Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 25 May 2025

Phần 1

Về tuyển tập thơ văn H.O.Viết Thư Miền Đất Hồi Sinh
Kiêm Thêm

Trong những năm gần lại đây, bất luận những nơi nào có người Việt định cư hay có sinh họat báo chí Việt Nam hải ngoại, thì những sáng tác phẩm của các cựu tù nhân chính trị đều xuất hiện. Xuất hiện với những giá trị độc đáo; xuất hiện gây tác động lớn cho người đọc, và cũng là khí giới sắc bén nhất để chống lại những tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù.

Với tính chất nầy, chúng ta thấy rõ trong những hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại, thơ văn của những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đã đóng góp một phần vững chắc, giá trị nổi bật, nội dung phong phú, ảnh hưởng sâu rộng và có giá trị vĩnh cửu, miên trường.

Như một biến chuyển đặc thù, khuynh hướng văn học nầy tại hải ngoại đã gây được một sức mạnh tinh thần vững chắc, để động viên cho những người mang hoài bão xây dựng lại thể chế mới cho đất nước trong tương lai càng thêm hăng hái, tin tưởng, say sưa trong sự nghiệp tranh đấu chính trị của mình, xây dựng một Việt Nam tự do, dân chủ, không bóng dáng những kẻ tham vọng chuyên quyền điên rồ của nền chuyên chính vô sản.

Nói như một nhà bình luận Pháp, ông André Keith, “Những giá trị nầy quả là những thứ vũ khí lợi hại, để chống lại những lối tuyên truyền độc hại của Cộng Sản với những kẻ nhẹ dạ” (Critiques Littéraires). Trên một khía cạnh nào đó, nhận xét nầy đã thích hợp với tinh thần tranh đấu của người Việt hải ngoại trong bối cảnh hiện nay của thế giới và của đất nước.

Trong những năm tháng dài của những nhà tù cải tạo Cộng sản Việt Nam, những chiến sĩ từng chiến đấu cho nền tự do của miền Nam, những người con yêu của tổ quốc, đã chịu đựng, can trường và nhẫn nại, chờ đợi thời cơ và hoàn cảnh, để tiếp tục công trình tranh đấu của mình, trên bình diện mới và hoàn cảnh mới.

Nội dung chứng liệu trong những tác phẩm của cựu tù nhân chính trị VN trở thành những bản cáo trạng bản chất và hiện tượng của chế độ một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất và ảnh hưởng đậm đà nhất..

Chỉ trong một khoảng thời gian năm sáu năm lại đây, nhiều tác phẩm trong khuynh hướng nầy, với những góc độ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau cũng như thân phận khác nhau đã lần lượt xuất hiện: Đáy Đia Ngục của Tạ Tỵ, Vùng Đất Ngục Tù của Nguyễn Vạn Hùng, Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam, Vượt Thoát của Phạm Quang Giai, Sau Ngày Giặc Đến của Nguyễn Mậu Qúy, Bản Chúc Thư của một người Việt Nam của Nguyễn Chí Thiện, Chín Năm Tù Ngục của Nguyễn Đình Trị, Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào văn Bình, Phía bên kia Thiên Đường của Phạm Trọng Phúc. Hàng trăm bài báo, hồi ký, thi ca, tùy bút thuộc khuynh hướng văn chương nầy được đăng khắp báo chí Việt Nam hải ngoại; dĩ nhiên còn rất nhiều tài liệu giá trị khác được sáng tác của những chứng nhân nầy, nhưng chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để ra mắt. Tất cả những chứng liệu trên là những bản cáo trạng hào hùng, những tài liệu vô cùng phong phú, những niềm đau nỗi xót của những người cựu tù nhân. Với thời gian, những tác phẩm cùng loại sẽ dồi dào hơn về nội dung và phong phú hơn về hình thức.

Ảnh hưởng lâu dài của những tác phẩm nầy khiến cho những người Mỹ phản chiến, thân Cộng cũng như những kẻ nào còn có lương tâm nhân bản trên thế giới sẽ phản tỉnh trước những xuyên tạc tuyên truyền của chế độ.

Hình ảnh sống động của những trại tù được thể hiện khá đầy đủ, duới nhận thức và nhãn quan khác nhau, nhưng nội dung thì vẫn là một: một phần tố cáo những chính sách, chế độ, đường lối tàn bạo nhất của Cộng sản; nhưng phần khác, sinh động hơn và quan trọng hơn thì thể hiện tinh thần bất khuất, chí dũng cảm, tình nghĩa đồng bào, đồng đội của những người cùng chung cảnh ngộ, qua những năm tháng dài hoạn nạn.

Chế độ quản tù ghê gớm tại Long Giao, những tấn trò hình phạt tù nhân tại Hóc Môn, những cuộc ruồng bố rợn người tại Trảng Lớn, những tiếng kêu thống thiết tại Phước Long, đời sống dưới đáy địa ngục tại Ka Tum, chế độ quản chế tàn nhẫn tại trại tù Xuyên Mộc, những chiến sị gãy đổ tại trại tù Hàm Tân, những đêm dài rét cóng người tại trại tù Gia Lai, những hình ảnh phẫn nộ tại trại tù Nghi Trưng, những gương chiến đấu anh hùng bất khuất tại trại tù Khâm Đức, những đêm dài khắc khoải nhất và kinh hoàng nhất tại tại trại tù Tiên Lãnh, cảnh ma thiêng, nước độc tại trại tù Ba Lạch, những cảnh tẩy não khủng khiếp tại trại tù Bình Điền, những đau xót, hãi hùng tại trại tù Thanh Hoá, cảnh địa ngục trần gian tại trại tù Hoàng Liên Sơn, quang cảnh “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tại trại tù Hà Sơn Bình, những trò chơi đầy dã thú tại trại tù Hà Tây, những bài thơ hùng tráng viết lên từ tại trại tù Nghệ Tĩnh, những thủ đoạn quản tù dã man của những tên quản tù tại trại tù Vĩnh Phú, những cảnh vượt thoát không thành tại trại tù Phúc Sơn, những bức chúc thư bi đát tại trại tù Yên Báy, những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất tại trại tù Bắc Thái… Tất cả những hình ảnh đó đã ghi rõ nét trong những công trình sáng tác trên.

Nhờ những tác phẩm nầy, chúng ta biết được một cách tường tận những thủ đoạn của công sản với những tù nhân cải tạo: hình phạt tra tấn, tẩy não dã man, hành hạ thể xác lẫn tinh thần, gây tị hiềm, đố kỵ lẫn nhau, nhất là thái độ hãnh tiến của những tay cuồng sát trên danh phận là kẻ chiến thắng. Chúng ta cũng biết được nhiều tâm sự, tình cảm, hoài bão, nhiều tấm gương anh hùng, những con người chịu đựng không bến bờ, để chống lại với cảnh chết ngày đêm rình rập. Và trong bối cảnh đó, chúng ta cũng thấy được hình ảnh tuyệt vời của những chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà, về chính trị cũng như về quân sự, những chuyên gia cũng như những vị lãnh đạo tinh thần, đảng phái, những con người đáng kính, đáng yêu.

Nhà văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn tác giả The Gulag Archipelago (1918-1956) đã viết: “Những áng văn của những người từng sống trong chế độ lao tù thú vật của Cộng Sản thông thường là những bản cáo trạng, những tiếng thét nhân bản và cũng là những chứng nhân hùng hồn nhất của thời đại chúng ta hiện nay”. Viết lên, một phần để trút được những uất hận của mình, để ghi nhớ lại những ngày đau thương nhất trong đời mình, phần khác, để tưởng nhớ những người cùng chung cảnh ngộ, cũng như hoài niệm những người đã hy sinh trong lao tù. Thành thử, nội dung và ý niệm của người viết không còn là những tác phẩm bình thường, mà với nỗi thiết tha khi cầm bút, thậm chí e ngại chữ nghĩa đã không thể hình dung hết những gì mình đã sống, mình muốn nói và uất ức khó cực tả cho hết được.

Ngục tù đối với những người chiến sĩ can trường, như là trạm dừng chân tạm thời, như lời thơ của nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu,khi ngồi tù ở ngục Quảng Châu: “Cũng là hào kiệt, cũng phong lưu; Chạy mỏi chân thì phải ở tù”, vì cho rằng “Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp; Bao nhiêu nguy hiểm ngại gì đâu”. Hay nhận định của Tây Hồ Phan Châu Trinh trong thời gian ngồi tù tại ngục Côn Lôn: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước; Nam nhi hà sá chuyện cỏn con”. Họ đã lưu lại danh thơm cho muôn đời.

Văn chương, trong trường hợp không còn là chuyện khi trà dư tửu hậu, mà trở thành thứ vũ khí sắc bén chống lại những hành động bạo tàn, nung nấu tinh thần bất khuất và rèn luyện tinh thần chiến đấu dày dạn của mình và của đồng đội nữa.

Nhà chính trị phản tỉnh Djilas của Nam Tư trong cuốn The New Class đã có lý khi viết: “Phải là những người từng sống trong những hoàn cảnh hãi hùng do chế độ và chính sách của Cộng Sản gây nên mới thấm thía được những ý nghĩa của nó và khả năng đối kháng của bản thân mình”.

Nhận xét nầy càng làm sáng tỏ những dụng công của người viết và thái độ của người đọc, nâng cao những giá trị sâu sắc của khuynh hướng văn học nầy.

Giá trị của những tác phẩm còn trường tồn với thời gian, tỏa rộng khắp không gian và gây ảnh hưởng lâu dài cho những thế hệ mai sau nữa.

☆

Văn chương phản kháng của những cựu tù nhân chính trị mang nhiều màu sắc sinh động, sắc bén, mà nội dung thường lấn át cả hình thức, hay nói một cách khác là cuộc sống của họ quá phong phú, đến nổi bất cứ một tù nhân nào cũng có thể kể được tâm trạng và hoàn cảnh của mình, gây chấn động tình cảm và tinh thần kẻ khác.

– Trước hết là tính chất hiện thực. Đã không biết bao nhiêu nhà văn Tây Phương muốn nghiên cứu đề tài nầy với những kinh nghiệm viết lách của mình; nhưng đây lại không phải là chuyện kinh nghiệm hay khả năng, mà chính là cuộc sống, cuộc sống trong từng giờ từng phút phải thở bầu không khí ngột ngạt, chịu đựng, bất mãn ròng rã trên dưới mười năm trời. Họ từng là nạn nhân cũng là chứng nhân rõ nét nhất của bản thân mình và đồng đội mình, để có thể viết lên những bản cáo trạng một cách hoàn chỉnh, vững chắc và giá trị nội dung cực kỳ phong phú.

– Tinh thần kiên cường bất khuất là một khía cạnh khác của những tác giả từng thể hiện. Mặt đối mặt với kẻ thù, với thân phận là người thua cuộc, nhưng vẫn hiên ngang, can đảm, dũng mãnh chịu đựng và xem chuyện lao tù, dù cơ cực đến đâu, chẳng qua là nạn kiếp trong một thời gian, sau đó, đến ngày được trả tự do, sẽ làm lại cuộc đời với tư tưởng và hoài bão nung nấu trong bao nhiêu ngày tháng qua. Niềm kiêu hãnh của tinh thần nầy chính là ngọn đèn chiếu sáng cho những người sống cơ cực trong lao tù Cộng Sản, để chờ đợi tin tưởng hy vọng vào con đường tương lai của mình.

– Sự đùm bọc, thương yêu, tinh thần đồng đội, huynh đệ chi binh hầu như thể hiện trọn vẹn trong những tác phẩm vừa nói trên, tình cảm xây dựng trong bao nhiêu năm trời qua vẫn còn nguyên vẹn.

– Những uất hận, tủi hờn, bất mãn, chống đối được thể hiện qua những ánh mắt, nụ cười ngạo nghễ, chẳng những tạo nên niềm tin tưởng và tự hào cho bản thân của mình, mà trở thành động lực thúc đẩy mọi người cùng chung cảnh ngộ, tìm lẽ sống tinh thần, để chờ đợi ngày mai, dù ròng rã bao nhiêu chăng đi nữa.

– Trong những tác phẩm nầy, rải rác trong thái độ, tư tưởng, tình cảm đã nói lên niềm hy vọng của những người từng sống trong những chuỗi ngày hoàn toàn như vô vọng. Lời kết luận chung của những tác giả là: Nếu không tự tạo cho mình một niềm tin và một lý tưởng sống, thì sẽ ngã gục trong chế độ lao tù nầy một cách nhanh chóng, dựa lưng nỗi chết trong từng ngày từng đêm.

– Sau cùng là niềm tin son sắt của những người cựu tù bao giờ cũng trở thành giá trị tinh thần bất biến. Niềm tin trở thành động cơ vững chắc nhất để bảo toàn lý tưởng cao đẹp, sống còn của mình; lòng tin có thể động viên được đồng đội cần nhẫn nhục, sắt đá, “trơ gan cùng tuế nguyệt” để có thể hy vọng được một ngày mai reo vui.

Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy những cựu tù nhân chính trị Việt Nam khi sang đến bến bờ đất nước tự do đã hăng say tiếp tục lý tưởng tranh đấu của mình, vạch trần tội ác của chế độ, đồng thời tham gia tích cực đóng góp cho nền chính trị của cộng đồng người Việt, mong chờ ngày mai đây lật ngược lại thế cờ, xây dựng lại đất nước tự do, dân chủ.

Văn chương trở thành những tiếng phẫn nộ sôi động dồn nén trong một chục năm qua.

Nhà văn hào Victor Hugo thường bảo: “Trong nhà tù, con tim của mỗi người có thể cứng lại và cũng có thể vỡ ra”. Cứng lại, để rèn luyện cho bản thân mình chống đỡ trước những tai ương, kiềm chế, quản thúc của bạo lực; và vỡ ra, một khi có cơ hội thuận lợi để trút hết mọi nỗi niềm. Đọc những tác phẩm trên, một người dù bình dị đến đâu, khách quan đến đâu, cũng không thể nén được những xúc động sâu sắc như thế.

Với hoàn cảnh khó khăn khi vừa mới định cư tại xứ người, phải đương đầu với trăm ngàn vấn đề trong cuộc hội nhập, nhưng những cựu tù nhân chính trị đã đóng góp phong phú những công trình sáng tác của mình, với tâm nguyện được nung nấu từ lâu, hoài bão sâu xa và niềm thao thức lưu lại những gì cho cuộc sống mới của mình.

Chức năng của những cựu tù nhân chính trị trong tập thể sinh họat cộng đồng người Việt hải ngoại đã đóng một vai trò quan trọng, không ai có thể chối bỏ được. Sự hiện diện của họ trong những tổ chức chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, truyền thông, báo chí trong những năm tháng gần đây đã gây nên những sinh khí đồi dào, hăng say, phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu, cho những người đến trước thấy được những gì đang xẩy ra trên đất nước Việt nam thân yêu trên mười lăm năm trời nay.

Tập hợp tất cả những chất liệu qua những sáng tác phẩm mang nội dung trên, những nhà phân tách xã hội học và tâm lý học sẽ có đầy đủ những dữ kiện và chứng liệu cần thiết, để nhìn thấu đáo bản chất của chế độ.

Viết để tường thuật lại những cảnh huống hiếm có trên mặt đất nầy, viết cho những người đồng đội, viết gửi gắm cho những người còn ở lại quê nhà, viết cho những linh hồn đã khuất, sự kiện viết lách nầy đã vượt ra khỏi tánh chất thông thường, để trở thành những chứng liệu vô cùng quý báu, một thời đã qua và một thời đã khuất.

Trên một góc độ khác, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam hải ngoại cũng đã dựng lên những nội dung cực kỳ phong phú chung quanh đề tài trên, góp phần không nhỏ, với những bút pháp cực kỳ tinh vi, sắc bén và sinh động của họ.

Văn học sử Việt nam trong giai đoạn hiện nay đã tạo dựng được những giá trị lớn lao, trong đó, những công trình văn học nghệ thuật của những cựu tù nhân chính trị chắc chắn giữ một vị thế không nhỏ.

Có nhận thức được những ý nghĩa trên, chúng ta mới cảm thấy những công trình sáng tạo đó mới đúng chân giá trị của nó và mục đích sáng tác mang tính chất cao cả vô cùng.

Những sáng tác phẩm điển hình đã nói lên những khía cạnh sâu sắc, bén nhọn, chứa đựng cả một nhân sinh quan và nhận thức quan phong phú. Bích Huyền với những kỷ niệm ngàn năm không phai; Huy Phương trong những năm tháng tủi hờn nhưng vẫn giữ được những hình ảnh vàng son của vùng trời xứ Huế oanh liệt và đài trang “Với Huế thương yêu dấu muôn đời”, Nguyễn Hữu với lối nhìn lạc quan hơn hướng về tương lai, trong niềm kiêu hãnh hiếm có, Lữ Tuấn với nhận định sắc bén và suy luận toàn diện, viễn kiến, hoài niệm của Chu Tất Tiến nghe như cả một trời thương yêu, hoài cảm xót xa. Những sáng tác của những cây bút H.O, như: Phạm Tất Thắng, Nguyễn Chí Thiệp, Quế Chi, Nguyễn Tiến Đức… đã chứng minh những hình ảnh vô cùng sâu sắc, vô cùng sắc bén của một thời tù ngục.

Những đóng góp của những nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận: Nguyên Sa, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp, Phạm Trọng Phúc, Võ Văn Hà, Đỗ Quý Sáng, Phùng Ngọc Ấn, Duy Lam, Hồ Đăng Định đã ra sức xiển dương và hình thành cấu trúc của một nền văn học đặc thù trong văn học phản kháng.

Tập hợp và ấn hành một số văn thơ tiêu biểu trong Tuyển tập nầy, không gì khác hơn là chúng tôi muốn trình bày một số góc độ của những giá trị trên. Những người cựu tù nhân chính trị được định cư đông đảo chừng nào, thì những tài liệu và tác phẩm cùng khuynh hướng trên lại càng phong phú bấy nhiêu.

Trong tuyển tập nầy, những tác giả tham dự có thể nhà văn, nhà thơ, là những chiến sĩ can trường, là những chứng nhân của thời đại; nhưng dù trong góc độ nào đi chăng nữa, ý nghĩa vẫn chung nhất: nói lên cho mọi người Việt Nam, bất luận trong địa bàn nào, chiến tuyến nào, đều thấy được những gì đã xẩy ra, những gì nổi bật nhất của chế độ bạo tàn, đồng thời, ca ngợi ý chí bất khuất của người dân tranh đấu sống còn, bảo vệ khí phách và quyết tâm của những người chịu cảnh lao tù.

Trong trường hợp có đủ phương tiện và những sự hợp tác quý báu của những tác giả, chúng tôi sẽ cho ấn hành những tác phẩm cùng loại kế tiếp.

Trung Tâm Sinh hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị VN thuộc Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam tại Los Angeles khởi đầu những chương trình Tuyển Tập “Viết từ Miền Đất Hôi Sinh” nầy bằng những tác phẩm điển hình cho từng bộ môn và khuynh hướng sáng tác, để từ đó, hoạch định những Tuyển Tập trong những tháng tới. Kế hoạch mang tính chất lâu dài, tuy nhiên, việc tiến hành ra sao, cũng tùy sự hưởng ứng của những cây bút trong tập thể cựu tù nhân chính trị, những nhà văn, nhà báo tâm đắc và cùng hướng vào mục đích chung.

Như đã nói, chúng tôi tuyển tập trong mục đích trình bày những khía cạnh đặc thù, những giá trị điển hình. Nhưng vì mọi giá trị tác phẩm đều có những sở đắc và sự phong phú của nó, cho nên đây chỉ là bước khởi đầu của những chương trình tập hợp trong hiện tại và tương lai.

Los Angeles, tháng 11 năm 1991
KIÊM THÊM


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply