Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 28 May 2025

Chim Hót Ngoài Song
Đỗ Quý Sáng

Tháng 7-1975, mùa hè ở vùng New England thật là êm ả. Bọn sinh viên Việt Nam ở Hải ngoại lại tập họp về trại hè. Lần này tôi đem theo gia đình vì vợ và con tôi chạy thoát được ra ngoài. Năm ngoái, 1974, ở Đại Hội Sinh Viên Trại Hè tại Chicago, tôi bị chỉ định mặc áo dài khăn đóng để đóng vai cô dâu chú rể. Lúc ấy mấy gã độc thân trai trẻ không anh nào dám đóng vai chú rể, sợ bị vướng thật. Còn tôi, vợ ở Việt Nam, mà tôi lại có kinh nghiệm lấy vợ từ 1971 nên chi đóng vai chú rể hẳn là không khó. Năm nay, tôi nghiễm nhiên là một lão sinh viên. Thật quả lần này, không thể ngờ được, là tôi lại đoàn tụ gia đình bên Mỹ. Dẫn vợ đi đại hội sinh viên tôi cũng nhột lắm, nhưng không thể nào để hai mẹ con bơ vơ ở nhà. Bà vợ quê mùa của tôi sẽ phải ăn nói ra sao với bọn nữ sinh viên du học tân tiến? Lại còn cháu bé ba tuổi! Bạn bè có chế giễu tôi là lão sinh viên không? Sinh viên mà có vợ con thì kể như đi tiêu rồi. Suy nghĩ thì vậy nhưng mà không đem vợ con đi theo đại hội thì kể như cuộc đời còn rắc rối hơn. Thôi, cũng liều nhắm mắt đưa chân. Tôi là chủ bút tờ báo sinh viên, dứt khoát phải đi phó hội. Số báo “Chuông Việt” đã phát hành, tôi phải đem theo. Số báo này có một bài gay cấn do ông Nguyễn Xuân Nhị viết. Ông Nhị là nhân viên ngoại giao Tòa Đại Sứ của ta ở Thái. Là một người có kinh nghiệm đấu tranh với Cộng Sản… ông tiên đoán Cộng Sản sẽ bắt đầu giở thủ đoạn. Bài viết của ông dựa trên giả thuyết… cứ theo những quan điểm của Cộng Sản… thì đây là việc chúng sẽ làm… Từ đó ông suy diễn ra những hành động đổi tiền, tịch thu tài sản, bắt lao động cưỡng bách…, thủ tiêu người quốc gia. Vài anh em sinh viên trẻ khi duyệt bài của ông Nhị thì có vẻ ái ngại. Bởi cái tinh thần học ở bên Mỹ nó rất thơ ngây. Có anh suy diễn: Việt Cộng không ngu dại gì lại bỏ lỡ cơ hội hòa giải hòa hợp. Nhất định không có bắt bớ, họ khẳng định! Họ cũng phê bình lối viết giả tưởng, một lối viết họ cho là bóp méo sự thật.

Là chủ bút tờ báo sinh viên duy nhất ở đất Mỹ lúc đó, tôi thật sự đem bàn cân ra suy nghĩ. Ông Nhị bảo vệ cho quan niệm của ông. Ông cho rằng ông không viết theo giả tưởng. Bọn sinh viên du học Mỹ quá thơ ngây đến độ bị lừa bịp. Làm gì có chuyện hòa giải hòa hợp. Bọn Vẹm nhất định tiên hạ thủ vi cường. Ông ký bút hiệu Nhị Nguyên và nói rằng Cộng Sản chúng theo lối độc đạo… độc nhất nguyên. Ông đứng trên quan điểm nhị nguyên để soi sáng vấn đề.

Cuối cùng thì tôi quyết định đăng bài của ông Nhị Nguyên. Tôi nghĩ rằng cả trăm ngàn người dọt chạy nạn Cộng Sản, nhất định phải có lý do. Chiến tranh đã chấm dứt, một bên thắng một bên thua, bên thua cảm thấy như thế cũng xong, bây giờ là lúc chờ xem.

Khi báo được phân phối vào buổi sáng thì buổi trưa một tốp sinh viên kéo đến chất vấn tôi và kết án việc cho đăng bài chống Cộng trong một cuộc chiến đã ngã ngũ. Thôi thì họ làm đủ thứ ồn ào. Tôi cắt nghĩa cho họ thế nào là tự do tư tưởng. Tôi đòi hỏi họ phải áp dụng những giá trị cơ bản đó trong quan điểm phê phán. Những người này quả quyết không có vấn đề biển máu. Tôi cho rằng trăm ngàn người bỏ chạy đã nói lên chính xác của dự phóng. Tất nhiên mấy người phản chiến không chịu luận điệu này. Vả lại họ đã khoác cho họ một chiếc áo choàng chiến thắng, muốn đồng hóa họ với phe thắng trận, kiếm chút thỏa mãn tự ái. Thuyết phục những người này lúc hai bên còn lâm chiến bất phân thắng bại đã khó. Khuất phục họ lúc thế cờ của họ đang lên khó khăn bằng đi lên trời. Họ cho rằng những người bỏ chạy là nạn nhân của chính đường lối tuyên truyền ngáo ộp hóa Cộng Sản. Rất mừng là kỳ đại hội sinh viên này có khá nhiều thân nhân của sinh viên đi theo. Dân số chống Cộng ở đại hội vẫn đè bẹp phe thiểu số đón gió hào quang chiến thắng. Nhất là những người này vừa từ quê hương tị nạn chạy qua. Có hay không có biển máu cho những người xấu số kẹt lại bên nhà trở nên một đề tài nóng bỏng ngoài những đề tài liên quan đến vai trò sinh viên du học đối với công cuộc trợ giúp đồng hương.

Trong những người không tin có biển máu phải kể nhóm đi theo tàu Việt Nam Thương Tín trở về. Số phận những người này cũng chưa có tin tức gì xác nhận vào lúc ấy.

Đề tài phải thích ứng với đời sống mới như thế nào trở nên sôi nổi bởi vì sinh viên du học lâu nay không được phép làm việc trên đất Mỹ. Anh em phần lớn chỉ có kinh nghiệm làm bồi bàn và rửa chén ở mấy tiệm ăn Tầu. Nay phải đi kiếm job, họ cũng không tài ba gì hơn người mới qua là bao nhiêu. Đặc biệt họ lại mù tịt trong vấn đề các chương trình xã hội … bởi vì chính họ… từ trước tới nay không có điều kiện thụ hưởng.

Đề tài Biển Máu do đó sôi nổi được một lúc rồi… lạnh luôn. Không phải dùng lý luận cũng hiểu là tâm lý ai cũng không muốn có biển máu xẩy ra. Lý luận một hồi cũng đâm ra nhàm bởi vì nếu có biển máu thì chúng ta làm được gì? Không ai muốn đặt cho mình vào vị thế khó xử! Quan điểm ngầm là lạy trời không có biển máu xảy ra! thế thôi. Trong khi đó biết bao cơ cực và đầy ải xảy ra trên khắp các vùng đất nước mà người ở ngoài không sao biết được.

Vào những năm đầu tiên tin tức về Việt Nam quá mù mờ. Dần dần nhờ các vụ vượt biên, đi chui hoặc đăng ký của thuyền nhân mà một số dữ kiện về học tập cải tạo tù đầy được tiết lộ. Tin tức liên quan đến thảm sát và diệt chủng ở Campuchea được thế giới chú ý đến hơn. Chiến tranh Hoa – Việt vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80 lại càng làm số phận những người tù cải tạo không được chú ý đến. Dần dần các phong trào ở hải ngoại tranh đấu mỗi lúc lên cao và tin tức về số phận nửa triệu người bị cầm tù trong các trại cải tạo được phơi bày.

Bên Âu Châu lúc đầu có nhiều tin tức sốt dẻo hơn, vì số người được cho phép rời Việt Nam qua Pháp dễ dàng hơn bởi quan hệ ngoại giao hai nước. Từ năm 1976, tôi đã được nghe những chuyện lạ đời như nhổ một củ khoai ăn lén là bị cán bộ Cộng Sản bắn chết. Đối với đời sống no đủ ở ngoại quốc và ở nơi mà nhân quyền được tôn trọng, câu chuyện khủng khiếp như vậy không mấy ai tin. Ban đầu người ta còn hồ nghi vì không ai nghĩ Cộng Sản lại có thú tính dã man như thế. Tin này dồn dập với tin kia và nhân chứng sống mỗi ngày mỗi đông, không tin cũng không được.

Ông Nhị Nguyên nói thế mà đúng… những sự thật về Cộng Sản không thể phủ nhận. Tôi tự hào với sự chọn lựa đăng bài của Nhị Nguyên và thầm nhủ đáng lẽ… chả có gì là tự hào mới đúng bởi vì nếu có kinh nghiệm đấu tranh lẽ ra phải… nhìn rõ như hai với hai là bốn. Những lý luận rằng Cộng Sản Việt Nam không áp dụng lối biển máu như ở Campuchea tức là chúng nhân đạo hơn, liên tiếp bị những nhân chứng sống phản ứng mạnh mẽ. Ai cũng cho rằng Cộng Sản Việt Nam tinh vi ác độc hơn… chúng bóc lột sức lao động và hành hạ đầy ải người thất trận một cách vô nhân đạo, để cho người bị cầm tù sống dở chết dở… mà không mang tiếng xấu quốc tế.

Mỗi câu chuyện tôi nghe kể làm ghê rợn và ơn ớn ở khắp cơ thể không phải chỉ ở cổ của người bị cắt tiết, không phải chỉ ở cổ chân nơi bị xiềng xích, không phải chỉ ở khuỷu tay bị đánh gẫy rồi đem đi mổ sống, mà cảm giác rờn rợn chạy khắp quanh người. Hồi còn nhỏ mỗi lần nhìn thấy cắt tiết gà vịt, tôi rợn ở cổ và không muốn… ăn thịt gà vịt. Ba tôi mỗi lần cắt tiết gà vịt thường đọc câu niệm: “cắt tiết sát kê hóa kiếp này ra kiếp khác.” để cho đỡ mang tội. Những câu chuyện cổ tích về báo oán như đánh rắn bị báo thù, cứu con cá nhỏ được vua Long Vương thủy tề báo ơn dường như lúc nào cũng pha trộn trong tâm thức để ngăn chuyện ác, khuyến chuyện lành. Những lần phải phụ cầm cánh con gà hoặc cánh con vịt, tôi kinh nghiệm là trước khi gà vịt chết chúng vùng mạnh lắm có lần tuột ra khỏi tay tôi. Cứ liên tưởng những hình ảnh đó đối với con người lại làm tôi ớn lạnh. Tiếp chuyện với những người cựu tù nhân học tập, tôi không thể nào ngưng được dòng dĩ vãng.

Khi còn 7, 8 tuổi ở Hà Nội tôi đã gặp những người ăn mày hai tay run lẩy bẩy. Tôi thường năn nỉ mẹ tôi cho tiền những người này. Chúng tôi hỏi han vì sao họ ra nông nỗi ấy. Phần lớn họ nói bị Tây bắt và bị tra điện. Những trẻ sống ở thành thị thường chỉ nghe tiếng Tây say rượu la ó với phu xe xích lô. Chúng ít có dịp nhìn thấy cảnh người đánh người. Một đứa bé như tôi, tôi có may mắn hơn, vì thật quả tôi mới từ quê ra tỉnh có vài năm, óc còn mang những hình ảnh hãi hùng. Đồng quê Việt Nam quá thanh bình và quá đẹp. Chiến tranh đã làm cho tan nát. Không phải là tan nhà nát cửa về thể chất mà tan nát cả tấm lòng trong trắng.

Tôi rơm rớm nước mắt, kéo tay mẹ tôi lẳng lặng từ giã những người ăn mày chiến cuộc. Tôi thường có những lần nằm mê. Giấc mơ có nhiều sợ hãi. Mỗi chiều trở lại, thì cơn sợ của tôi cũng trở lại. Tôi không biết tối nay phải trải qua những cơn mơ quái đản gì nữa đây. Tôi không hỏi mẹ, vì tôi biết mẹ tôi không có thì giờ suy nghĩ trả lời. Vả lại con nít nhỏ ở Việt Nam… những âu lo của nó… có gì quan trọng lắm đâu. Nhất là trong thời chiến.

Năm tôi lên sáu, chứng kiến cảnh Tây về làng. Mõ làng đánh liên hồi. Mọi người phải tụ họp ở sân làng. Thanh niên, trung niên bị xét hỏi giấy tờ. Người nào không ra trình diện kịp thì bị đòn nặng. Tôi là một đứa bé cũng phải theo mẹ tôi ra trình diện. Ba tôi tất nhiên là không có ở trong làng vì ông còn kháng chiến chưa về tề. Có khi ông đã bị bắt nhốt ở nhà pha Hỏa Lò rồi. Thời gian quá xa mà lúc đó tôi quá nhỏ không được mẹ tôi cho biết chi tiết. Người trung niên bị Tây bắt ở đình run rẩy lạy lục lắm. Tây không đánh, mà một người Việt Nam mặc đồ nhà binh đánh đấm đá túi bụi. Người nhà quê ấy kêu la rống lên. Anh ta bèn được lệnh há mồm ra và đổ nước mắm vào cho uống. Sau đó, anh ta được uống liên hồi một thùng nước lã, nước ao ở đình làng. Lúc anh ta bị cởi áo ra thì cái bụng đã trương phượt lên. Người “Việt gian” lúc ấy hùng hổ vừa chửi vừa đạp đôi giày “săng đá” lên cái bụng nước ấy. Mỗi lần đạp thì từ miệng anh nhà quê nước lại phun ra. Tôi không nhìn thấy máu nhưng tiếng chửi rủa, tiếng kêu đau rõ mồn một. Cả làng ngồi ở đấy mà yên lặng như tờ. Trẻ con như chúng tôi, có đứa nhỏ hơn tôi, đầu còn để mấy cái cút, mớ chỏm tóc, cũng không đứa nào dám hó hé. Nín thở. Bất lực. Phó mặc.

Một sáng nắng đẹp trời, không có Tây, mẹ tôi phơi thóc và chiếu ra sân. Tới gần trưa mẹ tôi kêu tất cả các con lại, trao cho mỗi đứa một cái túi xách nhỏ. Tiểu đội chúng tôi ra tới đầu làng, tách vào đường ruộng. Chúng tôi như lũ vịt con theo chân mẹ đi trong ruộng lúa. Đến khi gần tới địa phận Tỉnh có đồn lính Tây gác chúng tôi mới lên lại đường cái. Nhìn thấy Tây đen gạch mặt (gốc Phi Châu – Sénégal) tôi lạnh cả xương sống. Tây về làng đánh đập, sao mình lại về đây hả mẹ. Tôi hỏi âu lo. Mẹ tôi chỉ nói về Tỉnh ở thì chúng nó không đánh đập nữa.

…Những quá khứ sóng gió như thế thường tạo cho mình những giấc mơ khủng khiếp. Tôi nghĩ những người tù nhân chính trị gọi là cải tạo cũng vậy. Họ vẫn còn những giấc mơ ám ảnh, sợ hãi. Người còn minh mẫn thì thở phào tỉnh dậy với cảm giác…thì ra chỉ là một cơn ác mộng. Người yếu tiếp tục kéo theo  cơn sợ cả ngày. Ông Trang Tử nằm mơ thấy mình là con bướm bay một cái đi khắp vũ trụ… vào khoảng không… ông gọi là thái chân chi du… Lúc ông tỉnh dậy quên cả mình là Trang Tử. Nằm mơ vào cõi mê ly đó ai là không muốn, nhưng những giấc mơ của người cựu tù Cộng Sản không đẹp như vậy… nó toàn là máu… là xô đẩy… là khiếp hãi… là nhìn thấy bạn bị bắn chết… là thấy sắp đến lượt mình bị hành hạ. Họ tỉnh lại, với mồ hôi vã ra như tắm. Bần thần. Uể oải. Chán nản. Nghĩ đến thực tế… rồi mấy tháng phù du sẽ trôi qua. Trong mơ cũng khủng khiếp mà thực tế cũng hãi sợ. Sống trong cơn lốc.

Tôi không có kinh nghiệm ở tù. Chưa ở tù lấy một ngày trong đời. Có lẽ vì vậy tôi kém nhạy cảm về quyền lực của kẻ thống trị. Có người bảo tôi chưa từng trải vì nói năng… không đề phòng. Có lẽ các anh ấy nói đúng. Một con chim dù là chim bồ câu ở Việt Nam cũng rất thận trọng khi gần người. Ở Mỹ, chim cứ sà vào tay người ta mổ hạt mà không sợ bị chụp. Vì cuộc đời của tôi từ khi trưởng thành hít thở không khí tự do, phần lớn lại là ở các đại học. Nơi mà quyền ăn nói phát biểu được tôn trọng nhất. Có người bảo tôi khéo nói. Nhưng nội dung lời nói thì mang những ý kiến phản kháng. Phản kháng tuổi già, cản chân giới trẻ! Phản kháng giả đạo đức! Phản kháng tinh thần quan liêu chết nếp! Tôi chưa ở tù vì làm gì sái quấy nhưng phải vạ miệng thì có rất nhiều. Một con chim chưa bị đạn, chưa từng bị người vồ bắt, rình rập, ắt hẳn kém nhạy cảm và vì thế dạn dĩ hơn con chim ở Việt Nam giữa thời giông loạn. Đấy là nhược điểm của tôi.

Nhưng tôi lại có nhạy cảm về sự đau khổ của người khác. Một người nhà quê bị Tây giật điện. Một người thương binh tàn phế cụt chân bán vé số trên đường Tự Do, một em bé bụi đời đánh giày trên hè phố… những hình ảnh ấy rướm máu trong tim tôi và thường làm tôi xúc động. Mặt khác, một ông Tướng hống hách… di chuyển ở quân đoàn có tiền hô hậu ủng, có quân cảnh bảo vệ nhẩy xổ xuống đường xô ngã một ông già đi xe đạp để đừng phớt qua chiếc xe của vị Tướng… hình ảnh mà tôi nhìn từ văn phòng Tòa Hành Chánh Tỉnh Biên Hòa… làm tôi phẫn nộ với kẻ quyền lực.

Thứ cường quyền mà Cộng Sản áp dụng là một thứ cường quyền có thể làm cho người ta tức ói máu lên chết được. Tôi nghe lại những cách xử và giải quyết sự việc của các cán bộ Cộng Sản do những người cựu tù học tập kể lại… mà thầm phục cho những người sống sót. Thật vậy, khi kẻ cường quyền không màng đến sự sống chết của người dưới tay, thì cái dũng của Thánh nhân là một cái dũng quá dại dột. Bởi vì làm như thế là dọn cho mình cái chết thế thôi. Nhưng mà cũng không được hèn hạ để cầu sướng thân hơn anh em bạn tù. Cái khó cho người sống sót mà giữ toàn danh tiết là ở chỗ đó. Tôi không hiểu sao tôi đã làm thơ than khóc cho những cô nhi khốn khổ, đã làm thơ cám cảnh “Thương binh đợi bạn về”, mà tôi chưa làm thơ về người tù cải tạo.

Một dạo tôi định làm thơ bởi vì tôi đã nghe quá nhiều các câu chuyện do người tù cải tạo kể cho tôi nghe về thân phận và nỗi đọa đày của họ. Chất liệu họ có đủ tại sao tôi không làm được? Một lần tôi đọc thơ của Luân Hoán viết về người cải tạo đi gỡ mìn. Tôi xúc động và không dám làm thơ thác lời người cải tạo. Làm như thế tôi cho là mất phong cách của người cầm bút. Hằng trăm ngàn tinh hoa miền Nam bị đẩy vào các trại cải tạo khắp các vùng đất nước. Những địa danh Trảng Lớn, Long Giao, Hàm Tân, Kà Tum, Đầm Đùn, Thanh Hóa, Hoàng Liên Sơn… rộn lên sợ hãi. Đất nước ta có những địa danh Vạn Kiếp, Tam Điệp, Bạch Đằng Giang, Chí Linh, Chi Lăng, Hàm Tử Quan… rền vang trong tâm thức Việt. Hùng tráng. Oanh liệt. Những địa danh ghê rợn do Cộng Sản cống hiến cho lịch sử sẽ viết tội ác của họ đến muôn đời. Tôi không thể lấy đi cơ hội của những người tù cải tạo nói lên nỗi oán hờn cũng như niềm tự hào của họ. Chính các anh mới là những tác giả chân thành và chính thống. Khi các anh viết về các anh, lịch sử lắng nghe và lịch sử ghi nhận. Anh Kiêm Thêm là một nhà văn, lại là giám đốc các chương trình huấn nghệ và trực tiếp điều hành trung tâm sinh hoạt cựu tù nhân chính trị Việt Nam ở Los Angeles. Tôi đề nghị với anh ước vọng của tôi là cộng đồng có một tuyển tập của các cây viết cựu tù cải tạo. Tôi biết anh Kiêm Thêm quá bận rộn với các chương trình, và báo chí do anh chủ trương, nhưng “Ngục văn nhất hữu, phiếm luận bách vô.” Tôi bắt chước câu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” của thời hủ lậu để trình bày là dù anh xuất bản 100 quyển tạp luận cũng chẳng kể chi, nhưng một cuốn tuyển tập của những cây viết tù cải tạo là kể như có một sự đóng góp lớn. Nhất là nếu được những người chưa hề viết bao giờ nay phải viết ra thì đúng là “vật cùng tắc minh” có lẽ sẽ vô cùng xúc động!

Đã có rất nhiều nhà văn viết lên cuộc đời của họ qua các trại tù. Thỉnh thoảng trong vài tập có nêu những gương can đảm trong thời cải tạo … Những người can đảm thì phần lớn là nhận lấy cái chết. Ngoài ra, thì đều phải tập nhẫn nhịn như một thứ thiền bất đắc dĩ cho khỏi nộ khí xung thiên hoặc tức mà chết, hoặc vọng động mà đưa mình đến chỗ chết. Tôi nghĩ rằng người chết cũng đã vinh danh mà người sống cũng đáng được ca tụng nếu họ nói được cho loài người nghe nỗi đau đớn của họ. Tuyển tập viết từ MIỀN ĐẤT HỒI SINH với 26 tác giả đóng góp bài vở hy vọng làm được điều mong ước chung này. Tuyển tập này do Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam, Trung Tâm Sinh Hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị Los Angeles xuất bản gởi tặng các anh em H.O mới sang như là một món quà văn nghệ. Hy vọng trong tương lai những tác phẩm như thế này sẽ được thực hiện đều đặn. Mong các cây viết H.O, các nhà văn, thơ cùng các mạnh thường quân tiếp tay với UVCC trong mục tiêu kể trên.

Khi tôi nói chuyện với một nhóm cựu tù cải tạo mà nay đã thành danh vì có tên tuổi thì có một điều lý thú là họ hết sức chân thật cả đến những khuyết điểm của mình.

Một hôm chúng tôi hội họp vui vẻ. Anh chủ xị đóng vai quản giáo, một cựu thiếu tá Hải quân, Thiếu tá Chuộng, mặc dù anh Chuộng hình như chạy thoát từ 75. Đóng vai quản giáo ngu dốt thì ai mà chả đóng được. Hồi xưa dưới đời nhà Minh, Bồ Tùng Linh không biết phải châm chọc chế độ độc tài cách nào cho an toàn. Ông bày ra chuyện hồ ly tinh. Ông dựng quán bên đường, ai có chuyện ma quái hay ho thì đến kể và được thưởng rượu. Nhờ sáng kiến này chúng ta mới có bộ ngoại thư Liêu Trai Chí Dị mà thưởng thức những cảnh ái ân ma quái. Tôi bắt đầu buổi họp ở Chicago bằng bốn câu thơ:

“Cô vọng ngôn chi cô thính chi
đậu bằng qua giá vũ như ty
Liễu ưng yếm tác nhân gian ngữ
Ái thính thu phần quỷ xướng thi.”

Tản Đà dịch:

Nói láo mà chơi nghe láo chơi
Dàn dưa lún phún hạt mưa rơi
Chuyện đời chán ngắt không thèm nhắc
Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời.

Anh em liền nổi hứng kể chuyện mình và kể chuyện người.

Bằng một giọng cảm động, anh Mai Tất Đắc, Chủ Tịch Hội Người Việt tại ILLinois phát biểu: “Phải công nhận là nếu chúng ta, gốc sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà bị cải tạo không chết thì chúng ta cũng đã có tí hèn rồi. Chúng ta phải làm cái gì chuộc lại.” Anh em hoan hô cựu sĩ quan Hải quân Mai Tất Đắc… người đã làm bài thơ tự trách “Ta như bầy chim trốn tuyết“.

Nhà văn Vũ Uyên Giang đứng lên hát bài “Kha Tư Giáo”, anh bắt đầu giọng trầm buồn hát bài hát mà anh khiếu nại là đã làm trong dịp chứng  kiến cái chết tàn nhẫn của Kha Tư Giáo ở trại tù cải tạo.

… “Kha Tư Giáo là một sĩ quan cứng cổ đã từng bớp tai cấp trên và được cho đoái công chuộc tội lao công chiến trường. Một thứ Nguyễn Công Trứ bị phạt đi “tiền quân hiệu lực”. Kha Tư Giáo hạch sách cán bộ Cộng Sản: “tại sao chúng tôi có tội? chúng tôi yêu phần đất tự do và phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Nếu chúng tôi thắng các anh, chúng tôi chắc chắn đối xử với các anh tốt hơn là chính Đảng đối xử với các anh nữa!”

Bọn chúng tôi lạnh mình… khi công an… lên đạn rầm rập. “Mày cứ bắn tao đi, tụi hèn” Kha Tư Giáo thách thức. Một tiếng nổ chát chúa. Kha Tư Giáo choạng đi, viên đạn xuyên vào chân. Kha Tư Giáo gào lên: “Mày không bắn chết tao là mày hèn”…

Cán bộ lôi Kha Tư Giáo sệch sệch đi như lôi một con dã thú bị thương.

Giáo không bị giết vì chú của Giáo là Kha Tư Ân, một cán bộ ở cấp Bộ Trưởng Bộ Thương Nghiệp Hà Nội. Kha Tư Ân viết giấy vào nói: “Cháu chỉ cần nhận tội theo ngụy, thì cháu sẽ được về”. Kha Tư Giáo mắng cán bộ quản giáo: “Tao không có thân nhân nào làm quan ở chế độ Cộng Sản cả.”

Một buổi sáng, công an đeo súng vào triệu tập cả trại tề tựu. “Hôm nay chúng tôi cho các anh cơ hội. Các anh được quyền xét xử tên Kha Tư Giáo. Chúng tôi đã kết tội tử hình. Anh nào đồng ý thì giơ tay.” Cả bọn tù ngồi xổm, không đứa nào giơ tay.

Tiếng súng AK lên nòng đạn đến rợn người.

Họng súng nâng ngang, rồi chĩa vào đám tù chúng tôi. Một vài cánh tay lác đác giơ lên. À, chắc là của ăng-ten. Không có lý. Vậy thì của vài thằng hèn sợ chết không gặp mặt vợ con. Thêm một đợt súng khác lên nòng. Thêm cánh tay “biểu quyết” thuận án tử hình.

Tiếng cán bộ nói: “Các anh đã đồng ý án tử hình cho tên Kha Tư Giáo, thôi các anh bỏ tay xuống.” Cả bọn tù thở phào nhẹ nhõm. Được một giây, ai nấy lại ái ngại cho viên cựu sĩ quan gan lì này.

Vũ Uyên Giang kết luận: 

“Thế là Giáo bị trói tay chân trên giàn, để khát để đói. Dai dẳng vài ngày không chết. Các vết còng bị ghẻ lở có dòi. Cán bộ cho nhúng tay  vào nước muối. Cuối cùng Kha Tư Giáo kiệt lực, lờ đờ. Không ai cứu giúp được gì. Mọi người lặng nhìn cái chết tàn nhẫn thoi thóp của anh. Ngày ấy mưa buồn phất nhẹ. Kha Tư Giáo có lẽ thấm được môi vài giọt nước từ trời cao rơi xuống.”

Nhà văn Việt Dương kể lại bằng giọng đanh thép dù người anh nhỏ yếu và gầy:

“Cách tra khảo thật là tàn nhẫn. Tôi bị treo ngược lên. Mười đầu ngón tay bị đâm kim gút và buộc lông gà tơ. Quạt máy được vặn lên xoay qua lại để phe phẩy vào các sợi lông. Mỗi lần lông gà xoáy, cơn đau của tôi không thể nào kể ra hết được.”

Một cựu Đại úy lục quân nói về số phận mình:

“Tôi bị đi Hoàng Liên Sơn đẵn nứa. Giang, nứa, tre, lồ ồ, cây bương cây mai. Những năm ở Sơn La và Hoàng Liên Sơn rét mướt vô cùng. Khi ở trong Nam tôi đã bị đập một báng súng vào màng tang ngất xỉu vì đi chậm. Cán bộ chửi rủa và cho rằng tôi muốn trốn. Ở trại Long Giao tôi mất hai người bạn. Đại úy Lê Đức Thịnh, dạy tình báo ở Thủ Đức là một trong hai người bị bắn chết. Thịnh viết thư gởi cho vợ và bị công an bắt được. Cán bộ bắt ra hành hình. Thư của Thịnh được đọc để kể tội. Thịnh nói cho vợ nghe: “Anh rất oán hận lũ Cộng, em ở nhà nhất định không cho con gái lấy bọn chó đẻ. Khi nào anh em bên ngoài tập họp xong, anh sẽ ra tiếp tay.”

Thịnh được buộc vào cột đèn xi măng của Mỹ để lại. Người thứ hai can tội trốn trại bị bắt. Cả hai bị không biết bao nhiêu viên AK bắn vào, thân thể cứ co lại rồi bật lên. Tôi không dám khóc. Một cái báng súng vào đầu ngất xỉu hôm trước, được coi là ơn huệ cảnh cáo. Từ Long Giao chúng tôi được chuyển trại. Về Tân Cảng lên thuyền than đá đi ra Bắc. Người tù xuống tầu ngồi co ro, được phát cho cái chai để tiểu vào. Ai đi cầu thì phải đợi. Tôi chờ xếp hàng từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, leo lên được miệng thùng phuy thì không thể đi cầu được. Trong bụng chắc không có gì tiêu hóa để phải hóa tiêu!

Trời nắng, cán bộ phun nước lên đầu, ai uống được tí nào thì uống. Sau 3 ngày 2 đêm, thì tầu cập bến Cẩm Phả. Đến trạm nào chúng nó cũng cho chuyển vào ban đêm. Khi xuống tầu, công an rọi đèn pha. Có cả chó dữ dàn chào, họng súng AK chờ đợi. Chúng tôi mặc kệ… chó cắn thì cứ cắn, sống chết không thành vấn đề. Từ đó chúng tôi được chuyển lên xe lửa. Chỗ nào đi qua có trạm là có “đồng bào” tập hợp la hét dọa đánh chết. Cán bộ công an phải ra sức cản cho họ… khỏi xông tới xé xác chúng tôi. Cán bộ lên tiếng: 

“Mấy anh phải đánh giá đúng điểm đứng của mấy anh. Mấy anh phải biết tội ác của mấy anh. Đồng bào sẽ giết các anh liền nếu Đảng không bảo vệ mấy anh”.

Chao ơi cũng chúng nó xúi, rồi lại lên tiếng nhân nghĩa hão. Chúng tôi bị bắt buộc phải biết ơn những kẻ cầm tù chúng tôi.

Đến phà Ô Lâu… bọn tù chúng tôi xuống xe qua phà. Xe giải phóng và xe molotova cũng lên phà. Từ bờ này qua bờ kia là hai giây cáp dài. Bọn móc thuyền móc từng nấc vào giây cáp kéo phà đi chứ không có máy móc gì. Chắc đây là sông Kỳ Cùng, tôi nghĩ như vậy.

Rồi thì đoạn đường di chuyển cũng phải đến.

Trại Hoàng Liên Sơn là một liên trại. Cứ sáu người chúng tôi thì có một cái thau. Trong bọn có một Đại Đức trước làm ở bệnh viện Cộng Hòa. Đại Đức này lo hái thuốc, hái lá để dành làm dược liệu cho trại. Một hôm bọn tù chúng tôi dấu được một củ khoai nhờ Đại Đức luộc giúp. Chỉ có thế mà Đại Đức này bị kiểm thảo là nhóm lửa ngoài giờ sắc thuốc. Bị kết tội là toan nấu thuốc độc đầu độc cán bộ. Khi bị giải đi Đại Đức nói với tôi, ông sẽ từ giã cõi đời. Khi được điều tra và được trở lại trại thì ông uống thuốc độc tự tử chết. Tôi không còn nhớ tên vị Đại Đức này nữa. Đầu óc tôi bây giờ không nhớ được gì khi cần nhớ nữa anh ơi.” –  người Đại úy cựu tù than trách. Ông nói: “Trong ba tháng tôi phải đóng quan tài chôn tới 9 người bạn ở đây. Bây giờ tôi nằm mơ là thấy máu, thấy lửa đỏ, tôi ghê rợn màu đỏ, trước tôi là Tiểu Đoàn Trưởng sao bây giờ tôi sợ sệt không giống ai cả.”…

Kịch sĩ Quản giáo Chuộng… lên tiếng kéo mọi người về thực tế: “Thôi mấy anh kể chuyện chống tôi quá, anh nào muốn làm quản giáo thì lên thế tôi đi.”

Cả đám anh em cựu tù cải tạo cười ồ. Anh Chuộng đóng vai quản giáo dễ thương quá, bằng không anh em đã xông tới siết cổ anh rồi. Bữa họp tại Chicago này làm mọi người lên tinh thần quá cỡ! Thật ra bữa tập họp này làm mọi người buồn vui lẫn lộn. Tôi không biết phải nói với anh em điều gì hơn. Sự khổ não của anh em bi thảm quá! thê lương và tàn nhẫn.

Mấy hôm nay một bọn đón tiếp cựu Đại Tá Việt Cộng Bùi Tín khi anh chàng này bỏ Đảng ở giờ thứ 25. Mấy người đại tá của chế độ cũ đi qua đây chẳng ai đón rước. “Thì ra vì chính trị người ta làm đủ mọi chuyện… còn bọn tù rục xương cải tạo qua đây có ma nào thèm đoái hoài.” Anh Tâm Trung úy Không Quân buồn nản than phiền trong buổi nói chuyện hàng tháng của anh và tôi.

Tôi chợt thấy mình ướt nước mắt khi người sĩ quan cựu tù cải tạo bước ra khỏi phòng. Làm tâm lý không có quyền cảm động để khóc trước mặt thân chủ. Nhưng không khóc làm sao được khi tất cả những thân chủ của tôi người nào cũng cơ thể mục nát, đi đứng  như những kẻ mất hồn. Họ không tin ở sự tử tế của loài người nữa. Tiếng chim hót bên ngoài trời có lẽ làm thoa dịu đau thương của họ hơn là lời khuyên giải của tâm lý gia. Ông cựu Đại úy Cảnh Sát Tuân đã nói với tôi như một giấc mơ nhẹ nhàng trong giọng Quảng Bình: “Tôi nghe tiếng con chim sáo kêu, con sáo tôi nuôi lúc còn làm cảnh sát, nó khôn lắm, bây giờ nó còn theo tôi.” Ông nói: “Ở Việt Nam hay ở đây, đất Mỹ tôi vẫn còn thấy hình như mình vẫn ở tù. Chỉ có tiếng chim hót làm tôi thoải mái.”

Tiếng con chim sáo làm cho Tuân thoải mái vì nó liên tưởng đến một thời anh đã sống. Nhưng anh tách rời tiếng con chim kêu với quá khứ vẫy vùng. Anh không tin ở quá khứ ấy nữa và muốn phủ nhận nó. Chấp nhận quá khứ là chấp nhận “tội lỗi”. Tẩy não đã làm cho anh phải chối bỏ quá khứ… Khi chối bỏ quá khứ thì anh cũng chẳng còn gì đáng sống. Tuân là người bệnh tâm thần nặng nhất của tôi. Tuân không phải là tên thật của anh. Có buổi nói chuyện làm anh quắc mắt giận dữ… có lúc anh nói như mê nhái lại lời Cộng Sản đã mớm cho anh… lúc tỉnh thì anh chán nản khóc lóc. Có buổi anh ca hát những bài yêu nước “quê hương là gì” một cách say mê. Tại sao các anh đã sống sót qua địa ngục trần gian? Nhiều khi tôi hỏi các anh tại sao đã không tự tử. Câu trả lời của những người sống sót đều là… phải tìm cho ra một lý do để sống. Sống để về nhìn mặt vợ con. Sống để về tạ tội với cha mẹ. Sống để gặp lại bạn bè. Sống để về kể lại những gì tai nghe mắt thấy. Sống để không thể chết được. Vô lý quá. Tôi phải sống. Sống để làm toán số đời nhân chia trừ cộng (có anh cải tạo đã chết vì lời nói này).

Vậy mà lạ lùng khi đặt chân lên Mỹ, cũng có những người cựu tù cải tạo thấy chán nản không muốn sống. Lý do để sống đã không còn nữa khi họ đến được bến an toàn. Có lẽ cần phải phát hiện ra một mục tiêu mới tại sao phải sống! Sống để kể mãi, kể mãi câu chuyện bi thương của từng người. Con chim đã sổ lồng dù nó vẫn còn bịn rịn tâm lý với cái lồng giam, chưa bay đi xa được. Chim hót lên tiếng hót ngoài song nhà giam. Hân hoan và tủi hận.

Từ thời thượng cổ đã có những tư tưởng chán nản cuộc đời:

“Thiên lý thảo hề thanh thanh
Tri ngã thử, nhi vô sinh. “

(Dọc đường cỏ mọc xanh xanh
Biết thân nông nổi đừng sinh làm người.)

Bây giờ tôi mới hiểu nổi những chán nản cùng cực và những ao ước vô lý vẫn song đôi nghịch lý:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm con chim nhạn tung trời mà bay.

Các anh H.O, các anh đã trả giá quá đắt cho tự  do… cái tự do xa xỉ mà bây giờ các anh cũng chưa biết phải xử dụng ra sao ở xứ Mỹ này ít nhất là trong vài năm đầu điều chỉnh.

Tôi xin dành lại các anh, trả lại các anh… những trang giấy trắng sẽ viết thành lời. Bài thơ người tù cải tạo xin trả lại cho các anh để viết lên từ tâm thức soi sáng bằng kinh nghiệm. Tập văn Viết Từ Miền Đất Hồi Sinh… tôi xin được góp phần nhỏ bé.

Đỗ Quý Sáng

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 28 May 2025

Chương 10.

Sau hai đêm sống ấm áp với bà chánh thất, Bá Vạn buồn rầu vì mấy vị sư nữ bên am tỏ vẻ phản đối. Họ không qua đến sân nhà bà chánh thất, không nhắc nhở bà tụng kinh gõ mõ. Bá Vạn ra ngoài ao sen. Bà chánh thất đến gần mà nói:

– Tình thế thiệt khó xử. Nếu có dư luận xấu, khổ cho tôi. Hay là ông qua nhà Tư Thính, hoặc đi viếng ông đạo Đất. Nếu lân la như thế nầy, chắc là mấy vị sư nữ buồn phiền. Bá Vạn hơi bực dọc:

– Ở nhà thì bị đuổi, tới đây ẩn náu qua ngày cũng bị đuổi. Ấy thế mà ông đạo Đất bảo rằng mạng tôi còn lớn nay mai trở lại chức vị cũ.

Bà chánh thất đáp:

– Hồi nãy mấy bà sư nữ hăm he tôi.

– Bà tu tại gia, theo lịnh độ, ai nói nặng bà được?

– Mấy bà sư nữ bảo rằng nếu ông cứ ở với tôi thì mấy bả sẽ bỏ am mà về núi…

– Được rồi! Năm mười ngày, tôi qua thăm bà một lần. Chắc là ở núi Mo So xảy ra nhiều chuyện lớn.

Lát sau, ông Bá Vạn đến nhà Tư Thính. Tư Thính mừng rỡ kêu lên:

– May quá! Cậu Cẩu gởi thơ cho ông nè!

– Ai đem thơ?

Tư Thính đáp:– Đứa hộ vệ. Nó chờ để rước ông về Hòn Chông. Nghe qua, Bá Vạn mừng đến run tay, phục tài tiên đoán của ông đạo Đất. Đúng là ông còn nặng nề công danh. Mở phong thơ ra, ông đọc nhanh. Đại ý trong bức thơ là ông Mười Hấu xin lỗi Bá Vạn về những lỗi lầm mà cậu Cẩu mắc phải trong thời gian qua. Theo Mười Hấu thì cậu Cẩu muốn mời Bá Vạn đi theo để tiễu trừ bọn cướp ở núi Mo So. Nếu thắng trận, Bá Vạn sẽ nắm quyền hạn quản gia như cũ.

Một khi cô Huôi khuyên bảo thì nhứt định chuyện sẽ thành công. Nghĩ vậy, Bá Vạn bèn lên tìm ông đạo Đất, nhờ ông cho người đến gặp thằng Thừa. Bá Vạn khuyên thằng Thừa giả vờ thua, chạy trốn. Nó sẽ được bảo đảm tánh mạng. Nếu quá sợ thì đến am ông đạo Đất mà cư ngụ trong một đôi tháng.

Những hàng chữ dưới bức thơ khiến Bá Vạn tin cậy hơn. Cô Huôi viết cho ông, khuyên ông nên về, vì đây là dịp để cậu Cẩu giảng hoà trong danh dự, tạm thời như thế. Bá Vạn nói với Tư Thính:

– Vậy thì tôi về. Cho tôi một hũ rượu.

Uống chén rượu, Bá Vạn thấy đầu óc minh mẫn thêm. Mấy tiếng “tạm thời như thế” khiến ông ta suy nghĩ kỹ hơn. Phải chăng cô Huôi khuyên Bá Vạn nên chuẩn bị kỹ lưỡng để sau nầy giết cậu Cẩu.

Tên hộ vệ chèo ghe thật nhanh, đến nửa đêm là tới Hòn Chông. Mười Hấu rước Bá Vạn qua nhà cô Huôi vì biết Bá Vạn còn ghét cậu Cẩu.

Cô Huôi nói:

– Ông Mười về nghỉ cho khoẻ. Cậu Cẩu làm gì bên nhà?

– Dạ, nó uống rượu say mèm, con Xí Vĩnh thì quạt hầu sáng đêm.

– Sáng mai, ông nhớ kêu cậu thức sớm.

Khi Mười Hấu vừa ra ngoài, cô Huôi đóng cửa lại rồi mỉm cười:

– Việc đời lắm khi quá khó rồi trở nên quá dễ.

Bá Vạn thêm kính nể đối với cô Huôi:

– Nhờ cô giúp mà tôi được trở về Hòn Chông.

Cô Huôi đáp:

– Trước kia, nghe ba tôi nói lại thì ông giúp tôi quá nhiều. Bây giờ tôi bàn như vầy. Chuyến đi đầu tiên, phải làm cách nào cho cậu Cẩu chết hụt rồi sau đó, ông ra tay cứu cậu Cẩu.

Bá Vạn nói:

– Thằng Thừa làm giặc vì nó binh vực tôi. Tôi nhắn tin rồi, làm đúng theo lời cô dạy. Nhưng còn chuyện nầy, tôi muốn hỏi kỹ: sau khi thắng trận, chẳng lẽ để cậu Cẩu sống hoài?

Cô Huôi cau mày:

– Ông muốn giết nó? Nên thận trọng vì lúc nầy cậu đang thắng thế. Sau khi dạy được bọn giặc cỏ ở núi Mo So, cậu được thiên hạ sợ sệt hơn trước. Với lại có Mười Hấu bên cạnh. Nầy Bá Vạn! Tôi thấy cậu Cẩu là người bất thường, khi thì dại dột nhưng lắm lúc quá thông minh. Người hơi điên, tánh tình khó lường được.

– Cậu ta hơi điên?

– Còn gì nữa! Luôn luôn người điên không bao giờ sống lâu. Ông cứ tin tôi, đừng nóng nảy hờn giận vô lý. Chưa ắt cậu sống dai hơn ông…Bây giờ thì ông cứ đi núi Mo So, chuyện dễ quá.

Nhơn chuyến lên núi vừa rồi, ông Bá Vạn đã suy nghĩ nhiều khi nghe ông đạo Đất nói đến những con cá kình, bằng sắt, đậu ngoài khơi Vịnh Xiêm La. Sớm muộn gì người Lang Sa cũng tới Hòn Chông. Bá Vạn sẽ chiếm đoạt một mớ tài sản của cậu Cẩu rồi chạy trốn, khi người Lang Sa đến! Bởi vậy phải giết cậu Cẩu, nhờ bàn tay của Xí Vĩnh.

Khi ngang nhà cậu Cẩu, Bá Vạn ghé vào. Cậu còn ngủ. Bá Vạn hỏi:

– Cô Xí Vĩnh, cậu thức chưa?

Xí Vĩnh khoát tay, nói khẽ:

– Cậu ngủ nhưng cũng như thức. Để tôi kêu thử.

Thừa lúc cậu Cẩu còn nhắm mắt, Bá Vạn sờ vai Xí Vĩnh bóp mạnh:

– Nhớ chuyện cũ không?

Xí Vĩnh hiểu đó không phải là cử chỉ mất dạy của lão già háo sắc. Nàng đoán chừng Bá Vạn khuyên nhủ nên nhớ đến mối thù xưa. Xí Vĩnh là tình nhân của A Chúa, người đã bị cậu Cẩu hạ nhục công khai.

Xí Vĩnh sờ bàn tay Bá Vạn, day lại, cúi đầu. Rồi nàng gọi to:

– Cậu ơi!

Cậu Cẩu mở mắt nhận ra Bá Vạn:

– Cái gì? Đi đánh giặc chưa? Ông đủ sức đánh tụi nó chớ?

Bá Vạn đáp:

– Nhưng phải có cậu đi mới được. Tôi là người quản gia, xưa nay chưa ra trận lần nào.

Cậu Cẩu vươn vai:

– Vậy thì tôi đi. Nhưng phải đi dọ thám trước. Để lâu sanh ra nhiều điều bất lợi.

Lát sau, năm chục tên hộ vệ mang dao mác lên đường. Vì sợ chết nên cậu Cẩu ngồi trên chiếc ghe hầu, đi sau chót. Xí Vĩnh cầm quạt, ngồi bên cạnh cậu Cẩu. Mặt trời lên cao. Núi Mo So hiện ra ở chân trời. Hai bên bờ rạch, nhà cửa vắng tanh, không bóng người. Bọn hộ vệ kêu lên từng chập:

– Thây ma chết trôi! Ghê quá!

Bá Vạn ngồi trên mui ghe, chui vào mui nói với cậu Cẩu:

– Gần tới chỗ nguy hiểm rồi.

Cậu Cẩu giựt mình ngồi dậy. Hai bên đồng cỏ hoang vu từng bầy quạ đen bay chập chờn. Có lẽ trên ấy vẫn còn vài cái thây ma hôi thúi.

-Lạ vậy? Mùi gì kỳ cục!

Bá Vạn đáp:

– Thưa cậu, chắc là nhiều người chống cự lại thằng Thừa, bị nó giết. Một cái thây ma vừa trôi qua.

– Bọn hộ vệ thấy điều gì lạ không!

– Theo ý tôi thì bọn thằng Thừa là cố thủ ở chân núi.

– A? Tụi nó chưa đụng độ.

Gần tới núi Mo So, bọn hộ vệ lên bờ, đi bộ. Chiếc ghe hầu của cậu Cẩu đậu lại. Tiếng mõ nổi vang lên. Một căn nhà lá bốc cháy sát chân núi. Cậu Cẩu la hoảng:

– Hộ vệ đâu? Đánh thử một trận!

Nghe qua, Bá Vạn nực cười vì rõ ràng cậu Cẩu là đứa trẻ con. Bọn hộ vệ tiến nhanh trong khi cậu Cẩu ra lệnh dừng ghe lại. Bỗng đâu một tên hộ vệ chạy trở về, mặt mày hơ hãi:

– Cậu ơi! Bên mình chết hai người!

Cậu Cẩu xám mặt:

– Sao vậy? Làm sao bây giờ?

Tên hộ vệ đáp:

– Trên núi, có treo hai ngọn cờ, một lá tam sắc, xanh trắng đỏ; một lá đen. Mấy người hộ vệ chết khi tới gần ngọn cờ màu đen. Bọn nó núp trong mấy căn nhà bỏ hoang, chạy ra thình lình, bên mình trở tay không kịp. Chém xong, bọn nó chạy lên núi, vô hang đá.

Cậu Cẩu hỏi Bá Vạn:

– Làm sao bây giờ? Ông tới coi thử.

Bá Vạn làm núng để hăm dọa cậu Cẩu:

– Tôi sợ quá. Tuổi già, hễ gặp bọn nào dùng võ lực thì tôi chạy. Cậu còn trẻ, dai sức hơn tôi.

Xí Vĩnh nói thêm:

– Cậu đánh một trận là tụi nó sợ. Cậu là người có tài..

Cậu Cẩu cằn nhằn:

– Bá Vạn tới trước, dò xét thật kỹ rồi tôi tới sau.

Nghe qua, Bá Vạn mừng thầm vì đây là dịp tốt để ông tiếp xúc riêng với thằng Thừa. Ông nhận lời nhưng nói dè dặt, đề phòng trường hợp cậu Cẩu nghi ngờ:

– Dò xét là phận sự của tôi. Nhưng cậu phải đánh chiếm núi Mo So mới được. Đó là nơi mà cậu hiểu rành từng gốc cây, từng cục đá.

Cậu Cẩu chau mày:

– Trên đó ghê lắm. Ai chiếm trước là thắng trận. Một cục đá là một bức thành. Ông đi trước xem thử.

Bá Vạn đáp:

– Hễ làm dọ thám thì phải cải trang đi trong đêm tối. Rủi nó nhìn mặt, bắt giết tôi thì sao. Xin cậu cho tôi hẹn tối nay, tôi ăn mặc rách rưới, đi một mình. Điều quan trọng là biết nơi ẩn núp của thằng Thừa. Giết được nó thì xong chuyện. Rắn mất đầu, bọn phản loạn chỉ còn chạy trốn.

Trời xế dần. Mấy đống lửa cứ cháy bên sườn núi, Bá Vạn hơi lo sợ khi nghe tên hộ vệ nói đến lá cờ đen và lá cờ tam sắc cắm trên sườn núi. Phải chăng quân Lang Sa đã tới núi Mo So, sau khi chiếm bờ biển núi Đất? Tin rằng thằng Thừa còn giữ tình cũ nghĩa xưa, Bá Vạn đánh bạo đến nơi, để hiểu rõ hơn.

Mặt trời vừa lặn, ông đến chân núi, ngay nền nhà Mười Hấu. Nhà bị cháy sạch. Hai tên hộ vệ của cậu Cẩu, còn đứng núp lén bên gốc cây. Thấy Bá Vạn tới, bọn nó mừng rỡ

– Ông liệu lẽ nào? Tại sao cậu Cẩu còn xài ông?

Bá Vạn nhớ kỹ từng gương mặt. Toàn là bọn mới vô nghề, được cậu Cẩu trọng dụng sau khi lên ngôi ‘‘ông chúa Hòn’’. Bá Vạn hơi bực mình vì bọn nó ăn nói vô phép.

– Muốn chết tao cho chết – Bá Vạn nghĩ thầm như thế. Ông ta đáp vu vơ:

Một tên hộ vệ đáp:

– Có hai cây cờ, một cây đen, một cây ba sọc. Giỏi thì ông bước tới. Tụi tôi ở đây trong giây lát, nếu không đụng độ thì trở về. Ngu dại gì mà chịu chết lãng nhách.

– Tụi bây đi trước, dẫn đường cho tao.

Vừa nói, Bá Vạn vừa giả vờ run rẩy. Hai tên hộ vệ ngồi xuống rồi dựa lưng vào vách một căn nhà lá vắng chủ, Bá Vạn xem chừng để tìm ám hiệu của thằng Thừa. Ông đi tới lui chợt nhận ra một bàn tay lú ra, bên vách nhà Mười Hấu. Nhà cháy sập, cây cột vách và một mảnh tường vôi còn đứng vững.

Bọn hộ vệ hỏi:

– Mạng ông gần tàn rồi. Hôm trước, nghe đâu cậu Cẩu muốn cho ông chết. Tôi mà như ông thì chết sướng hơn, sống mà tài sản không còn một món thì lấy gì mà ăn?

Bá Vạn bèn cương quyết ra tay, nói trở lại:

– Tụi bây lo canh phòng tứ phía. Hễ hai cây cờ nọ di chuyển tới lui là tụi nó xuống núi đánh bọn mình. Chẳng lẽ tao chết tại đây.

Nói xong, Bá Vạn bước tới. Ông thử ho lên vài tiếng sù sụ như báo hiệu rằng “ta đây là Bá Vạn…”. Một con quạ đen bay vòng tròn trên nhà Mười Hấu rồi đáp xuống. Điềm gì đây? Sau khi suy nghĩ, Bá Vạn cương quyết đến gần miếng vách tường loang lổ. Trong hoàn cảnh nầy, ông là người tốt phước nhứt, vì chẳng ai muốn giết ông cả!

Đến gần miếng vách, ông hỏi:

– Thừa phải không?

Đúng là giọng thằng Thừa:

– Chờ ông gần chết.

– Tao cũng chờ mầy nhưng tao sợ hộ vệ của cậu Cẩu.

Thằng Thừa nói:

– Ông vô đây mà ngồi cho kín đáo. Có chuyện gì thì nói gấp. Tôi luôn luôn trung thành với ông.

Ba Vạn nhìn lại hai tên hộ vệ rồi nói khẽ:

– Đó là hai thằng chó chết. Nó chế nhạo tao khi tao mất chức vị. Mình cứ nói chuyện dông dài. Có đứa nào theo mầy không?

– Dạ. Hơn mười đứa sẵn sàng giết cậu Cẩu. Tụi nó ngồi ở sát vách bên kia. Tôi khoát tay là có.

– Vậy thì …cứ giết thằng hộ vệ của cậu Cẩu. Nó ngồi dựa vách cái nhà lá đằng kia.

Ba cậu trai lực lưỡng, đứng dậy thi hành lịnh của Bá Vạn. Lát sau, bọn chúng trở lại:

– Chết hết rồi. Tụi tôi siết cổ, hai đứa nó chết không kịp ngáp. Nó cắn muốn đứt thịt cườm tay tôi.

Bá Vạn lấy vạt áo chùi mồ hôi mà hỏi nhanh:

– Chú mầy về núi Đất, ở với ông đạo Đất cho yên, tình thế chắc còn nhiều đổi thay.

Thằng Thừa cau mày:

– Hỗm rày, tôi sắp đặt kế hoạch để báo thù cho ông. Nè! Ông thấy cây cờ tam sắc trên núi không? Thằng đó ở chợ Rạch Giá, lúc trước giả dạng Sơn Đông mãi võ để dọ thám. Nghe tôi nổi lên chống lại cậu Cẩu, nó đem bốn, năm đứa tay em tới xin gia nhập. Thiệt là đáng nghi ngờ. Nó mang theo một cây súng lạ lắm, bắn nổ lớn tiếng. Nó rủ tôi theo phe nó. Tôi hỏi phe nào thì nó không trả lời.

Bá Vạn nghĩ xa hơn; nếu gầy dựng sự nghiệp mà bỗng nhiên quân Lang Sa tới xâm chiếm thì thật là uổng công. Từ nửa tháng qua, cô Huôi và ông đạo Đất đều nhắc tới quân Lang Sa nhưng chưa ai biết mặt mày bọn chúng ra sao.

Ông ta nói khẽ:

– Bây giờ mầy giúp tao chuyện nầy được không Thừa? Bắt thằng đó, đem cây súng về coi thử. Được như vậy thì cậu Cẩu, Mười Hấu, cô Huôi đều nể mặt tao.

Thằng Thừa đáp:

– Nó làm dọ thám cho quân Lang Sa ở chợ Rạch Giá. Tôi nói thì nó tin, nhưng ông nên ra tay nhanh chóng tới đây bắt nó.

– Rồi làm sao tao cự nổi với súng đạn!

– Tôi cho nó uống rượu rồi trói như con heo. Ông cứ khiêng nó về.

Bá Vạn gật gù, nói vài tiếng với thằng Thừa rồi trở về. Khi đi ngang qua tấm vách lá, ông nhận ra xác hai tên hộ vệ vừa bị giết…Ông nói lẩm bẩm như kẻ say rượu.

– Chế nhạo tao làm gì? Bây giờ một đứa theo tao…

Ông nắm chân một cái xác, kéo lê lết. Vì chưa chết hẳn cái xác nọ vụt co chân. Ông buông ra:

– Cái gì vậy?

Xác lại nằm yên. Ông nghiêng mình, nắm cái xác lần thứ nhì rồi kéo lê lết, miệng la bài hải

– Tụi nó tới! Tụi nó đông lắm…

Cậu Cẩu đứng sẵn trước mũi ghe. Xí Vĩnh ngồi bên cạnh. Cậu cằn nhằn:

– Bá Vạn chết rồi sao chớ? Hay là bị thương. Hộ vệ đâu.

Bọn hộ vệ tới gọi Bá Vạn

– Thưa ông!

Bá Vạn giả vờ run sợ:

– Nó giết hai đứa hộ vệ rồi. Nó rượt sau lưng tao đó? Đứa nào cõng tao lên vai mà chạy. tao sợ quá.

Cậu Cẩu hỏi:

– Sao vậy Bá Vạn

– Cậu nên đề phòng. Tụi nó giết hai đứa hộ vệ. Tôi hết sức cứu được một cái xác.

Xí Vĩnh nhận ra bên kia bờ rạch, hàng chục người lạ mặt vừa xuất hiện, lưng trần, tay cầm dao mác sáng ngời. Cô ta la hoảng:

– Cậu! Cậu! Đánh nó!

Bọn người bên kia bò đưa tay ngoắc:

– Đứa nào tên Cẩu đâu?

Cậu Cẩu vội chui vào mui ghe, đóng cửa lại kín mít. Hai ba chục tên hộ vệ được lịnh sẵn sàng canh phòng chgo cậu và Xí Vĩnh lên bờ đi bộ về phía Hòn Chông. Bá Vạn hỏi

– Thưa cậu! Như vầy thì sao?

Cậu Cẩu chạy một hơi đến giữa đồng trống, ngồi xuống mà chờ Xí Vĩnh. Bá Vạn hỏi tiếp;

– Thưa cậu! Để tôi rửa nhục cho cậu! Tôi lên núi thì tự nhiên bọn nó rút lui. Bọn nó có đứa chạy lăng xăng dưới này. Trên đó, cắm cờ để thị oai chớ không có ai ráo.

Cậu Cẩu hơ hải, nhìn trở lại.

– Mấy căn nhà bên kia rạch bốc cháy kìa! Tôi muốn về, đem bọn hộ vệ theo. Nếu ông dẫn tụi nó lên núi, rủi dọc đường tôi bị bắt rồi sao? Úy trời! Coi kìa!

‘‘Quả thật thằng Thừa là đứa quá giỏi!’’. Kế hoạch của nó khiến Bá Vạn khâm phục, đứng vào địa vị nó, chưa chắc ông thực hiện khéo léo hơn. Toán võ sĩ của thằng Thừa lội ngang qua rạch, cầm đuốc lửa trong tay, nhảy lên chiếc ghe hầu mà đốt.

Bọn vệ sĩ của cậu Cẩu đã chạy từ trước. Bá Vạn nói khẽ:

– Cậu về Hòn Chông với bọn hộ vệ. Chỉ cần ba bốn đứa đi theo tôi là được. Tôi ráng tránh né, đốt sào huyệt bọn nó, chỗ căn nhà mà trước kia cậu tới lui đá cá thia thia.

Giữa đồng hoang cậu Cẩu cứ vuốt mấy giọt mồ hôi trán. Xí Vĩnh cúi mặt, thở dài:

– Cậu nên trở lại mà trả thù.

Bị mất thể diện trước người đẹp, cậu Cẩu bỗng dưng nổi cơn nóng giận tay hơi run. Đúng là bịnh điên mà cô Huôi đã nói. Cậu phun nước miếng phèo phèo.

– Như vầy, còn mặt mũi nào mà về Hòn Chông? Bộ tao bại trận sao chớ! Tao giết hết bây giờ.

Bá Vạn bèn nghĩ ra sáng kiến.

–  Cậu chớ lo? Bây giờ cậu tới Vàm Rầy mà chờ tôi. Sau khi bắt sống bọn nó và tịch thâu mấy cây cờ trên núi, tôi gặp cậu để về Hòn Chông một lượt.

– Phải! Nhưng chiếc ghe bị đốt cháy rồi! Chẳng lẽ ta đi bộ?

–  Thì bọn hộ vệ cõng cậu lên vai…

–  Hừ! Quần áo lem lấm như vậy…

Bá Vạn nói:

– Thưa cậu, quần áo có lem lấm, chiếc ghe có bị đốt thì dân chúng ở Hòn Chông mới tin chắc rằng cậu ra trận, tả xung hữu đột để …chiến thắng.

–  Phải! Bá Vạn cứ lên núi, bắt sống vài đứa tịch thâu lại ngọn cờ. Tôi chờ tại đó. Nhưng mà đừng để tôi chờ quá lâu.

Lát sau, bọn hộ vệ đưa cậu Cẩu và Xí Vĩnh về Vàm Rầy mà chờ đợi. Bá Vạn chọn lựa hai tên hộ vệ quen biết, những đứa đã từng quen với ông hồi mười năm trước, Bá Vạn cười xoà:

– Tụi bây thấy sao?

Nãy giờ bọn hộ vệ đã bất mãn với cậu Cẩu nên đồng thanh trả lời:

– Thiệt là lỡ cười lỡ khóc. Nhưng nắng bề nào che bề nấy. Hồi xưa, cậu Hai Điền đâu quá tệ như vầy.

Bá Vạn nói:

– Mấy ngày trước, tao bị cậu Cẩu hạ nhục tại chợ Vàm Rầy, mấy căn phố bị lấy lại. Tụi bây cứ yên tâm. Tao còn thì tụi bây còn…Ăn cho no rồi ra trận là thắng.

Nãy giờ hai tên hộ vệ tưởng lầm rằng Bá Vạn không dám đương đầu với bọn phản loạn. Có đứa van nài:

– Ông ơi! Ông đã già mà tụi tôi thì vỏn vẹn có hai đứa. Rủi gặp ngày xui xẻo thì sao?

– Tao nghĩ kỹ hơn tụi bây. Bọn thằng Thừa chắc cao bay xa chạy rồi, đầu đuôi không tới ba chục đứa. Dễ đánh quá, ban đêm, mình ngủ mà chờ đợi. Núi Mo So lớn chớ đâu phải nhỏ. Nếu tụi nó chống cự thì tao mướn đàn bà trên núi may hai lá cờ, đem nhúng bùn, coi như là tịch thâu của bọn nó. Tao dư tiền trong túi, chuyện gì mà làm không được?

Hai tên hộ vệ vào căn nhà trống hoang bên đường trong khi Bá Vạn đứng trước sân, giả vờ ngắm nghía núi Mo So. Nếu cho bọn chúng hiểu rõ sự sắp đặt đã có từ trước thì ông sẽ bị tình nghi. Bọn hộ vệ nầy chưa đáng tin cậy cho lắm.

Ông day lại:

– Tụi bây mệt thì ngủ cho khoẻ. Tao đi lại đằng nầy để dọ thám.

Một tên hộ vệ nói:

– Ông đi trước là phải, vì dân núi Mo So xưa nay mến chuộng ông…

Đến gần nhà Mười Hấu, Bá Vạn đứng lại. Thằng Thừa xuất hiện bên vách:

– Ông ơi! Như vầy là xong. Để tôi lên núi bắt sống cái thằng Sơn Đông mãi võ.

Bá Vạn lẩm bẩm:

– Như vậy là gọn nhứt. Kiếm cho tao một chiếc ghe. Đem thằng Sơn Đông đó với hai cây cờ xuống đây. Cậu Cẩu là thằng ngu dại, không biết gì ráo. Rồi cho hai ba thằng bá vơ nào đó chèo ghe cho tao ngồi, tao nói rằng đó là bọn đầu hàng…Khuya nay, tao về Vàm Rầy để lấy lại thể diện. Nhớ về núi Đất chờ tao…

Cậu Cẩu nằm ngủ trên giường, Xí Vĩnh quạt hầu mỏi tay rồi nằm bên cạnh. Bọn hộ vệ ngồi ngoài sân mà canh phòng. Dân chúng cứ qua lại bàn tán xôn xao vì Cậu Cẩu đưa ra tin thắng trận.

Đột nhiên Xí Vĩnh kêu rú:

– Sao cậu đánh tôi.

Xí Vĩnh khều thấp đèn đứng khá xa. Rõ ràng Cậu Cẩu đang ngủ say, mắt trợn trắng mà nói:

– Tôi giết ai mà ai giết tôi? À? Tôi không sống lâu. Tại sao tôi không sống lâu? Ba đi đâu vậy? Ba đánh thì tôi đỡ.

Bàn tay Cậu Cẩu nắm lại, răng nghiến ken két. Cậu đập mạnh xuống giường mà la lớn:

– Chết …chết!

Bọn hộ vệ chạy vào hỏi nhanh:

– Cô ơi! Cậu làm sao?

Xí Vĩnh đáp:

–  Cậu nằm chiêm bao ngủ mê. Mấy chú ra ngoài. Làm gì mà chộn rộn vậy?

– Xin lỗi cô. Hồi nãy tôi nghe lầm, tưởng rằng bọn bất lương vào nhà…

Trong mùng, Cậu Cẩu lại đập tay thật mạnh xuống giường. Giựt mình thức dậy; cậu nhìn ngơ ngác:

– Xí Vĩnh đâu?

Xí Vĩnh đến bên cạnh mà hỏi:

–  Cậu nằm chiêm bao? Chắc là gặp điềm gì hung dữ lắm.

– Ừ! Nhưng mà …

Nói tới đó, cậu Cẩu bèn cúi mặt, vỗ trán để xua đuổi ám ảnh không tốt cho lắm. Lúc nãy, cậu nằm chiêm bao thấy ông chúa Hòn hiện về, hạch hỏi tội lỗi và khuyên cậu nên đề phòng kẻo gánh lấy hậu quả tai hại. Khi cậu hỏi kỹ lưỡng hơn thì ông chúa Hòn trói cậu lại mà đánh đập. Cậu muốn chạy nhưng hai chân tê cóng.

Xí Vĩnh hỏi:

– Thưa cậu…

–  Nãy giờ thức hay ngủ? Bá Vạn về chưa?

Bọn hộ vệ dưới bến chạy tới, báo tin:

– Thưa cậu, có bốn ngọn đuốc. Chắc là Bá Vạn thắng trận.

– Đứa nào đi với tao…

Cậu Cẩu ra sân, đứng ngóng về phía ngọn rạch. Theo lịnh cậu, một tên hộ vệ chạy đi săn đón tin tức. Bá Vạn đứng trước mui ghe, trong khoang có hai người bị trói nằm chèo queo.

Ông ta hỏi:

– Cậu đâu rồi?

Tên hộ vệ trở về báo tin. Cậu Cẩu vô cùng mừng rỡ, gọi Xí Vĩnh:

– Mình về Hòn Chông chớ?

Lát sau, chiếc ghe lướt tới, dừng lại đón cậu Cẩu. Bá Vạn báo cáo:

– Tịch thâu được hai cây cờ, bắt sống được hai đứa, hai đứa ra đầu hàng…

Cậu Cẩu ngồi trước mui ghe, cười dòn:

– Như vầy là từ rày về sau không ai dám làm phản nữa…Ngày mai, ta ra lịnh cho dân Hòn Chông ăn lễ ba ngày ba đêm. Nầy Bá Vạn…

Bá Vạn tin rằng lời nói đầu tiên của cậu Cẩu là khen ngợi công lao. Nhưng ông ta thất vọng cười chua chát khi nghe nói:

– Ông thấy tôi …sống dai không? Thiên hạ đồn rằng tôi bất tài. Nhưng tôi có tài hơn anh tôi là Hai Điền.

Bá Vạn nói phân bai:

– Người có đức thì sống dai. Cậu chỉ có tài…

– Hai Điền chỉ biết săn heo rừng… Tôi thì… dẹp được bọn làm phản. Bởi vậy… Rượu đâu?

Bọn hộ vệ dân rượu cho cậu Cẩu. Cậu uống một hơi cạn bầu rượu rồi trợn mắt.

– Bậy quá. Thiệt là chó chết.

Lời trách móc vu vơ khiến Bá Vạn phật ý. Hay là cậu muốn hại ông, theo kiểu được chim bẻ ná? Cậu Cẩu bỗng dưng đứng trên mui ghe, quát to:

– Dân làng đâu! Tại sao không đánh trống, đốt đuốc lên để mừng khi ta thắng trận?

Rồi cậu cầm hai lá cờ trong tay, múa qua múa lại như ông tướng trong tuồng hát bội. Xí Vĩnh nói khẽ với Bá Vạn:

– Cháu bực mình quá.

Bá Vạn nói khéo:

– Vài ngày nữa, bác đưa cháu… cháu bỏ vô thức ăn.

Xí Vĩnh gật đầu:

– Dạ như vậy là để…

Bá Vạn cười tủm tỉm:

– Nó là thằng điên nhưng là thứ điên giết người. Để nó sống thì bác cháu mình chết.

Dân chúng Hòn Chông tha hồ cờ bạc và uống rượu. Bọn người tản cư được lịnh về núi Mo So. Họ xin ra mắt cậu Cẩu để cám ơn.

Cậu Cẩu uống rượu với Bá Vạn. Cô Huôi ngồi nghiêm mặt, trên bộ ván gõ, cách độ chừng vài bước.

Rượu say ngà ngà. Cậu nói:

– Bây giờ ta nên hạch hỏi tụi nó! Tại sao trên núi có hai lá cờ? Dẫn tụi nó lên đây!

Thật ra Bá Vạn còn nóng nảy hơn cậu Cẩu. Người bị bắt hiện đang bị giam trong nhà riêng sau hè. Bọn hộ vệ dẫn hắn đến. Hắn cự nự lâu lắm mới chịu quỳ lạy.

Cậu Cẩu hỏi:

– Tên gì? Mặt mày sạch sẽ quá vậy? À! Dường như tao gặp chú mầy một lần. Mấy chú là ai?

Người nọ nhìn thẳng về Bá Vạn. Bá Vạn hơi e ngại vì thật ra địa vị của ông không được vững cho lắm. Cậu Cẩu sẽ hạch tội, xem ông là kẻ thù, tùy sự cao hứng. Để đánh tan sự nghi ngờ, ông lên tiếng, đứng hẳn về phe cậu Cẩu:

– Nó là đứa Sơn Đông mãi võ, hồi tháng trước tới đây một lần.

Cậu Cẩu nói nhanh:

– Nó là cái thằng nhảy qua vòng lửa. Tội đáng chết.

Nhưng Bá Vạn lại hạ giọng vô tư như để cứu vớt người có tội:

– Lúc bị bắt, nó không kháng cự. Nó nói rằng lá cờ tam sắc do người Lang Sa trao cho nó, muốn nó đem cắm tại núi Mo So và Hòn Chông!

Cậu Cẩu lại cười:

– Như vậy là người Lang Sa yếu ớt lắm.

Bá Vạn muốn nói rõ hơn để cậu Cẩu kiêng oai người bị bắt:

– Có một khẩu súng lạ lùng nhưng bắn không được! Người nầy tên là Tư Thiện…

– Dạ, tôi là Tư Thiện. Người Lang Sa mướn tôi đến đây. Vậy thì cậu đừng giận, tôi là người thừa hành phận sự.

Cậu Cẩu chưa bao giờ ra khỏi vùng Hòn Chông nên trố mắt:

– Lang Sa là cái gì? Cây súng đâu?

Tư Thiện kéo vạt áo ngay ngắn, nói chậm rãi, tin rằng nếu xử sự khéo léo thì thoát nạn, được trọng dụng là đường khác. Dầu sao đi nữa, cậu Cẩu cũng cần dùng anh ta để tìm hiểu thêm về người Lang Sa.

Ngoài ra, theo Tư Thiện nhận định thì Bá Vạn và người con gái xinh đẹp kia chưa đến đỗi khờ dại mà gây sự quá sớm với những người Lang Sa đang chiếm đóng vùng phụ cận Hòn Chông và kiểm soát bờ biển.

Tư Thiện nói:

– Thưa cậu, Lang Sa là Phú Lang Sa. Đó là một nước hùng cường. Họ chiếm cứ thành Sài Gòn, Biên Hoà, Vĩnh Long…

Cậu Cẩu nói nhanh:

– Nhưng Hà Tiên và chợ Rạch Giá còn hay không?

Tư Thiện nói không do dự:

– Mất mà như còn. Còn như đã mất.

Cô Huôi nhìn thẳng vào Tư Thiện. Anh ta quả là người thông minh, biết ăn nói khéo léo. Anh ta chưa lớn tuổi, hơn bốn mươi, nước da trắng, trán cao, mặc kiểu áo vạt hò, chân đi dép. Có thể nói là đẹp trai.

Cậu Cẩu trợn mắt:

– Cái gì mà còn còn, mất mất? Tôi không đụng chạm tới người Lang Sa thì người Lang Sa đừng đụng chạm tới tôi. Sao ăn nói khó nghe quá.

Cô Huôi bèn lên tiếng để cậu Cẩu đừng nổi điên lúc nghiêm trọng nầy. Theo ý cô thì Tư Thiện có thể ở lại đây, gióng nhiều sáng kiến. Từ bên kia bờ biển phía Tây mà người Lang Sa qua tới đây để mua bán thì rõ ràng họ có tài hơn cậu Cẩu. Quân sĩ triều đình Huế còn chịu thua người Lang Sa, huống hồ gì bọn hộ vệ ở vùng đồi núi cheo leo nầy. Quả thật cậu Cẩu là con ếch ngồi đáy giếng.

– Tư Thiện nói rõ cho cậu hiểu tình hình ở chợ Rạch Giá như thế nào. Hoặc là nay mai, cậu cho người đến kết thân với người Lang Sa.

Cậu Cẩu lắc đầu:

– Nói rõ tại sao chú mầy đem lá cờ tam sắc tới đây? Chắc là dọ thám. Chú mày quen với thằng Thừa như thế nào?

Tư Thiện liếc thấy cô Huôi mà anh ta đã nghe danh từ lâu. Hồi ở chợ Rạch Giá, viên cai đồn người Lang Sa giao cho anh ta trách nhiệm đến Hòn Chông để dò xét sự kháng cự của dân chúng, những sào huyệt bí mật do quan lại địa phương điều khiển. Anh ta trở về báo cáo sự thật.

Khi biết rằng ở Hòn Chông và vùng đồi núi phụ cận chỉ có vài chục hộ vệ quân mang dao mác, sống một cõi với ông Chúa Hòn thích đá cá thia thia, viên cai đồn nhận định rằng Hòn Chông là nơi không cần xâm chiếm quá sớm. Lần thứ nhì, Tư Thiện được lịnh đến núi Mo So để nghiên cứu sản phẩm địa phương, nguồn lợi sáp và mật ong. Anh ta gặp thằng Thừa, liên kết với nó rồi bị bắt.

Nếu trả lời không khéo léo, anh ta biết rằng tánh mạng khó bảo toàn, khi cậu Cẩu nổi giận. Nhưng anh ta chưa yên tâm vì có Bá Vạn và nhứt là cô Huôi xinh đẹp. Hai người nầy vẫn giữ nhiều quyền hạn, can gián cậu Cẩu.

Anh ta nói:

– Người Lang Sa đóng quân ở chợ phố, ở cửa biển. Trong xóm hẻo lánh, nơi đồi núi, ai làm gì mặc kệ.

Cậu Cẩu hỏi:

– Nhưng chú mày đến tới đây để dọ thám?

Tư Thiện nhìn thẳng vào cô Huôi rồi cúi đầu:

– Tôi đến đây tìm mật và sáp ong, đem về bán lại cho thương gia ở chợ Rạch Giá. Thằng Thừa bắt sống tôi, lấy tiền bạc.

Cậu Cẩu quát to:

– Còn lá cờ tam sắc? Xứ của tôi mà tại sao người Lang Sa đem cờ tới cắm, không xin phép?

Câu hỏi bất ngờ ấy khiến Tư Thiện lúng túng. May thay cô Huôi lên tiếng:

– Cậu à! Đó là Tư Thiện muốn chứng tỏ lòng thành thật. Nếu là dọ thám thì ai ngu dại gì mang theo lá cờ cho thiên hạ thấy mà bắt sống. Vả lại, lá cờ tam sắc…chỉ là miếng vải có ba màu, như lá cờ ghi rõ tên một đoàn hát Sơn Đông mãi võ vậy thôi. Cây cờ đó đã vào tay cậu. Cậu cứ xé bỏ hoặc để dành coi chơi. Từ nãy giờ, tôi không nghi ngờ Tư Thiện. Đó là người mà cậu xài được, hoặc cho ghi chép sổ sách, hoặc cho luyện tập bọn hộ vệ. Nghe nói Tư Thiện có khẩu súng.

Cậu Cẩu thích chí:

– Tư Thiện hầu hạ tôi. Nay mai tôi đi chợ Rạch Giá một chuyến. Cây súng hư rồi, không có đạn.

Tư Thiện nói khéo:

– Thưa cậu, người Lang Sa chỉ cần tiền. Hễ cậu đem tiền tới là họ bán súng cho cậu…

– Ừ! Phải đó. Đem rượu ra uống chơi.

Bá Vạn rót rượu mời cậu Cẩu. Cậu Cẩu nói giọng kiêu hãnh:

– Tư Thiện uống đi, ta tha tội cho. Nhưng nói rõ những điều tai nghe mắt thấy. Chợ Rạch Giá, chợ Sàigòn, chợ Mỹ Tho lớn hay nhỏ so với chợ Hòn Chông của ta?

Tư Thiện đáp:

– Thưa cậu, chợ Sàigòn kém xa chợ Hòn Chông!

Câu nói khoác lác, nịnh bợ khiến cậu Cẩu sung sướng:

– Thật vậy sao? Nhưng Sàigòn có khác hơn chớ? Lang Sa làm cách nào mà vượt biển tới đây? Họ ăn uống như thế nào? Họ biết săn heo rừng không?

Bá Vạn và cô Huôi lắng tai nghe. Những chi tiết mà Tư Thiện sắp nói rất quan trọng. Cả hai hiểu rằng người Lang Sa quá mạnh dám dùng người. Ít nhứt là bên phía Lang Sa còn nhiều nhân vật tài ba hơn Tư Thiện.

Tư Thiện đáp:

– Người Lang Sa dùng tàu sắt. Lúc tàu chạy thì máy móc nổ ầm ầm, tàu chạy rẽ sóng, không cần chạy buồm hoặc chèo. Lúc chạy, tàu phun khói đen kịt, còn hơn con rồng. Họ ăn bánh mì dùng tay xé từng miếng nhỏ. Rượu thì chát, lạt hơn rượu đế. Chợ Hòn Chông nầy đẹp hơn Sàigòn về phong cảnh, có núi non hữu tình…

 – Nhưng tại sao quân sĩ triều đình lại thua người Lang Sa?

– Dạ, họ có súng to, đứng xa một hai dặm, họ bắn trúng đích. Tàu sắt của họ chạy mau. Họ mang giày da…

Cậu Cẩu vỗ trán:

– Tại sao ta không giăng dây ngang sông mà cản mũi tàu?

– Tôi nghe đồn rằng trước mũi tàu họ có cái ống bễ và cái lò rèn nhỏ. Khi gặp dây sắt, họ thổi lửa lên, dây sắt chảy ra.

Cậu Cẩu buột miệng:

– Giỏi thật.

Tư Thiện nói thêm, để chứng tỏ lòng thành thật của mình:

– Còn giày da thì đi không vững khi gặp đất sình lầy. Ở Trung Lương – Mỹ Tho, quân sĩ triều đình chống cự, treo bảng cầu hiền. Có người đến dâng kế là lấy trái mù u khô, rải đầy mặt đường, tin rằng người Lang Sa phải trợt té vì dưới chân mấy trái mù u cứ lăn tròn.

– Rồi họ có té không?

– Không ai té hết vì trái mù u bị dập nát khi chiếc giày đạp lên! Hiện giờ, người Lang Sa mua bán khắp Nam kỳ Lục tỉnh.

Cậu Cẩu xám mặt lại, thấy nguy cơ sắp xảy ra. Nhưng chẳng lẽ cậu lo sợ trước mặt Tư Thiện! Cậu hơi run tay.

Cô Huôi biết rằng nếu để chậm trễ thì cậu Cẩu sẽ ăn nói hỗn láo hoặc ra lịnh xử tử Tư Thiện. Nãy giờ, cô đã có cảm tình và kính nể người mới đến. Tình thế đã thay đổi. Bá Vạn không còn đủ sáng suốt để ứng phó với chuyện rắc rối mà người Lang Sa sắp gây ra ở vùng Hòn Chông nầy. Tư Thiện mới đúng là người của thời cuộc. Cô nói rõ từng tiếng:

– Cho Tư Thiện ở căn nhà riêng. Mai chiều, ta nhờ Tư Thiện mua súng ống của quân Lang Sa. Tư Thiện có lỗi nhưng ta đang cần dùng…để làm tay sai.

Cậu Cẩu vui sướng, cười tươi tỉnh:

– Phải! Người giỏi như Tư Thiện chỉ đáng làm tay sai của ta. Bây giờ ta mệt, nên ăn uống cho khoẻ.

X

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 3 May 2022

Post by Sơn râu 27 May 2025

1.

Chân dài: Ông ta khoảng ngoài năm mươi, tôi áng chừng vậy. Tôi chưa từng ngó ra lão giữa thanh thiên bạch nhật. Nghề của tôi chỉ tiếp xúc với hạng người tà đạo, bọn dạ hành lấp liếm chuyên đi săn đêm. Ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh. Hỏi nhau tới nhan sắc, tuổi tác, ngoại hình… là xem như chơi khó nhau. Làm sao trông rõ, xem mặt mà bắt hình dong?

Không biết tên. Nghe bọn đi cùng gọi tuỳ tiện: Anh Hai, khi thì Đại ca, có lúc ông Thầy. Thi thoảng nghe kêu Thủ trưởng, lắm bận lại Sếp. Những kẻ đến đây thông thường chúng mang biệt danh hoặc bí số gì đấy. Chúng dấu nhẹm tên tuổi, an toàn để ở nhà cho vợ con cất. Chùi mồm sạch sau khi ăn vụng, đă đành, lại thống nhất việc giữ kín hành tích thân phận. Mèo dấu cứt thì kín đáo cũng tầm cỡ ấy thôi. Biết chết liền!
Tiền bạc hở? Đại gia ư? Lão ta là loại ngoài rìa, không chịu để cho kẻ khác sắp hạng thứ lớp. Một quan chức cán bộ, thế lực của lão ở địa phương nầy buộc người ta phải thay đổi tư duy cũng như mọi định nghĩa về sự vật. Đen có thể biến thành trắng trong nháy mắt, giả dụ vậy. Nghe đồn đãi, một bà mẹ, đêm hôm có thể mang chân dung vô hình tướng của lão ra để doạ dẫm trẻ thơ, làm câm họng tiếng khóc nhè, khát sữa. Hơn cả ông kẹ!Ông ưa đổi thay, thậm tẻ nhạt nếu cứ mãi nhìn một nhân dạng, một hình tướng. Ông bảo thế. Cực chẳng đã, sau khi đã trải nghiệm qua, đã đi giáp vòng những lối mòn, ông chỉ định đứa nào tương đối có thịt da nhất và gợi ý với má mì: Muốn kinh doanh một nhà hàng đặc sản, chí ít cái tấm thực đơn của quán ăn ấy phải không dưới mười hai hạng mục để chiều chuộng khẩu vị khách khứa, đó là chưa kể tới món khai vị hoặc đôi ba thứ dùng tráng miệng.Tôi từng là món ông dùng để khai vị, thứ ông xơi lai rai đêm dài lắm mộng cũng như làm cú tráng miệng sau cùng trước khi dắt tăm vào giữa đôi môi thâm dầy háu đói. Nói chung là đéo sướng. Một khứa lão trọng tuổi hơn cả bố mình đang dày xéo mình… Buồn. Nhục. Có cái an ủi, dẫm chân vào nghề bạc ác này thường chẳng trụ được lâu. Đôi ba năm nhan sắc tàn phai, người chảy nhão; phải tự tìm đường rút lui nhường đất cho bọn nhí, em út mới lớn tới chiếm đóng điền thế. Mấy ông nội xã hội đen đi lại trong giang hồ cũng từng đưa ra một lập thuyết tương tự: Sóng sau xô sóng trước, phải tự lượng sức mà rửa tay gát kiếm, tìm chốn quy ẩn. Buông đao xuống hoạ may thành Phật!

2.

Bà bán cơm bụi đường Đồng Khởi: Trước, có chút nhan sắc, có ngoại hình khá bắt mắt và hiền thục ngu ngơ như gái quê, tôi được tuyển làm phục vụ viên trong quán nhậu uy tín nhất thị xã, quán “Sương Sương MàTới Bến”. Có thể người đời đã đánh giá, đã nghĩ sai về đội ngũ lao động như bọn tôi. Cũng có thể do bởi tôi điên rồ, tôi dại khờ, tôi dở hơi, tôi té giếng nên đã mù quáng lỡ tay phạm thượng. Đêm đó, ông ta đi cùng đám người chộn rộn trong cơ quan đến quán đánh chén ăn mừng thắng lợi về một hợp đồng béo bở nào đấy vừa bút sa gà chết. Tôi mang bia ra, ông ta chồm người qua mặt bàn để thò bàn tay hộ pháp tới bóp vú tôi. Ma nhập hay sao ấy, phản ứng điện giật là tôi đã tạt nguyên cốc bia vào mặt đương sự.Hậu quả là tôi đánh mất tương lai, nhân thân xấu, lý lịch đen để biến đổi thân phận, đầu thai sang kiếp khác. Tôi thành tâm vào chùa thắp nhang cúng vái mong giải oan nghiệp chướng. Sư bà an ủi: Mô Phật! Chưa tù tội nhục hình chết chóc là đã may. Có căn tu chăng? Ăn hiền ở lành chăng? Quới nhơn, người khuất mặt khuất mày dõi trông phù hộ chăng?

3.

 Hoạ sĩ Hoa: Bắt đầu từ Festival Huế, năng nổ tham dự hầu hết những cuộc giao lưu văn hoá cùng bè bạn thế giới đổ về tham quan, hăng say đi thực hiện loạt sáng tác tranh đường phố, tôn vinh và xiển dương nét đẹp đặc trưng truyền thống của dân tộc, tôi bắt đầu tạo dựng chút tên tuổi; được những cơ quan tài trợ ưu ái đặt cho danh hiệu: Cành phượng đất Thần kinh.Một ngày đẹp trời, sau buổi bàn thảo sơ bộ có tính đại cương ở nhà hàng đặc sản “Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không đủ thịt cá sấu cho phụ nữ ăn”, tôi được xe ô tô con rước về căn biệt thự tiền tỷ trồng nhiều cây cao niên thâm u ở vùng ngoại ô tịch lặng mà đất ở đấy đang nằm trong tầm nhắm của các đại gia chuyên làm đảo điên chuyện rừng vàng biển bạc. Khác với những chẩn đoán thường vô căn cớ, thiếu cơ sở về những ông quan tai to mặt lớn, thực bụng tôi rất an tâm khi được diện kiến gia chủ, người có thời làm bí thư tỉnh uỷ và một dọc những chức phận đi kèm nghe thót tim. Hồng hào, tươi nhuận, vui tính, xuề xoà… Ông không hề cho người đối diện thoáng mọc vu vơ cái cảm nhận hồ đồ, rằng sáu chục tuổi thì còn nước nôi gì để tạo dáng nhanh lẹ cường tráng thậm sung như tớ đang hiển thị rành rành. Không tuổi tác, phương phi là một từ khác nhằm tô đậm thần sắc linh hoạt lên người tôi đang hầu chuyện. Ông có lối nói thật ấn tượng, quả quyết, chủ động, chẳng vòng vo, trấn áp đối phương. Đó là ngôn ngữ rổn rảng của kẻ đầy quyền lực và kẻ ấy chừng như chưa hề tạo ra sai lầm trong suốt quá trình từ hạ tầng cơ sở leo dần tới thượng tầng kiến trúc. Một sự tự tin thái quá, chủ quan cả vú lấp miệng em hệt như tấm băng-rôn đỏ chói lọi treo mắc cửi phố phường: Chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng muôn năm! Muôn năm hay muốn nằm? Ông ngả người xuống ghế, chiếc ghế lớn rộng khảm xà cừ, gỗ lên nước bóng lộn với vô số hình phù điêu chạm trổ công phu. Ngai vàng của hoàng thượng chưa chắc được hoành tráng tựa thế. Long sàng e cũng kíp nhường ngôi. Ông ngó tôi, từ đỉnh đầu xuống tới gót chân, dừng sâu ở diện mạo, chú mục tới khuôn ngực nhô ra những nhịp đập thất thường.Theo hợp đồng, tôi sẽ phải thu mình trong căn biệt thự trống trải ấy, ngắn hay dài ngày tuỳ vào thành quả lao động nghệ thuật của tôi. Tôi sẽ phải hoàn tất hai bức tranh sơn dầu kích cỡ khác biệt. Nhỏ: Chân dung. Lớn: kích thước thật, y hệt con người bản lai diện mục ông mang. Và ông muốn đi thụt lùi vào thời tiền sử, giai đoạn khỉ vừa lột xác thành người, nghĩa là trần trụi, nghĩa là tranh nuy, nghĩa là dơ dáng dại hình, nghĩa là chẳng có gì che đậy. Tranh vẽ phải hơn máy chụp hình, theo đòi hỏi của ông. Ông làm sáng tỏ: Phản ánh khách quan là nhiệm vụ của quang khẩu mở, đóng, chụp bắt, thu hình. Rất trung thực nhưng thiếu hẳn cái hậu cảnh phông màn đằng sau khi mình tha hồ muốn dàn dựng thoả chí. Tôi khoả thân ung dung tự tại phía trước bỏ quên sau lưng cảnh một con rồng bay ngang mặt biển vờn nguyệt giỡn mây. Đặng không? Nhắm ăn nổi không? Ý tưởng chủ đạo là thế nhưng Hoa có quyền thêm bớt những tiểu tiết để bức tranh hiển lộng một uy lực siêu khủng. Người xem dẫu gà mờ chẳng thông hiểu ẩn ngôn của hội hoạ vẫn có thể rùng mình choáng váng trước bao dời đổi của thế sự đảo điên. Vốn là sản phẩm của tưởng tượng nhưng rồng là loài vật dễ hớp hồn người nhất, gieo cho chúng sinh thứ cảm nhận đầy mê muội của một lòng thần phục khó bề cưỡng chống.Khi thao tác nghệ thuật trước khung bố, tôi đã phải ngừng cọ lắm phen. Người mẫu nằm yên theo đòi hỏi nhưng cái vật quái gỡ dị hình dị tướng kia thì khác, mãi vọng động. Như thể đã có một thế lực thù địch nào luôn mang âm mưu đen tối tới truy bức, hãm hại. Ông nói: Nhìn nó rung động, Hoa có mang vào lòng một nỗi niềm gì không? Đừng nói với tôi là khi hy sinh cho nghệ thuật, ta phải cương cường đạp đổ hết mọi chướng ngại, xét đó là rào cản thấp hèn, hoen ố trần tục. Vói dáng vẻ một con báo vồ mồi, ông đã phủ chụp tấm khăn choàng quyền lực lên phần số đen tối tôi mang. Gầm gừ bằng ngôn ngữ loài người, con mãnh thú ấy cất tiếng: Tôi sẽ trao cho Hoa những cơ hội làm bàn đạp tiến thân. Tài năng như Hoa, một siêu sao về lĩnh vực tạo hình, chuyện đó vốn không khó nắm bắt, tin tôi đi, cũng như tôi luôn thủ đắc một đề cương, có qua có lại mới toại lòng nhau. Sống ở đời, chả có thứ gì là miễn phí là hàng khuyến mãi đối với mình cả. Hoa tin không? Ông đã nhẫn nha gặm nhấm con mồi trong ba thời khắc, bởi theo sự suy diễn ông bộc bạch, rằng định luật quang học rất ảnh hưởng tới vấn đề âm dương hoà hợp. Tôi trải thân dưới người ông vào bình minh, đúng ngọ và nửa đêm về sáng. Tôi đã nuốt ngược nước mắt hai lần, ngăn suối lệ hoen ra trên gối. Và duy một lần, nếu được ai khích lệ, tôi sẽ rên rỉ thành tiếng, manh động oà vỡ cơn hoan lạc như biểu tỏ một khám phá, có khi hạnh phúc đến tìm bằng tận cùng những đớn đau. Nếu mai đây ông làm lãnh tụ một bộ phận linh tinh có trong guồng máy điều khiển nước nhà nhiêu khê trắc trở chậm lụt này hẳn khi đó tôi sẽ viết tự truyện cực ngắn, siêu mỏng: Đời đời nhớ ơn chủ tịch đã giải phóng một thiếu nữ dại khờ ở tuổi 23 đen như đêm ba mươi.

4.

Chú Tư vé số: Muốn cải thiện chút chút cuộc sống trầm trầy trầm trật và trầm kha này, chiều hè êm ả ấy nghe lời đường mật tui đã ngửa tay nhận tiền để đêm khuya hợp sức cùng một đám người đeo khẩu trang hì hục chui lỗ chó tạt hắt tám thùng chứa phân người cũng như đầu tôm đuôi cá ruột rà thú vật vào trong nhà ông Bê suông sẻ trót lọt. Sau đọc báo mới biết ông Bê là đảng viên đang có đấu đá quyền lực trong nội bộ, doạ khui thành tích man khai của ai kia làm mích lòng đụng chạm tới một quan chức có tiếng là anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ thần thánh. Tui ít học nhưng ngẫm lại việc mình làm là bậy bạ dễ bị khiển trách, còn tệ hơn mụ vợ tui khi không bỏ buôn bỏ bán hí hửng mang về nhà một két bia hôi của rơi lăn lóc ngoài đường. Có sao đâu, trời đãi kẻ khù khờ, ai cũng lăn xả nhập cuộc vui, mấy khi mới được hưởng. Tối nay đợi mấy mặt con say ngủ ông thử uống bia ôm xem sao. Lâu quá rồi cứ đầu tắt mặt tối chẳng có điều kiện thuận lợi để nói chuyện mặn nồng. Kệ, ông với tui cứ chơi đại một hai lon xem say tới cỡ nào đặng nằm ôm nhau mà gác chân lên tâm sự chuyện đời đắng cay cho thoả dạ. Chuyện đời lạ lùng, sau sự cố hôi hám tanh tưởi ô nhiễm môi sinh cả một khu vực, ông Bê thôi hét ra lửa, làm đơn yếu xìu xin ra khỏi đảng, đề đạt nguyện vọng tâm tư đại để như rũ áo từ quan về cầm chổi quét sân trước và đuổi gà ở sân sau. Ông Bê tâm sự, tui hiến dâng cả đời tui cho cách mạng ngang tới đoạn này là xem như đã ớn tới tận cổ, rách như cái xơ mướp trong cuộc hí trường, bị cả dòng họ nội ngoại thảy ra mặt khinh khi, ác đức bất nhơn biết sao mà thổ lộ! Nhiều đứa nghe, có đứa chảy nước mắt.

5.

Minh Bảo Đường: Cha truyền con nối đã hơn ba đời vương, theo thời cuộc, bổn tiệm chuyên trị hàng độc thuốc bắc thuốc nam thuốc dân tộc thuốc cây lá thảo mộc eo xèo lao đao đã lắm bận. Có dạo chỉ sống lai rai nhờ vào rượu thuốc nhân sâm, rượu ngâm mãng xà rắn rết, rượu cường dương bổ thận hoàn ông uống bà khen hay. Rượu chân mòn mà gối không mỏi, cái mới khó đụng hàng! Thời gian gần đây, cũng do thời cuộc mặn phong thuỷ, tin thần thánh, thầy tướng số nhà ngoại cảm mọc ra từng dề bổn tiệm theo đó cũng có lắm khách vãng lai đến để bốc thuốc. Từ một gói cân đo đong đếm gia giảm hương liệu dùng để ninh một nồi phở cho chí nguyên vật liệu làm thuốc xông cho đàn bà đẻ chóng hồi sức. Thân chủ đa phần đều nhờ xắt thuốc xin toa thứ chứa hợp chất nhằm chữa bá bệnh, ăn đứt Xuyên tâm liên thời mới phỏng dái. Nói chung, nôm na là từ sống thoi thóp nay đã chuyển đổi qua sống mạnh sống vững chắc. Trải lòng chỉ chốc lát thôi, và riêng tư; chứ bọn sát thủ mà nghe được chúng tới hỏi thăm sức khoẻ thì ngay cả Hoa Đà lương y như từ mẫu tái thế cũng xin bó tay chấm com. Ruột đổ ngoài da. Tiệm vắng, cô quạnh, neo người vì con cháu lần hồi vượt biên hết ráo, vì dạo xẩy ra cuộc chiến tranh biên giới chống bọn giặc phương Bắc phản động, nhà nước liền mang sự ác cảm nghi ngờ bọn người Hoa chúng tôi, quy chụp là thành phần nội ứng, là cảm tình viên, là trợ thủ đắc lực nội công ngoại kích cho bọn xâm lược bành trướng. Nói thế là oan ôi ông địa! Là xét theo gia phả xưa goắc cần câu, từ đời tám hoảnh nào đó, chứ giờ đây chúng tôi là Duỵt Nàm dành, người Việt chay chứ Tàu bè cắc chú thế lực thù địch nào nữa chớ! Ngộ nói mà lị có hiểu không? Hẩu lớ. Có chạy ra nước ngoài tha phương cầu thực thì đè mấy ông đế quốc đầu sỏ mà xin nương náu chứ tội vạ gì chui đầu vào Tung cọt. Ai mà chơi được với Mao xếnh xáng! Biết rồi, khổ lắm, cứ nói. Người nước lạ gọi là đả thông tư tưởng. Người nước lạ cũng có thành ngữ “hữu xạ tự nhiên hương”, một hôm có chiếc xe xịn gắn bảng số tứ quý thể hiện đẳng cấp đỗ ngay trước cửa bổn tiệm. Quan không nhọc thân giá lâm, chỉ là bốn đứa đệ tử mặt mày vênh váo vào đặt hàng. Sau hơn cả giờ đả thông tư tưởng, đôi bên mới rõ lý đạt tình, rằng thì là tôi có sứ mạng bốc cho quan một phương thuốc thần dược nhằm xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên, nôm na đánh đâu thắng đó, đánh đến rách cái lai quần vẫn đánh, đánh cho đối phương đạt cao trào hưng phấn ta mới buông đao xuống ngựa hạ hồi phân giải. Sứ giả tâm phúc của quan rù rì: Ngài từng thử qua Viagra nhưng đồ rằng món ấy chẳng hợp tạng. Ta về ta tắm ao ta, người phương Đông e nên xài linh chi ngàn năm để đả thông hai huyệt nhâm đốc tăng thêm mười hai thành công lực chăng? Ui chao, đột xuất quá. Hạng dân dã thì cho chúng liều lượng qua loa cây lá linh tinh, chứ một vị đại thần như ổng thì ngộ hổng dám vuốt râu hùm, bèn có lời thưa thốt: Dạ, bổn tiệm hiện không có linh dược, phải kíp thỉnh cầu sang Đài-loan o-đờ ngay, chúng đóng gói gửi hoả tốc thì mất ngoẻn ba ngày. Ba ngày đối với kẻ ngắc ngoải đợi bắt tay thần chết thì lâu tợn, tợ thiên thu; nhưng thời gian nọ dành cho kẻ quyết tâm đi vùi hoa dập liễu thì chỉ là vó câu bên ngoài cửa.Chấp nhận thương đau. Quan nhắn gửi thông tin cuối: Trăm sự ta chỉ trông nhờ có mình lão thôi. Hãy xem đó là trọng trách, gắn chu toàn để ta an tâm đùa vui những mùa Xuân đại thắng cuối đời. Bí mật là phương châm hành sử của kẻ thức thời. Mafia có tuyên ngôn 3 không: Không thấy, không nghe, không biết. Ba ngày thôi, đúng không? Ta đợi ta chờ ta trông.

6.

Bảo vệ: Tôi tên Tướng. Trong cơ quan, ai cũng có cảm tình. Cô Hồng kế toán viên bảo: Cái tên ấy nhằm nói đến một bộ phần nào, chứ cái mặt thư sinh của anh, má đỏ môi hồng, ôi chao, dễ ghét quá đi. Nào, cho em thăm thú nhé. Vậy đó, ngay thủ trưởng giám đốc cơ quan cũng từng tuyên dương: Cái hay của một bảo vệ như Tướng nằm ở chỗ ngỡ có mà không, ngỡ hư mà thật. Cậu ấy dáng vẻ là sinh viên nhưng vì bổn phận, khi ra đòn thì gặt hái thành quả ngay. Kẻ xấu bụng, thành phần bất hảo sẽ ngờ vực: Sao cái mặt búng ra sữa kia lại có nhiều ngón nghề dắt lưng thế nhẩy? Hổng kịp trở tay! Nói như trên, ý tôi muốn diễn đạt, đôi khi cái tên mình mang chả có tác động để lậm vào người. Nơi tôi công tác trước đây có anh mang tên Thật, anh ấy có rất lắm bí danh và khi anh thuật chuyện, anh thường vui mồm hư cấu phóng đại sự việc, mông lung huyền ảo rất khó lường. Anh Nguyễn Thành Đạt cũng vậy, anh chưa tốt nghiệp bậc tiểu học, anh là bộ đội phục viên và hiện anh có dựng tấm bìa cứng chéo cơ quan, ngồi vá xe thủng ruột và thường nhìn đời hiu quạnh. Anh có băng qua đường xin tôi điếu thuốc. Anh nhổ toẹt bãi đờm vướng họng: Mẹ nó chứ, e có ngày thằng Thành Đạt này làm đinh tặc quá. Đời thằng Đại Dương giờ này đã phất vì nó lên rừng làm lâm tặc, tối ngủ mộng lành vì gối đầu thường không dưới năm chục triệu. Mẹ nó chứ, sao nó không bị gãy cổ nhỉ, cái cũng lạ!Tướng? Mấy bà chị đi ăn nhậu, đi hát karaoke thường mắng yêu mấy thằng đàn ông mang tật ngứa tay: Thôi đi ông Thánh ông Tướng, giờ này khuya khoắt gì cho cam mà đã sớm bày trò lùng sục mân mê. Để yên cho người ta xả xì-trét.Tướng? Hình như thiếu chữ cướp đi cùng, nhỉ? Hôm ấy trong cơ quan xẩy ra chuyện, người ta gọi tôi vào để trói ké một lão già mãi mồm năm miệng mười: Chúng bây là một bọn tướng cướp, không hơn không kém. Tôi làm xong bổn phận, nghĩa là gọi công an đến để họ dẫn về trụ sở làm rõ nguyên nhân khiến đối tượng bức xúc gây mất trật tự cơ quan nhà nước. Qua báo cáo của Nguyễn Thành Đạt, nghề vá sửa xe của anh là nơi thu lượm lắm tin tức thời sự, tôi biết lão già ấy là chủ tiệm thuốc bắc ở bên phố, ông bị sếp của tôi lường gạt một số tiền lớn, dùng chi trả cho thứ linh dược hiếm quý nhập về tử Đài-loan. Lý do khiến sếp lớn không chịu thanh thoả vì ông bảo đó là hàng nhái, chẳng thể đồ xịn chính hãng, uống không gây hiệu ứng như trông đợi lại gây thêm phản ứng phụ. Sếp mắng: Đéo mẹ, tao chưa nhốt mày vào lao là phước cho mày lắm rồi, còn to gan vu tao là tướng cướp! Giòng họ nhà mày mới là tướng cướp, biển đảo người ta đang lặng sóng thế kia, không dưng lại…

7.

Quan toà: Chí công vô tư là phương châm hành động của chúng ta. Xét bắt ai phải đúng người đúng tội. Chúng ta phải có dũng khí để nhắm mắt nói không, xua tay từ chối những phong bì bôi trơn lật lọng ém nhẹm sự thật. Một bên là chính nghĩa trong khi việc bôi trơn kia là cách hành sử của thế lực ám muội kiểu tư bản dẫy chết. Ngay từ đầu phải tuyên chiến với những lươn lẹo, bề dày bộ luật cộng hoà xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn dắt ta tới công đạo, đâu ra đó, rút tỉa kinh nghiệm để tránh vụt những đường đao vào mặt nhân dân.Sau khi thống nhất vụ việc, những diễn tiến của câu chuyện mà bọn ác khẩu gọi là “thường ngày ở huyện”, chúng tôi đã hội ý, đấu tranh rất căng ròng rã tháng trời, trên đã gửi xuống văn bản tuyệt hậu như sau: Ông Minh Bảo Đường, 69 tuổi, tù 8 năm 3 năm cưỡng chế vì tội âm mưu cấy độc tố vào người cán bộ trông coi một bộ phận không nhỏ trong guồng máy nhà nước thông qua đường sinh lý trong uống ngoài thoa kích dục và đã tác hại tới tiền liệt tuyến đêm bảy ngày ba vô ra toa-lét giải thuỷ xác xơ chim cò mà theo giấy chứng thương của bác sĩ chuyên khoa da liễu xét nghiệm rằng thì là bệnh nhân nghe như sét đánh ngang tai đang hùng mạnh chuyển qua yếu xìu không thể nào hồ hởi phấn khởi tợ như kỳ vô phong nhan sắc cực kỳ thảm hại. Riêng cá nhân ông Phạm Vương, bí danh anh Chín, 61 tuổi, qua quá trình điều tra thu thập chứng cớ cũng như hỏi chuyện những nạn nhân trước đây không dám tố cáo bưng bít sự thật, chúng tôi đã thống nhất đi tới kết luận đương sự mang chứng hoang tưởng ngỡ mình là vua của một vùng miền, ưa hô phong hoán vũ và đặc biệt thích xơi gái trinh nguyên để sống lâu trăm tuổi như truyền thuyết những vị vua ngày trước, thời phong kiến thực dân cha truyền con nối cơ ngơi thế lực khủng. Vì bận dưỡng thương nên khiếm diện chốn công đường, tuy nhiên khi nghe qua những luận tội sơ khởi đương sự cũng đã hình dung ra bản án, đấy là bị đuổi ra khỏi đảng, thu hồi chức vụ, cho dưỡng thương đến khi thực sự bình phục mới ra hầu toà nghe tuyên án tiếp. Tội phạm đã cúi đầu chấp nhận khung hình phạt của bản án, do bản tính vốn lạc quan nên người đàn ông 61 tuổi đã đùa dai rằng: Tôi thực bụng chả muốn làm quan, chứ hỏi quý vị, trên bảo dưới không nghe như giờ nầy thì sinh lực vui thú đéo gì nữa mà mặn nồng đeo bám danh lợi! Búa gỗ gõ chan chát xuống mặt bàn chao đảo. Ông Bao Công thời đại tuyên bố: Bế mạc.

Hồ Đình Nghiêm

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

P:ost by Sơn râu 27 May 2025

Những Con Mắt Bạc
Thơ Phùng Ngọc Ẩn

Từ xứ mù, người đi tìm lý tưởng
Đến với bạn bè như vọng ngưỡng thiên đường
Thiên đường? Ố! nó đã chết tan xương
Chỉ tồn căn một mùi hôi vất vưởng

Mùi của mười sáu năm đánh mất quê hương
Xú danh nào đó đeo đẳng người
trên nẻo đường lữ thứ
Gặp chiến hữu, nở nụ cười viễn xứ
Đường ai nấy đi, như mấy mụ đứng đường

Phẩy tay vờ như thể hiện tình thương
Đồng đô la là duy nhất thiên đường bất tử
Bạn ơi! “huynh đệ chi binh” thành sáo ngữ?
Học bao năm mà chẳng thử một lần

Cuộc đời này còn lắm bậc “cù lần”
Lật trang sử mới, tưởng mình “thần thời đại”
Làm sao biết ai khôn ai dại?
Lấy gì đo sức mạnh tương lai?

Sau lưng người, chiến hữu bỗng thở dài
Tù ngục vẫn đeo đẳng tháng ngày chưa dứt?
Hỏi bao kẻ tự vấn lương tâm bứt rứt
Không bỏ anh em, lại cắt đứt tình người.

Gẫm sự đời, nghĩ cũng nực cười
Những con mắt bạc, rẻ khinh người tị nạn
Tâm tư này trang trọng gởi về cho bạn
Bằng hữu ơi! đừng vội bỏ anh em!

Florida, tháng 11, 1991
Phùng Ngọc Ẩn

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 27 May 2025

Người Mới Sang
Huy Phương

Nhân một buổi họp mặt tại nhà người bạn sống ở Mỹ đã lâu, một vài người chưa quen biết, sau khi biết tôi chỉ vừa qua Mỹ vài tháng, đã tỏ vẻ ngạc nhiên: “Thế mà hồi nẫy tới giờ tôi cứ tưởng anh qua Mỹ đã lâu!” Lẽ cố nhiên những người này chỉ mới quan sát mình qua bề ngoài và câu nói đó có tính cách khẳng định: những người mới qua Mỹ chỉ có thể là những người “thân thể thì ốm đói, mặt mày xanh xao, áo quần xơ xác,” một người khác thường không thể nhầm lẫn được. Sống với Việt Cộng, cả tù trong lẫn tù ngoài 15 năm mà chưa xương bọc da, người chưa hóa ngợm kể cũng lạ!

Mới qua Mỹ vài hôm, người đang dật dờ giữa ngày và đêm, tâm hồn đang còn hoang mang giữa đi và ở, thực và mộng thì một người bạn điện thoại đến hỏi thăm:

“Sao thấy thế nào, trong người ra sao?”.

Mình cứ thật thà kể lể là người cứ chao đảo, ăn không ngon, cứ như nửa tình, nửa mê. Người bạn này bèn quạt cho một hồi: 

“Người ta vượt biển chịu đói khát, đầy đọa, gặp bao nhiêu hiểm nghèo, chết sông chết biển… mới qua được đây. Còn anh, đi máy bay, có tây đầm túc trực hầu hạ, cơm tây bưng, nước Coca rót còn than vãn nỗi gì!”

Trong vòng bà con cũng có lúc có người phỏng vấn: 

“Sang đến đây, anh thấy thế nào!”

Mình than: 

“Qua bây giờ là quá chậm. Con cái 25, 30 cả rồi quá tuổi vào high school, khó vào đại học! Kinh tế down khó kiếm việc làm! Làm cu li thì quá già, làm thầy thì quá đốt! Chưa biết sao đây, nhưng thôi cũng rán!”

Ông cậu thân mật giảng giải:

“Anh biết ở Việt Nam hiện có bao nhiêu người đang chờ để có được cái diễm phúc như anh là đặt chân lên đất Mỹ không? Gần một triệu người đã nộp đơn xin đi… nhưng đủ điều kiện hay gần đủ điều kiện thì may ra chỉ có 20%. Chương trình ODP ta cứ tạm gọi chương trình bảo lãnh thân nhân danh sách đã đến F, G… mà chờ phỏng vấn cứ dài cổ ra, có người ở danh sách C, D mà giờ này chưa ai hỏi han đến. Còn H.O. mới phỏng vấn đến H.O. 8 mà danh sách Việt Nam gởi cho phái đoàn Mỹ ở Bangkok đã lên đến H25, 26. Mỗi danh sách 8 đến 10,000, đi cho đến bao giờ mới hết. Sống trong tuyệt vọng ai lại không hy vọng. Chỉ béo bở cho công an ngoại vụ, dịch vụ. Ra xuất cảnh là tiền, lên danh sách gởi phái đoàn Mỹ lại tiền. Từ danh sách thấp lên danh sách cao lại tiền. Từ ODP qua H.O. lại tiền. Nếu bây giờ anh còn ở Việt Nam thì anh sẽ thấy điều anh qua được đây là quá hạnh phúc rồi, còn những vấn đề khác, ồ no big deal.”

Tôi cũng như những anh chàng lạc quan khác cứ cho rằng mình đi H.O là bảnh lắm. Có anh làm như ta đây là công thần, không chiến sĩ cũng anh hùng, Yên Báy, Bắc Thái, Hàm Tân có khác chi khách sạn Hilton qua đến nơi thì từ trên máy bay thảm đỏ trải dài đến tận xe bus, có quân nhạc, có cờ vẫy. Tôi cũng chế ra nào H.O. là viết tắt chữ humanitarian operation, có anh lại cãi: “H.O. là viết tắt hai chữ High Officer, bạn mình toàn là sĩ quan cao cấp cả ở tù trên 3 năm, cũng phải thôi!’ Có anh lại mỉa mai: “Bọn mình là Homeless Object (H.O.) một lũ không nhà, tướng tá chạy cả rồi, Cộng Sản không dung nạp, kỳ thị, bây giờ già rồi cũng ráng đi cho con cái được nhờ thôi.”

H.O. viết tắt của hai chữ gì thì cũng chẳng có văn thư nào xác nhận, toàn là do các bạn tôi suy đoán. Mà danh sách này là do phía Việt Nam đưa cho Mỹ ở Bangkok chứ không phải do Mỹ đặt ra. Mới đây khi Nam Trân phỏng vấn ông Fleming giám đốc thì mới vỡ lẽ ra là danh sách H.10 trở đi thì gọi là H.11, H.12, H.13.. Tôi như trên trời rơi xuống vì điều dễ hiểu nhất: chữ O là con số 0 mà thôi. Cũng như người ta gọi C.09, C.08 hay D.01, D.02 vậy thôi. Thôi đành quên cái officer của tôi đi mà đi điền đơn xin việc.

Có lúc quên bẵng chuyện mình, gặp anh em bạn bè cứ tâm sự: nào lo nghĩ, nào sợ không việc làm. Có người nói như mắng vào mặt:

“Các anh qua lúc này mà khó nỗi gì, mâm cổ người ta dọn sẵn cứ việc ngồi vào mà ăn. Hồi 1975, bọn tôi qua cái gì cũng phải mò mẫm, sponsor là người Mỹ, mở miệng không ra, đâu có dám hỏi dám nói như các anh bây giờ. Bọn tôi đi bộ mà tìm việc làm dưới trời lạnh. Vợ chồng con cái bảy tám người nhét vào một phòng. Xin welfare thì sợ mất sĩ diện. Hai năm sau mới mua được cái xe hơi 500 bạc. Ở trại định cư thèm trái cam không có ăn. Các anh đừng thấy chúng tôi bây giờ nào nhà, nào xe, con cái kỹ sư, bác sĩ… mà thấy dễ. Chúng tôi trầy vi tróc vảy mới được như vậy. Bây giờ các anh có Mỹ nuôi một năm, có bạn bè anh em giúp đỡ hướng dẫn, có cộng đồng Việt Nam để sinh sống. Các anh qua bây giờ nghề nghiệp còn chọn lựa, trước kia chúng tôi làm mửa mật ra, có ngày cắt cả nghìn cái cổ gà, có ngày rửa chén bát suốt 10 tiếng đồng hồ không lê chân nổi về nhà.”

Tôi chỉ có việc nhìn chăm chú vào đôi mắt người thuyết giảng và cám ơn rối rít.

Mới sang, ai cũng có đôi lúc phân vân nhất là những người tuổi còn dưới bốn mươi: “Tiếp tục đi học hay kiếm việc làm?” 

Có người con cái đều đạt hạng khoa bảng khuyên: “Anh nên cho các con anh tiếp tục học và ngay chính anh cũng phải đi học tiếp. Ở Mỹ không có bằng cấp làm việc cực suốt đời. Chịu cực vài ba năm rồi sau đó tha hồ mà sung sướng!”

Có người lại bảo: “Các anh qua bây giờ là quá chậm, tiếng Anh chẳng bằng ai, sức khỏe không bằng Mễ, Mỹ đen… thôi thì kiếm việc làm gì một giờ năm ba đồng cho qua ngày chờ… lãnh lương hưu là quý lắm rồi.”

Cô cháu hỏi: “Chú già rồi, chọn nghề Real Estate hay làm Loans Officer là hợp nhất!”.

Ông bác khuyên: “Rải giấy đi cắt cỏ là tự do nhất!”.

Người hàng xóm bảo: “Tôi có nghề này hay lắm, ông mua một cái truck cu cũ, vào các shopping, thùng rác nhặt thùng carton, ve chai đi cân ký lô mỗi ngày cũng kiếm được 50 đồng.” (Ôi, năm chục đồng một ngày, tháng 30 ngày nghe hấp dẫn quá!).

Gặp cậu học trò cũ: “Thầy già rồi, có lẽ thầy nên kiếm một chân gác dan, về đêm càng nhiều tiền. Già rồi, ngủ ngáy chẳng bao nhiêu làm nghề này là nhất”. Tôi liên tưởng đến mấy ông gác-dan Ấn Độ, hàm răng và đôi mắt trắng dã ở đường Hàm Nghi, Tôn Thất Thiệp, Chợ Cũ… chắc suốt đời không biết nhắm mắt. Tôi đang bị bệnh mất ngủ, giá kiếm được một chân gác-dan thì chắc tốt, nhưng không biết bên Mỹ này ma có nhiều hơn ở bên nhà không? Mà gặp ma Mỹ, không biết nói tiếng Mỹ có gì trở ngại không?

Tôi có một người em họ, nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Trước kia khi chỉ thấy tên tôi nằm trên hộp thư tòa soạn của một tờ tuần báo đã khâm phục tôi lắm, nay khuyên tôi:

“Anh qua đây, đã lớn tuổi rồi, lại viết lách quen, đi làm báo là sướng nhất. Anh làm cả chủ nhiệm, chủ bút, thư ký đánh máy, quản lý, long tong một mình một chợ. Anh muốn viết gì thì viết, vẽ rồng vẽ rắn bao nhiêu cũng được, kể cả đăng ảnh gia đình anh lên báo và viết bài khen vợ con anh. Anh muốn chửi ai cũng được, nhưng chửi vừa vừa kẻo chửi quá lời, chúng uất quá pằng cho một phát là đi đong. Anh chết rồi là hết, chẳng ai cần tìm ra thủ phạm làm gì. Muốn báo quảng cáo nhiều thì anh phải khen tuốt luốt, mà phải khen thằng có tiền.”

Cậu em họ tôi mới nêu sáng kiến cho tôi hy vọng làm chủ báo, lại dọa tôi, rồi khuyến khích tôi. Sau cùng anh kết luận:

“Nhưng chị ở nhà còn trẻ đẹp không? nói tiếng Anh giỏi một tí càng tốt. Đi xin quảng cáo mà già cọp, cóp róp như anh lại là đàn ông nữa thì còn lâu mới có được một phần tư trang trong chứ đừng nói trang bìa 4 màu. Ở đây tôi biết có khi quảng cáo tiệm phở thì phải lấy tiền quảng cáo bằng phở trừ cơm, quảng cáo hớt tóc thì phải hớt hàng tháng thay vì lấy tiền.”

Vợ tôi đã quá già, hom hem, nhan sắc chỉ có chim sa cá lặn dưới mắt người đối diện là tôi. Nêu thuê một cô thư ký trẻ đẹp để ngoại giao quảng cáo thì chỉ có nước chết đói và chết… đuối. Thế là mộng làm báo coi như dẹp qua một bên.

Tôi mon men hỏi một anh bạn làm báo:

“Nếu tôi không làm chủ báofull-time mà part-time viết dăm ba bài kiếm bạc trả tiền điện, tiền nước, điện thoại có được không?”

Anh bạn tôi ra vẻ thương hại, nói thẳng với tôi:

“Báo ở đây chỉ nuôi sống may ra là ông bà chủ nhiệm, chủ bút kiêm tùy phái, tiền đâu mà trả nhuận bút cho ông. Mà dù bài ông có hay mấy đăng có tiền thì cũng chẳng đăng làm gì. Người ta đọc là đọc quảng cáo, ai thèm đọc bài ông. Người ta đây là các doanh gia đã bỏ tiền quảng cáo, đọc xem có đúng số nhà, số điện thoại của người ta không, xem ảnh người ta có rõ ràng, sắc nét không? Hiện nay báo tôi đang bỏ chợ, lúc nào bán được sẽ mời ông cộng tác thường xuyên. Ông cứ để số điện thoại lại cho tôi.”

Lại một hôm có dịp tôi hỏi một ông bạn già: 

“Ở Việt Nam, tôi đánh máy giỏi lại có kinh nghiệm làm văn phòng, nếu như tôi xin đi làm thư ký văn phòng thương mãi hay phòng mạch bác sĩ có được chăng?”

Ông bạn già tôi cười ngất: 

“Anh có nói tiếng Anh giỏi như mấy em tốt nghiệp high school ở Mỹ không? Anh có nhan sắc mơn mởn, giò dài không, có trẻ không? mà tôi quên anh là đàn ông mà! Ai lại đi thuê anh làm thư ký? Tôi hỏi thật anh: nếu như anh làm bác sĩ, luật sư hay giám đốc anh có chọn tôi, thằng bạn già trứng cá đầy mặt này, làm thư ký không, hay anh tuyển toàn các em trẻ đẹp phây phây, õng ẹo cho mát mắt anh mà cũng mát mặt khách hàng lúc tắt gió! Anh tự suy nghĩ đi rồi tìm câu trả lời, vì sao anh không thể làm nghề thư ký được.”

Ở Sài Gòn, sau 1975, tôi có anh bạn làm ba nghề. Lúc hàn vi làm nghề vá xe đạp ở lề đường. Khi đã bảnh bao, anh làm nghề viết thư mướn ở bưu điện và cố vấn cho bà con làm sao rút gọn vài chữ trong bức điện tín, để đỡ đi vài nghìn đồng, phần anh chỉ xin năm trăm. Lúc lỏi đời anh làm nghề chẻ tiền nhanh như chớp, đưa cho người ta năm chục nghìn đồng, về đến nhà họ đếm lại chỉ còn hai nghìn rưỡi. Qua Mỹ anh như con cá nằm trên cạn, bao nhiêu sở trường sở đoản của anh coi như vứt bỏ. Nghề vá xe đạp, bà con cũng hiểu là đây không có đất dụng võ. Nghề viết đơn mướn ở Việt Nam còn bịp được thiên hạ với mớ tiếng Anh ăn đong của anh. Qua đây, xứ của tiếng Anh, là đất của Lỗ Ban, anh đâu dám múa búa. Còn nghề chẻ tiền thì ở đây mua một cái quần jean có mấy chục, xoè ra có mấy tấm, không như ở thành phố “bác Hồ” phải khuân cả bó bạc, lấy gì mà chẻ. Anh ta than vãn:”Cuộc sống ở đây khó thực!”

Lại nói về nghề nghiệp, một chiến hữu nay là bác sĩ đã thân mật khuyên tôi:

“Anh em qua đây khá đông, tuổi phần lớn đã già, lại học hành dở dang, tôi biết anh em khó nghĩ. Những người đi trước, nhất là số làm social worker, đều khuyên anh em đi học E.S.L. rồi học nghề. Không có E.S.L. không có nghề thì những tổ chức hướng nghiệp, xã hội coi như bỏ, thất nghiệp. Tôi biết các anh đã đổi đời hai lượt, tất phải khó khăn. Nhưng tôi khuyên các anh, dù ít dù nhiều cũng phải ráng mà vào đại học. Vào đại học, gặp thầy gặp bạn tức là đã học Anh ngữ rồi. Có nghề hai năm có thể làm technician, lương khá cao. Học được khá hơn thì nghề nghiệp càng thăng tiến hơn. Không lẽ suốt đời anh đi làm những việc tay chân mãi sao. Tuổi về hưu ở Mỹ bây giờ là 67 chứ không phải là 65 như anh tưởng. Anh phải sống 12 năm nữa mới được lương già. Vậy anh phải vào đại học ít lắm là hai năm hay dài hơn, cao hơn nữa. Rồi còn phải làm gì cho đất nước nữa chứ!”

Tôi biết ông thương người, mong mỏi anh em mới qua thành đạt cũng như ông, đã từng cực khổ đi học lại tương đương với high school, rồi vào đại học, ra bác sĩ. Nhưng phần tôi, tôi thấy quả là khó khăn trước một mớ vợ con đùm đề, bill tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm… Chắc khó có thể yên tâm mà dùi mài kinh sử được nữa. Tôi chỉ mong mỏi sao có được một nghề lương tháng 5, 6 đồng một giờ cộng thêm tí benefit nữa là mãn nguyện rồi.

Trước những ý kiến, lời khuyên, dạy bảo… của bà con, bạn bè, chiến hữu, đồng hương… quả là đôi khi tôi thấy lùng bùng lỗ tai. Những ý kiến này, tất cả đều vì thương tôi là “người mới sang” mà góp ý, có khi những ý kiến này chỏi lại nhau mà tôi không đủ sức đo lường, phán đoán. Tuy nhiên, trên đời này còn hai chữ tuy nhiên.

☆

Tôi đã ở tù trong cái mà người ta gọi là trại-tập-trung-cải-tạo 7 năm, thời gian trung bình so với người không ở tù ngày nào và với những người ở tù 12 năm hay đang còn ở tù. Tôi đã có lúc cân chỉ còn 38 kg với mớ da bọc xương. Tôi đã có lúc đói meo thấy củ sắn mà chảy nước miếng. Tôi đã có lúc “lao động” mửa mật ra suốt ngày mà tối về chỉ được ba củ khoai, trong đó có một củ hà. Tôi đã có lúc xuống hầm cầu tiêu hốt phân bắc, nôm na là hốt cứt của bọn cai tù. Tôi đã có lúc đi qua nhà dân thấy bếp lửa nhà ai mà thèm không khí gia đình ấm cúng. Tôi đã có lúc quằn quại trên chõng tre vì bệnh nặng mà chỉ có mấy ngọn lá rừng vò nát làm thuốc. Tôi đã có lúc muốn đâm thằng đội trưởng tàn ác với chiến hữu, mà hèn nhát không dám đâm. Tôi đã có lúc muốn treo cổ tự tử vì nhục nhưng xót vợ con, không làm. Tôi đã có lúc muốn hóa thành con chó, con mèo, con chim cho đỡ khổ.

Xưa kia ở trong trại tù tôi chỉ dám mơ ước ra tù, cuốc đất trồng khoai, được ăn ngày ba bữa khoai, không tính đến mấy củ khoai hà. Xưa kia, ở trong trại tù cuốc bộ mười hai cây số với một gánh ngô trên vai tôi thấy thèm địa vị của thằng bộ đội cỡi xe đạp. Xưa kia, ra gần đường lộ tôi thấy hạnh phúc thay những người dân miền Bắc, lem luốc chen nhau lên cái xe hàng chạy than. Xưa kia, thấy cái máy bay trên trời tôi cho đó là niềm vô vọng mà cả nghìn kiếp sau chưa chắc tôi đã được ngồi trên đó.

Tôi chỉ cầu được tự do, rồi sau đó ra sao thì ra!

Rồi tôi được ra tù. Rồi tôi được sum họp với vợ con, có bếp lửa ấm cúng trong căn nhà cũ. Rồi tôi được cỡi lên chiếc xe đạp chạy phom phom trên thành phố Sài gòn thân yêu của tôi. Rồi tôi được đi xe hơi. Rồi tôi được phục hồi danh dự – có xuất cảnh, được phía Mỹ cho nhập cư, được phía Việt Nam gởi danh sách qua phái đoàn Mỹ.

Bao nhiêu thằng cán bộ chảy nước miếng thèm lại địa vị của tôi. Rồi tôi được leo lên máy bay phản lực, các cô em chiêu đãi Hà Nội mặt nặng như chì vì ghét tôi và bạn bè tôi, cũng phải cơm bưng nước rót. Rồi đổi máy bay, tây đầm phục vụ chu đáo một tiếng sir, hai tiếng sir.

Cuối cùng tôi đặt chân xuống đất Mỹ, nơi mà con tôi vì mong muốn đến, đã bỏ mình trên Thái Bình Dương. Các em tôi ra đón, ôm tôi mà khóc.

Hiện nay tôi đã là người cũ. Hơn nửa năm thì không còn gọi là người mới nữa. Là người cũ tôi cũng có nhà ở, có xe đi, có cơm ăn áo mặc và nhất là tôi cảm thấy tự do, tôi muốn viết gì thì viết theo lương tâm tôi. Ở “thành phố Hồ Chí Minh,” buổi sáng vào quán ăn phở ngồi chung với một anh nón cối bi bô chuyện “ngoài ta”, là tôi ăn đã mất ngon. Qua đây tôi cho là thoát. Thế thì tôi mơ ước, đòi hỏi gì hơn.

Tôi cũng như các bạn bè chiến hữu đau khổ của tôi, không chết ở trong tù, lẽ nào ta lại chịu chết ở đây! Chúng ta đã khổ quá nhiều rồi, sẽ không còn đau khổ nào lớn hơn, cao hơn. Hai lần đổi đời, ta sẽ làm lại cuộc đời. Và nếu tôi nói không quá, dù có chết được chôn cũng không sợ đào mồ cuốc mả nữa.

Chúng ta thường là những người vô tâm, hay quên, nhưng quên ở đây cũng đồng nghĩa với phản bội các bạn bè anh em ta đã nằm xuống…lẽ cố nhiên không phải nằm xuống ở đây.

Huy Phương

Cải tạo nửa mùa – Vượt biên tài tử

hoiquanphidung.com

Hoài Nam – Nguyễn Hữu Thiện

Post by Sơn râu 27 May 2025

Phần 12.

Chương 6 – Suối Máu & Tống Lê Chân

Vì tù cải tạo là những người đã bị mất quyền công dân, không được mừng lễ Giáng Sinh cho nên ngày hôm sau, 25/12/1978, mọi sinh hoạt ở trại tù Suối Máu vẫn diễn ra bình thường. Nhưng trong lòng anh em không bình yên một chút nào cả, tức là ngược lại với câu hát của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh:

Vinh danh Thiên chúa trên trời – Bình yên dưới thế cho người thiện tâm.

Không bình yên bởi chúng tôi biết chắn bọn công an sẽ tìm cách trả đũa việc phải nhượng bộ tù cải tạo trong đêm Giáng Sinh. Xế chiều, những anh em công tác ngoài trại về cho biết vào khoảng trưa, họ thấy mấy chiếc xe díp (của Cảnh Sát Quốc Gia trước 1975) chở một số công an tới khu nhà của ban giám thị trại, có tay mặc đồng phục công an đeo K54, có tay mặc áo sơ-mi trắng, tất cả đều đeo xà-cột (tiếng Pháp: sacoche) cho thấy họ không phải công an quèn. Về sau chúng tôi được biết đây là đám chuyên viên điều tra từ Chí Hòa được đưa lên Suối Máu để thanh lọc thành phần tù cải tạo chủ chốt trong cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh.

Nhưng ngay lúc đó, đã không có gì xảy ra!

Gần hai tuần lễ sau, trưa ngày 7/1/1979, toàn thể tù cải tạo ở năm K được lệnh “khẩn trương” lên hội trường (của mỗi K) tập họp. Từ ngày bò xanh bàn giao cho bò vàng, chưa bao giờ có một sự “khẩn trương” như thế cho nên chúng tôi không khỏi lo âu: lại chuyển trại chăng?…

Rồi một đám giám thị cùng với toán bảo vệ tiến vào K2. Thoạt tiên chúng tôi hơi rét, nhưng ngay sau đó đã chuyển sang ngạc nhiên khi thấy Trung tá Đào Lưỡng, viên Giám thị trưởng Chí Hòa – Suối Máu, bước vào hội trường với nét mặt tươi cười vui vẻ chưa từng thấy.

Đứng trước microphone (được truyền đi khắp trại qua hệ thống loa phóng thanh), sau mấy câu chào hỏi vắn tắt, ông ta vào đề với một giọng đầy phấn kích:

– Tôi lên đây để đích thân thông báo cho các anh một tin vui lớn: sáng sớm hôm nay, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến vào thủ đô Phnom Penh, lật đổ chế độ Pol Pot, giải phóng đất nước Campuchia…

Sau đó, trong lúc Đào Lưỡng ra sức ca tụng “cuộc tiến công như vũ bão của quân đội nhân dân VN anh hùng”, chỉ trong vòng mấy ngày đã từ biên giới Việt – Miên tiến chiếm thủ đô xứ chùa tháp, trong lòng tôi nổi lên một nỗi băn khoăn, lo lắng trước viễn ảnh ở tù dài dài.

Như đã viết trong một kỳ trước, thời gian cuối năm 1978, qua tin tức bên ngoài lọt vào nhân các kỳ thăm nuôi, chúng tôi được biết Hà Nội đang bị Bắc Kinh kiếm cớ gây sự (vụ “nạn kiều”, vấn đề tù cải tạo người Việt gốc Hoa…) và đứng trước nguy cơ bị hai mặt giáp công – Khmer Đỏ từ biên giới tây nam, Trung Cộng từ hướng bắc. Nay CSVN lại ra tay trước, đánh chiếm Phnom Penh một cách dễ dàng, thì rất có thể Hà Nội sẽ thực hiện được giấc mộng “Liên bang Đông Dương” với sự hỗ trợ của Liên Xô để chống lại tập đoàn Bắc Kinh.

Mà một khi cuộc tranh chấp giữa “đại bá quyền phương Bắc” và “tiểu bá quyền phương Nam” chưa ngã ngũ, tình hình chưa ổn định, đám tù cải tạo chúng tôi sẽ tiếp tục… ở tù, như Đào Lưỡng đã khẳng định khi mới được quân đội nhân dân bàn giao trại Suối Máu.

Sau buổi lên lớp nghe Đào Lưỡng báo tin chiến thắng của bộ đội CSVN tại Căm-bốt, đa số anh em tù cải tạo ở Suối Máu cũng có cùng tư tưởng bi quan như tôi. Nhiều người còn đem cái chết bi thảm của nữ nghệ sĩ cải lương Thanh Nga trước đó hơn một tháng ra để đi tới kết luận các đàn anh ở Trung Nam Hải chắc chắn sẽ cho đám đàn em ở Bắc Bộ Phủ “một bài học” như Đặng Tiểu Bình đã hăm dọa!

Nguyên vào thời gian cuối tháng 11/1978, đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga đang diễn vở Thái Hậu Dương Vân Nga, một vở tuồng có nội dung chống Tàu gay gắt, kêu gọi toàn dân một lòng chống quân xâm lược phương Bắc, thì Thanh Nga và chồng đã bị kẻ lạ mặt bắn chết trước cửa nhà riêng, cho nên đại đa số dân chúng Sài Gòn đã suy diễn thủ phạm bắn chết Thanh Nga chính là bọn gián điệp Trung Cộng. Thời gian này lại đang diễn ra các cuộc thăm nuôi, mọi chi tiết “ly kỳ rùng rợn” liên quan tới vụ này đã được thân nhân thuật lại, gây xôn xao khắp trại! (Chú thích 1)

* * *

Trở lại với trung tuần tháng 1/1979, khoảng hai tuần lễ sau khi Đào Lưỡng loan báo “tin vui chiến thắng” của quân đội nhân dân Việt Nam tại Căm-bốt, đám giám thị cai tù ở Suối Máu mới bắt đầu ra tay trả đũa việc tù cải tạo “làm loạn” trong đêm Giáng Sinh.

(Hai chữ “làm loạn” là của Đào Lưỡng sử dụng mỗi khi viên Trung tá công an nhắc lại vụ này)

Trước hết, một số anh em trong các Ban đại diện quân binh chủng và Ban hành động tại các K bị đưa đi khỏi Suối Máu. Ít lâu sau tới đợt thứ hai.

Sau này chúng tôi mới được biết số anh em nói trên bị đưa về giam ở khám Chí Hòa (cũng nằm dưới quyền Đào Lưỡng) để khai thác, sau đó bị đưa tới các trại tù hắc ám ở Xuân Phước (A20), Xuyên Mộc, Gia Trung, Tống Lê Chân…, nhưng ngay lúc đó, nhìn vào thành phần bị đưa đi, chúng tôi cũng đoán biết tương lai đen tối của các anh em này!

Theo tin tức nhận được từ K3, tất cả các vị linh mục tuyên úy Công giáo đều nằm trong số bị đưa đi. Về số người, đông nhất là K1 và K5. K1 có nhiều người bị bắt đưa đi cũng dễ hiểu, bởi vì, như đã viết ở một phần trước, đa số tù cải tạo ở K1 là cấp trung úy, thiếu úy trẻ còn rất hăng, chống đối ra mặt, đồng thời cũng là nơi khởi phát cuộc nổi loạn đêm Giáng Sinh 1978.

Còn K5 bị bắt đông vì, theo lời kể lại của một bạn tù ở K này, mọi hoạt động chống đối trong đó có việc đánh ăng-ten diễn ra một cách công khai, cho nên đám giám thị đã có được một danh sách khá đầy đủ anh em trong Ban hành động và Ban đại diện quân binh chủng, do đám ăng-ten báo cáo!

Nhắc tới việc tù cải tạo làm ăng-ten là việc chẳng đặng đừng, nhưng vẫn phải nhắc tới để thấy đám công an của Cục Trại Giam – những cai tù chuyên nghiệp – mưu mô quỷ quyệt hơn đám bộ đội nhiều.

Trước hết, họ tung tin sẽ có nhiều người học tập tiến bộ được trả tự do về xum họp với gia đình nhân dịp tết Kỷ Mùi (cuối tháng 1/1979). Sau đó quả thật có một số người được về.

Những người này thực ra đa số là các bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, và chuyên viên các ngành mà chế độ mới cần đến, là những thành phần mà theo lệnh của trung ương chỉ bị học tập 3 năm, thế nhưng cái đám làm ăng-ten với hy vọng được về sớm đã không để ý tới điều này, hoặc có nhưng vẫn cố nuôi hy vọng.

Bên cạnh báo cáo của đám ăng-ten, còn có sự “thành thật khai báo” của chính một số người thuộc thành phần chỉ bị học tập 3 năm nói trên.

Sự việc diễn ra như sau: trước khi loan báo các danh sách được thả về, ban giám thị cho gọi từng toán lên, đưa vào phòng giao ban (phòng họp nội bộ) của K. Họ được đám công an điều tra của Cục Trại Giam nói đại ý: họ có tên trong danh sách được cán bộ trại đề nghị cho về xum họp với gia đình, đây là “bài thu hoạch” cuối cùng để đánh giá mức độ tiến bộ của từng cá nhân, “cấp trên” sẽ căn cứ vào chất lượng của bài thu hoạch để quyết định thả hay không. Nội dung bài thu hoạch là những gợi ý được in ronéo trên mấy tờ giấy phát riêng cho từng người.

Trong số những gợi ý này, đáng nói nhất là mục nhận xét, đánh giá tình hình và mức độ tiến bộ của các bạn tù trong K, trong Lán (Nhà), những cá nhân nào có hành động, lời nói tiêu cực, hoặc âm mưu chống phá cách mạng, v.v…

Dĩ nhiên anh em chúng tôi không thể biết trong số những người bị bắt làm “bài thu hoạch” ai khai ai không khai, chỉ biết chắc chắn có một số người nào đó đã khai ra tên tuổi anh em trong các Ban đại diện, Ban hành động mà đám ăng-ten sót tên. Hậu quả là gần như tất cả đã bị “sa lưới”, không cần biết những anh em đó có xuất đầu lộ diện trong cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh hay không!

Nhưng riêng ở K5, theo những gì tôi được nghe kể lại, đã xảy ra chuyện tức cười là có mấy tay ăng-ten cũng bị đưa về Chí Hòa cùng với các “thành phần phản động”.

Nguyên trong số người phải làm bài thu hoạch có bác sĩ X, một trung úy quân y mới ra trường, không biết khả năng chuyên môn cỡ nào nhưng đầu óc khôi hài châm biếm thì ăn đứt thiên hạ!

Sau khi bị ban giám thị gọi lên làm bài thu hoạch, trở về K5 bác sĩ X tiết lộ với vài người bạn thật thân rằng anh đã sốt sắng (từ VC gọi là “tích cực”) trong việc tố giác “những cá nhân có hành động, lời nói tiêu cực, hoặc âm mưu chống phá cách mạng” bằng cách ghi ra tên tuổi ba tay ăng-ten sừng sỏ nhất ở K5, hy vọng họ sẽ bị ban giám thị gọi lên “làm việc” cho bõ ghét!

Kết quả ngoài sự mong đợi của bác sĩ X: ba tay ăng-ten nói trên không chỉ bị ban giám thị gọi lên làm việc, mà hai người trong bọn còn bị đưa về Chí Hòa cùng với các “thành phần phản động” để rồi cùng bị đưa ra “trại trừng giới” A20 (Xuân Phước)!

Mặc dù ngay lúc đó chưa biết những gì sẽ xảy ra cho anh em trong các Ban hành động và Ban đại diện quân binh chủng bị đưa đi khỏi Suối Máu, chỉ cần điểm qua danh sách bị những người bị kêu tên, chúng tôi cũng biết chắc chắc họ không được về đoàn tụ với gia đình như các thành phần “chuyên gia” (bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư…) chỉ bị học tập 3 năm đã nhắc tới ở trên.

Vì thế, tuy ban giám thị đã nhiều lần tập họp các Nhà trưởng đề ra kế hoạch thi đua thể thao, văn nghệ mừng đón xuân Kỷ Mùi, ngày tết truyền thống của dân tộc, cũng không tạo được một chút phấn khởi nào trong bầu không khí nặng nề trước cảnh kẻ đi người ở trong tập thể tù cải tạo Suối Máu.

Tôi không nhớ cuộc thi đấu bóng chuyền giữa các K có diễn ra hay không, nhưng cuộc thi đua văn nghệ thì tôi nhớ rõ đã chết ngay từ trong trứng nước, bởi thiếu người tham gia.

Theo lời kể lại của anh Huyến, nhà trưởng của tôi, trong các buổi họp giữa ban giám thị và các Nhà trưởng về việc đón tết mừng xuân, đám giám thị đã tỏ ra rất cay cú, bực tức trước thái độ bất hợp tác này.

Vì thế với tôi, trong số bốn lần ăn tết trong trại cải tạo (tính tới lúc đó), có thể nói cái tết năm 1979 là buồn nản nhất. Ngoài tiêu chuẩn mỗi người một miếng thịt heo bằng hai đầu ngón tay, tất cả còn lại vẫn là “một ngày như mọi ngày”.

Có đáng nhớ chăng là việc được ăn bánh chưng “hàm thụ” nấu bằng… bo bo!

Sau năm 1975, trong số những đề tài liên quan tới ẩm thực bị dân miền Nam đem ra diễu cợt nhiều nhất có lẽ là (1) một ký rau muống có giá trị dinh dưỡng bằng một ký thịt bò, và (2) bánh chưng nấu bằng bo bo cũng ngon như bánh chưng nấu bằng nếp.

Câu so sánh rau muống với thịt bò ai cũng biết là của các “đỉnh cao trí tuệ” ngoài Bắc, người dân miền Nam chẳng thèm chấp, nhưng câu “bánh chưng nấu bằng bo bo cũng ngon như bánh chưng nấu bằng nếp” lại là của một phụ nữ nổi tiếng trong Nam, đã khiến mọi người phải ngán ngẩm!

Phụ nữ nổi tiếng ấy là “bà QV”, trước năm 1975 được xem là ăn khách bậc nhất trong số những tác giả viết sách dạy nấu ăn ở Sài Gòn. Chẳng cần nói đâu xa, chính cô vợ quý hóa của tôi khi theo chồng ra Pleiku sau ngày cưới cũng không quên mang theo cuốn sách dạy nấu những món ăn căn bản của bà.

Trước năm 1975, tôi chỉ nghe tên chứ không biết mặt bà QV, ngoài đời cũng như trên sách báo. Lần đầu tiên tôi được thấy hình bà là trong trại cải tạo ở Phước Long, trên một tạp chí bằng tiếng Việt của Liên Xô có tên là Báo ảnh Liên Xô.

Về hình thức, Báo ảnh Liên Xô cũng tương tự tạp chí Thế Giới Tự Do của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ trước năm 1975, tuy nhiên vì chất lượng giấy báo cũng như kỹ thuật in ấn của làng báo quốc doanh của CSVN lúc ấy quá tệ, tạp chí Báo ảnh Liên Xô in hình màu đã được dân chúng VN xem như một biểu tượng cho những gì “to đẹp” của đàn anh cộng sản.

Có lẽ tạp chí “free” này được in tại Liên Xô và đưa sang VN với số lượng rất hạn chế cho nên trong suốt thời gian mấy năm kể từ ngày “miền Nam được hoàn toàn giải phóng” tôi chưa hề nhìn thấy Báo ảnh Liên Xô, cho tới khi có thân nhân một bạn tù không biết kiếm đâu ra được một, hai số báo và đem lên nhân dịp thăm nuôi.

Với anh em tù cải tạo trong trại nói chung, đọc những bài viết sặc mùi tuyên truyền cùng hình ảnh khoa trương kệch cỡm trong hai cuốn Báo ảnh Liên Xô ấy chỉ tổ bực mình, nhưng riêng tôi trước năm 1975 phục vụ trong ngành Chính Tranh Chính trị, từng giữ chức vụ Sĩ quan Báo chí đơn vị, có bạn bè sinh hoạt trong làng báo miền Nam cho nên không tránh được tò mò, đọc hai cuốn báo ảnh ấy không bỏ sót một chữ.

Nhờ đó tôi khám phá ra hình bà QV trên Trang Phụ Nữ do “Chị Vera” phụ trách. Ngoài các bài vở liên quan tới phụ nữ, trang này còn có mục nhịp cầu tri âm giữa chị Vera và các nữ độc giả ở các nước xã hội chủ nghĩa, thường kèm theo một tấm hình của chị em đã viết thư cho chị Vera và được chị trả lời. Trong số này có bà QV từ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Đọc phần trả lời của chị Vera cho bà QV, tôi được biết trước đó bà đã viết thư cho chị, đề nghị thiết lập thêm mục gia chánh trên Báo ảnh Liên Xô, và bà – tự nhận là tác giả viết sách dạy nấu ăn uy tín nhất miền Nam VN – sẽ tình nguyện tham gia với các món ăn Việt Nam thuần túy do bà hướng dẫn thực hiện.

Phần trả lời của chị Vera cho bà QV rất nồng thắm. Sau khi ca tụng phụ nữ VN anh hùng nói chung, phụ nữ thành Hồ nói riêng, chị đã hoan nghênh “tinh thần đóng góp ý kiến tích cực” của bà QV, và cho biết ban biên tập Báo ảnh Liên Xô sẽ nghiên cứu đề nghị của bà.

Vì sau đó không có cơ hội đọc Báo ảnh Liên Xô nữa, tôi không được biết tạp chí này có thêm mục gia chánh theo đề nghị của bà QV hay không? Nhưng cứ tạm cho là có, và bà QV đã tham gia bằng cách hướng dẫn chị em ở các nước xã hội chủ nghĩa nấu các món ăn Việt Nam, thì sự tham gia ấy cũng đã chấm dứt trước khi bà vượt biên. Tôi không biết đích xác bà vượt biên năm nào, chỉ biết tới tháng 8/1982, bà và cô con gái cùng gia đình tôi đi chung một chuyến bay chở người tỵ nạn từ Tân-gia-ba sang Úc định cư.

Trở lại với bánh chưng nấu bằng bo bo của bà QV năm 1979. Khoảng một, hai tuần trước tết Kỷ Mùi, bà lên đài truyền hình Sài Gòn Giải Phóng hướng dẫn nhân dân miền Nam nấu bánh chưng bằng bo bo.

Lẽ dĩ nhiên, bà không gọi là “bo bo” mà gọi là “cao lương” theo cách gọi của chế độ CSVN và người dân miền Bắc. Hai chữ “cao lương” ở đây không phát xuất từ thành ngữ “cao lương mỹ vị” mà là tên gọi loại thực phẩm dễ trồng và có thu hoạch cao nhất trong ngũ cốc, gồm: gạo, lúa mì, bắp (ngô), lúa mạch (barley), và cao lương (sorghum).

Người ta trồng cao lương chủ yếu để nuôi gia súc hoặc sử dụng trong kỹ nghệ. Vì hạt cao lương có lớp vỏ dầy và dai không thể tiêu hóa được cho nên kể cả trong trường hợp sử dụng để nuôi súc vật, người ta cũng phải xay thành bột, vậy mà ngày ấy tù cải tạo và không ít người dân miền Nam đã phải nhai cao lương nguyên hạt!

Sau năm 1975, cao lương được dân chúng trong Nam gọi là “bo bo” vì hạt cao lương trông giống hạt bo bo để nấu chè, nấu sâm bổ lượng… Vẫn biết gọi như thế là sai nhưng họ thà gọi sai chứ nhất quyết không chấp nhận chữ “cao lương” của miền Bắc!

Đám tù cải tạo gốc Phước Long chúng tôi được làm quen với bo bo trong thời gian còn ở Đồng Ban năm 1976, tới khi lên Phước Long mới ăn bo bo 100% trước khi độn thêm bắp “đá”.

Bo bo nấu chín có mùi hôi nồng rất khó ăn, riêng với những người yếu bao tử như tôi thì ăn vào là bị hành, nhưng vẫn phải ăn. Vậy mà bà QV lại lên truyền hình hướng dẫn dân chúng Sai Gòn nấu bánh chưng bằng bo bo; và cuối chương trình, bà kết luận bằng một câu xanh rờn, hơn 40 năm sau tôi vẫn còn nhớ:

– Chị em cứ nấu thử đi, ăn ngon y như bánh chưng nấu bằng nếp vậy!

Vừa “ăn tết” xong, đám giám thị ở Suối Máu cho tiến hành chuyển trại nội bộ: tù cải tạo ở mỗi K có tên trong danh sách chuyển trại được chia thành nhiều toán, mỗi toán đi sang một K khác nhau. Tới lúc này mọi người mới thấy đám công an của Cục Trại Giam chuyên nghiệp và đáng sợ hơn đám bộ đội võ biền rất nhiều!

Sau khi bắt anh em trong các Ban hành động và Ban đại diện quân binh chủng đưa về Chí Hòa, đám giám thị ở Suối Máu vẫn chưa hoàn toàn yên tâm bởi rất có thể đám ăng-ten báo cáo sót, hoặc anh em cải tạo còn ở lại ở các K sẽ tái thiết lập các đường dây phản động, vì thế họ mới cho chuyển trại nội bộ một cách tinh vi như vậy với mục đích phân hóa, làm tê liệt lực lượng chống đối còn lại ở Suối Máu!

Tôi nằm trong nhóm bị đưa sang K1. Sang tới nơi mới biết Phan Lạc Giang Đông đã bị đưa về Chí Hòa từ trước tết vì tham gia Ban hành động của K1. Tôi mong gặp lại Đông không chỉ vì muốn có một người bạn cũ ở tù chung cho đỡ buồn mà còn vì muốn biết đích xác những gì đã xảy ra cho Đông và gia đình sau ngày 30 tháng Tư oan nghiệt.

Hai ông bạn quý của tôi, Trần Ngọc Tự (bút hiệu Ngọc Tự) và Phan Lạc Giang Đông, đều làm thơ từ trước 1975.

Nếu thơ là người thì vì thơ Ngọc Tự và thơ Phan Lạc Giang Đông khác nhau nên con người hai chàng cũng khác nhau: Tự lúc nào cũng băn khoăn, khắc khoải trước thân phận của thế hệ mình, Đông trái lại luôn luôn sôi nổi với lý tưởng quê hương, dân tộc. Mà vào cái thời phản chiến đã trở mốt thời thượng trong giới sinh viên, trí thức, mấy chữ “quê hương, dân tộc” thường đi đôi với lập trường nghiêng ngả.

Phan Lạc Giang Đông (trái) và tác giả trong thời gian theo học khóa CTCT tại Đà Lạt năm 1970

Sau khi tôi thuyên chuyển từ Pleiku về Biên Hòa giữa năm 1972, Đông rủ tôi cùng ghi danh Ban Báo Chí ở Đại học Vạn Hạnh. Qua những lần theo Đông tới Vạn Hạnh, tôi được biết từ mấy năm qua hắn đã giao du với một số thành phần phản chiến, thân cộng, hoặc cộng sản nằm vùng (sau 1975 người ta mới biết) trong phong trào sinh viên học sinh thường đóng đô tại Đại học Vạn Hạnh, nơi nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ giữ chức vụ Trưởng Phòng Văn Mỹ Nghệ.

Vì thế, khi Trung úy Phan Lạc Giang Đông được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng Ban Giáo Dục Chính Trị, Đoàn Công Tác Chính Huấn, VP/TMP Chiến Tranh Chính Trị, BTL/KQ, một số người đã phải cau mày…

Sau 30/4/1975, Đông tới nhà bà ngoại tôi ở Phú Nhuận (nơi tôi tá túc sau khi chạy từ phi trường Biên Hòa về) rủ lên Vạn Hạnh xem tình hình. Nể lời, tôi đi theo Đông nhưng tới nơi thấy đám sinh viên đeo băng đỏ nhi nhô lăng xăng tôi chán quá chỉ đứng ngoài sân quan sát mặc Đông muốn đi đâu thì đi. Khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ sau, hắn vừa đi ra vừa lắc đầu, tôi cũng chẳng buồn hỏi han…

Tôi cũng tế nhị không dò hỏi Đông về ông anh Phan Lạc Tuyên của hắn, tức tay cựu Đại úy Biệt Động Quân tham gia cuộc đảo chính hụt năm 1960 cùng với Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông, sau đó chạy sang Căm-bốt rồi theo cộng sản.

Sau ngày 30/4/1975, như tôi đã trình bày ở Chương 1, Phan Lạc Giang Đông, và cả cụ thân sinh, chẳng những không được “nhờ vả” Phan Lạc Tuyên mà còn chịu nhiều cay đắng. Nhưng vào thời gian đầu, nhiều người quen biết vẫn tin rằng Trung úy Phan Lạc Giang Đông sẽ được chế độ mới nương tay nhờ có ông anh “theo cách mạng” nổi tiếng!

Vì thế, khi tôi và Trần Ngọc Tự, gần nhà nhau ở Phú Nhuận, trình diện học tập cải tạo tại Đại học Văn Khoa, chúng tôi cũng không biết Phan Lạc Giang Đông, nhà ở gần khu Ông Tạ, có phải đi cải tạo hay không?

Mãi sau này từ Phú Quốc về Trảng Lớn (Tây Ninh), rồi từ Trảng Lớn lên Đồng Ban, tôi mới biết Phan Lạc Giang Đông cũng bị đi cải tạo, đồng thời được nghe một số tin tức, một cách chính xác là tin đồn, trái ngược về người bạn của tôi: người thì kể Đông bị cải tạo ở Cà Tum, ông cụ thân sinh lên thăm, hai bố con ôm nhau khóc vì “quốc phá gia tan” (gia tan bởi Phan Lạc Tuyên), người thì kể Đông làm ăng-ten trong trại cải tạo…

Tôi không hiểu tin đồn Đông làm ăng-ten phát xuất từ đâu, nhưng trong trại cải tạo người ta có khuynh hướng tin vào các tin đồn; riêng trong trường hợp Phan Lạc Giang Đông, người ta còn thêu dệt nhiều điều cả về thân thế lẫn con người của Đông, tôi nghe mà cứ tưởng đó là một nhân vật xa lạ nào chứ không phải một người mình quen biết!

Điều tai hại, và đáng buồn, là tù cải tạo ở Suối Máu chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tập thể tù cải tạo lên tới hàng trăm nghìn người, cho nên tỷ lệ biết Phan Lạc Giang Đông từng tham gia Ban hành động của cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978, bị bắt về Chí Hòa rồi bị đưa đi A20 cũng chẳng được là bao.

Sang K1, tôi được phân phối tới Nhà 13 do Trung úy Đỗ Văn Phố làm Nhà trưởng. Anh hơn tôi một vài tuổi, cao lớn, đẹp trai, trước năm 1975 là trưởng đoàn mô-tô hộ tống thuộc Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống.

Sau này đọc một hồi ký viết về cuộc nổi dậy đêm Giáng Sinh 1978 ở Suối Máu, tôi mới biết Đỗ Văn Phố có tham gia Ban hành động của K1, nhưng không hiểu sao anh lại lọt lưới trong hai đợt thanh lọc của công an Cục Trại Giam?

Nếu chỉ nói về mặt sinh hoạt chứ không kể đói no, căng thẳng, thời gian ở Đồng Ban và Phước Long đối với tôi là thoải mái nhất, kế tới là thời gian sống ở K1, Suối Máu, nhờ được công an thả lỏng và có nhiều bạn tù hợp nhau.

Nhà của tôi đa số là cấp trung úy và một vài đại úy. Trong số đại úy, tôi rất thân với hai tay gốc Bắc Kỳ, một thuộc Cục An Ninh Quân Đội may mắn không bị đưa ra Bắc, một bên Địa phương quân. Anh Thiết, tay đại úy An Ninh Quân Đội, kết tôi ngay từ lúc tôi mới chân ướt chân ráo từ K2 sang và rủ tôi ăn chung.

Thời gian này, đầu năm 1979, không biết ở những nơi khác thì sao, riêng tại Suối Máu tiêu chuẩn thực phẩm của tù cải tạo đã xuống tới mức thấp nhất, về cả phẩm lẫn lượng; có lẽ do chính sách của trung ương chứ không phải vì bị đám hậu cần bớt xén.

Viết như thế không có nghĩa tôi khen hậu cần của công an lương thiện hơn hậu cần của bộ đội, mà chỉ muốn viết ra thực tế phũ phàng: thực phẩm của tù cải tạo ở Suối Máu lúc này chỉ có bo bo và khoai mì thắt lát phơi khô, thức ăn thì cá khô là chính – loại cá khô mà trước 1975 người ta dùng để nấu cám heo, thì có bớt xén khẩu phần của tù cải tạo cũng chẳng biết đem đi đâu để tiêu thụ!

Cũng may là trại Suối Máu ở gần Sài Gòn, tù cải tạo được thăm nuôi khá thường xuyên, được thân nhân tiếp tế đều đặn, và không bị cưỡng bách lao động khổ sai như ở Phú Quốc cho nên cũng không đến nỗi quá thê thảm.

Ngày nào được ăn bo bo thì các anh nuôi (tổ làm bếp) có nhiệm vụ nấu cho cả K, ngày nào bị cho ăn khoai mì phơi khô thì phân phối tới từng tổ để… muốn làm gì thì làm, bởi nếu các anh nuôi bỏ vào chảo nấu – dù nấu với cá khô hay chỉ nấu với muối – thì sẽ trở thành một món không phải cháo cho người mà cũng chẳng phải cám cho lợn!

Lãnh khoai mì khô về, tổ phân chia cho cá nhân. Thời gian này ở Suối Máu, ngoại trừ một số rất nhỏ (thường có gia đình khá giả) ăn một mình, đa số tù cải tạo thường ăn chung trong một nhóm anh em thân thiết. Riêng Đại úy Thiết, trước khi tôi từ K2 sang, chỉ ăn chung với Thi, một thiếu úy Hải Quân ở khác nhà mà anh xem như “đệ tử”, có nhiệm vụ nấu nướng, biến chế thực phẩm do các anh nuôi phân phối.

Nguyên nhân khiến không có ai ở cùng Nhà 13 ăn chung với anh Thiết là vì anh rất khó nết mặc dù anh là một con người rất tốt. Hầu hết anh em ở chung nhà, và cả một số anh em khác nhà, gọi anh là “anh cả”; anh biết trong đó có pha chút châm biếm nhưng vẫn vui vẻ tự nhận và tự xưng như thế.

Tôi không rõ gia thế anh Khiết chỉ biết quà thăm nuôi của gia đình rất “chất lượng”. Thi biết thân biết phận “con bà phước”, tự nguyện nhận chức đầu bếp.

Khoai mì khô lãnh về được Thi biến chế thành… bánh canh! Nhưng không chỉ với ba anh em chúng tôi mà ở toàn trại Suối Máu, khoai mì khô lãnh về đều trở thành bánh canh.

Cũng cần viết thêm, đây không phải sáng kiến của tù cải tạo Suối Máu mà là của dân Sài Gòn, ngày ấy được nhà nước cho ăn bo bo và khoai mì phơi khô đều đều; nhà nào không xoay xở được thứ thực phẩm khác thường giã khoai mì cho nát ra, lấy bột giả làm bánh canh sống qua ngày; để rồi sáng kiến “khắc phục” ấy đã được thân nhân phổ biến cho tù cải tạo!

Trung bình một tuần, ba anh em chúng tôi ăn bo bo hoặc “bánh canh” sáu ngày, một ngày ăn cơm nấu bằng gạo do gia đình đem lên khi thăm nuôi.

Trong khi tôi bắt chước Thi và mọi người gọi Đại úy Thiết là “anh cả” thì với Hưng, tay đại úy Địa phương quân, chúng tôi lại “mày tao” với nhau. Tôi và Hưng thân nhau vì có cùng suy nghĩ, trình độ kiến thức, lập trường, thường trò truyện về thời cuộc.

Tôi cũng quý mến và khá thân với một tay trung úy Nam Kỳ ở chung Nhà 13 là anh Thu, nguyên là sĩ quan tùy viên của cố Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh phó Quân Đoàn III & Quân Khu III, vị tướng nổi tiếng thanh liêm bị ám sát một cách bí ẩn tại phòng làm việc vào đầu tháng 4/1975.

Qua một vài lần trao đổi, tôi biết anh Thu cũng là một người nặng lòng với lý tưởng quốc gia, khác với cái vỏ bề ngoài vô tư, hay bông đùa, lâu lâu lại nhái giọng nữ ca sĩ Thanh Tuyền:

“Mỗi năm đến hè… thì ta nghỉ hè”!

Cuối cùng cũng phải kể tới một số bạn tù ở Trảng Lớn trước kia nay gặp lại nhau ở K1, tuy không thân cho lắm nhưng vẫn còn nhớ để gọi tôi bằng biệt hiệu “Sáu Lèo” thay vì tên cúng cơm. Vì việc này mà dần dần anh em cùng Nhà 13 cũng đều gọi tôi là “Sáu Lèo” hoặc “anh Sáu”.

Với những bạn tù cũ mới ấy, về mặt tinh thần, tôi cảm thấy thoải mái hơn những ngày sống ở K2 rất nhiều, để rồi chứng nào tật nấy, lại phát ngôn linh tinh, châm biếm cách mạng, khiến không ít người phải e dè né tránh; riêng Hưng đã nhiều lần cảnh giác tôi và điểm mặt những tay ăng-ten còn sót lại ở K1 để tôi đề phòng.

Tuy nhiên, như tôi đã viết trong một kỳ trước, ngay từ khi mới được quân đội nhân dân bàn giao tù cải tạo, viên trung tá công an Đào Lưỡng, Giám thị trưởng Nhà giam Chí Hòa và Trại giam Suối Máu, đã nói thẳng: một khi đã thuộc quyền quản lý của Cục Trại Giam, chúng tôi là những “tù nhân” không hơn không kém, “cải tạo” chỉ là một mỹ từ bởi không bao giờ họ (người cộng sản) tin rằng có thể cải tạo được tư tưởng của chúng tôi.

Vì thế, khi tuyển dụng đám ăng-ten mới, ban giám thị Suối Máu cũng chỉ có mục đích nhận diện anh em tù cải tạo trong các Ban hành động, Ban đại diện quân binh chủng để đưa về Chí Hòa, và sau đó sau đó theo dõi, báo cáo những hoạt động chống đối của anh em tù còn lại ở Suối Máu!

Nghĩa là những tay phát ngôn linh tinh, châm biếm cách mạng một cách công khai như tôi, đối với ban giám thị không còn bị xem là thành phần nguy hiểm, cùng lắm chỉ bị xem là thiếu tiến bộ mà thôi. Trong suốt hơn nửa năm ở K1, tôi chỉ bị kiểm điểm một lần duy nhất trong buổi họp dưới sự chủ trì của tay cán bộ phụ trách Nhà 13; và sau khi tôi giải thích nguồn gốc biệt hiệu “Sáu Léo” là vở kịch vui ở Trảng Lớn có nội dung khuyến kích mọi người học tập tốt để được về xum họp với gia đình, tay cán bộ chỉ cảnh cáo vài câu để rồi đâu lại vào đó, và ngày càng có thêm nhiều người gọi tôi bằng biệt hiệu “Sáu Lèo”!

Trở lại với thời gian tết Kỷ Mùi 1979. Sau khi Đào Lưỡng đích thân lên Suối Máu tập trung toàn trại hồ hởi báo tin chiến thắng của bộ đội CSVN trong cuộc xâm lược Căm-bốt, bầu không khí trong trại ngày càng trở nên xôn xao, giao động trước những diễn tiến thời sự được đài phát thanh Sài Gòn Giải Phóng loan tải, và được truyền đi khắp trại qua hệ thống loa phóng thanh.

Thực ra tôi cũng không hiểu ban giám thị ở Suối Máu cho tù cải tạo nghe những tin tức về sự thù nghịch và thái độ ngạo mạn của “bá quyền phương Bắc”, về tình hình căng thẳng ở biên giới Việt – Trung với mục đích gì? Chỉ biết một điều là chưa bao giờ tù cải tạo ở Suối Máu lại thích “nghe đài” đến thế!

Trước kia, vào thời gian tôi từ Phước Long về Suối Máu, khoảng tháng 8/1978, mỗi ngày tù cải tạo bị đám bò xanh bắt nghe đài Sài Gòn Giải Phóng từ 4 rưỡi chiều cho tới tối. Công tác này được trao cho một anh em tù cải tạo trong Tổ kỹ thuật.

Tổ kỹ thuật gồm một số tù cải tạo thuộc nhiều ngành nghề chuyên môn khác nhau, có nhiệm vụ trông coi nhà máy điện, phụ trách hệ thống loa phóng thanh, mở đài phát thanh i nghe, sửa “đài” (máy radio) cho cán bộ, sửa ô-tô, xe gắn máy, và cả xe đạp …

Chương trình phát thanh của đài Sài Gòn Giải Phóng, cũng như bất cứ đài phát thanh nào khác dưới chế độ CSVN, chỉ có mục đích tuyên truyền nên nghe riết muốn… điên!

Sau khi tôi về Suối Máu được ít lâu, anh tù cải tạo phụ trách mở đài khám phá ra một điều thú vị: có lẽ với mục đích điền vào chỗ trống, trước 4 rưỡi chiều các ngày trong tuần, đài Sài Gòn Giải Phóng có một chương trình nhạc ngoại quốc không lời khoảng 15 phút, gồm những bản nhạc hòa tấu quen thuộc với người Sài Gòn trước 1975, đa số của các dàn nhạc nổi tiếng như Mantovani, Ray Connif, Paul Mauriat…

Anh bạn cải tạo thú vị không chỉ vì được nghe lại những bản nhạc xưa mà còn vì anh biết chắc chắn trong đài Sài Gòn Giải Phóng cũng còn sót lại một số nhân viên của chế độ cũ, cho nên thính giả mới được thưởng thức những gì thường bị lên án là “nọc độc của đế quốc Mỹ, của tư bản phương Tây”!

Thế là anh đề nghị với ban giám thị cho mở đài sớm hơn 15 phút lấy cớ báo cho mọi người sắp xếp công việc, chuẩn bị tập trung theo dõi chương trình tin tức, thời sự.

Nhưng hạnh phúc ấy (được nghe nhạc ngoại quốc từ đài phát thanh của chế độ mới) chỉ kéo dài được hơn một tháng. Nguyên nhân: ít lâu sau khi bò xanh bàn giao tù cải tạo cho bò vàng, người tù cải tạo phụ trách mở đài được thay thế bằng X, một tay thiếu úy gốc Quảng không chỉ thuộc thành phần “tiến bộ” mà còn cúc cung tận tụy phục cách mạng trong công việc được trao phó.

Tôi không biết X ở K nào (chắc chắn không ở K1), có làm ăng-ten hay không, nếu không thì bằng cách nào X lọt vào mắt xanh của ban giám thị trại, chỉ biết ngay sau khi được trao phó công việc, anh ta đã bãi bỏ việc nghe chương trình nhạc ngoại quốc không lời của đài Sài Gòn Giải Phóng và thay vào đó là một chương trình giới thiệu “văn học nghệ thuật cách mạng” chủ yếu là thơ, nhạc do đích thân anh ta phụ trách.

Bị nghe “nhạc đỏ” đã là một sự chịu đựng, ở đây lại còn phải nghe những lời ca tụng tác phẩm, xưng tụng tác giả phát ra từ miệng một cựu sĩ quan QLVNCH thì phải nói là quá sức chịu đựng. Đến độ có mấy anh em biết quê quán của X đã hứa khi nào được thả sẽ tìm đương sự để cho một bài học nhớ đời!

Theo nhận xét của tôi, chưa chắc X đã có một trình độ nhạc lý căn bản, một sự hiểu biết tối thiểu về âm giai (gamme), về cách cấu tạo các hợp âm (accord) trưởng (majeur), thứ (mineur), mà có thể chỉ biết cách bấm những hợp âm ấy trên cần đàn ghi-ta.

Nhưng phải công nhận X có tài lòe bịp, không chỉ bịp được đám công an i-tờ mà còn bịp được nhiều anh em tù cải tạo không có sự hiểu biết về lĩnh vực âm nhạc, hoặc chỉ biết đệm đàn bằng những hợp âm được ghi sẵn trên các bản nhạc.

Giờ này, hơn 40 năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ rõ cái giọng Quảng khó nghe và khó ưa (xin lỗi quý vị độc giả gốc Trung) của X khi giới thiệu, xưng tụng những ca khúc cách mạng như Chiến sĩ Việt Nam, Cô gái mở đường, Trường Sơn Đông – Trường sơn Tây, Bác cùng chúng cháu hành quân, Tiếng chày trên sóc Bom bo, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Tự nguyện, v.v…

Trong số nói trên, tôi nhớ nhất là bản Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.

Trước năm 1975 tại miền Nam VN, vì thói quen (không mấy đáng yêu) chỉ nhớ tựa đề ca khúc chứ không quan tâm tới tên tác giả, đã không có nhiều người biết tới cái tên Nguyễn Văn Tý, tác giả bản Dư Âm (Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…),

một tình khúc rất được yêu chuộng tại miền Nam, nhưng ở miền Bắc, Nguyễn Văn Tý là một tên tuổi lớn của nền nhạc đỏ, là nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất, đoạt nhiều giải thưởng nhất.

Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa là một trong sáu ca khúc đã giúp ông được Nhà nước trao tặng “giải thưởng cao quý nhất” về văn học nghệ thuật là Giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 2000.

Ở đây, tôi xin miễn bàn về giá trị văn học nghệ thuật của bản Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa mà chỉ nói tới hình thức sáng tác, trong đó Nguyễn Văn Tý đã viết các phiên khúc theo âm giai thứ (Am) và điệp khúc theo âm giai trưởng (A).

Thực ra, phương thức này không có gì cao siêu, mới lạ, mà nó đã được nhiều nhạc sĩ, chuyên nghiệp cũng như tài tử, sử dụng trong nền tân nhạc VN, điển hình là Văn Cao trước đó với bản Thiên Thai (Dm, D) và sau này là Phạm Duy & Ngọc Chánh với Bao giờ biết tương tư (Cm, C).

Thế nhưng qua sự trình bày của “nhà phê bình âm nhạc trại Suối Máu”, tức Thiếu úy X, thì đây là đỉnh cao trong nghệ thuật sáng tác Nguyễn Văn Tý! (Chú thích 2)

Chương trình giới thiệu các ca khúc cách mạng của X chỉ kéo dài 15 phút mà tưởng như bất tận. Anh em tù cải tạo người thì vừa nghe vừa chửi thề, người thì nằm trong nhà bịt tại lại để khỏi phải nghe, đợi tới khi chương trình này chấm dứt mới ra khỏi nhà tới gần các loa phóng thanh để theo dõi phần tin tức thời sự, bình luận của đài Sài Gòn Giải Phóng.

Nếu những năm trước đây, bị nghe đọc báo cách mạng – Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng… – và nghe đài phát thanh là một cực hình, thì trong thời gian cuối năm 1978, đầu năm 1979, hầu hết tù cải tạo ở Suối Máu đều chờ đợi để được nghe chương trình buổi chiều của đài Sài Gòn Giải Phóng.

Dĩ nhiên, ai cũng biết tin tức trên các đài phát thanh của CSVN nếu không bịa đặt thì cũng được thổi phồng, bình luận thì sặc mùi tuyên truyền, khoác lác, nhưng riêng trong khoảng thời gian nói trên, tin tức trên các đài phát thanh của CSVN lại được anh em tù cải tạo quan tâm theo dõi để biết, hoặc đoán biết những gì đang xảy ra tại Căm-bốt và biên giới Hoa-Việt.

Tại Căm-bốt, CSVN đã mau chóng thiết lập chế độ bù nhìn do Hun Sen làm Thủ tướng và toàn bộ lãnh thổ xứ chùa tháp nằm trong tay lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam được mang danh “quân tình nguyện Việt Nam”, tương tự “chí nguyện quân Trung Quốc” trong chiến tranh Triều Tiên hồi đầu thập niên 1950.

Tại biên giới Hoa-Việt, mặc dù tin tức trên đài phát thanh không cho biết chi tiết, chúng tôi cũng tin rằng phía CSVN đã đem phần lớn, nếu không muốn nói là toàn bộ lực lượng còn ở lại miền Bắc lên các tỉnh biên giới phía bắc để chống lại các cuộc tấn công của quân Trung Cộng, sớm muộn cũng sẽ xảy ra như lời đe dọa của Đặng Tiểu Bình!

Nhưng những gì xảy ra sau đó cho thấy vào sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi lực lượng hùng hậu gồm 120.000 quân Trung Cộng với sự yểm trợ của pháo binh và chiến xa tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, tướng Võ Nguyên Giáp vẫn không tăng cường các đơn vị chủ lực tới biên giới, nơi chỉ có bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, và các trung đoàn độc lập trấn giữ!

Chú Thích:

(1) Cách đây hơn 40 năm, vào khoảng 11 giờ đêm 26/11/1978, sau khi diễn xong vở cải lương Thái Hậu Dương Vân Nga ở rạp Cao Đồng Hưng, Bà Chiểu, nữ nghệ sĩ Thanh Nga (TN) lên chiếc xe Wolkswagen do chồng là luật sư Phạm Duy Lân lái. TN ngồi ở băng ghế sau với đứa con trai 5 tuổi. Võ sư Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, vệ sĩ của TN ngồi phía trước bên cạnh ông Lân.

(Luật sư Phạm Duy Lân, sinh năm 1923 tại Hà Nội, trước năm 1975 giữ chức Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin VNCH, nên thường được gọi là Đổng Lân)

Luật sư Phạm Duy Lân (Đổng Lân) và Thanh Nga

Khi chiếc xe ngừng trước cửa nhà Thanh Nga, số 114 đường Ngô Tùng Châu ở khu vực Ngã Sáu, võ sư Các nhảy xuống tính mở cửa xe cho TN thì bỗng một chiếc Honda phóng tới, thắng gấp, một người nhảy xuống chĩa súng vào gáy của võ sư Các uy hiếp, rồi đạp Các ngã chúi vào trong xe, sau đó bắn TN và chồng chết tại chỗ. Đứa con trai sống sót.

Tin TN bị bắn chết đã làm rúng động dư luận và một câu hỏi được đặt ra: ai đã giết TN?

Có ba câu trả lời; hay viết cho chính xác là hai giả thuyết và một câu trả lời: (1) TN bị gián điệp Trung Cộng giết, (2) TN bị bà vợ của Tổng Bí thư Lê Duẩn sai người thanh toán vì ông ta rất mê TN, (3) Công An cho báo chí biết chính bọn “tàn dư Mỹ Ngụy” đã giết TN.

Giả thuyết thứ nhất, được đa số dân chúng Sài Gòn nói chung, người ái mộ TN nói riêng, tin theo vì trong thời gian hơn một năm qua, đoàn Thanh Minh – Thanh Nga đã diễn liên tiếp hai vở cải lương có nội dung chống Tàu là Tiếng Trống Mê Linh và Thái Hậu Dương Vân Nga.

Giả thuyết thứ hai, ít người tin hơn nhưng không phải là không có cơ sở. Đó là việc Lê Duẩn say mê TN như một thần tượng, tới mức ông ta đã chỉ thị đám lãnh đạo ở thành Hồ cho phép đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga hoạt động trở lại, với tư cách một đoàn hát tư nhân chứ không phải một đoàn hát quốc doanh được thành lập sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, chẳng hạn đoàn kịch nói Bông Hồng của Thẩm Thúy Hằng. Vì thế mà TN đã bị bà vợ “Họan Thư” của Lê Duẩn sai người thanh toán!

Nhưng Công An thì lại khẳng định đây là một âm mưu bắt cóc tống tiền không thành công, nên gây ra án mạng, và cho biết thủ phạm là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “biệt động dù ngụy” và Nguyễn Văn Đức, “lính Hải quân ngụy”; cả hai đã nhận tội và bị xử tử hình ngày 23/8/1980.

Thế nhưng vào lúc ban đầu, viên tướng Công An cầm đầu cuộc điều tra vụ án đã không hề đả động tới âm mưu bắt cóc tống tiền, mà lại nói thủ phạm là “tàn quân của quân đội Sài Gòn được sự đỡ đầu của CIA Mỹ”.

Viên tướng ấy là Trung tướng Trần Quyết, Tư lệnh kiêm Chính ủy Lực Lượng Công An Nhân Dân Vũ Trang kiêm Thứ trưởng Bộ Nội Vụ (thời gian này, Bộ Công An được sát nhập vào Bộ Nội Vụ). Ông ta phân tích với báo chí:

“Vụ án Thanh Nga xảy ra trong lúc một số tàn quân của quân đội Sài Gòn còn lẩn trốn ở các vùng rừng núi, bưng biền, hoạt động chống lại ta. Trước đó, có một số hành vi đe doạ là gởi thơ yêu cầu Thanh Nga không được đóng vai Trưng Trắc hoặc Thái hậu Dương Vân Nga nữa. Giữa lúc đó, có tin mật báo một tổ chức tự xưng là “Lực lượng thống hợp Liên Bang Đông Dương” do sự đỡ đầu của CIA Mỹ, vừa mở tiệc ăn mừng ở một quán rượu vùng ven Saigòn, do đã bắn chết Thanh Nga theo lịnh cấp trên đưa xuống”. (ngưng trích)

Chỉ cần đọc sơ qua đoạn trên, một người không cần phải thông minh cho lắm cũng có thể nhận ra tính cách bịa đặt tới mức vô lý, hoang đường: một tổ chức chống cộng (phản động) mà dám ra quán nhậu tổ chức tiệc mừng sau khi bắn chết TN!

Chính vì không ai tin, sau đó công an mới thay đổi tình tiết để biến nội vụ thành một âm mưu bắt cóc không thành, thủ phạm vẫn là “lính ngụy” nhưng không có “sự đỡ đầu của CIA Mỹ”.

Như vậy, nếu TN (và chồng) không chết dưới bàn tay Trung Cộng, không bị vợ Lê Duẩn sai người thanh toán, không bị lính “ngụy” sát hại, thì ai là thủ phạm?

Theo một số người trong đó có tác giả Trúc Giang, thủ phạm chính là chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Độc giả có thể tìm đọc bài “Ai Giết Nghệ Sĩ Thanh Nga” của Trúc Giang, đăng trên Việt Báo ngày 22/4/2021, hiện vẫn được phổ biến trên Google.

(2) Trong khi chỉ để lại cho đời một tình khúc nổi tiếng là bản Dư Âm, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý (1924-2019) đã được ghi nhận là một trong những tên tuổi lớn nhất của nền “nhạc đỏ”, từng được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, thế nhưng vì nhiều nguyên nhân phức tạp, ông đã sống những năm tháng cuối đời trong cô đơn, khốn khó.

Theo tiểu sử trên Wikipedia và truyền thông trong nước, Nguyễn Văn Tý có gốc gác Hà Nội nhưng ra chào đời tại Vinh, Nghệ An năm Giáp Tý (1924).

Xuất thân trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, khi theo học trường Quốc học Vinh, ông được một giáo viên người Pháp dạy cho những ca khúc của danh ca Tino Rossi đang thịnh hành thời đó. Trong thời gian tham gia sinh hoạt hướng đạo, ông được một vị linh mục người Tây-ban-nha cho vào ca đoàn nhà thờ mặc dù ông không phải là người Công giáo, qua đó ông được học nhạc lý căn bản, nâng cao trình độ hòa âm, hợp xướng. Ngoài ra, Nguyễn Văn Tý còn được một vị nhạc sĩ gốc Hoa tên là Mạnh Hinh dạy đàn ghi-ta Hạ-uy-di (Hawaii guitar).

Từ năm 1944, ông đi hát trong các phòng trà ở Vinh để kiếm sống. Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Năm 1946, ông kết hôn với bà Mai Thị Cúc, một tín đồ Công Giáo. Bà qua đời cuối năm 1947 khi con gái đầu lòng của 2 người – Nguyễn Thị Như Mỹ – mới được 3 tháng.

Năm 1950, Nguyễn Văn Tý nhận nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn Văn công của Sư đoàn 304 và làm trưởng đoàn. Bản Dư âm nổi tiếng được ông sáng tác trong khoảng thời gian này sau một lần về chơi nhà một người bạn ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, viết về cô em gái 16 tuổi của bạn.

Cũng vì ca khúc này ông bị đơn vị đưa ra kiểm điểm vì đã sáng tác một bài hát quá ủy mị, không thích hợp với thời kháng chiến.

Năm 1951, Nguyễn Văn Tý giải ngũ và chuyển về công tác ở Chi hội Văn nghệ Liên khu IV. Năm 1952, ông quen biết và kết hôn với nữ nghệ sĩ Nguyễn Thị Bạch Lê, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, lúc ấy đã trải qua một đời chồng và có bốn con riêng. Ông có một con gái với bà, Nguyễn Thái Linh, sau này trở thành một nhạc sĩ dạy dương cầm.

Cuối năm 1957, Nguyễn Văn Tý cùng các nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập hội Nhạc sĩ Việt Nam, trong đó ông là ủy viên Ban chấp hành khóa đầu tiên của Hội.

Mặc dù từng bị kiểm điểm vì sáng tác bản Dư Âm, một ca khúc bị lên án là mang nặng tình cảm “tiểu tư sản”, Nguyễn Văn Tý được ghi nhận là nhạc sĩ sáng tác nhạc đỏ nhiều nhất, đa dạng nhất và thành công nhất. Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Văn Tý có hơn 130 ca khúc cùng nhiều tác phẩm nhạc phim hoạt hình, múa rối và các vở chèo.

Theo giới phê bình trong nước, cho dù sáng tác nhạc đỏ, Nguyễn Văn Tý đã “khéo léo sử dụng chất liệu dân ca của từng vùng, miền, chất trữ tình được thể hiện qua lời ca trau chuốt cùng với giai điệu mượt mà và mang đậm bản sắc dân tộc, như Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Bài ca năm tấn, Dáng đứng Bến Tre, Mẹ yêu con, Vượt trùng dương…”

Năm 2000, ông được Nhà nước CSVN trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Mẹ yêu con, Vượt trùng dương, Bài ca năm tấn, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Dáng đứng Bến Tre.

Trước đó ông đã đoạt được một số giải thưởng như:

– 1951: Giải nhì (năm 1951 không có giải nhất) của Hội văn nghệ Việt Nam cho ca khúc Vượt trùng dương.

– 1964: Giải nhất Cuộc thi vận động sáng tác về đề tài phụ nữ với bài Tiễn anh lên đường.

– 1967: Giải nhất sáng tác về đề tài nông nghiệp với ca khúc Bài ca năm tấn.

– 1971: Giải Ngân hà với bài Em đi làm tín dụng.

Sau năm 1975, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vào Sài Gòn sinh sống, cư ngụ tại một căn nhà nhỏ ở đường Trần Khắc Chân, Tân Định.

Sau khi vợ (bà Nguyễn Thị Bạch Lê) mất năm 2004, ông sống một mình cho tới khi qua đời tại nhà riêng vào chiều ngày 26/12/2019, hưởng thọ 96 tuổi .

Trang mạng Wikipedia cũng cho biết “Vào những năm cuối đời, Nguyễn Văn Tý là một tín hữu Công Giáo, ông có tên thánh là Phêrô”.

Trước và sau khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý qua đời, đã có một số bài báo (trong nước) viết về cuộc sống cô đơn, thiếu thốn của ông trong những năm tháng cuối đời, trong số đó có tờ Phụ Nữ Online với tựa đề “Những ngày cuối đời đơn độc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý” vào năm 2018, có những đoạn:

Từng dành cả quãng đời tuổi trẻ của mình để cống hiến cho âm nhạc nước nhà, thế nhưng nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý quặn lòng cho biết, nhiều năm nay, không có đồng nghiệp hay bạn bè nào đến thăm hỏi ông, điều này khiến người nhạc sĩ tuổi cao sức yếu buồn tủi và rất dễ xúc động rơi nước mắt khi bất chợt thấy có ai nhớ đến mình.

Tuổi cao sức yếu, bệnh tật đeo mang… những ngày cuối đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phải sống trong cảnh đơn độc, khốn khó và thiếu trước hụt sau. Đến con gái của ông (Nguyễn Thái Linh), dù sống ở TP.HCM, 2 năm rồi cũng không đến thăm ông.

Từng là một trong năm nhạc sĩ đầu tiên sáng lập nên Hội nhạc sĩ Việt Nam và để lại dấu ấn trong lòng công chúng qua những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng như Dư âm, Dáng đứng Bến Tre, Mẹ yêu con, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ… thế nhưng, ít ai ngờ rằng ở cái tuổi gần đất xa trời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đang phải chật vật với cuộc sống đơn độc, lắm bệnh tật.

Trong căn phòng chưa đến 10m2, cuộc sống của người nhạc sĩ 95 tuổi chỉ gói gọn trên chiếc giường sắt cũ kĩ. Tay chân ông bây giờ rất yếu nên chẳng thể đi đứng được, ông bảo đôi khi muốn đứng dậy pha tách trà mà cũng không làm được.

Mọi sinh hoạt thường ngày của ông đều phải cậy nhờ vào người cháu họ xa, vốn chăm sóc ông suốt mấy mươi năm qua.

“Tôi nhiều bệnh lắm, thần kinh tôi bây giờ yếu, trí nhớ giảm, lúc nhớ lúc quên. Một bên tai tôi cũng không nghe được, tôi cũng không đi đứng được, càng nằm càng liệt. Lắm lúc tôi muốn ngồi dậy pha một ấm trà mà cũng không làm được. Cuộc sống của tôi bây giờ chỉ trông nhờ vào người cháu họ xa, tôi buồn và cô đơn lắm…!”, người nhạc sĩ già rưng rưng nước mắt khi nói về cuộc sống đơn độc của mình.

Tuy nhiên, theo lời Nguyễn Văn Tý chia sẻ, hiện tại cả 2 người con của ông đều không đoái hoài đến người cha già yếu, bệnh tật và không biết còn sống được bao lâu nữa…

“Tôi có 2 người con gái đều đã lập gia đình, một người là giáo viên dạy văn hóa, người còn lại dạy piano và được tôi cho đi học ở Đức. Hai con tôi hiện tại cũng sắp đến tuổi về hưu rồi nhưng không đứa nào lo cho tôi…” (ngưng trích)

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và nữ ca sĩ Ánh Tuyết, một trong những vị khách hiếm hoi

Hai ngày sau khi nhạc sĩ mất, 28/12/2019, báo Pháp Luật TP.HCM đã đăng bài “Ước nguyện cuối đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý” của tác giả Quỳnh Trang, xin trích đăng phần cuối:

Đã chuẩn bị sẵn cho mình nơi chốn trở về. Người viết từng đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nhiều lần trong căn nhà của ông ở TP.HCM. Đầu con hẻm nhỏ ban sáng là chợ, căn nhà không nhiều không gian lẫn đồ đạc.

Khi ghé thăm nhà ông, nhiều người bất ngờ vì trong căn nhà giản dị đó, bàn thờ Thánh gia được đặt trang trọng. Có lẽ việc cậu bé Nguyễn Văn Tý ngày xưa từng được học nhạc lý ở nhà thờ, rồi từng theo đạo Công giáo khi lập gia đình với người vợ đầu tiên (Maria Mai Thị Cúc) đã thôi thúc ông tìm nơi trở về cho tâm hồn mình vào những ngày cuối đời. Ông quyết định trở lại đạo Công giáo vài năm gần đây.

Mỗi tuần nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đều được rước Mình Thánh Chúa tại nhà từ tu sĩ hoặc linh mục Giáo xứ Thánh Gia (Giáo hạt Tân Định), hàng xóm cùng đạo chăm sóc nhau… Đó là niềm an ủi tinh thần cho một người ngoài 90 tuổi không sống cùng con cái.

Dù gia đình, Hội Âm nhạc TP.HCM tổ chức lễ tang cho ông theo nghi thức nào thì với riêng ông, ông đã chuẩn bị cho mình nơi chốn trở về. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý hay Phêrô Nguyễn Văn Tý đã lãnh nhận bí tích xức dầu khoảng một năm trước khi sức khỏe ông yếu đi, đó như là sự chuẩn bị cho ngày trở về nhà Chúa của ông.

Quỳnh Trang

* Theo di nguyện của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, vào lúc 8 giờ sáng 27/12/2019, gia đình đã thực hiện tang lễ tại nhà riêng theo nghi thức Công giáo trước khi di quan ra Nhà tang lễ TP.HCM lúc 10 giờ để đồng nghiệp, bạn bè, công chúng đến tiễn biệt ông lần cuối.

Sáng 29/12/2019, linh cữu được đưa đi an táng tại nghĩa trang hoa viên Bình Dương, nơi có nhiều văn nghệ sĩ đã yên nghỉ trước ông, như: nhạc sĩ Phạm Duy, nhà văn Sơn Nam, soạn giả Viễn Châu, Giáo sư Trần Văn Khê, nhà thơ Kiên Giang…

Nguyễn Hữu Thiện

Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 27 May 2025

Chương 9.

Bà chánh thất ngồi trên cầu, thả câu xuống ao sen. Gió chiều mát rượi, hương sen tỏa thoang thoảng. Ở thảo am, mấy vị sư nữ đang tụng thời kinh “công phu chiều”.

Một con cá lội gần sợi nhợ, đứng lại. Cá nhìn mồi rồi do dự. Nhờ nước trong leo lẻo nên bà chánh thất theo dõi được sự dịch vẫn của con cá rô. Cá chúi đầu xuống dưới sâu. Đáng lý ra, bà phải đỡ cần lên cho miệng mồi nằm ngang mặt nước. Cá đến gần mồi, quạt đuôi rồi chạy mất, khuất dưới lá sen.

Bà chánh thất ngẩng đầu lên. Lũ chăn trâu nói to:

– Bà ơi! Có chiếc ghe lớn lắm, xóm nầy không ai có chiếc ghe như vậy.

Bà chánh thất đứng dậy, nhận ra chiếc ghe của Bá Vạn, có mui vuông, thếp vàng phía trước. Bà vừa mừng vừa lo. Mừng vì được gặp Bá Vạn, tha hồ bày tỏ tâm tình. Hơn tháng qua bà đoán rằng cậu Cẩu đã lộng quyền, làm nhiều chuyện thất lương tâm.

Nhưng tại sao Bá Vạn lại đến đây không có bọn tay em tiền hô hậu ủng như dạo nào? Phía sau lái, một lão gầy guộc đang cầm sào, chống thật nhẹ, bằng cớ là chiếc ghe lướt tới quá chậm chạp.

– Hay là Bá Vạn không có mặt trong chiếc ghe ấy? Ông ta giàu sang rồi, sắm chiếc ghe mới!

Nhưng Bá Vạn đã xuất hiện. Ông ta mặc áo dài đen, hỏi chuyện với mấy chiếc xuồng chỗ cửa qua lại. Đáng lý ra, bà chánh thất phải ngoắt tay làm hiệu. Nhưng bà muốn giữ thể diện với mấy sư nữ trong am.

Lát sau, Bá Vạn đến trước bến. Ông chạy nhanh đến bờ am, gương mặt buồn bã vô cùng, nụ cười héo hắt gượng nở trên môi:

– Thưa bà.

Bà chánh thất hỏi:

– Sao bơ phờ vậy?

Bá Vạn nói:

– Bà có tưởng được không? Thằng Cẩu nó đuổi tôi, tịch thâu tất cả tài sản.

– Ác thiệt! Chồng con tôi mà nó còn giết, huống gì ông. Ông ăn cơm chưa? Mời ông vô nhà.

Bá Vạn hơi lúng túng, chẳng biết tại sao bà chánh thất dám làm chuyện mà luật tu hành không bao giờ cho phép. Bà chánh thất nói nhanh:

– Tôi như cư sĩ tu tại gia. Những bà sư nữ bên am theo giới luật, tôi thì sống dễ dãi hơn. Nhà ở bên cạnh đó, ông cứ tự nhiên. Tôi chỉ ăn chay vào ngày sóc, ngày vọng.

Đi theo sau bà chánh thất, Bá Vạn suy nghĩ mông lung. Phải chăng bà chánh thất còn nhiều dục vọng muốn trở lại địa vị cũ nên chưa muốn thí phát qui y? Khi vào nhà, Bá Vạn thấy bàn ghế khá tươm tất, toàn là cây danh mộc. Bà chánh thất dùng cái chén bằng ngọc xanh như hôm nào. Bà đem cái chén ngọc thứ nhì, rót nước mời Bá Vạn.

– Tại sao nó đuổi ông?

– Bởi vì nó sợ tôi chiếm đoạt tài sản.

Bà chánh thất vẫn không quên đối thủ lợi hại nhứt:

– Còn cô Huôi? Nó dám đụng tới cô Huôi không? Tôi suy nghĩ mãi, hiểu rằng kẻ chủ mưu giết chồng tôi chính là cô Huôi. Tôi phải giết nó. Ông giúp tôi được không?

Bá Vạn mừng thầm vì ít ra đêm nay ta cũng còn được ngủ một đêm êm ấm bên bà chánh thất. Hồi lâu, ông mới trả lời:

– Tôi sẵn sàng giúp bà, nhưng lúc nầy tôi là kẻ sa cơ thất thế, không còn đứa hộ vệ nào đi theo.

– Thằng Cẩu là đứa chết yểu. Đêm rồi tôi nằm chiêm bao thấy nó bị đâm chết.

– Có lẽ vậy. Nhưng lúc nầy nó mạnh lắm.

– Mạnh mà yếu, ông ơi! Ba bốn ngày rồi, ở đây có nhiều người mới tới. Họ ở núi Mo So. Họ nói rằng xung quanh núi đầy khói, nhiều nhà bị cháy. Ông Mười Hấu với cô Ngó làm nhiều điều tàn ác. Dân chúng nổi lên…

Rồi bà nói khẽ vào tai Bá Vạn:

– Có thằng Thừa chèo ghe cho ông mọi lần, nhớ nó không?

Nghe qua, Bá Vạn cau mày. Quả thật cậu Cẩu quá ác độc. Chắc là sau khi cách chức ông, cậu ta về Hòn Chông đuổi thằng Thừa ra khỏi nhà, ngôi nhà mà ông Chúa Hòn ban cho từ trước. Hồi xuống ghe để đến núi Đất nầy, Bá Vạn vẫn nuôi hy vọng trở về Hòn Chông để di chuyển chút ít vàng bạc và ghé thăm cô Huôi, nhờ cô chỉ dạy cách đối phó.

Nếu đến sớm quá thì bất lợi, cậu Cẩu đang tức giận. Ông muốn tránh né về ngay, đến thăm bà chánh thất. Thằng Thừa đến núi Mo So làm loạn, phải chăng là cậu Cẩu đã hành hung nó, hoặc đã đập phá, tịch thu ngôi nhà của ông ở Hòn Chông rồi!

– Làm cách nào cho nó chết? Mọi khi, ông nhiều mưu kế lắm mà! – Bà chánh thất hỏi.

Bá Vạn trở lại thực tế:

– Nên nhẫn nhịn, bà ơi. Giông tố nổi lên thì cây cỏ phải rạp đầu xuống, nếu không muốn bị trốc gốc.

– Thằng Cẩu là đứa thất học, so sánh nó với trận giông thì hơi quá đáng.

– Bởi vì thất học nên mới đáng sợ. Hồi xưa, tôi gặp nó một lần. Nó đang đá cá thia thia. Lúc tức giận, nó không thèm đá cá nữa, đem con cá quí nhứt mà ném xuống đất.

– Bởi vậy, tôi nói nó là đứa không ra gì. Tại sao những người lớn tuổi như ông, như tôi lại sợ nó.

– Để tôi nói tiếp… Khi liệng con cá xuống đất, mặt thằng Cẩu xanh lè, coi dễ sợ. Tóm lại, tôi muốn nói rằng nó là thằng điên. Khi thằng điên lên cơn, mình nên tránh mặt chạy trốn.

– Nhưng muốn giết thằng điên thì dễ quá, vì điên là ngu dại, mất trí khôn.

– Phải. Tôi hiểu rồi. Nhưng chờ xem tình thế ra sao! Nếu quả thật thằng Thừa đã xúi giục dân chúng ở núi Mo So nổi dậy chống Mười Hấu và cô Ngó thì đó là cơ hội tốt. Thằng Cẩu không đủ sức chống cự đâu. Bọn hộ vệ còn hơn vài chục đứa…Nhưng trước tiên, mình nên giữ bí mật. Không khéo, thằng Cẩu cho người tới đây giết hại tôi với bà.

Hồi lâu, bà chánh thất giựt mình, vỗ vai Bá Vạn:

– Nầy ông! Nghe nói ông đạo Đất ở gần đây! Tại sao ông với tôi không tới gặp, nhờ xem giùm quẻ? Ông đạo xem giỏi, nói đúng thời vận cô Huôi. Nếu ông đạo bảo rằng tôi với ông hạp tuổi với nhau thì ông nên tìm cách giết thằng Cẩu, nhập bọn với thằng Thừa.

Trời đã khuya.

Sau bữa cơm, Bá Vạn và bà chánh thất nằm chung một giường. Tuy hưởng hạnh phúc, nhưng ông vẫn lo âu. Bà chánh thất hỏi:

– Tôi làm điều gì khiến ông không hài lòng?

Bá Vạn nắm tay bà chánh thất. Ngoài song cửa, ánh trăng soi chênh chếch. Nếu được hưởng hạnh phúc mãi mãi như vầy thì có chi đáng rầu lo. Ông nghĩ đến cuộc khởi loạn ở núi Mo So. Dân chúng Lung Tràm ắt sẽ khởi loạn theo. Đứng về phía nào bây giờ? Nếu đang lúc trai tráng mà gặp cơ hội nầy, nhất định ông sẽ xông pha trận mạc, dẫn bọn hộ vệ và võ sĩ đến Hòn Chông để cướp phá, bắt sống cậu Cẩu. Bây giờ tuổi già sức yếu rồi…

– Ông buồn điều gì? – Bà chánh thất hỏi.

Bá Vạn đáp:

– Tôi không biết làm cách nào để sống yên ổn

– Liệu chừng bọn thằng Thừa ở núi Mo So có thắng nổi không?

Bá Vạn đáp:

– Ở trên núi thì được địa thế tốt, cầm cự lâu ngày, nhưng lần hồi dân chúng mỏi mệt. Nếu thắng trận mà sống trên núi với rắn rít muỗi mòng thì thắng để làm gì?

– Như vậy là thằng Cẩu đang nắm ưu thế.

– Nó không mạnh hơn ai hết! Vài chục tên hộ vệ, sẵn sàng liều chết để canh giữ vòng rào ngôi nhà. Vậy thôi. Nhưng trong ngôi nhà có bàn ghế tốt, có thức ăn ngon, có nữ tỳ. So sánh cho kỹ thì mình ở đây vui nhứt.

Bà chánh thất đáp:

– Vui mà buồn! Hôm nào thằng Cẩu sẽ cho người tới đây hạ nhục tôi với ông. Bởi vậy, tôi khuyên ông tìm cách giết thằng Cẩu. Dễ quá mà! Bỏ thuốc độc vào thức ăn. Cần gì cầm gươm dáo.

Bá Vạn đáp:

– Nhưng liệu cô Huôi cho phép tôi làm chuyện đó không?

Bà chánh thất nảy ra ý nghĩ ghen tương:

– Sao ông sợ cô Huôi? Cô ta nào có binh lực gì trong tay!

– Tôi sợ cái trí khôn của cổ. Không bao giờ cô Huôi là người yếu thế.

– Tại sao lúc nầy cô Huôi không ngăn cản cho thằng Cẩu bớt hung ác?

– Nó càng hung ác thì thiên hạ càng tin cậy vào cô. Nhưng mà rốt cuộc, cô Huôi lại khổ vì chẳng bao giờ có chồng được. Hễ có chồng, dân chúng không tín nhiệm như trước.

Bà chánh thất gật đầu:

– Ông nói hữu lý. Chưa ai chê cô Huôi lời nào cả. Đàn bà mà tỉnh táo như vậy thì quá khéo léo. Ông đạo Đất bói quả đúng. Tại sao mình không gặp ông đạo Đất?

Ý kiến ấy khiến Bá Vạn vui mừng. Thật ra ông ta còn quá nhiều tham vọng, muốn trở lại Hòn Chông để tiếp tục vai trò quản gia, vơ vét thêm vàng bạc. Lúc nầy, bà chánh thất yêu ông chỉ vì ông là người quen thuộc, có tài. Lâu ngày chầy tháng, bà sẽ chê ông là bất tài, nếu suốt ngày ông chỉ biết làm tình rồi uống rượu, câu cá. Hơn nữa, bà chánh thất dám cho sống trong căn nhà ầy, bên cạnh thảo am mà không sợ dư luận?

Nếu muốn hưởng lạc thú, ông có thể tìm vài cô gái tơ. Như vậy đời ông tươi mát hơn. Bên cạnh bà chánh thất, ông chỉ là kẻ thuộc hạ, tôi tớ của …

– Ngày mai, gặp ông ta thử xem…Hỗm rày tôi quên…

Ăn xong bữa cơm sáng, bà chánh thất và Bá Vạn đi bộ lên núi Đất. Dọc đường, Bá Vạn sực nhớ đến ông Tư Thính cha ruột của cô Huôi. Ngôi nhà cũ được tu bổ lại sơ sài, sau khi bị Hai Điền đốt cháy. Bên cạnh, ngôi chùa khá to đang xây cất.

Tư Thính mặc áo lụa ra cửa đón tiếp hai vị thượng khách. Bá Vạn chắp tay xá:

– Tôi không còn là quản gia nữa. Cậu Cẩu đuổi tôi rồi.

Tư Thính đáp:

– Tôi kính trọng ông hơn xưa. Nhưng mà ngày mai ông sẽ làm chức lớn.

– Ai nói vậy?

Tư Thính đáp:

– Ông đạo Đất! Đôi ba ngày, ông tới đây thăm tôi một lần.

Bà chánh thất hỏi:

– Ông đạo Đất bây giờ còn ở trên am?

– Còn đó chớ đi đâu. Xin lỗi bà, ông đạo khen bà là người nhiều phước đức. Về già, bà được yên vui.

– Ông mới là nhiều phước đức chớ? Con gái ông bây giờ là người sang trọng nhứt…

– Tôi chỉ dám cầu mong cho nó được trong sạch nhứt, để cha mẹ khỏi mang tiếng xấu. Con người sanh ra, chịu cực khổ, bỗng vui sướng rồi chết. Mời bà và ông vô nhà.

Vì ganh tức với địa vị cô Huôi, bà chánh thất cương quyết từ chối:

– Tôi chỉ xứng đáng đứng ngoài sân nhà nầy. À! Nghe nói trước sân có bụi quỳnh hoa đẹp lắm.

Tư Thính chắp tay xá bà chánh thất:

– Xin bà đừng giận tôi. Tới ngày giờ nầy, con gái tôi cho tôi đủ tiền để cất một ngôi chùa. Tôi hứa đi tu mà! Ông đạo Đất nói rằng nếu không tu hành, theo con cái về Hòn Chông mà hưởng vinh hoa phú quý thì tôi bị giết!

– Ghê vậy! Để tôi lên gặp ông đạo Đất …

Rồi bà giải bày:

– Hỗm rày, tôi ở ngoài am. Tình cờ gặp Bá Vạn nên tôi nhờ ổng dẫn đường. Bụi quỳnh hoa ở chỗ nào? Cho tôi xem.

Tư Thính đưa bà chánh thất tới trước sân. Chỉ là bụi cây um tùm. Ông cho biết từ đó đến nay, nó không trổ thêm nụ nào hết.

Bá Vạn nói khẽ:

– Nên an hưởng tuổi già, ông Tư à!

Tư Thính cau mày:

– Ai mà không muốn được an nhàn? Nhưng mà ông đạo Đất dạy rằng: Khôn cất trại, dại cất nhà. Ổng dám đoán rằng vài năm nữa, con gái tôi trở về đây để tưới rau, trồng cải, cấy lúa. Ông tin không? Theo ông đạo Đất thì đời nầy sắp thay đổi. Vùng đồi núi Hòn của ông Chúa Hòn xưa kia chỉ là cánh bèo trên biển Đông. Khi tươi khi héo. Có bao giờ cánh bèo sống trăm năm, ngàn năm?

Bá Vạn bèn thúc hối bà chánh thất:

– Thưa bà, tôi muốn lên gặp ông đạo Đất. Ông nói nhiều chuyện lạ quá. Quá khứ, ông nói đúng, thì nhất định là đâu có sai lầm những chuyện vị lai. Tôi muốn biết thằng Cẩu sống bao lâu?

Ông Tư Thính muốn dẫn đường nhưng Bá Vạn nói khéo:

– Bà chánh thất nầy không ưa cô Huôi. Nếu ông có mặt thì làm sao ông đạo Đất dám bói quẻ.

Rồi ông nói riêng:

– Hôm nào gặp cô Huôi, nhờ ông nói giùm. Lúc nầy tôi thất thế.

Ông Tư Thính nói:

– Sống ngoài vòng danh lợi như tôi, thích hơn. Chừng gặp ông đạo Đất, ông sẽ nói nhiều điều mầu nhiệm lắm.

Khi Bá Vạn và bà chánh thất đến thảo am thì gặp ngay ông đạo Đất. Ông ngồi trên bộ ván sơ sài, gương mặt mệt mỏi:

– Tôi ít nói lắm.

Bà chánh thất bèn tự giới thiệu dài dòng. Ông đạo Đất đốt ngọn nến, soi tứ phía rồi để ngay trước mặt bà chánh thất:

– Về già, bà được hưởng chữ nhàn.

Bà chánh thất chưa được thoả mãn cho lắm:

– Nhờ ông coi kỹ lại. Nhàn mà bị đày ải nơi xa xôi, ngày đêm lo lắng thì sướng ích gì? Cô Huôi mới là người nhàn rỗi, ở không cũng có ăn, bên cạnh luôn luôn có người hầu hạ.

Ông đạo Đất nói:

– Cô Huôi lo lắng hơn. Rồi đây cô sẽ cất một cái thảo am như bà vậy thôi. Về già, ai cũng bớt nóng nảy.

– Nhưng chẳng lẽ số phận tôi và cô Huôi lại giống nhau? Trời sanh ra, giọt nước nầy rơi trên đồng, giọt nước kia rơi xuống giếng.

Ông đạo Đất cười hiền lành:

– Nhưng tất cả đều về biển. Chỉ khác một điều là cô Huôi đi tu sớm hơn bà. Bà đi tu năm nầy, năm được ngoài bốn mươi tuổi. Cô Huôi thì… cũng đi tu năm nay, chừng vài tháng nữa thôi.

Bá Vạn nãy giờ ngồi trầm tĩnh, đoán chừng ông đạo Đất chỉ xem quẻ chiếu lệ để trấn an bà chánh thất. Khi nghe chi tiết lạ lùng ấy, ông sửng sốt hỏi:

– Vài tháng nữa là cô Huôi đi tu?

Ông đạo Đất gật đầu:

– Thiên cơ mầu nhiệm lắm. Đây là thời Ma Pháp. Tôi ở non cao nên thấy vài chuyện ma, người ở dưới không thấy. Ngoài biển khơi hôm nào trời trong vắt…luôn luôn có vài con cá kình nổi lên!

Bà chánh thất cằn nhằn:

– Ông nầy nói nhiều chuyện khó tin quá.

Nhưng ông đạo Đất đứng dậy nói với Bá Vạn:

– Muốn thấy cá kình thì hôm nào rảnh, ông Bá tới với tôi, đứng trên chót núi.

Bá Vạn bước theo chân ông đạo. Bà chánh thất ngồi lì trong am, thắp ba cây nhang cắm trong cái lư nhỏ. Nếu quả thật vài tháng nữa cô Huôi phải đi tu thì bà vui mừng biết chừng nào. Chừng đó, tất cả mọi người đều tủi nhục, ngang hàng với nhau. Và người nào nếm mùi tủi nhục trước thì sẽ được xem là khôn ngoan.

Đến tảng đá bằng phẳng, ông đạo ngồi xuống.

– Ông Bá nói chuyện cho vui. Vì bà chánh thất ở trong am nên tôi muốn tới đây.

Bá Vạn ngồi xuống với vẻ mặt hơi bực dọc:

– Đầu đuôi cũng tại ông. Nếu không có cô Huôi thì tôi đâu nhục nhã như vầy! Thằng Cẩu đuổi tôi, chưởi tôi trước đám đông rồi còn tịch thu tài sản. Hồi xưa cậu Hai Điền chỉ làm một chuyện nhỏ là hất tô thịt kho vô áo tôi. Bởi vì tử vi cô Huôi quá hên, nên tôi hứng chịu bao nhiêu nhục nhã.

– Kìa!

Ông đạo Đất chỉ về phía Tây. Núi Đất ở xa bờ biển chừng trăm mẫu đất. Mặt biển xanh chàm, gió thổi mát lạnh. Hòn Nghệ, hòn Heo nằm im lìm. Và cánh buồm như không di chuyển. Nơi bãi bùn, vài chiếc thuyền câu sắp rời bến.

Bá Vạn hỏi:

– Ông muốn nói chuyện trời biển tang thương hay là ông rủ tôi ra ngoài hoang đảo để lánh nạn?

– Không! Gần Hòn Nghệ phía trái hai ngày trước, dân chúng thấy hai con cá kình nổi lên. Cá kình lớn hơn cá ông. Nhưng vài người chài lưới bảo rằng đó không phải là cá kình.

– Vậy chớ cá gì?

– Là hai chiếc tàu sắt, phun khói đen kịt. Trên tàu có nhiều người da trắng bạch, tóc hoe, mắt đục. Họ cầm súng, bên cạnh họ còn nhiều người “An Nam” khác. Sau lái tàu, có lá cờ xanh trắng đỏ. Bọn đó tới Hòn Chông, thì …liệu cậu Cẩu chống cự nổi không? Nghe đâu miệt trên, Vĩnh Long, Định Tường đều thất thủ. Bọn nó tới chợ Rạch Giá rồi.

Bá Vạn nhăn mặt. Ba màu xanh, trắng, đỏ khiến ông ta nhớ đến bọn Sơn Đông mãi võ đến Hòn Chông để nhảy qua vòng lửa. Bọn chúng là quân dọ thám, nghi ngờ gì nữa! Như vậy có nghĩa là sớm muộn gì Hòn Chông nầy cũng lọt vào tay người lạ mặt. Nhưng Bá Vạn vẫn còn thắc mắc:

– Biết đâu họ đem tàu sắt tới xứ nầy để thị oai rồi qua xứ khác. Bên kia bờ biển là nước Xiêm!

Ông đạo Đất nói:

– Sự đời thấy thì hay vậy! Tôi không dám bàn thêm. Mỗi ngày, tôi tới thăm ông Tư Thính, nói chuyện đạo hạnh cho vui. Bởi vậy …tôi khuyên ông Bá đừng nóng nảy.

Bá Vạn đứng dậy, nhắc ông đạo Đất ở trong am còn bà chánh thất đang chờ. Trên đường về am, Bá Vạn nài nỉ:

– Ông coi cho tôi một quẻ, coi thiệt tình, đừng nịnh bợ, thấy sao nói vậy…

Ông đạo Đất lẩm bẩm:

– Thế nào vùng Hòn Chông cũng lộn xộn. Cậu Cẩu phải nhờ tay ông. Ông ở đây mà chờ….

Cậu Cẩu về Hòn Chông, vui sướng vô cùng vì đã giải chức Bá Vạn mà không gặp sự chống đối nào cả. Cậu cho người đến núi Mo So, rước mẹ và ông ngoại về Hòn Chông.

Ông Mười Hấu và cô Ngó đến cư ngụ tại ngôi nhà trước kia dành cho bà chánh thất và ông Chúa Hòn.

Là người thận trọng, ông Mười Hấu hỏi:

– Cháu đã làm điều gì hỗn hào không? Dầu sao đi nữa, ông Bá Vạn giúp cháu quá nhiều.

Cậu Cẩu đáp:

– Hễ cháu đuổi là làm chuyện hỗn hào rồi. Cháu nghĩ rằng dung dưỡng Bá Vạn thì ngoại đâu còn công chuyện mà làm! Theo ý cháu thì từ rày về sau, ông ngoại sẽ lên chức quản gia thay thế Bá Vạn.

– Không được cháu ơi, thiên hạ bàn tán xôn xao. Họ nói rằng ông đây chủ mưu giết cậu Hai Điền.

– Cháu liệu định rồi. Thỉnh thoảng, ông ngoại tới Vàm Rầy mà ở. Bá Vạn cất ba căn phố, dự trữ đầy đủ nào là tôm khô, bong bóng cá để bán với giá cao trong mùa tới. Ông ngoại tới đó làm sổ sách…

Ông Mười Hấu đáp:

– Để tính kỹ lại. Khó lắm.

– Có gì mà khó! Cháu đủ quyền hạn mà.

Thật ra, ông Mười Hấu đang khổ tâm vì chuyện khác. Từ khi cậu Cẩu nắm quyền thay thế cậu Hai Điền và ông Chúa Hòn thì dân chúng núi Mo So vô cùng phẫn uất. Họ không tin cậu Cẩu, xem cậu là đứa ngu dại, khùng điên. Ông Mười Hấu nói:

– Khó lắm. Cháu thì khác…

– Chắc ông ngoại muốn uống rượu chớ gì? Xí Vĩnh đâu?

Xí Vĩnh xuất hiện trước sự ngạc nhiên của Mười Hấu. Nàng mặc áo gấm, chân đi dép cườm. Cậu Cẩu nói:

– Đây ông ngoại. Em hãy chào ông ngoại.

Mười Hấu nói:

– Được rồi! Cô nầy là ở đâu vậy cháu?

Cậu Cẩu nói:

– Cháu nhìn nhận Xí Vĩnh là vợ. Ông ngoại thấy sao? Chưa ai xinh đẹp bằng. Thấy Xí Vĩnh ở đây, ông Bá Vạn nổi cơn ghen mà chết. Thằng A Chúa rước bọn gái đẹp để dành cho Bá Vạn. Dè đâu cháu chận trước đem về đây.

Day qua Xí Vĩnh, cậu Cẩu nói:

– Em hát một bài, hay là đem cây đờn tranh ra khẩy một bản Hành Vân, Lưu Thủy gì đó cho ông ngoại nghe.

Trong phút giây, ông Mười Hấu thấy cảnh suy sụp của gia đình. Theo ý ông thì công việc đầu tiên mà cậu Cẩu nên chỉnh đốn là phòng thủ, tuyển chọn thêm một số đông hộ vệ quân, cho bọn nầy ăn uống đầy đủ, phòng khi hữu sự thì chúng nó dám liều chết cứu chủ.

Nghe chưa dứt bản đàn, ông Mười Hấu đứng dậy:

– Cháu cứ nghe. Ông muốn nằm nghỉ.

Cậu Cẩu hỏi:

– Hay là Xí Vĩnh đờn quá dở. Nếu vậy cháu phạt nó uống rượu?

– Thôi! Ông đã già rồi. Cháu cứ vui…

Cậu Cẩu cau mày:

– Hay là ông ngoại chê cháu ham chơi? Cháu làm công việc dữ lắm. Phải trừ tuyệt bọn tay em của Bá Vạn.

Khi Mười Hấu ra cửa, cậu Cẩu ra lịnh:

– Hộ vệ đâu? Đưa ông ngoại tao tới nhà ông Chúa Hòn. Tụi bây quét dọn trong ngoài cho sạch sẽ.

Tên hộ vệ theo chân ông Mười Hấu. Lần đầu tiên, ông bước vào căn nhà sang trọng, từ trước đến nay. Tên hộ vệ mở khóa rồi chỉ dẫn:

– Đây là bàn thờ…

Ông Mười Hấu sực nhớ một việc quan trọng nên dừng lại.

Sau khi đốt nhang khấn vái lâm râm, ông xá ba lần trước bàn thờ. Trên ấy, có nhiều bài vị, nhưng còn thiếu cái bài vị đề tên ông Chúa Hòn và cậu Hai Điền.

– Trưa nằm ngủ bên nầy.

Cánh cửa mở rộng. Người hộ vệ vào trước, đốt mấy ngọn đèn sáp. Vì quen sống bên ngoài nên Mười Hấu đứng lại mà quan sát rồi hỏi:

– Tại sao tối om om vậy?

– Dạ ban ngày ban đêm gì cũng phải thắp đèn sáng. Hồi trước ông Chúa Hòn nói rằng nhà phải kín đáo thì làm ăn mới khá. Đây là kiểu nhà của vua quan bên Tàu. Nếu khoét cửa thì có ba điều hại.

Mười Hấu hỏi thành thật:

– Điều gì?

– Dạ gió lọt vô dễ bị cảm mạo. Tiền bạc bên trong có thể…bay ra ngoài.

– Ngộ quá! Vậy vua chúa có nhiều phong tục lạ. Nhưng còn điều thứ ba?

– Ông cho phép thì tôi mới dám nói.

– Cứ nói. Ta thưởng tiền bạc cho.

Nhìn kỹ gương mặt người hộ vệ, Mười Hấu hơi sửng sốt vì lão nầy hơi già, trán nhăn lại, gân tay nổi lên. Mười Hấu nói tiếp:

– Tôi lớn tuổi rồi, muốn hưởng nhàn. Cháu tôi mời mọc, tôi phải tới đây. Còn điều thứ ba?

Người hộ vệ bèn cúi đầu:

– Tôi hầu hạ ông Chúa hơn mười năm rồi. Tôi không phải là hộ vệ vì sức lực đã suy giảm. Điều thứ ba là nếu nhà có cửa sổ thì kẻ gian bên ngoài có thể nhảy vào mà thích khách…

Mười Hấu rởn tóc gáy khi nghe hai tiếng đó. Ông ta bèn trao cho lão nọ một nén bạc, với dụng ý mua chuộc tình cảm để lão nói cả sự thật.

Lão cúi đầu, ngỏ lời cám ơn. Mười Hấu nằm xuống sạp, lão cầm quạt phe phảy đứng bên cạnh. Mười Hấu vẫn chưa hết thắc mắc:

– Rủi người ngoài vào đây thích khách thì ta làm sao?

– Dạ, bên ngoài đã có bọn hộ vệ trẻ tuổi. Trong nầy có cách khác…tôi lo món ăn cho ông Chúa Hòn ngày trước. Hỗm rày tôi muốn trình cậu Ba vài việc nhưng chưa dám. Một khi nắm quyền hành trong tay, con người nên cẩn thận việc ăn uống, coi chừng bị đầu độc!

Trong một thoáng, Mười Hấu nhớ đến Xí Vĩnh và cái bầu rượu trên bàn cậu Cẩu lúc nãy:

– Phải đó. Đề phòng bị đầu độc bằng cách nào?

Người hộ vệ thưa:

– Đáng lý ra, trước khi ăn uống, cậu Ba nên hỏi ý tôi.

Mười Hấu trợn mắt:

– Ông làm thầy thuốc? Làm sao biết món ăn có trộn thuốc độc? Ông hửi thử hay là ăn trước vài miếng? Lúc nầy tôi nên đề phòng, dân chúng ở núi Mo So bắt đầu chống đối, hăm he không chịu góp lúa ruộng.

Người hộ vệ bèn kéo cửa tủ rồi mở cái ngăn nhỏ bên trong. Ông ta đem ra một cái dĩa màu xanh mướt trao cho Mười Hấu.

Ông nầy trố mắt, đem cái dĩa lại gần ngọn đèn sáp mà ngắm xem. Nước men nổi lên màu xanh láng kỳ diệu, rờ vào là mát lạnh:

– Ngộ quá! Hồi nhỏ tới lớn, tôi chưa thấy cái dĩa nầy.

Người hộ vệ đáp:

– Đó là cái dĩa quí của vua chúa bên Tàu. Mấy người thương gia đem qua “cống sứ” cho ông Chúa Hòn. Nhờ nó mà hồi mười năm trước, ông Chúa thoát nạn. Ông xem kỹ thì thấy cái màu xanh kỳ lạ, nước biển không ra nước biển, xanh lá cây thì khác hơn…

Mười Hấu thích chí, hỏi thêm:

– Có chén bằng ngọc không?

Người hộ vệ đáp:

– Cái dĩa nầy còn quí hơn ngọc. Nghe đâu nó còn phép lạ khác, để đồ ăn vô dĩa đôi ba ngày mà không hôi thúi.

– Tôi bỏ cái dĩa nầy trong túi. Khi nào nghi ngờ thì đem ra xài.

Người hộ vệ đáp:

– Ngày xưa, ông Chúa Hòn giữ kín, không cho ai thấy cái dĩa nầy, lâu lâu mới đem ra xài một lần. Nếu ông cho người khác thấy thì ai ngu dại gì ám hại bằng cách đầu độc?

– Vậy thì tôi để đây!

Vừa lúc ấy, bên ngoài có tiếng kêu la ơi ới. Mười Hấu chạy ra sân. Cậu Cẩu nói hơ hãi:

– Ông ơi. Nguy rồi! Ông cầm…binh được không?

Mười Hấu hoảng hốt:

– Cầm binh là làm sao? Thì cháu có sẵn mấy chục đứa hộ vệ. Chuyện gì mà đánh mõ ỏm tỏi vậy?

Cậu Cẩu nói khẽ:

– Dân ở núi Mo So chạy giặc lên đây. Thằng Thừa tay sai của ông Bá Vạn tới đó, đốt nhà cửa, xúc lúa đem lên núi.

– Cháu tính cách nào?

– Ông qua đây mà xem thử. Ông sẽ thấy chuyện nầy lớn chớ không nhỏ đâu.

Bên nhà cậu Cẩu, hàng trăm người ngồi chồm hỗm trước sân. Mười Hấu nhận ra tất cả những người quen thuộc:

– À! Tư Hinh!

Trước kia, Tư Hinh sống bằng nghề hái ổ ong, lấy sáp và mật. Tư Hinh vuốt mồ hôi trán, chắp tay thưa:

– Ông Mười ơi! Nguy lắm. Xóm mình không còn một căn nhà nào đứng vững. Nhà ông bị đốt trước. Thằng Thừa gom tất cả dao mác. Dẫn chừng bốn năm chục cậu trai lên núi để luyện tập võ nghệ. Phải chi ông cầm binh đánh một trận cho nó sợ.

Nhiều người mạnh dạn đến gần cậu Cẩu, chắp tay xá dài để xin cơm nước, xin chỗ tá túc. Cậu Cẩu bèn nghiêm nét mặt:

– Tại sao không dám ở núi Mo So? Thằng Thừa bây giờ ở trên chót núi? Ai dám trở về giết nó thì tôi trọng thưởng. Phải về xứ mà ở. Đây là nhà tôi, làm sao chứa chấp hàng trăm người được?

Có người khóc mếu máo mà nói:

– Cậu ơi! Nó mạnh lắm. Mỗi đêm, nó đốt đuốc trên núi, đánh trống mõ vang trời. Nó hẹn năm ngày nữa là kéo binh tới Hòn Chông để …trả thù cho ông Bá Vạn!

– Sao? Mấy người nói gì?

Ông Mười Hấu truyền lịnh nấu cơm cho bọn người tản cư ấy ăn tạm rồi dẫn Tư Hinh vào nhà. Trước kia, Tư Hinh thường uống rượu và đánh cờ tướng với Mười Hấu nên được tin cậy.

Vào trong phòng, ông Mười hỏi kỹ:

– Thằng Thừa mạnh yếu thế nào? Bá Vạn tới núi Mo So chưa?

Tư Hinh đáp:

– Làm sao tôi so sánh được? Nếu ở đây mạnh thì nó yếu. Nó có hơn năm mươi đứa, cầm dao mác.

Nghe qua, Mười Hấu hoảng sợ vì với lực lượng ấy, thằng Thừa đủ sức đốt phá Hòn Chông. Chừng ấy, chưa ắt bọn hộ vệ còn giữ lòng trung thành với cậu Cẩu. Nếu Bá Vạn đi theo thằng Thừa thì mặc nhiên ông ta sẽ thắng thế.

Mười Hấu hỏi tiếp:

– Ai xúi giục thằng Thừa? Bá Vạn có ở đó không?

– Dạ, không thấy Bá Vạn. Nhưng dường như thằng Thừa có chiêu mộ được một người “Sơn Đông mãi võ”. Người nầy ở chợ Rạch Giá mới tới, loan tin rằng quân Lang Sa đang tràn về phía Hòn Chông!

Cậu Cẩu nằm yên trên giường, mồ hôi để tuôn nườm nượp, mặc dầu cô Xí Vĩnh quạt không ngừng tay. Con nít khóc ré trước sân, mấy người tản cư như đói khát lắm giành nhau từng chén cơm. Cậu đếm lẩm bẩm:

– Mười, mười bảy, ba chục đứa hộ vệ. Yếu quá!

Ông Mười Hấu bước vào, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài rồi nói với cậu Cẩu:

– Cháu tính sao? Ông thấy rằng để trễ thì…không còn nơi nào chạy trốn. Bọn hộ vệ của thằng Thừa hăng hái lắm…

– Nguy thiệt. Ông tính cách nào thì cháu tuân theo.

Mười Hấu cau mày, sực nhớ đến cô Huôi. Lập tức, ông qua tư thất của cô vấn kế..

Cô Huôi cười lạt:

– Gieo gió thì gặt bão. Người như Bá Vạn đâu dễ kiếm. Bởi vì cậu Cẩu cách chức Bá Vạn nên thằng Thừa hoảng sợ. Muốn dẹp loạn thì nên…

Mười Hấu đáp:

– Thưa cô, nên mời ông Bá Vạn về, biểu cậu Cẩu xin lỗi vài tiếng.

– Không! Nên để cho cậu Cẩu tới núi Mo So dẹp loạn một lần.

Mười Hấu trố mắt:

– Nó đi thì chắc là chết dọc đường. Trước đây, cậu Hai Điền có oai thế nhờ biết săn bắn. Thằng Cẩu là cháu ngoại tôi, nó chỉ biết giỡn gái và đá cá thia thia.

Cô Huôi nói:

– Đây là dịp cho cậu ta thấy rằng làm ông vua con đâu phải dễ. Sau đó, hãy rước Bá Vạn. Nhưng Bá Vạn đâu phải con nít. Theo tôi thì cậu Hai Điền chỉ có tật là “nói bậy nói bạ” cho vui chớ chưa bao giờ dám đuổi Bá Vạn, tịch thu tài sản.

Mồ hôi tuôn giọt vắn giọt dài trên trán Mười Hấu:

– Thưa cô, nhờ cô giúp…

– Phải cho cậu Cẩu hiểu rằng đời là khó.

– Nhưng nó chỉ sợ cô thôi. Cô dạy dỗ nó. Ở xứ nầy cô là người nhiều quyền hạn nhứt.

– Điều đó hơi khó. Thú thật với ông tôi muốn đi tu cho rồi, nhưng chưa rảnh nợ đời. Cha tôi đã cất gần xong một kiểng chùa ở núi Đất… Cứ biểu cậu Cẩu tới núi Mo So ra trận một lần. Chỉ khi nào bại trận, cậu ta mới bớt háo thắng. Thôi! Ông nên ra ngoài, kẻo nó giận tới tôi.

Ra khỏi nhà cô Huôi, Mười Hấu gặp cậu Cẩu, khuyên đứa cháu ngoại nên ra trận, tiến vào núi Mo So để tiễu trừ bọn phiến loạn. Phản ứng đầu tiên của cậu là chờ đợi. Ông Mười Hấu hơi bối rối:

– Nếu cháu không giết nó trước thì nó kéo tới đây. Ông chạy trốn bây giờ.

– Theo ý ông thì nên làm gì?

– Cháu đi thử một chuyến, cho bọn hộ vệ quân đi trước, nếu gặp bất trắc thì chúng nó chết trước.

– Xí Vĩnh với cháu đi sau…Rời Xí Vĩnh cháu thấy buồn quá. Nhưng phải chờ sáng mai, cho bọn hộ vệ tập dượt trước.

Quá thất vọng vì thái độ khiếp nhược của đứa cháu ngoại. Mười Hấu bèn đến gặp cô Huôi lần thứ nhì. Sau khi suy nghĩ khá lâu cô đáp:

– Ông viết thơ năn nỉ Bá Vạn. Có Bá Vạn thì việc nầy mới xong.

Người Chị Cả

vvnm.vietbao.com

21/08/2002

Lê Như Đức

Post by Sơn râu 26 May 2025

Tác giả Lê Như Đức đã góp nhiều viết về nước Mỹ được đông đảo bạn đọc Việt Báo quí trọng. Ông sinh năm 1962 tại Saìgòn, Việt Nam. Nghề Nghiệp: Kỹ sư cơ khí cho Boeing, thành phố Houston. Gia Đình: Vợ và hai con gái, Học vấn: Cao học cơ khí. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

Lời người viết

Nội dung câu chuyện do một người quen thuật lại trong một dịp gặp gỡ. Mặc dầu đã qúa mười năm qua, tôi vẫn còn thấy sự nuối tiếc trong lời lẽ của anh. Tôi có khuyên anh bên xứ này tám chục tuổi cũng còn có thể vào đại học được. Người Việt Nam có truyền thống hy sinh và chịu đựng hơn mọi dân tộc khác. Tuy nhiên trong một vườn cam ngọt thể nào cũng có vài cây chua. Mời bạn cùng chia với tôi một trái cam không được ngọt.

Thanh hối chồng thêm một lần nữa trước khi mở cửa sau nơi nhà bếp để bước ra vườn sau vào ga-ra đề xe:

– Anh có lẹ lên không. Trể giờ rồi. Mấy đứa nó mới tới Mỹ lần đầu, mình ra trễ đón, chúng sợ lắm. Con Nga viết thư cho em cứ dặn đi dặn lại là chúng từ đảo qua không biết gì cả. Nếu mình tới trễ nó dám khóc to ở phi trường lắm đó.

Mậu vừa cạo râu vừa trả lời vợ:

– Xong ngay. Em cứ đề xe đi là anh ra liền. Còn sớm chán. Bẩy giờ

máy bay mới đáp, giờ chưa tới sáu giờ mà em đã lo.

Mậu và Thanh đều qua Mỹ năm 75 và định cư tại Houston. Sau hơn sáu năm cần cù làm ăn có được chút sự nghiệp thì ba đứa em vợ vượt biên qua tới đảo Mã Lai. – đảo gần non một năm, được chị bảo lãnh, ba anh em: Vinh, Huy và Nga khăn gói lên đường tới Houston định cư. Còn gì vui bằng sau bao năm xa cách, Thanh người chị cả trong gia đình tám anh em, đón ba em mình tại phi trường. Cũng còn gì vui hơn khi vợ chồng Thanh lại làm ăn thành công có nhà to cửa rộng và làm chủ cả một chợ rau thịt trong khu thương mại Việt Nam vùng Downtown. Riêng Mậu lại càng vui hơn khi thấy vợ mình rực rỡ trong bộ đồ đầm mầu đỏ tươi thật đắt tiền đã làm cho ba đứa em vợ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.

Hôm đó là một ngày cuối Thu năm 1982.

Trời mùa Thu Houston hơi lạnh và buồn nhưng Vinh vẫn thấy lòng mình ấm và lâng lâng hơn bao giờ hết. Ngồi sát cửa trong băng sau của chiếc xe Mỹ thật sang trọng, Vinh nhìn những cảnh vật trôi nhanh bên đường mỉm cười, tự nhủ với lòng mình:

– Cuối cùng rồi cũng tới đích. Cám ơn trời đã thương, cho mọi việc đều êm trôi. Giờ thì chỉ còn lo học và …học.

Từ ngày rời nhà dắt hai em liều mạng vượt biển tìm tự do, Vinh đã mang trong người một gánh nặng của một người anh. Chàng đã hứa với ba mẹ sẽ sống cùng sống, chết cùng chết với hai em. Hôm nay tới được bến bờ

tự do, chàng sẽ chia xẻ bớt trách nhiệm với hai em cho chị Thanh. Riêng Vinh, chàng có một hoài bảo to lớn là được bước vào ngưỡng cửa Đại Học và sẽ được miệt mài với môn Toán mà chàng đã bao lần nhức óc nhưng đầy đam mê. Vinh không ao ước được ghi danh vào những đại học lừng lẫy của Hoa-Kỳ như MIT hay Standford. Chỉ cần một đại học thật bình thường thôi, và chàng có lẽ sẽ đành hết thì giờ cho khoa học. Một số bạn chàng đã may mắn qua năm 75, nhưng chẳng ai thành công mấy trên đường học vấn. Đối với Vinh, chàng biết rất rõ khả năng của mình lắm. Thi vào đại học Tổng Hợp rớt vì gia đình chàng không phải là gia đình cách mạng chứ không phải vì làm không được bài thi. Bốn bài toán hình học không gian lẫn đại số, chàng chỉ nhìn và cười khẩy. Ngoáy cây bút vài đường lả lướt là xong. Ông giám thị cũng phải sững sờ khi chàng nộp bài quá sớm. Ông nhìn chàng lắc nhẹ đầu, thầm tiếc cho một nhân tài. Sống trong xã hội chủ nghĩa ai ai cũng biết học tài thi lý lịch. Có giỏi cách mấy mà cha không phải đảng viên thì đừng hòng Bác cho thi đậu.

Nhìn qua cạnh cửa xe bên kia, Vinh thấy Huy cũng rộn rã hơn bao lần. Vinh hiểu rất nhiều về đứa em trai kế mình. Sức học của nó chỉ hơi thua chàng một chút thôi. Hai anh em đều là những học sinh xuất sắc từ Tiểu học qua đến Trung học của trường Chu-văn-An. Bốn đứa em còn kẹt lại ở Việt Nam cũng vậy, học giỏi không thua bất kỳ ai trong trường. Chàng đã bỏ hết công sức kèm các em mình từ vở lòng. Nhất là bốn năm sau khi thi không vào được đại học vì thiếu lý lịch tốt, Vinh không những không chán nản mà còn đã đem hết tài năng ra luyện cho các em mình và cũng cho chính mình thêm về môn ngoại ngữ. Chàng đã dọn đường cho mình rất nhiều để sẵn sàng bước vào Đại Học Hoa Kỳ khi có cơ hội. Hôm nay tuy là ngày đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, nhưng Vinh vẫn có cảm tưởng như là ngày mong đợi đã tới. Nga tuy là con gái nhưng kiến thức về những môn khoa học đã được chàng khéo léo đào luyện cũng bỏ xa nhiều đứa trai trong lớp học của trường Nguyễn Bá Tòng Sàigòn.

Ông Huân, cha chàng đã nhiều lần hài lòng với Vinh và với sự thành công của các con mình trong học vấn. Ông thường tâm sự với vợ:

– Thằng Vinh tuy nó không phải là cả nhưng là trai cả của nhà mình. Cám ơn Trời, Phật đã cho nhà mình có nó. Nó là cái đầu tầu thật tốt nên kéo tất cả các em nó đi lên. Chỉ cần thằng đi đầu khá là các em nó cứ thế mà nương theo. Ngày đẻ con Thanh tôi thật là lo. Nhưng khi thằng Vinh ra đời, chỉ nhìn nó thôi tôi cũng biết sau này nhà mình sẽ khá to.

Ngồi thu mình chính giữa nhưng Nga cũng có nhiều những cảm súc dâng tràn như hai anh. Chỉ lâu lâu thấy anh Vinh nhìn anh Huy mỉm cười, rồi anh Huy lại nắm chặt bàn tay phải đưa cao lên như thầm hứa sẽ cố gắng để thành công, Nga cũng thấy lòng mình ấm lại nhiều. Nga cũng muốn được vào đại học để học tiếp môn Hóa học mà nàng đã thích từ bao năm nay. Mỗi lần nghe nói bên Mỹ lớp học có phòng thí nghiệm thật đầy đủ, sinh viên vừa học vừa thực tập ngay tại chỗ là hồn Nga muốn bay bổng, thầm ước có cánh sẽ bay qua Mỹ ngay.

Vinh hết nhìn hai em rồi lại hơi nhón người lên trước nhìn Thanh. Bẩy năm xa cách trôi qua thật lẹ. Nhớ ngày gần mất nước, Thanh có về kêu nèo mọi người trong gia đình theo sở mình di tản. Thanh làm cho sở Mỹ gần phi trường Tân Sân Nhất nên được lệnh di tản qua đảo Guam sớm. Ông Huân phản đối. Ông lấy cớ là gia đình ông không có dính líu gì đến chế độ cũ, ông chỉ là một công chức quèn trong một xí nghiệp tư nên nay nước nhà thanh bình rồi thì tội gì lại bỏ nước ra đi. Thanh có rủ riêng Vinh. Vinh năm đó đương học lớp mười một, chưa dám nghĩ tới chuyện phiêu lưu với chị. Thanh vào sở xin di tản một mình.

Thanh ngày nay trông thật khác xưa nhiều lắm. Bẩy năm trời sống trên đất Mỹ, được “Ăn bồi dưỡng” đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, Thanh trắng trẻo và có da thịt hơn xưa. Không chỉ đẹp hơn, phong cách… Mỹ của Thanh cũng khác xa. Từng lời nói và từng cử chỉ điệu bộ của Thanh cũng có vẻ toát lên một sự sang trọng kín đáo, khôn ngoan và hiền thục.

Thanh quay xuống nhìn các em mình. Thấy Vinh nhìn lên liền mỉm cười dịu dàng hỏi em:

– Mấy đứa ngồi dưới có chật không ” Chị có nói anh Mậu mướn xe Van để đi đón các em, nhưng anh cứ nằng nặc là cái Ca-Lục-Lặc này chứa dư.

Vinh không trả lời câu hỏi của chị mà chỉ nhìn Thanh chăm chú rồi nhắc lại chuyện cũ:

– Phải chi ngày đó em cùng đi với chị thì có lẽ không phí mất một thời gian dài sống lãng phí, chị nhỉ” Nếu ngày đó chị không quyết định đi thì nhà mình đào đâu ra được tiền để chúng em vượt biên. Ngày chị đi, bố cứ rầy la, bực bội luôn. Về sau ông ca chị suốt ngày.

Thanh rướm nước mắt, rồi dễ dãi cười:

– Chuyện cũ em nhắc lại làm gì. Giờ qua được đây rồi cũng chả muộn gì nữa đâu. Em chỉ mới hai mươi lăm tuổi à. Chị đây sắp đến ba chục rồi mà vẫn còn thấy sớm, con cũng còn chưa muốn có. Anh Mậu con một, lại gốc người Tầu Chợ Lớn ba đời. Gia đình anh muốn có con lắm vậy mà anh vẫn tỉnh bơ. Bên Mỹ này năm chục tuổi vẫn chưa thấy già. Em mới được nửa, tiếc gì”

Chiếc xe Cadillac đồ sộ và láng bóng của Mậu từ từ quẹo vào ga-ra. Ba anh em Vinh lại càng ngẩn ngơ thêm khi thấy căn nhà của vợ chồng Thanh. Nga khẽ la: “To như dinh Thủ-Tướng, anh Vinh à. “

Huy bước xuống xe nhìn quanh cái ga-ra xe hết hồn hét lớn cho chị nghe:

– Cái ga-ra của chị thôi cũng đã to hơn cái nhà mình ở Việt Nam rồi.

Thanh nhìn em cười, giỡn nhẹ:

– Vậy tối nay chị để em ngủ một mình một ga-ra, em nhé.

Vợ chồng Thanh tuy chỉ có hai người nhưng tậu một căn nhà hai tầng với bốn phòng ngủ thật to về hướng Tây của thành phố Houston. Vườn trước nhà, vườn sau nhà là những bãi cỏ rộng bát ngát và xanh mướt. Chung quanh nhà trồng đầy những hoa đủ loại, đủ kiểu và đủ mầu. Xa xa nơi cuối vườn còn có một hòn non bộ đặt giữa cái hồ nước nhỏ. Đèn mầu đặt dưới hồ tỏa ánh sáng lung linh mờ ảo làm khung cảnh trở nên thần tiên, tươi đẹp.

Thanh dắt ba em theo lối sau vào nhà. Nơi bếp đã có hai người đàn bà Việt Nam tuổi trung niên đương nấu nướng. Trên bàn ăn, Vinh thấy bầy la liệt đồ ăn Việt Nam hầu như không còn một chỗ trống nào cả. Giữa bàn còn có cả cái chân đèn với tám cây đèn cầy bự đang cháy sáng. Nga thích chí kêu to:

– Ăn cơm có đèn cầy nữa. Sang qúa. Cả đời em chỉ được nghe thôi chứ chưa bao giờ được ăn cả. Lúc ở nhà, tối Việt cộng thường cúp điện luôn, chúng em cứ phải ăn cơm với đèn …dầu.

Mậu thẩy chùm thìa khóa lên bàn nhỏ đặt nơi góc bếp, giới thiệu cho em vợ mình về hai người đàn bà Việt Nam hiện diện trong nhà:

– Đây là chị Vân và chị Bẩy. Họ bán rau cho anh chị trong chợ. Hôm nay các em tới, anh chị có nhờ họ tới nhà nấu dùm mấy món ăn Việt Nam đãi các em.

Hai người đàn bà Việt Nam quay qua chào vội anh em Vinh rồi lại quay lại chỉ Thanh về những món ăn đang nấu. Hình như họ cũng muốn để lại sự tự nhiên đầm ấm cho gia đình Mậu nên từ biệt rất nhanh:

– Cô Thanh nè. Nồi nước lèo tôi đã nấu xong rồi. Khi nào ăn, cô cứ việc mở bếp hâm lại. Bún chị Bẩy đã sắp hết ra tô rồi. Đợi cho nước thiệt sôi, cô chỉ việc múc nước đổ vào tô là xong. Chúng tôi xin về đây.

Thanh cám ơn rồi đưa họ ra đến tận cửa, chào từ giã.

Tối hôm đó chị em Thanh có một bữa ăn thịnh soạn và tràn ngập thương yêu. Huy lâu lâu nhìn những thức ăn cứ tiếc nuối với chị:

– Chị làm nhiều qúa. Ăn ba ngày cũng không hết. Thật là phí của.

Thanh nửa đùa nửa thật với các em:

– Chị sẽ còn phải nấu nhiều hơn nữa. Các em cần phải ăn thật nhiều trong ba tuần tới để cho có chút da thịt đi sắm quần áo. Gầy qúa mặc quần áo không đẹp.

Tưởng đùa hóa thật, Thanh giam các em mình trong nhà và hàng ngày mua đồ ăn thật nhiều. Chưa được hai tuần Huy và Nga cuồng chân chịu hết nổi nên xin chị ra tiệm chơi. Vinh cũng xin theo.

*

Mậu và Thanh vô tình gặp nhau khi cùng đi xin việc trong một hãng điện tử nhỏ một năm sau ngày qua Mỹ. Xa quê hương ngộ cố tri. Hai người đã nhanh chóng yêu nhau rồi sống chung với nhau.

Ba năm sau vợ chồng Thanh liều mạng lấy hết tiền dành dụm mua đại một tiệm tạp hóa nhỏ trong vùng Downtown của thành phố. Hay không bằng may. Tiệm đang ế, tưởng sẽ xập không lâu bỗng nhiên thiên hạ ùn ùn đổ vào xây quán ăn, nhà hàng chung quanh làm thành khu thương mại Việt Nam trong vùng.

Vốn có đầu óc buôn bán của người Hoa, Mậu vội vàng tậu thêm đất chung quanh mở rộng tiệm chuyển từ bán tạp hóa thành chợ thịt rau. Chỉ một thời gian ngắn, tiệm đông khách như nêm, hai vợ chồng Thanh làm không xuể phải mướn thêm sáu người làm phụ. Hai người coi hàng rau, hai người phụ Mậu xẻ thịt và hai người giúp Thanh đứng quầy tiền.

Sau ba năm liên tục làm không nghỉ, 365 ngày một năm, 7 ngày một tuần và 12 giờ một ngày, vợ chồng Thanh tuy mệt mỏi nhiều nhưng không dám nghỉ. Giao tiệm cho những người làm phụ không tin tưởng, nhất là trong khâu quầy tính tiền. Đây không phải chỉ là vấn nạn riêng của vợ chồng Thanh mà hầu hết của tất cả những gia đình chủ tiệm trong vùng. Làm quanh năm suốt tháng thì không có thì giờ …thở, mà nghỉ nằm nhà thì lại không yên bụng, sợ người đứng phụ chôm hết tiền.

Hôm nay bất ngờ anh em Vinh tỵ nạn qua định cư, như buồn ngủ lại vớ được chiếu manh, Thanh biết rằng không ai có thể giúp mình bằng ba em cả. Làm thì hết mình, lương thì đòi phải chăng mà tiền trong tiệm thì lại không hụt đến một xu. Nhất là Vinh, Thanh biết rõ đứa em kế của mình rất nhiều. Với cái tính chăm chỉ cộng thêm sự thông minh lanh lợi, nếu giao tiệm cho Vinh thì mình chỉ có ngồi đếm bạc mà thôi. Chỉ có một điều làm Thanh băn khoăn suy nghĩ là các em mình qua đây đều có ước muốn riêng, không ai muốn đứng coi tiệm, làm giầu cho vợ chồng mình. Hai tuần qua khi biết được các em mình đều có chí học lên cao, Thanh biết tất cả những tính toán của vợ chồng mình đều khó thực hiện được.

Khác với ba em, từ ngày thôi làm hãng ra mở tiệm riêng, tiền vô dễ dàng, Thanh thấy rất rõ: phi thương bất phú. Vào trường học vừa mất bốn, năm năm lại tốn bao tiền học phí, rốt cuộc cũng lại ra đi làm ngày tám tiếng trong sở như Thanh bốn năm về trước. Lương có cao hơn chút nhưng cao sao bằng lương của ông chủ tiệm.

Ngày ngày ngồi bấm máy tính tiền cho khách hàng, Thanh lại nghĩ nhiều đến ba em mình ở nhà. Nhiều lúc Thanh muốn giải thích cho các em mình hiểu cuộc sống Mỹ này khác xa với xã hội ở Việt Nam vốn coi trọng khoa cử. Nếu có cơ hội làm giầu thì phải chộp ngay. – Xứ này, mảnh bằng chỉ là tờ giấy để đi kiếm việc chứ không phải là một chứng minh thư của sự cao sang, trí thức như người Việt Nam thường nhầm lẫn. Biết em mình mới qua, Thanh lại sợ hiểu lầm nên bao lần tính nói lại thôi. Mậu có bàn riêng với vợ:

– Em khỏi phải nói làm gì. Từ từ mấy cô, mấy chú sẽ tự động hiểu thôi. Em nói nhiều khi bị hiểu lầm cho là em sợ mấy cô, mấy chú học ra trường rồi hơn mình.

***

Nga vừa bước vô tiệm đã vội lên tiếng ngay:

– Tiệm chị to quá, nhiều việc nữa. Hay là chị cho em ra đứng bán hàng với chị đi.

Huy cũng nói theo:

– Ở nhà hoài riết cũng chán. Anh chị cho em ra đây làm quách. Em không cần lấy lương, chỉ ngày hai bữa cơm là đủ rồi.

Thanh nhìn Vinh chờ ý kiến. Vinh không nói gì cả. Chàng chỉ đút hai tay vào túi quần rồi lững thững đi quanh tiệm một vòng quan sát. Thỉnh thoảng Vinh lại với tay lượm bó rau rơi xuống đất hay xếp lại những bao đồ ăn khô để không đúng chỗ. Tuy mới tới Mỹ nhưng Vinh đã được đọc và nghe kể rất nhiều chuyện về cuộc sống tại đây. Tối qua nghe Thanh có nhắc lại món nợ ba chục ngàn đô la mà Thanh đã phải mượn để đóng cho ba anh em Vinh vượt biên. Tuy tiền mượn của ba má Mậu không lấy lời, nhưng cũng phải trả vốn. Thanh khôn khéo lấy nhà chồng ra làm bức bình phong để che giấu những tính toán của mình:

– Với chị thì không sao cả. Tiền của chị cũng là tiền của các em. Nhưng tiền này có dính tới anh Mậu nên hơi khó. Nhất là còn dính tới cả ba má của anh nữa. Nếu chị lấy tiền của chị ra trả, ba má anh sẽ nói chị lấy tiền của anh cho gia đình mình.

Vinh hiểu ý của Thanh. Cuối tuần qua khi ghé sang nhà ba má Mậu chào hỏi, Vinh có để ý thấy cuộc sống của họ cũng chả có gì sung túc lắm thì làm sao có dư tiền cho anh em chàng mượn đi vượt biên. Vinh biết tất cả đều ở vợ chồng Mậu bầy trò. Họ bỏ tiền ra nhưng sợ khó thu lại được nên phải dùng đến cái nước cờ ba má của Mậu. Tuy nhiên một điều Vinh vẫn chưa hiểu được ra tại sao vợ chồng Mậu lại có lòng nhân đạo đến độ bỏ ra một số tiền to cho anh em chàng vượt biên. Hôm nay tới tiệm và nhìn cử chỉ lẫn lời nói của Thanh, Vinh hiểu ra tất cả mọi chuyện. Thảo nào Vinh thấy tất cả những người làm cho tiệm Thanh đều không có vẻ thân thiện với anh em Vinh mấy. Mọi người đều biết họ sắp phải mất việc nên có cử chỉ ngại ngùng xa lánh. Có thể ba trong sáu người phụ làm tiệm cho Thanh đã được báo sẽ mất việc trước khi ba anh em Vinh đặt chân lên đất Mỹ. Biết đâu cũng có thể là bốn người không chừng”

Vinh bước tới quầy tính tiền coi Thanh đang chỉ cho Nga cách bấm máy tính tiền. Nhìn ngược lại phía cuối tiệm, nơi hàng thịt, Vinh thấy Mậu đang chỉ cho Huy cách cắt thịt và gói vào bao nylon bầy ra trong tủ kính. Vinh thở dài biết chắc anh em chàng sẽ phải làm ở nơi đây một thời gian thật lâu. Cổng vào đại học của Hoa Kỳ tuy rộng thênh thang nhưng chả mấy ai bước vô nổi vì những mưu đồ lợi lộc ích kỷ chứ không phải vì không có tài, có chí.

Tối hôm đó, trong bữa cơm chiều Vinh có nói chuyện với vợ chồng Mậu về những tính toán của mình. Ba anh em Vinh bằng lòng sẽ làm cho tiệm Mậu một năm để trả món nợ ba chục ngàn đô la. Vợ chồng Mậu hồ hởi ra mặt. Thanh nhận lời mướn các em ngay:

– Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Gì chứ ở cái đất Mỹ này chỉ cần giỏi một nghề là thành triệu phú liền. Chả có nghề nào hèn mà cũng chả có nghề nào sang. Xứ này chỉ có nghề nào kiếm nhiều đô-la và nghề nào kiếm ít đô-la mà thôi. Các em vào tiệm chị làm, học hết cách “rân” tiệm rồi chị nói anh Mậu để ý kiếm cho các em một tiệm kha khá, nhẩy ra làm riêng thì chả mấy chốc giầu to. Ngày mai các em ra tiệm học nghề rồi từ từ chị sẽ cho mấy người làm nghỉ. Dù sao người nhà mình vẫn hơn. Các em nghĩ có phải không “

Riêng Mậu vẫn cảm thấy không an lòng vì hết một năm sẽ khó kiếm được người thay thế. Đuổi người làm thì qúa dễ nhưng kiếm được người rành việc thì nhọc lắm. Khuya đêm đó, Mậu trằn trọc mãi không ngủ được. Thanh biết ý chồng nên bàn nhỏ:

– Anh đừng lo. Chúng nó sẽ phải làm ít nhất là chục năm cho tiệm mình. Vài tháng nữa em sẽ dụ thằng Huy mua xe mới. Còn con Nga thì dễ lắm. Tập cho nó xài thẻ nhựa. Cần tốn một ngày dắt nó đi thăm mấy cái Mall đắt tiền là nó cà thẻ hết biết. Nó còn có cái tật thích gọi điện thoại nữa. Sang năm em sẽ dụ tụi nó mua nhà mới rồi gắn bốn, năm cái điện thoại để nó tha hồ gọi đi Pháp, đi Úc. Nợ ngập đầu thì có thánh mới học nổi. Xài quen rồi mà bắt vô lại trường gặm bánh mì nguội, mặc áo thun thì chữ nào mà nhét vô đầu được. Chỉ có thằng Vinh là hơi khó nói thôi. Nhưng nó lại bị cái tính cả nể, thương anh em. Em sẽ dùng cái yếu điểm này để bắt nó làm cho tiệm mình suốt đời. Anh để ý coi có con nhỏ nào giới thiệu cho nó. Có bồ tự nhiên sẽ phải xài nhiều hơn. Nhưng anh nhớ tìm cho nó con nào hơi nghèo nghèo mới được. Giầu qúa nó bao thằng Vinh đi học thì mình lỗ to. Thất nghiệp càng tốt. Cho cả hai vợ chồng nó làm cho tiệm mình luôn.

Mậu nghe lời vợ …dậy nên yên lòng nằm ngủ một mạch tới sáng.

*

Hai tháng sau, Thanh tặng Huy một ngàn để down mua xe mới trả góp. Thanh còn chọn cho Huy chiếc xe sport với đầy đủ option. Huy nợ nhà băng hai chục ngàn đô-la nên ký lại giao kèo riêng với chị làm cho tiệm thêm ba năm nữa để trả cho xong tiền vốn lẫn tiền lời của cái xe. Riêng Nga thì ngoài giờ bán tiệm ra chỉ chuyên đi sắm đồ hiệu không. Vinh và Huy không ưa đi shopping nên Nga nghe chị bàn lại phải mua thêm một cái xe cũ cho chính mình. Dù xe cũ nhưng cũng tốn hơn chục ngàn. Tháng tháng tiền xe, tiền credit card lẫn tiền điện thoại long distance làm Nga bù đầu rối trí nên tạm quên đi cái ước mơ vào Đại học.

Năm sau Thanh sinh đôi nên anh em Vinh phải dọn ra ở riêng. Thanh khuyên các em nên mua nhà để còn đón ba má qua. Mướn hai phòng ngủ cũng hết sáu, bẩy trăm đô la một tháng trong khi mua nhà ba phòng ngủ chỉ trả thêm có ba trăm đô la mỗi tháng là cùng. Mua nhà lại còn được trừ thuế cuối năm. Ngày cuối tuần còn có sân trước sân sau để tổ chức picnic ngoài trời. Lợi trăm điều. Vinh nghe bùi tai. Chàng lại mới quen được Lan nên tiêu xài thoải mái hơn xưa nhiều. Anh en Vinh cùng chung ký mua nhà trả nợ góp ba chục năm.

Mua xong nhà Vinh mới nhận ra được ngoài tiền nhà còn có cả tiền thuế đất, thuế trường học và cả thuế cống rãnh. Tiền điện, tiền gas, tiền nước và tiền đổ rác chi đều đều. Hai cái sân cỏ nhìn thật đẹp nhưng phải cắt tỉa muốn hụt hơi. Ngoài tiền mua máy cắt cỏ máy xén cỏ, mỗi năm vào đầu Xuân, anh em Vinh lại tốn khá bộn bạc mua phân bón và mua hoa trồng quanh nhà.

Năm năm sau, ba anh em Vinh vẫn quần quật thay phiên nhau học cách “rân” tiệm cho vợ chồng Mậu từ 9 giờ sáng tới 9 giờ tối mỗi ngày, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm.

Vinh và Lan làm đám cưới tại nhà hàng cạnh tiệm và bay tới …tiệm trong tuần trăng mật. Vì là người nhà nên Lan cũng được job thơm làm cùng chung với chồng tại tiệm ngày ngày sáng tối.

Vợ chồng Mậu có người coi tiệm nên rảnh rang ghi danh học thêm cách làm người giầu sang. Có lúc cả hai phải qua tận California để dự những lớp dậy khiêu vũ nổi tiếng. Ngày cuối tuần Mậu phải đi đánh golf rồi vào những câu lạc bộ đắt tiền để đấp bóp, tắm hơi. Thanh thì lúc làm móng tay, lúc lại đi căng da, hút mụn, chà mặt, bóp eo, nắn chân, bơm ngực và độn mông. Hai vợ chồng lại còn có cái thú đi casino vui cuộc đỏ đen nữa.

Những ngày đầu, Lan mới lấy Vinh nên chín bỏ làm mười, vui vẻ “rân” tiệm. Càng ngày Lan càng thấy sự bất công chèn ép của người chị cả trong gia đình chồng mình. Lan xúi chồng và hai em chồng đứng lên đảo chánh, làm …cách mệnh. Lan bàn:

– Bỏ hết. Bán hết tất cả. Mình bán nhà, bán xe, bán đồ rồi đi ra mướn appartment hai phòng ngủ gần trường. Anh và Huy vào trường học lại còn em với con Nga cố gắng cầy bốn năm. Khi nào học xong có việc, anh Huy đi làm nuôi lại chúng em đi học. Chứ cứ làm cho bà Thanh kiểu này sẽ suốt đời làm nô lệ cho bả. Không để dành được đồng nào đâu. Một tháng, bả chỉ trả cho chúng mình được bốn ngàn thì tốn ba ngàn cho nhà cửa, xe cộ xăng nhớt, điện, gas. Còn lại một ngàn đúng để mua đồ ăn, và chút chút gửi về Việt nam. Chỉ cần một mình anh ra trường đi làm vài năm là cũng có thể kiếm hơn rồi. Tại sao mình không chịu cực khổ bốn năm năm để rồi suốt đời không sợ bị gò bó về tiền bạc nữa.

Huy làm năm năm cho tiệm cũng chẳng thấy được chút ánh lửa cuối đường hầm nên nóng nẩy quyết định:

– Ngày mai anh ra tiệm nói cho bả hay cuối tuần này chúng mình nghỉ.

Nga cũng tả oán thêm:

– Làm cho chị mãi chẳng thấy lên lương. Việc thì cứ nhiều thêm.

Vinh nhìn vợ và hai em một lúc rồi gật đầu:

– Ngày mai gặp vợ chồng chị, anh sẽ nói chuyện này. Mình cũng phải cho anh chị một thời gian để kiếm người thay thế.

Chiều thứ sáu hôm sau, như thường lệ vợ chồng Thanh có ghé qua tiệm để tính tiền thu nhập của tiệm trong tuần trước khi đi ăn tối rồi vào vũ trường. Vinh giao tiền và giấy tờ cho chị xong, nhỏ nhẹ nói:

– Em có chuyện muốn thưa với anh chị.

Thanh vừa đếm tiền, vừa nhanh nhẹn trả lời:

– Chị biết rồi. Chuyện của ba má chứ gì ” Chị cũng nhận được thư bên nhà. Ba má với mấy đứa nhỏ cuối tháng này sẽ qua tới đây. Chị với anh Mậu cũng đã tính hết cả rồi. Qua tháng tới sẽ mua thêm một cái chợ nữa cho tụi nhỏ có việc làm. Nó cũng to ngang như cái này. Được cái gần nhà. Tụi nó mới qua chưa biết lái xe, lại không rành việc. Do đó vợ chồng em sẽ qua tiệm mới làm với hai đứa út. Còn hai đứa trên thì tới đây làm với thằng Huy, con Nga. Má già rồi, không thể bắt đi làm mãi được. Cả đời bả chịu khổ quá nhiều. Chị tính sẽ để bả ở nhà lo việc bếp núc và trông hai đứa nhỏ con chị. Ba thì còn khỏe lắm. Nhưng cũng không để ông làm nhiều. Già rồi. Chị tính cho ông làm tài xế, thỉnh thoảng đi mua mấy món hàng lặt vặt trong tiệm thiếu. Có chuyện làm, đi đây đi đó cho thoải mái. – nhà ngồi không nhiều khi lại sinh bệnh ra. Phiền thêm. Riêng anh chị thì lúc tiệm này, lúc tiệm kia. Tiệm nào cần thì tới, lúc nào đông thì ra đứng phụ. Em thấy sao”

Vinh thở dài ngao ngán:

– Chị tính cũng… phải.

Houston, vào Thu năm 2002

Lê Như Đức

Mùa Giáng Sinh & Cái Thùng Rác Của Tôi

vvnm.vietbao.com

05/12/2018

Phan

Post by Sơn râu 26 May 2025

Tác giả là nhà báo quen biết trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông dự Viết Về Nước Mỹ từ 2006, đã nhận Giải Danh Dự, thêm Giải Á Khôi, Vinh Danh Tác Giả VVNM 2016, và vừa chính thức nhận giải Chung Kết Tác Giả Tác Phẩm 2018. Sau đây thêm một bài viết mới của Phan, viết cho mùa Giáng Sinh đang tới.

***

1.

Tôi có người bạn quen biết từ bức điện thư anh gởi về toà soạn và nhờ chuyển cho tôi. Chúng tôi cùng trạc tuổi với nhau nên người đọc và người viết cùng thời có phần dễ gần nhau hơn. Rồi tình thân theo thời gian thân tình giữa người viết và người vẽ khi tôi biết ra anh là hoạ sĩ.

Tranh của anh bàng bạc nỗi lòng người xa quê trong không gian sống hiện đại và hối hả ở Mỹ là điều tôi cảm nhận được qua màu sắc, nét cọ… như anh vẽ một góc trường đại học ở Mỹ từ góc nhìn của người quét dọn hành lang.

Những thầy cô và sinh viên người Mỹ trong trường rất thích cảnh mùa thu về trường của họ qua nét cọ của anh, riêng tôi chỉ thấy những nhát chổi trong mùa thay lá nhuốm mồ hôi của người quét dọn muốn quét đi quá khứ đời mình, nhưng ký ức của người vẽ đã vô thức bàng bạc gởi trong màu sắc một vùng quê thương nhớ đã mù khơi. Tôi cũng thường gởi đến anh những tùy bút bất chợt một cảm xúc, những đoản văn không có bắt đầu nên không có kết thúc như tôi đứng xem duyệt binh ngày quân lực Pháp bên Paris, tiếng trống quân, tiếng kèn trận, tiếng giày đinh rầm rập trên đại lộ Champs Elysée tiến về Khải Hoàn Môn làm tôi thấy vua Quang Trung trên mình voi cao với ba quân tướng sĩ tung hoành oanh liệt. Khi những chiếc máy bay bay trên trời Paris thả khói màu, người dân đứng xem hai bên đường trầm trồ, hãnh diện, tôi lại thấy cụm mây trắng như chiến bào bị ánh nắng mặt trời xuyên qua làm đỏ hoe màu máu, Nữ tướng Bùi thị Xuân vừa trúng một đao. Tử mạng. Cây trường thương xuyên qua lồng ngực tôi chỉ là tia nắng xuyên qua được cụm mây nhưng là cả lịch sử chống ngoại xâm anh dũng của tiền nhân chỉ còn lại kẻ hậu thế lang bạt chân trời góc biển…

Trời ơi! Ai mà hiểu cho chữ nghĩa hoang hoải của người biệt xứ ngoài người quét dọn hành lang thường nói với tôi, “thỉnh thoảng tôi đọc lại sử Việt nam ông ơi! Sống bên Mỹ này riết, chỉ biết đời tổng thống nào rồi tới tổng thống nào của Mỹ. Trong khi đời vua nào tới đời vua nào trong lịch sử Việt nam thì chúng ta quên tiệt!” Cứ thế, hai người bạn chưa bao giờ gặp nhau mà chia sẻ vui buồn cuộc sống hải ngoại, tâm tư tình cảm qua điện thư, điện thoại những hôm cuối tuần, thậm chí cuối ngày có chuyện vui hay kém vui mà có thời giờ thì cũng kể lể nhau nghe cho khuây khoả…

Chúng tôi vẫn đùa giỡn với nhau khi gọi nhau là “cái thùng rác của tôi”. Nghĩa là nơi để trút bỏ những phiền muộn trong cuộc sống. Từ anh, tôi cảm nhận ra đời sống gia đình và xã hội thì dường như ai cũng như nhau với những lo toan cơm áo gạo tiền, tương lai con cái, bất đồng vợ chồng vì mỗi người di dân tiếp nhận đời sống mới khác nhau. Nhưng có một người bạn lắng nghe và chia sẻ cũng làm cho phiền muộn trong lòng vơi đi nhiều. Như khi nghe đầu dây bên kia tức giận gọi tôi, “Ông rảnh không? Tui đổ ông mớ rác. Tức quá!”

Khi tôi trả lời: “rảnh” thì anh giận dữ chuyện con anh không nghe lời cha, vợ lại bênh con chứ không đứng về phía chồng để dạy con cái lớn rồi, sống phải biết tiết kiệm, có trách nhiệm. Thời gian rảnh ở trường thì đi giúp đỡ cho người già trong viện dưỡng lão, hay đi dạy học cho trẻ em chậm phát triển; chứ đừng có rảnh là lo đi chơi, sung sướng bản thân…”

Nhưng giọng anh đã dịu xuống, bớt giận dữ khi nghe tôi phân tích chuyện mẹ nào chẳng thương con, muốn con được nghỉ ngơi, vui chơi sau đợt học thi mờ mắt, thiếu ngủ trầm trọng.

Vấn đề cần ở anh sự nhỏ nhẹ, khuyên giải thì anh lại nóng giận…”

Từ anh bạn chưa bao giờ gặp mặt nhưng qua trò chuyện với nhau. Tâm lý người đàn ông trong nhà mình không còn cảm giác ốc đảo cô đơn vì không ai thấu hiểu! Chúng tôi là cái thùng rác của nhau chẳng tốn kém gì ngoài ít thời gian lắng nghe và chia sẻ mà lại trút bỏ được những bực bội khó nói, muộn phiền khó nuốt ngay trong gia đình mình, ở chỗ làm, ngoài cộng đồng, trong xã hội…

2.

Nhưng khi tôi đến thăm anh thì quen biết thêm người bạn hàng xóm với anh là một kỹ sư người Việt. Anh hàng xóm đồng hương này ngang tuổi với chúng tôi nên rất dễ gần mà anh lại vui vẻ, tốt bụng. Một tấm lòng đáng qúy khi nghe anh tâm sự những trăn trở về quê nhà trong lòng đứa bé biệt xứ từ nhỏ khi theo gia đình di tản từ năm 1975.

 Anh học trường Mỹ, chơi toàn bạn Mỹ, và làm việc cho Mỹ vì anh sinh sống ở Bắc Mỹ nên ít người Việt để tiếp xúc. Không ngờ người bạn còn rất Việt trong tâm tư, dù rất Mỹ trong đời sống hằng ngày lại phản đối tôi với anh họa sĩ, anh không đồng ý cho bạn bè sao lại gọi nhau là, “cái thùng rác của tôi”. Bạn bè phải gọi nhau là chai rượu qúy, bình trà thơm của nhau mới phải chứ?!

Tôi rất qúy mến hai người bạn đồng hương xa xôi này vì gặp họ như gặp lại chính mình ngày xưa vô tư với bạn học, nên vui cười thoả thích, cả ngày rong chơi với nhau đi thăm thú nhiều nơi, xem viện bảo tàng, vô dinh thống đốc tiểu bang cho biết cái phòng thống đốc tiếp người dân thường khi có việc phải gặp ngài thống đốc ở tiểu bang Tennessee nó ra làm sao? Trời ơi! Ở cái xứ tôi phải bỏ nước ra đi thì ba trăm năm nữa không biết nơi công quyền mới có cái phòng tiếp dân này hay ba ngàn năm nữa vẫn chỉ có trại giam cho người bất đồng chính kiến!

Hưng phấn với tự do dân chủ không phải là cái bánh vẽ ở quê người nên chúng tôi đi uống bia nghe nhạc ngoài đường phố thật thích thú, những nhạc công, nhạc sĩ hè phố không xin tiền, không xin ai thương xót họ mà xin mọi người thương xót nhau qua âm nhạc không biên giới, không tôn giáo, màu da, chủng tộc…

Chiều tối, chúng tôi về nhà nấu ăn, cụng ly rôm rả… 

Một kỳ nghỉ lễ Giáng sinh thật ý nghĩa đối với tôi từ khi sang Mỹ đã mấy mươi năm chỉ biết vác máy ảnh đi chụp hình ở nhà thờ, đêm thánh vô cùng trở về nhà thường lặng lẽ một mình ngồi viết bài phóng sự địa phương cho báo nhà. Sự chia sẻ với độc giả muôn phương từ cảm nghĩ đến tâm tư người viết bài, niềm tin ơn trên lẫn lời thì thầm cầu nguyện cho mọi người được sống an vui trong tình thương yêu vô biên của thượng đế… Tất cả đều có thể trải lòng trên trang viết nhưng những muộn phiền trong tâm tư riêng mang thật không biết chia sẻ cùng ai để vơi đi những khắc khoải trong lòng người viễn xứ trước thời cuộc, quê nhà…

Tôi nhớ lắm kỳ nghỉ lễ Giáng sinh năm ấy vì hôm chia tay thật đáng nhớ trong đời chia xa nhiều hơn sum họp. Các bạn tặng tôi từ laptop để viết lách, tới mũ, áo, quà lưu niệm đã mua trong lúc rong chơi, tới đôi giày đang mang trong chân anh kỹ sư cũng cởi ra cho luôn vì tôi khen đôi giày đẹp, nhờ hai bạn chở tôi đi mua một đôi thì lại gặp hôm tiệm giày đóng cửa nghỉ lễ. Bạn đàn ông với nhau mà anh kỹ sư còn mua cả vòng vàng, dây chuyền làm quà gởi tặng cho hiền nội nhà tôi… Nói chung, trên đường ta bà rong chơi cuối năm của ba tên không tổ quốc, anh kỹ sư thấy tôi để mắt đến món gì thì anh nghĩ là tôi thích món đó, nhưng túi tiền nhà báo chỉ đủ mua vé vào xem những nơi triển lãm là cùng. Nghĩ đến tấm lòng của anh mà thành nợ ân tình vì đang vui chơi ở đâu đó, anh lại có việc riêng phải đi lo công việc một chút… về sau mới biết là anh đi mua những món tôi để mắt tới để làm quà cho tôi và gia đình. Cảm ơn anh thật nhiều và cả bữa ăn thân tình xa quê của chị nhà đã khoản đãi người viết tiếng Việt này dù chị không đọc được tiếng Việt vì sang Mỹ từ khi cai sữa nên chỉ biết tiếng Anh.

Anh hoạ sĩ tặng tôi mấy bức tranh thật nhiều kỷ niệm vì hôm trò chuyện với nhau qua điện thoại, tôi ví cuộc đời bọn mình như cánh vạc bay, gặp gỡ quen biết nhau trong đời như đêm may có vầng trăng bầu bạn với cánh vạc cô đơn nơi xứ lạ quê người. Mai nắng lên. Trăng lặn. Nhưng trăng lại mọc giữa trời đêm để bầu bạn với những cánh vạc đã lạc mất quê nhà… Rồi thì tôi lại gọi thăm anh, sang chơi với anh khi có thể… Và điều mong muốn qua phôn là thực tế, “Đừng làm tôi khó xử đến không dám sang thăm hai ông nữa! Làm ơn cất lại số tiền mà ông cứ nhất định cho tôi để mua vé máy bay, bay sang đây chơi…”

 Tôi nhận quà hào phóng từ người bạn khá giả bởi hai vợ chồng cùng là kỹ sư lâu năm, mỗi năm họ làm ra được mấy trăm ngàn nên chẳng áy náy gì hết khi đã xem nhau là bạn bè. Nhưng đồng lương giờ ít ỏi của anh bạn họa sĩ phải làm hai việc làm cùng ngày để giúp con học dược sĩ thì không thể nhận những đồng đô la mồ hôi, tóc bạc da mồi trước tuổi đời của bạn nghèo. Nhưng tôi nhận bức vẽ cánh vạc bay đêm trăng để làm kỷ niệm cho hôm uống bia qua điện thoại với nhau tới trời về sáng mới tạm biệt. Hôm khác, cuối tuần, lúc tôi đang tưới mấy gốc đậu bắp sau nhà. Vừa lúc anh gọi uống cà phê sáng cuối tuần qua điện thoại, nên tôi tả màu vàng kiêu sa của hoa đậu bắp trong nắng sớm. Anh bảo tôi chụp tấm hình hoa đập bắp gởi cho anh xem có thật đẹp như tôi tả hay không? Không ngờ anh vẽ tặng tôi bức tranh “hoa đậu bắp nhà bạn” thật ý nghĩa…

Tôi cứ lưu luyến ân tình của ba người bạn đã sống hơn nửa đời mới gặp nhau, lại gặp ở nơi xa tít quê nhà nên chỉ ngồi nhâm nhi lại ký ức của thằng nhỏ người Phú Yên, hai thằng con nhà người bắc di cư nên ký ức càng xa mù với những chuyện kể về nguyên quán của cha mẹ … Ơn trên cho chúng gặp nhau thật lòng qua món quê anh, món quê tôi… để tôi làm! Món nào cũng dở hơi như những thằng người lạc mất quê hương từ tuổi nhỏ nên món nhớ quê nào cũng mặn khan, nên văn bằng, danh tiếng ở quê người lạt thếch đến đũa không buồn gắp, sao gắp hoài không hết hoài niệm về quê xa khi đầu đã bạc. Sự thật tình đối xử với nhau là của hiếm trong đời sống thân quen với giả dối, đãi bôi, nói ra câu thật lòng chỉ để cho người ta cười mình. Sống trong xã hội không thật đến quen miệng nói láo vì nói láo người khác lại dễ tin mình hơn là nói thật! Câu chuyện của anh họa sĩ lúc nửa đêm mà hai anh em còn đánh bóng bàn với nhau trên lầu nhà anh làm bằng chứng cho thời đại chúng tôi đang sống! Bà Hội trưởng Hội phụ nữ nơi anh ở đã hỏi họa sĩ nghĩ gì với chiếc áo dài mùa xuân của bà mới mặc lần đầu? Anh chỉ thấy cây chả lụa mới ra lò căng cứng trong lá gói. Nhưng lại được bà hội trưởng hết lời khen là anh hoạ sĩ khéo ăn nói như nét cọ của anh! Vì anh đã trả lời bà Hội trưởng, “Năm nào chị cũng làm lu mờ hết đám cháu gái trong cộng đồng người Việt của mình với những chiếc áo dài độc đáo của chị…” Anh thà để đám cháu gái trong cộng đồng chê cười mắt nghệ thuật của chú hoạ sĩ đồng hương vì bà Hội trưởng Hội phụ nữ cũng đã chân trên đời kém cỏi hơn chân dưới mồ vì tuổi tác! Thôi thì cứ nói một lời hổ thẹn với mình thay cho lời chia buồn cùng tang quyến của người dồng hương cũng chả sao…!

3.

Từ những người bạn đã quá nửa đời người mới gặp nhau. Biết bao giờ gặp lại khi mùa lễ lại về mà tôi đã đặt vé máy bay cho kỳ nghỉ Giáng sinh năm nay để đi thăm những người bạn cũng chưa bao giờ gặp mặt. Lại thêm một năm lỗi hẹn với hai người bạn chân thành hiếm có. Sáng nay tôi ngồi nhìn hai bức tranh “cánh vạc bay”, và “hoa đậu bắp nhà bạn”… sau khi đặt vé máy bay bay về bờ tây nước Mỹ chứ không qua bờ đông. Lòng riêng tạ lỗi thất hứa với bạn bè nhưng hiểu được trong mối quan hệ giữa người với người, việc tranh luận không thể tránh khỏi, nhưng việc có thể là tránh hơn thua. Anh kỹ sư có lý do riêng để tôn trọng, thương mến bạn bè như chai rượu qúy, bình trà thơm. Tôi với họa sĩ có lý do riêng khi gọi nhau là “cái thùng rác của tôi”. Khi nghĩ về hai người bạn thương mến mình không hết, tôi luôn tự thú nhận với mình là ta đã sai. Cãi nhau, những người trong cuộc đều thất bại, chỉ khác nhau ở mức độ thất bại mà thôi. Khi xảy ra tranh luận, bản năng tranh thắng lấn át, người ta dùng hết khả năng lý luận của lý trí. Trong khi cốt lõi của tình cảm, tình bạn, tình người là sự khiêm nhường và lòng độ lượng. Trong khi tranh luận là cuộc chiến của lý trí, cuộc công kích đối phương để bảo vệ lập trường, đến mức độ nhất định, người ta không còn cãi nhau để phân biệt đúng sai nữa mà chỉ hướng đến chiến thắng. Nhưng khi bình tâm, chúng ta phân tích khách quan ra mới thấy mình bị chính cảm xúc của mình lừa bịp, xỏ mũi. Từ đó hiểu ra cảm xúc của bản thân là tên bịp bợm khôn lường, kẻ thù thực sự khi chúng ta tranh luận không phải là đối thủ, bạn bè, mà chính là cảm xúc của chúng ta. Bản năng giành thắng dù không biết để làm gì sau đó nên hối hận. Suy ra, bản chất của cãi nhau là dùng sai trật của người khác và cố chấp của mình để trừng phạt bản thân. Không có người thắng trong mọi cuộc tranh luận mà chỉ thua ở mức độ khác nhau vì nét riêng, sự độc đáo, đặc biệt của mỗi người không chỉ là bề ngoài mà chính ở nội tâm khác biệt. Chỉ cần trong tâm luôn suy nghĩ lương thiện, tự nhiên, chúng ta sẽ trở nên đẹp đẽ hơn tranh luận vì sự chân thành của con người không đến từ những lời lẽ hoa mỹ, lý luận logic, mà là từ tâm hồn thuần khiết. Thiện ác chỉ cách nhau ở một niệm nhưng khác biệt vạn dặm.

Sống ở đời không cầu hư danh, chỉ cần không thẹn. Không hám lợi để còn tâm an để thanh thản, tự tại… lời nói sẽ thiện, việc làm sẽ lành. Vậy tại sao chúng ta tranh luận với người dưng đã không tốt. Thế mà đôi khi tranh luận cả với người thương qúy mình?! Giữa người với người, ngôn ngữ không phải là phương cách duy nhất để biểu đạt. Đôi khi chỉ cần một ánh mắt thiện ý, một nụ cười bao dung, một hành động khiêm nhường… đều có thể khiến nhân tâm đôi đàng ấm áp. Hà cớ phải tranh luận? Cần gì quan tâm tới đánh giá của người khác để xảy ra những cuộc tranh luận vô vị. Lời văn hay nhất là vô tự, lời nói ý nghĩa nhất là vô ngôn sẽ không bao giờ làm tổn thương người khác. Đời sống có lý lẽ cao cả là không so đo để tránh làm tổn thương cảm xúc, không tranh luận, tránh được họa vào thân, giữ được hoà khí…

Dẫu không có điều gì đáng tiếc xảy ra ngoài cuộc tranh luận mang tính kỷ niệm nhiều hơn giận hờn. Nên lần sau sang thăm hai người bạn, tôi sẽ nhường nhịn hơn để tránh những hối hận không đáng có. Tranh luận vô vị, tựa như hai người đổ rác vào nhau, khiến tinh thần hao tổn. Tôi sẽ gọi anh kỹ sư là chai rượu ngon, bình trà qúy… Nhưng họa sĩ mãi là cái thùng rác của tôi vì từ đầu tôi đã là thùng rác của anh.

Cuộc sống rất đơn giản khi ta sống cho giây phút hiện tại vì sang phút sau, giây phút trước đã mãi mãi là quá khứ, chỉ tồn tại trong ký ức mà không thể vãn hồi. Buông bỏ và độ lượng, bao dung bạn bè là thương mình.

Chúc Giáng sinh vui vẻ.

Mùa Giáng sinh 2018

Phan

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 26 May 2025

Phần 3

Lối cũ… chẳng sao quên
Bích Huyền

Đường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tinh trần khôn hàn gắn thương lòng…

(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay
– Đoàn Chuẩn – Từ Linh)

Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời. K1, K2, K3. K4…những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…

Những khẩu hiệu: “Chào mừng thành công Đại hội Đảng 5,” “Đảng Cộng sản Việt Nam, Người lãnh đạo Tài Tình”, “Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái.” Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Đảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Đạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì” của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?

Đảng Cộng sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Đảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Đảng, bấy nhiêu năm Đảng phá nát tan? Để những người dân quê hiền hòa cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu…tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Để rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ: “Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh niên Cứu quốc thì ngày nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ đội với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Đảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động, Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Đến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi ở khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải phóng,” vì đường lối của Đảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác ngộ” để hòa nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Đảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng.” Đó là lần một anh nói với tôi: “Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời, mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác: “Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!”

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng, vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban chỉ huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Đang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại: “Các bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê “Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Đêm yên lặng. Đêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: “Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người). Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Đa số vào Nam.”

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: “Được biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tôn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Để khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Đức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước, cả nhà xúm nhau cầy cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy… Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Đĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng” – đủ mọi loại rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không thể ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người ở nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc lá “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền.” Nhưng tiếc thay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre, nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần…

Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Đây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Đêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé tí xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua giùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm tỏa ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an: “Đất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị sẵn tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…, tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng: “Đã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Đồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi…

Lâu lắm, khi tôi tỉnh lại, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm trộn với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông…

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…

Bích Huyền
Tháng 8-1991