kể cả đồ gia dụng gốm sứ hoặc gỗ khảm sơn mài.

Trong bài “Sơn mài Thành Lễ, quá khứ vàng son” của tác giả Phạm Công Luận viết: “Trong một dịp tình cờ, chúng tôi xem được một trang lịch trong bộ lịch in màu năm 1962. Bộ lịch có tên là Công nghệ Việt Nam do một cơ quan nước ngoài bỏ vốn ra in. Tờ tháng Hai in hình nữ ca sĩ Kim Chi bên cạnh một chiếc chén, dĩa và ly chân cao bằng sơn mài cẩn trứng do nhà Thành Lẽ sản xuất. Lòng tô và dĩa màu vàng nhũ. Họa tiết đơn giản nhưng sang trọng trên nền trứng cẩn trắng ngà rất hài hoà. Những sản phẩm mỹ nghệ cách nay gần 50 năm thật tinh tế và không thua kém bất cứ sản phẩm mỹ nghệ cao cấp hiện nay”.

Ca sĩ Kim Chi bên cạnh một chiếc chén, dĩa và ly chân cao bằng sơn mài cẩn trứng do nhà Thành Lễ sản xuất trong bộ lịch “Công nghệ Việt Nam” năm 1962.

Theo Nguyệt san Quản trị xí nghiệp số tháng 10 năm 1972 xuất bản tại Sài Gòn, đến thời điểm đó, hãng Thành Lễ đã có những thành tích như sau: Huy chương và Hội chợ Munich 1964, huy chương bạc do Bộ Kinh tế (Nam Việt Nam) trao năm 1968, bằng cấp danh dự Hội chợ Paris 1969 và 1970, huy chương vàng Hội chợ Kỹ Nông Công Thương Sài Gòn 1970. Ngoài ra sản phẩm của Thành Lễ đã tham gia các cuộc triển lãm sơn mài tại Pháp (1952), Thái Lan (1954), Philippines (1956) và Hoa Kỳ (1959). Nhiều sản phẩm sơn mài và hàng mỹ nghệ cao cấp của công ty Thành Lễ được sử dụng trang trí trong những công trình sang trọng nhất Sài Gòn như phòng ăn Dinh Gia Long, Dinh Ðộc Lập, khách sạn Caravelle, khách sạn Majestic. Trên trang mạng Hồn Quê, tác giả Bích Xuân cho biết: “Tác phẩm sơn mài Thành Lễ được treo tại những dinh thự như tư dinh TT. Hoa Kỳ Richard Nixon, tư dinh vua Hassan II tại thành phố Ifrane (Maroc), lâu đài T.T Pháp Charles de Gaulle tại Colombey les II Eglises (La  Boissière), OMS (Organisation Mondiale de la Santé) tại Thuỵ Sĩ.

Sau năm 1975, ông Thành Lễ cùng gia đình sang Pháp định cư. Từ đó, tranh sơn mài nghệ thuật và hàng mỹ nghệ cao cấp vắng bóng trên thị trường. Và rồi vài xưởng sơn mài hoạt động trở lại nhưng tiếc thay sản phẩm không thu hút như những hãng Thành Lễ hay Trần Hà ngày trước nữa.

TN

Đua lạc đà United Arab

baotreonline.com

Thiết Trảo

August 5th, 2022

Post by Sơn râu 16 May 2025

Không có lạc đà, người dân Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (United Arab Emirates) không thể sống nổi dưới mặt trời thiêu đốt ở sa mạc. Từ khi lạc đà trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của các tiểu vương quốc, người ta nhận ra nhiều điều khác nữa từ lạc đà, và đua lạc đà là một trong những điều ấy. 

Một trường đua lạc đà lớn, tại UAE. Nguồn. incredible.travels2.blogspot.com 

Với những nước Ả Rập, đua lạc đà đã trở thành sự kiện sáng giá ở UAE (United Arab Emirates, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất), là môn thể thao truyền thống của các nước UAE, lôi cuốn nhiều du khách tới UAE hằng năm.

Những lạc đà được chọn để huấn luyện đua. Nguồn. FaisalKhaldi

Tuyển chọn lạc đà

Việc chọn lạc đà cho các cuộc đua rất kỹ càng. Chỉ có vài loại lạc đà thích hợp để đua. Dromedary là giống lạc đà từ Bắc Phi và bán đảo Ả Rập. Giống này chỉ có một bướu, đã được chọn để chạy đua tại UAE. Lạc đà Dromedary cao hơn và có thể vượt qua các điều kiện thời tiết tệ hại nhất.

Ngoài ra, còn có các giống lạc đà khác như: Mahaliyat, Sudaniyat, Omaniyat và Muhajanat cũng được chọn đua.

Sau một thời gian huấn luyện, lạc đà bắt đầu tham gia chạy đua khi được 3 tuổi và tuổi đua của chúng chỉ kéo dài khoảng 2, 3 năm. Riêng lạc đà cái có thể lâu hơn 2 năm. Thông thường, lạc đà có thể chạy nhanh tới 65km/giờ, và tốc độ bình thường cũng đạt 40km/giờ.

Những lạc đà chuẩn bị cho cuộc đua. Nguồn. incredibletravels2.blogspot.com

Tuy thời gian đua ngắn nhưng việc huấn luyện và chuẩn bị để thành một lạc đà đua lại rất tốn thời gian. Người ta tính, phải cần tới 3 tháng để chuẩn bị và huấn luyện một con lạc đà có thể tham gia cuộc đua. Suốt thời gian này, lạc đà được ăn uống theo một thực đơn dinh dưỡng đặc biệt với sữa bò tươi, lúa mạch, chà là khô, cám gạo và tập chạy để tăng sức.

Người dân UAE có cách tuyển chọn lạc đà rất thú vị là qua cỡ răng để xác định tuổi và lúc lạc đà 2 tuổi, bắt đầu được huấn luyện chạy đua. Khi được chọn để đua, lạc đà sẽ được đánh dấu bằng loại sơn đặc biệt. Và, lạc đà không được đánh dấu, tuyệt đối không được dự thi.

Đua lạc đà tại Úc. Nguồn. http://www.northweststar.com.au

Những trường đua lạc đà nổi tiếng 

Tại UAE có hơn 15 trường đua lạc đà khác nhau. Trong đó, có 3 trường đua chính là: Al Marmoum ở Hội Ðua Lạc Ðà Dubai; Al Wathba ở Abu Dhabi và Al Sawan tại Ras Al Khaimah.

Al Marmoum là trường đua lớn nhất tại UAE, nằm ở khu Al Lisaili, gần làng cổ Al Marmoum, cách Dubai chừng 30 phút lái xe. Cuộc đua lạc đà được tổ chức tại đây mỗi năm là một phần thuộc lễ hội di sản cổ xưa của vùng này và có giá trị nhất trong các cuộc đua ở UAE. Trong trận vô địch đua lạc đà hằng năm tại đây, các đội thắng giải được nhận cúp vô địch, xe hơi sang trọng và tiền mặt lên tới 80 triệu dirhams (2.97 triệu đô Mỹ). Các con lạc đà chiến thắng sẽ được các gia đình hoàng gia mua lại với giá cao ngất ngưởng.

Đua lạc đà tại các nước Bắc Phi. Nguồn. news.cgtn.com

Diễn tiến cuộc đua

Các cuộc đua lạc đà lớn thường được tổ chức từ sáng sớm vào cuối tuần, giữa tháng 10 và tháng 4 hằng năm. Ðây là lúc thời tiết tương đối ôn hòa, thích hợp để tổ chức đua. Trước khi cuộc đua chính thức bắt đầu, người ta cho những con lạc đà chạy một vòng rút ngắn để làm ấm và khởi động cơ thể.

Một lần đua, có từ 20-60 lạc đà tham dự. Những con lạc đà được mặc áo màu sáng để dễ nhận diện. Người ta sắp lạc đà thành hàng sau cổng dài, khi tiếng còi xuất phát vang lên, cổng sẽ mở ra và các con lạc đà bắt đầu đua. Các huấn luyện viên và chủ của lạc đà chạy theo sau trên xe SUV.

Đua lạc đà tại UAE, khi còn nài trẻ em. Nguồn. news.cgtn.com

Về phần khán giả (coi miễn phí) có thể dùng ống nhòm để theo dõi cuộc đua hoặc quan sát qua các màn ảnh TV khổng lồ. Nếu muốn, họ cũng có thể sử dụng các xe bus chạy song song theo vòng đua để nhìn lạc đà gần hơn.

Theo quy định, đường đua của lạc đà dài 10 km, và cuộc đua chấm dứt trong vòng 10-15 phút. Một điều lý thú là đua lạc đà khác với đua ngựa ở chỗ “nài”. Trong các cuộc đua lạc đà đầu tiên tại UAE, người huấn luyện và người chủ lạc đà cột một đứa trẻ trên lưng lạc đà để làm “nài”. Nhưng từ năm 2001, chính phủ UAE cấm hẳn việc dùng trẻ em làm “nài” lạc đà đua. Với kỹ thuật tân tiến mới, người ta chế tạo ra “nài rô bô” thay thế. “Nài rô bô” có trọng lượng như một đứa trẻ, làm bằng nhôm mỏng và người huấn luyện có thể kiểm soát lạc đà của mình bằng remote, GPS của “nài rô bô” giúp huấn luyện viên và chủ lạc đà theo dõi tốc độ, vị trí chạy của lạc đà trong suốt vòng đua.

Nài rô bô, điều khiển bằng remote tại UAE hiện nay. Nguồn. science.howstuffworks.com

Lời kết

Ðua lạc đà là môn thể thao mang lại nguồn lợi lớn cho UAE, vì thu hút các đoàn khách du lịch đông đảo tới UAE trong mỗi năm.

Ngày nay đua lạc đà cũng là môn thể thao hấp dẫn không kém đua ngựa tại các nước Tây Á, Bắc Phi, Nam Phi, Pakistan, Mông Cổ…

Riêng tại Úc, các cuộc đua lạc đà cũng được tổ chức tại Alice Springs. Ðây là cuộc đua tổ chức hằng năm, có giải thưởng lớn. Giải thưởng hạng nhất cho các cuộc đua lạc đà tại Úc là: “The Boulia Desert Sands”, trị giá 500,000 đô Úc tại Queensland.

Ngược dòng lịch sử, đua lạc đà từng được tổ chức như một môn thể thao truyền thống ở Trung Ðông trong thời Trung cổ, vào thế kỷ thứ 7, trong các lễ hội của dân Ả Rập.

Cuộc đua lạc đà với nài rô bô tại UAE hiện nay. nguồn.dayoutdubai.ae

TT