Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 26 May 2025

Chương 8.

Xóm Hòn Chông trải qua những ngày vui tươi. Việc làm đầu tiên của cô Huôi là dạy Bá Vạn nên xoá bỏ một phần lớn nợ nần của bọn tá điền. Ai nấy mừng quýnh. Đối với họ, đây là dịp tốt để uống rượu, ăn chơi. Sòng bạc mọc lên rải rác. Ban đêm, họ đốt đuốc ngoài sân để ăn uống, ca hát. Thằng Cẩu ưỡn ngực, mặc áo gấm, mặc nhiên trở thành ông Chúa Hòn.

Cậu ta rước một đoàn lực sĩ “Sơn Đông” từ Rạch Giá để xem chơi. Trong khi ấy, cô Huôi ngồi trên bộ ván cẩm lai, gương mặt ưu tư hơn bao giờ hết.

Đối diện với cô là ông Bá Vạn. Bá Vạn hiểu rằng nên khéo nịnh hót cô Huôi, ông ta được hưởng chút ít tiền bạc, còn hơn là tổ chức một cuộc chống đối quá phiêu lưu. Bọn hộ vệ có thể nghe theo lời ông, nhưng ông Chúa Hòn không còn đứa con trai nào khác ngoài thằng Cẩu.

Cô Huôi cất tiếng:

– Hổm rày, ông Bá mệt nhọc, tôi biết.

Bá Vạn muốn nhơn cơ hội nầy bảy tỏ nỗi thắc mắc thầm kín nhứt:

– Nhưng xin lỗi cô, tôi muốn hỏi…

Cô Huôi trợn tròn đôi mắt:

– Phải kêu tôi bằng bà cho quen miệng. Thằng Cẩu chỉ là con của tôi. Tôi đứng trên thằng Cẩu.

Bá Vạn lại ấp úng:

– Thưa bà…

Cô Huôi mỉm cười:

– Bá Vạn đừng buồn. Tôi chưa khen thưởng Bá Vạn, để thủng thỉnh rồi tính sau. Tôi lo xa nên chưa vui. Thằng Cẩu là đứa khó dạy. Không hiểu nó mang chứng gì mà mặt mày xanh mét, run tay run chân, tánh tình bất thường. Điên không ra điên, khùng không ra khùng. Rồi đây, nó hại tất cả mọi người.

Bá Vạn chắp tay thưa:

– Thưa bà, lần nầy bà dạy dỗ nó. Vì bà là mẹ, còn hơn mẹ ruột.

Cô Huôi đáp:

– Nhưng tôi không tham quyền cố vị! Tôi tránh tai tiếng kẻo thiên hạ đồn rằng tôi bày mưu kế giết cậu Hai Điền. À! Nghe nói Bá Vạn quen thân với bà chánh thất?

– Dạ, xin bà hiểu giùm, lúc trước tôi tới lui với bà ta để dọ thám đừng cho Hai Điền kéo tất cả bọn hộ vệ tới núi Mo So.

Cô Huôi cau mày hồi lâu không trả lời. Lúc nầy Bá Vạn thấy mình yếu đuối và cô độc hơn bao giờ hết. Nếu cô Huôi lật ngược thế cờ, tố cáo ông Bá Vạn là kẻ âm mưu giết ông Chúa và Hai Điền thì ắt là ông ta bị

giết ngay, không ai binh vực, che chở. Từng giọt mồ hôi chảy dài trên trán Bá Vạn. Cô Huôi nói:

– Lau mồ hôi cho tỉnh táo, có gì mà sợ! Tôi không phải là người thất đức, miễn là Bá Vạn biết phải quấy với tôi. Đừng ham công danh.

Bá Vạn đáp:

– Dạ, nếu bà cho tôi nghỉ việc thì còn gì may mắn cho bằng. Từ nay về sau, bà trọn quyền coi sóc tất cả mọi việc. Tôi thì già yếu, chỉ mong được dưỡng nhàn.

Cô Huôi nói:

– Bá Vạn ở lại để điều khiển cậu Cẩu. Chẳng lẽ tôi gây gổ với nó mỗi ngày đôi ba lần. Thỉnh thoảng tôi rầy rà một lần thì nó mới sợ. Nhưng tôi buồn giùm bà chánh thất. Hỗm rày tôi chưa gặp mặt. Để bà ở đây thì khó xử.

Hai ngày qua, Bá Vạn chưa dám gặp bà chánh thất vì sợ cô Huôi tình nghi. Hơn nữa, Bá Vạn là người phản bội dưới mắt bà ta. Bà ta có thể liều chết, chưởi một trận nên thân rồi theo chồng theo con qua bên kia thế giới.

– Bà dạy thì tôi vâng lời…

Cô Huôi nói:

– Bá Vạn có quen thân với bà chánh thất thì đến gặp mà an ủi rồi khuyên bà nên lựa chọn nơi nào mà dưỡng thân cho khoẻ. Ta hứa cho tiền bạc thêm để xài…

Lập tức, Bá Vạn qua nhà bà chánh thất. Bà hỏi nhanh:

– Gì nữa đó? Cô Huôi đã chiếm đoạt tất cả quyền hạn. Nói rằng thằng Cẩu nắm quyền chớ cô ta từ rày về sau nắm hết quyền hạn, đúng là bà Chúa, là mẫu hậu. Cô ta có hỏi tới tôi không?

Bá Vạn trình bày ý kiến của cô Huôi. Bà chánh thất cười gượng:

– Thà rằng đi mà chắc sống thêm mươi năm, còn hơn là ở đây. Ông thấy cô Huôi là người thế nào?

– Dạ, là người khôn khéo, đáng mặt đàn bà.

Bà chánh thất thở dài:

– Đêm rồi, ta nằm chiêm bao, thấy nhiều điềm kỳ lạ quá. Chồng ta và con ta hiện về, mặc quần áo tang. Ta hỏi thì họ trả lời rằng vui lắm. Ta hỏi thêm cho biết tại sao họ vui. Họ trả lời rằng…

Bà nghiêng sát đầu vào tai Bá Vạn mà nói tiếp:

– Nói rằng cô Huôi không làm bà Chúa được lâu đâu.. Đó là bông quỳnh hoa sớm nở tối tàn. Quỳnh hoa được người chờ đợi khi là nụ, khi nở thì thơm lạ lùng nhưng mặt trời chưa mọc là đã tàn. Vả lại tôi nghe nhiều người nói rằng hễ đàn bà cầm quyền thì… gia đình suy sụp. Ông tin lời tôi không?

Bá Vạn nói:

– Tin chớ…

– Ông tìm cách xin đi xa. Bởi vì ông với tôi là hai người án bóng cô Huôi. Trước sau gì cô ta cũng đuổi. Thà rằng mình đi trước.

– Nhưng …hiện giờ cô Huôi bắt buộc tôi ở lại. Tôi buồn quá. Tôi ở lại để nghe cậu Cẩu chưởi mắng như lúc trước tôi đã từng chịu đựng với cậu Hai.

Ngoài đường, dân chúng la hét và cười giỡn rầm rộ lên. Có người nói:

– Hát thuật “Sơn Đông” bên chợ Rạch Giá tới. Một người nuốt hai ba cây gươm! Ông Chúa mới lên dám tốn tiền cho dân được vui.

Bá Vạn hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Bà chánh thất đáp:

– Ông rảnh thì coi thử. Cái thằng Cẩu thiệt là khó chịu. Thằng Điền của tôi coi vậy chớ khôn ngoan hơn.

– Tôi về. Vài ngày nữa lại thăm bà…

Ra khỏi nhà bà chánh thất, Bá Vạn lầm lũi theo đám người đông như thác lũ đang kéo về xóm chợ. Cậu Cẩu ngồi trên cái ghế to, trước kia dành cho cậu Hai Điền ngồi trên ghe để thị oai khi săn heo rừng. Nhóm Sơn Đông mãi võ gồm mười đứa cao lớn, mang theo nào đao, siêu, chùy, đinh ba, song kiếm. Bá Vạn đứng sau lưng cậu Cẩu.

Hai tên võ sĩ đánh nhau, đứa cầm song kiếm, đứa đỡ gạt với hai bàn tay không! Dân chúng hò reo từng chập để tán thưởng tài nghệ anh chàng tay không. Lắm khi anh ta né một bên, nhảy thật cao hoặc ngã mình cho té sấp để tránh lưỡi kiếm sáng ngời của đối phương. Bá Vạn thừa hiểu đó là những cuộc sắp xếp ngoạn mục. Có điều đáng chú ý là ở góc sân có một chàng trai mặt mày nghiêm nghị, nhỏ con. Đúng là người Việt Nam chớ nào phải là Hoa kiều từ đất Sơn Đông tới. Chàng nầy cầm cây cờ đuôi nheo, ba góc. Giữa cờ, thêu năm chữ “Sơn Đông Quỉ Mãi Khoan” nhưng điều khiến Bá Vạn đổ mồ hôi là lá cờ nọ có những tua dài bằng kim tuyến. Bá Vạn lẩm bẩm:

– Bọn nguy hiểm. Kim tuyến màu vàng nhưng tại sao lại là màu xanh, màu trắng và màu đỏ?

Cậu Cẩu day lại:

– Cái gì?

Bá Vạn đáp:

– Thưa cậu, bọn nầy không phải là Sơn Đông.

– Miễn là nó đánh võ coi sướng mắt thì thôi. Nếu không phải là Sơn Đông thì nó là gì?

– Dạ có lẽ là dọ thám…

– Ông nói có lý. Lát nữa tôi mời cái thằng chủ chốt tới nhà ăn cơm rồi bắt nhốt luôn…Ông về đi. Cứ để nó múa vài chập nữa.

Bá Vạn tất tả vào tư thất của cô Huôi. Theo ý ông thì ba sọc xanh trắng đỏ là màu cờ của người Lang Sa. Năm ngoái, ông đã nghe nói rằng bọn Lang Sa đã chiếm thành Gia Định, rồi đến Định Tường, đến chợ Hà Tiên. Mấy tháng qua, vùng Hòn Chông sống yên lành, có lẽ vì người Lang sa cho rằng Hòn Chông không quan trọng.

Cô Huôi nghiêm mặt khi nghe Bá Vạn trình bày buổi trình diễn:

– Bọn đó là ai?

Bá Vạn suy nghĩ hồi lâu:

– Quân Lang Sa tới, nhưng là ở xa. Nghe đâu bọn nó ra ngoài Huế để ra mắt nhà vua. Mấy tháng rồi, ông Chúa không đụng chạm tới họ thì chắc là rồi đây họ không đụng chạm tới xứ Hòn Chông nầy.

Cô Huôi nói:

– Bá Vạn ra chợ, mời một đứa trong bọn rồi hỏi kỹ lưỡng. Nên đối xử tử tế rồi khuyên họ đừng nên tới lui xứ nầy.

Thật là một công việc khó khăn! Từ khi cậu Cẩu “lên ngôi” đến giờ, Bá Vạn luôn luôn tìm cách lánh mặt để tránh dư luận xấu, cho rằng ông âm mưu giết cậu Hai Điền. Cậu Cẩu thì xem thường Bá Vạn, suốt ngày cứ lo ăn uống và cờ bạc.

Ngoài chợ, bọn Sơn Đông mãi võ đang biểu diễn một trò nguy hiểm: nhảy qua vòng lửa!

Bá Vạn đến gần cậu Cẩu, nói khẽ:

– Thưa cậu…

Cậu Cẩu nắm tay Bá Vạn mà kéo xuống:

– Ngồi đây coi chơi.

– Dạ, bà má nuôi của cậu muốn xét hỏi. Bọn nầy đáng tình nghi.

Cậu Cẩu lắc đầu:

– Coi cho sướng cái đã. Tụi nầy có tài. Người ta đang trổ tài mà…

Giữa sân, một tên lực sĩ đang cầm cái vòng bằng sắt, có cán như cây vợt. Trống chiêng nổi lên. Tên lực sĩ khác lấy vải nhúng dầu chai, quấn chung quanh cái vòng châm lửa. Bỗng nhiên tên cầm cờ trao cây cờ cho người bên cạnh rồi chạy tới gần cái vòng, đứng lại.

Anh ta trợn mắt, lui ra. Rồi anh ta quát to, như tập trung thần lực. Cậu Cẩu nói:

– Bá Vạn vô coi! Nó nhảy vô trong vòng đó!

Nhưng anh ta cụt hứng vì chàng lực sĩ nọ chạy tới gần cái vòng rồi đứng lại, khom lưng, hai tay cặp sát mép tay. Cậu Cẩu nói lớn:

– Mầy giỡn với tao hả? Mầy gạt tao?

Anh ta thối lui, đứng ngắm nghía vị trí cái vòng rồi đứng thẳng người, buông xuôi hai tay. Cậu Cẩu nói:

– Mầy điếc hả? Tới xứ nầy mà mầy không phục tùng lời nói của tao.

Anh ta vẫn không trả lời, khoanh tay trước ngực rồi quát lên như con thú bị thương:

– Sát! Sát!

Bá Vạn và cậu Cẩu đứng dậy một lượt, nghĩ đến một vụ ám sát. Bọn Sơn Đông mãi võ nầy phải chăng là tay sai của bà chánh thất muốn lợi dụng cơ hội để lật ngược tình thế? Nhưng Bá Vạn và cậu Cẩu lầm to. Anh ta nhảy tuốt qua vòng lửa. Qua bên kia, anh ta đứng dậy, mỉm cười rồi day qua cậu Cẩu mà xá ba lần!

Cậu Cẩu bắt đầu nổi giận:

– Mầy khinh tao! Lại đây!

Anh nọ đến trước mặt mà trình bày:

– Thưa cậu, tôi liều nguy hiểm để cho cậu vui mắt.

– Nhưng tại sao mầy cười? Tại sao mầy kêu tao bằng cậu? Tao…chém mầy.

Bá Vạn phập phồng lo sợ. Nếu tên mãi võ nầy là tay sai dọ thám của quân Lang Sa thì việc chém giết quả là hành động khiêu khích, bỗng dưng mà rước lấy tai họa cho cả vùng Hòn Chông.

Ông nói:

– Thưa ông…nên hỏi kỹ lưỡng.

Cậu Cẩu lườm Bá Vạn:

– Đây là chuyện của tôi. Tôi giết nó.

Rồi nhìn anh chàng mãi võ, cậu la lớn:

– Ai dạy mầy cái tật hỗn láo!

Anh chàng nọ nhìn vào cậu Cẩu như để dò xét ngầm, lát sau mới nói:

– Dạ, người Lang Sa dạy tôi! Muốn được yên thân, cậu nên cầu hòa với người Lang Sa.

Vì sống quanh quẩn ở núi Mo So nên cậu Cẩu chẳng hiểu gì cả. Cậu lại hỏi:

– Lang Sa là thằng nào?

Bá Vạn quả quyết rằng bọn mãi võ nọ là quân dọ thám nên ra lịnh:

– Hộ vệ đâu? Bắt bọn nó!

Bọn Sơn Đông mãi võ hò hét vang rân trong khi bọn hộ vệ tìm cách bao vây. Dân chúng tán loạn trong khi Bá Vạn và cậu Cẩu chạy trối chết về tư thất. Cuộc tranh tài diễn ra trong chớp nhoáng rồi tự giải tán vì bọn Sơn Đông rút lui quá nhanh. Chúng hươi mấy cây đinh ba, chùy, song kiếm rồi chạy xuống núi. Đó là sự may mắn cho bọn hộ vệ, vì nếu bọn Sơn Đông kháng cự thật sự thì làm sao bọn chúng chống đỡ nổi với những cây dao ngắn.

Cậu Cẩu về nhà, gọi đứa nữ tỳ:

– Quạt cho mát coi!

Rồi day lại:

– Ủa! Sao có một đứa hè? Ba bốn đứa quạt một lượt cho nổi giông nổi gió.

Bá Vạn vuốt mồ hôi trán, theo sau mà nói:

– Thưa ông, đóng cửa lại! Bọn nó dám làm loạn.

Cậu Cẩu cằn nhằn:

– Ông già rồi mà ông còn nói bậy nói bạ. Thằng nầy chưa sợ bất cứ ai. Lát nữa, bọn hộ vệ lôi đầu thằng nhảy vòng lửa về đây chớ gì? Nếu sợ thì ông lại trước hàng ba mà canh chừng.

Tủi thân biết chừng nào! Bá Vạn không dám cãi cậu Cẩu. Đứng trước hàng ba, ông liếc về phía xóm chợ. Mấy tên hộ vệ cúi đầu đi lặng lẽ như bầy chuột mắc mưa. Đúng là họ đã thất bại và bọn Sơn Đông mãi võ đã tẩu thoát.

Cậu Cẩu hỏi:

– Tụi nó đâu? Dẫn bọn Lang Sa tới chưa? Lang Sa là cái giống gì?

Bá Vạn đáp:

– Bọn hộ vệ không bắt được ai hết. Bọn dọ thám chạy trốn rồi.

Bỗng dưng mà cậu Cẩu cười ha hả:

– Bọn Lang Sa chạy trốn thì…đâu đáng sợ. Ông hô hoảng làm náo loạn dân chúng. Từ rày về sau, ông đừng sợ bóng sợ gió vậy nữa…

Hai ngày liên tiếp, cậu Cẩu vắng mặt, lý do rất đơn giản: Cậu về núi Mo So để thăm mẹ và ông ngoại. Mười Hấu bày cho dân chúng ăn uống linh đình và tuyên bố rằng năm tới cậu Cẩu sẽ miễn tất cả nợ ăn và địa tô.

Người chờ đợi cậu Cẩu là cô Ngó. Cô buồn phiền vì thái độ gần như bạc bẽo, vô tình của Bá Vạn. Bá Vạn phải chăng đã quên đêm ân ái, trước khi xảy ra việc săn heo rừng? Cô Ngó hơi buồn tẻ, trở thành goá phụ. Cô không được tái giá vì vùng Hòn Chông nầy chẳng còn ai xứng đáng với cô. Ngoài ra, còn dư luận và áp lực của cậu Cẩu. Bá Vạn là niềm an ủi duy nhứt của cô.

Cô gọi:

– Cậu Ba đâu rồi?

Cậu Cẩu bước vào nhà:

– Thưa má, tại sao còn là cậu Ba? Là cậu Hai chớ!

Cô Ngó biết rằng cậu Cẩu đang kiêu hãnh nên vội sửa chữa:

– Ừ! Thì cậu Hai, má quen miệng. Hồi đó thằng Hai Điền còn sống, nó là đứa thứ hai.

Cậu Cẩu đáp:

– Má đừng nhắc tới nó nữa. Bây giờ, con là ông vua rồi.

– Bà chánh thất, cô Huôi và ông Bá Vạn đối xử với con ra sao? Con nên kính trọng và nghe lời mấy người đó. Má buồn vì quê mùa, ăn nói không lịch thiệp.

– Má về Hòn Chông ở với con…

– Chưa được đâu. Hễ má về thì thiên hạ đồn đãi…

– Chuyện đó thiên hạ bàn tán rồi bỏ qua chứ gì! Ai mà không biết ba con với thằng Điền bị cô Huôi và Bá Vạn giết chết. Tụi nó lợi hại lắm.

– Nhưng nhờ đó mà con thêm oai quyền. Đừng nói vậy không nên.

Vì ghen tương, cô Ngó muốn cho bà chánh thất và cô Huôi đi xa Bá Vạn. Cô hỏi:

– Bà chánh thất đi tu chưa? Má nghe đồn đãi rằng bà đi tu.

– Hơi đâu mà nhắc tới mụ đó. Mụ ta lấn hiếp má từ mấy năm qua. Đáng lý ra, con giết mụ ta.

– Con đừng nói nhảm. Còn Bá Vạn?

Cậu Cẩu cau mày:

– Cái đó khó hiểu. Bá Vạn tới lui thăm bà chánh thất rồi tới thăm cô Huôi.

Cô Ngó suy nghĩ hồi lâu. Vì đã từng sống gần cô Huôi nên cô Ngó tin rằng Bá Vạn chẳng bao giờ làm chuyện tình ái bất chánh được. Một là vì Bá Vạn đã già, hai là vì cô Huôi là người tự trọng và kiêu hãnh, dám hy sinh thú vui riêng để làm việc lớn.

Nhưng dầu sao đi nữa, Bá Vạn vẫn là người phụ bạc. Nghĩ vậy, cô Ngó nói:

– Bá Vạn là người tham lam.

Cậu Cẩu thích chí, nhớ tới chuyện Sơn Đông mãi võ hôm nọ:

– Nó muốn làm vua. Nó coi con là con nít. Con đi đâu, nó theo sát bên cạnh để dạy dỗ rồi mét thót với cô Huôi. Con cách chức nó.

Bỗng dưng mà cô Ngó nghĩ đến một thủ đoạn ác độc. Mấy tháng qua, cô sống hiền lành, phó mặc cho hoàn cảnh. Nhưng cô thấy rằng nếu quá hiền lành thì sẽ mất hạnh phúc:

“Rồi đây Bá Vạn sẽ năn nỉ ta cứu giúp”.

Nghĩ vậy, cô lại nói:

– Con hãy làm việc kỹ lưỡng. Bá Vạn làm công nhiều năm rồi, tất cả mọi người vùng Hòn Chông nầy đều biết mặt ông ta. Ông ta nghỉ việc, bao nhiêu sổ sách nợ nần đều mất. Chờ một hai năm nữa rồi hãy hay. Tạm thời, con tìm cách lấn quyền hạn ông ta, nắm giữ sổ sách.

– Hay lắm. Má cứ tin con.

– Nhắn Bá Vạn tới cho má dạy việc…

– Dạ.

Rồi cậu Cẩu lên núi Mo So để tìm mấy người bạn đá cá thia thia hôm nọ.

– Tụi bây tới Hòn Chông mà thăm tao!

Có người trả lời:

– Cậu là người giàu sang, như ông Chúa Hòn rồi. Tụi tôi bần hàn, ăn bận rách rưới, gia đình túng thiếu. Nếu bỏ công việc lấy sáp ong thì làm sao mà đủ cơm gạo cho vợ con ăn?

Cậu Cẩu đáp:

– Tao nuôi tụi bây luôn. Về đó, tụi bây ăn cho mập rồi tập luyện võ nghệ. Tao ở Hòn Chông một mình buồn bực vô cùng, xung quanh là người xa lạ, họ chắp tay xá tao, họ lạy tao nhưng tao không tin cậy bằng tụi bây.

Ai nấy vui mừng, hứa đi Hòn Chông để làm người hộ vệ cho cậu Cẩu.

Trên đường về Hòn Chông, cậu Cẩu bỗng dưng nảy ra ý nghĩ táo bạo:

– Qua Hòn Đất. Tụi bây biết nhà Tư Thính ba cô Huôi không? Đưa tao tới đó.

Bọn hộ vệ đáp:

– Thưa cậu, đường hơi xa. Đêm nay ngủ dọc đường, nào muỗi mòng, mưa gió.

– Tụi bây dốt quá. Ở Vàm Rầy có xóm nhỏ, cứ đậu ghe lại. Tụi bây ngủ, tao cũng ngủ luôn.

Câu nói vớ vẩn của cậu Cẩu khiến bọn hộ vệ trố mắt nhìn nhau. Tại sao cậu đòi đi Hòn Đất thật gấp rồi lại muốn ngủ dọc đường? Nhưng khi cậu Cẩu nói thì chẳng một ai dám cãi lời.

Nằm trong ghe bầu, cậu Cẩu nhớ lời căn dặn của me. Phải hạ nhục Bá Vạn mới được! Cậu Cẩu hiểu rằng hiện nay mình đang nắm tất cả quyền hạn và tài sản. Nhưng Bá Vạn là kẻ đang chia sớt quá nhiều quyền hạn ấy. Cô Huôi là người đáng cho cậu kính nể, chưa rầy rà cậu lần nào.

Ghe tới xóm Vàm Rầy.

Bọn hộ vệ hỏi:

– Thưa cậu, ngủ tại đây chớ?

Cậu Cẩu ngồi dậy, nhìn qua cửa hông mui ghe. Đèn đuốc sáng rực. Năm ba căn phố ngói hiện ra. Năm ngoái, cậu đến đây một lần nhưng xóm Vàm Rầy còn chưa sầm uất.

Cậu nói:

– Ghé lại. Nhà cửa của ai vậy?

Bọn hộ vệ đáp:

– Dạ, tụi tôi chưa rõ.

Tiếng đàn hát từ mấy căn phố vang ra. Cậu Cẩu nổi giận:

– Bọn nó vô lễ!

Bọn hộ vệ chưa hiểu cậu Cẩu muốn nói gì. Thật ra bọn người ở xóm Vàm Rầy nầy đâu hay biết trước để đón tiếp ông chúa con. Một tên hộ vệ hỏi:

– Thưa cậu, chắc họ đờn ca inh ỏi, cậu khó ngủ. Để tôi lên bờ nói một tiếng là họ dọn dẹp ngay.

– Không đâu! Tao muốn chuyện khác.

Một tên hộ vệ bèn ngỏ lời nịnh hót:

– Chắc là có cô nào đẹp mà lại hát hay. Tôi mời cô ta xuống đây hát cho cậu nghe.

Cậu Cẩu lắc đầu:

– Đừng giỡn mặt với tao. Thằng nào nói hỗn xược đó! Xuống đây tao dạy việc…

A Chúa là người Hoa kiều lai Việt, làm cai điền cho Bá Vạn hơn mười năm qua. Mới đây ông Bá Vạn trao một số tiền, bảo A Chúa xây cất ba căn phố lợp ngói. Ngoài ra, A Chúa còn lo dự trữ hàng hóa quan trọng. Sống trong địa phương nhỏ, A Chúa được dân chúng nể nang. Lúc ngồi nghe ca nhi đờn ca, anh ta ngỡ mình là ông vua nhỏ, bên cạnh cung phi mỹ nữ. Chuyến trước, Bá Vạn an ủi anh ta:

– A Chúa ráng vài năm là tôi chia cho một phần ba gia tài.

Lúc ngồi dựa lưng vào gối, A Chúa bỗng giựt mình vì thấy có một tên hộ vệ bước vào. Lối ăn mặc của bọn nầy khác hẳn với thường dân: áo ngắn, dây nịt da to bản. Thoạt tiên, A Chúa ngỡ rằng Bá Vạn tới nên reo to:

– Vui quá. Ổng tới rồi!

Rồi anh ta day qua bọn ca nhi:

– Chúng bây nghỉ ngơi giây lát để dưỡng sức. Đêm nay thức tới khuya. Ông Bá Vạn ban thưởng tụi bây.

Nhưng anh chàng hộ vệ quát to:

– Xuống bến! Biết ai không?

– Ông Bá chớ ai?

– Ông Bá hả? Coi chừng ăn đòn! Ông Chúa tới đó. Xuống ghe để nghe ông Chúa dạy việc.

– Sao tôi không hay trước? Vậy mà nãy giờ tôi tưởng là…

A Chúa gài nút áo, xỏ chân vào đôi giày hàm ếch. Bọn ca nhi ngồi yên trên chiếu, cúi mặt, sau khi dẹp cây đàn và đôi song lang sát vách. Ra đến sân, A Chúa nghe tiếng chưởi:

– Xứ nầy lạ quá, tụi bây làm ăn kiểu gì vậy?

Trong lúc A Chúa bối rối thì tên hộ vệ nhắc nhở:

– Ổng rầy chú mầy đó!

A Chúa nói khẽ:

– Thưa ông, xin ông tha thứ cho. Tôi chưa biết mặt ông. Xin mời ông vô nhà…

Khi đến trước thềm, cậu Cẩu dừng lại, ưỡn ngực trông lên:

– Nhà mới cất. Bên kia, ai làm chủ? Tại sao thiên hạ mau giàu quá vậy?

A Chúa run sợ nhưng làm sao anh ta dám nói dối. Song nếu tiết lộ sự thật thì chắc là cậu Cẩu nổi giận.

– Hả? Ai làm chủ? Chú mầy làm chủ chớ ai?

– Dạ, của …ông Bá Vạn!

– Rồi! Tao nói không sai. Được lắm, được lắm! Nhà nầy cất bao lâu rồi? Còn mới tinh khôi. Làm giàu mau thiệt.

Đúng là cậu Cẩu oán ghét ông Bá Vạn nên mới cằn nhằn ganh tị. A Chúa buồn bực vô cùng. Đáng lý ra, cậu Cẩu phải mừng rỡ khi thấy kẻ ăn người ở được khá giả hơn trước.

– Dạ thưa ông, cất bốn tháng rồi!

Thật ra, ba căn phố nầy chỉ mới cất xong từ hôm kia. A Chúa rước bọn ca nhi tới để chờ đón rước Bá Vạn ăn mừng tân gia. Nếu bảo rằng mới cất xong thì cậu Cẩu sẽ cho rằng đó là tiền mà Bá Vạn lường gạt trong ngân quỹ.

Cậu Cẩu vào nhà, ngồi trên bộ ván gỗ, lắc đầu:

– Bốn tháng không? Nếu vậy thì Bá Vạn đã ăn trộm tài sản của tao từ khi tao chưa…kế vị! Chắc còn nhiều chỗ khác. Xóm Vàm Rầy nầy, Bá Vạn còn nhà cửa, ruộng đất gì không?

Để tránh cơn phẫn nộ của ông Chúa, A Chúa đáp:

– Thưa ông, tôi chỉ biết ba căn phố nầy.

– Mở cửa hai căn kia cho tao coi!

Bọn hộ vệ đi trước, theo sát A Chúa mà nói khẽ:

– Chú mầy sắp tàn mạt rồi! Năn nỉ thì tao dạy cho.

A Chúa đáp:

– Mấy cậu thương giùm. Tôi chỉ là người làm công cho ông Bá Vạn. Ăn cây nào rào cây nấy, biết sao?

– Nè! Kiếm cô nào đẹp, đánh đàn rồi hát cho ông Chúa ngủ. Ổng chịu thứ tiêu khiển đó.

Nhưng, cậu Cẩu đã theo, bén gót. Vừa bước vào căn phố thứ nhì, cậu trố mắt, nói lậy dậy:

– Trời! Nó giàu hơn tôi. Bá Vạn thiệt là khôn ngoan. Cái gì dự trữ đầy kho, đựng trong bao cà-ròn?

– Dạ, tôm khô…

– Còn gì nữa, nói thiệt đi.

– Dạ, căn bên kia dự trữ bong bóng cá, vi cá.

Cậu Cẩu đáp:

– Đóng cửa lại. Tao mệt rồi.

A Chúa hơi lúng túng, chưa biết cậu Cẩu dùng thái độ cứng rắn hay mềm dẻo. Dân chúng xúm lại khá đông, hỏi lăng xăng. A Chúa buồn rầu vô cùng vì đây là điều sỉ nhục lớn. Từ rày về sau, anh ta không còn được dân chúng kính nể như trước – khi cậu Hai Điền còn sống.

Tên hộ vệ gọi to:

– Chủ phố đâu?

A Chúa chắp tay thưa bẩm:

– Dạ tôi đây.

– Cậu dạy chú mày kiếm ông Bá Vạn để chịu tội…

A Chú hỏi khẽ:

– Anh biết tôi là người làm công, nắng bề nào che bề nấy, tại sao cậu Cẩu ghét ông Bá Vạn như vậy?

– Tao không biết. Nhưng là cậu Cẩu muốn xưng vương một cõi. Bấy lâu nay, Bá Vạn làm giàu. Cậu Cẩu là ông Chúa mà kém oai quyền hơn người quản gia.

Trời quá tối, đêm vào khoảng canh ba. A Chúa nghĩ đến con đường xa lăng lắc từ đây đến Hòn Chông nên van nài:

– Anh năn nỉ giùm tôi, nếu tôi trở về không kịp thì nói với cậu Cẩu như thế nào cho cậu đừng rầy la.

– Làm cách nào thì làm. Hừng sáng ông Bá Vạn phải tới cho kịp. Dầu sao đi nữa, ổng cũng là công thần. Nếu ăn nói khéo léo, chưa đến nỗi nào, phải gãi đúng chỗ ngứa.

– Anh nói sao?

Tên hộ vệ của cậu Cẩu nói:

– Tôi làm việc mấy trào rồi, ông Bá Vạn chưa rầy la lần nào. Tôi thương ổng lắm vì tánh tình điềm đạm, ít nổi nóng. Nghe gì chưa? Coi trên bờ kia!

Đứng dưới bến, A Chúa thấy cửa phố mở ra rồi đóng lại đôi ba lần. Tiếng đàn địch trỗi lên. Cậu Cẩu cười ha hả, bước vào. Cánh cửa đóng lại kín mít.

Tên hộ vệ lẩm bẩm:

– Cậu Cẩu ưa gái đẹp! Nói như vậy là ông Bá Vạn hiểu.

Vì sợ trễ nải nên A Chúa cong lưng chèo ghe đến Hòn Chông. Dọc đường, anh ta không dám dừng tay để rửa mặt, uống nước.

Đầu canh tư, anh ta đến bến, buộc dây ở mũi xuồng vào cây nọc trên bờ rồi chạy tất tả vào sân. Bọn hộ vệ hỏi:

– Ai đó?

– Tôi là A Chúa, coi điền đất cho ông Bá Vạn ở Vàm Rồng, Vàm Rầy. Cho tôi gặp mặt ông Bá.

Bị đánh thức thình lình, Bá Vạn biết là có chuyện quan trọng xẩy ra. A Chúa thuật đầu đuôi tự sự rồi nói thêm:

– Cậu Cẩu đang ngủ với mấy đứa “phì phà chảy”. Lúc đầu, cậu chưởi mắng tôi khi nghe tụi nó đờn hát. Nhưng riết rồi, coi bộ cậu trở nên phàm tục. Ông tới cho kịp, nếu trễ thì tôi còn gì thể diện với dân chúng bến phố. Theo ý cậu ta thì mớ tôm kho và bong bóng cá dự trữ trong kho đều là….bất chánh.

Bá Vạn thở dài hỏi A Chúa:

– Đói bụng lắm hả? Xuống bếp kiếm cái gì ăn cho no. Tao rửa mặt rồi đi liền. Chắc là cậu Cẩu coi tao như thằng ăn cướp. Già rồi, tao có quyền làm ăn mua bán chớ sổ sách ghi chép đàng hoàng, tao ăn gian chỗ nào? Dè đâu thói đời như vầy…

Lúc A Chúa xuống bếp, Bá Vạn qua tư thất cô Huôi. Cô Huôi đang uống nước trà, với cái tô kiểu vẽ hình long phụng. Thấy Bá Vạn, cô Huôi hỏi:

– Chuyện gì vậy?

– Thưa cô, cậu Cẩu hạ nhục tôi. Nhờ cô cứu giùm.

Cô Huôi nghiêm mặt:

– Ông ngồi, nói tiếp cho tôi nghe. Ông phải biết trước chuyện nầy, trước khi xảy ra chuyện ở Lung Tràm. Đừng hoảng hốt.

Rõ ràng cô Huôi là người đủ bản lãnh, còn trẻ nhưng không thiếu kinh nghiệm đối nhân xử thế. Bá Vạn cúi mặt.

Gà gáy eo óc. Hai ngọn đèn sáng cháy chập chờn. Sương mù bay lẩn quẩn trong nhà. Cô Huôi gọi rót tô nước trà mời Bá Vạn uống rồi xua tay đuổi đứa nữ tỳ ra ngoài.

– Cậu Cẩu đòi tôi tới Vàm Rồng. Nếu tới trễ, tội của tôi thêm nặng. Cô nghĩ coi. Tôi như thằng già cõng đứa bé lên vai để nó xem hát. Dè đâu, nó cú trên đầu thằng già. Đành rằng “được cá quăng nơm” là thế gian thường tình, nhưng cậu làm quá đáng. Hai căn phố giá đáng là bao. Tôm khô, bong bóng cá dự trữ trong kho là số vốn mà tôi dành dụm bấy lâu nay. Tức quá!

Cô Huôi bĩu môi:

– Ông nhớ không? Lúc ông bàn kế hoạch với tôi, tôi đâu có cười. Nhưng ông đừng lo. Sự đời là như vầy, mỗi người đều trải qua ba giai đoạn, từ khi lớn lên đến nhắm mắt. Chưa làm nên sự nghiệp, chịu lao đao lận đận. Nên sự nghiệp rồi thì suy tàn, nên tỉnh táo đề phòng. Vả lại ông chưa suy tàn đâu!

Bá Vạn hơi bực dọc vì cô Huôi không chịu dùng quyền lực để can gián cậu Cẩu. Cô Huôi nói tiếp:

– Tôi còn nhỏ, chưa dám dạy đời cho bất cứ ai. Nhưng tôi nghe ba tôi dạy như vậy. Ba tôi nói rằng đó là lời dạy của Trời Phật, trong kinh kệ.

Bá Vạn không còn kiên nhẫn được nữa:

– Trời ơi! Tôi phải gặp mặt cậu Cẩu để trả lời về tội gian tham. Rủi cậu nổi giận đánh đập hoặc có những cử chỉ thất lễ, làm sao tôi sống được. Xưa kia, tôi bị cậu Hai Điền hất tô nước mắm với tô thịt kho lên đầu. Cái áo đó còn để trong cái tráp.

Cô Huôi nói:

– Tôi khuyên ông nên chịu đựng tất cả. Lần trước giết cậu Hai Điền thì có người thay thế. Nhưng lần nầy, nếu giết cậu Cẩu thì còn ai? Phải để cậu Cẩu sống hoài. Vả lại, bọn Sơn Đông mãi võ hôm nọ làm tôi suy nghĩ. Cậu Cẩu không sống dai để làm ác đâu! Chuyện đời còn nhiều thay đổi.

– Thà rằng bị chưởi mắng nơi kín đáo chớ chịu đựng giữa đám đông thì chết còn sướng hơn.

Cô Huôi mỉm cười:

– Cậu Cẩu đang háo thắng, muốn chưởi mắng, hạ nhục vài người có quyền thế giữa đám đông. Ông nên vui vẻ chịu đựng.

Kể ông chịu đựng được thì cậu ta thương mến ông chớ gì!

Bá Vạn gật đầu:

– Cám ơn cô. Cô nói phải. Lúc nầy cậu ta muốn khoe khoang quyền thế. Tôi hứa chịu đựng tất cả.

Nói xong, Bá Vạn ra ngoài sân, về nhà rồi xuống ghe với A Chúa cho kịp lúc trời chưa sáng.

Cậu Cẩu uống rượu say mèm, ngủ thẳng giấc. Mặt trời lên cao, tên hộ vệ đứng gần bên cạnh. Cậu mong cho A Chúa rước Bá Vạn đến kịp giờ.

Bọn ca nhi rửa mặt, thay quần áo rồi ngồi cú rũ ở căn phố bên cạnh. Tên hộ vệ hỏi đùa:

– Hồi tối vui không? Mấy cô sao mà buồn vậy?

Một cô đáp:

– A Chúa rước chị em tôi từ Rạch Giá tới đây, nửa chừng A Chúa đi vắng. Hôm nay, lấy gì mà ăn, ai trả tiền chợ cho chị em tôi?

Tên hộ vệ chú ý đến nhan sắc cô gái hơi lớn tuổi.

– Đẹp như cô, chắc làm giàu mau lắm, toàn là người giàu sang đến rước, họ trả tiền nhiều…Cô tên gì?

Cô gái trố mắt:

– Hỏi chi vậy? Tôi tên Xí Vĩnh.

– Tên lạ quá…

– Có gì lạ. Tên tôi viết như vầy.

Ngón tay cô gái vẽ trên cát. Tên hộ vệ đọc nhanh:

– Xí Vĩnh là Thúy Anh. Tên đẹp quá. Mấy cô chờ lát nữa là có tiệc tùng ăn uống. A Chúa bận việc riêng…

Dân chúng cứ xúm xít dưới bến. Đột nhiên, có người reo to:

– A Chúa về rồi kìa!

Tên hộ vệ xuống bến, vừa mừng vừa lo khi thấy ông Bá Vạn ngồi xếp bằng trước mũi ghe.

Ghe cập bến, Bá Vạn lên bờ, hỏi nhanh:

– Cậu Ba đâu rồi:

Tên hộ vệ đáp:

– Dạ thưa, cậu còn ngủ. Hồi tối thức khuya với mấy phì phà chảy, uống rượu hơi nhiều. Nếu cần, tôi đánh thức cậu Ba.

– Thôi! Cậu là ông Chúa, rủi bề gì…A! Mày nghe cậu hờn giận tao điều gì đó? Khổ quá. Dầu sao đi nữa, cậu cũng giữ thể diện cho tao làm ăn. Nếu biết cậu tới đây, tao bày tiệc đón rước trọng thể.

A Chúa mời Bá Vạn qua căn phố bên cạnh. Ông không chờ cậu Cẩu thức. Bá Vạn nhìn cô gái xinh đẹp tên là Xí Vĩnh:

– Hồi tối, cô săn sóc cậu Ba…

– Dạ. Cậu đó ác quá, bắt tôi uống rượu hoài.

A Chúa bèn giới thiệu:

– Đây là cô Xí Vĩnh.

Rồi nói với Xí Vĩnh:

– Ông nầy có thể giúp cô làm nên sự nghiệp. Cậu hồi tối đó giàu lắm.

Xí Vĩnh cau mày:

– Hèn gì cậu xưng là ông Chúa Hòn, nắm trời đất trong tay. Cậu hăm giết vài người để …lấy máu tế cờ!

Bá Vạn rùng mình:

– Nói thiệt hay nói chơi? Chắc là lúc uống rượu hơi nhiều. Cậu hiền lắm mà.

Xí Vĩnh đáp:

– Cậu đâu có hiền. Uống rượu bao nhiêu cũng tỉnh, tỉnh mà như say, hai bàn tay hơi run, mặt tái mét. Hồi tối cậu đòi mổ bụng tôi để…ăn gan.

Bá Vạn thở dài, nhớ tới lời khuyên của cô Huôi. A Chúa nói khẽ:

– Xí Vĩnh sẽ giúp mình nhiều chuyện về sau nầy nếu cậu mê nhan sắc nó.

Bá Vạn trao cho Xí Vĩnh nén bạc:

– Để dành mà xài.

Bên kia vách, có tiếng dậm rầm rầm trên giường. A Chúa hơi mừng vì cậu Cẩu dường như đã quên chuyện cũ. Cậu nói:

– Hai đứa con gái đâu rồi? Có một đứa coi được quá. Con Xí Vĩnh! Để tao đem nó về làm vợ. Thứ con gái đó coi vậy mà xài được, dễ sai biểu. À! Tao nhớ! Đêm rồi mầy đi đâu? Mầy nói lại cho tao nghe thử. Nè! Nếu nói láo thì tao giết mầy.

– Dạ, tôi rước ông Bá Vạn tới đây để nghe cậu dạy việc.

– Ủa! Bá Vạn tới rồi hả? Sao lão ta chưa qua đây hầu hạ tao? Tao nhỏ tuổi thiệt nhưng tao thề không bao giờ chào ổng trước. Ổng là cái …thằng ở đợ, quá tham lam. Tao ngồi đây coi ổng muốn gì? Ổng muốn gặp mặt tao chớ tao gặp mặt ổng để làm cái gì chớ?

Bá Vạn nghe rõ, uống chút rượu, gài nút áo cẩn thận. Lời căn dặn của cô Huôi còn văng vẳng bên tai ông. Cậu Cẩu là đứa bần tiện, khi thắng thế thì phách lối. Nên nhịn nhục cho qua buổi rồi chờ cơ hội khác.

Ông đến trước cửa, chắp tay xá:

– Xin ra mắt…

Cậu Cẩu đưa tay ngoắt:

– Bá Vạn vô đây! Nghe tôi hỏi rồi trả lời kỹ.

– Dạ, cậu là bề trên của tôi.

– Trên dưới gì, nghe nhức đầu quá. Tôi muốn trừng trị một tên gian ác, vậy thôi. Ba căn phố dự trữ tôm khô, bong bóng cá, vi cá nầy là của tôi…

Bá Vạn cố nài nỉ:

– Xin cậu thương giùm. Tuổi già sức yếu, bấy lâu nay tôi dành dụm lần hồi.

– Dành dụm gì mà nhiều dữ vậy?

– Dạ tôi không ăn xài cờ bạc gì ráo. Vợ con thì không có. Mấy năm qua, nhờ gặp chuyến nên lời nhiều, cất được ba căn phố nầy.

– Lời gì nhiều dữ vậy? Ông ngoại tôi ở núi Mo So còn chưa có tài sản như vầy. Má tôi ở trong căn nhà ông ngoại tôi.

Bá Vạn bực tức, muốn nói thẳng rằng Mười Hấu, ông ngoại cậu Cẩu, cách đây vài tháng chỉ là kẻ thất phu, sống bằng nghề leo lên sườn núi mà hái ổ ong mật. Mẹ cậu Cẩu là cô gái gánh nước ở bờ suối, chính Bá Vạn đã cầm đuôi dẫn đường cho ông Chúa Hòn đến ăn uống no say. Nghĩ vậy, Bá Vạn nói khẽ:

– Lần hồi, ông ngoại cậu trở nên giàu có. Tài sản như tôi đáng là bao!

– Đừng nói lảng qua chuyện khác. Tôi muốn nói là ông không được quyền chiếm đoạt tài sản của tôi. Cãi hả? Cái thằng A Chúa đâu? Nó chịu tội giùm ông.

A Chúa trố mắt, chưa hiểu cậu Cẩu giở trò gì, nên trốn trách nhiệm:

– Cậu ơi, tôi là người làm công.

Cậu Cẩu đắc ý chỉ vào mặt A Chúa:

– Quỳ xuống! Chẳng lẽ tao bắt ông Bá Vạn phải quỳ!

A Chúa riu ríu vâng lời, quỳ trước thềm nhà. Bá Vạn vẫn còn tin rằng cậu Cẩu chỉ muốn thị oai với dân trong xóm, nhứt là với cô Xí Vĩnh. Nhưng ông lầm to. Cậu Cẩu truyền lịnh:

– Đánh mõ lên! Tụ họp dân chúng cho mỗi người thấy một chút.

Tên hộ vệ đã quen tánh ý cậu Cẩu biểu là phải làm, nếu cãi thì số phận anh ta sẽ tệ hại hơn A Chúa. A Chúa liếc về Bá Vạn như cầu khẩn.

Bá Vạn nói:

– Cậu dạy thì chú mầy cứ nghe lời. Cậu mới lên, thế nào cũng dễ dãi, ăn ở nhơn đức với kẻ ăn người ở.

Dân trong xóm đến bao quanh sân nhà. Cậu Cẩu gọi:

– Ông Bá Vạn! Lại đây mà nghe. Tôi hỏi ông điều nầy.

– Dạ, tôi sẵn sàng quỳ dưới chân cậu.

– Thằng A Chúa nầy giúp việc từ bao lâu rồi?

Bá Vạn đáp:

– Dạ từ bốn năm nay, tánh tình hiền hậu. Mỗi năm đến ngày Tết, ngày giỗ, nó đều có mặt tại đường ở Hòn Chông để cúng lạy.

– Mặc kệ. Ai mướn nó?

Bá Vạn đáp:

– Dạ tôi mướn nó.

Cậu Cẩu trợn mắt:

– Mướn nó…nhưng tại sao ông không cho tôi biết? Muốn làm gì thì làm sao chớ?

Bá Vạn bỗng nổi nóng:

– Thưa cậu, đây là chuyện riêng của tôi, tôi trình chỉ làm mất thời giờ của cậu.

– Nếu vậy mai mốt đây, ông mướn hàng trăm võ sĩ để xâm chiếm vùng nầy? Quyền hạn của ông nhỏ lắm, không có gì hết.

Cậu Cẩu vui sướng vô cùng khi thấy mồ hôi tuôn xuống từng giọt, ướt lưng Bá Vạn. Cậu nhớ lời mẹ dạy nên tìm cách hạ uy thế Bá Vạn, đề phòng trường hợp lão ta soán quyền hạn.

Bá Vạn thì nhớ lời cô Huôi, cố gắng van nài đến mức chót:

– Thưa cậu, từ rày về sau tôi hứa trình với cậu bất cứ chuyện gì dầu lớn dầu nhỏ.

– Được lắm, thằng A Chúa cứ quỳ đó mà phơi nắng cho tới trưa.

A Chúa khóc rấm rứt:

– Thưa cậu, thà rằng cậu chém tôi giăng xác cho quạ rỉa. Bà con chòm xóm đâu còn kính nể tôi…

Cậu Cẩu khoát tay:

– Đứng dậy rồi đi tới xứ khác mà ở. Tao không muốn thấy mặt mầy nữa.

Rồi day qua Bá Vạn:

– Còn ông, ông nên lo việc tìm cách làm ăn. Mấy căn phố nầy với bao nhiêu tôm khô, vi cá, bong bóng cá ở trong đều là của tôi. Ông không còn món gì ráo.

Nói xong cậu Cẩu vào trong, ngồi xuống gọi Xí Vĩnh đem bầu nước và bầu rượu. Dân chúng tản mát vì sợ sệt. A Chúa chạy thẳng một hơi tới xóm Vàm mất dạng.

Bá Vạn ngồi trên cái ghế nhỏ, bên cạnh cậu Cẩu. Ông hy vọng rằng qua cơn thạnh nộ vô lý ấy, cậu sẽ hồi tâm.

Bầu không khí trở nên yên lặng.

Cậu Cẩu lên tiếng trước:

– Nầy Bá Vạn, tôi không muốn thấy mặt ông nữa.

– Xin cậu suy nghĩ giùm. Lúc nãy trước mặt đông người, tôi đã bị hạ nhục. Chắc cậu đã thoả mãn.

Cậu Cẩu đáp:

– Ông là người ác độc. Tôi còn tỉnh táo lắm. Đây nầy, đãi ông một bầu rượu cuối cùng gọi là tiễn đưa ông về chùa mà hưởng già!

– Trời! Phải có chùa mà tu thì đời tôi chưa đến đỗi nào. Sau mấy chục năm trời lo trong lo ngoài, tôi còn hai bàn tay trắng như vầy.

– Tôi nói là tôi làm. Tôi không mướn ông nữa. Ông còn nắm níu để…ở đợ cho ai?

Bấy giờ Bá Vạn mới bình tĩnh day qua Xí Vĩnh:

– Cô đem cho tôi cái chén!

Xí Vĩnh chưa hiểu ông Bá Vạn muốn nói điều gì xa xôi.

Bá Vạn lắc đầu:

– Chén lớn mới được. Có cái tô càng hay.

Cậu Cẩu cười hề hề:

– Uống rượu cho say rồi nằm vạ ở đây để bêu xấu tôi sao chớ? Tôi còn nhỏ nhưng tánh tôi cứng lắm.

Bá Vạn ung dung chọn bầu nước lạnh, rót đầy tô đưa ngang môi. Bỗng dưng, ông trợn mắt ném cái tô xuống nền gạch.

Cái tô bể ra ba mảnh, nước văng tung toé. Cậu Cẩu rút chân lên càu nhàu:

– Ướt quần tôi!

Bá Vạn nói rõ từng tiếng:

– Hồi mấy năm về trước, có một cô gái múc nước suối, nhờ tôi mà gặp ông Chúa Hòn. Cô gái đó không bao giờ bận quần áo khô!

Cậu Cẩu hiểu rằng ông Bá Vạn kể công ơn. Ông Mười Hấu đã cho cậu biết rõ qua về trường hợp mẹ cậu gặp ông Chúa Hòn, do Bá Vạn làm trung gian. Thái độ ấy quả khiêu khích phạm thượng. Phải chăng Bá Vạn muốn chưởi xiên chưởi xéo rằng cậu là kẻ bần hàn, có địa vị cao là nhờ ông ta.

Gương mặt cậu Cẩu hơi biến sắc. Tên hộ vệ và Xí Vĩnh đều bước ra xa, đoán chừng cậu Cẩu sẽ rút dao ra đâm cho Bá Vạn chết tại chỗ.

Hồi lầu, cậu nói:

– Nầy Bá Vạn, ông giỏi lắm. Khi bắt được con cá thì người ta quăng nơm. Tôi cũng vậy thôi. Để ông làm chức lớn thì có ngày nào đó, ông giết hại tôi, như ông đã giết cậu Hai Điền, thiên hạ đồn rằng cha tôi bị ông giết. Tôi muốn ông đền tội. Tôi xử bản án nhẹ quá. Ông nghĩ sao?

Bá Vạn đáp:

– Mấy căn nhà nầy phải là của tôi!

Cậu Cẩu đáp:

– Tôi cho ông hưởng thêm vài tháng. Bù lại, cô Xí Vĩnh phải theo về Hòn Chông…

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Hoài Nam Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 26 May 2025

Phần 11

Chương 6 – Suối Máu & Tống Lê Chân

Sau đợt thăm nuôi tháng 10/1978, có tin đồn lan truyền giữa các K nói rằng tù cải tạo ở Suối Máu sắp được “bò xanh” (quân đội nhân dân) bàn giao cho “bò vàng” (công an nhân dân), vì CSVN đang gom quân để chuẩn bị xâm lược Căm-bốt. Mấy ngày sau, tin đồn này đã được “thầy Trọn” xác nhận.

Thầy Trọn là một nhân vật đặc biệt ở cùng đội nhưng khác nhà với tôi.

Anh là một cựu đại úy tuyên úy Phật giáo trong QLVNCH đã hoàn tục sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tuy nhiên đa số anh em vẫn gọi anh là “thầy Trọn” – thân mật pha chút đùa vui, tuyệt nhiên không có ý châm chọc. Theo lời anh em ở cùng nhà với thầy Trọn kể lại với tôi, anh nguyên là một trong những vị đại đức thuộc giáo hội Phật Giáo Ấn Quang phục vụ tại Nha Tuyên Úy Phật Giáo. (1)

Sau ngày 30/4/1975 anh trở về ngôi chùa ở quê cũ nơi anh xuất gia trước kia thì thấy có tới một phần ba chúng tăng là cán bộ cộng sản nằm vùng đội lốt thầy tu, chán nản anh quay về Sài Gòn, hoàn tục và… chuẩn bị lấy vợ! Nhưng do “tai mắt của nhân dân” (đám “30 tháng Tư”), anh bị bại lộ tông tích và bị bắt đi học tập cải tạo. Từ khi tới Suối Máu, anh được sung vào tổ chăn nuôi.

Ở trại tù cải tạo nào cũng vậy, tổ chăn nuôi là “nhàn” nhất cho nên tổ trưởng thường là một ông sĩ quan già chăm chỉ, được “cách mạng” tin tưởng, và đa số tổ viên là những người được ông ta chọn.

Tôi không biết thầy Trọn được ông tổ trưởng chấm vì những điểm gì, chỉ biết về diện mạo anh trắng trẻo như một công tử miệt vườn, tính tình vui vẻ, thật thà, dễ mến. Đặc biệt, tuy đã hoàn tục nhưng thầy Trọn vẫn tiếp tục ăn chay.

Ăn chay nhưng lại làm… đổ tể!

Xin được kể đầu đuôi như sau: trong tổ chăn nuôi, thầy Trọn đặc trách toán nuôi heo, và tỏ ra mát tay nên rất có điểm với tay cán bộ hậu cần. Mỗi khi ban chỉ huy trại cho mổ lợn để “bồi dưỡng”, thầy Trọn lại tình nguyện đảm trách công việc hóa kiếp con vật vắn số – từ thọc huyết, cho tới làm lông, mổ bụng… – để lấy công làm lời, vài miếng thịt mỡ, ít lòng đem về cho anh em trong tổ, còn “thầy” không hề đụng đũa.

Khi bị anh em đùa vui, châm chọc “thầy chùa biến thành đồ tể”, thầy Trọn giải thích: con heo đó tới số, mình không giết cũng có kẻ khác giết, hơn nữa, điều quan trọng là phải biết cách thọc huyết sao cho nó chết thật nhanh, không kéo dài sự đau đớn.

Với tôi, câu chuyện mà mọi người cho là khôi hài ấy lại ấm lòng, và dưới mắt tôi, ông thầy chùa “phá giới” này quả thật đã đắc ngộ, hơn hẳn nhiều vị mang danh cao tăng mà vẫn còn mang nặng sân si…

Theo lời thầy Trọn thuật lại, từ mấy ngày trước, có một toán sĩ quan cấp tá và cấp úy trong ngành công an tới Suối Máu gặp gỡ đám bò xanh trong ban chỉ huy trại, sau đó đám tài vụ, hậu cần tới nhận hồ sơ, sổ sách, kiểm kê tài sản, lương thực thực phẩm tồn kho để chuẩn bị nhận bàn giao. Mọi việc diễn ra một cách hết sức bất ngờ và gấp rút, đám bò xanh chỉ kịp cho làm thịt một con heo trước khi đám bò vàng tới kiểm kê!…

Từ khi có tin bò xanh sẽ bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, chúng tôi thấp thỏm chờ đợi, trong lòng không khỏi lo âu vì ai cũng biết công an là công cụ đàn áp trong các chế độ cộng sản, cho nên người ta mới gọi cộng sản là “chế độ công an trị”!

Trước mắt, chúng tôi chờ được xem mặt mũi và nghe các tay cai tù mới nói năng những gì trong buổi bàn giao; nhưng đợi mãi cũng chẳng thấy gì diễn ra, cho tới một buổi sáng nọ, khi một bầy bò vàng mở khóa cổng tiến vào K2 chúng tôi mới biết mình đã nằm dưới quyền sinh sát của công an!

Có ba bốn tay đeo súng K54 bên hông mà chúng tôi đoán là “cán bộ” được hộ tống bởi một tiểu đội công an trang bị súng trường CKC báng đỏ có gắn lưỡi lê sáng loáng. Nhận xét đầu tiên của tôi là đám bò vàng đa số trắng trẻo sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, tươm tất, và có quy củ hơn đám bò xanh.

Rồi tất các đội trưởng, nhà trưởng được lệnh lên hội trường “làm việc”, còn tù cải tạo trừ các tổ tăng gia, chăn nuôi, anh nuôi (nhà bếp), tất cả được miễn mọi công tác thường lệ. Có nghĩa là đám tù cải tạo “phó thường dân” chúng tôi không bị nhốt trong nhà để nghe cán bộ lên lớp và nghe đọc sách báo cách mạng!

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, các nhà trưởng về tập họp anh em trong nhà lại để truyền đạt những gì vừa được cán bộ nói chuyện trên hội trường, gồm những điểm chính sau đây:

– Từ nay, tù cải tạo ở Suối Máu được đặt dưới sự cai quản của Cục Trại Giam, trực thuộc Bộ Nội Vụ (ngày đó ngành công an còn thuộc Bộ Nội Vụ chứ chưa trở thành một bộ riêng biệt).

– Đại diện của Cục Trại Giam tại Suối Máu là Ban giám thị gồm các “cán bộ” chứ không phải “quản giáo”.

– Tù cải tạo phải chấp hành chính sách, tuân thủ kỷ luật của Cục Trại Giam. Cụ thể, khi thấy một cán bộ hoặc chiến sĩ công an cách 6 mét thì phải nói “Chào anh”. Khi có việc phải quan hệ với cán bộ hoặc chiến sĩ công an, phải đứng cách xa 3 mét, v.v…

– Mọi sinh hoạt trong trại tạm thời vẫn tiếp tục như cũ, riêng việc nghe đọc sách báo cách mạng hàng ngày được bãi bỏ; Ban giám thị trại sẽ cử người phục vụ nhu cầu thông tin của cả trại qua hệ thống loa phóng thanh toàn trại…

Mấy ngày sau tù cải tạo K2 chúng tôi mới được biết mặt viên “thủ trưởng” – Trung tá công an Đào Lưỡng – và nghe ông ta nói chuyện tại hội trường. (Trong các bài viết về Suối Máu, có tác giả ghi cấp bậc của Đào Lưỡng là thiếu tá, có người lại ghi là thượng tá, riêng tôi nhớ là trung tá)

Một cách chính xác, chức vụ của Đào Lưỡng là Giám thị trưởng nhà giam Chí Hòa kiêm Giám thị trưởng trại giam Suối Máu.

Đào Lưỡng là người gốc miền Trung nhưng giọng nói giống dân Nam kỳ nhiều hơn; ông ta khá cao ráo, mặt mũi cũng không đến nỗi “ruộng” như những tay thủ trưởng bò xanh, và sau khi nghe ông ta nói chuyện, chúng tôi biết ông ta là một người tương đối có học chứ không phải dân i tờ.

Trong phần tự giới thiệu bản thân, Đào Lưỡng cho biết ông ta là dân tập kết, phục vụ lâu năm trong ngành quản lý trại giam thuộc Bộ Nội Vụ; trong một lúc cao hứng, ông ta đã hãnh diện tự khoe “Tui là goang dăng (quan văn) à”.

Cuộc nói chuyện của Đào Lưỡng vừa thu hút vừa… gây chấn động. Thu hút vì ông ta ăn nói khá lưu loát và có vẻ cởi mở, gây chấn động vì ông ta nói ra những gì chúng tôi chưa từng được nghe thốt ra từ miệng một tay cán bộ của chế độ mới.

Đại khái Đào Lưỡng nói mặc dù chúng tôi được gọi là các “trại viên cải tạo”, trên thực tế một khi đã thuộc quyền quản lý của Cục trại giam, chúng tôi là những “tù nhân” không hơn không kém.

Theo Đào Lưỡng, “cải tạo” thực ra chỉ là một mỹ từ chứ không bao giờ họ (người cộng sản) tin rằng có thể cải tạo được tư tưởng của chúng tôi. Không thể cải tạo nhưng cũng không thể giết thì phải nhốt lại, khi nào tình hình ổn định sẽ thả.

Tôi còn nhớ ông ta nói nguyên văn:

“Hiện nay, tình hình biên giới Tây Nam và phía Bắc đều có vấn đề, thả các anh ra, chúng tôi không thể yên tâm. Vậy các anh cứ ở lại trong trại, khi nào tình hình ổn định thì chúng tôi sẽ thả các anh về. Chúng tôi biết hiện nay trong đầu các anh vẫn chống đối chế độ mới chứ…”

Nói tới đây, ông ta hướng về phía tù cải tạo cấp tá (ở K2, mỗi khi tập họp trên hội trường, các đội cấp tá ngồi một bên, cấp đại úy trở xuống ngồi một bên):

“Chúng tôi biết các anh đại tá trung tá thiếu tá đa số cũng có tuổi rồi, ai cũng chỉ mong được về xum họp đoàn tụ với gia đình, an phận sống nốt tuổi già, nhưng còn các anh (ông ta chỉ tay về phía chúng tôi): nào là đại úy, trung úy, nào là nhảy dù, biệt kích, đại đội trưởng… toàn thứ dữ không à, các anh còn hăng lắm, thả ra thế nào cũng có anh vào rừng tụ tập chống phá cách mạng, nhưng trước mắt tôi khuyên các anh đừng dại dột tìm cách trốn trại, cứ ở lại trong trại, làm gì cũng được miễn đừng trốn trại, bởi nếu các anh ra khỏi hàng rào là sẽ bị bắn ngay…”

Qua buổi nói chuyện của Đào Lưỡng, nghiệm lại những gì đã xảy ra trong hơn 3 năm “học tập cải tạo”, tôi thấy ít nhất ông ta đã thẳng thắn nhìn nhận hai thực tế:

(1) Cộng sản không thể cải tạo tư tưởng các sĩ quan QLVNCH bị bắt đi “học tập cải tạo”. Tuy cũng có những người tỏ ra “tiến bộ” hết mình, thậm chí làm ăng-ten, nhưng thực ra chỉ là nín thở qua sông, hoặc “gặp thời thế thế thời phải thế” mà thôi.

Thí dụ điển hình là trường hợp Tư răng vàng, tay thiếu úy già tổ trưởng tăng gia dễ ghét của T2 từ Đồng Ban lên tới Phước Long mà tôi đã tới nhắc trong một chương trước: gần 20 năm sau người ta thấy ông ta xuất hiện trong một cuộc biểu tình chống cộng tại Hoa Kỳ với lá cờ vàng ba sọc đỏ trên tay, miệng hô “Đả đảo cộng sản” lớn tiếng hơn ai hết. Cũng cần viết thêm, Tư răng vàng ở tù cải tạo chưa đủ 3 năm thì dứt khoát ông ta là dân vượt biên chứ không phải đi Mỹ theo diện HO.

(2) Mục đích chính của CSVN khi đưa hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH vào các trại tập trung là để cô lập họ chứ không hề có một chính sách rõ rệt. Vì thế, ngoài một số nhân vật tên tuổi, các vị tướng lãnh nổi tiếng hay các cấp chỉ huy “có nhiều nợ máu với cách mạng” bị chế độ mới đưa vào sổ bìa đen, tất cả mọi thành phần cải tạo còn lại đều do… hên xui may rủi mà được ở những trại dễ thở hay hắc ám, được về sớm hay bóc lịch mệt nghỉ!

Bằng chứng là vào đầu năm 1978 tại Phước Long, trong đợt thả tù đầu tiên, cùng với khoảng 1/3 trung úy, thiếu úy ở L2 (Bù Gia Phúc) đã có hàng trăm thiếu tá ở Bù Gia Mập đã được thả sau hơn 2 năm “học tập cải tạo”!

Những gì xảy sau đó cho thấy Đào Lưỡng đã giữ lời.

* Ra khỏi hàng rào sẽ bị bắn ngay:

Khoảng mấy tuần sau khi bò xanh bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, vào một đêm nọ, mọi người đang ngủ say thì nghe tiếng súng nổ. Lúc đầu là mấy tràng đại liên từ vọng gác và sau đó là tiếng súng nhỏ.

Qua ngày hôm sau, loa phóng thanh trong trại thông báo trung úy Nguyễn Khoa Bông, K1 (có người viết là K5), vượt rào trốn trại bị phát giác và bị bắn chết. (Theo một tác giả viết về trại tù Suối Máu thì “theo một vài anh em nhận xét vết đạn và tư thế khi bị bắn chết, thì Nguyễn Khoa Bông bị bắn chết sau khi bị bắt lại chứ không phải khi đang chạy trốn”).

* Cứ ở lại trong trại, làm gì cũng được:

Ngay sau khi được bàn giao cho công an, tù cải tạo ở Suối Máu không còn phải ngày ngày nghe đọc sách báo cách mạng nữa, chỉ thỉnh thoảng mới bị tập họp trong nhà để nghe tay cán bộ nói chuyện vớ vẩn khoảng 15, 30 phút. Thời giờ còn lại muốn làm gì thì làm!

Lúc đầu, anh em tù cải tạo còn e dè, rồi dần dần yên tâm hơn, và cuối cùng xả láng, đội này đi qua đội khác một cách thoải mái, tụ tập đàn hát nhạc vàng, nhạc ngoại quốc công khai, kể chuyện “đánh giặc” trước 1975, phát ngôn linh tinh… như chỗ không người.

Đồng thời, tù cải tạo ở các K sát cạnh nhau, người bên này kẻ bên kia hàng rào nói chuyện với nhau thoải mái. Về sau, còn có người gỡ chân hàng rào kẽm gai chui qua K kế cận gặp gỡ bạn bè, thu thập, trao đổi tin tức…

Nhờ đó, tôi được anh em cho biết trong nhóm bị đưa từ Thành Ông Năm (Hốc Môn) về K1 trước đó mấy tháng có cả Phan Lạc Giang Đông. Rất tiếc chưa kịp liên lạc với nhau thì đã xảy ra vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh (tôi sẽ thuật lại ở một phần sau).

Ngay từ những ngày đầu ở Suối Máu, khi ra ngồi chơi trước thềm hội trường, tôi đã chú ý tới tiếng máy bay phản lực ở hướng bắc và thỉnh thoảng thấy mấy chiếc F-5, MiG-21 thấp thoáng sau dãy nhà của Ban chỉ huy.

Sau khi bộ đội bàn giao cho công an, được tự do, thoái mái, tôi thường trèo lên cây trứng cá bên cạnh hội trường quan sát. Cây trứng cá khá lớn, cao hơn 3 mét, nhờ đó tôi có thể thấy nhà thờ giáo xứ Phúc Hải ở hướng bắc và phi trường Biên Hòa ở hướng tây bắc.

Nói là “thấy” phi trường Biên Hòa nhưng thực ra chỉ thấy cái bồn nước (château d’eau) đối diện cổng chính của phi trường. Người dân xứ bưởi có lẽ không ai là không biết cái bồn nước này; có người còn ra vẻ hiểu biết, giải thích rằng người Mỹ cho xây bồn nước vĩ đại này với mục đích chính là đặt đài quan sát ở trên nóc để khám phá ra vị trí đặt súng của Việt Cộng mỗi khi chúng pháo kích phi trường và Bộ tư lệnh Quân Đoàn III.

(Theo các con số của phía Hoa Kỳ, Biên Hòa không chỉ là căn cứ không quân lớn nhất Đông Dương trong cuộc chiến Việt Nam mà còn là phi trường bị lãnh pháo kích nhiều nhất)

Bồn nước trước cổng phi trường Biên Hòa

Lấy bồn nước làm chuẩn, tôi có thể mường tượng ra vị trí các cơ sở chính yếu trong căn cứ và phi đạo Biên Hòa. Trục đáp và cất cánh của phi đạo gần như song song với Quốc lộ 1 cho nên thỉnh thoảng tôi lại được nhìn những chiếc phản lực F-5, MiG-21 bay phía trên giáo xứ Phúc Hải sau khi cất cánh. Mỗi lần thấy F-5 lòng tôi lại chùng xuống. Cũng căn cứ không quân Biên Hòa, cũng những “Chiến sĩ Tự do” (Freedom Fighter, tên gọi của F-5) nhưng ngồi trên buồng lái giờ đây lại là phi công cộng sản Bắc Việt!

Phản lực cơ siêu thanh F-5A “Freedom Fighter” của KQVNCH trước 1975

Ngoài tiếng F-5 và MiG-21 cất cánh, thỉnh thoảng tôi còn nghe được tiếng động cơ phản lực gầm rú từ phía phi trường, và nhận ra đó chính là tiếng thử động cơ từ giàn thử (Test Cell). Như vậy, ngày ấy khi đốt căn cứ không quân Biên Hòa trước khi di tản về Tân Sơn Nhất, đơn vị tôi đã không phá hủy Test Cell!

Tôi còn nhớ hôm đó là ngày Thứ Hai, 28/4/1975. Sau khi tất cả các loại phi cơ ở CCKQ Biên Hòa lần lượt di tản về Tân Sơn Nhất và Cần Thơ trong những ngày trước đó, tới trưa 28, Bộ tư lệnh KQ đã ra lệnh di tản hàng ngàn quân nhân còn ở Biên Hòa về Tân Sơn Nhất, và trước khi rời căn cứ, phải đốt sạch, không để một thứ gì địch có thể sử dụng…

Nhưng sau ngày 30/4/1975, một số anh em KQ bị cộng sản bắt vào dọn dẹp phi trường Biên Hòa cho tôi biết khá nhiều cơ sở ở khu Đông (East Ramp) do người Mỹ bàn giao vẫn còn nguyên, trong đó có Test Cell.

Lúc đó tôi bán tín bán nghi, bởi Test Cell là bộ phận quan trọng hàng đầu của Đoàn Động Cơ Phản Lực, nếu bị phá hủy địch sẽ không còn phương tiện để test các động cơ được tổng kiểm (overhaul), vì thế khi nhận được lệnh phá hủy các cơ sở trước khi di tản, ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng Liên Đoàn Động Lực – gồm hai Đoàn Động Cơ Phản Lực và Động Cơ Nổ – phải nghĩ tới việc phá hủy Test Cell chứ!

Nhưng nay nghe tiếng thử động cơ từ phi trường, tôi biết chắc chắn Test Cell vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ có thể giải thích vì giàn thử động cơ phản lực nằm tận cuối phi đạo hướng Đông (để tránh gây tiếng ồn cho các cơ sở khác), trước khi chạy sang khu Tây (West Ramp) để di tản bằng trực thăng, vị thiếu tá liên đoàn trưởng đã không có đủ thời gian, hoặc không có nhân viên để phá hủy Test Cell.

Việc tôi leo lên cây trứng cá cạnh hội trường dần dần đã trở thành hình ảnh quen thuộc với anh em K2, nhưng ai cũng nghĩ rằng tôi leo lên để mong kiếm thêm chút “đường” (trái trứng cá) chứ không phải để gửi hồn về chốn xưa.

* Cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978

(Trong phần này, tôi chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe ở K2, và qua lời kể của một số anh em bên K1, muốn biết thêm chi tiết về biến cố này ở các K khác, độc giả có thể tìm đọc hai bài viết hiện vẫn được phổ biến trên Internet:

– Đêm Giáng Sinh 1978 và Lễ chào Quốc Kỳ VNCH đầu năm 1979 ở K4, Trại tù Suối Máu – Nguyễn Văn Hóa

– Đêm Noel Vùng Dậy Tại Suối Máu Năm 1978 – V Sáu)

Theo lời kể lại của những anh em tù cải tạo Suối Máu thâm niên, vào thời gian có những đợt chuyển trại từ Trảng Lớn (Tây Ninh), Thành Ông Năm (Hốc Môn), Phước Long về, tệ nạn ăng-ten ở trại tù Suối Máu đã lên tới đỉnh cao, nhiều anh em bị biệt giam (nhốt conex), trong đó có một người bị xử bắn, vì bị đám này báo cáo.

Nhưng tới khi tù cải tạo được bộ đội bàn giao cho công an thì có một màn xóa bàn làm lại: tất cả những người bị biệt giam được thả về đội cũ, còn những tay ăng-ten thì trở nên… thất nghiệp.

Vì thế trong thời gian công an chưa thiết lập được một hệ thống ăng-ten mới, cuộc sống trong cảnh cá chậu chim lồng của tù cải tạo ở Suối Máu trở nên thoải mái hơn bao giờ hết.

Như đã viết ở một phần trên, cùng với việc tự do đi lại, tụ tập đàn hát nhạc vàng, kể chuyện “phản động” trong K của mình, một số anh em còn chui hàng rào kẽm gai sang các K khác để liên lạc, móc nối với nhau.

Nguyên hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa các K trước đấy rất kiên cố, nhưng trong thời gian mấy năm do bộ đội quản lý, đám cán bộ đã cho nhổ bớt cọc sắt và tháo lấy kẽm gai để bán chác hoặc sử dụng vào việc riêng tư, nên nay hàng rào khá thưa trống, có những chỗ có thể chui qua lại khá dễ dàng.

Sau khi liên lạc, móc nối với nhau, anh em đã thành lập các “Ban đại diện quân binh chủng” mà theo tôi được biết mạnh nhất là Nhảy Dù. Cùng với việc thành lập các Ban đại diện quân binh chủng, ở mỗi K còn thành lập một “Ban hành động” để “giữ gìn trật tự trị an và đối phó với tình hình”. Nhiều thành viên trong các Ban đại diện quân binh chủng cũng là thành viên Ban hành động ở các K.

[“Ban hành động” có danh xưng chính thức là “Ban Bảo Vệ Danh Dự Sĩ Quan QL/VNCH”]

Có hai nguyên nhân đưa tới việc tù cải tạo ở Suối Máu thành lập các Ban đại diện quân binh chủng và Ban hành động ở các K.

Thứ nhất, từ khi còn nằm dưới quyền sinh sát của bò xanh, anh em em đã vô cùng tức giận và xấu hổ lây trước việc một số cựu sĩ quan QLVNCH cúi đầu thần phục, cam tâm làm ăng-ten cho kẻ thù. Nay trước việc đám cai tù công an xóa bàn làm lại, anh em muốn gián tiếp cảnh cáo những người có ý định làm ăng-ten cho bò vàng.

Thứ hai, trong những tháng cuối năm 1978, qua các kỳ thăm nuôi, tù cải tạo ở Suối Máu được thân nhân cho biết những tin tức đáng phấn khởi, có thật hoặc chỉ là tin đồn, chẳng hạn nhiều tổ chức quốc tế trong đó có cả Liên Hiệp Quốc đã lên án CSVN vi phạm nhân quyền và đòi hỏi Hà Nội phóng thích tất cả tù cải tạo, trong khi Hoa Kỳ và các nước Tây phương tuyên bố sẵn sàng đón nhận những người tù này và gia đình tới định cư; hoặc đàn anh Trung Cộng cùng với việc di tản Hoa kiều ở Việt Nam mà Bắc Kinh gọi là “Nạn kiều”, đã áp lực đòi Hà Nội phải thả những tù cải tạo người Việt gốc Hoa; hoặc tin Bắc Kinh đang chuẩn bị hai mặt giáp công – Khmer đỏ từ biên giới tây nam, Trung cộng từ hướng bắc – tiến đánh Việt Nam…

Anh em trong các Ban đại diện, Ban hành động của các K thường xuyên chui rào sang các K khác để thu thập, trao đổi tin tức. Nghe nói anh em còn tổ chức các toán “du thuyết”, hàng đêm tới các K để thuyết trình về thời sự qua những tin tức mới nhất, và thực hiện những bản tin (viết tay) để phổ biến tới các K.

Ở một số K, các buổi thuyết trình còn có phần “văn nghệ phụ diễn”: hợp ca những ca khúc chính huấn như Cờ Bay, Trên Đầu Súng Quê Hương…, và không bao giờ thiếu bản Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy.

Riêng tại K2 của tôi, bầu không khí có phần yên tĩnh hơn. Ngoài việc Thiếu tá Không Quân Lê Thanh Hồng Vân được bầu làm Trưởng ban Hành động, tôi không thấy, hoặc không được biết tới những sinh hoạt kể trên.

Sự yên tĩnh này có nguyên nhân của nó.

Thứ nhất, trước khi đám “em mới” chúng tôi được đưa từ Trảng Lớn, Thành Ông Năm, hay Phước Long về Suối Máu, đám tù cải tạo trẻ (đa số từ cấp đại úy trở xuống) ở K2 đã bị phân tán đưa sang các K khác nhau để lấy chỗ cho chúng tôi. Vì thế ở K2 không còn những thành phần chống đối trẻ trong đám ma cũ.

Thứ hai, những tù cải tạo còn ở lại K2 – cấp trung tá, thiếu tá – thì đúng như viên trại trưởng Đào Lưỡng đã nhận xét trong buổi nói chuyện đầu tiên, đa số là những người đã có tuổi, chấp nhận an phận, nhẫn nhục chịu đựng, nín thở qua sông, để chờ ngày được thả về xum họp với gia đình, cho nên dù bầu không khí trong trại sau khi bộ đội bàn giao cho công an đã trở nên thoải mái hơn, sinh hoạt tại các đội cấp tá ở T2 vẫn âm thầm, lặng lẽ như những ngày còn nằm trong tay bò xanh.

Tôi còn nhớ ở K2 trước sau chỉ có vài người ở các đội cấp tá công khai quan hệ với đám cấp úy chúng tôi, hình thức thường thấy nhất là tới sân bóng chuyền nằm trong khu cấp úy tham gia các trận đấu, hoặc vừa dự khán các cuộc so tài vừa trò truyện với nhau.

Về nội bộ cấp úy K2 chúng tôi, tuy anh em có xôn xao, và lên tinh thần trước việc các K thành lập Ban đại Diện và Ban hành động, hầu hết cũng chỉ đứng bên lề, bởi khác với những anh em cũng mới từ Trảng Lớn, Thành Ông Năm, Phước Long về nhưng được đưa tới các K 1, 3, 4, 5, nơi có sẵn những thành phần chống đối, đám cấp úy K2 chúng tôi người nào cũng là “em mới” đúng nghĩa!…

Có thể nói sau khi Ban hành động được thành lập tại K2, thay đổi rõ rệt nhất chỉ là việc mấy ông quan tá già thường khúm núm, xun xoe với đám công an nay đã bớt xun xoe, khúm núm, trong số đó có ông “trung tá quét sân” tự xưng là một cựu sĩ quan tùy viên mà lúc nào cũng ở trần mặc quần xà-lỏn quét tới quét lui cái thềm hội trường, chỉ đợi có tay công an nào đi vào, cách 6 mét là vội vàng khom lưng “Chào anh”!

Khoảng giữa tháng 12/1978, tình hình Suối Máu trở nên căng thẳng (hoặc… hào hứng, tùy theo suy nghĩ của mỗi người) với các vụ đánh ăng-ten do Ban hành động của mỗi K thực hiện.

Sau này, tùy theo người kể lại, hoặc tùy theo mức độ ra tay ở mỗi K, các vụ đánh ăng-ten này được gọi là “chấn chỉnh”, “dằn mặt”, “thanh toán”, “trừng trị”, hay “diệt ăng-ten”…

Cũng sau này, trong các hồi ký được phổ biến, đa số viết việc đánh ăng-ten phát xuất từ K1 sau đó lan sang các K khác, nhưng cũng có một người viết phát xuất từ K5, sau đó lan sang K1 rồi từ đó mới lan sang các K khác (K5 nằm sát K1 và cách biệt những K khác). Về phần tôi ngày ấy, vì K2 nằm giữa K1 và K3, tôi chỉ biết việc đánh ăng-ten qua tin tức từ K1.

Theo lời anh em kể cho nhau nghe qua hàng rào, tại K1 ngay trong đêm đầu, đã có 3 tay ăng-ten bị đánh sưng mặt, bầm người. Sau này, bị chuyển trại sang K1, tôi được anh em thuật lại diễn tiến các vụ đánh ăng-ten như sau:

Cứ sau giờ ngủ mỗi đêm (10 giờ đêm), một toán 4, 5 anh em trong Ban hành động vào nhà, cho tắt bóng đèn điện duy nhất (theo nội quy, đèn bắt buộc phải mở suốt đêm), rồi tới trước chỗ nằm của tay ăng-ten đọc bản buộc tội. Sau đó đánh cho một trận, nặng hay nhẹ tùy theo mức độ tội lỗi (tố cáo anh em bạn tù).

Sau khi tin tức về việc anh em bên K1 đánh ăng-ten lan truyền sang các K lân cận, ở K2, theo tôi được biết, chỉ có những vụ cảnh cáo một số người chứ không có trường hợp thượng cẳng tay hạ cẳng chân nào.

Về phía bên K3, tôi được biết cũng chỉ có những vụ đánh dằn mặt một số ăng-ten chứ không đến nỗi đổ máu, nhờ có sự can thiệp của các vị linh mục tuyên úy Công giáo.

Cũng xin viết thêm, trong khi hàng rào kẽm giai giữa K2 và K1 dầy cả chục 10 mét thì giữa K2 và K3 chỉ chừng ba mét, các dãy nhà lại tương đối gần hàng rào cho nên rất tiện cho việc chuyện trò lén lút, kể cả chui rào. Vì thế tôi mới biết rõ tù cải tạo bên K3 đa số là cấp đại úy, trung úy, trong đó có các linh mục tuyên úy Công giáo.

Sau khi Ban hành động ở K3 được thành lập, anh em theo Công giáo đã thảo luận với một số anh em bạn tù khác, dự định sẽ tổ chức một Thánh lễ vào đêm Giáng Sinh, và được hai vị tuyên úy – cha X, cha Y – nhận lời đứng ra cử hành thánh lễ.

Tới khi được biết ở các K khác bắt đầu diễn ra những vụ đánh ăng-ten với kết quả người bị đánh gục, kẻ bị phù mặt gẫy răng, cha X đã nói chuyện với anh em trong Ban hành động K3.

Theo cha, đám bò xanh đã rời Suối Máu thì mình cũng không cần phải trừng trị những anh em đã trót dại làm ăng-ten cho chúng, còn nếu muốn đánh để làm gương cho những người đang có ý định “đầu quân” cho bò vàng, thì cũng chỉ nên nhẹ tay. Và để tạo áp lực với Ban hành động, cha X hăm dọa… đình công. Cha nói:

– Ban hành động được thành lập để bảo vệ nhau, giúp đỡ lẫn nhau, nay các anh lại quay ra thanh toán nhau thì tôi xin rút lui. Tôi và cha Y sẽ không cử hành thánh lễ Giáng Sinh nữa!

Dĩ nhiên, trước sự can thiệp của vị linh mục tuyên úy, Ban hành động bắt buộc phải nhẹ tay. Nhưng cho dù “nhẹ tay”, những phẫn uất dồn nén bấy lâu nay cũng đã được một vài anh em trong Ban hành động thể hiện một cách khá “tích cực”, đưa tới kết quả có mấy tay cựu ăng-ten ở K3 bị liệt giường; sau đó được cha X và một số anh em động lòng thương hại đích thân chăm sóc thuốc men, lo cơm nước.

Việc thành lập Ban hành động ở các K chắc chắn đã được đám “tân” ăng-ten báo cáo cho bò vàng, bởi sau đó mỗi lần đi tuần hoặc có việc phải vào trại, chúng đi cả bầy, súng ống tua tủa chứ không chỉ có hai ba tay như trước kia.

Ngoài việc nói trên, từ ban giám thị trại xuống tới những tay cán bộ phụ trách các đội đã không hề tỏ thái độ hay có một lời nói nào, trực tiếp hay gián tiếp, đả động tới việc đánh ăng-ten. Vì thế, các Ban hành động vẫn tiến hành việc tổ chức mừng lễ Giáng Sinh như đã dự định.

Chiều 24/12/1978, vào lúc 6 giờ, cha X và cha Y bắt đầu cử hành Thánh lễ ngoài trời ở K3, anh em ở các K khác ra sát hàng rào hướng về K3 tham dự thánh lễ. Cha cử hành lễ tới đâu, có anh em đứng bên hàng rào K3 thông báo để mọi người cùng hiệp thông. Có nhiều anh em không Công giáo cũng ra hàng rào đứng chung, để cổ võ tinh thần và cùng nhau hồi tưởng những mùa Giáng Sinh xưa.

Lúc đó trời chưa kịp tối, đám công an trên các vọng gác nhìn xuống nhận ra sinh hoạt bất thường này và báo cáo với Ban giám thị trại, sau đó các toán tuần tiễu được tăng cường tối đa nhưng cũng chỉ đi vòng vòng bên ngoài hàng rào các trại để quan sát mà thôi.

Khi thánh lễ kết thúc thì màn đêm cũng đã buông xuống, anh em từng nhóm thân nhau bắt đầu “tiệc Giáng Sinh”: nồi chè do mỗi người đóng góp một thứ, bình trà, bình cà-phê, ít bánh kẹo để dành từ hôm thăm nuôi… Ngoài những ngọn nến lung linh, nhà của tôi còn có một lồng đèn hình ngôi sao giáng sinh do anh em khéo tay nào đó thực hiện, treo phía trên cửa ra vào…

Hơn ba năm trong tù cải tạo, chưa bao giờ tôi cảm thấy tâm hồn mình an nhiên, thanh thản đến thế. Tôi ngước mắt lên bầu trời xanh thẳm lấp lánh muôn ánh sao rồi chợt nhớ tới vợ con, và hồi tưởng một mùa Giáng Sinh năm xưa hai đứa lần đầu tiên nắm tay nhau trong sân nhà thờ Tân Định…

Sau tiệc Giáng Sinh tới chương trình văn nghệ. Thường ngày, khu cấp úy ở K2 có hai “tụ điểm” đàn hát: một ở đội của tôi dành cho nhạc tình cảm, nhạc nhẹ, một ở đội gần hội trường chuyên chơi nhạc trẻ, nhạc Pháp… Đêm Giáng Sinh cũng chia ra hai phe như thế, nhưng với một chương trình đặc sắc, phong phú hơn nhiều…

Tới giờ đi ngủ (10 giờ), chương trình văn nghệ chấm dứt để khỏi làm phiền những anh em có thói quen đi ngủ sớm. Nhưng tới khoảng 10 giờ rưỡi, khi phần lớn anh em chưa kịp ngủ thì có tiếng hát từ K1 vọng sang “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”

Tiếng hát càng lúc càng lớn, hình như của rất nhiều người, hát đi hát lại… Trong lòng thắc mắc, tôi và một số anh em ra bên ngoài nghe ngóng.

Khoảng 10 phút sau, có tiếng xôn xao và tiếng chân của nhiều người đi tới; rồi có mấy anh đi từng nhà kêu gọi mọi người ra sân bóng chuyền nghe Ban hành động loan báo tin tức khẩn cấp.

Khi đã có khoảng hơn 100 người tụ tập ngoài sân bóng chuyền cạnh nhà 19 của tôi, và một số khác đứng ở lối đi giữa các nhà, một anh thiếu tá trong Ban hành động K2 (tôi không nhớ tên) bắt đầu nói với một giọng đanh thép nhưng chỉ vừa đủ nghe bởi sân bóng chuyền nằm gần hàng rào có vọng gác phía bên ngoài.

Anh nói ngắn gọn cho biết trong lúc bên K1 đang diễn ra buổi lễ mừng Giáng Sinh thì công an ập vào bắt đi ba người trong ban tổ chức.

Sau đó, Ban hành động K1 đã kêu gọi toàn thể tù nhân K1 tập trung ở sân bóng chuyền trước cửa ra vào đối diện với khu nhà của Ban giám thị trại để phản đối, yêu cầu thả ba người bị bắt trở vào trại.

Đồng thời Ban hành động K1 cũng kêu gọi tất cả các K khác ủng hộ bằng cách cùng ra sân ngồi hát các ca khúc Giáng Sinh…

Sau này chuyển sang K1, tôi được anh em kể lại chi tiết sự việc như sau:

K1 là nơi giam tù cấp trung úy, thiếu úy, đa số còn rất trẻ và hăng. K1 cũng là nơi đầu tiên tổ chức đánh ăng-ten, và ra tay “nặng” nhất!

Để mừng đón lễ Giáng Sinh, anh em Công giáo ở K1 quyết định tổ chức một buổi lễ mừng ngày Chúa ra đời, với bàn thờ, hang đá dã chiến, tượng Giáng Sinh nặn bằng đất…

Địa điểm tổ chức là khoảng trống giữa hai nhà 15 và nhà 16 ở sát sân sau, gần K5, tức là ở vị trí cách xa cổng trại nhất.

Buổi lễ bắt đầu khoảng 10 giờ đêm, trên bàn thờ đốt mấy ngọn nến, trên cao là bóng đèn điện được anh em gỡ dây chuyền từ trong nhà 15 ra; có khoảng trên 50 anh em tham dự, do một anh là dân “tu xuất” phụ trách chương trình đọc kinh và hát thánh ca.

Bất ngờ từ hướng sau nhà 13 (cùng dãy trong cùng nhưng nằm phía bên trái) toán bò vàng đi tuần tới nơi.

Như thường lệ, toán đi tuần của K1 luôn luôn do Trung úy Quỳnh, Giám thị K1, đích thân dẫn đầu, theo sau là một tiểu đội bò vàng, súng CKC có gắn lưỡi lê lăm lăm trên tay.

Thấy anh em đang làm lễ, Trung úy Quỳnh quát tháo:

– Ai cho các anh tụ tập làm lễ. Giải tán ngay! Giải tán ngay!

Mọi người giải tán, nhưng sau khi biết chắc chắn Trung úy Quỳnh đã dắt toán tuần tiễu đi ra khỏi cổng trại, hầu hết anh em đã quay trở lại để tiếp tục buổi lễ.

Không ngờ, sau khoảng 15, 20 phút, Trung úy Quỳnh bất thần dẫn toán bò vàng trở vào trại. Có lẽ hắn cũng đoán anh em tù cải tạo sẽ tụ họp trở lại để tiếp tục buổi lễ, cho nên ngay từ cổng đã ra lệnh cho toán tuần tiễu chạy thẳng nơi.

Viên trung úy công an thét lớn:

– Đã có lệnh tại sao không chịu giải tán? Bắt chúng nó!

Toán công an xông lại bàn thờ, đập phá tượng ảnh, hang đá, máng cỏ, đồng thời bắt ba anh đứng gần bàn thờ phụ trách buổi lễ là Nguyễn Văn Bé (tu xuất), Nguyễn Văn Hoàng và Trần Xuân Rĩnh.

Khi bọn công an dẫn ba người bị bắt rút lui ra phía cổng trại, một số anh em cũng đi theo, rồi càng lúc càng có nhiều người từ các nhà túa ra, xen lẫn tiếng chân chạy rầm rập, tiếng người xôn xao, bỗng có ai đó hét lớn:

– Giết tụi nó! Giết tụi nó!…

Trung úy Quỳnh hoảng sợ, miệng la hét, tay rút súng K54 bắn liên tục lên trời, chân bước giật lùi cho đến khi lọt ra ngoài cổng trại và cho khóa chặt lại.

Ngay sau đó, Ban hành động K1 đã đi từng nhà kêu gọi toàn thể anh em cải tạo tập trung ở sân bóng chuyền trước cửa ra vào, đối diện với khu nhà của Ban giám thị trại để phản đối. Anh em dùng loa giấy yêu cầu Giám thị trại thả ba người bị bắt.

Lúc đó, anh (Thiếu tá KQ) Lê Thanh Hồng Vân của Ban hành động K2 và một số đại diện Ban hành động các K khác đã đi sang K1 để tìm hiểu tình hình; sau khi thảo luận, tất cả đi tới quyết định cả năm K sẽ ra ngoài sân ngồi biểu tình bất bạo động bằng cách hát các ca khúc Giáng Sinh cho tới khi Ban giám thị thả ba người của K1 bị bắt.

Trở lại với diễn tiến ở K2.

Sau khi anh thiếu tá Phó trưởng ban hành động tường thuật các diễn tiến bên K1 và yêu cầu toàn thể anh em tù cải tạo K2 tụ tập ngoài sân bóng chuyền ngồi biểu tình bất bạo động, đông đảo anh em đã hưởng ứng.

Rồi anh Huyến, nhà trưởng của tôi bắt nhịp bản thánh ca “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, thế là mọi người cùng hát theo; lúc đầu không được mạnh mẽ cho lắm vì chưa có khí thế và cũng vì nhiều anh em không phải Công giáo nên không thuộc bài hát này, nhưng dần dần cùng với khí thế dâng cao, anh em cũng thuộc được mấy câu đầu và hát hết mình.

Tiếng đồng ca của mấy trăm người đã có sức lôi cuốn hầu hết anh em còn ở trong nhà, họ kéo nhau ra bên ngoài, ngồi chen chúc trên sân bóng chuyền và đứng, ngồi ở lối đi giữa các dãy nhà.

Điều đáng nói là cả năm K đều hát bản “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, có lẽ vì đây là bản thánh ca Giáng Sinh quen thuộc và dễ hát nhất.

Tiếng hát của gần 5.000 con người từ trại tù Suối Máu vang ra tận các xứ đạo của vùng Hố Nai gần đó, vọng lên không trung như thể hòa cùng tiếng các thiên thần hát mừng ngày Chúa giáng trần, nhưng với rất nhiều anh em tù cải tạo, trong đó có tôi, khi ấy lời hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” lại là những gì thay cho lời phản kháng!

Sau khi cả năm K đồng loạt ra ngoài sân ngồi hát thánh ca, đám cai tù báo động. Từ doanh trại phía bên kia đường đối diện các K, đám bò vàng la hét, kéo nhau ra nhảy xuống giao thông hào dọc theo bên đường, tất cả mọi họng súng chĩa vào trong trại.

Riêng anh em tù K2 chúng tôi tập họp ở sân bóng chuyền phía sau trại, chỉ cách vọng gác phía ngoài hàng khoảng 50 mét, có thể nghe thấy tiếng lên đạn đại liên và tiếng mấy tay công an nói chuyện với nhau.

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, có tiếng cọc cạch từ hệ thống loa phóng thanh trong trại.

Ngày ấy khi mới về Suối Máu, tôi không để ý tới hệ thống loa phóng thanh này, và cũng không nhớ đám bò xanh đã sử dụng lần nào chưa, chỉ biết sau khi bộ đội bàn giao cho công an, đã được ban giám thị trại sử dụng để thông báo các chỉ thị, mở đài phát thanh Hà Nội, Sài Gòn Giải Phóng bắt tù cải tạo nghe tin tức và các bài bình luận, truyên truyền ngày hai buổi sáng chiều.

Sau mấy tiếng cọc cạch là tiếng viên Giám thị trại tên Bằng, người thay mặt Đào Lưỡng mỗi khi ông ta về Sài Gòn:

– Ban giám thị trại yêu cầu tất cả trại viên cải tạo trong các K giải tán trở vào nhà ngủ, sáng mai Ban giám thị sẽ cho ba trại viên bị bắt trở vào trại.

Toàn thể tù cải tạo nhao nhao đáp lại:

– Phải thả người vào trước!… Thả người vào trước… Thả người vào trước!

Giám thị Bằng lập lại vài lần rồi im bặt. Chỉ còn tiếng hát “Đêm đông…” tiếp tục vang dội một góc trời!

Bỗng vào khoảng nửa đêm, chúng tôi nghe tiếng động cơ ầm ì, càng lúc càng rõ, cuối cùng là tiếng xích sắt của xe tăng nghiến trên mặt đường. Chúng tôi hiểu đám công an đã cầu cứu bộ đội, xin đưa xe tăng tới Suối Máu để tăng cường. Về sau chúng tôi được biết có tất cả ba chiếc nằm đối diện với các cổng ra vào trại.

Ít phút sau, bỗng có mấy tràng đại liên nổ dòn dã xé tan màn đêm, tiếng đạn rít nghe rợn người phía trên các nóc nhà tôn!

Ngay lúc đó, anh em cải tạo người thì nói súng đại liên trên xe tăng, người thì bảo súng trên vọng gác, bởi cùng lúc đó, có ánh đèn pha từ vọng gác gần K2 quét xuống sân bóng chuyền nơi chúng tôi đang ngồi hát.

Nghe tiếng súng, anh em xôn xao, một vài người bỏ vào nhà nhưng đa số vẫn tiếp tục ngồi lại.

Riêng tôi, tôi bắt khối óc của mình làm việc thật nhanh. Tôi không biết sắp tới đám công an có dám bắn thẳng vào hàng ngàn tù cải tạo đang ngồi ngoài sân hay không, bởi nếu việc đó xảy ra, chắc chắn sẽ thất lợi cho chế độ về mặt tuyên truyền, nhưng tôi vẫn phải giả sử việc đó xảy ra để tìm giải pháp tốt nhất cho bản thân mình!

Tôi cũng không thể đoán nếu việc đó xảy ra, Ban hành động sẽ phản ứng, điều động ra sao, nhưng nếu phải phá rào để vượt thoát chúng tôi chỉ có một hướng duy nhất là hướng bắc: băng qua quốc lộ 1 chạy vào giáo xứ Phúc Hải hoặc các giáo xứ gần đó của người Công giáo di cư. Bởi ba hướng còn lại đều trống trải, rất dễ bị truy lùng, chưa kể có thể bị bắn gục ngay trong lúc đang vượt rào.

Sau mấy tràng đại liên đe dọa, không khí trở nên ngột ngạt, căng thẳng, nhưng chỉ vài chục giây đồng hồ sau, tiếng hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” lại tiếp tục vang lên.

Vừa hát, mọi người vừa hồi hộp chờ đợi phản ứng quyết liệt của công an và bộ đội trên xe tăng. Một cuộc tắm máu không chừng!… Nhưng một hồi lâu vẫn không thấy động tịnh gì.

Sau này chúng tôi được biết đêm hôm đó hầu như toàn bộ lực lượng công an tỉnh Đồng Nai (Biên Hòa cũ) đã được trải rộng trên huyện Thống Nhất (trước là quận Đức Tu) đề phòng đồng bào Công giáo ở vùng Hố Nai nổi dậy. Rất có thể vì vậy mà công an tỉnh không còn nhân sự để tăng cường cho Suối Máu.

Bên cạnh đó, như sau này tôi có dịp tìm hiểu, tinh thần cục bộ là một trong những nét đặc thù của chế độ CSVN: trại tù Suối Máu thuộc trung ương thì trung ương lo, công an tỉnh không dính dáng gì tới; cũng thế, trại tù nằm dưới quyền công an thì quân đội không có trách nhiệm gì cả, gửi ba xe tăng tới để diệu võ dương oai là quá tốt rồi!

Hơn nữa, Giám thị Bằng (tôi không biết cấp bậc) chỉ là người thay mặt Đào Lưỡng mỗi khi viên trung tá này đi về nhà ở Sài Gòn, cho nên rất có thể ông ta (Giám thị Bằng) lo ngại nếu đàn áp mạnh bằng súng đạn, lỡ mấy ngàn tù cải tạo đồng loạt phá rào chạy ra ngoài, trà trộn vào giáo dân Hố Nai đang dự lễ ở các nhà thờ thì vô phương giải quyết, và ông ta sẽ phải lãnh toàn bộ trách nhiệm!

Khoảng 1, 2 giờ đêm (tôi không nhớ đích xác), khi mọi người vừa tiếp tục hát “Đêm đông…” vừa chờ đợi phản ứng quyết liệt của Ban giám thị trại thì một người trong Ban hành động của K2 từ K1 chạy về báo tin phe ta… đại thắng: ba anh em K1 bị bắt đã được thả vô điều kiện!

Tôi như không tin vào đôi tai của mình. Các anh em khác cũng thế, phải mất mấy giây đồng hồ, mọi người mới hết ngạc nhiên sững sờ, rồi đồng loạt vỗ tay reo hò trước chiến thắng bất ngờ của tập thể tù cải tạo Suối Máu.

Sau này tôi được biết diễn tiến chi tiết như sau:

Sau khi công an bắn mấy tràng đại liên hăm dọa mà tù cải tạo vẫn không nao núng, đích thân Giám thị Bằng đã xuống văn phòng giám thị K1 để tìm phương cách giải quyết. Trước hết viên giám thị lập lại những gì đã nói trên loa phóng thanh, nhưng một anh trong Ban hành động K1 trả lời vọng ra:

– Chúng tôi chỉ giải tán sau khi ba anh em bị bắt được thả vào trại!

Sau hai ba lần đôi co, Giám thị Bằng nhường một bước, nói:

– Nếu tất cả trại viên K1 giải tán trở vào nhà ngủ, Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào trại ngay.

Tức là không cần đợi tới sáng mai!

Trước đề nghị của Giám thị Bằng, các anh em đại diện Ban hành động liên K đã thảo luận tại chỗ: Trung úy Quỳnh là kẻ bắt người chứ không phải Giám thị Bằng, nay đích thân viên Giám thị này đã đứng ra giải quyết và tỏ “thiện chí”, mình cũng không nên dồn ông ta vào chân tường. Vì thế anh em quyết định tỏ thiện chí để đáp lại: tù cải tạo K1 sẽ giải tán, nhưng 15 phút sau, nếu ba người bị bắt không được thả vào trại, anh em sẽ tập họp biểu tình trở lại, và qua ngày hôm sau, toàn thể năm K bắt đầu tuyệt thực vô thời hạn, không cho các anh nuôi ra khỏi trại đi lãnh thực phẩm.

Giám thị Bằng cam kết sẽ thả người, và để anh em tù cải tạo thêm tin tưởng, ông ta nói một khi bên trong các trại viên bắt đầu giải tán thì ngoài này các xe tăng cũng quay đầu rời trại.

Ban hành động K1 liền yêu cầu tất cả anh em tù cải tạo trở về nhà mình. Khoảng 10 phút sau, cùng với tiếng xe tăng xa dần, có tiếng mở khóa cổng K1: cả ba anh em bị bắt được thả về!

Ngày hôm sau, mọi sinh hoạt ở trại tù Suối Máu vẫn diễn tiến bình thường, như thể đêm qua đã không xảy ra biến cố lớn nhất trong một trại tù cải tạo sau năm 1975.

Sau này khi đã được thả, trong những dịp gặp gỡ anh em bạn bè cựu tù cải tạo ở những nơi khác, khi tôi kể lại vụ nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978 ở Suối Máu, mọi người có vẻ không tin mức độ quy mô cũng như tinh thần chống đối quyết liệt, xem thường sinh mạng của chính mình của anh em tù cải tạo Suối Máu.

Tôi biết thế nào cũng có người nghĩ thầm trong bụng: Mẹ, chúng nó có súng trong tay mà chịu thua cải tạo à?, hoặc: Tù cải tạo mà đòi tuyệt thực, xem thằng nào chết trước!…

Chỉ tới sau này ra hải ngoại, khi có hàng chục, hàng trăm nhân chứng sống kể lại (chi tiết có thể khác nhau tùy theo người đó ở K nào) mới có nhiều người tin.

Riêng tôi, sau này chuyển sang K1, được anh em kể lại đầu đuôi đã có hai suy nghĩ, một về nguyên nhân đưa tới biến cố này, một về đoạn kết tốt đẹp, tốt đẹp tới mức khó tin ấy!

Trước hết, nói về nguyên nhân của “cuộc nổi loạn” đêm Giáng Sinh 1978.

Nguyên nhân xa, như tôi đã trình bày ở một phần trên, là việc sau khi bò xanh bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, trong lúc đám cai tù mới chưa kịp thiết lập hệ thống ăng-ten của họ, một số anh em đã chui hàng rào sang các K khác để liên lạc, móc nối với nhau, đưa tới việc thành lập các “Ban đại diện quân binh chủng”, các “Ban hành động” ở các K để “bảo vệ danh dự sĩ quan QL/VNCH”.

Tuy nhiên, dù tinh thần của anh em tù cải tạo ở Suối Máu lúc ấy có lên cao tới đâu, cũng chỉ đưa tới việc đánh ăng-ten ở các K và việc tổ chức Thánh lễ đêm Giáng Sinh, chứ không một ai có thể nghĩ tới việc gần 5000 tù cải tạo ở năm K đồng loạt biểu tình bất bạo động để phản đối Ban giám thị trại, nếu như không có việc bắt giữ ba anh em ở K1. Nói cách khác, việc Trung úy Quỳnh vào K1 bắt người không chỉ là nguyên nhân gần mà còn là nguyên nhân chính! Theo đa số tù cải tạo ở K1, chính họ cũng không ngờ tay trung úy công an này lại hành động “sảng” đến như thế!

Theo sự mô tả của anh em, Trung úy Quỳnh khoảng trên dưới 40, nghĩa là đã khôn lớn trước khi cộng sản từ chiến khu về tiếp thu Hà Nội năm 1954. Về diện mạo, ngoại hình, ngoài hàm răng hơi hô có thể nói đương sự tương đối “dễ nhìn” nhất trong đám sĩ quan công an răng đen mã tấu.

Tay Quỳnh không bao giờ mặc nguyên bộ đồ của “bò vàng” mà lúc nào cũng diện cái áo sơ-mi trắng ngắn tay, không đi dép râu mà mang một đôi xăng-đan da giả màu vàng. Cung cách ăn nói cũng cho thấy anh ta có vẻ văn minh, hiểu biết hơn những tay i tờ mà thích “nên nớp” (lên lớp)!

Chỉ có điều anh ta hơi nặng phần trình diễn, thích diệu võ dương oai!

Mỗi ngày đích thân anh ta vào trại (K1) kiểm soát ít nhất một lần, hông đeo K54, theo sau là một tiểu đội bò vàng trang bị súng trường CKC có gắn lưỡi lê sáng loáng.

Thông thường, các toán tuần tiễu chỉ vào trại lúc ban ngày, nhưng trong đêm Giáng Sinh, có lẽ được đám công an trên các chư vọng gác báo cáo về sinh hoạt bất thường của tù cải tạo – chui rào, tụ tập dự thánh lễ, đàn hát… – thay vì chỉ cần tăng cường toán tuần tiễu bên ngoài hàng rào và trước cổng trại, Trung úy Quỳnh lại dắt một toán đi vào bên trong K1.

Sau khi bất ngờ bắt được quả tang tù cải tạo lén lút tổ chức mừng lễ Giáng Sinh, quát tháo ra lệnh giải tán rồi dắt toán tuần tiễu ra về, nếu tay trung úy công an đánh một giấc tới sáng thì đã không có chuyện.

Nhưng chưa đầy nửa tiếng đồng hồ sau, không hiểu nghĩ sao anh ta lại dẫn toán bò vàng trở vào trại, chạy thẳng tới nơi anh em đang làm lễ đập phá bàn thờ, máng cỏ Giáng Sinh, tượng Chúa Hài Đồng, và bắt ba anh đứng gần bàn thờ đem đi…

Khi viên trung úy công an thấy anh em tù cải tại ùa ra, lo sợ rút K54 bắn chỉ thiên, có thể nói cuộc nổi loạn đêm Giáng sinh 1978 mới thực sự bắt đầu.

Có lẽ chính đám giám thị trại giam Suối Máu cũng nhận ra hành động “sảng” của Trung úy Quỳnh đã tạo cơ hội cho tù cải tạo nổi loạn, cho nên chỉ vài ngày sau, anh ta đã bị thuyên chuyển đi nơi khác, và một tay sĩ quan công an già dặn, bản lĩnh hơn được đưa tới K1.

Tiếp theo, xin viết về đoạn kết tốt đẹp, tốt đẹp tới mức khó tin của cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978 ở Suối Máu.

Như đã viết ở một đoạn trên, sau này khi đã được thả, anh em cựu tù Suối Máu chúng tôi kể lại vụ nổi loạn nói trên thì không mấy người tin mức độ quy mô cũng như tinh thần chống đối quyết liệt của anh em tù cải tạo.

Suy luận một cách khách quan, mọi người không tin cũng phải thôi: chưa nói tới việc tổ chức lễ Giáng Sinh trong tù, chỉ nội việc 10 giờ đêm không chịu đi ngủ là đã là vi phạm nội quy, lại còn hô hào đòi giết công an!

Sau này khi đã ổn định tình hình (thực chất là dẹp tan các “Ban đại diện”, “Ban hành động”, tôi sẽ viết ở một phần sau), chính Đào Lưỡng, viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu, đã nói trong một buổi lên lớp ở hội trường K2, được hệ thống loa phóng thanh truyền đi các K khác, nơi anh em tù bị bắt ngồi trong hội trường để nghe:

– Nếu đêm hôm đó, mấy thằng nhỏ không tự chế, thay vì bắn qua mái nhà tụi nó bắn xuống sân thì đã có nhiều người chết. Chết mà không thể oán cách mạng vì các anh làm loạn mà!

Theo những gì Đào Lưỡng nói, chúng tôi hiểu đêm hôm đó ông ta không được Giám thị Bằng báo cáo sự việc xảy ra ở Suối Máu, và tay giám thị này cũng không ra lệnh cho đám công an bắn đại liên để thị uy mà do những tên này tự ý bắn vì hoảng hốt (?).

Nhưng dù Đào Lưỡng được hay không được thông báo, Giám thị Bằng ra lệnh hay không ra lệnh cho công an bắn đại liên sát trên mái nhà, việc cuộc nổi loạn kết thúc một cách tốt đẹp – không ai chết hoặc bị thương, công an thả người bị bắt, tù cải tạo trở vào nhà ngủ – là ngoài dự đoán của nhiều người, nhất là anh em ở K1 và K5, vốn có tinh thần chống đối quyết liệt nhất.

Từ lâu, trong tập thể trung úy, thiếu úy trẻ ở K1, K5 có nhiều người nuôi sẵn ý định trốn trại; qua những lần được ra ngoài trại lao động gần quốc lộ 1, họ có dịp quan sát, nghiên cứu địa hình địa vật, khi thấy những tháp chuông nhà thờ liên tiếp của vùng Hố Nai, họ biết một khi thoát ra khỏi trại, họ sẽ có những nơi ẩn náu an toàn.

Vì thế trong đêm 24/12/1978, khi toàn thể tù cải tạo ở Suối Máu ra sân ngồi để phản đối Ban giám thị trại và hát “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…”, một số anh em ở K1, K5 đã tính phá rào trốn trại, nhưng (như tôi được nghe kể lại) việc này đã bị các anh trong Ban hành động ngăn cản, với lập luận: việc phá rào trốn tại vào lúc này sẽ làm mất “chính nghĩa” của cuộc biểu tình bất bạo động của toàn trại, và tạo cho cớ cho công an sử dụng vũ lực, tức là sẽ có đổ máu!

Trước thái độ cương quyết của các Ban hành động, những anh em có ý định trốn trại đã phải bỏ dở việc phá hàng rào.

Chú Thích:

(1) Nha Tuyên Úy Phật Giáo, cùng với Nha Tuyên Úy Công Giáo và Nha Tuyên Úy Tin Lành được chính thức thành lập vào năm 1964, gọi chung là Tổng Nha Tuyên Úy Quân Đội, trực thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

Thượng Tọa Thích Tâm Giác, Chánh đại diện miền Vĩnh Nghiêm, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đề cử giữ chức Giám đốc đầu tiên của Nha Tuyên Úy Phật Giáo.

Di ảnh Hòa Thượng Thích Tâm Giác

Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam và Hòa Thượng Thích Tâm Giác trong buổi lễ cầu siêu cho vong linh chiến sĩ trận vong tại Vùng 4 Chiến Thuật, năm 1972

Thượng Tọa Thích Tâm Giác (sau trở thành Hòa thượng) sinh năm 1917 tại Nam Định, xuất gia năm 7 tuổi. Năm 1954, ông được trường Tăng Học Quán Sứ (Hà Nội) lựa chọn gửi đi du học Nhật Bản. Tám năm, ông trở về (miền Nam, dĩ nhiên) với hai bằng Tiến sĩ Xã hội học, Triết học Đông phương và đệ Tam đẳng huyền đai Nhu đạo (KODOKAN).

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập năm 1964, không hiểu vì sớm nhận ra mầm mống chia rẽ qua các cuộc tranh giành ảnh hưởng, quyền lực trong tăng giới, hay chỉ đơn thuần vì muốn duy trì, bảo tồn truyền thống Phật giáo miền Bắc, Thượng Tọa Thích Tâm Giác đã thành lập một “miền” riêng cho Phật tử Bắc Việt di cư, được Hiến chương của Giáo hội nhìn nhận, đó là miền Vĩnh Nghiêm, và Thượng tọa được bầu làm Chánh đại diện.

Năm 1966, Thượng Tọa Thích Trí Quang tuyên bố ly khai để thành lập “Giáo hội Phật giáo Ấn Quang”, lãnh đạo tăng ni và tín đồ chống lại chính phủ VNCH, dẫn đưa tới xung đột trầm trọng giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang.

Mặc dù về mặt pháp lý, Giáo Hội Ấn Quang là một tổ chức bất hợp lệ, không được chính phủ VNCH công nhận, nhưng Thượng Tọa Thích Tâm Giác vẫn cố gắng duy trì tinh thần hòa hợp, không chỉ với tư cách Chánh đại diện miền Vĩnh Nghiêm và còn trong chức vụ Giám đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo.

Trong chức vụ này, Thượng Tọa đã có “nhã ý” mời Giáo Hội Ấn Quang đề cử một số vị đại đức (thuộc phe Ấn Quang) gia nhập hàng ngũ tuyên úy Phật giáo để thể hiện tinh thần đoàn kết trong tăng chúng, ít nhất cũng là dưới mắt người ngoài.

Hòa Thượng Thích Tâm Giác viên tịch ngày 15 tháng 11 năm 1973.

Bản thân tác giả thiên hồi ký này cũng là một môn sinh của Thượng Tọa Thích Tâm Giác tại Võ đường Nhu đạo Quang Trung ở đường Phạm Đăng Hưng, Dakao, trong thập niên 1960 nhưng không học tới nơi tới chốn. Trong khi một môn sinh khác, Hạ sĩ I Trần Văn Căn, cũng thuộc quân chủng Không Quân VNCH, đệ Nhị đẳng huyền đai, đã đoạt chức vô địch hạng nhẹ toàn quốc năm 1974.

Thục Anh

vvnm.vietbao.com

20/01/2017

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 25 May 2025

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, “phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.” Sau đây, thêm một truyện ngắn của tác giả.

* * *

Chúng tôi có sáu đứa con, ba trai, ba gái. Nếu vợ tôi không cằn nhằn thì giờ đây tôi có thể khoe có hơn chục đứa không chừng. Dĩ nhiên con cái đông phải cắm cổ mà cày, thấy mình còn thua con trâu, nhưng bù vào đó là cái thú được hi sinh cho con cái. Thỉnh thoảng ngó lại, ngạc nhiên thấy con mình sao mau lớn quá, áo quần đứa trước đã phải để cho đứa sau mặc rồi. Vợ tôi đi làm về còn phải lo phục vụ chúng. Giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp… Bà la hét đứa nầy, nạt nộ đứa kia rồi lại lầu bầu với tôi đủ chuyện, nhưng tôi chẳng hề bận tâm, tôi biết bà rất thú vị khi làm như vậy, đó là hạnh phúc của bà.

Vợ tôi thương con đến độ thương luôn các vật dụng của chúng nữa, từ đồ chơi lúc nhỏ đến quần áo cũ, giấy bút không dùng…bà đều coi như của quí, đem cất vào kho. Bà thương luôn cả đến bạn bè của chúng, đứa nào đến bà cũng mừng rỡ, săn sóc. Con ăn gì chưa? Ngồi xuống đây, bác lấy gì cho con ăn nghe! Bà giới thiệu tất cả sản phẩm bà có trên bếp, trong tủ lạnh, đứa nào chịu ăn bà thích lắm, nếu khen mấy tiếng Ngon quá! là bà phổng mũi cứ bổn cũ soạn lại, lần sau lại bắt chúng ăn như thế, chúng cũng khen nhưng có vẻ đau khổ, tôi lại phải nhắc chừng để bà đổi món khác, rồi bà lại mời, lại hồi hộp chờ được khen.

Sở dĩ không đứa bạn nào của con tôi dám chê vì có mục đích, chúng nhắm vào đứa con gái lớn trong nhà. Nó tên Thục Anh. Khi sinh ra nó, tôi đặt tên mà không hiểu ý nghĩa gì cả. Chỉ vì lúc còn dưới trung học tôi mê một cô bé học lớp đệ ngũ tên Thục Anh. Tuổi mới lớn, yêu chỉ để mơ mộng nên tên gọi là phần quan trọng nhất, vì không lẽ buổi tối đang học bài, bỏ vài phút ra mơ mộng mà lại viết tên người đẹp là Ổi, Ốc hay Cơm, Canh… lồng vào tên mình giữa hình một quả tim?!…

Sau nầy, dung nhan cô bé đó, tôi không nhớ rõ, chỉ còn ấn tượng đó là một cô bé ngây thơ, vui tươi, nhí nhảnh, đôi mắt thông minh, trong sáng. Nhiều cô đẹp hay làm kiêu. Cô Thục Anh đẹp nhưng rất tử tế với bạn bè. Tôi thường tìm dịp ngắm cô và yêu thầm. Và tên Thục Anh đã thành một âm vang dịu dàng trong mối tình học trò thuở nào. Tôi lấy tên cô ta để đặt tên cho con gái tôi. Dĩ nhiên vợ tôi đâu biết điều bí mật đó, nên cũng đồng tình. Tên Thục Anh, nghe hay đó chứ!”

Thường con cái trong nhà, mỗi đứa tôi thương một cách. Tôi không khó tính như mẹ chúng. Với con trai tôi nhìn thấy tôi của thời đi học. Cũng mê gái, cũng cãi lời cha mẹ một cách vô ý thức. Với con gái tôi thấy giống mẹ chúng, đúng hơn, giống bất cứ cô gái mới lớn nào khác, thế thôi. Trong nhà thì lười biếng, chỉ siêng soi gương chải đầu, ra đường làm bộ trang nghiêm, áo quần đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ.

Riêng con bé Thục Anh thì đúng là yểu điệu thục nữ. Bình thường trông nó thật thảm hại. Người ốm, hơi cao, mặt trái xoan dài, trông hơi xanh xao như thiếu dinh dưỡng, hai mắt to vẻ ngái ngủ. Tóc tai lượt bượt, vướng víu, khi làm bếp, thỉnh thoảng phải dùng cánh tay gạt ra phía sau, nhưng khi ra đường, mái tóc dài đen mượt của nó là một giòng suối chảy xuống bờ vai thon nhỏ, dịu dàng. Còn đôi mắt ngái ngủ, không hiểu nó tô điểm cách nào mà trông vừa buồn buồn vừa ngơ ngác một cách dễ thương. Trang phục của nó cũng đơn giản, những hàng vải mềm, màu trang nhã hòa hợp với khuôn mặt và dáng người, trông thước tha và quí phái khiến các cậu vừa thấy đã xao xuyến nhưng cũng ngậm ngùi vì có vẻ cao sang quá, mình chẳng đáng hi vọng chút nào.

Nghệ thuật làm xiêu lòng lũ con trai không phải ngẫu nhiên, nó phải luyện tập gian khổ như một nghệ sĩ tập tuồng vậy. Từ cách ăn mặc, đi đứng cho đến cách chuyện trò. Chẳng biết nó nghiên cứu đâu ra những phương pháp kỳ cục. Trong nhà, nó thường đặt trên đầu một quyển sách, cần gì sai nó, nó cứ lững thững đi trông như người máy. Tôi tưởng nó bị bịnh tâm thần, nó cãi Ba không biết gì hết, khi nào con đi nhanh mà quyển sách không rớt xuống đất, con sẽ đi đẹp lắm đó”.

Thục Anh che giấu khuyết điểm của nó một cách tài tình. Nó gây lộn với các em nó không bao giờ thua. Với các anh, nó chỉ cần thút thít là các anh nó bối rối ngay. Tuy nhiên Thục Anh biết giữ khoảng cách vừa phải đối với bạn bè của anh nó. Với đứa nào nó cũng lễ phép và không thân mật quá khiến các cậu mê mệt mà không dám tỏ tình.

Đúng là cha mẹ sinh con trời sinh tính. Em nó, con bé Đỗ Quyên lại khác, tuy dáng dấp và khuôn mạt tương tự nhưng bản tánh mạnh mẽ như con trai. Nó không lượt là như Thục Anh mà lúc nào cũng quần jean, áo pull, tóc thì cột túm phía sau bằng một sợi giây thun, trong nhà ra đường đều thế, chẳng hề thấy điểm phấn tô son bao giờ. Nói chuyện với con trai, nó đốp chát thẳng thừng, bọn con trai tiếp xúc với nó cũng tự nhiên như với em gái thực sự. Có điều lạ là đứa nào muốn tặng quà cho Thục Anh đều phải qua Đỗ Quyên, nếu không Thục Anh sẽ không thèm nhận.

Các cậu đã tốn tiền còn phải quị lụy chỉ để được người đẹp thưởng cho nụ cười và hai tiếng cám ơn. Nhưng có nhìn thấy Thục Anh nhận quà mới hiểu được sự sung sướng của người tặng. Nó mở quà một cách chậm rải nhưng đầy vẻ hồi hộp, tò mò, rồi nó kêu lên Ôi, đẹp quá!” mắt mở lớn, ngước nhìn nạn nhân Cám ơn anh nhiều lắm, sao anh biết em đang cần món quà nầy? Em thích quá, cám ơn anh!”Cách suýt soa, trân trọng món quà của nó khiến khối chàng si tình muốn bê luôn ngôi nhà của cha mẹ đem dâng người đẹp. Đâu biết rằng, khi khách đã ra về, chỉ còn lại người nhà, nó vất cho mấy đứa em Cho tụi bây, có thích thì lấy đi.

Trong số các ứng viên có mấy anh chàng mà vợ tôi chấm là có đủ điểm để lọt vào vòng chung kết, đó là các cậu đang học y khoa Không nghề nào tự do lại nhiều tiền bằng”. Ngoài ra còn có một cậu coi bộ cũng si Thục Anh ghê lắm nhưng cũng rụt rè không kém. Cậu vượt biên qua Mỹ một mình, vừa đi học vừa đi làm, quần quật cho bản thân còn tiếp tế cho gia đình ở Việt Nam nữa. Chẳng bao giờ thấy quà cáp cho Thục Anh, chỉ thỉnh thoảng mang đến vài tờ nguyệt san, báo chí gì đó để ở phòng khách, có ai buồn tình thì giở ra đọc giết thì giờ. Thục Anh như thấy được thế kém của anh chàng nên thỉnh thoảng có săn sóc, hỏi han rất thân tình, có lẽ vì lòng trắc ẩn muốn cân bằng tương quan giữa các cậu, để cậu ta khỏi nản mà bỏ cuộc, vì các bà, các cô tuy không yêu nhưng lại muốn càng nhiều người say mê mình, càng thích. Mỗi lần ăn uống trong gia đình, cậu chỉ được ngồi tít xa người đẹp, lo cắm cúi ăn. Vợ tôi tuy cho cậu ra ngoài danh sách ứng viên khách đông sàng, nhưng lại thương nhiều vì cậu côi cút, thật thà, nhất là khen bà nấu ngon. Con ăn McDonald, hot dog riết ngán quá, thèm cơm, bác lại cho ăn ngon nên lần nào con cũng muốn bể bụng…”

Cậu ta, dĩ nhiên bị các đối thủ loại ra vì không có ưu điểm nào đáng ngại cả. Ăn mặc xuề xòa, thường là bộ đồng phục của tiệm ăn vì cậu là bồi bàn. Chiếc xe cũ xì, trong bỏ đầy báo chí sách vở. Người cao, mặt mũi cũng tạm nhưng tóc tai hớt ngắn như lính. Chỉ chừng đó cũng biết cậu chắc chắn đã thất bại trước khi tham gia cuộc đua chạy đến trái tim người đẹp rồi, đúng hơn cậu cũng chạy, nhưng lẽo đẽo theo sau để xem thử các bạn mình ai sẽ đến đích chứ riêng cậu chẳng thấy quyết tâm gì. Thế nên vợ tôi gọi cậu là anh chàng Cá Kèo, ý nói đứng hạng chót trong danh sách các ứng viên.

Có lẽ người Mỹ bị bịnh tâm thần, đau tim nhiều cũng vì những con số. Cái gì cũng tính bằng số, chết rồi cũng đem linh hồn ra cân! Lũ trẻ Á Châu ở Mỹ bây giờ cũng bị qui luật đó chi phối. Tình yêu vốn vô hình, vậy mà chúng biểu lộ được bằng những con số. Chúng nghĩ đơn giản, tình cảm cũng như một món hàng, hễ yêu ai cứ cho thật nhiều quà đắt tiền tức là yêu nhiều. Tôi muốn nói về những quà cáp của các chàng Sơn Tinh, Thủy Tinh tân thời đem dâng người đẹp nhân ngày sinh nhật của nàng. Ngày sinh nhật của Thục Anh cũng khoảng vào ngày nó tốt nghiệp trung học. Vợ chồng tôi muốn làm một lễ sinh nhật tươm tất để mừng nó tốt nghiệp luôn một thể. Chúng tôi định cho Thục Anh vào đại học ở một tiểu bang khác nhưng vợ tôi lại sợ con gái xa nhà sẽ gặp nhiều khó khăn. Bà mẹ Việt Nam nào cũng muốn các con dù khôn lớn đều phải nằm trong đôi cánh của mình hay ít ra cũng lẩn quẩn đâu đó trong tầm mắt, bà mới yên tâm, hoặc khi đi xa phải có bạn đồng hành giúp đỡ nhau để tránh lỗi lầm, sa ngã. Vợ tôi nói với Thục Anh “Con lớn rồi, phải quyết định lấy cuộc đời mình. Trong số các bạn trai của anh con, con có thể chọn được một anh mà con có cảm tình, ba mẹ không có quyền chen vào nhưng cần biết quyết định của con để yên lòng. Mẹ thấy đứa nào cũng đàng hoàng, xứng đáng cả. Đừng để chúng nản, chúng đi hết Thục Anh chỉ dạ, cười cười mà không nói. Vợ chồng tôi chẳng hiểu nó nghĩ gì, Tuy chưa hề thấy nó biểu lộ tình cảm đặc biệt cho riêng một cậu nào, nhưng lối cười của nó, tôi biết nó đã có đối tượng, có chủ đích.

Hôm tiệc sinh nhật, mới sáng, các bạn bè đã lục tục mang quà đến để đầy phòng khách. Không hiểu có phải qua Đỗ Quyên không, hình như cậu nào cũng biết rằng Thục Anh sẽ lộ ý cho biết ai là ý trung nhân của cô trước khi lên đường đi học xa, và cậu nào cũng tin rằng mình đã nằm trong mắt xanh người đẹp rồi. Một cái TV ngạo nghễ chiếm một góc phòng, bên cạnh là một cái máy CD, DVD gì đó, có mấy gói quà nho nhỏ tuy khiêm nhường nhưng nổi bật nhờ giấy gói rực rỡ…

Trong lúc chờ đợi chúng tụ tập ở phòng khách chuyện trò rôm rả. Vợ tôi tuy chuẩn bị trước, nhưng nấu nướng các món không phải đơn giản, các cô con gái và cả tôi nữa đều phải xuống bếp phụ một tay. Một lần, trong khi Thục Anh đang ở trong bếp thì anh chàng cá kèo xuất hiện, cậu ta đi có vẻ mạnh dạn lắm nhưng không che dấu được sự rụt rè, thiếu tự tin. Cậu đến bên Thục Anh đưa ra một gói nho nhỏ, hình như một quyển sách trong một phong bì màu xám “Anh tặng Thục Anh… để mừng sinh nhật. Anh cho gì đây? Quyển sách hả, anh để trên phòng khách, lát nữa em sẽ mở quà, bây giờ tay em dơ lắm. Anh không thích để trên đó, không thích ai biết trừ Thục Anh. Được rồi, em mở ngay bây giờ, quyển sách phải không?” “Một tập thơ. Thơ của ai? Thơ của anh. Thục Anh không lộ vẻ gì ngạc nhiên, nó giở từng trang, nhìn thoáng qua. Em có đọc mấy bài nầy rồi, trong các tờ báo… Đúng rồi, anh làm thơ tặng Thục Anh đó. Hèn gì, bài thơ nào cũng thấy đề. Tặng Thục Anh em biết ngay là anh” Con bé chỉ hững hờ nói cám ơn rồi bảo Đỗ Quyên đem tập thơ vào phòng.

Có lẽ cậu cá kèo đang chờ đợi một tiếng kêu ngạc nhiên của Thục Anh kèm một cái ngước mắt nhiều cảm động và biết ơn, giống như lúc nhận quà của mấy cậu kia. Không ngờ vẻ lạnh lùng của Thục Anh khiến cậu ta như bị một cú đấm bất ngờ. Phải rồi, tập thơ chẳng có giá trị gì cả, cũng chẳng biết dùng vào việc gì! Mặt cậu tái nhợt, cậu nói vội vã như hụt hơi. Anh về nghe! rồi cậu lễ phép với chúng tôi. Xin phép hai bác con về, con bận có chút việc. Vợ tôi vội chận lại. Có chuyện gì gấp vậy? Con ở lại với bạn bè cho vui, hay để bác dọn riêng, con ăn trước rồi hãy về. Thấy vẻ bẽ bàng lúc nãy, tôi đoán cậu thất vọng nhiều lắm nên cần rời nơi nầy, tìm một chỗ yên tĩnh để gặm nhấm nỗi buồn nên tôi không chen vào. Vừa lúc Thục Anh đến. Anh về em giận lắm đó. Ở lại, nghe chưa! Lối ra lịnh như thế khiến tôi cũng bất bình, cậu cá kèo đành nghe theo.

Có lẽ lúc sượng sùng nhất của cậu là khi mở quà vì cậu chẳng có tặng vật gì ở đó cả. Tôi ngồi ngắm những nhân vật của vở kịch đời, thấy rõ tâm lý hiện lên trên từng nét mặt. Với món quà nào Thục Anh cũng có một lối mừng riêng, nó khéo léo đến độ anh chàng có món quà ít giá trị coi bộ còn sung sướng hơn người khác nữa.

Thục Anh quì giữa đống quà và những giấy gói đủ màu sặc sỡ trông nó dễ thương và ngây thơ như một đứa bé. Tôi nhìn nó lòng vui sướng và ngạc nhiên, mới năm nào sinh ra, nó chỉ có chút xíu, ngọ ngoạy chân tay một cách vụng về, miệng cười thơ dại, thơm nức mùi sữa mẹ, bây giờ thành một cô thiếu nữ xinh đẹp.

Điều làm tôi phân vân, trông gương mặt nó sáng sủa, thông minh nhưng sao tâm hồn nó không giống vợ chồng tôi, nó không biết giá trị cao quí của tình cảm. Những bài thơ của anh chàng sinh viên nghèo kia dù không hay chăng nữa cũng nói lên những rung động chân thành đối với nó. Cậu sinh viên kia, trong góc phòng, lặng lẽ, núp kín sau bạn bè như muốn biến mình thành mây khói để thoát ra khỏi nơi ồn ào nầy. Tôi không hiểu cậu đang nghĩ gì? Có xót xa cho hoàn cảnh mình không đủ tiền mua một món quà đắt giá dâng người đẹp, hay ân hận mình đã yêu lầm một người không có tâm hồn?! Anh chàng Trương Chi tân thời nầy tuy không xấu trai nhưng chỉ có tiếng hát của hồn thơ và cô Mỵ Nương đời nay tuy có đọc thơ chàng từ trước trong những tờ báo đặt ở phòng khách chứ không phải lần đầu nhìn thấy, nhưng rõ ràng cô không quan tâm.

Trong lúc dự tiệc, anh chàng cá kèo vẫn giữ vị trí xa người đẹp nhất. Những lần trước cậu thường lặng lẽ ngắm Thục Anh, thỉnh thoảng góp chuyện với bạn bè, lần nầy cậu im như thóc, mặt buồn thiu, cầm đôi đũa vầm vầm món gì đó trong chén chứ không ăn, có điều cậu uống bia hơi nhiều, mặt bắt đầu đỏ, trông lầm lì, dữ tợn.

Cũng như mọi khi, bọn trẻ tha hồ nói thánh nói tướng về mình, về mọi chuyện, nhất là chuyện người đẹp, cậu nào cũng ra vẻ ta đây có số đào hoa, con gái chạy theo thiếu khối mà không thèm (Ý muốn nói chỉ để ý một người thôi) Rồi chúng xoay qua anh chàng cá kèo để chọc phá. Còn mầy thì sao? Kể ra xem, trước giờ có được mấy em theo mầy? Có mấy con cháu bà Só! Cả bọn ngớ ra, nhưng vợ tôi cười rộ lên giải thích. Cháu bà Só là chó bà Sáu đấy.”

Thấy có người hiểu được mình lại thêm chút rượu trong người, cậu bắt đầu triết lý. Con trai là nam châm, con gái là sắt, thép; có cứng bao nhiêu cũng chạy theo nam châm. Mầy ngon, vậy chứ có mấy cục sắt chạy theo mầy rồi? Chưa có, nhưng muốn lúc nào là có ngay. Cả bọn nhao nhao. Thằng nầy xạo, biểu diễn coi, bữa nào đưa một em đến đây cho tụi tao xem, hay dẫn một em xấu hoắc thì đúng là sắt rỉ, nói làm gì. Đâu đến nổi, tụi bây chấm được mới kể, nhưng phải thong thả, ít ra cũng vài ba ngày, hẹn hò đàng hoàng chứ thình lình như đâu trên trời rớt xuống được. Chúng tôi bắt đầu ái ngại cho cậu ta, có lẽ vì bị Thục Anh lạnh nhạt trước món quà vô duyên đó nên cậu tự ái, một phần vì ngấm rượu cậu đã bị các bạn đưa vào bẫy thách đố, nhưng trông còn vẻ bình tĩnh tôi đoán cậu có cách thoát ra. Thứ bảy nầy đi, mầy đưa người đẹp đến đây, dám không? Có ngay, nhưng em vô nhà hay không tùy quyền em. Tụi bây đông quá, em khớp, đâu dám. OK, đứng trước sân đủ rồi, chín giờ sáng thứ bảy, được chưa?”

Vợ tôi và mấy đứa con gái cũng bị kích động theo, anh chàng cù lần nầy làm sao kiếm được một cô bạn nhanh như thế, hắn không có bà con quen biết để nhờ đóng vai người bạn tạm bợ “Sáng thứ bảy mấy đứa ghé đây ăn sáng, bác sẽ nấu phở cho mà ăn” Lát sau cậu ta xin kiếu từ về trước, thấy lối đi ngất ngưỡng, vợ tôi bảo Con ra phòng khách ngồi nghỉ một lát, tỉnh rượu hãy về, cảnh sát gặp thì nguy” “Dạ, không sao đâu bác, con đi trong xóm chứ không ra ngoài lộ đâu.”

Sáng thứ bảy, bọn trẻ đã tụ tập tại nhà tôi chờ xem anh chàng cá kèo đem người đẹp đến trình diện. Tôi không quan tâm đến chuyện trẻ con đó, nhưng tò mò xem cậu ta giải quyết sự thách đố ra sao. Trước chín giờ cậu ta đã đến, cả bọn nhao nhao “Người đẹp đâu?” “Mười phút nữa em sẽ đến” “Mầy không đón em đến đây à?” “Em đến đón tao chứ xe tao em nào thèm ngồi” “Thằng nầy ngon, chà bữa nay áo quần coi bộ láng quá há!”

Tôi cũng nhận thấy cậu ta ăn mặc lịch sự, tóc tai gọn gàng, áo quần mới thẳng nếp lại thêm chiếc cà vạt hoa lá cành trông rất bảnh bao, coi bộ còn đẹp trai hơn các bạn nữa. Vợ tôi bảo “Mỗi đứa vào bếp lãnh tô phở rồi ra phòng ăn mà ngồi” “Thưa bác, lát nữa con đi ăn điểm tâm với cô ta.”

Bỗng có tiếng còi xe, cả bọn ùa ra cửa. Cậu cá kèo chửng chạc đi ra. Chiếc xe đời mới, cũng rực rỡ như cô gái trong xe. Cậu ta nói gì đó, cô gái ra khỏi xe, cười thật tươi, vẫy tay chào trong nhà. Tuy cô không đẹp lắm nhưng cách ăn diện ra người đứng đắn, quí phái. Dự đoán một cô tào lao nào đó không đứng vững. Cô gái nhường tay lái cho cậu cá kèo và xe vụt chạy đi.

Hơn một giờ sau xe quay lại, cô gái lại ra khỏi xe vẫy tay chào trong nhà, cậu cá kèo nói gì đấy cô ta cười gật đầu từ biệt. Bây giờ thì cậu ta chẳng còn chút buồn nào nữa, vợ tôi cũng vui lây, có lẽ bà cảm thấy như có lỗi vì cách đối xử của Thục Anh hôm trước, nay đã có một cô gái thay thế con gái bà trong quả tim anh chàng tội nghiệp nầy rồi. Rồi đây, khi Thục Anh chọn được một đối tượng, các cậu kia cũng sẽ buồn như vậy, có khi buồn hơn vì ấp ủ nhiều hi vọng hơn. Vợ chồng tôi cứ áy náy về cách xử sự vụng về của Thục Anh, cho nên chúng tôi dự định một dịp nào đó sẽ bắt Thục Anh xin lỗi cậu ta và chúng tôi sẽ nói mấy lời an ủi để cậu khỏi buồn.

Một buổi tối, chúng tôi gọi Thục Anh ra phòng khách, tôi nói “Ba mẹ thấy con đã lớn mà không tế nhị chút nào. Các bạn của anh con, đứa nào cũng đứng đắn, học hành chăm chỉ, ăn nói lễ độ. Dĩ nhiên ba mẹ không ép con thương người nầy hay ghét người kia, nhưng dù gì con cũng phải chứng tỏ mình tế nhị, lịch sự. Riêng tập thơ bạn con tặng, coi bộ con dửng dưng quá. Con có biết, khi người ta yêu, chỉ với tâm hồn say đắm mới làm được những bài thơ. Thơ dở không phải vì yêu ít. Nhưng ba đoán thơ đã được đăng trên báo ít ra nó cũng có giá trị về một khía cạnh nào đó chứ không phải hoàn toàn không đọc nổi. Ba mẹ rất vui khi thấy con bày tỏ lòng biết ơn với các anh tặng quà, biết cách làm cho mọi người vui vẻ dù giá trị món quà ra sao đi nữa, tại sao con không làm như thế với tập thơ? Lẽ ra lúc đó, sau khi mở quà, con phải đem ra một bài thơ để ngâm hay đọc lên cho mọi người cùng thưởng thức, con có thể không nói tên tác giả, nhưng để chứng tỏ rằng con hiểu được tình cảm của anh ta, chứng tỏ con có những nét đẹp cao quí đã làm rung động tâm hồn người khác. Ai cũng có thể cho bao nhiêu quà tùy thích, nhưng thơ thì chịu. Đó là ân sủng của Thượng Đế, người ta đã đem tặng con với tất cả tấm lòng, với bao tình yêu thương…

Ba nói hơi nhiều, bây giờ ba đề nghị thế nầy, sáng mai chủ nhật con mời anh ta đến và nói lời xin lỗi cũng như cám ơn tấm lòng của anh ta, ba tin con biết cách nói cho anh ta hiểu rằng con rất hãnh diện và cảm động được anh ta quan tâm thương yêu, nhưng thời gian sẽ giúp con trả lời và những bài thơ đó con sẽ giữ gìn như một kỷ niệm quí nhất, đẹp nhất trong đời”

Thục Anh đứng yên lặng nghe, nó có vẻ buồn buồn, tôi không hiểu nó đang nghĩ gì, nhưng lòng tôi rung động một tình phụ tử. Tôi tưởng nó đã lớn, đã thay đổi rồi, nhưng giờ đây trước mắt tôi, khuôn mặt, đôi mắt, chiếc miệng đó vẫn y nguyên như thời thơ ấu, nhất là khi nó sắp khóc, khiến tôi nhớ lại lúc nó còn nhỏ mỗi khi tôi giận dữ, la mắng điều gì, hễ mắt nó rơm rớm là lòng tôi chùng xuống, giận dữ tiêu tan, chỉ còn tình thương đứa con bé bỏng. Tôi ân hận, có lẽ đã nặng lời với nó chăng? Hay nó có tâm sự gì buồn? Vợ tôi cảm thấy điều đó, bà ôm Thục Anh vào lòng, nó bỗng khóc nấc trên vai bà. Tôi hôn lên đầu nó và thì thầm” Ba xin lỗi con!”.

Sáng chủ nhật hôm sau, anh chàng cá kèo đến, Thục Anh tiếp ở phòng khách. Chúng tôi không muốn xen vào, chỉ ngồi ở phòng ăn. Tôi uống cà phê, vợ tôi loay hoay trong bếp nhưng đôi tai vẫn hướng về phòng khách. Phòng ăn sát với phòng khách, chúng tôi loáng thoáng nghe được cuộc đối thoại. “Hôm trước thấy anh uống rượu mà ghê, tưởng bị cảnh sát bắt nhốt rồi chứ” “Đâu có say, uống cho vui”

Im lặng…

“Mấy bữa nay đi với người đẹp vui không? Em thấy chị ấy đẹp lắm đó, em cũng phải mê, lại có xe mới tinh. Chúc mừng anh hạnh phúc” “Mới quen thôi. Buồn quá… Chứ có gì vui đâu!” Lại im lặng, tôi nhìn vợ tôi lắc đầu, cuộc hòa đàm coi bộ đi lạc đề rồi. Có tiếng giấy sột soạt “Cho em gửi lại anh tập thơ, em không xứng đáng để anh ca tụng, bây giờ có người đẹp hơn, thơ anh phải hay hơn rồi. Lúc tối, đọc tập thơ nầy em mắc cỡ quá, em xấu xí vụng về, nhà quê quá nên anh chọn người khác cũng phải, chắc anh hối hận ghê lắm khi đã lỡ làm thơ về em.” “Không có đâu, không ai làm thơ ca tụng hoa hậu cả. Nhưng anh đã thề sẽ không bao giờ làm thơ nữa.” “Sao vậy?” “Vì em không hiểu anh” “Sao anh biết em không hiểu? Mấy năm nay… Em đọc thơ anh đến thuộc lòng” “Hiểu mà không thèm để ý” “Sao anh biết? Không lẽ em phải la to lên là em để ý anh sao? Anh phải biết chứ. Em tức quá!” “Để ý sao thấy lạnh lùng!” “Em tưởng anh đã biết những gì em nghĩ về anh rồi. Tại anh không nhìn em. Anh chỉ giỏi nhìn trộm, khi em nhìn lại thì ngó lơ chỗ khác… Em không muốn ai biết gì hết, không muốn ai xen vào.” “Thật hả? Anh buồn quá, cứ ân hận, thà đừng tặng tập thơ. Coi như yêu thầm phải sung sướng hơn không. Em biết anh làm thơ về em mà khi tặng tập thơ, em vẫn hững hờ… Anh nghĩ rằng em không có chút cảm tình nào với anh cả.” “Em tức quá! Thôi được rồi, vì em không có cảm tình với anh nên anh tìm người khác. Bây giờ xin anh đừng nghĩ gì đến em nữa. Cho em gửi lại tập thơ, anh về chỉ cần xóa tên em, viết tên người đẹp vào đem tặng người ta, anh sẽ được người ta vồn vã, ân cần chứ không giống em, xấu xí, lạnh lùng.” “Người đẹp nào?” “Cô nhỏ hôm rồi chứ người nào nữa! Chuyện trò, cười nói thân mật quá, lại còn đem xe đến rước đi ăn điểm tâm nữa.” “Anh thề với em, anh mới gặp lần đầu và hôm đó là lần duy nhất.” “Anh đừng xạo nghe! Không lẽ anh thuê nó đến đón anh? Em không phải con nít đâu mà nói láo, không ai tin đâu.” Có tiếng giấy sột soạt “Đây, hình cô ta trên báo đây, có phải cô đó không? Chữ realtor (trung gian mua bán nhà) rành rành. Cô nầy còn đẹp hơn nữa. Anh muốn cho mấy đứa ngán thôi chứ đâu có gì.” “Anh lợi dụng người ta để chọc tức em chứ gì? Anh không mua nhà mà giả bộ tìm nhà để người ta đưa đón, anh có thấy xấu hổ không?” “Anh đi coi nhà thực mà, tìm giùm nhà cho người bạn” “Đừng chối quanh. Bạn anh làm gì có tiền. Đi học thì tiền đâu mua nhà?” “Gọi là bạn chứ anh ta cũng lớn tuổi rồi. Lúc vượt biên ở đảo, bọn anh sống với nhau, qua đây anh ta làm hai jobs, để dành tiền mua nhà đón vợ con qua.”

Lại yên lặng… “Em mà không đi học xa đừng hòng em nói cho mà biết. Người ta thương!.. Chưa gì đã lăng nhăng. Lúc tối em tức phát khóc.…” Rồi nó lớn tiếng “Bây giờ về đi, chứ ngồi đó làm gì nữa? Đưa lại em tập thơ. Đứng lên!.. Cúi xuống! Cúi xuống nữa! Sao cao quá vậy?! Vẫn giọng lạnh lùng đó, như đang đốp chát với mấy đứa em nó! Vợ tôi lầu bầu. Con nhỏ nầy… Sau nầy ăn hiếp chồng dữ lắm! Và bà nhỏm dậy, định ra giữ thằng bé lại ăn điểm tâm, nhưng mới đến cửa, bà khựng lại, ngoắc tôi đến.

Tôi biết rõ Thục Anh, bao nhiêu con trai đến nhà tôi thường xuyên, đố đứa nào đụng được chéo áo nó. Nó giữ ý, nghiêm trang lắm. Vậy mà giờ đây nó đang hôn lên trán anh chàng thi sĩ si tình mấy cái. Rồi vừa cười nho nhỏ, nó vừa vò vò đầu cậu ta như đang đùa với một em bé.

Phạm Thành Châu

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 25 May 2025

Phần 2

Hãy Tưởng TượngNguyên Sa

Cầu không vận được thiết lập ngày mười chín, những ngày đầu đi thong thả, vô sáng chiều đi ngay, chỉ từ hai mươi hai, hai mươi ba mới phải chờ đợi, nhưng cũng chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng. Phi cơ C-132 cất cánh lúc đầu mỗi giờ, sau mỗi nửa giờ, có lúc thời gian còn thu lại ngắn hơn. Mỗi chuyến chở cả mấy trăm người, phi cơ bay thẳng từ Tân Sơn Nhất tới Guam. Khi máy bay cất cánh cũng lo vì không biết đi tới đâu, nhưng khi máy bay đáp xuống Guam, những bà Hồng Thập Tự chờ ở phi trường, sự tiếp đón cởi mở, những món ăn nóng được mang lại, thủ tục có phần đơn giản mang lại cho những người tị nạn rời khỏi Sài gòn thời điểm cuối tháng Tư đó sự vững tâm lớn hơn. Họ được chở tới trại Asan, những đoàn người đến trong những ngày đầu còn được tiếp đón bởi một ông Đại tá Hải quân và dàn kèn chào. Cầu không vận khởi đi từ cơ quan Mỹ D.A.O sang Guam kéo dài từ 19 tháng 4 đến cuối tháng. Ngày cuối tháng, khi cầu không vận này không còn hoạt động được nữa thì hàng loạt tàu thuyền ồ ạt từ Khánh Hội đi theo sông Sài gòn túa ra biển Nam Hải. Ngày chót có cả những chiếc sà-lan chở nhiều trăm người, còn nhiều hơn cả tàu Việt Nam Thương tín. Đoàn người tị nạn đường biển được Đệ Thất Hạm Đội Huê Kỳ chờ sẵn ngoài khơi bốc đi an toàn. Người được chở sang Subic Bay, người được đưa tới Guam. Người đến Phi trước thì sau cũng sang Guam. Người đến Guam hay một nơi khác sau chót cũng được đưa về một trại tị nạn trong nội địa của Mỹ. Như Pendleton. Như Arkansas. Như Philadelphia. Tại miền Nam Cali hay miền Đông nước Mỹ, đời sống an toàn, tiếp đón có tổ chức, đời sống của những người tị nạn đầu tiên chỗ nào cũng tương tự. Tuần tự thủ tục processing, một người bảo trợ Mỹ nhận lãnh. Gia nhập xã hội Mỹ với tương đối nhiều thuận lợi. Sự săn sóc của người hay cơ quan thiện nguyện sponsor, trợ cấp các loại không hạn định thời gian, tình trạng kinh tế Mỹ thời đó đang lên nên vấn đề công ăn việc làm không quá khó.

Hãy tưởng tượng bạn hụt đi những chuyến đó. Bạn vô D.A.O thì cầu không vận không còn hoạt động được nữa. Pháo kích phi trường đã khai diễn như những chiếc chầy khô cứng đã gõ trên sàn sân khấu báo hiệu vở kịch đã tới lúc hạ màn.Bạn dắt vợ con ra Khánh Hội, không chen lên sà-lan được, vả chăng chiếc cuối cùng đã ra đi. Lúc trở ra chiếc xe gắn máy của bạn đã bị lấy cắp. Bạn lạc lõng trên đường về của một chuyến đi hụt hay bạn đang ở nguyên vị trí và chờ lệnh. Những chiếc chiến xa T54 đã tiến vào thành phố. Cán bộ ba mươi đã lởn vởn trước cửa nhà bạn. Một tháng sau bạn đi trình diện học tập ba ngày. Lương thực mang đi đủ cho ba ngày. Ba ngày dài tới mười mấy năm.

2

Khoảng thời gian cuối thập niên bảy mươi, bạn hoàn tất học trình kỹ sư, hay bác sĩ, hay kế toán gia, công việc hội nhập diễn tiến xuôi chảy. Chiếc xe hơi nhà thờ cho bạn đã bán từ lâu và đã tậu chiếc xe thứ ba, chiếc thứ nhì cũng used car, nhưng chiếc này mới tinh. Các cháu vào Đại Học. Bạn thầm cảm ơn Thượng đế đã giúp cho bạn đến quê hương thứ nhì này không quá trễ vào lúc mới gần bốn chục, với nhiều cơ may và còn nhiều khả năng để tìm và tìm được một chỗ đứng tốt dưới mặt trời.

Hãy tưởng tượng bạn ở Long Giao một thời gian thì được đưa lên Pleiku. Một thời gian Pleiku sau đó là Thanh Hóa, rồi Bắc Kạn cho tới lúc bang giao giữa Việt Nam Cộng sản và Trung Cộng đứt gẫy bạn được đưa về Hà Nam Ninh. Xe chuyên chở di chuyển đêm, tù được cột vào nhau, cơm trộn bo bo, quản giáo thù nghịch và tàn ác, bản tự khai bạn phải viết nhiều chục lần. Khi còn ở Long Giao, người vợ có tới thăm. Khi bạn lên Pleiku bà ấy có tới, mặt xanh mướt gầy ốm, ba ngày đường không biết bao nhiêu ngày nhịn ăn nhịn mặc để có tiền xe có tiền mua quà tiếp tế cho chồng. Một năm, rồi hai năm một lần. Tới khi bạn bị chuyển ra Bắc Việt, thăm nuôi hoàn toàn gián đoạn. Có đến cả gần mười năm không nhìn thấy mặt vợ mặt con.

Hãy tưởng tượng sau chót bạn tới Mỹ, do chương trình có tên là H.O. Hãy tưởng tượng bạn đã gần tới tuổi sáu mươi, nhưng mái tóc đã bạc phơ, sức khỏe đã suy yếu như người vượt xa sáu chục. Bạn chưa đủ tuổi lãnh lương già 65, trợ cấp cho H.O. lúc trước 18 tháng, lúc này 8 tháng. Bạn ở chung với gia đình người em hai tháng thì ra riêng. Tiền trợ cấp trả tiền nhà xong thấy nhẹ nhõm quá.

Hãy tưởng tượng các cháu không đi làm nghề nghiệp chuyên môn như bạn bè cùng trang lứa, cũng không cần học xong mà chỉ bắt đầu lớp sinh ngữ cho người ngoại quốc E.S.L.

Hãy tưởng tượng sáng nay bạn không di chuyển bằng chiếc xe mới tinh có air bag mà bạn mua tháng trước để đi làm giấy tờ cho ngôi nhà mới mua, nhà này mua để đầu tư, nhà ở có rồi, mà bạn chỉ di chuyển chậm rãi bằng chiếc xe đạp dọc theo đường Bolsa. Bạn đạp từ khúc gần đường First cho đến góc đường Magnolia, đứng nhìn xe chạy chút chút rồi lại đạp xe về.

Bạn sẽ điện thoại chào mừng. Sẽ đến tận nơi thăm hỏi. Bạn sẽ đưa ra một bàn tay. Bạn sẽ cầu nguyện, sẽ khuyến khích, sẽ an ủi, sẽ cám ơn hay sẽ xin lỗi. Không biết, tùy bạn. Nhưng trước hết, bạn hãy tưởng tượng.

Nguyên Sa

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 25 May 2025

Phần 1

Về tuyển tập thơ văn H.O.Viết Thư Miền Đất Hồi Sinh
Kiêm Thêm

Trong những năm gần lại đây, bất luận những nơi nào có người Việt định cư hay có sinh họat báo chí Việt Nam hải ngoại, thì những sáng tác phẩm của các cựu tù nhân chính trị đều xuất hiện. Xuất hiện với những giá trị độc đáo; xuất hiện gây tác động lớn cho người đọc, và cũng là khí giới sắc bén nhất để chống lại những tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù.

Với tính chất nầy, chúng ta thấy rõ trong những hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại, thơ văn của những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đã đóng góp một phần vững chắc, giá trị nổi bật, nội dung phong phú, ảnh hưởng sâu rộng và có giá trị vĩnh cửu, miên trường.

Như một biến chuyển đặc thù, khuynh hướng văn học nầy tại hải ngoại đã gây được một sức mạnh tinh thần vững chắc, để động viên cho những người mang hoài bão xây dựng lại thể chế mới cho đất nước trong tương lai càng thêm hăng hái, tin tưởng, say sưa trong sự nghiệp tranh đấu chính trị của mình, xây dựng một Việt Nam tự do, dân chủ, không bóng dáng những kẻ tham vọng chuyên quyền điên rồ của nền chuyên chính vô sản.

Nói như một nhà bình luận Pháp, ông André Keith, “Những giá trị nầy quả là những thứ vũ khí lợi hại, để chống lại những lối tuyên truyền độc hại của Cộng Sản với những kẻ nhẹ dạ” (Critiques Littéraires). Trên một khía cạnh nào đó, nhận xét nầy đã thích hợp với tinh thần tranh đấu của người Việt hải ngoại trong bối cảnh hiện nay của thế giới và của đất nước.

Trong những năm tháng dài của những nhà tù cải tạo Cộng sản Việt Nam, những chiến sĩ từng chiến đấu cho nền tự do của miền Nam, những người con yêu của tổ quốc, đã chịu đựng, can trường và nhẫn nại, chờ đợi thời cơ và hoàn cảnh, để tiếp tục công trình tranh đấu của mình, trên bình diện mới và hoàn cảnh mới.

Nội dung chứng liệu trong những tác phẩm của cựu tù nhân chính trị VN trở thành những bản cáo trạng bản chất và hiện tượng của chế độ một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất và ảnh hưởng đậm đà nhất..

Chỉ trong một khoảng thời gian năm sáu năm lại đây, nhiều tác phẩm trong khuynh hướng nầy, với những góc độ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau cũng như thân phận khác nhau đã lần lượt xuất hiện: Đáy Đia Ngục của Tạ Tỵ, Vùng Đất Ngục Tù của Nguyễn Vạn Hùng, Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam, Vượt Thoát của Phạm Quang Giai, Sau Ngày Giặc Đến của Nguyễn Mậu Qúy, Bản Chúc Thư của một người Việt Nam của Nguyễn Chí Thiện, Chín Năm Tù Ngục của Nguyễn Đình Trị, Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào văn Bình, Phía bên kia Thiên Đường của Phạm Trọng Phúc. Hàng trăm bài báo, hồi ký, thi ca, tùy bút thuộc khuynh hướng văn chương nầy được đăng khắp báo chí Việt Nam hải ngoại; dĩ nhiên còn rất nhiều tài liệu giá trị khác được sáng tác của những chứng nhân nầy, nhưng chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để ra mắt. Tất cả những chứng liệu trên là những bản cáo trạng hào hùng, những tài liệu vô cùng phong phú, những niềm đau nỗi xót của những người cựu tù nhân. Với thời gian, những tác phẩm cùng loại sẽ dồi dào hơn về nội dung và phong phú hơn về hình thức.

Ảnh hưởng lâu dài của những tác phẩm nầy khiến cho những người Mỹ phản chiến, thân Cộng cũng như những kẻ nào còn có lương tâm nhân bản trên thế giới sẽ phản tỉnh trước những xuyên tạc tuyên truyền của chế độ.

Hình ảnh sống động của những trại tù được thể hiện khá đầy đủ, duới nhận thức và nhãn quan khác nhau, nhưng nội dung thì vẫn là một: một phần tố cáo những chính sách, chế độ, đường lối tàn bạo nhất của Cộng sản; nhưng phần khác, sinh động hơn và quan trọng hơn thì thể hiện tinh thần bất khuất, chí dũng cảm, tình nghĩa đồng bào, đồng đội của những người cùng chung cảnh ngộ, qua những năm tháng dài hoạn nạn.

Chế độ quản tù ghê gớm tại Long Giao, những tấn trò hình phạt tù nhân tại Hóc Môn, những cuộc ruồng bố rợn người tại Trảng Lớn, những tiếng kêu thống thiết tại Phước Long, đời sống dưới đáy địa ngục tại Ka Tum, chế độ quản chế tàn nhẫn tại trại tù Xuyên Mộc, những chiến sị gãy đổ tại trại tù Hàm Tân, những đêm dài rét cóng người tại trại tù Gia Lai, những hình ảnh phẫn nộ tại trại tù Nghi Trưng, những gương chiến đấu anh hùng bất khuất tại trại tù Khâm Đức, những đêm dài khắc khoải nhất và kinh hoàng nhất tại tại trại tù Tiên Lãnh, cảnh ma thiêng, nước độc tại trại tù Ba Lạch, những cảnh tẩy não khủng khiếp tại trại tù Bình Điền, những đau xót, hãi hùng tại trại tù Thanh Hoá, cảnh địa ngục trần gian tại trại tù Hoàng Liên Sơn, quang cảnh “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tại trại tù Hà Sơn Bình, những trò chơi đầy dã thú tại trại tù Hà Tây, những bài thơ hùng tráng viết lên từ tại trại tù Nghệ Tĩnh, những thủ đoạn quản tù dã man của những tên quản tù tại trại tù Vĩnh Phú, những cảnh vượt thoát không thành tại trại tù Phúc Sơn, những bức chúc thư bi đát tại trại tù Yên Báy, những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất tại trại tù Bắc Thái… Tất cả những hình ảnh đó đã ghi rõ nét trong những công trình sáng tác trên.

Nhờ những tác phẩm nầy, chúng ta biết được một cách tường tận những thủ đoạn của công sản với những tù nhân cải tạo: hình phạt tra tấn, tẩy não dã man, hành hạ thể xác lẫn tinh thần, gây tị hiềm, đố kỵ lẫn nhau, nhất là thái độ hãnh tiến của những tay cuồng sát trên danh phận là kẻ chiến thắng. Chúng ta cũng biết được nhiều tâm sự, tình cảm, hoài bão, nhiều tấm gương anh hùng, những con người chịu đựng không bến bờ, để chống lại với cảnh chết ngày đêm rình rập. Và trong bối cảnh đó, chúng ta cũng thấy được hình ảnh tuyệt vời của những chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà, về chính trị cũng như về quân sự, những chuyên gia cũng như những vị lãnh đạo tinh thần, đảng phái, những con người đáng kính, đáng yêu.

Nhà văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn tác giả The Gulag Archipelago (1918-1956) đã viết: “Những áng văn của những người từng sống trong chế độ lao tù thú vật của Cộng Sản thông thường là những bản cáo trạng, những tiếng thét nhân bản và cũng là những chứng nhân hùng hồn nhất của thời đại chúng ta hiện nay”. Viết lên, một phần để trút được những uất hận của mình, để ghi nhớ lại những ngày đau thương nhất trong đời mình, phần khác, để tưởng nhớ những người cùng chung cảnh ngộ, cũng như hoài niệm những người đã hy sinh trong lao tù. Thành thử, nội dung và ý niệm của người viết không còn là những tác phẩm bình thường, mà với nỗi thiết tha khi cầm bút, thậm chí e ngại chữ nghĩa đã không thể hình dung hết những gì mình đã sống, mình muốn nói và uất ức khó cực tả cho hết được.

Ngục tù đối với những người chiến sĩ can trường, như là trạm dừng chân tạm thời, như lời thơ của nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu,khi ngồi tù ở ngục Quảng Châu: “Cũng là hào kiệt, cũng phong lưu; Chạy mỏi chân thì phải ở tù”, vì cho rằng “Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp; Bao nhiêu nguy hiểm ngại gì đâu”. Hay nhận định của Tây Hồ Phan Châu Trinh trong thời gian ngồi tù tại ngục Côn Lôn: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước; Nam nhi hà sá chuyện cỏn con”. Họ đã lưu lại danh thơm cho muôn đời.

Văn chương, trong trường hợp không còn là chuyện khi trà dư tửu hậu, mà trở thành thứ vũ khí sắc bén chống lại những hành động bạo tàn, nung nấu tinh thần bất khuất và rèn luyện tinh thần chiến đấu dày dạn của mình và của đồng đội nữa.

Nhà chính trị phản tỉnh Djilas của Nam Tư trong cuốn The New Class đã có lý khi viết: “Phải là những người từng sống trong những hoàn cảnh hãi hùng do chế độ và chính sách của Cộng Sản gây nên mới thấm thía được những ý nghĩa của nó và khả năng đối kháng của bản thân mình”.

Nhận xét nầy càng làm sáng tỏ những dụng công của người viết và thái độ của người đọc, nâng cao những giá trị sâu sắc của khuynh hướng văn học nầy.

Giá trị của những tác phẩm còn trường tồn với thời gian, tỏa rộng khắp không gian và gây ảnh hưởng lâu dài cho những thế hệ mai sau nữa.

☆

Văn chương phản kháng của những cựu tù nhân chính trị mang nhiều màu sắc sinh động, sắc bén, mà nội dung thường lấn át cả hình thức, hay nói một cách khác là cuộc sống của họ quá phong phú, đến nổi bất cứ một tù nhân nào cũng có thể kể được tâm trạng và hoàn cảnh của mình, gây chấn động tình cảm và tinh thần kẻ khác.

– Trước hết là tính chất hiện thực. Đã không biết bao nhiêu nhà văn Tây Phương muốn nghiên cứu đề tài nầy với những kinh nghiệm viết lách của mình; nhưng đây lại không phải là chuyện kinh nghiệm hay khả năng, mà chính là cuộc sống, cuộc sống trong từng giờ từng phút phải thở bầu không khí ngột ngạt, chịu đựng, bất mãn ròng rã trên dưới mười năm trời. Họ từng là nạn nhân cũng là chứng nhân rõ nét nhất của bản thân mình và đồng đội mình, để có thể viết lên những bản cáo trạng một cách hoàn chỉnh, vững chắc và giá trị nội dung cực kỳ phong phú.

– Tinh thần kiên cường bất khuất là một khía cạnh khác của những tác giả từng thể hiện. Mặt đối mặt với kẻ thù, với thân phận là người thua cuộc, nhưng vẫn hiên ngang, can đảm, dũng mãnh chịu đựng và xem chuyện lao tù, dù cơ cực đến đâu, chẳng qua là nạn kiếp trong một thời gian, sau đó, đến ngày được trả tự do, sẽ làm lại cuộc đời với tư tưởng và hoài bão nung nấu trong bao nhiêu ngày tháng qua. Niềm kiêu hãnh của tinh thần nầy chính là ngọn đèn chiếu sáng cho những người sống cơ cực trong lao tù Cộng Sản, để chờ đợi tin tưởng hy vọng vào con đường tương lai của mình.

– Sự đùm bọc, thương yêu, tinh thần đồng đội, huynh đệ chi binh hầu như thể hiện trọn vẹn trong những tác phẩm vừa nói trên, tình cảm xây dựng trong bao nhiêu năm trời qua vẫn còn nguyên vẹn.

– Những uất hận, tủi hờn, bất mãn, chống đối được thể hiện qua những ánh mắt, nụ cười ngạo nghễ, chẳng những tạo nên niềm tin tưởng và tự hào cho bản thân của mình, mà trở thành động lực thúc đẩy mọi người cùng chung cảnh ngộ, tìm lẽ sống tinh thần, để chờ đợi ngày mai, dù ròng rã bao nhiêu chăng đi nữa.

– Trong những tác phẩm nầy, rải rác trong thái độ, tư tưởng, tình cảm đã nói lên niềm hy vọng của những người từng sống trong những chuỗi ngày hoàn toàn như vô vọng. Lời kết luận chung của những tác giả là: Nếu không tự tạo cho mình một niềm tin và một lý tưởng sống, thì sẽ ngã gục trong chế độ lao tù nầy một cách nhanh chóng, dựa lưng nỗi chết trong từng ngày từng đêm.

– Sau cùng là niềm tin son sắt của những người cựu tù bao giờ cũng trở thành giá trị tinh thần bất biến. Niềm tin trở thành động cơ vững chắc nhất để bảo toàn lý tưởng cao đẹp, sống còn của mình; lòng tin có thể động viên được đồng đội cần nhẫn nhục, sắt đá, “trơ gan cùng tuế nguyệt” để có thể hy vọng được một ngày mai reo vui.

Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy những cựu tù nhân chính trị Việt Nam khi sang đến bến bờ đất nước tự do đã hăng say tiếp tục lý tưởng tranh đấu của mình, vạch trần tội ác của chế độ, đồng thời tham gia tích cực đóng góp cho nền chính trị của cộng đồng người Việt, mong chờ ngày mai đây lật ngược lại thế cờ, xây dựng lại đất nước tự do, dân chủ.

Văn chương trở thành những tiếng phẫn nộ sôi động dồn nén trong một chục năm qua.

Nhà văn hào Victor Hugo thường bảo: “Trong nhà tù, con tim của mỗi người có thể cứng lại và cũng có thể vỡ ra”. Cứng lại, để rèn luyện cho bản thân mình chống đỡ trước những tai ương, kiềm chế, quản thúc của bạo lực; và vỡ ra, một khi có cơ hội thuận lợi để trút hết mọi nỗi niềm. Đọc những tác phẩm trên, một người dù bình dị đến đâu, khách quan đến đâu, cũng không thể nén được những xúc động sâu sắc như thế.

Với hoàn cảnh khó khăn khi vừa mới định cư tại xứ người, phải đương đầu với trăm ngàn vấn đề trong cuộc hội nhập, nhưng những cựu tù nhân chính trị đã đóng góp phong phú những công trình sáng tác của mình, với tâm nguyện được nung nấu từ lâu, hoài bão sâu xa và niềm thao thức lưu lại những gì cho cuộc sống mới của mình.

Chức năng của những cựu tù nhân chính trị trong tập thể sinh họat cộng đồng người Việt hải ngoại đã đóng một vai trò quan trọng, không ai có thể chối bỏ được. Sự hiện diện của họ trong những tổ chức chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, truyền thông, báo chí trong những năm tháng gần đây đã gây nên những sinh khí đồi dào, hăng say, phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu, cho những người đến trước thấy được những gì đang xẩy ra trên đất nước Việt nam thân yêu trên mười lăm năm trời nay.

Tập hợp tất cả những chất liệu qua những sáng tác phẩm mang nội dung trên, những nhà phân tách xã hội học và tâm lý học sẽ có đầy đủ những dữ kiện và chứng liệu cần thiết, để nhìn thấu đáo bản chất của chế độ.

Viết để tường thuật lại những cảnh huống hiếm có trên mặt đất nầy, viết cho những người đồng đội, viết gửi gắm cho những người còn ở lại quê nhà, viết cho những linh hồn đã khuất, sự kiện viết lách nầy đã vượt ra khỏi tánh chất thông thường, để trở thành những chứng liệu vô cùng quý báu, một thời đã qua và một thời đã khuất.

Trên một góc độ khác, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam hải ngoại cũng đã dựng lên những nội dung cực kỳ phong phú chung quanh đề tài trên, góp phần không nhỏ, với những bút pháp cực kỳ tinh vi, sắc bén và sinh động của họ.

Văn học sử Việt nam trong giai đoạn hiện nay đã tạo dựng được những giá trị lớn lao, trong đó, những công trình văn học nghệ thuật của những cựu tù nhân chính trị chắc chắn giữ một vị thế không nhỏ.

Có nhận thức được những ý nghĩa trên, chúng ta mới cảm thấy những công trình sáng tạo đó mới đúng chân giá trị của nó và mục đích sáng tác mang tính chất cao cả vô cùng.

Những sáng tác phẩm điển hình đã nói lên những khía cạnh sâu sắc, bén nhọn, chứa đựng cả một nhân sinh quan và nhận thức quan phong phú. Bích Huyền với những kỷ niệm ngàn năm không phai; Huy Phương trong những năm tháng tủi hờn nhưng vẫn giữ được những hình ảnh vàng son của vùng trời xứ Huế oanh liệt và đài trang “Với Huế thương yêu dấu muôn đời”, Nguyễn Hữu với lối nhìn lạc quan hơn hướng về tương lai, trong niềm kiêu hãnh hiếm có, Lữ Tuấn với nhận định sắc bén và suy luận toàn diện, viễn kiến, hoài niệm của Chu Tất Tiến nghe như cả một trời thương yêu, hoài cảm xót xa. Những sáng tác của những cây bút H.O, như: Phạm Tất Thắng, Nguyễn Chí Thiệp, Quế Chi, Nguyễn Tiến Đức… đã chứng minh những hình ảnh vô cùng sâu sắc, vô cùng sắc bén của một thời tù ngục.

Những đóng góp của những nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận: Nguyên Sa, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp, Phạm Trọng Phúc, Võ Văn Hà, Đỗ Quý Sáng, Phùng Ngọc Ấn, Duy Lam, Hồ Đăng Định đã ra sức xiển dương và hình thành cấu trúc của một nền văn học đặc thù trong văn học phản kháng.

Tập hợp và ấn hành một số văn thơ tiêu biểu trong Tuyển tập nầy, không gì khác hơn là chúng tôi muốn trình bày một số góc độ của những giá trị trên. Những người cựu tù nhân chính trị được định cư đông đảo chừng nào, thì những tài liệu và tác phẩm cùng khuynh hướng trên lại càng phong phú bấy nhiêu.

Trong tuyển tập nầy, những tác giả tham dự có thể nhà văn, nhà thơ, là những chiến sĩ can trường, là những chứng nhân của thời đại; nhưng dù trong góc độ nào đi chăng nữa, ý nghĩa vẫn chung nhất: nói lên cho mọi người Việt Nam, bất luận trong địa bàn nào, chiến tuyến nào, đều thấy được những gì đã xẩy ra, những gì nổi bật nhất của chế độ bạo tàn, đồng thời, ca ngợi ý chí bất khuất của người dân tranh đấu sống còn, bảo vệ khí phách và quyết tâm của những người chịu cảnh lao tù.

Trong trường hợp có đủ phương tiện và những sự hợp tác quý báu của những tác giả, chúng tôi sẽ cho ấn hành những tác phẩm cùng loại kế tiếp.

Trung Tâm Sinh hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị VN thuộc Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam tại Los Angeles khởi đầu những chương trình Tuyển Tập “Viết từ Miền Đất Hôi Sinh” nầy bằng những tác phẩm điển hình cho từng bộ môn và khuynh hướng sáng tác, để từ đó, hoạch định những Tuyển Tập trong những tháng tới. Kế hoạch mang tính chất lâu dài, tuy nhiên, việc tiến hành ra sao, cũng tùy sự hưởng ứng của những cây bút trong tập thể cựu tù nhân chính trị, những nhà văn, nhà báo tâm đắc và cùng hướng vào mục đích chung.

Như đã nói, chúng tôi tuyển tập trong mục đích trình bày những khía cạnh đặc thù, những giá trị điển hình. Nhưng vì mọi giá trị tác phẩm đều có những sở đắc và sự phong phú của nó, cho nên đây chỉ là bước khởi đầu của những chương trình tập hợp trong hiện tại và tương lai.

Los Angeles, tháng 11 năm 1991
KIÊM THÊM

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 25 May 2025

Chương 7.

Cậu Hai Điền ngồi giữa chiếc ghe, với cái tật cố hữu là chống nạnh. Cậu liếc mắt. Dường như dân chúng đóng cửa lại khi thấy cậu và bọn hộ vệ đi ngang qua. Nhà của Tư Thính, cha ruột cô Huôi, hiện ra giữa chòm cây xanh um. Cậu ra lịnh cho bọn hộ vệ:

– Lên bờ, bao vây xung quanh nhà.

Bọn hộ vệ tuân lời rồi hỏi thêm:

– Thưa cậu, nếu ai kháng cự, chúng tôi đối phó thế nào:

– Cứ bắt sống, bắt nhưng đừng trói, lúc trói thì đừng nói nặng lời. Cô Huôi, Tư Thính hay bất cứ ai cũng đáng bị bắt. Tụi nó làm lộng!

Bọn hộ vệ kéo nhau đi từng hàng dài. Dọc đường ai nấy đều chán nản vì hôm trước bọn họ tới một lần rồi, nhà để trống, không đóng cửa nhưng tuyệt nhiên bên trong chẳng thấy một bóng người. Hôm nay là lần thứ nhì chưa ắt thâu được kết quả.

Cậu Hai nói vọng, từ dưới ghe:

– Mau lên. Tụi bây chậm chạp quá!

Bọn hộ vệ bao vây ngôi nhà. Cậu Hai nhảy lên bờ ra dấu hiệu như ngầm bảo:

– Siết vòng vây!

Cậu chỉ ngón tay vào cửa cái như ra lịnh lục soát. Lát sau, một tên chạy trở ra, đến gần cậu.

Cậu hỏi nhanh:

– Có ai không?

– Dạ, nhà bỏ trống nhưng dưới bếp than lửa còn cháy.

– Lạ thật. Tụi bây dại quá, nó lẻn ra ngoài mà không hay biết.

Tên hộ vệ trả lời:

– Dạ, chắc là xảy ra chuyện gì quan trọng. Trên bàn, tôi thấy tấm giấy viết chữ lăng nhăng.

Câu Hai chạy nhanh vào nhà, chụp miếng giấy rồi đọc. Đại ý, Tư Thính cho biết rằng ông ta tới núi Mo So để dự lễ an táng ông Chúa Hòn, đồng thời ra mắt “cậu Ba Cẩu”.

Dè đâu tình thế biến chuyển quá nhanh! Ai giết cha cậu? Tại sao thằng con nít bị bỏ rơi lại được gọi là “Cậu Ba”! Cậu co chân, đạp nhanh cái bàn, xé nát tấm giấy nọ:

– Tụi nó giết ba tao! Tao hiểu rồi, chắc là ba tao bị thiệt mạng tại Lung Tràm. Tao phải trả thù, giết thằng Cẩu với con Huôi. Con Huôi…là con nít, bấy lâu nay lấn quyền hạn của mẹ tao. Tao phải cho ông Bá Vạn hay biết.

Ra khỏi nhà, cậu Hai trợn mắt rồi ra lịnh:

– Đốt nhà thằng Tư Thính. Cha con nó muốn soán ngôi vị của tao! Tao không nhịn đâu.

Lửa bốc cháy mù mịt. Dân trong xóm chạy tán loạn, bồng bế nhau, đuổi trâu ra ruộng. Bụi quỳnh hoa run phần phật, nhà cháy khiến gió nổi lên, xoay tròn. Nhớ tới giai thoại xưa, cậu Hai đến gần bụi hoa. Chẳng còn nụ nào cả! Cậu vung tay, nhổ sạch, ném mấy lá quỳnh hoa vào đống lửa. Bọn hộ vệ nhìn nhau ngơ ngác, nêu câu hỏi thầm kín mà chính họ không trả lời nổi:

Ông Chúa chết, đồn điền nầy chia ra hai phần. Họ sẽ theo ai? Rồi đây chắc cuộc tranh chấp sẽ quyết liệt…Cậu Hai và bà chánh thất đứng một phía, thằng Cẩu và cô Huôi, cô Ngó đứng một phía. Nếu đổ máu thì chính họ phải xả thân…

Cậu Hai Điền lập tức xuống bến:

– Tao kiếm ông Bá Vạn mới được. Ông già đó nhiều mưu mô lắm. Ổng sẽ bày kế hoạch cho tao giết thằng Cẩu. Tao thưởng cho ổng một số tiền.

Bọn hộ vệ xuống mấy chiếc ghe lườn, cầm dầm mà chờ. Cậu Hai vỗ trán rồi nói:

– Còn chuyện nầy nữa! Chưa đi được!

Rồi cậu khoát tay:

– Hộ vệ đâu? Kiếm thằng đạo Đất cho tao. Tao xé xác nó. Nó nói toàn là chuyện xui xẻo cho gia đình tao!

Bọn hộ vệ hơi bực dọc vì nhảy lên bờ rồi nhảy xuống ghe quá nhiều lần. Nhưng tất cả đều yên lặng. Phía sườn đồi, là khói trắng bốc lên, lửa cháy vàng hực, đúng ngay hướng nhà ông đạo Đất. Cậu Hai lẩm bẩm:

– Nguy rồi! Đây là việc sắp đặt trước. Tại sao Tư Thính biết tao tới đây? Chắc là Tư Thính và thằng đạo Đất đốt lửa để chọc tức tao! Lên đó làm gì cho mất công! Thôi! Trở về Hòn Chông…

Rồi cậu dậm chân thật mạnh, chiếc ghe nghiêng qua nghiêng lại, suýt chìm:

– Đi qua núi Mo So! Tao muốn gặp thằng Tư Thính, con Huôi, thằng Cẩu. Toàn là quân bất nhơn chiếm đoạt tài sản ông cha tao mấy đời để lại.

Bọn hộ vệ nhìn nhau chưa biết cho đoàn ghe đi về hướng nào vì cậu Hai thay đổi ý kiến như chong chóng. Ai nấy cứ ngậm miệng. Nếu lỡ thốt ra lời sai quấy, cậu Hai sẽ trừng trị gắt gao, đánh đập hoặc giết chết.

Cậu Hai khoát nước dưới rạch để rửa mặt cho tỉnh táo rồi nói:

– Cũng tại con heo rừng ở Lung Tràm! Đi núi Mo So rồi đi Lung Tràm! Tụi bây dám ăn thua với bọn không? Ở đó, đâu có thợ săn, đâu có võ sĩ!

Nhưng, một tên hộ vệ chỉ ngón tay phía Hòn Chông mà reo lên:

– Ai kia, thưa cậu Hai!

Thoạt tiên, cậu Hai không nhận rõ. Trên con rạch, một chiếc ghe độc mộc phóng tới, trước mũi và sau lái có ba người đang dùng sào mà chống. Giữa ghe, một ông lão đứng lom khom, cứ đứng một chập, lại ngồi, như sợ té.

– Ai vậy tụi bây?

Một tên hộ vệ đoán:

– Dường như người quen. Ông già đó hơi giống ông Bá Vạn.

– Phải rồi! Bá Vạn. Chắc tin quan trọng. Tụi bây chống ghe cho tao gặp ổng.

Nói xong, cậu Hai đưa tay ngoắt. Đằng kia, Bá Vạn cũng đưa tay lên trời, để trả lời. Trong phút giây, cậu Hai thương mến Bá Vạn hơn bao giờ hết.

Đúng là người lão bộc gương mẫu của gia đình!

Đằng kia, Bá Vạn mừng thầm khi gặp cậu Hai. Để chuẩn bị tình cảm, ông ta chờ khi gần gặp mặt mới khóc rống lên:

– Cậu ơi! Ông mất rồi. Thằng Cẩu làm phản, chiếm cứ đất đai ở núi Mo So. Cậu cho phép tôi giết nó. Như vầy nhục nhã cho tôi quá. Nó là đứa con rơi, nó là…con chó.

Cậu Hai hỏi:

– Ai đem tin cho ông biết? Chắc như vậy không? Tôi mới vô nhà Tư Thính gặp lá thơ. Thằng đạo Đất đốt chòi để khiêu khích tôi.

Bá Vạn đáp:

– Chuyện hơi dài và hơi bí mật. Tôi muốn nói riêng với cậu. Rủi người khác nghe thì bất lợi. Hay là tôi với cậu lên bờ…

Trước biến cố nầy, thật ra chẳng ai cảm động cả. Cậu Hai hơi mừng vì nay mai sẽ thừa hưởng gia tài, sự chống đối và tranh giành của thằng Cẩu không đáng kể. Bá Vạn thì ra vẻ xúc động để cậu Hai đừng nghi ngờ. Ông ta vuốt mồ hôi trán. Mồ hôi chảy ra vì ông ngồi suốt buổi trên chiếc ghe nhỏ không mui, bị nắng thiêu đốt. Nhưng nó được cậu Hai hiểu là những giọt mồ hôi lo âu của người tôi tớ già.

Bá Vạn thuật chuyện thằng A Mách từ núi Mo So và Lung Tràm trở về với bức thơ.

Cậu Hai hỏi:

– Nó đâu rồi?

– Nó bị bà chánh thất nhốt sau hè. Dường như nó lôi thôi lắm, dính líu tới thằng Cẩu.

– Tại sao lôi thôi?

– Nó nói không ra lời, mặt mày tái mét. Phải chăng nó muốn gieo tin thất thiệt? Làm hộ vệ mà tới lúc nguy nan nó đành bỏ ông Chúa, tội ấy thật đáng đánh.

Cậu Hai tức giận vô cùng.

– Về nhà, tôi giết nó. Bây giờ, theo ý ông, tôi phải làm gì?

– Cậu nên tới núi Mo So để rước linh cữu ông Chúa đem về Hòn Chông mà mai táng. Ngày nay thằng Cẩu với cô Ngó, cô Huôi còn giữ được linh cữu thì dân chúng tin lời họ.

– Phải lắm. Nhưng đi bằng cách nào? Bọn thằng Cẩu đông đảo không? Dao mác, cuốc xuổng nhiều hay ít?

Để thúc giục cậu Hai lên đường, Bá Vạn đáp:

– Cậu cho tất cả số hộ vệ đi theo. Hơn nữa, tôi tình nguyện phò cậu mà. Tụi nó làm sao hơn tôi được? Bấy lâu nay, tôi chưa làm mất lòng ai. Luôn luôn, tôi nhẫn nhịn.

Cậu Hai bèn vỗ vai Bá Vạn:

– Chuyện xưa ông cứ bỏ qua…

Bá Vạn hiểu ý nên nói thẳng ra:

– Hồi xưa, tôi bị cậu làm nhục, nhứt định thằng Cẩu sẽ dạy tôi, để tôi theo nó. Nhưng tôi ngu dại gì! Bây giờ cậu về Hòn Chông gấp chớ.

Chạng vạng tối, cậu Hai và Bá Vạn tới Hòn Chông. Bà chánh thất chạy ra sân, khóc lóc với cậu Hai. Bá Vạn lo lắng vô cùng, chưa biết thằng Mách ra sao. Ông ta nói:

– Cậu nằm nghỉ giây lát, tôi về nhà tắm rửa rồi trở lại.

Không chờ sự đồng ý của bà chánh thất, Bá Vạn ra sân sửa đoạn đi vòng ra phía sau nhà. Lúc bấy giờ, bọn hộ vệ dụm năm dụm ba trước bến, Bá Vạn lên tiếng để thị oai:

– Tụi bây đề phòng kỹ lưỡng, bắt giữ tất cả những người lạ mặt.

Rồi ông ta đến gian nhà ẩm thấp gần cầu xí. Thằng Thừa hỏi:

– Ai đó?

Bá Vạn đáp:

– Tao mà! Xong chưa?

– Dạ, xong mà chưa xong. Tôi đưa chén cơm mà thằng Mách không chịu ăn. Nó cứ la lên. Tôi nhét nùi giẻ trong miệng nó.

Bá Vạn bực tức vô cùng:

– Cậu Hai về tới rồi mà nó còn sống thì chết cả bọn. Tại sao không giết nó? Mầy tệ quá. Giao phó một công việc nhỏ xíu, quá dễ dàng như vậy mà mấy làm không xong. Để tao coi. Đốt đèn lên!

Bị rầy oan ức, thằng Thừa trả lời:

– Làm sao tôi giết nó lúc ban ngày được? Bây giờ mà đốt đèn lên thì lộ bí mật.

Cánh cửa hé mở, thằng Thừa bước vào, đạp mạnh vào ngực A Mách. Thằng Mách thở hồng hộc, đập hai tay xuống nền. Bá Vạn bước theo sau, chân ông đá nhằm chén cơm:

– Mầy lôi thôi quá!

Thằng Thừa hỏi:

– Ông cứ dạy tôi. Siết cổ nó, phải không?

– Để tao coi. Ừ! Phải rồi! Mầy đập cái chén nầy ra, lấy miểng chén mà cắt cho đứt mạch máu ở cườm tay. Rồi mầy tri hô lên. Nhớ bịt mũi, nhét thêm nùi giẻ vô miệng cho nó nghẹt thở. Khi tao trở lại thì mầy rút nùi giẻ ra…

Bá Vạn ra sân, về nhà để rửa mặt rồi thay quần áo. Chưa chi đứa nữ tỳ chạy tới gọi:

– Thưa ông! Cậu Hai mời ông.

– Tao tới bây giờ.

Khi đến sân, ông ta đứng chậm rãi chờ đợi thằng Thừa thi hành kế hoạch. Ông chắt lưỡi chửi lầm thầm:

– Cái thằng chậm lụt quá.

Cậu Hai hỏi:

– Ông tới đó hả? Chừng nào đi núi Mo So? Má tôi cản lại, e gặp rủi ro dọc đường. Vả lại, nếu bọn hộ vệ theo tôi thì nhà nầy còn ai giữ gìn. Thằng Cẩu kéo chừng vài chục tên cướp tới thì sao?

Đột nhiên, từ sau nhà giọng thằng Thừa vang lên:

– Nó chết! Nó đánh tôi nè! Nó tự vận.

Cậu Hai Điền hỏi:

– Cái gì vậy?

– Thằng Mách tự vận rồi. Bậy quá. Tôi muốn nói với cậu nên đánh đập nó để hiểu thêm chuyện ở Lung Tràm. Đúng là nó muốn chạy tội.

– À! Hộ vệ đâu! Đốt đuốc lên, theo tao.

Ánh đuốc chói sáng rực. Thằng Thừa chắp tay thưa:

– Mấy ông ơi! Nó tắt thở rồi.

Cậu Hai Điền vì quá nông cạn nên xông vào nhà giam nắm lỗ tai thằng Mách, xách đầu nó lên mà chửi liền miệng:

– Thằng phản phúc. Nó tự tử bằng cách nào? Tại sao máu me chảy linh láng vậy?

– Nó cắt mạch máu cườm tay, nó đập cái chén ăn cơm, để lấy miểng…

Đôi mắt thằng Mách như mở trao tráo, chỉ còn tròng trắng, miệng hả ra. Cậu Hai đứng dậy:

– Quăng nó xuống sông cho diều quạ rỉa xác. Nó ăn tiền của thằng Cẩu để giết hại ba tôi, còn ai xa lạ nữa!

Cậu Hai trở ra trước sân, hỏi Bá Vạn:

– Làm sao?

Bá Vạn nói:

– Để tôi cho đứa nào đó đi núi Mo So dọ dẫm trước, sáng mai khi mặt trời mọc, cậu với tôi hãy đi.

Nói xong, Bá Vạn gọi thằng Thừa:

– Mầy đáng tin cậy. Chuyện nguy hiểm lắm, mầy phải lo cho tròn. Nuôi quân ba năm, dụng quân một ngày, mầy hiểu chưa?

Thấy cậu Hai Điền còn đứng gần, Bá Vạn đến sát bên cậu mà nói:

– Thằng Thừa võ nghệ cao cường lắm. Nó là đứa khôn lanh. Cậu Hai có sẵn trong mình chút ít vàng bạc thì cho tôi mượn để ban thưởng cho nó.

Cậu Hai Điền tháo chiếc nhẫn, gọi to:

– Thằng Thừa lại đây. Mày nhớ dò xét kỹ lưỡng nơi thằng Cẩu ẩn núp để tao giết nó, trong ngày mai, trễ lắm là ngày mốt. Tao không tiếc với mầy bất cứ món gì. Chiếc nhẫn nầy có nhận hột ngọc bích, trị giá ba bốn lượng vàng ròng.

Thằng Thừa mừng ra mặt:

– Cám ơn cậu.

– Chừng nào mầy trở về?

– Dạ, trong đêm mai.

– Để trễ thì tao giết mầy.

Bá Vạn nói cố ý cho cậu Hai Điền nghe:

– Thừa à! Ai hỏi thì mầy trả lời rằng cậu Hai đang đi săn heo rừng ở Hòn Đất.

Cậu Hai bị chạm tự ái nên cằn nhằn:

– Đáng lý thì nói rằng tao tới núi Mo So để xé xác thằng Cẩu. Tại sao cha tao chết mà thằng Cẩu tự ý chôn cất ở nơi quê mùa hoang vắng? Ông nội tao chôn ở Hòn Chông thì nó phải đưa linh cữu về Hòn Chông. Nó muốn xin tiền bạc thì tao cho nhưng tao không tha thứ cái tội soán ngôi đó được.

Bá Vạn van nài:

– Thằng Thừa dọ thám, làm sao nó dám nói lại đúng theo ý của câu. Vả lại, tôi ngăn cấm không cho nó gặp mặt thằng Cẩu.

– Tại sao vậy?

Bá Vạn nói khẽ vào tai cậu Hai:

– Nó theo dõi thằng Cẩu, chờ cậu tới mà giết để trả thù. Chắc rằng thằng Cẩu đang mướn nhiều đứa hộ vệ. Nếu bọn hộ vệ của hai bên đánh nhau thì đổ máu vô ích, chi bằng cậu tới núi Mo So thình lình để bắt thằng Cẩu vào lúc ban đêm. Hôm sau, cậu đem nó ra xử trước mặt để thị oai với dân chúng.

Cậu Hai vỗ vai Bá Vạn:

– Ông nói phải. Chẳng lẽ tôi giết tất cả dân chúng ở núi Mo So. Dân chết hết, còn ai là tá điền cho tôi. À! Còn con Huôi?

– Cậu giết thằng Cẩu thì cô Huôi sẽ quì lạy cậu, xin tha tội. Cậu bắt buộc cô ta vô chùa tu, thế là xong chuyện.

Cậu Hai Điền trông theo, mãi đến khi thằng Thừa khuất bóng sau rằng cây tràm.

Đám tang ông Chúa Hòn vẫn chưa xong xuôi. Theo ý kiến của cô Huôi thì linh cữu ông Chúa phải quàn lại để chờ cậu Hai Điền và bà chánh thất tới. Địa điểm quàn tạm là sườn núi Mo So. Thoạt tiên ông Mười Hấu và cô Ngó hơi lo ngại. Ông Mười nói:

– Nên chôn gần nhà tôi, để canh phòng.

Cô Huôi cãi lại:

– Rủi bọn Hai Điền tới đào mồ, đem xác ông Chúa Hòn về Hòn Chông thì cậu Cẩu làm sao xưng là ông Chúa được?

Mười Hấu và cô Ngó đều khen cô Huôi là người thông minh sáng suốt. Cô Huôi vẫn bực vì thằng Cẩu quả là đứa trẻ ăn chưa no, lo chưa tới. Chưa chi nó đã xin tiền để đá cá thia thia và bày kế hoạch cất tại Hòn Chông một sòng bạc, ai vào sòng thì tha hồ đá gà, đá cá, đánh me. Biết rằng để thằng Cẩu ở bên cạnh thì hư hỏng việc lớn, cô Huôi tặng cho nó vài lượng vàng rồi gọi thằng Thiếu đến mà căn dặn:

– Chú mầy lo thật gấp hai chuyện: Đừng cho cậu Cẩu đi chơi xa và giết thằng Lục Nhét.

Thằng Thiếu đáp:

– Tôi giết nó hồi hôm qua rồi, chỉ còn chờ lịnh cô.

Cô Huôi sửng sốt:

– Tại sao giết rồi mà còn chờ lịnh?

– Tôi trói tay chân nó, để trong chòi giữa rừng. Thằng Lục Nhét quả thật là đứa có gồng, da thịt cứng như cây nhưng tôi có cách trị. Dùng cây cau vạt nhọn mà đâm.

– Cứ đâm cho gấp. Nhưng tại sao mầy buồn bực như vậy?

Nỗi lo âu của thằng Thiếu vẫn là việc A Mách còn sống, trốn thoát. Mấy đêm rồi, thằng Thiếu ăn ngủ không yên. Nó chẳng dám tiết lộ chi tiết ấy cho cô Huôi biết. Cô Huôi đã hỏi, nó trả lời rằng đã giết trọn hai tên hộ vệ rồi. Hôm qua, nó dạo chung quanh núi, gặp cậu Cẩu đang điều khiển một bọn hơn mười người hớt cá thia thia cho cậu tuyển lựa lại. Cậu Cẩu đã nói khóac lác:

– Tao viết thơ cho thằng Mách cầm đem về Hòn Chông mà tại sao thằng Hai Điền chưa tới để ăn thua với tao!

Chờ khi Mười Hấu ra ngoài, cô Huôi hỏi:

– Thiếu! Mầy buồn rầu việc gì? Hay là mầy sợ cậu Hai Điền? Ông Bá Vạn đang theo sát cậu Hai, cậu Hai không qua mặt ông ta được đâu!

– Dạ, hôm nọ tôi để sống sót một đứa hộ vệ. Cậu Cẩu lại tha tội nó, viết thơ cho nó đem về Hòn Chông khiêu khích cậu Hai…

– Đừng lo. Mấy cứ giết thằng Lục Nhét.

Vầng trán cô Huôi bỗng nhăn nheo. Cô thở dài. Quả thật thằng Cẩu là đứa ngu dại, liều lĩnh. Nó dám làm nhiều chuyện to lớn mà không cần hỏi ý kiến của bất cứ ai.

Nếu thằng A Mách còn sống thì tình thế ra sao? Liệu Bá Vạn có đủ tài trí để giựt dây, điều khiển mọi hành động của cậu Hai Điền không? Hay là Bá Vạn đã bị cậu Hai giết?

Cô vừa nằm xuống để nghỉ trưa là Mười Hấu chạy vào, mặt mày hơ hãi:

– Cô ơi! Tụi nó đánh mõ, đánh trống ở đằng xa.

Cô Huôi lồm cồm ngồi dậy:

– Tụi nào?

– Dạ, tụi dân trong xóm tôi bố trí canh phòng dọc theo bờ rạch, đề phòng cậu Hai Điền đem bộ hạ tới bao vây.

Cô Huôi ra trước sân, lấy tay che mắt. Đằng xa, chỉ có một bóng chạy lại, theo sau là năm bảy người dân làng. Cô Huôi reo lên:

– Thằng Thừa chớ ai đâu lạ!

Lập tức, cô nói với Mười Hấu:

– Biểu họ ngưng tiếng trống, đừng làm náo động dân chúng.

Khi thằng Thừa đến sân nhà, cô Huôi gọi:

– Vô đây. Thủng thỉnh hãy nói chuyện.

Rồi cô và Mười Hấu vào trong, đóng cửa lại. Thằng Thừa bước vào, gương mặt nghiêm nghị:

– Thưa cô, ông Bá Vạn nhắn tin. Vì sợ lộ bí mật nên ông nhắn miệng. Tôi tới đây để dọ thám.

Mười Hấu vì chưa kịp suy nghĩ nên vung tay:

– Mầy làm phản?

Cô Huôi trầm tĩnh hơn, bèn trấn an Mười Hấu:

– Thằng Thừa là đứa đáng tin cậy. Nếu là dọ thám của cậu Hai Điền thì nó ngu dại gì mà thú nhận.

Thằng Thừa trình bày:

– Cậu Hai tới Hòn Đất để đốt nhà ông Tư. Ông Tư đã trốn từ lâu…

Cô Huôi tức giận vô cùng. Đã đến lúc quyết liệt, vì hành động đốt nhà của cha cô đúng là vô lễ và có nghĩa là tuyên chiến.

– Còn gì nữa? – Cô hỏi – Chừng nào cậu Hai Điền tới đây?

Bỗng dưng mà Mười Hấu tái mặt. Là người quê mùa, ông ta sợ một cuộc tấn công bất ngờ. Nếu cậu Hai Điền cho vài chục võ sĩ tới thì làm sao ông ta chạy kịp. Tại núi Mo so nầy, hổm rày ông ta chỉ tuyển chọn được chừng mười thanh niên trai tráng để canh phòng mà thôi. Cô Huôi khoát tay:

– Ông Mười đừng lo, nên tin tài trí ông Bá Vạn. Sao nữa?

Thằng Thừa nói khẽ:

– Hai ngày nữa là cậu Hai và ông Bá Vạn tới. Cô và ông Mười nên chạy trốn cho cậu Hai hứng chí sanh chứng kiêu ngạo. Ông Bá Vạn sẽ dẫn cậu Hai lên núi để bắt cậu Cẩu. Chừng đó, sẽ làm như vầy…

Cô Huôi gật đầu từng chập. Thằng Thừa nói:

– Bây giờ tôi phải trở về Hòn Chông, vì tôi tới đây để dọ thám mà.

Cô Huôi vỗ vai thằng Thừa:

– Cám ơn chú. Ở lại ăn cơm.

– Dạ, tôi về gấp với mặt mày hốc hác để cho cậu Hai tin lời tôi. Còn thằng em tôi?

– Thằng Thiếu mạnh khoẻ, chú đừng lo.

Thằng Thừa ra ngoài sân. Cô Huôi căn dặn ông Mười Hấu:

– Cứ đánh trống đánh mõ rồi rượt thằng nầy. Ruợt nhưng đừng giết nó.

Cô Huôi nói thêm:

– Giựt cái áo thằng Thừa, cho rách một vạt.

Thằng Thừa phục thầm sự bố trí của cô Huôi. Ra khỏi khu vực núi Mo So, anh ta xuống xuồng, bơi một mạch về tới Hòn Chông.

Trời nhá nhem tối, thằng Thừa đến chân Hòn. Bọn hộ vệ chạy tới ngăn cản. Thằng Thừa bèn giả vờ nổi giận:

– Người như tôi mà anh em dám nói là do thám của ông Mười Hấu! Nếu chưa tin, anh em mời ông Bá Vạn tới để lãnh tôi về.

Dụng ý thằng Thừa là muốn nói chuyện riêng với ông Bá Vạn, không cho cậu Hai Điền nghe. Lát sau, Bá Vạn tới nói với bọn hộ vệ của cậu Hai:

– Mấy chú cẩn thận như thế, nghĩ cũng phải. Nhưng chú nầy là người thân tín của cậu Hai.

Bá Vạn đi bên cạnh thằng Thừa:

– Nói cho mau. Xong chưa?

– Dạ, cô Huôi mừng lắm. Ngày mai, trễ lắm là ngày mốt, trên núi Mo So sẽ có một căn nhà rộng rãi, giống như trường đá cá thia thia. Khi tới núi, tất cả mọi người đều chạy trốn. Ông Bá cứ đưa cậu Hai tới đó là xong chuyện.

Trước sân nhà, cậu Hai Điền đi tới đi lui rồi cằn nhằn:

– Tao mổ ruột thằng Cẩu, bêu đầu nó dưới bến cho thiên hạ trông thấy.

Chợt nhìn thấy Bá Vạn và thằng Thừa, cậu Hai Điền hỏi:

– Sao? Tụi nó ở đâu? Canh phòng thế nào? Ngày mai tao tới núi Mo So được chưa?

Thằng Thừa giả vờ như sắp nói chuyện quan trọng:

– Cậu ơi! Chuyện nầy mà đổ bể ra, chắc tôi bị giết. Tôi về đây, suýt chết mấy lần. Bọn hộ vệ của thằng Cẩu nắm áo tôi. Tôi liều chết chạy thật lẹ…

Nhìn cái vạt áo rách của thằng Thừa, cậu hai không nghi ngờ gì cả. Cậu hỏi:

– Sao? Thằng Cẩu ở đâu?

– Dạ, trên núi. Mỗi ngày nó lo đá cá thia thia. Nếu bao vây hoặc giả dạng thường dân, lên núi thình lình thì giết nó tại trận.

– Ngày mai lúc mặt trời đứng bóng, chắc là thằng Cẩu không còn sống.

Bá Vạn đáp:

– Chắc chắn như vậy, nhưng dọc đường cậu nên cẩn thận. Chuyến đi, cậu đừng cho ai biết nhiều. Chuyến về thiên hạ sẽ khâm phục, cho cậu là “chơn mạng đế vương” có tài xuất quỉ nhập thần. Cậu nghỉ sớm để dưỡng sức.

Cậu Hai Điền lẩm bẩm

– Giết thằng Cẩu xong rồi thì Tư Thính, cô Huôi phải hàng phục thôi.

Bá Vạn nói thêm:

– Nhưng Mười Hấu và cô Ngó thì phải đền tội. Mẹ và ông ngoại gánh tất cả trách nhiệm của con, làm sao chối cãi được. Chừng đó xong xuôi, chắc cậu ban thưởng tôi.

– Đừng lo. Tôi cho ông một ngôi nhà cao ráo, ở gần tôi. Căn nhà của ông hư nát rồi. Lúc tôi săn heo rừng, ông coi chừng tiền bạc, rầy la bọn tá điền…

Bá Vạn cười hiền lành, tưởng rằng thế gian nầy chẳng còn ai đóng trò khéo hơn được:

– Tôi không màng danh lợi, chỉ dám mong cậu xuất tiền xây cất một kiểng chùa để thỉnh thoảng tôi tới đó tụng niệm.

Sau khi từ giã cậu Hai Điền, Bá Vạn qua nhà bà chánh thất ở bên cạnh. Đứa nữ tỳ đưa ông vào trong. Bà chánh thất đóng cửa lại rồi ra lịnh:

– Ra ngoài mà chờ. Ta nói chuyện riêng. Thằng Hai Điền tính sao? Trăm sự đều nhờ ông. Tôi bây giờ như người goá phụ…

Bá Vạn ngồi xuống rồi mở nút áo:

– Xin lỗi bà, nực nội quá. Hồi chiều tới giờ, tôi chưa ăn cơm. Cậu Hai hơi nóng nảy, muốn đem tất cả bọn hộ vệ tới núi Mo So. Tôi ngăn cản, vì làm vậy thì còn ai bảo vệ bà, rủi bọn thằng Cẩu tới bao vây thình lình.

– Tôi dạy thằng Điền, chắc nó nghe lời tôi. Nhưng mà làm cách nào để giết thằng Cẩu? Theo ý tôi thì con Huôi là đứa lợi hại hơn. Còn con Ngó? Chẳng lẽ tha tội cho nó? Từ ngày hai đứa nó về nhà nầy, bao nhiêu chuyện lộn xộn xảy ra.

Rồi bà đến ngồi sát Bá Vạn:

– Ông đừng bắt chước ông Chúa Hòn ngày xưa làm khổ vợ con. Bấy lâu, ngồi trên đống vàng mà tôi khổ sở, buồn bực không kém gì cô gái quê mùa.

Bá Vạn cười dòn:

– Tôi muốn đi tu, sống an nhàn. Lâu lâu, nếu bà nhớ tưởng thì gọi tôi tới để dạy việc.

Bà chánh thất nói giọng tình tự:

– Ông dạy tôi, chớ tôi biết gì mà dạy ông. Ông nói phải. Nếu yên mọi việc thì tôi cất nhà ở xa, hoặc trên chót Hòn mà ở cho yên tịnh. Nhà nầy cất theo kiểu xưa, tối om om. Bọn nữ tỳ quá đông đảo, sớm muộn gì bọn nó cũng nói xấu chủ.

Uống cạn chén rượu, Bá Vạn giả vờ đòi về. Nhưng bà chánh thất cầm giữ khéo léo:

– Ông ở đây cho vui, vắng ông tôi buồn. Thằng Điền không giận ông đâu.

– Tôi sợ tới hừng sáng thức dậy không kịp. Cậu Hai nóng nảy muốn đi sớm.

– Dễ quá, để tôi biểu một đứa nữ tỳ qua nhà thằng Điền mà chờ. Hễ nó thức thì con nữ tỳ qua đây báo tin.

Suốt đêm ấy, tuy nằm bên cạnh bà chánh thất nhưng ông Bá Vạn suy nghĩ chuyện đâu đâu. Trong số ba người vợ mà ông Chúa để lại, ông thích nhất là cô Huôi nhưng làm sao ông với tới. Ông cười thầm:

– Mình đã chiếm được hai bà rồi!

Nhưng hình ảnh cậu Hai Điền cứ hiện ra chập chờn. Hai Điền là đứa khá gan dạ, khôn lanh. Liệu ngày mai anh em thằng Thừa thằng Thiếu đủ sức giết cậu Hai? Làm cách nào cho cậu ta đừng đem tên hộ vệ nào lên núi Mo So? Nếu kế hoạch thất bại, ông sẽ bị Hai Điền giết tại trận. Trong phút giây, ông nghĩ đến chuyện phản bội cô Huôi và thằng Cẩu, nhưng ông sực nhớ đến cái áo lem lấm thịt kho mà ông còn cất giấu kỹ lưỡng.

Rồi đây khi nắm trọn quyền hành, Hai Điền sẽ hách dịch bội phần và một trong những đứa hộ vệ giỏi nghề săn sẽ nắm vai trò “quân sư”. Biết đâu, Hai Điền sẽ trừng trị ông vào dịp khác. Và hổm rày có điều đáng chú ý là cậu ta thắc mắc việc ông giao thiệp thân mật với mẹ ruột của cậu! Đó là bản án treo mà sau nầy cậu được quyền xét xử, bất cứ lúc nào!

Đang ngủ say, Bá Vạn bị đánh thức:

– Ông ơi! Cậu Hai kêu..

Đứa nữ tỳ gõ nhẹ vào cửa, lập tức ông ngồi dậy.

Bà chánh thất ôm Bá Vạn mà hôn:

– Ông giúp giùm tôi. Thằng Điền còn trẻ lắm. Nhớ đem linh cữu chồng tôi về đây. Tôi hứa đền ơn ông.

Bá Vạn đáp:

– Bà nên dạy cậu Hai vài lời. Tôi nói, nhiều khi cậu không tin.

– Dạy điều gì?

– Cậu Hai nên giả dạng thường dân, đừng đem theo bất cứ tên hộ vệ nào cả. Tôi cũng ăn mặc xuề xoà.

Trong lúc Bá Vạn rửa mặt, bà chánh thất đến gặp cậu Hai, lát sau trở lại:

– Ông ơi! Nó chịu rồi. Sẵn đây, tôi đem bộ quần áo đen cho ông.

– Cậu Hai vui vẻ chớ?

– Lúc đầu, nó nhăn nhó mặt mày. Tôi cắt nghĩa rằng giết thằng Cẩu giống như giết heo rừng, nếu ăn mặc sang trọng thì làm tăng giá trị thằng Cẩu.

Bá Vạn ra ngoài. Công việc đầu tiên của ông ta là đánh thức thằng Thừa. Vắng thằng Thừa là hư chuyện. Tuy nhiên, ông dè dặt đến gặp cậu Hai Điền.

Cậu Hai đứng sẵn dưới bến. Hai tên hộ vệ lui cui đánh quai chèo. Thấy Bá Vạn tới, cậu hỏi:

– Như vậy được chưa? Giống như thằng đốn củi.

Bá Vạn trấn an cậu Hai:

– Được rồi, nhưng cậu nên mang theo hai cây dao nhỏ, giấu kín trong áo.

– Thì tôi mang theo hai cây với hai thằng hộ vệ.

Bá Vạn đáp:

– Hai đứa nầy không rành đường sá, mặt mày coi dữ tợn quá. Cho tụi nó ở nhà. Tôi với cậu thay phiên nhau mà chèo chống..

Cậu Hai Điền trố mắt:

– Như vậy mệt lắm. Ông tính sao? Rủi bị chận dọc đường làm sao chống cự được. Phải chi ông mạnh khoẻ…

Bá Vạn vỗ trán rồi nói nhanh:

– Tôi nhớ rồi! Thằng Thừa là đứa hộ vệ của tôi, nó rành đường sá, võ nghệ nào kém ai. Cậu với tôi cứ ngồi để nó chèo sau lái. Chiều nay mình tới Mo So là vừa. Thằng Thừa đã dọ thám hôm qua.

– Kêu nó đi theo. Nhưng tôi muốn làm chuyện bất ngờ. Thay vì đi êm thấm thì mình cho bọn hộ vệ chừng vài chục đứa đốt đuốc, cầm dao mác. Thằng Cẩu là con heo rừng, nên giết nó như giết heo.

– Đó là chuyến về. Nếu gây động, nó trốn thì dễ gì bắt sống nó mà xử cho hả dạ?

Cậu Hai đang do dự. Bá Vạn bèn ngoắt thằng Thừa.

Mặt trời xuống thấp, muỗi kêu vo vo. Thằng Thừa cầm cây sào, xuống chiếc ghe lườn nhỏ. Đó là kiểu ghe độc mộc, tuy nhỏ hẹp nhưng di chuyển nhanh chóng, bị đụng thì không bể, rủi chìm thì cứ nâng lên rồi tát nước cho cạn.

Cậu Hai hỏi:

– Muỗi cắn, mình làm sao bây giờ? Phải un khói trước mũi ghe chớ.

Biết rằng nếu sơ suất một tiếng nói thì kế hoạch bị gãy đổ, Bá Vạn đáp:

– Dạ, un khói thì muỗi tan, nhưng có đóm lửa chập chờn, mình chưa tới là dân chúng hay biết…

– Phải đem rượu theo thật nhiều. Mình uống say thì hơi rượu thấm vô máu, muỗi cắn hút cũng say rượu luôn.

Thằng Thừa lên nhà đem hũ rượu xuống. Bá Vạn nháy mắt rồi khoát tay. Chưa chi thằng Thừa đã trổ tài chống ghe. Với cây sào dài, nó điều khiển khéo léo, chiếc ghe không lúc lắc vì di chuyển quá nhanh. Cậu Hai Điền bắt đầu vui vẻ:

– Ghe đi lẹ thì bớt muỗi, làm sao muỗi bay theo kịp? Uống rượu chớ!

Bá Vạn mở hũ rượu, rót ra chén mời cậu Hai uống trước. Uống cạn chén, cậu trố mắt:

– Tại sao cây cối hai bên bờ hơi lạ?

Bá Vạn đáp:

– Dạ, mình đi tắt trên bưng, đừng lo thiên hạ thấy. Núi Mo So hiện ra kìa!

– Phải chỗ hôm trước không mậy? Mầy còn nhớ chỗ thằng Cẩu đá cá lia thia không?

Thằng Thừa đáp:

– Dạ tôi nhớ. Ban đêm cậu Cẩu ngủ tại trường đá cá không ai canh phòng cả. Mình chỉ sợ phía chân núi, chỗ nhà Mười Hấu và cô Huôi đang trú ngụ. Luôn luôn, trước sân có năm bảy đứa cầm dao.

Lý lẽ ấy chưa thuyết phục được cậu Hai Điền:

– Tại sao thằng Cẩu ngủ trên sườn núi một mình? Ban đêm, cá thia thia cũng ngủ chớ đâu có thức mà đá. Mầy nói hơi vô lý. Nẫy giờ tao muốn trở về!

Bá Vạn rùng mình lo sợ, nhưng cậu Hai vội nói tiếp:

– Tao trở về kêu vài chục đứa hộ vệ tới đốt nhà Mười Hấu, đốt luôn con Huôi thử coi nó có sống mãi không? Cái thứ bông quỳnh hoa thì lâu lâu nở một lần. Cha tôi lầm tưởng con Huôi là nữ thần hộ mạng.

Để tranh thủ thời giờ, Bá Vạn cứ nhắc nhở:

– Mầy chống cho lẹ kẻo muỗi cắn cậu Hai.

Bỗng dưng cậu Hai la hoảng:

– Con gì vậy?

Một con cá thát lát trắng bạch từ ngoài bưng nhảy vào chiếc ghe lườn, ngay trước mặt cậu Hai. Cậu cằn nhằn:

– Điềm xui xẻo. Đêm nay tôi sao giận trong bụng quá. Hay là mình về?

Bá Vạn đưa tay ra sau lưng như khuyên thằng Thừa đề phòng cẩn thận. Cậu Hai rút ngọn dao ra mà nói tiếp:

– Bá Vạn nghĩ sao? Con cá nhảy vô ghe rồi nằm im. Chắc là có kẻ rình mọ.

Bá Vạn đáp:

– Cậu đừng lo ngại. Ban đêm bọn tay em của Mười Hấu uống rượu rồi ngủ hết rồi.

– Chống xuồng ra ngoài rạch, mát mẻ hơn. Mầy cho chiếc ghe quẹo ra. Trong bưng u ám quá. Hay là con cá nầy là điềm của Trời Phật khuyên bọn mình nên theo con đường khác?

Thằng Thừa tức giận vô cùng, muốn nhảy tới giết cậu Hai Điền cho rảnh. Nó thắc mắc không hiểu tại sao Bá Vạn chưa giết cậu Hai. Nhưng Bá Vạn lại suy nghĩ cách khác. Đến giờ phút nầy, tánh mạng cậu Hai Điền đã nằm trong tay lão. Nếu giết quá nhanh chóng vội vàng thì thằng Cẩu, Mười Hấu và cô Huôi đều sẽ xem thường công việc, sau nầy khi nắm quyền hành thì họ cho rằng lão chẳng góp công lao đáng kể. Mười Hấu và cô Huôi đều là người tham tiền bạc, địa vị. Thằng Cẩu nuôi nấng nhiều cao vọng. Với cái tật ngang tàng, phách lối, rồi đây cậu ta sẽ chửi lão như cậu Hai đã từng làm. Được chim bẻ ná, đước cá quăng nơm. Là người tôi tớ già, lão hiểu trò đời hơn ai hết. Lão nhớ cái tráp, trong đó đựng cái áo dính thịt kho chưa giặt sạch. Khi Hai Điền chết, lão sẽ sung sướng mở tráp ra, ném cái áo cho mọi người xung quanh thấy. Dù sao đi nữa, bà chánh thất vẫn hiền lành, khả ái và vô tội. Nếu có dư luận không đẹp cho rằng lão giết Hai Điền thì còn mặt mũi nào lão nhìn bà chánh thất. Chẳng lẽ lão giết luôn bà ta! Làm như vậy thì Tư Thính và Mười Hấu sẽ cho rằng lão gian ác, sẵn sàng phản bội tất cả mọi người. Họ sẽ giết lão sau khi họ thắng thế để ngừa hậu hoạn.

Thằng Thừa lên tiếng:

– Xuồng ai bơi ngược về phía nầy kìa.

Bá Vạn nhắc nhở khéo léo:

– Có tao. Chắc là xuồng mấy người đốn củi đặt trúm.

Nhà hai bên bờ đều đóng kín cửa. Đã đến địa phận chân núi Mo So. Quả thật cô Huôi đã bố trí khéo léo, dọc đường cậu Hai không gặp ai xét hỏi cả. Cậu Hai Điền thích chí:

– Đêm nay tao cho tụi nó chết. Thừa à! Nhớ kỹ nhà Mười Hấu không?

– Dạ nhớ. Chỗ có mấy cây cau lão đằng trước.

– Mầy ghé lại, tao ngồi chờ. Mầy tới đó rình thử rồi cho tao biết.

Thằng Thừa lên bờ, bước nhanh. Vài con hạc kêu oang oác trên bầu trời đầy sao thưa. Cá đớp bọt sát mé cỏ. Bên kia bờ, nhà nọ còn thức. Có tiếng trẻ con khóc và tiếng hát ầu ơ.

Cậu Hai mò tay, lấy hũ rượu uống cạn một chén rồi căn dặn Bá Vạn:

– Đừng nói chuyện.

Ngồi trên ghe với cậu Hai, Bá Vạn lo sợ vô cùng. Nếu cậu trở mặt dùng dao nhọn mà giết lão thì ai che chở giùm.

Thời khắc trôi qua chậm chạp. Phía núi Mo So vài đốm sáng chập chờn. Mây đen kéo tới nườm nượp che khuất trăng sao. Bỗng dưng mà Bá Vạn ngờ mình đang bị chôn sống trong cái hố sâu thẳm. Ếch nhái kêu inh ỏi bên tai. Bầy đom đóm từ xa bay lại như những oan hồn, đều bắt đầu làm quen với Bá Vạn.

Cậu Hai tằng hắng:

– Nó về kìa!

Thằng Thừa chạy hổn hển, đứng lại thở phào:

– Dạ xong rồi. Nhà Mười Hấu đóng cửa kín.

Cậu Hai nói:

– Mầy kiếm một mớ nhánh cây khô để tao đốt. Nó chạy ra là gặp tao. Tao giả dạng như người chòm xóm tới coi đám cháy. Làm sao nó biết trước được.

Cả ba người lên bờ, đến nhà Mười Hấu. Bầy chó sủa vang nhưng lạ thay, họ chẳng nghe ai lên tiếng cả. Cậu Hai hỏi:

– Sao vậy?

Thằng Thừa đáp:

– Dân chúng ngủ mê hoặc là xóm nầy chó cứ sủa từng chập, chẳng ai thèm chú ý.

Cậu Hai đến trước sân rồi đạp mạnh cánh cửa:

– Chủ nhà đâu?

Thừa lúc ấy, Bá Vạn hỏi thằng Thừa:

– Mầy gặp ai lúc nãy?

– Dạ, cô Huôi. Cô bảo rằng cứ tới…rồi lên núi.

Cánh cửa mở tung, bên trong thắp đèn leo lét. Một người lồm cồm ngồi dậy trên bộ ván. Cậu Hai xông vào. Lúc ấy, cậu tin sức mình, với ngọn dao nhỏ cầm sẵn trong tay. Người nọ chạy xuống nhà bếp rồi đạp cửa sau nghe rầm rầm. Thằng Thừa đoán chắc là Mười Hấu, nên chờ khi Mười Hấu chạy ra vườn, nó kêu lên:

– Nó chạy kìa! Để tôi rượt theo.

Cậu Hai đáp:

– Mầy ngu quá. Đốt nhà cho tao!

Không đợi thằng Thừa tiếp tay, cậu Hai lấy thếp đèn để sát vách, đổ mớ dầu ra rồi dùng tim đèn mà châm vào. Lửa bốc lên. Bá Vạn bịa chuyện để cậu Hai tin rằng đã thắng cuộc:

– Nó chạy ra sau vườn kìa! Nó xuống mé sông.

Lập tức, cậu Hai trở ra với nụ cười trên môi và cây dao trên tay. Bá Vạn nói khéo:

– Bây giờ cậu lên sườn núi để bắt sống thằng Cẩu. Chờ lâu quá thì ngọn lửa bốc sáng, nó nghi ngờ.

Cậu Hai Điền nhìn mấy nhà chung quanh, nêu câu hỏi:

– Dân chúng đâu hết rồi?

Bá Vạn hiểu rằng dân chúng đã tản cư trước, theo lệnh cô Huôi, ông ta đưa lý do không vững lắm:

– Mười Hấu phách lối, ăn ở bất nhân nên dân chúng không phục. Ngày mai, họ vui mừng khi hay tin cậu tới cứu giúp.

– Phải lắm. Mười Hấu là cái gì mà đòi làm cha ông Chúa Hòn? Bây giờ, tao giết thằng Cẩu. Dẫn đường cho tao đi!

Thằng Thừa đến gốc cây to, dừng lại để chờ cậu Hai và Bá Vạn. Con đường mòn hiện ra, dốc núi thoai thoải và trên kia, ánh đèn leo lét chiếu sáng từng chập. Lúc hăng hái, cậu Hai đi nhanh, hỏi lấy lệ:

– Tao biết rồi. Thằng Cẩu ở chỗ có ánh sáng trên đó?

Thằng Thừa đáp:

– Dạ phải.

– Để tao giết nó một mình. Tưởng rằng bọn nó canh phòng chu đáo; quanh nhà có thiên binh vạn mã. Ngờ đâu chuyện đời quá dễ.

Bá Vạn và thằng Thừa theo sau. Ông ta cau mày nói khẽ:

– Mầy thấy chưa? Cậu Hai muốn phản tụi mình.

– Ông nói sao?

– Hễ giết được thằng Cẩu thì cậu cho rằng đó là do cậu can đảm, đủ tài trí. Nhưng thằng Thiếu có ở trên đó không?

– Dạ, hồi nãy nó hẹn ở đó.

Cậu Hai Điền gọi từng chập:

– Theo tôi cho mau. Tôi chỉ sợ khi nào Mười Hấu và con Huôi lên núi báo tin. Hồi nãy, họ xuống bến phải không?

Căn nhà hiện ra đúng là nơi mà thằng Cẩu bố trí sẵn để đá cá thia thia hồi mấy tháng trước. Nhà rộng bốn gian vách phên sơ sài. Đến trước sân, cậu Hai dè dặt đứng lại để chờ thằng Thừa. Bá Vạn nói:

– Coi chừng lầm nhà, mầy nhớ kỹ chưa?

Thằng Thừa đáp:

– Dạ, đúng là nhà nầy.

Cậu Hai nhìn qua kẽ vách. Có người nằm trong cái mùng bằng nhiễu đỏ. Cậu khều Bá Vạn:

– Ông vô trước, đánh thức nó. Rồi tôi hạch hỏi nó trước khi giết cho sướng tay.

Bá Vạn đáp:

– Thằng Thừa vô trước. Nó có võ nghệ. Nó vô trước, cầm dao đứng sẵn rồi cậu hãy lên tiếng.

Thằng Thừa tuân lênh, vạch mấy miếng lá bên vách mà xông vào. Mừng rỡ biết chừng nào! Nó thấy đúng em nó là thằng Thiếu đang nằm nghiêng trong mùng giả dạng thằng Cẩu. Nãy giờ, thằng Thiếu phập phồng chờ đợi với cây mác nhọn và sợi dây khá chắc.

Thằng Thừa nhìn kỹ. Em nó mở mắt ra, nháy đôi ba lần. Nó khoát tay.

Từ bên ngoài, cậu Hai Điền đạp cửa phên. Cửa ngã xuống, cậu cười dòn:

– Thằng kia! Thức hay ngủ!

Nhanh như chớp, thằng Thừa đổi vị trí, đến sát cậu Hai Điền như để làm phận sự hộ vệ. Cậu Hai cầm ngọn dao trên tay, đến sát bên mùng. Thằng Thiếu vụt ngồi dậy. Bá Vạn cười to:

– Cậu Hai! Biết tôi là ai không?

Khi day lại, cậu Hai bủn rủn tay chân vì thằng Thừa và thằng Thiếu đều hươi khí giới, để sát ngực cậu. Bá Vạn vuốt râu, trợn mắt:

– Biết tôi là ai không? Cậu nhớ thằng già nầy hồi mấy tháng trước bận cái áo gì không? Cái áo dính thịt kho…Cậu buông cây dao xuống. Ở đây, hôm nay thằng Cẩu không chết mà người chết là thằng Hai Điền.

Mồ hôi tuôn xuống nườm nượp, cậu Hai xám mặt, từ từ buông cây dao rớt nhẹ xuống đất. Bá Vạn nói tiếp:

– Chung quanh đây còn mười võ sĩ khác, cậu đừng chống cự vô ích.

Cậu Hai ôm mặt khóc, quì xuống trước mặt Bá Vạn:

– Trời! Dè đâu đêm nay tôi chết như vầy. Tôi là đứa ngu dại. Ông không tha thứ cho tôi được sao?

Bá Vạn sung sướng vô cùng. Lần đầu tiên trong đời, ông ta đã bắt buộc một ông chúa con phải quì gối để xin tha mạng. Trước khi giết Hai Điền, ông muốn nói vài tiếng cho hả giận, bù lại khoảng thời gian đau khổ mà ông đã chịu đựng suốt mấy tháng qua:

– Mọi khi, chú mầy xem trời đất nhỏ như hột tiêu. Bây giờ chú mầy nhỏ hơn hột tiêu, hiểu chưa? Đừng tưởng mầy giỏi hơn con heo rừng. Tao là con cọp kỳ lân. Bao nhiêu tài sản ông bà mầy để lại đều thuộc về tay tao nắm giữ. Tao làm tôi mọi nhiều năm rồi.

Niềm hy vọng mong manh vẫn còn thấp thoáng trong trí óc cậu Hai Điền. Cậu day lại nhìn thằng Thừa, thằng Thiếu. Hai đứa nó cầm dao trong tay. Cậu cúi mặt, hai ba giọt mồ hôi rớt xuống long lanh. Thếp đèn dầu mù u cứ cháy chập chờn:

– Hồi đó, tôi là đứa con nít, tôi trót dại, làm chuyện hổn láo. Nay mai khi trở thành ông Chúa, tôi hứa đền ơn xứng đáng. Hòn Đất và núi Mo So sẽ thuộc về tay ông.

Bá Vạn quát to:

– Không bao giờ mầy trở thành ông Chúa Hòn được!

– Trời ơi! Xin ông thương tưởng giùm, cho tôi sống để ăn năn tội lỗi. Tôi trở thành thường dân..

-Mầy không xứng đáng làm thường dân.

– Dạ…ông cho tôi sống thêm vài năm, tôi hứa vô chùa tu cho tới chết.

– Thà mầy chết bây giờ, sướng thân mầy hơn. Lúc trước mầy hất tô thịt kho lên áo tao, mầy hất thêm một tô nước mắm lên đầu tao. Đáng lý ra, hai ba ngày sau mầy kiếm tao để xin lỗi. Cha mầy là đứa không biết phải quấy, tao giết cha mầy rồi. Mạng mầy là đồ bỏ.

Liệu chừng năn nỉ không xong, cậu Hai Điền nghĩ tới biện pháp chót là chạy trốn. Căn nhà nầy vách phên thưa thớt, nếu đạp mạnh là thoát ra ngoài. Thà ra ngoài nhảy xuống hố, đập đầu vô đá mà chết còn đỡ nhục nhã hơn ở đây.

Nhưng Bá Vạn lên tiếng:

– Thừa, Thiếu đâu rồi? Dẫn nó ra trước sân, làm thịt cho kỹ.

Cậu Hai giãy dụa kêu la:

– Tôi không có tội tình gì hết, cho tôi sống với chớ! Mấy ông cho tôi sống rồi muốn làm gì thì làm. Oan ức quá. Trời ơi!

Bá Vạn ngồi xuống. Ngoài kia, cậu Hai thở hồng hộc, tiếng thở thỏn mỏn dần. Bá Vạn nhìn ra:

– Nó chết thiệt chưa? Giết cho kỹ lưỡng, quăng xác xuống hố.

Lát sau, ba người xuống chân núi. Nhà Mười Hấu chỉ bị hư hao sơ sài. Cửa trước sau đều mở rộng. Vừa liếc vào, Bá Vạn thấy cô Huôi đang ngồi trên bộ ván. Gương mặt cô trầm tĩnh và nghiêm nghị lạ thường. Mười Hấu ngồi phía sau lưng cô Huôi và phía sau Mười Hấu là cô Ngó. Thoạt tiên, Bá Vạn chờ đợi lời khen ngợi và đón tiếp rầm rộ của Mười Hấu. Bá Vạn nghĩ rằng mình đã lập công lớn, cô Huôi và Mười Hấu phải nhớ ơn và khâm phục. Ông ta bước vào, cúi đầu.

Cô Huôi cất tiếng:

– Xong xuôi rồi chớ? Ngày mai ta về Hòn Chông.

Mười Hấu là người quê mùa nên kém trầm tĩnh:

– Ông ơi! Nãy giờ tôi lo múc nước để chữa lửa. Nhà nầy bị cháy một lỗ lớn. Thằng Cẩu cứ lo…

Cô Huôi chận lời Mười Hấu:

– Xong rồi thì ta nghỉ cho khoẻ. Thằng Thừa, thằng Thiếu đâu rồi? Rửa tay chân cho sạch máu. Mai chiều, Bá Vạn thưởng tiền cho.

Nói xong, cô Huôi vào trong. Bá Vạn nằm trên bộ ván cứ thao thức trong khi anh em Thừa, Thiếu xuống bến tắm rửa. Chó sủa ma, văng vẳng trong đêm thâu. Bá Vạn rởn tóc gáy từng chập khi thấy một con đom đóm từ ngoài sân, phía núi Mo So bay vào. Phải chăng đó là oan hồn của cậu Hai Điền? Con đom đóm vào, bay trở ra. Bá Vạn chưa yên tâm cho lắm vì những ngày sắp tới ắt còn nhiều khó khăn. Cô Huôi đẹp thật, nhưng lúc nầy vẻ đẹp ấy hơi bí hiểm.

Bất giác, lão thở dài:

– Mình làm cho thiên hạ hưởng. Chẳng lẽ mình lại ngu dại làm chuyện hại ngược lại mình? Cô Huôi còn trẻ nhưng khác xa bà chánh thất và cô Ngó…Đêm nay nếu không có cô ta thì mình được an ủi bên cạnh cô Ngó! Còn thằng Cẩu? Nó ngủ say hay là đang trửng giỡn với mấy cô thôn nữ? Thiệt là đứa tốt phước!

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

t-van.net

Hoài Nam-Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 25 May 2025

Phần 10

Chương 6 – Suối Máu & Tống Lê Chân

Tại sân trung đoàn (L2), sau khi tất cả tù cải tạo bị chuyển trại từ các T đã lên tới nơi, một tay cán bộ đọc tên từng người trong danh sách đã được chia sẵn thành từng toán. Tôi cũng chẳng quan tâm tới việc mình thuộc toán nào bởi vì, thứ nhất, tôi không thấy một người quen nào trong đám cải tạo “nặng tội” này, và thứ hai, sau khi thoát chết vì sốt rét rừng tôi vẫn chưa bình phục, trong người lúc nào cũng mệt mỏi, chẳng thiết tha ăn uống, kể cả đầu óc cũng trở nên lười biếng, cho nên tương lai trước mặt tôi cũng thờ ơ…

Vì thế, sau khi tù cải tạo lên xe, vải bạt phía sau được thả xuống, cột kín mít thành xe bít bùng, khác với ngày từ Đồng Ban lên Phước Long, tôi cũng chẳng hơi đâu thắc mắc.Trên đường đi, mặc dù đoán trước lần chuyển trại này hung nhiều hơn cát, nhiều anh em vẫn xôn xao bàn tán sau mỗi lần xe quẹo, hoặc một người nhìn qua khe vải bạt thấy được một tấm biển ghi địa địa danh, một cái cầu, một trại lính nào đó…

Nghe những lời bán tán, tôi biết đoàn xe đi về hướng nam, theo Quốc lộ 14, rồi Quốc lộ 13.

Gần tới ngã tư xa lộ Đại Hàn, một số anh em trên xe bắt đầu tiên đoán một cách bi quan: chắc chắn sẽ không quẹo mặt vì đó là đường trở về Tây Ninh, còn quẹo trái là đi Biên Hòa, Long Khánh… chắc cũng không nốt, mà có lẽ sẽ chạy thẳng tới Tân Cảng Sài Gòn, nơi đó một chiếc tàu đang chờ để đưa chúng tôi ra Bắc!

Nhưng cuối cùng đoàn xe không chạy thẳng mà quẹo trái, như vậy chắc chắn chúng tôi sẽ không bị đưa ra Bắc!

Sau này chúng tôi mới biết lúc đó ngoài miền Bắc không còn chỗ cho chúng tôi. Không còn chỗ không phải vì đất hẹp người đông – núi rừng Hoàng Liên Sơn trùng điệp thiếu gì chỗ để đày tù – mà chỉ vì vào thời gian này, quan hệ “anh em môi hở răng lạnh” giữa đàn anh Trung Cộng và đàn em cộng sản Việt Nam đã trở nên cực kỳ căng thẳng, tới mức Đặng Tiểu Bình đã công khai tuyên bố trong một chuyến công du ngoại quốc: “Đã tới lúc phải cho Việt Nam một bài học”.

Khi ấy Trung Cộng đã dàn một quân đoàn ở phía bắc biên giới Hoa -Việt cho nên ai cũng hiểu “nội dung” bài học ấy là gì, vì thế cùng với việc ban hành lệnh tổng động viên, gấp rút đưa các lực lượng đang chiếm đóng Căm-bốt về biên giới phía Bắc, nhà cầm quyền CSVN đã đưa tù cải tạo từ các trại nằm gần biên giới như Quyết Tiến, Phong Quang… về miền xuôi, để đề phòng việc tù có thể lợi dụng lúc hỗn loạn để trốn thoát.

Trên bình diện quốc gia, cuộc xâm lược của Trung Cộng vào sáu tỉnh biên giới phía bắc VN, với mức độ dã man tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh giữa hai nước, phải được xem là nỗi đau chung cho cả dân tộc, nhưng nếu chỉ xét ảnh hưởng đối với tù cải tạo thì “bài học” ấy của Bắc Kinh đã đem lại nhiều cái lợi, trong đó có việc đa số tù cải tạo ở miền Bắc không còn phải lao động khổ sai ở những vùng rừng thiêng nước độc nữa, đồng thời đám tù cải tạo “nguy hiểm, nặng tội” trong Nam dự trù bị đưa ra Bắc đã được ở lại miền Nam.

* * *

Đoàn Molotova chạy qua phi trường Biên Hòa, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cũ, qua Ngã Ba Vườn Mít, theo Quốc lộ 1 hướng về phía Hố Nai, nhưng vừa qua khỏi Dưỡng trí viện thì rẽ mặt vào khu trại tù mà thời VNCH gọi là Trung Tâm Cải Huấn Tân Hiệp, sau năm 1975 trở thành Trại Cải Tạo Tân Hiệp, thường được tù cải tạo và thân nhân gọi ngắn gọn là Trại Tù Suối Máu. Ba năm sau cùng của đời quân ngũ tôi phục vụ trong căn cứ không quân Biên Hòa, rất thường đi về vùng Hố Nai cho nên vị trí của trại tù này tôi vẫn còn nhớ rõ. Trại này nằm về phía đông bắc thành phố Biên Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km; tức là cách cổng chính của phi trường và Ngã Ba Vườn Mít khoảng 1 km.

Trại nằm trên một vùng đất cát thuộc ấp Tân Hiệp, xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa. Phía trước (hướng Bắc) là Quốc lộ 1, bên kia đường là giáo xứ Phúc Hải; phía sau (hướng Nam) là đường rầy xe lửa, phía bên mặt (hướng Đông) là khu dân cư Tân Hiệp nằm xa xa, phía bên trái (hướng Tây) là Suối Máu. (1)

Trại Tù Suối Máu

Trại Tù Suối Máu hình chữ nhật, chia thành 5 khu gọi là K: K1, K2, K3, K4 và K5. Các K được ngăn cách bằng hai, ba lớp hàng rào kẽm gai.

Toán chúng tôi, khoảng vài chục người, được đưa vào K2. Có thể nói mọi thứ ở đây, từ nhà cửa tới các phương tiện sinh hoạt cũng giống trại tù Phú Quốc, chỉ khác ở Suối Màu số nhà để giam tù trong mỗi K nhiều gần gấp đôi ở Phú Quốc.

Trước tiên cũng là cái cổng ra vào chật hẹp, chằng chịt kẽm gai, bên trong là một sân cát phía trước một ngôi nhà lớn dùng làm hội trường, phía bên tay trái là dãy nhà bếp và lò bánh mì, giếng nước, tiếp theo là các dãy nhà để nhốt tù, gần cuối có một sân bóng chuyền nằm giữa hai dãy nhà, và sau cùng là dãy nhà cầu nổi với các thùng phân đặt bên dưới, mà anh em thường lén gọi là “lăng Bác”!

Nhà để nhốt tù cũng là nhà tiền chế, nền xi-măng, khung sắt, mái tôn vách tôn, có hai cửa ra vào, một phía trước một phía sau. Mỗi nhà nhốt khoảng trên dưới 50 tù cải tạo (trước kia giam giữ từ 20-25 tù phiến cộng).

Như vậy, ở K2 có khoảng 1000 tù cải tạo. Bốn K còn lại cũng tương đương, suy ra toàn trại Suối Máu có trên dưới 5000 tù.

Xung quanh các K là một vòng đai 3, 4 lớp kẽm gai xen lẫn concertina với các chòi canh trang bị đèn pha, súng máy. Bên ngoài vòng đai này là doanh trại của đám cai tù. Sau giờ làm việc, khi đám quản giáo đã ra về, các cổng trại được đóng lại, khóa kỹ.

Sau này, khi thỉnh thoảng “được” gánh phân ra bên ngoài vòng đai, chúng tôi được biết trước năm 1975 trại tù Suối Máu có cả nhà thờ Công Giáo và Niệm Phật Ðường, nay đã biến thành chuồng heo và chuồng gà “kỹ nghệ” (gà nuôi trong chuồng). Ngoài ra còn có một bệnh xá ở khá xa khu nhốt tù.

Ngoài cùng là một lớp hàng rào có gài mìn…

Sau này nghe các đàn anh cấp tá kể lại, tôi được biết vào thời gian đầu (cuối năm 1975), trại tù Suối Máu được dành cho sĩ quan cấp tá đưa về từ khắp nơi; tới khi phần lớn những đàn anh này bị đưa ra Bắc, hoặc những trại khác ở trong Nam, thì trong số 5 K ở Suối Máu chỉ còn K2 nhốt toàn cấp tá, các K khác nhốt từ cấp đại úy trở xuống, về từ nhiều nơi: Trảng Lớn (Tây Ninh), Cà Tum (Tây Ninh), Thành Ông Năm (Hốc Môn, trại đầu tiên của tôi), Long Giao…

Về sau, tù cấp tá ở K2 được dồn vào những nhà ở phía trước gần hội trường, các nhà ở phía sau dành cho đám đàn em từ đại úy trở xuống lần lượt bị đưa từ các nơi về. Đám trung úy Phước Long chúng tôi là toán cải tạo sau cùng được đưa về K2.

Tôi và vài anh em được phân phối vào nhà 19 (hoặc 20, tôi không nhớ rõ) gần cầu tiêu, nơi đã có khoảng 40 anh em về từ các nơi, thuộc đủ mọi thành phần, đa số bị xem là “nặng tội” như chiến tranh chính trị, an ninh tình báo, quân cảnh tư pháp, đại đội trưởng tác chiến, phi công, thuyền trưởng (Hải Quân sông ngòi), cảnh sát dã chiến, v.v…, và một số nhỏ “nhẹ tội’” như những người phục vụ tại văn phòng, các ngành nghề không tác chiến, giáo chức biệt phái, v.v…

Cấp bậc thì cao nhất là trung úy, thấp nhất là… binh nhì!

Có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ cách CSVN phân loại “ngụy quân” cấp thấp nhất bị bắt đi học tập cải tạo. Chẳng hạn sĩ quan của đa số các ngành thì từ cấp thiếu úy trở lên; riêng ngành chiến tranh chính trị thì từ cấp chuẩn úy trở lên, các ngành an ninh quân đội, quân cảnh tư pháp, cảnh sát đặc biệt… thì cả cấp hạ sĩ quan cũng bị đi, riêng Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo thì tất cả mọi cấp, từ binh nhì tới tướng tá đều phải trình diện học tập cải tạo, cho nên nhà 19 của chúng tôi mới có Kh., một chàng binh nhì trẻ măng mà nhiệm vụ chỉ là lái xe đưa đón các sếp!

Vì đám tù cải tạo cấp đại úy trở xuống ở K2 được đưa về Suối Máu bằng nhiều đợt khác nhau cho nên không có những buổi “lên lớp” tại hội trường của viên thủ trưởng. Vì thế trong thời gian mấy tuần lễ đầu, chúng tôi chỉ thấy đám cán bộ quản giáo cấp trung úy trở xuống, mỗi tay phụ trách một số nhà.

Đơn vị bộ đội, tức Quân Đội Nhân Dân, coi tù cải tạo ở Suối Máu cũng thuộc Đoàn 775 mà tôi đã nhắc tới trong kỳ đầu, viết về thời gian ở Thành Ông Năm (Hốc Môn).

Thời gian mấy tháng đầu ở Thành Ông Năm chủ yếu dành cho việc khai lý lịch tới lui, học tập và thu hoạch 10 bài học chính trị, cho nên chúng tôi chưa có cơ hội, chưa đủ yếu tố để đánh giá mức độ sắt máu của đơn vị coi tù này.

Việc một trong hai đại úy chui rào vượt ngục bị bắn chết là chuyện đương nhiên, nội quy đã ghi rõ, trại nào cũng thế thôi. Chỉ tới khi về Suối Máu, qua thái độ và cách đối xử của đám quản giáo và vệ binh với tù cải tạo, qua nghe những gì anh em kể lại, và quan sát sinh hoạt trong trại, tôi mới biết mình đang nằm trong tay đám bộ đội cai tù sắt máu nhất.

Trước đó, trong những trại tôi đã sống qua, Phú Quốc được xem là hắc ám nhất. Nhưng ở đó chúng tôi bị hành hạ về thể xác nhiều hơn tinh thần. Chúng tôi bị cưỡng bách lao động khổ sai với cái bụng trống rỗng, chúng tôi bị buộc phải cắt tranh ở những bãi mìn, nhưng rất hiếm trường hợp bị biệt giam vì có tư tưởng chống đối.

Rất có thể vì nhiệm vụ của tù cải tạo ở Phú Quốc là “góp phần vào kế hoạch biến Phú Quốc thành một trung tâm kinh tế hàng đầu của tỉnh Kiên Giang” – theo lời viên trại trưởng – cho nên khai thác sức lao động của chúng tôi là việc chính, cải tạo tư tưởng là việc phụ.

Ở Suối Máu thì ngược lại. Từ đầu mùa tới cuối mùa không hề có “lao động là vinh quang”. Những tù cải tạo duy nhất được hưởng “vinh quang” hàng ngày là anh em trong đội canh tác, đội chăn nuôi, toán mộc, toán gò rèn…, những anh em còn lại thì may mắn lắm lâu lâu mới được phân công gánh phân người ra đổ ở hố phân gần vườn rau. Chấm hết!

Bù lại, chúng tôi phải học tập tư tưởng ngày 7, 8 tiếng. Buổi sáng, đúng kẻng là mọi người phải vào nhà ngồi quay mặt ra lối đi để nghe viên quản giáo “lên lớp” và nghe đọc sách báo cách mạng!

Nghe đọc đi đọc lại, chỉ trong vòng hơn một tháng, chúng tôi đã thuộc lòng các cuốn Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, Con đường đau khổ…, với nội dung đề cao lý tưởng cộng sản, đả phá tôn giáo, cương thường đạo lý, tôn tri trật tự trong xã hội tư bản, Đường Kách Mệnh của Hồ Chí Minh, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên (bút hiệu của Hồ Chí Minh khi viết cuốn sách này để ca tụng bản thân)…

Nhưng đáng sợ nhất phải là không khí khó thở trong trại. Khó thở vì những cặp mắt cú vọ của đám quán giáo; khó thở vì ở Suối Máu đầy rẫy ăng-ten; khó thở vì chính anh em cải tạo nhiều người cũng muốn chấp hành nghiêm chỉnh nội quy với hy vọng sớm được thả về…

Sau khi được đưa về K2 Suối Máu, tôi được anh em kể lại những cái chết của tù cải tạo trước đó, người bị bắn trên đường vượt thoát, người bị kết án tử hình và bị xử bắn ngay trại.

Trong số những người bị kết án tử hình có một vị Thiếu tá xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt mà tôi không nhớ tên, nhớ khóa, trốn trại bị bắt lại và bị xử tử hình trong năm 1976.

Người thứ hai nổi tiếng hơn, Trung úy Nguyễn Ngọc Trụ, Cao học Quốc tế Công pháp, giảng viên trường VBQG Đà Lạt, bị tử hình vào cuối năm 1976.

Nguyễn Ngọc Trụ gốc Trảng Lớn, thân phụ là một vị Trung tá cũng đang bị tù cải tạo ngoài miền Bắc. Nghe kể lại, ngay trong đợt học tập 10 bài học chính trị ở Trảng Lớn, anh đã công khai tranh luận với các giáo viên trong đó một tay mang cấp bậc Trung tá. Đại khái anh nói anh không chấp nhận việc “đế quốc Mỹ” đổ quân vào Việt Nam nhưng anh cũng “không thích chủ nghĩa Cộng Sản” vì “cả Mỹ lẫn cộng sản đều là hiểm họa của dân tộc VN”!

Sau đó tới phần “thu hoạch 10 bài học chính trị” và “tự lên án bản thân”, Nguyễn Ngọc Trụ dứt khoát không nhận các tội danh “tay sai đế quốc Mỹ, bán nước, có nợ máu với nhân dân”!

Một ngày nọ có hai Thiếu úy trốn trại và bị bắt lại. Hai người này theo học khóa cuối cùng ở trường VBQG Đà Lạt, tức là học trò của Nguyễn Ngọc Trụ. Sau đó, Nguyễn Ngọc Trụ bị biệt giam (nhốt conex); nguyên nhân, theo lời các quản giáo, hai Thiếu úy kia khai rằng họ trốn trại theo lệnh của “Thầy Trụ” rồi sẽ dẫn đường “đem tàn quân quay lại tấn công giải thoát trại giam”.

[Vì từ lúc Nguyễn Ngọc Trụ bị biệt giam cho tới khi bị xử bắn, anh không được tiếp xúc với một tù cải tạo nào, cho nên anh em cũng không được biết cáo buộc nói trên có phải do hai thiếu úy kia bị ép cung mà khai như thế, hay hoàn toàn là sự bịa đặt của đám cai tù?]

Tới giữa tháng 5/1976, tức là khoảng một tháng trước khi tôi bị đưa từ Phú Quốc về Trảng Lớn thì tại đây có đợt chuyển trại đi Suối Máu; trong số khoảng 1000 người bị đưa đi có cả Nguyễn Ngọc Trụ.

Tới Suối Máu, anh tiếp tục bị biệt giam. Cuối tháng 11/1976, khi anh em tù cải tạo được thăm nuôi lần đầu tiên thì cũng là lúc Tòa Án Quân Sự Khu 7 xét xử Nguyễn Ngọc Trụ với bản án tử hình đã được định sẵn (trước đó, một số anh em đã được giao công tác khiêng một cái quan tài từ trên xe xuống, dấu trong lùm cây gần chỗ sẽ xử bắn Nguyễn Ngọc Trụ). (2)

* * *

Trở lại với tình hình ở Suối Máu vào thời gian tôi bị đưa từ Phước Long về (khoảng tháng 8/1978), hầu như K nào cũng có người bị biệt giam (nhốt conex) vì có tư tưởng chống đối, hoặc vi phạm nội quy và bị ăng-ten báo cáo, hoặc bị vu cáo.

Bản thân tôi cũng như những anh em mới về Suối Máu có thể không bị, hoặc chưa kịp nếm mùi ăng-ten (trước khi bộ đội bàn giao tù cho công an), nhưng những anh em ở từ trước ắt hẳn phải thấm thía, thậm chí có người thấm đòn!

Tôi viết điều này ra không phải để bôi nhọ tập thể sĩ quan QLVNCH bị bắt đi học tập cải tạo trong số đó có tôi, mà chỉ để người đọc thấy được âm mưu thâm độc, quỷ quyệt của bọn cai tù CSBV trong việc khai thác tâm lý tham sinh úy tử nơi những con người an phận, nhẹ dạ, hoặc đã đánh mất lương tâm, không còn lòng tự trọng, tin tưởng một cách hão huyền vào những hứa hẹn được thả sớm, thậm chí hy vọng sẽ có một tương lai “tươi sáng” hơn những người khác sau khi được thả về!

Theo nội quy trại, tù cải tạo giữa các Đội không được quan hệ với nhau. Giờ nay tôi cũng quên mỗi đội gồm mấy nhà và mình ở đội nào, tôi chỉ nhớ muốn tìm người quen hoặc trò truyện với bạn bè, chúng tôi thường ra ngồi trước thềm hội trường nơi có đông người qua lại, hoặc ngoài sân bóng chuyền xem anh em đấu với nhau, để tránh sự dòm ngó của ăng-ten (có thể có trong mỗi nhà), và cũng để tránh cho các ông nhà trưởng bị lâm vào thế khó xử khi có người lạ vào nhà mình nói chuyện phản động, hoặc ngồi chơi… quên giờ về!

Riêng tôi khi ra thềm hội trường ngồi còn tìm được một thú giải trí “thanh tao” là vẽ hình trên mặt cát (toàn thể trại Suối Máu là một vùng đất cát), không phải hình nàng Aline trong ca khúc nổi tiếng của Christophe, cũng không vẽ tranh nghệ thuật như các họa sĩ hè phố ở kinh thành ánh sáng Paris mà vẽ máy bay, một đam mê của tôi từ thời trung học chứ không phải sau này khi đã gia nhập Không Quân.

Một ngày nọ, khoảng ba bốn tuần sau khi tôi về Suối Máu, trong số những người đứng xung quanh xem tôi vẽ, có một giọng quen thuộc gọi tên cúng cơm của tôi. Tôi hơi ngạc nhiên, bởi từ ngày còn ở Trảng Lớn, rồi lên Đồng Ban, Phước Long, anh em quen biết đều gọi tôi là “Sáu Lèo” hoặc “anh Sáu”. Nhìn lên, tôi thấy Nguyễn TM, anh bạn tù ở Phú Quốc bị anh em ghét nhất trong số những “lao động gương mẫu”, bị tặng biệt hiệu “Pavel” – tên nhân vật chính trong cuốn Thép đã tôi thế đấy của Liên-Xô.

Nguyễn TM là bạn cùng Khóa 18 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang với hai người bạn thời trung học của tôi, cho nên tôi không nỡ ghét anh mà chỉ bực mình. Tuy không ghét nhưng cũng không có cảm tình, thành thử nay gặp lại nhau tôi cũng chẳng lấy gì làm vồn vã cho lắm. Nhưng Nguyễn TM thì trái lại, rất mừng khi gặp lại tôi. Anh cho biết ngày ấy từ Phú Quốc anh cũng được đưa về Trảng Lớn (khác T với tôi) và ở đó cho tới ngày bị chuyển trại lên Suối Máu cách đây mấy tháng.

Nhận xét đầu tiên của tôi khi gặp lại Nguyễn TM là trông anh hồng hào, khỏe mạnh và sáng sủa sạch sẽ hẳn ra, có lẽ vì về Trảng Lớn và lên Suối Máu không phải lao động nặng, lại được gia đình thăm nuôi thường xuyên nên không còn bị đói rách.

Nhà của Nguyễn TM ở gần khu Thiếu tá, và trong một lần ngồi ở bên ngoài trò truyện tôi đã gặp lại một đàn anh cùng đơn vị đi ngang qua. Đó là Thiếu tá Đ, vị liên đoàn trưởng tôi rất quý mến trong số các ông liên đoàn trưởng kỹ thuật trong đơn vị, từng nhậu với nhau mấy lần.

Qua Thiếu tá Đ, tôi được biết hiện có 5, 6 vị cựu thiếu tá cùng đơn vị – giữ chức vụ liên đoàn trưởng hoặc trưởng phòng – đang ở K2. Đơn vị của tôi là Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân (BCH/KT&TV/KQ) nằm trong căn cứ không quân Biên Hòa; dưới quyền ông Chỉ huy trưởng, Chuẩn tướng Từ Văn Bê, có 4 vị đại tá và hàng chục trung tá, thiếu tá.

Trong số cấp tá nói trên, sau 30/4/1975, có hai ông trung tá và đa số thiếu tá bị kẹt lại. Nguyên nhân: BCH/KT&TV/KQ của chúng tôi là một đơn vị kỹ thuật & tiếp vận, tuy cấp số tương đương với một sư đoàn không quân nhưng không có phi cơ. Thành thử trừ ông Chỉ huy trưởng Từ Văn Bê được ngồi chung trực thăng với Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính, Sư đoàn trưởng Sư Đoàn 3 KQ, vào tối 28/4/1975 sau khi đốt CCKQ Biên Hòa, tất cả đã phải tự mình tìm đường thoát thân hoặc chấp nhận ở lại.

Theo lời kể của Thiếu tá Đ, lúc đầu ở Suối Máu còn có một số trung tá, đại tá Không Quân, trong đó có sếp cũ của tôi ở Pleiku ngày trước là Trung tá Lê Bá Định, cựu Trưởng Khối CTCT, sau làm Không đoàn trưởng Không Đoàn 72 Chiến Thuật, nhưng ít lâu sau, tất cả đã bị đưa ra Bắc.

Ngoài các đàn anh cùng đơn vị kể trên, tôi được biết ở K2 Suối Máu lúc đó còn có Thiếu tá Lê Thanh Hồng Vân (LTHV), một hoa tiêu khu trục nổi tiếng, xuất thân Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng, về sau có thời gian giữ chức Phi đoàn phó Phi Đoàn 530 Thái Dương ở Pleiku.

Trong suốt mấy tháng trước khi anh LTHV bị đưa về nhà giam Chí Hòa, tôi chỉ nhìn thấy anh vài lần chứ không gặp gỡ trò truyện vì nhà của anh nằm ngay “ngã tư quốc tế” đông người qua lại, nên tôi không muốn anh hay tôi, hoặc cả hai, bị một người bạn tù quý hóa nào đó báo cáo vi phạm nội quy.

Nhưng dù không được trò truyện với nhau, tôi cũng biết ở Suối Máu, LTHV vừa là một anh hùng, vừa là một huyền thoại. “Anh hùng” là việc đứng đầu “Ban hành động” trước khi xảy ra cuộc nổi loạn đêm Giáng sinh 1978 (tôi sẽ thuật lại ở một phần sau), còn “huyền thoại” là việc anh có đào là một đảng viên cộng sản!

Anh LTHV đã qua đời cách đây mấy năm tại Hoa Kỳ, tôi xin hương linh anh cho phép kể lại huyền thoại trên trong thiên hồi ký này, bởi vì ngày đó ở Suối Máu, anh em tù cải tạo thường kể cho nhau nghe một cách thích thú và quả quyết đó là… chuyện thật!

Huyền thoại ấy – hoặc “giai thoại” nếu là chuyện thật – như sau: trước năm 1975, cộng sản cho một nữ cán bộ xinh đẹp giả dạng “em gái hậu phương” quyến rũ anh LTHV để khai thác bí mật quốc phòng.

Không biết cô cán bộ có khai thác được bí mật nào không, chỉ biết thay vì quyến rũ anh, cô đã bị anh quyến rũ. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tức là nhiệm vụ được đảng trao phó đã hoàn tất, cô cán bộ cộng sản vẫn không bỏ tay “giặc lái”. Sau khi LTHV bị đi học tập cải tạo, cô lên thăm nuôi thường xuyên – muốn thăm lúc nào thì thăm chứ không phải chờ đợi tới kỳ thăm nuôi như những tù cải tạo khác, bởi vì cô là một… đảng viên kiêm thượng úy Việt Cộng!

Nhờ đó, hay ít ra cũng là suy luận của anh em bạn tù, LTHV không bị đưa ra Bắc, và ở Suối Máu anh tỏ ra cực kỳ ngoan cố, nhất quyết không chịu cạo bộ râu mép theo sự khuyến cáo của viên thiếu tá thủ trưởng K2.

* * *

Như đã viết từ đầu thiên hồi ký, tôi là một trong những sĩ quan ngành Chiến Tranh Chính Trị may mắn nhất trong số những người bị bắt đi học tập cải tạo; nay về Suối Máu, tôi vẫn tiếp tục được hưởng cái số may mắn ấy khi được lọt vào K2.

Vì các đàn anh cấp tá đã được dồn vào những nhà ở phía trước, những nhà phía sau trở thành “giang sơn” của đám đàn em cấp đại úy trở xuống bị đưa từ các nơi về.

Đám đàn em này đa số thuộc thành phần “nặng tội” và còn trẻ nên thường rất ngang tàng, điếc không sợ súng, thành thử chúng tôi có thể tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống căng thẳng ở Suối Máu nói chung nhờ đó cũng bớt căng thẳng đi rất nhiều.

Càng may mắn hơn nữa khi tôi được lọt vào nhà do anh Huyến làm nhà trưởng. Anh là một trung úy giáo chức biệt phái, lớn hơn tôi gần 10 tuổi, xuất thân là dân… tu xuất (đi tu nhưng hoàn tục trước khi trở thành linh mục), tính tình hiền lành, cung cách nhã nhặn, chẳng làm mất lòng ai bao giờ, cho nên kể cả những tay tác chiến ngang tàng nhất cũng tự nguyện vào khuôn vào khổ, vì thông cảm, quý mến anh chứ không phải vì ngán cách mạng.

Riêng tôi mãi nhớ những ưu ái anh dành cho tôi; thứ nhất, anh luôn luôn lấy tư cách một người đáng tuổi anh (chứ không với cương vị “nhà trưởng”) để khuyên nhủ, cảnh giác tôi về cái tật phát ngôn bừa bãi, và thứ hai, trong những lúc rảnh rỗi, anh tận tình hướng dẫn tôi về xướng âm (solfège), môn yếu nhất của tôi trong lĩnh vực âm nhạc.

Ngoài anh Huyến, tôi còn có một vài người bạn mới ở cùng nhà. Thân nhất là Sáu, một trung úy Hải Quân gốc Thủ Đức chứ không phải TTHL Hải Quân Nha Trang. Sáu là dân Nam kỳ, ít nói, không phát ngôn linh tinh, không châm biếm cách mạng như tôi mà chỉ kể những chuyện có thật trong binh nghiệp của anh nhưng rất có sức thu hút.

Thoạt tiên, trong một lần anh em tụ tập kể chuyện đánh giặc trước 1975, có người nói đại khái Hải Quân “thọ” nhất, trong suốt cuộc chiến kéo dài 20 năm chỉ đánh duy nhất một trận Hoàng Sa, Sáu mới từ tốn chậm rãi đính chính, cho mọi người biết trong quân chủng Hải Quân VNCH cũng có nhiều đơn vị tác chiến, điển hình là các “giang đoàn xung phong” thuộc Bộ tư lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi mà anh đã phục vụ trong suốt 6 năm binh nghiệp.

Từ đó về sau, mọi người thường được nghe anh kể lại những lần hành quân phối hợp với quân bạn, hoặc những lần chạm địch bất ngờ. Anh có tài kể chuyện, từ chiến thuật tác chiến trên sông, rạch cho tới trang bị trên các loại giang đĩnh, như đại bác 20mm, hoặc công dụng của lưới chống B-40…, và nhất là những trận đánh anh đã vào sinh ra tử với thương tích để lại trên người.

Kế tới là một chàng thiếu úy cảnh sát dã chiến, cũng dân Nam kỳ. Anh tên là Thật, cái tên vô tình nói lên bản chất con người anh: thật thà, chất phác. Đôi lúc tôi cứ thắc mắc: anh là người miền Nam, lẽ ra cha mẹ anh phải đặt tên là “Thiệt” mới đúng kiểu phát âm của dân Nam bộ, không hiểu sao lại đặt là “Thật”?

Sau này, mỗi lần nhớ tới Thật, tôi lại liên tưởng tới ni sư Huỳnh Liên, “oan gia” của anh.

Nguyên gia đình Thật theo đạo Phật từ bao đời, nhưng oái oăm thay trong thời gian ni sư Huỳnh Liên và các ni cô đệ tử của bà đại náo thủ đô Sài Gòn, anh lại nằm trong lực lượng cảnh sát dã chiến có nhiệm vụ phong tỏa tịnh xá Ngọc Phương, nơi bà đặt bản doanh, không cho bà và đám ni cô xuống đường biểu tình quậy phá, và toán cảnh sát dã chiến dưới quyền anh được phân công ngay phía ngoài cổng chính, nơi lúc nào cũng có các phóng viên quốc tế chờ để săn tin, chụp hình…

Sau năm 1975, người dân miền Nam, trong đó có các phật tử, đều biết ni sư Huỳnh Liên, tục danh Nguyễn Thị Trừ, là một người theo cộng sản từ những ngày đầu của “kháng chiến Nam bộ”, về sau cầm  đầu một hệ thống nữ cán bộ đội lốt khất sĩ hoạt động khắp miền Nam; và tịnh xá Ngọc Phương của bà ở Gò Vấp không chỉ là ổ Việt Cộng nằm vùng mà còn là cơ sở kinh tài cho cộng sản…

Thế nhưng trước đó, không ít người – đa số là phật tử – cho rằng vị ni sư này chỉ thuộc “thành phần thứ ba”, đòi hỏi dân chủ, phản đối chiến tranh, kêu gọi hòa bình… Trong số phật tử đó có cha mẹ của Thiếu úy Thật, ông bà cấm con trai không được đụng tới vị ni sư và đám ni cô.

Thời gian đầu, Thật nghe lời cha mẹ, ra lệnh cho các nhân viên dưới quyền bằng mọi giá không đụng tới “ngọc thể” của các ni cô. Chính vì thế, khi ni sư Huỳnh Liên cho “nữ tướng” Ngoạt Liên – một vị ni sư hung hãn khét tiếng – chỉ huy đám ni cô bắc gỗ leo qua hàng rào kẽm gai (concertina) thì Thiếu úy Thật và các cảnh sát dã chiến dưới quyền chỉ biết đứng nhìn chứ không dám chạm tới thân người của họ.

Nhờ đó mà ni sư Huỳnh Liên đã nhiều lần đưa được hàng trăm ni cô xuống đường biểu tình, quậy phá trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mà đỉnh cao là cuộc biểu tình bạo động ngày 10/10/1974 trước trụ sở Hạ viện.

Mục tiêu của ni sư Huỳnh Liên trong cuộc biểu tình này là xông vào trụ sở Hạ viện, chiếm diễn đàn để đọc tuyên ngôn đòi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, VNCH phải tôn trọng Hiệp định Paris 1973, Hoa Kỳ phải ngưng can thiệp vào tình hình Việt Nam, tức là  ngưng viện trợ quân sự…

Biết trước mưu đồ của vị ni sư, nhà cầm quyền VNCH đã đưa một lực lượng quân sự hùng hậu tới để đối phó, và sau một trận “đọ sức” trước thềm tòa nhà quốc hội, lực lượng ni cô dưới quyền “nữ tướng” Ngoạt Liên đã bị đẩy lui!

Dĩ nhiên, những hình ảnh không lấy gì làm đẹp mắt này đã được thu vào ống kính của các phóng viên ngoại quốc, gây thất lợi về mặt tuyên truyền cho VNCH trên trường quốc tế!

Sau đó, lệnh từ phủ đầu rồng ban xuống: bằng mọi giá, cảnh sát dã chiến không được để một ni cô nào thoát ra khỏi hàng rào phong tỏa tịnh xá Ngọc Phương! Thế là lực lượng cảnh sát dã chiến, trong đó toán của Thiếu úy Thật, đã phải sử dụng những “đòn hiểm” một cách bất đắc dĩ!

Kết quả thật mỹ mãn, nhưng cũng đã quá muộn. Nền đệ nhị cộng hòa của miền Nam VN đã bước vào những ngày tháng cuối cùng. Khi được chúng tôi hỏi “đòn hiểm” mà anh nhắc tới là những đòn gì, Thiếu úy Thật nhoẻn một nụ cười hồn nhiên, trả lời:

– Mấy cha đừng nghĩ bậy, tụi tui không dám đụng tay tới người mấy cổ đâu, chỉ xài chưn đạp… phía dưới thôi!

* * *

Bạn văn nghệ của tôi thì có Phú, một tay thiếu úy bộ binh gốc Bắc kỳ có giọng baritone (nam trung) rất mạnh, có khả năng tự đệm đàn ghi-ta.

Ở Suối Máu lúc ấy, đàn hát nhạc vàng là điều tối kỵ. Anh em tù cải tạo chỉ dám đàn những bản nhạc ngoại quốc không lời, còn hát thì quanh đi quẩn lại chỉ có một vài bài “cách mạng” tương đối nghe đỡ chói tai, chẳng hạn bản Tình Đồng Chí (Áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá…), Tự Nguyện (Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng, Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương…), hoặc những ca khúc có gốc gác “Liên Xô vĩ đại” như Chiều Mát-xcơ-va (Moscow’s Night), Tình Ca Du Mục (Those Were The Days)…

Vì thế, tôi đưa “sáng kiến” với anh Huyến tập cho Phú hát hai ca khúc đã được phổ biến tại miền Nam VN trước năm 1975, mà sau này có người nhận vơ là “nhạc cách mạng”, đó là bản Ngày Về của Hoàng Giác và Tình Quê Hương của Phan Lạc Tuyên & Đan Thọ.

Ngày Về được Hoàng Giác sáng tác năm 1948, do ông tự trình bày lần đầu tiên trên đài phát thanh Hà Nội, được xem là một trong những ca khúc được yêu chuộng nhất thời bấy giờ, được nhiều ca sĩ nổi tiếng thu âm. Năm 1954, Hoàng Giác lựa chọn ở lại miền Bắc.

Vì Ngày Về là một ca khúc tình cảm thuần túy, cho nên dù tác giả đang sống ở phía bắc vĩ tuyến 17, tới giữa thập niên 1960, chính quyền miền Nam đã sử dụng ca khúc này làm nhạc hiệu cho chương trình “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Bộ Chiêu Hồi, với mục đích kêu gọi các chiến binh cộng sản quay về với chính nghĩa quốc gia!

Tung cánh chim tìm về tổ ấm

Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm

Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi

Luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh…

Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, cùng với tất cả mọi ca khúc của miền Nam VN, bản Ngày Về cũng bị cấm hát. Phải đợi tới cuối thập niên 1980, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “mở cửa”, “đổi mới”, “cởi trói”, Ngày Về mới được phép hát trở lại. (3)

Còn Tình Quê Hương nguyên là một bài thơ có cùng tựa của Phan Lạc Tuyên, được Đan Thọ phổ nhạc năm 1956:

Anh về qua xóm nhỏ

Em chờ dưới bóng dừa

Ánh chiều lên mái tóc

Tình quê hương đơn sơ…

 Ngày ấy tại miền Nam VN, Tình Quê Hương được cả người hát lẫn người nghe có trình độ đặc biệt yêu chuộng, được xem là một trong những ca khúc hay nhất viết về tình người, tình non sông đất nước.

Riêng đối với Đan Thọ, một nhạc sĩ sáng tác không nhiều, giới thưởng ngoạn cho rằng chỉ cần hai bản Chiều tím (nhạc Đan Thọ, lời Đinh Hùng) và Tình Quê Hương cũng đủ đem lại cho tên tuổi ông một vị trí xứng đáng trong nền tân nhạc Việt Nam.

Rất tiếc, mấy năm sau, tháng 11/1960, Phan Lạc Tuyên, lúc đó mang cấp bậc Đại úy, giữ chức vụ Chỉ huy phó Liên Đoàn Biệt Động Quân thủ đô, tham gia cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Thất bại, ba người đào thoát sang Căm-bốt; tại đây, Phan Lạc Tuyên được Việt Cộng móc nối, trở về VN tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.

Vì thế, ca khúc Tình Quê Hương đã bị chính quyền VNCH cấm hát. Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa, lệnh cấm được bãi bỏ, nhiều ca sĩ nổi tiếng đã tiếp tục trình bày Tình Quê Hương trên đài thát thanh và các băng nhạc, như Hà Thanh, Mai Hương, Lệ Thu, Hoàng Oanh…

Tôi đề nghị Phú hát bản Tình Quê Hương không chỉ vì tác giả lời hát sau này đi theo “cách mạng” mà còn vì trong đó có hai chữ “giải phóng” để chứng minh với cán bộ quản giáo đây là nhạc “cách  mạng” – trong trường hợp bị hạch hỏi. (4)

Tôi và anh Huyến mất mấy ngày mới nhớ đầy đủ lời hát của hai bản Ngày Về và Tình Quê Hương, dù không chính xác 100%. Nhưng sau đó, anh Huyến đã suy nghĩ đắn đo rồi đổi ý:

– Không được! Với bản Tình Quê Hương mình còn có thể lập lờ, chứ bản Ngày Về thì cả miền Nam đều biết đó là ca khúc của chương trình Chiêu Hồi. Tới tai mấy ổng thế nào mình cũng bị kêu ra “làm việc”. Thôi quên đi!

Nhưng chỉ cần một bản Tình Quê Hương cũng đủ để Phú… thành danh ở K2. Ngoài giọng baritone ấm mạnh, anh còn có lối hát phóng khoáng, luyến láy tùy hứng, cho nên rất có sức thu hút, nhất là điệp khúc, tôi cho rằng anh còn hát hay hơn, có hồn hơn Nhật Trường:

Anh: chiến binh tiền tuyến

Về giải phóng quê em

Bao nhịp cầu đất nước

Nối về quê miền Trung.

Anh sẽ là anh đàn em nhỏ

Là con của mẹ giữ quê hương

Quê nghèo mai sẽ tươi mầm sống

Đàn trẻ thơ reo giữa lúa vàng.

 * * *

Ít lâu sau khi toán Phước Long chúng tôi về Suối Máu, vào khoảng tháng 10 hay 11 năm 1978, tù cải tạo ở Suối Máu được thăm nuôi. Vì gần Sài Gòn, vợ tôi cho hai con cùng đi lên thăm bố.

Thoạt thấy vợ tôi và hai đứa bé từ xa xa, tôi không nhận ra hai con! Thật ra cho dù chúng có đen đủi gầy còm xấu xí đi, nét mặt cũng không mấy thay đổi, sở dĩ tôi không nhận ra từ xa bởi vì cả thằng con trai 7 tuổi lẫn cô con gái 6 tuổi đều hớt tóc trọc lóc! Sau đó hỏi ra mới biết Sài Gòn đang bị một trận dịch ghẻ khủng khiếp, bắt đầu từ ngày thành phố này “được mang tên Bác”, 3, 4 năm sau mới giảm bớt.

Vẫn biết ở các nước nghèo khổ, vào thời nào, dưới chế độ nào cũng có bệnh ghẻ, chẳng hạn trước năm 1975, người ta thường nói tới một loại ghẻ để lại những vết thẹo khó phai trên thân thể, nhất là hai chân, gọi là “ghẻ tàu” vì nghe nói do những người Tàu tha phương cầu thực đem vào Việt Nam.

Nhưng “dịch ghẻ” thì từ ngày chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, đây là lần đầu tiên xảy ra dịch ghẻ! Đã gọi là “dịch” thì nó chẳng tha ai, từ ông già bà cả tới con nít, từ chàng trai trẻ tới cô gái dậy thì, người người bị ghẻ, nhà nhà bị ghẻ…

Những ai sống ở Sài Gòn thời gian mấy năm sau “giải phóng” hẳn vẫn chưa quên được trận dịch ghẻ kinh hoàng này. Kinh hoàng không chỉ vì tính cách quy mô của trận dịch mà còn vì mức độ trầm trọng cũng như sự hoành hành của con ghẻ trên thân thể con người!

Tôi không cường điệu, cũng không cố tình viết lách thô tục mà chỉ xin nêu ra một hình ảnh có thật để những độc giả may mắn thoát khỏi Sài Gòn năm 1975 biết được tác hại ghê gớm của dịch ghẻ ngày ấy: chưa bao giờ ra đường mà người ta thấy đàn bà con gái gãi… mông một cách kịch liệt như sau năm 1975 tại thành Hồ (không hiểu vì nguyên nhân gì, đám con nít và các thiếu phụ, các cô gái trẻ thường bị con ghẻ chiếu cố tận tình nhất).

Sẵn tâm lý thù ghét, khinh rẻ đám nón cối, người Sài Gòn bèn đổ tội cho “bộ đội Trường Sơn” đã mang theo con ghẻ về hòn ngọc Viễn Đông. Quy trách như thế kể ra cũng hơi oan, bởi kết quả nghiên cứu khách quan của các nhà dịch tễ trong Nam sau đó cho biết thủ phạm mang con ghẻ vào miền Nam quả thật là người miền Bắc, nhưng là người miền Bắc nói chung chứ không chỉ có “bộ đội Trường Sơn”.

Nói có sách mách có chứng, xin trích đăng một đoạn trong một bài viết về nguyên nhân dịch ghẻ ở Sài Gòn sau năm 1975, hiện vẫn còn được phổ biến trên Internet:

Cái ghẻ (Sarcoptes Scabiei), một loại ký sinh trùng gây bệnh ngoài da) được cho là du nhập vào miền Nam từ bộ đội, thân nhân cùng những cán bộ từ miền Bắc ồ ạt kéo vào miền Nam lập nghiệp và công tác. Thuốc trị bệnh ghẻ ngứa bị khan hiếm. Vệ sinh cá nhân trở thành “xa xỉ”, do thiếu xà phòng tắm, xà phòng giặt, nước sạch…Trở lại với việc hai đứa con tôi bị cạo đầu trọc lóc. Tôi vừa bực mình vừa tội nghiệp con vì trước kia hai đứa đều để tóc dài rất dễ thương.

Hai con sau dịch “ghẻ bộ đội”

Nguyên gia đình tôi có máu tóc quăn, cứ để dài tới ót là quăn tự nhiên, đẹp như tóc… các thiên thần trong tranh vẽ. Tôi lại có máu híp-pi, trước khi vào quân đội cũng bày đặt bắt chước kiểu tóc của ban Beatles cho nên sau này có con trai tôi cho để tóc dài, chỉ lâu lâu đem ra tiệm cắt tỉa cho gọn ghẽ. Còn con gái tôi cho để tóc thề giống mẹ…

Thấy tôi cứ càm ràm, vợ tôi nói hết ghẻ là mừng rồi, còn tóc thì mọc dài mấy hồi. Lúc đó tôi mới sực nhớ tới dịch ghẻ ở Sài Gòn, bèn hỏi vợ trị cách nào mà hai con hết ghẻ, nàng đáp ngay:

– Hà thủ ô!

Thoạt tiên tôi tưởng vợ tôi nói đùa, hỏi lại thì nàng giải thích:

– Hà thủ ô của bố bán không ai mua, lấy nấu nước tắm ghẻ cho con, ghẻ chết sạch!

Nguyên vào lần thăm nuôi cuối cùng ở Phước Long, tôi trao cho vợ khoảng nửa bao cát rễ hà thủ ô phơi khô, đem về kiếm chỗ bán được đồng nào hay đồng ấy.

Thực ra trong thâm tâm, tôi không tin tưởng một chút nào vào những lời truyền tụng về công hiệu của hà thủ ô. Không phải vì bản thân đã có những trải nghiệm mà chỉ vì được Thành cận khai sáng.

Như tôi đã giới thiệu trước đây, Thành cận (Trung úy Khương Hữu Thành), tổ trưởng của tôi ở Thành Ông Năm, người đã truyền thụ cho tôi cách sử dụng quả lắc cảm xạ, là một tay bách nghệ tinh, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, có một kho kiến thức rất đáng nể, từ nghệ thuật tới ẩm thực, từ tây y tới đông y, từ khoa học thực nghiệm tới khoa học huyền bí…

Trong năm đầu, sau đợt học tập 10 bài học chính trị, tù cải tạo ở Thành Ông Năm rảnh rỗi chẳng biết làm gì, một số người hiểu biết về hà thủ ô, thấy nó mọc hoang trong trại liền đào lấy rễ đem về nấu nước uống, và ra sức ca tụng, kể lại nhiều huyền thoại về loại “thần dược” này.

Những huyền thoại ấy đều bị Thành cận thẳng thừng bác bỏ, nói rằng chẳng qua người Việt mình “bị Tàu nó bịp”. Anh cho biết rễ hà thủ ô chỉ là một vị trong toa thuốc bắc, khi đi một mình nó chẳng có công dụng đặc biệt nào cả, chưa kể rất đắng, có thể nói là đắng nhất trong tất cả các vị thuốc bắc.

Hà thủ ô có lai loại: rễ đỏ và rễ trắng, gọi tắt là hà thủ ô đỏ và hà thủ ô trắng; theo đông y chỉ có hà thủ ô đỏ mới được xem là dược thảo.

Hà thủ ô đỏ mọc nhiều ở Hoa Nam và các tỉnh phía bắc VN, còn ở miền trung và nam VN, chỉ có hà thủ ô trắng, nhiều nhất là ở đảo Phú Quốc, nơi mà vào năm 1976, đám bộ đội cai tù đã bắt chúng tôi lên núi đào cả tấn rễ hà thủ ô, đem về phơi khô chất đầy một nhà kho!

Theo sự “tố giác” của Thành cận, vì Hà thủ ô đỏ mọc ở Hoa Nam và bắc VN chỉ có hạn, hơn nữa trước năm 1975, Trung Cộng và CSBV còn bế quan tỏa cảng, cho nên nguồn cung cấp hà thủ ô cho ngành “thuốc bắc” Hương Cảng và Đài Loan chủ yếu là đảo Phú Quốc!

Hà thủ ô trắng ở Phú Quốc sau khi đưa về Hương Cảng, Đài Loan được các chú Ba ngâm trong một loại phẩm, trông cũng khá giống hà thủ ô đỏ, rồi được “xuất khẩu” sang Việt Nam dưới cái tên thật kêu: “thiên niên hà thủ ô Trung Quốc”!

Sau năm 1975, tình trạng khan hiếm thuốc tây đã tạo cơ hội cho việc thần thánh hóa nhiều loài thảo mộc trong đó có hà thủ ô. Từ đó ngày càng có nhiều người đi đào hà thủ ô để bán. Nhiều tới mức cuối cùng không còn ai mua nữa.

Lúc đó cũng là khoảng thời gian dịch “ghẻ bộ đội” đang hoành hành mạnh mẽ. Không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra cách nấu rễ hà thủ ô tắm để chữa ghẻ, để rồi về sau nhiều người trong đó có vợ tôi bắt chước để chữa ghẻ cho các con.

Nghe vợ kể chuyện lấy “thiên niên hà thủ ô” bố gửi về làm thuốc chữa ghẻ cho con, lúc đó tôi cũng hơi quê, chỉ sau khi đi tù cải tạo về, nghe bà ngoại tôi tả lại tình cảnh thê thảm của hai đứa con lúc bị ghẻ, tôi mới thôi tiếc rẻ công sức đào hà thủ ô của mình. (5)

Chú Thích:

 (1) Sự hiện hữu của địa danh “Suối Máu” theo các tài liệu chúng tôi sưu tầm được không có sự thống nhất.

Bài “TRẠI TÙ SUỐI MÁU TÂN HIỆP” (không rõ tác giả) viết:

“Trại Tù Suối Máu (tên do anh em tù gọi) chính là Trại Cải Tạo Tân Hiệp, ở Biên Hòa.

“Anh em tù thường gọi là Trại Suối Máu để nhắc nhở một chiến tích của một đơn vị thuộc Sư Đoàn Cọp Biển TQLC Việt Nam đã đánh tan tành một đơn vị cộng quân tại đây trong thời gian Tết Mậu Thân 1968. Theo lời dân chúng địa phương kể lại, máu địch chảy như suối nên có tên là Suối Máu. Dù bọn cai tù cộng sản cấm không được gọi là Trại Suối Máu nhưng anh em tù vẫn gọi như thế.” (ngưng trích)

Tuy nhiên, trong một tài liệu của phía CSVN viết về cuộc nổi loạn của tù cộng sản tại Nhà Lao Tân Hiệp (tên gọi thời Pháp thuộc) vào năm 1956, họ đã viết: “…phía tây giáp Suối Máu”.

Nhưng hiện nay, trong tất cả các bản đồ Thành phố Biên Hòa do chế độ CS ấn hành, “Suối Máu” lại được ghi là “Rạch Suối Lớn”, phía Nam ăn thông với sông Đồng Nai, phía Bắc chảy qua Quốc lộ 1 và có một nhánh rẽ phải được gọi là “Suối Săn Máu”, chảy dọc theo quốc lộ tới tận giáo xứ Thánh Tâm ở vùng Hố Nai.

Vì thế, muốn biết một cách chính xác tên gọi con suối (rạch) này phải hỏi những người dân địa phương đã sống tại đây từ thời Pháp thuộc! Nhưng dù bắt nguồn từ đâu, có từ thời nào, sau năm 1975 tên gọi “trại cải tạo Suối Máu” không chỉ được tù cải tạo và gia đình của họ sử dụng, mà sau khi được bộ đội bàn giao, đa số công an coi tù cũng gọi là Suối Máu!

Nhân đây, vì có ít nhất một tác giả trong bài viết về trại tù Suối Máu, đã viết đây là vùng “Tam Hiệp” thay vì “Tân Hiệp”, chúng tôi xin viết thêm: Tam Hiệp là một vùng đất cách xa thành phố Biên Hòa 7, 8 km, tiếp giáp xa lộ Biên Hòa – Sài Gòn. Ngã ba Tam Hiệp nổi tiếng là nơi có nhiều quán ăn, quán nhậu, cũng như chợ trời Tam Hiệp chuyên bán đồ Mỹ.

(2) Sau này có khá nhiều bài viết về nguyên nhân đưa tới bản án tử hình dành cho Trung úy Nguyễn Ngọc Trụ, cũng như diễn tiến phiên tòa và cuộc xử bắn người sĩ quan QLVNCH bất khuất này, trong đó có nhiều chi tiết không thống nhất với nhau.

Sau khi tìm hiểu, kiểm chứng, chúng tôi cho rằng bài viết mang tựa đề “Anh Hùng Kẻ Sĩ NGUYỄN NGỌC TRỤ” của tác giả TÙ CỰU (XM520), một người bạn tù của Nguyễn Ngọc Trụ từ Trảng Lớn, có sức thuyết phục nhất. Bài này hiện được phổ biến rộng rãi trên Google, và được lưu trữ trên website Hội Quán Phi Dũng, chuyên mục “Chuyện tù cải tạo”.

(3) Hoàng Giác (1924 – 2017) là một nhạc sĩ nổi tiếng kiêm ca sĩ rất được ái mộ ở Hà Hội trước năm 1954. Từ ngày còn là một cậu học sinh trường Bưởi, ông đã tự học hỏi về sáng tác và hòa âm qua sách vở của người Pháp. Năm 1945 ông viết ca khúc đầu tay, bản Mơ Hoa.

Sự nghiệp sáng tác của Hoàng Giác không đồ sộ như nhiều nhạc sĩ đương thời, tổng cộng chỉ có 12 bản (không kể 3 bản đặt lời cho Nguyễn Thiện Tơ) nhưng đều là những ca khúc sống mãi với thời gian: Mơ Hoa, Ngày Về, Lỡ Cung Đàn…

Theo tiểu sử của Hoàng Giác trên Wikipedia, khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở miền Bắc (1946), ông cùng gia đình sơ tán lên chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1946, ông sáng tác bài hát “Ngày Về” khi còn là một đội viên trong Đoàn Tuyên Truyền Xung Phong được trở về thăm gia đình sau những chuyến đi công tác.

Ngày Về

Tung cánh chim tìm về tổ ấm

nơi sống bao ngày giờ đằm thắm

nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi

luyến tiếc bao ngày xanh.

Tha thiết mong tìm về bạn cũ

nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió

vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây

mờ khuất xa xôi nghìn phương

Trên đường tha hương, vui gió sương

riêng lòng ta mang mối nhớ thương

âm thầm thương tiếc cho ngày về

tìm lại đường tơ nay đã dứt

Nghe tiếng chim chiều về gọi gió

như tiếng tơ lòng người bạc phước

nhắp chén men say còn vương bóng quê hương

dừng bước tha hương lòng đau.

(2)

Trong bốn phương mờ hàng lệ thắm

mơ đến em một ngày đầm ấm

nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương

tìm đến em nay còn đâu.

Năm tháng phai mờ lời hẹn ước

trong gió sương hình người tình mến

oán trách ai quên lời thề lúc ra đi

thôi ước mơ chi ngày mai

Phong trần tha hương bao nhớ thương

tim buồn ta mơ đôi bóng uyên

lưng trời âu yếm bay tìm đàn

lòng nguyện giờ đây quên quên hết

Ta sống không một lời trìu mến

như bóng con đò lạc bến

lờ lững trôi qua cùng ngày tháng phôi pha

duyên kiếp sau ta chờ mong.

 Năm 1948, Hoàng Giác bỏ kháng chiến trở về Hà Nội, vừa sáng tác vừa ca hát trên đài phát thanh và Nhà hát lớn. Năm 1951, ông kết hôn với cô Kim Châu, nổi tiếng là hoa khôi của đường Quán Thánh.

Tới đây, chúng tôi cũng xin lưu ý độc giả về một chi tiết mâu thuẫn trong bài viết “Ngày về” với Hoàng Giác, nơi tôi có được của tác giả Orchid Lâm Quỳnh ở California vào giữa năm 2007, được phổ biến trên website của thi sĩ Du Tử Lê và một số trang mạng khác.

Sau khi kể về tình sử Hoàng Giác – Kim Châu, từ lần đầu tiên bà được nghe ông hát ở Nhà hát lớn Hà Nội tới đám cưới giữa chàng ca nhạc sĩ “nghèo rớt mồng tơi”, ế vợ (28 tuổi) với nàng thiên kim tiểu thơ 19 xuân xanh vào năm 1951, tác giả Orchid Lâm Quỳnh viết:

…Và, cũng thật may mắn cho tôi, khi sau đó, bà Hoàng Giác quay lại khúc phim gia đình ly tán!

Đó là thời gian toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Hà Nội sơ tán. Nhạc sĩ Hoàng Giác tham gia đoàn Tuyên Truyền Xung Phong. Trong lần được phép về thăm vợ con (khi đó đã tản cư tới Phúc Yên,) để đánh dấu ngày gặp lại, Hoàng Giác viết “Ngày Về”. Một “Ngày Về” ngợi ca tình yêu. Một “Ngày Về” đơm hoa cho quá khứ đã tan nát…  (ngưng trích)

Rõ ràng tác giả đã lồng việc Hoàng Giác sáng tác ca khúc Ngày Về vào “khúc phim gia đình ly tán” mà không để ý tới hai điểm mâu thuẫn:

(1) Sau khi nhạc sĩ Hoàng Giác sáng tác Ngày Về vào năm 1946, rồi rời bỏ kháng chiến vào năm 1948 trở về Hà Nội ca hát, ông mới lọt vào mắt xanh của tiểu thơ Kim Châu, để rồi nên duyên vào năm 1951.

(2) Nội dung Ngày Về với những câu hát như ”nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương, tìm đến em nay còn đâu”, “oán trách ai quên lời thề lúc ra đi, thôi ước mơ chi ngày mai” là những than thở tuyệt vọng trước một mối tình đã mất, đã tan, chứ không phải “ngợi ca tình yêu”, “đơm hoa cho quá khứ đã tan nát”.

Sau Hiệp định Genève 1954, Hoàng Giác lựa chọn ở lại miền Bắc, sống bằng nghề dạy nhạc tại Trường âm nhạc dân lập.

Tiểu sử của Hoàng Giác trên trang mạng Wikipedia có đoạn viết:

Từ khoảng nửa sau thập niên 1960, gia đình ông rơi vào cảnh sống cơ cực ở miền Bắc Việt Nam bởi nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam sử dụng nhạc bản “Ngày về” của ông để làm nhạc hiệu cho chương trình “Chiêu hồi”.

Nhưng trên thực tế, theo lời kể lại của một số nhạc sĩ miền Bắc, không cần đợi tới “khoảng nửa sau thập niên 1960” Hoàng Giác mới bị bạc đãi mà ngay sau khi cộng sản tiếp thu Hà Nội vào năm 1954, ông đã bị chế độ “đì” về cái tội “dinh tê” (bỏ vùng Việt Minh kiểm soát để về vùng quốc gia). Đồng thời, vì Ngày Về đã trở thành ca khúc được yêu chuộng bậc nhất, được nhiều nam nữ ca sĩ nổi tiếng trình bày trên đài phát thanh Hà Nội (vùng quốc gia kiểm soát) cho nên sau năm 1954, nó đã bị các ca sĩ “quốc doanh” ở miền Bắc tẩy chay (chắc hẳn phải có sự khuyến cáo của Đảng), chứ không cần đợi tới khi được miền Nam sử dụng làm “tiếng chim gọi đàn” vào thập niên 1960.

Mãi tới cuối thập niên 1980, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “mở cửa”, “đổi mới”, “cởi trói”, cho phép phổ biến, trình diễn một số ca khúc của các tác giả trong Nam, Ngày Về của Hoàng Giác ở ngoài Bắc mới được phép hát trở lại.

(4) Cựu Đại úy VNCH Phan Lạc Tuyên (1930-2011) là anh trai của nhà thơ (Trung úy Không quân) Phan Lạc Giang Đông, xuất thân Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định (1951); ông cũng là một nhà thơ.

Năm 1956, Phan Lạc Tuyên cho xuất bản tập thơ Mùa Hoa Mới, trong đó có bài Tình Quê Hương. Cùng năm, bài thơ này được nhạc sĩ Đan Thọ phổ nhạc, rất được thính giả miền Nam yêu chuộng.

Nguyên vào năm 1955, sau Hiệp định Genève, Phan Lạc Tuyên, khi ấy đang mang cấp bậc trung úy, tham gia chiến dịch bình định Liên khu 5 trước đây do Việt Minh chiếm đóng, trong đó có vùng Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi, nơi đã tạo cảm hứng cho ông sáng tác bài thơ “Tình Quê Hương”:

Tình Quê Hương

(Thân gửi thôn Sa Huỳnh trong Chiến dịch Giải phóng)

 Anh về qua xóm nhỏ

Em chờ dưới bóng dừa

Ánh chiều lên mái tóc

Tình quê hương đơn sơ…

Quê em nghèo, cát trắng

Tóc em lúa vừa xanh

Anh là người lính chiến

Áo bạc màu đấu tranh…

Em mời anh dừng lại

Đêm trăng ướt lá dừa

Bên nồi khoai mới luộc

Ngát thơm, vườn ngâu thưa.

Em hẹn – Em sẽ kể

Tình quê hương đơn sơ…

Mẹ già như chiều nắng

Nhớ con trai chưa về

Ruộng nghèo không đủ thóc

Vườn nghèo nong tầm thưa

Ngõ buồn màu hoang loạn

Quê nghèo thêm sác sơ…

Anh: chiến binh tiền tuyến

Về giải phóng quê em

Bao nhịp cầu đất nước

Nối về quê miền Trung.

Anh sẽ là anh đàn em nhỏ

Là con của mẹ giữ quê hương

Quê nghèo mai sẽ tươi mầm sống

Đàn trẻ thơ reo giữa lúa vàng.

Người em nhỏ mắt thơ bừng tin tưởng

Vui nhìn đoàn trai trẻ tới miền Trung… 

Phan Lạc Tuyên

Về binh nghiệp của Phan Lạc Tuyên, trang mạng Thơ Văn Lạc Việt kể lại nguyên văn như sau:

“Sau chiến dịch tiếp thu Liên khu 5 trở về Sai Gòn, Phan Lạc Tuyên được thăng đại úy và được đại tá Lê Văn Kim (chỉ huy chiến dịch bình định) giới thiệu với trung tá Vương Văn Đông, hiệu trưởng trường đại học quân sự về tham gia ban giảng huấn trường này. Chính dịp làm việc ở trường đại học quân sự, Phan Lạc Tuyên liên hệ với bác sĩ Trần Kim Tuyến, và năm 1957 Phan Lạc Tuyên được bác sĩ Tuyến cử sang Mỹ, tiếng là tu nghiệp về báo chí nhưng thực tế là học về tình báo.

Nhờ học về tình báo ở Mỹ về nên Phan Lạc Tuyên đươc trao cho nhiệm vụ cùng với Lữ Đinh Sơn sáng lập liên đoàn biệt động quân” (ngưng trích)

Sau 30/4/1975, khi Phan Lạc Tuyên trở lại miền Nam với mảnh bằng Tiến sĩ Sử học (tốt nghiệp tại Ba Lan), thì báo chí quốc doanh chỉ nhắc tới ông như “một nhà nghiên cứu văn hóa và Phật học” chứ không đả động gì tới sự nghiệp thơ văn của ông trước kia.

Chỉ tới sau khi ông qua đời, mới có hai bài viết – một trên tờ Tuổi Trẻ, một trên tờ Thanh Niên – nhắc tới bài thơ Tình Quê Hương, nhưng không nói rõ hoàn cảnh, thời điểm sáng tác mà chỉ mập mờ: “sáng tác trong những năm 1950”.

Chúng tôi không được biết trong danh sách những ca khúc của các tác giả miền Nam trước năm 1975 nay được bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cho phép phổ biến có bản Tình Quê Hương hay không, chỉ biết một điều cho tới nay, không thấy có ca sĩ nào của miền Bắc thu âm ca khúc này.

Như vậy có thể viết, cho dù sau này Phan Lạc Tuyên đi theo cộng sản và từng tuyên bố ông “thần tượng Hồ Chí Minh” (phim tài liệu “Phan Lạc Tuyên – Cuộc lữ hành” của đạo diễn Nguyễn Hoàng), Tình Quê Hương trước sau vẫn là một ca khúc của “phe ta”, với nội dung đề cao chính nghĩa quốc gia.

(5) Tất cả những gì tôi viết về Hà Thủ Ô trong bài này đều có thật. Để chứng tỏ tinh thần khách quan, nhân đây tôi cũng xin ghi ra một trường hợp rễ hà thủ ô có khả năng chữa bạc tóc.

Người may mắn ấy là một tay trung úy Không Quân Khóa 69B, lái C-130, ở trại tỵ nạn Galang với tôi cùng thời gian, và sau đó cùng định cư tại thành phố Melbourne, Úc-đại-lợi, cho biết trong trại cải tạo anh bị bạc tóc gần như 100%, nhờ uống rễ hà thủ ô mà tóc đen trở lại. Hiện nay anh đã gần 7 bó rưỡi, tóc mới hoa râm!

TÌNH QUÊ HƯƠNG: Đan Thọ, tiếng hát Thế Sơn

Một Ngày Không Bình Thường

vvnm.vietbao.com

21/09/2002

Karen N. Nguyễn

Post by Sơn râu 24 May 2025

Tác giả Karen N. Nguyen, sinh năm 1962, hiện là một pharmacist làm việc và cư trú tại Maryland. Ngay bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên -kể chuyện một đồng nghiệp người Mỹ nghiện ma tuý- Karen N. Nguyen đã cho thấy một bút pháp tinh tế hiếm có. Sau đây là bài viết thứ ba của cô, tiếp tục kể về một ngày trong pharmacy. Với bài viết đặc biệt này, người đọc có thể tìm thấy nhiều chi tiết về công việc và cả luật pháp Mỹ về thuốc men cần biết.

Buổi trưa trời đổ mưa như trút. Mưa giăng một màn nước trắng xóa đất trời, bong bóng nước nổ tanh tách dưới chân Kim trên đường từ parking lot vào pharmacy.

Nhỏ Lisa, pharmacy technician, nhìn Kim cười cười: “Kim ơi, sáng giờ bán không được bao nhiêu toa thuốc đó. Tối nay mưa tạnh bà con mà tới đông chắc 2 đứa mình bận chết luôn!”

Kim nhìn vào cái computer screen, ừ, ít thật, từ 8 giờ sáng tới 1 giờ trưa mà chưa tới 80 toa thuốc nữa. Bình thường ngày thứ hai, tới giờ này là tiệm fill trên 120 toa thuốc rồi. Ông pharmacy manager, boss của Kim, nói với Kim: “Lâu lâu mới có ngày rảnh rỗi như vầy, thôi tớ đi ăn lunch đây. Lát nữa mà tiệm không có busy thì tớ về sớm một chút vậy nhe.”

Vậy là chỉ còn Kim và Lisa trong pharmacy, với 1 cái pharmacy counter sạch trơn! Lisa nói với Kim, “em bảo đảm boss của mình hôm nay đi ăn lunch đúng 1 tiếng đồng hồ cho coi.” Kim cười, ừ. Một tiếng lunch là coi như luxury treatment của tụi Kim rồi, chứ ngày thường pharmacist có 30 phút break mà nhiều khi cũng không dùng hết, ăn vội vàng để quay trở lại làm tiếp lúc tiệm đông khách và ai cũng đòi đợi, bởi waiting time kéo dài quá nửa tiếng thì sẽ có customer bắt đầu complain, nhiều lúc nghe nhức cả đầu.

Lác đác có vài người tới pharmacy để fill thuốc. Nhìn ra ngoài trời thì trời đất xám xịt một màu, mưa vẫn nặng hạt rơi đều. Có một couple còn khá trẻ, ăn mặc xoàng xĩnh, quần áo cũ mèm, nhăn nheo tùm lum, tới counter đưa cái toa cho Lisa hỏi pharmacy có thuốc này không. Kim nhìn cái toa thuốc, Oxycontin 20mg, 40 viên. Chẳng cần nhìn kỹ gì vẫn thấy là toa thuốc bị cạo sửa, cái thuốc trên toa, amoxicillin 500mg, bị bôi sửa và ai đó viết chữ Oxycontin 20mg đè lên, 2 màu mực, 2 nét chữ hẳn hoi. Kim nói là có, nhưng nói dối là computer trời mưa đang có problem vì nối với satellite trên nóc tiệm, mọi thứ slow down hết trơn, waiting time chừng nửa tiếng, có đợi được không. Hai anh chị nhìn nhau chịu đợi. Cũng may là hai anh chị này không đứng ở counter nhìn Kim như thôi miên để mong Kim fill thuốc cho nhanh như một vài người khách khác đã áp dụng phương pháp này, tưởng như có hiệu quả với Kim mà thật ra chẳng có tác dụng gì hết. Họ kéo nhau ra quầy Deli, hot food kế bên pharmacy, giờ lunch bên đó đã bán đủ thứ đồ ăn, roast chicken, panini, macaroni and chese, chicken nudgets, đủ thứ món, nhìn qua tủ kiếng là thấy hấp dẫn.

Kim gọi đến phòng mạch bác sĩ, chẳng ai trả lời phone, cái answer machine nói là bác sĩ đi vacation 1 tuần, có problem gì thì gọi bác sĩ on call. Kim gọi answer service, họ cho số phone của pharmacy, nói là muốn contact với bác sĩ nào đang on call. Đợi quá xá là đợi. Gần 20 phút trôi qua, ông bác sĩ on call gọi tới. Ông không biết trời đất gì hết, muốn verife mấy cái toa giả thật thì đợi tuần tới ông bác sĩ kia về thì gọi lại, ông không có access vào hồ sơ bệnh nhân này được, không biết gì cả, sorry vậy nha, nếu pharmacist nghi ngờ thì đừng có fill cái toa đó vậy!

Rồi chút sau đôi bạn nọ quay trở lại, có vẻ đã mua sắm xong xuôi, xách mấy bao plastic nặng trĩu, hỏi thuốc fill chưa. Cái toa giả hẳn hoi, nhưng Kim không verify được với bác sĩ thì cũng khó mà nói thẳng ra toa này là toa giả. Nghĩ hết cách để giữ cái toa lại trong tiệm mà không được, cuối cùng Kim giả vờ xin lỗi là Kim không đủ thuốc, nếu muốn, Kim có thể order, ngày hôm sau tới là có thuốc. Họ nhìn nhau, nói thì thầm vài câu, rồi cô gái lắc đầu không chịu, đòi xin lại toa thuốc để đi qua tiệm khác. Lisa nháy nhó với Kim, nói nho nhỏ là mình giữ cái toa giả này đi, thả nó ra quý vị này đi qua tiệm khác rủi lừa được ai để fill thuốc thì sao, thứ này ra black market bán cũng được bộn bạc đó Kim ơi. Kim biết vậy, nhưng không thích rắc rối nhiều, Kim đưa trả cái toa.

Khi hai anh chị này vừa quay lưng đi, Kim bắt phone, gọi cho supervisor ngay để nhờ voicemail cái information này cho toàn bộ các pharmacy của company trong vùng: có một cái toa giả, tên bệnh nhân là gì, tên bác sĩ là gì, bác sĩ đi vacation mất rồi, thuốc thật tên gì và bị xóa mất, nhưng vẫn còn đọc được mờ mờ trên giấy, và thuốc giả viết đè lên là Oxycontin 20mg, 40 viên. Patient lấy lại toa thuốc, các pharmacy khác cẩn thận đừng bị mắc lừa. Kim gác phone, đang suy nghĩ miên man thì thấy Andy, anh chàng assistant manager của store từ front office gần cửa ra vào tức tốc chạy vào, hỏi Lisa với Kim: “Mới đây có một couple mua sắm đồ trong tiệm, họ có trả tiền ở pharmacy counter hay không” Cái cash register ở pharmacy đâu có ring up mấy món groceries bán ở ngoài. Kim với Lisa lắc đầu quầy quậy. Andy lắc đầu, vậy là tụi nó lấy đồ mà không trả tiền rồi. Trời mưa, store cũng vắng khách, 2 anh cashier ở phía ngoài rảnh thời gian ngắm thiên hạ đi vào đi ra, thấy hai vị này xách mấy bao groceries nặng trĩu đi ra là đâm nghi, 1 anh báo cho Andy hay, còn 1 anh chạy theo ra tới parking lot hỏi customer mua đồ vậy chứ receipt đâu. Hai anh chị trả lời tỉnh bơ là mua trả tiền ở cái cash register trong pharmacy, receipt để ở đâu kiếm không ra, để từ từ rồi họ kiếm đưa cho xem, đồ mua trả tiền sòng phẳng rồi.

Andy chạy vào check với pharmacy, rồi chạy ra tới parking lot thì đã thấy con bé ngồi trong xe hơi ăn gần hết nửa con gà quay! Shoplifting, bắt lần đầu, trời mưa trời gió chắc cũng ảnh hưởng tới tính tình Andy, anh chàng thu hồi lại mấy bịch groceries rồi tha cho hai anh chị đi mất, bảo là đừng bao giờ trở lại tiệm này nữa, nhớ mặt rồi, lần sau là kêu police bắt đó nghe chưa. Kim lúc đó ở trong pharmacy mới nghĩ ra là mình dại, tụi nó đã bị bắt quả tang shoplifting, lại có cái toa giả rành rành trong túi, kêu police tới là trúng chắc. Kim chạy tức tốc ra tới cửa tiệm, chỉ còn thấy Andy khệ nệ khiêng mấy bao groceries quay trở vào. Anh chàng nghe Kim thuật lại bắt đầu nhăn nhó, bảo là sao Kim không nói với Andy chuyện cái toa Oxycontin giả, giờ thả cọp về rừng rồi! Ừ, Kim cũng biết lỗi, Kim nói vậy, nhưng trong lòng, Kim thầm nghĩ, vậy là Kim có nhân nhượng lắm không”

Nhỏ Lisa lại đem một cái toa thuốc tới cho Kim xem, hỏi Kim: “Kim ơi, cái toa thuốc này thấy hơi kỳ kỳ, Kim ngó nè, 2 màu mực, 2 nét chữ hẳn hoi đó. Nữa. Hôm nay là ngày gì mà đủ thứ toa giả vầy nè””

Kim nhìn cái toa thuốc, Percocet 5/325, 120 viên, uống 1-2 viên mỗi 4-6 tiếng đồng hồ để giảm đau. Cái toa viết bằng mực màu đen, toàn bộ số và chữ nhìn thoáng qua thì cũng một màu mực, 1 nét chữ, nhưng nhìn kỹ con số 0 nằm cạnh con số 12 màu mực quả thật hơi khác, nó lại hơi quá tròn và đứng hơi quá thẳng, nét mực nhỏ hơn và màu mực nhạt hơn, trong khi chữ và số trên toa thuốc đều có hướng nghiêng nghiêng qua phía bên phải. Con bé Lisa này mắt tinh thật, nó làm technician cả chục năm rồi, nhìn toa nào nghi là toa giả là thường đúng y boong. Ông bác sĩ nào viết toa vậy kìa”

Kim nhìn qua cái tên bác sĩ, a, toa thuốc do 1 ông dentist viết. “Ai đờiø đi làm răng mà cần tới số lượng pain killer nhiều tới như vậy,” nhỏ Lisa nói với Kim, “có mà nhổ hết cả hàm răng đi nữa chưa chắc dentist viết tới số lượng như vậy.” Kim cũng đồng ý với lập luận của Lisa. Dù sao đi nữa, cứ coi như là anh patient này innocent đi, để check lại với bác sĩ đã, Kim nói. Đối với bệnh nhân bị chronic pain như arthritis, thì số lượng thuốc như vậy là chuyện thấy hoài trên toa thuốc mấy ông bác sĩ orthopedics viết, nhưng toa do dentist viết thì cũng đáng nghi thật.

Kim bắt phone, gọi phòng mạch của ông dentist. Nhằm giờ lunch time, office đóng cửa, Kim phải nhắn lại trong answer machine là pharmacy muốn verify số lượng thuốc percocet viết, xin dentist gọi lại số phone… Đang nói nửa chừng thì Kim nghe giọng ông dentist trên phone. Trời đánh tránh bữa ăn, nhưng nghe tới chuyện controlled drug là ông đang nghỉ ăn lunch cũng túm cái phone ngay. Trời ơi, ông nhăn nhó cho biết ông viết có 12 viên thôi hà, twelve tables, patient này ông mới làm root canal hồi sáng nay, anh chàng than đau quá, đau quá, ông kê toa mấy loại thuốc giảm đau loại thường antiinflammatory, thì anh chàng lắc đầu, bảo là dentist trước cũng kê thuốc loại này, anh chàng uống vào không có giảm đau chút nào hết, xin ông cho thuốc khác mạnh hơn. Anh chàng này dám cả gan sửa toa thuốc ông viết, controlled drug mà dám sửa ha, to gan thật, ông sẽ gạch tên anh này khỏi danh sách bệnh nhân của mình, mai mốt muốn làm răng ở đâu thì làm, ông không nhận làm răng cho người kiểu troublemaker như vầy, pharmacy muốn kêu police bắt thì cứ kêu.

Vậy là toa thuốc coi như là forgery rồi. Kim hỏi Lisa “Mấy giờ thì anh chàng này tới pick up thuốc vậy”” Lisa lắc đầu không biết chắc chắn. Hồi nãy anh chàng drop off cái toa ở pharmacy, chỉ nói là chút nữa sẽ quay lại. “chút nữa” là nửa tiếng, 1 tiếng, hai tiếng, Lisa không có biết, vì nó nghĩ pharmacy không có bận rộn, fill cái toa như vậy chưa tới 10 phút là xong, có ngờ đâu lại rắc rối như vậy.

Ông boss của Kim ăn lunch xong quay trở vào, thấy mặt Kim và Lisa là đoán có chuyện rồi. “Take it easy, easy,” đưa cái toa ông coi, ông nói vậy. Ôi, ba cái thứ forgery này ông làm pharmacist mấy chục năm rồi, gọi cảnh sát bắt hoài thôi, no big deal. Kim nghĩ trong bụng, ừ, no big deal thiệt. Ông pharmacy manager cao gần 6 feet, to con, tốt tướng, tuần đi gym mấy lần, thằng nào dám uýnh lại, dám gây lại, còn Kim có 5 feet thôi sức yếu xìu, có mấy chai thuốc trong tiệm mà nhiều lúc vận 10 thành công lực của mấy ngón tay vẫn mở không ra. Về pharmacy này, Kim đâu có thuật bao giờ chuyện Kim ngày xưa làm home infusion mà gặp cướp đâu. Nghe chuyện gì dính dấp tới dân narcotic addicts là Kim lạnh xương sống rồi. Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, Kim muốn xin 2 chữ bình an thôi mà cũng không được.

Ông boss Kim bắt phone, gọi cho anh chàng detective của county chuyên điều tra về mấy vụ nacortics ở vùng này, nói là có 1 cái forged prescription ở tiệm, rồi Kim thấy ông ta lấy giấy viết, hý hoáy ghi cái gì đó. Kim hỏi Lisa chứ có nhớ mặt anh chàng, chủ nhân cái toa Percocet này không, Lisa bảo nhớ, anh chàng này vô tiệm mua đồ hoài hà, nhà ở cái apartment complex bên kia đường đó Kim ơi! Boss Kim đưa cho Kim tờ giấy, đây là pager của anh detective đây nè. Chừng nào patient tới pharmacy pick up thuốc của cái toa giả thì Kim có nhiệm vụ kềm chân patient lại trong tiệm lâu lâu một chút, kéo dài thời gian ra một chút, trong lúc đó thì page police, cứ page số đó, sau đó nhấn thêm 3 số 911, hít pause trên phone, chừng 10 phút trở lại thì police sẽ tới thôi.

Ông kêu Kim và Lisa cứ ring up cái prescription đó như bình thường, khi anh chàng đem receipt và thuốc ra khỏi pharmacy thì police sẽ ập tới bắt. Ông cười nói với Kim, nếu police tới nhằm lúc Kim là pharmacist in charge, mai mốt có trial xử anh chàng này, thế nào cũng có court order kêu pharmacist đi testify, Kim sẽ được nghỉ một ngày để đi ra tòa mà vẫn được company trả lương, không thích sao. Kim đi take break, ăn mấy cái cookies mà thấy miệng đắng nghét, lòng chỉ mong khi Kim đi ra khỏi pharmacy thì anh chàng kia tới lấy thuốc, có thù oán gì trong tương lai thì để ông boss lãnh.

Hết break, Kim quay trở lại pharmacy thì cái bao thuốc Percocet vẫn còn nằm trêu ngươi chình ình trên computer! Ông boss Kim ra khỏi pharmacy, còn quay trở lại chúc Kim và Lisa good luck tối nay. Nhỏ Lisa coi vậy chứ cũng hơi rét, nói với Kim tối nay mà bắt cái vụ toa giả này xong, 2 đứa mình ra parking lot chắc phải nhờ anh security officer của tiệm hay anh nào làm trong tiệm escort ra xe quá. Kim bảo Lisa đừng có lo, mà trong bụng cũng hơi đánh lôtô.

Năm giờ chiều, sáu giờ chiều, chẳng thấy tăm hơi anh chàng yêu Percocet đâu hết. Ngoài trời mưa vẫn rơi quá xá chừng, Lisa nói với Kim không chừng tạnh mưa customer đó mới tới lắm đó Kim ơi.

Điện thoại reng, có 1 bà gọi tới hỏi xem con gái bà còn refill cho birth control hay không. Kim nhìn computer, refill thì còn nhưng khi check trên kệ thì chẳng còn vỉ thuốc nào loại này hết. Ngày mai order mới về, bà đợi tới ngày mai được không. Bà khách nhăn nhó, không được đâu, con bé đáng lẽ start vỉ thuốc hồi Sunday kìa, hôm nay là Monday rồi, nó miss gần 2 ngày rồi, tôi phải lấy thuốc tối nay thôi, pharmacist gọi ngay tiệm gần bên coi có tiệm nào có, tranfer qua bên đó, tôi lái xe tới lấy liền thôi.

Kim đang gọi điện thoại tới mấy tiệm gần bên để xem tiệm nào có thuốc thì Lisa tới gần, thì thào “He’s here. What should I do now”” Kim nhìn lên, thấy một anh chàng đứng ở cash register. Kim nói với Lisa là kêu anh chàng đợi chút xíu đi, Kim đang on the phone với doctor office, sorry là anh chàng drop cái toa hồi sáng, mà Kim không có đủ 120 viên thuốc, Kim có order về hôm nay, trời mưa đường xá trơn trợt, traffic congestion, delivery trể cả mấy tiếng, hàng mới về, Kim xong cú phone là đếm thuốc ngay cho thôi, sorry, sorry. Lisa đi xin lỗi, giọng nó ngọt như mía lùi, Kim ở xa nghe loáng thoáng cả chục tiếng sorry. Kim kêu Lisa ring up trước cái receipt, Kim đi đếm thuốc ngay đây.

Kim đi vào phía sau pharmacy giả vờ lấy thuốc, ở đó có một cái phone nữa, dùng cái phone đó để page anh detective. Trong một tích tắc anh chàng detective gọi tới ngay, hỏi Kim suspect hình dáng ra sao, trang phục ra sao, mô tả đi để anh chàng phục kích ở parking lot, suspect ra là bắt thôi. Kim tả sơ sơ, cao cỡ bao nhiêu, màu tóc thế nào, mặc áo Jacket màu gì, Jean màu gì. Mới có chưa tới 5 phút, Kim phải cầm chân anh chàng thêm 5 phút nữa theo lời dặn của ông boss. Kim tới cái computer, type lách tách in cái label lần nữa. Tới phiên Kim apologize, nói là instruction trên label đánh hồi sáng nhìn lại không đúng, Kim sửa lại đây, mà cái printer hơi có problem bị kẹt vài mảnh giấy bên trong, xin customer thông cảm, thông cảm.

Kim mở nắp cái printer, lôi cái ink cartridge ra, lắc lắc giả vờ check bên trong printer để kiếm mấy mẫu giấy vụn giả tưởng làm kẹt printer. Cám ơn cơn mưa chiều nay, mưa nên pharmacy vắng khách mới đóng tuồng kiểu này được, nếu đông khách hơn không biết sao Kim handle nổi nữa. Kim nhìn đồng hồ đeo tay, 11 phút rồi OK quăng bao thuốc ra cho Lisa, lại nói sorry, sorry liền miệng. Anh chàng mặt hơi cau có vì phải đợi lâu, lấy được bao thuốc là quầy quả bước ra khỏi pharmacy thật nhanh. Lisa nói với Kim, em tò mò quá đi, Kim cho em chạy theo ra coi police bắt anh ta như thế nào nha. Kim gật đầu, đi đi nhỏ, nhưng đừng có la cà lâu nha, prescription bắt đầu chất đống rồi đây nè. Lisa được phép, chạy cái vù ra hướng cửa chính của tiệm ngay. Con bé cashier đứng phía ngoài mới vào hồi 5 giờ chiều không hiểu chuyện gì cả, tròn xoe mắt ngó theo.

Chừng chục phút sau, mà Kim thấy dài như nửa tiếng đồng hồ, vì Kim phải trả lời phone liên tục, fill thuốc liên tục, thì Lisa quay trở vào.

“Kim biết không,” Lisa kể, “em ra tới parking lot thì thấy police đã còng tay anh chàng rồi. Hóa ra là có tới hai anh police lận đó Kim ơi, 1 anh mặc đồ police chực ở ngoài parking lot, còn một anh mặc đồ civil đi vòng vòng trong tiệm mình gần cả tiếng trước khi customer này tới mà tụi mình không biết. Andy ở front office cũng có mặt ngoài parking lot đó Kim, nghe Andy thuật em mới biết có police đi lòng vòng trong tiệm rồi chứ. Đáng lẽ họ nói với pharmacy 1 tiếng thì mình cũng đỡ run, Kim hả. Hai anh có lẽ communicate với nhau, thành ra khi anh customer ra khỏi cửa là hai anh police tới sát bên thôi, như 2 gọng kềm siết chặt vậy đó, có chạy cũng không thoát. Mà anh chàng có vẻ say thuốc hay sao đó Kim ơi, lúc police bắt rồi mà còn hỏi giọng nhừa nhựa, bộ police bắt tui tại tui vặn nhạc ồn ào ban đêm trong apartment, rồi hàng xóm complant đó hả” Tui đâu có làm gì sai quấy đâu nào, chuyện vặn nhạc ồn ào là cách đây mấy tháng rồi mà. Em nghe anh chàng nói vậy đó,” Lisa kể.

“OK,” Kim nói với Lisa, “đủ chuyện exciting rồi, giờ đi lo type label đi, cái line customer waiting coi bộ bắt đầu dài lê thê rồi đó, tối nay muốn hai đứa mình ra khỏi tiệm lúc 9 giờ đúng hay ở lại tới 10 giờ hả””

Lisa hay đi ké xe Kim buổi tối, nghe nói phải ngồi chờ Kim clean mấy cái mess ở pharmacy chừng nửa tiếng sau closing time là nó nhảy nhổm lên liền, “no, no, em tăng tốc độ lên nè, mình sẽ về đúng giờ Kim ơi, em đảm bảo đó. Em type label xong rồi em đi lấy thuốc trên kệ em đếm luôn, Kim chỉ có check, ký tên, quăng ra thôi nha.”

Kim với Lisa, hai đứa làm xoay như chong chóng trong pharmacy, bên ngoài nhỏ cashier ring up mấy toa thuốc liền liền, nghe tiếng nó đóng mở cái cash register liên tục. Mãi tới 9 giờ tối, đóng được cửa pharmacy, Kim với Lisa mới có thời gian giải thích cho con bé cashier nghe chuyện gì xảy ra tối nay. Con bé nghe xong cứ trách Kim là sao không cho nó chạy ra parking lot xem lúc police bắt anh chàng yêu Percocet!Kim với Lisa ra gần cửa chính của tiệm thì nghe Andy gọi. Hóa ra Andy cũng thấy được chuyện police bắt anh chàng customer quen của tiệm. Andy nói với Kim và Lisa, thấy có 1 anh chàng cứ đi lòng vòng thật lâu, lâu một cách bất thường, ở quầy bán shampoo, dental needs, cứ đứng coi hoài mà chẳng mua một cái gì hết, lại cứ chút chút lại nói vào cell phone, coi khả nghi quá đỗi. Andy đâm nghi, cứ ngồi trong office xoay security camera của tiệm vào anh chàng, nghi ngờ anh chàng có mưu đồ đen tối shoplifting. Bỗng Andy thấy anh chàng chạy như bay ra khỏi tiệm, Andy tức tốc tông cửa office chạy theo, ra tới parking lot đã thấy anh chàng giơ cái police badge ra và cùng với một police khác còng tay anh customer quen của Andy rồi! Hôm nay trời mưa khí hậu xấu, tiệm lại có shoplifting và forged prescription nữa chứ, “that’s OK, It’s over rồi.” Andy bảo vậy. Andy hỏi Kim và Lisa có sợ không, có cần Andy escort ra tới xe không, Kim gật đầu liền, Lisa cũng vỗ tay đồng ý.

Ra khỏi tiệm, mưa đã tạnh từ lúc nào. Đất trời như được tắm mát sau cơn mưa dài, Kim thở một cái thật sâu, hít vào, nghe lòng mình cũng mát rười rượi. Không còn cảm giác có cục đá đè nặng trên ngực nữa.

Karen N. Nguyen

Khởi Nghiệp: Mở Shop May Công Nghiệp

vvnm.vietbao.com

08/12/2018

Hồ Nguyễn

Post by Sơn râu 24 May 2025

Tác giả đã dự Viết Về Nước Mỹ từ hơn 10 năm trước và mới nhận giải Viết Về Nước Mỹ 2018. Bài đầu tiên của ông là “Kinh 5 Dị Nhân” kể về vùng quê, nơi có hơn 1000 người -phân nửa dân làng- vượt biên mà tới hơn 400 người tử vong- Hiện ông đang là cư dân Orlando, Florida, vùng đất rất quen với bão lụt.  Loạt bài mới của ông là chuyện khởi nghiệp trên đất Mỹ. Lần trước, là cửa hàng bi da. Bài mới, làm Shop  May Công Nghiệp, thêm phần mở trung tâm giải trí.

***

Cuối năm 1986 căn tiệm kế bên bỏ trống, dọn đến là vợ chồng một người Campuchia. Họ mở shop may may hàng công nghiệp. Loại business này tôi đã nghe nói đến, thời đó rất thịnh hành ở hai tiểu bang California và Texas, nơi có đông người Việt sinh sống, đồng hương quê tôi cũng có nhiều người đang làm công việc này.

Quan sát thấy họ có chừng chục người thợ, còn vợ chồng người chủ nhận hàng về bằng xe van, chất hàng xuống từng bó đồ bằng thung trắng đã được cắt sẵn, họ chia nhau ngồi may coi bộ thanh thản, không vất vả lắm. Ít ngày sau thấy họ chở đồ đem đi giao và nhận hàng mới về may tiếp…

Tôi lấy cuốn phone book bìa vàng ra tìm ở phần shop may (Sewing Shop) và các xưởng may quần áo (Garments Factory) gọi hỏi thăm. Có nơi trả lời nếu có xưởng may thì họ sẽ giao hàng cho may.

Chỗ tiệm Gift-Shop chúng tôi còn dư độ 500 sqf. phía sau. Tôi tính dọn dẹp làm shop may giống như họ, nhưng còn ngần ngại vì hai vợ chồng có biết may vá gì đâu, cả cái máy may công nghiệp cũng chưa trông thấy bao giờ! Suy đi tính lại về công việc cửa hàng Bi Da đang làm sao tương lai tăm tối quá, Mà tiệm Bi Da Hoàng lại mới khai trương cách không xa, khách hàng bi da chia ra thì chắc không khá.

Ngần ngại nhưng nhìn tiệm kế bên làm rất xôm tụ thấy ham quá nên gọi về California đặt mua 5 cái máy một kim và 3 cái vắt số loại công nghiệp. Chừng một tuần lễ sau họ gởi lên cho một lô toàn những thùng là thùng.

Nhìn đống đồ đạc mà không dám cắt thùng mở ra, chỉ sợ không biết ất giáp gì rồi lại làm lộn tùng phèo lên thì còn khổ nữa. Đành gọi một ông Mỹ chuyên bán và sửa chữa máy may ở địa phương đến ráp máy dùm. Ông ấy đòi mỗi cái 300 vị chi là 2400.00. Nếu vì thiếu phụ tùng mà phải trở lại thì ông tính thêm mỗi chuyến 300.00 nữa. Rồi ông ấy đến làm chưa đến một ngày đã hoàn tất, một cái máy YUKI chỉ tốn không đến một giờ mà xơi 300.00 sao dễ dàng vậy.

Đến khâu đăng báo tìm thợ, có rất nhiều người gọi hỏi xin việc, kể lể tôi may ở tiệm nọ, tiệm kia rất nổi tiếng bên Việt Nam. Giỏi vậy thì phải nhận thôi. Đợt đầu tiên là may quần thung trắng dài (sweatpants), có hai túi hai bên. Chủ hãng giao chỉ luôn. Mình chỉ dùng máy vắt sổ mà may các miếng đã cắt lại với nhau rồi giao cho họ. Trên hãng có máy 4 kim, họ sẽ chạy thung lưng và hoàn tất trên đó. Trước khi giao nguyên khối, họ đưa vài cái đã may làm mẫu (sample). Mọi chuyện suông sẻ và nhận từng đợt, mỗi đợt 5-7 trăm cái.

Giờ thì đã sắm thêm xe van để chờ hàng may. Nhìn đống đồ vừa chất lên xe lái về mà lòng thấy vui vui. Phen này nhất định ta sẽ…ta sẽ…

Chỉ mấy ngày là may xong đợt hàng đầu tiên, đem đi giao và nhận đợt mới. Buổi chiều người manager gọi xuống kêu tôi lên gấp. Đến nơi bà ấy chỉ cho biết tất cả số hàng vừa giao đã may sai, một phân nửa túi phía trong đã may mặt phải thành trái.

Thì ra cả chủ lẫn thợ đều lớ ngớ, Mỗi cái quần có hai cái túi tức bốn miếng, trong đó mỗi túi có hai miếng khi may phải lấy mỗi bên một miếng và hai mặt phải phải ráp lại với nhau. Đằng này vì chưa có kinh nghiệm nên khi xếp các miếng vải lên may để lẫn lộn nên bị lỗi này. Tuy nhiên bà ấy bảo vì ở bên trong nên tạm cho qua lần này.

Vài tuần sau lại thấy bà manager gọi lên. Bà ấy chỉ một đám quần đã nhuộm màu navy rồi nói:

– Tại sao tôi giao chỉ cotton cho ông mà bây giờ sau khi nhuộm màu chỉ vẫn có màu trắng?

Thì ra lỗi nầy do tôi. Khi một cái máy bị hết chỉ mà hàng đã giao vào ngày Chúa Nhật hãng đóng cửa, sẵn nhà có tiệm bán hàng gửi về Việt Nam chỉ thiếu gì, tôi lấy một cuộn thay vào mà không biết sự khác biệt giữa chỉ cotton (nhuộm màu được) và chỉ polyester (không nhuộm được). Lỗi này thì không tha và cũng không sửa được. Tôi phải nhận đám quần defect ấy và bồi thường cho hãng.

Rồi các cơ sở may hàng cao cấp cho Nordtrom, The Bon Marche, cũng kêu tôi lên giao hàng. Nhưng những người thợ tay nghề yếu không làm hàng mẫu được nên chủ hãng đâu có giao cho. Cùng lúc ấy trong số đồng hương quê tôi có chú em đang làm việc ở Texas, rất khá về công việc may mặc, nên tôi mời về cộng tác.

Năm 1987 có thêm người thợ giỏi, tôi nhận được thêm nhiều loại hàng khó may nhưng giá cao hơn. Những chiếc áo jacket 2 lớp của Eddie Power, Coat bằng nỉ rất sang bán ở những tiệm fashion nổi tiếng không chỉ trong vùng mà còn bán ở nhiều miền khác.

Cùng lúc ấy tiệm may của cặp người Miên kế bên dọn đi chỗ khác. Tôi thương lượng với chủ building mướn luôn hai căn kế tiếp nhau. Mua thêm các loại máy may, máy vắt sổ, máy đơm khuy nút, máy hai kim, cover stitch chuyên may vải thun… Một căn tôi đặt bàn cắt. Tôi đã học được cách làm patern (khuôn bằng giấy cứng cho mỗi đơn vị quần, hoặc áo), marker (tấm giấy mà các khuôn được vẽ lên trên đó để cắt vải) và cắt những order nhỏ nhưng giá trị cao. Loại hàng mà các xưởng lớn không muốn làm vì số lượng ít.

Bàn bi da bây giờ không còn đông khách nữa, vì trên cùng một con đường chỉ cách nhau có mấy block mà có hai tiệm, khách hàng phải chia ra, nên tôi mướn thêm người trông coi bên ấy. Hàng ngày mẹ các cháu tới shop, vừa phụ may, vừa học hỏi các kỹ thuật về may. Trong shop bây giờ đã có hơn mười người thợ, trong đó có mấy chị may rất giỏi, vừa nhanh vừa ít lỗi nên hàng hoá may rất dồi dào. Vừa lúc ấy thì người thợ chính có chuyện buồn của gia đình và xin nghỉ. Ít lâu sau chú ấy ra mở tiệm may riêng ở ngay phía sau bi da Hoàng. Shop chúng tôi bây giờ đã có nhiều thợ cứng cáp. Trong đó có chị Danh vừa giỏi tay nghề lại rất khéo léo trong việc đối nhân xử thế, nên tôi mời chị làm Supervisor và biếu thêm tiền commission cho chị. Cá nhân tôi cũng đã học hỏi được nhiều trong nghề, lại có bàn cắt nên hàng hoá có quanh năm không lúc nào ngưng việc.

Cuối năm 1988 thì nhận được tin người chủ (đang ở Cali) muốn bán khu phố này với giá 270 ngàn do vị đại diện của ông gửi thư riêng cho tôi. Lúc ấy tôi đang thuê 4 căn lớn với hơn 50% diện tích. Tôi liên lạc thì họ cho biết: Vì tôi mướn 55% diện tích, mà hơn 3 năm qua tôi trả tiền thuê rất đều đặn nên ông chủ phố sẵn sàng bán thiếu để tôi trả dần (carry contract) với số tiền down payment là 20%.

Hồi ấy vị chưa rành rẽ việc đầu tư địa ốc nên không dám quyết định ngay, tôi đem chuyện này bàn với ông bà bảo trợ. Ông ấy bảo để ông phụ trách thương lượng việc mua bán (neigotiate offer) và sẽ đầu tư 50% vào đó. Tôi cũng kể với ông accountant mà tôi coi như một người em thân thiết, trước đó đã có hùn hạp mua mấy căn nhà cho mướn ngay gần văn phòng của hắn. Tay này còn làm agent cho một công ty địa ốc nữa.

Trong lúc ông bảo trợ tôi thương lượng việc mua bán thì tôi gửi thư yêu cầu người đại diện chủ nhà kéo dài (extention) hợp đồng thuê mướn của tôi thêm 5 năm. Ít lâu sau họ cho biết đã nhận bán cho người khác mà trong đó có điều kiện không được ký thêm hợp đồng cho thuê mới.

Vậy là cuộc thương lượng tưởng như “chắc ăn” đã đưa tới hỏng việc, mất cơ hội tự làm chủ địa ốc.

Về sự hỏng việc này, trước hết là do tôi kém hiểu biết nên không tự tin để quyết định lấy, phải nhờ người khác nên bị trễ nải và cơ hội trôi qua. Thứ hai nếu mình không sơ hở tiết lộ thông tin thì bên ngoài đâu có ai biết mà mua. Những người làm địa ốc khi kiếm được người mua thì có huê lợi nên họ phải làm như vậy thôi. Đây là một thất bại to lớn và cũng là một bài học rất đáng ghi nhớ trong cuộc đời tôi. “Ai nên khôn mà không dại…nhiều lần”.

Người đại diện của chủ mới gửi thư cho tôi với lời lẽ rất cứng rắn khó nghe, yêu cầu tôi phải dọn đi ngay khi hợp đồng hết hạn. Tôi thương lượng bán rẻ bàn bi da lại cho người khác, hàng hoá còn dư của gift Shop thì mướn storage gửi, shop may thì đưa về nhà.

Làm việc ở nhà thì hàng may không được dồi dào như trước. Những mối cũ vẫn đưa hàng nhưng vì thiếu phương tiện nên chỉ dám nhận những gói đặt hàng nhỏ. Bù lại thì bà vợ tôi có nhiều thời gian thực hành hơn. Giờ thì bà ấy đã làm được những đồ mẫu khó, các hãng xưởng rất thích.

Tôi mở một tiệm bán áo đầm với tuxedo ở SouthCenter, hàng lấy từ Los Angeles, bán giá thấp hơn các tiệm trong vùng mà vẫn một vốn bốn lời. Nhưng rồi chỉ được ít lâu thì cũng loại hàng như vậy bán đầy ngoài chợ trời với giá rẻ hơn phân nửa. Thế là được hơn một năm thì lại phải đóng cửa và thêm một ít hàng hoá “bỏ thì thương, vương thì tội” phải đem về kho cất.

Năm 1992 tôi mướn một căn phố vùng SW gồm 2 tầng, tổng cộng độ 8000sf. Tầng trên làm xưởng may với đầy đủ bàn cắt với các trang thiết bị cho mấy chục người làm.

Năm đó hãng Sun Sport có những Order lớn, mỗi order hàng vài trăm ngàn units. Tôi không phải lên hãng chở vải nữa, mà hãng sẽ gửi vải xuống shop bằng xe truck thùng loại 53 ft, mỗi lần một xe may hết đem giao thì họ gửi tiếp. Thời gian này xưởng may đã vào nề nếp, từ việc trải vải, cắt, bó lại… Máy móc các loại được mua thêm và xếp đặt hàng hàng lớp lớp, không chỉ có các công nhân may ở xưởng mà hàng mấy chục home sew đến nhận hàng về nhà may. Những người này đặt mua máy may và tôi chở đến ráp luôn tại nhà cho họ. Sau khi may xong, khâu kiểm phẩm (inspection), đóng gói và gửi đi cũng chuyên nghiệp và gọn gàng nhanh chóng. Mỗi ngày vài ba ngàn units được gửi đi các nơi vừa bằng xe truck của nhà, vừa bằng các xe thùng của hãng gửi đến.

Hãng Images Concept chuyên may aó thun rồi nhuộm các màu xanh đỏ tím vàng … bán cho Costco cũng đặt may ở shop chúng tôi. Những hãng này tuy giá rẻ nhưng nhờ số lượng nhiều, mình có thể làm liên tục nên cũng tạm kiếm ăn được. Rồi có anh chị Túc ở Cali lên cùng hợp tác điều hành phân xưởng này.

Ở tầng dưới là một trung tâm giải trí, bao gồm: Nhà hàng, phòng Karaoke có bán bia-rượu, phòng đánh bài (cardroom)… Luật pháp ở Seattle ngày ấy có những điều kiện khá phức tạp để mở loại business này. Đầu tiên là địa điểm phải nằm bên ngoài giới hạn thành phố (city limit), có nhà bếp mới xin được license bia rượu và sòng bài. Vì vậy để có được giấy phép hoạt động ngành này cũng tốn phí nhiều.

Về lợi tức sòng bài có 4 bàn: Nếu đánh sập xám, xì phé Việt Nam thì chủ lấy xâu 3% của bên thắng, nếu chơi bài kiểu Mỹ như Poker thì lấy tiền giờ.

Thời gian đầu phòng Karaoke rất đông khách vì có DJ và hệ thống âm thanh rất chuyên nghiệp, mỗi đêm bán 5-7 chục két bia, rượu cho khách.

Ngặt nỗi, theo luật thì chỉ có người trên 21 tuổi mới được vào vui chơi ở đây, phòng Karaoke phải đóng cửa trước 2:00 sáng. Trong khi các chú dưới 21 tuổi thì tìm cách này cách nọ để vào, nếu không được vào thì tìm cách phá: Chọi đá vào cửa kiếng hay đập kiếng, đâm lủng bánh xe của chúng tôi. Tôi phải mướn 2 người security mỗi đêm để giữ an ninh trật tự và kiểm soát ID nhưng các cậu vẫn tìm cách lén vào.

Mấy ông security thì đôi khi có thể mắt nhắm mắt mở cho qua, nhưng những officer của chính phủ thì không? Họ kiểm soát hàng tuần rất gắt gao, đi với lực lượng cảnh sát nữa nên bắt được ngay những người dùng fake ID và chúng tôi phải chịu trách nhiệm. Lần đầu thi cảnh cáo, lần hai thì đình chỉ giấy phép 1 tháng, lần ba thì đóng cửa vĩnh viễn.

Khi phòng Karaoke đông khách thì nhà hàng cùng bán được và phòng cardroom cũng nhộn nhịp theo, nhưng khi license bia rượu bị rút lại thì các dịch vụ khác cũng chậm dần.

Những năm sau này chúng tôi không bao giờ tiếp khách ở nhà, có chuyện gì thì gặp nhau ngoài tiệm. Căn nhà ở được rào cao và nuôi mấy con chó dữ để canh gác. Hằng đêm trên đường đi về lúc nào cũng phải ngó trước ngó sau, nếu nghi ngờ “có đuôi” (bị theo dõi) thì phải tìm cách cắt đi.

Rồi một sáng tôi đến tiệm thì hàng song sắt bên ngoài bathroom bị cưa, cửa sổ kiếng bị đập. Vào bên trong thì cái tủ sắt đựng tiền, các nữ trang vàng bạc mà khách đánh bài cầm cố… Đã bị trộm đào đem đi mất.

Phải nói thêm tất cả các cửa ra vào, cửa sổ bằng kiếng đều có cửa sắt và khóa chết (dead lock). Nếu không có chìa khóa thì dù ở bên trong tiệm cũng khó ra. Tường bao quanh được xây bằng block xi măng, cái cửa sổ nhỏ chỗ bathroom rất khó cho một người chui vào cũng đã được hàn bằng song sắt… Riêng chiếc tủ sắt được gắn xuống nền gỗ trên lầu bằng bù loong thép. Vậy mà chúng lôi đi mất.

Thật đúng y như lời ông bạn thân thường nói: Lần này mình ngu kiểu này, lần khác mình ngu kiểu khác”, vì ỷ y không đặt máy security camera.

Cho đến thời điểm đó thì thành phố Seattle đã có khá đông người Việt định cư, trong đó các chú H.O và gia đình họ đến đây cũng nhiều. Sinh hoạt thương mại ngày càng phát triển mạnh. Khu phố Jackson trên đường 12 bây giờ rất sầm uất: Siêu thị Việt Hoa, chợ Chánh Hưng, các nhà hàng, phòng mạch bác sĩ …đã lấp đầy các khu phố mới được xây dựng. Ở vùng phía nam kế tiệm bi da cũ của chúng tôi cũng được một người Á Châu mua đất rồi xây thành khu Phước Lộc Thọ mà người Việt vùng Rainier đến mua bán rất nhộn nhịp.

Trong khi ấy thì công việc làm ăn của chúng tôi lại bị bế tắc. Trung tâm giải trí từ ngày mất license bán bia rất ít người đến chơi, nhà hàng cũng ít khách. Mấy năm trở lại đây xưởng may cũng chậm dần. Các hãng lớn kéo nhau đi đặt hàng ở ngoại quốc giá rẻ hơn.

Lúc ấy là giữa năm 1998. Hãng may tôi chỉ còn những order nhỏ và một ít thợ.

Có một chú phụ việc được vài năm đến từ Buffalo. Chú ấy theo gia đình là một H.O sang Hoa Kỳ rồi lưu lạc về đây. Hôm nhận được tin bố mất, tôi thăm hỏi thì chú ấy bảo:

– Mẹ em nói không về cũng được.

Tôi nghĩ chú ấy ngại ngùng việc phi tổn đi về nên nói:

– Vậy sao được! Nghĩa tử là nghĩa tận, chú cần phải về chịu tang phụ thân. Anh cho chú nghỉ ít ngày và tiền vé máy bay về bên ấy.

Sau đám tang thì chú ấy gọi nhờ tôi sang giúp mở tiệm bi da ở Buffalo- NY…

Tại Buffalo, khi lên làm giấy phép, tôi thấy một căn tiệm là một nhà hàng đã đóng cửa, nằm ngay trước City Hall để bảng bán. Đây là địa điểm tốt, tôi gọi hỏi thì điều kiện và giá cả phải chăng nên quyết định mua tiệm này. Sau đó là thu xếp từ giã Seattle, di chuyển về Buffalo- NY.

Hồ Nguyễn

Hắn

vvnm.vietbao.com

20/05/2002

Lê Như Đức

Post by Sơn râu 24 May 2025

Tác giả Lê Như Đức đã được trao tặng giải thưởng sơ kết Viết Về Nước Mỹ 2001, với bài “Cây Chuối Sứ” và nhiều bài viết giá trị khác, mỗi bài viết của ông không chỉ là tài hoa, ý nghĩa nhân bản mà còn nói lên tấm lòng của người viết với đồng bào, đồng loại. Sơ lược tiểu sử tác giả được ông ghi như sau: Sinh năm 1962 tại Saigòn, Việt Nam; Nghề Nghiệp: Kỹ sư cơ khí cho Boeing, thành phố Houston; Gia Đình: Vợ và hai con gái; Học vấn: Cao học cơ khí.

Bài mới nhất của Lê Như Đức được ghi ở dòng kết “tôi viết lại bài luận thầy ra năm xưa để trả ơn thầy.”

Lần đầu tiên tôi gặp hắn tại phòng vệ sinh trong sở khi tôi mới chuyển qua chỗ làm mới.

Chỉ nhìn sơ qua hắn, tôi cũng biết là Việt Nam rặt. Hắn nhìn tôi cũng biết chắc chắn tôi cũng là người Việt Nam. Chúng tôi cùng đứng ngang vai nhau trước tấm gương lớn rửa tay sau khi làm nghĩa vụ quốc tế: túm lấy cổ Bác rung. Tôi thấy hắn ngập ngừng tính bắt chuyện với tôi rồi lại thôi.

Tôi cũng tính mở lời nhưng thấy hắn im lặng nên tự ái nổi lên, quay mặt bước mau ra khỏi nhà vệ sinh. Khi tôi bước ra, tôi hơi nghiêng đầu liếc về phía hắn. Tôi sung sướng khi thấy hắn cũng khẽ quay về phía tôi.

Mới gặp sơ qua lần đầu, hắn và tôi đều biết chắc rằng chúng tôi sẽ là bạn rất thân sau này. Chỉ không biết được ai sẽ là người tới làm quen ai trước. Tôi nhất định phải bắt hắn mở lời trước vì tôi trông thấy hắn… trước. Hắn cao cao, gầy gầy trông dáng thư sinh nhiều hơn võ biền. Mái tóc bồng bềnh lại quăn quăn với nụ cười lúc nào cũng có trên môi. Trông hắn têu tếu, dễ làm quen. Tôi thường ưa những người bạn dễ chịu, vui vẻ, lại ít tự ái như vậy. Những người khó chịu, tự ái cao rất khó chơi. Nói chuyện phải để ý từng tí một, mất tự nhiên.

Những ngày kế, tôi đi vòng quanh sở tôi đang làm để thăm hỏi và làm quen với mọi người trong nhóm. Thật ra tôi muốn tìm chỗ ngồi của hắn. Hình như hắn cũng như tôi, cũng đi vòng vòng thăm dò chỗ ngồi của tôi. Do đó mà chả ai biết được chỗ ngồi của ai. Chúng tôi vô tình gặp nhau trong phòng giải lao của công ty. Lúc đó đã qúa giờ ăn trưa nên không có ai ở trong phòng. Đèn lại tắt nên nửa phòng hơi tối. Nửa bên kia nhờ có ánh sáng mặt trời chiếu vào từ cửa sổ nên sáng hơn nhiều. Tôi bắt gặp hắn đang đứng lặng yên sát tường nhìn tôi. Hắn cũng nhất định không chịu mở lời trước. Tôi cũng nhất định không chịu thua.

Tôi bước tới góc phòng gỉa vờ mở tủ lạnh ra coi. Tôi thường về nhà ăn cơm trưa với vợ tôi nên chả bao giờ mang đồ ăn trưa để tủ lạnh của công ty cả. Nhà tôi ở bên cạnh sở và cũng gần trường vợ tôi dậy nên chúng tôi thường về nhà ăn cơm trưa theo đúng như tập quán của người Việt Nam. Tôi lại còn có cái bệnh ngủ trưa nữa. Trưa không ngủ nửa giờ đồng hồ là chiều đó tôi chỉ ngồi ngáp chứ chả làm được gì thêm. Hình như hắn cũng không mang cơm vô sở và cũng về nhà ăn cơm trưa như tôi.

Lần đầu tiên mở tủ lạnh của công ty tôi hết hồn. Người Mỹ có tật ăn vặt nên tủ lạnh chứa toàn bánh kẹo và nước ngọt. Có thể nói nó là một tiệm tạp hóa nhỏ chứa đủ mọi thứ linh tinh. Tôi không hiểu làm sao họ có thể phân biệt được gói kẹo nào của mình, cái bánh kia của kẻ khác. Tôi lẩm bẩm vừa như nói với mình, vừa như nói với hắn:

– Đồ lặt vặt nhiều qúa, không nhớ cái nào của mình cả.

Tôi chú ý lắng nghe xem hắn có tiếp lời tôi gì chăng. Hắn vẫn giữ cái vẻ khinh khỉnh ta đây. Hắn có nhiều kiên nhẫn hơn tôi. Hắn muốn tôi phải chính thức nhìn hắn mở lời làm quen trước. Tôi bực mình vùng vằng bước ra khỏi phòng giải lao. Tôi không thèm liếc nhìn hắn.

Hắn cũng có tật uống cà-phê vào buổi sáng như tôi. Tôi biết được là vì sáng hôm sau tôi gặp lại hắn trong phòng giải lao. Hắn cùng tôi đứng rót cà-phê. Đó là lần thứ ba tôi gặp hắn trong tuần. Hôm đó tôi đi làm sớm hơn thường lệ. Chưa có nhiều người tới nên công ty chưa mở hết đèn. Tôi phải tự pha cà-phê lấy. Vừa đổ nước vào máy pha thì tôi thấy hắn. Cũng lại cái vẻ mặt khinh khỉnh ta đây, hắn chẳng thèm gật đầu chào tôi. Tôi nhấp vài ngụm cà-phê nói đủ to cho hắn nghe:

– Cà-phê Mỹ nhạt như nước ốc. Cà-phê Việt Nam lúc nào cũng đậm đà, đầy quyến luyến. Uống thấm tới tận đáy lòng. Không hờ hững, lạt lẽo như vậy.

Hắn cũng tỉnh bơ nhấp đúng vài ngụm cà-phê như tôi, nhưng không trả lời. Cũng chả tức giận, chả đỏ mặt. Hắn giỏi nhịn hơn tôi nhiều.

Rồi tôi cũng tìm được chỗ ngồi của hắn. Nó nằm gần cửa sau của công ty nên hơi tối nhưng lại rất đẹp. Chung quanh là kiếng nên có thể nhìn ra ngoài ngắm trời, làm thơ. Chỗ của hắn rộng cũng gần giống như chỗ của tôi. Cũng gần cửa sau của công ty nên đôi khi muốn chuồn ra ngoài làm việc riêng thật dễ dàng. Cửa sau lại có bãi đậu xe ngay sát cửa nên bước ra là ta có thể lên xe dông thật lẹ. Rất ít xếp lớn chịu đậu xe nơi cửa sau. Thường thường các xếp được công ty cấp cho chỗ đậu xe riêng ngay trước cửa hãng nên chuồn ra bãi đậu xe nơi cửa sau chả bao giờ sợ đụng độ với các xếp cả. Có lẽ cả hắn lẫn tôi đều nhận thấy sự tiện lợi này.

Hôm đó vì bận chuyện riêng, tôi phải chuồn một giờ đồng hồ. Khi trở về lại sở làm, trời nắng gắt, tôi vô tình gặp hắn trong bãi đậu xe. Hắn cũng như tôi, đeo một cái kính mát to tổ chảng che gần hết mặt. Tôi thường hay quên mang kính mát khi ra đường nên mua ba cái để trong xe mỗi cái cho khỏi bận lòng. Vợ tôi có lần lái xe tôi đi làm, thắc mắc hỏi tôi sao lại cái kính mát này lại thô và to như vậy. Tôi trả lời là kính đi làm phải càng to, càng đen thì càng tốt. Lỡ có trốn đi đâu gặp xếp cũng không ngượng ngùng mấy. Nhiều khi xếp không nhận ra mặt mũi càng tốt hơn. Vợ tôi chả bao giờ chịu đeo nó cả. Cho dù biết có đụng độ xếp lớn, xếp nhỏ

Tôi nhìn hắn mỉm cười thích thú. Thì ra hắn cũng biết ăn vụng chùi mép nhiều như tôi. Thảo nào tôi không thể không ưa hắn được. Hắn cũng ma lanh như tôi. Tôi tà tà bước theo chân hắn.

Lần thứ năm, tôi gặp hắn trong phòng họp của department tôi làm. Hắn cùng tôi tới hơi trễ nên phải ngồi cuối phòng, gần cửa kính. Chúng tôi chỉ ngồi yên lặng nghe xếp lớn ban hành những thông cáo mới của hãng. Xong họp, tôi nhìn hắn cười mỉa, nói nhỏ:

– Thông báo mới đó cha nội. Lo mà sửa đổi. Phải thay đổi, vui vẻ với mọi người chứ đừng ta đây làm le làm một mình, đứng một chỗ đó nghe.

Rồi tôi nhại giọng mấy tên bộ đội Bắc kỳ “bẩy nhăm” thường phê và tự phê lẫn nhau:

– Không nàm thì nói nà nười. Mà nàm thì nại nói nàm ne. Tớ đây không thèm nàm nữa.

Hắn cũng cười lại. Nụ cười thân thiện hơn nhiều. Hình như hắn tính nói gì với tôi, nhưng cô thơ ký bước vội tới hỏi tôi về những giấy tờ cô ta đưa tôi hồi sáng sớm. Hắn im lặng đứng nghe rồi biến mất lúc nào tôi không hay.

Không hiểu ở hắn có cái gì lạ lạ mà tôi lại ưa thích hơn những người Việt Nam cùng sở khác. Nhiều lúc trông thấy hắn muốn bắt chuyện làm quen, khi tới gần tính mở lời, nhìn cái bản mặt kên kên lại muốn chửi thầm bỏ đi. Hình như hắn cũng biết vậy nên nhất định treo giá làm cao. Bắt tôi phải làm quen trước.

Ừ thì làm quen trước đã có sao đâu ” Nhưng ít ra hắn phải có chút vẻ muốn làm quen lại mới phải chứ ” Đằng này lúc nào hắn cũng có cái vẻ chơi trên cơ không. Không chịu chơi ngang hàng, cho dù tuổi của hắn cũng không hơn gì tuổi của tôi mấy.

– Muốn làm cao thì tớ cũng làm cao lại. Sợ đếch gì nhau ” Tôi càu nhàu lẩm bẩm.

Bàn giấy của hắn cũng trưng hình vợ, con như tôi. Một hôm canh không thấy hắn, tôi vội bước tới coi những bức hình chụp gia đình hắn. Hai đứa bé thật ngộ nghĩnh và dễ thương. Có lẽ cũng cùng tuổi với hai cô con gái của tôi. Tôi chắc chắn thể nào chúng cũng học trường vợ tôi dậy. Vợ tôi chắc chắn phải biết chúng, không chừng chúng cùng học lớp với con tôi. Vì lich sự, tôi không ngắm hình vợ hắn nhiều. Nhưng là một thiếu phụ trẻ, mặc chiếc áo dài mầu hồng nhạt có thêu mấy con chim phụng trước ngực. Cô ta đang ngồi trước tấm bình phong cũng vẽ hình con chim phụng đang đậu trên cành mai rực hoa vàng. Cô trông dáng quen quen, hình như đã có một thời sinh hoạt văn nghệ trong đài truyền hình ở Houston thì phải. Tôi chỉ nhớ mại mại như vậy.

Trên bàn hắn sách vở, giấy tờ cũng được sắp xếp gọn gàng thứ tự. Nhiều nhân viên trong sở chịu đi làm chứ không bao giờ chịu dọn bàn của mình. Bàn của họ không thua gì cái đống rác của thành phố Houston. Mỗi lần muốn tìm giấy tờ nào là họ mất cả giờ đồng hồ để moi cái đống rác nằm chình ình trước mặt họ hàng ngày. Bàn giấy của hắn trống trơn, không bầy đồ nhiều. Một cuốn lịch bàn to để ghi chép những điều cần nhớ nằm ngay giữa, chiếm gần hết mặt bàn. Hơn chục cuốn sách Toán và Vật Lý đặt ngay ngắn trên kệ theo thứ tự A,B,C… Góc bàn để cái cặp xách tay mầu đỏ gụ. Góc bên kia trưng hình gia đình. Một cái kệ cao cũng xếp đầy sách nằm cạnh che nửa cái bàn giấy.

Cái cặp xách tay của hắn cũng to và dầy như cái của tôi. Nhiều nhân viên trong sở đi làm thường mang cái cặp chỉ nhỏ và mỏng nửa. Nhiều khi cần để đồ ăn trưa, tờ báo hay cuốn sách lại không vừa, phải tay cầm cặp xách tay cầm tờ báo bước vào sở. Có lúc nách trái còn phải kẹp cái bình thủy đựng nước nóng nữa. Vào đến hãng, ghé phòng giải lao cầm được ly cà phê thì lại phải chuyển tờ báo kẹp qua nách phải trước khi bước tới chỗ làm việc của mình. Trông thật mất thẩm mỹ. Xếp thấy sẽ nghĩ mình tới sở không làm chỉ ăn, uống và đọc báo thôi. Có cái cặp xách to cỡ của hắn và tôi thì dù có bỏ thêm đồ ăn chiều cũng vừa y. Tôi còn nhớ ngày làm hãng cũ, ông xếp gìa thường than với tôi mỗi thứ sáu khi đi phát lương cho nhân viên:

– Hình như họ cố tình. Họ biết mỗi sáng thứ sáu lúc chín giờ sáng là tôi đi một vòng để phát lương. Người thì ngồi gác chân lên bàn đọc báo. Kẻ lại bầy đồ ăn sáng ra xơi. Nhiều lúc còn tụ năm tụ ba chơi game trên computer. Không ai muốn cho tôi thấy họ đang làm việc cả.

Tôi nhớ lời ông than nên đi làm lúc nào cũng để ý. Thấy xếp sắp tới là tôi lôi sách vở hay giấy tờ ra bầy ngập bàn. Nhiều khi làm bộ không hiểu, hỏi xếp vớ vẩn mấy câu. Xếp thích chí vì có dịp giảng giải, chỉ vẽ kinh nghiệm và có chuyện thân tình để nói. Nhiều lúc tôi phải ngồi nghĩ chuyện trước để khi gặp xếp khỏi phải trợn mắt lên nhìn, ú ớ không biết nói năng chi “

Ngày còn học trong trường, thầy tôi thường đậy chúng tôi:

– Ngày nào các anh ra trường đi làm, hãy nhớ lấy điều này. Muốn lên chức, lên lương nhiều thì một ngày tám tiếng đồng hồ chỉ làm sáu tiếng thôi. Hai tiếng còn lại phải đi tìm cách để la to cho xếp và mọi người biết mình đang làm việc …chăm chỉ.

Mười lăm năm qua, tôi không nghe lời thầy nên vẫn cứ làm lính trơn. Cho dù những tính toán của tôi được đóng thành tập bầy ngập thư viện của cơ quan không gian Hoa Kỳ và chữ ký của tôi cũng là một trong rất ít những chữ ký được cơ quan chấp nhận trong họa đồ về ngành tôi làm, structure analyst.

Theo tôi để ý thấy thì thầy tôi đã tính lộn. Một ngày đi làm tám tiếng đồng hồ, làm sáu tiếng, bỏ hai tiếng để đi vận động, ngoại giao cũng chưa đủ. Phải để ít nhất sáu tiếng thì mới có cơ hội. Những ngài giám đốc của công ty tôi có bao giờ phải làm gì đâu. Chỉ đi vòng vòng bắt tay, bắt chân rồi ngồi ngắm thơ ký. Ngài nào cũng mướn toàn mấy em trẻ măng, thơm phức. Mấy người hơi có tuổi hay có chồng đều cho về vườn.

Một lần, nhóm tôi cần một cô thơ ký. Trong buổi họp, tôi tỉnh bơ đề nghị xếp nên để xếp bà ở nhà mướn là công bằng nhất. Xếp ức lắm, không thèm trả lời, lầm lì ngảnh mặt làm lơ. Bốn cô vào phỏng vấn, xếp chọn một cô đùi dài, chỉ mới tốt nghiệp trung học, chưa lập gia đình. Cả nhóm chúng tôi cũng …nhất trí đồng ý. Tôi cũng ân hận lỡ lời nên hôm sau âm thầm mua bánh donut để xin lỗi xếp và các bạn trong nhóm. Xếp tôi đã già nhưng vẫn thích xơi donut. Cái bánh hình tròn có cái lỗ bự chính giữa, chung quanh trét xúc-cù-là chỗ thì nâu đậm, chỗ lại đen đen.

Cái máy computer của hắn để bàn sát cạnh cái bàn giấy và bị che khuất bởi cái tủ cao đựng giấy tờ. Hình như hắn cố tình kê cái tủ nơi đó để không ai thấy được cái màn ảnh của cái máy computer. Cái màn ảnh cũng được quay vào phía trong góc phòng chứ không để lộ liễu hướng ra phía ngoài. Chỉ nhìn cách trưng bầy đồ đạc, tôi cũng phải khâm phục hắn qủa là tay đáo để. Khó ai có thể thấy được hắn đang ngồi đâu và đang làm gì. Nhưng hắn lại có thể nhìn thấy được mọi diễn biến chung quanh thật dễ dàng và thật tự nhiên.

Hiện nước Mỹ đang mùa đóng thuế. Các nhân viên vào sở làm, ai ai cũng trầm tư và thành khẩn khai báo như trong mùa sám hối. Hắn cũng như tôi không chạy thoát được sở thuế. Có lúc tôi thấy hắn đi qua đi lại, tay cầm cái đơn khai thuế mầu xanh dương, vò đầu bức tóc. Có lúc hắn lại lẩm bẩm chửi thầm.

Đồng bệnh tương lân nên tôi cũng than khẽ với hắn:

– Làm bao nhiêu cũng cúng hết cho sở thuế. Nghề tụi mình có tiếng nhưng không có miếng. Giới trung lưu là giới thiệt thòi nhất của nước Mỹ. Giầu ụ có luật sư khai, không phải đóng thuế nhiều, nghèo rớt mồng tơi lại được chính phủ chu cấp cả housing lẫn foodstamp. Chỉ có tụi mình là lãnh đủ. Đóng thuế khờ luôn.

Hắn gật gù đồng ý. Tôi hứng chí xổ tiếp:

– Ngày xưa đi học bốn năm trong trường được chính phủ cho mỗi năm hai ngàn tiền học, mừng hết lớn, cám ơn lòng đại …bác của Uncle Sam lia chia. Giờ ra đi làm, mỗi năm đóng gần hai chục ngàn tiền thuế. Mà phải làm bốn chục năm mới được xin hưu …non. Tính ra chính phủ Mỹ bỏ ra một, thu lại hơn một trăm lần. Mình cứ phải đi làm phờ râu ra kiếm tiền nộp thuế. Đại tư bản có khác, bỏ con săn sắt bắt con cá rô. Không ngu như Việt Cộng. Bao nhiêu chất xám, chất xanh giết tuyệt. Đồng chí lãnh tụ hay đồng chí tổng bí thư chỉ học mới tới lớp ba thì làm sao ưa đứa lớp bốn, nói chi đến người có bằng đại học. – với Cộng sản mà để chúng biết có trình độ là được đưa vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đi cải tạo mút mùa lệ thủy.

– với Đại tư bản Mỹ bị đóng thuế một phần lương nhưng buồn buồn lên báo, lên truyền hình nói nhăng nói cuội đôi điều, chửi thề chửi tục dăm câu cũng hả lòng, đỡ tức. Chả ai dám rờ đến cái móng chân của mình.

Thấy y hỉ hả cười, tôi vội xoay chiều, hỏi ngược lại:

– Mà không ai chịu đóng thuế thì lấy tiền đâu ra xây đường xá, cầu cống cho mình xài”

Y trợn mắt ú ớ nhìn tôi, ngẫm nghĩ một lúc nhưng không trả lời.

Càng ngày tôi càng chú ý đến hắn nhiều. Càng chú ý nhiều tôi lại càng khó chịu vì cái tính ngang tàng, cứng đầu của y. Cứng hay mềm cũng không thể thắng nổi hắn. Giở đủ trò đủ chiêu cũng chả làm hắn mở lời trước. Cuối cùng tôi đổi chiến thuật, tôi chơi bạo và đánh thẳng thừng vào con người của hắn để thăm dò phản ứng. Một hôm rình thấy hắn đang lén coi Việt Báo On Line trên Internet. Tôi bất kể, nhào tới vội, gào to:

– Ê cha nội, không lo làm việc lại lén đọc báo chùa. Mít tờ O. C. TIGER.

Hắn quê quê, tắt vội Internet nhìn tôi khó chịu nhưng vẫn chưa nổi khùng. Hắn đứng lên trầm tư một lúc rồi bỗng thăng mất.

Hình như hắn cũng ưa tôi nhiều và cũng biết chúng tôi sau này sẽ trở thành bạn tốt nên chả bao giờ nổi nóng, ngay cả lúc tôi cố tình chọc tức hắn. Hắn biết tôi vì tự ái nên cố làm như vậy để gây sự chú ý. Tuy rằng nhiều khi tôi hơi qúa trớn. Ai bảo hắn cố tình làm cao làm chi. Hơi cao cao thì tôi còn nhịn chứ cao qúa tôi cóc cần. Có chết thằng Tây nào đâu.

Lần sau hắn đứng rình tôi lại. Tôi biết rõ nên mở máy computer ra viết tiếng Việt chơi. Tôi thấy hắn ngập ngừng như muốn hỏi cách bỏ dấu tiếng Việt nên thích chí đánh càng mau, tiếng lách cách vang liên tục. Hắn nhìn một lúc rồi bỏ đi lúc nào tôi không hay.

Hôm sau tôi tới gần bàn hắn coi hắn đang mò mẫm học cách bỏ dấu từ một program mới, khác cái program xưa lắc, cũ kỹ của tôi. Hình như cái program của hắn thông dụng và tiện lợi hơn cái của tôi nhiều. Hình ảnh, chữ viết sáng sủa và dễ đọc hơn. Mầu sắc và cách trình bầy cũng tươi đẹp và nhã nhặn. Có lẽ tôi phải năn nỉ xin cái của hắn mới được.

Tôi lại thua hắn. Tôi bực mình lẩm bẩm:

– Cái đếch gì nó cũng hơn mình tí ti là làm sao”

***

Ba mươi năm trước, thầy dậy kèm của tôi, một lần, có ra đề luận “tả cái bóng của mình.” Một tiếng đồng hồ ngồi cắn bút, tôi chỉ viết được vài câu. “Cái bóng của tôi lúc nào cũng đi theo tôi. Có lúc nó to hơn tôi, có lúc nó nhỏ hơn tôi, nhưng lúc nào nó cũng giống tôi.”

Giờ ra chơi, anh Thọ, người lớn tuổi nhất trong đám, than:

– Thầy hôm nay chơi… khăm. Cái bóng đen thùi có gì để tả. Ra đề luận kiểu này ai mà viết nổi.

Sau giờ chơi, chúng tôi có than thở với thầy. Thầy ngồi trên tấm phản dài, cầm cái quạt tay vừa nhè nhẹ quạt vừa hiền từ cười giải thích:

– Một ngày nào đó nhân loại sẽ phải nhìn cái bóng của mình mỗi ngày. Hôm nay thầy cho các con viết về cái bóng của chính mình để các con tự thấy được con người thật của các con.

Bọn chúng tôi, bốn đứa nhỏ, ngây ngô chả thấu hiểu mấy lời thầy dậy.

Ba mươi năm sau, một buổi sáng đi làm, vừa mở máy computer lên, tôi bỗng nhìn thấy cái bóng của tôi ẩn hiện trên màn ảnh của máy. Lời thầy năm xưa tưởng đã quên bỗng dưng hiện rõ lại trong ký ức. Nhân loại ngày nay đều phải nhìn cái bóng của mình hàng ngày. Computer đã có mặt khắp mọi nơi. Trong công sở, trên máy bay, bên đường phố, lề vỉa hè, ngoài công viên, nơi khách sạn, chỗ phòng ăn. Mọi người khi dùng nó đều tự nhiên phải nhìn thấy cái bóng của chính mình.

Bộ óc của thầy đã đi trước nhân loại hơn ba mươi năm. Chỉ tiếc rằng bộ óc đó không sinh ra trong một nước tân tiến để được đắc dụng hơn. Tôi may mắn sống trong một nước tân tiến vào bậc nhất

thế giới. Chỉ tiếc rằng bộ óc của tôi không bằng nửa của thầy.

Hôm nay nhân ngày lễ mẹ. Công thầy dậy dỗ cũng ngang ơn mẹ mang nặng đẻ đau. Mẹ cho tôi cuộc đời và khối óc, thầy đã khai thông khối óc để mở mang cuộc đời. Tôi viết lại bài luận thầy ra năm xưa để trả ơn thầy.

Thầy của tôi: giáo sư Trịnh-Xuân-Nghiêm.

Houston, Mother’s Day năm 2002

Lê Như Đức