Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 24 May 2025

Phần 9

Khoảng hai tuần lễ sau khi Trung úy Tịch bóp cổ con Mát-đa (Magda) của tôi, viên thủ phó T2 có biệt hiệu Mát-đa (Mazda) ấy cùng với một số bộ đội (vệ binh) của trại bị thuyên chuyển về Tây Ninh, nơi đang có những cuộc giao tranh với Khmer Đỏ.
Chúng tôi biết rõ việc thuyên chuyển này là nhờ có tay trong: chú bộ đội tà-lọt của ông Phùng Xuân Nghĩa đồng thời cũng là học trò đàn ghi-ta của Văn, tay cải tạo tổ trưởng tổ mộc (tôi không nhớ tên chú bộ đội này nên tạm gọi là X).
X mới 18, 19 tuổi, mặt mũi sáng sủa hiền lành, trông còn non choẹt như một cậu học sinh trung học. Về sau, khi tôi và một vài anh em cải tạo thỉnh thoảng xuống tổ mộc đàn hát, X gọi chúng tôi bằng anh và xưng em không một chút ngượng ngập !
Việc một chú bộ đội trở thành người “nằm vùng” của phe ta bắt nguồn từ âm nhạc – viết một cách chính xác là “nhạc vàng” – và người có công lớn nhất là Văn.
Nguyên tổ mộc của T2 được thành lập ít lâu sau khi lên Phước Long, nhiệm vụ chính là đóng bàn ghế, giường tủ cho ban chỉ huy trại, nhiệm vụ phụ là đóng cho mỗi ông cán bộ một cái rương gỗ thật chắc chắn.
Văn, một tay thiếu úy gốc Cà Tum, làm tổ phó. Sau khi tay tổ trưởng được về trong đợt thả tù đầu tiên, anh được đôn lên làm tổ trưởng, và đã biến xưởng mộc thành nơi đàn hát nhạc vàng thoải mái, vì căn nhà này ở tận bên kia suối, cách xa khu nhà của ban chỉ huy trại.
Tới đây cũng xin viết thêm về địa thế và đường đi lối về của T2 trong khu vực L2.
Hơn nửa năm trước, khi chúng tôi được đưa từ Đồng Ban tới Phước Long, đoàn molotova đã rẽ mặt từ con đường đi Quảng Đức, đưa chúng tôi tới bờ suối, đi qua cái cầu bằng hai thân cây bắc ngang suối để vào T2.
Tuy nhiên, theo quy hoạch của cả khu vực L2 thì đây chỉ là đường tắt đi vào T2, còn đường chính là đường đi lên trung đoàn (L2), gần nhà thăm nuôi mà tôi đã nhắc tới trong kỳ trước.
Trại cải tạo T2 tọa lạc trên một khu đất giống như cái cù lao nhỏ vì có con suối chạy quanh gần giáp vòng. Bên hông khu nhà của ban chỉ huy trại là đường đi tới một cái cầu tương đối dài, vì bề ngang con suối ở chỗ này khá rộng. Tuy cũng làm bằng cây rừng nhưng cái cầu này có cấu trúc của một chiếc cầu đúng nghĩa chứ không chỉ là hai thân cây bắc ngang suối như cây cầu chúng tôi đã sử dụng để đi vào T2 trước đây.
Qua suối khoảng 200 mét thì tới căn nhà được sử dụng làm xưởng mộc, đi thêm khoảng 200 mét nữa tới một doanh trại nho nhỏ của Quân Đội Nhân Dân (CSBV) khi ấy đã bỏ trống. Từ cổng doanh trại này có con đường khá lớn đi lên bộ chỉ huy trung đoàn (L2) và nhà thăm nuôi nằm sát con đường Phước Bình – Quảng Đức.
Trở lại với tổ mộc, sáng sáng khi những anh em cải tạo khác lên đường đi ra rẫy thì họ tới xưởng mộc. Sau khi Văn đóng thêm một cây đàn ghi-ta và cùng nhau đàn hát thì chú bộ đội tên X mon men tới làm quen, rồi kiếm ván ép nhờ Văn đóng cho một cây đàn và trở thành học trò của Văn.
Dĩ nhiên, Văn và anh em trong tổ mộc đã không bỏ lỡ cơ hội để khai thác X, từ sinh hoạt trên “khung” cho tới những tin tức sốt dẻo mà chú ta biết được, hoặc nghe lóm.
Vì thế, tổ mộc chứ không phải tổ tăng gia (trước kia do Tư răng vàng làm tổ trưởng) đã trở thành nguồn cung cấp tin tức “tình báo” cho cả trại, trong đó có tình hình chiến sự ở biên giới Tây Nam và việc Trung úy Tịch, tay hậu cần cùng một số vệ binh của T2 bị đưa ra tuyến đầu để đánh nhau với Khmer Đỏ.
Sau này có cơ hội tìm hiểu qua tài liệu của Quân Đội Nhân Dân (CSVN) được phổ biến trên Internet, tôi được biết Tây Ninh nằm trong Quân khu 7 của tướng Lê Đức Anh, là lực lượng bị thiệt hại nặng nhất trong cuộc vượt biên xâm lược Căm-bốt. Xin trích đăng một đoạn:
Ở hướng của Quân khu 7, Sư đoàn 5 tiến từ hướng đông và Sư đoàn 303 từ Snoul (tỉnh Kratié sát biên giới với Bình Phước) tiến đến hướng tây bắc cùng đánh vào Kratié do Sư đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 Khmer Đỏ phòng thủ. Các sư đoàn này gặp phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong cuộc tiến quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 thuộc Trung đoàn 316, Sư đoàn 303 bị tập kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33, sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa. Các đơn vị quân Khmer Đỏ tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và suýt chiếm được sở chỉ huy sư đoàn… (ngưng trích)
Như vậy, nếu Trung úy Tịch bị đưa tới Sư đoàn 303 của Quân khu 7 thì rất có thể đương sự đã “tịch” trong các trận giao tranh với quân Khmer Đỏ. Khi ấy, chắc gì Mát-đa “Tịch tây lai” đã có được một nấm mồ như Mát-đa “Sugar Thoòng” của tôi!
Sau khi Tịch tây lai bị thuyên chuyển đi Tây Ninh, vì T2 không còn một sĩ quan cán bộ nào, bộ chỉ huy L2 phải phái một tay quản giáo xuống trông coi tạm thời cho tới khi Đại úy Phùng Xuân Nghĩa trở về khoảng một tuần lễ sau đó.
Ông Phùng Xuân Nghĩa vừa về được một ngày đã có tin “hấp dẫn” từ tổ mộc: Trung úy Tịch và tay cán bộ hậu cần đã “dọn sạch” cái kho trước khi đi, trong đó có trên 30 cái võng.
Võng nói tới ở đây không phải võng đan bằng sợi gai hay sợi ni-lông mà chỉ là một tấm vải “denim” hai đầu có chỗ xỏ dây để máng lên.
Nguyên đây là vải denim nội hóa trước 1975 được sử dụng may quần cho lính Hải Quân VNCH. Sau khi chiếm miền Nam, đám nón cối nhà quê nhà mùa không biết làm gì với thứ vải mà họ cho là thô cứng này, bèn may thành võng để phát cho tù cải tạo.
Sau này tới một trại cải tạo khác, tôi thấy một vài anh em gốc Trảng Lớn đã được cấp phát loại võng này. Tuy nhiên những trường hợp này rất hiếm, bởi vì chỉ ít lâu sau khi nhà nước cộng sản đánh tư sản, tịch thu hãng xưởng, quốc hữu hóa tất cả mọi cơ sở sản xuất, thì loại vải denim nói trên đã trở thành một mặt hàng hiếm quý, được sử dụng để may quần “jeans”, miền Bắc gọi là “quần bò” (rất có thể vì họ thấy mấy chàng chăn bò – cowboys – thường mặc loại quần này). Số võng chưa kịp phân phát cho tù cải tạo được đám hậu cần lén lút bán hết cho các con buôn.

* * *
Khoảng hai tuần sau khi Đại úy Phùng Xuân Nghĩa đi phép trở về, T2 được lệnh chuyển trại, không đi xa mà chỉ băng qua con suối tới doanh trại của bộ đội trước kia nay đang bỏ trống.
Từ ngày ấy, trừ trường hợp có lệnh của ban chỉ huy trại, chúng tôi không được phép trở lại khu vực T2 cũ, nơi có sân đá banh, cái vườn rau xanh tốt của tôi và Mát-đa chi mộ!
Doanh trại cũ của bộ đội chỉ có hai dãy nhà dành cho cải tạo và một dãy nhà nhỏ cho ban chỉ huy; nhà cửa tương đối kiên cố, giường nằm bằng tre chứ không phải lồ ồ (vốn là môi trường sinh sôi nảy nở của rệp) như ở khu trại cũ.
Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng nguyên nhân của việc chuyển trại không phải vì khu trại mới sạch sẽ, tiện nghi hơn (trên thực tế, khá chật chội) mà để trong trường hợp có biến (Khmer Đỏ tấn công) chạy lên trung đoàn gần hơn, nhanh hơn!
Riêng ông Phùng Xuân Nghĩa thì từ ngày đi phép trở về, đã không còn xuống các đội để chè lá chuyện trò với anh em cải tạo nữa, một phần vì khung cảnh chật chội, một phần có lẽ vì ông không muốn phải trả lời những thắc mắc liên quan tới tình hình căng thẳng ở biên giới cũng như tương lai mờ mịt của đám cải tạo.
Hai diễn tiến tốt đẹp duy nhất qua việc chuyển trại là thứ nhất, M, tay thiếu úy thiết giáp trốn trại bị đốt râu, được cho về sinh hoạt bình thường với anh em, và thứ hai, cải tạo được tự do đàn hát nhạc vàng.
Trước đây, sau khi M trốn trại rồi bị bắt lại, bị tên Trưởng ban 2 trung đoàn tưới xăng đốt râu trước khi trả về T2, và chúng tôi được anh Thu, tay y tá bộ đội của T2, cho biết M bị phỏng hết mặt mũi, cổ và hai vai…, chúng tôi đã mường tượng ra một khuôn mặt sần sùi, dị dạng mà M sẽ phải mang suốt đời.
Nhưng có lẽ vì những vết phỏng không ăn sâu vào da thịt, và trong thời gian bị giam giữ trên khung, M được y tá Thu chữa trị bằng cách giã nát một loại lá thuốc để đắp lên, tới khi được trả về đội, lớp da thịt trên mặt, cổ, vai của M chỉ bị khoang (loang lổ) chứ không bị sần sùi, dị dạng như những nạn nhân bị phỏng nặng hoặc bị tạt át-xít.
Về tinh thần, M trở nên ít nói hơn, khi kể lại diễn tiến việc bị đốt râu, anh không hề tỏ thái độ hận thù; có lẽ cái tâm “kính Chúa yêu người” nơi anh cùng với sự tử tế của ông Nghĩa và y tá Thu trong thời gian bị biệt giam trên khung đã khiến anh tin rằng tên Trưởng ban 2 trung đoàn đã mất hết nhân tính ấy trước khi đầu óc bị nhuộm đỏ và trở nên sắt máu, rất có thể cũng là một con người tử tế.
Về việc cải tạo được tự do đàn hát nhạc vàng, tôi tin rằng trong tất cả mọi trại cải tạo từ bắc chí nam, không nơi nào được tự do bằng T2 vào thời điểm này!
Thứ nhất, địa điểm “trình diễn” là xưởng mộc, cách xa căn nhà của ban chỉ huy trại mấy trăm mét, tiếng đàn hát không thể vang vọng tới. Thứ hai, từ khi chúng tôi chuyển sang trại mới thì anh em trong tổ mộc được ăn ngủ ngay tại xưởng mộc, cho nên cứ cơm nước xong xuôi là chuẩn bị đàn hát, có khi kéo dài tới 9, 10 giờ đêm.
Thỉnh thoảng còn có một nồi chè để “giải lao”. Nguyên vào thời gian này, X, chú bộ đội tà-lọt của ông Phùng Xuân Nghĩa, đã trở thành đệ tử ruột của Văn, tổ trưởng tổ mộc, và thường dẫn theo hai tay bạn cũng đang tập tễnh học đàn ghi-ta. Sau khi Văn đóng cho mỗi chú một cây đàn (đóng không công nhưng lấy “xâu” ván ép đủ để đóng một cây đàn khác) thì ba chú trả ơn bằng đường, đậu xanh và nếp để nấu chè!
* Thăm nuôi đợt hai
Có lẽ để giải tỏa phần nào bầu không khí căng thẳng đang bao trùm L2 sau khi có lệnh ngưng thả tù cải tạo, bộ chỉ huy trung đoàn đã cho thăm nuôi đợt hai.
Lần này việc thăm nuôi được các T tự đứng ra tổ chức, cho nên T2 không sử dụng nhà thăm nuôi cũ dành cho cả trung đoàn ở gần đường lộ nữa, mà sử dụng một căn nhà nhỏ hơn trên con đường từ trung đoàn đi xuống T2, cách cổng gác khoảng 100 mét.
Căn nhà tương đối tươm tất, có cả chỗ nấu nướng, tắm giặt, giếng nước…, có lẽ trước đây dành cho thân nhân tới thăm bộ đội, hoặc sử dụng làm “cư xá vãng lai” như trong các đơn vị QLVNCH trước kia. Vì chỗ ngủ có giới hạn, mỗi ngày chỉ có khoảng 4, 5 tù cải tạo được thăm nuôi.
Thời gian này, phương tiện giao thông cho thân nhân thăm nuôi tù cải tạo ở Phước Long đã được tăng cường với nhiều xe đò nhỏ do tư nhân khai thác, chạy từ Phước Bình vào Bù Gia Phúc, cho nên xế chiều thân nhân đã tới L2. Vì thế, tù cải tạo được gặp thân nhân vào buổi tối, sáng hôm sau thân nhân đón xe trở ra Phước Bình, đi xe đò về Sài Gòn trong ngày. Như vậy, thân nhân chỉ mất hai ngày cho cả đi lẫn về.
Theo quy định của trại, tù cải tạo T2 chúng tôi được ra gặp thân nhân trước giờ cơm tối và phải trở vào trại lúc 8 giờ; nếu gặp vệ binh gác cổng là “chỗ quen biết” thì cũng chỉ kéo dài thêm nửa tiếng nữa là cùng.
Nội quy và hình thức thăm nuôi cũng giống như trong đợt một: gặp gỡ, trò chuyện, tâm tình, “động viên lẫn nhau” (nguyên văn của cán bộ quản giáo)… Tuy nhiên vì vào thời gian này, cán bộ trên “khung” của T2 chỉ còn một mình ông Phùng Xuân Nghĩa, thỉnh thoảng mới có một tay cán bộ trên trung đoàn xuống phụ giúp ông, cho nên tù cải tạo T2 và thân nhân thăm nuôi được hoàn toàn tự do, thoải mái.
Nhưng vì có sự hiện diện của những cặp khác, anh em cũng chỉ dám ôm eo vợ là cùng, nếu có lén lút tìm “cảm giác mạnh” thì cũng phải nhìn trước nhìn sau.
Dĩ nhiên, cũng có một số tù cải tạo… vi phạm nội quy thăm nuôi, tìm cách “hủ hóa”.
Với những tay vi phạm nội quy này, đợt thăm nuôi thứ hai có hai thuận lợi: (1) không còn phải lo ngại cán bộ, vệ binh lùng sục khu vực chung quanh nhà thăm nuôi, (2) bóng tối đồng lõa sẽ thêm sức thuyết phục bà xã cùng “đưa nhau về nguyên thủy loài người”.
Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó cũng có một trở ngại lớn là môi trường thiên nhiên. Viết một cách chi tiết hơn là nguy cơ bị rắn, kiến, mối, và vắt… tấn công!
Khác với vị trí cao ráo của nhà thăm nuôi đợt một, nằm trên đồi giữa những rẫy khoai mì khô ráo, sạch sẽ, căn nhà thăm nuôi đợt hai của T2 tọa lạc ở một khu vực ẩm thấp, cách con suối hơn 100 mét.
Nguyên đây là một khu rừng già đã được khai thác từ 20 năm trước – thời Đệ Nhất Cộng Hòa – không còn cây cổ thụ, chỉ có những cây bằng cái cột nhà và chồi, mặt đất trống trải được phủ kín bằng một lớp lá khô mục rất dày, chỉ cần trải một miếng ni-lông lên trên là vợ chồng có một “bãi đáp” lý tưởng.
Trong số những tay vi phạm nội quy có Hoàng (đờn bass). Vì đã có ý đồ từ trước, khi viết thư về nhà báo tin thăm nuôi, hắn đã căn dặn cô vợ trẻ phải ra chợ trời tìm mua cho bằng được một chai thuốc xịt muỗi của quân đội Mỹ trước đây. Buổi tối thăm nuôi, hắn chọn một vị trí cách nhà thăm nuôi khoảng 50 mét, trải một tấm ni-lông, thêm một lớp vải dù lên trên, sau đó lấy chai thuốc muỗi xịt chung quanh.
Kết quả, theo lời Hoàng, nhờ chai thuốc xịt muỗi của “đế quốc Mỹ” đã hết hạn mấy năm mà vợ chồng hắn đã “đưa nhau về nguyên thủy loài người” một cách suông sẻ, tốt đẹp.
Trở về trại, Hoàng chẳng những đã không giữ kín niềm hạnh phúc riêng tư, sự thỏa mãn của bản thân mà còn kể hết cho tôi nghe khi hai thằng nằm trên hai cái giường tre kê sát nhau. Chi tiết tới mức cả cái “feeling” khi tìm lại cặp tuyết lê của cô vợ son trẻ, hắn cũng kể với tôi!
Hoàng dứt khoát không phải một tay playboy mà là con nhà gia giáo, cha là một vị thiếu tá đã hy sinh, hắn chưa một lần khoe khoang thành tích chơi bời hay kể chuyện tiếu lâm tục tĩu, cho nên có thể suy ra hắn kể lại với tôi “chuyện vợ chồng” trong buổi tối thăm nuôi chỉ vì niềm hạnh phúc quá lớn, không thể kềm giữ, phải chia sẻ với thằng bạn tù, thế thôi!
Chưa hết, sau đó, Hoàng còn có nhã ý cho tôi mượn chai thuốc xịt muỗi và tấm ni-lông để sử dụng khi vợ tôi lên thăm nuôi mấy ngày sau đó. Tuy nhiên tôi từ chối lòng tốt của hắn vì đã quyết định “chấp hành nghiêm chỉnh nội quy thăm nuôi”!
Không phải vì tôi là một cải tạo viên gương mẫu mà chỉ vì tôi rất sợ rắn và vắt rừng.
Nghe qua thì hơi khó tin, nhưng sự đó là sự thật: một tay lì lợm từng một mình đi vào nghĩa địa giữa đêm khuya như tôi lại sợ và gớm mọi loài bò sát và côn trùng không có chân, kể cả con giun đất hiền lành.
Từ ngày có trí khôn, tôi chưa hề sợ “Ông ba bị chín quai 12 con mắt” hay bất cứ nhân vật tưởng tượng nào mà người lớn thường đem ra để hù dọa trẻ con.
Tôi cũng không hề sợ ma. Còn nhớ hồi tiểu học, tôi sống với bà ngoại ở Hẻm 6 Trương Minh Ký (Trương Minh Giảng nối dài), Phú Nhuận. Đối diện Hẻm 6, phía bên kia đường là một con đường đất không tên (sau này gọi là đường Thiệu Trị) đi vào một cái nghĩa địa cổ xưa hoang phế có tháp Phong Thần và ngõ tắt đi bộ sang đường Công Lý.
Cho tới cuối thập niên 1950, con đường không tên ấy hãy còn những bụi tre già che khuất ánh dương, là nơi hành nghề của các bà đồng, thầy cúng. Đi qua khu vực của người sống tới giang sơn của kẻ chết: cái nghĩa địa hoang phế.
Không hiểu cái nghĩa địa này có từ bao giờ nhưng căn cứ vào số lượng xương người chứa trong cái hầm nằm dưới tháp Phong Thần, có lẽ nó đã hiện diện từ cả trăm năm trước!
Xin được giải thích như sau:
Cứ sau vài chục năm, những ngôi mộ đất vô chủ đã không còn một dấu tích nào, chỉ tới khi đào huyệt để chôn người mới chết, người ta mới khám phá ra bộ xương bên dưới. Vì thế nhà cầm quyền đã cho làm một cái hầm bê-tông rất rộng ở ngay trung tâm nghĩa địa để chứa những nắm xương tàn ấy. Phía bên trên hầm có một cái tháp xây theo hiểu Á đông khá đẹp, gọi là tháp “Phong Thần”, vừa để che mưa nắng vừa để thể hiện lòng tôn trọng các vong hồn.
Theo suy đoán của tôi, có lẽ vì sự hiện hữu của tháp Phong Thần mà các bà đồng, thầy cúng mới tụ tập tại khu vực này cho gần… cõi âm!
Ban ngày thì không sao nhưng ban đêm đi ngang khu vực này (ngày ấy chưa có đèn đường) ai cũng sợ ma. Riêng đám bạn của tôi, lúc đó 9, 10 tuổi, cứ tới mép nghĩa địa là cắm đầu chạy, trừ một mình tôi.
Một ngày nọ, lũ bạn thách tôi dám leo xuống cái hầm chứa xương người vào ban đêm. Sau khi thỏa thuận một chầu xi-nê Văn Lang, tôi đã leo xuống trước những cặp mắt vừa kinh hãi vừa thán phục của lũ bạn!…
Không sợ ma quỷ nhưng tôi lại sợ trăn rắn (kể cả con lươn) và giun đất!
Vì không dám đụng vào con giun, tôi không bao giờ thích đi câu, trừ câu cá rô, cá sặc bằng trứng kiến. Mỗi lần bất đắc dĩ đi theo bạn bè, tôi phải nhờ họ móc con giun vào lưỡi câu!
Còn rắn thì khi làm công tác phá rẫy ở Phước Long gặp chúng là việc xảy ra như cơm bữa, thường là rắn lục. Đúng như sách vở đã viết, trừ trường hợp bị tấn công trước, rắn thường tìm cách trốn tránh khi nghe thấy tiếng động, nhưng lúc nào tôi cũng chăm chú quan sát mặt đất trước khi đặt bước, trường hợp thấy rắn vắt vẻo trên cành cây thì tôi lùi lại để… nhường cho các bạn!
Tuy nhiên ở Phước Long, vắt rừng mới là mối lo chính của tôi. Vắt ở đây hơn xa vắt ở rừng Đồng Ban và các nơi khác về cả kích thước lẫn khả năng tấn công.
Vắt Đồng Ban dài khoảng 2 cm, còn vắt Phước Long dài gấp rưỡi, có khi gấp đôi.

(Ảnh minh họa)
Loài vắt nói chung tìm mục tiêu bằng cách dò hơi nóng (heat seeking), tuy nhiên trong khi vắt Đồng Ban chỉ có thể nhảy từ cành lá sang người khi họ đi sát khoảng một hai gang tay, thì vắt Phước Long có khả năng “búng” thân hình bay xa cả mét, vì thế dù không phải len lỏi vào rừng mà chỉ di chuyển trên những con đường mòn ven rừng, chúng tôi vẫn bị chúng tấn công như thường.
Mỗi khi tới địa điểm lao động, chúng tôi lại phải nhờ người khác tống khứ hộ đám vắt đang bám trên mặt, trên cổ; sau đó muốn chắc ăn, phải cởi hết quần áo để bắt những con đang hút máu trên lưng, ngực, bụng, đùi, hoặc chui vào nách, háng… Trong trường hợp bị vắt cắn ở những vị trí kín đáo, không tiện nhờ người khác, tôi phải lấy một cái que để gạt chúng khỏi người mình.
* * *
Tới ngày thăm nuôi, vợ tôi không đi một mình mà đi cùng với K, cô bạn có chồng đại úy mất tích ở Pleiku năm 1975, sau này cùng vợ tôi lặn lội ngược xuôi buôn bán. Tôi không chỉ cảm kích trước lòng tốt của K mà còn cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng vì không còn phải băn khoăn tiếc rẻ vì đã không mượn chai thuốc xịt muỗi và tấm ni-lông của Hoàng. Bởi vợ chồng tôi chỉ cần vắng mặt 30 phút là K biết chuyện gì đã xảy ra, cho nên chắc chắn vợ tôi sẽ phản đối trong trường hợp tôi dụ nàng “hủ hóa”!
Sáng hôm sau, tổ của tôi được phân công phá một khu rừng chồi sát con đường Phước Bình – Quảng Đức. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, thấy bóng hai người đàn bà đi bộ từ xa xa, hướng ra Phước Bình; tới gần hóa ra chính là vợ tôi và K.
Thời gian này T2 chúng tôi đã hoàn toàn lao động tự giác, không có quản giáo hay vệ binh đi theo, cho nên tôi đi ra đường lộ chuyện trò thoải mái với hai người trong lúc chờ xe.
Một lúc sau, một chiếc xe vận tải của nông trường chạy tới và ngừng lại cho quá giang. K được kéo lên trước rồi quay lại nắm tay vợ tôi kéo lên; khi đứng phía sau nhìn vợ leo lên cái bửng xe, tôi chợt nhận ra rằng vợ tôi có cặp mông quá sức hấp dẫn, và thẫn thờ, rồi sau đó lo sợ viển vông…
Cũng xin có đôi dòng giải thích về việc “lột xác” của vợ tôi so với kỳ thăm nuôi đầu tiên ở Trảng Lớn.
Sau khi tôi bị đi cải tạo, vợ tôi kiếm sống bằng cách buôn bán tinh tinh ở cái chợ trời mới mọc lên cạnh đường rầy gần cổng xe lửa số 6. Sau khi chợ trời bị công an phường dẹp, nàng gửi con cho bà ngoại của tôi rồi cùng K đi buôn trà ở Bảo Lộc. Buôn trà thất bại, hai nàng chuyển sang buôn lậu cá khô từ Sông Mao, Phan Thiết về Sài Gòn…
Tới năm 1977, hai nàng đổi nghề: buôn hàng ngoại!
Nguyên vào thời gian này, việc người Việt ở nước ngoài gửi quà về cho thân nhân trong nước đã trở nên khá phổ biến; và thường thường thân nhân chỉ giữ lại bánh kẹo, thuốc men, còn quần áo, mỹ phẩm thì bán đi để lấy tiền chi dụng. Từ đó đẻ ra nghề buôn bán những mặt hàng nói trên.
Có khi K và vợ tôi được người ta gọi tới nhà để bán, cũng có khi hai nàng vào tận chỗ lãnh quà trong phi trường Tân Sơn Nhất để mua ngay tại chỗ. Dĩ nhiên, khi làm nghề này, hai nàng không thể ăn mặc lôi thôi như ngày còn đi buôn trà, buôn cá khô, mà phải chưng diện một chút cho phù hợp với “đẳng cấp nghề nghiệp”.
Người đẹp nhờ lụa! Bên cạnh đó, việc không còn phải ngồi (đôi khi đu) xe đò, vất vả ngược xuôi, mưa nắng sớm chiều đã khiến hai nàng trắng trẻo hẳn ra, dinh dưỡng đầy đủ nên có da có thịt, hồng hào phốp pháp, hiện nguyên hình “gái 2, 3 con trông mòn con mắt” của những ngày trước 1975.

* * *
Thực ra, viết rằng tôi nhận ra sức hấp dẫn của vợ rồi lo sợ viển vông cũng không được chính xác cho lắm, mà phải viết lo sợ ấy có liên hệ với thực tế: một số người trong thời gian đi học tập cải tạo đã bị mất vợ!
Chỉ tính trong kỳ thăm nuôi đợt 2 này, đã có hai bạn tù quen biết với tôi được thân nhân lên báo… hung tin: một trung úy có bà vợ không kham nổi thiếu thốn cơ cực, đã cặp kè công khai với một sĩ quan CSBV cấp tá nắm giữ một chức vụ béo bở, một trung úy khác thì vợ đem các con theo một thương gia Chợ Lớn ra đi “bán chính thức”!

Vợ chồng người viết ngày mới cưới (Biển Hồ, Pleiku, 1971)
Khi vợ tôi lên thăm, được nàng trấn an về mặt sinh kế, cho biết từ mấy tháng nay ba mẹ con không còn phải ăn độn bo bo hay khoai mì phơi khô nữa, và tới sinh nhật các con cũng đủ khả năng đưa chúng đi chơi Sở thú, chụp hình, ăn kem…, tôi cảm thấy yên tâm hơn nhiều so với những lần thăm nuôi trước đây khi vợ tôi còn phải bon chen ngoài chợ trời hay ngược xuôi buôn trà, buôn cá khô…
Nhưng sau cái buổi sáng giã từ và chợt nhận ra sức hấp dẫn của cặp mông của vợ, tôi bắt đầu bị ám ảnh về những gì tệ hại nhất có thể xảy ra cho cuộc tình đang bị gián đoạn của hai đứa!
Nhớ lại mấy tháng trước, sau khi được lên trung đoàn xem chiếu phim, thấy cảnh Trà Giang ưỡn ẹo khoe đôi mông sau lớp vải quần mà đêm về tha hồ dệt mộng đẹp, nay cũng hình ảnh hấp dẫn tương tự nhưng của vợ mình thì lại lo âu, thậm chí có lúc ghen tức với cuộc sống tự do của nàng bên ngoài hàng rào trại cải tạo… Tôi biết suy nghĩ như thế là nhỏ nhen, ích kỷ, vô lý nhưng không thể gạt bỏ khỏi đầu óc mình.

* * *
Đúng vào khoảng thời gian bị giao động tinh thần ấy, tôi được mẹ tôi viết thư báo một tin sét đánh: T, em trai áp út của tôi đã chết thảm vì chất nổ!
Việc xảy ra đã gần một năm nhưng mẹ tôi cấm không cho ai báo tin, sợ tôi xuống tinh thần. Nay mẹ tôi cứ nằm mơ thấy cả hai anh em, lo sợ không biết có chuyện gì chẳng lành xảy ra cho tôi hay không nên quyết định viết thư báo tin, để nếu tôi nhận được sẽ cầu nguyện cho linh hồn em, và bù lại linh hồn em sẽ phù hộ tôi – theo sự tin tưởng của người theo đạo Chúa.
Đọc thư mẹ, lần đầu tiên từ ngày trưởng thành, tôi khóc. Khóc không thành tiếng nhưng nước mắt giàn giụa…
Trong sáu anh em trai, T là người được mọi người, trong nhà cũng như ngoài đường, quý mến nhất: không chỉ đẹp trai, sáng sủa, học giỏi, hiền lành nhất nhà mà còn chịu… đi tu, nghĩa là trong tương lai sẽ làm linh mục.
Thực ra, trong anh em tôi có tới 3, 4 người được bố mẹ gửi vào nhà dòng, để nếu không tu được thì cũng sẽ học hành nên người tử tế, nhưng tất cả – trừ T – hoặc trốn về vì nhớ nhà (và vì cơm nhà dòng nuốt không nổi), hoặc bị các cha trả về vì “không có ơn kêu gọi” (thực chất là nghịch phá hoặc học dốt).
Trước 1975, T đã vào nhà dòng nhưng khi 30 tháng Tư ập đến, tất cả mọi tu viện hoặc bị chế độ mới tịch thu hoặc bị đóng cửa, những người đang tu tập bị trả về nguyên quán, thì ít lâu sau T được mẹ tôi gửi gấm một vị cha xứ đã già ở gần nhà, bề ngoài là chú giúp việc nhưng thực ra là một người tu “lậu”!
Để tránh bị đám cán bộ địa phương dòm ngó, làm khó dễ, tịch thu cơ sở nhà xứ…, vị linh mục đã ra sức “nín thở qua sông”: sáng sớm, khi giáo dân trong xứ đạo lũ lượt kéo nhau vào nương rẫy thì ngài dù tuổi già sức yếu vẫn vác cuốc cùng T hòa mình vào đoàn người. Và cũng giống mọi người, cha và T ăn trưa trong rẫy, tới chiều mới quay về.
Một buổi trưa nọ, cơm nước xong xuôi, vừa đặt lưng trong cái lều của hai cha con, T nghe thấy tiếng ồn ào của đám thanh thiếu niên gần đó, liền tới xem thử có chuyện gì.
T vừa tới nơi thì một tiếng nổ long trời lở đất: một trái đạn đại bác 155 ly chưa nổ, không biết đám thiếu niên nghịch ngợm táy máy thế nào bỗng phát nổ.
T bị một miểng đạn lớn vào trán, chết liền tại chỗ!
* * *
Khoảng hai tuần sau khi tôi nhận được tin em trai chết, cả T2 đã bị rúng động vì một cái chết khác: Vui, chàng cầu thủ đá banh được cả tù cải tạo lẫn bộ đội hâm mộ tài nghệ, tự tử chết!
Ở một đoạn trước, khi viết về anh y tá bộ đội mê đá banh tên Thu, tôi đã nhắc tới Vui, một thiếu úy gốc Cà Tum, trước kia là một cầu thủ bóng tròn có hạng.
Vui là người gốc Huế, cao lớn, trắng trẻo, khá đẹp trai. Theo những anh em chơi thân với Vui, anh xuất thân từ một gia đình khá giả và nề nếp ở đất thần kinh. Về chuyện tình cảm cá nhân, vì Vui rất kín miệng cho nên anh em cũng chỉ được biết Vui còn độc thân, và mỗi lần thăm nuôi thì có chị hoặc em gái lên thăm.
Sau khi T2 di chuyển từ trại cũ sang trại mới, không ai được trở lại khu vực trại cũ nơi có sân banh, thì mục đá banh cũng bị dẹp bỏ, Vui buồn ra mặt, ngày càng trở nên trầm lặng, sống thu mình.
Trong kỳ thăm nuôi đợt 2, Vui được người chị lên thăm; không hiểu có tin tức gì mà sau đó Vui xuống tinh thần thấy rõ, đi lao động về là nằm một chỗ.
Được vài ngày, sau một đêm mưa to gió lớn, sáng ra anh em không thấy Vui trên chiếc giường tre thì cứ tưởng anh đi vệ sinh. Đợi tới giờ đi lao động vẫn không thấy Vui trở về, anh em tới giường quan sát kỹ thì thấy nhiều vết máu trên chiếu và một lưỡi lam (dao cạo râu): Vui đã cắt mạch máu tự tử?!
Sau khi được báo cáo, ông Phùng Xuân Nghĩa cho tổ của Vui được miễn lao động để đi tìm kiếm. Tới trưa, khi chúng tôi trở về trại, anh em trong tổ đã ra tới tận bìa rừng, băng qua nên kia bờ suối mà vẫn không tìm ra một dấu vết nào của Vui…
Một ngày, rồi hai ngày trôi qua… Tới ngày thứ ba, mới thấy xác Vui nổi lên trong một bụi cây dưới suối, ngay phía dưới cây cầu nối liền với trại cũ.
Như vậy, sau khi cắt mạch máu cổ tay, để cho chắc ăn, Vui đã lấy cái chăn cuốn chặt vết cắt để khỏi để lại vết máu trên đường đi, rồi ra suối trầm mình…
Xác Vui, bó trong cái chăn của chính anh, được anh em cùng tổ chôn giữa sân banh ở trại cũ, với một mộ bia bằng gỗ khắc tên tuổi do tổ mộc thực hiện. Lúc chôn Vui, y tá Thu cũng có mặt…
Ít lâu sau khi Vui tự tử, khoảng giữa năm 1978, đội tôi được phân công làm rẫy gần đường lộ, đi về bằng lối trại cũ. Lúc về, chúng tôi tới thăm mộ Vui, ai cũng bùi ngùi, riêng tôi sau đó còn tạt qua vườn rau cũ tìm mộ con Mát-đa. Mới có mấy tháng mà cỏ và cây dại đã mọc che khuất cả khu vườn, nhưng cái bia “Mát-đa chi mộ” vẫn còn đứng vững. Là người Công giáo, không tin loài vật có linh hồn nhưng tôi vẫn thấy lòng mình chùng xuống như khi đứng trước mộ một người thân, hay một người bạn. Tôi đặt tay lên bia mộ một hồi lâu rồi mới quay gót…

* * *
Vài tuần sau, tôi bắt đầu cảm thấy trong người mệt mỏi một cách khác thường. Không phải cái mệt mỏi rã rời sau những buổi lao động vượt chỉ tiêu mà dường như sinh lực trong cơ thể tự dưng dần dần biến mất… Cho tới một buổi sáng nọ tôi bò dậy một cách khó khăn, đi đứng lạng quạng nên xin được miễn lao động.
Tới trưa khi anh em từ rẫy trở về trại, Hoàng (đờn bass) lãnh cơm trưa cho tôi nhưng tôi vẫn nằm một chỗ, không muốn ăn một chút nào vì miệng đắng ngắt. Suốt ngày hôm đó, tôi nằm liệt giường, chỉ cố gượng đứng dậy mỗi khi đi tiểu.
Qua sáng hôm sau, tôi gần như bị liệt giường. Tới khoảng 1, 2 giờ chiều tôi thấy lạnh, càng lúc càng lạnh, lạnh run cầm cập, tôi trùm chăn kín mít, nằm co quắp, khép chặt hai đùi nhưng vẫn không ăn thua gì bởi đây không phải cái lạnh từ ngoài trời mà lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi có thể nghe hai hàm răng của mình đánh vào nhau rõ từng tiếng!
Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, cái lạnh từ từ biến mất, nhưng ngay sau đó tôi lại lên cơn sốt. Lúc đầu, tôi còn tỉnh để nhận ra thân người mình nóng như lò lửa, sau đó mê man không còn biết gì nữa.
Cũng khoảng 1, 2 tiếng đồng hồ sau, tôi tỉnh dậy, cơn sốt đã chấm dứt và người bắt đầu toát mồ hôi, ướt sũng. Thân thể tôi trở nên rã rời, đầu nhức như búa bổ, miệng khô đắng. Chưa bao tôi thèm đường đến như thế; tôi thều thào nhờ Hoàng lấy cho tôi cái hộp đựng đường cát trắng vợ tôi mới đem lên, cất trong cái thùng đạn dưới gầm giường, và một lon ghi-gô nước lạnh.
Xế chiều, tôi cố gắng xuống khỏi giường để đi tiểu thì thấy nước tiểu có màu đỏ sậm.
Ngày hôm sau, tôi cảm thấy cơ thể đỡ mệt mỏi, bớt nhức đầu so với chiều hôm trước. Nhưng qua ngày kế tiếp, mọi diễn tiến lập lại y như hai ngày trước đó, cũng bắt đầu vào khoảng 1, 2 giờ chiều, có khác chăng là tôi bị mê man trong một khoảng thời gian dài hơn, sau đó bị nhức đầu dữ dội hơn, và cảm thấy mệt mỏi rã rời hơn lần trước rất nhiều!
Một người bạn cùng đội đem lại cho tôi hai viên thuốc ký-ninh (quinine). Lúc đó tôi mới được biết trong lúc tôi lên cơn sốt, y tá Thu được anh em trong đội thông báo đã xuống thăm bệnh, và cho mọi người biết tôi bị sốt rét cấp tính. Anh nói anh em cải tạo nào có ký-ninh thì san sẻ cho tôi, bởi trên “khung” không có.
Nhưng tôi uống hai viên thuốc mà bệnh không hề thuyên giảm: hai ngày sau, cơn sốt rét trở lại, khủng khiếp hơn… Tội nghiệp anh bạn tù tốt bụng chỉ có bốn viên ký-ninh để phòng thân, sau đó cho nốt hai viên còn lại, nhưng cũng chẳng ăn thua gì!
Cũng cần viết thêm, từ khi bị sốt rét hành, vì miệng đắng và đau cuống họng, không muốn nuốt bất cứ thứ gì, tôi sống nhờ đường và nước lạnh. Mỗi khi miệng thật khô và đắng, tôi ngậm khoảng nửa muỗng cà-phê đường, sau khi đường tan, nhấp một chút nước…
Gần hai tuần lễ sau, khi tôi ăn hết hộp đường của mình, Hoàng phải lấy đường của hắn cho tôi một hũ chao thì tôi có cảm tưởng đường và nước chẳng còn tác dụng gì cho một cơ thể đã không còn một chút sinh lực!
Lúc này, tôi gần như bị mê man suốt ngày, và trong khoảng thời gian tỉnh táo ngắn ngủi sau mỗi cơn sốt rét, tôi nghĩ chắc chắn mình không qua khỏi.
Trước kia, tôi từng được nghe Hùng, một thiếu úy bộ binh bị bắt làm tù binh trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, kể về những cái chết do sốt rét cấp tính mà anh đã chứng kiến trong rừng Trường Sơn.
Khi bệnh nhân cảm thấy lạnh là lúc vi trùng sốt rét xuất phát từ lá gan đi khắp cơ thể để tiêu diệt hồng huyết cầu trong máu; sau đó khi chúng sinh sôi nảy nở là lúc bệnh nhân bị sốt rồi toát mồ hôi.
Theo những gì Hùng đã chứng kiến thì sau khoảng hai tuần lễ, bệnh nhân sẽ kiệt lực và… đi luôn. Cũng theo lời Hùng, ngày ấy nơi anh và các tù binh VNCH khác bị giam là một căn cứ hậu cần của CSBV trong rừng Trường Sơn, có cả một trạm xá dành cho bộ đội “sinh bắc tử nam”, nhưng trong khi có cả tù binh VNCH lẫn bộ đội CSBV bị sốt rét, thì chỉ có bộ đội chết chứ không có tù binh miền Nam nào, có lẽ vì cơ thể của họ có đủ sức kháng cự những đợt tấn công của vi trùng sốt rét.
Như vậy, anh y tá bộ đội của T2 đã không phóng đại khi có lần nói với chúng tôi rằng trong những năm tháng vượt Trường Sơn, số bộ đội chết vì kiết lỵ và sốt rét còn nhiều hơn số chết vì bom B-52!
Nay tôi bị sốt rét đã gần hai tuần mà không thuyên giảm có lẽ vì sau gần 3 năm tù cải tạo, kháng thể trong người không còn đủ sức chịu đựng những đợt tấn công liên tiếp của vi trùng…
Tôi hoàn đã toàn kiệt lực, không còn sức để nuốt đường, nước nữa. Tôi chờ chết!

* * *
Điều kỳ lạ là sau này khi đã được thả, cứ mỗi lần nghĩ tới việc mình suýt bỏ mạng vì sốt rét ở Phước Long tôi lại rùng mình ớn lạnh, nhưng trước đó, khi nằm bất động trên cái giường tre trong trại cải tạo, tôi lại rất bình tĩnh!
Thứ nhất, như đã viết trong kỳ đầu tiên, một thời gian ngắn sau khi bị bắt đi học tập cải tạo, tôi đã tìm lại được niềm tin vào tôn giáo, và phó thác cuộc đời cho đấng đã tạo dựng ra mình.
Tôi thừa hưởng niềm tin này từ bà ngoại. Khi hai trong số bốn người cậu quân nhân của tôi đền nợ nước, bà đều nói: “Sống chết do Chúa định!”
Viết như thế không có nghĩa là một khi tin vào Chúa là đương nhiên không còn sợ chết, nhưng hình như khi phải sống trong cảnh khốn cùng, tuyệt vọng, người ta không còn sợ hãi cái chết nữa.
Không phải tôi không nghĩ tới vợ con, nhưng nghĩ tới chỉ vì tình cảm yêu thương chứ không phải vì lo lắng cho tương lai, bởi hơn ai hết, những người tù cải tạo chúng tôi trong cảnh cá chậu chim lồng đều suy nghĩ dưới chế độ cộng sản hiện nay, mình chỉ là những kiếp sống thừa, những gánh nặng cho vợ con, cha mẹ…
Tôi cũng nghĩ nhiều tới mẹ tôi, người đã yêu thương lo lắng và hy sinh quá nhiều cho thằng trưởng nam (tới mức đôi khi tôi cảm thấy áy náy khi so sánh với các em), nhưng tôi tin mẹ tôi sẽ vượt qua bởi bà cũng có một đức tin rất mạnh. Chính đức tin ấy đã khiến mẹ tôi tin rằng việc gia đình tôi bị kẹt lại vào năm 1975 cũng là do “ý Chúa”!
Ngày ấy, sau khi mất Phước Long, mẹ tôi, vốn quen biết nhiều vị trong giới giáo quyền, được một vị linh mục cho biết người Mỹ đã bán đứng miền Nam. Tới giữa tháng Tư, mẹ tôi đã đích thân lên phi trường Biên Hòa gặp tôi để bàn về việc cả gia đình đi ra Phước Tỉnh, nơi có nhiều họ hàng bên ngoại và vị linh mục chánh xứ là người trong thân tộc, để sẵn sàng ra đi vì nghe đồn sẽ có một cuộc “di cư” cho người Công giáo như vào năm 1954. Nhưng lần này di cư đi đâu, không ai được biết!…
Tuy nhiên dự định của mẹ tôi đã bị tôi gạt phắt, bởi tôi không muốn… bỏ chạy!
Tôi không hề nghĩ mình là một sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị nên có tinh thần yêu nước, chống cộng cao hơn người khác, mà chỉ vì khi ấy tôi không tin mình sẽ mất trọn miền Nam mà ít ra cũng giữ được Vùng 4. Tôi muốn ở lại để cùng mọi người tử thủ. Thế thôi!
Lúc ấy, nhìn nét mặt thất vọng của mẹ, lòng tôi cảm thấy vô cùng bất nhẫn nhưng tôi không có lựa chọn nào khác. Sau 30 tháng Tư 1975, khi tôi bày tỏ sự ân hận chỉ vì quyết định của mình ngày đó mà cả bố mẹ anh em bị kẹt lại, mẹ tôi đã an ủi tôi bằng cách nói rằng ngày ấy bà cũng có ý chờ tin tức về một thằng em của tôi phục vu tại Tiểu Khu Pleiku, mất tích trong cuộc di tản trên liên tỉnh lộ 7, nên cũng hơi dùng dằng, nếu không rất có thể bà đã đưa cả nhà ra Phước Tỉnh, bỏ gia đình chúng tôi lại vì nghĩ rằng “không quân có máy bay, thế nào chả đi được!”

* * *
Sau khi đã cảm thấy thanh thản khi nghĩ tới những người thân yêu, tôi tự vấn lương tâm về những gì còn vướng mắc trên quãng đời đã qua: những ân oán, những món nợ chưa trả – nợ tiền, nợ tình…
Về ân oán, có lẽ tôi còn quá trẻ, hoặc không sống trong những môi trường, những cảnh đời phức tạp để phải vướng mắc!
Nợ tình thì tôi nợ… tứ phương nhưng chỉ là những món nợ nho nhỏ, có thể xí xóa. Viết một cách cụ thể hơn, tôi chưa bao giờ hại đời con gái nhà lành rồi quất ngựa truy phong, chưa bao giờ đào mỏ (dại gái là đàng khác), chỉ thỉnh thoảng được hưởng “tình cho không biếu không”.
Có áy náy chăng chỉ là khi nhớ tới cô bạn thơ văn từ thời trung học. Dù hai đứa chưa hề ngỏ lời, bằng miệng cũng như qua giấy mực, nhưng trong thâm tâm cũng tự biết hai đứa không chỉ coi nhau như bạn!
Một khi chưa hề ngỏ lời, tỏ ý thì muốn chấm dứt cũng dễ thôi. Vậy mà tôi đã không làm được. Sau khi đã làm đám hỏi với người con gái sau này là vợ tôi, tôi vẫn dấu kín cô bạn, vẫn duy trì liên lạc, những buổi sáng giá lạnh, những buổi chiều lộng gió ở phi trường Pleiku vẫn “thắt lại khăn ấm chính em đan…”.
Để rồi ít lâu trước khi lấy vợ, tôi bàn giao cái “khăn ấm” ấy cho ông bạn quý Trần Ngọc Tự, và chấm dứt cái một, không kèn không trống! …
Nhưng nợ tiền thì tôi có vướng mắc!
Nguyên trong thời gian học 9 tuần căn bản quân sự ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung trước khi lên Thủ Đức, tôi kết thân với một đàn anh thuộc một Bộ nọ trong chính phủ. Anh là một trong những công chức trung cấp, cùng với một số Phó đốc sự tốt nghiệp Khóa 13 Quốc Gia Hành Chánh, chỉ phải học 9 tuần căn bản quân sự rồi trở về nắm giữ chức vụ cũ.
Chẳng hiểu sao anh lại thương tôi như một đứa em mà anh đặt cho biệt hiệu “Xăng-pha-mi” (Sans Famille: Vô gia đình, truyện của Hector Malot). Khi về phép cuối khóa, anh không chỉ bao tôi đủ mục vui chơi của đàn ông con trai, mà trước khi chia tay còn hỏi tôi có cần tiền để tiêu xài trong mấy tuần lễ huấn nhục ở Thủ Đức thì anh cho mượn, khi nào trả cũng được.
Dĩ nhiên, tôi chẳng dại gì từ chối. Anh đưa cho tôi 3000 đồng (khoảng một tháng lương sinh viên sĩ quan ngày ấy). Thế rồi trong suốt 6 năm sau khi ra trường Thủ Đức cho tới 30 tháng Tư 1975, tôi chỉ nhớ tới món nợ này khi đã… xài hết tiền lương!
Nhưng theo sự “diễn dịch” của tôi, vướng mắc này chỉ là một “tội nhẹ” trước mặt Thiên Chúa, bởi vì người tôi mắc nợ tương đối dư giả chứ không đến nỗi thiếu thốn, đồng thời tôi cũng không chủ tâm quỵt luôn.

* * *
Sau khi tính sổ đời, tôi thấy lòng mình thảnh thản. Sự thanh thản của một người đã hết hy vọng và chấp nhận phần số, chứ không phải đau khổ tuyệt vọng. Tôi nghĩ tới cái chết của mình như thể đó là cái chết của một người nào khác. Ngày mai, hoặc vài ngày nữa, sau cơn sốt rét cuối cùng, tay tù cải tạo hỗn danh “Sáu Lèo” sẽ không bao giờ tỉnh lại, anh em sẽ chôn hắn ở giữa sân banh bên cạnh mộ Vui, để rồi mấy năm sau sẽ chẳng còn chút vết tích!…
Nhưng đúng vào thời gian này lại xảy ra một biến cố mà nếu không có Hoàng (đờn bass) tôi đã bị chết đuối trước khi kịp chết vì sốt rét.
Đó là việc T2 bị lụt sau khi đập nước ở thượng nguồn sông Tà Niên – tức con suối chảy xuống T2 – bị vỡ.
Một vùng núi đồi như Bù Gia Phúc mà bị lụt là chuyện khó tin nhưng có thật, xảy ra vì hai nguyên nhân, một do thiên nhiên một do bàn tay con người.
Về thiên nhiên, khu đất của T2 giống như một cái lòng chảo nho nhỏ, nơi con suối chảy quanh gần giáp vòng trước khi xuôi về Thác Mơ dưới chân núi Bà Rá.
Nhưng nếu không có sự can thiệp của bàn tay con người thì cái lòng chảo ấy đã không bao giờ bị lụt.
Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái đập nước ấy và cũng không biết nó được sử dụng vào mục đích gì?! Sau này ra hải ngoại, qua đọc một hồi ký của một cựu tù cải tạo từng ở Phước Long, tôi cũng chỉ được biết cái đập nước ấy được xây dựng hoàn toàn bằng cây rừng và đất đá.
Cũng như cái hội trường vĩ đại gây chết người ở Đồng Ban, cái đập nước ở Phước Long cũng là sản phẩm của một bộ óc siêu việt nào đó trong đám tù cải tạo!
Theo lời Hoàng kể lại, không biết đập bị vỡ vào lúc nào, chỉ biết buổi sáng hôm ấy khi anh em đang chuẩn đi lao động thì nước suối bắt đầu dâng lên ngập sân, chỉ mấy phút sau đã ngập tới nền nhà. Tù cải tạo được lệnh di tản khẩn cấp lên một vị trí cao hơn trên con đường đi lên trung đoàn.
Vì phải lo di chuyển vật dụng cá nhân và cái thùng đựng thực phẩm, sau khi lên tới nhà thăm nuôi, Hoàng mới quay trở lại trại để tìm cách đưa tôi đi. Nhưng lúc đó mực nước ở ngoài sân đã dâng cao lên tới ngực, và trong nhà thì gần ngập dẫy giường tre trên đó có tôi nằm bất động, một mình Hoàng không đủ sức đưa tôi thoát khỏi trại.
Thời may, lúc đó đám cải tạo anh nuôi đang sử dụng mấy cái chảo gang lớn (đường kính khoảng 1.2 – 1.5 m) làm thuyền để vận chuyển thực phẩm của nhà bếp lên trên đồi, Hoàng liền lên tiếng báo động cho họ biết có một người bệnh còn nằm trong nhà.
Vì đây là chuyến chót cho nên mấy cái chảo cũng không đến nỗi khẳm, dư sức chở thêm tôi. Nhưng khi ấy, mực nước ở ngoài sân đã ngập quá đầu người và cuốn mạnh, Hoàng và mọi người phải vất vả lắm mới vừa bơi vừa đẩy được mấy cái chảo lên khu vực nhà thăm nuôi.
Sau này, Hoàng kể lại trong lúc đang bơi, gần hết hơi nên hắn phải há miệng để thở thì một bầy giòi (thoát ra từ những thùng phân người ở cầu tiêu) đã theo dòng nước chui vào miệng hắn. Cả tuần sau, hắn vẫn ói mửa khi nhớ tới trải nghiệm kinh hoàng này!

* * *
Lên khỏi khu vực bị lụt, tôi được đưa vào nhà thăm nuôi, cho nằm trên một cái giường tre.
Vì thân xác đã kiệt quệ, đầu óc mơ mơ màng màng, tôi hầu như không hay biết gì về những diễn tiến trong ngày T2 bị lụt. Cho nên tôi cũng không biết vào buổi chiều hôm ấy tôi có bị lên cơn sốt rét hay không? Chỉ biết sáng hôm sau, sau khi nước rút, trong lúc anh em tù cải tạo trở về trại dọn dẹp cây cối, rác rến, chùi rửa giường nằm và các vật dụng sinh hoạt, tôi cảm thấy đỡ nhức đầu và tỉnh táo hơn ngày hôm trước. Tới trưa, Hoàng và một người bạn tù khác xốc nách tôi đưa về trại.
Sau khi được đặt lưng trở lại trên cái giường tre, tôi chuẩn bi tinh thần chờ đợi cơn sốt rét, nhưng chờ mãi, chờ tới hơn 2 giờ chiều vẫn không thấy sốt rét quay trở lại!…
Ngày hôm sau, vẫn không có gì xảy ra… Cuối cùng, tôi biết mình đã thoát chết!
Theo anh y tá Thu, tôi là bệnh nhân sốt rét cấp tính đầu tiên thoát chết mà anh được biết! Phần tôi, cho tới nay tôi vẫn tin việc mình bị sốt rét ở Phước Long năm 1978 mà không chết là một phép lạ!

* * *
Ít lâu sau trận lụt ở T2, khi tôi đã có thể sinh hoạt bình thường trở lại thì vào khoảng tháng 7 hay tháng 8 dương lịch, xảy ra một cuộc chuyển trại ở L2. Không biết ở các T khác thì sao, riêng ở T2 chỉ có vài chục người, tất cả đều là trung úy thuộc thành phần “nặng tội” nhất: chiến tranh chính trị, an ninh tình báo, quân cảnh tư pháp…, trong số đó có tôi.
Hầu như toàn thể tù cải tạo – kẻ ra đi cũng như người ở lại – đều tin rằng nhóm chúng tôi sẽ bị đưa ra miền Bắc. Tôi nhủ thầm:
– Cuối cùng thằng “giặc nói” này cũng không thoát. Thôi, tới đâu hay tới đó!
Khi nhóm chúng tôi được lệnh tập họp đi bộ lên trung đoàn, từ đó sẽ có xe chở đi trại mới, Cường (cựu đội trưởng), Hoàng, và M (bị đốt râu) tới từ giã tôi; người nào cũng ái ngại cho tôi vì biết cuộc chuyển trại này lành ít dữ nhiều!
M bắt tay tôi thật chặt, nói nhỏ:
– Thôi… Chúa phù hộ anh Sáu nhé!

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 24 May 2025

Chương 6

Chiếc ghe bầu tiến sát vào Lung Tràm. Đó là vùng rừng trầm thủy, đầy cây tràm và dây choại rộng hàng chục mẫu. Mùa nắng, nước vẫn còn đọng dưới lung, hơi bùn lầy bốc lên khó thở.

Cô Huôi hơi buồn rầu, nhìn phía sau lái chiếc ghe bầu. Mắt cô sáng lên. Hai chàng trai đang cong lưng chống sào, trên ghe còn hai người khác, mà cô đoán chắc là Mười Hấu và thằng Cẩu. Họ tới hơi trễ nhưng tình thế còn cứu vãn được. Theo kế hoạch do Bá Vạn hoạch định thì khi ông Chúa hấp hối, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh để nhận lãnh chức vị. Cô nói:

– Ông ơi! Ai tới kìa!

Ông Chúa Hòn day lại:

– À, thằng Cẩu, con chó con. Nó tới, vui lắm. Cái thằng tánh tính không giống ai.

Rồi ông Chúa truyền lịnh cho bọn hộ vệ:

– Chờ một lát, tụi bây đừng chèo chống nữa. Gấp gì! Thằng Lục Nhét đâu rồi?

Tên hộ vệ đáp:

– Dạ, còn chờ ở Lung Tràm

Cô Huôi biết rằng cuộc gặp gỡ nầy do Bá Vạn bố trí kỹ lưỡng. Nếu vắng mặt thằng Cẩu lúc ông Chúa nhắm mắt thì cậu Hai Điền có lý do để tranh chấp. Cô nói:

– Lục Nhét có phận sự lùa heo rừng tới một chỗ nào đó, hắn phải chờ đợi mình. Thằng ngồi giữa là ai vậy?

Chiếc ghe phía sau đến gần giúp ông Chúa thấy tỏ rõ, ông ta cao hứng vỗ tay:

– Thằng Cẩu, hồi nãy tao nhìn không ra. Cỡ nầy mầy mập quá!

Mười Hấu chắp tay thưa:

– Hay tin ông Chúa tới, tôi có món nầy quý giá.

– Món gì?

Đôi mắt cô Huôi liếc nhanh, nhận ra cái hũ da rạn, đậy nắp cẩn thận, dưới nắp có miếng vải đỏ. Trước khi từ giã, Bá Vạn cho cô biết Mười Hấu đem dâng cho ông Chúa một thứ rượu đặc biệt. Mười Hấu nãy giờ đang sửng sốt vì nhan sắc cô Huôi nên quên trả lời. Thằng Cẩu bèn nhảy lên bờ mà nói:

– Thưa ba, rượu của ông ngoại ngâm mấy năm rồi.

– Đem lại đây.

Vì muốn tránh tai tiếng, Mười Hấu trao hũ rượu cho thằng Cẩu để tự tay nó dâng cho ông Chúa Hòn. Nhưng Mười Hấu hơi thắc mắc vì chưa tiếp xúc được với cô Huôi.

Chiếc ghe hầu dừng lại để đón rước thằng Cẩu. Thừa dịp ấy, Mười Hấu cũng lên bờ, ngồi xuống với dụng ý nhìn mặt cô Huôi. May thay, thằng Cẩu đem hũ rượu xuống chiếc ghe hầu, nói lia lịa:

– Rượu nầy bổ lắm, ngâm sừng con tê giác.

Ông Chúa Hòn cười hề hề:

– Mầy là đứa con có hiếu.

Thằng Cẩu đáp:

– Dạ, của ông ngoại con…

Cô Huôi ngỏ lời với ông Chúa Hòn:

– Tôi lên bờ nói chuyện với ông Mười trong giây lát. Cô Ngó là con ông Muời, vậy thì ông Mười đáng bực cha chú của tôi.

Vì ham uống thuốc bổ nên ông Chúa nói lơ đãng:

– Cô nên gặp…

Cô Huôi lên bờ, Mười Hấu biết ý trước, bước lui ra. Cô Huôi đi theo, nói khẽ:

– Lát nữa, ông đi theo cho vui chớ. Bấy lâu, chưa gặp ông, tôi xin chào ông. Cô Ngó tới gia đình ông Chúa trước tôi.

Mười Hấu chắp tay thưa:

– Nhưng con Ngó của tôi thì quê mùa, nhan sắc kém xa. Mong cô giúp đỡ thằng Cẩu cho nó nên người. Ơn đức ấy, muôn đời tôi không quên.

– Tôi chỉ mong như vậy – Cô Huôi đáp.

– Nó còn trẻ, ăn nói ngang tàng, mong cô dạy dỗ nó.

Rồi Mười Hấu hỏi thăm:

– Ông Bá Vạn dạy tôi đem hũ rượu tới dâng cho ông Chúa và đem thằng Cẩu tới trình diện cô. Như vầy là xong rồi. Theo ý cô, tôi nên đi theo thằng Cẩu vô Lung Tràm hay nên về?

Cô Huôi đáp:

– Nên về núi Mo So rồi cho người canh chừng cẩn mật. Nếu dư người, ông cho họ tới gần Hòn Chông để dò xét. Bá Vạn ở Hòn Chông, ông đừng lo. Nhưng nếu xảy ra chuyện rắc rối, ông cho tôi hay biết.

Mười Hấu cúi đầu, phục tài cô Huôi.

Dưới chiếc ghe hầu, sau khi uống cạn chén rượu đầu tiên, ông Chúa cảm thấy hăng hái:

– Đi cho mau. Ăn cái gan con heo độc giác rồi uống thêm chút rượu tê giác thì còn gì sung sướng cho bằng!

Mười Hấu nghiêng mình như để chào. Thằng Cẩu nghe đến chuyện săn heo rừng thì sáng mắt lên:

– Cái nầy…vui hơn đá cá thia thia, phải không ba?

Dường như rượu độc đã bắt đầu công phạt, ông Chúa ngả lưng vào vách ghe hầu:

– Nàng ơi! Ta thấy cảnh tiên.

Cô Huôi bèn ra lịnh:

– Hộ vệ đâu? Vô Lung Tràm rồi về. Chẳng lẽ đậu ghe ở đây hoài?

Rồi cô liếc thằng Cẩu. Nó cúi mặt, hơi e thẹn. Cô nói gắt như để xem bản lãnh nó tới mức nào:

– Đỡ ba mầy, đừng cho ổng nằm. Hễ hơi say thì ổng dựa ngửa nghiêng.

Ông Chúa phều phào:

– Rót cho tao một chén nữa. Rót nữa. Cẩu đâu rồi! Ba thương con quá…

Thằng Thiếu và Lục Nhét đứng một chỗ mà chờ đợi. Nắng chiều đã lên cao. Muỗi rừng vẫn bay ào ào. Vài con rắn nước bò cong queo trên bãi bùn. Bầy cò trắng bay sập sận, toan đáp xuống trong khi bầy chó sủa oăng oẳng. Hồi lâu Lục Nhét ngồi xuống, lẩm bẩm:

– Sao lâu quá vậy?

Thằng Thiếu đáp:

– Tụi mình cứ chờ. Ông Chúa cho tiền, mình lãnh đủ rồi. Nếu săn được con heo độc giác, nhứt định là ổng cho thêm gấp đôi.

Lục Nhét nhai bùa trong miệng, thỉnh thoảng nghiến ken két. Ông ta nhìn bóng nắng, cau mày. Đột nhiên từ phía sau có tiếng cắc kè kêu inh ỏi, từng tiếng rời rạc. Ông ta bấm đốt tay mà đếm. Tiếng cắc kè sau cùng chấm dứt vào lóng giữa của ngón áp út.

Mặt ông ta cúi xuống:

– Không xong! Tôi chờ rồi…về nhà?

Thằng Thiếu hỏi:

– Sao vậy? Phải săn cho được! Thí dụ như ông Chúa ra lệnh dời lại ngày khác mình cũng ở lại. Chẳng lẽ hai người tài ba như bọn mình lại đi thua trí một con heo.

Lục Nhét lắc đầu:

– Bữa nay xui xẻo lắm. Rắn bò trên bãi cát rồi cắc kè kêu. Đó là có người…bị thương, chưa biết ai. Tôi về!

Lục Nhét về là một thất bại lớn cho Bá Vạn và cô Huôi. Thằng Thiếu nghĩ đến người anh ruột, đang theo chân Bá Vạn về Hòn Chông. Anh ta hơi bực tức:

– Ở lại lát nữa, thế nào ổng cũng tới.

Bầy chó sủa to, day mỏ về phía đầu rạch. Đúng là chiếc ghe hầu của ông Chúa Hòn. Thằng Thiếu mừng rỡ vô cùng, chắp tay xá. Sau lưng thằng Thiếu là căn chòi nhỏ, lợp sơ sài bằng lá dừa nước để cho ông Chúa và cô Huôi tạm nghỉ nắng.

Chưa chi thằng Cẩu đã lớn tiếng:

– Con heo đâu? Mấy người làm ăn chậm chạp quá vậy!

Lục Nhét hỏi khẽ thằng Thiếu:

– Cậu nào vậy?

– Con ông Chúa chớ cậu nào!

Ông Chúa Hòn lú đầu ra khỏi mui ghe, hỏi nhanh:

– Gặp con heo độc giác chưa? Lùa nó tới đây cho mau. Rượu ngon uống vô, sao mà chóng mặt quá. Hễ trễ nải thì tao làm thịt tụi bây.

Cô Huôi nghĩ thầm: Thời cơ đã đến. Bên cạnh Lục Nhét còn hai người khác, tay cầm ngọn lao sáng ngời. Nên tranh thủ thời giờ, lúc cơ thể bị thuốc độc ngấm vào nhứt định ông Chúa Hòn mất bình tĩnh, không phân biệt chuyện nào dễ làm, chuyện nào nguy hiểm cho tánh mạng.

Thằng Cẩu bồn chồn trong dạ, muốn theo bọn thợ săn để sống những phút hồi hộp cho thoả chí:

– Heo độc giác ở đâu? Tại sao mấy người chuẩn bị kỹ lưỡng như ra trận mạc? Để tôi đâm nó..

Cô Huôi gắt giọng:

– Con heo nầy đã giết nhiều người rồi. Cậu đừng liều lĩnh. Hồi còn ở Hòn Chông, nó đánh chết một con cọp!

– Ghê vậy! Nhưng cô cho phép tôi đi theo để coi cho biết cách săn heo rừng.

– Cậu ngồi chơi với ông Chúa. Lát nữa, bọn thợ săn lùa nó tới trước mặt cho cậu thấy. Cậu là “hoàng tử”, tội tình gì mà phải chạy nhảy dưới bùn lầy! Đó là phận sự Lục Nhét.

Ông Chúa Hòn nói giọng phều phào:

– Cho ta nằm! Con heo tới chưa?

Cô Huôi ra lịnh cho bọn hộ vệ:

– Cõng ông Chúa vô chòi.

Lúc bọn hộ vệ đang làm phận sự, cô lên bờ gọi thằng Thiếu mà nói khẽ:

– Nhớ đâm ổng bằng con dao mà Bá Vạn nói đó. Làm cho mau. Mấy biết hai thằng hộ vệ nầy không?

– Dạ, tụi nó theo phe ông Bá Vạn từ lâu. Nếu tụi nó trở mặt, cô ra lịnh là tôi giết tụi nó.

– Việc đó phải chờ tao ra lịnh. Bây giờ thì bắt đầu. Để trễ nải quá, ổng thấm rượu rồi nằm mê man…

Lục Nhét chắp tay thưa với cô Huôi:

– Thưa cô, đây là cây mác mài thiệt bén để lát nữa ông Chúa đâm con heo độc giác. Tụi tôi lùa nó tới trước chòi, chó săn bao vây tứ phía. Nó không tài nào chạy thoát được.

Đề phòng trường hợp Lục Nhét làm phản, cô nói:

– Chú đâm trước con heo bị thương nặng, cho mất sức rồi hãy lùa tới đây. Mau đi! Tánh ông Chúa khó lắm.

Cô Huôi, hai tên hộ vệ chèo ghe lúc nãy, ông Chúa Hòn và thằng Cẩu ngồi trong chòi, trên cái sàn bện bằng cây tràm con và dây choại. Thằng Cẩu nói liền miệng:

– Chỗ nầy dường như mọi lần tôi vô hớt cá thia thia… Muỗi cắn quá. Phải hồi nãy ba cho tôi theo tụi nó.

Nhưng ông Chúa Hòn không còn tỉnh táo nữa.

– Rượu! Thứ rượu gì mà uống vô…thêm nhức mỏi.

Hai tên hộ vệ cứ ngồi yên, thở phào. Bọn chúng hơi mệt, vì hồi sáng chưa kịp ăn cơm là phải xuống ghe. Cô Huôi hơi lo ngại. Bọn nầy không mang dao nhưng võ nghệ khá giỏi. Cô hỏi thử để biết phản ứng:

– Hai chú muốn rượu không? Rượu tê giác…mạnh lắm.

Rồi cô rót vào một chén nhỏ tự tay trao cho bọn nó. Bọn nó liếc qua liếc lại như hỏi ý kiến. Cô thúc hối:

– Lát nữa, mặc sức mà ăn thịt heo rừng! Uống đi.

Tên hộ vệ thứ nhất đưa chén rượu lên môi uống cạn một hơi vì rượu quá ngon. Tên thứ nhì nói khôi hài:

– Nó uống hết phần của tôi rồi!

Cô Huôi đáp:

– Ta cho chú mầy một chén đầy. Ta cũng chán việc săn bắn nhưng đây là ý muốn của ông Chúa.

Ông Chúa lim dim đôi mắt rồi ngả lưng vào vách, không nói một lời, mặc cô Huôi đề cập tới ông.

Bình thời, ông ưa cười, ưa nói. Thằng Cẩu cầm cây mác, đi tới đi lui. Cô Huôi liếc qua kẽ lá. Nó đứng sau vách để rình chém…một con cắc kè. Con cắc kè đã rút vào bộng cây. Cô nhắc nhở:

– Cậu đừng đi đâu xa. Chó sủa gần lắm rồi đó. Con heo độc giác sắp chaỵ qua đây.

Hai tên hộ vệ như hiểu rằng loại rượu tê giác nọ công phạt quá mạnh. Một đứa phun nước bọt vào vách. Cô Huôi nhìn chòng chọc. Hắn ngồi yên, tay chân ngay ngắn. Bầu không khí như quá yên lặng. Muỗi bay vo vo, một con muỗi to, vàng lườm bay vòng tròn chung quanh đầu Chúa Hòn rồi đáp xuống, đậu ngay mép ông. Trong phút giây, cô Huôi nhìn kỹ gương mặt người chồng bất đắc dĩ. Thật là khó thương, tuổi tác già nua, tuy ăn nhiều món ngon nhưng thân xác gầy guộc như thanh củi. So với cha ruột cô thì lão Chúa Hòn lớn tuổi hơn nhiều. Vài giọt nước dãi nhễu xuống từ bên khoé miệng.

Đột nhiên, thằng Cẩu kêu to:

– Tới rồi kìa!

Chó sủa rộ lên, bốn con chó phèn đang bao vây không cho con heo độc giác chạy thoát. Nhưng con heo độc giác cứ tiến tới, hươi cái nanh đen đúa. Chó nhào vô cắn. Để chống trả lại, con heo độc giác cứ xoay tròn.

Và vô tình, nó đang di chuyển về phía ông Chúa Hòn.

Ông Chúa nằm ngủ say. Dịp may để cô Huôi ra lịnh cho hai tên hộ vệ:

– Mấy chú ra trước chòi mà chận con heo rừng!

Hai tên hộ vệ trố mắt. Quả thật con heo độc giác thuộc vào loại quái đản, to xương, bề dài trên một sải, lông lá vàng lườm như cỏ khô, cái đuôi bị chặt đứt, bốn chân cao nghệu như chân nai, mỏ dài, lởm chởm răng, thoạt nhìn qua ngỡ là mỏ con gấu. Cái nanh duy nhứt to gấp ba loại nanh thông thường, chót nanh có lẽ bị gãy, tuy là ở hai bên mép nhưng khúc còn lại chĩa về phía trước. Nó táp “phập, phập”, nước bọt sủi ra, một bên mắt nhắm lại, bên kia chỉ thấy tròng trắng.

Lục Nhét và thằng Thiếu đầu ở trần, sau lưng còn hai con chó săn khác.

Thằng Thiếu kêu lên như làm dấu hiệu với cô Huôi:

– Nó dữ lắm. Chưa được đâu!

Ông Chúa Hòn mở mắt, quát to:

– Cái gì? Cho ta đâm nó! Con cọp hả?

Lục Nhét rút bên lưng, đem ra một cái còi nhỏ. Anh ta thổi lên bốn tiếng:

– Te! te! te! te!

Tức thời bốn con chó săn nhào vô, cắn vào bốn cái đùi con heo độc giác, như có sự phân công từ trước.

Con heo độc giác cứ chịu đau, không chống trả, hai chân sau cứ dậm, cứ bươi dưới đất bùn. Thằng Cẩu hỏi:

– Nó làm cái gì vậy! Bộ heo nầy mắc đẻ hả?

Nhưng Lục Nhét và nhứt là thằng Thiếu đâu rảnh trí để trả lời câu hỏi vô duyên đó. Ông Chúa mở mắt, bên mép vẫn còn chảy nước bọt:

– À! Con heo độc giác. Nó lớn như con bò mà tụi bây dẫn tới đây được. Ta khen cho tụi bây.

Cô Huôi nói khích:

– Bởi vì ông là người “khí tượng đế vương” nên bọn thằng Thiếu và Lục Nhét đưa con heo tới chờ ông giết…

Và để thúc hối, cô nói tiếp, hướng về bọn thợ săn:

– Xong chưa?

Lục Nhét la hoảng:

– Coi chừng! Dực một, Dực hai, Dực ba, Dực tư!

Dực theo chữ nho là cánh chim. Mỗi con chó săn mang một tên riêng, tùy theo sự phân công. Dực một, Dực hai là hai con chó lãnh trách nhiệm tấn công hai chân trước của con heo rừng, chân bên mặt và bên trái…Dực ba, Dực tư lo tấn công hai chân sau. Mỗi con chó được so sánh với một cánh quân.

Bốn con chó săn nhào vô. Con heo độc giác “khịt” một tiếng. Lần nầy, nó chiếm vị trí thuận lợi, phía sau mông được che chở nhờ bùn đất.

Nó choi thẳng hai chân trước, thoạt trông qua, thấy giống như con cọp đang ngồi.

Con chó săn nhào vô cắn chân phải con heo độc giác. Nhanh như chớp, con heo quơ nanh đánh trả lại. Nhưng con chó Dực của Lục Nhét nào phải là loại tầm thường: Để khỏi bị đổ ruột, nó nhảy mạnh lên trên không. Ai nấy trố mắt, nín thở. Quả thật con chó Dực nầy khoẻ mạnh, xứng danh là con chó nòi. Nó nhảy lên, cao hơn ngọn sạp.

Con heo khịt một tiếng, đưa nanh lên. Lục Nhét kêu rú:

– Chết con chó của tôi rồi!

Khi con chó vừa rớt xuống, con heo độc giác đưa cái nanh đen thui mà hứng rồi đánh thật mạnh.

Con chó mực bị lủng ruột, ngả lăn ra, máu me lênh láng, miệng sủa vài tiếng khàn khàn như trăn trối.

Thằng Thiếu liếc về phía cô Huôi, hai tên hộ vệ của ông Chúa trố mắt nhìn. Giờ phút nầy, hai tên hộ vệ nọ là chướng ngại độc nhứt. Thằng Thiếu hơi bực dọc, thấy rằng kế hoạch mà Bá Vạn vạch ra còn thiếu sót, chưa đề cập tới hai tên hộ vệ nầy. Cô Huôi như hiểu ý thằng Thiếu nên ra lịnh:

– Hai chú tiếp tay với bọn thợ săn. Đứng đây mà làm gì?

Một tên hộ vệ nói:

– Tụi tôi chưa rành việc săn bắn.

Ông Chúa Hòn hỏi như vừa tỉnh giấc:

– Thằng nào cãi cọ điều gì đó?

Cô Huôi nói nhanh:

– Dạ thưa ông, hai chú hộ vệ nầy phải ra ngoài kia lùa con heo cho bằng được, kẻo thiên hạ nói rằng ông Chúa nuôi bọn hộ vệ bất tài.

– Ừ! Tụi bây lùa con heo lại trước mặt tao!

Lúc hai tên hộ vệ còn lưỡng lự, cô Huôi nói khẽ:

– Hai chú cứ lại gần con heo để giữ thể diện cho tôi. Chết chóc gì mà sợ! Tụi nó đi trước, hai chú cứ chạy sau.

Hai tên hộ vệ đến gần vũng bùn, mỗi đứa mang một cây dao nhỏ. Việc ấy hơi chạm tự ái Lục Nhét. Ông ta bàn với thằng Thiếu:

– Con heo còn hăng sức! Cho nó chạy thêm vài vòng nữa thì mới đuối sức. Hai thằng hộ vệ nầy làm phách, phen nầy, tụi nó chạy le lưỡi như chó!

Lập tức, ông ta thổi còi. Ba con chó rút lui ra xa. Thằng Thiếu nói, như để báo cáo với cô Huôi:

– Xin ông Chúa chờ lát nữa. Giết được con chó Dực, con heo thêm hăng sức.

Cô Huôi nói khéo:

– Hai chú hộ vệ chưa quen đường đi nước bước, nếu đi chậm thì chú nên chờ…phía sau.

Thằng Thiếu hiểu ngầm rằng đó là lịnh của cô Huôi dạy nên giết bọn hộ vệ. Chó vẫn sủa nhưng chẳng con nào dám lại gần con heo độc giác vì xác con chó nọ hãy còn nằm đó. Thằng Thiếu hươi ngọn lao đâm vào lưng con heo. Con heo day lại rồi phóng tới. Thằng Thiếu né kịp. Trong chòi, thằng Cẩu xám mặt ngồi nép vào ông Chúa:

– Ghê quá. Bày cái chuyện nguy hiểm nầy, đâu sướng gì! Đâu bằng đá cá thia thia!

Con heo đứng một chỗ, day qua day lại rồi dậm hai chân sau. Thằng Thiếu nói với Lục Nhét:

– Cho nó chạy, chẳng lẽ mình chờ mấy con chó Dực cắn nó. Nó làm thịt hết bầy chó của mình bây giờ.

Lục Nhét chưa trả lời thì thằng Thiếu đứng nép một bên, cố ý mở lối thoát cho con heo. Nó chạy vào bụi rậm. Bầy chó và bọn người theo sau. Nó chui ra khỏi bụi rậm, núp vào gốc cây tràm con. Cây tràm ngã xuống, nhánh tràm cản trước mặt. Nghe chó sủa vang dậy, nó biết rằng khó bề thối lui nên hả miệng táp nhánh tràm mà nhai răng rắc. Nhánh tràm bị gãy nát, nó chạy tới. Trước mặt nó là vũng đất thấp, cỏ mọc lưa thưa.

Hai tên hộ vệ kêu la ỏm tỏi:

– Chờ tôi với! Anh em chạy lẹ quá, tôi theo không kịp.

Lục Nhét nói với thằng Thiếu:

– Anh đứng lại, chờ bọn đó. Rủi con heo chạy vuột thì tôi biết ăn nói như thế nào với ông Bá Vạn?

Thằng Thiếu đứng chờ. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, một đứa hỏi phều phào:

– Sao chưa đâm con heo?

Thằng Thiếu đáp:

– Để cho ông Chúa đâm nó. Tụi tôi có phận sự là làm cho nó mệt mỏi, vậy thôi.

– Nhưng chẳng lẽ rượt suốt ngày như vầy?

Thằng Thiếu quan sát địa thế. Lục Nhét và bầy chó đang bám sát con heo, mất dạng đàng xa. Thời cơ đã tới cho thằng Thiếu hành động. Nó cầm ngọn lao trong tay, đó là cây lao cán dài, lưỡi thép bén nhọn, cong lên như cổ con phụng hoàng với cái mồng bên trên. Hai tên hộ vệ nhìn ngọn lao trong khi thằng Thiếu nói:

– Mình cứ ngồi nghỉ tại đây. Thằng Lục Nhét rượt đúng một vòng thì trở lại.

Hai tên hộ vệ mừng ra mặt, cất hai ngọn dao vào bên sườn rồi ngồi xuống. Thằng Thiếu nói:

– Hai chú lại đằng kia mà ngồi, cao ráo hơn!

Khi bọn chúng vừa đứng dậy, thằng Thiếu nắm chắc cán lao, đâm mạnh từ phía sau lưng đâm tới. Tên hộ vệ thứ nhứt còn đủ sức la:

– Trời! Giết nó!

Hắn té xuống, úp mặt vào vũng bùn. Tên hộ vệ thứ nhì hươi ngọn đoản đao, đâm vào ngực thằng Thiếu. Chỉ còn cách là té lăn xuống bùn để tránh né vì tay thằng Thiếu chẳng còn thứ khí giới nào cả. Nó lăn tròn một vòng rồi với tay chụp ngọn dao mà tên hộ vệ thứ nhứt còn giữ bên sườn. Tên hộ vệ thứ nhì quát to:

– Mầy muốn gì?

Thằng Thiếu vụt đứng dậy rồi co chân đá thốc vào hông tên hộ vệ. Hắn lách qua một bên rồi co chân chạy lủi vào đám sậy gần đó. Bây giờ thằng Thiếu mới đổ mồ hôi, lo ngại vô cùng. Tên hộ vệ nầy nhứt định sẽ chạy về Hòn Chông, báo cáo đầu đuôi sự việc với cậu Hai Điền. Do đó tánh mạng của Bá Vạn khó được bảo đảm. Thằng Thiếu toan chạy theo tên hộ vệ nọ để giết cho bằng được nhưng đã trễ rồi. Chó sủa vang phía sau lưng. Lục Nhét lên tiếng:

– Tụi bây đâu rồi? Tiếp tao!

Nghĩ rằng Lục Nhét là người không đáng tin cậy cho lắm, thằng Thiếu bèn trả lời:

– Đây nè! Tôi trở lại.

Anh ta cố sức rút ngọn lao ra khỏi lưng tên hộ vệ, chùi cho sạch máu. Lục Nhét lại cằn nhằn:

– Lại đây “chịu” với tao!

Thằng Thiếu chạy đến trước căn chòi, nơi cô Huôi và ông chúa Hòn đang chờ đợi. Quả thật, giờ phút quyết định đã đến. Thằng Cẩu chạy lăng xăng, dòm tới rồi quay mặt. Ba con chó đang bao vậy con heo độc giác. Thằng Thiếu chạy tới:

– Để tôi!

Lục Nhét hỏi:

– Hai người kia đâu rồi?

Thằng Thiếu đáp:

– Tụi nó than mệt, chạy lẹ thì bị gai đâm. Chắc là tụi nó kiếm chỗ nào mà ngủ.

Cô Huôi mừng thầm vì hai tên hộ vệ nọ đã mất dạng. Cô tin rằng thằng Thiếu đã làm xong công việc thanh toán. Chỉ còn lại Lục Nhét mà thôi. Cô nói:

– Tụi bây làm chậm trễ công việc. Ông Chúa…buồn ngủ rồi. Ai chờ đợi tụi bây được?

Thằng Thiếu hiểu rằng đó là lịnh cô Huôi thúc giục nó ra tay. Nó phóng ngọn lao vào sườn con heo độc giác. Con heo nhảy dựng, chạy thẳng tới. Với kỹ thuật tinh vi, thằng Thiếu giựt mạnh cán cây lao cho cán và lưỡi sút ra.

Con heo mang lưỡi lao nơi sườn, chạy lủi vào bụi cây tràm khá to nhưng được vài chục bước là đứng lại vì cán lao dính vào lưỡi, bị lôi kéo phía sau. Cán lao nằm ngang, vướng vào hai gốc cây tràm.

Lục Nhét đến trước mặt con heo độc giác, hươi ngọn mác. Con heo táp lưỡi mác, nhả ra rồi táp lần thứ nhì. Khi rút ngọn mác ra, Lục Nhét tập trung sức lực, cắm vào hông con heo. Rồi ông ta ngả tới trước, dùng sức nặng của thân người mà đè xuống.

Con heo đã bị gài tại chỗ với ngọn lao cổ phụng của thằng Thiếu và ngọn mác của Lục Nhét.

Cô Huôi hỏi:

– Rồi chưa?

Thằng Thiếu đáp:

– Xin mời ông Chúa…

Ông Chúa Hòn lắc đầu:

– Tao mệt quá. Ai đỡ thì tao đứng dậy mới được. Thằng Cẩu đâu?

Thằng Cẩu lại gần, ông Chúa vịn lên vai nó. Nó tò mò muốn lại gần con heo nên bước nhanh. Cô Huôi cầm cây mác trao cho ông Chúa.

Con heo cứ hả miệng mà thở, máu tuôn xối xả, thỉnh thoảng nó nghiêng mình qua một bên khiến Lục Nhét lảo đảo. Thằng Cẩu nói:

– Ba đâm nó đi!

Ông Chúa Hòn cầm cây mác, hai tay run run. Thằng Thiếu rờ bên hông, đem cây dao đặc biệt ra. Đó là kiểu dao ngắn với cái lưỡi làm bằng một khúc nanh heo rừng. Ông Chúa Hòn hỏi:

– Đâm chỗ nào cho nó chết tốt?

Vì quá mệt nên Lục Nhét lên tiếng:

– Dạ, ngay cổ nó. Hoặc là trên ngực.

– Làm sao đâm được?

Lục Nhét nghiêng mình, ghì ngọn mác qua bên trái cho con heo cử động. Thằng Cẩu nói:

– Chỗ đó, ba cứ đâm!

Ông Chúa Hòn phóng ngọn mác tới trước. Con heo day mỏ lại khi chịu đựng vết thương thứ ba.

Nhanh như chớp, thằng Thiếu hất chân ông Chúa Hòn rồi đưa lưỡi dao ngắn mà đâm vào đùi ông. Ông kêu lên:

– Chết tao!

Lục Nhét hốt hoảng, hai tay buông lỏng. Con heo độc giác quay lại, đánh cái nanh vào cây mác, toé lửa. Ông Chúa Hòn ngã xuống. Lục Nhét đứng chết trân trong khi bầy chó sủa vang rân. Con heo cố sức chạy để khỏi bị chó cắn. Mũi lao sút ra.

Cô Huôi, thằng Cẩu đều quì xuống, đỡ ông Chúa Hòn lên. Ông Chúa từ từ nhắm mắt, hai chân duỗi ra thật mạnh. Lúc thằng Cẩu bối rối, cô Huôi nói:

– Con lấy cái khánh ngọc của ông Chúa mà đeo!

Cô Huôi tháo khánh ra, cái khánh mầu xanh đậm mà ông Chúa tưng tiu, đeo mãi trong mình. Thằng Cẩu nhận lấy, ngỏ lời cám ơn.

Lục Nhét day mặt một bên, đưa tay vuốt mấy giọt mồ hôi trán. Cô Huôi lên tiếng:

– Chú mầy tệ quá, biết hối hận thì ta tha cho. Chờ gì nữa?

Thằng Thiếu và Lục Nhét khiêng xác ông Chúa xuống chiếc ghe hầu. Chiếc ghe di chuyển chậm chạp ra khỏi Lung. Cô Huôi cứ im lặng và sự im lặng ấy khiến Lục Nhét lo sợ. Lúc nãy, ông ta hốt hoảng nên không hiểu ông Chúa bị thương trong trường hợp nào.

Riêng về thằng Thiếu thì tâm trạng quá bối rối. Nó nhớ đến tên hộ vệ còn sống sót. Nhứt định tên ấy sẽ trốn về Hòn Chông để tố giác âm mưu nầy với cậu Hai Điền

Thằng Thừa thức suốt đêm không ngủ được. Theo lịnh Bá Vạn, nó lãnh trách nhiệm theo dõi những ghe xuống từ phía núi Còm tới Hòn Chông. Dưới tay nó, còn hơn hai chục tên hộ vệ. Đa số bọn nầy đều theo Bá Vạn và bà chánh thất. Hôm qua, Bá Vạn thết tiệc, đãi đằng cả bọn hộ vệ. Cậu Hai Điền thì qua Hòn Đất để theo dõi ông đạo Đất.

Ghe xuống từ phía núi Còm và Lung Tràm đến dường như thưa thớt hơn mọi ngày. Thằng Thừa đã hiểu lý do. Những người đi đường đã truyền tin cho nhau. Họ muốn tránh sự kiểm soát vì nói chung bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn rất hách dịch, thích chọc ghẹo gái tơ hoặc xin dừa, chuối.

Anh ta ngồi dưới bến, trong ngôi nhà mát. “Nhà mát” là tiếng gọi nôm na để chỉ kiểu nhà thủy tạ mà ông Chúa cho xây cất ở bên sông, nhà hình lục giác, lợp ngói men xanh, mua từ Triều Châu bên Trung Hoa.

Anh ta rót rượu uống rồi dựa lưng vào cột mà ngủ. Bỗng đâu có tiếng gọi:

– Ngủ hoài vậy! Nghe chuyện gì lạ không?

Đó là Bá Vạn tới thăm. Anh ta trả lời:

– Từ sáng tới giờ, bọn hộ vệ lục soát ở đằng kia. Nếu gặp chuyện lạ thì bọn nó cho tôi biết lập tức!

Bá Vạn nhìn ra xa. Đằng kia, bọn hộ vệ ngồi dụm bên gốc cây, múa men tay chân. Một đứa nâng bầu rượu lên rồi đứng thẳng người mà uống. Cả bọn vỗ tay, đứa nọ uống cạn bầu rồi vung tay, ném mạnh. Cái bầu chìm lỉm, mặt nước gợn sóng…

Bá Vạn cằn nhằn:

– Bữa nay phải có tin tức ở Lung Tràm. Lẽ nào…

Thằng Thừa cau mày vì hai ngày qua, thái độ của Bá Vạn quá úp mở. Ông ra vào nhà bà chánh thất bất chấp dư luận. Bọn hộ vệ tung ra dư luận cho rằng Bá Vạn không nịnh bợ cô Huôi và ông Chúa Hòn như trước, có lẽ Bá Vạn thấy ông Chúa già nua, sắp cỡi hạc qui tiên nên lo xa. Ai nấy cho rằng Bá Vạn thiếu khí phách, quên mối hận ngày nào do cậu Hai Điền gây ra.

Thằng Thừa cau mày, nhớ đến đứa em là thằng Thiếu đứng lãnh trách nhiệm quá nguy hiểm ở Lung Tràm.

– Thưa ông, tôi không hiểu rõ, cứ ngồi chờ. Riết rồi muốn sanh bịnh. Vái trời cho đâu đó xong xuôi, tôi về vườn lo cày sâu cuốc bẫm để nuôi mẹ già.

Bá Vạn nói gắt:

– Đừng nói bậy bạ. Đêm rồi, tao nằm chiêm bao thấy nhiều chuyện lạ. Khi thức dậy quên ráo trọi. Tao nhớ thằng Thiếu quá chừng. Hổm rày, tao giả dại qua ải. Mầy đừng hiểu lầm.

Thằng Thừa ngước lên. Gương mặt Bá Vạn khá nghiêm nghị. Bá Vạn nói tiếp:

– Hai đêm rồi, ta không ngủ. Thằng Hai Điền qua Hòn Đất để tìm ông đạo Đất, nhờ xem một quẻ. Bữa nay nó vắng nhà…

Thằng Thừa không kịp trả lời vì bọn hộ vệ đằng kia chợt la lên bài hãi:

– A Mách!

A Mách là một trong hai đứa hộ vệ trung thành nhứt của ông Chúa. Đúng là A Mách đang về phía Bá Vạn và thằng Thừa. Bá Vạn hơi run giọng:

– Chắc là …xong rồi! Nhưng thằng Thiếu để thằng Mách chạy thoát về đây. Coi chừng nó nói bậy bạ.

Khi đến gần nhà mát, A Mách vuốt mồ hôi trán. Bá Vạn đưa tay ngoắc:

– Lại đây! Trên nhà không có ai đâu.

– Chuyện động trời! Ông ơi! Phải làm sao…bây giờ?

– Mầy cứ nói.

– Thằng Thiếu giết thằng bạn của tôi rồi toan giết tôi. Tôi chạy thoát về đây.

Rồi A Mách chỉ tay vào mặt thằng Thừa:

– Thằng nầy xài không được, đồ sớm đầu tối đánh. Ông bắt nó.

Bá Vạn nói to:

– Ngoài ra, còn chuyện gì nữa không?

A Mách đáp:

– Tui nghe đâu ở núi Còm nói rằng ông Chúa…mất rồi. Bị heo rừng đánh ngay đùi. Cô Huôi đang làm đám ma.

Bá Vạn lườm thằng Mách:

– Đừng nói giỡn. Mầy có tới đó hay không?

– Dạ, làm sao tôi dám tới đó. Thôi! Tôi sợ rồi. Chuyện nầy hệ trọng lắm, tôi phải cho bà chánh thất và cậu Hai biết.

Nói xong, A Mách chạy thẳng vào cổng. Thằng Thừa hỏi:

– Ông tính sao?

– Đáng lý thì mình phải giết thằng Mách. Nhưng nên để nó sống vài ngày. Mầy cứ bình tĩnh ở đây, tao lên nhà để….lèo lái bà chánh thất. Đừng lo. Nhiều khi bà ta thích nghe cái tin hung dữ nầy. Tao nói là bả nghe.

– Nhưng còn cậu Hai Điền?

Bá Vạn đáp:

– Thằng con nít đó quá nóng nảy. Tao trừng trị nó dễ dàng. Nó hất tô thịt kho lên đầu tao, cái áo đó tao còn để, chưa giặt sạch mà! Cứ ngồi đây.

Nói xong, Bá Vạn bước ra khỏi nhà mát. Ông ta vào sân. Thằng Mách vẫn còn đứng lóng nhóng vì chưa ai mở cửa. Nó gào lên:

– Bà! Ông Chúa mất rồi!

Cánh cửa hé mở. Bà chánh thất trố mắt, chưa tin lời nên hỏi kỹ:

– Mầy nói sao? Trời ơi! Ông mất rồi, tôi sống với ai…

– Dạ, khó nói quá!

Mách liếc về phía Bá Vạn. Bá Vạn bèn giả đi xa nơi khác, kỳ thật là ông ta qua phòng bên cạnh để nghe ngóng. Thằng Mách và bà chánh thất nói chuyện quá nhỏ, Bá Vạn không nghe rõ được. Bá Vạn tức mình, nhìn qua kẽ vách ván. Thằng Mách đang sờ vào túi, đem ra lá thơ nhỏ.

Bà chánh thất hỏi:

– Cái gì vậy? Gởi cho ai? Ai đưa cho mầy?

Thằng Mách đáp:

– Dạ, dọc đường tôi gặp cậu Cẩu. Cậu chận đường, bắt buộc tôi đem lá thơ nầy.

– À! Cái thằng Cẩu, hèn gì mẹ nó là con Ngó trốn mất dạng. Tại sao mầy không giết thằng Cẩu? Cái gì trong nầy, tao không biết chữ, làm sao đọc được?

Rồi bà đổi giọng:

– Ông Bá Vạn ơi! Đọc giùm.

Bá Vạn ra ngoài rồi lên tiếng:

– Dạ, tôi đây.

Bà chánh thất nói nhanh:

– Ông vô đây đọc giùm. Thật là chuyện ngạo ngược, làm sao tha thứ bọn đó được. Tôi hiểu rồi, con Huôi bày ra chuyện sát nhơn nầy. Tôi kêu thằng Điền về, tới núi Còm để xé xác con nhỏ Huôi.

Bá Vạn liếc về phía thằng Mách. Nó cúi mặt xuống, hai tay đưa ra như toan giựt lá thơ. Nó đoán chắc rằng thằng Thiếu là tay sai trung thành của Bá Vạn, người bày mưu kế thâm độc chính là Bá Vạn chớ nào phải cô Huôi và thằng Cẩu. Bà chánh thất đưa lá thơ tới:

– Ông đọc thử. Tôi nóng nghe thơ. Rồi còn lo tống táng cho ông Chúa. Thằng Điền phải đi Lung Tràm để chịu tang cha nó. Thằng Cẩu là cái gì chớ?

Bá Vạn tỏ ra do dự. Nếu thằng Mách gặp cậu Hai Điền thì cơ mưu bất thành, ông sẽ bị cậu Hai bắt giữ. Bởi vậy ông lườm thằng Mách:

– Mầy làm gì vậy? Tại sao mấy nhìn tao lấm lét? Nếu là đứa ngay thẳng thì không có gì giấu diếm cả. Tại sao mầy không ở lại coi cho biết ông Chúa đã chết vì săn heo rừng hay vì lý do khác?

Vì quá tin và quá yêu Bá Vạn, bà Chúa bèn mắng thằng Mách:

– Mầy ra ngoài. Hồi nào, ông Chúa nuôi mầy mập xác. Gặp lúc hoạn nạn thì mầy chạy trốn.

A Mách lầm lũi bước ra. Đề phòng nó chạy qua Hòn Đất để cấu kết với cậu Hai Điền, Bá Vạn nói khẽ với bà chánh thất:

– Đừng cho nó ra ngoài. Coi chừng nó chạy trốn.

Bà chánh thất mở cửa tìm bọn hộ vệ để sai cầm giữ thằng Mách trong khi Bá Vạn đọc thơ. Đại ý, thằng Cẩu nhắn với bà chánh thất rằng trước khi nhắm mắt, ông Chúa có lời trăn trối giao cho nó kế vị thay vì giao cho cậu Hai Điền. Thằng Cẩu ghi chú thêm rằng tang lễ ông Chúa Hòn được cử hành tại núi Mo So. Nó mời bà chánh thất và cậu Hai Điền tới đó…

Khi trở vô, bà chánh thất thở dài mà nghe Bá Vạn thuật lại nội dung lá thơ. Bà ôm ghì lấy Bá Vạn:

– Ông đừng quên tôi. Hèn gì mấy bữa nầy tôi ăn cơm không được, con mắt cứ giựt lia lịa. Theo ý ông thì tôi nên làm cách nào? Thằng Hai Điền còn nhỏ, nếu ông không giúp tôi, ở bên cạnh tôi thì chắc là tài sản nầy không còn. Ai chủ mưu việc nầy? Con Huôi, thằng Cẩu, hay là Mười Hấu, con Ngó?

Bá Vạn mừng thầm vì công việc đã thành tựu. Tuy cậu Hai Điền là đứa võ phu ngang ngược nhưng ít ra cậu cũng phải nể nang người mẹ ruột, Bá Vạn đủ uy thế để điều khiển bà chánh thất, trong những ngày sắp tới. Ông ta đóng kịch khá khéo léo:

– Bà tin cậy tôi thì tôi mừng, nhưng việc nầy quan trọng, không nên nóng nảy.

Bà chánh thất đáp:

– Để trễ thì tụi nó qui tụ bè lũ lâu la, kéo tới Hòn Chông để giết mẹ con tôi!

Bá Vạn nói:

– Nếu bà chết thì mạng tôi cũng không còn. Hiện giờ, bà có nhiều kẻ thù: cô Huôi, Mười Hấu và thằng Cẩu. Phải giết bọn nó, giết từng đứa như bẻ đũa vậy.

Lập luận ấy khiến bà chánh thất sáng mắt:

– Giết con Huôi trước! Đũa mà bó lại khó bẻ gãy, mình bẻ từng chiếc một.

Bá Vạn cau mày:

– Nếu giết con Huôi thì bà mang tiếng là tiểu nhân. Thủng thỉnh rồi hãy giết. Người ta nói bà giết vì ghen.

– Vậy ông muốn giết ai?

– Giết thằng Cẩu, vì nó đòi làm ông Chúa con.

– Phải lắm. Giết thật gấp. Tôi nhắn thằng Hai Điền trở về. Nhưng làm sao tôi dám đi dọc đường! Ông đi giùm tôi, kêu nó về. Bọn thằng Cẩu nhiều hay ít vậy ông?

Bá Vạn đáp:

– Nhiều hay ít, điều đó không quan trọng. Ít mà làm được việc tày trời, nhiều mà lắm khi làm không xong chuyện nào cả.

– Sao vậy?

– Đời bây giờ, mọi việc đều do bọn dọ thám. Phải nhốt thằng Mách, chờ cậu Hai về quyết định.

Lập tức, bà chánh thất chấp nhận ý kiến ấy. Để được yên tâm, Bá Vạn theo sát cạnh. Nãy giờ, thằng Mách bị bọn hộ vệ cầm giữ, nó ngồi cú rũ trong góc nhà.

Bà chánh thất nói:

– Nhốt nó sau hè!

Mách chắp tay xá, đoán chừng rằng đó là cơ mưu của Bá Vạn để giết anh ta. Nhưng van nài bằng cách nào bây giờ! Nếu lỡ lời thì Bá Vạn sẽ giết anh ta lập tức, qua bàn tay bà chánh thất. Trong lúc bối rối, anh ta hối hận vô cùng, vì trước đó không lâu, anh ta nghi ngờ Bá Vạn chủ mưu việc ám sát.

Bá Vạn cười hề hề:

– Mầy nhỏ mà phách lối. Hồi nãy mầy muốn ăn thịt tao! Mầy làm…khổ nhục kế, phải không? Thằng Cẩu biểu mầy đem thơ tới đây để dọ thám.

– Tức chết đi! Thưa bà….

Rồi anh ta quì lạy bà chánh thất. Bá Vạn nói:

– Bà con thấy chưa? Nó không nhìn mặt tôi.

Để làm đẹp lòng Bá Vạn, bà chánh thất quát to:

– Mai chiều, mầy lạy cậu Hai Điền! Ra ngoài cho mau.

Bá Vạn bèn từ giã bà chánh thất:

– Lát nữa, tôi đi Hòn Đất kiếm cậu Hai.

– Còn lá thơ?

– Bà cứ giữ, mang theo trong mình, rủi gặp bất trắc thì sao!

Trong khi bà chánh thất vào phòng, Bá Vạn ra sân, đưa tay ngoắt thằng Thừa.

Như hiểu ý, thằng Thừa chạy nhanh tới:

– Thưa ông?

– Lát nữa, tao đi Hòn Đất kiếm cậu Hai báo tin. Mầy ở lại coi chừng thằng Mách.

Rồi Bá Vạn nói rỉ vào tai thằng Thừa:

– Sáng mai tao mới về. Giao cho người khác là hư việc. Mầy nên tìm cách nào…

Thừa gật đầu khi nghe rõ kế hoạch của Bá Vạn. Anh ta theo sau thằng Mách. Bá Vạn bèn nói với bọn hộ vệ:

– Mấy chú nên canh phòng cẩn thận, bắt giữ bất cứ người quen kẻ lạ từ phía núi Còm, núi Mo So tới. Thằng Thừa đứng ở nhà mát làm gì? Mầy nên san sẻ cực nhọc với anh em. Coi chừng thằng Mách. Hễ nó chạy trốn thì tao giết mầy.

‘Hãy tin ngày ấy anh về!’

hung-viet.org

24 Tháng Bảy 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 may 2025

Phố cổ Hà Nội

Năm 1954, năm Hiệp Định Geneva chia cắt đắt nước, tôi được gần 17 tuổi. Trong thời gian hội nghị đang bàn cãi sẽ dùng vĩ tuyến nào để phân ranh hai miền Nam Bắc, tôi chỉ mong đất nước sẽ cắt ngang vĩ tuyến 19 ở Đà Nẵng, để mình có thể di cư vào Nam, tránh một đời sống bình lặng, nhàm chán của một tỉnh nhỏ. Trong trí óc non nớt ngày đó, tôi đâu biết bỏ quê hương ra đi là một điều đau xót nhất của đời người.

Nhiều năm sau ngày chia cắt đất nước, là một công chức tại tỉnh địa đầu giới tuyến, tôi đã có dịp tháp tùng nhiều phái đoàn đồng bào di cư từ miền Nam ra thăm sông Bến Hải. Đứng phía bên này sông, nhìn lá cờ đỏ bay bên kia cầu Hiền Lương, tôi mục kích cảnh nhiều người khóc nức nở, khi nhìn về quê hương mịt mờ ở một vùng đất nào xa xôi khuất bóng bên kia. Quê hương đó nhưng còn đường về đã tắc nghẽn. Những bài hát của một thời chia cắt đất nước như “Chuyến Đò Vĩ Tuyến,” “Nắng Đẹp Miền Nam,” “Hình Ảnh Quê Xưa,” “Về Đây Anh,” đã làm rung động lòng người tha hương và làm chảy bao dòng nước mắt thương nhớ.

Nhưng một bài hát mang ấn tượng về Hà Nội nhất trong lòng tôi là bài “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, một ca khúc viết sau ngày 20 Tháng Bảy, 1954, sau khi nhiều triệu đồng bào miền Bắc bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả cha ông di cư vào Nam. Nội dung bài hát mang tâm trạng của một người đã xa Hà Nội:

“…Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi

Ánh đèn giăng mắc muôn nơi, biết đâu ngày ấy anh về!

Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê

Tóc thề thả gió lê thê, hãy tin ngày ấy anh về.”

Người ra đi, bỏ quê hương trong một niềm tuyệt vọng, gần như người nhạc sĩ không tin đến một ngày về, nói đến “hãy tin” là lòng chưa dám tin, nói đến “biết đâu” là một sự hoài nghi không chắc chắn. “Hướng Về Hà Nội” ngày ấy đã làm thổn thức bao nhiêu con tim không chỉ riêng cho người Hà Nội mà còn cho tất cả những người ngoài vĩ tuyến di cư vào Nam sau ngày chia cắt.

Sau đó, người ta không ai nghe nói đến Hoàng Dương nữa, có người nói, ông là người ở lại Hà Nội. Dù không ra đi, Hoàng Dương đã cảm nhận nỗi đau sẽ mất Hà Nội và gửi những nỗi thương nhớ về “Hà Nội một ngày tháng cũ” theo những người di cư vào Nam. Nhạc của Hoàng Dương được phổ biến ở bên này con sông Bến Hải cho những người thương tiếc Hà Nội, và dù sau này, 20 năm sau, bài hát được trình diễn lại, người ta cũng biết đó là một Hà Nội trong trí nhớ, một Hà Nội đã mất, không phải là Hà Nội của hôm nay.

Ông để lại cho đời một nỗi nhớ thương Hà Nội, mà dù không phải là một người Hà Nội bỏ thành phố này ra đi, chính lòng tôi cũng mang một nỗi buồn se sắt như một người nhớ Hà Nội, như nhớ một người tình mà mình chưa hề biết mặt.

Hà Nội trong trí tưởng của tôi được hình dung qua những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn mà thời niên thiếu tôi đã say mê. Từ Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng cho tới Hoàng Đạo, tôi đã sống bằng trí tưởng tượng về những con đường, những khu phố của Hà Nội 36 phố phường, những con đường thanh lịch mang tên Hàng Đào, Hàng Ngang, những con đường gọi là Cổ Ngư, những chiếc hồ gọi là Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, hồ Tây, có vườn Bách Thảo, chùa Trấn Quốc, sông Nhị Hà… Nơi đó có những con đường cây bàng lá đỏ, có liễu rũ ven hồ…

Và sau này, với Hoàng Anh Tuấn, những buổi chiều thu, hình ảnh những cô gái dịu dàng xinh đẹp và quý phái của “Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả, thoáng khăn san nũng nịu với heo may!”

Lần đầu tiên tôi được trông thấy Hà Nội trong mộng tưởng là Hà Nội của năm 1982, khi chúng tôi những người tù đang ở trên chuyến xe, qua cầu Long Biên trở về Nam, để cảm nhận “Năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù” mà tôi đã hình dung qua “Mưa Sài Gòn-Mưa Hà Nội” của ngày nào!

Hà Nội trong trí nhớ của những người đi xa, không còn là Hà Nội của bây giờ. Hà Nội đã thay đổi. Không còn người, còn cảnh, còn tiếng nói. Nhiều người đã mất hẳn Hà Nội vì không bao giờ còn muốn trở về. Cũng như tôi đã mất Huế của tôi để chỉ còn gọi hai tiếng xót xa, thương tiếc: “Huế ơi!” hay như đối với nhiều người, Sài Gòn đã là vĩnh biệt! Nha Trang còn có chăng một “ngày về” và Đà Lạt bây giờ “chỉ đẹp như chuyện ngày xưa!”

Những thành phố của tuổi trẻ, những thành phố của tình yêu, những thành phố của kỷ niệm và hình ảnh của thành phố trong thời thơ ấu chính là quê hương mà chúng ta đã mang theo suốt cuộc đời. Do vậy, đối với Hà Nội, có thể là một giọng hát quan họ, đối với Huế, đôi khi là một điệu hò mái nhì, đối với Sài Gòn thường là một câu vọng cổ, trong khoảnh khắc nào đó khơi dậy nỗi nhớ quê hương. Tuổi trẻ hăm hở bước đến tương lai, trong khi người già tần ngần thương tiếc, nhớ lại quá khứ, do đó, một giọt đàn bầu, một vần điệu dân ca một buổi chiều nào bỗng dưng đem lại trong lòng chúng ta những cảm xúc đến đau đớn của một người đã mất quê hương.

Nhiều người đã về lại Hà Nội nhưng Hà Nội khác xa với những ngày tháng cũ, đã trở lại Huế nhưng Huế đã đổi khác, đã tìm lại Sài Gòn nhưng Sài Gòn hôm nay không còn là Sài Gòn của hôm qua! Đành rằng quê hương “chỉ một” nhưng chúng ta đã lầm lỡ đánh mất quê hương rồi!

Giờ đây, quê hương là tiếng mời mọc réo gọi những đứa con đi xa. Một buổi chiều nào, nghe như tiếng còi tàu từ xa vẳng lại. Một đêm trăng từ tiềm thức vọng một tiếng ru hời. Những bước chân tưởng chừng như đi qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi, con sông. Thương cho ai vẫn canh cánh bên lòng nỗi nhớ quê hương, nhưng nếu trở về, đứa con ngày xưa chỉ là một người khách lạ lạc loài, ở với quê hương mà nhớ quê hương.

Tôi biết nhiều người bạn già đã bỏ Hà Nội gần 60 năm về trước, lại phải bỏ Sài Gòn 20 năm về sau, chưa một lần về lại chốn xưa. Nhưng dù bây giờ đã là cuối đường, cũng xin đừng tắt niềm hy vọng, không phải là “biết đâu,” mà “hãy tin ngày ấy anh về!” Chỉ tiếc rằng khó lòng xây dựng lại một Hà Nội của những ngày tháng cũ, niềm tin này xin hãy trao lại cho con cháu đời sau.

Huy Phương

Hãnh diện là người Việt Nam?

hung-viet.org

Huy Phương

24 Tháng Sáu 2013

Post by Sơn râu 23 May 2025

Một chuyến bay của Vietnam Airlines cất cánh tại phi trường Đà Nẵng. Nhân viên hãng này từng bị tố cáo đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật vận chuyển về Việt Nam. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

“Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”

(Câu hỏi của báo Thanh Niên trong nước)

Trong bài “Đêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” đăng trên nhật báo Người Việt (2009) trước đây, ký giả Đông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, “Con gái Việt Nam đẹp lắm!” Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Câu trả lời tất nhiên là không! Ai lại hãnh diện khi có đồng bào, con em của mình, dù được khen là đẹp phải thất thân đi làm gái mại dâm. Không những được khen đẹp lắm, mà dân địa phương còn một “lắm” nữa, khi nói: “Con gái Việt Nam rẻ lắm!”

Một chuyến bay của Vietnam Airlines cất cánh tại phi trường Đà Nẵng. Nhân viên hãng này từng bị tố cáo đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật vận chuyển về Việt Nam. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Khi Đông Bàn đang đứng trên đất Malaysia, hẳn ông không thể nào hãnh diện là người Việt Nam.

Chúng ta cũng không hãnh diện là người Việt Nam, nếu chúng ta đang ở Đài Loan.

Theo số liệu thống kê kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan trong 14 năm (1995-2008) đã có 117,679 trường hợp, chiếm 82% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Trong một đảo quốc nhỏ như Đài Loan đã có hơn 10,000 phụ nữ Việt bỏ xứ sang đây làm vợ người, dù hạnh phúc hay khốn khổ, thì cũng vì thân phận nghèo đói, tương lai mờ mịt, có vinh dự gì cho đất nước khi đàn bà phải ly hương, với những cuộc hôn nhân không tình yêu chỉ vì đồng tiền. Điều khốn nạn nhất là trong tâm ý của người dân đồng bằng Cửu Long, “lấy chồng Đài Loan” là chuyện mơ ước của tất cả mọi người. Một đôi vợ chồng đem con gái về thăm quê được một người bà con buột miệng khen: “Úi, con bé này ngộ quá, lớn chút nữa lấy chồng Đài Loan được à nghen!”

Cũng ở Đài Loan, năm người lao động Việt Nam làm thuê ở một công ty thủy sản địa phương đã hợp lực khiêng lồng đi bắt hai con chó của dân địa phương bỏ vào bao tải, dìm xuống biển cho chết, sau đó mang lên làm thịt.

Ngoài việc phải quỳ hai giờ cúi lạy bàn thờ chó để tạ tội và để quần chúng giảm cơn thịnh nộ, năm người lao động Việt Nam này còn bị phạt 10,000 tiền Đài Loan.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nhật.

Trên nhiều diễn đàn của Nhật, nhiều người Nhật “cực đoan” kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam. Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào… cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “dòi bọ” ở Việt Nam, sau những vụ: PCP, một tập đoàn cung cấp dịch vụ của Nhật bị Việt Nam đòi hối lộ 15% để được trúng thầu các dự án dùng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam; Nhân viên, tiếp viên hàng không và phi công Vietnam Airlines, tổ chức đánh cắp hàng hóa trong các siêu thị Nhật để vận chuyển hàng gian về tiêu thụ tại Việt Nam; Các tu nghiệp sinh Việt Nam trước khi sang Nhật đã bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động CSVN bóc lột thậm tệ; Lãnh sự quán Việt Nam ở Nhật tại Osaka tổ chức bán giấy thông hành Việt Nam.

Trong một số siêu thị tại Nhật, có bảng cảnh cáo dành cho người Việt về chuyện ăn cắp vặt sẽ bị vào tù! Bức ảnh đã làm rộ lên tin đồn về nạn ăn cắp vặt của người Việt ở bên Nhật. Nhiều người cho rằng, người Việt đã để lại ấn tượng xấu xa trong mắt người Nhật khi xuất ngoại sang đất nước của họ.

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Singapore.

Trang mạng với tên gọi là Craigslist có mặt tại Singapore đưa thông tin rằng khách hàng có thể lựa chọn “gái Việt còn trinh,” giá khoảng $3,000 một tuần, ngay tại sân bay, khách sạn hoặc bất cứ nơi nào khách hàng yêu cầu. Tình trạng các cô gái Việt Nam bán trinh tại Singapore dường như công khai, ai cũng hay biết. Cảnh sát Singapore cho biết, hầu hết các cô gái Việt còn trinh đều ở độ tuổi từ 16 đến 17, đến và “làm việc” qua nhân vật trung gian, và năm ngoái, tại đây, một cô gái Việt Nam 17 tuổi cũng đã rao bán trinh tiết với giá $1,500!

Câu trả lời cũng là không, nếu chúng ta đang ở Nga.

Các đường dây buôn người đưa hàng nghìn phụ nữ Việt Nam vào các nhà chứa Nga, nhưng Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nga từ chối trả lời câu hỏi của BBC cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền để nói về việc này. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng: “Trong tất cả các trường hợp ở Nga này, thủ phạm là những người Việt được bao che bởi một số giới chức ở Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Nga, thậm chí họ thành Hiệp Hội May Dệt dưới sự bảo trợ của Tòa Đại Sứ Việt Nam.”

Cảnh sát Nga vừa khám phá một xưởng may “đen” dưới lòng đất tại khu chợ Cherkizov ở thủ đô Moscow, bắt hằng trăm di dân lậu Việt Nam. Nạn buôn lậu của người Việt tại Nga là chuyện xảy ra hằng ngày, có lẽ bởi nguyên nhân trong 80,000 người Việt ở Nga đã có 80% làm nghề buôn bán, phần lớn là chợ trời, mánh mung.

Ở Ba Lan: “Cầm quyền Hà Nội và nhân viên Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Warsaw là một băng nhóm tội phạm có tổ chức, một hệ thống Mafia.” (Đài báo Weltspiegel Đức)

Câu trả lời là không, ở mọi nơi trên thế giới.

Trên VietNamNet, người Việt Nam sinh sống ở Nhật, ở Nga, ở Anh, ở Úc, ở Nam Phi, ở Mozambique và ngay cả ở California, đã trình bày những những mẩu chuyện về người Việt đọc xong chỉ muốn “độn thổ,” với bao nhiêu thói hư, tật xấu khác của người Việt từ trong nước đến như trộm cắp, gian dối, đái bậy, khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, ăn uống thô tục, tranh giành, chen lấn nơi công cộng, không biết nói cảm ơn, xin lỗi khi cần. Nói về chuyện ăn cắp và ăn cắp vặt thì Việt Nam chắc hẳn bỏ xa đàn anh Trung Quốc. Ngay cả cuộn giấy đi cầu trong khách sạn, khách người Việt cũng không tha.

Một người Việt làm nghề thông dịch cho tòa án và cảnh sát ở Úc, cho biết phần lớn thủ phạm ăn cắp trong siêu thị và trồng cần sa trong nhà là những người mới định cư, đặc biệt những người từ Bắc Việt Nam và du học sinh. Mỗi lần người này đi dịch là anh ta khổ tâm vì cảm thấy nhục nhã cho dân tộc mình.

Trong khi trao đổi chuyện này với một phụ nữ trong nước, bà này đã viết cho chúng tôi: “Năm 2008 vào dịp Tết Nguyên Đán, tôi được con trai cho di du lịch Doha (Qatar,) sẵn dịp công ty của con bảo lãnh qua chơi Dubai. Nhưng đến chiều về lại Doha thì bị giữ lại phi trường vì nghe nói có chuyện gì xảy ra ở một siêu thị mà có người Việt mình dính vô. Trong khi cả đoàn ‘check in’ thì riêng tôi bị giữ lại vì mang passport CHXHCN Việt Nam. Mang hộ chiếu Việt Nam đi nước ngoài buồn lắm ông ơi!!!”

Lâu nay, người ta nhắc đến hai chữ Việt Nam hơi nhiều, không phải vì “tiếng tăm” mà vì “tai tiếng!”

Như vậy cũng không nên trách câu phát biểu của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế.”

Nhân câu nói này, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam đã chỉ trích, lên án ông và đặt câu hỏi về lòng yêu nước của ông.

Tôi thì nghĩ khác, vì yêu nước nên ông Ngô Quang Kiệt mới cảm thấy nhục nhã. Tôi cũng không hãnh diện lắm về chuyện làm người Việt Nam, nhưng không phải như vậy là tôi không yêu nước, mà có thể vì lòng yêu nước, biết đâu có tác giả sẽ cho ra đời một cuốn sách mang tên “Người Việt Xấu Xa”.

Chúng ta đang nói chuyện người Việt dưới chế độ Cộng Sản. Để công bằng chúng ta nên có thêm một cái nhìn về người Việt ở Mỹ. Ngoài những chuyện được đề cao là làm “vẻ vang dân tộc Việt,” không có gì hơn là xin trích dẫn lời của ông Nguyễn Hữu Hanh, cựu thống đốc ngân hàng VNCH:

“Những năm tiếp theo đó ở nước Mỹ, tôi lại càng thêm ngao ngán và tuyệt vọng. Ngoài một số thành tích sáng chói của sinh viên Việt Nam và một vài thành công đáng kể của các chuyên gia Việt Nam trẻ tuổi, thì cộng đồng người Việt di tản đã gây nên tai tiếng xấu xa trong cái xã hội đã dung dưỡng họ: Bên cạnh những người đang cố gắng làm lụng để nuôi nấng con cái, một số người di tản lại đem qua đây những thói xấu cũ, lừa đảo và chôm chỉa bất cứ khi nào có dịp. Không phải chỉ có những người nghèo khổ phải sống bằng tiền trợ cấp, mà cả những tầng lớp trên (bác sĩ, dược sĩ, những người môi giới cổ phần, mua bán bất động sản, v.v.). Một ngày nọ tại Westminster, bang California, người ta trông thấy 80 vị bác sĩ và dược sĩ Việt Nam bị còng tay dẫn đi sau một toán cảnh sát Mỹ. Xấu hổ thay cho cộng đồng người Việt chúng ta ở đây, và xấu hổ lây cho cả quê hương đất nước chúng ta bên kia nữa!” (“Lời Nói Đầu” – “Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới” hồi ký, XB 2004.)

Như vậy, sau một người có tên tuổi trong nước là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cảm thấy “nhục nhã,” bây giờ một người ngoài nước, lại là một viên chức cao cấp của hai nền Cộng Hòa Việt Nam, cảm thấy “xấu hổ,” một phụ nữ bình thường thì than “buồn lắm!” Thế mà không biết sao thời “chống Mỹ” báo chí miền Bắc lại phịa ra câu chuyện một anh chàng “bá vơ” nào đó tuyên bố: “Mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình được trở thành một người… Việt Nam!”

Ông Nguyễn Hồi Thủ khi dịch cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” đã có nhận xét: “Thường trong lịch sử Việt Nam vốn đã rất ít người thật tình có can đảm và trung thực để tìm hiểu, phê bình, những cái xấu, cái dở của dân tộc mình. Gần đây lại chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng… Thậm chí lại có cả người lãnh đạo lấy tên giả viết sách để ca ngợi cá nhân mình, có cả nhà văn bịa tên một người nước ngoài để ca ngợi dân tộc mình.”

Báo Thanh Niên trong nước đã đặt câu hỏi: “Người Việt thông minh, chăm chỉ và anh hùng, thế bạn có hãnh diện là người Việt Nam không?”

Thưa, các yếu tố thông minh, chăm chỉ và nhất là kiểu “ra ngõ là gặp anh hùng,” chưa đủ để tạo thành một con người tử tế và một đất nước tử tế để cho thế giới tôn trọng và yêu mến!

Huy Phương

Đi và về

hung-viet.org

3 Tháng Hai 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 May 2025

Việt Kiều về quê ăn Tết. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Hiện chúng ta rất khó xác định nghĩa của hai tiếng “đi” và “về.”

Trở lại nơi mà chúng ta đã từ đó ra đi, hẳn là về. Nhưng nếu một gia đình sau khi ở Việt Nam vài tuần, đang sửa soạn hành lý ra sân bay, thì câu nói của chúng ta là: “Anh chị về Mỹ bình an!” mà không ai nói đi… Mỹ. Vậy thì đi đâu mà về đâu, hẳn nghĩa của hai tiếng “đi” và “về,” chẳng giống nhau!

Khi đi thì “…cột đèn biết đi cũng đã ra đi,” lén lút, hiểm nguy, chia lìa, vô định; khi về thì tấp nập, ồn ào, hể hả. Mấy ai nghĩ đến sự nghịch lý của chuyện đi và về.

Tết năm 2008, chính phủ Việt Nam loan báo có hơn 350,000 Việt Kiều (phải hiểu là người Việt ở ngoại quốc) về ăn Tết. Con số này càng ngày càng tăng theo thời gian mà không hề giảm sụt. Lý do người chưa về lần nào, thấy nhiều người về thì mạnh dạn về theo, người về rồi thấy vui, “có tiền” thì về nữa, như lời “Ngài Chủ Tịch Nước” nhắc nhở: “Ai chưa về thì về, ai về rồi thì về nữa!” Trong số người “có tiền” này có những người nhận tiền trợ cấp dưới danh nghĩa tị nạn, từ ngày đặt chân ướt lên Mỹ, Canada, Úc hay Âu Châu cho đến hôm nay.

Người tị nạn là người chạy trốn qua một xứ khác, nơi khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ. Căn cứ vào bằng chứng xác thực việc bị CS cầm tù trong nhiều năm, những người cựu tù nhân chính trị được Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp visa cho vào định cư tại Mỹ dưới danh nghĩa tị nạn. Còn tất cả những người vượt biển, vượt biên khác, muốn được chấp nhận cho định cư đều phải kê khai trên giấy tờ hay qua một cuộc phỏng vấn của nhân viên Cao uỷ Tị Nạn LHQ về lý do họ phải bỏ nước ra đi đến đây.

Không như những người về ăn Tết ở trong nước, ở ngoại quốc kể cả Mỹ, Úc, Tây Âu, Canada, người Việt về quê ăn Tết đều dùng máy bay. Vé máy bay đi Việt Nam vào những dịp Tết Nguyên Đán có khi đắt gấp đôi ngày thường mà người ta vẫn chen chúc và vẫn có tiền đi, mua chậm thì hết vé.

Người Việt ở tại các nước phương Tây sau biến cố Tháng Tư, 1975 là “định cư,” có hẳn quốc tịch, đã trở thành công dân của các nước này rồi, chứ không phải là người đi làm ăn xa, hay trú ngụ tạm thời như những người Việt trong nước hay những người Hoa về ăn Tết ở ngay quê hương của họ.

Nhưng đối với người Việt tỵ nạn đã bỏ nước, cứ hai người vượt biển, một vùi thây dưới biển sâu, bỏ cửa bỏ nhà quyết chí ra đi, thì mấy danh từ “về Việt Nam ăn Tết” nghe mỉa mai quá chừng!

Ở nước Úc vì gần với Việt Nam nên số người về ăn Tết rất cao. Ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc, bay về Saigon chỉ mất bảy tiếng, chỉ bằng số giờ lái xe tà tà từ Phước Lộc Thọ đi San Jose, nghe mà ham. Về ăn Tết, đi du lịch thì có cả nghìn lý do mà biện bạch. Thăm cha mẹ sắp lâm chung, dời mồ dời mả, bán nhà mua đất còn nghe được, nhưng với những lý do xả tang, dự đám cưới con ông chú, bà bác thì thà nói “đi Việt Nam chơi” còn hơn, còn chơi gì thì tùy ý thích của quý vị.

Chúng ta đã biểu tình, chúng ta đã chống Cộng, nhưng chúng ta lại thích về Việt Nam, vì lý do này hay lý do nọ, thì Cộng Sản không bao giờ sợ. Đừng nghĩ là đi biểu tình thì Cộng Sản chụp ảnh, quay phim làm khó dễ khi về Việt Nam, nếu bị bắt hay bị làm khó dễ thì một đồn mười, ai mà dám về Việt Nam nữa. Cộng đồng chúng ta rất dễ giải, “chín bỏ làm mười,” chống thì cứ chống, về thì cứ về. Ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn với trung tâm nào có lập trường chống Cộng, tôn vinh lá cờ VNCH thì về nước y như là bị khai trừ, bị chế tài, bị cấm hát, trái lại ca sĩ hải ngoại cũng về Việt Nam hát xướng, tuyên bố khen ngợi nhà nước Cộng Sản bên đó trở lại hải ngoại cũng không ai tẩy chay, vì chúng ta không có “nhà nước hải ngoại” và chúng ta tự do.

Chúng ta có sức mạnh của đô la mà chúng ta chưa sử dụng hết mười phần công lực của nó. Chúng ta ủng hộ công cuộc đấu tranh dân chủ, chống Việt Nam dâng đất dâng biển cho Trung Quốc mà vẫn về Việt Nam nườm nượp, vẫn đi qua các phi trường, kẹp tờ $10 vào trong sổ thông hành, nở một nụ cười “xã giao” với “công an cửa khẩu.”

Không phải đợi đến bây giờ mới có người kêu gọi “đừng về Việt Nam trong Tháng Tư, mà cách đây 5 năm (2009), trên nhật báo Người Việt, dưới mục tạp ghi, chúng tôi đã có bài “Về Việt Nam.” Xin trích:

“Chúng ta sử dụng sức mạnh của chúng ta thử một lần, dù là một lần thôi. Tôi không dám đề nghị đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đừng về Việt Nam nữa, về thời gian nào cũng được, mà hiệp sức cùng không về Việt Nam trong một tháng thôi, như một ví dụ, đó là Tháng Tư, 2009. Chúng ta đã gọi là “Tháng Tư Đen” vì sao chúng ta lại về Việt Nam trong tháng đó, chúng ta gọi là “mất nước” thì nước đâu nữa mà về?

Nếu trong Tháng Tư, 2009, tất cả đồng bào tỵ nạn hải ngoại không về thì chuyện gì sẽ xẩy ra ở Việt Nam? Phi trường vắng vẻ, khách sạn ế khách, hải quan đói meo, hàng quán thưa thớt, mãi lực của Saigon xuống thấp. Điều này có thể ảnh hưởng đến quần chúng lao động của các dịch vụ, nhưng đây là lúc đồng bào trong nước chia sẻ tâm tình hải ngoại và họ đang biết hải ngoại đang muốn gì, chống lại điều gì của đảng Cộng Sản trong nước, tùy theo điều mà chúng ta muốn chống hay muốn tỏ thái độ như việc Cộng Sản dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc, việc Cộng Sản đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ hay đây là dịp bày tỏ sự đồng tình với đồng bào Công Giáo Thái Hà. Hải ngoại không có lãnh đạo, hải ngoại có nơi đoàn kết nhưng cũng có nơi cấu xé nhau, hải ngoại nói và làm không đồng nhất, chúng ta có dám nhìn sự thật như vậy không?”

Năm 2009, từ trong ý nghĩ của cá nhân, chúng tôi đã tự túc in 2,000 truyền đơn và nhờ anh Trần Trọng An Sơn (TTCS) cùng một vài anh em đi rải ở những nơi đông người hay gắn lên kính xe của đồng bào ở Bolsa. Chúng tôi không có phương tiện và uy tín để kêu gọi giới truyền thông hải ngoại tiếp tay, cũng không có tiền để in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy slogan hay script trên truyền thanh, truyền hình khắp nước. Chúng tôi cũng hiểu rằng, điều quan trọng nhất không phải ở chỗ phương tiện, mà là sự việc nêu ra không được sự hưởng ứng của đồng bào, trừ những người đã nguyện là “không bao giờ về Việt Nam khi còn chế độ Cộng Sản.” Tiếng kêu “không về, không gửi tiền về Việt Nam trong Tháng Tư,” rõ ràng là “tiếng kêu trong sa mạc!”

Mới đây ba nhân vật của ba tổ chức có nhân sự và tầm vóc hoạt động lớn nhất trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ là Bác Sĩ Võ Đình Hữu, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, và Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, chủ tịch Tổ Chức Dân Chủ Việt Nam, đã tổ chức họp báo để “kêu gọi đồng bào hải ngoại không về và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tuần lễ sau cùng của Tháng Tư Đen, từ 24-30 Tháng Tư, 2014.”

Lời kêu gọi chỉ khiêm nhượng gói gọn trong vòng một tuần lễ của Tháng Tư năm nay mà thôi.

Năm xưa (2009) với một bài báo và 2,000 tờ truyền đơn của một ký giả nhỏ bé không hề đem lại một kết quả nào, thì năm nay (2014) với ba đoàn thể lớn “vào cuộc,” chúng ta có quyền hy vọng. Theo ông Hữu, ông đã có 36 cộng đồng người Việt ở Mỹ ký tên tham gia, gần như toàn thể người Việt ở Mỹ, tổ chức của ông Vinh hiện nay có hơn 10 trung tâm điều hợp trong nước Mỹ và trên thế giới… chúng ta mong mỏi ở kết quả của lời kêu gọi thiết tha này. Xin các tổ chức chủ quản in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy “slogan” hay “script” trên truyền thanh, truyền hình khắp nước và trước hết, ngay các nhân sự trong ba tổ chức này sẽ không có ai “rón rén” về Việt Nam hay gửi tiền trong Tháng Tư.

Theo tôi thu gọn lại việc không về hay gửi tiền trong chỉ “một tuần” cuối của Tháng Tư, 2014 là một chiến dịch quá khiêm nhường (một năm có 52 tuần), nhưng kết quả hay không mới là điều quan trọng. Không ai dại thức một mình khi mọi người đều ngủ.

Và chúng ta thường chê trong nước vô cảm, nhưng chúng ta mới là người vô cảm, xem chuyện đất nước này là của người khác, không dám bày tỏ, dù một thái độ nhỏ nhoi.

Huy Phương

Đảng, tên đầy tớ phản phúc!

hung-viet.org

14 Tháng Hai 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 May 2025

Ngày 5 tháng 01, 2012 ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị dồn vào đường cùng, đã chống lại việc cưỡng chế đất đai vô lý, bắn bị thương 4 công an và 2 bộ đội. Để trả thù, chính quyền đã phá sập ngôi nhà của anh dù nằm ngoài khu đất tranh chấp, nhưng Phó chủ tịch thành phố Hải Phòng Đỗ Trung Thoại trong một cuộc họp báo đã tráo trở nói rằng, ‘Việc phá nhà ông Vươn là do “nhân dân” bất bình không đồng tình với việc làm của ông Vươn!”

Thật tội nghiệp cho “nhân dân”. Nhân dân là cái bóng ma mà chế độ Cộng Sản luôn luôn nhân danh để lấy lòng dân đen cả nước, nhưng cũng là một thứ bóng ma để đem ra hù dọa mọi người, vì cái gì nhân dân làm, cái đó là chính nghĩa. Nhà nước và đảng làm, song cứ đổ tội cho nhân dân là xong chuyện. Chuyện lớn như Tết Mậu Thân ở Huế thì cũng chính nhân dân nổi dậy mà chôn sống 6.000 người, chuyện nhỏ như phá nhà, hôi của của ông Đoàn Văn Vươn thì cũng do nhân dân “bức xúc” mà làm! Chính quyền, công an, bộ đội luôn luôn công minh, chính đại, có bàn tay sạch sẽ, không hề bẩn mà cũng chẳng bao giờ dính máu.

Một danh từ khác để đổ tội cho “nhân dân” là danh từ “quần chúng tự phát”. Tại giáo xứ Mỹ Lộc nhà cầm quyền bố trí hàng trăm công an, an ninh, dân phòng mặc thường phục tấn công, đánh đập đồng bào ở đây rất dã man, làm mười một người phải vào bệnh viện, nhưng lại đổ cho đó là “quần chúng tự phát”, nghĩa là chính phủ hoàn toàn không chịu trách nhiệm những điều gì do “nhân dân” làm. Gần đây nhà nguyện Con Cuông ở Vinh bị đặt bom, lại có hai người đi xe máy tới nhà thờ lúc 2 giờ sáng, quăng bom tự chế vào nhà thờ. Đó cũng là “quần chúng tự phát!”

“Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là khẩu hiệu mà người dân dưới chế độ Cộng Sản đã thuộc nằm lòng. Thậm chí chúng còn giương cao biểu ngữ: “Đảng là người đầy tớ của nhân dân!” Và vì dân ngu, được ôm cái bằng khoán cũng như cái bản tuyên dương được làm chủ, nhưng như trong một công ty, ban lãnh đạo quyết định, chỉ đạo hết mọi chuyện, nhà nước là anh thủ kho ôm hết tài sản, còn nhân dân là anh chàng hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng. Nếu công ty thua lỗ, ban lãnh đạo cấu kết với thủ kho chia nhau tẩu tán tài sản đi nữa, thì anh nhân dân làm chủ cũng chẳng có miếng nào. Dưới chế độ Cộng Sản, đất nước như một nhà máy, đảng là Ban Giám Đốc, chính phủ là Ban Quản Lý, có tài sản, nhà cao cửa lớn, xe đời mới, còn công nhân là những người làm thuê với đồng lương rẻ mạt, ở nhà ổ chuột, còng lưng đi xe đạp. Nhân danh nhân dân là nghề của Cộng Sản. Cái gì cũng của nhân dân, từ bộ đội nhân dân, công an nhân dân, bệnh viện nhân dân… chỉ trừ những nơi có hơi xôi thịt là của nhà nước như ngân hàng, cục dự trữ và ủy ban chứng khoán…

Tản Đà trong bài cảm đề tiểu thuyết “Tờ chúc thư” đã có câu rằng:

“Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn

Cho nên quân nó dễ làm quan”.

Dân ngu vì dưới chế độ chẳng ra gì, có khôn ngoan, bị đối xử bất công cũng chẳng biết kiện tụng, cậy nhờ vào ai như câu chuyện của Ngu Công sau đây:

Tề Hoàn công đi săn, đuổi theo con hươu. Hươu sợ quá chạy vào một cái hang. Thấy một ông lão gần đấy, bèn hỏi:

– “Hang này tên gọi là gì?’

– “Bẩm, đấy là hang Ngu Công’.

– “Tại sao lại có cái tên lạ thế? Ta xem ngươi đâu phải là kẻ ngu!”

– “Thưa, tại tôi đây mới có cái tên ấy. Nguyên tôi có một con bò cái đẻ được một con bê. Khi bê lớn, tôi đem ra chợ bán và mua một con ngựa con đem về nuôi chung với con bò cái, chờ lớn để kéo xe. Một hôm có tên du côn đến nói: “Vô lý! Bò làm sao đẻ ra ngựa được!” rồi y bắt ngựa của tôi mang đi. Tôi bị ép chế, nhưng sợ họ gây chuyện, đành chịu mất, chớ biết kêu vào ai bây giờ! Từ đó mọi người cho tôi là “ngu” và gọi cái hang gần chỗ tôi ở là hang Ngu Công.

Buổi thiết triều hôm sau, Tề Hoàn công thuật lại chuyện này cho quan Tướng quốc là Quản Trọng nghe, Quản Trọng bèn tâu:

– Nếu được một đấng minh quân như vua Nghiêu, được một tể tướng như Cao Dao thì làm gì mà có kẻ dám ngỗ ngược chiếm đoạt ngang nhiên như thế được. Ngu Công mất ngựa, nhưng biết rõ hình pháp nước ta không ra gì, chẳng ai phân xử cho phân minh, đành chịu cắn răng mà làm kẻ ngu. Xin bệ hạ kịp thời chỉnh đốn các chính sách, hình luật lại”.

Bắt chước lời Quản Trọng, chúng ta cũng có thể nói: Những người như dân oan bị cướp đất cướp nhà, đành chịu thiệt vì pháp luật bất nghiêm, giềng mối[1] lỏng lẻo, không ai phân xử vì cường quyền bạo ngược, phủ bênh huyện, huyện binh phủ cũng được gọi là dân ngu. Nông dân bị xã ấp chèn ép, dùng công an, bộ đội khống chế như trường hợp Đoàn Văn Vươn, mà không biết dùng súng đạn chống lại, đành chịu thiệt một bề, thì cũng gọi là dân ngu. Dân càng ngu thì chính phủ càng lộng quyền, áp chế. Dân ngu vì không biết tin cậy vào ai. Chính phủ, tòa án, quốc hội cũng một phường.

Qua cuộc thảo luận tại Quốc hội Việt Nam vừa qua về luật biểu tình, dân biểu Hoàng Hữu Phước khẳng định “khi nào trình độ dân trí cao hơn thì mới có thể ban hành luật biểu tình”. Có nghĩa là dân còn ngu, đâu cần đến luật lệ. Có luật còn chẳng làm gì, huống chi không luật, cứ việc tùy tiện mà đối xử với dân ngu là xong. Mạnh Tử chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Cộng Sản Việt Nam lại chủ trương “đảng vi quý, xã tắc thứ chi, dân vi khinh”. Hai vế đầu thì chúng ta đã thấy “thà mất nước còn hơn mất đảng”, vế cuối “dân vi khinh” thì chúng ta đã thấy rõ, cảnh cướp nhà cướp đất làn cho nhân dân cơm đùm gạo bới từ Hậu Giang, miền Trung ra đến Hà Nội gặp “ông chính phủ” để kêu oan với lời gọi thống thiết: “Hỡi ông chính phủ, về cứu lấy nhân dân!”

Không khinh dân sao dân bị bợp tai đá đít, bị lôi đi như con chó, bị đạp vào mặt, bị đánh chết vô tội vạ, nói chung là bị tước đoạt hết quyền làm người. Phóng viên RFA đã ghi nhận lời một người trong nước, ông Lê Duy Bắc: “Bây giờ nhà cầm quyền họ thích đâm, thích chém, thích giết ai thì họ giết. Người dân trong tay không tấc sắt thì làm gì được”.

Đúng! Đảng là người đầy tớ của nhân dân! Nhưng nhân dân hiện nay đang gặp phải tên đầy tớ phản phúc!

HUY PHƯƠNG

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 22 May 2025

Phần 8

Hơn hai tháng sau khi lên Phước Long, khi anh em tù cải tạo T2 đã “an cư lạc nghiệp”, các sinh hoạt giải trí bắt đầu trở nên hào hứng, sôi nổi hơn bao giờ hết. Có hai nguyên nhân, một khách quan một chủ quan.
Nguyên nhân khách quan là sau khi mọi công tác liên quan tới tăng gia sản xuất ở T2 được thực hiện dưới hình thức giao khoán, anh em tù cải tạo đã tự giác làm cật lực, không phải vì ý thức được “lao động là vinh quang” mà chỉ vì nếu cố gắng hoàn tất chỉ tiêu sớm, anh em sẽ có được những khoảng thời gian rảnh rỗi vào mỗi buổi chiều, và trọn ngày chủ nhật.
Nhưng, như tôi đã viết ở phần đầu, trong tù cải tạo, rảnh rỗi là con dao hai lưỡi. Người nào bi quan sẽ có thêm thì giờ để… bi quan: nhìn lại thân phận cá chậu chim lồng, nghĩ tới tương lai mờ mịt, nhớ vợ thương con… Người lạc quan – viết chính xác là cố gắng sống lạc quan – thì có thì giờ để làm những công việc mình yêu thích, bằng đầu óc cũng như tay chân, vừa để giải trí, vừa cho đầu óc bớt căng thẳng.
Điều tốt đẹp là công việc của những anh em cố gắng sống lạc quan ấy đã thu hút không ít bạn tù bi quan, với kết quả trong những lúc rảnh rỗi không có mấy người không dự khán hoặc tham gia vào một sinh hoạt giải trí nào đó, từ chơi cờ tướng tới đàn địch ca hát, từ nghe kể truyện hoặc đấu láo, tới đá banh, chơi bóng chuyền, từ học ngoại ngữ, đàn hát tới học… nấu ăn!
Nguyên nhân chủ quan là trong tập thể tù cải tạo ở T2 có quá nhiều nhân tài!
Chẳng hạn về nấu ăn, có Thiếu úy Xì A Phát, gốc người Nùng ở biên giới Việt – Hoa, vừa là tuyển thủ bóng chuyền vừa là đầu bếp chuyên nghiệp, đã chỉ dạy anh em cách nấu nướng “hàm thụ” cả chục món ăn; riêng bánh bao thì khi được cấp phát bột mì, Xì A Phát đã cho anh em thực hành làm bánh bao không có men bột mà vẫn nổi, xốp như bánh bao trong tiệm Tàu; sau này được thả về, tôi biểu diễn đã khiến bà xã phục lăn!
Nhưng nhiều nhân tài nhất phải là bộ môn ca nhạc; trong số anh em gốc Cà Tum có những người từng chơi nhạc chuyên nghiệp trước 1975, từ nhạc phòng trà, vũ trường tới nhạc trẻ, lại có cả một nhạc sĩ cổ nhạc Nam phần xuất thân trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và một “chuyên gia” luyện giọng cho ca sĩ.
Chính tại T2 Phước Long tôi mới có dịp tìm hiểu sâu xa, cặn kẽ về cổ nhạc Nam phần, từ đó bắt đầu yêu thích và có một thái độ trân trọng hơn với bộ môn nghệ thuật dân tộc này. Cũng tại Phước Long, tôi mới thấy được tầm quan trọng của môn thanh nhạc; chỉ sau mấy tuần lễ ra bờ suối để được “thầy” hướng dẫn, một tay vốn có giọng hát tra tấn lỗ tai như Hưng “sún” đã trở thành một ca sĩ điêu luyện…
Với ngần ấy nhân tài, ban ngày thường có những trận so tài cờ tướng, các lớp học ngoại ngữ, nhạc lý, đàn địch, hát hỏng…, buổi tối thỉnh thoảng lại có một chương trình ca nhạc, khi thì nhạc trẻ, khi thì nhạc thính phòng, lúc nhạc sến, lúc hòa tấu, lúc solo…, và tới chủ nhật thường có một buổi “đại nhạc hội” với đầy đủ mọi tiết mục!

* * *
Nhưng trong số các sinh hoạt giải trí ở trại tù cải tạo T2 Phước Long, được nhiều người hưởng ứng nhất phải là mục kể truyện của Ch “lùn”.
Thực ra mục kể truyện để giải khuây cho anh em trong các trại tù cải tạo nơi nào cũng có, và đã có ngay từ đầu mùa cải tạo, chẳng hạn thời gian ở Thành Ông Năm tôi đã kể cho anh em nghe các tình sử “thất thực tam hư” như Cleopatra – Julius Caesar – Marc Antony, Trần Huyền Trân – Trần Khắc Chung – Chế Mân, các bộ tiểu thuyết nổi tiếng được thực hiện thành phim như Cuốn theo chiều gió, Bố già…, nhưng tôi có thể khẳng định không một nơi nào có thể đạt tới mức độ chuyên nghiệp và mang tính cách thường trực như ở T2 Phước Long.
Tất cả nhờ có Ch lùn, người kể truyện, cũng dân Cà Tum.
Trước năm 1975, Ch là một thiếu úy địa phương quân phục vụ tại tiểu khu Biên Hòa, chủ nhân cái quán cà-phê ở Dốc Sỏi nằm đối diện Cổng số 2 của phi trường.
Theo những gì do chính Ch lùn khai ra thì đương sự nửa lính cậu nửa lính kiểng, trong giờ làm việc hắn có mặt ở quán cà-phê nhiều hơn là bộ chỉ huy tiểu khu. Quán cà-phê của Ch lùn lại là nơi tụ tập, ngồi đồng của anh em quân cảnh, phòng thủ, an ninh Không Quân của phi trường Biên Hòa cho nên hắn quen biết nhiều nhân vật nổi tiếng, trong đó có Thiếu tá Hảo “què” Liên đoàn phó LĐ Phòng Thủ, Đại úy Phạm Phú Ngự (anh trai của cố Đại tá Phạm Phú Quốc), cũng thuộc LĐ Phòng Thủ của Sư Đoàn 3 Không Quân.
Chiều cao của Ch lùn – hỗn danh “người ruồi gieo máu lửa” – chỉ khoảng 1m50 nhưng “bộ nhớ” của hắn thật dễ nể, từ Tam Quốc Chí, Thủy Hử tới các bộ truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Cổ Long… hắn nhớ không sót một nhân vật, một tình tiết nào. Bên cạnh đó Ch còn có lối kể truyện thu hút, đối thoại như một diễn viên kịch nói (voice actor) chuyên nghiệp…
Nhìn cảnh anh em tù cải tạo tối tối ngồi quanh Ch lùn say mê theo dõi, tôi liên tưởng tới những ông già sống bằng nghề kể truyện rong ở bên Tàu ngày xưa.
Vì tiếng Hán có hàng ngàn mặt chữ cần học thuộc, đại đa số dân chúng Trung Hoa trước đây, dù ở nơi phồn hoa đô hội hay chốn thôn quê dân dã cũng đều không biết đọc, cho nên mới có những người làm nghề kể truyện rong, thường là các cụ già.
Tại các thành thị, người kể truyện thường chọn một địa điểm đông người qua lại để hành nghề; thu nhập của họ là những đồng tiền do người nghe ủng hộ.
Tại thôn quê, ra vẻ những người làm nghề kể truyện rong được trọng vọng hơn; họ được dành cho một vị trí thuận lợi, như sân đình, chùa hay nhà một phú hộ nào đó, được trả thù lao hậu hĩ, được cung phụng đủ thứ để có thêm hứng.
Ở trại cải tạo T2 Phước Long cũng thế, mỗi lần “đăng đàn”, Ch lùn lại được anh em điếu đóm, nào là thuốc lào 888, trà Đỗ Hữu, cà-phê, bánh kẹo…
Vì Ch lùn ở cùng dãy nhà với đa số anh em nghệ sĩ gốc Cà Tum, cho nên phải có một sự phối hợp sắp xếp chương trình giữa đôi bên để khỏi trùng nhau, nhưng nói chung phe nghe kể truyện vẫn được ưu tiên hơn, ít nhất là bốn buổi tối mỗi tuần.
Có thể so sánh việc anh em trong trại cải tạo chờ nghe Ch lùn kể truyện với việc độc giả chờ đọc truyện kiếm hiệp hoặc tiểu thuyết “phơi-ơ-tông” trên các nhật báo ở Sài Gòn trước năm 1975.
* * *
Phần tôi, tự biết tài đàn của mình chẳng bằng ai, trong các buổi “trình diễn” ca nhạc chỉ đóng vai khán giả. Thay vào đó, những lúc rảnh rỗi tôi thường xách cây đàn Tobia ra cái lều ở bờ suối để tìm cảm hứng sáng tác. Nhưng kết quả chỉ là một con số không to tướng. Viết một cách chính xác, tôi cũng soạn được vài ba ca khúc mà lúc ôm đàn cất giọng vịt đực bên bờ suối, tôi cho là cũng tạm được; nhưng mấy ngày sau hát lại thì nhận thấy dòng nhạc của mình thật tầm thường, còn lời hát thì một là ngô nghê, hai là cường điệu.
Cuối cùng, tôi bỏ cuộc vì nhận ra mình thiếu óc sáng tạo.Xưa nay người ta thường nói “Thiên tài chẳng qua chỉ là kết quả của một quá trình luyện tập bền bỉ”, nhưng tôi cho rằng nếu áp dụng vào lĩnh vực sáng tác thì thiếu vế thứ hai: “với điều kiện bạn phải có chút ít óc sáng tạo”.
Với óc sáng tạo, Trịnh Công Sơn đã viết những tình khúc để đời trong khi trình độ nhạc lý của ông (xin lỗi) chỉ… ngang ngửa với tôi là cùng!
Thật vậy, không cần phải là một bậc thầy âm nhạc, người ta cũng có thể nhận ra kỹ năng, nhạc thuật của Trịnh Công Sơn qua những sáng tác của ông, không cầu kỳ, rắc rối nhưng giai điệu vẫn có sức thu hút lạ thường.
Bên cạnh đó, theo suy nghĩ của tôi, trong việc soạn ca khúc, óc sáng tạo mà thôi vẫn chưa đủ, cần phải có tâm hồn. Ca từ trong các tình khúc của họ Trịnh không văn hoa bóng bảy nhưng vẫn đi vào lòng người là nhờ khi viết tình ca – tôi nhấn mạnh “tình ca” – ông viết với cả tâm hồn.
Áp dụng vào trường hợp của tôi, trong khi bạn bè có những người trở thành nhà văn, nhà thơ thì tôi – óc sáng tạo đã không có mà tâm hồn lúc nào cũng trống rỗng – suốt đời an phận làm một nhà báo quèn, tuy không tệ hại tới mức “nói láo ăn tiền” nhưng cùng lắm cũng chỉ làm công việc phục vụ nhu cầu thông tin của quần chúng, cao hơn nữa là hướng dẫn dư luận, chứ không cống hiến độc giả những món ăn tinh thần như các nhà văn, nhà thơ…
Vì thế, nhiều lúc tôi đã thầm ghen tỵ với những người bạn tài hoa của mình. Ngồi ôm cây đàn với đầu óc trống rỗng bên bờ suối ở Phước Long, tôi nghĩ chắc hẳn giờ này ở một trại tù nào đó, Phan Lạc Giang Đông, Trần Ngọc Tự… đã sáng tác được khối thơ!

Đà Lạt, 1970 (từ trái): tác giả, Trần Ngọc Tự, Phan Lạc Giang Đông
Sau này, chỉ gặp lại Phan Lạc Giang Đông một lần duy nhất, tôi không được biết về những sáng tác trong tù của hắn, còn Trần Ngọc Tự thì rất tiếc sau khi ra tù cải tạo ít lâu thì nhà bị lụt, sách vở, bản thảo đa phần theo hà bá, rồi lại bị bắt lần thứ hai, ra tòa lãnh án, ngồi tù thêm mấy năm…, thành thử những sáng tác của hắn sau năm 1975 chỉ còn lại một số ít ỏi nằm trong bộ nhớ mà thôi.
Trong số những bài thơ Trần Ngọc Tự còn nhớ ấy, tôi thích nhất bài viết trong ngày giỗ đầu Dương Hùng Cường, và bài Khúc quân ca mới viết trong trại tù cải tạo ngoài Bắc.
Khúc quân ca mới
nơi những năm tháng lưu đầy ở trại tù cải tạo Yên Bái-Phong Quang (Lào Cai)- Vĩnh Quang (Vĩnh Phú) 1977-1981

Thế rồi đất nước bỗng xa khơi

Chinh chiến ta đi tiếp một đời
Hát khúc quân ca hồn phơi phới
Chẳng chút nao lòng tổ quốc ơi.

Những nông trường từng sớm bình minh
Đẫm mồ hôi nhòe mắt lung linh
Còn chặng cuối này qua cho nốt
Đoạn đời hay đoạn đường chiến binh.

Như bước vào mùa huấn nhục mới
Tay cuốc dài thay khẩu súng trường
Thêm tên gọi nào đời trai trẻ
Cho dài mãi ra những nẻo đường.

Ta thấy ta trong mắt đồng đội
Có còn chăng ánh lửa niềm tin
Thoáng chút gì bâng khuâng xao xuyến
Đừng vội bối rối hãy ngẩng nhìn.

Vẫn cười vui giữa cuộc thương khó
Vai áo tù ngỡ sắc chiến bào
Hát nhẩm quân hành mơ vào trận
Mộng mãi cho đầy gối chiêm bao.
ngọc tự
* * *
Khoảng ba tháng sau khi lên Phước Long, Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa, thủ trưởng T2, được thăng cấp Đại úy. Cũng từ khoảng thời gian này, ông trở nên dễ chịu và tỏ ra thân thiện với tù cải tạo hơn trước nhiều. Chủ nhật không phải đi lao động, ông hay xuống các đội quan sát sinh hoạt (chơi bời) của anh em; các buổi tối trong tuần, thỉnh thoảng ông xuống tham dự các buổi họp tổ, sau đó ngồi lại uống trà, trò truyện với anh em tù cải tạo.
Bên cạnh tổ của tôi có một anh trung úy (tôi không nhớ tên) gốc Cà Tum, khá lớn tuổi so với đám trẻ chúng tôi. Anh là nhạc sĩ đàn mandoline chuyên nghiệp nhưng rất ít khi đàn, tính tình hiền lành, ít nói.
Tối hôm ấy, nói tới chuyện vợ con, ông Phùng Xuân Nghĩa hỏi anh trung úy:
– Còn anh được mấy đứa?
– Thưa chỉ được một gái!
– Sao lại chỉ đẻ có một đứa thôi?
Anh trung úy trả lời cho qua chuyện:
– Thưa anh… thời buổi kinh tế khó khăn.
– Khó khăn thì khó khăn chứ…, ngoài Bắc chúng tôi còn khó khăn gấp mấy lần trong Nam, nhưng cũng chẳng có ai đẻ một đứa cả… Trời sinh voi trời sinh cỏ!
Câu nói thật thà (và… duy tâm) ấy của ông Phùng Xuân Nghĩa khiến chúng tôi càng có thiện cảm với ông.
Nhưng trong khi ông thủ trưởng ngày càng trở nên dễ chịu thì xuất hiện một tay thủ phó cực kỳ đáng ghét: Trung úy Tịch, hỗn danh “Tịch tây lai”.
Sau này chúng tôi được biết viên trung úy tây lai này nguyên là cán bộ đặc trách thăm nuôi của một trại cải tạo khác cũng ở Phước Long, nơi mà nhà thăm nuôi có những phòng riêng. Vào một đêm nọ, hắn mò vào toan tính làm bậy một bà vợ cải tạo mà trước đó hắn đã lấy cảm tình bằng những lời hứa hẹn hão huyền; nhưng hắn chưa kịp dở trò tồi bại thì bà vợ cải tạo đã tri hô lên… Sau đó Tịch được đưa tới T2 làm thủ phó.
Tịch lai tây, cao ráo, da trắng hồng, môi đỏ như tô son nhưng cũng không đủ để gọi là một người đẹp trai. Trong khi đó có lẽ hắn tự cho mình là đẹp trai nên càng ra sức trình diễn.
Sáng sáng, khi tù cải tạo còn đang đánh răng rửa mặt, Tịch đã lững thững đi xuống các dãy nhà của cải tạo, đầu đội cái mũ lưỡi trai (hầu như không bao giờ hắn đội nói cối), ở thắt lưng đeo một khẩu Browning 6.35 ly nhỏ xíu không biết kiếm được ở đâu.
Biết tay thủ phó thường tìm đủ mọi cách để kiếm chuyện, hễ thấy bóng hắn từ trên khung đi xuống là anh em tù cải tạo lỉnh hết vào trong nhà, đợi hắn đi qua rồi mới trở ra bên ngoài.
Ít lâu sau khi tới T2, Tịch sắm được một chiếc xe đạp mới tinh, trước ghi-đông gắn hoa ni-lông sặc sỡ, trên sườn xe và sau póc-ba-ga (porte-bagage) có chữ “Mazda” xi (mạ) sáng loáng.
Hắn khoe đây là xe đạp của hãng Mazda nhập cảng từ Nhật!
Nghe hắn khoe, tôi phục mấy tay buôn bán xe đạp ở Sài Gòn sát đất. Bởi vì họ xạo có căn cơ, bài bản. Còn nhớ ngày mới di cư vào Nam năm 1954, bố tôi chỉ mơ ước có được một chiếc xe đạp khung nhôm hiệu Peugeot nhập cảng từ Pháp, một sản phẩm của hãng chế tạo xe hơi Peugeot nổi tiếng.
Nay các con buôn xe đạp ở Sài Gòn gắn cho những chiếc xe đạp “made in Cholon” chữ Mazda rồi bảo đó là xe của hãng xe hơi Mazda nhập cảng từ Nhật, đám nón cối tin còn hơn tin Đảng!
Từ ngày có chiếc Mazda, chiều nào Tịch cũng dắt xe xuống, đạp chầm chậm từ đầu trại cho tới cuối trại để giựt le. Cũng từ đó, anh em cải tạo đặt cho hắn biệt hiệu “Mát-đa”.
Điều trùng hợp oái ăm, và thú vị, là con chó tôi nuôi cũng có tên là “Mát-đa” (Magda), hai chữ tuy viết khác nhau nhưng phát âm y hệt.
Nguyên trong một lần đi làm cỏ rẫy khoai mì trên đường vào Bù Đốp, chúng tôi gặp lại một gia đình người Thượng từng trao đổi, mua bán. Lần này mấy đứa con của họ ôm theo hai con chó con rất dễ thương, con đực lông khoang nâu trắng, con cái khoang đen trắng.Thời gian này ở T2 đã có một vài anh em nuôi mấy con chó con mua của người Thượng nên tôi cũng muốn nuôi một con để làm bạn.
Nhưng tới khi tôi đòi mua con khoang đen trắng thì họ cho biết vì hai con chó con này là “chị em” nên ai muốn mua phải mua cả hai để có chị có em!
Tôi không nghĩ mấy người Thượng này chế chuyện để một lúc bán được hai con chó, mà tôi tin họ thành thật. Cuối cùng tôi đồng ý mua cả hai con với giá 10 đồng tiền Hồ (trị giá 10 ly cà-phê vỉa hè ở Sài Gòn lúc bấy giờ).
Nhưng không hiểu vì bị dứt sữa mẹ sớm, vì nhớ chủ cũ, hay vì một nguyên nhân nào khác, hai con chó con sau khi được tôi đưa về T2 đã không chịu ăn, ngày càng ốm yếu tong teo. Khoảng hơn một tuần sau thì con đực chết; khi chôn nó bên bờ suối tôi nhủ thầm: chắc con chị rồi cũng chết thôi, khi ấy tôi sẽ cho hai chị em nằm bên nhau!
Nhưng như một phép lạ, sau đó con chị lại chịu ăn và lớn như thổi, đẹp nhất là bộ lông khoang đen trắng hơi quăn nhưng mềm mại và óng ả của nó. Chẳng những thế nó còn rất khôn và thích đùa dỡn cho nên anh em trong đội ai cũng thương, thậm chí khi đi ra suối tắm, họ cũng rủ nó theo để cùng nhau bơi lội, nô đùa dưới dòng nước.
Tới bữa ăn, mỗi khi thấy nó lẩn quẩn bên cạnh, anh em lại cho nó miếng này miếng khác. Đặc biệt trong số anh em này có một anh chàng thiếu úy gốc Hoa không hiểu bằng cách nào đó, hoặc chỉ vô tình, biết được con chó của tôi rất thích ăn đường, nên đặt tên cho nó là “Sugar Thoòng”. Ngồi ở tận cuối nhà, anh chỉ cần gọi “Sugar Thoòng” là nó phóng ngay tới…
Thấy cái tên nửa Mỹ nửa Tàu “Sugar Thoòng” thiếu… nữ tính và có vẻ hơi diễu cợt, tôi lựa cho con chó một cái tên thật đẹp: Magda, viết tắt của Magdalene. Từ đó, anh em trong đội đều gọi nó là “Mát-đa”.
Vì thế, với những anh em này, việc viên thủ phó bị tặng biệt hiệu “Mát-đa” càng thêm tính cách thú vị.
Thực ra, việc viên thủ phó T2 và một con chó của cải tạo cùng được gọi là “Mát-đa” chỉ là chuyện nhỏ, sở dĩ tôi ghi ra đây là vì cả hai sẽ được nhắc tới trong một đoạn kết bi thảm.
* Thiếu bóng đàn bà!
Trước năm 1975, nhạc sĩ Trúc Phương đã mở đầu ca khúc Kẻ Ở Miền Xa của ông như sau:
Tôi ở miền xa
Trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ
Nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà…

Với một đấng nam nhi đã trưởng thành, bốn chữ “Thiếu bóng đàn bà…” trong lời hát của Trúc Phương mang ý nghĩa bóng gió xa xôi chứ không chỉ đơn thuần là “không thấy bóng một người đàn bà nào cả”.
Viết một cách dễ hiểu, và trắng trợn, ý Trúc Phương muốn nói “không có đàn bà để quan hệ thân mật”.
Chỉ ở miền xa mà đã “thiếu bóng đàn bà” thì nói gì tới bị giam trong tù cải tạo!
Tôi không biết khi màn đêm buông xuống, các bạn tù của tôi có mơ tưởng tới “đàn bà” trong nhạc của Trúc Phương hay không, riêng tôi trong hơn 2 năm đầu, đêm nằm chỉ nhớ thương vợ chứ không có sự thèm khát.
Dường như những tủi nhục, lo âu, tuyệt vọng đã khiến tôi, và có lẽ đa số bạn tù cải tạo, trở nên nguội lạnh, quên mất… đàn bà (trong nhạc Trúc Phương), ít nhất cũng trong thời gian hơn 2 năm đầu, khi chưa thấy được một chút ánh sáng nào ở cuối đường hầm.
Lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi nghĩ đến “đàn bà” là sau khi được xem một cuốn phim của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Nguyên mấy tháng sau khi chúng tôi lên Phước Long, toán chiếu phim lưu động của Quân Khu tới phục vụ L2, tù cải tạo ở các T được lần lượt lên sân trung đoàn xem phim chung với bộ đội. Đám cải tạo chúng tôi ngồi ngay hàng thẳng lối trên những chiếc ghế tự đóng lấy, thấp lẹp xẹp như ghế của các bà bán hàng rong ngoài chợ, còn bộ đội thì ngồi kiểu nước lụt (chồm hổm) rải rác mỗi nơi một nhóm.
Trong số này có mấy cô bộ đội Bắc Kỳ ngồi cách chúng tôi vài mét. Trong đêm tối chỉ thỉnh thoảng mới có ánh đèn pin của quản giáo cho nên chúng tôi không biết dung nhan các cô ra sao mà chỉ ngửi thấy mùi dầu Con Sóc nồng nặc. Tội nghiệp, thì ra từ Bắc vô Nam các cô cứ tưởng dầu Con Sóc là… nước hoa!
Các cô có lẽ còn rất trẻ, cười đùa hồn nhiên, tíu ta tíu tít, nói chuyện hơi lớn tiếng, thỉnh thoảng lại cười ré lên như muốn cho đám cải tạo biết có những bóng hồng đang ngồi gần họ.
Thành thật mà nói, việc ngồi gần đám bộ đội gái này cũng chẳng khiến tôi cảm thấy thích thú gì hơn ngồi gần một đám bộ đội đực rựa; và nếu tôi có để ý tới các cô thì cũng chỉ để cố nghe thử xem họ đang nói những gì, bởi tuy chính gốc Bắc Kỳ, tôi cũng chỉ hiểu lõm bõm, vì các cô nói quá nhanh, quá nặng, lại lên xuống một cách kỳ cục, không giống tiếng Bắc trước 1954 một chút nào cả!
Chỉ tới khi xem phim, một cuốn phim do nữ diễn viên Trà Giang thủ vai nữ nhân vật chính, tôi mới nghĩ tới “đàn bà”.
Trà Giang, sinh năm 1942, có thể không phải nữ diễn viên xinh đẹp nhất của điện ảnh miền Bắc thời phim đen trắng nhưng ngoại hình của cô rất hấp dẫn. Sau này, một tay viết trong nước đã so sánh nhan sắc, ngoại hình của Trà Giang ngoài Bắc với Thẩm Thúy Hằng trong Nam, một sự so sánh mà tôi cho là khập khiễng.
Thứ nhất, nhan sắc của Trà Giang nói chung không thể sánh với Thẩm Thúy Hằng, nhưng bù lại cô có cặp mắt đẹp và cặp môi dày quyến rũ. Thực ra, Thẩm Thúy Hằng cũng có cặp mắt đẹp và đôi môi dày, nhưng mắt của “Người đẹp Bình Dương” không có hồn, còn môi thì bơm một cách quá lộ liễu.

Trà Giang

Thẩm Thúy Hằng
Thứ đến về ngoại hình, Trà Giang cũng không sexy bằng Thẩm Thúy Hằng nhưng điều này không có nghĩa là Trà Giang không thu hút bằng Thẩm Thúy Hằng, mà ngược lại.Bởi vì nhìn Trà Giang người ta tin rằng những đường cong ấy là trời cho, còn ngắm Thẩm Thúy Hằng người ta có cảm tưởng vòng số 1, vòng số 3 dễ nể của nàng đã có sự tăng cường bằng một hình thức nào đó. Nhất là vòng số 3, ngày ấy đã khiến nhiều người phải xuýt xoa, còn đám nhà báo thì ví von “đầu Tô Văn – mông Thẩm Thúy Hằng”, nhưng không đem lại cho các đực rựa cảm giác kích thích thực sự như vòng số 3 của một Sophia Loren…
* * *
Tôi không nhớ tên cuốn phim được chiếu tối hôm đó, chỉ biết chắc chắn không phải một trong những cuốn phim sặc mùi tuyên truyền đã góp phần đem lại danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân” cho Trà Giang, như Chị Tư Hậu (1963), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Em bé Hà Nội (1974), v.v…
Thực ra, cuốn phim nào của miền Bắc xã hội chủ nghĩa mà không mang mục đích tuyên truyền, tuy nhiên ít nhất trong cuốn phim này cũng có chút tình cảm nam nữ và gián tiếp đề cập tới nhu cầu tình dục.
Tôi nhớ đại khái Trà Giang thủ vai một cô vợ trẻ xinh đẹp với những đường cong hấp dẫn, chưa có con cái, khát khao chuyện vợ chồng nhưng tối nào cũng phải đi ngủ trước vì chồng (cán bộ hay chuyên gia gì đó) có tinh thần trách nhiệm cao, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm!
Một buổi tối nọ, có lẽ không thể “nhịn” được nữa, nàng chủ động tỏ thái độ âu yếm, dục chồng đi ngủ, nhưng anh ta vẫn thản nhiên, nói nàng cứ đi ngủ trước. Chán nản, nàng bỏ đi vào phòng…
Tôi không phải một nhà phê bình phim ảnh mà chỉ là người thưởng ngoạn, nhưng cũng có thể nhận xét Trà Giang đã diễn xuất cảnh này một cách tuyệt vời, không chỉ thể hiện qua nét mặt mà còn lột tả bằng dáng đi.
Viết một cách chi tiết, khi Trà Giang quay lưng õng ẹo bỏ đi, cứ mỗi bước chân, một bên mông của nàng lại nổi lên sau lớp vải quần một cách khiêu khích.
Thực ra đây chỉ là cách bước căn bản của các cô người mẫu để tăng sức thu hút của vòng số 3, nhưng trong khi các cô di chuyển khá nhanh trên sàn trình diễn thì trong phim sau mỗi bước, Trà Giang lại ngừng lại khoảng 1/10 giây đồng hồ để khán giả có đủ thời gian chiêm ngưỡng và vận dụng óc tưởng tượng!…
Cứ tạm thời cho rằng không phải khán giả “tù cải tạo thiếu bóng đàn bà” nào cũng có tư tưởng… đen tối như tôi khi xem cảnh này, ít nhất tôi cũng có một bạn tù đồng cảm. Trên đường trở về trại, Nguyễn ĐS, tay luật sư phục vụ tại Nha Quân Pháp ở cùng tổ với tôi ở Thành Ông Năm trước đây, thấy tôi đi phía trước liền tiến lên đi song song, bình luận về nhan sắc, ngoại hình của Trà Giang rồi kết luận:
“Chặc… Nhìn em hẩy hẩy cặp mông, tôi chịu không được!!!
Cũng may, chỉ hơn một tuần sau khi xem phim, đêm về tôi đã có thể xua đuổi “ngoại hình” của Trà Giang trong giấc ngủ: chúng tôi sắp được thăm nuôi, sẽ được gặp lại người vợ, người yêu là “đàn bà” bằng xương bằng thịt!
* * *
Đợt thăm nuôi thứ nhất của T2 diễn ra khoảng ba tháng sau khi chúng tôi lên Phước Long.
Viết về việc đi thăm nuôi tù cải tạo ở trong Nam, nếu chỉ tính những trại do trung ương quản trị thì theo những gì được kể lại, gian nan cực khổ nhất phải là đi thăm tù ở Gia Trung (Tây Nguyên), kế đến là tù ở Phước Long.
Từ Sài Gòn đi Phước Long chỉ hơn 160 cây số nhưng thiếu phương tiện di chuyển và đường đi rất xấu. Kiếm được một chỗ trên xe đò từ Sài Gòn lên quận lỵ Phước Bình không phải là việc dễ dàng, nhưng từ Phước Bình đi vào trại cải tạo mới thực sự gian nan.
Như tôi đã viết ở một đoạn trước, các trại cải tạo ở Phước Long nằm trên con đường từ Phước Bình đi Quảng Đức; tuy mang tiếng là “liên tỉnh lộ”, nhưng sau năm 1975 chỉ còn một đoạn mấy cây số từ Phước Bình đi vào tỉnh lỵ Phước Long (cũ) có thể gọi là đường trải đá, còn từ đó trở đi chỉ là đường đất đỏ.
Qua chân núi Bà Rá, gần tới tỉnh lỵ quẹo mặt, xuống dốc, băng qua cầu Dak Lung, lên một cái dốc thật dài, đi thêm khoảng 10 cây số nữa thì tới vùng Bù Gia Phúc, nơi có các trại cải tạo của L2, và khoảng 25-30 cây số nữa mới tới trại cải tạo Bù Gia Mập.
Đi từ Sài Gòn, sau khi tới quận lỵ Phước Bình, thân nhân sẽ phải ngủ đêm ở chợ để sáng hôm sau đón xe đò Phước Bình – Quảng Ðức đi vào trại cải tạo. Nhưng đó chỉ là hướng dẫn của ban chỉ huy trại cho tù cải tạo viết thư về nhà, còn trên thực tế, chuyến xe Phước Bình – Quảng Ðức ấy có chạy hay không, không ai biết trước.
Qua sáng hôm sau, nếu được thông báo xe bị nằm ụ chờ sửa chữa không biết bao giờ mới xong thì thân nhân đành phải mua đòn gánh để gánh quà thăm nuôi, cùng nhau đi bộ mấy chục cây số để vào trại.
Đoạn dốc đi xuống cầu Dak Lung nếu gặp mùa mưa sẽ trở nên rất trơn trượt, các bà vợ đi thăm chồng còn đỡ nhưng các bà mẹ già đi thăm con trai thì cứ té oành oạch. Tuy nhiên, nói theo cách nói của dân nhà binh thì cái dốc phía bên kia cầu mới đúng là “đoạn đường chiến binh”. Đứng cuối dốc nhìn lên, ai cũng phải ngao ngán.
Cả đến xe cộ cũng chỉ có xe molotova hoặc GMC (của quân đội VNCH để lại) mới đủ sức leo lên cái dốc này, còn xe đò, xe vận tải “thời xã hội chủ nghĩa” thì hành khách phải xuống xe, nếu có đám thanh niên thì phải xúm nhau đẩy phụ, xe mới leo lên dốc được!
Thành thử thân nhân nào phải đi bộ vào trại cải tạo, nhất là các bà mẹ già, tới cái dốc này bắt buộc phải gạt lệ quẳng bớt quà thăm nuôi vào bụi cho nhẹ bớt thì mới có sức mà leo dốc. Thường thì thức ăn, bánh trái bị vứt bỏ trước tiên, cho nên nhiều khi lặn lội cả trăm cây số, vượt rừng vượt suối mấy ngày trời chỉ để trao cho người tù cải tạo ít thuốc tây và những thứ thật cần thiết như mắm muối, thuốc rê thuốc lào…
Nếu thăm tù cải tạo ở Bù Gia Phúc thì xế chiều có thể đã vào tới nơi, nhưng nếu vào tận Bù Gia Mập thì chắc chắn sẽ phải ngủ đêm ở dọc đường! Cũng may mà do chiến tranh kéo dài, các loài thú dữ ở rừng già Phước Long đã bỏ đi nơi khác lánh nạn cho nên đoàn người thăm nuôi mới được toàn thây!
Sau này tôi được biết cũng có một số thân nhân đi thăm nuôi chỉ cần đi một chuyến xe từ Sài Gòn tới thẳng trại cải tạo. Đa số là những gia đình có thân nhân cấp tá ở Bù Gia Mập, khi được thăm nuôi cùng đợt, đã liên lạc với nhau để mướn chung một chiếc xe vận tải nho nhỏ cùng với tài xế để đi và về.
Tuy nhiên, số thân nhân may mắn này cũng chẳng được bao nhiêu, bởi vì sau khi chồng con bị bắt đi học tập cải tạo, không phải nhà nào cũng có đủ khả năng tài chính, không phải ai cũng biết đường đi nước bước, khôn ngoan lanh lợi để nghĩ tới việc mướn xe đi chung.
Cũng may, sau khi chúng tôi lên Phước Long, tình trạng xe cộ từ Phước Bình đi vào các trại cải tạo đã khả quan hơn, nhờ có thêm các xe vận tải do tư nhân khai thác, và trên đường trở ra Phước Bình, đôi khi thân nhân cũng quá giang được xe tải của các nông trường, và, dù rất hiếm họa, cả xe molotova, xe GMC của những anh bộ đội tốt bụng thuộc Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long (Đoàn 500).
* * *
Để chuẩn bị cho việc thăm nuôi, tù cải tạo của L2 được lệnh cất một cái nhà tranh vách lồ ô dài khoảng 20 mét, với hai hàng sạp cũng bằng lồ ô, ban ngày làm chỗ thăm nuôi, ban đêm làm chỗ ngủ cho thân nhân.
Nhà thăm nuôi này nằm sát con đường Phước Bình – Quảng Đức để thân nhân dễ nhìn thấy, ba mặt là rẫy khoai mì, đi sâu vào khoảng 2, 3 trăm mét là con suối chảy xuống T2 (tức sông Tà Niên, thượng nguồn Sông Bé). Đoạn suối này rất trong, chảy êm, khá thơ mộng với bóng mát và những tảng đá lớn nằm ven bờ hoặc giữa dòng…

Đoạn suối chảy qua Bù Gia Mập
Thân nhân nào tới nơi sớm nhất thì trời cũng đã về chiều, cho nên phải chờ tới sáng hôm sau người tù cải tạo (được miễn công tác lao động ngày hôm ấy) mới được lên gặp mặt một hai tiếng đồng hồ; tới khi cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi thông báo hết giờ thì phải tự giác trở về trại, người nào ở lại nếu bị khám phá sẽ bị kỷ luật và cấm thăm nuôi kỳ tới.
Trong một hai tiếng đồng hồ phù du ấy, một số trong đám trung úy thiếu úy trẻ chúng tôi có vợ lên thăm, đã bất chấp nội quy thăm nuôi để tận hưởng hạnh phúc riêng tư.
Theo nội quy thăm nuôi, tất cả mọi cuộc gặp mặt đều phải diễn ra bên trong nhà thăm nuôi dưới sự giám sát của cán bộ quản giáo; vợ chồng không được có những cử chỉ âu yếm, thân mật lộ liễu. Nhưng trên thực tế, đã có những cặp lén đưa nhau xuống bờ suối hoặc vào rẫy khoai mì…
Để thực hiện “âm mưu” này, trước đó trong các lần được đi lao động tự giác, các chàng đã phải điều nghiên đường đi nước bước và chuẩn bị “bãi đáp”, tới khi thăm nuôi, vợ chồng làm bộ đi về phía nhà vệ sinh rồi lỉnh vào vườn mì.
Khoai mì trồng ở đất Phước Long rất tốt, ngoài dòm vào, trên nhìn xuống chỉ thấy một màu lá xanh, nhưng vào bên trong người ta vẫn có thể định hướng bằng cách nhìn xuống gốc mì được trồng ngay hàng thẳng lối. Sau khi vào vườn mì, hoặc sẽ tìm đường đi xuống suối hoặc đưa nhau vào cuối rẫy.

Vườn mì… đồng lõa (Ảnh minh họa)
Có những cặp đưa nhau xuống bờ suối có lẽ chỉ để tâm tình (cùng lắm là tay trong tay, môi kề môi) và… ngắm cảnh, nghĩa là trong sạch như trong ca khúc Suối Mơ của Văn Cao, nhưng những anh chàng đưa vợ vào tận cuối rẫy khoai mì thì hẳn phải có ý đồ… đen tối, như Trúc Phương đã viết một cách văn huê, bóng gió xa xôi trong bài 24 Giờ Phép: “Ta đưa nhau về nguyên thủy loài người… Ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay…”
[Trong Lời Nói Đầu của thiên hồi ký này, tôi đã thưa cùng độc giả “Tất cả mọi nhân vật, tình tiết trong thiên hồi ký này đều có thật…”, tức là không hề bịa đặt. Tuy nhiên viết như thế không có nghĩa là tác giả sẽ kể lại TOÀN BỘ sự thật, bởi có những sự thật đau lòng không nên nhắc nhớ, có những sự thật tế nhị không thể kể ra. Vì thế, ngày ấy vợ chồng tôi có nghiêm chỉnh chấp hành nội quy thăm nuôi hay không, trường hợp không, thì đưa nhau xuống bờ suối hay vào cuối vườn khoai mì, xin được xem là chuyện “tứ tri” – chỉ có trời, đất, và hai người trong cuộc biết với nhau mà thôi]
* Đợt thả tù đầu tiên
Khoảng cuối năm 1977 đầu năm 1978, đã diễn ra đợt thả tù cải tạo quy mô đầu tiên ở Phước Long, cùng thời gian với nhiều nơi khác ở miền Nam. Gọi là quy mô bởi vì trước đó đã có những đợt thả tù lẻ tẻ, thường là những người “có thân nhân cách mạng”, hoặc các bác sĩ được thả về để phục vụ tại các bệnh viện…
Những người được thả trong đợt đầu tiên này không được cấp Giấy Ra Trại ngay mà chỉ được đi phép một tháng để tìm kiếm công ăn việc làm, hoặc đưa gia đình lên vùng kinh tế mới, rồi đem giấy chứng nhận trở về trại để “cấp trên” duyệt xét, xong xuôi mới được cấp Giấy Ra Trại.
T2 chúng tôi có hơn 1/3 có tên trong danh sách, đa số là trung úy thiếu úy lớn tuổi, trong đó có Tư “răng vàng”, tay đội trưởng tăng gia, Thiếu úy T, ông tổ trưởng cũ của tôi ở Trảng Lớn. Điều này cũng dễ hiểu, những ông trung úy thiếu úy già này thường đã vợ con đùm đuề, nhiều người đã có cháu nội cháu ngoại cho nên trong thời gian cải tạo thường an phận, thủ cẳng, nín thở qua sông, tích cực lao động, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy… với hy vọng sớm được cho về đoàn tụ với gia đình.
Cùng với thành phần lớn tuổi nói trên là những người có thân nhân cách mạng, và một vài thiếu úy trẻ “nhẹ tội”.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có ít nhất hai chàng thiếu úy trẻ không “nhẹ tội” một chút nào, đó là Hùng nhô, tay thiếu úy CTCT ăn chung với tôi, từng trốn trại trong những ngày cuối cùng ở Đồng Ban, và tay thiếu úy gốc Hoa nói tiếng Việt không rành gốc Cà Tum trốn trại sau khi lên Phước Long, người mà ông Phùng Xuân Nghĩa cho rằng “thời gian cải tạo chắc chắn sẽ lâu dài hơn những người kiên trì học tập tiến bộ”!
Sau này chúng tôi được biết tay thiếu úy gốc Hoa được gia đình chạy 16 cây vàng; riêng trường hợp Hùng nhô – Bắc Kỳ di cư, nhà nghèo, không thân nhân cách mạng… – thì chính đương sự cũng không tìm ra câu trả lời, cho nên chúng tôi chỉ biết đoán mò rằng rất có thể danh sách tù cải tạo được thả đợt này chưa đủ con số do trung ương đưa ra, và một số may mắn trong đó có Hùng nhô được điền vào cho đủ số!
Suy ra, “tội” của Hùng nhô và mấy tay thiếu úy trẻ trốn trại bất thành ở Đồng Ban ngày ấy đã không bị ông Phùng Xuân Nghĩa ghi vào hồ sơ!
* * *
Hết hạn một tháng, tất cả tù cải tạo được đi phép đều trở lại T2, trừ… Tư răng vàng, tay đội trưởng tăng gia!
Mấy ngày đầu, ông Phùng Xuân Nghĩa còn cố hy vọng Tư răng vàng vì một nguyên nào đó bị “trễ phép”, nhưng hai tuần sau ông ta vẫn biệt tăm.
Trong khi ông thủ trưởng quê một cục thì đám tù cải tạo chúng tôi vô cùng thích thú trước việc “cải tạo viên” gương mẫu, tiến bộ, luôn luôn lấy điểm cách mạng ấy lại chơi ban chỉ huy trại một vố đau điếng! (Chú thích 1)
Số là, như sau đó chúng tôi được biết, do lời dụ ngọt của Tư răng vàng, không ít cán bộ của T2 đã gửi tiền nhờ ông ta mua giúp cái đài, cái đổng, hay thứ này thứ khác, cộng lại có đến vài trăm bạc.
Đám cán bộ tin tưởng Tư răng vàng vì nguyên nhân rất đơn giản: ông ta phải trở lại T2 để lấy giấy ra trại, và chắc chắn sẽ lấy điểm bằng cách cố gắng tìm mua món hàng chất lượng với giá rẻ nhất!
“Anh ấy tệ thật!” là tất cả những gì Đại úy Phùng Xuân Nghĩa thốt ra với đám đội trưởng cải tạo.
* * *
Hai tuần sau, những người được thả trong đợt đầu tiên được cấp giấy ra trại, và được xe molotova chở ra Phước Bình để từ đó đón xe đò về Sài Gòn.
Như vậy, những người này chỉ bị cải tạo chưa tới hai năm rưỡi. Chúng tôi nhớ lại những gì Trung úy Vầy đã nói ở Đồng Ban rằng theo sự tin tưởng của anh, chính sách cải tạo trong Nam hiện nay cũng giống như ở ngoài Bắc sau năm 1954, trừ những người bị xem là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ” sẽ không có ngày về, những người còn lại cứ mỗi 3 năm sẽ được cứu xét và một số sẽ được thả về.
Chúng tôi suy ra sở dĩ nay mới hai năm rưỡi mà đã có đợt về đầu tiên là vì tù cải tạo trong Nam quá đông, phải cho về thành nhiều đợt, ai hên thì được lời mấy tháng.
Một tuần sau, khi đội của tôi đang phá rẫy dọc sát con đường Phước Bình – Quảng Đức thì thấy hai chiếc xe GMC chở tù cải tạo từ Bù Gia Mập chạy ra. Khi thấy chúng tôi, một số người đưa tay vẫy, và chúng tôi hiểu họ được thả về. Một người trong bọn chúng tôi lớn tiếng hỏi “Bò mấy?” thì họ đưa bốn ngón tay lên làm hiệu, cho chúng tôi biết họ là “bò tứ” (thiếu tá).
Việc này càng khiến chúng tôi thêm phấn khởi, tin tưởng sẽ có thêm những đợt khác được thả về trong thời gian sắp tới…
* Mát-đa chi mộ
Sau đợt thả tù đầu tiên ở T2, vì các dãy nhà dành cho cải tạo đã xuống cấp trầm trọng, chúng tôi được lệnh đi cắt tranh về lợp lại mái để chuẩn bị cho mùa mưa sắp tới. Vì đã có hơn 1/3 cải tạo được thả, cho nên đội của tôi đang ở dãy nhà gần ban chỉ huy trại nhất được lệnh xuống ở chung với anh em trong hai dãy nhà còn lại vừa được tu bổ.
Nhóm chúng tôi ở chung nhà với đội của Thời, một tay thiếu úy gốc Cà Tum, Bắc Kỳ vui tính, lanh lợi, hơi lắm mồm và khá láu cá (đối với “cách mạng”). Tôi và hắn trở nên khá thân, xưng hô mày tao…
Một tháng, rồi hai tháng trôi qua kể từ ngày thả tù đợt một, chúng tôi vẫn không thấy ông Phùng Xuân Nghĩa đả động tới gì tới đợt kế tiếp. Rồi ông đi phép về Bắc thăm nhà, trao T2 lại cho thủ phó là Trung úy Tịch.
Mát-đa vừa lên xử lý chức vụ thủ trưởng thì có những diễn tiến bất thường.
Trước hết, tù cải tạo L2 được lệnh lên hội trường trung đoàn để học tập về thái độ thù nghịch và âm mưu bành trướng của đàn anh Trung Quốc, mà nay đảng và nhà nước ta gọi là bọn “bá quyền phương Bắc”. Giáo viên cũng cho biết Khmer Đỏ, tức “tập đoàn Pol Pot – Ieng Sary” đã trở thành tay sai của Bắc Kinh và bắt đầu hoạt động gây hấn ở vùng biên giới Tây Nam.
Tiếp theo, toán lao động tình nguyện ở Bù Gia Mập được lệnh trở về T2 ngay.
Toán này gồm mấy chục anh em thuộc đội của tôi do Cường hướng dẫn, tình nguyện tới một trại cải tạo (hoặc doanh trại quân đội nhân dân) bỏ trống trên đường đi Bù Gia Mập, để chăm sóc đám rẫy lúa mọi được trồng trong khu vực, dự trù ở lại cho tới ngày thu hoạch.
Theo những gì chúng tôi nghe được từ đám vệ binh, tuy hiện nay Khmer Đỏ chỉ đánh phá vùng biên giới từ Tây Ninh trở xuống An Giang, các đơn vị bộ đội ở Bình Long, Phước Long cũng được đặt trong tình trạng báo động, đồng thời một số sĩ quan và bộ đội đang “công tác” (phục vụ) tại các trại cải tạo được “biên chế” (thuyên chuyển) tới các đơn vị biên phòng.
Ít lâu sau, trong một buổi giao ban vào chiều Thứ Sáu, Trung úy Tịch ra lệnh các đội trưởng về thông báo cho anh em cải tạo biết bắt đầu từ Thứ Hai tuần tới, mọi người phải nghiêm chỉnh chấp hành lệnh cấm nuôi chó.
Theo viên thủ phó, trước sau nội quy trại vẫn cấm tù cải tạo nuôi chó, nhưng lên Phước Long ban chỉ huy trại (ông Phùng Xuân Nghĩa) đã du di để cải tạo nuôi chó cho có bạn. Nay vì “tình hình khẩn trương”, quân Khmer Đỏ có thể vượt biên giới, thâm nhập lãnh thổ Phước Long, khi ấy tiếng chó sủa sẽ làm lộ vị trí của trại, vì thế những cải tạo viên đang nuôi chó ở T2 có hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật để làm thịt chúng. Qua ngày Thứ Hai, người nào còn nuôi chó sẽ bị kỷ luật!
Tuy nhiên không mấy người trong chúng tôi tin vào cách giải thích của Trung úy Tịch, mà đa số cho rằng viên thủ phó lợi dụng cơ hội được xử lý chức vụ thủ trưởng để diệt lũ chó mà y ghét cay ghét đắng.
Những gì tôi kể lại sau đây có thể bị nhiều người cho là khó tin nhưng anh em ở L2 T2 ngày ấy là những nhân chứng sống.
Nguyên mấy con chó ở T2 được tù cải tạo nuôi có khả năng phân biệt giữa tù cải tạo và đám cán bộ, vệ binh; ban ngày thì không sao, nhưng sau khi trời tối nếu có cán bộ từ ban chỉ huy đi xuống khu vực cải tạo là chúng sủa um sùm, gián tiếp báo động cho mọi người biết có “nón cối” đi xuống.
Nhưng riêng Trung úy Tịch thì bất kể ngày đêm, mỗi khi hắn xuống khu vực cải tạo thì đi tới đâu mấy con chó cũng chạy theo sủa tới đó. Có anh em giải thích rằng vì trước đây hắn đã có lần đá một con chó khi nó tới gần, từ đó lũ chó đã thể hiện “thái độ chống đối” qua việc đua nhau sủa viên thủ phó mỗi khi đương sự đi xuống khu vực cải tạo!
Sau khi được các đội trưởng thông báo lệnh giết chó của Trung úy Tịch, những anh em nuôi chó không biết phải xử trí ra sao, giết thịt thì không nỡ, mà không giết thì trả lời ra sao với tay thủ phó?
Sau cùng, anh em quyết định đem chó cho bạn bè ở T1, họ tiếp tục nuôi thì không còn gì bằng, trường hợp họ làm thịt thì ít ra mình cũng không phải chứng kiến cảnh thương tâm ấy.
Riêng tôi không quen biết anh em nào ở T1 nên dự tính tới chiều Chủ Nhật khi anh em đem chó lên T1 (ở gần trung đoàn) tôi sẽ gửi con Mát-đa theo, anh em muốn cho ai thì cho.
Nhưng tới chiều Chủ Nhật, khi anh em chuẩn bị đưa chó lên T1 thì Mát-đa… biệt tích. Tôi gọi khản cả cổ, tìm kiếm khắp nơi, ra tận bờ suối nơi tôi thường dắt nó đi tắm và bơi lội, đùa giỡn cũng không thấy. Tới chiều tối, khi tôi đang ăn cơm thì nó mới dẫn xác về, ướt sũng!
Cho tới nay, tôi cũng không biết đích xác ngày ấy con Mát-đa có linh tính nên bỏ trốn hay chỉ bơi qua suối đi chơi lang thang tới tối mới mò về?!
Tôi dự định sáng hôm sau sẽ cột con Mát-đa ngoài bờ suối, đợi tới chiều nhờ một anh bạn đưa nó lên T1 để tôi được yên thân với tay thủ phó.
Sáng hôm sau, khi tôi đang đánh răng rửa mặt ở ngoài giếng phía sau dãy nhà thì một anh bạn chạy tới, vừa thở hổn hển vừa nói:
– Sáu Lèo! Sáu Lèo, thằng Tịch nó đang bóp cổ con Mát-đa của mày!
Tôi vội vàng chạy về, nhưng vừa vào nhà thì một anh em khác đã ôm chặt lấy tôi, nói nhỏ:
– Đừng ra, nó đang nổi điên!
Định thần lại, tôi thấy tất cả anh em đều đã quay vào trong nhà, không một ai ở ngoài sân… Một lúc sau mới có người cho biết tay thủ phó đã bỏ đi. Tôi chạy ra sân, tới nơi thấy Mát-đa nằm sõng soài bên cạnh một gốc cây, máu từ miệng ứa ra.
Sau này, tôi được anh em kể lại đầu đuôi như sau:
Mặt trời vừa lên, Trung úy Tịch đã lững thững đi xuống khu vực cải tạo. Hắn vừa tới đầu dãy nhà thứ nhất thì con Mát-đa từ đâu không biết phóng tới sát chân viên thủ phó mà sủa inh ỏi, và bị hắn nhanh tay chộp được. Rồi hắn đứng dạng hai chân như thể để lấy tấn, hai tay bóp cổ con Mát-đa; một lúc sau thấy nó trở nên bất động, hắn mới buông tay, quăng xuống đất.
Nhưng, một là vì bị ném mạnh xuống đất con Mát-đa tỉnh lại, hai là, như đa số anh em tin tưởng, nó chỉ giả vờ chết, vừa bị ném xuống đất là vùng dậy bỏ chạy!
Nhưng sức đã yếu, không thể chạy nhanh, Mát-đa bị Trung úy Tịch chạy theo chộp lại một cách dễ dàng. Rồi hắn như một thằng điên, vừa chửi thề vừa nắm hai chân sau của con chó, lấy hết sức bình sinh quật đầu nó vào gốc cây liên tiếp cho tới khi nát óc!
Đó chính là lúc anh em bảo tôi “Đừng ra, nó đang nổi điên!” và giữ tôi lại trong nhà…
Tôi tiến tới gốc cây, ôm con Mát-đa lên, lòng đau xót khôn tả. Đúng lúc ấy, Thời chạy tới, nói lớn:
– Cắt tiết ngay, không máu nó đông!
Tôi quay lại:
– Mày nói cái gì?
– Tao nói phải cắt tiết ngay, không thì máu nó đông!
Tôi bừng bừng nổi giận nhưng cũng cố dằn để khỏi chửi thề, chỉ đáp cộc lốc:
– Tao chôn!
Thời vẫn không chịu bỏ cuộc:
– Sao lại chôn, thịt chó cũng là “prô-tê-in”…, sao lại chôn, phí của giời!
Tôi gằn từng tiếng:
– Chó của tao!… Tao chôn!
Trong lúc tôi và Thời đối đáp, anh em đứng chung quanh đều giữ im lặng. Tôi biết họ không chỉ thông cảm với nỗi xót xa của tôi mà chính họ cũng xúc động trước cái chết thảm thương của con chó được cả trại yêu thích.
Tôi lấy một cái áo cũ cuốn con Mát-đa lại rồi thay vì chôn nó ngoài bờ suối cạnh con chó em, tôi trịnh trọng chôn trong cái vườn rau đẹp nhất trại.
Nguyên trước khi được thả về, Thiếu úy T, ông tổ trưởng cũ đã kết tôi từ ngày còn ở Trảng Lớn, đã ưu ái bàn giao cho tôi cái vườn rau cá nhân mà ông và mấy người bạn già đã bỏ biết bao công sức để vun trồng, có đủ mọi loại rau, mấy gốc cà tím, và một giàn mướp, một giàn khổ qua.
Vườn có hàng rào thấp ngang bụng và một cái cổng ra vào xinh xắn, lại nằm giữa hai dãy nhà của cải tạo cho nên ai đi ngang qua cũng nhìn thấy và phải trầm trồ.
Tôi chôn con Mát-đa ở giữa vườn. Buổi chiều đi lao động về, tôi đắp cho nó một nấm mồ nho nhỏ, rồi lấy một cây cọc cắm lên, trên gắn miếng các-tông hình chữ nhật khoảng hai gang tay, với hai hàng chữ lớn:
Mát-đa chi mộ
Chết vì bóp cổ
Ngày hôm sau, Thời tìm tôi:
– Sáu Lèo ơi, tao lạy mày. Mày mà chọc giận Mát-đa, hắn nổi điên lên thì cả trại lãnh đủ!
Vừa căm thù viên thủ phó vừa nhớ lại việc sáng hôm qua Thời đòi cắt tiết con chó, tôi lạnh lùng trả lời:
– Con chó của tao tên là Mát-đa thì tao viết là Mát-đa, nó bị bóp cổ thì tao viết là bị bóp cổ. Trung úy Tịch có thắc mắc thì mày cứ bảo là tao nói thế đấy!
Tuy nhiên vì sau đó có mấy anh lớn tuổi nhỏ nhẹ khuyên can, tôi đã chấp nhận nhượng bộ một nửa: xóa bốn chữ “chết vì bóp cổ”.

CHÚ THÍCH:
(1) Tư răng vàng. Sau khi ra tù cải tạo, tôi đã quên Tư răng vàng. “Quên” ở đây không có nghĩa là không còn nhớ gì về nhân vật đặc biệt này, mà chỉ vì không có dịp nhắc nhớ tới ông ta.
Gần 20 năm sau, Tư răng vàng tái xuất hiện, không phải tại Việt Nam mà ở Hoa Kỳ, trong một cuộc biểu tình chống… CSVN. Tôi biết được việc này qua đọc một bài phóng sự (không nhớ tựa đề và tên tác giả) được phổ biến trên Internet.
Đọc bài viết, tôi biết tác giả phải là người đã từng ở T2 từ Đồng Ban lên tới Phước Long cho nên mới biết rõ “quá trình hoạt động” của Tư răng vàng như thế. Trong cuộc biểu tình, Tư răng vàng là một trong những người hô “Đả đảo cộng sản” hăng hái nhất, lớn tiếng nhất.
Trước sự việc này, tác giả bài viết đã có phản ứng và suy nghĩ mà nếu có mặt ở đó, tôi cũng không làm khác hơn: những gì đã qua cho qua luôn; điều quan trọng là ngày ấy Tư răng vàng đã không lấy điểm chế độ mới tới mức gây “nợ máu” với anh em; còn hiện nay việc ông ta tham gia biểu tình chống cộng tại hải ngoại, cho dù là a-dua, cũng chỉ có lợi chứ chẳng làm hại tới ai. Khác với một số người lấy điểm hoặc làm ăng-ten trong trại cải tạo, sau khi được thả đã tiếp tục cúc cung tận tụy với chế độ để được, hoặc hy vọng sẽ được, hưởng đặc quyền đặc lợi, chẳng hạn một ông lang Tây nọ, làm tới “dân biểu quốc hội”!


Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 22 May 2025

Chương 5

Cẩu là chàng trai kiêu hãnh, thích ăn chơi, mê gái. Năm ngoái, một ông lục người Cao Miên làm phép cho cậu ta, trao cho sợi dây cà tha. Cậu ta lạy ông lục rồi nhận sợi dây bùa ấy: một sợi chỉ tơ se lại khá to và chắc, từng miếng vàng lá được cuốn tròn rải rác quanh sợi chỉ. Ông lục nói:

– Từ rày về sau, không ai chém cậu được. Khi đụng vào da thịt cậu, lưỡi dao dội ngược ra.

Cậu hỏi về tiền tài, tình duyên.

Ông lục nói: – Cậu là người đầy đủ quyền thế, sung sướng mãn đời, sống hơn tám mươi tuổi. Cứ ngồi một chỗ cũng có hàng chục cô gái tới hầu hạ.

Bởi vậy, Cẩu bất chấp lời khuyên dạy của mẹ nó và ông ngoại. Thỉnh thoảng, cậu ta được mẹ ban thưởng vàng bạc, tha hồ xài phí. Món giải trí ưa thích vẫn là đá cá thia thia.

Hôm qua, cậu gặp người nhà đến gọi:

– Ông Mười kêu về nhà!

Cậu lắc đầu:

– Ngày mốt tao mới về được, mai nầy, còn đá một trận lớn.

Người nhà van nài:

– Ông Bá Vạn và mẹ cậu tới thăm.

Cậu trả lời chậm rãi:

– Tao mạnh khoẻ, cần gì thăm viếng. Tao đâu phải là thằng dân quèn dưới quyền ông Bá Vạn.

Sáng nay cậu tới trường đá cá thia thia. Đó là ngôi nhà khá rộng, dành riêng cho người sành điệu tới ăn thua, sát phạt. Nghe danh cậu Cẩu, người ở vùng lân cận kéo tới tấp nập. Cậu ta dám thua sạch túi, không bao giờ gian lận. Cậu nhìn ra sân như áy náy:

– Mặt trời lên chậm quá. Có nắng nóng thì cá đá mới hăng. Tụi bây lựa con cá “mun” đem ra đây.

Cá mun là loại cá thia thia đen, nhỏ con, màu giống như cục than. Dân sành điệu ít dám nuôi cá mun vì đa số đều “bở” đá không lâu, vừa bị đòn là đã chạy. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ gặp con “cá thần” trăm trận trăm thắng.

Tỏ ra là người quân tử, cậu Cẩu lên tiếng:

– Tôi cho bà con biết trước rằng con cá mun nầy là “cá thần”.

Có người hỏi:

– Cậu hớt tại đâu?

– Trên chót núi Còm. Cá ở trên chót núi là điều phi thường. Còn điều phi thường thứ nhì là nó sống trong bộng cây. Trên chót núi, có cây thị bị trời đánh tét đôi, nước mưa đọng trong gốc cây, con cá…từ trên trời…đáp xuống.

– Làm sao từ trên trời rớt xuống được? Theo ý tôi thì đó là một cái trứng cá nhỏ, từ dưới đất bay lên theo gió rồi rớt vô vũng nước. Nhiều khi cá đẻ trên đất bùn rồi gặp nắng….

Cậu Cẩu trợn mắt. Người vừa cãi với cậu là ông lão hơn sáu mươi tuổi.

Nếu quát tháo thì hóa ra vô lễ, cậu nén cơn giận, mặt mày tái mét, hai bàn tay giựt lia lịa như mắc chứng kinh phong:

– Cá nầy đâu phải phàm tục, dính bùn đất. Ông dám đá với nó không?

Ông lão vuốt râu cười:

– Xin lỗi cậu, tôi hiểu tới đâu thì nói tới đó.

Cậu Cẩu bèn cởi áo ra, để lộ sợi dây cà tha trên ngực:

– Tôi ở đây hoài, đá đủ một chục độ. Con cá mun của tôi sẽ thủ đài!

Nói dứt lời, cậu đứng dậy, ra trước sân. Mười Hấu và Bá Vạn đằng kia đi lững thững đến. Mười Hấu bước nhanh, lại gần mà nói:

– Cháu bận áo vô. Làm gì mà ở trần vậy, coi không được. Ông Bá Vạn tới thăm để giúp cháu…một chuyện lớn. Nhớ chắp tay chào ổng.

Cẩu nhướng mắt, nhìn về Bá Vạn:

– Ông già đó…gần sụm rồi! Chắc là muốn đá thia thia. Mời ổng ở lại coi vài độ…

Mười Hấu giựt mình:

– Đâu được, con đừng ăn nói hỗn láo. Bá Vạn còn nhiều chuyện khác. Dẹp cái vụ đá cá qua một bên. Đừng hỗn hào.

Nhưng cậu Cẩu đã lớn tiếng:

– Chào ông Bá. Bữa nay ông tới đây để chung vui hả? Đem theo bao nhiêu tiền? Già rồi mà không chơi cho vui là…dại dột.

Bá Vạn vô cùng thất vọng. Người như thằng Cẩu làm sao đóng vai trò ông Chúa Hòn trong tương lai được! Nhưng nếu chê bai nó thì ông còn biết chọn ai. Bởi vậy, ông mỉm cười:

– Cậu rảnh rang quá!

– Đời tôi cực khổ lắm. Lo cho con cá mun nầy. Nó thắng chín độ rồi. Hôm nay là độ thứ mười. Có phần không cần gì lo.

Bá Vạn nôn nóng, muốn nói riêng với thằng Cẩu về kế họach sắp tới, thí dụ như chàng ta phải đến gặp ông Chúa Hòn và cô Huôi tại Lung Tràm, trước khi ông Chúa săn heo rừng để rồi thọ nạn.

– Cậu uống rượu với tôi cho vui.

Mười Hấu bước vào, vỗ vai thằng Cẩu:

– Cháu ơi! Uống rượu cho ông Bá Vạn mừng. Lâu lâu, ông Bá tới thăm cháu một lần. Nên nghe lời ông Bá. Cái chuyện đá cá thia thia nầy đợi tới chiều cũng không muộn. Rủi ông Bá giận cháu thì sao? Xuống tam bản, uống chén rượu…

Thằng Cẩu vẫn lì lợm, gõ tay xuống bàn mà hát:

– Dẫu sao cũng chẳng làm sao. Dẫu có bề nào, cũng chẳng làm chi. Ủa! Dầu chi cũng chẳng làm chi…

Bá Vạn khều ông Mười Hấu:

– Nó mê chơi thì để cho nó mê.

Mười Hấu nghĩ đến địa vị “quốc phụ” trong tương lai nên hơi lo ngại. Nếu thằng Cẩu vô lễ thì Bá Vạn dám ngả về phe cậu Hai Điền, chừng đó cậu Hai giết thằng Cẩu để trừ hậu họa. Mười Hấu lại khuyên:

– Cháu nghe lời ông ngoại một lần.

Thằng Cẩu cười hề hà:

– Lát nữa mới nghe. Ông ngoại làm gì gấp dữ vậy? Mọi khi, hễ thấy cháu đá cá thia thia thì ông ngoại khen. Nghề nầy của ông ngoại truyền lại cho cháu mà!

Mười Hấu ra sân, nói khẽ với Bá Vạn:

– Ông tha thứ cho cháu. Cái tật của nó lớn lắm. Cứ ham chơi và ham gái đẹp.

Bá Vạn đáp:

– Vậy thì chú Mười biểu nó đá vài độ cá thia thia, sau đó tôi nói chuyện với nó. Chú tìm cách đưa nó về nhà ở núi Mo So, dễ bàn bạc hơn. Ở đây rừng có mạch, vách có tai.

Mười Hấu bèn đổi thái độ:

– Cháu đem cá ra “cáp độ” cho ông coi. Ông Bá Vạn cùng ngồi đây để xem..

Thằng Cẩu thích chí vô cùng:

– Có vậy mới được chớ!

Người chủ trường khiêng ra cái ghế trường kỷ để mời Mười Hấu và Bá Vạn ngồi. Thằng Cẩu nói với cử toạ:

– Bà con mình cứ cáp độ! Tôi đem con cá mun ra! Bà con cứ tới coi cho kỹ con cá thần nầy!

Cử toạ im lặng, chẳng ai muốn làm chuyện vô lễ trước mặt Bá Vạn, Mười Hấu cả. Thật ra, “cá mun” chỉ là huyền thọai mà thôi, đa số đều đá dở, chưa tới nước khuya là chạy rót, nếu bị cắn đau.

Một ông lão đến gần cái thố bằng đất, ngắm nghía kỹ lưỡng. Phép xem cá thia thia vẫn là từ trên cao nhìn xuống để xem bề ngang cái lưng con cá. Ông lão cau mày:

– Cá nầy hơi lớn. Tụi tôi sợ rồi.

Thằng Cẩu đáp:

– Tại sao ông sợ?

Mười Hấu liếc về phía ông lão nọ rồi sờ tay vào túi như ngầm bảo “Cứ đá, nếu thua thì tôi chịu cho một số tiền”. Ông lão nọ hiểu ý bèn lên tiếng:

– Dạ, ít tiền quá…

Thằng Cẩu đáp:

– Cái gì chớ ít tiền thì dễ quá. Bây giờ tôi nói rõ. Hễ tôi ăn thì ông chịu thua… hai ngày công. Nghĩa là ông chèo ghe cho tôi đi chơi hai ngày mà không ăn tiền. Còn nếu cá của ông mà thắng thì tôi…chèo ghe cho ông đi chơi …bốn ngày ròng rã. Tôi nói là tôi làm.

– Dạ, cậu muốn thì tôi không dám cãi.

Thằng Cẩu ra vẻ bình dân:

– Cái gì dám với không dám. Mình chơi theo “điệu nghệ” mà. Phải cho con cá mun thắng độ thứ mười rồi tôi mới về nhà ngủ yên được.

Lát sau, ông lão đem con cá thia thia thả vô cái keo lớn. Thằng Cẩu xoa tay khấn vái rồi cầm cây vợt nhỏ xúc con cá mun thả vô keo.

Ai nấy nín thở chờ đợi, tin rằng con cá mun sẽ thắng đối phương dễ dàng.

Con cá của ông lão bắt đầu lên sắc, vẩy trổ màu xanh ngời, đuôi, kỳ và phướn đều xoè ra, xáp lại gần cá mun.

Nhưng lạ thay, con cá mun cứ lội lững lờ rồi từ từ xuống sắc. Màu đen của vẩy trở thành màu “sọc dưa” gọi theo danh từ nhà nghề của giới đá cá thia thia. Bá Vạn mừng thầm, tin rằng độ cá nầy sẽ kết thúc sớm. Ông ta vuốt râu, rồi lấy tay che miệng, cười tủm tỉm.

Thằng Cẩu trợn mắt:

– Kỳ cục quá.

Rồi chàng ta đứng dậy nắm cái keo bằng sành, quơ tay lên, ném mạnh ra phía ngoài sân. Cái keo bể ra từng mảnh nhỏ, nước văng tung toé, hai con cá dường như mất tích. Cậu nói to:

– Xui xẻo quá! Tại mấy ông tới mà con cá mun phải hư! Về! Mướn tôi ở lại mười lượng vàng tôi cũng không thèm. Về!

Bá Vạn đủ bản lãnh để chịu đựng thái độ ngạo mạn ấy. Nãy giờ, ông chú ý một điều: quả thật, thằng Cẩu mang chứng bệnh lạ kỳ, có thể là nóng gan. Lúc giận, chàng ta run hai tay, mặt mày tái mét. Chuyện lúc nãy không đáng giận đến mức ấy. Nay mai, nếu trở thành ông Chúa, chàng sẽ làm nhiều chuyện lạ lùng và khó hiểu hơn cậu Hai Điền.

Mười Hấu phàn nàn với Bá Vạn:

– Ông thương nó giùm. Tuổi trẻ thì ham chơi. Nếu làm chức lớn, chắc nó siêng năng, trầm tĩnh hơn.

– Nó có bản lãnh. Bây giờ nó chịu về nhà rồi chớ? Tôi còn nhiều chuyện quan trọng khác. Sáng mai, tôi gặp cô Huôi rồi trở về Hòn Chông.

– Ủa! Rồi tôi với thằng Cẩu làm chuyện gì? Ông bỏ tôi sao?

Bá Vạn nói khẽ:

– Hai ngày nữa, ông dẫn thằng Cẩu tới Lung Tràm và chờ cơ hội tốt. Biểu nó về nhà!

Chiếc tam bản chở Bá Vạn đi trước. Thằng Cẩu ngồi trên chiếc ghe mui, phía sau. Chàng ta đang đùa giỡn với ba bốn cô gái quê. Các cô cười sặc sụa.

Sau khi trao cho Mười Hấu chút ít tiền, Bá Vạn sẽ đến Lung Tràm để ra mắt cô Huôi và ông Chúa Hòn. Cuộc tiễn đưa khá ngậm ngùi và sôi nổi. Mười Hấu đem ra thứ rượu quý, rót cho Bá Vạn một chén nhỏ, bảo là rượu tê giác…Bá Vạn nói khẽ vào tai Mười Hấu vài câu. Mười Hấu rưng rưng nước mắt:

– Cầu Trời Phật phò hộ. Vắng ông, tôi như cái xác không hồn. Mong ngày gặp mặt ông…

Khi gần tới Lung Tràm, Bá Vạn nghe tiếng nhạc ngũ âm vang rền hai bên bờ rạch, người Cao Miên ca hát nghêu ngao, tất cả già trẻ bé lớn đều say sưa. Có người nằm dài trên bãi cỏ, mửa ra mật xanh vì uống rượu đế quá nhiều.

Một tên hộ vệ nhận ra thằng Thừa thằng Thiếu nên cười to:

– Tụi bây cực quá vậy! Lên đây cho no say.

Bá Vạn nhô đầu ra khỏi mui tam bản:

– Đứa nào đó?

Tên hộ vệ giựt mình:

– Xin lỗi ông Bá, tôi uống rượu hơi nhiều.

– Làm gì cả xóm đều vui say vậy?

– Dạ, hôm qua là ngày mừng bà Chúa. Ông Chúa thết đãi dân làng. Rồi còn một trận săn heo rừng dữ dội.

Bá Vạn mừng quýnh vì cô Huôi quả thật là người đầy đủ bản lãnh. Cô đã thuyết phục ông Chúa Hòn để được phong là bà Chúa.

Như vậy, nếu ông Chúa nhắm mắt thình lình, bà nắm trong tay khá nhiều quyền hạn.

Ông Chúa Hòn nằm trong chiếc ghe hầu, ngáy khò khò. Bá Vạn rất mừng khi gặp cô Huôi. Cô ngồi trong gian nhà khá sang trọng của người điền chủ. Bá Vạn hỏi nhanh:

– Chắc bà trông đợi tôi? Xin lỗi bà…Ông Chúa đâu rồi? Sao bà không săn sóc ổng?

Lập tức, cô Huôi khoát tay cho bọn nữ tỳ và bọn hộ vệ lui ra xa. Bá Vạn đuổi khéo người chủ nhà:

– Vài tháng nữa, tôi cho ông mượn thêm tiền để làm mùa. Xóm nầy sung túc quá. Tôi thích ăn rắn hổ đất, chiều nay ông kiếm một con, nấu cháo đậu xanh ăn chơi.

Cô Huôi nói:

– Tôi được phong làm bà Chúa rồi! Ông Chúa nằm dưới ghe, năm bảy cô gái lo đấm bóp, quạt hầu cho ông ta. Cái tật gì lớn quá, dọc đường hễ gặp gái tơ là ổng mời xuống ghe. Tôi giận quá, nói phải nói quấy. Bởi vậy, ổng sẵn sàng phong cho tôi chức bà Chúa để tôi hết ghen tương lặt vặt.

– Buổi lễ đông đảo không?

– Sao không đông đảo, hai ngày hai đêm rồi mà dân chúng còn uống rượu…

Bá Vạn nâng chén nước lên, uống một hơi rất khoẻ khoắn:

– Như vậy là dân chúng vùng Lung Tràm nầy đã tôn sùng và nhìn nhận cô rồi. Nay mai, nếu cần chống cự với cậu Hai Điền, cô sẵn một số dân trung thành trong tay.

– Chừng nào ông ra tay? Tại sao ông còn sợ cậu Hai Điền?

Bá Vạn đáp:

– Đó là đề phòng chuyện bất ngờ. Chừng ba ngày nữa, cô thúc hối ông Chúa vô Lung để săn heo rừng. Tôi phải vắng mặt trong lúc xảy ra tai nạn để cậu Hai Điền đừng nghi ngờ rằng có bàn tay tôi nhúng vào.

Là người thông minh, cô Huôi chưa được yên tâm cho lắm. Trên gương mặt Bá Vạn, cô bắt gặp nhiều nét lo âu, buồn bực. Tuy nhiên, cô mỉm cười mà chờ đợi. Bá Vạn sắp sửa vào đề. Đây là vấn đề khó nói, sẽ gặp phản ứng của cô Huôi. Hồi lâu, ông nói:

– Thưa cô, công việc đã xong xuôi rồi nhưng còn chút ít khó khăn.

– Bá Vạn sợ điều gì?

– Rồi đây, thằng Cẩu thay cho cậu Hai Điền. Nó trở thành ông Chúa, cô là mẹ của nó. Nó gọi cô bằng “má lớn”.

Cô Huôi cau mày:

– Phiền quá. Tôi muốn về nhà, sống cho an nhàn, miễn là cha tôi khỏi cày bừa cực nhọc. Tôi muốn tranh giành quyền hạn với ai đâu? Thằng Cẩu là con trai ông Chúa, nó thay thế cha nó là phải. Trừ khi nào ông Chúa không có con trai, dòng vợ lớn như dòng vợ nhỏ, thì tôi mới thay quyền.

Bá Vạn vội đính chánh:

– Nếu cô không ở lại Hòn Chông mà nắm giềng mối thì chắc tôi cũng rút lui về vườn cho khoẻ. Tôi bày chuyện săn heo rừng nầy đâu phải vì muốn chiếm đoạt chức vị. Bá Vạn vẫn là Bá Vạn coi sổ sách cho ông Chúa Hòn, dầu ông Chúa là người già hay người trẻ, tôi cũng phải tùng phục.

Cô Huôi mừng thầm vì nãy giờ cô đã áp đảo được Bá Vạn. Quả thật, Bá Vạn đã kiêng nể cô Huôi, mặc dầu nhỏ, đáng bực con cái, nhưng cô đủ bản lãnh. Bấy giờ, Bá Vạn mới cúi đầu, nói ra vấn đề khó giải quyết, tế nhị nhứt:

– Cô sẽ điều khiển thằng Cẩu, nó còn nhỏ dại.

– Thì tôi giúp nó trong vài năm rồi tôi về nhà.

– Thưa cô, nó mang tật lớn lắm….

– Tật gì?

Bao nhiêu lời hỗn láo như còn vang rền trong tai Bá Vạn. Và nhứt là hình ảnh thằng Cẩu đang vung tay ném cái keo đựng hai con cá thia thia. Lúc ấy, mặt mày thằng Cẩu tái mét, tay run run như thằn lằn đứt đuôi. Theo sự hiểu biết của Bá Vạn, đó là thằng Cẩu bị mất trí vì bùa phép hành hạ. Nó uống quá liều lượng. Hoặc còn lý do xa vời hơn là thằng Cẩu mang chứng bịnh di truyền. Ông Chúa Hòn là người ăn chơi trác táng, bịnh phong tình còn ngấm ngầm hành hạ cơ thể, mấy đứa con của ông đều yếu đuối về thần kinh. Cậu Hai Điền tạt tô thịt kho vào đầu Bá Vạn cũng giống như trường hợp thằng Cẩu ném cái keo đựng con cá thia thia mun, vì cậy quyền thế, vì cơn điên nổi lên.

Bá Vạn nói chậm rãi:

– Thưa cô, thằng Cẩu ham chơi, tánh tình buồn vui bất thường, muốn nổi giận thì cứ…nổi giận không cần duyên cớ. Tôi sợ rồi đây giữa nó và cô xảy ra nhiều phiền hạ.

Cô Huôi đáp:

– Tôi là “má lớn” của nó. Nó phải nghe lời tôi. Bằng không thì…

– Thưa cô, đó là tôi nói trước để đề phòng, chắc cô đủ bản lãnh để sửa trị nó.

– Được rồi. Nói nhiều quá cũng vậy thôi. Bây giờ, sửa soạn điều gì? Thời giờ gấp rút lắm.

– Dạ, tôi về Hòn Chông, ở bên cạnh Hai Điền để biết rõ cơ mưu cậu ta và để cậu ta đừng nghi ngờ. Hai ngày nữa, cô thúc hối ông Chúa vô Lung Tràm, tôi để thằng Thừa thằng Thiếu tại đây. Nó giỏi về nghề săn và có thể làm bất cứ chuyện gì.

Uống cạn chén nước trà thứ nhì, Bá Vạn cáo từ cô Huôi rồi đến chiếc ghe hầu để ra mắt ông Chúa Hòn. Ông Chúa Hòn vừa thức dậy, cằn nhằn từng chập:

– Nực nội quá. Tao muốn tắm cho khoẻ.

Tên hộ vệ lên tiếng:

– Thưa ông, Bá Vạn tới…

– Ừ! Bá Vạn là người quen thân, như trong gia đình. Phải có Bá Vạn tới, ta mới bàn tính đại sự được.

Thấy nụ cười phảng phất trên môi ông Chúa Hòn, Bá Vạn mừng thầm. Hai cô gái quê đang quạt hầu, ông ta ngồi dựa lưng vào cái gối cao:

– Xuống đây!

– Ông Chúa bữa nay vui quá.

Ông Chúa như suy nghĩ hồi lâu, ba bốn nếp nhăn trên trán:

– Ông đạo Đất nói đúng. Tai họa từ trên cao giáng xuống, muốn trừ khử thì ta ngao du nơi thấp sình lầy. Dè đâu miền núi Còm, miền Lung Tràm nầy còn nhiều hoa đẹp.

Bá Vạn hỏi ướm thủ:

– Hổm rày, ông săn được con heo rừng nào chưa?

– Cái đó thì chưa. Ta còn đợi ngày lành tháng tốt, cô Huôi khuyên ta chờ đợi, đừng nôn nóng. Xưa nay, hễ săn được con thú dữ thì hết chuyện, ta về nhà luôn. Bởi vậy, ta chưa muốn chấm dứt cuộc vui. Đây mới là mở đầu mà thôi.

“Hết chuyện”, “Chấm dứt” là những tiếng xui xẻo. Bá Vạn càng tin rằng thời vận của ông ta đang lên và ông Chúa Hòn sắp chết bất đắc kỳ tử nên cô hồn xúi giục nói nhiều tiếng kỳ lạ. Bá Vạn hỏi, giọng chậm rãi:

– Lung Tràm là nơi mà từ xưa tới giờ chưa ai dám vô. Bởi vậy, con heo độc giác tới làm sào huyệt.

– Ta nghĩ tới chuyện đó rồi. Cô Huôi khuyên ta chờ đôi ngày. Ta kiếm được thằng Lục Nhét. Bá Vạn ở đây cho vui để gặp thằng đó. Ta chưa rành việc săn heo rừng nhưng chắc là vui lắm.

Bá Vạn đáp:

– Ông đi tới nơi mà chờ. Bọn hộ vệ và thợ săn rành nghề cứ lùa con heo tới trước mặt ông. Đâu đó xong xuôi, ông cầm con dao hoặc cầm cái mác mà đâm một nhát chí tử. Sau đó, ông khen thưởng bọn thợ săn rồi ăn tiệc tại chỗ với nó.

– Hèn gì mấy ông vua…bên Tàu ham đi săn. Mấy ổng chưa ắt còn mạnh khoẻ như ta.

– Lục Nhét là người thế nào?

Ông Chúa Hòn đáp:

– Nó tới bây giờ. Bá Vạn gặp nó, dạy dỗ nó. Ta không bao giờ tiếc vàng bạc, miễn là hết xui xẻo. Nanh con heo rừng nầy nhứt định là quý giá vô song, một nanh linh nghiệm bằng hai nanh.

– Dạ, ông nói đúng, bao nhiêu vàng bạc cũng không đổi được. Mang vào mình thì tính mạng an toàn, đem chưng trong nhà thì nhà chẳng bao giờ bị cháy. Cái nanh nầy mà đem lên Nam Vang thì ông vua trên đó cũng không dám chê. Theo chỗ tôi hiểu thì từ hai năm trước, con heo độc giác ấy ở bên kia biên giới, chẳng ai săn được. Khi tới Hà Tiên, một đêm nó phá hàng chục công rẫy khoai lang.

Bọn hộ vệ báo tin rằng Lục Nhét đã tới. Bá Vạn nói khéo với ông Chúa Hòn:

– Để tôi chỉ dạy nó. Ông nằm nghỉ. Nãy giờ, nói chuyện cũng hơi lâu rồi.

Ông Chúa Hòn cười dòn:

– Chiều nay, chắc ta…. đi tắm ở bờ suối. Rồi Bá Vạn gặp ta chớ? Thôi, gặp làm gì. Nếu rảnh thì Bá Vạn về Hòn Chông, coi tiền bạc sổ sách giùm cho cậu Hai.

Bá Vạn mừng thầm:

– Dạ, ông viết lá thơ nhỏ, kẻo cậu Hai nghi ngờ rằng tôi muốn lấn lướt quyền hạn.

Sau khi nhận lá thơ, Bá Vạn lên bờ để gặp Lục Nhét. Gương mặt lão thợ săn nầy đen đúa và xanh mét, tay chân yếu đuối. Lục Nhét tin rằng sẽ được thưởng số tiền khá to nên chắp tay xá Bá Vạn. Bá Vạn hỏi:

– Nhà ở đâu? Về nhà nói chuyện chơi…Ông Chúa giao tôi trọn quyền gặp chú. Săn heo rừng mà có một mình chú sao?

Lục Nhét hơi lúng túng:

– Dạ, nhà ở giữa Lung Tràm, làm sao ông tới được! Khổ cho tôi quá. Đây là dịp để tôi có tiền xài nhưng ông Chuá muốn đi săn bất ngờ, mấy đứa tay em của tôi đi vắng.

– Vậy thì xuống tam bản của tôi.

Vừa xuống ghe, Bá Vạn vừa cảm động, như muốn quỳ xuống lập tức để tạ ơn Trời Phật. Bọn tay em đi vắng thì thằng Thừa, thằng Thiếu sẽ thay thế, dưới quyền điều khiển của Lục Nhét. Nếu án mạng xảy ra – tai nạn thì đúng hơn – Bá Vạn và thằng Thừa, thằng Thiếu cứ đổ tội cho Lục Nhét. Và chừng đó, để Lục Nhét khỏi cung khai lôi thôi, Bá Vạn sẽ giết lão ta.

Bá Vạn rót rượu mới Lục Nhét rồi hỏi kỹ:

– Đi săn bao nhiêu năm rồi? Cứ ngồi tự nhiên, nói đầu đuôi cho tôi nghe. Tay em gồm mấy đứa, chó mấy con? Hôm rày, ăn uống đầy đủ không? Lát nữa đem hũ rượu nầy về nhà mà uống. Nếu thiếu người thì tôi có hai đứa gan dạ lắm.

Linh tính như báo trước với Lục Nhét điều gì bất thường. Nhờ sống lưu lạc nhiều năm từ Hà Tiên đến Hòn Chông, ông ta hiểu rành sanh hoạt của loại thú rừng. Quả thật con heo độc giác mới đến Lung Tràm là nguy hiểm. Hồi tháng trước, nó ở chân núi Hòn Chông, gây nhiều thiệt hại cho dân làm rẫy. Khi cậu Hai Điền tới bao vây thì nó chạy mất, chạy vì nó hiểu vùng chân núi Hòn Chông chưa phải là nơi nương tựa kín đáo.

Lục Nhét đáp:

– Tôi còn bốn con chó mực thứ tốt. Tay em chỉ có hai đứa, nếu ông giúp cho hai người gan dạ thì còn gì may mắn cho bằng. Nhưng tôi xin nói trước điều nầy…

– Cứ nói.

– Tôi sợ chưa giết được con heo độc giác! Hôm kia tôi rình một lần, gặp nó. Nó lớn như con bò con, luôn luôn sôi bọt mép như con heo điên. Cái nanh của nó to lớn lạ thường, đen thui như bằng đá. Thứ heo nầy dám chống cự với cọp. Lâu lâu nó “khịt” một tiếng nghe mà ớn xương sống.

Bá Vạn nghĩ thầm ‘‘Điều qua trọng là giết ông Chúa Hòn chớ đâu phải giết con heo. Nếu con heo còn sống thì ta chọc tức cậu Hai tới đây săn cho bằng được để trả thù cho cha. Rồi sẵn dịp đó ta ra tay….”

Bởi vậy, Bá Vạn an ủi Lục Nhét:

– Cứ lấy nén vàng nầy. Ngày mốt, chắc là ông Chúa Hòn muốn đi săn. Nếu lần thứ nhứt thất bại thì đi lần thứ nhì. Cô Huôi không rầy rà đâu.

Bá Vạn đuổi khéo Lục Nhét lên bờ rồi gọi thằng Thừa, thằng Thiếu:

– Hai đứa bây ở lại mà giúp ta, công ơn ấy không bao giờ ta quên.

“Công ơn” có nghĩa là ám sát khéo léo ông Chúa Hòn giữa Lung Tràm, lúc ông ta sửa soạn giết con heo độc giác để lập thành tích. Thừa và Thiếu hơi lo sợ, cứ nhìn nhau, nghĩ đến hậu quả to lớn. Thừa là anh cả nên nghĩ nhiều đến tương lai gia đình. Rủi mà “họa hổ bất thành” thì hai anh em bị cậu Hai Điền hay ông Chúa Hòn giết không nương tay, chừng ấy Bá Vạn đã chạy trốn, hai anh em biết nhờ ai bênh vực?

Bá Vạn trợn mắt:

– Tụi bây sợ ai? Chẳng lẽ hai đứa không đủ tài trí để giết ông Chúa Hòn. Nó già yếu, bao nhiêu sức lực đều bị đàn bà rút rỉa. Đó là chưa nói tới chuyện khác…

Rồi Bá Vạn nói rõ vào tai thằng Thừa:

– Trước khi đi săn, cô Huôi ép nó uống một thứ rượu đặc biệt, tụi bây chỉ cần thúc vào hông bằng cùi chỏ là nó đủ té rồi nhập thổ chết luôn.

Thằng Thừa chắp tay, nói giọng cung kính:

– Anh em tôi chỉ có hai đứa, cha mẹ chết hết rồi. Rủi bề gì, lấy ai thờ cúng cha mẹ. Phải chi ông ở bên cạnh chúng tôi, lúc đi săn ở Lung Tràm! Cậu Hai Điền sẽ trả thù, nếu…

Bá Vạn cười dòn:

– Tao đâu phải hèn nhát, trốn tránh chuyện khó khăn. Tao đi gặp cậu Hai Điền là để lo cho tụi bây an toàn. Cậu Hai Điền làm điều gì thì tao hay biết trước để chận kịp thời. Rồi tụi bây thấy tao là thằng nịnh, tao sẽ làm thế nào cho cậu Hai mê tao. Trước khi cậu ra tay, làm điều gì ám hại tụi bây, thì tao biết trước vài ngày.

Thằng Thừa mừng thầm:

– Tôi tin ông là người lớn tuổi, nhiều mưu mẹo. Nhưng rủi xảy ra khó khăn, ai bảo vệ cho ông?

Bá Vạn suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu:

– Vậy thì mầy theo tao, để thằng Thiếu ở laị. Thằng Thiếu xoay trở giỏi chớ? Tao hiểu nãy giờ mầy thắc mắc chuyện gia đình, sợ giòng họ bị tuyệt tự. Được rồi!

Thằng Thừa trao cây dao đặc biệt cho thằng Thiếu, anh em nói chuyện riêng khá lâu. Đại khái Thừa bảo Thiếu nên đâm vào đùi ông Chúa Hòn vì heo rừng thường dùng nanh mà đánh vào đùi bọn thợ săn. Nanh heo rừng không bén như lưỡi dao bằng thép, nếu dùng cây dao khác thì cậu Hai Điền sẽ nghi ngờ.

Bá Vạn nói chêm vào:

– Nếu con heo độc giác chạy vuột sau khi “đánh” ông Chúa Hòn thì hay biết chừng nào! Tao mời cậu Hai tới Lung Tràm. Nhưng điều quan trọng là mày theo sát thằng Lục Nhét để giết nó, đừng cho nó cung khai bậy bạ…

Chiếc tam bản đưa Bá Vạn về Hòn Chông, thằng Thừa chèo một mình phía sau lái. Bá Vạn ngủ khò trong mui. Đến tối, thằng Thừa đánh thức:

– Ông Bá ơi! Tới rồi!

Bá Vạn dụi mắt rồi căn dặn lần chót:

– Mấy đừng nói chuyện nhiều, cứ để tao trả lời.

Bọn hộ vệ của cậu Hai Điền ngồi uống rượu trước sân. Bá Vạn đi chân không, đầu tóc rối nùi, mặt mày âu sầu:

– Cậu Hai có trong nhà không? Tao cực khổ hơn tụi bây nhiều. Tụi bây cười tối ngày chớ tao thì khóc từng chập.

Từ trong phòng, cậu Hai Điền chạy ra, trố mắt nhìn Bá Vạn:

– Sao vậy ông?

Bá Vạn đáp:

– Thủng thỉnh rồi tôi nói cho cậu nghe. Nói sớm quá, cậu cười thằng già nầy.

Hai ngày qua, cậu Hai bắt đầu thấy yên ổn, bao nhiêu lo âu đều tan mất. Bọn do thám qua Hòn Me trở về cho cậu biết rằng ông đạo Đất và Tư Thính đều trốn mất dạng. Lúc ban đầu, cậu lo ngại một âm mưu táo bạo do cô Huôi bày ra để đuổi mẹ cậu ra khỏi gia đình. Nhưng cậu đã quyết định chiếm giữ ngôi nhà nầy với bất cứ giá nào và nếu cần, cậu ra lịnh cho bọn hộ vệ ngăn cản cô Huôi và thằng Cẩu không cho họ đặt chân tới Hòn Chông. Bá Vạn đến chắc có chuyện lạ. Theo sự nhận xét của cậu thì lão nầy rất thông minh, luôn luôn nịnh bợ kẻ nào thắng thế. Cậu sẽ bắt buộc lão ta ở bên cạnh đến khi nào tình thế trở nên bình thường.

– Sao mà buồn vậy ông?

Bá Vạn lên tiếng:

– Cô Huôi đập cây quạt lên đầu tôi. Có tức không!

– Còn ba tôi? Mọi khi ba tôi thương ông lắm mà.

– Dạ, ông Chúa dạy cô Huôi nên đập tôi bằng cây chổi quét nhà. Tôi nào có tội tình gì? Thấy cô Huôi hơi yếu, tôi sai dân làng múc nước suối đem tới cho cô tắm. Tắm nước phèn dễ sinh bịnh. Núi Mo So, núi Còm là nơi nhiều muỗi mòng…

Như thích chí, cậu Hai Điền ngã dài trên ghế trường kỷ, ôm bụng mà cười lăn.

– Ông tởn chưa. Tôi khuyên ông đừng nịnh bợ. Nịnh đúng lúc thì có duyên nhưng nhiều khi lại vô duyên. Cô Huôi tự hào là giai nhân tuyệt thế mà ông chê rằng bịnh hoạn, thì làm sao cô không nổi giận? Được rồi! Từ rày về sau, ông ở đây với tôi.

Bá Vạn thò tay vào túi, đem ra mảnh giấy nhỏ:

– Thưa cậu, ông Chúa gởi thơ nầy.

Xem qua, cậu Hai vỗ vai Bá Vạn:

– Đó là ba tôi chưa muốn đuổi ông. Ông lo sổ sách, đòi nợ giùm tôi, tôi hứa đối xử tử tế. Cứ bỏ qua chuyện cũ. À! Ba tôi nói gì thêm không?

– Dạ, ông Chúa ở núi Còm, gần Lung Tràm để săn heo độc giác.

Cậu Hai lấy tay che miệng cười:

– Ổng săn đàn bà chớ tài ba gì mà săn heo? Phải chờ tôi.

Rồi cậu ngồi dậỵ, cau mày:

– Chừng nào săn? Con heo độc giác có cái nanh hiếm có. Hôm trước, tôi rượt một trận, phần số nó chưa tới. Lấy cái nanh đó mà tiện ông Phật thì suốt đời mình gặp may mắn. Tôi gởi qua bên Xiêm, nhờ ông sãi cả làm phép.

Bá Vạn nói giọng khiêu khích, với dụng ý rõ rệt là làm cho cậu Hai Điền lạc hướng khi điều tra thủ phạm:

– Ông Chúa kêu thằng Lục Nhét ở Lung Tràm!

– Lục Nhét! Thằng đó tài nghệ cũng tạm xài được nhưng thua tôi xa. Nó nổi danh nhờ mấy con chó săn. Nhưng gặp con heo độc giác thì nó đành chịu bó tay.

Bá Vạn nói:

– Ông Chúa ban số tiền lớn, chắc nó phải trổ tài để còn ăn những dịp khác.

– Một là nó không săn được …cái gì ráo. Hễ ham tiền thì nó chết. Tôi nói rõ: con heo đó lọt về tay tôi. Nếu nó sống được thì …nó là anh hùng xứ nầy, giành quyền bá chủ của tôi rồi. Chẳng lẽ tôi đi Lung Tràm thì coi kỳ quá. Người đời chê cười, cho rằng hai cha con phải hiệp sức lại mới săn được con heo rừng. Thế nào ba tôi cũng gọi tôi tới. A! Nãy giờ nói chuyện hơi lâu, quên hỏi ông Bá ăn cơm chưa?

Bá Vạn muốn chấm dứt cuộc hội kiến nên trả lời nhanh:

– Dạ, lát nữa về nhà ăn. Để cậu nghỉ ngơi chớ.

Ông ta ra ngoài vì đã đạt được mục đích. Khi gần tới mé sông, chợt đâu ông nghe tiếng gọi:

– Thưa ông, bà mời lên nhà…

Đó là đứa nữ tỳ của bà chánh thất, mẹ ruột cậu Hai Điền. Lại thêm nhiều mối âu lo! Lẽ dĩ nhiên, Bá Vạn khó bề từ chối cuộc gặp gỡ mà ông ta thấy là quan trọng vô cùng. Bà chánh thất đã lớn tuổi, ắt đã theo dõi tình hình và buồn bực từ khi cô Huôi được long trọng giới thiệu là nữ thần hộ mạng. Bà chánh thất tin dị đoan hơn ai hết. Không tin sao được khi bà thấy địa vị bị suy sụp rõ rệt. Linh tính như báo trước với và rằng ông Chúa Hòn sắp chết. Và người khôn ngoan quỉ quyệt nhứt vẫn là Bá Vạn.

Bà ở ngôi nhà riêng, phía sau sảnh đường, kiểu nhà thấp, không cửa sổ. Ban ngày phải đốt đèn sáp mới ăn uống hoặc thấy đường đi tới lui. Bà đứng trước cửa, đón chào Bá Vạn:

– Ông Bá mới về?

Bá Vạn giựt mình. Rõ ràng bà ta am hiểu tình hình. Trong giây phút, ông Bá ngỡ rằng có bọn dọ thám nào đó theo dõi cuộc hành trình. Chẳng lẽ thằng Thừa làm phản? Giả thuyết ấy hoàn toàn vô lý. Lúc nãy ông thấy nó nằm chèo queo sau lái chiếc tam bản. Nhưng Bá Vạn lầm to.

Chưa chi bà chánh thất đã khoát tay, đuổi đứa nữ tỳ:

– Ra ngoài. Khi nào ta gọi thì hãy vô.

Bà đẩy nhẹ cánh cửa, gian phòng lạnh tanh. Lâu rồi, Bá Vạn không được dịp vào đây. Bỗng nhiên, bà chánh thất làm một cử chỉ khiến Bá Vạn rởn tóc gáy: bàn tay bà nắm tay Bá Vạn, siết mạnh rồi đẩy vào phòng. Bá Vạn đứng lại:

– Tội nghiệp tôi! Lạy bà…

– Ông cứ vô đây.

Thoạt tiên Bá Vạn nghĩ đến cuộc mưu sát do bà bố trí cẩn thận. Trót vào đây rồi làm sao ông trở ra cho được? Ắt là bọn hộ vệ hoặc bọn nữ tỳ đã vây tứ phía. Nhưng bà chánh thất nói khẽ:

– Đừng ngại gì hết. Mười năm rồi, ông Chúa không còn ăn nằm với tôi nữa, ông thấy buồn tủi cho tôi không? Vô tới đây rồi, ông đừng sợ mang tai tiếng.

– Dạ, tôi là tôi tớ của ông Chúa, đâu dám phạm thượng. Rủi tai vách mạch rừng thì ắt tôi bị phanh thây.

Bà Chúa cười hiền lành, cứ bước tới rồi ngồi trên cái sạp cẩm lai, bóng láng. Bá Vạn ríu ríu theo sau. Bên cạnh cái sạp là giường ngủ, cái mùng bằng nhiễu đỏ phủ xuống. Bà chánh thất nói:

– Ông sợ…có người rình để giết hả?

Rồi bà với tay, nắm mí mùng vén lên. Bên trong chỉ có cái mền, cái gối thêu. Bà rút tay, mí mùng rủ xuống. Bấy giờ, Bá Vạn hơi yên tâm. Ông ta ngắm nghía bà chánh thất, tuy đã hơn bốn mươi tuổi, bà ta vẫn còn giữ nét đẹp, trán chưa nhăn, hàm răng vẫn đều đặn không hư chiếc nào. Bá Vạn thở mạnh, lo ngại. Mùi thơm bay thoang thoảng. Phải chăng hôm nay, bà mời Bá Vạn vào để bày trò ân ái bất chánh? Quả thật, Bá Vạn hơi rung động nhưng ông ta vẫn còn sợ. Giọng bà chánh thất nói tỏ rõ:

– Ở đây kín đáo lắm. Ông Chúa đã đi xa, chưa biết ngày nào về. Nghĩa là đêm nay, ông khỏi sợ bị quấy rầy.

Bá Vạn vẫn van nài:

– Thưa bà, còn cậu Hai.

– Tôi đang lo cho nó. Nó sợ tôi. Tôi mời ông vô đây, nó mừng lắm. Chuyện cũ bỏ đi. Bây giờ, ông Bá ơi, mọi việc đều mới.

– Thưa bà, tôi chưa hiểu.

– Ông là người thân tín trong gia đình nầy. Ông biết rành hơn tôi mà. Ông Chúa mê cô Huôi và cô Ngó. Phen nầy ổng truất phế mẹ con tôi. Nhưng mẹ con tôi đâu nhịn được. Cô Huôi, cô Ngó khó về Hòn Chông nầy một lần nữa. Nếu trời giúp, ông cứ ở đây, tiếp tục coi giấy tờ sổ sách.

– Thưa bà, tôi là tôi tớ…

Bà chánh thất day về phía sau, lấy bầu rượu và một cái chén nhỏ. Rượu chảy ra lóng lánh:

– Ông cứ uống.

Nghĩ đến chuyện đầu độc, Bá Vạn từ chối khéo léo. Bà chánh thất táo bạo hơn, nâng chén rượu lên môi, uống một hơi. Bà mím môi, cau mày, đôi má nóng bừng bừng. Lập tức Bá Vạn rót một chén mà uống cạn.

– Bây giờ, tôi cởi áo ra.

Nghe tới đó, Bá Vạn sửng sốt, toan phá cửa mà chạy. Bà chánh thất cười dòn:

– Ở lại chớ. Ông làm bùa giùm tôi. Đây là bùa của ông đạo Đất. Cô Huôi nhờ ông đạo Đất mà trở thành “nữ thần hộ mạng”. Nói thiệt với ông Bá, tôi đã gặp ông đạo Đất, ổng giúp tôi lá bùa nầy.

Cái hộc tủ kéo ra, Bá Vạn liếc nhanh, ngỡ là trong đó có một con dao để giết ông ta. Nhưng bà chánh thất lại cười:

– Cái trứng gà! Tôi cho bọn nó tới Hòn Me. Lúc đầu, ông đạo Đất lánh mặt vì gặp bọn hộ vệ. Lần sau tôi cho bọn nữ tỳ tới. Ông đạo Đất đưa ra cái trứng gà nầy rồi căn dặn nên đem lăn trên da thịt, nhờ bàn tay người nào già cỡ…sáu mươi tuổi. Tôi nhớ tới ông đó. Ông đạo Đất nói rằng tôi đã tới lúc hên, nếu rút được hơi độc trong mình ra.

Bá Vạn nửa tin nửa ngờ. Hôm nọ ông khuyên ông đạo Đất nên trốn lánh, đề phòng bị ám hại. Tại sao ông đạo Đất lại ra mặt, đón tiếp đứa nữ tỳ của bà chánh thất?

Cái trứng gà nhuộm son được trao vào tay Bá Vạn. Ông ta nhìn tứ phía, liên tưởng những chuyện kỳ bí trong chốn thâm cung, hồi thuở nào. Có thể là trong phút giây hàng chục ngọn gươm sẽ kết liễu đời Bá Vạn trong khi cậu Hai Điền cười ha hả.

– Ông lăn cái trứng gà lên lưng giùm tôi! Đừng ngại gì hết.

Thái độ do dự của Bá Vạn khiến bà chánh thất hơi bực dọc. Thật ra bà chưa cho đứa nữ tỳ nào đến núi Đất cả. Cậu Hai Điền khuyên bà nên dàn cảnh để quyến rủ Bá Vạn, thế thôi. Bà hơi buồn giận vì cậu Hai chưa tới. Buổi dàn cảnh nầy khá tế nhị nhưng bà sẵn sàng nghe theo lời con, với mục đích đuổi cô Huôi không cho về Hòn Chông.

Bá Vạn lăn cái trứng gà nhè nhẹ trên lưng bà chánh thất, mấy ngón tay ông bám víu khó khăn, sợ cái trứng gà rớt xuống đất, nhưng cũng sợ đụng vào làn da trắng mịn chưa nhăn của bà chánh thất. Bà nói hơi to:

– Khoẻ quá! Cái trứng gà nầy rút hơi độc trong mình tôi. Ông ráng giùm.

Bá Vạn không còn nghĩ đến nguy hiểm nữa. Lúc sau, ông ta xoè bàn tay ra mà đỡ cái trứng gà. Lòng bàn tay đụng vào da lưng bà chánh thất. Vì hơi nhột, bà day lại cười tủm tỉm:

– Cám ơn ông!

Đột nhiên, cánh cửa mở tung. Bá Vạn giựt mình rút tay ra. Cái trứng gà nhuộm son rớt xuống nền gạch. Cậu Hai Điền xuất hiện, mặt mày hậm hực. Bá Vạn vội chắp tay:

– Thưa cậu, bà mời tôi vô đây.

Gương mặt cậu Hai Điền lại biến đổi đột ngột. Cậu cười dòn mà không nói thêm lời nào. Bá Vạn lại càng sợ sệt. Lần nầy mồ hôi trán chảy từng giọt. Ông ta nói lẩm bẩm với bà chánh thất:

– Bà cắt nghĩa giùm tôi.

Cậu Hai mới chịu khai khẩu:

– Được rồi. Nếu là người ngay thẳng thì chẳng bao giờ ông vô đây. Tôi gặp ông tại đây, ông đừng chối cãi. Đáng lý ra, tôi được quyền giết ông hoặc là chém lấy theo.

– Cậu tha cho tôi, tôi hứa…

Cậu Hai đắc ý:

– Hứa điều gì? Phải hứa rằng ông giết con Huôi. Con đó nhỏ xíu mà đòi làm mẹ tôi, đâu được! Vài ngày nữa, tôi giao cho ông một trách nhiệm…

Để thóat khỏi cơn nguy, Bá Vạn bèn gợi ý để tỏ rằng ông ta luôn luôn ngoan ngoãn:

– Cậu trao cho tôi một mớ thuốc độc?

Cậu Hai đáp:

– Tôi giết tất cả, từ thằng đạo Đất tới thằng Tư Thính rồi tới thằng Mười Hấu. Ông hứa thì tôi nghe nhưng tôi chưa tin. Từ rày về sau, ông theo tôi, phải không?

Bá Vạn cúi đầu:

– Cậu tha tội cho tôi, tôi phục đức độ của cậu. Nếu cần, tôi sẵn sàng viết lên giấy.

Cậu Hai mừng thầm vì đã đắc thắng:

– Ông cứ nịnh bợ hoài, tôi buồn quá. Người như tôi làm gì có đức độ. Đức độ dành cho kẻ yếu đuối. Tôi là anh hùng, suốt mấy năm đi săn, tôi gặp tử thần hàng chục lần rồi. Anh hùng thì không cần đức độ. Đi săn mà sợ mang tội sát sanh thì làm sao cầm dao được? Tôi nói ít, ông hiểu nhiều. Bây giờ, tôi về ngủ.

Nói xong, cậu Hai khom lưng, lượm cái trứng gà bể. Đó là trứng gà luộc chín nên hình dáng còn nguyên vẹn.

– Bằng cớ nầy đủ rồi!

Nãy giờ, bà chánh thất thương hại cho hoàn cảnh Bá Vạn nên can gián:

– Điền! Con đừng làm quá đáng. Bá Vạn là người lớn, lời nói cũng đủ rồi. Con ra khỏi phòng nầy để rồi má còn bàn tính chuyện khác.

Cánh cửa đóng lại. Lần nầy bà chánh thất khóa cửa cẩn thận, thổi tắt bớt một ngọn đèn sáng. Bà rót chén rượu mời Bá Vạn:

– Đêm nay, ông ở đây bàn chuyện với tôi.

Bá Vạn hơi giận:

– Còn chuyện gì nữa mà bàn bạc. Thân tôi như cá chậu chim lồng. Tôi trót nghe lời bà.

– Còn chuyện khác. Ông chưa vợ, sống với bọn hầu non, chắc là chưa bao giờ bàn chuyện tâm sự với đàn bà. Đêm nay, tôi muốn hiểu ông hơn. Đừng sợ. Con trai tôi sẽ nắm mọi quyền hạn, ông theo nó, giúp nó trong vài tháng. Nó còn trẻ thì hỗn hào, hơi đâu mà chấp nhứt.

Bà chánh thất nằm xuống. Bá Vạn cười lạt, nghĩ thầm:

“Trót lên lưng cọp thì cứ cỡi luôn! Mình ra về hoặc đính chánh để làm gì? Mình chỉ muốn cho cậu Hai Điền tin dùng, đừng nghi mình nhúng tay vào việc hạ sát ông Chúa Hòn tại Lung Tràm. Vái trời cho Lục Nhét và thằng Thiếu thành công”.

Bà chánh thất khoát mùng chui vào trong. Bá Vạn cởi áo, tằng hắng vài tiếng rồi chui vào, nằm kế bên. Bà chánh thất nói khẽ:

– Mấy năm rồi, ông Chúa bỏ bê tôi. Ông ở đây cho tới sáng, bọn nữ tỳ chẳng bao giờ dám thót mét. Rồi đây, khi giết được con Huôi, tôi thưởng ông tiền bạc. Ngày mốt, ông đi gặp con Huôi, con Ngó được không? Đầu độc xong, ông cứ chạy về đây mà trốn.

Bá Vạn buông mình vào lạc thú ái ân. Trong phút giây, ông ta ngỡ mình là ông Chúa.

Obama giết Osama: 10 năm săn thủ phạm 11- 9

damau.org

Đinh Từ Thức

Post 11.09.2011

Post by Sơn râu 22 May 2025

Phần 4

“We got him”

Theo Paris Match, đây là loại súng giết bin Laden, H&K MP7 (Heckler & Koch)

Trước khi cuộc đột kích bắt đầu, người Nhái đã đặt ra một bảng danh sách các tên hiệu để chỉ mỗi giai đoạn của chiến dịch. Chỉ cần đọc một tên nào đó, người ta có thể biết ngay diễn tiến đang đến dâu, như trực thăng rời Jalalabad, vào không phận Pakistan, tiến tới căn nhà… “Geronimo” là ám hiệu tìm thấy bin Laden. (Geronimo là tên một lãnh tụ người Da Đỏ Apache, từng chống lại quân đội Hoa Kỳ, cuối cùng đã đầu hàng, qua đời vào đầu thế kỷ trước – người Da Đỏ đã than phiền người Mỹ dùng tên Geronimo để chỉ bin Laden).

Ba người Nhái vượt qua thi thể Khalid, phá tung một cửa sắt khác dùng để ngăn xâm nhập tầng ba từ cầu thang. Vừa phóng lên những bậc thang tối om, họ vừa chú mục vào khoảng lan can ở chỗ đứng trên đầu cầu thang. Người Nhái dẫn đầu quay về bên phải, qua kính nhìn đêm, thấy một người đàn ông cao, gầy lòng khòng, với bộ râu dài trên mặt, nhìn ra từ phía sau cửa phòng ngủ, cách khoảng ba mét phía trước. Người Nhái này cảm thấy ngay, đó chính là “Crankshaft” (Trục quay trong bộ máy – tên đã được dùng trước đó để chỉ bin Laden). (Giới chức chống khủng bố nói người Nhái trông thấy bin Laden đầu tiên tại chỗ đứng ở đầu cầu thang, nổ súng, nhưng không trúng mục tiêu).

Các người Nhái ập tới cửa phòng ngủ. Người đầu tiên đẩy cửa mở. Hai trong số các người vợ bin Laden đứng che chắn cho chồng. Người vợ thứ năm, Amal al-Fatah, thét lên bằng tiếng Ả Rập. Bà ta có cử chỉ như sắp tấn công. Người Nhái hạ tầm nhắm, bắn bà ta một phát, vào đùi. Sợ một hay cả hai phụ nữ mặc áo gắn chất nổ tự sát, người Nhái này tiến tới, hai tay ôm cứng cả hai bà, đẩy sang một bên. Anh hầu như chắc chắn sẽ bị giết, nếu họ tự nổ, nên ôm cứng họ, có ý che chắn cho đồng đội phía sau thoát chết. Nhưng chẳng có bà nào mặc áo nổ.

Người Nhái thứ nhì bước vào phòng, chĩa tia laser của khẩu M4 vào ngực bin Laden. Lãnh tụ Al Qaeda mặc bộ shalwar kameez mầu nâu nhạt, mũ cầu nguyện trên đầu, tay không võ khí, đứng bất động. Theo một giới chức các chiến dịch đặc biệt, “không bao giờ có chuyện bắt giữ. Chẳng ai cần tù nhân”. (Chính quyền vẫn nói rằng, nếu bin Laden đầu hàng ngay, ông ta có thể đã bị bắt sống). Chín năm, bảy tháng, và 20 ngày sau 11 tháng 9, một người Mỹ đã lẩy cò, kết liễu cuộc đời của Osama bin Laden. Viên đạn đầu tiên, cỡ 5,56 ly, trúng ngực bin Laden. Trong khi bin Laden ngã người về phía sau, người Nhái bồi thêm phát thứ nhì vào đầu, ngay trên mắt trái. Qua radio, anh báo cáo: “Vì Thiên Chúa và Tổ Quốc – Geronimo, Geronimo, Geronimo”. Ngừng, rồi anh thêm: “Geronimo E.K.I.A” (Enemy Killed in Action – kẻ thù giết tại trận).

Tại Tòa Bạch Ốc, nghe được điều này qua radio, Obama mím môi, nghiêm trang nói, không với riêng ai: “Ta đã hạ hắn” (We got him).

Cần đi lễ tối nay

Buông hai bà vợ bin Laden, người Nhái thứ nhất trói hai bà bằng lạt mềm, rồi hướng dẫn họ xuống dưới nhà.

Trong khi đó, hai trong các đồng đội chạy lên với bao đựng tử thi. Họ mở bao, mỗi người quỳ một bên bin Laden, đặt xác chết vào bao. Mười tám phút đã qua kể từ khi toán DEVGRU đáp xuống. Trong 20 phút kế tiếp, sứ mạng chuyển sang việc thu lượm tin tức và tài liệu tình báo.

Bốn người lục lọi tầng nhì, bao plastic trong tay, họ thu góp các phần mềm, CD, DVD…, và phần cứng computer trong phòng, những vật dụng và tài liệu đã giúp bin Laden điều hành một cơ sở thông tin tại nơi ẩn náu. Trong số tài liệu thu được, có cả video sex. CIA cho biết, căn cứ vào tài liệu thu được, bin Laden đã trực tiếp tham dự vào hoạt động khủng bố, nhiều hơn người ta vẫn tưởng. Ông ta đã phác họa cả kế hoạch ám sát Tổng Thống Obama và Tướng Petraeus, cũng như một cuộc phá hoại ngoạn mục vào dịp kỷ niệm 10 năm vụ 11 tháng 9.

Ở bên ngoài, đàn bà trẻ con được/bị gom lại một chỗ, ai cũng bị trói bằng lạt mềm, và cho ngồi tựa vào bức tường đối diện chếc Black Hawk thứ nhì còn nguyên. Người thông dịch thẩm vấn họ. Hầu hết trẻ con đều dưới 10 tuổi. Chúng hầu như không biết gì về những người sống trên lầu, ngoài “một ông già”. Không có phụ nữ nào xác nhận “ông già” này là bin Laden.

Khi một chiếc Chinook cấp cứu tới, một y tá bước ra, cúi xuống bên tử thi. Anh đâm kim vào thi thể bin Laden, rút ra hai ống mẫu tủy xương. Thêm nhiều mẫu DNA được lấy bằng bông gòn. Một ống mẫu tủy xương được đưa lên chiếc Black Hawk, ống kia đưa lên chiếc Chinook, cùng với tử thi bin Laden.

Sau đó, trước khi ra đi, người Nhái phá hủy chiếc Black Hawk bị rớt. Phi công, với cái búa được dự trữ sẵn để làm việc này, đập nát bảng dụng cụ chỉ dẫn, radio, và các trang bị bí mật khác trong phòng lái. Rồi đến phiên toán phá hoại. Họ đặt chất nổ vào nhiều nơi, gần hệ thống điều khiển, truyền tin, động cơ và cánh quạt. Thêm chất nổ được đặt dưới thân máy bay, một cuốn đạn lửa trong thân máy bay, rồi lùi ra xa. Helo One bùng cháy, trong khi toán phá hoại lên chiếc Chinook. Tất cả đám đàn bà trẻ con đều bỏ lại, số phận họ sẽ do nhà cầm quyền Pakistan định đoạt.

Tại Phòng Tình Hình ở Bạch Ốc, Obama nói: “Tôi sẽ không mừng cho đến khi tất cả trở ra bình an”. Sau 38 phút tại căn nhà, hai toán người Nhái phải trải qua một chuyến bay khá dài trở lại Afghanistan. Chiếc Black Hawk còn ít xăng, cần gặp chiếc Chinook đậu gần biên giới Afghanistan – nhưng vẫn còn trong lãnh thổ Pakistan – để đổ thêm nhiên liệu. Cần tới 25 phút để đổ đầy bình xăng. Có một lúc, Phó tổng Thống Biden – trước đó đã lần tràng hạt cầu nguyện – quay sang Tướng Mullen, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân: “Chúng ta nên đi lễ tối nay”.

Các trực thăng đáp xuống Jalalabad vào khoảng 3 giờ sáng. McRavaen và trưởng trạm CIA gặp cả toán tại sân bay. Hai người Nhái khiêng bao đựng tử thi xuống, mở ra, để McRaven và giới chức CIA nhìn thấy tỏ tường thi thể bin Laden. Chụp hình mặt, và thân thể khá dài của bin Laden; được nghe nói cao tới 6 feet 4 inches. Nhưng chẳng ai có sẵn thước đo để xác nhận. Một người Nhái cao 6 feet, nằm xuống bên cạnh tử thi, xác chết quả thật dài hơn người sống khoảng 4 inches. Được biết chuyện này, Obama nói: “Chúng ta đã bỏ ra 60 triệu đô cho chiếc trực thăng (bị phá hủy) trong chiến dịch này. Chẳng lẽ chúng ta không mua nổi một cái thước giây?”. Vài phút sau, McRaven xuất hiện trên màn ảnh tại Phòng Tình Hình Bạch Ốc, xác nhận thi thể bin Laden đã nằm trong bọc, trước khi được gửi tới Bagram.

Kế hoạch tốt

Từ trước, người Nhái đã lập kế hoạch bỏ xác bin Laden xuống biển. Họ đã từng làm vậy, ít nhất một lần trước đó. Trong một vụ tấn công trực thăng vận của DEVGRU tại Somalia vào tháng 9, 2009, người Nhái đã hạ sát Saleh Ali Saleh Nabhan, một trong các lãnh tụ hàng đầu của Al Qaeda tại Đông Phi châu. Thi thể Nabhan sau đó đã được chở tới một chiến hạm trên Ấn Độ Dương, làm các nghi lễ theo Hồi Giáo, rồi thẩy xuống biển.

Nhưng trước khi làm như vậy với bin Laden, John Brennan, từng có hồi là trưởng trạm CIA ở Riyadh, đã gọi cho một giới chức tình báo quen thuộc của Saudi Arabia. Brennan cho biết chuyện gì đã xẩy ra tại Abbottabad, và cho ông ta biết kế hoạch sẽ thủy táng bin Laden. Tuy nhiên, vì bin Laden có nhiều thân nhân là người có thế lực tại Vương Quốc, cũng như bin Laden trước đây mang quốc tịch Saudi, liệu chính quyền Saudi có muốn nhận xác bin Laden không? Câu trả lời của Saudi là: “Kế hoạch của các ông có vẻ tốt đấy”.

Bình minh 2 tháng Năm, thi hài bin Laden được chất vào lòng một phi cơ V-22 Osprey (loại phi cơ đặc biệt có thể bay, cất và hạ cánh như máy bay thường, hay xoay hai cánh quạt ở đầu cánh theo chiều thẳng đứng, để cất và hạ cánh như trực thăng), có sĩ quan liên lạc của JSOC và một toán quân cảnh đi theo. Chiếc Osprey bay về hướng Nam, tới hàng không mẫu hạm USS Carl Winson (một mẫu hạm dài bằng ba sân túc cầu, chạy bằng nhiên liệu hạt nhân, đang di chuyển trên Biẻn Ả Rập, ngoài khởi Pakistan). Một lần nữa, Mỹ lại phải bay qua không phận Pakistan, mà không xin phép.

Xác bin Laden được thanh tẩy, bọc vào khăn liệm, và được đặt vào một túi cùng với trọng lượng cần thiết để chìm. Brennan nói với các ký giả: “Lễ nghi khâm liệm đã được làm đúng theo quy định của Hồi Giáo”. Thi thể được mang vào thang máy lộ thiên, xuống tầng dưới, nơi thường dùng làm chỗ chứa phi cơ. Từ một nơi cách mặt nước khoảng ba tầng lầu, thi hài được cho tuột xuống biển.

Trong khi ấy, tại Abbottabad, cư dân Bilal Town và hàng chục nhà báo tụ tập tại căn nhà, tìm hiểu xem những gì đã xảy ra đêm qua. Những khoảng nám đen do chiếc Black Hawk bị phá hủy gây ra vẫn còn đó. Đuôi chiếc Helo One, trông khá lạ so với trực thăng thường, vẫn còn treo tòn ten ngoài bức tường cao. Một giới chức chiến dịch đặc biệt nói: “Tôi mừng vì không ai bị thương trong vụ máy bay rớt. Mặt khác, tôi mừng vì dấu tích trực thăng vẫn còn đó. Đấy là bằng chứng, để mọi người có thể tin ngay, là cuộc đột kích đã thực sự diễn ra”.

Khủng bố và tử đạo

Ngày 6 tháng Năm, 2011, Al Qaeda xác nhận cái chết của bin Laden, và phổ biến lời ca tụng “các dân tộc Hồi Giáo” về “cuộc tử đạo của người con yêu dấu Osama”. Tác giả thông điệp nhắn nhủ người Mỹ: “Sự vui mừng của họ sẽ trở thành đau thương và nước mắt họ sẽ hòa với máu”. Cùng ngày này, Tổng Thống Obama tới thăm Fort Kampbell ở Kentucky, nơi đồn trú của đơn vị không vận đặc biệt 160, gặp đơn vị DEVGRU và các phi công đã thi hành cuộc đột kích. Các người Nhái về từ Afghanistan trước đó trong tuần, đã bay đến từ Virginia. Biden, Tom Donilon, và hàng chục cố vấn an ninh khác tháp tùng.

McRaven đón chào Obama trên sân bay (họ đã gặp nhau vài ngày trước đó tại Bạch Ốc, và Tổng Thống đã tặng McRaven một cái thước cuốn). McRaven hướng dẫn Tổng Thống và phái đoàn vào một ngôi nhà ở phía bên kia căn cứ. Họ bước ào một căn phòng không cửa sổ. McRaven, Brian, các phi công, và James lần lượt thuyết trình.

Khi James, trưởng toán lên tiếng, anh kể tên những người Nhái đã hy sinh trong các chiến dịch trước ở Afghanistan, anh nói: “Tất cả những gì chúng ta làm trong mười năm qua đã chuẩn bị cho chúng ta trong vụ này”. James cũng không quên nhắc tới con chó Cairo, khiến Obama chặn ngang: “Có cả một con chó?” James gật đầu, nói con chó ở phòng bên cạnh, nhưng bị bịt miệng, do yêu cầu của mật vụ. Obama nói: “Tôi muốn gặp con chó”. James dỡn: “Nếu ông muốn gặp, nên mang theo phần thưởng”. Obama đi gặp con Cairo, nó vẫn bị bịt miệng.

Sau đó, Obama và đoàn tùy tùng vào một phòng thứ nhì ở cuối hành lang, để gặp tất cả những ai đã tham dự vào chiến dịch, kể cả những người lo về nơi ăn chốn ở cho toán. Tổng Thống tặng cả đơn vị Bằng Tưởng Lệ. Nhóm biệt kích sau đó tặng Tổng Thống lá quốc kỳ đã để trên chiếc Chinook cấp cứu. Có kích thước 3×5 feet, lá cờ đã được căng ra, ủi thẳng, đóng khung. Tất cả người Nhái và phi công ký tên phía sau, với lời đề tặng khắc ở phía trước: “From the Joint Task Force Operation Neptune’s Spear, 01 May 2011: For God and Country. Geronimo” (Từ Lực lựơng Hỗn hợp Chiến dịch Giáo Hải Thần, 01 tháng Năm, 2011: Vì Thiên Chúa và Tổ Quốc. Geronimo).

Trước khi ra về, Obama đã lần lượt chụp hình với mỗi người trong nhóm, và nói chuyện với nhiều người trong số họ. Nhưng ông không bao giờ hỏi ai là người đã lẩy cò giết thủ phạm. Người Nhái cũng không bao giờ tự ý nói cho ông biết.

————————————–

Nguồn và tài liệu tham khảo:

– http://www.washingtonpost.com/wp-srv/projects/osama-hunt/?hpid=z14

– http://www.newyorker.com/reporting/2011/08/08/110808fa_fact_schmidle

Cải tạo nửa mùa-Vượt biên tài tử

Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 22 May 2025

Phần 7

CHƯƠNG 5 – Phước Long
Rời Trảng Bàng, đoàn xe chở tù cải tạo theo Quốc Lộ 1 (nay gọi là Quốc Lộ 22) xuôi hướng đông nam, qua Củ Chi tới Hóc Môn tôi nhận ra nhà thờ giáo xứ Bùi Môn ở phía bên tay mặt. Đây có lẽ là giáo xứ Bắc Kỳ di cư lớn nhất nhì trong vùng Hóc Môn; giữa thập niên 1960 có lần tôi đưa bà ngoại tới thăm một vị linh mục quen biết.
Qua khỏi Bùi Môn mấy cây số thì tới ngã tư Trung Chánh, quẹo trái là đường đi qua giáo xứ Trung Chánh trước khi tới cổng chính của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung của quân đội VNCH trước năm 1975, từng được ghi nhận là “lò luyện thép lớn nhất Đông Nam Á”.
Sở dĩ tôi khá rành vùng này là vì khoảng năm 1961, 1962, một người dượng của tôi phục vụ tại TTHL Quang Trung, mướn nhà ở ngoài cổng nhà thờ Trung Chánh.
Qua ngã tư Trung Chánh, tôi và những anh em biết việc tôi sử dụng quả lắc cảm xạ bắt đầu chăm chú theo dõi lộ trình của đoàn xe chở tù cải tạo. Bởi vì qua khỏi khu vực TTHL Quang Trung (cũ) sẽ tới ngã tư Quốc Lộ 1 – Xa Lộ Đại Hàn, nếu đi thẳng sẽ là đường về Sài Gòn qua ngả Bà Quẹo và Ngã Tư Bảy Hiền, còn quẹo trái sẽ là đường đi Bình Dương, Biên Hòa, và Tân Cảng Sài Gòn.
Sau khi đoàn xe quẹo trái vào Xa Lộ Đại Hàn, chúng tôi hồi hộp đợi chờ: tại ngã tư sắp tới nếu đoàn xe đi thẳng về Biên Hòa thì rất có thể chúng tôi sẽ bị đưa lên Long Giao, hoặc Lâm Đồng, nếu quẹo phải về Tân Cảng thì có nguy cơ bị đưa lên tàu ra Bắc, chỉ có quẹo trái vào Quốc Lộ 13 mới có thể đi Phước Long hoặc Quảng Đức như quả lắc của “thầy Sáu Lèo” đã cho biết.
Đoàn xe quẹo trái thật!
Tới chợ Lái Thiêu, tôi lại thả hồn về quá khứ. Còn nhớ vào thưở thanh bình xưa cũ, từ Sài Gòn chạy xe gắn máy lên Lái Thiêu sáng đi chiều về thoải mái.
Ăn trưa ở chợ xong, vào vườn cây rợp bóng mát (thú vị nhất là đi với… người yêu), mua chôm chôm, sầu riêng, bòn bon, mít tố nữ…, trước khi về không quên ghé chợ mua vài chục nem. Nem Lái Thiêu, theo tôi, ngon nhất… thế giới; độc giả gốc Huế có phản đối, tôi cũng không thay đổi lập trường!
Qua Thủ Dầu Một, Bến Cát thì tới Lai Khê, nơi trước kia có căn cứ trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ, các phi công CH-47 Chinook của Phi Đoàn 237, SĐ3KQ tới đây thực tập rồi nhận tàu đưa về Biên Hòa.
Xế chiều, khi bắt đầu thấy những rừng cao-su liên tiếp ở hai bên đường, một anh bạn gốc Sư Đoàn 5 Bộ Binh ngồi sát tôi từ hồi nào cho biết sắp tới ngã ba Chơn Thành, nếu tiếp tục đi thẳng (QL 13) sẽ đi lên Bình Long, Lộc Ninh, nếu quẹo mặt là Quốc Lộ 14 – đường đi lên Phước Long, hoặc xa hơn nữa là Quảng Đức.
Khi tới ngã ba Chơn Thành, đoàn xe quẹo mặt vào QL 14, anh bạn SĐ5BB nhìn tôi ra dấu hiệu No.1, nhưng chẳng bao lâu sau đó, nét mặt anh căng thẳng trở lại, bởi vì khi tới Đồng Xoài mới biết… 9 nút hay bù!
Chín nút là rẽ trái để đi Phước Long, bù là chạy thẳng QL 14 đi Quảng Đức (ngày nay gọi là tỉnh Dak Nông) rồi chạy dọc biên giới Việt – Miên trở thành đường mòn Hồ Chí Minh!
Cuối cùng, tới Đồng Xoài, đoàn xe rẽ trái! Tôi thở phào: “thầy Sáu Lèo” đã đoán trúng ngay trong lần đầu tiên sử dụng quả lắc cảm xạ!
Qua khỏi đồn điền cao-su Thuận Lợi khoảng 30 phút, đường đi giống như một con đường bỏ hoang, cây cối hai bên phủ kín, cành cây vươn ra đập cả vào mui xe; mặt đường càng lúc càng gồ nghề, nhiều lúc nghiêng hẳn về một bên… Xe chạy thật chậm khiến mọi người sốt ruột, và không khỏi lo ngại; có người hỏi lại anh Trung úy SĐ5BB có chắc đây là đường đi Phước Long hay không?
Anh trả lời chắc chắn đây là con đường độc đạo dẫn tới quận Phước Bình, và tỉnh lỵ của tỉnh Phước Long trước năm 1975, nay thuộc tỉnh Sông Bé.
Đôi dòng về PHƯỚC LONG và SÔNG BÉ:
Trước năm 1975, ngoài những người thuộc giới quân sự, không mấy người dân miền Nam biết tới, hoặc nghe nói tới “tỉnh Phước Long”. Một số người chỉ biết địa danh “Phước Long” là tên một xã thuộc quận Giồng Trôm, tỉnhBến Tre.
Phải đợi tới tháng 1/1975, khi cộng sản ngang nhiên xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, xua quân đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Long, nhiều người mới biết tới địa danh này.
* * *
Theo tài liệu để lại, vào cuối năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã chia miền Nam VN thành 22 tỉnh, trong đó có một số tỉnh mới.
Riêng tỉnh Biên Hòa cũ được chia thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, và Phước Long. Lãnh thổ tỉnh Phước Long nguyên là quận Bà Rá của tỉnh Biên Hòa. Gọi là quận Bà Rá vì ở đây có núi Bà Rá, cao 733m, đứng hàng thứ ba tại miền Nam, sau núi Bà Đen, 986m ở Tây Ninh và núi Chứa Chan, 800m, ở Long Khánh.

Núi Bà Rá và phi trường dã chiến Phước Long
Vào thời miền Nam VN mới được độc lập, Bà Rá còn là một vùng rừng thiêng nước độc, chỉ có người Thượng sinh sống; trước đó, đây là nơi người Pháp đày tù khổ sai.
Tỉnh Phước Long gồm 4 quận: Phước Bình, Bố Đức (Bù Đốp), Đức Phong, và Đôn Luân. Tỉnh lỵ Phước Long nằm trong quận Phước Bình.
Ngày ấy, trong số những tỉnh mới được thành lập, Phước Long được xem là tỉnh quan trọng hàng đầu, về mặt kinh tế cũng như quân sự.
Về kinh tế, vùng đất đỏ màu mỡ chưa khai thác được đánh giá tốt miền Nam, còn tốt hơn đất đỏ Long Khánh, lý tưởng để trồng hoa màu cũng như mở các đồn cao-su. Nhiều khu dinh điền được thành lập với dân cư đa số được đưa từ miền Trung vào.
Về quân sự, tiểu khu Phước Long khi kết hợp Bình Long, Lộc Ninh sẽ tạo thành một hệ thống cứ điểm quân sự liên hoàn bao vây, chia cắt vùng Nam Tây Nguyên với Chiến khu D, Chiến khu Dương Minh Châu của quân cộng sản, đồng thời ngăn chặn sự chi viện của Cộng Sản Bắc Việt cho Việt Cộng trong Nam qua ngả Căm-bốt.
Vì vị trí chiến thuật và tầm quan trọng, từ giữa năm 1965 (trước trận Đồng Xoài), Phước Long đã bị Việt Cộng tiến đánh nhiều lần, để rồi tới đầu năm 1975, đã lọt vào tay quân cộng sản vĩnh viễn.
Sau năm 1975, 3 tỉnh Phước Long, Bình Long và Bình Dương được CSVN gom lại thành tỉnh Sông Bé. “Sông Bé” là tên của một phụ lưu của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ Phước Long chảy về tới Trị An (Biên Hòa) thì nhập vào sông Đồng Nai.
Tới cuối năm 1996, tỉnh Sông Bé lại bị tách ra làm 2 tỉnh Bình Phước và Bình Dương. Trong đó, tỉnh Bình Phước gồm lãnh thổ 2 tỉnh Bình Long và Phước Long cũ, tỉnh lỵ đặt thành phố Đồng Xoài, trước 1975 là quận lỵ của quận Đôn Luân.

* * *  

Khi đoàn xe đi gần tới quận lỵ Phước Bình, khung cảnh trở nên quang đãng và đường đi tương đối tốt hơn, nhưng đi qua Phước Bình mấy cây số, tới chân núi Bà Rá thì lại bắt đầu gập ghềnh, lên đồi xuống dốc…
Lúc này trời đã bắt đầu tối, sau khi đi qua khu dân cư cuối cùng, con đường trải đá lâu ngày đã trở thành con đường đất trơn trượt, đoàn xe từ từ đi xuống một cái dốc, băng qua một cây cầu sắt rất cũ, rung rinh như muốn sập, rồi bò lên một cái dốc khác dài hơn…
Sau này, chúng tôi được biết đây là cầu Dak Lung, và cái dốc dài ấy chính là đoạn đường kinh hoàng nhất của thân nhân đi thăm nuôi tù cải tạo.
Qua khỏi cái dốc, đoàn xe chạy thêm độ khoảng 10 cây số nữa thì quẹo phải vào một con đường đất hẹp, xuống dốc rồi dừng lại bên cạnh một con suối lớn, có tiếng nước chảy xiết.
Chúng tôi được lệnh xuống xe. Lúc này trời đã tối mịt, chúng tôi phải vịn vai nhau để khỏi bị trượt té trên lớp đất đỏ trơn trượt. Mặc dù đã đoán trước sẽ bị đưa lên vùng rừng núi, nhưng đêm đen như hăm dọa đã khiến đoàn tù cải tạo cảm thấy hoang mang, lo sợ, cho dù (theo tôi) không hãi hùng bằng cái đêm bước vào trại tù ở Phú Quốc dưới ánh đèn pha sáng rực cùng những họng AK đen ngòm! Rồi chúng tôi được lệnh bước lên một cái cầu làm bằng hai thân cây lớn bắc ngang dòng suối để vào sân trại; tại đây chúng tôi được quản giáo chia ra từng nhóm, mỗi nhóm vào một dãy nhà trong đó đã có sẵn một số tù cải tạo ở. Hỏi ra mới biết họ cũng là “cựu đồng hương Tây Ninh”: tù cải tạo ở Cà Tum được đưa lên đây trước chúng tôi mấy ngày.
Nhờ tinh thần “hiếu khách” của những anh em Cà Tum này mà đêm đầu tiên của chúng tôi ở Phước Long đỡ bỡ ngỡ, hoang mang…
Sáng ra tôi mới có cơ hội quan sát khung cảnh của trại tù cải tạo mới tới.
Về địa thế, trại nằm trên một khu đất thấp, bằng phẳng, có một con suối lớn chạy vòng quanh gần giáp vòng cho nên có thể xem như một cái cù lao nho nhỏ. Con suối này là một nhánh của thượng nguồn Sông Bé (hiện nay trên bản đồ, con suối này được gọi là sông Tà Niên).
Đường vào trại là cái cầu bắc ngang dòng suối mà tôi đã viết ở trên; trong trại có ba dãy nhà tập thể dài cả trăm mét, xếp thành hình chữ L, xa xa phía bên trái là khu nhà của ban chỉ huy trại và đám vệ binh. Nằm giữa các khu nhà là một sân banh.
Đây nguyên là một trong những doanh trại của bộ đội cộng sản Bắc Việt được dựng lên sau khi họ chiếm Phước Long vào đầu tháng 1/1975. Sau khi bộ đội rút đi nơi khác, các doanh trại này bị bỏ trống một thời gian trước khi cải tạo từ Cà Tum, Đồng Ban lên chiếm ngụ. Về sau chúng tôi được biết vùng này có tên là Bù Gia Phúc, đi lên hướng bắc khoảng 25-30 cây số là Bù Gia Mập, nằm gần biên giới Việt – Miên ở hướng tây và hướng bắc, biên giới Phước Long – Quảng Đức ở hướng đông.

Tại Bù Gia Mập có một khu trại cải tạo rất lớn, thành phần cải tạo là sĩ quan cấp tá không bị đưa ra miền Bắc.
[Theo lời kể của một số người, ở Bù Gia Mập còn có cả sĩ quan cấp úy. Về sau, Bù Gia Mập trở thành trại giam tù hình sự, thuộc Bộ Công An]
Sau này chúng tôi được nghe kể Bù Gia Mập là trại cải tạo hắc ám nhất ở Phước Long, so với Bù Gia Phúc cũng giống như Cà Tum với Đồng Ban ở Tây Ninh trước kia. Suy ra, từ Tây Ninh cho tới Phước Long, anh em tù cải tạo thuộc L2 chúng tôi đều có “qưới nhân phò trợ”!
Cũng xin viết thêm về vị trí của L2 T2. Ngày ấy ở Phước Long, tôi không hề biết vùng này có tên là Bù Gia Phúc. Chỉ sau khi ra hải ngoại, đọc hồi ký của một cựu tù cải tạo cũng từng ở Phước Long, rồi tra cứu bản đồ (của CSVN ấn hành), tôi mới biết các trại cải tạo của L2 nằm trong vùng Bù Gia Phúc. Tuy nhiên, qua khung cảnh và sinh hoạt được mô tả trong hồi ký trên, “trại Bù Gia Phúc” được nhắc tới không phải L2 T2 mà tôi đã ở.
Về thành phần cán bộ của T2, ngoài Thượng úy Phùng Xuân Nghĩa thủ trưởng từ ngày còn ở Đồng Ban, chúng tôi không thấy Trung úy Vầy và Chuẩn úy Đạt (chính trị viên), thay vào đó là mấy tay quản giáo lạ mặt.
Vệ binh thì đa số là “em mới”, bộ đội Bắc Kỳ mặt mũi còn non choẹt, không phải thành phần sinh bắc tử nam. Cũng may, trong số vệ binh cũ từ Đồng Ban lên đây không có “Bia lên”, tay vệ binh có máu điên từng đòi bắn Hùng sùi.
* * *
Về thành phần cải tạo, hơn một nửa là trung úy, thiếu úy gốc Cà Tum. Cũng giống như trước đây khi chúng tôi được đưa từ “địa ngục” Phú Quốc về “thiên đường” Trảng Lớn, nay đám tù cải tạo từ Cà Tum lên Phước Long cũng trông cũng thê thảm hơn so với tù cải tạo từ Đồng Ban, và cũng ngang tàng, “phản động” hơn!
Ngày đầu tiên ở Phước Long, chúng tôi được chia thành từng đội, dân Cà Tum và Đồng Ban lẫn lộn. Cường tiếp tục làm đội trưởng và Tư “răng vàng” tiếp tục nắm giữ đội tăng gia. Qua ngày hôm sau, cả trại ra sân banh ngồi nghe ông Phùng Xuân Nghĩa nói chuyện. Ông cho biết chúng tôi được đưa lên đây để “trải qua thực tế lao động” trước khi trở về xum họp với gia đình. Vì thế, ông nhấn mạnh, chúng tôi phải tích cực lao động chứ không “chơi bời” như ở Đồng Ban nữa.
Ông cũng cho biết về công tác lao động, lên đây L2 thuộc Đoàn 500, tức Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long, gồm cả các đơn vị quân đội, cải tạo, và dân sự. Mọi chỉ tiêu đều do “cấp trên” đưa ra, và thành quả của các đơn vị cũng sẽ được “cấp trên” đánh giá, ban chỉ huy trại chỉ có trách nhiệm kiểm soát, đôn đốc mà thôi.
Nghe ông Phùng Xuân Nghĩa nói, tôi có cảm tưởng ông ta muốn “phân trần” nhiều hơn là cảnh cáo. Từ đó tôi tin rằng ông không hù dọa, mà rồi đây anh em Đồng Ban chưa từng ra Phú Quốc sẽ được nếm mùi “lao động là vinh quang” thật sự. Thời gian hai tháng đầu, công tác chính của L2 T2 là phá rừng để trồng lúa và hoa mầu, chủ yếu là khoai mì.
Rừng ở Phước Long nói chung là rừng già, “già” gấp mấy lần rừng già ở Đồng Ban, có đủ tiếng chim kêu vượn hú. Tuy nhiên ở vùng Bù Gia Phúc, dọc hai bên con đường đi Quảng Đức chỉ là rừng chồi.
Nguyên vào thời Đệ nhất Cộng hòa, phía bên phải đường lộ (phía trại cải tạo T2), do thế đất thấp và màu mỡ hơn, lại có con suối mát, đã được chính phủ khai quang để lập khu dinh điền cho dân chúng từ các nơi tới lập nghiệp. Phía bên trái, thế đất cao hơn, thì được khai quang để trồng cao-su.
Trong những tuần lễ đầu, T2 chúng tôi phải phá rừng chồi phía bên trái.
Nguyên sau cuộc cách mạng năm 1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, tỉnh Phước Long không còn được giới lãnh đạo miền Nam quan tâm tới như trước, về cả mặt chiến thuật lẫn kinh tế. Chương trình trồng cao-su ở Phước Long của chính phủ Đệ nhất Cộng hòa vì thế bị bỏ dở.
Từ đó, rừng cao-su bị bỏ hoang, những cây cao-su chưa kịp lớn bị cây cỏ lấn lướt dần, và mười mấy năm sau, khi tù cải tạo đặt chân tới Phước Long thì không còn một vết tích nào của “rừng cao-su” ngày trước. Thay vào đó là rừng chồi và lồ ô.
Rừng chồi ở đây tương đối thấp và thưa. Nhìn những gốc cây cháy đen còn sót lại, những anh em có kinh nghiệm sống ở cao nguyên cho biết trước đây khu rừng này đã được người Thượng khai phá – đốn cây, chặt chồi, đợi khô rồi đốt, tro than trở phân bón – để trồng “lúa mọi”; thường thường sau hai, ba mùa lúa (mỗi năm chỉ có một mùa), đất hết màu, họ bỏ đi khai phá một khu đất khác. (Chú thích 1)
Vì thế, rừng chồi ở đây khá thưa, chỉ cao khoảng 2, 3 mét, nhưng lồ ô thì thật khủng khiếp!
Lồ ô vốn thuộc họ tre, không cứng như tre, không đặc ruột như tầm vông nhưng có thể cao tới 25 mét, đường kính cả gang tay. Do thành phần cấu tạo và đặc điểm mau lớn, chỉ cần 3, 4 năm là trưởng thành, lồ ô được xem là nguyên liệu rất tốt để làm giấy, còn về xây dựng, lồ lô chỉ được sử dụng như một loại vật liệu tạm thời vì dễ bị mối mọt.
Lồ ô vốn mọc nhiều ở miền trung nhưng những anh em gốc Quảng cho biết họ chưa bao giờ nhìn thấy những cây lồ ô to, cao như ở Phước Long. Nhưng to, cao không phải vấn đề bởi thân lồ ô rỗng ruột, chỉ đi một, hai đường mác là gục, nhưng những bụi lồ ô ở đây không có đường kính 2, 3 mét như các nơi khác mà có khi 5, 7 mét, với cả trăm cây mọc chen chúc nhau vì bao năm qua không có người lấy măng!

Chúng tôi được lệnh chặt đứt lìa từng cây lồ ô cho đổ xuống đất, đợi tới khi nào khô sẽ được đốt cùng với chồi khô để lấy đất trồng lúa.
Ngày đầu tiên đi lao động, chúng tôi được cán bộ quản giáo chia cho mỗi đội một khu rừng chồi và lồ ô bề ngang 50 mét, từ lề đường tiến vào phía trong 200 mét. Được khoảng nửa buổi, tay quản giáo trở lại kiểm soát, thấy chúng tôi mới tiến được khoảng 20 mét, đã không tiếc lời xỉ vả chúng tôi không chịu “nao động tích cực”, rồi cảnh cáo nếu chúng tôi không “phấn đấu đạt chỉ tiêu”, tới cuối ngày sẽ tiếp tục lao động cho tới tối!
Hắn không dọa. Chiều tối hôm đó, gần tối mịt, đoàn tù cải tạo mới được về trại, ai nấy đều đói lả. Qua ngày hôm sau, chúng tôi bắt buộc phải “mánh”: chồi thì chỉ chặt những cây lớn cho đè lên cây nhỏ; các bụi lồ ồ thì chỉ chặt một mé cho đổ rạp xuống rồi chặt mé bên kia cho đổ chồng lên, nghĩa là những cây ở giữa bụi vẫn còn nguyên nhưng đứng bên ngoài rất khó nhận ra.
Kết quả, chúng tôi không còn bị tay quản giáo nặng lời nữa, và ngày nào cũng về trại kịp giờ cơm chiều.
Mấy tuần sau, khi khu rừng chồi do T2 khai quang đã được khoảng nửa cây số, một buổi tối nọ, sau bữa cơm chiều, cả trại được lệnh ra sân tập họp nghe thủ trưởng nói chuyện.
Chưa bao giờ chúng tôi thấy ông Phùng Xuân Nghĩa giận dữ đến thế!
Theo lời “hài tội” của ông, sáng hôm nay các đại diện của Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long vào “nghiệm thu” đã không tiếc lời chê bai, chỉ trích T2 làm ăn bôi bác; rừng chồi và lồ ô được báo cáo khai quang xong, nay có tới phân nửa đã… sống lại, thì trồng trọt cái gì!
Rồi ông Nghĩa răn đe:
– Mức độ tiến bộ của các anh tùy thuộc vào cố gắng của bản thân trong quá trình lao động; các anh lao động bôi bác như thế làm sao tôi báo cáo tốt cho các anh được!
Sáng hôm sau, đích thân ông Nghĩa đưa chúng tôi trở lại khu rừng đã được khai quang. Thú thật, chính tôi còn thấy coi không được nói gì tới phái đoàn nghiệm thu: đám chồi trước đây bị cành lá đè lên, sau mấy trận mưa nay đã hiên ngang vươn mình, lồ ô thì bụi nào cũng chỉ có vài cây ở mép ngoài bị héo khô, còn lại vẫn xanh tốt như cũ…
Sau khi bắt các đội trưởng đi tham quan một vòng với mình, và nghe họ trình bày việc bị quản giáo đốc thúc vượt chỉ tiêu, ông Nghĩa đã quyết định giao khoán: mỗi đội một tuần lãnh bằng ấy héc-ta, làm sớm nghỉ sớm; nhưng phải làm cho sạch!
Kết quả hết sức tốt đẹp. Chẳng phải vì đám tù cải tạo chúng tôi đã nhận ra “lao động là vinh quang” mà chỉ vì nếu làm cật lực, sau những buổi lao động mệt nhọc, chúng tôi sẽ có những khoảng thời gian tự do, thoải mái, cho đầu óc bớt căng thẳng.
Từ đó cho tới khi chúng tôi rời Phước Long, tất cả mọi công tác liên quan tới tăng gia sản xuất, như khai quang, trồng trọt, làm cỏ, thu hoạch…. của T2 đều được thực hiện dưới hình thức giao khoán.
Sau khi phá rừng chồi phía bên trái con đường để trồng lúa mọi, chúng tôi quay về phía bên phải, làm cỏ, trồng bắp, trồng khoai mì trên các khu đất chung quanh trại đã được bộ đội khai phá trước đây, đồng thời phá thêm các đám rẫy mới…
Từ cây kơ-nia tới bắp Nam Mỹ
Khoảng hai tháng sau khi tới Phước Long, có thể nói T2 chúng tôi đã “an cư lạc nghiệp”, nhưng lại bị đói!
Không hiểu anh em tù cải tạo gốc Cà Tum thì sao, riêng anh em gốc Đồng Ban – Trảng Lớn chúng tôi trước đây tuy có phải ăn độn rau, phải ăn cao lương nhưng chưa bao giờ bị đói, trừ những người đã từng ở Phú Quốc.
Trở lại với thời gian ở Đồng Ban, sau khi được thưởng thức bột mì Liên Xô, chúng tôi được nhà nước cho làm quen với “cao lương”, cũng do Liên Xô vĩ đại viện trợ.Dĩ nhiên, hai chữ “cao lương” ở đây không phải “cao lương” trong thành ngữ “cao lương mỹ vị”, mà là tên gọi loại thực phẩm dễ trồng và có thu hoạch cao nhất trong ngũ cốc, gồm lúa gạo, lúa mì, bắp (ngô), lúa mạch (barley), và cao lương (sorghum).
Cao lương có thu hoạch cao bởi nó là loài “thảo” sống được nhiều năm (perennial) mà năm nào cũng cho hạt, chứ không phải chỉ sống một mùa (annual) như lúa, bắp…
Người ta trồng cao lương chủ yếu để nuôi gia súc hoặc sử dụng trong kỹ nghệ.
Cho tới nay, tôi cũng không hiểu ngày ấy Liên Xô viện trợ cao lương cho CSVN để nuôi gia súc nhưng Đảng và nhà nước lại lấy cho dân ăn, hay Liên Xô cố tình viện trợ thực phẩm nuôi gia súc cho dân VN ăn – tức là xem người dân VN như… súc vật, chỉ biết một điều chắc chắn là kể cả trong trường hợp sử dụng để nuôi súc vật, người ta cũng phải xay thành bột, vậy mà ngày ấy tù cải tạo và không ít người dân miền Nam đã phải nhai cao lương nguyên hạt!
Ngày ấy, cao lương được đa số dân chúng trong Nam gọi sai là “bo bo” có lẽ vì hạt cao lương trông giống hạt bo bo (để nấu chè, nấu sâm bổ lượng…) nhưng phẩm chất khác nhau một trời một vực.
Cũng rất có thể họ biết gọi như thế là sai nhưng thà gọi sai chứ không chấp nhận chữ “cao lương” của miền Bắc!(Chú thích 2)

Cao lương

Bo bo
Những ai sống tại miền Nam VN sau năm 1975 và phải ăn bo bo (cao lương) hẳn vẫn còn nhớ loại hạt này có một lớp vỏ dai, cần phải nhai lâu mới có thể nuốt được. Nhưng với những người có bao tử yếu, trong đó có tôi, thì dù nhai kỹ tới đâu, sau khi ăn vào cũng vẫn bị bao tử hành!
Ngày còn ở Đồng Ban, tù cải tạo được ăn cả ba thứ: gạo, bột mì, bo bo nhưng sau khi lên Phước Long chỉ còn một thứ duy nhất là bo bo. Vậy mà cũng không có đủ để mà ăn!
Thời gian đầu, khi chưa kịp “tăng gia” (trồng rau) để ăn thêm, chúng tôi phải “cải thiện” (tìm kiếm những thứ có thể ăn) bằng măng lồ ô và… rau dại.
Măng lồ ô không phải lúc nào cũng có mà chỉ khi đi lao động ở những khu vực có lồ ô thì mới có cơ hội tìm kiếm; bên cạnh đó măng lồ ô chẳng những không ngon như măng tre, măng tầm vông mà còn độc hại, ăn nhiều có thể bị nhức đầu chóng mặt, ói mửa, thậm chí… theo ông bà!
Thực ra, theo sự giải thích của mấy anh bạn tù nguyên là dược sĩ quân y thì tất cả các loại măng đều có chất độc cyanure (tiếng Anh: cyanide), dù có luộc cả ngày cũng chỉ giảm được một phần nhỏ; muốn hết độc, luộc xong phải ngâm nước cả tuần lễ!
Vì thế, để no bụng chúng tôi chỉ còn cách ăn thêm rau dại!
Sau này hồi tưởng lại, tôi thấy chúng tôi ngày ấy ăn rau dại thì có khác gì loài thú hoang đâu, nhưng lúc ấy chẳng ai nghĩ gì cả, chỉ cần đầy bụng.
Theo người Thượng, rừng Phước Long có nhiều loại củ rừng ăn được mà họ thường đào về để ăn khi hết lúa gạo, tuy nhiên chúng tôi không thể nhận diện (và cũng một phần vì sợ ăn phải củ độc) nên chỉ tìm rau dại; bởi theo những anh em có kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm, trái rừng, củ rừng có thể độc nhưng rau cỏ thì không.
Cuối cùng, chúng tôi đã khám phá ra một loại rau dại cũng không đến nỗi khó nuốt cho lắm. Thực ra gọi là rau cũng không được chính xác, bởi đó là một loài cây nhỏ, nửa giống cây rau dền cơm nửa giống cây hoa mồng gà, mọc đầy ở các khu rừng chồi.
Tôi diễu cợt đặt tên cho loài rau dại này là “kơ-nia”, lấy từ ca khúc cách mạng Bóng cây kơ-nia, và được mọi người gọi theo.
Bóng cây kơ-nia nguyên là một trong hai ca khúc viết về người Thượng “yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa” do đám văn nô nhạc nô của CSVN sáng tác vào thời gian “chống Mỹ cứu nước”, thơ Ngọc Anh, nhạc Phan Huỳnh Điểu, được (bị) nghe nhiều nhất. Ca khúc còn lại là Tiếng chày trên sóc Băm Bo của Xuân Hồng.

“Kơ-nia” là tên người Thượng gọi cây “wild almond”, mà người Kinh gọi là cây cầy, hoặc cây cốc. Đây là loài cây mọc hoang, cao tới 25-30 mét, có ý nghĩa linh thiêng với người Thượng cho nên họ thường tìm nơi nào có một gốc kơ-nia cổ thụ để lập buôn làng.
Dĩ nhiên, những anh em tù cải tạo nào đã biết nội dung ca khúc Bóng cây kơ-nia đều nhận ra tính cách vô lý trong việc tôi sử dụng chữ “kơ-nia” để gọi một loài cây cỏ dại để ăn độn; nhưng thực ra số người này cũng không nhiều bởi do bị dị ứng với thể loại ca khúc “cách mạng”, rất ít tù cải tạo chịu để ý nghe xem nội dung ca khúc nói về cái gì, thành thử có ít nhất một người đã hỏi tôi một cách ngây thơ:
– Làm sao anh Sáu biết tên cây rau này là kơ-nia?
Tôi đáp bừa:
– Thì nghe người Thượng họ gọi cây kơ-nia mình gọi theo!
Thật đúng là “trời sinh cải tạo trời sinh (cỏ) kơ-nia”! Trong thời gian chờ cây khoai mì đủ lớn để (lén) hái đọt về luộc ăn độn, tù cải tạo T2 chúng tôi cầm cự được là nhờ kơ-nia.
Về cách biến chế, mấy anh em ăn chung với tôi chỉ có một món duy nhất là canh kơ-nia. Gọi là canh cho oai chứ thực ra chỉ là kơ-nia nấu nước muối có điểm chút váng mỡ heo trên mặt.
Tới Phước Long, tôi ăn chung với Hoàng (đờn bass), mấy anh em thiếu úy CTCT và “Yên kiết”, một tay thiếu úy nguyên là giáo sư trung học trông già trước tuổi. Hắn có chữ “kiết” đi theo tên cúng cơm từ hồi còn ở Đồng Ban là vì, theo lời những anh em thân thiết, tính hắn rất kỹ lưỡng và… keo kiệt. Thế nhưng trong hoàn cảnh thiếu thốn, keo kiệt đôi khi lại trở thành một đức tính!
Tới Phước Long, khi tôi và đám thiếu úy tính chuyện ăn chung với nhau, rủ Yên “kiết” thì hắn đưa ra hai điều kiện: (1) thực phẩm (gạo, bột, đường, mỡ, mắm, muối, gia vị…) còn bao nhiêu gom hết lại giao cho hắn, và (2) với tư cách thủ kho, hắn có toàn quyền quyết định trong việc… xuất kho.
Chẳng hạn ngày nào phải đi lao động xa, có khi mười mấy cây số cả đi lẫn về, buổi chiều về tới trại tay nào cũng rã rời, nằm lăn quay, Yên “kiết” mới mở cái thùng đạn lấy hũ đường tán ra phát cho mỗi người ¼ tán. Lúc đó anh em mới thấy việc Yên “kiết” không cho nấu chè là có lý, bởi chỉ cần ¼ tán đường vào lúc kiệt sức cũng đủ để hồi phục!
Mỡ heo thì được hắn cất trong mấy cái hũ chao, sau khi nồi canh kơ-nia (và sau này là rau dền, rau muống) được nấu chín, hắn mới múc một, hai muỗng cà-phê mỡ đổ vào nồi canh cho có mùi thơm và vị béo tưởng tượng.
Hoặc cá khô – loại cá khô mà trước năm 1975 chỉ để nấu cám heo – “thực phẩm có protein” duy nhất được cấp phát trong thời gian ở Phước Long, lãnh về Yên “kiết” cũng không cho chiên mà bắt nướng, sau đó mới phi mỡ tỏi đổ lên trên; hắn nói làm cách này chỉ tốn 1/3 mỡ so với chiên!
* * *
Khoảng hai tháng sau, khi chúng tôi đã trồng được rau xanh (rau muống, rau dền, mồng tơi…) thì phần bo bo buổi sáng được thay thế bằng bắp khô (lên Phước Long lao động, tù cải tạo có thêm bữa ăn sáng).
Bắp nói tới ở đây không phải nếp của VN hay bắp vàng của đế quốc Mỹ mà bắp đá của Nam Mỹ!
Hiện nay, nếu độc giả vào trang Google với từ khóa “Bắp hạt Nam Mỹ” thì sẽ thấy vô số quảng cáo đại khái như sau:

Nông Sản Bảo Minh
BẮP HẠT ARGENTINA
Bắp hạt Nam Mỹ chất lượng cao, nguyên liệu dùng làm thức ăn chăn nuôi.

Gọi là “bắp đá” bởi vì nó cứng như… đá. Giống bắp này có xuất xứ từ Nam Mỹ, trồng nhiều nhất ở Ba Tây và Á-căn-đình (ngoài Bắc gọi là Ác-hen-ti-na), năng xuất rất cao, trái bắp dài khoảng 25-30 cm, hạt bắp to gần bằng móng tay cái.
Khi mới lãnh bắp đá về, các “anh nuôi” tẻ hạt, ngâm nước từ tối hôm trước, 6 giờ sáng thức dậy nấu cho tới 7 giờ mà vẫn chưa mềm, khiến tù cải tạo phải để bụng đói đi lao động. Qua ngày hôm sau nấu từ 5 giờ sáng cũng vẫn không mềm, sau đó mới biết bắp đá… không thể nấu mềm, vì vỏ hạt bắp dày và cứng vô cùng, chính vì thế người ta mới phải xay ra để làm thực phẩm cho gia súc!
Nấu lâu chỉ được một cái lợi là mày hột bắp bung ra, nhờ đó tù cải tạo nào răng yếu, bao tử yếu có thể bóc vỏ hạt bắp để ăn phần bên trong. Vì thế, tôi và những anh em đồng cảnh ngộ (yếu bao tử) phải may một cái túi nho nhỏ bằng bao cát để đựng hạt bắp luộc, trên đường ra rẫy hoặc vào rừng vừa đi vừa bóc vỏ để ăn!
Gần hai tháng sau, khi đợt khoai mì đầu tiên được thu hoạch, chúng tôi mới chia tay “bắp đá Ác-hen-ti-na”, và thay vào đó bữa sáng mỗi người được một khúc khoai mì luộc độ nửa gang tay.
Tuy nhiên trên thực tế, để đủ no, số lượng khoai mì chúng tôi dồn vào bụng mỗi ngày phải gấp ba lần tiêu chuẩn bữa sáng nói trên. Số khoai mì ngoài tiêu chuẩn này được nhổ trộm ở các rẫy khoai mì trên đường đi lao động.
Cũng nhờ chôm chĩa mà chúng tôi khám phá ra khoai mì cũng có hai đẳng cấp khác nhau: khoai mì để cán bộ, bộ đội ăn và khoai mì cho cải tạo ăn.
Được biết, trước năm 1975 ở miền Nam, và trước năm 1954 ở miền Bắc, chỉ có một loại khoai mì duy nhất mà sau này ở miền Bắc gọi là “sắn ngọt”, là loại khoai mì sử dụng làm lương thực cho con người, nhưng sau năm 1954, miền Bắc xã hội chủ nghĩa còn trồng thêm một giống khoai mì có năng xuất cao hơn rất nhiều (và cũng độc hại hơn rất nhiều) gọi là “sắn cao sản”, để làm thực phẩm gia súc và sử dụng trong kỹ nghệ. Sau khi đất nước thống nhất, người ta đã đưa giống khoai mì kỹ nghệ này từ miền Bắc vào trồng trong Nam.
Như người miền Bắc trước năm 1954 và người miền Nam trước năm 1975 còn nhớ, khoai mì ngày ấy (sắn ngọt) chỉ cao khoảng 2m, có cuống lá màu tím, và củ của nó sau khi bóc lớp vỏ màu nâu sẽ hiện ra lớp da màu tím hoa cà. Trong khi đó cây khoai mì “cao sản” của miền Bắc to hơn, có khi cao tới 2.50-3m, cuống lá màu xanh, củ có da màu vàng nâu nhạt.
Xưa kia, ông bà mình tuy không biết trong khoai mì có chất độc (acid cyanhydric – HCN) nhưng do kinh nghiệm đã khuyên con cháu không nên ăn khoai mì sống sẽ bị say, đồng thời trước khi luộc phải ngâm nước qua đêm. Khoai mì vỏ tím (sắn ngọt) mà còn độc hại như thế nói gì tới khoai mì kỹ nghệ (sắn cao sản).
Còn nhớ khi tôi bị đưa ra Phú Quốc đầu vào năm 1976, được nghe kể có một hạ sĩ quan cảnh sát đặc biệt (ra Phú Quốc trước chúng tôi) chết vì ngộ độc do ăn quá nhiều vỏ khoai mì lấy từ hố rác của nhà bếp; nay tôi đoán có lẽ ông ta ăn phải vỏ khoai mì kỹ nghệ nên mới ra nông nỗi! (Chú thích 3)

* * *
Việc chúng tôi chúng tôi khám phá ra có hai loại khoai mì khác nhau hoàn toàn do tình cờ.
Nguyên sau khi hoàn tất công tác phá rừng chồi phía bên kia đường để trồng lúa mọi, chúng tôi trở về phía bên này để trồng hoa màu trên các khu đất chung quanh trại đã được bộ đội khai phá trước đây. Vì phải ưu tiên hoàn tất chỉ tiêu của T2 trong Đoàn Liên Hiệp Kinh Tế Phước Long, chúng tôi được lệnh trồng khoai mì kỹ nghệ (sắn cao sản) trước, sau đó mới phá thêm rẫy để trồng khoai mì bình thường (sắn ngọt) và bắp nếp.
Dĩ nhiên, lúc đó làm sao chúng tôi biết được có hai loại khoai mì khác nhau; chỉ tới khi sắn ngọt đã có củ, chúng tôi nhổ trộm đem về trại luộc ăn mới biết phẩm chất khác nhau một trời một vực!
Sở dĩ chúng tôi biết “sắn ngọt” được dành riêng cho bộ đội là vì tới kỳ thu hoạnh, chúng tôi chỉ bị bắt thu hoạch “sắn cao sản”, dồn vào bao bố vác lên kho của trong đoàn (L2), còn “sắn ngọt” thì các đồng chí tự thu hoạch lấy đem về khung xơi với nhau.
Vỏ quýt dày móng tay nhọn (tôi xin tự bốc thơm một phát), để trả đũa tôi đã nảy sáng kiến bẻ bắp non về nấu súp. Bởi tôi biết chắc chắn đám bắp nếp này cũng sẽ được dành riêng cho các đồng chí!
Tôi nhủ thầm: Mẹ, trước năm 1975, bắp non (đóng hộp) là một món xa xỉ, nhập cảng từ Đài Loan, nay tù cải tạo lại được ăn tươi là nhất thiên hạ!
Đợi tới khi trái bắp đã lớn bằng ngón chân cái, tôi rỉ tai căn dặn mấy chú em ăn chung trên đường từ rẫy về cố tìm cách đi sau cùng, khi đi ngang khu rẫy trồng bắp thì phải thật nhanh tay lẹ mắt, chỉ cần mỗi người 2, 3 trái là đủ; điều quan trọng là không được bẻ trụi một cây bắp, vì như thế sau này đám bộ đội sẽ biết.
Tôi không thể diễn tả hết cái ngon ngọt của nồi canh bắp non đầu tiên, chỉ nấu với nước muối và điểm thêm chút váng mỡ mà sao nó tuyệt vời đến thế!
Nhưng món canh bắp non của chúng tôi không kéo dài được lâu vì hai nguyên do:
Thứ nhất, những tư tưởng lớn gặp nhau, một số anh em gốc Cà Tum cũng lén (thực ra sau này không ai lén nữa) thu hoạch bắp non.
Thứ hai, việc tù cải tạo “cải thiện” bằng bắp non của bộ đội bị ăng-ten báo cáo, mà chúng tôi tin đến 99% là Tư “răng vàng”, tay cải tạo đội trưởng tăng gia.
Trong một buổi giao ban, các đội trưởng đã bị một tay quản giáo giận dữ hạch tội, đập bàn, sùi bọt mép:
– Các anh phải biết đây là hành động phá hoại cực kỳ nghiêm trọng trong quá trình sản xuất! Thử hỏi bao nhiêu trái bắp non mới đủ một bữa cho các anh, trong khi một trái bắp để nó lớn sẽ được mấy trăm hột, mấy trăm hột ấy sẽ đẻ ra hàng ngàn, hàng vạn hột khác… Các anh ăn như vậy mà ăn được à? Các anh không chịu phấn đấu với bản thân, cải tạo tư tưởng triệt để, quyết tâm từ bỏ đầu óc xấu xa, làm sao gọi là tiến bộ được!
Hai cuộc trốn trại
Hơn hai tháng sau khi tới Phước Long, thỉnh thoảng đội tôi lại được đi “du ngoạn”: theo đường lộ về hướng bắc gần một cây số, quẹo trái vào con đường đi Bù Đốp (trước 1975 là quận Bố Đức), đi thêm 6, 7 cây số về hướng tây để làm cỏ các rẫy khoai mì không biết do đơn vị nào trồng từ bao giờ. Chúng tôi mang theo cơm trưa vì tới chiều mới trở về trại. Lúc đầu có một quản giáo và hai vệ binh đi theo, được vài lần chỉ còn hai tay vệ binh, và sau cùng – khó tin nhưng có thật – khi số tù cải tạo làm công tác này chỉ còn 1, 2 tổ, chúng tôi được “tự giác” đi, về!
Con đường đi Bù Đốp trước năm 1975 là một hương lộ, nhưng sau này vì không có xe cộ sử dụng, cây cỏ mọc kín, chỉ có một lối mòn cho người đi bộ. Trong thời gian chúng tôi ở Phước Long, ngoài đám tù cải tạo, những “người đi bộ” duy nhất chỉ là mấy gia đình người Thượng từ Bù Đốp về thăm lại sóc cũ, hoặc đi đào củ rừng, hái mướp mọc hoang để bán hoặc đổi chác với người Kinh.
[Làng của người Thượng ở Tây Nguyên gọi là “buôn”, còn ở phía Tây Nam gọi là “sóc”. Sóc Băm Bo được nhắc tới trong bài hát Tiếng chày trên sóc Băm Bo cũng là một sóc Thượng ở tỉnh Phước Long, nằm trong quận Bù Đăng, giáp ranh Quảng Đức và Lâm Đồng]
Trên đường đi tới rẫy, chúng tôi từng vào một sóc Thượng khá lớn, các dãy nhà sàn tương đối khang trang, tươm tất hơn một số buôn Thượng ở Pleiku mà ngày xưa tôi từng tới để làm công tác Dân sự vụ, nhưng không một bóng người. Sau đó mới biết người dân Thượng ở đây đã bị cưỡng bách di chuyển tới các khu kinh tế mới ở Bù Đốp; những người không chấp nhận “vào khuôn khổ” dưới chế độ mới thì rút sâu vào rừng, gần biên giới Việt-Miên.
Đàn ông trong các gia đình người Thượng mà chúng tôi gặp đa số nói được tiếng Kinh, mặc dù không lưu loát cho lắm. Khi chúng tôi hỏi mua mướp, họ nói không bán chỉ đổi lấy muối; sau khi chúng tôi năn nỉ họ bán và hứa lần tới sẽ có muối, họ ngần ngừ rồi bán cho chúng tôi 1 đồng 10 trái (1 đồng tiền Hồ sau khi đổi tiền lần thứ nhất).
Lần sau, chúng tôi xuống nhà bếp xin anh nuôi ít muối hột. Người Thượng họ rất quý muối và thật thà, hiền lành, mình đưa cho họ nửa lon sữa bò muối, họ trao cho mình hết gùi mướp, không cần biết hôm đó chỉ có nửa gùi hay đầy gùi.
Mướp Thượng ngắn và tròn trĩnh, ăn cũng giống mướp của người Kinh nhưng không có mùi thơm như mướp hương. Không biết từ đời nào, mướp Thượng mọc hoang và leo lên cây rừng, có khi cao cả chục mét; những trái cao quá không hái được, khi già rụng hột xuống mặt đất, sang năm mọc thành cây con, cứ thế mà tiếp diễn…
Thỉnh thoảng xui xẻo chúng tôi cũng gặp một vài trái mướp đắng, hái từ những cây mướp đã bị lai giống do gió hoặc ong bướm đem phấn lạ tới.
Đó chính là mướp đắng mà cụ Nguyễn Du đã nhắc tới trong Truyện Kiều:
“Tình cờ chẳng hẹn mà nên
Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”
[Vậy mà cho tới nay, chữ “mướp đắng” trong Truyện Kiều vẫn được không ít nhà “hàn lâm” ở miền Bắc giải thích là trái “khổ qua” trong Nam!]
Sau vài lần gặp gỡ và đổi chác như thế, chúng tôi và mấy gia đình Thượng ấy đã coi nhau như người quen biết, có khi cùng ngồi nghỉ bên đường cuốn thuốc hút. Biết họ bất mãn chế độ mới, một ngày nọ tôi hỏi một người đàn ông ra vẻ lớn tuổi nhất trong đám:
– Có còn nhớ Dak Sơn không?
Ông ta như bị điện giật, nhìn thẳng vào mắt tôi, biểu lộ sự ngạc nhiên vì thấy tôi cũng biết Dak Sơn, và không dấu được sự kinh hoàng khi nhớ lại vụ thảm sát man rợ nhất của cộng sản Bắc Việt tại Phước Long trước năm 1975.
Rồi ông ta từ từ hướng đôi mắt về một phương trời xa, đáp như muốn lạc giọng:
– Còn nhớ chứ! Làm sao quên được!
Đó là vụ thảm sát mà ngày ấy tạp chí Time đã ghi nhận là kinh hoàng, tàn bạo nhất nhắm vào thường dân vô tội trong cuộc chiến Việt Nam, diễn ra trong đêm mồng 5 rạng mồng 6 tháng 12 năm 1967, tại làng Dak Sơn gần thị xã Phước Long – một làng “Cuộc Sống Mới” được chính phủ VNCH dựng lên cho khoảng 800 đồng bào Thượng sau khi họ vượt thoát từ những vùng cao nguyên bị quân cộng sản kiểm soát.
Theo tạp chí này, vào lúc quá nửa đêm, một lực lượng gồm hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn 88 chính quy Bắc Việt đã bao vây làng Dak Sơn, sử dụng súng phun lửa đốt cháy nhà cửa trong lúc mọi nguời đang an giấc, người nào thoát được ra ngoài thì bị bắn bằng súng máy… Kết quả, 252 đồng bào Thượng, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đã bị tàn sát một cách dã man, đa số bị chết cháy. (Chú thích 4)


* * *

Việc được “tự giác” đi lao động, không có vệ binh đi kèm đã tạo cơ hội cho những anh em gốc Cà Tum có ý định trốn trại.
Như tôi đã viết trong một kỳ trước, thời gian ở Tây Ninh, trong khi tù cải tạo ở Đồng Ban (L2) được thả lỏng thì anh em ở Cà Tum bị kiểm soát rất chặt chẽ, gắt gao bởi trại nằm sát biên giới Việt – Miên, đám coi tù sợ cải tạo tìm cách đào thoát sang bên kia biên giới.
Vì thế nay lên Phước Long được tự do đi lao động, dò hỏi được biết từ chỗ làm cỏ khoai mì chỉ cần đi băng ngang Bù Đốp về hướng tây vài cây số là tới biên giới Việt – Miên, những anh em gốc Cà Tum sẵn có ý định trốn trại đã tiến hành vượt thoát.
Nhưng toán trốn trại thứ nhất của T2 gồm bốn chàng thiếu úy trẻ tuổi, hoàn toàn thiếu kinh nghiệm đã bị du kích bắt ngay trên đường đi Bù Đốp và bị giải giao về Bộ chỉ huy trung đoàn (L2). Hai ngày sau, bốn chàng được ông Phùng Xuân Nghĩa cho người lên lãnh về T2 để biệt giam.
Nhắc tới hai chữ “biệt giam”, tù cải tạo ở các trại trong Nam sẽ nghĩ ngay tới những cái conex bằng sắt (shipping container) hoặc những cái cũi bằng cây, hay những căn phòng nhỏ bị khóa kín, nhưng ở T2 Phước Long chỉ là một nhà kho cũ trong khu vực của ban chỉ huy trại. Ban đêm bị nhốt bên trong, khóa cửa lại, ban ngày ra ngoài làm công tác lao động nhẹ: chăm sóc mấy luống rau, dàn mướp, vườn bắp phía sau khu nhà; ăn uống thì cơm bưng nước rót do tổ anh nuôi ở dưới trại đem lên.
Chưa đầy một tuần sau, sau bữa cơm chiều, ông Phùng Xuân Nghĩa ra lệnh cả trại tập họp ngoài sân để nghe thủ trưởng nói chuyện, hay viết một cách chính xác hơn, để chứng kiến lễ “phóng thích” mấy chàng thiếu úy trốn trại trở về đội sinh hoạt bình thường. Dĩ nhiên trước đó ông thủ trưởng không quên cảnh cáo mọi người về hậu quả sẽ đến với những người trốn trại, đó là thời gian cải tạo chắc sẽ kéo dài hơn những người trước sau như một tin tưởng vào đường lối chính sách của cách mạng, kiên trì học tập cải tạo để tiến bộ.
Trong khi toán trốn trại thứ nhất chỉ là mấy chàng thiếu úy gà mờ, bồng bột (trong đó có một anh chàng gốc Hoa nói tiếng Việt không rành!) thì toán thứ hai toàn dân thứ dữ và kế hoạch vượt thoát của họ – như sau này tôi được nghe kể lại – rất chu đáo, từ việc chôn dấu lương thực tới lộ trình và thời điểm xuất phát.
Cũng như toán thứ nhất, tất cả mọi anh em trong toán trốn trại thứ hai đều gốc Ca Tùm, trong số này tôi chỉ quen biết M, một thiếu úy thiết giáp. Trước khi M trốn trại, tôi và anh không thân nhau lắm nhưng luôn dành cho nhau một sự tương kính.
Tuy mang cấp bậc thiếu úy, tôi thấy M lớn tuổi hơn hẳn đa số thiếu úy nhập ngũ sau Mùa Hè Đỏ Lửa (1972). Cùng với tính tình điềm đạm, M còn có một kiến thức đáng nể, không chỉ về ngành chuyên môn (thiết giáp) mà còn về quân sự, chính trị, thời cuộc. Đối lại, anh cũng rất quý mến tôi, một điều “anh Sáu” hai điều “anh Sáu” với cái lịch sự hơi kiểu cách của người Hà Nội ngày cũ.
Tin anh trốn trại khiến tôi rất ngạc nhiên, bởi trong thời gian biết nhau, tuy luôn luôn tỏ rõ lập trường không đội trời chung với cộng sản, anh chưa bao giờ đề cập tới chuyện vượt thoát.
Khoảng một tuần sau, vẫn không có tin tức gì về toán trốn trại của M, tôi vừa mừng thầm vừa cầu nguyện hàng đêm cho M và anh em trong toán vượt thoát được mọi sự an lành.
Nhưng những gì tệ hại nhất đã xảy ra!
Đúng như sự tin tưởng (và cầu mong) của anh em quen biết, toán trốn trại của M đã băng qua Bù Đốp và tới được biên giới Việt – Miên an toàn; tại đây họ gặp một toán trốn trại của một T khác và kết hợp với nhau, tổng cộng trên 10 người.
Như đã dự tính trước khi định ngày xuất phát, đêm nay là một đêm trăng, trước mắt họ là một con sông nhỏ, biên giới thiên nhiên giữa hai nước, bên kia bờ là xứ chùa Tháp, từ đó băng rừng theo hướng tây bắc sẽ là lộ trình ngắn nhất để đi sang Thái-lan.
Bề ngang con sông chỉ khoảng 30 mét, ai cũng biết bơi nên không có gì trở ngại. Đêm thật thanh vắng, ánh trăng dịu dàng, nhưng khi đoàn người tới giữa sông thì nhiều khẩu AK từ bờ bên kia đồng loạt bắn xuống xối xả cùng với tiếng hò hét của Khmer Đỏ!
Sau này hồi tưởng, M không thể nhớ có bao nhiêu người bị trúng đạn và chìm ngay xuống nước, chỉ biết có mấy người trong đó có M quay trở lại được bờ bên này, bò vào núp sau những gốc cây, khoảng 10 phút sau không thấy động tĩnh gì, mới cùng nhau bàn tính. Vì có người bị thương, họ không còn lựa nào khác ngoài việc quay về.
Các chi tiết từ đoạn này cho tới khi M và mấy người về tới Bù Đốp, được người dân đối xử tử tế, rồi bị du kích bắt, tôi không nhớ rõ nên xin lướt qua để viết về việc M bị đốt râu.
Nguyên M là người có râu quai nón. Lần đầu tiên gặp M, tôi liên tưởng ngay tới một vị thiếu tá hoa tiêu trực thăng quen biết ngày còn ở căn cứ không quân Pleiku, là người dân tộc Thái từ bắc di cư vào nam năm 1954 định cư ở Tuyên Đức, anh có làn da trắng bạch, mũi cao, mắt sâu và râu quai nón như lai tây.
Từ lúc M trốn trại cho tới khi bộ chỉ huy L2 được huyện đội Bù Đốp thông báo, cho một chiếc xe tới chở M và mấy người kia về, đã hơn một tuần lễ trôi qua, cho nên bộ râu quai nón của M đã mọc khá dài, không bằng thì cũng gần bằng bộ râu của trùm đỏ Fidel Castro ngày còn trẻ. Cho nên ngay từ lúc nhìn thấy mặt M, mấy tên cán bộ của L2 – mà sau này M được biết là thuộc Ban 2 (an ninh) trung đoàn – đã vô cùng ngứa mắt.
Trên đường về L2, một tên cán bộ có lẽ là Trưởng ban 2, nói tài xế ngừng xe giữa đường, ra lệnh lôi cổ M xuống xe (lúc đó đang bị trói tay sau lưng), bắt quỳ dưới đất, lấy xăng tưới lên mặt anh rồi đốt, vừa cười một cách khoái trá, man rợ vừa nói:
– ĐM, tao cho mày hết để râu!
Mấy ngày sau, T2 mới được thông báo cho người lên bộ chỉ huy L2 lãnh M về. Sau này M kể lại cũng nhờ bị đốt phỏng mặt mà anh không bị đám cán bộ Ban 2 đấm đá một trận nên thân như những người của T khác!
[Trước đó, bốn chàng thiếu úy trẻ không bị ăn đòn, chỉ bị đám vệ binh trói tay, đạp cho mấy cái ngã xuống nền nhà giam dập mặt dập mũi, rất có thể vì tên Trưởng ban 2 trung đoàn vắng mặt]Tin tức về kết quả bi thảm của cuộc trốn trại thứ hai được ông Phùng Xuân Nghĩa thông báo cho các đội trưởng khi giao ban. Theo lời kể lại của Cường (đội trưởng của tôi), ông Nghĩa không đả động gì tới việc M bị đốt râu, chỉ sau khi đã lên lớp về chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với tù cải tạo, ông mới nói thêm:

“Tôi đã hết lời với các anh rồi, các anh về nói lại với đội của mình, nghe hay không là tùy các anh ấy”. Rồi ông hạ giọng, “Nhưng nếu trốn mà liệu không thoát, thì tìm cách mà trở về tiểu đoàn, đừng để trung đoàn bắt được, Ban 2 nó đánh chết!”
Qua ngày hôm sau, chúng tôi mới biết việc M bị đốt râu do anh Thu, y tá của T2, kể khi xuống đá banh với anh em cải tạo.
Cũng xin có đôi dòng về người y tá bộ đội tên Thu này. Anh mang cấp bậc trung sĩ, khoảng độ trên 30 tuổi, mặt mũi trắng trẻo, sáng sủa nếu không muốn nói là khá đẹp trai, ăn nói lịch sự, ra vẻ hiểu biết chứ không “ruộng” như đa số bộ đội Bắc Việt. Khi tù cải tạo ở T2 bắt đầu có thì giờ rảnh rỗi vào cuối tuần, anh ôm trái banh cùng hai ba tay vệ binh xuống rủ mọi người chia phe đá banh.
Trong số anh em tới từ Cà Tum, có Vui, một cầu thủ tài tử mà tài nghệ so với anh y tá cũng một chín một mười, cho nên các buổi đá banh cũng khá hào hứng; về sau thỉnh thoảng họ còn đá vào cả ngày thường, và từng lập “đội tuyển” lên trung đoàn thi đấu với các T khác.
Qua những lần tiếp xúc, anh Thu, với tư cách một y tá, thường khuyên chúng tôi nên gìn giữ sức khỏe để đợi ngày về xum họp với gia đình. Anh nói thẳng: đừng trông mong vào thuốc men của “cách mạng” bởi vì hầu như anh không có bất cứ một thứ thuốc gì ngoài thuốc… sát trùng (ngày ấy người miền Nam thường gọi là “thuốc đỏ”).
Anh kể lại trong những năm tháng vượt Trường Sơn, số bộ đội chết vì kiết lỵ và sốt rét còn nhiều hơn cả chết vì bom B-52!
Anh Thu cho biết M bị phỏng hết mặt mũi, cổ và hai vai, cũng may hai con mắt không sao… Mấy tuần sau, trong một lần đi lao động, chúng tôi mới thoáng thấy bóng M trong vườn rau phía sau dãy nhà của ban chỉ huy, mặt mũi quấn băng trắng kín mít, chỉ trừ cặp mắt và phía trên đầu.
Sau này M kể lại rằng trong thời gian bị giam giữ trên khung, anh đã được y tá Thu chữa các vết phỏng bằng cách giã nát một loại lá gì đó để đắp lên.


CHÚ THÍCH:
(1) Thời Pháp thuộc, người Thượng còn bị người Kinh gọi là “mọi”, dịch sang tiếng Pháp là “nègre”, trong khi người Pháp chỉ sử dụng chữ “nègre” để gọi người da đen ở Phi châu, còn dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên VN họ gọi là “montagnard” (người miền núi) do chữ “montagne” (núi). Tới thời VNCH, dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được gọi là “người Thượng” là dịch từ chữ “montagnard” này.
Tuy nhiên chữ “mọi” (tĩnh từ) vẫn tiếp tục được sử dụng ít nhất trong hai trường hợp: “heo mọi”, “lúa mọi”. Những ai trước kia từng đi Đà Lạt bằng đường bộ, tới Định Quán vào quán ăn cơm “gạo mọi” hẳn còn nhớ hương vị.
(2) Gần 40 năm sau ở trong nước mới có người dám viết rằng cao lương để nuôi gia súc. Đó là Tiến sĩ Phạm Văn Cường thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, viết năm 2015 trên Wikipedia (tiếng Việt):
Cao lương, hay còn gọi miến mía, cao lương đỏ, (cỏ) miến to, bo bo (danh pháp khoa học: Sorghum bicolor), là một loài thực vật có hoa trong họ Hòa thảo (Poaceae). Cao lương là cây ngũ cốc quan trọng thứ năm trên thế giới sau lúa gạo, lúa mỳ, ngô và đại mạch. Cao lương là cây hàng năm nhưng cây trồng là lâu năm. Loài cây này mọc thành nhóm cao đến 4 m. Hạt nhỏ và có đường kính từ 3–4 mm. Hạt được dùng làm thức ăn gia súc, sản xuất si rum, ethanol. (ngưng trích)
Theo phân loại của ngành thực vật học, cao lương và bo bo cùng họ họ Hòa thảo (Poaceae) nhưng khác chi, khác loài. Bo bo được người miền Bắc gọi bằng từ Hán Việt là “ý dĩ”.
Cũng Tiến sĩ Phạm Văn Cường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, viết trên Wikipedia (tiếng Việt):
Ý dĩ hoặc cườm thảo, bo bo (danh pháp khoa học: Coix lacryma-jobi), là một loài thực vật nhiệt đới thân cao để lấy hạt trong họ Hòa thảo (Poaceae). Cây có nguồn gốc từ Đông Á và bán đảo Malaysianhưng được gieo trồng ở nhiều nơi trong ruộng, vườn như là một loại cây một năm.
Ý dĩ còn có tên gọi là bo bo nhưng cần chú ý đây không phải là bo bo thời bao cấp. Bo bo thời bao cấp là cao lương.
(3) Sắn “cao sản”. Trích bài “Ăn khoai mì như thế nào để không bị ngộ độc”, Báo điện tử VN Express, 15/8/2020:
Sắn (khoai mì) phổ biến ở Việt Nam song ít người biết trong sắn có độc chất là acid cyanhydric có thể dẫn đến ngộ độc, thậm chí tử vong.
Người dân thường luộc hoặc hấp củ sắn; lá sắn dùng để muối chua…
Theo tiến sĩ Lâm Quốc Hùng, Cục An toàn Thực phẩm, Bộ Y tế, trong sắn chứa lượng acid cyanhydric (HCN) đáng kể. Hàm lượng độc chất HCN trong khoai mì cao hay thấp phụ thuộc vào giống sắn. Sắn đắng, sắn cao sản chứa HCN cao hơn sắn ngọt. Ngoài ra chất này có nhiều ở vỏ củ, lõi củ; ở lá cao hơn củ 3-5 lần…
Hàm lượng HCN cao vào cơ thể người sẽ gây ngộ độc. Liều gây độc cho một người lớn là 20 mg HCN, liều gây chết người 50 mg HCN cho mỗi 50 kg thể trọng. Chất độc này khiến hồng cầu không hấp thu được oxy, nạn nhân rơi vào trạng thái suy hô hấp, khó thở. Chỉ sau 1-3 giờ, người ăn đã có khả năng biểu hiện ngộ độc.
Năm 2014, khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội) tiếp nhận một số trẻ bị ngộ độc sắn, nhập viện trong tình trạng nguy kịch, hôn mê. Nguyên nhân là do trẻ ăn loại sắn cao sản, nhiều nhựa vốn chuyên dùng làm thức ăn cho gia súc. Năm 2005, một bé gái 4 tuổi tại Bình Thuận tử vong vì ngộ độc sắn.
(4) Vụ thảm sát Dak Sơn. Điều đáng tiếc là ngày ấy không hiểu vì nguyên nhân gì, vụ thảm sát Dak Sơn đã không được truyền thông VNCH tường thuật chi tiết và phổ biến rộng rãi. Tất cả những gì còn được lưu trữ cho tới ngày nay chỉ là tài liệu của phía Hoa Kỳ và một vài bài viết theo ký ức của một số quân cán chính VNCH sống ở Phước Long vào thời điểm nói trên.
Trong khi phía CSVN thì cho rằng thiệt hại nhân mạng của dân chúng ở Dak Sơn chỉ là “hậu quả giao tranh” giữa QLVNCH và quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng (chứ không phải bộ đội Bắc Việt xâm lược); họ (CSVN) còn quả quyết đa số người bị chết cháy là do bom napalm của phi cơ của Không Quân VNCH thả bừa bãi xuống khu vực giao tranh.
Hiện nay, độc giả nào muốn tìm hiểu về cuộc thảm sát Dak Sơn, có thể vào trang mạng Wikipedia đọc đề tài “Đắk Sơn Massacre” và bài “Tưởng niệm 46 năm: Tội ác Thảm Sát Dak Son của đoàn quân Cộng sản” của tác giả Tim Pham trên Google.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin cảnh giác trước: một số trong những hình ảnh về cuộc thảm sát này hết sức ghê rợn, những ai yếu bóng vía không nên xem.